Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2017, 05:16:18 AM



Tiêu đề: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2017, 05:16:18 AM
         
        - Tên sách: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
        - Tác giả: Đặng Phong
        - Số hóa: Ptlinh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/Bia%2021%20nam%20vien%20tro_zpscojswacv.jpg)

       
MỤC LỤC
       
        Chương I: Những ý đồ của Mỹ ở Việt Nam
         
                1. Những lợi ích kinh tế trực tiếp
         
                2. Vì lợi ích chiến lược của Mỹ trên trường quốc tế
         
        Chương II: Quá trình xâm nhập của Mỹ và các giai đoạn của viện trợ Mỹ
         
                1. Trước Đại chiến thế giới thứ hai
         
                2. Trong Đại chiến thế giới thứ II
         
                3. Thời kỳ 1945-1954
         
                4. Thời kỳ 1954-1960
         
                5. Thời kỳ 1961-1964
         
                6. Thời kỳ 1965-1969
         
                7. Thời kỳ 1969-1975
         
                8. Nhìn lại quá trình xâm nhập của Mỹ vào miền Nam Việt Nam
         
        Chương III: Số lượng viện trợ-Những nhận xét sơ bộ
         
        Chương IV: Cơ chế và các hình thức viện trợ Mỹ

         
                1. Viện trợ quân sự trực tiếp
         
                2. Viện trợ thương mại hóa
         
                3. Viện trợ theo dự án
         
                4. Viện trợ nông phẩm
         
                5. Viện trợ cho vay
         
        Chương V: Chi phí trực tiếp của Mỹ
         
                1. Chí phí trực tiếp cho chiến tranh
         
               2. Đồ phế thải của quân đội Mỹ
         
                3. Đổi đôla đỏ lấy bạc Sài Gòn
         
                4.Chi tiêu bằng tiền mặt của Mỹ ở Nam Việt Nam
         
                5. Hàng PX
         
        Thay kết luận


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Năm, 2017, 09:00:49 PM
         
Chương I

NHỮNG Ý ĐỒ CỦA MỸ Ở VIỆT NAM
         
        Theo các con số thống kê chính thức của Mỹ, thì trong 21 năm (từ năm 1954 đến 1975), Mỹ đã viện trợ cho Nam Việt Nam hơn 26 tỷ đô la. Nhưng ngoài số tiền viện trợ cho ngụy quân và ngụy quyền, Mỹ đã trực tiếp đưa cả quân đội, các bộ máy quân sự, dân sự vào miền Nam. Nếu tính tất cả các loại chi phí, trong hơn 20 năm đó, Mỹ đã bỏ vào ViệtNam khoảng hơn 160 tỷ đô la.
         
        Hầu như chưa có nơi nào trên thế giới mà Mỹ phải bỏ ra nhiều tiền của và nhiều người như thế.
         
        Mỹ nhằm mục đích gì ở đây?
         
        Đó là một trong những vấn đề then chốt để hiểu được bản chất của viện trợ Mỹ, ý nghĩa, tác dụng và hậu quả của nó.
       
        I. NHỮNG LỢI ÍCH KINH TẾ TRỰC TIẾP
         
        Trong suốt quá trình dính líu ở Việt Nam và ngay cả trước quá trình đó, tư bản Mỹ đã quan tâm đến những nguồn lợi ở Việt Nam: các tài nguyên, nhất là khoáng sản, các sản phẩm chiến lược, nhất là lúa gạo và cao su, những nguồn cung cấp nhân công, thị trường đầu tư và thị trường tiêu thụ hàng hóa v.v…
         
        Từ lâu, tài nguyên của Đông Dương đã được báo chí và các chính khách Mỹ nhắc tới.
         
        Năm 1950, tờ New York Times viết: “Đông Dương là một miếng mồi đáng cho chúng ta đánh một ván bài lớn. Nó có thể xuất khẩu thiếc, tungstène, manganèse, than đá, gỗ, gạo, cao su, dừa, hạt tiêu và da thuộc. Cho đến trước chiến tranh thế giới lần thứ hai II, lợi tức thu được ở Đông Dương đã tới khoảng 300 triệu đô la hàng năm” (New YorkTimes, Xã luận, ngày 12-2-1950).
         
        Tổng thống Eisenhower trong diễn văn đọc ngày 4-8-1953 tại Seatlenói: “Nếu chúng ta mất Đông Dương thì khối lượng thiếc và tungstène mà chúng ta đánh giá rất cao sẽ không còn thuộc về tay chúng ta nữa. Chúng ta đang tìm cách nào rẻ tiền nhất để ngăn chặn điều bất hạnh có thể xảy đến, đó là việc mất khả năng lấy được những thứ gì chúng ta muốn lấy từ số tài nguyên giàu có của Đông Dương và Đông Nam Á” (“Nghiên cứu lịch sử” Hà Nội, số 124).
         
        Ở đây, có một điểm đáng lưu ý:
         
        -Trong số các tài nguyên và sản phẩm của Đông Dương có những thứ đối với nền công nghiệp hoặc thị trường nội địa của Mỹ, không phải là cần thiết trực tiếp, hoặc không cần tới mức gay gắt như vậy. Nhưng đối với lợi ích toàn cầu của Mỹ, thì đó là những thứ cần phải nắm lấy để chi phối thị trường thế giới (trường hợp gạo, cao su, than đá và gần đây là dầu lửa).
         
        Tờ New York Times số ra ngày 21-10-1962 nói về điều này: “Sự buôn bán và các sản phẩm của Đông Nam Á không phải là cần thiết đối với nền kinh tế Mỹ, nhưng lại là rất quan trọng đối với chúng ta và các đồng minh của chúng ta”.
       
        Cũng vì thế ngay từ trước khi xâm lược Việt Nam, Mỹ đã thông qua con đường thương nghiệp để nắm lấy nhiều sản phẩm quan trọng của Đông Dương. Lúc đó, Mỹ chưa mua nhiều thóc gạo, vì thóc gạo chưa quan trọng chiến lược như sau này. Nhưng cao su thì ngay từ trước đại chiến thế giớ thứ II Mỹ đã mua khá nhiều. Từ năm 1930 đến 1939, Mỹ đã mua 39% tổng số cao su xuất khẩu của Đông Dương. Thời kỳ từ 1946 đến 1950 cao su chiếm 98% giá trị hàng hàng hóa của Đông Dương bán cho Mỹ (Henry Lauque, Activités économiqués americanes. Cahiers Internationaux, No-5-1942).
         
        Có thể thấy rõ những tham vọng đó qua các “dự án phát triển” của các cơ quan nghiên cứu Mỹ về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam khi chiến tranh chấm dứt (trong các dự án đó, sự chấm dứt chiến tranh phải được giả định là Mỹ thắng). Trong tất cả các dự án đó, điểm được chú ý nhất là: khả năng xuất khẩu, mà đứng đầu là lúa gạo, cao su, gỗ,hải sản và dầu hỏa.
         
        -Theo con số của nhóm nghiên cứu do Lilienthal phụ trách (công bố vào tháng 12 năm 1970) thì tổng mức xuất khẩu của Nam Việt Nam đến năm 1980 vào khoảng 425 triệu đô la hàng năm (Trích trong báo cáo của D.M.Donald, Giám đốc Phái bộ viện trợ Mỹ ở Sài Gòn (USAID)về tình hình Nam Việt Nam trước Ủy ban Đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ ngày 17-3-1970. Tin tức của USIS, Washington, ngày 17-3-1970).
         
        Các tác giả của dự án trên cũng còn tính đến khoảng 1985, mỗi năm miền Nam Việt Nam sẽ xuất cảng tới 1 tỷ đô la dầu hỏa.
         
        Đầu tư là sự khai thác ở trình độ cao. Trong các dự án phát triển kinh tế của Nam Việt Nam, các cơ quan điều tra và nghiên cứu của Mỹ dự kiến khả năng thu hồi vốn đầu tư rất nhanh chóng. Có thể nêu một thí dụ: Kế hoạch sông Mê Công. Riêng về thủy điện, kế hoạch dự tính xây dựng cơ bản 1.300 triệu đô la. Nếu được hoàn thành, mỗi năm sẽ lãi 300 triệu đô la. Rồi nhờ có điện, chỉ riêng đẩy mạnh khai khoáng hàng năm cũng thu lợi nhuận khoảng 300 triệu đô la nữa. Vì vậy, Mỹ đã ”tự nguyện” đóng góp 1 tỷ đô la cho kế hoạch này.
         
        Để nắm độc quyền đầu tư, ngay từ năm 1961 Mỹ đã yêu cầu Ngô Đình Diệm ký bản cam kết ưu đãi đầu tư của Mỹ, gọi là “Hiệp ước thân hữu và liên lạc kinh tế Việt-Mỹ”. Trong Hiệp ước này, Diệm bảo đảm cho tư bản đầu tư của Mỹ được thuận lợi trong mọi ngành kinh tế, về mọi mặt - trong việc mua đất đai, nguyên liệu, sử dụng các phương tiện công ích, thuê nhân công, chuyển lãi hàng năm về nước, có hiệp đồng tiêu thụ các sản phẩm sản xuất ra, hứa sẽ không quốc hữu hóa trong một thời gian dài (tùy từng nghành, có ngành thì thời gian đó được đảm bảo tới 99 năm)…


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2017, 05:09:55 AM
         
        Như vậy, tuy Mỹ chưa thực hiện, hoặc mới thực hiện đầu tư nhỏ giọt, song đó chính là một trong những mục tiêu mà Mỹ đã nhằm và đã chuẩn bị.
         
        Mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Tham vọng này không chỉ nhằm vào viễn cảnh. Nó đã được thực hiện từ lâu. Ngay từ trước chiến tranh thế giới thứ II, tỷ lệ hàng hóa Mỹ trong tổng ngạch nhập khẩu của Đông Dương đã đạt tới mức cao: Trong thời kỳ 1930-1939: bông 27%, sản phẩm dầu lửa 19,1%, máy móc 17,5%, ô tô và phụ tùng13,4%. Trong thời kỳ 1946-1950; bông, 9,3%, sản phẩm dầu lửa7,7%, kim khí 4,9%, máy móc 19,3%, ô tô và phụ tùng 10%, sợi và hàng dệt 13,6%, thuốc lá 7,1%.
         
        Trong thời kỳ tiến hành chiến tranh, việc tiêu thụ hàng hóa không những không gặp khó khăn, mà lại có thêm điều kiện để mở rộng. Số viện trợ hàng chục tỷ đô la và toàn bộ số phí tổn hàng trăm tỷ đô la, suy cho cùng, cũng là sự tiêu thụ một khối lượng hàng hóa khổng lồ.
         
        Chiến tranh xâm lược đã dẫn đến một hiện tượng lạ lùng: hình như cái đất nước nhỏ bé và nghèo nàn này bỗng nhiên “tiêu xài” tới vài chục tỷ đô la mỗi năm; Nếu tính theo đầu người thì mỗi người dân Việt Nam mỗi năm tiêu xài gần hai ngàn đô la của Mỹ!
         
        Nhưng theo chính sự tính toán của các cơ quan nghiên cứu Mỹ, thì thu nhập thực tế của mỗi người dân Việt Nam chỉ vào khoảng trên dưới trăm đô la.
         
        Vậy, nói đúng ra, trong số hàng trăm tỷ đô la hàng hóa mà Mỹ đổ vào đất nước này, chỉ có một phần rất nhỏ là những thứ hữu ích cho con người. Còn phần lớn là những hàng hóa để giết người và tàn phá(Năm 1968, số viện trợ kinh tế cho Nam Việt Nam là 536 triệu đô la, số đơn đặt hàng của các công ty sản xuất vũ khí cho chiến tranh Việt Namlà 8,4 tỷ đô la. Năm 1969, số viện trợ kinh tế là 413 triệu đô la, số đơn đặt hàng vũ khí cho chiến tranh Việt Nam là 7,4 tỷ đô la. Tin của AP.Washington ngày 19-4-1969).
         
        Như vậy, phần lớn những khoản gọi là chi phí cho Việt Nam, thực ra,lại là chi phí cho nước Mỹ. Phần lớn cái gọi là viện trợ cho Việt Nam,thực ra, lại vào túi tư bản Mỹ. Điều này báo chí Mỹ cũng đã nói rõ. Tờ U.S.News and World report ngày 6-8-1962 viết: “Trong 6,1 tỷ đô la ngoại trợ trong tài khoản 1960-1961, có 4,8 (80%) tỷ được chi ngay ở Mỹ. Sơ dĩ như vậy vì 90% ngân khoản viện trợ quân sự đã ở lại nướcMỹ. Nếu không có viện trợ, xuất cảng của Mỹ sẽ tụt 12%, nông phẩm thừa sẽ tăng lên đáng sợ. Vậy ngoại viện thực ra lại là sự trợ cấp cho nền kinh tế Mỹ”.
         
        Ta biết, phần lớn viện trợ và các chi phí của Mỹ là lấy từ ngân sách.Ngân sách là tiền đóng góp của nhân dân Mỹ, thông qua thuế. Nhưng Mỹ hầu như không đem thẳng tiền mặt cấp cho một nước nào cả. Viện trợ hay chi phí đều bằng hàng hóa, chủ yếu là hàng hóa Mỹ, mua của các công ty Mỹ. Như vậy, viện trợ và chi phí chiến tranh chỉ là cơ hội để lấy tiền trong túi nhân dân Mỹ bỏ vào túi các nhà tư bản Mỹ, mà ngân sách là guồng máy thực hiện sự phân phối lại đó. Nguyên Chủ tịch Ngân hàng thế giới Eugener R.Black phân tích như sau:
         
         “Chương trình ngoại viện của ta rất có lợi cho các xí nghiệp tư nhân Mỹ. Có ba nguồn lợi chính:
         
        a.Ngoại viện tạo ra thị trường vững vàng và trực tiếp cho những hàng hóa và dịch vụ của Mỹ.
         
        b.Ngoại viện khuyến khích sự phát triển thị trường mới ở hải ngoại của các công ty Mỹ.
         
        c.Ngoại viện hướng nền kinh tế các nước nhận viện trợ vào một hệ thống tự do kinh doanh mà nhờ đó các công ty Mỹ có thể làm giàu” (Columbia Journal of World Business: Autumne, 1965).
         
        Khi nói về những quyền lợi kinh tế trực tiếp mà Mỹ muốn tìm kiếm ở Việt Nam, có một điểm đáng lưu ý: trong hơn 20 năm dính líu vào ViệtNam, số của cải mà Mỹ đã bỏ vào lớn hơn nhiều so với số đã lấy được.Đó là điều nằm ngoài ý muốn của Mỹ.
         
        Một là, cho đến tận 30-4 năm 1975, Mỹ vẫn chưa kết thúc được giai đoạn xâm nhập và bình định, là giai đoạn mà số phí tổn để chuẩn bị khai thác thường phải lớn hơn số của cải đã khai thác được.
         
        Hai là, con số quyết toán cuối cùng những phí tổn của Mỹ ở ViệtNam là con số vượt quá xa dự kiến ban đầu. Năm 1972, khi trả lời phỏng vấn của một tờ báo, rằng “cuộc chiến tranh Việt Nam có xứng đáng với cái giá phải trả về sinh mạng và của cải của Mỹ không?”,Tướng Tylor trả lời: “Chắc chắn là cuộc chiến tranh này đã tốn kém hơn rất nhiều, nếu ta tính đến những tổn thất cụ thể đếm được so với những gì cụ thể mà ta thu lợi được” (The Americanin New and World12-6-1972). Hầu hết các chính khách, các nhà quân sự, các nhà kinh tế và giới kinh doanh Mỹ, khi tham gia hoặc tán thành việc can thiệp vàoViệt Nam đều không ngờ rằng những ý đồ của họ được thực hiện chậm trễ và tốn kém đến thế. Nếu như lúc nào, có ai trong họ giác ngộ được điều đó và muốn rút lui, thì người kế tiếp cũng kế tiếp cả sự tính toán chủ quan mà người đi trước đã muốn chấm dứt. Một trong những khía cạnh chua chát nhất trong sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam là: Mỹ đã tính sai liên tiếp, mà những người tỉnh ngộ muốn đi tới con đường đúng đắn thì lại liên tiếp bị đào thải.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Năm, 2017, 04:54:33 AM
       
        II. VÌ LỢI ÍCH CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ
         
        Quả là Mỹ muốn khai thác những món lợi ở Việt Nam. Nhưng đó không phải là động cơ lớn nhất chi phối những hành động của Mỹ ở đây. Lúa gạo, cao su, các khoáng sản… có thể là những sự hấp dẫn ban đầu. Càng vào sâu bao nhiêu lại càng thấy việc khai thác khó khăn bấy nhiêu.
         
        Nhưng Mỹ không rút lui, cũng không dừng lại. Cái logic cay nghiệt đối với Mỹ là: vì tham vọng của Mỹ bị ngăn chặn, cho nên sức mạnh và uy tín của Mỹ bị đặt trước một sự thách thức.
         
        Như vậy, khi việc khai thác của cải càng gặp khó khăn, thì lại nẩy sinh một động cơ khác, một sự hấp dẫn khác - phải giữ lấy “uy tín” của Mỹ, không phải chỉ ở Việt Nam mà còn thông qua Việt Nam để giữ lấy “uy tín” của Mỹ trên thế giới. Động cơ này bản thân nó đã rất lớn. Trong quá trình xâm lược, trong quá trình thất bại liên tiếp, động cơ đó càng ngày lớn hơn lên và càng có sức lôi kéo mạnh mẽ đối với ý chí của Mỹ.Sức lôi kéo đó dần dần trở nên mạnh hơn sức lôi kéo của những vựa lúa, những rừng cao su, những bể dầu ở Nam bộ…
         
        Nếu chỉ vì những món lợi trực tiếp, thì những khó khăn và thất bại có thể làm chi giới chính khách Mỹ phải tính toán lại và dừng bước.
         
        Nhưng nếu là để cứu vãn uy tín của một cường quốc bá chủ thế giới, thì càng thất bại, cái động cơ đó càng mạnh hơn, càng lôi kéo Mỹ sa lầy lâu hơn. Chỉ đến khi nào dùng hết sức mạnh có thể dùng đến, thi hành tất cả những thủ đoạn có thể thi hành, và không còn cách nào cứu vãn nổi thất bại nữa, thì Mỹ mới đành rút lui.
         
        Các chính khách Mỹ đã tự nói lên điều day dứt của họ trong nhiều thập kỷ:
         
         “Thực tế, việc mất Đông Dương tạo ra nguy cơ gây nên một phảnứng dây chuyền có thể đưa tới sự sụp đổ của toàn thể khu vực” (phát biểu của Eisenhower tháng 2 năm 1950) (Trích theo P.DeilersJ.Laconture. La fin d’une guèrre. Ed du Seuil.P.1960.103)
         
         “Nước Mỹ bỏ ra 400 triệu đô la cho cuộc chiến tranh này không phải để vứt đi. Chúng ta đã chọn biện pháp rẻ nhất để ngăn chặn sự biến đổi có thể mang lại những hậu quả khủng khiếp cho nước Mỹ, cho sự an toàn của chúng ta…” (phát biểu của Eisenhower tháng 9 năm 1950)(Humannité 15-2-1950).
         
         “Nếu chúng ta mất Đông Dương thì chúng ta sẽ mất cả châu Á và chỉ còn là vấn đề thời gian để đi tới mất phần còn lại của thế giới” (phát biểu tại Quốc hội Mỹ đầu 1954 của Symilton thượng nghị sĩ bang Cleveland) (The Pentagon’ Papers (Tài liệu mật của Lầu NămGóc).Ek.Bantm, New York, 1971).
         
         “Nếu người Pháp không thắng được trong cuộc chiến tranh này thì vị trí chiến lược toàn cầu của chúng tôi cũng như của các ngài có thể sẽ trở thành thảm họa” (Thư của Eisenhower gửi thủ tướng Anh Churchillngày 4-4-1954, yêu cầu Anh nhúng tay vào Đông Dương).
         
         “Mỹ phải giữ lấy miền Nam Việt Nam, y như đã giữ ở Nam Triều Tiên và Đài Loan. Ba vùng đó có một tầm quan trọng quyết định đến vị trí của Mỹ ở Đông Nam Á” (Phát biểu của J.Dulles trước Ủy ban đối ngoại thượng nghị viện Mỹ ngày 30-4-1956).
         
         “Việt Nam đang giới thiệu một sự thí nghiệm về trách nhiệm và quyết tâm của người Mỹ ở châu Á. Nếu như lúc này chúng ta chưa hẳn là cha đẻ của nước Việt Nam nhỏ bé này, thì sau này chắc chắn là chúng ta sẽ là bậc cha mẹ đỡ đầu của nước Việt Nam đó. Chúng ta đã chi phối sự khai sinh ra nó. Chúng ta đã trợ giúp cho cuộc sống của nó… Trong khi ảnh hưởng của Pháp trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và quân sự suy sụp ở Việt Nam, thì ảnh hưởng của Mỹ phát triển một cách vững vàng. Đó là sản phẩm của chúng ta. Chúng ta không thể bỏ rơi nó. Nước Mỹ nhất định sẽ gánh lấy trách nhiệm. Uy danh của chúng ta nhất định sẽ nâng lên một bước mới” (Lời phát biểu tại Quốc hội Mỹ năm 1956 của John Kennedy, khi đó mới là thượng nghị sĩ, sau này là Tổng thống Mỹ) (Frank N.Trager. Why Vietnam, New York Praeger1960,p.112).
         
         “Không thể cắt giảm thật nhiều viện trợ được, trừ khi Mỹ muốn rút khỏi Đông Nam Á và để cho vùng này rơi vào tay cộng sản. Một hành động như vậy dứt khoát không phù hợp với quyền lợi của Mỹ… Chúng tôi cũng muốn giảm bớt gánh nặng lắm chứ. Nhưng trước mắt, không thấy có hy vọng nào như vậy cả” (trả lời của J.Kennedy, Tổng thống Mỹ đối với đề nghị của phái bộ Mansfield về việc cắt giảm viện trợ cho Nam Việt Nam sau khi phái bộ này đi khảo sát ở Nam Việt Nam về, hồi đầu 1963) (Tin tham khảo, ngày 7-3-1963).
         
         “Phải thi hành tất cả mọi biện pháp nhằm ngăn chặn không cho cộng sản thắng lợi” (Tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc.Namara.Tháng 3-1962) (Tin do hãng UPI đưa ngày 11-3-1963).
         
         “Mất Việt Nam sẽ làm cho các nước còn lại ở Đông Nam Á đứng trước nguy cơ tiêu vong… Có nhiều lý do rộng lớn chỉ rõ tại sao việc bảo vệ Nam Việt Nam là điều sống còn đối với chúng ta và đối với cả thế giới tự do” (Phát biểu của Dean Ruck, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, tại câu lạc bộ kinh tế New York ngày 21 tháng 4 năm 1963) (AP, ngày 22-4-1963).
         
         “Tôi không muốn chứng kiến cái phòng tuyến đó bị bẻ gãy, để cho tất cả Đông Nam Á bị phơi lưng ra” (trả lời của Thượng nghị sĩ Mỹ Dirksen trong cuộc tranh luận với Fulbrigt tại Quốc hội Mỹ 1967)(International Herald Tribune số 7 và 8-10-1967).
         
         “Nếu Hạ nghị viện biểu quyết ngừng viện trợ cho Nam Việt Nam trong một năm thì gây ra một thảm họa đối với nền an ninh của bản thân nước Mỹ và sẽ đẻ ra nhiều vấn đề mới đối với toàn thế giới” (Điều trần của T.E.Morgan, Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Hạ nghị viện Mỹ, tháng 7-1968) (Theo tin của hãng Reuter Washington, ngày 16-7-1968).
         
         “Nam Việt Nam là một khâu then chốt trong cuộc chiến đấu giữa chủ nghĩa cộng sản và thế giới tự do. Kết quả của cuộc chiến đấu ở ViệtNam sẽ ảnh hưởng lớn đến diễn biến tình hình sau này ở châu Mỹ La tinh, châu Phi và cả châu Âu nữa” (Nixon) (The Pentagon’ Papers đãdẫn).
         
         “Trong ba mươi năm cuối cùng của thế kỷ 20, không phải châu Âu và châu Mỹ La tinh, mà chính là châu Á sẽ gây nên một nguy cơ lớn nhất của một sự đụng độ có thể leo thang dẫn đến chiến tranh thế giới thứ ba” (Nixon) (Châu Á sau Việt Nam).
         
        Những đoạn trích dẫn trên giúp ta vừa hiểu rõ ý đồ của Mỹ ở ViệtNam, vừa giải thích sự dính líu chặt chẽ, lâu dài và tốn kém chưa từngthấy của Mỹ trong hơn 20 năm ở Việt Nam.
         
        Bây giờ, hãy đi vào xem xét những tư tưởng đó được thực hiện trongcác giai đoạn lịch sử cụ thể như thế nào.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Năm, 2017, 02:03:54 AM
       
Chương II
 
QUÁ TRÌNH XÂM NHẬP CỦA MỸ VÀ CÁC GIAI ĐOẠN CỦA VIỆN TRỢ MỸ

        I. TRƯỚC ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚI THỨ HAI
         
        Từ đầu thế kỷ XX, người dân Đông Dương bắt đầu biết đến Mỹ qua một số sản phẩm do các tầu buôn Mỹ đem tới bán, trong đó thứ được chú ý nhất là dầu hỏa dùng để thắp đèn. Để giúp dân có thể thắp đèn bằng dầu hỏa, Công ty Caltex Petroleum chế tạo một loại đèn mới, lúc đầu đem biếu không, về sau được bán rẻ kèm dầu hỏa. Cũng vì thế, người Việt Nam gọi chiếc đèn này là “đèn Hoa Kỳ”. Từ đó, mức tiêu thụ của dầu hỏa tăng lên cùng với sự phổ biến nhanh chóng của “đèn Hoa Kỳ”. Công ty Caltex Petroleum bắt đầu đặt những đại lý ở Đông Dương.Đó là những cơ sở đầu tiên của Mỹ ở đây.
         
        Ngoài dầu lửa, Mỹ còn bán cho Đông Dương bông, một số máy móc,và sau đại chiến thế giới thứ hai thì cả ô tô. Nhưng đối với thứ hàng kể trên, Pháp chỉ cho phép Đông Dương nhập khẩu với số lượng hạn chế, không cho Mỹ đặt đại lý.
         
        Trong số những thứ Mỹ mua của Đông Dương, trước hết phải kể đến cao su, thiếc.
         
        Nếu tính bằng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Đông Dương thì phần buôn bán với Mỹ trong thời kỳ 1925-1929 là 2,6%, trong thời kỳ1930-1034 là 2,3%, trong thời kỳ 1935-1939 là 6,6%.
         
        Nếu tính riêng xuất và nhập thì trong thời kỳ giữa hai đại chiến Mỹ chiếm 3,8% nhập cảng, 8,4% xuất cảng của Đông Dương.
         
        Nếu xét riêng một số mặt hàng xuất và nhập chủ yếu, ta có nhữngcon số sau đây: thời kỳ 1935-1939, Mỹ chiếm 27% bông, 19,1% sảnphẩm dầu lửa, 17,5% máy móc, 13,4% ô tô và phụ tùng nhập vào Đông Dương. Cũng thời kỳ đó, Mỹ mua tới 92.000 tấn cao su Đông Dương, bằng 38% tổng số cao su xuất cảng của Đông Dương bán cho Mỹ.

        II. TRONG ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚI THỨ II
         
        Tháng 9-1940, Nhật đột nhập vào Lạng Sơn và sau đó xâm nhập toàn Đông Dương. Sau này, giới sử học Mỹ vẫn coi đó là sự kiện đầu tiên thôi thúc sự quan tâm của Mỹ đối với Đông Dương. Mùa xuân năm1941 Cục Hải quân Mỹ gửi một báo cáo đặc biệt về Đông Dương lên Tổng thống Mỹ Roosevelt. Đây có lẽ là tài liệu đầu tiên của Mỹ phản ánh tương đối toàn diện tình hình các mặt về tầm quan trọng chiến lược của Đông Dương đối với Mỹ. Từ đó, chính sách của Mỹ đối với khu vực này có nhiều thay đổi. Như một sử gia Mỹ nhận xét: “Từ cuối năm1940, Mỹ bắt đầu nhận thấy ý nghĩa chiến lược quan trọng của ViệtNam. Và đến đầu năm 1941, trên thực tế, Mỹ đã xem Việt Nam có tầm quan trọng chiến lược lớn đến mức là một cuộc xung đột về quyền lợi với Nhật ở đó đã trở thành nguyên nhận chủ yếu của cuộc chiến tranh giữa hai nước” (Edward Drachman United States Policy Towards VietNam 1940-1945 Cambủy New Jersey, Associated University Press1970.P.62)
         
        Ngày 7-12-1941, Nhật bất ngờ đánh Trân Châu Cảng, trực tiếp lôi cuốn Mỹ vào cuộc chiến. Lúc này, Mỹ thấy cần và có thể loại trừ được thực dân Pháp, nhưng chưa đủ lý do và điều kiện để trực tiếp nhúng tay vào khu vực này. Thời kỳ 1942 và 1945 là thời kỳ Mỹ tìm kiếm một thực lực thứ 3 ở Đông Dương, trong đó không có Pháp. Đã có lúc, Mỹ đề nghị sát nhập Việt Nam vào Trung Hoa, mà Tưởng Giới Thạch là đại diện.Nhưng chính Tưởng cũng phải khước từ đề nghị đó (11/1943) vì thấy quá vô lý với tình hình và khả năng thực tế. Dần dần, Mỹ tìm cách vận động thiết lập sự kiểm soát quốc tế đối với Đông Dương.
         
        Tháng 3-1943, Roosevelt chỉ thị cho Bộ Ngoại giao Mỹ dự thảo về kế hoạch chế độ ủng hộ quốc tế đối với Đông Dương và dựa trên nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương để phủ định sự thống trị độc quyềncũ của Pháp.
         
        Tháng 10-1943, tại Hội nghị các nước đồng minh họp tại Maskva, Mỹ đưa ra “Kế hoạch ủy trị quốc tế đối với các nước thuộc địa chưa sẵn sàng giành độc lập”, trong đó có Đông Dương. Kế hoạch này lại đượcMỹ đưa ra một lần nữa tại Hội nghị Teheran (20-11 đến 1-12-1943). Roosevelt đã biện bạch cho kế hoạch đó rằng “Đồng minh đổ máu không phải nhằm khôi phục ách thống trị của Pháp ở Đông Dương”. Chủ trương này dù sao cũng tiến bộ hơn việc duy trì chế độ thuộc địa kiểu cũ. Trong những điều kiện lúc đó, Liên Xô đã tán thành đề nghị này. Anh và Pháp thì phản đối quyết liệt.
         
        Nhưng đến mùa hè năm 1944 thì chính Mỹ lại thay đổi kiến và muốn tự phủ định đề nghị của mình. Tại Hội nghị Đồng minh ở Dumbarton Oaks (tháng 8-1944), Mỹ không còn nhắc đến kế hoạch ủy trị quốc tế đối với Đông Dương nữa. Tình thế lúc này đã đổi khác. Có hai nhân tố trực tiếp để buộc Mỹ phải tính toán lại:
         
        -Chiến tranh sắp kết thúc. Việc đánh bại Nhật Bản không còn xa.Nước Nhật đang nhích vào tầm tay của Mỹ. Chế độ ủy trị quốc tế, là cái có lợi cho Mỹ xâm nhập Đông Dương, thì lúc này lại tạo ra khó khăn và bất lợi cho Mỹ độc chiếm Nhật Bản.
         
        -Trước những thắng lợi của Liên Xô và phong trào giải phóng ở các nước châu Âu, Mỹ thấy cần phải củng cố lại khối liên minh với Anh và Pháp. Việc làm Pháp suy yếu và gây bất hòa với Pháp là việc không có lợi. Nhất là từ tháng 7-1944, khi De Gaulle đã công bố kế hoạch về quyền tự trị của Đông Dương trong Liên hợp Pháp, thì việc Mỹ can thiệp vào Đông Dương không còn thuận lợi như trước nữa.
         
        Tháng 2-1945, Roosevelt công nhận lực lượng chống Nhật của Pháp ở Đông Dương trong hàng ngũ Đồng minh và quyết định ủng hộ lực lượng đó. Cuối tháng 3-1945, những máy bay của Tướng Mỹ Chemeult được lệnh chở vũ khí tiếp tế cho những nhóm kháng chiến của Pháp ở Đông Dương.
         
        Tháng 5-1945, Đức đầu hàng. Tháng 8-1945 đến lượt Nhật đầuhàng. Vấn đề ám ảnh Mỹ từ những năm 1942, 1943, nay lại đặt ra như một thực tế cấp bách: Làm sao ngăn cản Pháp lập lại quyền thống trị ở đây, để Mỹ có một chân ở đó?
         
        Giữa lúc đó thì cách mạng tháng Tám bùng nổ.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Năm, 2017, 03:04:32 AM

        III. THỜI KỲ 1945-1954
         
        Cách mạng tháng 8-1945 thành công. Bằng nhiều thủ đoạn ngoại giao, Truman đã đưa được quân đội Tưởng Giới Thạch vào Bắc Việt Nam và quân Anh vào Nam Việt Nam, dưới danh nghĩa “Giám sát sự đầu hàng của Nhật”. Thực ra, đây là một ngón đòn rất xảo quyệt củaTruman: vừa quét sạch quân Nhật, vừa không để cho Pháp trở về, vừa muốn dùng quân Anh và quân Tưởng kiềm chế những lực lượng cách mạng trong nước, vừa thông qua hai “đồng minh” này mở đường cho Mỹ xâm nhập Đông Dương.
         
        Hiệp ước 6-3-1946 đã giúp ta đẩy quân Tưởng ra khỏi miền Bắc một cách êm thấm. Pháp trở lại Việt Nam. Đối với Mỹ lúc này, vấn đề là không phải lựa chọn giữa Tưởng Giới Thạch và Pháp nữa, mà là giữa Pháp và chính quyền cách mạng Việt Nam. Đầu năm 1952, Truman triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ. Trong quyết nghị của Hội đồng có nói rõ: “Bảo vệ thành công Bắc kỳ là điều quan trọng nhất để giữ cho Đông Nam Á không nằm trong tay các lực lượng cộng sản”.
         
        Mỹ đã giúp Pháp, đứng đằng sau Pháp để tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.
         
        Ngày 8-5-1950, Truman chính thức quyết định viện trợ cho Pháp trong chiến tranh Đông Dương. Theo các “Tài liệu mật của Lầu Năm Góc”, đó là “bước đầu tiên làm cho nước Mỹ trực tiếp dính líu vào tấn bi kịch đang phát triển ở Nam Việt Nam (The Pentagon’ Papers, đã dẫn,P.130).
         
        Tháng 12-1950, ký với Pháp Hiệp định viện trợ quân sự cho Pháp ở Đông Dương.
         
        Từ sau những hiệp định đó, người Việt Nam nghe nói nhiều đến “Viện trợ Mỹ”, và ngày càng đụng chạm bằng xương bằng thịt với viện trợ Mỹ.
         
        Ở các đô thị do Pháp chiếm đóng, người ta thấy ngày càng nhiều sữa bột Guigoz, bột Ovemanltine, rượu Whisky, thuốc lá Philip, bút máy Parker v.v… Những thứ đó từ các đô thị bắt đầu lan ra các thị trấn nhỏ và các chợ thôn quê.
        Đồng thời, trên bầu trời, xuất hiện những máy bay oanh tạc B24, B26, B29, Spitfire, King-Cobra…
         
        Cũng từ năm 1951, bom napalm bắt đầu được ném xuống Việt Nam. Chợ bắt đầu phải họp ban đêm. Rồi đến các trường học ban đêm…
         
        Trên các ngả đường hành quân của của quân đội Pháp, người ta thấy những xe GMC, chở lính Pháp, mang súng Mỹ.
         
        Đó là những vật gửi tới đầu tiên của viện trợ Mỹ.
         
        Qua mỗi năm, viện trợ Mỹ một tăng lên nhanh chóng. Dần dần, nó trở thành nguồn cung cấp chủ yếu cho chiến tranh của Pháp. Theo tính toán của Pháp, viện trợ Mỹ đã chiếm gần 80% chiến phí của Pháp, tổng cộng khoảng 1.700 triệu đô la. Tất nhiên, trong tổng số 1.700 triệu đô la viện trợ Mỹ đó, tuyệt đại bộ phận là vũ khí và dụng cụ chiến tranh. (Nếu kể từng loại cụ thể, theo “Tài liệu mật của Lầu Năm Góc” thì tính đến ngày 21-1-1954, Mỹ đã viện trợ cho Pháp 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 619 máy bay, 390 tàu đổ bộ, 16.000 ôtô, 175.000 súng trường và súng máy, 2.555 triệu viên đạn, trong đó có 15 triệu viên đại bác. Nếu tính theo đầu người dân Việt Nam lúc đó thì cứ 2 người chịu 1 quả đại bác, mỗi người chịu một viên đạn).
         
        Đối với người Việt Nam lúc đó không có vấn đề lựa chọn giữa sữa bột Guigoz hay bom napalm, bút Parker hay đạn rocket. Giữa cuộc kháng chiến chống Pháp đã xuất hiện một khẩu hiệu mới: “Đả đảo can thiệp Mỹ”. Khẩu hiệu đó xuất hiện trên mỗi mảnh tường, trên mỗi cổng làng, trên mỗi vách đá, và ở khắp mọi nơi trong nước Việt Nam kháng chiến.
         
        Về phía Mỹ, vấn đề cũng không chỉ đơn giản là giúp Pháp “ngăn chặn họa cộng sản” ở Đông Dương. Nước cờ mà Mỹ tính phức tạp hơn: giúp Pháp nhưng thắng lợi rơi vào tay Mỹ. Như chính Eisenhower đã nói: Mỹ bỏ đô la vào cuộc chiến tranh này không để tiêu phí. Trong thực tế, khi Mỹ đã trả đến 80% chi phí của cuộc chiến tranh, thì đó không còn là cuộc chiến tranh của Pháp nữa, mà đã là cuộc chiến tranh của Mỹ rồi. Lính Pháp và lính ngụy đánh trận. Nhưng vũ khí của Mỹ, trang bị của Mỹ, lương của Mỹ. Từng bước, Mỹ đã biến cuộc chiến tranh của Pháp thành cuộc chiến tranh của Mỹ, biến người bạn “đồng minh” thành kẻ đánh thuê, xâm lược thuê cho Mỹ.
         
        Cùng với viện trợ, Mỹ thi hành hàng loạt biện pháp nhằm lấn át quyền thống trị của Pháp, ràng buộc quyền bản địa và chuẩn bị trực tiếp nắm lấy nó.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Năm, 2017, 03:05:12 AM
         
        Với lý do “độc lập”, “bình đẳng”, “giải phóng”, “chống chủ nghĩa thực dân”… Mỹ đã gây áp lực với Pháp, buộc Pháp phải cho lập ra một chính quyền bản xứ. Với Hiệp ước Bảo Đại-Auriel ngày 8-3-1949, Chính quyền bản xứ ra đời. Tuy đây vẫn chỉ gồm những tay sai cũ, song về hình thức dù sao đó cũng là những “chính khách”, những “đại biểu” của một “quốc gia”, có bộ máy chính quyền, có chính phủ, có quốc trưởng,có thủ tướng, có các bộ, có quân đội…
         
        Tháng 5-1950, Chính phủ Pháp bãi bỏ Bộ “Hải ngoại Pháp quốc” và thay bằng Bộ “Các quốc gia liên hiệp”. Các nước Đông Dương nằm trong Liên hiệp Pháp, nhưng được coi là “độc lập”. Trên cơ sở quyền “độc lập” đó, Mỹ có thể liên kết các Hiệp ước thẳng với các quốc gia này.
         
        Tháng 12-1950, theo sự sắp đặt của Mỹ, Năm chính phủ gồm Mỹ, Pháp, bù nhìn Việt, Miên, Lào đã ký “Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương”, trong khi khắp Đông Dương không hề có một kẻ ngoại xâm nào ngoài bản thân những kẻ tổ chức ra việc phòng thủ đó.
         
        Về viện trợ Mỹ, khoản 1, điều III của “Hiệp nghị phòng thủ chung” quy định: “Mỗi chính phủ được cấp viện trợ có nhiệm vụ chỉ sử dụng số viện trợ đó vào mục đích phòng thủ Đông Dương”.
         
        Khoản 2, điều I của Hiệp nghị quy định: Mọi chính phủ nhận trang bị, vật liệu và dụng cụ của Mỹ trên cơ sở Hiệp nghị này, tùy khả năng của mình, phải góp phần sản xuất, vận chuyển và cung cấp cho Chính phủ Mỹ những hàng hóa đặt mua, nguyên liệu, nửa chế phẩm mà Mỹ không có hay chưa khai thác được, phải cung cấp cho Chính phủ Mỹ tiền địa phương để chi phí vào những việc có liên quan đến việc thực hiện hiệp nghị này ở Đông Dương”.
         
        Đến tháng 9-1951, Mỹ ký thẳng một hiệp ước tay đôi với chính phủ Bảo Đại, gọi là “Hiệp ước hợp tác kinh tế Việt Mỹ”, nhằm chuyển thẳng một phần viện trợ Mỹ qua tay chính phủ đó và trực tiếp ràng buộc nó vào Mỹ.
         
        Ngoài một số điểm giống như trong “Hiệp nghị phòng thủ chung Đông Dương, Mỹ đã tiến xa hơn nữa trong một số điều khoản của Hiệp ước tay đôi này. Chẳng hạn:
         
        Điều III quy định: “Chính phủ Việt Nam phải cung cấp cho Chính phủ Mỹ các tài liệu chi tiết cần thiết để đảm bảo việc thi hành các quyđịnh của hiệp ước”, “ba tháng báo cáo một lần về việc sử dụng các số tiền, sản phẩm, dịch vụ nhận được”…
         
        Điều IV quy định: “Mỹ đưa vào Việt Nam một “Phái đoàn kinh tế và kỹ thuật đặc biệt” để đảm bảo chấp hành những trách nhiệm của Chínhphủ Mỹ. Chính phủ Việt Nam để cho phái đoàn và các nhân viên của nóđược hưởng những quyền ưu đãi bất khả xâm phạm… hưởng mọi dễ dàng cần thiết để quan sát và kiểm tra việc thực hiện hiệp ước, nhất làviệc sử dụng viện trợ đúng theo tinh thần của văn bản hiệp ước”.
         
        Các điều khoảng kể trên là cơ sở để suốt 25 năm sau đó các phái đoàn viện trợ Mỹ trở thành một thứ “Chính phủ” của Mỹ ở Việt Nam và nhúng tay vào mọi ngóc ngách của đời sống kinh tế Nam Việt Nam.
         
        Đến tháng 12-1951, đề gò tất cả các hiệp ước đã ký vào khuôn khổ của “Luật an ninh chung” do Quốc hội Mỹ thông qua, Mỹ lại ký với Chính phủ Bảo Đại một bản hiệp nghị nữa, gọi là “Hiệp nghị an ninh chung”. Trong Hiệp nghị này, các điều khoản của các hiệp định trước được nhắc lại, khẳng định thêm đồng thời có nhấn mạnh tinh thần trong Luật an ninh chung của Mỹ:
         
        1. Nếu viện trợ-kinh tế không đảm bảo tăng cường nền an ninh của nước Mỹ thì không được phép cấp.
         
        2.Mọi nước nhận viện trợ, nếu không chấp hành các điều quy định trong các hiệp nghị, thì sẽ bị cắt viện trợ.
         
        Từ năm 1950 đến 1954, Mỹ đã viện trợ cho Chính phủ Bảo Đại 23triệu đô la bằng hàng hóa và khoảng 36 triệu đô la bằng tiền Việt Nam (Mỹ có số tiền này do bán hàng, dịch vụ cho chính quyền Bảo Đại đã cung cấp cho Mỹ một số ngân khoản để chi tiêu như điều III Hiệp định phòng thủ chung). Ngoài ra, Mỹ cũng viện trợ thẳng cho Bảo Đại khoảng 15 triệu đô la vũ khí. Tuy nhiên, tổng số các loại viện trợ này khoảng 75 triệu đô la, vẫn còn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với viện trợ cho Pháp.
         
        Trước khi các hiệp nghị được ký kết, các phái đoàn viện trợ Mỹ đã vào Đông Dương, đã hoạt động, tìm hiểu, lấy tin tức và kiểm tra tình hình. Tháng 5-1950 Robert Blum dẫn đầu phái đoàn viện trợ Mỹ đếnSài Gòn. Đến tháng 9-1950, phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ MAAG đượcthành lập ở Nam Việt Nam. Từ 1951, các Phòng thông tin Mỹ được đặt ở nhiều trung tâm vùng tạm chiếm. Lãnh sự quán Mỹ ngày càng mở rộng nhà cửa và phạm vi hoạt động. Nhiều công ty tư bản Mỹ đã đặt cơ sở giao dịch ở Hà Nội và Sài Gòn. Các nhân viên của Công ty phốt phát Florida (Florida Phosphat Company) đã đến lấy tài liệu về các mỏ quặng ở Lào Cai. Các chi nhánh ngân hàng Mỹ ở Hồng Công đã mở những cuộc giao dịch và bàn kế hoạch tài trợ việc xuất cảng cao su, thiếc và hải sản của Việt Nam.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Năm, 2017, 05:07:15 AM
         
        Năm 1951, Phó Tổng thống Mỹ Nixon đến Hà Nội, Sài Gòn, và trực tiếp đi thăm quan các trận càn quét của quân đội Pháp. Các chính khách Mỹ, tướng tá Mỹ đi về Đông Dương ngày càng tấp nập. Cố vấn Mỹ ngày càng đông.
         
        Trong tổ chức bộ máy chính quyền và quân đội bản địa, Mỹ đã dần dần thay thế số thân Pháp bằng số thân Mỹ. Ngay từ 1947, đại sứ Mỹ ở Pháp đã được lệnh tìm kiếm những nhân vật Việt Nam để chuẩn bị lập Chính phủ thân Mỹ sau này. Năm 1949, Nguyễn Phan Long (thân Mỹ) lên làm Thủ tướng. Những ai thân Pháp cực đoan, không biết thay đổi thái độ theo thời thế, bị gạt bỏ dần. Các trường và các trung tâm huấn luyện của Mỹ bắt đầu đưa người từ Việt Nam sang học để chuẩn bị xây dựng bộ máy mới. Trong đó có Ngô Đình Diệm.
         
        Về quân sự, đầu năm 1952, Tổng thống Truman triệu tập Hội nghịan ninh quốc gia, chỉ thị cho Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng phải tích cực củng cố các lực lượng quân sự độc lập của các quốc gia ĐôngDương, làm cho nó đứng vững mà không cần có Pháp nữa.
         
        Tháng 4-1954, Pháp hấp hối ở Điện Biên Phủ. Nixon lúc đó là PhóTổng thống Mỹ, nói: “Chính phủ Mỹ phải nhìn nhận một cách tỉnh táo những diễn biến trước mắt và hãy gửi lực lượng sang” (The Pentagon’ Papers đã dẫn).
         
        Pháp dần dần thấy rõ viện trợ Mỹ thấm đến đâu thì bàn tay Mỹ cũng nhúng tới đó, quyền lợi của Pháp cũng bị cắt xén tới đó. Nhưng tình thế đã buộc Pháp phải chấp nhận điều này. Chiến tranh kéo dài và ngày càng tổn thất lớn. Nền tài chính Pháp kiệt quệ. Không dựa vào Mỹ thì không thể tiếp tục chiến tranh được. Nhưng dựa vào Mỹ thì tất phải lệ thuộc Mỹ, và bị Mỹ chiếm lấy các quyền lợi. Tình cảnh của Pháp lúc nàythật khốn quẫn. Trước mặt, đối phương càng đánh càng mạnh, càng dìm Pháp sa lầy sâu hơn trong những thất bại ngày càng lớn.
         
        Sau lưng, người “đồng minh” giầu có giúp đõ càng nhiều thì món nợ càng lớn hơn và cái gia tài Đông Dương ngày càng phải gán dần cho Mỹ. Cho đến cuối cuộc chiến tranh, các nhà chiến lược Pháp đã cảm thấy rằng dù chiến tranh kết thúc như thế nào thì Đông Dương cũng không còn nằm trong tay Pháp nữa. Đó là kết quả thực sự của viện trợ Mỹ đối với Pháp.
         
        Để kết luận về viện trợ Mỹ trong thời kỳ này, có thể trích tiếng nói của người “trong cuộc”.
         
        Ta còn nhớ Tướng Henri Navarre, tổng chỉ huy quân đội Pháp ở ĐôngDương thời kỳ 1953-1954, thời kỳ cuối cùng ác liệt nhất của chiến tranh, cũng là thời kỳ cao điểm của viện trợ Mỹ. Sau khi thất trận, ngồi bình tĩnh và ngẫm lại quá khứ, trong cuốn “Đông Dương hấp hối”, Navarre đã viết:
         
        Điều nguy khốn nghiêm trọng nhất của viện trợ Mỹ là, về mặt chính trị, nó làm cho Mỹ nhúng tay ngày càng sâu vào các công việc của chúng ta. Nó làm cho ảnh hưởng của Mỹ thay thế dần ảnh hưởng của Pháp đối với các quốc gia liên kết.
         
        Do nhận viện trợ Mỹ, chúng ta đã lâm vào trạng huống đầy mâu thuẫn… Đó là tấn bi kịch lớn trong đường lối chính sách của chúng ta.
         
        Bây giờ đến lượt đế quốc Anh và đế quốc của chúng ta bị dòm ngó đến. Nhưng phương pháp thì đã thay đổi. Người ta giúp đỡ các dân tộc thuộc địa. Người ta đặt trên đất nước họ các căn cứ chiến lược. Người ta gửi đến vô số phái đoàn quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, tôn giáo và những ngân khoản lớn. Người ta chỉ ra cho thấy, ít nhất là đối với lớp người cầm đầu, rằng trong sự “liên minh tự nguyện” với Mỹ thì cuộc đời sẽ tốt đẹp hơn biết bao so với sự “đô hộ” của chúng ta. Trong mọi trường hợp, người ta tỏ thái độ phản đối chúng ta và bày tỏ cảm tình của dân chúng Mỹ đối vớinhững nguyện vọng của “dân thuộc địa”.
         
        Nếu cần người ta gọi Liên Hiệp Quốc can thiệp. Dần dần, họ đẩy chúng ta ra ngoài. Nhờ sức mạnh của đồng đô la, họ đã chiếm lấy vị trí của chúng ta, nhưng dưới một hình thức dường như không thấy được. Không có toàn quyền, công sứ, cao ủy Mỹ, nhưng có một đại sứ Mỹ, và không có một điều gì có thể làm được nếu không được ông ta cho phép.Các dân tộc tưởng mình được tự do, mà không thấy rằng mình đã bị tiền bạc chi phối một cách khắc nghiệt, mình chỉ là những con rối của Mỹ”.
         
        Cũng như nhiều chính khách Pháp, Navarre cho rằng đến những năm 1953, 1954, khi viện trợ Mỹ đã chiếm đến 80% chiến phí, thì “Chúng ta đã gần như chắc chắn mất Đông Dương, dù rằng viện trợ có giúp chúng ta chiến thắng trong cuộc chiến tranh” (H.Navarre L’ AgonieL’ Indochine Ed Plon Paris 1957 P.529).


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Năm, 2017, 04:38:01 AM

        IV. THỜI KỲ 1954-1960
         
        Sau Hiệp nghị Geneve, Mỹ đã thiết lập trên một nửa lãnh thổ Việt Nam một chính quyền thân Mỹ. Năm 1955, Diệm lên làm Thủ tướng. Năm 1956, Bảo Đại bị phế truất. Diệm lên làm Tổng thống. Họ hàng Diệm và những tay chân của Diệm đã nắm các vị trí then chốt của chính quyền.
         
        Để cho đám người này gắn bó chặt chẽ với Mỹ, dựa vào nguồn gốc xuất thân địa chủ và tư sản chưa đủ, có hận thù với cách mạng chưa đủ, dùng áp lực của cảnh sát và mật vụ chưa đủ, mà còn phải cấp bổng lộc. Ngoài tiền lương và những thu nhập chính thức khác, thì hối lộ, tham nhũng, buôn lậu, ăn cắp, ăn cướp, là những cái gắn liền với viện trợ Mỹ và với những hoạt động của Mỹ, đã bắt đầu trở thành nguồn làm giàu quyết định. Những thủ đoạn làm giầu có tính chất lưu manh đó đã phát triển mạnh hơn trước rất nhiều và dần dần đã nhuốm một mầu sắc giai cấp đặc biệt trên bộ máy chính quyền và quân đội bản xứ.
         
        So với những chính quyền thân Mỹ ở nhiều nước thuộc địa kiểu mới khác, bộ máy chính quyền miền Nam có một đặc điểm: Từ cách mạng tháng Tám 1945, những lực lượng tiến bộ, những tầng lớp yêu nước,những lương tri và giá trị của dân tộc đều đã quy tụ về cách mạng. Những tay sai mới của Mỹ đều đã có một quá trình làm tay sai cho Pháp, hoặc cho Nhật, hoặc Quốc dân Đảng, hoặc cho cả hai ba thế lực đó. Trước quốc dân, đám người này không còn chút tư cách đại diện, cũng không có uy tín.
         
        Ở đây, cần tính đến một đặc điểm lịch sử. Mỹ xâm nhập vào miền Nam sau khi cách mạng tháng Tám đã thắng lợi trên toàn quốc. Qua 9 năm kháng chiến chống Pháp, các lực lượng xã hội đã phân hóa triệt để. Ở Việt Nam, không còn lực lượng đáng kể nào nằm ngoài hai xu hướng chính trị là cách mạng và phản cách mạng. Để có một chỗ dựa, Mỹ không còn cách nào khác là phải tìm lại trong đám tay sai cũ của Pháp. Để “mua” lại đám người này, chỉ có một cách là dùng bổng lộc nhiều hơn. Chính vì vậy mà dưới trướng của Diệm, vẫn gồm có gần đủ ngần ấy bộ mặt thời Pháp, nhưng bổng lộc cao hơn trước rất nhiều. Có vô số những cai, đội và lính trơn thời Pháp đã được thăng vọt lên cấp úy và cấp tá. Cũng không ít sỹ quan cấp úy thời Pháp được thăng cấp tướng…
        Cũng vì lẽ đó, để dựng lên một bộ máy chính quyền thì việc quan trọng nhất là viện trợ. Tổng số viện trợ các loại của Mỹ cho Diệm từ 1955 đến 1960 vào khoảng gần 2 tỷ đô la. Tính trung bình, mỗi năm trên dưới ba trăm triệu đô la. Với ba trăm triệu đô la hàng năm mà dựng được cả một bộ máy chính quyền bản xứ, nuôi dưỡng và sử dụng được hàng chục vạn quân đánh thuê bản xứ, đó là một giá rẻ. Nếu thuê Pháp làm việc đó (điều này Mỹ đã làm) thì đắt hơn. Mỹ trực tiếp làm lấy (điều này đến các năm sau sẽ thấy) thì càng đắt hơn rất nhiều.
         
        Hơn nữa, viện trợ trong giai đoạn này lại có xu hướng giảm dần. Từ các năm 1959, 1960, viện trợ chỉ còn khoảng hơn trăm triệu đô la. Ta biết, thời kỳ 1957-1960 là thời kỳ tương đối ổn định của Mỹ-ngụy.Trong những năm 1958, 1959, không những Mỹ giảm viện trợ, mà còn có kế hoạch chuẩn bị khai thác và kinh doanh (Tháng 5-1957, Diệmtuyên bố tại Mỹ: “Miền Nam sẽ mở rộng cho việc đầu tư và thương mại quốc tế, giành đặc lợi cho ngoại quốc đầu tư và không xem việc đầu tư của Mỹ như một mối đe dọa cho độc lập quốc gia”. Sau đó Rookefeller đến thăm Sài Gòn. Phái đoàn Goodrich đến miền Nam nghiên cứu kế hoạch sông Mê Kông. Các phái bộ của “Quỹ tiền tệ quốc tế”, “Viện khảo cứu và kiểm soát hối đoái” của Mỹ cũng liên tiếp đến Sài Gòn). Mỹ hy vọng giai đoạn bình định sẽ sớm kết thúc, có thể chuyển dần sang khai thác. Chính những diễn biến đó cho phép ta thể nghiệm những tính quy luật sau đây: Nếu cuộc kháng chiến mà suy yếu đi, thì viện trợ sẽ diễn biến như thế nào.
         
        Kèm theo viện trợ, một biện pháp quan trọng nữa để khống chế đời sống xã hội miền Nam là: đưa người Mỹ vào.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Năm, 2017, 04:38:19 AM
         
        Ngay từ năm 1955, khi Diệm mới lên cầm quyền, Nixon, lúc đó là phó Tổng thống đã chỉ thị cho trường Đại học chính trị Michigan cử một đoàn cố vấn tối cao, gồm 54 người, sang giúp Diệm xây dựng về mọi mặt: lập hiến pháp, xây dựng quân đội, hệ thống tình báo, cảnh sát, nhà tù, bộ máy ngoại giao, tổ chức các cấp hành chính, chế độ kinh tế, tài chính và tiền tệ, tổ chức ngoại thương, cải cách điền địa… Mỗi cố vấn đảm nhiệm một công tác kể trên như một bộ trưởng của Chính phủ Diệm. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, nước Mỹ cử một phái đoàn cố vấn cao cấp đông và toàn diện như thế ra nước ngoài, gần như xuất cảng cả một chính phủ sang lắp ráp ở một nước khác.
         
        Nhưng khác với chế độ thực dân Pháp, Mỹ không có một cơ quan nào trực tiếp cai trị ở đây. Không có toàn quyền. Không có công sứ và khâm sứ. Nam Việt Nam vẫn có danh nghĩa một quốc gia có chủ quyền. Mỹ chỉ đặt đại sứ, các phái bộ ngoại giao, kinh tế, văn hóa xã hội, quân sự. Các nhân viên Mỹ thuộc các cơ quan này làm việc bên cạnh người Việt Nam với tư cách cố vấn.
         
        Trong thời kỳ 1955-1960, số lượng các cố vấn chưa nhiều. Ngoài số cố vấn cao cấp như đã nói, có một số cố vấn cho các ngành, tổng cộng khoảng trên một ngàn người. Thời kỳ này Mỹ chưa có khả năng nắm đến tận làng xã, cũng chưa có cố vấn tới các đơn vị quân đội ở cơ sở.
         
        Nhìn lại, trong 5 năm đầu xâm nhập, Mỹ đã đạt được những gì?
         
        Việc chủ yếu nhất là: Mỹ đã dựng được lên một bộ máy chính quyền. Hơn ba trăm triệu đô la hàng năm đủ nuôi cả bộ máy đó. Với sự kèm cặp trực tiếp của đại sứ Mỹ và các cố vấn Mỹ, bộ máy đó đã hoạt động theo yêu cầu của Mỹ.
         
        Trong mấy năm đầu cầm quyền, Diệm đã thanh toán xong những lựclượng đối lập thân Pháp. Chính quyền đã nằm trong tay Diệm. Quân đội đã nằm trong tay Diệm. Về sự gắn bó với Mỹ, thì Diệm đã được cácTổng thống Mỹ gọi là, có “đức tính của C.Washington”, có “sự dũng cảmcủa Wilson”, có “tính sâu sắc của Roosevelt”, còn về quyết tâm chống cộng thì Diệm được coi là một “Churchill của châu Á” (Lời của L.Johnsontrong diễn văn đọc tại Sài Gòn tháng 5-1961).
         
        Về chính trị và tư tưởng, với đô la Mỹ, Diệm cũng có những sách báo và những người viết sách báo, có nhà in, có đài phát thanh, phim, ảnh, ca nhạc, các trường học, các sách giáo khoa… Bằng những thứ đó, Diệm cũng đã dựng lên những thuyết, những tư tưởng, những giáo lý,những quốc sách, những khẩu hiệu, như “thuyết duy linh, tư tưởng “quốc gia”, “cần lao”, “nhân vị”, “bài phong phản thực”, “bào tồn dân t ộc”…
         
        Về mặt kinh tế, Diệm chưa xây dựng được gì, vì hàng viện trợ phần lớn là hàng tiêu dùng trực tiếp. Nhưng số hàng viện trợ này, khi đem bán ra thị trường để lấy tiền cho ngân sách, cũng thấm một phần ra dân chúng, nhất là dân đô thị. Việc đó cũng tạo ra cho xã hội một bộ mặt phồn vinh.
        Nhưng ở nông thông thì tình hình kinh tế vẫn không có sự cải thiện nào đáng kể. Hàng viện trợ Mỹ chưa thấm tới nông thôn là bao. Người nông dân cũng chưa tìm thấy ở người Mỹ và chính quyền Diệm một nguồn tiêu thụ nông phẩm mạnh mẽ tới mức có thể cải thiện kinh tế của họ. Vấn đề căn bản nhất là vấn đề ruộng đất vẫn chưa giải quyết. Kế hoạch “Cải cách điền địa” do cố vấn Mỹ Lade Jinsky hoạch định hầu như không thực hiện được gì. Việc cải thiện đời sống của nông dân bị coi rất nhẹ. Đây có lẽ là một trong những điểm bất đồng đáng kể nhất giữa Diệm và Mỹ. Đây cũng là một trong những “thiếu sót” lớn nhất sẽ đưa Diệm vào cái chết thê thảm.
         
        Việc coi nhẹ vấn đề nông dân còn gắn liền với chủ trương chống cộng cực đoan và mù quáng của Diệm. Dưới con mắt của Diệm, nông thôn là thành trì của cộng sản. Đối với Diệm, vấn đề chỉ đơn giản là đập nát cái thành trì kiên cố đó, Diệm coi đó là việc lớn nhất. Chống cộng được Diệm coi là “quốc sách số 1”.
         
        Tuy những tiếng súng ròn rã nhất của quân đội Diệm là những tiếngsúng bắn vào quân đội các giáo phái, nhưng Diệm vẫn thấy kẻ thù số 1của mình là cộng sản. Tham vọng chủ yếu của Diệm là “chặt đầu cộngsản”. Trong các chiến dịch chống cộng, ít thấy những tiếng đại bác và những đoàn quân xa ồn ào. Nhưng đây vẫn là chiến dịch to lớn nhất,quyết liệt nhất của Diệm. Trong chiến dịch này, Diệm huy động tới hàng chục vạn cảnh sát, mật vụ, thám báo, cai ngục, đao phủ, tỏa đi khắp miền Nam. Đội quân này ít dùng đại bác và chiến xa, nhưng dùng súnglục, chó săn, thuốc độc, xích sắt, gông, cùm, xà lim và máy chém. MiềnNam đã đổ bao nhiêu máu và nước mắt trong chiến dịch này. Nhưng lựclượng cách mạng vẫn không bị bóp chết.
         
        Phải có nhiều biện pháp, phải tốn kém hơn nữa.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Năm, 2017, 08:27:46 PM

        V. THỜI KỲ 1961-1964
         
        Ngày 16-9-1960, trong báo gửi về Washington, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn E.Dubrow viết: “Nếu những tiến bộ hiện nay của cộng sản cứ tiếp diễn, thì có nghĩa là sẽ mất Việt Nam tự do vào tay cộng sản” (The Pentagon’ Papers, đã dẫn, P.115).
         
        Ngày 10-12-1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập, đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc kháng chiến.
         
        Kennedy lên làm Tổng thống từ tháng 1 năm 1960. Cả Tổng thống Mỹ lẫn Ngô Đình Diệm đều thấy khó hy vọng kết thúc sớm giai đoạn bình định. Phải quyết đấu một hiệp nữa. Muốn vậy, phải dùng sức mạnh hơn trước vượt bậc. Kennedy nói: “Việt Nam là nơi duy nhất trên thế giới mà chính quyền phải đương đầu với một chính cố gắng phát triển rất tốt của cộng sản nhằm lật đổ một chính phủ thân phương Tây. Đây là một sự thách thức không thể bỏ qua. Eisenhower đã phải chịu những hậu quả chính trị của Điện Biên Phủ và việc tống cổ những người phương Tây ra khỏi Việt Nam năm 1954. Ngày nay, tôi không thể cho phép thất bại như 1954 nữa” (Jr.Schlesinger. The Bitter Heritage Di sảncay đắng Ed.Andre Deutsch, London, 1966, p.311).
         
        Kennedy đã tập hợp những chuyên gia suất sắc thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu một cách toàn diện về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, tâm lý, tham khảo kinh nghiệm chống du kích tại nhiều nơi trên thế giới, để hoạch định đường lối mới, quyết tâm giành thắng lợi trong cuộc thách thức này.
         
        Năm 1961, Mc.Namara cho ra đời bản “Đường lối và chiến thuật chống chiến tranh du kích ở Nam Việt Nam”.
         
        Cũng năm đó, đại tướng Maxwel Taylor cho ra đời chiến lược “phản ứng linh hoạt”, trong đó hoạch định ba mức độ phản ứng: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, chiến tranh tổng lực.
         
        Cái mới của giai đoạn này không phải chỉ là một quả đấm thép lớn hơn, mà còn là một “bàn tay” mềm mại hơn (J.Schlesinger, đã dẫn P.317). Kèm theo chiến tranh đàn áp và tàn phá khốc liệt, Mỹ có hàng loạt kế hoạch “hòa bình” mới: “đội hòa bình”, “lương thực vì hòa bình”… Viện trợ kinh tế tăng lên. Chương trình “cải cách điền địa” được Mỹ thảovà buộc Diệm thi hành.
         
        Vào năm 1961, tướng De Gaulle, với kinh nghiệm của một người “từng trải” và của một nước “từng trải”, đã nói với Kennedy: “Đối với các ông, sự can thiệp trong khu vực đó sẽ là vướng vào một cái guồng máy không bao giờ kết thúc. Khi mà một dân tộc đã thức tỉnh, thì không một quyền lực bên ngoài nào, dù có phương tiện đến đâu, có khả năng đánh bại được họ. Rồi các ông sẽ thấy.
         
        Nếu các ông tìm thấy tại chỗ những chính phủ vì quyền lợi, bằng lòng tuân lệnh các ông, thì trái lại, nhân dân không chịu nghe theo, vả lại, họ cũng chẳng gọi các ông đến.
         
        Ý thức hệ mà các ông nêu ra cũng chẳng thay đổi được gì, các ông càng lao vào chống chủ nghĩa cộng sản ở đó thì những người cộng sản càng nổi bật lên là những chiến sĩ của độc lập dân tộc và càng được ủng hộ.
         
        Những người Pháp chúng tôi đã học được kinh nghiệm đó.
         
        Những người Mỹ các ông, ngày hôm qua, muốn chiếm lấy chỗ của chúng tôi ở Đông Dương. Ngày hôm nay, các ông lại muốn bắt chước chúng tôi nhen lên một cuộc chiến tranh mà chúng tôi đã chấm dứt. Tôi xin nói trước với các ông rằng: Mỗi bước, các ông sẽ ngập thêm vào cái vũng lầy quân sự và chính trị không có đáy, bất kể các ông có thể ném vào đó những tốn kém và chi tiêu đến thế nào” (Trích trong báo Thờimới, Liên Xô (Temps Nouveaux)) No42, 10-72). Nhưng Kennedy lại nghĩ: “Đó là nước Pháp. Đây là nước Mỹ” (J.Schlesinger, đã dẫn, P.370). Cái bi kịch của Mỹ lúc này vẫn là: nếu có kẻ nào sớm nhận thấy phải thay đổi chính sách, thì không vì thế mà đường lối của Mỹ thay đổi, chỉ bản thân kẻ đó bị thay đổi thôi.
         
        Để thực hiện chiến lược mới, viện trợ quân sự tăng vọt. Từ năm1961 trở đi, số viện trợ quân sự bắt đầu vượt viện trợ kinh tế: Năm1962, viện trợ tăng gấp đôi năm 1961. Đến năm 1964, lại tăng gấprưỡi năm 1962. Tính trung bình, viện trợ quân sự trực tiếp trong thờigian này tới 300 triệu đô la 1 năm.
         
        Năm 1960, quân số ngụy mới có 223.000. Đến đầu 1965 đã lên tới 571.200. Với tiền viện trợ, Diệm tăng cường hệ thống sỹ quan để củng cố bộ khung của quân đội. Số sỹ quan từ 12.513 năm 1960 lên 22.853năm 1964, chiếm 16% quân số (Đây chỉ kể số tướng tá và đại úy). Nếu xét tỷ lệ của số tân binh mới tuyển mới 1 năm trong quân đội, thì năm1957 chỉ có 2,9%, đến năm 1961 lên 23%, năm 1962 lên 19,6%, năm1964 lên 39%.
         
        Theo quan điểm của Kennedy, những biện pháp quân sự muốn thu được kết quả phải có sự phối hợp chặt chẽ của các biện pháp chính trịvà kinh tế. Viện trợ kinh tế vẫn được duy trì ở mức xấp xỉ 200 triệu đô la hàng năm. Trong thư gửi tướng Taylor ngày 13-10-1961, Kennedy viết: “Trong lúc phần quân sự của vấn đề có tầm quan trọng lớn lao, thì những yếu tố chính trị, xã hội và kinh tế cũng có tầm quan trọng không kém. Tôi mong được sự đánh giá và những ý kiến đề đạt của ông”.
         
        Viện trợ tạo cho Diệm những đòn bẩy kinh tế để bắt thêm lính và giữ vững quân ngũ. Hàng loạt chế độ lương, bổng, phụ cấp, đãi ngộ mới được ban hành: Lính quân dịch hàng tháng trước kia chỉ có 400đ sinh hoạt phí, tương đương khoảng 40kg gạo (giá trị trường). Từ 1962, lính quân dịch chỉ sau 4 tháng huấn luyện là có lương. Từ 1964 thì cứ vào lính là có lương ngay. Từ 1961, bảo an được hưởng lương ngang chủ lực. Dân vệ được phụ cấp. Thanh niên chiến đấu được trả lương. Lính đánh ở rừng núi được phụ cấp thêm 1000đ hàng tháng. Thời gian ở chiến trường được hưởng hệ số 2 khi tính thâm niên.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Năm, 2017, 08:28:13 PM
         
        Để củng cố quân đội, Mỹ tăng cường thêm số cố vấn tới cấp tiểu đoàn. Tổng số cố vấn Mỹ năm 1962 lên tới 3.000. Những cố vấn này không chỉ nắm quân đội, mà còn len lỏi vào tất cả các ngành của bộ máy chính quyền, nhằm đảm bảo cho toàn bộ guồng máy được điều khiển thống nhất. Trong hồi ký của mình, tướng Taylor viết: “Chúng tôi đề nghị chính phủ Mỹ cung cấp cho chính phủ Diệm những quan chức cai trị người Mỹ để ghép vào bộ máy chính quyền của Diệm. Cách làm này khiến cho chúng ta cải tiến được màng lưới thu thập tình báo của chúng ta, bắt đầu từ cấp tỉnh, rồi sẽ len dần lên cao đến tổ chức tình báo Trung  ương” (M.Taylor. Hồi ký).
         
        Từ tháng 10-1961, Diệm tuyên bố “quốc gia đang đi vào một cuộc chiến tranh thực sự”. Chế độ cai trị thời chiến được áp dụng. Toàn miền Nam bước vào một thời kỳ càn quét, chà xát triền miên. Chỉ tính riêng số cuộc hành quân cỡ tiểu đoàn, năm 1960 là 149 cuộc, năm 1963 là 2.135 cuộc, năm 1964 là 2.596 cuộc.
         
        Dân bị dồn về đô thị, ven đường quốc lộ và nhất là vào các ấp chiến lược. Năm 1961, mới có 153 ấp chiến lược. Đến 1962, số ấp chiến lược lên tới 3.960, năm 1963 lên tới 7.500. Nông thôn sơ xác, tiêu điều. Đây là lúc bắt đầu lan tràn cái cảnh “ủi trắng và tro tàn”. Viện trợ Mỹ tăng gấp đôi. Nhưng máu chảy, đầu rơi nhiều lên gấp bao nhiêu lần.
         
        Tuy nhiên, Mỹ vẫn chẳng thu được thắng lợi nào đáng kể.
         
        Về quân sự, Mỹ vẫn bị thất bại liên tiếp. Các trận càn quét, tảo thanh đều bị bẻ gãy. Số quân tăng gấp đôi, viện trợ tăng gấp đôi, nhưng thương vong lại tăng gấp hơn 10 lần, đào ngũ, rã ngũ tăng gấp18 lần (Số thương vong của quân ngụy: năm 1960-5.432, 1961-9.000,1962-15.000, 1963-19.000, 1964-59.000. Số đào ngũ: năm 1960-4.000, 1961-17.000, 1962-31.000, 1963-41.000, 1964-72.000).
         
        Quốc sách “ấp chiến lược” cũng bị thất bại nặng. Đến 1964 quá nửa số ấp chiến lược đã bị phá. Tổng số ấp chiến lược từ 7.200 năm 1963, giảm xuống còn 3.300 năm 1964 và 2.200 năm 1965.
         
        Về kinh tế, tình hình cũng xấu không kém. Viện trợ có làm tăng thêm của cải, hàng hóa và lương bổng cho những tầng lớp gắn bó với Mỹ. Nhưng nền kinh tế Nam Việt Nam thì lại sa sút hơn trước. Ngân sách ngày càng thiếu hụt. Năm 1962, lạm phát 3,9 tỷ. Đến năm 1964, lạm phát thêm 16,4 tỷ. Năm 1960, miền Nam xuất cảng được 84,5 triệu đô la. Đến năm 1964, tỷ lệ đó tụt xuống còn 16%, đến 1965 còn 10%. Sản phẩm chủ yếu, tiêu biểu cho khả năng kinh tế Nam Việt Nam, là lúa gạo. Năm 1960, Nam Việt Nam còn xuất được 350 ngàn tấn, đến năm 1964 chỉ còn xuất được 48 ngàn tấn. Đó cũng là năm xuất cảng gạo cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa. Đến 1965, miền Nam phải nhập 129 ngàn tấn gạo. Các năm sau, con số này tăng lên. MiltonTylor, cố vấn Mỹ giúp Diệm về tài chính, đã nói: “Sau 6 năm được Mỹ viện trợ to lớn về kinh tế, Nam Việt Nam đã trở thành một kẻ ăn xin thường trực” (Bernard Fall. Les deux Vietnam (Hai nước Việt Nam)Fd.Payot, Paris 1967, P.333-334).
         
        Đến tháng 3 năm 1963 Kennedy đã nói gần giống như lời khuyên của De Gaulle trước đó: “Chúng ta hiện đang ở trong một đường hầm không lối thoát” (The Pentagon’ Papers, đã dẫn P.372).
       
        Khó khăn và bế tắc làm cho Mỹ-Diệm thêm bất hòa. Vấn đề thay thế Ngô Đình Diệm đã nẩy ra trong đầu óc các chính khách Mỹ và cả các tướng tá của Diệm.
         
        Trong giai đoạn mới, trước tình hình mới, tập đoàn Ngô Đình Diệm ngày càng tỏ ra bất lực, thậm chí, bất lợi đối với việc thực hiện khoạch của Mỹ.
         
        Diệm, tập đoàn Diệm, quan điểm của Diệm, thậm chí cả những cá tính đáng kể của Diệm, về căn bản, tiêu biểu cho một giai đoạn quá độ: giải quyết của những năm sau 1954.
         
        Từ sau 1954, qua cái lưới của cách mạng và kháng chiến, nhưng nhân vật trung thành với triều đình phong kiến không còn lý do tồn tại nữa. Lớp tướng tá trung thành với Pháp cũng mất chỗ đứng. Cái tạo nên bộ máy của Mỹ phải là những con người có một khoảng cách nhất định với chế độ chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp, phải có cơ sở xã hội rộng hơn các quân hệ hoàng tộc hay làng Tây, hơn nữa, phải thoát ra khỏi cái nhãn quan hẹp hòi của xã hội thuộc địa và phong kiến về huyết thống, về đẳng cấp. Chỉ bằng cách đó mới có thể mở rộng chỗ dựa xã hội, để đương đầu với những lực lượng cách mạng đã lớn hơn trướcnhiều…
         
        Diệm và tập đoàn Diệm là thế hệ quá độ trong sự chuyển tiếp này.
         
        Diệm thân Mỹ. Diệm đã thu hút được tín nhiệm của các phần tử chống cách mạng, khi phần lớn các con bài thân Pháp đã mất hết tác dụng. Diệm có mở đường tiến thân cho một số sỹ quan, địa chủ, cường hào, tư sản, mà dưới thời Pháp chưa chen chân nổi vào các hàng ghế giành cho tầng lớp thượng lưu.
         
        Nhưng Diệm chỉ đi theo kịp những yêu cầu đó trong mấy năm đầu. Bước vào những năm 1960, trong giai đoạn mới, những yêu cầu mới, Diệm tỏ ra bất lực. Có những thế hệ mà lịch sử chỉ tạo ra để dùng trong vài năm thôi. Diệm không đủ sức đi xa hơn nữa.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Năm, 2017, 12:22:20 AM
         
        Đối với vấn đề ruộng đất và nông dân, Diệm tỏ ra quá hẹp hòi và thiển cận. Xuất thân là một quan lại phong kiến, Diệm khó có thể chấp nhận nổi việc tư sản hóa nông thôn, dù cho việc đó chỉ là để bắt lính. Diệm vẫn bo bo bảo vệ một cách mù quáng những quyền lợi đã quá lỗi thời của giai cấp địa chủ, là giai cấp đã bị đánh cho tả tơi, không còn chỗ đứng trong lòng dân nữa. Quy chế cải cách điền địa của Diệm vẫn cho phép địa chủ được sở hữu tới 100ha. Những ruộng đất của địa chủ mà cách mạng đã tịch thu để chia cho nông dân, nay bị đoạt lại. Người được cấp, nếu muốn tiếp tục hưởng, phải trả tiền chuộc cho địa chủ. Ý đồ của Diệm là: phải cứu lấy giai cấp địa chủ. Ý đồ của Mỹ là: phải giành lấy địa vị ở nông thôn. Mỹ thấy rõ hơn Diệm rằng lúc này địa chủ chỉ còn là một giai cấp đã mục nát, gồm một dúm người cổ lỗ, thế lực kinh tế đã suy yếu, thế lực chính trị và tinh thần thì còn thảm hại hơn. Đến lúc này mà chỉ dựa vào giai cấp đó để nắm nông thôn, thì sẽ mất tất. Mỹ hiểu rõ hơn Diệm rằng lúc này nông dân là sức mạnh quyết định ở nông thôn. Nếu muốn mở rộng quy mô chiến tranh hơn trước rất nhiều, bắt tới cả triệu lính trong một đất nước 17 triệu dân, mà có tới12 triệu nông dân (Dân số miền Nam 1966) thì không thể không chú ý đến nông dân. Để hạn chế bớt ảnh hưởng của cách mạng trong nôngthông, để nắm lấy một nguồn cung cấp lính, cung cấp nông sản và tiêu thụ hàng hóa, phải biến nông dân thành một tầng lớp khá giả, có điều sản, có cơ nghiệp, có nguồn sống. Đó là cái đích mà Mỹ nhằm trong chương trình cải cách điền địa.
         
        Diệm đã trở thành một trở ngại cho Mỹ.
         
        Đối với giai cấp tư sản, trong lĩnh vực thương nghiệp cũng vậy. Ta biết, giai cấp tư sản Việt Nam dưới thời Pháp là một giai cấp yếu đuối.Nếu dựa vào giai cấp này, Mỹ cũng chỉ có được một cơ sở rất ọp ẹp ở các đô thị. Nhưng khác với giai cấp địa chủ, giai cấp tư sản là giai cấp còn có thể dùng đô la để vực dậy được. Trong viện trợ Mỹ, cái ý đồ này có được tính đến. Số tư sản miền Nam và miền Bắc di cư đã được Mỹ bơm cho lớn lên bằng đô la.
         
        Buôn bán kinh doanh, đầu cơ, lập các nhà máy chế biến hàng viện trợ Mỹ, mở khách sạn, lập ngân hàng, bao thầy… tất cả đều tìm thấy ở viện trợ Mỹ một thứ phân bón màu mỡ để mọc lên các nhà triệu phú.
         
        Nhưng chính sách của Diệm thì khác hơn. Diệm muốn đóng khung phần lớn sự phát triển đó trong khuôn khổ họ hàng và vây cánh của mình. Anh, chị, em và tay chân Diệm đã độc quyền hàng loạt nguồn làm giàu. Viện trợ Mỹ không phát huy được cái hiệu quả như Mỹ mong muốn là mở rộng thật nhanh thế lực của giai cấp tư sản, làm chỗ dựa kinh tế và xã hội ở các đô thị.
         
        Trong việc xây dựng bộ máy quân đội và chính quyền, Mỹ cũng gặp một trở ngại tương tự. Để đương đầu với lực lượng cách mạng đã lớn hơn trước gấp bội, Mỹ cần có một chính quyền và một đội quân mạnh hơn rất nhiều. Mỹ muốn dung nạp thêm vào bộ máy này một loạt tay chân mới, có năng lực hơn, hợp với những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội tình thần của giai đoạn mới. Mỹ sẵn sàng mở rộng cái két tiền và mở rộng hơn cái kho mề đay và quân hàm, để bằng cách đó, mở rộng chỗ dựa trong quân đội. Nhưng Diệm lại quá hẹp hòi. Diệm bo bo giữ cho họ hàng và vây cánh gần như tất cả những ghế quan trọng trong chính quyền, trong quân đội, trong các và các tỉnh. Điều đó đã gây bất mãn và phản ứng trong hàng ngũ tướng tá. Cuộc đảo chính hụt của Nguyễn Chánh Thi tháng 11 năm 1960, những vụ âm mưu ám sát Diệm liên tiếp, là những dấu hiệu làm Mỹ lo sợ.
         
        Từ 1960, Mỹ đã cảnh cáo Diệm nhiều lần, không có kết quả. Tháng1 năm 1962, Mỹ quyết định ngừng viện trợ một số khoản: cắt 3 triệu đô la viện trợ cho các lực lượng đặc biệt, đình chỉ chương trình viện trợ thương mại, bãi bỏ khoảng 25 vạn đô la nuôi quân cận vệ của Diệm… Mỹ coi đó là biện pháp quyết định để buộc Diệm thay đổi chính sách. Nhưng Diệm biết rằng cắt viện trợ thì cũng là Mỹ tự sát. Quả là chỉ vài tháng sau, Mỹ phải bãi bỏ biện pháp này. Mỹ hiểu rằng ngụy quyền chết tức là chính quyền sẽ về tay nhân dân.
         
        Sau nhiều lần đắn đo, bàn bạc, ngày 1 tháng 11 năm 1963 Mỹ buộc phải bố trí một cuộc đảo chính, thay ngựa giữa dòng. Diệm bị giết.
         
        Mặc dầu sau này có kẻ nào đó trong hàng ngũ Mỹ ngụy “lấy làm tiếc” về việc đó, mặc dầu, như chính Nixon nói, “đó là một trong những điểm đen tối nhất trong lịch sử ngoại giao Mỹ”, thì xét theo yêu cầu khách quan của tình hình, xét theo những lợi ích của Mỹ, việc thay ngựa giữa dòng đó là tất yếu.
         
        Sau khi lật đổ Diệm, Mỹ phải mất một thời gian dài lúng túng trongviệc tìm kiếm tay chân mới và ổn định cơ cấu chính quyền.
         
        Nhưng sự phát triển của tình hình lại không chờ đợi Mỹ. Trong lúc nội bộ lục đục, đảo chính liên tiếp, thì lực lượng cách mạng lớn mạnh vượt bậc. Những chiến thắng Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài… đầu năm 1965 báo hiệu nguy cơ thất bại của nửa triệu quân lính đánh thuê.
         
        Tác giả của kế hoạch “phản ứng linh hoạt”, người đạo diễn chính của cuộc “chiến tranh đặc biệt”, tướng M.Taylor viết: “Thời kỳ 1965 là một thời kỳ rất khó khăn của chúng ta, bởi vì không những chúng ta phải lo lắng trước sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Việt Cộng, mà còn phải luôn luôn lo lắng duy trì cho được sự ổn định chính trị. Để đối phó với mối đe dọa ngày càng tăng này, chúng ta buộc phải đề ra một chiến lược mới” (M.Taylor. Responsibility and Response. Harper and Row. NewYork, 1967. P25). Đó chính là sự thừa nhận thất bại của chiến tranh đặcbiệt.
         
        Không còn có cách nào khác nữa. Mỹ phải trực tiếp nhảy vào vòng chiến, nếu Mỹ chưa muốn để cho quân ngụy bị đè bẹp hoàn toàn.
         
        Tờ New York Times ngày 2-2-1974 bàn về sự tất yếu này: “Khi những người du kích miền Nam Việt Nam tự họ đã gần đi đến chỗ đánh bại được chế độ đó, thì Mỹ phải điều quân Mỹ và các phi đội trực thăng Mỹ  vào”.
         
        Lại một cuộc đọ sức mới nữa.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Năm, 2017, 12:38:15 AM
         
         VI. THỜI KỲ 1965-1969
         
        Mỹ chuyển từ “Chiến tranh đặc biệt” sang “Chiến tranh cục bộ”. Sự chuyển biến này, tự nó, đã là một thất bại.
         
        Tướng Taylor (từ 7-1964 trực tiếp làm đại sứ ở Sài Gòn) viết lại: “Chúng ta thấy rằng nhịp độ phát triển các lực lượng mặt đất của chúngta rõ ràng chưa đủ so với sự phát triển của Việt Cộng. Kết luận đó dẫn chúng ta đến một quyết định rất khó khăn, phải thảo luận lâu là: phải lấp lỗ hổng về quân số ở Nam Việt Nam bằng cách đưa lực lượng Mỹ vào. Tôi có thể đảm bảo với các bạn rằng chẳng có ai thích thú gì khi đề ra quyết định đó. Là một trong những cố vấn của Tổng thống, tôi đã miễn cưỡng nhiều nhất khi tham gia đưa ra đề nghị này, và tôi chắc rằng Tổng thống đã rất lấy làm tiếc khi phải đồng ý với quyết định đó” (M.Taylor. Responsibility and Response. Đã dẫn, tr.26).
         
        Tháng 8-1964, Mỹ bắt đầu cho máy bay, do phi công Mỹ lái, đánh phá các mục tiêu ở miền Bắc.
         
        Tháng 12-1964, Mỹ bắt đầu đưa quân vào miền Nam Việt Nam, coi đó là lực lượng chiến lược quyết định chiến trường. Nửa triệu quân ngụy trở thành đội quân giữ nhà. Quân Mỹ đánh là chính. Số quân Mỹ đưa vào ngày một tăng lên:
         
        Năm 1965-30.000
         
        Năm 1966-230.000
         
        Năm 1967-448.000
         
        Năm 1968-525.000
         
        Năm 1969-550.000
         
        Ta biết, tổng số quân Mỹ đóng tại các nước ngoài là khoảng 1,3triệu. Đưa tới gần ½ quân số đó vào một đất nước nhỏ bé, xa xôi này - đó là một điều chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ. Nó chứng tỏ những cố gắng phi thường và quyết định to lớn của Mỹ để giành thắng lợi trong cuộc thách thức mà suy cho cùng do chính Mỹ đặt ra và làm cho gay cấn thêm.
         
         
        Phí tổn của Mỹ trong những năm chiến tranh cục bộ tăng vọt lên gấp mấy chục lần. Năm 1964 Mỹ chi phí hơn 600 triệu. Năm 1965 lên đến 4,6 tỷ. Năm 1966 lên 22 tỷ. Năm 1967 lên 26 tỷ. Năm 1968 lên 27 tỷ. Năm 1969 lên 29 tỷ. Vào những giai đoạn cao điểm của chiến tranh, như năm 1968, phí tổn mỗi ngày của Mỹ là 77 triệu đô la (TheoFulbright, thì mỗi ngày trung bình Mỹ chi phí 70 triệu đô la cho chiến tranh Việt Nam (UPI 31-1-1970). Theo tính toán của tướng Frank Bessen, trong thời kỳ chiến tranh cục bộ, tính trung bình mỗi giây tốn 500 đô la, 1 ngày tốn 38 triệu đô la). Riêng khoản đạn, mỗi ngày quân Mỹ bắn mất 16 triệu đô la (Los Angeles Times, USIS 6-8-1968).
         
        Theo tính toán của báo chí Mỹ, tổng số tiền Mỹ viện trợ kinh tế cho chính quyền Sài Gòn một năm chỉ bằng số tiền Mỹ bớt ra được nếu ngừng các hoạt động chiến tranh trong vòng 10 ngay, hoặc bớt chi phí của 1 sư đoàn Mỹ, hoặc bằng số tiền bom do riêng máy bay B52 ném xuống Việt Nam trong 1 năm (AP 8-9-1966, Newsweek 5-9-1967).
         
        Tuy trực tiếp tham chiến, Mỹ vẫn bắt chính quyền Sài Gòn làm hết khả năng của nó: ráo riết bắt thêm lính, đưa quân số lên 600.000, 700.000, rồi 900.000. Hàng loạt biện pháp mới được áp dụng. Tiêu chuẩn bắt lính ngày càng hạ thấp để vét sạch những người có thể vét được (Tiêu chuẩn bắt lính trong thời kỳ này như sau: Trước 1964 cao trên 1,5m nặng 42 kg, tuổi dưới 33. Từ 1965 cao trên 1,48 m nặng 37kg, tuổi dưới 33. Từ 1967 cao trên 1,45 m nặng 35 kg, không hạn định tuổi. Từ năm 1968, nam giới trên 15 tuổi là bị bắt lính. Từ 41 đến 50 tuổi cho vào địa phương quân).
         
        Kèm theo cưỡng bức, có mua chuộc. Hàng vạn sỹ quan được đề bạt và thăng cấp. Số sỹ quan từ đại úy trở lên, năm 1964 có 22.853, đến năm 1968 lên 54.443. Hàng hóa do “quân tiếp vụ” cung cấp tăng hơn trước hàng vạn lần. Lương và phụ cấp các khoản đều tăng, quần áo, đồ dùng, ăn uống… đều khấm khá hơn trước nhiều. Hàng vạn căn nhà được xây cho gia đình binh sĩ trong các trại gia binh. Chính quyền còn chi tiêu cho vô sứ thứ sinh hoạt giải trí trong quân đội để lôi cuốn thanh niên vào lính. Tháng 3-1965, Trần Thiện Khiêm (Thủ tướng ngụy) ký sắc lệnh cho lập các “phòng trà giải quyết sinh lý” trong quân đội. Bộ Quốc phòng bắt đầu phát hành những “tích kê chơi đĩ” để thưởng cho những binh sĩ có “chiến tích”.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Năm, 2017, 10:44:17 PM
         
        Mỹ cũng đề ra và giúp Sài Gòn thực hiện hàng loạt dự án xây dựng các công trình phục vụ cho chiến tranh, đặc biệt là phục vụ quân đội: Mở mang các nhà máy điện và hệ thống cung cấp nước, xây dựng thêm đường sá, bến cảng, sân bay, xây các nhà máy quân dụng như dệt, làmgiầy, vải, đồ hộp, bánh mỳ, thực phẩm, xây hàng loạt khách sạn và cư xá mới, mở rộng các chương trình và các cơ sở dạy tiếng Anh v.v…
         
        Để Sài Gòn thực hiện nổi tất cả những biện pháp mới đó, Mỹ tăngviện trợ lên tới trên dưới 700 triệu đô la hàng năng, gấp đôi các nămtrước. Tuy nhiên, nếu so với số chi phí chiến tranh trực tiếp của Mỹ, thìviện trợ chỉ là một con số rất nhỏ bé, bằng khoảng 3%.
         
        Như vậy, ý nghĩa của việc viện trợ Mỹ lúc này có khác. Nó không cònlà số tiền trả giá cho cuộc chiến tranh của Mỹ. Mỹ đã trực tiếp thực hiệncuộc chiến tranh đó. Chính quyền và quân đội bản địa chỉ đóng vai tròtrợ giúp. Viện trợ lúc này là một khoản chi trả cho vai trò phụ giúp đóvà trong một chừng mực rất lớn, còn là để giữ sức cho cái xã hội đangphải chịu đựng một cuộc chiến tranh tàn khốc có quy mô và cường độchưa từng thấy.
         
        Trong thời kỳ này, sự có mặt của quân đội Mỹ, việc tăng cường việntrợ và tăng cường bộ máy chính quyền Sài Gòn… đã gây ra những biếnđộng to lớn trong đời sống xã hội nói chung và đời sống kinh tế nóiriêng.
         
        Với bom đạn, chất độc hóa học, mìn, dây thép gai, xe ủi… “viện trợMỹ” đã phá sạch hàng vạn làng, biến gần nửa triệu ha ruộng đồngthành đất hoan. Nông dân bị bật khỏi nông thông. Số ấp chiến lược đãgiảm xuống 2.200 vào năm 1965, lại tăng lên tới 58.000 vào năm1969.
         
        Ngoài số dân bị dồn vào ấp chiến lược, một số lớn dân cư nông thônđã chạy ra các đô thị. Riêng trong 3 năm 1965, 1966, 1967, đã có 2,2triệu người bỏ nông thôn ra thành thị (Chấn hưng kinh tế 2-4-1970). Tỷlệ dân số đô thị so với dân nông thôn từ 5 triệu trên 12 triệu năm 1966,tăng lên 8,9 triệu trên 19 triệu năm 1968. Như vậy, dân đô thị đãchiếm 50% dân số trong một nước mà nền nông nghiệp chưa đủ sứcnuôi nổi quá 10% dân số thoát ly nông nghiệp. Đó chính là hiện tượngbất thường, mà các tác giả Mỹ gọi là “đô thị hóa cưỡng bức”.
         
         
         
        Từ 1965, miền Nam bắt đầu phải nhập cảng gạo. Năm 1965, nhập129 ngàn tấn, đến 1968 nhập 765 ngàn tấn. Nhập cảng gạo cũng hoàntoàn do viện trợ Mỹ đài thọ.
         
        Ở các đô thị, những túi tiền đầy ắp của hơn một triệu quân nhân,những nguồn hàng quân nhu, đồ phế thải chiến tranh, những côngtrình phục vụ chiến tranh… đã tạo nên một sự “sầm uất” dị thường. Sự có mặt của quân đội viễn chinh làm cho hàng triệu người có “công ănviệc làm”, có thu nhập. Khách sạn, quán ăn, tiệm nhảy, cửa hàng giảikhát và các tiệm phục vụ khác mọc lên như nấm. Trong khi hàng triệungười tan cửa nát nhà, thất cơ lỡ vận, thì có hàng vạn kẻ phất to. Giaicấp tư sản ở miền Nam lớn lên nhanh chóng nhất từ thời kỳ này. Tất cảsức sống của nó, cùng với toàn bộ sự sầm uất của các đô thị, đều dựatrên một cơ sở: viện trợ Mỹ, bấu xén vào viện trợ đó và phân phối lạiviện trợ đó.
         
        Tuy nhiên, tình trạng bất thường đó không thể kéo quá dài. Như đãnói, số phí tổn gần 30 tỷ hàng năm và việc tung ra hơn nửa triệu quânMỹ là một sự dốc sức tối đa. Về chiến lược, đó chỉ có thể là một biệnpháp chớp nhoáng, hòng giành thắng lợi quyết định trong một thời gianngắn. Nếu biện pháp này kéo dài thì ngay sức Mỹ cũng không thể chịuđựng nổi. Nhưng cái kết quả mà Mỹ định đạt tới trong một năm-“đèbẹp hẳn lực lượng cách mạng”-thì sau 4 năm, chỉ càng mờ mịt hơn.Cuộc tiến công mùa Xuân năm 1968 của quân giải phóng trên tất cảcác mặt trận là sự trả lời bất ngờ đối với Mỹ: ngay khi Mỹ tăng cườngtới mức tối đa áp lực chiến tranh, thì đối phương vẫn vững bước trênthế tiến công.
         
        Đến năm 1969, sự cố gắng tối đa của Mỹ không thể kéo dài hơn.Tốn kém quá nhiều tiền của. Thương vong quá nhiều binh lính. Thiệthại quá nhiều vũ khí và phương tiện. Phong trào phản chiến trên thgiới và ngay tại Mỹ đã chống đối quyết liệt việc leo thang chiến tranh.Giới cầm quyền Mỹ cũng đã thấy chùn tay. Xét về mọi phương diệnquân sự, chính trị, xã hội, Mỹ thấy khó có thể tiếp tục nổi cái đà này.
         
         “Chiến tranh cục bộ” coi như thất bại. Phải tìm những giải phápkhác. Việc xuống thang chiến tranh là điều bắt buộc. Chính sách “ViệtNam hóa chiến tranh” ra đời trong hoàn cảnh đó.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Năm, 2017, 11:07:13 PM
         
         VII. THỜI KỲ 1969-1975
         
        Chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh” gắn liền với một đường lối mới của Mỹ trên phạm vi thế giới, được mệnh danh là “học thuyết Nixon”. Thực chất của học thuyết này là: Tìm cách giảm bớt gánh nặng của Mỹ bằng cách buộc các quốc gia chư hầu phải “chia sẻ trách nhiệm”, Mỹ giúp đỡ bằng tiền và phương tiện, như một nhân tố kíchthích, để các nhà nước đó tự lực đảm đương dần nhiệm vụ bảo vệ “trật tự thế giới”.
         
        Chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh” là một bộ phận quan trọng, cũng là một cuộc thí nghiệm quan trọng nhất của “Học thuyết Nixon”.Song không nên hiểu đó chỉ là một sản phẩm thụ động của học thuyết này. Trong một chừng mực rất lớn, chính học thuyết Nixon là kết quả của chiến tranh Việt Nam, nó hình thành từ những thất bại và những khó khăn to lớn của Mỹ ở Việt Nam.
         
        Nội dung của “Việt Nam hóa chiến tranh” là: quân Mỹ sẽ rút dần, trao gánh nặng chiến tranh cho Sài Gòn. Mỹ sẽ giúp Sài Gòn bằng cách dùng không quân yểm trợ và tăng viện trợ để Sài Gòn tận lực tăng quân số, chống đỡ những khó khăn to lớn về kinh tế và ổn định phần nào đời sống xã hội.
         
        Viện trợ Mỹ tăng vọt lên gấp bội so với các giai đoạn trước. Năm1969 lên 1,7 tỷ, năm 1970 gần 2 tỷ, năm 1971 là 2,5 tỷ, năm 1972 là 3 tỷ và lên cao nhất vào năm 1973 là 3,38 tỷ. Đó là con số kỷ lục.Chưa bao giờ và cũng chưa ở nước nào viện trợ Mỹ đạt tới con số đó trong một năm.
         
        Tổng cộng, từ 1969 đến 1975, Mỹ viện trợ cho Sài Gòn 16 tỷ, trong đó 13 tỷ là viện trợ quân sự trực tiếp, 3 tỷ là viện trợ kinh tế, mà phần lớn cũng để trả lương cho lính.
         
        Với số viện trợ khổng lồ đó, chính quyền Sài Gòn đã xây dựng một đội quân đông chưa từng có. Cho đến ngày trước giải phóng, quân số này lên tới 1,1 triệu. Theo nhận định của Mỹ, đó là đội quân lớn nhất Đông Nam Á, thứ nhì ở châu Á, và thứ tư trên thế giới. Ngoài quân số này, còn có 12 vạn cảnh sát và phòng vệ dân sự, 3 vạn quân trong các đội bình định và “Phượng hoàng”. Ngoài ra, Sài Gòn tổ chức 4 triệu  “nhân dân tự vệ”, trong đó có 60 vạn người được vũ trang. Tính toàn bộ lực lượng vũ trang đánh thuê cho Mỹ, có tới gần 2 triệu. Gần 2 triệu trong một dân số 17 triệu! Đó quả là một tỷ lệ kỷ lục.
         
        Chính viện trợ Mỹ, đô la Mỹ đã giúp chính quyền Sài Gòn làm nổi các việc “phi thường” đó.
         
        Với đô la Mỹ, chính quyền đã đề ra hàng loạt biện pháp, cả cưỡng bức lẫn mua chuộc, để vét sạch thanh niên vào lính.
         
        Từ 1969, Thiệu bắt đầu thực hiện “đoàn ngũ hóa thiếu niên”, tức là đặt tất cả số thiếu niên dưới 15 tuổi vào kho dự bị để bắt lính.
         
        Từ 1970, “quân tiếp vụ” đảm nhiệm việc cung cấp nhu yếu phẩm cho cả gia đình binh sỹ. Thẻ mua hàng được cấp cho các cô nhi, quả phụ, cựu binh, phế binh. Đến năm 1972, đã cấp tới 1,3 triệu “sổ cấp dưỡng” cho các diện nói trên để mua hàng “quân tiếp vụ” rẻ bằng 1/3giá thị trường.
         
        Để thực hiện “hữu sản hóa quân sỹ”, Thiệu chỉ thị cho ngân hàng nhà nước cho sỹ quan và binh lính vay tiền làm vốn để buôn bán và kinh doanh. Mức vay nhiều ít tùy cấp bậc. Chính quyền còn bán rộng rãi cổ phần công ty cho quân đội kiếm lời. Bằng cách đó, gắn họ vào việc bảo vệ các cơ sở kinh tế. Từ 1971, Thiệu thực hiện chính sách cấp ruộng cho quân nhân: Tướng 130 ha, tá từ 5 đến 6 ha, úy từ 3 đến 4 ha, lính thường từ 1 đến 3 ha. Biện pháp này nằm trong chương trình cải cách điền địa, tốn bốn trăm triệu đô la, do Mỹ giúp phần lớn.
         
        Mỹ và Thiệu đã tạo ra cho tướng tá thêm những cơ hội làm giàu.Theo điều tra của Cục Địch vận, trong số sỹ quan từ cấp úy trở lên,68% có xe hơi riêng, 83% có biệt thự, 39% có tiện nghi sinh hoạt kiểu đại tư sản. Theo số liệu thống kê năm 1975 của Cục Địch vận, trong số 42.300 tư sản ở miền Nam, có tới 17.300 là sỹ quan.
         
        Từ năm 1965, Thiệu cho khẩn trương xây dựng các “làng quân đội”, để đưa gia đình binh lính tới gần các doanh trại, vừa để bảo vệ vùng ngoại vi, vừa để hạn chế việc đào ngũ. Đến 1970, Thiệu đã lập được 738 khu gia binh. Từ 1970, Nixon quyết định xây thêm 10 vạn căn nhà cho các khu gia đình mới (Đài Sài Gòn 16-7-1970).
       
        Thiệu mạnh tay dùng lương bổng và địa vị để mua chuộc sỹ quan, tức xương sống của quân đội. Từ 1970, chuẩn úy được coi là sỹ quan.Số sỹ quan được đề bạt nhanh và nhiều chưa từng thấy. Chỉ tính từ đại úy trở lên, năm 1968, có 54.443, năm 1972 lên tới 72.000, đến 1974 lên tới 97.000.
         
        Ở một số quân đoàn, Thiệu thi hành chế độ thăng thưởng cấp thời trong tác chiến: chỉ sau 8 giờ hành quân là đã công bố ngay ai được thăng cấp, ai được thưởng huân chương, ai được khen, được thưởng tiền, thưởng tích kê các loại… Khi có một sỹ quan được thăng chức, quân đội trích tiền quỹ để tổ chức “lễ tướí lớn”, chuốc rượu binh sỹ để kích thích tinh thần trong toàn quân.
         
        Lương cơ bản của bĩnh sỹ năm 1964 là 1.770 đồng, 1970 là 2.933 đồng, 1972 là 2.400 đồng, 1974 là 10.200.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Năm, 2017, 09:05:52 AM
         
        Để lôi kéo lính đào ngũ quay về, Thiệu quy định: lính đào ngũ sau một tháng quay về thì không bị kỷ luật và vẫn được hưởng lương của tháng vắng mặt. Đối với lính đóng ở miền núi, hạn định đó kéo dài gấp đôi, tức 2 tháng.
         
        Thiệu lập ra “Cục xã hội” để lo liệu tất cả mọi vấn đề có liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của binh lính và gia đình: tặng phẩm ghi công, trợ cấp túng thiếu (năm 1969 tới 103 triệu đồng Sài Gòn), cứu trợ thừa kế và mất tích (năm 1971 tốn 157 triệu), miễn học phí cho con “tử sĩ”, đảm nhận nuôi dạy con em binh lính trong hệ thống các “trường học văn hóa quân đội”, tăng cường cung cấp hàng “quân tiếpvụ”… Ở những chiến trường ác liệt, Thiệu còn tổ chức cho máy bay chở lính về nghỉ phép đúng hạn định hoặc đưa thân nhân đến tiền đồn thăm hỏi binh sĩ…
         
        Bằng tất cả những biện pháp kể trên, mà chỉ có tiền viện trợ Mỹ mới đài thọ nổi, Thiệu muốn làm cho phần lớn quân đội thấy đi lính như một nguồn sống khá giả. Theo số liệu điều tra năm 1972 của Cục Địch vận, có 31% gia đình binh lính lấy lương và bổng lộc của quân đội làm nguồn sống chính, 18% gia đình binh lính lấy đó làm nguồn sống quan trọng (40-50% chi tiêu). Nếu so ánh mức sống trước và sau khi đi lính, có 62% binh sĩ sau khi đi lính thấy đời sống khá hơn trước, 27% thấy đời sống bằng trước, 11 thấy đời sống kém trước (đây là những binh sĩ có nghề chuyên môn cao, có thu nhập cao khi làm nghề tự do).
         
        Ngoài bổng lộc, Thiệu còn áp dụng nhiều biện pháp khác nữa để hấp dẫn quân sĩ. Từ 1970 quân đội cho đưa gái mại dâm theo các chiến sĩ.Tại các lớp huấn luyện quân sự và chính trị, bên cạnh các căng tin, có nhà chứa (Qua cuộc điều tra 2.000 tù binh ở chiến dịch nam Lào chỉ thấy có một lính ngụy (14 tuổi) là chưa chơi đĩ. (Tài liệu Cục Địch vận. BQP)).
         
        Để vét thanh niên vào lính và gò họ vào quân ngũ, chỉ dùng màng lưới quân cảnh không đủ. Phải dùng bổng lộc. Hệ thống quân cảnh kết hợp với đô la Mỹ tạo thành hai cái lưới dày đặc, tung ra khắp miền Nam để vét thanh niên vào lính và ngăn chặn đào ngũ.
         
        Kết quả của những biện pháp kể trên là: Thiệu đã nâng được quân số lên đến mức “phi thường”. Chiến tranh vẫn diễn ra rất ác liệt. Số thương vong rất lớn. Nhưng số đào ngũ thì lại ít hơn tương đối, nhất là trong thời kỳ từ 1969 đến mùa xuân 1972. Do mua chuộc kết hợp với vây lùng, một phần khá lớn số quân đào rã ngũ lại trở lại quân đội. Tỷ lệ số quân trở lại trong tổng số quân đào rã ngũ như sau: 1968-38%,1969-65%, 1970-77%, 1971-62%, 1972-38%, 1973-41%, 1974-41%.
         
        Cùng với việc tăng quân số, Mỹ đã viện trợ cho Thiệu một lượng vũ khí lớn chưa từng thấy: 1.900.000 khẩu súng, 1.532 khẩu pháo, 56.000 xe cơ giới, 1.074 xe tăng và thiết giáp, 1.800 máy bay, trong đó có 600 trực thăng, 50.000 máy vô tuyến và 70.000 máy hữu tuyến. Đến thời kỳ này, sức trang bị của một sư ngụy đã bằng sức trang bị của một sư đoàn Mỹ. Cũng nhờ viện trợ Mỹ, lục quân và hải quân ngụy được Mỹ cho là “mạnh thứ tư trên thế giới”, không quân thì “đứng thứ mười trên thế giới”.
         
        Trong lĩnh vực kinh tế, Mỹ viện trợ cho Thiệu trên dưới 800 triệu đô la hàng năm. Như vậy là đã tăng hơn trong thời kỳ trước. Tuy nhiên, nếu so với mức tăng của viện trợ quân sự, thì viện trợ kinh tế tăng kém hơn. Thực ra, Mỹ không muốn gánh vác quá nhiều trong lĩnh vực này.Điều quan tâm số một của Mỹ là củng cố quân đội. Còn những khó khăn kinh tế (vật giá gia tăng, lạm phát, thất nghiệp, kinh tế đình đốn) thì Mỹ muốn Thiệu phải tự giải quyết lấy phần lớn.
         
        Chính vì thế cho nên trong thời kỳ “Việt Nam hóa”, về mặt quân sự thì quân số tăng lên, trang bị nhiều hơn, nhưng về mặt kinh tế thì tình hình ngày càng xấu đi.
         
        Từ năm 1969, khi Mỹ bắt đầu rút quân nhỏ giọt, và nhất là từ 1973,khi quân Mỹ đã rút hết, thì nền kinh tế trong vùng Thiệu kiểm soát đi vào một thời kỳ tiêu điều, rối loạn và khó khăn trầm trọng.
         
        Trong thời kỳ còn quân Mỹ chiếm đóng, hàng năm Mỹ đổi cho Thiệu từ 3 đến 4 trăm triệu đô la đó lấy bạc Sài Gòn để lính Mỹ chi tiêu. Thiệu dùng mấy trăm triệu đô la đó để có thể nhập cảng thêm. Ngân sách có thêm tiền. Thị trường có thêm hàng.
         
        Quân Mỹ rút đi, nửa triệu cái ví tiền cũng rút theo. Mất đi vài trăm triệu đô la ngoại tệ, đối với ngân sách Sài Gòn là một tổn thất khủngkhiếp. Để lấp vào lỗ hổng đó, Thiệu đặt ra nhiều thứ thuế. Mức thu thuế năm 1969 là 67 tỷ, năm 1970 là 100 tỷ, năm 1971 tỷ… Cùng với tăng thuế, Thiệu cho lạm phát với tốc độ “phi mã”. Rút cuộc, những khó khăn của chính quyền Thiệu lại trút lên đầu nhân dân.
         
        Cũng do ngoại tệ giảm sút nên hàng nhập cảng ít đi. Hàng loạt mặt hàng từ 1972 không thấy nhập vào nữa. Các kho hàng vơi dần. Hàng hóa ở các cửa hiệu đã bắt đầu thưa thớt.
         
        Tăng thuế, lạm phát và giảm bớt nhập khẩu - đó là ba cái lò xo đẩy vật giá tăng lên khủng khiếp. Chỉ trong vòng một năm -1973 - so với năm 1972 - giá gạo tăng 100%, giá đường tăng 6 lần, giá phân bón, sợi, xi măng… đều tăng từ 100 đến 200%.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Năm, 2017, 02:10:30 AM
         
        Do nhập cảng bị hạn chế, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu khan hiếm và tăng giá, một số xí nghiệp thu hẹp sản xuất, một số xí nghiệp đóng cửa. Nông dân cũng không mua nổi xăng dầu chạy máy. Giá phân bón tăng lên. Thuốc trừ sâu nhiều nơi không có mà mua. Trong năm 1973, sản xuất nông nghiệp giảm sút 20%. Quân Mỹ rút còn gây ra một hậu quả lớn nữa: hàng triệu người đã quen sống bằng những nghề phục vụ quân đội Mỹ, nay bỗng mất nguồn thu nhập. Hàng ngàn, hạng vạn khách sạn, tiệm ăn, tiệm nhảy, phòng trà, quán rượu, quán bia, tiệm may, nhà tắm hơi, tiệm cắt tóc, giặt là trong những năm trước đua nhau mọc lên để phục vụ và hốt bạc của quân đội Mỹ, nay vắng khách hẳn đi. Hàng chục vạn người phi sản xuất, nhưng vẫn có thu nhập dồi dào bằng những nghề làm đĩ, chạy tắc xi, đạp xích lô, đánh giầy, buôn đô la, buôn hàng căng tin Mỹ… nay bỗng “thất nghiệp”. Thời Mỹ chiếm đóng, ngoài số người đông đúc làm nghề tự do kể trên, các cơ quan Mỹ thuê tới 15 vạn công nhân chính thức, gồm viên chức, công nhân, kỹ thuật viên, phiên dịch, lái xe… Nếu kể cả gia đình họ, thì có tới 75 vạn người sống bằng lương do Mỹ trả (AP 10-7-1970). Mý rút đi, 75 vạn người này cũng mất thu nhập.
         
        Theo Bộ Kinh tế Sài Gòn, đến tháng 9-1973, miền Nam có tới 2 triệun gười “thất nghiệp”, mà 50% số này là ở Sài Gòn (Điện tín 27-9-1973).
         
        Thất nghiệp, thu nhập giảm sút, vật giá tăng, thuế tăng… làm sức mua giảm đi nghiêm trọng. Năm 1973, sức mua giảm 50%. Số người ăn xin năm 1973 bỗng tăng gấp đôi các năm trước. (Điện tín 10-10-1973).
         
        Năm 1964, khi định đưa quân Mỹ vào Nam Việt Nam, Johnson và Tylor đã nhiều lần đắn đo, ngần ngại, sợ những phản ứng quyết liệt trong xã hội Việt Nam, trong cả chính quyền và quân đội.
         
        Nhưng từ 1969, nhất là từ 1972, việc Mỹ rút quân lại gây ra nhiều nỗi hoang mang trong hàng ngũ chính quyền, quân đội và cả một bộ phận dân cư đô thị đã quen sống nhờ sự có mặt của quân đội Mỹ. Tờ Chấn hưng kinh tế viết: “Bớt một quân nhân ngoại quốc tức là bớt một người chi tiêu trên đất nước Việt, bớt ngoại tệ và bớt lợi tức cho những giới sống nhờ sự hiện diện của quân nhân ấy” (Chấn hưng kinh tế 29-1-1970).
         
        Đây cũng là một cách để đi tới chỗ thống trị một quốc gia: Đem lợi ích vật chất áp đặt lên trên sự nghi kỵ, tự trọng và ý thức về chủ quyền. Dùng những kích thích vật chất làm tê liệt những phản ứng chân chính. Đưa người ta từ chỗ sợ hãi và căm ghét tới chỗ quen dần, từ quen dần đến dễ chịu, từ dễ chịu đến nghiện ngập và do đó mà trở thành nô lệ.
         
        Cảnh khủng hoảng của xã hội miền Nam năm 1973 chính là biểu hiện của trạng thái nô lệ đó. Đó là hậu quả của sự nghiện ngập và nhiễm độc sau nhiều năm sống nhờ viện trợ. Một cảnh tượng u ám bao trùm lên đời sống các đô thị. Đâu đâu cũng thấy người ta nói đến khó khăn, ế ẩm, phá sản, thất nghiệp, thiếu thốn, thuế cao, giá đắt, hàng khan hiếm…
                   
         “Đi tới đâu cũng thấy bộ mặt như đưa đám. Làm sao đủ sống? Hầu hết mọi gia đình trong các thành thị miền Nam, trừ những kẻ giàu có, đang đặt cho mình và cho nhau câu hỏi đó… Và chẳng ai trả lời được” (Báo Điện tín 1-4-1974).
         
        Một ký giả Mỹ nhận xét: “Điều mà người Mỹ lo lắng nhất hiện nay có lẽ là sự tồn tại về mặt kinh tế của chế độ Thiệu… Từ tháng 1-1973 rõ ràng là không có lĩnh vực nào mà địa vị của Thiệu lại sa sút nhanh chóng như lĩnh vực kinh tế” (G.Kolko. Báo Thế giới ngoại giao, tháng 7-1973).
         
        Một ký giả Pháp nhận xét: “Khi nhìn vào tình hình miền Nam năm1973, những người bi quan nhất chưa phải là các chuyên gia quân sự,mà là các chuyên gia kinh tế. Những bát cơm của Sài Gòn đang vơi dần đi” (J.C.Pomonti-Sự cuồng nhiệt muốn làm người VN. Đã dẫn tr.21).
         
        Chính Cooper, cố vấn kinh tế của sứ quán Mỹ ở Sài Gòn cũng nhận xét rằng: Nền kinh tế miền Nam giống như đang ngồi trong bữa tiệc của Damocles, sợi tóc không biết sẽ đứt lúc nào” (Damocles là mộtnhân vật trong cổ tích Hy Lạp, được mời đến dự một bữa tiệc linh đình, nhưng trên đầu có thanh gươm treo bằng một sợi tóc, và khi nhìn thấy, anh ta thấy tiệc chỉ là một nơi hành quyết).
         
        Nếu đọc lại những tờ báo ở Sài Gòn năm 1973, ta thấy nhan nhản những lời rên la về những khó khăn kinh tế.
         
        Trong năm 1974 và đầu năm 1975, các khó khăn càng nghiêm trọng hơn. Viện trợ Mỹ giảm dần, xuống 1,5 tỷ, rồi 1,2 tỷ. Chính quyền Sài Gòn la ó, nằn nì. Nhưng Quốc hội Mỹ đã tỏ ra cứng tay hơn trước nhiều trong việc siết dần cái vòi viện trợ lại. Những lời tường trình của Tổng thống Mỹ cũng vô hiệu.
         
        Thái độ của Quốc hội Mỹ dường như là một điều gì mới mẻ. Thực ra, nó cũng được biểu quyết bởi lấy nhiều con người đã từng hò hét ủng hộ chiến tranh Việt Nam. Sau hơn 20 năm lao sâu vào vòng chiến, hơn 20 năm đổ của vào để giành thắng lợi, tốn kém đã quá nhiều, mà thất bại đã hiện ra ngày càng rõ trước mắt. Mệt mỏi, chán nản, đổ vỡ trong ý chí xâm lược, lảng tránh “trách nhiệm” - chính đó là bản chất của thái độ bàng quan của Quốc hội Mỹ lúc đó.
               
        Khi quân giải phóng đã tiến tới Xuân Lộc, Martin còn viết cho Thiệu một bức thư: “Nếu người Mỹ thấy Quân lực Việt Nam không những giữ vững được vị trí, mà còn thắng được một vài trận, thì sẽ góp phần đưa đến những khoản chuẩn chi mới, với số lượng đầy đủ”.
         
        Nhưng ngay một chiến thắng nhỏ bé cũng không có.
         
        Sợi tóc đã đứt. Nếu không có viện trợ Mỹ, thì nó đã đứt từ trước nữa rất nhiều.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2017, 12:33:17 AM
           
        VIII. NHÌN LẠI QUÁ TRÌNH XÂM NHẬP CỦA MỸ VÀO MIỀN NAM VIỆT NAM
         
        Sau khi điểm qua các giai đoạn lịch sử cụ thể, có thể thấy được mộtsố đặc điểm trong quá trình xâm nhập của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Nắm được các đặc điểm đó, sẽ hiểu rõ hơn về cơ cấu, về sự vận hànhvà những kết quả của viện trợ Mỹ, mà ta sẽ đi vào trong các chươngtrình sau.
         
        - Vào Việt Nam, Mỹ bị phản đối và đánh trả ngay từ đầu
         
        Vào Việt Nam, Mỹ gặp một tình thế khác hẳn ở nhiều nơi. Ở đây Mỹ không đóng nổi vài trò giúp đỡ cuộc giải phóng dân tộc, mà lại đóng vai trò giúp đỡ cho kẻ thù của cuộc giải phóng đó. Mỹ đến Việt Nam không có danh nghĩa chính đáng.
         
        Ngay cả một số những nhân vật trong chính quyền tay sai, chẳng qua vì lợi ích mà phải dựa vào Mỹ, còn trong thâm tâm, nhiều ngườicũng không ưa gì Mỹ. Cơ sở của Mỹ ở đây rất yếu.
         
        - Ở Việt Nam, Mỹ chỉ có được một chính quyền tay sai bản xứ kém cỏi và mục nát, chính quyền đó không còn chỗ dựa nào khác ngoài sức mạnh của Mỹ.
         
        Những lực lượng tiến bộ của xã hội đã đứng dưới lá cờ cách mạng. Phần còn lại mà Mỹ nắm được chỉ là những phần tử mục nát của xã hội. Từ Bảo Đại đến Ngô Đình Diệm, từ Nguyễn Khánh đến Nguyễn Văn Thiệu, đều không còn thế lực kinh tế, chính trị hay tinh thần.
         
        Chính vì vậy, trong trường Việt Nam, Mỹ không tốn công tốn của lắm để khống chế chính quyền tay sai. Nhưng cũng chính vì thế, Mỹ phảitốn rất nhiều công nhiều của để nhào nặn và chống đỡ cho nó khỏi sụp đổ.
         
        - Ở Việt Nam, Mỹ buộc phải dùng đến chiến tranh. Ban đầu, đó chỉ làcuộc chiến tranh đàn áp, do tay sai thực hiện, với sự giúp đỡ tiền, của.Việc đó không thành công. Mỹ đã trực tiếp đưa quân vào, mở rộngchiến tranh với quy mô to lớn. Theo những nguyên tắc của chủ nghĩathực dân mới, thì đây là hạ sách, nó chỉ dùng đến khi không còn cáchnào khác nữa.
         
         - Tất cả mọi hoạt động của Mỹ ở Việt Nam mới nằm trong khuôn khổ của giai đoạn bình định, chưa chuyển sang giai đoạn khai thác. Nếu kể từ ngày quân Pháp rút lui, cho đến 30-4-1975, lịch sử xâm nhập của Mỹ ở Việt Nam cũng đã tới 21 năm. Đó là một thời kỳ quá dài do với tốc độ xâm nhập của Mỹ ở các nước khác. Nhưng trong suốt 21 năm đó, Mỹ bị đánh liên tục, không lúc nào được ổn định, và chưa bao giờ hoàn thành được giai đoạn bình định. Chính vì vậy, ta thấy Mỹ tốn kém quá nhiều, nhưng lại chưa thu về được gì. Điều đó nằm ngoài ý kiến ban đầu.
         
        - Vì tất cả những đặc điểm kể trên nên ở Việt Nam, Mỹ đã phải sử dụng tới mức tối đa sức mạnh của tiền của. Trong toàn bộ lịch sử xâm nhập của Mỹ ở miền Nam, viện trợ đóng vai trò to lớn, là công cụ cơ bản để tiến hành chiến tranh, để mua chuộc tay sai, để ràng buộc dân chúng bằng lợi ích vật chất, để thay thế cho cái sức hấp dẫn của lương tâm và lẽ phải.
         
        Những thủ đoạn kinh tế phổ biến khác như bóc lột bằng cho vay, đầu tư, khai thác tài nguyên, trao đổi không ngang giá… thì ở Việt NamMỹ chưa tạo được điều kiện để thi hành với quy mô lớn.
         
        Chính vì vậy, khi nghiên cứu sự xâm nhập của Mỹ vào miền NamViệt Nam, về phương diện kinh tế, điều trước mắt và chủ yếu nhất là tìm hiểu viện trợ Mỹ, các hình thức của nó, cơ chế của nó, sự vận hànhcủa nó, tác dụng và ý nghĩ của nó trong đời sống xã hội miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2017, 08:18:04 PM
       
Chương III

SỐ LƯỢNG VIỆN TRỢ - NHỮNG NHẬN XÉT SƠ BỘ
         
        Viện trợ Mỹ là gì, gồm những gì?
         
        Theo các tài liệu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, số lượng viện trợ hàng năm gồm những của cải tính thành tiền mà Mỹ cấp cho chính phủ Sài Gòn. Số của cải này gồm hai khoản chính: viện trợ quân sự và viện trợ kinh tế.
         
        Nhưng nếu xem xét viện trợ Mỹ với tính chất như những thứ mà Mỹ đưa vào để chống đỡ cho các thế lực bản địa, nhằm dọn đường cho sự thống trị của Mỹ, thì cái gọi là viện trợ không chỉ bao gồm những thứ đó.
         
        Số của cải hàng trăm tỷ đô la mà Mỹ trực tiếp chi phí ở Nam Việt Nam, những hoạt động của hơn nửa triệu quân viễn chinh Mỹ và “đồngminh” do Mỹ đài thọ, số tiền hàng trăm triệu đô la do Mỹ đổi lấy bạcViệt Nam để chi tiêu, số hàng hóa mà các căng tin (P.X) bán ra cho quân Mỹ và được quân Mỹ tuồn ra thị trường… là những khoản không được liệt vào “Viện trợ Mỹ”. Các khoản này có nhiều năm còn lớn hơn cả những khoản gọi là “viện trợ”. Đó cũng là những của cải do Mỹ đưa vào miền Nam Việt Nam. Khi xem xét viện trợ Mỹ, cũng phải xem xét đến những khoản này.
         
        Cách quan niệm này đòi hỏi những cách tính toán khác và những sự sắp xếp khác. Đó là một khó khăn. Có những khoản chúng tôi có thể sắp xếp lại và tính toán lại. Nhưng có nhiều khoản không đủ số liệu để tính toán.
         
        Chẳng hạn, không thể nào tính được số của cải vốn thuộc khu vựcquân sự, do các hoạt động tham nhũng, ăn cắp, mà lọt ra thị trường và đi vào đời sống kinh tế của xã hội.
         
        Cũng chưa có đủ số liệu để tính số hàng hóa cung cấp trong nội bộ quân đội, như hàng “quân tiếp vụ” và hàng P.X, đã lọt ra thị trường là bao nhiêu, mặc dầu ai cũng thấy số hàng hóa này đóng vai trò rất quan trọng đối với tình hình cung cầu, giá cả và tiêu dùng ở miền Nam.
         
        Phần lớn nhất của viện trợ là vũ khí và tiền của để nuôi quân đội. Cho đến nay, chưa thể nào tính hết được số “viện trợ” đó đã tham gia vào đời sống kinh tế như thế nào. Có bao nhiêu ngàn tấn vỏ đạn đã lọt ra thị trường và từ đó đã kéo được bao nhiêu ngàn tấn dây đồng? Có bao nhiêu vạn tấn sắt thép phế thải chiến tranh đã cung cấp cho các nhà máy cán thép?
         
        Ngoài những khó khăn do thiếu số liệu, chúng tôi còn gặp khó khăn trong việc lựa chọn và sử dụng những số liệu đã có. Số liệu về “viện trợ” đều là số liệu do Mỹ và Chính phủ Sài Gòn công bố. Trong nhiều trường hợp, những con số này đã bị tính sai. Giá vũ khí thường được tính thấp một cách giả tạo, do đó, phần viện trợ quân sự nhỏ hơn thực tế. Viện trợ kinh tế thường được thổi phồng, một phần do những khoảnviện trợ quân sự gán sang, một phần do hàng viện trợ Mỹ được tính theo giá cao hơn giá trên thị trường quốc tế…
         
        Dưới đây, chúng tôi trình bày những số liệu đã có. Có những phần chưa đủ số liệu để tính toán, xin để chờ đợi những kết quả khai thác được sau này. Những số liệu được ghi ở đây, chắc còn có nhiều chỗ không đúng với sự thật, do đó, vẫn nên có một sự dè dặt nhất định khi xét đoán và phân tích.
         
        Trước khi đi vào phân tích các con số về các loại viện trợ, cũng cần lưu ý một điều nữa: sự giảm giá đô la trên thị trường quốc tế. Như vậy, ngay cả trong trường hợp những con số dưới đây là xác thực, thì nó cũng chỉ phản ánh được số lượng viện trợ tính ra đô la theo thời giá hoặc theo giá do Mỹ quy định, chứ không phản ánh thật chính xác khối lượng của cải thực tế mà viện trợ Mỹ đưa vào miền Nam Việt Nam.
         
        Nếu nhìn một cách khái quát về các khoản viện trợ Mỹ ở Nam Việt Nam, và cũng mới chỉ xét riêng về mặt số lượng, người ta có thể nhận thấy ngay đặc điểm sau đây:
         
        Thứ nhất, khối lượng viện trợ Mỹ cho miền Nam Việt Nam như vậy là rất lớn.
         
        Số chi phí trực tiếp của Mỹ cho chiến tranh Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh cục bộ lên tới 20 tỷ 1 năm, bằng 1/3 ngân sách quốc phòng Mỹ và bằng 1/10 tổng ngân sách Mỹ.
                   
        Riêng số viện trợ cho Sài Gòn trong 21 năm là 26 tỷ đô la. Đó là con số cao nhất của viện trợ Mỹ tại bất cứ nước nào khác trên thế giới kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ II.
         
        Nếu chỉ xét riêng viện trợ kinh tế, thì tổng số cũng tới 12 tỷ đô la. Đó cũng là mức chưa nước nào trên thế giới nhận được.
         
        Ấn Độ, “thị trường lớn nhất của Mỹ” ở Đông Nam Á, trong 20 năm từ 1951 đến 1970, đã nhận được tổng số viện trợ Mỹ là 9,3 tỷ đô la. Trong 22 năm, từ 1945 đến 1967, Mỹ viện trợ cho Philippin 1.982,8 triệu đô la, cho Thái Lan 1.182,3 triệu đô la, cho Indonesia 983,8 triệu đô la.Tính trung bình, viện trợ Mỹ cho Nam Việt Nam thường chiếm khoảng một nửa tổng số viện trợ Mỹ cho toàn Đông Nam Á.
         
        Ở châu Phi, tính trong 25 năm, từ 1946 đến 1970, tổng số viện trợ Mỹ cho tất cả các nước Phi châu là 4,9 tỷ. Trong đó, năm cao nhất, năm1964, chỉ đạt tới 474 triệu. Tính trung bình thì mỗi năm viện trợ Mỹ cho toàn châu Phi chỉ vào khoảng hơn hai trăm triệu, bằng 1/5 mức trung bình một năm của Nam Việt Nam. Còn nếu xét riêng từng nước thì viện trợ Mỹ mỗi năm chỉ độ vài chục triệu đô la (Stewatt Smith. U.S,Neocolonialism in Africa. Progress Publishers, Moscow, 1974, P.79).


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2017, 08:18:36 PM
         
        Nếu đem so sánh với khả năng sản xuất của bản thân miền NamViệt Nam, càng thấy số lượng “viện trợ” đó là lớn.
         
        Thu nhập quốc dân của Nam Việt Nam hầu như chưa bao giờ vượt quá 2 tỷ đô la hàng năm (Có một vài năm sau này, theo số liệu của Chính quyền Sài Gòn, thu nhập quốc dân của miền Nam đạt trên 2 tỷđô la. Chẳng hạn năm 1972 là 2,2 tỷ, năm 1973 là 2,35 tỷ… Sự “tăng trưởng” đó thực ra do 2 nguyên nhân chính: Một số lớn giá trị nguyên liệu nhập cảng đã tính trùng vào giá trị của sản phẩm xã hội. Giá trị tổng sản phẩm tính bằng tiền Sài Gòn được quy ra đô la theo tỷ giá hối chính thức, thấp hơn tỷ giá thực tế). Viện trợ Mỹ, tính bình quân mỗi năm tới hơn 1 tỷ. Trong 5 năm cuối cùng, viện trợ Mỹ hàng năm trên 2 tỷ, tức là lớn hơn tổng số của cải do bản thân miền Nam làm ra. Nếu tính riêng viện trợ kinh tế, mỗi năm cũng tới gần 1 tỷ, tức là bằng nửa số thu nhập quốc dân của miền Nam. Chúng ta biết, một quốc gia muốn tăng gấp rưỡi thu nhập quốc dân thường phải mất từ 5 đến 10 năm thắt lưng buộc bụng và ra sức phát triển sản xuất, với tốc độ tăng từ 5 đến 10% hàng năm. Chính quyền Sài Gòn thì không làm như vậy mà mỗi năm có thêm một số của cải bằng tổng số của cải tự làm ra!
         
        Thứ hai, nếu theo dõi mức tăng giảm của viện trợ qua các năm và liên hệ với các giai đoạn phát triển của chiến tranh, có thể thấy ngay một mối quan hệ: số lượng viện trợ thay đổi theo cường độ chiến tranh xâm lược. Mối liên hệ này phản ánh rõ thực chất của viện trợ Mỹ thời đó.
         
        Điểm qua các giai đoạn cụ thể, thấy như sau:
         
        Thời kỳ 1954-1960, viện trợ Mỹ còn ở mức thấp - trên hai trăm triệu đô la mỗi năm. Đây là lúc Mỹ mới “mua” lại thuộc địa từ tay Pháp. Một phần giá mua đó đã được ứng trước từ năm 1954 (1,7 tỷ đô la). Mỹ hy vọng sớm tạo ra một tình trạng ổn định, để đi vào khai thác. Vì vậy, viện trợ có khuynh hướng giảm dần. Viện trợ cho vay bắt đầu được áp dụng một phần. Trong lịch sử xâm lược Việt Nam của Mỹ, đây là giai đoạn duy nhất chớm xuất hiện hiện tượng kể trên. Tuy vậy, nó cũng là một dịp để ta kiểm nghiệm một tính quy luật: nếu Mỹ đã hoàn thành giai đoạn bình định, thì số của cải đưa vào sẽ ít đi và số của cải đưa ra sẽ lớn lên.
         
        Trong thời kỳ “chiến tranh đặc biệt”, viện trợ Mỹ tăng lên rõ rệt, từ 4 đến 5 trăm triệu đô la mỗi năm. Viện trợ cho vay hầu như không có nữa. Viện trợ quân sự tăng mạnh nhất. Ngoài ra, số chi phí trực tiếp của Mỹ cũng đã tới vài trăm triệu đô la mỗi năm. Với tổng số chi hơn 1 tỷ 1 năm, Mỹ vẫn không “mua” được thắng lợi cho quân đội Sài Gòn.
         
        Trong thời kỳ “chiến tranh cục bộ”, viện trợ tăng vọt từ trên 1 tỷ năm 1964 lên khoảng 2 tỷ năm 1966. Nhưng con số này chưa phải là con số quan trọng nhất. Mỹ đã đưa hơn nửa triệu quân vào trực tiếp tham chiến, với số phí tổn hàng năm hơn 20 tỷ đô la, gấp 10 lần tổng số viện trợ cho Thiệu. Như vậy, Mỹ đã xẻ tới 1/3 ngân sách quốc phòng Mỹ để đổ vào chiến tranh xâm lược Việt Nam. Là kẻ giàu nhất thế giới tư bản, trong lịch sử Mỹ, chưa bao giờ Mỹ tỏ ra thiếu khả năng tài chính khi giải quyết một vấn đề quốc tế nào đó. Nhưng với cuộc chiến tranhViệt Nam, mức chi phí hơn hai mươi tỷ hàng năm là mức không thể chịu đựng nổi trong một thời gian dài. Vả lại, nó đã vượt quá xa những dự kiến ban đầu của Mỹ. Những cái đầu tỉnh táo trong Quốc hội và trong Chính phủ Mỹ buộc phải tính đến một giải pháp khác.
                   
        Trong thời kỳ “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1975), số lượng viện trợ Mỹ cho Thiệu tăng lên tới mức cao nhất. Có năm lên tới gần 4 tỷ đô la. Trong đó, viện trợ quân sự chiếm phần tuyệt đối lớn. Nhưng nhờ “Việt Nam hóa”, số chi phí trực tiếp của Mỹ (khoản nặng nhất trước đó) lại giảm bớt, từ 18 tỷ năm 1970 xuống khoảng dưới 2 tỷ từ năm1973. Nếu cộng các khoản, ta thấy mức hao phí của Mỹ giảm đi nhiều. Viện trợ trực tiếp nhiều hơn, nhưng lại trả giá rẻ hơn cho cuộc chiến.
         
        Từ năm 1973, số viện trợ cho chính quyền Thiệu cũng giảm dần. Nguyên nhân của sự giảm viện trợ lúc này hoàn toàn khác với giai đoạn1959-1960. Thời kỳ 1959-1960, Mỹ giảm viện trợ vì nghĩ rằng giai đoạn bình định sắp kết thúc. Còn thời kỳ 73-75, Mỹ giảm viện trợ vì không còn hy vọng thắng được các lực lượng giải phóng nữa. Trước đây, Mỹ không dại gì tiếp tục trả giá cao cho một thành quả mà Mỹ tin là gần nắm chắc. Bây giờ, Mỹ không dại gì tiếp tục trả giá cao cho một thành quả không hy vọng gì nó nữa.
         
        Thứ ba, phần lớn của viện trợ là viện trợ quân sự. Tỷ lệ đó càng ngày càng tăng lên. Đó cũng là một đặc điểm của việntrợ Mỹ.
         
        Thứ tư, tỷ lệ rất cao của viện trợ cho không tại Nam Việt Nam là một hiện tượng không phổ biến.
         
        Ở đặc điểm thứ nhất, khi so sánh số lượng viện trợ Mỹ tại một số nước, ta thấy viện trợ cho Nam Việt Nam lớn hơn so với bất cứ nước nào trên thế giới. Đến đặc điểm thứ tư này, càng thấy hết sự “ưu ái” đó: Không những số lượng viện trợ rất lớn, mà phần tuyệt đối lớn củaviện trợ đó lại là viện trợ không hoàn lại.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2017, 09:42:18 PM
        
Chương IV

CƠ CHẾ VÀ CÁC HÌNH THỨC VIỆN TRỢ MỸ
       
        I. VIỆN TRỢ QUÂN SỰ TRỰC TIẾP
        
        Như đã nói, đây là phần lớn nhất của viện trợ Mỹ. Tuy nhiên các con số thống kê chính thức chưa phản ánh đúng khối lượng thực tế của viện trợ quân sự. Đối với loại viện trợ này, Chính phủ Mỹ không muốn đưa ra con số thực. Nếu con số này lớn quá thì Quốc hội Mỹ khó thông qua.
        
        Bộ Quốc phòng Mỹ có nhiều thủ thuật để hạ thấp con số danh nghĩa của viện trợ quân sự.
        
        Một là, chỉ liệt vũ khí, quân trang, dụng cụ quân sự… vào viện trợ quân sự. Còn phần trả lương và phụ cấp cho quân đội thì không nằm trong viện trợ quân sự. Cho đến năm 1964, thì khoản này thường lớn hơn cả phần viện trợ vũ khí và đồ quân dụng (Theo số liệu của UPI ngày 27-5-1964 thì số chi cho hai khoản này như sau (triệu đô la)
          
19611962      1963      1964
Vũ khí và đồ quân dụng      101176200160
Lương quân ngụy136208216295

        Mặc dầu khoản viện trợ này cũng do Mỹ trả, song nó lại bị gạt sang mục viện trợ kinh tế. Bằng cách đó, con số viện trợ quân sự bị thu nhỏ bớt đi, và con số “viện trợ kinh tế” lại phình lên tương ứng.
        
        Hai là, khi tính toán viện trợ quân sự, giá vũ khí và đồ quân dụng đã được hạ thấp giả tạo. Theo Hiếp pháp Mỹ, Bộ Quốc phòng có một sự độc lập nhất định đối với Quốc hội. Viện trợ quân sự do Bộ Quốc phòng nắm. Bộ này chỉ trình trước Quốc hội con số viện trợ tính bằng tiền.Trong thực tế, Bộ Quốc phòng có thể chi một số hiện vật có giá trị lớn hơn số tiền đó, bằng cách báo cáo giá thấp hơn giá thực tế. Khi trả tiền cho các công ty sản xuất vũ khí, Bộ Quốc phòng có nhiều thủ thuật để trang trải bằng những quỹ riêng mà nó được phép sử dụng độc lập (điều này đã nhiều lần bị báo chí Mỹ tố giác).
        
        Ba là, có một số vũ khí, quân dụng, vật liệu xây dựng quốc phòng đã dược “tuồn’ cho quân đội bản địa bằng nhiều con đường khác, ngoài con đường viện trợ quân sự trực tiếp: Bán rất rẻ hoặc cho không quân ngụy một số lớn trang bị thừa của quân Mỹ ở Việt Nam và ở các căn cứ khác, liệt những thứ đó vào mục vũ khí phế thải của quân đội Mỹ. Trao lại cho ngụy quân những vũ khí và dụng cụ chiến tranh theo những yêu cầu đột xuất, tính vào khoản chi đặc biệt cho công tác “phòng thủ đối ngoại” của Bộ Quốc phòng Mỹ. Theo tin UPI ngày 6-3-1973, thì từ tháng 11-1972 đến tháng 1 năm 1973, trước khi ký Hiệp định Paris, Mỹ đã tranh thủ đưa tới 6 tỷ đô la vũ khí vào Nam Việt Nam, trong đó, một phần đáng kể là thuộc loại “viện trợ này”.
        
        Ở đây không đi sâu vào những cách tính toán và những thủ thuật đó. Điều cần nói là: do những thủ thuật trên, số lượng viện trợ quân sự thực tế lớn hơn nhiều so với con số 13 tỷ trong thống kê chính thức củaMỹ.
        
        Bây giờ ta xem xét số viện trợ khổng lồ đó đã tham gia vào đời sốngkinh tế như thế nào.
        
        Với khối lượng viện trợ khổng lồ về vũ khí, đồ quân trang, quân dụng, xây dựng các căn cứ và các phương tiện cho cả triệu quân lính, cộng thêm những món tiền lớn để trả lương cho hơn 1 triệu quân này (khoản này sẽ nói ở mục sau), viện trợ quân sự Mỹ đã tạo ra ở NamViệt Nam một đội quân đánh thuê hơn 1 triệu người.
        
        Xét về mặt kinh tế, điều đó có nghĩa thế nào?
        
        Nó có nghĩa là có hơn 1 triệu người có “công ăn việc làm”, có “thu nhập”, mà không sản xuất, không sáng tạo ra của cải gì cả. Khoảng 4-5 triệu vợ, con, cha, mẹ của hơn 1 triệu quân lính này cũng được hưởng một phần thu nhập đó. Trong một phần đất nước chưa đầy 20 triệu dân, mà nền sản xuất còn chưa đủ thức ăn và đồ dùng tối thiểu cho số dân đó, lại có thể tách ra được hơn 1 triệu người lao động chính cùng 4-5 triệu người trong gia đình họ chỉ sống nhờ vào nghề cầm súng, một nghề phi sản xuất nhất trong những nghề phi sản xuất. Đó là mức “kỷ lục” trên thế giới. Ngay cả những nước giàu có nhất và những nước vũ trang cao nhất, cũng chưa bao giờ đạt tới được mức đó. Chính là nhờ viện trợ Mỹ, Nam Việt Nam đã được “kỷ lục” này (Theo tính toán của các nhà quân sự, thì trong hoàn cảnh thế giới hiện nay, mức quân số của mỗi nước thường chỉ vào khoảng 1-2% dân số. Đó là mức thích hợpvới khả năng kinh tế, với trình độ tiêu dùng do khả năng đó quy định và với cả trình độ trang bị kỹ thuật hiện đại).


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2017, 09:45:19 PM
         
        Nhưng vấn đề không chỉ có như vậy. Hơn một triệu con người, khi được nuôi theo cách đó, và được vũ trang, thì đã làm gì “cho kinh tế”? Tàn phá thôi! Ai mà tính hết được cái tác dụng này là bao nhiêu tỷ đô la. Nhưng đây lại chính là cái ý nghĩa cơ bản, cái tác dụng chủ yếu của viện trợ quân sự.
         
        Ngoài hai sự “đóng góp” hết sức trái ngược nhau kể trên, trong viện trợ quân sự trực tiếp, cũng có một phần của cải lọt sang khu vực kinh tế, dưới hình thức vật chất. Con số này không ai tính hết được. Nhưng chắc chắn là có những con đường chuyển dịch đó:
         
        - Hàng năm có một khối lượng rất lớn đồ phế thải chiến tranh được đem bán cho các nhà thầu và nhà buôn. Trong đó, phần lớn là kim loại. Ở một đất nước hẹp, mà trong hơn 20 năm qua, chiến tranh đã đổ vào tới hàng trăm triệu tấn bom, hàng tỷ viên đạn các loại, hàng chục vạn xe quân sự, hàng ngàn tàu chiến và máy bay, mà kẻ dùng những thứ đó lại bị thua liên tiếp và liên tiếp được trang bị lại, thì khoản này là một khối lượng đáng kể. Ta biết, miền Nam chưa khai thác được một gam quặng sắt nào, nhưng cũng có 3 nhà máy cán sắt khá lớn. Nó có một kho nguyên liệu rất rẻ, và gần như “vô tận”, đó là những xe tăng, ô tô, đại bác và súng bị hư hỏng. Người ta ước tính số sắt thép phế thải này tới vài triệu tấn. Mỗi năm, nhờ thứ nguyên liệu này, miền Nam nấu lại được từ 5 đến 6 vạn tấn thép. Những đống vỏ đạn các loại, sau khi bắn, cũng được các tướng tá bán ngầm ra ngoài. Ta biết, trong cuộc chiến tranh ở miền Nam, đạn dược đã được tiêu thụ nhiều hơn ở bất cứ nơi nào. Theo Gabriel Kolko, Sài Gòn tiêu thụ đạn nhiều gấp 20 lần Việt Cộng (Báo Pháp Thế giới ngoại giao, tháng 7-1973). Với mức tiêu thụ đó, ngành chế biến đồng ở miền Nam cũng có cả một kho nguyên liệu dồi dào, mỗi năm “sản xuất” được vài ngàn tấm dây đồng và đồng lá.Hơn hai chục vạn tấn dây thép gai cũng là một kho tài nguyên phongphú, mà ở nơi nào cũng có. Chẳng hạn, riêng Gia Định, trong 1 năm 1963, được viện trợ 5.600 tấn dây thép gai và 16 vạn cọc sắt. Số sản lượng trên 3 ngàn tấn đinh các loại của miền Nam là dựa trên cái cơ sở nguyên liệu này. Có những năm số sắt thép và đồng phế thải của chiến tranh quá nhiều, ngụy quyền còn đem “xuất cảng” để lấy tiền. Năm1972, đã xuất cảng tới 18.144 tấn gang, sắt, thép nát và 3.877 tấn đồng nát. Riêng tiền xuất cảng sắt thép vụn đã chiếm 11% tổng số thu về xuất khẩu năm 1972 và 13,5% tổng số thu về xuất khẩu năm 1973! Luật pháp Mỹ quy định rằng đạn do Mỹ viện trợ là để bắn, vỏ đồng còn lại vẫn là tài sản của Nhà nước Mỹ, cấm đem cho hay đem bán. Nhưng chẳng có một chiếc cát tút nào được trả về cho Mỹ cả (Từ 1973, sau Hiệp định Paris, Mỹ ký với Thiệu 1 bản thỏa hiệp cho ngụy quyền được bán vỏ đạn lấy tiền bỏ vào một chương trình đặc biệt, ngoài ngân sách.Tổng số đồng đem bán là 20.000 tấn, giá mỗi tấn 1.000 đô la). NhSmith nhận xét: “vỏ đạn ở Việt Nam đã sản sinh và nuôi dưỡng cả một ngành công nghiệp, đồng thời cũng là một mảnh đất màu mỡ cho nạn tham nhũng” (Smith đã dẫn). Nhiều sỹ quan ngụy thú nhận rằng có khi chỉ vì cần tiêu một món tiền nào đó, chẳng hạn tậu một chiêc xe hơi kiểu mới, mà hắn hạ lệnh báo động và cho bắn như mưa vào vùng giải phóng. Sau đó, người ta thấy có những xe tải đến “dọn dẹp” đi mấychục vạn vỏ đạn “phế thải”. Kết quả là: cấp chỉ huy thì có tiền tậu xe hơi, các nhà buôn có lời lớn, nhà luyện đồng thì có nguyên liệu. Còn mấy vạn cái đầu đạn đó đã bay đến đấu, đó là việc của “thế giới bên kia”.
         
        Trong viện trợ quân sự, ngoài vũ khí và dụng cụ quân sự, còn có nhiều thứ vật dụng thông thường, không chỉ dùng cho chiến tranh, mà có thể dùng trong đời sống hàng ngày: xăng, dầu, xe cộ và phụ tùng, săm lốp, vải bạt, dù, quần áo, giầy dép, ba lô, các thiết bị dùng trong các doanh trại như tủ lạnh, quạt điện, máy điều hòa nhiệt độ, các loại vật liệu xây dựng, nhất là tôn và xi măng, vô số thứ đồ ăn, vật dùng cá nhân và thuốc men của quân đội… Những thứ này được Mỹ cung cấp khá rộng rãi, thường là vượt xa mức tiêu dùng thực tế của ngụy quân (Lấy ví dụ về quần áo. Năm 1966, Thiệu có hơn 60 vạn quân. Nhưng riêng trong năm đó Mỹ đã đặt Nam Triều Tiên sản xuất 84 vạn bộ quần áo cho lính ngụy. Con số này cộng với số đã phát, số còn lại trong kho và số do các nguồn cung cấp khác, đã vượt rất xa khả năng tiêu dùng của quân ngụy. Số “Sản phẩm thặng dư” đó là cơ sở vật chất để cho các chợ trời và các sạp hàng đồ cũ ở miền Nam bán đầy quần áo lính, với giá một chiếc chỉ bằng 1 bao thuốc lá, hoặc 1 bát phở): Do bản chất của kẻ xâm lược, Mỹ chỉ có thể dựa vào một sức mạnh là vũ khí và tiền của. Do đó, Mỹ thực khó có thể keo kiệt. Quân ngụy, là kẻ đánh thuê, chẳng bao giờ phải xót xa cho túi tiền của Mỹ, chẳng có lý do gì mà phải tiết kiệm, chỉ “xài” như phá. Chính các nhà báo Mỹ đã nhận xét rằng ít thấy ở đâu quân lính xài phí phạm tới mức điên loạn như ở miền Nam. Một chiếc ô tô vỡ kính, bẹp vỏ, có khi chỉ thủng lốp, là có thể thải ngay. Cần gì sửa chữa, khi trong kho đã có sẵn những cái mới!


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2017, 08:00:14 PM
         
        Những đống rác quanh các trại lính là một nguồn sống của nhiều người và là nguyên liệu của nhiều ngành kinh tế.
         
        Ngoài sự phung phí ra, như một dân biểu Sài Gòn nhận xét: “Ở miền Nam này, mỗi người lính cũng là một nhà kinh tế hay một nhà kinh doanh” (Chấn hưng kinh tế 3-1969). Họ không chỉ tiêu phá của viện trợ, mà còn tuồn ra thị trường bằng vô số cách khác nhau: Ăn cắp, bán rẻ cho các nhà thầu, nhượng lại cho gia đình quân nhân, đem bán cho các cửa hàng đồ cũ…
         
        Đối với một quân đội đang sống trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, lại luôn luôn bị đánh thua, thì không khó gì để khai những thứ đã bị ăn cắp và đem bán là “đã bị hủy hoại bởi Việt Cộng”, liệt những thứ còn tốt nguyên thành những đồ phế thải… Việc những đoàn xe quân nhu lẳng lặng dừng lại trước một ngôi nhà nào đó, trút lại hàng tấn xi măng, tôn lá, dây đồng, hàng trăm hòm binh phục, hàng ngàn thước vải bạt… là chuyện thường thấy trên mọi nẻo đường.
         
        Trên các con sông ở Nam bộ, các đoàn tàu chở nhiên liệu quân sự, theo sự hẹn trước, thường bán sạch hoặc một vài xà lan xăng dầu cho con buôn, có khi bán cho cả các cơ quan tiếp liệu của quân giải phóng,với giá rất rẻ và với thái độ rất “niềm nở”. Đối với bọn này, bắn hàng vạn quả đạn vào vùng giải phóng để có vỏ đồng đem bán, hay bán cho quân giải phóng cả đoàn tàu chở xăng dầu để lấy tiền, thì cũng như nhau. Xe “Jeep” quân dụng không có trong danh mục các hàng nhập cảng. Nhưng miền Nam có tới 3-4 vạn xe “Jeep” của tư nhân (Niêmgiám thống kê 1 1973, Sài Gòn, tập IV, t.72). Nó còn ở đâu ra, nếu không phải là từ quân đội, từ viện trợ quân sự? Còn vật liệu xây dựng, người ta ước tính, cứ trong 10 ngôi nhà mới xây cất, có ít nhất là 2 ngôi nhà được xây dựng bằng những thứ lấy cắp hay mua rẻ trong quân đội. Còn phần lớn các ngôi nhà khác thì cũng dính dáng ít nhiều: hoặc xi măng, hoặc cốt thép, hoặc tôn lá, hoặc gạch men, hoặc ống nước, hoặc nhờ xe quân sự chuyên chở, hoặc do tướng tá lấy tiền ăn cắp và tham nhũng để xây… (Điện tín 2-6-1973).
         
        Đó là đối với những tài sản lớn. Còn đối với những đồ dùng lặt vặt thì bọn chúng thường đem bán rẻ cho bất cứ sạp hàng nào bên đường để lấy tiền “nhậu nhẹt”. Ai đã đến miền Nam đều thấy rõ những đồ dùng của quân lính tràn ngập thị trường đến mức nào. Trên những chợ trời mênh mông, trên những sạp hàng nhan nhản ở khắp mọi phố, mọi đường, bao giờ cùng thấy tràn đầy những đồ dùng quân đội: giầy lính, áo mưa dã chiến, ba lô, dù và dây dù, vải bạt các cỡ, quần áo rằn ri, màn lính, đèn pin Mỹ, dao quân dụng Mỹ, bi đông Mỹ, ống nhòm, địa bàn… Có nhiều thứ không có ký hiệu gì là của riêng quân đội, nhưng những người tiêu dùng ở miền Nam thì biết rất rõ là nó chỉ có trong trại lính thôi: Quạt trần Mỹ, quạt bàn Mỹ, máy vô tuyến truyền hình Mỹ, bàn ghế và giường Mỹ… Có một số mặt hàng ghi rõ là chỉ dùng cho quân đội, cấm bán ra ngoài, như thuốc lá, đèn pin, xà phòng quân nhu… nhưng vẫn thấy bán đầy đường, mà chẳng có ai bị bắt, bị cấm về chuyện đó cả.
         
        Rút cuộc, đội quân đông hơn một triệu người đó không chỉ là một lựclượng tiêu dùng và phá hoại, mà còn là một đội quân đông đảo cung cấp hàng hóa dồi dào và thường xuyên cho xã hội.
         
        - Ngoài các đồ phế thải và đồ ăn cắp, quân đội còn tung ra xã hội một lượng hàng hóa đáng kể một cách công khai, được coi như hợp pháp: những nhu yếu phẩm bán cho binh lính và gia đình binh lính theo giá ưu tiên, rẻ bằng 1/3 giá thị trường, gọi là hàng “quân tiếp vụ”. “Quân tiếp vụ” là một hệ thống tổ chức trong quân đội, chuyên lo phân phối các nhu yếu phẩm cho binh lính và gia đình binh lính. Hàng “quân tiếp vụ” do Bộ Quốc phòng ngụy mua bằng ngân sách riêng, mà ngân sách này cũng nhờ viện trợ Mỹ mà có. Đây là một “món lời” thực sự của quân ngụy và gia đình ngụy, mà viện trợ Mỹ đem lại, như một trong những thủ đoạn vật chất để mộ lính đánh thuê và ràng buộc họ. Đã là lính đánh thuê, thì không dại gì mà chịu gian khổ, thiếu thốn. Nếu đói, nếu thiếu ăn, thiếu hút, thiếu đồ dùng, thì đào ngũ, binh biến, lãn công… Mỹ đã ngăn chặn nguy cơ đó bằng những hàng rào hàng hóa đầy ắp. Binh lính mua để dùng một phần, còn đem bán lại phần lớn để kiếm lời. Chiến tranh càng ác liệt, yêu cầu động viên càng lớn, mức tan rã càng cao, thì hàng “quân tiếp vụ” càng phải nhiều hơn, bán càng rộng rãi hơn. Đến năm 1972 Mỹ-ngụy mở rất rộng diện cấp thẻ mua hàng “quân tiếp vụ”. Số thẻ cấp thêm như sau: 250.000 thẻ cho cựu binh, 108.540 thẻ cho phế binh, 734.736 thẻ cho cô nhi, 184.930 thẻ cho vợ góa của lính, tổng cộng là: 1.278.000 (Tài liệu của Cục Địch vận, Bộ Quốc phòng). Nếu cộng với số thẻ mua hàng của hơn 1 triệulính tại ngũ, thì có tất cả hơn 2 triệu cuốn sổ mua hàng “quân tiếp vụ”. Ngày xưa, các vua chúa trả công cho quan lại và tướng sĩ bằng ruộng đất. Với ruộng đất đó, họ thu tô hay canh tác để sống. Các tấm thẻ mua hàng kia cũng gần giống những mảnh “lộc điền”, cũng là một thứ bổng lộc. Rút cuộc, 2 triệu tấm thẻ mua hàng này đã tạo ra một nguồn sống bổ sung cho vài triệu con người phi sản xuất, đồng thời, cũng tạo ra cho thị trường miền Nam hơn 2 triệu người cung cấp hàng hóa.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2017, 08:40:32 PM
         
        II. VIỆN TRỢ THƯƠNG MẠI HÓA
         
        Loại viện trợ này thường được gọi là “chương trình nhập cảng thương mại” (CIP-Commercial Import Program) hoặc “viện trợ hỗ trợ quốc phòng” (DS-Defense Support).
         
        Đây là khoản quan trọng nhất trong các khoản viện trợ kinh tế. Số lượng hàng năm của khoản viện trợ này hầu như bao giờ cũng lớn hơn các khoản viện trợ kinh tế khác.
         
        Khoản viện trợ này còn có một đặc điểm: Nó tương đối ổn định, ít lên xuống thất thường như các khoản viện trợ khác.
         
        Với các đặc điểm trên, viện trợ thương mại hóa chính là cái phễu lớn nhất, trút đều đặn nhất phần lớn hàng hóa vào miền Nam Việt Nam (chỉ có hai năm ít nhất vào khoảng một trăm triệu đô la, còn phần lớn các năm đều trên hai trăm triệu đô la, có năm lên tới gần 400 triệu đô la).
         
        Tại sao lại gọi viện trợ là “viện trợ thương mại hóa”, hay “chươngtrình nhập cảng thương mại”, “hỗ trợ quốc phòng”?
         
        Xét cơ chế của nó sẽ hiểu ra.
         
        Nếu trình bày vắn tắt, thì cơ chế của nó như sau:
         
        Hàng năm, Chính phủ Mỹ định trước một số tiền, tính bằng đô la, dành cho các khoản viện trợ này. Mỹ không cấp thẳng số đô la đó cho chính quyền ngụy, mà chỉ thông báo cho ngụy biết là được viện trợ số tiền kể trên để nhập cảng các thứ hàng hóa “cần thiết”. Căn cứ vào số tiền kể trên được thông báo đó, chính quyền ngụy thông báo lại cho các nhà nhập cảng, để lập chương trình nhập cảng.
         
        Các nhà nhập cảng (cá nhân hoặc công ty) căn cứ vào tình hình thị trường, lời lãi, và cũng căn cứ vào những khả năng chạy chọt với các cơ quan có thẩm quyền, làm đơn xin phép nhập cảng. Trong đơn phải nói rõ nhập những mặt hàng gì, bao nhiêu, của nước nào, chở bằng tàu nước nào, đổ hàng tại đâu, bán ở đâu, giá bán và thời hạn tiêu thụ hết…
             
        Nơi xét duyệt nhập cảng các đơn này không phải là Chính phủ ngụy, mà là phái bộ viện trợ Mỹ (USAID). Căn cứ trên những sự tính toán lợi và hại theo quan điểm của Mỹ, cơ quan này hoặc bác bỏ, hoặc chấp nhận, hoặc sửa đổi, hoặc thêm bớt một số điểm cụ thể trong các đơn, rồi cấp những giấy phép nhập cảng.
         
        Người được cấp giấy phép nhập cảng đến nộp tiền cho ủy ban nhập cảng, thuộc Ngân hàng quốc gia. Tiền nộp vào là tiền Sài Gòn, tính tổng số đô la phí tổn nhập cảng đã quy định trong mỗi giấy phép nhập cảng (giá hàng nhập + chi phí vận tải). Tỷ giá hối đoái trong viện trợ thương mại hóa là tỷ giá do Mỹ quy định, thường thấp bằng ½ hoặc 2/3tỷ giá hối đoái thực tế trên thị trường.
         
        Chỉ đến lúc này Chính phủ Mỹ mới dùng đến những đồng đô la trong ngân khoản viện trợ để trả thẳng cho những người bán hàng và những người chuyên chở, theo số tiền đã quy định, cho những công ty haynhững nước đã định trong các giấy phép nhập cảng.
         
        Hàng lên đường tới Việt Nam, để tại nơi đã định. Các nhà nhập cảng tới nhận hàng dưới sự kiểm soát của nhân viên phái bộ viện trợ Mỹ. Khi số lượng các mặt hàng đúng như trong giấy phép thì nhà nhập cảng nộp thuế nhập cảng, đưa hàng về, bán ra thị trường.
         
        Tất cả số bạc Sài Gòn mà các nhà nhập cảng đã nộp tại ủy ban nhập cảng để trả cho hàng nhập được bỏ vào một quỹ đặc biệt, gọi là quỹ đổi giá (Counter part Fund). Quỹ này chính là một cái đài nước của ngân sách ngụy quyền (Nguồn thu của quỹ này, ngoài khoản trên còn có tiền bán hàng viện trợ nông phẩm thừa (sẽ nói ở mục sau). Phần chi của quỹ này, ngoài số lớn nhất bỏ vào ngân sách, còn có một khoản trích ra cho các cơ quan viện trợ Mỹ và đại sứ Mỹ chi dùng).
         
        Quỹ đổi giá do phái bộ viện trợ Mỹ quản lý và cấp cho ngân sách ngụy theo từng quý, chủ yếu để đài thọ phần trả lương binh sĩ ngụy trong ngấn sách quốc phòng.
         
        Như vậy, đã có thể hiểu vì sao gọi loại viện trợ này là “thương mại hóa”, là “chương trình nhập cảng thương mại”, là “hỗ trợc quốc phòng”.
         
        Bây giờ, ta xem xét, vì sao khoản viện trợ này không thể thực hiện theo một cách nào khác hơn, mà bắt buộc phải thực hiện theo một cơ chế rắc rối và có nhiều khâu như vậy? Tại sao Mỹ không cấp thẳng đô la cho ngụy, hoặc cấp thẳng hàng hóa cho ngụy? Tại sao lại đặt ra tỷ giá hối đoái quá thấp như vậy? Tại sao phải lập ra cái gọi là quỹ đổi giá cùng những quy chế sử dụng phức tạp đối với quỹ đó?


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2017, 06:47:17 PM
         
        Như đã nói, cái tất yếu khách quan đối với Mỹ là phải viện trợ, để nuôi sống chính quyền bản địa và để chính quyền này nuôi sống những công cụ của nó, chủ yếu là quân đội. Đó là cái giá Mỹ phải trả. Khó khăn càng lớn, chính quyền tay sai càng thiếu sức sống, nhiệm vụ mà Mỹ bắt nó đảm đương càng lớn, thì phải trả giá càng cao.
         
        Vấn đề chỉ còn là trả giá theo cách nào để có lợi nhất, xét về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế và tinh thần.
         
        Mỹ có thể trả giá bằng cách trực tiếp trả lương cho ngụy quân, ngụy quyền và chi các khoản đó cho bộ máy này được không? Như thế chẳng đơn giản hay sao? Đó chính là biện phá mà Pháp trước đây đã làm. Sự đơn giản về hình thức lại kèm theo nhiều sự phức tạp hơn nhiều về tổ chức và quản lý. Hơn nữa, như thế thì không còn cái danh nghĩa chính quyền bản xứ “độc lập”. Để cho chính quyền này “tự quản” lấy bộ máy của nó, Mỹ chỉ có thể bơm tiền cho bộ máy này và giám sát sự hoạt động của nó. Đó chính là cách làm “hợp tình” hơn.
         
        Nhưng bơm tiền bằng cách nào?
         
        Mỹ có thể trao thẳng đô la cho ngụy không? Theo phương thức này thì ngụy sẽ lấy số tiền đô la đó mua hàng hóa, bán lấy tiền, và làm cơ sở để phát hành tiền, bỏ vào ngân sách. Làm như vậy thì Mỹ mất đô la thực sự. Đồng đô la viện trợ chạy qua tay ngụy quyền ra các nước ngoài, nạn “chảy máu vàng” thêm nghiêm trọng. Hơn nữa, thị trường tiêu thụ ở miền Nam, cái mà Mỹ phải đổ của cải và máu để chiếm lấy, lại không còn là nơi độc chiếm của hàng hóa Mỹ nữa. Không thể mất không đô la cho ngụy để ngụy bán thị trường cho các đối thủ của Mỹ.
         
        Cái cơ chế viện trợ thương mại hóa giúp Mỹ gỡ được thế bí này.
         
        Như vậy thì Mỹ vẫn thực hiện được cái mục đích viện là trợ cấp cho ngụy quyền. Nhưng đô la Mỹ không lọt ra khỏi nước Mỹ. Hàng hóa của các công ty Mỹ có thêm một cơ hội để tiêu thụ. Theo con đường viện trợ, nó lọt thẳng vào thị trường miền Nam một cách trơn tru, dễ dàng, không bị hàng rào thuế quan ngăn cản, có thể tính giá rất cao mà không bị hàng hóa các nước khác cạnh tranh… Nói chung, hàng của Mỹ đưa vào miền Nam thường đắt gấp rưỡi hoặc gấp đôi (tùy loại) hàng của các nước khác. Tàu Mỹ tính cước đắt gấp từ 2 đến 4 lần. Rút cuộc, trong thực tế, cứ một trăm đô la viện trợ, thì Mỹ đã dùng cái kéo giá độc quyền để cắt lại vài chục đô la. Nếu ngụy không chịu mua hàng Mỹ và thuê tàu Mỹ chở, thì phái bộ viện trợ Mỹ không duyệt!
         
        Trả giá cho sự xâm lược tất nhiên phải tốn kém. Nhưng phải tìm cách trả giá nào ít tốn kém nhất, có lợi nhất - đó là vấn đề cơ bản đặt ra cho viện trợ Mỹ, mà viện trợ thương mại hóa là một giải pháp.
         
        Sau chuyện mua hàng, là chuyện tỷ giá hối đoái. Như đã nói, tỷ giá hối đoái trong viện trợ thương mại hóa thường chỉ thấp bằng ½ hay 2/3 tỷ giá tự do. Tại sao như vậy? Đây là một ân huệ chăng? Mỹ bị thiệt thòi chăng? Ai được lợi trong việc này?
         
        Trước hết, xét về phía Mỹ. Có không ít người đã hiểu lầm rằng hối suất thấp là một sự chiếu cố của Mỹ đối với ngụy quyền. Thực ra, hốisuất thấp ở đây không thiệt hại gì cho Mỹ cả. Mỹ không đổi đô la lấy bạc Sài Gòn. Mỹ cũng không bán hàng cho ngụy bằng bạc Sài Gòn. Số lượng viện trợ hàng năm do Mỹ định trước, và tính bằng đô la. Số đô la đó được dùng để mua hàng cho Nam Việt Nam, giá hàng tính bằng đô la. Hối suất cao hay thấp thì Mỹ cùng chỉ mất bấy nhiêu đô la và mua (cũng là bán) được bấy nhiêu hàng hóa.
         
        Vậy, hối suất trong trường hợp này chỉ là việc nội bộ của Nam Việt Nam. Nói đúng hơn, nó chỉ liên quan đến ngân sách ngụy quyền và nhà nhập cảng. Ta lấy một ví dụ cụ thể: Năm 1967, hối suất quy định lúc đó là 1 đô la ăn 80,8 đồng bạc Sài Gòn. Hối suất tự do lúc đó là 1 đô la ăn164 đồng bạc Sài Gòn. Vậy, cứ mỗi đô la hàng viện trợ, các nhà nhập cảng chỉ nộp cho Nhà nước ngụy 80,8 đồng bạc Sài Gòn. Nếu họ đổi chợ đen để mua 1 đô la hàng hóa đó, họ phải bỏ ra một số tiền gấp đôi:164 đồng. Vậy, ở đây, coi như các nhà nhập cảng được mua hàng ngoại hóa với giá rẻ bằng nửa giá thực tế trên thị trường quốc tế. Đó là cái ân huệ mà hối suất thấp đem lại cho họ. Nhưng đó chỉ là khâu đầu thôi.Còn bao nhiêu khâu tiếp theo nữa.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2017, 06:47:47 PM
         
        Số tiền mà các nhà nhập cảng bớt ra được tại ủy ban nhập cảng, nhờ hối suất thấp, thì họ lại phải nộp tại Nha quan thuế khi nhận hàng hóa về bán. Số nộp đó bằng, hoặc gần bằng, hoặc hơn cả số lợi mà họ đã có nhờ hối suất thấp. Nha quan thuế chẳng qua cũng là một cái cửa khác của ngân sách. Số tiền thu của nó, cũng giống như tiền trong két của ủy ban nhập cảng, đều chảy về ngân sách. Như vậy, cái mà chính quyền nhả ra cho các nhà nhập cảng ở cái ghi-sê của ủy ban nhập cảng,thì nó lại ngồi sau cái ghi-sê của Nha quan thuế để lấy lại.
         
        Rút cuộc, việc hạ thấp hối suất chỉ là trò “đánh bùn sang ao”.
         
        Nhưng vì sao lại phải bày ra cái chuyện phiền toái đó? Đằng nào thì cũng thu cả về cho ngân sách, sao không định giá nhập theo hối suất thực tế, để thu một lần cho gọn?
         
        Ta sẽ hiểu lý do của cái trò phiền toái này, nếu lưu ý đến hai yếu tố sau đây:
         
        - Thuế đánh trên hàng nhập cảng có rất nhiều mức khác nhau.
         
        - Số tiền mà ủy ban nhập cảng thu theo chương trình nhập cảng thương mại được coi là tiền ngoại viện, còn tiền thu thuế đánh trên hàng nhập cảng thì được coi là “tài nguyên quốc gia”.
         
        Hạ thấp hối suất có hai điều lợi:
         
        Thứ nhất, có thể thông qua các sắc thuế mà vận dụng mềm dẻo và linh hoạt các chính sách phân biệt đối xử đối với mỗi loại hàng nhập cảng, đối với mỗi quốc gia bán hàng cũng như đối với mỗi nhà nhập cảng.
         
        Ta biết, hối suất là một tỷ lệ thống nhất (ít ra là trong khuôn khổ viện trợ thương mại hóa). Do tính cứng nhắc đó, nó không thể dùng làm công cụ để thực hiện chính sách nâng đỡ, khuyến khích hay hạn chế đối với mỗi loại hàng nhập cảng và mỗi nhà nhập cảng.
         
        Nếu nâng hối suất lên ngang hối suất thực tế thì ngân sách sẽ thu về đầy đủ tổng giá trị hàng viện trợ. Nhưng như vậy thì nhà nhập cảng nào cũng phải nộp đủ số tiền hàng nhập cho ngân sách và loại hàng nào cũng có giá nhập cảng ngang giá trên thị trường quốc tế.
                   
        Cũng không thể thực hiện phân biệt đối xử bằng cách áp dụng quá nhiều hối suất khác nhau. Việc đó sẽ vô cùng khó khăn, phức tạp và nạn buôn bạc sẽ làm cho sự phân biệt đối xử mất hết tác dụng. Vả lại, thực khó mà kiểm soát được xem kẻ được hưởng hối suất thấp có nhập đúng loại hàng “đáng khuyến khích”, hay hắn lại đánh tráo ngân khoản đó cho kẻ khác. Bằng đút lót và giả mạo giấy tờ, hắn cũng có thể dùng ngân khoản đó để nhập thứ hàng mà hắn thấy có lợi cho hắn nhiều hơn…
         
        Các chuyên gia kinh tế Mỹ đã bàn tính nhiều về vấn đề này. Họ thấy cách tốt nhất là hạ thấp hối suất xuống rồi thu hồi bằng một hệ thống thuế nhập khẩu, là cái có thể vận dụng cơ động hơn rất nhiều.
         
        Thuế nhập càng được chia ra thành ba loại khác nhau, như ba tấm lưới hớt lấy phần giá trị còn lại của hàng viện trợ: Thuế quan, thuế kiệm ước, thuế phân suất quân bình. Mỗi loại thuế này chia ra nhiều mức, chênh lệch rất lớn. Thuế quan từ 15% đến 210% giá nhập (giáhối suất chính thức). Thuế kiệm ước đánh vào 1.500 mặt hàng nhập - bịliệt vào loại xa xỉ - từ 80% đến 500% giá nhập. Thuế phân suất quân bình đánh vào hàng hóa nhập của nước nào hay công ty ngoại quốc nào bán rẻ hơn giá “bình thường” (so với giá hàng của Mỹ), cứ mỗi đô la hàng nhập phải nộp thêm từ 5 đến 210 đồng bạc Sài Gòn. Ngoài cácloại thuế đánh thẳng vào hành nhập cảng, còn có các loại thuế sản xuất, thuế nội địa… Về căn bản, những thứ thuế này cũng là những cái lưới chặn ở các chặng đường tiếp theo, nhằm cắt xén thêm một phần nữa giá bán hàng nhập cảng (đánh vào những nhà sản xuất sử dụng nguyên, nhiên liệu và máy móc nhập cảng, đánh vào những hàng “nội hóa” sản xuất bằng nguyên liệu nhập cảng).
         
        Rút cuộc, bằng hệ thống chằng chịt các loại thuế, chính quyền bản địa đã thu hồi được giá bán hàng viện trợ, không những bằng mà nhiều khi còn lớn hơn so với giá mua tính theo hối suất thực tế.
         
        Điều quan trọng hơn nữa là: màng lưới thuế rất cơ động và uyển chuyển đó đã trở thành một hệ thống các đòn seo để điều chỉnh cơ cấu nhập cảng, điều chỉnh giá cả thị trường, làm sao có lợi nhất cho việc thi hành các chính sách kinh tế, chính trị và xã hội. Có hàng trăm mức thuế khác nhau, thì cũng có hàng trăm sự phân biệt đối xử khác nhau.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2017, 06:48:13 PM
         
        Nhìn vào các biểu thuế, các con số đã nói lên thái độ đối với các loại hàng nhập cảng, các nước bán hàng và các nhà nhập cảng, trên cơ sở mấy nguyên tắc cơ bản sau đây:
         
        - Ưu tiên nhập hàng tiêu dùng để người dân có thể mua về dùng ngay, không cần qua các khâu sản xuất, chế biến. Như thế không bị đọng vốn, ngân sách có tiền ngay để chi tiêu.
         
        - Mở rộng các cửa hàng tiêu dùng xa xỉ để có thể bán đắt và lại mau chóng tạo ra một nếp sống trưởng giả trong một vài giai tầng xã hội.Chính sách này kết hợp với chính sách trả lương đã tạo ra một cơ sở xã hội cho chính quyền.
         
        - Thông qua thuế mà điều chỉnh giá hàng. Nhờ hối suất thấp nên có một cái “lề an toàn” rất rộng để có thể vẫn đảm bảo doanh lợi cho nhà nhập cảng, mà nếu cần, vẫn có thể hạ rất thấp giá bán nội địa, có khi chỉ bằng 2/3 hoặc ½ giá thị trường quốc tế. Chẳng hạn: Bột ngô bán rẻ, nhằm tạo điều kiện cho những nông dân đã bị dồn làng có thể bỏ nghề trồng trọt để sống bằng nghề chăn nuôi trong các “khu trù mật”. Nâng giá bán máy thu thanh bán dẫn là thứ có thể lọt ra vùng “Việt Cộng”. Hạ thấp giá bán các loại máy vô tuyến truyền hình, là cái chỉ tiếp xúc với bộ máy tuyên truyền của chính phủ được thôi…
         
        - Nâng đỡ và bảo vệ những ngành, những công ty, những thế lực và những nhà kinh doanh có ích cho Mỹ ngụy, chèn ép những thế lực đối địch. Cũng là săm lốp, nhưng săm lốp Michelin thì đánh thuế cao hơn săm lốp Nito, để cho những ai đã chót mua xe Pháp sớm cảm thấy thiệt thòi và mọi người dùng xe tự rút lấy bài học thiết thực. Có khi cùng một loại hàng như nhau, nhưng nhà nhập cảng nào, công ty nào ăn cánh, sẽ chạy chọt được hưởng suất thuế thấp, và trái lại. Có không ít nhà nhập cảng đã được miễn thuế hoặc giảm thuế dưới danh nghĩa phục vụ kế hoạch an cư, giúp dân “tị nạn chiến cuộc”, xây cất các cơ sở tiếp nhận quân đội “đồng minh”…
         
        - Bảo vệ cho hàng Mỹ, dù bán giá cao hơn nhiều so với hàng các nước khác, vẫn chiếm địa vị độc tôn trên thị trường miền Nam (đặc biệt là đối với những loại hàng mà Mỹ đang thừa và đang cần tiêu thụ gấp).Ta biết, có nhiều nước bán hàng rẻ hơn hàng Mỹ. Tất nhiên, các nhà nhập cảng muốn nhập cảng hàng của các nước đó để kiếm được nhiều lời hơn. Nhưng thuế phân suất bình quân đã tước mất của họ số chênh lệch này. Đó là cách mềm dẻo và cũng chắc chắn để làm cho họ trung thành với hàng hóa Mỹ và làm cho những lời chào hàng của các địch thủ của Mỹ giảm hiệu quả.
         
        - Sau khi đã giành ưu thế cho hàng Mỹ, đối với hàng của các nước khác, cũng thực hiện một sự phân biệt đối xử. Những nước có quan hệ tốt với Mỹ, hoặc Mỹ đang muốn mua chuộc, hoặc đã chịu nhận những điều kiện kinh tế hay chính trị của Mỹ, thì Mỹ có thể “trả công” bằng cách cho bán một số hàng nhiều hoặc ít vào thị trường miền Nam, và được hưởng một thuế suất tương đối thấp. Nhật là một ví dụ. Để trả giá cho việc chiếm đóng Okinawa, cho việc tư bản Mỹ đầu tư vào các công ty Nhật (thời đó)…, Mỹ cho Nhật bán khá nhiều hàng vào Nam Việt Nam và hưởng thuế suất tương đối thấp. Do đó, trên thị trường miềnNam hàng Nhật khá nhiều và tương đối rẻ, nhất là dụng cụ quang học, các loại đồ điện, đồ bán dẫn, xe máy… là những thứ mà Mỹ không có nhu cầu xuất cảng bức bách như đối với bông, bột mỳ, sữa, máy móc…Những nước chư hầu của Mỹ, nhất là những nước gửi quân tham chiến ở miền Nam, cũng được hưởng một sự ưu đãi nhất định… Chẳng hạn, Đài Loan được bán sợi cho Nam Việt Nam theo chương trình viện trợ thương mại, thuế nhập cảng tương đối thấp, vì Đài Loan đã nhập bông của Mỹ để kéo ra sợi đó.
         
        Thực ra, những ý đồ, nhưng thủ thuật, những phép tắc trong hệ thống thuế của Mỹ ngụy còn phức tạp, đa dạng và tinh vi hơn nhiều so với những điều đã trình bày ở trên. Nhưng qua những điều đã nêu ra đó, ít nhất cũng thấy được rằng ở đây những đòn seo của chế độ thu tỏ ra cơ động hơn nhiều so với đòn seo hối đoái. Trước ủy ban nhập cảng, mọi nhà nhập cảng đều bình đẳng, hay nói đúng hơn, những đồng tiền trong túi họ đều bình đẳng. Trước các cơ sở thuế thì chúng bị phân hóa theo vô số thứ bậc khác nhau. Trên cái mảnh đất chung của giá hàng viện trợ, là cái trước sau cũng đi vào ngân sách, ủy ban nhập cảng đã thu hẹp hẳn địa bàn của nó lại, để chừa thật rộng đất cho bộ máy thuế khóa vận dụng những đòn seo của nó nhằm đạt được những hiệu quả cao hơn và đa dạng hơn.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Năm, 2017, 07:02:26 AM
        
        Thứ hai, việc hạ thấp hối suất còn có một ý nghĩa nữa về mặt chính trị và tinh thần: Nó che giấu bớt sự lệ thuộc hoàn toàn của chế độ bản địa vào viện trợ Mỹ. Như đã nói, về nguyên tắc, số tiền mà các nhà nhập cảng nộp tại ủy ban nhập cảng theo chương trình nhập cảng thương mại hóa được coi là tiền ngoại viện. Còn tiền thu thuế đánh vào hàng nhập cảng thì được coi là “tài nguyên quốc gia”, với lý do nó là loại thu nhập nhờ “chủ quyền quốc gia” mà có được. Như vậy hối suất càng thấp thì càng hạ thấp một cách giả tạo phần gọi là “ngoại viện”, và càng thổi phồng một cách giả tạo phần gọi là “tự lực” trong ngân sách.
        
        Ở trên có nói rằng quỹ đối giá chính là một cái đài bơm tiền đều đặn cho ngân sách ngụy. Nhưng xem trên các biểu thống kê của ngụy, ta thấy quỹ này chỉ chiếm 1/3 tổng số thu của ngân sách thôi, mặc dầu trên thực tế khoảng ¾ ngân sách là dựa vào ngoại viện (thuế và lạm phát-cả hai thứ này đều lấy hàng viện trợ làm chỗ dựa). Vậy, để nói cho đúng hơn, chính viện trợ Mỹ là cái đài nước bơm tiền cho ngân sách, mà quỹ đối giá chỉ là phần xuất hiện ra của cái đài nước đó. Còn một phần lớn không kém thì đã bị che khuất dưới danh nghĩa “tàinguyên quốc gia”.
        
        Sau vấn đề hối suất, cũng nên nói qua một chút về địa vị của hàng hóa Mỹ trong viện trợ Mỹ. Điều này, nhìn trên bộ mặt thị trường miền Nam, nhiều khi người ta không nhìn thấy. Cái đập vào mắt ta nhiều nhất là những nhãn hiệu Sony, Sanyo, National, Honda, Seiko, Hitachi…Thực ra, hàng Mỹ vẫn chiếm phần tuyệt đối lớn trong tổng số hàng nhập vào miền Nam. Dưới đây là con số cụ thể một số năm (triệu đồng Sài Gòn).
        
Năm     Mỹ          Nhật          Đài Loan          Pháp          Ý          Tây Đức
19633.7469661.3111.099225250
19644.4201.1241.340637296293
19655.6671.4511.646420251284
196611.6814.3204.0899361.207732
196713.93611.8966.4391.4261.8461.233
196810.89011.1863.6701.6251.195932
196920.66613.4854.2032.7161.8881.462
197020.5497.0483.4282.7727761.057
197128.41212.5006.6675.3941.7133.873
197296.00045.54117.08316.1774.1694.258
1973128.57739.48314.31822.6764.5315.107
       
        Như vậy là chỉ có năm 1968, vào thời kỳ “chiến tranh cục bộ”, hàng Mỹ nhập ít hơn hàng Nhật. Còn trong tất cả các năm, hàng Mỹ vẫn chiếm phần tuyệt đối lớn. Nhưng phần lớn nhất của hàng Mỹ lại là những thứ khó phân biệt nguồn gốc, và ta ít thấy nhãn hiệu Mỹ khi tiêu dùng: Bông, bột ngô, bột mỳ, bột sữa, dầu thảo mộc, hóa chất các loại, chất dẻo, sắt thép và gang, thuốc lá sợi, động cơ các loại… chiếm khoảng 16 tỷ đồng. Nhưng số hàng hóa khổng lồ này lại lẩn vào trong các hộp sữa “Ông Thọ” và “Foremost”, trong bánh kẹo và mì gói của các xưởng thực phẩm Chợ Lớn, trong các bao thức ăn gia súc ở Lái Thiêu…Thuốc lá sợi chiếm 8 tỷ, tức gần 1/10 tổng số hàng nhập từ Mỹ, bằng tổng số hàng nhập từ Ý và Tây Đức cùng năm. Nhưng số hàng này lại nằm trong các bao thuốc của hãng thuốc lá MIC và Básto. Gang, sắt,thép chiếm độ 13 tỷ. Bông và sợi nhân tạo chiếm khoảng 7 tỷ. Sản phẩm dầu lửa, gồm xăng, dầu, các chất dẻo và một số loại hóa chất, chiếm khoảng 20 tỷ, tức là bằng nửa tổng số hàng Nhật cùng năm. Nhưng ngoài mấy chữ Shell, Caltex, Esso trên các trạm xăng, người ta dường như chẳng thấy cái gì là “Mỹ” cả. Nó cũng lẩn gần hết vào các hàng gọi là “nội hóa” rồi. Hàng Mỹ đã lan tràn khắp thị trường một cách thầm kín và thấm vào hầu hết tất cả mọi thứ của cải của xã hội miền Nam. Cũng chính nó đã gây ra nhiều sự đảo lộn nhất. Nó đã bóp chết hẳn nghề trồng bông và trồng dâu nuôi tằm, đã bóp gần chết nghề làm đường mía, nghề đan lát và nhiều nghề thủ công khác. Nó đẻ ra một loạt nhà máy chế biến với hàng loạt tư sản. Nó đã tạo ra những sạp hàng đầy ắp ở các phố và chợ… Nhưng người ta dường như không thấy nó, hay chỉ thấy lác đác thôi. Lính Mỹ trong các đội quân bình định đã mặc quần áo bà ba đen, đội nón lá, hát bài chòi và cải lương, để xâm nhập nông thôn như thế nào, thì hàng hóa Mỹ sau khi chui qua cửa khẩu, đã thay hình đổi dạng như thế ấy để xuất hiện trên thị trường.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Sáu, 2017, 09:55:08 PM
         
        Tuy nhiên, đối với một số mặt hàng viện trợ “nhân đạo” và “hữu nghị”, như những bao bột mỳ cứu trợ, thuốc men và dụng cụ y tế, đồ dùng cho học sinh, những phương tiện phục vụ công ích như xe rác, các bình thuốc xịt muỗi… thì thường thấy dán một chiếc huy hiệu in cờ Mỹ, có hai bàn tay hữu nghị Mỹ-Việt xiết chặt.
         
        Hàng của các nước mà Mỹ cho phép nhập vào miền Nam thì khác. Ta lấy Nhật làm ví dụ. Năm 1972 là năm hàng Nhật chiếm tới 45 tỷ đồng, sau Mỹ. Phần lớn nhất của số hàng này là những thành phẩm, mà là những thứ mà khi bán hay khi dùng, cái tên hiệu của nó trưng ra trước toàn xã hội. Trong 45 tỷ đô la đó, đứng hàng đầu là hàng dệt bằng sợi nhân tạo, gồm vải, lụa, tissu, và hàng dệt kim (13 tỷ). Thứ hai là các máy móc nhỏ như máy đuôi tôm, máy bơm, máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, quạt điện, máy giặt… chiếm khoảng gần 5 tỷ. Thứ ba là máy vô tuyến truyền hình - 2,5 tỷ. Thứ tư là các loại máy, dụng cụ về âm thanh - 1,1 tỷ. Riêng khoản đồng hồ đã chiếm tới ½ tỷ, gần bằng tổng số hàng nhập của Pháp năm 1965 (Niêm giám thống kê Việt Nam, 1972, Sài Gòn, t.167-169. Trong các năm 1968-1969, thì mục đứng hàng đầu của hàng Nhật là xe máy các loại).
         
        Vậy là đã có một số hàng hóa của một số nước đi theo viện trợ Mỹ để vào thị trường miền Nam.
         
        Việc đó thực hiện như thế nào?
         
        Ta xét đến chế độ thanh toán đa phương. Đó là một phương pháp để đưa hàng hóa của một số nước vào miền Nam Việt Nam trong khuôn khổ viện trợ thương mại hóa, mà vẫn không vi phạm những nguyên tắc của hình thức viện trợ này.
         
        Chế độ này thường được áp dụng trong những trường hợp như sau:
         
        - Đối với những hàng hóa mà Nam Việt Nam cần, nhưng Mỹ không có, hoặc chưa có, hoặc có nhưng không cần bán, thì Mỹ cho phép nhập hàng của một nước thứ ba, do Mỹ chỉ định. Trong trường hợp này phổ biến nhất trong thời kỳ chiến tranh cục bộ, lúc Mỹ phải dồn quá nhiều của cải chu cấp cho quân đội viễn chinh, đành chia một phần thị trường cho các nước khác.
         
        - Đối với những nước mà Mỹ muốn trả công, hoặc muốn mua chuộc,thì Mỹ dành cho một thị trường “tương ứng”.
         
        - Đối với những nước mắc nợ Mỹ hoặc muốn mua hàng Mỹ, nhưng không có ngoại tệ để trả, mà chỉ có hàng hóa thôi, nhưng Mỹ lại không cần thứ hàng đó, thì Mỹ cho đổ thứ hàng đó vào miền Nam Việt Nam để trừ nợ.
         
        Phần lớn những nước bán nhiều hàng sang Nam Việt Nam như Nhật, Đài Loan, Nam Triều Tiên, Pháp, Ý, Tây Đức thì thuộc cả ba trường hợp trên.
         
        Ta có thể nêu vài ví dụ.
         
        Đối với Nhật ngoài vấn đề Okinawa và những lý do chính trị khác,Mỹ còn tính đến mở một lối thoát cho tư bản Nhật sang thị trường Nam Việt Nam để ngăn chặn nó ở các thị trường lớn hơn tại châu Á và thế giới, tính đến việc cải thiện sự thiếu hụt trong cán cân thương mại. Cho hàng Nhật chấp nhận những sự nhượng bộ khác và giảm bớt sự thiếu hụt trong cán cân thanh toán của Mỹ với Nhật, để Nhật có thể nhập của Mỹ nhiều hàng hóa hơn.
         
        Đối với Pháp thì “mối tình” đó ngắn ngủi hơn và cũng không có gì đằm thắm. Từ năm 1955 đến năm 1958, Mỹ đã bán cho Pháp khá nhiều lúa mỳ, nhân lúc Pháp gặp khó khăn về lương thực cùng những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh Đông Dương. Muốn Pháp mua nổi gần 2 triệu tấn lúa mì, Mỹ không bắt Pháp trả bằng đô la. Giá hàng được tính ra đồng Franc, và Mỹ đã gán số Franc này vào khoản viện trợ cho Ngô Đình Diệm. Diệm đã nhận được viện trợ Mỹ theo đồng Franc, bằng hàng Pháp. Những chiếc xe Citroen 15, Puogeot 403, 404, xe Mobylette AV85 mà hiện nay còn chạy lác đác ở miền Nam chính là di sản của thời kỳ gọi là “đồng quan tam giác” đó (Nhưng chẳng được bao lâu thì những mâu thuẫn với chính phủ De Gaulle làm cho mối quan hệ này suy giảm. Hàng Pháp vào miền Nam ngày một ít, đến nỗi người Sài Gòn không còn có được ý niệm đầy đủ thức thời về hàng hóa Pháp nữa).
         
        Trong những năm 60 do có nhiều mâu thuẫn với Pháp, Mỹ đã thựchiện quan hệ này với một số nước Tây Âu khác: Tây Đức, Ý… Trong việc này, ngoài những lý do đã kể trên, Mỹ cũng muốn giải quyết một số vấn đề trong quan hệ với khối thị trường chung.
         
        Đối với những nước như Đài Loan, Nam Triều Tiên, Thái Lan… là những nước mà những năm này cũng còn nghèo nàn về kinh tế và lạc hậu về kỹ thuật, Mỹ cũng cho xuất một lượng hàng hóa đáng kể sang Nam Việt Nam, để khuyến khích việc tham chiến và ràng buộc họ với Mỹ. Khi để các nước này bán hàng cho Nam Việt Nam, Mỹ cũng không trả cho họ đô la, mà buộc họ phải mua hàng Mỹ để trừ nợ, chủ yếu là nông phẩm và các sản phẩm dầu lửa.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Sáu, 2017, 05:01:01 AM
         
        Việc nhập cảng hàng hóa của tất cả các nước không phải Mỹ vào Nam Việt Nam, theo chế độ thanh toán đa phương, đều dựa trên hai nguyên tắc:
         
        - Nằm trong khuôn khổ viện trợ thương mại hóa, tức là trừ vào số hàng viện trợ này.
         
        - Mỹ cũng không thanh toán bằng đô la cho nước bán hàng, mà thanh toán bằng cách trừ nợ hoặc xuất hàng của Mỹ sang các nước đó.

        Đó cũng là một nét đặc trưng nữa của viện trợ Mỹ. Như ta thấy, phải là một cường đế quốc, đóng vai trò thống trị trong thế giới tư bản mới có thể sử dụng được thủ đoạn đó.
         
        Rút cuộc, người tiêu dùng trên thị trường miền Nam và những nhà nhập cảng đã bị cái cơ chế này làm tê liệt tính năng động và ý thức tự chủ. Họ đã trở thành thụ động. Hàng của một nước nào đó đột nhiên biến mất. Hàng của một nước khác đột nhiên xuất hiện. Phần lớn trường hợp đều chẳng liên quan gì đến chuyện tốt hay xấu, rẻ hay đắt, hợp nhu cầu hay không hợp nhu cầu, thậm chí, cũng chẳng tùy thuộc ở quan hệ giữa nước bán hàng đó với người Việt Nam và nền kinh tế ViệtNam. Tất cả đều được tính toán ở tận đâu đó, vì những nhân tố rất xa lạ ở đâu dó. Có khi là do việc De Gaulle rút quân khỏi khối NATO mà xe Peugeot phải nhường chỗ cho xe Honda và giá bia BIG tăng lên. Có khi vì Canada đã giành mất của Mỹ một khách hàng mua lúa mỳ mà những người nuôi lợn mua được thức ăn gia súc nhiều hơn và rẻ hơn. Có khi vì Đài Loan ký một hiệp ước mua gang thép của Mỹ chứ không phải của Nhật, nên các cửa hàng đồ điện ở miền Nam bán nhiều đồ điện Đài Loan hơn đồ điện Nhật, mặc dầu nó xấu hơn mà giá thì chẳng rẻ hơn, nhờ thuế phân suất bình quân che chở cho nó…
         
        Cuối cùng, xin nói qua đôi chút về “quỹ đối giá”. Như đã trình bày, quỹ này chỉ chiếm một phần trong số các nguồn thu của ngân sách ngụy quyền, tính trung bình khoảng 30% (Tỷ lệ của “quý đối giá trong tổng số thu ngân sách (%)

1955        34,1       1965        22,0       
195644,1196621,7
195739,6196726,3
195836,619682o!o
195937,8196910,7
196051,0197015,3
196127,519718,6
196230,0197219,0
196327^6197329,0
196421,8197430,0

        Tại sao Mỹ không cho nhập thẳng số tiền này vào ngân sách ngụy, mà lại lập ra thành một quỹ riêng, do phái bộ viện trợ Mỹ quản lý?
         
        Có hai lý do chính:
       
        Một là, vì viện trợ thương mại hóa là biện pháp chính giúp ngụy có tiền trả lương cho lính đánh thuê, cho nên sử dụng tiền viện trợ này là việc có ý nghĩa sinh tử đối với các kế hoạch của Mỹ ở Nam Việt Nam. Hàng năm, tình hình chiến tranh thế nào, cần số quân bao nhiêu, khả năng bắt lính thế nào, phải chu cấp cho họ tới mức nào để đảm bảo đủ quân số và quân số đó đủ sức chiến đấu - đối với tất cả các vấn đề đó đều phải dùng tiền lương và các chế độ đãi ngộ khác nhau như những cái nút điều chỉnh. Đối với những cái nút hệ trọng này, Mỹ không thể giao cho ngụy hoàn toàn. Mỹ phải trực tiếp nắm lấy, ít nhất thì cũng ở mức khống chế được tình hình. Quỹ đối giá chính là cái mức khống chế cần thiết đó. Hàng quý chi một lần, cho những mục đích đã định: Bao nhiêu để trả binh sĩ, bao nhiêu để đôn thêm quân, bao nhiêu để tặng thưởng cho các sỹ quan, bao nhiêu để phụ cấp cho số quân mới tăng lên, bao nhiêu để úy lạo gia đình số đã chết trận… Tất cả các chi tiết đó, phái bộ quân sự Mỹ (MACV) đã nắm chắc, phái bộ viện trợ Mỹ căn cứ vào ý kiến của MACV để chuẩn chi.
         
        Hai là, ngoài quỹ đối giá, viện trợ thương mại hóa và viện trợ Mỹ nói chung còn đem lại cho ngân sách ngụy nhiều khoản thu khác nữa. Các khoản thu này phần lớn cũng được chi cho các mục đích mà Mỹ đã định. Do đó, điều quan trọng không phải là tỷ lệ của “quỹ đối giá” trong ngân sách. Điều quan trọng là có quỹ đó, như một khoản riêng do Mỹ khống chế. Điều quan trọng hơn nữa là Mỹ đã nắm được cái chốt để có thể làm cho quỹ này đầy vơi tùy ý. Ta lại nhớ đến vấn đề hối suất vừa kể trên. Thực ra, cái gọi là hối suất đó chẳng có một cơ sở kinh tế nào cả. Nam Việt Nam không có thực lực gì để đảm bảo giá trị đồng bạc của nó. Hối suất giữa đồng tiền đó với đô la Mỹ là do Mỹ quy định. Mỹ muốn nâng thì hối suất cao. Mỹ muốn hạ thì hối suất thấp, mà lượng tiền trong quỹ đối giá này thì tùy ở hối suất. Khi Mỹ muốn tăng số tiền trong quỹ đối giá, hay nói đúng hơn, tăng tỷ lệ của quỹ đối giá trong tổng thu nhập ngân sách, cũng tức là cần nắm trực tiếp một số tiền nhiều hơn, Mỹ chỉ việc tăng hối suất. Lập tức, như một cái ống xi-phông, bạc Sài Gòn sẽ tự động dồn sang quỹ này. Chính vì vậy, điều quan trọng không phải là lượng tiền trong quỹ này, mà điều quan trọng là đã có quỹ này như một cái bình chứa, và đã có một cái ống xi-phông tự động nối nó với ngân sách. Khi đã có hai cái đó rồi, thì khi cần cho nó đầy nó sẽ đầy ngay, và ngược lại.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2017, 07:26:40 AM
         
        III. VIỆN TRỢ THEO DỰ ÁN
         
        Viện trợ theo dự án (Project Aid) còn được gọi là Viện trợ kinh tế trực tiếp.
         
        Loại viện trợ này cũng là một bộ phận rất quan trọng trong viện trợ kinh tế. Có một vài năm nó lớn hơn cả viện trợ thương mại hóa. Nhưng khác với viện trợ thương mại hóa, nó lên xuống thất thường. Từ 1954 đến 1965, viện trợ theo dự án chỉ vào khoảng vài chục triệu đô la. Đến 1966, nó tăng vọt gấp 3-4 lần các năm trước. Sang năm 1967, nó lại tăng gấp đôi năm 1966, lên tới 360 triệu đô la. Từ 1969, nó giảm dần, và từ 1972 xuống dưới mức một trăm triệu đô la hàng năm.
         
        Sở dĩ gọi đây là “viện trợ theo dự án” hoặc “viện trợ trực tiếp” vì nó là khoản cung cấp trực tiếp tiền và của cho các dự án hoặc các chương trình của các ngành, các cấp, không qua ngân sách ngụy quyền.
         
        Nhưng “dự án” hay “chương trình”, tức đối tượng của loại viện trợ này, gồm vô vàn thứ khác nhau. Hầu như không có thứ chương trình nào, dự án nào của ngụy quyền mà không dựa phần lớn hoặc hoàn toàn toàn vào khoản viện trợ này: Xây dựng và bảo trì hệ thống đường quốc lộ, xây dựng các hải cảng, trang bị các phương tiện cho cảnh sát và phòng vệ dân sự, củng cố và mở rộng các trại giam, đài thọ cho chương trình cải cách điền địa, đào tạo cán bộ “ấp dân sinh”, kinh phí cho chiêu hồi, chu cấp cho nông thôn về thuốc men, định cư, giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu, thủy nông, tín dụng, xây dựng hệ thống viễn thông cho nông thôn và thành thị, huấn luyện cán bộ nghiệp đoàn, xây dựng trường học, sách và học cụ, xây dựng các hệ thống nước và điện… Đó là các khoản tương đối lớn. Còn về các khoản lặt vặt như giếng nước ăn cho nông thôn, giống cá rô phi, thuốc trừ muỗi, trừ ruồi, thiết bị và chi phí cho dạy sinh ngữ… cũng nằm trong khuôn khổ viện trợ  này.
         
        Có thể xếp các dự án vào 4 loại chính sau đây:
         
        - Những dự án phục vụ cho chính sách khủng bố và đàn áp, thường được gọi là các dự án “hành chính”. Đó là việc trang bị cho cảnh sát, ác ôn, xây dựng nhà tù… Năm 1969, riêng viện trợ cho các dự án tổ chức bộ máy an ninh, tình báo, các “đội phượng hoàng” (Một đội quân bình định nông thôn có vũ trang của ngụy quyền do Cục tình báo T.W Mỹ điều khiển), tốn 19,6 triệu đô la (American Report, 9-10-1970). Năm1970, riêng việc thay thế trang bị cho hệ thống “chuồng cọp” ở nhà tù Côn Đảo tốn 40 vạn đô la (AP Washington 19-2-1971), nhiều gấp bốn số tiền chi cho các dự án thủy lợi (10,1 vạn đô la) và gấp đôi số chi cho các việc đào tạo y tá và xây dựng các nhà hộ sinh (20,8 vạn đô la). Năm1971, riêng tiền thù lao cho Thompson cùng 5 chuyên viên Anh sang nghiên cứu trong 10 tuần để lập dự án tổ chức hệ thống an ninh mất gần 8 vạn đô la (Reuter, Washington 23-5-1971. Khoản này trả bằng tiền Livre Sterling, theo giá hối đoái chính thức với bạc Sài Gòn), tức là gần bằng số chi cho dự án giáo dục đại học và trung học (9 vạn đô la). Năm 1970-1971, dự án trang bị cho cảnh sát tốn 8,4 triệu đô la (LeMonde 10-11-1971). Tất nhiên, số này cũng được cấp thẳng bằng hiệnvật - từ xe xịt nước, lựu đạn chứa hơi cay, khóa các loại, đến máy ghi âm, hệ thống xe cộ để vây bắt, chó săn… Riêng một tỉnh Gia Định, trong một năm, được viện trợ tới 56.000 tấn dây thép gai, 16.000 cọc sắt và 11.000 đèn pin. Tính đến tháng 6-1972, cảnh sát đã cấp 9.068.811 thẻ căn cước, 502.000 cuốn lý lịch, lập 3.100.000 tập hồ sơ, đều là giấy và bìa đặc biệt của Mỹ, được in từ Mỹ, do viện trợ theo dự án đài thọ. Miền Nam có tới 601 trại giam ở khắp nơi và thường xuyên có từ 60 đến 80 vạn người bị cầm tù. Chính viện trợ theo dự án đã tạo cơ sở vật chất cho hệ thống kìm kẹp này.
         
        Nhìn chung, các loại dự án “hành chính” chiếm độ 11-14% tổng số viện trợ theo dự án. Đương nhiên, các chi phí “hành chính” này không phải chỉ do viện trợ theo dự án đài thọ. Ngân sách ngụy quyền cấp một phần, viện trợ theo dự án đóng góp một phần, chủ yếu là những dự án đặc biệt và đột xuất.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Sáu, 2017, 07:00:51 PM
         
        - Những dự án phục vụ cho các chiến dịch về chính trị, thường gọi là “các dự án xã hội”, như cải cách điền địa, dồn dân, tuyên truyền, chiêu hồi, xây dựng các nghiệp đoàn, các tổ chức quần chúng, các ấp chiến lược… Loại dự án này chiếm tỷ lệ khá lớn trong viện trợ theo dự án. Mỗi năm có một số trọng tâm khác nhau. Thời kỳ 1964-1965, một trong những ý đồ chiến lược của Mỹ và vét dân, dồn về các khu tập trung để dễ kiểm soát. Trong một năm (1964), Mỹ đã chi tới 20.579.000 đô la cho kế hoạch “ấp dân sinh”, bằng 37% tổng số viện trợ theo dự án của năm đó (Sommaire du Budget National-Exercise 1964). Nếu tính toàn bộ kế hoạch bình định mà Johnson gọi là “kế hoạch xây dựng nông thôn” (1962-1965) thì Mỹ đã chi 100 triệu đô la. Kế hoạch “xây dựng nông thôn” đó được tiến hành theo 3 bước. Bước thứ nhất: Mỹ cho xe cơ giới san ủi làng mạc, nhà cửa. Nơi nào cần thiết, sẽ rải thêm chất độc hóa học để nông dân không thể quay về làng cũ, và cũng không tìm thấy làng cũ nữa. Bước thứ hai: Dùng cơ giới để dồn dân về các ấp trại. Bước thứ ba: Củng cố bộ máy kìm kẹp trong các ấp trại, đưa kỹ thuật và văn hóa thực dân vào.
         
        Từ năm 1968, Mỹ trở lại với chủ trương cải cách điền địa mà Ngô Đình Diệm đã bỏ dở. Như lời Nguyễn Văn Thiệu, dự án cải cách điền địa lúc này là “lực lượng thứ tư để đánh bại Cộng sản”. Trong hai lần gặp Thiệu, Nixon đều thúc ép việc cải cách điền địa, coi đó “có thể là việcgấp rút hơn bất cứ chương trình nào” (Xã luận New York Times 18-8-1969). Từ năm 1967, Quốc hội Mỹ đã nhiều lần lo ngại về việc ngụy quyền tỏ ra lơ là vấn đề cải cách điền địa, mà lý do chính là “bản thân chính phủ phần lớn bao gồm những nhân vật khá giả” (New York Times 6-6-1969). Tới cuối 1969, “Ủy ban toàn quốc cho một giải pháp chính trị ở Việt Nam” của Mỹ đã kiến nghị một kế hoạch gấp rút tiền hành cải cách điền địa ở Nam Việt Nam. Theo quan điểm của những người làm kế hoạch (Ba tác giả chủ chốt của kế hoạch này là Prostermna, giáo sư luật học, Clark Kerr, Chủ tịch “Ủy ban toàn quốc cho một giải pháp chính trị ở Việt Nam” và R.Coate, cựu Chủ tịch Đảng Dân chủ bang California), thì đơn thuần chỉ dùng vũ lực để cưỡng ép nông dân chưa đủ đảm bảo thắng lợi. Điều quan trọng hơn là phải thực sự giành lại được người nông dân và tạo ra “một giai cấp hoàn toàn mới mẻ gồm những nhà nông hữu sản, trung thành với chính phủ” (New York Times18-8-1969).
         
        Dự án này định tiến hành trong 3 năm 1970, 1971 và 1972, với tổng số chi là 400 triệu đô la. Đó là một số tiền rất lớn. Nhưng, như chính Clark Kerr giải thích, nếu so với việc chinh phục bằng quân sự, thì đó vẫn là cái giá rất rẻ để mua chuộc cả nông thôn Nam Việt Nam, vì nó vẫn chưa bằng số chi phí chiến tranh trong 5 ngày ở Việt Nam(Elisabeth Pond “Mỹ nhận xét thế nào về cải cách điền địa ở Việt Nam”.Bài đăng trên báo The Christian Science Monitor. Trích trong Công luận, Sài Gòn 7-7-1969). Theo những tài liệu của Mỹ-Ngụy, chương trình cải cách điền địa đã chuộc lại 1.300.000 ha ruộng đất của 16.111 điền chủ (Theo quy định của Thiệu thì địa chủ được giữ lại một số ruộng đất tối đa là 15 ha đối với Nam bộ và 5 ha đối với Trung bộ). Có hơn 60.000 hộ (gồm 4.000.000 người) được cấp không ruộng đất (ở Nam bộ mỗi hộ khoảng 3 ha, ở Trung bộ mỗi hộ khoảng 1 ha). Sau khi được cấp ruộng, mỗi hộ có thể được vay thêm 8.000 đồng tiền Sài Gòn để làm vốn sản xuất, lại được miễn thuế trong 1 năm. Địa chủ gọi là bị “truất hữu”, nhưng thực ra, chỉ bị chuộc lại đất thôi. Giá ruộng đất được tính bằng 2,5 lần số hoa lợi hàng năm (tính mức thu hoạch trung bình trong 5 năm trước). 20% được trả ngay bằng tiền mặt. 80% còn lại được trả dần trong 8 năm, lãi đồng niên 10% (Elisabeth Pond. Đã dẫn: Nếu so sánh với kế hoạch cải cách điền địa do Ladlinsky thảo dưới thời Diệm thì kế hoạch này có mấy điểm khác:

        - Ladlinsky chủ trương duy trì sở hữu lớn, cơ sở của lối kinh doanh tư bản chủ nghĩa theo kiểu Mỹ (chỉ trưng mua ruộng đất của những địa chủ có trên 100 mẫu). Chủ trương này chịu ảnh hưởng của cái hy vọng hồi đó, là bình định sắp hoàn thành rồi, và chẳng bao lâu sẽ tạo lập ở nông thôn Nam Việt Nam một lối kinh doanh nông nghiệp theo kiểu Mỹ. Đến thời Thiệu, mức sở hữu tối đa bị hạ thấp nhiều: dưới 15 ha. Như vậy, ruộng đất bị chia nhỏ hơn… Nhưng số nông dân có ruộng lại đông hơn. Sự sửa đổi này phản ánh những khó khăn to lớn của Mỹ và sự nhận thức sát hơn trước về những khó khăn đó. Cải cách điền địa không nhằm chuẩn bị cho giai đoạn sau bình định, mà chỉ tiến dần tới bình định thôi. Ruộng đất được cấp không. Nông dân không phải trả tiền chuộc. Viện trợ Mỹ trả tiền chuộc. Đặc điểm này cũng có cái lý do giống như đặc điểm trên. So với Diệm, Thiệu có phần mạnh tay hơn với địa chủ. Giai cấp này bị đánh tả tơi. Sức mạnh chính trị của nó coi như tàn. Sức mạnh kinh tế của nó thì càng thảm hại. Trong khi Thiệu phải bắt và nuôi cả triệu lính, phải đương đầu với cuộc chiến tranh cách mạng đang bùng lên khắp các xã ấp, nếu chỉ dựa vào 16.000 con người cổ lỗ, hủ lậu, mất hết thực lực này, thì ắt sẽ tạo ra trong 10.000.000 nông dân những phản ứng quyết liệt mới). Như vậy, rút cuộc, hầu hết viện trợ theo dự án đã rơi vào túi địa chủ, giúp địa chủ lột xác khỏi cái vỏ phong kiến. Với túi tiền đầy, các địa chủ dễ dàng hóa thân thành các chủ khách sạn, chủ các hãng vận tải, các chủ hiệu buôn, chủ các rạp hát, chủ các nhà máy, chủ các nhà thầu…


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2017, 03:35:47 AM
         
        - Những dự án xây dựng các công trình gọi là “cơ cấu hạ tầng”: Đường xá, cầu cống, hải cảng, sân bay, điện nước, đài phát thanh, đài truyền hình…
         
        Trong loại này, các dự án về giao thông vận tải chiếm phần lớn nhất. Chính là nhờ viện trợ Mỹ, mà miền Nam có được 1.700 km đường nhựa rộng và chạy tốt đi các tỉnh, có 9 hải cảng lớn với khả năng bốc dỡ gần 10 tỷ tấn/năm, có 14 sân bay hiện đại, mà riêng phần vận tải dân dụng đã đạt tới 1.000.000 hành khách/năm. Riêng việc xây dựng đường sá và bến cảng, Mỹ đã chi hơn 2 tỷ đô la, tức bằng tổng số của cải do miền Nam làm ra trong 1 năm. Riêng việc mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất từ 1967, Mỹ chi 15.000.000 đô la, tức gần gần bằng tổng ngạch xuất khẩu của miền Nam trong năm đó (17.800.000 đô la) (Tin APF 31-3-1967. Chấn hưng kinh tế, số 3-10-1968).
         
        Đương nhiên, khi viện trợ cho các dự án về giao thông vận tải to lớn này, Mỹ nhằm những lợi ích quân sự. Về thực chất, đây không phải là viện trợ cho ngụy quyền, mà chính báo chí Mỹ nói, chỉ là “viện trợ” cho Mỹ thôi. Không có hệ thống giao thông hoàn bị thì không thể vận chuyển quân đội và vũ khí với quy mô to lớn được. Cả triệu quân ngụy, nửa triệu quân Mỹ, với hàng trăm triệu tấn vũ khí, sẽ không phát huy được sức mạnh của nó nếu bến cảng chật hẹp và bốc dỡ chậm chạp, nếu đường sá không tốt hoặc không có đủ đường sá tới các vị trí chiến lược, nếu không có một hệ thống sân bay hoàn bị để có thể tức khắcđưa hàng trăm máy bay chuyển quân đến bất cứ nơi nào hoặc oanh tạc bất cứ nơi nào (“Chỉ có dựa vào việc tạo ra một cơ sở kiện toàn về bến cảng, sân bay có đường băng cao tốc, mới có thể tránh khỏi những khó khăn đang làm đau đầu nước Mỹ trong việc tập trung lực lượng quân sự ở Việt Nam. Nếu các căn cứ và hệ thống đường sá hoàn thành sẽ có thể đảm bảo trong 1 ngày đưa vài sư đoàn Mỹ từ Thái Bình Dương hoặc từ Mỹ sang”. New York Times 20-12-1965).
         
        Tuy nhiên, một số cơ sở giao thông vận tải này cũng đồng thời phục vụ cho sinh hoạt công cộng cho kinh tế. Người tiêu dùng, nhất là ở các đô thị, có thể mua ngay tại chợ đủ mọi thứ của thập phương, từ cua bể và sò huyết Rạch Giá đến tôm hùm Vũng Tàu, từ cải bắp Đà Lạt đến thịt nai Buôn Mê Thuột… với giá không cao hơn nơi sản xuất bao nhiêu. Khách đi đường cảm thấy thoải mái trên những xa lộ… Chẳng qua vì đã có 2 tỷ đô la lát dưới những bánh xe của họ… Điều trớ trêu của Viện trợ Mỹ là: Ở đâ nó chỉ là một khối lượng của cải vật chất hiền lành và dễ thương. Người ta có thể tiếp nhận nó một cách thơ ngây mà không buộc phải biết cái giá ghê gớm phải trả, vì việc trả giá đó diễn ra ở nơi khác, liên quan đến những người khác.
         
        Khoản lớn thứ hai sau giao thông vận tải là các công trình cung cấp điện và nước. Đương nhiên, những dự án này trước hết nhằm phục vụ bộ máy cai trị, đặc biệt là phục vụ quân đội. Nhìn vào sự biến động của viện trợ theo dự án, ta thấy chính trong những năm chiến tranh cục bộ, khi có nửa triệu quân Mỹ đóng ở miền Nam, thì viện trợ theo dự án bỗng tăng vọt gấp 3-4 lần. Việc xây dựng hệ thống cung cấp điện, nước cũng được tiến hành ồ ạt trong những năm đó. Đối với nửa triệu quân lính công tử của Mỹ mà phần lớn đã muốn đốt thẻ quân dịch ngay từ trước khi sang Việt Nam, nếu không có đủ nước để hàng ngày ngâm mình trong các bồn tắm, không có đủ điện chạy các máy lạnh, quạt điện, bếp điện… thì khó mà duy trì sức chiến đấu.
         
        Nhưng khi đã có điện và nước về các thành phố, thì dân chúng cũng được hưởng một phần (nếu có đủ tiền để trả). Nền kinh tế cũng được hưởng một phần nào đó.
         
        Chính là nhờ các dự án này mà người dân có tiền ở các đô thị miền Nam có thể dùng điện, nước thỏa thích. Viện trợ thương mại hóa đã đặt sẵn ở các cửa hàng đủ các đồ dùng điện. Thu nhập bằng lương, bằng các nghề buôn bán và phục vụ, lại chuẩn bị cho khá nhiều người đủ tiền để mua sắm các thứ đó… Số lượng điện phân phát hàng năm ở miền Nam khoảng trên 1 tỷ KW giờ. Trong đó khoảng 550 triệu KW giờ dùng để thắp đèn, chạy quạt và các đồ điện trong các tư gia, 90 triệu KW giờ dùng để thắp sáng, chạy quạt và máy lạnh trong các công thự. Số còn lại, khoảng 350 triệu KW giờ dùng cho các nguyên động lực trong công nghệ và một phần rất nhỏ cho canh nông.
         
        Ở miền Nam, hầu hết các nhà máy điện đều chạy bằng dầu (Tổng công suất điện thiết kế của miền Nam là 830 ngàn KW. Hầu như chỉ cómột nhà máy thủy điện Đa Nhim, có 4 tổ máy, nhưng chỉ chạy được 2 tổ, với công suất 80 ngàn KW. Song vì thiếu đường dây điện, cho nên chỉ cung cấp điện tới Phan Rang thôi (trước giải phóng)). Để có hơn 1 tỷ KW giờ, miền Nam hàng năm phải nhập 60 vạn tấn dầu để chạy các động cơ diezel, tính ra tiền là gần trăm triệu đô la, cũng do viện trợ Mỹ trả.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2017, 03:36:23 AM
         
        Khoản chi thứ ba, sau điện nước, là các dự án xây dựng màng lưới thông tin. Ngay dưới thời Diệm, Mỹ đã giúp Ngụy xây dựng hệ thống các đài phát thanh rộng khắp các vùng và một loạt đài nặc danh. Riêng số chi cho các dự án về “thông tin” này, trong 5 năm, từ 1955 đến1961, là 40 triệu đô la. Từ 1964 hệ thống điện thoại và điện báo được mở rộng đặc biệt. Ngoài việc phục vụ các hoạt động thám báo, bình định, nó cũng phục vụ các hoạt động kinh doanh, thương mại. Riêngnăm 1964 dự án trang bị cho các “ấp dân sinh” về thông tinh nội bộ tốn 1,8 triệu đô la, về liên lạc vô tuyến giữa các ấp với nhau và với các cấp trên tốn 2,584 triệu đô la (Sommaire du Budget National-Exercise,1964). Từ 1965, máy vô tuyến truyền hình được đưa ồ ạt vào miền Nam Việt Nam. Mỹ ngụy đặc biệt khuyến khích phát triển ngành vô tuyến truyền hình (vì các máy truyền hình chỉ bắt được các đài phát của chính phủ). Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Quy Nhơn, CầnThơ, Đà Lạt… đều có các đài phát hình. Hầu hết các đô thị miền Nam cùng các vùng nông thôn lân cận đều được xem các chương trình truyền hình đó. Từ tết Bính Ngọ 1966, Mỹ đã lập dự án cho vệ tinh nhân tạo tiếp sóng thẳng của các đài phát hình từ Mỹ sang Việt Nam.Theo tính toán của Mỹ, tổng số các khoản chi cho các hệ thống đó tốn hơn 100 triệu đô la. Ở Nam Việt Nam, quảng cáo chưa đem lại nhiều lãi cho các hãng truyền hình. Nhà nước còn phải đài thọ, dựa vào viện trợ.
         
        - Những dự án phục vụ các chương trình kinh tế, văn hóa xã hội: Canh nông, mục súc, ngư nghiệp, lâm nghiệp, kỹ nghệ, khai khoáng, y tế, giáo dục, cứu tế… Các khoản này thường chiếm không quá 20% tổng số viện trợ theo dự án.
         
        Nhìn chung, phần viện trợ cho các dự án kinh tế đóng vai trò yếu ớt đối với sự phát triển kinh tế miền Nam.
         
        Trong công nghiệp, khoản đáng kể nhất là các dự án xây dựng các nhà máy điện, mà ở trên đã nói rồi. Ngoài điện, có thăm dò và khai thác các tài nguyên thiên nhiên. Trong đó, kể đến các dự án về dầu lửa,về kế hoạch sông Mê Công, là những dự án mà Mỹ hy vọng sẽ kiếm được nhiều món lợi về sau.
         
        Trong nông nghiệp, tác dụng của các dự án rất kém. Ta có thể nêu lên vài năm làm ví dụ. Năm 1964, tổng số viện trợ theo dự án là 52,7triệu đô la. Trong đó, phần dành cho Bộ cải tiến nông thông chỉ có 1,22 triệu đô la (hơn 2%). Năm 1972, tỷ lệ đó là 4 triệu đô la trong 72 triệu đô la (độ 3%). Nhìn vào tỷ lệ thấp kém này, có thể hiểu được vì sao nền sản xuất nông nghiệp miền Nam sau 20 năm, vẫn chẳng có sự tiến bộ nào đáng kể. Cái mới nhất trên bộ mặt của nông thôn lại không phải là cái mới trong sản xuất, mà là xe Honda, máy thu thanh và vô tuyến truyền hình bán dẫn, bia chai, nước ngọt, thuốc lá thơm, vải lụa nhận tạo… Các máy bơm chưa đảm bảo tưới nổi 1/10 diện tích nông nghiệp. Máy kéo tuy được quảng cáo nhiều, nhưng trong thực tế, phần lớn diện tích ruộng đất ở miền Nam vẫn phải canh tác bằng cày hoặc cuốc tay.
         
        Sự thật đó bày ra trước mắt chúng ta, ngay ở hai bên các con đườngquốc lộ hầu như ở tất cả mọi tỉnh. Nhìn chung, diện tích cày máy không quá 20% tổng diện tích canh tác (Theo thống kê của “Nha phát triển nông cơ”, tổng số mày kéo của miền Nam có tới 600 ngàn mã lực.Nhưng chính các viên chức chế độ cũ đã cho biết rằng thực ra, đó chỉ là tính tổng số máy móc đã nhập cảng, trong đó có nhiều máy đã hỏng, ngoài ra, còn có rất nhiều máy kéo được đăng ký nhưng chỉ có hóa đơn, không có máy thực. Nhiều người chỉ mua hóa đơn máy, dùng đó làm chứng từ để được vay tiền nông tín cuộc. Họ chẳng có máy, cũng chẳng canh tác. Họ lấy số tiền vay đó để buôn, mở quán bia, tậu Honda…).Lượng phân bón, với miền Bắc hồi đó chỉ bằng ½ (Hàng năm miền Nam nhập độ 30-40 vạn tấn phân. Ngoài số nhập cảng đó, không có nhà máy phân bón nào trong nước. Miền Bắc hồi đó hàng năm có khoảng 70-80 vạn tấn phân hóa học).
         
        Còn giống mới thì chưa đảm bảo quá 30% diện tích. Trong chăn nuôi, hầu hết những giống gà, giống lợn do viện trợ Mỹ cung cấp đều là giống một đời, sau mỗi chu kỳ sản xuất, người ta buộc phải trở lại với các nhà xuất cảng Mỹ, như cái Boomerang của người châu Úc vậy.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2017, 04:30:38 AM
         
        Ở đây, ta có thể thấy được một trong những đặc điểm cơ bản nhất của viện trợ Mỹ trong thời kỳ này: Nó tạo ra sự phồn vinh của những dân tộc được viện trợ bằng cách đem đến cho họ những hàng tiêu dùng đã chế tạo sẵn sàng, hoặc gần như sẵn sàng. Các dân tộc đó, hay nói đúng hơn, những tầng lớp thượng lưu trong các dân tộc đó, lập tức có thể xuất hiện trong cảnh sống giàu sang, lộng lẫy. Rút cuộc, người ta mau chóng có thể biến thành những người tiêu dùng cao cấp, trong khi bản thân người ta chưa có một cơ sở vật chất nào để đảm bảo cho sự tiêu dùng đó. Trong một đất nước chưa sản xuất đủ cơm ăn, áo mặc,mà vẫn thấy người ta lái xe hơi như mắc cửi, người ta xài xăng như nước, người ta mua sắm như các bà hoàng… Tất cả đã có viện trợ Mỹ cung cấp. Thay cho sản xuất, đã có hàng nhập cảng. Thay cho tiền của làm ra, đã có tiền viện trợ. Một Tổng trưởng kinh tế ngụy đã từng nói: “Khỏi lo làm chi. Đằng sau quân đội Việt Nam Cộng hòa đã có trực thăng Mỹ. Đằng sau Bộ kinh tế, đã có đồng đô la Mỹ” (Báo Đại dân tộc, Sài Gòn 14-8-1973).
         
        Về phương diện kinh tế, cái xã hội tiêu dùng đó cũng giống như một người thọt mất một chân, tiêu dùng thì rất nhiều, mà sản xuất thì rất ít.Thế vào cái chân thọt đó, viện trợ Mỹ đã đem đến cho anh ta một cái nạng. Khi cái nạng đó mất thì anh ta chỉ còn biết ngồi kêu khóc. Anh ta đã chống cái nạng đó đi càng xa bao nhiêu thì bây giờ anh ta trở về càng khó khăn vất vả bấy nhiêu, tấn bi kịch của anh ta càng nặng nề bấy nhiêu. Đem đến cho anh ta cái nạng đó, viện trợ Mỹ không phải là giúp đỡ anh ta, mà đã đẩy anh ta vào tình trạng buộc phải giúp đỡ lại nó. Viện trợ Mỹ không muốn tạo ra sự phồn vinh của các dân tộc bằng cách giúp các dân tộc đó tự sản xuất ra nhiều của cải để sống sung túc và tiêu dùng đầy đủ. Nó chỉ sẵn sàng đưa xe hơi về bán trong các “salon”, đặt các trạm xăng trên mọi nẻo đường, và sẵn sàng tạo cho người ta vô số cơ hội để kiếm tiền: Đi lính, làm đĩ, bán “bar”, thông dịch, buôn lậu, ăn cắp… để mua sắm và tiêu xài hàng viện trợ.
         
        Tóm lại, Mỹ đã nuôi cả cái xã hội và nền kinh tế như một đưa trẻ bằng bầu sữa của viện trợ. Nhưng bầu sữa viện trợ Mỹ khác với bầu sữa mẹ, nó không giúp cho đứa trẻ đó khôn lớn lên để tự làm lấy mà ăn, tự tạo ra cơ nghiệp cho nó.
         
        Về cái bản chất này, thì chính người Mỹ và các nhân vật trong chính quyền ngụy cũng đã có lúc nói toạc ra.
         
        Jack Foisis, ký giả tờ Los Angeles Times viết: “Đưa quân đội Mỹ ra khỏi các khu rừng rậm còn dễ hơn nhiều so với việc đưa nền kinh tế miền Nam Việt Nam ra khỏi cái túi tiền của Mỹ” (Los Angeles Times 25-8-1970).
         
        Năm 1969, Nguyễn Cao Kỳ, do cả những bất mãn cá nhân lẫn những nỗi lo sợ chung của ngụy quyền, đã nói thật với báo chí: “Chúng tôi là một quốc gia nông nghiệp, thế mà chúng tôi không xây dựng nổi một nhà máy phân bón. Trong khi đó, chúng tôi lại nhập cảng xe cộ, máy vô tuyến truyền hình và nước hoa. Nói tóm lại, trong khuôn khổ kinh tế-xãhội hiện thời của Việt Nam, viện trợ Hoa Kỳ dành cho Việt Nam chỉ có một nhóm ít người Việt Nam hưởng lợi, trong khi đó đầu hết những người khác đều vẫn chịu đựng sống trong tình trạng của nền kinh tế rất thấp kém và không có những căn bản nào khả dĩ làm nền tảng đượccho sự phát triển kinh tế quốc gia” (Tuần san Phòng thương mại và công kỹ nghệ Sài Gòn, 10-10-1969).
         
        Viên Thống đốc quỹ phát triển kinh tế quốc gia Nguyễn Văn Hào nói: “Ở Việt Nam, không có cái cân phi phó, cũng không có ngân sách quốc gia, mà chỉ có tờ trả lương… Cái khó ở Việt Nam là không có vấn đề kinh tế nào đúng với kinh tế cả. Hầu hết chỉ dựa vào ngoại viện, hay ngoại thuộc, còn gọi là thuộc Mỹ. Nhưng Mỹ viện trợ rất ích kỷ. Mình cần cá để ăn, họ cho bao nhiêu cũng được, nhưng chiếc cần câu thì họ không cho, cách câu họ cũng không dạy” (Tuần san Phòng thương mạivà công kỹ nghệ Sài Gòn, 10-12-1971).
         
        Lâm Văn Sĩ, Tổng Giám đốc công ty kinh doanh kỹ nghệ Sofidiv viết: “Chúng ta dùng ngoại tệ của viện trợ Mỹ để tiêu xài. Chúng ta xài tiền của người khác và chúng ta lầm tưởng là chúng ta giàu. Tiêu xài nhưng không sản xuất. Người Mỹ rút đi, chúng ta sẽ trở về với sự thật phũ phàng” (Tuần san Phòng thương mại và công kỹ nghệ Sài Gòn, 12-5-1972).


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Sáu, 2017, 05:28:18 AM
         
        Bây giờ ta xét qua các dự án về văn hóa, xã hội.
         
        Trong số các dự án này, phần dành cho y tế thường chiếm phần lớn hơn cả. Thời gian từ 1955 đến 1961, các dự án về y tế tốn 13,6 triệu đô la. Những năm chiến tranh ác liệt, khoản chi này càng tăng lên: Năm1964, hơn 5 triệu đô la, trong đó 4,1 triệu dành cho y tế nông thôn.Năm 1972, 13,9 triệu đô la. Tổng cộng, trong 21 năm các chương trình y tế tốn kém tới hơn 100 triệu đô la. Đối với một dân số chưa đầy 20 triệu dân, đó là một số tiền không nhỏ, mà nếu biết tận dụng, có thể làm thay đổi đáng kể màng lưới y tế. Nhưng nhìn vào cả nông thôn lẫn thành thị, thì thấy hệ thống y tế vẫn còn nghèo nàn. Ở các thành thị đã xây dựng một số bệnh viện khá đồ sộ. Nhưng thực ra, số giường nằm chưa bằng 10% tổng số bệnh nhân cần điều trị.
         
        Ở nông thôn, Mỹ tiến hành công tác y tế theo kiểu dã chiến. Mỗi khi mở chiến dịch hành quân bình định, thì cho hàng ngàn nhân viên y tế về tiêm, nghe, khám, cấp thuốc, chiếu phim và dán tranh cổ động vệ sinh, xịt thuốc muỗi, xét nghiệm nước giếng…. Việc quân xong, thầy thuốc rút, các xóm làng lại sống với những bệnh tật, ruồi muỗi và vi trùng như cũ.
         
        Nhìn chung về y tế miền Nam, có thể nhận xét: Bệnh tật thì rất nhiều, nhất là bệnh xã hội, nhưng thuốc thì hiếm và đắt. Đó là điều mà hầu hết các nhà báo quốc tế đều xác nhận.
         
        Vậy thì con số hơn 100 triệu đô la cho các dự án y tế biến đi đâu?
         
        Ngoài việc thổi phồng quá con số thực, gán ghép vào dự án y tế những khoản chi ít dính dáng đến y tế, thì còn một sự hao hụt lớn nữa: Tham nhũng. Tham nhũng là căn bệnh lan tràn trong mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
         
        Nhưng trong viện trợ y tế, nó trầm trọng hơn, vì khoản này dễ ăn cắp và gian lận hơn. Nhất là trong các chương trình có tính chất từ thiện và các chương trình y tế nông thôn, hầu như không ai kiểm soát được số đã phân phát thực tế. Các làng xã được các dự án y tế chiếu cố tới, tất nhiên không thể kiểm tra được số thuốc men và dụng cụ mà họ nhận được có đúng với mức quy định trong các dự án hay không. Theo điều tra của cơ quan kiểm tra thuộc Quốc hội Mỹ (GAO) thì có tới 75% số tiền của các dự án cứu tế đã không được cứu tế (AP Washington, 15-4-1972). Một tài liệu điều tra khác cho biết các quỹ của các dự án cứu tế thường hao hụt mất 60%.
         
        Ta thấy một sự phân công éo le: Tướng tá thì mở các chiến dịch bắn, phá, ném bom, thả chất độc… Vợ con tướng tá thì đem tới đó các xe cứu thương, thuốc men, bông băng… Nhưng cả hai đều rút được từ những công việc trái ngược đó một thứ như nhau là tiền của. Một bác sĩ ở bệnh viện Huế nói: “Các bà đứng ra đỡ đầu dự án chống bệnh phong tình, rồi bớt tiền ở đó về lập “bar”, mở hộp đêm, tiệm nhảy, nhà chứa, bao thầu thuyền khách sông Hương. Từ những chốn đó, họ thực hiện dự án bằng cách gửi đến cho chúng tôi các bệnh nhân để chạy chữa”.
         
        Các dự án về giáo dục thường chỉ bằng ½ hay 2/3 số dành cho các dự án về y tế: Thời kỳ 1955-1961 là 8,3 triệu, năm 1964 là 2,1 triệu,năm 1972 là 3,7 triệu. Hai trường lớn nhất và trang bị đầy đủ nhất ở miền Nam là trường Võ bị Đà Lạt và trường sĩ quan Thủ Đức, đều do viện trợ quân sự đài thọ. Các trường phổ thông và các trường đại học chỉ được dành cho một số tiền ít ỏi. Chính vì thế, hệ thống giáo dục và hệ thống trường sở ở miền Nam, nói chung là kém. Ta biết, ở các nước văn minh, các trường đại học thường là những tòa nhà lớn nhất và đẹp nhất của các thành phố. Ở miền Nam thì trường đại học vẫn chỉ là những cơ sở cũ, xây dựng thời Pháp.
         
        Tuy nhiên, nhìn vào nền giáo dục ở miền Nam, thấy số lượng sinh viên khá lớn, và nói chung họ học khá chăm chỉ. Phải kể đến một nguyên nhân trực tiếp rất quan trọng: Thanh niên tìm thấy ở trường đại học chỗ ẩn náu để tránh quân dịch - một tai nạn thường xuyên và khủng khiếp nhất đối với tuổi trẻ. Bắt lính càng ráo riết thì thanh niên chui vào các trường đại học càng nhiều và càng buộc phải học giỏi để khỏi bị gạt ra cái máy nghiền thịt khổng lồ của quân dịch.
         
        Bây giờ ta xét tới những quy chế và thể thức trong viện trợ theo dự án.
         
        Như đã nói, trong hình thức viện trợ này, Mỹ trực tiếp cung cấp và đài thọ cho các dự án, không quan ngân sách chính quyền bản địa.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Sáu, 2017, 05:28:46 AM
         
        Trình tự của việc cấp viện trợ được tiến hành theo hai chiều:
         
        Các ngành, các cấp căn cứ vào nhu cầu, khả năng, lợi ích, mà lập ra các dự án. Trong đó phải thuyết minh được mấy điểm quan trọng nhất: Định làm gì, vì lý do gì, nếu làm được thì có lợi ích về các mặt như thế nào, khả năng hiện hữu, những khó khăn trong việc thực hiện, cần viện trợ cụ thể những gì, bao nhiêu, vào thời gian nào, tại đâu, ai chủ trì, ai đứng ra viện trợ, thời hạn hoàn thành dự án… Kèm theo bản tường trình này, có hồ sơ thiết kế của dự án (nếu là các công trình), hoặc hồ sơ về nội dung cụ thể của kế hoạch (nếu là các chương trình chính trị,văn hóa, xã hội). Ngoài ra, còn có một bản cam kết sẽ thực hiện đúng các điều phúc trình. Tất cả được nộp lên bộ chủ quản gọi là “chủ bộ ViệtNam” (Những dự án của các địa phương, trước khi nộp lên bộ phải nộp tại Văn phòng tỉnh trưởng hoặc Văn phòng vùng).
         
        Bộ chủ quản xem xét các dự án này, cũng căn cứ trên nhu cầu, khả năng, lợi ích, nhưng theo một nhãn quan rộng hơn, có tính đến mối liên quan giữa các ngành, các mặt, và đặc biệt là căn cứ vào khả năng chấp thuận của Mỹ. Thường thì ở cấp này, các dự án bị đẽo gọt kỹ lưỡng nhất, nhằm làm sao cho lọt qua được phái bộ viện trợ Mỹ (Các công chức và chuyên viên trong chính quyền ngụy thường nói rằng, sự nổi tiếng và do đó, tiêu chuẩn của một bộ trưởng, không phải là ở khả năng điều khiển ngành do mình phụ trách mà ở sự nhạy cảm chính xác về những điều kiện cùng những cơ hội để lấy được chữ ký của phái bộ viện trợ).
         
        Sau khi đẽo gọt kỹ càng, dự án được gửi tới số nhà 32 Ngô Thời Nhiệm, trụ sở của Phái bộ viện trợ Mỹ ở miền Nam (United StatesAgency for International Development-USAID). Bản dự án thuộc những ngành nào thì sẽ đưa trao cho các “bo” (Board, tức là Cục, Vụ) chuyên trách về các ngành đó nghiên cứu và xét duyệt (Nếu đó là các dự án của địa phương thì các “bo” này sẽ cùng xét duyệt với phái bộ USAID ở các tỉnh hay các vùng).
         
        Những dự án nào không qua khỏi các câu hỏi kiểm tra của USAID thì bị xóa bỏ.
         
        Các dự phát triển nghề trồng dâu và ươm tơ trên các triền sông Trung phần, bốn lần được gửi lên, đều bị bác bỏ cả bốn lần. Lý do chính thức là: để ngăn ngừa du kích ẩn náu ven sông, tập kích tàu bè, và để cho dân chúng không vì nghề tầm tang mà khó tập trung. Nhưng còn một lý do nữa: nếu thực hiện các dự án này, việc tiêu thụ bông sợi và tơ nhân tạo sẽ khó khăn.
         
        Nhà máy xi măng Hà Tiên do Pháp thiết kế và cung cấp thiết bị. Nếu thực hiện mở rộng nhà máy này, thì Pháp sẽ nắm được một khâu then chốt trong nền kinh tế Nam Việt Nam. Trong khi đó, Mỹ đã ký hiệp định mua xi măng của Đài Loan và Nam Triều Tiên để cung cấp cho Nam Việt Nam, trừ khoản nợ của hai nước này do mua lúa mì và bông của Mỹ. Dự án này bị “treo” mất mấy năm.
         
        Dự án xây dựng nhà máy sản xuất phân bón được đệ trình liên tiếp nhưng cũng liên tiếp bị bác bỏ, mặc dầu chính Mỹ đề ra và hò hét nhiều nhất về cách mạng xanh, về tái thiét nông thôn… Mỹ muốn trực tiếp cung cấp phân bón cho nông dân.
         
        Những dự án nào đã lọt qua được các câu hỏi kiểm tra, hoặc chỉ còn các chi tiết chưa thích hợp, thì được sửa đổi lại, và ký duyệt, gọi là “dự án chấp thuận”. Phần lớn các “dự án chấp thuận” đều đã được điều chỉnh nhiều so với các dự án ban đầu.
         
        Cũng có một số dự án không phải do phía Việt Nam đề nghị mà do phía Mỹ gợi ý. Phái bộ viện trợ Mỹ, cơ quan thông tin Mỹ, tòa đại sứ Mỹ có khi nghị viện Mỹ hoặc bản thân Tổng thống Mỹ đề ra các chủ trương cho Nam Việt Nam. Chẳng hạn kế hoạch cải cách điền địa là do Quốc hội Mỹ và bản thân Nixon nêu ra. Kế hoạch ấp chiến lược là do Bộ Quốc phòng Mỹ đề ra. Trong những trường hợp này thì chính Mỹ cử người lập đề án, chẳng hạn Prosterman và Kleer trong dự án cải cách điền địa,Thompson trong dự án ấp chiến lược…
       
        Các “dự án chấp thuận” được gửi theo hai chiều: gửi về Mỹ để xin chuẩn chi ngân sách, và gửi cho bộ chủ quản ngụy quyền để thừa hành.
         
        Cũng như viện trợ thương mại hóa, loại viện trợ theo dự án chỉ dùng đồng đô la để tính toán thôi, chứ không cấp thẳng bằng đô la, trừ một vài khoản mục tối thiểu cần thiết (Đó là các món tiền túi cho các sinh viên, kỹ thuật viên đi tu nghiệp ở nước ngoài trong khuôn khổ các dự án, phí tổn trả cho các chuyên gia Mỹ và nước ngoài trong việc xây dựng và thi hành các dự án).


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2017, 05:51:20 AM
         
        Mỹ đài thọ các dự án theo hai phương thức:
         
        - Tất cả các khoản vật tư, thiết bị, phương tiện, hàng hóa… tức là những nhu cầu về hiện vật, thì Mỹ cung cấp trực tiếp, từ viên thuốc chữa sốt rét, chiếc đèn pin, tấm thẻ căn cứ, bình thuốc xịt muỗi, đến những trái lựu đạn làm chảy nước mắt, từ nhựa đường, xi măng, tôn lá, dây cáp để xây nhà và cất cầu, đến ổ khóa và kìm rút móng tay ở các nhà tù…
         
        - Những khoản chi phí trong nước như mua vật tư nội hóa, thuê nhân công và trả tiền cho các hãng thầu, mua lương thực, thực phẩm cho công nhân xây dựng, chi cho các khoản phục vụ, tiền đền bù ruộng đất cho địa chủ, tiền cho nông dân vay để sản xuất thì Mỹ cấp bằng bạc Sài Gòn, lấy từ “Quỹ đối giá” (Đến đây có thể hiểu rõ thêm: vì sao Mỹ không để cho toàn bộ viện trợ thương mại hóa dồn vào ngân sách ngụy quyền mà lại đặt nó trong “Quỹ đối giá”. Chính nhờ có những quỹ này mà một phần đáng kể tiền viện trợ vẫn thuộc quyền sở hữu của Chínhphủ Mỹ). Đối với một số chương trình lớn, cần chi nhiều bạc Sài Gòn,như chương trình cải cách điền địa, “Quỹ đối giá” không đủ cung cấp, thì Mỹ cấp bằng hàng tiêu dùng bán vào nội địa, lấy tiền bỏ vào “Quỹđối giá” để chi cho dự án. Trong trường hợp đó, viện trợ theo dự án được thực hiện theo con đường giống như viện trợ thương mại hóa, chỉ khác ở chỗ mức thuế nhập nội địa thấp hơn nhiều, nhằm thu gần hết cho “Quỹ đối giá”.
         
        Vì sao Mỹ đặt ra hình thức viện trợ trực tiếp? Vì sao không gộp tất cả các loại viện trợ vào một hình thức?
         
        Khoa học quản lý Mỹ không tạo ra sự phức tạp và cồng kềnh một cách vô ích. Đặt ra hình thức viện trợ trực tiếp cho các dự án, Mỹ nhằm giải quyết những vấn đề sau đây:
         
        - Kẻ trực tiếp cấp tiền cho các dự án không phải là ngân sách ngụy quyền, mà là Mỹ, nhờ đó Mỹ có toàn quyền quyết định các dự án. Nếu để ngân sách ngụy quyền đài thọ các dự án, thì hơi thiếu lý lẽ để hủy chương trình xây dựng nhà máy ươm tơ ở Quảng Ngãi, hoãn kế hoạch xây dựng nhà máy phân bón ở Biên Hòa, thiết kế các nhà máy đường chỉ để lọc lại đường thô nhập cảng chứ không có phân xưởng ép mía, trang bị cho các nhà máy giấy các máy móc của Nhật chứ không phải của Thụy Điển…
         
        - Bằng cách viện trợ trực tiếp cho các dự án, Mỹ vẫn có thể giúp ngụy quyền thực hiện tất cả các chương trình mà Mỹ thấy là cần thiết, nhưng vẫn khống chế ngân sách ngụy quyền trong một khuôn khổ nhỏ bé. Ngân sách ngụy về căn bản, chỉ đủ trả lương cho bộ máy quân sự và dân sự. Còn trong hầu hết các khoản kinh phí quan trọng khác, Mỹ vẫn trực tiếp nắm, nắm tất cả hoặc nắm phần quan trọng nhất. Một ngân sách quá lớn và quyền chu cấp quá rộng của chính quyền bản địa là điều mà lợi ích và sự an ninh của Mỹ không cho phép.
         
        - Do trực tiếp xét duyệt và đài thọ các dự án, Mỹ có thể ứng phó chủ động và nhanh chóng trước mọi biến động thất thường của tình thế. Khi tình thế đòi hỏi, Mỹ có thể lập tức đề ra các dự án và xúc tiến các dự án đó kịp thời theo ý muốn. Khi không muốn tiếp tục chương trình nữa, Mỹ có thể đình chỉ, thu hẹp, sửa đổi hoặc hủy bỏ các dự án ngay. “Chỉ có người của Washington mới thực hiện tốt các chính sách của Washington” (The Pentagon’ Papers đã dẫn), quan điểm đó của Tylor cũng chính là cái nguyên lý làm cơ sở cho hình thức viện trợ trực tiếp này.
         
        - Đặt các dự án ra ngoài quyền thảo luận và phê chuẩn của ngụy quyền, có nghĩa là không bắt buộc phải đưa ra bàn bạc và xét duyệt tại nghị viện Sài Gòn.
         
        - Có một số công trình mà hệ thống thiết kế và các công thức xây lắp thuộc bí mật quốc gia của Mỹ, Mỹ cần trực tiếp thi công. Ngụy quyền chỉ được sử dụng khi đã hoàn thành. Đó là một số công trình quân sự mang hình thức dân sự: sân bay, bến cảng, hệ thống viễn thông…
         
        Những công thức làm các đường chiến lược, một số cầu cống, một loạt các hóa chất và máy móc tinh vi, các bản mã số… và bí mật của Mỹ. Từ năm 1972, khi quân Mỹ bắt đầu rút đi nhiều, người ta thấy Mỹ bỗng thu hồi một loạt các phương tiện đã cấp. Tại một số công trình, Mỹ tháo gỡ hàng loạt thiết bị đem về hoặc hủy tại chỗ, rồi sau đó mới giao phần còn lại cho ngụy. Tại một số công trình khác, người ta lại thấy quân đội và nhân viên Mỹ tự tay tháo dỡ các thiết bị rồi trao cho ngụy quyền. Số còn lại cùng toàn bộ công trình thì được dùng mìn để phá hủy.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2017, 06:22:17 AM
         
        IV. VIỆN TRỢ NÔNG PHẨM
         
        Viện trợ nông phẩm được gọi là “Chương trình lương thực vì hòa bình” (Food for Peace). Đây là hình thức viện trợ mà Mỹ đã thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới.
         
        Hình thức viện trợ này đã có mầm mống từ trong kế hoạch Marshall.
         
        Trong đại chiến thế giới thứ II, các quốc gia châu Âu bị tàn phá nặng nề. Sau chiến tranh, châu Âu gặp những khó khăn kinh tế rất lớn, đặc biệt là về lương thực và hàng tiêu dùng. Theo kế hoạch Marshall 16 nước tư bản châu Âu được Mỹ cho vay hàng hóa, nhất là lương thực.Cũng vì phải vay trong lúc khó khăn, các nước này đã chịu nhiều ràng buộc bất lợi. Tư bản Mỹ đã đi theo giấy đòi nợ để xâm nhập các nước này. Khối NATO được thành lập trên cơ sở ràng buộc những nước đã chịu sự giúp đỡ của kế hoạch Marshall. Một trong những nguyên tắc viện trợ trong kế hoạch này là phải sử dụng phần lớn số viện trợ đó vào ngân sách quốc phòng, theo đạo luật “Viện trợ phòng thủ chung”, do Quốc hội Mỹ định ra năm 1949.
         
        Sang những năm 50, Chính phủ Mỹ định mở rộng phương thức “Viện trợ” này ra các khu vực khác trên thế giới - châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh, nhưng không thành công. Khác với các nước châu Âu, các nước Á, Phi, Mỹ la tinh chưa có sẵn một cơ sở công nghiệp mạnh mẽ để phát triển kinh tế, do đó, khó có khả năng trả những khoản nợ vay của Mỹ.Vả lại, đến thời kỳ này, uy tín Mỹ không còn như những năm sau chiến tranh. Mỹ không còn đóng vai trò một cường quốc chống phát xít và bảo vệ các dân tộc nhỏ yếu. Mỹ đã dần dần trở thành một nguy cơ xâm lược đối với nhiều dân tộc, nhiều khu vực. Đâu đâu người ta cũng sợ Mỹ.
         
        Kế hoạch Marshall được thay thế bằng hình thức khác, mềm dẻo hơn.
         
        Năm 1954, Quốc hội Mỹ thông qua “công luật về viện trợ và phát triển mậu dịch nông phẩm”, thường được gọi là luật PL.480. Đến năm1960, khi Kennedy lên cầm quyền, để thi hành “chiến lược hòa bình” trong học thuyết “Biên giới mới” Chính phủ Mỹ đã mở rộng quy mô áp dụng đạo luật này và đổi tên là “Luật nông phẩm phụng sự hòa bình”.
         
        Tổng cộng, trong 21 năm, vị trí nông phẩm thừa của Mỹ cho Nam Việt Nam tới 1,2 tỷ đô la.
         
        Nhìn chung, khối lượng viện trợ này có xu hướng ngày càng tăng lên. Có năm, như năm 1974, lên tới trên 2 trăm triệu đô la. Điều đó có nghĩa là Nam Việt Nam, một nước chủ yếu sống bằng nông nghiệp, nay phải sống bằng nông phẩm của nước ngoài và ngày càng thiếu ăn hơn.
         
        Có một số năm, viện trợ nông phẩm thừa đã xấp xỉ bằng hoặc lớn hơn cả viện trợ thương mại hóa, đó là các năm 1967, 1968, 1969. Đây là thời kỳ Mỹ đưa quân viễn chinh ồ ạt vào miền Nam, mở rộng quy mô chiến tranh. Nông thôn bị tàn phá nặng nề. Dân số không sản xuất nông nghiệp tăng vọt, cộng với số nửa triệu quân viễn chinh, làm cho nạn thiếu lương thực trở nên trầm trọng. Lúc này tăng viện trợ nông phẩm có nghĩa là tiến hành chiến tranh xâm lược không phải chỉ bằng súng Mỹ, lính Mỹ, mà bẳng cả thức ăn của Mỹ.
         
        Về cơ cấu của viện trợ nông phẩm, có thể xét hai giác độ: xét theo từng loại nông sản và xét theo ba khoản mục của đạo luật PL.480.
         
        Nếu xét theo từng loại nông phẩm viện trợ cho Nam Việt Nam, thấy gạo chiếm phần lớn nhất, khoảng 50% tổng giá trị viện trợ nông phẩm.Từ năm 1965 đến 1974, tổng số gạo viện trợ đã lên tới 3,9 triệu tấn.Thứ hai là sữa, chiếm khoảng 17%. Thứ ba là bông vải 11%. Thứ tư là thuốc lá 10%. Thứ năm là một số ngũ cốc và tiền cước vận tải qua đại dương 4% (Cụ thể trong 10 năm, từ năm 1958 đến 1967: Tổng số viện trợ: 544,9 triệu đô la. Trong đó: gạo 268 triệu, sữa đặc và sữa bột 96triệu, bông 68,9 triệu, thuốc lá 57 triệu, bột mì 50,7 triệu, ngũ cốc khác 3,6 triệu, vận tải 9,9 triệu).
         
        Mục I, chiếm phần lớn nhất. Trong 20 năm mục này lên tới gần một tỷ đô la, chiếm gần 90% tổng số viện trợ nông phẩm (Ở các nước khác, mục này cũng chiếm tỉ lệ xấp xỉ vậy. Riêng một số nơi, thì tỷ lệ còn cao hơn, như ở Indonesia tới 96%, Malaysia-tới 100% (trong thời kỳ tương ứng)).
         
        Theo luật PL.480, số nông phẩm thuộc mục I được đem bán trên thị trường của nước nhận viện trợ. Thủ tục bán cũng giống như trong viện trợ thương mại hóa, tức là bán cho các nhà nhập cảng theo giấy phép nhập cảng mà phái bộ viện trợ Mỹ sở tại đã duyệt. Nhưng chế độ thanh toán thì có mấy điểm khác:
         
        - Cuớc phí do chính phủ Sài Gòn chịu (khác với viện trợ thương mại hóa, cước phí được khấu vào viện trợ)
         
        - Tiền bán nông phẩm bỏ vào mục 44-11 trong quỹ đối giá do Mỹ nắm, khác với tiền lương trong viện trợ thương mại hóa, bỏ vào mục44-20, do hai bên cùng quản lý.
         
        - Số tiền thanh toán của các nhà nhập cảng phải tính theo hối suất cao nhất trên thị trường Sài Gòn, thường cao gấp đôi so với hối suất trong viện trợ thương mại hóa. Để bù lại sự thiệt thòi này, hàng nông phẩm được miễn thuế hoặc chỉ phải nộp một số lệ phí rất thấp.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2017, 07:05:02 AM
         
        Như vậy, khác với viện trợ thương mại hóa, viện trợ nông phẩm (mục I) được thu hồi đầy đủ giá trị một lần, ngay tại ủy ban nhập cảng.
         
        Theo các hiệp định đã ký giữa Mỹ và ngụy, số tiền thu do bán nông phẩm trong mục 44-11 thuộc “Quỹ đối giá”, tuy thuộc sở hữu của Mỹ,nhưng Mỹ chỉ sử dụng 20%, số còn lại cấp cho ngụy để ngụy trang trải các chi phí quân sự. So với các nơi khác, thì tỷ lệ 20% là tỷ lệ thấp nhất. Ở Ấn Độ, Mỹ lấy lại 72% giá bán nông phẩm viện trợ, ở châu Mỹ Latinh trên 30%, ở Ai Cập 41%, ở Pakistan 62%. Ở các nước kể trên,Mỹ thường dùng số tiền địa phương này để đầu tư vào các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp tại chỗ. Hoặc Chính phủ Mỹ đầu tư trực tiếp, hoặc tư bản tư nhân vay để đầu tư (Theo một điều luật của Mỹ, gọi là luật Cooby, thì ngân sách xuất nhập khẩu Mỹ (Eximbank) có quyền lấy thêm 25% nữa trong số tiền bán nông phẩm theo luật PL.480, dùng để tài trợ cho các công ty Mỹ hoạt động tại nước nhận viện trợ nông phẩm). Có một phần nhất định số tiền được đem cho chính phủ hoặc các tư nhân người bản xứ vay để kinh doanh theo các chương trình mà phái bộ viện trợ ủng hộ.
         
        Đến đấy, đã có thể hiểu được vì sao phải thanh toán hàng viện trợ nông phẩm theo hối suất tự do. Trong viện trợ thương mại hóa, toàn bộ số tiền bán hàng được giao cho chính phủ địa phương, bằng cách này hay cách khác. Ở đó, hối suất cao hay thấp không có quan hệ gì tới quyền lợi của Mỹ. Trong viện trợ nông phẩm thì khác. Mỹ có lấy lại một phần tiền bán hàng, mà lại là tiền địa phương. Trong trường hợp này, hối suất ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền mà Mỹ thu về. Nếu hạ thấp hối suất xuống ½, thì số tiền dành cho Mỹ sẽ hụt đi ½. Như trường hợp ở Việt Nam, nếp áp dụng hối suất trong viện trợ thương mại hóa, thì số 20% tiền bán nông phẩm dành cho Mỹ, thực ra, chỉ là 10%. Ở các nước khác, nơi tỷ lệ giành cho Mỹ còn cao hơn nhiều, thì sự thiệt thòi của Mỹ càng lớn. Ở đây không thể tính đến chuyện thu hồi khoản thiệt hại đó trong thuế nhập cảng. Thuế đó là thu nhập của Nhà nước địa phương.
         
        Đối với các nhà nhập cảng, để bù lại sự thiệt thòi của họ trong việc thanh toán theo hối suất tự do, Mỹ khuyến nghị trong các hiệp định ký với các Nhà nước địa phương: Miễn thuế hoặc hạ rất thấp mức thuế nhập khẩu nông phẩm. Biện pháp này có tác dụng cào bằng hoặc gần bằng suất lợi nhuận giữa nhập cảng nông phẩm và nhập cảng hàng viện trợ thương mại hóa. Đó là cách kích thích, làm cho các nhà nhập cảng không đổ xô vào chương trình nhập cảng thương mại hóa, mà vẫn sẵn sàng bỏ tiền ra nhập nông phẩm dù phải chịu hối suất cao hơn, để nuốt trôi một số lớn nông phẩm Mỹ vào thị trường của một quốc gia nông nghiệp.
         
        Đối với chính quyền bản xứ, mà phần lớn là những nước sống bằng nông nghiệp, thì nhập nông phẩm là điều bất ưng. Xét theo lợi ích quốc gia, các nước này thường có khuynh hướng cố gắng tự túc lương thực,và chỉ nhập hàng công nghiệp, nhất là nhập tư liệu sản xuất. Đã thế,nhập nông phẩm lại phải chịu hối suất cao và hầu như không thu được thuế nhập khẩu; tức là thiệt thòi đủ mọi bề. Nhưng Mỹ có cách không cưỡng ép mà chính phủ các quốc gia nông nghiệp vẫn ra sức nhập nông phẩm Mỹ. Như đã nói, Mỹ chỉ lấy một phần số tiền bán nông phẩm thôi. Phần còn lại, Mỹ cho các chính phủ đó vay, hoặc cho không. Về bản chất, khoản này có tác dụng như món tiền hoa hồng mà vì nó, cả chính phủ địa phương cũng ra sức nhập nông phẩm Mỹ. Bất kể nó ảnh hưởng thế nào đến lợi ích cơ bản và lâu dài của quốc gia, nhưng trước mắt là có thêm tiền cho ngân sách và có thêm thức ăn cho một số dân đang thiếu đói.
         
        Ở Việt Nam, mức hoa hồng còn lớn hơn nhiều. Do những khó khăn rất lớn của ngụy quyền, Mỹ dành cho ngân sách bản xứ tới 80% tiền bán nông phẩm viện trợ. Số 20% Mỹ lấy lại chủ yếu là để cho các cơ quan của Mỹ tại Việt Nam chi tiêu và trả lương cho các nhân viên (người Mỹ, người một số quốc gia khác và một số khá lớn người ViệtNam) (Trong 10 năm, từ 1958 đến 1967, tổng số 555 triệu đô la viện trợ nông phẩm thuộc mục I, có 415 triệu cấp cho ngân sách quân sự của ngụy quyền, 129,7 triệu để Mỹ sử dụng, 5,7 triệu cho tư bản Mỹ và một số tư sản Việt Nam vay để kinh doanh công nghiệp và xuất nhập khẩu).


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2017, 07:05:33 AM
         
        Từ năm 1973, Mỹ ký tiếp với ngụy quyền 2 bản hiệp nghị nữa, quy định cho ngụy quyền hưởng 100% giá bán nông phẩm viện trợ. Giải pháp này có 3 lý do chính:
         
        - Sau khi quân Mỹ rút, khả năng nhập khẩu giảm sút hẳn, ngân sách ngụy quyền rất khó khăn. Mỹ coi đây là một trong những biện pháp tích để vực ngụy quyền đứng vững.
         
        - Từ năm 1973, chi tiêu của Mỹ ở Việt Nam giảm đi rất nhiều, nhu cầu của Mỹ về bạc Sài Gòn giảm sút hẳn so với các năm trước.
         
        - Các ngân hàng còn ứ đọng một số lớn bạc Sài Gòn thuộc sở hữu của Chính phủ Mỹ, do quân đội và nhân viên quân sự Mỹ trước khi về nước đổi số tiền còn lại của họ, theo như “Luật ngoại hối” cua Chính phủ Mỹ cho phép. Số “kết dư” này đủ cho Mỹ chi dùng ở Việt Nam không cần trích thêm trong giá bán nông phẩm viện trợ nữa.
         
        Nhưng đến năm 1974 thì mục I của viện trợ nông phẩm ở Nam ViệtNam chấm dứt thời kỳ “trăng mật” của nó. Như đã nói ở chương II, thất vọng và tốn kém đã làm cho Quốc hội cứng tay hơn trong việc siết chặt túi tiền lại. Một đạo luật đã được thông quan, quy định cấm không được dùng viện trợ nông phẩm của Mỹ để đài thọ cho các chi phí chiến tranh. Những khoản tiền bán nông phẩm đã cấp không, buộc phải quyết toán xong vào ngày 30-6-1974. Kể từ ngày 1-7-1974, tiền bán nông phẩm viện trợ được cấp theo chế độ cho vay. Đến lúc này, vì đã chống cái nạng “viện trợ Mỹ” đi quá xa rồi, Thiệu vẫn phải ký hiệp nghị vay nông phẩm Mỹ. Tính cho đến ngày 30-4-1975, số nông phẩm đã vay trong 9 tháng (kể từ 1-7-1974) là 38,9 triệu đô la. Tất nhiên, cho đến lúc đó, chính quyền Thiệu vẫn chưa trả một đồng nào.
         
        Mục II của chương trình viện trợ nông phẩm được gọi là “chươngtrình cứu trợ khẩn cấp”. Phần này được trao cho chính phủ bản địa,nhưng không phải để đem bán lấy tiền, mà để trợ cấp trực tiếp trong những trường hợp đặc biệt. Trong những năm đầu sau hiệp định Geneve, số tiền viện trợ khẩn cấp này chủ yếu được sử dụng cho số dân miền Bắc di cư vào Nam và ổn định đời sống của họ. Trong các thời kỳ sau, viện trợ khẩn cấp chủ yếu dành để trợ cấp cho nhân dân những vùng bị chiến tranh tàn phá, bị dồn về các ấp chiến lược hoặc ra thành thị. Ngoài ra, Mỹ cung cấp cho ngụy quyền một số lượng thực tế để cứu trợ cho những vùng bị lụt, bị đói… Tính cho đến năm 1975, số “viện trợ khẩn cấp” này vào khoảng hơn một trăm triệu đô la.
         
        Mục II của viện trợ nông phẩm thừa, gọi là “viện trợ nhân đạo”, đượccấp thẳng cho các cơ quan và các tổ chức “từ thiện”, không thuộc bộ máy Nhà nước. Phần lớn đó là các tổ chức tôn giáo. Ngoài ra, cũng có một số tổ chức văn hóa, y tế và các “đoàn thể quần chúng” như Hội những người bạn của Mỹ”, “Tổ chức đỡ đầu trẻ mồ côi”, “ủy ban cứu trợ gia đình tử sĩ”…
         
        Trong 20 năm, số viện trợ nhân đạo cho Việt Nam cũng vào khoảng trên một trăm triệu đô la. Phần lớn nhất trong số này được cấp cho các tổ chức công giáo, đặc biệt là “Cơ quan cứu trợ của những người công giáo” (CRS). Trong một số tổ chức “từ thiện”, Mỹ đã cử người của CIA vào để hoạt động. Như chính Richrad Bissel, nguyên quyền Giám đốc CIA đã nói:
         
         “Nếu muốn cho CIA hữu hiệu thì nó phải sử dụng các cơ quan tư nhân” (Steve Weissman, The Trojan Horse (Con ngựa thành Troa). SanFrancisco, Rampart Press 1974).
         
        Ta có thể lấy “cơ quan cứu trợ của người công giáo” làm một ví dụ.Người đỡ đầu cơ quan này là Spellman, Tổng giám mục New York. Spellman cũng chính là người cha đỡ đầu của Ngô Đình Diệm, từ khi còn lưu vong ở Mỹ, và đã tích cực góp phần chuẩn bị đưa Diệm trở về.Trong thời kỳ 1954, 1955, Spellman ra sức vận động Chính phủ Mỹ và CIA tổ chức cho hàng chục vạn giáp dân di cư vào Nam. Trong nhiều cuộc gặp gỡ với E.Landsdale (cầm đầu tổ chức CIA ở Việt Nam),Spellman đã bàn bạc về việc phối hợp giữa các tổ chức tình báo Mỹ vớicác cơ quan cứu trợ “để chuyển làn sóng công giáo tị nạn cộng sản thành một cơ sở quần chúng cho Ngô Đình Diệm”. Spellman đã tạo cho Diệm một cơ sở chính trị khá rộng trong giáo dân và thu hút hàng vạn thanh niên công giáo vào quân đội Diệm. Trong thời kỳ 1955-1960, số thanh niên công giáo miền Bắc di cứ chiếm 50% quân số của Diệm.Cho đến 1963, tỷ lệ đó vẫn còn tới 33%.
         
        Sau khi Diệm chết, Chính phủ Mỹ vẫn còn tìm thấy ở Spellman và tổ chức của ông ta một sự cộng tác đắc lực. Năm 1967, ngân sách quốc phòng ngụy quyền thiếu hụt, không đủ trả lương cho lính ngụy. Nếu chờ tăng viện cho ngân sách thì phải qua nhiều thủ tục kéo dài (hàng năm Quốc hội Mỹ chỉ phê chuẩn một lần). Tướng Westmoreland đã nhờ đến tổ chức từ thiện CRS của Spellman. Tổ chức này được phép sử dụng 8.000 tấn nông phẩm để chi cho các chương trình từ thiện. Như nhà thần học Michael Novak cho biết, 7.000 tấn trong số đó được chuyển cho quỹ lương của quân ngụy.
         
        Những khoản viện trợ từ thiện của các tổ chức khác như “tổ chức cứu trợ mọi nơi của Mỹ” (CARE), “ủy ban quốc tế cứu nguy” (IRC), các”Hội những người bạn Mỹ”… phần lớn cũng được sử dụng theo nhữngphương pháp và nhằm mục đích tương tự như trường hợp vừa kể trên.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2017, 04:06:02 AM
         
        Bây giờ, thử bàn đôi chút về ý nghĩa của viện trợ nông phẩm.
         
        Tại sao Mỹ đặt nông phẩm vào một loại viện trợ riêng biệt, có những quy chế riêng của nó? Tại sao lại đưa nông phẩm vào chính các nước nông nghiệp? Kết quả của việc đó ra sao?
         
        Trước hết, xét về phía Mỹ. Do những yếu tố tự nhiên và kinh tế, nền nông nghiệp Mỹ đã đạt tới năng suất rất cao. Ngay từ đầu thế kỷ XX,nông phẩm thừa do chính nền sản xuất đó tạo ra trở thành một trở ngại của bản thân nền sản xuất đó. Nói “thừa” tức là thừa theo những điều kiện thực hiện của tái sản xuất. Dân chúng vẫn thiếu đói. Những nông phẩm vẫn thừa ứ. Nếu đem bán rẻ hoặc cho không, thì nạn thừa ứ và nạn thiếu đói cùng bị thủ tiêu. Đối với nhà kinh doanh thì như vậy không những mất lợi nhuận, mà còn mất luôn cả thị trường, vì nhu cầu lương thực đã được giải quyết. Trong thời kỳ đầu, tư bản giải quyết mâu thuẫn này bằng cách thiêu hủy hàng thừa ế và phá hủy bớt năng lực sản xuất. Đã có thời kỳ Mỹ đổ nông phẩm xuống biển, đốt trụi những cánh đồng lúa mì đã chín. Thà như thế còn hơn bán rẻ hoặc cho không. Ta thường nói: Cơm không ăn thì gạo còn đó. Trong trường hợp này thì: Cơm không ăn, những kẻ vẫn còn đó. Đổ đi thì mất của.Nhưng còn nhu cầu của thị trường. Bán rẻ hay cho không thì mất cả hai.
         
        Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã tìm được một “Đại dương” khác để tiêu thụ những nông phẩm: Đó là những nước đang phát triển. Ở đấy, Mỹ giải quyết được vấn đề theo cách khác.
         Trong việc này, phải kể đến nhân tố kết hợp quan trọng. Với vai trò cảnh sát quốc tế, Mỹ phải giăng ra khắp thế giới một màng lưới các công cụ quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa… để thực hiện chiến lược toàn cầu. Mỹ buộc phải chi phí để nuôi dưỡng hệ thống các công cụ này.
         
        Trong sự cần thiết phải chi phí này, viện trợ Mỹ tìm thấy ở mấy chục triệu tấn nông phẩm một phương tiện thuận lợi.
         
        Và mấy chục triệu tấn nông phẩm này cũng tìm thấy ở viện trợ Mỹ một lối thoát thênh thang.
         
        Sự gặp gỡ này đã sản sinh ra cái gọi là “viện trợ nông phẩm” hay “lương thực vì hòa bình”, hay đạo luật PL.408 đã nói trên. Cho đến nay,vẫn nhiều người chưa hiểu tại sao chính phủ Mỹ lại mua đắt của các chủ trại rồi đem bán rẻ ra nước ngoài, tại sao lại có chuyện trợ giá cho người sản xuất hay trợ giá cho xuất khẩu 30-40 tỷ đô la/năm. Quả là nếu tách riêng viện trợ nông phẩm ra, người ta dễ có cảm giác rằng đó hoặc là điều vô lý và quái gở, tiêu thụ nông phẩm thừa ế để kiếm lời, ít nhất là đối với phần giá trị được cấp không cho dân chúng hay cho chính phủ bản xứ.
         
        Nhưng nếu đặt viện trợ nông phẩm trong cái tất yếu phải chi tiêu,phải trả giá cho việc bảo vệ lợi ích của Mỹ trên thế giới thì bản chất của nó bộc lộ ra rõ ràng hơn. Đằng nào cũng phải phí tổn, phải trả giá. Vậy thì nông phẩm đang là một trong những thứ có thể dùng để trả giá tốt nhất, rẻ nhất. Còn việc mua đắt, bán rẻ, tốn kém vài chục tỷ đô la, thì suy cho cùng, ngân sách phải trả. Ngân sách này dựa trên một sức mạnh hùng hậu của công nghiệp. Có thể nói công nghiệp Mỹ đã tài trợ cho nông nghiệp để nông nghiệp nắm lấy dạ dày của thế giới. Nhưng nắm được dạ dày của thế giới lại là cách tốt nhất và rẻ nhất để chiếm lĩnh thị trường cho công nghiệp. Vậy thì việc công nghiệp tài trợ cho nông nghiệp thực ra cũng là chi phí cho công nghiệp.
         
        Như vậy, đối với Mỹ, viện trợ nông phẩm thừa đem lại những kết quả về nhiều mặt. Số nông phẩm thừa hàng chục triệu tấn hàng năm không phải đổ đi và mất không, cũng không phải tích trữ lại và do đó đỡ được khoảng 400 triệu đô la hàng năm về chi phí bảo quản và hao hụt. Mỹ vừa tiêu thụ được số nông phẩm đó, vừa có tiền để chi tiêu và kinh doanh tại các nước khác, vừa trả giá được cho các nước đó về việc bảo vệ lợi ích toàn cầu của Mỹ, vừa bảo đảm được thu nhập của nông dân Mỹ không bị tụt xuống quá mức do giá nông sản trong nước giảm mạnh và góp phần trói buộc các quốc gia trong vòng kiềm tỏa của Mỹ, do đó mở thị trường cho công nghiệp Mỹ…
         
        Những nhà thiết kế của bộ máy viện trợ Mỹ đã nghĩ ra cho hình thức viện trợ này một cơ chế riêng của nó, nhằm làm sao phí tổn ít nhất mà lại đạt hiệu quả cao nhất.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2017, 04:06:52 AM
         
        Khi xem xét viện trợ thương mại hóa, viện trợ theo dự án, ta thấy chúng đều có những cơ chế riêng. Viện trợ nông phẩm cũng vậy.
         
        Đối với nước nhận viện trợ, phải xem xét kết quả của viện trợ ở hai phía.
         
        Đối với nhân dân nước được viện trợ nông phẩm, thì “lợi bất cập hại”. Ta biết, số nông phẩm cấp không (mục II và III) chỉ chiếm một phần nhỏ, lại bị bớt lại gần hết. Số lọt tới tay dân chúng, những nạn nhân của chế độ, không sao bù nổi tổn thất mà họ phải chịu đựng - tan cửa, nát nhà, bỏ làng, bỏ xóm, chồng con chết ngoài mặt trận. Phần lớn nhất của viện trợ nông phẩm (mục I), dù có là viện trợ cấp không,hoặc phần lớn được cấp không, như ở Nam Việt Nam, thì cũng là cấp cho chính phủ. Chính phủ này lại đem bán trên thị trường như một người bán hàng. Dân chúng phải bỏ tiền ra để “tiếp nhận” như mọi người mua hàng.
         
        Vậy đối với nhân dân, mà đa số là nông dân, thì tự sản xuất ra nông phẩm rõ ràng là có lợi hơn nhận viện trợ nông phẩm. Tự sản xuất thì nông phẩm là của nông dân. Nhận viện trợ thì nông phẩm là của Nhà nước mà người dân phải bỏ tiền ra mua. Trong khi đó, nông nghiệp bị Nhà nước bỏ mặc trong cảnh sa sút. Số dân cư thoát ly nông nghiệp ngày càng nhiều. Viện trợ nông phẩm tạo thêm cơ sở cho đô thị hóa giả tạo. Phần lớn số dân thoát ly sản xuất nông nghiệp là thoát ly sản xuất nói chung, chứ không phải chuyển sang sản xuất công nghiệp… Vậy thìsố dân phi sản xuất và thiếu ăn này lấy đâu ra tiền để mua nông phẩm? Nếu không có thu nhập trong sản xuất, thì họ chỉ còn mấy cách sau đây: buôn bán, làm các nghề phục vụ, đi làm thuê hay đi lính cho chính phủ. Trong trường hợp này, Mỹ đã dùng nông phẩm thừa để đổi lấy nhân viên phục vụ và lính đánh thuê.
         
        Đối với chính phủ bản địa, viện trợ nông phẩm là một món lợi, đúng hơn, là một khoản tiền thuế rất hời. Nhận viện trợ nông phẩm để bán trong nội địa, dù phải trả lại cho Mỹ một phần thì ngân sách vẫn được hưởng không một số tiền. Nếu khắc phục nạn thiếu đói bằng cách tự lực phát triển sản xuất nông nghiệp, thì Nhà nước phải đầu tư vào thủy lợi, vào cải tạo đất, vào kỹ thuật canh tác…, mà cũng phải hàng chục năm mới giải quyết được vấn đề. Vả lại, nếu giải quyết nhu cầu nông phẩm bằng phát triển nông nghiệp, thì người trước hết làm chủ số nông phẩm sản xuất ra là những người sản xuất, dù đó là địa chủ, hay tư bản nông nghiệp, hay nông dân. Ngân sách Nhà nước chỉ được hưởng một phần trong số đó, thông qua thuế. Phần này tất nhiên không thể chiếm một tỷ lệ quá cao. Thu cho ngân sách từ nguồn này không những không được nhiều, mà còn khó khăn chật vật, và Nhà nước buộc phải đụng chạm tới những người sản xuất. Như vậy, bất kể việc phát triển nông nghiệp là phương án có lợi như thế nào cho dân tộc và cho nền kinh tế quốc dân, thì đối với Nhà nước ngụy, nó vẫn không phải là phương án tốt nhất. Đối với nó, nhận viện trợ nông phẩm của Mỹ là phương án tốt hơn. Phương án này vừa giúp nó giải quyết nạn thiếu đói (cái mà đối với nó là một vấn đề có ý nghĩa chính trị), vừa có ngay một món tiền cho ngân sách, lại ít bị ràng buộc của dân chúng trong việc sử dụng số tiền đó. Có thể nói viện trợ nông phẩm là một cục nam châm cuốn hút nhiều Nhà nước từ bỏ lợi ích dân tộc và sẵn sàng bán rẻ lợi ích của nền kinh tế quốc dân cho quyền lợi ích kỷ của giai cấp thống trị.
         
        Có thể lấy năm 1973 làm ví dụ: Theo tính toán của nhiều nhà kinh tế ngụy quyền, thì năm đó thực ra miền Nam có thể tự túc được lương thực. Thậm chí nếu được quan tâm chút ít về thủy lợi và các tư liệu sản xuất như xăng dầu, phân… thì có thể xuất khẩu độ 10 vạn tấn. Đã có một số chuyên gia đề đạt với Thiệu vấn đề này. Nhưng Thiệu kiên quyết gạt đi. Thiệu thấy rằng nếu Nam Việt Nam sản xuất đủ lương thực, hơn nữa, lại xuất cảng, thì số lợi đó phần lớn nằm ở tay tư nhân.Chính phủ cùng lắm cũng nhờ đó mà thu thêm được khoảng 10 tỷ đồng (bạc Sài Gòn) tiền thuế các loại. Nhưng như vậy thì Mỹ sẽ cắt viện trợ nông phẩm. Riêng về số gạo viện trợ, sẽ mất đi 26 vạn tấn, tức là “thất thu” mất hơn 30 tỷ đồng (Tính theo tỷ giá trung bình của năm đó là 120đồng/kg). Ấy là chưa kể một số nông phẩm viện trợ khác trị giá hơn 20 tỷ nữa cũng sẽ bị cắt luôn. “Lợi” và “hại” đã thấy rõ. Mặc cho hơn 50 vạn ha bỏ hoang, mặc cho hàng triệu nông dân lam lũ trong lối sản xuất lạc hậu, thiếu thốn, không có một công trình thủy lợi nào. Các kênh rạch hàng chục năm không được nạo vét. Giá xăng vẫn tăng vọt. Giá máy cày, phụ tùng ngày càng cao. Máy móc chỉ đảm bảo canh tác dưới 20% đất trồng. Nông dân phải nai lưng ra cày cuốc số 80% diện tích ruộng đất, mà gần 50% phải cuốc bằng tay. Trâu bò quá khan hiếm, chỉ đủ sức kéo cho hơn 30% diện tích. Đối với chính quyền ngụy thì không sao cả. Đã có viện trợ Mỹ. Chính phủ vẫn có tiền. Hạn chế nhập nông phẩm làm gì? Tự lực làm gì? Tốt nhất là cứ thiếu đói và cứ tiếp tục chiến tranh để Mỹ cứ viện trợ. Thậm chí, như một ký giả đã nhận xét, có lúc Thiệu muốn “Việt cộng” mở cuộc tấn công và thổi phồng sự đe dọa đó, để Mỹ phải viện trợ nhiều hơn (J.Claude Pomonti.Sự cuồng nhiệt muốn làm người Việt Nam. Đã dẫn). Kết quả là: trongnăm 1973 sản xuất nông nghiệp giảm sút 21%. Nhưng viện trợ nông phẩm lại tăng 50%. Riêng mục I thì tăng từ 108,4 lên 160,8 triệu đô la. Mà như ở trên đã nói, đến năm này, Mỹ cho Thiệu được hưởng 100% tiền bán số nông phẩm đó.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2017, 03:43:45 AM
         
        Cuối cùng, cái điều mà một số báo chí Sài Gòn đã cảnh cáo Thiệu từ nhiều năm trước, đã xảy đến: “Người Việt Nam sẽ sa vào một tấm thảm kịch, đó là thảm kịch không tự nuôi sống mình được. Chỉ trông vào hàng hóa, lúa gạo nhập cảng, thì sợ có ngày vi cái ăn, cái mặc mà phải sa vào cảnh tự sát của một quốc gia” (Báo Công luận, Sài Gòn, 1-9-1968).
         
        Cái bản chất này của viện trợ nông phẩm không phải là trường hợp đặc biệt của Nam Việt Nam. Ở Nam Việt Nam, nó thể hiện rõ nét nhất. Nhưng ở nước khác, nó cũng có hậu quả phổ biến là: khi một nước chẳng may sa vào sự “cứu vớt” của nó, thì sức tự nuôi sống càng yếu thêm, đã thiếu càng thiếu thêm và càng phải bấu víu vào nó nhiều hơn.Đông Nam Á, như ta biết, cho đến trước đại chiến thứ II, không hề phải nhập lương thực. Trái lại, là một trong những vùng xuất cảng nông phẩm quan trọng của thế giới. Nhưng từ sau đại chiến II, nhất là từ khi có viện trợ nông phẩm của Mỹ, thì Đông Nam Á lại trở thành vùng nhập lương thực ngày càng nhiều. Đặc biệt trong thập kỷ 60 và 70, Đông Nam Á là một trong những vùng nhập lương thực nhiều nhất trên thế giới - ít nhất 15 triệu tấn mỗi năm, mà phần lớn là nhập của Mỹ, Ấn Độ phải nhập 18% ngũ cốc, trong đó 13% là nhập của Mỹ. Năm được mùa nhất như năm 1969, Ấn Độ cũng phải nhập của Mỹ tới 4 triệu tấn bột mì. Pakistan nhập tới 26% lương thực, trong đó 20% là nhập của Mỹ.
         
        Rút cuộc người ta chứng kiến một điều thật trớ trêu: các nước chuyên về sản xuất nông nghiệp và đã có truyền thống nông nghiệp từ ngàn xưa, lại phải sống nhờ vào lương thực của các nước đế quốc công nghiệp!
         
        Điều bất hạnh là ở chỗ: những nước này có đất đai, có thừa lao động, nhưng lại có viện trợ nông phẩm. Chính cái “chất lạ” này đã làm tê liệt mọi sức kích thích đối với việc cải tạo và phát triển sản xuất nông nghiệp, về kỹ thuật cũng như về quan hệ sản xuất. (Một vài tácgiả Mỹ đã vạch rõ nạn thiếu đói tại các quốc gia đang phát triển chủ yếu là do quan hệ sản xuất cũ, với chế độ sở hữu lạc hậu của địa chủ.Viện trợ nông phẩm là cách giải quyết thay cho cải cách ruộng đất, nhằm ngăn chặn sự bùng nổ một cuộc cách mạng to lớn ở nông thôn. Steve Weisman. Đã dẫn, trang 78). Cũng chính nó đã góp phần đô thị hóa giả tạo và rút bớt một cách vô lý nhân khẩu nông nghiệp…
         
        Điều bất hạnh hơn nữa là; khi đã cắn vào mẩu bánh mì của Mỹ, thì chủ quyền cũng bị sứt mẻ. Dọa cắt viện trợ là thủ đoạn của Mỹ thường dùng đến khi thấy viện trợ đã bắt đầu trở thành món ăn không thể thiếu. Ta lấy một ví dụ về Ấn Độ. Năm 1970, chính phủ Ấn Độ quyết định đóng cửa các trung tâm văn hóa của Mỹ trên đất Ân Độ, nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của văn hóa phương tây. Mỹ chỉ cần cho vài tờ báo loan tin rằng Mỹ sẽ cắt 1/3 số lúa mì viện trợ. Hai tháng sau các trung tâm văn hóa lại mở cửa như thường lệ.
         
        Trong cuốn “Sự bành trướng của Mỹ ở Đông Nam Á” M.Selden đã cómột đoạn nhận xét khá đông đặc về viện trợ nông phẩm thừa của Mỹ: “Đáng lẽ viện trợ phải giúp người ta tự nuôi sống mình tốt hơn, từ thiếu đến đủ và ngày càng no ấm, thì nó lại giúp người ta từ thiếu đến thiếu hơn, tự nuôi mình khó khăn hơn. Nó đã nhử người ta chỗ còn làm ra mà ăn, đến chỗ bỏ cả cơ nghiệp, và rút cuộc nó đã giúp người ta thành kẻ ăn vay, rồi ăn xin và do đó thành một thứ nô lệ” (M.Selden Die USExpansion in Sud-Ost Asian Berlin 1973).
         
        Sang cuối thập kỷ 70, nhất là từ thập kỷ 80, hàng loạt nước châu Á đã thoát ra khỏi cái vòng oan nghiệt này và đã có sự phục hồi đáng khâm phục trong nông nghiệp. Không thể đồng ý với một số kinh tế gia rằng chính viện trợ Mỹ trong các thập kỷ trước đã giúp cho nông nghiệp bản địa trưởng thành và tự lập. Ngược lại thì đúng hơn: nhờ đã thức tỉnh và vùng vẫy ra khỏi viện trợ nông phẩm Mỹ nên nông nghiệp của các nước này mới phục hồi được, tuy phải trải qua những cơn vật vã và khủng hoảng gay gắt nhiều năm. Kết luận này hầu như đã được mọi chính khách nổi tiếng của các nước đó như I.Gandi, Suharto, Mahathyr… xác nhận.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2017, 03:15:12 AM
       
        V. VIỆN TRỢ CHO VAY
         
         “Người Mỹ muốn làm thật nhiều, nhưng lại muốn tốn thật ít” (Phát biểu của Trần Văn Chương, Đại sứ ngụy quyền tại Washington, trước sinh viên Việt Nam học tại Mỹ ngày 13-11-1963. Tin UPI, 14-11-1963).
         
        Đối với viện trợ cũng vậy. Trước cùng một nhu cầu chi viện, thì càng hạn chế phần cho không và càng thay bằng cho vay bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu.
         
        Ở Nam Việt Nam, Mỹ cũng có khuynh hướng đó, Mỹ đã thử thực hiện phần nào. Nhưng hoàn cảnh chưa cho phép. Ngụy quyền quá ọp ẹp, lại phải cáng đáng những “trách vụ” thật nặng nề quá sức. Thực tế là ngụy quyền không đủ sức trả nổi tiền viện trợ. Nếu bắt phải chịu chế độ tín dụng như ở các nơi khác, Nam Việt Nam không thể chịu đựng nổi.
         
        Tuy nhiên, Mỹ vẫn luôn luôn tìm cách chuyển dần viện trợ cho không thành viện trợ cho vay. Trong mấy thập kỷ 60 và 70, tại nhiều khu vực trên thế giới viện trợ cho vay đã đem lại cho Mỹ những món lợi tức khổng lồ. Bản thân vốn cho vay cũng trở thành sợi dây ràng buộc nước mắc nợ phải chấp thuận nhiều yêu sách thô bạo của Mỹ (Theo thông báo của cơ quan viện trợ Mỹ thì đến năm 1975, tổng số tiền mà các nước đang phát triển còn mắc nợ của Mỹ là 90 tỷ đô la. Kể từ tài khóa1975-1976, số phải trả hàng năm khoảng 7 tỷ, tức là đã bằng số tiền viện trợ cho vay hàng năm mà các nước này nhận được theo các kỳ hạn tín dụng đã quy định. Kể từ đây, viện trợ với tính cách một nguồn tài chính đã hết, và bắt đầu mang tính chất món nợ truyền kiếp. Riêng Ấn Độ, ngay từ năm 1967-1969, hàng năm số trả nợ đã bằng số thu nhập nhờ viện trợ. Một số nước như Indonesia, không trả nổi đúng kỳ hạn, buộc phải đề nghị hoãn. Năm 1972, đề nghị này đã được chấp nhận với những điều kiện sau đây: thu hẹp khu vực Nhà nước để chuyển thêm quyền hạn cho tư bản tư nhân, kể cả tư bản ngoại quốc, bồi thường một số xí nghiệp đã quốc hữu hóa, thủ tiêu mọi di sản của chế độ Sukarno, bỏ thái độ trung lập thân cộng sản, cụ thể là phải đặt quan hệ ngoại giao với Đài Loan, Nam Triều Tiên, Philippin… Trong nhữngnăm 70, tiền trả nợ hàng năm của Indonesia chiếm 20-30% tổng giá trị xuất khẩu. Thái Lan, năm 1968, được viện trợ cho vay 120 triệu đô la, với điều kiện phải góp quân đội cho chiến tranh xâm lược Việt Nam…).
         
        Chỉ từ sau khi thất bại trong chiến tranh Việt Nam, và cũng do các nước thế giới thứ ba phản ứng gay gắt với những thủ đoạn can thiệp thô bạo, Mỹ thấy có nguy cơ bị đẩy ra khỏi nhiều khu vực, thì viện trợ Mỹ và những điều kiện của viện trợ Mỹ mới được sửa đổi dần.
         
        Ở Nam Việt Nam, Mỹ chưa khai thác được cái khả năng này. Viện trợ cho vay còn rất hạn chế, với số lượng nhỏ và chớm xuất hiện trong một số năm thôi. Đó là thời kỳ 1957-1960, khi Diệm hy vọng sắp “chặt đầu cách mạng”. Đó là thời kỳ 1966-1967, khi Mỹ đưa quân ồ ạt vào, Johnson hy vọng sớm dứt điểm chiến tranh và chỉ một vài năm nữa, với kế hoạch “phát triển kinh tế hậu chiến” của Lilienthal, giai đoạn khai thác có thể bắt đầu.
         
        Tổng số viện trợ cho vay mà Mỹ cấp cho Nam Việt Nam vào khoảng 140 triệu đô la. Năm cao nhất cũng chưa tới 30 triệu đô la.
         
        Viện trợ cho vay được cấp theo hai con đường:
         
        - Phái bộ viện trợ Mỹ thay mặt Chính phủ Mỹ, đứng ra cho ngụy quyền vay. Số tiền này lấy ra trong ngân sách viện trợ của Chính phủ Mỹ.
         
        - Các tổ chức tín dụng quốc tế của Mỹ như “Quỹ tín dụng phát triển”, “Ngân hàng phát triển”, ”Ngân hàng xuất nhập cảng”… đứng ra cho chính quyền hoặc tư nhân ở Nam Việt Nam vay, theo những thủ tục tín dụng thông thường, không nằm trong khuôn khổ viện trợ Nhà nước.
         
        Phần lớn viện trợ cho vay được cấp dưới hình thức hiện vật tức là hàng hóa.
         
        Đối với các khoản mục cho vay để xây dựng các công trình, thì Mỹ trực tiếp cấp trang thiết bị, tính ra đô la. Ngụy quyền sẽ trả bằng đô la hoặc bằng bạc Sài Gòn.
         
        Đối với các nhu cầu chi bằng tiền mặt, Mỹ thường cũng cho vay bằng hàng hóa, ngụy quyền bán ra thị trường lấy tiền chi dùng. Khoản vay này cũng tính bằng đô la, trả bằng đô la hoặc bằng bạc Sài Gòn, tính theo hối suất thực tế.
         
        Một phần tương đối nhỏ của viện trợ cho vay được cấp trực tiếp bằng tiền mặt. Thông thường, Mỹ chỉ cấp bằng bạc Sài Gòn, lấy trong “Quỹ đối giá” do viện trợ thương mại hóa và mục I của viện trợ nông phẩm cung cấp.
         
        Có một vào khoản đặc biệt, không nhiều, Mỹ cho vay trực tiếp bằng đô la. Đó là những khoản mà ngụy quyền nhất thiết phải dùng đô la để chi tiêu, chẳng hạn các món tiền đóng góp để gia nhập các tổ chức quốc tế, một số phí tổn đối ngoại, v.v… Có một số khoản, nhất là các khoản cho vay trực tiếp bằng đô la, Mỹ buộc ngụy quyền phải thanh toán bằng bạc Sài Gòn, nhưng tính theo hối suất tự do.
         
        Trong các hiệp định cho vay ký với ngụy quyền, đều có những điều quy định rõ ràng về kỳ hạn thanh toán, hình thức thanh toán và chế độ phạt khi vi phạm hiệp định.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2017, 03:15:48 AM
         
        Xin kể qua một số khoản cho vay cụ thể:
         
        - Năm 1956, phái bộ viện trợ Mỹ cho Ngô Đình Diệm vay 21 triệu đô la để sung vào ngân sách quốc phòng. Cùng năm đó, “Ngân hàng xuất nhập khẩu Hoa Thịnh Đốn” cho chính phủ Diệm vay 4 triệu đô la để đóng tiền gia nhập tổ chức “Quỹ tiền tệ quốc tế”. Thời hạn thanh toán hết là 40 năm. Lợi tức là 3% một năm nếu trả bằng đô la, 4% nếu trả bằng đô la miền Nam (se nói tới mục sau), 6% nếu trả bằng bạc Sài Gòn.
         
        - Năm 1958 phái bộ viện trợ Mỹ cho chính phủ Diệm vay 25 triệu đô la để nhập cảng hàng hóa và dịch vụ. Chế độ thanh toán cũng giống như đã kể trên.
         
        - Năm 1958, “Quỹ tín dụng phát triển” - DLF (Development LoanFund) cho Diệm vay 3,5 triệu đô la dưới hình thức hiện vật, gồm các thiết bị cần thiết để đổi mới hệ thống viễn thông. Thời gian thanh toán hết là 20 năm. Lợi tức là 3,5% trả bằng bạc Sài Gòn, theo hối suất tự do của năm thanh toán.
         
        - Năm 1960, “Cơ quan phát triển quốc tế” - IDA (InternationalDevelopment Agency) cho ngụy quyền vay 9,7 triệu đô la để mua đầu máy, toa xe cùng các thiết bị hỏa xa, thời hạn thanh toán hết là 5 năm,lợi tức 3,5%, cũng trả bằng bạc Sài Gòn theo hối suất tự do của năm thanh toán.
       
        Cũng trong năm 1960, “Quỹ tín dụng phát triển” cho ngụy quyền vay 12,7 triệu đô la để xây dựng một nhà máy nhiệt điện ở Thủ Đức,cung cấp điện cho Sài Gòn, máy móc thiết bị do Mỹ trực tiếp cung cấp.
         
        - Năm 1970, “Quỹ tín dụng phát triển” cho ngụy vay 5 triệu đô la, nhưng cấp bằng bạc Sài Gòn, lấy trong “Quỹ đối giá”, để góp phần vào kế hoạch “người cày có ruộng”. Ngoài số phí tổn lớn để trả tiền chuộc cho địa chủ, như đã nói trong phần viện trợ theo dự án, thì số tiền viện trợ cho vay này dùng để cấp tín dụng cho các tá điền đã được chia ruộng.
         
        Nhìn vào các khoản cho vay, các đối tượng và các quy chế khác nhau của các khoản đó, ta có mấy nhận xét như sau đây:
         
        - Phần lớn các khoản viện trợ cho vay đều do các tổ chức tín dụng đứng ra cấp. Số do phái bộ viện trợ Mỹ thay mặt chính phủ cho vay chỉ chiếm một phần nhỏ. Nguyên tắc của viện trợ cho vay là: có vay, có trả, và có lãi. Nếu đặt nguyên tắc đó trong quan hệ giữa hai Nhà nước thì có nhiều điều bất lợi, nhất là đối với Nam Việt Nam là nơi chưa có gì ổn định. Nếu kẻ đứng ra cho vay là các tổ chức chuyên môn, “đứng ngoài chính trị”, thì việc vận dụng nguyên tắc “sòng phẳng” được thuận tiện hơn.
         
        - Hầu hết các khoản cho vay do các tổ chức tín dụng của Mỹ cấp đều nhằm vào những đối tượng mà xem ra có thể đảm bảo có doanh thu và nhờ đó có thể bảo đảm được những quy định về thanh toán: hỏa xa, viễn thông, cung cấp điện, nước, tín dụng nông thôn…
         
        - Phần lớn các khoản viện trợ cho vay được cấp dưới hình thức hàng hóa. Nếu ngụy quyền cần tiền, thì phải bán hàng hóa đó đi mới có tiền.
         
        - Trong các hiệp định cho vay, Mỹ cũng vận dụng suất lợi tức như đối với các nước khác, để phân biệt đối xử giữa các chế độ thanh toán.
         
        - Nếu so sánh với các điều kiện cho vay của một số nước tư bản khác, viện trợ cho vay của Mỹ có phần “rộng rãi”: Kỳ hạn thanh toánđược kéo dài hơn, lợi tức thấp hơn. Kỳ hạn phổ biến trong viện trợ cho vay của Mỹ là từ 20 đến 40 năm. Trong khi đó, các nước Tây Âu quyđịnh kỳ hạn thanh toán tối đa chỉ tới 16 năm. Nhật còn cho vay theo kỳ hạn ngắn hơn: tối đa là 9 năm. Lợi tức trong viện trợ tín dụng của Mỹ, tính trung bình là 3%, có một số nơi, chỉ có 2,5%. Trong khi đó, lợi tức trung bình của các nước Tây Âu là 4,3%, của Nhật là 5,9% (thập kỷ 50và 60). Về sự “rộng rãi” này, một số nhà kinh tế giải thích như sau:

                + Mỹ có một lượng tiền và hàng dư thừa lớn. Nhờ trường vốn hơn, Mỹ có thể hạ thấp yêu cầu để chiếm lĩnh thị trường tín dụng, gạt bớt các đối thủ trong lĩnh vực này. Trong thời kỳ này, các nước khác vẫn ở trong tình trạng thiếu vốn đầu tư, không thể kéo dài kỳ hạn thanh toán.

                + Một số nước như Nhật, Tây Đức và cả Pháp lúc đó đang có điều kiện phát triển nhanh hơn Mỹ, và có tỷ xuất lợi nhuận cao hơn ở Mỹ. Chính nhân tố này tạo ra nạn “đói” vốn đầu tư. Điều đó không những ảnh hưởng đến khối lượng tư bản cho vay, kỳ hạn cho vay, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến suất lợi tức.

                + Trong việc cho vay, Mỹ không chỉ quan tâm đến lợi ích trực tiếp về kinh tế. Với chiến lược toàn cầu, Mỹcòn gửi gắm trong chính sách viện trợ cho vay nhiều ý đồ về chính trị, quân sự. Để nắm lấy những Nhà nước tay sai, để mua chuộc những Nhà nước trung lập, Mỹ sẵn sàng thu hẹp một phần nào những lợi ích kinh tế trước mắt không lớn lắm, để giành lấy những lợi ích chính trị, quân sự, ngoại giao. Mà những lợi ích này, suy cho cùng, cũng là những điều kiện để thực hiện những lợi ích kinh tế lớn hơn của Mỹ trên thế giới, xét về lâu dài.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2017, 06:52:43 AM
         
Chương V

CHI PHÍ TRỰC TIẾP CỦA MỸ
         
        Nếu chỉ tính những chi phí trực tiếp của Mỹ trên đất Việt Nam, thì trong hơn 20 năm, Mỹ đã tốn mất khoảng 140 tỷ đô la.

        (Nếu tính toàn bộ phí tổn của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam thì còn phải kể đến thêm nhiều khoản khác nữa:
         
        - Những chi phí của Mỹ ở trên đất Mỹ (một phần tiền lương, phụ cấp, hưu bổng… của lính Mỹ, tiền trả cho các bộ máy phục vụ chiến tranhViệt Nam nhưng đóng tại Mỹ…)
         
        - Những chi phí cho các căn cứ quân sự của Mỹ đóng tại Đông Nam Á và Thái Bình Dương để phục vụ cho chiến tranh Việt Nam
         
        - Phí tổn trả cho chính phủ chư hầu góp quân với Mỹ ở Việt Nam và cho Mỹ đặt căn cứ quân sự, đặt cho các chỗ nghỉ ngơi, an dưỡng và luyện tập của lính Mỹ… Riêng khoản tiền để lính Mỹ về nghỉ ngơi, an dưỡng tại một nước Đông Nam Á sau mỗi đợt hành quân ở Nam Việt Nam cũng tạo cho các nước đó một nguồn ngoại tệ lớn. Thái Lan năm 1969 thu được 19 triệu đô la về khoản này. Singapore năm 1969 được 16 triệu đô la…
         
        Ở đây, chỉ xét phần do Mỹ chi tiêu trực tiếp trên đất Việt Nam thôi).

         
        Ta thấy, khoản này lớn gấp 5 lần tổng số các khoản Mỹ viện trợ trực tiếp cho ngụy.
         
        Mỹ ngụy không tính khoản này trong khuôn khổ viện trợ. Thực ra, khoản này cũng không khác gì viện trợ đều là tiền và của đổ vào đất nước này, đều dùng để nuôi dưỡng bộ máy chiến tranh xâm lược.
         
        Vì lý do đó, dù có kể vào viện trợ hay không, cũng không thể không nói đến tác dụng của số của cải khổng lồ này.
         
        140 tỷ đô la tức là bằng 70 lần thu nhập quốc dân của miền NamViệt Nam hồi đó,
         
        Nhưng Mỹ đổ vào 140 tỷ vào Nam Việt Nam tập trung trong vòng 7-8 năm (chủ yếu là từ 1965 đến 1972).
       
        1. CHÍ PHÍ TRỰC TIẾP CHO CHIẾN TRANH
         
        Xét về nội dụng số 140 tỷ đô la này, thì phải nói rằng về cơ bản nó là những thứ dùng để phá hoại, để giết người. Một nghị sĩ Mỹ nói: “Suy cho cùng, mọi phí tổn đều là để giết Việt cộng”. Cái giá để giết mỗi “Việt cộng” được trả cao hơn ở bất cứ nơi nào. Thượng nghị sĩ Vance Harthe nói rằng để giết mỗi “Việt cộng”, Mỹ đã tốn 5 vạn đô la (Sunday Teiegraph, 16-4-1967). Michel Bosquet thì tính rằng Mỹ trả giá 52,500đô la để giết mỗi “Việt cộng” (Nouvel Observateur, 28-2-1967).
         
        Đi vào phân tích cơ cấu của những chi phí này, ta thấy phần lớn nhất của nó là vũ khí và các phương tiện chiến tranh. Phần còn lại, không trực tiếp phá hoại, nhưng cũng có tác dụng phụ giúp để các công cụ phá hoại phát huy tác dụng của nó.
         
        Ta xét một số năm cụ thể.
         
        Năm 1967, tổng phí tổn của Mỹ là 26 tỷ đô la, trong đó chi phí trực tiếp cho chiến tranh là 21,6 tỷ. Số này phân phối như sau (đơn vị: tỷđô la):
         
Nuôi quân đội và nhân viên quân sự:5,1
Phí tốn hành quân (xăng dầu, xe cộ, thông tin liên lạc, phục vụ...)6,3
Bom đạn4,8
Máy bay1,7
Chiến cụ3,1
Xây dựng căn cứ0,8
Tổng cộng21,8
       
        (Số liệu do ủy viên thanh tra Robert N.Anthony báo cáo trước ủy ban chuẩn chi của Hạ nghị viện Mỹ, Tin AFP Washington 3-5-1967)
         
        Năm 1969, năm phí tổn lớn nhất, tổng chi phí của Mỹ là 29,119 tỷđô la. Phần chi trực tiếp cho chiến tranh là 28,5 tỷ đô la. Số này phân phối như sau:
         
Nuôi quân lính và nhân viên quân sự6,6
Phí tổn hành quân (xăng dầu, xe cộ, thông tin liên lạc, phục vụ...)8,8
Mua bom đạn, trang bị phụ tùng12,1
Xây dựng căn cứ0,37
Nghiên cứu thực hiện0,37
Tổng cộng28^5
         
         
        Nếu tính chi phí trung bình một ngày của Mỹ trong thời kỳ cao điểm của chiến tranh, tháng 6, tháng 7 năm 1968 là 77 triệu đô la, trong đó:
         
 
Nuôi quân18
Hành quân24
Bom đạn18
Thay thế máy bay8
Xây dựng căn cứ1
Thực hiện vũ khí mới1
Tổng cộng77
       
        (Tài liệu thống kê của Bộ Quốc phòng Cộng hòa CHXH Việt Nam)


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2017, 10:54:11 PM
         
        Nếu đem so sánh với các khoản chi dân sự, thấy nhiều điều thật mỉa mai. Toàn bộ số viện trợ kinh tế Mỹ cho ngụy trong 21 năm cũng chỉ bằng số chi phí về bom đạn và dụng cụ chiến tranh mà Mỹ dùng trên đất nước này trong một năm. Tiền nuôi quân Mỹ và chư hầu trong 1 năm bằng thu nhập quốc dân của cả miền Nam trong 3 năm. Toàn bộ số chi cho việc xây dựng hệ thống lọc nước và dẫn nước cho Sài Gòn-Chợ Lớn (17,5 triệu) chưa bằng một ngày ăn của quân Mỹ (18 triệu). Phí tổn hành quân trong một ngày của Mỹ (24 triệu) gần đủ để xây cho hai nhà máy điện cỡ lớn như nhà máy điện Thủ Đức (13 triệu) là cái màMỹ chỉ cho Thiệu vay, trả lãi, chứ không chịu cho không. Riêng số đạnMỹ bắn trong một ngày (16 triệu đô la) đủ để xây dựng 8 bệnh viện cỡ lớn như bệnh viện “Vì dân” (2 triệu đô la). Riêng tiền sửa chữa và thay thế máy bay trong một ngày (5 triệu), tốn gấp 2 lần tổng số phí tổn xây cất “Dinh Độc lập” của Nguyễn Văn Thiệu (2,7 triệu). Số phí tổn thực nghiệm vũ khí mới, tính trung bình trong một ngày (1 triệu) bằnggần 3 lần phí tổn xây dựng và trang bị cho “Trung tâm nghiên cứu nguyên tử” Đà Lạt (360 ngàn đô la). Tổng số sữa bột mà viện trợ “nhân đạo” của Mỹ đưa và Nam Việt Nam trong 10 năm, từ 1958 đến 1967,chỉ bằng giá tiền 1 chiếc máy bay F101 (5 triệu đô la). Tổng số xuất cảng các loại của Nam Việt Nam năm 1968 (23 triệu đô la) chưa bằng giá 3 chiếc máy bay B52 (8 triệu đô la 1 chiếc)…
         
        Xét về phương diện kinh tế, thì các khoản chi phí chiến tranh của Mỹ thể hiện ở hai mặt:
         
        Chi 140 tỷ cho chiến tranh xâm lược tự nó là sự lãng phí (Số 140 tỷchia cho đầu người dân Mỹ, là khoảng trên 650 đô la. Thu nhập bình quân theo đầu người ở Mỹ các năm 67, 68, 69 vào khoảng 5 ngàn đô la.Tạp chí Liên Xô “Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế”. Số 8-1974), nhưng nó còn kéo theo biết bao sự mất mát nữa! Ném một quả bomnapalm, tức là vứt đi 275 đô la. Nhưng quả bom đó đốt cháy bao nhiêu nóc nhà, thiêu sống bao nhiêu người! Một quả bom phá 750 pounds chỉ giá 350 đô la. Nhưng khi “chi phí” những quả bom đó, thì có bao nhiêu cầu sập, bao nhiêu nhà đổ, bao nhiêu người chết! Theo thống kê của Bộ Quốc phòng Mỹ, thì trong 20 năm, Mỹ đã ném xuống Việt Nam 15 triệu tấn bom, bằng ba lần lượng bom trong Đại chiến II.
         
        Năm 1969, Thiệu ra lệnh cấm một số bài hát của Trịnh Công Sơn. Trong một bài hát có những câu như sau:
         
                                  “Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng,
                                  Hàng vạn tấn bom trú xuống đầu làng.
                                  Ruộng đồng khô rang. Nhà cháy từng hàng
                                  Từng vùng thịt xương có mẹ, có em…
                                  Gia tài của mẹ, một rừng xương khô.
                                  Gia tài của mẹ, một núi đầy mồ…”

         
        Đó là kết quả chủ yếu của viện trợ Mỹ và toàn bộ sự có mặt của Mỹ.
         
        Ngoài cái tác dụng cơ bản là trực tiếp phá hoại, số chi phí to lớn cũng rơi vãi một phần nào vào đời sống kinh tế xã hội, với tính chất như của cải:
         
        - Những đồ phế thải của quân đội Mỹ.
         
        - Số đô la đổi lấy bạc Sài Gòn.
         
        - Số tiền tiêu xài trên thị trường.
         
        - Hàng căng tin Mỹ…
       
        Cái đuôi của một con voi cũng là một khẩu phần không đến nỗi nhỏ bé. Cái vỏ đạn từ một khẩu đại bác 250 mm văng ra cũng nặng gần 4kg đồng. Số của cải rơi vãi từ số chi phí 140 tỷ đô la cũng là một lượng đáng lể đối với đời sống kinh tế, nhất là đối với các đô thị.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2017, 11:08:59 PM
         
          II. ĐỒ PHẾ THẢI CỦA QUÂN ĐỘI MỸ
         
        Ngoài những đồ phế thải chiến tranh như sắt vụn, đồng nát, như đã nói ở phần viện trợ quân sự, thì những đồ tiêu dùng phế thải của cáccăn cứ quân sự Mỹ cũng là nguồn làm giàu của một số người.
         
        Ở miền Nam, người ta hay nói đến “đống rác Mỹ”.
         
        Có những đống rác thực sự, do quân đội Mỹ thải ra, xung quanh các căn cứ quân sự. Trong các đống rác này, có rất nhiều thứ còn dùng được, hoặc có thể sửa chữa lại để dùng, hoặc tái sinh làm nguyên liệu sản xuất: những quần áo rách hoặc cũ, giày dép, chăn màn, vải bạt,vải dù, những máy móc và xe cộ bị hỏng, đồ hộp và thức ăn quá hạn.Những đồ dùng cũ thì có thể đem bán rẻ chợ trời. Máy móc và xe cộ hỏng thì đem sửa chữa lại rồi bán. Kim loại và đồ nhựa nát thì đem nấu lại. Thức ăn cũ thì nuôi lợn…
         
        Những đống rác này là một nguồn lợi lớn nên cũng đã có một thứ độc quyền. Thường là tư sản có thế lực và tướng tá ngụy đứng ra bao thầu các đống rác. Tướng Đồng Văn Khuyên độc quyền thầu đống rác khổng lồ của các căn cứ Mỹ vùng Sài Gòn-Chợ Lớn. Tướng Hoàng XuânLãm thầu các đống rác Mỹ ở khu vực Quảng Nam-Đà Nẵng. Khách sạnThanh Bình, một trong những khách sạn lớn nhất ở Quy Nhơn, là của một tư sản phất lên do thầu các đống rác Mỹ. Nhân dân miền Nam cònnhớ rõ tên tuổi những nhân vật tai to mặt lớn trong xã hội ngụy quyềnđã làm giàu từ những đống rác này.
         
        Ngoài những đồ phế thải thực sự, các đống rác Mỹ còn chứa đựng cảnhững thứ còn nguyên vẹn, tốt lành. Các sỹ quan Mỹ thường thông đồng với các “nhà thầu” để lấy hàng quân nhu tuồn ra những thùng rác. Binh lính thì ăn cắp và ăn bớt. Sỹ quan thì đường hoàng ra lệnh thải bỏ hàng loạt thứ trong kho, với lý do đã quá hạn hoặc dọn chỗ đểtiếp nhận hàng mới… Theo những sự hẹn trước, các xe rác đến chở rác đi, những thứ tốt lành thì giấu xuống dưới, những thứ rách nát thì phủ lên trên, và nó chạy thẳng về các kho hàng chứ không chạy ra các bãi rác. Chỉ sau vài giờ, những của cải đó đã xuất hiện trên các cửa hiệu,các sạp hàng: vải vóc, máy ghi âm, vô tuyến truyền hình, máy quay phim, máy ảnh, quạt điện, tủ lạnh, bàn ghế, gường, tủ, và có khi là cả mô tô nữa. Trong thời kỳ chiếm đóng, những đống rác trá hình này đã thành một thứ hoa lợi lớn và thường xuyên. Trong đó, kẻ vứt nó ra đống rác được hưởng một phần. Các nhà thầu hưởng một phần. Các nhà buôn hưởng một phần. Cuối cùng là người mua, cũng được lợi, mua được đồ tốt với giá rẻ.
         
        Con đường thứ ba để tuồn hàng quân nhu Mỹ ra thị trường là ăn cắp. Đây là một nghề rất thịnh hành. Có vô số thủ đoạn ăn cắp, mà hàng quân nhu Mỹ là một trong những đối tượng quan trọng nhất. Một phần vì quân nhu Mỹ là nơi lắm của cải nhất. Một phần cũng vì đó là những thứ của cải hớ hênh hơn cả. Trong cảnh “đất khách quê người”,Mỹ không sao quản lý chặt chẽ được. Vả lại, chính sỹ quan và binh lính Mỹ lại tham gia hoặc thông đồng với những vụ ăn cắp. Tướng tá thì ăn cắp trên quy mô lớn. Binh lính thì ăn cắp vặt. Số lái xe, thông ngôn và những người làm thuê cho các “Sở Mỹ” có khi trực tiếp ăn cắp, có khi làm trung gian trong việc ăn cắp và tổ chức tẩu tán hàng ăn cắp… Việc ăn cắp xảy ra ở mọi khâu, từ sân bay, bến cảng, đến kho tàng, ở các căn cứ quân sự, trên đường vận chuyển, lúc phân phối… Ở Đà Nẵng,người ta nói cứ 10 xe chở hàng từ bến cảng về Sài Gòn thì có 2 xe vào kho riêng của tướng Hoàng Xuân Lãm. Ở bãi kho Mỹ Khê, có những lính Mỹ gác kho lại gác cho bọn ăn cắp xé rào vào vác hàng ra, cứ mỗi hòm thì trả cho hắn 3 ngàn bạc Sài Gòn. Lính chở hàng quân nhu Mỹ cũng thông đồng với bọn ăn cắp. Khi những đoàn “con voi” đi tới những đoạn đường vắng, lái xe giảm tốc độ, bọn ăn cắp nhảy lên, lăn những kiện hàng xuống. Ở dưới đường đã có người nhặt và giấu đi ngay. Giá cả đã hình thành tự phát theo tập tục: 10 ngàn một kiện lớn, 6 ngàn một kiện nhỏ, bất kể là kiện hàng gì. Nếu là phim ảnh, thuốc Tây, máy ảnh… thì bọn ăn cắp vớ bở. Nếu là mũ phi công, mặt nạ phòng hơi độc,thì lỗ vốn. Nhưng bọn chúng thích cái trò chơi vừa có tính tính trộm cướp, vừa có tính chất cờ bạc, vừa có tính chất mê tín này. Cũng có nhiều trường hợp, chẳng cần thỏa thuận trước với quân nhu Mỹ, bọn ăn cắp đèo nhau phóng hàng đoàn honda sau những xe hàng, nhảy lên,lăn những hòm đồ xuống. Còn vô số những trò ăn cắp nữa, mà ở đây không sao kể hết được.
         
        Cùng với bọn ăn cắp, thì đám nhận thầu của “Sở Mỹ” ăn bớt mà cũng tuồn ra thị trường một khối lượng khá lớn các loại vật tư, nhất là sắt thép, dây đồng, tôn lá, xi măng, vải, chất dẻo… Nhiều tư sản đã lớn lên từ cái nghề này. Nguyễn Văn Minh tư sản mại bản giàu nhất nhì ở Đà Nẵng, ban đầu chỉ là một tài xế nghèo, với chiếc xe cũ nát chạy đường Hội An. Nhờ làm mật thám cho ngụy, xin được thầu xây cất hàng loạt công trình, bằng cách ăn bớt mỗi bao xi măng một chút, đã có một số vốn lớn. Chẳng bao lâu, y có cổ phần trong hãng xi măng Thống Nhất (Sài Gòn), được độc quyền bán xi măng toàn miền Trung. Khách sạn Đồng Khánh được xây bằng những của cải đó. Những cai thầu xây dựng các sân bay, các trại lính, thầu sản xuất dây thép gai, đóng đồ gỗ, làm giày và áo mưa lính, may đồ quân nhu, đúc bi đông nhựa cho lính,mắc dây điện cho các doanh trại… đều ăn bớt và ăn cắp được vô khối vật tư của Mỹ. Các thủ đoạn này thực cũng không sao kể hết được.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2017, 11:09:19 PM
         
        Có những việc, tưởng là nhỏ mọn, nhưng thực ra, cũng là một món lợi lớn. Chẳng hạn, việc bao thầu giặt thuê quần áo cho quân đội Mỹ. Thông thường, Mỹ cứ đưa 5 bánh xà phòng thì nhà thầu chỉ giặt hết 3 thôi. Vậy là ngoài tiền công, còn bớt được 2 bánh nữa. Một ngày, trại lính chở ra hàng mấy xe quần áo bẩn và cấp hàng tấn xà phòng cho nhà thầu. Tướng Mai Hữu Xuân là nhà thầu lớn nhất ở Sài Gòn về ngành này. Người ta nói rằng chỉ riêng việc ăn bớt xà phòng và ăn số tiền lính Mỹ để sót trong túi những bộ quần áo đem giặt cũng đem lại số lời bạc triệu.
         
        Con đường thứ tư để đưa của cải từ tay Mỹ sang ngụy là việc bàn giao những động sản và bất động sản của các căn cứ Mỹ, khi quân Mỹ rút lui. Mỹ thường gọi số của cải này là “của để lại” (inherit). Như trên đã nói, khi bàn giao, Mỹ cũng tháo gỡ đi một số thứ và phá hủy một số thứ không đem đi dược. Song những thứ còn để lại cũng là một “gia tài” khá lớn. Có thể lấy căn cứ không quân Phan Rang làm ví dụ. Mỹ trị giá các thiết bị của căn cứ này là 60 triệu đô la. Khi rút, Mỹ gỡ đi một đường băng bằng đuyara, phá 50 nhà và công sự. Nhưng số còn lại giao cho ngụy cũng trị giá tới 46 triệu đô la (Tin PA Manila 28-3-1972). Theo thống kê của Cục quản lý vật tư Mỹ (Propertydisposal Agency) thì tính đến tháng 5 năm 1972, Mỹ đã giao lại cho ngụy 2,5 triệu tấn vật tư và trang thiết bị của các căn cứ Mỹ, trị giá 6,25 tỷ đô la (Saigon’sWarning Clientele FEER 13-5-1972).
         
        Những khoản trên đã lọt ra thị trường một phần đáng kể. Cũng giống như hàng quân nhu Mỹ đi từ bến cảng về kho, những “của để lại” từ quyền sở hữu của Mỹ chuyển sang quyền sở hữu của ngụy cũng bị hao hụt, cũng rơi vào túi bọn ăn cắp, rồi lại lọt ra thị trường. Kẻ ăn cắp ở đây không phải ai khác ngoài các tướng tá đầu sỏ, đại diện cho ngụy quyền tiếp thu các căn cứ đó. Khi được cử ra thay mặt chính phủ tiếp nhận các căn cứ, các tướng thường cho tay chân đến tháo gỡ gần như tất cả những gì có thể tháo gỡ và có thể đem bán. Rút cuộc, trong số kiểm kê tài sản bàn giao thường chỉ còn những thứ không đem đi được hoặc không thể dùng cho dân sự được. Chính tướng Abrams đã có lần nói với Thiệu rằng cái mà quân lực Việt Nam Cộng hòa được hưởng chỉ là “của để lại” của “của để lại” thôi (inherit of inherit).
         
        Lấy một thí du: Năm 1971, Mỹ bàn giao cho ngụy các căn cứ ĐắcTô, Lệ Thanh, Plây Mrông, An Khê. Kế hoạch giao nhận định thực hiện trong 2 tuần. Nhưng chỉ mới 2 ngày đã thấy biến sạch cả. Tướng Ngô Du, tư lệnh vùng đã cho quân đến tháo gỡ và vơ vét tất cả những gì có thể bán được, tẩu tán ngay về những kho bí mật, rồi gọi người đến bán đấu giá, chia nhau ăn. Đến lúc kiểm kê và đăng ký tài sản quân đôi, thì bấy nhiêu căn cứ chỉ còn là những bức tường! Mái tôn, xà nhà, và cả các khung cửa cũng đã bị gỡ gần hết (ta biết ở miền Trung, cây cối đã trụi, nhà cháy rất nhiều, thì những vật liệu xây dựng này bán rất được giá). Vì vậy, nếu các chuyên gia Mỹ có nhận xét rằng quân ngụy là một “đội quân tham nhũng và phá phách một cách quá đáng” (Brian Gilen), rằng “tướng tá ngụy rất ít tài đánh trận, nhưng lại rất nhiều tài buôn lậu, ăn cắp, hôi của và ăn cướp” (AFP Sài Gòn 10-2-1971), thì quả là không oan (và cũng phải nói thêm rằng cái bệnh ăn cắp, đục khoét này đã lấy viện trợ làm một môi trường phát triển thuận lợi, để trở thành một căn bệnh mãn tính kéo dài tới cả các thời kỳ sau giải phóng).
         
        Nhìn lại những con đường đưa của cải từ các kho của Mỹ ra thị trường miền Nam, ta có những nhận xét gì?
         
        Những đống rác, những đồ ăn cắp, ăn bớt, những đồ tẩu tán từ các căn cứ Mỹ trở thành một nguồn cung cấp hàng hóa rất lớn nữa cho thị trường miền Nam. Nếu tính ra tiền, thì số lượng hàng hóa này cũng chẳng kém gì số lượng hàng hóa trong các khoản viện trợ khác, như viện trợ thương mại hóa, viện trợ theo dự án hay viện trợ nông phẩm.
         
        Trong chương nói về các hình thức viện trợ kinh tế, chúng ta đã thấy một điều kỳ quái: các nhà nhập cảng thay thế vai trò các nhà sản xuất. Đến đây, ta thấy một điều kỳ quái hơn nữa: bọn ăn cắp thay thế vài trò của cả những nhà sản xuất lẫn những nhà nhập cảng.
         
        Cũng do đó, loại hàng hóa này có hàng loạt đặc điểm.
         
        Ở đây, chẳng có tiền viện trợ, chẳng có đề án hay giấp phép nhập cảng, chẳng có vận chuyển phí qua đại dương, chẳng có hối suất cao hay thấp, chẳng qua có thuế quan và thuế nội địa, chẳng có “Quỹ đối giá”. Vốn rất ít, nhiều khi chẳng mất vốn. Do đó, hàng rẻ hơn rất nhiều so với hàng nhập cảng.
         
        Ở đây, Nhà nước ngụy coi như chẳng được gì. Nhưng cũng không hẳn là như thế. Tướng tá và các viên chức ngụy được hưởng. Ngoài ra,thì thị trường, những người tiêu dùng cũng được hưởng những “của phù vân” đó.
         
        Nhưng như thế có phải Việt Nam được ăn không số của cải nàykhông?
         
        Để có các đống rác Mỹ, để có thể ăn cắp, ăn bớt và hôi của từ các căn cứ Mỹ, thì trước hết phải có các căn cứ Mỹ, có quân Mỹ. Vậy thì số của cải mà bọn ăn cắp và cai thầu tưởng như “ăn không” của Mỹ, thực ra, vẫn phải trả giá. Nếu đem so với giá mua sòng phẳng, thì cái giá “ăn không” này đắt hơn.
         
        Nhưng ở đây, vẫn lại thấy một điều cố hữu: sự cách ly giữa những người hưởng thụ và những người trả giá.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2017, 08:20:41 AM
       
        III. ĐỔI ĐÔ LA ĐỎ LẤY BẠC SÀI GÒN
         
        Ngoài vũ khí, vật tư và hàng hóa mang sang để sử dụng, Mỹ còn phải chi tiêu nhiều khoản bằng tiền mặt tại miền Nam Việt Nam. Có những khoản đáng kể sau đây:
         
        - Thuê nhân công phục vụ
         
        - Mua thực phẩm và một số vật dụng tại chỗ
         
        - Trả tiền cho các nhà thầu về các loại công việc khác nhau
         
        - Trả một phần lương cho nhân viên và binh lính Mỹ bằng bạc Sài Gòn để chi tiêu ngoài phố.
         
        Khi xem xét viện trợ thương mại hóa và viện trợ nông phẩm thừa, ta thấy Mỹ có lấy ra một phần trong số tiền bán các loại hàng viện trợ này để chi dùng (thông qua “Quỹ đối giá”).
         
        Tuy nhiên có nhiều năm số bạc Sài Gòn lấy từ “Quỹ đối giá” không đủ chi tiêu.
         
        Mỹ giải quyết sự thiếu hụt đó bằng cách đổi thêm một số đô la nữa cho ngụy quyền để lấy bạc Sài Gòn. Đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh cục bộ, chi tiêu tại chỗ của các cơ quan Mỹ và binh lính Mỹ rất lớn, do đó, đổi đô la trở thành nguồn chủ yếu nhất cung cấp bạc Sài Gòn cho Mỹ chi dùng.
         
        Có thể lấy năm 1968, “năm tốn kém nhất”, làm ví dụ. Theo điều tra của Quỹ tiền tệ quốc tế, thì trong năm này cơ cấu chi tiêu bằng bạc Sài Gòn của Mỹ ở Nam Việt Nam như sau (Điều tra của Quỹ tiền tệ quốc tế.Tháng 5-1968. Lưu trữ Viện Thống kê quốc gia Sài Gòn):
         
        - Lấy từ “Quỹ đối giá” viện trợ thương mại hóa: 7 tỷ
         
        - Lấy từ tiền bán nông phẩm viện trợ (mục I): 4 tỷ
         
        - Phát hành đô la đổi lấy bạc Sài Gòn: 39,5 tỷ
         
        Tổng cộng: 50,5 tỷ
         
        Nhìn vào cơ cấu đó, ta thấy việc đổi đô la có vai trò lớn trong tổng số chi tiêu của Mỹ ở Nam Việt Nam. Đồng thời, khoản đó cũng có ý nghĩa lớn đối với số lượng “ngoại tệ sở hữu” của ngụy quyền và đối với thị trường miền Nam Việt Nam.
         
        Tổng số đô la Mỹ đã đổi cho ngụy qua các năm là trên 3 tỷ đô la.
         
        Trong thời kỳ “chiến tranh đặc biệt”, và cả một số năm sau đó, mỗi năm Mỹ đổi cho ngụy trên 3 trăm triệu đô la. Có năm như năm 1971,Mỹ đổi cho ngụy tới trên bốn trăm triệu đô la. Trong những năm này, đổi đô la là một nguồn tài trợ lớn bằng, thậm chí lớn hơn cả viện trợ thương mại hóa. Từ 1973 thì nguồn lợi này của ngụy quyền cũng theo chânquân đội Mỹ và vợi dần đi. Hàng năm Mỹ chỉ còn đổi cho ngụy vài chụctriệu đô la thôi. Ngụy quyền coi đó là một trong những thiệt thòi lớn nhất. Và quả là sự giảm sút đó cũng đẩy ngụy quyền vào những khó khăn kinh tế to lớn.
         
        Một số tài liệu của Mỹ-Ngụy không muốn gọi số đô la đổi được của Mỹ và viện trợ, coi đó chỉ là sự đổi tiền thôi. Thực ra, trong sự trao đổi này, ngụy quyền coi như được thêm ngoại tệ mà chẳng mất gì. Trong một chừng mực rất lớn, có thể coi đây như là đổi giấy và mực in (những cái này cũng của Mỹ) để lấy đô la Mỹ. Về thực chất, việc này cũng có ý nghĩa như một nguồn tài trợ.
         
        Cũng có những kinh tế gia nói rằng tuy bạc Sài Gòn không có giá trị,nhưng dù sao thì Mỹ cũng dùng số bạc đó để chi tiêu trên đất Việt Nam, mua hàng, thuê mướn và trả tiền phục vụ. Vì thế họ coi như NamViệt Nam đã bán hàng cho Mỹ lấy đô la, giống như một thứ xuất khẩu (xuất khẩu nội biên). Điều khác chỉ là: hàng xuất khẩu không đưa ra khỏi đất nước, mà được khách ngoại quốc tiêu dùng tại chỗ (Cooper Cố vấn kinh tế thuộc Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn viết: “Một loại hoạt động khác mà theo nghĩa rộng cũng có thể gọi là viện trợ, đó là việc các cơ sở quân sự của Hoa Kỳ đổi Mỹ kim lấy bạc Việt Nam để chi dùng vào các việc công hay tư. Sự đổi lấy bạc này làm gia tăng nguồn ngoại tệ của chính phủ Việt Nam. Nhưng đó không phải là viện trợ thuần túy, vì Hoa Kỳ dùng số bạc Việt Nam đổi được để mua các hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam).
         
        Bây giờ thử xem cơ chế của việc đổi tiền này và những kết quả kinh tế của nó:
       
        Hàng năm, Tòa Đại sứ Mỹ dự tính số nhu cầu về bạc Sài Gòn: mua hàng hóa bao nhiêu, thuê mướn hết bao nhiêu, đổi cho lính Mỹ và nhân viên hết bao nhiêu…
         
        Sau đó, Mỹ thông báo cho ngụy quyền biết số đô la được đổi và số bạc Sài Gòn cần có.
         
        Hối suất trong việc đổi tiền này không phải là hối suất trong viện trợ thương mại hóa, nhưng cũng không phải là hối suất tự do trên thị trường hay trong viện trợ nông phẩm. Ở đây có một hối suất riêng, ở mức giữa hai loại hối suất kể trên, cao hơn hối suất viện trợ thương mại hóa, nhưng thấp hơn hối suất tự do.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2017, 07:30:24 AM
        
        Thử so sánh ba loại hối suất trong một năm cụ thể để thấy rõ tính chất dung hòa trong hối suất đô la đỏ:
        
        Giá một đô la tính ra bạc Sài Gòn (Niên giám thống kê Việt Nam1972. Đã dẫn, trang 246-247. Việt Nam Economic Data. OctoberDecember 1973, P.9)
        
196719681969
Hối suất chính thức80.880,8285
Hối suất tự do (Đây là gía tự do vào tháng 12 mọi năm của loại đô la xanh 10)167360414
Hối suất đổi đô la đỏ121165368
       
        
        Dựa trên số đô la được đổi và trên hối suất quy định, ngụy quyền phát hành thêm một số bạc Sài Gòn tương ứng và chuyển giao cho Mỹ, theo số lượng và kỳ hạn đã quy định. Mỹ phân phát số bạc đó cho các cơ quan và các đơn vị của Mỹ.
        
        Ngụy quyền được Mỹ cho sở hữu một số đô la tương ứng, gọi là “ngoại tệ sở hữu”. Nhưng biểu hiện cụ thể của quyền sở hữu đó không phải là những đồng đô la Mỹ thực sự. Mỹ phát hành một loại đô la đặc biệt trao cho ngụy quyền. Loại đô la này có kích thước, có hình ảnh, có các đơn vị như đồng đô la, nhưng không phải màu xanh, mà lại màu đỏ.Vì thế mà có tên gọi là “đô la đỏ”. Đồng đô la đỏ không được coi là tiền. Nó chỉ có giá trị như những giấy chứng nhận quyền sở hữu một số tiền tương ứng. Cũng vì vậy, Mỹ gọi “đô la đỏ” là “đô la chứng chỉ chi phí quân sự” (Military payment Certificate-MPC).
        
        Tuy nhiên, với số “ngoại tệ sở hữu” này, ngụy quyền cũng có thể nhập cảng hàng hóa mà không phải thông qua sự xét duyệt của phái bộ viện trợ Mỹ. Hàng gì, của nước nào, mua bao nhiêu, giá bao nhiêu-nói chung là tùy ý giữa kẻ mua và người bán.
        
        Ở đây, chỉ có một sự hạn chế: vì đô la đỏ chi là “chứng chỉ chi phí”, cho nên chỉ có thể dùng để mua hàng của nước nào có thể thanh toán được những “chứng chỉ” đó với các ngân hàng Mỹ. Đó phải là những nước đã vay nợ, hoặc sẽ mua hàng Mỹ.
        
        Thường thì phần lớn số “ngoại tệ sở hữu” này được dùng để mua hàng của Nhật. Một phần là vì hàng Nhật rẻ hơn hàng của các nước khác, giá cước vận chuyển cũng ít hơn. Một phần cũng vì trong những năm này Nhật đang cần thanh toán với Mỹ những khoản tiền lớn. Do đó, Nhật sẵn sàng đổi hàng lấy thứ tiền này với khối lượng nhiều và những điều kiện dễ dàng.
        
        Khi đã nhập được hàng về, ngụy quyền đem bán ra thị trường, hoặc bán cho các nhà nhập cảng để họ đưa ra thị trường. Bằng cách đó,ngụy quyền lại thu hồi về số bạc Sài Gòn mà nó đã giao cho Mỹ và Mỹ đã tung ra thị trường miền Nam (thực ra số bạc mà nó có được thường còn lớn hơn số bạc mà nó đã đổi cho Mỹ. Một phần là vì nó đã nhân cơ hội này mà lạm phát thêm. Phân khác nữa là vì giá bán hàng nhập cảng là giá tính theo hối suất tự do, cao hơn hối suất đổi tiền).
        
        Như vậy là cái vòng vận hành được khép kín.
        
        Đô la đỏ do Mỹ phát hành, lại được Mỹ thu hồi khi thanh toán với những nước đã bán hàng cho Nam Việt Nam.
        
        Số bạc Sài Gòn do ngụy quyền phát hành và đổi cho Mỹ, được Mỹ tung ra thị trường. Ngụy quyền nhập được hàng hóa về, cũng tung ra thị trường. Sự gặp gỡ giữa tiền do Mỹ tung ra và số hàng do ngụy nhập về làm cho thị trường càng thêm náo nhiệt. Cảnh “phồn vinh” đạt tới cao điểm của nó chính là vào những năm có sự gặp gỡ này. Biểu hiện kinh tế của cuộc gặp gỡ đó là: người tiêu dùng có tiền để mua hàng và có hàng để mua. Ngụy quyền lại thu về được số tiền rất lớn do chính phủ nó phát hành, mà đỡ gặp những trở ngại to lớn của lạm phát. Cái ngân sách lẽ ra đã bẹp rúm, lại được bơm thêm lên.
        
        Nếu gạt bỏ bớt những quá trình kèm theo rất phức tạp, như sự thanh toán giữa Mỹ và các nước bán hàng, sự thanh toán giữa ngụy quyền với các nhà nhập cảng, và nếu giả định rằng xã hội có ba đại diện: Mỹ, ngụy quyền và những người được Mỹ trả tiền đồng thời là những người mua hàng nhập cảng của ngụy, thì ta có thể diễn đạt sự vận hành của cơ chế “đổi đô la đỏ” như sau:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/a1_zpsbjcaqbhn.jpg)
       
        
        Như vậy là ta lại gặp một cơ chế nữa, không kém phức tạp. Ở đây,cần phân tích thêm hai vấn đề: vấn đề hối suất và vấn đề màu sắc của đồng đô la.
        
        Về vấn đề hối suất, vì Mỹ có đổi lấy bạc Sài Gòn để chi tiêu, nên Mỹ không thể đổi theo hối suất thấp như trong viện trợ thương mại hóa.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2017, 08:10:01 AM
         
        Nhưng Mỹ cũng không thể đổi cho ngụy theo hối suất của thị trường tự do. Đây chỉ đơn thuần là việc đổi tiền giữa hai người cần mua và bán. Trong việc đổi tiền, cả Mỹ lẫn chính quyền Sài Gòn đều muốn giải quyết nhiều vấn đề khác nữa. Mỹ không chỉ cần có bạc Sài Gòn để chi tiêu, mà Mỹ còn muốn nhân việc này bơm thêm đô la cho chính quyền Sài Gòn, không muốn cho số ngoại tệ của Mỹ lọt ra khu vực tư nhân. Chính quyền Sài Gòn muốn có thêm ngoại tệ để nhập cảng, làm cơ sở để phát hành tiền, và thông qua bán hàng mà thu tiền về. Nếu nó phải đổi theo hối suất tự do, thì chẳng thà ngụy quyền đổi thẳng ỏ chợ đen cho lính Mỹ? Như thế lại có thể lấy được đô la xanh, đô la thực sự do lính Mỹ mang sang. Mỹ thì không muốn điều đó (Năm 1969, báo chí Mỹ đã tỏ ra lo lắng về hiện tượng binh lính và nhân viên Mỹ ở Sài Gòn tung đô la xanh ra đổi ở chợ đen, lấy bạc Sài Gòn. Một số tư nhân Việt Nam thu góp số đô la xanh đó gửi ở các ngân hàng Thụy Sĩ và một số nướcTây Âu. Số đô la xanh tích tụ trong các ngân hàng này là một điều bất lợi lớn cho Mỹ. USIS Washington, 19-2-1969). Vì như thế thì không những đô la tuột khỏi tay người Mỹ, mà Sài Gòn cũng tuột một phần khỏi tay Mỹ. Muốn gỡ sự trao đổi này trong khuôn khổ hai Nhà nước, muốn khỏi mất đô la thực sự, muốn “giúp” Sài Gòn và cũng là nắm chắc Sài Gòn, Mỹ buộc phải hạ hối suất xuống thấp một chút, để có một sự khuyến khích cần thiết. Còn hối suất nửa vời ở đây chính là kết quả của sự giằng co này.
         
        Nhưng cái thiệt trong hối suất lại được đền bù bằng nhiều cái lợi khác.
         
        Thứ nhất, Mỹ đã có được đủ số bạc Sài Gòn cần thiết để chi tiêu. Nói cách khác, Mỹ đã trả lương cho lính Mỹ và nhân viên Mỹ không phải bằng đô la mà bằng một thứ tiền khác. Việc đó cho phép tiết kiệm hàng trăm triệu đô la mỗi năm. Việc phát hành đô la đó không hẳn là phát hành tiền tệ, do đó, ít chịu sự khống chế của các nguyên tắc phát hành.Việc phát hành này không gây ra những hậu quả của lạm phát đô la, không làm mất giá đồng đô la, không làm giá cả tăng vọt, vì số tiền này không đi vào thị trường của đồng đô la, mà đi vào thị trường của đồng bạc Sài Gòn. Về thực chất, Mỹ phát hành đô la đỏ chính là tạo cơ sở để phát hành bạc Sài Gòn, thậm chí cũng có thể coi như Mỹ đã phát hành giấy bạc Sài Gòn để chi tiêu. Một nước lại được phát hành một thứ tiền của nước khác chứ không phát hành thứ tiền của nước mình, mà vẫn dùng để trả lương cho người của nước mình được và những người đó vẫn chi tiêu được. Đó là ý nghĩa cơ bản của đồng đô la đỏ.
         
        Thứ hai, trao đô la đỏ cho chính quyền Sài Gòn thì số tiền đó vẫn chẳng chạy ra ngoài các ngân hàng Mỹ, Mỹ vẫn chưa mất đô la. Kẻ sở hữu đô la vẫn chỉ được thực hiện quyền sở hữu đó trong khuôn khổ sự khống chế của Mỹ, chỉ được sử dụng theo cách nào để Mỹ không mất số đô la đó.
         
        Thứ ba, sự ràng buộc này còn có một ẩn ý sâu xa hơn nữa: Mỹ đổi đô la đỏ lấy bạc Sài Gòn là để cho lính Mỹ và các cơ quan Mỹ chi tiêu. Như thế có nghĩa là hai thứ này phải gắn liền với nhau. Muốn đổi được ngoại tệ, thì bất kể các lợi ích chính trị và quân sự là thuận hay nghịch,thì người Mỹ phải có mặt đông đảo ở Việt Nam. Và quả là khi quân Mỹ rút, thì ngụy quyền lấy làm lo lắng, tiếc rẻ (Sự hiện diện đông đảo quân đồng minh làm cho dụng cụ chi phó được dồi dào, hay nói trắng ra là, chính phủ có nhiều đô la đỏ, có nhiều ngoại tệ để dùng, đồng công việcsinh hoạt trong nước được trù phú” Chấn hưng kinh tế, 29-1-1974).
         
        Thứ tư, nhờ có đồng “đô la đỏ”, Mỹ buộc những nước bán hàng cho Nam Việt Nam phải dùng số đô la đỏ thu được đó để mua hàng của Mỹ,vì nó không thể mua ở đâu khác được bằng thứ tiền này. Nếu nước đó đang là chủ nợ của Mỹ, thì nhân dịp này Mỹ có thể xuất một số hàng Mỹ sang nước đó, khắc phục phần nào sự căng thẳng trong cán cân thanh toán. Số mấy trăm triệu đô la hàng năm lẽ ra phải dùng để trả lương, thì nay được sử dụng để phụ giúp cho việc cân bằng ngân sách trong nước và cân bằng ngoại thương.
         
        Đối với những nước là con nợ của Mỹ thì hoặc Mỹ có thể thông qua đồng đô la đỏ mà trừ nợ, hoặc thông qua đô la đỏ mà làm cho những nước đang nợ nần này vẫn có thể nhập cảng thêm hàng hóa của Mỹ.Trong bất cứ trường hợp nào, thì rút cuộc, những đồng “đô la đỏ” sau một cuộc hành trình vạn dặm, từ Mỹ, tới Sài Gòn, và bay nhảy tại những nước xa xôi nào đó, lại trở về cái kho bạc của Mỹ. Nó không phải là đô la xanh, nó không thể bay bổng tự do được, nó chỉ là cái bóng của đồng đô la thôi. Dù bay nhảy tận đâu, nó cũng phải trở về đúng đường và đúng chỗ, cũng y như cái boomerang của người châu Úc vậy.
         
        Ta thấy sự thiệt thòi do hối suất thấp chút ít đã được đền bù bằng những lợi ích như thế nào. Đó là lý do của việc bày đặt thêm ra cái cơ chế kỳ cục này.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2017, 07:37:43 PM
         
        IV.CHI TIÊU BẰNG TIỀN MẶT CỦA MỸ Ở NAM VIỆT NAM
         
        Số bạc khổng lồ đổi từ hơn 3 tỷ đô la đỏ được Mỹ tung vào xã hội, gây những ảnh hưởng rất lớn đối tới thị trường, tới đời sống kinh tế và đời sống xã hội nói chung.
         
        Có những năm, số bạc so Mỹ chi tiêu và tung ra xã hội đã chiếm tới ngót một nửa tổng số bạc mà ngụy quyền phát hành. Ta lại lấy thí dụ năm 1968. Như đã nói, năm đó Mỹ chi tiêu tới 50 tỷ đồng tiền mặt (bạc Sài Gòn). Tổng số bạc do ngụy quyền phát hành cho đến cuối năm đó là 116 tỷ.
         
        Trong xã hội miền Nam, người ta vẫn hay nghe nói đến “sở Mỹ” và những người “đi làm sở Mỹ”. Đó là một nghề thực sự, rất thịnh hành.Trong những năm Mỹ chiếm đóng, toàn miền Nam có trên dưới 140 ngàn người đi làm thuê cho các cơ sở của Mỹ. Đó là chỉ kể số người làm thuê, ăn lương chính thức của Mỹ. Số người này lớn gấp chục lần số người Mỹ trong các sở đó. Nếu so với viên chức ngụy quyền (không kể cảnh sát) thì số người Việt Nam làm sở Mỹ còn đông hơn cả tổng số nhân viên làm trong các bộ của ngụy quyền.
         
1967196819691970
Số người Việt Nam làm thuê của sở Mỹ41.506140.004144.763126.457
Số nqười Mỹ trong các sở Mỹ11.97013.25711.9309.997
Tổng sõ nhân viên các bộ ngụy quyền (khônq kể cảnh sát)116.900138.20 0135.200147.200
       
        Riêng phái bộ viện trợ Mỹ đã thuê tới hơn 9 ngàn người Việt Nam, trong đó riêng lái xe đã tới 600 người. Phái bộ quân sự Mỹ (DefenceAttache Office) cũng thuê tới 1 ngàn nhân viên Việt Nam… Mỹ thuê đủ loại người: có cả giáo sư, luật sư, nhà kinh tế, quản trị viên, nhà báo, kỹ sư, bác sũ, tình báo viên, chuyên viên kỹ thuật các loại, thư ký, đánh máy, phiên dịch, văn thư, lao động, lái xe, phục vụ, đầu bếp v.v…
         
        Nói chung, Mỹ trả lương rất “hậu” cho những người làm thuê. Nếuchưa kể các khoản khác, chỉ xét tiền lương, thì cùng một loại công việc, người “làm sở Mỹ” ăn lương cao hơn người làm cho ngụy hay cho tư nhân rất nhiều (thường là gấp rưỡi, gấp đôi, có khi gấp 5, 6 lần). Năm1966, mức lương tối thiểu của công nhân vùng Sài Gòn - Gia Định là1.250 đồng đối với nam giới và 1.100 đồng đối với nữ giới. Cũng nămđó, mức lương thấp nhất ở “sở Mỹ” là 2.500 đồng. Lái xe lương khoảng 3.500 đồng tương đương 2 tạ gạo “nàng hương”, tính theo giá năm đó. Một số người có chuyên môn đặc biệt thì được trả lương cao gấp bội. Chẳng hạn, những nhân viên kỹ thuật thành thạo trong ngành đông lạnh, được Mỹ thuê làm trong các phòng ướp xác lính Mỹ, hưởng lương hàng tháng năm 1966 là 27 ngàn đồng, tương đương 300 kg thịt.
         
        Mức lương cao gấp bội đó có tác dụng thu hút rất nhiều và rất nhanh những công nhân lành nghề và cán bộ kỹ thuật giỏi rời bỏ các xí nghiệp tư nhân và các công sở ngụy quyền để vào làm “sở Mỹ”. Ngay năm1965, năm Mỹ bắt đầu đưa quân vào, Mỹ đã hút mất gần 50 ngàn công nhân và cán bộ kỹ thuật của Nam Việt Nam (L’Information du Viet Naméconomique et financière 18-5-1967).
         
        Cùng vì thế, từ khi Mỹ vào, tuy có nhiều xí nghiệp và hãng buôn mọc lên để phục vụ Mỹ, nhưng cũng có không ít xí nghiệp và công ty phải thu hẹp sản xuất, vì thiếu công nhân, thiếu cán bộ kỹ thuật. Đó là những doanh nghiệp không gắn bó nhiều lắm với việc phục vụ Mỹ, do đó, không kiếm được nhiều lãi trong cơ hội mới này và không đủ khả năng tăng lương cho công nhân. Đó là nhân tố chủ yếu làm cho chỉ số tiền lương ở miền Nam năm 1966 bỗng nhiên tăng vọt một cách bất thường. Nếu lấy chỉ số tiền lương năm1964 là 200, thì tháng 12 năm 1965 lên 697, đến tháng 6 năm 1966 đã lên 866, và đến tháng 12 năm 1966 lên 1.139 (Niêm giám thống kê Việt Nam 1972, Sài Gòn. Đã dẫn t.227).
         
        Như vậy, việc thuê người của các “Sở Mỹ” đã dẫn đến hai kết quả trực tiếp:
         
        - Hàng chục vạn người lấy việc phục vụ cho bộ máy xâm lược của Mỹ làm nghề nghiệp. Từ đó, họ được hưởng những khoản thu nhập to lớn.Theo tính toán của Mỹ thì số 140 ngàn người làm thuê này, cộng với gia đình họ, là khoảng 750 ngàn người, được sống sung túc bằng lương do Mỹ trả (AP ngày 10-7-1970).
         
        - Nền sản xuất nội địa bị tước mất một số lớn lao động lành nghề.Tăng lương là biện pháp tự vệ. Nhưng nó kéo theo hiện tượng tăng giá sản phẩm một cách giả tạo, vì bản thân việc tăng lương cũng có tính chất giả tạo, không dựa trên năng suất lao động tăng lên, mà chỉ do tác động của luật cung cầu nhân công, do Mỹ gây ra một sự thiếu hụt giả tạo.
       
        Tất nhiên, đối với những người ăn lương cao của Mỹ thì thu nhập củahọ không có tính chất giả tạo. Đó là nguồn lợi thực sự. Đến lượt họ, họ lại trở thành những người tiêu dùng rất mạnh mẽ trong xã hội, rồi họ lại nuôi sống nhiều người khác bằng sự tiêu dùng đó.
         
        Đó là khoản thứ nhất trong cái goi là “xuất khẩu nội biên” của Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2017, 08:23:08 PM
         
        Khoản thứ hai là bao thầu các công trình và các yêu cầu dịch vụ của các “Sở Mỹ”. Như đã nói ở trên, từ kế hoạch vào Nam Việt Nam, Mỹ cho bao thầu rất nhiều loại công việc khác nhau: xây cất, sửa chữa, chế biến, gia công, dịch vụ… Vô số tư sản đã làm giàu to nhờ những số tiền nhận thầu. Đây cũng là một trong những con đường làm giàu nhanh nhất và nhiều nhất. Ta có thể lấy một ví dụ cụ thể: Ngô Càn Tê. Trước khi Mỹ vào Đà Nẵng (Đà Nẵng cũng là nơi Mỹ đưa quân đầu tiên vào Việt Nam), y mở ngay một quán ăn, đặt tên là quán “New York”, nhằm thu hút khách Mỹ. Với quán ăn này, người ta thấy y xin được bao thầu hàng loạt thứ: đóng thùng gỗ cho quân đội Mỹ đựng vũ khí và đồ quân nhu, thầu làm cơm sấy, muối cá nhân, đuờng cá nhân… cho quân đội, hùn vốn mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất… Nhờ số tiền kiếm được, chỉ vài năm sau, y trở thành một đại tư sản. Để đi xa hơn nữa, y mua đất và xây khách sạn “Đông Phương”, khách sạn lớn nhất nhì ở Đà Nẵng. Có biết bao nhiêu tư sản nữa ở miền Nam đã đi theo con đường tương tự như thế để làm giàu!
         
        Khoản “xuất khẩu nội biên” thứ ba là những khoản của nhân viên và binh lính Mỹ trả cho những người làm nghề tự do, ngoài số người làm thuê ăn lương như đã nói ở trên. Theo tính toán của ngụy quyền thì số người phục vụ Mỹ này đông gấp hàng chục lần so với người làm ở “sở Mỹ”. Có thể tới cả triệu người. Thành phần của họ cũng đa dạng và phức tạp hơn: nhân viên khách sạn và bán hàng ăn uống, nhân viên các phòng tắm hơi, các chiêu đãi viên, gái bàn “bar”, gái nhảy, gái đĩ, thợ may, thợ giặt, thợ đánh giầy, thợ cắt tóc, người cho thuê nhà, người lái xe tắc xi, xe “ôm” và đạp xích lô, người môi giới về đủ mọi mặt, và cả những ca sĩ, nhạc công, những luật sư…
         
        Thu nhập của những nghề phục vụ tự do này không được ổn định, nhưng nói chung là cao không kém, thậm chí, còn cao hơn nhiều so với những người làm thuê ăn lương của Mỹ. Vì thế, nhiều cô nhân viên các cơ quan ngụy quyền, và nhất là nữ sinh, đã bỏ nghề, bỏ học để đi bán “bar”. Ở Đà Nẵng, có gần một ngàn ngư dân đã bỏ thuyền, sắm xích lô để kiếm được nhiều tiền hơn.
         
        Cũng chính vì vậy, mà nhìn vào các biểu thống kê giá cả ở miền Nam, ta thấy từ năm 1965 đến năm 1966, giá cả một loạt khoản dịch vụ bỗng tăng lên đột ngột (tính bằng đồng bạc Sài Gòn) (Niên giámthống kê Việt Nam 1972. Đã dẫn, trang 349):
         
19651966
Hớt tóc1733
Công may áo dài nữ98,1180,2
Côna may áo sơ mi79.3135
       
        Rút cuộc, xã hội đã tách ra triệu người chỉ sống bằng nghề phục vụ quân đội viễn chinh, nhờ đó có đời sống phong lưu, có thu nhập rất cao. Chính quyền coi đó cũng là một bộ phận “thu nhập quốc dân” hết sức quan trọng.
         
        Trong thời kỳ Mỹ chiếm đóng, người ta nói đến 6 nghề phát triển nhất, làm giầu mau lẹ nhất (lục nghệ đế vương). Đó là: thực (ăn), y(mặc), hành (đi lại), cư (ở), khang (giải trí), lạc (chơi bời). Thật chẳng hay ho gì một xã hội mà cái nhân vật trung tâm của nó không phải là các nhà kinh doanh công nghiệp, tài chính, thương mại, du lịch hay nông nghiệp, mà lại là các người mở quán ăn, chủ tiệm may, chủ khách sạn, chủ xe khách, chủ tiệm nhảy và đặc biệt là những người kinh doanh nghề mãi dâm.
         
        Một dân biểu Sài Gòn đã từng biện bạch: “Mỹ cần gái. Ta cần đô la. Sao không đổi? Đó là nguồn đô la cho quốc gia không bao giờ cạn”.
         
        Chính vì cái khoản “xuất khẩu nội biên” đó cho nên, như chính tổng trưởng xã hội ngụy Trần Ngọc Liễn cũng đã nhận xét: “Nghề gái điếm ở nước này đã phát triển đến mức trở thành một trong những nghề có tổ chức tốt nhất”.
         
        Theo một tờ báo Mỹ, thì năm 1970, chỉ tính riêng số tiền mà nhân viên dân sự và quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam chi cho ba khoản: mua kỷ niệm, taxi và trả cho gái đĩ cũng đã tốn mất từ 50 đến 70 triệu đô la (Sài Gòn trước cuộc khủng hoảng kinh tế. Bài đăng báo Newsweek ngày 15-6-1970).
         
        Chính vì thế mà ở miền Nam đã xuất hiện những câu tục ngữ như “nhất Mỹ, nhì đĩ” hay “nhất đĩ, nhì lô (xích lô), tam cô (ma cô), tứ tướng”…


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2017, 08:24:08 PM
         
        Trong các báo cáo trước Thượng nghị viện Mỹ, G.Mac Donald, giám đốc phái bộ viện trợ Mỹ ở Sài Gòn, có nói rằng các khó khăn kinh tế ở miền Nam đã được giải quyết, “Giá cả tuy tăng lên, nhưng thu nhập của các gia đình cũng tăng lên, nhờ số người có việc làm nhiều hơn bao giờ hết (G.Mac Donald. Báo cáo trước Ủy ban Đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ về tình hình kinh tế Nam Việt Nam, ngày 17-2-1970. USISWashington 17-3-1970).
         
        Khoản thu thập thứ tư là thu nhập về bán các thứ hàng hóa cho Mỹ: thịt, cá, rau, hoa, quả, các đồ mỹ nghệ, đồ uống… Đây cũng là một khoản thu nhập lớn. Những người có vườn cây ăn, những người nuôi heo, nuôi gà, những người đánh tôm cá, những người trồng hoa, trồng rau, những người buôn các thứ đó, những người chuyên chở các thứ đó… đều đã tìm thấy ở hơn nửa triệu cái ví của Mỹ một nguồn thu nhập. Mỹ xài rất nhiều trả rất cao, thường không mà cả. Người ta thường muốn nói thách bao nhiêu cũng được. Chính vì sức mua tăng vọt cho nên cũng từ năm 1966, ta thấy chỉ số giá cả bỗng tăng vọt. Trong đó, tăng mạnh nhất không phải là giá công nghệ phẩm, hàng nhập khẩu,mà chính là các thứ hàng kể trên.
         
        Nếu lấy chỉ số giá cả năm 1959 là 100, thì từ năm 1965 sang năm1966, chỉ số giá cả các loại hàng hóa như sau (Niên giám thống kê ViệtNam 1972. Đã dẫn, 338/339 và 343):

19651966
Sản phẩm trồng trọt135,4222,9
Sản phấm chăn nuôi173,2323,4
Sản phẩm nhân cảna145173.4
       
        Qua biểu trên ta thấy rõ: Cho đến năm 1965, mức tăng chỉ số giá cả hàng nhập cảng còn cao hơn mức tăng chỉ số giá sản phẩm trồng trọt, và chỉ kém mức tăng chỉ số sản phẩm chăn nuôi chút ít. Đến năm 1966 chỉ số giá sản phẩm trồng trọt bỗng tăng vọt, hơn hẳn giá hàng nhập cảng. Sự chênh lệch này chủ yếu do luật cung cầu. Lúc này, số hàng nhập cảng vào Nam Việt Nam tăng lên rất nhiều. Nhưng nông sản nội địa chẳng tăng được bao nhiêu, mà sức mua bỗng tăng vọt. Do đó, chỉ trong một năm mà giá cả nông sản và những hàng nội địa phục vụ quân đội Mỹ tăng gần gấp đôi, trong khi các hàng khác tăng tương đối ít.
         
        Dưới đây là giá một số hàng tăng nhanh nhất từ 1965 đến 1966 (tính bằng đồng bạc Sài Gòn) (Như trên, t.340, 341, 346, 347,348,349).
         
19651966
Cá tươi (kg)45,694,2
Cá lóc (kg)60,8125,9
Tôm tươi (kp)49! 7105,2
Gà (kg)80,9147,9
Trúng (quả)3,66,4
Thịt bờ ngon (kp)89,2177,2
Bẳp cái (kg)16,4146,8
Dưa chuột (kq)6,614,6
Chuỗi (nải)9! 413,2
Bia (chai)% 816,9
Xi măng (bao 50 kp)115202
Gạch (1.000 viên)10881742
Vôi (60 kp)170337
       
       
        Trong khi đó, có nhiều thứ sản phẩm nội hóa chỉ tăng giá rất ít, có thứ không tăng, có thứ còn giảm giá. Đó là những thứ mà Mỹ và đám người giàu có gắn với Mỹ không dùng đến, hoặc là những thứ đã có hàng nhập cảng tốt hơn thay thế. Ta hãy thử xem giá cả một vài mặt hàng sau đây (đồng bạc Sài Gòn) (Niên giám thống kê Việt Nam 1972. Đã dẫn, trang 340-341):
         
19651966
Vải thô nội hóa (tãm 40 vuông)651689
Vải trắng nội hóa (m)25,436,6
Xà phòng nội hóa (kg)66,644,7
Đường cát (tạ)27452580,6
       
        Đối với những thợ thủ công, công nhân, tiểu chủ và cả những tư sản kinh doanh các nghề đó, thì tất nhiên là thu nhập giảm sút hoặc không tăng kịp tình thế. Trong khi đó, giá sinh hoạt lại tăng vọt. Tình cảnh của họ chỉ ngày càng xấu hơn đi, nếu như họ không bỏ nghề.
         
        Ngoài chi phí để mua hàng hóa thông thường, các cơ quan Mỹ còn chi tiền để mua thứ hàng hóa đặc biệt nữa: mua chuộc và trả công các viên chức cao cấp ngụy quyền. Đây cũng là một khoản lớn. Trong ngân sách Bộ Ngoại giao Mỹ, mỗi năm có khoảng 300 triệu đô la dành cho việc hối lộ và mua chuộc các chính khách nước ngoài. Ở Nam Việt Nam, Mỹ sử dụng món tiền này khá rộng tay. Có những khoản Mỹ chi bằng bạc Sài Gòn. Có một số khoản đặc biệt, để trả cho những thành tích đặc biệt, Mỹ chi bằng đô la xanh.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2017, 07:47:46 AM
         
        Vào giữa năm 1966, Thiệu cùng Nguyễn Hữu Có (Tổng trưởng quốc phòng) ra chiếc hàng không mẫu hạm Mỹ Independece. Cả hai cùng ký tên vào 1 quả bom 2 tạ rưỡi để cho máy bay Mỹ mang thả xuống miền Bắc. Khi ra về, Thiệu và Có đều được biếu những ngân phiếu đô la xanh “cỡ 5 con số”.
         
        Nguyễn Cao Kỳ, khi chịu ngừng tranh cử với Thiệu cũng được Mỹ tặng một phần thưởng tương tự để làm vốn trong con đường lập nghiệp khác. Đến ngày 29-12-1965, chính Kỳ đã tự tố giác với báo chí là Mỹ đã cho Kỳ 100 triệu đồng để Kỳ chịu đi làm đại sứ nước ngoài và để cho Thiệu được yên vị (Reuter 29-12-1965).
         
        Trần Văn Hương, khi chịu nhận làm Thủ tướng cho Thiệu được tặng một biệt thự lớn ở đường Phan Thanh Giản cùng 2 triệu đồng để mua sắm các động sản trong nhà. Sau đó, khi Hương chịu đứng liên danh ứng cử với Thiệu, để Thiệu khỏi bị trơ trọi, thì Hương được biếu ngay một ngân phiếu 200 ngàn đô la xanh.
         
        Nghị viện của Thiệu, khi bầu bán, khi biểu quyết các dự luật đều được chuẩn bị sẵn những khoản chi cần thiết cho các dân biểu để bịtmồm những kẻ hay phản đối, để thúc đẩy những kẻ ủng hộ… Theo tính toán của Nguyễn Cao Thăng, phụ tá chính trị của Thiệu, thì khi thông qua đạo luật 10-1970, đã tốn mất 15 triệu đồng để làm những việc đó. Số tiền này do Thiệu đứng ra chi, nhưng Mỹ là kẻ bơm tiền đó cho Thiệu. Vì thế, trong chính giới ngụy quyền, từ lâu đã hình thành một câu tục ngữ: “Đã bầu là có bán”.
         
        Đối với một số dân biểu, tổng trưởng, tướng tá, nếu hợp tác với sứ quán Mỹ, với tổ chức CIA, với các phái bộ Mỹ… trong những việc như cung cấp tin tức, thu xếp để ký kết các hiệp nghị, cãi trắng án hoặc xử nhẹ những người Mỹ phạm tội… đều được biếu hoặc một ngân phiếu, hoặc một chiếc xe hơi, hoặc những món bổng lộc khác tương xứng với công lao.
       
        Đó cũng là một khoản nữa trong cái gọi là “xuất khẩu nội biên”.
         
        Rút cuộc, số tiền mặt hàng trăm tỷ đồng mà Mỹ chi tiêu trên đất miền Nam Việt Nam đã làm cho hàng loạt ngành nghề bỗng nhiên phát đạt chưa từng thấy. Một loạt nghề rất mới xuất hiện. Đó đều là nhữngnghề gắn với sự tiêu xài của hơn một nửa triệu người Mỹ.
         
        Từ đám người này, và thông qua những ngành nghề này, hàng trăm và hàng trăm tỷ đồng đã chui vào hàng triệu cái túi tiền của những người làm thuê, phục vụ, bán hàng và làm việc cho Mỹ, từ Tổng thống đến tên macô. Trong trận mưa bạc trút xuống mấy năm đó, kẻ tai to mặt lớn thì có túi lớn, kẻ thấp hèn thì có túi bé. Tất cả những cái túi đó đều đầy ắp. Xã hội bỗng nhiên xuất hiện hàng chục vạn người giầu có, phong lưu. Và đến lượt họ, họ lại trở thành một sức tiêu thụ, một sức mua mạnh mẽ. Sức tiêu thụ của lính Mỹ tạo ra sức tiêu thụ của họ rồi họ lại là nguồn làm giàu cho những người khác nữa. Vì có lính Mỹ nên các chiêu đãi viên cần và có thể may sắm cả chục bộ quần áo đẹp đẽ,đi uốn đủ mọi kiểu tóc, hàng tuần đến làm “mỹ viện”… Các tiệm may, các mỹ viện, các hiệu đóng giày, các hiệu kim hoàn… bỗng rất đắt và tăng giá hàng lên. Đến lượt các chủ tiệm này lại trở thành đám khách “sộp” của các hàng ăn, các hàng rau, hoa, quả. Những phản ứng dây chuyền đó làm cho cả thành phố trở nên sầm uất cực độ. Người ta làmgiàu như chơi, và chơi như phá. Giàu sang theo cách đó, tự nó đã là một sự điên loạn, phi tự nhiên. Nhưng nó còn sản sinh ra vô vàn thứ điên loạn và phi nhân tính khác nữa.
         
        Nhưng vấn đề không phải chỉ có như thế. Không thể có mưa bạc củaMỹ mà không có mưa bom của Mỹ được! Chỉ có điều là: nó diễn ra ở những nơi khác, dành cho hai loại người Việt Nam khác nhau.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2017, 08:07:56 AM
         
        V. HÀNG PX
         
        PX là ký hiệu để chỉ các căng tin của quân đội Mỹ, gọi là Post Exchange. Ở tất cả những nước nào trên thế giới mà có quân đội Mỹ, phái bộ Mỹ hoạt động đều có các PX để phục vụ riêng cho người Mỹ tạiđó. Đây là một loại hình thương nghiệp đặc biệt, tuy mục đích trực tiếplà phục vụ cho các công dân Mỹ trú đóng ở nước ngoài, song thường lại có ảnh hưởng đáng kể đến thị trường của nước sở tại.
         
        Ở miền Nam Việt Nam thời Mỹ-ngụy, PX rất phát triển và có vai trò rất quan trọng trong kinh tế lúc đó.
         
        Các cửa hàng PX được đặt ở những nơi có cơ quan Mỹ, các căn cứ của quân Mỹ và quân chư hầu, từ Đắc Tô, Plâyme, đến Cam Ranh, VũngTàu… Ở các thành phố, cửa hàng PX được đặt tai các trung tâm quan trọng. Ở Đà Nẵng, cửa hàng PX lớn nhất là cửa hàng trước cửa sân bay Đà Nẵng. Ở Sài Gòn-Chợ Lớn, cửa hàng PX lớn nhất là cửa hàng ở đường Nguyễn Tri Phương. Ngoài ra, còn có hàng loạt các cửa hàng lớn ở đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Đồng Khánh…
         
        Cửa hàng PX bán gần như đủ tất cả mọi thứ hàng hóa: Các loại rượu ngon, Champagne và Cognac của Pháp, Mao Đài và Mai Quế Lộ của Đài Loan, rượu sâm của Đại Hàn, rượu Whisky của Mỹ, các loại thuốc lá, các loại bia, các đồ hộp quý như nấm của Ý, thịt hộp của Đan Mạch, kẹo Hà Lan, táo Hà Lan, cam Israel… Đương nhiên, thứ quan trọng nhất của cửa hàng này là những hàng công nghiệp cao cấp: quần áo, len dạ, tơ lụa, đồng hồ, máy ảnh, các loại máy ghi âm, máy vô tuyến truyền hình, các dụng cụ gia đình, tủ lạnh, quạt máy, xe máy.. Trong PX, có nhiều loại hàng mà miền Nam không nhập cảng được, hoặc vì đó là loại hàng cao cấp, giá nhập quá cao, hoặc vì đó là hàng của những nước mà Nam Việt Nam không thể đặt quan hệ thương mại được.
         
        Đặc điểm của các cửa hàng PX là: nó không chỉ có hàng của Mỹ mà còn có nhiều hàng của các nước khác. ”Đặc sản” của thế giới được tập hợp về đây. Vì thế, nó không chỉ có sức hấp dẫn đối với người ViệtNam, mà còn hấp dẫn cả lính Mỹ nữa.
         
        Nhưng đặc điểm quan trọng, có sức hấp dẫn nhất của các cửa hàng PX: giá bán chỉ bằng ½ hay 2/3 giá thị trường. Cũng như hàng “quân tiếp vụ”, hàng PX là hàng cung cấp, không thuộc phạm vi thương mại. Bộ Quốc phòng Mỹ có một ngân khoản lớn để bù lỗ. Thực ra, đây là một thứ trợ cấp cho binh lính. Cửa hàng chỉ thu lại một phần giá hàng, để điều chỉnh sức mua mà thôi.
         
        Nhưng các cửa hàng PX chỉ bán cho các nhân viên Mỹ, binh lính Mỹ và về sau có bán cho cả binh lính các nước chư hầu. Người Việt Nam không được mua.
         
        Cửa hàng PX chỉ bán bằng đô la, không bán bằng bất cứ thứ tiền nào khác. Quy chế trả lương cho lính Mỹ ở Việt Nam như sau: Phần lương và phụ cấp dành cho gia đình được trả bằng đô lanh xanh tại Mỹ. Số lương dành để chi tiêu trên đất Nam Việt Nam thì gồm có hai phần: Phần dùng để chi tiêu ngoài phố thì đổi ra bạc Sài Gòn. Số còn lại là đô la đỏ dùng để mua hàng PX. Ai không tiêu hết, muốn gửi về Mỹ, thì ngân hàng ở Mỹ sẽ chuyển ra đô la xanh tại Mỹ. Ngược lại, ai được gia đình gửi tiền từ Mỹ sang cho, thì số đô la xanh đó sẽ nộp tại ngân hàng Mỹ, và lính Mỹ ở Việt Nam lĩnh bằng đô la đỏ. Quy chế này giúp cho Chính phủ Mỹ vừa không để lọt đô la xanh ra ngoài nước và vào tay người ngoại quốc, lại vẫn đảm bảo cho lính viễn chinh được tiêu xài số tiền đã có, lại vừa ngăn chặn không cho người Việt Nam trực tiếp mua hàng PX được. Chính những quy chế này đã làm cho lính Mỹ càng có thêm ưu thế.
         
        Vậy hàng PX vẫn tràn ra và đi vào mọi ngóc ngách của xã hội. Ở đâu người ta cũng nói đến hàng PX. Ở đâu cũng thấy bán hàng PX. Ở đâu cũng thấy dùng hàng PX. Trong thực tế hàng PX đã trở thành một trong những bộ phận quan trọng nhất của thế giới hàng hóa ở miền Nam. Không những nó cung cấp thêm hàng hóa cho thị trường, mà còn làm cho giá hàng nói chung hạ thấp xuống.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2017, 08:08:34 AM
         
        Tại sao như vậy?
         
        Ngoài số hàng mua để dùng, quân đội Mỹ còn mua để đem bán ra lấy lãi. Vì giá mua rất rẻ, cho nên bán lại cũng rẻ, mà vẫn lãi nhiều. Chẳng hạn, 1 chiếc Honda, giá thị trường năm 1967 là 27 ngàn đồng. Giá trong PX chỉ có 75 đô la, tính ra chỉ có 9 ngàn đồng, đã lãi gần gấp đôi, mà người mua vẫn thấy rẻ được phần nửa. Một chiếc tivi 9 inches giá trên thị trường là 15 ngàn, giá trong PX là 60 đô la, tính ra chỉ hơn 7 ngàn đồng, xách ra khỏi cửa đã có người mua ngay với giá 10 ngàn, lãi 3 ngàn, mà người mua vẫn thấy rẻ được 5 ngàn. Một chiếc máy ảnh Canon loại tốt chỉ có 25 đô la, tức là 3 ngàn đồng, ra ngoài chợ trời bán rẻ nhất cũng được 5 ngàn, trong khi đó giá bán tại các cửa hiệu phải tới 60 ngàn đồng.
         
        Như vậy, PX không chỉ là cái căng tin mà trong chừng mực rất lớn,đã trở thành nơi để lính Mỹ “cất” hàng đem bán ra thị trường. Hơn nửa triệu quân nhân cũng là hơn nửa tỉệu thương nhân. PX trở thành nguồn làm giàu. Buôn hàng PX là một nghề nghiệp.
         
        Việc buôn bán này đã dần dần được tổ chức có quy mô to, có tổ chức kinh doanh thực sự. Có những đơn vị quân đội tổ chức buôn tập thể, cho hẳn vài chiếc xe tải đến mua hàng, chất lên rồi trở đi, chia nhau bán. Nhiều đơn vị lính viễn chinh thường cử “trinh sát” dùng xe “Jeep” trực sẵn ở cửa hàng, có gắn máy bộ đàm quân sự, nếu thấy có món hàng mới thì điện ngay về đơn vị cho lực lượng đến mua vét. Đã có nhiều lần xảy ra bắn nhau ở các cửa hàng PX là vì tranh giành giữa các đơn vị.
         
        Quân đội Mỹ còn có một cách kiếm lời khác nữa: mùa hàng PX gửi về Mỹ. Mỹ là nước có chính sách bảo vệ hàng nội địa và có những chế độ khắt khe trong việc đưa hàng hóa từ ngoài vào. Nhưng riêng lính Mỹ được hưởng một đặc quyền: mỗi binh sĩ Mỹ đóng tại Việt Nam mỗi năm được gửi 300 kg quà về nước. Đây chỉ là sự hạn chế về tải trọng, chứ không phải là hạn chế về giá trị hàng hóa. Đặc quyền đó mở cho lính Mỹ và gia đình một nguồn lợi lớn. Nếu 300 kg mà lại là đồng hồ, máy ảnh, máy ghi âm, len dạ… thì cũng là cả một chuyến hàng rất lớn.Nhiều lĩnh Mỹ còn được gia đình gửi thêm tiền sang để mua “quà” gửi về. Trong chính sách này, Chính phủ Mỹ gửi gắm nhiều ý đồ:
         
        - Bằng nguồn lợi này, tăng thêm sức hút thanh niên Mỹ đi lính sang Việt Nam, làm dịu bớt phong trào phản chiến và chống quân dịch
         
        - Làm cho cả gia đình lính Mỹ cũng được an ủi phần nào trong việc chồng con phải sang Việt Nam
         
        - Số quà quí giá gửi về cho các gia đình binh lính còn tạo ra trong dư luận xã hội Mỹ cái cảm giác rằng đi lính sang Việt Nam cũng không đến nỗi là hoàn toàn bất hạnh.
         
        Tất nhiên, Chính phủ Mỹ có bị thiệt thòi, vì phải bù lỗ, vì có một số hàng ngoại lọt vào nội địa, song lại góp phần hạn chế bớt sức bùng nổ của phong trào phản chiến, là cái cớ có thể gây những thiệt hại to lớn hơn.
         
        Ngoài số hàng mua để dùng, để buôn bán, quân đội Mỹ và chư hầu còn mua rất nhiều thứ để làm quà tặng cho các chiêu đãi viên, gái nhẩy, nhân viên phục vụ… Những người này lại đem bán những “cadeau” đó ra thị trường. Với hơn nửa triệu lính, thì tổng số “cadeau” này cũng là một lượng hàng hóa đáng kể. Ở Đà Nẵng, cứ vào những ngày mà sân bay có nhiều máy bay cất cánh, nhả khói mù trời, thì người ta biết là có nhiều phi công Mỹ đi oanh tạc miền Bắc. Dường như đã thành quy luật, cứ đến buổi chiều những hôm đó, cửa hàng PX tungra bán hàng loạt mặt hàng mới, lính vào mua ào ào. Cũng theo quy luật, những người buôn hàng PX đã chờ sẵn ở các trại lính Mỹ và các khách sạn. Thị trường lại có thêm những đồng hồ, những máy ảnh, những máy cassette xinh xinh…


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2017, 08:45:12 AM
         
        Với cái ưu thế là được mua hàng PX, lính Mỹ và chư hầu có một thuận lợi để làm quen và thâm nhập vào các gia đình người Việt Nam. Người ta có thể căm ghét Mỹ, không muốn dính líu gì với Mỹ. Nhưng khi có thể lợi dụng được Mỹ, thì cái phản ứng kia có thể dịu đi. Trong thực tế, có không ít người làm quen và đi lại với lính Mỹ chỉ để nhờ mua hàng PX. Mua về để dùng cũng có. Mua về để bán lại cũng có. Ở các đô thị, lính Mỹ thường có thể lân la vào mọi gia đình, nhất là những gia đình có con gái đẹp và khá giả. Nhiều người cho Mỹ thuê phòng, vừa lấy tiền thuê cao, vừa nhờ mua được hàng rẻ. Các gia đình có con lấy Mỹ thì sự nhờ vả hầu như không còn hạn chế nào nữa. Những người vợ lính này thường trở thành những người buôn PX thực sự và cung cấp cho thị trường một số hàng hóa rất lớn
        (Số phụ nữ lấy Mỹ ở Sài Gòn chiếm tỷ lệ khá cao. Theo thống kê sổ hôn thú chính thức, chắc kém xa số cuộc hôn nhân bán chính thức, mỗi năm Sài Gòn có khoảng dưới 3 ngàn cuộc hôn thú: trong đó, có tới trên 4 trăm là hôn thú Việt-Mỹ. Niên giám thống kê Việt Nam 1972. Đã dẫn, tr 382).
         
        Bằng những con đường kể trên, PX làm cho thị trường miền Nam đã náo nhiệt lại càng thêm náo nhiệt. Trước các cửa hàng PX, đã hình thành những chợ trời đặc biệt: chợ mua bán hàng PX. Các con buôn tụ tập trước cửa hàng. Lính Mỹ bước ra đều tay xách, nách mang. Người ta xúm lại, mua tranh, bán cướp, mua đi, bán lại. Hàng từ chợ trời này lại được bán về các chợ trời khác và lọt vào mọi ngóc ngách của xã hội.
         
        Cùng với chợ trời hàng PX, còn có chợ tiền. Lính Mỹ bán hàng PX lấy bạc Sài Gòn, lại đổi số bạc đó lấy đô la. Những người muốn nhờ Mỹ mua hàng cũng cần có đô la để gửi mua. Những người buôn bán đô la hòa nhập với những người buôn bán hàng làm cho chợ trời thêm hoàn chỉnh.
         
        Cửa hàng PX và hàng PX đã đem lại kết quả thế nào?
         
        Đối với binh lính Mỹ, và cả gia đình họ, thì hàng PX là một món lợi đáng kể, bổ sung thêm vào tiền lương và phụ cấp. Lương lính Mỹ vốn đã cao hơn lương lính ngụy. Lương tháng một binh nhất là 90 đô la. Từ tháng 10-1967 họ được tăng lên 95 đô la, tức là xấp xỉ bằng thu nhập bình quân đầu người của nhân dân miền Nam trong 1 năm. Tuy nhiên, số hơn 90 đô la không đủ. Các cửa hàng PX không những giúp họ mua rất rẻ để dùng, mà còn nhân lên gấp bội số lương tháng. Chính phủ Mỹ muốn bằng cách đó làm cho binh lính cảm thấy cuộc sống viễn chinh đỡ đáng chán và đáng ghét.
         
        Đối với xã hội Việt Nam, các cửa hàng PX là một nguồn cung cấp hàng hóa rẻ, tốt và nhiều. Ở miền Nam người ta thấy giá hàng ngoại hóa rất rẻ. Không phải chỉ những hàng cũ, mà cả những hàng còn mới nguyên, người ta vẫn bán rẻ, có khi rẻ hơn cả giá bán ở nước sản xuất ra thứ hàng đó.
         
        Có mấy nguyên nhân chính sau đây:
         
        - Hàng PX
         
        - Hàng ăn cắp của Mỹ
         
        Đó là những hàng mà người bán không phải mua theo giá nhập. Khi số hàng này chiếm một tỷ lệ nào đấy, thì nó làm cho giá thị trường cũng hạ theo.
         
        Những hàng mà các hãng buôn nhập cảng về bán thì nói chung là đắt hơn giá trên thị trường quốc tế. Nhưng cũng có nhiều thứ hàng nhập cảng bán tại các cửa hiệu vẫn rẻ hơn giá thị trường quốc tế. Hiện tượng đó có những nguyên nhân sau đây:
           
        - Một số nước sản xuất có chế độ khuyến khích xuất khẩu, do đó có những biện pháp đảm bảo giá xuất rẻ hơn giá nội địa. Chẳng hạn Chính phủ Nhật có chính sách không những miễn thuế, mà còn cấp phát tài chính đối với một số hàng xuất khẩu. Ở Mỹ, đạo luật 1971 cho phép miễn thuếu lợi nhuận 50% cho các Công ty xuất khẩu. Những công ty nào mà 95% vốn dùng để sản xuất cho xuất khẩu hoặc có 95% thu nhập là nhờ xuất khẩu, thì được coi là Công ty quốc tế (InternationalCorporation) và được hưởng quy chế đó. Đến 1972, Mỹ có tới hơn 2 ngàn công ty thuộc loại này. Như vậy, giá bán của các công ty này thường thấp hơn giá nội địa, mà các công ty vẫn có lãi.
         
        - Một số hàng nhập khẩu thương mại hóa được miễn thuế hoặc chỉ chịu thuế nhẹ. Trong mục viện trợ thương mại hóa, đã thấy các nhà nhập cảng được hưởng hối suất thấp hơn nhiều so với hối suất tự do.Nói chung là Nhà nước đánh thuế cao để lấy lại số dư đó. Nhưng cũng có một số mặt hàng, vì lý do nào đó, chính quyền đánh thuế thấp.Trong trường hợp đó thì tổng giá vốn của nhà nhập cảng (giá nhập cảng + thuế) vẫn còn thấp hơn nhiều so với giá thị trường quốc tế. Cũng có nhiều trường hợp, phái bộ viện trợ Mỹ đòi đánh thuế nhập thấp, nhưng buộc nhà nhập cảng phải bán giá rẻ. Do đó, nhà nhập cảng có muốn bán giá cao cũng không được phép.
         
        - Một số hàng nhập cảng mà khi bán ra thì đồng bạc đã sụt giá rất nhiều so với lúc nhập (ta biết, đồng bạc Sài Gòn sụt giá rất nhanh, không phải từng năm mà từng tháng). Trong trường hợp đó, giá bán có thể không tăng nhanh bằng mức tăng chỉ số giá cả nói chung. Giá bán này, nếu tính theo hối suất mới của đồng bạc đã sụt giá, thì thấp hơn giá thị trường quốc tế. Nhưng nếu tính theo hối suất cũ của tháng nhập hàng, thì vẫn cao hơn, và nhà nhập cảng vẫn có lãi. Bản thân nhà nhập cảng cũng muốn bán nhanh để thu hồi vốn. Hơn nữa, theo quy định của phái bộ viện trợ Mỹ, hàng hóa nhập về buộc phải tiêu thụ trong 90 ngày. Quá hạ sẽ bị phạt. Do đó có lãi một chút là phải bán ngay. Nếu không sẽ bị phạt và không được cấp giấy phép nhập cảng nữa.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2017, 08:45:54 AM
        
THAY KẾT LUẬN
       
        Giai đoạn 21 năm mà ta vừa nghiên cứu ở trên có thể coi là giai đoạn “cổ điển” của viện trợ Mỹ. Nó gắn liền, là sản phẩm, cũng vừa là sự trả giá cho chính sách chiến tranh lạnh và cả chiến tranh nóng.
        
        Trường hợp Việt Nam không nằm ở ngoại lệ, mà cũng nằm trong khung cảnh quốc tế của viện trợ Mỹ thời kỳ đó (vả chăng chiến tranh nóng để xâm lược Việt Nam cũng là một sản phẩm đặc thù của thế trận chiến tranh lạnh trên trường quốc tế).
        
        Chính khung cảnh đó đã quy định cả mục đích, cả tính chất, cả phương thức lẫn kết quả của viện trợ. Nhưng, như đã nói ngay trongnhững trang đầu, mục đích chính của sự nghiên cứu này không phải chỉ là lên án viện trợ Mỹ. Vả chăng những chính khách, các nhà bình luận Mỹ cùng những “người trong cuộc” cũng đã tự đánh giá rồi. Nếu cần phải có những kết luận về mặt này, thì trích dẫn có thể thay cho kết luận:
        
        M.Donald, Giám đốc phái bộ viện trợ Mỹ ở Việt Nam: “Vấn đề ở NamViệt Nam không phải là vấn đề hoàn toàn có tính chất quân sự. Tình hình đòi hỏi một quy mô hoạt động toàn diện cả về kinh tế, chính trị, tâm lý cũng như quân sự. Đây là cuộc đấu tranh chưa từng có và theo tôi, tính chất và phạm vi cố gắng nhiều nhất của chúng ta để đối phó với cuộc đấu tranh đó cũng chưa từng có. Vấn đề Việt Nam đòi hỏi mộ tsố viện trợ lớn không hề có tính chất quân sự, để duy trì hệ thống hậu cần gồm đường sá, bến tàu và hải cảng mà chiến tranh cần phải có, để giúp cho một nền kinh tế nhỏ yếu gánh vác một ngân sách quốc phòng lớn (Báo cáo đọc trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ về tình hình kinh tế và viện trợ kinh tế cho Nam Việt Nam, USIS Washington 17-3-1970).
        
        E.Kennedy, thượng nghị sỹ Mỹ: “Tiền bạc đáng lý có thể dùng để tưới nước cho một châu thổ hoặc xây cất một bệnh viện, thì lại được chi tiêu để buộc người ta phải chấp nhận một viên tướng hoặc một chế độ thối nát mất lòng dân. Viện trợ kinh tế của chúng ta không hướng vào những nơi có nhu cầu và khả năng phát triển nhất, mà lại hướng vào những nơi có mối đe dọa cộng sản mạnh nhất. Ngân sách viện trợ của chúng ta cho Việt Nam lớn hơn là tất cả châu Mỹ Latinh gộp lại. Ở châu Phi, viện trợ của chúng ta đã ngừng một phần, vì mối đe dọa cộng sản ở đó có vẻ không nghiêm trọng nữa (Edward M.Kennedy. DemainL’Amérque. Decisión pour une decennie. Ed Albin Michel. Paris 1968).
        
        N.Rockefeler: “Nếu không có kinh tế, thì các khối quân sự chỉ là xây cất trên cát. Nhưng nếu có các biện pháp kinh tế, thì đó lại là cát được trộn với xi măng” (Thư gửi riêng Tổng thống Mỹ Eisenhower).
        
        R.Nixon: “Chi cho các mục tiêu hòa bình tuy lớn, nhưng nếu thay nó bằng các biện pháp quân sự thì còn tốn nhiều hơn (Phát biểu tại quốc hội Mỹ về vấn đề viện trợ Mỹ cho Việt Nam. UPI. Washington 2-3-1973).
        
        E.Kennedy: “Nói chung, viện trợ cho nước ngoài được coi là đúng đắn với lập luận rằng nhờ dùng tiền bạc, chúng ta có thể chặn đứng một sự bành trướng cộng sản có thể xảy ra và chúng ta có thể tránh bớt việc dùng đến quân đội để ngăn chặn sự bàn trướng đó” (E.Kennedy.  Đã dẫn,  tr.4).
        
        William Buckey, ký giả tờ Internationa Herald Tribune: “Những người nào tán thành viện trợ cho Việt Nam phải nắm vững những quan điểm là chúng ta đang đầu tư thông qua viện trợ vào một sự ổn định mà nếu không có sự đầu tư đó thì rất khó đạt được. Đây là điều mà Mỹ cần phải thành thật một chút mà nói thẳng ra” (Số ra ngày 10 và 11-3-1975).
        
        Cố Tổng thống Ai Cập Nasser: “Về thực chất, đây không phải là việntrợ và cũng chẳng phải là lòng tự thiện mà chỉ là sự kinh doanh thôi” (Châu Á và châu Phi ngày nay. Số tháng 10-1974).
        
        Tuy nhiên, nếu nhìn lại suốt 21 năm dính líu với Việt Nam, ta thấy những mục đích cơ bản của viện trợ Mỹ đã không đạt được. Nhưng khi không đạt được kết quả, khi thua thiệt, thì bộ máy thiết kế của viện trợ Mỹ đã nhanh chóng tự sửa chữa, tự thay đổi về phương pháp, về cơ chế… Về phương diện này, những nhà làm luật của Mỹ tỏ ra có tài và nhạy bén.


Tiêu đề: Re: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2017, 09:55:04 AM
         
        Trong hơn một thập kể trở lại đây, quả là viện trợ Mỹ cũng đã có nhiều thay đổi-thay đổi về định hướng, thay đổi về quy chế, thay đổi vềcơ cấu, thay đổi về các điều kiện viện trợ. Cuộc chiến tranh Việt Nam làmột trong những nguyên nhân quan tọng dẫn đến những thay đổi đó.
         
        Từ sau Việt Nam, nước Mỹ rất ngại dính líu trực tiếp vào các xung đột chính trị ở các khu vực trên thế giới. Vì:
         
        - Chiến tranh Việt Nam để lại cho Mỹ những vết thương nặng nề và những sự nhức nhối lâu dài, mà nền kinh tế Mỹ cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của những vết thương đó. Quyền uy kinh tế của Mỹ yếu đi-xéttheo sức thao túng của nó trên trường quốc tế. Lạm phát, thâm thủng ngân sách, thâm thủng ngoại thương… là những di chứng của các vết thương không còn có thể “vung tay quá trán”. Viện trợ Mỹ được tính toán sít sao hơn, và ít phiêu lưu hơn.
         
        - Viện trợ Mỹ chuyển sang những con đường an toàn hơn: Cho vay có mục đích và có điều kiện. Đầu tư song phương, đa phương và gián tiếp.Thu hồi vốn và lãi thông qua cách kéo giá cả. Thay những áp lực quân sự bằng nhiều loại áp lực kinh tế. Thay áp lực trực tiếp bằng áp lực gián tiếp thông qua các tổ chức quốc tế (trong đó phải kể đến sự tác động của Mỹ qua Quỹ tiền tệ quốc tế, qua Ngân hàng thế giới, qua chế độ cấm vận và bao vây kinh tế, qua quy chế tối huệ quốc. Đối với Việt Nam, thái độ này của Mỹ cũng thể hiện rất rõ: từ chỗ dùng viện trợ tối đa và ào ạt, để khuất phục đất nước này, tới chỗ bao vây mọi loại viện trợ, cũng để khuất phục và trả thù đất nước này.
         
        Từ kế hoạch Marshall đến kế hoạch Brady (công bố tháng 3-1989),đã có hơn 40 năm trôi qua. Xem qua quy chế, các lời tuyên bố, các điềukhoản và phương hướng mà hai vị Bộ trưởng này đưa ra, thấy đã có khá nhiều điều khác nhau. Làm sao không khác nhau được, vì nước Mỹ hôm nay và nước Mỹ trước đây 40 năm cũng đã khác nhau. Sự phát triển của thế giới, những cuộc đụng độ với phong trào cách mạng thế giới, trong đó Việt Nam là cuộc đụng độ lớn nhất và ảnh hưởng mạnh nhất, đã đưa tới sự thay đổi đó.
         
        Người ta thấy dường như kế hoạch Brady khiêm tốn hơn, nhún nhường hơn, có chiếu cố đến các quốc gia nợ nần và nghèo khổ hơn…
         
        Nhưng cái gì đưa đến cảnh nợ nần và nghèo khổ đó? Và tại sao những nước được viện trợ lại càng mắc nợ nhiều hơn? Tại sao các nước đi “giúp đỡ” lại càng có nhiều của cải để “giúp đỡ” hơn, và thông qua “giúp đỡ” lại càng kiếm được nhiều của cải hơn nữa?
         
        Tưởng cũng không cần làm nhiều chứng lý, chỉ cần đi vào những consố. Báo cáo gần đây nhất của Ngân hàng thế giới về diễn biến số công nợ của các nước trên thế giới như sau (triệu USD) (Rapport sur ledéveloppement dân le monde. Banque Mondiale Washington D.C. p230-231):
         
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/21a_zpslsvnzhbj.jpg)
       
        Những nước đi vay thì như vậy. Còn các nước cho vay thì càng cho vay, càng viện trợ nhiều lại càng giàu hơn lên. Ở đây chỉ nói riêng trường hợp nước Mỹ. Cũng theo báo cáo kể trên của Ngân hàng thế giới, từ năm 1965 đến năm 1988, số tiền viện trợ của Chính phủ Mỹ đã tăng lên gấp 3 lần, nhưng tỷ lệ của nó trong tổng sản phẩm quốc dân lại giảm đi hơn 50%.
         
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/21b_zpsifyssvu8.jpg)
       
        Đến hôm nay, chuyện cũ đã lùi xa hơn một thập kỷ. Lịch sử đã sangtrang. Quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ cũng đã và đang đổi khác. Trước đây, chúng ta phải chống trả quyết liệt. Đó là điều chúng ta không muốn nhưng đã buộc phải làm.
       
        Ngày nay, điều ta muốn đã bắt đầu có thể làm được-hòa bình xâydựng, bình thường hóa quan hệ với các quốc gia, trong đó có Mỹ.
         
        Đối với viện trợ Mỹ, thì đây không chỉ đơn giản là sự bình thường hóa, mà còn là trách nhiệm đối với những hậu quả mà Mỹ đã để lại cho Việt Nam. Sự viện trợ đó, tất nhiên phải khác trước ở một điều kiện cơ bản: không phải để thực hiện chiến tranh và bình định, mà chính là để khôi phục và hàn gắn những vết thương lâu dài của chiến tranh.
         
        “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”.

         Trước đây, khi tiến hànhchiến tranh, ta đã học và có được 2 cái “biết” đó. Và ta đã thắng.
         
        Ngày nay, cả 2 cái biết đó vẫn đều rất cần. Chính những cái thất bạicủa Mỹ trước đây cũng đã cho Mỹ một bài học. Không biết người và không chịu biết người.
         
        Hiểu Mỹ, hiểu viện trợ Mỹ sẽ giúp chúng ta giáp mặt với nó chủ động hơn, vững vàng hơn…
         
Tháng 12-1990       

HẾT