Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 19 Tháng Tư, 2017, 07:30:24 PM



Tiêu đề: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Tư, 2017, 07:30:24 PM
Tên sách: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Tác giả: Lucien Bodard
Người dịch: Đoàn Doãn
Nhà xuất bản: Công an Nhân dân
Năm xuất bản: 2004
Số hoá: ptlinh, chuongxedap


Cùng một dịch giả
SỰ LỪA DỐI HÀO NHOÁNG
NEIL SHEEHAN



Dịch từ bản tiếng Pháp:
LA GUERRE D’INDOCHINE



TỰA

Ba mươi lăm năm đã qua đi kể từ khi tôi viết lịch sử cuộc chiến tranh của người Pháp ở Đông Dương. Là nhà báo, tôi đã theo dõi cuộc chiến, kể lại, phân tích hàng ngày; như vậy không đủ đối với tôi. Tôi còn cố tìm hiểu làm sao có thể dẫn đến thảm họa của Đội quân viễn chinh ở Điện Biên Phủ. Tôi đã muốn tháo gỡ những tình huống chằng chịt, làm sáng tỏ mớ rắc rối những sai lầm, cẩu thả, hợm hĩnh, những tính toán hớ hênh, lăn lộn, nhập nhằng, những sự phản bội và ô nhục, có thể nói tình trạng mất phẩm giá dẫn đến thảm họa không tránh được. Kỹ thuật chiến tranh lúc đó cũng hấp dẫn tôi. Phương Đông như một cơn ma túy; cuộc đấu tay đôi lôi cuốn tất cả: vũ khí và tâm hồn, sức mạnh vật chất và bản năng, đất nước, bùn lầy, đêm tối, cây xanh, thể xác và mọi góc cạnh của trí óc, việc sử dụng tiền bạc, đạo đức, hành động xấu xa, lễ nghi và tàn bạo, khủng bố và thuyết phục. Cuối cùng Đông Dương đối với tôi như mang mầm mống những thất vọng ê chề sau này ở Algeria và Châu Phi, phải thử phân tích những việc làm ở đó và bằng cách nào để giải thích lịch sử mới đây nhất của chúng ta. Xứ sở Đông Dương định mệnh, Đông Dương làm khuôn đúc cho tất cả...

Như trong cơn sốt tôi viết hàng nghìn trang. Ba cuốn sách tập hợp vào đây, những cuốn khác tôi chưa hoàn thành.

Có một thời gian tôi quan tâm đến tai họa của Mỹ nảy sinh ở Việt Nam trong sự đổ nát của tai họa Pháp, điều đó lôi kéo tôi vào những chuyến đi mới và một bản viết khác định trình bày ở Pháp, những “Hồ sơ của Lầu Năm góc" đã bị lãng quên. Mối diễm tình và những lực lượng tăm tối bám chặt vào tôi tuy cuối cùng tôi mệt mỏi. Đúng ra lòng ham thích rồi sự táo bạo đã đưa tôi đến với tiểu thuyết. Bạn tôi, nhà xuất bản Jean-Clacede Fasquelle thúc đẩy tôi. Ông nói: "Bộ ba tác phẩm về Đông Dương đã báo trước một tiểu thuyết gia”. Được tâng bốc, tôi chấp thuận.

Nhiều năm qua đi và ngày nay là tác phẩm đồ sộ này trong đó tôi thấy lại tuổi trẻ của tôi và của bao nhiêu người... Tôi đọc lại những gì đã viết và tất cả tái hiện, de Lattre mà người ta vẫn gọi là “vua Jean”, Bảo Đại, nhân vật Hamlet da vàng vừa biến mất, Hồ Chí Minh với đôi mắt sáng, tính cách một vĩ nhân, các thống chế, những kẻ bất lương, các vai phụ, những xáo động và những hành vi phức tạp của Sài Gòn. Hà Nội trầm lặng đến thế, những nhà thờ và các phe phái, sự vững tin tầm thường của những người da trắng... Tôi đọc và hình dung lại tất cả: tính lãng mạn, anh hùng ca, bi kịch, sự nổi dậy của một dân tộc bị chà đạp, cuộc chiến tranh không cảm nhận được, kéo dài vì đẫm máu, nỗi mê hoặc và ghê tởm của tôi.

Tôi biết rõ Đông Dương. Từ bé, lớn lên ở miền Nam Trung Quốc, tôi đã đến Hà Nội cùng bố mẹ tôi. Ở đây tất cả thể hiện sống động. Những hồi ức về quân Cờ đen, trung sĩ Bobillot Pavie, kẻ chinh phục hòa bình, đất nước được cứu vớt trở thành viên ngọc của hệ thống thuộc địa Pháp. Nền tài chính, lúa gạo và cao su, công việc kinh doanh và Hội đoàn, các bà và những chuyện ngồi lê đôi mách, vẻ đẹp các thành phố, trật tự xã hội, sự huỷ hoại vô ý thức. Rồi đến cuộc chiến tranh, hiệp định Genevè, sự chia cắt... Tôi ở đấy tám năm cho đến lúc Diệm, tên độc tài được người Mỹ hỗ trợ, đuổi tôi ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Đấy là vào năm 1955. Tiếp đó người ta biết tính kiêu ngạo và ngây ngô của người Mỹ. Thực tế của Washington, thực tế của những người chăn dắt và con cái những người chăn dắt, thực tế của các quan chức dựa vào kỹ thuật với tính logic không hiểu nổi. Tính hãnh diện, sự hãnh diện muôn đời của phương Tây. Và rồi những ảo tưởng bị nghiền nát. Từ Kinh Thánh đến mưa bom, quyết liệt. Cuối cùng đội quân Hoa Kỳ tan rã, nước Mỹ tan rã vì đối tượng không là gì đối với họ, một nước rất nhỏ bé, một đường viền của Trung Quốc, mà họ muốn tiến hành cuộc Thập tự chinh.

Sống lâu, người ta thậm chí có thể chứng kiến điều không tưởng tượng được. Tôi cũng đã thấy người Pháp và người Mỹ trở lại Việt Nam, thấy đâm chồi và nảy nở những luyến tiếc vô cùng. Một số cũng đáng ngờ nhưng không quan trọng, thời gian sẽ sàng lọc.

Còn lại là những kỷ niệm, những thập kỷ, là hàng chục năm chiến tranh ngoại lai và lẫn lộn, sự giết chóc như một nạn dịch đen tối trên đất Việt Nam. Và lịch sử sự đam mê của Pháp bất chấp tất cả, luôn sống dai dẳng. Một câu chuyện về tình thương và căm hận rối rắm cuộn vào nhau mà những cuốn sách này kể lại trong chốc lát.

Tôi tuyệt đối không thay đổi gì hết: tôi nói trong chốc lát nhưng tôi nghĩ đó là thời điểm cơ bản.




Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Năm, 2017, 09:06:56 AM

SỰ SA LẦY



LỜI NÓI ĐẦU

Tôi nhớ mãi năm đen tối 1954! Ngày tháng năm ấy ở Hà Nội phải có một cuộc diễu hành chiến thắng kỷ niệm mười năm Đức Quốc xã đầu hàng. Những người thợ Annam đã xây dựng khán đài bằng gỗ; đang mắc những chùm cờ Pháp và Việt Nam lên cây dọc đại lộ chính của thành phố, trước mặt đài liệt sĩ, thì người ta được tin Điện Biên Phủ tan vỡ. Nhưng các tướng của Bộ Tổng tham mưu, do kiêu căng hoặc khắc kỷ, quyết định vẫn tiến hành thao diễn.

Phải ổn định tổ chức thật lâu. Người ta sắp xếp các nhân vật dân sự và quân sự vào vị trí danh dự tùy theo ngôi thứ. Xa xa đội quân nhạc đang chơi một hành khúc ảm đạm. Tướng Cogny, người phốp pháp, đôi mắt rất xanh, nặng nề dựa vào chiếc can, bước chậm rãi đến đài liệt sĩ. Ông đặt một vòng hoa cho những người Pháp bị tử trận trong những cuộc chiến tranh trước kia, một vòng khác cho những người Việt Nam. Khuôn mặt đồ sộ của ông ngang tầm với bi kịch.

Buổi lễ tiến hành theo nghi thức quân sự. Tuy nhiên, khắp nơi là sự bại trận, trên những nét mặt, trong cử chỉ và trong lòng người. Viên tướng gắn huy chương cho những người có vẻ vừa thoát nạn. Các sĩ quan tùy tùng đưa lại những giải băng trên một chiếc khay. Ông găm chúng lên những tấm ngực, ôm hôn; công việc kết thúc, ông giơ tay và cuộc diễu hành bắt đầu.

Đây là cuộc thao diễn những chiếc bóng, những người sống sót, tất cả những người lính mà tình cờ không tới Điện Biên Phủ. Họ đi qua, làm những động tác quá cứng nhắc, hầu như gượng gạo. Họ thuộc vào những lực lượng dự trữ cuối cùng của Bắc Kỳ: một tiểu đoàn quân nhảy dù nhiều "da vàng", một số lính lê dương, những chiếc tăng. Phần lớn các sĩ quan dù, quần áo dã chiến, kéo lê chân vì những vết thương cũ. Chỉ khoảng một chục người; cách đấy vài trăm cây số, tất cả những người khác vừa đầu hàng.

Đây là khoảng một trăm lính lê dương, chân bước nặng nề và vô cảm. Họ thuộc về trung đoàn tử vì đạo của Đông Dương, trung đoàn lính đánh thuê thứ 3 ấy bị đánh bật ra khỏi Cao Bằng năm 1950. Những người tham gia diễu hành thuộc về tiểu đoàn không bị đưa lên Điện Biên Phủ nhưng mấy ngày trước đó rơi vào một cuộc phục kích khủng khiếp trên con đường Hà Nội - Hải Phòng. Cả trung đoàn chỉ còn lại họ.

Dân chúng Hà Nội, kể cả những người Pháp, không bận tâm về buổi lễ. Chỉ là những tàn dư đi qua và các nhà chức trách đứng nhìn. Trên khán đài, bên cạnh tôi, một đại tá bật khóc. Ông nói:

- Tôi không bao giờ nghĩ Việt Minh trong một đêm có thể tiêu diệt mười hai nghìn chiến binh Đông Dương giỏi nhất của chúng ta.

Nỗi đau càng lớn hơn khi hy vọng âm ỉ trong lòng. Người ta khẳng định sẽ cứu vớt được nếu còn cố thủ ít lâu. Những ảo tưởng ấy đã lan vào các ban tham mưu, bắt đầu tin vào sự tiêu hao của Việt Minh. Đêm trước xảy ra bi kịch, viên chỉ huy còn cho thả một tiểu đoàn lính dù. De Castries vốn đã yêu cầu từ nhiều tuần nay, lúc đầu người ta từ chối để không tăng thêm số người hy sinh. Rồi có quyết định, ngay trước thảm họa, như bỗng tăng thêm lòng tin.

Bây giờ trong âm thanh kèn đồng và những tiếng hô, có ai không nghĩ đến những hàng tù binh vô tận đi lên phía bắc? Ở Điện Biên Phủ mọi việc đang rộn ràng. Những chiếc xe Molotova chạy khắp vùng lòng chảo còn bốc khói để thu thập chiến lợi phẩm. Mặt đất cháy sém loang lổ với hàng nghìn chiếc dù đủ màu. Nhân công chôn vùi người chết không đếm xuể của cả hai phía. Những chỉ huy thua trận, de Castries, Bigeard, Langlais trải qua nhiều cuộc thẩm vấn có năm hoặc sáu nhân viên tốc ký ghi. Đối với họ đấy cũng là sự hạ thấp mình.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Năm, 2017, 09:09:47 AM

Ở Hà Nội người Pháp không biết Việt Minh có chăm sóc cho binh lính Pháp bị thương không, người ta quyết định thả thực phẩm và thuốc men xuống cho họ, mong rằng không bị tịch thu.

Người ta vẫn không hiểu vì sao Điện Biên Phủ thất thủ. Có thể quân cố thủ Pháp trong núi rừng tan vỡ như một con tim bệnh hoạn. Cuối buổi diễu hành, người bên cạnh tôi, viên đại tá sụt sùi đưa ra quan điểm:

- Một trong những bí ẩn của chiến tranh là sự tan vỡ. Người ta không bao giờ dự kiến được lúc nào một đoàn quân hoặc một đội quân đồn trú kiệt quệ đến kết thúc. Điều đó đột nhiên đổ sụp xuống.

Tang tóc và cay đắng đè nặng lên Đội quân viễn chinh. Vì đối với mọi chiến binh ở Bắc Kỳ và Đông Dương, Điện Biên Phủ là cả cuộc sống. Vào đầu trận đánh một trung sĩ già của quân thuộc địa khẩn nài tôi:

- Không nên nói tình hình trên đó xấu, sẽ là một sai lầm chết người...

Khắp Đông Dương, những người đầu bếp, làm công vặt, thư ký, tình nguyện nhảy vào lò lửa. Có những người, mười ngày nữa về nước cũng xin được nhảy dù. Khi người ta báo với họ là sẽ đi vào chỗ chết hoặc bị bắt, họ trả lời:

- Không quan trọng.

Một người lính bị thương ở mắt vào đầu trận đánh ở Điện Biên Phủ, được một trong những máy bay cứu thương cuối cùng đưa về Hà Nội, thoát khỏi địa ngục. Một tuần lễ trước thảm họa, trong lúc chưa lành bệnh, đề nghị cho nhảy xuống vùng lòng chảo bị bao vây.

- Anh tôi đang ở đó, tôi muốn đến với anh ấy.

Ở Hà Nội sau thất trận, lính dù uống rượu một cách đáng sợ. Họ là lính của một đại đội dự phòng không ra mặt trận. Xấu hổ vì còn sống và tự do, họ van xin người ta "đánh" họ xuống núi rừng Điện Biên Phủ; họ muốn từ trên trời rơi xuống để giải phóng các bạn.

Ngoài ra, trong thành phố, quân lính mặt mày khắc khổ, im lặng. Thậm chí họ cảm thấy ghê tởm phải nói, phải thú nhận nỗi khổ tâm của mình. Bên dân sự, dốt nát còn là một hạnh phúc cuối cùng. Buổi sáng tôi thấy một phụ nữ Pháp trẻ, tóc hung và gầy đi xe đạp trên đường. Để mái tóc bay theo gió, chị giữ đứa con ngồi trên khung xe. Đấy là vợ người phát thanh đài Điện Biên Phủ vừa đưa tin của Bộ Chỉ huy de Castries; trong máy anh nói đơn giản với anh bạn ở đài Hà Nội:

- Quân Việt ở cách đây hai mươi mét: vĩnh biệt cậu!

Người đàn bà còn hớn hở ấy tên là Melien. Chị đang mang thai một đứa bé khác. Không bao giờ chị biết, nhưng rồi sẽ biết...

Tin tức lan dần trong thành phố rộng. Các ông bố bà mẹ thử bắt đài Việt Nam đang thông báo danh sách tù binh. Họ xấu hổ phải nghe làn sóng Việt Minh nhưng ham muốn quá mạnh, vả lại tin tức nghèo nàn ấy rồi cạn kiệt, người Pháp làm rối loạn làn sóng địch. Qua đài người ta chỉ còn nghe tiếng rít của kim khí.

Tuy vậy, với dân chúng bình thường, cuộc sống vẫn tiếp tục. Thương nhân buôn bán, vừa trao đổi những phán xét nghiêm khắc về cuộc chiến. Sau bữa ăn tối những rạp chiếu phim và vũ trường tràn ngập đám người ngoại kiều rất vui vẻ. Dạ hội đặc biệt náo nhiệt ở Ritz, vũ trường Trung Hoa ngoài trời, trên trần nhà cao nhất Hà Nội. Người ta giãy giụa trong tiếng nhạc của một ban nhạc Philippines. Gái nhảy mặc áo dài sẻ lườn đẹp và rất nhiều. Bỗng nhiên một loạt súng mạnh, gần và kéo dài hơn bình thường vang lên. Nỗi lo sợ bóp ngạt cử tọa, tất cả im bặt: ai cũng biết ông Giáp nói sẽ tiến vế Hà Nội trong mấy ngày tới. Rồi người nhảy, đã quen với những tình huống ngẫu nhiên ấy, bình tâm lại. Cuộc vui tiếp tục.

Trong thành phố, người Việt Nam chứng tỏ nỗi thờ ơ đặc trưng của Châu Á: không một cử chỉ khiêu khích đối với người Pháp; cũng không một nụ cười hay một lời nói. Có thể nghĩ họ mù tịt về các sự kiện nhưng họ biết rõ. Sự vô cảm của Phương Đông chưa bao giờ thể hiện cao và độc ác đến thế.

Những người Pháp dân sự dần dần lo lắng. Sau nhiều năm tin tưởng tính ưu việt của người da trắng, họ phát hiện ra Việt Minh có thể thắng. Thịnh vượng của họ bị đe dọa sau chiến tranh; họ nói với nhau:

- De Lattre sẽ không làm chúng ta như thế.

Họ quên mình vốn ghét de Lattre: viên tướng này coi khinh giới lắm tiền.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2017, 07:06:41 PM

Đêm cuối cùng của chiến tranh

Hoà bình sắp đến: hoà bình trong nhục nhã.

Một lá cờ đỏ, giữa là ngôi sao Cộng sản, phất phới trên một con sào dài. Lá cờ chỉ đường một đoàn xe nhà báo đến Trung Giã; tại đây tiến hành một hội nghị hòa bình sóng đôi với hội nghị Genève.

Về nguyên tắc, cuộc gặp quy định ở một vùng không có người. Nhưng lá cờ Việt Minh, lần đầu tôi thấy, chứng tỏ chúng tôi đi vào vùng chiếm đóng: người Pháp thương lượng với tư cách những kẻ bại trận trong vùng những người chiến thắng.

Dưới lá cờ, nửa tá chiến binh của cụ Hồ, nhỏ bé, trong những bộ quần áo quá rộng, có vẻ như không thấy chúng tôi. Thân hình họ kín trong những đồng phục xanh lá cây rất mới không một phù hiệu. Những khuôn mặt khuất hẳn dưới những chiếc mũ tre đan còn phủ lá cây để nguỵ trang. Ở những người này tôi chỉ nhận ra những mẫu khuôn mặt không thể hiện điều gì, không xúc cảm; họ có thái độ của những người tình nguyện đi đến cái chết.

Bỗng nhiên họ chĩa tiểu liên vào chúng tôi, xem kỹ giấy thông hành. Không một lời hay một cử chỉ. Không thể hiện khinh khi, đắc thắng. Cuối cùng họ nâng một thanh barie cản đường để chúng tôi đi qua.

Mấy mét xa hơn, những hiến binh Pháp đặc biệt mạnh khỏe, phô những khuôn mặt phương phi, cả một trang bị bằng da. Các nhà báo khó chịu tự hỏi làm sao những con người cao lớn da trắng và được nuôi dưỡng tốt như thế có thể bị những người mảnh khảnh da vàng nghèo khổ, đánh bại. Trên con đường nứt vỡ vì hố bom, hố mìn, những hiến binh này là biểu tượng sự bất lực mới của nước Pháp.

Tuy vậy vẫn còn đánh nhau. Chiến tranh tiếp tục, cả sau Điện Biên Phủ, cả sau khung cảnh quốc tế được dựng lên ở Genève để đàm phán hòa bình. Những sư đoàn Việt Minh ra khỏi núi rừng tràn xuống vùng châu thổ. Quân lính Pháp di tản, co cụm lại xung quanh con đường Hà Nội - Hải Phòng. Tướng Cogny chỉ trên tấm bản đồ rộng lớn của Ban tham mưu đất đai còn lại của người Pháp, nói: "Nó giống như một bộ phận sinh dục bị bệnh giang mai". Những trận đánh giận dữ và đen tối luôn luôn xảy ra. Phó của ông, tướng Vanuxem tung các đội cơ động, xe tăng, những tiểu đoàn cuối cùng ra chống trả mãnh liệt. Cũng có vài trận chiến thắng. Họ bám trụ nhưng lực lượng địch vô tận, xâm nhập khắp nơi.

Người Pháp chiến đấu dũng cảm, dù đã mất lòng tin. Đối với toàn Đội quân viễn chinh, Điện Biên Phủ là một biểu tượng cao cả nhất: phải có một bước ngoặt để tiến lên chiến thắng. Nhưng sau tai họa không thể tin được đó, quân lính cảm thấy chán ngấy cả chính mình. Chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, toàn đội trở thành buồn tẻ. Dưới nắng nóng của mùa hè Bắc Kỳ các sĩ quan và quân lính còn làm những động tác cần thiết để giữ chân quân địch đang tràn tới. Nhưng chỉ vì kỷ luật. Tám năm ròng cái chết đã là kiểu cách trịch thượng cao nhất của Đội quân viễn chinh - họ lớn tiếng một cách khinh khi và khiếm nhã. Bỗng nhiên cái chết làm họ sợ. Lẽ phải đã thắng; ai cũng muốn sống, họ tính ngày giờ trước hòa bình sắp tới. Tôi đã nghe những câu tầm thường, trước đây là cả một sự sỉ nhục: "Bây giờ mà làm thủng da mình thì quá ngu đần".

Những người Pháp ở thời vinh quang nhận lấy cái chết vô ích nhất vào buổi kết thúc khốn khổ này của cuộc chiến tranh Đông Dương, không còn muốn nữa. Tuy nhiên họ nhục nhã vì khuây khỏa trước hòa bình.

Người Việt không đặt ra những vấn đề ấy. Ngay trước tuần lễ cuối cùng họ bị chết hàng loạt. Thi thể họ chất thành chùm trên dây thép gai các đồn bốt. Những người tình nguyện hy sinh ôm bom mìn nhảy vào các lô cốt, tuy mọi việc đã được thu xếp ở Genève.

Cuối cùng đến ngày kết thúc chiến tranh: 26 tháng bảy năm 1954. Đình chiến bắt đầu vào ngày hôm sau lúc tám giờ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2017, 07:08:08 PM

Tôi lái chiếc xe jeep đi trên con đường bất khả xâm phạm của Bắc Kỳ, con đường lớn từ Hà Nội đi Hải Phòng. Đây là con đường thất trận. Lề đường đầy đổ nát, xe chạy giữa dấu vết nhiều vô số và đáng ngờ do những trận phục kích để lại giữa nền đất cháy sém. Đá dăm lấp đầy những đường hầm đào cắt ngang đường hoặc lỗ đánh mìn. Đủ loại phế thải, thùng xe tải, đầu máy xe lửa bị lật đổ trên đường sắt bên cạnh, được đẩy xuống phía dưới, trong đống nhà đổ nát. Xa xa là làng xóm, có những mảng đang bốc cháy trên nước ruộng.

Dân chúng biến mất, dấu hiệu Việt Minh đã rất gần. Người ta chỉ thấy sự dàn trải vô vọng của binh lực Pháp. Những lô cốt bê tông, các đội pháo đang nhả đạn, xe tăng trực chiến nối nhau từ cây số này đến cây số khác. Những việc triển khai lực lượng ấy không chắc chắn gì vì nét mặt quân lính nhuốm vẻ sợ hãi. Ở Đông Dương tôi biết được quá nhiều mọi thể hiện lo lắng. Và dưới vành mũ, những nét nhăn, những đôi mắt đăm đắm ấy có nghĩa là quân địch ở ngay bên cạnh, rất đông, giấu mình trong những gì còn lại trong xóm, sau những bụi tre, trong bùn ruộng, có lẽ chỉ cách mấy mét.

Tôi muốn tìm một người nói với tôi là không phải đã mất tất cả và cần tiếp tục cuộc chiến, tôi nghĩ đến con người cứng rắn Vanuxem, viên tướng phụ trách việc chống trả cuối cùng. Đó nguyên là một giáo sư triết học, chiếc đầu tròn của loại ăn thịt đồng loại xứ Flandre. Ông có một vành râu hung, đôi mắt xanh màu men sứ và bộ răng nhô ra khi cười. Trước đây đã bao lần ông lặp đi lặp lại với tôi người ta sẽ thất bại ở Đông Dương vì không dám làm điều cần thiết! Tôi đến Bộ chỉ huy của ông ở gần Kẻ Sặt, nhưng ông không có ở đấy, ông đang tung một đội cơ động trong cuộc tấn công cuối cùng. Tôi nghe tiếng súng ca-nông của ông, hình dung ông tinh quái, tranh thủ thời cơ một lần nữa. Sau đó tôi hỏi, ông suy nghĩ và thân mật nói với tôi: “Chúng ta có thể trụ vững thêm mấy tuần lễ nữa”. Mấy xe thiết giáp nổi lên trên đoạn đường vòng, bắn vào một làng. Viên chỉ huy, đứng, nhìn thẳng về phía trước với đôi mắt trống rỗng như chẳng còn gì quan trọng. Đấy là một viên thiếu tá kỵ binh có tên tuổi, thân hình gầy gò khổ hạnh. Đội quân viễn chinh đầy những nhà quý tộc như ông ta, sùng đạo và kiêu ngạo. Họ là những sĩ quan thuộc tầng lớp đặc quyền và đối với họ, nhiệm vụ là không phải chịu đựng gì.

Ông nhìn tôi với đôi mắt nhợt nhạt, không cảm giác. Như vậy ông tỏ ra không thích gặp tôi, chắc linh cảm được câu hỏi tôi sẽ nêu ra. Ông không muốn phải cúi đầu, cố gắng lắm để nói với tôi, giọng lạnh lùng:

- Trong chiến tranh tôi khinh ghét sự khôn ngoan. Than ôi, đấy là giải pháp duy nhất còn lại cho chúng ta. Ông đã bao giờ thấy con bọ hung bị kéo vào tổ kiến chưa? Chúng ta đang trong tình trạng ấy. Chúng ta buộc phải chấm dứt cuộc chiến tranh này. Chào ông.

Tối đến tôi được một bốt thu nhận, một công trình bằng bê tông trên có những tháp nhỏ như người ta làm thời tướng de Lattre. Bốt được một đội quân đồn trú lính thủy đánh bộ bảo vệ. Đã đến giờ ăn và các sĩ quan dũng cảm của bộ binh thuộc địa ăn không nề hà. Bàn ăn là một chiếc thùng to và những hộp nhỏ làm ghế ngồi. Lính Sénegal mang những cà-mèn thức ăn tới. Thực khách mình trần, ngực nở đầy mồ hôi và lông lá, ăn uống nhồm nhoàm. Không có quạt máy, một cậu bồi người Annam kéo dây chiếc quạt tự tạo. Trong nhóm người này tôi không tìm thấy tính chất lãng mạn nào là lương tri của con người.

Một đại uý già, cựu binh của những cuộc chiến tranh thuộc địa, miệng đầy thức ăn giải thích cho tôi quan điểm của các sĩ quan chỉ huy đồn bốt; họ đã chán ngấy, họ vui mừng đón hòa bình.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2017, 07:08:43 PM

Trong vùng châu thổ, các đồn bốt bị vây hãm thường xuyên. Đây là những Điện Biên Phủ nhỏ. Không đêm nào Việt Minh không hạ một, hai bốt. Hoàng hôn xuống là cuộc xổ số bắt đầu, mỗi đơn vị đồn trú tự hỏi: "Đến lượt chúng ta chăng?" Người ta xấu hổ vì vui mừng thấy công trình bên cạnh bị tấn công. Chỉ còn việc theo dõi qua đài bi kịch diễn ra sát bên mình cho đến khi nó im lặng vì cái chết.

"Chúng tôi tất cả bị ám ảnh bởi những cuộc tấn công liên miên ấy. Vì đêm sau hoặc một đêm khác sẽ là hình ảnh kết thúc của bản thân chúng tôi. Chúng tôi biết trước sẽ chống cự được và không người nào đến cứu. Chỉ đến sáng ra một đội gọi là giải thoát sẽ đi khảo sát những gì còn lại. Đấy là kỳ hạn bị cưỡng chế; vì vậy thần kinh chúng tôi căng thẳng và những bột phát tâm thần tăng lên nhiều."

Tôi trải qua đêm cuối cùng của chiến tranh ở bốt này, giữa đội quân đồn trú chen chúc trong khối bê tông. Mọi quân lính ở Bắc Kỳ cũng như tôi, bó mình trong các bốt, các trại, các thành phố. Khắp nơi người ta chen chúc thành nhóm nhỏ để tự bảo vệ trong đêm tối đầy người Việt. Nhưng cả trong những chỗ ẩn họ cũng không cảm thấy an toàn; bị kích động bất thường với toàn bộ vũ khí chống lại hiểm nguy thực sự hoặc tưởng tượng khắp trong không gian và thiên nhiên. Những người Pháp chiến đấu với đêm tối, đồng minh của Việt Minh. Bầu trời sáng lên vì hỏa tiễn của họ. Một số như những áo dài có đuôi, số khác lơ lửng như khối thủy tinh mờ, vài hỏa tiễn lao lên như những mũi tên màu. Không trung là một trận hỏa pháo, mặt đất bên dưới là các loạt đạn đại bác. Súng Pháp bắn khắp nơi. Đêm cuối cùng này là một cơn thác đổ đạn và ánh sáng. Giữa những tiếng rít và tiếng nổ, hầu như từng phút những tia chớp xua tan bóng tối bao trùm mặt ruộng: đạn cối đang dội vào đất cày.

Không phải một trận đánh lớn, chỉ là một ảo giác do sợ hãi. Chỉ có những mục tiêu thứ yếu nhưng người ta tô vẽ lên và ưu tiên dội bom đạn vào: người ta không "đánh dùi cui" vào những người Việt thực mà vào những người Việt giả thuyết có thể tấn công. Người ta làm đảo lộn ban đêm. Mỗi bốt "bọc kín" những bốt bên cạnh để bảo vệ họ; tất cả các bốt dựng lên quanh những bốt khác thành một bức màn bằng thép. Vùng châu thổ Bắc Kỳ là một hình đa giác bốn cạnh đầy trọng pháo đạn dược bắt đầu từ Việt Trì và kết thúc ở Hải Phòng.

Chỗ của tôi không bị tấn công. Viên đại uý chỉ huy chỉ cho bắn đạn cối vào một điểm chốt tối tăm có vẻ đáng ngờ. Bình minh lên trên một quang cảnh không thay đổi. Còn một số vụ nổ, vài loạt tiểu liên lẻ loi. Tất cả ngừng lại lúc tám giờ. Kèn đình chiến vang lên, và rồi sau tám năm chiến tranh, tôi thấy cảnh yên lặng của hòa bình.

Sau mấy phút một dân quê già chậm rãi tiến lại. Ông lấy trong tay áo ra một lá cờ đỏ bằng giấy, bình thản treo lá cờ lên một cây to cách tháp canh mấy mét rồi ông đi.

Đại uý chỉ huy bốt cũng thấy cảnh ấy. Đầy ân hận, ông nói với tôi:

- Chính để đi đến chỗ ấy mà bao nhiêu người Pháp chết! Nhưng xấu hổ hơn bại trận là sự phản bội của chúng ta sắp tới. Chúng ta đã trụ vững lâu ở vùng châu thổ này vì hai trăm nghìn người Việt Nam là lính của chúng ta và một triệu đàn ông, đàn bà đã giúp đỡ chúng ta. Người ta sẽ phó mặc. Tôi tự hỏi phải chăng định mệnh trút xuống nước Pháp, buộc phải bỏ rơi người của mình để họ đi vào chỗ chết.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2017, 07:09:05 PM

Trong buổi sáng một số người câm lặng đến bốt. Họ có những khuôn mặt kín đáo thể hiện sự đau khổ của Châu Á. Đấy là những vệ binh của một làng Thiên Chúa giáo chống cự hai năm với Việt Minh. Bao nhiêu lần họ ẩn náu trong nhà thờ bằng đá của họ như một đồn lũy cuối cùng! Cha cố làm lễ ban thánh thể cho những người chiến đấu và đàn bà cầu Chúa. Bây giờ họ đến trả lại vũ khí vô dụng cho người Pháp đã trang bị cho họ.

Cha cố nói thay họ. Ông cám ơn người Pháp. Tôi chỉ thấy ở ông một khuôn mặt vàng, tóc cắt ngắn với khăn choàng cổ màu đen. Viên đại uý trả lời, mời ông ở lại bốt cùng quân lính: người ta sẽ đưa họ đi. Cha cố lắc đầu bảo không. Ông trở về làng với đoàn người của ông sau khi trả những khẩu súng không một lời phàn nàn: nhưng vẻ lễ phép câm lặng ấy là một thái độ trách cứ đến mức nào!

Những khối chuông đồ sộ vang lên quanh vùng, khắp đồng ruộng. Tôn giáo ở đây như thời Trung cổ. Nhà thờ đè nát xóm làng khốn khổ, cha cố có quyền lực tối cao. Ở mỗi bàn thờ một linh mục giảng đạo. Ông ta khuyên nhủ con chiên giữ vững tinh thần trước sự truy bức và hành hạ sắp xảy đến: ông cầu xin Chúa thương xót họ. Ông nói người Pháp bỏ rơi họ nhưng Chúa sẽ bảo vệ họ.

Đội quân khốn khổ Việt Nam cũng trong một tình trạng thảm hại. Viên đại uý Pháp quyết định đến một trong những tiểu đoàn cách bốt một cây số. Tôi đi theo ông ta. Tất cả đều bình lặng. Một số đàn ông tắm trong một con ngòi. Xa hơn một ít, đàn bà mình trần, đang gội rửa. Họ thật đẹp với thân hình trơn tru và mảnh khảnh, mái tóc đen dài quấn xuống đến chân! Đây là những người lính cuối cùng của đơn vị và vợ họ. Mọi người khác đã đào ngũ, để lại vũ khí và lời xin lỗi.

Khi chúng tôi đến gần, đàn ông mặc lại xi líp, tới hỏi: "Chúng tôi sẽ ra sao đây?" Sĩ quan của họ đã biến mất. Bản thân họ thậm chí không biết có còn một chính phủ Việt Nam không. Đàn bà, đã quần áo nghiêm chỉnh, đến nghe chúng tôi nói chuyện. Trẻ con trần truồng, bụng to, đi đi lại lại thật buồn cười. Viên đại uý hứa người Pháp sẽ đưa họ vào Nam Kỳ. Nhưng một hạ sĩ quan già da vàng vỗ vào cánh tay đại uý:

- Chốc nữa khi quân Việt Minh đến, chúng tôi sẽ làm gì? Viên đại uý Pháp nhún vai tỏ ý bất lực. Lúc ra về ông ta nói với tôi:

- Tôi không nhận được lệnh, tôi chẳng biết làm thế nào. Về đến bốt chúng tôi thấy mỗi cây to xung quanh đã phấp phới một lá cờ đỏ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Sáu, 2017, 10:53:10 PM

Làn sóng đỏ

Làn sóng đỏ tràn lên vùng châu thổ, chỉ còn là một rừng cờ. Trong các làng, nông dân xây dựng các vòm chiến thắng, trên cùng là ảnh cụ Hồ. Các "Ủy ban hành pháp" ngồi thường trực trên các bệ. Cái mà người Pháp gọi là "rửa nát" trồi lên mặt, trở thành quyền lực hợp pháp mới giữa những tiếng hát và điệu nhảy. Tôi đi đến đâu, những đám đông đều tỏ rõ thân thiện tiếp đón tôi vừa hô lớn: "Nước Pháp muôn năm!" Vì đã có những chỉ thị cụ thể đưa xuống tận cơ sở, đến từng người lính, người dân. Hôm trước các uỷ viên chính trị đòi hỏi phải căm thù người Pháp, phải hy sinh để giết thêm mấy người. Họ ra lệnh cho quân du kích đặt mìn trên đường đi ngay trong đêm cuối cùng và kéo dây lật đổ những chiếc xe Pháp cuối cùng đi qua.

Nhưng đến tám giờ đúng, tất cả chỉ còn là tình thương và thân thiện. Không nói đến cuộc chiến tranh liên miên nữa. Những sự tàn bạo đối với nhau, những giết chóc không kể hết, những dòng thác căm hờn phải được quên đi. Điều quan trọng nhất là thỏa thuận Genève và việc thực thi "toàn vẹn", tay trong tay với người Pháp. Toàn dân, kể cả các bà già không biết chữ và những em bé sáu tuổi, học thuộc lòng các điều khoản của hiệp định. Các uỷ viên chính trị Việt Minh soạn thành sách dưới dạng câu hỏi và trả lời, bình luận những gì đúng, sai.

Quân đội của ông Giáp đêm trước còn vây hãm các đồn bốt Pháp và cắt con đường Hà Nội - Hải Phòng, đã biến mất như bốc hơi. Chỉ còn lại một số sĩ quan quân phục tề chỉnh; họ đến các ban tham mưu của Đội quân viễn chinh chào hỏi đúng điều lệnh và đề nghị tiến hành công việc với thứ tiếng Pháp rất chuẩn. Họ chỉ những chỗ đặt mìn trên đường, cắm những lá cờ nhỏ lên đấy làm dấu hiệu. Và họ ra đi sau những nghi thức quân sự lịch sự, vừa hô lớn: "Hòa bình muôn năm!"

Thay thế đội quân chính quy là phụ nữ, trẻ em và người già. Trong chốc lát làn sóng đỏ hân hoan biến thành một đợt triều dâng. Dân quê được huy động đấu tranh với những người khốn khổ khác, những người đàn ông đàn bà thất vọng muốn trốn vào Nam. Cuộc chiến chống những kẻ này kéo dài tám mươi ngày, từ lúc ngừng bắn đến lúc quân Pháp rút khỏi Hà Nội.

Đám đông bao vây tất cả, những đồn bốt nhỏ của quân Bảo an hoặc mấy người lính Việt Nam. Giờ đây quân vây hãm là thành viên Hội Phụ nữ Dân chủ, Đoàn Thanh niên mới, Hội Mẹ chiến sĩ, Phụ lão cứu quốc, Nông dân cứu quốc.

Ngày đêm dân chúng bao vây mọi tổ chức của chính quyền Bảo Đại bằng các chiến thuật khác nhau.

Các uỷ viên chính trị cầm loa kêu gọi với lời lẽ đầy vị tha. Nhưng các bà già đã rụng hết răng móm mém nói những lời đe dọa, bảo sẽ chém chết những kẻ ngoan cố. Người ta cử vợ con những kẻ bị vây hãm đến van nài họ đầu hàng. Nếu không họ sẽ làm nhân dân nổi giận và bị bao vây giữa những vòng người cầm gậy, tay không, gạch đá, chửi mắng. Đám đông có vẻ sẵn sàng xông lên, phá toang tất cả, nhưng không bao giờ xảy ra tấn công. Vì trong cuộc chiến nhân dân này không được đổ máu, mà phải "thuyết phục".

Nhiều đám đông dồn lại xung quanh những người lầm đường, thân mến và giận hờn thuyết phục cho đến lúc họ không còn chống cự: "Chúng tôi đã hiểu ra lẽ phải. Chúng tôi hối hận về quá khứ tồi tệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!" Lúc ấy nhiều người tung hoa hoan nghênh và công kênh họ.

Đội quân viễn chinh cố cứu những người Việt Nam ủng hộ họ. Ban tham mưu của Hà Nội ra lệnh cho các trưởng bốt, các đơn vị giải thoát cho binh lính Bảo Đại bị bao vây. Đây là cuộc chiến lạ nhất trong cuộc chiến tranh lạ lùng ở Đông Dương. Các sĩ quan không đánh nhau với cái chết nữa mà với những lời hoan hô. Họ không có khí giới, đối đầu với những bức tường người gồm hàng nghìn dân quê hô vang: "Xin chào Quân đội Pháp". Họ phải qua những đám đông ấy đi đến binh lính Bảo Đại đang bị vây. Thật đáng sợ. Một trung uý nói với tôi: "Tôi sợ việc này còn hơn trong một trận đánh thật sự".


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Sáu, 2017, 10:53:55 PM

Thực vậy, những tiếng hô thân thiện, những nụ cười, mọi thể hiện thân mật đều không thật. Nỗi căm hờn sẵn sàng bùng lên. Để khỏi bị tan xác, những người Pháp thực hiện việc cứu binh lính Bảo Đại chỉ có thể dựa vào kỷ luật của Việt Minh. Nhưng may mắn, kỷ luật ấy là triệt để.

Sĩ quan Pháp thường đến chậm. Đám đông dẫn lại cho họ những binh lính Bảo Đại mang đầy hoa, phất cờ đỏ và tuyên bố rất hạnh phúc được trở về với nhân dân. Có những lần khác những kẻ bị vây hãm vẫn trụ lại nhưng thật điên rồ. Họ chống cự vì lo sợ, thậm chí đầu hàng cũng sợ, đến mức không dám rời chỗ bị vây để đi theo người Pháp qua đám đông luôn hiện diện, nhiều hơn bao giờ hết, mắng mỏ và kích động. Đôi khi những người ấy phải tranh cãi nhau hàng giờ để quyết định trong lúc bên ngoài vẫn gào thét. Cuối cùng những sĩ quan Pháp trở ra, mặc quân phục giữ nguyên lon và vạch. Binh lính Bảo Đại bám theo họ như những kẻ dở sống dở chết, được dìu đỡ. Hàng nghìn dân quê xiết chặt quanh những toán người lạ lùng ấy trong tiếng chửi rủa lẫn tiếng hô "Nước Pháp muôn năm”. Nhưng một cán bộ - ủy viên chính trị - ra lệnh và người ta để họ đi qua.

Việt Minh vẫn không bỏ cuộc. Người Pháp xếp những kẻ bỏ trốn lên xe nhưng đàn bà, trẻ em trong đám đông lấy thân mình làm rào chắn, nằm chặn ngang đường. Dân chúng ào lên xe quân đội Pháp: binh lính Bảo Đại không một cử chỉ chống cự và bị lôi đi. Một tiểu đoàn bị lột hết quần áo trong cơn thịnh nộ của dân chúng. Người Pháp dùng thiết giáp hộ tống xe những người chạy trốn; các "nữ anh hùng", chạy tới trước bánh xích để ngăn cản.

Tuy thế người Pháp cũng thắng lợi trong cuộc chiến này. Trong vùng châu thổ họ đưa được về Hà Nội hàng trăm nghìn con người bị dồn đi, giáo dân, quân lính, bảo an, thân hào, các điền chủ, thương gia. Nhiều người trong số họ lúc đầu quyết định ở lại dưới chế độ Việt Minh. Nhưng rồi họ chạy trốn vì sợ bị trả thù.

Đối mặt với "niềm vui" Việt Minh, vô số đàn ông và đàn bà rời bỏ xóm làng sống lâu đời, bàn thờ tổ tiên, mọi tài sản ít ỏi để di cư vào Nam Kỳ xa xôi.

Giai đoạn tha hương đầu tiên là Hà Nội và những hè phố, tuy khung cảnh đẹp của thành phố này không nhằm để trưng bày cảnh khổ sở!

Ra khỏi một khách sạn Pháp sang trọng, tôi bước vào một con đường đông đúc. Lúc này không có ai nhưng một đoàn người bỏ trốn vừa tới đây. Tôi thấy những người dân quê này suy sụp đến mức nào về tâm lý. Xung quanh tôi chỉ là những người da nhăn nheo quá gầy hoặc bị phù thũng thường là mưng mủ. Một phụ nữ đang cho con bú. Đám người này ngồi xổm để chờ, lắc lư vô định. Tôi nhận ra những người lính bảo an qua tàn tích đồng phục Pháp nhưng đa phần là người Cơ đốc giáo đeo thánh giá ở cổ. Những bà già răng đen mang ảnh Chúa và Đức mẹ đồng trinh. Giọng chói tai, họ cám ơn Chúa đã kéo họ ra khỏi tay những người nghịch đạo. Một cha xứ chúc phúc cho giáo dân xung quanh: ông ta lôi kéo toàn bộ tu viện di dân vì lòng tin. Ông hỏi tôi:

- Chúng tôi đói rồi. Bao giờ người ta cho chúng tôi ăn? Cuộc di dân được tổ chức dần dần. Quan chức Việt Nam của tổng thống Diệm không làm gì hết; người Pháp vất vả vô cùng với những người trốn đi này, như vì hối hận đối với họ. Họ tổ chức một cầu hàng không kéo dài một năm để đưa vào Nam Kỳ những nạn nhân Châu Á của thảm bại Bắc Kỳ. Nước Pháp có một nỗ lực từ thiện rất lớn để chuyên chở hơn một triệu đàn ông, đàn bà đi hơn một nghìn cây số. Sau này Diệm tuyên bố cuộc di dân này vừa là công trình to lớn của ông ta vừa là một phép màu của Chúa. Thật là một định mệnh lạ lùng, trong sự kết thúc chiến tranh Đông Dương này mọi việc người Pháp làm quay ra chống lại họ. Vì khối lượng lớn những người trốn chạy này là công cụ Diệm dùng làm người Pháp thất bại lần sau ở Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Sáu, 2017, 09:14:49 PM

Một trăm ngày ở Hà Nội

Đội quân viễn chinh có một trăm ngày để rút khỏi Hà Nội. Trong ba tháng, thành phố chỉ là một đảo nhỏ người Pháp giữa làn triều đỏ bao trùm châu thổ.

Hà Nội chuẩn bị kết thúc. Đây là một công việc tỉ mỉ và có phương pháp, không tình cảm, không lộ rõ buồn vui. Lệnh đưa ra triệt để. Xe Pháp tuần tra liên tục. Việt Minh không lộ diện, thậm chí họ không treo một lá cờ trong thành phố. Tổng bộ, hội đồng tối cao đã quyết định như thế.

Cho đến hạn định, mọi việc xảy ra như dự kiến. Không phải nỗi thất vọng mà là sự uể oải. Tuần lễ này qua tuần lễ khác, các khu phố tư sản vợi hẳn, cửa chỉ còn rào dậu. Mọi đồ đạc của thành phố đưa ra bán ở chợ đồ cũ nhưng không ai mua. Ở châu Á những biến cố thường kéo theo nạn đầu cơ lạ lùng nhất. Đây không thế. Hà Nội biến dần vào hư vô.

Những khuôn mặt vẫn vô cảm tuy mỗi người dân thành phố đang trải qua một bi kịch nội tâm. Đấy là giờ lựa chọn không tránh khỏi, chấp nhận ở lại hay ra đi. Thời gian trung thực đã đến. Bao nhiêu tư sản Việt Nam sống trong chiến tranh giữa sự thịnh vượng Pháp, tự dối mình, dối những người khác cho rằng Việt Minh không phải cộng sản! Từ nay mọi sai lầm sẽ tai hại. Không còn ai có quyền lầm lẫn về vai trò thực sự của mình.

Ở Hà Nội mỗi người Việt Nam lo lắng tự hỏi: "Thực sự Việt Minh xếp mình vào giai tầng nào? Họ chuẩn bị cho mình số phận nào?" Khốn nạn cho người nào chọn lựa sai trong những ngày cuối cùng này vì sẽ trả giá rất đắt.

Những người Pháp dân sự đỡ khở sở hơn. Đối với họ chỉ là sự thanh toán một công việc kinh doanh béo bở. Họ không vội ra đi vì khi mà Đội quân viễn chinh còn đó thì họ còn kiếm ra tiền. Các vũ trường, khách sạn, quán rượu tồn tại cho đến ngày cuối cùng. Trong thành phố hấp hối, người ta nhảy, ăn, uống, những két nhận tiền loảng xoảng.

Nhà triệu phú M.G... tổ chức một bữa tiệc chia tay ở biệt thự đầy cột và hiên của ông ta. Giọng nói thân mật của ông át cả tiếng mở nút champagne. Ông ngồi chủ trì, người béo tốt, da rất nâu, vẫn tự phụ và rất vui. Các tướng lĩnh, quan chức cao cấp đến bắt tay ông như đối với một người bạn cũ. Họ giao du với những kẻ tái phạm tội, những kẻ trục lợi, các nữ chiêu đãi viên. Một dàn nhạc giúp vui và những người phục vụ, điệu bộ kiểu cách đi lại giữa những tủ thức ăn linh đình. Các bà bận áo dài nhiều lớp. Bà G... một nghệ sĩ lai Âu Á vừa mới cưới, tóc búi tó, phân phát quanh mình những nụ cười bí hiểm và cao đạo. Nhưng cô em gái bà gây bê bối. G... quở trách cô. Mọi người mỗi lúc càng vui vẻ, hầu như sau. G... lại kể một lần nữa thành công của mình.

- Tôi ở đất nước này đã ba mươi năm. Tôi quen biết cả, những người cấp cao và người thấp kém, tôi quan tâm nhất việc buôn bán. Nhưng năm 1950, khi biên giới Trung Quốc bị phá vỡ sau thất trận ở Cao Bằng, toàn thành phố có gì bán nấy. Tôi tự nhủ chưa thể là tai họa thực sự: nước Pháp sẽ hành động, cố sức tiêu tiền. Tôi mượn những đồng Đông Dương, mua nhà cửa, khách sạn gần như không mất gì. Và tôi đúng vì de Lattre đã sang.

- Lần này ông có đầu cơ như thế nữa không?

G... phá lên cười:

- Không! Tôi đã bán đi từ lâu, đưa tiền ra ngoài. Tôi biết cà-rôt được nấu chín rồi.

Kết thúc một nền văn minh chỉ là thế: ông G... tài ba, vua các thú vui của Hà Nội, chiêu đãi dạ tiệc linh đình này giữa sự lộn xộn, lẫn lộn các sĩ quan và những kẻ phiêu lưu, như không còn gì có giá trị.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Sáu, 2017, 09:15:31 PM

Tuy vậy thu xếp xong công việc, những người Pháp dân sự tiếp nhau ra đi. Thế nhưng trong lúc khai vị một số "ông già" thuộc địa thề sẽ ở lại Hà Nội. Người ta thấy những người về hưu này, khuôn mặt sạm nắng, đội mũ bê-rê, kích thích lẫn nhau. Họ yêu và khinh khi người Annam: họ biết rõ những người dân này, đúng không? Không vì dân quê trở thành Việt Minh mà họ, những người cũ sợ hãi.

Chỉ khoảng nửa tá trụ lại. Trong số đó có tình nhân của một người Pháp tên là Nini. Nini xấu nhưng cô tốt và biết tiêm thuốc phiện. Và người Pháp của cô có thể làm gì khác? Gầy gò, răng rụng, đau yếu, anh ta chẳng còn tích sự gì. Anh làm đủ mọi nghề, từ săn thú rừng đến làm báo; và anh không muốn thử vận may ở nơi nào khác. Thà nổ bung ra tại chỗ.

Những người khác, trong số những cặn bã da trắng - các tay nghiện thuốc phiện, "chạy theo con gái’', những binh lính cũ sống theo kiểu Annam - ra đi. Số phận của họ cũng bi ai. Không có tiền, không biết rõ nước Pháp, không có bà con, bạn bè ở đó. Cuộc sống của họ là thành phố Hà Nội này, xứ Bắc Kỳ này. Họ không thể thích nghi với kiểu sống hành chính sắp bắt đầu - đi lại tập thể trên xe Nhà nước chi trả, các trại, những chỗ nội trú. Họ sẽ trở thành những người ở đâu đó. Nhưng tất cả những điều ấy người ta không thấy được.

Cũng biết bao nạn nhân là người lai Âu Á! Tám mươi năm chế độ thuộc địa để lại ngoài lề một lớp người không cơ bản - dân lai với những nghề bị khinh rẻ, các bà mẹ Annam của con lai, vợ hoặc vợ lẽ da vàng của những người Pháp mất tích và vô số những đứa trẻ do Đội quân viễn chinh tạo ra. Không ai biết rồi họ sẽ như thế nào.

Có ai nhận thấy những bi kịch ấy? Xã hội tư sản thu vén tài sản nhưng không mang theo được các xí nghiệp và hầm mỏ của họ. Vì thế trong các hội đồng quản trị nổi lên ẩn ý: "Phải chăng chúng ta cũng có thể điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh để có cách nào đó tiếp tục hoạt động?" Vì những công ty mới đây rất tồi tệ ở Thượng Hải, các công ty lớn châu Âu, tất nhiên đề phòng mọi mặt, di tản toàn bộ nhân viên da trắng nhưng bí mật xúc tiến những thương lượng vô cùng tế nhị và bền bỉ.

Đến một lúc tôi không còn thấy người Pháp nữa: cuối cùng họ đi hết. Lúc đó những nhà tư sản da vàng đến than thở với tôi số phận khắc nghiệt của họ. Tôi ái ngại cho họ sao được? Họ hèn hạ xấu xa. Điều xảy ra do lỗi của họ, hèn nhát và kiêu căng. Họ đã nghĩ mình ranh mãnh, tuyên bố "trong lòng ủng hộ Việt Minh" nhưng vẫn ở lại các thành phố làm ăn được quân đội Pháp bảo vệ. Họ làm giàu ghê gớm bằng đồng bạc của nhà băng Đông Dương. Vợ họ mang đầy kim cương, con họ học ở Pháp. Tuy vậy họ đau khổ "về tinh thần”: rất mẫn cảm về tất cả những gì là của Pháp. Một lần tôi nói chuyện với một người trong bọn họ, ông ta mỉm cười cao đạo khẳng định: "Việt Minh khi vào Hà Nội sẽ cần đến những người như tôi".

Những người Việt sẽ đến. Và, vào phút chót, những nhà giàu Annam chạy trốn ngay vào Sài Gòn. Họ chuyển đồ đạc, mang đi tất cả, vợ lớn vợ bé, bố mẹ già, con cái không đếm xuể, đồ trang sức, các bảng nghi lễ, đồ gỗ đen. Tiền đã gửi vào chỗ từ lâu. Họ chỉ để lại một người bà con nghèo, giao trách nhiệm thoả thuận với phe đỏ.

Họ không xứng đáng được thương hại vì đã lợi dụng cuộc chiến tranh. Những tư sản đáng kính duy nhất, được ái ngại sâu sắc là một số yêu nước vì lý tưởng, đánh nhau chống Pháp. Những người ấy là kẻ địch thực sự, giết sĩ quan và binh lính Đội quân viễn chinh. Nhưng sau khi ở lại nhiều năm với người Việt, cuối cùng họ trở về trong một Hà Nội người Pháp tạm chiếm do chán ngán chủ nghĩa cộng sản. Những người ấy không nhiều nhưng họ trung thực và nghèo. Hơn những người Việt Nam khác họ sợ thế giới Việt Minh sắp tới.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Sáu, 2017, 09:16:39 PM

Một người trạc ngũ tuần, mang huân chương, tiếp tôi tại nhà - Ông được một Toàn quyền khen thưởng đã lâu, sau đó là một bộ trưởng trong Chính phủ Hồ Chí Minh. Bây giờ ông dẫn tôi lại trước bàn thờ tổ tiên nói với tôi:

- Tôi sinh ra trong ngôi nhà này. Nó là của bố tôi và các gia tiên quan lại của tôi. Đây là vật quý nhất của tôi trên đời. Mấy hôm nữa tôi sẽ bỏ nó đi vĩnh viễn. Tôi không muốn sống với Việt Minh, những người tôi biết rất rõ. Tôi ra đi không có một đồng bạc. Tôi mang theo bà mẹ già, một người đàn bà góa vốn không bao giờ rời thành phố này, vùng châu thổ này. Chắc bà sẽ chết vì điều đó. Tôi là tất cả của bà. Thế mà bà nói với tôi: "Đừng nghĩ ngợi về mẹ, con đi đi vì con cần phải thế." Bà muốn tôi để bà lại, sợ sẽ là một gánh nặng cho tôi trong cuộc sống khó khăn phía trước.

Thực lòng, là người Pháp, tôi cảm thấy có tội với những "con em", những viên chức hợp tác với chúng ta. Họ mất mát vì chúng ta và Việt Minh sẽ không lay chuyển với họ. Hòa bình cứu chúng ta, những người Pháp với giá những người khốn khổ ấy.

Tôi nghĩ đến đội quân làm thuê - bồi, bếp nam nữ, những ông thư ký và phiên dịch, đến những tên vô lại cần thiết, gái điếm; và có cả những mật thám, chỉ điểm, tất cả những người tay chân. Người ta sai họ phục vụ những thú vui, làm tất cả mọi công việc kể cả những việc xấu xa nhất. Có lẽ họ đáng khinh nhưng đó là lỗi của chúng ta. Người ta làm họ hư hỏng rồi bỏ đi. Những người Pháp của Hà Nội và cả những người Việt Nam giàu có đã đề phòng, họ "biết trước". Nhưng những người khổ sở này ngây thơ, tin tưởng; cho rằng nước Pháp không thể sụp đổ. Nhiều người làm không chỉ vì lợi lộc, họ "tận tâm", bao nhiêu người gian nguy vì chúng ta, bị tra tấn và ám sát; cũng vì chúng ta. Bây giờ họ là những người bị ruồng bỏ. Người ta hứa những khoản trợ cấp, người ta phỉnh nịnh: Hãy đi theo chúng tôi. Nhưng nếu họ làm thế họ sẽ khốn khổ, nếu không là cái chết.

Tôi đang trên bờ sông Hồng, ở Việt Trì, trên một bãi rộng, chỗ số lớn tù binh được trao trả cho chúng ta. Tôi chờ đợi hàng giờ dưới một bụi tre. Việt Minh đã biến đổi vùng cây xanh hoang vắng này thành một khu vườn Phương Đông đầy đá sỏi, đường mòn khúc khuỷu và cờ hoa. Các nhà báo của Chính phủ Hồ Chí Minh, da nhẵn như bộ đồng phục kaki, nói chuyện rất lễ độ đối với tôi và mời tôi uống nước chanh. Họ nói tù binh ở trong một trại cách đây mấy trăm mét nhưng họ không biết giờ trao trả: đấy là một bí mật quân sự.

Đến trưa điệu nhạc xa xa dội qua cây cối, tiến lại gần từng phút một. Đấy là một điệu vũ miền Provence, một lễ hội đồng quê.

Một sĩ quan liên lạc Việt Minh rạng rỡ nụ cười đôn hậu. Ông ta tâm sự với tôi:

- Họ đến gần rồi đấy. Ông nghe xem, họ sung sướng biết mấy.

Tiếng ồn tăng dần nhưng tôi vẫn chưa thấy gì. Chỉ mười lăm phút sau một dàn nhạc của quân đội nhân dân lộ ra khỏi cây cối. Một người đàn ông đi lui tiến về phía chúng tôi vừa đánh nhịp. Hai chiến sĩ nữ, tết tóc, theo sự chỉ huy vỗ đàn ghi-ta mang trước người. Một người lính đánh trống, một người khác thổi ác-mô-ni-ca.

Phía sau tốp nhạc, đoàn người được giải phóng tiến theo hàng tư. Họ vừa đi vừa nhún nhảy, múa hát, vỗ tay. Bên cạnh họ, một cán bộ đi theo đội ngũ, kích thích cuộc vui.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Sáu, 2017, 09:17:38 PM

Các tù binh bước bên cạnh không nhìn tôi theo nhịp hành quân của Lữ đoàn Sông Hồng. Đấy là quân lính lê dương và những người A Rập, khuôn mặt phồng lên và xanh xao nhưng họ tỏ ra sung sướng. Ít nhất quân trông giữ cũng đã dạy cho họ cách thể hiện vui mừng: lối vũ đập chân, hát đồng ca, vỗ tay. Họ được tập dượt nhiều về những động tác ấy, đặc biệt cứ năm giây lại vỗ tay vào nhau. Tóm lại là một nhịp điệu ám ảnh thể hiện sự hoan hỉ.

Nối đuôi đoàn người, một số đau ốm không đi được, chỉ hát; các nữ chiến sĩ dìu họ.

Cả đoàn vừa đi vừa nhảy, bước xuống tam cấp đưa ra bờ sông Hồng. Hàng nghìn nam nữ nông dân tôi không rõ từ đâu mang cờ và băng rôn hiện ra. Họ có một chỉ huy luôn hô lớn: "Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm", "Hòa bình muôn năm", "Tình đoàn kết giữa nhân dân Pháp và Việt Nam muôn năm". Mỗi lần như thế, đám đông sôi nổi lặp lại những khẩu hiệu ấy vừa vỗ tay. Các tù binh cũng hét lên, ban nhạc rung lên. Cả một cảnh cuồng nhiệt.

Khi đoàn người đến một nền cao dựng trên mép nước, tất cả im lặng. Phía bên kia một thanh chắn mỏng manh là nước Pháp, những sĩ quan tiếp nhận của Đội quân viễn chinh. Một chiếc tàu LCT sàn rộng, chờ chuyển người đi.

Sau cùng, trước vòng cuối, người cán bộ đọc danh sách. Cách mấy mét, quân lính Pháp mặc đồng phục phụ trách tiếp nhận ra hiệu thông cảm với tù binh. Những người này không trả lời, trông như chết. Đã đến thời điểm lo lắng nhất, thời điểm phán xét cuối cùng. Họ rất sợ cán bộ bỏ sót, không nghe thấy tên mình trong danh sách! Họ còn e ngại vào những phút chót đã vụng về làm Việt Minh nổi giận và đưa họ trở lại đất nước cộng sản này. Các sĩ quan Pháp tiếp nhận có thể ở bên cạnh; họ không đáng gì so với thực tế đỏ đang tồn tại.

Nhưng kìa, những người được giải phóng bước ra con đường giữa thế giới Hồ Chí Minh và người Pháp. Ban nhạc và tất cả những người Việt Minh đi theo họ trong niềm cuồng nhiệt ôm nhau và chúc sức khỏe. Hai chiến sĩ nữ vẫn bấm phím đàn ghi-ta; các cô cười, ôm hôn đứng đắn. Khi người cán bộ vỗ tay, mọi tù binh cũ của ông cũng đột nhiên cùng làm động tác như thế.

Người cán bộ chính trị này, một lực sĩ, tiến lên như một con mèo rừng trên đôi dép cao su, đứng trước cánh cửa sắt hạ xuống của chiếc tàu. Ông nổi lên bên cạnh viên trung uý hải quân mang lon vàng, những đại liên Pháp đã nạp đạn, lá cờ tam tài bay trên chiếc cán dài. Hình như ông không trông thấy bộ máy quân sự ấy, ông đưa bàn tay thân thiện cho tất cả những tù binh bước lên chiếc tàu Pháp: không ai từ chối ông. Và khi chiếc LCT nổ máy rời bến, ông kêu lớn:

- Hãy nói chúng tôi đã đối xử tốt với các anh như thế nào.

Chiếc tàu rời bến. Những người được giải phóng, trong bộ quần áo "dân dã” vẫn không tươi cười, cả khi một hội cứu tế xã hội la hét họ cũng không tỉnh lại. Chỉ khi chiếc tàu vào đúng dòng chảy đi xa khỏi Việt Trì họ mới bắt đầu hồi sinh, phản ứng lại những gì họ đã chịu đựng. Một người cầm chiếc mũ tre đan trên đầu ném xuống nước. Anh xua đuổi, phá bỏ quá khứ bị bắt. Rồi từng người một, những tù binh được giải phóng nghiêm trang làm động tác tượng trưng ấy, nên nhiều chục chiếc mũ trôi trên dòng chảy và chìm xuống.

Những khuôn mặt vẫn căng thẳng. Thủy thủ đoàn phân phát bữa ăn tạm. Những khúc dồi, những cốc rượu vang đầy đưa lại phép màu, nụ cười đầu tiên, một sự nhạo báng đầu tiên.

Tuy vậy, người lính lê dương, người đầu tiên ném mũ xuống sông nói với tôi:

- Đáng lẽ tôi phải đánh người cán bộ nhưng tôi lại bắt tay ông ta. Không bao giờ tôi tự tha thứ cho sự hèn hạ ấy.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Sáu, 2017, 09:18:25 PM

Mỗi người được giải phóng giữ trong mình một nỗi xấu hổ; ở với người Việt, họ nén nhịn. Làm khác đi họ có thể không được trao trả.

Ở bến tàu Hà Nội, quan chức Pháp cố xóa bỏ cảm giác tội lỗi ấy của các tù binh bằng một cuộc đón tiếp thắng lợi. Tướng Cogny với nắm tay rắn rỏi làm lu mờ nắm tay thân thiện của người cán bộ. Trong điệu Marseillaise do một ban nhạc của đội lê dương trình tấu, ông ôm chặt từng người được giải phóng. Các nhạc công trang phục đại lễ không thèm chú ý đến những quân lính lê dương bị bắt trở về - những đồ giẻ rách.

Binh lính người Maroc cảm thấy vinh dự, mắt ánh lên theo tiếng hô khàn khàn của viên sĩ quan; mắt những lính biệt kích vẫn lờ đờ và chắc sẽ thiếu khí sắc thế mãi.

Toàn thể Ban tham mưu kính cẩn tập họp sau tướng Cogny, con người khổng lồ hào hiệp và hoàn hảo ấy. Với ông, cả quân đội Pháp hết sức tỏ vẻ để tiêu huỷ những tác dụng của "niềm vui đỏ". Nhưng phải mất bao lâu để tái tạo linh hồn cho những kẻ khốn khổ đã bị hủy hoại khi trở về mà người ta tiếp đón như những anh hùng?

Các tù binh trở về trong nhiều tuần lễ. Mỗi ngày người Pháp lại đi Việt Trì đón họ mà không biết sẽ đưa về bao nhiêu người, còn được bao nhiêu. Người Việt tăng cường khó khăn kiếm chuyện vô cớ, yêu sách trong việc trao trả. Giá như không phải chịu đựng để rút những người này ra khỏi họ!

Và khi những người này về đến nơi, họ còn thuộc về một thế giới khác, họ không thể thích nghi, lạ lẫm, suy sụp. Phải tổ chức giải độc và tập cho họ xóa bỏ dấu vết đỏ.

Người ta đưa tất cả những người được giải phóng đến bệnh viện Lanessan. Ở đây người ta sàng lọc họ, sắp xếp theo mức độ thương tổn thể chất và tinh thần. Quân cảnh điều tra về một số phản bội hoặc hầu như phản bội. Nhưng những việc đó thật khó biết được chính xác! Người ta im lặng trước những trường họp nặng nề nhất.

Làm sao để không nghĩ đến những người được trao trả cho phía Việt Nam? Khi trao trả, họ đẹp đẽ, béo tốt, trang bị đồ đạc của quân nhu. Nhưng vừa lên xe, họ đã vứt bỏ thức ăn và quần áo người ta phát cho, hầu như ở trần; họ không muốn vấy bẩn vì những gì nhận của người Pháp. Đến Việt Trì họ hô vang "Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm", họ vừa vứt bỏ những vật dụng cuối cùng của tư bản. Các nữ y tá Việt Minh bận quần áo trắng, tập trung những đồ vật ấy lại và nhóm lửa đốt.

Việc trao trả kết thúc; còn thiếu hàng nghìn tù binh đối với người Pháp - số phận của họ vẫn mãi mãi không ai hay biết. Một người Pháp dân sự có mặt mỗi khi có đoàn xe đến, ông ta yêu một người lính lê dương. Nỗi đau khổ của một anh đồng tính luyến ái có vẻ thật thảm hại! Ông ta chăm chú nhìn những khuôn mặt, lo lắng, hy vọng nhận ra bạn mình. Ông khóc, chờ đợi trong nhiều tuần, đơn độc và thất vọng.

Gia đình các tù binh ở bên Pháp, rất xa. Họ chỉ nhận được một bức điện tín của bên quân sự.

De Castries là người cuối cùng. Đối với ông ta, kẻ chiến bại ở Điện Biên Phủ, người ta chuẩn bị một buổi lễ đặc biệt lớn cách Hà Nội mươi cây số. Tại chỗ này cách đây một thế kỷ, các đội quân đã tiến hành đánh chiếm vùng châu thổ. Bây giờ vinh quang Pháp kết thúc ở đây. Trên LCT đưa de Castries về, trước tiên tôi thấy chiếc ca-lô kỵ binh đỏ của ông - ông đã đội nó trên mọi chiến trường của Đông Dương, để chứng tỏ sự phóng túng quý phái. Bây giờ chiếc ca-lô đã xỉn màu. Bản thân ông cũng thay đổi nhiều. Khuôn mặt nhăn nheo, làn da trước đây căng và đầy khí sắc, bây giờ giống một găng tay quá rộng. Đôi mắt tinh nhanh trũng sâu trong hốc mắt. Ông đã già.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Sáu, 2017, 09:19:02 PM

Trước các đội quân, Cogny ôm hôn de Castries đang khóc và thấm nước mắt. Ông cố cười yếu ởt để nói về chiếc ca¬-lô của ông: quân Việt muốn lấy nó làm chiến tích nhưng ông đã giấu đi. Ông nói:

- Cử chỉ tự do đầu tiên của tôi là trước mặt những người Việt trao trả, tôi lấy chiếc ca-lô trong túi ra đội nó lên đầu.

Mặc dù có nhiều lời đồn thổi, de Castries có phải vẫn là một hiệp sĩ thời Trung cổ không? Ông ta cố gắng làm cho người ta tin thế một cách thảm hại! Ông muốn tự bào chữa, giận dữ kêu lên ông chỉ là một nạn nhân, là bung xung của cuộc thất trận. Nhưng lệnh chỉ huy bảo ông im đi; nếu không ông lộ ra hết những bất lực của mình ở Điện Biên Phủ.

Ít lâu sau tôi biết sự thật về de Castries. Tại Hà Nội do Việt Minh chiếm giữ, tôi ăn trưa với các phóng viên báo chí đỏ. Tôi ngồi bên cạnh Jensens, một người Do Thái Úc béo phệ, mắt lồi, râu tóc bờm xờm, chuyên viên lôgíc, một người cuồng tín. Anh ta ca ngợi de Castries, biết ông này rất rõ. Chính anh ta đi theo ông khi trao trả cho người Pháp. Anh nói:

- Ngồi bên cạnh nhau trong chiếc xe Molotova trong nhiều giờ, chúng tôi nói chuyện cởi mở với nhau. Ông ta nói bộ chỉ huy Pháp đã lừa dối và bỏ rơi ông! Bao nhiêu lời hứa trước trận đánh không được thực hiện. Tôi trả lời dù sao thì Điện Biên Phủ cũng tan vỡ. Ông công nhận, tán thành khi tôi nói về sự ngu ngốc của cuộc chiến tranh Đông Dương và thừa nhận chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng lợi ở Châu Á. Chúng tôi có cảm tình với nhau lắm.

Sao tôi không tin Jensens dù khó hình dung được tình bạn bè của một viên tướng đánh thuê cao đạo với một tay Do Thái dữ tợn. De Castries là con người trong sự chờ đợi lâu dài, trước đòn tấn công của người Việt, đã cho rải tờ rơi trên phòng tuyến địch vây quanh Điện Biên Phủ. Ông rêu rao khinh thường ông Giáp hèn nhát không ra lệnh tấn công. Điều đó xảy ra chỉ cách đây mấy tháng - nhưng dĩ nhiên người ta, cả de Castries cũng có thể thay đổi lạ lùng vì thảm bại.

Thực vậy, cả những quân lính giỏi nhất của Điện Biên Phủ, cả những lính dù đã hy sinh vô vọng, cũng bị tác động. Tôi hình dung được nỗi thất vọng của họ ở Normandie mấy ngày sau khi được giải phóng. Trong quán bar nổi tiếng này của Hà Nội mà nhiều "tù binh" ăn uống, tôi nhận ra ngay các chỉ huy lính dù của Điện Biên Phủ. Tuy bề ngoài giống những sĩ quan khác, họ vẫn toát ra một khác thường nào đó: họ không còn biết mình là ai, bối rối và lúng túng do bồn chồn. Một số nói quá nhiều, số khác không hề nói gì.

Ba anh hùng của Điện Biên Phủ uống champagne ở một bàn với các bà lai. Đấy là một tiệc rượu hoàn toàn vì lịch sự; họ đang mải mê với ý nghĩ của mình. Dở say, một người vỗ lưng tôi:

- Chúng tôi không thể nói với anh chúng tôi đã cảm thấy thế nào. Đó là điều không "nói được". Chúng tôi đã mất lòng tin.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Sáu, 2017, 09:19:34 PM

Một người khác, một đại uý nổi tiếng, nói với tôi như mộng du:

- Tôi uống để quên nhưng không quên được. Tôi chỉ huy quân lính đánh đến cùng; họ nghe theo. Ngày cuối cùng, tôi ra lệnh cho một anh chột và một anh cụt chân sử dụng súng cối. Một trong những hạ sĩ quan của tôi, bị thương ở bốn chỗ, tiếp tục ném lựu đạn. Họ đều bị tử trận. Phải chăng tôi có tội đối với họ? Vì nghề nghiệp mà tôi dẫn quân lính đến cái chết. Chúng tôi là lính dù. Nhưng tôi có quyền đày đọa người của tôi một cách vô ích như vậy không? Họ là những người tuyệt vời, là anh em của tôi. Chúng tôi đã ở bên nhau trong những trận đánh lớn. Tôi ân hận chính ở Điện Biên Phủ. Họ bị hy sinh chẳng để làm gì cả. Ngay từ đầu chúng tôi đã biết thất bại và Bộ chỉ huy đặt chúng tôi vào một cái bẫy chết.

Tôi nghĩ về mọi điều đó khi là tù binh của quân Việt. Tôi đã thấy họ đúng như người họ. Tình cảm của tôi đối với họ thật phức tạp. Có nỗi ghê sợ, lòng căm hận và cả sự thán phục. Làm sao không kinh ngạc về kết quả họ đạt được? Tôi không bao giờ nghĩ con người có thể cố gắng đến thế và thực hiện những kế hoạch chính xác và có tính toán đến thế. Tôi xấu hổ về lề thói Pháp già cỗi của chúng ta.

Người Việt giải thích cho chúng ta họ thắng vì họ có lý tưởng. Họ chê trách chúng ta thiếu điều đó. Tôi đã kể với họ về lòng can đảm ghê gớm của những lính dù trẻ của tôi ở Điện Biên Phủ. Họ trả lời: "Chủ nghĩa anh hùng phải chăng là một giải pháp?"

Than ôi, tôi biết là không. Thời gian bị giam giữ tôi đã suy nghĩ. Tôi hiểu sự dũng cảm vô vọng chỉ là một yếu đuối. Cùng với các bạn, sự suy sụp của các sĩ quan cao cấp. Chúng tôi đã kết luận, phía trên cấp bậc chỉ huy, người ta chỉ còn là bùn và mỡ,

Trong trại chúng tôi có một cách giải trí hơi độc ác: chúng tôi xem xét kỹ lưỡng các chỉ huy chính ở Đông Dương, chỉ tha thứ cho rất ít người trong bọn họ: Vanuxem, Bigeard, d'Alencon, cả Cogny nữa.

Chúng tôi đau đớn phát hiện thấy quân đội Pháp lún sâu trong thể chế già cỗi. Tất cả chúng tôi cùng một chẩn đoán. Đối với chúng tôi bi kịch chiến tranh Đông Dương là ở chỗ một Đội quân viễn chinh siêu hiện đại đã không thể đương đầu với một đội quân cách mạng.

Trong trại tù đụng chạm với thực tế Việt Minh, chúng tôi cảm thấy sự mù quáng của các ban tham mưu thật kỳ lạ. Trong tám năm các tướng tá đánh nhau với một cuộc cách mạng mà không biết nó là gì, vẫn dùng những phương pháp của cứng nhắc được dạy trong trường quân sự. Khi tình hình tồi tệ đi, Bộ Chỉ huy sử dụng biện pháp cổ điển - nói dối. Chúng tôi sát cánh thảm họa đã ba năm nay, và may mắn tránh được nó nhiều lần. Việt Minh luôn luôn tự phê bình và cải tiến tình hình. Về phía mình, chúng tôi luôn tỏ vẻ, tuyên bố mọi việc tiến triển tốt và các tướng tá hiềm khích nhau. Các ban tham mưu hoạt động tối đa, không ngừng xây dựng những chiến lược mới, luôn luôn lạc quan hơn, lý thuyết và trí tuệ hơn. Chỉ cần một sai sót là cả hệ thống chúng tôi đổ sụp. Tướng Navarre ủng hộ việc đó. Điện Biên Phủ không phải là một hậu quả tình cờ mà là một phán xét.

Nhưng chúng tôi, những người thua cuộc đã làm chết quân lính của mình, thì ra sao? Chúng tôi sẽ tin vào việc gì? Chúng tôi thất vọng, về bại trận thì ít mà về sự mục ruỗng thì nhiều.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Sáu, 2017, 06:11:01 PM

Việt Minh vào Hà Nội

Trình tự cuộc bại trận tiếp tục. Hà Nội chỉ còn là sườn, ngày di tản đã đến: mồng 9 tháng mười năm 1954.

Lá cờ Pháp được hạ xuống chiều tối mồng 8 trong một buổi lễ đơn giản. Đã về đêm và một cơn bão nổi lên. Bên trong sân vận động Mangin rất thô sơ với đường vòng bằng đất, gió mưa ùa vào những dụng cụ thể thao và cầu môn bóng đá; ở giữa dựng lên một cây cột, mờ đi trong hoàng hôn, biến trong mây mưa sát mặt đất. Khó khăn lắm mới thấy lá cờ treo trên đó, lá cờ Pháp cuối cùng ở Hà Nội. Tôi nghe thấy những mệnh lệnh khàn khàn. Vài trăm người bồng súng. Một hạ sĩ quan kéo lá cờ xuống, gấp vào và ôm hôn, trong lúc kèn thổi buồn bã. Im lặng bao trùm nhưng tôi thấy mãi khuôn mặt của tướng Cogny, tất cả những khuôn mặt khô cứng của quân lính ông, trong mấy giây, thể hiện đỉnh sâu cay đắng.

Ngày hôm sau quân đội Việt Minh, phân tán từ khi ngừng bắn, có mặt để chiếm hữu thành phố. Đây là lần đầu người ta thấy họ ban ngày. Tuy luôn luôn đe dọa và hiện diện, họ giấu mình từ nhiều năm nay trong núi rừng và đồng ruộng. Họ chỉ xuất hiện để chiến thắng.

Đội quân viễn chinh trao trả Hà Nội lại cho người Việt chưa bao giờ đẹp đẽ hơn thế. Những nghi ngờ về ngày mai của việc ngừng bắn đã biến mất. Bây giờ người ta không tìm ra một trong các sĩ quan, hạ sĩ quan Pháp không chửi rủa đáng lẽ phải tiếp tục chiến tranh. Người ta giấu kín những tù binh tìm lại được, nhân chứng của sự bất lực.

Than ôi! Họ không còn đánh nhau nữa mà là thực hiện những bổn phận nhục nhã của cuộc bại trận. Trong ngày tang tóc này phải chấp nhận chúng thật đẹp. Rời bỏ thành phố là một cuộc diễu binh, có những hàng xe tăng, các đại liên ở tư thế bắn, binh lính mũ sắt, các sĩ quan cao ngạo. Việc rút lui vững mạnh và trật tự diễn ra như một nhịp điệu đồng hồ, từ khu phố này sang khu phố khác, từ đường này đến đường khác đến tận sông Hồng và cầu Doumer1. Đấy là quang cảnh rất cổ điển.

Đấy cũng là tính kiêu ngạo thuần tuý và dửng dưng đặt lên trên thảm họa. Người Pháp thể hiện với Việt Minh một sự lễ độ hoàn hảo làm huỷ diệt hiệu lực của họ, lấy đi thực tế của họ. Người Pháp giúp đỡ họ vào Hà Nội - tiếp đón, bố trí chỗ ở, thậm chí cho họ mượn xe để chuyển quân vào.

Những người trong Đội quân viễn chinh xử sự theo lối hào hoa lịch thiệp, để lại cho những người tiếp nhận những tài sản đáng lẽ phải phá bỏ vì tai họa. Tính kiêu ngạo ấy thật đẹp nhưng không vì thế mà ngăn cản được một quân đội nhà nghề bị một đội quân nông dân đánh bại. Những Việt Minh tiến vào Hà Nội còn là những người dân quê. Quân phục chưa phải đã hoàn toàn đồng phục, mũ chưa ra mũ. Sĩ quan của họ luôn luôn vẫn là những người của nhân dân. Không phải vì họ không mang lon mà người ta không phân biệt được họ và người của họ mà vì tinh thần họ như nhau.

Việt Minh thắng trận với đôi chân đi hàng chục, nhiều chục nghìn cây số, đơn giản không ngờ được. Ngoài tiểu liên, mỗi chiến sĩ chỉ có ruột tượng gạo quanh cổ và trên lưng một ba lô nhỏ buộc vào đấy là chiếc ve lá cờ đỏ.
____________________________________
1. Cầu Long Biên


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Sáu, 2017, 06:11:41 PM

Trong mỗi đơn vị toàn bộ trang bị giảm thiểu trong mấy gói mang đầu gậy, nồi niêu. Việc chăm sóc thuốc men gần như không có. Và vũ khí phải luôn luôn vác trên lưng người.

Chỉ với mấy trọng pháo 75 ly và những khẩu súng cối mà Việt Minh đập nát ở Điện Biên Phủ những người Pháp có ca nông, xe bọc thép, máy bay rải khắp bề mặt Đông Dương.

Đấy là thực tế mà Đội quân viễn chinh cố quên đi một cách vô vọng qua thái độ của mình trong những giờ bi kịch rút lui khỏi Hà Nội.

Vì Hà Nội của Đội quân viễn chinh co lại như một tấm da buồn thảm. Đến trưa những lữ đoàn Pháp cuối cùng chỉ cách bến sông Hồng một cây số. Rồi đến lượt họ rút qua cầu Doumer, tác phẩm bằng sắt cũ, dài hai cây số mà Bộ chỉ huy Pháp đã sợ đến thế trong suốt cuộc chiến tranh! Họ vẫn luôn sợ Việt Minh phá đổ cầu nhưng Việt Minh đã không đụng đến, biết rằng có ngày cây cầu sẽ là của họ.

Trên bờ sông trước mặt Hà Nội chỉ còn lại một đại đội. Chỉ còn lại một toán sĩ quan chào nhau theo nghi thức, chỉ còn một đại tá ấp úng mấy câu xúc động với các nhà báo; quân đội Pháp chẳng còn lại gì. Lúc đó có một chiếc ô tô phía trước là một đại uý má phính, bụng phệ và dáng ẻo lả. Ông ta đưa cánh tay béo tròn ra vẫy và kêu giọng the thé: "Chờ tôi. Chờ tôi”.

Trong lúc Đội quân viễn chinh rút lui, Hà Nội nở ra như một bông hoa đỏ, từng cánh một.

Chỉ trong mấy giây không khí hồi sinh lan ra khắp nơi. Người Pháp lùi vào hư vô. Xung quanh họ, thành phố chết - không một bóng người, một tiếng ồn, một lá cờ. Nhưng Việt Minh chỉ phía sau họ mấy mét. Và bỗng nhiên đám đông khổng lồ của Châu Á xuất hiện sau bước chân họ. Trong quá trình giải phóng, vào giờ phút này đường phố, nhà cửa biến mất sau rừng cờ màu đỏ máu. Có thể nói một làn sóng đỏ tràn lên. Chí trong mười lăm phút, xã hội "tự do” đã được tổ chức. Giữa những băng-rôn, ảnh Hồ Chí Minh và các vòm chiến thắng, các uỷ viên chính trị dặn dò nhắc nhủ.

Tôi ở lại Hà Nội, thấy được "niềm vui" nảy nở dưới mắt tôi. Không hề là một kích động. Đám đông không tỏ ra quá khích mà rất đúng mực. Mỗi người dân làm theo lời chỉ dẫn. Những "cán bộ" đến cùng các đoàn người hô vang khẩu hiệu, dân chúng hô theo. Các uỷ viên chính trị, dân chúng, nhảy múa điệu vũ Giải phóng. Mọi việc đều được dự kiến, không bất ngờ.

Hà Nội năm 1954 này, Hà Nội chiến thắng của Hồ Chí Minh thật khác với thành phố đỏ năm 1946 say sưa nổi dậy và giết chóc.

Tính thụ động này không chỉ do chiến tranh bị huỷ diệt. Đây là vấn đề khác. Việt Minh đã thay đổi, không muốn để tự phát cá nhân mà chứng tỏ được niềm vui thích tập thể. Họ tổ chức "tình cảm”, đặt những thể lệ. Các cá nhân khi thực hiện thậm chí không còn biết họ có thành thực không. Họ không dám nêu vấn đề.

Để tự bào chữa, chiến binh của Đội viễn chinh nói: "Chúng tôi không bị đánh bại vì một quân đội mà vì một dân tộc." Không đúng. Người Pháp không bị đập nát bởi sự nổi dậy tự phát của quần chúng mà, do đường lối tổ chức cách mạng. Những người cộng sản Châu Á đã sáng tạo một phương pháp mới để chiếm lĩnh thể chất và tinh thần phục vụ cho mục đích của họ. Người Pháp không thể chống khoa học tâm lý quần chúng ấy. Ở Đông Dương chỉ có những người Pháp truyền thống với những đức tính và sai sót của lịch sử ngàn đời của họ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Sáu, 2017, 06:12:12 PM

Việt Minh không chỉ khó phân định đối với người Pháp. Họ cũng như vậy đối với những người dân Hà Nội. Dân chúng chờ đợi các đoàn quân chiến thắng vào thành, nghĩ rằng Hồ Chí Minh sẽ xuất hiện trên một ban công vẫy chào chiến thắng. Nhưng Việt Minh phân tích tình hình và kết luận những thể hiện huy hoàng ấy phản tác dụng.

Không ai biết cụ Hồ và ông Giáp ở đâu. Không ai nói về họ. Chỉ mấy ngày sau nhân dân mới được thông báo trên một bài báo ngắn họ đã về Hà Nội, cũng không nói ở chỗ nào.

Thực tế, Việt Minh không tổ chức lễ hội chiến thắng mà là lễ hội "dân chủ", thành quả của chiến thắng. Tôi có tham dự một buổi lễ. Tôi thấy giai cấp tư sản trở thành dân tộc, thay đổi bản chất, ý thức được mình trong quá trình buổi lễ mang tính chất thiêng liêng. Trong hai ngày nhân dân mừng hoan hỉ. Cả thành phố như một bàn thờ trang nghiêm. Có huấn luyện viên hướng dẫn, người ta tập đi, tập hát, diễu hành và xử thế dân chủ. Ngày đêm trên đường phố từng đoàn người tập dượt, cả thành phố như một trường học trình diễn.

Cuối cùng là buổi sáng đoàn kết dân tộc. Năm giai cấp được biết - công nhân, nông dân, binh lính, tiểu tư sản, tư sản yêu nước - tập hợp nhau thể hiện tình thân ái.

Bốn giờ sáng toàn thể nhân dân đã sẵn sàng, tập trung từng tốp hàng trăm nghìn người trên đường phố. Mỗi hè phố là một khối sống động đàn ông, đàn bà như bao trùm dưới vòm cờ. Giữa những lớp bao quanh, những đám đông im lặng trong tư thế chuẩn bị, hàng trăm đoàn người chờ thời điểm rung chuyển trên đường. Có nhiều loại hàng ngũ. Đông nhất gồm thiếu niên mặc theo lối hướng đạo sinh - người Việt trước hết lo phân phối khăn quàng cho nam nữ thiếu niên dưới hai mươi tuổi. Người ta cũng thấy những hàng ngũ các ông già, phụ nữ, xã viên hợp tác xã, thị dân. Phụ nữ địu con trên lưng. Thợ giày yêu nước mang dụng cụ trước người.

Chỉ có nhân dân tồn tại. Tất cả là vì nhân dân. Không có khán đài chính thức, các nhân vật, đoàn ngoại giao. Phía trên khối người chỉ một bức ảnh, ảnh cụ Hồ Chí Minh. Các cô gái, bận quần áo trắng, kính cẩn đặt bức ảnh trên ngọn tháp hồ Gươm, nơi linh thiêng của Hà Nội.

Những đám đông ấy đứng tại chỗ cho đến mười một giờ. Rồi chỉ trong mấy giây những dòng người bắt đầu chảy khắp nơi trong trật tự kỳ lạ. Tôi tự hỏi làm sao trong một thời gian ngắn như thế Việt Minh có thể biến dân chúng không rèn luyện ấy trở thành một khối người đồ sộ biểu tình dân chủ? Tôi chẳng còn ngạc nhiên là trước đây, trong những điều kiện vô cùng khó khăn họ huy động những lực lượng đông đảo - những đoàn dân công, đàn ông và đàn bà theo đường mòn rừng núi tiếp tế cho quân lính bao vây Điện Biên Phủ.

Một tiếng hô vang lên từ chân trời bao trùm thành phố. Dân chúng chào đón quân lính trung đoàn Thủ đô, trung đoàn xuất sắc của Việt Minh đã dẫn đầu cuộc nổi dậy ngày 19 tháng mười hai năm 1946 để đồng loạt tiêu diệt hết người Pháp. Sau đó, trung đoàn là hạt nhân của sư đoàn 308, đơn vị bảo vệ sắt, tham gia vào mọi trận đánh và tấn công đòn quyết định ở Điện Biên Phủ. Quân Pháp sợ hãi mỗi lần phải chạm trán với sư đoàn này.

Trung đoàn Thủ đô xuất hiện trên bờ con hồ nhỏ mà đội quân viễn chinh đã bao lần diễu binh. Hôm nay không phải một cuộc diễu binh mà chỉ là buổi lễ của các đồng chí chiến sĩ. Những người chiến thắng bận đồng phục màu xanh lá cây. Họ không chú trọng bước đều, tiến về phía trước, mềm dẻo, lộn xộn như đi trong rừng. Mỗi người lính cầm vũ khí như dụng cụ làm việc của mình.

Đoàn quân này không tự phô trương để tác động dân chúng mà để nói chuyện với họ. Câu chuyện giữa quân lính với "dân chúng" là những bài hát, vỗ tay và hoa, tăng lên từng phút một. Đám đông hô vang và làm những cử chỉ nồng nhiệt. Nhưng tính chất mãnh liệt ấy được chỉ đạo, hướng dẫn có tính toán. Chính những uỷ viên chính trị đi trong hàng ngũ cách nhau mười lăm mét một là những chỉ huy dàn nhạc. Binh lính mang vũ khí "trả lời". Họ nhảy nhót, bước theo vũ điệu, giơ nắm tay, hét to lên, chào với những bó hoa lớn, chơi những bài hát ngắn bằng đàn măng-đô-lin và kèn ác-mô-ni-ca. Một số đơn vị nhảy múa, những đơn vị khác hát hoặc hô vang trời.

Dân chúng không ngớt khuyến khích quân lính vui hơn nữa. Quân lính kích thích dân chúng càng phấn khởi hơn. Lời qua tiếng lại dồn dập đến nỗi không phân biệt được yêu cầu và lời đáp lần lượt bung ra. Chỉ còn là một sự lẫn lộn tạm thời mà hàng trăm ngàn người, dân và quân như những cỗ máy làm hàng nghìn, hàng triệu cử chỉ được chỉ đạo. Đấy là một hình thức cao của trật tự đỏ. Đấy là mệnh lệnh từ trên xa qua đó cả thành phố tự hòa đồng vào chế độ. Từ nay Hà Nội hoàn toàn là Việt Minh: nước Pháp bị gạt bỏ vĩnh viễn.

Trong lúc ấy Đội quân viễn chinh rút xuống Hải Phòng. Quân Pháp bị đuổi khỏi Hà Nội vinh quang xuống thành phố cảng lớn này mà họ đã chiếm đóng nhiều năm và sẽ phải rời bỏ sau mười tháng. Tướng Cogny đứng thẳng người trên một chiếc xe. Tất cả các đội quân ở Bắc Kỳ chào tôn vinh ông và diễu binh hùng tráng. Tướng Cogny đề nghị giám mục Hải Phòng cho kéo chuông ở nhà thờ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Sáu, 2017, 06:13:40 PM

Đông Dương bị mất

Sự thất bại không dừng lại. Điện Biên Phủ và Hà Nội chỉ là hai giai đoạn đầu. Ở phần còn lại của Đông Dương người Pháp tiếp tục xuống dốc.

Những người Pháp hy vọng cứu vớt một số phần còn lại nhờ vào hiệp định Genève. Họ chia cắt Việt Nam làm hai, nghĩ sẽ có hai con bài để chơi. Đây chỉ là một ảo tưởng. Họ đã mất lực lượng và có những lực lượng mới xuất hiện. Từ nay Đông Dương thuộc Pháp cũ là Trung-Nga ở phía Bắc và Mỹ ở phía Nam.

Ở miền Bắc bí mật về "Hồ Chí Minh phúc hậu" biến mất nhanh chóng. Chỉ trong mấy ngày người ta nhận thấy Bắc Việt Nam chỉ là một vệ tinh đỏ. Chẳng bao lâu nước Pháp chỉ còn lại mấy chục người Pháp ở Hà Nội sống một cuộc sống tập trung cao sang trong "Ngôi nhà Pháp". Một Sainteny đã trở lại đây và sẽ thất vọng nhanh chóng.

Ở phía Nam người Pháp không còn cần thiết nữa. Từ khi họ thôi đánh nhau, người Việt Nam và người Mỹ không cần đến họ nữa. Miền Nam Việt Nam biến thành một quốc gia phụ thuộc vào lá cờ sao như Philippines, Thái Lan, Đài Loan. Tổng thống Diệm trước hết là công cụ loại bỏ họ.

Như vậy chủ nghĩa cộng sản đã đuổi họ, chủ nghĩa dân tộc cũng thế. Từ sau Điện Biên Phủ người Pháp không được kể đến ở Châu Á, hầu như bị xóa khỏi lục địa da vàng. Người Châu Á hoàn toàn không biết đến họ, những người da trắng khác ở Viễn Đông nghiêm khắc phán xét họ. Gay gắt nhất là người Mỹ.

Ở Hồng Kông, trong Câu lạc bộ các phóng viên, một nhà báo Mỹ - một người theo đạo Tin Lành, gầy và cuồng tín - nói với tôi:

- Ở Điện Biên Phủ, đáng lẽ chúng tôi phải làm cho các anh thắng. Có thể đấy, tuy quân đội các anh nghèo nàn nhất thế giới.

Một trong những đồng nghiệp của anh cố an ủi tôi:

- Tôi thì tôi thán phục vì là quân đội của "sự nghĩa hiệp”. Tôi muốn nghe nói đến sự nghèo nàn hơn là những cử chỉ đẹp. Chính tôi cũng dùng cách diễn tả ấy, đã viết nó. Nhưng tôi ghét nó từ miệng một người Mỹ vì biết nó có nghĩa như thế nào đối với họ. Điều đó muốn nói quân đội Pháp là sản phẩm của một nền văn minh chết, như chiếc ghế phô-tơi Luis XV.

Tôi có thể trả lời những người Mỹ ấy quân lính nước họ không bao giờ tiến hành được một cuộc chiến tranh Đông Dương, không chịu đựng được sự mệt nhọc, tàn bạo, thiếu tiện nghi ở đây. Nhưng đáp lại? Vì người Mỹ sẽ không đánh nhau như lính Pháp. Họ sẽ dàn thành hàng để tiến hành một cuộc chiến tranh khác, sẽ đưa tới bao nhiêu phương tiện. Và làm tan nát đất nước, dân chúng bằng bom đạn và đô-la. Cuối cùng rất có thể họ thành công hơn. Hơn nữa một lý do cơ bản bó tay người Pháp, vốn không có sự vượt trội bàn đầu như họ. Ở Đông Dương, Đội quân viễn chinh không bao giờ có những nguồn lực theo tầm của Mỹ. Thế mà họ đã áp đảo so với Việt Minh!


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Sáu, 2017, 06:14:03 PM

Lúc đầu người Pháp vượt hẳn về lực lượng. Việt Minh khi ấy chỉ là những chiến sĩ du kích thiếu vũ khí: họ dựa vào Đội quân viễn chinh, theo nguyên tắc chính quân địch phải "bảo trợ" lực lượng nhân dân. Họ trang bị vũ khí bằng lấy trộm và phục kích. Thời kỳ ấy thực sự không có ai giúp đỡ quân lính của Hồ Chí Minh. Trung Quốc của Mao Trạch Đông còn ở xa, đang đánh nhau với quân đội của Tưởng Giới Thạch.

Đối mặt với Việt Minh khốn khổ, những người Pháp có Đội quân viễn chinh, cảnh sát và chính quyền, đồng bạc Đông Dương và cả hệ thống kinh tế. Đại bộ phận dân chúng dưới quyền họ, muốn tuyển mộ bao nhiêu binh lính và bảo an da vàng tùy ý. Chính quyền mỗi ngày cung cấp cho cuộc chiến tranh một tỷ phrăng. Sau đó đô-la và khí cụ Mỹ đổ vào.

Bây giờ không thể không đặt ra những câu hỏi: làm sao những người Pháp có thể bị đánh bại? Làm sao điều ấy xảy ra được? Mục đích cuốn sách này là tìm ra những câu trả lời.

Sẽ là một công trình đáng buồn vì cuộc kết thúc thất bại, càng buồn hơn vì thảm họa ấy là lôgic và xứng đáng. Tôi kể lại lịch sử một thời kỳ tàn lụi kéo dài tám năm, mỗi năm một tăng từ cuộc "chiến tranh thoải mái” trước 1950 cho đến “sự hấp hối của Điện Biên Phủ”.

Người ta sẽ thấy không có ai biết ngăn con đường cong dẫn đến thảm họa, kể cả de Lattre - ông ta đến quá chậm. Điều đáng phải làm vượt quá xa những tưởng tượng và định kiến của các tướng lĩnh và bộ trưởng Pháp. Trong những nhân vật quân sự cũng như dân sự không có một người tìm ra sự thật chẩn đoán, tìm và đặt ra một giải pháp. Vì phải “xét lại” tất cả.

Cuộc chiến tranh Đông Dương phản ánh sự bối rối của Pháp, người ta không biết mình muốn gì, không làm điều phải làm.

Cơ may thắng về quân sự đã mất trong ba năm đầu của cuộc chiến tranh, giữa năm 1946 và cuối 1949. Thời kỳ đó đã có thể nắm lấy cổ họng và bóp nghẹt Việt Minh. Nước Pháp không có sự cố gắng cần thiết, cho rằng không thể được (sau này họ có những cố gắng lớn nhiều mà không một hy vọng chiến thắng). Khi Trung Quốc của Mao Trạch Đông vươn đến cửa ngõ Bắc Kỳ thì họ hết cơ hội. Quân Pháp bị đánh bại trên đường số 4; đối với họ không còn vấn đề thắng lợi trong cuộc chiến tranh Đông Dương.

Tướng de Lattre sau những kết quả bước đầu, nhận thấy phải tiêu diệt cả Trung Hoa đỏ. Ông muốn có một cuộc chiến tranh lớn ở Châu Á, mở rộng sự xung đột ra khắp lục địa da vàng. McArthur sẽ chỉ huy ở phía bắc và ông ở phía nam. Nhưng McArthur bị đuổi về và de Lattre chết. Ý tưởng một cuộc xung đột chống Trung Quốc bị bỏ rơi để tái hiện vào phút chót một cách vô ích ở Điện Biên Phủ.

Trận đánh thảm khốc trên sông Đà diễn ra lúc de Lattre hấp hối ở Paris là một cảnh báo ghê gớm. Nó có nghĩa từ nay Việt Minh là lực lượng mạnh hơn cả: phải chuẩn bị điều đình với họ hoặc dù sao cũng phải thúc đẩy nó tung ra lực lượng tổng thể của nước Pháp. Nhưng người ta không làm gì, hòa bình không, chiến tranh cũng không.

Những người Pháp còn tiếp tục cuộc phiêu lưu Đông Dương lâu hơn mà không biết nó sẽ đưa họ đến đâu. Chính phủ Paris, các ban tham mưu chỉ tìm cách lảng tránh. Dễ dàng thôi vì xa xôi thế! Mục đích duy nhất là kéo dài, là tránh thảm họa luôn luôn đe dọa. Hậu quả là sự xuống cấp dần dần, không có ý tưởng mới trả giá bằng những trận đánh đáng sợ mà người ta nói đến ít nhất. Đấy là bước đi lôgic thảm họa. Người ta không phải luôn luôn biện minh được, cả trong sự vô lý, tất cả đều có một kết thúc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2017, 09:41:05 PM

Chương I
CUỘC CHIẾN TRANH THOẢI MÁI


Có vẻ lạ lùng khi tôi bắt đầu câu chuyện dài và đau khổ về thất bại của Pháp ở Đông Dương bằng mô tả cuộc “chiến tranh thoải mái”.

Thế nhưng đấy là điều tôi thấy khi đến Sài Gòn làm phóng viên chiến tranh năm 1948. Tôi phát hiện ra một Đông Dương thời Trung cổ với tiểu liên và đồng bạc, dưới nhãn hiệu Liên hiệp Pháp. Tất cả đều đông cứng. Đội quân viễn chinh đã từ chối những “chuyến đi” lớn, tấn công và cơ động. Thời kỳ những đoàn quân của Leclerc, với tính chất lãng mạn bạo lực lao vào chinh phục, đã xa rồi.

Từ nay là cảnh sa lầy. Chỉ trên biên giới Trung Quốc trong núi rừng miền Bắc Bắc Kỳ, đang tiếp diễn cuộc chiến thực sự chống đội quân chính quy của Hồ Chí Minh. Cuộc chiến xa xôi và người ta không nói đến.

Vả lại khắp nơi người ta tiến hành cuộc “chiến tranh thoải mái” chống Kháng chiến. Cuộc chiến du kích, chống du kích ấy, khốc liệt, chắc chắn tàn bạo hơn nhiều những trận đánh diễn ra trên biên giới Trung Quốc. Nhưng đồng thời là “cuộc sống đầy đủ” và sự thịnh vượng cho mọi người.

Diễn biến hàng ngày là máu, cái chết, khoái lạc, mệt mỏi, lười biếng, lối sống xa hoa. Những người đánh nhau tự thấy mình là “chúa tể” và quan chức nhà nước đắm mình trong thừa thãi. Hai bên dồn ép và giết hại dân chúng theo cách của mình. Dân quê là vật cá cược chủ yếu những khi không bị tử hình họ tự bung ra, tranh thủ mọi lợi thế của đồng bạc, đạt tới một mức sống không ngờ được đối với những người nông dân da vàng.

Từ đó có một sự cân bằng bề ngoài không có lý do gì chấm dứt, càng được duy trì vì Bảo Đại được người Pháp lại đưa lên cầm quyền; ông ta làm ruỗng nát cả và làm rối ren thêm.

Bao nhiêu lực lượng đồng minh hoặc thù địch tranh giành nhau nhờ vào những đồng loã không ra mặt! Đông Dương năm 1948 là một bàn cờ vô số quân tốt nhưng hầu như bất động. Người ta chưa đoán được xứ sở này sẽ trở thành sân khấu, mà tất cả những yếu tố trên thắt nối với nhau trong một sự kiện cũng căng thẳng và bị lột trần như một bi kịch Hy Lạp: mấy năm sau tấm màn hạ xuống ở Điện Biên Phủ.

Nhưng năm 1948 người ta chưa nghĩ đến điều đó. Người ta quen dần với lề thói một cuộc chiến tranh không muốn nhưng không tránh được. Thậm chí người ta bắt đầu nhận thấy không phải không có lợi.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2017, 09:46:34 PM

Sự thất bại của những người thiện chí

- Ông ơi, nếu chúng tôi biết chặt vài tá đầu đúng lúc thì sẽ còn một Đông Dương thuộc Pháp. Ông nghĩ trước năm 1940 bất cứ một người Pháp nào, không một vũ khí, có thể đi lại tự do cả những vùng hoang dã nhất. “Thân hào” sung sướng lạy tiếp đón anh ta. Than ôi! Những “người Pháp từ nước Pháp” chúng tôi “tiếp xúc” năm 1945 đã gây nên tai họa khi nghĩ rằng tán tỉnh được Hồ Chí Minh.

Những người cũ ở Đông Dương tiếp đón tôi tại Sài Gòn với những lời như thế. Đây là những ông đáng kính no đủ và hiền lành. Họ có những chiếc bụng to - những quả trứng thuộc địa - trên đôi chân gầy.

Những nhân vật ấy mô tả Đông Dương thuộc Pháp của chế độ Bảo hộ, như một thiên đường. Họ nói:

- Phải chăng chúng tôi đã không làm gì cho dân quê? Chúng tôi lôi họ ra khỏi đói nghèo, xây dựng trường học, đường sá, bệnh viện và nhất là chúng tôi đưa lại cho họ sự công bằng và nền an ninh.

- Thế vì sao đất nước được ban thưởng nhiều ân huệ như vậy có thể “nổ bùng” chống lại chúng ta? Dân chúng sung sướng ấy phải chăng muốn nền độc lập hơn hết?

Những người đối thoại không hề xấu hổ về chế độ thực dân của mình. Ngược lại bực tức vì câu hỏi của tôi, họ ca thán:

- Chà! Nếu những người mới đến lắng nghe chúng tôi, những người biết rõ dân Annam, yêu mến họ và được yêu! Nhưng de Argenlieu và đồng bọn kết tội chúng tôi là bóc lột dân chúng Annam. Vậy mà không làm cho họ nghe theo.

- Các ông không nghĩ Đông Dương của các ông đã chết từ lâu rồi? Các ông nghĩ nó vững chắc nhưng chỉ cần một rạn nứt là nó đổ sụp.

- Chúng tôi sẽ cứu Đông Dương dù có biến cố, dù không có ảo tưởng của những chỉ huy mới do Paris chỉ định.

Những tay thực dân này tin vào quyền lợi của mình xiết bao! Nhưng họ ghét những người do de Gaule cử sang năm 1945 để hòa giải nước Pháp với những dân tộc nổi dậy ở Đông Dương.

Tranh cãi vô ích vì những người này người kia đều thất bại! Tôi ở trong một đất nước nằm trong lề thói chiến tranh liên miên. Tôi tự hỏi chiến tranh bùng ra như thế nào, có thể tránh được không, tôi dành những tuần lễ đầu tiên tái hiện lại quá khứ. Tôi nhận thấy tất cả những người Pháp đã thật thà khác thường đồng thời thật mù quáng.

Điều tôi phục hồi lại là những sự kiện trước thời tôi. Đấy là sự phá sản của tất cả những người thiện chí. Vì có hai loại. Những “thực dân” cũ muốn làm lại Đông Dương thuộc Pháp. Những người “Pháp tự do” từ chính quốc sang hy vọng điều đình với Hồ Chí Minh. Nhưng quan niệm của họ đều sai lầm. Kết quả là máu, là thù địch.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2017, 09:48:29 PM

Nhưng trước bi kịch chiến tranh đã có những bi kịch của hòa bình không trọn vẹn, kéo dài gần bảy năm, từ 1940 đến cuối 1946. Cốt lõi phức tạp như sau:

Lúc đầu những người chiếm giữ Đông Dương thuộc Pháp không cố thử, không chịu đựng để cứu xứ sở này! Vì vào năm 1941, những kẻ thực dân cần rất can đảm, trong lúc giáo lý của người da trắng gần như không được vi phạm là không “hợp tác” với người da vàng. Tuy vậy khi chính quốc đổ sụp cách đấy mười hai nghìn cây số, khi Đông Dương bất lực trước lục quân và hải quân Thiên Hoàng, các đô đốc tướng lĩnh, viên chức, các điền chủ sẵn sàng chấp nhận sự chiếm đóng của Nhật: họ hy vọng theo cách ấy cứu được cái cần thiết nhất, nghĩa là sự hiện diện của lá cờ tam tài. Đấy là kinh nghiệm của Decoux, một hành động cá cuộc không tưởng tượng được.

Một thời gian lâu họ nghĩ đã đạt được. Vì người Nhật giận dữ nhấn chìm mọi thống trị da trắng ở Châu Á, ngoại trừ duy nhất chủ quyền Pháp. Chính quyền thuộc Pháp hoạt động, công dân Pháp tự do, lá cờ tam tài phấp phới khắp nơi.

Vào mùa xuân năm 1944 chỉ cần giữ vững thêm mấy tháng hoặc mấy tuần lễ là sẽ thắng lợi.

Tất cả đổ sụp trong một đêm. Ngày mồng 9 tháng ba năm 1945 Sài Gòn hoảng loạn: dân chúng đang ngủ thức dậy vì tiếng ồn ào kêu thét xen lẫn tiếng súng, tự hỏi: “Tai họa gì vậy?” Họ được biết ngay. Những người gác đêm trung thành, những lực sĩ da màu bí mật thông báo với các chủ Pháp: “Thưa ông, ông tắt đèn nhanh cho: người Nhật đang giết hết người da trắng”. Các gia đình sợ hãi chạy trốn mang theo trẻ em vào các khu vườn, hầm hào chờ cho đến sáng. Tuy vậy trong bóng tối xuất hiện những binh lính Nhật phát ngang mọi chống cự vào phá hủy tất cả. Trong thành phố vang lên chói tai lẫn lộn tiếng đàn bà rên rỉ, người chết hấp hối và tiếng bát đĩa đổ vỡ.

Người Nhật cho dán lên tường bố cáo bãi bỏ chủ quyền của Pháp. Người ta nghe chất keo chảy, tưởng họ rải một chất lỏng dễ cháy để đốt toàn bộ thành phố.

Tuy nhiên đấy chỉ là “cuộc đảo chính” của người Nhật, thanh toán Đông Dương, san bằng, hạ nhục một cách có hệ thống những người da trắng. Kampetai “tổ chức hiến binh Nhật”, truy lùng khắp nơi, bắt người Pháp cho vào nhà tù. Họ giam vào những căn nhà ghê gớm của sở mật thám, chỗ các cảnh sát “thực dân” đã “thẩm vấn” các thế hệ nổi dậy Annam. Sự trả thù mỉa mai! Những tù nhân da trắng phải ngồi xổm nhón chân hàng giờ, bị đánh đập khi mất thăng bằng. Cũng có những kiểu tra tấn thông minh hơn, hành hạ, chém giết hàng loạt. Toàn bộ lính trong bốt đồn trú Lạng Sơn bị gươm đâm chết. Chỉ vài đơn vị của Bắc Kỳ thoát được. Đoàn Alessandri sang Trung Quốc theo Tưởng Giới Thạch qua một chuyến đi dài và khốn khổ xuyên rừng núi.

Ở Sài Gòn họ không thể ẩn náu được. Trước cửa mỗi nhà phải treo một tấm biển gỗ ghi tên họ, đặc điểm, nghề nghiệp, dân tộc, giới tính và tuổi của những người trong nhà. Một trong những “trò hài hước” cuối cùng là nhận thấy thói làm dáng không hoàn toàn biến mất đối với các bà; hiếm khi họ thú nhận mình đã tứ tuần và những bà làm thế đã nguyền rủa mình thật ngây thơ.

Được dán nhãn như vậy, bị nhốt trong nhà không có quyền ra khỏi một chu vi nào đó, chịu đựng thiết quân luật tùy theo trạng thái của người Nhật, những người Pháp tự cảm thấy bị giam cầm, là những tấm bia sống, hàng ngày lo lắng tách biệt tổ quốc và thế giới đã nhiều năm nay, làm sao họ hiểu mình sẽ ra sao? Làm sao họ ngờ được Hiroshima và Nagasaki đã gần?

Người Nhật linh cảm sự thất bại sắp tới và muốn phá huỷ Đông Dương như cách trả thù cuối cùng. Và để chắc chắn xứ sở này không bao giờ vực dậy được, họ gây ra niềm tự cường dân tộc trong lòng dân chúng Annam. Đến lượt mình, dân chúng bắt đầu truy lùng những người da trắng bất lực và đòi “xử bắn” họ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2017, 09:49:23 PM

Thật khốn khổ. Cùng với hành động tàn bạo của cảnh sát và binh lính Nhật thêm vào lòng căm thù của dân chúng Sài Gòn. Tệ hại hơn nữa là những người Pháp luôn thất vọng, thiếu lòng tin.

Quả bom nguyên tử đã là phép màu cứu sống họ. Người da trắng thậm chí có những giờ sảng khoái, nghĩ rằng dân Annam lại trở thành dễ bảo, vô hại. Họ đã không hiểu mình sẽ đụng vào những lực lượng mới và không xoa dịu được: họ chưa biết gì về chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản.

Nỗi thật vọng - sự tỉnh ngộ cay đắng và tàn nhẫn - là những người Annam tỏ ra cừu địch nghìn lần hơn khi không có người Nhật. Cách mạng cháy bùng lên ở Đông Dương chỉ trong mấy ngày. Từ núi rừng xuất hiện một Hồ Chí Minh, nhà hoạt động có tên trong sổ sách mật thám, cùng một số đồng chí chiếm lấy Hà Nội. Sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ông trở thành người Cha của Dân tộc. Khắp nơi theo lời kêu gọi của ông, trong các thành phố, làng xóm, ruộng đồng, dân chúng sốt sắng tập hợp nhau tổ chức mừng tự do. Các uỷ ban và cảnh sát tăng lên nhiều. Việt Minh khởi nghĩa quét sạch cả đất nước Annam, trải rộng hơn một nghìn hai trăm cây số về phía nam, đến tận Sài Gòn.

Thành phố này cũng nằm trong tay Việt Minh. Ác mộng kéo dài một tháng. Ban ngày tất cả hình như tĩnh lặng. Vấn đề duy nhất là thực phẩm. Lợi dụng sự lơ là bên ngoài, phụ nữ Pháp luồn ra chợ mà người “Trung Hoa” đồng ý với giá cắt cổ bán cho những mẩu thịt và từng bó rau muống.

Hoàng hôn đưa tới nỗi sợ hãi. Trong bóng đêm bắt đầu một lối di cư lạ lùng: những gia đình gần nhau lén lút tập trung vào một nhà, mỗi đêm một nhà khác; họ hợp sự bất lực của họ lại. Đêm nào cũng dài dằng dặc. Việt Minh tuần tra quanh vùng. Bốn phía vang lên giọng nói lanh lảnh, tiếng quát tháo và những đợt còi. Đôi khi một đội tấn công bước theo nhịp điệu “một, hai” - và rồi khi họ dừng lại thì đó là dấu hiệu tấn công vào một biệt thự.

Những đêm không bao giờ chấm dứt. Tất cả các ngôi nhà cùng một nét mặt chờ đợi. Người ta để đèn sáng để tự trấn an. Đàn ông chơi bài, trong tầm tay là những con dao nhà bếp, vũ khí duy nhất của họ. Thỉnh thoảng họ ngừng chơi để trấn an các bà vợ sẵn sàng lên cơn thần kinh. Trẻ con dồn vào một gian bên cạnh, run lên vì sợ trên cùng một chiếc giường và nôn cả ra màn.

Cuối cùng, một hôm dân Sài Gòn điên lên vì mừng, được biết “họ” sắp tới. “Họ” là những người của thế giới bên ngoài, những người da trắng xa nhau bao nhiêu năm và đã thắng trận. Người ta chờ những ân nhân đến cứu. Thực vậy, người Anh đổ bộ, theo sau là quân lính dù Pháp.

Các đội quân Anh tỏ ra tế nhị. Nhưng thật kinh ngạc trước thái độ của “quân dù”! Họ xem những người Pháp ở Đông Dương xứng đáng như quân phản bội! Một hố sâu tinh thần chia cắt những người được giải phóng với người giải phóng mình.

Thật đúng lẽ nếu quân lính từ Pháp sang phải cứu những người ở Sài Gòn mà người Việt luôn tìm cách tấn công. Họ chỉ can thiệp dè dặt, trong trường hợp cuối cùng khi không làm khác được.

Một phụ nữ Pháp trong cuộc tấn công của Việt Minh vào một nhà, chạy đến báo với lính dù đóng trại gần đấy. Bà đã làm cho họ cảm động nhưng chỉ huy của họ, một đại tá, từ chối không đưa quân đến cứu.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2017, 09:50:17 PM

Những lính dù đầu tiên này mang sang Đông Dương tình hình họ đã biết ở Pháp. Đối với họ chỉ có những người hợp tác và những người chống cự. Quân phản bội chỉ có thể là những người Pháp ở Đông Dương: họ đã không làm việc lâu với người Nhật rồi sao? Việt Minh có vẻ đáng khen hơn. Họ không ngừng nổi dậy chống phát xít Nhật; ngược lại họ nói với quân dù, họ yêu mến người Pháp, chỉ tấn công bọn “thực dân” đã thỏa hiệp với binh lính của Thiên Hoàng.

Lính dù vốn thực tâm. Họ có những ý tưởng rất đẹp: không muốn trấn áp người Annam mà ôn hòa thu phục lòng người. Thế nhưng mấy tuần lễ sau họ lao vào một cuộc chiến tranh ác liệt nhất.

Leclerc sang Đông Dương, đưa các đội quân ra ngoài Sài Gòn để ôn hòa chiếm lại đất nước; Nhưng rồi bị tấn công ngay. Chẳng bao lâu binh lính Pháp bị bắt, bị chặt khúc và làng xóm Annam bốc cháy. Vì bạo lực trả lời bạo lực. Những mơ mộng dịu dàng chuyển sang say mê tàn bạo chỉ trong một thời gian ngắn! Người Pháp chiếm lại Nam Kỳ, Căm-bốt, Lào, Trung và Nam Annam bằng những cuộc hành quân chớp nhoáng huỷ hoại. Nhưng các chi đội đỏ và tất cả những tổ chức du kích luôn luôn như tự nảy sinh. Cuộc chiến lan khắp đồng ruộng.

Tất cả trái ngược nhau. Qua mấy tháng bản thân Leclerc đã nghĩ không thể dùng sức mạnh chiếm lại Đông Dương. Người ta không đạt được mục đích với quần chung đông đảo Châu Á nổi dậy sử dụng chiến lược “chiến tranh nhân dân” theo những nguyên tắc Mao Trạch Đông. Hoặc sẽ bị kiệt quệ vì sự chống đối không dứt.

Người ta trở lại kết luận: cần điều đình với Hồ Chí Minh, ông già có bộ râu mảnh, thương yêu trẻ em và đã trở thành một huyền thoại sống. Ông có phong thái một nhà trí thức phúc hậu, không phải của một người cộng sản cuồng tín và lạnh lùng. Phải chăng có thể thỏa thuận với ông giữ sự có mặt của Pháp “ngay” trong lòng một nước Cộng hòa Việt Nam? Một người tin vào điều đó. Đấy là Sainteny - một anh hùng, đẹp, mạnh mẽ, hơi bí ẩn, vừa cứng rắn vừa lãng mạn. Trên hết ông tuyệt đối tin tưởng vào quyền lực của ý muốn và sự lôi cuốn của mình.

Đáng lẽ ông không nên có lòng tin như thế! Những mật sứ Pháp đầu tiên nhảy dù xuống Bắc Kỳ bị truy lùng, đôi khi bị sát hại. Bản thân ông đến Hà Nội Việt Minh với chức danh đặc phái viên Cộng hòa Pháp, bị giam giữ gần như tù nhân. Cả mùa đông là một ác mộng. Hàng ngày dân chúng tập hợp trong những cuộc mít tinh khổng lồ và những đoàn biểu tình không ngớt. Đấy là niềm cuồng nhiệt đỏ và trong sự hoan hỉ và căm hận, những đám đông thề “những tên thực dân” không bao giờ được trở lại. Hầu như từng đêm, những người da trắng - trong thành phố có mấy nghìn người Pháp dân sự và người lai bất lực - biến mất; sau này người ta tìm thấy tàn tích của họ trong những hố chôn xác chết.

Thế nhưng sau những tháng dài thê thảm ấy - vào mùa xuân năm 1946 - một điều ngạc nhiên khác thường. Hồ Chí Minh ký một thỏa ước cho phép đoàn quân Pháp đổ bộ lên Bắc Kỳ. Sau đó ít lâu một số lượng lớn người và xe cộ quân đội Pháp được chuyển từ Sài Gòn ra Hải Phòng, hải cảng lớn cách Hà Nội một trăm hai mươi cây số.

Than ôi, người ta không hiểu sự thay đổi của Hồ Chí Minh liên minh với Pháp là “giải pháp đúng” bất lợi của phép biện chứng: lấy một điều bất lợi để rũ bỏ một bất lợi khác lớn hơn. Việt Minh đưa quân đội Leclerc đến để tiến tới đuổi các đơn vị của Quốc dân đảng chiếm đóng Bắc Kỳ và sắp lật đổ Chính phủ Cộng hòa Nhân dân.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2017, 09:51:16 PM

Tình trạng thật rối ren! Trước khi đế quốc mặt trời mọc sụp đổ, các “nước lớn” đã quyết định lực lượng quân Anh sẽ đến Nam Kỳ “giải giáp” quân đội Nhật. Họ đã tiến hành một cách hợp pháp vừa tạo điều kiện lập lại chính quyền Pháp. Ở Bắc Kỳ, quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng được giao đảm nhiệm công việc ấy. Nhưng họ dự định không ra đi nữa. Họ có chỗ dựa Roosevelt, vốn không muốn có một Đông Dương thuộc Pháp nữa: đối với ông này, Đông Dương trực tiếp hoặc gián tiếp phải trở về Trung Hoa Quốc dân đảng.

Nhưng Hồ Chí Minh người cộng sản quá nhanh chân. Từ khu du kích vùng Cao Bằng ông đã nhảy về Hà Nội trước khi các sư đoàn “con trời” chỉ mới bước vào châu thổ Bắc Kỳ. Khi họ đến nơi cùng những người Annam “hợp tác” của họ - những thành viên Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân đảng, liên minh với Trung Hoa Quốc dân đảng - thì đã quá chậm: Việt Minh đã nắm chính quyền.

Sự lộn xộn thật phi thường. Thậm chí không phải một đội quân chính quy vào Bắc Kỳ: đấy là lũ hung bạo của Lư Hán, chúa tể chiến tranh của Vân Nam, tỉnh xưa kia như một bậc cao hai nghìn mét, giữa Hi Mã Lạp Sơn và đại dương. Nhân dân gọi Lư Hán là Con Báo Đen. Ông ta bắt đầu cuộc sống bằng trộm cướp. Bao nhiêu mưu mẹo và cứng rắn để trở thành tỉnh trưởng đáng sợ của Vân Nam, nhà độc tài tuyệt đối từ lâu độc lập đối với Tưởng và với tất cả! Ông ta bóc lột lãnh thổ của mình theo lối cổ, không đếm xỉa gì đến luật pháp và mạng sống. Tài sản của ông ta vô bờ. Nhưng con người sơn cước này tham lam nhìn xuống dưới, về đồng bằng, về Bắc Kỳ người đông như kiến; và bây giờ, những vùng ấy dâng hiến cho ông ta!

Một cuộc cướp bóc khổng lồ. Người của Lư Hán đi chân đất, trơ trụi, khổ sở, thành hàng dài vô tận. Họ tỏa ra khắp nơi như lũ sâu bọ phá hoại, không để lại cho các nhà kể cả cái đấm cửa. Chưa bao giờ có cuộc trấn lột hệ thống như thế. Binh lính, sĩ quan vỗ béo mình, nhưng lòng tham của họ không thỏa mãn.

Chính lòng tham lam ấy trước hết cứu Hồ Chí Minh. Thay vì thanh toán ông, chúng bảo: “Cho chúng tôi vàng”. Việt Minh chồng chất lên dân chúng những “khoản thuế yêu nước” để trả cho Lư Hán. Đầu năm 1946 Hồ Chí Minh và nhân dân ông đã kiệt quệ. Hơn một triệu nông dân vùng châu thổ chết đói. Nhận thấy Hồ Chí Minh không có lợi nữa, những người Trung Hoa chuẩn bị cho ám sát ông; họ quyết định thủ tiêu Việt Minh. Lúc đó mặc dù căm hận, Việt Minh cầu cứu người Pháp.

Kế hoạch thành công hoàn hảo. Ở Hải Phòng tàu của Leclerc được quân lính Lư Hán đón tiếp bằng ca nông; họ chống lại và giết chết mấy trăm người. Người Pháp đổ bộ lên và sau vài tuần lễ “mua chuộc” người Trung Hoa để họ ra đi. Cuộc mặc cả tiến hành thuận lợi nhờ một sự kiện bất ngờ nhưng hoàn toàn nằm trong truyền thống của Châu Á.

Vì tướng Lư Hán ghê gớm - kẻ đa nghi nhất trong các chúa tể chiến tranh - là nạn nhân của một sự bất chính khôn khéo của Tưởng Giới Thạch. Chính Tưởng đưa sự giàu có của Bắc Kỳ ra nhử mồi ông ta, đã bảo ông: “Hãy đưa quân sang Hà Nội. Tôi giao trách nhiệm cho chính ông và quân đội ông nhiệm vụ cao cả mà nước Trung Hoa đảm đương”. Lư Hán tuy rất khôn ngoan, cũng không cưỡng được lòng ham muốn: ông cử các lữ đoàn của ông vào vùng châu thổ. Những trong lúc các lực lượng Vân Nam xa cơ sở, bận vào việc vơ vét ở Bắc Kỳ, viên Tổng tư lệnh - Tưởng Giới Thạch - cho hai sư đoàn trung thành nhất của mình đột ngột vào Vân Nam không bố phòng, dễ dàng chiếm lấy vùng lãnh thổ của Lư Hán.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2017, 09:52:02 PM

Tưởng Giới Thạch chỉ còn rũ bỏ vĩnh viễn các đội quân Vân Nam đầy vàng nhưng mắc bẫy ở Bắc Kỳ. Đúng lúc Bát lộ quân cộng sản - của Lâm Bưu, Napoléon đỏ - tấn công mạnh vào Mãn Châu Lý. Viên tổng tư lệnh cho chất binh lính Vân Nam lên những chiếc tàu cũ ở Hải Phòng; mấy tuần sau họ được đưa đến cách mấy nghìn cây số, gần Moukden, trên vùng đồng bằng bao la và băng giá; ở đấy hầu như họ bị nhấn chìm ngay bởi những tấn công của cộng sản.

Ở Bắc Kỳ không còn người Trung Hoa nữa. Trở ngại của “con trời” được gạt bỏ đối với Việt Minh cũng như với Pháp. Quân Pháp để cho cảnh sát của Hồ Chí Minh tiêu diệt hết những kẻ bảo vệ Trung Hoa - những băng nhóm Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân đảng họ đưa về từ Vân Nam về để đưa lên cầm quyền và đã bỏ rơi khi họ rút lui.

Đội quân viễn chinh không can thiệp những cuộc tàn sát ấy. Chắc chắn người của Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân đảng đã tỏ ra độc ác và thù ghét người Pháp hơn Việt Minh. Và rồi vấn đề duy nhất, hơn bao giờ hết là thỏa thuận với Hồ Chí Minh và nhân dân của ông.

Pháp và Việt Minh đối mặt nhau ở Bắc Kỳ. Giờ tỏ rõ sự thật sắp điểm: người ta sẽ biết chế độ nhân dân và những kẻ thực dân cũ có cùng tồn tại với nhau không.

Người Pháp còn hy vọng vì họ không biết lòng căm thù theo quan điểm của Mao Trạch Đông mà Hồ Chí Minh vận dụng toàn bộ là như thế nào: một sự kinh tởm siêu hình đối với cái xấu mà hình thể tối cao là chủ nghĩa đế quốc. Những gì nhắc lại sự thống trị của người nước ngoài, nhất là người da trắng, không bao giờ hết tồi tệ, bị trừng phạt và đền tội đủ...

Chủ nghĩa cộng sản da vàng là sự trả thù quyết liệt của tính kiêu hãnh. Họ sáng tạo ra một khoa học hiện đại về bài ngoại. Căm thù chốc lát không đủ, phải học căm thù, dạy cho mình, cho quần chúng hàng ngày hàng giờ vô cùng tỉ mỉ về lòng căm thù. Toàn thể nhân dân phải đoàn kết trong tinh thần căng thẳng trả thù, không có tình cảm nào khác.

Đối với Việt Minh, ý tưởng đơn giản nhất về một “thỏa thuận” thực lòng với người Pháp là không thể hình dung nổi. Những người này đã đóng vai trò của mình. Họ đã làm cho người Trung Hoa ra đi, bây giờ đến lượt họ phải đi. Tổng bộ - ban chỉ huy tối cao - phân tích tình hình và quyết định “giải pháp đúng đắn” là tiến hành nhẹ nhàng, cử ông Hồ Chí Minh thuyết phục người Pháp, bắt nhượng bộ nhiều đến nỗi sự có mặt của họ bị tước hết những phần chủ yếu; để sau này dễ dàng đuổi họ đi hoàn toàn.

Đến lúc đó, với một nghệ thuật vô song Hồ Chí Minh hoàn thành đóng nhân vật “Bác Hồ”, con người phúc hậu hình dáng trí thức truyền thống nhưng tinh thần bốc lửa, cao quý và hào hiệp. Con người kỳ lạ nhất trong những người cộng sản Châu Á đã làm cho hầu khắp thế giới tưởng lầm ông không phải cộng sản: vậy phải đưa lại cho ông những gì ông muốn.

Không may xung quanh những chiếc bàn xanh, trong những cuộc hội nghị ở Đà Lạt và Fontainebleau, những người Pháp và Việt Minh nhận ra những từ họ cùng dùng - tự do, dân chủ, liên hiệp - có những ý nghĩa trái ngược nhau, người Pháp nghĩ thiết lập một quốc gia Việt Nam nhân dân, có xu hướng xã hội, chặt chẽ, gắn liền với một nước Pháp không là thống trị nữa mà là cố vấn thân tình. Họ chưa chấp nhận cho độc lập mà đề nghị liên hiệp. Việt Minh đòi hỏi trước hết là chủ quyền và họ muốn một nước Việt Nam đỏ, trên cơ sở “quy chế dân chủ” của nhân dân.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2017, 09:52:39 PM

Cuộc tranh chấp căng thẳng. Người Pháp đề phòng, thành lập nước Cộng hòa tự trị Nam Kỳ ở Sài Gòn với những chức sắc lớn da vàng. Không hoàn toàn là một sự vô lý và giả tạo. Xứ Nam Kỳ có nhiều tư sản và thành phần quốc gia hơn cộng sản; ở đó nền văn minh Pháp đã dành chỗ cho những lề thói Khổng Tử cũ; nhất là người Nam Kỳ giàu có và lười biếng trong địa đàng ngoại lai của họ, sợ những người Bắc Kỳ quá đông, trong cuộc sống làm lụng vất vả trên vùng châu thổ nghèo nàn, làm cho họ quyết liệt và chi phối nguy hiểm.

Tuy thế khi người Pháp khai thác những nỗi lo sợ và ẩn ý ấy của người Nam Kỳ, họ hoàn toàn làm tổn thương tinh thần yêu nước Việt Nam. Từ ngữ “nước Việt Nam thống nhất” luôn ở cửa miệng cùng với từ độc lập. Việt Minh tích cực phát động quần chúng chống sự chia cắt đất nước ấy; họ tổ chức kháng chiến trong toàn Nam Kỳ do người Pháp nắm giữ: ở đây người ta chém giết khắp nơi.

Mặc dù tình hình Đông Dương tồi tệ đi, Hồ Chí Minh vẫn không từ bỏ tác động dư luận Pháp. Ngược lại ông dùng cây gậy người hành hương. Trong lúc các phái đoàn Pháp và Việt Minh đối đầu nhau ở Fontainebleau, ông vượt sông biển đem tình thân mến đến cho nhân dân nước Pháp. Thật là một chiến dịch “khẳng định” thần kỳ. Anh “bồi buồng” cũ của tàu chở khách D’Artagnan đến nói chuyện với phụ nữ, trẻ con Pháp. Ông nói những câu rất đơn giản, với những từ cảm động thiết tha hòa bình của ông. Ông nhắc lại với các bà mẹ không nên để con trai họ chết vô ích trên đồng ruộng. Những người đàn ông, đàn bà của Việt Nam phải chăng không có quyền tự do?

Trong chuyến đi, Hồ Chí Minh được Chính phủ Pháp tiếp đón với những vinh dự như với một nguyên thủ quốc gia. Ông đi xe, có những đội mô tô tháp tùng, đến đặt một vòng hoa ở Đài Chiến thắng.

Tuy thế, người Pháp không nhường bước. Điều đó dẫn đến sự cắt đứt. Lúc đó, khi mọi việc xem như đã xong, Hồ Chí Minh một đêm, trên đầu bàn ở nhà Marius Moutet, ký một thỏa ước - không giải quyết được gì nhưng qua đó, ít nhất cũng tránh được sự tranh chấp và chiến tranh công khai.

Thực tế, bí mật Hồ Chí Minh bắt đầu. Người ta không bao giờ biết cử chỉ đột ngột của Bác Hồ, một mình ký tắt một mảnh giấy, là cố thử vô vọng cứu lấy hòa bình hay bước đầu chuẩn bị một lễ Thánh Barthélémy lớn cho người da trắng.

Còn hơn trước đây, Sainteny tin chắc vào sự “thành thật” của Hồ Chí Minh, bị Việt Minh của ông, những người Pháp, những người cực đoan dồn đến bước đường cùng và dựa vào uy tín lớn lao của mình trên cán cân, mạo hiểm những sáng kiến táo bạo của mình để máu khỏi chảy.

Nhưng đấy có phải là ý đồ thực sự của ông già không? Người ta cũng rất có thể nhìn ông với những sắc màu ngược lại. Ông có thể là người thực tế không lay chuyển, nhận thấy không thể đạt mục đích bằng thương lượng với người Pháp đã kết luận chỉ còn một cách: loại bỏ những người da trắng, tổ chức cuộc chống trả khắp nơi trong điều kiện có thể, trước hết là ở Hà Nội và Bắc Kỳ.

Một cuộc chiến như vậy cần tổ chức tỉ mỉ. Một đòn táo bạo - dứt khoát hoặc tăng gấp đôi - phải làm cho tất cả những người Pháp bị thủ tiêu bất ngờ. Trước khi chết họ cần có lòng tin. Và Hồ Chí Minh, với sự thỏa thuận lịch sự, tạo thời gian cần thiết thực thi giải pháp, hơn nữa ông trấn an nạn nhân tương lai để giao họ vô tư cho đao phủ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2017, 09:53:31 PM

Mùa hè và mùa thu năm 1946 ở Bắc Kỳ rất lạ lùng. Cơn sốt nổi lên. Đấy là đêm quyết định. Đội quân viễn chinh ở chỗ nào cũng như bị bao vây bởi dân chúng, loa của các uỷ viên chính trị, quân du kích và những đám đông. Người ta cày xới đất, đào hầm, dựng chướng ngại vật xung quanh từng vị trí của người Pháp. Người Pháp ẩn nấp sau chướng ngại vật và súng đại liên. Đôi khi sức ép của dân chúng quá lớn, họ tung ra những đòn nặng - tấn công những người Việt bao vây họ, chiếm hoàn toàn những thành phố như Hải Phòng, Lạng Sơn v.v... Nhưng sau đó quân lính canh gác Pháp biến mất: họ bị bắt cóc và xử tử.

Trong không khí ngạt thở ấy, Sainteny đấu tranh dữ dội ở Hà Nội vì hòa bình. Nhiệm vụ khó khăn! Vì ông phải chống lại các chỉ huy Đội quân viễn chinh, các đại tá, các tướng đã nói với ông: “Chỉ còn lại sức mạnh thôi. Nếu chúng ta không đè nát Việt Minh bây giờ thì họ sẽ tiêu diệt hết chúng ta”. Ông khó làm cho họ nghe theo mình; hơn nữa làm sao phản bác một số biện pháp an toàn mà không gánh những trách nhiệm ghê gớm? Tình huống thật tai hại.

Sainteny nhìn Hồ Chí Minh như một đồng minh: phải chăng ông Hồ cũng đấu tranh với những người cuồng tín của ông, những người “cứng rắn”, những thành viên của cuộc chiến tranh như ông Giáp? Hai người trở thành bạn thân. Thấy rõ gần như hàng ngày họ cư xử với nhau như họ chiến đấu cho cùng một lợi ích - Hoà bình, trước mọi đe dọa, mọi sức ép, mọi định mệnh. Không người nào từ bỏ mặt trận của mình mà ngược lại. Nhưng họ hoạt động với tư cách đối thủ trung thực, “tự giải thích” để tránh thảm họa.

Cả trong tháng chạp năm 1946 Sainteny còn tin tưởng vào thực tâm của cá nhân Hồ Chí Minh. Tuy vậy quan hệ của ông thưa dần. Hà Nội đã căng thẳng tột độ. Không thể im lặng trước mức độ quan trọng của những chuẩn bị quân sự của Việt Minh.

Trong những trường hợp ấy binh lính Pháp ở Hà Nội tỏ ra dũng cảm. Nhận được lệnh chịu đựng thay vì chống trả, họ nhận những lời chửi rủa, đe dọa, tất cả những hành động khiêu khích. Họ chỉ phản ứng vừa phải cả những khi bạn họ bị bắt đi hoặc bị thương, nhằm tránh sai lầm không sửa chữa được.

Nhưng lúc đó ai tưởng tượng được “việc không sửa chữa được” ấy biến thành một cuộc diệt chủng, một trong những cạm bẫy ghê gớm ở thời hiện đại? Người ta đã không cảm nhận được điều đó.

Đêm 19 tháng chạp 1946, hàng chục nghìn Việt Minh quân lính đỏ, cán bộ chính trị, du kích, cảnh sát, đủ loại đàn ông, đàn bà, trẻ em - bắt đầu tiêu diệt người Pháp. Đấy là việc ám sát, tấn công có hệ thống, thục hiện theo một mệnh lệnh chiến đấu chuẩn bị đã nhiều tuần và chứa đựng trong hàng trăm chỉ thị. Tất cả những người da trắng phải thanh toán hết nhưng có một chương về phương pháp thực hiện theo từng đường phố, từng nhà.

Nỗi kinh hoàng tuyệt đối. Hơn thế còn là một sự tỉ mỉ. Tất cả đã được dự kiến. Và bản thân Sainteny cũng bị tổn thương - con người thân thiết của Hồ Chí Minh! Nhưng điều này có nằm trong kế hoạch không?

Sainteny không bao giờ muốn tin như vậy. Hai ngày trước bi kịch ông đã nhận được một lá thư trấn an của Hồ Chí Minh báo trước việc trở lại thương lượng. Lời lẽ được viết như để “xoa dịu” Sainteny và người Pháp trong lúc người Việt chuẩn bị bóp cổ họ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2017, 09:53:55 PM

Tôi không nói về vai trò của Hồ Chí Minh: ai có thể làm điều ấy? Nhưng làm sao không nhận thấy tất cả những sáng kiến của ông đều là kết quả cụ thể tăng thêm mưu kế khổng lồ? Làm sao không nhớ lại đối với một người cộng sản Châu Á như ông, thắng lợi của mục đích đòi hỏi tất cả, cho phép tất cả.

Dù sao, cuộc chiến đấu không thành công mặc dù tác động bất ngờ. Quân lính Pháp bị tấn công bốn phía đã trụ vững nhiều ngày đêm trong một Hà Nội đầy ác mộng. Không thể kể lại những cuộc hỗn chiến khốc liệt ấy, những trận giáp lá cà ấy trong các nhà, trên đường phố, dưới cống ngầm. Thành phố bốc cháy và người Việt chiến đấu điên cuồng.

Cuối cùng quân chi viện từ Hải Phòng tới. Hà Nội được cứu thoát. Tuy vậy những trận đánh còn kéo dài nhiều tuần. Phải chiếm lại từng “căn nhà” Hoa-Việt - mê lộ thương mại ở ngay sau chiếc hồ nhỏ tuyệt đẹp. Các đường phố gọi là đường hàng Đào, hàng Bông, hàng Buồm. Lính tập kích Pháp dựa vào xe tăng tấn công nhưng quân Việt sử dụng những đường hầm xưa, luôn trở lại. Sau rồi cuộc chiến cũng kết thúc.

Hà Nội còn lại người Pháp. Nhưng đấy chỉ là một thành phố chết, ngổn ngang đổ nát và hầu như cư dân bỏ đi hết.

Nhất là “giải pháp tàn sát” - người Việt nhằm loại bỏ vĩnh viễn nước Pháp ra khỏi Đông Dương - đã thất bại. Hồ Chí Minh không đạt được gì dứt khoát do thương lượng, hoà hoãn hoặc do cuộc cố gắng ám sát tập thể này. Người Pháp vẫn luôn bám trụ ở Đông Dương: chỉ có cuộc chiến tranh cho phép loại bỏ họ.

Hồ Chí Minh không ngần ngại. “Đòn đánh Hà Nội” vừa thất bại, ông ra đi - để đánh lạc hướng cuộc rút lui của ông, cảnh sát nhân dân đánh nhau trong khu Hoa - Việt. Ông thoát về phía nam châu thổ, theo đường sông Đáy và vùng núi Chi Nê. Đúng lúc một đội tuần tra Pháp suýt bắt được ông. Thoát được rồi, ông ngược theo sông Hồng vòng qua châu thổ và bố trí ở trên biên giới Trung Quốc trong núi rừng Cao Bằng, Bắc Kạn và Thái Nguyên - vùng đỏ truyền thống trước đây từ đó ông tiến về Hà Nội và bây giờ ông trở lại trong thiếu thốn. Nhưng không phải chỉ để ẩn náu; chủ yếu để từ đây lãnh đạo cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn sẽ bắt đầu.

Từ nay Việt Minh khẳng định cuộc đối đầu bằng vũ khí. Họ muốn nâng cao lòng căm thù không dứt, theo nguyên tắc chỉ có một “cuộc chiến tranh lâu dài” mới đưa lại chiến thắng cho nhân dân. Họ biết sẽ là một cuộc thử thách ghê gớm gần như vượt khỏi sức lực con người. Nhưng vừa tập dượt dân chúng, trong những hy sinh hầu như không tưởng tượng được mà khuất phục được họ, tạo thành một dân tộc Đỏ có khả năng chiến thắng một đoàn quân thật sự. Về lâu dài, sau nhiều năm, lớp bình dân được trau dồi chính trị với tinh thần lăn lộn kinh hoàng và hoan hỉ, sẽ khép lại như một làn sóng triều và nhấn chìm những người Pháp.

Thời kỳ những người có thiện chí đã kết thúc. Sau một lần thử hòa giải cuối cùng do giáo sư Mus dẫn đầu, những người làm như thế nào. Lúc đầu họ mở một đợt tấn công lớn rồi họ để kéo lê thê. Về phía mình, Việt Minh trước tiên thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, phó thác cho ngọn lửa tất cả những nơi họ phải chuyển đi.

Tôi đã tới trong xứ sở Đông Dương ấy, một Đông Dương mà những người Pháp “cũ” và “mới” đều thất bại tuy họ đã hầu như giải hòa với nhau. Với một nghịch lý lạ lùng, từ nay tất cả đều như thỏa mãn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Một, 2017, 09:47:32 PM

Máu trên đường số 4

Đông Dương nhấn sâu vào chiến tranh như trong một sự lãng quên. Trên thế giới người ta không nói đến nữa.

Nhưng với tôi là một cuộc khám phá trong lòng một thế giới bất động đổ máu mà người ta gọi là “cuộc chiến tranh thoải mái”. Dần dần tôi phát hiện ra những yếu tố lạ lùng của sự cân bằng của người Pháp và người Annam. Tháng này qua tháng khác, ngày này qua ngày khác họ sống trong lề thói đã quen của đồng bạc và giết chóc.

Tình trạng trì trệ ấy không xảy ra ngay sau ngày mồng 9 tháng chạp năm 1946. Việt Minh đã không thành công trong cuộc chiến đấu. Đến lượt mình người Pháp thử một cuộc đánh lớn. Họ muốn dùng lực lượng quân sự trong mấy ngày tiêu diệt vĩnh viễn Hồ Chí Minh và quân du kích của ông. Một cuộc hành quân đồ sộ. Việc này cũng thất bại.

Đây phải là một cuộc săn đuổi thắng lợi. Người ta sẽ “tóm gọn” Hồ Chí Minh tại góc ẩn náu, trên biên giới Trung Hoa, nơi ông Hồ chỉ có xung quanh mình vài nghìn người sốt rét và thiếu vũ khí.

Điều này suýt thành công. Để tiêu diệt Việt Minh, bộ chỉ huy Pháp đã có một cố gắng khổng lồ. Họ tập hợp mọi lực lượng tập kích huy động được, mọi khí tài đã đưa ra trong cuộc chiến tranh ở Italia. Đây là một cuộc hành quân phối hợp chuẩn bị theo mọi quy tắc của các ban tham mưu. Quân nhảy dù phải được thả xuống Bắc Kạn, một thị xã nghèo rừng nhiệt đới thưa thớt, là trung tâm chỉ huy của Hồ Chí Minh. Ngay sau đó hai đoàn quân ào tới tiếp nối, đoàn xe bọc thép theo đường số 4, đoàn tàu chiến theo sông Đáy tiến lên.

Quân viễn chinh bắt đầu trong niềm hân hoan, chắc chắn sẽ “chấm dứt với người Việt”, về kỹ thuật nó gần như hoàn hảo. Nhưng tàu chiến không tiến lên được. Đội lính dù thả xuống Bắc Kạn với mệnh lệnh bằng mọi giá tóm lấy Hồ Chí Minh sống hoặc chết, chậm mất gần một tiếng đồng hồ. Vì giờ ấy mà cuộc chiến tranh Đông Dương tiếp tục, dần dần trở thành một bi kịch không tránh được.

Từ đó vấn đề bắt Hồ Chí Minh không được đặt ra. Về sau ông sẽ là một con người bí mật, không bao giờ người Pháp dò tìm được. Ông biến sâu vào rừng núi đến nỗi có những lúc Phòng Nhì tưởng ông đã chết. Việc đảm bảo an toàn cho ông người Pháp không tưởng tượng nổi. Ông di chuyển, thay đổi chỗ ở hàng đêm, có một tiểu đoàn đầy đủ bảo vệ. Ông được bao bọc bởi một bức tường bí mật. Cả những tướng tá, bộ trưởng cũng không biết ông ở đâu.

Hồ Chí Minh thoát, cuộc chiến tranh xoay về chiều hướng xấu. Đội quân viễn chinh cảm nhận sự thật tàn nhẫn của quy luật lớn đầu tiên của cuộc chiến tranh Đông Dương: mọi mưu đồ không hoàn toàn thành công dẫn đến thảm họa.

Đây là một sự phát triển mà bộ chỉ huy Pháp đã không dự kiến và lặp lại trong mọi mặt trận sau này. Một loại quy tắc, bao giờ cũng thế. Người ta tiến đánh, chẳng gặp ai thế nhưng tình hình trở nên không chịu nổi. Chống lại hàng ngũ bộ binh và quân nhảy dù của Pháp, Việt Minh sáng tạo những chiến thuật không làm sao được. Trước hết là vườn không nhà trống, không nắm bắt được và không có gì. Tuần lễ này tiếp theo tuần lễ khác, núi rừng trở thành đồng loã với quân địch, người Pháp không dám mạo hiểm vào. Họ bố trí trên bờ đường, trong các đồn bốt, những chỗ dễ dàng. Sau một, hai tháng, quân lính ma của Hồ Chí Minh tái xuất hiện để tấn công. Những cuộc phục kích các đoàn xe, tấn công đồn bốt trú quân bao giờ cũng liền hơn, giết hại nhiều hơn, tổ chức tốt hơn. Cuộc chiến tranh du kích quy mô.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Một, 2017, 09:48:08 PM

Đấy là điều xảy ra trên đường số 4. Máu của quân Pháp không ngừng chảy nữa ở đấy. Máu chảy càng luôn luôn nhiều hơn cho đến thảm họa đầu tiên của cuộc chiến tranh Đông Dương vào mùa thu năm 1950.

Quân lính hớn hở ra đi để bắt chộp Hồ Chí Minh chỉ cần mấy ngày thậm chí mấy giờ để hiểu việc ào ạt tiến trên đường số 4 là bước đầu của cuộc phiêu lưu tai họa.

Sau này một người trong bọn họ kể lại với tôi những linh cảm của anh:

- Tôi hài lòng được chỉ định tham gia đoàn quân tiến theo đường số 4. Tôi chỉ huy một chiếc xe gắn đại liên, mọi người đều tin tưởng. Làm sao Việt Minh có thể kháng cự với một lượng lớn người và xe cộ như vậy? Chỉ huy chúng tôi là đại tá Beaufre, một niềm hy vọng của quân đội Pháp. Ông có khuôn mặt tái xanh, người gầy, đôi mắt xanh rất nghiêm. Ông cho chuẩn bị một chiếc xe chỉ huy có phòng khách rất đẹp. Việc hành quân của chúng tôi thật lạ, quá dễ dàng, không có một phát súng; thế mà quân địch vô hình có mặt khắp nơi. Họ chỉ làm công tác phá hoại. Chúng tôi tiến lên qua những chiếc cầu sụp đổ, những đống gạch đá ngổn ngang. Chúng tôi đếm được một trăm hai mươi lăm chỗ đào cắt mặt đường, có những chỗ như “phím đàn dương cầm”, có những chỗ như “ổ gà”. Rừng rậm vẫn y nguyên nhưng tất cả các xóm làng bốc cháy. Chúng tôi không trông thấy một kẻ địch, một người dân cũng không.

Cuối cùng chúng tôi đến một Cao Bằng đổ nát đang bốc khói và cháy đen. Đại tá Beaufre ngự trị trên một thị xã chết, thảo ngay một nhật lệnh chiến thắng. Chúng tôi buồn bã bố trí quân trên chỗ đất không người này. Chúng tôi không có gì hết ngoài xăng và một số hộp khẩu phần. Tối đến quân lính đốt cháy giẻ rách tẩm dầu để sưởi ấm. Người bạn thân nhất của tôi, bị giết sau đó, thì thầm với tôi: “Chỗ này thật đáng sợ, may mà mọi việc xảy ra tốt đẹp.” Chúng tôi an ủi nhau để vững tâm. Không tự dối mình được, chúng tôi đã thấy lo lắng. Người nào cũng cảm nhận bị rơi xuống đáy cạm bẫy. Mấy ngày sau cuộc phục kích đầu tiên giết chết những người đầu tiên của con đường số 4. Một năm đã qua. Thậm chí người ta không đếm được số người chết.

Ở Đông Dương năm 1948 hàng nhiêu nghìn người bám vào con đường số 4 ấy. Cuộc chiến tranh của họ là bảo đảm cho những đoàn xe đi giứa những bẫy phục kích khổng lồ. Chiến dịch Tia chớp của đại tá Beaufre trở thành một tình trạng phục dịch ghê gốrm mỗi tháng tiêu tốn hàng tỷ, chữ thập trắng chất đầy các nghĩa trang ở Cao Bằng và Lạng Sơn.

Đường số 4 là một áp-xe mưng máu nhưng ở Sài Gòn, Hà Nội lệnh là quên nó đi. Người ta hoàn toàn quên được. Những người khởi xướng cuộc hành quân (Valluy, Beaufre) đã trở về Pháp.

Đông Dương có một cao uỷ mới và một tổng tư lệnh mới điều hành. Con đường chết chóc mỗi lúc càng là một việc của bên kia thế giới, xa các châu thổ, dân chúng, lợi ích kinh tế chính quyền, xa tất cả. Đấy là trong lòng cuộc chiến tranh Đông Dương không được biết đến, một cuộc chiến tranh riêng, còn không được biết đến hơn. Những toán quân đánh nhau ở đấy chuyên nghiệp hơn cả, để không nói là lính đánh thuê hơn cả của Đội quân viễn chinh: những người lính lê dương có thể chết ít phiền phức nhất.

Tuy vậy luận thuyết đã thay đổi ở cấp cao. Các quan chức không tin có thể đè bẹp Việt Minh bằng vũ lực nữa. Giải pháp mới là bình định. Nhưng - một vấn đề nghiêm trọng và nặng nề về phân giải trách nhiệm trong cuộc chiến tranh Đông Dương - tại sao người ta không rút khỏi đường số 4? Mọi người đều nói về việc đó nhưng không bao giờ làm vì tính chất bảo thủ cố hữu trong quân đội Pháp, họ không có khả năng quyết định. Trong đó cũng có tính tự kiêu quân sự, định kiến chủng tộc, vấn đề uy tín. Mỗi lần nói đến một cuộc rút lui, có ai đó kết luận trong các ban tham mưu:

- Đội quân viễn chinh không thể lùi bước trước những người da vàng khốn khổ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Một, 2017, 09:48:43 PM

Tuy thế người ta biết cuộc chiến tranh trên đường số 4 là một dị thuyết trái với những nguyên tắc sơ đẳng của chiến lược. Đường 4 thậm chí không nối liền với châu thổ Bắc Kỳ. Đây là một loại nhánh nhỏ riêng biệt, phải tiếp tế theo đường biển qua những khối đá tuyệt đẹp của vịnh Hạ Long - Mặc dù vậy nó trở thành một cơ sở, là vùng tác chiến của Bắc Kỳ với ban tham mưu ở Lạng Sơn.

Vùng tác chiến thu gọn lại là một “con đường - án ngữ” là con đường mà thậm chí người ta không làm chủ cả những bờ dốc. Thế nhưng dải băng tạm bợ ấy bằng đất nện sơ sài đi sâu ba trăm cây số vào nội địa Châu Á song song với biên giới Trung Quốc. Đi từ Móng Cái và vũng bùn Tiên Yên, con đường vào sâu trong vùng hoang dã ngổn ngang rừng núi kém khai thác. Chẳng có gì để hỗ trợ cho con đường ấy; như một cuống hoa; có ai đó đã ví nó như một sợi dây của thầy phù thủy lơ lửng trên không.

Con đường ấy, cuống hoa, sợi dây - như người ta muốn thế mà đi vào giữa đất nước địch. Đường số 4 thu nhỏ lại giữa hai khối khổng lồ. Về phía bắc, nước Trung Hoa chưa chính thức đỏ nhưng đã ruỗng nát vì du kích đỏ đến tận biên giới Bắc Kỳ. Phía nam, cái người ta gọi là “tứ giác” Việt Minh - một vùng phún xuất đá vôi mà những lòng chảo dùng làm căn cứ cho quân đội của Hồ Chí Minh. Các toán quân Trung Quốc và những đơn vị Việt đã cùng hành quân tay trong tay. Về nguyên tắc đường 4 chia cắt họ ra: chính họ phải đập nát con đường này.

Để tự biện minh, Bộ chỉ huy dù sao cũng có một lý luận dưới danh nghĩa “bịt lối đi”. Đường số 4 phải dùng “khóa chặt” biên giới, chia cắt Việt Minh với người Trung Hoa. Thực ra đây là chỗ qua lại và chính Việt Minh và người Trung Hoa liên minh đã “khóa chặt” người Pháp.

Mạo hiểm thật lớn và vô ích. Người Pháp không hề bóp ngạt được Hồ Chí Minh, thậm chí không làm ông phiền phức gì. Việt Minh hoàn toàn yên ổn trong “tứ giác” không xâm phạm được của họ vốn được tổ chức có phương pháp. Hồ Chí Minh tự lập cho mình tỉ mỉ, vững vàng một đảng cứng rắn - một Đảng Cộng sản trong sạch - và một quân đội nhân dân tác chiến. Kỹ thuật viên của Mao Trạch Đông đi qua những vùng thuộc Quốc dân đảng sang giúp ông. Cũng từ Trung Hoa đưa sang mọi loại hàng lậu, đặc biệt là vũ khí và đạn dược.

Nhưng chính từ phía nam, từ châu thổ Bắc Kỳ không đến một trăm cây số, những thứ thiết yếu được đưa đến: lúa gạo ở đồng bằng, những đồng bạc thu nhặt trong các thành phố Pháp chiếm đóng và nhất là dân quê đi lính. Hàng hóa và lính nhập ngũ đi dưới sự nguỵ trang tự nhiên của rừng dày, theo những đường mòn vô tận thành từng đoàn người lặng lẽ.

Chẳng bao lâu Hồ Chí Minh có một đội quân chiến đấu mười trung đoàn vững chắc, trang bị vũ khí đầy đủ, cuồng nhiệt. Rừng thưa giấu kín những thủ đô di chuyển, những bộ, những ban tham mưu không cố định. Ở đấy cũng có những doanh trại, trường quân sự, xưởng đúc vũ khí, các xí nghiệp, kho tàng, nhà in. Tất cả những cơ sở ấy tháo rời được, ít nhiều bằng tre. Khu rừng rậm ấy của: “tứ giác” nhìn trên máy bay thì hoang vắng; nhưng bên dưới che giấu bao nhiêu thứ.

Người Pháp được báo tin đầy đủ. Nhưng họ để bi kịch đường 4 tiếp tục, để bão tố Việt Minh dồn đống lại. Những báo cáo của Phòng Nhì mô tả khá kỹ mối nguy cơ của tình hình, dự kiến những gì sẽ đến. Tuy nhiên những nhà quân sự ở các ban tham mưu lớn được thông báo, có biết nhưng không tin những gì được nêu ra. Năng khiếu “không tin” của Bộ chỉ huy đúng là không thể tin được.

Vấn đề di tản sẽ đặt ra trong ba năm. Trong ba năm ấy người Pháp vẫn ở lại trên đường 4. Họ bị đổ máu từng nhóm nhỏ. Và cuối cùng trên biên giới Trung Hoa, trước sự sửng sốt của thế giới sẽ là cuộc tàn sát năm 1950.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười Một, 2017, 07:40:40 AM

Bình định, chiến tranh du kích và sự tàn bạo

Cuộc chiến trên biên giới Trung Hoa đã có thể thắng lợi nếu, trong năm 1947 người Pháp đã như tổ tiên họ trong cuộc chinh phục thuộc địa, vào trong rừng rậm đánh giáp lá cà với quân địch. Nhưng họ kìm hãm việc làm của họ khi đông cứng lại trên đường, là tù nhân của xe cộ, khí tài.

Người Pháp không có can đảm đối mặt với người Việt trong rừng. Các ban tham mưu thì không dám công nhận cuộc phiêu lưu thất bại. Vậy là cứ tiếp tục - hơn nữa đối với Bộ chỉ huy việc đó không còn quan trọng. Vì con đường số 4 và “tứ giác” Việt Minh là gì so với phần còn lại của một xứ sở Đông Dương rộng lớn hơn nước Pháp và đang trên đà quy phục? Ý tưởng mới là việc bình định.

Người Pháp tiến hành việc đó năm 1948 do không thể dàn hàng ngang đánh Việt Minh. Luận thuyết lớn từ nay là để Hồ Chí Minh trong mảnh rừng rậm của ông và lấy hết phần còn lại, lấy của ông đất nước và người. Khi Việt Minh không còn đất đai phì nhiêu và dân cư đông đúc, họ sẽ bị tan nát hơn vì thất bại quân sự. Họ không thể tồn tại nữa. Quân lính của Hồ Chí Minh lúc đó sẽ chết vì đói và lẻ loi trên biên giới Trung Hoa.

Ở Đông Dương, người Việt, ngoài chốn ẩn náu ở vùng cao Bắc Kỳ chỉ có hai vệt đỏ, hai vùng nội địa dọc bờ biển Annam hoàn toàn thuộc về mình: vùng Vinh và Thanh Hóa, vùng Quảng Ngãi và Qui Nhơn. Nhưng Hồ Chí Minh chỉ có ở đó ba triệu người và nguồn lúa gạo, muối nghèo nàn.

Ván bài vậy là Đông Dương do Pháp chiếm đóng. Trên một diện tích bao la, dưới bóng ngọn cờ tam tài tiến triển cuộc đấu tranh quyết liệt giữa công cuộc Bình định và công cuộc Kháng chiến thứ yếu. Người Pháp đưa ra đủ phương pháp của họ, Việt Minh theo cách của mình, nhằm tác động và nắm lấy dân chúng. Hai nền văn minh xen kẽ, quyện vào nhau được vận dụng trong một trận đánh tổng thể. Người Pháp dựa vào những vật chất cụ thể, xã hội hợp pháp, đã được thiết lập. Người Việt phần lớn ở mặt sau dựa vào những gì ẩn náu. Hai bên kêu gọi lương tri đối ngược nhau của con người, người Pháp đem đến cuộc sống thường ngày, sự thịnh vượng, những lợi thế của Phương Tây, người Việt khêu gợi lòng kiêu hãnh, sự nổi dậy. Những người này tạo thuận lợi cho những người giàu, người có tài sản, những người kia hướng về người nghèo. Bên này bên kia, trong sự chèo kéo hai mươi triệu dân quê người ta cũng dùng khủng bố. Dân chúng bị đè nén giữa hai bộ máy khổng lồ.

Trên đường số 4 người Pháp đánh nhau với cộng sản, những người theo mệnh lệnh đỏ. Vả lại ở Đông Dương với việc bình định, trước hết họ chống một cuộc kháng chiến. Những người kháng chiến ấy có Chúa trời là Hồ Chí Minh; họ tôn sùng ông với một nhiệt tình kỳ lạ. Nhưng họ ca ngợi Bác Hồ theo một ý tưởng của họ; họ không biết rõ ông - ở Đông Dương đường sá xa cách cản trở việc hiểu biết. Đối với họ, Bác Hồ trước hết là người yêu nước, vị anh hùng đánh đuổi Pháp. Bản thân họ cũng không biết rõ lắm mình có là cộng sản không. Họ tránh nêu lên câu hỏi, thích nói mình là “những người yêu nước”, và Hồ Chí Minh cũng là thế.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười Một, 2017, 07:40:59 AM

Những người kháng chiến ấy không có quân đội thực sự mà là những biệt động đội, những nhóm, những hệ thống tình báo với vô số chi nhánh. Để giết người Pháp họ sống bên cạnh, ăn bám vào người Pháp. Họ vừa săn đuổi và cũng bị săn đuổi. Vì những người Pháp nhờ vào tiền, tuyển mộ những chỉ điểm, quân bảo vệ, binh lính Việt Nam. Những người này rất đông, rất nguy hiểm đối với Việt Minh; cũng phải nhấn chìm họ.

Để giải quyết bao nhiêu quân thù như thế, Việt Minh mặc nhiên phải dùng mưu kế và tàn bạo. Cũng như trong mọi cuộc kháng chiến, có một ham thích giết chóc. Những người kháng chiến không mạnh hơn về sức lực thuần túy. Thậm chí họ không thể tấn công những bốt tre và những đồn cảnh sát Pháp. Giải pháp còn lại là ám sát. Việt Minh chính thức gọi những ban chính trị của họ là “ban ám sát”.

Để thanh toán những kẻ phản bội họ không cần chứng cứ, chỉ nghi ngờ cũng đủ. Một toà án xét xử những người tình nghi và đao phủ hạ sát. Người ta dán trên những xác chết tấm biển “Việt gian” và bản án xét xử có đóng dấu. Thân thể kẻ phản bội bỏ lại trên đường để dân chúng trông thấy và người Pháp tìm được.

Cuộc kháng chiến ấy đổ máu. Những người cộng sản thực thụ - những người của đường số 4 - giết không vì thích thú mà vì cần thiết. Họ phân tích tình hình và kết luận vì lợi ích của đảng đòi hỏi phải ám sát. Nhưng luôn luôn là những kẻ đã xác định rõ. Không có sai sót, tình cờ và nói chung Đảng muốn giáo dục lại các phạm nhân.

Nhưng những người kháng chiến gieo cái chết khá phiêu lưu. Họ làm nổ bom giữa những đám đông người, trong chợ và rạp chiếu bóng. Họ thuê người ném lựu đạn tự làm trong các xưởng, gây ít thiệt hại. Nhưng đôi khi để tấn công, họ sử dụng những lựu đạn khía vuông mua ở Bangkok hoặc Singapore giết cả nhóm người.

Ban đêm là của Việt Minh. Nhưng bình minh lên các đội tuần tra Pháp đi lùng. Họ nhặt được bao nhiêu xác chết! Có những xác găm bảng kết tội nhưng có những xác vô danh trôi theo dòng suối, phình lên như những túi da đựng nước. Đôi khi một con sông đưa những thân người đến; người ta không biết từ đâu, họ là ai và sẽ không bao giờ biết.

Người Pháp cũng tìm thấy xác của người mình. Nhưng có thể gọi đấy là xác người không? Có những lần người Việt dẫn tù nhân của họ, đến cách một đồn bốt Pháp mấy trăm mét: ở đó họ xử tù nhân để đội đồn trú bất lực nghe được tiếng kêu la của nạn nhân.

Chỉ có xác Việt Minh người Pháp không bao giờ phát hiện được. Quân địch luôn mang đi những người chết và bị thương. Mọi dấu vết mất mát của quân đỏ đều bị xóa. Những người Việt Minh chết đưa về các làng xóm trung thành, được tôn vinh kính cẩn: Dân chúng xây mộ cho họ, điểm ngôi sao đỏ. Trong những buổi lễ lớn tiễn đưa, những người sống sót, thoát khỏi những trận đánh hoặc bị giết hụt, thề trả thù.

Cuộc chiến tranh không thương xót. Sự tàn bạo đầy rẫy cả hai phía. Lính da vàng trong Đội quan viễn chinh luôn bị đe dọa vì một cái chết tàn khốc, họ diệt Việt Minh nếu không thỏa thuận được với họ. Cả những người Pháp thường cũng bị tra tấn và giết chết. Người Việt đẩy người Pháp hung dữ quá đà, không biết rằng về mặt tàn bạo, người Pháp vượt hẳn người Việt, vừa có hiệu quả vừa thành thạo hơn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2017, 07:10:43 AM

Cuộc chiến ở các đồn bốt

Trong quá trình bình định, quân đội đóng chốt tại chỗ. Bố trí lực lượng quân sự ở những điểm mạnh cố làm vết dầu loang ra vùng xung quanh, sông suối và rừng núi Việt Minh. Không có những cuộc chiến lớn nhưng có hàng chục, hàng trăm cuộc chiến nhỏ ở địa phương.

Đội quân viễn chinh chiếm đóng đất nước theo một địa dư “cổ xưa” hơn hiện đại.

Những thành phố lớn tập hợp các ban tham mưu, cơ quan dịch vụ và quản lý. Ở đây người ta không đánh nhau mà làm công tác chính trị và kinh doanh. Hiếm có các đội quân, chỉ là những đơn vị dự phòng. Đấy là hậu phương cho dù nhân viên ám sát người Việt rất nhiều. Trước hết là cảnh sát đấu với họ.

Các tỉnh lỵ, thị trấn trung bình và nhỏ là thủ đô của việc bình định. Ở đấy bao giờ cũng có một đại tá, bốn văn phòng của ông này, một hoặc hai tiểu đoàn can thiệp, một quan chức hành chính dân sự luôn bất đồng với bên quân sự. Viên đại tá là một tiểu vương, chỉ huy cuộc chiến tranh của mình, với các đội quân của mình. Để tiến hành một cuộc hành quân ông cho chuẩn bị bản đồ trang trí những mũi tên màu lớn. Rồi những chiếc xe đưa các đơn vị đi đánh nhau, sau mấy ngày thì trở về. Thông thường nếu lực lượng mạnh người ta không tìm thấy quân địch. Nếu không mạnh người ta rơi vào một cuộc phục kích. Có những người chết nhưng cũng có thăng tiến và khen thưởng.

Cuộc chiến tranh ấy thuộc về cổ điển, gần như theo kiểu Châu Âu. Những lực lượng tham gia chủ yếu là Pháp - nghĩa là quân Bắc Phi, Sénégal, lê dương. Họ chiến đấu theo quy luật, bắn chuẩn bị chiến trường, cố bao vây, tấn công địch. Nhưng kết quả hầu như luôn luôn không có gì. Vì không tiêu diệt được Việt Minh nên cần thiết phải bảo vệ tất cả đối với họ, phải giữ những con đường, dân chúng, mùa màng. Vậy là người ta xây dựng nhiều nghìn đồn bốt. Đây là một cuộc chiến tranh mới.

Tôi như bị ám ảnh về bốt, cái bốt muôn thuở. Bao giờ cũng thấy như vậy. Dù được dựng lên bên bờ một con suối, trên một chỏm núi, lần nào cũng là một không gian khép kín, chế ngự bởi một lá cờ tam tài buộc đầu một cây sào. Người ta lại thấy khoanh rào là những cây gỗ tròn thô thiển, đài quan sát như hình thu nhỏ của tháp Eiffel và ở các góc, những lô cốt bằng đá và bằng tre, những hộp cổ sơ trong đó là súng đại liên. Tất cả đều sơ sài. Người ta không dùng xi măng, dây thép gai; ai đòi hỏi những thứ đó bị xem như người điên. Nguyên vật liệu ấy quá đắt; Người ta thay thế bằng những mảng cây gai, những bẫy tre vót nhọn, tôi trong lửa cho cứng.

Trong mỗi bốt, viên đội hoặc cai Pháp bao giờ cũng giống nhau. Người ta thấy ông ta mình trần giữa những binh lính da đen gớm ghiếc với bộ răng bằng vàng giả, và một chiếc khăn tắm quanh cổ. Ở đấy lúc nhúc vợ con những lính bổ sung tạm thời, là tiếng kêu của con gái người Pháp mang theo vào, cũng là bẩn thỉu, nóng nực; kiệt sức dần, rữa nát tại chỗ, thường thân hình có những đám da mưng mủ. Rồi những chai bia, rượu khai vị, ăn uống tốt. Trưởng bốt chấp nhận mọi sự thiếu tiện nghi trừ thiếu thốn cho “cổ họng”. Ông ta kiên trì biến một dân quê ở đồng ruộng thành một anh bếp có kinh nghiệm. Nhưng còn lại là thời gian vô tận, sự cô đơn vô biên. Đồn bốt nối với bên ngoài chỉ bằng chiếc đài nếu có. Và luôn luôn trong tiềm thức đinh ninh có mối nguy hiểm và sự phản bội.

Mỗi trưởng bốt biết nếu bị bắt mình sẽ bị hành quyết ra sao. Ông ta lao vào một cuộc đấu sống chết với cán bộ chính trị của đội du kích gần đấy. Trên toàn bộ Đông Dương, mỗi bốt kèm với một chi đội đỏ. Đôi khi người chỉ huy Pháp và người chỉ huy Việt Minh biết rõ nhau, có lúc trao đổi thư từ với nhau, thỏa thuận những cuộc gặp mặt, những đợt ngưng chiến ngấm ngầm. Nhưng cuối cùng người này phải bóp cổ người kia. Về nguyên tắc không thể chiếm được bốt vì Việt Minh mới chỉ có rất ít súng máy. Người Việt lượn xung quanh trong bóng tối. Trong cuộc chiến sống còn ấy người chiến thắng là kẻ có nhiều mưu kế hơn. Ai bị bất chợt thì sẽ mất mạng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2017, 07:11:11 AM

Chính người Pháp phải giữ gìn hơn cả. Dù trong bầu trời khép kín của bốt mình, họ sống trong một chiếc lồng bằng kính. Những người Việt biết tất cả về họ, quan sát họ trong nhiều tuần lễ, nắm được các thói quen, tính tình, công việc - họ sống giữa những dấu hiệu quy ước chỉ những gì họ làm đang làm mà họ không biết. Đứa bé ở trần ngồi trên lưng con trâu đầm mình trong bùn ruộng bên cạnh, ông già đáng kính thả cần câu bên suối, hương chức trong làng búi tóc lễ phép lạy chào đều là những tình báo viên. Nếu người Pháp đi tuần tra, ông già câu cá chỉ cần giơ chiếc cần câu theo cách nào đó để chỉ hướng đi của quân Pháp. Tất cả đều tự nhiên. Một trinh sát chuyên nghiệp ngồi trên một cồn đất, trong bóng cây, dùng chiếc ống nhòm cũ theo dõi bên trong bốt.

Người cán bộ chính trị của khu du kích ghi vào sổ từng giờ một chương trình hành động của người Pháp. Sau nhiều tuần khi ông ta biết tất cả về người Pháp, khi đã ghi chép đầy đủ, cũng với sự tỉ mỉ ấy ông ta chuẩn bị giăng bẫy để đánh hạ họ. Việc thực hiện mưu kế, tập dượt kéo dài hàng tháng. Cả một kịch bản phức tạp. Nếu người Pháp không nhận thấy gì, không phát hiện ra một dấu hiệu nhỏ nào, mọi việc bỗng được phát động vào một ngày nào đó, một phút nào đó và họ sẽ đi đời. Bi kịch xảy ra trong mấy giây. Ở Sài Gòn, Bộ chỉ huy lại một lần nữa được tin một trong những bốt của họ bị hạ.

Không ai đơn độc hơn người trưởng bốt, ông ta chỉ có thể tin vào mình. Ông ta biết mình bị án tử hình, chỉ hơi lầm lỗi, sơ suất là phải trả giá mạng sống. Ông không bao giờ được lơi lỏng; mạng sống của ông phụ thuộc vào sự thận trọng. Cuộc chiến ở Đông Dương là một cuộc chơi ghê gớm, có luật lệ cụ thể, gần như, theo số học. Không bao giờ được làm trái, nếu vi phạm là cái chết.

Một số quy tắc thật sơ đẳng. Đi tuần tra trở về hai lần liền, cùng một con đường là một sự mạo hiểm chết người. Có thể, đến một làng nào đó chỉ ba người nhưng là tự sát nếu đến một xóm đúng như thế dưới một trung đội. Phải thuộc lòng mọi vật có vẻ yên ổn nhưng hình thái nguy hiểm luôn thay đổi. Mỗi ngày phải xác định hệ số hiểm họa của từng thước đất, cũng phải lường được sự đe dọa trên mỗi khuôn mặt vô cảm ở những người lính của mình cũng như ở những nông dân, hương chức xung quanh.

Người ta chỉ sống nếu có một linh cảm đặc biệt, vì mọi vật bao giờ nhìn bề ngoài cũng bình thường. Thế mà phải biết đọc những dấu hiệu vô hình. Người nào không hình dung rõ được sẽ bị thất bại trước.

Người Việt tính toán tất cả. Trưởng bốt cũng phải có logic không thương xót ấy. Ông ta cũng phải trở thành một con thú hoang lạnh lùng, thông minh mỗi lần cần một “giải pháp đúng”. Vì trong mỗi tình huống chỉ có một giải pháp và phải tìm cho ra. Khác đi sẽ bị huỷ hoại. Điều đó không có chỗ cho giá trị đạo đức, cho tình cảm. Lòng tốt là hiệu quả của một lập luận, sự tàn bạo cũng thế.

Cuộc chiến các đồn bốt là một ván cờ. Nó đòi hỏi có thần kinh thép, một sự suy nghĩ không bao giờ ngừng, một loại siêu sáng suốt nhưng chỉ làm được nếu người ta thích thú. Những người chơi có thiên bẩm về một thói tàn bạo, đặc biệt, về trí tuệ hơn về thể chất. Cuộc chiến tranh này là sự chiến thắng, sự điên rồ. Đưa cả tinh thần và thể xác vào cuộc đấu không đủ; cách kéo dài cuộc sống duy nhất là khả năng luôn luôn lập luận đúng. Không có gì đáng kể nữa trừ việc giết người để khỏi bị giết. Người ta thậm chí không căm thù nữa. Tất cả như thoát xác nhưng tất cả là nghị lực. Đấy là cuộc chơi với ý nghĩa tổng thể. Đấy là thế giới tính toán toàn vẹn mà luôn luôn phải thắng. Điều đó trở thành một niềm say mê lạnh lùng và ngấu nghiến, một căn bệnh, một sự phát triển quá độ của não phá huỷ hết mọi tính cách bình thường. Người ta không tự vực dậy được dù may mắn không bị hủy hoại thân thể.

Để như vậy phải có thú tính đặc biệt. Trong số những binh lính trẻ từ Pháp sang, một số có, một số không có: những anh này thật khốn khổ và sẽ mau chóng bị giết.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2017, 07:12:58 AM

Những ngọn lửa trong đêm

Về phía chân trời đen, một ngọn lửa ánh lên trong đêm. Như vậy có nghĩa là một bốt không tồn tại nữa. Nó bị chiếm và đốt cháy sau một vụ phản bội. Không có tiến công nhưng cổng bờ rào do một đồng loã mở ra, những người Việt nấp xung quanh ào vào bên trong. Chỉ cần mấy phút họ đâm cổ người đội Pháp và những người lính trung thành chiếm lấy vũ khí, đạn dược và rút lui sau khi châm lửa đốt bốt. Nhân công mang vác chiến lợi phẩm của họ. Khi trời sáng, quân tăng cường Pháp đến, họ chỉ còn thấy đất cháy xém và xác người.

Bộ tham mưu không bao giờ nêu lên bao nhiêu đồn bốt bị hạ theo cách ấy.

Đối với những người Pháp đóng chốt trong các bốt phản bội là một nỗi ám ảnh. Họ không ngớt dò xét những khuôn mặt tươi cười hoặc thờ ơ của binh lính họ; và dù không thấy có gì đáng lo ngại họ cũng không ngăn cản được mình điên lên vì nghi ngờ. Một số trong bọn họ trở thành thẫn thờ do dò xét những lính bổ sung của họ không biết gì và không nói tiếng Pháp. Họ tưởng tượng ra những cách phòng vệ không tin nổi, giấu vũ khí trong máng cỏ, tập đi quanh chân đất. Ban đêm là một nhục hình. Đôi khi những người Pháp không ngủ trong nhiều tuần, kiệt sức vì đi lén, giật mình vì một tiếng động nhỏ trong đêm tối nhiệt đới.

Người Việt biết rõ nỗi lo lắng của những người Pháp trong bốt, thậm chí có cả một kỹ thuật làm tăng ám ảnh của họ. Họ bắn tin dọa tiêu diệt, gắn biển vào cây viết những câu giống nhau: “Đầu hàng đi hoặc trong một tháng nữa các anh sẽ chết”. Hàng ngày họ phát loa vận động lính trong bốt tự giải phóng mình bằng cách giết trưởng bốt Pháp. Ông này không hiểu những lời hô hào tiếng Việt ấy nhưng đoán được ý nghĩa. Phiên dịch của ông dịch từng đoạn nhưng ông không chắc người này không dối trá. Đôi khi bài diễn thuyết không dứt từ bên ngoài có những đoạn tiếng Pháp dành cho ông, tả tỉ mỉ cái chết đang chờ ông. Nếu thần kinh không vững vàng ông sẽ suy sụp.

Trường hợp thông dụng nhất là người Việt thu xếp để đưa người của họ vào làm lính trong bốt. Nếu trưởng bốt là người mới, vừa từ Pháp sang thì mọi việc đơn giản. Nhưng thường là người cũ có kinh nghiệm, dễ nghi ngờ và đặt ra những thử thách với người mới tuyển. Ví dụ ông bảo họ công khai giết những tù binh Việt Minh. Bằng cách này ông nghĩ có những người bị lên án tử hình vì không tránh khỏi bị người đỏ trả thù và chỉ còn cách trung thành tuyệt đối với ông để cứu mình. Biện pháp ấy không phải luôn luôn có kết quả. Đôi khi người Việt chỉ thị cho người của mình:

- Nếu viên đội Pháp ra lệnh cho các anh giết các đồng chí của Đảng, các anh cứ làm đừng ngần ngại. Các anh thu xếp mọi cách để chiếm lòng tin của ông ta, hãy sẵn sàng thực hiện những đòi hỏi của ông ta.

Vậy là lính ngụy giả hạ sát Việt Minh, chứng minh đầy đủ mãi đến khi người Pháp hết nghi ngờ. Lúc đó họ báo cho viên chỉ huy chi đội, hẹn ngày hành động. Họ chọn một người trong bọn gác bốt, chỉ giờ, phút, thường là lúc ba giờ sáng.

Lúc đó trưởng bốt quá mệt mỏi đã ngủ thiếp đi. Ông ta sẽ không bao giờ thức dậy nữa.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2017, 07:13:51 AM

Khi không đưa được người của mình vào bốt thì việc làm lâu dài và phức tạp hơn. Thông thường người Việt tạo đồng loã trong lòng bốt, rất kiên trì với những kê sách kéo dài nhiều tháng. Mọi việc chuẩn bị trong bóng tối và im lặng. Mục đích là tha hóa một số lính ngụy.

Nói chung Việt Minh vận động gia đình những người mới bổ sung, trước hết là bố mẹ già của họ. Bà mẹ đến nói với con nếu anh ta không nộp bốt thì bà sẽ chết. Thậm chí bà đưa tới cho con lệnh thực hiện do chủ tịch ủy ban ký.

Đôi khi một cô gái làm việc ấy.

Các cô gái và đàn bà trẻ sử dụng sắc đẹp của mình vì lòng yêu nước chân chính; đấy là vũ khí của họ, một biện pháp giết Tây. Ở ngoại ô thành phố, họ lôi kéo quân lính ra những đường nhỏ hẹp để đồng đội đâm chết. Nhưng đấy là những phụ nữ tao nhã, thường là nữ sinh, làm những nhiệm vụ quan trọng nhất. Đôi khi họ nhận chỉ thị quyến rũ chính trưởng bốt hoặc một sĩ quan cấp cao. Và biết bao lần quân lính Châu Âu, cả những người cứng rắn nhất tỏ ra bất lực trước khoái lạc! Nhiều đồn bốt bị hạ vì điều đó.

Người ta kể nhiều trường hợp khác thường. Trong vùng châu thổ Bắc Kỳ, một “hoa khôi” rất đẹp trở thành tình nhân của một viên thiếu tá ở huyện. Cô thú thật với ông ta mình lao vào buôn bán, sắp phá sản nếu không vận chuyển được hàng hóa. Thiếu tá cho cô mượn những chiếc xe của Đội quân viễn chinh. Suốt nhiều ngày cô chuyển các hòm ở một người Trung Hoa, thương gia chính trong một thị trấn. Nhưng nơi tiếp nhận thực sự là một đơn vị Việt Minh. Khi đơn vị này được trang bị đủ vũ khí của quân đội Pháp, họ tấn công hàng loạt đồn bốt, chiếm được nhiều nơi.

Một lần khác, một cô gái nói với người yêu, một sĩ quan cấp cao, cô phải đi vắng mấy ngày về nhà mẹ. Cô không trở lại. Sau một tuần, người yêu nhận được của cô một thư bảo đảm theo đường bưu điện kèm theo bản sao kế hoạch tác chiến tối mật mà bản thân ông ta khóa kín trong két sắt. Trong lúc đó cuộc hành quân đã bắt đầu và viên sĩ quan hiểu tại sao một trong những tiểu đoàn của ông bị bí mật bao vây và tiêu diệt.

Trong cuộc chiến các đồn bốt, người Việt còn dùng nhiều cách khác nữa. Có vấn đề tiền bạc. Người lính ngụy có tiền còn ít hơn một người làm công. Một người môi giới - có thể là bà mẹ dọa chết, người tình Việt Minh hoặc một ông gặp ngoài đường - hứa với anh của cải, một mảnh ruộng và một con trâu. Làm sao anh ta không thử?

Có cả việc đầu độc. Có khi người trưởng bốt, sau bữa ăn bị đau bụng ghê gớm. Anh bếp đã trộn thuốc độc vào thức ăn của ông ta. Người Pháp chết hoặc hấp hối, một chiếc loa kêu gọi lính ngụy trong bốt ra hàng.

Có trường hợp, những mưu kế thông minh nhất thuộc về một anh con lai. Người bố Pháp bỏ rơi anh trong nghèo khổ với bà mẹ Việt Minh. Những người Âu châu khác không nhận, không yêu thương anh. Anh căm ghét tất cả những người da trắng. Anh lấy tên Việt rồi để trả thù, anh tuyển mộ một băng nhóm từ lâu phá phách trên bờ sông Cửu Long.

Người lai Á Âu ấy hình dung ra đòn những “người cung cấp”. Đây là một mưu kế thiên tài cho phép anh lấy được một bốt lớn không có đồng lõa, không có “tay trong”, chỉ cần táo bạo.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2017, 07:15:50 AM

Đấy là một bốt ở Nam Kỳ, cũng như bao bốt khác, được dựng lên bên bờ một con sông nhỏ. Dòng sông là lối giao thông duy nhất, khu đồn trú xây dựng một cầu bên trên bờ, phía trong hàng rào. Dân quê đi xuồng đến bán cho quân lính rau quả vùng nhiệt đới. Người đội Pháp cấm họ cập bến, phải ở ngoài vài trăm mét cách ngoại vi cầu bến. Những người nhà bếp sẽ ra mua bán với họ. Sau ít ngày những người nhà bếp và dân quê trở thành thân thiết với nhau. Khi họ tranh cãi giá cả, nghe giống như một trận đánh nhau nhưng là việc bình thường. Nông dân có thói quen mang theo người trong gia đình; vì vậy những xuồng nhỏ của họ như đoàn thuyền đầy phụ nữ, trẻ em, lợn, gà vịt.

Những người nhà bếp lười, mỗi ngày lùi dần một ít. Do đó dân quê mỗi ngày tới gần thêm, từng thước. Ít lâu sau họ đến sát bờ rào, ở đấy lâu không tiến lên nữa. Đội canh gác quen dần với họ, không nghi ngờ nữa, cuối cùng để họ đến sát cầu bến, trước cây cột phất phới lá cờ tam tài. Lúc đầu một người lính gác theo dõi họ, không có gì xảy ra. Chợ họp giữa bốt trở thành một chỗ dành riêng. Một ngày thứ bảy, hai ba tháng sau việc đặt mối quan hệ mua bán ấy, dân quê như thường lệ đến với những thúng đầy dứa và bí. Lúa ấy vào giờ nghỉ trưa, trong bốt mọi người ngủ gà ngủ gật, tất cả ngủ. Trong chốc lát, những người nông dân ngây ngô lấy tiểu liên, lựu đạn và dao rựa giấu dưới xuồng ào lên bờ, tấn công bốt giết hết mọi người. Nỗi kinh ngạc lớn đến mức không ai làm một cử chỉ tự vệ. Những người dân quê ấy thực ra là quân thường trực của chi đội bên cạnh, đơn vị của người con lai.

Anh này còn sáng tạo ra chiến lược “lính lê dương đào ngũ”.

Các sĩ quan Pháp trong đội lê dương đi xe jeep đến một bốt để kiểm tra. Trang bị gậy cầm tay, mũ ca-lô đẹp, dáng kiêu ngạo, họ tự tôn nhau lên “thưa đại tá”, “thưa thiếu tá”. Họ đeo đầy lon, có mệnh lệnh của phái đoàn tam tài. Làm sao nghi ngờ được?

Viên trưởng bốt hốt hoảng: những vị khách quan trọng mặt mày nhăn nhó nhận xét về tất cả. Ví như lính ngụy nhìn tiều tụy quá, người mảnh khảnh, chắc chắn không tập thể thao nhiều. Viên “đại tá” ra lệnh làm thử một buổi tập thể dục ngay trước mặt ông. Mọi người phải có mặt đầy đủ. Viên “thiếu tá” hướng dẫn các động tác. Toàn bộ quân đồn trú, mặc quần đùi, cẩn thận lặp lại. Viên “đại tá”, “thiếu tá” mở cặp da để lấy tài liệu hướng dẫn theo phương pháp Thụy Điển. Họ rút tiểu liên ở đấy ra: vài loạt đạn bắn xối xả kết thúc buổi tập cũng như mạng sống mọi người trong bốt.

Viên “đại tá”, “thiếu tá” đúng là lính trong đội lê dương, không phải sĩ quan mà là binh nhì đã sang hàng quân Việt.

Nhưng những mưu kế cạn dần, người Việt phải luôn luôn tìm những kế mới. Cuối cùng hầu như bị lộ hết và một sự cân bằng thiết lập.

Nếu hàng chục bốt bị hạ thì hàng nghìn bốt khác trụ vững. Nếu người trưởng bốt “tốt” hầu như bao giờ cũng được lính ngụy báo trước, nói thẳng hoặc mật hiệu về âm mưu ngầm. Cũng lạ những việc phản bội không xảy ra liền hơn trong những bốt ấy, chỗ một hai người da trắng sống chung với người da vàng rất khác họ. Và cứ như vậy mặc dù sức mạnh của người Việt và phương pháp của họ được cải tiến.

Tuy nhiên tránh việc phản bội không đủ. Biết chơi, tế nhị và khôn khéo chưa đủ, còn phải có “vận may”!

Thực thế, người Pháp không thể ở lỳ trong bốt; ông ta cũng phải “ra ngoài” thiên nhiên.

Tôi được biết nhiều trưởng bốt đã vượt qua hàng chục cuộc phục kích. Người Việt là bậc thầy về ẩn nấp trong lòng suối, trong bùn ruộng hoặc vào sâu trong rừng dừa. Họ hóa trang rất giống cây cối hay bùn không thể phân biệt được.

Khi họ bắn một loạt đạn, người ta tưởng là nước hoặc bùn bắn ra.

Ngày này qua ngày khác người Việt tính toán đội tuần tra Pháp phải đi qua vào giờ nào, chỗ nào và tỉ mỉ chuẩn bị phục kích. Nếu không thành họ bắt đầu lại vào hôm sau, hôm sau nữa, không dứt, cũng tại đó cho đến khi bắt gặp. Vì vậy biết bao nhiêu đội tuần tra không trở về! Người trưởng bốt nói về “sự may mắn” của mình, đã bao lần thoát chết, cuối cùng cũng bị giết. Đấy là số mệnh.

Cuộc chiến là vô cùng. Dù bằng cách nào thì người trưởng bốt cũng đã bị lên án nếu ông ta chỉ có bốt của mình, nếu ông và binh lính của ông là những tù nhân sau khung hàng rào có người Việt xung quanh. Một đồn bốt chỉ là một đầu kim găm giữa cánh đồng Việt Minh đã bị án treo. Về lâu dài dưới sức ép của người Việt, trong hệ thống bảo vệ có một rạn nứt vì một sự bất chính hoặc không may nào đấy. Chỉ cần một quả lựu đạn găm trên đường mòn người Pháp phiêu lưu đi qua. Để sống sót ông ta phải liên kết với toàn dân chúng da vàng xung quanh. Chỉ có dân chúng mới bảo vệ được ông. Nhưng muốn thế thì phải chiếm lòng dân bằng một cuộc chiến tranh khác.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2017, 10:37:48 PM

Chinh phục dân quê

Cứu cánh của một trưởng bốt là chinh phục “quần chúng” Á châu xung quanh mình, mười nghìn hoặc một trăm nghìn dân quê đang vất vả trên đồng ruộng. Chính họ, với thân thể mình làm bức tường thành duy nhất có giá trị bao bọc đồn bốt. Nhưng muốn thế phải giành giật họ với Việt Minh.

Đối với người Việt dân chúng là cuộc sống vừa là tai mắt, tiền bạc, nhân lực của họ. Dân chúng thoát khỏi tầm tay họ sẽ phải lùi ra, đi xa hơn. Đồn bốt thay vì bị thám thính và bao vây, từ đó sống trong vầng hào quang an toàn.

Dân chúng là yếu tố quyết định của cuộc chiến giữa trưởng bốt và chỉ huy chi đội Việt Minh. Ở Đông Dương tất cả tuỳ thuộc vào những người cần giành giật. Người chiến thắng là người biết nắm dân chúng.

Đây là một cuộc đấu khó khăn.Có trường hợp các đội quân Pháp của thành phố lân cận tiến hành một cuộc hành quân lớn để nâng đỡ tinh thần một bốt. Nhưng đấy chỉ là một cuộc đột kích, một chuyến đi về không đáng kể thường có hại vì các đơn vị Pháp có xu hướng “đánh lớn”, chọn những mục tiêu để tiêu diệt. Rồi dân quê chịu thiệt hại vì những cuộc hành quân, quay trở lại với Việt Minh.

Người trưởng bốt vậy là đơn độc cùng lính nguỵ trong cuộc chiến. Con người bình thường này phải làm một việc không thể làm trong không khí quen thuộc là phản trắc và bạo lực. Người Việt xét thấy ông ta nguy hiểm sẵn sàng làm tất cả chống lại ông. Hơn bao giờ hết họ cố ám sát ông và bẻ gãy những phụ tá của ông. Để tự vệ ông phải chống lại, ra tay, có cả những việc hành quyết.

Trong hoàn cảnh ấy ông ta phải tranh thủ lòng nhân ái của xóm làng, đồng ruộng. Ông phải thuyết phục dân quê hợp tác với mình mà như vậy khi người Việt nghi ngờ phản bội thì họ dễ chết lắm.

Thường người ta ít suy nghĩ về điều kiện chiến tranh ở Đông Dương. Quan chức chính quyền hay than phiền dân chúng tạo thuận lợi cho Việt Minh hay ít nhất cũng chơi hai mặt. Điều tôi thấy khác thường, ngược lại, là nhiều nông dân và hương chức dựa vào lực lượng Pháp. Thực ra họ phiêu lưu mạng sống của mình. Vì chúng ta, hàng chục nghìn, hàng trăm nghìn người bị rơi đầu. Dù vậy cho đến ngày cuối cùng của chiến tranh, thậm chí khi chiến thắng đỏ đã chắc chắn, có những làng, những vùng còn ủng hộ Pháp. Chính điều đó đã cho phép Đội quân viễn chinh trụ vững bấy nhiêu năm; Chính điều đó có lẽ đã đảm bảo thắng lợi cho họ nếu họ biết bảo vệ dân chúng. Nhưng đã nhiều lần thường vì lý do không đâu, một mệnh lệnh ngu ngốc của một ban tham mưu, họ bỏ rơi dân chúng!


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2017, 10:38:40 PM

Một lần tôi chứng kiến công việc làm của một trưởng bốt. Tôi thấy người cai đi chiêu phục một làng được xếp là ủng hộ Việt Minh.

Chúng tôi ra đi từ sáng sớm. Xóm chúng tôi đến gần đấy, cách khoảng hai cây số - những cây dừa che khuất mái nhà tranh. Một toán lính nguỵ đi tháp tùng trong trường hợp gặp phải quân thường trực đỏ tuy chúng tôi nghĩ không có một “cuộc bám theo”.

Khi đi trên bờ đê, người Pháp giải thích với tôi:

- Một nhân viên tình báo cho tôi biết chi đội đóng ở đấy đã rút đi cách mấy cây số. Tôi phải lợi dụng cơ hội. Chúng ta sẽ đến một làng yên ổn, có hai uỷ ban lần lượt hoạt động, ban ám sát của Việt Minh và hội đồng hương chức truyền thống.

Quyền lực thực sự thuộc về ban ám sát gồm nửa tá đảng viên cộng sản trong làng, những người nghèo và thanh niên. Họ để cho hội đồng hương chức tồn tại, ít nhất cũng sau khi thanh toán một nửa người trong hội đồng. Vì phải có những người ủng hộ Pháp để đón tiếp khi quân Pháp đến.

Vậy là chúng ta sẽ được đón tiếp, theo phong tục xã giao bởi các hương chức địa phương còn sống sót. Tôi biết những người này dùng để bao che cho Việt Minh và chỉ là công cụ của họ. Điều tôi muốn giữ kín là “xoay” tấm kịch này lại có ích cho tôi, làm thế nào để đánh lừa Việt Minh chứ không phải tôi. Tôi sẽ tổ chức một cuộc đảo chính.

Để đề phòng, lính nguỵ được bố trí đội hình chiến đấu. Nhưng vô ích. Chúng tôi được trân trọng đón vào một ngôi đền cổ, ở đó trong bóng tối có một bàn thờ trưng bài vị thần hoàng và con rùa biểu tượng của sự trường thọ. Không có cờ đỏ, cũng không có ảnh Hồ Chí Minh; chắc họ đã cất đi khi chúng tôi đến gần.

Các hương chức, tóc búi tó mặc áo dài đen, trịnh trọng một cách lạ lùng. Xấu người, im lặng, nghiêm trang, tất cả cúi đầu trước mặt chúng tôi. Đấy là những ông già với những bộ râu cổ điển và da nhăn nheo. Họ mời nước chè và thuốc lá. Khuôn mặt họ tầm thường, như chết. Hai người có tuổi nhất, với đôi môi mỏng lên giọng triết lý nói về sự cần thiết giữ gìn trật tự, tôn trọng luật pháp và thờ kính trời phật. Làm sao tin được như thế giữa một cuộc chiến tranh đỏ.

Tuy vậy một người trong bọn họ, trẻ hơn, mặc quần áo Âu, nói tiếng Pháp rất giỏi. Anh này không cúi mình mà bắt tay chúng tôi. Anh làm phiên dịch, trong một tiếng đồng hồ, dịch những nguyện vọng và lời chúc mừng của hai bên. Anh không thay đổi giọng khi chuyển cho các ông già câu nói chờ đợi qua đó người trưởng bốt bắt đầu vào những vấn đề nghiêm túc.

- Tôi biết các ông phục vụ Việt Minh. Tôi sẽ triệt phá làng các ông.

Những khuôn mặt vẫn không thể hiện gì trong lúc người Pháp tiếp tục nói to, nắm tay đấm xuống chiếc bàn chạm gỗ mun:

- Tôi biết trong làng các ông, những người tử tế và giàu có trong làng này vốn căm ghét Việt Minh. Tôi đề nghị thế này. Tôi cung cấp súng cho các ông, các ông trang bị cho bà con và đầy tớ, giết Việt Minh trong ban ám sát và xây dựng một đội cảnh sát bảo vệ làng. Các ông là những người chỉ huy, lập những bốt nhỏ và tháp quan sát. Tôi và quân đội Pháp sẽ bảo vệ các ông.

Chỉ im lặng. Một trưởng lão trả lời giọng run run:

- Con dao của kẻ nổi loạn bao giờ cũng gần hơn khẩu súng của người bảo vệ. Chúng tôi mạo hiểm thế nào được trong khi người Pháp còn bấp bênh? Không bao giờ biết họ muốn gì. Năm 1945 em tôi tổ chức mừng quân đội các ông tới. Lính các ông ra đi bất thần, không báo trước với chúng tôi. Việt Minh hạ sát em tôi. Nếu một lần nữa chúng tôi tin tưởng vào các ông, tôi có sẽ bị giết, tất cả chúng tôi có sẽ bị giết? Ai đảm bảo các ông lại không ra đi lần thứ hai nữa?


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Hai, 2017, 10:39:32 PM

Không ai nói thêm một lời. Sau những chào hỏi cuối cùng chúng tôi trở về bốt. Viên cai nhăn mặt, sau đó giải thích với tôi:

- Ngay trong lúc này mọi việc đang được quyết định, uỷ ban Việt Minh sẽ xuất hiện trở lại. Họ hỏi các hương chức. Nếu họ nói dối, không lặp lại những gì tôi nói thì tôi đã thắng. Vì họ không lùi được nữa, phải giết Việt Minh nếu không có ngày họ sẽ bị nghi ngờ và thanh toán. Nhưng nếu họ giấu lời tôi nói, họ chắc sẽ tham gia. Trường hợp ấy tôi có thể dự kiến những sự kiện tiếp theo. Một đêm nào đấy một kẻ đưa tin đến bốt. Sẽ là một người không đoán trước được, một mụ ăn mày xấu xí hoặc một đứa trẻ không quen. Kẻ ấy nói với tôi cách các hương chức chuẩn bị vụ ám sát, một mưu kế phản bội hoàn hảo. Tôi cũng được thông báo về vai trò của tôi, về việc tôi cần hỗ trợ.

Một sự nghi ngờ đến với tôi:

- Ông không sợ bị phản bội ư? Các hương chức có lẽ đã thống nhất với Việt Minh. Họ có thể vờ chấp nhận kế hoạch của ông để nhận súng rồi đưa lại cho ban ám sát để giết ông.

- Tôi không nghĩ thế. Vì người Pháp sẽ san bằng làng xóm họ. Và các hương chức sợ mất tài sản còn hơn bản thân mình bị tiêu diệt.

Hôm sau khi tôi rời bốt, chưa có tin gì về quyết định của các hương chức, chưa có ai được cử đến báo.

Sau này tôi được biết sự việc xảy ra. Các hương chức chấp nhận kế hoạch. Một người đàn bà đi xe buýt từ Sài Gòn đến mang tới sự thỏa thuận. Hai quả lựu đạn nổ trong cuộc họp ban ám sát, giết hết các thành viên. Làng ấy được bình định, cả vùng xung quanh cũng thế. Hương chức lập một đội quân nhỏ nhưng kính cẩn đến nhận mệnh lệnh của “Ông cai”.

Chính lúc đó ông này mới rơi vào một cuộc phục kích tầm thường nhất, trên con đường lớn đi Sài Gòn, ngực trúng hai viên đạn, chết trong bệnh viện, cả công trình của ông bị phá huỷ trong vài tuần. Các uỷ ban của Việt Minh lại về trong các làng.

Việc xảy ra thường xuyên ấy thậm chí là quy trình của cuộc chiến tranh Đông Dương. Bao nhiêu lần tôi thấy những vụ tiêu diệt người Việt. Tôi biết ở một thị trấn người ta loại trừ liến tiếp bảy ban ám sát. Rồi có một ban thứ tám; tất cả luôn luôn được hình thành lại.

Về phía chúng ta hàng trăm người thành công. Nhưng hễ thành công là người đó chết hoặc ra đi. Những người Việt, họ chịu hy sinh. Điều thiết yếu là chế độ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Hai, 2017, 07:51:48 AM

Lính ngụy khốn khổ và những nhân viên ám sát đắc lực

Chống lại “chế độ” Việt Minh, người Pháp tiến hành “chiếm đóng” đất nước một cách có hệ thống. Đấy là một sự cai trị của người da vàng bởi người da vàng vì họ không đủ đông. Một cuộc chiếm đóng có dáng vẻ Trung cổ, đường sá, đồng ruộng, rừng núi mọc lên những công trình kiên cố và tháp canh.

Trong không gian cắm chốt bao la ấy, đội quân viễn chinh một trăm hai mươi nghìn người chỉ là bộ giáp sắt. Họ cần có một lực lượng bổ sung địa phương khổng lồ, cả một lớp người bình định. Người ta đã có thể tổ chức một quân đội quốc gia Việt Nam. Nhưng Bộ chỉ huy và các quan chức chống lại việc ấy vì tính toán và đa nghi. Điều người ta làm là tuyển dụng một thế giới hư ảo lính ngụy, lính đánh thuê, những nhân viên ám sát, những kẻ mạo hiểm, tôn thờ những nhóm huyền bí, tất cả được gọi chung là “quân bổ sung”.

Họ có đến hàng vạn nhưng nhiều loại khác nhau đến mức không bao giờ thống kê được.

Trên thực tế mỗi người có quyền lực tập hợp người của mình, thu xếp để được trả lương và tiến hành cuộc chiến tranh của mình với họ.

Những quân bổ sung ấy có tên trong sổ sách chưa đến một nửa. Những người khác không ai biết, vô danh, nằm trong các quỹ đen. Đội quân viễn chinh tăng lên gấp ba, gấp bốn nhờ có họ. Mỗi tiểu đoàn, đại đội tự tuyển dụng và phình lên. Nhưng quân đội không có những đội quân nhỏ. Mỗi quan chức chính quyền tổ chức một đội bảo vệ riêng để đảm bảo an toàn và làm chính trị. Những tỉnh trưởng Pháp tổ chức những toán hàng trăm người để tiến hành chiến tranh với Việt Minh theo phương pháp Việt Minh - họ cho rằng những người lính thực sự không có khả năng. Các hội và công ty tư bản chi tiền cho các nhóm riêng để bảo vệ những đồn điền, những vùng cao su và hầm mỏ của họ. Không chỉ người da trắng biến thành những chúa tể chiến tranh. Người da vàng ủng hộ Pháp cũng như thế. Tất cả những người cai trị, những vua con, những người lãnh đạo lớn bé đều có tay chân. Làng xóm củng cố và thành lập cảnh sát. Tôn giáo tự vũ trang và nhân danh Phật hoặc Đức Chúa xây dựng những vùng độc chiếm rộng lớn bằng bắn giết và trấn lột. Ở thành phố, kẻ cướp lấy tên các hội bảo vệ, tự cho là duy trì trật tự.

Người Pháp luôn phải trả tiến. Tiền ấy cho phép những người hưởng quyền lợi tập hợp quanh mình những người cuồng tín có vũ trang đặt các khoản thuế cho mọi người và tất cả. Toàn bộ Đông Dương sống và thịnh vượng lên với súng liên thanh trong tay.

Nhưng nhờ có đông đảo lính đánh thuê ấy mà nước Pháp giữ được đất nước này. Và trong chế độ phong kiến Trung cổ ấy sản sinh những loại người kỳ lạ - người lính ngụy nghèo khổ và kẻ ám sát đắc lực.

Người lính ngụy nghèo khổ thì không có vấn đề gì. Đấy là một dân quê đăng lính vì một số lương tệ mạt và nhất là một khẩu súng - một dụng cụ để được tăng lương.

Những lính ngụy trong các bốt thực sự, dưới sự chỉ huy của một hay hai người Pháp có đặc quyền đặc lợi. Họ có thể tự bạo vệ và sống sót. Nhưng phần đông được bố trí đơn độc, gần như không có vũ khí và phương tiện chống cự trong các tháp canh.

Đấy là những tháp canh nhỏ bằng gạch dựng lên từng chặng dọc đường, mỗi tháp không chi phí quá một trăm nghìn phrăng. Chỗ ra vào là một lỗ cách mặt đất ba, bốn mét. Ban đêm lính ngụy cất thang, chen chúc nhau trong gian phòng độc nhất cùng vợ con. Nằm dài phía sau lỗ châu mai, họ chờ sáng.

Luật lệ nhà binh Pháp cấm cung cấp cho họ tiểu liên hoặc những súng tự động khác vì họ có thể bán cho Việt Minh hoặc Việt Minh tấn công để chiếm lấy. Lính ngụy ở tháp canh chỉ có súng đã quá cổ, đạn mà thường không nạp vào được và mấy quả lựu đạn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Hai, 2017, 07:52:54 AM

Hầu như hàng ngày Bộ chỉ huy đều thông báo nhiều tháp canh bị hạ. Điều ấy không quan trọng; người ta xây dựng lại những cái khác, tuyển những dân quê khác. Vì bao giờ cũng tìm được. Có thể nói số phận, việc sống còn của họ thật vô tư nếu có một ít gạo và cá khô. Dân quê nghèo khổ quá, mạng sống họ cũng xem không giá trị gì mấy.

Những người ấy không có vẻ bất hạnh. Đôi khi họ cố thoát khỏi số phận mình, chấp nhận những đề nghị của Việt Minh. Ví dụ một chi đội giao ước sẽ để họ yên ổn nếu họ im tiếng: không báo với người Pháp những hoạt động của Việt Minh nhất là khi có đoàn người đi qua con đường họ theo dõi. Nhưng qua một thời gian việc cứ thường xuyên “không có gì cần báo cáo” tự nó là một thú nhận đồng loã. Sĩ quan Pháp cảnh cáo lính ngụy sẽ bắn ca-nông phá tháp canh nếu họ tiếp tục hợp tác với quân địch. Nói chung mọi việc trở lại đi vào trật tự. Nhưng chi đội đỏ tấn công, để lại đổ nát và xác chết.

Thông thường lính ngụy giữ tháp canh làm nhiệm vụ, chống cự khá anh dũng. Người ta kể họ có những cuộc chạm súng khác thường.

Trong vùng Sóc Trăng một tháp canh bị tấn công vào hai giờ sáng. Lính ngụy bắn trong đêm qua lỗ châu mai; vợ họ ngồi bên cạnh nạp đạn; các con đã quen tình hình ấy, vẫn ngủ. Một người trúng đạn vào trán tử vong. Vợ anh dịch xác chết ra, thay chồng cầm lấy súng bắn nhau với địch cho đến sáng. Sáng hôm sau chị dẫn đầu lễ tang: mọi người khóc lóc và ăn uống no nê.

Trên thực tế những người lính ngụy ấy không có quan điểm rõ ràng. Họ vâng lời. Nếu ở nhà họ cũng phục vụ tốt Việt Minh. Ở Châu Á cá nhân không là đáng kể, họ không có những ý tưởng riêng mà chỉ là một chi tiết trong bộ máy thống trị như chế độ thực dân, cộng sản, Nho giáo, vua quan, các chúa tể chiến tranh, những cán bộ chính trị. Con người không bao giờ được giải phóng. Nếu chính quyền thống trị hiện hành đổ, họ mặc nhiên rơi vào sự kiểm soát của chế độ tiếp đó.

Trong nề nếp thụ động khổng lồ ấy nhân viên ám sát đắc lực là ngoại lệ. Họ có lựa chọn. Đây là một kẻ chuyên nghiệp, chạy từ bên này sang bên khác vì lợi ích của mình. Vì vậy họ chắc chắn bị lên án hơn lính ngụy: mạng sống của họ là vấn đề tính hàng tuần hay hàng tháng.

Một kể giết người xứng đáng được mệnh danh là “đắc lực” nếu hết lòng phục vụ người Pháp. Gần như luôn luôn họ được người Việt đào tạo, thay vì giữ kỷ luật đỏ, họ chống lại, phản bội.

Kẻ giết người làm việc với Pháp đặc biệt cay cú với đồng bọn cũ. Cơ may kéo dài cuộc sống là giết nhiều. Phải loại bỏ họ để không bị họ loại bỏ. Những bạn bè làm việc cũ, những nhân viên ban ám sát được tách ra chống lại, bám sát theo rõi loại nhân viên này. Đây là một cuộc tàn sát giữa những người chuyên nghiệp. Mặc dù có những chiến tích, “nhân viên ám sát đắc lực” một ngày nào đó được tìm thấy bị đâm chết hoặc hành quyết. Người ta không bao giờ làm sáng tỏ được những cái chết này. Đôi khi cũng là một sự phiền phức đối với người Pháp.

Cũng như đối với lính ngụy, việc tuyển dụng nhân viên ám sát không hề cạn. Nhìn qua người ta biết ai là kẻ giết người chuyên nghiệp, qua thân hình và cách ăn mặc đặc biệt.

Bao giờ cũng là một người trầm ngâm, đôi mắt lạnh lùng và những nét đông cứng. Mặc toàn màu đen, đội một chiếc mũ phớt chật trên mớ tóc bù xù, đeo trên ngón tay những chiếc nhẫn rất to. Người ta thấy hắn ngồi hút thuốc giả vờ vô cảm nhưng giật mình ngay khi có một tiếng động nhỏ.

Người Pháp thường để kẻ giết người loại này làm việc riêng theo cách của hắn, được việc thì thưởng. Chỉ huy hắn rất nguy hiểm với những phản ứng không lường trước được; anh ta như điên rồ vì kiêu căng, tàn ác, nóng nảy. Như một con thú hoang.

Một số sĩ quan, hạ sĩ quan cũng tập hợp một số toán biệt kích. Đây là sự nghiệp kiêu hùng bởi mạo hiểm, máu và cái chết. Hãy tưởng tượng điều gì có thể đến với cuộc phiêu lưu của người Pháp, tập hợp quanh mình là những nhân viên ám sát cũ của Việt Minh để đi ám sát những ban ám sát giữa lòng đất nước đỏ.

Hơn cả những người Pháp, người Việt có những người lính nghèo khổ và những nhân viên ám sát đắc lực của mình. Hơn nữa họ xây dựng những đội quân thường trực để chống lại với Đội quân viễn chinh. Cuộc chiến thật vô tận trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Tuy vậy có những mức độ tùy theo vùng, có bao nhiêu hình thức khác nhau trong chiến đấu, hình thức đặc biệt nhất là triển khai trong rừng rậm.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Hai, 2017, 07:54:38 AM

Rừng rậm trung lập

Từ hai vùng đông dân cư là châu thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ, trừ viền dân cư ven bờ biển Annam, Đông Dương là một khu rừng rậm gần như không người ở.

Trên một diện tích rộng gần bằng nước Pháp, người ta đánh nhau trong bóng tối, không trông thấy nhau. Những nhóm người mất hút trong bao la, tìm cách bắt chợt nhau để giết nhau trong đêm và cây cối.

Không chỉ người Pháp và người Việt theo đuổi, tàn sát nhau. Họ lôi kéo vào cuộc chém giết ba vương quốc của Đông Dương với hàng trăm dân tộc khác nhau. Rừng rậm trở thành một hận thù lộn xộn mà người ta thanh toán nhau trong nền văn minh đi từ thời kỳ đồ đá đến sự tinh tế tột đỉnh của Phật giáo. Tất cả những tranh chấp xưa kia của các phe phái và các dân tộc được khai thác và nổ ra chém giết. Hàng nghìn cuộc chiến lẫn lộn với cuộc chiến lớn giữa những kẻ thực dân và những người cộng sản.

Sự lộn xộn thật khó gỡ. Người ta đánh nhau theo mọi cách. Vũ khí trang bị từ ống xì đồng, lao, thần chú đến tiểu liên và súng cối. Cũng có những cuộc chiến kinh tế vì muối, thực phẩm sống còn ở vùng rừng núi, nhất là vì thuốc phiện. Người Việt, người Pháp mua thuốc phiện, nâng cao giá để gắn bó với những ông vua miền núi đáng sợ. Không có một dân tộc nào không bị chia rẽ. Chính phủ hoàng gia Căm-bốt ủng hộ Pháp, Chính phủ hoàng gia Lào cũng thế. Nhưng ở Căm-bốt người Khmer liên minh với người Việt có thánh địa Angkor. Ở Lào, ông vua già ở Luang Prabang sùng đạo và trung thành. Trong tình thân thiện với Pháp, con trai ông, hoàng tử Savang muốn biến đất nước triệu voi thành một siêu Monaco ở núi rừng Châu Á. Nhưng các hoàng thân nhánh thứ vận động cuộc nổi dậy đỏ của Pathet Lào. Cả những người hoang dã cũng được lôi kéo vào cuộc chiến từ các dân tộc phù thủy săn voi ở biên giới Miến Điện đến những người thiểu số ở trần của cao nguyên Annam. Người Pháp phân phối súng tiểu liên cho một số chiến binh nhưng những người khác thì dẫn đường cho các phân đội đỏ. Đấy là một cuộc chiến tranh từ mỏm núi này đến mỏm núi khác.

Ở những dân tộc lạc hậu nhất, cuộc tranh chấp chủ yếu cũng vì lý tưởng. Những ý nghĩ chống đối nhau lan đến cả những bộ lạc ăn đất trong những vùng hoang vu để trắng trên bản đồ.

Khắp nơi người Pháp tiếp xúc với những nhà độc tài nhỏ, giải thích cho dân bản địa kẻ thù của họ là người Việt Nam, Việt Minh. Áp dụng đường lối đối với dân tộc thiểu số những người đi chinh phục lập ra các vương quốc, liên bang, quốc gia tự trị. Mỗi mảng trên bàn cờ rừng núi ấy có cờ, quốc huy, quân đội riêng và nhất là tiền. Ở Bắc Kỳ trên bờ vịnh Hạ Long, tướng cướp Vòng A Sáng hình thành những tiểu đoàn lính Nùng với huy hiệu mỏ dù. Gần sông Hồng, Đèo Văn Long, con trai của tướng Cờ Đen cách đây nửa thế kỷ là chúa tể thuốc phiện nhờ sự bảo vệ của Pháp. Người ta cứ xây dựng như thế trong những thung lũng và rừng thưa không thăm dò được rất nhiều vương quốc nhỏ khác.

Lúc đầu mọi việc tốt đẹp. Đội quân viễn chinh cắm bốt trên các chóp núi cao phía trên những khu vực đầy yên tĩnh, những rừng cây và sỏi đá. Máy bay cho phép làm được tất cả, chiến thắng mọi khoảng cách, đồi núi, cây cối. Những máy bay Junker già cỗi không ngừng đem thả xuống thực phẩm và đạn dược cho những chỗ đồn trú ở địa đầu thế giới cách thị trấn văn minh gần nhất nhiều tuần hoặc nhiều tháng đi bộ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Hai, 2017, 07:55:25 AM

Trong các bốt heo hút ấy bao giờ cũng có một hạ sĩ quan xứ thuộc địa, hơi say và sốt rét. Nhưng ông ta biết trả muối và vàng cho các ông vua nhỏ; biến những người ở trần, cổ đầy vòng bạc thành những người lính, có mũ, thắt lưng và súng tiểu liên - nhưng theo kinh nghiệm, ông ta không cung cấp giày theo điều lệnh cho những người miền núi Mèo, Mán vốn quen đi chân đất, những người đi bộ giỏi nhất thế giới. Ông chủ rừng xanh ấy làm tất cả mọi việc. Có khi ông ta sáng tác quốc ca hoặc vẽ cờ hiệu vương quốc. Nhất là ông không ngớt lặp đi lặp lại: “Tôi không bao giờ bỏ rơi các anh”.

Việt Minh mà ông ta nói, trưởng bốt người Pháp nghĩ họ ở xa. Họ ở ngay đấy. Sự hiện diện của họ được biết rõ khi đã quá chậm, do một trận phục kích, do những người chết. Sự tồn tại yên ổn chấm dứt.

Thực vậy, rừng rậm cũng chẳng phải ghê gớm, khắp nơi có hàng nghìn đường mòn bí mật. Cán bộ và quân lính của Hồ Chí Minh đi xuyên rừng núi vô tận, đi như không có thời gian. Đôi khi một cán bộ chính trị dừng lại ở một khoảng rừng thưa, tổ chức chỉ huy sở trong một căn nhà lá khốn khổ. Ít lâu sau xung quanh là một vùng cộng sản.

Những gì của Pháp - máy bay, bãi nhảy dù, đồn bốt - đáng sợ nhưng trông thấy được. Ai cũng biết đấy là cái gì. Nhưng những việc đi lại ấy, những tổ chức ấy không phân biệt được, thật ghê gớm, không có gì nắm bắt được.

Vũ khí chủ yếu của người Việt là đưa cuộc chiến tranh tư tưởng đến những bộ lạc cổ sơ nhất.

Người Pháp hứa hẹn với những người hoang dã giải phóng họ khỏi người Việt Nam. Nhưng khắp nơi Việt Minh đã hứa với họ một sự giải phóng khác, rũ bỏ người Pháp cho họ. Họ đưa cuộc kháng chiến vào rừng xanh, nơi mà Đội quân viễn chinh giải quyết công việc với những kẻ độc quyền. Phái viên của Hồ Chí Minh làm việc ngay với dân chúng.

Cuối cùng khi dân chúng trên rừng núi đã được cảm hóa tương đối, người Việt bắt đầu cuộc chiến tranh đường mòn chống Pháp. Cuộc chiến này có luật lệ riêng, còn dẻo dai, quyết liệt hơn cuộc chiến ở ruộng đồng.

Người ta chỉ có thể tiến lên theo những đường mòn. Đường hẹp đến nỗi hai hàng quân đụng nhau không triển khai, không đánh nhau được và chỉ những người đi đầu có thể bắn. Hậu quả là bất lực và dồn tắc. Vậy phải làm cách khác, không đụng vào quân địch, mà vượt lên và tấn công vào sườn. Chiến thuật là biến đi, như không có, để chỉ xuất hiện vào giây cuối cùng, lúc nhào vào con mồi.

Đối thủ vừa ngụy trang vừa tìm kiếm, đuổi theo trong hệ thống rối ren những đường mòn luôn luôn thay đổi, bất định. Đây là một cuộc trốn - tìm kịch tính giữa những người mù trong bóng tối rừng rậm. Tất cả bao la và mất sức lực, như một câu đố khó khăn. Chiến thắng là kẻ nắm bắt đúng, trong mạng lưới vô số đường mòn tìm được đoạn đường kẻ mình săn đuổi đi qua. Người ta nấp bên lề đường; hóa thân vào vỏ bọc cây xanh và chờ đợi. Nếu tính toán đúng, kẻ thù không nghi ngờ gì, xuất hiện theo hàng một. Đây là lúc phải tuyệt đối kiên trì, để quân thù đi sâu vào lưới; phải hạ tất cả một lúc, bằng một làn đạn của mọi loại súng như của đội hành quyết. Vì nếu bạn sớm quá, nếu để lộ ra không đúng lúc, nạn nhân sẽ thoát chạy vào rừng sâu và không trông thấy nữa. Ngược lại, quân phục kích có thể bị rơi vào bẫy tương tự như mình đã giăng và hỏng việc.

Cuộc săn đuổi ấy thường kéo dài hàng tháng. Phải đi bộ ngày đêm, phải mạnh về thể lực và tinh thần. Đấy là cuộc chơi tổng thể trong đó con người sử dụng mọi khả năng ở mức cao nhất trong không gian khắc nghiệt của địa ngục xanh.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Hai, 2017, 07:58:00 AM

Tôi đã được chứng kiến cuộc chiến hư ảo ấy ở chân dãy núi Trường Sơn. Phía dưới thấp, bốt Đaktô dựng lên những hàng cọc bao la và tháp canh bằng đất đỏ. Những người thiểu số ngồi xổm, chỉ mặc khố, gùi trên lưng, chờ đợi. Phụ nữ mình trần, hút một loại ống điếu to. Sẽ là hội mừng trăng. Một con trâu buộc vào chiếc cọc; theo phong tục chốc nữa các chiến binh sẽ dùng lao giết nó. Người già không phân biệt rõ giới tính, tóc cắt ngắn, đào các chum rượu người ta sẽ uống. Những người khác bận quần áo lính Pháp, đứng canh gác.

Viên đội Belleau trưởng bốt, mặt đỏ, nặng một trăm kilô ngạc nhiên nhìn thế giới mà ông là Trời ở đây. Và rất tự nhiên, với triết lý hiến binh, ông mô tả với tôi “công việc” của ông - cuộc chiến tranh ông đang tiến hành:

- Trước hết phải hiểu rừng rậm vốn trung lập, không giúp đỡ ai. Người mạnh hơn sẽ thắng. Kẻ bị thương chịu tội, người ta không đảm đương, không mang đi được. Hầu như luôn luôn họ bị bỏ rơi.

Chỉ dần dần mới biết rõ, mới hiểu rừng rậm ghê gớm đến mức nào. Người ta chết đói giữa hoa lá, chết khát mặc dù thác lũ gió mưa ngập nước các khe đá. Tất cả thối rữa, bắt đầu là thịt. Người ta làm mồi cho sốt rét, những cơn ác tính; chỉ hơi xây xát là gây mưng mủ không chữa được. Tuy vậy vẫn phải tiến về phía trước qua những dãy núi luôn giống nhau, như răng cưa. Không thể dừng lại, bị quân địch săn đuổi và phải săn đuổi quân địch. Phải đi nhanh hơn để nắm được dấu vết địch trước khi địch nắm được dấu vết mình. Trong những trường hợp vô vọng người ta đào cắt đường đi của mình, mỗi ngày chỉ đi được hai cây số.

Người Việt là một đối thủ kiên cường, có thể đi một trăm cây số một đêm. Cái chết không là gì đối với họ. Trong phục kích họ biết chờ nhiều ngày, lẫn vào thiên nhiên, không một cử chỉ, một tiếng động, tiếng ho. Họ có kỷ luật khác thường, ẩn náu không lộ mình, ngón tay để trên cò súng cho đến khi hàng ngũ địch vào vị trí thích hợp và người chỉ huy hô “Bắn".

Chúng tôi phải ngang bằng với họ. Tôi cho quân lính tôi bỏ mọi trang bị quân sự cho nhẹ người: phải xông vào rừng gần như trần truồng, không mang vác gì, chỉ dùng sức. Tôi đi chỉ với súng và đạn. Mỗi người của tôi cũng có một đoạn tre như tủ đựng thức ăn, đựng cơm, một ít cá khô, muối, ký ninh, mấy viên côđêin để ngăn hắt hơi khi phục kích. Thức ăn nấu sẵn, không đỏ lửa. Khi ăn, ngồi xổm ngốn ngấu mấy miếng và nhất là chôn hết những gì còn lại. Người ta luôn xóa dấu vết của bữa ăn, của bước chân; dựng lại cỏ bị xéo; dấu viết ít nhất trông thấy được có thể gây tai họa.

Tôi có đồng minh là người Sêđăng, những người cao lớn ở trần rất đẹp, vẻ lòe loẹt và xăm đầy bùa. Da họ màu đồng đỏ. Họ trở thành điên loạn khi làm lễ hiến sinh trâu, chặt ngang đùi và uống máu, ăn ruột gan trâu. Đấy là những chiến binh, đánh nhau với bộ tộc bên cạnh, người Kàtu quy thuận Việt Minh.

Như tôi làm đối với người Sêđăng, Việt Minh tuyển dụng người Kàtu. Cuộc chiến rất gay go vì ở đây rất gần cơ sở xuất phát của quân đỏ - địa phận Việt Minh ở Quảng Ngãi và Quy Nhơn trên bờ biển Annam. Phía bên kia dãy Trường Sơn là biển, bờ biển với đồng ruộng, thành phố, đông dân cư, và văn minh. Các tiểu đoàn đỏ chỉ cách khoảng trăm cây số.

Tôi chống cự được nhờ người Sêđăng. Họ vững vàng và trung thành khi mà tôi chưa vi phạm một trong những điều cấm kỵ của họ. Những điều này nhiều đến mức hàng ngày tôi có nguy cơ vô tình xúc phạm. Tôi rất chú ý, không bao giờ tiến hành một cuộc hành quân chớp nhoáng nếu có con hươu tác bên phải hàng quân; Không có điềm xấu nào bằng và nếu tôi không kể đến, những người Sêđăng sẽ bỏ tôi.

Không có những người hoang dã ấy tôi sẽ như một đứa trẻ lạc lối. Họ dẫn tôi đi đúng như những người Kàtu dẫn người Việt. Nhất là tôi không thấy điều gì - họ là con mắt tôi. Họ nhận ra một cách không giải thích nổi những cạm bẫy không trông thấy mà người Kàtu bố trí trong rừng và trên đường đi, từ những chiếc bẫy sập trên cọc đến những mũi tên nhỏ găm ở mặt đất, có những cái mười phân xuyên bàn chân, ba mươi phân xuyên mắt cá và tám mươi phân đâm thủng ruột. Những mũi tên ấy đều tẩm thuốc độc. Người ta có nguy cơ bị xiên qua người ở từng bụi cây. Kho vũ khí của những người cổ xưa bao gồm những cạm bẫy ghê rợn khác nữa. Một cành cây một dây leo to tướng đập xuống đè nát người, hoặc một cây cong làm hai bật lên phóng mũi tên vào ngực anh. Những vũ khí lợi hại nhất là cây nỏ, hạ một người cách năm mươi mét với độ chính xác tuyệt đối.

“Những người Sêđăng của tôi” phát bỏ giúp tôi mọi cạm bẫy ấy. Họ cũng chữa khỏi bệnh cho tôi bằng những phương thuốc kỳ diệu. Một lần tôi toạc cả chân vì một mũi tên nhỏ, họ dán cho tôi một loại thuốc cao chế biến từ cỏ và tôi bước đi được.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Hai, 2017, 07:58:41 AM

Tôi yêu mến những người Sêđăng của tôi, họ cũng có một sự thương cảm nào đó mặc dù không ổn định. Người Việt cố gắng mua chuộc họ và phải trả giá bằng mạng sống. Những việc đó trong rừng cách đây khoảng hai tháng.

Một buổi tối năm Việt Minh vào trong một xóm Sêđăng, mang theo Quà và đề nghị hòa hoãn. Các cụ già tập họp nhau lại, hứa hẹn sẽ giao nộp tôi. Nhưng trong lúc chiêng trống vang lên trong buổi tiệc, họ cử một phái viên đến nộp đầu các vị khách cho tôi. Người ta chỉ con đường Việt Minh sẽ ra đi và tôi chỉ việc giết. Tuy vậy họ đề nghị một điều kiện. Sau đó phải di chuyển làng đến một chỗ khác, mất một ngày đường, để quân đỏ đi trừng phạt không tìm ra họ. Vận chuyển hoặc làm lại những căn nhà tranh không là gì nhưng sẽ không thu hoạch rẫy được. Tôi có chấp nhận bù lại số gạo tương đương không? Tôi đồng ý và việc mặc cả kết thúc.

Cuộc phục kích thất bại. Một lính ngụy bắn quá sớm, Việt Minh nhào vào rừng nhưng họ bị phân tán. Và một người đơn độc trong rừng là gặp rủi ro rồi, chỉ cần theo dấu vết cho đến khi họ kiệt sức ngã xuống. Trong tĩnh lặng có vẻ tuyệt đối có tiếng trống nổi lên, lại người thứ hai và những người khác nữa. Đấy là trống mời đến nhận phần con mồi. Người Sêđăng săn đuổi quân Việt nhưng chờ họ mất hết sức lực cuối cùng rồi tấn công và đâm họng họ.

Bốn trong những người Việt bỏ xác trong rừng. Người ta đem đến cho tôi người thứ năm làm quà chiến thắng. Đây là một đại uý, anh ta còn lại bộ xương, lở loét khắp nơi. Tôi cho chữa chạy, anh ta đâm thủng bụng mình bằng một đoạn tre nhọn. Người ta chữa cho một lần nữa rồi thấy cử chỉ anh thật dũng cảm, tôi cho thả ra.

Điều lạ lùng nhất là mặc dù tận tình làm việc tốt, luôn luôn tìm “giải pháp đúng đắn” nhất, đôi khi người Việt sa vào những sai lầm rất lớn. Điều này xảy ra khi họ nghĩ đã thắng lợi. Họ tỏ ra là những kẻ thống trị nhẫn tâm. Vì thế đã xảy ra cuộc nổi dậy của người H’rê từ lâu quy thuận Việt Minh ở Quảng Ngãi. Bây giờ tôi có một đội quân H’rê; với họ tôi xâm nhập đến ngoại ô Quảng Ngãi.

Thế đấy, trong rừng cuộc đấu thật vô biên. Người Việt có những thắng lợi, những thất bại nhưng họ tiến lên phía trước - dù những tiến bộ của họ rất chậm. Đấy là công việc của đàn mối để thực hiện bộ máy tâm lý - chính trị đỏ. Tai họa lan rộng dần. Sau hành trình của những cán bộ nói giỏi tiếp đến những phân đội mấy người lính rồi nhưng đơn vị quân sự nhỏ. Một khó khăn bất ngờ hạn chế quy trình - phải phân tích tình hình, tìm ra “sai sót”, lỗi lầm, tự sửa chữa, làm tốt hơn, cải tiến chiến thuật. Bao nhiêu lần ngã xuống và bắt đầu lại! Nhưng phong trào không lay chuyển được. Sau nhiều năm chuẩn bị, các sư đoàn đỏ chỉ còn đến đích. Cuối cùng sẽ là Điện Biên Phủ.

Ở Sài Gòn, Hà Nội, người Pháp không thấy mối nguy.

Họ tưởng rừng rậm là của họ, thế nhưng về sau khi người Việt thực sự chuyển sang hành động, tất cả đều đổ vỡ. Và sẽ là thất bại.

Đúng là cần có thời gian. Mục đích trước mắt của việc bình định không phải là rừng xanh, sự lẻ loi và những người cổ xưa của nó. Đấy là quần chúng da vàng, hai mươi triệu người dân quê.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2017, 06:07:14 PM

Cực điểm ở Nam Kỳ

Đất đai không đáng kể mấy. Trước hết người ta đánh nhau vì những diện tích hạn chế - những nơi đông dân, nhiều của cải, những thành phố, và lúa gạo trở nên rất quý mà người Việt nói mỗi hạt thóc là một giọt máu.

Nhưng cả những nơi đông dân cư ấy - lưu vực sông Hồng, bờ biển Annam, xứ Nam Kỳ, cường độ cuộc chiến thay đổi đáng kinh ngạc.

Hà Nội và châu thổ Bắc Kỳ có vẻ bình ổn, như vĩnh viễn rã rời vì những bi kịch năm 1946. Ở thành phố nhân dân không trở về bao trùm một tình trạng hoà hoãn vắng lặng, ở nông thôn, nông dân trốn tránh xa đường sá. Tất cả đều bỏ ngỏ.

Ở những thành phố bị đập phá, đổ nát hư hỏng trở nên xơ xác hơn. Chỉ thỉnh thoảng có một quán rượu mới, ở đó vang ra tiếng kêu của bà chủ gái điếm, giọng mũi của một chiếc máy hát và tiếng cười của binh lính. Hà Nội trống trải, im lặng như thành phố chết.

Ngoài các đô thị đượm nỗi u ám, chỉ còn nước và đất trống! Hà Nội hoàn toàn vắng lặng. Ở vùng châu thổ đông dân cư này có khi một cây số vuông hàng nghìn người, hầu như không còn dân nữa. Dân quê đi ẩn náu, cố để bị quên lãng, hy vọng không bị tai nạn vì chiến tranh.

Thực ra hầu như không còn đánh nhau. Đất nước bị phân chia như theo một thoả thuận ngầm. Phần người Pháp các thành phố và các trục đường. Việt Minh là các làng xóm và đồng ruộng. Cuộc chiến, đối đầu, tranh đua giảm xuống mức tối thiểu. Đấy là quyền lợi của các đối thủ.

Quân số dự bị của Đội quân viễn chinh được đưa ra trên đường số 4. Không còn quân để chiếm toàn vùng châu thổ. Người Pháp không quan tâm đến phần còn lại: nó nghèo quá! Hơn một triệu người chết đói năm 1946 khi gạo của Nam Kỳ không đưa tới. Việt Minh rút ra từ nạn đói và khổ sở này lợi thế gì?

Vậy là người ta cử đến Bắc Kỳ những viên chức và sĩ quan kém nhất. Trong bộ khung Hà Nội họ sống theo tập tục một nhiệm sở trì trệ và một khu đồn trú không mấy uy nghi. Ủy viên cộng hòa có chiếc trán đồ sộ, xương to, giọng nói như sấm. Viên tướng là một người đẹp trai kiêu ngạo, giàu có. Chính quyền và Quân đội ghét nhau. Trong những ngôi nhà bẩn, sửa chữa tạm thời, các văn phòng áp dụng những quy định cũ như chưa bao giờ xảy ra việc gì.

Việt Minh tránh đánh thức người Pháp dậy, không tấn công Đội quân viễn chinh. Họ khai thác cái không khai thác được vùng châu thổ đất bạc màu, nông dân gầy yếu, nơi quá nhiều người nên không đủ ăn. Và họ thu được kết quả nhờ kỷ luật cộng sản, với phương pháp phân mức, phong trào thi đua, đóng thuế yêu nước. Nhưng để thành công tối đa họ cần yên ổn. Chỉ thị của Đảng là để yên cho Đội quân viễn chinh để mình cũng được yên.

Hai bên đều tự kiềm chế. Không có lựu đạn ném trong làng, không phục kích trên đường nhưng quân lính Pháp đi trên bờ ruộng, không vào làng. Việc vi phạm luật lệ ấy rất hiếm, sẽ bị cảnh cáo.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2017, 06:20:22 PM

Chiến tranh chỉ thực sự bắt đầu ở phía nam, trên bờ biển dài dằng dặc miền Trung. Một chiến trường kỳ lạ. Dãy núi đổ xuống biển nhiệt đới trên những vành cát, đầm phá và đá ngầm. Không có ranh giới giữa nước ruộng đục ngầu và đại dương. Thảng hoặc có một vùng đồng bằng hẹp hoặc một thành phố.

Trong khu vực vừa dưới nước vừa trên cạn ấy kéo dài hơn một nghìn cây số, dưới chân dốc đứng của dãy Trường Sơn, những trận đánh nhau trở nên quyết liệt. Lực lượng tham chiến quan trọng. Nhưng cho đến tháng cuối năm 1954 người ta hầu như chưa bao giờ nói đến những trận đổ máu ấy - không có kết quả quyết định, không thể có vì đất nước bị chia cắt từng mảng một. Chỉ là những trận phục kích ở địa đầu bờ biển, bao giờ cũng thế, lặp lại vô tận. Xứ Annam không có giá trị, không có mục tiêu lớn; người ta bắn giết nhau ở đấy, co cụm lại mà không muốn nói đến.

Cực điểm là ở đầu kia Đông Dương, tại Nam Kỳ. Người ta thấy ở đây tất cả sự quyết liệt của Kháng chiến, tất cả sự cứng rắn của chế độ thuộc địa. Đây là hai lực lượng dữ dội, bám chặt nhau trong một cuộc đấu sống chết. Điều họ giành giật là của cải, là cuộc sống.

Tôi đã biết xứ Nam Kỳ phì nhiêu ấy, đồng ruộng bao la, những đồn điền và con người! Cuộc sống dưới rặng dừa và mặt trời gió mùa thật dồi dào. Dân quê ăn no mà không vất vả - ở đấy sản xuất khá nhiều lúa gạo, xuất cảng gần hai triệu tấn.

Tôi biết như mọi người, bên nào mất địa đàng ấy là hết thời. Năm 1948 chính Nam Kỳ là nơi quyết định. Vật cược là ở đấy, chiến tranh là ở đấy - một cuộc chiến tranh kinh tế vì lúa gạo, cao su và đồng bạc.

Vì vậy người Pháp cố gắng ghê gớm. Họ muốn thanh toán cuộc kháng chiến miền Nam. Không có xứ sở này Hồ Chí Minh sẽ đổ sụp trong “tứ giác” của ông về phía bắc hơn mười lăm nghìn cây số, trần trụi và nghèo đói. Châu thổ Bắc Kỳ cung cấp cho ông tân binh, một ít gạo tiền nhưng tài trợ lớn và trang bị đầy đủ đến từ miền Nam. Thuyền buồm không ngớt chạy dọc bờ biển giữa tàu chiến Hải quân Pháp để đem đến cho ông những hòm tiền và những bao ngũ cốc.

Việt Minh của Nam Kỳ còn quyết liệt hơn. Đối với họ không những không thua mà phải thắng. Họ biết rõ không có Nam Kỳ, người Pháp không kiếm được tiền nữa, không còn quyền lợi kinh tế, sẽ không quan tâm đến Đông Dương và ra đi.

Cuộc chiến này vừa tẻ nhạt vừa kịch tính! Cũng như mọi cuộc chiến tranh không có những trận đánh lớn, không quân đội dàn trận, không những đòn đánh khiếp đảm. Và đồng thời, hơn hẳn cuộc chiến tranh thực sự, đấy là một cuộc phiêu lưu.

Người ta thấy gì ở đấy? Chính quyền thực dân Pháp tiếp tục ở Sài Gòn như không có gì xảy ra. Nhưng Sài Gòn có hai mặt: mặt tốt người ta trông thấy che giấu khắp nơi cái không nêu tên, cái khó thăm dò.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2017, 06:21:04 PM

Ở đấy tất cả đều có. Có Sài Gòn văn minh, câu lạc bộ thể thao tuyệt vời với bể bơi thường xuyên có những cô gái có giáo dục của các đô đốc hải quân và tướng lĩnh, bơi lội. Có những tên đào ngũ và tín đồ các giáo phái cuồng tín và ngu độn. Có những nhà kinh doanh, đáng kính và sự thịnh vượng, có đồng bạc chúa tể và mọi buôn gian bán lận - mọi người sinh sống thoải mái trong khi cái chết đến bất cứ lúc nào. Khắp nơi có những đám đông tụ tập, đèn huỳnh quang, vui chơi; khắp nơi cũng có Việt Minh ngụy trang, không ngụy trang, những Việt Minh thật, Việt Minh giả, nửa thật nửa giả. Có những viên chức hình thức; có những kẻ giết người của mọi tổ chức - những cán bộ kháng chiến, của mọi phe phái, phòng nhì, cảnh sát, an ninh, của Cao uỷ Pháp, của Chính phủ Việt Nam. Những gia đình giàu đặc biệt có tay chân bảo vệ, các hội thương gia Hoa kiều cũng thế. Khi một nhân vật quan trọng hoặc không quan trọng bị giết người ta không bao giờ biết do ai - và khôn ngoan hơn là không tìm hiểu. Có Đội quân viễn chinh, những ban tham mưu khổng lồ, những tiểu đoàn đồn trú, quân lính được tuyển khắp thế giới, được trả lương hậu và những người chết của họ. Có những chế độ của phong kiến Trung cổ, các khoản thuế đánh vào tất cả mọi người, mọi luật lệ không thay đổi và trái ngược nhau mà dân quê phải gánh chịu.

Có lâu đài Norodom; ngày 14 tháng bảy có những đoàn diễu hành đẹp, khiêu vũ, tiệc rượu, hội chợ tráng lệ ở khách sạn Continental và trên đường Catinat, hòn ngọc “Paris” ở Viễn Đông. Có những người xích lô lo lắng, không biết mệt sẵn sàng làm mọi việc; vũ khí của họ là đôi dép đế gỗ. Có những người ăn mày và gái điếm Việt Nam trong những khu nhà tranh. Có đồng bạc Đông Dương trị giá mười bảy phrăng, nỗi ám ảnh “đổi tiền”, giao dịch ở sở Hối đoái và có giờ khai vị. Có những cuộc mua bán gạo, cao su. Có những bộ trưởng Việt Nam lợi dụng tình hình chơi trò bốn, năm mặt và bao giờ cũng bố trí một bà để thắng to trong mua bán. Có những lễ nghi Phương Đông, những bữa tiệc tưới rượu của người Trung Hoa, những gái gọi nổi tiếng mặc áo dài xẻ sườn, “Thế giới cao sang” và những bệnh nhân hủi không được chữa chạy sống trong nghĩa địa, đào ổ nằm giữa các ngôi mộ. Ngôi nhà thờ lợp ngói luôn sừng sững bên cạnh những ngôi nhà của sở An ninh mà cảnh sát suốt ngày đêm “tra khảo” phạm nhân.

Ở biệt thự Pagode, phòng trà hào hoa, trưởng các văn phòng đặc biệt, một đại tá, mời các nhân vật tên tuổi đến khu vườn có nhiều cây lạ ở biệt thự rất đẹp của ông xem hoa nở lúc nửa đêm - đúng sau những cốc whisky cuối cùng khi đồng hồ đánh mười hai tiếng thì hoa xòa cánh. Việc săn lùng đồng bạc Đông Dương bao giờ cũng cuồng nhiệt, lôi cuốn những vụ bê bối ngột ngạt và những qui luật máu trong tính toán.

Những người đảo Corse đưa từ Marsaille sang những gái đĩ da trắng. Một số đi với các tỷ phú Trung Hoa. Tôi đã nghe một cô trong số đó kêu lên: “Không sao cả. Tay Trung Hoa rất phấn khởi! Hắn làm xong trong một phút và cho năm nghìn đồng bạc Đông Dương.” Theo một quy định mới những quán hút thuốc phiện lấy tên là “trạm xá giải độc”.

Nguyễn Bình, người đứng đầu Việt Minh Nam Bộ, đến Sài Gòn trước râu mọi nhân viên cảnh sát. Bảy Viễn, “thủ lĩnh” băng nhóm Bình Xuyên, chơi hào hiệp với các bà vợ, với những con hổ và trăn trong tổng hành dinh ở cầu chữ Y. “Cũng có “giáo chủ” Phạm Công Tắc bao giờ cũng đội mũ có hình thêu ren quả sồi và “tướng” Sổ một sao. Trong các bệnh viện Việt Nam, người ta xếp ba người trên cùng một tấm ván, y tá bán mọi thứ, cả những cốc nước. Một người bị phẫu thuật chết đói ở đấy vì không có mấy xu mua cơm. Hè đến, vào mùa khô, những đám cháy lớn thiêu trụi có khi toàn bộ khu phố. Những điền chủ giàu có tàn ác cho phóng lửa vào những đợt kết thúc đầu cơ - đuổi những dân quê nghèo khổ tự xây dựng những “phố lau sậy”, khu dân nghèo ở Châu Á. Các bà vợ bộ trưởng và viên chức cao cấp đến phân phát bánh mì, thịt cho những người bị nạn. Đấy là tất cả những gì người ta làm cho họ. Thậm chí những kẻ đốt nhà cũng không bị truy lùng.

Có phần thưởng cho việc tố cáo. Những tên chỉ điểm mua bán, trao đổi thông tin. Hầu như luôn luôn là những tin sai; tin đúng quá nguy hiểm và dẫn đến những phức tạp được trả công bằng dao hoặc tiểu liên.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2017, 06:21:50 PM

Tất cả đều bí hiểm, đều để mua bán. Mỗi quan chức Pháp được tặng thưởng, bảo vệ, không bị nghi ngờ. Quyền doanh thương thiêng liêng. Người ta làm giàu ghê gớm. Nhưng người thương gia trung thực làm sao có thể nghĩ rằng hàng hóa mình bán đi vào vòng xoáy Việt Minh? Chính người Trung Hoa phụ trách tiếp xúc với khách hàng da vàng và họ không bao giờ để lộ ra.

Có Sài Gòn và vùng đất không người ở cửa ngõ Sài Gòn. Cách thành phố mấy cây số ở đồng bằng Tháp Mười ông Nguyễn Bình đáng sợ xây dựng các tiểu đoàn tình nguyện. Trên những con đường thuộc địa rộng đẹp hàng ngày nối đuôi nhau không dứt những chiếc “xe Trung Hoa” đầy ắp hàng hóa và hàng nhân đạo người ta không biết đi đâu. Việc đi lại trong vùng Việt Minh dày đặc trên đường Pháp đặt cách quãng nhau những bốt và tháp canh.

Trong những thành phố nhỏ còn lại vài “quan cai trị” người Pháp. Những người trẻ nhất đam mê giết người Việt. Những người già, ghét cay ghét đắng tất cả sự lộn xộn ấy, luyến tiếc thời xưa. Một trong số họ, trong vùng lửa đạn cả buổi sáng dạo trên những con đường tỉnh lỵ của ông để tin chắc công nhân quét rác đã nhặt hết lá rụng. Ngày càng nhiều tỉnh trưởng người Việt Nam. Phần đông khôn ngoan không bước chân ra khỏi nhiệm sở, ngôi “nhà Pháp” đẹp đẽ được chuyển lại cho họ nhưng thường thường họ biến thành nơi đánh bạc.

Ở các đồn điền người ta tiếp tục “cạo mủ” cao su giữa trận chiến du kích và chống du kích. Tuy nhiên, năm mươi người Pháp, những trợ lý trẻ cũng bị sát thương. Nhưng việc sản xuất vẫn tiến hành và việc mua bán cao su thật béo bở.

Nam Kỳ có tất cả những cái đó - và nhiều cái khác nữa. Người ta giết nhau, tra tấn nhau và sống bên nhau, sống với nhau. Người ta cùng nhau buôn bán và làm mọi cách để hủy diệt nhau. Đấy là sự cân bằng trong tính chất kỳ dị, tàn ác, phản bội, và tất cả những mánh khóe phản bội. Chưa bao giờ biết bao nhiêu trong sạch lại lẫn lộn với biết bao nhiêu vẩn đục như thế!


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2017, 06:22:58 PM

Liên minh các phe phái

Người Pháp tổ chức tấn công. Gần như toàn bộ Đội quân viễn chinh đóng ở Nam Kỳ dành để làm việc ấy. Không phải một cuộc tấn công chính thức mà là lao động công cộng.

Người phát minh ra điều đó là tướng de Latour, một người dân Sahara. Có vẻ như thời gian còn dài, tại sao người ta không kiểm soát các nguồn nước. Ông biết Việt Minh cũng lỏng như nước, ở khắp nơi: đất là một chất xốp.

Người ta không tìm cách bắt Việt Minh, không nắm bắt được họ. Trước hết phải đẩy họ ra xa hơn như dồn nước. Người ta giải phóng đất đai từng mét một, với những phương tiện khổng lồ không tương ứng với số lượng và sức lực của du kích. Người ta chế ngự đất, quy tụ vào một bộ máy.

Công việc bình định xúc tiến với một bề ngoài kỳ lạ, làm nhớ lại thời Trung cổ. Người ta đặt ra trong thiên nhiên đủ thứ như những lâu đài phòng thủ và vọng lâu. Có nhiều đến nỗi chính quân địch ở bên ngoài, giữa không gian, bị ngột ngạt lùi ra xa để sống và thở. Nhưng thật nghịch lý, vượt qua các thế kỷ, vùng chiếm lại được cũng giống như một giếng dầu. Đủ loại siêu kiến trúc sẵn sàng khoan đất chỉ là để bảo vệ: một rừng nhân tạo những đài quan sát và tháp canh.

Việc lấn chiếm làm trong ba thời kỳ. Trong đợt “đẩy lui” những tiểu đoàn Pháp tấn công đuổi quân chính quy và phá huỷ căn cứ của họ. Rồi người ta đặt một bộ “giáp sắt”, xây dựng phía trước, trên biên giới mới, một vành đai những công trình lớn của Pháp - những đồn bốt vĩnh viễn có viên đội và lính ngụy. Cuối cùng bên trong là những công sự nhỏ và cảnh sát người địa phương để tự vệ, nhằm bảo đảm vùng đã giải phóng.

Ở giai đoạn này dân chúng được xem là có khả năng tự bảo vệ mình chống lại những người Việt cuối cùng. Họ phải xây dựng cảnh sát cho mình, về nguyên tắc không còn sự hiện diện của người Âu, thậm chí không còn một ông đội già đã vỡ mộng ban đêm “bắn vào bụi tre”. Từ nay là chế độ những hương chức trịnh trọng và lính của họ, nhỏ nhoi trong bộ soóc, ra dáng với chiếc mũ đội rất thích bồng súng chào.

Cách “chinh phục” xứ Nam Kỳ ấy trả giá một lớp người điên đòi hỏi những đám đông mặc đồng phục. Cách đó tạo ra một lớp dân chúng quân sự hóa bên trên dân thường: với một người dân phải có gần một người lính.

“Hệ thống” ấy vẫn không đủ. Việc đóng vách ngăn đất nước quân đội nghĩ là kín nhưng không. Sau một rạn nứt là rạn nứt khác và quân đỏ vẫn trở lại luôn. Mỗi lần như thế người ta tìm chỗ sai sót, bịt “lỗ” bằng một bốt nữa, thêm lính ngụy, thêm những chi tiêu mới. Cứ mỗi tiến bộ lại phải thêm nhân viên, kinh phí, phương tiện và rồi mọi thứ cạn kiệt.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2017, 06:23:29 PM

Đội quân viễn chinh chỉ là một giọt nước trong biển người Châu Á. Càng ngày nhu cầu dùng người da vàng càng trở thành không tin được. Không bao giờ đủ. Việc bình định Nam Kỳ đã hết mức, đến chỗ ngạt thở. Cách Sài Gòn năm cây số, những rừng dừa hai bên con đường lớn phía Nam bao giờ cũng là Việt Minh.

Trong tình trạng lúng túng ấy, tướng de Latour tìm ra một giải pháp: lôi kéo các phe phái, xúi họ đánh người Việt.

Con người hào hoa được đào tạo từ sa mạc ấy, viên sĩ quan cũ của Maroc ấy từng ít một khám phá ra Châu Á. Nhưng ông giữ lại của Châu Phi bài bản về nhiệm vụ khai hóa. Đấy là một trưởng giả quê mùa cưới một cô gái rất trẻ, con một viên tướng trạc tuổi ông, của thế giới ông. Hầu như mỗi năm ông sinh một đứa con gái, hy vọng sẽ có một đứa con trai thừa kế chức vụ của ông. Sự ngoan cố ấy cũng lớn gần như trong nghề nghiệp. Tóc vàng nhưng da màu nâu sáng, đôi mắt xanh giữa những nếp nhăn rắn rỏi, để ria mép, tóc cắt ngắn đã bạc, cường tráng, nhanh nhẹn nhưng sớm già, ông có vẻ duyên dáng với chiếc “quần ngắn bằng da”. Với nhiều cảm tính và xu hướng tốt, ông có những gợi ý ngắn, đơn giản, thực tế mà ông áp dụng với mưu mẹo nông dân. Những cái đó lẫn lộn đột ngột và khoan dung, với giọng trầm vang và đập tay thân mật là sự lôi cuốn đặc biệt những trưởng giả phục vụ nền Cộng hòa.

Dĩ nhiên ông thuộc về trường phái Lyautey. Vậy là ở Châu Á ông tìm các bộ tộc, các trưởng nhóm, những người thô lỗ và mạnh mẽ, trung thành với những ai họ thán phục - tầng lớp sĩ quan Pháp. Ông ký những bản thỏa thuận với các phe phái: họ cam kết chiến đấu bên cạnh Đội quân viễn chinh sẽ trả tiền và trang bị vũ khí cho họ. Hơn nữa người ta thừa nhận mỗi phe phái có một vùng độc chiếm, một mảnh đất của Nam Kỳ: ngoại ô Sài Gòn - Chợ Lớn cho Bảy Viễn và quân Bình Xuyên của ông ta, tỉnh Tây Ninh cho giáo phái Cao Đài, cửa sông Mékong cho Hòa Hảo.

Quan chức thực dân ở Sài Gòn rất mến tướng de Latour. Phong thái của ông làm họ yên tâm. Nhưng được biết những thương lượng của ông với các phe phái, họ vỡ mộng.

Phần lớn các quan chức của cơ quan thuế quan hầu như đêm nào cũng tụ tập ở sân thượng khách sạn Continental. Khí hậu tác động trái ngược nhau đối với họ, làm khô khốc những người này nhưng vỗ béo những người khác, trang bị cho họ chiếc “bụng thực dân” mang quần ngắn. Họ nói với tôi với sự giận dữ bất lực về kinh nghiệm không ai nghe cho:

- Ông tướng nghĩ điều đình với những bộ tộc trung thực. Nhưng các phe phái là những loại hội kín, những bộ máy thống trị ghê gớm và rất tỉ mỉ theo lối Châu Á, sự bịp bợm, ngu ngốc, khao khát quyền lực của họ không thể tưởng tượng nổi.

Khi các phe phái là Việt Minh nữa thì nỗi sợ hãi lan ra trong những người Pháp đến mức nào! Người ta kể cho tôi những câu chuyện kinh hoàng và đổ máu:

- Năm 1945 chính những người Cao Đài mặc đồng phục tàn sát người Pháp kinh khủng nhất. Những vụ bắn giết ấy được chuẩn bị có phương pháp. Người Nhật đã cung cấp vũ khí, đạn dược cho các “đội bay”, các tiểu đoàn của Giáo trưởng. Bí mật luồn vào thành phố, theo lệnh chỉ huy của các sĩ quan, rất kỷ luật họ giết hết người da trắng, phải tiếp tục cho đến khi không còn một ai sống sót. Vì những người lãnh đạo Cao Đài lạnh lùng tính toán chiến công của vụ tàn sát này sẽ làm toàn bộ Nam Kỳ rơi vào tay họ. Ông không thể tưởng tượng tham vọng của giáo phái này như thế nào và có thể đẩy họ đến mức nào đâu.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Hai, 2017, 06:24:34 PM

Làm sao chấp nhận được bây giờ Cao Đài ủng hộ Pháp? Họ căm ghét chúng ta. Quân lính Leclere sau khi lấy lại Sài Gòn, đã đuổi theo họ đến Tòa thánh Tây Ninh của họ, xe gắn đại liên phá đổ tường, rồi làm một bãi để xe ở đấy. Sau này giáo phái ấy bắt chúng ta đền tội vì phạm thánh.

Còn lạ lùng hơn nữa là tin vào Bảy Viễn. Chính mùa hè năm 1945 ấy, khi Sài Gòn mất trật tự, ông ta đi đầu đoàn người của ông diễu hành trên các đường phố; đích thân vác một lá cờ xanh lá cây rất rộng thêu mấy chữ “Quân cướp Bình Xuyên”. Sau đó trong thành phố bao la, giữa nền “trật tự” Pháp, ông ta làm người thu thuế được Việt Minh chấp nhận. Ông ta thao túng quyền hành nhờ một hệ thống khác thường về ám sát, những sào huyệt bí mật, các kho vũ khí, các mối quan hệ trung gian, đồng loã, mật khẩu. Ông có mấy nghìn nhân viên - trinh sát, thừa hành, người thu góp. Ông biết hết, có thể làm tất cả, thu thập nhiều tỷ, cho giết những ai ông không vừa lòng. Những việc ấy mất hút, lẫn lộn trong đám đông mênh mông của Châu Á. Người Pháp không bao giờ phá huỷ được tổ chức có nhánh khắp nơi đó. Ký kết chính thức với ông ta thực ra là giao thành phố cho ông ta, để ông ta đốt phá! Thật xấu hổ!

Tuy thế, nhân dân Sài Gòn không hề nói đến Hòa Hảo. Họ không biết rõ lắm - vùng độc chiếm của phe phái này quá xa, bên kia sông Mékong về miền Tây phía Nam Kỳ, một vùng bao la đồng ruộng và đầm lầy chỉ có nước và bùn. Nhưng quân lính ở đấy trở về tả lại thì là một ác mộng cực độ.

- Thật như thú vật. Những người điên nhào đến trước đại liên của chúng tôi - họ ở trần và hét lên, vung mã tấu. Những kẻ điên cuồng ấy chạy ào tới, khinh thường làn đạn. Thánh sống của họ, Huỳnh Phú Sổ nói với họ các chiến binh tử trận thực ra không chết, họ sẽ sống lại và được ban thưởng.

Thế nhưng năm 1948, những phe phái ấy, kẻ địch sống còn của người Pháp với bàn tay tắm máu của họ, mang quần áo và lon của Pháp, chiến đấu bên cạnh người Pháp. Điều đó xảy ra sau những màn bi - hài kịch, những màn “trở về” đổ máu và kỳ cục. Có những dịp cần nắm bắt từng giây. Tướng de Latour đã chộp lấy.

Cao Đài, Bình Xuyên, Hòa Hảo đều ở trong mặt trận Việt Minh: Nhưng Xứ bộ Nam Bộ ngại và khinh thường họ quyết định thanh trừng họ, ra lệnh diệt các thủ lĩnh và sáp nhập những người sống sót vào cộng đồng đỏ. Đội quân viễn chinh nói chung muốn những kẻ địch của họ giết hại lẫn nhau; các đoàn tuần tra bắt gặp trên đường hàng nghìn xác chết thì hài lòng biết mấy! Nhưng Phòng Nhì lập luận: “Nếu họ thanh toán có kết quả, những người đỏ thực sự sẽ được củng cố, mạnh và nguy hiểm hơn thì sao? Vì sao không can thiệp, cứu và sử dụng các phe phái bị dồn đến đường cùng ấy? Thay vì giết chúng ta họ sẽ giúp chúng ta giết người Việt. Bản đồ chiến tranh ở Nam Kỳ sẽ thay đổi”.

Từ đấy các phe phái phục vụ quân sự như người Pháp mong đợi. Điều đó phải là bước đầu một cuộc liên minh kéo dài trong suốt cuộc chiến tranh Đông Dương, nhưng cuộc liên minh ra sao? Với họ, tướng de Latour phối hợp theo cách của Pháp với tầng lớp cơ sở xưa cũ nhất của Châu Á tái hiện trong thời kỳ hiện đại - sự lẫn lộn không giải thích được của một sự chống đối nhau, từ cổ xưa nhất đến tính toán bác học nhất, từ vô chính phủ đến một kỷ luật tàn bạo, từ vô sỉ tuyệt đối đến một chừng mừng nào đó không vụ lợi. Căm ghét tất cả, căm ghét nhau, sẵn sàng làm mọi việc để chiếm đoạt, lợi dụng nhiều hơn, từ nay họ gắn bó với Đội quân viễn chinh Pháp.

Các phe phái mới đây thôi, nhưng liên minh với họ người Pháp liên minh với quá khứ, với những gì người Việt Nam trung thực và hiện đại xấu hổ. Các bên thực hiện một chế độ phong kiến bẩn thỉu, một thế giới mua bán, khổ hình, nghi ngờ và phản bội, với khẩu súng là thành phố cơ bản. Sẽ là một sợi dây không dứt những bi kịch, đòi hỏi và tống tiền. Công cuộc bình định chỉ còn là bề ngoài.

Nam Kỳ trước hết bị chia cắt thành mảng. Giữa những đồn bốt Pháp hầu như bất lực, các đoàn Việt Minh đi lại những vùng của họ không bị đụng chạm gì. Ở những lãnh địa rộng lớn, Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên xây dựng nền chính trị thần quyền vũ trang gần như không đụng đến được.

Vấn đề Nam Kỳ sẽ không giải quyết được nữa. Khi Bảo Đại được đưa trở lại, vấn đề toàn vẹn của Việt Nam sẽ không còn. Việc này cũng sẽ quay về quá khứ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2017, 07:35:02 PM

Đoàn người quy y

Mấy ngày sau tôi phát hiện ra mặt khác của đạo Cao Đài.

Tôi đi trên chiếc xe jeep với một trung uý Pháp, quận trưởng. Bỗng chân trời bị một vệt xám khu rừng cắt ngang. Người bạn đường bảo tôi:

- Chỗ này không tốt, khu vực của chi đội 6.

Xe chúng tôi đi vào giữa những cây cao su của một đồn điền bỏ phế. Con đường hẹp, những bụi cây bó chặt. Viên sĩ quan đi chậm lại ở đầu một đường vòng:

- Chúng ta tới ngay vùng phục kích. Ít nhất mỗi tuần có một lần. Hôm kia một đoàn tuần tra bị tiêu diệt nơi ấy và tôi đã đi nhặt xác.

Giữa vòm cây thấy một đám đông đáng sợ, tôi giật mình nhưng trung uý nói với tôi:

- Không phải Việt Minh mà là đoàn người Cao Đài. Chúng ta không gặp nguy hiểm gì nữa.

Chúng tôi vượt đoàn người mấy cây số. Đây là một cuộc di cư vừa cổ sơ vừa hiện đại một cách buồn cười. Châu Á truyền thống ở đây, đoàn xe vô tận rít lên theo nhịp đi chậm của những con bò vai u. Trên mỗi xe chất đầy như thường lệ người và đồ vật hư hỏng khốn khổ chấp nhận số phận. Theo lệnh tuyệt đối, trong im lặng nặng nề của đoàn người, người ta cảm thấy tất cả bị khống chế bởi một ý muốn cực mạnh, một sự thống trị không thương xót.

Trên đỉnh hình tháp lung lay chế ngự mỗi chiếc xe, một người đàn bà ngồi im giơ cao lá cờ vàng góc có một bánh xe răng cưa, biểu tượng của giáo phái Cao Đài. Người cầm cờ ngồi trên mớ lộn xộn của sự nghèo nàn - trẻ con, ông già, những bà mẹ cho con bú, những con lợn, chum vại, chiếu, mấy gói quần áo rách.

Viên trung uý thì thầm với tôi:

- Đây là đoàn chiêu hồi. Một “đội bay” trở về bốt khi cuộc hành quân chớp nhoáng kết thúc, với dân chúng bị càn quét đã quy phục hoặc sẽ quy phục; đám dân chúng này từ nay sẽ cấy lúa và nộp thuế cho họ.

Chiến lợi phẩm con người được canh giữ cẩn thận để Việt Minh không chiếm lấy trên đường đi. Quân lính Cao Đài bước đi trong tư thế chiến đấu rất lạ của cuộc chiến tranh da vàng. Tất cả ở họ toát lên sự uyển chuyển và phòng ngừa, hơn hẳn bất cứ đội quân Pháp nào! Đấy là tư thế hành quân chống sự bất ngờ, chỉ hiện đại hóa về vũ khí.

Ngang tầm chiếc xe kéo cuối cùng, hai người đàn ông mặc quần áo lao động màu xanh lơ, đội mũ Pháp thời Thế chiến lần thứ nhất tay đẩy xe đạp - quân “Bảo an” của đoàn. Rồi giữa những khoảng cách đều đặn các xe, các thanh niên mang vũ khí, bước đi linh hoạt của người Annam. Trang phục của họ gần giống như Việt Minh, vải bông nhẹ nhưng màu sắc phong phú hơn, đi từ đen đến hồng; Đây là quân thường trực, lực lượng tấn công. Giữa một toán quân, được bảo vệ bốn phía là một lính “súng cối” và một lính “đạn dược” - người đi trước mang chiếc ống giết người, người thứ hai phía sau đầy một thắt lưng đạn. Những lính chiến đấu ấy, ai cũng trưng trên mũ bê-rê huy hiệu tôn giáo mình: giữa vòng tròn cuộc sống, lưỡi gươm của lòng tin giao nhau với ngọn lửa của sự trong sạch.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2017, 07:36:16 PM

Đoàn người không dứt đi mỗi giờ sáu, bảy cây số. Xung quanh đoàn, hầu như vô hình, những bóng dáng đi lại trong những lùm cây xanh: những lính bộ binh ưu việt bảo vệ sườn. Mỗi người trong bọn họ chỉ có một quả lựu đạn; nhiệm vụ của họ không phải đánh nhau mà trông chừng, thám thính quân địch có thể đang chuẩn bị phục kích. Họ có hàng trăm, trải rộng khoảng nửa cây số, thăm dò từng bụi cây ngọn cỏ. Mạng sống của họ không có giá trị. Họ chỉ là những người hỗ trợ, những Việt Minh cũ mà Cao Đài cho có dịp chuộc lỗi lầm hoặc những nông dân bị bắt buộc đầu quân, nếu sống sót và tỏ ra trung thành, họ sẽ trở thành quân thường trực.

Cuối cùng con đường có vẻ đã thông thoáng. Một phút sau chúng tôi gặp một nhóm dân quê hoàn toàn bình thường, có những người gánh, người xách xô phân bón. Bọn họ, đàn ông, đàn bà, cả trẻ con nữa, nhún nhảy và trò chuyện hết sức tự nhiên. Thế mà đấy là những nhân viên tình báo “dò đường” phía trước cho đoàn người. Ngay người Việt cũng không nhận ra họ được.

Trong suốt thời gian chúng tôi vượt qua đoàn, tôi không nghe một tiếng nói, thậm chí không thấy trên một khuôn mặt, có cảm giác gì. Chỉ là những mặt nạ căng thẳng, những đôi mắt sợ hãi một cách máy móc. Một lần nữa tôi tìm ra sự nghiêm túc của Viễn Đông, ngột ngạt nhất thế giới.

Xa xa nổi lên một đài quan sát rất mảnh khảnh, cao bốn mươi mét. Hàng rào tre hình răng bừa và những cọc nhọn nối tiếp nhau. Ở mỗi hàng rào một người lính canh cúi người kêu lên những tiếng hoang dã: một cử chỉ tôn trọng, lời chào trước kia học của người Nhật. Tôi đang ở trong một bốt của Cao Đài. Các sĩ quan chỉ giữ lại của việc đào tạo Nhật Bản, tiếng chào, và hành động cúi đầu để tự giới thiệu. Trong mấy tuần lễ họ đã trở thành hình ảnh theo kiểu quân đội Pháp: đồng phục màu trắng, quần dài bó, lon, ca-lô rực rỡ. Trong số họ nổi lên chiếc áo dài của một mục sư, uỷ viên chính trị của Đấng Tối cao.

Chỉ huy quân sự, một đại uý khuôn mặt cao nhẵn đón tiếp chúng tôi. Ở đây sạch sẽ và được giữ gìn hơn bốt người Pháp. Người ta ngột ngạt vì mùi thuốc sát trùng. Tường luôn luôn được quét vôi lại, những khẩu hiệu lớn tôn vinh Tổ quốc, Cao Đài và mười điều lệnh quân đội. Cờ rất nhiều. Những bức vẽ chỉ cách đánh răng hợp vệ sinh. Trong phòng ngủ những chiếc màn xếp gọn để đầu giường. Nhà bếp quàng những tấm choàng trắng. Trong mỗi phòng tôi thấy một chiếc bảng đen, phấn, những người đang học vì luôn luôn phải học để nâng cao kiến thức và tiến bộ.

Có một sự ngây thơ trong tìm tòi để cải tiến, trong việc áp dụng kỳ cục đến từng chi tiết nhỏ. Nhưng làm sao không cảm thấy sáng kiến cảm động ấy không đồng thời là căm ghét? Điều ẩn nấp là vết thương cũ nổi lên hơn bao giờ hết với phức hợp thấp kém là lòng tự kiêu và hận thù không lường được. Tôi là kẻ thù cũng như mọi người Pháp không thể giết và phải bắt chước, vượt lên để tiến tới chiến thắng sau này.

Người Cao Đài bắt chước người Pháp thậm chí một cách gàn dở. Họ sao chép phương pháp, kỹ thuật của Pháp. Tuy vậy về căn bản nguyên tắc hành động, điều làm nên sức mạnh của họ là đặc thù Châu Á! Đấy là sự huyền hoặc “quần chúng”, việc khai thác họ làm con người biến mất trong một trật tự tập thể cứng rắn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2017, 07:37:22 PM

Trong bốt này quả là sự khắc nghiệt của một thế giới khác! Cả những quân lính thường trực của khu đồn trú cũng giữ im lặng và bất động thường xuyên. Họ không làm một cử chỉ không phù hợp với lệnh chỉ huy, giọng khàn khàn của cấp trên. Khi chúng tôi đến gần, mọi khuôn mặt xơ cứng trong mức độ tôn kính cao như chúng tôi là những vị thánh của họ.

Người ta cho chúng tôi xem hết, cả trại giam lợp tranh. Căn nhà sạch sẽ. Hai người đàn ông và một phụ nữ suy nhược trên một tấm ván với thái độ ngơ ngác và thờ ơ người ta đã khuất phục họ không thương xót trong đất nước này. Người ta bảo họ dậy chào chúng tôi. Họ đứng thẳng tuy gần như chết.

Đại uý Cao Đài giọng ngọt ngào nói đấy là các uỷ viên chính trị một chi đội bị bắt trong trận đánh lớn cách đây vài ngày. Cảnh ấy, những lời giải thích ấy nhằm làm chúng tôi hoan hỉ. Nhưng viên trung uý Pháp chỉ hỏi với giọng vô tư:

- Những tù nhân khác của các ông ở đâu? Ông có thông báo cho tôi trong trận thắng lớn tuần trước, các ông bắt được bốn mươi người kia mà?

Viên đại uý lắc đầu vẻ nhục nhã và có lỗi: chỉ bắt được ba kẻ thảm hại này thôi. Trung uý Pháp im lặng và khẽ nói vào tai tôi:

- Tôi không bao giờ biết được sự thật. Những người Cao Đài không muốn cho tôi biết họ đã làm gì những người Việt Minh.

Bốt này là hạt nhân một thế giới nhỏ của Đấng Tối cao, ở đó dân chúng được biến thành nguyên liệu. Mười nghìn dân quê là những con kiến lao động nuôi sống những con kiến quân lính. Người ta dẫn tôi vào làng. Một dạng hình học. Những con đường nhỏ giống nhau, giao nhau tại những góc vuông. Những mái nhà tranh cùng kiểu thành hàng thẳng tắp. Trước mỗi gia đình phấp phới lá cờ Pháp và Cao Đài. Cứ cách mười mét có một người canh gác.

Hai nhân vật gầy gò mặc quần áo complê, đội mũ thuộc địa đón chúng tôi. Đấy là các đại diện dân chúng, mang tới những lời chào mừng của nhân dân cần cù, nói với chúng tôi nước Pháp và Việt Nam là hai dân tộc Cao Đài ưa thích nhất.

Trung uý thì thầm với tôi:

- Đây là hai giáo viên bị bắt cóc ở tỉnh về. Khi bị bắt họ bí mật gửi cho tôi mấy chữ khẩn cầu tôi bảo vệ. Họ muốn tôi nhân danh dân chủ và tự do giải phóng họ! Dĩ nhiên tôi không làm gì được. Tôi nhận thấy ân huệ của Cao Đài đã ban cho họ và làm rạng rỡ họ. Có vẻ họ được tăng tiến nhanh.

Chúng tôi ra về. Đã là hoàng hôn. Lần cuối cùng tôi nhìn thấy quân lính bước theo hàng do các mục sư mặc áo dài dẫn đi lễ buổi chiều; phía sau là đám đông Cao Đài với ban nhạc và hát.

Những hàng rào gỗ lại đóng trên đường. Không còn một người, đoàn người xe đã biến mất hoàn toàn. Trong khung cảnh vắng vẻ đó, trung uý nói với tôi:

- Chỗ những người Cao Đài cắm chốt đây trước kia chỉ là một vùng đầm lầy bệnh tật, hôi hám của Việt Minh. Người Pháp bất lực. Tướng de Latour đề nghị Giáo chủ cho sử dụng một “đội bay”. Đội này đến, trong ba tháng xây dựng bốt, đẩy lùi Việt Minh trong những trận đổ máu, tập trung hết dân quê, cải đạo họ để làm tình báo và nô lệ. Biểu tượng của Cao Đài là con mắt. Vì vậy tất cả tín đồ phải dành con mắt bảo vệ quyền lợi bổn đạo và dùng đôi tay để làm ruộng, cấy trồng để nuôi sống quân lính và mục sư của Đấng Tối cao.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2017, 07:38:06 PM

Cao Đài không hề có tình thương. Con người là một vật dụng. Ý nghĩ của họ thuộc về Cao Đài, cuộc sống, lao động, gia đình của họ cũng thế. Họ không có quyền sở hữu, có tiền. Tất cả thuộc về Đấng Tối cao và Người xét có thể cho gì - đúng ra là để lại gì - cho từng người.

Thế nhưng “chế độ” ấy lại được các nạn nhân chấp nhận. Ở Châu Á mọi người đơn độc khó tồn tại và dù sao giáo phái Cao Đài cũng đưa tới sự bảo vệ. Tôi hiểu điều đó khi một nhà trí thức già đến với Đấng Tối cao, nói với tôi giọng mếu máo: “Thưa trung uý, thời gian vô địch, tương lai mờ mịt. Tôi là một ông già không có chỗ dựa, vợ tôi đã chết, các con tôi biến mất. Tôi ôm ấp lòng tin vào Cao Đài vì tôi tìm thấy ở đấy một sự cứu giúp cho con người gầy gò của tôi. Ông hẳn biết câu ngạn ngữ “Ai thông minh thì vào đúng cửa”.

Trong đất nước này dù sao giáo phái cũng đưa ra một luật lệ. Việc xét xử thật nhanh gọn. Tôi vừa đến, một chức sắc giáo phái xét xử một người lính Cao Đài tống tiền một nữ nông dân trong thị trấn tôi. Nét mặt con người thánh nổi điên lên: anh lính kia tự lấy cho mình, không phải trong một toán thu thuế. Ông hét bảo dẫn kẻ phạm tội đến, lấy dép đế gỗ đánh mạnh vào đầu anh ta. Mệt rồi ông giao cho những người phó lấy gậy đánh cho gãy lưng. Tôi về nhà. Một phái viên đến mời tôi được vinh dự đến dự buổi hành quyết người lính. Thực vậy, tôi thấy anh bị trói vào cọc trước nhà thờ Cao Đài địa phương; anh ta bình thản nói chuyện với đội hành quyết. Một đám đông là ngà say tập hợp đứng xem. Tôi sai lầm đề nghị họ tha thứ và bị phản ứng kịch liệt.

Điều mà tôi, một người phương Tây, một người Pháp không hiểu là giáo phái Cao Đài, tự “tạo ra” được sự cuồng tín thực sự. Hãy xem bất cứ người dân quê nào. Ông ta có quyền không vào đạo Cao Đài nhưng việc chuyển đạo của ông là bắt buộc, thậm chí không một lời bàn cãi. Người ta bắt ông tin, nhiệt thành, hoan hỉ, chịu mọi tận tụy hy sinh. Con người ấy trở thành, một cách máy móc, một tín đồ say mê, hưng phấn, mù quáng làm tất cả những gì được giao. Dân chúng cuồng nhiệt và những “đội bay” đánh nhau hăng hái như các chi đội Việt Minh. Quân lính của Giáo chủ là những người tự sát trước; họ giết và họ chết như cuộc sống không còn quan trọng gì! Đấy là “sự tẩy não” hoàn toàn, cũng toàn vẹn như ở những người cộng sản. Ở Châu Á hình như tất cả đều có thể.

Trên đất này, cái kỳ cục, thô lỗ thường chỉ là những mặt nạ che giấu những cái gì ghê gớm hơn.

Ông có biết ban đầu đạo Cao Đài là gì không? Những người Pháp già ở Sài Gòn biết rõ Lê Văn Trung, “người sáng lập”. Nợ nần chồng chất, từ lâu anh ta dùng nhiều “mánh khoé” để mượn tiền một người Ấn Độ cho vay nặng lãi lớn ở Sài Gòn. Nhưng ông này đuổi anh ta đi khi vừa mở miệng hỏi vay, ít nhất cũng cho đến ngày anh ta đến thốt ra: “Tôi sẵn có nhiều tiền; tôi thành lập một tôn giáo”. Lần này người Ấn Độ đưa anh ta vào phòng trong kéo một tấm màn dày lại. Mấy tuần lễ sau đó những tên chỉ điểm báo cáo với cảnh sát Pháp sự ra đời của đạo Cao Đài. Cảnh sát lúc đầu chẳng lo ngại gì về Lê Văn Trung nổi tiếng là “loại vô lại” không nguy hiểm.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2017, 07:38:47 PM

Vậy mà ông thấy đấy giáo phái Cao Đài đã trở thành như thế nào: một công cụ thống trị chưa bao giờ có. Quân đội, quản trị hành chính, tài chính của họ đã lên đến mức nào; thêm vào quyền lực của Đấng Tối cao. Bên trong tôn giáo của họ tất cả đều đơn giản, đơn giản không lay chuyển được nhưng để tiến lên nữa, chiếm cứ đất đai, dân quê, của cải, nhiều hơn, họ phải làm “chính trị lớn”. Về mặt này họ tiến hành mềm dẻo: mềm dẻo chỉ là một từ ngữ. Bịp bợm, phản bội, xảo trá là những từ đã được né tránh.

- Đấy là sự nghiệp bạo lực có chỉ đạo. Từ chỗ không có gì, do tàn ác, giả đạo đức và khôn khéo, giáo phái Cao Đài đã gần đến đích. Trên bước đường đi lên họ đã sử dụng và phản bội lần lượt người Nhật, Việt Minh, Pháp, cựu hoàng Bảo Đại và những phe phái khác. Lê Văn Trung là một kẻ vô liêm sỉ giả vờ ngây thơ. Sau khi đưa Cao Đài ra anh ta có ý tưởng thứ hai. Thời kỳ thực dân mọi tổ chức chính trị đều bị mật thám săn đuổi. Nhưng họ có thể làm gì được một tôn giáo? Đấng Tối cao vào phái đối lập, đã bắt đầu tuyên bố trong các lời truyền đạt là phải đánh người Pháp. Rồi có ngay tiền và kết quả. Giáo phái Cao Đài tổ chức nhân viên riêng, tay chân, quân đội bí mật. Những ông thầy đầu tiên của họ là người Nhật. Hoàng thân Cường Để, anh em họ của Bảo Đại lẩn trốn ở Vương quốc Mặt trời mọc đã hai mươi năm, được đưa lên làm Hoàng đế hợp pháp. Đầu năm 1945 Cao Đài lộ diện, là cảnh sát phụ của Nhật. Nhưng từ mùa hè họ là một yếu tố tấn công của Việt Minh. Bây giờ họ chính thức mến yêu người Pháp.

Cuối cùng chỉ là một nhóm người lợi dụng tình hình đất nước với một sự vô đạo đức hoàn hảo, với khoa học lừa dối. Nhưng đấy là khoa học “tiểu tư sản”. Không có quan lại, trí thức hoặc những tư sản lớn trong tôn giáo của Đấng Tối cao. Những lãnh tụ của họ nguyên là thư ký, viên chức thuộc “lớp người tầm thường” cổ áo trắng. Đấy là trường hợp của Phạm Công Tắc, của các chức sắc tôn giáo trang sức diêm dúa và cả một số mưu sĩ không ngờ vực được ở Sài Gòn. Tất cả thuộc về tầng lớp xã hội say mê tỉ mỉ nhất, lớp người hình thành ở Châu Âu chủ nghĩa phát xít và na-di.

Đối với phần lớn những người Việt Nam biết điều, đạo Cao Đài là một tổ chức đáng sợ. Nhưng ngay trong sự cứng rắn của họ. Trong khát vọng quyền lực, trong sự tàn bạo và mưu mô gian xảo của họ có một sức mạnh, một niềm tin vào sức mạnh đã lôi kéo nhiều lớp trẻ. Những người này cho rằng Đấng Tối cao là nguồn trong sạch. Một số tự xin cải đạo với lập luận: “Tôi không phải cộng sản. Không có gì khác tồn tại. Tôi gia nhập Cao Đài để có một lòng tin”.

Tôi cũng nghĩ Giáo chủ và các Hồng y giáo chủ không hoàn toàn là những kẻ lừa gạt. Giữa tất cả những trang trí bịp bợm, họ thực sự tin, thậm chí mê tín, vào sự giao liên với người thế giới bên kia và “chiếc giỏ có mỏ”. Tất nhiên những tin truyền đạt của bậc trên thường tối nghĩa phải sử dụng lối cắt bỏ. Lúc đó trong nơi thánh của các thánh xảy ra những tranh cãi lạ lùng. Người tự kết tội nhau đã làm những lời tiên tri sai. Người ta thảo luận trong nhiều ngày, người nào cũng cố làm cho Đấng Tối cao nói lên điều mình muốn. Nhưng nói chung Đấng Tối cao rất cao xa, hoàn toàn xứng đáng với giáo phái. Chính người cho những lời dạy vô liêm sỉ nhất.

Dù sao trong những tháng cuối này Cao Đài không ngớt ca tụng Pháp. Người ta đang trong trạng thái vui vẻ Pháp - Cao Đài. Mỗi lần có một mắt xích trong hệ thống bình định bị rời ra, chỉ cần Ban chỉ huy Pháp đề nghị Giáo chủ thêm một vài quân lính. Ông cung cấp ngay, không ghê tởm gì. Đổi lại ông chỉ xin một ít vũ khí, một ít tiền nữa. Người ta chấp nhận ngay những bổ sung ấy.

Mấy ngày nay Đấng Tối cao ít tử tế hơn. Ban tham mưu Sài Gòn bỗng phát hiện ra nguy cơ: toàn xứ Nam Kỳ có thể bị tràn đầy người Cao Đài. Người Pháp đảo lộn một nửa đường lối chính trị, từ nay tránh dùng những “đội bay”, tỏ ra ít cảm thông, kém độ lượng hơn.

Đây là thời kỳ quyết định. Vì phải chăng Cao Đài không thử buộc Pháp nhường bước? Họ có khả năng làm tất cả bài bản “tinh tế’ Châu Á, những dọa dẫm bê bối nhiều vô cùng! Họ sẽ làm tất cả trừ việc quay về lại với Việt Minh vì như thế sẽ bị huỷ hoại. Người ta vẫn giữ viễn tưởng thân thiện nhưng trong việc mưu sát.

Sau đó tình hình đã bắt đầu. Một số sĩ quan Pháp quá chặt chẽ - những “người gây trở ngại” chống lại khi Cao Đài đánh những quân lính bổ sung của họ, bắt cóc hương chức, lấy thuế trên đường - bị giết chết. Chính thức đưa ra là do Việt Minh nhưng toàn thể dân chúng biết rõ đấy là một “đội bay” thực hiện. Tôi không có quyền nói lên điều đó. Như vậy là bất nhã và đi quá xa. Vì trên những sự cố cá nhân vẫn luôn có đường lối chính trị lớn với những cần thiết của nó.

Vả lại nếu bản thân tôi bị thủ tiêu, có thể là do bất cứ ai, do mọi người, việc ấy xảy ra đối với Việt Minh, Cao Đài hoặc những người khác. Không bao giờ có ai biết tôi đã hết đời như thế nào. Công cuộc bình định là thế đấy.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2017, 07:40:15 PM

Câu chuyện về một nhà sư

Sông Mékong chảy cách đấy một cây số. Bốt Cây Vông đóng trên bờ con đường lớn, ngay trước bến đò. Mười một giờ trưa, trưởng bốt trung uý Campadieu, mồ hôi chảy trên tấm thân trần nở nang và đầy lông. Đây là một người cao to, vui tính, bụng mềm vì những nếp mỡ. Ngả người trên một chiếc ghế dài, đôi chân gác lên chiếc bàn ping-pong, ông nốc bia. “Nước đá”, ông hét lên. Một anh bồi mang xô đá lại.

- Chà, bây giờ có thể uống bia lạnh, Campadieu thở phào khoan khoái nói! Từ khi Hòa Hảo liên minh, người ta mang từ Sài Gòn đến mọi sản phẩm văn minh của hãng bia, đá Đông Dương.

Chính ông Campadieu này nhân danh người Pháp sau những thương lượng khác thường đã ký kết hòa bình với quân Hòa Hảo. Với giọng ồ ề trong cổ họng của miền Trung nước Pháp, ông kể với tôi cuộc phiêu lưu của mình:

- Hôm ấy tôi đi tuần tra với một trung đội trong rừng sú vẹt dọc bờ sông. Tôi bỗng nhận thấy lá cờ màu đỏ hơi tím quân Hòa Hảo bao vây chúng tôi, người của họ sau mỗi gốc cây, trong mỗi bụi rậm. Có mấy giây căng thẳng, hai bên ngần ngừ giữa bắn hoặc thương lượng. Người ta nói chuyện. Một người Hòa Hảo ra khỏi gốc cây, ra hiệu cho tôi lại gần. Tôi tiến tới một mình. Lính của tôi và các chiến binh của giáo phái luôn trong tư thế chiến đấu, ngụy trang và ngón tay trên cò súng, sẵn sàng xả đạn vào nhau. Mọi việc tốt đẹp. Chỉ mấy câu, hai bên quyết định ngày mai không có tùy tùng và không vũ khí, tôi đến gặp Năm Lửa, một chỉ huy cao cấp trong trung tâm chỉ huy của họ ở rạch Cái Dâu không thể xâm chiếm được.

Tôi ra đi từ bình minh, vào một rừng dừa dày đến nỗi đến một xóm làng mà lúc đầu không nhận ra. Khoảng một trăm người nét mặt sợ hãi, nghi ngờ bao quanh tôi. Họ mặc rách rưới, tóc bù xù không cắt thả xuống thân hình. Vũ khí từ con dao đến súng tiểu liên. Giữa sân chính có một chiếc ca-nông 20 và hai đại liên, chắc là chiến lợi phẩm của một cuộc phục kích.

Đàn bà, trẻ con từ xa nhìn tôi hằn học như tôi phải bị họ xé nát. Người ta còn dẫn tôi đi mấy trăm mét nữa và nhốt tôi vào một căn nhà tranh có hai Hòa Hảo canh chừng, súng ngắn trước bụng. Nhiều giờ trôi qua. Tôi nghĩ mình bị kết tội, chờ đợi hành quyết, cửa bỗng mở, một cô gái đưa trà đến cho tôi. Thế là thoát nạn vì đó là dấu hiệu yên bình. Năm Lửa chấp nhận điều đình với người Pháp. Suốt thời gian tôi chờ đợi ông ta trầm tư cầu nguyện; ông khẩn cầu thánh sống của Hòa Hảo bị ám sát gợi ý cho ông quyết định đúng đắn.

Trung uý lấy cho tôi xem một bức ảnh. Chân dung một người đàn ông. Khuôn mặt khổ hạnh cổ điển, quá mỏng, quá đều đặn, đẹp với những người có trực giác về tương lai. Nhất là cảm giác tập trung ở đôi mắt “phù thủy” và trong nụ cười có lẽ của người mất trí như của bậc thánh.

- Đấy là Huỳnh Phú Sổ, vị Thánh sống, người sáng lập tôn giáo Hòa Hảo. Nhưng đối với dân chúng, ông ta chỉ biến đi - một Thánh sống không thể chết. Mỗi gia đình để hình ảnh tôn kính của ông trên một bàn thờ nhỏ dựng trước nhà, dâng lễ vật, cơm, hoa bên cạnh mảnh vải màu đỏ tím - màu sắc tượng trưng sự hài hòa các màu.

Và bởi vì Huỳnh Phú Sổ không trở về mà việc thương lượng suýt thất bại và tôi chết hụt. Trước đây ông ta tuyên bố cuộc thánh chiến chống người Pháp - phải kéo dài cho đến lúc ông ra lệnh kết thúc. Ông hãy hình dung Năm Lửa chờ ông ta cho đến lúc cho gọi tôi đến. Không thấy ông ta ra lệnh, Năm Lửa nghĩ tôi xúi dục mình phạm tội và định hiến sinh tôi.

Điều cứu tôi là một câu thơ phát hiện ra trong vô số lời tiên tri của thánh. Trước kia ông ta có tuyên bố với những người tôn thờ mình: “Mong không có gì làm các bạn ngạc nhiên. Sẽ có ngày các bạn là bạn bè của những kẻ thù địch hiện nay”. Hình như chính một nhân viên Phòng Nhì tìm thấy - hoặc làm ra - câu định mệnh ấy và chuyển kịp thời đến cho Năm Lửa. Vậy là ông này yên tâm, có thể chắp nối với người Pháp; Ông chỉ đòi hỏi một điều khoản đặc biệt, dự kiến thỏa thuận dứt khoát sẽ do Huỳnh Phú Sổ cho phép khi ông ta trở về.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2017, 07:40:42 PM

Với Hòa Hảo, người ta luôn luôn ở trên thiên đường. Bây giờ tôi không còn lạ việc Huỳnh Phú Sổ là bất tử đối với họ. Điều ấy gần như bình thường khi biết rõ cuộc đời của ông ta rất khác thường. Tôi kể cho ông nghe câu chuyện của ông ta, ít nhất cũng là những gì người ta biết.

Và ông Campadieu tốt bụng, biết điều và nôm na kể lại cho tôi nghe chiến tích kỳ diệu nhất giữa sự gia ân và tội ác. Lúc đầu là một huyền thoại vàng như lóe sáng lòng tin cổ xưa xung quanh một người Nhà Trời. Nhưng đức Thánh kêu gọi chiều sâu tăm tối nhất của tâm hồn dân quê, về bản năng tội lỗi và chết chóc của họ.

- Những môn đồ kể lại với tôi cuộc đời của Huỳnh Phú Sổ đẹp biết mấy! Ông ta là con trai một “hương chức” nhỏ trong làng. Bị tật động kinh, sau một cuộc sống sa đọa ông ta đi một mình lên vùng thiêng Bảy Núi gặp một ẩn sĩ. Nhiều năm trôi qua ông dành cho việc cầu kinh, suy nghĩ và sám hối. Hai người sống trong một hang động giữa rừng. Người ẩn sĩ chết, Huỳnh Phú Sổ trở xuống đồng bằng; ông đã khỏi bệnh nhưng gầy đi, gò má nhô cao, tóc dài ngang vai. Ông đi từ làng này đến làng khác, không ăn, giảng về lòng tin trong sạch đã bị các nhà sư làm hư hỏng. Ông bảo dân quê khốn khổ:

- Đừng đưa tiền cho các nhà sư tham lam. Không vào chùa. Hãy ngồi trước Đấng chí tôn mà cầu nguyện. Huỳnh Phú Sổ lúc đầu là tông đồ của Phật giáo cách tân tôn giáo tinh khiết đưa tới đạo lý của niết bàn và nụ cười của phật Sakiamouni. Với đàn ông, ông nói phải tự thoát mình, ngày càng tiến gần tới việc chối bỏ ham muốn, lột xác bản thân mình. Ông cũng thông báo với họ qua những bài thơ đoán tương lai tối nghĩa đã tới gần thời khắc ghê rợn mà chỉ lòng tin thực sự mới cứu vớt được. Ông chữa những người bệnh hấp hối bằng lá cỏ và phù phép, làm những phép lạ. Một đêm ông thổ lộ chính mình là Thánh sống; từ đấy ông ra lệnh cho dân chúng tôn sùng mình. Dân quê quỳ lạy trước mặt và chẳng bao lâu ông có một triệu tín đồ cuồng nhiệt.

Tuy nhiên hồ sơ của Mật thám Pháp đưa ra một hình ảnh rất khác của Huỳnh Phú Sổ. Không còn là một ông thánh có những đức tính đến được chỗ cao siêu mà người ta gọi là một “nhà sư điên”. Đấy là một nghề nghiệp và trước ông ta cũng có nhiều người khác. Nhưng vận may của Huỳnh Phú Sổ là bắt đầu hành nghề vào thời Nhật chiếm đóng Đông Dương. Người Nhật “nhận ra” ông và sử dụng ông.

Chính họ cho ông ký ninh bỏ vào những bùa chú chữa những bệnh nhân sốt rét hấp hối và nói: “Hãy xem pháp thuật của ta”. Tiếng tăm lan rộng nhưng những lời phán bảo của ông vẫn luôn tối nghĩa. Thảm họa rùng rợn sẽ ập xuống trái đất. Phải rời bỏ những thành phố tội lỗi. Ông hô hào: “Những người khôn ngoan ở trong hang động, chỉ những kẻ u mê mới ở nhà cao cửa rộng”. Tuy nhiên ông sẽ đè bẹp cái xấu, ông sẽ là người giải phóng dân chúng. Và Huỳnh Phú Sổ tạo nên những “sư đệ điên” đi gieo rắc khắp nơi sự nổi dậy và tội ác. Ông hứa tín đồ nào giết được mười người Pháp sẽ lên Thiên đường. Ông cũng nói: “Khi các bạn nấu cơm, để một nắm gạo cho ta”. Với số gạo đó ông ta mua ở Sài Gòn những vũ khí đầu tiên cho băng nhóm mình.

Dù sao trong sự lộn xộn cũng có một lôgíc nào đó. Kinh hoàng bắt đầu từ năm 1945, trong những tháng biến động người Nhật đổ sụp xuống. Không còn người da trắng trong những vùng bao la miền tây, chỉ có Hòa Hảo và Việt Minh ký với nhau một thoả hiệp liên minh. Việt Minh giữ các thành phố và Hòa Hảo ở đồng ruộng. Chẳng bao lâu họ đánh nhau. Huỳnh Phú Sổ ra lệnh cho quân lính ào vào Cần Thơ, “hòn ngọc” vùng Mékong, nơi sản xuất lúa gạo chủ yếu. Bại trận. Hàng nghìn Hòa Hảo đứng chật sân vận động, bị một tòa án nhân dân xét xử và hành quyết. Hàng nghìn khác bị trói ném xuống dòng sông. Thánh sống thoát khỏi thật kỳ diệu. Ông ta quyết định tín đồ nào ám sát được mười Việt Minh, sẽ lên Thiên đường cao hơn Thiên đường chỉ mười “thực dân”.

Các đội quân của Leclerc đến vào lúc những người da vàng tiêu diệt nhau mà chẳng hiểu ra sao. Người Pháp lại vào các thành phố, trên đường bị những người Annam chém giết; họ đều giống nhau, cũng mặc quần áo đen nhưng giết lẫn nhau.

Việc đó kéo dài hai năm cho đến khi Huỳnh Phú Sổ “mất tích”. Kẻ chịu trách nhiệm bao nhiêu bi kịch ấy phải chết một cách độc ác, nạn nhân của một sự phản trắc. Thánh sống nhận được một bức thư thân thiện của Ban chấp hành Việt Minh Nam Bộ, đi không có tùy tùng. Người ta bảo ông: “Hãy đến thương lượng với chúng tôi ở tổng hành dinh Đồng Tháp Mười. Chúng ta nên chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ, hãy hòa giải với nhau”. Nhưng Huỳnh Phú Sổ đã không trở về.

Tình hình thật phi lý. Hai triệu tín đồ của Thánh sống không khóc cái chết của ông, không trả thù - vì ông không thể chết được. Những chỉ huy chính của ông rất bối rối: làm gì đây? Họ nghi ngờ có sự phản bội. Và vì thế cuối cùng họ đến với chúng tôi. Họ như những đứa trẻ bí hiểm sợ sệt một cách đơn giản và hoang dã. Chúng tôi cố gắng khai hóa họ. Cũng đạt được một số kết quả nhưng không phải là một nhiệm vụ dễ dàng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2017, 10:52:24 PM

Niềm vui của sự khai hóa

Quang cảnh vui mắt của miền nhiệt đới. Những chiếc cầu trên không bằng tre, không nặng, đung đưa trong gió, bắc qua con rạch bùn lầy đầy sen và thuyền nan. Dọc bờ sông, làng xóm kéo dài những ngôi nhà tranh giữa những cây dừa; dây leo, hoa quả. Giữa thiên nhiên nóng rữa ấy, dân chúng Hoà Hảo sống không gò bó gì, hoàn toàn vui vẻ. Những người già nói đùa, các cô gái thủ thỉ và quân lính cầm tiểu liên, lựu đạn, không hề đề phòng, như là những đồ chơi.

Đâu là sở thích chết chóc mà Campadieu đã nói nhiều với tôi? Tôi ở ngay bốt chỉ huy của Năm Lửa, trong xóm ông ta thấy ghê gớm khi táo bạo đến cuộc hẹn gặp. Việc liên minh chỉ mới mấy tuần mà tất cả toát lên sự yên ổn và thân thiện.

Tôi là khách mời của Năm Lửa đến dự bữa tiệc chào mừng trong gian nhà đổ nát và rất đẹp của một ngôi chùa, giữa những tượng Phật không còn nguyên vẹn và những chiếc kích nghi lễ cũ kỹ; màu sơn đỏ trên những hàng cột lớn ánh lên trong bóng mờ. Bốn mươi thực khách tập họp quanh chiếc bàn đầy chén bát và cũng có mấy khẩu súng ngắn, cả ban tham mưu của giáo phái ở đấy: Những băng trưởng dữ tợn đã biến thành những quân nhân đẹp thân thiện. Hầu hết là những thanh niên mới trưởng thành, lực lưỡng và cân đối, thích thú bận quân phục Pháp mới. Họ hưởng thụ thú vui khai hóa không mặc cảm gì. Nhiều người còn thử dùng thìa, nĩa. Việc ấy có vẻ kỳ cục và họ cười.

Tuy vậy bên cạnh tôi, Năm Lửa - một nhân vật lớn tuổi hơn với khuôn mặt nông dân thô lỗ và tinh quái - ngồi yên lặng. Nhưng ông khôn ngoan vì ông ta sợ không được xem là một vị tướng thực thụ nếu nói năng không đĩnh đạc. Ông nghi ngờ. Người Pháp đã chơi ông một vố. Lúc đầu ông rất sung sướng khi người ta gắn cho ông một ngôi sao nhưng đến Sài Gòn, vào hiệu may, quân phục tốt nhất, ông được biết đáng lẽ ít nhất phải hai sao. Với quyền lực riêng của mình, ông đã thêm một sao nữa. Từ sự việc không may đó, ông rụt rè trong giao tiếp xã hội, biết rõ học vấn của mình còn không đầy đủ.

Làm sao nhận ra ông là một kẻ chuyên chặt đầu người, Năm Lửa cách đây một năm, mặc toàn đồ đen, một người lùn gân guốc, đầu to với đôi mắt nhỏ ánh lên, bẩn thỉu và thô lỗ, vô cùng tàn ác vì không có trí tưởng tượng? Máu đối với ông ta không là gì thậm chí không phải một vấn đề vui thích. Nhưng ông đã xây dựng quyền lực bằng một lời quát ngắn gọn: “Xuyên cọc vào người chúng, lột da chúng ra”, bản thân ông cũng sẵn sàng bắt tay vào những nhục hình ấy. Ông ta cùng tính chất với đồng ruộng, con ngòi, bùn lầy, như bốc ra từ những chỗ đó; vừa hăng say cao độ, mưu mẹo và đần độn, có một sức lực hoang sơ, một sức chịu đựng không ngờ được. Ông can đảm, điên rồ và không phức tạp nhưng không bao giờ bị thương như được phép lạ bảo vệ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2017, 10:53:25 PM

Năm Lửa từ tầng lớp thấp kém nhất sinh ra, đến mức cảnh sát không có hồ sơ về ông ta. Trong nhiều năm ông làm người dồn khách cho các “xe ca Trung Hoa”. Ở cửa ngõ Sài Gòn, trong đám đông lộn xộn, ông chộp lấy gói đồ đạc của một dân quê bỏ lên xe mình. Người kia chỉ tìm thấy lại hành lý của mình khi cùng lên đấy và lấy vé xe. Năm Lửa cùng làm rất nhiều nghề khác: bán cháo rong, chèo đò, đạp xích lô. Gần năm mươi tuổi thì nghe lời bốc lửa của nhà sư điên. Ông là một trong những người sùng đạo đầu tiên và với những chiến công và lòng trung thành, trở thành người chỉ huy chính, gần gũi nhất với Giáo chủ. Sự tận tụy của ông với Thánh sống thật vô bờ. Nhiều lần ông cứu Giáo chủ khỏi những chiếc bẫy của Việt Minh. Khi Huỳnh Phú Sổ đến Đồng Tháp Mười và bị ám hại mặc dù ông đã can ngăn, ông muốn tự sát để theo chủ lên thế giới trên kia, nhưng ông không làm sợ phạm thánh, vì như vậy là chấp nhận cái chết của con người Bất tử.

Nhưng quá khứ mới ấy bây giờ đã rất xa! Trong bữa ăn này, Năm Lửa thực lòng cố tỏ ra là một qúy ông có giáo dục! Không ai có được một nét mặt đáng kính đôn hậu hơn ông ta - rất tròn, da nhân, cứng rắn và có đôi ria mép rậm đã bạc cong vút lên. Cứ đúng năm phút ông cười với tôi, bảo phiên dịch, một thanh niên ăn mặc lịch sử kiểu thành phố nói rất hân hạnh có mặt tôi ở đây và với đôi đũa mà ông đưa thức ăn vào miệng, ông chọn đưa cho tôi những miếng ngon nhất trong đống thức ăn. Mỗi lần nhiệm vụ ấy làm xong ông lại rơi vào câm lặng, nhai, ầm ừ và nhổ nước bọt.

Đến món ăn thứ ba mươi Năm Lửa nói chuyện với tôi lâu hơn, giọng khàn khàn mà người dịch ăn mặc chải chuốt chuyển thành lời hùng biện giọng mũi và lố bịch:

- Tôi rất hổ thẹn phải tiếp ông khách mời trong một chỗ như thế này và nó hoàn toàn không xứng đáng với ông. Do chiến tranh cho đến nay Hòa Hảo không thể hưởng thụ những thành quả của cuộc sống hiện đại; Tôi đề nghị sau ba tháng mời ông trở lại để tôi được đối xử xứng đáng hơn. Tôi đã ra lệnh làm một ngôi nhà lớn ngay trên bờ sông Mékong này. Tôi muốn ngôi nhà được xây dựng theo thiết kế khoa học nhất, với những gì tốt và đắt nhất. Tôi bảo kiến trúc sư làm thật tốt như ở Pháp đối với những nhân vật quan trọng.

Bữa tiệc kết thúc, bà Lê Thị Ngoan, vợ Năm Lửa xuất hiện. Đây là bà vợ hai, thô lỗ hơn và rõ ràng dâm dật hơn. Cùng tuổi với ông, bà cũng lùn mập và gân guốc như ông, đầu còn to hơn, nhưng nét người rõ rệt hơn. Người đàn bà này, tóc buộc băng, mặc một loại quần áo đồng phục. Vì bà cũng là tướng, tổng chỉ huy Đội nữ binh Hòa Hảo; bà đến mời tôi đi duyệt binh.

Trên khoảng đất nện rộng lớn, khoảng một trăm cô gái mặc quần áo đen, những người hoang dã trẻ đẹp bồng súng chào - giáo, dao bầu, mã tấu, búa, tất cả những dụng cụ dùng để chém giết. Sau những động tác nghi thức ấy, các cô hét, vung vẩy, làm như hạ gục quân địch và cắt đầu chúng.

Bà Lê Thị Ngoan rất hài lòng, giải thích với tôi:

- Các nữ binh của tôi thường chiến đấu luôn; họ đã giết được nhiều Việt Minh. Nhưng dù có chiến công, họ vẫn rất ngoan. Rất trong trắng. Tôi chú trọng đến đạo đức của họ.

Một sĩ quan liên lạc Pháp nghe thế, nghĩ nên nói cụ thể với tôi:

- Các nạn nhân duy nhất của các cô ấy trước đây là những tù binh Pháp mà các cô chém thành khúc vì các cô là đội hành quyết. Nhưng đấy là những chuyện cũ, quên đi thì hơn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2017, 10:54:29 PM

Sau cuộc liên minh của Hòa Hảo, bà Lê Thị Ngoan đòi chúng tôi cung cấp tiểu liên cho quân của bà. Người ta cho họ. Việt Minh bị số vũ khí ấy hấp dẫn đêm sau đó tấn công bốt họ được giao bảo vệ. Họ chỉ kịp bỏ chạy theo một cánh cửa bí mật.

Bây giờ đội nữ binh Hòa Hảo sử dụng lại trang bị cũ từng mảnh. Họ dùng để đi diễu binh và cũng đi trừng phạt những bà vợ lẽ của viên tướng. Dưới sự chỉ đạo của bà Lê Thị Ngoan, họ vạch mặt những bà này, treo lên và đốt một ít nhưng không làm trọn vẹn. Năm Lửa không cho làm việc đó.

Tôi được biết ông tướng và bà tướng là một đôi hợp ý nhau. Năm Lửa không chống đối khi bà vợ cho ném lựu đạn hạ sát đại tá tham mưu trưởng của ông - hành động này gây ra một phản ứng kéo theo một loạt giết chóc trong những vùng quân lính Hòa Hảo.

- Trong nhiều tuần, sĩ quan liên lạc nói với tôi, tôi không dám đến văn phòng thứ nhất, hai, ba và bốn mà trong quá trình khai hóa, quân đội Hòa Hảo dựng nên theo kiểu Pháp. Mọi phòng đều có gài bẫy, cả ở đồ đạc nên người ta khi ngồi xuống có nguy cơ bị nổ tung.

Thực tế đại tá tham mưu trưởng không “lương thiện”. Ông ta muốn làm những phi vụ mà không chia phần cho Lê Thị Ngoan, một tội không tha thứ được và phải bị trừng phạt.

Trong những vấn đề quan trọng, Năm Lửa bao giờ cũng theo Lê Thị Ngoan. Chính bà là bộ trưởng tài chính của ông. Sự tham lam và tài xoay xở của bà không tưởng tượng được.

Từ khi Hoà Hảo rời bỏ đầm lầy về bố trí trong các bốt nhân danh những nhân vật được biết đến, họ lao vào làm giàu với sự tàn bạo vui thích của những “kẻ dã man” không bao giờ thỏa mãn. Họ bắt tay làm mọi việc. Nhưng không ai bằng được bà Lê Thị Ngoan. Bà có các khoản thuế -buộc phải trả - không tính đến những sự hùn vốn đặc biệt, những vụ tống tiền và đốt phá của bà. Bà tham gia vào những công ty mua bán ô tô, vào việc vận tải đường thuỷ, khai thác gỗ, thậm chí không cần bỏ vốn vì biết “thuyết phục” một số nhà giàu đầu tư cho bà không nói đến tiền lãi. Nhất là bà độc chiếm lĩnh vực kinh doanh lúa gạo. Vùng hoạt động của chồng bà là vùng sản xuất lúa rộng lớn nhất Đông Dương nên người đàn bà tồi tệ và độc ác này nắm trong tay tất cả vận mệnh cuộc chiến tranh kinh tế chống Việt Minh.

Trong mấy tháng viên tướng và vợ trở nên rất giàu, thành các tỷ phú. Năm Lửa mua những máy lạnh để than và xe hơi Mỹ, nghỉ ngơi thoải mái với vệ sĩ là những vũ khí sống. Bà Lê Thị Ngoan người phủ đầy kim cương.

Thế nhưng việc mua bán hoan hỉ nhất của Hòa Hảo là một chiếc thủy phi cơ nhỏ của một công ty Pháp muốn trút bỏ vì sợ không an toàn. Vậy là Năm Lửa mua với giá bằng vàng và thuê một đội bay phiêu lưu Pháp với những khoản tiền vô cùng lớn. Chiếc máy bay được trịnh trọng khai trương trước toàn thể nhân dân Cần Thơ tập hợp trên bờ sông Mékong. Những sứ giả đặc biệt triệu tập họ. Mỗi người đứng xem vung vẩy một lá cờ màu đỏ hơi tím. Phi công đã cảnh báo “Không quá hai hành khách.” Nhưng Năm Lửa không thể nghiêm chỉnh bỏ lại tay chân thân tín trong một sự kiện vinh quang như thế và chiếc thuyền theo cờ cập đến thuỷ phi cơ cắm neo giữa sông chở năm người, viên tướng và bốn người có chức quyền của Hòa Hảo. Tất cả dồn lên, chiếc máy bay nọ khởi động nhưng không cất cánh được. Chiếc thuyền trở vào bờ mang theo một người. Lần thử thứ hai và một người nữa ra. Lần thứ ba, một người nữa rút lui. Chỉ đến lần thứ tư chiếc thủy phi cơ treo cờ Hòa Hảo, đầy dây hoa mới bay lên giữa niềm say sưa của đám đông. Nhưng trên đấy chỉ còn Năm Lửa và sĩ quan tùy tùng, cả hai nhục nhã mặc dù tầm cỡ lớn của màn kịch, xác định do sự thiếu nhiệt tình của người lái, nghĩ rằng khi trở xuống đất sẽ trừng trị anh này.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2017, 10:55:03 PM

Những ngày tiếp đó đi khắp vùng đất Hòa Hảo, tôi nhận thấy người Pháp chỉ khai hóa bề ngoài. Mặc dù những món nợ giáo phái vay người Pháp - các đồn bốt, lễ tiết nhà binh, việc chào cờ, bệnh viện, nơi quân lính tập dượt không mệt mỏi đánh trống thổi kèn, cái cơ bản vẫn nguyên vẹn. Bên dưới vẫn là chất men vô chính phủ, máu và dâm đãng. Đúng, có một trật tự Hòa Hảo - Việt Minh bị đẩy lùi mấy tháng ra khỏi vùng này. Cũng có một lối xử Hòa Hảo, cha chú nhưng cương quyết. Đao phủ một tay nắm tóc của tội phạm và tay kia phạt một nhát gươm vào cổ. Tội phạm là bất cứ người nào bất bình.

Trật tự và lối xử phạt ấy dù sao cũng rất đặc biệt, làm đảo lộn những quan niệm buôn bán tuy rộng rãi của các thương gia Trung Hoa. Nguyên tắc của bề trên là trả không cau có tất cả những khoản tiền bất cứ một chính quyền vũ trang nào có thể đòi hỏi dù không bù đủ giá thành. Nhưng người Trung Hoa than phiền những đòi hỏi của Hòa Hảo quá lớn đến mức sẽ thủ tiêu thể lệ hiện hành của thương trường vốn tồn tại hàng nghìn năm nay. Còn người Pháp đã từ lâu không thể khôi phục lại nguồn điện: quân lính Hòa Hảo ăn cắp dây khi người ta vừa đặt để rồi hôm sau bán lại cho các kỹ sư chán nản của sở Công chính.

Những người Hòa Hảo mà từ nay người Pháp có, không phải một quân đội. Theo cách nói của người Annam, đấy là “một con rắn không đầu”. Chỉ là những công ty lớn và chủ của họ. Đất đai của Hòa Hảo không thống nhất. Một lẫn lộn vùng và tiểu vùng bên cạnh nhau mà mỗi chỉ huy làm chủ vùng của mình. Một khi rũ bỏ được Việt Minh, quân Hòa Hảo lại lao vào cuộc chiến du kích giữa họ với nhau.

Người Pháp vốn ưa chuộng Năm Lửa, muốn tạo mọi điều kiện cho ông ta và muốn đưa lên thành chủ soái chung. Vì vậy những trưởng băng nhóm khác giận dữ, nổi dậy và tuyên bố ly khai.

Lâm Tấn Nguyên đặc biệt tức tối. Ông ta lai Trung Hoa, cao lớn, bóng bẩy và mạnh không tưởng được, là một kẻ chém đầu không đếm xuể. Uy tín của ông ta vừa bị Việt Minh trói chân tay, buộc đá ném xuống sông Mékong và tái hiện bất tử sau mấy ngày ở lễ tang đồng bọn tổ chức tưởng niệm. Ghê gớm hơn nữa là Ba Cụt, có thể làm tất cả. Tên ông ta có nghĩa “ngón tay bị chặt đứt”. Trước kia đứng trước quân lính mình ông ta dùng búa chặt đứt ngón tay trỏ, thề chặt cổ tất cả những “tên thực dân” như thế.

Trong lúc Năm Lửa thỏa hiệp với người Pháp, có những tiếng đồn lạ lùng trong dân chúng Hòa Hảo. Thánh sống đã xuất hiện trở lại, chờ quân lính thiện chiến của người trong vùng Bảy Núi. Một biệt động Hòa Hảo giết luôn mười bốn thầy dạy người Pháp để chạy nhanh đến chỗ hẹn. Nhưng trong vùng Bảy Núi chỉ có Lâm Tấn Nguyên trước đây có quan hệ với bố Thánh sống, một giáo trưởng đồng tính luyến ái, là sợi dây linh hồn của con trai mình. Người lai Trung Hoa với Giáo trưởng cùng đi, tuyên bố với những người mới đến: “Thánh sống không xuất hiện lại vì các người nhiều tội lỗi. Hãy sám hối đi. Rời bỏ Năm Lửa đã phản bội lòng tin khi liên minh với người Pháp”. Mấy ngày sau Lâm Tấn Nguyên ký một thoả thuận với chính những người Pháp ấy, chấp nhận cho ông ta cấp bậc đại tá và vùng đất Châu Đốc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2017, 10:55:29 PM

Đến lượt Ba Cụt nổi dậy. Đội quân viễn chinh vừa cho ông ta tiền và vũ khí, vậy là không cần đến họ nữa. Ông phải chấp nhận quân lê dương nắm người của ông. Điều kiện ấy gây phiền phức cho ông. Một hôm sau một đợt cùng nhau đi tấn công trở về, một số lính Pháp mệt mỏi ngủ say trong thuyền: họ bị cắt cổ và không dậy nữa. Vậy là Ba Cụt có mọi thứ trong tay, trở lại cuộc sống tự do. Ông ta có phương tiện và nguồn cung cấp cho phép đánh nhau nhiều tháng - chống lại Năm Lửa và người Pháp, Việt Minh, Cao Đài, vì tất cả đều là thù địch của ông. Sau những chiến thắng và thất bại, nguồn lực cạn kiệt, ông ta lại được cung cấp, tỏ ra hối lỗi. Được chấp nhận ông lại được cung cấp và chuồn. Trong năm năm Ba Cụt quy thuận năm lần và năm lần ly khai liên tiếp, mỗi lần cũng một quy trình ấy, giết một số lính của Đội quân viễn chinh.

Tuy vậy, người Pháp hài lòng về Hòa Hảo. Có và có cho đến cuối cùng, những sự bất hoà. Hòa Hảo ám sát một ít người Pháp, người Pháp tước vũ khí một số Hòa Hảo; Nhưng sau đó họ dàn hòa, dạt dào “tình bạn bất diệt Pháp - Hòa Hảo”. Họ trở thành những người bạn tốt, bạn tốt thực sự. Năm Lửa và đồng bọn, (có lẽ trừ Ba Cụt) thích cuộc sống đầy đủ của liên minh thực dân. Năm Lửa tự tu chính, càng ngày càng ra vẻ một quân nhân hào hoa, bôi sáp bộ ria mép và xuất hiện rất tư thế ở những buổi lễ chính thức ở Sài Gòn. Đấy là một cột trụ của mình, và khi tiếp một tướng hay đại tá Đội quân viễn chinh, chính bà Lê Thị Ngoan tự làm đầu bếp. Năm Lửa ngồi trong chiếc trạm khách đồ sộ, một lâu đài hoàn toàn kỳ cục do ông đặt làm. Một đám đông đầy tớ, chủ hầu, vợ lẽ chen chúc ở tầng trệt. Viên tướng thích thú nhất làm cho khách mời xác nhận mỗi một trong bốn mươi phòng của ông ở tầng hai đều có phòng vệ sinh. Mỗi lần vào đấy đích thân ông không tự ngăn mình được kéo dây và xem trò xả nước. Ông ở đấy hàng giờ, cho là một sự tinh tế tột đỉnh. Qui trình Phương Đông đã kết thúc. Anh dân quê khốn khổ trở thành một chúa tể chiến tranh đàng hoàng. Chính lúc này ông lấy tên gọi cao quý hơn nhiều là tướng Suối.

Dĩ nhiên có một số chi tiết phiền phức. Một lần hai vị chức sắc của giáo phái đi Sài Gòn trên chiếc xe đẹp của họ, rút súng ngắn ra giết hết những người trong một chiếc xe bình thường vì không dẹp chỗ nhanh. Tình cờ một biên bản lên đến những người Pháp đại diện. Hòa Hảo cho việc đó lăng nhục họ và câu chuyện bị xếp lại. Bao nhiêu vụ việc loại ấy! Nói chung các cấp chính quyền không biết gì và cố gắng không biết. Vì Hòa Hảo tự khai hóa là một giáo điều. Thực tế họ “thối rữa”. Điều người ta có thể gọi sự trong trắng của họ - lòng tin cuồng nhiệt - mất đi. Cái tốt và cái xấu quá khích của sự huyền bí thay vì tự thanh lọc, cùng tồn tại lẫn lộn càng ngày càng tư sản hóa hơn, sự lẫn lộn của những kẻ mới giàu hãnh tiến. Hòa Hảo trở thành những người hoang dã rất xa xỉ.

Ngược lại, quan niệm đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu - của những người Thiên Chúa giáo - có một giá trị càng ngày càng tích cực ở những người Annam khác, những người Việt Minh. Đối với họ con người thay vì để mặc theo bản chất và xu hướng, phải tự hoàn thiện mình liên tục qua một cuộc đấu tranh thường xuyên và quyết liệt với bản thân mình. Không phải đến Thiên đường bằng sự gia ân mà phải xứng đáng hơn, có phẩm chất và hiệu quả hơn để phục vụ nhân dân. Mỗi người phải vượt lên chính mình. Chính trong cuộc đấu tranh nội tâm này Nguyễn Bình dẫn dắt thật quyết liệt: ông buộc hàng triệu người phải trở nên hoàn hảo, ông tự buộc mình phải hoàn hảo. Nhưng trong cuộc chiến vượt sức người này, ông đi vào cạm bẫy kiêu ngạo cá nhân mà không biết. Tôi sẽ kể về chiến thắng và về bi kịch của ông.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2017, 11:48:57 AM

Người anh hùng của cuộc kháng chiến

Năm 1948 ở Nam Kỳ người Pháp tập trung một sức mạnh rất lớn. Họ có vũ khí, những tiểu đoàn tấn công lùng sục những căn cứ Việt Minh không mệt mỏi. Họ có khối lượng người lớn dựa vào lính nguỵ và các giáo phái mua chuộc được. Họ chiếm đóng đất nước, phu khắp Nam Kỳ những công trình quân sự và đồn bốt. Họ có đồng bạc Đông Dương cho phép mua Cao Đài, Hoà Hảo và dùng làm mồi nhử, cố bẻ gãy những Việt Minh khác. Nhờ vào đồng bạc họ trả lương cho cả một thế giới chỉ điểm, cảnh sát, những kẻ hợp tác, lập các chính quyền, hội đồng và những cơ quan ủng hộ Pháp. Họ bố trí tăng cường vũ khí, thịnh vượng kinh tế, hàng hoá đầy ắp, sinh lợi cho mọi người. Người Pháp có tất cả, các phương tiện vô bờ ấy nhưng hầu như không tiến triển được vì một người không ai biết đến và sau khi làm tất cả cho Việt Minh, qua mấy năm đã bị ám sát.

Con người ấy là Nguyễn Bình. Người ta hầu như không biết gì về cuộc đời ông nhưng rất đơn giản. Đấy là cuộc đời một người cách mạng chuyên nghiệp, một người trưởng thành trong cách mạng. Từ thời trẻ ông đã là một người không chịu phục tùng, người của những âm mưu, của những sổ đen bị mật thám săn đuổi. Ông được đào tạo trong thử thách. Thay vì đấu tranh như bao nhiêu người khác, chịu bó tay, ông trở thành sắt thép, sẵn sàng cho những cơ hội lớn của lịch sử. Ông có mục đích kiên định lạ kỳ.

Dấu vết đầu tiên ông để lại là thấp kém, làm thợ giặt là trên một con tàu hàng hải. Sau đó, lúc hai mươi tuổi ông là người thanh niên bị buộc tội âm mưu lật đổ trước Toà Đại hình Sài Gòn. Xung quanh ông những bóng đen, đỏ của toà án thực dân. Trong năm ấy ông bị đày ở Côn Đảo, hòn đảo trừng phạt ở ngoài khơi Nam Kỳ, nhưng đoàn tù chèo thuyền ấy là nơi gặp gỡ của tất cả những người dân tộc. Nguyễn Bình học ở các đàn anh sự cần thiết phải căm thù, lạnh lùng trong quyết định, tất cả những kỹ thuật phải sử dụng. Điều ở ông mới chỉ là khát vọng trở thành một khuynh hướng vững vàng. Vừa được thả ra năm 1934 ông rời bỏ Đông Dương giữa cuộc đàn áp mạnh trở lại dưới ách hèn nhát và chấp nhận.

Ông đi khắp nơi, đến chỗ có thể học được về một nghề mới khuấy động, lúc đầu đến Trung Quốc, Quảng Đông, trường Hoàng Phố, nơi Quốc dân đảng còn nhiệt tình, đào tạo mọi người nổi dậy ở Châu Á. Nhưng những năm lưu vong kéo dài và chế độ Tưởng Giới Thạch sụp đổ trong thế chiến không dứt. Nguyễn Bình đi tìm những ông thầy mới. Đã đến lúc ông sang Moscow nhưng không gia nhập Đảng.

Năm 1945, với một lời đơn giản của Hồ Chí Minh, một người cử từ Bắc Kỳ vào Nam Kỳ để tổ chức cuộc chiến tranh chống Pháp. Đấy là Nguyễn Bình. Ở miền Nam không ai biết rõ ông. Người ta chỉ biết ông đầy quyền lực và không phải cộng sản.

Tôi đã thấy bức ảnh úa vàng của Nguyễn Bình thời kỳ ấy, nhặt được trong một sở chỉ huy đã rút bỏ. Đấy là một người vẻ ngoài tầm thường, thân hình mập lùn, đầu vuông của những người bình dân. Ông đội một chiếc mũ thực dân.

Những người Annam như vậy có hàng nghìn trên đường phố Sài Gòn. Những chi tiết đặc biệt chỉ là đôi kính đen và một khẩu súng Colt.

Thế nhưng chính Nguyễn Bình ấy, một mình xây dựng cuộc kháng chiến miền Nam, đã sáng tạo cuộc chiến tranh du kích giết người không dập tắt nổi, trên đồng ruộng và trong rừng rậm Nam Kỳ. Những vị tướng khác, bắc đầu từ ông Giáp chỉ là những vòng quay. Nguyễn Bình là Chúa tể, là Chiến binh, nhất là Con người.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2017, 12:09:02 PM

Hồ Chí Minh biết việc mình làm khi chỉ định Nguyễn Bình vào miền Nam. Đảng thực sự của Việt Minh ở Bắc Kỳ với Bác Hồ, Tổng bộ Việt Minh và những đồng chí cộng sản cũ, quân đội đỏ, nắm giữ tất cả những người điều khiển chính trị. Nhưng chế độ này không được giới tư sản Nam Kỳ cách đây một nghìn năm trăm cây số chấp nhận. Ở Nam Kỳ, Việt Minh mới chỉ là "những người quốc gia". Vì vậy thay vì gửi và để lãnh đạo một người hoàn toàn, một người biện chứng đầy óc lạnh lùng, Hồ Chí Minh cử một người lãng mạn. Trong sáu năm Nguyễn Bình thực hiện nhiệm vụ của mình.

Từ năm 1945 đến 1948 là những năm vinh quang của ông. Ông là một anh hùng trong dân chúng, là người của mọi say mê. Ông hào phóng, độc đoán, tàn ác, không mệt mỏi, không thương xót. Ông bố trí tổng hành dinh ở cửa ngõ Sài Gòn, trong Đồng Tháp Mười, vùng đầm lầy trải rộng từ Chợ Lớn đến Căm-bốt. Ông thích làm việc lớn, bắt đầu tổ chức một đội quân bảo vệ cứng rắn, trang bị vũ khí tốt nhất và tận tuỵ với một mình ông. Ông có một đài phát kêu gọi kháng chiến. Ông lôi kéo vào con đường Việt Minh Nam Bộ - tự trị gần như hoàn toàn đối với Tổng bộ ở Bắc Kỳ quá xa. Chẳng bao lâu ông khống chế tổ chức này.

Trong mấy tuần lễ, Ban chỉ huy của ông trở thành rộng lớn, một thế giới cũng phức tạp như một ban tham mưu Pháp. Nhân viên, liên lạc viên, cán bộ chính trị lui tới không ngừng, những người đưa tin tức tới và đi truyền đạt mệnh lệnh. Các phái đoàn nối tiếp nhau đến gặp Ban chỉ huy. Nguyễn Bình vừa là sự say mê vừa là sự khiếp sợ.

Ban chỉ huy của Nguyễn Bình thường đóng trên đảo nhỏ, một trong những mảnh đất chỉ cao hơn mặt nước mấy phân. Xung quanh chỉ là cỏ, lau sậy, những cây sống dưới nước, thân rất lớn. Những cơ sở Việt Minh, nguỵ trang rất khéo, người Pháp chẳng thấy gì - chỉ là trống không và mùi hôi thối của đầm lầy.

Đồng Tháp Mười cạnh tranh bất hợp pháp với Sài Gòn. Đấy là đại bản doanh đỏ, vô hình, đứng lên chống lại thành phố tư bản rộng lớn, dựa vào sự nghiêm khắc và cuồng tín chống đồng bạc và lối sống hưởng thụ. Đấy là cơ sở cách mạng miền Nam, tương đương với khu "tứ giác" của miền Bắc. Đồng Tháp Mười là tứ giác bùn lầy, không như tứ giác rừng rậm. Nhưng ở đây cũng đầy trại lính, kho tàng, cơ xưởng, trường học, có mọi tổ chức của cuộc chiến tranh du kích quy mô lớn. Tất cả những cái đó di động, bằng tre tháo dỡ được dễ dàng chuyên trở trên thuyền đi từ đảo này sang đảo khác, luôn luôn cơ động. Những chuyến di chuyến nổi này lướt trên những mương rạch trước kia người Pháp cho đào để tiêu nước vùng đầm lầy. Bờ mương là những giải băng đệm cũng là những chỗ ở của Việt Minh.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2017, 12:09:50 PM

Nguyễn Bình từ Đồng Tháp Mười của mình làm tất cả, bao giờ cũng nhiều hơn. Ông huy động cả một dân tộc, đàn ông, đàn bà, những người chưa đi theo các giáo phái hoặc người Pháp. Với những tư sản và trí thức, ông cho mang thư đến trong đó viết: "Các ông hãy đến với tôi trong cuộc Kháng chiến. Tôi không ở đảng nào, tôi ở trên các đảng. Tôi chiến đấu vì Tổ quốc". Với nông dân ông hứa cấp đất đai - để bắt đầu họ chia nhau những vùng đất của các điền chủ lớn và không xứng đáng. Ông kêu gọi những người "hạ lưu", đàn bà, người già và trẻ con. Vì mỗi người ai cũng có thể có ích, mỗi người làm một nhiệm vụ như do thám, đưa tin hoặc tiếp phẩm, bắn súng, ném lựu đạn. Nguyễn Bình hình thành những băng nhóm, các uỷ ban, các đường dây khắp nơi.

Ông khơi ngọn lửa tinh thần, nói với mọi người lời lẽ của chủ nghĩa anh hùng và say mê. Trong những điều ông nói bao giờ cũng có tinh thần yêu nước, đẹp đẽ và chân thành. Đấy là một tình yêu trọn vẹn buộc phải đi đến cùng. Nguyễn Bình tự mình tuyên bố điều đó: "Vì lợi ích nước nhà, người ta không được lùi bước trước bất cứ việc gì, càng thất bại càng đứng lên..."

Ông cũng sử dụng tâm lý tập thể, máy móc xây dựng tình cảm, dạy cho dân chúng nhiệt tình và căm thù. Hàng ngày trong Đồng Tháp Mười hoặc bí mật ở Sài Gòn, các xưởng in đưa ra hàng tấn truyền đơn, áp phích, báo chí. Trên hình ảnh nhiệt tình, những bồ câu hoà bình bay đến Hồ Chí Minh. Nhất là có nhiều hình ảnh về căm thù. Người Pháp hoặc kẻ phản bội khúm núm xin dân chúng chiến thắng gia ân. Họ bị hành quyết và cái chết của họ là một bức ảnh giáo dục mọi người.

Bằng mọi cách, vật chất hoặc tinh thần, Nguyễn Bình tổ chức thúc đẩy cuộc chiến tranh. Ngoài lực lượng quần chúng ông đã có khoảng sáu trung đoàn "chính quy". Ông chia Nam Kỳ thành ba vùng chiến tranh, mỗi vùng có một mục tiêu đặc biệt.

Miền Đông là cuộc chiến về cao su. Trên vùng "đất đỏ” rừng rậm lộn xộn được thay thế bằng những hàng cây cao su không dứt. Ở bìa rừng mênh mông của Đông Dương, những đồn điền lớn của thế giới là mồi ngon của Việt Minh. Họ bao vây những mảng của hệ thống tư bản ấy - vùng đất của các công ty quốc tế - nhưng không phải để phá huỷ mà để cùng hưởng lợi.

Miền Tây là cuộc chiến lúa gạo. Ngoài công quốc Hoà Hảo ở cửa sông Mékong trải rộng một vùng đất Việt Minh. Đấy là bán đảo Cà Mau, rừng sú vẹt ngập nước đầy sốt rét và rắn - nơi tập trung bùn lầy sông Mékong đổ vào theo địa hình tự nhiên. Trong vùng hoang vắng không người ở này, kháng chiến đã di cư hàng chục, hàng trăm nghìn dân quê đến làm ruộng. Đây là vựa lúa của họ.

Ở giữa, trong phức hệ Sài Gòn - Chợ Lớn - Đồng Tháp Mười, là cuộc chiến với chính đồng bạc Đông Dương. Cuộc chiến quan trọng nhất, Nguyễn Bình trực tiếp chỉ đạo.

Ông tổ chức một hệ thống hoàn chỉnh cho cuộc chiến tranh du kích, đủ cung cấp cho mình. Ông chi phí toàn bộ cho cuộc chiến tranh hoặc đúng hơn là những cuộc chiến tranh. Ông có các khoản thuế - chủ yếu về lúa gạo và vận chuyển lúa gạo - có pháp chế tài chính, có bộ trưởng tài chính của mình, một chế độ kế toán vô cùng chính xác. Không một người dân, chức sắc nào của Sài Gòn hay Nam Kỳ, dù đã trả thuế má cho người Pháp, chính quyền Việt Nam và giáo phái, cũng không dám từ chối sự đóng góp ông đòi hỏi.

Sài Gòn là "con bò sữa" của ông. Để sống Nguyễn Bình bám chặt vào sự thịnh vượng do chiến tranh đưa lại. Đội quân viễn chinh, đồng bạc Đông Dương có giá trị mười bảy phrăng. Để có lợi nhất ông tạo ra một cân bằng giữa hai sự cần thiết đối lập. Mức độ tốt nhất là khủng bố đủ cho mỗi người nộp tiền mà không thủ tiêu hoạt động kinh tế.

Ông gửi một phần công quỹ ra Bắc, giữ phần còn lại để mua vũ khí, đạn dược ở nước ngoài, nhất là ở Bangkok. Trong việc mua bán này, ông thiết lập những con đường hàng trăm cây số qua rừng núi Căm-bốt và bán đảo Cà Mau: đấy là những con đường mòn được bố trí từng chặng và bảo vệ chu đáo. Những con thuyền lớn, cả những tàu hàng bốc dỡ những hòm vật liệu lên bờ hoang vắng của vịnh Thái Lan và lại ra đi chở đầy lúa gạo. Những đoàn dân công mang gạo tới, trở về còng lưng dưới sức nặng những gói súng cối và lựu đạn. Hành trình những "người mang vác" đặt trước sự kiểm soát của một số quân lính của Lữ đoàn Hải ngoại (gọi như thế vì lữ đoàn được tạo thành từ những người tình nguyện Việt Nam ở nước ngoài). Thường cũng có một đoàn thuyền thay thế người vượt qua Nam Kỳ trên những con rạch khúc khuỷu trong đất liền hoặc trên đường phân giác những con kênh nước đen ngòm.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2017, 12:10:18 PM

Điều Nguyễn Bình - người tổ chức cuộc chiến tranh du kích rộng lớn và tổng hoà này - đòi hỏi ở mình thật ghê gớm. Ông đi chiến đấu ở Sài Gòn không sợ hãi, hết sức mạo hiểm. Trong những cuộc di chuyển ông đi cùng đồng đội không nhận một ưu tiên gì. Không có thì giờ ngủ, có những cơn sốt ác tính. Bệnh tật làm người ông quắt lại, đôi mắt có quầng to ra trên khuôn mặt xương xẩu - nhưng ông không dừng bước. Phải chăng ông đã trở thành một người điên rồ?

Điều ông đòi hỏi ở quân lính cũng đáng sợ. Không hy vọng được sống sót, họ buộc phải hy sinh vì mệt mỏi hoặc vì chiến đấu. Nguyễn Bình không hề quan tâm đến mạng sống, ít hơn nhiều so với ông Giáp ở miền Bắc. Ngoài kia việc gì cũng đã được xác định. Tỷ lệ tối đa về thương vong đã được dự kiến trước. Khi đã đến mức đó lực lượng ông Giáp ngừng ngay lại, kể cả đang thắng lớn. Nguyễn Bình không bao giờ bỏ dở. Ông luôn thúc đẩy quân lính tiến lên cho đến lúc lính của ông bị dìm xuống vì họ chưa có vũ khí cần thiết, chưa đủ móc-chi-ê và ba-dô-ka.

Tuy vậy trong lúc những công trình Pháp ở Nam Kỳ đồ sộ như không thể chiếm được trừ bằng mưu kế Nguyễn Bình đã tấn công nhiều đợt từ cuối năm 1948. Do sử dụng "làn sóng người" với những hậu quả đáng sợ. Ông thích cái lãng mạn của nhiệm vụ mà quân lính lao vào súng đại liên, lớp này đến lớp khác công kích dữ dội một đồn bốt cho đến lúc những người chống đỡ chạy đi vì súng đỏ lên, bị nhấn chìm. Việt Minh của Nguyễn Bình nối tiếp nhau hét vang và ngã xuống. Họ xông lên qua những lớp xác đồng đội hị hạ gục trước đó. Cứ như vậy mỗi lần Nguyễn Bình quyết định hạ một bốt địch. Lúc ấy chẳng có gì đáng kể.

Thường cũng có thất bại và bị tàn sát. Nguyễn Bình cho xử lý những người sống sót, bị kết tội vì hèn nhát. Tính ông là vậy. Càng ngày ông càng bị ám ảnh vì nhiệm vụ to lớn của mình. Một lần ông nói: "Tôi những muốn có lòng thương xót nhưng không thể vì tôi yêu Tổ quốc tôi".

Dân chúng luôn yêu mến ông, coi ông hơn một người anh hùng, là một thánh sống.

Với cách dùng bạo lực, ông không tránh khỏi những sai lầm nghiêm trọng. Chính ông quyết định thanh toán các giáo phái. Ông ghê tởm họ như là hiện thân của những gì hạ thấp con người vì mê tín và ngu ngốc. Việc ám sát thánh sống của Hoà Hảo và việc ám sát hụt Bảy Viễn đẩy các giáo phái vào tay người Pháp. Nguyễn Bình là một người lý tưởng, tin vào sự tiến bộ của khoa học và lý luận. Vì lý tưởng chống những cái xấu xa về thể xác và tinh thần mà ông đổ bao nhiêu máu và vui thích làm việc đó.

Phái viên của Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp vào kết tội ông. Có người đã hét vào mặt ông tại trụ sở Ban chỉ huy: "Anh chỉ là một người vô chính phủ. Thay vì phân tích đúng đắn tình hình, anh chỉ tự tin vào mình. Với những sai lầm quá lớn anh đã phản lại chiến thắng của dân tộc."

Nguyễn Bình nhẫn nhục nhận những lời trách cứ. Ông hối lỗi, được giữ lại chức vụ chỉ huy. Những người cộng sản chờ đợi ở ông một nhiệm vụ cuối cùng. Đấy là giữ lại những người quốc gia trong công cuộc kháng chiến, biết rằng ông hành hạ họ và tự hành hạ mình.

Những năm cuối đời của mình Nguyễn Bình là bi kịch ghê gớm nhất đối với một con người. Không những ông chứng kiến sự đổ vỡ những công trình của mình mà ông còn là một công cụ có ý thức, chấp nhận vì tin tưởng vào một bổn phận cao cả và không tránh được.

Đôi khi người ta nói Nguyễn Bình là một người quốc gia giả, rằng ông là một người cộng sản nguỵ trang: Tôi thường nói chuyện với những người ra khỏi cuộc kháng chiến, những người đã bị ông đuổi đi. Họ không tin thế. Họ vẫn khen ngợi ông, là một người yêu nước trong một tình hình không lối thoát, người anh hùng bị dồn đến đường cùng, đao phủ của chính ông cũng như của bao nhiêu người khác. Đối với họ, ông hy sinh mọi tình cảm nhân đạo cho một ý tưởng - điều ông Giáp khắc sâu vào tâm trí ông, ông không bao giờ chối bỏ, phải theo đến cùng, một cách tiên nghiệm "lòng trung thực".


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2017, 02:01:40 PM

Phép màu của sự thịnh vượng

Những cuộc chém giết ấy, những kinh hoàng ấy, dòng máu lan tràn trên các đấu trường ấy không đáng kể. Sự tàn ác được phủ bằng một sự thịnh vượng lớn lao, không ngờ được. Chưa bao giờ người ta lại sống sung sướng như thế ở Đông Dương, chưa bao giờ có nhiều người biết đến hạnh phúc như vậy.

Một ông thương gia một hôm hỏi tôi: "Ông nghĩ còn bao nhiêu năm làm ăn sung túc ở Đông Dương nữa? Miễn là những thù hận còn kéo dài!" Thực ra ý nghĩ ấy chất đầy mỗi đầu óc, không chỉ những nhà giàu có, quyền thế da trắng da vàng mà cả tầng lớp tiện dân, cu-li, dân quê. Bất kể các nạn nhân, có bao nhiêu người đương hưởng lợi!

Chính cuộc chiến tranh làm giàu mọi người, về nguồn gốc có những tỷ Chính phủ Pháp rót cho Đội quân viễn chinh để họ chiến thắng càng nhanh càng tốt - kết quả là tài trợ cho tất cả mọi người. Những tỷ bạc đổ xuống Đông Dưởng như một cơn mưa dồi dào. Việc sản xuất, công việc không còn đáng kể. Điều quan trọng là chi tiêu: buôn bán, vui chơi, nhập khẩu, vòng xoay tài chính, đầu cơ, buôn lậu. Trong nền kinh tế mới, giả tạo nhưng tuyệt vời, đồng bạc lăn qua, tất cả lúc nhúc hoạt động.

Phép màu của sự thịnh vượng đi đến đâu? Nó trải rộng đến người chết, cửa hàng Toby chuyên làm quan tài bọc kẽm, bảo đảm không rạn nứt cho phép đưa xác an toàn về Pháp mặc dù có "những phân huỷ nhiệt đới", công bố trên báo mỗi tháng làm lễ cầu kinh một lần cho linh hồn các khách hàng.

Số lượng người tự sát là chứng cứ trực tiếp của việc quản lý giỏi của Đại thế giới, cơ sở đánh bạc rộng lớn nhất trong thế giới. Toàn thể dân chúng Sài Gòn đến đấy, nó thu hút cả những đồng bạc nghèo nàn của những người cu-li đến tiền đút lót của các viên chức và tiền đầu cơ của các "nhà tỷ phú". Một trong những chủ sòng bạc tâm sự với tôi: "Bây giờ lớp bình dân cũng có khá tiền để thoả mãn nỗi đam mê của mình, trước kia họ quá khốn khổ về điều đó."

Chưa bao giờ gái gọi - lớp người màu mè của thú vui đắt tiền - tỏ ra "khó khăn” đến thế. Người ta biết rõ mức độ phẩm hạnh của họ là thước đo tốt nhất về tình hình kinh tế: thấp trong thời kỳ khủng hoảng, lên cao khi việc buôn bán phát triển ở Sài Gòn. Năm 1948 ở vũ trường cầu vồng các cô ra dáng những công chúa kiêu kỳ, đuổi thẳng những kẻ gạ gẫm thiếu tế nhị muốn chinh phục các cô bằng những xấp bạc và vật trang sức. Phải thêm vào đó lời cầu xin, thơ ca, những ngày hay những tuần chờ đợi. Mỗi cô có ít nhất hàng trăm áo dài lộng lẫy bằng lụa.

Ngược lại chưa bao giờ gái đĩ lại dễ thương đến thế. Họ nhiều lắm, vừa ra khỏi đồng ruộng, làm tình một cách rất đơn giản. Đối với họ như vậy ít nặng nhọc hơn cấy lúa! Thường là con gái chưa tới mười lăm tuổi. Họ cũng có lãi trong cuộc sống được nâng cao - không có chiến tranh họ không thể ra thành phố và tìm khách. Đối với họ khung cảnh có đáng khinh đến mức nào cũng không có gì là xuống cấp. Như họ thật ngây thơ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2017, 02:03:02 PM

Trại Trâu, một nhà chứa rộng bao la của quân đội xoay vần như một xưởng máy. Phía trong một bức tường đơn sơ, cách một dãy nhà kiểm dịch của những y tá bẩn và lơ là là một khu đất có rào bao quanh. Ở giữa, trên vạt sân rộng bằng đất nện bố trí những căn nhà tranh chụm vào nhau năm cái một. Ra khỏi nhà, những hàng trăm con gái da vàng nhào vào quân linh đủ mọi màu da. Trong cảnh lộn xộn, xô đẩy nhau, vừa làm những cử chỉ tục tĩu, các cô hét lên bằng tiếng Pháp những tiếng rác rưởi những từ độc nhất họ biết. Những đối tượng to béo của họ bập bẹ những lời Việt Nam khuyến khích. Những cô chèo kéo được cùng con mồi vào trong lều bỗng nhiên im lặng; những cô thất bại ôm nhau nén cười.

Cũng khác thường là Trại Trâu này ở ngay trên bờ đại lộ Galliéni nối liền Sài Gòn - Chợ Lớn. Thay vì giấu giếm người ta bày ra trước mặt toàn thành phố.

Một người "thông thái" giải thích cho tôi:

- Việt Minh xây dựng đạo đức trong một sự bí hiểm độc ác. Người Pháp có lý khi chống lại họ bằng khuyến khích truyền thống khác của Châu Á, hạnh phúc hưởng thụ, thoả mãn mọi "ảo tưởng sung sướng".

Lạ lùng là chính quyền thận trọng đối với thuốc phiện; bỏ công ty quốc doanh và đóng cửa cơ sở sản xuất của nhà nước ngay tại Sài Gòn. Nhưng ma tuý vào lậu và chưa bao giờ có nhiều người hút hít đến thế. Những con đường dân dã đầy những tụ điểm cho dân quê: họ ở trần, thân hình xương xẩu và khô đét nằm dài trên những tấm ván xếp chồng lên nhau như những xác chết đặt trong nhà mồ. Những người chạy xích lô vừa đạp vừa ăn xái thuốc làm họ mệt nhoài, lảo đảo. Ngược lại, người giàu có thiên đường mơ màng của họ, ở đó những đứa con lai nghiền thuốc thành viên nhỏ nướng trên ngọn đèn.

Ngoài việc đầy rẫy tệ nạn xã hội có mọi thứ thừa thãi. Những viên chức Việt Nam mua xe đạp và thuốc pê-ni-xê-lin. Các kho hàng ở Sài Gòn, Hải Phòng đầy ắp hàng hoá và được đưa đến luôn. Hải quan là một nghề sinh lợi. Khối lượng lớn hàng hoá ấy đổ xuống những con đường của du kích, cũng tắc nghẽn như những đại lộ ở Paris. Đi qua khắp các vùng, hàng hoá đến đủ các bên giao tranh tận từng làng xóm. Cuộc chiến xảy ra giữa những hàng hoá tồi. Khắp nơi những người bán rong ngồi xổm theo lối Phương Đông, bán sản phẩm của người Phương Tây. Ngay bên cạnh đồng ruộng người ta thấy bày ra mời chào những lọ nước hoa của đường phố, xà phòng hảo hạng, bưu ảnh, nước chanh màu hồng và những chiếc mũ thuộc địa. Để mua hàng, các bà già có một cử chỉ rất riêng. Vén chiếc áo dài, các bà lục tìm nhanh phía dưới, ngay trước bụng, chiếc túi dấu kín, rút ra những đồng bạc cáu bẩn, xếp chồng lên nhau và bắt đầu the thé mặc cả, nửa bi nửa hài.

Một bốt Pháp bố trí dù trong vùng quân đỏ, cũng là một mỏ vàng. Xung quanh bốt mọc lên như nấm những căn nhà tranh các vợ lẽ, những bà bán hàng "ăn qua loa", chủ quán rượu, các chỉ điểm, phiên dịch, bồi, bếp. Đó là một việc làm trong thịnh vượng, không hẳn là hoà bình. Ngay Việt Minh trong vùng, những người thường phục kích và chém giết, cũng đi chợ bên cạnh hàng rào - nhiệm vụ đầu tiên của một trưởng bốt là xây dựng một cung cấm. Nếu họ quá lộ mặt thì cử bà con, bạn bè đi thay. Mọi người đều là khách hàng của thương trường Pháp; và họ mua với tiền của người Pháp, trực tiếp hoặc gián tiếp đến với họ.

Súng tiểu liên sinh lợi. Nền độc lập cũng thế. Các chính quyền Việt Nam chỉ thoả mãn yêu cầu của Cao ủy Pháp bằng cách thương lượng. Mỗi lần như vậy phải thắng sự đắn đo, ngần ngại của họ, biết cách thuyết phục họ. Các bộ trưởng cao giọng về chủ nghĩa dân tộc, thao thao nói ghê tởm đánh nhau với Việt Minh, những người yêu nước Việt Nam lầm đường. Lúc đầu người Pháp kiên nhẫn trả lời rồi bực tức bảo họ có một kẻ thù chung, cộng sản: vì vậy chính quyền Sài Gòn phải tham gia nhiều hơn vào cuộc chiến tranh. Sau nhiều ngày lý giải, các ngài da vàng làm như buộc lòng chấp nhận để đổi lấy tiền: số tiền chính thức cho Nhà nước, số bổ sung kín đáo cho bản thân họ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2017, 02:03:52 PM

Vậy là có hai chính quyền - Cao ủy Pháp và Chính phủ Việt Nam - đủ loại ghế ngồi, cấp bậc kinh phí. Nhờ vào thuế hải quan và tài trợ của Pháp, các quỹ rất giàu. Mỗi nhân vật chính phủ chỉ định tất cả người thân, vô số bà con vào những vị trí béo bở. Một cuộc tranh chia kịch liệt. Các viên chức da vàng tỏ ra nghiêm khắc và quá tỉ mỉ. Với cách ấy họ khai thác luật lệ và những quy định tốt hơn, chữ ký của họ rất đắt. Đến những người lương ít trong bọn họ cũng sống thoải mái. Nếu họ tỏ ra yếu mềm trong việc gây khó khăn và hối lộ, các bà vợ phản ứng ghê gớm. Các bà kêu van họ bị mất mặt vì những kết quả ít ỏi; đồng nghiệp của họ khôn ngoan được tôn trọng hơn nhiều. Những ông chồng run rẩy càng làm tới; hơn những người khác, ở Việt Nam họ sợ vợ, những người chủ thực sự trong gia đình, do đó cũng là chủ công việc xã hội; những con người thanh mảnh ấy hơn hẳn đàn ông, có một nghị lực sắt và sự tham lam không gì thoả mãn được.

Qua mọi đường lạch ấy, cả những con đường khác, sự thịnh vượng trở nên vô tận. Càng lớn hơn khi các tỷ rót vào chiến tranh - mỗi ngày một tỷ - nguyên liệu thô cho mọi hoạt động - được tăng gấp đôi, có lẽ gấp ba bởi một hành động phù phép của cơ quan quản lý tài chính gọi là chuyển đổi. Đấy là việc cho phép gửi sang Pháp những đồng bạc thu được ở Đông Dương với mức hối đoái mười bảy phrăng trong lúc giá trị thực chỉ bảy hoặc tám. Công việc này được thực hiện trong một ngôi nhà bụi bặm và tồi tàn ở Sài Gòn, sở hối đoái, là trung tâm xứ Đông Dương, hơn cả Cao uỷ Pháp hoặc Bộ tổng tham mưu. Ở đây các viên chức dưới quyền với vài nét bút nhân đôi những món lãi, vốn tổng hợp, mọi tiền nong trôi nổi. Và chính Nhà nước Pháp trả món chênh lệch ấy.

Tiền lãi càng tăng khi những đồng phrăng nhận được rất nhiều ở chính quốc trở lại Đông Dương. Tiền xuất hiện lại ở Viễn Đông dưới nhiều dạng khác nhau - hàng hoá, vàng hoặc ngoại tệ. Việc chuyển lại ấy hợp pháp hay bất hợp pháp: trường hợp sau là việc “đổi chéo” béo bở. Nhưng dù bằng cách nào, mọi việc đều được thương lượng, mua bán, bảo đảm công khai hay bí mật, bằng đồng bạc có giá trị tám phrăng. Chỉ còn tiến hành một cuộc chuyển đổi mới. Việc đó kéo dài vô tận.

Dù sao giữa Đông Dương và nước Pháp vòng xoay liên tục tiền bạc, việc qua lại thường xuyên là dịch vụ mua bán tốt nhất thế giới, trung thực hay không lương thiện, về cơ bản mọi việc bị xáo trộn. Ranh giới giữa hợp pháp và bất hợp pháp thật vô địch! Không có những tiêu chuẩn chính thức để xác định cái gì hợp pháp và cái gì gian lận. Việc đó do những viên chức nhỏ sợ sệt và ham muốn, bất lực trước những lực lượng đồ sộ về tài chính và chính trị hiện hành. Họ quy định theo mức độ quan trọng của những yêu cầu, chỉ thị, theo may rủi.

Thực tế thì tất cả đứng vững. Khắp nơi là chất men xung quanh đồng bạc Đông Dương được nâng giá. Đối với toàn bộ Đông Dương là lợi dụng lợi thế bất ngờ kỳ lạ. Những người có vị trí cao làm một chính thức, những người khác “tự xoay xở”. Khác nhau chỉ có thế.

Không ai biết tên thanh tra tài chính ấn định tỷ lệ hối đoái đồng bạc Đông Dương là mười bảy phrăng. Con người này muốn khuyến khích những người Pháp ở Đông Dương và những người dân Đông Dương ủng hộ Pháp. Đây phải là một phần thưởng cho việc làm - kế cả quân sự - và cho lòng trung thành. Những đồng bạc ấy, phần bù thêm, việc chuyển đổi và mua bán tạo ra lớp người thường trực của cuộc chiến tranh Đông Dương, làm cho tất cả đứng vững - những quốc gia đồng minh, Đội quân viễn chinh, Bảo Đại và Việt Minh. Không có những việc ấy sẽ không còn thương mại, đường lối, bình định và cả cuộc chiến nữa. Hoặc ít nhất mọi thứ đã khác, đã thay đổi sâu sắc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2017, 02:11:31 PM

Sự liên minh của đồng bạc Đông Dương

Công cuộc bình định mà những người Pháp nỗ lực tiến hành thật chậm chạp! Thực tế tuy cố gắng nhưng họ không vội vã. Về lý thuyết họ biết mình đang lao vào một cuộc đua tốc độ nhưng thực ra họ không tin. Vì thế cuộc chiến tranh trở thành một sự hoạch định cơ chế được bố trí hoàn hảo đến mức nó tự tiếp tục vô tận như tất yếu thúc đẩy. Hơn hẳn một cuộc chiến tranh, đấy là một lối sống mới.

Dĩ nhiên người Pháp tạo dựng một liên minh “ủng hộ Pháp” chống lại Việt Minh, nhưng lại là liên minh của đồng bạc Đông Dương. Liên minh này tập hợp Đội quân viễn chinh và hàng trăm nghìn quân bổ sung, trung tâm Pháp - người da vàng làm nghề buôn bán và chuyển đổi do nhà băng Đông Dương chi phối cả thế giới chính trị với Cao uỷ, Chính phủ Việt Nam, những người hợp tác và những kẻ chờ thời của họ.

Đấy cũng lúc nhúc những căm thù và ẩn ý. Điều đó vẫn hầu như vững chắc do đồng bạc và mẫu số chung ấy cho phép mỗi người thỏa mãn lợi ích của mình. Nhưng trong hiện tình lợi lộc thường xuyên ấy không có gì biến chuyển, tiến bộ thực sự.

Bắt đầu từ Đội quân viễn chinh. Từ nay Đông Dương là một vùng chiến sự hoàn toàn, tài sản của một quân đội chuyên nghiệp. Gần khắp đất nước quân lính về phía Pháp là thực tế duy nhất. Vừa ra khỏi ngoại ô Sài Gòn, không còn nhà nước, chính quyền, luật pháp, lợi ích công cộng nữa - chỉ còn quyền lực của chiếc lon.

Đội quân viễn chinh bố trí một cách nặng nề, giữ lấy khắp nơi những gì thích hợp - một phần tư thành phố đẹp Sài Gòn bị trưng dụng cho các ban tham mưu, văn phòng, chỗ ở, nhà ăn tập thể. Trong những thị xã việc chiếm đóng còn rộng hơn. Sĩ quan, binh lính không bận tâm một vấn đề gì về cuộc sống. Tất cả đều được thu xếp, vật chất và tinh thần. Đầy đủ tiện nghi, sung mãn.

Cuộc chiến tranh Đông Dương là một chỗ ở thường xuyên. Biết bao chiến binh tình nguyện trở lại đấy lần thứ hai, thậm chí thứ ba! Đối với những người không tử trận, Đông Dương thuận lợi cho việc thăng cấp, chiến công, tuyên dương và cả kinh tế nữa. Đấy là cơn mưa khen thưởng. Nhà binh chúc tụng nhau, gắn huân chương dồi dào cho nhau. Mỗi tấm ngực là một nơi gắn huân chương. Cứ mỗi đợt hành quân, may mắn, hoặc bất hạnh, người ta “rung cây chuối” để rơi xuống vô số đồ chơi lúc lắc. Đến mức họ tiến hành những cuộc ra quân vô ích.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2017, 02:12:19 PM

Vấn đề tiền nong dĩ nhiên cũng đáng kể. Lương ở nước Pháp khốn khổ, không như ở Đông Dương. Người lính biệt kích Bắc Phi để dành tiền mua một mảnh đất và cưới một cô vợ ở đất nước mình. Hạ sĩ quan Pháp đảm bảo cho gia đình bên chính quốc một cuộc sống đàng hoàng. Tôi biết một viên quản chiến đấu - không phải một viên quản hậu cần - để dành được năm triệu. Các “nhà bếp tập thể” là những kho tàng cho việc “bớt xén”. Bao nhiêu sĩ quan tích luỹ của hồi môn cho con gái họ! Trong quân đội này, bên cạnh những người khổ hạnh, tham vọng, bất lương cũng có những viên chức quân sự, những người bàn giấy của súng đạn. Họ đến chủ yếu để “kiếm xu”. Tích lũy được mấy đồng bạc với giá mạng sống mình cũng là một anh hùng!

Một thiếu tá trạc tứ tuần sống thoải mái, có một người vợ trẻ đẹp ở Pháp. Mỗi lần trở về chính quốc là một cuộc sống thời thượng trong hai tháng. Cuối thời hạn ấy, người vợ nói với chồng: “Chúng ta không còn tiền. Anh lại sang Đông Dương đi.”

Phép lạ của đồng bạc ban cho tất cả quân lính: họ thực hiện chuyển đổi một cách máy móc. Có những hiện tượng kỳ lạ. Hình như trong năm 1947 tổng số tiền chuyển đổi của quân đội vượt quá tổng số tiền lương.

Cuộc chiến tranh Đông Dương còn hơn một lý tưởng - là hoàn toàn thiên về quân sự. Để xứng đáng với truyền thống Quân đội Pháp, Đội quân viễn chinh không làm trái luật, từ chối những điều mới, những nhượng bộ. Khinh thường việc áp dụng theo người Việt những chiến thuật lạ lùng, chết người, họ áp dụng những bài đã học ở trường võ bị Saint -Cyr và trường Chiến tranh. Thà bị giết còn hơn xem quân địch quá quan trọng. Việt Minh bao giờ cũng chỉ được xem như một con mồi - con mồi khá nguy hiểm, đúng, để cuộc chiến là một môn “thể thao” thực sự cao quý. Đối với một sĩ quan có gì đẹp hơn là tiến lên trên đồng ruộng đi đầu hàng quân với bộ đồng phục, huy hiệu, gậy chỉ huy và chiếc mũ ca-lô? Lạnh lùng, vô cảm, ông ra lệnh qua đôi môi mỏng, và là bia bắn lừng lững trước những “quân bần tiện” ẩn nấp.

Đây là cuộc thập tự chinh của tầng lớp quý tộc: về phía người Pháp họ không có lính mới, không nhân dân. Vấn đề là thiết lập nền “văn minh” chinh chiến. Một số việc quan trọng, những việc khác thì không, đã được xếp đặt theo chú giải trong Kinh Thánh về danh dự, về sự tế nhị đáng ngạc nhiên trong một môi trường đơn sơ như vậy. Điều đáng kể trước hết là giọng nói, bước đi, phong cách.

Trong lớp người này kỷ luật chỉ là bề ngoài. Thực tế, mỗi người làm theo ý mình, chiến tranh, tiệc tùng, âm mưu hoặc chẳng làm gì. Đội quân viễn chinh về cơ bản đã là một tổ chức vô chính phủ rộng lớn.

Trong sự rời rạc ấy dần dần tạo ra mẫu người “chúa tể”. Đấy là loại tướng lính đánh thuê. Ông ta có thể làm tất cả. Ông uống champagne không biết mệt; tham gia cuộc chiến hoặc tiệc tùng đến sáu giờ sáng và dậy tỉnh táo lúc bảy giờ. Ông hiểu Einstein và bắn hạ người mình cách năm trăm mét. Cũng với sự phóng túng ấy ông tra tấn Việt Minh hoặc tha thứ cho họ. Sức lực của ông không tưởng được. Ông độ lượng hoặc tàn nhẫn. Ông đẹp người, quyến rũ, hiểu biết. Đấy vừa là một người, một siêu nhân và thậm chí một ông thánh.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2017, 02:12:53 PM

Một số sĩ quan đẩy điều đó đi quá xa. Họ không chấp nhận nguy hiểm. Phải vượt qua, khinh thường, nhận mọi sự mạo hiểm - thế nhưng không bao giờ “bị đụng đến”. Bị một viên đạn vào mình hoặc bị kiết lỵ là hạ thấp mình. Một đại uý nói với tôi: “Tôi phạt binh lính bị thương. Đấy là một dấu hiệu hèn kém, phụ thuộc vào số phận”.

Một Chúa tể là một nhà đạo đức học khoảng bốn mươi tuổi. Cuộc chiến tranh thực sự của những người đội thiếu uý, trung uý không nói lên điều gì, nó không là triết lý. Nhưng mỗi người trong bọn họ là một ông vua trong địa hạt của mình. Ông ta có quyền cho sống, chết mà không ai hỏi đến. Thật ngây thơ. Một số ở cấp bậc thấp ấy đã bắt đầu hiểu cuộc chiến của những người da vàng. Nhưng cũng không phải là hiểu rõ.

Bên cạnh, những quân lính ra trận, những người không đánh nhau rất nhiều. Vì quân đội cũng xây dựng thành một chính quyền để tự quản lý mình. Các thành phố đầy ban tham mưu và văn phòng lúc nhúc hàng chục tướng tá. Thật khác thường khi một quân đội trong tình trạng đình trệ tăng thêm và mở rộng các cơ quan để rồi thích tranh cãi viển vông về quân sự. Các sĩ quan cao cấp ở đấy có mọi điều lợi. Họ bận tâm nhiều nhất là đưa ra những lý thuyết làm hài lòng tướng Carpentier, chỉ huy trưởng. Để làm điều đó họ làm méo mó các sự việc.

Kết quả là hình thành một môi trường khép kín - một phe nhóm. Ở đấy có một số lượng bất thường những người bất lực và ngu dốt. Tất cả lợi ích của họ nằm trong “bếp nội bộ”. Họ bận bịu nhiều về việc đó.

Đội quân viễn chinh vậy là một thế giới tin chắc ở mình, ổn định trong những việc nhỏ nhặt và nguyên tắc. Mỗi người làm cuộc chiến tranh theo ý mình, như cách họ muốn, trong các văn phòng, trên rừng núi hoặc đồng ruộng, cổ điển, thủ cựu hoặc thích đánh nhau, thậm chí phiêu lưu nữa. Điều chủ yếu là có một dạng “tinh thần” - người ta chém giết, bị chém giết, hành quyết hoặc bị hành quyết, không bao giờ thành vấn đề. Không ai tò mò và có những vấn đề đạo đức. Đấy là niềm tin vững chắc.

Tư cách trước hết là sự trong trắng chủng tộc. Vì thế quân đội của đồng bạc không bao giờ nói tới đồng bạc ấy. Nói cho đúng Đội quân viễn chinh dùng đồng bạc làm tường thành. Sĩ quan và binh lính khai thác nó nhưng rất ít so với những “người lợi dụng” thực sự, so với những người không đánh nhau nhưng nhờ nó mà thành tỷ phú!

Sau này tướng de Lattre kêu lên: “Phải nói rằng quân lính của tôi chết vì những kẻ buôn bán và đồng tiền bẩn thỉu của họ!” Sẽ tới một lúc Đội quân viễn chinh cảm thấy mình hy sinh vì con Bò Vàng! Năm 1949 chưa phải đã đến lúc ấy. Những người chiến đấu cho “cuộc chiến tranh thoải mái” từ xa nhìn thấy, không ghen tị, nguồn lợi lớn chảy vào nhà những ông “đại thương gia” và những nhà “chính trị lớn”.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2017, 02:13:50 PM

Đông Dương không chỉ là vương quốc của quân đội. Xứ sở ấy cũng là một áp-phe kinh tế-tài chính khổng lồ. Chưa bao giờ các công ty tư bản chia những phần lớn đến thế cho cổ đông. Hình như ở Paris các chủ tịch hội đồng quản trị hoảng hốt với các nhân viên tại chỗ: Các anh làm thế nào mà lãi được bấy nhiêu tiền?” Những người này trả lời đơn giản: “Cũng chẳng biết. Người ta không làm khác được. Mọi người đều nằm trong guồng máy”.

Thực tế cánh buôn bán phát hiện ra một điều chủ yếu: sự mất trật tự đưa lại nhiều hơn trật tự và khai thác tốt hơn.

Trong các xí nghiệp lớn có một sự vực dậy. Trước tiên những công ty lớn suy sụp khi chắc chắn Đông Dương hoàn toàn thuộc địa đã chết vĩnh viễn, không hy vọng trở lại nữa. Nhưng những người kỳ cựu ấy nhanh chóng biến mất, lớp người trẻ thay thế với suy nghĩ hoàn toàn khác: chủ nghĩa thực dân chết cũng chẳng cần, miễn là chủ nghĩa tư bản còn lại.

Thế giới của tiền bạc thích nghi rất tốt với hoàn cảnh. Xứ Đông Dương mới - độc lập trong lòng Liên hiệp Pháp, một tình trạng vô chính phủ do một lớp thượng tầng kiến trúc tam tài che phủ - tự thể hiện “hay ho” hơn chế độ cũ nhiều.

Những “nhân viên trẻ” mới của sở Thuế quan và Nhà băng hiểu sự lộn xộn bừa bãi là béo bở về tài chính. Ở Châu Á có sự cân bằng luật pháp, thậm chí có một số dạng kỳ dị về sự ổn định: cây lúa mọc lên, hàng hóa chu chuyến, hàng nhiều triệu người tiếp tục sống, sản xuất, có những nhu cầu. Một đất nước trong máu lửa có thể là một thị trường rất tốt, hơn bất cứ lúc nào vì mức tiêu thụ tăng. Đấy là trường hợp Đông Dương trong chiến tranh. Để khai thác chỉ cần biết bắt đầu một cách thông minh.

Thế nhưng giữa những hoạt động sinh lợi cần thiết có một ốc đảo tĩnh lặng. Đấy là vùng trung lập và có tổ chức, một vùng hòa bình khoảng mấy chục cây số vuông, ở đó những đại gia thương lượng làm nhiệm vụ: nhận những giấy phép và những chuyển nhượng, xuất, nhất là nhập khẩu, mua, và chủ yếu bán, nhận vào xe hàng, nộp thuế, xếp vào kho, bố trí thế nào cho có lợi nhất. Mảnh đất nội địa ấy dành cho hòa bình, phương Tây, nước Pháp cho cho chủ nghĩa tư bản, dĩ nhiên là Sài Gòn - không phải toàn thành phố, chỉ là khu người Âu. Nhỏ thôi nhưng rất đủ. Vì mỗi lần hàng hóa được khách hàng da vàng trả tiền, ai còn quan tâm theo dõi đến chỗ hàng biến đi trong không gian bao la của Đông Dương không được kiểm soát? Hàng hóa đến chỗ đất trống chỉ còn dân quê, Việt Minh và binh lính. Dù sao thì dân Sài Gòn không bao giờ đến những vùng nguy hiểm, họ không rời thành phố của họ. Họ luôn ở xung quanh đường Catinat, là tù nhân của đồng bạc.

Ý muốn không trông thấy gì cũng thể hiện có hệ thống. Một thanh niên Pháp ngây thơ, làm việc ở sở Thuế quan nêu lên yêu cầu về đèn pin bỏ túi: chắc chắn do việc mua khối lượng lớn của quân đội Việt. Nhưng ông chủ bảo anh im đi và nói: "Việc đó không liên quan đến anh. Nếu muốn giữ chỗ làm, anh đừng như thế nữa. Anh chỉ phải lo toan về lời lãi của việc buôn bán”.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2017, 02:14:43 PM

Sài Gòn đã đặt ra nguyên tắc “sử dụng đồng bạc”. Đấy là một hoạt động yêu nước: Kết quả là phát triển nền công nghiệp Pháp, tạo việc làm cho công nhân chính quốc, đưa các khoản thuế vào quỹ quốc gia. Từ định đề ấy, tất cả đều được phép làm giàu - với điều kiện tuân thủ những thoả thuận với bên ngoài.

Đấy là tính của việc đổ xô theo vàng với những cách khôn khéo đạo đức giả. Tất cả đều được tha thứ trừ thái độ vô sỉ ý thức được việc mình làm nhất là nói ra việc đó. Một số người tốt đã dại dột thực sự có lòng trung thực.

Đó là trường hợp một dược sĩ già mà cửa hàng không được rộn rịp. Một hôm có người thô lỗ nói với ông: “Việt Minh biết ông nghiêm túc và có lương tâm nghề nghiệp, thích mua nhiều ở cửa hàng ông”. Ông không muốn công nhận, người ta nêu chứng cứ. Cuối cùng con người trung thực này kêu lên: “Tôi không bao giờ nghĩ thế. Nhưng làm sao được? Khách hàng đến với đơn thuốc hợp lệ, tôi phải phục vụ họ. Họ không mang trên mặt dấu hiệu cộng sản. Chính cảnh sát phải biết và báo trước với tôi. Ai làm nghề nấy”. Bình tâm về lập luận ấy người kia tiếp tục cung cấp nhiều theo yêu cầu và để tránh lúng túng anh ta không bao giờ hỏi nữa, thậm chí không hỏi thăm sức khỏe.

Ở Sài Gòn, những người thực sự phong lưu - đồng thời là những người “tranh thủ” được nhiều nhất - không rêu rao về tài sản của họ. Phơi bày hết những đồng bạc thu nhặt được cũng chẳng hay. Nguồn lợi lớn chảy trong một không khí tư sản đoan trang, ngăn nắp, thậm chí tiết kiệm. Thành phố thịnh vượng nhất thế giới nhìn bề ngoài bình thường. Không có sự xa hoa hối hả, những thú vui kỳ lạ, vừa đúng sự cần thiết. Sự khiêm tốn này rõ nhất ở những người Pháp. Vì khi một chiếc xe lớn chất đầy đường, người ta có thể chắc chắn là của một bộ trưởng Việt Nam. Khi một bà lấp lánh những viên kim cương đẹp, chỉ có thể đấy là vợ một vị cao cấp da vàng.

Sự hòa hợp ấy của Đông Dương không chỉ do quân đội, nhà băng, Sở Thuế quan; nó bao gồm cả mọi người Việt Nam trực tiếp hoặc gián tiếp được người Pháp trả tiền ở nông thôn, đấy là tất cả ngụy binh và giáo phái. Ở thành phố là mọi tư sản hợp tác hoặc chờ thời.

Vị trí tốt nhất là những người của Chính phủ - thủ tướng, các bộ trưởng, viên chức cao cấp, viên chức thường. Họ chỉ có quyền lực trong các thành phố lớn. Quỹ quốc gia không có, được thay thế bằng một cuốn sổ tay nhỏ thủ tướng giữ trong túi áo. Việc nhận hối lộ rất phổ biến. Những bộ trưởng được coi trọng nhất là những vị có nhiều quỹ đen. Thông thường thủ tướng có dự trữ nhiều nên ông cũng là bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Kinh tế quốc gia và Bộ Chiến tranh. Phải trả tiền để được bổ nhiệm vào một vị trí. Giá cả định theo số tiền được cung cấp của từng vị trí, mỗi người trong bọn họ đáng giá theo đó; biểu giá của họ được xác định theo lợi lộc, những gì họ thu lại sau đó.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2017, 02:15:14 PM

Tất cả đổ vào những tiệc rượu, điện tín, lời chúc mừng, diễn văn phô trương và duyệt binh. Không có đảng phái chính trị, nghị viện, bầu cử, trách nhiệm của các bộ, dư luận quần chúng. Không ai quan tâm đến nhân dân. Tất cả những gì tồn tại là các “nhân vật quan trọng”.

Đấy là những tư sản lớn béo tốt, khoan thai, giàu sụ lên nhờ khai thác những vùng đất bao la và hàng nghìn dân quê. Bị Việt Minh tịch thu hết ruộng đất, họ gỡ lại ở Sài Gòn bằng làm chính trị và mở các xí nghiệp phụ.

Việc thay đổi nghề nghiệp ấy tiến hành hai giai đoạn. Trước hết họ nhớ lại chính người Pháp thưởng công cho tổ tiên họ - những người hợp tác thời kỳ ấy - vô số héc-ta đất ruộng. Nhưng khi người Pháp tung ra nền độc lập, lớp tư sản Nam Kỳ hiểu đây là việc bù lại nguồn lợi lớn mới vô hy vọng đối với họ. Họ bám vào đấy và mau chóng nhận ra phải mở rộng nó để thực sự có lợi, được tự do hoạt động. Là những con người rơm, họ biến mình thành những nhà quốc gia giấu mặt, khao khát quyền lực, thu nhập, ngày càng thích làm tay đòn chỉ huy. Hiện tại cũng như quá khứ, tất cả phụ thuộc vào người Pháp, họ bắt đầu chua cay than phiền không ngừng tính mưu kế để rút được nhiều hơn.

Quan chức Chính phủ để thì giờ tạo những sự cân bằng phức tạp, đấy là mối bận tâm duy nhất của họ. Bao nhiêu trò nhào lộn! Không hề có một bộ trưởng hay viên chức cao cấp nào không có đường dây riêng với Việt Minh. Trước hết vì khôn ngoan, mỗi vị đều biết chỉ cần một “ám sát viên” do Nguyễn Bình cử tới là đủ chấm dứt cuộc đời. Thế là có một sự bảo đảm an toàn, còn hơn cả tính toán. Mỗi bộ trưởng tự nhủ: “Mình sẽ có quyền lực gì nếu người Pháp không nhượng bộ để cứu vãn tình thế? Họ chỉ nhượng bộ khi bị sức ép của Việt Nam. Vậy Việt Minh vẫn nên đủ mạnh để người Pháp nhượng bộ nữa. Tuy nhiên họ không trở nên quá mạnh vì họ sẽ thanh toán không chỉ người Pháp mà cả chính phủ mình, bản thân và toàn bộ hệ thống của mình.”

Cuối cùng chẳng bao giờ rút ra được gì cho người Pháp hay chống người Pháp. Đấy là bùn (sau này de Lattre dùng một từ mạnh hơn nhiều). Lý tưởng duy nhất của họ là đứng giữa sự cân bằng người Pháp và Việt Minh và nhất là kiếm được nhiều đồng bạc trị giá mười bảy phrăng. Thực vậy, họ cứ kéo dài, làm giàu, nghĩ mình rất “mạnh”. Tôi nghe một viên chức cao cấp nói: “Chúng tôi láu lỉnh lắm, ông thấy đấy, chúng tôi giật dây”.

Chẳng có ích gì khi cảnh báo người Việt Nam, có lẽ một ngày nào đó nước Pháp sẽ chán nước Việt Nam của họ! Họ nhún vai trả lời: “Đất nước chúng tôi rất đẹp, rất giàu. Nước Pháp sẽ không bao giờ tự nhả xứ Đông Dương ra đâu. Vì vậy chúng tôi tự gây phiền phức cho mình làm gì?”

Năm 1948 không còn giải pháp chính trị trong chiến tranh hoặc trong kinh doanh. Đấy là ngõ cụt; thực tế cả Việt Minh cũng tham gia vào việc liên minh với đồng bạc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2017, 02:50:54 PM

Con sâu trong quả ngọt

Một cựu binh trong lữ đoàn 2.DB đến Đông Dương với lữ đoàn mình. Trước kia ông là một anh hùng mảnh dẻ và nóng tính, đã trở nên to lớn, béo phệ, cả một khối ngăm đen, người miền Bắc nước Pháp, luôn luôn suy sụp. Ông là một trong số chiến binh chuyển sang dân sự đã thành đạt vững vàng. Ông xây dựng được một tài sản chắc chắn vất vả bằng đầu cơ, buôn lậu. Tất cả đối với ông có vẻ là “chuyện tầm phào” trừ những triệu đồng bạc và những thú vui. Đảo đôi mắt lồi, trong nội bộ ông dám tuyên bố niềm xác tín của mình như thế này:

- Mọi người đều buôn bán với kẻ địch. Làm sao khác được vì người ta sống với Việt Minh? Người ta ăn, người ta ngủ với họ. Nhà bếp của anh, các cô gái của anh chắc là Việt Minh cả - điều đó không ngăn cản họ nấu nướng cho anh, làm tình với anh. Trong việc buôn bán sự có mặt của họ càng chắc chắn hơn. Nếu nhìn sâu vào bất cứ vụ nào người ta cũng sẽ trông thấy họ. Người ta tránh biết đến điều đó và người ta đúng vì sự thật làm cho tất cả thành không thể. Thực tế mọi người Pháp đều đồng loã với việc cùng tồn tại bí mật và được chấp nhận ấy để đi săn đồng bạc.

Trước kia tôi ngây thơ tự chuốc lấy thương tích cho việc không đâu. Bây giờ tôi trở nên khôn ngoan. Mỗi ngày tôi phản bội một ít nhưng hòa thuận với mọi người. Và rồi tôi bất kể. Ở Đông Dương phải chọn lựa: hoặc tan xác hoặc tranh thủ. Tôi đã hiểu đúng lúc. Thay vì chiếc quan tài tôi có một tài khoản ở nhà băng.

Hơn ai hết tôi có thể nói Việt Minh len lỏi trong tất cả nền kinh tế Pháp ở Đông Dương như một con sâu trong quả ngọt.

Thực ra tất cả thật đơn giản. Thời kỳ ấy Việt Minh rất quan tâm đến những tỷ bạc của Đội quân viễn chinh, đến dòng chảy đều đặn của nó. Họ cũng ở trong hệ thống của đồng bạc trị giá mười bảy phrăng. Không thế thì họ làm sao chi phí cho cuộc chiến tranh? Họ đã cố gắng vô vọng tạo ra một đồng bạc nhân dân đối kháng lại đồng bạc thực dân do nhà băng Đông Dương phát hành. Nhưng “đồng bạc Cụ Hồ” không ngừng sụt giá và hầu như chẳng còn giá trị.

Vậy là Việt Minh móc nối với nền tư bản tam tài. Cách làm của họ tinh tế một cách thiên tài; họ trích các khoản thuế của thương gia và rồi mua những sản phẩm cần thiết trên thương trường.

Nhân viên thu thuế là ông mặc complê, đi đi lại lại với chiếc cặp da trong tay, có vẻ là viên chức nhà nước. Việc làm rất đều đặn. Mỗi chủ gia đình được báo số thuế phải nộp - ít nhất cũng cao bằng thuế của Chính phủ. Khi nộp tiền người ta đưa cho một tờ biên lai của Chính phủ Cộng hòa Đỏ.

Chỉ riêng ở Sài Gòn số tiền thu được lên đến những triệu đồng mỗi tháng. Tất cả những người Việt Nam và Trung Hoa đều nộp thuế, một số người Pháp cũng vậy. Ai dám từ chối? Tờ giấy cảnh cáo được gài lại; sau đó là cái chết.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2017, 02:52:00 PM

Việc mua hàng cũng kín đáo như khi góp tiền. Việt Minh không bao giờ mua gì nhân danh mình, họ không ra mặt. Lẽ dĩ nhiên các nhà hàng Pháp không cung cấp cho Việt Minh. Nhưng có biết bao nhiêu trung gian! Chính bộ phận người Trung Hoa trong các hãng bán cho ông “tỷ phú” không nghi ngờ gì được hoặc ông bộ trưởng nào đó, ông này bán lại cho một thương gia không kém đáng kính nào đó, ông này lại bán cho một nhà buôn rất đúng đắn, và sau hàng chục những người da vàng, hàng hóa đi thẳng vào các nhà kho Việt Minh.

Chính từ các nhà tư bản Sài Gòn và Hà Nội, mà các đơn vị của Nguyễn Bình và ông Giáp có được những vật dụng cần thiết cho cuộc chiến tranh nhân dân của họ - vải, kháng sinh, và những loại thuốc khác, dụng cụ, máy phát điện, đài. Việt Minh ở Đồng Tháp Mười chỉ cần mấy tiếng đồng hồ để có một đồ vật phức tạp nhất ở đường Catinat - mà quân đội Pháp phải nhiều tuần mới có được vì những quy định!

Mỗi lần Đội quân viễn chinh bắt được một vật liệu có giá trị, vật liệu ấy của Pháp, mua ở Sài Gòn. Bao nhiêu lần họ tìm thấy máy tiện, máy dập rất mới, những hóa đơn của các hãng nhập khẩu có tiếng! Dĩ nhiên các hãng ấy vô tội, chưa bao giờ có khách hàng là đại uý hoặc chính uỷ một chi đội nào đó nhưng là “người Trung Hoa” ở thị trấn gần đấy.

Đôi khi những vụ mua bán đặc biệt cho phép Phòng Nhì Pháp có những xác minh quan trọng. Họ dự kiến một cuộc tấn công của Nguyễn Bình vì giá sữa hộp trong các thành phố tăng lên rất nhanh. Sau khi điều tra người ta phát hiện ra chính Việt Minh đã vét hết các kho dự trữ và biết Việt Minh có thói quen phân phối sữa cho quân lính giúp họ thêm can đảm.

Tuy vậy Kháng chiến không hạn chế trong việc thu thuế để chi tiêu. Họ luồn vào những vòng xoáy phức tạp của chủ nghĩa tư bản do những nhân viên tài chính được cử làm phát triển những nguồn vốn của họ. Không ai biết những nhân vật này - người ta thì thầm tên của họ nhưng không có chứng cứ.

Trong cuộc chiến tranh Đông Dương chỗ này có một mảng bóng tối và bí mật. Không có gì chắc chắn nhưng rất nhiều điều dễ đoán, thậm chí rõ ràng! Người ta ở những chỗ sâu kín mà trong thương trường lẫn lộn những mục đích chính trị, những tính toán về công việc đặc biệt, những chỉ thị từ Paris tới - đấy là rắc rối không gỡ được của quyền lợi quốc gia và của tất cả những đồi trụy.

Có vẻ như người ta để Việt Minh sử dụng Sài Gòn - những nhà băng, những vòng xoay xuất nhập khẩu - để thực hiện việc buôn bán quốc tế. Vì họ có những sản phẩm bán ra nước ngoài; có gạo, muối, thuốc phiện, nhất là cao su. Và mọi cái đó một phần được những người Pháp tiêu thụ, có hoặc không ý thức.

Trong những việc buôn bán mờ ám ấy, mờ ám nhất là cao su. Người ta đã biết Việt Minh có những diện tích quan trọng về cao su - họ tự khai thác những đồn điền nhỏ và nhất là năm 1945 họ nắm hết việc sản xuất. Một hôm người ta biết được những khối dự trữ của quân đỏ được bán nửa công khai ở Sài Gòn và được các hãng tại chỗ xuất sang Singapore và thị trường thế giới.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2017, 02:53:14 PM

Việt Minh chắc chắn xâm nhập cả vào nền tài chính chung; họ bỏ vốn vào một phần lớn hoạt động mua bán đồng bạc Đông Dương. Mỗi vòng xoay - lần đi, về qua nước Pháp - tăng gấp đôi số tiền bỏ ra; và nhờ tiền lãi, Nguyễn Bình có vàng và ngoại tệ cần thiết để đặt vũ khí ở Manila và Bangkok ở những người bán hàng Hoa Kỳ dôi ra. Thời kỳ ấy Châu Á đầy máy móc giết người nhãn hiệu USA giá không đáng bao nhiêu, bán ra mua lại một lần, mười lần và cuối cùng tới Đồng Tháp Mười.

Phần của Việt Minh trong khối lượng buôn lậu này có đến hàng chục tỷ hay bao nhiêu? Không thể xác định được. Vì những người có tiền không chính chủ. Người ta bao giờ cũng chỉ biết những người da vàng “cấp dưới”, những viên thư ký được lệnh tự xưng là chủ. Nhưng phía sau họ có hàng loạt những người khác càng không biết rõ, vô danh, lẩn khuất dưới những tên họ giả và lý lịch thay đổi. Hơn nữa không có gì được hạch toán rõ ràng; bàn tính của Châu Á dưới những ngón tay thành thạo không để lại dấu vết gì. Cuối cùng tiền bạc thường đưa vào những nhà băng “Trung Hoa”, bề ngoài có vẻ là những cơ quan nhỏ, bẩn thỉu nhưng mạnh hơn những lâu đài Âu Châu của Bò Vàng đầy máy tính. Tất cả quyền lực ấy đến bí mật, hầu như không ghi chép gì và những gì được vào sổ sách là giả mạo.

Trong hoạt động phức tạp ấy, mỗi "phi vụ" gắn vào một dây xích khó gỡ về bù đắp, mua và bán, những "cú" nâng hoặc hạ giá, những thu gom, thủ đoạn, đổi tiền. Mệnh lệnh được đưa tới mọi chỗ trên thế giới bằng mật mã hay quy ước. Trong mỗi hoạt động có buôn bán hợp pháp, không hợp pháp, buôn bán, buôn lậu, đủ loại xảo thuật về đổi chác, vận chuyển hàng hóa thực hoặc ảo - không kể đến việc do thám, nhận hối lộ, chém giết. Một chuyến xuất cảng tôm khô có thể kết thúc bằng việc bốc dõ ở bờ biển Đông Dương những hòm súng đại liên - sau bao nhiêu giao dịch trung gian người ta không rõ.

Mối rối rắm về tiền bạc ấy không phải tất cả cho Việt Minh, còn lâu, nhưng tất cả ít nhiều đều có lợi cho họ. Những khoản vốn lớn của Trung Hoa, cả của những thực dân đều lẫn lộn với vốn của họ. Hơn nữa một số người Pháp bằng xương bằng thịt, để rút một số giấy phép của chính quyền trình bày với cấp thẩm quyền phần bình thường, hợp pháp của từng phi vụ và che đậy, mọi phần còn lại. Bản thân những người này không biết sự đồng lõa của mình đi đến đâu, chỉ biết điều cần thiết tối thiểu. Điều chủ yếu mù mịt trong bí ẩn bao la của Châu Á. Nhưng như vậy cuộc chiến tranh có thể tiếp tục.

Dưới sắc thái Sài Gòn tô vẽ lòe loẹt theo lối Phương Tây, những lợi ích móc nối vào nhau như dây leo trong rừng rậm. Việt và Pháp không có nhau, không cùng tồn tại thì không sinh sống được. Họ phải tiếp tục con đường đi của họ với nhau. Thế mà mục đích cuối cùng của họ là tiêu diệt nhau.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2017, 02:54:47 PM

Chủ nghĩa tư bản cần thiết cho Việt Minh đến nỗi họ chú ý không nhấn chìm nó. Vì họ có thể dễ dàng đánh những cú nặng hơn nhiều! Ai cấm họ đốt cháy tất cả những xe lớn trên đường, hạ người Pháp nhiều hơn trong Sài Gòn, đặt khắp nơi mìn hoặc thuốc nổ? Họ dễ dàng làm tê liệt cuộc sống kinh tế nhưng họ không làm. Thậm chí họ phê bình "giải pháp không đúng" về phá huỷ nói chung.

Một ví dụ: Năm 1945, trong tình trạng lộn xộn bước đầu có những toán Việt ào vào các đồn điền, những xí nghiệp khổng lồ của rừng rậm, thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Họ đốt cháy hoặc chặt phá cao su. Mấy tuần lễ sau có lệnh cấm nghiêm ngặt: Không được huỷ hoại gì nữa, nếu còn xảy ra sẽ bị phạt nặng.

Họ đặt ra việc bảo vệ những tài sản to lớn ấy sớm hay muộn, sau chiến thắng tài sản ấy sẽ thuộc về nền Cộng hòa nhân dân Việt Nam. Trong lúc chờ đợi, đấy là nguồn tài trợ, theo nguyên tắc chung mọi hoạt động của người Pháp phải mang lại lợi ích cho Việt Minh, ít ra là gián tiếp. Cho rằng các chủ đồn điền, các giám đốc, nhân viên của họ không bỏ tiền ra nhưng lương, thực phẩm hàng tháng trả cho công nhân cũng là những khoản trợ cấp dễ chịu.

Việt Minh rút bạc từ các đồn điền bằng mọi cách. Thay vì tiến hành chiến tranh như thường lệ, họ gây sức ép liên tục bằng sự khủng bố có mức độ - không nhẹ hay nặng quá; Để làm hài lòng hoặc tác động công nhân, thỉnh thoảng họ ám sát một trợ lý người Âu; nói chung đấy là một người khắt khe mà nhân viên da vàng kêu ca. Theo cách ấy trong cuộc chiến tranh Đông Dương, các đồn điền nói chung lãi to, Việt Minh cũng tranh thủ được nhưng khoảng dăm chục nhà sản xuất trẻ bị giết.

Ngay tại Sài Gòn, một Việt Minh giải thích cho tôi "con đường hợp tác" (thực ra thậm chí trên đường Catinat người ta thấy nhiều Việt Minh tự do nhưng công khai không phải Việt Minh). Người ấy nói với tôi:

- Mục đích của chúng tôi là giết binh lính các ông và giáo dục nhân dân chúng tôi; Hiện tại chúng tôi chưa đụng tới chủ nghĩa tư bản; không có nó, chúng tôi không thể trang bị quân đội chúng tôi và nuôi sống dân chúng. Thậm chí sự nghèo khổ có thể làm dân chúng chống lại chúng tôi.

Chúng tôi còn cần đến chế độ thực dân Pháp. Chúng tôi không ngăn cản đồng bào tranh thủ nó với điều kiện tuân theo chúng tôi nghiêm ngặt. Mối nguy duy nhất của chế độ tư bản là sự tha hóa. Chúng tôi dè chừng điều này. Chúng tôi chấp nhận rất nhiều việc với điều kiện về cơ bản dân chúng thuộc về chúng tôi. Bọn phản động không phải là những người Việt Nam hợp tác với người Pháp mà là những kẻ chúng tôi không tin tưởng được nữa. Chúng tôi thanh toán họ. Chúng tôi cũng có những hành động hỗ trợ - hoạt động bảo vệ để quần chúng biết rõ mặc dù cuộc sống Sài Gòn có những biểu hiện tư bản, chúng tôi vẫn là những người chủ thực sự.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2017, 02:55:32 PM

Điều lạ lùng là các quan chức Pháp chưa quy định chặt chẽ cuộc "chiến tranh kinh tế” này - việc hợp tác - rất có ích cho kẻ địch. Giải pháp hiển nhiên là hạn chế nhập khẩu những sản phẩm đặc biệt quý đối với Việt Minh. Điều đó thậm chí không được làm thử. Vì sẽ trái không chỉ với lợi ích thương mại mà còn với lý luận chính thức của công cuộc bình định về sự phồn vinh.

Cũng như người Việt, người Pháp có một lập luận về "sự hợp tác". Ít ra thì lập luận ấy được một viên chức cấp cao rất trẻ trình bày với tôi. Đấy là một chuyên viên kỹ thuật; thông minh đến khô khan, tự kiêu đến hoàn toàn trung thực. Ông ta nói:

- Ông đừng tưởng tôi mù. Tôi biết hết những gì xảy ra nhưng tôi dụng ý để cho làm vì tôi nghĩ đấy là lợi ích của nước Pháp. Trong thế giới hiện nay quan niệm đơn giản về buôn bán với kẻ địch đã qua rồi vì tất cả đều trụ vững và phải biết sử dụng hết. Tôi trước hết vì hoạt động kinh tế do đó vì mọi sự giao dịch, buôn bán, thoả hiệp, vì những gì lúc nhúc trên đồng bạc trị giá mười bảy phrăng.

Tôi phải có sự suy xét thực tiễn, có lợi, đó là điều không được lơ là. Chủ nghĩa thực dân đã chết nhưng vẫn còn những cuộc chiến tranh thực dân; trước kia người ta làm để chinh phục, bây giờ là để bao trùm lên sự rời bỏ chinh phục. Điều đó ít quan trọng; đấy luôn luôn là những phi vụ tuyệt vời.

Cuộc chiến tranh Đông Dương trước hết là một quả bóng dưỡng khí cho nền kinh tế Pháp vốn vực dậy rất khó khăn đang cần những yếu tố kích thích. Mà có liều thuốc nào hơn cuộc viễn chinh cách mười hai nghìn cây số, ở đó tuy cách xa mọi việc đều làm theo quỹ đạo Pháp, ở đó thậm chí những đối thủ của chúng ta cũng là khách hàng? Nhà nước phải chi mỗi ngày một tỷ nhưng nó đem lại nhiều hơn vô cùng cho người Pháp, không riêng cho những người ở đây mà còn nhiều hơn cho những người bên chính quốc. Thậm chí không mất đi, chẳng có gì thất thoát ở nước ngoài; ngược lại tất cả - tiền, hàng hóa, trang bị - vẫn ở lại trong vòng xoay Pháp - Đông Dương. Cả những khoản tiền lãi cuối cùng trở về Pháp ngon lành, nơi đã đầu tư. Tất cả những cái đó là một dạng lạm phát may mắn.

Còn một điều khác. Cứ cho rằng cuộc chiến tranh này có một mục tiêu cao cả hơn, đường lối chính trị lớn như là cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản Châu Á. Vũ khí của họ là sự trong sạch, không bỏ rơi đạo đức đỏ để hòa nhập với sự thịnh vượng thực dân. Đấy là một thắng lợi lớn của chúng ta. Chúng ta dần dần tiến tới tha hóa và chia rẽ người Việt. Ngược lại với bề ngoài, chính chúng ta có lợi trong cuộc chiến tranh làm mục ruỗng.

Nhưng điều đó có đúng không? Năm 1948 không ai nói trước được bên nào đang lừa bịp bên nào trong việc "hợp tác giữa những kẻ địch" một dạng hiện đại của cuộc chiến tranh tổng thể. Sự mục ruỗng là một hiện tượng quá chậm, phức tạp khác thường đến nỗi không thể nhìn rõ, không phân biệt thất bại và thành công.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2017, 03:29:19 PM

Thực tế người Pháp đã bị đánh bại trong cuộc chiến đồng bạc nhưng họ không biết. Họ không nhận thấy Việt Minh chỉ đạo một cách khoa học sự thỏa hiệp của mình còn người Pháp không đạt được. Tất cả do luật cùng cần điều khiển. Dù sao cũng có một sự mâu thuẫn nào đó giữa lợi ích thương mại Pháp và lợi ích của nước Pháp.

Có lẽ người Pháp tha hóa được một ít người Việt ở Nam Kỳ (sau này Hồ Chí Minh đưa trở lại vào nền nếp). Nhưng nhất là họ tự huỷ hoại mình đến tột cùng. Cuộc chiến tranh Đông Dương anh hùng nhưng còn bẩn thỉu hơn. Cả những quân lính của Đội quân viễn chinh cũng không tránh khỏi lây nhiễm. Tệ hại hơn cả là những người Việt chống Việt Minh. Năm này qua năm khác họ càng nhụt chí. Không bao giờ người ta có thể nhận ở họ một sự cố gắng nghiêm chỉnh; họ bất lực đối mặt với Hồ Chí Minh.

Đến một hôm người ta sẽ nhận ra đối mặt với đồng bạc của chúng ta là "con người Việt Minh " một con người mới, một con người mà người ta tưởng là thuộc giống nòi khác về hình thức và tinh thần. Một trường hợp đột biến. Chỉ lúc đó người ta mới hiểu sự thịnh vượng quay lại chống chúng ta. Người ta phá giá đồng bạc Đông Dương nhưng đã quá chậm; người ta sẽ là những kẻ bại trận mục ruỗng trước khi vĩnh viễn bị đánh bại trên chiến trường Điện Biên Phủ.

Trong lúc chờ đợi, con lợn là biểu tượng tốt nhất của sự cân bằng trong mục ruỗng. Đây là nói về con lợn thật, con vật ưa thích của nhà bếp Phương Đông. Để tới được Sài Gòn nó đã trả tiền cho mọi người, thuế của Chính phủ, tiền trả định kỳ cho Việt Minh, cho các giáo phái, cảnh sát, đôi khi cho các bốt Pháp. Nó phải trả tiền cho tất cả những người mang vũ khí gặp trên đường. Cuối cùng một con lợn giá rất đắt, nhưng nhờ vào sự giàu có chung, người tiêu thụ không thiếu. Toàn dân chúng hoặc hầu hết Sài Gòn ăn thịt lợn.

Lợn có khắp nơi trong thành phố. Người ta chở nó, trong những xe lớn, trên máy bay. Con gái một cảnh sát trưởng Pháp chuyên chở lợn trên máy bay. Chúng cũng đến khiêm tốn hơn, do những người nông dân, buộc gánh trên đòn tre. Người ta đổ chúng xuống mọi đường phố, giết thịt treo từng mảng lớn ở các quầy, thái từng lát mỏng dần trong chảo những người bán cháo rong; những người giàu cắt thành khối thịt nhỏ nấu với nước cốt dừa tẩm đường.

Riêng Việt Minh không tiêu thụ. Họ đánh thuế vào gia súc đưa vào Sài Gòn. Theo cách đó con vật trở thành công cụ của chiến thắng đỏ.

Bài học về con lợn là những người sung sướng ăn nó không bao giờ đánh nhau vì nó, dù cần thiết để tiếp tục ăn. Ngược lại Việt Minh không ăn, họ đánh nhau rất hăng. Đơn giản, vấn đề con lợn họ không coi trọng trừ việc là một cách để có kinh phí. Việt Minh không đặt vấn đề gì ngoài phép biện chứng và chiến thắng.

Tóm lại, sự phồn thịnh không tạo được đà, chỉ là hưởng thụ. Và Việt Minh biết tranh thủ trong chừng mực phù hợp.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Hai, 2017, 01:57:54 PM

Lâu đài Norodom

Quyền lực Pháp tập trung ở lâu đài Norodom tại Sài Gòn. Đây là chỗ làm việc của hai "ông chủ" lớn của Đông Dương, tướng tổng chỉ huy Carpentier và cao ủy Pignon.

Norodom là một nhà vua Căm-bốt thời Bảo hộ. Đây là một nhân vật theo kiểu cũ: sống dưới cây lọng bảy tầng, xà rông quấn ngang chân, sùng đạo và quy phục. Người Pháp rất hài lòng về ông, lấy họ ông đặt tên toà nhà Toàn quyền Pháp ở Sài Gòn.

Mặc dù mọi biến cố, lâu đài Norodom không suy suyển. Nó luôn trên thảm cỏ như một chiếc vỏ hàu lớn, một loại tiết chất màu vàng. Đây là kiến trúc của thời thực dân huy hoàng với vẻ đẹp rườm rà, và của Đông Dương thuộc Pháp: những cầu thang đồ sộ, những bậc thềm đá hoa cương, nhiều đường viền và tượng hoa mỹ. Khắp nơi người ta thấy nó từ xa, sừng sững giữa lòng thành phố, giữa những đường phố lớn đầy hàng rào sắt phức tạp, Ban ngày, một lá cờ tam tài rất rộng bay phấp phới trước mặt tiền, trên cao chiếc cột mười mét, chỉ rõ uy quyền nước Pháp.

Ngôi nhà này, khống chế cả Sài Gòn, là biểu tượng của chủ quyền: những người ở đây là chủ nhân thực sự của đất nước. Chính phủ Việt Nam đã vô vọng đòi lại cho mình, thật tích cực nhưng không được. Người Pháp cho họ lâu đài La Grandierè cách đấy hai trăm mét, cũng đẹp gần như thế nhưng không có ý nghĩa, không biểu tượng. Người Pháp ở lại Norodom để khẳng định sự có mặt của họ còn khống chế nền độc lập, được đặt ở một mức cao hơn.

Quyền bá chủ Pháp thực hiện ở đây trong sự tĩnh lặng tuyệt đối. Tất cả ngủ gà ngủ gật giữa sự im ắng nhẹ nhàng. Người ta sẽ nghĩ ra những dằng xé của xứ Đông Dương biết bao! Đôi khi một cánh cổng mở, một chiếc xe con cắm cờ xiết bánh trên cát bằng phẳng của lối đi, lính lê dương bồng súng chào, những người tùy tùng vội vã. Sau mấy phút hoạt động ấy lu mờ đi, tan vào không khí những gian phòng rộng bao la và trống vắng. Quá lắm, thỉnh thoảng ở hành lang đi lại một nhân vật quan trọng, bí mật, cầm giấy tờ trên tay. Đầy tớ người Annam khăn đóng áo dài tỉnh dậy cúi chào. Cũng có lúc người ta nghe tiếng máy chữ, chuông điện thoại, một giọng nói to.

Trong cao trào bình định, vào cuối năm 1949, tất cả những gì được làm, tất cả những gì xảy ra ở Đông Dương tùy thuộc vào lâu đài này, vào công việc người ta làm ở đây. Mỗi "vụ việc" lên đây, từ đây trở ra, theo hệ thống chỉ đạo. Đây là toàn bộ máy móc bao la về chiến tranh, nơi "lãnh đạo mọi việc". Sự thật bi đát đến đây dưới dạng nhàm chán, những hồ sơ chuẩn bị công phu, sắp xếp gọn gàng. Những người giúp việc đóng dấu "mật" vào đây, những mưu sĩ ở các phòng xem xét rồi Carpentier và Pignon có những quyết định dội ra khắp nước lay động hàng triệu người để đi đến những hậu quả không ai dự kiến.

Nhưng đống giấy tờ ấy cũng bao phủ bi kịch của những người lãnh đạo. Carpentier là một người lo ngại ngay giữa lúc thỏa mãn. Pignon không tin tưởng nữa vào quân đội, vô vọng tìm một "giải pháp chính trị". Hai người cách biệt nhau, mỗi người trong cánh lâu đài của mình, vừa là đồng minh vừa là kẻ thù.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Hai, 2017, 01:58:59 PM

Sức khỏe không tốt, tướng Carpentier khép mình trong mấy gian phòng, không muốn bị ai quấy rầy. Một thiếu tá, to lớn lưng còng khuôn mặt tư lự, làm người gác tiền sảnh,bảo vệ ông tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Chính ông kiểm tra tất cả, những người khách và tin tức.

Carpentier trước đây là trưởng ban tham mưu của tướng Juin, người bảo trợ, bạn của ông. Nghe ông được cử làm tổng chỉ huy ở Đông Dương, Đội quân viễn chinh chờ đợi một người có kinh nghiệm về chiến tranh. Họ thất vọng ngay. Ông hiện diện như một người đóng thế, một người đầy tớ hăng hái nhưng không có khả năng chỉ huy. Đấy chỉ là một viên quản gắn lon.

Tôi nhớ không rõ về ông, ít quan tâm về con người này. Về hình thức ông là một loại nông dân tiến bộ nhưng đã mòn mỏi, chậm chạp. Ông có khuôn mặt dài xương xấu, thân hình vụng về của một người đồng đất, phong thái nông dân, lời nói mộc mạc vụng về. Ở ông chỉ còn lại bộ xương nhưng thịt và trí óc đã rỗng hết. Tuy vậy con người mệt mỏi này cố gắng gây ảo tưởng bằng một số tàn bạo khù khờ và hóm hỉnh của người chiến binh dũng cảm. Ông xoay theo cách của mình, giấu giếm theo lối "thật thà" của người lính, những gàn dở, những khéo léo, một chủ nghĩa bất động ích kỷ, cả một nỗi ám ảnh về bản thân.

Một số ngày ông trở nên hoạt bát, vui vẻ thô lỗ. Lúc ấy ông lên giọng cáu kỉnh vô cớ, thông báo với một bộ trưởng Việt Nam ông sẽ "vứt" cả ông và chính phủ của ông ta. Nhưng khi cuộc cãi nhau ấy được biết đến, đưa lên báo chí Sài Gòn, ông chối.

Thường ông cũng sợ. Trường hợp ấy khuôn mặt ông nhuốm một màu sắc rất đặc biệt, lẫn lộn cảnh giác thô thiển và mưu mẹo táo bạo. Bao nhiêu lần tôi thấy ông đứng thẳng trước bàn làm việc rãn những nếp nhăn và nheo mắt kêu lên với giọng nói nửa khóc nửa khoe khoang: "Tôi, người ta không đốt cháy được tôi đâu. Tôi có những bạn thân ở Paris, tôi viết thư nói sự thật với họ". Thực ra vào từng lúc, ông “mở ô dù" - nghĩa là ông nhờ che chắn - gửi một báo cáo cho Juin.

Điều đó vẫn chưa làm ông an tâm. Ông bèn khôn ngoan không bao giờ quyết định. Khi dù sao cũng không tránh được trách nhiệm, ông bắt đầu thanh minh trước, không dứt, bằng miệng, bằng viết như trong cơn mê sảng.

Tướng Carpentier bị những ý tưởng cố định săn đuổi nhưng tự bảo vệ mình. Ông không ngớt lặp lại: "Có lẽ tôi không có vẻ thế nhưng tôi thấy rõ, bao giờ tôi cũng biết cần làm thế nào". Mọi câu chuyện với ông sau mấy phút đều đi đến nói đi nói lại chán ngắt về ông, về sự nghiệp của ông, những mưu mô có thể làm hỏng sự nghiệp ấy. Nỗi ám ảnh đó gặm nhấm ông, làm khô người, tạo những nếp nhăn, khiến ông không tìm ra từ. Cũng không nên nghĩ ông có những tham vọng ngông cuồng; ông không mong có những khen thưởng về thiên tài vốn dành cho Juin. Ông chỉ đòi hỏi khoản lương đúng mức. Điều ông muốn là giữ vững điều mình có, nhận được hơn một ít, một ngôi sao nữa, một vị trí, sau này có mức lương hưu cao hơn, có lẽ một ghế trong Viện Hàn lâm Pháp (vì ông đã viết những nghiên cứu về sử dụng bộ binh trong chiến tranh 1914-1918).


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Hai, 2017, 02:00:51 PM

Điều lạ nhất là nỗi lo lắng của ông không có lý do cụ thể. Carpentier thậm chí tin tưởng kỳ lạ ở chỗ ông có thể lo ngại. Ví dụ, ông không sợ Việt Minh. Ông phải chấp nhận họ biết tiến hành cuộc chiến tranh du kích, nhưng không bao giờ ở ông là một điều khẳng định - họ không bao giờ có khả năng tiến hành chiến tranh. Ông giải thích rất tiếc họ không đối đầu với Đội quân viễn chinh bằng dàn trận vì như vậy họ sẽ bị đập tan, kết thúc cuộc chiến. Ông càng không tin vào sự đe dọa của Trung Quốc, ngay cả lúc quân đội nhân dân của Mao Trạch Đông đang thanh toán những lực lượng to lớn của Quốc dân đảng ở Mãn Châu Lý. Thực ra đây là sự tin chắc những người da trắng bao giờ cũng trên người da vàng dù họ đông. Vì vậy ông chống đối kịch liệt việc xây dựng một Quân đội quốc gia Việt Nam bổ sung cho Đội quân viễn chinh.

Sự lo lắng của ông xuất phát từ một quan niệm trẻ con, vừa ngây thơ vừa thủ đoạn. Tất cả những thái độ mất tự chủ của ông đều do những sức mạnh bí mật và đáng sợ này: Chính phủ ở Paris, Nghị viện, những nhà chính trị Pháp và nhất là các vị tướng nửa chính trị gia ở đường phố Saint Dominique. Ông tin chắc tất cả thế giới dân sự và quân sự của Paris sẽ dội xuồng đầu ông nếu có một sáng kiến nhỏ nào.

Tuy vậy ông quyết giữ vị trí mình, thậm chí tàn bạo.

Thế là ông chẳng làm gì cả. Vả lại ông có gì để làm vì cuộc chiến tranh tự tiến triển? Carpentier trước hết là một chuyên gia, không phải về chiến lược mà về quy tắc, những việc của “môi trường” quân sự. Ông quan tâm đến những thù oán và thiên vị nhỏ của Đội quân viễn chinh, gọi việc đó là “bảo tồn tinh thần thực sự của quân đội”. Ông cảnh giác, nghiên cứu mỗi cô gái mặc đồng phục “ra ngoài” với những chàng bên dân sự. Ông phạt không thương xót một cô vì đã “lui tới” với một nhà báo: bị coi là nữ do thám nguy hiểm, cô bị hạ cấp theo điều lệnh trước đồng đội đứng nghiêm, vào tù và bị đuổi về Pháp một cách nhục nhã. Nhưng chủ yếu Carpentier để thời gian xem xét bảng thăng cấp, ghi từng sĩ quan một. Lúc ấy không ai gặp ông được.

Rất hiếm khi Carpentier rời văn phòng mình, càng hiếm khi ra khỏi Sài Gòn. Ông có một chiếc máy bay của Tổng chỉ huy nhưng hầu như không bao giờ dùng đến. Ông hoàn toàn không tò mò. Vả lại người chiến binh ấy - Carpentier từng là một anh hùng của những năm 1914-1918 - không biết nói với chiến binh. Ông chỉ tiếp xúc với các sĩ quan và quân đội qua giấy tờ. Chưa bao giờ có một người ít cảm xúc với quân đội như thế. Sau này người ta giải thích với tôi ông là một người thừa hành xuất sắc. Nhưng như thế tại sao người ta giao cho ông trách nhiệm đứng đầu một Đội quân viễn chinh?

Thực tế Carpentier được đặt dưới quyển một “ông chúa”, cao ủy Pignon. Ông bất bình về sự phụ thuộc ấy nhưng nín nhịn; thậm chí người ta nói ông hài lòng một cách không ý thức, như một cách trốn tránh trách nhiệm.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Hai, 2017, 02:01:33 PM

Bí mật của lâu đài Norodom là hai người chủ ở hai cánh đối diện nhau - Carpentier và Pignon rất ăn ý với nhau mặc dù những dáng vẻ bên ngoài. Carpentier sung sướng để Pignon có những quyết định lớn và ông này hoan nghênh sự ngu dốt của Carpentier.

Một sự hợp tác ngược đời vì Pignon là một người dân sự ngổ ngáo đến mức gần với đối kháng quân sự. Theo ông, viên tướng giỏi nhất là kẻ ngu ngốc nhất.

Người ta đang đứng trước tình hình này: toàn bộ Đông Dương nằm trong tay quân đội trừ một nửa lâu đài Norodom ở Sài Gòn và trong các thị xã là những ngôi nhà chính quyền. Điều đó cũng đủ để trong một đầu lâu đài, Pignon danh chính ngôn thuận thực hiện quyền lực tối cao của mình hầu như không đếm xỉa gì đến Đội quân viễn chinh.

Sự tin chắc trước tiên của Pignon là không có lối thoát cho chiến tranh, không có giải pháp bởi đánh nhau (hơn nữa không có đánh nhau thực sự, thậm chí không có chiến trường). Công cuộc bình định những nhà quân sự tung ra cũng không đi đến kết quả quyết định. Theo chủ thuyết Pignon nó không đầy đủ, là một điều tồi tệ. Vả lại nó được tiến hành rất không tốt. Thân cận của cao ủy tin sâu sắc đấy là sự ngốc nghếch quân sự. Để có một số kết quả Pignon đã gây cho một số quan chức trẻ của mình chống chiến tranh du kích, ganh đua với quân đội. Một trong những chàng trai ấy thậm chí đã nói với tôi:

- Thử hỏi Đội quân viễn chinh có gây thiệt hại nhiều hơn việc tốt không. Tuy vậy sự bất lực quân sự có lợi cho chúng tôi khi nó ở ngay tầm với Cao uỷ. Phải chăng chúng tôi sẽ rất phiền phức nếu tổng chỉ huy nghĩ mình thông minh? Thực sự ông ta muốn chỉ huy!

Thực tế Pignon để Carpentier và Đội quân viễn chinh lo việc của họ, lo những cuộc hành quân, không cản trở, làm phiền họ mà ngược lại. Mọi việc đó đối với ông tương đối thứ yếu. Vì ông để tất cả vào giải pháp “của ông” - ông đã theo đuổi từ lâu, trước khi Carpentier có mặt rất lâu, âm thầm, bí mật nhưng quyết tâm không tưởng được. Điều ông muốn là một công cuộc bình định theo cách Việt Nam, do người Việt Nam làm. Ông chống lại một quân đội da vàng xây dựng theo lối Pháp - sẽ là một bản sao, thêm những sai sót của Châu Á vào sai sót của Phương Tây. Mục đích của ông là dựng lên một trận tuyến chống Việt Minh đối phó với Việt Minh. Ý nghĩ xấu xa của ông là người Pháp, người da trắng sẽ luôn luôn bất lực trong việc giải quyết vấn đề Đông Dương: chống người Châu Á phải là người Châu Á; không có lính đánh thuê nhưng là những chiến binh thực thà và hung dữ lôi kéo một phần dân tộc chống chủ nghĩa cộng sản.

Mục tiêu của Pignon là cuộc chiến tranh nội bộ giữa những người Việt Nam. Từ nay ông tin có thể phát động với quy mô rộng vì cơn sốt dân tộc đang rơi xuống; những người sở hữu, những người thủ cựu, Khổng giáo, Phật giáo, quan lại và tư sản dần dần nhận thấy họ là kẻ thù tự nhiên của cách mạng mác-xít. Cuộc đấu tranh giai cấp cũng là một thực tế ở Viễn Đông. Điều phải làm là khêu gợi ý thức, đi đến chỗ “những người trung thực” có thể tuyên bố không hổ thẹn: “Chúng ta hãy đứng về phía người Pháp vì nguy hiểm chính không còn là chủ nghĩa thực dân suy yếu mà là chủ nghĩa cộng sản đã lộ mặt”.

Nhưng để được như vậy, người Pháp và Pignon có thể nhượng bộ rất nhiều trên bình diện chủ nghĩa quốc gia và nền độc lập. Họ có làm những điều ấy không? Pignon đã xác định tham vọng này có đi tới đích không? Chúng ta hãy xem Pignon là ai.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Một, 2018, 04:02:54 PM

Những người trở lại

Một người hiểu mối nguy cơ trì trệ. Đấy là cao ủy Pignon. Ông đã nhiều lần nói với tôi: “Chúng ta cũng cần có một anh hùng. Chống Hồ Chí Minh chúng ta phải có một người đối kháng Hồ Chí Minh”. Vì thế ông đưa Bảo Đại trở lại.

Trước hết tôi muốn kể Pignon đi đến quyết định ấy ra sao, theo những giai đoạn nào. Một câu chuyện kỳ lạ.

Phải biết, “giải pháp Bảo Đại” - con bài Bảo Đại như người ta nói lúc đó - không phải của một mình Pignon. Đầu tiên là của Phái đoàn dân sự ở Đông Dương mà ông là thành viên.

Những người trong chính quyền xung quanh Pignon là những người trở lại. Họ là những thực dân hoàn toàn mà cánh “De Gaulle” xấu hổ đuổi đi năm 1945. Ba năm sau, họ trở lại nắm quyền lực ở Đông Dương. Nhưng họ đã tự kiểm điểm thay thế chủ nghĩa thực dân cộng hòa bằng chủ nghĩa thực dân ít công khai hơn - một nền độc lập có kiểm soát mà công cụ sẽ là Bảo Đại.

Những người chủ trì độc lập ấy vừa mới đây đấu tranh quyết liệt chống độc lập! Khi quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương họ đã đi đến chỗ “hợp tác” với Nhật có hy vọng khác thường giữ vững sự chi phối của người da trắng đối với người da vàng khác dưới sự thống trị da vàng! Theo Decoux, họ chơi trò nguy hiểm ấy qua những thử thách, những nhục nhã tệ hại, những khó khăn không tưởng tượng được. Họ nghĩ đã thành công một thời gian dài. Mặc dù sự hiện diện nặng nề của Nhật, trong bốn năm dân chúng vẫn trung thành với nước Pháp bại trận của thống chế Pétain.

Những quan chức chính quyền ấy hành động vì lòng yêu nước, cũng vì tự hào. Họ có cảm giác thuộc về tầng lớp siêu đẳng, rất tự hào về tác phẩm của mình! Chính họ làm cho Đông Dương thuộc Pháp thành thuộc địa hoàn hảo - quá hoàn hảo. Vì trong ý thích hoàn thiện, họ thực thà khẳng định chỉ những người Âu, nhất là người Pháp như họ có thể “khai hóa” một dân tộc Châu Á. Điều ấy dẫn họ thực hiện một chủ nghĩa hoàn toàn cha chú. Giả tạo và duy ý chí, họ biết rõ hết. Vì vậy họ đã làm nhiều, không chỉ để “khai thác” mà cũng vì điều tốt cho “dân bản xứ” mà họ thương mến theo cách của họ. Cơ chế của họ như một bộ máy đồng hồ. Những người thông minh này tin vào trật tự nhưng không hề tin vào chủ nghĩa dân tộc: đối với họ một nền an ninh tốt chỉ để giải quyết những “kẻ nóng đầu”. Thực tế trong các thành phố, một trong mười người là “kẻ báo tin”. Một số người Annam gắn trước nhà như biểu hiện vinh dự như sau: “Ông X... chỉ điểm của mật thám Pháp”. Những quan lại dễ bảo mà người ta trông những tha hóa, “nắm” dân quê trên đồng ruộng cho chính quyền. Đói rét, dịch bệnh trở nên hiếm xảy ra. Vì vậy dân số phát triển thật kỳ diệu.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Một, 2018, 04:05:05 PM

Những nhà cai trị tuyệt đối tin chắc vào sự vững vàng gần như vĩnh viễn của Đông Dương. Họ không quan niệm đây là nhà tù của cả một dân tộc; không bao giờ họ tưởng tượng được bên dưới sự quy phục hình thành mầm mống nổi dậy. Tất cả bị đè nén. Vậy mà tất cả nổ ra trong bước đầu buông lơi, năm 1945. Người Nhật không muốn họ chỉ làm cho “dân bản xứ” hiểu Pháp yếu đến mức nào. Chỉ trong mấy giờ những ảo tưởng đổ nhào, kéo theo tất cả công trình kiên nhẫn và tỉ mỉ của những nhà cai trị ấy. Họ lại gửi Đội quân viễn chinh đi nhằm chinh phục lại - tiến hành cuộc chiến tranh Đông Dương để sau này kết thúc ở Điện Biên Phủ.

Trong ba năm họ hoàn toàn không gặp may. Những người nghĩ mình hy sinh vì nước Pháp cố thân thiện với người Nhật bị kết tội gần như phản bội. Đa số trong bọn họ bị thanh lọc, phán xét, kết tội. Có vẻ họ vĩnh viễn hết đời.

Điều cứu họ như có phép lạ, là những người kế tục họ - những người Pháp của nước Pháp như d’Argenlieu, Leclerc, Bollaert - chìm trong lẫn lộn và mâu thuẫn. Những người kháng chiến Pháp vừa giành lại Đông Dương trong tay những người kháng chiến Đông Dương, trong tay Việt Minh. Đồng thời họ bêu riếu những người của Decoux, nghĩa là những nhà cai trị dân sự, mọi người Pháp của thuộc địa và nói: "Chúng ta đã đuổi quân xâm lược Đức, chúng ta sẽ hiểu những nhà yêu nước Việt Minh". Những người mới đến chờ đợi tìm được những Việt Minh "tốt" - nhưng nếu Việt Minh không "tốt" thì họ giết. Thậm chí họ có một loại phấn khích như thần thánh hóa chiến tranh và cái chết. Vậy là họ thanh toán Việt Minh mà họ ve vãn cùng với những người Annam khác.

Thật không lôgíc. Người ta hy sinh những người Pháp thuộc địa bị lên án là thực dân, cho Việt Minh cho phép những người Pháp của nước Pháp thay chỗ. Lần lượt người ta săn đuổi Việt Minh rồi thương lượng với họ, tiến hành những cuộc tập kích đẫm máu trong lúc Hồ Chí Minh được đón tiếp ở Pháp với nghi lễ quốc gia, thảo luận không dứt với Việt Minh quanh những chiếc bàn xanh nhưng từ chối nền độc lập của họ. Đấy là ngây ngô hơn bịp bợm: thân thiện với những cuộc cách mạng tưởng rằng cách mạng tự đứng trong quỹ đạo Pháp. Dù nhận thấy Việt Minh chống Pháp người ta cũng tự thuyết phục mình họ mê nước Pháp, sẵn sàng để cho những người Pháp của nước Pháp, những người kháng chiến, thắng lợi, bám chắc vào ý tưởng cố định những người cộng sản Châu Á là những người nhân đạo.

Trong một buổi nói chuyện, một trong những người Pháp của nước Pháp ấy bảo tôi điều có thể đúng là Việt Minh nổi dậy, khai thác truyền thống tự do và khởi nghĩa của chúng ta. Tôi bèn hỏi: “Vậy tại sao các ông giết họ? Tại sao các ông muốn họ phụ thuộc vào các ông?"

Ở Paris bên cạnh Chính phủ và trong các bộ những người cai trị lấy lại can đảm. Quên những sai lầm, họ tố cáo sự bất tài của những người đã hất cẳng họ. Cả Phái đoàn dân sự xuất hiện tại ở các văn phòng, tiền sảnh, hành lang của nền Đệ tứ Cộng hòa nói trước rằng không bao giờ thỏa thuận được với Việt Minh: đấy là kẻ địch, những người cộng sản và chỉ có chiến tranh với họ. Và những việc làm hình như xác nhận đúng những kinh nghiệm của các cựu chiến binh bạc đầu với yên cương.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Một, 2018, 04:05:46 PM

Thực vậy Việt Minh lại cầm vũ khí vào cuối mùa hè 1946, sự phân tích biện chứng chỉ cho họ thấy phải trả giá quá đắt cho hòa bình. Họ không lay chuyển, dựa vào những năm đánh nhau để làm nản lòng nước Pháp, chán Đông Dương. Paris đã vô vọng thử xích lại gần lần cuối cùng. Chính phủ đã chọn một người trung dung - không "kháng chiến", không "thực dân", một vị cấp cao, đại diện Chính phủ ở tỉnh vốn là đảng viên xã hội đã cắt đứt mọi liên hệ. Được bổ nhiệm cao ủy, ông Bollaert cố gắng chấm dứt mọi hận thù năm 1947: Ông đã thất bại.

Chủ yếu do chánh văn phòng của ông, Mesmer - vừa đẹp người, đảng viên xã hội, anh hùng của nước Pháp tự do và cựu chỉ huy đội quân lê dương - chỉ đạo việc tiếp xúc. Nhưng đến một hôm bản thân ông đã than thở: "Với những người ấy, những Việt Minh, không còn làm gì được nữa".

Ở Paris cũng vậy, tình hình căng thẳng. Những người cộng sản ra khỏi Chính phủ. Và người ta đi đến kết luận: "Đã là chiến tranh thì phải giao cho những người dự kiến chiến tranh không thể tránh khỏi, cho những người phụ trách dân sự".

Thế là phái đoàn bị bêu riếu này trả được thù! Sau khi rơi xuống vực, những người cai trị lại là chủ của Đông Dương, với chỉ huy trưởng Pignon, được bổ nhiệm cao ủy năm 1948 vì ông là người đầu tiên "tái sáng tạo" Bảo Đại.

Pignon không bị làm hại thanh danh vì hợp tác với người Nhật. Nhân vật này còn trẻ không ở Đông Dương thời kỳ Decoux mà thuộc về bên kia với nước Pháp tự do. Với chức vụ này ông đã là bạn đường với Sainteny, phó của ông này trong những ngày bi kịch ở Hà Nội vào mùa đông năm 1946. Ông đã thấy người chỉ huy chơi trò thống thiết với thực tâm của Hồ Chí Minh. Sau vụ tàn sát tháng chạp, Sainteny bị đưa trở về Pháp và Pignon được thăng chức. Ông được chỉ định làm cố vấn chính trị cho đô đốc d'Argenlieu ở Sài Gòn. Chính ở vị trí này, từ đầu năm 1947 ông đã xây dựng những giải pháp "chính trị" của cuộc chiến tranh Đông Dương nhờ vào công cuộc "bình định" do người Việt Nam làm và sự trở về của Bảo Đại. Nhưng trong hai năm, suốt thời kỳ Bollaert, Chính phủ Paris thoái thác, từ chối những đề nghị của ông. Và rồi Bollaert thất bại, quyết định để cho Pignon thực hiện kế hoạch của mình. Ông kêu gọi ngay tất cả những đồng nghiệp cai trị.

Ngày nay ai nhớ đến Pignon? Chỉ là một viên chức cao cấp từ hàng ngũ trước kia đứng ra, thực hiện một công trình khốn khổ sau thất bại đi vào quên lãng. Thế nhưng ông suýt thành công, đã tới gần đích hơn mọi chỉ huy Pháp nào ở Đông Dương. Nhưng việc đó giúp gì cho ông vì cả công trình của ông sụp đổ. Pignon khốn khổ! Tên tuổi ông trong chừng mực, người ta nhớ lại, gắn với bi kịch ấy, với một trách nhiệm nặng nề. Nhưng với tôi, ông ta là một người không gặp may. Ông vừa bắt đầu thử thì cách Đông Dương nhiều nghìn cây số, Mao Trạch Đông thắng lớn trên chiến trường Mãn Châu Lý. Mao đi quá nhanh, không để ông có đủ thì giờ.

Và rồi Pignon khổ sở với Bảo Đại. Về lôgíc "con bài Bảo Đại" là tốt. Nhưng người ta quên con người ấy đã như thế nào, họ muốn ảo tưởng về ông ta. Không có gì thảm hại bằng giải pháp Bảo Đại mà người ta phải kéo lê thê như một gánh nặng cho đến đầu cuộc chiến tranh Đông Dương.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Một, 2018, 04:06:22 PM

Như vậy tất cả dần dần quay lại chống Pignon. Dĩ nhiên không phải chỉ do không may. Ông cũng đã lầm ở chỗ đã tin tưởng vào Bảo Đại. Nhưng nhất là ông vẫn quá "thực dân". Như tất cả những người cai trị dân sự, ông đã lầm một phần nhưng không đủ. Ông tán dương độc lập nhưng là một nền độc lập đầy phòng ngừa, với hàng ki-lô văn bản. Độc lập vẫn để cho người Việt Nam khao khát, không thể gây nên sự hoan hỉ.

Về căn bản kế hoạch của Pignon, với mọi khiếm khuyết, đã có thể thành công hai năm trước, lúc cuộc chiến tranh Đông Dương chỉ là một việc nội bộ giữa người Pháp và người Đông Dương. Nếu Bảo Đại trở lại sớm hơn, chắc có thế thẳng bước được. Nhưng quân đội Mao Trạch Đông tiến đến gần biên giới, không còn hy vọng cải tiến Hoàng đế: Bảo Đại không muốn dấn thân vào, chỉ làm giàu thôi, biết rằng làn sóng Trung Quốc tiến lên có nghĩa là báo trước sự sụp đổ của người Pháp.

Vậy Pignon không phải người có tội. Chính do Chính phủ Pháp bổ nhiệm ông quá chậm, khi tình hình sắp bị Trung Quốc khống chế. Pignon trung thực thực hiện kế hoạch của mình nhưng kế hoạch này đã lỗi thời ngay trước khi áp dụng. Ông không tính đến Mao Trạch Đông, đã sụp đổ dưới sức nặng của Mao.

Thời kỳ ấy Pignon chưa đến bốn mươi tuổi. Một người nặng nề, tóc vàng, hơi béo và nước da trắng. Tuy lực lưỡng ông bao giờ cũng cúi người, đầu nặng xuống như mệt mỏi, bề ngoài nhìn hơi mềm yếu. Ông ít nói và có một loại ý tưởng nội tâm, luôn nhắm mắt suy nghĩ. Pignon không có vẻ uy nghi của một người lãnh dạo. Ông trung thực, tính cách Pháp và Cơ đốc giáo, nói không hay, dùng những lập luận không rõ ràng và lối hùng biện cường điệu của một học sinh giỏi cũ. Ông không thích màu mè, những quyết định tàn bạo và sự huy hoàng, rất hạn chế nghi thức, không dùng tuỳ tùng và "thần hộ mệnh". Khi buộc phải mặc lễ phục ông có vẻ gò bó, vụng về. Trước hết ông vẫn sống như một viên chức tốt, vẻ tư sản. Vợ ông, gia đình ông chủ yếu từ miền quê Pháp, ở tỉnh lẻ.

Để gặp Pignon trong lâu đài, phải chờ ở tiền sảnh lát đá và bụi bặm với những tạp chí cũ rải rác trên bàn. Người ta đánh thức một người chạy giấy Annam đang quắt lại, vội vã ghi tên khách vào một cuốn sổ to. Một chiếc cửa hai cánh cuối cùng mở ra và trong một gian phòng lớn sơ sài, đồ đạc tồi, người ta thấy Pignon ngả người trên phô-tơi sau bàn. Ông có vẻ đang thiếp đi, mồ hôi chảy từng đám trên chiếc áo trắng. Tĩnh trí lại, ông đứng lên nói, cười. Không dễ mến đơn giản hơn thế được. Dù sao cũng là một cố gắng; suốt trong cuộc đối thoại dài ông phải tựa khuôn mặt với đôi mắt xanh, hơi dô và tròn, trên đôi cánh tay để trên bàn. Suốt thời gian ông vẫn bí hiểm, mẩu thuốc lá trên môi. Ông hút hết điếu này đến điếu khác, đầy cả đĩa gạt tàn trước khi khách đến, vừa viết các báo cáo nằm lẫn lộn trên bàn.

Có những ngày người ta thấy ông mặc sơ mi ngắn tay, vui vẻ, nói đùa có chút thô thiển. Lúc ấy ông đang hài lòng, công việc ông đưa ra tiến triển tốt.

Ông không lạm dụng. Kiệt sức hay không, Pignon vẫn rất đúng đắn, là một đao phủ trong công việc. Đôi khi tưởng như mụ người nhưng chỉ là một lúc trầm tư, đầu óc ông không dừng lại bao giờ. Không chỉ ông biết hết về người khách đang tiếp, nhã nhặn chơi trò mèo vờn chuột mà ý nghĩa đồng thời đang bận bịu về những toan tính khác.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Một, 2018, 04:35:56 PM

Thực tế Pignon là một nhân vật rất phức tạp, không tàn bạo nhưng bướng bỉnh, hành động thành thạo. Đạo đức hoàn hảo của ông thường là vô đạo đức. Đây là một trong những tín đồ khẳng định loài người do cái xấu chi phối. Nhưng ông không thực sự bị sốc, điều đó làm ông thích thú và là phương pháp lãnh đạo: kỹ thuật của ông là rút ra từ những tội lỗi của người khác để làm điều tốt. Ông tôn thờ những biện pháp nhỏ gián tiếp. Tóm lại, sự bí hiểm của ông hoàn toàn thực tiễn.

Pignon có sự tò mò của một cô gái già. Ông không những biết hết, nhớ hết mà sở thích của ông là mỗi ngày biết thêm những bí mật mới của từng người. Ông nắm được tất cả những thói xấu, điểm yếu của mọi người ở Đông Dương. Thời gian tốt nhất trong ngày là buổi sáng, khi người ta mang tới một bản in roneo trong đó ghi lại những đoạn sỗ sàng nhất của những bức thư hôm trước được mở xem ở bưu điện.

Cần biết rõ tất cả, những thông tin của cảnh sát không đủ cho ông - thế mà ở Đông Dương có toàn bộ tập quán cũ về kiểm tra và trinh thám chính thức! Ông còn dùng những nhân viên riêng, những nhân vật khác thường, da trắng hoặc da vàng, phần nhiều là người lai. Đấy không phải những kẻ phiêu lưu thô lỗ mà những viên chức từ "xã hội hư ảo". Đối với Pignon, họ lấy ra những gì quan trọng, trở nên chính thức hơn. Người ta thấy họ lẻn vào phòng ông mang tới hoặc đem đi những tin tức kỳ lạ. Chính họ làm công việc thực sự là công việc.

Thường thường Pignon tiến hành dịu dàng, theo lối Phương Đông, tăng cường trao đổi, những đề nghị, phản bác. Ông thích những mê lộ ấy! Nhưng nếu cần - khi người ta phản bội; bịp hoặc dọa ông, trước hết là để giữ "thể diện" - ông đánh. Lúc ấy ông ra đòn như người ta thường làm ở Châu Á trong những trường hợp ấy, bí mật, không cảnh cáo, không giải thích, và theo cách nhanh gọn nhất. Những quả bom nổ, một số người nào đó bị ám sát - và đôi khi một số chỗ nào đó bị biến dạng đều có bàn tay của Pignon.

Pignon chỉ đòi hỏi đạo đức trong nội bộ tầng lớp các nhà cai trị. Ông chỉ nghiêm khắc ở hai điểm: khốn khổ cho ai trong bọn họ "nhận hối lộ", cũng khốn khổ cho người không tin vào Đông Dương, không hoàn toàn tận tụy vì sự nghiệp ấy. Ngoài ra con người Pignon tốt, dễ thương, rất độ lượng, hơi vô sỉ ngay đối với người của mình.

Pignon thương yêu những người cai trị của ông, ông sống với họ. Họ tập hợp thành một kíp hơi lạ - một lẫn lộn những "con cua già" bảo thủ và những trai trẻ rất ngổ ngáo, tất cả đều trong những Phái đoàn dân sự, đều là "bạn thân tín" của nhau. Bên cạnh những lão thành cổ cồn cà vạt và nghi lễ rườm rà, có những chức sắc trẻ chưa đầy ba mươi tuổi, quần áo tuềnh toàng ra vẻ lực lưỡng. Những sản phẩm cuối của Trường Thuộc địa là những người thuộc trường phái triết học Nietzsche muốn vượt lên trên mọi bi kịch, thích hợp với mọi thú vui. Mục đích của họ là sống hết mình.

Pignon tán thành không khí ấy, để nó lôi cuốn ông. Khi cả nhóm ở Hà Nội, buổi tối thỉnh thoảng họ điện thoại cho mẹ Jo để báo tin đã tới. Đây là tình nhân cũ hấp dẫn của các tướng cai trị trước kia, một sắc đẹp đã trở thành một bà già nhăn nheo, đã xuống dốc nhưng đầy kỷ niệm. Bà chủ trì một tiệm hút sang trọng, hơi nhà thổ, ở trên một đường phố nhỏ. Khách đến, sau khi gõ cửa theo quy định, trèo một cầu thang trôn ốc lên giữa vẻ đẹp tuyệt vời Phương Đông, những chiếc lọng, bình phong sơn, tượng Phật, nền tường gỗ mun chạm trổ, những chiếc gối da vàng, những ngọn đèn. Những cô gái bé nhỏ người Việt Nam đến chuẩn bị thuốc. Đương nhiên khi Cao ủy đến, cả ngôi nhà dành cho ông. Thực ra Pignon chỉ hút một điếu vì lịch sự. Ông thưởng thức trước hết là Châu Á mà ông thích dưới mọi dáng vẻ, hương vị sâu sắc, trong sự khôn ngoan và điên rồ của nó.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Một, 2018, 04:36:48 PM

Viên chức Pignon chơi thoải mái trong trò chơi lớn của Châu Á. Bản thân ông cũng làm một người "đặc Châu Á" nhưng ông xác định Phương Đông bao giờ cũng tha hóa và tàn nhẫn và phải hành động trong khung cảnh mục ruỗng và độc ác ấy. Ông cố gắng đánh người da vàng theo cách của họ. Nhưng tuy khôn khéo, ông thấy những người Châu Á mạnh hơn mình. Ông tưởng "nắm" được Bảo Đại nhưng chính Bảo Đại nắm ông.

Nói đúng ra, phía "thẩm mỹ" của Pignon được sửa chữa bởi một nhân vật rất khác nhưng rất quan trọng, có mặt gần ông. Đấy là Bonfils, phụ trách chính trị. Không hẳn trong nhóm thân tín, không ở trong lâu đài Norodom nhưng ảnh hưởng của ông là cơ bản.

Bonfils, một nhà cai trị đã sẵn sàng phục vụ đô đốc Decoux, ít tín điều hơn Pignon nhiều, ít có vẻ "thông cảm" của một số linh mục nghe xưng tội: ông rất nguyên tắc và cương quyết. Khinh thường những sự việc đột xuất, ông đặt văn phòng trong một căn nhà gỗ lụp xụp, làm việc ở đó như một người khổ sai ít nhất mỗi ngày mười bốn tiếng đồng hồ. Người ấy, trên khuôn mặt dài, đôi môi mỏng, mắt sắc. Đây là uỷ viên chính trị chống đỏ, luôn sẵn sàng một cơn giận lạnh lùng. Say mê lôgíc, ông phát biểu dưới dạng định lý, đi đến những quyết định mệnh lệnh là những phán quyết. Khi ông đã có một quyết định từ giọng nói sắc cạnh, từ chữ ký cáu kỉnh thì không có gì ngăn cản ông được trừ khi đóng cửa văn phòng lúc tám giờ. Lúc ấy ông trở về nhà, bên cạnh bà vợ và các con ông, thay quần áo và ăn tối cùng những người buồn chán.

Bonfils là lý luận gia về sự trở lại của Bảo Đại. Ông luôn chứng minh sự cần thiết, lợi ích, mọi điều tốt bằng những lập luận không chối cãi được. Tuy vậy ngay trước khi vấn đề được kết luận, ông đã có những khủng hoảng, nghi ngờ và thất vọng. Vì hơn cả Pignon, ông dựa vào mặt đạo đức và ông nhận thấy rõ, theo các báo cáo, Hoàng đế người ta muốn đưa về rất có vẻ thiếu điều đó. Ông nói:

- Ông ta muốn chúng là “làm ma cô”.

Sử dụng một từ hình ảnh đến thế đối với Bonfils là một thể hiện rất giận dữ. Nhưng dùng những từ nào khác được nếu không muốn giữ gìn hơn trong những bài nói mà ông hăng say. Ông không muốn thể hiện nhiều.

Pignon, Bonfils và những nhà cai trị khác là những nhà kỹ thuật về Đông Dương. Họ nói lên rất rõ ràng điều phải làm. Họ chẩn đoán và nói:

- Trong tình hình hiện nay ở Đông Dương, phải biết nhường bước nhưng có ý thức. Chỉ riêng chúng ta có khả năng xác định khi nào phải nói "đồng ý" khi nào phải nói "không".

Mấy năm trước đây những chuyên gia ấy không muốn tin chắc có một thay đổi nào. Người ta biết rõ nỗi khổ tâm của họ. Từ khi những bộ phận dân sự được xóa tội, những người trở lại ấy sẵn sàng thử một kinh nghiệm lớn mới để cứu Đông Dương, đúng hơn là cứu những gì có thể cứu được. Từ giải pháp "chế độ thực dân" họ chuyển qua giải pháp độc lập cùng với niềm tin, lòng hăng hái ấy trong công việc. Nhưng là nền độc lập họ quan niệm, không như những người dân bản địa hiểu.

Chất liệu đầu tiên của những người cai trị vẫn là những người Annam bây giờ người ta gọi là người Việt Nam. Đáng buồn là những người này rất dè dặt khi thấy họ trở về nắm quyền. Họ nói:

- Đấy là những người trung thực, rất trung thực và rất có khả năng. Nhưng làm sao chúng ta có thể tin tưởng họ được? Bản chất sâu xa của họ không thể thay đổi.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Một, 2018, 05:45:02 PM

Mua bán nền độc lập

Bảo Đại vốn đã mất hết, sống tha hương và khốn khổ, để xách tai trở về Đông Dương. Ông không chỉ muốn tiền và danh vọng, buộc người Pháp bước đầu công nhận sự thống nhất và nền độc lập của nước Việt Nam.

Thực tế lúc đầu người Pháp từ chối. Đó là vào thời kỳ Bollaert. Chính viên cao uỷ này - khi đường lối bắt tay Việt Minh bị phá sản - đã có những tiếp xúc đầu tiên với Hoàng đế. Đã có một cuộc trao đổi trịnh trọng trên một tuần dương hạm Pháp trong không gian kỳ lạ của vịnh Hạ Long. Nhưng Bollaert không thể nói lên những lời chủ yếu: Paris đã cấm ông.

Điều ấy được quy định tuyệt đối năm 1947. Thời kỳ ấy Bollaert phải tuyên bố ở Hà Đông - một thị xã cách Hà Nội mười lăm cây số - phương hướng mới của Pháp, nghĩa là cắt đứt hẳn với Việt Minh và tìm kiếm một thoả thuận với những người quốc gia không cộng sản. Ông muốn đưa lời kêu gọi của ông dưới dấu hiệu ma thuật của "nền độc lập". Những chỉ thị dứt khoát từ Paris tới ngăn cản ông.

Vì thế ông để lại cho Pignon và nhóm những người cai trị vận động những giải pháp ngược với truyền thống thực dân của Phái đoàn dân sự. Ông thuyết phục được Paris cần thiết phải "dựng lên" cuộc chiến tranh giữa những người Việt Nam với nhau. Phải đi xa hơn nữa - giành giật của Việt Minh sự độc quyền về chủ nghĩa dân tộc, chứng tỏ cho người Việt Nam thấy liên minh với người Pháp "mang lại" cho Việt Nam nhiều hơn đánh nhau với họ.

Từ năm 1948, Pignon trong văn phòng rộng bao la và kín đáo của ông, Bonfils trong phòng bé nhỏ của mình bắt tay vào sự nghiệp "Việt Nam hóa" cuộc tranh chấp.

Cho đến lúc đó hầu như không có gì được thực hiện theo hướng này. Chiến tranh là việc của người Pháp. Người Việt Nam tham gia với tính cách hợp tác hoặc đánh thuê. Vì hoàn cảnh người ta cũng có một vài nhượng bộ nhưng quá nghèo nàn và ngoài ý muốn! Và rồi những nhượng bộ ấy làm phức tạp thêm tình hình, được tính toán, không phải để "giải phóng" Việt Nam mà để gắng giữ trong trật tự cũ.

Năm 1946 đô đốc d’Argenlieu dựng lên một Chính phủ Nam Kỳ nhưng những bước đầu thật khổ sở! Nó được hình thành từ một nắm người làm thuê không có quyền lực, chen chúc trong một biệt thự đơn giản. Thủ lĩnh của họ, bác sĩ Thinh tự vẫn vì thất vọng, một dạng phản kháng của Châu Á, vì bị người Pháp coi thường và người Việt Nam bêu riếu.

"Chính phủ" này được tạo ra với một mục đích duy nhất: đối lập với sự thống nhất Việt Nam do Việt Minh và những người quốc gia đòi hỏi. Trong thời kỳ rối loạn ấy người ta muốn giữ lấy xứ Nam Kỳ màu mỡ như đất đai riêng biệt, tách rời với phần lớn của đất nước. Như vậy dù điều tệ hại xảy ra ở Hà Nội hay Huế, người ta vẫn luôn có Sài Gòn với tài sản ruộng đồng và đồn điền ở đồng bằng sông Mékong.

Thoạt nhìn thì không hoàn toàn phi lý. Gần một thế kỷ Nam Kỳ là một thuộc địa, một lãnh thổ hoàn toàn thuộc Pháp. Trong việc chinh phục người ta đã tách nó ra khỏi Vương quốc Annam vốn chỉ là một xứ bảo hộ. Việc "đồng hóa" ấy dẫn đến một Phương Tây hóa lớn hơn. Đạo đức Khổng Tử, việc tôn thờ hoàng đế đã chết: Các quan lại biến mất. Truyền thống hàng nghìn năm được thay thế bằng hiện đại hóa, cai trị trực tiếp và kinh tế phát triển rộng lớn.

Nam Kỳ vậy là có một bộ mặt riêng - ở đấy không có bị kịch ghê gớm của Châu Á, dân số quá đông. Đây là vùng đất mới của Việt Nam khi binh lính và thủy thủ thực dân đến đồng bằng sông Mékong và họ là những người chiến thắng của đội quân mở đường. Dù sao những người Pháp này làm cho những vùng đầm lầy hầu như chưa khai phá thành một vựa lúa. Trong vài chục năm Sài Gòn trở nên một trung tâm thương mại khổng lồ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Một, 2018, 05:45:58 PM

Trước hết, tiền, đồng bạc, sự đầu cơ ngự trị Nam Kỳ. Từ lâu đây là đất nước của những người mới giàu, da trắng cũng như da vàng. Nhưng nhân dân sung sướng. Ý thức được hạnh phúc của họ, những người dân Nam Kỳ dần dần sợ những người đồng hương của họ ở Bắc Kỳ khắc nghiệt và nghèo. Họ không muốn chia sẻ những gì họ có. Nỗi lo sợ ấy thể hiện trong câu ngạn ngũ: "Nếu một người miền Bắc đến nhà anh, người ấy sẽ ngốn hết gạo của anh trong mấy ngày và sau mấy tuần sẽ là người chủ trong nhà anh."

Vậy là có những người dân Nam Kỳ, nhất là những người giàu có, theo sự xúi giục của d'Argenlieu, nắm lấy khẩu hiệu "Trả lại xứ Nam Kỳ cho những người Nam Kỳ". Thậm chí họ muốn một Nam Kỳ thuộc Pháp. Nhưng những người Pháp sau khi khơi mào chỉ hỗ trợ nó một nửa. Ý muốn của họ thật trái ngược. Giữ Nam Kỳ là một lãnh thổ hoàn chỉnh cũng rất hấp dẫn. Nhưng khi Đội quân viễn chinh lấy lại Bắc và Trung Kỳ, họ tự nhủ: "Phải chăng sẽ thú vị hơn nếu có một đường lối lớn cho toàn bộ Việt Nam và thậm chí cho cả Đông Dương. Họ cho rằng sự nghiệp Nam Kỳ quá hạn chế.

Nhất là những người quốc gia các loại lên án các thành viên của chủ trương "Nam Kỳ cho người dân Nam Kỳ" với cái tên nhục nhã là "những kẻ chia cắt". Điều trở nên rõ ràng là tinh thần yêu nước tràn lên thuộc địa đã quét đi ở Việt Nam những ông già ích kỷ, những rào cản nhân tạo. Làn sóng quá mạnh: tốt hơn là thử phù hợp với nó.

Người Pháp không có cả sự chọn lựa. Vì những người họ tạo ra, ngay những bộ trưởng trong Chính phủ "chia cắt" Nam Kỳ bỗng đòi hỏi ghê gớm sự thống nhất, mấy chữ Nam Kỳ "thực dân địa" bị cấm chỉ. Chính phủ Sài Gòn bỗng được đặt tên là "Chính phủ miền Nam Việt Nam" với ý định có ngày trở thành chính phủ của cả nước Việt Nam, của Việt Nam độc lập.

Khi Pignon được cử làm cao ủy, những khái niệm về thống nhất, độc lập đã gắn chặt trong trí óc mọi người Việt Nam, vả lại thống nhất chỉ là bước đầu của nền độc lập.

Vậy là không còn vấn đề từ chối sự thống nhất. Tất cả vấn đề là nền độc lập: với ai và làm như thế nào? Nên chăng chấp nhận toàn bộ hay hạn chế, nên đi tới đó với những người "thủ cựu" hay "cấp tiến"?

Ngoài một số "ủng hộ thực dân" cuối cùng, người Việt Nam nhất loạt là những "người quốc gia", vả lại đấy là những người quốc gia chém giết lẫn nhau, thi nhau hành quyết; họ chia thành vô số phe phái, băng nhóm và tổ chức thù địch. Trong số đó có những Việt Minh cộng sản, Việt Minh không cộng sản ở lại với Kháng chiến, những Việt Minh không cộng sản chuyển sang "phía bên kia"; những người này, một số lẩn tránh trong các thành phố không làm gì, một số khác kinh doanh và buôn bán đồng bạc Đông Dương, một số phục vụ người Pháp thương lượng với ông ta; cuối cùng có Chính phủ Sài Gòn và cách đó hàng nghìn cây số, có Bảo Đại.

Thực tế trong sự lẫn lộn thần kỳ và đẫm máu ấy chỉ có duy nhất một lực lượng thực sự nhưng khổng lồ và ghê gớm. Đấy là lực lượng Việt Minh mà người ta phải đánh bại. Vì để tiêu diệt nó mà Pignon quay lại ý tưởng độc lập để chống nó, tạo ra một nền độc lập chống cộng sản.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Một, 2018, 05:47:42 PM

Trong số những "người quốc gia" phần lớn thù địch với Việt Minh. Không may họ đều bất lực; nhu nhược và không lương thiện, họ tạo thành một hỗn độn vô trật tự, một mớ bòng bong không bao giờ ra được gì. Những người ấy tê liệt vì sợ hãi, thiếu lương tâm, bóng của Hồ Chí Minh còn lởn vỏn trong trí họ.

Mùa hè năm 1948 là sự trống rỗng của người Việt Nam xung quanh Pignon. Trước hết phải có đồng minh. Nhưng ai? Bảo Đại vẫn ở nước ngoài trong các khách sạn, mánh khoé, còn ngần ngừ. Cơ quan Việt Nam xây dựng được là Chính phủ miền Nam Việt Nam với những yêu sách quá đáng từ khi trở thành chính phủ dân tộc. Nhưng gần như chẳng là gì cả.

Bên ngoài Chính phủ này đã có một ít "vẻ mặt" ở Sài Gòn, từng nấc một sau cái chết thảm hại của bác sĩ Thinh. Người Pháp cho họ lâu đài La Grandiere. Thủ tướng bây giờ là Trần Văn Hữu, một tư sản to béo với đôi mắt nhỏ tí, nguyên thanh tra của tín dụng nông nghiệp, rất giàu và rất được nhà băng Đông Dương coi trọng. Một lớp chính trị gia khoảng vài chục nhân vật, những bộ trưởng liên tục hoặc có thể trở thành bộ trưởng được tung ra: từ nay rất được người Pháp vỗ béo. Ngoài Hữu có Tâm được gọi là "Con hổ Cai Lậy", Hoạch một thầy thuốc đáng ngờ, hợp tác với Cao Đài, tướng Xuân, người bách khoa da vàng đầu tiên, khuôn mặt rất tròn và hợm hĩnh ngây thơ. Họ đều là những người giàu có, viên chức cũ của Pháp hoặc của tư sản. Họ hoàn toàn bị cắt đứt với dân chúng nhưng thậm chí không nhận thấy điều đó.

Mỗi vị không ngớt nói với người Pháp: "Cứ để tôi làm. Tôi là người quốc gia. Tôi sẽ chắp nối với những người quốc gia trong Việt Minh." Nhưng chính những người du kích và chờ thời cho Pignon biết họ không bao giờ muốn những kẻ "mục ruỗng" ấy: điều kiện đầu tiên đế xáp gần với người Pháp là loại bỏ họ.

Điều đó không sao. Đấy là tình trạng sa lầy. Những người cũ "hợp tác" với Chính phủ Nam Kỳ vừa được ân sủng đầy vinh dự và tiền bạc, đi đến chỗ phản bác những biện pháp có vẻ "chống yêu nước”. Họ tuyên bố với cao ủy: "Chúng tôi trung lập. Làm sau chúng tôi có thể đánh nhau với Việt Minh dù họ là những người lầm lạc? Đó là những người quốc gia như chúng tôi. Trước tiên người Pháp phải tỏ rõ thực tâm của mình." Thực tế người ta lấy được nhiều chữ ký nhưng với những cuộc bàn cãi dài dòng và những đồng bạc.

Pignon hiểu phải tìm một nhân vật chính trị tốt hơn. Ông đi vào - cùng lớp thân cận, nhất là người lai - móc nối với những môi trường Việt Nam để phát hiện ra những người có trình độ hơn, trong sạch hơn. Sức mạnh của ông là biết rõ mọi gia đình quan chức đáng kính trong nước.

Hầu như mỗi gia đình, giữa sự lộn xộn chung luôn đi đến một sự cân bằng có tổ chức. Họ chia thành ba bộ phận: đầu tiên đại diện với ông bố già, được thưởng Bắc đẩu bội tinh, làm việc trong Chính phủ Sài Gòn; bộ phận khác chờ thời; thứ ba đi theo Việt Minh. Trong một số trường hợp có một phần thứ tư sống ở Pháp, tại Sorbonne. Tất cả những lớp người này đều giàu, trừ những thành viên gia đình đi với Hồ Chí Minh. Nhưng những người này là anh hùng.

Tiếp cận những người trên, Pignon dùng một lập luận tấn công: "Công cuộc kháng chiến của các ông bị xé nát vì những bi kịch nội bộ. Những người cộng sản đang chi phối nó; họ chinh phục nội bộ bằng thanh toán các nhà tư sản ủng hộ Việt Minh, bắt đầu bằng những người trong khu du kích. Các ông để cho họ thanh lọc đến người cuối cùng mà không hành động, không làm gì hay sao?"

Những lời ấy hiếm có tiếng vang. Ngược lại những "người chờ thời" ở Sài Gòn càng cay độc hơn khi đả kích "chế độ thực dân". Hầu hết họ là những trí thức có nhiều bằng cấp ở Pháp - những luật sư, bác sĩ, dược sĩ. Họ bắt đầu từ tuyên bố họ rất yêu nước Pháp, nhưng là nước Pháp Cách mạng, không phải nước Pháp của chinh phục hoặc đế quốc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Một, 2018, 05:48:12 PM

Dĩ nhiên sau những tuần bàn cãi dài dòng, những "người chờ thời" thú nhận một ít. Nhưng như một điều luật, những người chờ thời càng thất vọng và lo sợ, họ càng chờ đợi thay vì thoát ra. Đối với một số trong bọn họ, đấy là loại tự sát vinh dự. Nhưng phần lớn bị lôi kéo vì những phản xạ mù quáng sợ hãi lẫn tính toán tư lợi. Mọi người thậm chí thú thật với tôi: "Tôi không muốn làm hại mình. Tôi có một bà vợ và chín đứa con. Là bác sĩ mỗi tháng tôi kiếm được một trăm nghìn đồng; ở Chính phủ những vị trí tốt đã bị chiếm hết, tôi không kiếm được đến thế.”

Những trí thức không chê được ấy, nói và ăn mặc tốt, ngớ ngẩn một cách đáng sợ. Họ say mê lợi lộc. Vì vậy họ khai thác cặp giấy tờ của họ. Ví dụ các thầy thuốc chuẩn bị trước đơn thuốc, rất nhiều bản cho thuốc phiện, cho các loại thuốc quý để sau đó bán lại nhiều lần.

Cứ như thế, không bao giờ kết thúc được với những nhà quốc gia trưởng giả ở Sài Gòn. Lúc ấy Pignon cho phép thực hiện "kế hoạch lớn": quan hệ với bản thân Nguyễn Bình, làm ông "chao đảo”. Mong kế hoạch này thành công và toàn bộ cuộc kháng chiến Nam Kỳ sẽ chuyển biến, quay lại chống đỏ, xây dựng ở Sài Gòn một chính phủ hoàn toàn mới, cứng rắn và trong sạch. Không khí ở Đông Dương sẽ được sạch sẽ hơn. Đối với người Pháp đó không còn là "cuộc chiến tranh bẩn thỉu" nữa.

Việc tiếp xúc với khu du kích kéo dài hai năm. Đây là một trong những bí mật chính của cuộc chiến tranh Đông Dương và chắc là bí mật chủ yếu. Không có gì lộ ra nhưng chắc chắn những phái viên Pháp đều đặn đến gặp Việt Minh Nam Kỳ; họ mang những đề nghị, trao đổi ý kiến. Đấy là các sĩ quan Phòng Nhì đặc biệt, rất chuyên nghiệp, do một đại tá F... nào đó chỉ huy - một người nhỏ thó rất Châu Á với nụ cười hiền gần như bụt, chỉ làm tan im lặng bằng những lời nói như nở hoa. Ông văn minh một cách đáng ngại nhưng trong công việc ông nổi tiếng vì tính kiên định sắt thép, tính chính xác, một sự thông minh quá sắc sảo.

Tôi biết nhân viên của viên đại tá ấy đi lại thường xuyên nhưng không thể thăm dò những cuộc nói chuyện của họ đã đi đến đâu - không biết họ có gặp được Nguyễn Bình không. Dù sao những cố gắng đó đã đến chỗ thấm máu.

Một đêm những sát thủ Việt Nam vào trong một biệt thự ven đường Tân Sơn Nhất, sân bay Sài Gòn. Mọi người trong nhà đang ngủ. Những kẻ giết người, thực hiện kế hoạch chuẩn bị trước, lẻn vào phòng ngủ một đôi người Âu nằm trong giường. Họ bắn một phát giết chết người đàn ông rồi bỏ đi không lấy tiền bạc giấy tờ gì, để người vợ hét lên bên cạnh xác chồng.

Đấy là "vụ Abadie" mà cảnh sát không bao giờ làm sáng tỏ được. Việc điều tra nhanh chóng bị bãi bỏ như sợ nêu lên những bí mật quá nguy hiểm.

Người bị giết, Abadie đã trải qua một sự nghiệp phiêu lưu ở Trung Đông rồi Viễn Đông. Ông đã là đại tá trong quân đội của Quốc vương Iran, sau đó là giám mục Cao Đài ở Nam Kỳ. Gia nhập Đội quân viễn chinh với chức vụ đại uý, ông là "chủ bài" của những nhiệm vụ đặc biệt. Đôi khi ông biến đi nhiều tuần lễ: cải trang thành dân quê, đi hẹn gặp với những người du kích. Trong tất cả những người Pháp ông là người duy nhất được kháng chiến tin, chắc là người duy nhất có thể thành công; điều đó làm ông bị sát hại.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Một, 2018, 05:48:58 PM

Nhiều tin đồn trái ngược chạy khắp Sài Gòn nhưng không ai biết người cử những kẻ đi ám sát. Bao nhiêu người có lợi trong việc thủ tiêu Abadie! Trước hết là những người cộng sản, để ngăn chặn ông ta tha hóa những người quốc gia trong Việt Minh. Cũng có thể là Nguyễn Bình; đối với một số người là để chuộc lỗi vì ông cảm thấy bị phái viên ngoài Bắc vào phát hiện thấy; với một số khác ông vẫn là người anh hùng của cuộc kháng chiến, vẫn trung thành với Hồ Chí Minh, phải cho hạ sát ngay tại Sài Gòn phái viên nguy hiểm của Pháp khi đã luồn vào khu du kích. Nhưng cũng có những giả thuyết khác hẳn. Người ta đổ tội cho Bảo Đại và phe nhóm vì Hoàng đế sẽ mất hết giá trị nếu người Pháp điều đình với kháng chiến. Họ đặt ra những công việc đặc biệt chống lại việc làm của đại tá F.... và thậm chí cả cao ủy.

Chắc chắn là Phái đoàn dân sự, trong chừng mực họ để tiến hành cho những thương lượng với kháng chiến nhưng thực tâm không mong kết quả. Họ tin là không thể. Đối với họ đấy chỉ là những quả bóng thử nghiệm, những mưu mô mập mờ trong hàng ngũ Việt Minh. Nhất là sau thất bại mà họ chờ đợi, họ muốn có thể nói: "Các ông thấy không, chúng ta chỉ còn Bảo Đại".

Tôi nhớ đến một cuộc nói chuyện với Bonfils trong văn phòng khốn khổ của ông. Để thuyết phục tôi, ông rời khỏi ghế ngồi, đi lại trong phòng mà không trông thấy gì - một viên chức nhỏ nhen bị sức mạnh niềm say mê và lập luận không nhầm lẫn được chi phối.

- Người ta chỉ nói về việc thỏa thuận với kháng chiến. Tôi thấy không làm sao đạt được. Theo lôgic là không thể.

Khi mà những người trong khu du kích - những người quốc gia không hiểu cộng sản dành cho họ số phận ra sao sẽ không làm gì với họ được; họ căm ghét chúng ta cuồng nhiệt, họ đặt ra những điều kiện không chịu nổi. Chỉ khi bị thanh lọc hoặc thanh toán thì họ mới nghĩ đến chúng ta như một tấm ván cứu nạn, nhưng lúc ấy thì họ không ích lợi gì nữa, họ không đại diện cho ai nữa.

Tóm lại khi chúng ta thương lượng với quân du kích, hầu như bao giờ cũng quá sớm hoặc quá muộn. Phải tiếp xúc họ trong thời gian ngắn khi mà họ phát hiện ra mối nguy hiểm nhưng chưa bị nhấn chìm. Ngay vì một sự tình cờ chúng ta nắm được họ cũng không đi đến đâu do những nghi ngờ, ngập ngừng của họ. Không bao giờ họ quyết định đúng lúc.

Nếu chúng ta biết rõ những mặt trái của tấm màn bí mật cốt lõi vô cùng biến động và phức tạp của đối phương và những bi kịch của họ, có lẽ chúng ta có thể tranh thủ một số "trường hợp". Nhưng chúng ta có những thông tin sai, quá ít. Cũng quá chậm nữa. Lúc ấy chúng ta mày mò trong bóng tối. Vì chúng ta có nhiệm vụ nghi ngờ. Những người của Việt Minh tự xưng là "quốc gia" có thể chỉ là những bù nhìn của Hồ Chí Minh hành động theo mệnh lệnh. Ký với họ, thay vì cứu Đông Dương thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản, chúng ta lại giao nó cho họ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Một, 2018, 05:49:25 PM

Thật ảo tưởng cho rằng có thể liên minh với kháng chiến. Tốt lắm chỉ thu hái được vài cặn bã, khốn khổ hoặc độc hại. Và với giá nào! Phải cho tất cả, chối bỏ mọi quyền hành của nước Pháp ở Đông Dương. Thế thì tại sao chúng ta chi những tỷ phrăng, hy sinh cuộc sống của bao nhiêu binh lính như vậy? Vì chúng ta thậm chí không thể rút ra, vẫn buộc phải trả tiền và đánh nhau chẳng để làm gì cả.

Cuối cùng Phái đoàn dân sự không muốn làm như người Anh ở Ấn Độ: tất cả dựa vào lòng tin và hy vọng. Chủ nghĩa thực dụng Anh cho rằng việc bỏ cuộc là cách làm hay nhất, kinh tế và chắc là có lợi nhất. Nhưng Pignon và những nhà cai trị của ông nói đường lối có tính toán ấy không thực hiện được ở Đông Dương: những điều kiện khác do Hồ Chí Minh và sức mạnh của những người cộng sản.

Nhất là vấn đề tâm lý. Phái đoàn dân sự, tất cả những người Pháp ở Đông Dương cũng vậy, biết quá rõ Châu Á, khả năng ăn mòn của nó. Họ tin chắc sự có mặt của lá cờ tam tài chẳng bao lâu sẽ bị tiêu hóa, triệt hạ, nhận chìm theo lối Phương Đông trong lòng một nền độc lập toàn vẹn. Phải luôn bảo vệ nó bằng những cam kết, đề phòng và kiểm soát những đòn bẩy chỉ huy. Mục đích là trong một Việt Nam thống nhất và độc lập, nước Pháp còn ở khắp nơi hơi bí mật và gần như còn mạnh. Tóm lại bề ngoài đất nước này sẽ thuộc về người Việt Nam, nhưng thực tế thuộc về người Pháp. Như vậy độc lập thực ra chỉ là một xứ bảo hộ.

Nhưng ai có thể chấp nhận nền độc lập ấy của Pignon? Những người kháng chiến không, những người tự cho là kháng chiến cũng không.

Từ đấy chỉ có Bảo Đại là có thể. Bản thân ông này cũng nhăn nhó nhưng người ta biết rõ cuối cùng ông sẽ nhận vì nếu không sẽ chỉ là một kẻ mất hút trong biển người.

Việc Bảo Đại trở về đã tới gần. Trước hết phải chuẩn bị những văn bản mà người Pháp quan tâm: người ta viết hàng nghìn trang thỏa thuận. Tất cả đều được dự kiến, quy định, khẳng định. Người ta cân nhắc từng chữ; một số lập luận tế nhị kéo dài hàng tuần. Đây là một trong những soạn thảo lớn nhất thế giới.

Pignon và ê-kíp của ông, những người bảo trợ ông ở Pháp gần đạt mục đích. Nhưng không khí vẫn xáo động. Ở Paris những kẻ thù của "lá bài Bảo Đại" giật mình. Trong lúc mọi việc tưởng như đã quyết định, một mưu đồ ngầm xảy ra. Do vậy tướng Revers chuẩn bị sang Đông Dương lúc Hoàng đế sắp về. Ông đến để phá hỏng việc đó, lấy lại giải pháp phe hữu với các tư sản Nam Kỳ, những người chờ thời, những người kháng chiến, các nhà quốc gia của những khu du kích, với Việt Minh và có lẽ cả với Hồ Chí Minh và những người cộng sản.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Một, 2018, 04:38:57 PM

Vị Hoàng đế bí hiểm

Pignon đã đâm lao. Từ nay ông gắn số phận mình vào số phận Bảo Đại. Nhưng Hoàng đế bí hiểm ấy là ai?

Người ta nói những người của Phái đoàn dân sự tự kỷ ám thị để có lòng tin vào Hoàng đế. Bảo Đại làm họ bối rối vì những mặc cả ở Hồng Kông, trên bờ biển Xanh, ở khắp nơi. Hình như để gây sức ép với ông mà Pignon cho phép tiếp xúc với Nguyễn Bình. Nhưng Bảo Đại cũng có chăng những tiếp xúc ấy?

Bề ngoài Pignon có vẻ thắng thế vì Bảo Đại sẽ trở về. Nhưng để chắc chắn thắng lợi, phải biết con người ông đặt tất cả hy vọng là như thế nào. Tôi hỏi một nhà cai trị cũ điều này, ông nhún vai nói không biết.

- Cuộc sống của ông ta lạ lùng, nhân cách thật phức tạp đến mức người ta có thể nói ra sao cũng được. Nói chung người ta cho rằng có hai Bảo Đại - hoặc đúng hơn, hai thể hiện của Bảo Đại. Ông ta là Hoàng đế của hộp đêm, của con người không tin vào gì nữa, con người đáng ngờ đối với mọi người vì ông lần lượt phản bội tất cả. Đối với người Pháp ông là người bạn không thực, đã bỏ rơi họ hai lần, đối với người Nhật rồi sau đó đối với Việt Minh. Phải chăng ngày mai ông sẽ đào ngũ đi với người Mỹ? Người Việt Nam xem ông là một đầy tớ ngoan ngoãn, làm công cụ cho chủ nghĩa thực dân Pháp rất lâu. Cả Việt Minh cũng cho ông là kẻ phản bội vì, là cố vấn tối cao của Hồ Chí Minh, ông trốn đi trên một chiếc máy bay Mỹ.

Mặt thể hiện khác dựa trên sự bắt buộc, cần thiết, về mặt này Bảo Đại là con người trong mỗi lần phải "tỏ ra mềm mỏng", phải "hợp tác" để cứu mạng sống của mình. Ở trong một vòng xoáy đáng sợ, để sống sót ông chỉ còn sự thông minh và ông khá thông minh để tỏ ra đạo đức, trung thành, mọi phẩm chất sẽ hành hạ ông vì ông ở trong tay những kẻ thù.

Một trong những anh em họ của Bảo Đại đã kể lại với tôi câu chuyện của ông này. Đây là lời kể, gần như trong tiểu thuyết đen:

- Ông biết khi Bảo Đại còn rất trẻ, được người Pháp nuôi dạy ở Paris theo uỷ thác như thế nào. Người con trong những Con Trời bắt đầu sống theo "kiểu hiện đại": Câu lạc bộ Racing, Riviera, Tout-Paris, những chốn lịch sự, giàu và quý phái. Mười tám tuổi, ông thấy có vẻ kỳ cục khi trở về Huế làm ông vua thần quyền, là thần tượng của quần thần, mặc chiếc áo dài dệt đầy rồng để giao lưu với Trời. Ông tưởng tượng chàng thanh niên "hiện đại" trong triều đình cổ xưa ấy với các quan lại, các thầy bói, những lăng tẩm tổ tiên, giữa một nhãn hiệu hàng ngàn năm! Thật ngạc nhiên phát hiện ra mẹ mình trong người đàn bà Annam cổ lỗ đần độn, bài bạc, ăn trầu, ghê gớm đến nỗi được mệnh danh là "Hổ cái". Bảo Đại những muốn cách tân toàn khung cảnh lỗi thời ấy và tự mình cai trị nhưng các công sứ Pháp kịch liệt phản đối. Ông đã thấy Hoàng đế Annam chỉ là đầy tớ của một viên chức Pháp nào đấy. Làm sao tôi không nhớ khi ông uể oải dùng cùi tay che những tài liệu chuẩn bị sẵn mà người Pháp đem tới cho ông ký tắt? Ông nói: "Tôi không đọc những gì tôi phải ký; tôi đã học được là phải mù, điếc và câm". Đấy là lúc ông bắt đầu suy nhược thần kinh; đi săn một mình liên tục. Những người quốc gia thời ấy không hiểu sự bất lực của ông, đã kết tội ông phản bội. Là Hoàng đế thậm chí ông không thể thanh minh.

Rồi xảy các sự kiện, trước hết là cuộc đảo chính Nhật tháng ba năm 1945. Tất cả tiến hành như chớp. Người Pháp bị săn đuổi, nhấn chìm. Bảo Đại chưa biết gì hết. Ông đi săn voi hoang rất sâu trong rừng, trở về đúng lúc một lữ đoàn Nhật bao xung quanh ông. Một viên tướng của Thiên Hoàng đưa cho ông một tập giấy da, ra lệnh ký nếu muốn sống. Vậy là Bảo Đại đóng ấn nhà vua lên chứng thư nói người Pháp mất quyền hạn và tuyên bố nước nhà độc lập. Làm sao ông có thể làm khác được? Cần tranh thủ thời gian cho đến khi Nhật thất bại mà ông biết không tránh khỏi được và sắp tới gần.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Một, 2018, 04:40:03 PM

Điều xảy ra trong lúc đế quốc Mặt trời mọc sụp đổ còn tệ hại hơn. Bảo Đại lại phải ký và lần này là sự mất quyền của chính ông. Mùa hè năm 1945 một phái viên của Hồ Chí Minh chiến thắng vào Huế buộc Hoàng đế thoái vị, không nể nang quá đáng. Bảo Đại thực hiện để cứu mạng sống của mình. Ông nghĩ hậu duệ của bao nhiêu đời vua Annam có thỏa mãn về chức danh cố vấn tối cao của Hồ Chí Minh mà người ta bổ nhiệm ông để đánh đổi không?

Thế là bao nhiêu thử thách! Người ta tách ông khỏi vợ và các con, giữ như làm con tin ở Annam. Ông phải ra Hà Nội bên cạnh Hồ Chí Minh, tham dự bên cạnh Chủ tịch nước những cuộc mít tinh cách mạng với tên người công dân Vĩnh Thụy. Cố vấn tối cao đã biết lấy giọng chấp nhận nền dân chủ, tỏ rõ ân hận, ra mặt nhiệt tình và Bác Hồ ôm hôn ông thắm thiết trước công chúng.

Bảo Đại vẫn sống ngày này qua ngày khác vì tuy thời trẻ ở Paris, ông tìm lại được mưu mẹo của tổ tiên, khả năng che dấu mình của Châu Á. Nhưng trò chơi thật chặt chẽ! Ông không bao giờ được phản lại mình dù chỉ là một lời nói, một giọng nói, một cử chỉ. "Giải pháp đúng đắn" tai hại của Hồ Chí Minh và ông Giáp vừa sử dụng là làm mất tín nhiệm Bảo Đại biến ông trở thành Vĩnh Thụy. Việc tuyên truyền nào hay hơn chỉ rõ ông vua "tình nguyện" xuống khỏi ngai vàng để liên minh với quyền lợi nhân dân! Nhưng các uỷ viên chính trị đã nói với dân chúng ông ta chỉ là một kẻ phản bội, người ta phải rũ bỏ ông và cả đống mê tín về ông.

Vào mùa xuân 1946 đầu của Bảo Đại vẫn luôn không đắt giá. Giữ nó trên vai là những đội quân của Lư Hán, ông chúa chiến tranh ghê gớm của Vân Nam chiếm đóng Hà Nội, dựa trên một thoả thuận quốc tế và nhân danh Tưởng Giới Thạch. Hồ Chí Minh và ông Giáp biết nếu đụng vào cựu hoàng là tạo cớ cho đội quân thù địch ấy thảm sát quân đỏ và nhấn chìm chế độ nhân dân trong biển máu. Nhưng với sự bảo vệ ấy Bảo Đại trở thành một đối thủ ghê gớm. Bất cứ ngày nào đó, người Trung Hoa cũng có thể nắm lấy ông ta dựng lại làm vua trong lúc họ tự mình chém giết Việt Minh.

Suýt xảy ra bi kịch khi một nhóm người tập hợp nhau dưới sự bảo vệ của quân lính Lư Hán và hô lên: "Bảo Đại muôn năm". Tổng bộ Việt Minh bèn quyết định đưa ông này đến một làng xa. Sau một tháng, chính Hồ Chí Minh bất ngờ đến thăm rất nhẹ nhàng và bao dung. Hôm ấy Bảo Đại làm yên lòng được Việt Minh; họ cho phép ông trở về Hà Nội. Ở đây Hồ Chí Minh và ông Giáp luôn bị đội quân Trung Hoa thô bạo đe dọa, đòi hỏi những khoản tiền, thậm chí họ cử ông đi thương lượng với Lư Hán. Ông lợi dụng lúc ấy điều đình với ông chúa chiến tranh đưa ông đi trên một chiếc máy bay Mỹ.   

Nhiều năm đã trôi qua. Khắp nơi người ta kể rằng Bảo Đại trở về Việt Nam chỉ vì đồng tiền của Pháp. Nhưng nếu ông là một người chỉ mua bằng tiền năm 1946 ông đã nhận lời chào mời của tướng Marshall, đại sứ đặc biệt của Hoa Kỳ bên cạnh Tưởng Giới Thạch. Ngay khi chạy trốn khỏi Hà Nội trên chiếc máy bay vừa hạ cánh ở Nam Kinh, viên tướng đã mời ông đến trụ sở của mình nói chuyện; đề nghị ông phục vụ ý đồ của Mỹ với số tiền công rất lớn. Người Mỹ có nói thêm "Ông đừng quá tham vọng. Việt Nam chỉ là một đất nước nhất thời. Dù sao xứ Bắc Kỳ là một tỉnh phía Nam của Trung Quốc, rồi phải trở về với Trung Quốc". Hoa Kỳ còn tin vào sức mạnh của Trung Hoa Quốc dân đảng, muốn thỏa mãn tất cả những tham vọng của Tưởng Giới Thạch! Họ muốn "mua" Bảo Đại để dễ dàng chia cắt đất nước ông! Về phần mình Hoàng đế trước mắt không có gì nhất là chẳng một hy vọng nào ở người Pháp đang cố gắng điều đình với Việt Minh. Thế nhưng ông trả lời với Marshall "Không" và chọn con đường sống lưu vong ở Hồng Kông, bị mọi người bỏ rơi trong cảnh khốn cùng.

Lời bào chữa này những người theo Bảo Đại nói với tôi nhiều lần. Đúng là Bảo Đại biết giữ đầu của mình; ông đã nhiều lần tỏ ra có khả năng ấy khi mạng sống bị đe dọa. Nhưng như vậy không có nghĩa khi bản thân không còn bị đe dọa, ông đã tỉnh ngộ và không mục ruỗng. Dù thế nào, có những bóng đen quá khứ chứng tỏ ông phụ thuộc vào một loại chủ nghĩa hư vô cơ bản, không có gì đáng làm. Tất cả những gì ông biết làm là phá hoại.

Ngay trước khi trở về Bảo Đại đã có giá rất đắt. Nếu năm 1946 ông từ chối đô-la Mỹ, chắc vì kiêu căng, người ta dành cho ông một vị trí quá nhỏ. Nhưng ông sẵn sàng lấy tiền của người Pháp. Những người này không vì lợi ích của họ sao?


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Một, 2018, 08:17:06 AM

Hai tòng phạm của cao ủy Pháp

Để chơi "lá bài Bảo Đại", Pignon bố trí hai người, Faugère và Cousseau. Thường lệ người ta không thấy họ cùng nhau, họ làm việc riêng rẽ. Vai trò của họ không hoàn toàn giống nhau: Faugère chuẩn bị đất nước cho nhà vua, Cousseau khắc sâu vào trí óc Bảo Đại những bổn phận của ông ta.

Cứ chín giờ sáng, Faugère thong thả nhấm nháp một tách cà phê ở Pagode, phòng trà trên đường Catinat. Ông ngồi một mình trên bàn và với một ngón tay gần như bất động, ra hiệu cho tôi đến với ông. Đấy là một người lai, cứng nhắc và to lớn, một khối tư cách. Hầu hết người lai Âu Á chọn Châu Âu, nhưng Faugère chọn Châu Á, thậm chí theo phong cách cổ nhất. Mọi thái độ của ông là sự nghiêm trang quan lại. Ông nói theo những quy tắc cổ xưa của sự khôn ngoan, thong thả như mỗi chữ là một biểu tượng. Ông thừa nhận đạo Khổng tuy ai cũng biết, là Chánh mật thám Bắc Kỳ, trước đây ông đàn áp ghê gớm. Đúng là có ngày ông tâm sự với tôi tôn giáo cho phép tàn ác, thậm chí áp đặt để giữ vững những luật đạo đức. Faugère tin vào những quy tắc hàng nghìn năm của Châu Á và trật tự không xê dịch của xã hội.

Trong thế giới tuyền thống ấy Faugère biết mọi điều, biết rõ tất cả các trí thức, chức sắc, quan lại. Trí nhớ của ông tuyệt vời; đấy là tập tin sống của Pignon. Khi người ta nêu lên một cái tên Annam, bất kỳ tên nào trong nhiều nghìn, ông nhắm mắt lại như đang ngủ rồi bắt đầu kể lể vô tận những thông tin. Không bao giờ ông nhầm trong nhung nhúc những người, các phả hệ, bà con, những sự việc gay cấn; mỗi lời đều đúng và dứt khoát.

Trong mấy tuần lễ, Faugère bận cho thông báo với các ông búi tó áo dài Việt Nam, Bảo Đại sẽ trở về. Phải hoạt động, họ và gia đình, cho Hoàng đế của họ.

Đôi khi tôi hỏi Faugère:

- Ông nghĩ các ông già Việt Nam ấy thực tâm trong việc đòi hỏi Bảo Đại trở về?

- Họ thực tâm đấy. Một vấn đề sống còn đối với họ. Ông sẽ hiểu điều ấy nếu ông biết rõ làng xóm vùng châu thổ Bắc Kỳ. Không người Pháp nào biết. Tôi đã được nuôi dạy ở đấy, là đứa bé ở truồng ngồi trên lưng trâu. Đó là sức mạnh của tôi. Ở Bắc Kỳ giữa vùng đồng ruộng trống trải thường nổi lên một vệt cây xanh. Đấy là một làng giống như hàng nghìn làng khác. Nó được bảo vệ chống những kẻ làm hại từ bên ngoài bằng một bức tường thành, một hàng rào tre không đi qua được. Hàng bao nhiêu nghìn năm nay không có gì thay đổi. Mỗi làng là một cộng đồng. Lãnh đạo là những "hương chức" được bầu, bảo đảm sự tồn tại của mọi người theo quy tắc đạo đức và tôn trọng thứ bậc. Mỗi người tuân theo tổ tiên, người già, Trời mà Hoàng đế là người can thiệp giúp với thần thánh. Mọi khiếm khuyết đều bị trừng phạt nghiêm khắc vì nó xúc phạm thần linh. Hoàng đế là gốc, là con Trời mang lại nguyên tắc sống. Vì hàng năm ông vạch đường cày đầu tiên trong hoàng cung Huế để rồi mùa màng phát triển trong vương quốc. Hoàng đế được tôn kính đến mức người ta không dám nhìn vào ông. Ông sống trong cung điện cách ly; nếu ai nhìn vào ông sẽ bị xử tử. Rất họa hoằn vua mới ra khỏi cung điện, dân chúng quỳ, mặt úp xuống bụi đường nhưng được nắm trong tay một chiếc gương con để có thể thấy hình ảnh của vua và Trời của mình.

Khi tôi còn bé những phong tục ấy đã hơi lỏng lẻo. Nhưng Việt Minh đã nhấn chìm tất cả những cái đó. Hồ Chí Minh khi cử Bảo Đại làm cố vấn tối cao đã buộc một ông Trời từ bỏ sự linh thiêng của mình. Và do không có Trời tất cả đổ nhào. Trở thành người công dân Vĩnh Thụy, Bảo Đại không chỉ rời bỏ ngai vàng mà cả toàn dân tộc, trật tự linh thiêng, nền nếp hàng nghìn năm của Annam.

- Trong trường hợp đó bây giờ Bảo Đại có thể làm gì?

- Ông ta có thể làm nhiều. Bánh xe đã quay, ông đã thoát ra và Việt Minh đã quá xa. Trong hoạn nạn, dân chúng đồng ruộng nhớ đến Hoàng đế của mình.

Cũng như tôi, năm 1945 tôi tưởng đã mất hết. Những ngày đầu của Cách mạng đỏ, dân quê lo sợ bị Trời trừng phạt. Nhưng không có gì xảy ra và cán bộ chính trị nói: "Bà con thấy đấy, không có thần thánh gì mà chỉ là những ảo tưởng mà thôi". Trời đã mất mặt, những người tin tưởng bỏ rơi Trời. Những ngày lo sợ qua đi, một thời đại vui sướng nổ ra cuối cùng vượt khỏi ách truyền thống tai hại. Các xóm làng tiếp thu được tinh thần tự do; ảnh hưởng của thời đại mới thấm sâu vào lòng mọi người.

Nhưng Việt Minh không chỉ giải phóng con người khỏi gánh nặng của Annam. Họ bắt đầu cuộc đấu tranh giai cấp trong làng xóm. Hương chức, nhà giàu bị lên án; tầng lớp thấp nhất trong nhân dân là đao phủ của họ.

Nhiều người trong số người giàu có, hương chức sống sót nhưng thụ động, sợ hãi, chờ đợi. Họ ở trong làng với đồng ruộng, ẩn náu, không có cách nào thể hiện. Họ không làm gì vì không tin vào quân đội Pháp, bị cho là bất lực. Nhưng họ kiên trì chuẩn bị trả thù. Họ thiết tha theo Bảo Đại, tận tụy cho đến chết với ông nếu ông trở về lãnh đạo cuộc thập tự chinh, một cuộc thánh chiến bằng dao.

Nếu Bảo Đại nắm lấy những thành viên ấy của mình, những người giản dị và hơi kỳ cục, nhất là ở Annam Bắc Kỳ, ông ta còn có thể huy động quần chúng chống lại Việt Minh. Nhưng trước hết, ngay khi trở về ông phải tỏ ra quyết tâm chiến đấu. Nếu ngần ngừ ông sẽ mất hết, nếu muốn ông còn có thể.

- Nhưng Bảo Đại có muốn không?

Faugère đấm nắm tay xuống bàn nói:

- Cousseau và tôi, chúng tôi biết cách buộc ông phải muốn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Một, 2018, 08:17:51 AM

Cousseau, mưu sĩ khác của Pignon là người Tours chính gốc, da mềm, trắng, đôi mắt mơ màng và luôn vội vã. Ông đã hoàn toàn Á châu hóa. Nếu ông nói tiếng Việt sau một cánh cửa, những người da vàng không được báo trước lầm tưởng ông là người trong bọn họ. Ông có vẻ mặt thờ ơ hào hiệp phù hợp với một chúa tể chiến tranh, tiếp nhận được từ thời trẻ sau thế chiến 1914-1918 khi thương thuyết với các tướng và quân vô lại vùng biên giới Trung Hoa về mua bán thuốc phiện và vũ khí. Bây giờ với sức lực tuổi tác, người rất đẫy đà, ông là nhân viên những nhiệm vụ bí mật. Chính ông chỉ đạo những cuộc thương lượng mật. Là một người tính toán bẩm sinh tuy rất trung thực, ông có một nghị lực sắt, có khả năng làm tất cả.

Người Pháp vội vàng phái ông đến Hồng Kông gặp Bảo Đại năm 1947. Ông được lệnh dỗ dành nhanh chóng Hoàng đế; ông bỏ vào việc ấy hơn hai năm. Ông nói với tôi:

"Tôi đã nghĩ sẽ thành công ngay. Bảo Đại cần tiền đến thế! Đấy là một ông vua tầm thường bị hạ bệ, không một xu và chẳng hy vọng gì. Ông ta sống nửa nghèo khổ, phải tìm kiếm đô-la hàng ngày. Nhà băng Đông Dương giúp ông sinh sống với những đợt cho vay nhỏ và để ông làm một số đầu cơ.

Nhưng thực tế là một công việc nặng nề. Tôi đã tới với nhiều triệu nhưng không đủ. Chỉ việc tôi đến - tuy tôi đã cố giấu kín - Bảo Đại lấy lại một giá trị kinh khủng. Một triều đình hình thành xung quanh Hoàng đế, đủ loại người Việt chạy đến làm đầy tớ trung thành. Những mưu mô quốc tế bắt đầu.

Tôi phát hiện ra người Anh đặt trong phòng tôi ở khách sạn một máy ghi âm, loại hiện đại nhất.

Bảo Đại trở lại "cuộc sống xa hoa” và cứ để kéo dài. Tôi đến để nói với ông ta: “Ông phải nắm lấy hoặc không”. Chính ông từ đấy tống tiền tôi. Ông biết người ta càng gắn bó với ông, ông càng cần thiết. Ông nói điều ấy với tôi, giọng đều đều, vừa hút thuốc vừa phác một nụ cười. Tôi nổi giận, ông phớt tỉnh với những suy nghĩ đại loại: “Tại sao tôi không đòi những gì tôi có thể? Toàn bộ công trình của Pignon gắn liền với bản thân tôi”.

Bảo Đại không chỉ tăng thêm những đòi hỏi về tài chính. Ông còn đặt những điều kiện chính trị. Nhiều tháng trôi. Tôi như con thoi giữa Hồng Kông và Sài Gòn đi xin chỉ thị, trở lại với những đề nghị mới, và với tiền, nhiều tiền. Không có kết thúc. Bảo Đại có một sức ỳ đáng sợ. Người ta luôn bảo tôi: “Hoàng đế đang chạy theo cái cô gái. Ngày mai, ngày kia mời ông trở lại.” Tuy vậy khi đã đến bước đường cùng Bảo Đại chấp nhận một số điểm. Nhưng lúc sắp ký thoả thuận ông ta đặt lại vấn đề.

Đã đến lúc khủng hoảng. Ngô Đình Diệm khô khan, một quan lại lớn của Annam vừa Thiên Chúa giáo vừa Khổng giáo đến làm trợ lý cho Bảo Đại. Ông này không khoan dung như những người Việt Nam khác mà là một người xét nét, quyền uy. Ông nhắc nhở Bảo Đại về nhiệm vụ. Ở Hồng Kông ông như một chỉ huy. Bảo Đại ghét nhưng sợ ông, hứa hẹn lần này sẽ theo lời khuyên của ông.

Tôi rất lo lắng. Ông Diệm này chống người Pháp sâu sắc. Mỗi buổi sáng ông đến lãnh sự quán Hoa Kỳ. Người Mỹ đang hăng hái “chống thực dân”, nói với ông ngăn cản Hoàng đế trở về nước. Diệm quở trách Bảo Đại: “Ngài đừng chấp nhận những đề nghị của họ. Ngài sẽ vĩnh viễn bị mất danh dự. Ngài chỉ trở về khi có được nền độc lập thật sự. Không nên làm đầy tớ cho một nền độc lập giả tạo”.

Đã đến lúc rõ sự thật. Tôi nói với Bảo Đại: “Bây giờ ông phải tỏ rõ ông ở về phía nước Pháp hay chống lại”. Tôi đưa cho ông một tối hậu thư. Bảo Đại xiêu lòng. Ông không tín nhiệm Diệm - cuộc gặp mặt cuối cùng giữa hai người thật ghê gớm - rồi ông đi Paris thực hiện “những cam kết” với nước Pháp. Cuối cùng tôi cũng thành công. Tôi đã đưa ông tới chỗ cam kết. Bây giờ ông sẽ “trở về” Việt Nam thực sự của mình.”

- Nhưng ông có chắc Bảo Đại giữ vững những cam kết không?

- Tôi chẳng biết. Nhưng tôi không vất vả ở Hồng Kông để ông ta làm bậy ở đây. Tôi đã biết bắt buộc ông ta. Nếu cần tôi sẽ làm nữa.

Như vậy là đôi Faugère - Cousseau đã sẵn sàng. Hai “khỉ đột” chính trị của ông Pignon đã dự kiến tất cả chuẩn bị hết để buộc Hoàng đế dễ bảo, dù vui lòng hay không. Nhưng người ta nói Bảo Đại cũng đầy căm hận. Ông sẽ trở về với những điều kiện không được hài lòng. Thậm chí ông tuyên bố: “Tôi sẽ bắt người Pháp trả giá đắt”.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Một, 2018, 08:33:40 AM

Bảo Đại trở về nước

Đầu năm 1949 những người của Phái đoàn dân sự gia tăng hoạt động, phải giải quyết mọi việc, đến từng chi tiết, để Hoàng đế người ta chờ đợi không có lý do rút lui, không lùi hơn nữa cuộc trở về. Đây là một cuộc chạy đua với thời gian, một cuộc chiến, một hành động mãnh liệt, ép buộc.

Cousseau, những phái viên khác cũng vậy, quấy rối Bảo Đại ở Cannes, trong các sòng bạc, khắp những nơi ông tới. Trong thời gian đó ở Sài Gòn, Pignon, Bonfils và những cộng sự càng kéo dài giờ làm việc; xanh xao và kiệt sức, họ thảo ra, bỏ đi, sữa chữa, thay đổi các văn bản vô tâm. Bảo Đại chỉ muốn trở về khi thống nhất và độc lập đã viết rõ trên giấy. Đối với ông chỉ mấy chữ cũng đủ, mấy chữ hoàn toàn nhận biết được. Nhưng đối với người Pháp phải hàng nghìn trang quy định, phòng ngừa, giảm nhẹ.

Ngay từ đầu là sự không thống nhất, về khái niệm độc lập. Những người Việt Nam muốn rõ ràng, thực chất, nhưng họ buộc phải chấp nhận bao bọc bởi hàng chục, hàng trăm quy định. Họ nói đây là một cái hộp rỗng người ta cho chúng tôi; bên trong chiếc hộp chẳng có gì cả.

Dù sao cũng có nguyên tắc của nền độc lập. Vì vậy dựa vào sự linh động, những người đàm phán của Bảo Đại và Sài Gòn đành phải chấp nhận những trở ngại người Pháp đặt ra: họ nghĩ sẽ nhanh chóng xóa bỏ sau đó. Một người trong bọn họ tâm sự với tôi: “Nếu người Pháp thông minh hơn, họ không ép buộc chúng tôi nhận những gì chúng tôi không muốn. Vì như vậy sẽ không giữ được. Trong thế giới hiện đại, không có gì mong manh hơn những “cam kết” bó buộc. Khôn ngoan là nên hỏi chúng tôi sẵn lòng cho lại những gì.”

Cuộc chiến từ ngữ kéo dài nhiều tuần. Việc biên tập văn bản - người Pháp và Việt Nam tập hợp lại - dài, chậm và gai góc. Hầu như ở mỗi đoạn đều có sự tách biệt xem ra không bỏ đi được. Dù sao cũng phải kết thúc, nhờ vào ngôn từ lạ lùng về pháp lý - chính trị cho phép che giấu đi mọi lời mâu thuẫn nhau.

Kết quả dù sao cũng là “chiến thắng” trước mắt của Pignon. Vả lại ông không chỉ thắng lợi ở Sài Gòn mà cả ở Pnôm Pênh và Viên Chăn. Ông không chỉ hài lòng về “Bảo Đại hóa” Việt Nam mà lợi dụng cơ hội để xây dựng lại thực thể Đông Dương theo một kiến trúc mới. Tất cả những cái đó giữ vững, bổ sung, chống đỡ nhau. Một nhà báo Annam ở Sài Gòn viết: “Người Pháp lẫn vào bao nhiêu tầng pháp lý như một ngôi chùa Châu Á có bấy nhiêu mái.” Thực tế người ta dựa vào ba “mức độ phòng ngừa” chính - những thỏa thuận hai bên với Việt Nam, Căm-bốt, Lào và thỏa thuận bốn bên với Liên hiệp Pháp.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Một, 2018, 08:36:28 AM

Về cơ bản, nước Pháp ký quy ước tay đôi với mỗi trong ba nước Đông Dương. Những văn bản giống nhau, không thay đổi; chỉ tiêu đề và chữ ký khác nhau. Trong thực tiễn, chế độ dự kiến cho Việt Nam của Bảo Đại được mở ra với Căm-bôt của Sihanouk và Lào của Si Savang Vông.

Cụ thể đấy là “chế độ quy phục” - cho dù từ ấy không được nói ra. Trung Quốc láng giềng - còn là của Tưởng Giới Thạch - vừa bãi bỏ nó sau một thế kỷ đấu tranh quyết liệt chống cái họ gọi là những “hiệp ước bất bình đẳng”. Điều đó không cản trở người ta áp đặt nó ở Việt Nam, Căm-bôt và Lào trong lúc cho họ độc lập.

Trong mỗi nước này người ta tổ chức việc xét xử hỗn hợp cả một hệ thống toà án đặc biệt. Một nửa thẩm phán người da trắng, chỉ một nửa người Da vàng. Đấy là để xét xử công bằng người Pháp và cả người Trung Hoa: Người ta giữ một Sở mật thám đặc biệt của Pháp bên cạnh sở cảnh sát quốc gia chuyển cho Nhà nước độc lập. Người ta nắm sở Hối đoái khống chế hoàn toàn đời sống kinh tế, nắm toàn bộ việc chỉ huy quân sự, Đội quân viễn chinh cùng những hội đồng chiến tranh và việc trưng tập, trưng dụng, để lại một bộ phận cho Nhà nước. Quyền đại diện quốc tế bị hạn chế; ngay cả Việt Nam cũng chỉ có ba phái đoàn ngoại giao trên thế giới và phải hoạt động “nhịp nhàng” với đoàn ngoại giao Pháp. Sự câu nệ pháp lý đi xa đến mức nước Pháp và Việt Nam giữ một quy ước toàn phần ở Viện Hải dương học Nha Trang - một cơ sở chỉ khoảng vài chục hộc cá.

Như vậy là mỗi quốc gia “phối hợp” riêng rẽ với Pháp trong sự cần thiết về công việc của mình. Điều đó không đủ, trong một số lĩnh vực Pignon cũng muốn gắn kết ba quốc gia thành một khối với chính quốc trong tổ chức “bốn bên”.

Vấn đề là cứu vớt quan niệm về xứ Đông Dương, do chính nước Pháp tạo ra trong việc chinh phục, bố trí cùng nhau trên bản đồ với màu hồng thuộc địa của mình, ba vương quốc khinh ghét nhau: Việt Nam lúc ấy gọi là Annam, Căm-bôt và Lào. Đây là một sự đồng hóa quá đáng trái tự nhiên, dùng sức mạnh tập hợp các dân tộc đối nghịch nhau về nòi giống cũng như về tôn giáo và văn hóa - Việt Nam từ truyền thống Trung Hoa, Căm-bốt và Lào từ vũ trụ Hindou. Tuy vậy xứ Đông Dương thuộc Pháp do hệ thống các toàn quyền lãnh đạo, đã có một thành công đáng kể, ít nhất về những giá trị và về khai thác kinh tế. Thậm chí đây là “thuộc địa kiểu mẫu”.

Nhưng đến năm 1948 khi sự thống trị của Pháp chính thức biến mất, xứ Đông Dương tan vỡ. Mỗi nước thành viên chỉ nghĩ đến chia tay, trở lại một quốc gia riêng rẽ, toàn vẹn với nền tự chủ của mình. Phái đoàn dân sự không muốn việc tách rời hoàn toàn ấy. Một hôm người phó của Pignon thống thiết chỉ cho tôi trên bản đồ khối Đông Dương vừa nói: “Nếu khối hợp nhất này tự tách ra, sẽ là thụt lùi đến hai thế kỷ, sự kết thúc công trình của chúng tôi, cảnh lộn xộn. Đây là một thân thể sống được tưới bằng những luồng hàng hóa và tiền bạc chúng tôi tạo ra. Lúa gạo Nam Kỳ đưa cứu trợ Bắc Kỳ. Những trợ cấp của Ngân khố chung cho phép nước Lào quá nghèo tồn tại. Đồng bạc Nhà băng Đông Dương điều hòa guồng máy tuyệt vời này. Về mặt chính trị chúng tôi buộc phải chấp nhận sự chia cắt. Nhưng về kinh tế dù hoàn cảnh nào chúng tôi cũng phải giữ vững sự thống nhất. Trong nội bộ Đông Dương không nên có nhiều đồng tiền quốc gia, những hàng rào thuế quan, đủ loại tấm ngăn cản trở sự đi lại tự do của người, vốn và sản phẩm. Nước Pháp sẽ hợp nhất với Annam, Căm-bôt và Lào để bảo vệ một sự thịnh vượng chung.”


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Một, 2018, 08:38:51 AM

Tổ chức “bốn bên” là sự kéo dài Đông Dương dưới một dạng gián tiếp. Đối với nước Pháp đấy cũng là cách hiện diện thực tế mặc dù có những nước độc lập: là sức mạnh bảo trợ, Pháp hình thành với ba lực lượng bản địa một liên hiệp vì lợi ích chung. Khoảng cách không thành vấn đề nữa. Tuy nước Pháp cách xa mười hai nghìn cây số nhưng là thành viên thứ tư, thành viên chính trong một loại liên bang Đông Dương.

Hiệu quả vô cùng rộng lớn. Người ta đặt ra một đồng tiền chung, không còn là đồng bạc Đông Dương bị phê phán quá “thực dân” mà một đồng bạc mới. Người ta cũng đặt ra những thuế quan chung, công trình công cộng chung. Mọi việc cần thiết được hùn vốn chung. Và để quản lý tất cả những cái đó, người ta tạo những cơ quan bốn bên có nước Pháp và ba quốc gia.

Không thể tả hết những bất bình và tiếng kêu la do hệ thống kỳ cục này gây ra. Người Việt Nam, Căm-bốt, Lào đều nổi giận đối với người Pháp. Tất cả đều lên án Pháp “gian lận”, mánh khoé giật nốt của họ những đặc quyền chính về chủ quyền. Họ nói: “Nước Pháp nắm giữ kinh tế. Những nước chúng tôi vẫn là những mầm non không bao giờ kết thúc”. Nhưng họ còn quá chán nản đối với nhau. Bao nhiêu tranh cãi để chia nhau chiến lợi phẩm - sự hoạt động của Ngân khố chung trước đây! Nhất là tranh cãi về phân phối trách nhiệm và tiền lãi những công trình mới. Người Việt Nam, với tầm quan trọng đất đai và dân số của họ, đòi hỏi phần lớn hơn. Người Căm-bốt và Lào dựa vào nguyên tắc đồng đều giữa các quốc gia, cũng muốn có phần như thế.

Một sự lộn xộn không gỡ nổi. Phải thương lượng nhiều tháng để biết sẽ đặt các cơ quan bốn bên ở đâu. Người ta phân phối: Viện Phát hành, công trình phức tạp trên thế giới được bố trí ở Pnôm Pênh, thủ đô Căm-bôt. Vì đây là những cơ quan có máy móc đồ sộ. Nơi trước kia chỉ vài công chức của Sở Quản lý Đông Dương, người ta bố trí những ban tham mưu về kỹ thuật, được đối xử tuyệt vời, xây dựng cho họ những lâu đài, nơi họ chỉ việc giết thì giờ. Không có gì hoạt động lâu và biến mất nhanh như thế.

Những khó khăn của “bốn bên” càng nặng nề vì tăng thêm số nhân viên nhàn rỗi. Quý ông người Pháp “có tư thế’ đến từ Paris để giữ những vị trí quan trọng. Nhưng cũng còn nhiều chỗ cho các vị da vàng. Họ nhận thấy việc phân chia “bánh” đúng mức là một bước tiến lớn đến nền độc lập.

Vả lại những đối xử tương tự dẫn các quốc gia Đông Dương vào khối “Liên hiệp Pháp” không mấy nhăn nhó. Nhiều nhân vật Châu Á của Sài Gòn, Pnôm Pênh và Viên Chăn muốn sang Paris làm thành viên Hội đồng hoặc Hội đồng cấp cao, sống giữa nước Pháp với những thú vui và vinh dự, kinh phí của “nữ hoàng”. Những nhà “quốc gia” nghiêm khắc lên tiếng phản đối theo lý luận nhưng những người biết điều cho rằng tham gia vào một công việc vô hại như thế không phải là phản bội. Miễn rằng trong các diễn văn, nói về nền “độc lập trong khối Liên hiệp Pháp” không nhấn mạnh, tránh cho từ ngữ này có thể chứa đựng những mâu thuẫn. Đấy là một lối hành văn.

Tất cả những cái đó - những hiệp ước tay đôi với ba quốc gia, hiệp ước bốn bên, khối Liên hiệp Pháp - Pignon và Bonfils xây dựng với Bảo Đại, gặp trở ngại. Vì nếu Hoàng đế không trở về ngay họ sẽ có một cảnh trí trống rỗng. Sihanouk hoặc nước của họ quá nhỏ, chỉ đóng vai phụ. Trong việc xây dựng mới mọi việc tùy thuộc vào Việt Nam và do đó vào con người họ đã chọn. Trước đó, ngay trước khi trở về, Bảo Đại đã không thay thế được.

Tất cả vấn đề là nắm gấp lấy ông ta nhưng họ đã gặp phải một vòng luẩn quẩn. Phải hoàn thành các văn bản để Bảo Đại chịu về nước. Thế mà chỉ có sự hiện diện của ông ta mới bảo tồn được văn bản, làm cho chúng có giá trị. Người ta ở trong một tình thế mà không có ông, tất cả đều hư không.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Một, 2018, 08:41:49 AM

Mùa xuân 1949, Paris nổi nóng, đòi Pignon giải thích. Bảo Đại tiếp tục nghỉ ngơi thoải mái ở Bờ biển Xanh, chơi những canh bạc lớn ở các sòng bạc. Ở Sài Gòn các quan chức hành chính giận điên người. Họ “cẩu thả” trong nhiệm vụ, dùng mưu kế trốn tránh. Vì những thỏa thuận với Việt Nam đặt điều kiện cho tất cả, những ký kết với Căm-bôt, Lào và bốn bên. Vì Bảo Đại vẫn không có mặt và phải có một đối tượng để điều đình và ký, người ta lấy Chính phủ Nam Kỳ làm Chính phủ lâm thời của Việt Nam. Thậm chí để đánh dấu sự thay đổi người ta đưa lên một người lãnh đạo mới. Tướng Xuân thay thế Hữu. Việc ấy lại thêm một phức tạp - viên tướng thấy Hoàng đế trở về cũng chẳng còn lợi ích gì và nghĩ đến một nền cộng hòa do ông lãnh đạo.

Cuối cùng Phái đoàn dân sự kết thúc nỗi thống khổ dai dẳng, hoàn thành những hiệp ước với Việt Nam, chỉ còn việc ký. Việc ấy tiến hành trong một loạt lễ tiết trong tòa Thị chính Sài Gòn - một chiếc bánh ngọt bằng đá trắng, một bánh, có kem, lối kiến trúc gô-tích với họa tiết trang trí vây quanh của năm 1900. Chính trong sản phẩm kỳ cục này của chế độ thực dân “thời kỳ hoàng kim” nền độc lập được sản sinh.

Một nghi lễ ngoại giao giả tạo càng in đậm sự khốn khổ của những “giờ lịch sử” này. Đấy là việc treo cờ tưng bừng; ngôi nhà như bao bọc bởi những lá cờ Pháp và Việt Nam to tướng. Đấy là vẻ huy hoàng quân sự: quảng trường thành phố đầy nhân viên thắt đai khắp mình, tay cầm tiểu liên, những đội kèn đồng mặc lễ phục, những phân đội danh dự bồng súng chào. Nhưng bên trong ngôi nhà, ở gian phòng lớn tầng một chỉ khoảng một trăm người da trắng hoặc da vàng, vẫn là những người ấy - các nhân vật chính quyền. Thế giới này tẻ nhạt. Những người Pháp, các nhà cai trị hoặc các tướng mặc lễ phục, dân sự mặc áo quần trắng thêu cành nguyệt quế, quân sự là cây sồi. Họ chúc mừng nhau rất khiêm tốn. Pignon mệt mỏi, Bonfils cáu kỉnh. Những người Việt Nam, tất cả là bộ trưởng hoặc nhân viên cao cấp, mặc quần áo comple. Họ nhiệt tình giả dối, đầy ẩn ý. Phần lớn đứng tách riêng, đứng đắn và bối rối; họ chẳng hào hứng gì về nền độc lập hạn chế cũng như về Hoàng đế được chờ đợi.

Vài tiếng cọ xát nữa trên giấy, những lần đóng dấu những đợt vỗ tay rời rạc: đấy là độc lập. Pignon nói mấy lời hài lòng. Các diễn giả Việt Nam thể hiện những bài nói có những từ tối nghĩa, được tính toán kỹ. Thay vì ca ngợi sự “hoàn hảo” của các hiệp ước, họ nói về sự “có thể hoàn hảo”. Như vậy có nghĩa, với lễ phép Phương Đông, họ đã ký vì sức mạnh chứ không vì tinh thần tự nguyện. Và đó là quan điểm của “những người hợp tác”!

Nhưng nhất là sự thờ ơ của thành phố, của toàn dân chúng Sài Gòn. Nhân dân không biết, không muốn biết việc gì đang xảy ra trong tòa thị chính, như nền độc lập theo lối Bảo Đại không liên quan gì đến họ, họ tiếp tục cuộc sống như mọi ngày - thậm chí Việt Minh cũng không có chỉ thị quấy rối. Chẳng có gì xảy ra. Một người Việt Nam nói với tôi: “Biểu tình chống hư không làm gì?”

Ít nhất Pignon cũng sắp “sờ đến” Bảo Đại. Đã định được một ngày nắm ông ta. Đến giờ chót một khó khăn bất ngờ thiếu chút nữa làm hỏng cả kịch bản. Thật ái ngại!

Bảo Đại đã chuẩn bị hành lý ở Bờ biển Xanh. Ở Sài Gòn chỉ còn một thể thức cần hoàn thành bãi bỏ quy chế thuộc địa của Nam Kỳ. Các nhà cai trị phát hiện ra rằng, theo Hiến pháp nước Pháp, một Hội đồng Nam Kỳ được bầu dân chủ phải tuyên bố nguyện vọng của xứ Nam Kỳ không muốn là một lãnh thổ Pháp nữa qua một cuộc bỏ phiếu long trọng. Hội đồng ấy không có. Pignon vội vã tạo ra từ một mớ tạp nham. Cuối cùng cũng bỏ phiếu, ngay trong ngày Hoàng đế chuẩn bị lên máy bay. Lúc đó một luật sư láu cá, người xứ Corse, một người cũ của thuộc địa, thông báo ông sẽ kiện lên Thượng viện: Cơ quan xác nhận sự chia tay của xứ Nam Kỳ không có thường xuyên. Nếu người ấy thực hiện lời đe dọa thì sẽ là một vụ bê bối và Bảo Đại thu xếp vali sẽ không trở về nữa.

Pignon triệu tập viên luật sư xảo quyệt. Ông cho ông kia một triệu đồng đổi lấy cái đơn kiện. Người kia chỉ chờ có thế, chấp nhận. Nhưng không có đủ tiền để tranh thủ mối lợi bất ngờ. Trong lúc Bảo Đại bay về mảnh đất của tổ tiên, ông đưa bán tại Sài Gòn những cước phí vận chuyển cho những người trả giá cao nhất. Bảo Đại đã có thể trở về như thế đấy!


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Một, 2018, 08:42:36 AM

Cuộc trở về kỳ lạ! Tác động đầu tiên là mở ra niềm say mê cuộc chơi. Nhân dân Sài Gòn bỗng nhiên quan tâm đến Hoàng đế của mình; ông tạo cho họ có dịp cá độ. Có những người bỏ ra hàng chục triệu đồng đánh cuộc về những điểm bí mật, ngày, giờ, phút Hoàng đế sẽ đến, nơi ông hạ cánh, phương tiện xe cộ ông sẽ dùng. Những người hiếm hoi dự kiến Bảo Đại sẽ đi máy bay Dakota ngày 27 tháng tư năm 1949, hạ cánh lúc mười một giờ ba mươi phút sáng, tại sân bay Đà Lạt, đã thắng được những số tiền khổng lồ. Thực vậy, có ai nghĩ thay vì long trọng bước vào thành phố sang trọng Sài Gòn của mình, Bảo Đại có thể “mưu toan” một cuộc trở về gần như bí mật? Thế mà bỏ chuyến bay thường lệ ở Singapore, ông thuê một máy bay đặc biệt đưa ông tới vùng núi, giữa miền vắng lặng Cao Nguyên, xa tất cả.

Việc đó bắt đầu không hay. Đối với toàn Việt Nam cách lựa chọn Đà Lạt có nghĩa: “Tôi rửa tay về những gì đã qua.” Việc cách ly bản thân mình, xa những thành phố lớn, xa những đám đông, xa nhân dân là công khai từ chối trước vai trò người Pháp chờ đợi ở ông. Họ những muốn một Bảo Đại hoàn toàn hợp tác, hạ cánh ở Sài Gòn, bố trí ở đó và làm việc tay trong tay với Pignon và phái đoàn của ông này. Nhưng Bảo Đại thoát khỏi họ với lời nói đơn giản: “Tôi không bao giờ ở Sài Gòn chừng nào tôi chưa có lâu đài Norodom. Không phải cao uỷ mà tôi ở đó. Tôi không muốn là người chủ thứ hai ở nước tôi, trong thủ đô của tôi”. Đấy là một tiếng “không” không thể bác bỏ. Vì hơn bao giờ hết ngôi nhà cũ huy hoàng đối với toàn Việt Nam, là biểu tượng thực sự của Chủ quyền: người ở đấy là người chủ đất nước.

Điều đó kéo dài mãi. Cho đến khi cuộc chiến tranh kết thúc, hàng năm những người Việt Nam đều đòi lại lâu đài Norodom luôn luôn quyết liệt, nhưng người Pháp không nhường bước. Lá cờ tam tài phất phới bay ở đó cho đến khi thất bại ở Điện Biên Phủ. Nếu đấy là lá cờ Việt Nam, tiến trình chiến tranh có thể đã thay đổi. Nhưng năm 1949, Bảo Đại rất hài lòng có cớ tránh né.

Dù sao chưa bao giờ có một người tỏ ra khó chịu đến thế. Như Bảo Đại, khi bước xuống từ chiếc Dakota ở sân bay Đà Lạt - một khoảng rừng thưa ở miền núi. Ông Bảo Đại này ngay trước khi đặt chân xuống đất, còn trên những bậc thang đã là hiện thân của sự chán nản. Tôi chỉ trông thấy đôi kính râm to lớn và chiếc mũ thực dân, vẻ ngoài phù hợp hoàn toàn với một hình ảnh thời thượng của cuộc săn bắn thuộc địa. Sau đó tôi nhận ra một mẫu khuôn mặt béo và tròn đôi môi dày, mũi tẹt như được tạc vào một củ khoai tây. Thế thôi.

Những bước đi đầu tiên trên quê hương, Bảo Đại tiến lên một cách máy móc, thậm chí không thèm nhìn. Ông không thấy lá cờ hoàng gia giống như mấy nét hoàng đới, cũng không thấy những toán cứng đờ “bồng súng chào”, hàng “chức sắc” áo dài, khúm núm cúi người và nhóm nhỏ bạn bè thân tín như Giáo, người quản gia, đều ăn mặc theo lối quan lại. Ông càng không thấy, bên trong nhà ga, cao uỷ Pháp đọc một diễn văn chào mừng. Ông trả lời với giọng nói mất tiếng, vẻ uể oải chính là sự ngạo mạn.

Trong mấy phút mọi việc kết thúc. Hoàng đế chui vào một chiếc li-mu-din lớn đưa ông về biệt thự của mình, cách xa núi rừng. Như là ông đến để rồi biến mất.

Tất cả diễn biến như không “thật”. Và tôi giữ cảm giác không thật ấy rất lâu.

Hôm ấy tôi hỏi Faugère và Cousseau liệu họ còn hy vọng không. Họ mỉm cười bực mình trả lời:

- Rồi sẽ khó đấy.

Vậy là phải chơi “lá bài Bảo Đại” với một ông vua không thích. Và việc đó ngay vào lúc tướng Revers sang Đông Dương để chứng tỏ lá bài đó chẳng có giá trị gì. Phần lớn tỏ ra phức tạp nhưng Pignon luôn quyết tâm, thậm chí say mê chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Một, 2018, 06:54:53 PM

Chương II
CUỘC CHIẾN TRANH DU KÍCH



Những cuộc chiến tranh du kích ở Đông Dương kéo dài tám năm, không có những trận đánh lớn, không mặt trận, không mục tiêu quyết định, không tất cả những gì thường có của một cuộc chiến tranh. Đây là cốt lõi của Đông Dương cho đến Điện Biên Phủ. Nhưng qua thời gian người ta dần dần ít nói đến, gần như quên đi; trên báo chí thường dành chỗ cho cuộc chiến tranh nói chung.

Vì từ năm 1950 khi những sư đoàn của ông Giáp xuất hiện từ “khu tứ giác” phá vỡ đường Quốc lộ 4 tràn về Hà Nội, về châu thổ Bắc Kỳ, về phía Nam thì cũng bắt đầu có cuộc chiến tranh thực sự. Cuộc chiến tranh này có mặt trận, những trận đánh, những cuộc tấn công, một hậu cần, một chiến lược vận dụng cho rừng núi và đồng bằng. Rồi sẽ là Vĩnh Yên, Sông Đáy, Sông Đà, Na Sầm, Luang Prabang và Điện Biên Phủ.

Nhưng cuộc chiến tranh này chỉ thêm vào những cuộc chiến du kích vẫn tiếp tục ở khắp nơi. Cho đến thời kỳ cuối người Pháp phải dành bốn phần trăm quân số để giữ đất chống du kích. Đội quân viễn chinh bị nghiền nhuyễn rải ra trên Đông Dương, phân huỷ thành những cục nhỏ tản mác trong lòng chiến tranh du kích.

Vận mệnh của Đông Dương do sự bất lực của người Pháp trong cuộc chiến tranh chống du kích, sẽ kéo theo phần còn lại. Sa lầy khắp nơi, họ không “giải thoát” được một lực lượng tấn công cần thiết; chỉ mấy trăm tiểu đoàn và đội cơ động chống chọi với quân đội ông Giáp mỗi lẫn càng mạnh hơn và đánh vào chỗ họ muốn. Nhờ “phép lạ” quân Pháp còn trụ thêm được mấy năm rồi sẽ là thảm họa không tránh khỏi.

Chưa đến lúc đó. Các sư đoàn của ông Giáp vẫn chưa ra khỏi căn cứ. Trung Quốc đỏ chưa áp sát Bắc Kỳ. Những năm 1948 và 1949 thậm chí còn là những năm may mắn cuối cùng. Đội quân viễn chinh trong một nỗ lực rất lớn được sử dụng để thanh toán quân du kích trước khi đã quá chậm.

Người ta có thể nghĩ người Pháp sắp thành công nhưng rốt cuộc họ thất bại. Họ buộc phải thất bại. Điều bây giờ tôi muốn chỉ rõ, qua những câu chuyện sống, một cuộc chiến tranh du kích là bất diệt khi nó nằm giữa nhân dân như một con cá trong nước. Tôi miêu tả cuộc “chiến tranh cách mạng”.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Một, 2018, 06:56:23 PM

Về sự tàn bạo

Chiến tranh du kích không chỉ là nghệ thuật đánh nhau. Phải từ những lập luận biện chứng đi đến những “giải pháp đúng đắn” nhằm thống trị toàn bộ, tạo ra khối quần chúng có ý thức chính trị phục vụ lợi ích cách mạng, là chỗ dựa của cuộc chiến tranh du kích.

Kỹ thuật ấy dựa vào cơ sở tàn bạo lạnh lùng, từ nay là cuộc sống bình thường trên toàn Đông Dương. Người ta không thoát khỏi, nó ở trên không, lan rộng cả trong những người Pháp. Để chống du kích quân Pháp cũng áp dụng những quy luật này. Hạ bỏ là cần thiết và nó đúng một phần. Nhưng cũng có sự thích thú lây nhiễm. Cuối cùng là một căn bệnh tâm thần, những người bình thường nhất cũng có thể bị mắc phải.

Tôi đã sống trong lề thói chiến tranh du kích ở Hóc Môn. Thật kinh khủng nhưng có vẻ bình thường đối với mọi người, ở đây tôi quen biết một cặp vợ chồng người Pháp, đã quện với nỗi kinh hoàng, thành thói quen, sở thích, tuy vẫn là cặp vợ chồng mẫu mực những “người tử tế của phía chúng ta”.

Điều này xảy ra gần như trong một vùng ngoại ô Sài Gòn, cách thủ đô đúng mười sáu cây số, ở Hóc Môn. Nhìn bề ngoài đây là một thị trấn thuộc địa của Nam Kỳ như bao thị trấn khác, ngủ trong nóng nực và buồn chán. Thực ra đây là địa ngục của chiến tranh du kích và chống du kích. Gần như bị bao vây. Xung quanh lởn vởn những chi đội của Nguyễn Bình. Đã hai năm nay nửa lữ đoàn thứ 13 lê dương cố gắng đẩy lùi họ không được. Các chi đội này hầu như không thể nắm bắt, họ có những chỗ ẩn náu ngay gần đấy nhưng không chiếm được. Một phía Đồng Tháp Mười vươn tận đó. Phía khác núi rừng tiến đến Thủ Dầu Một, cách mấy cây số. Sát nách là Sài Gòn, nơi các nhà lãnh đạo Việt Minh bị săn đuổi, cải trang đủ cách.

Cuộc chiến ở Hóc Môn rất quyết liệt, vì thế thị trấn này chiếm một vị trí chiến lược sống còn, khống chế con đường lớn đi PnômPênh nằm trên một dải đất hẹp giữa vùng đầm lầy và rừng núi.

Tôi là khách của vợ chồng ông C... đại diện thống trị, hai mươi sáu tuổi, người rắn chắc, nhỏ và gân guốc, khuôn mặt hơi tròn có đôi mắt sắc, đa nghi. Muốn tỏ ra khắc nghiệt ông mặc thế nào cũng được, áo quần kaki, hét lên nhưng giọng vẫn mang dáng dấp của khu Latinh (Pháp) và lịch sự. Chàng trai trẻ này chỉ huy cuộc chiến với nhiều trăm binh lính nguỵ, bên cạnh đội lê dương.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Một, 2018, 06:57:02 PM

C... ở trong ngôi nhà một tầng ở rìa thành phố. Súng đạn rải khắp đồ đạc bụi bậm. Trong phòng ăn, bàn được bố trí rất tốt, đầy đủ cốc chén bát đĩa nhưng sứt mẻ. Bữa ăn thịnh soạn, nhiều thức uống. Nhưng tay chân những người hầu khá bẩn.

Bà C... thanh minh:

- Đây là những tù binh Việt Minh. Chồng tôi muốn thí nghiệm, lấy họ làm người hầu. Lúc đầu tôi sợ, hình dung không biết lúc nào họ sẽ bóp cổ hoặc đầu độc chúng tôi. Họ có thể dễ dàng làm việc ấy vì chẳng ai canh chừng. Bây giờ   thậm chí tôi không nghĩ họ là ai nữa. Nhưng tôi không bao giờ đưa họ vào nề nếp được.

- Vậy là tôi dự một bữa ăn do lính của Nguyễn Bình chuẩn bị và phục vụ?

Bà C... trả lời “đúng” vừa mỉm cười.

Người quản lý đã đứng tuổi, khuôn mặt xương, thay các món ăn với những cử chỉ tôn kính. Ông ta nguyên là một cán bộ chính trị. Tôi hỏi C... trước đây ông ta đã giết hay sai giết bao nhiêu người Pháp. C... nhún vai:

- Tôi chẳng biết. Điều đó không quan trọng.

Ra phòng khách tôi suýt ngồi lên những quả lựu đạn bỏ quên trên ghế phô tơi. C... phá lên cười:

- Không sao, lựu đạn chưa rút chốt.

Vợ ông lại rất bối rối kêu lên:

- Những anh bồi Việt Minh này thật lơ là; ít nhất họ cũng có thể thu xếp trật tự trong nhà.

Cuộc sống gia đình ở Hóc Môn là như vậy đấy! Vợ chồng C... tiếp tục sống kiểu “tiểu tư sản” trong khu vườn khổ hình của họ. Một sự gộp đôi kỳ lạ! Vợ chồng C... vẫn giữ những nguyên tắc của nước Pháp bảo thủ nhưng đồng thời họ hoàn toàn hòa nhập với kinh hoàng. Đối với họ sự tàn bạo là chuyện vặt.

Họ đã thay đổi qua một thời gian ngắn! Mới cách đấy ba năm C... tốt nghiệp Trường Thuộc địa và là anh chồng trẻ đi sang Đông Dương. Người ta bổ nhiệm anh về bốt Hóc Môn; anh nhận nhưng chẳng biết gì nơi đó, anh ở trong thị trấn với vợ và con. Nhìn ra thì có vẻ đơn giản. Nhưng không hoàn toàn thế. Có một sự khác biệt nhỏ giữa hai vợ chồng, C... hoàn toàn hạnh phúc nhưng vợ thì không, C... yêu thích Hóc Môn, vợ anh không thế; nhưng chị yêu anh, thế là chị cố gắng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Một, 2018, 06:58:21 PM

Bà C... đẹp và bình tĩnh, hơi mập, có những nét đều đặn, da rất trắng. Ở Sài Gòn người ta nói đấy là một “bà thực sự’. Người ta kể cho tôi nghe về cuộc sống của bà, luôn luôn chờ chồng đang đi chém giết. Người ta nói:

- Bà hao mòn đi trong những giờ vô tận ấy. Bà biết C... thiếu khôn ngoan, quá hăng say - có ngày Việt Minh sẽ lột da ông. Bà khắc khoải về những tin chẳng lành nhưng không để lộ ra, thậm chí vẫn tỏ ra không run sợ trong những đêm Việt Minh tấn công Hóc Môn. Không bao giờ bà sợ cho bà, mà chỉ lo cho ông.

Một lần vào lúc hoàng hôn, Việt Minh tấn công vào ngôi nhà họ. C... chưa về, bà tập hợp lính nguỵ đang sợ hãi chỉ huy họ chiến đấu. Việt Minh bắn đại liên và súng cối. Bà C... chỉ huy chiến đấu cho đến lúc ông chồng nghe tiếng nổ, từ xa chạy về nhà tổ chức phản công.

Người ta khuyên tôi không nên nói những chiến công của bà C... với ông chồng; ông không thích một người đàn bà được chú ý. Tôi chỉ hỏi bà chủ nhà:

- Nhưng làm sao bà chịu đựng được không khí Hóc Môn?

- Tôi phải quen thôi. Người ta quen với tất cả, thậm chí như tôi, chưa bao giờ rời khỏi người Pháp. Tôi dành cho cuộc sống này nhưng không say mê như chồng tôi. Tôi không thích sự tàn bạo.

- Đúng là Hóc Môn hơi lạ lùng, C... nói. Dân chúng không chỉ hốt hoảng vì sợ hãi. Qua quá nhiều sự kiện, họ bao giờ cũng căng thẳng, một cuộc sống điên tiết về mọi mặt. Tôi đã hiểu phải là người mạnh nhất, phải ghê gớm với tất cả, ngay trong sự tàn bạo. Nhưng tôi đã mất nhiều thì giờ hơn vào bài học thứ hai: sự tàn bạo ấy phải đúng như một phương trình. Tàn bạo lung tung cũng nguy hại. Phải tính toán.

Trong lúc nói, bà C... đăm đăm nhìn chồng. Rồi không nén được bà cũng nói lên sự thật:

- Anh muốn nói mình bị đầu độc vì môi trường nguy hiểm và điên loạn này. Anh là một người nghiện. Bây giờ những cái đó là sự cần thiết đối với anh.

Bà lấy tôi làm chứng:

- Ngay phía bên kia khu vườn có một vạt đất có rất nhiều bụi cây. Việt Minh luồn vào đấy thả sức bắn vào nhà. Đã bao nhiêu lần tôi đề nghị chồng tôi cho chặt quang cây cối đi. Anh ấy từ chối. Anh cần những loạt đạn của Việt Minh.

C... không bằng lòng, cản lại:

- Vợ tôi sẽ không bao giờ hiểu vấn đề “thể diện”. Tôi không muốn mất cái ít ỏi mà nhiều năm tôi mới đạt được. Tôi mà cho phá những bụi cây, dân chúng ở Hóc Môn sẽ nói ông đại diện sợ và nếu ông ấy đề phòng có nghĩa Việt Minh rất mạnh. Ngược lại, coi khinh những bụi cây ấy, tôi cũng khinh thường Việt Minh, chỉ cho cả thị trấn biết tôi coi họ không ra gì.

Bà C... yên lặng rút lui, để đàn ông lại với nhau. Thế mà C... sắp nói với tôi về một người đàn bà, Thị Bé, trưởng một chi đội, gần như ngang hàng với ông.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Một, 2018, 06:59:26 PM

Chi đội 12 của Thị Bé

Trong mấy tiếng đồng hồ tôi phát hiện ra thế giới hư ảo của Hóc Môn, những chi đội 6 và 12, bà Thị Bé, nửa lữ đoàn thứ 13, những lính lê dương đào ngũ, lính Nhật đánh thuê cho Việt Minh, ông Xích một người ám sát chuyên nghiệp, ông Thuần, con người bình lặng, cả một trò múa rối lớn.

Buổi chiều nóng như lửa đốt. Tiếng rít của những chiếc quạt là máy đo thời gian đều đều. C... đưa tôi vào cơn ác mộng của ông.

Hóc Môn đã luôn luôn đỏ. Chính ở đây, năm 1940 nổ ra cuộc nổi dậy đầu tiên kiểu “quần chúng” ở Đông Dương. Người đại diện Nhà nước thuộc địa lúc ấy lẩn trốn trên tháp nước, dùng chân tay đẩy những chiếc thang tre của dân quê đang trèo lên vung tay phạt. Ông sắp bị băm thành khúc thì đội hiến binh Sài Gòn đến.

Bây giờ là vùng du kích lớn. Xung quanh Hóc Môn, những chi đội 6 và 12 đã có nhiều cộng sản hơn người quốc gia.Chi đội 12 do Hồ Thị Hào, thân mật gọi là Thị Bé chỉ huy, một người bồi cũ khoảng 30 tuổi. Vị nữ tướng vững chắc này ra khỏi hàng quân là một người mập béo. Bó người trong bộ đồng phục màu đen, súng colt dắt thắt lưng và một súng các-bin trên vai, bà bất ngờ xuất hiện trong các làng với đội quân bảo vệ là lính lê dương đào ngũ. Bà cũng xây dựng những đội ám sát để tiến hành những đợt tấn công biệt kích vào ngoại ô Sài Gòn.

Chi đội 12 là một tập đoàn dân lao động hoàn toàn đỏ. Có ban tham mưu, toà án, một đội tuyên truyền, đội chính trị, đội kinh tế, đội an ninh và kèm theo một loạt đại biểu nhân dân. Ở đấy áp dụng một trật tự chặt chẽ mác-xít. Quân lính dù là dân quê buộc phải nhập ngũ hoặc tình nguyện từ giới trí thức, đều do điều lệnh chi phối, tạo họ thành những “người mới” qua tập luyện, những bài hát yêu nước, những mít tinh chiến thắng, sự kiêng nhịn vật chất, nhất là sự giáo dục. Ngày này qua ngày khác các chiến sĩ du kích đỏ lặp lại mười điều lệnh. Hàng ngày họ phải viết vào hai cuốn sổ khác nhau. Cuốn kia họ thú nhận những việc làm trong cuộc sống. Tối đến một “cán bộ” đọc những gì họ viết và ghi nhận xét. Cũng hàng ngày những người trong chi đội họp thành tổ ba người tự phê bình. Một người mới được tuyển quân đến không sờ vào một vũ khí nào, kể cả khẩu súng gỗ trong ba tháng, dành thời gian ấy cho việc giáo dục chính trị. Lòng nhiệt tình ấy lan ra đến những người dân làng bình thường. Họ cũng buộc phải làm điều tốt, chứng cứ là những quyết định của Thị Bé ghi nhận chém đầu những dân quê không biết đọc trong một thời hạn sáu tháng: mù chữ thực ra cũng là một dạng của điều xấu.

Quân đội lê dương không bao giờ biết chắc được chi đội 12. Những sự đề phòng vô biên; tất cả đều quy định thời gian chính xác. Phân tán nhỏ và di chuyển là quy luật an toàn của đơn vị hai nghìn người này. Cứ bốn, năm đêm lại một lần chuyển động. Phía trước, đàn bà, người già và trẻ em “soi đường”, báo hiệu có người nghi vấn và cạm bẫy. Sau lớp vỏ bọc ấy là các hàng quân đi vào đồng ruộng hoặc rừng núi. Đêm tối có tiếng còi hoặc kèn, được chiếu sáng bằng đèn điện thậm chí hỏa tiễn: những tiếng và ánh sáng ấy là dấu hiệu, tất cả thể hiện bằng ngôn ngữ mật với quy ước luôn luôn đổi mới. Thiên nhiên rộn ràng, lúc nhúc như trốn tìm của những trinh sát và lính canh dưới ánh trăng. Đôi khi có những loạt súng nổ, có nghĩa là lính lê dương phục kích tấn công nhưng thường cũng chính họ bị phát hiện và bị tấn công bất ngờ. Hai bên bắn nhau không bao giờ kéo dài. Tất cả lại rơi vào im lặng không hoàn toàn của miền nhiệt đới.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Một, 2018, 07:00:17 PM

Những ngày sau đó quân lính chi đội mặc quần áo thường trở thành những dân quê vô sự, phân tán từng nhóm nhỏ vào các xóm. Mỗi gia đình cung cấp “phần yêu nước”, nghĩa là chiếu và bát gạo họ luôn luôn sẵn sàng cho chiến binh có thể đến. Nhân dân nuôi và cho các “anh hùng” của họ trú ngụ theo hệ thống. Như vậy thì không cần có bộ phận hậu cần. Tuy vậy chi đội vẫn có những kho dự trữ đề phòng bất trắc trong rừng và một căn cứ hậu phương ở vùng đầm lầy. Việc tập luyện quân sự chính quy, những “diễn tập” tấn công đồn bốt và phục kích thực hiện trong một trại ở Đồng Tháp Mười. Vì người ta chết nhiều trong các bệnh xá của đơn vị, những người bị thương quan trọng - những người mạng sống quý giá đối với lợi ích nhân dân như các cán bộ và uỷ viên chính trị - thường được đưa lên Sài Gòn nhờ những thầy thuốc bạn bè chữa trị. Một số còn được đưa vào các bệnh viện Pháp nhờ sự mập mờ khéo léo với danh nghĩa lính nguỵ. Trên tất cả là vũ khí. Việt Minh tự trang bị súng đạn bằng buôn lậu, dựa vào sự tha hoá và giết quân lính địch.

Việc lưu thông vũ khí gần như theo một hướng độc nhất từ người Pháp đến người Việt. Thậm chí Việt Minh có chỉ thị những biện pháp chính để có vũ khí:

Giết lính Pháp để lấy vũ khí: Thường là mục tiêu của những cuộc phục kích, hầu như luôn luôn rất “lãi”. Mới đây việc tiêu diệt một đoàn xe gần Rạch Giá đưa lại cho người Việt một ca-nông, năm đại liên, khoảng năm chục súng trường. Họ cũng thực hiện với mức khiêm tốn hơn. Có những đợt giết lính riêng lẻ để chiếm một khẩu súng ngắn.

- Vận động binh lính địch đào ngũ mang theo súng đạn: Có những đợt truyền đơn vẽ hình hấp dẫn Đội quân viễn chinh: Những binh lính đào ngũ sung sướng nằm nghỉ trên đi văng miệng ngậm xì gà. Bên dưới là ghi chú giải thích: “Chúng tôi tiếp đón các bạn như anh em nếu các bạn mang theo vũ khí”.

- Mua vũ khí và đạn dược với bất cứ giá nào: Chắc chắn lính nguỵ và có lẽ cả một số lính Pháp - muốn có tiền, bán vũ khí của họ. Có một chợ đen ở Sài Gòn chuyên mua bán theo yêu cầu. Một súng tiểu liên được định giá năm nghìn đồng (tám mươi nghìn phrăng Pháp).

- Làm việc với địch để lấy cắp súng đạn: Mọi tầng lớp xã hội được kêu gọi đóng góp phần mình, các hội sinh viên, thư ký đánh máy, những cô gái nhẹ dạ, trẻ em bán rong (bán báo, đánh giầy) đặc biệt đối với những người làm bồi, bếp, lựa chọn họ trong số “tinh ranh và thông minh”. Ở Sài Gòn, “bếp trưởng” một viên chức cao cấp vừa bị bắt đúng lúc bắt đầu một buổi tiệc lớn: ông ta chỉ đạo cả một ban ám sát dưới sự bảo vệ của các đầu bếp trong chính quyền cai trị.

Trong cuộc chiến về vũ khí này Đội quân viễn chinh làm theo khả năng mình. Họ cũng định giá vũ khí mua được, với giá cao hơn giá của Việt Minh. Mọi binh lính nguỵ lấy được một khẩu súng của Việt Minh được một phần thưởng rất lớn. Kết quả của việc ‘thu thập lại” ấy không đạt được gì. Gần đây người Pháp quan tâm nhất là nếu không thể lấy vũ khí của Việt Minh thì đừng đánh mất vũ khí của mình. Bộ tổng tham mưu thường xuyên “đẻ ra” những chỉ thị nhắc nhở nghiêm khắc việc này. Có cả một quy chế rõ ràng, trong một đội, để mất chỉ một tiểu liên sẽ bị điều tra, khiển trách, rất phiền phức. Điều đó làm tê liệt không ít sĩ quan, họ không đưa người đi hành quân nữa, sợ mất vũ khí. Tuy vậy phần lớn các đơn vị có kế hoạch D. Nếu ở chiến trường họ bắt được súng cối hay súng trường của quân đỏ, họ chỉ báo cáo lên trên một phần, còn thì bí mật dự trữ lại. Trước hết là có nhiều vũ khí sử dụng và nhất là có thể thay thế “nhẹ nhàng” những gì biến mất sau này. Tất cả trong cuộc chiến tranh Đông Dương này đều gian lận, kể cả điều tốt cho công việc.

“Mặc dù thế Việt Minh vẫn tiếp tục tự cung cấp vũ khí từ chúng ta. Chúng ta là xưởng sản xuất của họ...”


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Một, 2018, 06:38:03 PM

Những kẻ đào ngũ không có tương lai

- Sáng nay chúng tôi tóm được Pierre rồi.

Một trung uý lê dương hét lên như thế. Ông vừa qua thềm bước vào nhà. Một người to cao còn trẻ tóc hung, mắt ngả màu xanh. Với vẻ hiền từ hoạt bát, thậm chí hảo tâm, viên sĩ quan kể cho chúng tôi nghe hai người trong đại đội ông giết nhau như thế nào: Anh người Đức trung thành thắng anh người Pháp đào ngũ.

Cách đây một tháng Pierre mang theo vũ khí về với Việt Minh. Chúng tôi đuổi theo không được. Sáng nay tôi và quân lính đi cả đoàn xe trên đường Thủ Dầu Một. Hans, bắn súng F.M ngồi trên mái một chiếc xe, thấy lá sen rung rinh ở con lạch gần đấy. Lúc đầu anh tưởng là một con trâu đầm bùn. Bỗng thấy ánh kim khí một khẩu súng trên mặt nước lăn tăn, anh bắn. Một xác chết nổi lên. Đấy là Pierre, đang chuẩn bị “đốt” chúng tôi bằng khẩu tiểu liên mang theo. Chúng tôi thu lại được khẩu súng trong bùn láng của con lạch.

Viên trung uý ra ngoài đi báo với các nhân vật khác của Hóc Môn về tin vui lấy lại danh dự của ông và đại đội.

Nhưng C... không choáng ngợp. Đối với ông đấy chỉ là một việc bình thường trong cuộc chiến tranh ở Hóc Môn. Ông giải thích cho tôi:

- Ông nên biết thực ra ở chi đội 12, các thiện xạ - những người sử dụng súng máy - nói chung là người nước ngoài.

Đầu tiên là thế hệ người Nhật. Vùng này có một trung đội thép Nhật liên minh với Thị Bé lúc Đế quốc Mặt trời mọc sụp đổ. Khi có một khẩu đại liên nguỵ trang dưới những cây dừa bắn vào một đoàn tuần tra Pháp, người ta thấy một sĩ quan của Quân đội Thiên hoàng đứng bên họng súng, đội mũ cứng, đi bốt đen, đang ra lệnh bắn. Hầu hết những người sẵn sàng hung bạo ấy đã chết, tuy rất khác nhau: trên chiến trường, tự sát, cũng có cả bị ám sát nữa.

Những người khác, khoảng ba trăm, được phái đoàn đại uý Becque thu gom lại. Phái đoàn này phái gấp một số sĩ quan Nhật đi kêu gọi những người nổi dậy theo lệnh Nhật hoàng: “Thiên hoàng muốn các anh thôi đánh nhau”.

Bây giờ các “kỹ thuật viên” của chi đội là lính lê dương đào ngũ. Có khoảng mười lăm người, Pháp và Đức. Người Pháp chủ yếu là thợ thủ công. Một người quản lý bệnh viện, một người khác đúc móc-chi-ê, một Marcel Maux nào đó làm bếp trưởng. Người Đức thì làm giáo viên hoặc xạ thủ.

Trong nông thôn Annam lan rộng truyền thuyết về người Âu nổi dậy chống người Âu. Để tác động dân chúng, Việt Minh giới thiệu những kẻ đào ngũ ở những buổi lễ long trọng trong các làng. Sự thật là họ thất vọng cay đắng, sự huỷ hoại, cái chết.

Có những vụ đào ngũ khác “không vụ lợi”, lý tưởng nếu muốn nói. Một số người Đức do căm hận nước Pháp và người Pháp. Một trong bọn họ trong một đêm trở về đến hàng rào bốt anh ở cũ để găm tấm danh thiếp ghi tên thật của anh, nguyên chuẩn uý quân đội Đức.

Nói chung thì đơn giản hơn nhiều. Chỉ là thói thường của sự phiên lưu với nỗi buồn chán, quán rượu, một người vợ và mọi hấp dẫn của Châu Á xa lạ.

Một số đào ngũ “cứng rỏi” chịu đựng được khí hậu, được người Việt tiếp nhận. Một trong bọn họ trở thành con nuôi của Hồ Chí Minh, lấy tên là Hồ Chí Long. Nhưng hầu hết đều là gánh nặng của người sử dụng họ và họ kết thúc khổ sở. Người Việt giữ họ lại cho đến khi chết. Họ không thoát qua rừng sang Thái Lan, xa quá. Cũng không có đường rút lui, để trở về với đội lê dương vì đội quân này xử không thương xót binh lính bỏ sang hàng ngũ địch.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Một, 2018, 06:39:54 PM

Cuộc chiến tranh của ông đại diện

C... bỗng đột ngột ngừng nói. Một ông người Annam kính cẩn gập đôi người đứng trước ông. Không nghe thấy ông ta bước vào. Một nhân vật kỳ lạ gần năm mươi tuổi, khuôn mặt mềm mại, nụ cười trịnh trọng, bó chặt người trong bộ quần áo vải trắng ngả màu vàng, chiếc mũ thuộc địa cầm tay.

- Tôi nghĩ có bổn phận báo với ông đại diện. Hai hương chức trong một làng vừa bị bắt cóc.

- Tốt lắm, ông Thuần. Chúng tôi sẽ đi điều tra. Ông cùng đi với chúng tôi.

- Như vậy quá nhiều vinh hạnh cho kẻ tận tâm nhưng khốn khổ như tôi. Tôi không xứng đáng với đặc ân ấy.

C... hét lên: “Ông sẽ đi”. Người kia bước thụt lùi ra, vừa khổ sở lẩm bẩm: “Vâng, thưa ông đại diện”. C... cười:

- Tên vô lại già này biến sắc mỗi lần tôi đưa theo đi hành quân. Nét xanh xao trên nước da vàng nhìn thật lạ. Tôi muốn ông thấy điều đó.

C... lấy lại vẻ nghiêm nghị:

- Ông Thuần là một người của Phủ Toàn quyền trước kia. Tôi để tay nhân viên văn phòng được đào tạo từ các đời cai trị này làm chánh văn phòng của tôi. Với chức vụ ấy ông ta có thể một mình là vai diễn của pháp luật và dân chủ ở Hóc Môn. Trong lúc mọi người chém giết nhau, ông tỉ mỉ áp dụng nguyên xi mọi quy tắc, cả những quy tắc cách đây năm mươi năm: ông thuộc lòng hết, rất tôn trọng. Nhờ ông tất cả mọi thể thức được thể hiện lên giấy, tránh được cho tôi những rắc rối của Chính quyền Sài Gòn. Vì ở các văn phòng trung ương vẫn còn những viên chức thâm niên làm việc với từng dấu phẩy như thời bình.

Tuy vậy ông đừng tin vào vẻ hiền lành của ông ta. Đấy là một kẻ bất nhân hiểu lợi thế của nền độc lập. Nếu tôi để cho ông làm ông nuốt sống hết dân quê. Một lần có người nông dân đến xin ông tờ giấy thông hành; anh ta đến, quỳ xuống nhưng tay không nắm một xấp bạc. Ông Thuần phúc hậu tuyên bố thẳng thừng: “Anh đứng dậy đi. Tôi không thể bỏ những cái lạy của anh vào tủ két được. Lần sau đến cần mang theo thứ khác”.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Một, 2018, 06:40:28 PM

Trong lúc này ông Thuần đứng ở bậc thềm, hình ảnh một người khổ sở lại hình thành, C... gọi ông lại:

- Này ông, vì sao ông yêu thích Chính phủ Việt Nam của Sài Gòn?

- Tuy tôi ti tiện nhưng tôi rất tán thành Chính phủ ấy. Họ rất tốt với những đầy tớ khiêm tốn của quốc gia như tôi, vừa tăng lương cho viên chức. Đấy là dấu hiệu của một quyền lực sáng suốt.

C... hân hoan hơn bao giờ hết:

- Thưa ông nhà báo, tôi sung sướng được giới thiệu với ông công dân độc nhất của Hóc Môn hài lòng với Chính phủ người ta vừa “sờ tới”. Toàn bộ dân chúng còn lại chẳng kể gì Chính phủ ấy, khó khăn lắm mới ngờ là nó có. Vì các ngài Bộ trưởng không tham gia chiến tranh; trong đất nước này đấy là sự thật duy nhất tôi sẽ chỉ cho ông xem.

C... nai nịch theo lối cao bồi, lớn tiếng ra lệnh. Trong mấy giây là sự chuẩn bị chiến đấu trong ngôi nhà. Ngoài sân, ba xe to đầy lính da vàng vui vẻ, lỉnh kỉnh vũ khí chờ chúng tôi. C...uể oải nói với tôi:

- Vì ông mà tôi mang theo đoàn tùy tùng này. Thường tôi đi một mình. Nhưng tôi sẽ rất phiền phức nếu có điều gì xảy ra với một ai đó trong hàng ngũ các ông!

Chúng tôi đi vào cuộc chiến tranh của ông đại diện. Không phải cuộc chiến tranh lớn chống lại các đơn vị của Nguyễn Bình - đấy là công việc của lữ đoàn bộ binh 13. Đây là cuộc chiến tranh nhỏ chống các ban ám sát và mọi tổ chức quần chúng. Tôi sắp trông thấy những kẻ giết người, mật thám, lính ngụy, biệt kích, quân lính, tháp canh của C... Tôi sẽ phát hiện ông làm thế nào để trả tiền và nuôi sống bao nhiêu người như vậy, cũng xây dựng như Việt Minh, đối đầu với Việt Minh, một “hệ thống” đầy đủ.

Tôi đã nói: Không có ai lương thiện hơn C... Lương ông thấp và ông sống nhờ vào đấy, không có gì hơn, gần như nghèo nàn. Nhưng để cho cuộc chiến tranh “của ông”, ông ít ngần ngại hơn. Nhiệm vụ nặng nề của ông là tìm kiếm tiền và ông đạt được rất tốt. Ông thấm nhuần hoàn hảo quy luật lớn của Châu Á: “Tôi bảo vệ anh, dù anh muốn hay không muốn; thì anh cũng trả tiền”. Bên cạnh cuộc chiến tranh của C... lẫn lộn vào đấy có nền “hòa bình” của ông. Đấy là những con đường vắng ông mở lại, những nhà trường ông xây dựng, những chợ búa ông lập nên. Tất cả lúc nhúc, người, xe cộ, hàng hóa.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Một, 2018, 06:41:03 PM

Chiến tranh, hòa bình là hai mặt bổ sung của cùng một sự thật ấy. Bằng chiến tranh C... làm tăng giá trị của hòa bình; hoà bình ấy tài trợ cho cuộc chiến tranh của ông. Ví dụ, C... cho rằng chính mình, ít nhất cái ông chuyển ngữ gọi là tổ chức an ninh, cho phép buôn bán thịnh vượng. Các thương nhân vậy là phải “trả tiền”. Họ tham gia vào cố gắng chiến tranh của C.... bằng những thuế chợ, lưu thông, cầu đường, bán đấu giá và nhiều biện pháp khác nữa. Tất cả những cái đó là hợp pháp. C... có quyền đặt ra các khoản ấy vì ông là đại diện nền thống trị. Qua đó ông sử dụng, ông lấy. Nghệ thuật là đừng làm người ta phá sản, chỉ lấy bớt phần tài sản của họ. Nếu làm tốt chẳng ai chống đối cả: đấy là đúng và từng người, mỗi thương nhân nhất là nếu họ dồi dào, biết quyền lợi của họ không phải là cãi bướng.

Gương mặt đầu tiên của C... tôi gặp ngay, ở Hóc Môn là của ông Xích. Một cuộc gặp bất ngờ.

Đoàn xe bắt đầu lăn bánh. Tôi ngồi trong chiếc GMS đầu, bên cạnh C... Thuần biến ra sau chiếc xe to, dưới chiếc mũ thuộc địa: nhìn ông chỉ còn là một đống nhỏ co quắp. Thị trấn, vào giờ kiệt sức và mồ hôi. Ở Hóc Môn duy nhất có một người bán phở đẩy chiếc xe vừa là bếp vào bóng mấy cây dừa. Tuy vậy một người khách đang ăn, khua đũa trong bát. Người cao lớn, gân guốc, thê thảm. Tôi nhận ra là một kẻ giết người.

C... nhảy xuống đất, bước tới chỗ người kia. Anh ta nhìn ông lại gần với đôi mắt đen như than, không động đậy. Chỉ khi C... gần như dẫm vào anh mới lơ đãng chào đưa một ngón tay lên chiếc mũ phớt nhăn nhúm.

Các thớ thịt của C... đanh lại. Tôi cảm thấy ông nổi giận và cố nén. Ông nói tiếng Việt với người kia, dằn mạnh, cứng rắn nhưng không to tiếng. Ông đứng cách xa một mét. Anh ta nhìn vào chân ông, vẻ buồn rầu, trả lời miễn cưỡng. Cuối cùng anh ta gật đầu tỏ “đồng ý”.

C... lại với tôi trên xe, tiếp tục đi.

- Nếu là một anh lính ngụy bình thường thì tôi đánh rồi. Lối chào khinh khi của anh ta là một sự xúc phạm. Đối với anh ta tôi không dám. Anh ta quá nguy hiểm, hoàn toàn có khả năng giết tôi ngay tức khắc. Đấy là Xích, giết thuê cho tôi, dân chúng gọi anh ta là Con Hổ, vì cách ám sát lén lút và quyết liệt theo cách của con thú.

- Ông nói gì với anh ta?

- Anh ta không bằng lòng, cho rằng tôi trả công không xứng nhưng thời gian gần đây anh ta chỉ hạ sát những “Việt Minh nhỏ”, dĩ nhiên tôi không trả như những “Việt Minh lớn” được. Chúng tôi đi đến một vụ mới. Tôi sẽ cho anh một phần thưởng đáng kể nếu anh giết một cậu bé mười lăm tuổi. Chính cậu này tham dự mười lăm vụ giết người ở Hóc Môn và vùng xung quanh. Nó thanh toán tất cả những hương chức của tôi.

C... kể lại. Xích trước đây cũng là một đứa trẻ giết người đúng như cậu bé anh sắp phải giết, cũng là một “anh hùng” Việt Minh. Như cậu ấy anh thuộc ban an ninh của chi đội 12, đã thanh toán hàng trăm phản động và một số người Pháp.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Một, 2018, 06:41:49 PM

Một hôm ở văn phòng tôi người chạy giấy báo cáo có một người muốn gặp tôi. Anh ta không nói tên nhưng ông Thuần nhận ra Xích. Tôi để khẩu súng ngắn trong tầm tay và bảo đưa anh ta vào. Xích xin làm việc cho tôi, nói bị Việt Minh đối xử bất công. Tôi không hỏi thêm nhiều, nhận anh ta làm việc.

Lúc đầu anh thực hiện tốt nhiệm vụ, luôn luôn một mình. Hoàng hôn anh ra đi, ăn mặc lối dân quê, mang theo khẩu colt, lựu đạn, con dao. Sau hai, ba ngày anh trở về, hoàn thành công việc được giao.

Sau một lúc im lặng, C... nói thêm:

- Mấy tuần nay Xích có vẻ chán nản. Có cái gì đó đe doạ anh ta. Có lẽ Việt Minh quyết định dùng biện pháp mạnh đối với anh ta chăng? Cũng có thể không phải Việt Minh. Biết bao nhiêu người muốn giết Xích! Anh biết mình bị kết án, nhìn như mặt người chết. Khốn khổ! Lúc nãy tôi đã khó dễ với anh ta. Sống những ngày cuối đời chẳng vui vẻ gì!

Từng phút C... càng làm tôi ngạc nhiên. Đúng là ông bị đầu độc như bà vợ nói. Tất cả những sự việc trên hình như bình thường đối với ông. Ông thật quái gở nhưng vẫn là người tiểu tư sản Pháp gắn với đạo lý và nói hay. Người ta bảo không bao giờ ông tàn bạo vô ích. Tất cả những gì ông làm, cả cái tệ hại nhất, cũng có lý do cụ thể. Lý thuyết của ông là luôn luôn phải phân tích trước khi hành động, lạnh lùng, một cách “khoa học”. Điều đó không cản trở ông có lòng tốt khi có thể. Quân đội xem lính ngụy như những vật dụng. Đối với C... người của ông là những sinh vật sống, những người bạn. Ông thực sự làm những gì có thể đối với họ.

Trong cuộc đi này tôi nhìn rõ những mâu thuẫn ấy trong C... nhưng chính ông không nhận thấy. Đối với ông, xung quanh mình, nhân đạo, nhất là vô nhân đạo, đến cực điểm vẫn như bình thường, không lấy làm lạ nữa.

Con đường đi vào giữa một lối hai trăm mét đã quang hết cây cối. Nhưng giáp với hành lang ấy, những rừng dừa, bụi tre ẩn chứa nhiều đe dọa. Khắp nơi có những vật bị chặt phá, đốt cháy. Hoàn toàn vắng lặng và tôi biết dân quê, trâu bò, cả những chó mèo biến mất không bình thường có nghĩa là gì. Sẽ là cuộc chiến, phục kích - Việt Minh đã có mặt.

Chúng tôi vượt một con suối qua chiếc cầu sửa chữa sơ sài với những mảnh ván và tấm tre. Ngay giữa cầu C... hét lên với tôi: “Bắn đi, F.M bắn đi”. Ông giơ cánh tay chỉ cho tôi mấy dân quê đang chạy trên bờ, cách đấy năm trăm mét, gần ngôi chùa đổ nát. Tôi không bắn, C... nhào lại khẩu súng nhưng không thấy ai nữa. Những người kia đã biến mất trong lau sậy um tùm. C... vẫn nhả một loạt đạn rồi quay lại phía tôi:

- Tại sao ông không bắn? Ngôi chùa cũ kia là nơi ẩn nấp của một toán du kích đặt mìn trên những con đường và mổ bụng các hương chức của tôi. Bao nhiêu đêm tối lội bì bõm trong ruộng cùng ngụy binh đuổi bắt chúng! Và lần này gặp được, chỉ cần bóp cò là “có” chúng!

Tôi bảo C... tôi không thích đổ máu, đó không phải nghề của tôi. Ông rất ngạc nhiên, chằm chằm nhìn tôi trong mấy giây - vì ở Hóc Môn một người không chém giết đúng là một hiện tượng lạ. Lúc ấy tôi mới hiểu sự tế nhị của ông: ông đã nhường niềm vui thích bắn hạ Việt Minh cho tôi, khách mời của ông.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Một, 2018, 02:56:24 PM

Con đường được cắm những tháp canh từng cây số một, C... nói với tôi đấy là do ông cho làm, thấp và chắc chắn, không như cách quân đội đặt cho bọn thầu khoán ăn cắp làm khắp nơi.

Chúng tôi hầu như dừng lại ở từng vọng lâu. Lính ngụy bồng súng chào. C... chào lại. Thật trịnh trọng. Các gia đình quây quần xung quanh. Những người đàn ông nét mặt dữ tợn, mặc quần áo kỳ cục của quân đội Pháp đã lỗi thời. Không đoán được tuổi họ.

Trưởng một tháp canh mang khuôn mặt một tên cướp, có vết sẹo ở mặt, sún răng và chột. Ông cho đội tập dượt. Thật hảm hại. Họ không thạo sử dụng vũ khí, càng không biết đi đều bước. C... nói với tôi:

- Ông đừng tưởng lầm. Đấy là những con sư tử khi đánh nhau, những người bóp cổ Việt Minh thành thục. Tôi đã lựa chọn từng người một, lấy những người chứng minh được Việt Minh đã giết chết nhiều bà con họ, ưu tiên là một ông bố già. Việc báo thù gia đình còn là một điều bảo đảm. Vì vậy tôi không gặp “rắc rối”, trái ngược với bao nhiêu sĩ quan Pháp tuyển mộ tùy tiện; họ nghĩ chỉ cần làm cho lính ngụy giết ẩu tù binh là có thể nắm chắc được binh lính. Thật ngây ngô!

Mỗi quân lính của tôi chém Việt Minh không tính toán, không ân hận, cũng như tôi. Đấy chỉ là nghề. Tay cướp cũ sử dụng một con dao mẻ. Một ông bố tốt nhưng khi đánh nhau, hắn là một kẻ điên. Một lần hàng rào tháp canh bị phá, bản thân ông ta ngã xuống giữa các xác chết, mặt bị mất một nửa, ông ta bỗng đứng dậy ngay giữa chỗ bị phá, hét lên như loạn thần kinh, cầm khẩu tiểu liên tôi tặng ông xả đạn vào Việt Minh.

Nói ra cũng lạ, điều gắn bó những con người ấy với tôi là một loại tình thương yêu.

Dù sao, C... cũng rất tuyệt, vừa hảo tâm vừa quan trọng. Ông an ủi anh bạn, tay kẻ cướp đang phàn nàn người ta cung cấp đạn không đúng cỡ nòng súng. Lính ngụy nói chuyện vui vẻ. Các bà vợ đi thổi cơm. Bọn nhóc trần truồng đội mũ lính lên đầu. Đây là một cảnh hạnh phúc. Thế nhưng người ta trả lương khổ sở cho họ, vừa đủ sống với một ít gạo và cá khô. Và rồi tôi biết - C... biết - tháp canh sẽ bị hạ qua một đợt tấn công nghiêm túc, không bảo vệ được và chẳng có ai đến cứu.

C... cho rằng những người này và vợ con họ có được một “chỗ tốt”.

- Đây là những người được gia ân. Tôi có nhiều người tình nguyện. Theo tiêu chuẩn của Châu Á, phải chăng được bảo đảm ăn uống và không làm gì nhiều là tuyệt vời rồi sao? Còn cái chết họ không nghĩ đến, họ có ăn đã. Họ không dự định sống mãi mãi. Họ chỉ yêu cầu một ít quyền lợi, một ít tình thương. Điều đó tôi cho họ.

Triết lý của C... là như vậy. Chắc ông có lý. Ông chưa bị giết, đó là chứng cứ ông nhìn nhận đúng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Một, 2018, 02:58:01 PM

Đoàn xe lại lên đường - vùng hoang vắng thê thảm được tạo ra giữa sự phong phú nhiệt đới. C... nói với tôi về kỹ thuật.

- Chiến tranh du kích dạy cho mình. Ông thấy những khu rừng tán đen kia. Lúc đầu vì thiếu kinh nghiệm tôi suýt chết ở đấy. Tôi thực hiện cuộc tấn công chớp nhoáng đầu tiên vào đó chống một ban ám sát. Tôi đi đầu toán lính ngụy. Bỗng nhiên tôi còn lại một mình, đối mặt với Việt Minh ào tới khắp nơi. Vắt chân lên cổ, tôi lao vào gai, chạy nhiều cây số, phần người bên dưới rách nát vì gai.

Tôi chửi rủa người của tôi đã bỏ rơi tôi. Lê lết như sắp chết đến bốt gần nhất, tôi thấy tất cả bọn họ ở đấy chờ tôi!

Điều đã xảy ra rất đơn giản. Lính ngụy của tôi muốn bất ngờ bóp cổ Việt Minh. Đến một lúc họ nhận thấy Việt Minh đã phát hiện ra họ, thay vì giết quân địch chính họ sẽ rơi vào bẫy và sẽ bị giết. Trường hợp ấy chiến thuật duy nhất là tản ra, bỏ chạy. Chỉ tôi là không hiểu.

Tôi kể câu chuyện này để ông hiểu quan hệ của tôi với người của tôi. Họ thực sự trở thành những người bạn sau nhiều tháng, khi tôi cuối cùng đã nắm được xu hướng cuộc chiến tranh Châu Á - tuyệt đối vụ lợi.

Người ta nói về thuyết định mệnh Phương Đông. Đúng là cuộc sống hầu như không có giá trị gì. Nhưng cũng tồn tại món hàng duy nhất, đưa lại những hậu quả lạ lùng. Nếu cần chết, người ta chết vô tư. Nhưng họ không muốn chẳng để làm gì cả, phải vì danh dự, vì chiến thắng. Không chỉ riêng những người Âu Châu tự đánh giá mình ghê gớm mới có thể cho phép mình như vậy.

Chiến tranh không hề lãng mạn. Thậm chí không phải chiến trận mà là việc giết người. Vấn đề là bố trí những “cú” tiêu diệt chắc chắn kẻ thù. Nếu không thành thì bỏ chạy, chẳng xấu hổ gì.

Tất cả đều do thông tin. Trinh sát, dân chúng cung cấp. Để nắm được dân chúng người ta thanh toán hàng nghìn người. Dân quê phải là những nô lệ bị khủng bố, được tẩy não. Như vậy gọi là sự tin chắc.

Bản thân chiến tranh là những “tập kích chớp nhoáng”. Tôi đã “học” ở những “đội bay” của một bốt Cao Đài bên cạnh. Có bao nhiêu kinh nghiệm từ những tín đồ của con mắt không mi Cao Đài! Nghệ thuật là ở tiếp cận. Phải đi tới đích mà không bị những người rình mò phát hiện hoặc lộ diện vì chó sủa dai dẳng. Người tiến lên như những cái bóng. Nếu thuận lợi đám người mặc quần áo đen ào lên xả lựu đạn và tiểu liên. Mọi việc chấm dứt, trong mấy giây. Những kẻ tấn công nhảy vào con mồi, giết, trói tù binh, đốt nhà. Trở về là một cuộc chạy trốn, còn hớt hải hơn lúc đi; phải cắt đuôi những người đuổi theo tình cờ.

Cũng rất nhiều lần Việt Minh chờ chúng tôi! Tôi đã học được chạy cùng lúc với những người Cao Đài với sự nhanh nhẹn không ngờ. Nhưng Việt Minh làm sao mang đi những người bị thương thì tôi không biết. Đôi khi không hiểu vì lý do gì họ chỉnh đốn lại đội ngũ sau lần thất bại đầu để lao vào mục tiêu theo một hướng khác. Lại những loạt đạn, tiếng kêu, dồn đuổi, ào ạt như một cảnh phim quay nhanh. Bằng cách nào họ lại tập hợp được, không có ám hiệu, không có gì quy định, ở một chỗ khác trong thiên nhiên, đồng thời tìm được điểm yếu của quân địch và làm địch bất ngờ, từ lâu đối với tôi đã là ma thuật.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Một, 2018, 02:58:38 PM

Rồi tôi lại tiến hành cuộc chiến tranh ấy theo cách của tôi cùng với lính ngụy. Họ không "thả" tôi nữa, họ đã vô cùng tận tụy. Nhiều lần trong những lần chạy thác loạn ấy tôi gượng lại được nhờ có họ. Họ trung thành với tôi từ khi cho tôi là một người "am hiểu tường tận".

Cuộc chiến tranh của C... là như thế. Chúng ta nói đến hòa bình của ông trên một vùng đồng ruộng đã bình định. Mỗi thị trấn là một hòn đảo văn minh, có mặt văn hóa Pháp. Chúng tôi được đón tiếp ở mọi nơi giữa một quang cảnh bảo thủ phô trương và thông thái rởm. Các ông Annam đọc những bài diễn văn cường điệu. Trẻ em các trường vẫy những lá cờ bằng giấy. Có những bắt tay, những chén rượu chúc mừng, những tiếng hô "Ông đại diện muôn năm". Đây là một hình thức dân chúng ủng hộ những người Pháp đặc biệt là "ủng hộ C..."

Nhưng những cái ấy toát lên sự giả dối. C... vừa chúc mừng những người dân cần cù vừa nói nhỏ với tôi:

- Những kẻ đạo đức giả! Tôi tin tưởng vào binh lính ngụy khốn khổ của tôi bao nhiêu thì nghi ngờ những tay tư sản quá lễ phép này bấy nhiêu. Họ bao giờ cũng có mặt để tranh thủ đồng bạc nhưng không ngớt mưu toan với Việt Minh. Tôi đoan chắc chúng ta sẽ phát hiện ra một "thủ đoạn" lạ lùng trong làng mà hai hương chức bị bắt cóc.

Thế mà ở đấy, trong một xóm, một không khí tang tóc thực sự. Những chức sắc còn lại không ra mặt đau đớn vì giữ thể diện. Họ chỉ là những nhân vật im lặng, những bóng ma mặc áo dài, bực tức và nhăn nhó. Những người vợ và con cái kẻ đã hiến mình. Các gia đình họp thành một khoảnh vuông vức và gào lên; các cô gái tóc dài xổ ra, cào móng tay vào mặt.

C... tôn trọng nỗi đau khổ ấy, không hỏi. Lúc ấy ông Thuần mà tôi đã quên, lại xuất hiện. Ông vẫn luôn trịnh trọng tuy bộ quần áo trắng bị nhàu nát vì ngồi trên xe. Ông đi đi lại lại, nói những câu hòa giải, mỉm cười bí hiểm.

Chúng tôi ra đi. Ông Thuần báo cáo:

- Thưa ông đại diện, đấy là một hài kịch. Việt Minh buộc nộp con tin. Hội đồng xã chấp nhận với điều kiện bố trí một cuộc bắt cóc để lừa dối ông, sợ ông giận.

- Ở địa vị tôi thì ông làm gì, ông Thuần?

- Tôi sẽ chặt đầu họ, thưa ông đại diện.

C... suy nghĩ rồi lên tiếng, cân nhắc "lợi, hại":

- Như vậy ích gì cho tôi? Những người ấy luôn luôn sợ Việt Minh hơn tôi. Tôi có thể thử "nhẹ nhàng", cho nói với họ: "Ông đại diện biết rõ nhưng tha thứ cho các ông. Hãy lựa con đường đúng đắn và ông ấy sẽ bảo vệ các ông". Nhưng những dân quê ấy tin sao được vào những lời hứa như vậy? Họ biết tôi không bảo vệ họ được. Có quá nhiều chi đội ở đây.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Một, 2018, 02:59:03 PM

Không có vấn đề đốt phá, cũng không làm ngơ được, sẽ làm họ nghĩ tôi yếu hoặc ngây ngô, đằng nào cũng mất mặt. Phải có một cảnh cáo trực tiếp. Ngày mai tôi sẽ phái nhân viên, những trinh sát điều tra đến. Sau đó chẳng ai ngạc nhiên nếu có tai họa xảy ra, bí mật, với một, hai kẻ "có tí râu" được biết có quan hệ với Thị Bé. Đấy là cách tốt nhất để nói với dân làng.

Hãy chờ đã. Chúng ta hành động thật chắc chắn. Tình hình có lẽ tệ hơn tôi tưởng nhiều hoặc cũng không đến nỗi nào. Thật khó xác định: trong đất nước này khi mắt không nhắm lại thì miệng nói dối! Thế nhưng trong ba hoặc bốn ngày tới tôi sẽ có quyết định.

Sau lời phân tích dài ấy, C... im lặng cho đến khi về gần Hóc Môn:

- Tôi không giấu ông điều gì. Có lẽ ông sẽ viết tôi là một kẻ giết người. Thế nhưng tôi chỉ tổ chức giết những kẻ giết người, đồng loã của họ, những người của bộ máy đỏ. Nếu tôi không làm, tôi sẽ có cảm giác bỏ rơi dân chúng với một số phận thê thảm.

Tôi buộc phải vấy bẩn. Đánh nhau với Việt Minh phải có nhiều cách. Thật đáng sợ nhưng - tôi thề với ông - tôi có lương tâm của mình.

C... tỏ ra thật thà. Ông tin vào công việc của mình. Nhưng phải chăng ông lầm về những tình cảm sâu xa của dân chúng, thế mà trước hết ông đã nói với tôi về bản năng nổi dậy và tình trạng hỗn độn của dân chúng Châu Á.

Tôi, hình như tôi không thể biết rỏ tấm lòng của dân chúng da vàng. Tôi nghĩ họ không có gì phức tạp. Chủ yếu là phản xạ được sống ở những người đông không kể xiết bị giằng co bởi những lực lượng tung ra từ một thế giới luôn luôn cừu địch. Đấy cũng là tình trạng của những nông nô thời Trung cổ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Một, 2018, 03:00:08 PM

Cuộc chiến tranh của nửa lữ đoàn thứ 13

Một lâu đài lợp ngói dựng lên cách Hóc Môn ba cây số: thị trấn của nửa lữ đoàn thứ 13. Chính đội lê dương tự xây dựng lấy, rất đẹp. Viên đại tá kêu gọi: "Các kiến trúc sư, ra khỏi hàng; thợ máy, thợ nề, thợ mộc, thợ thạch cao, ra khỏi hàng". Họ ra khỏi hàng, họ xây dựng rồi trở về vị trí. Đội lê dương có tất cả các nghề nghiệp dưới phù hiệu quả lựu.

Viên đại tá hiển nhiên là một kẻ điên rồ. Đây là một người nhuyễn cốt, thon thả, mắt nhìn lóe sáng và cay độc kỳ lạ. Nhưng ông rất được kính trọng vì là một "chiến binh" tuyệt vời và có "nguồn gốc" truyền thống.

Ông nhận tiếp tôi. Nhưng tôi vừa vào văn phòng, ông đã cho mang tới một chiếc kèn trompet dài ít nhất hai mét.

- Ông muốn biết những bí mật trong cuộc chiến tranh của tôi? Trước hết là chiếc kèn này. Khi tôi cho thổi lên, quân lính lê dương biết hàng ngũ địch sắp đổ nhào như những bức tường thành của thị trấn sơ sài. Bây giờ tôi đã khắc tâm cho ông, ông có thể đi viết một bài thật hay. Tôi không giữ ông lại lâu hơn nữa.

May mắn tôi gặp lại trong thị trấn lê dương này viên trung uý tóc hung to lớn đến vui vẻ báo tin cái chết của kẻ đào ngũ Pierre ở nhà C... ngay sau bữa ăn trưa. Anh ta đưa tôi đến chỉ huy đại đội. Anh chẳng tiếp đãi gì, đưa đi tham quan tất cả.

Sau khi xem những chiến tích lấy của Việt Minh, ảnh những xác chết "Việt Minh có cỡ", tôi được vào một gian phòng nhỏ rất sạch sẽ. Trên chiếc giá là những đồ dùng như dụng cụ vệ sinh hoặc mổ xẻ. Tôi tưởng như ở trong một bệnh xá. Anh sĩ quan trẻ thật thà nói với tôi:

- Đây là văn phòng thứ hai của tôi. Ông thấy tôi có đủ dụng cụ cần thiết... đơn giản, rẻ tiền... C... kéo tôi đi, hy vọng tôi không hiểu. Tôi đành chỉ nói:

- Này, nếu độc ác như vậy...

Rồi chúng tôi uống rượu cô-nhắc sô-đa do lính lê dương phục vụ, những người hầu vô cùng khiêm tốn. Một chuẩn uý đến cùng ngồi với chúng tôi, trẻ đẹp, mới khoảng hai mươi tuổi. Họ kể về nghề nghiệp của mình rất đơn giản. Nhưng theo lời họ nói, công việc ở đây có lề thói khá vất vả. Đấy là bao giờ cũng chạy khắp vùng Đồng Tháp Mười để tiêu diệt một địch quân không thể tiêu diệt được. Luôn luôn là những cuộc hành quân, những người bị giết, bị thương.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Một, 2018, 03:00:51 PM

Một trong những sĩ quan trẻ ấy vừa đi tuần tra về. Hai giờ trước đây trông anh hốc hác, đầy bùn. Bây giờ là một cậu bé dễ thương hồng hào, rất hiền, rất dễ mến. Để làm vui lòng tôi anh kể lại chuyến đi của mình:

- Tôi có mục tiêu là một "cơ xưởng" Việt Minh, trên một đảo nhỏ ở Đồng Tháp Mười. Thông thường tôi đi đò cùng người của tôi, ngược theo những con kênh, hai bên bờ là dừa nước ken chặt như những bức tường nhà tù. Chúng tôi không thấy gì nhưng bị trông thấy. Lần này để tránh bị phát hiện, chúng tôi đi bộ, lội trong đầm lầy đầy lau sậy trải rộng vô tận.

Phải đến hai tiếng đồng hồ tiến lên trong nước bẩn đến thắt lưng. Chúng tôi ra đi từ nửa đêm, đến mờ sáng chưa bị phát hiện. Chỉ còn vài trăm mét cách "cơ xưởng". Bỗng có tiếng kèn báo động. Tôi đưa ống nhòm lên nhìn. Hòn đảo lúc nhúc người như một tổ kiến bị phá. Tôi nghe những tiếng nổ, thấy có ngọn lửa, hiểu ngay như thế nghĩa là gì. Việt Minh chuyển máy móc lên thuyền, còn lại thì họ thực hiện tiêu thổ. Bao giờ cũng như vậy.

Còn nửa tiếng đồng hồ nữa mới "lên bờ", đặt chân lên đất liền. Chỉ còn tàn phá và vắng lặng. Những căn nhà tranh cuối cùng tàn rụi giữa những con trâu sợ sệt; chúng tôi giết thịt chúng. Những bì gạo dự trữ bị tưới xăng đốt, chỉ còn những đống than. Chúng tôi tìm thấy một số dụng cụ bị đập gãy. Nhưng toàn bộ trang bị quý - lò sản xuất đạn cối, máy điện - tuy nặng nhưng đã bị chuyển đi.

Cũng không còn một người nào. Việt Minh chắc chắn còn ở quanh đấy hàng trăm nhưng ngụy trang thật kín đáo. Một số đã thành cây bụi; những người khác dầm người trong bùn loãng, thở bằng thân tre rỗng. Phần lớn chui xuống hầm ngầm được chuẩn bị rất chu đáo. Cả đám đông người ma ấy nấp ở chỗ ẩn nhiều giờ chờ chúng tôi đi.

Để tìm thấy những người Việt ấy chúng tôi phải ở tại chỗ, nhiều ngày, lục lọi khắp nơi. Không thể thế được vì quá nguy hiểm, vả lại đội lê dương cần chúng tôi ở những chỗ khác, làm nhiệm vụ khác. Trong một tháng nếu chúng tôi trở lại chỗ ấy, tất cả đã tu sửa xong, lại thấy "cơ xưởng" hoạt động nhộn nhịp. Đã mười hai lần chúng tôi cố tiêu diệt cơ sở này mà không được.

Tôi đã hành quân hàng trăm lần trong vùng Đồng Tháp Mười này. Đơn điệu không tưởng được. Có nhiều cuộc phục kích chúng tôi bố trí nhưng chủ yếu chúng tôi rơi vào. Đột nhiên những người vô hình, những sinh vật sống dưới nước và bùn bắn vào chúng tôi, thậm chí không biết từ đâu tới. Cũng có những cuộc đuổi nhau. Nhiều lần chúng tôi săn đuổi, nhiều lần bị săn đuổi nhưng bao giờ cũng thật lạ. Những con người ngập trong bùn dính, đau đớn rút chân ra để đuổi bắt những người khác cũng đang bết trong bùn. Người ta chỉ trông thấy đầu và Đồng Tháp Mười bằng phẳng đến nỗi lầm tưởng là những chấm cắm trên mặt nước. Khi có một con kênh, con rạch cắt ngang, người ta bơi lặn dưới nước để khỏi làm bia hứng đạn. Tất cả những gì nổi lên mặt nước là bàn tay nắm khẩu tiểu liên hoặc bộ phận súng cối không được để ướt. Thường tôi bắt được những người chết đuối.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Một, 2018, 03:01:23 PM

Sự yếu kém lớn của chúng tôi là thương binh. Tôi không rõ Việt Minh giải quyết thương binh của họ ra sao, có vẻ chẳng có gì lúng túng. Nhưng khi một lính của chúng tôi trúng đạn, tôi buộc phải ngừng cuộc hành quân. Để chuyển khỏi vùng đầm lầy mênh mông tôi cần cả đội: tám người khiêng, những người khác bảo vệ. Như vậy trở thành một cuộc rút lui vất vả và nguy hiểm. Nếu quân địch đủ lực lượng đuổi theo tình hình trở nên bi đát, với gánh nặng ấy chúng tôi đi rất chậm, tuy bình thường Việt Minh vẫn tiến nhanh hơn chúng tôi.

- Vậy là các anh chỉ giết được ít Việt Minh?

- Chúng tôi hạ sát họ nhiều, nhưng bao giờ cũng còn lại từng ấy, có khi nhiều hơn, không cạn kiệt. Và chúng tôi không giết hại những Việt Minh thật sự. Có đủ loại người trong số bị giết. Thường là dân làng, chỉ một nửa, một phần tư là Việt Minh.

Viên sĩ quan kể lại một cảnh cảm động:

- Chúng tôi vừa thanh toán một lúc ba trăm. Một chỉ điểm dẫn lính lê dương đến một cuộc mít tinh trên bờ sông Sài Gòn. Cuộc mít tinh được nguỵ trang trong một ruộng ngô, nhưng chúng tôi đã biết và ào thẳng đến đó. Việt Minh nhảy xuống sông, ngâm mình trong nước và bùn của vùng cây ngập nước, cuộn mình lại quanh rễ những cây sú vẹt. Nhưng sông Sài Gòn chịu ảnh hưởng của nước triều lên xuống. Đang lúc nước xuống, chỉ cần chờ đợi. Sau hai tiếng đồng hồ, Việt Minh trần truồng, bị lộ ra. Họ cố dìm mình xuống sâu hơn, dùng tay bới bùn. Chúng tôi hạ sát như bắn thỏ. Nước vẫn rút xuống và mỗi thước bùn lộ ra đưa lại con mồi cho chúng tôi. Đúng là Việt Minh nhưng không rõ là loại nào.

Lại uống cô-nhắc sô-đa, vẫn lính lê dương vô cảm phục vụ. Bây giờ người ta nói đến một sĩ quan của nửa lữ đoàn 13 cải huấn Việt Minh. Nhưng việc ấy chỉ là "vỏ bọc”.

- Người ta ít gặp ông ta, không biết rõ ông. Đấy là một người Ba Lan ra khỏi hàng ngũ, làm việc cho Phòng Nhì. Thực ra ông đến các trại tù binh, lựa chọn những người khỏe mạnh nhất, đề nghị với họ cộng tác và họ trở thành mật thám của ông. Phần lớn họ chấp nhận; ông lập một đội đặc công tình báo.

Ông cử những người được tuyển chọn vào vùng Việt Minh dò xét, nghe ngóng. Nói chung người được chỉ định cải trang thành dân quê, đi xe đẩy hoặc đò, chở theo món hàng rau quả. Anh ta cùng đi với một cô gái, vài trẻ em để có vẻ là một gia đình. Người ta làm cho anh một giấy thông hành Việt Minh bắt chước rất khéo. Anh nói với quân du kích mình là một nông dân đi chợ bán hàng.

Phiền toái là có khi người sĩ quan cũng ở trên xe, nằm dưới một đống chuối hoặc bắp cải. Náu mình ở đấy, nín thở suốt thời gian Việt Minh nghi ngờ, hỏi kỹ anh nông dân cải trang, người vợ và mấy đứa con giả. Ông nghe họ muốn lục soát xe và nhân viên của ông rên rỉ thuyết phục:

- Làm như vậy sẽ hỏng hết hàng hóa của tôi, không thể bán được nữa. Thế mà chủ tịch Việt Minh đã hứa không bao giờ những người nghèo khổ phải lo lắng nữa!

Người Ba Lan ấy không bị bắt. Nhưng mới đây tên mật thám giỏi nhất của ông được tìm thấy gần Hóc Môn, bị trói chặt vào một bánh xe của anh ta mà một con bò vô tư kéo lê trên đường.

Trời sắp tối. Có lệnh đưa tới. Các trung uý, chuẩn uý đứng dậy chạy đi. Đại đội của họ phải giải thoát cho một đội tuần tra bị vây cách Hóc Môn mười cây số. Họ phải làm thật nhanh trước khi tối mù mịt; nếu không sẽ quá chậm và thêm vài lê dương nữa, ngã xuống trên chiến trường danh dự Đồng Tháp Mười, chỗ bùn lầy bẩn thỉu ấy.

Cuộc chiến tranh của một nửa lữ đoàn thứ 13 tiếp tục.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2018, 05:11:50 PM

C... kẻ sống sót

- Ông không có cảm giác đụng phải một lực lượng không tránh được, đối mặt với một định mệnh? Ông không bao giờ thắng được Việt Minh tuy làm theo phương pháp của họ, không thể đi xa như họ trong cái tốt và cái xấu. Chính họ sẽ đập nát ông. Số phận hẩm hiu của ông là người nước ngoài.

- Tại sao? Đấy là vấn đề kỹ thuật. Ở Châu Á con người không là gì, chỉ hệ thống thống trị những con người ấy là đáng kể. Việt Minh có hệ thống của họ, không lay chuyển được và mềm dẻo. Nhưng tôi kiên trì xây dựng hệ thống của tôi từng ngày một. Lúc đầu Việt Minh cũng yếu và không ổn định. Họ chủ động được sau nhiều năm: họ tự phê bình, sửa chữa sai lầm, không ngừng cải tiến. Tôi có thể cố gắng như vậy, cũng quyết tâm như thế.

Đấy là cuộc nói chuyện cuối cùng của tôi với C... đi sâu vào công trình đáng sợ của ông hơn bao giờ hết. Chia tay ông tôi thấy hình như để lại sau mình một xác chết. Vì C... sẽ không thoát khỏi bị giết; và nếu ông sống sót vì phép lạ, ông sẽ chết về tinh thần, bị đầu độc bởi bùa mê của Châu Á.

Sau này, khi trở lại Hóc Môn, tôi hầu như không gặp người nào. Tôi cố gắng nói về Xích và Thị Bé, người ta khó nhớ về họ. Xích bị bắn hạ bằng súng ngắn ngay ở trung tâm thị trấn, chẳng bao lâu sau lần tôi qua đấy. Không có điều tra. Thị Bé đã biến mất, có lẽ vì có “quan hệ” với một lê dương đào ngũ.

Đại tá chỉ huy nửa lữ đoàn 13 bị đưa trở về Pháp. Người ta chính thức nhận thấy ông điên. Ông muốn dẫn đầu trung đoàn mình tiến về Sài Gòn để giải phóng mấy người lính lê dương bị cảnh sát cho vào nhà tù vì tổ chức vui chơi gây rối loạn thành phố.

C... vẫn sống, thoát khỏi mọi cuộc ám sát. Ông đã "trụ lại" năm năm ở Hóc Môn. Khi được điều động đi, người kế nhiệm, một chàng trai tuyệt vời bị giết sau mấy tuần lễ, tan xác vì mìn.

Tôi không nhận ra ông nữa. Không còn là con người ấy. Buồn rầu, trầm tư, ông làm văn phòng ở lâu đài Norodom, một vị trí bình lặng của cơ quan Cao ủy. Đấy là một viên chức khôn ngoan không bao giờ nói về quá khứ của mình. Tuy vậy, thực sự ông có quên được không? Hình như không có trường hợp nào một con người chữa khỏi được nền giáo dục về sự tàn bạo của mình.

Chỉ sau rất nhiều năm C... mới thú nhận với tôi. Khi đó ông cũng còn ở Châu Á nhưng xa Sài Gòn, xa Hóc Môn, trong một nước đang rung lên những niềm say mê về độc lập. Và C... tham gia phong trào, lại đầy nghị lực, và nhiệt tình, nhưng với niềm tin khác hẳn niềm tin tôi đã biết, thậm chí đối lập. Ông nói ra với tôi những lời đáng ngạc nhiên:

- Tôi không thực sự hối hận, tuy tôi đã có tội. Lý giải duy nhất của tôi là cái mà tôi gọi là trong trắng. Ở Hóc Môn tôi để hết tâm trí và sức lực như một người có thể làm, vào việc tôi đã nghĩ là điều tốt. Nhưng thật lệch lạc! Tôi đã mất những năm tháng đẹp nhất trong cuộc đời vì một việc làm không chỉ bị kết án trước mà còn bất công!

Tôi đã không làm khác được mà không hèn nhát. Vì tôi được chú ý vì tuổi trẻ, vì môi trường sống. Vâng tôi đã "cam kết". Bây giờ tôi cố sửa chữa vì sau bao nhiêu máu, bao nhiêu sự thật, cuối cùng tôi đã hiểu. Người ta không nên bôi nhọ mình. Không thể lấy cái xấu chống lại cái xấu. Không thể lấy sức mạnh áp đặt cái tốt, nhất là với một dân tộc lạ. Vì cái xấu và cái tốt của chúng ta không bao giờ là của họ; họ căm thù, họ chống lại những cái đó.

Thời kỳ những người chinh phục và những phái đoàn đã hết. Nếu họ ngang bướng, họ chỉ có thể mang lại những chiến thắng giả, kết thúc bằng những thất bại kinh khủng. Phải để cho từng dân tộc trở về với cội nguồn của họ, trong sạch hoặc không trong sạch, tốt hoặc xấu - không cần chúng ta phán xét. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là giúp đỡ, là truyền bá nền văn minh trong chừng mực người ta chấp nhận. Muốn thế, phải thương yêu - không như tôi, dựa vào thanh kiếm mà cần vô tư sâu sắc, dũng cảm, đứng trên mọi trở ngại, biết chịu đựng”

Dĩ nhiên ở một số nơi người ta kể là C... trở thành một người "ôn hòa" nếu không nói là tiến bộ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2018, 05:12:47 PM

Người trở thành vua

Ở Đông Dương có những người, được định trước một cách kỳ lạ, như "những con cá dưới nước" giữa lòng dân chúng. Bên cạnh họ, C... chỉ là một anh thợ học nghề. Vì họ không cần giáo dục về sự tàn bạo, họ đã có trong máu thịt mình, được sinh ra với năng khiếu của Châu Á. Khi đến họ cũng không biết điều đó, không khác gì những người Pháp khác. Thế mà chỉ trong mấy ngày họ thể hiện rõ mình và cho những người khác, họ như ở nhà họ, giữa những biện chứng và những hành hạ của núi rừng và đồng ruộng.

Đối với họ không có vấn đề gì. Họ tự nhủ: "Mình sẽ là vua". Một số trở thành như vậy. Có những vương quốc đủ cỡ, trải rộng trên một làng, nhiều làng, một góc tỉnh. Nhưng ở đâu những vị "hoàng đế" ấy cũng có một quyền lực tuyệt đối, ngoài điều người ta có thể cảm nhận, lớn hơn nhiều quyền sống chết của chúng ta. Với bạo lực họ tiêu diệt mọi dạng bạo lực, quyền hành của Việt Minh; họ lập nên quyền hành của họ để thay thế, cũng chặt chẽ, tỉ mỉ như vậy. Đấy là sự thống trị toàn bộ mà dân chúng bị lôi kéo theo một người.

Có bao nhiêu những vị vua như thế? Vài chục người rải trên khắp Đông Dương. Mỗi một người biết chiến thắng trên lãnh thổ nhỏ của mình với sức mạnh duy nhất và tính cách Châu Á của họ.

Những ông vua ấy là những người của cuộc phiên lưu hiện đại, đủ nguồn gốc. Đôi khi là những cai, hạ sĩ quan vừa biết đọc, biết viết. Trong số đó cũng có những "người hào hoa" được nuôi dạy tốt, những nhà quý phái nhạy cảm và tế nhị. Có những người Pháp từ nước Pháp, những người Pháp thuộc địa, nhất là những người lai Âu Á. Người ghê gớm, đáng sợ nhất là một người lai Âu Á, đại uý L...

Tôi đã nghe nói về ông ta ra sao? Không tưởng tượng nổi. Đại uý L... đã bình định tỉnh Bến Tre ở Nam Kỳ, vùng cửa sông Mékong. Trong lãnh địa của ông, người ta có thể đi xe đạp ban đêm, điều không thể thấy ở khắp những nơi khác của Đông Dương. Ông đưa lại nền trật tự đầy đủ. Để được như vậy, ông làm cho mình thành một kẻ chuyên chế, Con Trời. Ông có quân đội riêng, đội cảnh sát Thiên Chúa giáo. Ông khoác vào đội quân của ông nhãn hiệu công giáo, rất thuận lợi để người ta tưởng là văn minh, không lẫn lộn với những băng nhóm Cao Đài, Hòa Hảo. Điều đó cho phép ông huy động nghị lực của các cha cố da vàng; chỉ những người cuồng tín này có khả năng đương đầu với các ủy viên chính trị. Nhưng bản thân ông giữ ý không cải giáo hoặc rửa tội cho binh lính; có đủ loại trong số họ.

Đại úy L... không chấp nhận một ưu thế nào trên trần gian hoặc của thánh thần ngoài sự chiếu cố nào đó với những người Pháp công nhận mọi quyền lực dân sự, quân sự của ông. Ông chỉ có một người chủ: chính ông. Ông chi phối tất cả người, vũ khí, tiền bạc, công việc, ý nghĩ, nội tâm, tóm lại là cuộc sống.

Tôi đến chỗ ông, xem một con người làm sao từ chỗ không có gì đã có thể đạt được một vùng độc chiếm chống lại Việt Minh phi thường như vậy. L... hẹn gặp tôi ở đảo An Hòa, nụ hoa đẹp nhất trên vương miện của ông.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2018, 05:14:26 PM

Dân chúng quỳ gối

Phải mười lăm phút đi đò từ Mỹ Tho chở đầy người để qua sông Mékong. Người cầm lái mình trần, gầy dơ xương, đang ăn mía. Trên con sông mênh mông, nắng gắt; vài đợt gió lay động dòng nước đặc ngầu như bùn đỏ hoe. Con đò cập bến trên một bãi thấp và trù phú.

L... đứng trên bờ, chống can, một mình trước đội quân danh dự. Tôi tiến lại gần. Ông thong thả chào tôi với sự chậm rãi khác thường. Nhìn bề ngoài, ông rất Annam, vẻ trịnh trọng nghiêm khắc. Người ông nhỏ nhưng rất đĩnh đạc trong bộ đồng phục đại úy. Khuôn mặt, vàng như một quả mộc qua, có cái gì đó ba cạnh của loài rắn; trên đó tất cả đều kín đáo, bất động. Những cử chỉ cũng như giọng nói, thể hiện một loạt chuyển động đều đặn và có kiểm soát. Khống chế mình đến mức ấy phải có một ý chí ghê gớm. Tự cao điên rồ, thường xuyên tính toán. Nhưng tôi cảm thấy phía sau chiếc mặt nạ ấy, những dây thần kinh rung lên và tính mẫn cảm nổi dậy như sóng tuy nội tâm ông chẳng có gì thể hiện. Cái nhìn thẳng; đôi môi dày, cắt ngang. Không có một khả năng thương xót gì. Ông là một quan lại ăn mặc lối Pháp.

L... giơ cánh tay; với cử chỉ ấy ông bảo dân chúng tỏ thái độ nô lệ đối với tôi. Vì cả toàn dân ở đấy, đứng chật bờ đường chúng tôi đi trên xe jeep, thực hiện những dấu hiệu phục tùng theo lề thói cũ. L... lấy lại phong tục xưa. Ông không đòi hỏi, dân chúng tôn sùng ông trong lòng, ông muốn họ tỏ rõ sự hèn kém của họ. Có hàng trăm nghìn người dọc theo con đường, quỳ gối trước ông, trước tôi. Có đủ mọi nghi lễ quân sự. Có vòm chiến thắng, băng-rôn “Ông nhà báo muôn năm”, những lớp hương chức mặc áo dài đen láng bóng đọc diễn văn tỏ rõ niềm vui, vừa lạy lia lịa. Có những đoàn múa lân múa rồng, tiếng cồng vang lên, những cảnh sát bồng súng chào, thậm chí có cả tiếng còi nhà máy. Mỗi làng bày hương án trên đường cùng những chiếc bàn giáo, kích, gươm đao.

Tất cả mọi thể hiện xu nịnh quá đáng ấy, L... tiếp nhận với vẻ khinh khi. Đôi mắt ông nghiêm khắc không cảm giác, như không trông thấy gì. Nhưng tôi biết không có gì lọt khỏi mắt ông. Thỉnh thoảng ông gọi một người tuỳ tùng, nói rất nhỏ: Ông không vừa lòng về những cái gì đó, ra lệnh phạt.

Vào thị xã, ông vẫn luôn như đá. Một trăm nghìn đàn ông đàn bà khác dồn chặt trên sân chợ trang trí lá cây xanh. Những trăm nghìn người ấy lại cúi xuống trước L... và tôi. Chúng tôi đứng trên một bệ rộng sắp xếp như bàn thờ, phía trên những chiếc đầu im lặng cúi xuống. Ông ra hiệu và sự im lặng ấy bung ra. Những tiếng hô muôn năm át cả tiếng trống, chiêng, kèn đồng. Súng cối bắn những loạt chào mừng. L... nói với tôi câu đầu tiên từ khi tôi đến:

- Tôi cho làm những súng cối ấy trong các xưởng của tôi. Cảnh sát của L... diễu hành. Mặc quần áo đen và đội mũ miền rừng, họ mang tiểu liên và dao, những gì cần thiết để giết người. Mỗi đại đội vác đi đầu chiếc thập tự của Chúa trên lá cờ thêu với những dòng chữ hứa hẹn nền hòa bình Thiên chúa giáo.

Những chiếc loa gào lên. Một người đàn ông vùng vẫy quanh một chiếc loa. Ông ta không quần áo như người của L... Không có thái độ kính cẩn kiểu cách như thế. Ông mặc xuềng xoàng, áo sơ mi ngắn tay, quần soóc, đi dép. L... chỉ giải thích cho tôi, vẫn dửng dưng:

- Đấy là một cán bộ chính trị tôi bắt được.

Người kia bị kích thích quá độ, bập bẹ lời hối hận và hát ca ngợi L... Ông này không nhấp nháy mắt, lắng nghe bực dọc như cũ. Nhưng ông nhìn thẳng vào người cán bộ Việt Minh làm người này càng giãy dụa nhiều. Những mảng lớn làm ướt cả áo may ô: mồ hôi đổ ra vì sợ, không phải vì nóng nực.

Bình thường không phải như vậy. Một cán bộ chính trị không bị mất giá đến mức ấy. Ông người lai hẳn đã dùng những biện pháp kinh khủng để cảnh báo: "Tôi tha thứ hoặc hạ sát anh tùy theo lời anh sẽ nói trước cuộc mít tinh". Người kia biết L... tàn nhẫn đang quyết định sau những lời nói ấy: Ông ta nói vì mạng sống của mình.

Tôi nhìn L... Ông đoán ra ý nghĩ của tôi, ra hiệu. Người kia bị cảnh sát đưa đi. Và không bao giờ biết ông đem giết đi hoặc gia ân.

L... mỉm cười với tôi, nụ cười thực sự bí hiểm của Châu Á:

- Người ta nói với ông tôi là một đồ tể. Không đúng đâu. Tôi thích thu phục con người. Tôi chỉ giết khi cần phải giết.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2018, 05:17:55 PM

Cuộc thẩm vấn

Chúng tôi lại xuất phát, còn đi bộ một giờ nữa. Đến trước một con lạch nhỏ, L... nói với tôi:

- Chúng tôi phải làm một nút chặn ở kia. Kế hoạch là quân Pháp vây chặt Việt Minh dồn họ lại đây. Nhưng chúng ta có thể bình tĩnh ăn trưa tại đây, quân Pháp sẽ chẳng dồn được ai cả.

L... dẫn tôi vào một ngôi chùa sơn đỏ thơm mùi hương khói và bụi bặm. Quân lính dọn bàn; chúng tôi có một bữa ăn thịnh soạn. Có những tràng đại liên nổ. L... không bận tâm, lên tiếng gọi. Một trung uý vào đứng nghiêm báo cáo:

- Một trinh sát của chúng ta thấy hai người qua lại trên cánh đồng bên phải. Tôi đã ra lệnh bắn vào họ.

- Tốt, đừng giết họ, hãy bắt sống.

L... cho mắc một chiếc võng vào hai cột gỗ. Ông nằm đấy thiu thiu ngủ. Đôi mắt không nhắm hẳn. Tuy nằm, ông đang nghĩ ngợi. Tôi đi ra cổng chùa. Trước mặt tôi biển lúa nặng hạt ngút ngàn; người ta săn đuổi Việt Minh ở đấy. Việc bắt quân địch khá dễ dàng. Để trốn thoát, họ bò như những con vật. Đạn bắn theo họ, bao vây, xiết chặt thành vòng hẹp dần. Họ nằm im. Đất nổ bung bên cạnh đầu họ. Cuối cùng họ thong thả đứng dậy, vẫy tay hàng. Lính đến tóm lấy họ.

Tôi vào trong chùa. L... vẫn nằm dài trên võng, đã châm hút một điếu xì gà to. Không nói một tiếng. Khoảng nửa tá lính lặng lẽ đi vào, đẩy hai Việt Minh đi trước. Họ như hai bức tượng bùn, chỉ mặc quần lót. Hai người cũng câm lặng. L... vừa thong thả hút thuốc vừa ngẩng dậy nhìn họ một lúc. Các tù binh chịu đựng cái nhìn ấy. Họ ẩn mình trong lớp bùn đất và sự câm lặng, nhưng chưa bỏ rơi tư thế của mình, giữ thải độ thách đố. Một người to lớn, một Hercule thời xưa và bướng bỉnh. Người kia mảnh dẻ, tỏ ra căng thẳng, cố gắng ghê gớm để khỏi suy sụp. Chắc là một học sinh, đôi tay thanh tú, gương mặt thông minh.

Sau khoảng ba mươi giây, L... lại nằm xuống, không mở miệng. Không ai nói gì. Ông ta giơ tay cầm xì gà ra hiệu. Lính dẫn Việt Minh đi, họng súng tiểu liên dí cạnh sườn. Tôi đi theo toán ấy. L... nhìn tôi nhưng không ngăn lại. Đi qua những mái nhà tranh bỏ hoang, chúng tôi đến một ngôi nhà vương giả, chắc chắn, bằng gỗ mun chạm trổ. Những hòn non bộ trang trí khoảnh sân trong lát gạch lớn. Những cây bụi, bị cắt tỉa thành hình dáng kỳ dị. Chúng tôi đi qua các gian phòng tranh tối tranh sáng bí hiểm. Không một bóng người.

Binh lính dẫn những người bị bắt vào một gian phòng lớn trống trải. Viên trung uý chỉ huy phân đội mang một chiếc thánh giá ở cổ. Anh vừa trông thấy hai chốt sắt cắm sâu vào chiếc xà chủ. Người ta hối hả, làm việc khéo léo tuyệt vời. Họ cuốn dây thừng quanh thân và chân tay tù binh vẫn có vẻ khinh khi. Rồi họ luồn đầu dây vào chốt sắt, ra sức kéo. Tôi thấy hai người Việt Minh dần dần bị đưa lên không, đầu lắc lư xuống dưới, chân tay doãng ra. Xương kêu răng rắc. Việc làm ấy không hề gây ra một kích thích gì, hoàn toàn vô cảm. Các thân hình như bị trật khớp. Tôi có cảm giác như chúng sẽ nổ rời thành mảnh. Sĩ quan của L... thấy như vậy chưa đủ. Với sức nặng của mình, dùng hết sức lực tì trên những thân hình cong queo để xé nát thêm. Thấy răng rắc càng mạnh. Một người lính đá vào những chiếc đầu lộn ngược, thõng xuống gần sát đất. Binh lính không nói; Việt Minh không rên la. Quang cảnh trở nên không chịu được. Tôi đi ra, trở lại ngôi chùa.

Tôi thấy L... đã đứng dậy. Ông không hỏi về những gì tôi đã thấy nhưng không hề băn khoăn gì. Đối với ông đó là một việc đơn giản. Ông đang bận tâm về những ý nghĩ lớn. Khuôn mặt ông căng thẳng như lên cơn sốt. Đôi mắt, mũi, môi, tất cả trở nên chật hẹp. Giọng ông ráo hoảnh:

- Bốn giờ rồi; mất một ngày. Đại tá chỉ huy cuộc hành quân vừa điện thú nhận với tôi các chi đội lọt mất rồi. Không chỉ tôi và quân lính chẳng làm gì mà bây giờ chúng tôi có nguy cơ bị phục kích trên đường trở về.

Đôi mắt L... là những đường nứt kim khí, dấu hiệu một nỗi giận dữ lạnh lùng:

- Tại sao người Pháp không giao cả cho tôi? Tôi sẽ bình định, ít thiệt hại và ít chi phí nhất, cả toàn bộ nhiều tỉnh. Họ không muốn thế mà thích tiếp tục cuộc chiến tranh lối ông lớn của họ.

Quân đội Pháp hôm nay huy động ba tiểu đoàn, phương tiện khổng lồ và với ban tham mưu đồ sộ! Cuộc hành quân này tiêu tốn nhiều triệu đồng. Dĩ nhiên Việt Minh không chờ họ.

Cuộc chiến tranh của tôi là của đất nước này. Giăng bẫy phục kích, biệt động đội, phản trắc. Trinh sát của tôi dò thông tin hàng tuần. Tôi nghĩ về tất cả, về mọi dữ liệu. Rồi một ngày nào đó tôi hành động, thật chắc ăn. Tôi đi với đội quân nhiều tiếng đồng hồ để làm việc trong mấy phút. Tất cả là gieo sự ngạc nhiên, mình không bị bất ngờ. Như thế rất kinh tế và có hiệu quả, là cách duy nhất. Nhưng không phải cuộc chiến của ban tham mưu.

Tôi phá huỷ những làng cần phá huỷ. Tôi giết những người cần giết. Nhưng người Pháp phá huỷ và giết tuỳ hứng vì họ không biết và không thể biết. Dân quê cho tôi là đúng nhưng họ sợ Đội quân viễn chinh vì luôn không dự kiến được.

Người Pháp mù, rơi vào mọi cạm bẫy của quân địch. Một lần họ thấy xác một người của mình bị hành hạ khổ sở ở bìa làng. Họ đốt làng, không nghi ngờ là làng ủng hộ Pháp. Việt Minh đem xác ấy đến, báo trước với dân chúng đừng đụng đến, phải để nguyên tại chỗ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2018, 05:18:50 PM

Cuộc sống của dân quê là một bi kịch. Họ bị giằng xé bởi hai lực lượng không thương xót. Mỗi ngày, mỗi đêm là vấn đề sống chết của hàng nghìn đàn ông, hàng nghìn đàn bà. Ban đêm Việt Minh luồn vào bảo: "Nếu bà con giúp Pháp, ngày mai chúng tôi vứt đầu những người đàn ông ra ruộng". Ban ngày người Pháp đi xe đến, có đại liên và vũ khí hiện đại. Một sĩ quan khua gậy bảo các hương chức sợ sệt: "Các ông phản bội, đã tham gia vào cuộc phục kích mà Việt Minh giết người của chúng tôi. Các ông thanh toán thương binh của chúng tôi. Chúng tôi sẽ trừng phạt các ông". Theo lề thói, người Pháp không nắm được cảnh ấy. Họ không hình dung được, không hiểu họ không có quyền buộc bất cứ ai trung thành tận tuỵ, mà không mang tới sự bảo vệ người ta. Họ không hề bảo vệ ai, ở đâu cũng thế; họ bó mình trong các bốt. Khi đơn vị đóng tại một vùng, chỉ huy bao giờ cũng tuyên bố: "Dân làng, hãy đến với chúng tôi; chúng tôi ở đây để che chở các ông". Mấy tháng sau, những người Annam tin tưởng bị Việt Minh ám sát. Người Pháp giết những người khác và nói ráo hoảnh: "Quân vô lại".

Cuộc chiến tranh này là của dân chúng. Phải có dân chúng, phải giành giật với Việt Minh. Điều kiện đầu tiên là phải biết khi nào tốt, khi nào phải hung bạo. Không phải lòng tốt và sự hung bạo bình thường, quá đơn giản, thậm chí nguy hại, mà có chất lượng - tôi dám dùng từ này - đẩy lên tới đỉnh cao. Như vậy đối với binh lính Đội quân viễn chinh sẽ quá phức tạp. Người Pháp không bao giờ tập hợp dân chúng. Tay họ đẫm nhiều máu, máu của tất cả những người bị chết vì bị lừa dối, của tất cả những người họ lừa dối và bỏ rơi. Máu ấy sẽ khó được tha thứ.

Lính của L... tháo võng của ông. Tôi nghe những tiếng còi. Chúng tôi sắp ra đi. Nhưng L... đang phấn khích vẫn tiếp tục:

- Có những việc không ngờ. Ông có thấy ở thành phố bên cạnh, ban tham mưu, những bộ phận quá thừa ấy, những sĩ quan quan trọng ấy chuẩn bị những cuộc hành quân trên bản đồ với các gạch lớn bút chì màu? Nhưng viên đại tá có một cô gái báo tin cho Việt Minh. Trung uý Phòng Nhì không nói được tiếng Việt. Ông này có phiên dịch, một ông mảnh dẻ cung kính, bao giờ cũng mặc hoàn toàn lối Âu, áo vét và cả vạt cả ngày nóng nực. Nhưng đấy là một "con hổ” như dân quê nói. Hắn làm tiền. Đầu mỗi cuộc tham vấn, hắn rỉ tai bị cáo: "Nếu đưa cho tôi một nghìn đồng tôi sẽ cứu anh". Tất nhiên để chuộc mình đối với Việt Minh, hắn đều đặn gửi một kẻ tin cậy - vợ, mẹ hoặc khi thì ông chú - báo hết mọi điều bí mật: Vì thế hai ngày trước khi cuộc hành quân triển khai, không một chủ quán nào không nói với bất kỳ người lính Pháp nào tới mua chai rượu: "Nào đến thứ ba trong tuần chứ, chúc may mắn!"

Nói với họ thật vô ích. Một lần tôi đưa cho họ danh sách đầy đủ những thư ký, phiên dịch, những bồi và gái điếm phản lại họ. Họ bảo tôi xen vào những chuyện không quan hệ gì đến tôi.

Biết bao nhiêu người Pháp chết vì những gì không đâu! Không hiểu; không muốn hiểu. Nói chung vì quá can đảm, đôi khi vì quá hèn nhát. Trái với những lề thói quân sự, một cuộc chiến tranh có ích đối với sĩ quan và binh lính Pháp như là một nền sản xuất sa sút. Họ muốn bị giết khi kiên trì theo những thói quen. Tấn công quân địch mà như đi diễu hành cho đến khi viên đạn của người bắn giỏi trúng ngay giữa trán. Đi xe không hộ tống trên con đường thường có phục kích cho đến khi người ta thấy trên đường chiếc Jeep bị đốt cháy và xác của họ tan tành. Nhưng họ vẫn xem thường những biện pháp phòng ngừa cho đến một ngày hoảng hốt thì trở nên đề phòng quá mức.

Rồi những đồn bốt bị phá bỏ. Hãy tưởng tượng sự điên rồ này - một người Pháp từ xa xôi tới để chỉ huy khoảng một trăm lính nguỵ hung dữ. Cuộc sống của người ấy sẽ ra sao giữa thế giới Châu Á mà ông ta không hiểu gì? Đôi khi trưởng bốt nổi giận đấm đá, đánh những người bổ sung cho mình. Tôi biết một trưởng bốt ở làng bên, triệu tập tất cả hương chức đến nhà hội đồng. Họ lễ phép đến chuẩn bị nước, đặt một gói thuốc lên bàn trà trang trọng. Nhưng ông người Pháp la hét, ném khẩu súng ngắn lên gần chiếc đĩa gạt tàn, nắm lấy cổ họng một hương chức. Ngày hôm sau ông ta bị ám sát.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2018, 05:19:41 PM

Có người Pháp mòn mỏi vì sợ. Một trong bọn họ thú nhận với tôi khi được chuyển đi: "Trong hai năm tôi không nhắm được mắt. Ban đêm tôi bước quanh bốt cho đến sáng, theo dõi lính ngụy ở vị trí chiến đấu. Tôi nắm tiểu liên đi đi lại lại. Trong nỗi ám ảnh bị bóp cổ lúc ngủ, tôi dùng thuốc kích thích để không thiếp đi. Ban ngày tôi nhặt vũ khí của binh lính treo vào giá đỡ chỉ một mình tôi có chìa khóa. Tôi trông chừng thức ăn sợ bị đầu độc, cho chó ăn thử trước đã.”

Cũng có người Pháp lấy vợ, trở thành nô lệ cho cô gái, bố trí cô ở trong bốt. Đôi khi cô gắn bó với chồng và để bảo vệ chồng cô điều đình với Việt Minh, đi đến mua bán. Họ sẽ không tấn công bốt nhưng hàng tháng được nhận một hòm lựu đạn.

L... nhìn tôi với đôi mắt sắt đá. Tôi cảm nhận ông sẽ nói với tôi sự thật:

Tôi thán phục quân đội Pháp. Họ chiến đấu với sự ngoan cường. Nhưng cuộc chiến của họ không còn thích hợp. Người Pháp đứng trước một cuộc cách mạng mà họ tỏ ra bất lực. Tôi thì không. Tôi biết làm cho dân chúng sợ tôi và cũng yêu mến tôi hơn Việt Minh. Tôi biết làm như thế nào từ khi mới sinh. Tôi ra đời ở đảo An Hòa. Ông sẽ gặp bố tôi. Ông là một người Pháp đã đến An Hoà năm mươi năm. Chính ông tiêu nước vùng đầm lầy, làm ruộng, đem lại sự sống. Tôi biết rõ từng tấc đất, từng người. Dân quê tin khi tôi nói: "Hãy đến với tôi để cùng tiêu diệt Việt Minh. Tôi không bao giờ bỏ rơi các người". Quân đội tôi bảo vệ dân chúng, đúng là quân đội của dân chúng An Hoà, có kỷ luật sắt.

Nói đúng ra tôi đã từng nghe nói về kỷ luật của các đội quân L... Ông không cho phép quân lính hạch sách gì trong vùng ông bình định. Đấy là những vùng cấm trộm cắp hiếp dâm. Không như ở những vùng đất đai không phải của ông, ít nhất trừ khi ông tính toán sự khủng bố phục vụ cho đường lối của ông.

Không may cho những binh lính nhầm vùng. Sự trừng phạt không lay chuyển là một lôgíc tuyệt đối. Tội nhân bị trừng phạt ở chỗ anh ta lầm lỗi. Cảnh sát hiếp dâm trong một vùng cấm sẽ bị thiến ở thành phố, trong một cuộc duyệt binh, trước đông đúc dân chúng. Người ta kể thậm chí L... tự mình làm việc ấy với một con dao trong buổi lễ nhưng tôi không chắc chắn lắm.

Dù sao những người tin cậy nhất là những người bảo vệ ông, không oán giận gì ông, thậm chí có sự tận tuỵ của loài chó.

Chúng tôi ra đi, phải vượt hơn ba mươi cây số trước khi trời tối. Bỗng tôi thấy một dây người. Một anh lính dắt mũi hai người. Tôi nhận ra hai Việt Minh bị bắt, bị treo ngược trước mặt tôi. Tôi nghĩ là họ đã tan xác. Nhưng họ bước đi hoạt bát. Tôi không phân biệt được một dấu vết gì trên người, nhìn ngoài không có vẻ đau đớn. Họ tiến lên như những người quen đi xa, anh lính không cần giật dây thúc.

L... cười gằn trước sự kinh ngạc của tôi:

- Việt Minh của ông đó; họ không bị nhấn chìm, đúng không? Lúc nãy chỉ một chút thẩm vấn, không độc ác gì. Lính của tôi được tập dượt mãi, biết dừng đúng lúc. Tôi biết những người này là ai: Trong cuộc chiến này phải biết. Tôi nghĩ sẽ làm cái gì đó với anh chàng mảnh khảnh. Đúng là một sinh viên, con nhà tư sản. Tay Hercule không nói; tôi chắc chắn hắn là một kẻ giết người, một kẻ đã tra tấn và ám sát. Không thể cho hắn có dịp may.

Khi đã gần tối chúng tôi về đến con lạch biên giới, đi đò qua dòng nước nửa sông nửa đầm lầy. Giờ và địa điểm đều buồn: Muỗi bay thành những đám. L... kéo tôi lên xe Jeep. Mấy cây số nữa là hoà bình - đồng ruộng bố trí có trật tự. Những ngôi làng lúc nhúc dân chúng chào. L... không nói gì với tôi. Nhưng sự im lặng của ông có nghĩa: "Công trình của tôi đấy. Những gì tôi đã làm. Tôi đã mang lại hạnh phúc cho họ."


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2018, 05:38:34 AM

Kỹ thuật tra tấn

Ngày hôm sau nữa người Hercule bị bắn.

Việc đó làm lúc rạng đông, hết sức đơn giản. Tù binh được dẫn ra bờ một con mương, trên một bến nhỏ. Một người đội của L... nói với anh: "Anh bị bắn chết". Người kia chắp tay van nài: "Hãy thương tôi, đừng giết tôi". Anh cầu khẩn vì thường như thế. Nhưng câu nói của anh là hoàn toàn lễ nghi, cũng như câu trả lời của viên hạ sĩ quan: "Tôi thương anh. Nhưng anh phải chết". Đối với hai người đấy là một công việc phải làm cùng nhau - một phải nhận một viên đạn vào đầu, người kia bắn.

- Cho tôi một điếu thuốc, anh Việt Minh nói.

Viên đội đưa cho anh sau một phút ngần ngừ, vì là một điều mới trong buổi lễ hành quyết. Anh Việt Minh hút, ngồi xổm nhìn xuống con lạch. Anh không nói gì. Thân hình anh ngang dọc nhiều vạch. Anh lại vừa bị thẩm vấn.

Viên đội sốt ruột:

- Anh đứng dậy đi, đến lúc rồi. Hãy đứng kia; hơi nghiêng mình xuống nước.

Anh Việt Minh ngoan ngoãn làm theo, cùng hợp tác trước cái chết. Anh tiến lại gần bờ; viên đội hoàn chỉnh vị trí đứng của anh, chỉ cho anh nên cúi xuống ra sao. Sau khi viên đạn bắn ra, thân hình tự đổ xuống con lạch. Viên đội bắn; Anh Việt Minh đổ xuống nước. Con lạch đưa anh đi. Những xác chết như thế rất nhiều ở Nam Kỳ. Khi một hình người dạt vào bờ gần làng xóm, nông dân chỉ đẩy trở lại dòng nước.

Cái chết của Hercule tôi được nghe một người chứng kiến kể lại. Người ấy bảo L... bố trí những phòng tra tấn đủ trang bị. Hai anh Việt Minh được dẫn đến đó sau ngày bị bắt, rất sớm lúc tôi còn ngủ. Gần như phải xé nát người khổng lồ để cuối cùng anh mới nói. Anh xưng tên và thế là đủ. Đấy là kẻ giết người hung dữ nhất của Cường, chỉ huy quân Việt Minh. Như L... đã cảm thấy, không có cách nào dùng lại con người cuồng tín này. Anh kia, người mảnh khảnh đã bắt đầu "thú nhận" một ít khi bị treo trong chùa. Sau đó anh bị tra tấn đúng mức hơn để nói hết sự thật. Anh thú nhận hoàn toàn và L... quyết định cho anh vào đội cảnh sát công giáo của ông.

Bây giờ tôi đã hiểu cách đối xử của L... với tù binh và những người tình nghi. Đấy là sự "tra tấn có ích". Nguyên tắc tuyệt đối. Mọi Việt Minh - và cả bất cứ người nào bị nghi là Việt Minh - bị tra tấn cho đến khi thú nhận hết. Chỉ có nỗi đau đớn mới dứt được sự thật từ chỗ sâu thẳm của con người: không thế thì ai cũng giấu kín trong mình. Ở Châu Á, nơi chỉ là mưu mẹo và giấu giếm, con người bị lộ rõ sự thật là một người đã bị tước vũ khí, bất lực.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2018, 05:39:27 AM

Ngược lại, để tiến hành cuộc chiến L... cần phải biết tất cả, cần lột trần những đầu óc và con tim. Đấy là cách bảo vệ của ông. Khắp nơi đều bị đe dọa; nếu không biết từng điều nhỏ nhặt, có lẽ "chế độ" của ông kết thúc, là tự sát. Đối với ông không có vấn đề thương xót; thương xót không phù hợp với cách của ông. Vì vậy tuổi tác, giới tính cũng không được nương nhẹ. Trẻ em, phụ nữ khả nghi đều bị tra tấn.

Việc tra tấn đẩy tới lúc phải thú nhận đầy đủ, với nghệ thuật tăng dần. Hiếm có người bị hành hạ giữ được bí mật đến cùng, đến lúc người nát nhừ mà chết.

Có ba loại phán quyết - hành hình, tha thứ, chuộc tiền. L... xác định mỗi trường hợp dựa vào "giá trị" của con người vừa được phát hiện. Ông căn cứ trước hết vào sự hối hận, nhịn nhục, vào khả năng cải tạo và sử dụng lại. Không phải một việc xét xử mà đúng như phía Việt Minh, nhằm thiết lập một "giải pháp đúng đắn".

Tử hình chỉ thực hiện đối với những kẻ "không cải huấn được". Nói chung việc xử tử làm nhanh gọn, kín đáo, không tàn bạo, chỉ bắn một phát đạn vào đầu. Vì đấy không phải trừng phạt mà chỉ vứt bỏ những kẻ "trở ngại", những người thừa. Tuy vậy, đôi khi nếu L... thấy có lý do để làm cách khác, việc hành quyết sẽ là một cuộc tụ tập quần chúng, có vui chơi, giải trí. Lúc ấy là vấn đề uy tín để ổn định dân chúng sau một thất bại, hỏng việc. Hoặc đàn áp để trả đòn một người của ông bị xử tử bằng những cách xử tệ hại hơn. Sự tàn bạo là một hành động thống trị, một thách đố công khai Việt Minh.

Hầu như L... luôn luôn bắt trả giá đắt sự tha thứ của ông. Người được gia ân chuộc lại lỗi lầm một cách vất vả, nguy hiểm, để được "xứng đáng". Đấy là trường hợp anh sinh viên mảnh khảnh L... cho vào trong đội quân làm trinh sát. Nghĩa là anh sẽ khua bụi bờ, rừng rậm, đi trước hàng quân với chỉ một quả lựu đạn để tự vệ. Sự thử thách kéo dài ít nhất ba tháng. Kẻ khốn nạn ấy có nguy cơ bị mìn nổ hoặc nhận một loạt đạn vào bụng. Nhưng nếu thoát khỏi, anh trở thành một người lính thực thụ của L..., một con người với khẩu tiểu liên và tư cách, sẽ bảo vệ nền văn minh dưới nhãn hiệu chữ thập.

L... chỉ hoàn toàn độ lượng cho những người thật sự vô hại. Ba dân quê rất già được dẫn đến chỗ ông trước mặt tôi. Họ ở chỗ Việt Minh đến, quỳ gối, câm lặng sợ hãi. Phải khai thác họ từng lời. Họ nói phải đi làm công cho Việt Minh theo lệnh của hội đồng xã, cách đây hai năm. Từ đó ông chúa L... tiêu diệt hội đồng, giết hết các uỷ viên, thay thế hội đồng của mình vào, đưa lại bình yên. Ba ông già đã đào ngũ, muốn về nhà sống nốt quãng đời còn lại ở làng.

L... cho đưa những ông già tới. Tôi sợ cho họ nhưng ông nói:

- Câu chuyện của họ có thật đấy. Tôi sẽ cho họ về làng. Tôi báo với các hương chức là họ rất hối hận, hội đồng cũng phải tha thứ cho họ. Và thậm chí tôi bảo cho mỗi người một mảnh ruộng. Như thế họ có thể sinh sống và làm chỉ điểm cho tôi. Những ông già ấy có thể biết được nhiều điều. Họ còn có gia đình ở với Việt Minh...


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2018, 05:40:14 AM

Điều đáng khen và đáng sợ ở L... là ông có thể đưa lôgic lợi ích của mình đến mức nào, vượt qua mọi tình cảm, mọi ý niệm tốt xấu. Theo quan điểm đạo đức thông thường điều ấy đưa đến những ghê tởm nhất. Nhưng ông không bao giờ tự hỏi điều ông làm là cao quý hay ghê tởm. Ông không quan tâm đến những cái đó, chỉ nghĩ đến "hiệu quả" của hệ thống mình. Ông nói với tôi:

- Một trong những điều tôi ân hận là đã cho xử tử những kẻ ám sát anh tôi. Tôi có một người anh bị giết dã man ngay trên hòn đảo này bởi những người dân quê được chúng tôi bảo vệ. Họ giết để cướp của vì Việt Minh nói làm việc gì đối với người Pháp cũng được phép cả. Tôi tự bắt những người ấy, hỏi vì sao lại có thể làm quá đáng như vậy. Họ xin tôi tha lỗi. Tôi cho bắn họ ngã xuống vừa hô: "Nước Pháp muôn năm". Và ngay lúc đó tôi nghĩ mình sai lầm khi trả thù.

Nhưng cũng chính ông L... ấy hối tiếc đã không tha cho những kẻ ám sát anh mình, lại buộc bố tố cáo con. Thực ra ra điều này hơi phức tạp hơn việc "do thám" đơn giản. L... có trong tay mình nhiều người bố mẹ có con đi theo Việt Minh. Ông cho nói với họ:

- Tôi chấp nhận cho con ông bà thỉnh thoảng về thăm. Ông bà báo cho tôi khi chúng đến, nói lại với tôi những gì chúng nói. Nếu không sẽ tai họa cho ông bà.

L... để những người con trai ấy ra đi, chắc chắn họ sẽ bị Việt Minh trừng trị. Nếu không thế hẳn chúng đến chuẩn bị một cạm bẫy; lúc ấy những người bố mẹ coi chừng.

Bao nhiêu điều tế nhị! Đôi khi L... bố trí cho chúng biết một số việc trước khi ra đi: ví dụ những anh Việt Minh nào đó là nhân viên của ông. Thực tế không phải mà ngược lại là những người nguy hiểm, đáng sợ. Dù sao rồi L... cũng loại trừ họ được. Vì những "người đi phép" khi trở về chi đội, để cứu mạng mình hoặc để tôn giá trị sẽ báo cáo tên những người ấy. Vậy là L... làm cho Việt Minh thanh toán những người của họ mà ông sợ nhất.

Tất nhiên Việt Minh cũng tìm mọi cách thanh toán L... nhưng ông vững tin ở mình. Ông không ngừng lặp lại với tôi:

- Để "tóm" tôi, trước hết Việt Minh phải lừa được tôi. Nhưng "chế độ" của tôi được bố trí đến mức có việc gì gian dối là tôi biết. Biết rồi thì không nguy hiểm nữa.

Đúng là "chế độ" của L... thật hoàn hảo. Ông chiếm cả một lãnh thổ, xây dựng một bộ máy thống trị không thương xót với quân đội cai trị, các uỷ viên chính trị. Những vòng quay thắt chặt đến lúc toàn dân chúng bị khống chế. Việc làm ấy tự động một cách máy móc. Dân quê bị tê liệt như trong một mạng nhện, đã vâng lời, quy phục. Một kỹ thuật kích thích nào đó đưa họ vào sự nô lệ tuyệt đối. Mọi người tố cáo lẫn nhau.

Một biện pháp kỹ thuật khác thường nhưng cũng làm tôi khá nao lòng, không phải đến mức tàn bạo bao quanh - người ta thấy trên khắp Đông Dương, và L... không hề bạo tàn như Ba Cụt của Hoà Hảo hay Trịnh Minh Thế của Cao Đài. Nhưng ông có như một sở thích cay đắng trong việc tàn sát người, trong chiến thắng về tổ chức, trong cách thường xuyên đẩy nguỵ binh cầm súng, những hương chức lạy chào, trẻ em các trường vẫy cờ. Thật bạc nhược.

- Tôi chẳng sáng tạo ra gì cả, L... nói với tôi. Đấy là cách làm của đất nước này, không có cách gì khác. Nhưng sự chuyên chế của tôi sáng suốt. Tôi khuyến khích thương mại và công nghiệp, tôi tăng gấp đôi sản lượng đồng ruộng. Tôi làm cho dân quê thành một người mới, mạnh hơn, tân tiến hơn. Ông nghĩ tôi có thể thành công với cả cái mà ông gọi là "chế độ" của tôi, nếu không dân chúng tâm đắc với tôi ư?

- Ông làm như thế nào?

- Ông đến nhà tôi. Ông sẽ hiểu rõ hơn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2018, 05:43:38 AM

Lịch sử của L...

Đêm cuối cùng tôi ở đấy, L... đưa tôi về trong một ngôi nhà đẹp, vững chắc và yên tĩnh. Người ta tưởng gần như ở tỉnh, ở nước Pháp.

Bà L... đan áo, im lặng, hiều dịu, một đứa con trên đùi. Bà sống ẩn dật - mái tóc vàng nhạt, khuôn mặt xương đeo đôi kính gọng sắt. Một bà tư sản rất nhỏ. Tôi thích bà với sự đoan trang lịch lãm, xa cách cuộc chiến của L..., xa những tàn bạo, những lập luận không thương xót của ông! Làm sao tôi ngờ được đây là một nữ nhân viên Pháp mà tướng Latour đặc biệt chọn cho ông, để giám sát ông một ít.

Bố của L..., trong một bức ảnh, một tộc trưởng nông dân Pháp ở Tourane nhưng đã mòn mỏi chỉ còn bộ râu thưa bạc trắng và khuôn mặt láng bóng. Ông chào tôi với sự lễ phép xưa kia rồi chập chờn ngủ.

- Ông hãy nhìn bố tôi. Vì ông cụ, trước đây ra sao, đã làm những gì, đại diện cho những ai, mà tôi lao vào cuộc đấu này không thương xót. Đấy là cách của tôi để xứng đáng với ông cụ. Cuộc đời của ông trên hòn đảo này, đơn giản và sung sướng. Ông yêu dân chúng ở đây và cũng được yêu. Ông sống như một dân quê, cày ruộng với chiếc cày gỗ do một con trâu kéo. Ông cưới một bà vợ người đảo này, bà mẹ tôi. Bây giờ ông không hiểu những gì xảy ra, không hiểu mối hận thù này. Ông nghĩ một người già như ông ít nhất cũng không ai đụng tới. Ông biết người con trai khác của ông, anh tôi đã bị giết chết thê thảm.

Ngược lại, tôi từ nhỏ đã bị căm thù bao quanh, thích cái chết và tàn phá ẩn sâu trong tâm hồn người Annam. Điều ấy được tôi luyện rắn như thép trong tôi. Khi anh tôi bị ám sát, tôi hiểu phải tích tụ nhiều căm thù hơn. Để khỏi bị giết tôi phải giết. Để dân chúng không chống lại tôi, tôi phải lôi kéo họ về với tôi. Cuộc đời tôi là thường xuyên cảnh giác.

Tôi sống với tiểu liên cầm tay. Chưa đầy hai mươi tuổi, tôi vào rừng rậm Bắc Kỳ chống lại quân Nhật, trong nhiều tháng. Tôi là một trong những người Pháp đơn độc chống cự trong rừng mà không bị bắt hoặc chết vì kiệt sức.

Trở lại Nam Kỳ tôi tập hợp một nắm bạn bè hướng dẫn các đội quân của Leclerc. Một hôm đại tá của Đội quân viễn chinh thông báo với tôi nhiều người trong đội tôi bị bắt. Tôi nói nếu họ không được thả ngay, tôi sẽ tấn công nhà tù. Mọi người cười. Mấy ngày sau thì việc đó làm xong.

Đội quân lê dương giữ đảo An Hoà nhưng đột nhiên chuyển đi hết. Việt Minh sắp vào. Những đám cháy đã nhuộm đỏ chân trời. Hương chức sợ hãi van nài tôi. Tôi cho đánh mõ, phân phối một số vũ khí cho dân chúng. Tôi đi Sài Gòn mua chợ đen những vũ khí nghiêm chỉnh hơn. Tôi đã bắt đầu như thế đấy và bây giờ tôi đi đến cùng.

Cuộc phiêu lưu khác thường của L... sẽ dẫn ông đi đến đâu? Tôi rời An Hoà với một linh cảm chết chóc. Vì L... đã trở thành một người say - say chiến thắng. Và một ngày nào đó, loại lính đánh thuê ấy gặp lúc quá đáng, sẽ hết đời.

Tôi có nhầm một phần L... còn kéo dài ba năm. Ông đã có những tỉnh, trở thành đại tá. Vì lên cao mà ông đã ngã xuống. Dần dần "chế độ" của ông phân thành mảng. Các hương chức phản bội ông, các trung uý chối bỏ ông, quân đội phân tán, Việt Minh đã trở lại.

Sức mạnh chế độ của L... là chính L... Và cũng là điểm yếu. Tất cả dựa vào ông. Ông trở nên điên rồ. Ông là người dành cho An Hoà và đồng ruộng ở đây. Ông bị nghiền nát vì một số mệnh quá lớn.

Ông vẫn sống là người của những ân oán và mánh khoé, những cuộc âm mưu, những liều lĩnh điên rồ, hầu như mê sảng, không còn chút ý nghĩa nào. Và khi Đông Dương hoàn toàn "kết thúc" đối với người Pháp, ông lại chuyển đi với phần lý luận và kỹ thuật còn lại, sang những lục địa khác để đổ máu. Nhưng chỉ còn là một người làm thuê lệ tràn nước mắt, làm việc theo yêu cầu - một chuyên gia tốt không cá tính, về những nhiệm vụ đặc biệt. Ông làm lâu ở Algéria.

Nhưng L... không phải người duy nhất như thế. Tất cả những người khác thường đã có những thành công tương tự, có những vương quốc riêng, đều kết thúc như ông - hoặc tệ hơn là nhận một viên đạn vào đầu. Tôi nghĩ đến Vanderberghe, đến Rusconi và bao nhiêu người khác. Trong cuộc chiến tranh Đông Dương này kẻ phiêu lưu không đưa lại một giải pháp gì - chỉ có một vai trò phụ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2018, 05:44:21 AM

Con đường đi Cà Mau

Sài Gòn - Mỹ Tho - Vĩnh Long - Cần Thơ - Sóc Trăng - Bạc Liêu - Cà Mau. Tôi đọc tất cả những tên xa xôi ấy trên một tấm biển chữ Pháp treo phía trước một trong những chiếc xe ca Trung Hoa to, sơn đỏ, đầy chữ, bò trên đường như con bọ hung chở quá tải. Thế nhưng chiếc xe sẽ vượt hơn bốn trăm cây số đến tận đầu xa nhất, hoang dã nhất xứ Nam Kỳ, mũi Cà Mau đâm ra biển như một chiếc răng hỏng.

Chính qua trạm du khách lăn bánh này tôi được biết con đường đi Cà Mau được mở lại toàn bộ. Vì ở cuối, nơi con đường đi qua bãi sú vẹt hôi thối đã bị Việt Minh cắt đứt. Cả đoạn sau bị bỏ phế. Nghe nói người ta đã để lại Cà Mau, thị xã duy nhất xưa kia mọc lên giữa vùng đầm lầy sốt rét của Viễn Đông, khoảng một trăm lính lê dương để tượng trưng sự hiện diện của Pháp. Đã nhiều tháng họ bị chặn đứng lại, bị bao vây và đói.

Bây giờ Cà Mau đã được giải phóng. Hàng hoá của các nhà buôn Sài Gòn đổ về đấy với sức mạnh đồ sộ của thương mại. Tôi cũng quyết định đến đó.

Đấy là con đường 16. Suốt dọc đường từ Sài Gòn đến Cà Mau, Việt Minh tấn công, quân Pháp đẩy lùi họ. Không có con đường chiến lược nào thiết yếu hơn con đường này, nối liền với cửa sông Mékong và những nước Phương Tây xa xôi; và cũng là con đường lúa gạo, thậm chí là dải băng văn minh. Việt Minh muốn phá hoại nó và người Pháp cứu nó bằng mọi giá.

Các chi đội của Nguyễn Bình ẩn nấp quanh đấy, trong thiên nhiên, người ta không thấy. Nhưng Đội quân viễn chinh dồn đống ngay trên đường với những đồn bốt, tháp canh, các tiểu đoàn, không có chỗ nào quan sát thực trạng hơn ở đây được. Tôi sống tại đó nhiều tuần, đi từ chỗ đại tá này đến đại tá khác, từ đội này đến đội khác. Và như thế tôi nhận thấy không chỉ có một Đội quân viễn chinh mà hàng nghìn.

Bộ máy quân sự không thống nhất, tuyệt đối phân tán, chắp vá. Không có chính quyền và lãnh đạo trung tâm. Tất cả đều do các đơn vị và người, mỗi người làm theo ý mình với điều kiện tuân theo một luật nào đó.

Tôi viết lại những gì đã thấy. Thật khó rút ra kết luận vì tất cả mâu thuẫn nhau. Nhật kí viết về Đội quân viễn chinh của tôi là một loại bi-hài, không ngừng đi từ thái cực này đến thái cực khác, từ cực điểm hài hước và tàn bạo đến những đức tính cao cả của sự quên mình và chủ nghĩa anh hùng. Đôi khi tất cả những cái đó đồng thời, xen lẫn vào nhau không gỡ ra được.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2018, 05:45:25 AM

Cái chết ở Lương Hạ

Hành trình này bắt đầu bằng một cảnh hài hước. Vì gọi thế nào khác được buổi lễ mà một đại tá Pháp nghiêm chỉnh, nhân dịp này đến để tổ chức theo quy chế quân sự? Cảnh sát Lương Hạ - những người còn lại - đứng thành hình vuông. Viên đại tá ấp úng độc lời tuyên dương, gắn huân chương, mồ hôi nhỏ giọt. Ông khen thưởng trung uý Paul, một người Việt Nam ba mươi tuổi, đẹp như một bức ảnh quảng cáo lính bổ sung, ăn mặc rách rưới. Việc tuyên dương vẫn tiếp tục. Bây giờ người ta thưởng những người chết, vẫn những từ ấy. Nhưng anh ngụy binh ấy đã bị giết, như bao nhiêu người khác. Đại tá phân phối huân huy chương cho gia đình những người chết. Đây đến lượt một bà góa trẻ búi tó, rồi một ông bố cao quí, cả hai vô cảm, con họ không bị bóp cổ trước mắt họ mấy giờ trước đây. Chuông nhà thờ khua vang, quân lính sống sót bồng súng chào, đại tá hô to: "Cử nhạc khai mạc, kết thúc buổi lễ." Điệu Marseillaise vang lên.

Buổi lễ này là tất cả những gì người Pháp đưa lại cho những bất hạnh của làng công giáo Lương Hạ. Thế mà chính họ là những người chịu trách nhiệm về bi kịch này. Lương Hạ là một làng Gia-tô giáo phía tây nam Đồng Tháp Mười, cách đường 16 khoảng vài chục cây số. Nhân dân sống yên bình nghe theo Việt Minh - nhưng ở Sài Gòn một ban tham mưu đã chuẩn bị một kế hoạch mở rộng việc bình định. Một hàng quân ập đến Lương Hạ. Người ta tập hợp cha cố và dân quê, tổ chức một đội cảnh sát nông dân, xây dựng cả một bốt và tháp canh xung quanh làng để tự vệ. Rồi cả phái đoàn ra đi, để lại một trung đội do một đại uý Pháp chỉ huy. Hậu quả là việc tàn sát làng Công giáo lúc nửa đêm. Việt Minh chỉ cần một tiếng đồng hồ để tấn công, đốt và giết.

Cả làng bị san bằng trừ nhà thờ. Bình thường với khối lượng lộng lẫy, nhà thờ đã đè bẹp cảnh nghèo nàn, như trong mọi làng Gia-tô giáo Annam. Bây giờ trong không khí buồn bã, ngôi nhà của Chúa có vẻ càng đồ sộ hơn.

Lương Hạ khốn khổ! Những người sống sót, trên đất cháy đen, lượm lặt những tàn dư một cách máy móc, rất kiên trì. Họ sắp xếp lại những mẩu dây thép, những mảnh chum vại vỡ, những hạt thóc gạo cháy sém, tất cả những gì còn lại. Im lặng lan rộng đến trẻ em. Không có tiếng khóc. Những người chết được chôn cất và như bị quên đi. Hoàn cảnh sống quá tối tăm làm những người sống không nghĩ đến họ nữa. Vẻ xinh đẹp duy nhất giữa đám người già nhăn nheo và những đàn bà không có tuổi, là những thiếu nữ tóc dài đến gót, là những Eva Phương Đông chưa sợ hãi lắm. Họ cười vô tư. Nhưng nụ cười của những cô bé ngây thơ này càng làm sự buồn bã của nơi này thêm cay đắng.

Viên đại tá sau khi gắn huân chương vào trong tu viện. Vị linh mục muốn nói chuyện với ông. Một ông già Annam, cao gầy, khổ hạnh - chỉ còn là nỗi sợ hãi đáng thương. Giọng nhỏ nhẹ bề trên, ông khẩn cầu đại tá cho ông một chữ ký để ông có thể lên Sài Gòn; quá mệt mỏi, ông muốn nghỉ ngơi trong một nhà hưu trí.

Nhưng viên đại tá, to khỏe, hoạt bát, vui vẻ nói với linh mục bổn phận của ông này là phải ở lại với con chiên để an ủi họ bằng tấm gương của mình.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2018, 05:46:06 AM

Vị linh mục ánh lên vì màu da và chiếc áo dài đen, nhân danh giáo dân Lương Hạ, trình bày với viên đại tá:

- Giáo dân còn có thể hy vọng gì? Không ai cày bừa, làm lại nhà cửa. Tướng Việt Minh, chỉ huy chi đội 308 đã nói với chúng tôi cuộc tấn công vừa rồi chỉ là đòn cảnh cáo: lần sau nếu vẫn theo Pháp, đàn ông sẽ bị bắn chết. Chúng tôi đề nghị người Pháp để lại những lực lượng quan trọng trong làng. Cũng đề nghị gửi gạo và thuốc men cho chúng tôi. Nếu không Việt Minh sẽ tiêu diệt làng hoặc chúng tôi chết vì đói và bệnh tật.

Để trả lời đại tá chỉ đũa cánh tay lên trời. Ông ngoảnh lại phía tôi nói một cách ngây thơ:

- Những người này không thể thỏa mãn được. Tôi không phải Chúa trời. Không thể để quân đội lại khắp nơi, trước hết là tôi không có. Về gạo tôi không có một khoản kinh phí nào. Dù sao tôi cũng báo cáo việc này lên cấp trên.

Viên đại tá có bao nhiêu điều bận tâm, quan trọng hơn nhiều. Sáng nay ông đã sẵn sàng cho tôi biết. Ông không ngớt lặp lại:

- Ông nghĩ, một sáng thức dậy mà tôi không thấy chiếc cầu của tôi!

Đây là chiếc cầu sắt rộng lớn trên đường 16 vượt con sông đổ nước từ Đồng Tháp Mười ra, một loại tháp Eiffel nằm. Nó có tầm quan trọng quyết định, một lực lượng giao thông rất lớn qua lại đây.

Một trong những đêm trước, ông kể lại, một Việt Minh trần truồng, một người nhái thực thụ, theo dòng nước đưa đi không bị phát hiện cho đến cột cầu giữa. Anh ta đặt ở đấy một quả bom hẹn giờ vào tám giờ sáng, giờ một đoàn xe lớn đi qua. Quả bom không nổ.

Chúng tôi lại lên thuyền ra đi, để mặc Lương Hạ với số phận cùng một ki lô huân chương thừa. Trong lúc chúng tôi trôi theo dòng nước, viên đại tá tỏ ra bận rộn, vẫn vì chiếc cầu. Trong lúc chúng tôi hành quân nó có bị phá đổ không? Khi thấy nó nguyên vẹn, ông thở ra nhẹ nhõm! Ông bèn nói nhiều về việc bố trí phòng thủ để tôi thán phục hệ thống đèn chiếu, những phao tiêu, những tấm lưới.

- Dù thế tôi vẫn không yên tâm, ông kết luận với tôi. Những người Việt Minh ấy ranh mãnh lắm.

Viên đại tá này gặp may. Cuối cùng Việt Minh đặt bom làm sập cầu nhưng mãi về sau, khi một sĩ quan cao cấp khác phụ trách khu vực này.

Dù sao, chia tay với viên đại tá Lương Hạ tôi biết vì sao người Pháp sẽ không thắng được cuộc chiến tranh Đông Dương. Vì đối với ông cũng như bao sĩ quan khác, một chiếc cầu quan trọng hơn một làng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2018, 04:46:49 AM

Cuộc chiến lạ lùng nhất

Những con bọ cánh cứng lớn bị cả đàn kiến tấn công - đấy là hình ảnh của cuộc chiến lạ lùng nhất trên đường 16. Thực vậy, cả "khối" dân quê ra khỏi đồng ruộng và đêm tối, với số lượng người, nhấn chìm những chiếc xe bọc thép Pháp mà quân lính chính quy với mìn và đại liên không tiêu diệt được. Người Pháp đã thắng nhưng kinh hoàng tận cùng.

Việc đó xảy ra quá Mỹ Tho, chỗ con đường 16 đi qua đoạn nhô lên của Đồng Tháp Mười. Con đường hẹp lại, chỉ còn là một dải trông như nổi lên trên nước hôi bẩn. Người ta cảm thấy nguy hiểm, không thấy bóng dân quê. Xe cộ, từ những chiếc "ca Trung Hoa” lớn đến những chiếc Jeep quân sự, chạy hết tốc độ trong sự vắng lặng. Vì con đường không chỉ là giao thông mà còn là mặt trận. Việt Minh trong lau sậy rất đông, rất gần. Cứ từng cây số - trên năm mươi cây số - sừng sững một tháp canh đồ sộ màu hoàng thổ, hình vuông, một loại nhà thờ Hồi giáo. Cảm giác thật lạ lùng! Tôi đang trong đoàn Spahis thứ 3, trong số các đội quân hỗn độn người Maroc.

Trung đoàn những chiến binh quý phái này từ nhiều tuần nay đã đẩy lùi những đám đông không kể xiết của Châu Á. Từng đêm, "khối người" nhận chìm các tháp canh và những xe của trung đoàn như con thoi, đến giải phóng. Muốn thế phải cắt một con đường qua đám đông khốn khổ đang tấn công, đè bẹp họ, giết họ.

Tôi dừng lại ở Cai Lậy, trung tâm chỉ huy, pháo đài chính chỗ để những xe bọc thép. Đêm thù địch sắp xuống trên bốt, trùm lên diện tích bao la đầm lầy bắt đầu từ cách đấy mấy mét, sát ngày bờ rào tre, bao trùm con đường, mảnh băng cần bảo vệ, là chiến trường trong mỗi đêm.

Tôi ngồi trong "phòng ăn chung" cùng các sĩ quan trẻ và "cuồng nhiệt".Trời vừa tối mà trong rừng dừa gần đấy đã nổi lên tiếng trống dọa dẫm. Rồi im lặng; chỉ có tiếng kêu của cóc nhái; chẫu chuộc, nhưng là lúc chờ đợi căng thẳng.

Trong bốt mọi con mắt đăm đăm nhìn vào đêm tối, mọi bàn tay nắm lấy vũ khí, sẵn sàng nhả đạn. Binh lính, sĩ quan như chìm trong sự chú ý cực điểm. Hình như chẳng còn gì tồn tại. Dấu hiệu duy nhất của cuộc sống là tiếng nổ đều đều của chiếc máy phát điện.

Rồi cuộc sống tập trung trong một gian phòng. Tiếng người đối thoại không dứt. Đây là tổ đầu não của toàn bộ sự bố trí. Đài Cai Lậy nói chuyện với các đài khác trên đường 16 - cứ sáu cây số có một điện đài, ở những tháp canh chính. Những tin tức nối tiếp nhau rất lâu, bình thản, cả một nhịp điệu tên, nghe hầu như kỳ cục. Bỗng đến nửa đêm vang lên những từ ngữ chiến tranh: "Đây là Tignasse. P29 được báo có một sự đụng độ nghiêm trọng, địch tấn công bằng súng tự động..." "Đây là Tapir, P29 vừa bắn pháo đỏ đề nghị hỗ trợ..."

Tôi nhớ đến P29; khi tới đây tôi đi qua tháp canh ấy. Mọi vật ở đấy thật nên thơ. Ở chân tháp, một đứa bé câu cá trong lạch. Bây giờ còn gì ở đấy?


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2018, 04:48:08 AM

Có người vỗ vai tôi. Trung uý M... hỏi: "Tôi đi cùng đội tuần tra xe bọc thép đến cứu viện P29. Ông có đi không?" Tôi ngồi cùng ông trong chiếc A.M dẫn đầu, một chiếc tăng chín tấn, dò từng mét đường với con mắt độc nhất - chiếc đèn chiếu gắn ở đỉnh tháp. Trong lúc đi trên con đường hư không này, một hồi tưởng khó chịu nảy ra trong óc tôi: ngay chiều nay khi chiếc xe Jeep tôi đi qua, một chú nhóc kéo sợi dây ở đầu buộc chiếc hộp sắt. Tôi biết Việt Minh cho nổ mìn theo cách này.

Ngay lúc ấy đèn chiếu rọi trên bờ đường có tấm bia một ngôi mộ người Trung Quốc. Trung uý M... nói với tôi:

- Chính phía sau tảng đá này hôm kia một Việt Minh ẩn nấp cho nổ mìn phá huỷ một chiếc xe hướng đạo của một đội tuần tra chúng ta.

Tôi cảm thấy ông theo dõi từng vệt bánh xe, xem ít đất nào bị xáo hoặc đá sỏi lộn xộn. Vì mọi thứ đều là cạm bẫy. Không chỉ có mìn kéo dây đáng sợ. Việt Minh còn đào đường chôn những bánh thuốc nổ có thể lật nhào những chiếc xe A.M như của chúng tôi. Đấy là những thiết bị mạnh không tránh khỏi được. Người ta gọi chúng là "mồ chôn" từ khi một chiếc xe bị đốt cháy vì a xít, bật lên và lật nhào trong một chỗ có quái vật này.

Chúng tôi tiến lên. Phía sau là những chiếc xe hướng đạo đầy lính Sénégal và nguỵ binh. Cách hai trăm mét, một chiếc A.M khác đi tập hậu, bóng nó như một con quái vật. Một cuộc tuần tra ban đêm là như thế. Có vẻ như nó chống chọi được một tiểu đoàn Việt Minh, ít nhất là theo lý thuyết. Vì vừa biến mất một đội, người và của tương tự, gần Sóc Trăng. Không một người nào trở về.

Chúng tôi vẫn đi. Trong đêm tối chỉ có tiếng những chiếc xe lạo xạo, chỉ có ánh đèn pha và đèn chiếu. Bỗng tiếng đạn cối rít trên đầu chúng tôi nhưng nổ phía trước hai, ba cây số: những viên đạn của hai khẩu 88 của Cai Lậy. Ở sở chỉ huy trung tâm người ta bắn bảo vệ P29.

Chúng tôi vẫn không gặp trở ngại gì, qua các bốt P25, P26, P27 có vẻ đang ngủ phía sau hàng rào cũ. Đến P28, một lính nguỵ ra hiệu có nhiều Việt Minh ở phía xa.

Đi thêm mấy trăm mét. Viên trung uý qua ống nói, hét lên với người lái xe A.M "Chậm lại". Một khối bùn khổng lồ cao hơn một mét chắn ngang đường. Không gian hoang vắng nhưng tôi chắc chắn đêm tối lúc nhúc người hơn bao giờ hết. Không một bóng người, không một tiếng động nhưng viên trung uý khẳng định trước đây mấy giây hàng nghìn dân quê hối hả bê những tảng bùn dưới đầm lầy chất lên đường. Đám đông ấy vẫn ở đấy, rất gần, nằm trong lau sậy như người chết.

Chúng tôi dừng lại. Tĩnh lặng tuyệt đối. Người ta cũng chẳng bắn ở P29, chỉ cách rào chắn bùn khoảng trăm mét. Đội tuần tra xe bọc thép bắt đầu phá bỏ trở ngại. Công việc tiến hành chính xác và nhanh gọn. Những chiếc A.M chuyển bùn thả xuống diện tích lau sậy bên cạnh. Lính Sénégal, cũng đen như đêm tối tới những bờ cao bên đường nắm chặt súng máy nằm xuống. Từ trong những chiếc hướng đạo, đám tù binh được mang theo phục vụ, nhảy xuống, những bàn tay trần phá huỷ những việc làm của những bàn tay đúng như thế, có lẽ của bạn bè, bà con họ vì họ cũng là dân quê trong vùng.

Trong thời gian ấy viên trung uý đi lại với vẻ chán nản:

- Đêm nay P29 không thực sự bị đe dọa. Khi làm công việc này ở một tháp canh sắp bị hạ ở phía kia thì khác thường hơn nhiều. Lúc ấy người ta san đất giữa tiếng trống, tiếng hét, những lời nguyền rủa và các loạt đạn. Thỉnh thoảng thấy Việt Minh ném những thanh củi cháy lên đốt tháp canh. Để tranh thủ mấy giây, người ta bắn ca-nông vào rào chắn. Như vậy tạo nên những ngọn lửa pháo vì do tiếng đạn cối nổ, tất cả lựu đạn và những "rác bẩn" Việt Minh đặt bẫy cũng nổ khắp nơi. Đất tung lên như suối phun, dân quê của họ và một số của chúng tôi bị xé nát. Tôi cho lính Sénégal tấn công vào những tàn dư và thịt ấy rồi chúng tôi đi.

Nhưng đêm ấy việc công kích rất bình lặng. Chúng tôi lại đi và vào trong P29, chỉ hơi thiệt hại một ít. Lính nguỵ trên tháp đã bắc thang đưa một người xuống, bị thương rất nặng.

Với điện đài trong chiếc A.M viên trung uý hỏi tất cả các bốt, nhưng các nơi đều cùng trả lời "Không có gì cần báo cáo”.

- Những đêm trước ông không có ở vùng này, trung uý mỗi lúc càng thất vọng nói với tôi. Ông ta thấy hàng nghìn dân quê trên đường; hàng chục rào cản, tất cả các bốt bị tấn công, một số cháy dở. Một cuộc chiến lạ lùng chống lại bùn và "khối lượng người" tỏa ra từ khắp nơi. Đội tuần tra xe bọc thép lao vào những rào cản như một loại bơ, nhưng ngay sau khi họ đi qua, dân chúng ẩn mình trở lại, làm những gì họ đã phá huỷ. Tuy vậy phải đến đúng lúc dùng ca-nông giải phóng những tháp canh đầy kẻ tấn công. Không bao giờ kết thúc được, luôn luôn phải bắt đầu lại từ đầu. Việc đó kéo dài liền bốn đêm vì những đám đông không cạn từ đồng ruộng ra mang bùn lại ào tới. Tuy thế mỗi sáng con đường vẫn được “mở”.

Chúng tôi đã giết bao nhiêu đàn ông, đàn bà và trẻ em? Tôi cũng không biết. Chỉ có sự tàn sát mới cứu được chúng tôi. Việt Minh đã dự kiến cuộc tàn sát ấy. Họ tổ chức đẩy dân chúng ra trận, nghĩ rằng chúng tôi không tiêu diệt được bao nhiêu và sẽ bị thác người đánh bật đi và bị tiêu diệt. Họ đã nhầm nhưng thật kinh hoàng!


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2018, 04:48:49 AM

Một buổi tối, trống nổi liên hồi và các mồi lửa rơm bện phá tan đêm tối - những ngọn lửa, dấu hiệu tấn công. Vai trò của "dân chúng" cuối cùng xuất hiện trước mắt chúng tôi. Việt Minh "thả" họ trên đường nhằm làm chán nản một nhóm người Pháp trước làn sóng người không vũ khí. Đội quân chính quy mai phục phía sau.

Tất cả bắt đầu cùng một lúc. Ở Cai Lậy đài chúng tôi chỉ còn là một hợp âm chói tai những lời gọi thất vọng. "Đây là Tignasse. Tất cả những tháp canh của chúng tôi đều bị tấn công. P21 đang bốc cháy". "Đây là Tapir. Những làn sóng tấn công ào vào P26 và P27". Khắp các nơi đều như vậy. Bốn mươi hai tháp canh lần lượt bị tấn công. Tôi lo lắng tự nhủ: "Bao nhiêu tháp gục ngã?" Nhưng tôi còn lo hơn cho những chiếc cầu.

Với hai khẩu 88 chúng tôi bắt đầu bắn chặn bao lấy những tháp bị đe doạ nhất - tầm bắn đã được tính toán trước. Đêm đỏ rực lên. Tôi có cảm giác đạn cối mất đi vô ích trong khoảng không bao la. Hai đội tuần tra xe bọc thép đã ra đi. Và tôi chỉ huy, buộc phải ở lại vị trí, tự hỏi chúng có vượt qua được rào chắn không. Người ta báo cáo có hàng chục, một số cao đến hơn hai mét. Và rồi bỗng nhiên Cai Lậy bị dội móc-chi-ê. Không quan trọng lắm.

Bây giờ đã có nhiều chi tiết. Từng phút một các đài báo tin. Trên suốt phần đường chúng tôi, Việt Minh tiến hành rất giống nhau. Quân chính quy ngụy trang trong các rừng dừa lân cận, dội vào tất cả các tháp canh bằng móc-chi-ê và đại liên. Khi một tháp bị trúng đạn, dân quê cầm đuốc ùa vào. Họ điên lên, hầu như chỉ có dao dựa, luôn tiến tới vừa cười vừa hô, nhào lên dây thép gai và tre vót nhọn. Trong số đó có cả đàn bà, trẻ em.

Bên trên, lính ngụy bị vây trong những vọng lâu bốc cháy, ném lựu đạn xuống hạ sát từng đám người. Nhưng hầu như vô ích, đám đông phục hồi lại nhanh chóng, bao giờ cũng nhiều và hăng say.

Giữa các tháp canh bị quần chúng bao vây, có những đám quần chúng khác cũng nhiều vô số làm rào cản, cho đến lúc những chiếc tăng A.M tiến lại gần bắn vào họ. Lúc đó họ mới tản ra, mang người chết và bị thương đưa lại các hố. Việc biến mất này như có ma thuật. Nhưng những chiếc xe bọc thép vừa đi qua, đám dân quê trở lại bù đắp lỗ hổng, cũng cố rào cản.

Vượt một rào cản, đội tuần tra đến một tháp canh bị vây hãm, càn quét dân chúng ở đây rồi tiến tới các rào cản và các tháp canh khác.

Cảnh ấy tiếp tục suốt đêm. Những chiếc A.M không ngớt đi, lại trên năm mươi cây số của con đường. Mỗi lần đi qua họ lại thấy những tháp canh ấy bị bao vây, những rào cản ấy được tổ chức lại. Đấy là cuộc chạy đua với thời gian, phải làm nhanh, trở lại đúng lúc, trước khi dân quê hình thành được những rào cản không vượt qua được, chưa chiếm được hoàn toàn các tháp canh. Chỉ một lần xe bọc thép đến chậm, họ thấy tháp bị phá hủy, những người bảo vệ và gia đình bị tàn sát.

Tuy vậy, cuối cùng những chiếc xe A.M đã thắng sau đêm thứ tư chiến đấu. Phải cả thời gian ấy để đánh bật khối người được tập hợp lại. Sắt thép đã chiến thắng. Lần này chúng ta đã thắng được số lượng người Châu Á, thật đáng sợ.

Điều lạ lùng, vào buổi sáng sau mỗi đêm như thế không còn dấu vết nào của những lộn xộn ấy, của đám dân chúng và xác chết. Người ta sửa sang lại con đường. Các nhóm nhân công phá bỏ nốt các rào cản, ngụy binh làm lại hàng rào bao quanh. Đến mười giờ giao thông lại tiếp tục: các "xe Trung Hoa" nối đuôi nhau chạy với những khối hàng lớn. Thương mại tiếp sau chiến tranh. Dân chúng Việt Minh của khu đầm lầy hoàn toàn biến mất làm người ta nghĩ là một giấc mộng xấu. Nhưng hoàng hôn tới, cơn ác mộng vẫn thành sự thực cho đến đêm nay không còn nữa.

Tôi tưởng việc những đám đông quần chúng kết thúc, và bây giờ là hòa bình theo lề thói của chiến tranh du kích thông thường. Nhưng phải chăng người ta sẽ thất vọng? Đông Dương vẫn biến động hơn, vẫn tạo cho ta một hư ảo thường trực.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2018, 07:52:39 AM

Cuộc hành quân hư không

Xuống phía dưới một trăm cây số nhưng vẫn còn gần với con sông lớn Bassac, cuộc sống trở lại. Đấy là Sóc Trăng, thủ đô lúa gạo. Với danh hiệu này các bên đều để yên thị xã ấy trong hòa bình, với những hoạt động thương mại.

Thay vì cảnh vắng vẻ, tôi đến một thị trấn, một nơi đầy những chủ đại gia tầm thường, hơi suy sụp vì lẫn lộn thành thị thuộc địa, đông đúc Châu Á, rác bẩn, hôi thối và mọi thứ thô thiển.

Sự kiện lớn là cứ hai, ba tháng đoàn tàu thuyền đồ sộ chở vụ thu hoạch lên Sài Gòn. Có hàng cây số thuyền mành do tàu kéo và được bảo vệ bởi những sà lan trang bị vũ khí của Hải quân Pháp. Lượng lớn người, xe cộ ấy hàng nhiều tuần lễ ngược dòng sông Bassac, Mékong và những mương đào lên thủ đô. Đoàn thuyền đầy lúa gạo, trị giá nhiều triệu đồng. Các bên đều tính toán về chỗ đó; đoàn thuyền gạo đại diện cho bao nhiêu cuộc thương lượng, dàn xếp, mua bán bí ẩn! Đôi khi xảy ra sự không thống nhất về tài chính và Việt Minh tấn công. Lúc ấy thật lộn xộn, bê bết những dây cáp và tàu, dân lái thuyền biết bao kinh hãi. Đàn ông thất vọng chèo lái, đàn bà và trẻ em kêu la, trong khoang thuyền, trên những bì gạo giữa những tiếng súng nổ. Dòng nước trôi xuôi phá vỡ khối người và vật ấy. Các sĩ quan hải quân Pháp, luôn mặc đồng phục, ra lệnh vô vọng. Đại liên nhả đạn và các tàu kéo rít lên.

Thực tế ở Sóc Trăng, cuộc chiến chính là giữa tỉnh trưởng trẻ, một người chột lầm lì và đại tá chỉ huy quân khu. Một cuộc tranh chấp lúc nào cũng nặng nề và quyết liệt. Hàng ngày người ta đấu đá nhau, báo cáo gửi lên cấp trên, cao uỷ và tổng chỉ huy để tố cáo lẫn nhau.

Dù thế nào Việt Minh cũng không xa. Để giành lấy vinh quang, nhất là để được chính quyền Sài Gòn tín nhiệm hơn, thỉnh thoảng viên đại tá tổ chức những cuộc hành quân truy quét địch. Tôi đến đúng lúc ông đang chuẩn bị một cuộc như thế - nhưng là một điều rất bí mật.

Cuộc hành quân không có tên. Vì việc các chỉ huy đặt tên cho những cuộc giết người của mình chưa được tung ra thành mốt. Sau này họ lấy tên vợ, con gái mình đặt cho chiến dịch, đi đến cả thuật ngữ của gia đình bất hợp pháp như ở Điện Biên Phủ.

Ở Sóc Trăng năm 1949, chưa đến lúc đó nhưng không quan trọng. Dù cuộc hành quân vô danh, viên đại tá rất chu đáo: ông muốn chiến dịch thật hoàn hảo.

Sự thực đã có một mẫu chuẩn cho loại chiến dịch này. Vấn đề là bố trí xung quanh mấy người Việt Minh định tiêu diệt một thiết bị đồ sộ. Phải tiến hành một cách khoa học, bí mật, không để lộ việc chuyển quân và phương tiện. Sau đó chỉ còn "thu hẹp vòng vây", "xiết gọng kìm" và "bắt mồi trong lưới".

Thông thường người ta chẳng bắt được gì trừ những lời tuyên bố. Vì vậy người ta luôn bắt đầu lại năm này qua năm khác cũng những người ấy, thiết bị ấy, theo cách ấy - bao vây và càn quét. Những cuộc hành quân nặng nề và vô ích như vậy đã có bao nhiêu và sẽ còn có bao nhiêu nữa ở Đông Dương? Hàng trăm, hàng nghìn.

Sau một tuần hoạt động sốt sắng trong các văn phòng ban tham mưu quân khu, ngày N sắp tới. Một tối viên đại tá triệu tập tôi đến. Ông làm một cuộc "hội ý" lớn trước những tấm bản đồ ban tham mưu chiếm hết cả một bức tường. Giọng nói ông giản dị và thỏa mãn. Dĩ nhiên ông tự hào về "chiến lược" của mình trải rộng dưới ánh sáng qua những mũi tên đủ màu sắc.

- Ngày mai tôi đưa ông đi cùng. Chúng tôi sẽ tiêu diệt một chi đội Việt Minh. Căn cứ của họ là một làng trên bờ con kênh lớn nối liền Sóc Trăng và sông Bassac. Chúng ta lên một chiếc LCT lúc hai giờ sáng. Rạng sáng đã trông thấy mục tiêu. Tiểu đoàn lính Maroc ùa sâu vào quét sạch làng. Họ sẽ không tìm thấy Việt Minh, tôi biết, nhưng nhiệm vụ chính của họ là gây sợ hãi, dồn Việt Minh về phía Bassac. Lúc "quân vô lại" tưởng đã chạy trốn được là lúc chúng rơi vào bẫy của tôi. Vì trong lúc đó một chiếc tàu chiến của hải quân Cần Thơ ẩn vào một khúc sông sẽ đổ bộ một đội biệt kích chặn hậu. Việt Minh bị dồn đuổi sẽ đụng phải đội quân này, chỉ còn việc đánh hạ. Mọi việc đã được dự tính. Điều kiện thắng lợi là khi thoát ra chúng không lẩn xuống bờ - như vậy thì phải vượt qua con kênh. Nhưng chiếc LCT của tôi sẽ xô tới không chậm trễ; tôi có cả một máy bay truy tìm và xả đạn vào quân địch nếu chúng láu lỉnh.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2018, 07:53:51 AM

Làm sao tôi không tin vào đại tá được? Bốn mươi lăm tuổi, hồng hào, quý phái và phong thái rất đẹp. Ông thể hiện biết bao quyền lực khi mình trần, đội mũ ca-lô đỏ, tự mình lái chiếc xe jeep khinh thường chạy trên những con đường của thủ đô! Ngồi vào tay lái bao giờ ông cũng có bên cạnh một người Maroc quấn khăn trên đầu và dữ tợn, để nhắc nhở ông là một sĩ quan phụ trách công việc địa phương, một ông chúa cao cấp hơn nhiều những sĩ quan trong quân đội bình thường.

Nhưng tôi vừa ra khỏi văn phòng ông thì viên đại uý tham mưu trưởng níu lấy tôi:

- Ông sẽ không thấy bóng một Việt Minh, tôi có thể cam đoan với ông như vậy; Chính tôi làm kế hoạch, đã sáng tác ra ý tưởng thiên tài của "ông chủ".

Ở Sóc Trăng có những sĩ quan tham mưu không hề giống chỉ huy của họ, ít nhiều họ sinh ra từ tầng lớp dân chúng. Đại tá thì không bao giờ nắm chi tiết những cuộc hành quân; chính thuộc hạ ông chỉ đạo cuộc chiến, nhất là đại uý trưởng ban tham mưu.

Đây là một người thể trạng ốm yếu, ăn mặc lôi thôi, khô cứng lại như tấm da cũ nhưng thực tế khỏe mạnh và ranh mãnh, chịu đựng được mọi thử thách. Nguyên hạ sĩ quan ông đã qua các trận địa, các cuộc chiến tranh, bao giờ cũng ở những bốt tồi tàn nhất, vươn lên được do những công sức đáng khen của cấp dưới, những vết thương và khen thưởng; ngực ông là một mảng ngân hàng huân chương.

Ở Sóc Trăng ông làm việc rất có lương tâm nhưng luôn kêu ca, rên rỉ, khóc lóc. Lạ là con người này, đã thấy đủ màu sắc, ghét cuộc chiến tranh Đông Dương, như quá sợ hãi. Vừa mở miệng là tuôn ra hàng tràng chán nản tinh thần.

Nỗi buồn của viên đại uý thường vào giờ khai vị. Vào giờ này đáng lẽ vui vẻ, ông như chìm đắm vào những suy tư, ông tỉnh ra là để càu nhàu:

- Các ông biết không, anh ấy, một người bạn cũ vừa bị giết trong một trận phục kích; anh kia trúng mìn, mất một chân; anh nọ phát điên; một anh được đưa về nước cách ly, vấn đề lỵ amip, thật may mắn! Tôi thì như một xác chết thối rữa người ta đưa trở về Pháp.

Thế là toàn ban tham mưu vừa nhấm kẹo và uống cô nhắc - sôđa, cũng than vãn theo. Chủ yếu cũng vì lịch sự và bắt chước chứ các sĩ quan khác không phải là những người nhiều tưởng tượng. Nỗi buồn chán chấm dứt ngay khi đại tá xuất hiện - gậy chỉ huy cầm tay, nét mặt nghiêm trang và cao quý, nói năng chậm rãi. Vì ông không bao giờ suy sụp tinh thần. Ngược lại, là chỉ huy, ông biết nói với cấp dưới.

Nhưng mọi người biết ông sẽ không làm gì. Vì quân khu Sóc Trăng sẽ sụp đổ nếu không có đại uý; tất cả những lời than vãn dai dẳng không ngăn cản được ông là người nhẫn tâm nhất trong những con "bò cái", thực sự "vắt được nhiều sữa" vì biết mọi đường dây.

Sự phối hợp giữa hai người tiến triển rất tốt. Vùng xa xôi này của Sóc Trăng gần như được bình định. Lẽ tự nhiên đại tá cho rằng nhờ có ông. Ý của ông là Việt Minh đã rất suy yếu do những cuộc tàn sát ông tiến hành trong khu.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2018, 07:55:39 AM

Thực ra xung quanh Sóc Trăng có một dân tộc ít người, vài trăm nghìn Khmer. Dọc con đường 16 đổ máu, Sóc Trăng như một ốc đảo, nhuốm vẻ thanh bình phật giáo của người Khmer. Dù sao cũng còn khá nhiều Việt Minh để làm hài lòng đại tá và làm đại uý không hài lòng. Vì những làng Khmer có xen lẫn những làng "bất hảo" Annam và một số Khmer đã bị lây nhiễm.

Điều đó cho phép đại tá âm ỉ chuẩn bị những cuộc hành quân như chiến dịch tôi được chứng kiến. Sau đó ông gửi báo cáo thắng lợi lên Sài Gòn, bất kể những lời cay độc của cấp dưới!

Ban đêm khi chúng tôi lên tàu với toán lính Maroc, viên đại uý không vui nhưng đại tá mặt mày rạng rỡ. Thái độ vui vẻ của ông không hề mất đi khi con tàu quá nặng và quá lớn so với con kênh nhỏ khúc khuỷu nên bị sa lầy. Để trục nó lên, đoàn thủy thủ phải mất mười phút chửi rủa và chèo chống. Tôi sợ sự huyên náo ấy báo động Việt Minh. Đại tá thân mật trấn an tôi: "Chúng ta tóm chúng ngay tại sào huyệt".

Mọi việc khó khăn, kéo dài. Trời sáng đã lâu chúng tôi mới cập bến trên bờ bùn lầy và nhảy lên đất liền. Tôi nhận thấy ngôi làng cần đến, một đám đen cuối chân trời. Phải qua một cánh đồng rộng; chúng tôi tiến lên hàng đôi. Tôi lội bì bõm theo đại tá, trong lớp bùn bẩn và hôi thối. Bùn hút lấy chân, bám chặt vào và làm đen chân. Lớp bẩn của đồng ruộng dính vào da. Tôi hiểu vì sao ở Đông Dương, chiến binh nhận ra nhau ở "bàn chân" của họ; chỉ những người "vớ được công việc bở" bàn chân mới sạch sẽ.

Trong lớp bùn lầy đáng sợ này chúng tôi tiến lên chậm chạp đến thất vọng, vừa mệt nhọc. Mọi phía đều có thể thấy chúng tôi, dù ở xa người ta cũng trông rõ đám người nôn nóng và bí mật của đại tá!

Không một tiếng động, một phát súng, một con người. Chúng tôi đơn độc với nhau, những người Pháp, Maroc nặng nề, đang thực hiện hoạt động đã dự kiến, đúng theo mũi tên chính trên tấm bản đồ của đại tá. Nhưng làm sao chúng tôi không bị phát hiện được?

Đến tám giờ rưỡi chúng tôi đang giữa cánh đồng. Mỗi phút viên đại tá lại sửng sốt nhìn đồng hồ. Không chịu nổi nữa, ông hỏi tôi:

- Ông có nghe một tiếng nổ nào không?

- Không, thưa đại tá.

- Có việc gì xảy ra vậy? Vào giờ này chiếc tàu của Hải quân bỏ neo ở Bassac đã phải bắn một phát ca-nông báo cho chúng ta đội quân chặn hậu đã được bố trí.

Đại tá tiếp tục xem đồng hồ; mỗi lần xem lại hỏi tôi cùng câu ấy:

- Ông không nghe thấy gì sao?

Tôi không nhận ra một tiếng động nào. Đến chín giờ mười lăm, đại tá nhăn mặt triết lý; ông đã quen với những bất ngờ của chiến tranh.

- Tôi cảm thấy có "trục trặc" rồi, ông tâm sự với tôi. Một anh lính già như tôi, việc ấy nhận ra ngay. Tôi cam đoan là ở chỗ Hải quân!

Điện đài liên lạc được với Hải quân. Họ rất ngạc nhiên, nghĩ việc chặn hậu dự kiến vào ngày mai. Sai sót thời gian...

Dù sao đại tá cũng không hài lòng. Ông càu nhàu sẽ viết báo cáo lên Sài Gòn đề nghị trừng phạt. Vì, không có quân chặn hậu, cuộc hành quân thành vô nghĩa. Việt Minh thoát đi như họ muốn.

Tuy vậy đại tá lấy lại sự thanh thản để kết luận:

- Vì kế hoạch đã được bố trí, chúng ta cứ tiếp tục. Biết đâu! Cuối cùng, hết khoảng bùn lầy, đồng ruộng, chúng tôi đi hàng một trên một bờ kênh, đến những mái nhà tranh đầu tiên. Làng hoàn toàn vắng vẻ - không một người dân, không một Việt Minh. Mọi người đã ẩn nấp trong bụi bờ, đầm lầy lân cận từ lâu. Chúng tôi tiếp tục tiến lên, không có việc gì khác. Cứ đi bộ như vậy hai, ba cây số vì khu dân cư trên khoảnh đất liền này dài vô tận. Vẫn tuyệt đối hoang vắng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2018, 07:56:15 AM

Tôi đi dọc hàng quân: đội quân đi đầu làm trái ngược hẳn với đội sau, theo đường lối chính trị mềm mỏng; Một sĩ quan ra lệnh triệt để cấm đốt phá. Ông cho thả truyền đơn khuyến khích dân chúng về với sự bảo vệ yên bình của người Pháp - những người này được cơ quan tâm lý chiến Sài Gòn cử tới.

Ngược lại, ở phần đuôi người ta quyết tâm thực hiện thông tư của Văn phòng 3 Đội quân viễn chinh ghi rõ phải diệt cơ sở của quân địch bằng mọi cách. Quân lính cố đốt những mái tranh bằng diêm và bật lửa nhưng nó ẩm ướt quá không bắt lửa. Thế là họ đập vỡ mọi thứ - chum vại lúa, bình, giường chõng, những tài sản nghèo nàn của dân quê. Và rồi đi xa hơn, mang theo lợn gà.

Bỗng tất cả ngừng lại. Giữa hàng quân, đại tá biến mất, Cả một sự lộn xộn. Viên đại uý cử tuần tra đi mọi hướng để tìm. Mười lăm phút trôi qua trong lo lắng, vẫn không thấy đại tá! Đột nhiên ông xuất hiện, chúa tể hơn bao giờ hết từ phía người ta không ngờ tới. Ông kêu lên ngay, giọng chỉ huy:

- Mất trật tự như vậy là thế nào? Vậy là tôi không đi xa được mấy phút mà việc không tồi tệ đi sao?

Chúng tôi lại ra đi, theo con đê, sau nhiều khúc quanh đến được chỗ con kênh tàu LCT chờ chúng tôi. Chiếc máy bay thám thính độc nhất đưa về cho quân khu - chiếc máy bay đại tá đã kể với tôi - cũng ở đấy. Phi hành đoàn có phát hiện ra quân lính Việt Minh người ta định tiêu diệt. Họ chỉ cách chúng tôi hai trăm mét, trước mặt, bên kia con kênh. Mười lăm phút trước đây họ qua kênh trong những con đò, trước mắt chiếc LCT mà người ta chẳng thấy gì.

Con "mồi" rất gần, bây giờ đã phát hiện ra nhưng đuổi theo làm gì? Vì phải vượt qua kênh mà chúng tôi chỉ có chiếc LCT. Thời gian lên tàu từ bờ bên này, đổ bộ ở bờ kia thì còn đâu Việt Minh. Việc đó cũng phải mất hơn một tiếng đồng hồ.

Rất khôn ngoan, đại tá quyết định bỏ rơi chi đội mặc số phận của họ. Và bước ngoặt của những sự kiện cũng cho phép ông tự an ủi một phần về "trục trặc" từ đầu.

- Kết cục, việc Hải quân Cần Thơ nhầm một ngày cũng chẳng quan trọng. Vì dù đội quân "chặn hậu" có mặt tại chỗ cũng không được việc gì, sẽ chẳng thấy ai. Việt Minh không đi theo con đường được dự kiến. Họ rẽ theo hướng khác. Quân súc vật!

Chúng tôi lại lên chiếc LCT, nhưng để đi xuống phía dưới mấy cây số của sông Bassac, chỗ con tàu Hải quân cắm neo. Dù sao đại tá cũng nói thẳng ý nghĩ của mình với số lính thuỷ. Ông cũng muốn "mắng chửi" viên đô đốc có mặt trên tàu.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2018, 07:57:49 AM

Vị trí Cà Mau

Điều ngạc nhiên ở Đội quân viễn chinh là khả năng lột xác, nặng trĩu những yếu kém, những kỳ cục; cuộc chiến chỉ còn là một hài kịch tầm thường đẫm máu. Nhưng đột nhiên, những nhân vật tầm thường - những kẻ khoe khoang, kiêu ngạo, khoác lác, mánh khoé; ngu xuẩn - làm cho người ta khâm phục vì sức dẻo dai và tính không vụ lợi. Đức tính sâu xa của tất cả những lính đánh thuê Pháp, sĩ quan cũng như binh lính, trong hoàn cảnh bắt buộc, tự quên mình, quên những định kiến, vươn tới tầm cao.

Viên đại tá của Sóc Trăng là thế, biến đổi dưới mắt tôi thành một chỉ huy thực sự, điều độ và tỉ mỉ.

Một hôm ông bảo tôi:

- Tôi sẽ đưa ông đến làm vinh dự cho Cà Mau. Đây còn trong khu tôi.

Ông nói với tôi theo kiểu một chủ trại hào hoa đưa khách đến thăm đất đai mình. Một chuyến đi nguy hiểm. Phải gần trăm cây số người ta mới đến vùng cuối Đông Dương, giữa rừng ngập nước, giữa vũ trụ sống dưới nước, trong lãnh địa của lữ đoàn hải ngoại đáng sợ. Con đường là đoạn cuối đường 16 bị cắt đứt nhiều tháng mới sơ bộ sửa chữa lại. Qua con đường người ta đến một nơi đồn trú tưởng đã mất đi và chỉ là một đầu đinh ghim trong khu vực bao la để lại cho sốt rét và Việt Minh.

Ngày ra đi đại tá rất thoải mái, phong cách đẹp hơn bao giờ hết. Tôi ngồi bên cạnh ông trên chiếc xe jeep ông tự lái lấy, dĩ nhiên mình để trần. Người lính Maroc quấn khăn chuyển xuống ghế sau. Một đoàn tùy tùng nhỏ đi theo chúng tôi.

Vừa rời khỏi Sóc Trăng con đường Cà Mau đã thê thảm. Chỉ còn là con đường đất nện đi thẳng, vô tận đến một vùng bằng phẳng dọc theo một con kênh, cảnh đông đúc Châu Á nhường chỗ cho một sự vắng vẻ tuyệt vời; nhịp sống, giao thông chấm dứt. Người ta bước vào cái chết toàn bộ, thiên nhiên cũng bị huỷ hoại. Người Pháp áp dụng đường lối tiêu thổ khắp các vùng chung quanh.

Chỉ ở xa, phía chân trời người ta mới thấy tán cây rừng và màu xanh đồng ruộng. Ở gần hơn là cỏ cây bị đốt cháy, cây bị hạ; trạng thái tự nhiên chỉ còn nước tù hãm hôi thối. Đại tá bỏ một bàn tay mang găng ra khỏi tay lái, khoát rộng chỉ cho tôi khoảng mênh mông chẳng còn gì:

- Chúng tôi phải cấm mọi sự hiện diện của người, cả cây cối trong vòng hơn một cây số bên này và bên kia đường để tránh việc phục kích. Các làng bị dỡ ra, chuyển đi từng nhà một ra khỏi "vùng trắng" của con đường. Tôi ra lệnh cho quân lính bắn vào bất cứ ai, một sinh vật sống nào có mặt ở đấy không cần cảnh báo. Riêng đoàn xe "ca Trung Hoa" cho đi lại - có thể xóa bỏ tất cả trừ thương mại.

Nhưng tôi thấy khoảng không cũng không đưa lại sự an toàn. Dù thiên nhiên đã bị cạo trơ trụi những cuộc phục kích vẫn phát triển. Phải xây dựng những chiến tuyến dọc con đường.

Thực vậy, con đường mang sự hiện diện đều đặn về quân sự, gần giống như một con đường sắt với hệ thống biển báo. Một lần nữa tôi nhận ra những yếu tố chuẩn của cuộc chiến tranh Đông Dương. Với vẻ đơn điệu mệt mỏi, chúng tôi đi qua những đồn bốt to nhỏ, tháp, vọng lâu, trước vô số lô-cốt, dây thép gai, súng máy, cờ và binh lính mọi chủng tộc. Nhưng ở đây, trong cảnh điêu tàn của con đường 16, trong cái hư không tạo ra, việc bố trí trải dài này cho tôi một cảm giác lạ lùng không phải thể hiện sức mạnh mà một vũ trụ tập trung trong đó mỗi người là tù nhân của người vô hình, của miền cực tây, của sự đe doạ thường trực.

Vì quân địch luôn luôn ở đó mặc dù mọi cải tiến về hạ tầng kiến trúc, mọi sáng kiến, tất cả những triệu bạc chi phí, mặc dù tất cả những kho tàng của trí tưởng tượng quân sự. Quân đội phí công tìm một áo giáp nguyên vẹn cho con đường, Việt Minh vẫn không ngừng tiếp cận và tấn công. Họ luôn tìm được những chỗ rạn nứt.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2018, 08:00:34 AM

Chúng tôi lăn bánh trong nhiều giờ. Tôi nhận ra những chỗ phục kích nhờ những cử động đầu của viên đại tá. Khi đến một góc đáng ngại, ông nhìn vội sang phải, sang trái nhiều lần liền, như việc đung đưa người của khán giả cuộc đấu tennis: để tìm xem phía dưới chỗ nào có thể xuất phát cuộc tấn công, vả lại trong các xe hộ tống tất cả những cái đầu đều cùng động tác ấy, thể hiện nỗi sợ hãi một cách máy móc, kỳ lạ.

Vượt qua nhiều cây số không khí mỗi lúc càng nặng nề. Toàn cảnh hoang dã. Xung quanh chúng tôi ngút ngàn một vùng đầm lầy, bùn đen điểm những chấm trắng là vô số chim. Trong các bốt, các sĩ quan báo cáo có ba chi đội tập hợp cho một cuộc tấn công. Giông tố sấm rền, cả tiếng ca-nông nhả đạn. Xa xa ngọn lửa một đám cháy lớn bốc lên. Một làng đang cháy.

Thị xã Bạc Liêu là nơi văn minh cuối cùng, với những đường phố, cửa hàng thực sự, đông dân. Tiếp đó ngột ngạt hơn. Những nơi đồn trú rào kín, đóng chặt hơn. Tuyệt đối trống không. Quang cảnh chỉ lầy lội và năn lắc, nước đỏ ngầu đầy rác bẩn dập dềnh đến vô tận.

Và rồi xung quanh con đường cả những công sự bảo vệ cũng giảm thiểu và biến mất. Đường 16 chỉ còn là một giải đất hoàn toàn đơn độc, hoang vắng, nổi lên trên mặt nước.

Sau hàng chục cây số trống vắng hoàn toàn tôi bỗng thấy một khoảng đất liền - có xây công sự, vuông vắn, xung quanh là tháp và vọng lâu. Nhưng gần như là một ảo ảnh. Vì lại gần chỉ có vài bức tường mỏng manh bằng tre bao quanh mấy căn nhà tranh trên một vạt đất bùn nện. Chỉ là khổ sở và nghèo nàn, cũng buồn và trơ trụi như môi trường xung quanh.

- Đấy là làng lính ngụy của chúng tôi, đại tá giải thích. Người ta đưa họ từ xa tới đây cùng với gia đình vì trong vùng ngập nước hoang vu này không có dân cư, không làm cách nào tuyển mộ được. Chỉ những toán Việt Minh bám trụ lại được - nhưng trong những hoàn cảnh thật đáng sợ!

Bố trí người của chúng tôi ở đây là cả một vấn đề. Không có gì hết, thậm chí không có mấy mét vuông đất cứng. Trước hết, với những chiếc thúng nhỏ, làm một chiếc bánh bùn khổng lồ, san ra, để cho khô - đấy là nền. Sau đó để xây dựng chẳng có đá, gỗ; chỉ lau sậy và một ít tre. Kết quả là một xóm dân nghèo chứ không phải bốt. Trong ổ chuột này không một người Pháp, không có cả một hạ sĩ của thuộc địa. Thế mà quân lính trong đó không phàn nàn, thậm chí tự bảo vệ nữa.

- Tại sao ông không cho làm một bốt Pháp thực sự?

- Sẽ quá nghiêm trọng nếu bị hạ, mà gần như chắc chắn sẽ bị hạ.

Còn đi nhiều cây số trong hoang vắng và chúng tôi vào trong khu rừng lớn ngập nước. Giống như trong đêm tối. Từ mặt nước đen ngòm trồi lên những thân cây chằng chịt dây và rêu. Một mớ rối beng khổng lồ những hình thù vô định, tối tăm, cuộn vào nhau mơ hồ gần như ác mộng. Hầu như không thấy gì, nghe gì. Nhưng chẳng có gì dọa dẫm hơn cảnh tĩnh lặng trong rừng.

Thực vậy, trong im ắng bỗng nổi lên những tiếng cồng. Có những dấu hiệu, những đám khói rất gần. Đại tá tăng tốc nhưng không đi nhanh được vì cây cỏ mọc trên đường. Tiếng trống đuổi theo chúng tôi, hình như sắp bắt kịp.

Rồi trong mấy giây là ban ngày, ánh sáng mặt trời. Đột ngột ra khỏi bóng xanh mờ tối, chúng tôi đi vào một lòng chảo đầy song mây mục nát, nửa dầm trong nước - một trong những vùng trũng thường thấy trong rừng. Chúng tôi đến Cà Mau, nơi tận cùng thế giới.

Không còn nỗi o ép của rừng. Lại là cảnh buồn chán của một không gian trống không, của vùng đất bị cháy. Lần này thì do Việt Minh phá huỷ và đốt. Họ nhấn chìm cả một thành phố, trước đây là một thị xã thuộc địa xinh xắn. Một lớp cỏ và cây bụi không gỡ được đã phủ lên toàn vùng.

Chỉ có một số đổ nát cây cối trùm lên. Sú vẹt thỉnh thoảng bị ngắt quãng vì những đống gạch đá - những gì còn lại của các ngôi nhà. Những cây phượng thẳng hàng còn xác định được ranh giới nhưng con đường đã biến mất. Và cứ nghĩ vì những đổ nát ấy mà tôi đến từ xa như thế!


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2018, 08:01:28 AM

Tuy vậy, sa mạc xanh này chứa đựng bao nhiêu người, nhưng họ ở đây để chém giết lẫn nhau. Đấy là những lính lê dương, chốt chặt trong một loại thành trì. Xung quanh họ là Việt Minh ẩn nấp trong những đống đá vụn và bụi cây. Lô cốt của họ đã sụp đổ nhưng cuộc chiến vẫn tiếp tục.

Lính lê dương rút vào một góc xây cứng cát giữa khoảng bốn cạnh là kênh mương. Họ sống sau những vị trí nổ súng, bắn chặn, trong những lô cốt và công sự, ít bị vây hãm hơn trước đó. Và bây giờ so lại, họ thật sung sướng! Vì nếu đại tá đôi khi "tự đến" theo con đường được mở lại bia rượu cũng đến và cái này bù đắp cho cái kia. Và rồi họ còn sống sau khi cứ nghĩ sẽ chết! Sự thử thách thật ghê gớm.

Những người ở đây kể lại với tôi:

- Chúng tôi suýt bị điên; đến đây đã gần một năm, trong những đổ nát bệnh hoạn này, trong một thành phố bị đốt cháy luôn luôn có những trinh sát và xạ thủ Việt Minh. Người ta từ trên cây cao bắn hạ chúng tôi. Ban đêm những chi đội toàn vẹn dội súng cối vào chúng tôi. Họ ở bên kia con kênh, vẫn múa hát.

Một thời gian vô tận chúng tôi bị cách ly với thế giới bên ngoài; con đường bị cắt. Một hôm việc tiếp tế không đến, người ta báo trước sẽ không có nữa. Chúng tôi là quân lính lê dương bị mất hút ở Cà Mau. Tuy thế chúng tôi sống sót, đánh nhau cả ngày lẫn đêm. Khi không cầm tiểu liên thì nắm lấy bay. Chúng tôi nỗ lực xây dựng lại trong sáu tháng thành trì đã sụp đổ, không tự vệ được. Phải có những đợt hành quân biệt kích để thu nhặt đá ở những đống đổ nát gần nhất. Không có nước uống, phải dùng tay đào lại chiếc giếng sâu bốn mươi mét bị Việt Minh lấp đất và mìn. Thật kinh hoàng khi vét lại chiếc lỗ không đáy này! Bao nhiêu người chúng tôi bị tử nạn khi gỡ đá từng nắm tay một!

Thức ăn chỉ một bát cơm mỗi ngày. Chúng tôi đi mò tìm như mù, kiệt sức trong đầm lầy, sú vẹt, những gì ăn được để sống. Nhưng thiên nhiên trống không, thù địch, bao la. Một hôm chúng tôi dắt về được một con trâu - thật vui mừng, thật thịnh soạn! Nhưng một lần khác trong lúc đi kiếm thức ăn như thế chúng tôi bị cả một tiểu đoàn Việt Minh bao vây. Phải chiến đấu dữ dội để thoát thân và chúng tôi có những người bị giết. Sau lần đó chúng tôi không ra ngoài nữa.

Cơn điên rình mò chúng tôi trong thành trì chết tiệt này, trong mấy mét vuông nhà tù bị nóng nực, sốt rét và đói khát hành hạ. Bị thương, bị bệnh cũng không có thuốc. Chúng tôi u buồn, dễ nổi cáu, bạc nhược gần đi đến chỗ tự sát hoặc nổi loạn. Nhưng chúng tôi vẫn trụ vững, không tưởng được con người có thể chịu đựng được như thế. Việt Minh gọi hàng, chúng tôi trả lời bằng nhả đạn. Nhưng chúng tôi chẳng còn hy vọng gì.

Chúng tôi chỉ còn chờ chết, không thể kéo dài lâu nữa. Chính lúc đó nghe đài biết người ta sẽ đến cứu chúng tôi. Mấy ngày sau các tiểu đoàn hành quân giải phóng xuất hiện. Chúng tôi là những người bị kết án tử hình trở về với cuộc sống. Thật tuyệt vời. Từ đó Cà Mau cũng là một bốt như mọi bốt khác. Chà, nếu ông đến được vào thời kỳ ấy...


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2018, 08:03:31 AM

Cái chết của viên đại uý

Mấy tháng sau tôi gặp một sĩ quan Sóc Trăng ở Sài Gòn.

Chúng tôi cùng uống khai vị ở khách sạn Continental. Trong tiếng ồn của đại lộ Catinat, ông cho tôi những tin tức của quân khu:

- Ông đại tá sắp hết nhiệm kỳ, sẽ trở về Pháp, sắp tới chẳng còn người cũ nào.

- Thế còn ông đại uý phó chỉ huy?

- Thế nào, ông không biết sao? Ông ấy bị giết cùng hầu hết ban tham mưu. Thật ngu ngốc. Ông bị tiêu diệt trong một cuộc phục kích bình thường cách Sóc Trăng vài cây số, đi trên chiếc xe jeep cùng các sĩ quan trong một chuyến thanh tra trở về. Việc đó xảy ra trên con đường lớn, trong vùng được xem là đã bình định, chắc chắn sẽ không có trở ngại gì, vì đã ở ngoại ô thị xã. Một khẩu tiểu liên xả đạn vỗ mặt.

Ông đại uý khốn khổ! Ông chết đúng như ông đã dự kiến. Tôi nhớ rất rõ giọng nói thảm hại của ông khi tuyên bố cuộc chiến tranh này "sẽ diệt" ông như sẽ diệt mọi người và ông sẽ trở về Pháp trong một chiếc quan tài. Điều ấy đã đến.

Ông đã đau đớn nhiều trước khi tắt thở! Một viên đạn bắn trúng chân xoáy trong chân thành vòng quanh xương. Ông chết vì hoại thư ở bệnh viện Sài Gòn.

Cái chết của ông làm các nhà chức trách quân đội bối rối. Họ phát hiện ra ông có hai bà vợ. Vợ chính của ông và các con ở với bà mẹ. Nhưng sau Giải phóng ông cưới một cô gái đẹp ở Strasbourg và cũng đã có con. Và đám cưới hoàn toàn hợp pháp, trước mặt thị trưởng. Tôi không rõ quân đội giải quyết tiền tuất ra sao với các bà góa. Có vẻ hai bà cố gắng dàn xếp tốt nhất để không nhấn chìm thanh danh của ông đại uý.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2018, 08:04:20 AM

Những chúa tể của cuộc chiến tranh

Cách xa Nam Kỳ chìm đắm trong tàn bạo, xa những đám dân chúng người ta giành giật bằng mọi kỹ thuật, xa sự hoạt động của lớp đông người và đồng bạc, có một cuộc chiến tranh du kích khác.

Điều này xảy ra trên xứ Thái, được gọi thế vì nhân dân chủ yếu ở đây là một nhánh xa của dòng tộc Thái.

Vùng này thiên nhiên hung dữ và bao la, chỉ là những rừng rậm không được biết đến, những rặng núi đáng sợ, những vực thẳm. Gần như không tiếp cận được: trước kia để tới đó phải mất hàng nhiều tháng vì xa xôi và sốt rét!

Vả lại có ai tới đó? Một vùng hoang dã núi rừng cách biệt tất cả, ở phía nam dải sông Hồng, dưới chân cao nguyên bao la Vân Nam. Để lên đấy phải đi xuồng ngược dòng sông Đà tuần lễ này qua tuần lễ khác hoặc đi bộ không dứt theo đường mòn. Hành khách thật hiếm hoi.

Thế nhưng khi đã lên đến xứ Thái, người ta phát hiện ra đấy là địa đàng. Vì trong cảnh vắng lặng ấy, qua nhiều thời đại Châu Á nó vẫn giữ nguyên vẻ đẹp và cổ kính nhất - cuộc sống êm dịu, tình yêu và sắc đẹp, sự tàn bạo ngây thơ. Và những chúa tể của chiến tranh bảo vệ những phong tục tổ tiên ấy.

Đến vùng ấy là đắm mình trong bóng tối thời gian. Những điều ấy vần còn, nhưng được bao lâu?

Vì muốn đến xứ Thái chỉ phải mất hơn hai giờ đi máy bay. Bỗng nhiên vùng này bị cuốn vào guồng máy chiến tranh hiện đại. Cán bộ chính trị và quân lính Việt Minh đã lên đấy. Người Pháp cử các đội quân lên đánh. Các bên lôi kéo vào những rối rắm của họ nhân dân vùng núi và thung lũng vốn hạnh phúc trong sự lười biếng, chỉ lắng nghe lúa mọc và trồng một ít cây thuốc phiện.

Tôi cũng sẽ tới đó, muốn xem sự đụng độ giữa Châu Á cổ kính và Châu Á mới. Thậm chí tôi phải nhanh chân, sợ thiên đường xứ Thái rồi sẽ biến mất, do những lực lượng ghê gớm của thời đại này tàn phá.

Thực tế, người Pháp nắm lấy người Thái, chỉ làm chậm lại sự thất bại thảm hại trong mấy năm. Bản thân họ, để chống sự thâm nhập và tấn công của Việt Minh, ngày càng dấn sâu vào núi rừng xa xôi ấy. Cuối cùng họ hoàn toàn bị nhận chìm: các tiểu đoàn xung kích của họ sẽ bị tiêu diệt trong lòng chảo Điện Biên Phủ do các sư đoàn của ông Giáp vây hãm.

Năm 1948 chỉ là bước đầu một quá trình. Chỉ những phân đội yếu tham chiến. Chủ yếu vì Việt Minh tự lựa chọn vùng rừng núi để đụng độ với người Pháp: ở đây họ chiếm ưu thế. Bi kịch đã bắt đầu nhưng người ta còn chưa biết. Có ai hình dung xứ Thái có thể là mồ chôn Đội quân viễn chinh. Người nào nói trước điều đó sẽ bị cho là điên và bị giam kín.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tư, 2018, 05:37:04 AM

Chọc thủng màn mưa bụi xuống Sơn La

Mưa phùn. Một lớp bông bao trùm châu thổ Bắc Kỳ. Làn mưa bụi không dứt. Trời mây u ám lẫn trong đất ngập u ám. Dù sao vẫn phải tiến hành cuộc chiến trên châu thổ trơ trụi và ướt át này, trong một vũ trụ bể kính, trong bùn, nước bẩn đồng ruộng, trong lầy lội những bờ đê và đường sá.

Tôi sắp bay đến vùng rừng rậm đầy nắng, tới Sơn La, Lai Châu và Lao Cai. Tôi đang ở sân bay quân sự Bạch Mai, Hà Nội. Khoảng vài chục máy bay Junker lụ khụ, xếp hàng bên nhau như bị sương mù nuốt chửng. Những chiếc máy bay khốn khổ này, bị thế giới bỏ quên, là toàn đội không lực Pháp ở Bắc Kỳ. Chúng làm cầu nối tất cả những đồn bốt ở miền cao Bắc Kỳ và Lào, đóng trong rừng rậm như địa ngục rộng lớn bằng một nửa nước Pháp.

Một điều lạ của cuộc chiến tranh Đông Dương là dải rừng rộng lớn này còn thuộc về người Pháp hoàn toàn bị cắt khỏi châu thổ Bắc Kỳ. Nó bị ngăn cách bởi "hành lang" Việt Minh vùng hạ lưu sông Đà nối tứ giác Hồ Chí Minh với Annam đỏ của Vinh và Thanh Hóa. Vậy là những chiếc Junker này chơi trò nhảy cừu trên hành lang ấy đến những bốt trong vùng rừng núi, đảm bảo sức sống cho quân lính giữa nơi cô quạnh.

Ngày này, qua ngày khác, những "tảng thép" sửa chữa qua quít ấy bay đi. Mặc mưa phùn mùa đông, gió mưa mùa hạ với những giông tố bão bùng, mặc núi rừng ngổn ngang, chúng phải thực hiện toàn bộ kế hoạch tiếp tế những khu đồn trú ở địa đầu thế giới. Chúng phải nặng nề quay vòng trên những vùng "bị rơi đột ngột", giữa những chỏm núi, mây mù, thả xuống những hộp quý giá cuối những chiếc dù nhiều màu sắc; đối với những người ở dưới, cuộc sống đến từ trời cao. Vì vậy cầu hàng không chẳng bao giờ ngừng lâu. Junker phải vượt qua mọi thời tiết.

Không có một sự "hướng dẫn" nào từ mặt đất. Các đội bay tự định hướng, thường tan vỡ vì đụng phải một chỏm núi cao xuất hiện bất ngờ. Ngày nay ở Bạch Mai một nhà kho tạm biến thành một nhà nguyện cho người chết. Trang trí bằng mấy mảnh vải dù, vài cánh chong chóng; bàn thờ dựng lên trước một chiếc máy bay bỏ đi. Nhưng xác không ở đó mà nằm tan tác đâu đấy trong rừng biên giới Trung Quốc, ở chỗ nào không biết, không tìm ra, chỗ máy bay bị va đập. Không may, máy bay không chỉ chuyên chở tiếp phẩm mà cả người. Một toán hai mươi quân nhảy dù chết. Đấy là tai họa thứ năm loại này trong một tháng.

Người ta đến tìm tôi để chuẩn bị bay. Tôi đi lại trong sân bay, hình ảnh của thiếu thốn mọi thứ. Khắp nơi là dấu vết những vật dụng quân sự cũ, quang cảnh của một trại lính bỏ bê.

Không có máy bay tiêm kích cũng không có máy bay bỏ bom ở Đông Dương. Cũng không ai đòi hỏi. Phi công giải trí bằng cách ném đạn cối qua cửa Junker xuống Việt Minh họ nhìn thấy. Khi mệt họ bảo thợ máy mắc bom dưới buồng máy bay. Nói chung hệ thống hoạt động nhưng người ta không bao giờ chắc chắn bom rơi. Vả lại cũng chẳng quan trọng, đấy chỉ để giải trí. Việc hạ cánh sẽ thích thú hơn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tư, 2018, 05:37:38 AM

Hôm ấy, giữa sân bay chết một chiếc Junker ầm ì như một con bọ hung. Đấy là chiếc tôi sẽ lên. Phi hành đoàn báo trước sẽ cất cánh dù không thấy gì, về nguyên tắc phải cấm bay. Người ta vẫn đi vì là một nhiệm vụ ưu tiên tuyệt đối. Phải hạ cánh ở Sơn La để nhặt năm thương binh nặng đang hấp hối chờ mang đi. Phi công lái cuối cùng nói với tôi:

- Dù sao "chọc thủng" sẽ gay go.

Tôi không hiểu điều đó có nghĩa ra sao nhưng không dám hỏi.

Vừa cất cánh gặp ngay trở ngại, không gian gần như đông đặc. Với những đợt dồn lực máy, với tiếng rú mệt nhọc, chiếc Junker lên dần, khó khăn. Rồi trong hai tiếng đồng hồ dai dẳng, máy bay vào trong đêm trắng. Tôi cảm thấy nguy ngập nhưng "những người ném hàng" uống rượu nho và ngồi xổm trên sàn.

Cuối cùng Junker quay vòng tìm kiếm cái gì đó. Bên ngoài bầu trời đục hơn bao giờ hết. Một hành khách khác, một sĩ quan bộ binh co ro trong tấm chăn giải thích cho tôi:

- Chúng ta đang ở khoảng phía trên Sơn La. Để đến đây chúng ta phải theo một hướng định trước. Về nguyên tắc sau một thời gian - hình như hai giờ mười lăm phút chúng ta ở thẳng đứng với Nà Sản, sân bay Sơn La. Bây giờ là lúc "chọc thủng" xuống, không một dấu hiệu nào từ mặt đất mù mịt, tất cả đều do bản năng. Đội bay đang tìm một chỗ sáng hơn trong mây mù để lao vào và hạ cánh gần như an toàn. Nếu không tìm thấy chỉ còn cách nhắm mắt lao xuống, một loại cá cược may rủi. Vì bên dưới địa hình "nhấp nhô” và nhiều khả năng đâm vào một ngọn núi hơn là xuống đúng bãi đáp.

Chiếc Junker bỗng bổ nhào xuống. Qua những đám mây tôi nhận thấy một đám đen lớn lao vào chúng tôi. Đấy là một chỏm núi. Chỉ trong một phần giây, phi công lái lật chiếc máy bay, đúng lúc tránh được cú va chạm. Cuối cùng chúng tôi vào một ánh sáng mờ, bay trong hành lang kỳ lạ ở trong lòng một hình tam giác sáng giữa nền trời mây và hai cánh thẳng đứng một thung lũng hẹp và sâu, chật đến nỗi từng lúc máy bay sắp chạm cánh. Sau mười phút chúng tôi ra khỏi đường hầm; những dãy núi liên tiếp đáng sợ đến mức người ta khó hình dung con người sống được ở đó chứ đừng nói đánh nhau.

Một đường máng mở ra trước mặt chúng tôi, máy bay đậu xuống. Tôi chỉ thấy một đường băng đầy cỏ giữa núi rừng. Thế mà chiến tranh đã ở đấy trên sân bay rẻ mạt này thể hiện trước hết dưới hình thức một chiếc Junker tan thành mảnh trên một bờ thấp gần đấy. Một chiếc xe cứu thương cổ xưa kỳ cục. Từ toa xe trước hết bước ra một đại uý gầy như người chết hoặc vừa thoát chết. Ông tới gần khập khểnh trên đôi nạng. Đấy là một bóng ma gắn lon, với những cử chỉ giật giật và nghiêm túc, chào phi hành đoàn Junker. Viên sĩ quan này trong người còn mảnh đạn đum-đum bị bắn ở chỗ xa, đi mất nhiều ngày đường. Suốt mười lăm ngày ông được người Mèo khiêng cáng qua các đường mòn trong lúc sốt rét và khát.

Sau đó người ta kéo từ xe cứu thương ra bốn chiếc băng ca. Trên mỗi chiếc là một mớ chăn, vải đầy máu trong đó nhô lên một cái đầu, hốc hác và im lìm. Trong số hấp hối đó có một người Pháp, một lê dương, hai ngụy binh. Họ cũng được khiêng vô kỳ hạn qua rừng nhưng quá đau đớn không còn cảm thấy gì, như đã cam chịu. Thậm chí họ cũng chẳng còn hy vọng khi được chuyển lên máy bay; thế nhưng sau mấy tiếng đồng hồ họ sẽ được giải phẫu ở bệnh viện Lanessan, Hà Nội và chắc được cứu sống. Biết bao nhiêu thương binh khác, cũng bất tỉnh, chết trong rừng trước khi tới được đây!

Chiếc Junker lại bay đi. Trong nhiều tuần tôi sống trong vẻ quyến rũ kỳ cục của thời Trung cổ của họ. Trong rừng núi chiến binh, nô lệ, các gái xoè của họ. Trong rừng núi vùng cao Bắc Kỳ này tôi sẽ có rượu và cơm nếp, những buổi lễ hội linh đình, những trang sức loè loẹt của các cô gái và những con ngựa, những đoàn ngựa người đi bộ và những đoàn xuồng vượt thác nước. Tôi đi giữa các dân tộc vùng cao, sẽ thấy những ông, bà phù thủy, những thị thần quấn băng, các chiến binh cầm dao găm, đao phủ vui vẻ, các bà vợ lẽ với đồ trang sức bằng bạc. Tôi không ngớt nghe những điệu nhạc ai oán và tiếng rít của ống điếu thuốc lào truyền từ miệng này sang miệng khác.

Tuy vậy ở một hậu trường bi thảm, thế giới thế kỷ XX sẽ ở đấy với chiến tranh, tiểu liên và mua bán thuốc phiện.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tư, 2018, 05:41:02 AM

Vua Canh trả thù

Người Thái là dân tộc thống trị chiếm những vùng thung lũng, để những chỏm núi cho các dân tộc cổ xưa hơn ít nhiều quy phục. Khắp nơi là chế độ phong kiến. Có ba "vương quốc" chủ yếu do những ông vua thống trị liên kết với nhau - Bạc Canh Quy ở Sơn La, Đèo Văn Long ở Lai Châu, Đèo Văn Ân ở Phong Thổ. Mới đây người Pháp cũng xây dựng với những vương quốc ấy một Liên bang Thái liên minh với nước Pháp.

Những người Thái ấy ở Đông Dương chia thành hai nhánh chính, Thái Đen, và Thái Trắng, được gọi theo màu quần áo của họ.

Sơn La là thủ đô của Thái Đen. Tất cả miệt mài với màu đen và vẻ đẹp của thị xã đối với tôi có vẻ tang tóc. Một nỗi buồn dịu và nghiêm trang thấm vào thiên nhiên và người. Nhưng trong hòa âm man mác ấy như có một sự hưởng thụ. Đấy là một ngôi làng gắn vào một ngọn đồi đơn độc một ụ đất đỏ nổi lên giữa đất sét đỏ của khu đất bằng. Những mái nhà sàn lợp tranh tách ra trên một khu ruộng tứ giác. Cảnh đó trải rộng trên mấy cây số vuông, những ngôi làng, ụ đất, khu đất bằng bị núi vây lại như một bức tường rào hình tròn. Người ta ở trong một bồn chậu có hình những núi đá vôi nát vụn bao quanh, dốc đứng màu trắng nhuốm bẩn vì những dải xanh của cây rừng.

Trong quang cảnh lớn lao ấy, người Thái Sơn La thích vẻ long trọng của vải màu tối, bao giờ cũng viền ánh bạc. Trang sức kim khí rải trên người, những tấm nặng trước ngực, vòng cổ, vòng tay. Đàn bà trong trang phục màu ban đêm, giống như các nữ tu sĩ. Có sự mất cân đối mang trên đầu vì những búi tóc - con gái để sau gáy, các bà vợ ở đỉnh trán.

Người chết luôn hiện diện. Những lều nhỏ bên cạnh những mái nhà tranh dành cho vô số những người đã khuất. Rừng bao giờ cũng gần nhà, được điểm những tấm vải to để tôn vinh người chết. Một thầy địa lý tra cứu những chữ Hán thiêng liêng chọn nơi đặt mộ. Ông chỉ cho ngày và giờ đưa tang - đôi khi phải chờ nhiều tuần để gặp ngày lành tháng tốt. Trong thời gian đó kéo dài nghi lễ. Nhân dân hoan hỉ uống rượu bên cạnh xác chết khô lại hoặc thối ruỗng giữa không gian; và những thầy mo múa hát để người chết được lên "thiên đường".

Nền văn minh Pháp chiếm đỉnh đồi Sơn La, sản sinh một thành trì cho quân lính và một "ngôi nhà Pháp" cho người cai trị. Viên đại tá, quan chức dân sự, ông R... Một nhân vật kỳ lạ!

Ông R... này là con trai một điền chủ lớn, sinh ra ở Đông Dương nhưng dòng máu thuần túy Pháp. Bố ông thực tế có quyền sinh sát hàng nhiều nghìn dân quê. Đất đai bao la của gia đình ở dưới chân Tam Đảo - ngọn núi bao quát châu thổ Bắc Kỳ - bị Việt Minh phá huỷ - Nhưng R... vẫn giàu. Người như tủ gương nhưng đẹp, loại người có khuôn mặt khéo tô điểm, có bộ ria mép cong và đôi mắt xanh. Ông không thích nghĩ ngợi. Những cần thiết của cuộc sống đưa lại cho ông một két Champagne, một chiếc ghế dài và một súng các-bin chính xác. Ông hơi nói lắp nhưng dữ tợn, cũng có kiểu cười to, không tốt. Ông chỉ bằng lòng chịu phiền phức để quyến rũ hoặc đánh một ai đó - và để tham gia cuộc chiến.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tư, 2018, 05:44:00 AM

Tôi thấy R... nằm dài trên thềm, đang quạt mát và ngáp. Không một lời, ông tò mò nhìn tôi, muốn thấy một nhà báo là giống vật nào. Ông hét lên và một người bồi máy móc đưa chai Champagne đến. Chúng tôi cùng uống. Những chai khác nối tiếp. Khả năng tiêu thụ của tôi làm ông yên tâm. Dù sao tôi cũng có vẻ một người đàn ông. Cuối cùng ông bảo tôi:

- Ông đến vừa hay. Một trung đoàn Việt Minh đang tập trung cách Sơn La mấy cây số, báo trước sẽ tấn công. Tôi thấy trước cửa văn phòng tôi có tờ rơi cắm đầu một chiếc gậy. Đấy là lời cảnh báo người Pháp rất liều lĩnh khi ở lại đây.

Trước mặt chúng tôi hoàng hôn xuống từ những ngọn núi có Việt Minh, bổ sung vào bóng dọa dẫm của vùng đất bằng Sơn La.

- Ông đi với tôi. Tôi phải đến trấn an ông già Bạc Canh Quy thủ lĩnh Thái Đen. Mỗi lần Việt Minh tới gần Sơn La ông rất sợ.

Chúng tôi đi xe jeep, chạy mấy cây số trong đêm tối. Có ánh sáng nhấp nháy, chúng tôi đến nơi. Những đàn chó dữ, lính gác cầm tiểu liên, những bừa răng tre bảo vệ ngôi lầu kiểu Trung Hoa của ông vua con. Người ta mở khóa liền năm cánh cổng, thong thả rút những cây gỗ chèn từng cửa một. Bên trong những bờ rào ghê gớm ấy, trong một ngôi nhà gạch chỉ có ông già nhỏ người da nhăn. Đấy là Bạc Canh Quy. Hình như ông đang run. R... nói với ông hơn một giờ bằng ngôn ngữ lạ. Rồi chúng tôi trao đổi về chuyện đó.

- Ông ấy còn "sợ hãi" hơn bình thường, R... nói với tôi. Cháu ông, hoàng tử Canh đã cho mang đến một lá thư. Anh ta viết theo những công thức kính trọng nhất rằng tự mình sẽ cắt cổ ông một trong những ngày sắp tới.

R... kể lại với tôi bi kịch vẫn còn làm màn hậu cho cuộc chiến ở Sơn La.

- Trước năm 1940 ở đây có một quan cai trị tên là Saiunt Pulov, một người Nga trắng to lớn. Thời kỳ ấy, Sơn La, ba mươi ngày đi xuồng mới tới Hà Nội, được biết đến như nghĩa trang của người da trắng, chết vì một dạng ghê gớm của bệnh sốt rét. Saint Pulov sống sót vượt lên tất cả, là người tiên phong trong vùng. Chính ông cho làm con đường duy nhất trên xứ Thái, con đường 41. Về hưu ông sống trong một căn nhà như một vua chúa Thái, mỗi ngày uống hết mười hai sừng trâu đầy rượu. Một cô gái Lào xinh đẹp tiêm thuốc phiện cho ông.

Canh, thủ lĩnh trẻ Thái Đen phải lòng cô gái này. Đôi tình nhân quyết định loại bỏ Saint Pulov quái gở và đồ sộ. Cô gái Lào đều đặn cho thạch tín vào rượu của ông. Phải nhiều tháng tích luỹ chất độc ông mới tắt thở trong sự hấp hối đơn độc. Ít lâu sau cô gái chết một cách kỳ lạ. Hoàng tử Canh bị người Pháp bắt và kết án, đày ra Côn Đảo.

Năm 1945 Canh được người Nhật giải phóng. Người Pháp gia ân cho anh cũng vô ích: anh đã theo Việt Minh. Hồ Chí Minh phong anh đại tá. Từ đó anh lôi kéo phần lớn người Thái Đen cùng nổi dậy. Chúng tôi không có kẻ thù nào quyết liệt hơn. Thậm chí anh không vâng lời mẹ. Bà già ở xóm Mai Sơn, một vùng độc chiếm của gia đình do chúng tôi kiểm soát, khẩn cầu anh trở về và quy phục người Pháp nhưng vô ích. Cuối cùng chúng tôi chỉ định chú anh Bạc Canh Quy làm thủ lĩnh Thái Đen. Nhưng đối với dân chúng thì ông này tiếm ngôi và luôn chờ đợi có ngày ông bị băm thành mảnh.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tư, 2018, 05:46:47 AM

Ở nhà R... bữa ăn tối thịnh soạn. Đến mười một giờ chuông điện thoại reo, R... nhắc máy rồi mặt ông nhăn lại; "A-lô, a-lô, nói tiếp đi". Nhưng chẳng nghe gì nữa.

R... đổ người xuống một chiếc phô-tơi, nói với tôi:

- Một giọng nói không phân biệt rõ thì thầm với tôi: "Đây là bốt Mai Sơn. Một đại đội Việt Minh tấn công. Súng cối phá một lỗ hổng ở rào. Chúng tôi chờ đợi cuộc tấn công từng giây. Làng cháy. Chúng tôi sợ...” và giọng nói im bặt. Đối với R... là sự bất lực hành hạ, không làm gì được.

Ông điện thoại cho viên đại tá rồi Bạc Canh Quy nhưng chẳng ai có thể làm gì. Mai Sơn bị ngăn cách trong đêm. Cuộc chiến xảy ra cách đây hơn ba mươi cây số. Không một tiếng động nào vang tới. Sẽ là điên rồ nêu cử một toán quân đi giải vây; nó sẽ bị diệt tận gốc trong cuộc phục kích không thiếu được trên con đường vào duy nhất. Chỉ còn chờ trời sáng.

R... nặng lòng nói với tôi:

- Chính Canh tấn công làng mình, nơi mẹ hắn sống, cùng một đại đội Thái Đen do Việt Minh huấn luyện. Chỉ có thể là anh ta!

Và hai bên không cân sức! Bốt bị tấn công chỉ là một ngôi nhà sàn có những lỗ châu mai. Tôi chỉ có ở đó năm mươi ngụy binh trang bị súng cũ. Còn Việt Minh giao cho Canh vũ khí Mỹ tốt nhất mua ở Trung Quốc.

Bốt bị hạ thì trách nhiệm của tôi thật lớn. Đấy là công trình của tôi; tôi muốn có nó. Hơn nữa tôi không tin người Thái Đen trong cuộc chiến chống Canh nên đề nghị người của Đèo Văn Long, thủ lĩnh ghê gớm của Thái Trắng Lai Châu. Ông ta cung cấp cho tôi ngay. Không mong gì Canh thương xót; họ sẽ bị hành hình thôi...

Ban đêm trôi qua trong lúc uống champagne và ngủ gà gật. Đến bốn giờ sáng những cú đấm lung lay cả cánh cửa. Một phái viên của bốt, không phải người thoát nạn mà anh ta đến báo tin chiến thắng. Canh và người của anh bị đẩy lùi. Khu đồn trú không bị bất ngờ và tiêu diệt, ngược lại đã xoay chuyển bất ngờ; họ được mật báo trước. Mười giờ tối có một viên đá do bàn tay bí mật ném xuống chân một lính gác. Hòn đá buộc một tin báo không có chữ ký: "Các anh sẽ bị tấn công sau một giờ nữa. Quân địch đang trên đường đến, theo hai đường mòn từ hướng bắc". Quân lính Thái Trắng bố trí phục kích trong rừng. Toán quân của Canh thấy bị lộ, bắn mấy quả đạn móc-chi-ê rồi rút lui.

- Sự việc khác thường thật! R... lẩm bẩm. Chỉ mẹ Canh mới dám báo tin cho bốt. Tôi muốn biết rõ điều này. Ngay trời vừa sáng chúng ta đi Mai Sơn.

Trên đường đi, cả vùng này tôi thấy có vẻ hòa bình như thường thấy ở Đông Dương ngay giữa chiến trường. Và phong cảnh thật hài hòa! Làng xóm ẩn dưới dốc núi trước những thửa ruộng bậc thang, là những mảng nấm dại, cao ráo, sít nhau. Nét duyên dáng là sự nhẹ nhàng của chất liệu - những tấm tre đan vào nhau như ren thêu. Mỗi xóm nổi lên "lâu đài" của trưởng bản, một ngôi nhà như những nhà khác nhưng rộng mênh mông, nhất là ở hai đầu mái cong vòng cung có hai chữ thập trắng, biểu tượng của sự quý phái.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Tư, 2018, 05:49:02 AM

Ở Mai Sơn cũng thanh thản như thế. Tuy có khoảng một chục nhà cháy, song dân chứng vẫn bình thường. Bốt đồn trú hoàn toàn phấn khởi mặc dù một số bị giết và bị thương. Binh lính tặng chúng tôi hoa; trung uý trưởng bốt mời uống rượu. Làm sao tin được đêm trước suýt xảy ra bi kịch?

Chúng tôi, kính cẩn chào bà mẹ của Canh. Một bà vợ để tang chồng rất đúng mực nhưng sáng sủa. Còn duyên dáng, mang đầy trang sức, bà cười nhăn nheo, nói đùa, dèm pha. Bà bê trên tay một bé gái thông minh, cháu nội, con gái của Canh.

Những cô hầu xinh xắn mang rượu và bánh lên như một bữa tiệc. Bà già rất quyền uy và mến khách, hướng dẫn mọi thứ bằng ngón tay và mắt. Bà vẫn cười nhiều hơn nhưng bỗng rên rỉ, đập tay và khóc. R... vừa nói đến Canh.

- Tôi chẳng biết gì, bà than thở. Tôi chỉ biết mình sắp chết. Con trai tôi không kính trọng tôi nữa. Tính kiêu căng làm nó điên rồ, chắc do thần ác nào đó ám ảnh. Vả lại toàn thế giới bị những ảnh hưởng xấu, thiên văn đã báo tai họa.

Người đàn bà khốn khổ! Giữa những nức nở bà không muốn nói gì cụ thể, bà muốn giữ kín bí mật nặng nề đêm trước. Nhưng R... tấn công với sự nhẹ nhàng độc ác:

- Đêm qua có phải bà đã tố cáo với những người Thái Trắng kế hoạch của con trai bà? Người ta bảo một trong những đầy tớ của bà vứt giấy báo tin cho họ nên đã cứu được họ.

Bà mẹ Canh liền chối một cách khổ sở, dùng những lời thanh minh, thề độc. Bà nói chẳng biết gì hết bà đã gần trăm tuổi, và sắp về vương quốc của những bóng ma. Bà xin lỗi, nước mắt chảy đầy má. Chúng tôi từ biệt bà.

R... tin chắc do bà. Trên đường về ông hơi buồn:

- Tôi đã thương hại bà già tuy biết ở Châu Á lòng thương hại khá nguy hiểm. Tôi sai lầm khi không hỏi sâu thêm.

Nhưng R... vừa về đến Sơn La đã hô hố cười vui vẻ. Trong phòng khách một nhân vật kỳ lạ đang cởi trang bị trên người. Một người lai rất trẻ nhưng đã có cục ghèn ở đôi mắt nhỏ. Con người này đầy vũ khí: tiểu liên cầm tay, hai súng ngắn trên hông, một con dao dắt thắt lưng, băng đạn khắp nơi và một quả lựu đạn. Phụ tùng là một chiếc mũ cứng, đôi bốt khổng lồ và cả một hệ thống dây nhự.

Anh ta sắp xếp những trang bị chiến binh thành một đống ngăn nắp. Giải phóng xong anh đổ người xuống một chiếc ghế phô-tơi, kêu lên:

- Lần này thì tôi bỏ. Tôi về Lai Châu, không muốn bị giết nữa. Tham gia cuộc chiến theo lệnh người Pháp chính là tự sát! Tôi đã báo trước với ban tham mưu là không muốn có việc nhảy dù xuống hàng ngũ tôi: đấy là cách làm cho Việt Minh nhận biết tốt nhất. Nhưng người ta vẫn làm. Một giờ sau đó là cuộc phục kích. Chúng tôi đi dọc một vực sâu bờ cao mười mét. Việt Minh trên cao bắn xuống như bắn những con thỏ. Cuộc chiến kéo dài một giờ. Mười người của chúng tôi bị bắn chết và nhờ phép lạ mà chúng tôi thoát được.

R... vui vẻ vỗ thân mật vào người anh:

- Nếu anh trở về Lai Châu, bố vợ anh sẽ nói sao?

- Ông ấy sẽ không bằng lòng. Tôi chỉ ở lại Sơn La nếu tôi chính là chỉ huy của tôi. Tôi muốn có thêm vũ khí và tiền. Ông xoay xở đi.

Rồi anh ta lăn ra ngủ, ngáy vang. R... hở những chiếc răng nhọn qua một nụ cười bí hiểm. Trời lại tối, lại uống champagne. Ông giải thích:

- Đấy là B... Mẹ anh người Thái. Anh cưới một trong bốn cô gái của Đèo Văn Long, tên độc tài ở Lai Châu. Tuy vẻ ngoài nhu nhược, anh ta làm hết mọi việc, là người tin cậy của ông bố vợ. Với anh ta, những chiếc đầu rơi nhanh và thuốc phiện đắt giá.

Anh ta đến đây với tôi nhiều tuần lễ nay. Vì ngoài năm mươi nguỵ binh ở bốt Mai Sơn, Đèo Văn Long cử đến bảo vệ Sơn La bị Việt Minh đe dọa một đội biệt phái Thái Trắng. Chính B... chỉ huy đội này. Đồ con lợn, anh ta muốn tăng thêm phần thưởng đã hứa.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Năm, 2018, 04:22:53 PM

Cuộc chiến tranh thuốc phiện

Hôm sau R... nhận được điện của Hà Nội: cuộc tấn công Sơn La chỉ để đánh lạc hướng. Cuộc tấn công thực sự, do nhiều tiểu đoàn Việt Minh, nhắm vào Lao Cai và thượng lưu sông Hồng; tình hình ở đây đã đến lúc quyết định.

Lao Cai là trung tâm hội tụ của vùng cao Bắc Kỳ, một thị xã thương mại và buôn lậu, một thị trường thuốc phiện, vũ khí và thông tin, một căn cứ có tầm quan trọng chiến lược chủ yếu. Đấy là đầu nguồn sông Hồng từ những ngọn núi cao xa xôi Châu Á chảy về vùng rừng rậm Bắc Kỳ - qua một lưu vực rộng nhưng không điều hòa, lắm bệnh tật không người, không có gì hết. Ở Lao Cai có một chiếc cầu bắc qua sông đi về Hà Nội và vùng đồng bằng cách đấy ba trăm cây số một cửa ngõ "Trung Quốc" đi Vân Nam, lên vùng cao nguyên, những vực sâu núi hoang là phần nhô ra của Tây Tạng, tới "con đường Miến Điện". Đây là lối ra tự nhiên một vùng rộng lớn của Trung Quốc chưa được thăm dò bao nhiêu. Để khai thác nhiều hơn những biên giới huyền thoại giàu khoáng sản, thuốc phiện và dầu quý ấy, trước kia người Pháp đã xây dựng một đường sắt xâm nhập, đến tận Côn Minh. Với công trình này hàng chục nghìn cu-li đã chết vì sốt rét và kiệt sức.

Bây giờ là Trung Quốc đã trở nên nguy hiểm, đầy quân du kích, đe dọa tràn xuống vùng cao Bắc Kỳ. Năm 1945, quân đội của ông chúa chiến tranh Lư Hán qua Lao Cai ào về Hà Nội. Nút Lao Cai mở ra một lần nữa và những người cộng sản Trung Hoa đã có nhiều ở Vân Nam tiếp tay cho Việt Minh. Cả một cánh sườn Bắc Kỳ sẽ sụp đổ.

Vì vậy tôi muốn đến Lao Cai. Có thể đi qua xứ Thái, một cuộc du hành sóng gió năm trăm cây số. Một chiếc xe jeep đưa tôi đến Lai Châu. Từ đó là đường mòn, đi ngựa một, hai tuần lễ qua một vùng bấp bênh, thậm chí cả biên giới Trung Quốc.

Ngày hôm sau tôi ra đi không tùy tùng trên đường 41. Mấy năm nữa đây sẽ là con đường lớn tiếp tế cho Việt Minh bao vây Điện Biên Phủ; máy bay Pháp cố gắng tích cực dội bom cắt đường nhưng vô ích. Đầu năm 1949 đây còn là con đường thuộc địa của xứ Thái, hầu như đang yên bình. Chỉ có nguy hiểm giữa đường, ở đèo Mẹo, do cuộc chiến tranh thuốc phiện, trong vụ thu hoạch cứ bắt đầu lại vào mùa xuân.

Sau khi ra khỏi mớ hỗn độn đá vôi bao quanh Sơn La, lái xe và tôi chạy lâu trong một thung lũng dày đặc cây chuối dại trổ hoa màu máu. Tre gai để rơi bầu đầy đường. Rồi con đường ra khỏi nhà tù cây cối - sự ngột ngạt dành chỗ cho cảm giác bao la; Những ngọn núi phủ cây cỏ, đắm mình trong sương nối tiếp nhau vô tận, luôn cao hơn, bí hiểm hơn đến dãy Himalaya xa xăm.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Năm, 2018, 04:24:35 PM

Con đường 41 vượt dãy núi đầu tiên, lên cao mãi và bỗng xuất hiện con người ở vùng chỏm núi. Những sinh vật nửa người nửa loài vật bước đi nối đuôi nhau. Những quái vật quần áo lôi thôi màu xanh, mang trên lưng như bướu những chiếc gùi lớn. Trên trán rộng trần trụi, hói rất xấu, thả rơi xuống phía sau một đuôi tóc tết, cổ mang đầy vòng bạc, chân là những ngấn bắp thịt; nhiều người bị bướu cổ.

Đấy là những người Mèo, nông dân vùng thuốc phiện, chúa của những đỉnh núi cao, những người trèo giỏi nhất thế giới. Họ không chịu đựng một luật lệ nào, không tin vào một tôn giáo nào, hoàn toàn tự do. Hơn nữa họ say mê bảo vệ sự tự do của họ.

Không có nòi giống nào bí ẩn hơn. Người Mèo nói là họ sinh ra từ con Chó thiêng, nhưng với các nhà nhân chủng học đấy là người vùng Bắc Cực, những người Et-ki-mô. Dù thế nào họ cũng mới đến Đông Dương chưa đến một thế kỷ. Họ tiến đến bằng một cuộc nhập cư chậm rãi và bí mật, luồn từ đỉnh núi này đến đỉnh khác, ở những độ cao không có ai để bắt họ. Đôi khi họ ở lại mấy tháng hoặc mấy năm trên đỉnh một ngọn núi dốc đứng hầu như những người khác không trèo lên được. Ở đấy họ đốt rừng cháy cả một vùng đồi núi và trên tro tàn họ trồng loại cây duy nhất: thuốc phiện.

Khó tiếp cận được với người Mèo. Họ không bao giờ xuống khỏi độ cao; người ta nói hệ hô hấp làm họ chết nếu ở dưới thung lũng. Dữ tợn và đa nghi, họ sống trong những tổ đại bàng của họ, cấm người lạ vào. Vì những người này hầu như luôn luôn là những người có vũ khí, kẻ cướp hoặc quân lính mọi chủng tộc, đến chỉ để cướp bóc chất ma túy quý.

Con đường 41 đưa tôi đến vương quốc của họ. Sau một đợt trèo lên rất lâu, con đường dựng đứng trước khoảng không một chục đỉnh và trên mỗi đỉnh có mấy nhà thấp bằng đất trộn rơm và những thửa ruộng màu sắc rực rỡ. Đấy là một làng bên cạnh kho báu, những bông hoa tuyệt đẹp của cây thuốc phiện mà hàng ngày người ta kiên trì chích lấy nhựa - chỉ còn đun lên làm cô đặc thành chất keo màu nâu và độc.

Người Mèo giàu vì thuốc phiện. Họ nhận một số người buôn lậu có tín nhiệm, nói chung là các "ông Trung Hoa" tư sản, đôi khi những người Pháp phiêu lưu, đến để mua "kẹo", thuốc phiện còn hơi lỏng. Để trả, không có giấy bạc, ngân phiếu nhà băng Đông Dương mà những đồng bạc thật, những bì muối và gạo.

Nhìn bề ngoài cổ xưa và khổ sở nhưng người Mèo sống trên những chỏm núi trong sung túc, hạnh phúc và vô chính phủ. Một xóm nhỏ nhất là một cộng hòa độc lập, thù ghét thế giới, thù ghét cả những xóm Mèo bên cạnh. Vì vậy mỗi cộng đồng - một nhóm mấy nhà cùng ở trên một ngọn núi - bố trí ở phía dưới quả núi một loạt bẫy như bãi mìn của những người văn minh. Đường vào là một con đường nhỏ đi lên thẳng đứng. Không nên rời xa con đường ấy. Trên cao chất đống những tảng đá to, họ sẽ cho đổ xuống những người họ không cho vào.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Năm, 2018, 04:25:56 PM

Người Mèo là những chiến binh đáng sợ, những người chủ của đèo và dốc. Họ lẫn lộn với núi, ẩn nấp sau những chỏm và các tảng đá. Không bao giờ người ta bắt được họ; họ đi thẳng về phía trước, coi thường những vật cản, vượt núi theo đường dốc gần như thẳng đứng - đứng trên thành vực như những con ruồi đậu trên viên gạch. Và họ là những thiện xạ khác thường dù chỉ có súng tự chế.

Người Mèo luôn lo sợ. Hầu như cả năm họ sống những ngày yên bình kiên trì. Ai muốn gì làm nấy, phong tục rất lơi lỏng. Con gái bận quần áo vải thô, đầu chít khăn, chân cuốn xà cạp thường vào rừng yêu nhau. Ban đêm đàn ông nhảy một mình. Giữa một vòng những khuôn mặt dịu mến, từng chàng trai quay người, ngồi xổm trên chân và thổi khèn cho đến khi nhảy lên và đổ nhào.

Nhưng đến tháng năm sau mùa thu hoạch, tất cả những người Mèo mai phục trên ngọn cây và đường mòn. Đấy là sự tổng động viên của những người trên núi cao chống lại những đám cướp; từ những biên giới vô định của Trung Quốc chúng đến hàng trăm, hàng nghìn. Các dãy núi đầy những cuộc đánh nhau, phục kích, giết người, mua bán. Những việc đó xảy ra không ngừng. Nhưng bây giờ với cả Đông Dương trong lửa đạn, hàng năm có một chiến dịch chính thức về thuốc phiện. Điều ấy đã trở thành một cuộc chiến tranh thực sự, với những tiểu đoàn.

Thuốc phiện là một mục tiêu quân sự đối với Việt Minh và người Pháp. Việt Minh muốn có nó, bán lại ở Hà Nội, Sài Gòn, Hồng Kông, những thủ đô "tư bản" của Châu Á, được lãi rất lớn.

Người Pháp cũng muốn thuốc phiện như thế. Nắm lấy nó là ngăn cản Việt Minh tích lũy tài chính nhờ việc buôn bán béo bở ấy. Ngược lại nó cho phép Đội quân viễn chinh và Chính quyền làm đầy quỹ đen của họ.

Thuốc phiện vậy là sức mạnh của chiến tranh ở Đông Dương. Nhưng để giành giật nhau, để cũng giành giật ở người Mèo, Việt Minh và người Pháp đã có những trận đánh nhau nhỏ. Một hỗn hợp rất phức tạp. Người ta sử dụng mọi cách. Vừa đánh nhau vừa giành giật người Mèo - tấn công hoặc xoa dịu tuỳ trường hợp. Trước sự ganh đua ấy người Mèo cố để vừa khỏi bị giết vừa đòi hỏi được giá cao nhất. Tình hình không ngừng thay đổi, càng không thể giải thích được khi có những thèm khát, những can thiệp khác xen vào.

Ở đèo Mẹo còn yên ổn. Nhưng không gian rộng lớn đầy những toán người; tình trạng chiến tranh các loại đã sẵn sàng. Ẩn nấp ở các khe núi có Việt Minh, người Pháp, Trung Quốc, lính của Đèo Văn Long. Một cuộc hành quân chuẩn bị tiến hành, một tiểu đoàn Pháp được lệnh săn đuổi một chi đội đỏ. Giữa đám người ấy, người Mèo từ đỉnh núi này đến đỉnh khác sẵn sàng đánh nhau và mặc cả mua bán.

Tôi nhìn mãi toàn cảnh im ắng của chất ma túy. Nhưng người lái xe bảo tôi:

- Chúng ta không nên chậm trễ, người Mèo có thể đến giết chúng ta đấy.

Tình hình thật lạ! Có vẻ chúng tôi chẳng gặp nguy cơ gì về phía quân chính quy Việt Minh. Họ muốn lặng lẽ "thu nhặt" thuốc phiện. Chính những người miền núi mới nguy hiểm.

Trong phần lớn những vùng núi ở Đông Dương người Mèo thích người Pháp hơn. Những người này trả nhiều hơn và không nói về lý tưởng. Vì vậy họ chặt đầu các phái viên Việt Minh ngay. Nhưng trên đường 41, trước hết là họ chặt đầu người Pháp, cho là đồng loã với Đèo Văn Long. Ông chúa chiến tranh Lai Châu với lý do thu thuế, có thói quen cử cảnh sát với tiểu liên lên chỗ những người Mèo giết và cướp.

Điều ấy gắn chặt người Mèo với Việt Minh, dẫn đến một cuộc chiến tranh du kích làm kiệt quệ quân đội Pháp. Nhiều sĩ quan tức giận Đèo Văn Long. Nhưng ở Sài Gòn, người ta nói đấy là người duy nhất giữ được xứ Thái chống Việt Minh bởi nắm tay sắt của ông ta. Chính thức người ta chơi con bài Đèo Văn Long.

Ai nghĩ rằng, việc lựa chọn này về sau có một ảnh hưởng quyết định đối với cuộc chiến tranh Đông Dương? Người Mèo đường 41 sẽ chống lại Đội quân viễn chinh. Ngược lại Đèo Văn Long bỏ trốn.   


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Năm, 2018, 04:27:48 PM

Con người ghê gớm Đèo Văn Long

Sau ngọn đèo Mẹo người ta sắp đánh nhau. Chúng tôi vào trong lãnh địa độc chiếm của Đèo Văn Long, chỗ những người Thái Trắng mà Việt Minh không đến được - họ sẽ bị giết không chậm trễ.

Chúng tôi trở xuống rừng rậm, đi đò vượt những thác nước đá đen làm tung bọt trắng, lại trèo lên núi và thấy ở chân trời nổi lên đỉnh Phansiphăng ngọn núi mây mù. Đấy là dấu hiệu Lai Châu đã gần.

Bỗng con đường đổ xuống hai nghìn mét trên một nút vực xoáy. Nhìn như một ngôi sao ba nhánh đào trong đất ba đường hầm khổng lồ, ba vực sâu giao nhau. Thật kỳ lạ. Dưới những con sông hợp lưu: sông Đà tiếp nhận hai nhánh. Ở nơi tập hợp mọi thung lũng và nước ấy, chỗ thấp nhất là Lai Châu.

Chúng tôi đi xuống. Tôi có cảm giác vào sâu trong lòng đất, mỗi bên là cạnh dốc đứng. Phía trên bầu trời chỉ còn một dải dài và hẹp. Nhưng ánh sáng từ đấy xuống lan tỏa trên đất sét tươi bờ dốc một màu trời phớt xanh, một loại bóng mờ mềm dịu. Cảnh vật đẹp.

Không phải con đường xuống địa ngục. Vì ở đáy vực sâu đáng sợ ấy tôi thấy thiên nhiên thật tinh tế, một nền văn hóa thật đáng mến. Như mọi sức mạnh của rừng và của núi dùng làm trang sức cho cuộc sống êm dịu cổ xưa, bảo vệ và cất giấu cuộc sống ấy.

Có vẻ đôi lúc các nhà thám hiểm sau khi vượt qua những vùng đáng sợ, tìm ra thung lũng hạnh phúc, không nghi ngờ gì và cách biệt tất cả. Đấy là cảm giác tôi có ở Lai Châu.

Vực thẳm bên dưới! Một chiếc máy bay xuất hiện cách xa những ngọn núi sắp hạ cánh. Tôi thấy máy bay bổ nhào quay vòng xoắn ốc như giữa bờ khung một chiếc lồng hẹp. Điều mà phi công gọi là động tác xoắn nút chai. Trò nhào lộn ấy là cách duy nhất để hạ cánh ở Lai Châu.

Thế nhưng ở đáy vực thẳm ấy là một giấc mơ duyên dáng và gợi cảm. Khắp nơi là đồng cỏ như nhung, những bánh xe gỗ đồ sộ nước kéo, những xóm làng ẩn trong vĩnh hằng. Và cả một vườn hoa đẹp!

Hình ảnh đầu tiên thật tuyệt vời! Chúng tôi gặp trên đường đi những chiếc lọng rơm, rộng và tròn. Đấy là mũ của các cô gái Thái; các cô khẽ hất mũ ra sau và tôi thấy những con người, khuôn mặt dài thanh tú, thân hình duyên dáng thon thả. Quần áo các cô cũng được trang trí nhẹ nhàng - một chiếc áo cánh trắng có hàng cúc bạc bó chặt chiếc váy đen với chiếc thắt lưng đỏ thắm. Trong trang phục sát người tinh tế ấy, những thân hình hầu như toàn là chân, được thiên phú cho âm điệu và nhịp điệu: Phụ nữ Thái Trắng là những vũ nữ nổi tiếng.

Các cô gái Thái thể hiện vừa cách điệu hóa vừa đơn giản đối với tôi! Không biết đến những tư thế cứng nhắc và sự thanh thản cao xa của đạo Phật, các cô có nụ cười tuyệt đẹp, sống động, hơi ngạc nhiên, tươi vui đến cả nét cong nhẹ của miệng và khóe mắt. Đúng là những cô gái một dòng dõi vô thần, chỉ tin vào sắc đẹp, lười biếng và hưởng thụ. Những người Thái Trắng hơn Thái Đen, là những người tôn thờ khoái lạc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Năm, 2018, 04:29:00 PM

Nhưng sự yên bình của Lai Châu không phải chỉ vì xa cách, núi cao vực sâu bảo vệ. Chủ yếu là do Đèo Văn Long, kẻ độc tài với những biện pháp đẫm máu.

Trong cảnh trí lớn lao đó, ngay giữa hợp lưu ba con sông một mỏm đá vươn ra tới bờ sông. Ở đây nhân vật đáng sợ ấy cho xây dựng một lâu đài kiên cố bằng xi măng và đá lớn với những lô cốt và lỗ châu mai. Để vào đấy phải đi đò qua những dòng nước dữ dội, phải trèo những bậc thang không dứt. Trước hết người ta thấy những lính gác quá nhiều đai nịt, đáng sợ. Những tù binh rách rưới, đáng thương, đang vác đá làm những tường bao mới, những công trình tự vệ mới.

Người ta dẫn tôi vào phòng khách đồ sộ, có một người đàn ông ngự trên chiếc phô-tơi lớn bằng gỗ mun và đá hoa. Tôi nhận ra ngay vị chúa tể chiến tranh theo đúng mẫu Trung Quốc. Vì toàn xứ Thái này mang vết tích Trung Quốc chứ không phải Việt Nam.

Đây là một nhân vật khoảng tuổi sáu mươi, to béo, mạnh khỏe. Khuôn mặt như mặt nạ, lời nói chậm rãi, không màu mè. Không bao giờ ông có vẻ hoạt động, ngồi một chỗ, bó người trong bộ quân phục đơn giản kiểu Quốc dân đảng. Nhưng đây là tính cách không thực của một lãnh chúa Châu Á, quen lối chỉ hơi mỉm cười và giấu kín sau thái độ không nao núng ấy một sự hung bạo tính toán và những khát khao không giới hạn.

Việc đầu tiên của Đèo Văn Long là đưa tôi lại trước bức chân dung vẽ trên lụa một quan lại Trung Hoa rất già, quần áo sang trọng. Đấy là bố ông ta, Đèo Văn Try huyền thoại, thủ lĩnh Cờ Đen, bọn giặc Trung Hoa hung dữ mà người ta nói đến trong sách lịch sử thời trước. Chính ông này vây hãm đội Bobillot ở Tuyên Quang rồi sang Lào, chiếm Luang Prabang và thực hiện nhiều chiến công trước khi quy phục.

Tên tướng cướp này trở thành vua Lai Châu bằng một tội ác khủng khiếp. Hắn cho thắt cổ ông vua Pháp họ Đèo rồi lấy con gái ông, bản thân cũng lấy họ Đèo. Người Pháp, khi hắn quy phục, để lại cho hắn lãnh địa chưa được bình định.

Con trai của kẻ sát nhân và công chúa bị cưỡng bức là Đèo Văn Long. Ông ta tiếp tôi tại lâu đài. Trong huyết quản ông là dòng máu quân cướp Trung Hoa nhưng nhận được một nền giáo dục tốt của phương Tây; ông thích kể chuyện đã học ở Pháp, cùng trường trung học với Vincent Auriol. Có vẻ tình bạn học cũ ấy còn đóng một vai trò trong cuộc chiến tranh Đông Dương.

Nhưng sự lại giống đã chiếm ưu thế! Đèo Văn Long thống trị trong trật tự tuyệt đối. Việc xảy ra như thế nào người ta không bao giờ biết và tai họa cho ai nói ra! Dù sao, không có Việt Minh, không có những kẻ chống đối trong vương quốc ông. Trong lâu đài mình, ông chúa chiến tranh có một quyết định và liên lạc chạy ngày đêm trên đường mang mệnh lệnh đi các nơi. Ông tự dán những sợi lông chim lên những chỉ thị - một để buộc phải mau chóng, hai là ghi nhận khẩn, ba, người đưa phải chạy nhanh như chim bay và đến nơi chậm một ít cũng bị chặt đầu.

Khi Đèo ra lệnh hành quyết, người ta đưa tai những người bị xử tử trong một cái giỏ đến làm chứng cứ. Vả lại đấy là một phong tục cũ của người Thái. Một sĩ quan Pháp hứa thưởng cho lính ngụy giết được Việt Minh cũng nhận được một chuỗi tai để chứng minh.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Năm, 2018, 04:29:39 PM

Đèo Văn Long mở rộng quyền lực ra ngoài lãnh địa của mình. Ông ta bị những ông hoàng khác căm ghét vì bố ông là kẻ giết người nhưng họ là anh em về đàng mẹ. Vì vậy những ông vua con ấy, những người cùng khổ, khi bị Việt Minh đe doạ, khúm núm cầu cứu ông. Đèo cử lính tới, thu xếp cho họ một cuộc hôn nhân. Ông cho cưới con trai, con gái ông với những hậu duệ của họ. Đấy là những buổi lễ trang trọng ở Lai Châu. Ngay dưới lâu đài ông là xuồng của bà con phấp phới cờ đuôi nheo. Những bãi cát, sỏi đen nổi lên những đám lửa vui - cả một tập hợp những người chèo thuyền, binh lính, đầy tớ, những chức sắc nhỏ ngồi quanh ngọn lửa ăn uống. Trong lâu đài là bữa tiệc theo phong tục gồm năm mươi món ăn. Nhưng giữa không khí vui vẻ ấy, Đèo vẫn đề phòng khỏi bị đầu độc.

Đèo Văn Long chỉ say mê hai thứ, chúa tể của chiến tranh: vũ khí và kim loại quý. Lâu đài của ông là một xưởng vũ khí, một kho báu. Ông tích lũy trong những hầm bọc thép các hòm tiểu liên và những thỏi bạc, vàng.

Vũ khí, ông muốn phải là hiện đại, giết người, mua ở Trung Quốc, đòi hỏi ở người Pháp. Nhưng thay vì phân phát cho người của ông để chiến đấu, ông dồn lại trong hầm ngầm sâu mấy mét dưới lâu đài. Vì những đống vũ khí ấy, luôn nhiều hơn, đối với ông là biểu tượng tối cao của sức mạnh.

Đèo rất giàu vì ông ta là một trong những đầu mối thuốc phiện ở Đông Dương. Ông tổ chức thật tốt để thu thập và bán, nắm trong tay một hệ thống thu nhặt, vận chuyển, phân phối. Người Pháp để cho ông ta làm, thậm chí là đồng loã vì họ dựa vào tính chất phong kiến để đánh lại chủ nghĩa cộng sản, không biết rằng đánh vào những "bạo chúa" như Đèo, thuyết biện chứng đỏ có nhiều sức mạnh hơn. Đèo rất mạnh nhưng bị căm ghét và hễ "hệ thống" của ông ta hơi yếu đi là tất cả sụp đổ.

Nhưng năm 1949 là đỉnh cao. Cao uỷ Pháp để bên cạnh Đèo hai đại diện để "kiềm chế" ông ta một ít nhưng họ tay trong tay tiến bước cùng Đèo. Đấy là hai viên chức, một trưởng phụ trách hành chính và phó của ông. Thực ra đấy là những người phiêu lưu, có khả năng làm tất cả cũng như Đèo.

Những nhân vật lạ lùng ấy và những người xung quanh - họ cũng có vợ, các con họp thành một loại "hội kín". Chỉ có họ là đáng kể, còn lại không là gì cả. Nhóm người ấy có lối nói riêng. Mỗi buổi chiều chia tay nhau họ cùng nói: "Ngày mai gặp lại". Và khi người ta hỏi tại sao thế, họ trả lời: "Vì đối với chúng tôi ngày nào cũng là chủ nhật".

Nhưng hội kỳ lạ ấy không thích người ta dúng mũi vào công việc của họ. Tôi cảm thấy mình là một người lạ. Vì vậy tôi ra đi xa hơn, đến Phong Thổ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Năm, 2018, 04:53:36 PM

Châu Á cổ xưa nhất

Ra khỏi Lai Châu không có đường lớn, chỉ đường mòn vô tận. Đèo Văn Long tổ chức một đoàn nhỏ đưa tôi đi, do cháu ông ta hướng dẫn.

Trong ba ngày chúng tôi đi ngựa trên một con đường không rõ ràng giữa những ngọn núi tuyệt đẹp, qua vùng cao nguyên ngát mùi hương - những vạt hoa huệ và dâu tây dại, những bụi hoa hồng, những rừng đỗ quyên. Chúng tôi lao xuống các thung lũng, giữa những cây gỗ với những cây dương xỉ khổng lồ và dây nhợ cong queo như hàng nghìn cánh tay của một Phật bà Ấn Độ. Giữa những đống đá sụt lở và những cây cổ thụ, toán người cứ tiến lên, hàng một, với tư thế những người quan trọng. Trước chúng tôi là một chiến binh danh dự mang trên người một khẩu súng bắn đá. Phía sau là đám người giữ ngựa và loài vật kéo, người và vật cùng cam chịu.

Tôi thực sự có cảm giác đi sâu vào trong lòng Châu Á. Như là không còn biên giới nữa. Người ta gặp những đoàn người ngựa đi hàng nhiều tuần lễ từ vùng sâu Trung Quốc, từ Tây Tạng - đi theo con đường cũ buôn chè hoặc xạ hương, đã dành cho hàng hóa hiện đại. Người ta gặp những dân tộc hầu như không được biết đến như người Xá, trần truồng và gầy còm ăn đất, đá thạch anh phân huỷ. Không gì ngạc nhiên hơn nhìn thấy trong bóng mờ cây cối thân hình xám đen của họ cuốn dây quanh người treo những chiếc ống điếu, tài sản duy nhất của họ.

Trên đường đi chúng tôi gặp nhiều dòng tộc khác, thuộc mọi mức độ văn minh. Vùng cao Bắc Kỳ là một bảo tàng về những dân tộc ở khắp nơi đã biến mất. Nhưng đôi khi chỉ còn một làng, một xóm không đến mấy chục người. Vùng Phong Thổ là một nơi có những chủng tộc đã mất, những nhóm nhỏ đàn ông và đàn bà tên tuổi và phong tục rất lạ.

Khi chúng tôi đến gần, những người miền núi ấy đứng im, không một cử chỉ, một thể hiện gì như họ không trông thấy chúng tôi. Thế nhưng đôi mắt họ nhìn chằm chằm vào chúng tôi, nhất là vào tôi, với cách làm tôi sợ. Hình như không phải thù địch mà chỉ vì tò mò, không có nguy cơ gì. Nguy hiểm chỉ có người Hà Nhì, những kỵ sĩ răng đỏ, tóc dài như tóc đàn bà, thường dùng giáo đâm thủng khách bộ hành. Nhưng họ ở ngay biên giới, trên những đầm lầy hôi thối, phải mất hai ngay đường.

Hoàng hôn ngày thứ ba, rừng rậm dành chỗ cho các khu vườn. Chúng tôi lội qua một dòng nước xiết. Một vòng đồi bao quanh thị trấn ngọt ngào, tươi vui nhất. Tôi đã đến Phong Thổ, thị trấn huyền thoại của ông già Đèo Văn Ân.

Tôi đã như bị mê hoặc vì khoảng cách, bây giờ là vì thời gian. Tôi thấy như sống lại một biên niên sử xa xưa, được đưa đến một Châu Á cổ xưa và hào hiệp hơn Lai Châu của Đèo Văn Long, ông chúa tể chiến tranh! Phong Thổ, dưới thời Đèo Văn Ân - một ông già con trai của ông Đèo bị tướng Cờ Đen bố của Đèo Văn Long thắt cổ trước kia - là một thiên đường tuyệt đối giản dị mà sự tàn bạo cũng có phần nhân từ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Năm, 2018, 04:54:51 PM

Qua nhiều thế kỷ chẳng có gì thay đổi. Công trình của nước Pháp chỉ là một chiếc cầu gỗ. Trước chiến tranh một quan cai trị yếm thế cho phá đi để tự cách ly với tất cả những người kế nhiệm đã cho làm lại.

Trong công quốc huyền thoại vàng này, lâu đài là một trạm du khách suy tàn đầy một đám đông ăn mặc khác thường. Tôi đi qua một hàng rào tre có những con ngựa nhỏ đang gặm cỏ và hí vang lên. Trong khoảnh sân hôi thối vô số chức sắc hoạt động - các bộ trưởng, những người vợ lẽ, đao phủ, đầy tớ, một nhóm trẻ nhỏ ở truồng và có cả lợn, chó hung dữ. Người ta thấy khắp nơi ánh lên những lưỡi dao găm và vật trang sức. Nhưng lẫn lộn với các lãnh chúa và sủng thần có cả dân chúng, chẳng làm gì ngoài đùa vui. Chỉ mấy người hành khất làm việc giơ tay và cầu khẩn. Cũng có một nhà thông thái đang viết đơn thỉnh cầu một nông dân.

Đấy là Trung cổ - thực sự, không phải Trung cổ của tiểu liên khắp nơi ở Đông Dương. Trong đám lộn xộn này tôi không thấy binh lính mặc quân phục.

Đèo Văn Ân đang chờ tôi. Lâu đài của ông xây bằng bùn khô và gỗ ít đẽo gọt, là một ngôi nhà sàn. Tôi phải trèo lên bậc thang. Suốt thời gian tôi đi lên, người chủ lễ đánh chiếc trống đồng treo bằng một sợi dây. Cuối cùng với bao cố gắng tôi đến được gian phòng chúa tể. Và đấy là một nhà kho nổi trội những quà tặng chính thức của các đời cộng hòa Pháp: một tháp Eiffel thu nhỏ, một tờ lịch, những bưu ảnh trong đó những người yêu trong trắng ôm nhau, chân dung tổng thống Fallières. Trong góc tường một người đàn bà bình thản bắt chấy trên mái tóc. Cuối bên trong một ông già ngồi trên chiếc ghế gỗ trắng đứng dậy và cầm tay tôi dẫn lại trước một tấm bảng đầy giấy chứng nhận và bằng. Tất cả những quan cai trị đã qua xác nhận trên giấy bóng và chữ viết đẹp, những tình cảm ủng hộ Pháp của chủ nhà. Nhưng tấm bằng quý nhất là giấy khen do một toàn quyền cấp đã khoảng bốn mươi năm nay.

Đèo Văn Ân rất vui. Một chiếc mũ ca-lô nhỏ trên đầu, ria mép trắng rủ xuống, da nhăn nheo, mặc một bộ quần áo dạ Trung Quốc, trông rất lạ. Nhưng trước hết ông là một tộc trưởng sùng bái khoái lạc. Ông không chỉ nghĩ về mình - ông là bố của người Thái, Kôuchus, Nhắng, Mèo, Mán, của tất cả những dân tộc ở từng bậc núi của ông như cư dân một nhà chọc trời. Ông đem sự cô đơn của ông đến từng dân tộc, thậm chí cả ở một bộ tộc ăn thịt người. Nguyên tắc thống trị của ông là vui chơi, bắt buộc hưởng thụ thường xuyên cho tất cả thần dân. Vì vậy ông bắt họ tôn trọng phong tục tập quán cũ, đảm bảo họ hạnh phúc trên vùng đất ảo tưởng này.

Về pháp luật, ông tha thứ cho những kẻ trộm cắp, đào ngũ, không làm tròn nhiệm vụ nhưng không bao giờ nương nhẹ cho người lơ là nhảy múa. Ông phạt tù người nào trong năm đoàn ca vũ của ông vắng một buổi tập duyệt. Ông có một trường dành cho những cô gái quyền quý. Đây cũng là thú vui dân tộc.

Buổi tối hôm tôi đến, Đèo Văn Ân chiêu đãi một buổi lễ hội. Toàn dân Phong Thổ đến, ngồi xổm trên sân lâu đài. Đèo Văn An ngồi ở một chiếc phô-tơi, các tên hề vây quanh. Ông nghiêm nghị nhìn các toán biểu diễn. Thật thần tiên! Dưới ánh đuốc những cô gái Thái lắc lư như những con bướm say sưa vì vui, những cô gái Lào uốn người một cách gợi cảm và lười biếng. Đấy là Châu Á của hoan lạc. Ngay sau đó phụ nữ Nhắng, những người nặng nề dòng giống Trung Hoa đến thực hiện những động tác lao động với nhịp điệu chậm, đau đớn và bi ai - vì cũng có một Châu Á cố gắng mà lượng người quá đông phải vất vả không mệt mỏi để sống sót. Chỉ còn là những quay cuồng hoang dã, lẫn lộn tiếng kêu, sáng lên những ánh thép qua đó những người Mán, Mèo, rất lực lưỡng và cân đối, đàn ông cũng như đàn bà, thể hiện sự hỗn độn của những người ở đỉnh, khinh thường những gì ở phía dưới họ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Năm, 2018, 04:55:33 PM

Giờ của loài người đã qua. Bây giờ bốc lên không khí cõi âm của những phù thủy nam nữ. Bọc người trong những tấm thêu lớn hình rồng ở địa ngục, kéo theo những viên ngọc khổng lồ, họ hành lễ rất lâu. Điệu múa của họ là việc dầm chân liên hồi kèm theo những câu thần chú rên rỉ dai dẳng. Những động tác thô lỗ ấy, lời đọc đều đều những công thức ma thuật ấy tạo ra như một sự mê hoặc huyền bí. Buổi lễ kỳ lạ kéo dài bao nhiêu phút, bao nhiêu giờ tôi không biết. Cuối cùng tôi như tỉnh dậy. Một bà đẫy đà, hách dịch vẫn vừa giãy giụa trên đôi chân vòng kiềng vừa lẩm bẩm trong cái miệng đã sún răng, đốt những nén hương và loại cỏ đáng sợ. Qua những trang sức rườm rà tôi nhận thấy khuôn mặt thảm hại của bà, như chiếc mặt nạ, khuôn mặt của tử thần.

Những người phù thủy ấy có quyền lực ghê gớm. Người ta nói đấy là những kẻ buôn bán cái chết. Trong vùng núi này ai muốn rũ bỏ một người, đến định giá với họ. Thỏa thuận xong họ cầu khấn "ác thẩn" xuống tay sát hại; họ cũng gây ra được cảnh hấp hối êm dịu hoặc đau đớn theo yêu cầu của khách hàng.

Đèo Văn Ân hài lòng về những điệu vũ và những phù thủy của ông. Trong niềm hân hoan ông vỗ mạnh vào đít các vũ nữ, nhưng đây là kiểu hoan nghênh của địa phương. Đầy tớ đưa lên những mâm đầy các tảng thịt còn chảy máu và các vò rượu. Đấy là lễ hội, là "bun". Thật giản dị! Ngựa hí trong đêm, trống vang. Người người ăn thịt, uống rượu, ợ, lăn ra nôn. Vũ nữ bón thức ăn vào họng các nhân vật tên tuổi đã quá no nê không nuốt nổi nữa.

Đèo Văn Ân có mười ba vợ và khoảng năm chục đứa con. Khi thầy bói Trung Hoa nói không có ngày lành tháng tốt trước ba tháng để chôn bà vợ thứ năm vừa chết, ông bảo: "Ông nghĩ kỹ xem, nếu không tôi quá tốn kém". Thực thế, theo phong tục, lễ hội phải kéo dài không ngớt từ lúc người chết đến lúc chôn cất xong. Người thầy bói bị khiển trách và sợ rơi đầu, ấn định một ngày hợp lý hơn, hai tuần sau khi chết có thể an táng. Như vậy cũng rất tốt, dân chúng được ăn uống thoải mái mà không làm cạn hầm rượu và của cải của Đèo Văn Ân. Thật say sưa! Ngày đưa tang là một hoan hỉ chung, phải thấy ông chúa già cưỡi ngựa, dưới cây lọng, giữa rừng cờ. Trong dịp này ông cũng trưng diện bộ quần áo hiện đại, gắn đầy lon. Điều ấy cũng không ngăn cản ông lảo đảo trên lưng ngựa vì ông say. Khi ông đi qua, đám đông thét vang tình thương mến, lòng biết ơn, sự trung thành đối với ông. Thị trấn là một rừng cờ, một việc thần thánh hóa.

Ông vua tốt bụng bao giờ cũng vui vẻ và hào hiệp, ngay cả khi trừng phạt. Ông cũng biết làm rơi đầu, làm dân chúng phấn khởi. Việc ấy trở thành một trò hề lố lăng.

Một lần ông mời hàng trăm thuộc hạ đến dự tiệc. Giữa cuộc chè chén, ông đứng dậy giơ ngón tay chỉ vào một thực khách kêu lên: "Anh đã dẫn đường bọn cướp Trung Hoa, anh phải chết". Theo cách ấy ông chỉ hàng chục người. Lập tức việc hành hình thực hiện tại chỗ. Đèo Văn Ân ra lệnh cho những người bị xử tử chặt đầu lẫn nhau - người ta phân phối gươm cho họ và cắt cổ nhau. Đầu được cắm vào những cây cọc trước chỗ chém giết. Buổi tối có những cuộc vui chơi cho dân chúng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Năm, 2018, 04:57:18 PM

Thiên đường mất đi

Phong Thổ, lẩn khuất trên biên giới, bao giờ cũng có kẻ cướp Trung Hoa qua lại. Chỉ cách đây mấy tháng, một toán hai nghìn người bao vây thị xã trong nhiều tuần - chính là những đồng lõa Thái của những người bị Đèo Văn Ân vui vẻ hạ sát. Cuộc chiến tranh nhỏ này cũng thật vui nhộn. Khi ấy có một đội quân đồn trú nhỏ của Pháp đóng trên một ngọn núi cao. Từ chỗ ấy họ hàng ngày dội bom đạn vào người Trung Hoa tập hợp bên dưới quanh lâu đài họ bao vây. Có lúc một quả đạn cối rơi xuống lâu đài giết chết người con cả của Đèo Văn Ân - Ông chúa phúc hậu có vẻ không buồn phiền lắm. Thời gian thường trôi qua chủ yếu bằng đấu miệng giữa hai bên. Người Trung Hoa kêu gọi những ngụy binh của Ân hơi bị đói: "Đến với chúng ta, các anh sẽ có gạo". Những người này cao đạo trả lời: "Chúng tôi không thèm. Chúng tôi đã có rượu". Và súng nổ - bum, bum! Và ca-nông người Pháp nã đạn - còn bum, bum nhiều hơn.

Than ôi, tôi cảm thấy mảnh đất Châu Á này rồi sẽ biến mất. Tất cả thay đổi xung quanh nó. Những toán người Trung Hoa đã do những người cộng sản nắm; các giáo viên từ phía bắc tới, cán bộ chính trị cải huấn họ. Việt Minh cũng phối hợp với họ. Và đối với lực lượng mới này, Phong Thổ, ông già Đèo Văn Ân không thể làm gì được với mấy chục nguỵ binh. Đồn trú Pháp cũng rút đi, Bộ chỉ huy thấy họ trống quá.

Đèo Văn Ân biết rõ sự bất lực của mình. Một buổi chiều ông chỉ cho tôi một hẻm núi - đường mòn từ Trung Hoa đi qua đó, chỉ khoảng ba mươi cây số. Toán người Trung Hoa có thể theo đường ấy, chỉ cần nửa ngày là ùa vào Phong Thổ. Ân rên rỉ với tôi: "Tôi làm gì được? Tôi làm gì được?" Thậm chí ông hy vọng đủ thì giờ chạy trốn lên ngọn núi cao gần đấy, chỗ quân đồn trú Pháp đóng. Ở đấy chắc ông cùng ngụy binh có thể chống cự mấy ngày chờ quân nhảy dù.

Công việc lớn của Đèo Văn Ân là chọn người và vật mang theo mình lên núi cao. Của cải đã đóng gói hết: một số chức sắc đã được chỉ định. Còn lại đành để mặc; trong số còn lại này có tất cả các bà vợ, vợ lẽ. Ông bảo đến tuổi ông có thể bỏ qua các bà rồi.

Một nhân vật khác cũng bị ám ảnh vì ngọn núi cao đó, cũng lựa lọc những gì có thể mang theo. Đấy là viên đại diện Pháp trẻ. Ông luôn lặp lại với tôi:

- Miễn là tôi lên đấy kịp thời! Vấn đề là phải trèo khá nhanh để thoát khỏi người Trung Hoa và Việt Minh. Tôi đã bấm tính thời gian đi lên. Phải mấy nửa tiếng đồng hồ. Tôi đang tập dượt để rút xuống hai mươi phút.

Viên đại diện đã có dự phòng để khỏi bị chết trên đó. Ông cho mang lên núi một lượng dự trữ thức ăn khô, đồ hộp, cả những két champagne và cognac.

Ở Phong Thổ kỳ lạ này điều kỳ lạ nhất có lẽ là viên đại diện. Con trai một đô đốc, ba mươi tuổi, có vẻ đẹp yếu ớt, nhiều nét thon thả, đôi mắt mơ màng, da trắng màu sữa. Hàng ngày ông nằm dài trên giường trong bóng mờ tối cho đến năm giờ chiều - có vẻ bệnh sốt rét làm yếu sức ông. Ông đã có lệnh cấm bất cứ ai, bất cứ vì lý do gì đến quấy rầy ông trước hoàng hôn.

Đêm xuống tôi tới gặp viên đại uý năng động, cũng rất niềm nở, ngây thơ tuyên bố với tôi:

- Người Thái tưởng tôi hơi yếu tinh thần nên họ thương tôi lắm. Ông cho tôi biết tin tức về Lao Cai: Thị xã bị bao vây. Việt Minh ở khắp lưu vực sông Hồng. Ở Trung Quốc, phía bên kia biên giới, quân du kích đỏ dồn quân lại rất nguy hiểm, như muốn đánh úp bốt đồn trú Pháp.

- À, tôi quên, ông ngọt ngào nói. Ba đồng nghiệp tôi, người phụ trách Sa Pa đã di tản rồi.

Tôi không còn đi Lao Cai theo đường thẳng được nữa vì con đường này qua đúng Sa Pa, trạm miền núi của "thực dân", cách đây ba mươi cây số ở phía nam sông Hồng. Bây giờ Việt Minh nghỉ ngơi thoải mái trong các nhà một tầng của người Pháp.

Tôi được biết có một con đường mòn khác ngay trên biên giới Trung Quốc, trèo qua dãy núi Phansiphăng. Phải lên đến đèo Mây cao hơn ba nghìn mét theo một con đường lát gạch xưa của Trung Hoa luôn có nước thác chảy qua. Tôi quyết định đi theo con đòng ấy. Đèo Văn Ân tổ chức cho tôi một đoàn người ngựa, cho tôi một đội tuỳ tùng những người có vũ khí.

Trước hôm ra đi tôi nhận được một công điện. Tuyệt đối cấm đi theo con đường đèo Mây, nó đã bị một toán người Trung Hoa xâm nhập vào Đông Dương cắt đứt. Vậy là tôi ở Phong Thổ trong một ngõ cụt, chỉ còn đi trở lại ngược với cuộc hành trình trên xứ Thái. Tôi phải trở về Hà Nội qua Lai Châu, Sơn La. Có lẽ tôi sẽ tìm được một chiếc máy bay đưa tôi đến Lao Cai, thị xã lớn đầu tiên bị đe dọa từ khi Đội quân viễn chinh sang đánh nhau ở Đông Dương.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Năm, 2018, 04:58:01 PM

Ngọn gió bại trận

Chính ở Lao Cai tôi có sự tiết lộ đau đớn này: khả năng bại trận trong cuộc chiến ở Đông Dương.

Cho tới lúc đó tôi đã sống trong ảo tưởng. Như tất cả những người Pháp, tôi công nhận Việt Minh có ưu thế của chiến tranh du kích, sự né tránh tấn công và đẫm máu. Nhưng tôi tin vào các nhà quân sự của Đội quân viễn chinh khi họ nói: "Chà, nếu Việt Minh dàn trận đối mặt với chúng tôi, chúng tôi sẽ đập nát họ!" Từ nay tôi không còn chắc chắn điều đó đúng nữa.

Vì ở Lao Cai tôi thấy các trung đoàn của ông Giáp dùng lực lượng mạnh tấn công Đội quân viễn chinh. Lần đầu tiên quân chính quy Việt Minh luồn ra khỏi "tứ giác" của họ, tổ chức một cuộc tấn công thực sự. Và trước sự tấn công đó, chỉ qua mấy ngày, mấy giờ, các sĩ quan Pháp từ tự phụ sang lo sợ, từ phức cảm ưu thế sang phức cảm yếu thế. Họ thể hiện một sự dũng cảm đáng khen và đồng thời gần như những người bại trận tương lai.

Tôi, người chứng kiến những sự kiện kỳ lạ ấy, tôi đã hiểu sức mạnh những yếu tố chống lại Đội quân viễn chinh, vừa là những lực lượng thiên nhiên bí ẩn của chủ nghĩa Cộng sản và trọng lượng to lớn của Trung Quốc. Tôi đã cảm thấy sự yếu kém của người Pháp đứng trước sự tập hợp người và sự kiện ấy.

Năm ấy Lao Cai đã chống giữ và Bộ tổng tham mưu đã nói đến chiến thắng. Nhưng tôi có cảm giác thời gian chưa chín muồi - Việt Minh chưa hoàn toàn sẵn sàng. Mao Trạch Đông chưa chính thức bố trí ở biên giới. Vào mùa xuân năm 1949 này trong núi rừng Bắc Kỳ chỉ là những trận đánh chuyển tiếp: Châu Á cũ chưa hoàn toàn biến mất trước Châu Á mới gay gắt, thực chất và không thương xót. Trong vài tháng nữa tình hình sẽ như thế. Lúc đó việc gì sẽ xảy ra?


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Sáu, 2018, 05:05:50 AM

Lính dù rơi từ trên trời xuống

Ở Hà Nội, mưa phùn là một tấm khăn liệm người chết. Bầu trời quá thấp rỉ rả xuống mặt đất. Nhưng mặt trời lạc quan ánh lên trên "thành trì" - Tổng hành dinh của Ban tham mưu Bắc Kỳ. Một đại tá nói với tôi:

- Ông có thể đi Lao Cai. Chúng tôi đã có những biện pháp để đẩy lùi Việt Minh. Ông sẽ thấy chúng tôi hoàn toàn làm chủ tình hình.

Than ôi, bầu trời vẫn nhớp nháp. Không một chiếc Junker nào cất cánh được. Giải pháp duy nhất là bay trên châu thổ sông Hồng, dưới trần mây với một chiếc máy bay nhỏ gần như một đồ chơi. Một buổi sáng tôi đi trên một chiếc Nord-1000 bay trong tranh tối tranh sáng qua một vùng bấp bênh mà tầng mây bên dưới bám vào rừng. Để hướng dẫn phi công chỉ có dải sông Hồng khó phân định rõ; phải xuống cách năm mươi mét để bay theo ánh nước thoáng qua của dòng sông. Khắp xung quanh có những ngọn núi dốc đứng, khó đoán được chân núi. Một đám mây một lúc nào đó che khuất sợi dây nước chỉ đường là hầu như chắc chắn tan xác. Và cứ thế kéo dài ba trăm cây số.

Lao Cai thật tang thương, chỉ những đổ nát với nỗi lo sợ chờn vờn đâu đó. Tất cả các loại quân đội gây nên những đổ nát ấy - binh lính của Thiên hoàng, những "người giải phóng" Mỹ, quân đói khát của Tưởng Giới Thạch, Việt Minh khi họ chiếm thị xã năm 1945, người Pháp khi họ chiếm lại. Vì hầu hết những quân đội trong tình trạng chiến tranh đều đi qua Lao Cai, cửa ngõ qua lại Trung Quốc.

Những tàn tích ấy đã cũ, gần sụp đổ, có sửa chữa lại một phần. Dân chúng khổ sở sống trong cảnh hoang tàn ấy. Nhưng ngày nay họ ẩn nấp, sống trong hầm hố - Lao Cai như không có người ở.

Đường phố duy nhất của thị xã như chết. Không một con người, một tiếng động, chỉ toàn rác rưởi, cửa ngõ có cọc chắn, phía trước nhà đóng ván kín. Chốc chốc là một lính gác qua lại.

Khi một thành phố bị đe dọa, nhân dân làm vườn không nhà trống là tục lệ ở Châu Á. Đấy là phản ứng tự vệ. Dân cư chờ đợi, ẩn nấp như biến mất, mặc số phận đưa lại một người chiến thắng. Lúc ấy họ lại ra mặt để hoan nghênh, thân thiện.

Chỉ dựa vào cảnh không người ấy, dạng lo sợ ấy, tôi hiểu Lao Cai có thể bị hạ. Cho đến lúc ấy tôi không tin một vị trí quan trọng nào được Đội quân viễn chinh bảo vệ có thể bị chiếm. Bây giờ tôi cảm thấy ngọn gió bại trận.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Sáu, 2018, 05:07:43 AM

Tôi cũng sợ. Hình như ở đâu cũng sợ hãi, ngay cả trong văn phòng của đại uý C... trưởng đồn. Nơi chỉ huy của ông chỉ là một phòng tồi tàn, trơ trụi: một chiếc bàn gỗ trắng, những bản đồ của bam tham mưu trên tường và một máy điện thoại dã chiến. Viên đại uý là hiện thân của sự vững chãi, một quân nhân đồ sộ, nhưng tôi cảm thấy ông rùng mình khi nói với tôi:

- Nếu Việt Minh xuất hiện trong thị xã, những cộng sản Trung Hoa sẽ đột nhập vào và thế là hết.

Tôi biết thị xã này hầu như không thể bảo vệ được. Đây chỉ là một con đường dài ở dưới thấp, trong lưu vực sông Hồng, xung quanh rừng, phía trên là Trung Quốc, cả ba phía rừng núi ở trong tay Việt Minh. Phía kia, cách mấy trăm mét, thị trấn Trung Quốc Hà Khẩu khống chế Lao Cai từ trên đồi cao. Bất cứ lúc nào, ca-nông của thành trì này có thể đè bẹp Lao Cai, khu đồn trú Quốc dân đảng ở đây có thể đầu hàng quân du kích Mao Trạch Đông cùng vũ khí và thiết bị.

- Nhưng sự đe dọa trước mắt là trung đoàn Việt Minh ở khu tứ giác Hồ Chí Minh đã xuất phát được một tháng với mục tiêu là Lao Cai. Chắc bây giờ đoàn quân ấy rất gần, nguỵ trang trong thiên nhiên mà không bao giờ người ta phát hiện ra. Cuộc tấn công chưa biết sẽ xảy ra một đêm nào đó trong lúc ở Lao Cai chỉ có đại đội chỉ huy của tôi.

Viên đại uý đến bên cửa sổ, chỉ bầu trời nặng như chì:

- Hy vọng cuối cùng của tôi là ở đó, trông vào một đợt lính nhảy dù. Tôi đã yêu cầu và vừa yêu cầu lại. Hà Nội cho biết tiểu đoàn dù đã sẵn sàng. Máy bay Junker cũng thế nhưng phải quang đãng một ít đã. Suốt ngày tôi chờ không thấy. Đêm nay thị xã như để phó mặc.

Hoàng hôn xuống. Khu rừng rất gần thật yên tĩnh khi đêm tối bao phủ! Thế nhưng Việt Minh có lẽ chỉ cách một, hai cây số, sẵn sàng xông vào.

Ngày trở lại, có tiếng máy bay ầm ĩ. Trên bầu trời sáng đục người ta không trông thấy được những chiếc máy bay quay vòng đi lại rất lâu. Chúng cũng mù - không nhìn thấy mặt đất, phải tìm kiếm qua mây. Bỗng tiếng máy bay tăng lên. Trên bầu trời xám xịt bung ra một chuỗi chấm đen, chao đảo. Lính dù đã được thả, họ xuống dần.

Có một đại đội, được tập hợp lại sau một giờ. Quân dù theo hàng dài bước tới khu rừng bắt đầu từ cuối con đường. Họ biến mất vào bí mật, tôi không biết họ đi đâu - một bí mật tuyệt đối. Chính đại uý C... giao nhiệm vụ cho họ; ông bố trí người hướng dẫn, cu-li, ngựa thồ. Dù bằng cách nào, nơi đến của họ là đòn "đánh mạnh”.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Sáu, 2018, 05:08:18 AM

Đây là lần đầu tiên tôi thấy lính dù hành động ở Đông Dương. Cho đến lúc đó người ta ít sử dụng họ. Làm sao dự kiến được cuộc chiến tranh từ nay chủ yếu là của họ? Vì trong những hỗn độn lớn trong tương lai, họ sẽ là những chuyên gia bám địch: Chính họ là những người cầm chân các sư đoàn Việt Minh. Họ trở thành những chiến binh vô vọng mà máy bay ném xuống vì những nhiệm vụ cụ thể, không tranh cãi được.

Trong buổi sáng ở Lao Cai này, quân lính dù tôi thấy hình như khác với những quân lính khác! Đấy là những vô lại siêu nhân, ngược hẳn lê dương: những người này, lính hoàn hảo chuyên nghiệp của thế giới hiện đại, tự hào về việc tuân theo mệnh lệnh và âm thầm: họ đánh nhau theo đội hình vững chắc, được trả công để chết khốn khổ - người ta nắm họ trong kỷ luật của cái chết tương lai. Lính dù trước hết là người theo chủ nghĩa cá nhân, một nghệ sĩ, đấu sĩ. Mỗi trận đánh là một cuộc đấu tay đôi mà anh ta phải thắng. Cuộc đời của anh ta là sự thách đố thường xuyên, những trận đánh liên tiếp - những cuộc đấu tay đôi mà anh luôn phải thoát do "giá trị" của mình, sức mạnh của tính cách mình. Cuộc "chơi" là trải qua mọi mạo hiểm và với tính cách ưu việt, phải chiến thắng thậm chí phải giết. Đấy là vinh dự. Bị giết hầu như là sự hổ thẹn. Tôi có nghe nói đến một sĩ quan dù bỏ tù những người bị thương vì như vậy là thấp kém.

Kẻ thù của lính dù là cái chết, luôn luôn có mặt nhưng bất lực. Lính dù không sợ hãi. Sống sót không phải bản năng của sự hèn nhát mà là chiến thắng của nghị lực. Lính dù có một triết lý. Điều đó đưa họ lên trên tất cả, cả những khái niệm thông thường của cái tốt và cái xấu. Lĩnh vực của họ là sự khốc liệt tự nguyện chọn lựa nhưng được họ thăng hoa vì sự trong sạch, không vụ lợi.

Thực tế, lính dù thán phục Việt Minh dù chưa có ý thức. Đấy là những kẻ thù xứng đáng với Việt Minh. Trên mọi cuộc đấu tay đôi đặc biệt, có cuộc đấu lớn giữa những tiểu đoàn dù chống các sư đoàn của ông Giáp. Việc này kết thúc bi thảm ở Điện Biên Phủ. Ở Lao Cai tôi chứng kiến một trong những giai đoạn đầu của cuộc đấu khổng lồ này.

Sau khi đoàn lính dù đi, tôi chờ đợi trong văn phòng đại uý C... Sự chờ đợi cũng là cuộc chiến đối với ông. Ông chờ tin tức của trận đánh không biết rõ ở đâu đó trong thiên nhiên. Vì ông không bảo vệ Lao Cai tại Lao Cai mà trong một khu rừng lớn như cả toàn vùng với hàng nghìn đường mòn, núi cao với cây cối um tùm khắp nơi. Trong mênh mông đó một số phân đội địch thủ mất hút trong thiên nhiên. Thế nhưng những nhóm người ấy tìm nhau, tránh hoặc bám vào nhau - Việt Minh, để đi qua và lính dù, để ngăn cản họ đi qua.

Viên đại uý ngồi trong phòng hướng dẫn trận đánh, trừu tượng nhất trong các trận đánh. Dụng cụ của đại uý là máy điện thoại và điện đài. Với ông, tôi thấy một bi kịch ở trạng thái thực chất, không trang trí, chỉ với những tiếng chuông điện thoại và điện tín. Mỗi lúc có thể là tin báo một sự kết thúc, một sự phản bội, một bốt bị hạ, một cuộc phục kích. Cũng có thể là hy vọng. Trong suốt thời gian ấy, trong gian phòng tầm thường này, dựa vào những thông tin nghèo nàn hoặc suy đoán, đại uý có những quyết định qua đài sẽ đến một bốt hoặc một đoàn quân. Và tuỳ theo ông có nhầm lẫn hay không trong văn phòng ông ở Lao Cai, sẽ là chết hoặc sống của bao nhiêu người.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Sáu, 2018, 05:09:24 AM

Bốn mươi tám tiếng đồng hồ chậm rãi trôi qua, viên đại uý bí mật điều khiển các đơn vị của ông trên bàn cờ rừng rậm. Sáng ngày thứ ba có chứng cứ ông ta tính toán đúng, ông chiến thắng. Tin báo đêm trước bốt Bản Phiệt đập tan một đại đội Việt Minh. Sáng ra những đống xác chất cao bằng hàng rào. Một cuộc tàn sát dã man. Trưởng bốt ra lệnh bắn như dội đạn vào quân chính quy khi chỉ cách năm mét.

- Tôi biết việc gì sẽ đến, đại uý nói với tôi. Việt Minh sẽ tấn công Bản Phiệt bằng mọi giá, lợi thế của tôi là họ không biết tôi có đại đội lính dù đó; lính dù đã tàn sát họ.

Và đại uý kể cho tôi nghe một câu chuyện về rừng và Châu Á độc ác và lạ lùng như bao câu chuyện khác. Đấy là việc đi tìm một số xác chết đã cứu Lao Cai. Năm Việt Minh đi hàng một trên con đường mòn trong rừng bị tan xác vì một quả lựu đạn cài sẵn. Nguỵ binh đi chôn xác tìm thấy trên người họ một cuốn sổ giấy úa vàng, đầy dấu và chữ. Đấy là toàn bộ kế hoạch tấn công Lao Cai, hai mươi trang viết tỉ mỉ. Năm đại đội Việt Minh đã tập trung trước mặt thị xã. Để tấn công, họ phải chờ sự ráp nối với quân lính cộng sản Trung Quốc. Cần có một đại đội thứ sáu chiếm Bản Phiệt, bốt chỉ huy con đường dễ đi nhất qua núi rừng biên giới. Nhiệm vụ có vẻ chẳng khó khăn gì vì khu đồn trú Bản Phiệt bình thường rất yếu...

Chúng tôi đã không bị thiệt hại gì, ít nhất là trong mấy ngày, thời gian họ phê bình kiểm điểm và lên kế hoạch mới. Những lý do thực sự là những đại đội trước mặt chưa "chín muồi". Để chắc thắng, Việt Minh đề nghị những người cộng sản Trung Quốc đánh chiếm Lao Cai từ phía sau. Những người này chỉ muốn tham gia với một lời hứa. Vậy là Việt Minh phải cố gắng để liên hệ với họ; như vậy thì phải làm bật nút Bản Phiệt.

Giữa quân đỏ, việc mặc cả rất phức tạp, rất Phương Đông. Và như vậy là xảy ra sự cố tai hại. Cuốn sổ tìm thấy đủ để làm hỏng cả một công trình vì nó cho tôi tìm ra giải pháp. Tôi cho quân dù đến bốt hết sức bí mật, dẫn họ đi lắt léo trong rừng. Và quân địch vốn biết hết, lần này mù tịt.

Viên đại uý giải thích cách làm của ông đúng như anh hùng trong cuốn truyện trinh thám, khi sắp đặt hoàn chỉnh mưu kế của mình.

Một giờ sau, thị xã đã hoàn toàn thay đổi. Đường phố đông người, các quán hàng mở cửa trở lại, chất đầy hàng ít có giá trị; bên trong các nhà đã có tiếng chơi cờ. Dân chúng Lao Cai biết cơn nguy hiểm đã qua, ít nhất là tạm thời.

Quân lính dù vẫn theo hàng ngũ, trở lại và ra đi. Những nét mặt mệt nhọc. Họ tiến bước im lặng, nặng nề, một cách máy móc vì nghị lực. Vào từ một đầu phố, họ đưa một số bị thương vào bệnh viện rồi tiếp tục đi. Sau khi đi qua thị xã, họ lại mất hút trong rừng, trong chiến tranh.

Những tuần lễ tiếp đó, đoàn quân dù lại xuất hiện nhiều lần ở Lao Cai, chỉ để đưa tới những người bị thương và người chết. Trong số những xác ấy có một người tự sát. Một lính tình nguyện trẻ từ Pháp sang mấy tuần trước, nghĩ rằng mình đã không dũng cảm, đã tự bắn vào đầu. Anh ta cho mình làm mất danh dự. Tuy vậy sĩ quan đã xử sự tốt. Chắc rằng như thế chưa đủ...

Thực ra ở những người lính dù, những người quá căng thẳng ấy, người ta chết vì quá nhạy cảm.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Sáu, 2018, 05:13:12 AM

Ngón khéo léo của Châu Quán Lồ

- Cả tuyến biên giới... đi đời...

Đấy là câu viên đại uý tiếp đón tôi trong buổi sáng tôi vào văn phòng ông.

- Tuyến biên giới vỡ ở Hoàng Su Phì, bốt xa nhất của chúng tôi phía trên sông Đáy. Nếu trên ấy tan tành thì rồi ở ngay đây, Hà Khẩu, Lao Cai cũng sẽ sụp đổ; họa Việt Minh vừa lu mờ thì đến mối nguy Trung Quốc.

Đại uý đưa cho tôi một bức điện. Sĩ quan chỉ huy ở Hoàng Su Phì báo tin Tchou Kia Py - uỷ viên chính trị của Mao Trạch Đông - đã cho Việt Minh mượn một tiểu đoàn trong một tháng, thời gian đủ để lấy bốt.

Bi kịch Hoàng Su Phì kéo dài nhiều tuần, diễn ra trong những núi đá vôi thể hiện trên bản đồ bằng một vệt trắng. Đấy là bi kịch một bốt ngày này qua ngày khác đã chống cự với những trăm, nghìn Việt Minh, lộn xộn kinh khủng. Lúc đầu chỉ có năm người Pháp và ngụy binh. Họ đã tưởng bị mất thì lính dù nhảy xuống góc cuối này. Lính dù lấy lại từng đỉnh núi cao khống chế bốt. Việt Minh đưa từng làn sóng người phản công nhưng thất bại và bây giờ xuất hiện quân Trung Hoa cộng sản.

Trung Quốc của Mao chính thức còn cách hàng nghìn cây số nhưng du kích đỏ đã bố trí sát cạnh Đông Dương. Người tổ chức các toán này là Tchou Kia Py, một trí thức gầy và dữ tợn, trực thuộc Ban tham mưu của Mao Trạch Đông, từ vùng giải phóng phía bắc Trung Quốc xa xôi đến Vân Nam chỉ với một số tùy tùng. Trong mấy tháng ông ta đã thành lập các đội ngũ với quân hiệu ngôi sao đỏ.

- Đất Vân Nam này, đại uý nói, là nước Trung Quốc suy thoái tột độ. Những sân bay rộng lớn do người Mỹ xây dựng trong chiến tranh đã trở lại với rừng. Vũ khí US đưa qua theo đường Miến Điện được bán khắp nơi: người ta có thể mua ở chợ Côn Minh. Nhưng tình trạng vô chính phủ bắt đầu từ năm 1946; khi tướng Lư Hán từ chối chia sẻ khối chiến lợi phẩm thu được ở Bắc Kỳ khi sang giải giáp quân đội Nhật. Ông ta giữ tất cả cho mình. Những tướng, tá của ông thất vọng và giận dữ, nổi dậy trở thành giặc cướp. Họ hoan nghênh những đề nghị của Tchou Kia Py, nghĩ rằng mình sẽ có lợi hơn.

Sự huỷ hoại càng nhanh vì Lư Hán mất mặt. Tưởng Giới Thạch chơi ông thảm hại, lợi dụng lúc cử Lư Hán sang Bắc Kỳ để chiếm lãnh địa của ông, đặt những khu đồn trú của mình ở những thị trấn chính của Vân Nam. Sau đó những người cộng sản đã có thể "lũng đoạn" tất cả nhờ vào sự bất bình chung.

Trong tình trạng sa sút ấy chỉ với mấy trăm du kích, năm ngoái Tchou Kia Py chiếm Mong Tseu, thị trấn thứ hai của tỉnh, vùng giàu thép, cách Lao Cai không đến một trăm cây số. Không có chống cự. Sau đó cả một nửa Vân Nam bao bọc phía trên Đông Dương chuyển sang phe đỏ; cả vùng biên giới chỉ còn lại với Quốc dân đảng một khối, khu Hà Khẩu khống chế chúng tôi. Nhưng thị trấn này đơn độc, hoàn toàn bị du kích thiết chặt. Một ngày nào đó quân lính ở đây gia nhập với Tchou Kia Py và sẽ là tai họa.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Sáu, 2018, 05:15:41 AM

Từ nay, hơn cả Việt Minh, Tchou Kia Py là kẻ thù thực sự của tôi, đáng sợ nhất. Ông ta liên minh với Việt Minh, tung du kích tấn công các bốt của tôi, đe dọa tôi tận Lao Cai. Tôi phải đọ sức với chính ông ta. Không phải bằng vũ khí mà theo "cách của Châu Á". Tchou Kia Py đã dụ dỗ các ông chúa chiến tranh; tôi sẽ rủ rê, lung lạc họ về với mình.

- Trước đây, đặc ủy tâm sự với tôi, tình bạn với các thủ lĩnh băng nhóm, với những vị làm giàu vì buôn vũ khí đã rất quý giá đối với tôi. Không có tình bạn ấy tôi không bao giờ lấy lại được Lao Cai với người của tôi cách đây bốn năm. Và chắc người Pháp sẽ không có mặt ở đây.

Chính nhờ sự tận tụy của Nùng mà tôi chiếm lại được thị xã này. Anh ấy chỉ là một lính biệt kích người Thổ. Nhưng câu chuyện của anh rất đẹp, tôi kể cho ông nghe.

Thời kỳ Nhật chiếm đóng tôi chỉ huy một đại đội dân bản xứ ở Lao Cai. Trong cuộc đảo chính tháng ba năm 1945 tôi vượt qua Cầu quốc tế với người của tôi sang tìm chỗ lánh nạn ở Trung Quốc. Khi đế quốc Mặt trời mọc đầu hàng, tôi được lệnh trở lại Lao Cai. Nhưng Việt Minh đã chiếm đóng thị xã và toán quân của tôi đã kiệt sức không đuổi họ được. Lòng hiếu khách của Trung Quốc chỉ là một dạng trại tập trung.

Thay vì trở lại cầu với đại đội mình, tôi chỉ thị cho Nùng quay về Lao Cai một mình, nói là đào ngũ, xin gia nhập Việt Minh và tự xoay xở lấy. Mấy tuần lễ sau đó anh báo tin cho tôi, anh được chỉ định chỉ huy trưởng và tôi có thể trở về, tất cả đã sẵn sàng.

Đến ngày đã định chúng tôi về thị xã, nghi ngờ, dưới đội hình chiến đấu. Chúng tôi thấy một Lao Cai hoan hỉ kéo nhiều cờ tam tài. Trên quảng trường chính hai trăm người cưỡi ngựa giơ cao súng chào chúng tôi. Trang bị của họ, từ những kho Mỹ theo những đường bí mật cung cấp, tương phản khác thường với quần áo rách rưới của chúng tôi. Tôi nhận ra Nùng tuốt gươm chào chúng tôi. Những kỵ sĩ ấy của anh trong đại đội Việt Minh: đấy là những người miền núi, tin cậy, bà con mà anh tự tuyển mộ với sự khuyến khích của những cán bộ chính trị. Xa hơn một ít là những tù binh, lính của một đại đội Việt Minh khác, người Annam thuần túy. Nùng đã bất ngờ giữ họ.

Bây giờ Nùng đã chết trong chiến đấu. Nhưng bạn thân, tôi có rất nhiều người khác! Tôi có Se Co Tinh. Tôi có Châu Quán Lồ. Và để giữ Lao Cai đối với Tchou Kia Py, trước hết tôi dựa vào họ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Sáu, 2018, 05:16:30 AM

Ngày hôm sau tôi làm quen với Se Co Tinh. Một người Lao Cai khoảng ba mươi tuổi, giống một người học trò mẫu mực của các cha. Nhỏ nhẹ, nụ cười e thẹn, anh giữ được nét đẹp của tuổi trưởng thành. Nhìn bề ngoài anh hoàn toàn Phương Tây hóa, nói tiếng Pháp, mặc bộ quần áo comple là kỹ và cho xây dựng một biệt thự như ở ngoại ô Paris. Nội thất kiểu hiện đại trang trí những dây hoa giả và tranh ảnh tiệc tùng. Những chiếc xô-pha, bàn, giường, đàn dương cầm được máy bay chở đến từ những cửa hàng sang nhất ở Sài Gòn và Paris. Ở châu thổ sông Hồng như thế là quá sang trọng.

Se Co Tinh sống một cuộc đời yên ấm ở gia đình; anh có một người vợ đẹp im lặng và những đứa con hay la hét. Nghề của anh là sở hữu năm trăm khẩu súng - được hàng nghìn người sử dụng trên bờ tây sông Hồng, không quan tâm quá đáng đến biên giới. Nhưng anh không phải một trưởng băng nhóm thô lỗ, đấy là một người kinh doanh. Hầu như anh không bao giờ bám sát vốn của mình, nghĩa là súng và người của anh. Anh chỉ đạo việc "buôn bán" từ Lao Cai, cụ thể hơn là từ biệt thự của mình nhờ một đài thu phát.

Se Co Tinh không có một luật lệ nào, kể cả luật lệ trưởng băng nhóm. Anh làm việc cho mình nhưng với sự che chở của người Pháp mà anh là người đưa tin tốt nhất.

Ngược lại tôi không có vinh dự tiếp cận với Châu Quán Lồ. Ông ta quá bận bịu trên những ngọn núi Mường La, đánh nhau và trao đổi mua bán với đủ loại người Trung Quốc như một chiếc răng, sát Hoàng Su Phì, cách Lao Cai khoảng một trăm cây số về phía đông bắc.

Châu Quán Lồ là một chúa Mán ở lưng chừng núi, ngay dưới người Mèo. Những bước khởi đầu của ông không rõ, rất có thể là một tên cướp, về già ông lãnh đạo dân tộc mình một cách đàng hoàng và tư cách. Đi đâu ông cũng ngồi trên lưng một con ngựa yên cương thật đẹp phía sau đoàn tuỳ tùng chức sắc - người cầm cờ hiệu, quân hầu rượu luôn cầm vò rượu, quân mang ống điếu, mấy vệ sĩ luôn để ngón tay vào cò súng tiểu liên, vài chư hầu và cuối cùng là ông che tán tránh nắng cho khuôn mặt vương giả. Thế nhưng khuôn mặt ông thật đáng sợ, sẹo khắp nơi, khâu vá khắp nơi, một con mắt chột mí mắt to lớn khép kín, con mắt kia sưng húp đầy ghèn.

- Ông ấy trung thành triệt để với người Pháp, viên đại uý nói với tôi. Ngay cả khi đã mất hết trong cuộc đảo chính Nhật năm 1945, giữa rừng núi của mình hàng ngày Châu Quán Lồ vẫn chủ trì lễ chào cờ tam tài. Trên toàn Đông Dương lúc ấy chỉ trên lãnh địa ông còn phấp phới lá cờ Pháp. Bao giờ ông cũng tận tâm như vậy; bây giờ ông giết tất cả những người cộng sản, không phân biệt Việt Minh hoặc Trung Hoa. Bao nhiêu đầu bị chặt! Ông muốn đều đặn gửi cho tôi một thúng và hơi phật lòng khi tôi từ chối món quà đó.

Hai, ba ngày sau viên đại uý thông báo cho tôi:

- Xong rồi. Châu Quán Lồ làm thất bại cuộc tấn công của Tchou Kia Py vào Hoàng Su Phì rồi: ông đập tan cuộc tấn công không một phát súng, với mấy nghìn đồng bạc.

Một tướng cướp Trung Hoa tên Chung đến gia nhập theo quân Tchou Kia Py cách đấy ba tháng; đêm trước anh ta nổi dậy chống lại. Lâu nay anh ta cay đắng than phiền không nhận được tiền cứu trợ cộng sản đã hứa; họ làm anh không kiếm được nhiều vì phải chuyển sang sống lương thiện. Biết được những lời kêu ca đó, Châu Quán Lồ đề nghị sẽ cung cấp số tiền đó nếu anh ta quay lại chống quân đỏ. Thế là chiều hôm qua Chung cướp hết mọi tiếp viện thực phẩm của tiểu đoàn quân Tchou Kia Py đang tiến đến Hoàng Su Phì - đoàn quân đói đành phải trở về.

Không kể việc Chung ngày nay bị một băng nhóm cạnh tranh do cộng sản chi phối đánh tập hậu một sự lộn xộn không gỡ nổi giữa những người Trung Hoa đủ loại trên biên giới. Nhưng Tchou Kia Py không chiếm Hoàng Su Phì sớm được.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Sáu, 2018, 05:19:16 AM

Những khẩu đại liên của thị trưởng

Chiến thắng ấy không có ngày mai. Vì lúc tôi đến, Lao Cai đã là một thị xã chết, nhân dân trốn tránh, ẩn mình sau những cọc và tấm ván. Tôi lại thấy nỗi sợ hãi. Viên đại uý cũng giật mình khi nói với tôi.

Trong văn phòng ông, những tấm bản đồ ban tham mưu đầy những mũi tên đổ từ mọi phía chĩa vào Lao Cai.

- Cuộc tấn công đã bất đầu lại. Lần này quân địch muốn kết thúc cho xong. Thậm chí tôi nghĩ những đợt thả lính dù mới cũng không cứu được chúng tôi. Hôm trước lãnh đạo Trung Hoa và Việt đã họp cấp cao tuyệt mật: thay vì kết tội nhau, họ đều phê bình, công nhận có những ẩn ý và nghi ngờ nhau. Từ nay họ sẽ hành động với tình "anh em", tất cả tấn công Lao Cai cùng một lần, cả mọi phía, lao về phía trước không chờ đợi, không trông chừng nhau, không bận bịu về những kế hoạch phức tạp. Chiến thuật duy nhất của họ là nhấn chìm thị xã bằng người.

Tchou Kia Py hứa cho các đội quân đốt phá. Vì vậy mọi loại băng nhóm Trung Hoa bị chiến lợi phẩm hấp dẫn, đang vượt sang Đông Dương, phía bắc cũng như phía nam sông Hồng. Biên giới chỉ còn là một cái vá vớt bột.

Không phải chỉ có thế. Điều tệ hại - nghiêm trọng nhất là Trung Hoa mà Việt đã quyết định trước hết chiếm Hà Khẩu. Hiện tại các tiểu đoàn của Tchou Kia Py và các tiểu đoàn Việt Minh đang tập trung phía sau, Thị trưởng Quốc dân đảng - vốn luôn luôn từ chối chi phí cho cảnh sát - vội vàng tuyển cu-li, ăn mày, phân phối súng cũ cho họ. Đấy là toàn bộ sự chống trả của ông ta, đúng một hài kịch để khỏi mất mặt. Và khi cộng sản ở Hà Khẩu, họ sẽ dội đạn xuống chúng tôi với súng ca-nông của pháo đài cũ khống chế cả vùng lưu vực sông Hồng.

Từ cửa sổ văn phòng tôi thấy Hà Khẩu rất gần, nghiêng nghiêng, còn trong yên tĩnh của hòa bình. Lá cờ Quốc dân đảng vẫn phấp phới đầu cán, trên cao thành trì Trung Hoa.

Nếu quân đỏ từ trên ấy bắn xuống Lao Cai, tôi sẽ ra lệnh dội bom Hà Khẩu. Sẽ tiến hành trả đũa dù có gây nên một khủng hoảng quốc tế. Tôi đã xin Hà Nội một khẩu ca-nông 105. Chốc nữa người ta sẽ chở tới.

Trong ngày đại uý không chỉ nhận được khẩu ca-nông mà hàng trăm cu-li kéo, đẩy lên một hòn núi cao trước mặt Hà Khẩu. Ông cũng nhận được một bức thư của thị trưởng mong mỏi ngay chiều nay trưởng khu đồn trú Pháp đầy quyền lực chiếu cố đến thăm ông.

Chúng tôi đi ngay. Chiếc cầu quốc tế chỉ còn là một đống sắt cong queo; chúng tôi đi đò qua thác nước dùng làm biên giới, rời chỗ trống không đến chỗ đông người. Hà Khẩu không trong cảnh lo sợ như Lao Cai, dân cư đông đúc lúc nhúc trên những con đường lát đá và hôi hám. Họ nhìn chằm chằm vào chúng tôi nhưng không nói gì, hoàn toàn thờ ơ. Những người ấy thậm chí không cần ẩn náu. Họ biết sẽ không đánh nhau ở Hà Khẩu, tất cả xảy ra theo thông lệ. Vào một giờ nào đó trong một ngày nào đó, thị trưởng sẽ khăn gói ra đi. Mấy phút sau các đội cộng sản chiến thắng sẽ xuất hiện, sẽ thổi kèn, diễu hành. Mọi người dân treo cờ cộng sản mà họ chuẩn bị từ lâu. Và họ đi dự một cuộc "mít tinh" lớn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Sáu, 2018, 05:20:05 AM

Chúng tôi trèo lên lâu đài của thị trưởng trên đỉnh núi, bên cạnh lô-cốt. Dĩ nhiên mọi việc đã được thu xếp. Không có quân lính; chỉ vài ma-cà-bông cầm súng mút-cơ-tông còn lại từ thế kỷ trước. Thị trưởng vừa thành công hoạt động tài chính cuối cùng. Ông ra lệnh tổng động viên nhưng mọi người đàn ông đều mua giấy miễn nhập ngũ ở ông. Chỉ một số khổ sở ở lại phục vụ.

Lâu đài đang chuyển đồ đạc. Chúng tôi đi qua các cửa, sâu khắp nơi có hàng trăm chiếc hòm; đầy tớ đang sắp xếp, một đám cu-li chờ để mang đi. Trong cảnh sôi động ấy một viên thư ký đến thì thầm với chúng tôi, thị trưởng đang ốm. Tuy nằm liệt giường, ông cố gắng tiếp ông đại uý trong phòng - chỉ một mình ông đại uý thôi.

Sau nửa giờ, ông này trở ra, khó nhịn cười cho đến khi chúng tôi đã khá xa:

- Không tưởng tượng được. Tôi thấy thị trưởng nằm nghiêng trên giường, một ông già quạt đầu cho ông. Sau những lời lịch sự dài dòng ông trịnh trọng tuyên bố gửi nhờ tôi một kho quý. Tôi nghĩ đến những vật thông thường, một kho của nhỏ, thuốc phiện, có lẽ các vợ ông cũng nên. Nhưng quái lạ hơn nhiều. Đó là mười hai khẩu đại liên, những khẩu súng rất đẹp, còn mới và vẫn để trong hòm, ông ta nói cụ thể với tôi như thế. Ông đề nghị tôi lấy danh dự cam đoan trả lại cho ông khi quân đỏ đe dọa thị trấn sẽ bị đập tan. Do khôn ngoan tôi nói lên ý muốn xem những vật quý đó và tôi nhận ra mười hai khẩu đại liên mà quân đội Lư Hán cướp của tiểu đoàn tôi ngay tại Lao Cai năm 1945. Tôi liền nhận ngay. Tối nay chúng tôi sẽ có thêm mười hai đại liên dù việc xảy ra như thế nào, viên thị trưởng cũng không bao giờ thấy lại chúng nữa.

Chúng tôi thắng lợi trở về Lao Cai. Đến sáu giờ tối một đoàn cu-li đưa các hòm vũ khí đến. Việc chuyển giao không ngờ ấy có nghĩa Hà Khẩu rõ ràng sẽ mất, chắc chắn ngay trong đêm đó; Tuy vậy sáng hôm sau, lá cờ Quốc dân đảng vẫn treo trên pháo đài. Cả ngày trôi qua mà cộng sản không vào thị trấn Trung Quốc đã sẵn sàng tiếp nhận họ như thế. Ngày tiếp theo cũng vậy. Đại uý băn khăn vì không hiểu, cả Se Co Tinh cũng không biết gì.

Hoàn toàn bí ẩn. Sự chờ đợi trở thành quá mức. Trong nhà ăn, các sĩ quan khu đồn trú, những nhân vật nhỏ nhen và tiết kiệm đến bốt Lao Cai để khỏi hoang phí, ngẩng mặt lên khỏi đĩa ăn tự hỏi: "Vì sao Tchou Kia Py không lấy Hà Khẩu?" Riêng những hạ sĩ vẫn thanh thản. Họ có khoảng mười người, những "ông già" thuộc địa, đã mười, mười lăm năm ở thuộc địa, sống như đế vương trong một ngôi nhà cách biệt. Họ đã thu lượm được mọi kinh nghiệm, mọi khôn ngoan trên đời. Những biến động của Lao Cai không làm họ bối rối, đã có quá nhiều triết lý đối với những sự việc bất ngờ ấy.

Khi tôi hỏi cần phải làm gì khi gặp tình trạng nguy kịch, có người nhìn tôi ngạc nhiên:

- Ông nghĩ có thể thoát khỏi đây bằng con đường hàng không ư? Trong tình trạng như ở Lao Cai, không bao giờ có chuyến máy bay cuối cùng, hoặc người ta bị lỡ dịp. Ông phải "làm" con đường mòn Lào, đi hàng trăm cây số.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Sáu, 2018, 05:21:44 AM

Cả một tuần lễ không xảy ra việc gì. Vào ngày thứ tám chờ đợi, một đoàn lính kéo vào Hà Khẩu. Nhưng trên mũ thay vì ngôi sao đỏ là mặt trời của chính quyền ánh lên; đây là một trung đoàn quốc gia. Dân chúng Hà Khẩu hoan nghênh nhiệt liệt Tưởng Giới Thạch thay vì Mao Trạch Đông và bỏ vào hòm những lá cờ Trung Quốc nhân dân, treo những lá cờ Quốc dân đảng vẫn khôn ngoan giữ lại.

Ngay lúc ấy một phái viên đặc biệt của thị trưởng mang bức thư chính thức thông báo giải thoát Hà Khẩu. Thị trưởng văn vẻ viết: "Ý đồ kiêu căng của quân địch đã bị trừng phạt. Đoàn quân kiên cường của chúng tôi, sau khi tiêu diệt bọn cướp thô bỉ muốn cản đường, vừa thắng lợi vào thị trấn chúng tôi giữa sự hân hoan của dân chúng. Mọi nguy hiểm đã bị đẩy lùi". Để kết luận, thị trưởng mong ông đại uý hoàn lại, tốt nhất là ngay trong ngày, mười hai khẩu đại liên gửi nhờ ông giữ.

Đấy là một sự việc: Hà Khẩu đã được cứu và do đó Lao Cai cũng thế. Nhưng vẫn hoàn toàn bí ẩn. Trung đoàn quốc gia ấy có thể từ đâu xuất hiện vốn không ai ngờ có mặt trong vùng?

Se Co Tinh cuối cùng giải đáp bí ẩn một cách đơn giản, hơp lý và hoàn toàn Trung Hoa. Trung đoàn quốc gia do đại tá danh tiếng Ly chỉ huy không bắn một phát súng. Họ đến từ rất xa. Vũ khí trên vai, đi qua cả vùng cộng sản từ Mong Tseu đến Hà Khẩu. Wan Pao Pang, nhân vật đỏ cao nhất của Vân Nam sau Tchou Kia Py đã cấp cho họ một giấy thông hành.

- Wan Pao Pang ấy, đại uý nói với tôi, là một tướng của Tưởng Giới Thạch cho là mình không được bù đắp xứng đáng về công sức phục vụ. Bất bình ông ta rút về những đất đai bao la của mình ở Pin Ping - Vân Nam, là tên độc tài khét tiếng, chúa tể chiến tranh lớn nhất trong vùng. Ông xây dựng một trung đoàn riêng từ những nô lệ của mình để đánh nhau với Lư Hán và quân Quốc dân. Cuối cùng ông về trung thành với Mao Trạch Đông, được cử lãnh đạo các đội quân nhân dân cả tỉnh. Nhờ sự giúp đỡ của ông mà Tchou Kia Py - cộng sản thực sự, phái viên chính trị mới đến trong vùng - đã có thể chiếm được Mong Tseu.

Nhưng sau đó, Wan Pao Pang, người phong kiến đỏ bỗng lo ngại. Tiến bộ của Tchou Kia Py quá lớn: bao vây vùng lãnh địa của ông, kiểm soát quân đội ông. Wan Pao Pang đã sử dụng cộng sản chống Lư Hán, từ nay ông sử dụng Lư Hán để chống lại cộng sản. Vì vậy chỉ huy các đội quân nhân dân ra lệnh cho tất cả băng nhóm và du kích đỏ trong vùng không tấn công đoàn quân của đại tá quốc gia Ly. Điều đó lập lại sự cân bằng trong tỉnh.

Đối với một chúa chiến tranh như Wan Pao Pang, không một phe nào quá mạnh và quá thắng lợi. Đấy là điều kiện để ông thịnh vượng, thậm chí sống sót.

Tôi sắp rời Lao Cai, thành luỹ vững chắc, được cứu thoát lạ lùng vì những tính toán Trung Hoa của một chúa chiến tranh nào đó. Nhưng Wan Pao Pang ấy, tên phong kiến cải hối nửa vời luôn có trò chơi hai mặt, còn kéo dài thân phận mình bao lâu nữa? Ông ta đã bị lịch sử lên án.

Tuy vậy nhờ ông mà Lao Cai được nghỉ một giai đoạn. Mùa mưa bắt đầu lũ dìm hết mọi khả năng tấn công của quân đỏ. Nhưng sẽ như thế nào, khi cộng sản tấn công trở lại?

Những lời nói cuối cùng của đại uý là:

- Chúng tôi có thể giữ Lao Cai khi mà Trung Quốc cũ còn ở vùng biên giới. Than ôi, nó đang hấp hối. Khi những sư đoàn của Mao Trạch Đông chiếm Vân Nam thì chúng ta không còn lâu nữa, ít nhất là ở Lao Cai này.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Bảy, 2018, 10:17:56 PM

Sai lầm của phi công

Tôi chờ một chiếc máy bay đã nhiều ngày để ra đi. Mưa phùn còn dày, trải trên đầu chúng tôi như một chiếc khăn ướt. Đường băng lầy lội. Ở Lao Cai hoàn toàn cấm hạ cánh và cất cánh.

Người ta nhận được một thông báo của đội quân dù; có hai lính dù bị thương nặng được cáng đến Lao Cai vào ngày mai. Hai người bị thương nhất định phải đưa về Hà Nội để mổ.

Đại uý xin một máy bay Morane cứu thương vào ngày kia - một máy bay rất nhỏ chở được hai chiếc cáng. Ông đòi hỏi ưu tiên số một nhưng mưa phùn vẫn như bông vải và e ngại ngay chiếc Morane cũng không đỗ xuống được. Thế nhưng hai người bị thương sống chết nhờ vào sự may rủi ấy, ít hay nhiều sương mù hơn trong vài giờ trên châu thổ sông Hồng.

Ngày hôm sau, đoàn quân dù đến Lao Cai vào buổi trưa. Họ đi lảo đảo, nhìn không ra người, còn đáng sợ hơn lần đầu từ núi rừng trở về. Trong một tháng họ đi bộ hơn một nghìn cây số trên những đường mòn. Còn một số người chết họ đã chôn trong rừng, chỉ mang về hai tấm cáng treo dưới các đoạn tre trên đó nằm dài hai thân người đầy máu.

Không có Morane. Một điện báo máy bay phải quay trở lại vì thời tiết xấu, nó sẽ cố gắng đến vào buổi chiều. Hai người đã được đưa ra sân bay phải đưa về lại bệnh xá. Họ hoàn toàn bất tỉnh. Một người bị thủng bụng vì đạn; người kia vỡ sọ. Thầy thuốc buộc đầy băng cho họ. Hoàng hôn lẫn với mưa mù. Đêm tối, không một chiếc máy bay đến.

Ngày hôm sau ánh mặt trời le lói, người bị thương ở bụng chết lúc vừa sáng. Đến mười giờ một chấm đen xuyên bầu trời. Người ta dành chỗ người chết cho tôi. Vả lại tôi có thể có ích trong việc giữ người sống sót đang kéo băng để gãi vào sọ.

Chúng tôi cất cánh. Thời tiết tốt. Người hấp hối bình tĩnh. Phi công lái, một người tóc vàng hai mươi tuổi kêu lên với tôi sau nửa giờ bay:

- Bực quá. Đi dọc vùng châu thổ này như đi trong tàu điện ngầm. Tôi chuyển theo một con đường tắt. Đồng ý chứ?

Anh lao vào một khe hở, có đủ chỗ cho đôi cánh. Phải lượn qua những tảng núi đá. Phía dưới mấy mét một thác nước sủi bọt.

- Lạy Chúa, phi công kêu lên, tôi nhìn lầm khe hở rồi.

Chúng tôi bay vào một ngõ cụt. Phía cuối, không đến một cây số là một dãy tường thành. Thung lũng quá hẹp không quay trở lại được. Hy vọng duy nhất là bốc lên cao để cố vượt qua những bờ núi bó chặt chúng tôi và chuyển theo sông Hồng. Nhưng không biết chiếc Morane có leo được không.

Anh phi công dùng hết sức kéo cần lái. Tôi có cảm giác anh sẽ đâm máy bay vào núi dựng đứng trước mặt chúng tôi nhưng không thấy va chạm. Chúng tôi đã vượt qua dãy đầu tiên nhưng dốc tiếp tục lên và phải lên theo dốc. Chiếc máy bay đụng nhẹ vào đá và cây cối. Đỉnh núi còn hơn một trăm mét; chúng tôi cố lên cao từng mét. Tôi thấy hình như sẽ có sự va chạm tai hại.

Người bị thương cho đến khi đó hôn mê, chỉ khẽ rên. Đúng lúc này anh giật mình điên loạn. Với sức mạnh không ngà anh tìm cách dựt băng, cho tay vào chiếc sọ làm anh đau đớn. Tôi phải giữ chặt anh, sợ anh chết trong cuộc đấu này.

Máy bay lên gần ngọn. Mưa mù dội xuống như một tấm màn đen. Chúng tôi không thấy gì nữa, cũng không thấy quả núi đang lên cao như chúng tôi. Anh phi công cong người trên cần lái, như mù. Tôi vẫn cố giữ chặt người bị thương vùng vẫy, thở hổn hển.

Tôi có cảm giác gặp tai nạn. Qua mấy giây cực điểm rồi phi công hét lên: - Vượt đỉnh núi gần một mét. Chúng ta thoát rồi.

Lại vệt sông Hồng khổng lồ. Chúng tôi lao theo đó. Vẫn mưa to gió lớn, xung quanh tối sầm. Chiếc Morane bay đúng phía trên dòng sông, dựa vào ánh mặt nước, đúng như hôm tôi đi Lao Cai. Người bị thương lại rơi vào sự đờ đẫn im lìm.

Chúng tôi hạ cánh ở Hà Nội. Một xe cứu thương đang chờ. Họ đưa người bị thương lên, bất động, trông như ở những phút chót hấp hối. Anh phi công nói riêng với tôi:

- Nếu anh ấy chết thì tôi buồn lắm: tôi không muốn vất vả mà chẳng ích gì.

Chỉ về sau lâu tôi mới biết người sắp chết ấy đã khỏi bệnh. Theo các bác sĩ đó là một phép lạ.

Ở Ban tham mưu Bắc Kỳ người ta đón tôi như vừa đi dạo chơi về. Ở Hà Nội các nhân vật quân và dân sự luôn luôn cho Lao Cai là một biến cố bình thường của chiến tranh, không quan trọng. Thậm chí họ đánh giá viên đại uý trước mặt tôi là bi quan; tôi sợ sự nghiệp của ông sẽ xuống dốc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Bảy, 2018, 10:20:05 PM

Cuộc chiến tranh đỏ thực sự đã xẩy ra

Ở Đông Dương thời kỳ quân lính hai bên thực sự bắn giết nhau nhiều chỉ trên đường số 4. Con đường ấy đã là một đài tưởng niệm của Đội quân viễn chinh.

Khắp các nơi khác là cuộc chiến du kích tàn bạo, giết nhau từng ít một. Thế nhưng ở Lao Cai tôi thấy cuộc chiến du kích dưới dạng hé mở của mặt trận: đáng sợ những vụng về và phối hợp kém. Quân chính quy của ông Hồ từ "tứ giác" xâm nhập vào đến đây quá xa căn cứ. Trên đường 4 họ hoàn toàn ở nhà mình. Và đấy là bước đầu của cuộc chiến tranh đỏ thực sự, kéo dài nhiều năm, tiến dần từ chiến trường này đến chiến trường khác, mấy năm sau kết thúc ở hàng nghìn cây số dưới thấp, trong lòng chảo Điện Biên Phủ.

Trên hầu hết diện tích của Đông Dương, người Việt dùng "chiến tranh nhân dân" là cuộc chiến giữa lòng dân, cuộc chiến mà mỗi con người từ em bé đến cụ già là một chiến sĩ. Vai trò của quần chúng "được tổ chức" là kéo dài hầu hết Đội quân viễn chinh dính vào một cuộc đấu vô tận, dưới mọi hình thức trừ cuộc đánh lớn.

Người Việt không tiến hành cuộc chiến này trên đường số 4, không có dân chúng - gần như không có. Ở đây quân chính quy đánh đồng minh của họ không phải người mà là thiên nhiên ghê gớm, là rừng rậm. Ở đồng bằng họ làm chủ về số lượng. Trên biên giới Trung Quốc là không gian mênh mông. Trong địa ngục xanh họ bắt đầu từ nắm chắc việc kiểm soát những con đường mòn, chỏm núi, hốc đá, cây cối và toàn vùng. Và trong trường hợp nào họ cũng bao chặt lấy người Pháp.

Đây thực ra là một sự vây hãm nhưng là loại đặc biệt. Những người bị vây hãm không trông thấy những người vây họ. Thế nhưng những người này, Việt Minh, dính kết xung quanh họ, bám lấy họ, lẫn lộn trong núi rừng, vừa là chòm xóm thân mật, kẻ địch kiên cường, ký sinh trùng chết người của họ. Chiến thuật của Việt Minh là bóp ngạt.

Không thể "nắm giữ" thiên nhiên, người Pháp tập trung trên một địa điểm tự tạo. Thời kỳ ấy là con đường số 4; họ sống trên đó, xung quanh đó, gần kề đó, trong các bốt, các khu đồn trú như Lạng Sơn và Cao Bằng. Người Việt ở xa hơn mấy mét. Người Pháp hoàn toàn phụ thuộc vào con đường. Người Việt độc lập với con đường. Dân công đi theo đường mòn mang gạo và đạn dược đến cho họ. Chiến thuật của họ lúc ấy là cắt đứt đường số 4. Để làm việc ấy họ có những trung đoàn đầy đủ, sau đó có những sư đoàn. Việc phục kích trở thành một trận đánh quy củ, giao tranh với những điều kiện đáng sợ của Pháp.

Vấn đề đối với Đội quân viễn chinh là đi qua. Những đoàn xe phải vượt qua để con đường sống. Mồi tuần lễ càng đổ máu, khó khăn hơn. Một vấn đề ghê gớm, không giải quyết được.

Người ta đi đến chỗ bịt kín con đường số 4. Trong cuộc chiến tranh núi rừng ở Đông Dương, những cầu hàng không thay thế những con đường, máy bay thay thế xe ô tô. Người Pháp đóng kín trong những lòng chảo gọi là căn cứ hàng không - mặt đất. Người Việt tấn công. Họ bị đẩy lùi ở Na Sầm, không bị đẩy lùi ở Điện Biên Phủ. Nhưng trong năm 1949 chưa tới lúc đó. Tôi đã đi trên đoàn xe của đường số 4 và có thể nói - một cuộc đi ngựa không chịu được.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Bảy, 2018, 10:22:10 PM

Đoàn xe đi lên

Con đường số 4 chỉ là một vết cắt nhỏ trong dãy đá vôi bao la. Một con sông xoáy nước dưới vực sâu, bên kia là vách bờ thẳng đứng, phẳng lì vô tận. Những chiếc xe ngựa kéo cổ điển đã biến mất. Một đoàn dài và nặng nề những đại liên, xe hướng đạo, GMC, xe Jeep đang rít lên, hì hục, thở dốc. Cũng có hàng chục hàng trăm chiếc cam-nhông của thương gia Trung Hoa và Việt Nam mái tranh và những chữ to trông rời rạc giữa những con quái vật sắt. Dù sao cũng tạo nên những cây số xe ngược lên Cao Bằng.

Đoàn xe đối với tôi như những con vật đang bò, một con sâu bộ lông kim khí là những đại liên cặp đôi, những súng đại liên, đủ loại ống dùng giết người. Những vật ấy dữ dội, căng thẳng quá mức. Quân lính đều ở dạng quá cường độ và cam chịu, dấu hiệu quen thuộc của sự mệt nhọc và chiến đấu. Họ có tất cả mọi cấp bậc và nòi giống. Họ chỉ phân biệt nhau ở cách đội mũ, từ phớt rộng vành kiểu Châu Úc đến chiếc kê-pi trắng của quân lê dương.

Tôi ở trong một chiếc xe thu phát tin, đi giữa đoàn. Cần ăng-ten chĩa ra ngoài đôi khi đụng vào vách đá hoặc cây rừng nhô ra. Hệ thống đài có lẫn lộn tiếng ồn ào và tiếng rít. Đôi khi có giọng nói vang ra. Đây là những mệnh lệnh. "Chú ý, chú ý. Có dấu hiệu khả nghi phía trước đoàn xe. Tất cả các xe đảm bảo cự ly. Đi cách nhau ra". Ngồi cạnh tôi viên đội điện đài, sau khi phát ra từng tiếng đều đặn rõ ràng hét vào ống nói: "Hiểu rồi". Rồi ông ngoảnh lại phía tôi nhún vai:

- Chỗ này không thực sự nguy hiểm. Chúng ta đang leo lên đèo Dứa. Nhìn như cắt cổ thế nhưng đoạn này yên tĩnh. Ông hiểu chứ, những vách phía trên con đường quá dốc đứng kể cả đối với người Việt. Họ không thể tấn công được. Còn trên chỏm núi họ không nhắm được vào chúng ta. Mỗi lần ném lựu đạn tung ra ngoài và rơi xuống vực. Việc họ có thể làm là "bắn" chúng ta trước mặt, từ chỏm núi bên kia vực, nhưng quá xa sẽ không có hiệu quả.

Viên đội chỉ vào phía bên kia vực sâu những ngọn đồi đầy cây:

- Một lần Việt Minh ở chỗ kín dội súng cối vào đoàn xe. Nhưng bây giờ quân lê dương đã bố trí bốt ở đấy.

Viên đội, một người gầy và buồn với đôi mắt đầy ghèn, cười gằn nói thêm:

- Sau Thất Khê mới có những chuyện đụng độ.

Ông châm một điếu thuốc hút, tiếp tục giọng đều đều:

- Chúng ta sẽ chết ở đây hết. Trên đoạn đường ấy người Việt bắn vào chúng ta như bắn thỏ. Tôi đã bị sáu cuộc phục kích lớn, hai chiếc xe cháy sém. Ông xem tay tôi còn bỏng nặng đây.

Ngày hôm ấy tôi rời Lạng Sơn từ bình minh với đoàn xe. Người ta bảo nếu mọi việc tốt đẹp, ngay chiều hôm đó tôi sẽ đến Cao Bằng. Người ta cũng nói, trên một trăm bốn mươi cây số của cuộc hành trình, cứ hai đoàn xe thì một bị tấn công. Trong chuyến đi trước, khoảng hai chục xe bị cháy.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Bảy, 2018, 10:25:42 PM

Chúng tôi đến phía trên đèo Dứa. Một bốt lớn cắm trên chỏm cỏ một quả núi. Lá cờ tam tài phấp phới. Lính lê dương. Những người Đức tóc vàng gần như trần truồng vừa cười vừa dội những xô nước lên người. Họ dừng lại để đưa tay vẫy chúng tôi. Tất cả yên tĩnh và đẹp, có vẻ một nền hoà bình vĩnh viễn. Thực tế là hoà bình đang rình cái chết.

Đường số 4 đi xuống lại giữa vô số những chỏm núi trắng có hàng tràm hàng nghìn, một loại phun trào của núi lửa giữa thảm rừng. Đây là một vùng nứt nẻ, hang động, lĩnh vực của cái đói khát. Vùng hoang vu này làm nản lòng cả người Việt, người Pháp thì sợ.

Cuối cùng ở phía dưới, tôi thấy một lòng chảo, một khu ruộng vuông cạnh, những nông dân Thổ - họ mặc quần áo vải xanh, bình thản kéo những con trâu khó bảo. Đoàn xe dừng lại ở trung tâm vùng trũng, thị trấn Thất Khê. Đợt nghỉ một tiếng đồng hồ. An toàn, thậm chí văn minh. Những máy móc rên rỉ, gây một phức cảm về chiến tranh và kim khí đã im tiếng. Bình yên tuyệt vời. Những khuôn mặt nhăn nheo lúc nãy trở lại là những khuôn mặt lính.

Tôi tới thành trì Thất Khê. Đây là một trại lính mà mọi người đang ngủ. Ở nhà ăn sĩ quan, một chỉ huy lê dương ngồi một mình uống khai vị. Đấy là trưởng khu đồng trú. Ông có vẻ lo lắng, nói với tôi, Việt Minh đã tập hợp hai nghìn người trên những chỏm núi xung quanh lòng chảo; họ cảnh báo sẽ tấn công Thất Khê trong hai ngày nữa.

- Điều phiền phức, viên chỉ huy giải thích với tôi, là đôi khi họ làm. Còn tôi chỉ có hai trăm lính lê dương.

Tôi trở về đoàn xe. Chúng tôi lại ra đi. Cả đoàn mênh mông đã lấy lại cuộc sống chiến tranh. Những khuôn mặt như mặt nạ. Quân lính ngồi trong xe nghiêm trang khác thường, im lặng, suy nghĩ. Tôi cảm thấy đoàn xe không phải vật vô tri mà có một tâm hồn tập thể, cả một triết lý cảm xúc. Dĩ nhiên mỗi người tự co mình lại, lo âu trong lòng và mỗi đại liên sẵn sàng nhả đạn.

Riêng những hành khách Trung Hoa, không nao núng, có vẻ không cùng chia sẻ giờ nghiêm trọng này. Đấy là những lái xe dân sự chở đầy mọi loại hàng hóa, từ những thẻ hương đến các hòm rượu cô-nhắc. Họ mạo hiểm với cái chết trên đường số 4 vì mọi thứ chở lên đến Cao Bằng đáng giá một tài sản. Trong lúc này những "vị con Trời" mặc quần áo thợ máy, đeo kính đen chống nắng đang buộc hàng hóa linh tinh của mình.

- Đồ súc vật, những tên ấy, viên đội tôi vừa gặp lại nói với tôi. Chúng chẳng lo gì. Xe của chúng không bao giờ cháy; chúng trả tiền cho người Việt.

Chúng tôi lại lăn bánh. Không còn phong cảnh nữa. Rừng rậm đến mức như một tấm màn mây mù xanh, che cả hình dáng những quả núi. Con đường là một đường hầm dưới cây cối.

Trong cảnh tranh tối tranh sáng ấy, tiếng đài phát bên tôi:

- Tình hình không ngớt trầm trọng thêm. Đã ba tháng nay hầu như không một đoàn xe nào đến Cao Bằng mà không có người chết và bị thương. Mỗi lần thu nhặt thiệt hại sau vụ đụng độ, người ta chất đầy hai, ba xe cam-nhông. Làm thế nào được, một đoàn xe dù nhét đầy ô tô đại liên và xe bọc thép, cũng là miếng mồi, không tự bảo vệ được. Vậy là phải "định cư" trên đường, bố trí cả một hệ thống đồn bốt và đội tuần tra. Nhưng người ta đã chiếm đóng những điểm nguy hiểm, đưa mọi lực lượng có thể có vào rừng để bảo vệ, cũng gần như chẳng được việc gì. Việt Minh tấn công cả những đoàn xe không dứt với nhiều nghìn người. Chỉ huy trưởng đã cố dùng mọi hình thức ngăn chặn khác, những cách tiếp cận và tấn công khác. Chỉ trong vài tuần, ngón khôn khéo của người Pháp bị lật tẩy, và quân chính quy của Việt Minh vẫn đạt được, mục đích, đến sát những chiếc xe, giết người và nhặt chiến lợi phẩm.

Viên đội giải thích cho tôi sự bất lực khi bảo vệ một đoàn xe tuy người ta đã thử và làm mọi cách.

Việc bảo vệ ấy bắt đầu rất đơn giản. Quân đội xây dựng bốt ngay chỗ phục kích. Phải xây dựng nhiều vì người ta vừa bố trí một bốt thì việc phục kích tiếp đó tiến hành ngay bên cạnh, cách mấy trăm mét, lại xây một pháo đài mới. Chẳng bao lâu thiếu tiền để làm những công trình khác, thiếu lính để bổ sung: người ta bèn bắt đầu thực hiện "mở đường”. Những ngày có đoàn xe, mỗi bốt cử một toán tuần tra đến tận bốt kế cận để thăm dò đường, đuổi quân Việt và lấp những đoạn bị đào cắt. Đoàn xe chỉ ra đi khi từ suốt con đường số 4 có tin báo "đường thông". Thường thường không được thế. Người Việt ẩn nấp ở các gò đồi, những bức tường cây xanh hai bên đường và đoàn xe vẫn bị tiêu huỷ; cùng thường thường việc "mở đường" bị nhấn chìm ngay từ đầu.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Bảy, 2018, 10:29:12 PM

Công việc lại phức tạp thêm. Người ta "mở" cả rừng, phát quang hàng trăm mét mỗi bên đường. Mỗi tuần hai lần quân lính phải leo từng chỏm núi khống chế con đường số 4 khi đoàn xe đi và về. Có hàng trăm chỏm núi; phải chiếm giữ tất cả suốt thời gian đoàn xe đi qua. Phải leo trèo nhiều giờ, thường kèm theo dao phạt cây để tiến lên. Phải nhìn vào từng hang động, khám phá những đường mòn quân Việt có thể đi tới. Một cuộc thăm dò không tưởng được, sử dụng cả những tiểu đoàn vẫn phải đòi hỏi thêm nhiều. Làm việc này cũng không đủ quân số.

Chỉ để cho một đoàn xe bình thường đi qua, từ nay buộc phải dùng tất cả mọi lực lượng của vùng biên giới. Mỗi lần như vậy phải bố trí đầy đủ, từng chi tiết phải đúng khớp, tất cả đều được nghiên cứu tỉ mỉ. Người Việt vẫn có lợi thế. Thật khôi hài khi nghĩ rằng có thể như "chải lược dày" cả khu rừng rậm, cả những ngọn núi rải khắp như thế. Việc làm đó không ngăn cản được quân chính quy Việt luồn vào hàng nghìn khi họ muốn, như họ muốn qua hệ thống đề phòng của Pháp và tập hợp bên bờ con đường: cũng như trước đây họ nấp sau bờ dốc cho đến khi đoàn xe đến để họ tiêu diệt toàn bộ hoặc từng phần. Và rồi nhiều khi người Việt "làm đổ máu" những người đi mở đường, đánh nhau trong rừng như mù.

Tuy vậy chúng tôi đi hai mươi cây số mỗi giờ trên đường số 4; nó chỉ còn là một vệt đất dài sửa chữa, chắp vá, đen; một loại đường hầm vặn vẹo trong dáng hùng vĩ ngột ngạt của khu rừng lớn.

Trong bóng đêm cây cối này tôi thậm chí không thấy những quân lính phải bảo vệ chúng tôi. Tôi hỏi người đội phụ trách điện đài "vỏ bọc" - từ chuyên môn - có được bố trí cẩn thận không. Có đấy. Từ bình minh người của các bốt đã đi, "leo chỏm núi" hàng giờ, đến những nơi nguy hiểm nhất. Có lẽ trong quá trình bố trí trong thiên nhiên ấy có những mất mát - tôi không biết, không bao giờ biết, đấy là thủ tục thông thường. Dù thế nào thì những người lính lê dương, lính thuỷ đánh bộ, biệt kích Châu Phi, ngụy binh da vàng, tất cả những bộ phận của Đội quân viễn chinh đã chờ chúng tôi, đang mang vũ khí bảo vệ chúng tôi. Và khi chúng tôi đã đi qua, họ "rút về", còn đi không dứt, sẽ ẩn mình trong các bốt. Có thể họ không bắn một phát súng, cũng có thể họ phải chiến đấu để cứu sống mình hoặc đoàn xe. Họ là những nhân viên giao thông hư ảo nhất trên đời.

Và công việc ấy họ bắt đầu lại vô tận, không thể làm gì khác; họ cũng là tù nhân của con đường số 4.

Tôi cố nhìn, vẫn không thấy gì về hệ thống bảo vệ chúng tôi, trừ thỉnh thoảng một bốt bên đường. Chẳng thấy gì trong rừng, bạn và thù đều không trông thấy.

- Ông cầm lấy khẩu súng ngắn này, viên đội nói với tôi, có thể giúp ích cho ông đấy. Chúng ta đang vào trong vùng thực sự nguy hiểm.

Ông cho tôi những lời khuyên, giải thích khi gặp phục kích phải xử trí ra sao.

- Dù đạn quét trên đường, đập vào xe cũng không nên nhảy xuống đất, ít nhất khi có thể lăn người. Phải lao lên, càng nhanh, càng lâu càng tốt, không chống cự. Lái xe của chúng ta đã quen thế, phải thật dũng cảm để lao xe giữa những loạt đạn súng máy vô hình. Trong những cuộc phục kích lớn, có hàng chục khẩu nhắm vào giữa đường. Tai họa là khi có xe cháy ở phía trước. Tê liệt cả đoàn.

Nhưng nếu chúng ta bị chặn lại, phải ngược lại, nhào ra khỏi xe trước khi quân Việt tấn công chúng. Trong xe không tự vệ được, sẽ bị cắt cổ ngay. Trước tiên phải tập hợp lại trên mặt đất, tổ chức những nhóm nhỏ chống trả khối quân Việt. Thật không tả nổi. Người ta đánh nhau xáp lá cà hàng trăm mét, đôi khi hàng cây số, ngay trên đường hoặc bờ dốc. Cuộc chiến lộn xộn, phân tán. Người Việt đông vô kể. Tuy vậy hầu như luôn luôn có những phần của đoàn xe chống lại, thậm chí phản công. Những nơi khác bị quân Việt hét lên, nhào đến tiêu diệt.

Giải pháp vô vọng là chạy vào rừng, cố ẩn nấp. Nhưng nhất là nếu chạy trốn phải thật xa, không dừng lại bên dưới đường trong các bụi cây. Vì quân Việt dùng dao phát "dọn sạch" cẩn thận lắm.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Bảy, 2018, 10:32:13 PM

Chúng tôi lên đến đèo Luông Phai, "góc" đổ máu nhất trong toàn Đông Dương. Con đường leo theo sườn dốc đứng một quả núi, một bậc thang vòng theo những đoạn cong chóng mặt. Không một đường cong nào không dùng cho một cuộc phục kích, không là cảnh hỗn độn khốc liệt. Viên đội kể lể dài dòng với tôi:

- Ở đây mười người bị giết. Ở đây một thiếu tá, một đại uý bị thương. Ở đây hai chiếc ô tô đại liên và hai mươi cam nhông cháy. Chỗ này có một cuộc phục kích lớn. Chúng tôi mất năm mươi người...

Cuộc kể lể không dứt. Câu chuyện của sợ hãi. Tôi cảm thấy sự lo lắng của đoàn xe qua những động tác đầu một cách máy móc. Rất xa chỗ này, ở Nam Kỳ trên con đường đi Cà Mau tôi đã thấy những người, tất cả, cùng một giây, nhìn, dò xét lúc bên phải lúc bên trái. Nhưng chỉ có mấy chục người. Trên đường 4 chúng tôi hàng trăm, có lẽ hàng nghìn người cùng quay đầu qua lại, cùng một phản ứng tương tự. Một "hiện tượng" hài - và bi đến mức nào! Và vũ khí chĩa vào khắp nơi theo động tác đầu, đôi mắt tìm tòi mối đe dọa.

Xe vòng theo sườn cây xanh của quả núi. Quân lính của đoàn xe thuộc lòng con đường. Theo bản năng họ nhìn xoi mói những chỗ nguy hiểm, cả những chỗ chưa bị tấn công nhưng có thể có một cuộc phục kích đang chờ. Tôi cũng làm như họ, nhìn vào chỗ họ nhìn. Trong lúc tiến dần đến một trong những địa điểm không hay ấy tôi cũng tự nhủ như từng người ở đó, trong lúc này, hàng nghìn quân Việt chuẩn bị nhảy xổ vào chúng tôi. Tôi cũng nghĩ quân chính quy của họ ẩn trong hang động của những ngọn núi nứt nẻ này, đang chỉnh đại liên vào những chiếc xe chậm chạp, chậm chạp đến thất vọng, quá to và nặng nề.

Đoạn đường đi lên kéo dài một tiếng rưỡi đồng hồ. Chúng tôi gần tới đỉnh đèo. Một quả núi dốc đứng phía trên chúng tôi. Sườn núi bị xói lở thành một lỗ khổng lồ, một loại hố núi đen ngòm. Người Thổ khẳng định lỗ ấy mang tai họa đến; họ nói là "lỗ rống lên".

Viên đội cũng tin hố ấy là công trình của ma quỷ.

Chúng tôi vượt đèo. Một vệt nứt qua đỉnh núi nhọn. Một đầu rắn hổ mang bằng đá phun ra dòng nước. Đấy là cái giếng.

- Trong vùng đất hôi thối này, đây là nguồn nước sạch duy nhất không lẫn lộn lòng ruột người. Người ta cho những người bị thương trên đường số 4 uống nước này, làm giảm nỗi khát ghê gớm của cơn sốt.

Chúng tôi đi xuống lòng chảo Đông Khê, phiên bản chính xác của Thất Khê. Ở đây cũng có một khoảng đất bằng tròn, những nông dân Thổ bình tĩnh, gái điếm, lính lê dương, một thành trì. Chúng tôi cũng nghỉ lại một giờ. Rồi lại ra đi trong mớ chằng chịt như trước những rừng núi, chỏm, ngách núi, đèo. Trong thiên nhiên bao la này không một con người. Thỉnh thoảng có một bốt. Chỉ thấy một thôi chúng tôi đã thấy có luồng gió nóng, một ít nhẹ nhõm trong lòng. Rồi cuộc hành trình trong sợ hãi tiếp tục.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Bảy, 2018, 10:35:03 PM

Viên đội lại kể lể về những cuộc phục kích:

- Ở đây, đường ngách núi là "đại lộ" của đại đội công binh phụ trách bảo dưỡng đoạn đường này, suốt thời gian làm lại những chiếc cầu đều đặn Việt Minh phá hỏng.

Tháng hai chỗ này xảy ra cuộc phục kích lớn, kỹ thuật hoàn hảo nhất, khoa học, chính xác. Tôi có mặt ở đấy.

Trước hết Việt Minh làm tê liệt đoàn xe. Mìn nổ ngay phía sau những ô tô đại liên đi đầu, tách chúng khỏi xe cam-nhông. Ngay sau đó hàng chục đại liên đặt trên cao vách núi đá vôi xả đạn dọc suốt đoàn xe. Rồi một trận mưa lựu đạn. Quân chính quy ẩn trên bờ dốc khống chế con đường tung ra chính xác, mỗi xe khoảng một chục quả. Một trận hỏa hoạn lớn. Xe cam-nhông cháy hầu như khắp nơi làm tắc nghẽn hẳn lối đi. Tất cả diễn biến không đầy một phút. Nghe có tiếng hô to: tấn công. Hàng nghìn người cởi trần xuất hiện rất gần, từ dưới bờ đường ào tới đoàn xe. Chúng tôi đang ở bên trong nhưng kịp nhảy xuống đất trước khi làn sóng người tràn đến. Mục đích là trèo lên bờ dốc tập hợp lại trên đó những nhóm nhỏ hơn. Bên dưới những nhóm người Việt quyết liệt chém giết những người không đến được chỗ chúng tôi. Chỉ trong mấy giây họ mất hút.

Việt Minh tiến hành rất có phương pháp. Quân chính quy đến từ xe này đến xe khác lấy vũ khí và hàng hóa bỏ lại, rồi họ châm lửa đốt xe. Những quân chính quy khác tấn công những người Pháp còn chiến đấu trên bờ dốc. Dân công dùng dao phát hạ nốt những người bị thương trên đường. Khắp nơi là cuộc đấu xáp lá cà; có hàng trăm cuộc chiến đấu riêng, hàng trăm cuộc tiêu diệt lẫn nhau. Trong cảnh hỗn độn ấy, các uỷ viên chính trị, rất bình tĩnh, theo dõi trận đánh, ra lệnh cho quân chính quy và dân công.

Phần giữa đoàn xe bị nhấn chìm. Những chiếc ô tô đại liên phía sau bắt đầu xả đạn liên hồi vào những chiếc xe rơi vào tay người Việt. Những sĩ quan đỏ đi lại giữa trận đánh kêu lên bằng tiếng Pháp: "Đại tá đâu? Đại tá đâu?" Đấy là hỏi về đại tá Simon, chỉ huy đội quân nước ngoài thứ Ba, người đang có viên đạn trong đầu đã nhiều năm nay, bị thương trước cuộc chiến tranh Đông Dương. Ông Giáp có chỉ thị bắt sống ông ấy.

Tôi ở trong đoàn xe bị tiêu diệt, lên chỗ bờ dốc cùng một số lê dương. Chúng tôi chống trả dữ dội trong nửa tiếng đồng hồ rồi bị đập tan. Tôi chạy vào rừng, trốn vào một bụi rậm.

Tôi không biết cơn ác mộng ấy kết thúc ra sao. Hình như đại tá Simon tập hợp được khoảng một trăm người đẩy lùi nhiều đợt sóng người Việt và lựu đạn. Sau ba giờ quân tiếp viện đến, những xe bọc thép hạng nặng. Mấy phút trước khi nghe rõ tiếng xích sắt, quân Việt Minh rút lui. Từ đầu, để tấn công họ đã thổi một hồi kèn; ra lệnh rút lui, họ lại thổi một hồi kèn. Họ biến vào rừng theo một trật tự hoàn hảo, đơn vị này tiếp theo đơn vị khác. Có những đội dân công đặc biệt mang đi những người chết và bị thương cùng mọi chiến lợi phẩm.

Chúng tôi bảo vệ trận địa. Con đường là một nghĩa trang, chất đầy xác chết. Từ đoàn xe chỉ còn lại một đống lộn xộn những xác người thủng bụng và những chiếc máy cháy đen. Đã có mùi hôi thối. Những người sống sót tập hợp lại, thông đường, nhặt người chết và bị thương. Và đoàn xe, số còn lại ra đi.

Sau đó một anh bạn kể với tôi anh thoát chết vì giả làm người chết. Anh nằm dài bên cạnh một người chết, vỡ cả đầu, lấy máu bôi đầy mặt rồi kéo người chết lên thân mình, làm như anh ngã xuồng trước người ấy. Quân Việt đốt phá xe cộ xung quanh, lại gần; anh nín thở như một xác chết. Họ lại đi xa hơn, lục lọi, tìm kiếm. Anh bạn khẳng định có những người da trắng trong số họ.

Trong lúc viên đội nói, chúng tôi leo lên một đèo khác - đèo Hầm. Con đường thay vì trèo lên ngọn, xuyên qua một cái hang khoảng một trăm mét.

- Sau một loạt bị ba, bốn lần phục kích ngay tại đây, người ta xây dựng một bốt trên đỉnh núi dốc đứng, chồm phía trên lỗ hầm. Những bậc đá chữ chi lên tới đó. Nhưng không có nước, hàng ngày nhóm trực phải xuống lấy ở con suối phía dưới cách mấy trăm mét. Thường quân Việt bắn vào họ; vì vậy ngoài nước, họ còn mang về một người chết hoặc bị thương.

Chúng tôi còn đi qua một số đèo không tên. Vẫn là những điểm chết chóc. Đoàn xe vẫn đi. Đến năm giờ chiều vào đến Cao Bằng, không bị tấn công.

Buổi tối cả đoàn uống rượu say. Một tập quán, được chỉ huy quân sự cho phép. Lần này thì không có gì. Những khi có những người chết và bị thương, những người sống sót uống cho quên đi, cho đến lúc mất hết những nhận thức và kỷ niệm.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Bảy, 2018, 10:38:24 PM

Lương của tôi là cái chết

A... nói với tôi:

- Trên biên giới, cuộc sống chẳng là gì cả. Với những người ở Cao Bằng, đã bị kết án, chỉ còn tự hào coi khinh cái chết. Bao nhiêu lần, buổi tối trong các quán rượu tôi nghe lính lê dương người Đức hát theo ngôn ngữ họ: "Tôi đã có một người bạn". Ngay sau đó tôi biết những người kia sáng hôm ấy đã ra nghĩa địa, ăn mặc chỉnh tề, với cầu vai - tiễn biệt người bạn ấy. Họ chôn anh, bồng súng chào, bắn một loạt, cắm chữ thập trắng trên nấm mồ, thêm vào những chữ thập trắng cắm theo hàng câu đối, của những người đã chết ở Cao Bằng. Buổi lễ kết thúc, ngày qua đi, lại có bài hát ấy - lời tiễn biệt, ý nghĩ cuối cùng. Ở Cao Bằng người ta không khóc, không tiếc nuối gì. Ở đấy người ta vượt lên trên số phận; điều cho phép sống.

A... là người cai quản Cao Bằng. Một người Israel - người Do Thái, cao lớn, đầy bắp thịt màu nâu đôi mắt mượt như nhung, to đầu. Ông biết rõ mọi sâu kín của sự tàn bạo, mọi bản năng cơ bản của cái sống và cái chết. Theo cách của mình ông là chuyên gia về sự độc ác, về những điều không thể hiện được, về những gì trong con người vượt ra ngoài tính chất nhân đạo. Ông đã ở trong những trại chết chóc của Đức, ông không chết vì như có thiện cảm của "môi trường", có trí thông minh của "trò chơi" tiêu diệt, vì ông hiểu cái có thể tồn tại quyết liệt, cổ xưa nhất. Ông bắt đầu cuộc đời như một trí thức của kinh hoàng, như một người phân tích có thể da diết rút ra những hậu quả thực tiễn cho việc sống sót. Ông đã sống sót.

- Nhưng bây giờ, ở Cao Bằng, ông có chấp nhận mình là một người bị kết án, một người chết đang sống giữa bao nhiêu người khác?

- Tôi muốn sống. Tôi cũng muốn sống vô cùng như khi tôi ở trại tập trung Mauthausen. Ở đấy đàn ông, đàn bà, tất cả những người bị lưu đày là những nạn nhân cam chịu, chấp nhận trước mọi máy móc huỷ hoại họ. Những người ấy là những người văn minh bất lực trước sự dã man. Tôi đã muốn họ chết trong một cuộc nổi dậy thay vì theo tuần tự của suy sụp và thanh toán.

Đối với tôi việc chống lại thực sự là chiến thắng cái chết. Tôi không muốn chết vì đấy là điều người ta chờ đợi ở tôi. Người ta đặt tôi vào trong những điều kiện tinh thần và thể chất tạo ra để tôi kết thúc cuộc sống trong vài tuần hoặc vài tháng - hoặc tôi tự chết vì kiệt sức hoặc người ta thiêu hoặc treo tôi lên vì không có khả năng làm việc hoặc vì một sự "cứng đầu" nào đó. Nhưng chống lại khoa học tiêu diệt, tôi tạo cho mình một khoa học sống sót. Không phải bằng "do thám" vì càng hèn hạ và đánh mất mình hơn. Trong trò chơi cái chết mà không chết, tôi chỉ có cơ may thành công một phần trăm. Không được phạm một sai lầm, một suy sụp; dù hấp hối cũng không để lộ ra. Ngày này qua ngày khác, ngay khi chỉ cân nặng ba mươi ki-lô, tôi ý thức được việc mình làm, tôi giữ vững lòng quyết tâm, tính toán từng cử chỉ, từng miếng ăn, từng hơi thở. Tôi tiết kiệm sức lực còn lại như một con vật. Tôi tồn tại vì tôi đã đứng vững; thế nhưng tôi không tả được với ông tôi đã chịu đựng và làm như thế nào.

Đúng là A... không chết được. Tôi cảm thấy ở Cao Bằng, ông cũng sẽ không chết, tuy đã gặp hai mươi cuộc phục kích. Bây giờ ông đi trên đường một mình, tự lái chiếc xe jeep, súng tiểu liên trong tầm tay. Một trong những lý luận của ông là Việt Minh nhắm vào cả đoàn xe, không bỏ công đánh một chiếc jeep đơn lẻ. Họ phục kích không để lộ diện vì một chiếc xe.

- Tại sao sau khi đã ở Mauthausen, ông đến Cao Bằng, giữa những mối nguy hiểm này?

- Tôi lên biên giới theo lời đề nghị vì tôi muốn thế. Đây cũng là một địa điểm của cái chết và tôi quan tâm đến cái đó. Vị trí của tôi đặc biệt, không phải một người bị kết án trước như một lính lê dương. Ở đây cũng có một vũ trụ hư ảo tôi phải chơi: ở đây tôi cũng phải tính toán tất cả. Đội quân lê dương như có một mật lệnh mà mọi người lính dũng cảm đi đến chỗ hoàn toàn quên mình. Châm ngôn của quân lính dù "Chết là nghề nghiệp của chúng tôi"; của lê dương có thể "Chết là lương của chúng tôi". Tính lãng mạn của họ là vâng lời đến lúc kết thúc không tránh khỏi, không phân biệt hèn kém hoặc anh hùng. Tai họa cho ai tỏ ra yếu đuối. Vì thế tôi phải mạnh.

Ông nên biết Cao Bằng có hai trung đoàn được khen thưởng nhiều nhất của nước Pháp - trung đoàn người nước ngoài thứ Ba và trung đoàn RICM. Ông nhìn những khuôn mặt lính và sĩ quan vô cảm, bướng bỉnh, không một dấu hiệu tưởng tượng. Ông cũng sẽ thấy họ lao tới như những con vật chỉ biết đánh nhau và nhà chứa. Lúc ấy ông sẽ hiểu Cao Bằng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Bảy, 2018, 10:39:27 PM

Để khai tâm cho tôi nhiều hơn, A... dẫn tôi đến một cuộc duyệt binh giữa quảng trường chính của thị xã. Lính lê dương quân phục ngày lễ xếp hàng trên khoảng mấy mét vuông san bằng trong những đổ nát. Đại tá Simon gắn huy chương cho những quân nhân bảo vệ phủ Tổng Hóa. Đây là bốt đầu tiên bị tấn công mạnh bởi những đơn vị ông Giáp trên đường 4. Tôi đã biết tất cả kinh hoàng của một bốt bị nhận chìm.

Viên đại tá đọc một bài tuyên dương. Từ đôi môi ông toát ra những lời cần mẫn theo lối quân sự. Nhưng qua những từ bình thường ấy xuất hiện sự thật, một sự thật mới và gây cấn. Cuộc chiến tranh đỏ đã bắt đầu, của những sư đoàn quân chính quy, những binh lính đông như kiến, những phản xạ có điều kiện, với vũ khí hạng nặng vác trên lưng người. Đấy là cuộc chiến tranh vượt xa chiến tranh du kích, một nghệ thuật quân sự mới mà người ta không tìm ra cách chống đỡ.

Đại tá đọc thận trọng, như một câu chuyện chiến đấu. Nhưng hơn thế nhiều. Dù từ ngữ nghèo nàn nhưng là sự mô tả một dạng chưa biết về tấn công, đụng độ, đôi mắt. Những quân lính bình thường - vì lê dương là những người lính như vậy, dù ở một hình thức rất cao - đối mặt với những quân lính trước đấy chưa từng có, những người đỏ, những chiến binh đủ điều kiện của chủ nghĩa cộng sản Châu Á.

Không tưởng tượng được. Việt Minh để ra nhiều tháng để bố trí kỹ thuật tấn công Tổng Hóa. Họ xây dựng mô hình bốt này theo độ lớn tự nhiên. Rồi hàng nghìn quân chính quy tập đi tập lại vai trò của mình, cho đến lúc mỗi người biết làm một số động tác họ sẽ phải làm như một người mộng du. Đấy không chỉ là làn sóng người - có cả một sư đoàn công việc giữa đám xông tới ấy. Và đến ngày tấn công bốt Tổng Hóa thật, làn triều người xông lên theo động tác máy đồng hồ. Một vở ba-lê vừa đáng sợ vừa chính xác mà những người tấn công hình như không còn cảm giác về cuộc sống, về sự tồn tại của họ. Đấy là những dụng cụ của cái chết.

Tôi lắng nghe ông đại tá - không biết đang nghe ông kể hay những câu chuyện tương tự hàng chục, hàng trăm lần ở Đông Dương. Đấy sẽ là bài viết hầu như hàng ngày về cuộc chiến tranh. Và luôn luôn bài viết chiến thắng thông thường ấy ẩn dấu vô số sự đau đớn, cái chết và sau này là sự thất bại.

Có một thời kỳ các tiểu đoàn của ông Giáp chiếm những bốt mạnh nhất như ý họ muốn chỉ trong vài giờ. Họ đập tan chúng dưới hàng trăm hàng nghìn đạn cối và ba-dô-ka rồi tấn công không chống lại nổi. Bí mật dồn người và vũ khí trước một bốt, đơn độc, người Việt hành động chắc chắn, với thắng lợi được tính toán.

Năm 1948, Việt Minh chiếm hầu hết các bốt nhưng không hoàn toàn và khu đồn trú với nhiều nỗ lực gần như luôn luôn đẩy lùi được họ, ngay cả lúc tất cả có vẻ đã mất hết. Đấy là việc đã xảy ra ở Tổng Hóa. Do đó đại tá Simon làm lễ chiến thắng khốc liệt và vinh quang của quân đội lê dương của mình. Ông cho mọi chi tiết và tôi viết lại.

Bốt Tổng Hóa án ngữ trên một chỏm núi xa xôi, do đại đội hai của tiểu đoàn lính nước ngoài bảo vệ. Cả một sư đoàn Việt tập trung xung quanh nó trong ngày, nhưng không bị phát hiện. Bỗng nhiên lúc hoàng hôn xuống, súng cối và đại liên quân địch dội bão lửa vào những lô cốt bằng đất và tre bốc cháy và sụp đổ. Trưởng bốt, đại uý Cardinal bị tử thương do mảnh đạn, ông nằm trên cáng tiếp tục chỉ huy chống trả cho đến khi tắt thở. Trung uý Charlotton nắm quyền chỉ huy bị giết sau mấy phút. Tiếng tù và vang lên: dấu hiệu tấn công. Việt Minh lao vào dùng chất nổ phá hàng rào và dùng dao phát mở rộng những chỗ hổng. Rồi từ đó những làn sóng người tràn lên. Một nửa bốt bị hạ. Thiếu uý Bevalet, sĩ quan lành mạnh duy nhất, hướng dẫn ba đợt phản công. Cuối cùng quân lính dồn vào một góc tung lựu đạn không ngớt. Trong bóng tối đỏ rực vì đám cháy Việt Minh bước lên xác người tiến lên. Một lựu đạn Việt giết chết người sử dụng điện đài; những lê dương khác thay thế ngay. Trong đổ nát của Tổng Hóa Việt Minh và lê dương hỗn loạn trong trận xáp lá cà không gỡ ra nổi. Cuộc chống cự được tổ chức lại dần dần. Lính lê dương từng nhóm nhỏ cùng nhau chống trả. Đến nửa đêm cuộc tấn công bị bẻ gãy. Người Việt rút lui, mang theo phần lớn những người chết và bị thương.

Bình minh ngày 26 tháng bảy, sân bốt đầy xác người. 22 lê dương và 62 Việt Minh chết nằm lẫn lộn: một mắt xích của cái chết qua chân tay co quắp bấu chặt họ với nhau. Người ta nhặt được 33 lê dương bị thương. Trong ngày 28, Tổng Hóa vẫn đơn độc, lại bị tấn công. Đoàn quân tiếp viện đến vào buổi chiều, 30 người còn chiến đấu được hoan nghênh nhiệt liệt. Trong khoảnh sân quét sạch, một tiểu đội mười lính lê dương mặc quân phục ngày lễ - mũ kê-pi, lon, cầu vai và thắt lưng xanh - nghiêm chỉnh bồng súng chào người chỉ huy đoàn quân đến cứu.

- Anh hùng như thế để làm gì, A... nói với tôi sau buổi lễ, lính lê dương sẽ đổ máu hơn bao giờ hết, và rất vô ích. Cao Bằng đã là một công trình vô vọng. Từ đầu đã thất bại; người ta không "bịt" được biên giới Trung Quốc dù đã đặt bốt ở các "lỗ hổng" ở Bắc Kạn, Nguyên Bình, Trà Lĩnh và xa hơn nữa. Việt Minh vẫn đi qua bên cạnh. Bây giờ người ta phải trả giá vì sự thất bại ấy. Vì lực lượng quân Việt tăng lên ghê gớm và còn phát triển nữa - chúng ta thì vẫn ở tại chỗ. Sắp tới lực lượng ông Giáp sẽ chiếm lợi thế trên vùng biên giới này. Đến một lúc nào đó, Việt Minh sau khi phá huỷ các bốt phụ sẽ bao vây ngay Cao Bằng. Mọi hệ thống bố trí của người Pháp sẽ tan tành. Mấy nghìn lính viễn chinh mất hút trong khu rừng không tiến lên nổi phó mặc cho quân địch. Ngay từ bây giờ phải giải thoát khỏi con đường 4, nếu không sẽ lâm vào tai họa.

- Nếu ông không tin vào vai trò của Cao Bằng, tại sao ông vẫn ở lại đấy?

- Vì tôi muốn trông thấy. Tôi đã thấy những trại tử thần. Tôi đang "thấy" con đường số 4. Tôi là người chứng kiến điều con người có thể làm và có thể chịu đựng, và thật quái lạ. Rồi ở đây tôi có thể làm điều mà không ở chỗ nào khác tôi làm được, tôi ở giữa một cuộc thí nghiệm thần kỳ. Tôi tạo dựng một thế giới, tạo cuộc sống ở đây. Vì bên cạnh cái chết luôn luôn có cuộc sống. Điều đó cho tôi một cảm giác khoan khoái, cho dù công trình của tôi ngắn ngủi và kết thúc trong đổ nát và trong máu.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Bảy, 2018, 10:41:28 PM

Cuộc chiến tranh bẩn thỉu

Tôi đã thấy một hình thức của cuộc chiến tranh du kích và chống du kích. Và đã bao nhiêu lần tôi những muốn hỏi một sĩ quan Pháp, với tư cách đàn ông với nhau: "Ông có cảm thấy mình có quyền làm những gì ông đã làm không? Ông có thể bảo vệ nền văn minh khi để mình bị lôi kéo vào những gì ngược lại với văn minh không - vào cả tinh thần bạo lực, sự tính toán khốc liệt và tra tấn dằn vặt? Thậm chí nếu ông nghĩ mọi biện pháp đều tốt nhằm chống lại cái xấu - dù nếu ông sẵn sàng sa sút về đạo đức, ông có chắc cuối cùng không làm trò chơi của Việt Minh đưa ông đến thất bại dứt khoát?”

Nhưng trong nhiều tháng, trong cả năm tôi không tìm được một đối tượng. Các sĩ quan không bao giờ nói về những vấn đề thực của mình, không thèm giải thích, thanh minh. Họ không thể giải mã được, không có tính nhạy cảm của loài người, tách rời tất cả đề ẩn mình kỹ hơn trong lý tưởng chiến binh, trong một đạo lý hiệp sĩ khốc liệt.

Tuy nhiên trung uý, đại uý của Đội quân viễn chinh biết mình không được lòng dân chúng, gần như bị căm ghét ở Pháp. Họ im lặng chịu đựng sự lên án đau khổ ấy. Nhiều người rút ra một chút tự hào gần như thích thú cảm thấy cô độc và không ai hiểu: họ tiếp tục cuộc "chiến tranh bẩn thỉu" của họ càng kiên cường và kiêu hãnh hơn.

Dĩ nhiên các sĩ quan, nhất là những người cấp bậc cao, có những điểm yếu - Bên cạnh chủ nghĩa anh hùng đơn thuần của "lớp trẻ" có chủ nghĩa anh hùng khoác lác - cả một nghệ thuật gây tai hoạ ở một số lớn những người "kỳ cựu".

Người ta cũng gặp được giữa số đông mang lon, một vài sĩ quan thông minh, trong thâm tâm nghi ngờ "có cái gì đó không ổn ở Đông Dương". Họ có những ý tưởng riêng nhưng cẩn thận dấu kín để tránh nguy hại. Ban chỉ huy rất rộng lượng với sự bất tài, kỳ quặc thậm chí với những thói xấu vì không đụng tới "tinh thần quân đội". Họ không thương xót đối với sự thông minh và tính độc lập. Người sĩ quan tốt tin chắc chắn vào lý thuyết của tổng chỉ huy vì ông này luôn luôn có những lập luận chính xác và rất lạc quan.

Rốt cuộc tôi là người chứng kiến cuộc chiến tranh và khó biết được nó tiến hành ra sao. Vì xung quanh tôi tất cả là bảo thủ và ngột ngạt. Tất cả do tướng Carpentier đưa ra. Ông thực hiện những sợi dây cũ từ Thế chiến thứ nhất: miệng bị khâu lại và sự tin tưởng bắt buộc. Còn lại là tự do hành động, với điều kiện những công việc của chiến tranh nằm trong khuôn khổ những học thuyết hợp lề thói được Bộ tổng tham mưu phổ biến rộng rãi.

Chỉ thị là "không sinh chuyện". Mỗi sĩ quan, hạ sĩ quan tự xoay xở trong khu vực mình. Không có mệnh lệnh cụ thể, không có thông báo. Điều cần thiết là tránh "phiền phức", điều cuối cùng biến thành chính thức; không có gì được đăng lên báo, lên tới Chính phủ ở Paris.

Không ai biết rõ sự thực. Điều xảy ra phải là một bí mật. Người ta không tìm thấy dấu vết những sự việc ở đâu cả, nhất là trong hồ sơ quân đội, trong giấy tờ của Ban tham mưu, trong vô số báo cáo chuyển từ cấp này đến cấp khác. Có ý thức hoặc không ý thức, tất cả đều lừa bịp.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Bảy, 2018, 10:43:11 PM

Một điều lệ tuyệt đối: “không bao giờ đặt những câu hỏi thiếu kín đáo" dù với một sĩ quan quen biết hoặc với một người lính thường; Trong tôi không phải là tra tấn mà thăm dò những cách tra tấn của người Pháp. Vừa là sự giáo dục rất sai vừa là phản bội. Mới sơ bộ ám chỉ, các bộ mặt đã rắn lại, những giọng nói trở nên không có thiện cảm. Câu trả lời bao giờ cũng đe doạ: "Chúng tôi không vi phạm quá đáng. Nếu ông nghi ngờ, ông không phải một người yêu nước, là kẻ địch, làm trò chơi của những người cộng sản." Phóng viên chiến tranh quá tò mò không được gặng hỏi, nếu không sẽ bị trục xuất, kiện cáo, mọi điều sét đánh, mọi giận dữ. Trường hợp ấy không có thương tiếc gì.

Đấy là cả một âm mưu im lặng bao la. Nếu nó hoàn hảo, rộng khắp và không suy suyển như vậy, không phải chỉ do ban chỉ huy. Bởi vì trong mỗi chiến binh của Đội quân viễn chinh, đâu đó trong tâm hồn có một vùng tối. Mỗi người lính có bí mật của mình. Anh ta phải làm những việc không nói lên được - và anh đã làm. Sẽ không tha thứ được nếu anh không giữ những điều ấy xa anh, xa lương tâm anh, xa cả sự hiếu biết của những người khác. Trước tất cả, không nên cho những điều ấy một cái tên, một sự tồn tại, không ghi chúng vào danh mục. Những nỗi kinh hoàng ấy thuộc về thế giới không có nguồn gốc và không tránh được này.

Thế nhưng làm sao bao nhiêu binh lính Pháp có thể vô tâm chịu đựng sự dối trá này như vậy? Hầu hết họ là những người trung thực. Có những người Kháng chiến Pháp, những quân du kích ở Auvergne hay núi Alpes những người nguyên là cộng sản nhưng họ đánh những du kích, những người kháng chiến Đông Dương không ân hận. Có những giáo dân vào cầu nguyện và chịu rửa tội trong các nhà thờ với thái độ vô cùng nhiệt tâm - nhưng lòng sùng đạo là của những thần chiến tranh dâng lưỡi gươm cho Chúa. Cũng có những cha tuyên uý mặc quần áo sĩ quan cổ đeo thánh giá - nhưng họ làm phúc cho những tiểu đoàn biệt kích. Cuối cùng có rất nhiều những ông bố gia đình mang lon, những tiểu tư sản của quân đội, nhưng họ bình thản ăn uống trong nhà ăn tập thể.

Đôi khi tôi tự nhủ những người ấy không phải đạo đức giả. Họ có lương tâm. Luật lệ của cuộc chơi là nín lặng, đỡ phức tạp hơn. Vì họ "tin" cuộc chiến tranh Đông Dương nêu lên những vấn đề, phải nghiên cứu, phải giải quyết. Và việc đó có thể thay đổi những dữ kiện nói chung đã "thoả mãn". Ở Đông Dương mọi người bị trói buộc vào sự hài lòng.

Và làm thế nào nghi ngờ được "điều xảy ra" - sự tra tấn, những khốc liệt, tất cả những gì người ta phạm phải trên diện tích câm lặng của đồng ruộng và rừng núi?

Ở Sài Gòn, Việt Minh cho tôi xem những hình ảnh thê thảm, hàng ki-lô những bức ảnh hành quyết, những nông dân bị bắn hạ trong khi chạy khỏi làng đang cháy, những người đàn bà trần truồng bị mổ bụng, tre nhọn đâm vào cửa mình, những đứa trẻ chân tay tan tác. Việt Minh cũng cho tôi xem báo cáo về một sĩ quan Pháp, mỗi lần bắt được tù binh, hắn trói vào cây to, dùng dao cắt họng hứng máu vào đầy cốc, vừa uống vừa nói "Chúc sức khỏe mày".

Dĩ nhiên về phía mình, người Pháp cũng trưng bày những bức ảnh tương tự. Ở đấy người ta cũng thấy những nhếch mép nhăn nhó của những người bị hành hình, hàng tấn xác chết bị chặt tay chân. Người Pháp nêu những kinh hoàng ấy do Việt Minh với những chi tiết có vẻ không chối cãi được - ngày, tên, họ, hoàn cảnh. Điều đó chứng tỏ Việt Minh phạm vô số tội ác. Than ôi, điều đó không chứng minh Đội quân viễn chinh không phạm tội.

Khắp nơi đều có không khí như thế, như có một môi trường chung về tàn bạo, đưa đến cùng những việc làm như nhau.

Bản thân tôi chưa chính mắt mình thấy những tàn khốc của người Pháp nhưng tôi đã thấy những hành động đốt phá và ăn cắp vặt. Biết bao nhiêu lần các đội tuần tra ra khỏi những làng họ lùng sục, mang theo những sinh vật sống duy nhất còn lại - gà vịt, lợn, trâu bò. Mỗi người lính, tay cầm tiểu liên, oằn người dưới sức nặng của gà vịt, buộc thành dây đeo vào cổ hoặc nhét đầy các túi áo quần. Một cảnh tượng lạ lùng, những người lính bước lảo đảo vì mang cả vũ khí và sản phẩm chăn nuôi Việt Nam. Còn trâu bò, họ cho lên xe chở đi.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Bảy, 2018, 10:44:27 PM

Một hôm, cách Sài Gòn vài chục cây số tôi vào một ngôi chùa trống tìm một ban tham mưu. Chỉ có một ông già ở đấy. Ngay khi thấy tôi, ông có cử chỉ đáng ngạc nhiên là tuột quần đùi, dơ đít ra cho tôi. Sau đó tôi được biết một tiểu đoàn Bắc Phi vừa đóng ở đấy.

Cũng có lúc tôi nghe các "hương chức" một làng than phiền.

- Chúng tôi biết chiến tranh là như thế nào. Chúng tôi phải bằng lòng khi lính các ông chiếm lấy gia súc, đồ trang sức, những tượng Phật của chúng tôi. Chúng tôi không tán thành việc họ cưỡng hiếp đàn bà, con gái của chúng tôi nhưng chúng tôi đành chịu. Nhưng chúng tôi chống đối khi họ cũng làm như thế đối với con trai và cả bản thân chúng tôi, những người già, những người có tư cách.

Dù thế nào thì hầu như bao giờ dân quê cũng sợ các tiểu đoàn Pháp đến gần mình. Họ ẩn nấp trong ruộng, trong đầm lầy, lặn sâu vào bùn và nước trước khi quân Pháp đến.

Một số biện pháp đề phòng còn lạ hơn. Ở vùng châu thổ Bắc Kỳ có hai làng thù địch nhau vì truyền thống, căm ghét từ nhiều thế kỷ sau. Vì vậy một làng theo Việt Minh, một theo Pháp. Tuy thế mỗi lần một phân đội quân viễn chinh đến làng đồng minh, dân chúng ở đấy chạy đến cộng đồng đỏ để gửi ở đây những vật quý giá - đàn bà con gái, lợn gà, gạo.

Tất cả những điều đó đã thành thường lệ. Vì cũng có sự khủng bố, tàn bạo. Một cuộc chiến ám sát, ngay giữa dân cư, giữa những người ở nông thôn. Trong tất cả những người da vàng ấy, không người nào biết những ai là Việt Minh, những ai không phải hoặc chỉ một nửa, những ai căm thù Việt Minh, lẫn lộn hết. Tất cả rối mù khi lính Pháp xuất hiện giữa đám đông - đôi khi là lòng trắc ẩn, đôi khi là bản năng người ta gọi là "sự thích thú của chiến binh", đôi khi là phản xạ trả thù mù quáng nếu có bạn mất tích hoặc bị tra tấn đau đớn, thường là sự thờ ơ của người lính cứng rắn không có thì giờ phân tích tình hình, phân biệt đối xử và cứ đánh trống ào tới. Kết quả là giết người và đốt nhà mặc sức, vô ích, không công bằng bởi những toán quân vô trật tự.

Vì cũng có những cuộc tàn sát do ban chỉ huy ra lệnh. Đôi khi vì một hành động "chống đối Pháp" không tìm ra thủ phạm người ta trừng phạt cả một cộng đồng, thường là cả một làng. Việc trừng phạt từ phạt tiền, lao động đến việc tiêu diệt cả làng, đốt cháy cả đất đai. Tôi không rõ người ta bắt và bắn con tin có theo lệnh trên không nhưng việc các làng bị cháy, tiêu diệt bằng thuốc nổ, xảy ra thường xuyên.

Những lý do chiến lược cũng có. Nhiều khi người ta làm những vành đai trống, những vùng trắng xung quanh các con đường, các bốt nào đó, trù tính vùng đất không người bảo vệ được tốt hơn.

Và rồi công tác tình báo, khai thác tin tức. Phần lớn các sĩ quan Phòng Nhì có dụng cụ chuẩn - một máy phát điện, một loa, v.v... để tra hỏi. Phần nhiều họ không tự tay làm mà có những người giúp việc Việt Nam. Nói chung đấy là một công việc không cầu kỳ, hoàn toàn thực dụng. Người ta làm đúng, "theo cần thiết", nêu câu hỏi, dùng dụng cụ tra tấn cho đến lúc có được câu trả lời.

Người ta kể trường hợp một tên "mật thám" đưa người bị tình nghi lên máy bay. Hắn đẩy ba người trong số đó xuống không trung rồi nói với những người khác: "Bây giờ các anh nói đi; nếu không sẽ chung số phận như thế".

Đấy, tất cả những gì tôi có thể biết, có thể đoán ra; nó là một cảnh ghê rợn. Đúng là vấn đề tàn khốc xảy ra ghê gớm ở Đông Dương. Hoàn toàn không như người ta nghĩ ở Pháp, ở các trí thức cánh hữu và những người cấp tiến.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Bảy, 2018, 10:41:19 PM

NỖI NHỤC NHÃ


Chương I
SÀI GÒN - ĐỘNG CƠ CỦA CUỘC CHIẾN TRANH

Cuộc "chiến tranh thoải mái" gồm những trận đánh du kích và những tra tấn tiếp tục ngày này qua ngày khác không mệt mỏi. Con đường số 4 đổ máu, Đội quân viễn chinh cố định trong ý niệm anh hùng của mình, người Việt "trụ vững" trong lúc chờ quân đội Mao Trạch Đông xuống sát biên giới, ông Pignon mơ về một "đường lối chính trị ở Việt Nam", Hoàng đế Bảo Đại trở về trên đất đai của tổ tiên. Đấy là diễn biến thời sự ở Đông Dương những năm 1948 và 1949 này.

Nhưng một động cơ lớn đang quay không ngừng, đều đặn, có hiệu quả đối với mọi người. Động cơ ấy là Sài Gòn cung cấp đồng bạc mà không có nó sẽ không có lịch sử, sự kiện, cuộc chiến tranh Đông Dương. Chính dân cư thành phố này, hai triệu người miệt mài vào đồng bạc, nuôi sống cuộc chiến tranh và bù lại từ đó rút ra một sự thịnh vượng tuyệt vời. Vì Sài Gòn với khu ngoại ô Trung Hoa của nó, là thành phố giàu nhất thế giới nhờ vào đồng bạc có hối đoái mười bảy phrăng Pháp.

Tôi cố gắng làm sáng tỏ động cơ này.

Trước hết phải biết có nhiều Sài Gòn. Phần chủ yếu - Sài Gòn của những tỷ phú, chỉ lớn bằng một chiếc khăn tay. Sài Gòn văn minh này, giống như một đô thị tư sản, bề ngoài rất trật tự và có lương tâm, nhìn vào tất cả bình thường đến nỗi tôi nghe một bà già Pháp trong thành phố kêu lên: "Nhưng những Việt Minh mà người ta nói nhiều đến thế trong nhiều năm là cái gì?" Và đấy là vợ một viên chức cao cấp.

Một thành phố bằng phẳng, xưa kia được xây dựng trên đầm lầy. Thời tiết nóng nực, bầu trời không bao giờ xanh, luôn luôn u ám vì ẩm ướt. Và trong cái lò ngột ngạt ấy chẳng có gì khác thường. Không phải một Thượng Hải hay Hồng Kông. Không kiêu hãnh, không vô sỉ, cũng không ham mê vô độ. Sài Gòn không có các tập đoàn công nghiệp, ngân hàng, không có giao dịch chứng khoán. Không một nhà chọc trời nào. Cảng sông tởm lợm và đơn sơ. Đường phố Catinat nổi tiếng chỉ là một con đường tầm thường mà các cửa hàng sang trọng, chậm mấy năm về mốt so với Paris. Những ngôi nhà chính còn là những gian nhà tôn và gỗ từ buổi đầu. Người Pháp ở trong những biệt thự cũ từ thời “thực dân" sau cuộc chiến tranh trước. Điều hòa nhiệt độ chưa được biết đến. Điện hoạt động không tốt vì công ty điện lực không muốn đầu tư. Điện thoại còn kém hơn. Trong hoàn cảnh thiếu tiện nghi ấy, người ta khát và hoạt động của nhà máy "Bia và nước đá Đông Dương” tăng giá trị lên gấp đôi. Ô-tô buýt thật thảm hại và những chiếc taxi hiếm hoi không có đồng hồ. Xe con khá nhiều nhưng phù hợp với mức độ tương đối cao trong hệ thống xã hội nên những người "da trắng bình thường" đi xích lô.

Tất cả mang dấu vết cung cách tỉnh nhỏ ở Pháp. Phô trương ở Sài Gòn không phù hợp lắm. Xã hội chia thành khung bậc, có nhãn hiệu, thích thú quanh quẩn cuộc sống trong nhà theo một luật lệ tỉ mỉ. Những nguyên tắc - tôi muốn nói một số nguyên tắc nào đó - có tầm quan trọng lớn.

Vì vẫn phi đạo đức về bản chất. Chỉ tiền là đáng kể. Người Pháp ở Sài Gòn để hoạt động tiền bạc và tất cả mọi biện pháp đều tốt. Nhưng đồng tiền là thực chất. Vẫn có những nhà doanh thương rất bẩn buôn bán dưới dấu ấn nghiêm khắc của những ông hội đồng quản trị nhất thiết bám vào danh dự. Những nhà này đòi hỏi nhân viên phải có phẩm chất trung thực và tư cách, tóm lại là tinh thần tốt.

Sài Gòn những tỷ phú ấy nắm giữ ảnh hưởng ở Paris, có "hành lang" ở Paris, đến Phủ Cao uỷ ở Sài Gòn gần như về nhà mình. Chính Sài Gòn này "nắm" Chính phủ Việt Nam hơn cả Cao uỷ Pháp. Những quan chức chế độ, trong quá khứ ít nhiều là viên chức và bây giờ vẫn là bù nhìn của hệ thống Sài Gòn ấy. Chánh văn phòng hoàng gia, ngài Nguyễn Đệ là một người môi giới cũ của Nhà băng Đông Dương. Còn thủ tướng Hữu nguyên là thanh tra tín dụng địa ốc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Bảy, 2018, 10:42:58 PM

Sức mạnh của người biết suy nghĩ là đưa những hình thức hợp pháp vào việc buôn bán, tạo ra một phương pháp khoa học. Nhưng bên dưới chủ nghĩa tư bản lớn ấy, có một vũ trụ quá mức nấp bóng - những người môi giới, thương lượng phiêu lưu, nghèo túng. Qua nhóm người thường xuyên này người ta thấy lại không khí của Paris giấy bạc. Đồng bạc, trước hết là một bệnh tâm thần. Tài chính trở thành một bí ẩn, một kích thích cao độ kéo theo mọi khao khát, nhất là mọi sự tưởng tượng.

Những người da trắng của "đồng bạc cao cấp", những người thấp hơn và những đại gia đóng kín trong một khu và quanh vùng. Bên cạnh Sài Gòn chặt chẽ về nguyên tắc và điên rồ về bộ máy đồng bạc, có Sài Gòn da vàng của những người vô tận, dân cư tăng gấp bốn lần trong mấy năm. Những người ấy của Sài Gòn cũng bị lây nhiễm. Người Việt Nam và Trung Hoa đông như kiến bị giày vò vì đồng bạc của người nghèo, tờ giấy bẩn thỉu giấu trong quần áo rách rưới.

Đấy là một Sài Gòn không được biết rõ, một mảnh đất không trong sạch, nguy hiểm, xa xôi gần như ở địa đầu thế giới. Người Châu Âu chỉ biết ở đấy xảy ra những việc khó chịu, phù hợp với quân đội và dân quê. Trước hết đối với họ - và phần còn lại ở Đông Dương - đây là cái chợ người ta cung cấp và người ta không đến đó.

Sài Gòn này là điều bí mật. Đây là hố sâu xã hội, nhưng có những bậc đi xuống của sự không thăm dò được ấy.

Trên cao nhất là những "tỷ phú" da vàng ngọt ngào và luôn luôn tươi cười. Nhiều người môi giới Trung Hoa - mỗi nhà băng hoặc hãng quan trọng đều có. Hơn viên chức, họ là các mưu sĩ về đồng bạc. Chính họ điều chỉnh chủ nghĩa tư bản Pháp vào tư bản Trung Hoa, phụ trách khai thác Đông Dương ở mức dưới, mức những "người bản xứ". Hai chủ nghĩa tư bản liên minh và chính những người môi giới tạo dựng sự liên minh ấy. Họ là linh hồn của thị trường, của những vụ đầu cơ, đổi chác, buôn lậu. Mỗi người trong bọn họ có tài sản riêng, thường hàng nhiều chục triệu đồng. Mỗi người có tổ chức riêng. Những bù nhìn, dồn khách cho đến những kẻ "giết người". Gia đình họ là cả một bộ tộc. Thường họ có bà con với những dòng họ lớn Trung Hoa ở Hồng Kông và Singapore nắm giữ bộ phận lớn nhất những hoạt động tài chính trên thế giới để đầu cơ tiền bạc và nguyên liệu.

Hoạt động của một môi giới của bất cứ tỷ phú nào là vô cùng. Nhưng tất cả những gì anh ta làm là bí mật, với vẻ ngoài luôn luôn lương thiện, vẻ ngoài đáng kính ấy tỏ ra trong những bữa tiệc linh đình. Người ta nâng cốc uống cạn, đọc diễn văn và vui đùa đúng mức. Bà vợ tỷ phú, già nhất, khô cứng và nhăn nheo, ngồi đấy không một lời, hết sức tôn kính.

Người ta không biết gì về hoạt động vô vàn của những môi giới và tỷ phú. Trước hết những ông chủ của họ hoặc các hội viên Pháp không muốn biết gì. Dù những tay ấy làm thế nào họ cũng vừa có lương tâm trong sạch vừa có những khoản lãi khổng lồ, và việc đó không bao giờ gây ra bê bối, thậm chí không bị nghi ngờ. Hơn nữa các môi giới không bao giờ nói gì. Cơ sở của việc buôn bán ở Châu Á, rất bí mật. Một lời nói thừa có thể chết người - có biết bao nhiêu điều tế nhị! Hơn nữa, Việt Minh, những băng nhóm và cảnh sát mà họ quan hệ, trong một số trường hợp đã có xu hướng nói với họ: "Khoản tiền của anh quá lớn. Hãy cho chúng tôi một ít". Tài giao thiệp tinh tế giữa tống tiền và chống tống tiền thật vô tận, với những vụ bắt cóc, tiền chuộc, giết người. Nói chung, các "đại gia Trung Hoa" dàn xếp, trả tiền và lại làm những phi vụ mới có lợi cùng những kẻ tra tấn của họ.

Đồng bọn của nhà tỷ phú da vàng có mặt khắp nơi, làm việc khắp nơi nhưng ẩn danh. Đấy là đồng tiền lạ, không ai biết người sở hữu nó. Người ta không thể đi ngược về nguồn gốc, quá phức tạp không lần ra được trừ phi chộp lấy nhân vật ấy và nói: "Nếu anh không "nhả ra", chúng tôi sẽ chặt anh từng khúc". Bọn trộm cướp có thể làm thế nhưng sở thuế thì không. Vả lại các đại gia Trung Hoa biết những bọn trộm cưóp khác những nhà chính trị, những người có vũ trang khác có thể cầu cứu; ông ta cũng có vũ khí của mình, có những đe dọa trả đũa về thương mại và tài chính. Thương mại, buôn lậu, tài chính, bắt cóc, tất cả cùng tiến hành. Người ta bàn cãi luôn luôn nhưng không bao giờ có gì thể hiện lên bề mặt. Thế nhưng đấy là Sài Gòn, thực chất nhất, quan trọng nhất, và cũng kín mít nhất. Nếu người ta biết được việc gì xảy ra người ta sẽ hiểu nhiều bí mật của Đông Dương, nhưng không thể biết được.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Bảy, 2018, 10:44:07 PM

Bên dưới "khôi tiền lớn" quá vô hình ấy, vượt khỏi hư không và nghèo khổ "Sài Gòn những căn nhà ngăn ô” còn mang dấu ấn giàu có Pháp là vòng đầu tiên vây quanh Sài Gòn các tỷ phú Pháp - dân nghèo hợp lệ, "dân bản xứ" khá giả tranh thủ được một ít và sống trong "các ngăn". Một ngăn là một hành lang dưới mái, dài mười mét, rộng hai mét. "Đường hầm" nhưng là dạng nhà tư sản Châu Á: thẳng góc với đường phố, chia làm một quán hàng mở rộng trên hè phố, một gian phòng để làm mọi việc, một sân người ta xây dựng "vững chắc" những căn nhà ngăn ấy với hàng chục nghìn, hàng trăm nghìn mà các công ty bất động sản thuê rất đắt.

Những căn nhà ấy nối tiếp nhau vô tận trên đường phố này đến đường phố khác hàng nhiều cây số. Tất cả luôn giống hệt nhau, những khoang như nhau, cùng bố trí một cách.

Khắp nơi người ta thấy từng dãy quán rồi các phòng, các sân trong bố trí số học. Khắp nơi cũng những hàng hóa, những nghề lặt vặt ấy, cũng dân quán hàng và thợ thủ công ấy. Thật yên tĩnh, vui vẻ, đông người, hơi hôi hám, nhìn bề ngoài là cảnh lương thiện của những người "làm ăn nhỏ", cả gia đình vất vả suốt ngày từ mờ sáng đến đêm khuya. Ở đây, những người thợ may mình trần ngồi xổm cắt những bộ quần áo đẹp trong hai mươi bốn giờ. Những gì buôn bán, lao động có thể làm, người ta làm cả.

Những khu phố này có vẻ chẳng có gì bí mật. Đường còn vạch, có đèn và cảnh sát mặc đồng phục. Dân cư có tên họ, lý lịch, phương tiện sinh sống có xác nhận. Thực tế tính cách gian lận đã bao trùm rất rộng.

Phải chăng những ngăn nhà ấy không che giấu gì? Mỗi gia đình có vẻ sống công khai trước mắt mọi người, bố, mẹ, các ông bà, con cái; thư ký và thợ chen chúc trong cửa hàng hoặc xưởng thủ công trống trải nhìn ra hè phố không có tấm ngăn hoặc cửa kính tách biệt. Nhưng cũng có những gì ở phòng trong hoặc sân sau. Tất cả đều gian dối.

Khu phố lúc nhúc tiệm hút, những nhà chứa nhỏ, phòng xoa bóp, những cơ sở phá thai, cảnh sát nhắm mắt lấy tiền thù lao và cũng vì không biết cái gì hợp pháp, không hợp pháp theo tục lệ và vệ sinh. Khu phố cũng đầy những ban ám sát, những phòng thu thuế của Việt Minh, trung tâm chỉ huy các băng nhóm, các kho vũ khí. Lẫn lộn với những người "da trắng bình thường" trong cảnh khốn khó có những viên chức cổ cồn trắng của Chính phủ, những chỉ điểm của người Pháp, những người hợp tác, "kẻ phản bội", có cả một thế giới những kẻ giết người, bọn khủng bố có vũ khí, kẻ ném lựu đạn, nhân viên thu thuế bất hợp pháp. Nhưng cảnh sát chẳng làm gì được.

Việc đề phòng tốt nhất là tình trạng kỳ lạ giữa người và vật - của hàng trăm nghìn người giống hệt nhau, của hàng chục nghìn căn nhà như nhau. Kẻ giết người ăn mặc như một viên chức bàn giấy, quần áo comple tồi nhưng là ủi cẩn thận. Cũng khuôn mặt như thế. Làm sao phân biệt được giữa những đầu người da vàng, giữa những người Annam, tất cả đều đứng đắn, cẩn thận và sạch sẽ như vậy? Dĩ nhiên tất cả, công dân tốt cũng như kẻ giết người đều có những giấy tờ người Pháp cấp rất hợp lệ.

Và rồi còn việc bố trí chỗ ở. Các căn nhà biến thành một mê lộ duy nhất. Khắp nơi, từ nhà này sang nhà khác, người ta khoét lỗ ở vách ngăn và ngụy trang lại. Phía sau, sân nhà kế tiếp nhau vô tận thành một con đường nhỏ bí mật giao nhau với những đường khác loại ấy. Vì vậy khi một người cảm thấy bị cảnh sát hoặc một đội tuần tra đe dọa chỉ cần chui qua lỗ ở vách ngăn để ra đường, mất hút trong đám đông, biến vào căn nhà bên cạnh rồi trong khu phố vô số căn nhà. Vả lại con đường bí mật ấy có những người gác, những hệ thống báo động. Do đó việc tìm kiếm, lục lọi hiếm khi có kết quả.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Bảy, 2018, 10:46:02 PM

Sài Gòn những căn nhà ngăn ô là Sài Gòn của Việt Minh nghiêm túc. Những đường dây bố trí tốt, che đậy kỹ, tranh thủ mọi lợi thế của quy hoạch đô thị và sự văn minh, có thể tha hồ "làm việc", cách Sài Gòn những tỷ phú người Âu rất gần, ở đầu đường phố, đôi khi sự chuyển tiếp không cảm thấy rõ. Nói chung họ để Sài Gòn của những người da trắng yên bình để "bơm" đồng bạc tốt hơn, đôi khi Nguyễn Bình cũng đòi những liều lượng nào đó bằng ám sát.

Cách xa những căn nhà ngăn ô là những mái nhà tranh mê cung tuyệt đối, một "thành phố lau sậy" gần hai triệu người không tên. Ở đây những gì là Sài Gòn, những gì cấu tạo nên thành phố gần như đã biến mất. Không có đường phố, hàng quán, luật lệ. Người dân tự làm nhà ở ngay trên đất trần hôi hám, trên đầm lầy, giữa những con lạch - những con lạch cũng đầy người, những xóm thuyền trôi nổi, những gia đình đầy đủ, các thế hệ sống vĩnh viễn trên những tấm ván của chiếc thuyền cũ nát. Biết bao lần một con lạch hiện lên trước mắt tôi như một rừng ván rỗ mang hàng nghìn người từ lúc sinh đến lúc chết, trên dòng nước đặc ngầu.

Cả đám dân cư các "thành phố lau sậy" là những người "mất gốc", không có công việc thường xuyên, không nguồn thu lương thiện. Để sống qua ngày, những người dân quê cũ làm cu-li, đạp xích lô, bán rao vặt. Cũng có những thầy bói toán, lừa gạt, những kẻ ngoài pháp luật, một số thợ, viên chức lương còm cõi. Có một số đông hành khất, tàn tật, những người gần như thây ma, bị bỏ rơi, bị những căn bệnh ghê tởm hành hạ. Có cả trộm cắp. Ban ngày những người ấy ra khỏi ổ chuột của mình rải khắp Sài Gòn và Chợ Lớn đi tìm kiếm đồng bạc - đến tối trở về đổ sụp xuống chỗ nằm. Đấy là khổ cực, huỷ hoại. Một người đạp xích lô, to lớn vui vẻ mình trần trong ba năm trở thành người bệnh lao. Phi đạo đức đã thành bản chất nên nó tự nhiên, ngây thơ. Một người có thể làm những gì vì mấy đồng bạc? Và dĩ nhiên đối với con gái không còn vấn đề đức hạnh.

Nỗi khổ vô bờ, nhưng chưa phải là mức cuối của sự khổ cực. Không ai, hoặc gần như không ai chết đói, ngược lại với nhiều thành phố Viễn Đông khác. Điều đó dựa chủ yếu vào những nguồn lợi nhỏ của chiến tranh. Sự thịnh vượng của đồng bạc đến tận những thành phố lau sậy, đến cả những người nghèo khổ tệ hại, cho họ bát cơm hàng ngày cũng như những ảo ảnh sung sướng về thuốc phiện, mại dâm, đánh bạc.

Cũng không hề buồn. Rất vui. Để hiểu cường độ sống, phải thấy sự háo hức của những người cu-li ngồi xổm vòng tròn và cơm vào mồm. Để hiểu niềm say mê, phải thấy những người hành khất chơi suốt đêm dưới ánh sáng một ngọn nến, đánh bài đến cùng với của bố thí ban ngày. Thường có những xác chết bỏ rơi nhưng chẳng bận bịu gì đến ai. Những bà lắm mồm, hách dịch, những mụ tú bà huyên thuyên từ sáng đến tối. Nhiều khi các bà nắm tóc nhau, cào cấu nhau rách nát trong những cuộc cãi lộn điên tiết, những người bên cạnh nhìn cười. Và có gì đẹp hơn lúc hoàng hôn cảnh bên giếng nước? Những cô gái tết tóc, mặc áo quần đen láng bóng mang xô tới đó đùa dỡn nhiều giờ với những chàng trai bên cạnh.

Tuy vậy chiều sâu của Sài Gòn thành phố lau sậy này không bao giờ dấy lên một làn sóng căn bản - một đà nhảy, một lý tưởng vươn tới - hoàn toàn là tính ích kỷ, mỗi người đấu đá cho mình, không hề thương xót. Con người có thể làm tất cả vì một đồng bạc, nhưng đồng bạc ấy những quyền lực trên không ngừng tìm cách giật lấy. Chống lại những sức mạnh, những tổ chức đáng sợ ấy, con người dưới đáy xã hội quá đơn độc, để tự bảo vệ chỉ có vâng lời, mưu mẹo và phản bội khi có thể. Tầng lớp dưới của Sài Gòn là như vậy, dân chúng tìm cách để không bị tước đi hết. Có một cách đặc biệt dễ dàng vươn lên. Đấy là cờ bạc, cờ bạc trong khu nhà Đại thế giới, nơi toàn thành phố đến để tự phá sản.

Hơn nữa, ba tổ chức chính dồn ép quần chúng bằng sức mạnh: Việt Minh, Bình Xuyên, cảnh sát. Họ đấu với nhau trong một cuộc chiến tranh tay ba để nắm độc quyền "tống tiền" trong thành phố. Những thù địch bí mật này đầy những giai đoạn bi hài với nhiều xác chết và cũng nhiều tay hào hoa dễ chịu.

Năm 1949 cuộc đấu của họ đặc biệt quyết liệt. Các "tổ chức" đánh nhau để kiểm soát Đại thế giới - "phi vụ" thần kỳ nhất của Sài Gòn. Chính lúc đó Hoàng đế Bảo Đại tham gia cuộc đấu và can thiệp với trọng lượng quyết định lợi thế cho những người bạn Bình Xuyên của ông. Đấy là sự thông đồng chính thức, thậm chí là sự liên kết giữa Nhà nước, Chính phủ và băng nhóm bất lương.

Tất cả những cái đó là Sài Gòn. Chúng ta hãy phân tích chi tiết.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Chín, 2018, 11:27:20 AM

Những tù nhân của đồng bạc

Hơn ba phần tư người Pháp ở Đông Dương, những người dân sự, tập hợp trong Sài Gòn đồng bạc ở một đầu của thành phố bao la. Đấy là những tù nhân của sự tráng lệ. Nhưng họ không cảm thấy bị cầm tù, thậm chí rất sung sướng. Hạnh phúc của họ là săn lùng tiền.

Sài Gòn của những "kẻ săn đồng bạc" được bố trí tốt. Có tất cả những gì cần thiết. Trước hết, dĩ nhiên có một góc để "giao dịch về đồng bạc", gồm cảng và khu tài chính bẩn thỉu, vừa chính thức vừa bí mật ở sau bến tàu. Ở đây bên cạnh sở Hối đoái có những hãng buôn bán lâu năm, Nhà băng Đông Dương và những cơ quan đáng kính nhất, những gì cần thiết để "sinh lợi". Chỗ này, tập trung những quán bar đảo Corse mà các "thủy thủ" đến tiếp nhiên liệu mang theo vàng lậu. Ở đây những nhà băng Trung Hoa mạnh chuyên tài trợ cho những vụ việc bất hợp pháp ẩn dưới vẻ ngoài những nhà thuốc hôi hám. Chỗ này, trên con đường nhỏ Lefèvere, mỗi sáng có chợ đầu cơ ngoài trời, trong nắng nóng và lúc nhúc người.

Cũng có những góc ăn ở - trước hết để ngủ: trên "Đồi" - một vùng đất ít bùn lầy hơn, cao mấy mét khống chế phần thành phố còn lại. Dọc những đại lộ cây xanh nối tiếp những biệt thự nặng nề của những người Pháp "có tư cách", những viên chức cấp cao và nhân viên điều hành nhà băng và sở Hối đoái. Cứ tám giờ sáng, những chiếc xe con với lái xe đưa các ông đến văn phòng. Các bà đi bên cạnh, đến "Câu lạc bộ thể thao" mà người Việt Nam và Trung Hoa không được nhận làm thành viên, dù không còn lệnh cấm chính thức.

Có góc quản lý hành chính vùng rìa Đồi. Ở đây tập hợp tất cả những dinh thự cần thiết cho việc điều hành xã hội - lâu đài Cao uỷ đặt trong công viên riêng, lâu đài Chính phủ Việt Nam kém đẹp hơn, Nhà thờ lợp ngói đỏ, nhà tù có vọng lâu bên cạnh lâu đài Chính phủ, ngôi nhà dài của ngành an ninh lô nhô hàng rào sắt cách nhà thờ mấy mét, lâu đài tòa án xa hơn một ít.

Đường phố Catinat là rốn của Sài Gòn, nối các "góc" chủ yếu. Bắt đầu cao sang từ viền Đồi, những dinh thự đẹp và lâu đài kéo dài một cây số và kết thúc thô thiển ở cảng. Đoạn cuối là lãnh địa "trung tâm" đảo Corse. Ở đây người ta thấy những khuôn mặt nâu và đáng ngờ của những "chàng trai không tốt" đến từ hòn đảo của sắc đẹp. Sở chỉ huy của họ là những cửa hàng bia hào nhoáng, nic-ken và đèn ống, bình lọc cà phê, điệu nhạc dịu, cái nhìn lâu và im lặng, những tấm gương lớn phản ánh lên tất cả, cách chào của chủ cửa hàng, phong vũ biểu đích thực của thế giới này; và rồi nhìn qua cô thủ quỹ đẫy đà, khuôn mặt đẹp thường xuyên theo dõi phía sau những cánh cửa không bao giờ người ta bước vào là tất cả những bí mật của "việc trao đổi".

Phần giữa của con đường Catinat là con tim Sài Gòn. Khi không suy tư và không ngủ, thường người ta đi dạo ở đấy. Có Sài Gòn của tiền bạc, của cao uỷ, ban tham mưu và cũng của những người Pháp trung bình, của những kẻ phiêu lưu, những "kẻ đần", tất cả những cái Sài Gòn có thể có, lẫn lộn. Trên mấy trăm mét dành riêng, ba mươi nghìn người Pháp trong thành phố đi qua lại ngày này rồi ngày khác, luôn là những gương mặt ấy. Vòng tròn của những tù nhân không biết mình bị cầm tù.

Đây là nơi gặp mặt chung. Người đàn bà thời thượng gặp cô gái đĩ Marseille. Viên tướng đụng phải anh lính lê dương. Thanh tra cảnh sát nhìn theo "khách hàng" vừa ra khỏi khách sạn. Mọi người đều ở đấy và mọi người biết rõ nhau. Mỗi người qua đường biết rõ những chuyện bẩn thỉu, những bí mật sâu kín của mọi người qua đường khác. Nhưng họ không hỏi chuyện nhau, cẩn thận như không biết nhau. Luât lệ thật phức tạp. Phải cùng tầng lớp mới chào nhau, bắt tay nhau.

Cuộc dạo chơi muôn thuở ấy có những giai đoạn, những điểm ngừng bắt buộc. Vì ở đây có những nơi cao sang của Sài Gòn - khách sạn Continental, phòng trà Pagode, nhà hàng Bodega nơi các chủ tài chính ăn tối, nhà hàng La Paix lãnh địa những người cũ, cửa hàng của "phòng trưng bày Eden" mà phụ nữ lịch sự đến mua tác phẩm nghệ thuật, hiệu sách Portail các trí thức vào mua "những tờ báo Pháp" ở các bà bán quá màu mè, thường là vợ góa sĩ quan.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Chín, 2018, 11:29:49 AM

Đáng kể là những nền thềm cà phê lúc khai vị. Buổi trưa và bảy giờ tối, tất cả những người Pháp Sài Gòn, coi thường lựu đạn nguy hiểm ngồi chật ních dồn ép nhau xung quanh những chiếc bàn nhỏ. Và từng nhóm bí mật thì thầm với nhau. Lúc ấy tất cả Sài Gòn nói về những diễn biến lớn trong ngày. Theo thứ tự quan trọng tăng lên là "việc ăn nằm với nhau", thuốc phiện, nhận hối lộ, những vụ tống tiền bị dìm đi, nhất là đồng bạc, đồng bạc ám ảnh. Trong nhiều giờ người ta bàn luận về những vụ lớn, luôn luôn là những mánh khóe trong đổi chác và đầu cơ. Các bà than thở. Đối với họ sức mạnh nam tính bao gồm cả lối tưởng tượng về tài chính.

Cuộc huyên thuyên của tất cả Sài Gòn về tất cả Sài Gòn ấy, việc xem xét chung mỗi ngày hai lần ấy, là cái người ta gọi "Đài Catinat".

Nhưng không ở đâu ở một hội nào người ta nói về chiến tranh, một đề tài không ai quan tâm. Báo chí tiếng Pháp ở Sài Gòn cung cấp tin tức chất lượng tốt về những cuộc hành quân, những hành động thù địch làm Sài Gòn sinh sống mà Sài Gòn chẳng bận lòng. Tuy vậy đôi khi thoảng qua một làn gió lo ngại, nhưng các nhà chức trách nhanh chóng xoa dịu tình hình. Dân cư Pháp rút ra kết luận "điều đó” còn kéo dài và người ta lại lao vào các phi vụ.

Thế nhưng chiến tranh ở ngay bên cạnh. Người ta nghe thấy nó. Đôi khi ban đêm những người ăn tối hoặc chơi bài và nghe tiếng súng canông hay đại liên. Bao giờ cũng có một ông già Sài Gòn chẩn đoán: "Tối nay việc ấy xảy ra ở phía Gia Định. Chắc một bốt trong vành đai bị tấn công". Rồi chẳng ai chú ý đến những tiếng quen thuộc ấy nữa. Người ta vui chơi, sống thoải mái trong lúc bên cạnh những người khác đánh nhau và chết. Người Sài Gòn chẳng hề phiền phức gì. Tự nhiên thôi.

Thậm chí đôi khi người ta trông thấy chiến thắng. Chỗ nhìn tốt nhất là khách sạn Majestic.

Từ năm 1950, khách sạn Majestic sừng sững trên bờ sông Sài Gòn, trên cảng. Đấy là khách sạn sang trọng mới, Franchini cho xây dựng để "lấy đô-la", khách là người Mỹ và người nước ngoài. Khối nhà đập vào mắt và vô giá. Tầng sáu là một phòng bar bao la với dàn nhạc jazz. Ở đây tập họp những người chạy theo thời trang ở Sài Gòn và những người Mỹ vui vẻ, nổi lên vì áo sơ mi bay bướm in hình. Ở đây Whisky đánh bật rượu truyền thống và cognac sô-đa "thực dân".

Phòng bar này nhô thẳng ra sông Sài Gòn đầy tàu thả neo và người lúc nhúc. Từ bên bờ kia cũng nhô ra, một quang cảnh bùn và đầm lầy là đất Việt Nam, ngay trước mặt, cách mấy trăm mét. Buổi tối là sự đối nghịch hoàn toàn: người ta thấy hai thế giới bên cạnh nhau. Trước mặt mảng sáng bao la của Sài Gòn là mảng tối không một ánh đèn. Có những ngọn lửa ở các tàu đậu, rồi chẳng còn gì - đêm tối bao phủ hết. Khoảng đen nước và cỏ ấy, chỗ này chỗ kia có một làng, là chiến trường của cuộc "chiến tranh bẩn thỉu".

Một lần trước nửa đêm một ít, những người uống thấy nhưng đám cháy phía dưới, gần như bên cạnh mình, thực ra cách đấy bốn, năm cây số. Đã là thường lệ, chẳng ai lo lắng gì. Tuy thế một làng Việt đang cháy, bốn mươi dân quê bị giết. Và do những lính thủy Pháp, tân binh, đốt nhà và gieo rắc cái chết. Mấy ngày trước đó họ từ nước Pháp đến không hận thù. Bây giờ họ bung ra, chỉ nghĩ trả thù cho mấy người bạn, một buổi tối vui, "đi chơi lông bông" trong xóm nhìn bên ngoài yên ổn, đã bị chặt thành khúc.

Như vậy "miền đất lạ" của người Việt, của Châu Á, của chiến tranh, bao vây những người Pháp Sài Gòn khắp nơi, gò bó trong một cuộc sống tự tạo trên một diện tích mấy cây số vuông tự tạo. Ở "góc" này, khôn ngoan là đừng cử động và phần lớn người Pháp sống bình lặng. Tất cả những gì họ làm là đi giải trí ở một số "câu lạc bộ" của Sài Gòn văn minh, những địa điểm phụ không nguy hiểm đặt ở những khu hiểm. Có thể trong những chỗ an toàn nhỏ ấy, một sân golf được dây thép gai bảo vệ. Cũng có một trường đua ngựa mà thói thường là việc lừa bịp.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Chín, 2018, 11:31:32 AM

Vệ tinh chính là Chợ Lớn, cách năm cây số, ở đầu con đường vắng vẻ Gallieni. Thực ra đây là một thành phố sinh đôi, một trung tâm văn minh thứ hai. Đấy là Trung Hoa cũ, liên minh với tư bản da trắng. Người Âu không ở đây nhưng thường đến đây vì những thú vui tinh tế, các món ăn nổi tiếng của khách sạn Palais de Gade và Arc-en-Ciel, nghệ thuật về thuốc phiện, vì tình cảm của những vũ nữ kiêu căng. Đôi khi một nhà tài chính da trắng thì thầm với một tỷ phú da vàng trong nhà hàng, có thể đang nhờ cậy người Trung Hoa môi giới cho một nữ hoàng vũ trường. Nhưng thường là một điều đình rất kín đáo về tài chính.

Cũng có những thanh niên da trắng bình thường đi tìm thú vui ở khu nhà ngăn ô. Nguy hiểm hơn nhưng giá rẻ hơn. Và rồi tùy theo sự chọn lựa! Nhiều kẻ chơi bài thích gái điếm Việt Nam hơn Trung Hoa. Những cô gái Annam nhỏ nhắn, rất đơn giản, và cả những cô phấn son, tự phát hơn nhiều! Và cũng làm tình tốt hơn. Một người lịch lãm nói với tôi:

- Nhiều kinh nghiệm, dễ thương nhất là những cô đã là các xơ rồi phục vụ trong Lục quân thuộc địa. Các nữ tu sĩ thu nhặt những cô bé trần truồng, bị bỏ rơi, tạo thành những thiếu nữ Cơ đốc giáo, cầu kinh và thêu thùa. Trưởng thành, họ tìm việc cho - làm người hầu trong các gia đình khá giả. Mấy tháng sau các cô đã là người tình của các ông hạ sĩ, tiếp tục được nuôi dạy.

Những lớp trẻ Sài Gòn đi lông bông, không xa các khu người Âu lắm, trong những quán bar bình thường, những vũ trường khả nghi, những tiệm hút - nhà chứa. Ở đây cả một dân chúng gái điếm, chủ quán, mật thám, chỉ điểm, một "xã hội hư ảo" khác thường. Đôi khi cũng có người bị giết.

Mặc dù có những nơi để khuây khỏa như thế, một số người da trắng ở mãi trong Sài Gòn "của họ", ám ảnh bị giam cầm, chán cảnh đơn điệu. Vậy là họ đi trên đường, không dự kiến gì, không trả thuế giao thông cho người Việt. Cứ như thế họ đi vào cuộc chiến tranh. Và biết bao lần hậu quả là những bi kịch vì những người ấy không tuân theo luật lệ chặt chẽ của hiểu biết.

Tôi từ Mỹ Tho trở về bị hỏng xe cách Sài Gòn năm cây số, thấy một khu ngoại ô xa xa. Đã sáu giờ kém mười lăm phút buổi chiều. Tôi không lo lắng gì, xe cộ còn đi lại nhiều. Chỉ mấy phút sau khi tôi dừng lại không còn gì qua lại nữa. Đêm tới gần. Tôi bỗng thấy con đường bị kẹp giữa hai rừng dừa đã tối. Trước mặt tôi hai trăm mét, lính ngụy trong một vọng lâu giơ tay vẫy, tôi đẩy xe lại phía họ, đang hết sức cố gắng thì họ bắt đầu bắn. Đạn rít lên. Tôi đến chỗ vọng lâu, trèo thang lên; thang được rút ngay. Lính ngụy cười, bảo tôi chỉ mấy giây nữa là bị bắt. Họ bắn vào một toán người Việt đang bò lại phía tôi.

Người chỉ huy lính ngụy giải thích cho tôi "người Pháp cấm đường lúc sáu giờ rưỡi nhưng Việt Minh cấm đường lúc năm giờ rưỡi. Vì vậy sau năm giờ rưỡi không còn ai đi trên đường; người Việt tấn công những gì đi lại".

Tuy hiểu biết người ta cũng có nguy cơ bị chết trên đường. Vì vậy những người thực sự khôn ngoan chỉ đi máy bay: sân bay Tân Sơn Nhất cho phép an toàn thoát khỏi nhà tù Sài Gòn; nối Sài Gòn với phần còn lại của Đông Dương, của thế giới. Trước đây sơ sài, nhuốm cảnh buồn bã thuộc địa, bây giờ sân bay này trở thành một thành phố với kho hàng, tháp, lều trại tạm, cả một khối quần thể được bảo vệ bằng dây thép gai, đèn chiếu, lính và đại liên. Đấy là lá phổi thép của Đông Dương, thậm chí là một trong những nơi hội tụ lớn của bầu trời, các chuyến bay gần với Orly, với những sân bay lớn thế giới. Trong ngày cứ gần một phút có một máy bay đi, về, tiếng động rất nhẹ. Tân Sơn Nhất đóng cửa về đêm.

Nhờ Tân Sơn Nhất người Sài Gòn có thể đi khắp Đông Dương. Qua cửa hông họ nhận thấy quang cảnh yên bình của rừng rậm và đồng ruộng - đất đai chết người của Việt Minh. Và khi họ đến một thành phố, họ lại rơi vào một Sài Gòn thu nhỏ, một "nhà tù" bé hơn với một số người Âu. Đúng như ở thủ đô, mỗi thị xã bị bao kín trong "đất lạ" - nhưng cũng là một trung tâm bình định với những gì cần có. Vậy là có việc buôn bán trao đổi, những đồng bạc thu nhặt.

Tân Sơn Nhất cũng đóng một vai trò thiết yếu trong cuộc sống thời thượng của người Sài Gòn. Để kiếm đồng bạc hàng ngày những người Pháp ở Sài Gòn đến đón hoặc tiễn những người tới hoặc ra đi. Một ý nghĩa tượng trưng, khuyến khích vào "nhà tù", hoan nghênh việc phóng thích. Một thủ tục không lay chuyển. Nhân viên, thuộc hạ không đi đón tiếp một ông chủ sẽ bị thất sủng, có thể bị đuổi, nên họ không thiếu mặt. Vậy là sân bay thường xuyên đông người với nhiều trăm xe, vô số người đi tiễn biệt hoặc gặp lại. Tầm quan trọng của hành khách gần như dựa vào số lượng người bận bịu tôn vinh họ.

Đây cũng là trung tâm, cuộc sống chính trị và quân sự dựa vào những lễ nghi tổ chức tỉ mỉ theo thứ bậc. Mỗi lần một nhân vật lớn lên hoặc xuống máy bay, viên chức, quân lính, các ngài quan chức Việt Nam bận những bộ đồng phục đẹp nhất và kính cẩn đứng thành hàng. Nếu đón Bảo Đại, Cao uỷ hoặc một tướng nhiều sao, có đội kèn, duyệt binh, diễn văn. Con đường cách sân bay với thành phố được quân đội bảo vệ, mười mét một người lính, quay lưng về phía đường, về phía đoàn, để theo rõi kỹ hơn những đầm lầy, những ngoại ô có thể Việt Minh sẽ xuất hiện. Và việc đó mỗi tháng tiến hành nhiều lần.

Dù sao cũng có những ngày người Sài Gòn không đến Tân Sơn Nhất. Họ quay tròn ở Sài Gòn như những con sư tử trong lồng, những con sư tử hòa nhập với đồng bạc và quen lệ thuộc vào nó. Ít nhất khi họ ở trong Sài Gòn những tỷ phú, sự an toàn gần như thỏa mãn. Phải thật không may mới ở trong vùng có lựu đạn nổ. Vì cũng có lựu đạn và những người Pháp bị giết chết trên nền thềm cà phê hoặc khi đi ra khỏi những rạp chiếu phim. Tệ hại hơn thỉnh thoảng cũng có những vụ giết người ghê tởm. Đôi khi người ta nghe tin một cậu bé ở trường ra bị bắt cóc; xác cậu được tìm thấy đẫm máu. Những tai nạn ấy là giá của đồng bạc - một trong hàng nghìn nguy cơ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Chín, 2018, 04:24:02 PM

Đồng bạc của những người giàu

Ở Sài Gòn năm mươi người khống chế đồng bạc. Người ta gọi họ là những "Ông lớn". Trong chiến tranh chỉ một lần tôi thấy họ tập họp với nhau, ở khách sạn Continental trong một bữa tiệc chiêu đãi giới tài chính do giám đốc Viện Phát hành - cơ quan Nhà nước và bốn bên, vừa xây dựng để in những đồng bạc của Đông Dương độc lập.

Trước một bàn ăn bình thường là những nhà tỷ phú Sài Gòn dưới dạng những ông đã có tuổi, được khen thưởng nhiều và lịch sự, rất tự chủ. Đấy không phải những ông chủ - những người này ở Paris. Đây là những viên chức cao cấp đến đây vì công việc và hạnh kiểm tốt. Công chúng không biết tên. Họ hầu như vô danh mặc dù nhiều quyền lực biến sau những lý do xã hội thần kỳ của các công ty mình.

Tất cả giới nhà băng đều có mặt - Nhà băng Đông Dương, Pháp Hoa, BNCI của tài chính, Nhà băng Chartered; Tất cả các hãng lớn ở đó - Denis Frères, Descours và Cabaud, Diethelm... Có đồn điền lớn... cũng có những trụ cột của thương mại và công nghiệp, hàng không dân dụng.

Đây là một cuộc họp kín. Các đại diện của những công ty khổng lồ ấy tập hợp thành ba hay bốn theo những hoạt động tương tự và các chi nhánh là cơ sở tấm màn bí mật của Đông Dương. Đứng, ăn mặc khiêm tốn, bắt tay nhau thân mật, các nhóm họp với nhau hoặc tản ra theo những lý do bí mật nhưng đầy ý nghĩa. Ví dụ các ông nhà băng Đông Dương trao đổi với nhau lâu, bề ngoài không một căm hận, với chủ bữa tiệc, nhân viên quan trọng, hơi còng lưng và lịch sự, vừa từ Pháp sang để lãnh đạo Viện Phát hành Pháp - Việt Nam - Lào - Khmer, xóa bỏ ân huệ phát hành giấy bạc Đông Dương. Ân huệ ấy chắc chẳng quan trọng nữa.

Ông Franchini đi từ nhóm này đến nhóm khác, nhiệt tình, vẻ hiểu biết, thân mật. Thực tế ông không chỉ là "chủ khách sạn" mà còn là thành viên của giới siêu đẳng, ít hay nhiều cũng là tỷ phú. Cũng có một áo thầy tu bẩn và đẫy đà qua lại rất thoải mái trong hội đồng của đồng bạc ấy. Đấy là cha Moreau, thủ quỹ của những phái đoàn nước ngoài ở Đông Dương, có nét mặt tinh ranh trơn bóng và bụng to, một nhân vật tài chính rất lớn. Các phái viên nghèo nhưng những phái đoàn rất giàu. Và cha Moreau biết làm cho vốn của họ sinh lợi: ông có vẻ là một trong những người kinh doanh có khả năng nhất ở Viễn Đông.

Bên cạnh những "ông lớn" có một số vai phụ. Đặc biệt một ông rõ ràng không đúng chỗ trong xã hội này. Ông thô thiển, không có huân huy chương và quần áo vải thường. Nhìn ông không là gì. Từ chỗ không có gì trong mấy tuần hoặc mấy tháng ông lại rơi vào chỗ không có gì ấy. Tuy vậy mỗi người đều gia ân cho ông. Vì chữ ký của ông này đáng giá vàng, cả đối với những "ông lớn" ở Sài Gòn. Đấy là giám đốc Sở Hối đoái, nơi đổi chác.

Có những vai phụ khác, người Việt Nam và Trung Hoa. Những vai phụ Việt Nam là các bộ trưởng. Những vai phụ Trung Hoa là môi giới.

Đến một lúc có tiếng ồn ào. Tiếng còi, tiếng mô-tô, còi dài. Các ngài quan chức Việt Nam đến. Quảng trường Nhà hát trước khách sạn Continental đầy cảnh sát. Giao thông trên đường Catinat bị gián đoạn. Rồi vài chục người đi mô-tô, yếm che ngực, trang bị vũ khí, đến trước khách sạn. Khoảng một chục chiếc xe Mỹ rất đẹp, cờ hiệu Việt Nam tiếp đến. Từ xe bước xuống Thủ tướng Hữu to béo và Tâm gầy gò. Vừa vào đến phòng tiệc họ cảm thấy như về nhà. Tinh thần dân tộc của họ thể hiện trong đường lối chính trị, trong kinh tế ít hơn nhiều. Nhất là Hữu chủ yếu là tình bạn bè. Quan niệm của ông ta trước hết là tài chính - đúng ông được đào tạo bởi chính các nhà tài chính. Tâm có xu hướng tư bản ít hơn. Ông là sản phẩm của nền hành chính Pháp, gắn bó với nền hành chính này.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Chín, 2018, 04:25:37 PM

Mọi người phiền phức nhiều với Hữu. Ông thường cứng đầu với cao uỷ. Nhưng ông không bao giờ tăng thuế, cũng không nói về dân tộc hóa. Không gây phiền phức cho các công ty Pháp mà ngược lại. Vậy là hoàn toàn thân thiện, yên tâm vì lợi ích của người Pháp. Rõ ràng năm mươi "ông lớn" tập hợp dưới nụ cười của ông Franchini, điều khiển người Việt Nam nhân danh đồng bạc dễ hơn ông Pignon nhân danh nước Pháp nhiều.

Thực khách sốt ruột chờ một "bạn thân" khác, ngài Nguyễn Đệ, đổng lý Văn phòng nhà vua, mưu sĩ dưới bóng Bảo Đại. Ông này cũng am hiểu về tài chính, lúc trẻ ông là môi giới của Nhà băng Đông Dương. Bây giờ ở đỉnh cao vinh dự và quyền lực, ông điều hành những khoản tiền đồ sộ hơn trước kia, cho ông hoặc cho Hoàng đế. Thầy ông và ông, để mang lại đồng bạc và đặt đúng chỗ, cần những "ông lớn" Sài Gòn giúp kín đáo; đổi lại họ có thể dựa vào hai người ấy.

Người ta được tin ngài Nguyễn Đệ xin cáo lỗi, vì ông không tới được.

Ngoài các ngài của chế độ, có những ông Châu Á khác, nếu có thể càng dễ mến hơn: hai hoặc ba nhà môi giới lớn nhất của thành phố, những tỷ phú Trung Hoa. Trong số họ một người còn trẻ, phương Tây hóa, Huy Bon Hoa. Tổ tiên làm giàu bởi lòng sùng đạo và cho vay nặng lãi. Hậu duệ đông vô số, có giấy thông hành Pháp, những câu lạc bộ riêng, ô tô thể thao và những ổ con gái đẹp, nhất là họ thống trị việc buôn bán lúa gạo ở đồng bằng Nam Kỳ.

Đến tám giờ bữa tiệc kết thúc. Các ngài Việt Nam ra đi giữa tiếng đưa tiễn long trọng; các nhà môi giới biến mất trong những chiếc li-mu-din lớn nhất mua ở Hoa Kỳ. Những "ông lớn" bước thong thả, từng người một, rất hài lòng, vững tin vào tương lai của đồng bạc. Một số chậm lại để trao đổi về những bí mật tài chính không nói được giữa đám đông.

Như vậy là chủ nghĩa thực dân chết dần dần nhưng chủ nghĩa tư bản vững chắc hơn bao giờ hết ở Sài Gòn. Tuy thế trong số những nhân vật tư sản lớn ấy tôi không giữ lại kỷ niệm của một "khuôn mặt" nào. Chỉ là những kỹ thuật gia về tiền bạc, gần như thoát xác do sống trên đỉnh tài chính và thương mại. Họ đã đạt đến lĩnh vực lợi ích tính toán đơn thuần, tiền lãi chắc chắn. Nghề của họ là khai thác sự hợp pháp, vắt nó như một quả chanh, cả một khoa học có nhiều đức tính, tài năng.

Những "ông già" thuộc địa, những người đi chinh phục, đang trong quá trình bị loại bỏ, kể cả "bố Ganay", thực tế chỉ một mình ông trong hơn hai mươi năm ở Nhà băng Đông Dương, ở Sài Gòn. Một nhân vật đáng gờm! Người ta nói ông bắt đầu trong tối tăm, là thủ quỹ nhỏ ngồi sau cánh cửa - nhưng đã đánh bại tất cả. Chưa bao giờ có một người tàn tệ như vậy đối với mình và những người khác. Biết bao người phá sản, trong suy thoái những năm 1930 trong lúc ông vơ hầu hết của cải của Đông Dương vào nhà băng của ông! Ông nổi tiếng với cách cười gằn khi một con nợ đến đề nghị ông gia hạn: "Tay này chắc yêu mẹ lắm đây, xử anh ta đi thôi!"


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Chín, 2018, 04:26:27 PM

Ông Ganay bị đẩy đi ấy đã là một người "kiến lập" Đông Dương thuộc Pháp. Ông vốn chẳng yêu gì cả, và đã yêu Đông Dương: ông bao phủ xứ này bằng những đồn điền, hầm mỏ, đồng ruộng, cầu đường, thành phố như những vật trang sức. Và ông, một người bị căm ghét, vui thích làm đao phủ đôi khi hiếm hoi cũng biết gia ân. Thay vì đánh hạ con mồi theo như thói quen, đôi khi ông chiếu cố cho ông ta vì nhận thấy cũng say mê, khắt khe như ông.

Ganay không bao giờ lầm. Có những lúc ông tinh quái phê phán người ta cho vui. Ông biết rõ mọi "mánh khoé" của Viễn Đông, cả những "thủ đoạn" kỹ càng nhất của những người Trung Hoa cỡ lớn. Lục địa vàng của chủ nghĩa thực dân, lừa đảo, đầu cơ, của mọi thèm khát là thế giới của ông. Không một khả năng nào thoát khỏi ông. Ông mạo hiểm, chơi lớn và mỗi lần thắng, luôn thịnh vượng hơn giữa những nạn nhân của ông.

Nhưng rất lạ, giữa Đông Dương béo bở như thế với đồng bạc trị giá mười bảy phrăng, ông không hoàn toàn trong cuộc. Với kinh nghiệm, ông còn có ích trong việc điều phối - nhưng một yếu tố chủ yếu của tình hình tuột khỏi tay ông. Ông không hiểu chủ nghĩa cộng sản là như thế nào, ông không hiểu sự không vụ lợi cơ bản của Việt Minh là như thế nào.

Bây giờ ông Ganay này là ông già "khó chịu", nửa lẩm cẩm nửa huyền thoại, đơn độc, càng đơn độc hơn. Ông không có gia đình. Bây giờ ông chỉ bạn bè với những "bồi" của ông, những con mèo và những bộ sưu tập nghệ thuật Phương Đông rất đẹp. Mọi sự có mặt của phụ nữ làm ông ghê sợ. Ông ở trên cao tít ngôi nhà băng Đông Dương, một tủ két bằng cẩm thạch và đá, nặng nề đặt trên bờ sông Sài Gòn. Ngôi nhà chỉ là một biểu tượng. Đấy là hình ảnh tượng trưng của sự thống trị, của quyền lực giày xéo mà Ganay đã là người thợ xây dựng.

Vô cùng giàu, Ganay sống trên đó trong một căn hộ rất đẹp, khách quan, lạnh lùng. Mỗi buổi sáng ông chậm rãi bước xuống theo bậc thang đồ sộ, đầu thẳng, đôi chân run thô thiển lộ ra khỏi chiếc quần soóc. Người ta nghe tiếng ông lanh lảnh, cái cười bao giờ cũng làm mọi người sợ. Nhưng tính cách gàn dở của ông đầy sáng suốt đáng ngạc nhiên, đầy tinh quái diễu cợt. Không có gì làm ông phiền phức nữa. Trong nhiều tháng ông bí mật thương lượng với Việt Minh tìm lại những gì ông quí nhất: một đầu bếp thân tín và một tượng Thần Tài cũng thân tín, cả hai bị lấy mất.

Ông già quái gở vừa cảm động vừa ghê tởm. Tôi gần như thương hại khi lần cuối cùng thấy ông ở văn phòng nhà băng. Rất nhiệt tình ông dẫn tôi lại một tấm bản đồ Đông Dương trên tường, nói với tôi: "Thưa ông, xứ Đông Dương này là một tổng thể rất đẹp, xây dựng rất hài hòa. Một nền kinh tế hoàn chỉnh. Không nên tự chia cắt, sụp đổ, không nên..." Trong lúc ấy một chàng trai rất trẻ, tóc vàng, mắt xanh, tóc cắt kiểu bàn chải, vào nói: "Thưa ông Ganay, một trong những hòm vàng của chúng ta bị phá hỏng ở sân bay Tân Sơn Nhất!” Ganay run run với giọng nói của kẻ hà tiện: "Người ta có lấy cắp đi không? Tôi phải đến xem, tôi đi đây". Và ông nhảy đôi chân bé nhỏ ra phía cửa.

Ganay chết sau đó mấy năm. Một người cháu lạ mặt tới nhận thừa kế.

Thực ra từ năm 1950 Ganay đã là một người hết thời, một xác chết sống, đúng hơn là một người sống sót. Ngay trước khi ông chết, Đông Dương của ông - của lá cờ tam tài, của sự khai thác trực tiếp - đã chết rồi. Ở Paris, kíp mới của Nhà băng Đông Dương, mà nhiều người trẻ xuất sắc từ cơ quan Tài chính, mềm dẻo và thầm kín chuẩn bị "cải tổ" ngôi nhà có tiếng trước thời đại mới. Trước tất cả mọi người, giữa cuộc chiến tranh Đông Dương, trong lúc Trung Hoa đỏ đang là kẻ thù, tổng giám đốc bí mật đến chỗ Mao khai thác những khả năng hợp tác và sinh lợi với những chế độ cộng sản ở Viễn Đông. Những kết luận rất khôn ngoan. Không nên quá lao vào. Điều cần làm là "lợi dụng" tối đa nguồn béo bở trước mắt của chiến tranh, của đồng bạc. Và với tiền lãi, người ta đầu tư lớn ngoài xứ Đông Dương, ngoài Châu Á, đề phòng tương lai không vững chắc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Chín, 2018, 04:27:04 PM

Như vậy Nhà băng Đông Dương có một vụ kinh doanh rất lớn nhờ Đông Dương, sẽ chẳng là gì nữa vào thời kỳ chiến tranh kết thúc. Ngược lại nó sẽ có mặt ở hầu hết mọi nơi khác trên thế giới. Nhiều công ty theo gương nó với những kế hoạch khiêm tốn hơn. Nhà máy Bia và Nước đá ở Algéria, mua lại phần lớn những hoạt động của hãng Vichy. Tư bản Đông Dương nhờ những nguồn lợi của chiến tranh, sẽ rời Đông Dương để trở thành toàn thế giới. Ít nhất cũng là thử vận may vì cũng sẽ có nhiều thất bại.

Công thức mới là "những người suy nghĩ" ở Paris và những người thực hiện tốt ở Sài Gòn. Nhất định với "những người mới" tôi đã thấy trong bữa tiệc, lợi ích của nhà băng và thương mại được bảo vệ kỹ. Những ông ấy tỏ ra có đạo đức và yêu nước. Quá quan trọng, cũng quá thông minh để không được thế. Họ là một thế hệ mới đến với yêu cầu, hiện đại và kỹ thuật cầm quyền, thành công trong việc xây dựng vòng quay hoàn toàn hợp pháp của đồng bạc tự động.

Đấy là đồng bạc lương thiện, không để ai nói về mình, mang lại nhiều lãi nhất. Để có quyền lương thiện phải là một "khối" mạnh về vốn và bảo trợ.

Hệ thống dựa vào đầu óc con buôn: trong quá trình bình định, Đông Dương phải thịnh vượng, ngập tràn sản phẩm. Những nhà buôn lớn đảm nhận việc nhập khẩu cần thiết. Để làm phi vụ ấy họ đòi hỏi thường xuyên "luân chuyển" để việc "kinh doanh" tiến hành thuận lợi - không bao giờ bị từ chối nếu có danh tiếng. Vậy là các hãng chính được đặc ân chuyển đổi đồng bạc sang phrăng, mỗi đồng bạc mười bảy phrăng để mua hàng hóa ở Pháp cho xứ Đông Dương. Khi đã chuyển tới và bán đi, hàng hóa tất nhiên lại sản xuất ra đồng bạc, thế là những chuyển đổi mới, mua mới ở Pháp, bán mới ở Đông Dương. Vòng quay thường xuyên, không để ứ đọng vốn. Mỗi lần đi về dôi ra những đồng lợi nhuận không dùng vào việc mua hàng, cũng cần chuyển đổi, nhưng không trở lại. Công việc lớn là cho dầu vào bánh xe dựa vào pháp luật và vai trò ảnh hưởng. Đây là một cuộc chiến nhỏ, thường xuyên, vừa bảo vệ vừa tiến công mà các hãng luôn luôn có lãi.

Nhưng ngoài sự hợp pháp khôn khéo, có chăng nhiều sự bất hợp pháp được che đậy? Đường Catinat đầy tiếng đồn thổi bê bối về mỗi nhà băng, mỗi công ty thương mại. Người ta nói những thiệt hại vì chiến tranh (do quân đội Nhật, và những nhân vật chức quyền ở Đông Dương đã đòi bồi thường nhiều tỷ) chỉ được trả cho những hãng lớn vẫn không hạ được tham vọng và con số của họ. Không người nào khác được nhận. Những đồn điền cao su chỉ trừ ở Lộc Ninh, từ chối tổ chức tự bảo vệ. Họ buộc quân đội phải đảm bảo an ninh cho họ, làm cho Đội quân viễn chinh bị lệ thuộc rất nhiều. Một trong những chủ đồn điền nói với tôi: "Chúng tôi không muốn đánh nhau. Chúng tôi là thương gia, không phải là lính". Nhưng làm sao không nghĩ việc "trung lập" ấy làm mếch lòng Việt Minh có thể là những người chủ sau này? Người ta bảo tàu Hải quân thường phát hiện những xà lan buôn bán thả neo bí mật trong những khúc sông, lạch nguy hiểm nhiều Việt Minh, như để giao hàng lén lút. Một đại đội hàng không bị nghi ngờ thả dù cho người Việt. Những máy bay ấy mỗi lần bay trên vùng đỏ thường chậm mười lăm phút, nửa giờ so với lịch trình. Không ai bắt được tại chỗ. Nhưng nếu có thật thì những vụ buôn lậu, việc buôn bán với quân địch ấy được tổ chức rất tốt, do những hãng rất mạnh, không bị nghi ngờ gì nên khó có thể tố cáo và dẹp bỏ.

Người ta nói việc buôn bán đồng bạc ở Đông Dương thực sự nằm trong sổ sách vô bờ và hoàn hảo của các nhà băng và hãng buôn. Việc ấy không sờ tới được, che giấu dưới chữ viết, trong phức hợp hoạt động buôn bán, bởi tầm quan trọng của các nhân vật, trong kinh tế tư bản cũng như trong bí mật quốc gia. Ở một tầm mức nào đó, tất cả đều không ai biết được.

Ở Đông Dương không có gì làm mờ, làm bẩn đồng bạc của những người giàu. Vì đạo đức của họ là sức mạnh của họ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười, 2018, 09:52:26 PM

Đồng bạc của những người nghèo

Bên dưới chủ nghĩa tư bản ấy, trong bóng của nó, ít nhiều phụ thuộc vào nó, có một thế giới bực tức về đồng bạc. Ba mươi nghìn người Pháp hàng ngày đổ xô vào đồng bạc.

Thực tế, việc buôn lậu mà người ta cho là không xứng đáng ở Pháp, là việc "quen thuộc" - được làm do lớp vô sản da trắng, những lớp trung lưu, do "môi trường". Chắc chắn, trong dân chúng Sài Gòn, nhiều nghìn người lấy việc buôn lậu làm hoạt động chính nhưng nhiều nghìn người khác xem là nghề phụ, chỉ đồng loã. Nhìn chung đấy cũng là nghề thủ công. Nó không lớn, không đồ sộ, không quyết định đối với Đông Dương.

Người ta gọi là "đồng bạc của những người nghèo", đối chiếu với "đồng bạc của những người giàu", đồng bạc của nhà băng, xuất cảng, môi giới và Bảo Đại.

Cũng như của những người giàu, đồng bạc của những người nghèo có hệ thống cấp bậc của nó, thậm chí phức tạp hơn nhiều. Đấy là một túi du lịch có những băng nhóm, những ông gần như lương thiện, cả một môi trường trung gian hành nghề không đủ tư cách, một thế giới những người hưởng phần trăm, một lớp người điên, trộm cắp, phiêu lưu, thủ đoạn.

Mọi người Pháp ở Sài Gòn đều ít nhiều nhúng tay vào việc buôn lậu. Bao nhiêu người trong bọn họ khá đạo đức để không bị cám dỗ? Không nhiều. Trên cùng có đồng bạc của các băng nhóm; Đấy là những "tổ chức" được các cơ quan dành riêng, đúng như các nhà băng và hội thương nghiệp - nhưng bí mật. Người ta chỉ hơi biết nhưng không chiếm lĩnh được, thoát thai từ hai nhóm xã hội mạnh và có kỷ luật, từ lâu đã tạo ra những lãnh địa kín ở Đông Dương. Đó là "tổ chức" những người đảo Crose, những người chủ của thế giới cặn bã da trắng. Đó là "tổ chức" những kẻ đầu cơ Trung Hoa, vừa của việc đổi chác chợ đen. Cả hai là những nhóm đe dọa, tống tiền hoàn toàn sẵn sàng, không thương xót. Chính thức, các băng nhóm ấy bị tất cả chống lại. Chúng có thể có lúc bị "đánh mạnh" nhưng không bao giờ bị tiêu diệt thậm chí không thiệt hại nặng. Năm này qua năm khác chúng cứ tiếp tục khai thác, với những nguồn lãi 100%.

Sài Gòn của những người Corse đi từ ông Franchini lương thiện đến các chủ quán rượu, những thủy thủ đi qua và những tên ma cô đưa từ Marseille sang những gái điếm da trắng. Các cô dễ dàng kiếm một nghìn đồng bạc mỗi lần qua đêm với một người Trung Hoa, nhưng "quan hệ" gần như vụng trộm để không "giảm giá" người đàn bà; Trong thế giới khép kín này, hoàn toàn da trắng, thậm chí hoàn toàn người Corse - những người Pháp khác chỉ có thể là "khách hàng mà người ta buôn bán" một cách thô bạo, chuyên chở hàng hóa giấu diếm, lậu thuế, với mật hiệu, súng ngắn, luật lệ thanh toán.

Nhóm Trung Hoa còn bí mật hơn, cũng tế nhị hơn không dấu vết, qua việc bù đắp trên đường. Để thực hiện ở Đông Dương phần lớn đang là thuộc địa, cần phải có một số trợ giúp của người Âu, chọn lọc, phù hợp với phong tục phương Đông. Một trong những người này nói với tôi: "Người ta có thể làm tất cả với những “con trời". Họ hiểu hết ít nói. Việc giữ gìn lời nói là sự trung thực duy nhất trong sự không trung thực. Nhiều người Pháp nhẹ dạ, ngu ngốc bịp bợm họ, bị "cháy" ngay. Tôi gây cho họ lòng tin cậy, có một hay hai tỷ phú da vàng trong tay nên yên tâm làm giàu."


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười, 2018, 09:53:10 PM

Bên dưới các băng nhóm là đồng bạc của sự thêm bớt trộn lẫn, của những kẻ gian dối, nửa gian dối, một phần tư gian dối trong mua bán. Ở Sài Gòn các hiệp sĩ tài chính nở rộ khắp nơi. Phần lớn chuyên nghiệp một cách lạ kỳ, làm việc ở một mức độ xác định mưu mô và gian xảo. Có những người cho công việc đều đặn, công việc tế nhị, công việc đáng ngờ, công việc nguy hiểm, vả lại đấy cũng là sự phân phối công việc với các luật sư và thầy thuốc.

Như vậy là có một tầng lớp xã hội con buôn và nửa con buôn, được tôn kính, thường được khen thưởng, thu lãi chắc chắn. Những người này dễ dàng làm được nhiều triệu mỗi tháng. Những người đứng đắn nhất có bằng cấp, có thư ký, hồ sơ, phòng làm việc đàng hoàng. Thấp hơn thì ở cánh cửa có tấm biển một nhà xuất nhập khẩu giả, thường có tên họ người ấy. Dưới nữa chỉ có một gian phòng trần trụi, bẩn thỉu, với một máy điện thoại.

Vốn của các ông ấy là trí thông minh. Những người được vì nể nhất "phục vụ" các "ông lớn", nhà băng, nhà buôn và cả các băng nhóm. Trong thực tế ở Sài Gòn tất cả hơi lẫn lộn với nhau. Dù sao những "ông lớn" tư bản cũng như những tay "cứng cựa" của các băng nhóm, có những lúc như cần những người bù nhìn chắc chắn, không bao giờ lộ mình và biết rõ mọi người. Họ là những người đưa đề nghị đến những thư ký bất lương nhất của sở Hối đoái, đến những bà vợ hợp pháp và các bà vợ lẽ các bộ trưởng Việt Nam, những cảnh sát và nhân viên thuế quan dễ thông cảm nhất, thầy thuốc châm cứu và những người tình cuối cùng của hoàng đế Bảo Đại, Bảy Viễn và những sát thủ tin cậy của hắn, ông Franchini, toà Giám mục, những "người dễ thương" của giáo chủ Cao Đài, những tỷ phú Trung Hoa chỉ mười lăm ngày người ta mới thấy mặt, những ông ăn mặc đứng đắn đại diện Việt Nam, và bao nhiêu nhân vật có tiếng, bao nhiêu nhân vật đáng ngờ khác. Và hầu như luôn luôn họ hoàn thành nhiệm vụ giao phó.

Bên dưới cùng của thế giới hỗn tạp là những người khổ sở, bèo bọt, lê dép vô vọng bám vào những vụ điều phối kỳ lạ. Thường họ sống vì những "lâu đài xây trên cát", ốm đau, điên dại, ám ảnh, được một cô gái bảo trợ cho đến lúc chỉ ăn phở và mọi cái đổ sụp. Những người cùng khổ về đồng bạc ấy bê tha vất vưởng, thỉnh thoảng biến mất trong bệnh viện hoặc nhà tù vì đối với họ chỉ ăn cắp vặt cũng bị đưa vào trại giam.

Cũng có đồng bạc của hối lộ. Một sự tha hóa lì lợm gán cho viên chức nhỏ, nhân viên thuế quan, đội trưởng cảnh sát, thư ký bàn giấy. Đồng lương có hạn, được kích thích về quyền lực, họ không cưỡng lại những người Pháp, Việt Nam đến với họ với một tập giấy bạc để làm họ nguôi giận và gia ân. Lớp viên chức trung bình và cao cấp thường tỏ ra liêm khiết, thường nói về việc đút lót và cho mình là thánh.

Nhưng ngay trong nhân viên cao cấp của chính quyền, có một số ngoại lệ và một số trường hợp không xác định được. Thật dễ dàng trở thành kẻ nhận hối lộ ngoài ý muốn, không biết đến! Những người Trung Hoa biết đứa viên chức xuống dốc nguy hiểm. Từ những món quà nhỏ không từ chối được vì lịch sự việc biếu xén quan trọng dần và đến một lúc nào đó, nếu không biết nói "không" thì đã mắc vào khớp bánh xe, buộc phải hạ bút ký theo yêu cầu của họ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười, 2018, 09:54:26 PM

Đồng bạc được "tạo ra" thường thường ở ngay Sài Gòn, không nguy hiểm. Ở Đông Dương cũng có đồng bạc anh hùng, người ta đặt mạng sống của mình vào đó. Đấy là đồng bạc của những phi công, lái xe. Phần lớn là những người của Đội quân viễn chinh giải ngũ. Họ tập hợp nhau ở những quán bar nhỏ, tìm cách làm tiền. Với một chiếc GMC cũ, họ đi chuyên chở trên đường rừng, qua hàng trăm, hàng nghìn cây số, đến tận Lào, qua những vùng người Việt.

Cả một bản anh hùng ca! Vì tất cả là kẻ địch - người, thiên nhiên, sự vắng lặng, nóng bức, bệnh tật, sự đơn điệu. Họ chạy xe trên đường, đơn độc, qua những toán Việt Minh, những cuộc phục kích và mìn. Phải vượt những chiếc cầu hỏng, sông suối, đầm lầy, đồi núi. Họ luôn ở trong rừng không dứt, thường trên những đường đi đã bỏ phế, sụt lở. Có nhiều ngày không thấy một người nào. Máy xe hỏng họ sửa chữa lấy; người mệt mỏi, họ ngồi lại ở tay lái.

Những "người chuyên chở" ấy ra đi khoác đầy vũ khí. Ở những chỗ nguy hiểm đôi khi họ bắn trước vào những người qua lại, vì cả những công nhân sửa đường đang quét dọn cũng có thể là Việt Minh. Dừng lại giữa rừng, ngủ một chốc lác cũng có nguy cơ bị "thủ tiêu". Nhất là việc chạy đua trong buôn bán, "bạn thân" là kình địch. Sau khi mua "hàng", từ Sài Gòn ra đi là phải đến trước một thị trấn vắng, cắt đứt với tất cả, để bán "loại hàng hóa xấu" giá như vàng. Những kẻ đến chậm thì chẳng béo bở gì nữa.

Dần dần việc buôn đường dài ấy được tổ chức hẳn hoi. Ở những trị trấn buồn tẻ Hạ Lào đã có những người gom hàng, chỉ điểm, có cả những quán rượu, khách sạn! Trên cao nguyên Boloven, người chủ trì là một giáo trưởng râu bạc, đông con. Ông nói với con chiên: "Hãy uỷ thác tiền bạc, trang sức, những gì quý giá của các con cho cha. Nhờ Chúa, cha sẽ giữ chúng trong kho đồ thánh, bảo vệ chúng cho các con”. Tiền của thu thập lại, ông đưa sang Lào, mang theo cả chiếc chuông bạc của nhà thờ. Từ đó ông sống những ngày sung sướng, với các bà vợ và đàn con.

Cách đấy không xa, "bà chủ" một khách sạn luống tuổi, đẫy đà và gan dạ, một người đẹp xưa của Thượng Hải, những ngày nóng nực, đưa cho những người đi đường ở trần, lăn lóc vì bia rượu, xem những di tích thời huy hoàng: hai chiếc áo khoác cổ lông, bà nói là lông chồn.

Than ôi, thời kỳ những "người chuyên chở" lạ lùng ấy kết thúc vào năm 1950. Khi an ninh được phục hồi một ít, họ không còn những chiếc "xe ca Trung Hoa" lan tràn trên đường như nước thủy triều vừa lợi dụng những đoàn xe quân sự Pháp vừa sử dụng giấy thông hành Việt.

Những anh hùng vận chuyển khốn khổ! Họ có nhiều đồng bạc, hàng trăm nghìn, hàng triệu nhưng không biết tổ chức đưa nó vào trong vòng quay của việc kiếm lãi đều đặn. Tiền tiêu hết, họ trở thành suy sụp, sống lang thang nghèo khổ, dự vào mưu mô và tòa án. Trong xứ Đông Dương đầy giết người và khốc liệt này không có chỗ cho những người nghèo.

Trong những anh hùng của đồng bạc cũng còn có những đầy tớ tối tăm của chủ nghĩa tư bản, những kẻ vì đạo không được trả công đúng mức - các trợ lý đồn điền. Họ chết vì một khoản lương ít ỏi với mười hai giờ làm việc mỗi ngày, cuộc sống hết sức đơn điệu. Trên nhiều nghìn hec-ta cao su là mệnh lệnh tuyệt đối về vật dụng cũng như công việc của con người. Ngày nào giờ giấc, động tác cũng lặp đi lặp lại. Buổi sáng lúc bốn giờ, mỗi người Âu đến khu vực được phân công cùng toán cu-li của mình. Ở đây anh ta theo dõi việc chăm sóc cây, cạo mủ, thu gom nhựa. Không có gì nhạt nhẽo bằng, không gì nguy hiểm hơn. Vì trật tự trong đồn điền thật sinh tử - người trợ lý không được bảo vệ, người ta ám sát anh ta giữa những cây cao su, trong xe jeep hoặc nhà ở, bất cứ đâu khi Việt Minh muốn giết. Cu-li cũng là Việt Minh, chỉ cần một cán bộ chính trị ra lệnh là xong. Xung quanh cũng có quân chính quy đỏ. Tiểu liên, súng ngắn mang theo người và không bao giờ rời ra cũng chẳng được việc gì nhiều. Vì mỗi lần như thế là sự bất ngờ, loạt đạn từ một bụi cây tới hoặc bóp cổ trong đêm.

Và sau mỗi vụ giết người, những người Âu sống sót sáng sáng lúc bốn giờ lại ra đi với cây cối, cu li của mình. Vì đã có nhiều tỷ đầu tư - không gì ngăn cản được đồn điền sản xuất, bán cao su để các cổ đông chia tiền lãi. Nhất là trợ lý không được phàn nàn, cấp trên nhận xét; anh lệ thuộc vào trật tự tinh thần của đồng bạc. Và như thế với mấy nghìn đồng bạc mỗi tháng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười, 2018, 09:55:07 PM

Nhưng quyết liệt "lao vào đồng bạc" dù do băng nhóm bất lương, do thêm bớt trộn lẫn, hối lộ hoặc anh hùng - bị một quyết liệt khác vượt rất xa: việc chuyển đổi. Đấy là từ chủ của Đông Dương, có khắp nơi, trong tất cả những con tim, những ý nghĩ, những cuộc trò chuyện. Đấy là ý tưởng cố định. Người ta vừa chào nhau vừa hỏi: "Có chuyển đổi được không?" Mọi trí thông minh cùng theo một hướng duy nhất ấy. Kết quả là một sự méo mó kỳ cục, một tư duy như của tên lừa đảo căng thẳng do thành công của vụ lừa đảo mình đang làm. Người Sài Gòn căng thẳng, hướng về kết quả của việc chuyển đổi. Mỗi người đang có một vụ. Điều ấy là của mọi người, một căn bệnh tập thể.

Cái xấu của sự chuyển đổi là tuỳ tiện võ đoán. Về nguyên tắc đấy là một việc làm được hoan nghênh, nhằm thưởng công cho những hoạt động hợp pháp. Nói một cách khác, chỉ đồng bạc "yêu nước" có thể chuyển đổi. Đồng bạc ám muội của đầu cơ và hủy hoại thanh danh bị loại trừ. Nhưng trong mỗi trường hợp, chính quyền là người quyết định thế nào là đồng bạc tốt, xấu. Chính quyền không làm được. Chính do sự bất lực ấy mà người ta phát triển đồng bạc - vượt xa nền công nghiệp loại nhất của Sài Gòn.

Về việc này tất cả đều bất thường. Không chỉ lừa bịp chính quyền để có đồng bạc. Người ta cũng dùng đồng bạc tốt, mua chuộc để chuyển đổi đồng bạc đã bị từ chối theo tỷ lệ phần trăm. Nghĩa là người ta mua sự trung thực. Như vậy, thực tế ở Sài Gòn chẳng còn người nào trong sáng.

Kỹ thuật là dùng những người trung thực hoặc cho là trung thực có quyền chuyển đổi. Có những nhân vật không bị nghi ngờ, những quân nhân, viên chức. Có những người "kinh tế lớn", những người ít nhất cũng chứng minh được thu nhập, đều đặn và hợp pháp, như những thương gia có lãi nhiều, những chủ quán rượu, chủ khách sạn, những nhân viên và giám đốc các hãng có tiếng.

Những người đạo đức nhất cũng chấp nhận. Tôi đã thấy một nhân viên cao cấp vô cùng liêm khiết, hãnh diện về bàn tay và lương tâm trong sạch, không bao giờ nhận một đồng bạc hối lộ hoặc gia ân, cuối cùng đã làm việc đó. Ông không có tiền tiết kiệm và có một cô con gái sắp cưới. Và rồi ở Đông Dương, cả những người không bị tha hóa cũng thấy không có gì xấu khi sử dụng sự trung thực của mình để nhận hoa hồng cho việc đổi tiền ở sở Hối đoái. Kỹ thuật gian lận, sự dễ dàng, thông thường, cuối cùng tạo cho họ một tính cách vô tội.

Như vậy là có những ông "tốt" có quyền chuyển đổi nhưng không có tiền để chuyển đổi. Có những người "không tốt" có tiền để chuyền đổi nhưng không có quyền chuyển đổi. Rút cuộc đều thu xếp được.

Tuy vậy những mánh khóe, những biến đổi, công việc tài chính làm cho những đồng bạc không có giá trị lớn thành những đồng phrăng và những vật dụng quý hơn nữa phải qua hai cơ quan, hai bộ máy bổ sung cho nhau, sở giao dịch bí mật ở đường Lefèvre và sở Hối đoái.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2018, 08:56:32 AM

Những cỗ máy của đồng bạc

Kỹ nghệ đồng bạc khoanh giới hạn không đầy một cây số vuông. Tất cả đều đổ vào đó, những đồng bạc của người giàu cũng như những đồng bạc của người nghèo, tiền lương thiện cũng như tiền bất lương, những vòng quay hợp pháp và không hợp pháp. Ở đây tất cả nhào trộn trong hai xưởng máy chính, bề ngoài nhìn tiều tụy, nhưng trị giá mỗi chỗ nhiều tỷ, nhiều trăm tỷ. Đấy là Sở Hối đoái trên đường Guynemer, cơ sở chủ, cỗ máy cho phép với vòng tròn nhà băng bao quanh. Cách không đầy một trăm mét, trên đường Lefèvre, sở giao dịch không chính thức, giữa trời, của mọi phi vụ. Như phần bổ sung, ở góc đường Guynemer và đường Lefèvre có văn phòng Cảnh sát Tư pháp hỗn hợp nhằm trấn áp những gian lận kinh tế. Tất cả tiến hành trước đồn cảnh sát hình như không ai sợ ấy.

Đường Lefèvre như một con đường nhỏ, nghèo ở Phương Đông, không có cao ốc, biển quảng cáo, đèn ống. Buổi chiều và tối lang thang ở đấy những người bán cháo, hành khất và gái điếm. Xung quanh là những tiệm hút nhỏ và rác rưởi. Một góc buồn phía sau cảng. Nhưng mỗi sáng trừ những ngày lễ và chủ nhật, bộ mặt đường phố thay đổi hoàn toàn. Mặt đường đầy xe con sang trọng nhất Sài Gòn. Hè phố lúc nhúc các ông Trung Hoa; nhưng cũng có những người Pháp, Việt Nam, Hindou, được gọi thô thiển là "Malabars". Đám đông ấy tập hợp thành nhóm thì thầm nhưng thong thả, không bị phiền phức gì. Họ bàn về tất cả, những vụ việc lương thiện và bất lương hàng tỷ đồng. Không bao giờ có gì viết ra giấy, có chữ ký. Thế nhưng lớp người thì thầm trên đường Lefèvre buôn bán mọi loại giấy bạc, mọi hàng hóa, ở mọi chỗ trên thế giới.

Tất cả đều trao đổi bằng miệng, không một dấu vết vật chất, trừ những mảnh giấy bướm nhỏ có ý nghĩa đã được chấp nhận. Mỗi mảnh giấy đại diện cho số tiền bao nhiêu, ngoại tệ gì lấy ở chỗ nào. Đỉnh cao của sự vô danh hẳn là một quán bẩn trên đường Lefèvre, không biển hiệu, một loại quán lều. Thế nhưng đấy là chi nhánh một nhà băng Trung Hoa mạnh gần như Nhà băng Đông Dương, khối nhà ở ngay sau lưng nhà băng này. Bí mật trong quán nhà băng ấy đi xa đến nỗi không có tài vụ - hai hoặc ba người Trung Hoa ngơ ngác, mặc áo may ô vừa dùng ngón tay gẩy bàn tính vừa ngáp.

Trên đường Lefèvre tiến hành tất cả những điều phối - xung quanh một vụ chuyển đổi, kéo theo việc buôn lậu vàng và đô-la, sợi dây "bù đắp" vô tận, những hoạt động lạ lùng nhất về chính trị và thương mại. Nhưng trước hết cần có một chuyển đổi. Không thể có việc buôn bán béo bở nếu không rút được ở Paris nhiều phrăng do các đồng bạc có ở Sài Gòn. Việc chuyển đổi - chìa khóa của cuộc chiến tranh Đông Dương, của cuộc sống thương mại, kinh tế và chính trị của các quốc gia liên hiệp (Việt Nam - Cam-bôt - Lào) - là điểm xuất phát của các vòng quay lớn. Vì vậy đường Lefèvre còn hơn các chỗ khác của Sài Gòn, bị ám ảnh bởi sở Hối đoái gần ngay đấy - Đây là khu chợ đen của đồng bạc gắn chặt với sở Hối đoái.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2018, 08:57:18 AM

Ở đường Guynemer, người ta bước lên một cầu thang cũ kỹ. Một cánh cửa tầng hai mở vào các văn phòng: sở Hối đoái. Tất cả bẩn thỉu không tưởng tượng được. Một đám đông ken chặt trước cửa song sắt, trên mấy mét vuông lát gạch. Những tầng lớp người lẫn lộn còn khác thường hơn ở đường Lefèvre. Những giám đốc lớn của sở thuế quan, mặt lạnh như tiền, vò khăn tay, ngồi trên những chiếc ghế gỗ tồi bên cạnh anh ma-cô người đảo Corse, ông luật sư hành nghề không đủ tư cách, cô gái điếm người Pháp và đủ loại người Việt Nam và Trung Hoa. Đây là nơi hành tội. Trong lúc chờ đợi kéo dài, tất cả những người bị dồn nén ấy tỏ ra đúng mực khác thường, không dám phàn nàn, chống đối. Một số đang lẩm nhẩm những lập luận, để chốc nữa trình bày. Cả một lớp người đóng băng trước đồng bạc.

Ngồi chờ đồng bạc thật lâu. Mỗi người khi đến, điền vào một mảnh giấy màu vàng do người tùy phái Annam đưa cho rồi chỉ còn kiên nhẫn. Thỉnh thoảng có tiếng gọi tên họ. Và một ông biến vào bên kia rào ngăn. Những người được chọn luôn là những nhân vật quan trọng. Mọi người khác, từ anh người đảo Corse đến người Trung Hoa, tiếp tục chờ với một sự khôn ngoan mẫu mực.

Bên kia song sắt là một dồn nén khác. Trong gian phòng, khoảng mười lăm người Pháp và bốn mươi Việt Nam ngồi giữ những núi hồ sơ, máy chữ, các loại, lọ mực, bàn thấm, con dấu. Không có gì còn mới. Bàn ghế, tài liệu có vẻ như từ cổ xưa. Nơi này, chỗ quyền hành cai quản của cải hiện đại nhưng nghèo nàn thảm hại.

Viên chức cũng chẳng sáng sủa hơn. Người Việt Nam, những thư ký bình thường, ẩn mình trong sự nhẫn nhục khó chịu. Những người Pháp mỗi người có một chiếc bàn gỗ trắng. Hai hay ba người, trưởng hoặc phó phòng có bàn giấy, thu xếp giấy tờ trước khi lắng nghe khách trình bày. Tất cả đều trẻ, mắt sắc cạnh, vẻ cao đạo bề trên, vô sỉ, kín đáo. Họ ăn mặc theo lối nhà thông bái vô tâm, để ria mép, quần soóc. Cũng có một số phụ nữ trẻ.

Đấy chỉ là những "nhân viên hợp đồng", những chàng trai đến Đông Dương không rõ bằng cách nào, phần lớn bị các nhà buôn đuổi việc vì bất lực hoặc làm tùy hứng. Nhiều người không quá trình độ tú tài, không thông thạo về tài chính, quan tâm nhiều hơn đến thơ ca hoặc ô tô. Họ được tuyển chọn tình cờ - gặp ai nhận người ấy. Vì những viên chức thực sự trốn khỏi sở Hối đoái này vì ở đây chỉ tạm thời và đầy nguy hiểm! Những viên chức nhỏ này là những tiểu vương ở Đông Dương. Vì họ có "chữ ký" trong những vụ chuyển đổi ít và trung bình cũng đã là rất lớn. Mỗi người trong bọn họ quyết định chấp nhận hoặc từ chối chuyển đổi. Ý thích của họ là luật vì thậm chí không có quy tắc cụ thể, không có tiêu chuẩn có giá trị để nói "được" hoặc "không". Thế là những người không ra gì ấy ngây ngất giữa những phỉnh nịnh và cám dỗ. Một số sống cuộc đời vua chúa, mua những biệt thự ở Bờ biển Xanh. Người Trung Hoa đưa họ vào sự tha hóa hoàn toàn, mời mọc, tiệc tùng, quà cáp và rồi phong bì giấy bạc. Vũ nữ có hạng ngã vào cánh tay họ quá dễ dàng. Dần dần thành thói quen. Người ta biết một vụ chuyển đổi với viên chức nào đó là bao nhiêu. Một trong số họ có cả một hệ thống dồn con mồi. Một người khác, xấu trai, đòi hỏi khách hàng phụ nữ.

Một tấm ngăn cửa kính phân cách gian phòng chung với góc ngồi của giám đốc. Đấy là viên chức chính công duy nhất, trong hệ thống Bộ Tài chính, cấp bậc rất thấp. Vì không một viên chức nào muốn tan sự nghiệp ở sở Hối đoái này. Giám đốc là một người cạo giấy bình thường chấp nhận phiêu lưu. Ông tự coi mình như một anh hùng vì phải bơi trong vô số những tỷ bạc, những bí mật quốc gia, chỉ thị của cao uỷ và thậm chí của thủ tướng ở Paris, những sổ đen, ý kiến của Phòng Nhì, những luồn lọt của các liên hiệp xí nghiệp, mệnh lệnh và chiếu cố của đường lối chính trị. Ông này bao giờ cũng chỉ một ý nghĩ - tự bảo vệ mình. Vậy là ông giữ gìn mọi văn bản giấy má, tuy thường cũng thay đổi như một cọng rơm giữa những lợi ích hoặc quyền lực ghê gớm. Dù làm thế nào vị trí của ông cũng khó khăn. Nếu tỏ ra quá dễ dãi ông có thể dính vào một vụ bê bối; nếu hơi cứng nhắc cấp trên cho là ông bất lực, kém thông minh, không hiểu lợi ích của nước Pháp.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2018, 08:57:58 AM

Sở Hối đoái hàng năm vẫn nổ ra những vụ bê bối tuy không lớn. Mỗi lần như vậy trước hết là những tiếng đồn ghê gớm ở Sài Gòn. Ở đường phố Catinat người ta thì thầm tên nhiều người, những nhân viên thiếu tế nhị, nhất là của những hãng tha hóa. Điều đó không bao giờ kéo dài. Vài nhân viên sở Hối đoái bị đuổi việc, những người khác cũng giống hệt họ, được nhận vào thay chỗ. Thảng hoặc giám đốc điều hành bị thay thế. Và tất cả lại tiếp tục như trước đó.

Có nghĩa con buôn lừa bịp đủ mọi cách với sự đồng loã hay không của nội bộ sở Hối đoái để chuyển đổi tiền. Kỹ thuật thường dùng nhất là "tạo ra" một thương vụ giả định.

Dù sao thì những đồng bạc cũng được đưa sang Pháp nhưng hàng hóa không bao giờ về Đông Dương, hoặc giá trị rất ít.

Có biết bao nhiêu kịch bản kỳ cục! Đủ loại người lập ra những cơ sở. Nhưng những hãng mới ấy bí mật bốc hơi sau một đêm, khi đã đổi được tiền!

Một lần đội tuần tra phát hiện một chiếc tàu nhỏ bị bỏ lại trên bờ sông Sài Gòn. Quân đội huy động rầm rộ, nghĩ là của Việt Minh và bố phòng chống một vụ tập kích của địch vào ngoại ô Sài Gòn. Sau đó người ta nhận ra chỉ là một vỏ tàu hỏng. Cuộc điều tra cho thấy chủ nhân là một ông người Pháp quan trọng, vừa đổi một số tiền lớn để mua một chiếc tàu lớn ở Pháp. Ông ta nói muốn lập một công ty chuyên chở và kéo tàu trên sông Mékong. Chiếc tàu cũ nát ấy là "chiếc tàu lớn". Tiền đổi được đưa về Pháp, nếu không cũng trở lại Đông Dương dưới dạng đô-la hoặc vàng để mua bán ngoại tệ.

Những câu chuyện như vậy ở Đông Dương có hàng trăm hàng nghìn. Điều lạ là sở Hối đoái không phát hiện ra kẻ nhập khẩu mà không nhập gì, kẻ xuất khẩu cứ giữ lấy ngoại tệ hoặc người Pháp về nước hẳn tới lần thứ mười (người về hẳn được chuyển đổi vốn). Cũng thật khó hiểu.

Tất cả đều rối loạn, do đồng bạc Đông Dương được định giá mười bảy phrăng Pháp, ít nhất cũng ở một nhà băng nào đó ở Paris. Điều này do một cố vấn tài chính quyết định năm 1945, không có lý do gì lớn. Người này hơn ai hết, hơn điều gì hết, đã kéo dài cuộc chiến tranh Đông Dương, tha hóa nó. Vì nó đưa lại cho Đông Dương nguồn lợi cụ thể trong việc chuyển đổi.

Toàn bộ "thể chế" không lành mạnh, nhưng người ta giữ nó vì lý do quốc gia. Tầm quan trọng của sở Hối đoái không về kinh tế mà về chính trị. Đấy là một công cụ của chính quyền. Trong những văn phòng tiều tụy ở đường Guynemer đổ vào mọi bí mật lớn của Đông Dương thời chiến, của Đông Dương các lâu đài và các ban tham mưu.

Cũng phải xây dựng những quỹ đen, dân sự và quân sự. Thuốc phiện dùng làm việc đó nhưng một số hoạt động tài chính phải qua sở Hối đoái.

Nhưng không chỉ "hoạt động tích cực" ở Đông Dương. Ở Paris phải hoạt động vì cuộc chiến tranh Đông Dương, theo cách dẫn dắt cuộc chiến. Đây là một lý do khác của quốc gia. Các đảng phái chính trị hầu hết đã lợi dụng việc chuyển đổi. Họ được tài trợ nhờ vào đồng bạc, các đảng tán thành có sự đồng tình thậm chí giúp đỡ của chính quyền Sài Gòn, các đảng đối lập tự xoay xở theo cách của họ. Tiếng đồn rất phổ biến nhưng không có chứng cứ; tất cả vẫn bí mật với một mức độ nào đó. Điều gần như chắc chắn là, sở Hối đoái đôi khi nhận được chỉ thị chấp nhận một vụ chuyển đổi không điều tra kiểm chứng gì mà người yêu cầu không biết là ai, một ông sử dụng tên giả, hồ sơ giả tạo từ đầu đến cuối.

Trong những điều kiện ấy, sở Hối đoái khó trong sạch, khó tỏ ra nghiêm khắc, xiết chặt được. Dù thế nào cuối cùng cũng có được một "sổ đen" những con buôn "bị cháy", ngày càng có nhiều đợt từ chối. Sự không nhượng bộ ấy - nếu có thể nói thế - chỉ đưa lại một hậu quả: phát triển việc đổi tiền qua chợ đen, một thể chế cần thiết nữa của cuộc chiến tranh Đông Dương.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2018, 09:37:31 AM

Người Corse quốc tế của đồng bạc

Năm 1950 "trung tâm" người Corse ở Sài Gòn rất thịnh vượng. Những người "cũ" năng nổ "làm việc lặt vặt" thời kỳ thực dân, đưa những người trẻ sang để làm những công việc nghiêm chỉnh. Họ đưa hy vọng tới cho những tầng lớp thấp trong xã hội Paris và nhất là Marseille. Những khuôn mặt của họ không dễ mến lắm.

Có chỉ một băng nhóm hay nhiều? Người ta không biết rõ lắm. Dù sao không chắc Franchini là lãnh tụ, dù là bí mật, của trung tâm Cosre; có thể là Andréani.

Andréani này là chủ nhân của Croix du Sud - một quán cà phê lớn có đèn ống, đồ kền, đồ giả da trên đường Catinat gần bến cảng. Buổi tối, dưới ánh điện thảm hại, những khuôn mặt trông tang thương. Lớp khách hàng rời rạc, chủ yếu là các hạ sĩ quan và nhân viên ngồi đầy phòng. Họ giết thì giờ bằng buồn bã nhìn khoảng một tá phụ nữ áo quần có hình trang trí và mũ có chòm lông của một ban nhạc nữ. Cách một khoảng, gần quầy hàng có những bình lọc cà phê và sổ két, Andréani đứng với các bà trong gia đình, anh em họ và bạn bè.

Đường bệ và nặng nề giữa đám người theo rõi ấy, Andréani đầy tư cách đạo đức giả. Ông đã gần năm mươi, người lực lưỡng, ăn mặc sang, vững vàng, một vòng tóc quanh trán và thái độ nghiêm trọng. Các bà của Andréani làm việc không ngừng cộng sổ và thu tiền; những phụ nữ mạnh khỏe son phấn, có nụ cười xã giao và độc đoán. Những người bạn, đứng xung quanh Andréani là những thanh niên đảo Corse, mắt sáng, lông đen, hống hách.

Quán Croix du Sud không phải một "chỗ xấu". Không ma túy, gái điếm, kỷ luật chặt chẽ. Người ta chỉ có quyền uống và từ xa nhìn những đôi chân của các cô gái. Những cuộc gây gổ được dẹp ngay. Tuy thế nơi đoan trang này có một không khí nặng nề. Thậm chí đây là dấu vết "trung tâm" của tất cả những người Corse ở quầy hàng giả bộ vô tư. Người ta cảm thấy họ đầy vụ việc và bí mật.

Đôi lúc Andréani biến mất. Ông ta vào trong văn phòng, một gian phía sau hoàn toàn kín đáo, trao đổi về những vụ việc "thực sự". Chính ở đây, trong an toàn và tĩnh lặng, ông chủ trì hội đồng quản trị của băng nhóm ông. Cảnh sát khẳng định những ông của hội đồng nhỏ ấy là những người chủ thực sự của vòng quay chính về đồng bạc; họ quản lý một cách uy quyền việc buôn lậu.

Andréani rất được vì nể ở Sài Gòn. Đây là một người "tư cách" của địa phương. Người ta thấy ông có nhiều mặt đáng khen, biết ông tự xây dựng cho mình nhờ làm việc nhiều và thông minh. Thế mà ông bắt đầu cuộc đời là một kẻ chăn gia súc không biết chữ, thủy thủ, ma cô. Xuống tàu ở Sài Gòn trước chiến tranh rất lâu, với tiền tiết kiệm ban đầu, ông mua "ngôi nhà lớn" thời ấy, nhà chứa có tiếng và phù hợp với những cô gái da trắng. Với tuổi tác càng có những vụ việc lớn - đều đặn hoặc bất thường. Một việc gì đó, vì lương thiện, không làm ông phiền phức. Nếu không lương thiện cũng không phiền phức gì.

Quán Croix du Sud, thực tế là trung tâm chỉ huy của ông. Ở đây ông điều khiển một loại đầu não tin cậy người Corse. Đủ loại người đến đề nghị, nêu ý tưởng. Người ta nghiên cứu cẩn thận lợi ích. Câu trả lời chỉ là "đồng ý" hoặc "không". Cả Sài Gòn tin rằng "việc buôn bán" chủ yếu của Andréani là đồng bạc. Rất có thể là thế nhưng ông ta còn những hoạt động khác nữa. Dù sao toàn bộ được tổ chức theo hệ thống băng nhóm, không thương xót, với những "luật rừng". Với Andréani, băng nhóm hoạt động như một công nghệ, không lãng mạn, có hiệu quả.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2018, 09:41:34 AM

Andréani không chỉ là một kẻ vô lại. Ông ta cũng là một nhà tư bản, một người Corse chính cống, một người bố tốt của gia đình. Ông có tài sản minh bạch, là một người có quyền bầu cử trên đảo quê hương, bạn thân của tất cả các bộ trưởng Corse. Toàn bộ tiền "không sạch" kiếm được trong việc chứa gái điếm hoặc buôn lậu, ông cố đưa hết vào những vụ buôn bán đáng kính. Ngay từ buổi đầu, là một chủ quán bình thường ông đã mua một đồn điền cao su. Từ đó ông đã là một chủ sở hữu, ở Pháp cũng như ở Đông Dương. Một trong những cửa hàng tạp phẩm đẹp ở Nice là của ông, giao cho bà em dâu quản lý. Ông có những biệt thự, quán bar, những ngôi nhà các loại. Tài sản của ông không kể xiết. Và ở đâu ông cũng giao cho bà con.

Andréani không rời bỏ "trung tâm". Nhưng ông là chủ một "trung tâm" nghiêm chỉnh, hoạt động giống như hoạt động thương mại. Vì thế ông luôn mở rộng quan hệ với các tỷ phú Trung Hoa, các bộ trưởng Việt Nam và một số quan chức quan trọng. Người ta thấy một nhà cai trị chóp bu và bà vợ công khai tham dự, như khách mời vinh dự ở bữa tiệc lớn ông chiêu đãi các bạn bè trong thế giới thượng lưu.

Những nhân vật Corse khác, có lẽ ít quan trọng hơn nhưng ghê gớm, đáng sợ hơn. Như S... và N... một đôi không xa rời nhau.

Nỗi sợ hãi N... gieo rắc, tình cờ tôi bắt gặp trong mấy giây. Người quản lý một nhà hàng nhỏ trên đường Catinat đang nói chuyện với tôi. Bỗng ông xanh mặt, run lên, chạy đến cúi sát đất chào một ông. Ông này rõ ràng là một chủ nhà thổ trẻ nhưng thành đạt, dữ tợn. Không gì thiếu ở ông ta, con mắt độc ác, cử chỉ hung bạo, giọng nói giận dữ. Ông nắm lấy áo người quản lý, lôi kéo mắng mỏ một lúc rồi ra đi. Như một ông vua. Người quản lý suy sụp hẳn. Khi tôi hỏi người ấy là ai, ông hoảng hốt trả lời: "Thế nào, ông không biết sao? Đấy là ông N...."

Giờ giấc của N... cũng cổ điển như phong cách của ông ta. Ban ngày ông ngủ trong một tụ điểm người Corse trước mặt khách sạn Continental của Franchini. Buổi chiều, tắm rửa rồi đến ngó qua nhà số 90 đường Pellerin, các cô gái Pháp làm việc cho ông ở đấy. Đến đêm ông đến Đại thế giới, đặt những số bạc lớn từ những bàn tay đầy nhẫn để nhân số vốn của mình. Chơi lối chúa tể khinh thường có đêm ông mất ba trăm đến sáu trăm nghìn đồng bạc nghĩa là năm đến mười triệu phrăng.

Ghép cặp đối với "nỗi khủng khiếp" ấy là một ông khoảng năm mươi tuổi, tóc hoa râm, to bè bè, mánh khoé và sung túc tên là S... Một ông "tư thế", cuộc sống tạm vững chắc ở Marseille, ở đó ông có một quán bar choáng lộn. S... cư xử theo lối hào hoa. Ở Sài Gòn, ông vào khách sạn Continental của Franchini, không mặn mà lắm với ông này. Ông không làm hại thanh danh mình, không có đàn bà trong công việc. Về buôn bán ngoại tệ, ông còn "không bị nghi ngờ" hơn những người Corse khác. Đối với N... ông đối xử như người bố, đi kèm ông kia không rời, an ủi, khuyên bảo. Trong cờ bạc, trong lúc N... đặt những món tiền hàng trăm nghìn đồng, S... môi dưới trề ra thận trọng, chỉ mạo hiểm đánh cược mấy đồng.

Đối với người Sài Gòn, N... và S... là những "tên giết người". Người ta biết chúng rũ bỏ những kẻ làm phiền phức bằng hành động dữ tợn. Cảnh sát được báo tin rõ về những tội ác của chúng - biết từng chi tiết - nhưng không có chứng cứ cụ thể để bắt chúng.

N... và S... có óc tưởng tượng. Đối với chúng là những kịch bản loại đen. Và làm những việc đó trong mọi trường hợp mang lại lợi ích, thậm chí với một người đàn bà. Có lần thừa ra một ông. Một y tá quân đội cũ, nghiện thuốc phiện, và cờ bạc chuyên nghiệp, sống đầy đủ nhờ bà vợ; bà "tiếp khách". Ông bố trí cho bà vợ một "phòng trà" ngay giữa phố. Công việc tiến triển tốt. Ông chồng thịnh vượng thiếu khôn ngoan đi nghỉ một thời gian ngắn ở Pháp. Trong lúc ông vắng nhà, ông N... đẹp người được bà vợ yêu thích và trở thành chủ nhân của phòng trà. Ông chồng trở về thấy bị chiếm chỗ, tỏ vẻ bực bội, vướng víu.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2018, 09:45:42 AM

Một tối tháng năm, N... con người quyến rũ, khéo nói, thân tình mời ông y tá đi dạo: "Anh bạn, chúng ta hàn gắn lại những rạn nứt; chúng ta bình tĩnh giải thích với nhau". Ông S... phúc hậu cùng đi. N... cầm lái...

Chiếc xe dừng lại ở một ngoại ô vắng vẻ. N... bảo: "Xuống đây ta nói chuyện với nhau". Ông y tá ra khỏi xe chẳng ngờ vực gì. Ông vừa bước xuống thì có có tiếng lên đạn phía sau. Ông S... tròn trĩnh dí khẩu súng tự động vào gáy ông nhưng đạn không nổ. N... bèn đưa một con dao, S... đâm hàng chục lần vào bụng ông y tá.

Công việc xong hai người Corse lên xe phóng đi, để lại nạn nhân trên đường. Lạ nhất là ông y tá không chết, không biết làm thế nào mà bị bỏ lại trong máu lúc hoàng hôn giữa vùng đất Việt Minh, mò về được Sài Gòn. Sau nhiều tuần lễ hấp hối trong bệnh viện, ông hồi phục, nhưng không bao giờ đi khiếu nại.

Của cải và quyền lực của hai "anh bạn" tăng lên hàng năm. "Phi vụ" lớn của họ vẫn là đồng bạc. Một hôm N... bị một trung gian tiêu phí tiền gửi đổi. Hắn bèn tỏ rõ tài đóng kịch để lấy lại tiền với số lãi lớn.

"Thế anh đã đổi hay chưa đổi được?" Một hôm N... hỏi anh Callard nào đó đã là nhà báo rồi làm môi giới bất lương, chơi tennít chuyên nghiệp, nhân viên cảnh sát. Cảnh này xảy ra ở một chỗ uống cà phê. Callard thú nhận anh ta đã tiêu phần lớn trong số 600.000 đồng N... đưa cho anh để chuyển đổi.

"Thôi được, chúng ta sẽ nói về chuyện ấy sau" N... nói. Mấy hôm sau, N... triệu tập Callard, ném lên một chiếc xe. Hai người, một tái xanh vì giận dữ, người kia vì sợ hãi, xuống trước cổng một khách sạn. Trong phòng, N... trói Callard vào một chiếc ghế, trong hai ngày cho ăn cá muối và bánh khô, không cho uống nước - một cách tra tấn. Vài anh bạn Corse canh tù nhân. Đến cuộc chơi cao tay N... vung khẩu súng ngắn vừa hét lên với đồng bọn: "Giữ nó cho tôi”. Đôi khi bàn tay nắm một quả lựu đạn dọa rút chốt: "Tao có nổ tung lên cùng mày cũng được".

Đến ngày thứ hai Callard ký tờ giấy đầu tiên. Anh nhường chiếc xe đẹp Mercury của anh cho N... Hắn lại bảo: "Không phải thế là xong. Anh phải trả lại 600.000 đồng, đưa thêm 350.000 đồng và trả phí tổn 150.000 đồng nêu muốn ra khỏi đây".

Thất vọng, Callard được phép gửi mấy chữ cho một ông bạn tỷ phú Trung Hoa. Người này đến; băng nhóm cởi trói cho tù nhân. Callard quỳ xuống trước nhà tỷ phú khẩn nài thảm hại. Người Trung Hoa xiêu lòng, ký tờ séc 800.000 đồng. N... bèn thân mật vỗ lưng Callard, cho một điếu thuốc, một cốc cô-nhắc sô-đa. Mấy ngày sau phát hiện ra chiếc Mercury đã cầm cố đến ba phần tư hắn cũng chẳng phật lòng.

Trong thời kỳ của người Corse ở Sài Gòn, không chỉ có N... và S... giết người. Biết bao câu chuyện bi hài lố lăng được đánh dấu bằng xác chết!


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2018, 09:48:27 AM

Một trong những bi kịch ấy của đồng bạc có nạn nhân là một Lacascade nào đó, được tìm thấy chết trước lâu đài Cao uỷ. Cảnh sát điều tra thấy Lacascade thuận tay trái. Viên đạn vào đầu từ thái dương bên phải. Vậy là một vụ giết người. Người bị giết chỉ là một chủ quán ăn cũ, gần như không nhà cửa nghề nghiệp. Nhưng trong vụ này dính vào cả một tập hợp nhân vật Sài Gòn nhất - một viên chức ở bộ thừa hành các quyết định của tòa án, một người chuyên quảng cáo, một nghị viên Pháp, một quan chức quan trọng và một người Corse bí mật. Tất cả tham gia vào một "vụ" chống Sở Hối đoái. Việc điều phối thất bại và Lacascade khốn khổ bị trả giá.

Nghị viện có một vụ đổi tiền lớn ở sở Hối đoái. Phải thoả thuận chợ đen, nhận tiền hoa hồng. Chủ quán ăn cũ, người quảng cáo và viên chức tòa án, những người dồn con mồi chạy tìm khách hàng. Họ gặp một quan chức cao cấp có 450.000 đồng - chắc hẳn tiền hối lộ, đưa số tiền cho họ. Đến phút chót, viên nghị sĩ kém ảnh hưởng và vụ chuyển đổi bị từ chối. Những kẻ thông đồng không thể trả tiền lại vì đã tiêu hết phần lớn.

Trong lúc gay cấn ấy người Corse bất ngờ xuất hiện, một trong những ông vua của môi trường đó. Quan chức cao cấp chỉ là danh nghĩa, số tiền là của hắn. Những kẻ thông đồng kia bị tra tấn, tố cáo lẫn nhau. Người Corse quyết định thủ phạm thực sự là Lacascade. Cả một ngày anh này lang thang trong thành phố, kể chuyện: "Người ta buộc tôi phải trả 450.000 đồng, cộng thêm 230.000 đồng tiền phạt. Tôi tìm đâu ra số tiền như thế?" Buổi tối anh ta bị giết. Ông nghị viện trở về Pháp. Sự việc kết thúc.

Mặc dù có những vụ như thế, vòng quay đồng bạc của người Corse nói chung trôi chảy. Người ta không biết chắc chắn tung tích những ông "chủ" lớn, chỉ đoán ra thôi. Họ không sờ đến được, mọi đề phòng được bố trí để đảm bảo không bị trừng phạt. Những ông vua thực sự của các băng nhóm là một vài người khép kín trong văn phòng, ở quán cà phê lớn Croix du Sud hoặc đâu đó, từ xa ra lệnh cho những đội quân thừa hành. Bản thân họ không bao giờ nhúng tay vào việc, không làm việc gì gian dối. Công việc của họ là theo dõi, chỉ đạo thực hiện, chỉ cần vài lời. Và cũng là bỏ tiền vào túi.

Bắt đầu một vòng quay, những kẻ cầm đầu ấy lấy trong két sắt ra một tập giấy bạc, đưa cho một anh nào đấy, gọi là xuất vốn. Khi vòng quay kết thúc, anh kia trả lại một tập lớn hơn để bỏ vào cũng két sắt ấy. Thế thôi. Những kẻ ấy chỉ chuyển dịch đồng bạc - hoàn toàn hợp pháp.

Tất cả được che chắn. Tất cả đều do trung gian làm. Nhưng có một loạt hành động khá tế nhị phải đạt cho được.

Màn thứ nhất thực hiện ở Sài Gòn. Một người tin cẩn, anh Corse là trưởng văn phòng hoặc vệ sĩ chịu trách nhiệm "mua" những chuyển đổi. Nói chung anh ta cũng không ra mặt, ẩn sau những bù nhìn, những người chào hàng không có gì là Corse cả. Kíp này trước hết tìm những người càng lương thượng càng tốt, hơi ngây thơ và ít đòi hỏi. Quân nhân, nhất là những viên quản rất được ưa chuộng. Chiến thuật là không làm "khách hàng" lo lắng, không thổ lộ gì với họ, họ không được biết đang giao dịch với một băng nhóm. Người ta hấp dẫn họ với một tỷ lệ hoa hồng, cho một địa chỉ vô tư ở Pháp để gửi trả số tiền đổi được.

Nếu "người lương thiện" thông cảm ấy không thành công những kẻ dồn con mồi quan hệ với những nhân vật ít nhiều có tật nhưng cũng còn có thể đổi tiền được.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2018, 09:49:49 AM

Màn hai diễn ra cách Sài Gòn mười hai nghìn cây số, ở đâu đó bên Pháp. Việc thu lại tiền phrăng chuyển đổi. Người của băng nhóm nhận được tin vào giờ nào, chỗ nào, một ông sẽ giao lại một số tiền bao nhiêu. Cuộc hẹn gặp hết sức bình thường. Thông thường người kia theo địa chỉ "người trả tiền". Nếu ở quán cà phê hay một góc phố, có một dấu hiệu nhận biết nhau. Nếu công việc suôn sẻ, người Corse đếm tiền, chào rồi bỏ đi.

Nhưng cũng có thể là trò "thỏ đế". Người được chờ đợi không đến. Hoặc ấp úng với những lời giải thích mờ ám. Những người chủ ở Sài Gòn được báo cáo ngay. Rồi là việc săn đuổi người kia, việc "trừng phạt".

Vòng quay tiếp tục, đến lượt trở về. Màn kịch diễn trên những con tàu Pháp đường Marseille - Sài Gòn. Những đồng phrăng đã trở thành một hộp quý, đầy vàng và ngoại tệ. Cả một kho của phải đưa về đúng chỗ không bị bắt. Thực ra không có những mạo hiểm lớn. "Trung tâm" Corse ở Sài Gòn có những đồng loã cần thiết trong thế giới các cảng, trong vũ trụ những người đi biển. Gói hàng nhỏ trị giá hàng chục nhiều khi hàng trăm triệu được uỷ thác cho một thuỷ thủ bình thường - nhưng là một người chắc chắn, cứng rắn, có được sự im lặng của cả đoàn thủy thủ. Vả lại trên tàu có ai không biết rõ luật của băng nhóm? Chẳng người nào tố giác. Những cuộc lục soát chính thức không bao giờ phát hiện được gì. Lên bờ, người áp tải được một tỷ lệ nào đấy.

Công việc thực sự diễn ra ở Sài Gòn, khi tàu neo đậu ở bến cảng. Phải đưa hàng lên qua những cản trở của thuế quan. Nhân viên thuế quan hăng hái với triển vọng bắt được sẽ có phần. Nhưng "trung tâm" đã tiếp xúc với một số trong bọn họ, đã mua được họ. Trong số nhân viên thuế quan có nhiều người Corse thường là anh em bà con với thành viên băng nhóm, dễ thông cảm với nhau. Việc đưa "món hàng" ra vào lúc những người "bạn thân" làm nhiệm vụ.

Tất cả được bố trí hoàn hảo. Vai trò của "người đi biển" kết thúc. Một ông có tiếng tăm tốt, không có tên trong sổ đen, không quan hệ công khai với băng nhóm, đảm nhiệm tiếp. Một nhân vật loại này còn dễ tìm, nhất là khi cứ một ki-lô vàng đưa ra được nhận ba nghìn đồng bạc. Ông này lên tàu lúc năm giờ, lẫn lộn trong số đông khách hàng. Mấy phút sau ông trở xuống, vẫn kín đáo, rời khu vực cảng. Sau khi đi bộ vài trăm mét, ông lên một chiếc xe không có người lái đang chờ. Ông lái rất nhanh, nhiều vòng, dích dắc để không bị "theo rõi". Nếu không có gì khả nghi, ông nhào đến Chợ Lớn, dừng lại giữa khu Trung Hoa, gõ theo quy định vào một cửa to đóng kín. Một "người nhà Trời" mở cửa, đóng lại, quan sát kỹ vàng và đô-la. Khi "món hàng" đúng đắn, chủ nhà đưa cho ông kia những cuộn bạc lớn. Không bàn cãi, mặc cả. Giá cả đã được định trước. Việc mua bán này luôn luôn tiến hành lúc hoàng hôn, vào sáu giờ tối. Đấy là một điều bắt buộc của người Tàu vì khi trời đã tối, nhân viên thuế quan không còn có quyền vào những chỗ ở đặc biệt và khám xét.

Ra khỏi nhà người Trung Hoa, ông kia gặp một người khác lại gần ông lấy số bạc. Người này là một người Corse, của băng nhóm, đưa ngay tiền về cho những ông chủ chỉ huy vòng quay vừa kết thúc. Thấy người của mình về, những kẻ cầm đầu rất yên tâm. Trong hơn hai tiếng đồng hồ, họ nóng lòng chờ đợi, vừa uống rượu péc-nốt vừa nói chuyện.

Vì đôi khi cũng có "tai nạn". Trường hợp rõ nhất là "phi vụ chiếc đàn gió". Những ki-lô vàng được giấu trong nhạc cụ này. Để đảm bảo hơn, người "chuyển hàng" đề nghị với một anh lính mang giúp đàn lên bờ: "Tôi già quá không xuống cầu tàu được với chiếc đàn gió này, món quà cho đứa con trai sinh nhật hai mươi tuổi. Anh giúp cho được không?" Anh lính trơn nhận lời nhưng cố chơi một điệu nhạc và tất cả bị lộ ra hết.

Việc buôn lậu của người Corse không ngừng được cải tiến. Những tiếp viên trên máy bay cũng tham gia, nhưng nguy hiểm vì máy bay dễ lục lọi hơn tàu thủy. Những "món hàng lớn" luôn thực hiện qua tàu thủy nhưng có những cải tiến về kỹ thuật. Đôi khi người ta chuyển vàng lên dọc bờ biển Nam Kỳ hoặc ở cửa sông Sài Gòn qua những chiếc thuyền đưa vào. Cảnh sát vẫn luôn bất lực - chỉ nghi vấn mà không có chứng cứ. Những người Corse ở Đông Dương làm giàu đến mức mấy năm sau, khi yên ổn trở về Pháp, họ trở thành những "phú gia có hạng" ở giữa Paris và trên Bờ biển Xanh.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh Đông Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2018, 09:11:21 PM

Ông Franchini thành đạt

Trong tất cả những người Corse ở Sài Gòn, nổi tiếng nhất là ông Franchini. Nhưng trái với ý nghĩ của toàn nước Pháp, ông không phải vua của lãnh địa và các băng nhóm. Ông là một nhân cách Sài Gòn.

Franchini đến đây sau Thế chiến thứ nhất, làm phục vụ phòng trên tàu thủy. Rất nhanh, ông ý thức được khả năng của mình: làm vừa lòng mọi người. Thay vì làm "chàng trai không ra gì" như bao người khác, ông đi từ số không xây dựng một sự nghiệp thần kỳ, một tài sản tỷ phú, luôn luôn với cách đáng kính.

Ngay từ đầu ông đã chọn thế giới tầng lớp trên, từng bước một làm cho xã hội sang trọng của Đông Dương, kiêu ngạo và nghi ngờ: Nhà băng, sở thuế quan, Cao uỷ, nhà thờ, các hoàng thân Việt Nam và những người Trung Hoa. Bí quyết thành công của ông là gợi nên sự tin tưởng về khả năng kỳ lạ nhờ nó tất cả những người có quyền lực ở Sài Gòn đều chăc chắn. Franchini, đã vượt biển, là người của họ. Thế giới đáng kính này có thể cần "một người hoàn toàn tin cậy được" cho những hoạt động "tế nhị" nhất, hơi ngoài lề nhưng đôi khi quan trọng khác thường. Franchini là con người ấy, chuyên gia "tế nhị" trung thực, trước hết đối với các phái đoàn ngoại giao, nhà băng Đông Dương, sau đó với hoàng đế Bảo Đại và Bảy Viễn. Với ông công việc luôn đảm bảo thành công. Vì ông cũng luôn luôn theo nguyên tắc quan hệ tốt với các chính phủ, quan chức, những cảnh sát nối tiếp nhau cũng như với các băng, giáo phái, các tổ chức, các nhóm bất lương có thể có. Và điều ấy kéo dài đến phút chót, cho đến khi người Pháp bị chìm vì Ngô Đình Diệm. Thời gian ấy, ông là biểu tượng thực sự của Sà