Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:10:39 pm



Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:10:39 pm
Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Hà Nội - 1991
Người số hóa: macbupda

Chỉ đạo nội dung:
   - THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY QUẢNG NINH
   - THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY VÀ BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH QUẢNG NINH
   - VŨ CẨM Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh ủy   
   - Đại tá NGUYỄN THẾ TRỊ
   - Thượng tá NGUYỄN TIẾN LONG
   - Thượng tá PhẠM NGỌC CƯƠNG

Người viết:
   - TRẦN MINH THÁI
   - NGUYỄN VĂN KỲ
   - PHẠM HỒNG THỤY

LỜI NÓI ĐẦU

Quảng Ninh là tỉnh địa đầu án ngữ phía đông-bắc của Tổ quốc, là một trung tâm công nghiệp khai khoảng, có hải cảng và đường giao thông thủy bộ thuận lợi giữ vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế và quốc phòng

Do vị trí quan trọng của địa bàn nên trong suốt 30 năm qua thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã tập trung lực lượng với các thủ đoạn xảo quyết để đánh phá mảnh đất địa đầu của Tổ quốc này.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Bác Hồ và Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Quảng Yên, Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai đã lãnh đạo nhân dân vượt mọi khó khăn gian khổ tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ toàn dân toàn diện, vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, làm thất bại mọi âm mưu chiếm đóng và bình định của địch, góp phần cùng quân và dân cả nước đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân dân Quảng Ninh vừa xây dựng tỉnh nhà, cùng miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, chi viện sức người sức của cho đồng bào miền Nam ruột thịt vừa góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ trên miền Bắc nước ta.

Trong 30 năm qua, quân và dân Quảng Ninh đã cùng cả nước đánh bại hai cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thắng lợi của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội chứng minh sự đúng đắn và sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân và đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta, đồng thời càng chứng minh sức mạnh kỳ diệu của dân tộc Việt Nam mà Quảng Ninh là một bộ phận.

Để ghi lại những chặng đường lịch sử hào hùng ấy, chấp hành nghị quyết của Đảng ủy quân sự Trung ương, chỉ thị của Bộ Quốc phòng về công tác biên soạn lịch sử quân sự, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tổ chức viết bộ Lịch sử quân sự, gồm hai tập: Tập 1 viết về cuộc chiến tranh nhân dân ở Quảng Ninh trong kháng chiến chống Pháp, tập 2 viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ trên địa bàn tỉnh.

Nhân dịp cuốn “Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược” ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Phòng khoa học lịch sử quân sự Quân khu 3, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Quảng Ninh, các cơ quan liên quan, các cán bộ cách mạng lão thành, cán bộ, chiến sĩ đã tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp ở Quảng Ninh đã tận tình giúp đỡ để tập sách ra đời.

Tuy công việc sưu tầm tư liệu và biên soạn đã có nhiều cố gắng, song không thể không có thiếu sót mặt này, mặt khác. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh kính mong được sự quan tâm góp ý kiến của các đồng chí và các bạn.


                                                                                                           
THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY – BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ
TỈNH QUẢNG NINH


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:13:47 pm
CHƯƠNG MỞ ĐẦU

QUẢNG NINH – ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC,
MỘT VÙNG ĐẤT GIÀU TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG

Quảng Ninh, vùng đất ở ven biển Đông, kề sát với biên giới Việt – Trung, thuộc vùng đông – bắc nước ta. Phía bắc và đông – bắc có đường biên giới trên bộ 132,8 ki-lô-mét (giáp tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc). Địa bàn Quảng Ninh giáp biển Đông, với bờ biển 250 ki-lô-mét và nối liền với ranh giới trên biển. Trên đất liền Quảng Ninh tiếp giáp Lạng Sơn ở phía bắc, Hà Bắc ở phía Tây, Hải Phòng và Hải Hưng ở phía tây nam.

Tỉnh Quảng Ninh có diện tích 5.938 ki-lô-mét vuông, trong đó đất liền chiếm 87 phần trăm, đảo chiếm 13 phần trăm, đồi núi chiếm 90 phần trăm diện tích toàn tỉnh. Các dãy núi đá vôi chạy dài từ Phả Lại tới Móng Cái kết hợp với những đảo chạy sóng đôi tạo nên vòng cung Hồng Quảng ở vùng đông - bắc. Các dãy núi này còn chứa nhiều mỏ than chạy suốt từ Đông Triều, Mạo Khê, Uông Bí, Vàng Danh, Hoành Bồ, Hồng Gai, Cẩm Phả, Mông Dương, với trữ lượng bằng 90% trữ lượng than đá của cả nước. Quảng Ninh còn có các khoáng sản khác có giá trị như đá hoa và đất sét trắng Đông Triều, đá vôi Hạ Long, cát Vân Hải, đá Tấn Mài.

Rừng Quảng Ninh với diện tích 213.469 héc-ta là một vùng có ý nghĩa quan trọng cả về quân sự và kinh tế. Rừng có nhiều gỗ quý với nhiều đặc sản như hồi, trầu, sả, có nhựa thông Uông Bí, rừng quế Bình Liêu, Quảng Hà (là một trong bốn rừng quế có tiếng của nước ta).

Dọc bờ biển Quảng Ninh có nhiều cửa sông, luồng lạch, hải càng thuận lợi cho thuyền bè vào ra như Cửa Ông, Hồng Gai. Ngoài ra Quảng Ninh còn có một quần thể đảo chạy dài từ Vịnh Hạ Long đến Móng Cải. Vùng ven biển đã xuất hiện từ sớm nghề đánh bắt thủy sản.

Đi đôi với những hoạt động kinh tế nông – lâm – ngư nhiệp từ cuối thế kỷ 19 khi tư bản Pháp xâm nhập nước ta thì công nghiệp khai khoáng ở Quảng Ninh ngày một phát triển. Năm 1888, vùng mỏ có 3.000 công nhân, tới năm 1929 thợ mỏ Quảng Ninh có 35.000 trong tổng số 38.655 công nhân ngành mỏ nhiên liệu toàn Đông Dương. Quảng Ninh trở thành một trung tâm kinh tế chính trị và trở thành một khu công nghiệp trong cả nước.

Vai trò của Quảng Ninh là cửa ngõ đi vào Bắc Bộ, là bình phong che chở cho “chiếc bản lề”, “cái chìa khóa của mặt bể Bắc Kỳ”, khi phát triển hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông với các phương tiện vận chuyển cơ giới với các tỉnh đông bằng Bắc Bộ và Việt Bắc.

Ngoài ba tuyến đường gần như song song theo chiều dài của tỉnh từ phía tây ngược lên đông – bắc như đường 13, đường 18 và đường thủy chạy dọc ven biển là các con đường Hữu Nghị 1, đường sông Bắc Đằng, đường 4A, đường 10, đường Máng Nước, đường Bến Triều – Đò May, đường Bến Đụn, đường qua Hoàng Thạch về Hải Phòng và tới quốc lộ số 5. Đặc biệt những năm gần đây Quảng Ninh lại có thêm tuyến đường sắt Yên Viên – Bãi Cháy. Hệ thống đường sá được mở rộng tạo điều kiện cho Quảng Ninh đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng kinh tế,  củng cố quốc phòng.

Về địa lý quân sự, địa bàn Quảng Ninh chia làm ba vùng rõ rệt: rừng núi, trung du và hải đảo. Vùng rừng núi, trung du thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ cách mạng, căn cứ kháng chiến, xây dựng nghĩa quân, lực lượng vũ trang tập trung. Vùng ven biển, hải đảo thuận lợi trong tổ chức phòng ngự đánh được quân địch tiến công bằng đường biển vào địa bàn.

Khí hậu thời tiết ở Quảng Ninh thuộc vùng nhiệt đới gió mùa. Mùa hè nóng, mùa đông khá lạnh. Lượng mưa trung bình là 1.675 mi-li-mét. Nhiệt độ trung bình tháng 6 là 28,5 độ, tháng 1 là 16,5 độ. Nhiệt độ thấp nhất là 4 độ, cao nhất là 42 độ. Thời tiết, khí hậu ở Quảng Ninh vừa thuận lợi vừa khắc nghiệt đối với sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, đồng thời ảnh hưởng lớn đến các hoạt đông quân sự. Nạn bão lụt, hạn hán thường xảy ra.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:14:39 pm
*

Tỉnh Quảng Ninh ngày nay cũng như các tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên, Đặc khu Hồng Gai (trong kháng chiến chống Pháp) là một trong những vùng đất có lịch sử lâu đời và đã có đóng góp xứng đáng vào lịch sử dân tộc.

Nhờ có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, địa bàn chiến lược này dân cư ngày một tập trung đông, đến nay mật độ dân số lên tới 100 người trên một ki-lô-mét vuông. Bên cạnh bộ phận đông nhất là người Kinh còn có nhiều dân tộc anh em sinh sống chủ yếu ở vùng rừng núi, trong đó các nhóm người tương đối đông là người Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Cao Lan, Dao, Hoa.

Về cơ cấu giai cấp ở Quảng Ninh trong kháng chiến chống Pháp, nông dân lao động chiếm số đông nhất. Tầng lớp phú nông, địa chủ chiếm một tỷ lệ thấp và ngày càng bị thu hẹp. Giai cấp công nhân và tầng lớp thợ thủ công tập trung chủ yếu ở các khu mỏ và các thị xã như Uông Bí, Hồng Gai, Cẩm Phả.

Qua đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội để tồn tại, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đã đóng góp to lớn sức mình vào công cuộc dựng nước và giữ nước.

Những phố phường, thôn xóm đã từng bước thực hiện sản xuất chuyên môn có nhiều sản phầm truyền thống và những sản phẩm mới có chất lượng và thẩm mỹ. Các công trình kiến trúc độc đáo và những nơi nghỉ mát nổi tiếng; những hệ thống đê sông, đê biển với chiều dài hàng trăm ki-lô-mét nói lên sự sáng tạo cần cù lao động của nhân dân Quảng Ninh.

Cùng với việc dựng nước, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đã bao đời đóng góp công sức và xương máu của mình vào công cuộc giữ nước.

Mỗi khi phát động chiến tranh xâm lược nước ta, kẻ thù thường tập trung lực lượng đánh chiếm vùng cửa ngõ đông – bắc. Về phía ta, do vị trí địa lý của mình, Quảng Ninh giữ một vai trò quan trọng về chiến lược trong chiến tranh giữ nước. Có lúc nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đứng ở tuyến đầu chống quân xâm lược, cũng có khi là nơi đứng chân của các cơ quan đầu não – đại bản doanh của các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược.

Năm 40 đầu Công nguyên, cùng với quân dân các địa phương vùng duyên hải, nhân dân Quảng Ninh đã anh dũng đứng lên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Với điều kiện trang bị kỹ thuật còn thô sơ và tình độ cơ động có hạn, quân xâm lược phương Bắc đã nhiều lần lấy sông Bạch Đằng làm đường tiến quân về Thăng Long. Nơi đây đã ba lần trở thành quyết chiến điểm mang ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta vào các thời Ngô (938), Lê (981), Trần (1288). Trong các trận quyết chiến chiến lược ấy, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đã đóng góp biết bao xương máu và công sức của mình và chiến thắng chung của dân tộc.

Với tư tưởng “lấy đại nghĩa thắng hung tàn”, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược thắng lợi. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh dưới sự lãnh đạo của Lê Ngã chiến đấu trong hai năm 1419 – 1420, góp phần cùng cả nước đập tan ý chí xâm lược của nhà Minh.

Cái họa phương Bắc vừa dứt thì họa ngoại xâm của bọn thực dân tư bản lại đến. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Quảng Ninh đã cùng nhân dân cả nước đứng lên chống Pháp.

Lúc đầu các phong trào chống Pháp của nhân dân Quảng Ninh vừa chịu ảnh hưởng của Việt Nam quang phục hội do Phan Bội Châu lãnh đạo, vừa là sự nối tiếp của phong trào Cần Vương, đồng thời có quan hệ ít nhiều với phong trào nông dân ở phía nam Trung Quốc. Phong trào chống Pháp của nhân dân Quảng Ninh cũng như cả nước phát triển hơn 20 năm.

Từ năm 1885 đến năm 1889 dưới sự lãnh đạo của Đốc Tít, nghĩa quân Đông Triều đã mở rộng địa bàn hoạt động chống Pháp tới thị xã Hải Dương. Năm 1891 hàng ngàn nghĩa quân do Lưu kỳ chỉ huy đã mở nhiều trận tiến công quân Pháp từ Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên, Hoành Bồ đến Hà Cối, Móng Cái.

Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và xã hội, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh luôn thủy chung, đoàn kết gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm, lao động cần cù nhẫn nại, yêu nước nồng nàn, vừa xây dựng vừa bảo vệ Tổ quốc. Từ khi có Đảng Cộng sản và Bác Hồ vĩ đại lãnh đạo cách mạng, những tính cách và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Quảng Ninh càng được bồi bổ và phát huy trở thành nhân tố cơ bản để xây dựng quê hương giàu mạnh.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:16:04 pm
*

Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thi hành những chính sách vô cùng tàn bạo nhằm kìm kẹp bóc lột nhân dân ta. Trong quá trình bóc lột, chúng đã tiến hành cái gọi là “mở mang công nghiệp” nhằm vơ vét tài nguyên để bổ sung cho công nghiệp chính quốc và bóc lột nhân công. Do vậy ở Việt Nam thời kỳ này đã xuất hiện một giai cấp mới – giai cấp công nhân công nghiệp.

Sau khi Công ty mỏ than Bắc Kỳ ra đời, đội ngũ công nhân mỏ mà đa số xuất thân từ nông dân ngày một phát triển. Tới năm 1929 công nhân vùng mỏ từ 3.000 người lên tới 35.000 người.

Do bị áp bức bóc lột ngày một nặng nề, công nhân mỏ ở Quảng Ninh đấu tranh với các hình thức từ thấp (như đốt lán trại, bỏ trốn tập thể) đến cao như đình công, bãi công, kết hợp đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị.

Trong lúc phong trào cách mạng Việt Nam đang phát triển, giai cấp công nhân nói chung cũng như công nhân vùng mỏ Quảng Ninh nói riêng đang trưởng thành thì lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau nhiều năm bôn ba hải ngoại, tìm đường cứu nước, đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin trở về nước lãnh đạo cách mạng. Người quyết định “Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”(1).

Trong quá trình đấu tranh cách mạng, do vị trí địa lý và vị trí kinh tế, chính trị của mình, tỉnh Quảng Ninh là một trong những địa phương sớm có cơ sở cách mạng và đây cũng là địa bàn mà nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng thường xuyên qua lại xây dựng cơ sở chỉ đạo đấu tranh.

Từ năm 1926 đến năm 1935, các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Đức Cảnh, Hoàng Đình Giong đã về hoạt động trong các nhà máy, hầm mỏ từ Mạo Khê đến Cửa Ông. Tháng 9 năm 1930, đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư của Đảng đã về khảo sát phong trào công nhân Quảng Ninh để có thêm tài liệu khởi thảo Cương lĩnh chính trị của Đảng ta.

Được các cán bộ đảng thường xuyên qua lại hoạt động xây dựng cơ sở, phong trào công nhân trong hệ thống mỏ than ở Mạo Khê, Uông Bí, Vàng Danh, nhà máy kẽm Quảng Yên, Hồng Gai, Cẩm Phả, Mông Dương ngày một phát triển. Từ ngày Đảng ra đời, phong trào cách mạng của Quảng Ninh chịu sự lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ và Ban cán sự liên tỉnh B chịu trách nhiệm lãnh đạo trực tiếp.

Các chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương lần lượt được xây dựng ở Uông Bí, Vàng Danh, Hồng Gai, Hà Tu, Cẩm Phả, Cửa Ông, nhà máy kẽm Quảng Yên. Từ cuối tháng 2 năm 1930, chi bộ đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập ở Mạo Khê.

Tháng 9 năm 1930, tỉnh Quảng Ninh có đảng ủy mở ở Uông Bí, Vàng Danh, Hồng Gai và Cẩm Phả. Tháng 10 năm 1930, Đảng bộ Đặc khu Hồng Gai được thành lập bao gồm hai đảng bộ: Hồng Gai và Cẩm Phả. Từ năm 1929 đến năm 1944, cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Quảng Ninh đã diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú. Ngày 1 tháng 5 năm 1930, lá cờ búa liềm do các chiến sĩ cộng sản treo lên trên núi Bài Thơ chào mừng ngày chi bộ đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Quảng Ninh được thành lập đã mở đầu các hoạt động của phong trào công nhân mỏ trong giai đoạn này. Tiếp đó là cuộc đấu tranh của toàn vùng mỏ ngày 21 tháng 11 năm 1936, cuộc đấu tranh của hàng vạn công nhân mỏ Vàng Danh ngày 22 tháng 9 năm 1937, của 2.000 công nhân Uông Bí ngày 1 tháng 7 năm 1939, của 700 công nhân nhà máy kẽm Quảng Yên ngày 13 tháng 3 năm 1940 và cuộc đình công của 700 công nhân Uông Bí tháng 12 năm 1944.

Qua đấu tranh cách mạng, các đảng bộ ở Quảng Ninh đã từng bước trưởng thành. Được sự lãnh đạo của Xứ ủy và Ban cán sự liên tỉnh, các đảng bộ trong tỉnh đã kiên cường đứng vững qua nhiều lần địch khủng bố, quyết tâm đưa quê hương mình tiến lên kịp phong trào cách mạng của cả nước.

Một trong những thành công của các đảng bộ ở Quảng Ninh là trong giáo dục, tập hợp quần chúng từ năm 1942 đến năm 1944 đã xây dựng được phong trào Việt Minh trong tỉnh.

Đầu năm 1941, một số đảng viên được Xứ ủy Bắc Kỳ cử về Vàng Danh, Uông Bí hoạt động và đã xây dựng được một tổ Việt Minh 10 đồng chí.

Ở xã Rãng Động, các đảng viên bị địch bắt từ năm 1941, đến tháng 8 năm 1944 khi hết hạn tù đã xây dựng lại chi bộ với năm đảng viên. Chi bộ lại tổ chức được các đoàn thể quần chúng, lãnh đạo nhân dân chống địch thu thuế, thu thóc. Phong trào từ Rãng Động đã lan sang Lưu Kiếm, Phả Lễ và tổng Hà Nam.

Sau này chi bộ Rãng Động, chi bộ duy nhất còn lại của Quảng Ninh trong năm 1945 đã góp phần tích cực vào việc giành chính quyền cách mạng ở địa phương, và đã cung cấp cho Quảng Ninh nhiều cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng của tỉnh.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1980, t. 1, tr. 174


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:16:46 pm
*

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật làm đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương. Hầu hết số quân của Pháp ở Quảng Ninh đã bị bắt hoặc hàng quân Nhật. Số quân ở biên giới Việt – Trung chạy sang Trung Quốc. Phần đông binh lĩnh người Việt đã bỏ quê quán, nhiều người mang theo cả vũ khí.

Dẹp xong quân Pháp, quân đội Nhật đã đóng thành nhiều cụm ở các nơi xung yếu như tỉnh lỵ Quảng Yên, Yên Lập, Bãi Cháy, Hồng Gai, Tiên Yên, Hà Cối.

Theo dõi sát diễn biến tình hình, ngày 12 tháng 3, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Hội nghị chủ trương “phát động một cao trào chống Nhật, cứu nước mạnh mẽ, làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa”.

Chủ trương sáng suốt của Trung ương Đảng đã nhanh chóng được quán triệt đến các huyện, thị xã và cơ sở cách mạng ở Quảng Ninh. Nhân dân Quảng Ninh đã đón nhận tinh thần chuẩn bị Tổng khởi nghĩa của Trung ương trong hoàn cảnh sôi sục nhưng cũng vô cùng phức tạp.

Do chính sách vơ vét của Nhật – Pháp, nhân dân Quảng Ninh đang trải qua nạn đói có một không hai trong lịch sử. Sớm sớm ở các thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả người ta phải chôn hàng chục người chết đói. Ở cá xã La Khê, Bái Xá (Yên Hưng) có tới 90 gia đình chết đói, các xã Thạch Hà (huyện Cẩm Phả), Hoành Lỗ (Yên Hưng) bị mất tới hơn hai phần ba số dân.

Chủ trương “phá kho thóc giải quyết nạn đói” của Đảng đã đáp ứng nguyện vọng của nhân da,a đã phát động quần chúng ở Quảng Ninh vùng dậy mạnh mẽ. Nhân dân tham gia Mặt trận Việt Minh, tự vệ cứu quốc. Trước cao trào chống Nhật, cứu nước của nhân dân, chính quyền bù nhìn ở Quảng Ninh ngày càng trở nên rệu rã. Một số người trong ngụy quyền và nhiều người trong bảo an binh đã liên lạc với cách mạng. Tuy thế, hành động của các lực lượng chống đối cũng rất đáng lo ngại.

*

Từ các trung tâm cách mạng như Đông Triều, Quảng Yên, Rãng Động, Hồng Gai – Cẩm Phả, Móng Cái… phong trào chống Nhật, cứu nước đã phát triển tới các huyện ở miền biên giới Hải Ninh, cả ở những nơi cơ sở Việt Minh hầu như chưa có. Từ Quảng Yên và Rãng Động, phong trào còn lan sang Hà Nam, Phục Lễ, Hà Luận (Hải Phòng). Các đội “Danh dự võ trang” đã tiến hành võ trang tuyên truyền ở tây Yên Hưng, đông Thủy Nguyên, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy, bắt tổng lý ngưng thu thóc tạ và trả lại tiền thuế đã thu của dân, đồng thời trừng trị những tên ngoan cố. Tự vệ Rãng Động đã tước vũ khí của toán lính cơ từ huyện về thu thóc thuế.

Tháng 4 năm 1945, các đội tự vệ của xã Phục Lễ (Thủy Nguyên) và vùng Hà Nam (Yên Hưng) đã đánh đồn bảo an binh Cát Hải, thu 12 súng. Trước uy thế và chính nghĩa của cách mạng, binh lính ở trại bảo an binh tỉnh lỵ Quảng Yên, ở trại lính cơ huyện Yên Hưng và đồn Uông Bí đã liên lạc với Việt Minh.

Ở khu mỏ Hồng Gai – Cảm Phả, cuối tháng 3 năm 1945, Xứ ủy đã cử đồng chí Trịnh Tam Tính và một số cán bộ xã hoạt động. Cơ sở Việt Minh ở nhà máy cơ khí Hồng Gai, mỏ Hà Tu, Hà Lầm, các phố Ba Đèo, Vụng Đăng và nhà máy cơ khí Cẩm Phả, trục số 2 Cẩm Phả cũng được xây dựng. Một số thanh niên làm cho Nhật ở Bãi Cháy đã được ta giác ngộ và giao cho làm công tác cứu đói, bảo vệ trật tự trị an.

Tháng 5 năm 1945, một đơn vị quân Tưởng kéo theo quân của tên Vĩ Kim Thành (tên cầm đầu Việt Nam cách mệnh đồng minh hội) từ Trung Quốc tiến vào Móng Cái.

Mặt trận Việt Minh huyện đã tổ chức một cuộc biểu tình tuần hành lớn. Hàng ngàn người vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh”, “Hoan nghênh quân đội Đồng minh đánh Nhật”.

Các khẩu hiệu này vừa xác định chủ quyền của nhân dân, vừa nhắc nhở nhiệm vụ của quân đội Đồng minh, vừa biểu dương được lực lượng và khí thế của quần chúng.

Cùng với việc chống Nhật, cứu đói, các cuộc biểu tình chống quân Tưởng của quần chúng cũng lên rất cao. Phong trào mua sắm vũ khí cho du kích và luyện tập quân sự trở nên rất sôi nổi. Tháng 6 năm 1945, một trung đội du kích tập trung chống Nhật ở Quảng Ninh được thành lập. Trung đội có 27 cán bộ, chiến sĩ.

Ngay sau đó, quân Nhật ở Hà Cối đã kéo lên chiếm Mỏng Cái, quân Tưởng và quân Việt Cách đều bỏ chạy.

Đội du kích của Móng Cái đã rút lui về phía sau và định vào Ba Chẽ để lập căn cứ nhưng bị lộ. Cán bộ, chiến sĩ trung đội đã chiến đấu anh dũng với bọn thổ phỉ và tay sai Nhật, nhiều người đã hy sinh, trong đó có các đồng chí Nguyễn Đức Minh, Bùi Văn Lập, còn một số về tham gia quân du kích cách mạng ở chiến khu Đông Triều.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:21:45 pm
*

Tình hình ở vùng đông – bắc lúc này đang ở tình trạng “đêm trước của cách mạng”.

Để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, từ tháng 4 năm 1945 các làng Bắc Mã, Hỗ Lao, Đạm Thủy và mỏ Mạo Khê (Đông Triều) đã tổ chức được hầu hết nhân dân vào Việt Minh và thành lập được các đội tự vệ ở Trạo Hà, Mạo Khê và Bắc Mã.

Bằng hình thức võ trang tuyên truyền, ta đã tổ chức các cuộc diễn thuyết, treo cờ, căng biểu ngữ, trừ gian và mở rộng hoạt động sang Kinh Môn, Nam Sách, Thủy Nguyên.

Phong trào Việt Minh ở Quảng Yên – Rãng Động lên cao. Cơ sở cách mạng của ta trong lính ngụy được xây dựng ở tỉnh lỵ Quảng Yên và các đồn Cát Hải, Uông Bí, v.v.

Ngày 10 tháng 5 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình đã tập hợp ở căn cứ Bắc Mã hai tiểu đội “du kích cách mạng quân” với 19 người, gồm ba người là thủy thủ của tàu Com-măng-dăng Buốc-đe (Commandant Bourdair) đã mang một đại liên từ Hải Phòng về và với 16 người là bảo an binh ở đồn Cửa Ông do Phan Mạnh Hà chỉ huy đã về với cách mạng.

Cũng trong tháng 5 năm 1945, trên vùng duyên hải đông – bắc đã hình thành căn cứ cách mạng ở Chí Linh, Đông Triều. Ở cả hai nơi đã không ngừng phát triển chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địa chống Nhật, xây dựng chiến khu để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.

Đông Triều vừa là nơi hội tụ của phong trào cách mạng của Hải Hưng, Hải Phòng, Quảng Yên, vừa là nơi quân cách mạng có thể nhanh chóng tỏa đi khắp miền duyên hải đông – bắc.

Từ địa bàn này ta vừa có thế hiểm để bảo tồn lực lượng khi gặp khó khăn, lại vừa có bàn đạp cơ động để nhanh chóng áp sát các địa bàn trọng yếu về chính trị, kinh tế, quân sự của địch.

Ngày 8 tháng 6 năm 1945, sau các trận đánh thắng lợi ở Chí Linh, Đông Triều, Mạo Khê và Tràng Bạch, chiến khu Đông Triều (Trần Hưng Đạo) được thành lập. Ủy ban quân sự cách mạng của chiến khu gồm các đồng chí Nguyễn Bình, Trần Cung, Hải Thanh và một số ủy viên khác.

(https://lh3.googleusercontent.com/1dUQDIWs5G7yGnw4r1kvCKzN7CjEJkSQEtZfDotO2DiOWuECJH_Fqd2kz1ce62LO9AE3g_Fcv7ZUTXE2XP3XKGUGb2yz5yhpNdy46VadoDdXE52WbTkDmeEl3aiB_Votd3YiqzmMixzXWkkoWieLmxxeJNiMCdIFwudo94B2nCXIM-7H6HC4PcDNXPtfyyZJJam_dd1aLiaupPC671bBmZPjdu22YmdbpZAQAQE7aVPvQerdny0Ga1UZ2QXrknJLsLb4Yr3FhHtWS7tiIhzXTHDASv-y-kYBnc9ip_hkBYuG5pRakCo_KOPau6vMCskfXM4TFuxShX_J-XdW9HFVkv9LPWvUbVDzCqf67d9kIMwAgLpH1oYIsgmubDattpXcXfuSmGCQlHfX-FdtTralRMftf2FQzix-cbsNLtUsIakgyht4FHQ1U5zTnRuxZiZnC_rYBB0sKQMO55zUVqHGJB69Gc5EY_n99_9S_xRVAwDPbmjWkEfzoUO8bygVACKyTXVNG1wbg09whzI4GWkHSgvgr9WC72jENfbkJb1XWHjJBHvYyiSKBrphjhjXWtI_bIngBeq-mAtm-5n9jB22AQRTefy3r5v-A-CySsMZlqFh9RwXJwH4Va-i=w308-h448-no)(https://lh3.googleusercontent.com/VmzlCL9LW-Qe65nZ1KDObreNocc40qPQeCJrgvXMeZlZhlJOpzadp2BNiEuPow5KzIWkAdM5QeI5CtXWVLGN7GW8MakNgFe-1RMjH8KyO3ZRvJJHHPVBTaMRqBtY6eYugrjDkOkNtmgzaV2FZOkheXy671rPvvNmgMBlI_iHt6xItec9YvR26cm7KM-TlutAW38zRyMLR0LQYJ9ZJxFFelCZSs8J_LYYmZKcDyzV8nkwb32n32eQmpKueDBZ1kFP81HW4M_Sog_yXW8fwjLrWWDPtWd5TrnFtWyCOdvMfdZ9Iim_m4dGKFu6UfIjMCgBVqSaP9dJ9QspCKmuMbk4vJHPQhd5KRwP-EpnkP19tWj0wae8Ks0WXdu1_IYsyJLKjK1OvQp-G6LLO5N2plNdL92wxAECaDnKPCc-kMzi2WZa69WN0K__2F8cj0vWol9YW8T_1LOQBwOxG2ufnqbGVRan3egum0f7Qc3bbSSLV4vis0Gj_rcWJXok1pws9qqUXi5oM-HN6BScpZXArjZBXekJSx8X1WGRXg0ywFd8alaS5GAV1K5Ls7FcsrUZgXih_RiQn0umD13umf1D0tuU9vDMsCikZTDqIXxDlRw6yXJpNCQiNOBYxihH=w319-h448-no)
Đồng chí Trần Cung
Đồng chí Hải Thanh

Cũng sau các trận đánh ngày 8 tháng 6 năm 1945, quân Nhật đã càn lớn vào Chí Linh và Đông Triều.

Để đối phó với các hoạt động quân sự của ta, địch đã đưa 3.000 quân đóng ở nhiều nơi như Núi Đèo, Tràng Kênh, Bến Rừng, thị xã Quảng Yên, Uông Bí, Yên Lập, Hoành Bồ, Bãi Cháy, Hồng Gai, thị xã Cẩm Phả, Móng Cái.

Trong hai ngày 10 và 17 tháng 6, địch còn tổ chức hai đại đội tiến công các căn cứ của ta. Do vậy ở hướng Đông Triều, quân ta chuyển căn cứ chính về An Sinh và cơ động đánh tỉa giặc ở Lốc, Sấu, Quan, Thông, Long.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:25:12 pm
Ngày 17 tháng 6 năm 1945, quân Nhật tấn công Bắc Nồi (Chí Linh), quân ta cùng nhân dân các xã Đại Tâm, Phao Sơn đã cắt phà, phá cầu, đánh đoàn thuyền tiếp tế, tập kích nơi chúng đóng quân, diệt tám tên, thu tám súng và sáu thuyền lương khô. Bọn Nhật đóng ở Phả Lại đã buộc phải rút lui.

Sau khi thành lập, Ủy ban quân sự cách mạng chiến khu đã đặc biệt quan tâm đến công tác hậu cần… Các hào phú, tăng ni phật tử trong vùng đã vui vẻ đóng góp lương thực để nuôi quân. Công nhân mỏ Mạo Khê và nhiều cơ sở công nghiệp trong vùng đã tổ chức các cơ sở sửa chữa vũ khí cho nghĩa quân.

Ủy ban quân sự cách mạng chủ trương kiên quyết tiến công địch mở rộng địa bàn hoạt động và đẩy mạnh cao trào đấu tranh nổi dậy của quần chúng.

Ngày 2 tháng 7 năm 1945, được sự hỗ trợ của cơ sở ta trong binh lính địch, quân du kích cách mạng đánh chiếm đồn Uông Bí. Đồng chí Nguyễn Bình, ủy viên quân sự của chiến khu đã trực tiếp chỉ huy. Mở đầu trận đánh, hai tiểu đội của ta bất ngờ tập kích trại huấn luyện thanh niên của đảng Đại Việt quốc gia liên minh (một tổ chức thân Nhật) ở Bí Chợ, thu hết vũ khí và giải tán trại. Thừa thắng, ta tiến công đồn Xếp Sâm, tước vũ khí của lính gác và phá kho thóc chi cho dân. Hai trận đánh này làm bọn quan lại và lính ngụy ở Quảng Yên rất khiếp sợ, tạo điều kiện cho ta gây được cơ sở trong hàng ngũ địch ở tỉnh lỵ.

(https://lh3.googleusercontent.com/AjZkmFnOB8KAwUwNNZ82xkyLmdXiEJFucoYj99aCJ0uRbtEYHrOW9GWUTK5LiD0KGVgc3I40vE6-agBXkEYDRfR4yCpDXkbwYqRLu1oJ3aWiueBdP2I07BV9pW768tlVTxJdMGvZgjlAq__ug0QBeX0jhHWFuoO36r9PYM8YwpSXKaMo1C3Y5LDJePkwrHGV9H02MEbX0uLu76BlTpoOpGmF4KgD_eO5J-j4Rjstxv1SolslHP8wjxzzRfzwUc4jPbVqMmBWZGZmDpHzIolL3puiwsxcFoQRFoC4e3ivbvmsYwVfk73vEsqNS0fvwKw_v7x2cXwmMbSLLVDNMuvtlhwU2NK771VsxyT6qf9GPirLYolawKsloezObYdloqfmMhFrN07GwWwYGAgvHUetIkeuSo8-OdbGVHfXMctri6R2ANJe_7uu1QYwokuKFQOHqiZkfD7qeZy34uZX2juSt8oTrSx4SlfWp6F7rRrW7xzI7Wh3FCAhtRSoTd3f92i7Vg0Mt8zF2Jjcl3q7nh2MiDECKO51MX85hgFiLyT5GM5kLjuzj6eVwb1mm55TKWEEN-mREIzBr_SyqVOftitbG5PHUwPJjovEZqg59Chg-DLsI35FXJFBHBWz=w1024-h694-no)

Diễn biến chiến đấu trận tập kích đồn Uông Bí và trại Bí Chợ
của du kích quân chiến khu Trần Hưng Đạo

Với hơn 100 súng và nhiều quân trang, quân dụng thu được của địch, số quân của ta ở đây đã lên tới 400 người và biên chế thành các đơn vị như: đại đội Hoàng Văn Thụ, trung đội Đề Thám, trung đội bảo vệ căn cứ, tiểu đội nữ du kích và các đội vũ trang tuyên truyền, cứu thương, trinh sát. Tự vệ mỏ Mạo Khê cướp được một tàu chở gạo của địch trên sông Kinh Thầy (tàu Đi-a-măng Si-măng) để làm tàu tuần tiễu và vận tải cho chiến khu.

Ủy ban quân sự cách mạng của chiến khu tích cực phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở cơ sở và cử cán bộ xuống giúp các huyện chỉ đạo phong trào.

Trong tháng 7, phần lớn các xã thuộc bốn huyện Chí Linh, Thủy Nguyên, Kinh Môn, Đông Triều đã thành lập được Ủy ban nhân dân cách mạng, riêng Đông Triều còn lập được Ủy ban nhân dân cách mạng huyện, do đồng chí Nguyễn Văn Tuệ làm chủ tịch. Trong bốn huyện Kinh Môn, Thanh Hà, Thủy Nguyên, Nam Sách, ta đã phát động được nhân dân tước được của địch 65 súng trường và trung liên và phá hai kho thóc chia cho dân.

(https://lh3.googleusercontent.com/WWj42Yxzdm-VjRI9ftfaa56GNWUr4aDALMN9tkV1EkidzaBB94eXpJrtyjNAUB54VOWkm35zH7sQw7oByPRea8Xk2gakHB4c4QJH0bAB0Xk1o9ZTwOXAtO0By7Vi4V5de1wtERvyco3xgCVmkgOyT3RqMOzL6DDXiU3PounoWBrRPYx0snyzQ3e5NPPgLktfbVT8yXSQxdLor7I5MTF3WLyBTOlWfiiW2WAO8UUMweQLkek7GTXlurHmclcmnJ_dVE9LOOD92zSILZSwu53qUygvPbAUGgHVMJyacd1tugg5F2TEY17wEgaAtVtlR3onnCxRvQvRSIngc3j7VqKcma7N6Vug584R8sBsVdrOwB4hp0hyjCx6ROMH2949KNEeQe8Rsy0SK8HKfz-4mXcvQpW5Fw5aanUXw2eI_iPfRGb_0yQQCCmzLPprsrznwvP9CWZQAQdFdiyKPltLRb6ahKnr-FslP8bhtWDSSt56yKy4nZQvU34e8rkt7tYjcrEh_tJFFx5DmEahjEbjiB5tGOMwuyUSgdZ452fZqVqhbgc_ENvXAWaToukKsBQoWQ0kIt60ZD6dvlfMbYDgk7Su2GCPilEmVLZI9W9u5DvYLOWlQfu9Ym8u4rZz=w480-h640-no)

Đ/c Nguyễn Văn Tuệ (người ngồi ghế) lãnh đạo chiến khu Đông Triều làm việc tại thôn Mễ Xá tháng 6/1945, Lê Thị Nhuần (người đứng) cán bộ tuyên truyền, y tế; Lê Kim Anh (người đứng) liên lạc viên

Các tòa án nhân dân đã tuyên án xử tử những tên phản động, tay sai đắc lực của Pháp và Nhật, và hàng chục tên phỉ chuyên đi cướp bóc của nhân dân ở Chí Linh, Thủy Nguyên, Thanh Hà, Đông Triều. Tự vệ Phả Lại bao vây Hố Gỗ (sau đền Kiếp Bạc) sào huyệt của phỉ tiêu diệt một số tên đầu sỏ.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:26:43 pm
Trên đà thắng lợi quân ta tổ chức tiến công tỉnh lỵ Quảng Yên. Đây là một mục tiêu rất quan trọng ở vùng đông – bắc. Tiến công Quảng Yên sẽ làm rung chuyển cả vùng mỏ và gây tác động lớn tới cả Hải Phòng. Nhận thức được vấn đề này nên sau chiến thắng Bí Chợ, Uông Bí, Ủy ban quân sự cách mạng của chiến khu quyết định tiến công quân địch ở tỉnh lỵ Quảng Yên (tháng 7 năm 1945).

Thị xã Quảng Yên có 85 lính cơ và 500 bảo an binh đóng. Ngày 10 tháng 7 năm 1945, đại diện chiến khu và Ban Việt Minh thị xã họp bàn kế hoạch đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên. Hội nghị dự định ngày 25 tháng 7 năm 1945 quân ta sẽ tiến công tỉnh lỵ.

Cuộc tiến công này nhằm làm lung lay ngụy quyền cấp tỉnh, thúc đẩy phong trào Việt Minh trong huyện Yên Hưng, đồng thời thu tiền bạc, lương thực, vải vóc để phục vụ cho việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của chiến khu.

Về sử dụng lực lượng, ta chủ trương chỉ dùng lực lượng nhỏ mà tinh, bất ngờ đột nhập dinh tỉnh trưởng và trại bảo an binh, kết hợp với người của ta trong binh lính địch, bức hàng bọn cầm đầu và kêu gọi binh lính ngả theo cách mạng, sau đó chiếm các công sở và kho tàng của chúng.

Ngày 20 tháng 7 năm 1945, khi bốn trung đội “du kích cách mạng quân” của chiến khu do đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy về tới hai xã Hiệp Hòa và Yên Giang thì được tin có ba tên thuộc đảng Đại Việt quốc gia liên minh (thân Nhật) từ Hải Phòng sang, đang vận động tỉnh trưởng Quảng Yên Ngô Ngọc Thanh giao vũ khí cho chúng. Trước tình hình đó, đồng chí Nguyễn Bình quyết định phải hành động ngay trong sáng ngày 20 tháng 7 năm 1945.

Sau khi bắt liên lạc được với đội Rỡ (người chỉ huy lính cơ ở dinh tỉnh trưởng), quân ta bất ngờ vào dinh tỉnh trưởng bắt bọn Đại Việt, sau đó đột nhập nhà riêng của tỉnh trưởng Ngô Ngọc Thanh và ra lệnh cho Thanh phải chịu sự giám sát của Ban Việt Minh thị xã. Đội lính cơ do đội Rỡ chỉ huy có liên lạc với đơn vị bộ đội của chiến khu để lại, thực hiện lệnh quản chế đối với tỉnh trưởng Quảng Yên.

Chiều ngày 20 tháng 7, quân ta đột nhập nhà tên Nguyễn Văn Tiếp, chỉ huy trưởng của 500 lính bảo an binh, buộc y ra lệnh cho binh lính phải đầu hàng. Khi Nguyễn Văn Tiếp tập hợp xong đơn vị và giới thiệu đồng chí Nguyễn Bình là đại diện của chiến khu Đông Triều thì 500 lính bảo an binh hoan hô vang “Hoan hô Việt Minh” và nhất tề theo cách mạng.

Tới 9 giờ đêm ngày 20 tháng 7 năm 1945, quân ta đã hoàn toàn làm chủ tỉnh lỵ Quảng Yên.

Các đơn vị bộ đội của chiến khu đã tỏa đi chiếm các công sở và bố trí chặn quân tiếp viện ở ven tỉnh lỵ. Các đội du kích của Hiệp Hòa, Hà Nam, Quỳnh Lâu, La Khê cùng đội tự vệ thị xã chia nhau đi bắt những tên tay sai Nhật và cùng bộ đội canh gác các mục tiêu, phá nhà tù của địch.

Trên đường phố, đội vũ trang tuyên truyền của chiến khu do các đồng chí Chất và Đoàn Phụng chỉ huy, dùng loa thông tin báo tin cách mạng đã chiếm tỉnh lỵ và lời kêu gọi của Ủy ban quân sự cách mạng chiến khu Đông Triều. Những bài ca cách mạng hùng tráng vang vọng trong đêm làm nức lòng đồng bào ta trong các dãy phố, bến thuyền và những xóm làng ven thị.

9 giờ sáng ngày 21 tháng 7 năm 1945, đoàn thuyền ca nô của chiến khu Đông Triều cắm cờ đỏ sao vàng, chở bộ đội và chiến lợi phẩm đã rời bến Quảng Yên hướng về phía Đông Triều.

Một đại đội của chiến khu do đồng chí Chất và Đoàn Phụng chỉ huy ở lại Quảng Yên để hỗ trợ cho Ban Việt Minh thị xã.

Ngày 23 tháng 7 năm 1945, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức để phổ biến chính sách đoàn kết toàn dân chống Nhật của Mặt trận Việt Minh và chào mừng thắng lợi của cách mạng.

Trận tiến công tỉnh lỵ Quảng Yên ngày 20 tháng 7 năm 1945 là trận đánh lớn của ta trong thời kỳ đó. Chiến khu Đông Triều (Trần Hưng Đạo) đã dùng phần lớn lực lượng chiến đấu của mình, phối hợp với hàng trăm du kích của các xã quanh tỉnh lỵ để tiến công quân địch.

Trong trận này, ta đã mạnh bạo nắm thời cơ, dùng lực lượng nhỏ mà tinh, bất ngờ đánh trúng đầu não của địch, phối hợp với lực lượng ngầm của ta ở bên trong các nên chỉ một thời gian rất ngắn với trận chiến đấu chưa cần nổ súng, quân ta đã chiếm gọn một tỉnh lỵ mà ở đó có tới gần 600 binh lính địch. Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, Quảng Yên là tỉnh lỵ đầu tiên được giải phóng.

Phối hợp giữa tiến công và nổi dậy, quân sự và địch vận, sau trận đánh, lại biết khéo léo duy trì quyền làm chủ của cách mạng bằng cách lợi dụng ngụy quyền và khống chế ngụy quyền, trận tiến công này đã đạt được những tiêu chuẩn cơ bản của một cuộc khởi nghĩa từng phần.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:27:55 pm
(https://lh3.googleusercontent.com/YFVKCiqMKRRmM9pzjx1zgkbYjUs6P-PQt3Fj1oIxEn8Nk_CKI24wJpWaBF0KyMkh0NNVr09BQ7fGpiXRCXeYm6peyfziSLV8ZzUOhSWOIObQ71lJebx2o_HlHU4NtVuhv259RK0Sodx32FKJv09e79cOmHvU4T96jEn8Bs5yTXiRgheQfgjDcXKJpW9nWvjzdJx84Gtb4CMXtTL_UyQSuvenDRPhsu6iFWpm85H5GbfRjxlv0yl2ztHpmJVtGcOGoufN7RLcV2ScCTvm-XzSiFsAoPgft3Qg2CugAEkNg_zf3AniR5hKgJ7hTit7cKHVRZZqyMOWF9Js56Pm0GceMrwbQHHOj-7NylKD3Hxextk7427z_x3zlDkkL1MkAe-eAQVHBzcEfLjrytyzlMgKjCzcECOTsvmM3Xt_idnJ3lTCiVT33zzdA1JhFxkPmK2DC7M5ZSoNDrvFejmlRqXjlDi-YASljdmgfarNwN4xQIjG-haqE7ZneNYrk3ho_dxmk0PLYwFCkAirkEjhv6nn1nz3NYZfnMEMDL_FVjLSo26cd6nk3awLtRfXLd_uMYImdXNmwtasZ312lhDlsCVqY_kiWCCJAxAz7TB41Fjhyz1lb6m0gjJWDnG7=w1077-h832-no)

Diễn biến chiến đấu trận tập kích đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên
Ngày 20-7-1945


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:29:35 pm
*

Đến cuối tháng 7 năm 1945, sau thắng lợi ở thị xã Quảng Yên, lực lượng vũ trang của chiến khu đã lên tới 500 người và được biên chế thành hai đại đội, ba trung đội.

Sau khi thành lập 42 ngày, lực lượng của chiến khu đã cùng các địa phương xóa sổ hàng ngàn quân địch, thu gần 100 khẩu súng và từ một địa bàn nhỏ hẹp ở miền núi đã hỗ trợ đắc lực cho phong trào cách mạng của nhân dân trên phạm vi bảy huyện (Chí Linh, Nam Sách, Thanh Hà, Kinh Môn, Đông Triều, Thủy Nguyên, Yên Hưng).

Trong quá trình phát triển, chiến khu Đông Triều (Trần Hưng Đạo) đã tạo thế uy hiếp địch ngay trên một địa bàn quan trọng có tính chất chiến lược ở miền duyên hải và đông – bắc nước ta. Sức mạnh to lớn của chiến khu vừa là kết quả của cao trào cách mạng ở vùng duyên hải, lại vừa là động lực thúc đẩy cao trào ấy.

Có hình mẫu là vùng chiến khu cách mạng Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, lại được quán triệt các quan điểm của Đảng về xây dựng căn cứ địa cách mạng, khởi nghĩa vũ trang làm phương hướng, chiến khu Đông Triều (Trần Hưng Đạo) đã góp phần tích cực vào công cuộc chuẩn bị và tiến hành Tổng khởi nghĩa ở vùng duyên hải.

Cho đến tháng 8 năm 1945, tình hình ở huyện Đông Triều và hai tỉnh Quảng Yên (gổm cả vùng mỏ), Hải Ninh có những diễn biến khá phức tạp.

Bọn thổ phỉ và các lực lượng phản động trong nước cùng bọn chủ mỏ, bọn tàn quân Pháp và chính quyền Tưởng bên kia biên giới câu kết với nhau có âm mưu chiếm chính quyền trong tay Nhật.

Âm mưu của chúng gồm hai điểm:

Một là, dùng lực lượng của Pháp đóng ở Vạn Hoa, Cô Tô để chuẩn bị đánh chiếm vùng mỏ và tiến vào Tiên Yên để liên hệ với bọn thổ phỉ người Hoa đang hoạt động trên các huyện thuộc Hải Ninh. Khi có đủ điều kiện sẽ đánh chiếm tỉnh biên giới này.

Hai là, tung bọn biệt kích nhảy dù xuống Chí Linh để liên hệ với bọn phản động địa phương và liên lạc với bọn phỉ đang hoạt động ở vùng rừng núi bắc đường 18, phát triển lực lượng phản động ở địa phương, nhằm hỗ trợ cho kế hoạch đánh chiếm vùng Đông Bắc của quân đội Pháp sau này.

Thực hiện ý định trên, quân Pháp ở Cô Tô làm cho tàu chiến đi dò xét tình hình ở vùng biển Hải Phòng, Quảng Yên và có lần vào tận cảng Điền Công và Cửa Lục. Cũng trong tháng 8, địch cho tám tên Pháp mang theo vũ khí, điện đài, tiền bạc, nhảy dù xuống Chân Hồ (Chí Linh) định liên lạc với bọn tay sai nhưng chúng bị quân ta bắt gọn.

Trên đất Đông Hưng (Trung Quốc), tên Vũ Kim Thành, tay sai của chính quyền Tưởng đã dùng tiền và vũ khí của quan thầy trợ giúp để chiêu mộ quân, nhằm thành lập lực lượng vũ trang phản động, gọi là quân của Việt Nam cách mạng đồng minh hội.

Vũ Kim Thành phái tay sai là Nguyễn Ái trở về vùng Hải Chi và vùng giáp thị xã Cẩm Phả để lập căn cứ phản động. Dựa vào vùng dân tộc ít người, Ái đã lôi kéo được một số người đi theo và xưng là đảng cách mạng Việt Trí. Ái còn lừa gạt một số thanh niên và học sinh ở Cẩm Phả, Cửa Ông và dụ dỗ họ về Hải Chi để “lập chiến khu cách mạng”.

Nguyễn Ái đã đột nhập vào thị xã Cẩm Phả và đánh đồn bảo an binh, cướp được vũ khí, sau đó chúng liên hệ với bọn phỉ ở Vũ Oai, Dương Huy và qua đó bắt tay với bọn trùm phỉ như Bang Phúc ở Trới và Cai Hưng Trại Thán (Sơn Động).

Về phía ta, mặc dù trong hai tỉnh Hải Ninh và Quảng Yên (bao gồm cả vùng mỏ) chỉ có một chi bộ Đảng ở Rãng Động vào tháng 8 năm 1945, nhưng phong trào cách mạng vẫn phát triển mạnh. Ở Đông Triều, ta đã có chính quyền cách mạng ở cấp huyện. Ở tỉnh lỵ Quảng Yên, ngụy quyền cấp tỉnh vẫn chịu sự kiểm soát của cách mạng từ sau trận tiến công ngày 20 tháng 7 năm 1945. Phong trào cách mạng từ Yên Hưng đang phát triển sang Cát Hải. Ở huyện Cẩm Phả và một số huyện biên giới của Hải Nhinh phong trào Việt Minh và phong trào tự quản của nhân dân đang phát triển.

*

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, tin Hà Nội giành được chính quyền truyền đi khắp nước.

Được tin hàng ngàn thổ phỉ đã tập trung ở Nam Mẫu, Yên Lập, Hoành Bồ thuộc Quảng Yên và Trại Thán (Sơn Động) từ giữa tháng 8 năm 1945 nay đang sắp tiến về cướp chính quyền ở tỉnh lỵ, đồng chí Nguyễn Bình cùng hai đại đội Phạm Hồng Thái và Ký Con đã theo đường thủy tăng cường cho tỉnh lỵ Quảng Yên. Thấy vậy bọn phỉ đã rút về Hoành Bồ tập hợp lực lượng với Nguyễn Ái để đánh chiếm Hồng Gai.

Ngày 24 tháng 8 năm 1945, đại diện của chiến khu Đông Triều và Ban Việt Minh thị xã đã ra lệnh cho tỉnh trưởng Quảng Yên giao chính quyền cho cách mạng, sau đó cho phép ông ta được trở về quê quán để làm ăn. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời của tỉnh Quảng Yên được thành lập. Ta lần lượt tổ chức chính quyền cách mạng ở hai huyện Yên Hưng và Cát Hải.

Ngày 26 tháng 8 năm 1945, 30 người của đại đội Hoàng Hoa Thám đang ở Hải Phòng đã được lệnh tiến về thị xã Hồng Gai để hợp lực cùng lực lượng cách mạng tại chỗ cướp chính quyền.

Lúc này bọn quân Việt cách do Nguyễn Ái chỉ huy đã có mặt trong thị xã với lực lượng đông hơn ta nhiều lần. Bọn này lại có sự hậu thuẫn của bọn phỉ đang chiếm đóng ở Hoành Bồ.

Ta chủ trương thương lượng với bọn Việt cách và dựa vào sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân để đấu tranh với chúng.

Ngày 26 tháng 8 năm 1943, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức ở sân bóng thị xã Hồng Gai. Toàn thể nhân dân, công nhân và ngư dân đều phấn khởi về họp mặt trong ngày lịch sử này.

Ở thị xã Cẩm Phả, sau khi quân của Nguyễn Ái vào đánh đồn bảo an binh, ngụy quyền hầu như tan rã. Một số thanh niên tiến bộ đứng lên tổ chức ra các đội giữ trật tự trị an ở các khu phố, với hình thức nhân dân tự quản. Được tin quân ta đã cướp chính quyền ở Hồng Gai, số thanh niên này bắt liên lạc với cách mạng và quân ta đã thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời ở thị xã Cẩm Phả rồi phát triển xuống Cửa Ông.

Đến cuối tháng 9 năm 1945, về cơ bản tỉnh Quảng Yên (bao gồm cả vùng mỏ) đã giành được chính quyền trong toàn tỉnh. Ở Hải Ninh đến hết năm 1945, ba huyện Tiên Yên, Đình Lập, Bình Liêu mới có chính quyền cách mạng.

Sau một thời gian liên tục tiến công và nổi dậy, từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa, nhân dân tỉnh Quảng Yên (bao gồm cả vùng mỏ) đã hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ của mình trong Cách mạng tháng Tám. Nhưng ở tỉnh biên giới xa xội, nhiệm vụ cướp chính quyền của nhân dân Hải Ninh đang gặp những khó khăn chưa thể khắc phục ngay được.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:30:41 pm
CHƯƠNG MỘT

XÂY DỰNG, BẢO VỆ VÀ CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN DÂN CHỦ NHÂN DÂN,
TÍCH CỰC CHUẨN BỊ CHỐNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC (1945-1946)

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 giành được thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi cả nước. Bộ máy cai trị của phát xít Nhật và chính quyền bù nhìn phong kiến tay sai bị đánh đổ hoàn toàn; chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Thủ đô Hà Nội) Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử của dân tộc: “… Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy"(1). Lần đầu tiên sau tám mươi năm sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật, nhân dân Việt Nam được đổi đời, làm dân của một nước độc lập, tự do.

Tuy nhiên, nền độc lập, tự do và chính thể cộng hòa dân chủ non trẻ ấy đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Ở miền Nam, quân đội Anh mượn tiếng Đông minh vào giải giáp quân đội Nhật, nhưng thực chất là tiếp tay cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ở miền Bắc, hơn 20 vạn quân Tưởng kéo vào cũng mượn tiếng giải giáp quân Nhật, nhưng lại kéo theo các bọn phản động “Việt cách”, “Việt quốc” âm mưu tiêu diệt Đảng ta, thủ tiêu chính quyền cách mạng của nhân dân ta, thành lập chính quyền tay sai để chúng tiến tới thực hiện âm mưu lâu dài thôn tính nước ta. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam nhân dân ta lại phải đối phó cùng một lúc với nhiều kẻ thù như vậy.

Trong khó khăn chung của toàn dân tộc, Quảng Ninh còn có những nét đặc thù và khó khăn riêng. Do ở một vùng đất địa đầu đông – bắc Tổ quốc, với địa hình hiểm trở, tình hình chính trị đặc biệt phức tạp, xa sự chỉ đạo của trên, các loại kẻ thù trắng trợn điên cuồng giành giật quyền lực với ta nên trong Cách mạng tháng Tám trên địa bàn mới giành được chính quyền tại tỉnh lỵ Quảng Yên, thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả và một số huyện miền tây Quảng Yên, còn một số huyện miền đông Quảng Yên và cả tỉnh Hải Ninh nhân dân ta chưa được quyền làm chủ, phải sống dưới sự khống chế, bóc lột của các loại phản động tay sai cho Quốc dân đảng Trung Hoa như Việt Nam cách mệnh đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng, cùng các bọn thổ phỉ người Hoa ở địa phương.

Sau Cách mạng tháng Tám phong trào cách mạng ở Quảng Ninh không đều, miền tây mạnh, miền đông chưa được xây dựng, củng cố, lực lượng vũ trang cách mạng còn nhỏ bé, trên dải đất chưa tới 6.000 ki-lô-mét vuông mà lực lượng thù địch rất đông, rất mạnh, bao gồm hàng vạn quân Tưởng, hơn 3.000 quân Nhật và một bộ phận tàn quân của Pháp, hơn 1.000 quân của các bọn phản động “Việt quốc”, “Việt cách” và hàng nghìn tên phỉ hoành hành suốt một dải vùng rừng núi và hải đảo hiểm trở. Đặc biệt nghiêm trọng là tại Móng Cái – tỉnh lỵ của tỉnh Hải Ninh, quân Tưởng từ bên kia biên giới đã tràn sang trắng trợn chiếm đóng từ giữa năm 1945 thực hiện cái gọi là “Kế hoạch Hoa quân nhập Việt” của chúng. Tất cả những bọn này đều trắng trợn hoạt động, sách nhiễu, khủng bố, cướp bóc và giết chóc nhân dân rất dã man. Chính quyền cách mạng non trẻ vừa được thành lập còn đang trong một thời kỳ “trứng nước” đã phải liên tiếp đối phó với mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động nham hiểm của kẻ thù.

Nhận rõ đặc điểm và tình hình khó khăn của Quảng Ninh, Trung ương Đảng và Chính phủ đã tăng cường lãnh đạo thực hiện một loạt chủ trương biện pháp để bổ sung, củng cố sức mạnh của Đảng bộ và nhân dân địa phương tạo điều kiện phát triển thực lực của cách mạng, tiếp tục đưa phong trào của địa phương đị lên.

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Xứ ủy Bắc Kỳ đã cử nhiều cán bộ ra Quảng Ninh để xây dựng lại bộ máy lãnh đạo của tỉnh. Tháng 10 năm 1945, Ban cán sự Đảng bộ tỉnh Quảng Yên được thành lập do đồng chí Nguyễn Hải (tức Hải Chi) làm trưởng ban. Tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng và Chính phủ lại quyết định tách khu mỏ Hồng Gai – Cẩm Phả ra khỏi tỉnh Quảng Yên để thành lập Khu đặc biệt Hồng Gai (gồm hai thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả và huyện đảo Cẩm Phả). Ban cán sự Khu đặc biệt Hồng Gai được thành lập do đồng chí Cao Tử Kiến làm trưởng ban.

Về mặt quân sự, sau những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, Ủy ban quân sự cách mạng chiến khu Đông Triều được chuyển sang làm nhiệm vụ của Ủy ban quân sự cách nạng liên tỉnh (bao gồm Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Quảng Yên và Hải Ninh) do hai đồng chí Nguyễn Bình và Lê Quang Hòa phụ trách. Đến tháng 10 năm 1945, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ về bố trí chiến lược trong cả nước, Chiến khu 3 được thành lập; các tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh được biên chế trong chiến khu miền duyên hải của đồng bằng Bắc Bộ này cùng với các tỉnh Hải Phòng, Kiến An, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình. Bộ chỉ huy Chiến khu 3 do đồng chí Hoàng Minh Thảo làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Quang Hòa làm ủy viên chính trị, đồng chí Vũ Hiển làm tham mưu trưởng. Lực lượng vũ trang tập trung của Chiến khu 3 có bốn chi đội (sau được chuyển thành trung đoàn). Địa bàn Quảng Ninh có hai chi đội hoạt động, chi đội 1 phụ trách khu vực Tiên Yên, Đầm Hà, Móng Cái; chi đội 2 phụ trách khu vực Phả Lại, Đông Triều, Uông Bí, Hồng Gai, Cửa Ông.

Như vậy chỉ ba tháng sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ở Quảng Ninh đã có những bước chuyển biến rất cơ bản về phương diện quản lý địa lý hành chính và về tổ chức lãnh đạo của Đảng; hai trong số ba vùng lãnh thổ cơ bản của tỉnh là Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai đã có các ban cán sự trực tiếp lãnh đạo phong trào của từng địa phương với tư cách như một cấp ủy Đảng. Lực lượng vũ trang tập trung ở địa phương đã có bước nhảy vọt cả về số lượng và chất lượng. Từ chỗ trong ngày đầu Cách mạng tháng Tám chỉ có một đại đội Ký Con là bộ đội của chiến khu Đông Triều, nay bộ đội tập trung đã có tới hai chi đội (tương đương trung đoàn) làm nhiệm vụ đóng giữ trên các vị trí trọng yếu của tỉnh. Những nhân tố trên đây đã tạo điều kiện cho phong trào của Quảng Ninh phát triển, tiếp tục tiến lên hoàn thành những nhiệm vụ của Cách mạng tháng Tám đã đề ra, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến sắp tới.


(1) Hồ Chí Minh, Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.55.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:42:46 pm
1. Xây dựng và củng cố chính quyền mới thành lập, giữ vững chủ quyền độc lập dân tộc

Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945) độc chiếm Đông Dương, cùng với các nơi khác hầu hết quân đội Pháp đóng trên đất Quảng Ninh đã đầu hàng quân Nhật. Một bộ phận của chúng đóng ở Móng Cái lợi dụng lúc quân Nhật chưa đến đã chạy trốn sang Phòng Thành (Trung Quốc). Ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi nghe tin phát xít Nhật đầu hàng Đông minh và nhân dân ta đang ráo riết chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, bọn tàn quân này được sự dung túng của chính quyền Tưởng Giới Thạch đã quay trở về Quảng Ninh. Lực lượng của chúng gồm một tiểu đoàn lính người Âu, một tiểu đoàn lính người Việt và một bộ phận hải quân gồm bốn chiếc tàu vừa chạy máy vừa chạy buồm với đầy đủ trang thiết bị vũ khí hiện đại. Bọn này đã ngang nhiên chiếm đóng các đảo Vạn Hoa, Cô Tô, xây dựng những nơi này thành các căn cứ để phục vụ cho âm mưu lâu dài của chúng. Bọn chúng vừa ra sức tuyển mộ thêm quân lính, mua chuộc và nuôi dưỡng bọn thổ phỉ người Hoa do tên Voòng A Sáng cầm đầu, vừa tìm cách móc nối với bọn chủ mỏ người Pháp. Cậy có phương tiện hiện đại là những chiếc tàu tuần tiễu chiến đấu, hàng ngày bọn chúng từ căn cứ chính Vạn Hoa tung lực lượng ra khống chế cả một vùng biển và hải đảo từ Quảng Ninh đến Hải Phòng. Bọn này liên tục trinh sát điều tra tình hình, khiêu khích quấy rối cướp bóc hà hiếp nhân dân. Bọn chúng đã nhiều lần ngang nhiên vào tới tận Cửa Lục (Hồng Gai) và bến Cát Bà (Hải Phòng). Sau Cách mạng tháng Tám thành công, lực lượng Đồng minh vào Việt Nam, những hoạt động của bọn tàn quân này càng trở nên trắng trợn liều lĩnh hơn.

Sáng ngày 7 tháng 9 năm 1945, bọn chỉ huy quân Pháp ở Vạn Hoa cho tàu Cray-xắc vào khiêu khích vùng biển Hồng Gai(1).

Khi phát hiện thấy tàu địch ngang nhiên kéo cờ tam tài (quốc kỳ Pháp) chạy ngang qua vịnh Hạ Long, rồi tiến thắng về bến Doan, bộ đội và nhân dân ta vô cùng căm tức. Đại đội Ký Con được lệnh xuất quân. Đại đội trưởng Lê Phú đã trưng dụng và điều động ba tàu dân dụng để đưa bộ đội vận động tiếp cận địch. Bộ phận thứ nhất gồm hai tiểu đội do trung đội trưởng Hoàng Vinh và thuyền trưởng Đạm xuống chiếc tàu Bạch Đằng (là một chiếc tàu kéo cũ, trên tàu có xếp bao cát để thay công sự và làm ụ bắn). Bộ phận thứ hai gồm một tiểu đội xuống chiếc tàu Giao Chỉ (đây là một tàu chở khách hai tầng). Lúc này trên tàu đã có hành khách, nhưng khi nghe bộ đội ta yêu cầu trưng dụng tàu để đi chiến đấu, nhân dân đã vui vẻ rời tàu để bộ đội xuất kích được nhanh chóng. Bộ phận thứ ba đồng thời là mũi chỉ huy do đại đội trưởng Lê Phú, đồng chí Bùi Sinh và bốn chiến sĩ sử dụng một ca nô tốc độ nhanh để vượt lên đón tàu địch.

Phát hiện thấy quân ta xuất kích, bọn chỉ huy trên tàu Cray-xắc liền cho tàu chuyển hướng, bỏ chạy. Nhưng với quyết tâm chiến đấu cao, ba chiếc tàu của ta đã vượt lên đuổi kịp tàu địch, hai chiếc Bạch Đằng và Giao Chỉ kèm sát hai bên phía sau và chiếc ca nô của đại đội trưởng Lê Phú vượt lên áp sát tàu địch. Đồng chí Bùi Sinh và bốn chiến sĩ đã nhanh nhẹn nhảy lên boong tàu địch, chiếm lĩnh các vị trí có lợi khống chế không cho địch kịp đối phó, đồng thời lệnh cho tên quan ba chỉ huy tàu phải cho tàu ngừng máy và đầu hàng vô điều kiện. Trước khí thế và lực lượng áp đảo của quân ta, được sự cổ vũ của nhân dân trên bờ và trên mặt biển, toàn bộ bọn địch trên tàu đã phải đầu hàng. Ta đã làm chủ hoàn toàn tàu Cray-xắc, thu toàn bộ vũ khí và giải thoát cho năm binh lính thủy thủ người Việt bị bọn chúng nhốt dưới hầm tàu.

Tin chiến thắng tàu Cray-xắc nhanh chóng được loan truyền khắp vùng duyên hải. Đồng chí Nguyễn Bình, Tư lệnh Ủy ban quân sự cách mạng liên tỉnh tới động viên cán bộ, chiến sĩ đại đội Ký Con. Thay mặt Ủy ban quân sự cách mạng, đồng chí đã gắn lên tàu Cray-xắc tấm biển đồng với hai chữ “Ký Con”. Tàu Ký Con được biên chế trong lực vệ lượng vũ trang nhân dân cách mạng từ đó, số anh em thủy thủ người Việt tình nguyện gia nhập Vệ quốc đoàn đã được đơn vị tiếp nhận.

Thấy tàu Cray-xắc không trở về căn cứ, ngày 11 tháng 9 bọn chỉ huy Pháp ở Vạn Hoa phái tàu Ô-đa-xi-ơ đi dò tin tàu Cray-xắc. Đây là một chiếc tàu vừa chạy máy vừa chạy buồm, thuộc binh đoàn Móng Cái (cũ) của Pháp. Biên chế trên tàu gồm chín sĩ quan, thủy thủ, do thuyền trưởng La-van-lê chỉ huy. Tàu được trang bị một đại liên, một ba-dô-ca, năm tiểu liên, súng lục, một số lựu đạn và một máy vô tuyến điện.

11 giờ ngày 11 tháng 9, tàu Ô-đa-xi-ơ đến vùng biển Hồng Gai. Được tin, đại đội Ký Con do đồng chí Bùi Sinh chỉ huy lập tức dùng tàu “Ký Con” (Cray-xắc cũ) ra đuổi đánh. Trước ưu thế hơn hẳn về hỏa lực và tốc độ của tàu “Ký Con”, tàu Ô-đa-xi-ơ vừa bắn cầm chừng vừa rút chạy. Tàu “Ký Con” dũng mãnh truy kích. Ra tới ngoài khơi, biết không thể thoát được, tàu Ô-đa-xi-ơ dừng lại đầu hàng.

Đơn vị Ký Con đã chiến thắng lần thứ hai bọn thủy quân Pháp. Từ sau trận này cho tới trước ngày toàn quốc kháng chiến, bọn địch ở Vạn Hoa không dám bén mảng đến vùng biển và hải đảo thuộc Đặc khu Hồng Gai và tỉnh Quảng Yên nữa.

Phát huy chiến thắng, quân ta đã nhiều lần dùng tàu “Ký Con” phối hợp với bộ binh, tiến đánh địch ở nhiều nơi. Có lần ta đã đưa tàu ra pháo kích các vị trí đóng quân của địch ở đảo Vạn Hoa để ngăn chặn các hoạt động phá hoại của chúng trên vùng biển Hải Ninh.

Đến cuối tháng 11 năm 1945, ta tổ chức tiến đánh bọn Pháp để giải phóng đảo Cô Tô. Nhưng ta không nắm được tình hình địch vừa tăng cường thêm lực lượng, nên trận đánh không thành công. Trong trận này ta chỉ diệt được một số tên địch. Nhưng quân ta bị địch bao vây. Mười bảy chiến sĩ hy sinh dũng cảm, một số lớn đồng chí bị bắt, chỉ có một vài người thoát được.

Kể từ ngày thành lập đại đội Ký Con, đây là lần chịu tổn thất tương đối lớn. Sự hy sinh dũng cảm của các chiến sĩ đại đội Ký Con mãi mãi là tấm gương sáng chói về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, về truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam và mãi khắc ghi trong lòng nhân dân vùng mỏ Quảng Ninh.


(1) Tàu Cray-xắc là chiếc tàu được trang bị mạnh nhất ở Quảng Ninh. Tàu được biên chế 15 sĩ quan và thủy thủ. Trang bị của tàu gồm một khẩu đội pháo 37 mi-li-mét, hai trọng liên 12,7 mi-li-mét, năm đại liên, một ba-dô-ca, năm trung liên, các-bin và một số súng ngắn. Ngoài ra trên tàu còn có một máy vô tuyến điện để liên lạc giữa tàu với căn cứ.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:43:52 pm
(https://lh3.googleusercontent.com/Tm7eOv9rokRdZmPibscg6mMK7tcPa7NmEUY6tFmFoIXBbXVWVynbxuT3zHZ0jjbVqtXZoYtVieiYwm6W1dvdct9MVkMdjknF4t1tZo3CYZK7ACJdog5vg8GDdadGR6BU2eabAf3PcsrrF8VOeNvVg6cKvR0n7DwJUdR9b7Zgtit8Ghx89AiKYtgMQI6qVJ-7_KjfxprWEpkn848XBMPO84iToWZVLJYAoiQTstethqwrIbuHtwS37iarE2Xvc4aSfv0tTAnHMaVN27ifNB0mYIy0huXPFDos_6VGlMeH96a0DI5iEXoUVs53-AWiX7Qj1-hS4xb5hTCZYKvVTI8gGeHvY-7r9OwFNhjihHcYjQUPWYC3fodinS9j4HGMg0GGvD8jNeaX4qNvQQF479YQcdtZFfN3QXr9phsiNAJ5ExkRhtGwFzJlQPTY_d_w5RoKN-jkB5gl3F9j0m7VySiyEl1I3qjaEB2Q1wnqSDfWq6UCedgXZpEawrFMMysQ9jY95b1SreXyifr2cuDU48Y5yEt1N_dfoUnJFuErXXjvfjuEJ_3cGzuWr2hLMa8pJwmli6N0OGYUDPUHLElo0L1TjS-qz5uRCA1nDSYuak6smk49jG-uAF1WHqQG=w1442-h832-no)

Sơ đồ diễn biến trận đánh chiếm tàu Cray-xắc và tàu Ô-đa-xi-ơ của đại đội Ký Con
(ngày 7 và 11-9-1945)


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:46:04 pm
*

Từ hạ tuần tháng 8 năm 1945, theo hiệp định ký kết giữa các nước Đồng minh chống phát xít, các cánh quân của Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc nước ta để giải giáp quân đội Nhật. Tháng 9 năm 1945, các đơn vị của quân đoàn 62 vào Hồng Gai, Quảng Yên. Tháng 11 năm 1945, một bộ phận của quân đoàn 50 vào Đông Triều, Phải Lại. Sáu trăm tên quân “Việt cách” do tên Vũ Kim Thành cầm đầu từ Trung Quốc cũng theo quân Tưởng vào đóng ở Quảng Yên, Hồng Gai.

Trung tuần tháng 9, khi quân Tưởng đến thị xã Hồng Gai, ta đã tổ chức minh tinh đón bọn chúng nhằm biểu thị cho chúng biết “đất này đã có chủ” và biểu dương sức mạnh của quần chúng cách mạng. Nhưng trước thái độ hống hách của quân Tưởng, cuộc mít tinh đã không thành. 12 giờ trưa hôm ấy, quân Tưởng đã bất ngờ nổ súng bắn vào nhân dân và các cơ quan, vị trí đóng quân đòi tước vũ khí của quân ta. Đại đội Ký Con đã nổ súng bắn trả. Cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra trong ba ngày liền. Sau đó do hết đạn, đại đội Ký Con đã rút ra ngoài dãy núi trước Lán Bè. Quân Tưởng đã chiếm đóng các công sở của ta và dựa vào một số Hoa kiều xấu, chúng đã khủng bố nhân dân để trả thù.

Trước hành động của quân Tưởng ở Hồng Gai, Chính phủ ta đã cử phái đoàn đặc biệt về can thiệp. Quân Tưởng buộc phải trả lại các công sở và thả những người bị bắt. Sau sự kiện này, ta đã rút được những kinh nghiệm về đối sách với kẻ thù.

Quán triệt tinh thần chỉ thị của Trung ương trong quan hệ với quân Tưởng, cán bộ, chiến sĩ của ta đã xử trí mềm dẻo, khéo léo, đồng thời kiên quyết giữ vững chủ quyền và độc lập, không cho chúng có cớ để can thiệp vào nội trị của ta; đồng thời ra sức củng cố chính quyền nhân dân, dựa vào sức mạnh to lớn của nhân dân để đấu tranh với những hành động khiêu khích của quân Tưởng và các đảng phái phản động tay sai của chúng.

Để tránh đụng độ có thể tiếp tục xảy ra, đại đội Ký Con về đóng quân ở Cát Bà.

Mặc dù ta đã hết sức mềm dẻo, nhưng với âm mưu thâm độc nhằm thôn tính đất nước ta, quân Tưởng vẫn lấn tới. Một mặt chúng tiếp tay cho bọn “Việt quốc”, “Việt cách” làm càn, mặt khác chúng liên lạc với bọn phỉ ở Đông Triều, Năm Mẫu, Trại Thán, Bang Trới, Dương Huy… để phá hoại. Chúng còn xúi giục một bộ phận Hoa kiều biểu tình gây rối ở Hồng Gai.

Chúng yêu sách nhiều điều vô lý như đồi ta nộp lương thực, thực phẩm cho quân đội của chúng, phải tiêu tiền quan kim đã mất giá, quân của chúng lại luôn cướp bóc, trêu ghẹo phụ nữ. Do đó khó tránh khỏi những vụ xô xát giữa nhân dân ta với đội quân ô hợp này.

Bọn quân “Việt quốc”, “Việt cách” ngoài việc cướp bóc và làm bầy như quan thầy, chúng cũng không che giấu âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng. Bọn này giương cờ xanh sao trắng giống như cờ của Tưởng, mặc quân phục kiểu Tưởng, nêu chiêu bài “ái quốc, ái quần”, tự xưng là “những nhà cách mạng từ hải ngoại trở về”. Chúng phát hành báo chí, truyền đơn và dùng cả loa truyền thanh để phỉ báng chính quyền cách mạng và ra sức lừa bịp nhân dân. Những vụ cướp của, tống tiền, thủ tiêu cán bộ và quần chúng cốt cán của cách mạng được chúng tiến hành thường xuyên. Chúng còn cướp cả một thuyền gạo của Chính phủ mang cứu đói cho đồng bào tại địa phận Yên Hưng. Ở Uông Bí chúng đánh úp bộ đội ta hai trận và bắt hai tiểu đội nên buộc ta phải dùng ba đại đội để bao vây và bắt sống toán quân này.

*

Cùng lúc phải đối phó với quân Tưởng và bọn Việt quốc, Việt cách, chính quyền cách mạng của ta còn phải trấn áp, tiêu diệt bọn thổ phỉ đang hoành hành ở khắp nơi.

Với âm mưu mở rộng địa bàn hoạt động nối thông hành lang giữa vùng cao của tỉnh Quảng Yên với khu mỏ Hồng Gai - Cẩm Phả, đầu tháng 9 năm 1945, hàng nghìn quân phỉ từ Traị Thán (Sơn Động) do tên Cai Hưng chỉ huy đã hợp lực với bọn phỉ ở Trới do tên Bang Phúc cầm đầu tiến đánh thị trấn Trới (huyện lỵ Hoành Bồ). Bọn phỉ đã tập trung quân đánh chiếm huyện lỵ Hoành Bồ. Sau khi chiếm Hoành Bồ địch đã gây cho ta không ít khó khăn trong việc giành chính quyền ở các huyện vùng cao. Chúng đã nhiều lần ra Hà Lầm cướp bóc, quấy phá và có lần chúng đã tập trung phần lớn lực lượng định đổ bộ lên Bãi Cháy để từ đó khống chế và tiến tới đánh chiếm Hồng Gai. Trước ý đồ thâm hiểm của chúng, ta đã khéo léo vận động, tranh thủ sự hỗ trợ của một đơn vị quân Nhật đóng quân tại đây buộc quân phỉ không dám đặt chân lên bờ. Đồng thời lệnh cho đại đội Ký Con tiến quân vào Trới. Được sự hỗ trợ của nhân dân địa phương, đơn vị đã tiêu diệt phần lớn quân phỉ ở đây, đập tan căn cứ sào huyệt của chúng, buộc số còn lại phải tháo chạy. Huyện lỵ Hoành Bồ được giải phóng khỏi ách kìm kẹp của bọn thổ phỉ.

Tháng 11 năm 1945, Ủy ban nhân dân Hoành Bồ được thành lập, cả một vùng cao đông – bắc của tỉnh Quảng Yên đã có chính quyền nhân dân.

Cùng thời gian trấn áp bọn thổ phỉ ở Hoành Bồ, đảng bộ và chính quyền Quảng Yên đã chủ trương giành lạp chính quyền ở huyện Cẩm Phả.

Cẩm Phả là một huyện đảo của tỉnh Quảng Yên. Cái Bầu là đảo lớn nhất và là trung tâm của huyện. Tại đây sau ngày Tổng khởi nghĩa một số địa chủ, cường hào đã đứng ra lập chính quyền, nhưng thực ra là để khéo léo duy trì quyền lực cũ của họ. Trước hành động cướp bóc, phá hoại hàng ngày của bọn tàn quân Pháp từ Vạn Hoa tới và các loại hải phỉ, thổ phỉ, Nghiêm Cảnh Đông – một nhân vật có thể lực trong vùng đã đứng ra chiêu mộ được năm trăm quân tổ chức ra “Duyên biên tự vệ đội” để chiến đấu bảo vệ nhân dân địa phương. Tuy đã có lực lượng vũ trang tự vệ nhưng không có sự lãnh đạo của cách mạng nên sức chiến đấu của tổ chức này ít hiệu lực. Bọn phỉ và Pháp vẫn tiếp tục hoành hành, khống chế nhân dân.

Tháng 10 năm 1945, một bộ phận của đại đội Ký Con được cử ra Cái Bầu để phối hợp hoạt động với các cán bộ của địa phương. Ta đã gây cơ sở trong nhân dân và xây dựng các đoàn thể quần chúng. Cùng với việc vận động nhân dân, bộ đội Ký Con đã chiến đấu tiễu trừ thổ phỉ, diệt nhiều ổ phỉ gian ác, cùng với nhân dân địa phương kêu gọi những người lầm đường theo phỉ ở Cái Bầu, Mông Dương, Ba Chẽ nộp cho cách mạng 80 khẩu súng. Nhiều người đã rời bỏ hàng ngũ phỉ về địa phương làm ăn lương thiện.

Cán bộ địa phương và bộ đội đơn vị Ký Con cũng đã thuyết phục được Nghiêm Cảnh Đông và “Duyên biên tự vệ đội” đi theo cách mạng (sau này Nghiêm Cảnh Đông đã vào căn cứ kháng chiến của tỉnh Quảng Yên và tham gia công tác Hoa vận).

Tháng 11 năm 1945, chính quyền nhân dân được thiết lập trên vùng đảo Cẩm Phả. Đến đây sự nghiệp của cuộc Cách mạng tháng Tám đã được hoàn thành trên toàn bộ địa bàn tỉnh Quảng yên. Trên địa bàn Hải Ninh việc thiết lập chính quyền cách mạng đang gặp nhiều khó khăn trở ngại.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:47:39 pm
2. Giành lại chủ quyền tại thị xã Móng Cái, thiết lập chính quyền cách mạng trên toàn tỉnh Hải Ninh.

Hải Ninh bao gồm các huyện: Đình Lập, Bình Liêu, Móng Cái, Hà Cối, Đầm Hà, Tiên Yên và Ba Chẽ, là phần lãnh thổ phía đông của Quảng Ninh ngày nay và là vùng đất giếp giáp với Trung Quốc ở về phía đông – bắc của Bắc Bộ. Là một tỉnh biên giới, lại ở vào một vị trí đặc biệt xung yếu, tình hình chính trị - xã hội ở đây rất phức tạp.

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, khi quân Đồng minh chuyển sang phản công, chính quyền của Tưởng Giới Thạch với tư cách là một nước tham gia phe Đồng minh chống phát xít, đã ôm ấp âm mưu thôn tính nước ta khi quân Nhật bại trận. Chúng đã triển khai kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” ngay từ năm 1942 bằng cách nuôi dưỡng và xây dựng lực lượng vũ trang cho các bọn phản động tay sai của chúng trên đất Trung Quốc. Mùa hè năm 1945 khi phát xít Nhật đang đi trên thất bại hoàn toàn, lực lượng vũ trang của các bọn phản động tay sai quân Tưởng là Việt Nam cách mệnh đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng đã xâm nhập Hải Ninh và Quảng Yên. Một số trong bọn này đã câu kết với bọn thổ phỉ ở địa phương lập các sào huyệt ở Ba Chẽ (Hải Ninh), thị xã Cẩm Phả và huyện Hoành Bồ (Quảng Yên). Trước ngày Tổng khởi nghĩa, để làm một “chuyện đã rồi” quân đội Tưởng từ Đông Hưng, Trung Quốc đã tràn sang chiếm thị xã Móng Cái – tỉnh lỵ của tỉnh Hải Ninh. Tình hình của tỉnh địa đầu này vốn đã phức tạp lại càng thêm phức tạp. Trên địa bàn của tỉnh nơi thì thổ phỉ lập căn cứ, nơi thì bọn tàn quân Pháp chiếm đóng, nơi thì quân đội Tưởng và bọn phản động tay sai quân Tưởng đóng, nơi thì nhân dân địa phương tự quản.

Bằng mọi giá phải đấu tranh để thu hồi lại lãnh thổ và chủ quyền của Tổ quốc đang nằm trong tay quân Tưởng và các loại kẻ thù khác; đó là quyết tâm của Liên khu ủy 3 và Chiến khu 3, cũng như của Trung ương Đảng và Chính phủ. Quá trình khôi phục chủ quyền, thiết lập chính quyền ở Hải Ninh được bắt đầu với việc đánh đuổi bọn phỉ ở Tiên Yên và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên bốn huyện phía tây và tây – bắc của tỉnh là Tiên Yên, Đình Lập, Đầm Hà, Bình Liêu, trong đó chiến thắng Tiên Yên có ý nghĩa to lớn đối với việc giành quyền làm chủ của các nơi khác cũng như đối với toàn tỉnh Hải Ninh sau này.

Sau khi quân Nhật rút đi (tháng 8 năm 1945) hàng nghìn tên phỉ do các tên Trương Ngộ Kiều và Lưu Sĩ Long chỉ huy từ Lạng Sơn tràn xuống, từ Trung Quốc tràn sang chiếm huyện lỵ Tiên Yên. Lực lượng bảo vệ an ninh của Nhật tan rã, các đồng chí Đào Lộc và đồng chí Hùng là cán bộ Việt Minh của địa phương đã tranh thủ thời cơ vận động được hai chục bảo an binh mang súng về với cách mạng không để bọn phỉ lôi kéo mua chuộc. Trong điều kiện lực lượng địch đông, lực lượng ta quá mỏng không đủ sức để đối đầu với địch, các đồng chí Lộc và Hùng đã đem 30 khẩu súng và hai thuyền lương thực về Hồng Gai để ủng hộ bộ đội và đón anh em ra giải phóng Tiên Yên.

Tháng 9 năm 1945, một trung đội của đại đội Ký Con do đồng chí Nguyễn Mạnh Chất và đồng chí Đoàn Phụng chỉ huy đã đi từ Hồng Gai ra Tiên Lãng (một xã ngoại vi của thị trấn Tiên Yên). Để hạn chế bớt khó khăn ta đã cử người đến gặp bọn chỉ huy quân Tưởng yêu cầu chúng giữ thái độ trung lập khi có đụng độ giữa quân ta và quân phỉ.

Được biết có bộ đội về, mặc dù quân phỉ còn đóng trong thị trấn, nhưng nhân dân vẫn bí mật vượt qua hàng rào kiểm soát của chúng tiếp tế cho bộ đội. Có người còn lấy được cả súng đạn cung cấp cho bộ đội.

Sau một thời gian ngắn vừa tuyên truyền vận động quần chúng, vừa điều tra nghiên cứu tình hình địch và xây dựng kế hoạch tác chiến, bộ đội đã phối hợp với cán bộ địa phương tổ chức được các đoàn thể và ba tiểu đội du kích.

Đầu tháng 10, ta mở cuộc tiến công bọn phỉ ở Tiên yên. Mở đầu trận đánh ta dùng kế hoạch nghi binh. Cho một số chiến sĩ du kích vác cờ đỏ sao vàng tổ chức thành nhiều mũi chạy lên núi. Tưởng quân ta đông, bọn chỉ huy phỉ đã hốt hoảng cho quân rút chạy về Đầm Hà. Tranh thủ thời cơ quân ta liền vượt sông sang chiếm huyện lỵ.

Mấy ngày sau biết lực lượng ta ít, bọn phỉ từ Đầm Hà lại kéo về Tiên Yên dựa vào quân Tưởng để chiếm huyện lỵ. Trước tình hình đó, quân ta tạm rút lui để bảo toàn lực lượng và chờ lực lượng tăng cường của chiến khu.

Từ cuối tháng 10 đến ngày 8 tháng 11 năm 1945, hai tiểu đoàn thuộc chi đội 1 của Chiến khu 3 đến Tiên Yên. Lực lượng “Duyên biên tự vệ đội” huy động gần hai chục thuyền lớn để chuyển quân và lương thực cho chi đội.

Sau ba ngày đêm chiến đấu ác liệt quân ta hết đạn, hết lương thực, trong khi đó bốn thuyền chở đạn và gạo tiếp tế lại không vào được bờ vì bị địch bắn chặn rất dữ dội. Giữa lúc tình hình gay go căng thẳng, hai em thiếu niên ở địa phương là Tuyên và Quân đã bí mật lặn xuống sông dìu thuyền vào bờ, nơi có cây che khuất rồi đưa gạo lên trận địa cho bộ đội.

Biết rõ 700 quân phỉ cũng đang thiếu gạo, bộ đội ta đã tiến công mạnh buộc chúng phải tháo chạy về Đầm Hà. Mấy ngày sau bọn Trương Ngộ Kiều đã huy động 2.000 quân chiếm lại Tiên Yên, nhưng lúc này quân Tưởng đã rút khỏi Tiên Yên, lại bị quân ta đánh mạnh nên chúng buộc phải rút chạy. Tiên Yên đã sạch bóng quân thù. Chính quyền nhân dân và Mặt trận Việt Minh đã được tổ chức từ cấp xã cho đến cấp huyện. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Tiên Yên do đồng chí Lê Bảy làm chủ tịch.

Tháng 11 năm 1945, đồng chí Lê Thanh Nghị đặc phái viên của Chính phủ ta đã về kiểm tra tình hình ở Tiên Yên. Thay mặt Chính phủ, đồng chí đã biểu dương bộ đội và nhân dân địa phương. Đồng chí nhắc nhở địa phương phải cảnh giác với âm mưu địch, ra sức xây dựng cơ sở quần chúng, củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng.

Sau khi giải phóng Tiên Yên, lợi dụng lúc quân Tưởng vừa rút quân khỏi Đầm Hà, bộ đội ta đã tổ chức nhiều trận chiến đấu đánh đuổi bọn phỉ ở đây và xây dựng chính quyền ở các xã người Kinh. Tiếp đó cán bộ và bộ đội ta đã liên lạc được với các tổ chức tự quản của nhân dân Đình Lập và Bình Liêu. Ngày 18 tháng 11 năm 1945, chính quyền nhân dân cách mạng được thành lập ở huyện Đình Lập và đến cuối tháng 11 thành lập ở huyện Bình Liêu.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:48:53 pm
*

Sau khi thành lập, Khu ủy và Bộ tư lệnh chiến khu 3, Chiến khu 12 rất quan tâm đến phong trào ở Hải Ninh. Tháng 4 năm 1946, trung đoàn Tiên Yên được lệnh đánh chiếm lại thị xã Móng Cái. Từ Tiên Yên, Đầm Hà quân ta đã đổ bộ lên Móng Cái đánh chiếm được gần hết thị xã. Tình hình đang phát triển thuận lợi thì quân Tưởng từ bên kia biên giới đã vượt sông Bắc Luân sang đánh bật quân ta ra ngoài. Để tăng cường thêm lực lượng cho địa bàn trọng điểm này, cuối tháng 7 năm 1946, Liên khu ủy 12 và Bộ tư lệnh Chiến khu 12 đã điều động trung 132 do đồng chí Ngô Luân chỉ huy tiến vào Hải Ninh. Trung đoàn 132 đã phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương gây dựng cơ sở ở các xã miền núi thuộc các huyện Đình Lập và Bình Liêu và một số xã thuộc Tiên Yên làm chỗ đứng chân để hoạt động lâu dài.

Cũng trong thời gian này, Trung ương Đảng và Chính phủ đã có chủ trương đấu tranh buộc chính quyền Tưởng Giới Thạch phải trao trả chủ quyền ở Hải Ninh cho ta và không được can thiệp vào tình hình nội trị của ta. Cuối tháng 7 năm 1946, một phái đoàn đại diện của Chính phủ ta đã ra Hải Ninh với chủ trương thành lập một chính quyền liên hiệp cấp tỉnh. Một đơn vị của trung đoàn Tiên Yên được cử đi cùng để bảo vệ đoàn, đồng thời nhằm trấn áp tinh thần bọn chỉ huy quân Tưởng. Ta đã khéo léo đưa một số quan lại cũ vào tham gia Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh, đồng chí Vũ Đình Đức được cử làm chủ tịch. Trước tình hình đó chính quyền Tưởng không còn cớ gì để lưu quân đội lại nữa, buộc phải rút lui. Thị xã Móng Cái thoát khỏi ách chiếm đóng của quân Tưởng. Lá cờ đỏ sao vàng biểu tượng của nước Việt Nam độc lập, dân chủ phấp phới tung bay ngay trên mỏm Bắc Luân, mảnh đất địa đầu phía đông – bắc của Tổ quốc.

Tuy quân đội Tưởng đã sạch bóng trên đất Móng Cái, nhưng công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng ở đây còn nhiều khó khăn gian khổ.

Mặc dù đã thành lập, nhưng ủy ban hành chính cấp tỉnh ở Móng Cái thực chất chỉ làm công tác đối ngoại. Chính quyền địa phương chưa đảm đương được nhiệm vụ nặng nề về công tác nội trị. Mặt khác, ủy ban gồm nhiều người thuộc nhiều phe phái, tầng lớp và dân tộc tham gia do vậy các cán bộ lãnh đạo của ta ở đây vừa phải vận động giáo dục những người có nhiệt tâm phục vụ đất nước, vừa tìm mọi cách hạn chế mọi hành động tiêu cực của những kẻ cơ hội, để xây dựng chính quyền cách mạng ngày một vững mạnh.

Với sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của bộ đội trung đoàn Tiên Yên và các cán bộ địa phương, chỉ trong một thời gian ngắn ta đã tổ chức chính quyền địa phương ở 21 xã và các tổng Bát Tràng, Ninh Hải, Vạn Ninh, xây dựng được các ban Việt Minh ở nhiều xã và tổ chức công đoàn ở cấp huyện và thị xã. Ba đội du kích tập trung của thị xã Móng Cái được thành lập, trong đó có nhiều cựu binh sĩ tham gia.

Tháng 8 năm 1946, Liên khu ủy 12 có đồng chí Hoàng Chính và một số cán bộ về Hải Ninh để xây dựng tổ chức Đảng và chính quyền.

Ngày 6 tháng 8 năm 1946, chi bộ Đảng đầu tiên của Hải Ninh được thành lập tại Đình Lập. Chi bộ gồm năm người do đồng chí Hoàng Chính làm bí thư. Ngày 15 tháng 6 năm 1946, chi bộ này được công nhận là Ban cán sự đảng bộ tỉnh Hải Ninh.

(https://lh3.googleusercontent.com/rZb0LSx93GdbpwjW5hm31dyyGBuAId0nFXPPar4hoFYvqYy-92TrdsQKq-OIKPLDadCNJ_owAc6eavyFt3va5_vO_Ihm6OTNG_qa1sFIsucUFXB94Voxc5G4rASGo_nJUOaslkKC09dW91DYwS9cOB_7xdL7kFXmLh6HUMn4fqMpoCZgzFWbzj67HbVCFmd7KO8qxEw7lb5hhMIuC-Qhv-NmB8r0VcFWu-6-PSSPHo_l8kW1SNE2xmnYd1qTfgSxIFFXhN5jr2pTAf3o1ayDsq0BjBuVoPxiEWhNdsaP-TNkxDB2XSyZcDzjmSF7mUIV5YhVWQL1lBi0jQXq0Uct70Mdsij6OxyRTzZCiSS0cpV3nOhtn_vHf8ol7bPGod1BXeb4Kp2JQIBSsBe_0KuYof5Hd7y-BMkgNUGLBu2LTMkG8fyDmyI7g2pVrJgWF1r5x_AGeUkQAWfMYjlgUFTA_PNjFWvr2fX6-Zs8naSqp8VCnCG-_0iplhFAoAfVJXTolX6Gs42pwPqBXwOCAoL0R1kx_mdsMcPoqJinDZhOYuNCXCjgR8YVUc0vEKs36-blq3niqq3XGk85NFlnYvWWuzk2d_bc_f2AHDYA83uSqxFTyMTddWRU6m7l=w451-h640-no)

Đồng chí Hoàng Chính

Cùng thời gian này, Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh được thành lập với những chức năng được quy định đầy đủ của một cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo hành chính cấp tỉnh. Đồng chí Nguyễn Xuân Trúc được phân công làm chủ tịch. Trụ sở của ủy ban đóng ở huyện Đình Lập. Như vậy là lúc này ở Hải Ninh tồn tại song song hai ủy ban hành chính cấp tỉnh, một đặt trụ sở ở Móng Cái, một đặt trụ sở ở Đình Lập. Ủy ban hành chính ở Móng Cái thực chất chỉ để làm công tác đối ngoại với quân Tưởng, còn ủy ban ở Đình Lập mới là cơ quan quyền lực thực thực sự của nhân dân. Đây là nét độc đảo của Quảng Ninh trong những ngày đầu cách mạng thành công.

Cuối tháng 8 năm 1946, Ban cán sự Hải Ninh họp phiên đầu tiên và đề ra những nhiệm vụ trước mắt:

- Một là, xây dựng lực lượng và đẩy mạnh hoạt động vũ trang để hỗ trợ mọi mặt công tác. Tất cả các địa phương phải chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

- Hai là, đoàn kết các dân tộc anh em, tập hợp mọi lực lượng kháng chiến, xây dựng lại các tổ chức quần chúng.

- Ba là, củng cố chính quyền huyện Tiên Yên, đẩy mạnh mọi hoạt động để giữ vững lòng tin của nhân dân.

Như vậy là gần tròn một năm sau ngày Tổng khởi nghĩa Hải Ninh mới hoàn thành về cơ bản việc thành lập chính quyền trong tỉnh. Trừ huyện Hà Cối, Ba Chẽ và quần đảo Cô Tô lúc này còn bị bọn tàn quân Pháp và bọn phỉ chiếm đóng, tất cả các huyện còn lại trong tỉnh đều đã được giải phóng và có chính quyền nhân dân.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:51:48 pm
3. Trừng trị bọn phản động Việt quốc, Việt cách. Đấu tranh chống hành động gây hấn của quân Pháp. Tích cực chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tiến hành để bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân củ cộng hòa.

Cùng với cả nước, nhân dân Quảng Ninh nô nức tham gia ngày hội lớn của dân tộc, thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân của nước Việt Nam độc lập, tự do.

Bọn phản động Việt quốc, Việt cách dùng mọi thủ đoạn để phá hoại cuộc bầu cử, tuyên truyền xuyên tạc ý nghĩa cuộc bầu cử, nói xấu Đảng ta, trắng trợn hơn nữa chúng dùng cả vũ lực để uy hiếp quần chúng. Nhưng mặc cho kẻ thù dùng mọi thủ đoạn xấu xa, bỉ ổi, trong ngày hội lớn này nhân dân đã kết thành đội ngũ chặt chẽ dưới rừng cờ đỏ sao vàng và các biểu ngữ đầy khí thế cách mạng, tiến tới các địa điểm bầu cử. Khí thế cách mạng đã lôi cuốn cả những người còn lừng chừng, phân vân hòa nhập vào dòng người đi bỏ phiếu và làm cho lực lượng thù địch phải khiếp sợ, bó tay không dám thực hiện các hành động tội ác, phá hoại.

Ở thị xã Quảng Yên, Hồng Gai, Cẩm Phả, số cử tri đi bỏ phiếu đạt từ 80 đến 90 phần trăm. Những ứng cử viên do Mặt trận Việt Minh giới thiệu cũng trúng cử với tỷ lệ số phiếu từ 80 đến 90 phần trăm. Những tên do bọn đảng phái tay sai quân Tưởng đưa ra bị thất bại thảm hại. ở Quảng Yên chúng chỉ được 200 phiếu bầu trong số cử tri hàng vạn người.

Cuộc Tổng tuyển cử thành công rực rỡ. Sáu đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên đã được bầu ở Quảng Ninh.

Sau Tổng tuyển cử, để tăng cường đoàn kết dân tộc, Chính phủ liên hiệp được thành lập ở Trung ương, bao gồm cả các nhân sĩ không đảng phái và đại diện của các đảng phái như Việt Nam quốc dân đảng, Việt Nam cách mệnh đồng minh hội.

Đến đầu tháng 6 năm 1946, nhân dân tỉnh Quảng Yên, Đặc khu Hồng Gai và huyện Tiên Yên đã tổ chức bầu cử hội đồng nhân dân các cấp. Sau đó ủy ban hành chính các cấp ra đời thay thế cho ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời trước kia.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử và bầu cử hội đồng nhân dân các cấp đã củng cố vững chắc thêm một bước chính quyền cách mạng của ta ở Quảng Ninh.

Trái lại, bị thất bại trong cuộc Tổng tuyển cử tháng 1 năm 1946, bọn phản động tay sai Tưởng ở Quảng Ninh vô cùng cay cú. ỷ vào lực lượng đông lại có quân Tưởng hỗ trợ, ngày 26 tháng 2 năm 1946, bọn Việt cách đã bất ngờ bao vây trụ sở làm việc của cơ quan lãnh đạo của Đặc khu Hồng Gai và bắt các đồng chí Cao Tử Kiến và Trịnh Tam Tỉnh là bí thư và chủ tịch của đặc khu. Tình huống xảy ra rất nguy hiểm. Không thể để các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của khu mỏ rơi vào tay địch. Quân ta đã cải trang làm bảo an binh táo bạo đột nhập vào nơi đóng quân của chúng để giải thoát các cán bộ lãnh đạo của ta. Với hành động táo bạo của cán bộ chiến sĩ cải trang lọt vào vị trí địch và với sự khôn khéo, mưu trí của đồng chí Tỉnh và đồng chí Kiến, cả hai đồng chí đã thoát khỏi tay kẻ địch. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bộ đội ta đã cảnh cáo bọn lính địch và thuyết phục được một số người cầm súng đi theo cách mạng.

(http://baoquangninh.com.vn/dataimages/201605/original/images865588_Tr4._trinh_tam_tinh.jpg)

Đồng chí Trịnh Tam Tỉnh
(1907-1992)

Tuy giải thoát được các đồng chí Cao Tử Kiến và Trịnh Tam Tỉnh, nhưng chính quyền ở thị xã Hồng Gai đã lọt vào tay địch. Đây là một tổn thất bất ngờ do ta không theo dõi nắm chắc tình hình và âm mưu địch. Sau sự kiện này lãnh đạo Đặc khu Hồng Gai và cá tổ chức vũ trang của ta đã kịp thời rút kinh nghiệm và đề cao cảnh giác với bọn phản động này.

Cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1946, bọn Việt cách lại theo đường thủy định ra đánh chiếm Cửa Ông. Quân ta đã kịp thời phát hiện và chủ động chuẩn bị chống địch. Một mặt ta đã tập trung lực lượng bộ đội chủ lực và lực lượng tự vệ chiến đấu trên bờ sẵn sàng nổ súng, một mặt ta lãnh đạo công nhân bến cảng Cửa Ông đình công làm áp lực buộc bọn chủ mỏ phải can thiệp với quân Tưởng để ngăn chặn bọn Việt cách. Sự kiện xảy ra đúng vào lúc có tàu nước ngoài đang đến ăn than nên chủ mỏ sợ mất quyền lợi kinh tế đã đề nghị quân Tưởng dùng ảnh hưởng của chúng không cho quân Việt cách lên bờ. Cuộc thương lượng đã đạt được kết quả. Toàn bộ số thuyền của quân Việt cách phải chạy ra đảo Vân Hải. Cửa Ông được bảo vệ an toàn.

Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hiệp định sơ bộ được ký kết giữa Chính phủ ta và Chính phủ Pháp. Theo hiệp định này, đầu tháng 4 năm 1946, 15.000 quân Pháp sẽ thay thế quân Tưởng trên miền Bắc. Tình hình này đòi hỏi ta phải giành lại chính quyền ở thị xã Hồng Gai ngay sau khi quân Tưởng rút và quân Pháp chưa kịp kéo ra. Ban cán sự đặc khu và chính quyền thị xã Hồng Gai đã điều cán bộ tăng cường vào trong nội thị để xây dựng lực lượng tại chỗ, vận động quần chúng nhân dân chuẩn bị đấu tranh với địch. Nhờ có sự hoạt động tích cực của ta nên mặc dù quân Việt cách chiếm được thị xã mà không nắm được dân, không làm chủ được các khu phố, nhà máy, hầm mỏ.

Ngày 4 tháng 4 năm 1946, khi quân Tưởng vừa rút khỏi thị xã thì các dãy phố đã đỏ rực cờ đỏ sao vàng, các chiến sĩ tự vệ đã xuất hiện trên các ngả đường. Các đơn vị bộ đội chủ lực của ta từ các ngả cũng tiến vào thị xã.

Bọn Việt cách vô cùng hoảng sợ, không dám hành động gì. Ngày 12 tháng 4 năm 1946, chúng đã rút chạy khỏi Hồng Gai.

Tiếp theo việc đuổi bọn Việt cách khỏi Hồng Gai, đến tháng 7 năm 1946, nhân vụ Ôn Như hầu bị phát giác tại Hà Nội, chính quyền tỉnh Quảng Yên đã tổ chức khám xét trụ sở của bọn Việt quốc, Việt cách thị thị xã Quảng Yên.

Ta đã tổ chức biểu tình thị uy, được đông đảo nhân dân ở thị xã và các xã lân cận tham gia, làm áp lực cho lực lượng công an của ta vào khám xét trụ sở của chúng. Quần chúng vô cùng căm phẫn khi thấy có dấu vết của những người bị chúng thủ tiêu. Trước áp lực của nhân dân và sức mạnh của chính quyền cách mạng, bọn Việt quốc, Việt cách đã rút lui khỏi thị xã Quảng Yên.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:53:24 pm
*

Theo Hiệp định sơ bộ ngày 15 tháng 4 năm 1946, 1.025 lính Pháp từ miền Nam ra đóng quân ở thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả và Cửa Ông. Để giám sát việc thi hành hiệp định, các ban liên kiểm (gồm đại biểu quân đội ta và quân đội Pháp được thành lập ở các cấp). Dưới Ban liên kiểm có các đơn vị liên quân tiếp phòng (do một bộ phận của quân đội hai bên có lực lượng và trang bị ngang nhau) làm nhiệm vụ canh gác ở các địa điểm do hai bên quy định và giải quyết các vụ tranh chấp về quân sự quân đội hai bên.

Hiệp định sơ bộ được coi là bước đầu để đi tới một giải pháp toàn diện, cơ bản cho vấn đề Việt Nam.

Nhưng ngay từ khi mới đặt chân lên miền Bắc, quân Pháp đã bộc lộ ý đồ muốn xóa bỏ chữ ký chưa ráo mực của chúng.

Ở Hồng Gai, vừa đổ bộ lên đất liền quân Pháp đã ngang nhiên đặt súng ở các đường phố để cấm nhân dân đi lại. Nhân dân ta đã lập tức xuống đường đấu tranh buộc chúng phải phá các ụ súng chặn đường trên các ngã ba, ngã tư.

Trên phạm vi khu mỏ, các địa điểm quân Pháp được phép đóng quân là Đồn Cao, Hà Tu, Hà Lầm, Cột 5 (Hồng Gai), nhà Đại lý thị xã Cẩm Phả, Đồn Cao và Lán Sàng (Cửa Ông). Nhưng đến ngày 5 tháng 6 năm 1946, chúng đã tập kích nơi đóng quân của ta ở Đồn Cay (Cửa Ông) bắn chết một số tự vệ và bộ đội ta, cướp 11 khẩu súng và ngang nhiên đóng lại ở vị trí này. Ở Hồng Gai, chúng cũng nổ súng bừa bãi xuống phố và bắn vào đồn công an.

Ngày 8 tháng 6 năm 1946, để phản đối thực dân Pháp tiếp tục chiến tranh xâm lược Nam Bộ và vi phạm Hiệp định sơ bộ trên phạm vi vùng mỏ, anh chị em công nhân, thợ thủ công, bồi bếp và cả cai ký ở Hồng Gai đã tham gia “Tuần lễ đình công” làm đình trệ sản xuất trong mỏ, ảnh hưởng đến sinh hoạt của bọn chủ mỏ và nhà binh Pháp. Đại diện của quân Pháp và chủ mỏ phải gặp chính quyền của đặc khu hứa thực hiện các yêu sách của cuộc đấu tranh như: Quân Pháp ở khu mỏ phải đình chỉ mọi hành động khiêu khích và xâm lược; đại biểu công nhân phải được tham gia điều khiển sản xuất ở xí nghiệp; chủ mỏ phải cung cấp nước ở những nơi công cộng; phải giảm mức công nhân phải khai thác hàng ngày.

Vụ khiêu khích ngày 5 tháng 6 chưa hết dư âm bất bình trong nhân dân, thì ngày 7 tháng 7 năm 1946 giặc Pháp lại gây ra một tội ác man rợ khác tại khr phố Lán Bè.

Nguyên nhân của vụ này là ngay từ khi đến đóng ở Đồn Cao (Hồng Gai), quân Pháp đã đóng rộng ra nhiều so với quy định đã được hai bên thỏa thuận. Nhân dân Lán Bè đã tổ chức đấu tranh theo hình thức bất hợp tác với chúng như không làm việc, không giao thiệp, không buôn bán với chúng.

Ngày 7 tháng 7, quân Pháp nổ súng khiêu khích vào lực lượng tự vệ của ta, anh em tự vệ liền bắn trả. Chúng tiếp tục bắn vào đồn công an, sau đó cho quân đến bao vây Lán Bè. Bọn Pháp dã man đã cho phun xăng vào dãy phố nhà tranh này và châm lửa đốt. Chín mươi người dân lao động vô tội đã bị giết hại vì đạn và lửa do bọn chúng gây ra, trong đó có nhiều cụ già và em nhỏ.

Vô cùng căm phẫn, nhân dân Hồng Gai đã liên tiếp tổ chức các cuộc đấu tranh. Công nhân nghỉ việc, cửa hàng đóng cửa, chợ búa không người, thuyền bè rời bến, đò phà không chở, bồi bếp không đến làm việc cho chủ Pháp. Các cuộc mít tinh, biểu tình tuần hành tố cáo tội ác của giặc nổ ra khắp nơi. Nhân dân quăng bàn ghế, giường tủ ra đường để chặn lối xe nhà binh. Tin nhân dân Lán Bè bị giặc Pháp tàn sát dã man đã được loan đi khắp nước. Nhân dân các tỉnh trong cả nước đã gửi thư, gửi tiền chia sẻ đau thương và giúp đỡ nhân dân Lán Bè.

*

Trong khi chính quyền của ta đang tập trung sức chỉ đạo phong trào đấu tranh đòi quân Pháp phải chấp hành nghiêm chỉnh các điều khoản trong Hiệp định sơ bộ, thì bọn chủ mỏ cũng gây cho ta những khó khăn phức tạp. Dựa vào thế của quân Pháp, bọn chủ mỏ trắng trợn áp ức, bóc lột công nhân. Chúng đuổi thợ một các vô cớ, hạn chế các hoạt động chính trị của thợ mỏ. Vin cớ khó tiêu thụ than chúng đã bớt lương, bớt gạo của công nhân. Hành động áp bức, bóc lột của bọn chủ mỏ không khác gì dưới thời Pháp thuộc.

Ngày 29 tháng 6 năm 1946, bốn nghìn công nhân của khu mỏ Hồng Gai, Cẩm Phả đã nhất loạt nghỉ việc làm tê liệt toàn bộ dây chuyển sản xuất. Cuộc đình công kéo dài suốt một tuần liền. Để ủng hộ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân vùng mỏ, cán bộ nhân viên cơ quan và Vệ quốc đoàn ở Đặc khu Hồng Gai đã chi viện lương thực, tiền của cho anh em và gia đình đang trực tiếp bị bọn chủ mỏ cúp lương, cắt gạo. Anh chị em công nhân ở Quảng Yên, Hải Dương và nhiều tỉnh bạn khác ở Bắc Bộ, Trung Bộ đã gửi đến công nhân vùng mỏ 8.300 đồng và một số gạo. Bộ Lao động nước ta ra tuyên bố ủng hộ thợ mỏ đấu tranh. Trước cuộc đấu tranh trực tiếp của 4.000 thợ mỏ và sự ủng hộ mạnh mẽ của phong trào công nhân cả nước, ngày 5 tháng 7 năm 1946, bọn chủ mỏ đã phải thỏa mãn mọi yêu sách của công nhân Hồng Gai – Cẩm Phả.

Từ đó cho đến cuối năm 1946, các cuộc đấu tranh chính trị của công nhân ở khu mỏ liên tiếp nổ ra mạnh mẽ. Đặc biệt từ khi chi bộ Đảng của thị xã Cẩm Phả được xây dựng và công đoàn của đặc khu được thành lập (vào tháng 9 năm 1946) thì phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân càng liên tục và có nội dung sát hợp hơn và ngày càng gắn với công cuộc chuẩn bị kháng chiến của toàn dân.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:54:45 pm
4. Tích cực xây dựng lực lượng chuẩn bị kháng chiến, Hải Ninh bước vào chiến đấu.

Từ đầu năm 1946 việc xây dựng lực lượng vũ trang và chuẩn bị kháng chiến của quan dân Quảng Ninh đã có những tiến bộ đáng kể. Sau khi ủy ban hành chính các cấp ra đời, trong tổ chức ủy ban có một ủy viên quân sự để giúp chính quyền chăm lo việc xây dựng lực lượng vũ trang và chuẩn bị chiến đấu. Việc phụ trách dân quân du kích và tự vệ trước đây do đoàn thể đảm nhiệm, nay chuyển sang chính quyền phụ trách.

Lúc này, ở nông thôn đã phân rõ: tổ chức dân quân làm nhiệm vụ canh gác và phục vụ chiến đấu do toàn dân tham gia theo nghĩa vụ, tổ chức du kích làm nhiêm vụ chiến đấu, nửa thoát ly sản xuất. Ở huyện do du kích tập trung, thoát ly sản xuất. Ở các thị xã có hai loại tự vệ: một loại làm nhiệm vụ như dân quân ở nông thôn, một loại làm nhiệm vụ chiến đấu. Ở cấp thị xã và tỉnh có các đội tự vệ chiến đấu tập trung hoặc các đội cảnh vệ làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan thay thế cho bộ đội.

Việc trang bị vũ khí cho lực lượng nửa vũ trang và ngay cả bộ đội chủ lực thời gian này không chỉ là vấn đề quân sự và do trên cấp phát, mà còn là phong trào tự trang bị của nhân dân. Nhân dân ta từ các em nhỏ, cụ già, đến các chị phụ nữ đều có nhiều cách để có vũ khí. Họ mua lại của lính Nhật, lính Tàu, lính của bọn đảng phái phản động, có khi họ còn cưỡng chiếm của những tên đi lẻ và thậm chí đột nhập cả vào kho vũ khí của chúng để lấy súng trang bị cho người thân của mình.

Công tác huấn luyện cho các cán bộ làm công tác quân sự do trường quân chính chiến khu và của tỉnh đảm nhiệm. Việc huấn luyện ở cơ sở do cán bộ, chiến sĩ Vệ quốc đoàn hoặc do anh em cựu binh sĩ phụ trách. Nhiều huyện đã tổ chức các đội cơ động đi các xã huấn luyện về cách đánh mìn, làm cạm bẫy.

(https://lh3.googleusercontent.com/QGJM8cCVhMjrSuftdCWZrgVkGsnuud6LASSYEuYNWeueY0WceLvVVoYNP_O5rot-KNDwkr7OY4fJfPS5JMRIGjD_yarc8xn53epIHYhrSIJvDYT1ietkYrLg0EyMujw5eiGl0Alr-wgodcefeRW9I0f0d5tmA9J0-HLl_tWi5YFYFuHtSfaE1nUaFtV-RMj-xsL0oLuPNVQsOAtVngDMNvzgfOY4fMnCpjjSnmRtqxd4VM_mwnmIMolCJ20arnhCg3EJIernaYF2zkZl2x1eYsl055cs2f41H_TGwcFrffSFzshwJcIt1Nm5LCmhTMx_HqgK3DQlniZ5kuIW8RoLRFlwtCSBsUhP3Kpy1U1nlWesBnumNTCdrCpMaNrEeTMTlPu2XkKm4HWbeTtuEWWTHCafBTjfC1wYeJeCk31yWd9AX647QZI5ot--K82hRwk39RnBWMNsf7Cnmg04wLUp0ldcCbuuFxlBPR0AQW91xtUXGL4p5QgT3X-uMjiiau7sULbEg8AfXIhidoIfCmAxyVU_4sWRjwnE3tXbYNnJSxb-8xRovng82dzoCSbR4oyyrs9PELmo22lYFTkVdgef7ffYDSxDsKbrhk2MQ_ff8LLiN2Yk2Nn8yAQY=w664-h530-no)

Du kích Quảng Yên làm hầm chông chống giặc trong kháng chiến chống Pháp

Nguồn cung cấp cho bộ đội lúc này do nhân dân đảm nhiệm. Các đoàn thể đã vận động quần chúng tổ chức các “hũ gạo nuôi quân” hoặc “quỹ nuôi quân”, vận động nhân dân các đoàn thể, cơ quan, xí nghiệp quyên góp hoặc dựa vào sự nhiệt tình ủng hộ của các bà con tiểu thương và những nhà giàu khác.

Tính tới giữa năm 1946, ngoài trung đoàn Tiên Yên và một số trung đội của liên quân tiếp phòng, các lực lượng vũ trang do địa phương xây dựng có: đại đội cảnh vệ Bạch Đằng, đội vũ trang tuyên truyền Trần Hưng Đạo (thuộc tỉnh Quảng Yên), đội thanh niên xung phong thị xã Hồng Gai, ba đại đội của huyện Móng Cái, trung đội quyết tử của thị xã Hồng Gai. Lực lượng nửa thoát ly có các trung đội của Quang Hanh, Tam Hợp (thị xã Cẩm Phả), hai trung đội ở Lán 14 (Hồng Gai), các trung đội của thị trấn Cửa Ông và các đội du kích người dân tộc của Đình Lập, Tiên Yên…

Năm 1946, tổ chức quân đội của ta có một số thay đổi. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quân sự và lực lượng vũ trang nhân dân, từ tháng 1 năm 1946, Trung ương Quân ủy được thành lập để giúp Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo công tác quân sự. Theo sắc lệnh 71 ngày 22 tháng 5 năm 1946, Vệ quốc quân được chuyển thành Quân đội quốc gia của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Việc phân định địa giới các chiến khu được điều chỉnh lại. Tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai tách khỏi Chiến khu 3 và trực thuộc Chiến khu 12. Các liên khu ủy lãnh đạo các chiến khu và các tỉnh Đảng bộ của Đặc khu Hồng Gai và hai tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh do Liên khu ủy 12 lãnh đạo. Trung đoàn Tiên Yên (chi đội 1 cũ) thuộc sự chỉ huy của Chiến khu 3 và sự lãnh đạo của Liên khu ủy 3.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:55:36 pm
Cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang, Đảng bộ và chính quyền các địa phương của Quảng Ninh đã tăng cường giáo dục quyết tâm chiến đấu, ý thức cảnh giác phòng gian bảo mật và các quan điểm về chiến tranh nhân dân, về chủ trương tiến hành trường kỳ kháng chiến, v.v.

Đến cuối năm các địa phương được lệnh nỗ lực cao nhất để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh chống xâm lược sắp nổ ra. Quán triệt tinh thần chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” là: “Một mặt phá hoại, một mặt kiến thiết, phá hoại để ngăn giặc, kiến thết để đánh địch” khắp nơi đều hăng hái làm làng chiến đấu và tổ chức phá hoại giao thông, liên lạc và dựng các kè đập, ụ cản trên các tuyến giao thông huyết mạch đường bộ cũng như đường thủy.

Ở các huyện phía tây và nam của Quảng Ninh phổ biến là có núi xen kẽ, các xã thường gồm nhiều thôn nhỏ nên cách xa nhau hoặc bám quanh các đồi núi. Ở đây các xã đã xây dựng làng chiến đấu bằng các rào tre ở những hướng chủ yếu, còn lại thì đào công sự, dựng vật chướng ngại, tạo thành các làng chiến đấu liên hoàn. Nhiều nơi quân ta đã đào hầm bí mật trong núi. Ở xã Văn Đức (Chí Linh) các thôn Vĩnh Đại, Khe Khâu đào những hào lớn trong núi có thể chứa toàn bộ số dân của thôn mình tập trung vào trong đó một thời gian. Ở xã Nguyễn Huệ (Đông Triều) các thôn đều có lũy tre bao bọc chung quanh, hàng rào tre dày tới gần nửa mét và chu vi 4.000 mét, trong lũy tre có hào giao thông và công sự chiến đấu, phục vụ chiến đấu và ẩn nấp. Hình thức làng chiến đấu kết hợp với đồi núi là phổ biến ở các huyện Chí Linh, Thủy Nguyên, Cát Bà, Hoành Bồ và Cẩm Phả Còn ở Hải Ninh thì việc tổ chức chiến đấu bảo vệ làng chủ yếu dựa vào lối đánh tỉa và tận dụng địa hình thuận lợi ở vùng rừng rậm, núi cao.

Công tác phá hoại được tiến hành khẩn trương ở tỉnh Quảng Yên. Các nhà máy, hầm mỏ của Pháp từ Chí Linh đến Uông Bí, thị xã Quảng Yên đều bị phá. Trên đường quốc lộ 10 ta phá nhiều đoạn và 13 chiếc cầu, có đoạn bị phá nựng mãi bốn đến năm năm sau địch mới khôi phục được. Quảng Ninh có nhiều sông ngòi, giao thông thủy có thể đi lại trong toàn vùng, do đó quân và dân trong tỉnh cũng đắp nhiều kè, đập trên các đoạn sông quan trọng để ngăn chặn địch lợi dụng đường thủy để tiếp tế vận chuyển và tiến công quân ta. Chỉ trong vòng gần hai tháng nhân dân đã huy động tới hàng trăm tà vẹt, cọc sắt, hàng nghìn cọc tre và hàng trăm thuyền đá để xây dựng các kè ở Trới, sông Mành, Từa Xá, Tri Xuyên, Xích Thổ, Quảng La (Hoành Bồ), Bến Vạn (Chí Linh), Chợ Xa (Sơn Động), Bà Kèo (Nam Sách), Nhất Sơn (Kinh Môn), Kiền Bái (Thủy Nguyên). Riêng kè An Biên ở Đông Triều ta đã huy động tới 10 vạn cây tre, hàng trăm khối dá và hơn 1.000 nhân công.

Công tác phá hoại còn được tiến hành cả khi chiến tranh đã bùng nổ và lan rộng. Năm 1948, qua tổng kết riêng tỉnh Quảng Yên đã phá hoại 103 ki-lô-mét đường bộ, 33 cầu, cắt 175 ki-lô-mét dây điện thoại, bóc nhiều đoạn đường xe lửa, làm 19 làng chiến đấu, tám núi chiến đấu, 11.400 hầm bí mật, 185.900 mét hào giao thông và 25.000 mét hào chiến đấu.

*

Tháng 7 năm 1946, khi ta vừa giành được chính quyền tại Móng Cai từ tay quân Tưởng và giải phóng hầu hết các huyện trong tỉnh, lợi dụng các lực lượng của ta chưa được tăng cường, chính quyền chưa được củng cố, quân Pháp đóng ở Vạn Hoa theo lệnh bọn chỉ huy của chúng ở Đông Dương đã bắt đầu nhen ngọn lửa chiến tranh xâm lược ngay tại nơi này. Âm mưu của chúng là từ Vạn Hoa, Cô Tô đánh chiếm lấy một địa bàn trên đất liền để xây dựng thành một căn cứ đầu cầu, bàn đạp để từ đó phát triển rộng ra các nơi khác khi đại quân của chúng tiến ra miền Bắc và chiến tranh xâm lược bùng nổ. Bình Liêu, Đầm Hà, Tiên Yên và Hà Cối là những mục tiêu được chúng lựa chọn.

Để thực hiện âm mưu táo bạo và đầy tham vọng đó, bọn Pháp đã bắt tay với bọn Tưởng ở đất Trung Quốc, lợi dụng lực lượng của quân Tưởng có những điều kiện thuận lợi hơn để tiến đánh các địa bàn sâu trong đất liền như Bình Liêu, Đầm Hà. Còn quân Pháp thì tiến công đánh chiếm Tiên Yên là địa điểm rất gần với đảo Vạn Hoa – căn cứ của chúng

Ngày 17 tháng 7 năm 1946, sau khi đã nhận được một món tiền khá lớn của quân Pháp (gồm 70 vạn đồng tiền Đông Dương) Lưu Chấn Xương, chỉ huy quân Tưởng ở Đông Dương đã huy động 3.000 quân vượt qua biên giới đánh chiếm Bình Liêu, Đầm Hà rồi liên lạc với bọn phỉ người Hoa đánh chiếm Hà Cối. Bị tiến công bất ngờ, lực lượng lại ít, trong khi quân địch đông, các đon vị bảo vệ địa bàn của ta chỉ chiến đấu tiêu hao địch rồi rút lui để bảo toàn lực lượng.

Trong khi đó từ Vạn Hoa, đội quân Pháp do tên quan tư Gơ-ranh-đa chỉ huy, bao gồm cả một tiểu đoàn phỉ của Voòng A Sáng cầm đầu, có phi pháo yểm trợ, tiến đánh Tiên Yên.

Trung đoàn Tiên Yên của ta lúc này đang phải phân tán làm nhiệm vụ ở các địa bàn khác nhau, nên không đủ sức phản công lại quân địch. Các đơn vị Tiên Yên đã chiến đấu nhằm ngăn chặn bước tiến của địch, rồi rút ra ngoài thị trấn, cùng với du kích tổ chức chặn giác trên đường số 4A.

Chiếm xong Tiên Yên, quân Pháp tiến lên Đầm Hà, Bình Liêu để thay thế cho quân Tưởng. Sau đó chúng bắt tay vào củng cố các vị trí đã chiếm được, xây dựng nơi đây thành các căn cứ vững chắc để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sắp tới. Chúng đã móc nối với bọn phỉ ở Hà Cối và bọn phỉ ở địa phương, dùng bọn này làm đội quân xung kích và làm hàng rào đệm cho chúng.

Tháng 8 năm 1946, với ý định đánh phá hậu phương của ta bọn Pháp đã dùng bọn phỉ lưu Sĩ Long tổ chức một trận càn lớn vào Bảo Hà, Khu Mỏ, Hà Lâu để cướp bóc, đánh phá cơ sở ta và phá hoại thu hoạch của nhân dân địa phương. Trung đoàn Tiên yên và lực lượng du kích đã kiên quyết đánh trả, bẻ gãy cuộc càn của chúng, bảo vệ nhân dân thu hoạch vụ mùa. Phát huy chiến thắng, quân ta đã tập kích vào bọn địch đang chuẩn đóng đồn Vân Mây và Phố Cũ không cho chúng mở rộng các khu vực chiếm đóng.

Như vậy là trên vùng đất Hải Ninh địa đầu đông – bắc của Tổ quốc, tiếng súng kháng chiến chống Pháp đã nổ ra sớm trước năm tháng so với các tỉnh miền Bắc. Trong những trận chiến đấu đầu tiên với giặc Pháp xâm lược, quân và dân Hải Ninh đã tiêu diệt 79 tên địch, thu 25 súng các loại, mở đầu cho trang sử kháng chiến chống Pháp chín năm của quân và dân vùng mỏ anh hùng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 08:58:33 pm
CHƯƠNG HAI

CHỐNG ĐỊCH LẤN CHIẾM, BÌNH ĐỊNH,
GÂY DỰNG CƠ SỞ CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
(1946-1948)

1. Phá hoại kinh tế, tiêu hao sinh lực địch làm chậm bước tiến của chúng trong những ngày đầu kháng chiến.

Trong khi quân dân ba tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh và Hồng Gai xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng chuẩn bị chống chiến tranh xâm lược thì tình hình trong nước có những diễn biến quan trọng.

Ngày 6 tháng 3, nhằm gạt bớt kẻ thù và thực hiện chủ trương “hòa để tiến”, Chính phủ ta đã ký Hiệp định sơ bộ với đại diện chính phủ Pháp. Tiếng súng trên các chiến trường vì thế cũng tạm lắng xuống.

Nhưng Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 và Tạm ước ngày 14 tháng 9 ký chưa ráo mực, thực Pháp đã trở mặt nổ súng tiến công ta ở nhiều nơi.

Nhân dân ta đã tự động đứng lên đấu tranh để giữ lấy độc lập và tự do.

Phản ánh ý chí và nguyện vọng của toàn dân, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng (họp ở rộng ở làng Vạn Phúc) ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946 đã chủ trương phát động cuộc kháng chiến trong cả nước, và đề ra những phương pháp cơ bản cho cuộc kháng chiến. Đêm 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi nhân dân cả nước:

“Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!... Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc”(1).

Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Trung ương Đảng ra chỉ thị toàn dân kháng chiến. Chỉ thị vạch rõ mục đích cuộc kháng chiến là giành độc lập và thống nhất Tổ quốc. Phương châm cơ bản của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh. Khẩu hiệu được nêu lên là “mỗi phố là một mặt trận, mỗi làng là một pháo đài”, “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, “triệt để dùng chiến thuật du kích và chiến thuật vận động”.

Đáp lời kêu gọi cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng, nhân dân cả nước quyết sống mái với giặc, cứu nước, cứu nhà.

 Tại địa bàn vùng đông bằng Bắc Bộ và đông – bắc Tổ quốc, từ ngày 20 tháng 11 năm 1946, quân Pháp đã đánh chiếm Hải Phòng và Lạng Sơn, ngày 17 tháng 12 năm 1946 quân Pháp gây hấn tại Thủ đô Hà Nội. Và cũng trong những ngày này trên địa bàn Đông Bắc quân Pháp có tới 1.050 tên tập trung ở xung quanh khu mỏ, chiếm những vị trí quan trọng như các điểm cao, các đồn binh cũ, nhà cửa kiên cố, khống chế các đường giao thông thủy, bộ. Trong khi đó ở thị xã Hồng Gai, ta chỉ có hai trung đội Vệ quốc quân, một trung đội cảnh vệ, một trung đội quyết tử (tự vệ) bố trí ở Hồng Gai, Hà Tu, Hà Lầm, Bãi Cháy. Ở thị xã Cẩm Phả ta có một trung đội vệ quốc quân, một trung đội cảnh vệ, một trung đội tự vệ chiến đấu. Ở Cửa Ông, ta có một trung đội Vệ quốc quân, một trung đội tự vệ chiến đấu. Nhìn chung lực lượng ta so với địch quá ít, thiếu súng đạn (bình quân hai đến ba chiến sĩ Vệ quốc quân một khẩu súng, các đơn vị tự vệ ở cơ sở thường chỉ có một vài khẩu súng trường cũ và một số lựu đạn để canh gác), đóng quân phân tán và ở những địa hình thấp hơn so với địch.

Để đối phó với âm mưu và thủ đoạn của địch, đồng thời để giúp cho Đặc khu ủy và Ủy ban hành chính đặc khu lãnh đạo chỉ đạo công tác quân sự trong thời gian này, ta đã thành lập Ủy ban bảo vệ do đồng chí Nguyễn Kim Cương làm trưởng ban.

Ngày 16 tháng 12 năm 1946 Ban Chấp hành Đảng bộ đặc khu họp hội nghị bất thường tại Hồng Gai và chủ trương: khi nhận được lệnh kháng chiến sẽ tiến công và phá hoại kinh tế của địch đồng loạt ở khu mỏ, sau đó rút lực lượng ra ngoài lập căn cứ kháng chiến.

Một kế hoạch phá hoại nhà máy cơ khí Hồng Gai và nhà máy điện Cột 5 được vạch ra khá chu đáo. Theo kế hoạch các trung đội Vệ quốc quân đang đóng ở ba thị xã khi có lệnh sẽ bất ngờ tiến công các vị trí đóng quân của giặc Pháp.

Tối 19 tháng 12 năm 1946, Pháp tăng thêm quân ở Hồng Gai. Sáng ngày 20 chúng đưa tối hậu thư yêu cầu Ủy ban đặc khu đầu hàng. 11 giờ trưa cùng ngày từ các điểm cao có lợi thế, chúng tỏa ra bao vây thị xã Hồng Gai, tăng cường kiểm soát các nhà máy và hầm mỏ, đánh chiếm các công sở của ta.

Mặc dù cho tới lúc này Đặc khu ủy và Ủy ban hành chính đặc khu chưa nhận được mệnh lệnh từ Trung ương, nhưng quân ta vẫn tổ chức chặn đánh địch khu chúng tiến công các trụ sở ủy ban hành chính, Mặt trận Việt Minh, nhà bưu điện. Ngay đêm hôm đó, bộ đội và tự vệ chiến đấu đã bảo đảm an toàn cho các cơ quan dân, chính, Đảng rút ra ngoài thị xã.

Trong khi bộ đội nổ súng, tự vệ và công nhân đã phá nhà máy cơ khí Cẩm Phả, cần trục, hai bốt điện (Núi Ngọc và Cột 2), máng than.

Ở Cửa Ông, do có sự chuẩn bị rất đầy đủ từ trước, nên ta đã chủ động đối phó với địch. Trước ngày toàn quốc kháng chiến tự vệ ta đã giác ngộ được một số cai ký có tinh thần yêu nước, tạo thuận lợi cho việc đặt sẵn các quả mìn vào những nơi cần thiết để phá hoại máy móc khi có lệnh kháng chiến. Các em thiến niên (phần đông là con em công nhân mỏ) thường xuyên theo dõi và nắm tình hình của quân Pháp để báo cho bộ đội và du kích. Đêm 19 tháng 12 năm 1946, thấy bọn Pháp ở địa phương có những hoạt động khác thường, đài Tiếng nói Việt Nam ngừng hoạt động, các lực lượng của ta đã bước vào tư thế sẵn sàng chiến đấu. Trước khí thế của quân và dân Cửa Ông, cả ngày 20 tháng 12 năm 1946, giặc Pháp không dám rời khỏi vị trí.

Ngay đêm 20 tháng 12 năm 1946, bộ đội ta tập kích quân Pháp đóng ở Đồn Cao, Cửa Ông. Các đơn vị cảnh vệ và tự vệ đã tham gia phá hoại các máy móc, phương tiện của địch và bảo vệ cho các cơ quan và nhân dân rút ra ngoài thị xã. Công nhân đã dùng xăng lửa, bom mìn, lựu đạn và cả choòng, búa để phá nhà máy sáng, nhà máy bào, đánh sập một số cần trục, sáu tàu hỏa và lao cả xe goòng xuống vực. Máy ba nhà sàng Cửa Ông bị phá bởi một quả mìn với lượng thuốc nhồi vào phuy xăng 200 lít, mái tôn bay rào rào vào phố Cửa Ông trở thành một biển lửa, khói đen cả một góc trời. Đám cháy kéo dài cho tới ngày 22 tháng 12 năm 1946.

Tuy vậy, những ngày đầu toàn quốc kháng chiến do không nhận được mệnh lệnh của trên, một số nơi đã bị tổn thất. Ở Bãi Cháy, chủ tịch khu phố bị bắt. Ở Hà Lầm, tiểu đội cảnh vệ bị Pháp đánh úp bắt bảy người, thu ba súng. Ở thị xã Cẩm Phả, chiều 20 tháng 12 năm 1946, quân Pháp bất ngờ bao vây trụ sở ủy ban hành chính, bắt chủ tịch và công an thị xã. Các lực lượng vũ trang của ta đối phó với địch một cách bị động rồi rút ra ngoài thị xã.

Sau khi các cơ quan, các đơn vị bộ đội, tự vệ, cảnh vệ và nhân dân vượt Tài Xá sang Cái Bầu thì một số công nhân và phần lớn nhân dân được vận động quay về Cửa Ông (sau này nhiều người trong số hồi cư ngày ấy trở thành cơ sở của ta).

Các lực lượng chính trị, vũ trang và cơ quan lãnh đạo của Cửa Ông về Hoành Bồ, nơi tập kết của các lực lượng trong toàn đặc khu.


(1) Hồ Chí Minh, Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.67.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 09:01:05 pm
*

Ngày 21 tháng 12 năm 1946, lực lượng của đặc khu và thị xã Hồng Gai đã tới Xích Thổ (Hoành Bồ) rồi sau đó về Sơn Dương. Một số cán bộ được lệnh quay lại thị xã để nắm quần chúng và sau đó đưa thêm một số công nhân ra ngoài.

Sau khi ổn định lại biên chế, đặc khu chủ trương tiếp tục đưa lực lượng vào khu mỏ để đánh địch và phá hoại tiêu hao sinh lực địch, phá cơ sở kinh tế của chúng.

Được cơ sở báo về địch sẽ tập trung 24 sĩ quan tại nhà tên Pháp Ca-chi-e ở Hà Lầm để bàn kế hoạch quân sự vào ngày 25 tháng 12 năm 1946, Đặc khu đã khẩn trương tổ chức lực lượng tiêu diệt bọn sĩ quan Pháp ở đây. Lực lượng ta tham gia trận đánh có một trung đội Vệ quốc đoàn do đồng chí Lan trực tiếp chỉ huy. Đặc khu ủy cử đồng chí Nguyễn Kim Cương, ủy viên thường vụ Đặc khu ủy chỉ huy chung.

Trận đánh diễn ra vào đúng đêm Nô-en, khi bọn địch đang say rượu thì quân ta bắt đầu nổ súng. Một số tên địch canh gác dùng trung liên chống trả nhưng bị quân ta nhanh chóng tiêu diệt. Trận đánh đã kết thúc thắng lợi giòn giã. Gần 30 tên Pháp bị tiêu diệt, trong đó có 24 sĩ quan. Ta thu hai trung liên, 14 tiểu liên, bảy súng trường và mốt số quân trang, quân dụng.

(https://lh3.googleusercontent.com/tDZ1_kfTbv3wAR8WEHSlWJYdK-qPEZinTl6X3ttNCXuPBLTESlsO8Y5RG2d5wIWD_uEesv2dOz-lmQ0lEjQoNWw-aQfCL6oVXZxzxa2t_TT2_BwcP_LWN_UBFnj3AGNSSInjYXiNtCaY4PpsNudowZ4xlEQiZPYDKgVbLbAPnq91O40QdSxXFXg_Br_MZU9EJNMwsOu7raIM7wsWjrDy5ey398vr6e3ue234C_ubE94p57US5LTWuLRMafZDZ87LOUviswvgs7D7liDT9SBPK0stzjJKG7bdWh4Yay49V4R6WBfX-X9Z6utSYBsonl7ZM_OrcO7kMgyftiGyJ_ia_109X_XN--fEIW_pYwmPmLs6M6eCJZWH71IHTBcAAZ3SC0EJLSzjkNO-c1L1xTfc_-D70aVsglELOjL7GH4V5lPmBHCbFHjGrYEciuORACNm9jZ8UVqHcScRq7tKfByugwh3CGrbEt9wuh4xHqu-BPprv6zK_6pkcWWDoQ0x6C8CiQcxvjA2_0xSVx8cyehaiROopgCUxbmXQOYUeaJOnV8M8PgbtSkb8Pr1gAFn6wMd22SSBMkK0AlUMDRkcfu0tbaao_qzebP0btdkriZDpNiYY_VBvZsHr-Jy=w800-h537-no)

Đồn Hà Lầm, nơi ghi nhận chiến công đêm Nô-en 24-12-1946, diệt gọn hơn 20 sĩ quan Pháp


Hòa cùng tiếng súng tiến công của bộ đội ở Hà Lầm, tự vệ và công nhân đã đốt kho, phá bốt điện và cần trục, đánh sập lò và phóng xe goòng xuống vực thẳm.

Sau trận Hà Lầm, ta tổ chức cho nhân dân tản cư quay về khu mỏ và gài cán bộ đi theo để trở về vùng tạm chiếm hoạt động.

Trung đội Vệ quốc quân và một số người trong “Duyên biên tự vệ đội” giác ngộ cách mạng đã được bổ sung cho bộ đội chủ lực. Số còn lại của “Duyên biên tự vệ đội” do bản chất phản động đã lần lượt quay lại chống phá cách mạng, chống phá kháng chiến. Các đơn vị cảnh vệ, tự vệ chiến đấu được biên chế lại thành một đại đội gồm bốn trung đội, mỗi trung đội có một đảng viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 1946 tại xã Sơn Dương, đại đội này được chính thức thành lập và mang tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cán bộ chiến sĩ đại đội hầu hết là công nhân mỏ. Đây cũng là đại đội đầu tiên của khu mỏ. Đồng chí Trần Quốc Thảo, bí thư Đặc khu ủy Hồng Gai đã công bố quyết định thành lập đơn vị và quyết định công nhận chi bộ Đảng của đại đội Hồ Chí Minh.

(https://lh3.googleusercontent.com/GUa8Lmj4Z9VDM25Rkqon1z2VRI4yzUEefp3Vd1dmecel21Mv8-NLSVP7_w0rmqiahSQlT9KGlt5Zxujj60Nh0DvNFV8xzKBfqFgxQawYTd6x8YE7wC7BzzYPq6olM-9ZELO4sKn_6ULPzNnHMf0dOhlxC7ePlCuJOnp6LFT39Hgz6Hklg7985lR87P9gAnpAhtQXhK_kzHf2hIaKYgjUe_wKwfjSZBBbXyuY3WCoUliMwfo_ZZm8fIfZ2GadOkfdCyaJq7mezaoyGDETm_p0WruqJiQREkr9yTKu0KHh5gxTcptN2kCd-XWEAOcZ69TVSHNFkKVz1Vc-_jNKPS5VrrgKPPJbBAw3hh2vjCRrHSZHo3EMUb8XgyoDR0AOB_UlRZAqz7LMWg5WyN0H9TTM-HQxa8jBJQRR5RRAi6Du3K38Ij7pdLuVjoK0TOLNybgdoPmhAcr5gpC0I0a7KzJC0zwp3M-FvyeiE3wn7JSh4QmyHrS4W2iDSpzEuHgr4kB3Hql8Ij0Rkbndtg-X0qt3Q5eYOIsVArTptIHNdiG54cGyqtlHdq4K-ZV4pUYALLpkrUv7Ls5lhHgeN88-8GeJfA9ZRnh63pAGgOtZwAohflWIH7EBLbKdWVvE=w435-h640-no)

Liệt sĩ Trần Quốc Thảo (Hồ Xuân Lưu) – Đảng viên năm 1930, Bí thư Đặc khu ủy Hồng Gai, Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn

Từ đầu năm 1947, các cơ quan lãnh đạo của đặc khu đóng tại Sơn Dương đã tổ chức ra các bộ phận như: Ủy ban bảo vệ, ban tiếp tế, ban dân vận, xưởng công binh. Đặc khu còn có ý định tổ chức đội biệt động để đánh địch trên đường 18 và tập kích vào các mục tiêu trong mỏ (lúc đó cấp trên có dự kiến và thành lập liên tỉnh Quảng Hồng nên đặc khu chưa có quyết định về việc xây dựng căn cứ chính thức ở Sơn Dương).


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 09:08:25 pm
Để bảo vệ căn cứ của đặc khu Sơn Dương, đại đội Hồ Chí Minh đã tổ chức bốn trung đội và một tiểu đội súng máy bố trí trên các hướng: Đồng Đăng, Trới, Yên Mỹ, Bang, Đá Trắng.

Phát hiện lực lượng ta tập trung ở Sơn Dương, ngày 11 tháng 1 năm 1947, giặc Pháp đã bất ngờ tiến công từ ba hướng Đồng Đăng, Yên Mỹ, Đá Trắng vào nơi đóng quân của ta.

Mũi tiến công của địch bằng ca nô từ Yên Mỹ lên đã bao vây một tiểu đội của ta về phía Đồng Đăng. Một trung đội của ta ra giải vây cho tiểu đội ở Đá Trắng cũng bị giặc từ trên đồi nổ súng dữ đội vào đội hình.

Đại đội trưởng Nguyễn Kim Cương đã điều tiểu đội súng máy ra đánh bật chúng về Yên Mỹ. Hai cánh quân của địch từ hướng Đông Đăng, Đá Trắng buộc phải rút lui.

Trong trận này, ta đã tiêu diệt được một số địch, bảo vệ an toàn cho cơ quan lãnh đạo nhưng cũng bị hy sinh một trung đội.

Sau trận Sơn Dương không lâu, các lực lượng của đặc khu đều rút về Đông Triều để chuẩn bị thành lập liên tỉnh Quảng Hồng. Trên chiến trường Đặc khu Hồng Gai và huyện Hoành Bồ hầu như không còn lực lượng quân sự của ta.

Từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1947, địch đóng các vị trí Trới, Yên Lập, Quảng La, Đồng Đăng. Chúng nuôi dưỡng tên trùm phỉ người Hoa là Quang Phô và 80 tên phỉ khác, để bọn này biến Trại Thán thành một làng phản động ở phía tây – bắc Hoành Bồ.

Từ Trại Thán, An Châu, chúng tổ chức một trận càn lớn tới tận Vũ Oai (Hoành Bồ) và huyện Đình Lập, nhằm xây dựng cơ sở phản động trong vùng rừng núi.

Sau khi lập được hành lang bảo vệ phía sau khu mỏ, giặc Pháp đã lập tề ở các xã ven thị, phục hồi hệ thống mật thám mỏ, mua chuộc một số trong tầng lớp trên của người thiểu số.

*

Sau khi chiếm được thành phố Hải Phòng, ngày 22 tháng 12 năm 1946 địch tổ chức tiến công trên quy mô lớn nhằm đánh thông đường 5, giải vây cho Hải Dương.

Dưới sự chỉ huy của Chiến khu 3, quân dân Quảng Yên không những đánh địch trên địa bàn của tỉnh mà còn liên tục tiến công địch phối hợp với mặt trận Hải Phòng. Ngày 28 tháng 1 năm 1947, giặc Pháp tiến vào Yên Lập. Đại đội Hồ Chí Minh cùng với bộ đội chủ lực chặn đánh quyết liệt. Địch bị diệt 50 tên và bị chìm một ca nô.

Đến cuối tháng 2 năm 1947, địch được tăng viện từ chính quốc sang, những tiểu đoàn đầu tiên đã tới Hải Phòng. Ngày 28 tháng 2 năm 1947, giặc Pháp tiến công thị xã Quảng Yên theo ba hướng Núi Đèo, Yên Lập và toán quân đổ bộ lên bến Đò Lá…

Trước tình hình đó, đại đội Ký Con được lệnh rời Cát Bà. Một bộ phận của đại đội cùng du kích Tiền An chặn đánh địch. Các đại đội 41 (Trung đoàn 98)(1), Bạch Đằng, Hồ Chí Minh từ Uông Bí tiến vào Yên Lập. Quân ta đã liên tiếp đánh chặn địch tiêu diệt một số tên, phá hủy hai xe quân sự.

Do lực lượng ta quá ít so với địch, nên giặc Pháp đã chiếm được thị xã Quảng Yên. Giặc càn sang Cát Hải và giết 400 đồng bào ta một cách dã man. Ngày 19 tháng 3 năm 1946 giặc Pháp đánh chiếm Phả Lại, Chí Linh, Đông Triều, Lục Nam và Chũ.

Lúc này trung đoàn 98 đang đảm nhiệm việc bảo vệ tuyến đường 18 từ Chí Linh tới Uông Bí và giúp đỡ phong trào kháng chiến của các huyện bên đường 18 thuộc Hải Hưng và Quảng Yên. Trung đoàn đã giúp các đại đội Bạch Đằng, Hồ Chí Minh và dân quân du kích bảo vệ vùng căn cứ và chủ động tìm địch mà đánh. Bộ đội và du kích Nguyễn Huệ, Yên Đức, Yên Thọ đã sang tận Đồn Lưu (Kinh Môn) và Phú Thái (đường số 5) để đột kích vào nơi sơ hở của địch.

Ngày 20 tháng 3 năm 1947, bộ đội của lực ta đột nhập vào thành phố Hải Phòng và tiến công Lộc Bình (Lạng Sơn), buộc địch rút khỏi Đông Triều, Phả Lại, Nam Sách vào ngày 23 tháng 3 năm 1947.

Trong những trận cùng bộ đội đánh địch trên đường 18, du kích Chí Linh và du kích Yên Đức, Đông Triều đã đánh “chim sẻ” phá hơn 40 ki-lô-mét đường 18, phá cột điện, cắt dây điện. Du kích Yên Thanh, Uông Bí, Thượng Yên Công (Yên Hưng) đã phá đường, đánh tàu, đánh xe và trừ gian ven các đường giao thông thủy bộ.


(1) Khoảng trung tuần tháng 2 năm 1947, các đơn vị của Chiến khu 3 hoạt động ở tỉnh Quảng Yên và Núi Đèo được sáp nhập lại và được bổ sung thêm quân để thành lập trung đoàn 98, đồng chí Vũ Mạnh Hùng làm trung đoàn trưởng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2017, 09:10:28 pm
(https://lh3.googleusercontent.com/QsMJTOqqQScqqAnXDbnaCddtIX20sL9noYHBfRPkXyC-blgkyw1CPwuKgwtPxi_Yq1nrrS2C3LXEFJxKP1AZbmsg2DhCv4ZhHohiw14yscyO9r0daEx2Cq1rS0KTH7ycHIzbzFKl5yBRxB7dca5_ALIBmbfCN2Dsyr8s9HNZ-6_0DyBhLtOnIR7AC6m1W1Q7_qCBMWuR9OzjdSJiEosaffQ1S-94zHRTFqos7Vzhom0LktsbLJ47A4SeiCBB-Sip-BvEoJTRSvIrIEb5ihhVYogBmoyBXQ-WAM8mNG8uqTLN7w6h-YWePkggeuBPG05y74oNN4AF7pkX1AGWNo6sMZuu7D1AcMnWNR5p4FkILFswjuDVgyQVd0B7SxLx6PkglYzQDqWjw84WNMhaITZYLkkgYWz926FA3oDPeOBDpgBqsQPCCmqI-Vfnsl-Fi0SF1F-RMd2zEv2r7U5_6zlXJ_ZVLQ5xlTBR1hinN4UP-k3qX0xwYpk68BbLMV2FKo0IwcelrgNev9pXAk-_KK2uQZFBTgzc0aowHEAa9Cvbhy5mPCvhg_jh06VLB7jSY9TC76mHWHTUk0qD89SUFHyKlRJOum8q489qkVN4Cd5jgcKpm-Hfgeg1rlxg=w1231-h832-no)

Tinh hình địch trên chiến trường Quảng Ninh (từ sau tháng 8-1945 đến 12-1946)


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 06:33:45 pm
2. Bám sát các địa phương, xây dựng lực lượng, phát triển chiến tranh du kích.

Để thống nhất chỉ đạo kháng chiến, ngày 31 tháng 3 năm 1947, liên tỉnh Quảng Hồng được thành lập bao gồm tỉnh Quảng Yên (trong đó có huyện Yên Hưng với cả vùng Uông Bí và Minh Tân, Lưu Kiếm, huyện Hoành Bồ, huyện Cát Hải), Đặc khu Hồng Gai (với ba thị xã Hồng Gai, Cẩm Phá, Cửa Ông và vùng đảo Cẩm Phả), và các huyện Thủy Nguyên, Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Đông Triều. Tháng 8 năm 1947 phần lớn địa bàn của hai huyện Sơn Động, Lục Ngạn được sáp nhập vào liên tỉnh Quảng Hồng (vì địch đã chiếm An Châu và nối thông đường 13).

Đồng chí Nguyễn Công Hòa được cử làm bí thư liên tỉnh ủy, đồng chí Trần Quốc Thảo được cử làm chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến liên tỉnh.

(https://lh3.googleusercontent.com/hZKr8dbe8XVtY58siBeGdAEZJ7WFWnatZo7tC3PMoSwMhIpXUwFTMmKzj_NLmEQsDyAKuc7uRAoIKKMkGn7dY9uznf5WDLxnbR39-qX088ne7uOzTqlPZgLpkpbNVZe1B8Ulz89rliC12KcwrK596a9og_hY_yT5UD6pK2BFWSijSB-IMQo7lGLWmacSuvZKNF1lGgZ9EgpQIjnH1X5Kd4Ooe49YEZ5NI1gF-xCm868fxo0xDU8VQst1DnPZeGMqE5otVxfI3ix2O-7S-PX_y7e3FZ3CY0rKbH-weD8WL6T0dnkiPIeRip-dHoyNzkauVQ_EYDjd-jrg0KqR6lMY_fb3or8ROaBoEMQkOux8L8YBk0NF9FrIrxR5jqgkaGSJzZBRAk62ER-vbopMV3se-rfIm_FcgSenGjW_jsU1ru28Gd6dydRp8n00IWiOoNKzJVhME5yibImKG_H68vqaqNHalt_wzp5VubSEGiBLitH0BSO23a-EaGeNDTfbrsOl0dSHv1q-IIKNTP31-P89Y3t9kcZJzgXIAlWHGK3HYtTq0RUprqam5lf38M_TjW--8MjEsxKmx76BLimAIax2-nO3-8j6egKw0_dwBimH8DDzmUxoU2U40etn=w292-h448-no)

Đồng chí Nguyễn Công Hòa

Căn cứ của liên tỉnh Quảng Hồng lúc này đựa vào vùng Bến Tắm, Đèo Mòi, Tràng Lương, Cây Châm, Năm Mẫu. Lực lượng vũ trang của liên tỉnh gồm hai đại đội cảnh vệ Bạch Đằng, đại đội Hồ Chí Minh, đội vũ trang tuyên truyền Trần Hưng Đạo và đội công binh căn cứ đảm nhiệm việc làm nhà cửa, làm công sự cho cơ quan lãnh đạo.

Trong hai ngày 5 và 6 tháng 4 năm 1947, liên tỉnh ủy Quảng Hồng đã họp phiên đầu tiên. Sau khi biểu dương tinh thần chiến đấu của quân và dân liên tỉnh trong việc chặn bước tiến của địch và gây cho chúng nhiều thiệt hại, hội nghị thống nhất nhận định:

- Ở Yên Hưng, mặc dù giặc đã lập tề ở khu Hà Bắc, nhưng nhân dân vẫn liên lạc với kháng chiến, còn ở khu Hà Nam, các đoàn thể ở Phong Cốc, Trung Bàn vẫn hoạt động. Ở những nơi này ta vẫn làm chủ được về ban đêm, vẫn tiến hành các hình thứ như gọi loa, rải truyền đơn, dán áp phích, viết bản tin để thông báo chiến sự và tuyên truyền kháng chiến.

- Ở Hoành Bồ mặc dù địch đóng quân ở nhiều nơi nhưng nhân dân vẫn hướng về kháng chiến. Ở Uông Bí, mặc dù có vị trí địch chiếm đóng nhưng nhân dân vẫn tản cư và chúng chưa lập được tề, dân từ Uông Bí tản cư vào Năm Mẫu vẫn được đồng bào Hoa giúp đỡ.

- Ở khu mỏ, giặc đã lập được ngụy quyền, phục hồi việc khai thác than và tăng cường phá cơ sở của ta, nhưng chúng vẫn không khuất phục được dân.

Từ những thực tiễn trên, hội nghị đã đi đến kết luận là phải kiên quyết đưa lực lượng về để bám đất, bám dân.

Với các huyện đồng bằng thuộc liên tỉnh, các huyện ủy chịu trách nhiệm đưa cán bộ về giúp các xã chắp nối lại cơ sở.

Với vùng hành lang trên rừng núi và hải đảo bao quanh khu mỏ, liên tỉnh ủy đã chỉ thị cho huyện ủy Hoành Bồ (lúc này đã chạy lên Linh Tràng, Đông Triều) phải quay về bám đất, đồng thời liên tỉnh ủy cũng chấn chỉnh lại việc lãnh đạo vùng đảo Cẩm Phả.

Liên tỉnh ủy tổ chức đoàn cán bộ phục hồi cơ sở vùng mỏ, do một tỉnh ủy viên phục trách.

Từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1947, ta đã phục hồi được cơ sở trong mỏ, Ban cán sự khu mỏ được kiện toàn để chỉ đạo việc xây dựng lại công đoàn và tự vệ khu mỏ. Ta đã xây dựng được hai chi bộ và nhiều tổ đảng ở các nhà máy, hải cảng, tầng lò.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 06:34:34 pm
Đối với huyện ủy Hoành Bồ, ngay từ tháng 3 năm 1947, liên tỉnh ủy đã chỉ thị “huyện ủy và cơ quan huyện phải bám sát địa phương, xây dựng cơ sở, lãnh đạo nhân dân đấu tranh”. Do vậy huyện đã tổ chức được trung đội của huyện với 13 súng trường. Các tổ dân quân, du kích được phục hồi với vũ khí là súng kíp, dao găm. Tháng 5 năm 1947 huyện đội được thành lập ở Khe Mèo (Sơn Dương).

Đến cuối năm 1947, chính quyền kháng chiến được thành lập ở các xã rẻo cao như Tân Dân, Tân Ốc, Đồng Quặng, Hòa Bình. Phong trào khá vững ở các xã Lê Lợi, Thống nhất, Việt Hưng, Thành Công.

Tháng 7 năm 1947, liên tỉnh ủy đã cử cán bộ về xã Đoàn Kết thuộc vùng đảo Cẩm Phả và từ xã này ta đã đưa phong trào kháng chiến chống Pháp lan rộng ra các xã Thạch Hà, Văn Châu, Cộng Hòa, Hạ Long. Một đội trừ gian gồm bảy người được tổ chức để nắm tin tức của địch. Cho tới tháng 9 năm 1947, vùng đảo Cẩm Phả đã xây dựng được một trung đội du kích tập trung.

Trong lúc quân dân Hồng Gai liên tục chiến đấu ngăn chặn các bước tiến của giặc thì ở Hải Ninh tình hình kháng chiến của nhân dân ta diễn ra hết sức phức tạp.

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, hàng ngàn quân Pháp có phi pháo yểm hộ đã từ Tiên Yên đánh chiếm Khe Tù. Ngày 22 tháng 12 năm 1946, giặc Pháp theo đường số 4 tiến lên đánh chiếm Đình Lập. Trung đoàn Tiên Yên đang đóng ở Khe Mò, Bản Tùm thuộc Kiều Mộc, Bình Xá đã lui về Lãng Dạ, Đồng Thắng, Lâm Ca.

Cuối tháng 12 năm 1946, trên địa bàn tỉnh Hải Ninh, địch đã chiếm được các huyện Tiên Yên, Đình Lập, Bình Liêu, Đầm Hà và đánh thông đường số 4. Trung đoàn Tiên Yên được lệnh rút về phía sau.

Ngày 20 tháng 3 năm 1947, sau khi đánh chiếm đoạn đường số 13 thuộc Hải Ninh, địch đã đổ bộ lên Vĩnh Thực, Trà Cổ, Vạn Ninh, rồi tiến công huyện lỵ Móng Cái.

Bọn cơ hội đang lũng đoạn chính quyền của ta ở Móng Cái đã đầu hàng và làm tay sai cho Pháp. Lực lượng vũ trang của ta định rút về Thán Phún, nhưng khi vòng qua biên giới Việt Trung đã bị quân Tưởng bắt và tước vũ khí.

Liên khu 12 đã ra lệnh giải thể Ban cán sự Hải Ninh và chính quyền cấp tỉnh của Hải Ninh.

Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1947, về cơ bản giặc Pháp đã chiếm xong tỉnh Hải Ninh và đánh bật lực lượng của ta ra ngoài. Với quân số tương đương hai trung đoàn, chúng đã đóng thành 40 vị trí trong tỉnh, trong đó có 13 vị trí ở Đình Lập, 10 vị trí ở Lộc Bình, 17 vị trí ở huyện Móng Cái, Đầm Hà, Hà Cối, Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên.

Trong những ngày đầu kháng chiến đầy khó khăn và phức tạp, ở Hải Ninh đã nổi lên một tập thể chiến đấu kiên cường – khu Nà Thuộc.

Sau khi trung đoàn Tiên Yên rút đi, một số cán bộ, chiến sĩ người địa phương đã ở lại và tổ chức thành hai trung đội bộ đội địa phương để hợp lực với một trung đội du kích quyết tâm chống giặc. Các đồng chí Nông Văn Nguyên, Nông Minh Đạo, Hoàng Dã Thiếu được chính quyền ba xã Kiên Mộc, Bình Xá, Pắc Xa ủy nhiệm cho việc tổ chức và chỉ huy khu chiến đấu Nà Thuộc (nằm trên địa bàn ba xã này).

Ngày 14 và 15 tháng 4 năm 1947, trận ra quân đầu tiên của ta đã đánh thắng một cuộc càn của giặc Pháp, buộc chúng phải rút lui và khiêng theo hai xác chết.

Sau trận này, nhân dân nô nức góp công, góp của, góp người, góp vũ khí vào khu chiến đấu. Lực lượng của ta tăng lên gồm 78 bộ đội và 259 du kích. Cuối tháng 6 năm 1947 địch cho hai tiểu đoàn có phi pháo yểm hộ chia thành nhiều mũi đánh vào khu chiến đấu Nà Thuộc. Tới hướng nào chúng cũng bị quân ta dựa vào cây rừng và thế núi tiến công lại. Phía trước, bộ đội và du kích đánh giặc, phía sau nhân dân già trẻ, gái trai lo tiếp tế. Các cụ già mặc áo thụng nguyện cầu để “rước Thành hoàng ra ủng hộ cho con cháu đánh giặc”. Tiếng trống, tiếng thanh la vang dậy bên những lá cờ thần được phất lên để động viên chiến sĩ. Trước sức tiến công của ta, hai tiểu đoàn địch phải rút chạy(1).

Ngay sau trận đánh này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi tặng Nà Thuộc bức trướng thêu dòng chữ “Ủng hộ kháng chiến”. Nhân dân ở đây đã treo bức trướng vào nơi thờ Thành hoàng và truyền tụng rằng Thành hoàng làng Pò Háng là “Thành hoàng kháng chiến” nên được sắc phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


(1) Tháng 2 năm 1948, quân và dân Nà Thuộc được Chính phủ tặng thưởng huân chương Quân công hạng ba.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 06:35:32 pm
*

Trước tình hình phát triển không thuận lợi nửa đầu năm 1947, để tìm cách gỡ thế bí thực dân Pháp đã phác thảo một kế hoạch chiến lược nhằm kết thúc chiến tranh với hai nội dung chủ yếu: Một là, tổ chức lực lượng cơ động khoảng 20 tiểu đoàn đánh thẳng vào căn cứ địa Việt Bắc. Hai là, xây dựng chế độ bù nhìn tay sai cho Pháp. Đi đôi với kế hoạch trên, địch ra sức củng cố vùng tạm chiếm của chúng với ý định biến những vùng đất này thành chỗ đứng chân và hậu cứ để thực hiện kế hoạch tiến công trong thu – đông 1947.

Để đối phó với âm mưu mới của địch, ngày 15 tháng 9 năm 1947, Hội nghị Thường vụ Trung ương đảng đã họp và ra chỉ thị phá cuộc tiến công thu – đông của giặc Pháp. Bộ chỉ huy Liên khu 12 (Liên khu Việt Bắc) đã ra chỉ thị cho các tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên, Đặc khu Hồng Gai phải tích cực hoạt động phối hợp với chiến trường Việt Bắc trong thu – đông 1947.

Kể từ những tháng cuối năm 1947, Hải Ninh là một chiến trường được Liên khu 12 và Bộ Tổng chỉ huy đặc biệt chú ý.

Cuối tháng 6 năm 1947, Hải Ninh tiếp nhận huyện Lộc Bình (của tỉnh Lạng Sơn) và một số xã thuộc Quảng Yên, Bắc Giang để thành lập thêm huyện Hải Chi (Ba Chẽ).

Vùng căn cứ của Hải Ninh đã được hình thành bao gồm huyện Lộc Bình và một phần địa bàn của hai huyện Hải Chi, Đình Lập.

Theo quyết định của Liên khu ủy 12 (Việt Bắc), ngày 13 tháng 9 năm 1947, tại khu Sơn Dương (Lộc Bình), tỉnh ủy Hải Ninh và Ủy ban hành chính kháng chiến Hải Ninh được tái lập.

Căn cứ kháng chiến của tỉnh gồm 11 xã (Pắc Xa, Kiên Mộc, Đình Xá, Đình Lập, Đồng Quan, Sơn Dương, Xa Lý, Văn Lung, Tĩnh Gia, Tu Mạch, Tam Long) với 4.000 dân. Số cán bộ cấp tỉnh, huyện có 45 người (36 là đảng viên), bộ đội địa phương có 89 người, dân quân du kích có 259 người (ở Nà Thuộc) và 40 người của Chi Lăng, Hải Chi.

Tỉnh ủy Hải ninh đã nọp đề ra một số công việc trước mắt là:

- Xây dựng Nà Thuộc thành căn cứ địa vững chắc, có cán bộ địa phương để chỉ đạo phong trào, thực hiện sản xuất để có lương thực dự trữ trong sáu tháng.

- Xây dựng một trung đội vũ trang tuyên truyền, hai đại đội du kích thoát ly cho các huyện Đình Lập, Hải Chi, Lộc Bình để tiễu phỉ, trừ gian và bảo vệ cơ quan tỉnh.

- Khắc phục khó khăn để tổ chức chính quyền kháng chiến trong vùng địch tạm chiếm. Tích cực lôi kéo ban tề lừng chừng, bao vây, trừng trị những tên phản động.

- Lập tiểu ban địch vận.

- Chọn người trung thành với Đảng, với cách mạng, hăng hái tham gia kháng chiến để phát triển Đảng.

- Về tác chiến phải khắc phục lối phòng ngự cứng nhắc, chờ địch đến mới đánh, chuyển sang đánh du kích, bí mật, bất ngờ tìm chỗ yếu của địch mà đánh, chủ động tiêu hao địch, làm cho chúng ăn không ngon, ngủ không yên để hạn chế hoạt động của chúng.

Ngày 7 tháng 10 năm 1947, giặc Pháp bắt đầu cuộc tiến công quy mô vào Việt Bắc, căn cứ địa kháng chiến của cả nước.

Bộ Tổng chỉ huy ra mệnh lệnh số 132 “các khu phải đánh mạnh để phối hợp với Việt Bắc”.

Thi hành mệnh lệnh đó, tiểu đoàn 426 hành quân về Hải Ninh để chiến đấu. Cũng trong tháng 10 năm 1947, tỉnh đội Hải Ninh được thành lập để giúp cho tỉnh ủy chỉ đạo phong trào kháng chiến chống Pháp ở địa phương.

Tiểu đoàn 426 đã dẫn dắt bộ đội và du kích Hải ninh trong chiến đấu và đã đánh một số trận thắng giòn giã… Từ ngày 10 tháng 10 đến 13 tháng 10 năm 1947, được sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, tiểu đoàn 426 tập kích đồn Quân, đồn Pò Lòng, ngày 15 tháng 10 năm 1947 đánh đồn Nà U trên đường số 4, diệt một trung đội địch.

Trong ba tháng cuối năm 1947, quân và dân Hải Ninh đánh chín trận, diệt 140 lính Âu – Phi, 15 lính ngụy, làm bị thương và bắt sống 75 tên, thu 58 khẩu súng trường và trọng liên, phá bốn ô-tô, hai kho đạn, cắt 5.200 mét dây điện.

Dưới sự chỉ đạo của tỉnh ủy, cán bộ, bộ đội địa phương của ta đã vào vùng tạm bị địch chiếm ở các xã Yên Vũng, Đình Lập, Cường Lợi, Đồng Thắng, Thái Bình, Lâm Ca, nhiều người ở Đình Lập, Bình Liêu đã vận động con em mình không làm lính cho địch, nộp súng cho cách mạng, về nhà làm ăn.

Để chống lại phong trào kháng chiến của nhân dân Hải Ninh, bọn cầm đầu của quân Pháp và quân Tưởng ở Hải Ninh và Đông Hưng đã câu kết với nhau mở nhiều cuộc tiến công lớn.

Trong tháng 2 và tháng 3 năm 1948, hai tiểu đoàn Pháp có máy bay và phi pháo yểm trợ đã 10 lần tấn công khu Chi Lăng – Nà Thuộc, phối hợp với các cuộc vây quét của quân Tưởng vào căn cứ của du kích Trung Quốc bên kia biên giới. Có trận cà quân Pháp và quân Tưởng đều hợp lực đánh vào khu Nà Thuộc. Tuy vậy dựa vào hào lũy kiên cố, quân và dân Nà Thuộc vẫn bảo vệ được căn cứ, tiêu diệt nhiều địch, thu nhiều vũ khí.

Phối hợp với cuộc chống càn của Nà Thuộc, bộ đội và du kích ở Hải Ninh đã tăng cường hoạt động, diệt được 138 tên Pháp, 185 tên ngụy, làm bị thương 50 tên,cắt 17.800 mét dây điện và phá cầu Pò Toòng trên đường Đình Lập – Nà Pá.

Ngày 4 tháng 4 năm 1948, hai tiểu đoàn giặc có máy bay yểm hộ đã kiềm chế quân ta ở Chi Lăng và thọc sâu vào Bản Pục (Kiên Mộc) nơi đặt cơ quan lãnh đạo và chỉ huy của ta. Tiểu đoàn 439 bộ đội chủ lực ra chặn địch ở Chi Lăng nhưng đã bị quân địch bao vây và chọc thủng, tiểu đoàn phải rút lui, bộ đội và du kích Nà Thuộc không còn sức chiến đấu. Địch chiếm được Nà Thuộc, lực lượng vũ trang và nửa vũ trang của ta ở đây đã tản mát hết.

Cùng lúc này, “Duyên biên tự vệ đoàn”(1) cũng bị quân Tưởng o ép mạnh đã phải chạy sang đất Chúc Bài Sơn (Hà Cối) của Hải Ninh để củng cố.

Chiếm xong Nà Thuộc, giặc Pháp vừa tăng cường khủng bố cướp bóc vừa ra sức dùng cách chia rẽ các dân tộc ở huyện Bình Liêu.


(1) Đội du kích của Trung Quốc hoạt động ở Đông Hưng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 06:36:12 pm
*

Năm 1947, việc tổ chức và chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương đã có chuyển biến mới từ Trung ương đến thôn, xã.

Thông tư tháng 2 năm 1947 của Bộ Quốc phòng quy định rõ:

- Vào dân quân là nghĩa vụ của mọi công dân từ 18 đến 45 tuổi.

- Ở thôn và xã chỉ có hai lực lượng là dân quân và du kích, đây là những lực lượng chiến đấu, do địa phương trang bị và đài thọ bằng cách dựa vào dân.

Tháng 3 năm 1947, Chính phủ quyết định chuyển Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia Việt Nam thành Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ Việt Nam. Chính phủ cũng quyết định xây dựng các ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xã đội dân quân thuộc ủy ban kháng chiến các cấp.

Tháng 4 năm 1947, Trung ương Đảng yêu cầu mỗi địa phương, mỗi cơ sở phải cử một đảng viên hoặc cán bộ đoàn thể có năng lực phụ trách theo dõi phong trào dân quân.

Sau hội nghị dân quân toàn quốc tháng 5 năm 1947, hệ thống cơ quan quân sự các cấp được thành lập và dân quân tự vệ trở thành một bộ phận trong các lực lượng vũ trang của nhàn nước.

Thực hiện chỉ thị của trên, từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1947, tỉnh đội dân quân Quảng Hồng và Hải Ninh được thành lập.

Bộ đội chủ lực hoạt động ở các địa phương trong thời kỳ này thường có trung đoàn 98 (ở phía Quảng Hồng) và các tiểu đoàn 426, 439 ở Hải Ninh.

Ở các xã thuộc các huyện đồng bằng của liên tỉnh Quảng Hồng ta vẫn giữ được phong trào chiến tranh du kích. Quân ta dựa vào địa hình thuận lợi như núi đá hoặc núi đất xen kẽ với xóm làng để xây dựng làng chiến đấu, khu du kích liên tục tiến công địch.

Ở Thủy Nguyên, từ tháng 7 năm 1947, đại đội Lê Lợi được thành lập. Huyện ủy đã giao cho đại đội này và lực lượng công an lập căn cứ ở vùng rừng núi phía bắc Thủy Nguyên. Đại đội Lê Lợi cùng dân quân du kích đã tiến hành trừ gian và phục kích, chống càn 10 trận, diệt 37 địch trong năm 1947.

Tháng 8, tháng 9 năm 1947, du kích các xã Trúc Châu, Đồng Ngọ, Thanh Quang, An Lâm, Kim Bịch (Nam Sách), Đồng Lạc, Lê Lợi (Chí Linh), Lạc Long, Đại Uyên, Hiệp Thượng (Kinh Môn), Yên Đức, Yên Thọ, Nguyễn Huệ, Bình Dương (Đông Triều) là những nơi có thành tích trong chiến đấu và tham gia xây dựng cơ sở.

Du kích xã Yên Đức (Đông Triều) là nơi sớm có truyền thống chiến đấu. Trong trận ngày 10 tháng 6 năm 1947, xã đã đánh lui một tiểu đoàn giặc. Trong trận tháng 10 năm 1947, du kích đã chống lại một trung đoàn giặc đến bao vây. Đêm đến du kích đã đánh vào nơi giặc trú quân, làm cho chúng phải bỏ nhiều cuộc càn quét.

Đặc biệt là ở Hoành Bồ, từ đầu năm 1947 phong trào kháng chiến còn yếu thì nay rộ lên một số trận đánh hay. Các đơn vị của trung đoàn 98, đại đội Hồ Chí Minh và trung đội của huyện đã tấn công địch nhiều trận trên đường Đồng Đăng – Yên Lập. Tháng 12 năm 1947, một đơn vị của trung đoàn 98 cùng du kích Việt Hưng đã phục kích một xe chở đầy lính địch vừa rút từ Việt Bắc về. Ta diệt một số tên địch thu một trung liên, hai tiểu liên, bảy súng trường.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 06:37:25 pm
Ngay từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, liên tỉnh ủy ở Quảng Hồng rất chú trọng đến việc xây dựng Đảng để đảng bộ đủ sức lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của địa phương. Đi đội với xây dựng tổ chức Đảng mạnh, ở các huyện, các đơn vị bộ đội chủ lực, tỉnh ủy còn cử nhiều cán bộ đảng viên thâm nhập quần chúng ở vùng tạm bị địch chiếm. Lực lượng vũ trang tuyên truyền được tổ chức thành từng đội, có đảng viên, cán bộ phụ trách.

Công tác tuyên truyền và cổ động được tỉnh ủy hết sức quan tâm và đã góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh phong trào thi đua giết giặc lập công.

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Hồng họp lần thứ nhất (tháng 10 năm 1947) đã nhất trí trao phần thưởng thi đua cho Đảng bộ Thủy Nguyên là địa phương lập được nhiều thành tích xuất sắc trong ba phong trào thi đua giữa năm 1947.

Vào tháng 10 năm 1947, liên tỉnh Quảng Hồng đã mở “Hội nghị Diên Hồng” tại Bắc Mã (Đông Triều). Các cụ phụ lão từ các bản làng, thôn xóm, khu phố trong liên tỉnh đến dự bày tỏ quyết tâm kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng.

Để kịp thời động viên tinh thần chiến đấu, tỉnh Hải Ninh và liên tỉnh Quảng Hồng đã xuất bản các tờ tin in bằng mực li-tô. Tờ “Hải Ninh kháng chiến” xuất bản với ba thứ tiếng: Việt, Thổ và Hoa. Ở Quảng Hồng, ngoài tờ tin của Ty thông tin – tuyên truyền còn có tờ “Quân Bạch Đằng” của tỉnh đội, phát hành trong bộ đội và dân quân tự vệ.

Trong những năm đầu kháng chiến ở Quảng Hồng đã nổi lên tấm gương bất khuất của đồng chí Lê Hồng Thạch, của đồng chí Đồng và những chiến sĩ Vũng Đụn (Khu Mỏ), Yên Đức và đặc biệt là tấm gương của đồng chí Đỗ Thị Minh Hà. Chị Đỗ Thị Minh Hà là tỉnh ủy viên tỉnh Quảng Hồng phụ trách phong trào của Cát Hải và Hà Nam. Tháng 7 năm 1947 chi bị địch bắt. Giặc Pháp đã tra tấn chị rất dã man nhưng chị không một lời khai báo cho địch. Cuối cùng chị đã hy sinh trong nhà tù của đế quốc.

(https://lh3.googleusercontent.com/wuMK207j5dZy1srrR-pj5JYb5VFDoY_J4uH1u1NbzbQA1jVyxBbi-7q4RNh0h171O5cr_bY9fCbgV-A37R5pgnWg9_lW4pa52O8tjmS94kMv6tjn_KwHaKBo80b52qvA_FBNwdZMPORYOg2m3Qe-xoRrSE1zbij60XqNZEX7Fha3jBZr5RGYKkaD5-fqJNeTXH9L46iVW27aeKGvimiK5R4lSYN9RRQIlWfCjK7OGcvY5ATckg4vR9od6SVohcTYJP6-BdBZ2uXCcjabSVnKP7wMONaz7PFlwAD5r6Ph8A0vi2weR6qA96BdJps_XGX4PxsZN4CtIz55xzaI226G3p5rwMRGbVuOdrG2r8wD9U-wzqqlHGvDoXJMxBEzMZpsvzCDBFZc2m1s4u79I8HuEaO-dVsEOqkqyagpz14Q06xdJVphwq4EsTExQ93sudpEu9vpjAb-cSjI5RoQZScFSHBkIfO2pX6BzbiTZfPZwHcgM3Hpc0xQZ3sdBMFV0DGFuuXXHOcjDQOYhWV7eh9XKrm354QkSpC-FzbfnjGH3nTRfGDTH_yOzjEwVQtaVuXJN1AX7RiNW4otuBaf_F18FyCLn35eueoHIy3RhdIdvgGN-xfaHVce=w163-h220-no)

Nữ liệt sĩ Minh Hà, ủy viên dự khuyết Đảng bộ tỉnh Quảng Hồng,
người xây dựng cơ sở cách mạng khu Hà Nam và Cát Hải, bị giặc Pháp sát hại năm 1947


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 06:41:09 pm
3. Kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị phá âm mưu lập tề - kìm kẹp nhân dân và mở rộng vùng chiếm đóng của địch.

Từ sau chiến dịch Việt Bắc (từ ngày 7 tháng 10 đến ngày 9 tháng 11 năm 1947), giặc Pháp chuyển từ chiến lược “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang đánh lâu dài. Chúng ra sức củng cố vùng Đông Bắc, một khâu quan trọng trên “hành lang Đông – Tây” kéo dài từ Móng Cái, Quảng Yên, Bắc Ninh đến Sơn Tây, Việt Trì, Hòa Bình. Chúng ra sức tăng cường hệ thống đồn bốt trên các trục đường 13, 18, 4.

Tới tháng 4 năm 1948, địch đóng 50 vị trí ở địa bàn Quảng Yên trong đó nơi nhiều nhất là Thủy Nguyên và Lục Sơn Hải (mỗi nơi có hơn 10 vị trí), những nơi có từ ba đến bốn vị trí là Chí Linh, Hoành Bồ, Cát Hải, Yên Hưng, Kinh Môn.

Địch luôn càn quét vào căn cứ của liên tỉnh ở bắc đường 18 (về phía huyện Chí Linh) và đánh phá các khu du kích Nguyễn Huệ, Yên Đức (Đông Triều), Minh Tân, Lưu Kiếm (Yên Hưng), Bích Nhôi, Kính Chủ, Minh Tân (Kinh Môn), Trại Kênh (Thủy Nguyên) và Cát Hải.

Ở Nam Sách, nơi có đồng bào theo đạo Thiên chúa, địch đã nuôi dưỡng bọn phản động đội lốt tôn giáo, dùng bọn chúng để móc nối với quân Pháp, cưỡng bức giáo dân biểu tình, giết cán bộ bộ đội, rào làng lập căn cứ.

Ngày 20 tháng 5 năm 1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ tư ra nghị quyết về công tác trong vùng địch kiểm soát và chiếm đóng.

Thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng, Liên khu ủy 1(1) đã chỉ thị cho Quảng Hồng và Hải Ninh phải “đánh phá âm mưu chính trị và kinh tế của địch, đánh vào sau lưng địch, biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta”. Liên khu cũng nhắc nhở: làm như vậy là góp phần phá cuộc tiến công lên Việt Bắc vào thu đông năm 1948 (theo dự kiến) của giặc.

Để mở rộng căn cứ Đông Bắc, khoét sâu vào chỗ yếu của địch, thúc đẩy phong trào chiến tranh nhân dân đang phát triển trong khu vực địch coi là an toàn, Bộ Tổng chỉ huy chủ trương mở chiến dịch “Đông Bắc 1”.

Liên tỉnh ủy Quảng Hồng đã họp và đề ra nhiệm vụ “đi sâu vào hậu địch, chuyển trọng tâm hoạt động vào nơi “đại thái bình” của giặc, chuẩn bị cho cuộc tổng phá tề và phát động chiến tranh du kích, hưởng ứng với chiến dịch Đông Bắc của liên khu”.

*

Đại hội đại biểu Đảng bộ liên tỉnh lần thứ hai họp (tháng 6 năm 1948) đã đề ra phương hướng là phải tiếp tục chú trọng công tác xây dựng cơ sở quần chúng để phát động cuộc đấu tranh ở vùng sau lưng địch.

Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Liên khu ủy và sự nỗ lực chung, năm 1948 liên tỉnh Quảng Hồng đã xây dựng được nhiều cơ sở trong vùng địch tạm chiếm. Từ những cơ sở được xây dựng ở các địa phương, phong trào đấu tranh chống địch được nhen nhóm và phát triển. Trong lúc địch kêu gọi nhân dân “hồi cư” thì tỉnh ủy cũng chủ trương vận động nhân dân về bám đất để sản xuất, đồng thời đưa cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trung đoàn 98 tỏa về vùng địch tạm chiếm giải thích cho nhân dân rõ âm mưu thâm độc, bản chất tàn bạo của địch.

Dựa vào cơ sở chính trị, các thành viên tốt được chọn vào đội du kích bí mật dưới sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương. Hoạt động quân sự trong vùng địch tạm chiếm vì thế được dấy lên từng bước, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ phá tề trừ gian, xây dựng củng cố chính quyền cách mạng.

Chỉ từ bốn đến sáu tháng sau, cơ sở của ta đã được chắp nối và xây dựng ở các huyện đồng bằng. Với vùng rừng núi thuộc Lục Sơn Hải, trung đoàn độc lập của liên khu cùng các cán bộ Hoa kiều vụ của liên tỉnh đã đạt nhiều thành tích trong việc vận động đồng bào người Hoa.

Ở Yên hưng, huyện ủy đã về Đồng Nai, cách tỉnh lỵ hơn 10 ki-lô-mét đường bộ. Cơ sở kháng chiến trong huyện được xây dựng từ Yên Thành, Uông Bí tới khu Hà Bắc. Bộ đội và công an còn sang cả vùng Hà Nam để gây dựng cơ sở, có thời gian còn sang cả Hoàng Tân và Cát Hải vận động quần chúng xây dựng chính quyền cách mạng.

Các huyện Chí Linh, Đông Triều có nhiều xã đã lập chính quyền kháng chiến. Ở Nam Sách cơ sở cách mạng đã được xây dựng ở các xã xung quanh huyện lỵ.

Công tác gây cơ sở của Thủy Nguyên có những nét riêng biệt so với các nơi khác. Ngay từ những năm 1946, 1947, huyện ủy đã nắm chắc các đơn vị bộ đội của huyện (cuối năm 1947, đại đội Lê Lợi được thành lập) để hỗ trợ cho việc vũ trang tuyên truyền, gây cơ sở và xây dựng căn cứ ở miền bắc Thủy Nguyên. Từ tháng 3 năm 1948, đại đội Lê Lợi vào vùng tạm bị địch chiếm để tham gia xây dựng cơ sở chính trị.

Ngoài những hình thức mà các huyện khác đã làm, do nắm chắc tình hình địch nên ở Thủy Nguyên đã xây dựng các biện pháp chính trị kết hợp với vũ trang uy hiếp địch nhanh chóng xây dựng được cơ sở cách mạng. Chẳng hạn như nhân lúc hội tề đang tụ tập để chè chén thì cán bộ, du kích và bộ đội bất ngờ ập vào, bắt họ ký vào biên bản là nhận làm việc cho kháng chiến.

Chỉ qua mấy tháng, Thủy Nguyên đã có cơ sở cách mạng ở khắp các xã trong huyện và có cơ sở trong binh lính địch ở nhiều đồn bốt. Ngay cả quận trưởng Thủy Nguyên cũng liên lạc với kháng chiến. Huyện còn đưa một số đảng viên và cán bộ vào tề và dõng để nắm các tổ chức này.

Vì có thành tích trong việc phục hồi và phát triển cơ sở trong năm 1948, Thủy Nguyên đã được Liên khu thưởng cho 3.000 đồng và một khẩu súng ngắn.

Cho đến cuối năm 1948, hầu hết các ban tề ở các huyện thuộc Quảng Yên đã do ta khống chế. Nhiều ban tề xã phải thường xuyên xin ý kiến của chủ tịch Ủy ban kháng chiến xã hoặc bí thư chi bộ Đảng.

Công tác diệt trừ những tên tề gian ác có nợ máu với nhân dân đã hỗ trợ đắc lực cho công tác xây dựng cơ sở. Tuy nhiên việc này không được tổ chức và lãnh đạo một cách thống nhất, chặt chẽ thận trọng nên có một số trường hợp đã làm ảnh hưởng tới lòng tin của quần chúng đối với kháng chiến.

Từ đầu năm 1948 trở đi, phong trào chiến tranh nhân dân ở Hoành Bồ có chuyển biến rõ rệt. Ta đã khôi phục và phát triển cơ sở ở Quang La, Bằng Cả, Dân Chủ, Sơn Dương tới Việt Hưng, Lê Lợi, Thống Nhất, Vũ Oai. Ở các xã vùng rẻo cao như Tân Dân, Đồng Quảng, chính quyền cũng được xây dựng. Các chi bộ Đảng ở Sơn Dương, Quảng La, Việt Hưng, Lê Lợi, Tân Dân, Đồng Quặng đã lãnh đạo nhân dân ở các xã hăng hái tham gia kháng chiến, hăng hái đi dân công và nhiệt tình đóng góp công, của cho cuộc kháng chiến. Nhiều xã có phong trào bình dân học vụ khá sôi nổi.

Sự phát triển của cuộc chiến tranh trong vùng địch tạm chiếm đã tạo được đoàn kết, gắn bó giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân trước sự sống còn của từng người, từng gia đình với vận mệnh của quê hương đất nước. Qua thử thách, mọi người càng dày dặn, xác định được chỗ đứng và nhiệm vụ của mình.


(1) Ngày 21 tháng 1 năm 1948, Chính phủ ra sắc lệnh sáp nhập các khu lại thành liên khu. Liên khu 1 được thành lập do hai Chiến khu 1 và 12 hợp thành.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 06:46:46 pm
*

Về phía địch, trước tình hình mất ổn định và thường xuyên bị uy hiếp, chúng ra sức chống phá quyết liệt.

Để ngăn chặn các cuộc tiến công của ta và để có một hành lang an toàn, bảo đảm cho việc chiếm đóng và khai thác mỏ, từ năm 1948, giặc Pháp đã xây dựng một vành đai phản động kéo từ An Châu, Trại Thán (Sơn Động) qua Hoành Bồ, Cái Bầu, nối với Tiên Yên, Ba Chẽ ra tới Móng Cái.

Trên vành đai này, chúng lừa gạt, mua chuộc và khống chế đồng bào Hoa (Nùng), đồng bào Mán (Thanh Phán) và phát súng cho họ để chống lại kháng chiến.

Lợi dụng những sai lầm của một số cán bộ và tổ chức quần chúng đối với các dân tộc ít người ở Hoành Bồ, thực dân Pháp đã tuyên truyền, xuyên tác chính sách của cách mạng, nuôi dưỡng bọn trùm phỉ (là người dân tộc ít người) chống phá cách mạng.

Thấy rõ âm mưu của giặc, Liên tỉnh ủy đã tăng cường cán bộ cho Hoành Bồ, đồng thời đẩy mạnh việc tác chiến để thu hẹp phạm vi kiểm soát của giặc và tăng cường công tác vận đồng đồng bào Hoa, do vậy phong trào cách mạng ở Hoành Bồ và hải đảo, vùng cao có dân tộc ít người sinh sống vẫn phát triển mạnh.

Trước Cách mạng tháng Tám, vùng cao Cẩm Phả thuộc hai đầu mối hành chính khác nhau. Đảo Bản Sen có xã Vân Hải, nơi có đông người Kinh, là một tổng thuộc quyền tỉnh trưởng Quảng Yên. Đảo Cái Bầu và quần đảo Cô Tô có đông người Hoa và người Sán Dìu thì nằm trong châu Vạn Hoa.

Từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến năm 1949, Cái Bầu thuộc liên thị Cầm Phả - Cửa Ông, còn đảo Bản Sen thì cuối năm 1948 được bàn giao từ huyện Thụy Anh (Thái Bình) về cho liên thị Cẩm Phả - Cửa Ông.

Ngày 9 tháng 8 năm 1948, ban cán sự đảng liên thị ra nghị quyết thành lập các xã ở đảo và mặt nước. Liên thị đã cử cán bộ về củng cố các xã Thạch Hà, Đoàn Kết để tạo bàn đạp vào hoạt động trong khu mỏ.

Chi bộ xã Đoàn Kết, Cộng Hòa, Thạch Hà, Văn Châu, Hạ Long đã lãnh đạo nhân dân hăng hái góp đảm phụ quốc phòng, mua công phiếu kháng chiến, góp “hũ gạo kháng chiến”. Nhân dân Thạch Hà, Vân Hải, Đoàn Kết đã đánh cá, kiếm củi, bán lâm thổ sản được hàng vạn đồng tiền Đông Dương để nuôi cán bộ, ủng hộ kháng chiến hoặc mua súng đạn cho du kích.

Các xã Đoàn Kết, Thạch Hà, Văn Hải có 100 phần trăm số dân vào đoàn thể, mỗi nơi có hàng tiểu đội hoặc trung đội du kích, nhưng vũ khí của anh em hầu hết là dao găm, lựu đạn.

Lục Sơn Hải (gồm phần đất của ba huyện Lục Ngạn, Sơn Động, Hải Chi) là vùng rừng rậm, núi cao, có các dân tộc ít người sống rải rác, nối liền một dải với vùng rừng núi chải Hải Ninh và Bắc Giang và của “đại hậu phương” Việt Bắc. Gắn liền một khối với Lục Sơn Hải là vùng rừng núi phía bắc đường 18 của ba huyện: Chí Linh, Đông Triều, Yên Hưng. Vùng này dựa vào Lục Sơn Hải nhưng lại ôm sát lấy đường 18, một quốc lộ rất quan trọng đối với vùng đông – bắc.

Từ hồi tiền khởi nghĩa, Thường vụ Trung ương Đảng, Xứ ủy Bắc Kỳ và tỉnh ủy Hải Dương, thành ủy Hải Phòng đã có ý định chọn vùng rừng núi phía bắc đường 18 làm căn cứ cho chiến khu Trần Hưng Đạo (chiến khu Đông Triều).

Bước vào kháng chiến chống Pháp, liên tỉnh Quảng Hồng có ý định trước mắt là dựa vào vùng rừng núi bắc đường 18, đồng thời cũng chuẩn bị từng bước để xây dựng phong trào trong núi rừng Lục Sơn Hải (sau này là huyện Sơn Động).

Bộ tư lệnh Liên khu 1 chủ trương xây dựng vùng rừng núi của Quảng Hồng và Hải Ninh thành căn cứ chung của mặt trận Đông Bắc, do Bộ tư lệnh Liên khu chỉ đạo.

Trong những năm đầu kháng chiến, ta lấy vùng rừng núi phía bắc đường 18 làm chỗ dựa.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 06:47:15 pm
Năm 1947, liên tỉnh Quảng Hồng và trung đoàn 98 bám sát vùng rừng núi từ Yên Hưng, Đông Triều đến Chí Linh (Khe Chàm, Năm Mẫu, Tràng Lương, Linh Tràng…). Năm 1948, liên tỉnh và trung đoàn 98 chuyển về phía Chí Linh và Sơn Động (Trại Gạo, Đá Súng, Hồ Gỗ, Đại Tân, Bắc Nồi, Bắc An, Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Bến Tấm, Mai Sưu…). Vùng rừng núi thuộc Đông Triều, Yên Hưng có căn cứ của hai huyện này và thành đội Hải Phòng cũng đang đặt căn cứ ở Bãi Bằng.

Nhân dân ở vùng rừng núi bắc đường 18 phần lớn là người Kinh và là tá điền cũ. Chính quyền cách mạng đã chia cho nhân dân ruộng đất của các đồn điền vắng chủ - bằng hình thức tạm cấp – giúp người dân nâng cao mức sống của mình. Do đó nhân dân rất bắn bó với cách mạng.

Từ khi bước vào kháng chiến, vùng rừng núi bắc đường 18 đã trở thành đông vui với sự có mặt của nhiều cơ quan, nhiều đơn vị bộ đội và nhất là đồng bào tản cư của các tỉnh Quảng Yên, Hải Dương, Hải Phòng vào rừng làm ăn để đánh giặc.

Việc xây dựng cơ sở ở vùng Sơn Động gắn liền với việc tiễu phỉ diễn ra lâu dài gay go, ác liệt. Sau cuộc tiến công lớn của bộ đội chủ lực trên đường mười ba, 500 tên phỉ ở Lục Nam, Chũ… đã phải chạy theo Pháp để làm ngụy binh. Hàng trăm tên còn lại tập trung và các vị trí, các làng quanh An Châu, trong đó có cứ điểm của phản động trong Trại Thán.

Trung đoàn 98 đã kiên trì vận động người Hoa, vây ép, thu hẹp và tiêu diệt thổ phỉ. Cứ điểm Trại Thán, An Châu mấy lần bị quân ta diệt; phỉ ở gần Năm Mẫu, Cây Châm nhiều người nộp súng trở về làm ăn, nhiều người lầm đường sau khi được giác ngộ đã vào bộ đội hoặc tham gia các ban Hoa vận của ta.

Cuối năm 1948, vùng căn cứ của ta từ Hố Gỗ, Bến Tắm, Hố Yếu, Thanh Mai (Chí Linh) qua Mau Sưu, Vy Loại và Trại Thán đã có du kích của ta hoạt động. Căn cứ địa của Quảng Hồng đã vào đến trung tâm của huyện Sơn Động (Lục Sơn Hải). Sau khi xây dựng được cơ sở cách mạng, cán bộ và bộ đội đã hướng dẫn nhân dân phát triển sản xuất ổn định đời sống.

Quán triệt nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1 năm 1948), bên cạnh việc xây dựng bộ đội chủ lực mạnh, Bộ Tổng tư lệnh đã đưa một số trung đoàn chủ lực về các địa phương hoạt động theo phương châm “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”.

Trên địa bàn liên tỉnh Quảng Hồng có hai trung đoàn chủ lực về hoạt động.

Một trung đoàn độc lập có hai tiểu đoàn và một ban Hoa vận. Anh em trong đơn vị phần lớn là người Hoa, ngoài ra còn có cả một số người trong đội du kích “Việt Quế” của Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau khi sang Việt Nam để tránh quân Tưởng vây quét, đã ở lại chiến đấu chống Pháp trong đội ngũ trung đoàn. Trung đoàn độc lập làm nhiệm vụ vận đông người Hoa tham gia kháng chiến và tiêu diệt thổ phỉ.

Trung đoàn 98 hoạt động theo phương thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”. Các đại đội độc lập đã “giúp du kích trở nên những bộ đội địa phương”. Mỗi trung đoàn hoạt động theo phương thức này phải giữ một tiểu đoàn tập trung làm nóng cốt cho việc xây dựng và tác chiến chính quy.

Trung đoàn 98 có tiểu đoàn 215 đóng ở Đại Tân, Đại Bộ, Đại Bát, Bắc Nồi (Chí Linh) để bảo vệ vành ngoài của căn cứ địa liên tỉnh. Trung đoàn bộ đóng ở Hố Gỗ. Đại đội 34 được cử về huyện Thủy Nguyên, đại đội 53 về Yên Hưng, đại đội 39 (đại đội Hồ Chí Minh cũ) về Hoành Bồ… Với nhiệm vụ “giúp du kích trở thành bộ đội địa phương”, các dại đội độc lập này có nhiệm vụ giúp đỡ các đại đội của liên tỉnh lúc ấy còn gọi là “du kích tập trung”.

Trên thực tế, các đại đội Bạch Đằng, Hồ Chí Minh, Lê Lợi của liên tỉnh và của Thủy Nguyên đã từ lâu làm nhiệm vụ của bộ đội địa phương và có trình độ hoạt động tương đương như các đại đội độc lập. Ngày 1 tháng 7 năm 1948, đại đội Hồ Chí Minh được bổ sung cho trung đoàn 98, lấy phiên hiệu là đại đội 39.

Trong năm 1948, ở Quảng Hồng có các trung đội du kích tập trung của các huyện như Hoàng Văn Thụ (Thủy Nguyên), Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong (Kinh Môn), Trần Phú (Lục Sơn Hải), Phan Đình Phùng (Hoành Bồ), Quang Trung (Yên Hưng), Tô Hiệu ở Hồng Cẩm (Hồng Gai, Cẩm Phả), Hoàng Diệu (Đông Triều), Phạm Ngũ Lão (Chí Linh), Hoàng Hoa Thám (Nam Sách) và trung đội Cát Hải.

Phong trào dân quân du kích của Quảng Hồng phát triển mạnh. Đến tháng 8 trong 88 xã của liên tỉnh thì 70 xã có ban xã đội, trong đó có 20 ban làm việc khá vững. Số du kích của toàn liên tỉnh lúc này có 2.000 người.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 06:47:40 pm
Dưới sự chỉ đạo thống nhất của tỉnh ủy, ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh, các đơn vị đã thực hiện tốt đợt “Luyện quân, lập công”. Các “đại hội luyện quân, lập công” của ba thứ quân được tổ chức ở căn cứ đã thúc đẩy khí thế học tập quân sự trong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân. Ngoài ra, Trường quân chính Bạch Đằng (liên tỉnh) đã đào tạo và bồi dưỡng cán bộ tiểu đội du kích, cán bộ xã đội và cán bộ tiểu đội cho bộ đội địa phương.

Năm 1948 cũng là năm các đại đội liên tỉnh và các trung đội của Lục Sơn Hải, Hoành Bồ, Cát Hải không những thiếu quân số, chăn màn, mà còn thiếu gạo, thiếu thuốc, một số đơn vị phải giảm số quân, nhiều trung đội của các huyện phải giải thể.

Để khắc phục những khó khăn trên, qua các cuộc vận động “bán thóc cho Hồ Chủ tịch khao quân”, “Hũ gạo nuôi quân”, “Thửa ruộng nuôi quân”, nhân dân các xã, huyện đã đóng góp được nhiều lương thực, thực phẩm, giải quyết một phần khó khăn cho bộ đội.

Hội phụ nữ, phụ lão đã tổ chức “Hội mẹ chiến sĩ” để đỡ đầu bộ đội hoặc góp tiền, góp công để may vá quần, áo cho chiến sĩ. Huyện Nam Sách không những chỉ chăm lo cho trung đội của huyện mình mà còn đỡ đầu cả trung đội của Lục Sơn Hải.

Hội bảo trợ dân quân ở huyện, xã vận động nhân dân quyên góp tiền để mua vũ khí cho dân quân du kích. Xã Nguyễn Huệ (Đông Triều) mua 2.000 quả mìn và lựu đạn cho du kích. Huyện Cát Hải có phong trào “thi đua yêu nước” sôi nổi, nhân dân đã góp tiền mua vũ khí nuôi trung đội của huyện trong hoàn cảnh bị bao vây ngặt nghèo.

Cuộc đấu tranh trong vùng tạm bị địch chiếm của ta càng phát triển thì ở vùng địch kiểm soát càng bị uy hiếp mạnh. Thực dân Pháp đã tổ chức nhiều cuộc càn quét tàn sát nhân dân một cách dã man. Vừa khủng bố nhân dân, giặc Pháp vừa thúc ép lập lại các ban tề đã bị ta phá.

Ngày 25 tháng 8 năm 1948, trong nghị quyết “Tiến gấp tới tổng giải tán hội tề”, Thường vụ Liên khu ủy 1 đã nêu rõ:”Trong dịp Thu Đông này, để kết hợp chặt chẽ công tác quân sự và chính trị, cần phải gấp rút đẩy mạnh cuộc vật lộn với địch ở ngay hậu phương chúng với hình thức quyết liệt và quét sạch các chính quyền bù nhìn địa phương của chúng, tổng giải tán hội tề để thực hiện kế hoạch biến hậu phương địch thành địa bàn hoạt động của ta”.

Thực hiện nghị quyết của Liên khu ủy, ngày 5 tháng 10 năm 1948, liên tỉnh ủy Quảng Hồng quyết định mở một đợt tổng phá tề ở Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Đông Triều, Yên Hưng, Cát Hải, Hoành Bồ, Thủy Nguyên. Tuy gọi là tổng phá tề nhưng liên tỉnh có quy định các mức độ khác nhau cho từng nơi. Nơi có sở mạnh thì kết hợp giữa lệnh của chính quyền kháng chiến về phá tề với áp lực đấu tranh của nhân dân, và việc trừ gian hoặc đánh du kích của công an, bộ đội, du kích. Nơi cơ sở yếu thì phá tề một cách hợp pháp để tránh sự khủng bố của địch.

Sau khi lệnh của chính quyền kháng chiến được công bố, trong tiếng trống mõ vang dậy ở các thôn, xã, du kích và công an tỏa đi giải tán tề, thu sổ sách và giấy tờ của chúng, cảnh cáo những tên có hành động xấu. Bộ đội tập trung ở các khu du kích sẵn sàng đánh địch để bảo vệ dân.

Những nơi gần địch hoặc lực lượng ta chưa mạnh thì dùng cách phá tề “hợp pháp”. Đêm đến ta đốt một số đống rơm nổ vài phát súng, trong lúc du kích đưa các nhân viên ban tề vào rừng để tạm lánh, thì nhân dân nổi trống, mõ báo động. Sớm hôm sau, ta cho người lên đồn báo với “Tây” là “hôm qua Việt Minh có nhiều quân, nhiều súng đã về bắt hội tề đem vào rừng”.

Huyện Hoành Bồ tổ chức phá tề một cách hợp pháp, đồng thời diệt những tên phản động ở Trới, Quảng La.

Ở Hà Sen (Cát Hải) các ban tề hàng ngày vẫn do ta điều khiển nên khi có lệnh phá tề thì họ nộp con dấu, sổ sách, giấy tờ cho ta rồi chấm dứt hoạt động.

Đợt tổng phá tề năm 1948 có những huyện đã phá 100 phần trăm số hội tề như Đông Triều, Kinh Môn, Hoành Bồ, Chí Linh. Qua tổng phá tề ở Kinh Môn ta diệt 80 Việt gian, phá ba ổ Việt Nam quốc dân đảng. Còn ở Chí Linh, Đông Triều, Hoành Bồ ta diệt 43 tên gian ác. Ngoài ra cũng qua phá tề, bọn địch đã phải rút bỏ vị trí Yên Đức (Đông Triều).

Các huyện Chí Linh, Kinh Môn, Nam Sách, Đông Triều, Yên Hưng, Hoành Bồ đã tiến hành tổng phá tề bằng nhiều hình thức với mức độ đấu tranh khác nhau, tiến hành thành nhiều đợt, nhiều cuộc. Địch lập tề, ta phá, địch lập lại tề, ta lại phá, làm cho ngụy quyền không có điều kiện củng cố.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 06:48:08 pm
Huyện ủy Thủy Nguyên đã đưa người của ta vào hàng ngũ địch, khi có thời cơ thì đồng loạt phá tề bằng hình thức quyết liệt theo kiểu “Tổng khởi nghĩa”.

Tháng 8 năm 1948, thôn nào ở Thủy Nguyên cũng có cơ sở quần chúng, xã nào cũng có cơ sở Đảng. Trong tề, dõng, bảo an có cán bộ, du kích, đảng viên cài vào. Ta nắm hết ngụy quyền từ xã đến huyện. Lực lượng quân sự của ta có một đại đội, một trung đội của huyện, một đại đội của trung đoàn 98.

Huyện ủy còn chủ trương đưa người của ta vào dõng, bảo an. Cứ mỗi thôn có 10 người giữ súng cho địch thì với 82 thôn trong huyện, sau khi tổng phá tề, ta có thể thu tới 800 súng.

Ngày 25 tháng 10 năm 1948, Thủy Nguyên nhận được lệnh phá tề. Huyện ủy họp với bí thư chi bộ các xã và chủ trương:

- Diệt một số vị trí bằng cách đánh nội ứng, tước súng của bảo an để trang bị cho bộ đội và du kích.

- Giải tán tề toàn huyện, nếu tình hình xấu thì cho từng nơi lập lại tề.

- Phát động chiến tranh du kích lẻ tẻ ở các nơi. Xây dựng vùng Doãn Lại, Trại Sơn thành căn cứ du kích.

- Triệt để giảm tô, thực hiện tiêu tiền Việt Nam ở các chợ.

Sau cuộc họp, các huyện ủy viên đã xuống các thôn, xã chỉ đạo phong trào. Khi có hiệu lệnh tổng phá tề, cuộc đấu tranh của nhân dân trong toàn huyện diễn ra với khí thế của một cuộc khởi nghĩa.

Nhân dân các thôn xóm giương cao quốc kỳ, mang gậy gộc, giáo mác, gõ trống, khua chiêng, rúc tù và, rào làng, đào hầm hố, cắt dây điện thoại của địch, rầm rộ cùng bộ đội, du kích đi phá tề, uy hiếp các đồn giặc. Chỉ cách Hải Phòng một con sông nhưng ủy ban kháng chiến xã Lâm Đông, Bình Động đã đặt trụ sở và kéo cờ đỏ sao vàng ngay trong tầm súng địch.

Trong đợt phá tề này, ta tước được 25 súng ở năm đồn bảo an và thu được 100 súng của lính dõng. Nhưng trận đánh càn vào vị trí Núi Đèo (nơi có một tiểu đoàn pháo của Pháp) và vị trí Thanh Lãng (nơi có một đại đội mà hai phần ba là Âu – Phi) đã thất bại. Khi đánh đồn Thanh Lãng một cụ già vác dao xông vào dồn đã bị địch bắn chết, một số chị vác dao ra đường cái để chặn xe của địch cũng đã hy sinh.

Ở Thủy Nguyên, trong ba tháng cuối năm 1948, giặc càn quét, vây sục 230 lần, đốt hàng vạn nóc nhà, hàng vạn thúng thóc. Trong các cuộc càn từ 30 tháng 11 năm 1948 đến 18 tháng 4 năm 1949, chúng đã giết 165 cụ già, em bé, đàn bà bằng nhiều hình thức dã man như chặt đầu, mổ bụng, bắn chết và đốt xác. Riêng trong trận Lâm Động ngày 16 tháng 1 năm 1949, giặc giết 108 người.

Trước tình hình đó, huyện ủy Thủy Nguyên đã chia nhau đi bám dân, bám đất, vận động nhân dân chôn cất người bị giết hại, thu dọn nơi bị đốt phá. Vận động nhân dân giúp nhau khi hoạn nạn, giúp nhau tiền bạo và làm lại nhà cửa. Một cuộc tuyên truyền gây căm thù đối với sự dã man của giặc được tiến hành trong toàn huyện. Huyện ủy đã chỉ đạo cho lập lại tề và phát động các hình thức đấu tranh chống khủng bố.

Tinh thần anh dũng của nhân dân huyện Thủy Nguyên trong cuộc tổng phá tề rất đáng khâm phục. Tuy nhiên qua cuộc đấu tranh này, nhân dân và phong trào ở Thủy Nguyên đã phải chịu những tổn thất nặng nề. Trong khi đó thì sau tổng phá tề, phong trào các huyện khác trong liên tỉnh đều có sự tiến bộ lớn.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 06:49:04 pm
*

Đối với khu mỏ, từ cuối năm 1947, sau khi ta đưa cán bộ trở về nắm phong trào, cơ sở chính trị của ta đã được phục hồi và phát triển. Hội nghị Liên tỉnh ủy tháng 11 năm 1947 đã giao nhiệm vụ cho Đặc khu ủy Hồng Gai: Phát triển Đảng trong mỏ và các xã ven thị. Tổ chức công đoàn và xây dựng các lực lượng vũ trang bí mật chuẩn bị hoạt động phối hợp với chiến dịch Đông Bắc do Liên khu mở vào tháng 10 năm 1948.

Phương châm hoạt động của khu mỏ là hoạt động bí mật, tránh manh động, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh kinh tế để đòi quyền lợi hàng ngày cho công nhân.

Từ đầu năm 1948, ta đã lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, cúp phạt ở các nhà máy, tầng lò. Ngày 22 tháng 4 năm 1948, công nhân nhà máy điện Hồng Gai đã đấu tranh thắng lợi, buộc bọn chủ phải tăng lương 30 phần trăm.

Để trừ khử những tên gian ác, đội trừ gian đã bắt một số tên phản động ở Hồng Gai và xử bắn ba tên đặc vụ ở Quang Hanh; đột nhập nơi làm việc của chủ thầu Xương Bình (cách nơi đóng quân của lính Âu – Phi 100 mét). Ta thu ba súng ngắn, đọc lệnh cảnh cáo và yêu cầu y phải nộp thuế cho kháng chiến, phả trả đủ lương cho công nhâ. Chỉ sau 15 ngày, Xương Bình phải theo đúng lệnh của kháng chiến.

Công nhân và nhân dân khu mỏ hăng hái góp của, góp công cho kháng chiến. Thuốc nổ, kíp mìn, xẻng, búa, gạo, muối, kim loại, thuốc tây, hóa chất, giấy viết… được chuyển ra cho kháng chiến, có khi bằng cả chuyến xe ô-tô. Nhân dân che chở và nuôi dưỡng cán bộ ngay trong thị xã, nhiều người mua công phiếu kháng chiến, có người mua tới hàng ngàn đồng Đông Dương. Cán bộ ta còn tổ chức cửa hàng tạp hóa trong thị xã với số vốn hàng vạn đồng để thu tiền lãi nộp vào quỹ công.

Đầu năm 1948, các tổ du kích bí mật được xây dựng trong khu mỏ. Thị xã Hồng Gai có hai tiểu đội, thị xã Cầm Phả có 10 tổ du kích làm nhiệm vụ phá hoại, trừ gian, diệt tề. ngày 8 tháng 6 năm 1948, thị xã Cẩm phả xây dựng đội vũ trang tuyên truyền gồm 18 người, có hai đảng viên. Dựa vào các xã Dương Huy, Quang Hanh, đội này vào thị xã làm công tác cơ sở, trừ gian và phối hợp chiến đấu với bộ đội.

Các xã Vũ Oai, Dương Huy, Cẩm Bình, Quang Hanh đã thành bàn đạp cho đại đội Hồ Chí Minh cùng du kích các xã này vào nội thị hoạt động.

Ngày 19 tháng 5 năm 1948, ta chủ trương đưa đại đội Hồ Chí Minh từ Dương Huy vào thị xã Cẩm Phả để phối hợp các tổ du kích, công nhân nổ súng đánh bốt điện Cột 3, đồng thời phá hoại máy móc của địch, rải truyền đơn, dán áp phích và trừ gian. Theo kế hoạch ta phải làm cho địch tưởng các hoạt động này đều do bộ đội từ ngoài vào đánh phá.

Nhưng tới giờ quy định chưa thấy bộ đội tới, công nhân cũng cứ đánh bốt điện và nổ súng trong thị xã. Do đó địch đã phát hiện ta có lực lượng ở bên trong nên chúng tập trung lực lượng để phá cơ sở.

Cho đến tháng 12 năm 1948, mặc dù qua nhiều lần vỡ cơ sở, các tổ chức của ta vẫn bám rễ được vào công nhân và nhân dân khu mỏ. Ta đã xây dựng được hai chi bộ Đảng với 64 đảng viên, đã có hệ thống chính quyền và đoàn thể trong các thị xã, hai ban chấp hành công đoàn thị xã và các ban chấp hành công đoàn cơ sở.

Cũng do lộ liễu, ngày 2 tháng 6 năm 1948, địch bắt 300 người ở Quang Hanh, Tam Hợp trong hai tháng 8 và 9 năm 1948, sau đó chúng lại bắt ở Hồng Gai và Hà Lầm hơn 120 người. Nhưng tổn thất lớn nhất là vụ vỡ cơ sở ở thị xã Cẩm Pha do có nội phản. Hàng trăm đảng viên và đoàn viên công đoàn bị bắt, bị giặc xâu dây thép gai vào tay rồi ném xuống Vũng Đục.

Tuy vậy giặc cũng chỉ có thể gây tội ác man rợ chứ không thể đè bẹp được cuộc đấu tranh của nhân dân khu mỏ.

Ngay trong những tháng địch ra tay khủng bố như vậy, những cán bộ đảng viên ta vẫn bám cơ sở, gây dựng phong trào chống giặc Pháp.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 07:38:40 pm
4. Đẩy mạnh tác chiến của bộ đội chủ lực để hỗ trợ cho chiến tranh du kích trong vùng sau lưng địch.

Năm 1948 cũng là năm thực dân Pháp mở nhiều cuộc càn vào các khu căn cứ du kích của ta.

Từ 26 tháng 2 năm 1948 đến 5 tháng 3 năm 1948, 3.000 tên giặc, có máy bay và chín tàu chiến yểm hộ, đã tiến công vào vùng núi đá Áng Sơn thuộc xã Minh Tân (Kinh Môn), nhằm diệt ban lãnh đạo và bộ đội của Kinh Môn, Thủy Nguyên.

Chúng bao vây hang rồi dùng pháo và súng máy bắn vào cửa hang. Bộ đội ta đã anh dũng đánh chặn địch và tranh chấp với chúng từng cửa hang. Bọn giặc có vũ khí mạnh, số quân đông, đã dồn ép ta từng bước một. Quân ta đã phá được vây và rút ra ngoài.

Trong trận này ta diệt 250 tên địch. Về phía ta hy sinh hai trung đội của đại đội Lê Lợi và đại đội 34, một trung đội của huyện.

Sau trận này, huyện ủy Thủy Nguyên đã quyết định đưa đại đội Lê Lợi về đồng bằng để phát triển cơ sở và dìu dắt dân quân du kích.

Ngày 30 và 31 tháng 3 năm 1948, 10 đại đội giặc đã càn vào Đèo Mới, Thanh Mai, Hố Sấu (Chí Linh) để tìm diệt bộ phận lãnh đạo của ta ở trong căn cứ. Đại đội Bạch Đằng đã bám sát địch để chặn đường tiến của chúng, bảo vệ an toàn cho cơ quan lãnh đạo.

Nhận thấy nếu co lại trong căn cứ sẽ bị địch vây quét, bộ đội của huyện Chí Linh đã tăng cường đánh địch ngoài căn cứ. Tháng 3 năm 1948, trung đoàn 98 phục kích trên đường 18, diệt 17 xe địch.

Trong những tháng cuối năm 1948, với chủ trương “mở đường cho bộ đội chủ lực vượt đường 13” của liên khu và ý định mở đường từ Sơn Động xuống Hoành Bồ của liên tỉnh, các đơn vị bộ đội chủ lực cùng với lực lượng vũ trang địa phương liên tỉnh tiến công địch gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Tháng 7 năm 1948, tiểu đoàn 215 trung đoàn 98 phục kích địch ở Đồng Đăng và hỗ trợ cho du kích Quảng La và Sơn Dương bức địch phải rút đồn Quảng La. Ngày 22 tháng 8 năm 1948, tiểu đoàn 215 và đại đội Hồ Chí Minh đánh Trại Thán, vị trí tiền tiêu của tiểu khu An Châu và huyện lỵ Sơn Động.

Trại Thán là cứ điểm của bọn phản động. Địch bố trí nhiều lô cốt xen kẽ với các nhà, xung quanh trại là tường bằng đất dày gần một mét, có lỗ châu mai. Trong trại có 200 tên phỉ cũ, nay theo Pháp.

Ngay từ phút đầu quân ta đã ném lựu đạn giết chết tên quan hai đồn trưởng và sau đó tỏa ra đánh chiếm các lô cốt. Tới 8 giờ sáng thì trận đánh kết thúc. Ta diệt 60 tên, trong đó có trưởng phó đồn, gọi hàng 10 tên. Ngoài ra đại đội Hồ Chí Minh còn đón lõng trên đường địch rút chạy, bắt 30 tên, thu 15 súng.

Sau trận đánh, đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 215 đã ở lại để gây cơ sở và tiêu diệt nốt bọn phỉ còn lén lút. Cuối tháng 8 năm 1948 ta đã xây dựng được du kích ở Trại Thán.

Để chuẩn bị cho bộ đội chủ lực của ta về chiến đấu ở Đông Bắc nhằm chọc thủng tuyến đường 13 và đánh thông vào vùng đảo và biển, trong chỉ thị ngày 1 tháng 7 năm 1948, Bộ tư lệnh Liên khu 1 đã nhận định: “Cơ sở của ta ở An Châu, Đình Lập, Tiên Yên, Cẩm Phả chưa đảm bảo được hoạt động của mặt trận Đông Bắc… Do đó ta chủ trương phải dùng một số lực lượng của trung đoàn đột lập, trung đoàn 17, trung đoàn 18 và du kích Hải Chi để làm nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền ở vùng này”… “Sau khi diệt Trại Thán, trung đoàn độc lập sẽ hoạt động ở đường số 4 và cho 100 đồng chí về Hà Gián, Dương Huy, tiến tới lập khu du kích ở Tài Xá. Trung đoàn độc lập phải cử người vào Hồng Gai nơi có đông công nhân người Hoa để hoạt động”.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 07:39:12 pm
Tháng 10 năm 1948, chiến dịch Lê Hồng Phong 1 (cũng gọi là chiến dịch Đông Bắc) tiến hành trên phạm vị đường 13 thuộc địa bàn ba tỉnh Lạng Sơn, Hải Ninh, Quảng Hồng. Tham gia chiến dịch có các trung đoàn 28, 59, 98 và hai tiểu đoàn 29, 18.

Ngày 1 tháng 10 năm 1948, quân ta đánh đồn, đồng thời là vị trí chỉ huy của tiểu khu An Châu, diệt được hai phần ba đồn. Tháng 11 năm 1948, tiểu đoàn Bình Ca (18) diệt đồn Đồng Dương (nằm trong tiểu khu An Châu). Đồn do 100 tên phỉ người Hoa trước kia chiếm đóng.

Giặc Pháp đã đối phó quyết liệt nhằm chặn đường quân ta tiến ra bờ biển. Sau khi ta tiến công không thành công, địch đã củng cố thêm đồn An Châu và cho quân nhảy dù xuống Mao Lưu (Sơn Động) để phá cơ sở hậu cần và lực lượng dự bị của ta.

Trận đánh Mai Lưu địch đã tiến hành bằng bốn mũi: 200 quân dù được thả xuống Mai Lưu để tiến công vào tiểu đoàn 215 (trung đoàn 98) và ba mũi tiến quân khác từ Lục Nam, Lục Ngạn.

Tháng 11 năm 1948, một bộ phận của trung đoàn 98 đã tiến vào Thủy Nguyên. Nhờ chị em phụ nữ Pháp Cổ xếp những bó rạ trên đường nên bộ đội ém quân phục kích giữ được yếu tố bí mật bất ngờ, khi địch hành quân đến vị trí phục kích, quân ta xông ra đánh địch và cướp được một xe. Trung đoàn trưởng Mạnh Hùng lái xe vào làng và tháo lấy khẩu pháo 40 mi-li-mét. Sau đó anh lái xe ra đường để chiến sĩ gài lựu đạn vào xe trước khi quân ta rút lui.

Sáng hôm sau địch kéo đến địch đốt làng để trả thù thì nhân dân Pháp Cổ, Phi Liệt, Trại Sơn và cả nhân dân Minh Tân (Kinh Môn) đã gõ thanh la báo động, làm địch không dám đốt làng. Khi địch tới kéo chiếc xe bị phá máy về đồn thì một số tên lại chết vì lựu đạn ta gài lại. Trong trận Pháp Cổ, ta phá hai xe giặc, diệt một số tên, thu một khẩu pháo 40 mi-li-mét.

Sau trận này, tháng 12 năm 1948, tiểu đoàn 215 lại tiến lên Nà Tèng (đường 13) đoạn Lục Ngạn – Đình Lập, phục kích diệt 10 xe địch.

Trong dịp phối hợp với mặt trận Đông Bắc của Liên khu 1, các lực lượng vũ trang của liên tỉnh Quảng Hồng đã đánh 40 trận, diệt 87 tên Pháp, ngụy và phỉ, làm bị thương 24 tên, thu 183 súng, phá 2.245 mét đường, tám cầu, cắt 53.500 mét dây điện, vận động được 47 tên ngụy mang cả vũ khí ra hàng.

Phong trào đánh địch trong vùng tạm bị địch chiếm ngày một phát triển. Bộ đội Chí Linh nhân lúc địch ở đồn Hai Tô đang chào cờ đã bắt ngờ xông ra, dùng mã tấu để tiêu diệt chúng. Trong một tháng bộ đội và du kích Chí Linh chống càn 30 trận, trong đó có trận đã đánh lui 10 đại đội địch càn vào Thành Mai, Hồ Yếu. Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1948, du kích Đồng Lạc (Chí Linh) với lối đánh gần bằng súng trường, lựu đạn, mìn đã chống càn thắng lợi sáu trận. Ở Văn Đức (Chí Linh) khi nhân dân đào sông An Bài, đào núi Mặc Động, lấp sông Bến Vạn để làm thủy lợi, du kích đã đánh lui quân địch đi càn để bảo vệ nhân dân đang làm thủy lội. Tháng 8 năm 1948, bộ đội và du kích Nhân Huệ đã vận động nhân dân đấu tranh kết hợp với các trận chiến đấu phá được âm mưu lập “vệ sĩ công giáo” phản động ở xã này.

Phong trào dùng mưu để đánh giặc rất phát triển trong năm 1948. Du kích Minh Tân, Lưu Kiếm, Yên Thanh (Yên Hưng) đã cải trang để vào đồn Tràng Kênh diệt giặc, đánh úp giặc hai trận trên đường Máng Nước và bắt gọn một tiểu đội địch ở Điền Công.

Cụ Ngọ ở Đông Triều đã bắt chuột, tẩm dầu hỏa, rồi đốt lửa để thả vào đồn giặc, làm nhà của chúng bị cháy.

Tháng 6 năm 1948, du kích Nam Sách đã đánh mìn ngay phố huyện, diệt 10 tên giặc, làm chúng phải bỏ dở cuộc càn.

Từ ngày 18 đến 22 tháng 12 (âm lịch) năm 1948, xã Yên Dức đã đánh lui năm trận càn của địch, có cả máy bay và tàu chiến yểm hộ. Chi bộ Yên Đức có 100 đảng viên thì hầu hết đã vào du kích, các chi ủy viên đều tham gia ban chỉ huy xã đội. Xã có 200 dân quân du kích, mỗi thôn có một trung đội.

Tổng kết phong trào thi đua năm 1948, Yên Đức là một trong hai xã khá nhất của Liên khu 1 về chiến đấu và xây dựng cơ sở, được công nhận là “xã kiểu mẫu” và được tặng cờ danh dự của Liên khu.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 07:39:40 pm
*

Cuối tháng 4 năm 1948, dọc theo bờ biển tỉnh Hải Ninh, từ Tiên Yên, Ba Chẽ đến Móng Cái, giặc Pháp đã xây dựng hai hành lang chạy sóng đôi, hình thành bởi các lực lượng phản động có vũ trang chống lại kháng chiến. Hệ thống lành lang ở rẻo cao chúng dựa vào vùng dân tộc Thanh Phán. Hành lang bên ngoài là một tiểu đoàn ngụy người Nùng do tên Voòng A Sáng chỉ huy – lực lượng nòng cốt của cái gọi là “Xứ Nùng tự trị”.

Vùng Tiên Yên – Khe Tú là căn cứ để tiếp tế về hậu cần cho liên khu biên giới của Pháp theo trục đường 4, từ Móng Cái đến Bắc Cạn.

Ngày 19 tháng 5 năm 1946, đồng chí Nguyễn Xuân Trúc, ủy viên thường vụ tỉnh ủy Hải Ninh và một số cán bộ lãnh đạo quyết định tổ chức một cuộc “Đông tiến” nhằm tiến về phía đông của tỉnh, xây dựng cơ sở để lập căn cứ chống Pháp.

Theo kế hoạch này, Hải Ninh dùng hai đại đội của tiểu đoàn 239 cùng 300 cán bộ các ngành của tỉnh, men theo biên giới, tiến về phía đông Hải Ninh. Khi tới Mã Đầu Sơn, ta đã quét sạch các đồn nhỏ của địch ở quanh đó để lập căn cứ, sau đó mở rộng sang Tĩnh Húc Động (Bình Liêu). Từ hai bàn đạp này ta sẽ tiến dần xuống Hà Cối, Đầm Hà, Tiên Yên.

Đoàn quân “Đông tiến” của Hải Ninh phấn khởi lên đường, vừa đi vừa phải đánh phỉ để mở đường. Khi tới Mã Đầu Sơn thì gặp các cán bộ quân sự, chính trị của Hải Ninh đang gây cơ sở ở Đầm Hà, Tiên Yên, Móng Cái.

Nghe tin có cán bộ và bộ đội về làng, nhân dân các huyện rất phấn khởi, đã góp hàng chục tấn gạo để ủng hộ bộ đội. Nhưng khi đoàn “Đông tiến” vừa tới nơi thì được lệnh Liên khu 1 nên phải quay về vị trí cũ. Ngày 17 tháng 7 năm 1948, đoàn “Đông tiến” lần thứ nhất của Hải Ninh mới về được vị trí quy định.

Ngày 16 tháng 6 năm 1948, đại hội đại biểu Đảng bộ Hải Ninh lần thứ nhất họp tại xã Ái Quốc (Lộc Bình). Ngày 16 tháng 8 năm 1948, tỉnh ủy Hải Ninh mở hội nghị cán bộ để rút kinh nghiệm của cuộc “Đông tiến”. Hội nghị đánh giá chủ trương “Đông tiến” là đúng đắn, cán bộ và bộ đội có quyết tâm cao, đã gây được ảnh hưởng tốt đối với nhân dân vùng biển. Nhưng trong kế hoạch còn chưa chú trọng củng cố căn cứ đã có, và chưa chú ý đến công tác vũ trang tuyên truyền trong giai đoạn đầu.

Từ đó tỉnh ủy quyết định mở cuộc “Đông tiến” lần thứ hai phải tạo chuyển biến cho phong trào kháng chiến của Hải Ninh. Phải coi trọng việc xây dựng chính quyền và đoàn thể vùng tạm bị địch chiếm. Phải thu phục hết hội tề, đưa quần chúng lên đấu tranh và tích cực phát triển dân quân du kích. Thực hiện phương châm lúc đầu lấy chính trị là chủ yếu để phá “Xứ Nùng tự trị”. Tỉnh ủy cử một tỉnh ủy viên phụ trách vấn đề này. Mặt khác phải coi trọng thực hiện chính sách dân tộc đối với người Thanh Phán. Hết sức tránh đụng độ với quân Tưởng trong khi hành quân.

- Hướng công tác của ta là toàn bộ miền đông, nhưng trọng tâm là Bình Liêu, nơi có thể dựa vào Quảng Đông, Quảng Tây là khu vực Giải phóng quân Trung Quốc đang hoạt động. Từ Bình Liêu, ta có thể mở rộng sang Hà Cối, Đầm Hà, Tiên Yên, Móng Cái.

Về sử dụng lực lượng, đại đội 1481 được giao nhiệm vụ ở lại bảo vệ khu Chi Lăng, vũ trang tuyên truyền cho Nà Thuộc và luôn tập kích, phục kích địch trên đường Nà Thuộc – Đình Lập. Đại đội 1480 chia thành bốn đội vũ trang tuyên truyền tham gia vào đoàn “Đông tiến” (lần thứ hai) làm nòng cốt cho bốn đội “Xung phong xây dựng cơ sở”.

Ban chỉ huy cuộc “Đông tiến” lần thứ hai do bí thư tỉnh ủy Hoàng Chính trực tiếp chỉ đạo. Ngày 28 tháng 10 năm 1948, đoàn “Đông tiến” hai xuất phát. Thời gian hoạt động của đoàn “Đông tiến” lần thứ hai trùng hợp với hoạt động của chiến dịch Đông Bắc.

Phát huy ảnh hưởng của chiến dịch Đông Bắc, đoàn “Đông tiến” đã nhanh chóng chắp nối được với tất cả các cơ sở cũ ở miền Đông. Ta đã gây được cơ sở trong hàng trăm công nhân lò bát Móng Cái, trong 10 xã của Hà Cối và đã phát triển được 350 hội viên cứu quốc.

Ta đã xây dựng được 14 ban chỉ huy xã đội, với lực lượng du kích là 57 người (có 36 du kích bí mật), 100 du kích tập trung với 509 súng (có 200 súng kíp, một súng cối). Trong một đợt phá tề, ta đã thu được 50 súng.

Nhờ ảnh hưởng của chiến dịch Đông Bắc và kết quả của cuộc “Đông tiến”, phong trào kháng chiến của nhân dân Hải Ninh trong năm 1948 lên rất cao.

Cho đến tháng 12 năm 1948, quân và dân Hải Ninh đã hoạt động mạnh trên đường số 4 và đường 13, đã diệt và bắt 150 tên địch, giải phóng được hai xã Đồng Thắng, Cường Lợi. Đồng bào Thanh Phán ở Đồng Văn (Bình Liêu) đã sát cánh cùng bộ đội chống càn thắng lợi. Nhân dân Lộc Bình, Bình Liêu cũng hăng hái tham gia chống giặc, bảo vệ bảo làng.

Ở một chiến trường nghèo như Hải Ninh, bên cạnh lòng dũng cảm, bộ đội và nhân dân đã phải chịu đựng gian khổ. Anh bộ đội Hải Ninh phải lấy tre, nứa, lâm sản, đốt than bán lấy tiền và cấy lúa, trồng khoai để tự túc từ ba đến bốn tháng lương thực trong năm. Anh du kích của Hải Ninh khi vượt núi, luồn rừng vẫn mang theo ống tre đựng cháo loãng để lấy sức đánh giặc.

Với chủ trương tiến về phía đông, phong trào chiến tranh nhân dân ở Hải Ninh đã được nhen nhóm lại và ngày một phát triển vững chắc.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 07:41:53 pm
CHƯƠNG BA

TÍCH CỰC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG,
PHỐI HỢP VỚI CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH, ĐÁNH PHÁ CÁC TUYẾN
PHÒNG THỦ CHIẾN LƯỢC CỦA ĐỊCH TRÊN ĐỊA BÀN ĐÔNG BĂNG BẮC BỘ
GIỮ VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG
(1946-1948)

1. Phối hợp với bộ đội chủ lực tiêu diệt địch, mở thông hành lang biên giới Việt – Trung. Tham gia chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Quế biên khu của Trung Quốc.

Sau ba năm chiến đấu cực kì khó khăn gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược, bước vào năm 1949, cuộc kháng chiến của nhân dân ta có những biến chuyển lớn. Trước phong trào chiến tranh du kích của quân và dân ta phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, bộ đội chủ lực ta đang trên đà tập trung để thành lập những trung đoàn, đại đoàn chủ lực có sức chiến đấu mạnh, thực dân Pháp rất lúng túng, khốn quẫn.

Để tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiến tới giành được những thắng lợi to lớn hơn, từ ngày 15 tháng 1 năm 1949 đến ngày 18 tháng 1 năm 1949, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 để quyết định những chủ trương, phương hướng và nhiệm vụ mới cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Hội nghị nhận định: Trong ba năm kháng chiến ta càng đánh càng mạnh, Pháp càng đánh càng suy yếu, càng lâm vào thế lúng túng. Tương quan lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi, có lợi cho ta.

Nhận định về thời cơ mới, hội nghị chỉ rõ: “Ngọn trào dân chủ mới của Trung Hoa sẽ tiến đến sát biên giới Đông Dương”, “chúng ta phải nỗ lực chuẩn bị sẵn sàng đón lấy dịp tốt, tuyệt đối không nên bỏ lỡ cơ hội chiến lược”(1). Hội nghị chủ trương: “Động viên mọi lực lượng tinh thần và vật chất của toàn dân vào công cuộc kháng chiến kiến quốc, giành kỳ được độc lập và dân chủ thực sự”, “tất cả để chiến thắng”(2).

Về nhiệm vụ và công tác quân sự cần kíp, hội nghị quyết định; “Tiếp tục phá tan chiến dịch thu – đông của địch, nỗ lực thực hiện phương châm chiến lược của giai đoạn mới, đánh mạnh hơn nữa vào hậu phương địch, đánh vào các vị trí chiến lược, cắt đường giao thông quan trọng” nhằm tạo nên một chuyển biến lớn và phải quyết tâm “từ chủ động chiến dịch đi đến chủ động chiến lược từng bộ phận một cách mạnh bạo hơn”(3).

Tại hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ tư tưởng chỉ đạo trong giai đoạn này là “Kháng chiến trên hết, quân sự trên hết. Mọi việc phải nhằm vào điểm làm cho kháng chiến thắng lợi”(4).

Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 được truyền đạt tới các cấp ủy, đảng bộ các cấp. Cuối tháng 2 năm 1949, hội nghị Ban Chấp hành đảng bộ Liên khu 1 đã họp để bàn những nhiệm vụ công tác lớn trong năm 1949. Hội nghị đã đánh giá cao những thắng lợi giành được trong năm 1948, đặc biệt là trong thu – đông ta đã mở chiến dịch chủ động tiến công địch ở mặt trận Đông Bắc, tiêu diệt được nhiều cứ điểm nhỏ buộc địch phải thu hẹp phạm vi kiểm soát và lúng túng đối phó; ở vùng tạm chiếm, du kích chiến tranh tương đối mạnh đã mở rộng và đi đúng hướng, đặc biệt là ở Cao Lộc (Lạng Sơn), Hải Ninh và Lục Sơn Hải (Quảng Yên) phong trào có nhiều triển vọng phát triển.

Hội nghị cũng nghiêm khắc kiểm điểm những mặt khuyết điểm, không thành công như đổ vỡ cơ sở ở Hồng Gai, chưa thanh toán được nạn phỉ, chưa cải tiện được dân sinh, v.v.

Xác định nhiệm vụ công tác lớn của liên khu năm 1949, hội nghị quyết định: Phải phát triển du kích chiến tranh rộng rãi, đẩy mạnh vận động chiến tới trình độ cao, chuyển mặt trận chính của ta về hậu phương địch, thiết lập nhiều vùng tự do ngay trong lòng địch.

Thực hiện nghị quyết của hội nghị Ban Chấp hành đảng bộ liên khu, Bộ chỉ huy Liên khu 1 quyết định mở một đợt hoạt động lớn trên phạm vi rộng từ Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn đến Quảng Yên, Móng Cái, nhằm tiêu hao tiêu diệt địch, làm tê liệt giao thông, uy hiếp, cô lập, tiến tới bức địch rút khỏi Bắc Cạn, phát triển phong trào du kích chiến tranh.

Đến cuối tháng 3, theo mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Liên khu 1 mở hai chiến dịch song song cùng một lúc: Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng 2 và chiến dịch Đông Bắc trên phạm vi toàn địa bàn liên khu biên giới của địch. Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng 2 (từ ngày 1 tháng 3 đến ngày 1 tháng 5 năm 1949) có nhiệm vụ làm tê liệt đường giao thông số 4, triệt tiếp tế của địch trên toàn bộ khu vực phía bắc, đông – bắc, tiêu diệt sinh lực địch, làm tan rã ngụy binh, buộc địch phải rút khỏi Bắc Cạn.

Chiến dịch Đông Bắc là chiến dịch mở ở hướng phối hợp nhằm mục đích kiềm chế và đánh quân tiếp viện, phá hoại giao thông, nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch, mở vùng duyên hải, liên lạc với Quân giải phóng Trung Quốc. Địa bàn của chiến dịch Đông Bắc nằm trên khu nam của liên khu biên giới của địch, bao gồm năm phân khu: An Châu, Tiên Yên, Móng Cái, Lạng Sơn và Lộc Bình. Lực lượng tham gia chiến dịch Đông Bắc gồm trung đoàn 98, trung đoàn độc lập Hải Ninh và một tiểu đoàn của trung đoàn 59.

Để tiến hành công tác chuẩn bị và chỉ huy chung cả hai chiến dịch, Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Ban chỉ huy Mặt trận 7 do đồng chí Lê Quảng Ba trực tiếp làm chỉ huy trưởng kiêm chính ủy.


(1), (2) Báo cáo Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 9 (tháng 1 năm 1949).
(3) Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 (tháng 1 năm 1949).
(4) Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1966, tr. 301.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 07:44:29 pm
Trong khi quân ta đang tập kết lực lượng, chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch, địch vẫn không hay biết gì. Với lực lượng ngụy là chính, kết hợp với bọn phản động, chỉ điểm tại chỗ, trên địa bàn Hải Ninh trong tháng 1 năm 1949, địch đã càn năm lần vào Bình Liêu, Hà Cối, Vạn Ninh, Bình Ngọc, Xuân Lan, Vĩnh Thực, Cái Chiên, Đồng Khuy, Khe Phít, Khe Đài, Đình Đại. Chúng đã giết hại 16 người và bắt trên 170 người dân thường. Từ ngày 14 đến 25 tháng 1, một tiểu đoàn của địch có tàu chiến yểm hộ đã bao vây một trung đội bộ đội địa phương của ta ở đảo Cái Chiên. Được nhân dân hết lòng che chở, bộ đội ta đã chiến đấu liên tục với địch và rút lui an toàn.

Sang đầu tháng 3, công tác chuẩn bị đã xong. Để đánh lạc hướng phán đoán của địch, giành thế bất ngờ cho hướng chính, các đơn vị tham gia chiến dịch Đông Bắc được lệnh đánh địch trước, tiến công chúng trên đường số 4, đồng thời tiến hành nghi binh ở hướng Đông Triều, Phả Lại thuộc Quảng Yên.

Trận mở màn cho chiến dịch Đông Bắc là trận phục kích ở Khe Mò - Điền Xá. Lực lượng tham gia trận đánh này là tiểu đoàn 215 (trung đoàn 98) và tiểu đoàn 426 (trung đoàn 59). Ngày 4 tháng 3, một đoàn xe vận tải của địch gồm 30 chiếc chở một tiểu đoàn Lê-dương đi thay phiên cho quân chúng ở Lạng Sơn. Khi đoàn xe ở Tiên Yên qua Đình Lập tới Khe Mò – Điền Xá thì lọt vào trận địa phục kích. Quân ta nổ súng, đồng loạt xung phong chia cắt đội hình địch. Sau 30 phút chiến đấu dũng mãnh, quân ta đã diệt tại chỗ 125 tên địch, bắt sống 25 tên, trong đó có tên quan hai Bay-ơ chỉ huy đoàn xe, phá 16 xe vận tải quân sự, thu 68 súng, hai máy vô tuyến diện. Toàn bộ số địch bị diệt và bị bắt đều là lính Âu – Phi. Trong số súng ta thu được, có 42 khẩu đại liên và trung liên. 25 tên Âu – Phi bị bắt, ta đã giải thích chính sách khoan hồng của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, giao cho mỗi tên một số truyền đơn rồi phóng thích tại chỗ.

Chiến thắng ngày 4 tháng 3 ở Khe Mò – Điền Xá có công đóng góp của đồng bào người Thanh Phán ở Châu Sơn, Bác Lãng. Đồng bào ở đây đã che giấu bố đội, tiếp tế hậu cần và dẫn đường, cung cấp tin tức cho ta.

Sau chiến thắng giòn giã này, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi điện khen ngợi đơn vị: “Tôi đã được tin thắng lợi của quân ta trong trận tiêu diệt chiến Điền Xá (Tiên Yên), Tôi có lời khen ngợi chiến công mùa xuân của các đồng chí. Các đồng chí hãy cố gắng hơn nữa”.

Phát huy thắng lợi, ngày 13 tháng 3, lợi dụng quân địch chưa kịp đề phòng, quân ta lại bất ngờ tập kích vào đồn Cửa Cái ở Ba Chẽ. Ta đã diệt 32 tên, bắn bị thương nhiều tên khác, thu bốn súng.

Để đối phó với ta, địch tăng cường 300 quân từ Tiên Yên lên Đình Lập và mở nhiều trận càn vào Tài Moòng, Mã Hắc Phềnh, Poóc Tắc Lẻng. Địch điên cuồng tìm diệt ban chỉ đạo miền đông Hải Ninh, cơ quan lãnh đạo huyện Đầm Hà và đánh bật các đơn vị ta ra xa trục đường số 4. Nhưng các cơ quan lãnh đạo của ta và bộ đội vẫn bám sát chiến trường, địa bàn tạo thời cơ và tìm nơi sơ hở của địch mà đánh.

Trên hướng Móng Cái, sau khi nắm được địch đã điều bớt lực lượng đi chi viện cho Lạng Sơn, tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn độc lập hoạt động ở Hải Ninh đã quyết định tập kích vào thị xã Móng Cái – tỉnh lỵ của tỉnh Hải Ninh. Ngày 27 tháng 3, với sự phối hợp của cơ sở ta đã gài sẵn vào hàng ngũ lính ngụy từ mấy tháng trước, cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn 1 đã cải trang như lính ngụy, du kích thì cải trang làm dân phu đi làm đột nhập vào thị xã. Sau gần 30 phút chiến đấu, quân ta đã diệt hơn một trăm lính Pháp và 30 lính ngụy, thu nhận 200 lính ngụy đầu hàng và giải phóng cho 200 đồng bào, cán bộ ta bị địch bắt. Ta đã phá năm xe, phá kho bạc của tỉnh Hải Ninh, thu trên 900 khẩu súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự khác. Quân ta làm chủ thị xã Móng Cái gần trọn một ngày.

(https://lh3.googleusercontent.com/n3-iYGmyD-7e2eo7UgUODLQnaMAP1KVWwZY64J8mi1mMmn5fw9YYkeF_usNsA4JOku8j6Z7uvSPFQp03K-kb72bsUBOe0HBZ5aJdIWSQZs_fKvnD-4H8lUTST3E9Rpl8MAt8l46w5CGAVy2GSFcTuxr8Z-xMO919k4cS0YiDU0WzipTRil_wGwSKrARcXI1FO3te8hRf4PyOli3mG_1zL8gjrgb08wl4ZCNiqNm_KdFaVy5vc9pa7q9Cq9CMSIchO3bk2bsup0oX8bTZU3nTXE39Jc2DtJVG7iLHMhRZn6pNJMjy0fzywJwhGfnq6-W4EI9UIXOb5tCCdisfdRYaDvg6xa4Cj5BAKai96edprwjXJaeStwLJAFR5wwmNt-IbFQCGLjk9oh8PHa94B_QYfqNuyEyIGBc-ZcsvfSE7sLvNthdtI20ci7e-87Et-QdxB_6zGi1BkFPVE7CqeDoAYu9aJ8_kNutQ6HJZnFeG79XBcUAcaoIl52QgrEhzxDEEVSMgWwEBbxF1kzAODsn-nQErQk5CTmeVJb-4CA97lWa522---K7or-Qolbvwo0hLMj0Pl0AAN5_tGGNfn29p6zeOrPbS61KYPDqmfkTkbWRB-xelu4rBxzre=w594-h794-no)

Ba chiến sĩ nội ứng trong trận bộ đội ta tấn công thị xã Móng Cái
ngày 29 tháng 3 năm 1949


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 07:46:14 pm
Được tin Móng Cái bị tập kích bất ngờ và bị thiệt hại nặng, ngay trưa ngày 27 tháng 3 bọn chỉ huy địch đã điều lực lượng từ Hà Cối lên tiếp viện. Sau khi làm chủ thị xã quân ta đã phá hủy nhiều đoạn đường, đồng thời chặn đánh quân tiếp viện, diệt tiếp hai xe buộc bọn địch phải quay về.

Trận tập kích táo bạo và thắng lợi lớn ở thị xã Móng Cái của ta đã làm cho bọn địch rất lo sợ, hoang mang. Ngày 29 tháng 3, địch đã điều quân từ Hải Phóng ra ứng cứu, nhưng lúc này, quân ta đã thu dọn chiến trường và rút về Lạng Sơn. Giặc Pháp hèn nhát đã trả thù rất dã man. Chúng bắt hàng trăm người, trong đó có cả lính ngụy và đồng bào người Hoa mà chúng nghe là có liên lạc với kháng chiến, cho vào bao tải ném xuống sông. Tiếp đó chúng còn càn quét và tàn phá các xã lân cận thị xã Móng Cái như Vạn Ninh, Xuân Lan, Trà Cổ, Doan Tĩnh, Quất Đông. Tổng số người bị sát hại lên tới 155 người. Sau đó chúng đã rút quân của Voòng A Sáng từ Móng Cái đưa về Tiên Yên và thay thế bằng quân Âu – Phi. Chúng đóng thêm bốt ở Cái Dần, Ninh Dương, mở rộng sân bay và tăng cường công sự ở Tiên Yên để quyết ngăn chặn các hoạt động của quân ta trong chiến dịch Đông Bắc.

Được sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy chiến dịch, Ban chỉ đạo miền đông Hải Ninh đã nhanh chóng củng cố lại cơ sở và phát động phong trào thi đua giết giặc để trả thù cho đồng bào bị giặc giết hại ở Móng Cái.

Ngày 19 tháng 4, địch đã tổ chức hai cánh quân từ Tiên Yên và Lộc Bình có máy bay yểm hộ tiến về hợp vây quân ta ở Đình Lập. Nắm được âm mưu của địch, Bộ chỉ huy chiến dịch đã lệnh cho tiểu đoàn 426 nhanh chóng tổ chức trận địa phục kích trên đường số 4, đoạn giữa Quang Hoài và Châu Sơn. Khi bọn địch đã lọt vào giữa trận địa phục kích, tiểu đoàn 426 đã nổ súng và xung phong mãnh liệt. Sau một giờ chiến đấu, quân ta đã diệt gọn cả đoàn xe 15 chiếc (trong đó có cả xe thiết giáp).

Được tin đoàn xe bị diệt, địch lập tức điều thêm hai cánh quân, một cánh từ Đình Lập gồm 200 quân và 15 xe, một cánh từ Châu Sơn gồm 30 xe đến ứng cứu. Mặc dầu quân địch rất đông và lại có máy bay chiến đấu chi viện, tiểu đoàn 426 vẫn kiên cường chiến đấu diệt 106 tên địch và đẩy lùi cả hai cánh quân tiếp viện của chúng. Tới 4 giờ chiều thì quân địch phải rút lui. Thừa thắng cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 426 dũng mãnh truy kích địch. Bị dồn cùng đường bọn địch phải chạy vào đồng Quang Hoài và sau đó đã phải kéo cờ trắng xin hàng.

Trận chiến đấu ngày 19 tháng 4 kết thúc thắng lợi. Quân ta đã diệt 240 tên, phá hủy 15 xe thiết giáp và vận tải quân sự, phá một khẩu pháo 37 mi-li-mét, thu chín trọng liên và đại liên và 72 súng các loại.

Phối hợp với chiến dịch Đông Bắc, phong trào đấu tranh của nhân dân cũng được khơi dậy mạnh mẽ. Nhân dân Nà Thuộc không chịu đi phu cho giặc. Nhân dân xã Đồng Văn (Bình Liêu) làm nhiều cạm bẫy để chống càn. Du kích Đồng Thắng, Cường Lợi (Tiên Yên) tự chế lấy lựu đạn để đánh giặc và liên tục cắt đường dây điện thoại của địch trên các trục đường giao thông.

(https://lh3.googleusercontent.com/2CvFIp7Y9O21pzmkRxUiYR0YayUCVstPAIzpKZ_APPpmYsI3SnKU3Nb0GPqkXYnv021D6l41zfARVz-azGGT1AfGA6KST-o9QCUOSq30CCl-59KdgILwDJAIt6NFLhqGgDXUoAm3QykpS95u_rvtVLYOuXyELpFEvbdCGagFrT3KoF6Xo_lEBfpApT1KjEt5neDP2qd-tTk3OTJyc4figuOSiN2SOiDQQZQDYLpU-ugYs1BqQXZ7tu4y-LgvRYe9ZgaFqqi6h_pZ3FDyyt6GOUu4QVg5R75pAM0fO2_TLo-S9fq5bJUc3Did0kJizeEDXH3blxPjtfHGBSnD3zXZkjA_gEFuRhpmEsQE3-0AN4aHWv_iDh-eml27bqmDV0gXPm2i5hPzGi8KykpyblhFg_HsS9Au4rePqqeBvKvg9OpD6UjdWhS_rIJdpCBhAc5l30i3zUswZ95n5AQaXtY4rNWojWXEfeftU4zzYdZxTaIg19QdnKsmRuk_fAEV9Zm390Vm1jfh26cUs73owuL8se5y5nUSW0S6ODT3kOoI0DqPIfF78MbFUx4FAbj79hFXaPqcvOp123EfGqczbx49jFr-8yVeklLBdJIwQbmXMzRVdxrLKDr4HOyf=w985-h740-no)

Đội du kích xã Đồng Văn huyện Bình Liêu trong kháng chiến chống Pháp

Phát huy ảnh hưởng của chiến dịch, cán bộ chính trị, các cơ quan đoàn thể đã gây được cơ sở Xuân Lan, Lũng Quất, Đông Lùng, Thán Phún, Mã Đầu Sơn (Móng Cái), Tấn Mài, Đại Lai, Chúc Bài Sơn, Lang Khe, Mã Tế Nùng, Đại Điền, Hà Cối. Số hội viên Liên Việt tại các địa phương này đã lên tới 6.000 người.

Ngày 27 tháng 4, chiến dịch Đông Bắc kết thúc. Sau gần hai tháng chiến đấu, các lực lượng vũ trang trên mặt trận Đông Bắc đã đánh trên một chục trận lớn nhỏ, trong đó có trận phục kích lớn trên đường 4 và trận tập kích vào thị xã Móng Cái đã thể hiện sự trưởng thành của bộ đội chủ lực ta trong giai đoạn này, đồng thời đây cũng là những trận phối hợp giữa lực lượng bộ đội với dân quân du kích và đồng bào địa phương khá chặt chẽ, do vậy tạo nên một sức mạnh tổng hợp để chiến thắng quân địch có ưu thế về trang bị và khả năng cơ động hơn ta nhiều lần. Quân và dân Đông Bắc, chủ yếu là Hải Ninh, đã hoàn thành nhiệm vụ nặng nề của chiến dịch giao cho là đánh viện, phá giao thông, kiềm chế, nghi binh và bước đầu đã thực hiện được việc mở rộng vùng duyên hải và tạo điều kiện lên lạc với Quân giải phóng Trung Quốc sau này.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 07:48:13 pm
*

Trong lúc chiến dịch Đông Bắc và chiến dịch Cao – Bắc – Lạng 2 đang chuẩn bị bước sang giai đoạn hai thì Bộ Tổng tư lệnh đã giao cho Liên khu 1 nhiệm vụ đưa lực lượng sang phối hợp với nhân dân Trung Quốc chiến đấu.

Đầu năm 1949, cách mạng Trung Quốc đang phát triển mạnh, Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa dồn dập tiến công bọn phản động Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch và đang chuẩn bị tiến xuống Hoa Nam. Bọn Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch cố sức chống đỡ bám lấy Hoa Nam, do vậy tình hình Hoa Nam, đặc biệt là ở khu giáp biên giới Trung – Việt rất khó khăn, quần chúng bị o ép khống chế, các cơ sở của Đảng Cộng sản Trung Quốc bị đánh phá và các khu căn cứ cách mạng bị bao vây, thu hẹp lại.

Trước tình hình đó, đầu tháng 3 năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc cử đại diện sang gặp Trung ương Đảng ta đề nghị cho quân đội sang giúp xây dựng, củng cố Biên khu Điền Quế và Việt Quế, phát triển lực lượng chính trị và vũ trang chuẩn bị sẵn thời cơ để đón Giải phóng quân Trung Quốc tiến xuống giải phóng Hoa Nam.

Với tinh thần quốc tế vô sản cao cả, mặc dù cuộc kháng chiến của ta còn cực kỳ gian khổ, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chấp nhận đề nghị của phía Trung Quốc và chỉ thị cho Bộ Tổng tư lệnh đưa một bộ phận lực lượng quân đội sang phối hợp hoạt động.

Ngày 23 tháng 4, Bộ Tổng tư lệnh ra mệnh lệnh “Phối hợp với Giải phóng quân Trung Quốc mở rộng khu giải phóng Việt Quế biên khu”(1) và giao nhiệm vụ cho liên khu “Phối hợp cùng các lực lượng vũ trang của Giải phóng quân Biên khu Việt Quế, kịp thời hành động giúp Giải phóng quân xây dựng một vùng giải phóng ở khu Ung – Long – Khâm liền với biên giới đông bắc của ta thông ra bể, liền với khu giải phóng Việt Quế”(2).

Như vậy đây là lần thứ hai trong vòng ba năm, lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam lại nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, ủng hộ, giúp đỡ cách mạng Trung Quốc. Lần thứ nhất trong những năm 1947, 1948 khi cách mạng Trung Quốc bị chính quyền Tưởng Giới Thạch khủng bố, truy quét phải vượt qua biên giới sang Việt Nam, nhân dân và lực lượng vũ trang Hải Ninh, Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai cũng như các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng đã từng giúp lương ăn, áo mặc cho các cơ sở Đảng và các đơn vị Giải phóng quân địa phương Trung Quốc; giúp họ chỗ ở, chia sẻ từng khẩu súng, viên đạn cho tới từng viên thuốc chữa bệnh để từ đó họ củng cố chấn chỉnh lại lực lượng và quay trở về nước phát động quần chúng khôi phục phong trào.

Mặc dù nhiệm vụ tác chiến đang khẩn trương, nặng nề, Liên khu 1 còn rất nhiều khó khăn, song Đảng ủy và Bộ tư lệnh đã nhanh chóng bắt tay vào công tác chuẩn bị, kịp thời lên đường đi chiến đấu.

Căn cứ vào nhiệm vụ của Bộ Tổng tư lệnh giao cho, Bộ tư lệnh Liên khu 1 tổ chức lực lượng thành hai cánh quân, cùng Giải phóng quân Trung Quốc tiến công địch trên hai hướng: hướng Tả Giang ở Long Châu và hướng Thập Vạn Đại Sơn ở Phòng Thành và Khâm Châu. Một bộ tư lệnh chung được tổ chức. Đồng chí Lê Quảng Ba, chỉ huy trưởng mặt trận Đông Bắc của ta làm tư lệnh. Đại diện của Quân giải phóng Biên khu Việt Quế là Trần Minh Giang làm chính ủy.

Trên hướng Tả Giang, lực lượng của ta có hai tiểu đoàn, một đại đội sơn pháo, một đại đội trợ chiến và hai đại đội của địa phương. Đồng chí Thanh Phong, phó tư lệnh Liên khu 1 làm chỉ huy trưởng hướng này.

Hướng Thập Vạn Đại Sơn ta tổ chức một lực lượng đặc biệt gọi là chi đội 6, thành phần gồm tiểu đoàn 426 (thuộc trung đoàn 59) được tăng cường một đại đội và tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn độc lập Hải Ninh do tiểu đoàn trưởng Minh Hồ chỉ huy. Về hỏa lực có hai đại đội pháo binh và một đại đội trợ chiến. Chỉ huy chi đội 6 có đồng chí Nam Long là trung đoàn trưởng trung đoàn 59 làm chi đội trưởng; đồng chí Hoàng Bình trung đoàn trưởng trung đoàn độc lập Hải Ninh là chi đội phó và đồng chí Đỗ Trình, chính trị viên trung đoàn 59 làm chính trị ủy viên chi đội kiêm chính trị hiệp lý viên cho Bộ tư lệnh khu Thập Vạn Đại Sơn.

Ngày 6 tháng 6 năm 1949, sau khi đồng chí Nguyễn Khang, bí thư Liên khu ủy đến thăm và giao nhiệm vụ, bộ đội ta bắt đầu xuất phát.


(1), (2) Mệnh lệnh số 264, B/TTL, ngày 23 tháng 4 năm 1949


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 07:49:15 pm
Sau một thời gian làm công tác vận động quần chúng và điều tra tình hình địch, Bộ tư lệnh khu Thập Vạn Đại Sơn quyết định bước vào chiến đấu. Ngày 1 tháng 7, tiểu đoàn 426 được giao nhiệm vụ tiến đánh Trúc Sơn (một vị trí có gần một tiểu đoàn địch đóng). Hai tiểu đoàn khác được bố trí chặn viện ở hai hướng Nà Lương – Phòng Thành và Đông Hưng.

Đêm 5 tháng 7, tiểu đoàn 426 bắt đầu nổ súng, mở đầu bằng đợt bắn cấp tập các loại súng cối 60, 82 mi-li-mét vào khu trung tâm và hỏa lực đại liên, trung liên bắn vào các hỏa điểm chìm của giặc nhưng không phá được các lô cốt. Các đại đội bộ binh 85, 86, 87 được sự yểm hộ của hỏa lực bắn thẳng đã xung phong lên, nhưng cũng chỉ chiếm được các góc phố. Trận đánh kéo dài. Ta phải chuyển sang bao vây tiêu diệt địch.

Trong thời gian này trên đường Phòng Thành – Đông Hưng, các đơn vị chặn viện của ta đã hai lần đánh lui viện binh địch.

Ngày 10 tháng 7, bộ đội ta rút về Vọng Tâm sau khi đã tiêu diệt và làm bị thương gần 200 tên địch. Về phía ta, cũng bị tổn thất, 53 đồng chí hy sinh.

Sau một thời gian nghỉ ở Nà Sốn, Vọng Thôn, quân ta lại tiếp tục đánh địch ở Mào Lủng (ngày 25 tháng 7) và vượt sông sang Khâm Châu đuổi đánh đoàn thuyền lương của tên trùm phỉ Trương Thụy Quý trên bến Trường Thán.

Sang đầu tháng 8, ta bao vây quân Tưởng ở núi Quan Đường phía nam Nam Ninh, diệt và bắt sống một đại đội địch. Tiếp dó, quân ta đánh địch ở Voòng Chúc, Đại Trực và một số vị trí khác.

Sau năm tháng hành quân và chiến đấu gian khổ, bộ đội ta cùng Quân giải phóng Trung Quốc đã loại khỏi vòng chiến hơn một trung đoàn quân Tưởng, giải phóng 10 trong tổng số 12 thị trấn của Phòng Thành, nối liền các căn cứ của khu Thập Vạn Đại Sơn thành một dải.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ quốc tế, Quân tình nguyện Việt Nam đã rút về nước và cử một đại đội ở lại để tiếp tục gây cơ sở và đánh địch ở vùng biên giới giữa hai tỉnh Quảng Đông và Hải Ninh. Đại đội này do chính trị viên Bế Thủy và đại đội phó Lê Phan chỉ huy và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Hải, ủy viên thường vụ tỉnh ủy kiêm trưởng ban cán sự miền Đông của tỉnh Hải Ninh. Đại đội đã được tăng cường một trung đội bộ đội chủ lực tỉnh và một trung đội bộ đội huyện Móng Cái. Tháng 10 năm 1949, khi Giải phóng quân Trung Quốc ào ạt tiến xuống Hoa Nam, lực lượng quân Tưởng ở Đông Hưng tháo chạy, các đồng chí Bế Thủy, Lê Phan chỉ huy đại đội tiến vào chiếm thị trấn này. Hai ngày sau, khi Quân giải phóng Trung Quốc đến, ta đã bàn giao lại thị trấn còn nguyên vẹn cho Giải phóng quân.

Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn kết thúc thắng lợi. Với tinh thần hy sinh chiến đấu của mình, Quân đội cách mạng Việt Nam, trong đó có các con em của các tỉnh đông – bắc và Quảng Ninh đã góp phần xây dựng tình hữu nghị giữa quân đội và nhân dân hai nước. Và cũng qua chiến dịch này bộ đội Việt Nam đã làm cho nhân dân ở đây hiểu rõ các lực lượng vũ trang Việt Nam, một quân đội cách mạng thương dân, dũng cảm vô song, sẵn sàng hy sinh thân mình vì nghĩa vụ quốc tế cao cả.

*

Tháng 7 năm 1949, đại hội đại biểu Đảng bộ Hải Ninh lần thứ hai đã họp tại Khe Lao (Hải Chi) với 400 đại biểu. Đại hội đã kiểm điểm công tác lãnh đạo kháng chiến trong hai năm, đặc biệt là sáu tháng đầu năm 1949. Đại hội nhất trí nhận định: phong trào kháng chiến của Hải Ninh đã thu được kết quả trên nhiều mặt, phong trào chiến tranh nhân dân đã phát triển tương đối đổng đều, lực lượng vũ trang đã có nhiều tiến bộ. Đại hội quyết nghị trong thời gian tới phải chú ý đến công tác cơ sở, đặc biệt là công tác vận động người Hoa, tiến tới phát động chiến tranh du kích ở những nơi có điều kiện.

Để khắc phục những khó khăn về tài chính – kinh tế, tháng 10 năm 1949 tỉnh Hải Ninh đã tổ chức Ban kinh tế - tài chính của tỉnh và hai đội du kích tập trung của miền biển để tạo nguồn thu cho kháng chiến và bao vây kinh tế địch ở vùng biển Tiên Yên, Móng Cái. Các đội du kích và cán bộ tài chính của ta đã tiến hành thu thuế của các thuyền buôn, thuyền khai thác lâm sản của các tư thương; đồng thời tổ chức các trận đánh vào các tàu vận chuyển hậu cần của địch trên biển từ Móng Cái – Tiên Yên – Hồng Gai. Chỉ ít ngày sau khi thành lập quân ta đã phục kích thu được ba thuyền gạo, một bè gỗ và đánh một ca nô quân sự, diệt 49 tên địch, thu được nhiều vũ khí. Ngoài ra họ còn phối hợp với du kích Bình Liêu tịch thu được 60 con trâu bò của bọn gian thương mua từ Trung Quốc về bán cho quân Pháp.

Đến tháng 11 năm 1949, hội nghị tỉnh ủy Hải Ninh mở rộng đã họp bề bàn giải quyết một số công việc cần kíp. Sau khi kiểm điểm về công tác xây dựng chính quyền và các đoàn thể có làm được nhưng hoạt động chưa mạnh, chưa đồng đều… hội nghị biểu dương về sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang địa phương, đặc biệt là dân quân du kích. Trong năm 1949 Hải Ninh đã có nhiều cố gắng trong xây dựng lực lượng bộ đội địa phương. Sau khi tiểu đoàn 439 được rút, tỉnh đã xây dựng được hai tiểu đoàn chủ lực: tiểu đoàn 10 gồm hai đại đội 5 và 8, tiểu đoàn 20 gồm hai đại đội 45 và 60. Các đơn vị bộ đội địa phương huyện mới được thành lập gồm: đại đội 35 của huyện Bình Liêu; ba trung đội của huyện Hải Chi (tức Ba Chẽ), hai trung đội của huyện Móng Cái và ba trung đội của các huyện Tiên Yên, Đầm Hà, Hà Cối.

Đây là một thành tích đáng khuyến khích của đảng bộ và nhân dân Hải Ninh; tuy nhiên với một tỉnh rừng núi quá nghèo về lương thực mà có tới hai tiểu đoàn chủ lực, trong khi ở các tỉnh đồng bằng đông dân mỗi tỉnh cũng chỉ có một tiểu đoàn cho nên việc nuôi quân ở Hải Ninh gặp rất nhiều khó khăn(1).


(1) Lúc đầu hai tiểu đoàn này còn dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân Trung Quốc khu Ung – Long – Khâm, nhưng sau do địch phong tỏa gay gắt và một phần nhân dân ở đây cũng có khó khăn nên ta đã giải thể hai tiểu đoàn và một vài đơn vị khác vào năm 1950.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 07:51:30 pm
*

Tới mùa hè năm 1949, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đang có những bước phát triển mạnh mẽ. Bên kia biên giới cách mạng Trung Quốc vừa thành công tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta mở rộng giao lưu với các nước xã hội chủ nghĩa.

Về phía địch, giữa năm 1949, trong thế bị động khó khăn của chính phủ Pháp cấp tốc cử tướng Rơ-ve tổng tham mưu trưởng quân Pháp sang Đông Dương. Rơ-ve đã vạch ra một kế hoạch, trong đó có đề cập đến việc thành lập một khu phòng thủ tứ giác hẹp Lạng Sơn – Tiên Yên – Hải Phòng – Hà Nội. Để thực hiện kế hoạch trên chúng đã cấp tốc đưa tiểu đoàn Ma-rốc từ Sơn La về Hải Ninh và đưa lực lượng chiếm đóng Âu – Phi lên tuyến biên giới, đóng thêm các vị trí mới ở cầu Đông Hưng và Nam Hải (Ba Chẽ). Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương trực tiếp về Móng Cái để chỉ đạo củng cố thế trận phòng thủ ở vùng Đông Bắc.

Tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên Giới trên phạm vi ba tỉnh Cao Bằng – Bắc Cạn – Lạng Sơn. Trung ương cũng chỉ thị cho các địa phương phải đẩy mạnh hoạt động phối hợp với chiến trường chính. Hải Ninh và Quảng Yên là những địa bàn kề sát chiến trường chính, có liên quan trực tiếp với chiến dịch vì có đường giao thông chiến lược số 4 chạy qua.

Phát hiện được ý định chiến lược của ta đối với vùng Đông Bắc, quân địch tìm mọi cách chống phá. Từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1950, chúng đã mở hai cuộc hành quân càn lớn vào vùng rừng núi, căn cứ địa của tỉnh Quảng Yên và huyện Ba Chẽ thuộc tỉnh Hải Ninh để thăm dò lực lượng và phá sự chuẩn bị của ta. Các lực lượng vũ trang của ta đã tổ chức đánh địch bảo vệ căn cứ và tiếp tục chuẩn bị phục vụ chiến dịch; mặt khác cũng chủ động đánh địch để làm lạc hướng sự chú ý của chúng.

Tháng 8 năm 1950, bộ đội và du kích Bình Liêu đã phục kích trên đường số 10 đoạn từ Khe San đi Vạn Mây, phá hai xe, diệt tám tên địch, thu sáu súng và lấy lại cho dân hơn bốn chục con trâu bị địch cướp. Ngày 10 tháng 9, du kích và công an Bình Liêu bao vây bọn phản động ở Cô Hồn. Cùng lúc đó ở Móng Cái bộ đội ta lại đột nhập thị xã Móng Cái một lần nữa.

Ngày 16 tháng 9 năm 1950, chiến dịch Biên Giới mở màn bằng trận đánh vào cứ điểm Đông Khê (Cao Bằng).

Tuyến phòng thủ biên giới của địch bị lung lay dữ dội. Từ ngày 13 đến ngày 23 tháng 10 năm 1950, địch vội vã rút khỏi các vị trí Đồng Đăng, Lạng Sơn, An Châu (Sơn Động, Quảng Yên) và Đình Lập (Hải Ninh). Tại Đình Lập, nhân lúc lính ngụy hoang mang lo lắng, cán bộ, bộ đội và nhân dân ta đã vận động 70 lính thuộc các đồn Nà Thuộc, Nà Pá, Khe Cháy về hàng kháng chiến, mang theo toàn bộ vũ khí.

Theo phản ứng dây chuyền, từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 10, địch rút khỏi An Châu, Khe Cháy trên đường số 13; trên đường 4 chúng rút quân ra Mũi Ngọc (Móng Cái). Ngày 22 tháng 10, đại bộ phận địch ở Tiên Yên rút vội ra đảo Vạn Hoa, ở thị trấn chỉ còn lại một trung đội. Ngày 30 và 31 tháng 10 địch hốt hết kho tàng ở Đình Lập rồi rút về Tiên Yên. Tại đây, đại đội 35 của Đình Lập được lệnh tới bảo vệ vùng mới giải phóng và truy quét những tàn quân địch.

Tới đây, chiến dịch Biên Giới ở mặt trận Đôn Bắc kết thúc. Trên suốt một dải Đông Bắc dài 100 ki-lô-mét từ Đồng Đăng, Lạng Sơn đến Đình Lập, Tiên Yên, An Châu đã sạch bóng địch. Hệ thống đường số 4, vành đai khép chặt biên giới mà địch đã ra công xây dựng bị phá vỡ tan tành.

Trong chiến dịch này, quân và dân ba tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai có những đóng góp đáng kể. Tại Quảng Yên, mặc dù bị địch càn phá ác liệt liên tục, nhưng hơn 3.000 thanh niên đã xung phong nhập ngũ ra chiến trường, 38 nghìn lượt người đã hăng hái đi dân công, chuyển được 120 tấn thóc và 320 tấn hàng hóa ra mặt trận. Ở khu mỏ, thực hiện kế hoạch phá hoại kinh tế địch, các mỏ Mạo Khê, Tràng Bạch, Uông Bí nhiều lần bị các đội biệt động và công nhân ta đánh phá. Ở Hồng Gai, công nhân ta đã phá sập nhà máy sàng, làm tê liệt hàng chục ô-tô chở than; phá hủy hai tàu cuốc và lợi dụng mùa mưa đã phá sập 60 phần trăm các tầng lò, đưa tổng số thiệt hại của địch ở khu mỏ lên tới gần 200 triệu đồng Đông Dương.

Tuy nhiên do lực lượng vũ trang địa phương của ta cỏn có hạn, lại chưa dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và chỉ đạo chưa chủ động, quyết đoán, nhạy bén với tình hình nên còn bỏ lỡ một số cơ hội để giải phóng thêm một số đất đai như ở Tiên Yên, Móng Cái địch đã rút chạy một ngày (ở Tiên Yên chỉ còn lại một trung đội địch) nhưng ta không kịp thời có hành động gì, nên địch lại quay trở lại chiếm đóng; ở đường 13 (An Châu) khi địch rút chạy rất hỗn loạn, đội hình xộc xệch ta cũng không có lực lượng chặn đánh; hoặc ở Quảng Yên, Phả Lại, địch chuẩn bị rút chạy, nhưng ta cũng không kịp thời tiến đánh hoặc làm công tác địch vận để làm tan rã hàng ngũ địch. Những điểm yếu này sau chiến dịch đã được Liên khu ủy Việt Bắc và các cấp ủy địa phương kịp thời rút kinh nghiệm và khắc phục trong các chiến dịch tiếp theo.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Bảy, 2017, 07:58:31 pm
(https://lh3.googleusercontent.com/U1K4eILUPKl6P12yyvORGuw01PBuSghi6W42_sg1ab9sHmMepEVG2O3VdMVrJTAVUbrqwTj0-Djd9BYk1yBW_qDHpcl_PAoDydOOKMitd3aZsShlrdLUYxK4d_c-fGapY1qRE8rZ1uVB-g0QM7yvzTt0oZHdFVNSa36gaBXMTj6YhFXWR5Zd3mrfhFYufsW2BX1AB7KsRl1UpDKD9amyC7Q5T71sx1Qrc-JFtSXPnP9zxcKgwYIzPG34gq1KRchY524kZjpNshcnGyN3TG8yvtlfKBPs0QlthJdM5ywd3XGytT89g3btroFpcQPqzjwVwWriGABvuerJYInB3V6Caf-eVsjMN-aIHVUgtn-6Kv_yMwFhC8czosqifzr3ktquqcmUyYIFkwPqD4yfICNGVsXbCzevu87UWDfmA5v58uCwUO9k3CwYD4ifNQGRaXynz7xPiGjt1uNQCNHsvpKentHOtAQXzacem112ulWUjOEdByT6LdffPT4c2K2kYcjAxWe7IyhLKgjf3-y5R7NXyFfBn372Leug4Ib4rWgZsW2BSEXF0krtCdbPzlVmd03PYhcufXYD6b1zxbHx-COVzsItreouKdHhIciwvIZ8uYfX4IFOw_F2Ezgu=w1195-h832-no)

Tình hình ta - địch trên chiến trường Quảng Ninh
(đến trước chiến dịch biên giới 1950)


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 09:39:45 pm
2. Tham gia chiến dịch Trung Du và chiến dịch đường 18, phá kế hoạch phòng ngự và bình định của địch trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ.

Sau thất bại nặng nề trên chiến trường Biên Giới, Bộ tham mưu quân đội viễn chinh Pháp phán đoán có nhiều khả năng quân ta sẽ tiếp tục đánh xuống vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ trong Đông Xuân 1950 – 1951. Để chuẩn bị đối phó với ta, chúng đã tăng cường phòng thủ trung du. Trên các địa bàn Vĩnh Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Gia Lâm và Phủ Lỗ, năm binh đoàn cơ động đã được bố trí trong thế liên hoàn có thể chi viện cho các mục tiêu bị công kích trong vòng một bán kính khá rộng với thời gian chỉ trong vòng 24 giờ.

Cùng với việc triển khai lực lượng cơ động trên các địa bàn chiến lược, địch bắt đầu triển khai kế hoạch lập tuyến công sự mới (công sự boong-ke) và tiến hành phá làng, dồn dân lập “vành đai trắng”.

Tại mặt trận Đông Bắc, địch còn chốt lại ở các vị trí Bình Liêu, Tiên Yên, Móng Cái, triển khai xây tuyến phòng thủ boong-ke từ Yên Lập theo đường 18 lên đến Đông Triều, Chí Linh, Phả Lại và tổ chức sư đoàn cơ động Bắc Bộ số 2 đứng chân ở Mạo Khê. Địch tăng cường các cuộc càn quét lớn, đồng thời phát triển hoạt động biệt kích để đánh phá ta. Địch phong tỏa đường 18 bằng cách lập vành đại trắng, hàng rào dây thép gai, bãi mìn, kết hợp với dùng phi pháo bắn phá đã làm cho việc liên lạc vận chuyển giữ vùng rừng núi với đồng bằng của ta gặp nhiều khó khăn.

Về phía ta, ngay từ sau chiến thắng Biên Giới, Trung ương Đảng đã chủ trương tiếp tục mở các chiến dịch tiến công nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, phá kế hoạch củng cố lực lượng và bình định đồng bằng của địch, giữ vững quyền chủ động chiến lược của ta trên chiến trường Bắc Bộ.

Thực hiện chủ trương của Đảng, cuối tháng 12 năm 1950, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Trung Du (Trần Hưng Đạo) với mục đích tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch trên hướng chính của chiến dịch là khu vực từ Việt Trì đến Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh. Trên vùng duyên hải Đông Bắc – hướng phối hợp của chiến dịch, lực lượng vũ trang của Liên khu 1 phối hợp với bộ độ địa phương và dân quân du kích Quảng Yên, Hải Ninh có nhiệm vụ đánh địch ở Móng Cái, Tiên Yên, Bình Liêu, Hoành Mô, giải phóng một đoạn đường số 4. Trên hướng Hải Ninh, để chuẩn bị vào chiến dịch, một đoàn cán bộ của Bộ Tổng tư lệnh đã về Tiên Yên, Móng Cái nghiên cứu và chuẩn bị chiến trường. Trong thời gian này, trung đoàn 28 đã dùng nội ứng hạ đồn Chúc Bài Sơn ở Hà Cối. Sau đó tiếp tục bao vây, bức rút hoặc tiêu diệt các đồn Pò Hèn, Thán Phún, Tấn Mài, Pắc Si diệt trên 400 tên địch.

Phối hợp với hoạt động của chủ lực của Bộ và Liên khu, từ ngày 15 đến ngày 30 tháng 11 năm 1950, đại đội 54 của tỉnh và đại đội 35 của Đình Lập đã phục kích ở Khen San, chặn địch ở Nà Pá, phá bốn xe vận tải chở quân, diệt 32 tên, thu sáu súng.

(https://lh3.googleusercontent.com/1fZGhIsv5wtfBFHMqYTIoMiq2rnfD2PzXUYOuSPrWFl5KY1LTwG1NIxmpSOVhsuVccMFFn7oQRliDZX4P8Yjqj7bIg34DfefYsr6VSOmQSoIRXFlnCPT-E7dARJeYPBh5hZNsINV9YQAnkNL0f_AM6zz-zdyjmVujDNjnqw8DJgn3eo-09VJg-uOrxMRGDKQpJaZuAcUmeXDQikkONTosk40J3fDkAmpvlRn-03Qo4fmYeO-PBNtj_8zRDPFugCD-mQoefWGm7DLWXNYyh8RLIqn4BTLqke-lTWGGqc0VJw0QYqDjs4yfdg7kzuo4fx-4hI6_kAXPG8oAVgTGP5l9N3wDJig_BdHNg5myNImv2gMk78mNtn_tGqQfRevws4anW69ZJ4mgGQSb4PDY_mTNSnIgOAROOqcVIxk2LBvfcvK5BihdJrMCrVnbEYLB2-gcwTvEb_INDFLrMe7PTK2MKvGpVmMbcLFg7lmF0Ohh0KHi2JJR8E8l46vGfN2aQWOJ2Ekxo-d03u6925X8I-2RMtW-hd9VtuptT1zvdgYXJTpSeOei9egN2SO-WhTT-CxHr3RhepCJEFGD0v6ULXNNBVyC9upw8wrIoXY14Y0LExhWQaEZaSxtv6S=w1024-h623-no)

Bộ đội ta chuẩn bị đánh đồn Tấn Mài (Quảng Hà) tháng 11 năm 1950


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 09:44:54 pm
Ngày 26 tháng 12 năm 1950, hướng chính của chiến dịch bắt đầu mở màn thì ở Hải Ninh, trung đoàn 174 nổ súng tiến công đồn Bình Liêu.

Bình Liêu là một vị trí quan trọng của địch trên tuyến phòng thủ đông – bắc Hải Ninh. Trong chiến dịch Biên Giới, khi đốt phá rút chạy khỏi Đình Lập, chúng đã tăng cường lực lượng cho Bình Liêu, quân số ở đây đã tập trung tới trên một tiểu đoàn gồm phần lớn là Âu – Phi.

Trận Bình Liêu, ngoài lực lượng bộ binh quân ta có sử dụng pháo binh (sơn pháo 75 mi-li-mét). Sau hơn một giờ tiến công, quân ta đã đánh chiếm được các công sự, ổ đề kháng ở vòng ngoài. Nhưng từ lô cốt chính ở giữa đồn quân địch vẫn chống trả mãnh liệt mà đạn pháo 75 để bắn sập được lô cốt chỉ còn vài viên, khó bảo đảm bắn sập được lô cốt địch. Giữa lúc tình huống đang gay cấn thì Nguyễn Văn Sáu(1) đã đi khảo sát thực địa, anh đề nghị cho đục một lỗ thủng ở bức tường nhà gần kề lô cốt chính rồi đưa pháo vào bắn ngắm trực tiếp. Đề nghị của anh được chỉ huy trận đánh chấp nhận. Và chỉ với một phát đạn 75 mi-li-mét bắn trực tiếp, lô cốt cố thủ kiên cố nhất của đồn Bình Liêu đã bị phá sập. Cuộc cầm cự dai dẳng của bọn địch ở đây đã chấm dứt. trong trận này quân ta đã tiêu diệt hai đại đội địch, bắt sống 120 tên, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Bị đánh mạnh ở Hà Cối, Móng Cái, Bình Liêu, bọn chỉ huy địch buộc phải cho rút các vị trí Châu Sơn, Khe Mò, Phong Dụ, Hoành Mô về lập khu trung tâm đề kháng ở Tiên Yên để cố thủ.

Bình Liêu trở thành huyện thứ hai ở Hải Ninh được giải phóng trong năm 1950.

Sau một loạt trận đánh ở Hà Cối và Móng Cái, trung đoàn 98 được lệnh về tham gia đánh địch trên hướng chính ở Bắc Giang. Khi qua Chí Linh (Quảng Yên), trung đoàn đã phối hợp với tiểu đoàn Bạch Đằng, bộ đội chủ lực của Quảng Yên tiến công tiêu diệt đồn Cẩm Lý ở Chí Linh và đánh quân tiếp viện.

Cũng trong tháng 1 năm 1951, tại Quảng Yên, tiểu đoàn Bạch Đằng, đại đội 917 (Sơn Động) đã phối hợp với tiểu đoàn 28 của tỉnh Bắc Giang tiến công địch ở Lục Nam, Yên Hưng, Kinh Môn và Đông Triều. Ngoài ra tiểu đoàn còn tham gia phá tề, diệt bảo an ở một số nơi.

Ngày 17 tháng 1 năm 1951, chiến dịch Trung Du kết thúc. Sau hơn hai mươi ngày đêm chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hơn 5.000 quân địch, thu nhiều vũ khí. Trên hướng chính ta đã giải phóng được phần phía bắc của hai tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên. Ở hướng đông – bắc ta đã giải phóng huyện Bình Liêu, mở rộng vùng tự do của Hải Ninh tới sát đường Tiên Yên – Móng Cái, thực hiện được một phần nhiệm vụ mở rộng khu lương thực và phát triển chiến tranh du kích trong vùng sau lưng địch ở chiến trường đông – bắc và trung du.

Trong chiến dịch này lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân hai tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh đã tích cực phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực và phục vụ chiến trường. Tuy nhiên ở Quảng Yên công tác chỉ đạo thiên về phục vụ chiến trường nhiều hơn, chưa chú ý đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địa phương, do đó hiệu quả chiến dịch trên địa bàn của tỉnh còn bị hạn chế.


(1) Nguyễn Văn Sáu, tên thật là Cô-hi-rô I-oai, sĩ quan pháo binh trong quân đội Nhật. Khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, được giác ngộ anh đã tình nguyện gia nhập quân đội Việt Nam chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam.

(https://lh3.googleusercontent.com/HoTUHopWZq5RuhChui6LAIhVSHxyo3fxf-ccUloBp46FvpLb3rtKKwEXymHUZpdMsV1QaOUSE_mKFI1m6xgRXjnK4BPlsueYfqHEV4XBnnCEQqDN56epBSETyVn2de0EfcE2GUV7e7eJIFNvUrPlYYpvdBiDSDoLmNBni8jaGoW3yIJie4XM3nopeKFXs8j1tLQuKhtdkRtrHRY-Zwc-w2kxKslWuVkJU5GVwluwFGZE0QfGI0v8_xV6LIjQ7PojMAGgpwy6jcfRAV7VrdUWafkQ0G4rzAWb9wIdcd6VLZNBlsxXzBTCDXblYuh_YZqlTYQuxH9UX5qLxVIpD5O5FyFl0MMVyDIffT9HYFWJVDDRFpz2WjVBWag3i7Yo9fi6hc5LC5-NLeCPwUuWAmCVwY7aV2cCYMF9PJIx-c2PvwxAk3SdTwUyztkL9IcVjuDu9GMzILxgwTbQjON8YMQgqmjurkxSC7YEP6AiIZyoxZi69TyiLM6ktxvnkox4_YxboZpyIRSbu8OdeLEn__somuMz3yjBYXYVhF7gKyh5sxQy4rZOvrA85TO89UbMsBm5RFouefuTnyX0DNX1-ueefDavJ_irT7tUlfiy04VcPrV7py9B7Ni2RCkI=w1219-h832-no)

Quảng Yên, Hải Ninh trong chiến dịch Trung Du (26-12-1950 – 17-1-1951)


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 09:47:30 pm
*

Tiếp theo chiến dịch Trung Du, cuối tháng 2 năm 1951, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch đường 18 (chiến dịch Hoàng Hoa Thám) nhằm phá kế hoạch phòng ngự và bình định đông bằng Bắc Bộ của địch.

Hướng chính của chiến dịch là đường 18, đoạn từ Phả Lại đến Uông Bí dài 50 ki-lô-mét, nằm trên địa phận tỉnh Quảng Yên. Hướng phụ là trung du và hướng phối hợp là Liên khu 3. Trong chiến dịch này ta tổ chức tiến công vào một tuyến phòng ngự vững chắc của địch ở đồng bằng, nơi gần kề các mục tiêu chiến lược của địch. Ý định ở hướng chính là lợi dụng yếu tố bất ngờ, đánh điểm diệt viện; lực lượng sử dụng gồm năm trung đoàn của đại đoàn 308 và 312, hai trung đoàn 98 và 174 do đồng chí Hà Kế Tấn làm tư lệnh chiến dịch. Đồng chí Trịnh Nguyên, bí thư tỉnh ủy Quảng Yên được cử tham gia Bộ chỉ huy chiến dịch.

(https://lh3.googleusercontent.com/KIXHNKM6Nxa9oOfhr5UmRaw452Q4S0J9ss807c19V1eGMIEjgTzOoQcADVsQr9yjIh9BDMB6w_pBdRnjzzCpUaQXh0UEBwwszCjncbnLMZmpURampfJDS8xwni8ahQbc0GtGS_qqepAGVCCg5vhZYal0IjLChE7mXCVmSVYCr6MXBSY8LMYpCGGX-qco5F-zeXwZe297zDY3lTz51EpNdblZC0FFGQd4WOtCJ7xiwRv0wq0QibpsmnYn9LEH4Ff6hcXLs3LkxKU7gO7oKvva1kWiKqlxLa5VZMzA8CpSdSUZA9VnKPA5GSu0kDBHN581h7cP2AmdKCTZVosCse6gJ9lMTnoMFOV9uIA-fqSkf6oVLIzLAPtd4sFDHkrYlL_MGLNLw4JeGESWISLlDdpDeK6RjrXzum3v2z8gppGtyIfCKxud-RaIyx5I_ZWbLTMBwGCo_Yns_TnoLR03xar1g66bDzOekPRoW8cHTlwmCC7ECAMdcZZ9oogJZRZADKzTGPl-ohCvt7Kn1egbZKRlOjOhggfIkou_XYhqThJ8P6w_YaMT_7duJRpR4OlDsXyWTrrOcPvwXUufWSERW8VTx7mL0Cr0yveX1b-ZiR1fM780KB-VPfG1mnkn=w480-h615-no)

Đồng chí Trịnh Nguyên

Sau khi nhận lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Liên khu Việt Bắc giao nhiệm vụ cho Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Yên: “Phải phát huy thắng lợi của chiến dịch Trần Hưng Đạo và chuẩn bị gấp rút cho chiến dịch mới. Khi chuẩn bị phối hợp với chiến dịch của địa phương, mức chuẩn bị cho chiến dịch mới phải gấp đôi chiến dịch trước”(1).

Sau khi nhận nhiệm vụ của Liên khu Việt Bắc, tỉnh ủy Quảng Yên đã mở hội nghị quân sự để quán triệt nhiệm vụ Liên khu giao, đồng thời đề ra quyết tâm của quân dân Quảng Yên là:

- Tích cực chuẩn bị chiến trường, dốc toàn lực cho chiến dịch toàn thắng.

- Phối hợp với chủ lực tích cực tiêu diệt sinh lực địch, ngăn cản và kiềm chế chúng. Phát triển chiến tranh du kích đến cao độ.

Tỉnh ủy cũng xác định nguyên tắc chỉ đạo chiến tranh du kích trong chiến dịch là:

- Độc lập trong kế hoạch, chủ động trong từng chiến trường.

- Phát huy lòng dũng cảm của bộ đội, đánh cận chiến.

- Vượt mọi khó khăn, liên tục chiến đấu.

Các địa phương và đơn vị còn được giao nhiệm vụ và chỉ tiêu là: Chủ trương đánh phá các vùng giao thông quan trọng và các tháp canh, mỗi huyện phải diệt từ một đến ba tháp canh. Tiểu đoàn chủ lực chú trọng phục kích, bao vây tiêu diệt địch trong phạm vi nhỏ, có thể tác chiến với một đại đội ứng chiến trở xuống. Các đại đội của huyện chú trọng phục kích, quấy rối, đánh phá đường giao thông và diệt các tháp canh. Dân quân du kích chú trọng phá hoại, trừ gian, diệt tề, bao vây kinh tế địch, đánh liên tục và giúp đỡ bộ đội. Tất cả các lực lượng đều phải chú ý chống càn.

Hội nghị cũng nhấn mạnh cần đẩy mạnh phong trào toàn dân làm địch vận; thực hiện truyền tin nhanh nhân lúc địch hoang mang mà gây nhân mối, v.v.


(1) Chỉ thị “Nhiệm vụ của các địa phương đối với chiến dịch” của Liên khu Việt Bắc (tháng 2 năm 1951). Lưu trữ Khu ủy Việt Bắc.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 09:49:21 pm
Sau gần một tháng chuẩn bị, đêm ngày 23 tháng 3 năm 1951, chiến dịch Hoàng Hoa Thám bắt đầu. Mở màn chiến dịch quân ta đã tiến công tiêu diệt bốn vị trí: Lán Tháp, Lọc Nước, Máng Nước và Đồng Trâu. Tin chiến bại từ phân khu quân sự Quảng Yên dội về bộ chỉ huy tham mưu của Pháp.Quân đội đối phương mở cuộc tiến công lớn ở vùng mỏ Đông – Bắc. Bảy đồn bị diệt, hai trăm súng bị mất. Nguồn nước ngọt tiếp tế cho Hải Phòng bị cắt. Đồng thời trên đường 5 nhiều đoạn đường sắt Hà Nội – Hải Phòng bị phá. Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đang ở Pa-ri vội vàng về Hà Nội và tối 26 tháng 3 về Hải Phòng để lo bề chống trả.

(https://lh3.googleusercontent.com/lAmgr3oTf5EW4SX_Rp1SNHRFJ2j8YdNtKjHcrgMUxI6A6499d5-bf2ujgr9iA9a7jza8O20Lym_FR710v3hjVOXsG-g6j6PzquBnU2G6AAy0Kvq1VawU9_zNRFhc1vT9RLLcxNSG6gHYz-V3sZzDg5LICeWIHjaADXPiGNwRC5jNublKFXZd4iFSRj6XV77wDy0L9xBcFCLo34ZVfc8j5WcrRnpBIuo0THSmXTBw6JhEFifoClsY-XcMfmbu4gCJdeG358G8Ye1LqietwgOjJL_GKVbeg7z83mYjoC08cdP4usqWzmjg-gm47tj2PC_CnrNk6bxT2rqKjysBU91-5wMgJD103bwARceTH4ePuEi-6QSshCAyiwtFDhp2MT5Jm9hrvPGoK3BiGgOAuqEOFYEesygtRqhrJkrWbID31_Hq5_EFKKS5MA2TGsqcfPH33M0Xr9LCHeXQeTvKZP8fqfQFEsCCQ-m9SnLXUJt9Jy84kUNKY4PRKvkBS_FlhQwUkul1amwbuueLNiiiRrFr_HSH5oE-N8gSQNIuTAN0BI2Ixnz6e50RCnOqdUUnpVvMkvE7-N7yIZDkSEGZGHnyhguKQBbdEpC-RY5ylPDoYNZt5BKWJW_3rHfS=w1011-h710-no)

đồn Lán Tháp bị tiêu diệt trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám năm 1951

Sau ba ngày chuẩn bị sẵn sàng để đánh quân tiếp viện (nhưng bọn địch không đến), đêm 27 tháng 3 quân ta diệt tiếp hai vị trí Bí Chợ và Tràng Bạch (đây là hai vị trí phòng ngự mạnh của địch trên đường 18 do một đại đội địch chốt giữ). Để chống trả cuộc tiến công quyết liệt của ta, đêm 27 tháng 3, pháo binh và máy bay địch đã đánh phá dữ dội vào các trận địa của ta. Trước sức tiến công của ta ngày 28 tháng 3, bọn địch ở hai vị trí Lâm Xá, Dốc Đỏ rút chạy. Lính địch hoang mang, nhiều tên đã buộc khăn tay trắng lên đầu mũi súng để sẵn sàng đầu hàng.

Thừa thắng, đêm 29 và ngày 30 tháng 3, quân ta tiến công Mạo Khê phố và Mạo Khê mỏ. Tại đây bọn lính Âu – Phi chống trả quyết liệt. Quân ta đã xung phong đánh giáp lá cà nhiều đợt nhưng cuối cùng chỉ tiêu diệt được một số lớn địch ra phản xung phong, còn các lô cốt cố thủ của chúng vẫn được giữ vững.

Trước sức tiến công liên tiếp của ta trên tuyến đường 18 và trước yêu cầu khẩn thiết của bọn chủ mỏ than, tướng Tát-xi-nhi, tổng chỉ huy kiêm cao ủy Pháp ở Đông Dương đã phải về Đông Triều để chỉ huy các đơn vị của chúng chiến đấu. Tên thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu cũng bám gót Tát-xi-nhi về úy lạo và trấn an bọn ngụy quân đóng ở đây.

Sau khi nghiên cứu tình hình, Tát-xi-nhi đã điều tiểu đoàn dù của sư đoàn cơ động Bắc Bộ 2 cùng với thủy đội xung kích 1 trên sông Bạch Đằng có tàu chiến và pháo binh ở Đông Triều yểm hộ, đến tăng viện cho Mạo Khê mỏ.

Trước tình hình đó quân ta đã chuyển sang đánh quân tiếp viện và bắn rơi một máy bay phóng pháo Hen-cát của địch. Lợi dụng lúc quân ta đang tập trung đánh quân tiếp viện, bọn địch còn lại trong Mạo Khê mỏ đã vội vàng tháo chạy.

(https://lh3.googleusercontent.com/ivRbELeoOD3urk2xXNEDi6NjNpXzZg7160LXS1a95LxyyHhXKlaLL4AI7KpibcULOukdDHKfLHaW-E_prtQq5R85AeTNuGpt4kK8NI3jvTqumVjAQYPrmgdWCEvsb59mYbKLtUvira5PpyS_qlZ3P4n7QCPfhFx_dv-Q0VL1Pi6ULXecbX2LjIZvKfU0ZDk1MPr6gjDENyGbiYAb1bzVcy1upOX8Gk8Hqte31ZAg4kC3LqWc--vu8buXZ3uM5n5uu0YuTt0vZUHimz9qIbCmmYDekWwxqJfsIma_bxLif03bYWaW4-1wSY45-tVyyvofwW4XxrSWQUSKlgKZukBZ9gKh1RrhvTQfEwtLIj9xTvNdE7f5ltObhtjrfund2eyqxu_3JbvEqSTB7E6I8KGLn-67yq0-21PjlsceIBOgVKi-Kq6UnYT8bcr8OxcSI0yBLk-q7iMLlpp6pJPiGbhI8qSphcpk-c2z7Senwd6xRETr8y6Tty0vnt4IT7hCWePgTCOZQ5QXQ3C19HCWUzTe_8So4A8jMoXHpwgviQtFrFY5dKele-SJ6YIynVG_CdluprPuZXCbNuzgSIpp3YB_ADfIKRSxEwDXVjBBh5d8NqdvPXSDsiYkJ1zY=w1024-h619-no)

Quang cảnh đồn Mạo Khê bị quân ta tiêu diệt ngày 29-3-1951

Ngày 30 tháng 3, ở Mạo Khê phố quân ta đánh sập hai lô cốt và bắn cháy ba xe tăng. Trước nguy cơ lực lượng ở đây bị tiêu diệt, Tát-xi-nhi đã điều tiếp một tiểu đoan dù nữa của sư đoàn cơ động Bắc Bộ 2 đến tăng cường. Trước tình hình không có lợi, quân ta đã rút khỏi Mạo Khê phố.

Để ngăn chặn các cuộc tiến công của ta, địch đã liên tục dùng máy bay oanh tạc dữ dội vào các vị trí chúng nghĩ là nơi tập kết quân của ta. Có lần chúng đã ném bom vào gần sở chỉ huy chiến dịch ở bên dãy núi Yên Tử, gây thương vong một trung đoàn trước giờ xuất kích.

Tuy được phi pháo yểm hộ tới mức tối đa, nhưng tinh thần bọn địch ở các vị trí tiếp giáp với ta rất dao động. Địch ở các vị trí thuộc Uông Bí và trên đường Máng Nước thuộc Yên Hưng lũ lượt rút chạy về Hải Phòng, Quảng Yên. Địch ở vị trí Yên Lập (ở khá xa chiến trường chính) cũng bỏ chạy.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 09:50:45 pm
Trong hai đêm 4 và 5 tháng 4, quân ta tiến công các vị trí Bến Tắm, Bãi Thảo, Hoàng Đán, Hạ Chiều. Đây là những vị trí kiên cố của địch nên ta không giành được thắng lợi hoàn toàn. Cũng trong thời gian này địch đã điều hai binh đoàn cơ động số 4 và số 7 về Quảng Yên, đưa số quân ở Đông Triều lên 2.500 tên, ở Phả Lại lên 3.000 tên và ở Bến Tắm lên 2.100 tên. Địch quyết tâm giữ bằng được các vị trí then chốt này.

Trước sự đối phó điên cuồng của địch, cân nhắc thấy đánh tiếp không có lợi, mặt khác lúc này quân ta cũng thiếu gạo tiếu đạn, nên Bộ chỉ huy chiến dịch đã quyết định kết thúc chiến dịch vào ngày 7 tháng 4.

Sau nửa tháng chiến đấu, quân và dân Quảng Yên cùng với bộ đội chủ lực tham gia chiến dịch đường 18 đã diệt trên 2.000 tên địch, bắt sống và làm bị thương 1.050 tên, tiêu diệt 143 vị trí, bức rút bốn vị trí, thu trên 400 súng các loại, phá hủy 49 xe vận tải quân sự, sáu xe tăng và xe bọc thép, bắn rơi một máy bay; ta đã thực hiện được một phần yêu cầu của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở rộng được đường từ căn cứ vào vùng sau lưng địch, đồng thời đã buộc địch phải đình chỉ việc khai thác than ở mỏ Vàng Danh.

Thực hiện quyết tâm của tỉnh ủy “dốc toàn lực cho chiến dịch toàn thắng”, quân và dân Quảng Yên đã đẩy mạnh mọi mặt hoạt động một cách đồng đều, vừa phục vụ chiến dịch vừa trực tiếp chiến đấu; đánh địch ở phía trước và phía sau lưng địch, kết hợp giữa tác chiến với địch vận, tiêu diệt sinh lực địch với phá tề, trừ gian. Trên hướng chính của chiến dịch dân quân du kích Bình Dương, Vĩnh Khê, Yên Đức (Đông Triều) Minh Thành (Yên Hưng) đã phục kích ba trận trên đường 18 và đường 10, phá hủy ba vị trí địch là Dốc Đỏ, Tràng Bạch, Yên Lập, phá 21 cầu, phà trên đường 18, đường 17 của Đông Triều, Chí Linh, Yên Hưng; ngoài ra quân ta còn căng nhiều khẩu hiệu để làm công tác dịch vận đối với lính Âu – Phi trên đường 18 và 17 ở Đông Triều, Chí Linh, Yên Hưng…

(https://lh3.googleusercontent.com/36kamPQrSfot61Z-erlCCIduNZ9EG73jht_nk152M6u6pNAKbhgHLYmTD06PQlrTOSSZqltYDLNYZoK4anlOu8rRDL-NzALetY9wWOGjriuhzv7j0MkyJ0q47R8EP34FRNmkqW9Jq5DNcaTUEtSdciD6VUfhQZ9GiJHq5BzCOvhpB_fILmVLw6K9rxCO7ZPu3p65VG9z7EX3peB33PeWlvPdCtJMkSMBuLpgqr-U34z4okGg1u0WTxGlcWD2q-H9cXOR2Mr7qf3AhjOcTVNvora6bRx8bjRF6qfL9B6tHhsRl1HwplVW13N-8uMZhCM-C-LmMo3sXFz-Se6KajHKFeIlNfczyBQQ1L8aejVHbNK1YHSa6h3TpVZgt5ZW_wrXIKKWrDVddYT002MIZGw1A11kijxiyxEs0_kB_1DDvMr521qgeqFgxPyAbq_K0HBo34do_xZygOiR-c0D55LgJtjQObdAewJYxMHGo9SfaFtRnDLDxOZnivWzEyKsv0F0vfDk_5S15EuysCZSAh00LTjp3X32fxLlGz_Gm7acpxQhYZoIdPY52T-WgMyr0xMDP_dJbjx7Jtf5OgsXF5qetWHX4slZUhKa68MPktoUa98HWy6Obvk13gql=w1024-h758-no)

cầu Uông Bí (trên đường 18) bị quân ta phá sập
trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám năm 1951

Sau khi chủ lực ta đánh Mạo Khê, một số cơ sở địch vận của ta ở Xuân Sơn, Hưng Đạo (Đông Triều) đã liên hệ với nhân mối trong binh lính địch buộc hai đồn trưởng của hai đồn Cầu Cầm và Thôn Mai ra hàng cùng với 24 lính và 27 súng.

Ở vùng địch tạm chiếm, du kích Kinh Môn đã tiến công bốn tháp canh và bốt bảo an, diệt và bắt 49 tên, phá một cầu, quấy rối vị trí Nhị Chiểu, Chí Linh và phục kích một trận. Du kích Sơn Động quấy rối vị trí Đồi Ngô, phá đường, cắt bảy ki-lô-mét dây điện.

Từ ngày 24 tháng 3 đến ngày 29 tháng 3 năm 1951, tiểu đoàn Bạch Đằng đã tiến công vị trí pháo Phi Liệt (Thủy Nguyên). Trong trận chống càn ở Diệu Tú (Yên Hưng), tiểu đoàn đã diệt 74 tên địch. Trong chiến dịch này, tiểu đoàn đã đánh 10 trận ở vùng Chí Linh, Yên Hưng, Thủy Nguyên, Kinh Môn, diệt 120 tên địch.

Trong đợt hoạt động phối hợp với chiến dịch Hoàng Hoa Thám, quân và dân Quảng Yên đã đánh 90 trận, diệt 307 tên giặc, phá một xe và ba vị trí, bức hàng hai đồn giặc, vận động 35 lính và đồn trưởng trở về mang theo 27 súng, phá tề và dõng ở 22 thôn, diệt bốn tháp canh và đồn bảo an, phá hàng chục cầu, phá, cắt bảy ki-lô-mét dây điện. Sau trận đánh Hạ Chiểu, quân ta có gần 40 thương binh lọt giữa vùng có nhiều vị trí địch cần đưa đến nơi an toàn. Bất chấp sự kiểm soát của giặc, nhân dân đã dùng bè chuối đẩy trên mặt nước hoặc dùng xe thô sơ để chuyển thương binh giữa ban ngày đến một nơi an toàn.

Trong công tác phục vụ chiến dịch, tỉnh Quảng Yên đã góp 30.000 công, số lượng lương thực được huy động và vận động phục vụ chiến dịch lên tới 660 tấn và 278 trâu, bò, lợn. Nhân dân ủng hộ cho thương binh hơn 3.000.000 đồng. Trong chiến dịch có một đoàn thuyền tiếp tế bị đắm ở gần xã Ái Quốc (Nam Sách) là nơi có nhiều vị trí và tháp canh, nhân dân đã vớt hàng chục tấn hàng đem phơi, bảo quản và gửi tiếp đi tiếp tế cho bộ đội. Sau chiến dịch, nhân dân Sơn Động được tặng thưởng huân chương Kháng chiến hạng ba về thành tích phục vụ chiến dịch. Nhân dân Quảng Yên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen:

“Thân ái gửi đồng bào tỉnh Quảng Yên.

Trong chiến dịch đường số 18, đồng bào đã hết lòng giúp công, giúp của, giúp đỡ bộ đội, săn sóc thương binh.

Nhờ vậy mà bộ đội ta đã giết được nhiều giặc, thu được nhiều thắng lợi.

Tôi thay mặt Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi đồng bào và khuyên đồng bào ra sức tham gia kháng chiến cố gắng hơn nữa để chúng ta tiến đến thắng lợi mới”.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 09:54:01 pm
(https://lh3.googleusercontent.com/ouMHtvqxQEpl6IXqo2i3jSo2-mNx2S87vmN4ObovBz_A2jsOUjp9gFF-IL-Wnh_BlKy9KSLvIsnm7KwBvBwjn7McCvxGpqjOjlh5owymcTuadpvmUs577Dpvjd0NyXDoMhpYZRVnTZRJBIFQ4EYSvqF81ntzp_I33H3MVyY4gzOendrZvtcc8i7zQ5db0HQS3ZNN-Wms8d0vYZ9G_xrAXH6iMnEBvFtxxpvTyCmqc5F4y7yBFkY6vSr2CDV7gKW4Rb44h1gHqhmTSyyggOx39tyLyG7H3TZGE2WtI6eeTUxEEqWkNRFZjA3lvuO_R59IOV9us6L9_wjnOYglM5Kv0zt1PUqp9HTgEwb2Hpa7kk6842E0cN6y7YXY7iO0VOOn_juazjUZMQoeldSvbyF2wsz5pZlGHYXdfYvbB6jzNOVmPefJra-pZEBBXheGrnvcsJNfepSeYdTum-yxLK1n7LdgCrAn-rjX5Um7Oj3QChtRvO6ZLlmzjG-pZyJbI7VutW3qN9CxtYeyhoeNZfFrfSfBPLib71cu7c1DEQKXuk7-U5EAO-pYkW1J9s1tZgtrIW4p65hmni-PTocja2Bqj0jwjD9U-Dvyqyv4JEo246v3Kwy1Bsz3XYAK=w1024-h577-no)

Quảng Yên trong chiến dịch đường 18 (18-3-1951 - 7-4-1951)


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 09:56:17 pm
3. Đấu tranh phá hoại kinh tế dịch. Phát triển bộ đội địa phương và dân quân du kích làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân địa phương ở khu mỏ.

Sau thất bại ở Việt Bắc thu – đông năm 1947, giặc Pháp quay về bình định, củng cố vùng chúng tạm kiểm soát, đồng thời ra sức vơ vét sức người, sức của phục vụ chiến thuật “vết dầu loang”. Giặc Pháp đã lấn dần ra vùng tự do, chiếm đóng thêm một số nơi của ta. Để phá hoại kinh tế địch, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân ở khu mỏ, ngày 4 tháng 12 năm 1948 Khu ủy 1 đã họp chủ trương thành lập Đặc khu Hồng Gai, có đủ các tổ chức chính trị, hành chính, kinh tế, quân sự.

Được Trung ương Đảng và Chính phủ phê chuẩn ngày 26 tháng 12 năm 1948, khu đặc biệt Hồng Gai chính thức được thành lập gồm các thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông và huyện Cẩm Phả. Ngày 19 tháng 9 năm 1949, Liên khu 1 lại quyết định tách huyện Hoành Bồ ra khỏi tỉnh Quảng Yên để sáp nhập vào Đặc khu Hồng Gai. Như vậy, trên địa bàn đông-bắc Bắc Bộ thời gian này có ba đơn vị hành chính cấp tỉnh là tỉnh Quảng Yên, tỉnh Hải Ninh và đặc khu Hồng Gai.

Cùng với việc xây dựng các cơ quan chính quyền, đoàn thể, lực lượng quân sự cũng được xây dựng, củng cố. Tháng 9 năm 1949, đặc khu đội Hồng Gai được thành lập, tháng 10 năm 1949 đại đội 39 (tức đại đội Hồ Chí Minh trước đây) được trung đoàn 98 bàn giao lại cho đặc khu đội. Đại đội 39 trở thành bộ đội chủ lực của đặc khu.

(https://lh3.googleusercontent.com/qv7msHng-SheJ0Dk4O7RdQv_Ey9PD95-CEwObc3FZ2eT9T2KLydNLmThsZdpHdtgzxG2NeK83slw0XmM6cCZ5iQQIc63Ra1oLAA4kzkQUrTFrtmSmgavJS1vrWVW5rUquldbeiEpGn8Mvp63r6Oeyzre2SJH87MTuJduDaXxSYli92822SiuixuvBsXC3DfZ9RVwb9QhEJ10YCiJnTZy29uzc34P5L-qsIMlKteiUAqE-3FF5_EciSIqFqU4x1s46N2E0BzjhB8e1arB2FAiDFplu0ul1nfXBlBLU8-cPP1GqBpnBR74CASlGDMXZknCqVQVU0EcDngkWLQKSEBsqxGMW3quzje-sWGYFtNdigaVciGmw9yc2LsWoD73M38X5QvlZBF2uz53jnCEa84WI7osGH_KL17aUSKzqWJSaKqcmQJb58OKFlTGgG1r1PGZLiHJpy3L6kVIMmV-7bVpxsMgWeUsATrjYsVFLhpEQbkRST26C5lQwmc6c72fcG9ybg-NSy69Vnu1EE8Ghg_OIF1uRlytNFBmicWb1DRP78KIuQcSrVzYPLSYKHMjAwLV3LKzhbmn2_aKdBC9vEWl2Xk7I01bj0GilX7YiZiPnomyZHP7cJztqDix=w800-h600-no)

Huân chương Kháng chiến hạng nhì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
tặng thưởng Đại đội Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp

Để tăng cường khả năng lãnh đạo cũng như hoạt đội mọi mặt của một vùng kinh tế - quân sự đặc biệt này. Trung ương Đảng đã điều một số cán bộ về phụ trách công tác đảng và công tác chính quyền; chỉ đạo ngành công an tình báo đưa các cán bộ có năng lực, thạo công tác bí mật vào hoạt động ở khu mỏ. Số cán bộ này chịu sự chỉ đạo trực tiếp thống nhất của đặc khu ủy. Trung ương cũng yêu cầu Ban Hoa vận Trung ương điều thêm cán bộ về Hồng Gai để tuyên truyền vận động quần chúng và công nhân vùng mỏ.

Ở khu mỏ, địch vẫn liên tục đánh phá cơ sở kháng chiến của ta. Sau những cuộc khủng bố lớn cuối năm 1948 và các thủ đoạn mới của địch, đầu năm 1949 đặc khu ủy đã tổ chức rút kinh nghiệm về công tác cơ sở đề ra phương châm hoạt động là “xây dựng cơ sở, tích trữ lực lượng, tuyệt đối giữ bí mật, tránh khuynh hướng ăn ngay và phá hoại lớn”. Đặc khu ủy nêu rõ: Trọng tâm phục hồi cơ sở là những nhà máy, hầm mỏ quan trọng đồng thời phải củng cố bàn đạp ở các xã ven thị, như Thành Công, Xích Thổ, Dương Huy.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 09:58:06 pm
Với quyết tâm của quân và dân đặc khu, dến cuối năm 1949 khu mỏ đã xây dựng được cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng cách mạng ngày một vững mạnh. Ở Hồng Gai có 240 đoàn viên công đoàn năm chi bộ Đảng và 36 đảng viên; ở Cầm Phả - Cửa Ông có 105 đoàn viên công đoàn, hai chi bộ và 112 đảng viên.

Để chỉ đạo phong trào chiến tranh và phá hoại kinh tế địch ở khu mỏ, ngày 29 tháng 7 năm 1949, đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu 1 họp đã đề ra một trong 12 nhiệm vụ lớn của liên khu trong năm 1949 là “triệt để bao vây và phá hoại kinh tế địch, phải phá các nhà máy, hầm mỏ vùng Hồng Gai”(1), “phải chú trọng giữ bí mật, rút kinh nghiệm thiệt hại năm 1948”(2) và “đề phòng khuynh hướng chỉ muốn đấu tranh với hình thức vừa phải không dám đấu tranh quyết liệt như: phá hoại, đánh du kích từ những cuộc bãi công, đình công, biểu tình tiến tới những cuộc phá hoại, kết hợp với đánh du kích”(3).

Chấp hành chỉ thị của liên khu, tháng 12 năm 1949, đặc khu ủy đã mở một chiến dịch phá hoại kinh tế địch từ ngày 1 tháng 12 năm 1949 đến ngày 14 tháng 12 năm 1949 ở Hồng Gai và từ ngày 25 tháng 12 năm 1949 đến ngày 25 tháng 1 năm 1950 tại thị xã Cẩm Phả nhằm phá hoại kinh tế địch, cải thiện đời sống của công nhân và đấu tranh bảo vệ các quyền lợi của công nhân.

Ở Hồng Gai cuộc đấu tranh diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú. Công nhân phá lộ, phá máy, phá xe, lãn công, đình công, trộn đất đá vào tham, làm bớt giờ, bớt chuyến, đòi tăng lương và lấy các dụng cụ của mỏ gửi ra cung cấp cho kháng chiến.

Ở Cẩm Phả phong trào đấu tranh của công nhân cũng phát triển mạnh mẽ. Ngoài việc phá hoại sản xuất như Hồng Gai, anh chị em còn tổ chức rải truyền đơn, viết khẩu hiệu, truyền tin chiến thắng ở chiến trường. Trong cuộc đấu tranh chống địch bắt làm quá giờ, công nhân đã phá bốn trong chín máy xúc (chủ mỏ mới đưa về), đồng thời phá 20 xe vận tải và nhiều máy móc khác.

Cuộc đấu tranh của công nhân Hồng Gai và Cẩm Phả năm 1949 đã làm cho địch thiệt hại gần 19 triệu đồng tiền Đông Dương, trong đó ở Hồng Gai đã làm cho chúng thiệt hại 18 triệu đồng.

Để đối phó với các hoạt động của ta, bước sang năm 1950, địch đã có những âm mưu và thủ đoạn chống phá kháng chiến, đánh phá phong trào công nhân tinh vi, xảo quyệt và tàn bạo hơn trước. Để bảo vệ chặt chẽ khu mỏ, chúng đã xây dựng một hành lang bao gồm các hệ thống chiếm đóng, nối liền với cơ sở phản động ở núi rừng, bọn phản động có vũ trang và các tàu chiến tuần tiễu trên vịnh Hạ Long, Bái Tử Long.

Trong năm 1950 số lượng thợ mỏ bị giảm nhiều. Để khắc phục khó khăn về nhân công, một mặt bọn chủ mỏ đưa một số máy khai tác hiện đại để tăng nhanh sản lượng than và khai thác ẩu; đồng thời chúng ra sức bóc lột công nhân như bắt làm tăng giờ, tăng chuyến mà không tăng lương.

Bên cạnh các biện pháp về kinh tế, thực dân Pháp đã đưa về khu mỏ nhiều mật thám và thanh niên công giáo phản động phối hợp với mạng lưới chỉ điểm tại chỗ để phá các cơ sở của ta. Được bọn tay sai chỉ điểm, trong năm 1950 địch đã mở bốn cuộc vây ráp bắt bớ và đàn áp cơ sở của ta, riêng ở thị xã Cẩm Phả, chúng đã bắt tới 750 người.

Để giữ vững phong trào, đặc khu ủy đã kịp thời, thường xuyên chỉ đạo các cuộc đấu tranh và phá hoại kinh tế của địch, kết hợp giữa phá nhỏ, phá vừa tới phá lớn, phát động quần chúng tham gia phá hoại một cách rộng rãi, hợp pháp để tránh khủng bố.

Với sự chỉ đạo chặt của đặc khu ủy, quân và dân khu mỏ đã gây cho địch nhiều thiệt hại. Tháng 3 năm 1950, nhà máy sàng Hồng Gai bị ta phá phải ngừng sản xuất bốn tháng. Tháng 5 năm 1950, lợi dụng mưa to công nhân đã khơi rãnh cho nước chảy mạnh làm sụt lở tầng lò. Mức sản xuất than giảm mạnh, từ 70 nghìn tấn trong tháng 3, sụt xuống chỉ còn 30 nghìn tấn trong tháng 6. Ở Núi Trọc (Cẩm Phả) sản lượng than từ 4.600 tấn một ngày xuống còn có 300 tấn một ngày.

Cuộc đấu tranh của công nhân khu mỏ bị địch đàn áp nặng nề. Nhưng địch càng đàn áp anh chị em càng hăng hái đấu tranh vì họ hiểu rằng mỗi hành động và kết quả đấu tranh của công nhân khu mỏ đều gắn liền với các chiến thắng của quân và dân ta ngoài mặt trận.


(1), (2), (3) Văn kiện đại hội. Lưu trữ Liên khu ủy Việt Bắc.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 09:59:45 pm
Trong cuộc đấu tranh này đã xuất hiện tấm gương của đồng chí công nhân – chiến sĩ Nguyễn Văn Đồng. Anh vốn là công nhân thợ mỏ ở Hồng Gai. Năm 1946 giặc Pháp bắt đầu trở lại xâm lược nước ta, cùng với những người thợ mỏ yêu nước khác, Nguyễn Văn Đồng đã tham gia lực lượng tự vệ mỏ, và sau đó tham gia bộ đội, làm chiến sĩ tranh sát của Liên khu Việt Bắc. Năm 1948, anh được phân công trở về hoạt động trong phong trào công nhân của vùng mỏ, lãnh đạo xưởng máy, công nhân phá hoại kinh tế địch. Vừa lãnh đạo công tác phá hoại anh vừa thu gom thuốc men, chất nổ và hóa chất để đưa ra vùng tự do phục vụ cho bộ đội ta đánh giặc.

Trước sự hoạt động liên tục và nguy hiểm của anh, bọn địch đã ra sức truy tìm lùng bắt. Tháng 3 năm 1950, Nguyễn Văn Đồng sa vào tay giặc. Biết anh là một đảng viên, cán bộ nằm vùng, bọn phòng nhì Pháp ra sức dụ dỗ mua chuộc hòng khai thác bí mật tổ chức của ta trong vùng mỏ và biến anh trở thành tay sai cho chúng. Suốt ba tháng trời, bằng mọi thủ đoạn, lúc dụ dỗ, lúc đánh đập tra tấn dã man, nhưng bọn địch không moi được ở người đảng viên kiên cường này một tin tức gì. Ngày 19 tháng 8 năm 1950, tên Ray chánh mật thám Pháp ở Hồng Gai đã trực tiếp hỏi cung anh. Hắn dùng những lời lẽ và hành động thâm độc, bỉ ổi với anh. Căm giận trước thủ đoạn đê hèn của kẻ thù, Nguyễn Văn Đồng đã hắt cả tách cà phê vào mặt tên trùm mật thám ác ôn và dõng dạc hô to: “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!”. Tên thực dân khét tiếng gian ác của vùng mỏ đã bắn chết anh. Hành động kiên trung bất khuất của người đảng viên công nhân ấy đã động viên khích lệ mọi người tiếp tục đấu tranh với địch tới ngày thắng lợi hoàn toàn.

Sang năm 1951 địch đã dùng nhiều thủ đoạn nham hiểm để phá phong trào công nhân vùng mỏ. Bọn mật thám, gián điệp được tung vào để phá cơ sở của ta. Bọn Pháp còn dùng một số tên cố đạo kiêm chủ thầu từ Trung Quốc để theo dõi và nắm số công nhân người Hoa, đặc biệt là những người hai năm trước trong quân đội Tưởng chạy sang Việt Nam(1).

Trong sáu tháng đầu năm 1951 bọn Pháp đã phá vỡ nhiều cơ sở của ta, bắt nhiều người, kể cả nhân dân để đem về tra tấn. Trong ba vụ vây bắt ở xã Cẩm Bình (thị xã Cẩm Phả), chúng đã bắt 38 cơ sở và 117 người dân để tra tấn.

Sau khi phá cơ sở ở thị xã, bọn gián điệp lại giả làm cán bộ kháng chiến ra các xã bàn đạp của ta ở ven thị vờ “chắp nối liên lạc” để dò la những cơ sở ở vùng ven. Tuy nhiên do ta kịp thời chấn chỉnh lại tổ chức theo nguyên tắc bí mật nên đã hạn chế được thiệt hại và một số nơi còn phát triển được; như ở Hồng Gai số đoàn viên công đoàn bí mật đã từ 42 tăng lên 103; ở Cẩm Phả, Cửa Ông tăng thêm được 49 người nữa, và từ tháng 6 năm 1951 trở đi phong trào vận động công nhân ở khu mỏ đã biến thành một phong trào quần chúng phá hoại kinh tế dịch rất rộng rãi(2).

Trong năm 1951, cùng với việc triển khai các kế hoạch quân sự của Tát-xi-nhi, thực dân Pháp thúc giục bọn ngụy quyền lập ra nhiều tổ chức quần chúng giả hiệu để hòng lừa gạt và tập hợp nhân dân ta như: nghiệp đoàn vàng, hội thanh niên, hội Cao đài, hội tương tế, v.v. Đảng bộ đặc khu đã lãnh đạo nhân dân tẩy chay các tổ chức này nên bọn địch đã phải dùng quân đi bắt nhân dân đến họp để lập nghiệp đoàn vàng và hội thanh niên.

Song song với phong trào đấu tranh chính trị là cuộc đấu tranh của công nhân chống sự đàn áp, áp bức, bót lột của bọn chủ mỏ và cai ký.

Trong tháng 2 năm 1951, công nhân người Hoa ở Núi Trọc đã đánh một tên cai người Pháp (vì tên này đánh ba anh em rất dã man). Khi cảnh sát địch đến bắt đi một số người, anh em công nhân người Hoa đã biểu tình bao vây định phá đồn công an của địch ở Cẩm Phả. Ngày 18 tháng 2 năm 1951, 10.000 thợ người Hoa ở Hà Tu, Hà Lầm đấu tranh đòi địch phải thả số thợ bị bắt vì đã chống bọn chủ thầu và cai tàn ác.

Từ 20 tháng 2 đến 25 tháng 3, công nhân Hà Tu đấu tranh chống chủ bắt làm quá tầm, tăng chuyến. Chủ mỏ đưa lính đến đàn áp, bắt đi năm người, nhưng anh em không lùi bước. ngày 6 tháng 3, bọn chủ mỏ đuổi những thợ người Hoa đã đấu tranh những ngày trước, đồng thời tăng lương cho những người không đấu tranh chống lại chúng. Trước hành động đó của địch, ta đã kịp thời lãnh đạo công nhân vạch trần thủ đoạn nham hiểm này, đấu tranh buộc bọn chủ mỏ phải tăng lương đồng loạt cho công nhân người Việt và người Hoa, giảm mức khoán hàng ngày cho anh em. Qua đấu tranh ta đã làm cho một số công nhân người Hoa giác ngộ và xây dựng được tình đoàn kết tương thân tương ái giữa công nhân người các dân tộc.

Với cuộc đấu tranh bền bỉ quyết liệt trên toàn khu mỏ, trong năm 1951 ta đã làm cho bọn tư sản thực dân chủ mỏ thiệt hại tới trên 65 triệu đồng tiền Đông Dương, làm cho ngân sách chiến tranh của thực dân Pháp cũng phải chịu thất thu một phần từ nguồn đóng góp quan trọng này.


(1) Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, 300 quân Tưởng chạy trốn sang Hải Ninh đã bị quân Pháp tước khí giới và đưa về vùng mỏ làm phu.
(2) Báo cáo của đại hội đại biểu Đảng bộ Đặc khu Hồng Gai (tháng 4 năm 1951).


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 10:03:28 pm
*

Cùng với việc chỉ đạo phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân trong các thị xã phá hoại kinh tế địch, từ năm 1949 Đặc khu Hồng Gai đã quan[ tâm đến việc xây dựng căn cứ hậu phương kháng chiến, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang địa phương và chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch, bảo vệ tính mạng, tài sản của dân, từng bước đưa chiến tranh nhân dân ở địa phương đi lên.

Sau khi có quyết định thành lập (cuối năm 1948), đặc khu ủy Hồng Gai đã chuyển căn cứ của đặc khu từ Vy Loại (Sơn Động) thuộc tỉnh Quảng Yên về Hoành Bồ, đồng thời xây dựng căn cứ để đưa bộ đội về Dương Huy và Tài Xá (huyện Cẩm Phả) để phối hợp chiến đấu với mặt trận Đông Bắc.

Sau khi tiếp nhận huyện Hoành Bồ (tháng 10 năm 1948) đặc khu ủy Hồng Gai đã củng cố vùng Bằng Cả, Quảng La để tạo điều kiện đưa cơ quan lãnh đạo đặc khu về Cài. Đặc khu còn có kế hoạch vận động nhân dân làm muối ở Xích Thổ, Yên Mĩ để đưa lên Cài cung cấp cho nhân dân vùng cao.

(https://lh3.googleusercontent.com/1Ich8Xu3yFr-4FnN1Lr8M93ctJ7FD90Dtrr7PklKnhB8soNLazjcrlaN1jy5W8QSKrXn4JTpZe2dxpRt6XULiOgT5bEIY2SAPLewgRo-PWDqS218QByA18qtdhQDb-7on609qurDa7aJw-wPTEyas1yRU4U0jejS4CREFPbZUEuo9MjJvpxj3w2GX9De0t5rbZcaXmND789RWDItPhr3xDHoy7Gv8Vagf0rinGQHF8eH_7CFlJpGNimlqMEbmFH3Sa7ScL6gZaW4jQRrdaLa9T-wYEVEEmeeB8ocqEvkUj7YYv71SjPrr-5GQ3stAQzLn22-z7JvpdcM5DqNdwk_Ttz7EbSVSGwxRzRn95soxCCSIO-am6_hFT4won9eKixxSRH7qVYjo7dlawcMpUFlKwbBNkLRt6Y50PtgE6P2aY8P8MIudhHyIICt0Nf8I31_zpJ8vzDekit5lJ8JJHwhhHM7CF5T_WaWs2DZWM5GKZbSUJAic5hdzyYRNv3nS8cjRbRFTFxVj7UywWO8TL1dgytlYQvigId4XMNpgMXhbL4ux1vIXNngi7zNvb7nAummf4DrtmS0nwqOFvFkGpZcjXWIBQCmT9_6ShT63GJPLaga8jK6x7oDyanm=w772-h600-no)

Đội tuyên truyền xung phong trong thời kì kháng chiến 1945-1954

Tuy nhiên, nhiều khó khăn dồn dập đã làm cho kế hoạch này không thực hiện được; vùng đất Quảng La thưa dân lại bị địch uy hiếp từ nhiều hướng từ Uông Bí, Đông Mai, Đồng Đăng, Bang, Trới và cả từ Đồng Quặng, Đá Trắng sang; chúng dùng máy bay ném bom xuống Cài. Một số cán bộ và nhân dân bị hy sinh, toàn bộ khu lán trại của cơ quan đặc khu vừa xây dựng bị lửa bom thiêu cháy hết.

Nhận thức rõ vị trí quan trọng của Hoành Bồ đối với khu mỏ, bọn địch tìm mọi cách phá hoại, đánh phá nơi tập kết lực lượng của ta. Từ năm 1948 thực dân Pháp đã tìm mọi cách nhen nhóm ở đây lực lượng phản động trong đồng bào người Thanh Phán. Tháng 4 năm 1949, bọn phản động người địa phương đã đưa đường cho quân Phấp đột nhập vào hai xã Tân Dân và Đồng Quặng. Bọn địch đã bắn chết hai chủ tịch của hai xã này và hai đồng chí bộ đội của ta.

Ngay sau đó bọn phỉ ở Khe Chặng (Đồng Quặng) cũng thừa cơ nổi lên. Được thực dân Pháp cấp tiền, cấp súng, những tên phỉ trở nên hung hăng, tàn bạo chống phá cách mạng. Giữa năm 1949, một đơn vị của trung đoàn 98 hành quân qua Đồng Quặng đã bị bọn phỉ phục kích, bắn chết một đồng chí tiểu đoàn phó. Vô cùng căm phẫn, đại đội 39 của trung đoàn đã đánh vào Đồng Quặng. Vì bọn phỉ ở lẫn trong dân nên quá trình chiến đấu quân ta đã đánh lầm vào dân, làm cho nhân dân hiểu sai về bộ đội và một số người đã đi theo phỉ.

Lợi dụng cơ hội đó, thực dân Pháp đã nói xấu cách mạng, đồng thời cho bọn đặc vụ người Hoa và bọn mật thám mang hàng hóa đến Đồng Quặng để dụ dỗ dân và chia rẽ đồng bào với kháng chiến. Được bọn Pháp tung tiền của, hàng hóa ra treo thưởng, mua chuộc, bọn phỉ ra sức hoành hành, chúng bắn giết bất cứ một ai để lấy thưởng của quan thầy. Không chịu được hành động dã man của bọn phỉ, nhân dân xã Tân Dân, người Thanh Phán đã phải bỏ khe bản chạy lên Sơn Động cùng với một số đồng bào người Hoa và Sán Dìu để làm ăn sinh sống.

Cuối năm 1949, bộ đội được lệnh đánh vào Đồng Quặng để diệt một số tên phỉ đầu sỏ. Do quá căm thù và không phân biệt được đâu là dân, đâu là phỉ, nên ta càng đánh, phỉ lại càng phát triển. Cho đến cuối năm, nạn phỉ đã lan ra khắp các xã rẻo cao như Tân Dân, Kỳ Thượng, Đồng Quặng và tới cả xã Hòa Bình.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 10:03:59 pm
Trong khi ở Hoành Bồ nạn phỉ lan tràn thì ở phía Song Huy (Dương Huy, Huy Động) và Hòa Bình, bọn đặc vụ người Hoa đã lén lút hoạt động. Khu vực này đa số đồng bào là người Hoa, có phong trào kháng chiến mạnh. Từ năm 1948 trung đoàn độc lập cùng đại đội 39 đã hoạt động ở đây, được đồng bào thương yêu, giúp đỡ. Trên cơ sở đó ta đã xây dựng được xưởng chế vũ khí ở Khe Gai (Hòa Bình) và tạo nên một bàn đạp để tiến vào thị xã Cẩm Phả. Tuy nhiên sau một thời gian bị địch kích động và đe dọa, mặt khác do tình hình kinh tế khó khăn, thiếu gạo, thiếu muối rất trầm trọng, nên nhân dân đã rời bỏ địa bàn ra Ngã Hai để ở. Một số gia đình trung kiên theo bộ đội về Sơn Động. Đại đội 39 vừa phải đánh phỉ vừa phải gồng gánh đồ đạc, dìu cõng trẻ em luồn rừng lội suối để về Sơn Động, Dương Huy trở thành khu không người.

Trước khó khăn của Đặc khu Hồng Gai, đầu tháng 10 năm 1949, Liên khu Việt Bác đã điều trung đoàn 98 về hoạt động hỗ trợ cho phong trào địa phương.

Ngày 24 tháng 10 năm 1949, tiểu đoàn 215 đã diệt vị trí Làng Bang (Thống Nhất) một mắt xích quan trọng trong tuyến bảo vệ khu mỏ, đồng thời là nơi tụ tập bọn mật thám Pháp, đặc vụ Tưởng để móc nối và chỉ huy phản động ở rẻo cao. Trong trận này quân ta diệt 75 tên, thu 75 súng (có ba khẩu tiểu pháo 20 mi-li-mét, trọng liên và súng cối).

Cũng trong tháng 10, một đơn vị của trung đoàn 98 và bộ đội địa phương đã vào Đồng Quặng để tiến công bọn phản động. Cán bộ xã và cơ sở đã giúp bộ đội trong chiến đấu. Ta đã diệt bốn tên phỉ chỉ huy và vận động 80 gia đình nộp lại cho ta 30 khẩu súng.

Sau khi bộ đội chủ lực rời đi, phong trào kháng chiến của nhân dân Hoành Bồ gặp rất nhiều khó khăn. Tháng 1 năm 1950, thường vụ đặc khu ủy Hồng Gai họp xác định nhiệm vụ của Hoành Bồ: “Trọng tâm công tác của huyện là công tác Hoa vận, thiểu vận và thanh toán phản động. Huyện phải lập các chi nhánh “Hội Hoa Việt thân thiện” ở Sơn Dương, “Ban công tác Vũ Oai” phải được thành lập để gây cơ sở và thuyết phục lực lượng tề ở đó. Đề nghị tỉnh bạn Hải Ninh cùng phối hợp để thanh toán phản động”.

Nội dung nghị quyết của thường vụ đặc khu ủy là tích cực, nhưng những yếu tố để thực hiện thì không đầy đủ.

Trong năm 1950, đặc khu ủy phải tập trung lãnh đạo đối phó với các khu vực cơ sở bị vỡ trong mỏ. Căn cứ Bằng Cả bị địch o ép mạnh, lực lượng phỉ đang phát triển ở vùng cao, còn tỉnh Hải Ninh lúc này cũng gặp khó khăn, nên không thể hỗ trợ gì cho Hoành Bồ. Công tác vận động đồng bào người Hoa và đồng bào các dân tộc ít người không được tổ chức và chỉ đạo rõ ràng ở cấp đặc khu và huyện.

Đặc biệt trong thời gian này việc xây dựng lực lượng vũ trang đang gặp nhiều khó khăn. Cơ quan quân sự của đặc khu chưa được kiện toàn, huyện Hoành Bồ không có cơ quan huyện đội. Đại đội 23 vừa xây dựng được hai trung đội thì lại bị địch đánh úp ngay giữa căn cứ Vy Loại và bị mất một nửa quân số. Đại đội 39 trở về đặc khu từ tháng 10 năm 1949 nhưng chỉ có vài chục người hoạt động được, còn quá nửa quân số bị đau ốm hoặc phải đi vác gạo. Lực lượng du kích ở các xã lại càng thiếu và hoạt động yếu. Du kích cả bốn xã Quảng La, Bằng Cả, Sơn Dương, Việt Hưng chỉ có 32 người, trong đó chỉ có bảy du kích ở Bằng Cả là còn bám trụ tại địa phương, còn ba xã kia phải chạy lên rừng. Ở xã Lê Lợi và Thống Nhất có 57 du kích bí mật, nhưng bị địch khống chế rất gắt gao nên không hoạt động được.

Tuy lực lượng vũ trang của huyện quá mỏng, nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên cường, chiến đấu với địch. Từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1940, đại đội Hồ Chí Minh đã chiến đấu 11 trận, diệt 20 tên địch, thu một số súng trường và súng kíp. Phối hợp với du kích Bằng Cả, đơn vị đã chín lần đánh tan các cuộc càn của bọn biệt kích và bọn phỉ vào căn cứ kháng chiến của ta. Đầu năm 1950 đại đội Hồ Chí Minh được Tổng liên đoàn trao tặng lá cờ lưu niệm và một số súng (do những người thợ quân giới tự tạo) để trang bị cho đơn vị chiến đấu giết giặc. Ngoài ra bộ đội đặc khu và của huyện Hoành Bồ còn nhiều lần dùng súng cối, phóng lựu bắn quấy rối các vị trí của địch.

Trong lúc quân và dân vùng mỏ và huyện Hoành Bồ liên tục đối phó với thực dân Pháp và bè lũ tay sai, thì ở Cẩm Phả trong những tháng đầu năm 1950 ta có điều kiện xây dựng lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến thuận lợi hơn. Do phải tập trung lực lượng để phá cơ sở của ta trong mỏ và lập hành lang phản động ở vùng rừng núi Hoành Bồ nên thực dân Pháp chưa có điều kiện khống chế huyện Cẩm Phả. Trên địa bàn này địch mới chỉ có quân đóng ở Vạn Hoa và lập tề ở vài thôn quanh đó, còn hầu hết các xã trên đảo nhân dân vẫn được tự do.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 10:05:09 pm
Ngày 6 tháng 4 năm 1950, hội nghị cán bộ đặc khu họp giao nhiệm vụ cho huyện Cẩm Phả: Phải chuẩn bị chiến trường cho chủ lực và xây dựng dân quân du kích vững mạnh để phối hợp hoạt động khi có điều kiện; phát động chiến tranh du kích ngoài bể làm cho du kích ngoài đảo quen dần với chiến đấu; đồng thời chấn chỉnh cấp xã, thiết lập vòng vây khu vực kinh tế của địch(1).

Dưới sự lãnh đạo của đặc khu và huyện ủy, phong trào dân quân du kích của Cẩm Phả phát triển mạnh mẽ. Huyện đã xây dựng được một trung đội tập trung. Xã Vân Hải có 155 du kích với 12 súng trường. Xã Hùng Thắng có 109 du kích với bảy súng trường. Xã Thạch Hà cũng có một trung đội. Tổng cộng toàn huyện trong năm 1950 có 452 du kích, trong đó có 110 người thuộc lực lượng nửa thoát ly. Ngoài ra số dân quân trong huyện có tới 778 người.

Với số dân quân du kích này làm nòng cốt, phong trào kháng chiến của huyện được phát triển mạnh mẽ. Cuối năm 1949 đầu năm 1950, trước những chiến thắng liên tiếp của quân ta trên khắp các chiến trường, nhân dân Cẩm Phả đã hăng hái góp công, góp của phục vụ cho bộ đội ta chiến đấu. Nhân dân ngày đêm gánh gạo nhập kho đê từ đó chở ra tiền tuyến. Chỉ trong một thời gian ngắn, 50 tấn gạo đã được tập kết vào các kho bí mật ở trong rừng, chuẩn bị cho ngày đưa vào đất liền cho bộ đội.

Ngoài góp gạo, nhân dân các xã Vân Hải, Ngọc Vừng, Hùng Thắng… còn góp tiền (bán cá, bán củi) để ủng hộ bội đội và dân quân du kích. Tính ra trong năm 1950, nhân dân huyện đảo Cẩm Phả đã ủng hộ lực lượng vũ trang trên một triệu đồng tiền Đông Dương. Với số tiền này dân quân du kích đã dùng một phần đi mua sắm vũ khí đánh địch.

Trước các hoạt động mạnh của huyện Cẩm Phả, đến cuối năm 1950 giặc Pháp bắt đầu thực hiện âm mưu phong tỏa vùng biển. Thực dân Pháp đã lập khu trắng trên mặt biển, cấm nhân dân qua lại làm ăn ở các khu vực này, và gây dựng bọn phản động có vũ trang để kiểm soát vùng biển quanh khu mỏ.

Tháng 10 năm 1950, địch tổ chức một đội biệt kích ở xã Thành Công, do tên Hội Hành chỉ huy. Từ xã Thành Công, địch ép hai xã Hùng Thắng và Thạch Hà cũng phải tổ chức lực lượng phản động. Xã Hùng Thắng bị khủng bố dữ dội, nhân dân chạy tán mát khắp núi. Nhân dân xã Thạch Hà phải tạm lánh vào núi đá làm ăn, chịu đói, chịu khổ, kiên quyết không hàng phục giặc.

Cuối năm 1950, giặc đã xây dựng được bọn phản động ở một số nơi như Thành Công, Hùng Thắng, Cộng Hòa, Bình Dân, rồi dồn dân đánh cá về Cửa Ông để lập trước khu mỏ một vành đai trắng trên mặt biển.

Tháng 12 năm 1950, địch tổ chức nhiều cuộc càn vào các đảo Cái Bầu, Vạn Hải để lùng bắt cán bộ và phá các kho gạo chuẩn bị cho chiến dịch của ta. Trong gian khổ, ác liệt, người dân trên vùng hải đảo một lòng trung kiên theo Đảng, theo kháng chiến. Nhân dân đã tìm mọi cách để bảo vệ cán bộ, bộ đội và du kích. Mỗi lần đi biển, đi nương nhân dân lại bí mật khéo léo che mắt địch tiếp tế lương thực cho cán bộ, báo tin cho bộ đội ta biết các hoạt động của chúng. Có những chiến sĩ giao thông đã ghép bè bằng tre để vượt biển từ đảo này sang đảo khác để liên lạc với cán bộ. Cảm động trước tấm lòng kiên trung của nhân dân, các cán bộ và bộ đội ta cũng kiên trì bám đất, bám dân để chỉ đạo phong trào. Sống trên các đảo đá không có đất để trồng cây lương thực, cán bộ, bộ đội đi kiếm củi, trồng chè nhờ nhân dân bán đổi lấy gạo muối để tự túc sinh hoạt, tiếp tục lãnh đạo phong trào.

Với tinh thần chịu đựng khó khăn gian khổ và kiên cường đấu tranh của cán bộ, nhân dân nên mặc dù bị địch càn phá nhiều lần và tàn sát rất dã man, nhưng phong trào của Cẩm Phả vẫn được giữ vững và phát triển. Các cơ sở của ta ở Ngọc Vừng, Bản Sơn, Vân Hải, Thạch Hà, Văn Châu, Đoàn Kết vẫn vững vàng trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Từ trong phong trào và khí thế của quân và dân huyện Cẩm Phả đã xuất hiện nhiều tấm gương chủ động giết giặc của bộ đội và nhân dân ta làm cho quân thù khiếp sợ.

Giữa năm 1949, một tên Pháp đã bắt vợ chồng ông Giáp Lưu (xã Văn Châu) phải chèo thuyền chở nó từ Cửa Cái (Ba Chẽ) về Cửa Ông. Dọc đường đi, ông Lưu đã dùng bơi chèo đánh và vật tên giặc xuống sạp thuyền để bà Lưu dùng dao chém. Hai vợ chồng người dân chài nghèo này đã trừ được một tên giặc và thu được súng mang về nộp cho kháng chiến.

Cuối năm 1949, gia đình bà Gái Chu (xã Văn Châu) đã dùng dĩa và bơi chèo diệt hai tên Pháp khi chúng bắt gia đình bà phải chở thuyền cho chúng đi bắt cán bộ ta ngoài đảo.

Tiếp theo hai sự kiện này, đến cuối năm 1950, bộ đội huyện Cẩm Phả dưới sự chỉ huy của đồng chí Phúc, huyện đội phó đã đánh một ca nô do tên mật thám ác ôn Béc-dô-la chỉ huy, diệt một số tên địch.


(1) Nghị quyết hội nghị cán bộ Đặc khu Hồng Gai, ngày 6 tháng 4 năm 1950. Lưu trữ khu ủy Hồng Quảng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 10:06:25 pm
*

Từ đầu năm 1951 ở Đặc khu Hồng Gai địch đã đóng thêm chín vị trí ở trong mỏ và năm vị trí ở Nghĩa Lộ (Hoành |Bồ) đến các đảo Cái Bầu, Quan Lạn. Các đội dõng được thành lập ở Mỏ Đông (Sơn Dương), Yên Mỹ (Lê Lợi), Quang Hanh, Lộ Phong (Khu Mỏ) và Quan Lạn (huyện Cẩm Phả. Địch phát súng cho nhân dân ở các xã rẻo cao và chọn từ những nơi này được 100 tên phỉ để thành lập đội biệt kích của Hoành Bồ.

Căn cứ Đồng San (Bằng Cả) của ta bị ép từ nhiều phía, nhân dân các xã Sơn Dương, Việt Hưng bị địch dồn lại vào một khu để chúng dễ bề kiểm soát.

Chúng ngăn cấm việc nhập lương thực vào Hoành Bồ, ra tay phá mùa màng, cắt nguồn đóng góp của nhân dân với kháng chiến.

Tháng 4 năm 1951, đại hội đại biểu đặc khu Hồng Gai đã họp, nghiên cứu các văn kiện nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Đảng, kiểm điểm công tác năm 1950 và đề ra nhiệm vụ mới cho địa phương.

Về mặt quân sự, đại hội đánh giá: “Ta đã thu được nhiều kết quả tốt, bộ đội địa phương đã tiến bộ hơn, việc xây dựng du kích trên mặt bể thu được nhiều kết quả khả quan”.

Sau đại hội, Đặc khu ủy đã có kế hoạch lãnh đạo chặt chẽ chiến tranh nhân dân ở địa phương. Việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương có nhiều tiến bộ; cơ quan khu đội được tăng cường: hai huyện đội Hoành Bồ và Cẩm Phả được thành lập. Bộ đội đặc khu đã có hai đơn vị là đại đội 75 (tức đại đội 39 hoặc đại đội Hồ Chí Minh) và đại đội 23 của Hoành Bồ.

Bước sang năm 1951, phong trào du kích của Hoành Bồ và Cẩm Phả có tiến bộ. Các xã Bằng Cả, Lê Lợi, Dân Chủ đã có một phần ba số đảng viên vào du kích. Sau chiến dịch đường 18, do bị địch càn phá, bị bắt nên số du kích hai huyện từ 558 người chỉ còn 78 người, nhưng sau đó các huyện, xã đã chú trọng phục hồi nên đến cuối năm số dân quân du kích của huyện Hoành Bồ và Cẩm Phả đã có trên 1.000 người.

Đặc khu đã chú trọng củng cố căn cứ của đặc khu ở Vy Loại (Sơn Động) và căn cứ du kích Đồng San (Bằng Cả). Ta đã vận động số dân của Bằng Cả bị giặc dồn ra Trới quay về bản cũ. Bộ đội và dân quân du kích ở Bằng Cả đã xây dựng kế hoạch chiến đấu bảo vệ căn cứ chặt chẽ. Trong năm 1951 căn cứ Bằng Cả đã chống càn bốn trận, diệt, bắt sống và tiếp nhận đầu hàng 17 tên địch, thu bốn súng máy và nhiều súng trường.

(https://lh3.googleusercontent.com/_2ciTtRFOXJ9VrvP3Ow9qAZgc14V-Cid2QmL5j0Uy_NtnWzotxr2rd10rvwIaLNHHFJf3DQ7g0W4xkgL5k26MxJVWwAd3W9VuuEgJm2qfGlYheAHvXnLF_nNouwdX6WNZ2y9ujoWuhjQgs4q-Tc3xw9UqP49fF3G-gl1o3nEXjr5ejjFfteJDDbHMhWmTVLTfDREcUauXoXYP-DzPel4z9G2iRZyeGKgLM61bjhvVKFi_Y7_oJ4xtz1pJ1BDXKx5RqBhdnhmdnBko4f1-qL1RGYY2FZI7uK45HQfEeiOzbyMstYPVzbzWG0x8xtNWL8oZhSzesNFcH8oriW8_cL3u_T7Ev6KxVQlvIQgAZ6Yopau4oc6LYWmHoUzk5FmQckUO6MCWD2KNy9qOosdITSlYTdVxfu1zOqg0pO-sMog2HTqv5A4B1caNLauVDYKuxTQTR4YV7EAzr9L_xXA8FtLqWJD2Dk8GgMRmg7jh8E1pTP3hLjP3hyNeHSFZoijTzoeqI43OVJhCw5qmnZxCpqtWzK87i-4eSCdvQRGTXRFb9Tl2bWwSV4WQpoO_0P9tno6BP9c7Oe4FM9_uOMNCbu_ruwqU85SvwKRQK1g12bivx5J_xhaEv4-MFx2=w551-h832-no)

Đội dân quân du kích dân tộc Dao trong căn cứ kháng chiến huyện Sơn Đông năm 1951

Để củng cố và xây dựng căn cứ, cán bộ, bộ đội ta đã vận động nhân dân chuyển từ trồng mía, cấy lúa nương sang cấy lúa nước và trồng thêm nhiều ngô, khoai, sắn. Bộ đội đã vượt rừng hàng tháng để mua trâu và giúp dân làm ruộng. Căn cứ Vy Loại, Quảng La, Bằng Cả dần dần trù phú, đông vui. Vụ mùa năm 1951 năng suất lúa tăng 50 phần trăm, năng suất ngô tăng 100 phần trăm.

Những thành tích trên đã đánh dấu bước trưởng thành của đảng bộ, quân và dân Hồng Gai. Nhưng nổi bật nhất trong năm 1951 của đặc khu là sự chuyển hướng trong công tác đánh địch và công tác vận động đồng bào các dân tộc vùng rẻo cao.

Từ năm 1948, huyện ủy và các cơ quan lãnh đạo của huyện Hoành Bồ luôn bám đất bám làng để chỉ đạo phong trào. Năm 1951, cơ quan của huyện Hoành Bồ đã từ Sơn Dương về Yên Mỹ (Lê Lợi). Quyết tâm của huyện ủy là phá âm mưu lập dõng của địch, củng cố khu du kích Bằng Cả và phá hành lang phản động của địch ở rẻo cao.

Xã Sơn Dương là nơi có vị trí quân Pháp chiếm đóng và tháp canh của bọn ngụy quyền ở thôn Mỏ Đông. Trong tháng 1 và tháng 2 năm 1951, hai đại đội 21, 23 cùng du kích đã diệt tháp canh Mỏ Đông và phục kích một trận ở thôn này. Bọn dõng và phản động ở Mỏ Đông chỉ còn một số tên chạy xuống Yên Mỹ (Lê Lợi). Mặc dù trong xã còn có vị trí giặc nhưng nhân dân Sơn Dương vẫn hăng hái đóng thuế nông nghiệp cho kháng chiến.

Sau khi tiêu diệt tháp canh Mỏ Đông, bộ đội ta được lệnh tiến công tháp canh Yên Mỹ. Thời gian này cơ sở ta ở các thôn Yên Mỹ, Từa Xá (Lê Lợi) khá mạnh. Các bà, các chị đã gây dựng được cơ sở trong số lính dõng người địa phương và giúp cho bộ đội xã thôn chuẩn bị cho trận đánh. Ngày 6 tháng 4 năm 1951, bộ đội ta nổ súng tiến công tháp canh, có nội ứng. Quân ta đã diệt tháp canh Yên Mỹ, bắt 19 tên và thu toàn bộ vũ khí.

Ngày 11 tháng 3 năm 1951, bộ đội Hoành Bồ cùng du kích xã Dân Chủ tiến công bọn địch ở Khe Cái, Khe Kênh, Khe Cần (Đồng Quặng), diệt 12 tên, thu 11 súng kíp.

Bên cạnh hoạt động quân sự, huyện ủy Hoành Bồ đã chú trọng lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống áp bức bóc lột. Trong năm 1951 ở hai huyện Hoành Bồ và Cẩm Phả đã có 27 cuộc đấu tranh.

Cuối năm 1951, Đặc khu ủy đã họp kiểm điểm việc thực hiện chính sách dân tộc đối với các rẻo cao và đề ra phương hướng nhiệm vụ mới.

Trong thời gian qua việc giải quyết vấn đề rẻo cao của ta còn phiến diện, thiếu phương hướng và quan điểm đúng đắn, các biện pháp xử lý sai lầm, thô bạo. Có lúc ta cho việc tiêu diệt bọn phản động ở rẻo cao là vấn đề cụ thể thuộc phạm vi bao vây kinh tế địch, nhưng cũng có lúc cho đây là một vấn đề quân sự đơn thuần, chỉ cần dùng bộ đội đánh là được.

Qua cuộc chỉnh huấn chính trị về bản chất của quân đội nhân dân, bội đội của đặc khu đã kiểm điểm rất sâu sắc quan điểm nhân dân của mình khi đánh vào lực lượng phản động ở rẻo cao. Anh em thấy rõ không phân biệt được phỉ với nhân dân, nên trong một số trận ta đã đánh nhầm vào dân. Đồng thời ta cũng chưa phận biệt được những người lầm đường hoặc bị bắt buộc với bọn đầu sỏ, nên chưa chú trọng làm công tác ngụy vận, và chưa tạo điều kiện tiêu diệt bọn chỉ huy ngoan cố. Bộ đội nêu quyết tâm vào giải thích, giáo dục vận động nhân dân chống bọn ác ôn và vạch trần âm mưu chia rẽ của giặc Pháp.

Đặc khu đã xác định việc giải quyết lực lượng phản động ở rẻo cao chính là một phần quan trọng trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, nhằm đoàn kết các dân tộc, đánh bại âm mưu chia rẽ dân tộc của địch và sử dụng lực lượng. Đặc khu chủ trương: trong công tác chống bọn phản động có vũ trang ở rẻo cao, phải lấy bộ đội làm lực lượng chính để tiến hành công tác vũ trang tuyên truyền.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 10:07:57 pm
Ngày 11 tháng 8 năm 1951, Đặc khu ủy đã họp chủ trương mở một đợt tiến công chính trị vào rẻo cao, lấy đại đội 23 (Hoành Bồ) làm lực lượng chính để vũ trang tuyên truyền, có một đặc khu ủy viên và một huyện ủy viên trực tiếp chỉ đạo.

Trong đợt đầu, đồng chí Phạm Hoành, đặc khu ủy viên, chính trị viên khu đội cùng đi với một đơn vị bộ binh do đại đội trưởng Đặng Khắc Ngân chỉ huy. Bộ đội ta chia thành các tiểu đội, lợi dụng đêm tối áp sát vào những nhà có người cầm súng cho địch. Sáng sớm ta vào các gia đình để gặp nhân dân. Nhiều người cầm súng không dám bắn vào bộ đội và đã đem súng nộp cho cách mạng. Sau đó bộ đội ta đã giải thích chính sách của Đảng, âm mưu của địch cho nhân dân.

(https://lh3.googleusercontent.com/MOjukeZ0CV6omkBVF3-ZzxurFvtPKdr3bAsKLQebZP6yxizKv20-8p4Qazfq7cEtJ_EsoA_4ajrTrxQ6suKFrIrFP-LhPtu_A4BYC5c_F8HyVCySXUvcs-Lo1pU9NEOa7vraM8L67_gSPAwGxeV5HLhCaSxvdymCwLMECY68q3GQIVARDllaGFy4QG_Tkg3EevqN-uWWrr4MwmC-vwARnIPLu0Ixk2MsQxLH-EoNh6LaM1W83AZbsTBMlvyYnkF08w0nFXObG8-XIkPRpOD6pWog1YyE6yPFPe6HWOaPwYSnymFJmkvQtTYibQu_QCgmxfQmI8QjPAyB6RyjzZ4-5OU9oZo5VUtox8Wcc74ooRkCTJk8XzSDUAhebzTCIole4yO8hWPPQezvCu6jOj6Xyj2xe4ekywLQH8jX0m2r1kxnP-6CQ9_B2GzfZgtqjDM87yKC5QJ7yA_M3mfagYtq-3fVSc33wXbzEeaoS5cZ-K0Z1g62kYwkVhPL7Ecia4zCrCi6X491YYj7MT2lNME_hF0qtAbNrLJuHK92RkwpeYX2cGGRHeIHyq99_1Vo94KACUQN7ZBaykSd4tWdwYMC6KCqmOtuHhzt3ffbGvDUnRP7Qn6bLBq3GPDU=w387-h618-no)

Đồng chí Phạm Hoành
Một tên đội đã nộp cho ta hai súng, nhưng ta không nhận. Và ta đã giải thích cho dân: vì thiếu gạo và muối mà họ phải giữ súng cho Pháp, nhưng không bắn lại bộ đội thì Chính phủ cho phép họ được tiếp tục giữ súng. Tên đội được ta cử đi để gọi cấp trên của hắn đến gặp cán bộ và bộ đội. Khi hắn quay lại thì bọn lính phỉ đi theo đã nổ súng về phía ta. Bộ đội ta không bắn trả mà rút lui khỏi bản an toàn. Sau việc này, nhân dân Đồng Quặng bảo nhau: Bộ đội thực lòng vào gặp dân, không bắn giết và thu súng của dân, bộ đội lại cho dân tự do đi chợ Trới để mua hàng, không ngăn cản như trước.

Sau mấy lần vũ trang tuyên truyền trong tháng 10 năm 1951, bộ đội đã bước đầu xây dựng được lòng tin với dân. Sau đó vài tháng, bộ đội ta lại vào gặp nhân dân ở rẻo cao và vũ trang tuyên truyền ở hai xã Thống Nhất và Lê Lợi.

Sau chiến dịch đường 18, bộ đội và du kích của đặc khu đã phục kích một số trận ở Bang, Trới, Sơn Dương, nhằm cắt đứt liên lạc giữa bọn phỉ ở rẻo cao với bọn Pháp ở huyện lỵ, diệt 38 tên phỉ người Thanh Phán, làm bị thương 10 tên, thu một súng máy, 26 súng trường.

Ngày 12 tháng 9 năm 1951, đại đội 23 và du kích Xích Thổ (Thống Nhất) phục kích ở Hẻm Tuốc. Sau đó hai đại đội 21, 23 đã đánh bọn dõng ở Sơn Dương và Lê Lợi đạt kết quả tốt.

Xã Bằng Cả bị địch càn phá liên tục nên ở đây chỉ còn chín, mười gia đình bám trụ ở lại. Nhờ có bộ đội về hỗ trợ, nhân dân đã trở về làm ăn đông hơn. Tháng 10 và tháng 11 năm 1951, bộ đội và du kích đã chống càn thắng lợi bốn trận ở Bằng Cả. Trong năm 1951, bộ đội và du kích Đặc khu Hồng Gai do khu đội trưởng Lý Văn Bài chỉ huy đã diệt và bắt 90 tên địch, làm bị thương 17 tên, thu sáu súng máy, 31 súng trường, 18 súng kíp.

Cùng với sự phục hồi phong trào cách mạng ở Hoành Bồ, ở huyện Cẩm Phả đầu năm 1951, phong trào cách mạng của quần chúng cũng phát triển đồng đều, toàn diện. Nhưng từ tháng 7 năm 1951 trở đi, do ta sơ hở địch đã nắm được các cơ sở và nơi đóng cơ quan của ta. Cuối năm 1951, giặc Pháp đã liên tiếp vây càn, đánh phá vào Cái Bầu, Vân Hải, Bình Dân, Hồng Thắng, Đoàn Kết, Cộng Hòa, Văn Châu để phá các cơ sở, hòng biến những nơi này thành các khu trắng. Hai xã Ngọc Vừng và Bản Sen là những nơi đông dân hất cũng bị địch dồn dân đi các nơi khác, để lại ở đây những cánh đồng hoang vắng và làng mạc tiêu điều.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 10:09:33 pm
4. Đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn của địch, đưa chiến tranh nhân dân địa phương trên hai tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên tiến lên những bước mới.

Sau chiến dịch Biên Giới, ranh giới giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm ở Hải Ninh đã hình thành rõ. Phía đường số 4, địch kiểm soát từ Phố Cũ đến Tiên Yên. Phía đường 10 lên Bình Liêu, chúng kiểm soát từ Đồng Và (Tiên Yên) trở xuống. Phía Sơn Khu, Hà Cối, Móng Cái, chúng kiểm soát từ Chúc Bài Sơn, Lục Phủ về phía đông.

Để tăng cường phòng ngự, địch đóng thêm các vị trí Đồng Và, Tằng Sắn Phềnh và tăng cường công sự ở những nơi chúng chiếm đóng. Để tiện huy động lực lượng ứng cứu ở vùng duyên hải, địch đặt phân khu quân sự Tiên Yên trực thuộc liên khu Hải Phòng và thành lập khu biên giới đông bắc để chỉ huy các lực lượng của Đầm Hà, Hà Cối, Móng Cái.

Trên vùng giáp giới giữa căn cứ của Hải Ninh và vùng địch tạm chiếm, chúng chỉ có một số ít vị trí lọt trong vùng rừng núi. Để bảo vệ vùng tạm chiếm, địch đã hình thành hành lang có lực lượng vũ trang phản động chạy từ Ba Chẽ đến Khe Lò với khu Phềnh Hồ nối vào khu Lý Sầy (Hà Cối) và dãy tháp canh từ Chúc Bài Sơn lên Tràng Vinh, Lục Phủ (Móng Cái).

Khi chiến dịch đường 18 mở, bọn giặc ở Hải Ninh đã càn liên tiếp trên tuyến giáp ranh. Từ ngày 28 tháng 3 đến ngày 3 tháng 4 năm 1951, chúng càn bốn lượt với số quân từ 200 đến 1.000 tên. Có những trận hoàn toàn do bọn phỉ người Hoa trong Thanh niên đảng của Tưởng đảm nhiệm. Các điểm mà chúng càn mạnh là Châu Sơn, Bắc Lãng, Chúc Bài Sơn, Tràng Vinh.

Tỉnh ủy Hải Ninh đã phát động một đợt thi đua giết giặc lập công để phối hợp với chiến dịch Hoàng Hoa Thám và chào mừng đại hội Đảng bộ tỉnh. Tỉnh đội trưởng Đặng Công Lệnh cùng với cơ quan tỉnh đội đã chuẩn bị chu đáo cho bộ đội ra quân.

Ngày 28 tháng 3 năm 1951, đại đội 54 (tiểu đoàn 20) và đại đội 35 (Đình Lập) cùng dân quân du kích Châu Sơn, Bắc Lãng chặn đánh 1.000 tên địch trên đường số 4, diệt 55 tên. Ngày 11 và 12 tháng 4 năm 1951, đại đội Móng Cái chặn đánh bọn phỉ (tàn quân của Tưởng), đại đội Hà Cối chặn đánh 300 tên giặc ở Chúc Bài Sơn. Ngày 16 tháng 4 năm 1951, đại đội Hà Cối phục kích một trung đội giặc ở Lang Khê. Qua ba trận đánh, ta diệt 17 tên. Ngày 19 tháng 4 năm 1951, đại đội Tiên Yên phục kích một toán quân địch đi càn Phong Dụ, diệt 60 tên ở bến đò Đông.

(https://lh3.googleusercontent.com/GWPEz0ib2wh0DU6m-cea0inOVIwE-MyUwGUgImKCgYorCdsgrqYBUyDVV0vmJCltw1_PTO1mzJk6f1ZuA1LUlcfy-MoUnEllHsOwAevueDpZw9svsEDHxbxCLeuSVwjbNQhzs3ccaXNWs7RGrY9NXirSvi-V3IdIglbASvmuPN1X5Cf5f_u14mZiuenJxYVDJ4Bt8iK-zAK-2FWA6SaWbELuKbf2q5yAnIaFWYVBBYup12YCUSutGR_hpcBJzbKWjI5zf0Oes--_SBzQVVegnHEfhq0JeVv_7sWZOHXgVXP-XA8Wq5nZNnXAK1rOtysAn6BViqfBYBh_X5CBhxwvTyEsNEX8qNxjR0G9EZtWWt7R_7hismCVamFjOdIhkPP84YDBxBgUAW_cjV35GeJlQVfj_6zDkLNtOgvI4NJAllS3cLmdHUTqlJk_AczXEGvE_TvtsiaAKaSWwFNohB90bGD7eKh26gyxQ04H-gZGDaraAwCG78-VjzU0dFso4Mlv520MYrE0UniuwP-QynzE3qtsyn3p1cH0j7Egi32jvteLy9JeZ8k08vVkMgFPtss3fLy8QoQLB0RJ2LoxQCdD7ZqStirKENiKXGJQ1U63BTJChyFE4CPUbScY=w1024-h649-no)

Du kích xã Phong Du (Tiên Yên) bảo vệ dân gặt lúa trong kháng chiến chống Pháp

Cơ sở của ta lúc này phát triển khá mạnh, lực lượng của ta có ở quanh Chúc Bài Sơn, Tràng Vinh. Cơ sở chính trị của ta khá phát triển từ các đảo phía bắc Vạn Hoa, Cái Chiên, Vĩnh Thực và ven theo biển Đầm Hà, Hà Cối tới Móng Cái, chạy dài bên tuyến chiếm đóng của quân ngụy Voòng A Sáng.

Sau chiến dịch đường 18, địch rút quân Âu – Phi ở Hải Ninh đi xây dựng lực lượng cơ động, còn hệ thống chiếm đóng ở địa phương thì hầu hết giao cho quân Voòng A Sáng, bọn dõng, bảo an. Bên cạnh đó, chúng tăng cường lực lượng biệt kích người dân tộc và hệ thống do thám, chỉ điểm để càn sục liên tục và phá vỡ cơ sở ở các thôn, xã. Ở Đầm Hà có hai đội biệt kích hoạt động ở Làng Ngang, Nà Pá, gồm 424 tên địch. Ở Hà Cối có hai đội ở Lý Sầy, Phềnh Hồ. Ở Tiên Yên có hai trung đội ở Khe Lò, Khe Tầu, Kiên Mộc, Pắc Xa. Các đội biệt kích này đều do sĩ quan phòng nhì của Pháp chỉ huy có nhiệm vụ vừa chống ta xâm nhập vùng ven, vừa để thâm nhập vào vùng căn cứ kháng chiến nhằm phá hoại và gây cơ sở phản động.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 10:10:22 pm
*

Địch tổ chức nhiều cuộc lùng sục, phá hoại cơ sở của ta ở Cái Chiên, Vũ Hải, Tiến Tới, Vạn Ninh, Cái Đông, Đại Dực, Tiên Lãng. Địch đã nhiều lần càn lên Khe Lục, Khe Quang, Văn Mây thuộc vùng căn cứ của ta, nơi tiếp giáp giữa Tiên Yên và Bình Liêu.

Tháng 10 năm 1951, bộ đội Hải Ninh mở một đợt tiến công vào Khe Lục, Khe Quang, Văn Mây. Sau ba ngày chiến đấu, ta chỉ diệt và bắt được 16 tên, thu 81 súng trường, 200 súng kíp. Bọn đầu sỏ đã chạy thoát xuống Tiên Yên.

Tính đến tháng 10 năm 1951, bộ đội và du kích Hải Ninh đã đánh 68 trận (có 32 trận chống càn, 24 trận phục kích), diệt 439 tên (có 10 sĩ quan), làm bị thương 329 tên, bắt 31 tên, phá bảy xe, hai đại bác, thu 121 súng trường, 223 súng kíp. Ta hy sinh 13 đồng chí, bị thương 35, mất tích hai, bị mất hai trung liên, năm súng trường. Trong chiến dịch đường 18, Hải Ninh tiếp nhận 26 lính Âu Phi và 44 lính ngụy ra hàng, mang theo 102 súng.

Việc củng cố vùng tự do và vùng giải phóng đã có một bước tiến mới. Hội “Hải Ninh nhân dân giải phóng” đã thu hút được nhiều đồng bào dân tộc. Nhiều đồng bào người Hoa và Thanh Phán tham gia chính quyền và các đoàn thể.

Nhân dân Bình Liêu, Đình Lập được điều hòa giống, nông cụ, sức kéo, đã hăng hái làm ăn theo lối đổi công và bỏ ra hàng triều đồng để mua giống. Lâm sản từ Hải Ninh sang Lộc Bình và xuống vùng tạm chiếm đã giúp ta nhập được muối, vải, dầu hỏa cho vùng căn cứ.

Trong năm 1951, nhân dân đã ủng hộ bộ đội số tiền và hiện vật bằng 17.749.800 đồng tiền tài chính.

Trong phong trào kháng chiến của Hải Ninh đã nổi lên những tấm gương kiên cường bất khuất. Đồng chí A Lộc bị giặc bắt và tra tấn dã man vẫn không chịu khuất phục. Bọn giặc đã giết anh, bêu đầu ở giữa chợ. Em Hoàng Văn Thự, chiến sĩ giao thông đã nhiều lần đóng bè vượt qua Cửa Đại để truyền tin tức. Trong một lần dẫn đường cho cán bộ, không may sa vào ổ phục kích của địch, em đã mưu trí chạy sang hướng khác để thu hút địch. Em đã trúng đạn và hy sinh, nhưng hàng chục cán bộ của ta đã được cứu thoát.

*

Trước hoạt động quân sự của ta ở vùng Đông Bắc, trong năm 1949 giặc Pháp đã đánh phá vào căn cứ kháng chiến của Quảng Yên để phá việc chuẩn bị chiến trường của ta. Mặt khác, chúng tăng cường hệ thống chiếm đóng ở Thiên, Bến Bình (Chí Linh), Linh Khê (Nam Sách), Nhị Chiều, Kim Chú (Kinh Môn), Phi Liệt (Thủy Nguyên) để chia cắt giữa các vùng, các huyện của Quảng Yên. Đồng thời chúng tổ chức nhiều cuộc càn vào các khu du kích và căn cứ du kích.

Ngày 20 tháng 10 năm 1949, địch càn lên Sơn Động. từ tháng 2 đến tháng 10 năm 1949, chúng liên tiếp càn vào Nguyễn Huệ (Đông Triều). Tháng 2 năm 1949 chúng càn Lưu Kiếm (Yên Hưng) trong bảy ngày liền.

Trong càn quét, giặc gây nhiều tội ác man rợ hòng uy hiếp tinh thần đồng bào ta. Ở Núi Canh, Yên Đức, Yên Dưỡng (Đông Triều), Lưu Kiếm (Yên Hưng) và Kính Chủ (Kinh Môn), chúng tàn sát tới 342 người.

Chúng đã xây dựng được lực lượng vũ trang phản động ở các xã như Hưng Đạo (Chí Linh), Mặc Cầu (Nam Sách), Huệ Trì (Kinh Môn), Câu Tử (Thủy Nguyên), Đông Mai (Yên Hưng).

Cuối năm 1949, Liên khu ủy 1 giao nhiệm vụ cho Quảng Yên xây dựng lực lượng thủy chiến ở Cát Bà để đón thời cơ ở vùng biển.

Từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 1 năm 1949, tỉnh ủy Quảng Yên mở hội nghị cán bộ. Hội nghị đã đề ra những nhiệm vụ lớn của năm 1949 là: “Tiến công địch về mọi mặt. Phát triển chiến tranh du kích thật rộng rãi, xúc tiến công tác địch vận, chú trọng ngụy vận. Gây phong trào sôi nổi “tất cả là du kích”. Chuyển mặt trận chính của ta vào nơi “đại thái bình” của địch, mở rộng những vùng tự do ngay trong lòng địch”.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 10:11:52 pm
Thực hiện nhiệm vụ và phương hướng của hội nghị cán bộ tỉnh, toàn tỉnh đã dấy lên nhiều phong trào sôi nổi như: Toàn dân vào Liên Việt, toàn dân vào du kích, toàn huyện đánh mìn…

Để phát động chiến tranh nhân dân có trọng tâm, nhiều địa phương đã tổ chức các “tuần lễ tranh đấu” với các nội dung thiết thực như Tuần lễ phá hoại để phá đường hoặc cắt dây điện của địch, Tuần lễ đào hầm hố…

Thi hành sách lệnh về thành lập bộ đội địa phương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng Yên đã nhanh chóng tổ chức, chấn chỉnh lực lượng vũ trang của tỉnh.

Ngày 1 tháng 1 năm 1950, tiểu đoàn Bạch Đằng, bộ đội chủ lực của tỉnh Quảng Yên được thành lập với số quân là 503 người; biên chế thành ba đại đội bộ binh (966, 968, 910), một đại đội hỏa lực (904). Đồng chí Chu Bằng Thanh giữ chức tiểu đoàn trưởng, đồng chí Tăng Văn Hội, tỉnh ủy viên giữ chức chính trị viên tiểu đoàn. Đồng thời, tỉnh cũng quyết định thành lập các đại đội địa phương huyện: Đại đội 911 Chí Linh, gồm bốn trung đội, 241 người. Đại đội 913 Đông Triều, gồm bốn trung đội, 222 người. Đại đội 915 Yên Hưng gồm hai trung đội, 135 người. Đại đội 917 Sơn Động, gồm ba trung đội, 160 người. Đại đội 919 Cát Hải, gồm hai trung đội, 93 người. Đại đội 921 Nam Sách, gồm bốn trung đội, 198 người. đại đội 923 Kinh Môn, gồm bốn trung đội, 225 người.

(https://lh3.googleusercontent.com/3KHRz14VDgCRkCQkSC9nnfXczC-ukGLRNtHWeC6Z5h6HTFWAUBER2cr0A9LznyW_IWaImIsjT4HZ9hDFIDbzcOg4ukbGITjgPAndmf-0qZawGsuS298lFrPho2emmEtMnETu616Kl0bOZaQAYyiDJxB_Z6xFP6OVm3I-H8X_PLL9eK6JbeJeHxwVY3vWQGfBlvajLxl-Zu9uOAkoAZc2_WWsGqwdqQGqh0pqoBT_euihiGjSu-3jBSMtTxrkvulECLo0x-MMd-_HRF3hKjqAfeaDgs_RVwZwVmqamzN857OhKJKQ3Uf5fDiQSE1KEFW_dzCipHqWOPnmUvE6-4eaCBSF1pKKoJ47GbrIP5fUX1dMzzVkcyp_ppKFcy0NJDgHWYuUyuD91IbtDBJdiAL9aHtU22e-VmI6IE5t8LNTr8u77bX4YQ3SewqkwFdbDEJhufn8OD0xEPqIRx2iDpGqTMhjKzS6jYFJTFmUSDlcA6PuJRVoRIpZmlmjjfsBQ6jCaCts_d0sTmD-eaOiTNjDdItYofOOpuQPYCKzlPD8SwGT01d7vbcu__njBL1tiusSVvjp5Qoq2HXkXGhs7ALbDRoQgPjHxIIiTCh4Tu6AJzC3iQjbLI1zgPTd=w640-h480-no)

Huân chương Quân công hạng Ba
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng thưởng Tiểu đoàn Bạch Đằng
có thành tích trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám 1951

Các đại đội đều có chi bộ Đảng, mỗi chi bộ có từ 30 đến 50 đảng viên.

Trong thời gian này ở Quảng Yên còn có một bộ phận lực lượng vũ trang gồm các phái viên của Bộ Tổng Tham mưu và của Bộ tư lệnh Liên khu Việt Bắc làm nhiệm vụ chỉ huy các lực lượng trinh sát và hậu cần, cón bí danh là e98 QT. Bộ phận này có trách nhiệm chuẩn bị cho bộ đội chủ lực về tác chiến ở Đông Bắc.

Về xây dựng du kích, cho đến năm 1950 tỉnh Quảng Yên có 3.120 du kích và 10.230 dân quân.

Bộ đội địa phương đã được hưởng tiêu chuẩn của Nhà nước, nhưng mức sống còn quá thấp. Mỗi chiến sĩ được cấp 750 đồng một tháng trong khi giá gạo là 120 đồng một ki-lô-gam. Cho tới năm 1950 số quân chiến đấu của Quảng Yên là 1.779 người, cộng với số quân của tỉnh đội, các huyện đội, cơ quan khác như trường quân chính, quân y viện, các đơn vị như trinh sát, tân binh, công binh, xưởng vũ khí… thì số quân của tỉnh lên tới gần 3.000 người. Do vậy, vấn đề nuôi quân và trang bị gặp rất nhiều khó khăn. Về vũ khí của bộ đội địa phương còn rất thiếu thốn. Một đại đội chỉ có hai phần ba số người có súng, trong đó có một phần ba là súng hỏng(1).


(1) Đến cuối năm 1950, khi bộ đội Quảng Yên nhận được số vũ khí của trung đoàn 98 giao lại thì trang bị của các đơn vị có khá hơn. Nhưng trong các trận đánh hiện tượng súng hỏng hóc vẫn còn phổ biến.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 10:13:03 pm
Để giải quyết khó khăn về công tác nuôi quân, ngày 20 tháng 4 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân hưởng ứng việc bán thóc và cho vay thóc để nuôi quân. Số thóc của nhân dân mà Quảng Yên thu được đã góp phân giải quyết phần lớn yêu cầu nuôi quân của địa phương và góp phần vào yêu cầu chung của việc xây dựng bộ đội chủ lực trong liên khu.

Ở các địa phương có “Hội mẹ chiến sĩ” để đỡ đầu các đơn vị bộ đội, “Hội bảo trợ dân quân” để giúp đỡ dân quân. Nhân dân Nam Sách luân phiên nhau nuôi các chiến sĩ bộ đội địa phương trong các gia đình. Phụ nữ Hiệp Sơn (Kinh Môn) thu gom các “Hũ gạo kháng chiến” của từng gia đình trong ba tháng được tới ba tấn gạo. Nhân dân Nam Sách, Thủy Nguyên, Đông Triều, Yên Hưng, Kinh Môn, Chí Linh dù ở ngay gần vị trí giặc, vẫn gửi tiền và gạo ra cho bộ đội. Nhân dân An Châu, Thanh Luân (Sơn Động) dù ở gần địch vẫn cứu chữa và nuôi dưỡng thương binh ở trong rừng.

Tỉnh đã tập trung người và dụng cụ, vật liệu của ba huyện Chí Linh, Nam Sạch, Kinh Môn để thành lập xưởng vũ khí Chí Linh. Xưởng vũ khí này đã hoạt động từ năm 1947 đến năm 1951, làm mìn, lựu đạn để cung cấp cho bộ đội và du kích ba huyện và tỉnh đánh địch. Công nhân mỏ đá Tràng Kênh (Yên Hưng) cũng chuyển nhiều vật liệu, phương tiện ra cho tỉnh để sản xuất vũ khí.

Cuối năm 1949, các cơ quan của tỉnh đã chuyển vào Sơn Động, ở đây đã mọc lên những khu vực dân cư mới nằm bên các căn cứ của huyện và tỉnh, trong đó có các khu phố kháng chiến như Mai Sưu, Đồng Vành, Đồng Trâu, Khe Chè, Tân Mộc, Địa Đô… Ngoài căn cứ của tỉnh, của bốn huyện Chí Linh, Đông Triều, Yên Hưng, Sơn Động, còn có căn cứ của Đặc khu Hồng Gai, tỉnh Hải Dương, tỉnh đội Hải Phòng xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Yên.

Những năm 1949, 1950, trong căn cứ địa của tỉnh có gần 10.000 đồng bào các dân tộc ít người sinh sống. Đời sống đồng bào ở đây rất khổ cực. Để giúp cho nhân dân ổn định đời sống, chính quyền đã hướng dẫn cho họ làm ruộng nước và cho vay 586.000 đồng để sản xuất. Ủy ban kháng chiến Liên khu 1 và Ủy ban kháng chiến Quảng Yên còn giúp dân 300.000 đồng và bảy tạ thóc để làm ăn.

Đối với người miền xuôi vào rừng để khai hoang, Chính phủ đã miến thuế và khuyến khích, giúp đỡ họ trong sản xuất. Bộ đội và các cơ quan ở trong căn cứ kháng chiến đã tích cực trồng rau, trồng sắn, trồng khoai để khắc phục một phần về lương thực, thực phẩm.

Trong năm 1950, diện tích hoa màu trong vùng căn cứ của tỉnh Quảng Yên tăng hơn 1.000 mẫu so với năm 1949. Nhân dân vùng căn cứ đã hợp tác, tương trợ nhau trong sản xuất nông nghiệp. Đông Triều và Chí Linh có ba tổ hợp công (làm đổi công trong ngày mùa) với 108 hộ và 60.000 đồng tiền quỹ. Sơn Động có một tổ đổi công với 16 mẫu ruộng. Chí Linh có một hợp tác xã với 160 xã viên và 54.000 đồng tiền cổ phần.

Nhân dân phía bắc Sơn Động như Dương Hưu, Thăng Long, Thanh Luân, Đồng Am, Tuấn Đạo xưa ki bị đói khổ, lại luôn bị phỉ cướp bóc, giặc Pháp càn phá, nay đời sống đã được nâng lên. Đồng bào bắc Sơn Động đã hăng hái đóng góp cho mặt trận Đông Bắc 50 tấn gạo.

Để đối phó với các hoạt động của ta cuối năm 1949, giặc Pháp tập trung đánh phá ác liệt để diệt cơ quan đầu não của tỉnh Quảng Yên ở trong rừng và xóa các khu du kích ở vùng sau lưng địch.

Chí Linh là đầu cầu chính cho lực lượng của ta từ căn cứ địa ra vùng địch hậu, đồng thời đây cũng là khu vực địch tập trung đánh phá mạnh.

Trước thủ đoạn càn phá của giặc nhằm xóa các vùng du kích của ta, đảng bộ Chí Linh đã chủ trương:

- Củng cố và phát triển hai vùng du kích ở hai bên đường 18 để tạo thế, hỗ trợ nhau giữa rừng núi và đồng bằng, đó là cụm Hoàng Hoa Thám – Bắc An phía bắc đường 18 và cụm Văn Đức – Đồng Lạc – An Lạc – Tân Dân ở nam đường 18.

- Mở rộng các khu du kích, phân loại rõ nơi nào cần phải lập tề thì lập tề, nhưng vẫn phải tổ chức đánh một cách hợp pháp (như đánh ở ngoài làng) và tạo điều kiện để tiến lên đánh du kích.

Huyện ủy cũng chỉ đạo giữa vùng có tề và không có tề phải tạo thế liên hoàn với nhau bằng đấu tranh hợp pháp và không hợp pháp.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 10:13:28 pm
Đông Triều cũng là một hướng ra vào hậu địch của tỉnh Quảng Yên. Từ Tràng Lương, Bình Khê, An Sinh phía bắc đường 18 sau một đêm ta có thể qua đường 18 vào Nguyễn Huệ hoặc Yên Đức để sang Chí Linh, Kinh Môn.

Trong năm 1949, bộ đội huyện Đông Triều và du kích đã bám sát các khu du kích Nguyễn Huệ, Bình Dương, Văn Thọ, Yên Đức để hỗ trợ cho nhân dân đánh bại âm mưu xóa các khu du kích này.

Từ khẩu hiệu “Du kích làm chủ ban đêm”, ta tiến tới tổng phá tề và đánh du kích. Ngày đêm du kích thay nhau báo sát các vị trí địch để đánh các toán địch đi càn và lùng sục.

Nhân dân Nguyễn Huệ làm hầm hố tránh đại bác cả trong nhà, trong vườn, trên đường đi, bên đồng ruộng, trong số dân đi gặt, đi cày, cấy, có du kích mang theo súng đạn và mìn, tổ cùng làm với dân, tổ cảnh giới và sẵn sàng chặn đánh quân thù. Qua một năm bám đất, bám dân chiến đấu, chi bộ Nguyễn Huệ ngày một trưởng thành, từ chỗ chỉ có 26 đảng viên, cuối năm 1949 chi bộ đã có 130 đảng viên.

Đảng bộ xã Yên Đức đã biết phát huy thế mạnh của địa phương mình là có đồi đất, có núi đá, thôn xóm lại có sông bao bọc xung quanh để xây dựng các khu du kích. Đồng thời xã đã làm tốt việc chia ruộng đất công cho dân, mỗi nhân khẩu được chia một sào tám thước, mỗi gia đình bần cố nông trung bình được chia năm sào ba thước. Khi có sắc lệnh giảm tổ 25 phần trăm, chính quyền ở đây yêu cầu chủ ruộng phải giảm 50 phần trăm. Qua chiến đấu, xây dựng khu du kích, thực hiện tốt chính sách giảm tô của Đảng, đảng bộ Yên Đức không ngừng lớn mạnh. Từ chỗ chỉ có 20 đảng viên, cuối năm 1949 đảng bộ đã có 227 đảng viên.

Tỉnh Quảng Yên có hai căn cứ du kích quan trọng là Nhị Chiểu (Kinh Môn) và Hà Sen (Cát Bà).

Nhị Chiểu là vùng đồi đất, xen kẽ với các núi đá hiểm trở, lại bao bọc một phần bởi sông ngòi và ở gần tuyến đường 18, nhưng cũng có thế liên hoàn với vùng núi đá phía bắc Thủy Nguyên.

Năm 1947, 1948, địch tiến công ta ở Áng Sơn và chiếm đóng khu Nhị Chiểu.

Năm 1949, với quyết tâm đưa Nhị Chiểu thành căn cứ của huyện ngay trong lòng địch, huyện ủy Kinh Môn chủ trương xây dựng chi bộ và phong trào du kích mạnh ở cả bốn xã Minh Tân, Phú Thứ, Hoành Sơn, Tân Dân. Huyện ủy quyết tâm xây dựng bộ đội huyện mạnh, cơ quan huyện đội mạnh, bám sát khu Nhị Chiểu để đánh địch, đồng thời tạo thế chiến đấu liên hoàn giữa bốn xã trong khu Nhị Chiểu với các xã khu trong và khu ngoài Kinh Môn. Riêng ở khu Nhị Chiểu, huyện ủy phát động một đợt chủ động đánh địch. Bộ đội huyện và du kích thay nhau đánh “chim sẻ”, liên tục quấy rối, tiêu hao địch làm cho chúng mất ăn, mất ngủ, tiến tới phục kích thu hẹp phạm vi chiếm đóng của chúng.

Qua hơn nửa năm bị bộ đội và du kích bám sát và vây hãm, địch phải rút hai trong bảy vị trí đã đóng ở Nhị Chiểu và phải chấp nhận sự tồn tại của một căn cứ du kích ở vùng này.

Hà Sen trước năm 1945 là một tổng nằm trong đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, tỉnh Quảng Yên - ở phía tây vịnh Hạ Long.

Cát Bà là một vùng gồm nhiều đảo đá, có núi cao, hang sâu, dốc đứng và những khu rừng nguyên thủy với nhiều cây to lớn, rậm rạp. Nhân dân Hà Sen ở thành từng chòm xóm nhỏ trong các thung lũng hẹp gọi là “áng”. Từ áng nọ sang áng kia phải theo các lối mòn qua giữa núi đá cao, vách đứng.

Trước chiến tranh, trừ rất ít nhà giàu có thuyền lớn để đánh cá ngoài khơi hoặc đi buôn sinh sống, số đông nhân dân sống bằng thuyền nhỏ hoặc làm thuê, làm mướn hoặc đi lấy lâm sản. Từ khi địch phong tỏa mặt biển, đời sống nhân dân trên đảo gặp nhiều khó khăn. Lâm sản không bán được, gạo và các thứ hàng thiết yếu khác trở nên rất khan hiếm. Lương thực chủ yếu ở đảo là cây bắp.

Sau khi địch chiếm Cát Bà, huyện ủy đã chỉ đạo một số xã đưa người ra làm tề cho Pháp, nhưng vẫn chịu sự điều khiển của ta. Cuối năm 1948, tỉnh ủy Quảng Yên cử đông chí Xuyên, tỉnh ủy viên ra làm bí thư huyện ủy (sau đó đồng chí Hoàng Cầu lên thay).

Tuy về danh nghĩa, cá xã thuộc Hà Sen chịu lập tề, nhưng ta đã dựa vào các tổ chức của địch để hoạt động. Ta còn lập các đội phu tuần, nhưng thực chất lại là các đội du kích bí mật ở Gia Luận, Trân Châu, Phú Lương, Xuân Đám. Mỗi xã có từ hai tiểu đội đến một trung đội được trang bị vài khẩu súng.

Mặc dù ta đã lập tề, nhưng giặc Pháp vẫn luôn lùng sục cướp phá, do đó nhân dân rất căm tức và xin với Đảng cho đứng lên đấu tranh vũ trang. Đầu năm 1949, huyện ủy Cát Hải quyết định tổ chức lực lượng vũ trang chống Pháp.

Ngày 1 tháng 6 năm 1949, chủ tịch huyện Vũ Tiến Khuông đang trên đường đi công tác thì phát hiện một tiểu đội Pháp tiến vào Trân Châu. Anh đã khẩn trương tổ chức một lực lượng chiến đấu gồm hai ông già, một vài đồng chí bộ đội và du kích ở gần đó, với trang bị một tiểu liên, vài quả lựu đạn và một bẫy đá. Chờ quân Pháp lọt vào con đường nhỏ giữa hai vách đứng, chủ tịch Khuông ra lệnh bắn đá. Hàng trăm tảng đá nổi nhau ầm ầm xối xuống giết chết hai tên giặc làm bị thương năm tên khác, buộc chúng phải khiêng nhau tháo chạy.

Cuối năm 1949, 22 ca nô và thuyền máy của giặc vây chặt đảo kêu gọi nhân dân đầu hàng. Nhưng bộ đội địa phương của huyện đã cùng du kích lợi dụng các mỏm đá để bắn tỉa bọn giặc, làm cho các tàu thuyền của chúng phải rút lui.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 10:13:49 pm
Bọn giặc đã tổ chức nhiều cuộc càn vào dân. Mỗi lần càn bọn lính phải nối đuôi nhau len lỏi qua các lối mòn, dốc cao, vách đứng, hoặc lội bì bõm trong đồng sâu, cây cối rậm rạp, nên chúng phải tiến rất chậm chạp. Nhiều lần chúng đã bị du kích các thôn Đồng Tép, Áng Đài, Vĩnh Hải đánh úp. Trong trận đánh ở khoang Đá Phòng bọn giặc phải tháo chạy trước bẫy đá, để lại một tên bị bắt tại trận và một súng.

Chỉ cách vị trí Cát Bà vài cây số, Hà Sen vẫn giữ được liên lạc với đất liền và trở thành một căn cứ du kích ngay trên vịnh Hạ Long.

Trong năm 1949, chiến tranh nhân dân ở tỉnh Quảng Yên đã phát triển đồng đều trên các huyện. Các lực lượng vũ trang địa phương đều có tiến bộ trong xây dựng và tác chiến. Lực lượng du kích đã có nhiều trận đánh độc lập, có hiệu quả cao.

Tháng 2 năm 1949, 20 du kích Lưu Kiếm (Yên Hưng) đánh lui một cuộc càn của một trung đoàn địch. Dân quân du kích ở đây đã độc lập chống càn thắng lợi ở Đồng Lặc (Chí Linh), Hà Sen (Cát Hải), Nhị Chiểu và Hiệp Sơn (Kinh Môn), Trù Hựu (Sơn Động).

Dân quân du kích xã Nguyễn Huệ và Bình Dương (Đông Triều) đã đánh thắng nhiều trận quanh khúc sông Đạm Thủy, có khi địch đi càn hoặc đi càn về đều bị ta đánh. Có trận du kích đã nổ súng khi giặc đang xuống thuyền, diệt 12 tên, thu ba súng và lấy lại một số trâu bò mà chúng cướp của dân.

Trước tình hình đó, địch phải xây lại cầu Đạm (cầu đã bị ta phá hoại). Bọn địch đến xây cầu lại bị du kích liên tục bắn tỉa. Ngày địch xây, đêm ta lại phá. Giặc Pháp buộc phải đem quân đến đóng bên sông Đạm Thủy và cũng phải sau bốn tháng mới xây xong cầu. Năm 1949, quân dân trong tỉnh đã tích cực làm công tác ngụy vận. Trong các ngày lễ, ngày tết, nhân dân gửi thư, gói truyền đơn vào quà bánh để trao cho lính địch hoặc để ở những nơi họ hay qua lại.

Nhờ kết quả của công tác ngụy vận, trong năm bộ đội và du kích đã dùng lối đánh có nội ứng để tiêu diệt vị trí Phúc Liệt (Yên Hưng), diệt nhiều tháp canh ở Nhân Huệ, Vạn Yên, Kim Điền (Chí Linh), Tống Xá, Mỹ Động (Kinh Môn) và một số tháp canh ở Nam Sạch.

Sự phát triển của phong trào chiến tranh nhân dân ở Nam Sách có những nét riêng biệt. Từ cuối năm 1948 đến tháng 12 năm 1949, huyện Nam Sách do tỉnh ủy Hải Dương lãnh đạo. Tháng 6 năm 1949 bị giặc càn ác liệt, huyện ủy phải tạm lánh vào rừng. Nhưng vào rừng vẫn bị giặc càn. Cuối cùng, huyện ủy Nam Sách đã có quyết định đúng đắn là chỉ có bám đất, bám dân mới tạo được ăn cứ vững chắc để đánh địch và bảo vện mình.

Khi quay về bám đất, bám dân huyện ủy Nam Sách đã chú trọng xây dựng bộ đội huyện và dân quân du kích mạnh, đồng thời phát triển công tác ngụy vận để đẩy mạnh việc phá tề, trừ gian và phá hệ thống tháp canh đang kìm kẹp quần chúng. Tháng 12 năm 1949, quân và dân Nam Sách đã phá 47 tháp canh hương dũng, tổng dũng ở Hồng Phong, Hiệp Cát, Hợp Tiến, Nam Hưng, Nam Tân, Quốc Tuấn, Cộng Hòa, Đồng Lặc, Ái Quốc, An Châu, Thượng Đạt, Thái Tân, An Lâm, An Sơn.

Trong trận đánh đồn Vũ La (đồn này có một trung đội ngụy chiếm đóng), do bắt liên lạc được với tên chỉ huy địch, nên đêm 31 tháng 10 năm 1949 ta đã diệt bảy ác ôn và tiếp nhận cả đơn vị ngụy ra hàng. Cũng có nội ứng, du kích đã diệt tháp canh Bạch Đa (An Lâm) và bắt 12 tên, thu 12 súng.

Cuối năm 1949, Nam Sách phá tề ở 41 thôn, bộ đội và du kích trong huyện đã phục kích, đánh mìn, đánh trên sông, phá ba xe và ca nô của Pháp.

Ở hai huyện Chí Linh và Đông Triều, bộ đội đã phục kích nhiều trận có kết quả. Đại đội 911 (Chí Linh) tổ chức đánh phục kích “độn thổ” nhiều trận thắng lợi ở Vĩnh Trụ và trên đường 17 (tháng 11 năm 1949). Một trung đội của Đông Triều đã phục kích một tiểu đội địch đi tuần ở Dốc Đỏ, tiêu diệt địch, thu tám súng.

Còn ở Yên Hưng, tỉnh ủy đã chỉ đạo quân dân Yên Hưng kết hợp chặt chẽ các hoạt động quân sự với phong trào đấu tranh của công nhân.

Để phá việc khai thác than ở Vàng Danh và vận chuyển than ở cảnh Điền Công, đại đội Bạch Đằng cùng du kích Yên Thanh đã phá tàu hỏa và bảy thuyền chở than, bắt một tiểu đội lính ngụy gác ở Đền Công. Du kích Lưu Kiếm đã giả làm dân thường, bất thình lình nổ súng bắt một tiểu đội địch ở Chợ Tổng. Du kích Minh Tân dùng lối đánh có nội công diệt đồn Tràng Kênh bắt 25 tên địch, thu 29 súng trường, phá một đại bác.

Cuộc đấu tranh của công nhân mỏ đá Tràng Kênh đã diễn ra khác quyết liệt. Ngày 28 tháng 6 năm 1949, 900 công nhân vận chuyển và 80 phần trăm số thợ đục đá đình công đòi địch phải trả ba thuyền và thả 24 công nhân bị chúng bắt, đồng thời phải tăng giá cước vận chuyển. Trước khí thế đấu tranh của công nhân, bốn ngày sau địch phải thả người và trả thuyền.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Bảy, 2017, 10:15:03 pm
*

Đi đôi với việc xây dựng căn cứ du kích tiến công địch trên địa bàn trong tỉnh từ đầu năm 1949, tỉnh ủy đã chú trọng chỉ đạo việc xây dựng cơ sở bí mật trong tỉnh lỵ Quảng Yên để phục vụ cho tác chiến khi có thời cơ. Đoàn cán bộ gây cơ sở gồm cán bộ của tỉnh ủy, ty công an, huyện Yên Hưng, cùng các cán bộ quân sự thuộc trung đoàn 98 và đại đội Bạch Đằng. Nhờ làm tốt công tác gây cơ sở nên cuối tháng 4 năm 1949 ta có đủ điều kiện để mở đợt tiến công vào tỉnh lỵ Quảng Yên.

(https://lh3.googleusercontent.com/1asAkaRcFFsgyxaOGNyjAv6TuQ7XgtrBrVknSstBos0rYr_iLMhEjLvPIJEKs1I3ka7UdtJtnFdLZoQnTIlv95r7yNZLhZIxHqbqQrse7A9LQs0zOPA6j0DhfKi0vFHPc0Evcp1sBNVP-hRo548OF7xAlajwwgrwq9fO3Ttrk8yik5tie1o8VrT7cAj08RsT_bAcMAttyBwVj_iPTrKAQJIrR_aG5Ol-6iCvnarW534QI_0frXFy9hJ8hA0PmcGYoaacRbIAGoJnadq9R30pwjo6agS0LBQ7bJq4aHOWYOsslxeoqJELJJuevgMks39mhhUb6cg_4NudocU1PcbkXrcZdKhGweCgL0AsSjcL24QeAmn2vGdDKkmSDcXVSb343SkODTLQizbqcGh8k_KbVF4n1cNF5b5EAGt1PTrOc__uzxhnVtfOg-L8tiBtBABqiNaLE0FUvau3RhnThZVkC7q4z257PdD6fAIl0rr-U2vncyj1V71MKxoeEIgch6yT1SPshNa_HmE1BhnqoQN00Hcpm6oifps4TMolYo9a2-bLoidRCeP9VEN9k_mBfdR3eWoJy06Swiny0zG1Pd8Xc03QZr8sPF-9L6yFniC2RAUHgrj_4pP0kEXP=w1024-h597-no)

Đại đội Bạch Đằng sau trận tiến công thị xã Quảng Yên ngày 28 tháng 4 năm 1949

Để chuẩn bị tiến công tỉnh lỵ Quảng Yên, ngày 26 tháng 4 năm 1949, tiểu đoàn 215 của trung đoàn 98 cùng bộ đội Bạch Đằng được lệnh tiến quân từ Sơn Động qua Bằng Cả, Quang La (Hoành Bồ), Đá Chông (Uông Bí) rồi theo Núi Na, Khoái Lạc về đóng quân ngay ở đồn điền Phàn Ngọc (Yên Trì) giáp đường 18.

Theo kế hoạch, tiểu đoàn 215 có nhiệm vụ đánh chiếm Đồn Cao, trại lính khố đỏ, trại Nghĩa Dõng, kho bạc; đại đội Bạch Đằng đánh kho dầu, bến tàu và cùng công an phá nhà tù. Lực lượng công an cùng cán bộ địa phương đảm nhiệm việc trừ gian và phá tề. Sau trận đánh, bộ đội sẽ rút theo đường Vũ Tướng, còn cán bộ địa phương phải tuyên truyền rộng rãi chiến thắng và đẩy mạnh phong trào tòng quân.

Tối ngày 28 tháng 4 năm 1949 (thứ bảy), du kích Văn Trì đã dẫn đường cho bộ đội lọt vào thị xã. Một số nhân mối của ta như bồi bếp, binh lính ở Đồn Cao và các mục tiêu khác đã bí mật đưa các cánh quân của ta ém sẵn vào các mục tiêu đã định.

24 giờ 20 phút ngày 28 tháng 4, quân ta nổ súng tiến công tỉnh lỵ Quảng Yên. Mọi việc diễn ra đúng kế hoạch đã định. Quân địch trong tỉnh lỵ hoàn toàn bị tê liệt ngay từ đầu. Quân ta còn làm chủ tỉnh lỵ cho đến sáng ngày 29 tháng 4 năm 1949. Trong trận này ta đã diệt 80 tên địch, làm bị thương 20 tên, giải phóng 40 người tù, thu hơn bốn vạn đồng tiền Đông Dương, phá một xe ô-tô, đốt 3.000 lít xăng dầu.

Ngày 21 tháng 10 năm 1949, giặc càn vào căn cứ của tỉnh ở Khe Cháy, Đàm Chì (Sơn Động). Phối hợp với cuộc chống càn trong căn cứ, đại đội 53 của trung đoàn 98 và đại đội Bạch Đằng đã tập kích vị trí Phúc Liệt (Yên Hưng), đánh lui quân địch tiếp viện từ Cầu Giá lên, diệt 50 tên địch, bắt sáu tên, thu 40 súng trường, chín súng máy và tiểu liên, hai tấn đạn.

Trong năm 1949, trên địa bàn Quảng Yên, trung đoàn 98 đã đánh 46 trận, quân và dân địa phương đánh 107 trận. Ta diệt và bắt 616 tên, làm bị thương 164 tên, thu nhận ba hàng binh người Pháp, thu 110 súng, một tiểu pháo 40 mi-li-mét. Về phía ta bị bắt và hy sinh 37 người, bị thương 52 người, mất bảy súng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 09:44:25 pm
*

Bước sang năm 1950, đi đôi với việc tổ chức những cuộc hành quân càn quét lớn vào địa bàn tỉnh Quảng Yên, thực dân Pháp tích cực bình định và chiếm đóng.

Để chống lại âm mưu bình định của địch, giữ vững và phát triển các khu du kích, tỉnh ủy Quảng Yên đã phát động chiến tranh nhân dân, phá tan ngụy quân, ngụy quyền ở cơ sở.

(https://lh3.googleusercontent.com/6EG5ty6pCCDGaUh7vSBJPoVTumeU9_kew2r15R4aSRr6-FT46QkseJjC2NrIOtMunMd_Qfeu73W7EWTpDfOykkbQZaMotKzeEn7VO-NTW_JhLH8QZYcOneLHBBK7PELzO5GpnpYbE0OEkV7gfFIHnLIN3Tccc6ZYiCrMoSYhS0FVxNe38_mKKl39x3mdyhVh3GVAom9Hmd0S32K9OvDMs0RrkUsNOA6V0MHcu_PkIgBkmVamP3qVUClRAYc08ZYGp1FQMaLFBhsDO1sT2RKfyihDcykEGQnjh4Z_HdunUS3_YnUl7lePxx04xUTgASgk1Wr6QPW9A8sb2T4-K4Wxe7-qUXrv1Xyl4JqeYaPlNN8sLT3agI2y-DzpPVF8KomQn5H5ecKz4GCROLKHjSqyCYMQiiYkvtCfb3WqAQ2wqPlN8TeESz-WrwfF00JP98_II8siyx7Lx9OaQDcm4rUzDKp7lNFyJr6WO9xpjkBIY4LzHHu8tfckIiC7n4bYV8Kr8mAbAnTB7SYHvyLkpE7enHb3MalojtsdSqMZs4_b_MPyGSBPvllK3ZVbze4pRoLG9TakzgkfpmEWYvYs19sybMJn8EYGpl4gcjZlpsk0nafs2gruVqC5=w563-h832-no)

Đồng chí Trần Đức Thắng, Trưởng Ban căn cứ kháng chiến chống Pháp liên tỉnh Hồng Quảng dạy du kích Đồng Vành bắn súng lục để bảo vệ căn cứ kháng chiến năm 1950

Đối tượng tác chiến của ta ở đây là bọn nghĩa dũng và bảo an.

Lực lượng bảo an thường chiếm đóng ở những xã xung yếu trong huyện, lúc đầu được tổ chức đến trung đội, do một tên Pháp chỉ huy, sau đó được thay bằng chỉ huy người Việt. Bảo an có vũ khí đầy đủ và đóng ở vị trí nhỏ, có một số tháp canh hoặc lô cốt kiên cố hơn của bọn nghĩa dõng.

Hệ thống tháp canh của đồn bảo an được đặt trong một kế hoạch tác chiến chung của từng huyện và được sự yểm trợ bằng pháo binh của thực dân Pháp.

Đầu năm 1950, để phối hợp với chiến địch Lê Hồng Phong 1, Liên khu Việt Bắc chủ trương mở chiến dịch phá tề, diệt bảo an trong toàn liên khu với các nội dung:

“Phá tan ngụy quân, ngụy quyền và âm mưu phản động hóa nhân dân của giặc.

Phối hợp với các mặt trận trong liên khu, với những nhiệm vụ mới của liên khu và để đón thời cơ lớn, thực hiện tổng phản công”(1).


(1) Chỉ thị “Nhiệm vụ quân sự năm 1950”, Liên khu ủy Việt Bắc. Lưu trữ văn phòng Liên khu Việt Bắc.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 09:45:24 pm
Thực hiện chủ trương của liên khu, tháng 2 năm 1950, tỉnh ủy Quảng Yên đã mở chiến dịch phá tề, diệt bảo an trong tháng 2 và tháng 3 năm 1950 và đợt hoạt động quân sự lấy tên là chiến dịch Kinh – Thủy (mở ở Kinh Môn và Thủy Nguyên).

Chiến dịch phá tề, diệt bảo an diễn ra khá sôi nổi trong bốn huyện ở Nam Sách, ta đã phá tề ở 50 làng, diệt một đồn của bọn lính biệt kích ở gần đường 5, thu 41 súng, 400 lựu đạn. Các trận đánh này đều có nội ứng. Ta còn đánh lui một trận càn của giặc ở Phú Điền.

Ở Yên Hưng, chỉ trong một đêm ta đã cắt hết tề ở khu Hà Nam.

Ở Sơn Động, ta phá tề ở 40 làng, giải tán 135 tên tề. Du kích quấy rối ở vị trí và phục kích ở Tuấn Đạo, Khe Phú, chống càn ở Nam Sơn, Nghĩa Phương, Mỹ An, An Lạc và cắt dây điện thoại, đào hố và đắp ụ trên đường 13.

Huyện Chí Linh có một số xã bị bọn phản động có vũ trang khống chế như Hưng Đạo, Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội. Trong chiến dịch, huyện đã phá tề ở Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội, Thái Học, Tân Dân, Đồng Lạc. Du kích đã giúp dân cất giấu thóc lúa và tài sản để chống địch cướp phá. Bộ đội và du kích nhiều lần đột nhập các tháp canh và cảnh cáo những tên phản động, đã đánh tám trận phục kích, thu 10 súng.

Đầu năm 1950, toàn tỉnh Quảng Yên có 287 làng có tề (trong đó có 83 làng có bọn nghĩa dõng vũ trang). Qua một tháng tiến hành chiến dịch phá tề, ta đã phá tề ở 109 làng, giết 249 tên tề, dõng phản động, đánh 29 đồn bảo an, diệt 39 tên địch, bắt 1.150 tên, thu nhận 31 tên ra hàng.

Chiến dịch Kinh – Thủy được mở vào tháng 3 năm 1950. Lực lượng chiến dịch gồm tiểu đoàn Bạch Đằng, bộ đội các huyện Yên Hưng, Kinh Môn và du kích Yên Hưng, Kinh Môn, Thủy Nguyên. Đại đội 906 của tiểu đoàn có nhiệm vụ hoạt động ở Kinh Môn, còn đại đội 908 của tiểu đoàn làm nhiêm vụ ở Thủy Nguyên.

Ở Kinh Môn, ta đã phá tề ở một số nơi, diệt năm bốt và tháp canh bằng nội ứng, đánh địch đi càn ở Nhị Chiểu và An Sinh. Đại đội 908 vào tới Rãng Động (Yên Hưng) giữa lúc 1.025 công nhân mỏ đá Tràng Kênh phá các lán thợ, đốt và lấy bốn thuyền và đồng loạt bỏ về nhà. Trong 20 ngày mỏ đá tê liệt, nhà máy xi măng Hải Phòng ngừng hoạt động, giặc Pháp đã mở nhiều cuộc càn vào Tràng Kênh, Gia Đước, Rãng Động để tìm và bắt công nhân trở lại làm việc(1).

Quân ta đã đánh chặn địch ở núi Chùa Trung diệt một số tên, thu súng. Nhưng ngay sau đó quân địch đã tập trung quân vây chặt đại đội. Cán bộ chỉ huy đại đội 908 ra lệnh cho bộ đội tập trung hỏa lực bắn cháy một số ca nô để mở đường vượt sông sang Ánh Tái (Kinh Môn).

Hai đại đội của tỉnh đã cùng quân và dân huyện Kinh Môn, Thủy Nguyên đánh 14 trận, phá tan tháp canh, diệt và bắt 154 lính địch, diệt và bắt 230 tên dõng, bảo an và phản động, thu 50 súng, phá năm xe và 175 mét đường, bao vây hai đồn Thanh Lãng và Phù Liệt (Thủy Nguyên).

Chiến dịch Kinh – Thủy đang phát triển thuận lợi thì ngày 17 tháng 4 năm 1950 địch tập trung 4.000 quân mở cuộc càn lớn và các cứ địa của tỉnh ở Mai Sưu, Cổ Rồng, Vy Loại. Tiểu đoàn Bạch Đằng đang chiến đấu trong vùng địch được lệnh tập trung về rừng để chống càn.

Tỉnh ủy chỉ thị cho các huyện hậu địch hoạt động mạnh để phối hợp với cuộc chống càn ở rừng và phân tích rõ: sau khi càn rừng, địch sẽ về càn địch hậu, do đó diệt quân địch trong càn ở rừng chính là cách tốt nhất để bảo vệ phong trào ở vùng sau lưng địch.

Cũng trong thời gian này (từ ngày 26 tháng 4 năm 1950 đến ngày 1 tháng 5 năm 1950), đại đội 917 (Sơn Động) cùng dân quân du kích đánh địch ở Đèo Gia, Đối Sơn, Trù Hựu, Cầu Giang, diệt 19 tên. Các đại đội 911 (Chí Linh), 913 (Đông Triều) đã đưa hai phần ba lực lượng ra hậu địch, cùng các xã ven đường 18 đánh du kích để phối hợp chống càn với căn cứ. Xã Nguyễn Huệ đã tổ chức nhiều trận đánh mìn và phá tề ở bên đường 18.

Ngày 2 tháng 5 năm 1950, tiểu đoàn Bạch Đằng từ hậu địch về đã khẩn trương tổ chức đánh chặn địch ở Chân Hồ, diệt 40 tên.

Qua cuộc chống càn, quân ta đã diệt 511 tên địch (có năm sĩ quan).

Sau chiến dịch chống càn, tỉnh Quảng Yên đã thành lập ban cán sự căn cứ địa để giúp tỉnh chỉ đạo việc xây dựng, củng cố, bảo vệ căn cứ, đồng thời tổ chức việc phối hợp chiến đấu với các huyện Sơn Động, Chí Linh, Đông Triều, Yên Hưng cũng như các địa phương bạn đến hoạt động ở vùng rừng núi phía bắc đường 18 như Hải Phòng, Đặc khu Hồng Gai, Hải Hưng. Hai huyện Chí Linh, Yên Hưng đã củng cố dân quân du kích ở các xã ven căn cứ như Bác An, Hoàng Hoa Thám, Thượng Yên Công.

Đồng thời ban chỉ huy tỉnh đội đã lệnh cho các lực lượng vũ trang tăng cường hoạt động trên đương 18 để ngăn quân cơ động của địch đi càn quét. Tháng 8 năm 1950, một đại đội của tỉnh và đại đội 915 (Yên Hưng) đã phục kích trên đường 18 diệt một số địch và thu tám súng.


(1) Thực hiện chủ trương của tỉnh ủy, tháng 1 năm 1950, 1.025 công nhân mỏ đá Tràng Kênh phá các lán thợ, đốt và lấy bốn thuyền của địch đồng loạt bỏ về nhà.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 09:51:54 pm
*

Để đánh bại âm mưu xóa các khu du kích của ta ở địch hậu, năm 1950 tỉnh ủy Quảng Yên đã chỉ đạo các địa phương tích cực mở rộng các khu du kích để tạo thành thế chiến đấu liên hoàn giữa xã với xã, huyện này với huyện khác.

Thực hiện chủ trương của tỉnh, huyện ủy Chí Linh đã đưa đại đội 911 về phối hợp với dân quân du kích tiến hành công tác vũ trang tuyên truyền và vận động lực lượng dõng, bảo an trong huyện, đồng thời tổ chức cho nhân dân năm thôn bị giặc dồn làng đấu tranh đòi về làng cũ. Chí Linh phát triển cách đánh phục kích và chống càn ở ngoài các làng xã, vừa để diệt địch vừa giữ bí mật, bảo toàn lực lượng ta hoạt động trong vùng tạm bị địch chiếm. Do vậy một số xã có khu du kích của Chí Linh phong trào kháng chiến vẫn được giữ vững.

Nam Sách là một huyện đồng trũng, có sông ngòi bao bọc xung quanh. Do vậy việc bảo vệ vùng du kích của Nam Sách đã tạo nên thế liên hoàn giữa các xã trong cùng khu vực và với huyện bạn (như huyện Chí Linh và huyện Gia Lương của Bắc Ninh) trở nên hết sức quan trọng. Huyện đã phát triển công tác vận động nghĩa dũng, bảo an và đã gây được nhiều cơ sở trong các lực lượng này, nên đã tạo thuận lợi cho cán bộ bám dân, bám đất, đồng thời tạo điều kiện để ta có thể đánh nội ứng khi cần.

Tháng 4 năm 1950, xã Phú Điền đã chống càn hai trận thắng lợi (xã này cùng với Tân Dân, Đồng Lạc, An Lâm hợp thành bốn xã của vùng du kích ở Nam Sách).

Còn ở huyện Kinh Môn (huyện duy nhất ở đồng bằng Quảng Yên có căn cứ du kích), từ căn cứ Nhị Chiểu, huyện luôn giữ được thế liên hoàn với các xã du kích ở hai bên dãy núi An Phụ.

Đông Triều là huyện trải dài theo đường 18. Huyện có hai khu du kích kiên cường là Nguyễn Huệ và Yên Đức. Năm 1950, địch càn Nguyễn Huệ 10 ngày liên và càn Yên Đức trong bảy ngày liền, nhưng không xóa nổi hai khu du kích này.

Đối với huyện Yên Hưng, huyện đã bố trí hai trung đội của đại đội 915 ở Lưu Kiếm – Minh Tân và vùng Ninh Thành – Tiền An. Vùng Lưu Kiếm có dân quân du kích mạnh, có nhiều kinh nghiệm làm công tác ngụy vận, lại có địa hình thuận lợi nên tạo được thế liên hoàn trong khu vực và với các huyện bạn.

Tháng 9 năm 1950, khi quân ta chuẩn bị mở chiến dịch Biên Giới (chiến dịch Lê Hồng Phong 2) thì địch cũng tổ chức nhiều cuộc càn lớn vào căn cứ kháng chiến của ta. Ngày 6 tháng 9 năm 1950, thực dân Pháp mở chiến dịch càn quét Giê-ra-ni-om (Giéranium) với 4.000 quân gồm cả Âu – Phi và thổ phỉ vào Mai Sưu, Đìa Đô, Tân Mộc, Hồ Lao, Quán Vuông, Dốc Sắt, Đèo Voi, Đèo Nhung, Khe Chè, Ngoại Vân, Chân Hồ, Vua Bà, Năm Mẫu, Cây Châm. Đây là cuộc càn lớn của địch cùng một lúc vào cả căn cứ của tỉnh và của huyện trong vùng rừng núi.

Để đối phó với địch, quân ta đã tổ chức một lực lượng chiến đấu bao gồm tiểu đoàn Bạch Đằng, đại đội 917 (Sơn Động), đại đội 913 (Đông Triều), đại đội 915 (Yên Hưng) chặn đánh địch ở phía nam căn cứ (Lán Giấy, Đèo Voi) và ở trung tâm căn cứ (Mai Sưu, Đìa Đô, Chồi, Đồng Vành). Tới ngày 18 tháng 9 năm 1950, quân địch đã phải rút khỏi vùng căn cứ địa của ta sau khi bị diệt 196 tên và bị thương 121 tên. Các cơ quan lãnh đạo của ta được bảo vệ an toàn.

Sau khi càn vào căn cứ địa của ta ở vùng rừng núi, thực dân Pháp lại mở tiếp chiến dịch càn quét Ca-ni-nơ (Carine) với 4.500 quân vào Kinh môn (từ ngày 19 tháng 9 năm 1950 đến 29 tháng 9 năm 1950). Địch bao vây khu Nhị Chiểu. Quân ta gồm hàng ngàn người trong đó có cán bộ tỉnh Quảng Yên, cán bộ các huyện của Hải Phòng – Kiến An cùng nhiều tân binh đã chiến đấu để phá vây và rút về Thanh Hà, Tứ Kỳ an toàn.

Trong phong trào chiến tranh du kích của tỉnh Quảng Yên vào cuối năm 1950 đã nổi lên tấm gương chiến đấu kiên cường của khu du kích Yên Đức (Đông Triều).

Ngày 28 tháng 11 năm 1950, 600 tên giặc có đại bác và tàu chiến yểm hộ đã tiến công xã Yên Đức. Các mũi tiến công của giặc đã bị du kích và nhân dân các thôn Chí Linh, Dương Để chặn đánh. Nhưng do tương quan lực lượng quá chênh lệch, cuối cùng cán bộ, đảng viên, dân quân du kích và 200 dân đã rút vào hang đá. Núi Canh. Du kích trong hang đã đánh bật nhiều đợt xung phong ác liệt của giặc.

Chi bộ xã Yên Đức chủ trương đưa dân ra ngoài nhưng chỉ thoát được 20 người vì cửa hang bị địch vây chặt.

Trong các trận đánh của những ngày tiếp theo, mặc dù giặc dùng pháo bắn thẳng vào cửa hang, nhưng cán bộ, đảng viên du kích đã dũng cảm chiến đấu ở phía ngoài để bảo vệ nhân dân.

Đến ngày 3 tháng 12 năm 1950 trong hang hết gạo, hết đạn, hết nước uống, du kích phải lăn đá để diệt địch.

Bọn giặc dã man đã vây chặt các cửa hang rồi cho lính dỡ nhà dân lấy rơm rạ, tre gỗ chất đống để đốt và hun khói vào hang. Chúng dùng rạ ướt vít các khe đá, không cho khói thoát ra ngoài. Vừa hun khói, giặc vừa đánh mìn, giật bộc phá và ném lựu đạn vào hang.

Trước hành động tàn bạo của giặc, từ trong hang vẫn vọng ra những lời hô “Đả đảo thực dân Pháp” và những bài ca cách mạng cho đến lúc cả 76 người (trong đó có hai huyện ủy viên) bị sặc khói hy sinh. Trong trận càn này, địch còn bắt 22 người và đốt 122 nhà. Tội ác cúa giặc Pháp trong ngày 3 tháng 12 năm 1950 đã để lại trong lòng nhân dân Yên Đức cũng như nhân dân Đông Triều một mối căm thù sâu sắc không bao giờ quên. Lòng căm thù đó đã tạo nên sức mạnh động viên mỗi người dân ở đây hăng hái giết giặc lập công để trả thù cho những người đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng của dân tộc.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 09:52:46 pm
*

Vào giữa năm 1950, hội nghị địch vận toàn quốc họp để đúc kết kinh nghiệm của các địa phương và bàn phương hướng, nhiệm vụ công tác địch vận trong giai đoạn mới.

Ngày 29 tháng 8 năm 1950, theo nghị quyết của hội nghị Liên khu ủy Việt Bắc, tỉnh Quảng Yên có nhiệm vụ:

- Kiện toàn tổ chức chỉ đạo địch vận.

- Chú trọng phá bảo an, tuần tổng, đồng thời phá ngụy binh.

- Đẩy mạnh việc vận động nguy binh và gia đình họ(1).

Thực hiện nghị quyết của Liên khu ủy Việt Bắc về công tác địch vận, trong những tháng cuối năm 1950, tỉnh Quảng Yên đã tổ chức Ban địch vận thống nhất và phát động một đợt vận đông binh lính địch.

Cán bộ địch vận của tỉnh cùng với nhân dân đã vận động được phong trào đấu tranh trong binh lính Âu – Phi trên các vị trí ở dọc đường 18. Ở Đồn Cao (Đông Triều) lính Âu – Phi đòi hồi hương, ở vị trí Sui (Chí Linh) binh lính không chịu đi tuần ban đêm, ở vị trí Phả Lại họ từ chối việc hành quân lên biên giới.

Công tác vận động lính Âu – Phi của Quảng Yên và của các tỉnh khác nằm trong chương trình phối hợp hành động với phong trào chống chiến tranh của nhân dân Pháp từ ngày 20 tháng 11 năm 1930 đến ngày 15 tháng 1 năm 1951.

Việc vận động hương dũng, tổng dũng, bảo an của tỉnh Quảng Yên được tiến hành có kết quả tốt. Từng huyện, xã đã có cơ sở trong hương dũng, tổng dũng, bảo an ở các tháp canh và đồn đóng trên địa phương mình.

Nam Sách là huyện làm tốt công tác vận động hương dũng, bảo an. Nhưng qua phong trào cũng nảy sinh một số vấn đề phức tạp, là việc bố trí cho hàng loạt cán bộ, đảng viên giả đầu hàng giặc để tạo điều kiện bí mật nắm lấy dõng và bảo an. Vấn đề này đã được tỉnh ủy chỉ đạo, uốn nắn kịp thời, nên đã hạn chế được mặt tiêu cực, đưa phong trào kháng chiến của huyện lên những bước phát triển mới.

Trong công tác vận động dõng và bảo an năm 1950, ta đã vạch mặt và cô lập một số ngụy binh phản động và bọn đội lốt Thiên chúa giáo được giặc đưa về để làm nóng cốt trong lực lượng dõng và bảo an. Bộ đội địa phương và du kích đã chú trọng trừng trị bọn phản động này và đã ngăn ngừa được tác hại do chúng gây nên

*

Năm 1950, địch đánh phá và phong tỏa vùng căn cứ của ta rất quyết liệt. Đời sống của nhân dân huyện Sơn Động vô cùng căng thẳng vì thiếu gạo và hàng hóa, giá cả tăng vọt, đồng bạc tài chính bị sụt giá. Trước tình hình đó, tỉnh ủy chủ trương:

- Thực hiện việc hỗ trợ nhau giữa căn cứ địa và hậu địch cà về quân sự và kinh tế. Phải đẩy mạnh tác chiến ở sau lưng địch và đánh phá giao thông để phá thế bao vây, chia cắt của địch đối với hai vùng trong tỉnh.

- Chú trọng việc bồi dưỡng sức dân, giúp dân sản xuất làm tốt việc bảo vệ sản xuất để thực hiện được việc huy động sức người, sức của cho kháng chiến.

Bộ đội và dân quân du kích ngoài việc tác chiến còn phân tán để bảo vệ mùa màng, chống địch cướp phá, bảo vệ việc vận chuyển lương thực, hàng hóa qua đường 18. Các xã ở ven đường đã đấu tranh bền bỉ để tìm cách chống địch dồn làng, hoặc đòi được trở về làng cũ để thu hẹp vành đai trắng bên tuyến chia cắt rừng núi và đồng bằng của địch.

Tháng 5 năm 1950, tỉnh Quảng Yên mở hội nghị rút kinh nghiệm về việc tạm cấp ruộng đất và thực hiện sắc lệnh giảm tô.

Sau hội nghị, ta đã triển khai việc tạm cấp ruộng đất trong căn cứ. Đến tháng 8 năm 1951, tỉnh Quảng Yên đã tạm cấp ruộng đất ở 18 đồn điền cho 6.555 dân cày nghèo.


(1) Trích nghị quyết của hội nghị Liên khu ủy Việt Bác, tháng 8 năm 1950. Tài liệu lưu trữ của văn phòng Liên khu Việt Bắc.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 09:54:31 pm
Trong năm 1951, Chính phủ đã giúp nhân dân 1.666.250 đồng, 40.235 ki-lô-gam thóc, 858 lưỡi và diệp cày, 165 trâu và vận động nhân dân giúp nhau 15.320 ki-lô-gam thóc, 128 trâu. Tỉnh còn huy động 35.855 công chữa và đắp được 34.900 mét khối đê. Nhân dân ở vùng mới giải phóng thuộc Sơn Động đã được miễn thuế.

Tỉnh đã mở hội nghị Chiến sĩ thi đua sản xuất để động viên phong trào nêu gương các điển hình tiên tiến và phổ biến kinh nghiệm sản xuất. Phong trào vỡ hoang được phát động sôi nổi ở Sơn Động, Hà Sen (Cát Hải) và tới cả xã gần địch như An Lạc. Hàng ngàn mẫu đất hoang được khai khẩn.

Để lãnh đạo nhân dân chiến đấu và xây dựng căn cứ, huyện ủy Sơn Động đã chủ trương chú trọng công tác xây dựng Đảng. Đến năm 1950 ở Sơn Động có 17 chi bộ ở xã và 561 đảng viên, trong đó có 38 đảng viên là nữ, 90 đồng chí là người Hoa.

(https://lh3.googleusercontent.com/bSP5AD0aZnuWpGzBlGjJWZ0GY9KtxZkdr11I11oOjWplHN_eKVp1OnrZOADIDgPI2B0BeoVyLF9s8KhsM8TwfMtdVC4d0iDPk1Iz_--SN_0QckRlV9evRluXriJnmtUaellZtiTKjgWZZTl4Ru_fQg7yOIoaqxIecrFzp9xOq0QSjxhBQnhZVSG33LcJbnPSvDMUDD9Nqg2PV2-YvX23Amd7cPrlydjZIoajgJiFaCIl2eY4DjNUKHfDTPd-U-cU5o9_xLymRh4RBcvrgvzJlG_KRTOrM5XsAMI9pG9Uwz6dR-Xs8sMedyTOZRb2Ibr8XVRYytWA8uIM_6ETMUXX2pVNHyCRZMZGZ1Edki4ZnkDpD7Gi-iW_tku4AgzSYDh2VGQ5uL0OTl0RZ6RmlhRS1TDa3cW26HdwZaKvQw069dh7OcbZzApYZXFAndwCSM2IdGXQebc_uxFgay84QMQL571jKEMZ4umbQJXy-dxoqwfRup22to57yF-qGQryuFVW0dp8lVpgADJnKjlqLTZOOavM2jEfAIStH5y-Ua4K8QZyTMEzr0Smr28B7TXVjE05QTfvk0jTE-L5hjPExqdkjgwdGR1TAmeQ0RGCiWBpDAgdAJLXNsXam33G=w806-h768-no)

Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Yên trong kháng chiến ở nhà sàn Sơn Động 1951

Trên cơ sở công tác xây dựng và củng cố căn cứ địa có kết quả, nhân dân Quảng Yên đã làm tốt việc đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến.

Năm 1951, tỉnh đã vũ trang tuyên truyền vào vùng tạm bị địch chiếm, phục hồi được cơ sở ở năm xã, 32 thôn, đồng thời làm tốt công tác thuế và tạm vay ở những nơi này.

Trong vụ thuế nông nghiệp năm 1951, tỉnh Quảng Yên đứng đầu Liên khu Việt Bắc về thu thuế nông nghiệp. Toàn tỉnh đã thu được 1.026,5 tấn thóc, 48 tấn gạo, 3.687.100 đồng tiền tài chính và 114.374 đồng tiền Đông Dương.

Cũng trong một thời gian ngắn, tỉnh Quảng Yên đã tạm vay được 866,6 tấn thóc, năm tấn ngô, vượt mức của Liên khu Việt Bắc giao là 268 tấn thóc.

Năm 1951, lực lượng vũ trang Quảng Yên cũng được kiện toàn cả về tổ chức và chất lượng để đủ sức chỉ đạo cuộc chiến tranh nhân dân ở địa phương, đảm bảo cho Đảng trực tiếp lãnh đạo công tác quân sự và lực lượng vũ trang.

Hầu hết bí thư Đảng từ xã đến tỉnh là chính trị viên của cơ quan quân sự địa phương các cấp. Các xã đều có chi bộ(1). Trong tỉnh đội, đồng chí bí thư tỉnh ủy Trịnh Nguyên giữ chức chính trị viên tỉnh đội, đồng chí Nguyễn Anh Vũ tỉnh ủy viên giữ chức tỉnh đội trưởng, đồng chí Phùng Khắc chính trị viên phó, đồng chí Tăng Văn Hội chính trị viên tiểu đoàn của tỉnh.

Trong thời gian này các cơ quan huyện đội cũng được kiện toàn với quân số khoảng 40 người. Huyện đội có nhiệm vụ làm tham mưu cho cấp ủy trong việc chỉ đạo chiến tranh nhân dân, chỉ đạo dân quân du kích và cũng là cơ quan chỉ huy của đại đội huyện. Thường là một ủy viên thường vụ huyện ủy làm huyện đội trưởng và kiêm đại đội trưởng đại đội huyện.

Đến giữa năm 1951 ở xã có ban chỉ huy xã đội, ban chỉ huy thôn đội để chỉ huy du kích xã và dân quân.

Trong xã đội có hai cấp ủy viên. Tỉnh ủy Quảng Yên quyết định mỗi xã phải có 100 phần trăm số đảng viên vào dân quân, 50 phần trăm số đảng viên là du kích. Xã Nguyễn Huệ (Đông Triều) đã có 90 trong số 110 đảng viên vào du kích.

Cán bộ làm công tác quân sự địa phương và chỉ huy chiến đấu đã được đào tạo và bồi dưỡng theo kế hoạch. Nhiều cán bộ đã tốt nghiệp ở trường lục quân trung học Trần Quốc Tuấn được bổ sung cho tỉnh đội. Cuối năm 1951, Bộ Tổng Tham mưu đã điều hàng trăm cán bộ từ cấp tiểu đội đến tiểu đoàn được đào tạo từ trường thủy quân Sông Lô về cho Quảng Yên, Hải Ninh, Hồng Gai để chuẩn bị phát động đánh du kích trên biển. Số cán bộ này sau đó đã được chuyển hẳn về các tỉnh đội, khu đội.

Các cán bộ quân sự của tỉnh Quảng Yên được phân cấp và luân phiên đi huấn luyện. Tỉnh có trường quân chính Bạch Đằng làm nhiệm vụ đào tạo tiểu đội trưởng bộ đội địa phương và huấn luyện cán bộ thôn đội, xã đội.


(1) Đến tháng 1 năm 1950, số đảng viên ở Quảng Yên là 8.338 người.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 09:56:44 pm
*

Tháng 4 năm 1951 (sau chiến dịch Hoàng Hoa Thám), địch tiến hành một cuộc bình định ác liệt ở vùng tạm bị chiếm. Địch gấp rút xây dựng phòng tuyến boong-ke và tuyến vài đai trắng, để chia cắt vùng rừng núi và đồng bằng của tỉnh. Đồng thời chúng còn xây dựng công sự boong-ke ở nhiều nơi trong hậu địch. Đến tháng 10 năm 1951 trên phòng tuyến Đờ Lát địch đã xây dựng 80 vị trí với khoảng 800 lô cốt boong-ke bao quanh đồng bằng Bắc Bộ chạy từ Yên Lập – Đông Triều qua Bắc Giang, Vĩnh Yên, Sơn Tây, Ninh Bình.

Các đội biệt kích thường càn sục bất ngờ và các thôn, xã, kết hợp với mạng lưới chỉ điểm tại chỗ để bắt cán bộ, phá cơ sở. Chúng còn giết người và bêu đầu để dọa nạt quần chúng. Chỉ trong ba tháng, giặc giết 300 trâu bò ở huyện Chí Linh, cướp một nửa số trâu bò của Kinh Môn. Các xe cóc (xe bọc thép lội nước) chà xát từng cánh đồng của Nam Sách. Chúng bắt dân tập trung thóc gạo lên đồn và hàng ngày phải lên lĩnh về để nấu ăn.

Qua các cuộc càn, trong tháng 9 năm 1951 địch bắt 3.000 thanh niên để đưa vào lính.

Năm 1951 toàn tỉnh Quảng Yên có 213 vị trí chiếm đóng của địch (có hơn 80 vị trí Pháp) và 190 tháp canh. Huyện Nam Sách có 70 tháp canh, xã nào cũng có tháp canh. Các huyện Chí Linh, Đông Triều có một phần tư số thôn, huyện Kinh Môn có hai phần năm số thôn có tháp canh, huyện Yên Hưng có 42 tháp canh.

Sau khi xây dựng hệ thống boong-ke và lập xong hệ thống tháp canh vào cuối năm 1951, trên địa bàn tỉnh Quảng Yên địch rút từ bốn tiểu đoàn cơ động xuống một tiểu đoàn. Địch cũng bố trí thêm một số tiểu đoàn pháo cơ động và các thủy đội tàu chiến.

Trước những hành động mới của địch, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân đã có hiện tượng bi quan, dao động. để lãnh đạo toàn dân tiến hành kháng chiến thắng lợi, đại hội đại biểu Đảng bộ Quảng Yên lần thứ tư đã họp và xác định: “Thời kỳ này đang ở giai đoạn quyết liệt. Các cán bộ xã, huyện cần nắm chắc phương châm “kháng chiến trên hết, quân sự trên hết” để đẩy mạnh chiến tranh du kích. Như vậy mới đẩy mạnh được các mặt công tác khác”. Thường vụ huyện ủy thường xuyên cùng ngành quân sự kiểm điểm, đề ra phương châm hoạt động, kế hoạch xây dựng. Các cấp ủy viên khác phải theo dõi tình hình quân sự địa phương, họp hội nghị quân sự để học tập chỉ đạo chiến tranh và phong trào du kích. Đánh thông vào tư tưởng ngại quân sự, nhất là sau chiến dịch. Các đồng chí bí thư các cấp phải chịu trách nhiệm về quân sự trước cấp ủy. Các đồng chí được cử làm công tác đảng trong đơn vị phải thực tế đi sâu vào công tác chuyên môn. Các chi bộ cần chú trọng đến các đội du kích xã và phải coi đó là công cụ của mình để bảo toàn cho cơ sở chính trị(1).

Về mặt quân sự, nghị quyết đại hội đã nêu rõ nhiệm vụ của các địa phương:

- Nơi ta đang gây cơ sở hoặc cơ sở quá yếu như Nam Sách, Yên Hưng, Cát Hải thì phân tán bộ đội địa phương để dìu dắt dân quân du kích và trong hoạt động phải nặng về hình thức vũ trang tuyên truyền hơn tác chiến.

- Với khu du kích mạnh thì mạnh dạn tác chiến, phải mở rộng khu du kích. Nhiệm vụ của khu du kích là phải luôn luôn tìm cách mở rộng nếu không sẽ bị bao vây, tiêu diệt.

- Các đại đội địa phương phải phá hệ thống tháp canh và tích cực chống càn bảo vệ dân, đồng thời chú trọng phục kích quân địch(2).

Trong tháng 6, tháng 7 năm 1951, đại hội đại biểu đảng bộ các cấp của tỉnh Quảng Yên đã họp. Qua đấu tranh phê bình và tự phê bình, đã đẩy lui khuynh hướng bi quan nảy nở trong phong trào và xác định rõ quyết tâm, phương hướng mới cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh.

Huyện Kinh Môn đã đưa đại đội bộ đội địa phương huyện tới cùng các xã An Sinh, Hiệp Sơn để củng cố khu du kích, phát triển cơ sở chính trị về phía Tam Lưu. Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1951 quân ta đã chống càn và phục kích bốn trận ở Nhị Chiểu, An Sinh và Châu Bộ (Quang Trung), diệt ba tháp canh. Huyện đội trưởng kiêm đại đội trưởng Nguyễn Lân cùng đơn vị tác chiến nhiều trận, có hiệu suất chiến đấu khá cao.

Ở Yên Hưng, huyện ủy và huyện đội đã cử cán bộ lãnh đạo và chỉ đạo phong trào ở hai vùng: Minh Tân, Lưu Kiếm và Minh Thành, Tiền An. Ở mỗi vùng đã có một trung đội của đại đội 915 làm nòng cốt cho phong trào chiến tranh du kích.

Ở Minh Tân, Lưu Kiếm, nhân dân đã đấu tranh chống dịch bắt lính, thu thuế, cướp đất của nhân dân để xây đồn. Ở vùng có hàng chục tháp canh và nhiều đồn giặc khống chế, nhân dân ở đây vẫn hăng hái góp thuế nông nghiệp và làm công tác ngụy vận. Ở vùng Minh Tân, Lưu Kiếm có đồn ngụy binh mà cả trung đội địch đều bắt liên lạc với kháng chiến.

Từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1951, đại đội 915 cùng tiểu đoàn Bạch Đằng và dân quân du kích đã đánh bảy trận trên đường 18, đã gỡ mìn và bảo đảm an toàn đường dây chuyển thuế nông nghiệp vào rừng.

Thực hiện chủ trương của huyện ủy phá khu chính trị Biểu Nghi và trừ tên quan ba ác ôn Rô-manh, từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1951 trung đội 2 của đại đội 915 đã đánh bốn trận vào bọn dõng Rô-manh ở hang đá Yên Cư.


(1), (2) Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ Quảng Yên lần thứ tư (tháng 6 năm 1951). Lưu trữ của Khu ủy Hồng Quảng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 09:57:42 pm
Trước sự tiến công liên tục của ta, tiểu khu chính trị Biểu Nghi tan rã. Ta đã gây dựng được hàng trăm cơ sở trong các tổ chức do địch lập ra như “Thanh niên võ trang”, “Thanh niên chống cộng” ở Yên Hưng.

Tháng 6 năm 1951, huyện đội Đông Triều đã điều đại đội 913 về cùng du kích Nguyễn Huệ tổ chức đánh địch. Để đánh bại thủ đoạn dùng biệt kích phá cơ sở và khủng bố dân, bộ đội và du kích đã tổ chức các trận phục kích ngay ở cổng đồn bốt và nổ súng tiêu diệt bọn địch khi chúng vừa mới ra khỏi đồn. Qua mấy trận đánh của ta, bọn biệt kích không dám sục vào Nguyễn Huệ như trước.

Bộ đội và du kích còn giúp dân về làng cũ và sản xuất trên vành đai trắng. Nhân dân đào hầm tránh đại bác trên đồng, du kích gỡ mìn, phá dây thép gai, bảo đảm cho nhân dân yên tâm sản xuất. Mọi người tổ chức đổi công và giúp nhau trong sản xuất. Bộ đội cũng phân tán để bảo vệ dân gặt mùa.

Tháng 9, tháng 10 năm 1951, tiểu đoàn Bạch Đằng, đại đội 913 và dân quân du kích đã đánh đồn Trạo Hà (Đức Chính) và diệt ba tháp canh trên đường 18, chống càn ở Tràng Bảng. Huyện ủy Chí Linh đã lãnh đạo nhân dân phục hồi diện tích sản xuất trên vanh đài trắng và vận động nhân dân trở về làng cũ sản xuất. Đại đội 911 giúp đỡ xã Lê Lợi củng cố dân quân du kích. Làng chiến đấu Lê Lợi được phục hồi.

Trong một trận chống càn ở Cổ Vịt, ta đã thu được ba tiểu liên và súng cối.

Tháng 6 năm 1951, du kích Thái Học ở Chí Minh tổ chức đánh mìn và bắn tỉa bao vây vị trí Thiên. Cuối năm 1951 bốn xã du kích Văn Đức, An Lạc, Tân Dân, Đồng Lạc được phục hồi và xây dựng thêm hai xã du kích mới là Thái Học, Chí Minh.

Nam Sách là huyện đồng bằng bị bao vây bốn mặt bởi sông ngòi và các vị trí của địch. Sau chiến dịch đường 18, địch quay về chà xát mạnh. Tháp canh mọc lên hàng loạt. Cơ quan lãnh đạo và bộ đội huyện chạy sang ở nhờ đất Gia Lương (Bắc Ninh). Tháng 8 năm 1951 huyện đội tổ chức các đội phục hồi cơ sở bám dân cùng đại đội 921 và một số du kích về bám đất.

Ta tổ chức nhiều cuộc vũ trang tuyên truyền ở các thôn xã có tháp canh, nghĩa dũng và cả các làng có lực lượng phản động. Từ các xã Cộng Hòa, Đồng Lạc, Minh Tân, phong trào lan ra nhiều xã khác. Qua phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Sách trong năm 1951 đã xuất hiện tấm gương kiên cường bất khuất của chị Mạc Thị Bưởi. Cũng như bao nơi khác trong huyện, xã Tân Hưng, quê hương chị đã bị bọn dõng đóng tháp canh trong làng để khống chế nhân dân. Với nhiều cương vị khác như chi ủy viên, bí thư phụ nữ xã, tổ trưởng du kích bí mật, giao thông viên, chị Bưởi cùng các đồng chí của mình vẫn không rời đất, không rời nhân dân.

Ngày 18 tháng 4 năm 1951 chị Bưởi chẳng may sa vào tay tay giặc, bọn giặc tra tấn chị rất dã man. Biết mình không thể thoát khỏi tay bọc ác ôn khát máu, chị Bưởi đã bảo bọn giặc khiêng mình về xã để gặp bà con lần cuối cùng. Tưởng chị sẽ khai ra nơi du kích chôn giấu vũ khí, giặc đã đưa chị về thôn. Trước mặt bà con, chị dặn dò mọi người ở lại hãy giữ vững lòng tin vào kháng chiến. Không moi được bí mật từ lời khai của chị, tên Cầu đồn trưởng đã điên cuồng ra lệnh cắt cổ chị. Người nữ đảng viên, du kích kiên cường của quê hương Nam Sách đã anh dũng hy sinh giữ vững lời thề sắt son của mình khi vào Đảng: “Suốt đời hy sinh cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, cho sự nghiệp giải phóng nhân dân”(1).

Trong năm 1951, căn cứ du kích Hà Sen (Cát Hải) vẫn vững vàng trên mặt biển. Ở đây mọi người dân đều vào đoàn thể và tự giác tham gia các công việc như canh gác, tiếp tế, tuyền tin, tải thương, giúp đỡ du kích. Các đội nhi đồng cứu quốc được thành lập. Em nhỏ thì truyền tin hoặc chạy công văn ban ngày, các em lớn đi ban đêm.

Ngoài những trạm gác chính và nơi bố trí trên con đường chung của xã, mỗi khi giặc tiến vào áng nào, khoảnh nào thì dân quân du kích và nhân dân chịu trách nhiệm chặn giặc ở đó. Các bẫy đá được các xã chuẩn bị trên từng chặng của con đường độc đi suốt đảo.

Ngày 19 tháng 8 năm 1951, một toán giặc vào Đồng Tép. Khi sa vào bẫy đá, chúng đã hốt hoảng tháo chạy, để lại một tên bị bắt và một súng. Từ đó cho tới cuối năm 1951 bọn địch không dám lùng sục, càn quét khu căn cứ này nữa.


(1) Ngày 2 tháng 9 năm 1955, chị Mạc Thị Bưởi đã được Quốc hội, Chính phủ tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 09:59:39 pm
CHƯƠNG BỐN

TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG
TOÀN DÂN TOÀN DIỆN, CỦNG CỐ VÀ MỞ RỘNG CĂN CỨ KHÁNG CHIẾN,
THU HẸP ĐỊA BÀN CHIẾM ĐÓNG CỦA ĐỊCH, GIÀNH QUYỀN CHỦ ĐỘNG,
TẠO THÉ ĐI LÊN CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN (1952-1953)

1. Phối hợp với chiến dịch Hòa Bình, thọc sâu vào vùng sau lưng địch chiến đấu mở rộng địa bàn hoạt động và phá âm mưu xây dựng lực lượng vũ trang phản động của địch.

Sau khi bị thất bại ở biên giới trong thu – đông 1950, giặc Pháp đã mất quyền chủ động chiến lược trên chiến trường. Được Mỹ tiếp sức, chúng cay cú theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược, kiên quyết giữ Đông Dương, tiếp tục thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, tập trung lực lượng phòng ngự và bình định đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời ra sức tăng cường về mọi mặt, chuẩn bị điều kiện để phản công tiêu diệt bộ đội chủ lực ta, giành lại quyền chủ động chiến lược đã mất.

Được Mỹ viện trợ, sau hơn một năm ráo riết tập trung xây dựng các lực lượng cơ động chiến lược và xây dựng phòng tuyến công sự boong-ke bao quanh đồng bằng Bắc Bộ, củng cố thế phòng ngự, giặc Pháp chủ trương phản công để giành lại quyền chủ động trên chiến trường.

Trung tuần tháng 11 năm 1951, bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp quyết định đưa quân lên đánh chiếm Hòa Bình mở đầu bước hai trong chiến lược mới của chúng. Từ ngày 9 tháng 11 đến ngày 11 tháng 11 năm 1951, 20 tiểu đoàn, phần lớn là lực lượng cơ động chiến lược của địch ở đồng bằng Bắc Bộ tiến ra Hòa Bình, tỉnh tự do duy nhất của ta ở đồng bằng Liên khu 3.

Đánh chiếm Hòa Bình, Đờ Lát và bộ chỉ huy quân Pháp mưu toan cắt đứt một đầu mối giao thông quan trọng ở tây – bắc đồng bằng Bắc Bộ nối liền giữa Việt Bắc căn cứ đầu não cửa cuộc kháng chiến của nhân dân ta với đồng bằng Khu 3 và các chiến trường trong toàn quốc. Đánh chiếm Hòa Bình, địch còn nhằm âm mưu phá sự chuẩn bị tiến công của ta trong Đông Xuân 1951 – 1952 và thu hút bộ đội chủ lực của ta đến để tiêu diệt.

Thời cơ chiến đấu tiêu diệt địch đã đến!

Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị Nhiệm vụ phá cuộc tiến công Hòa Bình của địch. Sau khi xác định rõ nhiệm vụ của mặt trận chính Hòa Bình đối với các chiến trường phối hợp, chỉ thị của Trung ương nêu: “Ở đồng bằng Bắc Bộ… lúc này là cơ hội rất tốt cho chiến tranh du kích phát triển… hoạt động mạnh mẽ và liên tiếp để tiêu diệt địch, khôi phục, củng cố và mở rộng căn cứ du kích… tiến hành công tác vận động nguy binh địch”(1).

Tiếp theo chỉ thị của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích:

“Trước kia, ta phải lừa dịch ra mà đánh.

Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là một cơ hội rất tốt cho ta.

Muốn thắng thì phải tích cực, chủ động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh.

Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan, khinh địch.

Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực địch, để đánh tan kế hoạch thu đông của chúng”(2).

Chỉ thị của Trung ương được gửi đến các liên khu, mặt trận. Đầu năm 1952, Liên khu Việt Bắc chỉ thị cho các tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai phải tích cực phối hợp với chiến dịch Hòa Bình bằng cách đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địa phương mà đánh.

Ở Hải Ninh, từ cuối năm 1951, giặc Pháp đã rút bớt một số vị trí ở tuyến ngoài để đưa một phần quân Âu – Phi về làm lực lượng cơ động chiến lược. Để bù vào chỗ trống đó chúng đã tăng cường công sự ở tuyến trong và phát triển lực lượng vũ trang phản động để thay thế phần lớn nhiệm vụ chiếm đóng cũng như lấn chiếm vùng du kích và phá hoại hậu phương của ta.

Chúng rút các đồn Hạ Thụ, Hà Dong, nhưng tăng cường công sự ở Núi Ngô, Tiên Lãng, Phố Cũ (Tiên Yên), Thác Hàn (Móng Cái) và đưa bọn dõng tới thay thế quân chiếm đóng tại Đồng Rui (Tiên Yên).

Trên vùng cao và rừng sâu tiếp giáp với vùng du kích của ta, chúng củng cố các cụm lực lượng vũ trang phản động ở Ba Chẽ, bọn phản động ở Khe Lò, cho quân của bọn phản động đóng thành dãy tháp canh kéo dài từ Lang Dạ (Ba Chẽ), Tằng Sán Phù, Voòng Tài Chạp (Hà Cối) tới Lý Na (Móng Cái). Từ trên tuyến tiếp giáp này chúng tung biệt kích và phản động vào vùng của ta để đánh phá, phá hoại. Chúng đã phát cho người Thanh Phán ở Séc-lông-min và Phềnh Hồ (Hà Cối) 75 khẩu súng. Sau đó chúng lại gây được phản động vũ trang ở Thanh Y, Lý Sấy (Đầm Hà), Đại Dực Động (Tiên Yên), thậm chí lên cả Nà Hắc, Him Đăm (Đình Lập).

Ở vùng cao địch cho bọn biệt kích luồn phục bắt cán bộ của ta từ căn cứ du kích vào vùng địch qua đường số 4, hoặc vào sâu trong căn cứ của ta như Ngàn Chỉ, Đồng Thắng, Lâm Ca, Đình Lập, Bình Liêu.

Ở vùng ven biển và hải đảo giặc tập trung lực lượng của bọn biệt kích, bọn mật thám để càn phá và phát triển lực lượng phản động vào vùng cơ sở mạnh của ta ở ven biển và hải đảo. Sau các cuộc khủng bố, chúng cho tay sai mua chuộc cán bộ và cơ sở của ta ở Cái Chiên, Vĩnh Thực, Nam Sơn, Tiên Lãng, Đầm Hà. Chúng đã lôi kéo được tên Tay, chủ tịch xã Vĩnh Thực và đưa tên này ra chỉ huy lực lượng phản động vũ trang ở địa phương. Chúng nôi dưỡng bọn phản động đội lốt Thiên chúa giáo ở Trà Cổ.


(1) Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng số 22-CT/TƯ, ngày 21 tháng 11 năm 1951.
(2) Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích (tháng 11 năm 1951).


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 10:00:47 pm
Chấp hành chỉ thị của Liên khu Việt Bắc, tỉnh Hải Ninh tổ chức một đợt hoạt động quân sự gọi là “chiến dịch địa phương” nhằm đánh vào lực lượng đóng tại chỗ, phá các cuộc càn quét lùng sục, tiêu hao sinh lực và hạn chế sự kìm kẹp của địch đối với địa phương chúng chiếm đóng.

Ngày 9 tháng 1 năm 1952, được tin của tổ quân báo nhân dân, bộ đội huyện Đầm Hà đã cơ động tới Lăng Ngang để chặn đánh một toán quân địch đang chuẩn bị đi càn. Bị đánh bất ngờ, 300 tên địch đã hoảng sợ bỏ chạy. Vừa lúc đó đại đội 54 bộ đội chủ lực của tỉnh đã kịp vận động đến phối hợp tác chiến. Quân ta đã tiêu diệt 32 tên (có 2 sĩ quan và 10 lính Âu – Phi), bắt sống 29 tên, thu chín súng và ba máy vô tuyến điện. Số địch còn lại bị ta truy kích tới phố Đầm Hà.

(https://lh3.googleusercontent.com/rk_AilOzy-dyEMv1-LNKVe8nfA9vlrohDKzwGwOUsjgWuVuDwC5VvnVggsoXTphoESFguMSnZwow_-1H-Dmb_2ZScckDoFNnfS9PBa71korn1clmeL8GUExPeFZO3R_ekym9Vy7LejjM1AXwf4ICLF5Ii7hnYNG3lrt-yLwWvsInEoBjTHok9mEmCOE96sIMUCD7etmlPHi3J4VzF_BR68Uuj9EtHQ9TTwzoPy4Bw01EfWbw1OF01TPb0iRvcN-gqbZ46sidg1q6s8yGHz3ChrMSnN6qutqO-5zt4k8HfThrjVjXRWPwpfku2wfyMTb1ap4-ye_KlaxOO9TAxfmK6bsC4yx0PnWIz5Ru7PRGdd7W0PGLK1Xa5mdPG4CKGn6jvxOvqgFdIydDBagSo8rSj0mCWnOmqmqbPo7j2vGZmV2RPym7G_UcoDMeRUtWLlUORLXkoqg2WDVOqF2XSPumR2-9f07pO3GgiYyBS-H-DFXtEm9eR__P2cfUwuCR8v7zX31Ui8wrTVnQZaRgNRdqET0M1vrKRm1NUAXxqbnGjlYCLxyHxcQQI3_njtHvYltxBeO7qAW10NR4voPH1rpOMtYRZUYOd0gcwV8wS4Cu0s6YIvU_KZfc=w800-h551-no)

Du kích Đầm Hà

Ngày 14 tháng 2 năm 1952, đại đội 54 đột nhập vào vùng có phản động vũ trang ở Xóm Lốc, Tầm Ngang, Khe Kha thu 10 súng. Cùng ngày, đại đội Móng Cái tập kích diệt bọn lính gác ở đồn Lục Phủ. Ngay đêm ấy, đại đội 54 lại quấy rối đồn Đầm Hà làm cho bọn địch hoang mang bắn ra hơn 400 quả đạn đại bác. Trong khi đó, ở phía đường số 4, đại đội 35 của huyện Đình Lập đã phục kích đánh một cánh quân đi càn của địch tại Bắc Hang diệt 35 tên, bắt sống ba tên (trong đó có một tên tỉnh đoàn của ngụy), thu bốn súng.

Bị tấn công liên tiếp, bọn lính chiếm đóng cố thủ trong các vị trí, không dám rời khỏi công sự đi càn như trước. Tỉnh ủy Hải Ninh lại chủ trương tiến công vào vùng có phản động vũ trang ở Ba Chẽ nhằm tiêu diệt một bộ phận lực lượng vũ trang và các tên đầu sỏ gian ác của địch, tranh thủ làm công tác vận động quần chúng thuộc đồng bào các dân tộc ít người.

Đợt một bắt đầu từ ngày 19 tháng 2 năm 1952. Đại đội 54 (thuộc tiểu đoàn 20 chủ lực tỉnh), đại đội 35 (Đình Lập) và một trung đội thuộc đại đội 15 (tiểu đoàn 10) đã tập kích vào sở chỉ huy của bọn phản động ở Khe Lò. Quân ta đã diệt tên đầu sỏ phản động Lục Văn Chương và một tên sĩ quan Pháp chỉ huy bọn biệt kích, bắt sống 13 tên (trong đó có tên Lục Văn Thông là em trai tên Lục Văn Chương, đồng thời cũng là một tên cầm đầu bọn phản động ở Ba Chẽ), thu 12 súng máy, 28 súng trường và nhiều đạn dược, đồ dùng quân sự.

Đợt hai ta đánh vào Tống Loóng, Pha Lan, Khe Kha diệt được bốn tên dõng, nhưng sau đó phải rút lui vì bị lộ, địch đã đề phòng trước và âm mưu phản kích bao vây lại ta.

Ngày 20 tháng 4 năm 1952, ta tiếp tục mở đợt ba nhưng cũng chỉ diệt được bốn tên dõng, thu hai súng trường, ba súng kíp. Hiệu quả chiến đấu hạn chế, vì địch đã tăng cường bố phòng.

Qua ba đợt tấn công vào căn cứ phản động ở Ba Chẽ, các đơn vị bộ đội địa phương của Hải Ninh đã chấp hành nghiêm chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ, thực hiện ý đồ chỉ đạo của tỉnh, chỉ tiến công trừng trị bọn đầu sỏ phản động và tay sai của chúng, không đụng đến cái kim sợi chỉ cũng như phong tục tập quán của đồng bào địa phương, do đó đồng bào các dân tộc ở Khe Lô đã tin tưởng vào chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ, không nghe theo luận điệu phản tuyên truyền của địch. Từ thắng lợi ở Khe Lò ta đã gây dựng cơ sở trong đồng bào người Thanh Phán ở Phềnh Hồ và sau đó bộ đội ta đã qua lại vùng này, mở thêm một hướng hoạt động mới ở Hải Ninh.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 10:02:02 pm
*

Ở Đặc khu Hồng Gai địa bàn chiến đấu chính của ta là huyện Hoành Bồ. ở đây thực dân Pháp đã ráo riết bắt lính để đóng thêm các vị trí ở Khe Táo, Sơn Dương, Đá Trắng, Trới. Cùng với việc thành lập đội biệt kích người Thanh Phán do sĩ quan Pháp trực tiếp chỉ huy, chúng cũng thành lập đội dõng do tên hội Hành ở xã Thành Công chỉ huy để chuyên càn sục trên các cửa sông, mặt biển.

Nhận chỉ thị của liên khu, Đặc khu ủy chỉ đạo cho lực lượng vũ trang đặc khu phải chủ động tìm địch mà đánh vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa bảo vệ căn cứ của ta, đồng thời phải tiến hành vũ trang tuyên truyền vào vùng cao để phá âm mưu lập dõng và biệt kích người dân tộc của địch.

Lực lượng trực tiếp chiến đấu ở Hoành Bồ không nhiều. Đại đội 21 của đặc khu có ba trung đội thì đã phải dành một trung đội để bảo vệ căn cứ của đặc khu ở Vy Loại, chỉ còn hai trung đội hoạt động. Đại đội 23 của Hoành Bồ chỉ có hai trung đội để vũ trang tuyên truyền. Du kích có khả năng phối hợp với bộ đội chiến đấu chỉ có các xã Bằng Cả, Việt Hưng và Sơn Dương.

Tuy lực lượng có hạn, nhưng lực lượng vũ trang đặc khu đã khắc phục mọi khó khăn, tích cực đánh địch và làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng ở rẻo cao để phá tan âm mưu chia rẽ đoàn kết các dân tộc trong khu vực của địch.

Ngày 12 tháng 1 năm 1952, đại đội 21 phục kích một trung đội địch, diệt tên quan hai Pháp và tên quận trưởng bù nhìn khi chúng hành quân vào Trới. Tiếp đó đơn vị lại phối hợp với du kích tổ chức đánh giao thông trên đường 18 phá bốn xe, hai cầu và phục kích bốn trận trên đường từ Bang đến Đá Trắng để chặn liên lạc giữa bọn Pháp chiếm đóng với bọn phỉ ở rẻo cao.

Đại đội 21 tiến hành vũ trang tuyên truyền vào vùng rẻo cao, nơi bọn phản động, thổ phỉ luôn quấy nhiễu nhân dân và ra sức xuyên tạc chủ trương chính sách của Chính phủ kháng chiến, lôi kéo đồng bào dân tộc ít người theo chúng chống lại cách mạng. Để tiến hành công tác tuyên truyền vận động quần chúng được liên tục, đơn vị đã phân công từng trung đội thay nhau đi hoạt động. Chấp hành nghiêm chỉ thị của đặc khu ủy, các đơn vị đi làm nhiệm vụ được lệnh không được nổ súng, trừ trường hợp bị địch trực tiếp tiến công vào đội hình. Hoạt động hàng tháng trời trên vùng cao rừng rậm giữa một vùng đồng bào người Thanh Phán đã bị giặc Pháp tuyên truyền gây chia rẽ, hoài nghi kháng chiến, bộ đội ta đã chịu biết bao gian khổ, vất vả, cơm nắm vắt vai, hành quân di chuyển suốt từ đỉnh núi này sang lòng khe nọ, ban ngày trời sáng thì tránh vào rừng, ban đêm mới men theo các khe nước chảy tìm đến từng cụm nhà dân tiếp cận đồng bào. Nhiều khi bộ đội ta vừa đến trước nhà, dân đã báo động cho phản động ở địa phương. Có lúc vừa phát hiện thấy bộ đội, dân đã bỏ chạy, hoặc trong trường hợp không thể tránh được, bất đắc dĩ phải tiếp thì chỉ ngồi nghe bộ đội nói, còn bộ đội hỏi gì đều lắc đầu không biết. Khó khăn nối tiếp khó khăn, nhưng với bản chất cách mạng của quân đội nhân dân, chiến đấu cho dân và vì dân, các cán bộ, chiến sĩ của đại đội 23 đã kiên trì vượt qua mọi trở ngại, có khi còn phải hy sinh đổ máu, kiên trì bám sát đồng bào thực hiện “ba cùng” để tuyên truyền giải thích chính sách chính nghĩa của kháng chiến, của cách mạng đối với đồng bào các dân tộc, vạch mặt bọn Pháp xâm lược và bọn phản động tay sai, từ đó mà vận động đồng bào đấu tranh với chúng, bảo vệ cuộc sống lao động của mình.

Cứ kiên trì như vậy ngày này tiếp ngày kia, tuần này qua tuần khác, chỉ sau hai tháng đại đội 23 đã gây được một số cơ sở ở vùng rẻo cao, tạo điều kiện cho ta nắm được tình hình hoạt động của thổ phỉ, phản động một cách kịp thời, chủ động đối phó với chúng, đồng thời trên cơ sở đó tiến tới một bước trực tiếp làm công tác binh vận, địch vận trong hàng ngũ các lực lượng vũ trang phản động ở vùng cao.

Song song với việc tuyên truyền vận động quần chúng ở rẻo cao Hoành Bồ, Đặc khu Hồng Gai cũng quan tâm củng cố khu căn cứ du kích Bằng Cả về mọi mặt, tạo cho căn cứ đủ sức đối phó với các cuộc tiến công của bọn dõng và bọn biệt kích ở Trới, Đá Trắng.

Ngày 21 tháng 1 năm 1952 để động viên quân và dân trong đặc khu hăng hái kháng chiến, tích cực chiến đấu phối hợp với chiến trường chính, Đặc khu Hồng Gai đã mở đại hội “Thi đua sản xuất, giết giặc lập công, đề cao chiến sĩ”. Hơn ba mươi chiến sĩ tiêu biểu cho phong trào thi đua giết giặc và sản xuất trong đặc khu đã về dự đại hội. Đoàn đại biểu chiến sĩ giết giặc có các đồng chí tiêu biểu như Đặng Khắc Ngân, Ngô Văn Động (bộ đội), Trương Văn Thạch (du kích), v.v.

Trong dịp này, để tỏ lòng sắt son đối với kháng chiến và lòng kính yêu đối với lãnh tụ, anh chị em cán bộ, công nhân, chiến sĩ trong vùng tạm bị chiếm đã tạc một bức tượng Bác Hồ bằng than đá và may một chiếc màn để gửi lên biếu Bác Hồ. Nhận được quà biếu Bác viết thư gửi đồng bào, đồng chí ở đặc khu:

“Tôi đã nhận được bức tượng và chiếc màn anh chị em gửi biếu. Tôi rất cảm động và cám ơn.

Mong các bạn đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết nội bộ, đoàn kết giữa công nhân và đồng bào Việt Nam, đoàn kết giữa công nhân và anh chị em công nhân Hoa kiều. Giữ vững tinh thần, tích lũy lực lượng, chuẩn bị sẵn sàng, chờ dịp phối hợp với quân và dân ta tiến sang tổng phản công. Trong tổ chức và công tác phải khôn khéo giữ bí mật, phải trưởng kỳ và gian khổ, nhưng kháng chiến của ta nhất định thắng lợi”(1).

Thư của Bác Hồ như một luồng gió mới đến làm cho nhân dân, cán bộ, công nhân và chiến sĩ đặc khu nức lòng thi đua sản xuất, giết giặc lập công và đẩy mạnh mọi mặt đấu tranh với địch. Trong năm 1952, địch ra sức phát triển mạng lưới do thám và chỉ điểm để đánh phá phong trào công nhân trong mỏ. Bọn chủ mỏ đã giãn thợ để đưa công nhân vào cuộc sống khó khăn và qua đó mua chuộc, dụ dỗ họ làm tay sai và bắt lính. Các tổ chức “nghiệp đoàn” và hội “quần chúng” do địch tổ chức ráo riết hoạt động. Trong năm 1952 với các thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, bọn địch đã cài được một số tay sai vào tổ chức của ta nên nhiều cơ sở của ta trong khu mỏ bị vỡ. Ở các nơi như thị Cẩm Phả, Hà Tu, Cột 5, Hà Lầm có tới một nửa số cơ sở của ta bị vỡ. Để đối phó với thủ đoạn xảo quyệt của địch, Đặc khu ủy đã chỉ đạo chấm dứt việc liên lạc ngang mà xây dựng cơ sở theo từng ngành. Mặt khác đã mở lớp huấn luyện ngắn ngày về công tác trong lòng địch cho các đảng viên, tổ trưởng công đoàn và qua số cán bộ này mà mở rộng ra toàn khu mỏ. Sau một thời gian tích cực hoạt động ta đã mở được các xã bàn đạp để vào khu mỏ như: Hồng Thắng, Quyết Thắng, Cẩm Bình. Trong các thị xã, các cơ sở trong dân nghèo và tiểu thương phát triển. Ở Hà Lầm, Hà Tu, ta có cơ sở trong 35 gia đình có người đi kháng chiến. Ở Cẩm Bình có 26 hội viên Liên Việt, ở thị xã Cẩm Phả có 41 cơ sở là tiểu thương. Ngoài ra ta còn gây được cơ sở trong hội cúng lễ của hơn 300 phụ lão. Với những cơ sở vừa được khôi phục hoặc mới xây dựng, ta đã có một nguồn cung cấp tin tức dồi dào về mọi hoạt động của địch để từ đó đặc khu chỉ đạo các hoạt động quân sự cũng như chính trị, kinh tế trong từng thời gian tại các khu vực nội thị cũng như vùng ven.


(1) Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi công nhân, nhân dân, cán bộ khu mỏ, tháng 3 năm 1952.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 10:02:42 pm
*

Cùng với thời gian chỉ thị cho tỉnh Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai, Bộ tư lệnh Liên khu Việt Bắc cũng chỉ thị cho tỉnh Quảng Yên phối hợp với chiến dịch Hòa Bình, định rõ hướng và địa bàn hoạt động tác chiến cho các lực lượng vũ trang ta, đó là vùng địch hậu Nam Sách, nơi mà địch đã đóng dày đặc các đồn bốt, tháp canh để kìm kẹp nhân dân và vơ vét nhân tài, vật lực cung cấp cho chiến tranh. Đầu tháng 1 năm 1952, bí thư Liên khu ủy kiêm chính ủy Liên khu Việt Bắc chỉ thị cho Quảng Yên “bằng mọi giá phải đưa tiểu đoàn Bạch Đằng vào hậu địch” phá tung hệ thống chiếm đóng, tiêu diệt sinh lực địch, nâng đỡ và phát triển phong trào du kích chiến tranh.

Tỉnh đội Quảng Yên đã chuẩn bị cho bộ đội chủ lực của tỉnh tiến vào Nam Sách. Tham mưu phó tỉnh đội Nguyễn Hữu trực tiếp chỉ huy đại đội 908. Tiểu đoàn trưởng và chính trị viên phó tiểu đoàn Bạch Đằng đi sát đại đội 910.

Ngày 2 tháng 2 năm 1952, trong lúc nhân dân ở hậu phương đang chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Nhâm Thìn, cái Tết thứ 6 của cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ thì hai đại đội 908 và 910 của tiểu đoàn Bạch Đằng rời các vùng du kích của Chí Linh, Đông Triều, Kinh Môn vượt sông Kinh Thầy tiến vào Nam Sách.

Các cánh quân của ta được cán bộ và du kích địa phương dẫn đường luồn qua các vị trí Pháp đóng ở ven sông để lọt vào một vùng tháp canh dày đặc, trong đêm tối chỉ có thể nhận biết được qua các tiếng chuông, mõ cầm canh truyền lan khắp huyện.

Theo kế hoạch tác chiến đã định, các trung đội, tiểu đội được cán bộ địa phương dẫn đường đã tiến sát các tháp canh sẵn sàng chờ lệnh. Những tiếng bộc phá mở đầu làm rung chuyển cả một vùng phía tây Nam Sách. Tiếp đó là những tiếng nổ của các loại hỏa khí công đồn nối tiếp nhau rền vang và lóe như chớp sáng khắp bầu trời. Trong lúc bộ đội chiến đấu, các cán bộ địa phương đã gọi loa kêu gọi các bốt dõng đầu hàng. Bao ngày tháng chỉ quen với việc cướp bóc, kìm kẹp nhân dân, nay bị quân ta tiến công dũng mãnh, bất ngờ, bọn địch hoang mang rệu rã. Có nơi chỉ cần có bộ đội uy hiếp bên ngoài là lính trong tháp canh đã hạ súng. Có nơi nhân mối trong tháp canh đã vận động tất cả nghĩa dũng trở về với kháng chiến, khi bộ đội vừa tới nơi họ đã giao nộp vũ khí và xin trở về nhà làm ăn. Có nơi nhân dân đã đi theo bộ đội, cán bộ kêu gọi chồng con trở về và sau đó cả dân làng cùng với lính dõng vừa trở về với nhân dân đã tập trung lại để phá tháp canh.

Trong đêm 2 tháng 2, bộ đội ta đã tiêu diệt một số đồn bảo an và gần mười tháp canh. Lực lượng nhân dân nổi dậy đã phá bung 20 chiếc khác. Bọn Pháp đóng trong các vị trí lớn hoang mang, không dám có hành động đối phó.

Ngày 3 tháng 2, đại đội 910 rút về bên kia sông Kinh Thầy, đại đội 908 ở lại Nam Sách tiếp tục hoạt động.

Phát hiện được lực lượng ta chỉ có một đại đội, bọn giặc đã đưa quân cơ động đến càn quét thôn Tạ Xá (nơi bộ đội ta đóng quân). Suốt một ngày chiến đấu, mặc dù bị một lực lượng địch đông gấp bội bao vây, tiến công, đại đội 908 vẫn bảo vệ được trận địa. Nhưng khi địch rút quân chúng đã dùng pháo binh bắn vào trận địa của đại đội 908 rất ác liệt nên một số cán bộ, chiến sĩ ta hy sinh, trong đó có tham mưu phó tỉnh đội Nguyễn Hữu và chính trị viên đại đội Vũ Bằng.

Đêm 3 tháng 2, đại đội 908 rút về thôn Đột Lĩnh xã Hợp Tiến và đào hầm hố quanh lũy tre để sẵn sàng chiến đấu. Mờ sáng ngày 4 tháng 2, hàng nghìn quân địch đã đến bao vây chặt thôn Đột Lĩnh. Trận đánh diễn ra trong suốt một ngày. Trong chiến đấu ác liệt, đại đội trưởng Nguyễn Thanh Tuấn và quyền chính trị viên đại đội Trần Minh Thái đã bình tĩnh, linh hoạt chỉ huy đơn vị dũng cảm đánh địch. Nhiều đợt xung phong của giặc đã bị chặn lại trước hỏa lực mạnh mẽ của quân ta. Sau mỗi đợt không thành công, địch lại cho phi pháo trút bom đạn vào làng. Trong lúc đó các chiến sĩ ta vẫn kêu gọi binh lính ngụy không gây tội ác chống nhân dân; các bà mẹ, các chị vẫn săn sóc thương binh và lo cơm nước, tiếp tế cho bộ đội.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 10:03:00 pm
Suốt một ngày với hàng chục đợt xung phong, địch vẫn không sao vào được làng, trái lại hơn một trăm tên địch đã bị diệt. Và đến chạng vạng tối chúng đành phải kết thúc trận đánh, rút quân về căn cứ. Với trận đánh ngày 4 tháng 2 năm 1952, đại đội 908 của tiểu đoàn Bạch Đằng đã mở đầu truyền thống chiến đấu chống địch càn quét giữa đồng bằng sau lưng địch của tỉnh Quảng Yên.

Quân và dân Nam Sách tiếp tục tiến công địch để phá thế kìm kẹp của chúng. Trên 50 tháp canh còn lại của toàn huyện đã bị san phẳng gần hết. Kết thúc dợt chiến đấu này Nam Sách từ một huyện tạm chiếm bị địch o ép nặng nề đã trở thành một vùng du kích mạnh của tỉnh Quảng Yên.

Hòa cùng tiếng súng của bộ đội chủ lực tỉnh tại Nam Sách, bộ đội địa phương và dân quân du kích các huyện Chí Linh, Kinh Môn, Đông Triều cũng chớp thời cơ đẩy mạnh hoạt động tác chiến mở rộng và củng cố các vùng du kích. Tại huyện Chí Linh, với hai vùng du kích nằm hai bên đường 18, với tám, chín xã nối tiếp nhau, ta đã xây dựng thành một đầu cầu an toàn để các lực lượng ta từ vùng căn cứ của tỉnh vượt qua đường 18 để vào Nam Sách, Kinh Môn, Đông Triều. Huyện Kinh Môn đã từ căn cứ du kích Nhị Chiểu đánh rộng ra các vùng xung quanh, đưa ranh giới vùng du kích vượt qua An Phụ đến tận các xã Hiệp Hòa, Lạc Long, Quang Trung. Ở Đông Triều, bộ đội huyện và du kích đã phá bốn tháp canh nối khu du kích các xã Nguyễn Huệ với xã Bình Dương; quân ta còn bao vây vị trí địch ở Yên Đức và đánh thông Yên Đức với Yên Thọ, Hồng Phong, Vĩnh Khê. Huyện Yên Hưng phá sập một số tháp canh ở Lưu Kiếm và củng cố hai khu du kích Minh Thành.

Quá trình chiến đấu cũng là quá trình xây dựng lực lượng vũ trang để làm nóng cốt cho địa phương. Ở huyện Kinh môn, hai mươi trên hai mươi mốt xã của toàn huyện đã có dân quân, du kích. Ở Nhị Chiểu mọi người dân từ 18 đến 50 tuổi đều vào dân quân, mỗi xã có một trung đội du kích xã và một trung đội du kích của các giới (như phụ nữ, phụ lão, thiếu nhi).

Chỉ trong một thời gian ngắn, tỉnh Quảng Yên đã thực hiện được ý định chiến dịch đề ra, với lực lượng chủ lực của tỉnh làm nòng cốt kết hợp với bộ đội chủ lực huyện, dân quân du kích và cán bộ địa phương. Bằng các hình thức tác chiến kết hợp với địch vận và đấu tranh chính trị cùa quần chúng, ta đã mở được vùng du kích trên phạm vi bốn huyện đồng bằng có vị trí rất quan trọng của tỉnh là Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Đông Triều, tạo được thế liên hoàn giữa các huyện trong tỉnh và giữa Quảng Yên với các tỉnh bạn Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Bắc Ninh. Từ đây, làn sóng chiến tranh nhân dân địa phương của ta đã mở rộng ra bám sát các tuyến giao thông huyết mạch và các tuyến phòng thủ sống còn của địch trên tuyến đường số 5, đường 18 và các đường liên tỉnh, liên huyện khác. Các đơn vị của tiểu đoàn Bạch Đằng cùng với bộ đội các huyện thay nhau hoạt động giữa vùng du kích rộng lớn này.

Đưa quân ra chiếm đóng Hòa Bình, giặc Pháp hy vọng giành được một thắng lợi quyết định, tiêu diệt bộ đội chủ lực ta, giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường, đưa cuộc chiến tranh xâm lược lên một bước mới đi tới chỗ kết thúc thắng lợi. Nhưng qua ba tháng dốc sức đưa một phần lớn lực lượng cơ động chiến lược gồm trên hai vạn binh lính và sĩ quan lên lòng chảo Hòa Bình, quân địch đã bị quân ta đánh tơi bời. Ở mặt trận chính Hòa Bình các đại đoàn chủ lực 308, 312 và 304 liên tiếp tiến công địch tại các phân khu Chợ Bến, Sông Đà và Hòa Bình. Với các hình thức công đồn, chặn viện, vận động, quân ta đã đánh thẳng vào các “vỏ thép cứng” của địch, tiêu diệt hàng nghìn tên, hãm chúng vào trong các lô cốt, hầm ngầm cố thủ của các cứ điểm phòng ngự, đẩy bọn lính viễn chinh vào tình thế rất khốn quẫn. Tại mặt trận sau lưng địch các đại đoàn 316, 320 thọc sâu vào đồng bằng địch hậu Liên khu 3 và trung du diệt hết căn cứ này đến vị trí khác trên tuyến phòng thủ, chiếm đóng từ Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Bình, Thái Bình, Nam Định. Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích ở khắp nơi đã diệt hàng loạt đồn bốt, tháp canh, khôi phục và mở rộng căn cứ du kích, phát triển cơ sở trong vùng tạm bị chiếm.

Trước thất bại liên tiếp nặng nề ở Hòa Bình quân Pháp hoang mang dao động. Tát-xi-nhi mắc bệnh phải về Pháp điều trị, Xa-lăng (Salan) lên thay làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Ngày 23 tháng 2 năm 1952, Xa-lăng lệnh cho quân đội chúng rút chạy khỏi Hòa Bình.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Bảy, 2017, 10:03:53 pm
Trong chiến dịch Hòa Bình quân ta đã tiêu diệt 22.000 tên địch, trong đó riêng ở mặt trận sau lưng địch ta đã diệt 15.000 tên, bức hàng, bức rút hơn một nghìn đồn bốt, tháp canh, tiêu diệt hàng chục vị trí quan trọng của địch, mở rộng các khu căn cứ du kích, nối liền với nhau tạo thành một thế liên hoàn từ Bắc Giang xuống Bắc Ninh tới sát đường 5, tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng cho tới lưu vực sông Kinh Thầy và khu đồng bằng Quảng Yên. Hơn hai triệu nhân dân được giải phóng khỏi ách kìm kẹp của địch. Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã giành được một thắng lợi lớn.

Đây là sự thành công của Đảng ta trong chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Nắm vững ý đồ chiến lược, âm mưu thủ đoạn của chúng, Đảng ta đã chỉ đạo tiến công địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, đánh liên tiếp, đánh đồng loạt để đưa địch vào thế lúng túng, bị động không phát huy được sức mạnh của binh khí kỹ thuật và ưu thế binh lực tập trung, cuối cùng buộc chúng phải thất bại.

Trong thắng lợi chung của quân và dân ta trong chiến dịch Hòa Bình có sự đóng góp xứng đáng của đảng bộ, quân và dân ba tỉnh và đặc khu ở chiến trường Đông – Bắc.

Mặc dù nhận được lệnh chậm, thời gian nghiên cứu chuẩn bị chiến trường rất ngắn, nhưng quán triệt tinh thần chỉ đạo của trên và đặc biệt là thư động viên của Bác Hồ, quân và dân chiến trường Đông - Bắc đã triển khai ngay kết hoạch hoạt động và chiến đấu. Căn cứ vào thực tế tình hình của mỗi địa phương, địa bàn từng tỉnh và đặc khu đã xác định rõ mục tiêu tiến công và đối tượng tác chiến để từ đó chỉ đạo cho lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân tiến hành đánh địch. Hơn hai tháng chiến đấu liên tục trong điều kiện chiến trường khác nhau và các thủ đoạn đối phó hết sức thâm độc, quyết liệt, cán bộ, chiến sĩ Hải Ninh, Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai chiến đấu trong điều kiện phòng ngự không có sự phối hợp hỗ trợ trực tiếp của lực lượng chủ lực của Bộ, đã phát huy tinh thần tự lực, chủ động tiến công địch, phát huy nỗ lực chủ quan kết hợp với sức mạnh của nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân ở địa phương để chiến thắng địch trong từng trận, từng đợt hoạt động và từng chiến trường.

Tổng kết chiến dịch, các lực lượng vũ trang Đông – Bắc đã chiến đấu gần một trăm trận từ nhỏ đến lớn với các hình thức công đồn, phục kích, chặn viện, tập kích và vận động, chưa kể hàng chục lần vũ trang tuyên truyền vào các trung tâm sào huyệt của bọn thổ phỉ, phản động. Ta đã diệt và bắt hơn 100 tên địch, làm tan rã hàng ngàn tên ngụy và dõng. Để thực hiện được nhiệm vụ của trên giao cho là kìm chân địch ở địa phương không cho chúng chi viện cho chiến trường chính, thu hẹp địa bàn chiếm đóng của địch, mở rộng khu căn cứ du kích của ta, hỗ trợ phong trào đấu tranh của đồng bào vùng tạm bị chiếm và làm công tác dân vận, địch vận. Trong quá trình chiến đấu, lực lượng bộ đội địa phương và dân quân, du kích đã trưởng thành lớn mạnh thêm một bước. Lực lượng du kích của các xã Võ Ngại, Tĩnh Húc, Bản Dò, Điền Xá, Yên Vương, Đồng Văn, Tràng Vinh (Hải Ninh), Bằng Cả (Hồng Gai), Yên Hưng, Minh Tân, Nhị Chiểu (Quảng Yên)… không những đã có tiến bộ trong việc bảo vệ căn cứ, đánh chống càn, đánh giao thông mà còn cơ động đến địa phương khác tìm địch mà đánh. Bộ đội chủ lực của tỉnh và bộ đội huyện cũng có nhiều tiến bộ về trình độ tác chiến như các đại đội 54 (tiểu đoàn 20), đại đội 5 (tiểu đoàn 10), đại đội 35 (Đình Lập), đại đội 21, đại đội 23 (Đặc khu Hồng Gai). Đặc biệt các đơn vị của tiểu đoàn Bạch Đằng (chủ lực của tỉnh Quảng Yên) đã có tiến bộ vượt bậc với những trận chiến đấu liên tục trong vùng sau lưng địch của huyện đồng bằng Nam Sách, nổi bật là với chiến thuật đánh chống càn mà đại đội 908 đã vận dụng thắng lợi đầu tiên trong trận chiến thắng tại Đột Lĩnh ngày 4 tháng 2 năm 1952 khi đại đội chống với hơn một trung đoàn địch đến bao vây định tiêu diệt quân ta. Trong trận này đại đội 908 đã chiến đấu với hơn một trung đoàn địch gồm cả lính ngụy và lính Âu – Phi, đã tiêu diệt hơn 100 tên địch, bảo vệ vững chắc trận địa. Về phía ta chỉ bị thương bốn và hy sinh một đồng chí.

Cùng với đấu tranh vũ trang, trên mặt trận đấu tranh chính trị, kinh tế, ta cũng giành được những thắng lợi nhất định. Ở khu mỏ, với việc đấu tranh vạch mặt những thủ đoạn áp bức bóc lột của bọn chủ mỏ và các tổ chức tay sai phản động của địch, ta đã duy trì và mở rộng các cơ sở trong phong trào công nhân và khu vực nội thị chống lại các thủ đoạn gom dân bắt lính, đẩy mạnh phong trào ủng hộ kháng chiến trong các tầng lớp nhân dân và đồng bào các dân tộc.

Với những kết quả thắng lợi đã đạt được trong mùa xuân năm 1952, thế trận chiến tranh nân dân trên địa bàn ba tỉnh Đông – Bắc đã có những bước phát triển mới. Từ đây quân và dân Đông – Bắc đã có những cơ sở vững chắc để tiếp tục đối phó với mọi thủ đoạn chiến tranh mới của địch.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:14:57 pm
2. Đối phó với cuộc hành binh Bô-lê-rô chống thủ đoạn bình định càn quét của địch trên bốn huyện đồng bằng Quảng Yên.

Ngay từ khi chiến dịch Hòa Bình vừa chuyển sang đợt hai được ít lâu, theo dõi thế trận chung tại mặt trận chính và đồng bằng, trung du Bắc Bộ, Trung ương Đảng ta đã nhận định giặc Pháp đang lúng túng to, nhưng sức chúng vẫn còn mạnh, cho nên không được chủ quan, khinh địch, phải tỉnh táo và tranh thủ thời gian tích cực thực hiện kế hoạch phát triển và củng cố vùng du kích và căn cứ du kích, sẵn sàng chống lại tất cả các cuộc càn quét lớn nhỏ của địch bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra.

Ngày 21 tháng 2 năm 1952, trước khi quân chủ lực địch rút chạy khỏi Hòa Bình hai ngày, Bộ Tổng tư lệnh ra chỉ thị cho các lực lượng vũ trang nhân dân ta về nhiệm vụ phá tan âm mưu mới của địch ở định hậu(1).

Chỉ thị của Bộ nhấn mạnh: phải tranh thủ phá kế hoạch càn quét của địch một cách chủ động; tranh thủ phát triển cơ sở rộng rãi làm phân tán lực lượng; phải đẩy mạnh chiến tranh du kích; mở những cuộc tiến công vào những nơi sơ hở của địch buộc chúng phải đối phó… phải chuẩn bị thiết thực để chống càn quét thắng lợi(2).

Đúng như dự đoán của Đảng ta, vừa rút quân ở Hòa Bình, bộ chỉ huy quân Pháp đã tập trung ngay các binh đoàn cơ động chiến lược tiến hành các cuộc càn quét lớn nhằm bình định lại đồng bằng Bắc Bộ - kho hậu cần khổng lồ tiếp tế sức người, sức của cho cuộc chiến tranh xâm lược của chúng ở chiến trường Bắc Bộ và Bắc Đông Dương, nơi mà chúng đã tốn bao công của để củng cố từ đầu năm 1951 và vừa bị đánh rã ra, xấu đi nghiêm trọng trong ba tháng đưa quân chủ lực lên mặt trận Hòa Bình. Trong ba tháng, từ tháng 3 năm 1952 đến tháng 5 năm 1952, chúng đã huy động một lực lượng quân gần tương đương với lực lượng chúng huy động ra Hòa Bình, cùng với hàng trăm xe cơ giới, tàu xuồng, máy bay, pháo binh, mở liên tiếp ngót 20 trận càn lớn nhỏ vào các khu căn cứ du kích của ta hòng tiêu diệt hoặc trục xuất các đơn vị bộ đội chủ lực ta còn đang đứng chân trong địch hậu, như đại đoàn 320 ở Thái Bình, Hà Nam, trung đoàn 42 ở Hưng Yên, Hải Dương và trung đoàn 98 ở Bắc Ninh.

Dưới sự lãnh đạo của các ban chỉ đạo mặt trận và các cấp ủy địa phương, quân và dân ta đã được chuẩn bị trước về mọi mặt để chống càn quét.

Từ ngày 14 đến 22 tháng 4 năm 1952, tại nam phần Bắc Ninh tiếp giáp với các huyện tây – bắc Quảng Yên, địch đã tập trung lực lượng tiến hành một cuộc càn lớn mang tên Poóc-tô, Pô-lô, Tuyếc-cô (Porto, Polo, Turco) gồm 23 tiểu đoàn nhằm tiêu diệt trung đoàn 98. Trung đoàn 98 đã chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt một số binh lực địch rồi vượt vòng vây ra ngoài. Để phối hợp và hỗ trợ cho đơn vị bạn, đại đội 908 (tiểu đoàn Bạch Đằng) được tăng cường thêm hai tiểu đội của đại đội Nam Sách đã chặn đánh mũi vu hồi của địch ở An Dật, Thái Tân, diệt gần 100 tên địch.

Đầu tháng 4, một đại đội biệt kích kéo đến hướng đồn điền Vạn Tải thuộc xã Hồng Phong định đánh vào khu du kích của ta. Đại đội 906 (tiểu đoàn Bạch Đằng) và một bộ phận của đại đội 921 (huyện Nam Sách) do đại đội trưởng Phạm Bá chỉ huy đã tổ chức một trận đánh phục kích tuyệt đẹp. Trong lúc địch đang tiến quân, đồng bào địa phương đã được bộ đội hướng dẫn trước, vẫn bình tĩnh làm ăn sản xuất ngoài đồng ruộng để giữ bí mật cho các trận địa phục kích của bộ đội. Khi toàn bộ quân địch lọt vào trận địa, bộ đội ta nhất loạt nổ súng, xung phong và tiêu diệt gọn cả đại đội biệt kích của địch nổi tiếng gian ác cả vùng.

Sau trận này ta lại tổ chức một trận chống càn ở Uông Hạ. Du kích Uông Hạ đã thực hiện chiến thuật đánh liên hoàn giữa các thôn chống lại một lực lượng lớn quân địch Một tiểu đội của đại đội 921 do trung đội trưởng Nguyễn Văn Bút chỉ huy đã đánh lui một tiểu đoàn giặc, vừa bảo đảm không để cho giặc vào được làng, vừa tiêu diệt hàng chục tên địch. Trong các trận chiến đấu này đồng chí Nguyễn Văn Sáu, bí thư huyện ủy kiêm chính trị viện huyện đội đã luôn đi sát bộ đội trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy chiến đấu. Đồng chí Nguyễn Điền, chính trị viên đại đội 21 cũng nhiều lần thay cán bộ quân sự chỉ huy đơn vị chiến đấu giành thắng lợi.

Cùng thời gian này, tại các huyện Đông Triều, Sơn Động, bộ đội địa phương và dân quân du kích cũng tích cực chống địch càn quét. Tại Đông Triều, một tiểu đội của đại đội 913 phối hợp với du kích đã chống lại gần 1.000 quân địch càn vào xã Nguyễn Huệ. Thực hiện lối đánh vu hồi, bộ đội và du kích, dân quân ta đã tiêu diệt một số tên địch, thu được súng và bảo vệ được trận địa. Ở huyện Sơn Động, du kích xã Trung Giang đã chống càn thắng lợi. Đại đội 917 bộ đội huyện đã cùng với du kích diệt gọn một toán phỉ trong đó có tên trùm phỉ lợi hại.

Cùng với việc chống càn bảo vệ khu căn cứ, bộ đội địa phương và du kích bốn huyện miền tây Quảng Yên còn tổ chức các trận đánh đồn để tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng địa bàn hoạt động.

Sau đợt phá các đồn bảo an, nghĩa dũng đầu tháng 2, bọn địch đã đóng các dồn mới ở thôn An Lương kề bên huyện lỵ Nam Sách và ở thôn Tiền Trung sát đường quốc lộ 5. Giữa tháng 4 năm 1952, đại đội 906 do đại đội trưởng Nguyễn Thanh Toàn chỉ huy đã táo bạo bất ngờ lọt sâu vào vùng tạm bị địch chiếm tiêu diệt hai đồn này và tiêu diệt vị trí Trắc Châu ở ngay trong huyện lỵ.

Tiếp đó các đại đội 908, 906, 902 của tiểu đoàn Bạch Đằng và đại đội 921 của huyện Nam Sách liên tiếp tấn công các vị trí địch, trong đó có đồn Ngô Đồng hai lần bị diệt. Đặc biệt trong trận đánh lần thứ hai vào đồn Ngô Đồng của đại đội 908 do đại đội trưởng Phạm Tô Lương chỉ huy, nữ du kích Trần Thị Trì đã cùng với bộ đội bắt sống được tên đội Cầu – một tên chỉ huy ác ôn khét tiếng đã sát hại chị Mạc Thị Bưởi mấy năm trước.

Phong trào thi đua giết giặc lập công từ Nam Sách lan ra các huyện bạn. Tại Chí Linh và Kinh Môn, từ tháng 2 đến tháng 5 năm 1952 địch hầu như không dám đi càn quét, lực lượng địa phương và du kích đã phải tìm địch mà đánh. Đại đội 911 (Chí Linh) liên tiếp phục kích trên đường 17, đường 18, diệt hàng trăm tên địch. Đại đội 911 phối hợp với đại đội 908 hai lần tập kích vào các vị trí quân Pháp ở Thiên và Bến Bình. Đại đội 923 (Kinh Môn) do đại đội trưởng Hoàng Phong chỉ huy đã phục kích đánh đắm tàu giặc trên sông ở địa phận Hiệp Hòa, Lạc Long, Quang Trung. Nổi bật trong phong trào tìm địch mà đánh có xã Yên Đức (Đông Triều) đã thành lập đội du kích ngư đoàn với các chiến sĩ tiêu biểu như Lương Văn Mấn, Đỗ Đình Đoàn, Nguyễn Thị Bút và nhiều đảng viên, quần chúng trung kiên khác tham gia(3). Đội du kích ngư đoàn Yên Đức đã có nhiều hoạt động chiến đấu táo bạo, trong đó có trận đội lọt vào giữa vị trí giặc ở Bến Đụn lấy đi toàn bộ 10 chiếc phà của địch làm cho tuyến giao thông đường bộ từ Tràng Bạch, Mạo Khê và Hải Phòng bị đứt quãng.


(1), (2) Chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh ngày 21 tháng 2 năm 1952.
(3) Đồng chí Lương Văn Mấn sau này được bầu là Chiến sĩ thi đua giết giặc của toàn quân, đồng chí Đỗ Đình Đoàn là Chiến sĩ thi đua giết giặc của Liên khu Việt Bắc và đồng chí Nguyễn Thị Bút là Chiến sĩ thi đua giết giặc của tỉnh Quảng Yên.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:15:27 pm
*

Phong trào chiến tranh du kích ở Quảng Yên ngày càng phát triển. Bọn chỉ huy địch ở đồng bằng Bắc Bộ rất lo ngại, nhất là trước nguy cơ tuyến đường 5 và thành phố Hải Phòng bị uy hiếp, do đó chúng đã tổ chức cuộc hành bính lấy tên là “Chiến dịch Bô-lê-rô” (Boléro) nhằm tiêu diệt các lực lượng vũ trang của ta ở bốn huyện miền tây Quảng Yên, xóa sạch các vùng du kích mới mở, thực hiện bình định trở lại vùng đồng bằng của tỉnh Quảng Yên, khôi phục lại tình thế trên địa bàn này như hồi trước chiến dịch Hòa Bình năm 1951.

Chiến dịch Bô-lê-rô được địch tiến hành làm ba đợt, mỗi đợt gồm nhiều cuộc càn với quy mô khác nhau và trên nhiều khu vực.

Mỗi cuộc càn chúng tiến hành các bước sau:

- Một là, tập trung binh hỏa lực với ưu thế tuyệt đối để bao vây,tiêu diệt bộ đội địa phương và du kích trong từng khu vực; sau đó tán phá vùng du kích về mọi mặt, từ tài sản, công trình, nhà cửa, cho đến con người và cả những địa hình chúng cảm thấy có lợi cho du kích chiến đấu.

- Hai là, đưa các đoàn “quân thứ hành chính lưu động”, gọi tắt G.A.M.O. – một tổ chức bình định mới ra đời, đi theo quân cơ động để tuyên truyền lừa gạt nhân dân, tô vẽ cho trò hề độc lập giả hiệu để thành lập ngụy quyền cơ sở.

- Ba là, lập các vị trí bảo chính đoàn do ngụy quân làm nhiệm vụ chiếm đóng để khống chế các vùng du kích.

Đợt một chiến địch, địch tiến hành ở Kinh Môn. Lực lượng địch sử dụng gồm GM7, một tiểu đoàn lính dù, một tiểu đoàn quân chiếm đóng, một số tàu chiến và xe bọc thép. Lực lượng phối hợp yểm trợ có không quân ở sân bay Gia Lâm, Cát Bi, pháo binh ở Núi Đèo, Đông Triều, đường số 5. Chỉ huy chung là tên quan năm Bơ-lăng-ke (Blankais) – chỉ huy trưởng GM7.

10 giờ sáng ngày 28 tháng 6 năm 1952, 2.000 tên giặc và 35 xe bọc thép lội nước tiến vào xã An Sinh từ ba mặt: một mũi gồm ba tàu chiến theo đường sông từ Thủy Nguyên tới đổ quân lên bờ rồi đánh vào làng từ hướng bắc. Một cánh gồm một tiểu đoàn do sáu máy bay thả dù xuống Kính Chủ rồi tiến vào từ hướng tây – bắc. Một cánh khác do quân chiếm đóng từ Đồn Lưu và Tuấn Mây hợp lại đánh vào làng từ hướng nam. Hỏa lực chi viện trực tiếp bố trí trên các điểm cao của dãy núi An Phụ và các tàu chiến.

Xã An Sinh gồm các thôn Kim Xuyên, Vân Ổ, Nghĩa Vũ nằm dưới chân dãy núi An Phụ, là khu du kích mạnh nằm giữa các vị trí giặc. Vị trí gần nhất là Kính Chủ cách vài ki-lô-mét. Trong xã An Sinh có đại đội 910 chủ lực của tỉnh, một trung đội thuộc đại đội 923 của huyện và dân quân du kích. Các đơn vị phân công nhau đóng ở các thôn, mỗi thôn cách nhau vài trăm mét.

Mặc dù quân địch đông gấp mấy chục lần, lại có hỏa lực mạnh và chiếm lĩnh được các điểm cao, nhưng qua nhiều đợt xung phong, chúng vẫn không vào được làng. Buổi chiều, địch tập trung máy bay, pháo binh mặt đất và pháo tàu oanh tạc dữ dội vào trận địa ta, sau đó bộ binh tập trung đột phá vào một thôn chiến đấu, mở được cửa vào làng. Cuộc chiến đấu trong thôn diễn ra rất ác liệt, kéo dài. Quân ta giành giật với địch từng mảnh vườn, từng ngõ xóm, căn nhà. Hàng chục xác giặc đổ gục trước các làn đạn bắn găm của quân ta, bằng cả lưỡi lê và các vũ khí bạch binh khác.

Trong lúc xã An Sinh chiến đấu quyết liệt với địch, xã Vũ An đã chủ động phối hợp tác chiến, đánh địch từ phía sau đội hình của chúng để chi viện cho An Sinh.

Đến tối, lợi dụng lúc địch đang củng cố đội hình, quân ta đã bí mật luồn ra khỏi vòng vây rút về Chí Linh và Nhị Chiểu. Trong trận chiến đấu đầu tiên này ta đã giáng cho địch một đòn đau, tiêu diệt 120 tên địch, trong đó có tên quan năm Bơ-lăng-ke chỉ huy trưởng GM7 và chỉ huy trưởng cuộc càn. Về phía ta tổn thất gồm 11 đồng chí (vừa bị bắt, vừa hy sinh), tám đồng chí bị thương, bị hỏng và bị mất 15 súng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:15:52 pm
Từ ngày hôm sau quân địch càn tiếp các xã du kích nằm hai bên dãy núi An Phụ để hỗ trợ cho bọn “quân thứ hành chính lưu động” đi lập tề và bảo chính đoàn, tổ chức chiếm đóng.

Ngày 3 tháng 7 năm 1952, hai binh đoàn cơ động GM1 và GM7 gồm bảy tiểu đoàn tiến công căn cứ Nhị Chiểu. Sau khi rải quân trên dãy núi vắt ngang khu Nhị Chiểu và làm xong công sự dã chiến, ngày 6 tháng 7 địch bắt đầu đánh xuống các xã trong khu.

Do chủ quan, thiếu kế hoạch chống càn nên huyện ủy Kinh Môn trở nên lúng túng, bị động. Một số cán bộ huyện bị địch bắt, các xã mất liên lạc với huyện. Đại đội 923 phải rút sang xã Lạc Long (bên kia dãy An Phụ). 400 du kích và thanh niên phải chạy vào hang đá tránh giặc, một số cán bộ và nhân dân chạy vào rừng.

Địch đã dồn 4.000 dân của khu căn cứ Nhị Chiểu vào các xã tạm chiếm gần các vị trí của chúng và để lại 1.500 quân đóng tại Nhị Chiểu. Ở khu ngoài Kinh Môn địch bố trí thêm 2.200 quân để bảo vệ cho khu trong và ngăn chặn lực lượng ta từ các hướng tiến vào. Bốn xã Hoàng Sơn, Minh Tân, Tân Dân, Phú Thứ thành khu không người. Tình hình huyện Kinh Môn trở nên nghiêm trọng. Để giúp cho huyện khôi phục được phong trào, tình ủy Quảng Yên quyết định đưa bộ đội vào Kinh Môn để đánh địch. Cơ quan lãnh đạo huyện và xã phải quay về bám đất, bám dân, phục hồi phong trào; các huyện khác phải tích cực phối hợp tác chiến với Kinh Môn. Đồng thời tỉnh Quảng Yên cũng chủ trương mở thêm các khu căn cứ du kích ở Kiệt Đặc, Kiệt Đoài, Đáp Khê thuộc huyện Chí Linh để buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó (nhưng chủ trương này không được Liên khu ủy Việt Bắc chuẩn y).

Chấp hành chủ trương của tỉnh ủy, ngày 10 tháng 7, một trung đội cảu huyện về khu ngoài hoạt động. Do lối chống càn cố thủ nên chỉ sau hai trận chiến đấu đơn vị bị tổn thất nặng, chỉ còn lại năm người. Tiếp theo đó, một trung đội khác của huyện đã lọt vào khu trong gần đường số 5 phân tán phối hợp với du kích dân quân hoạt động. Ngày 18 tháng 7 đơn vị đã cùng với du kích Châu Xá đột nhập và thôn Mụa (Thượng Quận) đánh úp bọn G.A.M.O. đang tuyên truyền lừa bịp nhân dân, diệt năm tên, bắt bảy tên, thu tám súng các loại. Mấy ngày sau một chiến sĩ du kích Thượng Quận đã đánh mìn trên đường 5 phá một xe địch đang chở quân đi càn.

Ngày 22 tháng 7, một trung đội của đại đội 908 vượt sông vào Nhị Chiểu để hoạt đông, nhưng do công tác trinh sát nắm địch không chắc nên đã bị địch phục kích ở bến đò Na Dương, cả trung đội đã bị địch bắt khi mới lên tới bờ sông.

Trước sự đối phó quyết liệt của địch và kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội còn ít, chính trị viên tiểu đoàn Bạch Đằng Tăng Văn Hội đã trực tiếp chỉ huy hai trung đội của đại đội 908 vào Nhị Chiểu để nghiên cứu tình hình và chỉ đạo phong trào đấu tranh trong khu. Bộ đội, du kích và số thanh niên sơ tán trong hang núi đã được chỉ đạo thống nhất. Quân ta đã dựa vào các hang đá để tránh giặc và duy trì sức chiến đấu. Đêm đêm du kích quay về làng mót thóc lúa, còn bộ đội thì ra khu ngoài để tiếp nhận gạo của nhân dân. Cuối tháng 8 năm 1952, đại đội 908 rút vào rừng và bảo vệ hơn 200 dân về theo. Đại đội 910 ra thay phiên chiến đấu. Trong cuộc sống gian khổ giữa hang đá, bộ đội và nhân dân đã chia nhau từng bát cơm, nắm gạo. Bộ đội dùng mũ sắt làm cối, lựu đạn hỏng làm chày để giã gạo. Nữ du kích dùng khăn đội đầu để sàng sẩy gạo. Chính trong khung cảnh ấy bài hát “Kinh Môn vùng lên” do bộ đội ta sáng tác đã được quân và dân Quảng Yên yêu thích coi như một bài hát truyền thống của mình:

“Lòng dân Kinh Môn, tình dân Kinh Môn trong hang tối vẫn sáng ngời…”(1).

Từ trong hang núi bộ đội và du kích đã bung ra đánh tỉa quân giặc, rồi tiến tới phục kích và chống càn, có trận đã cướp được cả đại liên của địch. Trước sự phục hồi sức mạnh chiến đấu của ta, dần dần quân địch đã phải co lại không dám càn quét sục sạo như trước.

Có tiếng súng của bộ đội và du kích, nhân dân bị dồn vào gần vị trí địch đã đòi địch phải cho về làng trông nom nhà cửa, ruộng vườn làm lỏng dần sự kiểm soát của chúng.

Để phục hồi và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng chí Trịnh Nguyên, bí thư tỉnh ủy Quảng Yên đã về khu ngoài để kiểm tra tình hình và truyền đạt quyết tâm của thường vụ tỉnh ủy cho các cấp ủy địa phương. Huyện ủy Kinh Môn đã được củng cố, chấn chỉnh và quay về địa bàn huyện chắp nối lại sự chỉ đạo từ huyện đến các xã. Phong trào của Kinh Môn dần dần được vực dậy, hồi phục.


(1) Bài hát “Kinh Môn vùng lên”, sáng tác của Nguyễn Phú Đạt, trung đội trưởng thuộc tiểu đoàn Bạch Đằng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:17:36 pm
Đợt hai chiến dịch Bô-lê-rô địch tiến hành từ ngày 16 tháng 8 năm 1952. Lực lượng địch dùng trong đợt này gồm sáu tiểu đoàn thuộc các GM1, GM3, GM7 và hai tiểu đoàn quân chiếm đóng, có xe bọc thép và pháo binh yểm trợ do tướng Béc-su (Berchout) chỉ huy. Trong hai ngày 17 và 18 tháng 6 địch triển khai trên dãy đồi núi nằm giữa các khu du kích của Chí Linh để làm công sự. Ngày 19 tháng 8 địch bắt đầu tiến công.

Có kinh nghiệm của Kinh Môn, quân và dân Chí Linh lập phương án đối phó. Khi một cánh quân địch tiến vào xã Chí Minh để lùng tìm quân ta, một trung đội của bộ đội huyện cùng với du kích đã bất ngờ nổ súng diệt 70 tên. Phát hiện được lực lượng quân ta không nhiều, một đại đội địch liều lĩnh xung phong vào làng, nhưng quân ta đã bình tĩnh bám chắc công sự, cản phá, diệt tiếp 60 tên nữa làm chúng phải bỏ chạy.

Ở các xã khác các trận đánh cũng diễn ra tương tự như xã Chí Minh; địch dựa vào thế đóng quân ào ạt tiến công; ta bình tĩnh bám sát trận địa kiên cường đối phó, thực hiện đánh gần, đánh chắc, tiết kiệm đạn và đánh liên hoàn, hỗ trợ lẫu nhau. Vùng du kích Chí Linh gồm nhiều thôn xóm nhỏ rài rác quanh vùng đồi núi trải rộng, do đó giặc khó có thể bao vây gọn để “cất vó” quân ta, nhất là với những đơn vị nhỏ, phân tán và cơ động trong các xóm trại.

Cũng trong thời gian này giặc càn sang cả xã Nguyễn Huệ thuộc huyện Đông Triều. Các trận chiến đấu diễn ra không khác ở Chí Linh. Bọn giặc đã cho bọn G.A.M.O đi lập tề ở các khu du kích và tổ chức lại vị trí bảo chính đoàn đóng lại ở hai khu du kích Văn Đức (Chí Linh) và Nguyễn Huệ (Đông Triều). Đã có kinh nghiệm đối phó với địch, một mặt quân ta vẫn tổ chức đánh địch để tiêu hao sinh lực chúng, một mặt ta cho một số nơi lập tề nhưng vẫn do xã điều khiển.

Để đối phó với địch, và buộc chúng phải phân tán lực lượng, tỉnh đội Quảng yên ngoài việc chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương kiên cường chống càn, còn điều một lực lượng bộ đội địa phương gồm bảy trung đội liên tục đánh phá giao thông và các vị trí địch trên đoạn đường 18 thuộc hai huyện Chí Linh, Đông Triều. Một mặt tỉnh đội cũng chỉ đạo dân quân du kích huyện Nam Sách tăng cường đánh các toán quân địch di chuyển các cuộc càn. Bị quân ta căng đánh ở khắp nơi, ngày 24 tháng 8, địch phải điều bớt quân đi càn vào vùng Cổ Vịt thuộc xã Lê Lợi ở phía bắc đường 18 thuộc huyện Chí linh, không tập trung quân gây ép mạnh được với các vùng chúng đang càn quét bình định.

Đợt ba chiến dịch Bô-lê-rô bắt đầu ngày 21 tháng 8 năm 1952. Trong chiến dịch này, địch đã dùng 258 lần ô-tô chuyển 700 quân từ Hải Phòng và Hải Dương về càn vào huyện Nam Sách. Chúng dùng 38 xe “cóc” (là loại xe lội nước) để tiện cơ động trên đồng trũng của huyện này.

Đại đội 902 thuộc tiểu đoàn Bạch Đằng và đại đội 921 của huyện cùng dân quân du kích dựa vào làng mạc rộng, có lũy tre dầy để chống càn ở An Dật, An Giới, Thượng Triệt, Mỹ Xá, Đồn Bối… thắng lợi. Trong 5 ngày chiến đấu liên tục, quân và dân Nam Sách đã tiêu diệt 162 tên địch, bắn bị thương 82 tên, phá hai xe cóc. Phía ta bị thương tám đồng chí, bị bắt hai và hy sinh 13 đồng chí.

Bị tiêu hao nhiều lực lượng mà hiệu quả đạt được lại thấp, ngày 25 tháng 8 năm 1952, địch chấm dứt cuộc càn quét thứ ba, đồng thời kết thúc chiến dịch Bô-lê-rô.

Vậy là sau hai tháng tiến hành cuộc hành binh càn quét và bình định lớn vào vùng đồng bằng tây Quảng Yên, địch không thực hiện được các mục tiêu cơ bản chúng đề ra, ngược lại chúng phải chịu những tổn thất đáng kể: 595 tên bị diệt (trong đó có hai quan năm, quan tư), 2.246 tên bị thương, 13 tên bị bắt làm tù binh, nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh bị mất, bị hư hỏng.

Về phía ta, qua hai tháng quân và dân đồng bằng sau lưng địch đã mưu trí đánh địch và dũng cảm bám đất, bám dân. Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, tránh chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu, đã từng bước tìm được phương thức để chiến thắng địch, bảo vệ được lực lượng ta và bảo đảm an toàn cho nhân dân, không để địch lôi kéo, khống chế, mua chuộc. Tuy trong chiến đấu ta có bộc lộ một số khuyết nhược điểm, trong đó có cả những khuyết điểm như chủ quan, thiếu cảnh giác sẵn sàng chiến đấu để dẫn tới một số tổn thất, hy sinh, nhưng được sự chỉ đạo kịp thời của trên, cán bộ, chiến sĩ đã khắc phục được khuyết nhược điểm để vượt lên hoàn thành nhiệm vụ.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:18:40 pm
Trong chiến dịch Bô-lê-rô bọn địch đã bộc lộ bản chất tàn bạo và xảo trá. Nhân dân hết lòng yêu bộ độ, cưu mang lẫn nhau và mưu trí đấu tranh với giặc. Ở khu căn cứ Nhị Chiểu, giặc bắt dân ở gần vị trí phải đi gặt lúa của nhân ở khu du kích, đồng bào buộc phải gặt về nhưng lại bí mật đem trả lại. Ở Đồn Lưu bọn G.A.M.O buộc dân phải tập trung để nghe tên thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu nói chuyện, đồng bào đã gây lộn xộn mất trật tự để phá cuộc mít tinh ấy.

Đặc biệt trong cuộc đối đầu quyết liệt với địch, nhiều cán bộ, đảng viên, bộ đội và dân quân du kích đã thể hiện tinh thần kiên trung bất khuất chiến đấu với giặc đến viên đạn cuối cùng, nhất định không chịu thỏa hiệp đầu hàng giặc. Tại các xã An Sinh, Hiệp Sơn, Hiệp An, Chí Minh… mặc dù bị địch kiểm soát gắt gao và khủng bố dã man, nhưng các cán bộ, bộ đội và du kích vẫn bám đất, bám dân để lãnh đạo phong trào, hướng dẫn cho nhân dân, quần chúng đấu tranh với địch. Đồng chí Nguyễn Doãn Giang, bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội dân quân xã An Sinh và các đồng chí cán bộ khác của xã đã ăn bờ, ngủ bụi hàng tháng trời để nắm tình hình địch và lãnh đạo nhân dân. Một đồng chí ủy viên thường vụ tỉnh ủy đã trực tiếp về khu ngoài để chắp nối lại liên lạc với các xã đang bị địch đánh phá.

Với tinh thần chiến đấu hy sinh và truyền thống đoàn kết, đấu tranh kiên cường như vậy nên chỉ một tháng sau khi chiến dịch Bô-lê-rô kết thúc phong trào chiến tranh du kích ở Chí Linh, Kinh Môn, Nam Sách, Đông Triều lại rộ lên và ngày càng lan sâu, lan rộng thêm.

Tháng 9 và tháng 10 năm 1952, đại đội 911 (Chí Linh) và dân quân du kích đã phục kích tiêu diệt bọn G.A.M.O. ở Ninh Cống, Quán Cao. Dân quân du kích xã Nguyễn Huệ (Đông Triều) độc lập chiến đấu bẻ gãy liên tục năm trận càn của địch vào địa phương.

Khi chiến dịch Tây Bắc mở (ngày 14 tháng 10 năm 1952), theo chỉ thị của tỉnh ủy Quảng Yên, các khu du kích bị lấn chiếm được lệnh cắt tề và chuyển lên đấu tranh vũ trang. Mở đầu cho đợt chiến đấu này, đại đội 908 do đại đội trưởng Đào Trọng Tính chỉ huy và một trung đội của đại đội 911 đã tập kích tiêu diệt gọn một đại đội báo chính đoàn ở Đông Xá. Em Nguyễn Văn Hòa, một thiếu niên du kích đã cung cấp cho bộ đội tình hình hoạt động của địch, góp phần đáng kể vào chiến thắng này. Ngày hôm sau (15 tháng 10 năm 1952), một tiểu đoàn Âu – Phi càn vào xã Văn Đức. Trong trận chống càn này quân ta đã tiêu diệt gần 500 tên địch. Trong khi đó ở Nhị Chiểu (Kinh Môn), đại đội 910 và đại đội 923 cùng du kích đã đánh thắng liên tiếp ở Hàng Cả, Vạn Chanh, Duyên Linh và Duy Tân. Du kích trở về xã bảo vệ cho số dân dồn làng trở về các xã giúp dân gặt mùa và chuẩn bị làm chiêm.

Trước sự tiến công liên tiếp của ta, ngày 17 tháng 11 năm 1952, 12.000 quân địch đóng ở khu Nhị Chiểu đã phải rút lui.

Nhưng lúc này do hậu quả của địch tàn phá trong cuộc càn và do hạn hán, nạn sâu và chuột phá lúa nên nạn đói đe dọa nhân dân trong tỉnh(1). Cán bộ, bộ đội, du kích đã tích cực giúp dân sản xuất, làm thủy lợi. Toàn tỉnh có phong trào bớt bữa giúp đồng bào Nhị Chiểu. Nhân dân ở vùng tạm chiếm gửi tiền, lương thực, vốn, giống và sức kéo giúp khu căn cứ này nhanh chóng hồi phục.

Cuối năm 1952, ở tỉnh Quảng Yên nạn đói bị đẩy lui và chiến tranh du kích lại phát triển. Giữa tháng 11, đại đội 902 và một trung đội của đại đội 911 đã chống cuộc càn của địch ở Giang Hạ, tiêu diệt 160 tên địch. Đại đội 921 và du kích Nam Sách đã diệt gần 100 tên trong các trận Vối, Đụn (xã Hồng Phong) và xã Mạc Xá. Đại đội 908 cùng du kích Kinh Ôn chống một tiểu đoàn quân Âu – Phi và một đại đội biệt kích đi càn ở Uông Hạ diệt 70 tên.

Các trận đánh nổ ra liên tiếp cho đến cuối năm 1952 lại càng rộ lên: ở Đông Triều ta tiêu diệt quân địch đóng ở Giếng Lãm và bao vây Núi Đồn, Núi Trọc; ở Chí Linh ta diệt các vị trí Hoàng Giáp và Lức; trong ba ngày 11, 12, 13 ta liên tiếp phục kích ở An Lạc, Văn Đức, Tân Dân và giải tán tề và dõng ở Đáp Khê, Phả Lại. Cuối tháng 12 năm 1952, huyện Nam Sách diệt các vị trí địch ở An Dật, Vạn Tải, Linh Khê. Các vị trí bảo chính đoàn ở các khu du kích bị quét sạch. Cả vùng đồng bằng Quảng yên khí thế của cuộc chiến tranh nhân dân lại bốc cao hòa cùng với Hải Ninh, Đặc khu Hồng Gai và toàn chiến trường đồng bằng Bắc Bộ.


(1) Trong cuộc hành binh Bô-lê-rô quân địch đã tàn phá tới 9/10 vụ chiêm của bốn huyện đồng bằng Quảng Yên. Hai huyện Chí Linh, Nam Sách bị phá 8.000 mẫu, huyện Đông Triều bị hạn nặng. Toàn tỉnh Quảng Yên có 849 gia đình bị đói và riêng khu Nhị Chiểu có 2.277 người bị đói. Trong phong trào khôi phục sản xuất, chống đói các địa phương toàn tỉnh đã sửa đê đập, mương tưới cho 3.546 mẫu ruộng. Chính quyền giúp dân và nhân dân giúp nhau được 40.760 ki-lô-gam thóc và 10.000 đồng. Chính quyền cho nhân dân vay 221.645 ki-lô-gam thóc và mua hộ 282 con trâu để có sức kéo phục vụ sản xuất. Toàn tỉnh đã bắt và diệt gần 10 triệu sâu phá lúa.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:22:14 pm
(https://lh3.googleusercontent.com/kPRwOlK-IHRPlSm62gAOXh3u4ZarpBScHcWwbuh9mgpFCI5P_XNjB2NgyT1bPd0DJ9OIkJHC3bdxBGERUmo4U0LY0cdMKjDH_pMID3OV42yB_F5078s3HEBH-pvsyaizMhS-jeWZ6xKQU1ZP8vHRu6sdpbFOtf_6BhXU6qBOe64P8pI5OHRHbjDnOaxsvN549v6jgvfOUrXJVbPi0o567dZmGJwG1q9E4gj0w3HLeARmaKlluuiD8cA5NZh_OU6clFp_lQq7eRrbbzlCHi2xFltJK5HfyLJ5AkrnKJKfJEOxN63FJlvC3iCilaAlLXShMDJRcpelDR-2LoRH-a1mj_UEODxLS5uxaOmqCnS2ARLY9QGqm5ynZBVYeES6Lq5s5NshhDzPLRraZsPjfYYNj7-VDvAiHCFvMsl538OjZG2mKMKMXFAui3rX_jzDMUnLJhBPZny1TfW0PZX8Ubrz4hNf1ZTcYmvg7338ZwLjGw8ZGwBSncq7_rjmLdnh6sqEOEXJe4ho5TbDRXvmWSsvD1Wa_NcGmnNyIldVyvTB51y9-ElrmKiOWDz5tvJBlbeUswxfARS4ChK5GQPlg7-zWwDzDTIB0wgG0Mj7iBCvRCmUdveuqt8o50hy=w1102-h767-no)

Cuộc chống càn lớn Bô-lê-rô của địch (28-6-1952 - 28-8-1952


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:24:34 pm
3. Đẩy mạnh chiến tranh toàn diện, phá các âm mưu thủ đoạn mới của địch, giành quyền chủ động trên chiến trường địa phương.

Năm 1953 cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã chuyển sang một giai đoạn mới ngày càn có lợi cho ta không có lợi cho địch.

Sau những thất bại nặng nề trong năm 1952 tại chiến dịch Hòa Bình và chiến dịch Tây Bắc, sau đó lại thất bại ở chiến dịch Thượng Lào năm 1953, thực dân Pháp ngày càng lún sâu vào thế bị động. Chúng đã thay thế tổng chỉ huy chiến trường và thực hiện “Kế hoạch Na-va” với sự thỏa thuận của Mỹ.

Âm mưu mới của thực dân Pháp là tập trung xây dựng cho được một khối chủ lực tác chiến mạnh và xây dựng đội quân ngụy to lớn thay thế nhiệm vụ chiếm đóng cho quân viễn chinh. Chúng chủ trương trong thu đông 1953 và mùa xuân 1954 giữ thế phòng ngự chiến lược, đánh quyết chiến ở miền Bắc, thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam nhằm chiếm đóng toàn bộ vùng tự do còn lại của miền Nam; đến đông xuân 1954 – 1955, với khối chủ lực cơ động được xây dựng xong, tập trung toàn bộ lực lượng quyết chiến với chủ lực ta trên chiến trường miền Bắc, giành thắng lợi quyết định.

Với số tiền viện trợ quân sự 650 triệu đô-la của Mỹ, chúng đã dành ra 400 triệu để xây dựng và tổ chức quân ngụy, đồng thời tăng chi phí cho các hoạt động quân sự của quân viễn chinh. Từ đầu năm cho tới mùa thu 1953, chúng đã mở hàng chục cuộc hành quân càn quét tại các vùng ở Bắc Bộ, Bình – Trị - Thiên, Nam Bộ, ráo riết bình định, bắt lính. Chúng tập trung một nửa lực lượng cơ động chiến lược và một lực lượng chiếm đóng rất lớn gồm hơn 100 tiểu đoàn hoạt động ở đồng bằng Bắc Bộ. Chúng tiến đánh các căn cứ của ta ở nam Nam Định, vùng sông Luộc và Vĩnh Bào (Kiến An) nhằm phá các bàn đạp tiến công của ta. Chúng tăng cường biệt kích tập kích đánh phá vùng tự do, ra sức đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, tuyên truyền cho “Kế hoạch Na-va”. Đồng thời chúng thả hàng nghìn thổ phỉ xuống các vùng cao ở hậu phương của ta, kết hợp với các hoạt động tập kích bằng đường không thả quân dù xuống đánh phá các mục tiêu ở sâu hậu phương ta trong từng thời gian ngắn.

Nhận định thế và lực giữa và địch trên chiến trường, để đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân ta đi tới thắng lợi, tháng 1 năm 1953 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định hai vấn đề lớn là: Lãnh đạo kháng chiến và chính sách quân sự; phát động quần chúng quán triệt để giảm tô, tiến đến cải cách ruộng đất.

Về lãnh đạo kháng chiến và chính sách quân sự, báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên 10 điểm cơ bản có tính chất quyết định đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng, tác chiến và hoạt động… cho các lực lượng vũ trang và các địa phương trong cả nước.

Đối với chiến trường sau lưng địch, báo cáo nêu rõ: “… phải mở rộng du kích chiến để tiêu diệt, tiêu hao những bộ phận nhỏ của địch; để chống địch càn quét, bảo vệ tính mạng tài sản cho dân; để khuấy rối, phá hoại, kiềm chế địch tuyên truyền và giáo dục quần chúng những vùng đất đó, thu hẹp nguồn ngụy binh của địch, mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích của ta, đặng thành lập và củng cố những căn cứ địa kháng chiến sau lưng địch”(1). Trong xây dựng lực lượng, “ngoài việc tăng cường bộ đội chủ lực và du kích khá to cần phải xây dựng những tổ chức dân quân và du kích không thoát ly sản xuất”(2) để đảm nhiệm nhiệm vụ trấn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn trật tự trị an trong các bản làng, bảo vệ lợi ích của quần chúng, đấu tranh với địch và phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực, đồng thời còn làm nguồn bổ sung cho bộ đội chủ lực.

Về thực hiện chính sách ruộng đất, Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Đảng quyết định: “Tiêu diệt chế độ sở hữu ruộng đất của thực dân Pháp và bọn đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến sở hữu ruộng đất của địa chủ Việt Nam và ngoại kiều, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân”(3). Hội nghị thông qua bản Dự thảo cương lĩnh của Đảng về chính sách ruộng đất. Trước mắt, trong năm 1953, hội nghị quyết định: “Phát động quần chúng nông dân triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, chia lại công điền, chia hẳn ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian cho nông dân… thiết thực chuẩn bị cải cách ruộng đất”(4).

Chính sách ruộng đất của Đảng đã đáp ứng nguyện vọng hàng ngàn năm của giai cấp nông dân Việt Nam, là động lực thúc đẩy cuộc kháng chiến của toàn dân tộc nhanh chóng đi tới thắng lợi. Nhân dân cả nước phấn khởi đón mừng và thực hiện nghị quyết lịch sử này của Đảng.

Đối với ba tỉnh và đặc khu ở địa bàn Đông Bắc, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 là ngọn cờ chỉ đạo và cổ vũ cho mọi hoạt động của quân và dân ta trong năm 1953.

Ở Hải Ninh, Quảng Yên và Hồng Gai từ năm 1952 địch đã ra sức càn quét đánh phá các vùng căn cứ du kích, mở rộng phạm vi chiếm đóng và bắt lính lập dõng xây dựng lực lượng vũ trang phản động. Đến năm 1953, thực hiện kế hoạch Na-va chúng càng ra sức đôn quân bắt lính, xây dựng gấp các đơn vị địa phương quân, thúc đẩy bọn phản động ráo riết hoành hành đánh vào các vùng tự do căn cứ kháng chiến của ta hòng tiêu diệt các cơ quan đầu não của các tỉnh, đồng thời tiếp tục càn quét bình định ở vùng sau lưng địch hòng trục xuất lực lượng vũ trang của ta ra khỏi các vùng này, giành quyền kiểm soát kho nhân tài, vật lực để nuôi sống cuộc chiến tranh của chúng. Trước thủ đoạn mới của địch, được sự chỉ đạo trực tiếp của Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu Việt Bắc, các tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai đã căn cứ vào tình hình thực tế của chiến trường địa phương của mình để tiến hành chỉ đạo các hoạt động đấu tranh vũ trang nhằm đánh thắng các âm mưu, thủ đoạn của địch, duy trì và đẩy mạnh kháng chiến tiến tới thắng lợi.


(1), (2) Báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Đảng (tháng 1 năm 1953).
(3), (4) Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Đảng (từ ngày 25 đến ngày 30 tháng 1 năm 1953).


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:27:13 pm
*

Tại Hải Ninh, từ tháng 12 năm 1953, sau khi học tập nghị quyết Trung ương về phương châm đấu tranh ở vùng sau lưng địch, đảng bộ tỉnh Hải Ninh đã tạo được chuyển biến rõ rệt trong chiến tranh nhân dân địa phương. Trên cơ sở phân rõ được các vùng tạm chiếm với vùng du kích, tỉnh ủy Hải Ninh đã quyết định:

- Chấm dứt hiện tượng các cơ quan lãnh đạo bỏ đất, bỏ dân và chỉ đạo theo lối “vọt cần câu” từ xa về.

- Chuyển hướng các tổ chức, các hoạt động ở vùng tạm chiếm vào bí mật; tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên và quần chúng trung kiên.

- Chú trọng lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng chống áp bức, bóc lột của kẻ địch, bảo vệ quyền lợi hàng ngày của đồng bào.

Thực hiện quyết nghị của tỉnh ủy, các cấp bộ Đảng, chính quyền các huyện, thị về đất của địa phương, bám sát dân, bám sát phong trào, kiên trì, khéo léo tuyên truyền giác ngộ và vận động quần chúng đấu tranh với địch từ thấp đến cao. Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1953, toàn tỉnh đã có 27 cuộc đấu tranh lớn nhỏ, bao gồm 10 cuộc chống bắt phu, bắt lính, chống lập dõng và xây vị trí cho dõng, tám cuộc chống cướp bóc, ức hiếp nhân dân; tám cuộc đấu tranh chống tập trung thóc, nộp tre gỗ và tống tiền. Ngoài ra còn 24 cuộc đấu tranh lẻ tẻ khác với số người dưới 10 người đòi những vấn đề dân sinh, an toàn trật tự như chống cướp hàng, cướp tiền, v.v. Những cuộc đấu tran trên đã thu hút 1.591 người tham gia, trong đó có cả người Hoa, người Việt và gia đình của tề, ngụy. Nổi bật là cuộc đấu tranh ở Chúc Bài Sơn có tới 162 người tham gia, đã thu hút được cả người Hoa và người Thanh Phán.

Qua đấu tranh của quần chúng, ta đã phục hồi được 108 tổ công tác bí mật gồm 715 cơ sở. Phong trào quần chúng ngày một phát triển đã hỗ trợ cho công tác binh vận và đấu tranh vũ trang.

Song song với việc chỉ đạo đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân đối với địch, tỉnh ủy Hải Ninh cũng chỉ đạo đấu tranh vũ trang chống lại âm mưu bình định, lấn chiếm vùng tự do và phá kế hoạch đôn quân bắt lính của địch.

Năm 1963, tuy phải rút quân Âu – Phi đưa về lực lượng cơ động, nhưng với đội quân ngụy do Voòng A Sáng cầm đầu và lực lượng dõng được xây dựng từ những năm trước và có các lực lượng phản động hỗ trợ, giặc Pháp vẫn liên tiếp tổ chức càn quét đánh phá các vùng, kể cả vùng tự do của ta. Trong càn quét chúng đã sử dụng lực lượng ngụy của Voòng A Sáng, bọn biệt kích người dân tộc thiểu số do sĩ quan Pháp trực tiếp chỉ huy, kết hợp với các đội mật thám cơ động và chỉ điểm nằm vùng.

Về phía ta, trong năm 1953, tuy bộ đội địa phương và dân quân du kích đã được phát triển và củng cố một bước(1) nhưng do điều kiện chiến trường rừng núi, giao thông liên lạc khó khăn và trình độ tác chiến của dân quân du kích có hạn, do đó hoạt động của chủ lực địa phương có khó khăn. Tuy nhiên, với quyết tâm đẩy mạnh chiến tranh nhân dân địa phương, phối hợp với chiến trường cả nước, Hải Ninh đã có nhiều cố gắng trong xây dựng, nâng cao chất lượng của lực lượng vũ trang địa phương. Đi đôi với việc chấn chỉnh, củng cố các đơn vị bộ đội huyện và huấn luyện kỹ thuật cho các đơn vị chủ lực của tỉnh, tỉnh đội Hải Ninh đã xây dựng được một đội trinh sát khá mạnh để phục vụ cho lãnh đạo nắm tình hình địch và phục vụ cho việc tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương.

Mở đầu cho các hoạt động quân sự của Hải Ninh là trận đánh của đại đội 20 tại Cầu Đôi ngày 8 tháng 2 năm 1953. Sáng ngày 8 tháng 2, quân địch đóng ở Đầm Hà đã mở một trận càn từ Đại Dực (Đầm Hà) sang các xã Yên Than, Yên Lãng thuộc huyện Tiên Yên. Do lực lượng dân quân du kích ở đây không đủ sức đương đầu với số quân địch đông gấp bội nên địch đã tràn được vào xã tàn phá nhà cửa, hoa màu, bắt đi 50 người dân và một thuyền có tài liệu của chi bộ Yên Lãng do một đảng viên phụ trách. Được tin địch càn, đại đội 20 đã vận động đến chặn địch ở Cầu Đôi, sau ít phút chiến đấu ta đã diệt 20 tên địch, phá một ô-tô, thu năm súng, bọn địch còn lại tháo chạy về Đầm Hà.

Ngày 18 tháng 5 năm 1953, đội trinh sát của tỉnh đã bí mật lọt vào vùng địch, dùng bộc phá đánh sập tháp canh Na Liễu, diệt 5 tên địch, làm bị thương 10 tên.

Tháng 6 năm 1953, một tiểu đoàn địch càn vào Đại Dực Động và Khe Lán. Đại đội 54 bộ đội chủ lực tỉnh đã phối hợp với du kích xã Phong Dụ (Tiên Yên) chặn đánh diệt 32 tên.

(https://lh3.googleusercontent.com/H7CHP_UOegixSauAVGjjTXSQOKaUke5-Vg_3ZxIX-VVnNiUdp9kfz7oZEbZxW1VvFWfF7lUHog3Qc9oL64QvMMFA6VqwcLLXnB-t1wsQvTinxR-fyjmQXIxy58_IHrD3lwue8_TQ95iwtbx0Aj4A-AQXUxbFNv1Pypravxp3PcZnkJhG5uJT9L2MddQc06d4h7Kbf46rD8-EETd3Io1XpICXq7VbBduPmJKwE0aw7jfrj720PDtcT4hfavwZi8mNut3Bae_9pckPT6KRZM2_WuwJf0dXUAZyi_LqZxve5_5gFrmEqjmzXIG11ID2EqHzHqV_5C9fjNhNnbiU1NqQvzKlDi2adV4emIlHHyYWXClbWp75IERopZhCuKRQtF004xBiagrvIUvIUyWUw7p2HJXUaVSytoziPuJjAQ3z6PYBIRxRzLjAkFFmQS0slB554dSKTaqVxfbYgbKN2zBMue55iGv7NtCn4Z_ooDCr3E4OufknKwPe0aI8mOddUpazyEMbWkU3ykaKPYbI5ZbComPGfm9ibIVlMSDfyBoqUsRgzk7KNRpYcMPSzQSPI7rnXGiukTT22l1a9qDVwQdbRqc0VyoekSfAKnYzoVXKUNxbBobkRXsBDvCQ=w1024-h693-no)

Đại đội 54 bộ đội địa phương tỉnh Hải Ninh trong kháng chiến chống Pháp


(1) Năm 1953, bộ đội địa phương Hải Ninh có số quân 853 cán bộ, chiến sĩ được biên chế trong tiểu đoàn chủ lực tỉnh và các địa phương của các huyện; lực lượng du kích có 604 người, vũ khí có 527 súng các loại.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:28:24 pm
Ngày 17 tháng 7 năm 1953, giặc Pháp mở cuộc hành binh “Con én” đưa ba tiểu đoàn dù nhảy xuống Lạng Sơn bất ngờ tập kích vào hậu phương ta. Đến 13 giờ cùng ngày địch theo đường 4A rút chạy khỏi Lạng Sơn. Năm tiểu đoàn Âu – Phi từ Tiên Yên lên yểm trợ. Phối hợp với cuộc hành binh này, từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 27 tháng 7, địch hoạt động mạnh ở Ngàn Chỉ, Tĩnh Húc Động (Bình Liêu), Hà Cối và Nậm Xi, Pò Hèn, Thán Phún thuộc Móng Cái. Được lệnh của ban chỉ huy tỉnh đội các đại đội 54, 55, 63 đã liên tiếp phục kích trên đường số 4A và chặn đánh địch từ Nà Pá đến Phố Cũ, diệt 55 tên, làm bị thương 89 tên, bắt một tên, giải thoát 20 tù binh và 69 người dân tỉnh Lạng Sơn bị địch bắt.

Tiếp sau đợt chiến đấu trên đường 4A, ngày 29 tháng 8 quân ta tập kích diệt bốt Đông Triều; ngày 30 tháng 8 diệt bốt Đường Hoa. Trong hai trận này ta bắt 35 tên, diệt một số tên và thu toàn bộ súng. Ngoài ra ta còn cắt thêm 2.000 mét dây điện thoại của địch trên đường đi Chúc Bài Sơn ở Hà Cối.

Phát huy thắng lợi, bội đội và cán bộ chính trị của tỉnh đã tổ chức vũ trang tuyên truyền vào Đầm Hà, liên lạc với các cơ sở ở Nà Phá, Đầm Cái Xương, Tiên Lãng, Hin Đăm, Nà Hắc và gây được cơ sở ở thôn Thủy Cơ, vào được Hà Dong (Tiên Yên) và lãnh đạo được cuộc chống thuế ở đảo Vĩnh Thực. Trong đợt hoạt động này ta đã vận động được 30 lính dõng ở Đại Dực, Dực Yên, Nà Pá mang trả súng cho bọn chỉ huy để trở về nhà làm ăn.

Trước những hoạt động của ta, bọn ngụy Voòng A Sáng ra sức phản kích. Ngày 2 tháng 4, được bọn phản động nằm vùng chỉ điểm, lợi dụng lúc bộ đội đang rời căn cứ đi hoạt động, Voòng A Sáng đã sử dụng hai tiểu đoàn quân ngụy theo hai hướng Chúc Bài Sơn và Đồng Văn tiến công vào vùng tự do của ta ở Bình Liêu. Địch đã đánh vào cơ quan của tỉnh ở Bản Pạt, giết 6 nhân viên của cơ quan và đốt hết nhà cửa. Bọn giặc đã lùa hết nhân dân lên phố huyện để dụ dỗ. Chúng phát quần áo cho phụ nữ và trẻ em; thăng chức cai, đội cho các tên phản động nằm vùng. Thâm độc hơn chúng đã phá kho gạo của nhà nước và khuyến khích nhân dân vào lấy. Chúng đã tuyên truyền, mê hoặc quần chúng, suy tôn Voòng A Sáng là “vua” của người dân tộc. Với các thủ đoạn thâm độc và lừa bịp chúng đã lôi kéo được hai chiến sĩ bộ đội, hai đảng viên ở Hoành Mô và 10 cán bộ xã đi theo chúng, đồng thời chúng bắt 300 dân đưa về vùng tạm chiếm

Đây là một tổn thất lớn của ta trong năm 1953, một bài học về kém cảnh giác sẵn sàng chiến đấu trong công tác tổ chức, chỉ huy.

Tuy nhiên, trong một loạt những sơ hở, thất bại cũng có những điển hình tích cực nổi lên. Ở Đồng Văn, khi quân địch càn đến, các chiến sĩ du kích ở đây đã giải vờ đầu hàng địch để chúng tự do vào làng ăn uống, nghỉ ngơi. Sau khi cho địch chè chén no say, anh em đã dùng vũ khí uy hiếp địch, bắt sống tên quan một người Thanh Phán và bảy lính ngụy khác.

Sang tháng 10 năm 1953, ta chủ trương đánh đồn Thán Phún nhằm mở rộng phong trào sang Tràng Vinh, nhưng do bị lộ nên quân địch từ Móng Cái dến bao vây. Sau mấy giờ đánh phá vây ta đã diệt 13 tên địch, phá được vòng vây của chúng, nhưng ta cũng bị thương vong một trung đội.

Sau trận này đến tháng 12, bộ đội và du kích tiếp tục đánh phá những trận phục kích và chống càn nhỏ, diệt hơn hai chục tên, bắt 13 tên và thu một số súng.

Ngày 18 tháng 11, Voòng A Sáng lại dùng hai tiểu đoàn càn vào hai xã Tĩnh Túc và Lục Hồn ở Bình Liêu. Chúng đã đóng ở đây 3 ngày, cướp phá, giết chóc nhân dân, đốt hai kho thóc, nhiều nhà cửa của dân và bắt đi hơn 100 gia đình.

Cuộc chiến đấu giữa ta và địch giằng co quyết liệt. Trước một kẻ địch đông và khá mạnh gồm đủ đối tượng, chúng lại chốt giữ được các địa bàn quan trọng và bao vây vùng căn cứ của ta; trong khi đó lực lượng vũ trang nhân dân địa phương của ta còn có hạn, trình độ không đồng đều, chưa dày dạn kinh nghiệm chiến đấu... nên kết quả thu được cũng còn bị hạn chế. Trong năm 1953, bộ đội và du kích Hải Ninh đánh 21 trận, diệt và bắt 396 tên, làm bị thương 31 tên, thu nhận năm hàng binh, thu 58 súng các loại, phá 4 xe ô-tô, vận động một trung đội và 45 tên địch ở Tiên Yên, Đầm Hà bỏ ngũ.

Tuy nhiên, có một thủ đoạn mới của địch mà các lực lượng ta chưa đối phó được có hiệu quả là việc địch kết hợp giữa càn quét và dụ dỗ mua chuộc lôi kéo nhân dân và cán bộ, bộ đội ta đi theo chúng (Trong năm 1953 địch đã bắt 530 người dân và 100 gia đình đưa về vùng tạm chiếm, mua chuộc dụ dỗ 50 chiến sĩ của các đơn vị ở Đầm Hà, Tiên Yên, Bình Liêu; hai đảng viên và 40 cán bộ ở Bình Liêu về theo chúng). Đây là một đặc điểm riêng của Hải Ninh mà ta còn phải tiếp tục khắc phục cùng với quá trình đấu tranh chống lại các thủ đoạn chia rẽ dân tộc của địch để đưa cuộc kháng chiến tiến tới thắng lợi hoàn toàn.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:29:17 pm
*

Đầu năm 1953, tại Đặc khu Hồng Gai, giặc Pháp đã phải rút quân chiếm đóng để xây dựng lực lượng cơ động chiến lược. Để tiện cho việc chỉ huy và tăng cường bảo vệ cho khu mỏ, chúng đã sáp nhập phân khu quân sự Hồng Gai bao gồm cả binh lực toàn khu mỏ vào với phân khu quân sự Quảng Yên và tăng cường các vị trí Đồng Đăng, Sơn Dương, Đá Trắng, Đá Bia, Đèo Bụt, Cửa Ông, Cái Bầu…

Chúng ráo riết xây dựng các “khu trắng” quanh các mỏ để ngăn ta thâm nhập. Đồng thời tích cực thực hiện kế hoạch lập dõng, lập địa phương quân ở đặc khu và lấy Hoành Bồ làm trọng điểm, nhằm tạo lực lượng thay thế ở địa phương để đưa một bộ phận quân chiếm đóng đi chiến trường chính. Chúng đã phát thêm nhiều vũ khí cho bọn dõng người Thanh Phán và người Hoa ở Đá Trắng, Đồng Quặng, Thống Nhất; dự tính đưa bọn dõng về Đồng Vải, Thống Nhất và ở huyện Cẩm Phả lên thành địa phương quân.

Tại vùng biển và hải đảo, địch đã lập dõng ở các xã Bình Dân, Đoàn Kết, Đông Xá, Hạ Long để hỗ trợ cho bọn biệt kích Hội Hành. Chúng quy định “vành đai trắng” trên biển từ khu vực đảo Vạn Hoa đến Vân Hải, cấm các thuyền bè, ngư dân qua lại lằm ăn ở khu vực đó, trừ những nơi đã bị dồn dân về Cửa Ông và có thẻ căn cước của chúng.

Đối với đồng bào làm ăn sinh sống trên vùng biển và hải đảo, giặc Pháp đã đàn áp bóc lột rất dã man. Từ tháng 12 năm 1952 đến tháng 3 năm 1953, chúng đã càn sục 66 lần vào xã Văn Châu nơi có 500 dân cư trú, để dồn họ về Cửa Ông. Sau đó chúng càn liên tiếp vào các Cái Bầu để tìm phá huyện ủy Cẩm Phả. Địch gở mọi hành động dã man với đồng bào ta. Tại Thạch Hà để dồn nhân dân ở đây về khu tập trung chúng đã không ghê tay bắt giết 12 người liền một lúc và phá hủy hàng chục chiếc thuyền. Ở Hùng Thắng giặc cũng giết hàng chục người và cướp một số tài sản giá trị bảy vạn đồng Đông Dương.

Đi đối với các hoạt động quân sự, địch còn ra sức áp bức bóc lột nhân dân. Bên cạnh các hình thức thông thường của bọn chủ mỏ đối với công nhân như giãn thợ, cúp lương, tăng thuế, tăng tiền nhà, tiền điện, trên mặt biển chúng đặt ra hàng chục thứ thuế rất vô lý như thuế thuyền, thuế bãi phơi lưới, thuế ngụ cư, thuế chợ, thuế bến, thuế làm sổ, thế bút (khi xin giấy tờ), thuế đò thuyền, v.v. Đối với khu vực nông nghiệp chúng cũng bóc lột không kém. Theo thống kê, ở huyện Hoành Bồ, Trung bình một gia đình trung nông hàng năm phải đóng tới ba vạn đồng Đông Dương tiền thuế và một gia đình bần nông phải đóng một vạn đồng.

Xuất phát từ tình hình của địa phương, Đặc khu ủy Hồng Gai đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh với địch trên cả ba mặt trận chính trị, kinh tế và quân sự.

Về đấu tranh chính trị ta đã tập trung vạch mặt bốn “nghiệp đoàn vàng” tay sai của bọn chủ mỏ, chống thủ đoạn giãn thợ bắt lính và sa thải công nhân. Trong đấu tranh về kinh tế, bên cạnh việc các tầng lớp nhân dân phản đối, tẩy chay việc đóng “đảm phụ quốc phòng” và các thứ thuế vô lý của địch; phản đối việc bọn chủ mỏ mở các sòng bạc, nhà chứa, tăng tiền nhà, tiền điện và tăng giờ làm (16 giờ một ngày), tại các khu mỏ công nhân đã đòi tăng lương, đòi phát lương đúng kỳ và cao hơn nên đã tổ chức phá hoại sản xuất, trực tiếp đánh vào kinh tế dịch. Điển hình như các vụ phá hoại ngày 30 tháng 4 của công nhân nhà sàng Cửa Ông, vụ phá hoại của công nhân Sở Bến, Hồng Gai ngày 1 tháng 5, đã làm cho địch thiệt hại gần một triệu đồng tiền Đông Dương.

Song song với đấu tranh kinh tế, chính trị, Đặc khu ủy đã chú ý lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh đấu tranh quân sự, vũ trang. Năm 1953 Đặc khu ủy xác định nhiệm vụ quân sự của đặc khu là: tiếp tục chủ động đánh địch nhằm tiêu hao sinh lực địch và giam chân chúng ở địa phương, không cho chúng chi viện cho chiến trường chính; bảo vệ và củng cố vùng căn cứ du kích và phá âm mưu của địch nhằm củng cố bọn phản động vũ trang trên vùng cao, phá kế hoạch đôn quân bắt lính của địch.

Đặc khu cũng quy định địa bàn tác chiến trong năm 1953 là huyện Hoành Bồ, bao gồm chặng đường 18 từ Yên Lập đến Bãi Cháy, chặng đường từ Đồng Đăng đến Thống Nhất và các xã thuộc vùng rừng núi của huyện.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:29:52 pm
Để tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang của đặc khu đủ sức hoàn thành nhiệm vụ, cơ quan đặc khu đội Hồng Gai đã được củng cố. Đại đội 21 của đặc khu và đại đội 23 của huyện Hoành Bồ cũng được bổ sung thêm quân số và vũ khí; quân số của hai đại đội này và của cơ quan đặc khu đội và huyện đội Hoành Bồ là 327 người.

Với số quân ít, lại hoạt động trong một địa bàn hẹp, lực lượng vũ trang của đặc khu đã thực hiện triệt để phương châm đánh du kích, đánh có chuẩn bị và sử dụng các chiến thuật thích hợp như phục kích, bắn tỉa, đánh phá giao thông. Suốt trong năm 1953, đại đội 21 của tỉnh và du kích các xã Việt Hưng, Sơn Dương đã liên tục bám các trục đường giao thông đánh địch, lúc đánh mìn, phá cầu, lúc phục kích, bắn “bia sống”. Kết quả trong năm đã diệt và bắt 95 tên địch, phá năm xe vận tải quân sự, một xuồng chiến đấu, thu 116 súng trường và một số súng cối. Điển hình trong các hoạt động chiến đấu này là trận phục kích ngày 7 tháng 8 tại Cựa Gà (trên đường 18). Trong trận này, quân ta đã diệt một xe và năm tên địch, thu toàn bộ số súng địch định mang về Trới trang bị cho bọn ngụy gồm 116 khẩu súng trường và một số súng cối, lựu đạn. Ngày 22 tháng 12 cùng với trí thông minh và tài ngụy trang quân ta đã phục kích đánh một toán địch từ Trới di chuyển về Đồng Đăng. Vị trí phục kích của ta ở ngay đường hành quân của quân địch, nhưng chúng không phát hiện được, khi cả toán quân xuống thuyền và ra tới giữa sông, quân ta mới nổ súng bắn đắm thuyền, tiêu diệt một số tên. Phán đoán dịch sẽ tiếp tục kéo tới để giải quyết hậu quả, đại đội 21 và du kích Việt Hưng lại tổ chức phục kích tiếp. Quả nhiên bọn địch ở Đồng Đăng đã dẫn xác tới và đã lọt vào trận địa của ta. Một xe địch bị trúng mìn, chín tên địch bị chết.

Bị đánh liên tiếp, bọn địch ở Hồng Gai đã dùng cả quân chiếm đóng và bọn thổ phỉ càn sục vào các xã tạm chiếm như Việt Hưng, Lê Lợi, Thống Nhất hòng tiêu diệt lực lượng du kích và bộ đội ta và phá các cơ sở kháng chiến của ta ở những nơi này.

Nhưng chi bộ các xã đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh với địch để hạn chế việc cướp bóc, tàn phá và khủng bố của giặc, bảo vệ được cơ sở và phong trào.

Trong khi đại đội 21 đánh địch liên tục trên các trục giao thông thì đại đội 23 tiến hành vũ trang tuyên truyền ở các vùng cao của huyện. Rút kinh nghiệm hoạt động của năm 1952, trong năm 1953 đơn vị không tổ chức thành từng đợt lớn mà chuyển sang dùng các tổ chức nhỏ lẻ len lỏi vào các khe, xóm để làm công tác cơ sở một cách thường xuyên. Bộ đội ta đã kiên nhẫn đón từng người dân đi chợ, làm nương để thăm hỏi và phổ biến chính sách của Chính phủ đối với đồng bào các dân tộc.

Từ cơ sở trong dân, các chiến sĩ ta đã liên lạc được với binh lính ngụy. Đại đội trưởng Đặng Khắc Ngân đã giác ngộ được một viên đội người Thanh Phán ở Đồng Quặng. Từ viên đội này ta đã gây được cơ sở trong một số chỉ huy và binh lính khác ở Đồng Quặng, Lưỡng Kỳ, Đồng Vải, Đồng Mang và Trới. Thời gian đầu ta chỉ yêu cầu họ báo cho ta biết những nơi địch sẽ tuần tiễu, phục kích, tiến tới ta bày cho họ đấu tranh với bọn chỉ huy đòi chúng không được cúp lương, ngược đãi binh sĩ.

Được các cơ sở thông tin chính xác, đại đội 23 đã đánh một số trận diệt được những tên chỉ huy ngoan cố. Sau đó đơn vị vận động lính dõng ở rẻo cao bỏ đồn trở về nhà.

Lực lượng vũ trang phản động ở Đồng Quặng bị phá, phong trào của địa phương được phát triển. Một số dân ở Sơn Dương bị dồn làng đã bỏ về làng cũ; 30 gia đình ở Đồng Quặng cũng trở về khe, xóm làm ăn. Nhân dân các xã quanh khu vực yên tâm lên rừng thu hái lâm thổ sản không lo bị phỉ phục kích bắn giết như trước. Căn cứ Bằng Cả đã được mở rộng không bị o ép. Đường giao thông liên lạc từ căn cứ của đặc khu về vùng mỏ đã an toàn hơn.

Với thắng lợi của công tác vận động quần chúng và địch vận của bộ đội đặc khu, bọn lính ngụy và biệt kích người Thanh Phán ở Trới rất hoang mang dao động, chúng nơm nớp lo sợ ngày đêm và không dám hung hăng, lùng sục càn quét như trước nữa, nhân dân vùng địch kiểm soát được nới lỏng và bộ đội, cán bộ ta có điều kiện tiếp cận làm công tác cơ sở vận động quần chúng vũ trang tuyên truyền trong hàng ngũ binh lính địch.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:30:43 pm
*

Sau những trận đánh cuối năm 1952, trên địa bàn trong tỉnh Quảng Yên, đặc biệt là ở bốn huyện đồng bằng miền tây của tỉnh, các khu căn cứ du kích của ta nằm đan xen giữa các đồn bốt địch, bên cạnh đó là những khu tranh chấp phát triển ngày một nhiều. Trên địa bàn chiến lược này cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra quyết liệt. Địch ra sức đánh phá, hòng xóa bỏ các căn cứ đứng chân của ta ngay trong lòng chúng, ngược lại ta cũng ra sức phát triển mở rộng các vùng căn cứ du kích, thu hẹp địa bàn chiếm đóng của địch và phá các thủ đoạn gom dân bắt lính của chúng.

Bước vào năm 1953, trong khi phải tập trung xây dựng các khối cơ động chủ lực, tác chiến, địch vẫn phải để lại ở Quảng Yên một lực lượng lớn binh lính để thực hiện kế hoạch bình định, càn quét gom dân bắt lính và đối phó với các hoạt động của các lực lượng vũ trang ta.

Về phía ta, trong những tháng đầu năm 1953, lực lượng vũ trang của tỉnh cũng được tăng cường rất nhanh cả về số lượng và chất lượng. Số đơn vị chiến đấu của tỉnh bao gồm tiểu đoàn Bạch Đằng với ba đại đội bộ binh và một đại đội hỏa lực, đại đội 911 của huyện Chí Linh, đại đội 913 của Đông Triều, đại đội 915 của Yên Hưng, đại đội 917 của Sơn Động, đại đội 921 của Kinh Môn, đại đội 919 của Cát Hải và đại đội 915 của Thủy Nguyên(1). Ngoài ra tỉnh còn có một đại đội trinh sát đặc công và đại đội 912 chuyên làm nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới. Bên cạnh phát triển về số lượng, bộ đội Quảng Yên đã có những tiến bộ mới về chiến thuật như đánh đặc công, đánh giao thông thủy bộ…

Ngoài ra tỉnh còn có hàng ngàn dân quân du kích được trang bị tương đối đầy đủ và có kinh nghiệm chiến đấu tốt.

Với một biên chế tổ chức tương đối đồng bộ từ tỉnh đến huyện và xã như vậy, Quảng Yên chủ trương mở rộng thêm và nâng cao hơn nữa trình độ chiến tranh nhân dân bằng cách duy trì sự có mặt thường xuyên của bộ đội để hoạt động liên tục trong vùng sau lưng địch. Trước kia cứ sau một đợt hoạt động, các đơn vị của tỉnh, thậm chí cả một số đơn vị huyện cũng phải lui về rừng để củng cố. Do đó tạo nên sự ngắt quãng hoạt động, mặt khác mỗi lần từ rừng về bộ đội lại phải mất một thời gian mới làm quen được với chiến trường. Từ năm 1953 Quảng Yên đã tổ chứ luân phiên giữa tác chiến và nghỉ ngơi hoặc huấn luyện ngay trong vùng sau lưng địch. Trong một tiểu đoàn, cứ hai đại đội hoạt động, một đại đội nghỉ huấn luyện. Khi địch ít càn quét, ta thực hiện luân phiên ngay trong từng đại đội cũng theo phương thức và tỷ lệ như vậy.

Đầu năm 1953, địch đã có những thủ đoạn mới, đó là những cuộc hành quân càn quét phản ứng nhanh để đối phó với các hoạt động của bộ đội ta ở vùng du kích. Lực lượng địch sử dụng trong các cuộc càn này thường từ dưới một trung đoàn, có khi chỉ một đại đội, thậm chí một tiểu đội, tùy theo tính chất, nhiệm vụ của cuộc càn.

Thủ đoạn mới này đã gây cho ta một số khó khăn, tổn thất. Đại đội 902 qua ba lần chiến đấu ở Văn Đức (Chí Linh), Tri Giả (Kinh Môn) đã mất 70 người vừa hy sinh, vừa bị bắt. Tiếp dó đến tháng 4 đại đội 910 lại bị thất bại lớn. Ngày 11 tháng 4, đại đội 910 và đại đội 923 (Kinh Môn) đã tiến công tiêu diệt gọn một đại đội quân ngụy đóng ở Trung Hòa. Đồng chí Phạm Khắc, tỉnh ủy viên, chính trị viên phó tỉnh đội Quảng Yên đi cùng đơn vị.

Đêm 11 tháng 4, do không vượt được hết qua sông để trở về Nhị Chiểu nên đơn vị phải quay lại trú quân ở Đích Sơn, một xã không xa đường 5. Lực lượng của ta có đại đội 910 và một trung đội của đại đội 923, cùng hàng trăm tù binh và nhiều vũ khí, chiến lợi phẩm.

Ngay mờ sáng hôm sau, hàng nghìn tên địch có tàu chiến, xe tăng và pháo binh yểm trợ đã bao vây thôn Đích Sơn, xã Hiệp Hòa. Quân ta đã đánh lui được nhiều đợt xung phong của địch. Nhưng cuối cùng địch đã dùng pháo xe tăng bắn phá lũy tre mở đường cho quân đột phá vào làng. Nhân cơ hội này tù binh địch đã cướp vũ khí của thương binh, tử sĩ và súng chiến lợi phẩm để đánh từ trong ra. Trận đánh giáp lá cà diễn ra ác liệt trong từng căn nhà. Đồng chí Phạm Khắc đã cùng các chiến sĩ dũng cảm đánh địch và anh dũng hy sinh. Đại đội trưởng đại đội 910 và những chiến sĩ còn lại đều bị bắt.

Đây là một thiệt hại chưa từng có đối với bộ đội Quảng Yên.

Sau thất bại này các đơn vị trong toàn tỉnh đã kịp thời rút kinh nghiệm, tỉnh ủy, tỉnh đội Quảng Yên quyết tâm xây dựng lại đại đội 910, giữ vững truyền thống chiến đấu của tiểu đoàn Bạch Đằng cũng như toàn thể bộ đội trong tỉnh. Chỉ mấy tháng sau, ngay trên đất Kinh Môn, không xa xã Hiệp Hòa, đại đội 910 mới được xây dựng lại, đã đánh thắng một trận giòn giã ở vị trí Sấu, tập kích thắng lợi một số ụ boong-ke của địch.

Để đối phó với thủ đoạn mới của địch, tỉnh đội Quảng Yên chủ trương phân tán bộ đội tỉnh về các huyện để làm nòng cốt cho phong trào toàn dân chống càn ở các vùng du kích; bộ đội huyện và dân quân du kích hỗ trợ cho các xã tạm chiếm chống càn và thực hiện lối tác chiến liên hoàn giữa nhiều xã, nhiều huyện và cả với tỉnh bạn.

Thực hiện chủ trương của tỉnh, mùa hè năm 1953, ba đại đội của tiểu đoàn Bạch Đằng đã phân tán về các huyện Chí Linh, Kinh Môn, Nam Sách. Các đại đội chia thành các trung đội đóng thành thế chân kiềng ở các khu du kích. Các trung đội của huyện phân tán ở vùng giáp ranh giữa các khu du kích với nơi tạm chiếm để hỗ trợ cho du kích phá càn nhỏ của địch vào vùng tạm chiếm. Để đảm bảo hoạt động lâu dài ở vùng sau lưng địch, bộ đội chủ lực cũng đào hầm bí mật như du kích để giấu lực lượng khi cần. Thời gian này các đơn vị của tỉnh và huyện đã liên tục đánh phá giao thông địch. Trong tháng 3, trung đội 2 của đại đội 923 đã liên tục đánh sập ba cầu; đại đội 75 đã đánh chìm nhiều tàu địch ở Bến Đụn và Bến Triều. Từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1953, đại đội 75 và trung đội 2 của đại đội 923 đánh sập tiếp 13 cầu và tầu chiến, ba máy xay đá của địch. Bộ đội huyện Yên Hưng, Chí Linh, Đông Triều, Kinh Môn cũng liên tiếp đánh hơn 30 trận, đánh sập hàng chục cầu, hàng chục tàu địch, các tháp canh và các tuyến thông tin điện thoại của chúng. Đặc biệt trong tháng 8 trung đội 2 của đại đội 915 do trung đội trưởng Đàm Quang Cần chỉ huy đã bất ngờ đánh một tàu địch ở Hòn Đấu (Yên Hưng) diệt một trung đội hạ sĩ quan và bắt sống tên quan ba chỉ huy trưởng đào tạo biệt kích ở Bãi Cháy.


(1) Tổng số quân của bộ đội địa phương Quảng Yên năm 1953 có 2.000, trong đó 500 người biên chế trong các cơ quan quân sự các cấp và 1.500 người thuộc quân số chiến đấu. Tất cả các huyện đều thành lập đại đội địa phương, nhưng ở Thủy Nguyên biên chế mới có hai trung đội và ở Cát Hải mới có một trung đội.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:32:10 pm
Để đưa cuộc chiến tranh nhân dân mạnh mẽ ở các thôn xã, tỉnh Quảng Yên đã phát động phong trào đánh địch bằng chông, mìn rộng rãi trong toàn dân, xây dựng các đội du kích của các giới, xây dựng các tổ quân báo nhân dân, hình thành các ban chỉ đạo chống càn từng khu vực, xây dựng lối đánh chủ động và thế trận liên hoàn trong chống càn, kết hợp với các hình thức đấu tranh chính trị, binh vận v.v.

Phong trào làm hố chông lúc đầu có khó khăn vì nhân dân lo ngại địch trả thù, nhưng sau đã lan rộng khắp nơi. Cả vùng đồng bằng địch hậu của Quảng Yên là một rừng chông. Và trận chông, mìn đã phát huy tác dụng. Ngày 26 tháng 11, quân địch tổ chức trận càn vào Văn Đức (Chí Linh). Trong trận này ngoài số bị diệt bằng các loại vũ khí khác, địch đã bị thương vong một số và bị sập gần 200 hố chông và vướng 42 quả mìn. Trong trận càn khác kéo dài bốn ngày liền ở xã Lạc Long (Kinh Môn) có 30 tên địch bị chết vì chông, mìn. Trận địa chông mìn của ta bố trí làm địch ghê rợn. Ở Nam Sách vì sợ mắc hố chông, địch không dàm càn sục vào các vùng du kích. Bộ đội và du kích phải vào vùng tạm chiếm tìm địch mà đánh. Ngày 26 tháng 1, du kích Hợp Tiến đã phục kích bắt gọn bọn hương dũng ở thôn Kinh Bịch, bộ đội tỉnh ngay đêm đó lại tiêu diệt đồn Ngô Đồng.

Bên cạnh việc đánh địch bằng hầm chông, bẫy mìn, đại đội 923 (Kinh Môn) đã chia ra các tổ nhỏ, bí mật phục kích dưới hầm để đánh vào các nơi sơ hở, hoặc bộ phận chỉ huy của địch trong các cuộc càn quét. Với lối đánh này, trong nhiều cuộc chống địch càn quét ở Lạc Long, Quang Trung (Kinh Môn) đại đội 923 đã nhiều lần đánh trúng vào các bộ phận chỉ huy hoặc cá mũi hiểu yếu của địch, tiêu diệt được những sinh lực quan trọng của cuộc càn.

Quá trình chỉ đạo cuộc chiến đấu trong vùng sau lưng địch, tỉnh ủy và tỉnh đội Quảng Yên đã quán triệt tinh thần nghị quyết Trung ương về phương châm hoạt động ở vùng sau lưng địch, Tỉnh ủy chủ trương đẩy mạnh đấu tranh quân sự trong vùng tạm bị chiếm ở những nơi cơ sở ta mạnh và gần khu du kích lên cao hơn một bước, tuy nhiên vẫn giữ đấu tranh chính trị là chính. Đánh giặc một cách khéo léo, “hợp pháp” để tạo cho nhân dân có điều kiện dùng đấu tranh chính trị để khéo bảo vệ cơ sở. Thực hiện chủ trương này, tại các vùng tạm bị chiếm ta đã áp dụng rộng rãi lối đánh chống càn nhỏ. Chí Linh là huyện đã tiến hành chống càn nhỏ rất sáng tạo. Đại đội 911 của huyện đã giúp du kích hai xã tạm bị chiếm là Chí Minh, Vạn An chống bọn càn sục. Để bảo vệ cơ sở, anh em đã tổ chức đánh ở ngoài làng, khi địch mới xuất phát hoặc đang vận động vào gần làng. Đánh xong, lực lượng chiến đấu rút về vùng du kích sau đó mới về làng mình. Cũng tương tự như vậy, hai xã Lạc Long và Quang Trung (Kinh Môn) cũng từ xã tạm bị chiếm chuyển thành các khu du kích.

Trong năm 1953, việc tác chiến liên hoàn, phối hợp giữa các địa phương cũng đã đạt nhiều kết quả. Tháng 3 năm 1953, trước khi huy động 4.000 quân và 300 xe lội nước mở chiến dịch Noóc-măng-đi (Normandie) nhằm càn lớn vào Hưng Yên, Hải Dương địch đã dùng một bộ phận để càn vào Nam Sách, Kinh Môn. Khi càn vào Nam Sách địch đã bị bộ đội và du kích ta chặn đánh làm cho bị thiệt hại nặng ở Đồng Lạc, nên chúng chuyển hướng sang Kinh Môn. Ngày 29 tháng 3, lực lượng du kích của thôn Tri Giả chỉ có 19 người (trong đó có bảy nữ) đã dũng cảm đánh lui một tiểu đoàn địch, diệt 17 tên.

Trước và sau chiến dịch Ni-xơ (Nice) để càn vào Bắc Ninh, quân địch cũng tiến hành càn ở Quảng Yên. Phối hợp với tỉnh bạn, tiểu đoàn Bạch Đằng đã diệt các vị trí Thái Mông, Trung Hòa ở Kinh Môn. Cùng thời gian đó, bộ đội và du kích Chí Linh đã bao vây uy hiếp vị trí Thiên buộc bọn địch ở Quảng Yên không hỗ trợ được cho chủ lực của chúng ở Bắc Ninh.

Trong năm 1953, bộ đội Liên khu Việt Bắc và bộ đội chủ lực tỉnh đã hợp đồng chiến đấu chặt chẽ, tạo điều kiện cho chiến tranh nhân dân trong vùng sau lưng địch ở Quảng Yên phát triển mạnh mẽ.

Ngày 19 tháng 6, bọn địch ở Phả Lại đang tập trung lực lượng chuẩn bị hành quân càn quét lớn vào hướng Yên Dũng (Hà Bắc). Trung đoàn 238 (Liên khu Việt Bắc) phát hiện được âm mưu địch đã tổ chức một trận tập kích vào bến Phả Lại – nơi xuất phát của cuộc hành quân, diệt 400 tên địch, bắn chìm ba tàu chiến, làm địch phải bỏ dở cuộc càn.

Ngày 26 tháng 11, hai trung đoàn địch càn vào Văn Đức (Chí Linh) định bao vây tiêu diệt một tiểu đoàn của trung đoàn 238 và một bộ phận của tiểu đoàn Bạch Đằng. Phối hợp với cuộc chiến đấu ở Văn Đức, đại đội 908 (tiểu đoàn Bạch Đằng) đã tập kích vào huyện Nam Sách và tiêu diệt vị trí Cầu Phủ, buộc địch bỏ dở cuộc càn ở Văn Đức (Chí Linh) để quay về Nam Sách cứ nguy cho đồng bọn. Nhưng tại Nam Sách chúng đã bị bộ đội và du kích ta chặn đánh diệt gần 100 tên.

Cuộc chiến đấu giữa ta và địch giằng co quyết liệt. Bị quân ta liên tiếp tiến công ở các huyện Nam Sách, Kinh Môn, Chí Linh, bọn địch rất cay cú muốn giành một chiến thắng để trả đòn.

Ngày 4 tháng 11 địch đã huy động gần một trung đoàn quân biệt kích càn vào căn cứ địa của huyện Yên Hưng nơi tiếp giáp với căn cứ của tỉnh Quảng Yên về phía đông – nam. Hàng nghìn tên biệt kích người dân tộc rất thạo cách đánh ở rừng núi, do tên quan tư Đuy-cát (Ducasse) chỉ huy phó lực lượng biệt kích ở Bắc Bộ chỉ huy.

Lúc này ở căn cứ ta chỉ có một số bệnh binh, chiến sĩ coi kho và cán bộ, nhân viên của các cơ quan huyện Yên Hưng. Đồng chí Viễn huyện đội trưởng đã tổ chức họ thành các tổ chiến đấu để đánh chặn địch, đồng thời cấp tốc điều một trung đội của huyện đang ở hậu địch về bảo vệ căn cứ.

Trên đường tiến vào căn cứ, địch đã bị ta chặn đánh một số trận nhưng tổn thất không đáng kể. Trong lúc đó trung đội bộ đội huyện đã hành quân cấp tốc về kịp và chuẩn bị bước vào chiến đấu.

Thấy lực lượng ta quá nhỏ bé, tên Đuy-cát chủ quan, dẫn đầu đội hình thọc vào căn cứ Bằng Tân. Nhưng ở đây chúng đã sa vào trận địa phục kích của của quân ta. Hơn 40 cán bộ, chiến sĩ, nhân viên cơ quan, bệnh binh và bộ đội của huyện mới về do huyện đội trưởng chỉ huy bao vây chặt quân địch. Đuy-cát bị bắt cùng 58 tên địch có đầy đủ vũ khí. Trận càn của chúng thất bại hoàn toàn, hơn 100 tên giặc bị diệt và bị bắt, số còn lại buộc phải mở đường máu rút lui.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Bảy, 2017, 10:34:27 pm
*

Gom dân, bắt lính, kìm kẹp khống chế nhân dân trong các vùng tạm chiếm, bao vây kinh tế nhằm bần cùng hóa đời sống nhân dân là một thủ đoạn thâm độc địch đã áp dụng ở Quảng Yên năm 1953.

Để đắp đê, chống lũ lut trong mùa nước năm 1953, ngày 19 tháng 3, đảng bộ Nam Sách đã lãnh đạo hàng nghìn nhân dân đắp đê, xây kè(1). Để phá sản xuất, bọn Pháp đã cho bắn đại bác uy hiếp, sau đó bắt đi 160 thanh niên. Trước hành động dã man của giặc Pháp, hàng trăm người dân khác tiếp tục lên đê. Khối người mỗi lúc một đông thêm, trong đó có cả nhân viên ngụy quyền và gia đình binh lính ngụy. Trước lý lẽ và khí thế đấu tranh của nhân dân, địch đã phải thả số thanh niên bị bắt và chấp nhận để động bào được tiếp tục đắp đê. Phấn khởi với thắng lợi đó, có ngày nhân dân đã tập hợp tới 3.000 người trên đê và trong thời gian ngắn đã đắp được quãng đê yếu nhất thuộc hai xã An Bình và Cộng Hòa dài 1.649 mét với gần năm vạn mét khối đất đá.

Trong quá trình lao động tập thể vì lợi ích chung đó, các cán bộ của ta đã gây cơ sở được với các nhóm công giáo và vận động được 23 lính ngụy giải ngũ.

Tiếp sau việc đắp đê, nhân dân Nam Sách lại đấu tranh với địch để xây cống Ngọc Trì, Hà Liễu để bảo đảm tưới tiêu cho 2.400 mẫu ruộng hai vụ của huyện.

Trên đà thắng lợi của nhân dân Nam Sách, các cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột cũng diễn ra liên tục các nơi, như không chịu đi phu, không chịu nộp tiền, nộp thóc cho địch và đòi địch phải cho khai hoang cày cấy ở khu trắng.

Trong năm 1953 địch đã tăng cường việc càn phá và dồn dân ở các khu du kích như An Lạc (Chí Linh), Nguyễn Huệ, Văn Đức, Vũ Trù, Hoàng Lạt (Đông Triều), An Sinh (Kinh Môn) và Yên Thành, Lưu Kiếm, Minh Thành (Yên Hưng).

Được sự lãnh đạo của các chi bộ địa phương, nhân dân ở ven đường 17, đường 18 đã chống dồn làng và tổ chức làm vành đai trắng ở 16 thôn thuộc các huyện Đông Triều, Kinh Môn, Nam Sách. Các xã Yên Đức, Yên Thọ đã cử người sang huyện Thủy Nguyên để vận động và giúp đỡ số dân bị dồn trở về làng cũ. Khi nhân dân về đông, ta đã tổ chức sản xuất theo nếp quân sự hóa để tránh pháo địch bắn tới, đồng thời hướng dẫn bà con làm ăn theo lối đổi công. Trong những ngày đâu về làng cũ, vì trâu bò đã bị giặc cướp và giết nên nhân dân phải kéo cày thay trâu. Dân quân du kích đã bố trí chông, mìn và tổ chức quan sát để bảo đảm cho nhân dân lao động sản xuất. Các cơ sở của ta cũng vận động binh lính địch không bắn vào nhân dân trở về làng cũ.

Do chống dồn làng thắng lợi nên các xã Lê Lợi, Yên Thanh đã trở thành khu du kích. Các xã Nguyễn Huệ, An Lạc, An Sinh càng đẩy mạnh phong trào đấu tranh vũ trang ở địa phương.

Năm 1953, nhân dân Quảng Yên còn đấu tranh với âm mưu tập trung dân vào các khu tập trung để chúng dễ bề kiểm soát, đồng thời cũng nhằm cắt đứt mối liên hệ giữa lực lượng vũ trang các lực lượng kháng chiến với nhân dân, tiến tới làm “vô hiệu hóa” cuộc chiến tranh nhân dân của ta.

Để thực hiện âm mưu này, trên chiến trường Bắc Bộ, giặc Pháp đã chủ trương thành lập hai khu tập trung dân làm thí điểm là: xã Đồng Quan ở Hà Đông và Khoái Lạc ở Quảng Yên (huyện Yên Hưng). Để lừa bịp nhân dân, chúng gọi hai nơi này là “Đại xã Đồng Quan” và “Đại xã Khoái Lạc”, nhưng thực chất đó chỉ là những trại tập trung trá hình.

Thôn Khoái Lạc thuộc xã Đông Mai huyện Yên Hưng, nằm trên đường 10 từ Quảng Yên đi Biểu Nghi. Ở đây giặc đã dồn dân ở cá xã Yên Đức, Phạm Hồng Thái (Đông Triều), Yên Thanh (Yên Hưng) cùng với số dân địa phương để làm thành một trại tập trung bên ngoài có hào sâu, rào gai, bên trong có một đồn bảo chính đoàn đóng ở giữa trại. Nhân dân phải sinh hoạt, làm ăn theo giờ giấc của trại, chỉ được làm ăn ở những khu vực địch cho phép và khi ra vào trại phải xuất trình giấy tờ.

Tháng 3 năm 1953, địch định dồn dân ở các xã Minh Thành, Minh Tân, Lục Thanh và hơn 100 gia đình ở thị xã Quảng Yên vào trại nhưng đã bị thất bại. Huyện ủy Yên Hưng đã trực tiếp lãnh đạo việc phá trại tập trung này. Có sự hỗ trợ của bộ đội và du kích, ta đã hướng dẫn cho nhân dân đấu tranh không chịu đào hào, phái được đi làm xa ngoài khu vực quy định và đòi về làng cũ lấy hoa màu. Từng bước ta đã gây được cơ sở trong binh lính địch đóng trong trại và cán bộ ta đã thâm nhập được vào trại để trực tiếp tuyên truyền vận động nhân dân.

Được hướng dẫn cụ thể, lại có tiếng súng hỗ trợ của bộ đội và du kích ở bên ngoài, một số dân đã bỏ trốn về làng cũ. Bọn địch ra sức ngăn cản, nhưng vô hiệu, số người bổ trốn mỗi ngày một tăng và cho tới năm 1954 khi giặc Pháp bị thất bại hoàn toàn trên mặt trận Điện Biên Phủ thì “Đại xã Khoái Lạc” cũng trở thành một nơi không người.

Năm 1953, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 của Đảng, đảng bộ và nhân dân các tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai đã triển khai đồng đều các mặt công tác đấu tranh với địch trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và kinh tế, và đã giành được những thắng lợi rất cơ bản. Riêng về mặt quân sự, thực hiện phương hướng chiến lược của Đảng, ta đã đánh mạnh vào âm mưu gom dân bắt lính của địch, tiêu diệt sinh lực, bẻ gãy các cuộc càn quét, mở rộng vùng căn cứ du kích trong lòng địch, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Đồng thời đánh mạnh vào lực lượng vũ trang phản động và kế hoạch xây dựng ngụy quân của chúng. Ta đã thực hành song song giữa tác chiến với địch vận, giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Từ chỗ hồi đầu năm ta và địch còn đang ở thế giằng co, đến cuối năm ta đã nắm được quyền chủ động trong tay, liên tiếp chiến đấu và đấu tranh với địch. Lực lượng vũ trang của các địa phương đã có bước trưởng thành nhanh chóng, bộ đội địa phương và du kích nhiều nơi được xây dựng và củng cố đã có khả năng phối hợp hoặc độc lập tác chiến với các hình thức vận động, công đồn, phục kích, v.v.

Những thành tích và kết quả trên đã tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang ta giành nhiều thắng lợi hơn nữa trong giai đoạn kết thúc chiến tranh chống thực dân Pháp trong năm 1954.


(1) Mùa nước năm 1952 đê An Bình bị sạt lở 600 mét chưa bồi trúc được.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:36:29 pm
CHƯƠNG NĂM

THAM GIA CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG XUÂN (1953-1954)
CÙNG VỚI QUÂN VÀ DÂN CẢ NƯỚC GIÀNH THẮNG LỢI HOÀN TOÀN
CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
(1953-1954)

1. Phối hợp với chiến trường chính, đẩy mạnh tác chiến tiêu diệt sinh lực địch, kết hợp với đấu tranh chính trị và công tác địch vận làm tan rã hàng ngũ địch, giải phóng nhân dân.

Bước vào năm 1954, cuộc kháng chiến của dân tộc ta chuyển sang giai đoạn quyết định, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Thực hiện chủ trương của Đảng, quân và dân ta trên khắp chiến trường đã mở đầu cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954. Chỉ trong thời gian không đầy hai tháng kể từ ngày 10 tháng 12 năm 1953, quân và dân ta đã liên tiếp tiến hành ba chiến dịch tiến công lớn đánh vào quân địch tại Tây Bắc, Trung Lào và Tây Nguyên tiêu diệt từng mảng lớn sinh lực địch và giải phóng những vùng đất đai rộng lớn trên các địa bàn chiến trường này(1). Trong lúc đó tại các mặt trận vùng sau lưng địch như đồng bằng Bắc Bộ, Bình – Trị - Thiên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ, quân ta cũng liên tiếp tiên công quân địch ta các địa bàn xung yếu, những vị trí then chốt vừa tiêu diệt địch, bảo vệ dân, vừa mở rộng vùng tự do và thu hẹp địa bàn chiếm đóng của địch.

Bị tiến công trên nhiều chiến trường cùng một lúc, bộ chỉ huy quân Pháp lúng túng, bị động, buộc phải phân tán chủ lực của chúng ra đối phó khắp nơi.

Đến tháng 3 năm 1954, khi quân ta nổ súng mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ thì quân Pháp lại càng lúng túng bị động hơn. Chúng phải tập trung tới mức tối đa khối chủ lực tác chiến để giữ bằng được cứ điểm Điện Biên Phủ cũng như các địa bàn quan trọng khác.

Để thực hiện kế hoạch đã định và để đối phó với tình huống chiến tranh diễn ra hết sức mau lẹ, Na-va đã ra sức vét quân chiếm đóng ở các nơi để xây dựng khối chủ lực tác chiến cơ động chiến lược, đồng thời giật dây cho bọn bù nhìn ráo riết bắt lính xây dựng quân ngụy để bù vào những chỗ trống do quân Pháp để lại. Một mặt chúng ra sức đánh phá, bình định các vùng tạm chiếm và vùng du kích của ta, kể cả những vùng tự do để ta không tập trung được chủ lực cho các chiến trường chính, đồng thời phá hoại hậu phương, phá hoại tiềm lực kháng chiến của ta.

Cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra vô cùng quyết liệt, Chấp hành nghị quyết của Bộ Chính trị, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta ở khắp các chiến trường hăng hái vượt qua mọi gian khổ, hy sinh anh dũng diệt địch và hoàn thành mọi nhiệm vụ để đưa cuộc kháng chiến tới thắng lợi cuối cùng.

Ở chiến trường Đông Bắc trong năm 1954, địch rút mạnh lực lượng chiếm đóng Âu – Phi và mạnh dạn đưa quân ngụy lên làm nhiệm vụ thay thế. Trên địa bàn Hải Ninh, với lực lượng nòng cốt là quân ngụy Voòng A Sáng chúng đã sử dụng đội quân này như lực lượng chủ lực để tiến hành càn quét đánh phá vào vùng tự do căn cứ của ta. Bên cạnh đó chúng tăng cường trang bị và nuôi dưỡng các bọn thổ phỉ, phản động trên các vùng cao, dùng bọn này phục kích, tập kích ngăn chặn liên lạc của ta giữa vùng tự do với vùng tạm bị chiếm. Tại Đặc khu Hồng Gai, chúng ra sức củng cố lực lượng vũ trang phản động trên tuyến “Hành lang Mán” từ Hoành Bồ đến Ba Chẽ. Tại Quảng Yên chúng điều lực lượng cơ động về Đông Triều, thị xã Quảng yên và Thủy Nguyên để phòng ngừa các cuộc tấn công lớn của ta (huyện Thủy Nguyên được sáp nhập vào tỉnh Quảng Yên từ cuối năm 1953).

Đến tháng 3, khi cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ bắt đầu, quân địch đã bằng mọi cách để vơ vét quân đưa đi chiến trường chính. Chúng đã phải rút bớt số quân trong từng vị trí và đã phải bỏ không đóng quân ở 41 ụ boong-ke thuộc địa bàn Quảng Yên.

Về phía ta, ngay từ cuối năm 1953, thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, Liên khu ủy Liên khu Việt Bắc đã chỉ thị cho các tỉnh về việc chống âm mưu mới của địch và kế hoạch đề phòng địch trong Thu Đông 1953. Sang đầu năm 1954, khi chiến dịch Điện Biên Phủ đang trong thời kỳ chuẩn bị, Liên khu ủy lại chỉ thị phải “tăng cường tập kích, phục kích, tiêu diệt vị trí, diệt gọn từng bộ phận sinh lực địch; đánh mạnh trên đường giao thông bằng mìn, cạm bẫy, phá hoại, bao vây vị trí, giam chân địch”(2).


(1) Ba chiến dịch lớn mở đầu cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 là: Chiến dịch Lai Châu mở màn ngày 10 tháng 12 năm 1953, kết thúc ngày 13 tháng 12 năm 1953; Chiến dịch Trung Lào từ ngày 21-12-1953 đến 31-1-1954 và Chiến dịch Tây Nguyên từ 27-1-1954 đến 5-2-1954.
(2) Chỉ thị 21 CT/LKVB ngày 17 háng 1 năm 1954. Văn kiện Đảng bộ Liên khu Việt Bắc, t. 10, tr. 56.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:37:19 pm
Chấp hành chỉ thị của Liên khu, các tỉnh ủy Hải Ninh, Quảng Yên và Đặc khu ủy Hồng Gai đã chỉ đạo quân và dân các địa phương liên tục đấu tranh chiến đấu với địch để phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ.

Ở Hải Ninh, bên cạnh việc o ép vùng tạm bị chiếm, địch tăng cường bắt lính bằng mọi thủ đoạn tàn bạo. Tháng 1 năm 1954, Voòng A Sáng huy động một lực lượng lớn quân ngụy càn lên Phong Dụ, Hà Lâu thuộc huyện Tiên Yên giết 11 người dân và bắt đi 115 người để buộc họ vào lính; đồng thời cướp bóc rất nhiều lương thực, trâu bò, lợn gà. Sau đó chúng liên tiếp tung biệt kích lên càn sục, phục kích bộ đội và cán bộ ta ở Bình Liêu, khống chế đèo Ngàn Chỉ, cắt đứt đường từ Bình Liêu xuống vùng tạm chiếm. Chúng liều lĩnh tập kích cả vào những cuộc mít tinh của nhân dân ở ngay giữa vùng tự do làm cho nhân dân rất lo ngại. Sau những trận này hơn hai chục gia đình cơ sở và nhân dân ở Khe Tạo, Pắc Mười đã phải chạy lên Bình Liêu hoặc vào khu tạm bị chiếm.

Trước tình hình đó tỉnh ủy Hải Ninh chủ trương ra sức củng cố vùng tự do, dùng một lực lượng bộ đội hỗ trợ cho cuộc vận động trừ gian, tiễu phỉ ở vùng căn cứ, đồng thời mạnh dạn tung bộ đội chủ lực của tỉnh về vùng sau lưng địch để giúp các địa phương phát động chiến tranh du kích. Thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng, tỉnh chủ trương tiếp tục giảm tô, giảm tức, nhằm đẩy mạnh sản xuất và kết hợp hoàn thành các nhiệm vụ trước mắt. Tỉnh đã tổ chức hai đoàn cán bộ đi các huyện Bình Liêu, Đình Lập tiến hành phát động quần chúng tiễu phỉ và vận động sản xuất, củng cố cơ sở. Trong một thời gian ngắn ta đã củng cố và phát triển được các tổ chức nông hội, số hội viên nông hội của hai huyện đã lên tới gần 2.000 người. Cơ sở được củng cố, sản xuất đi lên, khí thế của quần chúng được nâng cao kết hợp với sự hoạt động hỗ trợ của lực lượng vũ trang địa phương đã làm bọn địch không dám công khai quấy rối, hoạt động như trước.

Để phá âm mưu bắt lính của địch, tỉnh Hải Ninh cũng đã phát động một phong trào truyền tin chiến thắng kết hợp với việc tuyên truyền giải thích cho dân hiểu về âm mưu thâm độc “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” của địch. Được học tập các chủ trương, chính sách của Đảng, đồng bào các dân tộc Việt, Hoa, và các dân tộc ít người khác đã hăng hái làm các bản cam kết bảo vệ chồng, con, em mình đã không để họ bị giặc bắt làm bia đỡ đạn. Hơn 300 thanh niên đã làm bản cam kết không chịu để địch biến thành lính ngụy chống lại kháng chiến.

Tỉnh còn tiến hành vận động binh lính ngụy đang tại ngũ bỏ hàng ngũ địch về với nhân dân. Các hình thức như rải truyền đơn, căng biểu ngữ, treo quốc kỳ ở ngay trong vùng tạm bị chiếm ở vùng gia đình binh sĩ ngụy, kêu gọi người thân rời hàng ngũ giặc, v.v. đã có tác động mạnh đến tinh thần, tư tưởng của các binh sĩ địch. Tính tới giữa năm 1954, ở Hải Ninh đã có 1.000 lính bỏ ngũ mang theo 182 súng các loại, trong đó có cả súng cối và súng máy. Riêng các gia đình binh sĩ ngụy đã trực tiếp vận động, kêu gọi được 180 người thân trở về nhà làm ăn. Hàng trăm binh lính đã chống lệnh trên không chịu đi tiếp viện cho đồng bọn và đòi giải ngũ trở về nhà.

Song song với việc phát động quần chúng đấu tranh với địch bảo vệ và củng cố vùng tự do, trong khi phải đưa một bộ phận bộ đội chủ lực hỗ trợ cho nhiệm vụ này, tỉnh Hải Ninh cũng đưa một bộ phận bộ đội vào vùng sau lưng địch hoạt động để tiêu hao và kìm chân địch.

Tháng 2 năm 1954, đội trinh sát biệt động vào hoạt động ở Móng Cái, nơi trung tâm đầu não của địch ở Hải Ninh. Sau thời gian nghiên cứu tình hình, phát hiện sơ hở của địch, đơn vị đã tổ chức một bộ phận tinh nhuệ dùng bộc phá đánh sập các tháp canh Ninh Dương, Bạt Cạp và tập kích đồn Thán Phún.

Một tổ khác của đội trinh sát biệt động về hoạt động ở Đầm Hà bị địch phát hiện bao vây ở Núi Hứa. Anh em đã mưu trí dũng cảm chiến đấu với một tiểu đoàn địch, sau đó bí mật luồn ra ngoài vòng vây, bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Khi ta mở chiến địch Điện Biên Phủ, tỉnh Hải Ninh đã tổ chức học tập thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát động phong trào thi đua giết giặc lập công, phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ. Trong ba tháng chiến đấu liên tục, quân và dân Hải Ninh đã đánh 132 trận, diệt 126 tên địch, làm bị thương 184 tên, tiếp nhận ba hàng binh, phá hủy 9 xe, đánh sập một cầu, thu 26 súng, 40 lựu đạn và cắt đứt 41 ki-lô-mét đường dây điện thoại.

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định quốc tế về lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Ngày 22 tháng 7 năm 1954, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh ngừng bắn trên toàn chiến trường Việt Nam. Lo sợ bị tan rã sau đại bại ở Điện Biên Phủ, từ ngày 23 tháng 7 giặc Pháp đã phải cho lực lượng của chúng ở Hải Ninh nhanh chóng rút quân về khu tập kết 300 ngày. Trong 17 ngày (từ 23 tháng 3 năm 1954 đến ngày 8 tháng 8 năm 1954) trên khắp địa bàn tỉnh Hải Ninh, quân đội Pháp và tay sai đã lần lượt rút khỏi các căn cứ đóng quân của chúng ở Đầm Hà, Ba Chẽ, Hà Cối, Tiên Yên, Móng Cái. Ngày 8 tháng 8 năm 1954, trên toàn đất Hải Ninh, không còn bóng một tên quân xâm lược, Hải Ninh trở thành một trong những tỉnh được giải phóng sớm ở miền Bắc.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:37:39 pm
*

Trên địa bàn Đặc khu Hồng Gai vào những ngày cuối năm 1953 đầu năm 1954, địch đã rút bớt quân trong cá vị trí ở tuyến trong như: Hà Tu, Hà Lầm, Quang Hanh, Đèo Bụt và đảo Thẻ Vàng để bổ sung cho chiến trường chính. Đồng thời địch tăng cường bắt lính, phát triển lực lượng vũ trang phản động, xây sựng nghĩa dũng và địa phương quân để củng cố tuyến ngoài cho khu mỏ. Tuyến ngoài của địch dựa vào vùng rừng núi của Hoành Bồ và Ba Chẽ, nơi mà chúng gọi là “hành lang Mán”.

Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1954, địch đã bắt 277 lính mới và xây dựng tám đội dõng ở hai huyện Hoành Bồ, Cẩm Phả. Chúng còn phát súng cho dân ở Ba Chẽ bị dồn về xã Cẩm Bình (thị xã Cẩm Phả).

Tháng 4 năm 1954, trước nguy cơ tan rã của lực lượng này, giặc Pháp đã đưa tên Bàn Đức Thắng về Tân Ốc, Phú Diễn và biên chế lực lượng vũ trang phản động từ Đồng Quặng đến Lương Mông, Minh Cầm thành năm trung đội và giao cho y chỉ huy. Những tên chỉ huy người dân tộc miền núi đều được giặc đưa về quê quán chỉ huy bọn dõng ở địa phương.

Thực hiện chủ trương của Đặc khu ủy và sự chỉ đạo của đặc khu đội, ta đã tiến công mạnh vào lực lượng vũ trang phản động này. Bộ đội và cán bộ của ta đã vào được hai khe, xóm thuộc xã Đồng Quặng để hoạt động. Các cơ sở là cai đội trong lực lượng phản động, mỗi tháng gặp bộ đội hai lần để thông báo các tin tức tình báo và nhận ý kiến của bộ đội ta hướng dẫn đấu tranh.

Để hỗ trợ cho công tác vận động quần chúng, ta đã đánh một số trận để diệt những tên ngoan cố nhất và cảnh cáo những tên còn có âm mưu chống lại kháng chiến. Tiếp đó ta đã chỉ đạo cho lính ngụy đấu tranh và hướng dẫn các gia đình có con em cầm súng cho địch ở “hành lang Mán” do Bàn Đức Thắng chỉ huy đã lần lượt bỏ về nhà làm ăn.

Từ các cơ sở ở Đồng Quặng, Tân Dân, bộ đội làm công tác vận động quần chúng của đặc khu đã phát triển sang cả Lưỡng Kỳ, Đồng Vải (Thống Nhất) và liên lạc được cả với đồng bào người Hoa mà từ trước đến nay ta chưa liên lạc được.

Cùng với công tác vận động quần chúng ở rẻo cao, đặc khu cũng đẩy mạnh hoạt động tác chiến. Yên cầu của liên khu về phối hợp tác chiến với chiến trường chính rất cao, trong lúc đó lực lượng vũ trang của đặc khu rất có hạn, chủ lực của đặc khu và của huyện Hoành Bồ chỉ có hai đại đội, nhưng chỉ có một phần ba số quân chủ động, còn lại hai phần ba số quân bảo vệ căn cứ và làm công tác vận động quần chúng ở rẻo cao.

Tuy lực lượng quá mỏng, nhưng quán triệt chỉ thị của trên, bộ đội và du kích đặc khu đã tích cực, chủ động tiến công địch. Trong hai tháng 2 và 4 năm 1954, ta đã đánh 20 trận trên đường 128. Kết hợp tác chiến với địch vận, ta đã buộc địch phải rút các đồn Khe Tảo (Đồng Quặng), Bằng Ngà (Thống Nhất) và Hang Ma.

Ngày 19 tháng 3 năm 1954, khi quân ta đang tiến quân ra Đá Trắng để phục kích thì được tin giặc càn xã Bằng Cả. Biết bọn lính ở Đồng Đăng, Bằng Ngà đã kéo đi càn hết, ta chủ trương tập kích bất ngờ vao đồn Bằng Ngà diệt bọn còn lại và phá hủy đồn. Sau một đêm và nửa ngày hành quân, ta đã đến vị trí, nhanh chóng đột nhập tiêu diệt lực lượng địch ở lại gác đồn và thu một số vũ khí, chiến lợi phẩm. Sau đó ta lại phục kích đón đánh bọn địch càn quét ở Bằng Cả về, diệt tám tên, số còn lại bỏ chạy tán loạn.

Trước sự đe dọa, uy hiếp của quân ta, địch phải điều đại đội đóng ở Bằng Ngà rút về Trới. nhưng về đến Trới chúng lại tiếp tục bị phục kích nhiều trận nữa và thiệt hại thêm một số sinh lực. Trong khi ấy công tá địch vận của ta cũng đã góp phần làm cho nhiều binh lính địch ở đây chán ghét chiến tranh, rời bỏ hàng ngũ giặc. Cho tới ngày gần kết thúc chiến tranh, đại đội dõng ở đây quân số chỉ còn một trung đội.

Sang tháng 5, khi quân ta mở đợt tổng công kích ở Điện Biên Phủ thì bọn giặc ở Hoành Bồ và đặc khu đã co lại hoàn toàn. Lực lượng vũ trang phản động tan rã từng mảng, binh lính địch bỏ súng về nhà hàng loạt, bọn chỉ huy địch không sao ngăn cản nổi họ.

Phát huy thắng lợi, ngày 2 tháng 6 bộ đội đặc khu có nội ứng đã tập kích tiêu diệt đồn Giếng Đáy, diệt 18 tên, thu 18 súng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:38:33 pm
Lực lượng địch lúc này trên địa bàn đặc khu chỉ còn vị trí Đá Trắng là mạnh nhất. Đặc khu đã tập trung cả hai đại đội tổ chức bao vây chặt vị trí này và tiêu hao địch bằng bắn tỉa. Dựa vào các mỏm cao và hang đá, quân ta đã diệt những tên địch ra ngoài các công sự, làm cho chúng rất khiếp sợ và căng thẳng. Địch đã ba lần tiến hành giải tỏa cho vị trí này bằng bộ binh và không quân, nhưng không phá nổi vòng vây. Đá Trắng bị vây hãm và tiêu hao dần cho ngày đình chiến mới thoát khỏi bị tiêu diệt.

Trong bảy tháng đầu năm 1954, lực lượng vũ trang Đặc khu Hồng Gai đã chiến đấu 68 trận, diệt 164 tên địch, bắn bị thương 77 tên, thu 35 súng, phá bốn xe, hai phà và làm tan rã hàng trăm tên địch. Chiến công xuất sắc này đã được Bộ tư lệnh liên khu biểu dương trong tổng kết chiến dịch Đông – Xuân 1953-1954.

Phối hợp với hoạt động tác chiến, Đặc khu ủy Hồng Gai cũng chỉ đạo nhân dân trong vùng sau lưng địch đấu tranh chống áp bức, bóc lột, chống bắt lính và tiến hành công tác địch vận làm tan rã hàng ngũ địch.

Trong những ngày đầu năm 1954, nhằm phối hợp giữa hành động quân sự, chính trị với kinh tế để thực hiện kế hoạch Na-va, bọn tư bản chủ mỏ, ngụy quân tay sai và bọn chỉ huy quân sự của giặc Pháp ở khu mỏ đã thi hành mọi thủ đoạn tàn bạo, xảo quyệt để đánh phá các cơ sở của ta trong lòng địch, ra sức bóc lột tàn tệ công nhân và các tầng lớp nhân dân ở khu tạm bị địch chiếm và ra sức bắt lính để làm bia đỡ đạn cho chúng.

Để đối phó với các thủ đoạn thâm độc của địch, đặc khu đã chấn chỉnh, củng cố tổ chức công đoàn bí mật; thay đổi cách thức liên lạc công tác mới phù hợp với tình hình trong khu mỏ và vùng nội thị, đồng thời chỉ đạo công nhân và các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh đấu tranh với địch.

Từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1954, có 14 cuộc đấu tranh của công nhân trong khu mỏ. trong đó nổi bật là cuộc đấu tranh kiên trì và quyết liệt của nữ công nhân nhà sàng Cửa Ông đòi bọn chủ mỏ phải chấm dứt hành động ngược đãi, đánh đập và cải thiện điều kiện làm việc cho chị em. Tiếp theo cuộc đấu tranh của chị em nhà sàng, công nhân ở các cơ sở của khu vực Cửa Ông đã đấu tranh thắng lợi buộc bọn chủ phải tăng lương, chống đánh đập, cúp phạt và hạ mức khoán sản lượng(1).

Ngày 22 tháng 2 năm 1954, bọn địch ở Cửa Ông đã bắt 12 thanh niên và một số công nhân ở đây đi lính. Được cổ vũ bởi những tin chiến thắng ở chiến trường và đã được học tập về âm mưu thủ đoạn của địch, số thanh niên công nhân này trong khi bị địch giải đi trên đường đã đồng thanh hát bài Quốc ca Việt Nam và hô vang khẩu hiệu “Hồ Chí Minh muôn năm!”, đồng thời đòi địch phải thả cho anh em về nhà. Nhân dân Cửa Ông đã đi theo rất đông để hưởng ứng cuộc đấu tranh. Đến 12 giờ đêm dó, địch mới giải tán được nhân dân và đưa số người bị bắt lính về quận công an ngụy tại thị xã Cẩm Phả. Đồng bào ở Cẩm Phả và những gia đình người bị bắt lại bao vây la hét và giành giật với địch làm náo động cả thị xã. Tên quận trưởng bù nhìn lừa bịp, dụ dỗ, nhưng đã bị quần chúng chất vấn: “Tại sao nói Việt Nam độc lập rồi mà còn bắt dân đi lính cho Pháp?”. Bọn địch đã phải dùng sức mạnh để dồn ép anh em lên xe đưa về Quảng Yên. Trong thời gian ở trại lính Văn Miếu (Quảng Yên), số anh em này đã tham gia phong trào đấu tranh của những binh lính ngụy được giác ngộ trong trại.

Ngày 15 tháng 5, giặc lại bắt 93 thanh niên ở Cửa Ông đi lính. Số anh em này và nhân dân cũng đấu tranh quyết liệt, hát Quốc cà và hô khẩu hiệu cách mạng. Đến Hồng Gai, địch phải thả hai phần ba số người này về nhà.

Tiếp đó ngày 17 tháng 5, 400 thanh niên ở Hồng Gai, Hà Lầm, Hà Tu, Cái Đá, thị Cẩm Phả cũng bị bắt lính. Đây là một đợt bắt lính quy mô lớn, do đó đấu tranh của thanh niên và các tầng lớp nhân dân cũng rất rầm rộ, mạnh mẽ. Các khẩu hiệu “Ủng hộ Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh!”, “Đả đảo chính phủ bù nhìn Bảo Đại!” được hô vang trên các đường phố. Nhân dân Hồng Gai trên bến dưới thuyền, thăng hái tham gia cuộc đấu tranh, bất chấp bọn binh lính Pháp, cảnh sát ngụy và bọn tay sai chỉ điểm.

Từ tháng 4, việc chống bắt lính và công tác địch vận đã thành một phong trào rộng lớn trong đặc khu. Binh lính ngụy ở các đồn Ngã Hai, Dương Huy và các nơi khác thuộc ba thị xã và hai huyện nhận được hàng nghìn truyền đơn và luôn chứng kiến cảnh các gia đình lính ngụy đòi chồng, con, em được giải ngũ.

Chỉ trong hai tháng cuối chiến tranh, Đặc khu Hồng Gai đã vận động được 2.730 binh lính ngụy trở về nhà. Ngụy quyền ở nhiều xã vô cùng khiếp sợ trước chiến thắng to lớn của quân và dân ta, đã đem tài liệu, con dấu nộp cho kháng chiến. Hàng trăm lính dõng và địa phương quân của hai huyện Hoành Bồ, Cẩm Phả đã ra trình diện với chính quyền ta.


(1) Đầu tháng 4 năm 1954, bọn chủ mỏ ở Cửa Ông đã bắt các công nhân nhà sàng Cửa Ông phải đứng làm việc liên tục suốt ca dưới sức nóng của những ngọn đèn 500 oát. Tên cai Cạnh rất tàn ác và luôn đánh đập, trêu ghẹo phụ nữ, cúp phạt lương, đuổi việc rất bừa bãi, đã bị chị em đánh lại. Chị em đã đình công buộc bọn chủ phải đóng ghế để chị em ngồi làm việc. Cuộc đấu tranh này đã được cả công nhân người Hoa ủng hộ mạnh mẽ. sau đó công nhân Cửa Ông cũng đấu tranh đòi chủ tăng lương mỗi công 3 đồng, đồng loạt cho tất cả mọi người và bắt hạ mức khoán đào xúc than từ 1,8 tấn trong một ca hai người xuống 1,8 tấn trong một ca bốn người.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:38:54 pm
*

Ở Quảng Yên, sau khi điều chỉnh tổ chức chiến trường, để tăng cường khả năng phòng thủ trên địa bàn trọng điểm này, địch đã tìm mọi cách để vét quân đưa đi các chiến trường. Nhưng do tình hình chiến đấu trên chiến trường chính phát triển quá nhanh, nhu cầu cung cấp sinh lực không đáp ứng kịp, nên đến cuối chiến tranh địch chỉ còn đủ khả năng tiến hành các cuộc càn quét nhỏ vào một số nơi quanh các vị trí đóng quân bằng một, hai đại đội quân chiếm đóng hoặc địa phương quân.

Về phía ta, tranh thủ thời cơ đặc biệt thuận lợi do chiến trường cả nước tạo ra, tỉnh ủy Quảng Yên đã chủ trương mạnh bạo đưa bộ đội chủ lực tỉnh vào vùng tạm bị chiếm của Yên Hưng, Thủy Nguyên để tiêu diệt địch và hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và công tác địch vận trên phạm vi hai huyện này. Đồng thời tỉnh cũng chủ trương đẩy mạnh lối đánh địch chủ động, liên tục và rộng khắp của bộ đội huyện và dân quân du kích để hỗ trợ cho hàng loạt xã ở vùng tạm bị chiếm lên đấu tranh vũ trang, hoặc đấu tranh vũ trang khết hợp với đấu tranh chính trị.

Thực hiện chủ trương của tỉnh, huyện Đông Triều đã thành lập ban chỉ đạo tiểu khu Hoàng Hoa Thám (gồm các xã Yên Đức, Yên Thọ, Phạm Hồng Thái, Xuân Sơn, Kim Sơn, Vĩnh Khê…) bên cạnh đường 18 và đưa đại đội 913 của huyện về dìu dắt dân quân du kích tại các nơi này đấu tranh với địch. Trong một thời gian ngắn, với việc mở được khu du kích này, Đông Triều đã tạo thuận lội cho bộ đội từ vùng tự do vào các địa bàn Yên Hưng và Thủy Nguyên.

Trong Đông Xuân 1953-1954, tỉnh đã đưa 47 thôn từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh vũ trang và phục hồi cơ sở ở nhiều nơi trong vùng tạm bị chiếm. Trong 142 xã, 632 thôn của toàn tỉnh, đã có 80 xã và 349 thôn thuộc vùng tự do và vùng du kích. Các vùng du kích của ba huyện Nam Sách, Chí Linh, Kinh Môn trở thành các căn cứ du kích nối liền với các vùng du kích mới của Đông Triều, Yên Hưng và Thủy Nguyên.

Ở Nam Sách, Chí Linh, bộ đội huyện và dân quân du kích đã chủ động phá các cuộc càn của địch bằng cách tập kích bằng hỏa lực vào ngay chỗ chúng đang tập trung lực lượng chuẩn bị hành quân. Để ngăn đường các loại xe cơ giới chiến đấu của địch tiến vào khu du kích của ta, các huyện này còn tổ chức phá đường, đắp ụ trên các đường giao thông, thậm chí có nơi còn đào cả các kênh mương trên đồng ruộng để ngăn cơ giới địch.

Việc càn quét vào các căn cứ du kích ngày càng bị hạn chế, buộc địch chỉ cón thể càn nhỏ vào các xã ven khu du kích. Đây lại là cơ hội để các xã mới chuyển lên đấu tranh vũ trang được rèn luyện trong chống càn, tiêu diệt địch và bảo vệ nhân dân. Nhiều xã bao năm nằm sâu trong vùng tạm chiếm nay cũng lập công xuất sắc trong chiến đấu chống càn như Vạn An, Cổ Thành (Chí Linh), Tam Lưu (Kinh Môn) và Yên Thọ (Đông Triều) đã độc lập chiến đấu đánh lui hàng tiểu đoàn giặc. Nữ du kích Tri Giả, Lạc Long (Kinh Môn) đã làm cho quân địch nhiều lần phải khiếp sợ.

Ngoài việc đánh địch tại chỗ, anh chị em còn lặn lội sang các xã bạn, huyện bạn tìm địch mà đánh. Du kích Nhị Chiểu đã vượt sông Kinh Thầy để cùng du kích khu ngoài Kinh Môn bao vây đánh địch ở vị trí Kinh Chủ. Du kích các xã Lê Lợi, Hưng Đạo, Xuân Sơn… đã sang các xã bạn phục kích đánh mìn, đánh phá giao thông địch. Đặc biệt nhiều xã ở Chí Linh du kích đa tự động tổ chức bao vây vị trí Thiên, vừa vây ép địch vừa bắn tỉa để tiêu diệt địch, vừa phá đường để ngăn xe địch đến giải tỏa. Bọn địch có ngày đã phải dùng tới 20 lần chiếc máy bay để tiếp tế cho vị trí này.

Trong lúc du kích đã phát triển, bộ đội địa phương huyện có thể tách ra để độc lập tác chiến.

Ở huyện Yên Hưng, đại đội 915 đã cùng với du kích áp sát các xã quanh tỉnh lỵ Quảng Yên đánh địch. Đơn vị đã tập kích một số ụ boong-ke trong vị trí Kim Lăng, sau đó lại phối hợp với du kích vùng Hà Nam, Hà Bắc (thuộc Yên Hưng) diệt hàng loạt tháp canh ở Bùi Xá, La Khê (Tiền An), Cống Quỳnh (Vị Khê) và bức rút các bốt Cống Mương, Yên Động, Trung Bản. Đội trinh sát đặc công tỉnh đã táo bạo đột nhập vào thị xã Uông Bí diệt gần 30 tên địch gồm toàn sĩ quan Pháp.

Đại đội 923 (Kinh Môn) giỏi cà đánh phân tán và tập trung. Đại đội đã liên tục tập kích trên đường Tuần Mây và ngày 15 tháng 4 đã tập kích vào vị trí Chùa Hang (Kính Chủ) diệt và bắt 35 tên giặc.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:39:36 pm
Ngày 10 tháng 1, đại đội 911 cùng du kích xã Đồng Lạc đã bao vây và bức một số địch ở Bến Bình phải ra hàng. Sau đó đơn vị lại chủ động đi tìm giặc mà đánh nên trong bảy ngày đã diệt được hai trung đội địch trên đường 18. Ở Thủy Nguyên, đại đội 925 đã tập kích Phố Si, Núi Đèo và Pháp Cổ. Ở Đông Triều, đại đội 913 cùng du kích đã chống càn nhiều trận ở các thôn xã tạm bị chiếm ở dọc sông Kinh Thầy và đường 18, như Cậy Sơn, Kim Sơn, Phạm Hồng Thái, hỗ trợ cho các xã mới chuyển lên đấu tranh vũ trang.

Cùng thời gian đầu năm 1954, tiểu đoàn Bạch Đằng chủ lực của tỉnh Quảng Yên cũng được lệnh bí mật vượt các tuyến phòng thủ của địch thọc sâu vào hai huyện Yên Hưng, Thủy Nguyên để tập kích diệt một số vị trí Pháp và các cứ điểm phản động ở hai huyện này.

Mở đầu cho cuộc tiến quân vào vùng tạm bị chiếm, tiểu đoàn đã phối hợp với đại đội 925 của địa phương và du kích diệt liên tiếp ba vị trí địch trong một đêm là Hà Luận, Bang Loan và Pháp Cổ, Trong cả ba trận, đơn vị đã diệt một số địch, bắt sống 66 tên, phá một khẩu đội pháo 37 mi-li-mét, thu 18 trung liên, tiểu liên, 39 súng trường và ba tấn quân trang, quân dụng. Đặc biệt tại Bang Loan ta đã bắt sống tên quận trưởng ngụy quyền của huyện Thủy Nguyên và tại Hà Luận ta đã diệt tên chỉ huy ác ôn.

Chiến thắng trận đầu đã làm rung chuyển cả huyện Thủy Nguyên, tạo điều kiện cho địa phương đưa phong trào đấu tranh của quần chúng lên cao.

Sau trận đầu, tiểu đoàn đánh tiếp hai vị trí Phi Liệt, Cầu Giá là những đầu cầu để bộ đội ta ra vào vùng tạm chiếm Yên Hưng, Thủy Nguyên.

Sau khi đánh bung các vị trí quan trọng ở Thủy Nguyên, tiểu đoàn chuyển hướng sang các xã Minh Tân, Lưu Kiếm thuộc huyện Yên Hưng, là một vùng bốn bề sông nước bao bọc, từ lâu bộ đội chủ lực ta chưa đánh đến. Chỉ trong hai đêm, các đơn vị của tiểu đoàn đã tiêu diệt bốn vị trí là Quỳ Khê, Diệu Tú, hang Phúc Liệt và hang Mỹ Liệt.

Qua hai trận ở Phi Liệt, Cầu Giá và bốn trận ở Minh Tân, Lưu Kiếm ta đã diệt một tên giặc, bắt sống 39 tên, thu 126 súng các loại, năm tấn quân trang quân dụng và phá ba khẩu pháo 57 mi-li-mét.

Chưa có thời gian nào thi đua sôi nổi như cuộc thi đua nước rút và đầu năm 1954 để quyết tâm giành các phần thưởng cao quý như cờ Quyết chiến quyết thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cờ Tiểu đoàn gương mẫu của Liên khu Việt Bắc. Hàng tháng trong các cuộc giao ban giữa cấp ủy, chính quyền tỉnh với đại diện các ngành các giới các địa phương, hội đồng thi đua đã thông báo và nhận xét về tình hình thi đua và nêu những ý kiến chỉ đạo cho thời gian tới. Các tờ tin của tỉnh đội, của ty thông tin – tuyên truyền thông báo kịp thời các tin chiến thắng, các gương thi đua của chiến trường cả nước và của địa phương. Các đơn vị, địa phương theo dõi thành tích của đơn vị bạn để tìm cách vượt lên.

Sôi nổi, căng thẳng và đầy phần hứng hứng khí thế cách mạng là cuộc thi đua giữa tỉnh Quảng Yên với tỉnh Bắc Ninh và giữa tiểu đoàn Bạch Đằng với tiểu đoàn Thiên Đức.

Đầu tháng 5, chỉ còn nửa tháng nữa là thời gian thi đua kết thúc, hưởng ứng phong trào thi đua giành cờ Quyết chiến quyết thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cờ Tiểu đoàn gương mẫu của Liên khu Việt Bắc, để đuổi và vượt tỉnh Bắc Ninh(1), đồng thời phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ đang đánh to thắng lớn, Quảng Yên quết định tiến công vị trí Linh Xá là một cứ điểm lớn, kiên cố nằm hai bên bờ sông Kinh Thầy thuộc địa phận hai huyện Nam Sách và Chí Linh.

Đánh Linh Xá ngoài mục đích nhằm xóa bỏ một cứ điểm quân sự lợi hại khống chế cả một vùng rộng lớn của hai huyện Chí Linh, Nam Sách còn làm lung lay hệ thống phòng ngự của địch trên dọc sông Kinh Thầy, tạo điều kiện thuận lợi cho những trận đánh tiếp sau đạt kết quả tốt, còn có ý nghĩa cả về chính trị vì căn cứ này phần lớn nằm trên địa bàn xã Nam Hưng là quê hương của liệt sĩ anh hùng Mạc Thị Bưởi, người con trung hiếu của đồng bằng Nam Sách đã cống hiến cả cuộc đời mình cho cuộc chiến đấu giải phóng quê hương.

Các đồng chí Trịnh Nguyên, bí thư tỉnh ủy kiêm chính trị viên tỉnh đội và đồng chí Nguyễn Anh Vũ, tỉnh đội trưởng đã trực tiếp giao cho tiểu đoàn Bạch Đằng và hai đại đội của Nam Sách, Chí Linh vinh dự đánh trận này.


(1) Lúc này tỉnh Bắc Ninh đã tiêu diệt nhiều địch hơn tỉnh Quảng Yên.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:41:14 pm
Để chuẩn bị cho trận đánh thắng thắng lới, tiểu đoàn Bạch Đằng và đại đội 921 (Nam Sách), 911 (Chí Linh) và lực lượng du kích Nam Sách đã điều tra nghiên cứu chiến trường, nắm tình hình địch, xây dựng phương án tác chiến và thiết kế thao trường để học tập.

Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, vào một đêm tháng 5, tiểu đoàn trưởng Đào Bá Tuyên và đại đội trưởng đại đội 908 Phạm Tô Lương cùng các đơn vị phối hợp của Nam Sách, Chí Linh tiến về vị trí Linh Xá.

(https://lh3.googleusercontent.com/EYDQi5qLzTt4ZbNdTmqAt9ALbL1tUhNa1PUH6ZXpFdQWoPLZHn1toegktnPS7tOzFdTup4TuvEUdnanLPZRpISwzB6r7MKM2BO78aWlRura4yWR5U_xE7hJy00_9-jZG-igzEgHB5IqJ3Mde8c5Ro_01UPaid2H5EEAUruG0uH7nnDm_XlslLRdm7K3HbddUmds_WgEH6ny0SXn2kWpmVO2qoLj634Bj3QYYDexelHonKOn5_F-mxDbswqTDYfNeP46-8WsXqWaE4nbtcbyqHK11T6GRWDM1cSV7eSUqf-ett322L5xqQ4T6Oy3GF88sfA2hNsMft5DpAaOyFJfzUKfOzWoJKsW-xjFv5MERYvVV6nLV4bRtyxZ7T8uylNI8sX61KhRIyhjbS0qPo0rb9lWi_ssV0Hl-m901eSds7y6If7AYrO1vqSaX-r88j-rtR0HQn7TktPPs3Dd7Zcyc_-1fstj5l9eez7dbG-PDgxQXYf4z6Co03PANnHjgDc-CudAqIeUeqDcv4xYpFE6BUbmkF5Hw3VHMll8b2Txo_HBhWEzPzQrmRU0nYHm7L7YCtlTzufKgV0Wz6-S0GXsLk43bvHPL0M11ivK8pdIEyr8U3V00iPkHhdUK=w293-h448-no)

Đồng chí Đào Bá Tuyên – nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bạch Đằng

Trận đánh đã diễn ra nhanh gọn với thắng lợi giòn giã. Quân ta đã tiêu diệt hai đại đội Âu – Phi, bắt sống toàn bộ số địch còn lại gồm 70 tên, thu toàn bộ súng đạn và quân trang, quân dụng, trong đó có hai khẩu cối 120 mi-li-mét còn nguyên vẹn.

Tổng kết đợt thi đua do Liên khu Việt Bắc phát động để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ (phát động ngày 22 tháng 12 năm 1953, kết thúc ngày 19 tháng 5 năm 1954), quân và dân Quảng Yên đã đánh gần 400 trận, tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 3.500 tên địch, vận động được 1.195 lính ngụy đào ngũ và giải ngũ. Về tỉ lệ vũ khí ta thu được của địch so với số vũ khí ta bị phá hủy là 128/1 (tức là ta mất một khẩu thì địch mất 128 khẩu).

Riêng Tiểu đoàn Bạch Đằng trong đợt thi đua đã chiến đấu 23 trận ở vùng tạm bị chiếm, diệt 766 tên, bắt 325 tên (một phần tư trong số bị diệt và bị bắt là lính Âu – Phi), thu 53 súng các loại và đặc biệt tiểu đoàn không bị mất khẩu nào.

Với những thành tích đã đạt được, tỉnh Quảng Yên đã vinh dự được nhận cờ thi đua Quyết chiến quyết thắng của Bác Hồ và tiểu đoàn Bạch Đằng được vinh dự nhận cờ “Tiểu đoàn gương mẫu của Liên khu Việt Bắc”.

(https://lh3.googleusercontent.com/1lpXSV5brmUDt8ckur4eNr0xU3JLytrs0kZrUGzrOsSkuMRk5-BaRWFmaO4cZpuaeOGdAf7s4Yso5bWGsd8YPdNNciAk5GuC5hIunVmz_lOgvWiyhGdOYjt0qLG7eYbdUpN_x4GChJ49mg55Dmh8A8k2G6ivU6HBt96jOl2b1gQZhXFapgz0DG9oWQOK-GY_dPSKNhEnUg6J1LVnBmIOI6DZXQf4kIsHJIBDG6n_1Rmhg3uRt2hT3phZo0q95hj7Dy2tDGQ2MAM3C1xJyC3Sg-vtMzW0rjj27UUL4jd8TWo-vLOdIGThwPdzt22eQx9GDczI4MgOoXUjvv0z-6aSslJvdp9Lv1ZQM4onlVCTfZh74BSX3L-midHUg0U7uB4WJrq8exN62uhhIhnEZ36ovkIFtLmIfzPaZ4CR5mD805iF5APu0vpGXgp74aEH72MFzG8_z8RbVAOhl-sGtMykZoQ08K9AHleKtMcgFKtYyFJ3eSbb_x35UxCjexOWuixc7NLfvUV04AlB4aNUIp4ztPc25wMOBHx16PpuJ8T-twPn_91dkuT0Qq7_IL_OIWk2bjlUYhk7O2XxLno2YHeuFwpBra-4AbntKZE6EqeSG1kNZcHOeCK95R-H=w789-h600-no)

Cờ "Quyết chiến quyết thắng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng quân dân tỉnh Quảng Yên trong Đông Xuân 1953-1954

Tiếp theo đợt thi đua này lực lượng vũ trang Quảng Yên tiếp tục tiến công địch. Ngày 19 tháng 7 năm 1954, tiểu đoàn Bạch Đằng cùng đại đội 921 (Nam Sách) diệt gọn vị trí Trắc Châu thu 100 súng các loại. Tiếp đó trong những ngày cuối tháng 7 năm 1954, hàng loạt vị trí địch ở Chí Linh như Hữu Lộc, Bãi Thảo, Mật Sơn, Sui, Chí Ngãi, Thiên và các vị trí Lĩnh Động, Kinh Chú (Kinh Môn), Chim Kêu, Yên Đức (Đông Triều), Chí Điền (nam Sách) đểu bị quân ta bao vây và bị du kích bắn tỉa làm cho quân địch vô cùng khốn đốn. Những vị trí quan trọng của địch như Thiên, Mật Sơn và Sui thuộc huyện Chí Linh không chịu đựng nổi sức ép của quân ta đã buộc phải tháo chạy. Còn các vị trí khác tiếp tục bị bao vây cho tới ngày đình chiến.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:41:40 pm
Trong lúc bộ đội và dân quân du kích liên tiếp đánh địch nhổ hàng loạt các vị trí chiếm đóng của chúng trong các vùng sâu, phong trào chống địch bắt lính, chống dồn dân và lấn vành đai trắng cũng được đẩy mạnh.

Ở Quảng Yên trong những tháng đầu năm 1954, quân địch đã bắt lính một cách ồ ạt với quy mô lớn. Chúng đã mở liên tiếp nhiều trận càn nhỏ ở vùng tạm chiếm để lùng bắt thanh niên, thậm chí đến cả thiếu niên và phụ nữ. Trong bốn tháng đầu năm, chúng đã bắt 7.366 người để xây dựng 11 đại đội địa phương quân, một trung đội nữ địa phương quân và một số hương dũng.

Cấp ủy Đảng các cấp đã lãnh đạo, tổ chức nhân dân kiên quyết đấu tranh với địch.

Từ cuối 1953 đến tháng 5 năm 1954, trên địa bàn toàn tỉnh đã có tới 120 cuộc đấu tranh từ nhỏ đến lớn, đòi được 1.516 thanh niên bị bắt lính về với gia đình. Nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt, có tiếng vang trong toàn vùng đã có tác động khích lệ cổ vũ các nơi, như cuộc đấu tranh của 3.000 đồng bào xã Nhân Huệ, huyện Chí Linh đã phá một cuộc vây ráp lớn của địch, đòi lại trên 300 thanh niên địa phương bị chúng bắt. Nhiều bà, nhiều chị và gia đình, thân nhân của những người bị bắt đã lăn ra đường nằm cản xe giặc làm cho chúng không dám cho xe lắn bánh và buộc phải thả số thanh niên đã bị bắt. Ở các xã nằm sâu trong vùng tạm bị chiếm như Vĩnh Khê, (Đông Triều), Hiệp An, Tam Lưu (Kinh Môn), Liên Hòa, Liên Vỵ (Yên Hưng), v.v. phong trào cũng lên cao. Thanh niên thoát khỏi tay địch đã hăng hái xung phong vào bộ đội. Chỉ trong bốn tháng đầu năm 1954, ở Quảng Yên đã có hơn 2.000 thanh niên tòng quân giết giặc.

Phong trào chống dồn làng, lấn vành đai trắng và phá trại tập trung cũng phát triển mạnh mẽ.

Xã Lê Lợi (Chí Linh) qua đấu tranh chống dồn làng đã từ một xã tạm bị chiếm trở thành một khu du kích mạnh, được coi là lá cờ đầu của Quảng Yên trong phong trào này.

Để đẩy mạnh phong trào lên cao hơn nữa, tháng 3 năm 1954, tỉnh Quảng Yên đã mở hội nghị bàn về đấu tranh chống dồn làng. Sau hội nghị, các thôn xã như Nguyễn Huệ, Yên Đức, Yên Thọ, Kim Sen, Quế Lại (Đông Triều), Quỳ Khê, Diệu Tú (Yên Hưng), nhân dân đã đòi được về làng cũ. Trong lúc đó nhân dân ở 14 thôn thuộc Kinh Môn, tám thôn và hai khu phố của Yên Hưng đã đấu tranh không để địch dồn khỏi quê quán của mình. Nhân dân xã Kỳ Sơn, Phù Ninh (Thủy Nguyên) đã đòi địch phải bồi thường tới một triệu đồng vì đã làm hại tài sản của dân. Xã Yên Đức (Đông Triều) đã lãnh đạo một số thôn đòi được trở về làng cũ, đã phục hồi được du kích và du kích đã cùng bộ đội huyện bao vây các vị trí địch đóng trong xã. Tới tháng 7 năm 1954, đã có 34 thôn quay về làng cũ và nhân dân đã lấn tới 6.761 mẫu ruộng ở vành đai trắng, biến những nơi bao năm hoang hóa thành những ruộng lúa, màu tươi tốt.

Cùng với phong trào chung của toàn tỉnh, cuộc đấu tranh của nhân dân Yên Hưng phá “đại xã Khoái Lạc” cũng thu nhiều kết quả. Từ cuối năm 1953, ta đã thâm nhập được vào trong trại, bắt nhân mối gây cơ sở được với nhiều gia đình, nhiều người để hướng dẫn bà con đấu tranh với địch. Tháng 5 năm 1954, sau thất bại ở Điện Biên Phủ, tên thủ tướng bù nhìn Nguyễn Hữu Trí về tuyên truyền lừa bịp lôi kéo đồng bào. Nhân dân trong trại đã tẩy chạy cuộc nói chuyện của y. Cùng với hình thức đấu tranh hợp pháp của đồng bào, bộ đội huyện Yên Hưng đã tập kích trừng trị bọn bảo chính đoàn ở ngay trong khu tập trung làm chúng không dám sách nhiễu và phá các cuộc đấu tranh của đồng bào ta. Đến ngày 20 háng 7 năm 1954, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ vừa được ký kết thì nhân dân ở đây đã tự động rời về làng cũ.

Cùng với vệc đấu tranh chống dồn dân, bắt lính, quân và dân Quảng Yên còn tích cực tiến hành công tác địch vận, trực tiếp tiến công về mặt chính trị đối với các lực lượng địch tại đây, đặc biệt là đối với các trung tâm đào tạo hạ sĩ quan và lính mới tại Văn Miếu và Vân Đồn.

Từ năm 1953, Quảng Yên đã là một trong những trọng điểm về công tác ngụy vận ở Bắc Bộ và từ cuối năm 1953 Cục địch vận thuộc Bộ Tổng Tham mưu quân đội ta đã trực tiếp chỉ đạo. Với ba đợt hoạt động liên tiếp trong năm 1953, ta đã vận động được 1.742 lính ngụy giải ngũ, 255 binh lính người Phi đòi được hồi hương và gần 100 lính ngụy đảo ngũ và phản chiến. Sang năm 1954 công tác địch vận ở đây càng được đẩy mạnh ở thị xã Quảng Yên huyện Yên Hưng và huyện Thủy Nguyên.

Bước sang năm 1954, để thực hiện kiế hoạch xây dựng quân ngụy một cách ồ ạt, tại các trường huấn luyện lính mới và hạ sĩ quan ở Văn Miếu, Vân Đồn của địch có lúc lên tới 5.000 đến 6.000 tên. Các lực lượng chiếm đóng của địch ở Thủy Nguyên – cái áo giáp che cho phía đông bắc thành phố Hải Phòng cũng có các sắc lính với số quân tương tự. Ngoài ra các lực lượng cơ động của chúng sau mỗi đợt chiến đấu hoặc một chiến dịch cũng thường về đây nghỉ ngơi và củng cố. Do đó trong thời gian này mật độ lính địch ở Quảng Yên là rất cao.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:42:00 pm
Để công tác địch vận đạt được kết quả cao nhất, tỉnh ủy Quảng Yên đã thành lập Ban địch vận thống nhất của tỉnh do một tỉnh ủy viên trực tiếp phụ trách. Có sự chỉ đạo của Cục địch vận và Ban địch vận Liên khu Việt Bắc, tỉnh đã tổ chức các tổ cán bộ thâm nhập vào các xã tạm chiếm của hai huyện Yên Hưng, Thủy Nguyên, tiến hành hướng dẫn cho nhân dân và tiếp cận với binh lính địch để tuyên truyền tin chiến thắng, giải thích chính sách của Đảng, Chính phủ, vạch mặt bọn thực dân xâm lược và bọn bù nhìn tay sai, giác ngộ cho anh em và vận động anh em rời bỏ hàng ngũ địch về với kháng chiến.

Đồng chí Bùi Tố Huyên, trưởng tiểu ban địch vận của tỉnh đội Quảng Yên và đồng chí Trịnh Đằng, bí thu huyện ủy Yên Hưng đã trực tiếp về xã Hiệp Hòa là một xã nằm sát ngay thị xã Quảng Yên và các trại Văn Miếu, Vân Đồn để liên lạc, chắp nối với lính ngụy, tiếp nhận hàng binh Âu – Phi và đón anh em lính ngụy thoát khỏi sự kiểm soát của địch để ra vùng tự do.

Do sự lãnh đạo của ta, trong dịp Tết Nguyên đán đầu năm 1954, hàng ngàn lính mới ở trại Văn Miếu đã ùn ùn tràn ra khỏi trại để về nhà ăn tết. Bọn chỉ huy không tài nào ngăn cản nổi. Sau tết, nhiều người không quay lại nữa.

Ở Yên Hưng, qua mấy tháng đầu năm 1954 ta đã có nhân mối trong hầu hết các vị trí địch. Ở Lưu Kiếm, có nơi cả một trung đội ngụy đã liên lạc với ta và tự tổ chức diệt những tên chỉ điểm trong hàng ngũ. Trong Đông Xuân 1953-1954, toàn tỉnh Quảng Yên đã gây được 104 nhân mối, lãnh đạo 16 cuộc đấu tranh của lính ngụy đòi về phép thu hút tới 9.834 người tham gia.

Tới tháng 7 năm 1954, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ sắp đến ngày ký kết, tỉnh Quảng Yên đã phát động một cuộc tiến công chính trị với quy mô lớn nhằm làm tan rã quân ngụy, kết hợp với cuộc đấu tranh đòi lập hòa bình ở Đông Dương.

Từ ngày 16 đến ngày 26 tháng 7 năm 1954, quân ngụy tan rã từng mảng ở Yên Hưng: 700 lính đào ngủ, 100 lính đào ngũ tập thể có mang theo vũ khí và 100 người mang vũ khí ra hàng. Ở Kinh Môn hai đại đội nghĩa dũng ra hàng mang theo toàn bộ vũ khí trang bị. Ở Phả Lại, một đại đội cũng ra hàng mang theo vũ khí. Ở Nam Sách, Chí Linh, Thủy Nguyên, Cát Hải cũng có hơn 6700 lính ngụy đào ngũ tập thể. Chỉ trong 10 ngày đầu của cuộc vận động, trên địa bàn tỉnh Quảng Yên đã có 2.000 lính đào ngũ tập thể mang theo vũ khí. Tại các trường huấn luyện lính mới và hạ sĩ quan Văn Miếu, Vân Đồn, lính đã tràn ra cổng như nước lũ kéo theo cả lính gác ùa ra dãy phố, bến tàu, bến xe để tìm đường về nhà. Đến cuối tháng 7 tại các nơi này không còn bóng dáng một lính ngụy nào.

Phong trào đấu tranh chính trị kết hợp công tác địch vận ở thị xã Quảng Yên và huyện Yên Hưng lan ra cả một số địa phương khác. Ở huyện lỵ Đông Triều vào đầu tháng 7 năm 1954, đã có cuộc đấu tranh thu hút hàng ngàn người tham gia đòi lập lại hòa bình ở Đông Dương. Nhân dân đã treo cờ đỏ sao vàng rên khắp phố và tràn vào dinh quận trưởng buộc tên này phải nhận kiến nghị của nhân dân và chuyển lên cấp trên. Cuộc đấu tranh có cả những người nhà của ngụy quân và ngụy quyền tham gia. Lính Âu - Phi đã chán ghét chiến tranh, cũng đồng tình với cuộc đấu tranh của quần chúng, không đàn áp gây trở ngại gì.

Ở Thủy Nguyên, từ chiến thắng quân sự và kết quả của công tác địch vận, ta đã phục hồi và phát triển được cơ sở, đồng thời cũng đẩy cuộc đấu tranh lên tới cao trào. Cuối tháng 1, đại đội 925 do bí thư huyện ủy kiêm chính trị viên huyện đội Thủy Nguyên Đào Bình chỉ huy, đã dùng nội ứng diệt vị trí Pháp Cổ, thu hết vũ khí. Khi địch đóng lại vị trí này, hàng ngàn người đã mang kiến nghị đòi chính phủ Pháp phải thương lượng với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, Dân đã tràn cả vào hai vị trí Pháp Cổ và Thanh Lãng để đấu tranh. Bọn địch đã phải mở cổng cho dân vào và ban chỉ huy đã phải nhận kiến nghị của nhân dân.

Đến quý hai năm 1954, khi tiểu đoàn Bạch Đằng tiêu diệt một loạt vị trí địch tại địa phương, phong trào đấu tranh chính trị ở Thủy Nguyên lại càng dâng cao và lan rộng tới các xã Phù Ninh, Cao Nhân, Kỳ Sơn, Kiến Bái, Thiên Hương, Đông Sơn, Kênh Giang, Hòa Bình, Hoa Động, Dương Quan… với hơn ba vạn người tham gia. Bọn địch ở các vị trí không dám ngăn cản các cuộc đấu tranh của quần chúng và buộc phải nhận các bản kiến nghị của nhân dân. Do ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chính trị, 930 binh lính (cả ngụy và Âu – Phi) đã ra hàng, trong đó có hai trung đội ở bốt Tịnh Xá đã mang vũ khí về với kháng chiến, và tới khi kết thúc chiến tranh thì ở Thủy Nugyên đã có hàng nghìn binh lính địch bỏ ngũ về nhà làm ăn.


Tiêu đề: Re: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:42:50 pm
(https://lh3.googleusercontent.com/vINU35ynsywAqlmHZkTQRoVebP2I26qKNH1Y2sAwoJZRtYScO-18cjLfn15uf_E_oJC2matVq-LsddChHJBC80Udzfe4j3fn2G65A4qDUB3sKGh0cNlPVowzBGjH50-lPYhmLHSFNXPR-RhMI4NPH8cqv4dOh4D8OMH-E1BqUXQBndoAF9OG1bqmnCfW03kxwVtPvPplP0wtwuruQkS_w8oi2vEIKgHQ6bWtUojYl3_ol1esxAHrOnZt0HatQgon_7yXH3OVE5ggspb87ImQzkoGIf6nZo0b9mfUgxRPEMAopvTa1wk6kUVivuF8OaPK0_UgCm2UdU8Jvc_0SG635KAy10BAydq6WKGcQAK0PAL8bzspaeKBLz4MBdMich1Q5M67jnA2pzjwm6dVz78LATIvIpaOymRSLSVPu-6YMT46xITIRcmoDxR1OcvFzjzw5tV8D7GIIm12GV9BiIFZTYht88LTIZrzwS0lyrrbr0qODiNlcpf7YtslIxaKH-ccLNw_t-ORY0geWjSNoDkjUr-dp0PiY6XIBFgKWE2wjoCWuWP1H_-yFOSJh3-dQO44TAVyWuB-KUtWJnaXzVf_OYyxYxurn4dGi3zNBmPOnV80reDC7eIoJlWa=w1180-h832-no)

Quảng Yên, Hải Ninh, Hồng Gai trong Đông Xuân 1953-1954


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:43:49 pm
2. Đấu tranh buộc địch nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tiếp quản thắng lợi các khu vực tập kết của quân đội Liên hiệp Pháp, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo những điều kiện quyết định thắng lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của nhân dân ta trên bân Hội nghị Giơ-ne-vơ.

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Pháp và các nước dự Hội nghị Giơ-ne-vơ công nhận độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Pháp phải cam kết rút quân khỏi ba nước Đông Dương. Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh ngừng bắn trên toàn chiến trường Việt Nam.

Hiệp định Giơ-ne-vơ quy định giới tuyến quân sự tạm thời để hai bên tập kết là vĩ tuyến 17: Quân đội nhân dân Việt Nam ở Bắc giới tuyến, quân đội Pháp ở Nam giới tuyến. Hội nghị quân sự giữa đại biểu Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và bộ tổng chỉ huy quân đội Pháp họp tại Trung Giã thống nhất những vấn đề cụ thể để thực hiện ngừng bắn, chuyển quân. Lịch rút quân và chuyển quân của quân đội Pháp được quy định: tại chu vi Hà Nội 80 ngày; tại chu vi Hải Dương 100 ngày và tại chu vi Hải Phòng 300 ngày. Tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai đại bộ phận địa bàn nằm trong khu tập kết 300 ngày; chỉ có các huyện Chí Linh, Nam Sách và một bộ phận đất đai thuộc các huyện Kinh Môn, Đông Triều và Hoành Bồ là thuộc khu vực tập kết 100 ngày.

Hiệp định Giơ-ne-vơ là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta và là một thất bại đau đớn của kẻ thù.

Buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, thực dân Pháp nhằm mục tiêu hàng đầu là để cứu quân đội viễn chinh Pháp khỏi bị tan rã hoàn toàn sau thất bại ở Điện Biên Phủ, nhưng chúng vẫn chưa dứt bỏ hoàn toàn tham vọng thực dân. Đế quốc Mỹ thì coi việc mất Đông Dương là “một tai họa”, nên ngay sau khi Pháp thua ở Điện Biên Phủ, chính quyền Mỹ đã chủ trương hất cẳng Pháp chuẩn bị nhảy vào xâm chiếm miền Nam Việt Nam. Tháng 6 năm 1954, trùm tình báo Mỹ Lên-xđên sang Việt Nam bày mưu cho Ngô Đình Diệm ở chiến dịch di cư nhằm đưa hàng triệu người và hàng ngàn tấn máy móc, tài sản vào miền Nam, để lại trên miền Bắc những thành phố, thị xã trống rỗng, tiêu điều về kinh tế và phức tạp, rối loạn về xã hội – chính trị.

Để chuẩn bị cho những kế hoạch nham hiểm, lâu dài sau “thời kỳ hậu chiến”, quân Pháp đã trắng trợn vi phạm hiệp định bằng cách vây rát bắp lính, cướp đoạt tài sản, tuyên truyền xuyên tạc chính sách của Chính phủ ta, cài lại một số lực lượng vũ trang phản động, khuyến khích các đảng phái cũ hoạt động như Đại Việt, Việt Nam quốc dân đảng và tổ chức các đảng phái phản động mới như: Năm sao trắng, Phong trào cách mạng quốc gia, Việt Nam cách mạng đảng, Hoa kiều cứu quốc, v.v. Nghiêm trọng hơn cả là chiến dịch vận động di cư mà chúng tiến hành hết sức thâm độc và quyết liệt trên hầu hết các địa bàn có quân Pháp đóng quân và cả ở một số vùng tự do rộng lớn của miền Bắc.

Trước tình hình mới của cuộc chác mạng, trung tuần tháng 7 năm 1954, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã họp Hội nghị lần thứ 6 mở rộng, xác định kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam lúc này là đế quốc Mỹ và phương châm sách lược đấu tranh của nhân dân ta trong giai đoạn mới là “chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực hiện hòa bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh, củng cố hòa bình và thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và thực hiện dân chủ trong toàn quốc”.

Đến tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp để nhận định tình hình và quyết định các chủ trương, phương hướng nhiệm vụ mới. Hội nghị Bộ Chính trị nêu rõ đặc điểm cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong giai đoạn này là: Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, nước nhà tạm thời chia làm hai miền và cuộc đấu tranh từ nông thôn chuyển vào thành thị. Trung ương Đảng và Bộ Chính trị rất quan tâm việc tiếp quản khu tập kết 300 ngày mà trọng tâm là thành phố cảng Hải Phòng và khu công nghiệp Hồng Gai, vì giải phóng những nơi này là giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Bộ Chính trị Trung ương Đảng đánh giá “Việc tiếp quản được những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng… khiến chúng ta không những có nông thôn, mà còn có thành thị, đường sắt, cửa biển, vùng công nghiệp… Đó là biến đổi lớn, ta có đủ điều kiện kiến thiết theo quy mô một quốc gia”(1).


(1) Nghị quyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng, tháng 9 năm 1954.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:45:03 pm
Dưới ánh sáng của các Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 và Nghị quyết Bộ Chính trị, Đảng bộ và nhân dân cùng lực lượng vũ trang các tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai phấn khởi nỗ lực bắt tay vào nhiệm vụ mới,.

Tại các khu vực tập kết 100 ngày và 300 ngày, trong khi bộ đội ta nghiêm chỉnh thực hiện hiệp định, tập kết quân về các vùng tự do, các huyện ủy Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Đông Triều nhân cơ hội ngừng bắn đã lãnh đạo các xã tranh thủ mở rộng cơ sở ra vùng tạm bị chiếm. Dân quân du kích của các nơi này vốn đã làm cho địch phải kiêng nể trong chiến tranh, giờ đây là chỗ dựa cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Trong hai tháng 7 và 8 năm 1954, trên toàn tỉnh Quảng Yên đã có 120 cuộc đấu tranh của quần chúng chống địch bắt lính, cướp phá tài sản và cưỡng ép di cư.

Các địa phương đã phát động một chiến dịch tuyên truyền, vận động để làm tan rã quân ngụy. Trong tỉnh đã nổ ra bốn cuộc binh biến và phản chiến ở Chí Linh, Yên Hưng, Cát Hải, trong đó có một lính ngụy đã lái một thuyền máy trở về với nhân dân. Các đơn vị địa phương quân ở các huyện và hai tiểu đoàn ngụy số 702, 708 hầu như tan rã hoàn toàn, con số lính ngụy bỏ về nhà trong tháng 7 và 8 đã lên tới 13 nghìn người,.

Trong khi các địa phương đấu tranh quyết liệt đòi địch thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ làm công tác binh vận, thì các cơ quan, đoàn thể và bộ đội chủ lực của ta cũng khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho công tác tiếp quản khu 100 ngày.

Các lực lượng tiếp quản được học tập “10 điều kỷ luật” trong vùng mới giải phóng. Bộ đội tiếp quản còn được học “Mấy điều căn dặn của các đơn vị bộ đội vào thành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những chính sách, quy định đối với vùng mới giải phóng được phổ biến tới từng cán bộ, chiến sĩ, nhân viên. Ủy ban quân quản được sắp xếp, bố trí đủ số lượng, chất lượng, gồm cả bộ máy hành chính và các đoàn thể. Các đơn vị bộ đội tiếp quản sôi nổi luyện tập đội ngũ, chuẩn bị đầy đủ vũ khí và quân trang quân đụng, rèn luyện tư thế và tác phong chính quy của quân đội cách mạng, đồng thời chuẩn bị sẵn các tổ công tác tuyên truyền vận động quần chúng để có thể triển khai hoạt động được ngay khi vào tiếp quản.

Thực hiện các quy định trong hội nghị Trung Giã ngày 29 và 30 tháng 10 năm 1954, quân Pháp rút khỏi các huyện Nam Sách, Chí Linh và phần lớn huyện Kinh Môn, Đông Triều. Do ta đã lót quân sẵn nên quân ta tiếp quản các khu vực này rất nhanh. Trên dọc đường 5, đường 17, đường 18, ở mỗi trạm gác, khi tên lính cuối cùng của chúng vừa rời khỏi đã có các chiến sĩ của ta với quân phục chỉnh tề, sao vàng lấp lánh trên mũ, súng chắc trong tay, lập tức đến thay thế. Sự tiếp quản nhanh chóng của ta làm bọn địch hết sức ngạc nhiên và hoảng sợ. Khắp nơi từng thôn, từng xã, cờ đỏ sao vàng mọc lên như rừng, phấp phới tung bay trước gió trong tiếng reo hò, ca hát của nhân dân và các em thiếu nhi. Tại Phả Lại, một thị trấn và khu căn cứ lớn của địch trước đây, việc tiếp quản do tiểu đoàn Bạch Đằng và tiểu đoàn pháo binh 178 của Bộ đảm nhiệm, khi quân ta vừa tiến vào thị trấn đã có hàng ngàn lá cờ đỏ sao vàng mọc lên, tung bay trước mọi nhà và hàng nghì nhân dân đủ các tầng lớp đứng hai bên đường hoan hô bộ đội.

Công tác tiếp quản khu 100 ngày hoàn toàn thắng lợi.

(https://lh3.googleusercontent.com/gaNoV8WLMxZ3Y9MliZfWF7Gz3LYbs60DhwpFbsr96Y6PaGSyQCLTrjCM7rHuqjKiYjPIZeUn3QxXKw7b5dUZEgXUJcMdRg6mWX_D2Rxavx6lCTMBOcb72GXWGwqlRbCksfSBCQbt7UIqddGD67gBtx_IZ5wTi4OPejo1OwKXX5pySWc7_vDZ6E-ZaNpc_ZUEFymlLDkezNQOEN5Wmw_YSSYCoobbshKiJoYLUbcJ6u6xyZUrKbKyZ_SXboMrJl1AiYamYFuzpHuGwbQyQUMD1sp7ocx5Q_7eZep3ZBnhHvPWGGHzARrDk9mN7BUwTBb1ZlhCkJhiI0sKHoBk3VGKto7z0MP2S3pfPl5TPupA87N9vhU0p1Ph6_ozp7NHzxm6MdACAZzgl2byjfEvDyWFZL-feSjh1vxiGC8_iz1UwAc5dyxfPXHalvWdtGILuQpopjoWcChRq8VE4qYaB0fwW2VY5hNOer93FZMOkr0prIMNE4sl8L8TG2RfNJm1qF6D_Vdmtmb7dzYBTon1rPh-WSAI6JUnwdelcYbIzAZtN9V6Lw_z51g9ikO-bz5FejBvPYl-DBB6XjexY6Ml5BmXXlqAswPnK7rbper1rbfSYdJVXgNCM9QUKcM_=w800-h584-no)

Đại đội 913 vào tiếp quản phố Đông Triều (ngày 31-10-1954)


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:47:14 pm
*

Ngày 18 tháng 2 năm 1955, theo quyết định của Trung ương Đảng và Chính phủ, khu Hồng Quảng được thành lập gồm các thị xã Quảng Yên, Hồng Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông, Cát Bà, Uông Bí và sáu huyện Đông Triều, Yên Hưng, Thủy Nguyên, Cát Hải, Hoành Bồ, Cẩm Phả. Đồng chí Hoàng Hữu Nhân được cử làm bí thư khu ủy, đồng chí Nông Quang Dũng làm chủ tịch ủy ban quân quản, đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm là chủ tịch ủy ban hành chính và phó chủ tịch ủy ban quân quản. Các đồng chí Tăng Văn Hội, Phạm Hoành đảm nhiệm các chức vụ khu đội trưởng và chính trị viên khu đội.

(https://lh3.googleusercontent.com/WtfEMOC_s67QEVYM2tnMshb4JLWW6RM2ux_p_R8n0EySu_aR6PDu8IBVkVayfeP2mgZcJpa3aZdZUUUaS1heeJVRLz5frp6oZBsGg4hGIHcWZCG6zrR830usd8jCoDaOtZUjJ2ddwL7cG1IAbe1Q3yMqdtSjNUERsqfix92sM3B9PFTCBBjbaQIx6jlakgbigrllJzs9cPX3As3LN2OXPY2Bsn8ueTjEjSLJtHyTKdrX1OmwBx4OkQiLI_4X_-Wt93Xq5Q6By6tcwvQbK2qITLh3gfVY7VtdIRuk3yCWd5XVtiADZ6Fav2XOAKtGy4MgfcQ6vmY7CuYv9ZbIkmnPKmArLPaA38Bmm_yCx3Tn4VaiVsMMKuhtdWN4BVScfkVFJbHM5vA3wsbfb1tB51NRpvn-jA9Nk6ywO6fcKuI_0JIzM9SIIsIY9NjMZQ4a1FQ4XWf_3UmGcikk3osbWf1KfLrLrYq3ufTmmpWwKbuRrOW7Ein9m7j_rPR0On9SXlZ-gT5aT8PdPoz7m4KFrh7PvLgZsrX9_mzfZOcs23-OhilkhwcUnku-q_BJwINhor6VeMIosv7WiwsV_oWouLOA-rMZrPKFnbIFb0j_SmOxCuF6T0aeGGplZC-0=w230-h334-no)

Đồng chí Hoàng Hữu Nhân

(https://lh3.googleusercontent.com/adoHLoGH5Lq51H0ikn8Yo7sYd6qRxDcUOFQNyrjP7RBvYvpW_ctEZRu70WSGzFXlYJIBObYp2Z_0YF01f26IOjvElPo_-H1T-njK7CVSHtm3_F-vZP3FxiyaEbLRf_fTBgOulRJYOksTYetiGviREcvpFkmFTf3b5bZFcNtBEi8xKxVw0ArVqKvKarVAU7GggkolyrydJyiK8E_IoCuCCeuh72HFOz5WHc5CVm1l8bSg0Xm6-P_ifVSatDS1rGCBw0EAJVNc5H0QKqv0QY0Z8_k3REGlgDQD_QxZ5cx0n1FJYUwTUsJJ1u4DDDh90TmRnlFkgx9REX4sQzf0MEuQRHD5M4sYsZqHDnNBmDxMOjoECCriv4SHqDexz4iBCt45jB7iJuyW2qidHAm8AbkdvN3tzw0wNctBb0f_dbZAKRlXu4zk7sHV2H9MGpKI62RQDyGOjG1NSd6F_wHMbnBnZKlxWwzoDhN2rBjriqXMmpd4jm344w5-mDs84hg2g6GDCxTip_V9owZD5hWioi2q9itnpWa3b9xC31g_jxbEx3UFj3ukto04SE-imjJ5k-MsNH2hyjy4LzvhQzZgr9XDfbxD4nLGBXGLvSth6CyQeljlQ4QzLfXiTZrd=w287-h448-no)

Đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm

Khu Hồng Quảng vừa được thành lập đã bắt tay ngay vào việc tổ chức, lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân trong khu vực tập kết 300 ngày và chuẩn bị chu đáo cho việc tiếp quản thắng lợi vùng mới giải phóng.

Về lực lượng quân sự có một số thay đổi đáng kể trong thời gian này. Các tiểu đoàn 48 (tiểu đoàn Bạch Đằng) và 50 (hình thành từ ba đại đội 921, 923, 925 của Nam Sách, Kinh Môn, Thủy Nguyên) được bổ sung cho bộ đội chủ lực. Khu đội đã tổ chức tiểu đoàn 51 (gồm các đại đội 913, 915, 23 của Đông Triều, Yên Hưng, Hoành Bồ trước) và tiểu đoàn cảnh vệ để bảo vệ các cơ quan.

Ngoài ra cấp trên còn giao nhiệm vụ cho các đơn vị bộ đội chủ lực như các trung đoàn 64 (đại đoàn 320), trung đoàn 244, 248, 238, các thủy đội 470, 471, 472 phải hiệp đồng cùng bộ đội địa phương tiếp quản tốt khu mỏ.

Cuộc đấu tranh của nhân dân chống địch vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ và chống áp bức, bóc lột đã diễn ra sôi nổi. Đây là một hình thức đấu tranh phức tạp, mới mẻ cả về các mặt chính trị, tư tưởng, kinh tế và quân sự.

Ở Cát Hải, địch đã hai lần bắn vào nhân dân. Ở Hoành Bồ, chúng đóng quân trái phép ở Bang cho đến tháng 10 năm 1954 để gài tay chân ở lại và dụ dỗ dân di cư. Đối phương đã giao cho tên phản động Bàn Đức Thắng chỉ huy một số thanh niên có vũ khí ở lại hoạt động trong vùng rẻo cao Hoành Bồ và chịu sự điều khiển của tên đầu sỏ Lục Văn Thông ở Ba Chẽ. Chúng gài lại hai đội biệt kích người Hoa ở Vạn Hao để tạo thế chân vạc ở phía sau khu mỏ gồm Hoành Bồ, huyện Cẩm Phả, vùng Ba Chẽ, Tiên Yên.

Việc dụ dỗ và cưỡng ép di cư được địch tiến hành ráo riết. Ở khu mỏ những tên trong ngụy quyền cấp cao như Bộ lao động, bộ trưởng Bộ cứu tế - xã hội, chủ tịch nghiệp đoàn đã về Hồng Gai để tổ chức các “ban di cư - xã hội”. Bên cạnh việc mê hoặc giáo dân, chúng phối hợp với thủ đoạn giãn thợ của chủ mỏ để cưỡng ép công nhân thất nghiệp phải di cư. Chúng đưa bọn đặc vụ, bọn cường hào phản động người Hoa như Lầy Coóc Phoóng, Tống Quang vào Bang và Vũ Oai, Dương Huy để dụ dỗ người Hoa di cư. Ở Bang chúng đã dụ dỗ được 78 già đình người Hoa di cư vào Nam. Chúng dùng nhiều thủ đoạn chính trị xảo trá để lừa gạt nhân dân. Trong khu mỏ chúng dùng một số phản động, cảnh binh, lưu manh, côn đồ tổ chức cái gọi là “phái đoàn kháng chiến 101” để chắp liên lạc với cơ sở kháng chiến của ta trong khu mỏ. Bọn này cũng tổ chức ra một số đội tự vệ và quyên tiền của nhân dân để ủng hộ kháng chiến.

Cùng với việc đưa bọn tay sai đã lộ mặt, bọn sĩ quan và mật thám ác ôn di cư vào Nam, địch đã gài lại một số tên gián điệp trong các cơ sở khai thác than và trong nhân dân để tạo thời cơ phát triển lực lượng phản động và phá hoại sau này.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:47:40 pm
Nhân dân trong khu vực tập kết 300 ngày tiến hành một cuộc đấu tranh bền bỉ, quyết liệt và khôn khéo trong điều kiện mới.

Khu ủy Hồng Quảng đã tổ chức một đoàn cán bộ gồm đại diện các ngành quân sự, hành chính, đoàn thể, các cán bộ công giáo vận, do một khu ủy viên phụ trách, thâm nhập vào khu mỏ để gây cơ sở, tranh thủ quần chúng, bám sát nhân dân và phát động phong trào đấu tranh chống hành vi vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ của đối phương, đồng thời nắm địch để chuẩn bị tiếp quản vùng mỏ. Khu ủy cũng chỉ đạo cho huyện ủy Yên Hưng và khu đội Hồng Quảng đưa lực lượng vào thị xã Quảng Yên để làm nhiệm vụ.

Trong khu mỏ, ta đã chắp nối, liên lạc với cơ sở cũ, và với một số cai ký có lòng yêu nước ở các thị xã Cẩm Phả, Cửa Ông, Hồng Gai. Ta đã tổ chức được lực lượng tự vệ trong công nhân và đưa lực lượng này làm nòng cốt trong các cuộc đấu tranh ở khu mỏ. Bên cạnh việc chống cưỡng ép và dụ dỗ di cư, ta còn thu được kết quả tốt trong công tác ngụy vận ở khu mỏ, đã vận động được 645 lính ngụy về hàng và 100 lính bỏ ngũ về nhà làm ăn.

Ở huyện Yên Hưng, phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi. Công nhân mỏ đá Tràng Kênh và nhân dân vùng Minh Tân đã đấu tranh bền bỉ trong suốt tháng 2 năm 1955 để ngăn địch chuyển máy đi miền Nam.

Ở thị xã Quảng Yên, đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt của đồng bào thị xã và các xã lân cận chống địch chuyển máy móc ở nhà máy kẽm Quảng Yên. Nhân dân xã công giáo Yên Trì cũng hăng hái tham gia đấu tranh, có những bà, những cụ già đã nằm ra đường không cho ô-tô địch chuyển bánh. Đối phương đã phải nhượng bộ trước khí thế của nhân dân ta.

Ở Hoành Bồ, ngay từ ngày đình chiến, khu đội đã đưa hầu hết lực lượng quân sự của mình vào rẻo cao để nắm nhân dân và giúp cho nhân dân đấu tranh. Ta đã vận động 24 gia đình không chịu di cư vào Nam. Bộ đội đã cảnh cáo tên đầu sỏ Bàn Đức Thắng và vận động những người cẩm súng cho Pháp giữ lại 70 khẩu súng, không nộp trả cho địch.

Phong trào đấu tranh ở khu mỏ được phát động một cách mạnh mẽ, sâu rộng và toàn diện.

Tháng 8 năm 1954, nhân cuộc mít tinh mừng chiến thắng do Ủy ban kháng chiến hành chính Đặc khu Hồng Gai tổ chức ở Hoành Bồ, ta đã tổ chức gặp mặt những cá nhân, gia đình có công với kháng chiến và đại diện nhân dân trong vùng tập kết 300 ngày, trong đó có một số đồng bào từ khu mỏ ra.

Sau cuộc gặp này, phong trào đấu tranh càng phát triển thêm trong khu mỏ. ngày 18 tháng 8 năm 1954, nữ công nhân nhà sàng Cửa Ông tổ chức bãi công chống chế độ khoán công việc quá cao và các hành động cúp phạt, chửi bới hoặc trêu ghẹo phụ nữ của tên cai Canh. Lúc này có tàu to cấp bến ăn than nhưng việc rót than bị ách tắc do cuộc đấu tranh của công nhân, buộc tên tổng giám đốc công ty mỏ than Bắc Kỳ phải về giải quyết. Cuộc đấu tranh đã thắng lợi và phần lớn yêu sách của chị em đã được giải quyết.

Trong tháng 11 năm 1954 và tháng 1 năm 1955, đã nổ ra hai cuộc đấu tranh chống đàn áp, khủng bố. Công đoàn nhà máy điện Cột 5 đã cùng khu mỏ vận động công nhân và nhân dân làm đơn kiện có hàng trăm chữ ký, buộc các cấp ngụy quyền từ bang phó đến đại lý hành chính (đại diện hành chính) Hồng Gai, tỉnh trưởng Quảng Yên phải chuyển lên thủ hiến Bắc Việt để phản đối quân Pháp đã vô cơ bắn chết một công nhân nhà máy điện Cột 5. Ngụy quyền Quảng Yên đã phải bồi thường cho gia đình người bị nạn.

Ngày 7 tháng 1 năm 1955, cảnh binh thị xã Cẩm Phả đã bắt một công nhân đem về đại lý Hồng Gai để khai thác chủ trương của ta chống di cư, chuyển máy của chủ mỏ. Trong hai ngày 11 và 12 tháng 1 năm 1955, địch đã bắt năm người đưa về trụ sở bảo chính đoàn Cẩm Phả để tra tấn rất dã man.

Ngày 13 tháng 1 năm 1955, hơn 300 công nhân mỏ và nhân dân xã Cẩm Bình, thị xã Cẩm Phả đã kéo tới quận cảnh sát để đấu tranh chống hành động dãn man của địch. Tên quận trưởng cảnh sát đã yêu cầu hai tiểu đội lính Âu – Phi đến để cùng cảnh binh đàn áp cuộc đấu tranh và bắt đại biểu của nhân dân. Trong lúc đó bọn cầm đầu nghiệp đoàn hô hào tổng đình công, bãi thị, hòng làm lạc hướng cuộc đấu tranh, nhưng chúng đã bị công nhân tẩy chay. Cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục, địch đã phải thả ba người bị bắt.

Sáng ngày 14 tháng 1 năm 1955, địch định lén lút đưa ba người còn lại đi Hải Phòng, nhưng hàng trăm người đã kéo lên quận từ sáng sớm, buộc địch phải thả hết những người bị bắt.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:49:39 pm
Cuộc đấu tranh chống địch cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam đã được tiến hành từ tháng 12 năm 1954 và duy trì cho đến ngày ta tiếp quản khu mỏ.

Đặc khu đã lấy Lán Đạo (thị xã Hồng Gai), nơi tập trung đồng bào theo đạo Thiên chúa làm trọng điểm chống di cư. Ủy ban chống cưỡng ép di cư được thành lập ở nhiều nơi. Đầu tháng 1 năm 1955, ta phân phát nhiều tài liệu vạch rõ âm mưu của đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình Diệm qua những hành động tội ác và thủ đoạn mà chúng đã tiến hành để cưỡng ép và dụ dỗ nhân dân di cư.

Nhân dân xã Đoàn Kết (huyện Cẩm Phả) và khu Liên Đạo (Hồng Gai) không những đã ký giấy cam kết không di cư, mà còn đập lại luận điệu tuyên truyền của bọn phản động trước công chúng và phát hiện cho chính quyền ta một số tên tay sai của địch.

Ở Lán Đạo, trong số 47 gia đình định di cư đã có 35 gia đình ở lại, 137 gia đình làm đơn gửi Chính phủ ta và Ủy ban Quốc tế giám sát đình chiến ở Việt Nam, phản đối thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để lừa bịp cưỡng ép giáo dân di cư của bọn phản động.

Khi được cơ sở ta đến giải thích và vận động, nhiều gia đình ở Hà Gián (huyện Cẩm Phả) đang tập trung ở thị xã Cẩm Phả (khu Cột 6) để di cư vào Nam, đã thức tỉnh và trở về quê quán.

Việc đấu tranh giữ máy móc, không cho đối phương di chuyển trái phép đã được Đặc khu ủy chỉ đạo từ cuối năm 1954. Các đội bảo vệ máy đã được thành lập trong công nhân, có nhiệm vụ phát hiện theo dõi và cùng công nhân ngăn chặn hành động tháo dỡ, di chuyển máy móc của đối phương.

Chiều 9 tháng 3 năm 1955, chủ mỏ dùng lính và bọn cai xép người Pháp định chuyển tám mô-bin của nhá máy diện Hồng Gai xuống Cẩm Phả để chuyển vào Nam. Công nhân đã vây quanh tên chủ và buộc hắn phải ngừng chuyển máy.

Ngày 24 tháng 4 năm 1955, công nhân nhà máy cơ khí Cẩm Phả kiểm soát các hòm máy mà chủ định chuyển vào Nam và buộc chủ nhà máy phải để lại ba máy thuộc loại Chính phủ ta không cho Pháp mang di.

Từ ngày đình chiến đến tiếp quản, khu mỏ đã có 200 cuộc đấu tranh lớn nhỏ, trong đó có 18 cuộc chống cúp phạt, đánh đập, cúp lương, thải thợ và buộc địch phải tiếp tục sản xuất.

Đầu năm 1955, các lực lượng quân sự của ta đã sẵn sàng ở các vị trí cơ động thuộc Đông Triều, Tiên Yên, hoặc đã áp sát vùng ngoại vi các thị xã Quảng Yên, Hồng Gai, Cẩm Phả. Về phía khu đội, các cơ quan quân sự của khu và huyện, thị xã được kiện toàn và đã có những bộ phận thâm nhập vào các thị xã để gây cơ sở dân quân tự vệ và nắm địch. Tiểu đoàn 244, trung đoàn 238, trung đoàn 218, trung đoàn 64 (đại đoàn 320) và các thủy đội 470, 471, 471 đã ở vào tư thế sẵn sàng.

Ngày 22 tháng 4 năm 1955, bộ đội ta tiếp quản các thị xã Quảng Yên, Hồng Gai, Cửa Ông, Cẩm Phả trong không khí ngày hội giải phóng của nhân dân. Ngày 24 tháng 4 năm 1955, tên lính viễn chinh Pháp cuối cùng bước xuống khoang của chiếc tàu há mồm đang chuẩn bị rời bến Hồng Gai.

(https://lh3.googleusercontent.com/G8YX_h-7LHKAYKjrBkEINOQ2Q2VocOYXIaRA8ljvfUCsfj0DSoc27YPoeXpAm6LaQxBIuMlx0E1Wd0rynACiDoURhul3buBvQAdkhw0a9lI1_MWUnxAuqnOMhcUR59P7uCexYpYmtY7UCc-Dhu2yK02N1QlwMeQ9EYxgwvnCXWmz4_l7_wePMZnVdoB2PK9DiYXR4hsjBxIBSpg4Hitc4i4rD6MxbIP_Gk5jwP5YgS4EefC6Ubln1jtV8T4GvsfkZI91iU5wW1saif6mvncC-YNhk0JHMgTx7SE6HQieZ60CrRfn6RTAx7naR5whTeeHJ3VL5x-zIn6SZbuiJQ2eelbYeHbzydq7p3YJ7FmZ0W1H1ovyNFFP_aD3j5FBeEbjJa9JcbVodDtUbLN3oErIft0xMKjoTSMwjfBIvtU556oiqb8UeSHEu5XAtyhY7-n92VuLRgX-JXDzZDr5NrGPlI_IKXnTYAAZxhJWJx80kfbxG4Mpo4bWh7YZg-YiRTXjOfKL_Iuil2lDrPYnrBGJdKqLGwt-rVSmRAdE0z5CTpW42RTM6eAaTK_Vhf_B3-ee8f1J15mNbqtlGtsR3g9ovWyHF7f-qJui6clv7Vh-euqeeVYdwiIYzEXa=w1024-h700-no)

Bộ đội vào tiếp quản thị xã Quảng Yên năm 1955

(https://lh3.googleusercontent.com/sBViwcaqvJRT9OuRVIYVXKWkeB0MBzIAq4bFX4hJOo7Rh-7NUTbw4jWuVp_ydLM-Gts1Y3y4l1UzF7jw4r-e3E6SxitVOn9vJfCAz5vWyMDcScfzZhrQ8IzB-dT_3GmHOf6Cfz_KwlysPZ_ua6t8apF7IlH7ypfkrisGU3VfPyDvil18ZArXUsqfiTIfRUNlUtg08t398sCcDhPQk6J4WgGATn_BmuvJLo1S2IoUadUPJltgum6Sq6C3R90DN7yFQOFbXUHWNYD3JA4c80KAGGQ3dR4g1s7jce105mCtDtHmzGg7XfrnjoFhQPf9RM_u19cGP19ghj-FLQl-B0SVhhZMoueJqUzFzCYmrF2QzjIJF1cOR7I80PiLuC4NZDP1GAXlCobMyUTeSSPzN9DfF70buCgo_Fr1DajCnwFKSMUMOhZaQfoVUM62bUUC1tuIv7NZeVOO_TfUfQv5DXRErLBZfw7c_F5Xq1mDrN8ccSmAdPXGVcDSefTQO747tZvFJx_AcKZ9bNOFc8YTQMRF3zIte7uwCa9sLGUfzijcGIZE7JPsqFXFvZvXlRzxd2blqQPW4TcIaQ9f5JJuqHvbM_QC7YRn9zCyc8zcXe7qoBDTMFIRSsgbS4eB=w1024-h621-no)

Nhân dân Hòn Gai vui mừng đón bộ đội vào tiếp quản ngày 22-4-1955

(https://lh3.googleusercontent.com/1ovQ_1vmi2X6gml-Hh3rxex9YW3Gai_hKZvrKOMMJfn00fLo4NsmH1J8syMkHzkI23Xee6q9FjjvwdM83ujl5ROet7YxbixPbjBFiFiAbmRVfraDS1E1ukWsNai-T0iW5rY1sf21eouzalG4gv6As7LChS8ajHyV8LZRcuhEaBAEpFWvgh5tW_p-qd32JI90r1wkIqxELQPGTnaPi80CKjbBAcru_JiLb9G3lGSilwMM6yCt_no9P2BxoK1O1VKSy2jt84CaXRwDoCY8Z5Ws67jRHS7V9PdCzuSnFpTsPKDgYGpa6d5Xi9Oc61-3N1G0_BpgSQnrSg6k05Q3Kil88I_0ZFOKGcftX3nBqDWNExpDftBYQADsc8D9OqyuKwaxa1cTKW87gfxveTtsRal3RwFfMPigYNyrrNxXy7Owsl2rQFJ9trGI-ZSszPrCKyUaDk3hkzYoLFjpO03ssPaXtXvqAxnLNBULM8QwBp50t4jhsv5ly-1aiAN0_rq4jB7VcdPvLgtMqQJmmzxgqgWitgxikNHZDTk7lo8VC3RBJ6YUiB47Yv4YOvs4uc6-4zRzYmWWoqJ8tBorwkQWSyGzQ0mODkkoGb7Zxe68DYa6_HYyni03k5U3Nqku=w890-h539-no)

Những tên Pháp cuối cùng rút khỏi khu mỏ Hồng Gai 1955

Tiếp sau đó, đại đội 913 của khu đội Hồng Quảng đã ra tiếp quản thắng lợi đảo Bạch Long Vĩ, mảnh đất cuối cùng của khu Hồng Quảng, đồng thời kết thúc cuộc chiến tranh trên ba nghìn ngày không gừng không nghỉ của đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang Quảng Ninh trong cuộc kháng chiến anh hùng của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:50:12 pm
KẾT LUẬN

 Từ cuối năm 1945 đến giữa năm 1954 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân đã tiến hành tắng lợi cuộc kháng chiến vĩ đại, đánh bại chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, viết nên một “thiên lịch sử bằng vàng” của dân tộc ta trong thời đại mới.

Trong cuộc chiến đấu hào hùng ấy, quân và dân Quảng Ninh mà trước kìa là tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai, cửa ngõ vào Bắc Bộ, nơi có vùng mỏ lớn nhất nước ta đã trở thành chiến trường nóng bỏng, đọ sức quyết liệt giữa ta và địch. Đồng thời đây cũng là địa bàn thực dân Pháp tập trung những đơn vị tinh nhuệ đánh chiếm trước khi tiến vào Bắc Bộ và bằng những biện pháp tàn sát dã man, chính sách thâm độc, nhằm đè bẹp cuộc chiến đấu của nhân dân ta trên vùng mỏ đông – bắc, một địa bàn hết sức quan trọng.

Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, quân và dân tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai đã đánh 3.272 trận, đã diệt, làm bị thương và tiếp nhận địch ra hàng là 2.885 tên, bắt 3.255 tên, thu 8.172 súng các loại

Trong Đông Xuân 1953-1954, quân và dân tỉnh Quảng Yên đã vinh dự được nhận cờ “Quyết chiến quyết thắng”, giải thưởng luân lưu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã được Chính phủ tặng thưởng huân chương Quân công hạng ba. Cũng trong dịp này, tiểu đoàn Bạch Đằng được Liên khu ủy Việt Bắc tặng cờ “tiểu đoàn gương mẫu” và được Chính phủ tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhất.

Ở Quảng Ninh đã xuất hiện anh hùng quân đội Mạc Thị Bưởi (liệt sĩ, quê ở Nam Sách) và anh hùng nông nghiệp Nguyễn Thị Tấn (Chí Linh) cùng ba chiến sĩ thi đua toàn quân là Hoàng Văn Bảo, Phạm Viết Thong (tiểu đoàn Bạch Đằng) và Lương Văn Mấn (du kích ngư đoàn Yên Đức, Đông Triều).

Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, quân và dân Hải Ninh được tặng thưởng 1.138 huân chương các loại. Các đại đội 54, 53, 35, 37, 39 và huyện đội Tiên Yên được tặng thưởng một huân chương Quân công và chín huân chương Chiến công. Du kích khu Chi Lăng, du kích xã Võ Ngại được thưởng hai huân chương Quân công, du kích Tĩnh Húc Động, khu chiến đấu Yên Vương (Đình Lập), Điền Xá, Phong Dụ, Bản Dò, Đồng Thắng đều được tặng thưởng nhiều huân chương các loại.

Đặc khu Hồng Gai là nơi chiến tranh du kích diễn ra trong phạm vi hẹp, nhưng lại là địa bàn diễn ra cuộc đấu tranh chính trị và kinh tế vô cùng quyết liệt của công nhân và nhân dân khu mỏ.

Xã Bằng Cả là khu du kích duy nhất của đặc khu nhưng quân và dân ở đây đã kiên cường kháng chiến đánh bại các cuộc càn quét của giặc Pháp, bảo vệ căn cứ, được Chính phủ tặng thưởng huân chương Kháng chiến hạng nhì (năm 1953). Đại đội Hồ Chí Minh (đại đội 39, đại đội 21) đã được Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tặng cờ kỷ niệm.

Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng, công nhân mỏ đã mít tinh, biểu tình, bãi công và phá hoại ba bốt điện, hai cần trục, ba đầu máy xe lửa, bốn máy xúc, 20 xe vận tải lớn và nhiều máy móc khác với giá trị bằng 101.980.500 đồng (tiền Đông Dương). Năm 1950 Chính phủ đã tặng thưởng công nhân mỏ Hồng Gai – Cẩm Phả huân chương Kháng chiến hạng nhì về thành tích phá hoại kinh tế địch.

Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, quân và dân Quảng Ninh đã liên tục uy hiếp các tuyến phòng thủ quan trọng của địch và phối hợp đắc lực với các chiến trường diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng đất, giải phóng dân, phá được một phần quan trọng âm mưu của địch lập “xứ Nùng tự trị” biến các cộng đồng người miền núi thành lực lượng chống lại kháng chiến.

Quảng Ninh là một chiến trường nằm trong Liên khu 1 và cả nước, thắng lợi của Quảng Ninh chịu sự chi phối, tác động sâu sắc của tình hình chung, đồng thời bằng nỗ lực của mình, quân và dân Quảng Ninh đã góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân tộc. Cũng qua chín năm chiến đấu gian khổ, quân và dân Quảng Ninh đã xây dựng nên truyền thống “Đoàn kết toàn dân, chiến đấu anh dũng, mưu trí, sáng tạo, đấu tranh bất khuất kiên cường vượt mọi gian khổ, khó khăn quyết tâm đánh giặc cho đến thắng lợi cuối cùng”.

Chí năm kháng chiến chống Pháp của quân và dân Quảng Ninh đã để lại những bài học quý về tổ chức, chỉ đạo chiến tranh trên chiến trường. Đây là những vấn đề then chốt đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:50:34 pm
*

Sức mạnh để làm nên thắng lợi ở Quảng Ninh cũng như trên cả nước trong chín năm kháng chiến chống Pháp bắt nguồn từ lòng yêu nước, trí thông minh sáng tạo của nhân dân và truyền thống quật cường của ngàn năm dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Sức mạnh ấy được nhân lên gấp bội khi có Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo.

Khi kẻ địch xâm lược nước ta, toàn dân ta đứng lên chống giặc cứu nước, Đảng ta đã đề ra đường lối kháng chiến, đường lối quân sự đưa cuộc kháng chiến tới thắng lợi hoàn toàn.

Được sự lãnh đạo của cấp trên, các đảng bộ ở Quảng Ninh dần đã hình thành và không ngừng phát triển, xác định được vai trò, vị trí của mình trong việc lãnh đạo nhân dân kháng chiến thắng lợi.

Ngày đầu kháng chiến ở Quảng Ninh chỉ có các chi bộ gồm các đảng viên ở cơ quan và đảng viên ở các xã, rồi sau đó xây dựng các chi bộ ở một số xã nhưng vẫn phải có cấp ủy viên cấp trên về chỉ đạo. Trong thời gian này công tác phát triển Đảng được tiến hành mạnh mẽ, rộng rãi, để khắc phục tình trạng số lượng đảng viên quá ít mà lại tập trung ở một số cán bộ chủ trì cấp tỉnh và huyện. Đi đôi với việc phát triển đảng, các chi bộ Đảng trong các đơn vị bộ đội và các nhà máy hầm lò cũng được khẩn trương xây dựng.

Tỉnh ủy cử ủy viên thường vụ hoặc bí thư Đảng ủy sang trực tiếp làm chính trị viên các cấp trong cơ quan quân sự địa phương. Ở tỉnh Quảng Yên từ năm 1952, hầu hết bí thư chi bộ, hoặc Đảng ủy là chính trị viên các cấp từ thôn, xã, huyện đội. Các tổ chức Đảng, các cấp ủy Đảng đã quán triệt và vận dụng đường lối của Trung ương vào địa bàn của tỉnh, của từng vùng, từng địa phương. Từ đó đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của từng địa phương, từng vùng trong chiến tranh nhân dân, từng bước đánh bại kẻ địch trên chiến trường, tiến tới góp phần đánh bại thực dân Pháp.

Vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên và sự lãnh đạo sát sao của các cấp ủy Đảng, các chi bộ đã thúc đẩy phong trào cách mạng của nhân dân vùng tạm chiếm. Ở những vùng này khi gặp khó khăn người dân đều tìm đến bí thư chi bộ. Những xã bị địch càn quét, chà xát hoặc đóng quân, người ở lại bám dân là đồng chí Bí thư chi bộ. Các bà, các chị, các em đi chợ, đi làm ruộng, đi chăn trâu cắt cỏ đã tìm cách truyền tin tức, cung cấp tin tức, mang cơm nước cho bí thư chi bộ, còn bí thư là còn chi bộ, còn phong trào, là sẽ vượt qua thử thách, khó khăn để giành thắng lợi.

Trong những lúc gay go nhất ở đơn vị, ở cơ sở, vai trò người bí thư Đảng đồng thời là chính trị viên có tác dụng rất lớn. Giữa cuộc càn Bô-lê-rô chính trị viên tỉnh đội đồng thời là tỉnh ủy viên, chính trị viên tiểu đoàn Bạch Đằng, đã có mặt bên cạnh nhân dân và chiến sĩ. Đã có những chính trị viên và là cấp ủy viên của tỉnh đội, của đại đội đã hy sinh hoặc bị địch bắt khi ở lại với thương binh. Đồng chí Nguyễn Văn Sáu bí thư huyện ủy kiêm chính trị viên huyện đội Nam Sách cùng đi chiến đấu với đơn vị và đồng chí đã hy sinh trong trận đánh.

Lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, tổ chức Đảng ở cơ sở còn là cơ quan chỉ huy, là lực lượng chiến đấu tại các thôn, xã, các đơn vị. Đấy là yếu tố có tính chất quyết định mà nhờ đó phong trào của ba địa phương có lúc lên, lúc xuống nhưng cuối cùng các cấp ủy Đảng cơ sở đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị là đưa cuộc kháng chiến trên địa bàn đến thắng lợi hoàn toàn.

*

Trong lịch sử của Quảng Ninh, không có thời kỳ nào mà quân và dân ở đây phải đối phó với nhiều lực lượng đối địch rất lớn, quân số đông và vũ khí hiện đại như thời gian sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Quân đội Tưởng Giới Thạch xâm nhập trái phép ở miền Đông cùng bọn phản động, tay sai, bọn thổ phỉ tranh giành chính quyền của ta ở cả vùng rừng núi và khu mỏ. Tàn quân Pháp lấn chiếm và xâm nhập vùng đảo và biển.

Khi quân Tưởng vào khu mỏ và tỉnh lỵ Quảng Yên vào cuối năm 1945 thì tình hình ở đây cực kỳ căng thẳng. Các đảng phái phản động, tay sai quân Tưởng đã chiếm Hồng Gai và tiến về Cửa Ông. Nhưng dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, ta đã đối phó khôn khéo với các loại kẻ thù, bảo vệ chính quyền cách mạng và gấp rút chuẩn bị kháng chiến. Nhờ vậy ta đã bảo vệ được chính quyền ở Cửa Ông, giành lại được chính quyền ở thị xã Hồng Gai trước khi quân đội Pháp tiến vào thay thế quân Tưởng.

Khi quân Pháp vào thay quân Tưởng (trong phạm vi toàn tỉnh), ta đã tiêu diệt bọn tay sai quân Tưởng ở thị xã Quảng Yên, buộc quân Tưởng xâm nhập trái phép ở Móng Cái phải rút lui. Sau đó ta đã xây dựng được chính quyền cách mạng, đấu tranh chặn bàn tay chuẩn bị gây chiến của quân Pháp ở khu mỏ, ở miền đông và gấp rút chuẩn bị kháng chiến.

Khi bọn Nguyễn Ái định đổ bộ lên Cửa Ông, ta tổ chức bãi công ở bến Cửa Ông để buộc chủ mỏ phải can thiệp với quân Tưởng, ngăn không cho quân của Ái đặt chân lên đất liền. Sau ngày quân Tưởng rút lui khỏi Hồng Gai, ta vừa dùng áp lực quân sự và chính trị, vừa làm tốt công tác địch vận, buộc bọn Nguyễn Ái phải rút khỏi Hồng Gai. Đối với quân Tưởng vượt biên giới trái phép chiếm đóng thị xã Móng Cái, ta đã thành lập chính quyền cấp tỉnh về danh nghĩa ở đây và thu hút cả một số tầng lớp trên, buộc quân Tưởng phải rút về nước.

Trong những ngày đầu kháng chiến, dưới sự chỉ đạo của trên, Đảng bộ địa phương đã phát huy được sức mạnh to lớn của toàn thể nhân dân, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt, kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang. Cuối cùng ta đã phân loại được đúng từng đối tượng địch để tập trung lực lượng đối phó với bọn nguy hiểm nhất trong từng thời kỳ, triệt để khai thác sơ hở và chỗ yếu của địch, phân hóa chúng, để đến ngày toàn quốc kháng chiến ta chỉ còn phải đối phó với kẻ thù nguy hiểm nhất, trực tiếp nhất là thực dân Pháp xâm lược. Tuy vậy, trước tình hình phức tạp ta đã thiếu thận trọng trong từng việc đối phó với quân Tưởng lúc đầu và đối phó với quân Pháp ở Hồng Gai cuối năm 1945 và đầu năm 1946 nên đã gây nên không ít khó khăn cho phong trào kháng chiến ở địa phương.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:51:08 pm
*

Sau chiến dịch Việt Bắc Thu Đông năm 1947, địch quay về bình định vùng đã chiếm, thực hiện chiến lược đánh lâu dài. Chúng củng cố các tuyến chiếm đóng. Thực hiện quyết tâm “biến hậu phương địch thành tiền phương của ta”, các cơ quan lãnh đạo của các huyện, xã, một bộ phận của cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh cùng các đội du kích tập trung, các đại đội của trung đoàn 98 đã quay về về hậu địch. Với phương châm “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, trung đoàn 98 đã hỗ trợ tốt cho địa phương trong việc bảo vệ căn cứ địa và phát động chiến tranh nhân dân ở hậu địch, giúp cho du kích và các đơn vị tập trung của tỉnh và huyện trưởng thành.

Với lực lượng tổng hợp của chiến tranh nhân dân, ta đã phục hồi, phát triển được lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang của quần chúng, để xây dựng được hệ thống quân sự địa phương đủ sức để chống địch bình định và gây dựng cơ sở cho chiến tranh du kích. Trong ba năm 1948, 1948, 1950, mặc dù có lúc căn cứ địa bị uy hiếp rất mạnh, vùng tạm bị chiếm trải qua ba cuộc bình định ác liệt, nhưng ta vẫn bảo vệ được căn cứ kháng chiến và giữ vững được phong trào chiến tranh du kích, đồng thời tiến hành phá tề, diệt tháp canh, tiến công lực lượng quân sự của địch ở ngay “hậu phương” của chúng.

*

Tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai là chiến trường quan trọng ở ven biển Đông Bắc, nhưng lại có cả một vùng rừng núi rộng lớn nối với vùng Việt Bắc, căn cứ kháng chiến của cả nước.

Ngay từ năm 1948, với chủ trương đẩy mạnh hoạt động về hướng Đông Bắc của Bộ Tổng tư lệnh và Liên khu Việt Bắc, bộ đội chủ lực đã liên tục tiến công đánh vỡ tuyến phòng thủ đường 13 và đến năm 1950 thì mở cho Hải Ninh một căn cứ địa trên phạm vi hơn hai huyện, bằng một phần ba đất đai của toàn tỉnh. Cũng từ năm 1950, phía sau lưng Quảng Yên, Đặc khu Hồng Gai và Hải Ninh đã hình thành một vùng căn cứ địa dựa vào Việt Bắc, tạo thế cho ta đưa chiến tranh nhân dân vào vùng tạm chiếm ở đồng bằng và ven biển.

Vùng căn cứ địa của tỉnh Quảng Yên ra đời ngay từ đầu kháng chiến, trên cơ sở kế thừa và phát triển thành quả của Chiến khu Đông Triều (Trần Hưng Đạo).

Trong những năm đầu xây dựng căn cứ kháng chiến, ta đã chú trọng tổ chức ngay bộ máy lãnh đạo cấp tỉnh song song với việc xây dựng lực lượng vũ trang để tiễu phỉ, hỗ trợ cho việc xây dựng cơ sở chính trị và các tổ chức đoàn thể quần chúng.

Trong vùng căn cứ, ta đã từng bước thực hiện chính sách cải cách ruộng đất, tổ chức sản xuất lương thực và khai thác thế mạnh của rừng núi để chống địch bao vây kinh tế.

Việc bảo vệ căn cứ địa trong những năm đầu ở Quảng Ninh vô cùng khó khăn gian khổ. Có nhiều lần cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh phải luồn rừng, vượt suối để tránh giặc càn vào căn cứ địa. Từ cuối năm 1951, cấp ủy Đảng ở Hải Ninh, Hoành Bồ và Quảng Yên đưa bộ đội vào vùng đồng bằng tạm chiếm, “hành lang Mán” để phát động chiến tranh du kích và vận động đồng bào miền núi thì căn cứ địa được bảo vệ vững chắc.

Việc bảo vệ căn cứ gắn liền tổ chức khi lực lượng bộ đội, du kích, liên tục tiến công địch cả ở vùng tranh chấp và vùng địch tạm chiếm. Hình thành và giữ vững các “cửa rừng” để giữ liên hệ giữa căn cứ địa và vùng địch tạm chiếm là vấn đề rất quan trọng trong việc bảo vệ căn cứ.

Muốn thực hiện được nhiệm vụ này, quân và dân Quảng Ninh đã đấu tranh chống dồn làng, lập vành đai trắng, dời về làng cũ, bám trụ ở vùng tranh chấp, gây cơ sở trên đường dây, đồng thời tiêu diệt các vị trí địch, tăng cường đánh phá giao thông, tổ chức phản phục kích trên đường vận chuyển hoặc bao vây các vị trí của địch.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:51:30 pm
*

Làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, ngay từ đầu lực lượng vũ trang ở Quảng Ninh hình thành lực lượng vũ trang quần chúng và lực lượng vũ trang tập trung. Ở tỉnh thường có trung đoàn chủ lực, ở huyện có đại đội bộ đội địa phương. Ở xã có đại đội hoặc trung đội du kích tập trung. Hầu hết các thôn, xã của vùng đồng bằng sau lưng địch, hầu như mọi người dân đều vào đoàn thể và mỗi người đều có nghĩa vụ tham gia du kích hoặc dân quân. Cán bộ, đảng viên gắn bó với du kích, nhiều người cùng ăn, cùng ngủ với du kích và bản thân họ cũng giữ vũ khí.

Những ngày đầu kháng chiến do mới hình thành, chưa được củng cố huấn luyện, vũ khí thiếu, kinh nghiệm chiến đấu chưa có là bao, lại phải chiến đấu với quân viễn chinh Pháp nên lực lượng vũ trang trong tình đã bị tổn thất lớn và nhiều khi lâm vào tình thế hiểm nghèo. Nhưng trong thời kỳ này thực hiện nhiệm vụ tiến sâu vào vùng sau lưng địch, nên việc xây dựng dân quân, các đơn vị du kích đã được cấp ủy Đảng từ khu, tỉnh, huyện, chi bộ trong toàn tỉnh tập trung đẩy mạnh và được thực hiện bằng nhiều biện pháp. Các đơn vị bộ đội chủ lực – nòng cốt của chiến trường – như trung đoàn 98, các đại đội Bạch Đằng, đại đội Hồ Chí Minh, ngoài nhiệm vụ bảo vệ căn cứ địa của Liên tỉnh Quảng Hồng còn được chuyển sang hoạt động theo phương thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”.

Đến năm 1949, các đại đội, tiểu đoàn bộ đội địa phương của Quảng Yên, Hải Ninh, Hồng Gai đã được xây dựng và chính thức trở thành một bộ phận của Quân đội nhân dân. Tuy vậy cũng đến đầu năm 1951, khi bộ đội chủ lực chuyển giao vũ khí để đi nhận trang bị mới, thì bộ đội địa phương của tỉnh mới đủ điều kiện và khả năng để làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân địa phương.

Thực hiện chủ trương của Liên khu ủy và tỉnh ủy về gây cơ sở ở liên tỉnh Quảng Hồng và đông tiến của Hải Ninh, bộ đội địa phương đã hỗ trợ đắc lực cho việc phục hồi, xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang trong vùng tạm chiếm. Và cũng từ năm 1952, khi bộ đội Hải Ninh và Hoành Bồ tiến vào vũ trang tuyên truyền và tác chiến ở cùng “hành lang Mán” thì bộ đội địa phương mới có điều kiện đánh sâu vào vùng địch tạm chiếm.

Tuy nhiên, những hạn chế về mặt xây dựng cơ sở chính trị trong các vùng dân tộc ít người đã làm cho trình độ tác chiến của bộ đội địa phương Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai chậm được nâng cao. Cơ sở chính trị yếu làm cho phong trào dân quân du kích của vùng cao không thể mạnh lên được. Ở các xã Bằng Cả, Quảng La (Hoành Bồ), Dũng Văn, Phong Dụ, Tràng Vinh, Điền Xá, Bắc Lãng (Hải Ninh) không tác chiến độc lập được. Do đó các đơn vị bộ đội địa phương của Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai mặc dù rất anh dũng và kiên trì chịu đựng gian khổ, cũng không có điều kiện nâng cao trình độ tác chiến của mình, vì luôn phải phân tán để bảo vệ căn cứ và dìu dắt dân quân du kích.

Ở Quảng Yên, do yêu cầu phải bám sát vùng sau lưng địch và hỗ trợ cho phong trào dân quân du kích, nên đầu năm 1951 ta phải đưa các đơn vị của tiểu đoàn Bạch Đằng từ hình thức hoạt động tập trung sang hoạt động phân tán, và chỉ trở lại đánh tập trung sau khi phong trào toàn dân chống càn được phát động.

Từ khi tiểu đoàn Bạch Đằng vào địch hậu cùng bảy, tám đại đội huyện bám sát địa phương, đã đưa quân số của tá ở hậu địch lên tới một trung đoàn.

Khi phong trào chiến tranh du kích phát triển và bộ đội chủ lực qua chiến đấu đã trưởng thành đã tạo cơ sở cho phong trào toàn dân đánh giặc lên cao. Trên chiến trường Quảng Yên, khả năng đánh tập trung của bộ đội địa phương và của du kích cũng có sự phát triển nhảy vọt. Bộ đội tỉnh và huyện có thể tập trung với quy mô tiểu đoàn để phục kích tiêu diệt hàng đại đội Âu – Phi đi tuần tiễu, tập kích diệt cả vị trí boong-ke, hoặc thọc sâu vào vùng tạm bị chiếm diệt ba đến bốn vị trí ngay trong một đêm.

Vừa tổ chức chiến đấu đảng ủy các cấp ở Quảng Ninh đã không ngừng xây dựng lực lượng ba thứ quân ngày càng có chất lượng tốt và sức chiến đấu cao. Bên cạnh xây dựng bản chất chính trị cho lực lượng vũ trang, việc xây dựng bản chất chính trị cho lực lượng vũ trang, việc xây dựng các mặt về quân sự, biên chế tổ chức, cách đánh cho lực lượng vũ trang cũng được các cấp ủy Đảng đặc biệt quan tâm. Với phương châm vừa học vừa đánh, vừa chiến đấu vừa xây dựng, nên chỉ trong một thời gian ngắn, trình độ kỹ - chiến thuật của lực lượng vũ trang trong tỉnh cũng được nâng cao.

Để nâng cao khả năng tác chiến của bộ đội địa phương, tỉnh đã coi trọng việc tổ chức, bảo đảm chiến đấu và tổ chức các lực lượng chiến đấu có tính chất binh chủng. Các cơ sở huấn luyện tân binh để bổ sung cho các đơn vị chiến đấu được hình thành ở huyện và tỉnh. Các đội đánh địch theo lối tập kích trên đường giao thông, các đội đánh địch trên sông được phát triển.

Để phục vụ cho bộ đội tiêu diệt các vị trí địch, các địa phương đã thường xuyên quan tâm đến việc gây cơ sở cho binh lính địch để giúp cho việc tiến hành cách đánh tập kích có nội ứng.

Lối đánh theo kiểu đặc công đã giúp cho bộ đội ta có khả năng tập kích các vị trí đóng quân và cả các công sự boong-ke của địch. Trong kháng chiến chống Pháp ta đã xây dựng được tổ chức “Quân báo nhân dân” rộng rãi trong các bà, các chị, các em nhỏ, phục vụ đắc lực cho việc nắm tình hình chiến đấu giành thắng lợi.

Trong việc phát động chiến tranh nhân dân, có thể coi việc tổ chức phong trào toàn dân tham gia xây dựng lực lượng vũ trang với việc phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang địa phương là hai mặt thống nhất của một vấn đề. Nhân dân đã đảm nhiệm một phần lớn vai trò của “cơ quan” chính trị, “cơ quan” hậu cần và bộ máy bảo đảm chiến đấu cho lực lượng vũ trang địa phương.

Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là chặng đường đấu tranh gian khổ nhưng đồng thời cũng là chặng đường thắng lợi vẻ vang. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại quân và dân Quảng Ninh có những đóng góp vào thắng lợi chung và đã làm phong phú thêm kho tàng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của nhân dân ta.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đất nước ta đã bước vào một giai đoạn mới. Miền Bắc được giải phóng nhưng đồng bào miền Nam còn phải sống dưới ách thống trị của kẻ thù. Để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, quân dân Quảng Ninh cũng như cả nước phải tiến hành một cuộc kháng chiến còn lâu dài, gian khổ. Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta quyết làm tròn nhiệm vụ cách mạng mà Đảng đã vạch ra trong giai đoạn mới và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:52:43 pm
PHỤ LỤC

Thành tích của quân và dân quảng ninh (Quảng Yên, Đặc khu Hồng Gai, Hải Ninh)
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược


I. VỀ CHIẾN ĐẤU

- Đánh 3.459 trận

- Tiêu diệt và làm bị thương 22.100 tên địch

- Bắt sống 2.851 tên

- Thu 8.000 súng các loại và hàng chục tấn quân trang

II. HUY ĐỘNG SỨC NGƯỜI CHO TIỀN TUYẾN

- 5.027 thanh niên nhập ngũ

III. ĐÃ ĐƯỢC QUỐC HỘI, CHÍNH PHỦ, LIÊN KHU
TUYÊN DƯƠNG KHEN THƯỞNG

- Xã Yên Đức (Đông Triều) được Liên khu 1 công nhận là xã kiểu mẫu và tặng cờ danh dự năm 1948.

- Tỉnh Quảng Yên được tặng cờ khá nhất của Liên khu 1 về thành tích diệt giặc dốt cuối năm 1949.

- Quân dân Nà Thuộc (huyện Đình Lập, tỉnh Hải Ninh) được tặng thưởng huân chương Quân công hạng ba, tháng 2 năm 1948.

- Du kích xã Đồng Văn (huyện Bình liêu) được tặng thưởng huân chương Quân công hạng ba.

- Quân dân huyện Yên Hưng (tỉnh Quảng Yên) được tặng hưởng huân chương Kháng chiến hạng nhất.

- Lực lượng vũ trang thị xã Cẩm Phả được tặng thưởng huân chương Kháng chiến hạng nhì.

- Quân dân huyện Yên Hưng được tặng thưởng hai huân chương Kháng chiến hạng ba.

- Huyện Sơn Động (tỉnh Quảng Yên) được tặng huân chương Kháng chiến hạng ba.

- Công nhân mỏ Hồng Gai, Cẩm Phả được tặng thưởng huân chương Kháng chiến hạng nhì về thành tích phá hoại kinh tế địch.

- Du kích Bằng Cả được tặng thưởng huân chương Kháng chiến hạng nhì.

- Quân dân Nà Thuộc (huyện Đình Lập) được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng bức trướng “Ủng hộ kháng chiến”.

- Quân dân tỉnh Quảng Yên được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ “Quyết chiến quyết thắng”.

- Tiểu đoàn Bạch Đằng được Liên khu ủy Việt Bắc tặng cờ “Tiểu đoàn gương mẫu”.

- Đại đội Hồ Chí minh được Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam tặng danh hiệu “Chiến sĩ Lao động”.

* Ba đồng chí được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

- Mạc Thị Bưởi (liệt sĩ), Nam Hưng, Nam Sách, Quảng Yên.

- Lý A Coóng, xã đội trưởng, Quảng Hà, Hải Ninh.

- Nguyễn Văn Thuần, trung đoàn phó, đại đoàn 320, Quỳnh Lâu, Yên Hưng, Quảng Yên.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tám, 2017, 10:53:15 pm
* Các đồng chí là Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh (từ năm 1945 đến năm 1954).

1. Nguyễn Công Hòa, Bí thư tinh ủy Quảng Yên từ năm 1946 đến năm 1947.

2. Nguyễn Cừ, Bí thư tỉnh ủy Quảng Yên năm 1949.

3. Trịnh Nguyên, Bí thư tỉnh ủy Quảng Yên, từ năm 1949 đến năm 1954.

4. Cao Tử Kiến, Bí thư đặc khu ủy Hồng Gai năm 1945.

5. Trần Quốc Thảo, Bí thư đặc khu ủy Hồng Gai năm 1946.

6. Nguyễn Quang Cư, Bí thư đặc khu ủy Hồng Gai năm 1947.

7. Nguyễn Tuân, Bí thư đặc khu ủy Hồng Gai năm 1949 đến năm 1952.

8. Nguyễn Ngọc Đàm, quyền Bí thư đặc khu ủy Hồng Gai từ năm 1952 đến năm 1954.

9. Nguyễn Công Hòa, Bí thư Liên tỉnh ủy Quảng Hồng tháng 3 năm 1947

10. Hoàng Hữu Nhân, Bí thư liên tỉnh ủy Quảng Hồng năm 1948

11. Hoàng Chính, Bí thư tỉnh ủy Hải Ninh từ năm 1946 đến năm 1948

12. Nhị Quý, Bí thư tỉnh ủy Hải Ninh từ năm 1949 đến năm 1952

13. Nguyễn Hải, quyền Bí thư tỉnh ủy Hải Ninh năm 1953

14. Đỗ Chính, Bí thư tỉnh ủy Hải Ninh từ năm 1953 đến năm 1954

*

1. Tô Quảng Điền, Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Yên từ năm 1945 đến năm 1946.

2. Nguyễn Trọng Yên, Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Yên từ năm 1949 đến năm 1954.

3. Trịnh Tam Tinh, Chủ tịch Ủy ban hành chính Đặc khu Hồng Gai từ năm 1945 đến năm 1946.

4. Lê Quang Khải, Chủ tịch Ủy ban hành chính Đặc khu Hồng Gai từ năm 1949 đến năm 1952.

5. Nguyễn Ngọc Đàm, Chủ tịch Ủy ban hành chính Đặc khu Hồng Gai từ năm 1952 dến năm 1954.

6. Trần Quốc Thảo, Chủ tịch Ủy ban hành chính Liên tỉnh Quảng Hồng từ năm 1947 đến năm 1948.

7. Lê Bảy, Chủ tịch Ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Hải Ninh năm 1946.

8. Nguyễn Xuân Chúc, Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh từ năm 1947 đến năm 1952

9. Đỗ Mẫn, Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh từ năm 1952 đến năm 1954

*

 1. Vũ Đình Mai, Tỉnh đội trưởng Liên tỉnh Quảng Hồng năm 1947.

2. Lý Chi Dân, Tỉnh đội trưởng Liên tỉnh Quảng Hồng năm 1948.

3. Hà Văn Tuất, Tỉnh đội trưởng tỉnh Quảng Yên năm 1948

4. Nguyễn Anh Vũ, Tỉnh đội trưởng tỉnh Quảng Yên từ năm 1950 đến năm 1954.

5. Lý Văn Bài, Tỉnh đội trưởng Đặc khu Hồng Gai từ năm 1950 đến năm 1955.

6. Lý Văn Bài, Tỉnh đội trưởng tỉnh Hải Ninh năm 1946.

7. Nông Văn Nguyên, Tỉnh đội trưởng tỉnh Hải Ninh năm 1947

8. Võ Quốc Vinh, Tỉnh đội trưởng tỉnh Hải Ninh năm 1948

9. Đặng Công Lệnh, Tỉnh đội trưởng tỉnh Hải Ninh năm 1949 đến năm 1952

10. Mai Trung Lâm, Tỉnh đội trưởng tỉnh Hải Ninh từ năm 1953 đến năm 1954.