Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2017, 11:04:52 am



Tiêu đề: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2017, 11:04:52 am

        - Tên sách: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
        - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
        - Năm xuất bản: 1998‎
        - Số hoá: ptlinh, UyenNhi05.‎

                  CHỈ ĐẠO NỘI DUNG:

        - VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM‎
        - THÀNH ỦY - UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
        - BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
        - PHÒNG QUẢN LÝ KHOA HỌC - VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ.
                           

LỜI NÓI ĐẦU

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 là sự‎ kiện lớn, đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Mậu Thân 1968 cũng là một trong những sự kiện phức tạp, gây nhiều tranh cãi nhất từ khi xảy ra đến nay, khi nghiên cứu về lịch sử hiện đại. Đến nay, đã có nhiều công trình tổng kết, nhiều cuốn sách, nhiều bài báo, một số cuộc Hội thảo khoa học ở trong và ngoài nứớc, song ở sự kiện này dường như‎ vẫn còn tiềm ẩn những vấn đề cần được làm sáng tỏ.

        Nhân kỷ niệm 30 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy‎ Mậu Thân 1968, và kỷ niệm 100 năm thành phố Hồ Chí ‎Minh, tại Hội trường Thống Nhất, nguyên là dinh Độc Lập thời kỳ bị Mỹ - nguỵ tạm chiếm, một trong những mục tiêu quan trọng của cuộc tiến công, vào trung tuần tháng 3 năm 1998, Thành ủy - ủy ban nhân dân  thành phố Hồ Chí Minh và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học về cuộc TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN - 1968.‎

        Nhiều cán bộ cấp cao của Đang, Nhà nước, quân đội từng lãnh đạo, chỉ huy cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, nhiều nhà khoa học trong và ngoài quân đội, ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Huế và nhiều đia phương khác đã viết bài cho cuộc Hội thảo.

        Với quan điểm khách quan, khoa học, phương pháp tiếp‎ cận và nghiên cứu đúng đắn, các bài viết gửi đến cuộc Hội thảo khoa học đã góp phần đánh giá sâu sác tầm vóc và ý nghĩa của sự kiện, làm sáng tỏ những nét đặc sắc, những sáng tạo trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện, sự phát triển mới về nhận thức và tăng cường sự thống nhất trên cơ sở thảo luận về các ý kiến khác nhau; đồng thời đã rút ra nhiều bài học thiết thực đối với công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

        Nhân kỷ niệm 30 năm thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, và nhân dịp cuốn sách gồm các bài tham luận khoa học gửi đến cuộc Hội thảo được xuất bản, Thành ủy - Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc anh hùng, liệt sĩ đã hiến trọn đời mình cho sự nghiệp độc lập và thống nhất Tổ quốc, đến thế hệ đã làm nên sự kiện Mậu Thân 1968.‎

        Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nứớc, quân đội, các nhà khoa học, các cơ quan, đơn vị đã trực tiếp chỉ đạo, nhiệt tình tham gia và giúp cho cuộc Hội thảo khoa học thành công, cuốn sách được xuất bản.

        Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM                 
THÀNH ỦY - UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH         


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2017, 11:16:34 am
      
MẤY VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968‎

Đại tá PGS, PTS Nguyễn Quốc Dũng        
Phó viện trưởng Viện Lịch sử QSVN        

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/7_Hai_bagravei_th_chuacutec_Tt_nm_Thacircn_ca_Baacutec_H_zps6cmj6v0t.jpg)

        ‎  Cách đây vừa tròn 30 năm, mùa xuân năm 1968, nhân dân ta, từ Nam đến Bắc nhộn nhịp bước vào năm mới, đón Tết Mậu Thân, đón thơ chúc tết của Bác Hồ kính yêu:‎

        ‎                      "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua?‎
        ‎                      Thắng  trận tin vui khắp nước nhà..."‎


        ‎  Cũng đúng vào thời điểm ấy, quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy rộng khắp, từ đường 9 - Khe Sanh‎ đến đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt mạnh mẽ là ở Sài Gòn - Gia Định, Huế và hàng loạt thị xã, thị trấn, căn cứ‎ quân sự của Mỹ - ngụy, làm rung động nước Mỹ. Nhà bình luận Mỹ Ma-thiu Brit-uây(Matheu Bridgway) ví cuộc tiến công với trận Oa-téc-lô. Một số ngơời khác so sánh sự bất ngờ và thất bại của Mỹ ở trận Trân Châu Cảng. Nhà báo Mỹ Đôn O-bơ-đo-phơ (Don Oberdoifer) có mặt ở Sài Gòn những ngày Tết Mậu Thân, được tận mắt chứng kiến sự kiện, sau khi tập hợp tư liệu đã viết cuốn sách dày 400 trang nhan đề "Tết", vẫn cho rằng "tầm quan trọng đầy đủ về cuộc Tổng‎ tiến công Tết Mậu Thân đang nằm ngoài tầm nhận thức của chúng ta" (những người Mỹ). Song, một điều xem ra đã rõ‎ là lịch sử sẽ chẳng quên đi sự kiện này. Đối với mọi loại người, với mọi cách suy nghĩ khác nhau, đây là một sự kiện có tính chất bơớc ngoặt, một trong những bước ngoặt lớn của thời đại chúng ta". Bước ngoặt đó, với cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam là sự phá sản của chiến lược "chiến tranh cục bộ",‎ ý chí và cố gắng chiến tranh cao nhất của giới cầm quyền nước Mỹ bị đánh bại; Mỹ buộc phải "xuống thang" chiến‎ tranh, rút dần quân viễn chinh ra, chấp nhận thương lượng với ta để có thể kết thúc chiến tranh trong danh dự'. Từ sau sự kiện này, chiến tranh vẫn còn tiếp diễn thêm vài năm nữa, nhưng không còn như trước. Trên phạm vi toàn cầu,‎ bước ngoặt lớn đó là sự phá sản của chiến lược quân sự phản ứng linh hoạt bằng 4 loại hình chiến tranh của Mỹ.‎ Thất bại ở Việt Nam làm cho những ngơười cầm quyền, kể cả giới quân sự Mỹ dù rất ngạo mạn về sức mạnh kinh tế và quân sự, phải cay đắng thừa nhận một sự thật là Mỹ có thể bị thua trong một cuộc chiến tranh, Mỹ không còn có thể chỉ huy và áp đặt với các nước khác như trước. Học thuyết mới do R. Nic-xơn đưa ra sau Tết Mậu Thân ở Việt Nam không còn ở thế trả đũa ồ ạt như hơn mười năm về trước mà là "thuyết phục" thương lượng hòa bình, "chia xẻ trách nhiệm cho đồng minh" trong các vấn đề quốc tế.‎

        ‎  Vì thế, mặc dù "sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam (như cách nói của người Mỹ) là cuộc chiến tranh được đưa tin nhiều nhất trong lịch sử", trong 30 năm qua, những những người vạch chính sách, các tướng lĩnh, các nhà sử học, nhà văn, nhà báo... của nước Mỹ vẫn tiếp tục viết hàng chục công trình nghiên cứu về sự kiện Tết Mậu Thân. Hàng nghìn cuốn sách khác viết về chiến tranh Việt Nam đều thể hiện đậm nét,‎ tìm ra những khía cạnh khác nhau để giải thích nguyên nhân, làm rõ hơn tác động nhiều mặt của sự kiện lớn này.‎ Tuy vẫn còn có ý kiến khác nhau, vẫn còn tiếp tục tranh cãi và có những người vẫn cố tình biện hộ sai lầm, trút bỏ trách nhiệm, giảm bớt thất bại..., những công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam được công bố gần đây ở Mỹ ngày càng đi tới một sự thừa nhận chung về sự kiện Tết Mậu Thân,‎ thừa nhận thất bại của Mỹ, đối phương đã đạt được mục đích, đã tạo ra một bước ngoặt trong cuộc chiến tranh.‎


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2017, 11:18:57 am

      ‎  Ở nước ta, ngay từ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu‎ nước còn đang tiếp diễn, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 3 (tháng 7 năm 1973) đã có‎ những đánh giá đầu tiên, khẳng định thắng lợi rất to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Tháng 12 năm 1976, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã tổng kết‎ thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,‎ phân tích sâu sắc nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến, trong đó có cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Năm 1986, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị tổng kết các chiến dịch năm 1968, nêu lên nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn, đặc biệt là những nét đặc sắc về chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật quân sự; đồng thời cũng chỉ ra những khuyết điểm, những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về sự kiện lớn này. Ba mươi năm qua, nhất là trong những năm gần đây,‎ nhiều công trình tổng kết chiến tranh và lịch sử quân sự của Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9, của Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Thừa Thiên - Huế, của các đơn vị, các‎ địa phương, các cơ quan và nhà khoa học trong và ngoài‎ quân đội đã tiếp tục nghiên cứu, bổ sung nhiều tư liệu cụ‎ thể, làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới, những nét đặc sắc, sự sáng tạo của cấp ủy đảng, chính quyền, của nhân dân và các lực lượng vũ trang trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở các địa phương.‎

        Nhìn chung, các công trình tổng kết và nghiên cứu, các ý kiến phát biểu đều thống nhất và góp phần khẳng định sự đúng đắn trong đánh giá của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về "thắng lợi có tầm chiến lược quyết định của cuộc Tổng‎ tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968". Về mặt chỉ đạo và hiệu quả chiến lược, thắng lợi đó là "chọn đúng hướngtiến công rất hiểm là thành thị, sáng tạo cách đánh mới rất bất ngờ và đầy hiệu lực, giành thắng lợi oanh liệt khi Mỹ đang dốc cố gắng cao nhất về quân sự, tạo được bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng; làm rung chuyển cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới; làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, mở đầu quá trình xuống thang chiến tranh của đế quốc Mỹ". Về khuyết điểm, công‎ trình tổng kết của Bộ Chính trị đã chỉ rõ "sai lầm lớn về chỉ‎ đạo chiến lược là sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và‎ nổi dậy Tết Mậu Thân ta đã "không kịp thời chuyển hướng tiến công, vẫn tiếp tục đẩy cuộc chiến tranh cách mạng vào thành thị, dẫn đến những tổn thất lớn về thế và lực, tình‎ hình khó khăn kéo dài mãi cho đến đầu năm 1970 mới từng bước được phục hồi ổn định".‎

      ‎  Lịch sử đã diễn ra và thời gian sau 30 năm giúp chúng ta suy nghĩ, phân tích khách quan, khoa học sự kiện lớn này. Bên cạnh những vấn đề lớn đã thống nhất, do cách đặt vấn đề và phương pháp tiếp cận khác nhau, cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ và sâu sắc hơn.‎

      ‎  Về mặt chỉ đạo, vấn đề tổng công kích - tổng khởi nghĩa‎ trong chiến tranh cần được tiếp tục nghiên cứu về lý luận và thực tiễn. Đây là một phương thức và cũng là một khả năng mà lãnh đạo có thể và cần thiết phải dự kiến và tranh thủ, nhất là trong cuộc kháng chiến chống lại chủ nghĩa thực dân mới Mỹ. Việc đề ra mục tiêu quá cao (nêu khẩu‎ hiệu giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân). Nghị quyết Trung ương lần thứ 21 và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã phân tích, phê phán. Tổng khởi nghĩa theo ý định trong‎ kế hoạch ban đầu đã không diễn ra; nhưng các cuộc nổi dậy,‎ sự tham gia rất rộng rãi, trên nhiều linh vực, trước, trong và sau cuộc Tổng tiến công của nhân dân Sài Gòn và các đô‎ thị và vùng nông thôn là một thực tiễn sinh động cần phải khẳng định.‎

      ‎  Về cách đánh, có ý kiến cho rằng chỉ cần (hoặc nếu như chỉ) tổ chức một cuộc tập kích chiến lược, không kéo dài thành nhiều đợt sẽ đỡ tổn thất hơn. Vấn đề này có thể‎ nghiên cứu thêm qua thực tiễn lịch sử đã diễn ra. Các công‎ trình nghiên cứu, tổng kết những năm vừa qua, các báo cáo khoa học gửi đến cuộc Hội thảo lần này đều thống nhất‎ đánh giá nét đặc sắc nhất trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là ta đã sáng tạo cách đánh mới, vượt lên mọi tư duy quân sự đơn thuần, một cách đánh chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc và có thể nói trong lịch sử chiến tranh của nhân loại. Không có cách đánh mới đó, không thể gây chấn động lớn không thể tạo ra hiệu lực chiến lược lớn,‎ buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Tổn thất và khó khăn của ta sau Tết Mậu Thân là to lớn, song không thể vì thế mà phủ nhận thắng lợi chiến lược, có ý nghĩa quyết định tạo ra bước ngoặt chiến tranh của cuộc tiến công này.‎

      ‎  Về đánh giá thắng lợi, có những ý kiến (chủ yếu trong giới quân sự Mỹ) cho rằng, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Mỹ chỉ thua về chính trị và tâm‎ lý; thậm chí có ý kiến cho rằng Mỹ chỉ thua về chiến lược,‎ không thua trong các trận đánh cụ thể. Về điểm này, chúng ta cũng cần phân tích, làm rõ thêm. Có thể nói, xét trên tất cả mọi khía cạnh của vấn đề và theo quan điểm quân sự,‎ thất bại to lớn về quân sự của Mỹ trong Tết Mậu Thân là rõ ràng.‎

      ‎  Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 là một trong những sự kiện lớn nhất, có nhiều ý kiến tranh luận nhất khi nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Lịch sử càng lùi xa, càng nổi rõ tầm vóc của sự kiện.‎ Với quan điểm khách quan, khoa học, với phương pháp tiếp cận và nghiên cứu đúng đắn, cuộc Hội thảo khoa học của chúng ta sẽ tiến thêm một bước, góp phần đánh giá sâu sắc tầm vóc và ý nghĩa của sự kiện, làm sáng tỏ hơn các vấn đề tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho các công trình nghiên cứu khoa học, cho công tác giáo dục truyền thống cách mạng, góp phần thiết thực vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ‎trong đó có thành phố mang tên Bác kính yêu.‎


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2017, 11:25:27 am

TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968 – ĐỈNH CAO CỦA CHỦ N‏GHĨA ANH HÙNG CÁCH MẠNG

TRƯƠNG TẤN SANG                   
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư             ‏
Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh‎.         

        Trong không khí Xuân Mậu Dần, thành phố chúng ta‎ cùng với đồng bào cả nước xúc động và rất đỗi tự hào nhớ đến những ngày tháng hào hùng của dân tộc trong cuộc‏ Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn của Đảng bộ và nhân‎ dân thành phố tới các đồng khí lãnh đạo, chỉ huy các cấp,‏ cán bộ Đảng và toàn thể chiến sĩ, đồng bào thuộc nhiều giới, nhiều lứa tuổi đã tham gia viết nên thiên anh hùng ca mới Tết Mậu Thân 1968, những người còn sống và những người đã mãi mãi trở thành dáng đứng Việt Nam anh hùng; bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các gia đình thương‏ binh, liệt sĩ và gia đình có công với cách mạng tại thành phố chúng ta và cả nước đã có người thân hy sinh trong Tết Mậu Thân và trong suốt nhiều dài của cuộc trường kỳ kháng‎ chiến để giải phóng thành phố, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.‏

        Cách đây 30 năm, trong đêm 30 rạng ngày mồng 1 Tết Mậu Thân 1968 các lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã‏ ‏đồng loạt tổng tiến công và nổi dậy trên khắp miền Nam,‏ ‏đặc biệt là ở thành phố Sài Gòn và hầu hết các thành phố‏,‏ thị xã, thị trấn, đánh vào căn cứ quân sự, cơ quan đầu não của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 thể hiện bản lĩnh và tài nghệ lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí‎ Minh, của Đảng, nói lên mềm tin sắt đá của Đảng đối với nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng‏.‏

        Việc chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy được tiến hành ở khắp mọi nơi từ tiền tuyến đến hậu‏ phương, trong vùng giải phóng và cả trong vùng địch tạm‏ chiếm, đặc biệt là tại Sài Gòn - nơi đầu não quan trọng nhất của kẻ thù. Thế mà khi cuộc Tổng tiến công nổ ra, kẻ địch vô cùng sửng sốt, kinh hoàng. Các nhà báo Mỹ phải thốt lên: "Chiến tranh Việt Nam có quá nhiều bất ngờ, nhưng‎ không có bất ngờ nào làm cho người ta phải sửng sốt nhiều hơn trận tiến công Tết. Đặc biệt, cuộc tiến công đã diễn ra‏ ngay tại Sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, nơi đã từng nhiều lần tuyên bố rằng tình hình tồi tệ nhất đã qua rồi."‏

        Lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu hy sinh, tài mưu trí‎‏, sáng tạo, linh hoạt, quyết tâm giành thắng lợi cao nhất đ‏ã‏ ‏được nâng lên một tầm cao mới trong quân và dân thành phố, trong cán bộ, chiến sĩ các đơn vị chủ lực tham gia suốt các đợt tổng tiến công và nổi dậy, trong các đơn vị biệt động tại chỗ cùng với các đơn vị vũ trang được gấp rút tổ chức bao gồm cả cán bộ phụ trách cơ quan đến anh chị em‎ cán bộ, nhân viên cơ quan của khu Sài Gòn - Gia Định và‏‏ Trung ương Cục, cán bộ làm công tác chính trị, giáo dục, y‏‏ tế, văn hóa, nghệ thuật... Cần đặc biệt nhấn mạnh một yếu tố vô cùng quan trọng đảm bảo thắng lợi là cuộc đấu tranh‏‏ và nổi dậy rộng khắp, với nhiều hình thức phong phú và rất‏ cảm động của đồng bào ngoại thành và nội thành Sài Gòn‏,‏ các tỉnh và thành phố, thị xã, thuộc các giới, các dân tộc‏,‏ các tôn giáo, đủ lứa tuổi, nhất là thanh niên, sinh viên, học sinh, có cả những người do nhiều hoàn cảnh phải ở bên kia‎ trận tuyến, tham gia chiến đấu, tiếp tế hậu cần, che giấu‏,‏ chăm sóc bảo vệ thương binh quân giải phóng..., lập nên kỳ‏‏ tích vẻ vang trong Tổng tiến công và nổi dậy‏.‏

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt đầu Xuân Mậu‏ Thân 1968 là một mốc son chói lọi trong lịch sử kháng chiến‏‏ của dân tộc ta. Trong một thời gian ngắn, chúng ta đã đưa cuộc chiến đấu quy mô lớn vào tận sào huyệt cuối cùng của‏‏ ‏địch, làm chuyển biến nhanh chóng và mạnh mẽ cục diện‏‏ chiến tranh, nâng cao uy thế của Mặt trận Dân tộc  giải‏‏ phóng ở trong nước và trên thế giới, tạo thuận lợi mới cho cuộc đấu tranh muôn màu, muôn vẻ của các lực lượng yêu nước ngay tại sào huyệt của địch. Chính trong bối cảnh đấu tranh đó, Liên minh "các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa‎ bình miền Nam Việt Nam" ra đời tiếp thêm tiếng nói và lực lượng đấu tranh chống Mỹ xâm lược và chính quyển tay sai‏.‏ Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ",‏ đặc biệt đã làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ‏.‏


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:25:34 am

        Thất bại nặng nề ở miền Nam và miền Bắc nước ta, đế quốc Mỹ đã buộc phải xuống thang chiến tranh và chấp nhận ngồi vào đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri, từ hội nghị hai‎‏‏ bên đến hội nghị bốn bên có sự tham gia của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam sau đó là sự tham gia‎‏‏ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam‏‏ Việt Nam. Quân và dân ta đã đáp lại nguyện vọng tha thiết và thực hiện ý tưởng sáng suốt của Bác Hồ qua bài thơ‎‏‏ Mừng Xuân 1968: "tiến lên! Toàn thắng ắt về ta‎‏". Lời kêu gọi của Bác đã thành hiện thực trọn vẹn với Đại‏ ‏thắng mùa Xuân 1975‎.‏

        Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng với cả nước, với miền Nam‏‏ thành đồng, với thành phố mang tên Bác, chiến công của‏‏ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân 1968‎‏ ‏sẽ sống mãi với các thế hệ Việt Nam, vì đó là đỉnh cao của "‏chủ nghĩa anh hùng cách mạng", là khí phách Việt Nam, lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và nhân dân, tinh thần sẵn sàng xả thân vì sự giải phóng và trường tồn của dân tộc trong những thời điểm thử thách ác hệt nhất của lịch sử‏.‏

        Thành phố chúng ta kỷ niệm 30 năm Tổng tiến công và‏‏ nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đồng thời cũng bước vào năm kỷ niệm 300 năm thành lập Sài Gòn - thành phố Hồ Chí‎ Minh (1698-1998‎‏). Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 sẽ mãi mãi tạo vào lịch sử nhơ một tượng đài bất tử. Mỗi chúng ta và các thế hệ đời sau có thể nhìn rõ ở đó sức mạnh‏‏ phi thường của lòng yêu nước tuyệt vời, của trí thông minh Việt Nam đầy sáng tạo, của nghệ thuật giành chủ động, tạo bí mật, bất ngờ chiến lược, biết đánh và biết thắng.

        Nối tiếp truyền thống vẻ vang của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, truyền thống yêu nước và cách ‏mạng kiên cường của dân tộc, ngày nay chúng ta đang tiến ‏hành sự nghiệp vĩ đại trong lịch sử nước nhà là chấn hưng ‏đất nước, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng‏,‏ văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện nghị quyết các đại hội lần thứ 6, thứ 7 và thứ 8 của Đảng, nhân‏‏ dân ta đãđạt được nhiều thành tựu rất quan trọng. Trong sự nghiệp chung đó, thành phố chúng ta đã góp phần tích cực, đáp lại lòng mong mỏi của nhân dân cả nước. Chúng ta hiểu rõ khó khăn thử thách để có thể dự liệu và hình dung‏‏ ‏đầy đủ, song tinh thần Tết Mậu Thân 1968 nhấc nhở chúng‎ ta hôm nay đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện‏,‏ phải luôn luôn coi trọng việc phát triển cao độ những tiềm năng to lớn của nhân dân, biết tận dụng mọi thời cơ và‏ thuận lợi, khôn khéo vượt qua mọi hiểm nguy và thử thách‎‏.‏ Với ý chí và quyết tâm sắt đá, nhất định chúng ta sẽ đem‎ lại vinh quang mới cho Tổ quốc ta, thành phố ta, rất thân thương, rất anh hùng !‎


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:27:51 am

CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT  THÂN -  SÁNG TẠO ĐỘC ĐÁO CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM

Thượng tướng PHẠM VĂN TRÀ         
Ủy viên Bộ Chính trị                   
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng               

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 là một chiến công rất oanh liệt và có vị trí to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta‏.‏ Đây là một thắng lợi đã tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải bắt đầu xuống thương chiến tranh tạo điều kiện để quân dân ta thực hiện tiến trình vĩ đại "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn Tổ quốc, thu giang sơn về một mối; cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội‏.‏‎ Đây là một sáng tạo độc đáo ‎ của nghệ thuật quân sự Việt Nam‏.‏

        Chúng ta đều đã biết, từ đầu năm 1965, trước sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt", Mỹ chuyển sang chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' xuất con chủ bài quân viễn chinh Mỹ, đưa ồ ạt quân Mỹ vào tham chiến trên quy mô lớn ở miền Nam, với tham vọng "bẻ gãy xương sống Việt cộng" và "chụp bắt cơ quan đầu não" kháng chiến của ta‏,‏ đồng thời đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã huy động 70% lục quân, 60% lính‎ thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân của nước Mỹ, sử dụng những vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại nhất (trừ bom nguyên tử), huy động lực lượng và tiền của đến mức cao nhất theo khả năng có thể huy động được.‎

        Tham vọng của Mỹ khi tiến hành ''chiến tranh cục bộ"‎ đánh bại cách mạng miền Nam trong vòng từ 25 đến 30‎ tháng, với kế hoạch 3 giai đoạn, hai cuộc phản công chiến lược, mà giai đoạn 3 được dự tính là hoàn thành việc tiêu diệt khối chủ lực ta, tiếp tục ''bình định" miền Nam, rút quân Mỹ về nước vào cuối năm 1967‎‏.‏

        Như Đảng ta đã tổng kết: "Với việc thay đổi chiến lược chiến tranh như trên của đế quốc Mỹ, cách mạng và cuộc kháng chiến của nhân dân ta đứng trước một tình thế hiểm nghèo. Đảng ta, nhân dân ta sẽ đối phó với sự thách thức ấy như thế nào. Trên chiến trường, cách đánh với quân Mỹ sẽ ra sao?  Có tiếp tục đấu tranh chính trị được nữa hay không? Vận mệnh của dân tộc, chiều hướng phát triển của sự nghiệp cách mạng nước ta và trên một mức độ nào đó của cả phong trào cách mạng thế giới, phụ thuộc vào câu trả lời về cách thức chúng ta xử trí tình huống chiến lược hệ trọng này‏.‏

        Đảng ta đã đánh giá đúng tình hình chiến lược mới một cách bình tĩnh và sáng suốt, tạo nên sự nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cả nước một lòng thực hiện lời kêu gọi vang dậy núi sông của Chủ tịch Hồ Chí‎ Minh: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm‎ hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ  Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn."‏ Cả dân tộc ta sục sôi ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ x âm 1ượ c.Quân và dân ta đã đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của địch ở miền Nam, đã đánh bại một bước chiến tranh phá hoại của Mỹ trên miền Bắc‏.‏

        Qua hai cuộc phản công chiến lược bị thua to, Mỹ một mặt tiếp tục tăng quân để toan tính một cuộc phản công lần thứ ba với 120 vạn quân (có 50 vạn quân chiến đấu Mỹ), một mặt lại bất đầu lộ rõ sự dao động và lúng túng‏.‏ Giữa lúc đế quốc Mỹ đang ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ đã dao động và trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu tổng thống Mỹ, Đảng ta quyết định phải giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, bằng cách chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, tạo ra một bước ngoặt lớn, làm thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta, đưa cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định sự sáng tạo về nghệ thuật quân sự của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là cách đánh chưa từng diễn ra trong ‎kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ,‎ và cả trong lịch sử chiến tranh trên thế giới, khiến Mỹ-ngụy không hề nghĩ tới và cũng không thể nghĩ tới.‎ Đó là sự sáng tạo của phương châm "ba vùng chiến lược''. Nếu không có 3 vùng chiến lược được xây dựng từ nhiều năm với những cơ sở vững mạnh và quần chúng đông đảo ủng hộ thì không thể có chiến tranh ở thành thị‏,‏ nhất là ở các thành phố trọng điểm Sài Gòn - Huế - Đà‎ Nẵng là những trung tâm chính trị, quân sự. Đánh vào đây là đánh vào các cơ quan đầu não, các trung tâm chỉ huy‎‏,‏ đánh vào sinh lực cao nhất của địch, chỗ hiểm yếu, dễ chấn động và nhạy cảm nhất của chúng‏.‏


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:28:44 am

        Đó là sự sáng tạo của việc vận dụng hai lực lượng chính trị và quân sự để giành thắng lợi cả chính trị và quân sự, sáng tạo về hình thức tiến công đồng loạt để tạo hiệu lực như một đòn "sét đánh". Muốn đồng loạt tiến công ở 41 thành phố và thị xã thì phải có một thời gian chuẩn bị dài, phải dự trữ một khối lượng vật chất lớn, và yêu cầu số một là phải giữ được bí mật. Chỉ khi nhân dân có giác ngộ chính trị cao, có lòng nồng nàn yêu nước mới sáng tạo ra 'trăm phương nghìn kế" để tạo ra chỗ giấu quân, để đưa hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược vào ngay sào huyệt của địch, và sẵn sàng hy sinh cả tính mạng và của cải để bảo vệ các lực lượng cánh mạng, để tiếp sức cho các lực lượng vũ trang chiến đấu trong thành phố. Ri-sat Hôn-rút (Richard Hollrooth) được phái đến Sài Gòn để xem xét tình hình đã nhận xét: "Oét mo-len (Westmoreland) bị choáng váng về việc Cộng Sản có thể phối hợp nhiều cuộc tiến công như thế mà lại trong vòng bí mật." Mục tiêu cao nhất của cuộn Tổng tiến công là đánh vào ý chí của địch, làm cho nó lung lay tận gốc, làm nản chí cả những kẻ hiếu chiến nhất, "làm náo động cả nước Mỹ". Đẩy cuộc chiến tranh ngay trong lòng nước Mỹ lên một bước mới, đến nỗi trong hồi ký sau này Giôn-xơn "cảm thấy nước Mỹ bị sụp đổ ở mặt trận đối nội". Trong khi đó thì chúng ta tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Đó còn là sự sáng tạo trong lựu chọn thời cơ chiến lược. Ta tiến hành tổng tiến công và nổi dậy vào lúc địch đông quân nhất, sau gần 3 năm thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ, đang ở vào thế tiến thoái lưỡng nan.

        Ta chọn thời cơ vào năm bầu cử tổng thống Mỹ, tình hình nước Mỹ sẽ "rất nhạy cảm về chính trì", áp lực quân sự vào thời điểm này có thể tạo ra hiệu lực lớn. Đây là thời cơ ta lựa chọn đúng lúc nên đã đạt hiệu quả cao. Sau cuộc Tổng tiến công một tháng, tướng Oét-mo-len, Tổng chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam bị cách chức, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mác Na-ma-ra thôi việc; sau hai tháng, ngày 31-3, tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố đơn phương ngừng bắn phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri, không ra ứng cử nhiệm kỳ thứ hai nữa. Trên thực tế Mỹ đã mặc nhiên thừa nhận một cách đầy đủ sự phá sản của chiến lược chiến tranh cục bộ. Chiến lược chiến tranh cục bộ của Hoa Kỳ là chiến lược quan trọng nhất, có tính quyết định nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh đã thất bại và đi vào một bước ngoặt đi xuống. Chúng ta có khuyết điểm là sau đợt hai đã chậm chuyển hướng về nông thôn nên tổn thất. Nhưng thất bại của Mỹ trong chiến tranh cục bộ đã không thể nào cứu vãn được.

        Ba mươi năm  đã trôi qua. Chiến công oanh liệt của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 vẫn mãi mãi sáng chói trong lịch sử của dân tộc, để lại cho chúng ta lòng tự hào và bài học quý giá. Đó là bài học kiên định quyết tâm giành toàn thắng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Lịch sử dân tộc ta và cách mạng nước ta đã phải trải qua không biết bao nhiêu phong ba bão táp, có lúc tưởng như nghìn cân treo sợi tóc, nhưng nhân dân ta, Đảng ta với trí thông minh và lòng dũng cảm đã luôn luôn sáng tạo tìm ra lời giải đáp đúng, đoàn kết triệu người như một, không những đánh bại được kẻ thù mà còn làm cho dân tộc và quốc gia trưởng thành vững bền hơn. Đó là bài học về đánh giá đúng tình hình, đặc biệt là trong những bước ngoặt và những tình huống chiến lược hệ trọng. Phải có tầm nhìn chiến lược, kiên định mục tiêu cơ bản và lâu dài của dân tộc, của cách mạng mới có thể phân tích đúng tình hình, tạo ra thời cơ và nắm bắt thời cơ đề ra được những biện pháp chiến lược sáng tạo và sắc bén. Quá trình đấu tranh cách mạng là quá trình tìm ra quy luật và hành động theo quy luật, là quá trình sáng tạo, như Lê-nin từng nói: Cách mạng là sáng tạo". Đó là bài học về lòng tin vững chắc ở nhân dân, ở sức mạnh của dân tộc, dựa vào nhân dân, dựa vào dân tộc, phát huy truyền thống tự lực, tự cường của dân tộc, phát động cao trào cách mạng trong toàn dân, toàn quân tạo thành sức mạnh to lớn chiến thắng mọi kẻ thù, vượt qua mọi thử thách. Thắng lợi oanh liệt của Mậu Thân 1968 còn là thắng lợi của một quá trình tổ chức thực tiễn rộng lớn, là thắng lợi của nghệ thuật quân sự Việt Nam độc đáo và sáng tạo.

        Ngày nay, đất nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo con đường xã hội chủ nghĩa, xây dựng xã hội công bằng, văn minh. Hơn lúc nào hết chúng ta phải . nắm chắc quy luật "Dựng nước đi đôi với giữ nước" của dân tộc. Kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội và hết sức sáng tạo trong chỉ đạo thực tiễn, thực hiện lời dạy của Bác Hồ "Dĩ bất biến, ứng vạn biến".


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:31:14 am

MỘT ĐỈNH CAO THẮNG LỢI CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN LINH       

        Cách đây vừa tròn 30 năm, đúng vào Tết Mậu Thân cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta nổ ra đồng loạt trên toàn chiến trường miền Nam, đặc biệt là ở Sài Gòn, Huế, nhiều thị xã, thị trấn và căn cứ quân sự của Mỹ - ngụy.  Vào lúc đội quân viễn chinh Mỹ trực tiếp tham chiến trên chiến trường đông tới 50 vạn tên, cộng với quân ngụy và quân một số nước khác là trên một triệu tên, có vũ khí-trang bị kỹ thuật hiện đại, vào lúc tướng Oét-mo-len chỉ huy quân Mỹ vừa chủ quan, vừa bưng bít sự thật tuyên bố “đối phương sập bị đánh đến nơi”, cuộc Tổng tiến công đồng loại mạnh mẽ vào các trung tâm đầu ữao của Mỹ - ngụy vào phong trào nổi dậy của đông đảo quần chúng ở các đô thị đã làm chấn động nước Mỹ và dư luận thế giới.       

        Thông thường, khi chiến tranh sắp đến hồi kết thúc, phía mạnh hơn và chiến thắng mới có thể mở những cuộc tiến công vào sào huyệt của đối phương. Ở Việt Nam, điều đã trở thành bình thường là ngay khi chiến tranh vừa bùng nổ và trong quá trình chiến tranh, ở bất cứ thời điểm nào, địa phương nào, khi có địch là có phong trào kháng chiến rộng khắp của mọi tầng lớp nhân dân. “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh.” Cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc đã trở thành truyền thống từ ngàn xưa của dân tộc Việt Nam.  Cuộc kháng chiến chống Pháp, tiếp đó là kháng chiến chống Mỹ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã kế thừa và phát triển truyền thống tốt đẹp đó lên một trình độ mới. Theo lời kêu gọi toàn dân, toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân ta trên mọi miền của đất nước, từ vùng núi đến nông thôn đồng bằng và đô thị đã kiên quyết đứng lên kháng chiến chống xâm lược. Đánh địch trên cả ba vùng chiến lược trở thành phương châm chi đạo kháng chiến của Đảng, là thực tiễn sinh động trong 30 năm chiến tranh giải phóng, là nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự và chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Các thành thị là những vùng kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật phát triển, nơi tập trung đông đảo giai cấp công nhân, đồng bào lao động, trí thức, sinh viên học sinh... Do những đặc điểm lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển, các thành thị ở Việt Nam gắn rất chặt với vùng nông thôn. Khi nước ta bị xâm lược do tương quan lực lượng giữa quân địch và ta còn chênh lệch, thành thị thường tạm bị địch chiếm trong thời kỳ đầu, là nơi địch đặt các cơ quan chi huy, sân bay, kho tàng, bến cảng... Chúng bình định, kiểm soát gắt gao và tìm mọi cách để đẩy chiến tranh ra xa thành phố. Nhưng chính ở đây, cơ sở chính trị và vũ trang đã đượm Đảng xây dựng từ rất sớm. Phong trào đấu tranh chính trị phát triển mạnh với nhiều hình thức phong phú.  Khi đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp xâm lược miền Nam, cuộc đấu tranh chống Mỹ, đòi hòa bình, thống nhất đất nước của nhân dân các đô thị, đặc biệt là ở Sài Gòn - Gia Định phát triển lên quy mô mới. Nhiều cuộc đấu tranh lôi cuốn sự tham gia của hàng chục vạn công nhân, người lao động, đồng bào phật tử, sinh viên, học sinh, tơ sản, trí thức yêu nước, tranh thủ được sự ủng hộ của binh lính và nhân viên ngụy quyền vì trong các khẩu hiệu đấu tranh có cả khẩu hiệu đòi tăng lương cho họ... Phương châm chỉ đạo và phương thức đấu tranh bằng hai chân (chính trị - vũ trang), ba mũi (chính trị - quân sự - binh vận), trên cả ba vùng chiến lược (miền núi, nông thôn đồng bằng, đô thị).  hình thành và phát triển mạnh trong các cao trào “đồng khởi” và trong thời kỳ đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt của Mỹ - ngụy”.  Do thế và lực của cách mạng ngày càng phát triển, vào những tháng cuối năm 1964 - đầu năm 1965, cục diện chiến trường có nhiều biến chuyển, khả năng giành những thắng lợi lớn hơn xuất hiện. Một số tài liệu được công bố gần đây ở nước Mỹ cho biết, trước khi bị ám sát (22-10-1963), Tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi đã nhận thấy ‘sự dính líu’ của Mỹ ở Việt Nam có thể làm cho Mỹ bị sa lầy, ảnh hưởng đến chiến Lược toàn cầu, nên đã chuẩn bị một kế hoạch rút lực lượng ra khỏi miền Nam Việt Nam.

        Trong tình hình đó, theo chủ trương của Trung ương, tôi đã cùng anh Nguyễn Chí Thành xuống khu Sài Gòn - Gia Định cùng cấp ủy đảng địa phương chỉ đạo kế hoạch tiến công quân sự vào một số mục tiêu quan trọng trong thành phố kết hợp với nổi dậy của quần chúng, tranh thu thời cơ giành thêm những thắng lợi mới, làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của địch. Kế hoạch đang được triển khai thì Mỹ chuyển sang thực hiện, chiến lược ‘chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân viễn chinh vào chiến trường miền Nam, dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc, “ngăn chặn chiều hướng thua, của quân ngụy và “tìm diệt” chủ lực quân giới phóng. Cuộc chiến đấu ‘ với lực lượng lớn quân viễn chinh Mỹ có vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại trong hai mùa khô 1965 - 1966 vô cùng gay go, ác liệt. Mặc dù đối tượng tác chiến và quy mô chiến tranh có thay đổi, ta vẫn kiên quyết giữ vững thế chủ động tiến công, kiên trì chủ trương đánh địch trên cả ba vùng chiến lược.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:31:40 am

        Ở Sài Gòn và các đô thị, ta tiếp tục xây dựng thêm nhiều cơ sở chính trị và cơ sở vũ trang, hình thành các “lõm căn cứ” ngay trong nội thành và vùng ven; đồng thời, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng chống quân Mỹ xâm lược. Ta đã phát triển mạnh phương thức tác chiến của lực lượng đặc biệt tinh nhuệ đánh sâu vào hậu cứ, sân bay, kho tàng, cư xá của sĩ quan, nhân viên kỹ thuật Mỹ, gây chấn động lớn. Một số đơn vị tập trung như cụm, đội biệt động được thành lập, có nhiệm vụ đánh địch thường xuyên gây động và hỗ trợ phong trào đấu tranh của quần chúng, đồng thời dựa vào cơ sở trong nội thành để phát triển thêm nhân mối, chuẩn bị nơi ém quân, hầm bí mật chứa vũ khí, thiết lập đường dây liên lạc và chuyển vũ khí vào gần các mục tiêu tiến công, sẵn sàng đón và đáp ứng thời cơ chiến lược. Có thể nói, cùng với đấu tranh chính trị, thế trận, lực lượng và phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân ở Sài Gòn và các thành thị miền Nam đã có bước phát triển mới trong những năm Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào chiến trường. Đây là thắng lợi lớn của phương châm đánh địch trên ba vùng chiến lược, là một trong những cơ sở quan trọng để Đảng ta hạ quyết tâm đưa chiến tranh vào đô thị, mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trong dịp Tết Mậu Thán 1968.  Cũng có người cho rằng trong cuộc Tổng tiến công đánh vào các đô thị miền Nam không có sự nổi dậy của quần chúng. Đúng là do ta giữ bí mật tuyệt đối để giáng đòn bất ngờ cho định, quần chúng không nổi dậy diệt ác phá kìm giành quyền làm chủ khóm phường cùng lúc với lực lượng biệt động và các tiểu đoàn chủ lực đánh vào các cứ điểm quy định. Nhưng chính quần chúng đã tham gia tích cực vào cuộc chuẩn bị cho đợt tiến công này và sau khi nổ súng đã tham gia rất đông đảo, trực tiếp và gián tiếp bằng nhiều hình thức trên nhiều lĩnh vực. Không có nhân dân trinh sát, nắm tình hình địch, dẫn đường, che giấu. . . các đội biệt động không thể ém quân bí mật ngay gần các cơ quan đầu não địch, không thể có vũ khí để chiến đấu, các đơn vị chủ lực cũng không thể vượt qua các tuyến ngăn chặn dày đặc của địch, tiến vào nội thành đánh địch ngay trên các đường phố. Nhân dân còn trực tiếp tham gia chiến đấu, tiếp tế cơm nước cho bộ đội, che chở và nuôi dưỡng thương binh rồi đưa về căn cứ an toàn. Nhiều người, có trường hợp cả gia đình bị địch bắt, khủng bố, tù đày vẫn một lòng hướng về cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng đất nước. Cũng cần phải nói thêm về hình thức tổ chức và phương thức hoạt động của biệt động. Đây là một sáng tạo về hình thức tổ chức lực lượng vũ trang của Đảng, gọn nhẹ, bí mật, linh hoạt, nằm trong dân, hòa vào dân, thường xuyên hoạt động trong lòng địch. Khác với lực lượng tình báo trinh sát, biệt động là lực lượng chiến đấu, thường đánh đòn hiểm, táo bạo, bất ngờ vào cơ quan đầu não và các mục tiêu quan trọng của địch ở các đô thị. Lực lượng biệt động ra đời từ kháng chiến chống thực dân Pháp, phát triển mạnh trong kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là ở Sài Gòn - Gia Định. Sự ra đời và phương thức hoạt động của lực lượng biệt động đánh dấu bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân và là nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968, bằng tinh thần dũng cảm vô song, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, lực lượng biệt động đã mở đầu xuất sắc cuộc tiến công ở Sài Gòn và các đô thị, gây chấn động lớn, có thể nói đã lập công đầu Hoạt động chiến đấu, chiến công xuất sắc, sự hy sinh to lớn của lực lượng biệt động và sự tham gia rộng lớn của nhân dân Sài Gòn và các đô thị trong những ngày Tết Mậu Thân 1968 là một đỉnh cao thắng lợi của chiến tranh nhân dân Việt Nam, góp phần tạo nên hiệu lực chiến lược lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, góp phần đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải chịu thua về chiến lược, xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán với ta để tìm cách kết thúc chiến tranh. Đây là kết quả của quá trình chuẩn bị, xây dựng thế trận, lực lượng trong nhiều năm trước đó, trong đó có kết quả xây dựng cơ sở chính trị và cơ sở vũ trang ở các đô thị theo phương châm đánh địch trên ba vùng chiến lược của Đảng. Sau thằng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân, cuộc kháng chiến thống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta đã chuyển sang một giai đoạn mới. Mặc dù còn phải tiếp tục chiến đấu, còn phải trải qua nhiều gian khổ, ác liệt, hy sinh, quân và dân ta đã có điều kiện và thời cơ mới để thực hiện thắng lợi Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miến Nam, thống nhất đất nước. 

        Kỷ niệm 30 năm thắng lợi cua cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân, đúng vào năm Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh 300 tuổi, vào lúc công cuộc đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được nhiều thành tựu và đang đứng trước những triển vọng mới, chúng ta càng nhận rõ và sâu sắc hơi sức mạnh to lớn, sức sáng tạo phong phú của nhân dân, trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, trong chiến đấu cũng nhơ trong công cuộc xây dựng và đổi mới . “Dựa chắc vào dân, biết khơi dậy, tổ chức và phát huy sức mạnh’ đoàn kết, sức sáng tạo của nhân dân, chúng ta đã lập nên kỳ tích đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của nước đế quốc hùng mạnh nhất thế giới, hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước. Phát huy truyền thống và những kinh nghiệm lịch sử quý báu đó, dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh và dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất định dân tộc ta sẽ thực hiện thắng lợi sự nghiệp vĩ đại mới: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:34:20 am

TẾT MẬU THÂN TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC LỊCH SỬ

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP           

        Cách đây 30 năm, đúng vào lúc giao thừa Tết Mậu Thân, hưởng ứng hiệu lệnh của Bộ thống soái tối cao đứng đấu là Bác Hồ kính yêu, toàn quân và toàn dân ta ở miền Nam đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mà lúc bấy giờ đề ra là Tổng công kích - tổng khởi nghĩa, đồng loạt đánh vào hầu hết các thành phố lớn, đặc biệt là Sài Gòn và Huế, các thị xã, thị trấn, chi khu, quận ly, vào các sân bay và căn cứ hậu cần của Mỹ, trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam.

        Cuộc tiến công táo bạo bất ngờ đã tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực cấp cao của Mỹ, ngụy, đánh chiếm những mục tiêu hiểm yếu như Đài phát thanh, tòa Đại sứ Mỹ, đánh vào Bộ Tổng tham mưu, Tổng nha Cảnh sát ngụy ở Sài Gòn, đánh vào nội thành và làm chủ trong một thời gian dài Cố đô Huế, phá hủy một khối lượng quan trọng các phương tiện chiến tranh và cơ sở hậu cần hiện đại nhất của Mỹ, ngụy.

        Bất ngờ về th ời gian: lúc giao thừa.

        Bất ngờ về mục tiêu: Các đô thị và căn cứ quan trọng.

        Bất ngờ về quy mô: không phải đánh vào vài chục điểm nhỏ như phán đoán của tình báo địch, mà đánh đồng loạt, trên khắp chiến trường miền Nam.

        Cuộc Tổng tiến công điền ra trong tình hình địch đã leo thang đến đỉnh cao: trên 50 vạn quân viễn chinh Mỹ và chơ hầu, cùng với đội quân được hiện đại hóa của ngụy, tất cả là 1 triệu 20 vạn quân; và trong khi tướng Oét-mo-len đang chuẩn bị đợt tiến công thứ 3 sau những trận tiến công thất bại của quân đội Mỹ trong hai mùa khô qua; trước mắt thì đang khẩn trương cứu nguy cho căn cứ Khe Sanh, ở đó 2/5 lực lượng chiến đấu Mỹ đã bị vây hãm và tiến đánh, trong một cuộc nghi binh tài giỏi nhằm đánh lạc hướng quân địch.

        Như lời nhận định của một nhà sử học quân sự Mỹ, cuộc tiến công đã gây ra cho Mỹ một cú choáng đột ngột, đã làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến dự định của Mỹ. Nó đã làm rung chuyển không những toàn bộ chiến trường miền Nam mà còn làm rung chuyển Lầu năm góc và cả nước Mỹ. Cuộc Tổng tiến công đã đưa cảnh tượng chiến tranh vào mỗi gia đình Mỹ, vào Quốc hội Mỹ. Trong phút chốc, nhân dân Mỹ bừng tỉnh, thấy nước Mỹ đang lao vào một cuộc chiến tranh đẫm máu, đang lún sâu vào đường hầm không có lối thoát; cao trào chống chiến tranh ở Mỹ lan rộng và lên cao chưa từng có. Té ra những câu chuyện “chiến thắng ở Việt Nam” mà Lầu năm góc thường tung ra đều là những điều dối trá. Cả thế giới theo dõi, khâm phục ý chí giành độc lập tự do của dân tộc Việt Nam, phong trào ủng hộ nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của Mỹ phát triển mạnh.

        Thắng lợi quan trọng nhất của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân là đã làm lay chuyển ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Tổng thống Giôn-xơn phải xuống thang chiến tranh, chịu ngồi lại đàm phán với ta ở Pa-ri, thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Giôn-xơn thôi không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ hai.

        Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân về cơ bản đã đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, mở ra khả năng cho ta thực hiện chiến lược “đánh cho Mỹ cút” để tiến tới “đánh cho ngụy nhào”, giành lại độc lập thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc Việt Nam.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân có được những kỳ tích ấy là do cả một quá trình đấu tranh của đồng bào và chiến sĩ trên cả hai miền Nam - Bắc, do ta đã có một kế hoạch chuẩn bị gian khổ, kiên trì và mưu trí trên chiến trường miền Nam trong nhiều tháng, có nơi hàng năm như ở Sài Gòn, Huế... Do vậy, khi nổ súng tiến công thì các lực lượng tinh nhuệ của ta đã ém sẵn ở các vị trí hiểm yếu của địch, ở hầu khớp các vùng nội thành.  Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân thật là to lớn. Song, trong khi đánh giá cao thắng lợi, tại cuộc hội thảo khoa học này, chúng ta không thể không nói đến một số khuyết điểm, mà sau này Trung ương Đảng ta cũng đã nêu rõ. Do nhận thức và đánh giá chưa thật sát đúng tình hình, nên lúc đầu ta đã đề ra chủ trương tổng khởi nghĩa ngay trong lúc chiến tranh đang diễn ra quyết liệt, địch còn khá mạnh là không sát thực tế. Cuộc tổng khởi nghĩa đã không diễn ra. Ta đã kéo dài cuộc Tổng tiến công vào các đô thị trong khi yếu tố bất ngờ không còn, địch đã củng cố. Ta đã chậm chuyển hướng về nông thôn rộng lớn, ở đó một thời gian quân địch hầu nhơ bị tan vỡ từng mảng, trước những cuộc nổi dậy của nhân dân. Khuyết điểm, sai lầm ấy đã gây cho ta những tổn thất và khó khăn về sau.

        Tổ quốc mãi mãi ghi nhớ tấm gương nghĩa liệt của biết bao anh hùng liệt sĩ, của bộ đội biệt động và đặc công, bộ đội chủ lực, địa phương và du kích, của các cơ sở đảng, cơ sở cách mạng, của đồng bào yêu nước đã có công lớn tham gia chiến đấu và nổi dậy, hưởng ứng và ủng hộ cuộc Tổng tiến công để cho chúng ta giành được thảng lợi to lớn nói trên.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đánh dấu một bướt phát triển mới trong học thuyết và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Lần đầu tiên, ta đã tổ chức và phát động một cuộc tiến công đồng loạt trên khắp chiến trường rộng lớn vào các sào huyệt của địch mà vẫn giữ được bất ngờ đến giờ nổ súng.

        Bài học lớn là: biết dựa vào dân, biết kết hợp chủ nghĩa anh hùng cách mạng vô song của nhân dân Việt Nam với trí tuệ sáng tạo Việt Nam, từ Bộ thống soái tối cao cho đến đông đảo quần chúng thì sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam trở nên một sức mạnh vô tận, có thể làm nên những chiến công hiển hách, những kỳ tích phi thường, tưởng chừng như không thể làm được.

        Diễn biến cuộc Tổng tiến công còn cho thấy: trong chiến tranh, thực tiễn địch - ta biến chuyển mau lẹ, biết địch biết ta không những lúc đầu mà phải bám sát tình hình trong cả quá trình chuyển biến. Xuất phát từ thực tiễn luôn luôn vận động, với tinh thần tích cực, chủ động và cơ động linh hoạt, tìm ra quy luật, híp thời điều chỉnh chủ trương cho sát đúng, luôn hành động đúng quy luật thì nhất định tránh được khuyết điểm, giành được thắng lợi to lớn, trọn vẹn hơn.

        Ngày nay, trong hòa bình xây dựng, những bài học kinh nghiệm của trận quyết chiến chiến lược Mậu Thân vẫn còn có giá trị lớn.

        Chúng ta hãy đem tinh thần cách mạng tiến công của Tết Mậu Thân vào công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

        Hãy luôn phát huy ý chí và quyết tâm cao, kết hợp với trí tuệ sáng tạo tuyệt vời của con người Việt Nam trong cuộc chiến đấu mới chống nghèo nàn và lạc hậu, xây đựng cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân lao động, cho toàn dân.

        Hãy luôn xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, dựa vào dân, tin tưởng ở dân, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, kịp thời đề ra những bước đi, những quyết sách phù hợp với quy luật của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.  Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam ta nhất định vượt qua mọi thử thách, tranh thủ mọi vận hội, tiến lên giành thắng lợi ngày càng to lớn, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, đáp ứng lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:37:43 am

THÀNH CÔNG NÔI BẬT VỀ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC, SÁNG TẠO TUYỆT VỜI CỦA TƯ DUY QUÂN SỰ VIỆT NAM

Đại tướng VĂN TIẾN DŨNG       

        Trên chặng đường lịch sử 21 năm ròng rã chống Mỹ, cứu nước, có những chiến công vang dội được coi là những mốc son đánh dấu những bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến, khắc ghi những phát triển cao của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân chính là sự kiện có tầm vóc như vậy.

        Thời gian đ ã làm mai một đi nhiều thứ. Nhưng năm tháng trôi qua đã không thể làm phai mờ cái Tết đi vào lịch sử như một biểu tượng của trí tuệ và khí phách dân tộc. Những cứ liệu ngày càng phong phú tích lũy được, sự hiểu biết không ngừng đổi mới và tiến lên đã tạo điều kiện cho chúng ta đánh giá và khái quát đúng đắn hơn, đầy đủ hơn nhiều sự thật lịch sử và giá trị đích thực của chung.

        Nhân ngày kỷ niệm vẻ vang này, tôi xin phép được nói lên đôi điều tâm đắc về một quyết sách chiến lược mà kết cục đã tạo nên một sự đột biến trong cục diện chiến tranh, làm rung chuyển nước Mỹ và gây chấn động trong dư luận thế giới.

        Nhạy bén nắm bắt thời cơ chiến lược, kịp thời đề ra chủ trương chiến lược thích hợp.

        Tung vào miền Nam hơn 40 vạn quân Mỹ, chuyển sang tiến hành ‘chiến tranh cục bội’ với chủ trương đánh mạnh, thắng nhanh, đế quốc Mỹ chắc mẩm có thể xoay ngược tình thế, đè bẹp lực lượng cách mạng, chuyển bại thành thắng trong một thời gian vài ba năm. Trong hai năm, Mỹ đãmở hai cuộc phản công chiến lược, cuộc sau lớn hơn cuộc trước, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh phá hoại ác liệt miền Bắc.  Nhưng kết qua thu được thật thảm hại . Các cuộc phản công chiến lược đã lần lượt thất bại, cuộc sau nặng hơn cuộc trước. Chiến lược hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” bị bẽ gãy. Không một mục tiêu chiến lược nào được thực hiện.

        Với trên một triệu quân Mỹ, chư hầu và ngụy, địch đã không giành lại được thế chủ động, trái lại càng lún sâu vào thế bị động, đi dần vào thế phòng ngự. Về mặt chiến thuật, địch không phát huy được chỗ mạnh, mà buộc phai đánh theo hai cách của ta. Ở miền Bác, cuộc leo thang chiến tranh phá hoại của địch cũng phải  chịu những tổn thất nặng nề, không ngăn chặn nổi nguồn chi viện từ miền Bác vào miền Nam ngày càng tốt hơn và tăng hơn trước. Thất bại trên chiến trường đã khơi sâu mâu thuẫn và khó khăn về chính trị, kinh tế và xã hội ở trong nước Mỹ và làm suy yếu vị trí của Mỹ trên thế giới.   

        Về phía ta, lực lượng mọi mặt được tăng cường, sung sức hơn. Ta đã vận dụng linh hoạt 6 phương thức tác chiến; đồng thời sáng tạo ra nhiều cách đánh mới, có hiệu quả. Ta giữ vững và mở rộng thế chủ động, hình thành vòng vây xung quanh các căn cứ, thị xã, đẩy mạnh đấu tranh ở các đô thị. Trên mặt trận mới về ngoại giao mở ra theo quyết định của Hội nghị Trung ương 13 chúng ta có nhiều thành tựu, đẩy Mỹ vào thế ngày càng cô lập .

        Tóm lại, chúng ta đánh thắng một bước cuộc chiến tranh cục bộ với nỗ lực quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ, đẩy chúng vào thế tiến, lui đều khó. Từ đó có thể kết luận rằng dù Mỹ có tung thêm quân, đổ thêm vũ khí vào miền Nam nữa, chúng cũng không thể nào làm thay đổi cục diện chiến trường.

        Trong tình thế ấy, Bộ chỉ huy Mỹ ở miền Nam đã vạch kế hoạch phản công lần thứ ba nhằm giữ thế giằng co giữa hai bên, cải thiện một phần tình hình ngăn chặn mọi đảo lộn bất ngờ cho đến khi bầu cử xong tổng thống ở Mỹ. Thế nhưng, như tướng Oét-mo-len thú nhận: “Những tin tức về những cuộc chuyển quân lớn của phía địch đã buộc tôi phải hủy bỏ những kế hoạch đó”.

        Trên cơ sở đánh giá cụ thể so sánh lực lượng lúc đó. Bộ Chính trị Đảng ta nhận định thời cơ chiến lược lớn đã xuất hiện. Tháng 5-1967, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra chủ trương chiến lược chuyển cuộc kháng chiến lên một bước mới: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trên cơ sơ nắm vững phương châm đánh lâu dài, cần phát huy mạnh mẽ chiến thắng to lớn trong mùa khô vừa qua, ra sức đẩy mạnh những cố gắng của ta đến mức cao nhất nhằm giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn”. Ở đây cần phải nói rõ, Trung ương Đảng ta đã xác định từ năm trước, giành thắng lợi quyết định là giành một bước thắng lợi căn bản trong một tình hình cụ thể nhất định, chứ chưa phai là giành thắng lợi hoàn toàn. Bộ Chính trị quyết định mục tiêu chiến lược và cục diện chiến trường phải đạt tới yêu cầu là triển khai thế chủ động và thế tiến công của ta trên quy mô chiến lược và chiến dịch ở những hướng chiến trường chủ yếu bằng cả tiến công quân sự và tiến công chính trị.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:38:04 am

        Về cách đánh, Bộ Chính trị chi rõ cần vận dụng linh hoạt 6 cách đánh và những cách đánh mới đã xuất hiện vừa qua, kiên quyết thực hiện cho được một số trận đánh lớn có tính chất quyết chiến quan trọng.

        Quyết tâm chiến lược chính xác, sáng tạo, táo bạo.

        Chủ trương đã có, nhưng thực hiện dược là cả một quá trình cực kỳ căng thẳng về trí óc và sức lực, bằng mồ hôi và máu, khắc phục nhiều khó khăn, vượt qua nhiều thử thách với nỗ lực phi thường.

        Ban đầu, khi được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ chuẩn bị kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1967-1968. Bộ Tổng tham mưu đề ra phương án có những trận đánh tiêu diệt lớn với những chỉ tiêu định mức diệt sinh lực địch, giải phóng dân, làm tê liệt giao thông, đánh căn cứ lớn, đẩy mạnh đấu tranh đô thị, phá tuyển cử của địch. Đây là phương án làm theo lối cũ với chỉ tiêu cao hơn.  Với phương án này, ta sử dụng lực lượng quân sự là chính nhằm đánh tiêu diệt lớn, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận từng bước giành quyền làm chủ ở các đô thí và vùng chung quanh. Nhưng khó khăn là cho đến lúc này chủ lực ta còn thiếu kinh nghiệm đánh lớn, khả năng tiêu diệt đơn vị địch lớn hơn cấp tiểu đoàn chưa bảo đảm. Một lúng túng nữa là chọn chiến trường nào để ra đòn quyết định. Vả lại làm theo kiểu “tuần tự nhi tiến” đánh theo mùa, đợt thì địch có thời gian hồi phục, tình hình sẽ nhùng nhằng, kéo dài không thể gây chuyển biển gì lớn. Về chiến lược không tranh thủ được thời cơ có lợi, không đáp ứng được tình thế đã mở ra.

        Bộ Tổng tham mưu đã báo cáo những phân vân của mình và xin ý kiến của đồng chí Lê Duẩn. Đồng chí nêu vấn đề: “Mỹ đã đưa chiến tranh cục bộ đến đỉnh cao mà vẫn thất bại. Phải chăng lúc này đã có thể đưa chiến lược tiến công của ta đến bước phát triển tất yếu của nó là tổng công kích, tổng khởi nghĩa? Song cần phải bàn bạc kỹ. Quân ủy trung ương cần chuẩn bị để báo cáo Bộ Chính trị. Đến tháng 8 năm 1967 đã hình thành ý định thay đổi phương án, lựa chọn phương án mới phát huy sức mạnh tổng hợp lớn nhất bằng cách tổng tiến công kết hợp với nổi dậy, giáng cho địch một đòn quyết định, tạo cục diện mới của chiến tranh. Bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1967, các đồng chí phụ trách chiến trường ra báo cáo tình hình, thống nhất cao với chủ trương và cách đánh mới này. Ngày 20 tháng 10, Bộ Chính trị nghe Quân ủy trung ương báo cáo kế hoạch chiến lược toàn diện về tổng công kích - tổng khởi nghĩa. Và ngày 18-11-1967, Bộ Chính trị lại họp bàn về đề án phát động quần chúng tổng khởi nghĩa kết hợp với tổng công kích.

        Ngày 18-1-1968, Bộ Chính trị họp nghe đồng chí Nguyễn Văn Linh báo cáo kế hoạch của miền Nam và hạ quyết tâm cuối cùng. Vậy là phải mất nhiều tháng nghiên cứu, bàn bạc, trao đổi với các chiến trường, các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy quân sự cấp cao, các địa phương, vừa gian khổ tạo thế, tạo lực mới đi đến khẳng định một quyết tâm: Kết hợp hai đòn tổng tiến công và nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng lực lượng quân sự Mỹ - ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, làm thay đổi lực lượng so sánh có lợi cho ta hơn nữa. Trên cơ sở đó, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buột Mỹ phải thay đổi chiến lược, phải xuống thang chiến tranh. Đồng thời, thực hiện sách lược mềm dẻo, lôi kéo và làm tan rã quân ngụy, mở đường cho Mỹ rút ra mà không mất thể diện.

        Để thực hiện thắng lợi mục tiêu nói trên, chúng ta lựa chọn hướng công kích và khởi nghĩa chủ yếu nhằm vào các thành thị mà trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nang, Huế. Thành thị là sào huyệt đầu não, trung tâm chỉ huy, nơi dự trữ nhiều trang bị kỹ thuật, hạ tầng cơ sở của không quân, hải quân, phương tiện thông tin, giao thông vận tải của địch. Đánh vào đây là đánh vào tim óc, huyết mạch, dạ dày của địch, nơi rất hiểm và nhạy cảm nhất, chỗ mạnh nhất cũng là nơi địch đang có sơ hở, có thể do đó tạo một thôi động lớn. Ở đây ta sử dụng lực lượng quân sự tinh nhuệ (đặc công, biệt động), kết hợp mũi tiến công của lực lượng xung kích với những cuộc nổi dậy của quần chúng tại chỗ và vùng nông thôn kế cận, phối hợp quân sự và chính trị, thành thị và nông thôn. Đánh như vậy nhất định gây ảnh hưởng lớn đến cục diện chiến tranh, thắng lợi sẽ có tầm vóc chiến lược, sức dùng một nửa mà công được gấp đôi. Đồng thời, ta chủ trương kéo chủ lực địch ra những chiến trường ta có chuẩn bị giam chân và tiêu diệt nhiều địch, khiến cho địch không phán đoán được ý định của ta, tạo điều kiện cho các thành thị tiến công và nổi dậy. Đây cũng là một đòn chính của Tổng công kích, một hướng tiến công của bộ đội chứ lực của ta.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:38:23 am

        Không gian tiến công bao trùm toàn miền, tiến hành đồng loạt trên quy mô rộng lớn chưa từng có.

        Thời gian tiến công được chọn đúng giữa đêm giao thừa Tết Nguyên đán - một thời điểm mà địch không ngờ tới.

        Như vậy, việc lựa chọn phương hướng tiến công đánh đòn quyết định, việc tìm ra cách đánh tối ưu nhằm tạo hiệu lực chiến lược với lực lượng không nhiều, cũng như thực hiện phối hợp chiến trường trên quy mô toàn miền, cả nước đã làm cho trận chiến Tết Mậu Thân là một trận quyết chiến chiến lược chưa từng có trong cuộc chiến tranh giải phóng này. Nó thực sự là Tuột sáng tạo độc đáo trong tư duy chiến lược của ban lãnh đạo Đảng ta, một mẫu mực về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng Việt Nam.  Song nhiều vấn đề cực kỳ phức tạp vẫn còn ở phía trước. Làm sao đưa một số lượng người và vũ khí không nhỏ vào ém sẵn sâu trong lòng địch, nơi chúng bảo vệ nhiều lớp, nhiều tầng, tưởng chừng ruồi bay khó lọt. Làm sao giữ được bí mật cả một hoạt động sôi nổi, dồn dập của cả ba thứ quân. Làm sao sấp xếp bố trí lực lượng chuẩn bị và phối hợp nhịp nhàng kịp thời các mũi tiến công.

        Thật khó mà nói hết được mức độ khẩn trương, căng thắng của lao động trí óc của Bộ thống soái tối cao và các cấp lãnh đạo chỉ huy các chiến trường, các địa phương để bàn bạc, đóng góp trí tuệ, đề ra và tổ chức thực hiện quyết sách chiến lược lịch sử này. Và cũng khó mà hình dung hết được khối lượng đồ sộ công tác chuẩn bị tạo lực, tạo thế cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, chuẩn bị đề phòng cả tình huống địch có thể đánh phá hệ thống đê điều miền Bắc, kéo dài và mở rộng chiến tranh. Dựa vào tinh thần làm chủ của nhân dân ta, ý thức trách nhiệm cao của các cấp, thế trận và lực lượng mà Đảng đã dày công chuẩn bị và xây dựng nên cho đến thời điểm lịch sử ấy, mũi tên đã được đặt trên dây cung chỉ chờ giờ hành động điểm là bắn ra nhằm vào yết hầu địch.

        Sáng kiến lịch sử, thắng lợi quyết định.

        Như kế hoạch đã định, cuối tháng 1 năm 1968 ta bắt đầu mở hoạt động lớn ở Mặt trận đường số 9 - Khe Sanh, xem  như một đòn chính của bộ đội chủ lực ta, nhằm đánh lạc hướng, thu hút quân cơ động của Mỹ, vây hãm, giam chân, tiêu hao chúng tạo thế cho các chiến trường khác tiến công và nổi dậy. Tướng Oét-mo-len vội vã điều quân tăng cường giữ và cho không quân ném bom dữ dội, chở quân đổ bộ xuống khu vực Khe Sanh. Sau đợt Tết, quân ta tiếp tục bao vây Khe Sanh, dùng các hỏa lực và đánh lấn khiến Bộ Quốc phòng Mỹ tính tới khả năng ta có thể tạo ra một “cái giống như Điện Biên Phủ’. Địch đã rơi vào cái bẫy của ta. Trên chiến trường nước bạn Lào, từ ngày 12 đến 27 tháng 1 năm 1968, quân đội Pa Thét Lào và quân tình nguyện Việt Nam mở chiến dịch Nậm Bạc đại thắng. Chiến thắng này đi trước và phối hợp nhịp nhàng với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên chiến trường miền Nam.  Đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968 - đêm giao thừa Tết Mậu Thân - quân dân miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy trên toàn miền đánh vào 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn. Bốn bộ tư  lệnh quân đoàn, hầu hết các bộ tư lệnh sư đoàn, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần bị  đánh. Trong đó có những trận gây chấn động lớn trong giới cầm quyền Mỹ và có tiếng vang mạnh mẽ trên thế giới như trận đánh vào tòa Đại sứ Mỹ, dinh Độc Lập ngụy, Bộ Tổng tham mưu, Đài phát thanh ngụy ở Sài Gòn và 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế...

        Phối hợp với cuộc tiến công vào đô thị của các lực lượng vũ trang và được sự giúp sức của lực lượng vũ trang, nhân dân đồng bằng Nam Bộ đã nổi dậy, phá rã phần lớn bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở thôn xã, giành quyền làm chủ ở nhiều vùng, mở rộng và củng cố hậu phương của ta. Tuy vậy trên thực tế đã không có tổng khởi nghĩa.

        Trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho đến lúc đó chưa có cuộc ra quân nào có quy mô lớn và khí thế cao như cuộc Tổng tiến công và nôi dậy Tết Mậu Thân. Ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực của Mỹ, làm tan rã từng mảng lớn quân đội tay sai, giải phóng nhiều thôn ấp, phường phố gồm 120 vạn dân.

        Trong khi lực lượng Mỹ - ngụy và chƯ hầu còn đông tới trên 1 triệu 20 vạn tên, nắm trong tay những phương tiện chiến tranh hiện đại khổng lồ, đứng chân trên những căn cứ được phòng thủ vững chắc, thì quân dân miền Nam đã tiến công vào tận hang ổ của chúng, giành được thắng lợi to lớn chưa từng có.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:38:38 am

        Trong khi bộ chỉ huy quân Mỹ chờ đợi một cuộc tiến công thì cuộc tiến công đã được đoán trước lại xảy ra như một bất ngờ. Sức mạnh, thời gian, không gian, cường độ và mức phối hợp của cuộc tiến công làm cho sự bất ngờ càng tăng thêm. Mỹ luôn luôn bị bất ngờ, điều này đã hầu như có tính quy luật vì sự chủ quan, đánh giá thấp đối phương của họ. Còn về phía ta thì tạo được bất ngờ là kết quả của một quá trình tạo thế, tạo lực công phu, chu đáo, có tính toán và chuẩn bị về mọi mặt.

        Tết Mậu Thân là một “đòn sét đánh” giáng vào đầu chinh quyền Mỹ, buộc Mỹ phải rời bỏ ảo tưởng để đối đầu với thực tế: Trước mặt giới cầm quyền Mỹ hiểu rõ khả năng lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân đội Mỹ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh. Kẻ sợ chiến tranh kéo dài không dứt là Mỹ chứ không phải là ta. Thế trận chiến tranh nhân dân của ta cho phép ta có thể đánh địch ở cả những điểm mà địch nghĩ là “bất khả xâm phạm”. Quyền chủ động sử dụng nhân tố thời gian và không gian là thuộc về chúng ta. Chúng ta có thể đánh lâu dài và đánh mạnh, càng đánh càng mạnh; càng mạnh, càng thắng; nơi nào muốn đánh đều đánh được, lúc nào muốn đánh đều đánh được.

        Đòn tiến công Xuân 1968 đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ. Trên hầu hết các bang nước Mỹ dấy lên những cuộc biểu tình chống chiến tranh, đặc biệt là của giới sinh viên, học sinh. Nhiều người trong chính giới Mỹ đòi xét lại chính sách của Mỹ đối với cuộc chiến này. Trong nội bộ các cố vấn thân cận của Tổng thống Mỹ diễn ra sự chia rẽ gay gắt. Tổng thống Giôn-xơn đã phải triệu tập một cuộc họp những người am hiểu nhất. Sau hai phiên tranh luận kéo dài, phần đông tán thành chấm dứt leo thang và có những biện pháp đi đến tách ra khỏi chiến tranh.

        Ngày 31 tháng 3 năm 1968, Giôn-xơn thông báo quyết định đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhận đàm phán với ta tại Pa-ri và tuyên bố không ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ hai. Có thể coi đó là sự thừa nhận công khai sự phá sản của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Và rõ ràng là ý chí xâm lược cua giới cầm quyền Mỹ đã bị lung lay. Nhưng Mỹ vẫn còn ý đồ xảo quyệt, rút ra mà vẫn ở lại, chuyển sang thi hành chiến lược “phi Mỹ hóa” rồi “Việt Nam hóa” chiến tranh.

        Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân ta còn tổ chức mấy đợt tiến công nữa vào các thành thị, bỏ lỏng các vùng nông thôn, trong khi địch tiến hành “bình định cấp tốc” giành dân, nên đã gặp khó khăn trong một thời gian.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 đã giành được thắng lợi to lớn, toàn diện, có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Thắng lợi to lớn và quan trọng nhất là chúng ta đã tạo ra một sự thay đổi đột biến trong cục diện chiến tranh. Thế chiến lược của địch bị đảo lộn. Địch đã bị hãm vào thế đi xuống về chiến lược trên toàn bộ chiến trường, đặc biệt là mặt trận thành thị, phải chuyển sang chiến lược phòng ngự. Tiến công không được, phòng ngự không vững, đó là thế thất bại.

        So sánh lực lượng ta, địch đã chuyển biến một bước quan trọng có lợi cho ta.

        Về chính trị, điều quan trọng nhất là định đã nhận thấy sẽ thua nếu kéo dài chiến tranh. Tinh thần thất bại chủ nghĩa phát triển mạnh trong hàng ngũ Mỹ - ngụy. Cuộc tiến công phối hợp của ta trên mặt trận ngoại giao làm cho địch càng bị động khó khăn hơn. Ta đã mở ra cục diện mới, tạo ra thế chiến lược mới, mặt trận mới, lực lượng mới, khả năng mới để tiến lên giành những thắng lợi mới to lớn hơn nữa.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này, đúng như Nghị quyết Hội nghị Trung ương về Tình hình và nhiệm vụ mới tháng 10 năm 1968 đánh giá, là một chủ trương chiến lược đúng đần và sáng tạo, là một sáng kiến lịch sử của Đảng ta trong sự nghiệp thống Mỹ, cứu nước.

        Nguyên nhân trực tiếp quyết định thắng lợi đó là sự chỉ đạo chiến lược tài giỏi của Đang ta, nắm chắc tư tưởng chiến lược tiến công, vận dụng đúng đắn quy luật của chiến tranh nhân dân, hạ quyết tâm chiến lược chính xác, táo bạo chọn đúng phương hướng tiến công, sử dụng đúng lực lượng, nhất là chọn đúng thời cơ cụ thể, làm tốt công tấc động viên chính trị, lãnh đạo tư tưởng, quán triệt quyết tâm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Phát huy mạnh mẽ ý chí và hành động tiến công hết sức mãnh liệt, kiên quyết, liên tục, ôn lại với niềm tự hào chinh đáng kỳ công Tết Mậu Thân, đem tinh thần Tết Mậu Thân vào sự nghiệp cách mạng mới: “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” nước nhà chúng ta nhất định đi tới tương lai dưới ánh sáng mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã mở ra.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:41:48 am
       
THẮNG LỢI TẠO BƯỚC NGOẶT QUYẾT ĐỊNH CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CÚU NƯỚC

LÊ QUANG ĐẠO                 
Chủ tịch Đoàn Chủ tịch UBTƯ       
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam         

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 là một sự kiện lịch sử có tầm vóc lớn lao, đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ, eứu nước của dân tộc ta.

        Nhớ lại đầu năm 1965, trước sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ đã ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam, thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” hòng từng bước phản công đánh gục đối phương trong một thời gian ngân, xoay chuyển lại cục diện chiến trường có lợi cho chúng. Mưu đồ chiến lược của Mỹ trong “chiến tranh cục bộ là bằng sức mạnh quân sự Mỹ cùng với quân ngụy mở các cuộc tiến công lớn “tìm diệt” (sau đó là “tìm diệt và bình định - được coi là hai gọng kìm) chủ lực ta ở miền Nam, đồng thời dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bấc, nhằm ngăn chặn sự chi viện từ Bắc vào Nam, làm suy yếu hậu phương lớn của cuộc kháng chiến; cô lập và đè bẹp cách mạng miền Nam. Với việc thay đổi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đứng trước thử thách nghiêm trọng.

        Tại các Hội nghị lần thứ 11 (tháng 3 năm 1965) và Hội nghị giần thứ 12 (tháng 12 năm 1965), Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã phân tích toàn diện, sâu sắc chiến lược mới của Mỹ và đề ra chủ trương hành động đúng đắn, sáng tạo.  Đảng ta eho rằng, quân Mỹ ồ ạt vào miền Nam trực tiếp tham chiến sẽ gây cho ta những khó khăn lớn. Cuộc chiến tranh sẽ ác liệt, phức tạp lên nhiều. Bởi Mỹ là nước đế quốc giàu mạnh, có tiềm lực kinh tế, quân sự rất lớn, vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại, thủ đoạn thâm hiểm. Tuy nhiên, Mỹ trực tiếp đưa quân vào xâm lược nước ta trong thế thua, chứ không phải thế tháng. Sức mạnh của Mỹ không phải là vô hạn. Chúng lại có những chỗ yếu “chí tử”, nhất là về chính trị, tinh thần bắt nguồn từ hành động chiến tranh xâm lược phi nghĩa, tàn bạo. Ta có thể hạn chế những chỗ mạnh, khoét sâu những chỗ yếu của Mỹ để đánh thắng chúng. Về phía ta, lúc này cách mạng đã chuyển hẳn sang thế tiến công, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang 3 thứ quân được củng cố, phát triển, thế trận chiến tranh nhân dân của ta đã triển khai trên cả 3 vùng chiến lược.

        Trên cơ sở đánh giá đúng cả mặt mạnh và mặt yếu của định, thế và lực của ta, Đảng ta khẳng định: cần tiếp tục giữ vững và phát huy thế chiến lược tiến công, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với chính trì, trong đó đấu tranh quân sự ngày càng có tác dụng quyết định trực tiếp, để đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiếp tục tiến lên.

        Tư tưởng chỉ đạo nói trên trở thành ý chí, hành động cách mạng của nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân cả nước. Trên chiến trường, quân và dân ta đã đánh thắng quân xâm lược Mỹ ngay từ những trận đầu, khi chúng vừa đặt chân vào miền Nam. Đặc biệt mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, địch tập trung một lực lượng lớn quân và vũ khí, trang bị hiện đại, liên tiếp mở hai cuộc phản công chiến lược vào miền Đông Nam Bộ và Trung Bộ nhằm tìm diệt chủ lực ta, bẻ gãy xương sống Việt Cộng, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến ở miền Nam với tham vọng giành thắng lợi quyết định. Trái với toan tính của các chiến lược gia Hoa Kỳ, quân và dân ta đã đánh bại các cuộc phản công trên của địch, trong đó có cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti - cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Sau những thất bại liên tiếp, nặng nề trên cả phạm vi chiến lược và chiến thuật, giới cầm quyền Mỹ tỏ ra dao động, lúng túng nhưng vẫn chưa chịu từ bỏ âm mưu tiếp tục chiến tranh xâm lược Việt Nam; ngoan cố tiếp tục tăng quân, chuẩn bị kế hoạch mở cuộc phản công lần thứ ba với quy mô lớn hơn.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:42:10 am

        Đối với ta, tuy chúng ta đã giành được nhiều tháng lợi thế và lực của cách mạng có bước phát triển mới, nhưng chưa làm chuyển biến cơ bản cục diện chiến tranh. Một vấn đề lớn đặt đa là ta cần có một đòn chiến lược có ý nghĩa quyết định để tạo ra cục diện mới - một bước ngoặt của cách mạng miền Nam.

        Mỹ ngày càng bộc lộ rõ hơn thế bị động, lúng túng trong nửa cuối năm 1967, khi ta tiếp tục tiến công ở nhiều nơi như: đường số 4, thị xã Phước Long, Tây Ninh, sân bay Trà Nóc, Sở chi huy Sư đoàn dù 101 Mỹ, Tây Nguyên... và giành những thắng lợi lớn, buộc chúng phai hủy bỏ kế hoạch mở cuộc phản công chiến lược lần thứ ba, đưa lực lượng về giữ các địa bàn chiến lược quan trọng (Sài Gòn - Trị Thiên...).  Có thể thấy, những cố gàng chiến tranh của Mỹ đã ở mức cao nhưng không xoay chuyển được tình thế. Trong nước, cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đang đến gần. Phong trào phản đối chiến tranh của Mỹ ởViệt Nam của nhân dân Mỹ ngày càng cao và sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến của ta ngày càng rộng lớn. Mỹ ở thế bất lợi cả về quân sự và chính trị .

        Bám sát và phân tích chính xác động thái chiến trường, tình hình nước Mỹ và thế giới, Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 12 năm 1967) nhận định: “Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược.  Từ đó, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Hồ Chủ tịch quyết định: “... Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất bằng phương pháp tổng công kích - tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định”. Đây là “nhiệm vụ trọng đại và cấp bách” nhằm giáng cho địch một đòn thật mạnh, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, tạo ra sự thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta, chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành tháng lợi quyết định.

        Hướng tiến công chiến lược chủ yếu là các thành phố, trung tâm đầu não của Mỹ - ngụy trên toàn miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân.

        Căn cứ vào chủ trương trên, ta triển khai nhiều biện pháp tổ chức thực hiện: xây dựng quyết tâm, tạo sự nhất trí cao giữa Trung ương và chiến trường cả về tư tưởng lẫn hành động; tiến hành nghi binh bằng cả ngoại giao và quân sự chiến lược và chiến dịch; tiến hành mọi công tác chuẩn bị theo một kế hoạch chặt chẽ, nghiêm ngặt, giữ bí mật ý định chiến lược của ta.

        Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 1 năm 1968, ta chủ động nổ súng trước ở Khe Sanh, mở Mặt trận đường 9 vừa tiến công tiêu diệt, tiêu hao địch, vừa thực hiện thành công đòn nghi binh chiến lược quan trọng, thu hút, giam chân một phần quân Mỹ tại đây, tạo điều kiện thuận lợi cho hướng chính là tổng tiến công và nổi dậy ở các thành thị. Khi đó, Nhà trắng và Lầu năm góc đã đánh giá có thể ta tập trung lực lượng tạo ra “một cái giống như Điện Biên Phử’. Tổng thống Mỹ  đã ra lệnh cho chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam phải cam kết giữ bằng được Khe Sanh, không để xảy ra một Điện Biên Phủ mới ở Việt Nam.

        Đúng kế hoạch chiến lược đã định, đêm 30-31 tháng 1 năm 1968 - đêm giao thừa và mồng Một Tết, ta đồng loạt tiến công và nổi dậy trên toàn miền đồng loạt tiến công địch ở 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn, đánh vào hầu hết cơ quan đầu não trung ương, địa phương của Mỹ, ngụy gồm toàn bộ 4 bộ tư lệnh quân khu, quân đoàn, 8 bộ tư lệnh sơ đoàn, 2 bộ tư lệnh biệt khu ngụy, 2 bộ tư lệnh dã chiến, 30 sân bay, nhiều tổng kho, căn cứ hậu cần lớn, trong đó có Đại sứ quán Mỹ, dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu ngụy... ở Sài Gòn, làm chủ thành phố Huế 25 ngày đêm... Ơ nhiều nơi, nhất là vùng ven thành thị và nông thôn quần chúng đ• nổi dậy tiến công tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã giành thắng lợi rất to lớn. Đó thật sự là “một đòn sét đánh’ đối với bọn trùm xâm lược Mỹ, làm rung chuyển cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 07:42:41 pm

        Thắng lợi lớn nhất và quan trọng nhất của Mậu Thân 1968 là ta đã làm đảo lộn chiến lược chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ - một cường quốc đế quốc giàu mạnh nhất, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của chúng. Trong chiến tranh, thắng lợi ở quy mô chiến dịch, chiến thuật là rất quan trọng, song hỉ khi làm đảo lộn kế hoạch chiến lược chiến tranh của đối phương mới tạo được chuyển biến lớn, thay đổi cục diện chiến trường. Đó là vấn đề có tính quy luật thuộc nghệ thuật chỉ đạo và điều hành chiến tranh, có tác động lớn đến tiến trình và kết cục cuộc chiến’ Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, ta đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của chúng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Thắng lợi oanh liệt Mậu Thân của quân và dân ta đưa tới nguy cơ, lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân Mỹ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh với Việt Nam - một dân tộc nhỏ ở cách xa nước Mỹ.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân của quân và dân ta đồng thời tác động trực tiếp đến đời sống chính trị - tinh thần nước Mỹ, làm cho làn sóng đấu tranh phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ trong nhân dân Mỹ lên cao chưa từng thấy - một cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ’, như chính giới Mỹ thừa nhận. Nước Mỹ chia rẽ sâu sắc.  Đòn chiến lược Mậu Thân làm cho Mỹ thất bại lớn cả về quân sự và chính trị. Không còn sự lựa chọn nào khác, ngày 31 tháng 3 năm 1968 Tổng thống Mỹ Giôn-xơn buộc phải tuyên bố: 1. Đơn phương ngừng bân phá miền Bấc từ vĩ tuyến 20 trở ra; 2. Chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri; 3. Không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2... Thực chất, đây là sự thừa nhận thất bại của Mỹ. Sau Mậu Thân, Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược chiến tranh, tiến hành “phi Mỹ hóa” rồi “Việt Nam hóa chiến tranh”, từng bước xuống thang và tử tháng 5 năm 1968 phải bắt đầu đàm phán với ta. Đó là bước khởi đầu một quá trình đi xuống về chiến lược trong chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ. Mỹ phải bắt đầu quá trình từng bước rút quân khỏi miền Nam; từ đó, làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường, tạo điều kiện thuận lợi để ta đánh nhào quân ngụy, giành toàn thắng vào mùa Xuân 1975 .

        Rõ ràng, thắng lợi oanh liệt Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã tạo ra bước ngoặt mới - bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là tầm vóc và giá trị lịch sử lớn lao, sâu đậm nhất của Mậu Thân 1968.

        Đánh giá thắng lợi Mậu Thân 1968, Nghị quyết Trung ương 21 đã chỉ rõ: đó là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-ri; chấm dứt ném bom không điều kiện, chủ trương phi Mỹ hóa chiến tranh, mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh.

        Thắng lợi của Mậu Thân gắn liền với nghệ thuật lãnh đạo, điều hành chiến tranh cách mạng rất sáng tạo và sắc sảo của Đảng, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí và hành động tiến công địch hết sức quả cảm, mưu trí của quân và dân ta. Không có các lực lượng vũ trang tinh nhuệ, chiến đấu dũng cảm vô song, không có nhân dân hết lòng ủng hộ, sát cánh chuẩn bị và tích cực tham gia chiến đấu; không có sự nổi dậy của quần chúng; không có sự chuẩn bị rất công phu, giữ được bí mật tuyệt đối của các cấp, các địa phương đơn vị, cộng với sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân thì không thể có thắng lợi lớn như vậy.  Tổng tiến công và nổi dậy trên quy mô lớn, đánh vào hầu hết các vị trí, đặc biệt là các cơ quan đầu não địch ở Mậu Thân 1968 là nét độc đáo, sáng tạo của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, một phát kiến chiến lược quan trọng của Đảng ta. Đó là kết quả của cả một quá trình tìm tòi công phu, bằng tư duy độc lập, sáng tạo trên cơ sở thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng nước ta và thế giới của Đảng ta để tìm ra cách đánh Mỹ và tháng Mỹ hơn nữa, đánh thắng quân Mỹ ở miền Nam, bảo vệ được miền Bậc, không làm cho chiến tranh lan rộng.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 07:43:05 pm

        Từ kinh nghiệm nầm thời cơ giành thắng lợi bằng tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, trong đó lực lượng chính trị của quần chúng là chính, kết hợp với lực lượng vũ trang; kinh nghiệm đưa chủ lực vào đánh địch ở đồng bằng, đánh các mục tiêu đầu não quan trọng ở sâu trong lòng địch trong kháng chiến thống Pháp; từ bài học về nầm vững bạo lực cách mạng, kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự; tiến công quân sự, chính trị, binh vận và đánh địch ở nông thôn đồng bằng, đô thị, rừng núi (2 chân, 3 mũi, 3 vùng) ở miền Nam những năm đầu thập kỷ 60, những sáng tạo của quân và dân ta ở miền Nam, đến bài học rút ra qua mấy năm đánh Mỹ của quân dân hai miền Nam - Bắc; bài học đánh Mỹ của nhân dân Triều Tiên..., tất cả đều được Đảng ta dày công suy ngẫm, chắt lọc.

        Trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ - một cường quốc đế quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn mạnh hơn ta nhiều lần, có vũ khí trang bị chiến tranh hiện đại, chúng ta không thể chỉ đánh thắng bằng đòn quân sự với quy mô từ nhỏ đến lớn, cuối cùng thực hiện trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ để kết thúc chiến tranh như trong kháng chiến chống Pháp, cũng không thể đánh thắng theo một kiểu chiến tranh cổ điển nào. Từ thực tế này, Đảng ta đã sớm tìm ra và khẳng định: đối với Mỹ ta có thể và cần phải đánh bại ý chí xâm lược của chúng, buộc chúng phải chấp nhận thua và rút quân về nước, rồi đánh cho ngụy nhào, giành toàn thắng. Đây là tư tưởng chiến lược chỉ đạo cuộc kháng chiến chững Mỹ hoàn toàn mới mẻ của Đảng ta. Ở thời điểm cụ thể Mậu Thân 1968, Đảng ta đ ã hạ quyết tâm chiến lược chính xác: Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam mà hướng chính là đánh vào các thành phố, trung tâm đầu não của địch. Đó là đòn đánh độc đáo, hiểm hóc, táo bạo, bất ngờ, có hiệu lực lớn về chiến lược, về quân sự và chính trị như thực tiễn đã chứng tỏ.

        Về thực chất, đó là bước phát triển cao, rất sáng tạo của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, của bạo lực cách mạng với hai lực lượng: chính trị, quân sự) kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận, ở cả 3 vùng nông thôn đồng bằng, đô thị, rừng núi; kết hợp quân sự, chính trì, ngoại giao nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp đánh Mỹ và thắng Mỹ. Tổng tiến công và nổi dậy đã được Đảng ta phát triển lên đỉnh cao nhất để giành toàn thắng trong mùa Xuân 1975.

        Thắng lợi Mậu Thân rất lớn song “chúng ta cũng đã mắc một số khuyết điểm: chủ quan trong việc đánh giá tình hình cho nên ta đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó, nhất là sau đợt tiến công Tết Mậu Thân; ta đã không kịp thời kiểm điểm và rút kinh nghiệm... để có chủ trương chuyển hướng kịp thời”. Cũng do lúc đó đề ra yêu cầu quá cao, không sát thực tế nên Tổng khởi nghĩa đã không diễn ra. Việc chậm chuyển hướng chiến lược cho phù hợp với tình hình thực tiễn là một sai lầm về chỉ đạo chiến lược”. Ta bị tổn thất nghiêm trọng và gặp nhiều khó khăn từ giữa năm 1968 đến 1969. Tuy nhiên, không thể vì thế mà chúng ta đánh giá thấp thắng lợi Mậu Thân. Đó là một tháng lợi cực kỳ quan trọng của cuộc kháng chiến vĩ đại.  Nếu nhảy từ cực đoan này sang cực đoan kia, như Lê-nin từng nói, thì chúng ta không thể đánh giá đúng hiện thực lịch sử.

        Thời gian sẽ qua đi, nhưng sự kiện Mậu Thân để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu, nhất là việc bồi dưỡng và phát huy sức mạnh ý chí và năng lực sáng tạo của con người Việt Nam, mọi tầng lớp nhân dân, sức mạnh tổng hợp của eác lực lượng cách mạng và hình thức đấu tranh cách mạng.

        Phát huy cao nhất yếu tố nội lực của quân và dân cả nước là yếu tố quyết định để chúng ta thắng Mỹ nhưng không thể tách rời sự phối hợp, giúp đỡ của cách mạng Lào, Cam-pu-chia; sự ủng hộ về vật chất và tinh thần của Liên Xô, Trung Quốc các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân thế giới, trong đó có cả nhân dân Mỹ. Chúng ta mãi mãi biết ơn sự giúp đỡ quý báu đó. Bài học phát huy cao độ yếu tố nội  lực là quyết định, đông thời biết kết hợp sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế vẫn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cần vận dụng trong sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 07:44:37 pm
       
TẾT MẬU THÂN - MỘT MỐC SON LỊCH SỬ

Đại tướng CHU HUY MÂN       

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân cánh đây 30 năm (1968-1998) đã đi vào lịch sử, nhưng tinh thần và ý nghĩa to lớn của mốc son lịch sử ấy vẫn mãi mãi lưu lại trong các thế hệ Việt Nam và bè bạn xa gần. Nhân kỷ niệm trọng thể này, tôi ghi lại một số nét mà ký ức khó quên.

        Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, Mỹ tiếp tục leo thang đẩy tới chiến lược “chiến tranh cục bộ” trong thế bị động. Trong chiến lược này, Mỹ thực hiện hai biện pháp chiến lược kết hợp với nhau: quân chiến đấu Mỹ đóng vai trò chủ yếu trên chiến trường với nhiệm vụ “tìm diệt” chủ lực quân giai phóng mà không gọi là “bẻ gãy xương sống Việt Cộng”; quân ngụy tiếp tục nhiệm vụ “bình định” - càn quét, kìm kẹp nhân dận nông thôn trong các ấp chiến lược, khu dồn dân. Trong khi leo thang nguy hiểm trên chiến trường miền Nam, Mỹ tiếp tục tăng cường chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta.

        Mùa xuân 1965, quân chiến đấu Mỹ đỗ bộ vào Đà Nẵng, Chu Lai, Cam Ranh và một số nơi ở miền Đông Nam Bộ. Tháng 9 năm ấy, Sư đoàn ky binh bay số 1 đổ bộ vào Quy Nhơn (Bình Định), lên chiếm đóng An Khê (Gia Lai).

        Từ “nóc nhà” của miền Trung Đông Dương, địch mưu tính kiểm soát đồng bằng ven biển mấy tỉnh trung Trung Bộ, Tây Nguyên, uy hiếp vùng hạ Lào và đông bác Cam-pu-chia, ngăn chặn con đường vận chuyển chiến lược Bắc - Nam của ta.

        Sau khi đứng chân ở các địa bàn nói trên, quân Mỹ khẩn trương xây dựng các căn cứ quân sự có sân bay và đường vận chuyển, công sự chiến đấu và hàng rào dây thép gai, đồng thời tung máy bay và các lực lượng trinh sát khác để tìm kiếm mục tiêu, sẵn sàng ra quân tiêu diệtt các cơ quan chỉ huy, các đơn vị chủ lực quân giải phóng.  Đầu năm 1965, Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho các chiến trường và các địa phương nỗ lực phát huy cao sức mạnh tại chỗ, đẩy mạnh tiến công quân sự, hỗ trợ quần chúng nổi dậy, diệt kìm kẹp, giành quyền làm chủ, mở rộng thế trận của chiến tranh toàn dân, sẵn sàng đánh Mỹ. Chỉ thị nhấn mạnh: “Phải tập trung sức đánh những trận tiêu diệt lớn quân chủ lực cơ động ngụy, làm suy yếu chỗ dựa về bình định của định, đồng thời khẩn trương xây dựng quyết tâm; chuẩn bị chu đáo, đánh thắng những trận phủ đầu quân Mỹ, tiếp tục đẩy chúng vào thế bị động, nhanh chóng đánh bại “chiến tranh cục bộ” của chúng”

        Quán triệt tư tưởng chỉ đạo nói trên, các chiến trường và địa phương đã nỗ lực phát huy sức mạnh chính trị và quân sự, tiến công và nổi dậy, mở rộng địa bàn làm chủ, và đã tiêu diệt những chiến đoàn quân ngụy như ở Ba Gia - Quảng Ngãi, Đồng Xoài - Đông Nam Bộ, đồng thời để đánh những trận phủ đầu quân Mỹ như: Núi Thành - Quảng Nam, Vạn Tường - Quang Ngãi, Đất Que, Bầu Bàng - Đông Nam Bộ. Mùa đông 1965, ta mở chiến dịch Lây Me (Gia Lai - Tây Nguyên) tiêu diệt một Chiến đoàn ngụy và Tiểu đoàn 2 Mỹ thuộc Sư đoàn ky binh bay số 1. Cuộc chiến đấu anh hùng và thắng lợi lớn trong chiến dịch này của quân dân Tây Nguyên, các tướng lĩnh Mỹ cho là một trận đánh làm thay đổi chiều hướng của cuộc chiến tranh. Đó là thắng lợi trong thời điểm bản lề giữa chiến lược “chiến tranh đặc biệt” bị phá sản vào bước cuối và chiến lược “chiến tranh cục bộ” mới bắt đầu. Điều đáng chú ý là trong lúc quân ngụy bị đánh đau thì quân Mỹ phải thận trọng trong hành động ứng cứu. Từ kết quả thực tế, sau những trận thắng phủ đầu quân Mỹ, quân và dân cả nước ta đi đến kết luận: chúng ta có khả năng đánh và đánh thắng Mỹ.

        Đầu xuân 1967, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, quân Mỹ mở chiến dịch mang tên “Gian-xơn Xi-ti” với quy mô lớn, dài ngày nhằm “tiêu diệt cơ quan kháng chiến đầu não của miền Nam và các đơn vị chủ lực quân giải phóng. Trong cuộc đọ sức quyết liệt này, quân Mỹ vẫn chưa hiểu gì về đối phương. Trái lại, quân và dân ta đã bước đầu hiểu địch, đã qua thử thách tinh thần và biết cách đánh Mỹ. Kết thúc chiến dịch quy mô lớn này, ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti” của Mỹ, đánh bại âm mưu tìm diệt” của chúng. Trên chiến trường Khu 5 và Tây Nguyên tiếp tục diễn ra những trận đánh quyết liệt và kết quả dù mức độ khác nhau, nhơng chúng ta đã giành thêm được thế chủ động mới.  Quân và dân ta hoàn toàn tin tưởng vững chắc vào quyết tâm đánh thắng Mỹ. Trái lại, quân Mỹ trên chiến trường, cũng như bọn cầm đầu Nhà trắng và Lầu năm góc đã thấy khó thắng ta trong cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới này.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 07:45:16 pm

        Đông xuân 1966-1967, quân chiến đấu Mỹ có mặt trên chiến trường miền Nam hơn nửa triệu, chưa tính quân ngụy và quân của các nước chư hầu. Vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại được Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam. Trên chiến trường, Mỹ ráo riết chuẩn bị để mở cuộc phản công tìm diệt lần thứ 3. Nhưng quân dân ta tiếp tục cuộc tiến công, buộc Mỹ phải co lực lượng về giữ Sài Gòn và Trị Thiên. Oét-mo-len tiếp tục xin thêm quân. Tổng thống Mỹ và bọn hiếu chiến thân cận vừa ngoan cố, vừa ngập ngừng. Ngoan cố vì bản chất đế quốc và tính kiêu căng - không lẽ Hoa Kỳ giàu mạnh phải chịu thua Việt Nam. Nhưng tăng bao nhiêu quân Mỹ vào chiến trường, leo thang thêm mấy bước vẫn chui vào “đường hầm không lối thoát".

        Theo dõi diễn biến, khả năng phát triển của chiến tranh cách mạng ở miền Nam, cũng như cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, bắt mạch đúng tình hình nước Mỹ, sự lúng túng “tiến thoái lưỡng nan” của giới cầm quyền Mỹ, Tổng Bí thư Trung ương Đảng Lê Duẩn đã đề xuất phương hướng và mục đích cho cuộc Tổng tiến công, nổi dậy mùa xuân Mậu Thân để Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam nghiên cứu và trình lên Quân ủy trung ương, Bộ Chính trị Trung ương Đang thảo luận và xin chi thị Bác Hồ..Và từ đây, đồng chí Lê Duẩn được cử theo dõi và chỉ đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đầu xuân ấy.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân có mục đích tiêu diệt sinh lực quân Mỹ, phá hủy phương tiện chiến tranh của chúng; động viên và tổ chức quần chúng nổi dậy tiêu diệt và làm tan rã lực lượng kìm kẹp, mở rộng vùng giải phóng; đánh sụp ý chí xâm lược của Mỹ, buộc chúng từ đỉnh cao của chiến tranh xâm lược thực dân mới phải xuống thang, phải chấp nhận đàm phán với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Hướng tiến công chủ yếu hầu hết là vùng đô thị do Mỹ - ngụy kiểm soát mà trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, Huế, Đà Nẵng. Mục tiêu chủ yếu trong các đô thị và căn cứ là đánh vào cơ quan đầu não, tiêu diệt sinh lực cao cấp của Mỹ, ngụy. Cuộc Tổng tiến công, lấy đô thị làm phương hướng chính là bất ngờ lớn đối với địch. Trên cơ sở thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy, chủ động tạo nên bước ngoặt quyết định, nhanh chóng đi tới toàn thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

        Quán triệt ý định và quyết tâm của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, quân, dân Khu 5 dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy đã phát huy sức mạnh tổng hợp, cả hai lực lượng quân sự và chính trị đồng loạt tiến công từ trọng điểm chủ yếu: căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng đến Khánh Hòa, từ đồng bằng ven biển đến Tây Nguyên đã phối hợp nhịp nhàng với toàn miền, góp phần tích cực với quân dân toàn miền Nam hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.  Sau mấy ngày đồng loạt tiến công vào thành phố, thị xã...  giành thắng lợi lớn, Thường vụ Khu ủy đã chủ trương dùng lực lượng đặc công, pháo, cối mang vác, tự vệ và biệt động tiếp tục đánh vào đô thị, đại bộ phận lực lượng cơ động của quân khu và tỉnh, huyện đứng chân và hoạt động chiến đấu giữ vững địa bàn nông thôn. Các đơn vị và dịa phương vừa triển khai theo hướng này thì cũng đúng vào lúc quân Mỹ đề ra biện pháp chiến lược “quét và giữ”. Cuộc chiến đấu vẫn diễn ra quyết liệt. Thắng lợi to lớn trong Tết Mậu Thân của quân, dân ta đã giáng cho quân địch một đòn choáng váng, thúc đẩy nhân dân Mỹ đấu tranh mạnh hơn với chính quyền Mỹ, đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược, đơa con em họ về nước. Nhân đần tiến bộ thế giới hướng về Việt Nam với tinh thần mến phục và đầy mạnh phong trào phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ.  Tổng thống Mỹ và những tên hiếu chiến thân cận bị động, lúng túng, ý chí giành tháng lợi quân sự của chúng bị lung lay tận gốc.

        Sau một thời gian ngắn, Mỹ phải ngồi vào bàn hội nghị ở Pa-ri đàm phán với đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và sau đó cả đại diện của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sau bốn năm đấu trí gay gắt giữa hai bên trong hội nghị Pa-ri, kết hợp chặt chẽ với tiến công quân sự, chính trì trên chiến trường là chính, Hiệp định Pa-ri đã được hai bên chấp nhận. Nhưng phải qua chiến thắng oanh liệt của quân, dân Hà Nội, Hải Phòng và miền Bấc đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng B52, chính quyền Mỹ mới chịu ký vào Hiệp định Pa-ri. Trong một cuộc đấu tranh cách mạng ban lãnh đạo chiến tranh và chỉ đạo chiến lược quân sự năng động, sắc bén thì có thể chủ động tạo nên bước ngoặt có lợi cho ta, không lợi cho địch. Ở đây tinh thần chủ động và táo bạo gắn chặt với nhau, táo bạo và sáng tạo đã đưa đến thắng lợi to lớn. Sau Mậu Thân, địch chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Cuộc đối đầu của dân tộc ta với đế quốc Mỹ vẫn quyết liệt, nhưng Mỹ không thể đảo ngược nổi tình thế cho đến giờ phút phải hạ cờ, cuốn gói về nước. Bài thơ chúc Tết nărn 1969 của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Tiến lên ! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn.

        Theo tôi hiểu: Độc lập, tự do dân tộc là chân lý không lay chuyển, nhưng chúng ta phải “đánh cho Mỹ cút”, rồi “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối vào mùa xuân lịch sử 1975 mới có được độc lập tự do trọn vẹn.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 09:12:46 am
     
VỀ CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN - 1968 Ở TRỊ THIÊN - HUẾ

Thượng tướng TRẦN VĂN QUANG        

        Cách đây vừa tròn 30 năm, vào đúng Tết Mậu Thân lịch sử, quân và dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, đánh vào hầu hết các thành phố, tỉnh lỵ, thị xã, căn cứ quân sự, cơ quan chính quyền của Mỹ-ngụy. Đó là một sự kiện quân sự to lớn đã tạo ra một bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta; đồng thời làm rung chuyển chính trường nước Mỹ và đừ luận thế giới, làm lung lay đến tận gốc mưu đồ và ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

        Chiến trường Trị Thiên - Huế - gồm cả mặt trận chủ lực ở đường 9 và mặt trận chiến tranh nhân dân địa phương là một trong hai chiến trường chính, trong đó thành phố Huế được xác định là một trong ba mục tiêu chủ yếu của cuộc tiến công (Sài Gòn - Huế - Đà Nắng).  Nhiệm vụ của quần và dân Trị Thiên - Huế được Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh giao là thực hành Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, tiêu diệt và làm chủ các căn cứ, vị trí quan trọng của địch, đánh chiếm thành phố Huế, các thị trấn, thị xã, chia cắt các trục đường giao thông, sân bay, bến cảng, thành lập chính quyền cách mạng, tạo điều kiện phối hợp với chủ lực ở Mặt trận đường 9 giành thắng lợi. Nhiệm vụ của Mặt trận đường 9 được giao là thu hút và tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Mỹ, khi có điều kiện thì phá vỡ tuyến phòng thủ Mác Na-ma-ra, mở đường phát triển tiến công vào phía Nam.  Thực hiện nhiệm vụ trên giao, trải qua 25 ngày đêm - từ đêm 31 tháng 1 đến ngày 25 tháng 2 năm 1968, nếu kể cả giai đoạn tác chiến tạo thế, chia cắt hệ thống giao thông và nghi binh đánh lừa địch thì gần 2 tháng (trước đó, ngày 7 tháng 1 bắt đầu cắt đứt đường số 1 - huyết mạch giao thông chính nối Huế với Đà Nẵng ở đoạn Phú Lộc nam Thừa Thiên), quân và dân Trị Thiên - Huế với một lực lượng vũ trang có quân số và trang bị ít hơn địch, đã chiến đấu quyết liệt và vô cùng anh dũng, giành được nhiều thắng lợi to lớn. Két quả, ta đã tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực địch, bắn rơi và phá hủy nhiều máy bay chiến đấu và trực thăng, xe quân sự, tàu xuồng, kho tàng, bến bãi, pháo, súng các loại, thu nhiều dạn dược, thuốc men và phương tiện chiến tranh của Mỹ-ngụy. Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy, ta đã đánh chiếm hầu hết các vị trí quân sự, đầu não của địch, các đồn bốt, căn cứ hậu cần (trừ căn cứ Phú Bài); tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận ngụy quân, ngụy quyền và hệ thống kìm kẹp (cơ quan tỉnh trưởng ngụy, 40 ty sở, các đoàn bảo an dân vệ), đánh chiếm hai nhà lao và giải thoát trên hai ngàn chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu nước đang bị địch giam cầm; làm chủ gần hết thành phố Huế, giải phóng đại bộ phận nông thôn (4/5 số thôn và dân số), ở nhiều nơi đã thành lập được chính quyển cách mạng lâm thời.

        Thắng lợi của quân và dân Trì Thiên - Huế trong cuộc Tổng - tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là hết sức vẻ vang, đã góp phần cùng quân và dân toàn miền Nam đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang, ngồi vào đàm phán với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, mở ra một cục diện mới của cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

        Sự kiện Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam nói chung, ở Trị Thiên - Huế nói riêng, đã làm cho Mỹ-ngụy bàng hoàng, choáng váng, dư luận ở nước Mỹ và thế giới sửng sốt, kinh ngạc. Sau cuộc Tổng tiến công, nhiều quan chức quân sự cao cấp của Mỹ đã buộc phải từ chức, những quan chức diều hâu khác tại Nhà trắng đã bớt hung hăng và buộc phải thừa nhận một thực tế rõ ràng là “quân Mỹ không thể yên ổn tại bất cứ nơi nào ở miền Nam và càng không thể thắng trong cuộc chiến tranh này”. Tổng thống Mỹ Giôn-xơn, người đã ra sức hò hét tăng quân Mỹ và đẩy mạnh leo thang chiến tranh ở Việt Nam, nay cũng phải chấp nhận thất bại, tuyên bố không ra tranh cử tiếp nhiệm kỳ hai. Rõ ràng, đây là một đòn chí tử giáng vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Về sự kiện Tết Mậu Thân ở Huế, phía địch cũng phải thú nhận: “Cuộc Tổng tiến công vào Huế (của Việt Cộng) được coi như một trận tiến công nặng nề nhất và ngoài sức tưởng tượng, nên đã gây ra nhiều xúc động, làm cho các cấp chính quyền địa phương (ngụy) càng dao động mãnh liệt khi thấy đa số những nhân vật đầu não của chính quyền đã bị giết.

        Sau 30 năm với độ lùi của lịch sử, với cách nhìn nhận, đánh giá mới, khách quan và bình tĩnh hơn, chúng tôi thấy cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên - Huế năm 1968 thắng lợi là rất to lớn và căn bản trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, ngoại giao, với ý nghĩa tác động sâu sắc và toàn diện nhơ trình bày ở trên. Tuy nhiên, bên cạnh những thắng lợi to lớn đó, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan lúc bấy giờ đã làm hạn chế một phần mức độ thắng lợi, đồng thời cũng để lại không ít những hậu quả nặng nề.

        Sau khi chiếm giữ nhiều ngày các vị trí, mục tiêu quan trọng của địch ở Thừa Thiên và thành phố Huế, trước tình hình và yêu cầu mới, quân ta lần lượt rút lui. Địch sau cơn choáng váng đã nhanh chóng tổ chức lại lực lượng, quay sang phản kích ác liệt. Trước sức phản kháng tàn bạo của địch, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của ta, nhất là ở cơ sở bị tiêu hao nặng. Địch chiếm lại vùng giải - phóng, càn quét bắn phá vùng căn cứ giáp ranh, tiến công lên cả căn cứ của ta ở miền tây Huế, gây cho ta nhiều khó khăn.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 09:16:20 am

        Những khó khăn và tổn thất của ta sau năm 1968 là nghiêm trọng, song chi là bước lùi tạm thời. Những khó khăn ấy không thể xóa được ý nghĩa và thành quả thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.

        Thực tế chiến trường đã chứng minh là chỉ một thời gian ngắn sau đó ta đã lấy lại được thế trận chủ động, giáng cho địch liên tiếp nhiều thất bại trong mùa khô 1971-1972 và sau đó tháng 1-1973 buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, chấp nhận thất bại, rút quân đội Mỹ về nước. Tuy nhiên, nhìn nhận lại sự kiện tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên - Huế Tết Mậu Thân, chúng tôi thấy những khó khăn sau năm 1968 ta có thể tránh được hoặc hạn chế được ở mức thấp hơn, nếu lúc đó, chúng tôi - những người lãnh đạo chỉ huy trực tiếp, tỉnh táo hơn, đặt yêu cầu mục đích nhiệm vụ đúng mức, phù hợp với tình hình lúc đó, có phương châm hành động linh hoạt, quyết đoán hơn. Cố nhiên, trong lịch sử không có tử “nếu như”, song chúng tôi vẫn muốn vấn đề như vậy để thấy được rằng ngoài nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan của các cấp lãnh đạo chỉ huy chiến trường là rất lớn. Qua công tác chỉ đạo, chỉ huy cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân ở Trị Thiên - tuế, có thể rút ra một số bài học và kinh nghiệm sau đây:

        Một là, đưa cuộc chiến tranh vào hậu phương địch, lấy thành phố Huế làm mục tiêu chính để tiến công là đúng, nhưng yêu cầu giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân là chưa phù hợp với khả năng và so sánh tương quan lực lượng địch - ta lúc đó; đánh giá quá cao yếu tố chính trị - tinh thần, đánh giá chưa đúng vài trò quyết định trong chiến tranh là tiêu diệt đội quân chủ lực - công cụ chiến tranh chủ yếu của địch.

        Hai là, kế hoạch tiến công và nổi dậy của Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên có nhiều ưu điểm, thể hiện trong việc chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị lực lượng tương đối chu đáo tuy lực lượng ít mà tinh, bộ đội có tinh thần chiến đấu cao, chọn cách đánh lúc mở màn thích hợp, kết hợp,tương đối nhịp nhàng giữa công kích và nổi dậy của quần chúng, công tác nghi binh, giữ bí mật tốt... Nhưng Bộ tư lệnh Quân khu cũng phạm phải những khuyết điểm, đó là chỉ có một phương án giành toàn thắng mà không tính đến các khả năng, tình huống khác, không có phương án 2, phương án 3 và lực lượng dự bị chiến dịch. Trong quá trình chỉ đạo tác chiến chưa nắm chắc bộ đội, xử lý không kịp thời, để bộ đội lâm vào thế phòng ngự bị động đối phó.  Đặc biệt là sau một tuần lễ chiến đấu trong thành phố, khi thấy không thể giành toàn thắng đã không kịp thời thay đổi hướng và phương châm tiến công. Lẽ ra lúc đó ta phải chỉ đạo chuyển sang kìm chế địch ở trong thành phố, chuyển hướng phát triển về nông thôn, kéo địch ra ngoài căn cứ vững chắc để tiêu diệt chúng ngoài công sự; chuyền yêu cầu đấu tranh chính trị từ hình thức khởi nghĩa sang đấu tranh bảo vệ các cơ sở cách mạng, chuyển ngay những cơ sở bị lộ ra khỏi thành phố, chuẩn bị đối phó địch khủng bố.

        Ba là, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy chưa có một kế hoạch phối hợp thật chặt giữa mũi tiến công của chủ lực với mũi đấu tranh nổi dậy của quần chúng nhân dân ở thành phố và các địa phương. Trong tư tưởng chỉ đạo của chúng tôi lúc đó, cố nhiên không có ai xem nhẹ vai trò quyết định của đòn chủ lực. Song, cách chỉ đạo, bố trí lực lượng lại phạm phải một thiếu sót nữa là bố trí lực lượng chủ lực của Bộ chủ yếu tập trung trên cùng một hướng với lực lượng chiến tranh nhân dân địa phương của Trị Thiên - Huế. Ở đây, chúng tôi đã không hình dung hết các khả năng. Do vậy, không chỉ đạo kế hoạch chuẩn bị chiến trường cho chủ lực như xây dựng đường vận động; trận địa triển khai, bảo đảm vật chất kỹ thuật. Vì thế, khi Bộ Tổng tư lệnh có ý định tăng cường các đội chủ lực vào phía nam Quảng Trì và Thừa Thiên thì các cấp chỉ huy bị động, lúng túng không triển khai được.

        Những thiếu sót và khuyết điểm trên đây trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân ở Trị Thiên - Huế thật sự là những bài học kinh nghiệm xương máu, vô cùng sâu sắc. Rút kinh nghiệm từ chiến trường Trì Thiên - Huế năm 1968, sau năm 1972, chúng ta đã chỉ đạo khắc phục triệt để các thiếu sót, khuyết điểm trên bằng việc: công tác chuẩn bị chiến trường đầy đủ, tốt hơn,  chuẩn bị cùng một lúc nhiều khả năng và phương án khác nhau, giữa lực lượng chủ lực và địa phương được thống nhất chỉ huy... và đó là một trong những điều kiện để ta tiến lên giành thắng lợi lớn trong Đại thắng Xuân 1975, giai phóng Huế và phát triển thắng lợi vào Đà Nẵng, thúc đẩy nhanh quá trình giải phóng miền Nam, thu non sông về một mối.

        Kinh nghiệm về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt xuân 1968 miền Nam và riêng ở chiến trường Trị Thiên còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá ở đây trong phạm vi của một bài tham luận, bước đầu chúng tôi chỉ nêu lên một số bài học có tính khái quát. Đối với một người chỉ huy, lãnh đạo, dù ở cương vị nào, tôi cho rằng bài học bao trùm nhất, thấm thía nhất, đó là người chỉ huy phải kết hợp nhuần nhuyễn lòng dũng cảm, ý chí tiến công địch với thực tế khách quan; tinh thần phục tùng triệt để mệnh lệnh cấp trên với trách nhiệm thắng bại ở chiến trường; kết hợp tính kiên quyết của mệnh lệnh với tính dân chủ và biết, lâng nghe ý kiến của cấp dưới; tuyệt đối không chủ quan, nôn nóng... Đó là một trong những phong cách và đức tính cần thiết của người chi huy, đồng thời cũng là một trong những yếu tố bảo đảm thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 09:17:55 am

TUYẾN CHI VIỆN CHIẾN LƯỢC ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRONG MẬU THÂN 1968

ĐỒNG SĨ NGUYÊN       

        Tuyến chi viện chiến lược Đường Hồ Chí Minh với 3 nhiệm vụ:

        - Là một tuyến vận tải quân sự chiến lược.

        - Là một hướng chiến trường trọng yếu.

        - Là một căn cứ chiến lược của các chiến trường của ta và Bạn.

        Suốt 16 năm ròng, ta đã tiến hành một cuộc chiến tranh chống ngăn chặn quyết liệt, thực hiện thành công công cuộc chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.

        Tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn thực sự là thảm họa đối với đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Lúc bấy giờ Đại sứ Mỹ E.Buker sau khi nhận chức đã gửi điện lên Tổng thống Hoa Kỳ nói: "Nếu Hoa Kỳ cắt đứt được Đường mòn Hồ Chí Minh, tôi nghĩ rằng Việt Cộng sẽ chết khô. Điều duy nhất khiến cho Việt Cộng hoạt động được là do tiếp tế khí giới, đạn dược, lương thực đưa từ Hà Nội vào”. Trên cơ sở tư duy đó, đế quốc Mỹ đã đặt vấn đề phải ngăn chặn bằng được việc chi viện theo tuyến Đường Hồ Chí Minh thành một trong những mục tiêu chiến lược hàng đầu. Suốt 10 năm, từ 1965 đến 1975, Đường Hồ Chí Minh liên tục là trọng điểm đánh phá của chúng, là chiến trường thực nghiệm chiến lược chiến tranh ngăn chặn bằng sức mạnh tổng hợp, chiến tranh điện tử, chiến tranh hóa học..., hòng cô lập miền Nam, thực hiện mưu đồ chia cắt lâu dài nước ta.

        Về phía ta, Đảng và Nhà nước đã quyết định lấy nhiệm vụ chi viện sức người, sức của cho miền Nam là một mặt trận hàng đầu.

        Quân ủy trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã quyết định giao cho Bộ tư lệnh Trường Sơn phối hợp chặt chẽ với các chiến trường ta, Bạn, với tuyến sau, chủ động sử dụng các biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh hơn nữa công cuộc chi viện qua tuyến Đường Hồ Chí Minh cho các chiến trường.

        Tích lũy trong quá trình chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước miền Nam, từ tháng 6 năm 196 7, nhân lúc đế quốc Mỹ đang đứng trước thế tiến, lùi đểu khó và trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử Tổng thống Mỹ, Bộ Chính trị của Đảng ta đã có Nghị quyết đánh giá thế, lực của ta và của địch, đề ra chủ trương chuẩn bị đánh cho địch một đòn quyết đính, giành thắng lợi to lớn, tạo nên sự chuyển biến nhảy vọt, buộc Mỹ phải thua về quân sự.  Là một tuyến vận tải quân sự chiến lược, năm 1967 là năm thứ ba, tuyến Đường Hồ Chí Minh thực hiện vận chuyển cơ giới, là năm đạt được chỉ tiêu kế hoạch cao hơn hai năm trước đấy về khối lượng, chất lượng, thời gian. Khối lượng vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực đạt trên 70 vạn tấn, quân bổ sung được 14 vạn người, gồm 2 sơ đoàn bộ binh, 6 tiểu đoàn binh chủng, đơn vị thực binh và các đơn vị đặc công.

        Cuối tháng 6 năm 1967, Bộ tư lệnh Trường Sơn ra Hà Nội báo cáo với Bộ Tổng tư lệnh về kết quả vận chuyển, hành quân, tác chiến của tuyến chiến lược Trường Sơn và nhận nhiệm vụ năm 1968. Cùng trong dịp này, Tư lệnh và Chính ủy Bộ tư lệnh Trường Sơn được đến báo cáo với đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Tổng Bí thư có phân tích nhiều vấn đề trong nước, quốc tế. Ở đây, tôi chỉ trích một ý đồng chí Lê Quẩn nói: “Bộ tư lệnh Trường Sơn thực hiện kế hoạch chi viện năm 1967 như vậy là tốt, đây là một trong các căn cứ để Bộ Chính trị hoạch định những vấn đề chiến lược mới trên chiến trường”. Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là một chủ trương chiến lược tuyệt mật. Ở cương vị của mình, mãi đến gần ngày mở đầu cuộn Tổng tiến công, chúng tôi mới nhận được chỉ thị. Tuy vậy, thông qua kế hoạch chi viện năm 1967, 1968, cộng với sự suy nghĩ về ý kiến anh Ba Duẩn trong buổi làm việc nói trên với Bộ tư lệnh Trường Sơn, đã giúp cho chúng tôi có được những dự đoán có lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 07:20:23 pm

        Theo hướng đó, cuối tháng 11, tháng 12 năm 1967 và tháng 1 năm 1968 lại diễn ra một đợt vận chuyển mới sôi động hơn, cao hơn trong cuộc chi viện cho các chiến trường, từ đường 9 - Khe Sanh, Thừa Thiên - Huế, Khu V, Tây Nguyên, Nam Bộ, Trung Hạ Lào, Cam-pu-chia. Đặc biệt, đợt vận chuyển này, trong 12 tiểu đoàn xe vận tải nhập tuyến thì có đến 4 tiểu đoàn chở súng đạn B40, B41, 12,7 ly, đạn hỏa lực và 18 chiếc xe Gát-69 chở tiền đi thẳng đến ngã ba Biên Giới. Tử đấy, trung đoàn thuyền máy tiếp chuyện bằng đường sông Mê Công từ At-ta-pơ, đưa đến Kra-tiê trên sông Mê Công, thuộc đất Cam-pu-chia để giao cho B2.

        Khối lượng vật chất và binh lực chi viện thêm cho các chiến trường đợt này gồm 3 vạn tấn vật chất, 5 vạn quân bổ sung, 14 tiểu đoàn tăng, pháo.

        Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh nằm trong tổng thể của cuộc Tổng tiến công, nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nhưng là một hướng trọng yếu, vừa tiêu diệt địch để giải phóng đường 9 - Khe Sanh, vừa thu hút địch tạo thuận lợi cho các chiến trường lớn. Vì vậy, phải sử dụng vào đây một binh lực lớn, trong đó có một bộ phận vật chất và binh lực của đợt vận chuyển mới nói trên, đồng thời chuẩn bị hệ thống đường sá cơ sở điều trị, tổ chức vận tải phục vụ chiến dịch... Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh diễn ra 177 ngày, kể từ ngày 21 tháng 1 năm 1968. Suốt thời gian đó, tuyến chi viện Đường Hồ Chí Minh đã đảm bảo mọi yêu cầu vật chất và phục vụ chiến đấu. Đường 9 - Khe Sanh được giải phóng, đã tạo điều kiện mở rộng được chính diện của tuyến Đường Hồ Chí Minh, bao gồm cả đông, tây Trường Sơn; tạo cơ sở để bắt đầu mở trục đường dọc Đông Trường Sơn.

        Đối với cuộc Tổng tiến công nôi dậy ớ hướng Thừa Thiên - tuế khác với đường 9 là ở đây cách A Lưới - căn cứ chiến lược tuyến Đường Hồ Chí Minh hơn 100km, đường sá tiếp cận chơa có. Khi bất đầu chiến dịch, bộ đội tự mang theo đủ cơ số đạn bộ binh, một ít lương thực; lúc vào thành phố Huế, chủ yếu dựa vào nhân dân tại chỗ. Khi tấn công và chiếm giữ cố đô Huế, anh Trần Văn Quang, anh Lê Chưởng gọi điện thoại cho Bộ tư lệnh Trường Sơn, yêu cầu đưa công binh mở đường 70, 71 và sửa đoạn đầu đường 12 cũ để kéo pháo vào phía tây Bình Điền và vận chuyển hàng hóa đi sâu vào phía Tà Lương.

        Bộ tư lệnh Trường Sơn đã thỏa mãn yêu cầu đó góp phần phục vu cho Thừa Thiên Huế chiếm giữ Cố đô Huế. Đồng thời, sử dụng toàn bộ xe vận tải của Binh trạm 42 chở gấp lương thực và đạn dược với khối lượng trên 3.000 tấn, phục vụ hướng Thừa Thiên; điều 3 tiểu đoàn cao xạ 37 ly và 2 ly 7 bảo vệ các tuyến đường trên; củng cố mạng thông tin tải ba từ Bộ tư lệnh Trường Sơn đến Bộ tư lệnh Trị Thiên, để hai bên liên lạc và liên lạc về Bộ Tổng tư lệnh. Quân, dân Thừa Thiên - Huế chiếm và giữ Cố đô Huế tuy chỉ kéo dài 25 ngày đêm nhơng được phối hợp với chiến dịch đường 9 - Khe Sanh, đã tạo tiếng vang rất lớn đối với trong nước, ngoài nước. Đây là một đòn chiến lược để phân tán binh lực Mỹ, ngụy ở các chiến trường phía Nam, tạo thêm sự sa sút mạnh về tinh thần và ý chí của chúng. Đây cũng tạo thêm một nguồn động lực để Sài Gòn, các thành phố, thị xã và toàn bộ chiến trường miền Nam tiếp tục phát triển cuộc Tổng tiến công nổi dậy, giành thắng lợi vang dội, chấn động cả thế giới. Trong lúc Mỹ, ngụy phải tập trung đối phó trên toàn bộ chiến trường miền Nam buộc chúng phải giảm đánh phá, ngăn chặn tuyến đường Hồ Chí Minh. Do đó, bộ đội Trường Sơn, không những được cổ vũ, động viên tinh thần, ý chí mà còn lợi dụng được sơ hở của đối phương để đẩy mạnh tốc độ và quy mô vận tải hàng hóa, đảm bảo hành quân, bổ sung vật chất, binh lực cho tất cả các chiến trường. Do đó khối lượng vận tải vật chất và binh lực đạt cao hơn so với 2 năm trước đó. Việc đó, càng chứng tỏ mối quan hệ hữu cơ, gắn kết giữa cuộc Tổng tiến công nổi dậy với Đường Hồ Chí Minh; chứng tỏ càng coi trọng và chăm lo phát triển suốt quá trình thì mới tạo được những bước ngoặt lịch sử.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 07:21:03 pm

        Đường Hồ Chí Minh đồng thời là một hướng chiến trường trọng yếu để đối phó với cuộc chiến tranh ngăn chặn quyết liệt của Mỹ, ngụy, chư hầu. Lực lượng phòng không, bộ binh và tất cả lực lượng tại chỗ trên tuyến Đường Hồ Chí Minh đã phối hợp với quân, dân bạn Lào mở chiến dịch phối hợp với cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968: bắn rơi nhiều máy bay, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, giải phóng được nhiều huyện, xã của Bạn ở Trung, Hạ Lào. Đặc biệt đã đánh chiếm được Mường Pha Lan, mở rộng được chính diện hệ thống Đường Hồ Chí Minh Tây Trường Sơn, tặng thêm khả năng bảo vệ vững chắc hướng phía tây.  Tuyến chi viện chiến lược Đường Hồ Chí Minh được thể hiện rõ với góc độ là căn cứ chiến lược của chiến trường ba nước: chiến trường miền Nam Việt Nam, chiến trường Trung, Hạ Lào và chiến trường Đông Bắc Cam-pu-chia. Nước Lào và nước Cam-pu-chia anh em với tinh thần quốc tế cao cả, đặc biệt là nước Lào đã đồng ý để phía Việt Nam được xây dựng căn cứ chiến lược Tây Trường Sơn xuyên qua 6 tỉnh Trơng, Hạ Lào, một phần của 4 tỉnh Cam-pu-chia. Trong đó có 2 khu vực xung yếu: Đường 9 và vùng ba Biên Giới. Trong khu căn cứ, Bộ tư lệnh Trường Sơn đã cùng với quân, dân Trung, Hạ Lào xây dựng được mạng giao thông đường bộ liên hoàn, gồm các trục đường dọc xuyên Bắc - Nam, các trục đường nối ra các chiến trường; hệ thống đường sông nối Lào với Đông Bậc Cam-pu-chia; đường ống dẫn xăng dầu; hệ thống đường hành quan, trú quân; đường thông tin tải ba xuyên Bắc - Nam; hệ thống bệnh viện; cơ sở kỹ thuật; hệ thống kho dự trữ...

        Trong căn cứ rộng lớn này, Bộ tư lệnh Trường Sơn đã cùng với quân dân Trung, Hạ Lào chi viện lẫn nhau trên mọi mặt, đã liên tục phối hợp chiến đấu ròng rã 10 năm chống cuộc chiến tranh ngăn chặn khốc liệt, bảo vệ tuyến vận tải chi viện chiến lược. Đồng thời, đánh địch giải phóng đất đai, xây dựng cơ sở cách mạng ở Trung, Hạ Lào.

        Tất cả các cơ sở được xây dựng trong vùng căn cứ chiến lược, đã góp phần phát huy trong quá trình chuẩn bị và thực hành cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 trên chiến trường miền Nam. Sau Tết Mậu Thân, căn cứ chiến lược tiếp tục phục vụ điều trị thương, bệnh binh và một số đơn vị bộ đội các chiến trường củng cổ tổ chức, nghỉ ngơi. Với sự cổ vũ lớn lao của cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, tuyến vận tải chi viện chiến lược, một hướng chiến trường trọng yếu, một căn cứ chiến lược lại tiếp tục bước lên những đỉnh cao mới. Phối hợp với các lực lượng đánh thắng Chiến dịch đường 9 - Nam Lào, phục vụ thỏa mãn cho Đông Xuân 1975, chiến dịch Buôn Ma Thuộc, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

        Chủ trương mở cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của Đảng ta, chủ yếu đánh vào các cơ quan đầu não Mỹ, ngụy trong tất cả thành phố, thị xã, thị trấn trên toàn miền Nam - là một chủ trương chính xác, sáng tạo, độc đáo chưa từng có trong các cuộc chiến tranh. Chủ trương đó, biểu hiện trình độ và tài thao lược chỉ đạo nghệ thuật chiến tranh của Đảng ta: thúc đẩy quá trình chuẩn bị; chọn đúng thời cơ trong nước, ngoài nước; chọn đúng hướng, đúng cách đánh; giữ được bí mật bất ngờ tuyệt đối.

        Thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, không thể đánh giá thằng lợi như một chiến dịch. Đây là một thắng lợi tổng thể cả quân sự, chính trị, ngoại giao; ảnh hưởng cả trong nước và trên thế giới; đặc biệt là với nước Mỹ; tạo ra được sự phản kháng về chính trị và ngoại giao của nhiều nước trên thế giới, chống đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của ta. Thắng lợi to lớn đó, đã tạo được bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khởi đầu một quá trình đi xuống về chiến lược trong chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, buộc họ phải chuẩn bị để ngồi vào bàn hòa đàm; tạo ra được tốc độ đẩy nhanh sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

        Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công nổi dậy, chứng minh sức mạnh tổng hợp của cả hai miền, lòng yêu nước nồng nàn, trí thông minh và tinh thần dũng cảm hy sinh phi thường của quân và dân ta. Thắng lợi đó còn mở rộng, đẩy mạnh hơn sự ủng hộ tinh thần, vật chất của bầu bạn trên thế giới.

        Ba mươi năm trôi qua, nhưng bản anh hùng ca về cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 vẫn còn vang lên trong ký ức của cả dân tộc ta, của quân đội ta. Bộ đội Trường Sơn, tuyến chi viện chiến lược Đường Hồ Chí Minh rất tự hào đã đóng góp phần công sức nhỏ bé của mình trong thời điểm lịch sử của cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968; tạo chiến công bất hủ của dân tộc; đòn chiến lược quyết định đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, tiếp sức cho thắng lợi cuối cùng năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 07:22:28 pm

MẬU THÂN 196S, MÀN CUỐI CỦA “TẤN THẢM KỊCH” ĐƯA QUÂN MỸVÀO CỨU CHẾ ĐỘ SÀI GÒN

Trung tướng, PTS NGUYỄN THỜI BƯNG       

        Chủ nghĩa chống cộng bị ám ảnh bởi thuyết Đô-mi-nô đã dẫn dắt 5 đời Tổng thống Mỹ sa lầy vào cuộc chiến tranh Việt Nam, ngăn chặn cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng nước Việt Nam sau Hội nghị Giơ-ne-vơ 1954.  Người thực sự đưa quân viễn chinh Mỹ vào tham chiến ở Việt Nam hòng cứu chế độ Sài Gòn để gánh lấy hậu quả lớn nhất cho bản thân và cho nước Mỹ là Tổng thống Giôn-xơn, trong nhiệm kỳ của mình đã đưa số quân Mỹ can thiệp vào Việt Nam từ 16.300 cố vấn năm 1963, 23.300 cố vấn năm 1964, lên 485.600 quân vào cuối năm 1967, do đó cũng nâng số xác chết của lính Mỹ ở Việt Nam lên ngày càng cao (tới 30.568 tên sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, tính đến lúc Mỹ phải bắt đầu rút quân vào tròng 4-1969).  Trận bão táp Mậu Thân đã đem lại cho những kẻ gieo gió những hậu quả nghiêm trọng nhất: Giôn-xơn phải tuyên bố phi Mỹ hóa chiến tranh, chấm dứt ném bom miền Bắc, chấp nhận thương lượng ở Pa-ri và bản thân Giôn-xơn tuyên bố không ứng cử Tổng thống nhiệm kỳ 2. Còn Bộ trưởng Quốc phòng Mác Na-ma-ra vì có nhiều quan điểm không nhất trí với Tổng thống và các tham mưu trưởng liên quân về cách điều hành chiến tranh ở Việt Nam đã rút khỏi Lầu năm góc ngày 29-2-1968 (đúng ngày trung đội địa phương Phú Vang rút khỏi phường Vĩ Dạ sau 29 ngày đêm làm chủ địa bàn). Hoạt động chính thức cuối cùng của Bộ trưởng Quốc phòng Mác Na-ma-ra là bác bỏ đề nghị của Oét-mo-len đòi thêm 200.000 quân Mỹ cho chiến trường miền Nam được người kế nhiệm là Clíp-phớt đồng tình.

        Nhớ lại từ năm 1953, Ai-xen-hao thấy trước sự thất bại của thực dân Pháp đã đưa ra đối sách: “Nếu để mất Việt Nam, mất Đông Dương thì sẽ khó có thể phòng thủ được bán đảo Ma-lay-xia... Phải ngăn chặn lại việc này ngay bây giờ”. Bàn giao lại cho Ken-nơ-đi năm 1961, Ai-xen-hao căn dặn “phải giữ lời hứa (ở Việt Nam) có nghĩa là phải đổ nhiều máu của chúng ta (tức Mỹ) ở chiến trường. . . Những thắng lợi thêm nữa của Việt Cộng sẽ là một thảm họa cho Mỹ” (Hồi ký của Giôn-xơn).

        Vừa nhậm chức, Ken-nơ-đi tuyên bố “không loại trừ việc đưa các lực lượng quân sự tới đồng bằng sông Cửu Long... sẵn sàng giúp đỡ Cộng hòa Việt Nam bảo vệ chế độ. Nhưng mọi giải pháp yểm hộ bằng cố vấn, tiền và súng lại không vực dậy nổi một chế độ gia đình trị lấy “diệt cộng” làm quốc sách, buộc Ken-nơ-đi 2 năm sau phải xác nhận “nước Mỹ sẽ có thể chìm nghỉm hoặc bơi cùng thuyền với Diệm” . . . “Chúng ta (tức Mỹ) đang ở trong đường hầm không lối thoát” (R.Tôm-xơn, sách “Mỹ không ra khỏi Việt Nam”). Giôn-xơn công nhận sẽ làm những việc cần làm để bảo vệ lợi ích của chúng ta ở Việt Nam” và mở đường bằng cánh tiếp nhận “bị vong lục” của các tham mưu trưởng liên quân ngày 22-1-1964 đòi Mỹ ‘phải có nhưng hành động táo bạo hơn, dù có thể có những rủi ro lớn hơn.. . cần mở rộng cuộc chiến tranh sang oanh tạc Bắc Việt Nam bằng không quân Mỹ và chuyển từ huấn luyện người Nam Việt Nam sang tiến hành cuộc chiến tranh ở cả 2 miền Bắc-nam Việt Nam bằng sức chiến đấu của Mỹ” (Hồi  ký Mác Na-ma-ra).

        Cuộc chiến tranh “Mỹ hóa” và mở rộng theo chiến lược “chiến tranh cục bộ” được thế giới chăm chú theo dõi. Ngày 25-3-1967 Hãng AFP đã công bố tư liệu: “Mỗi tháng ở chiến trường Việt Nam, trung bình có hơn 8.000 sĩ quan, binh lính Mỹ chết và bị thương. Mức độ thương vong của quân Mỹ đa vượt quá xa dự đoán của Lầu năm góc”. Cuối năm 1968, sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, Giôn-xơn thổ lộ, tâm sự không ra ứng cử nhiệm kỳ 2: “Ở Việt Nam, cộng sản đã giáng một đòn choáng váng đối với chúng ta (tức Mỹ) ở mức độ này hay mức độ khác. Tôi kinh ngạc và thất vọng khi thấy các cố gắng của đối phương đã có ảnh hưởng rất xấu đến nhiều người trong Chính phủ và rất nhiều người ngoài Chính phủ mà xưa nay họ vẫn được coi là những phần tử trung kiên không hề lung lay dao động” (Hồi ký Giôn-xơn) .

        Thế là rõ! Hiệu quả của trận quyết chiến chiến lược không ai nói rõ hơn đối thủ trực tiếp: ở chiến trường bị giáng đòn choáng váng, ở hậu phương những phần tử trung kiên cả trong chính phủ và ngoài chính phủ đều lung lay dao động khiến người cầm đầu phải kinh ngạc, thất vọng. Những tư liệu lịch sử trên đây trích dẫn đúng lời ba Tổng thống Mỹ, đã nói rõ các nguyên nhân dẫn nước Mỹ tới “tấn thảm kịch Việt Nam” (Mác Na-ma-ra), tới: “Dòng sông đau khổ chảy qua giữa hai nước”, “Một mục tiêu phải khắc phục” như lời Đại sứ Pi-tơ-xơn khi đặt chân tới Nội Bài ngày 9-5-1997. Không có “lời mời quân Mỹ rút về nước của Mậu Thân 1968 tất không thể có việc trở lại Việt Nam của Đại sứ Mỹ vào giữa năm 1997”. “Những rủi ro lớn hơn” mà các bộ óc tham mưu hàng đầu của nước Mỹ đã lo ngại chính là trận bão táp Mậu Thân 1968, buộc hơn 50 vạn quân Mỹ cùng với 66.000 quân “đồng minh” phải rút khỏi Việt Nam, dẫn đến Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973, mà cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là tất yếu.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 07:24:02 pm

        Trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng, cuộc chiến đấu trực tiếp với đội quân gần 60 vạn lính Mỹ và chơ hầu kéo dài từ 1965 đến 1968-1969 là một thử thách quyết liệt nhất đối với “Tài thao lược Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh”, đáng ghi thành những trang sáng chói không chỉ về nghệ thuật quân sự mà cả về nghệ thuật điều hành chiến tranh cách mạng chống lại quân xâm lược lớn mạnh.  Sau hai cuộc phản công mùa khô, bất đầu từ năm 1965-1966, kế tiếp bằng 3 cuộc hành quân “tìm diệt” nối tiếp nhau ròng rã suốt 8 tháng (tháng 9-1966 - 5-1967), 2 cuộc ở quy mô quân đoàn, trước sau chỉ nhằm đánh vào chiến khu Dương Minh Châu là căn cứ của Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền (At-tơn-bo-rơ từ 14-9 đến 25-11-1966 và Gian-xơn Xi-ti từ 22-2 đến 14-5-1967) và vùng Bến Súc, Bến Cát, Củ Chi (Xi-đa-phôn 8-1 - 26-1-1967). Cuộc cuối cùng (Gian-xơn Xi ti) là cuộc ra quân lớn nhất trong lịch sử tham chiến của quân Mỹ ở Việt Nam, với 45.000 quân có 9 lữ đoàn đánh bộ, 41 tiểu đoàn thiết giáp, 1.200 xe tăng, 17 tiểu đoàn pháo với 250 khẩu đội, 17 phi đoàn máy bay có B.52 yểm trợ, do một trung tướng Mỹ chỉ huy.

        Cuối năm 1967, quân dân miền Nam đứng trước tình hình phải đương đầu với đội quân trên 1,6 triệu của Mỹ - ngụy, có trên 48 vạn lính Mỹ, 66 nghìn lính chư hầu, 99 vạn 8 nghìn quân ngụy gồm cả chủ lực, bảo an dân vệ và cảnh sát vũ trang, non nửa là quân chủ lực. Trong khi đó trên chiến trường, quân chủ lực ta phổ biến mới ở cấp tiểu đoàn, có khoảng ngót 20 trung đoàn và 6 sư đoàn bố trí ở các địa bàn trọng yếu, lực lượng địa phương và dân quân tự vệ phổ biến còn kiêm nhiệm nhiều việc lại trang bị không đồng bộ. Nếu so sánh lực lượng theo quan điểm của chiến tranh quy ước, không ai dám chủ trương tiến công lớn vào thời điểm đó. Trong thời đại Hồ Chí Minh, cái bí quyết giành thắng lợi của nước nhỏ, kém phát triển nằm trong một phương châm chiến lược “Đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận những thế lực xâm lược và thững trị lớn mạnh” do Hồ Chủ tịch đề xướng, đã từng được Hội nghị 8 Đảng cộng sản chấp nhận. Nhưng dụng vào thực tế đánh Mỹ ở Việt Nam, nó được nói rõ qua bài thơ chúc Tết giản dị vạch bước đi của Bác :

“Vì độc lập vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”...

        Những hành động táo bạo hơn của nước Mỹ do các tham mưu trưởng liên quân kiến nghị được các cơ quan quyền lực chấp nhận đã vấp phải một sự táo bạo còn gan góc hơn nhiều do bộ tham mưu chiến đấu của dân tộc Việt Nam tung ra, được các tư lệnh chiến trường nhất trí, toàn thể quân dân hưởng ứng, chấp hành một cách chủ động và sáng tạo.

        Đó là sự phân tích cục diện chiến tranh hoàn toàn khác các quan điểm của chiến tranh quy ước, càng không đi vào cách so sánh về quân số, vũ khí mà về những chiến lược địch đã áp dụng và bị ta đánh bại, về thế địch - thế ta trên chiến trường, ở hậu phương chiến lược cùng vị thế đôi bên trên thế giới trong cuộc chiến tranh Việt Nam.  Không đợi đến năm 1972, người Việt Nam mới nhận biết “cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh lâu dài nhất tốn kém nhất và mất lòng dân nhất, trong lịch sử nước Mỹ, với một hình ảnh bị dư luận thế giới chỉ trích tồi tệ nhất”, như Hãng AFP công bố ngày 29-10.

        Vấn đề đặt ra để xem xét là “quân xâm lược đã đưa chiến tranh cục bộ đến đỉnh cao mà vẫn thất bại”. Chúng đã làm tất cả những gì có thể làm được, đế mở những cuộc hành quân tới cỡ quân đoàn và trên quân đoàn gắn với cuộc leo thang đánh phá miền Bắc thật quyết liệt và táo bạo.  Vấn đề không phải là chỗ chúng còn bao nhiêu quân, bao nhiêu súng mà ở chỗ chúng còn giải pháp chiến lược gì, phương thức tác chiến gì có thể thi thố và ý chí xâm lược của chúng còn cứng rắn đến đâu?

        Những tín hiệu về phương trình đàm phán 14 điểm của Bộ trưởng Ngoại giao Đến Rat-xcơ, những trung gian do Mỹ phái đến Hà Nội và vận động qua bè bạn chứng minh rằng, Mỹ đã thấy rõ không thể giành thắng lợi bằng quân sự. “Phải chăng đã đến lúc ta có thể đưa chiến lược tiến công cách mạng tới bước phát triển tất yếu của chiến tranh nhândân là tổng tiến công và nổi dậy toàn dân, đưa cục diện chiến tranh tới bước ngoặt quyết định. Quyết târn được lựa chọn là tổng công kích và tổng khởi nghĩa, mặc dù về tổng khởi nghĩa đã đưa lại bài học sâu sắc: trong thế bị kìm kẹp, nhân dân chỉ có thể tổng khởi nghĩa khi có chỗ dựa vững chắc của các lực lượng vũ trang cách mạng.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 02:18:15 pm

        Quyết tâm của trận quyết chiến Mậu Thân dựa vào sự so sánh ưu thế tuyệt đối của ta về dư luận quốc tế, về sự cố kết của hậu phương lớn với tiền tuyến lớn so với một hậu phương đầy mâu thuẫn của đối phương, trên chiến trường là ưu thế tuyệt đối về chính trị, tinh thần, về khát vọng được giải phóng của nhân dân miền Nam, sẵn sàng sống mái với quân thù để thoát khỏi xiềng xích, nếu được cách mạng tin cậy giao nhiệm vụ, về thế chiến lược của chiến tranh cách mạng trên cả 3 vùng rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị.

        Chỉ có một bộ tham mưu chiến đấu dạn dầy chiến trận của một dân tộc được kết cấu bằng chất keo đặc hữu “không có gì quý hơn độc lập tự do”, tin cậy nhau đến độ “nhất hô bá ứng” mới dám hạ một quyết tâm chiến lược vượt ra khỏi những quy tắc thông thường của chiến tranh, mà cái căn cứ vững chắc chinh là “lòng tin vô bờ bến vào sức mạnh nhân dân”. Đây là nước đi của ván cờ thế không chỉ căn cứ vào đầu quân, đầu súng mà căn cứ vào toàn bộ thế cờ của hàng kiện tướng đã thấm sâu lời dặn của ông cha trên nền tảng “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, phụ tử chi binh, cả nước chung sức” mà chọn dùng tướng giỏi xem quyền biến như đánh cờ, tùy cơ ứng biến” (Bạt dụng vương tướng, quan hữu quyền biến, nhơ vi kỳ nhiên, tùy thời chế nghi - Di chúc Trần Hơng Đạo). Đây là nước đi nhằm lật ngược thế cờ, dẫn cuộc chiến tranh tới khúc quanh quyết định, làm lay chuyển ý chí xâm lược của kẻ đối phương, bất phải từ bỏ chiến lược tiến công, xuống thang chiến tranh, tìm cách rút quân trong danh dự.

        Nó khác xa với chiến tranh quy ước đến mức, Mác Na-ma-ra kể lại rằng, CIA có báo một tin về những cuộc tiến công vào thành phố, nhưng chính giới Mỹ đều coi là nghi binh để đánh Khe Sanh. Và cho đến nay, một giáo sư về các đại chiến lược của trường đại học Quốc phòng Mỹ, cựu đại tá Léc-béc San-lơ sang Việt Nam còn khẳng định: “một số nhà hoạch định chính sách Mỹ tin rằng cuộc tiến công vào cáe thành phố chỉ là đòn nghi binh nhằm che đậy mục tiêu, là cắt 2 tỉnh phía Bắc ra khỏi Nam Việt Nam”. Như thế là kế hoạch nghi binh kéo địch ra chiến trường ta chuẩn bị đã đánh lừa được địch tới 30 năm sau đó .

        Mậu Thân 1968 là ngọn lửa của quân dân miền Nam bùng lên từ cái nền tảng chiến tranh toàn dân đã qua nhiều phen hun đúc trong máu lửa, của những con người đã “trải nhiều biến cố thì suy nghĩ sâu” (Nguyễn Trãi) có thể làm được những việc mà những kẻ thiếu hiểu biết về lịch sử văn hóa và chính trị của nhân dân không thể hiểu nổi.

        Nếu không có ý chí “thà chết không làm nô lệ” của nhân dân thì những lực lượng từ trên “xanh”, từ hậu cứ, dù có đặc công biệt động, cũng làm sao đột nhập được vào từng ấy thành phố, thị xã, thị trấn, khi khu... tới từng ấy địa chỉ không sai một địa chỉ nào. Việc chủ lực ta cùng các đội đặc công, biệt động bám trụ 25 ngày đêm trong thành phố Huế; sự có mặt của chủ lực Miền và chủ lực các tỉnh, chủ yếu là tỉnh Long An ở vùng ven và nội đô, ở cầu Ban Ki, ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, ở Quận 5, Quận 6, Quận 10 Quận Tân Bình (Sài Gòn), nếu không có dân làm sao đứng được ? Nếu không có thực lực và uy thế của quân chủ lực, của các lực lượng vũ trang cách mạng, nhân dân chưa có chỗ dựa mà nổi dậy. Nhưng không có tai mắt, sự. gan dạ và sáng tạo của dân, chủ lực và các lực lượng tiến công làm sao có bàn đạp để tiến công các mục tiêu trong các thành thị và vùng ven. Chính sự nổi dậy của dân hòa quyện vào sức tiến công của quân giải phóng làm cho quân Mỹ không còn hậu cứ an toàn.

        Sự giãy giụa của con ác thú bị đánh đau, thua đau đã gây ra những thiệt hại mà ta chưa lường hết. Nhưng cái gì phải đến thì đã đến. Trong 3 mốc lịch sử 1968, 1972, 1975 ở miền Nam thì trận quyết chiến 1968 giữ vị trí mở đường. Nó là màn chót của “tấn thảm kịch” đem quân Mỹ đi cứu vãn một chế độ tay sai để cuối cùng phải phi Mỹ hóa. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân đã gắn chặt tài thao lược và trí tuệ Việt Nam với dũng khí và tinh thần cố kết dân tộc, được thế giới đồng tình. Phải chăng đó cũng là những yếu tố cần phải hội đủ cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, giữ vững nền độc lập tự chủ theo định hướng XHCN.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 02:21:42 pm

MẬU THÂN SAU 30 NĂM NHÌN LẠI

TRẦN BẠCH ĐẰNG       

        Chưa một cơ quan khoa học nào lập bảng thống kê về các bài, tập sách, phim ảnh, ký sự, tư liệu về đợt Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Tuy nhiên, điều chắc chắn là Mậu Thân được phản ánh rất phong phú - của ta, của Mỹ, của các nhà báo và nhà nghiên cứu trên thế giới. Điều đó nói lên rằng, Mậu Thân là một sự kiện tác động sâu sắc đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam sau khi Mặt trận Dán tộc giải phóng thành lập 8 năm.

        Tất nhiên, có những cách đánh giá khác nhau đối với sự kiện tầm vóc lớn này và thật dễ hiểu khi sự kiện ấy cần những nỗ lực tiếp theo và cần một thời gian không ngắn để có thể phát huy đầy đủ ý nghĩa chiến lược của nó, nhất là sau các đợt của Mậu Thân, quân dân ta chịu một số tổn thất khá nặng.

        Trong tham luận này, từ cơ sở của diễn tiến cuộc tiến công đợt Một và đợt Hai trong nội thành Sài Gòn - là trọng điểm của chiến trường trọng điểm - tôi cố gắng phát biểu một vài suy nghĩ của mình, những suy nghĩ mà trong suốt 30 năm.

        Nguywn Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Khu Trung tâm trong Mậu Thân, Phó bi thư Đảng ủy Tiền phương Nam bộ, Bí thư Thành ủy Sài Gòn, Bí thư Thành Quân ủy nhiều năm, tôi đã trình bày hoặc công khai trên báo chí, sách nghiên cứu hoặc trong thư từ đóng góp với Trung ương. Cũng có thể nói rằng, những gì tôi sắp trình bày không phải một phát hiện mới mà chằng qua là hệ thống hóa lại sự kiện và đánh giá nó một cách bình tĩnh. Tôi nhớ sau đợt Một Mậu Thân, đồng chí Trần Trọng Tân lúc bấy giờ phụ trách mũi vũ trang của Tuyên huấn và được giao chiếm Đài phát thanh đã nói với tôi: Suốt hơn 10 ngày của đợt Một, đồng chí vào cuộc như người say. Đó cũng là trạng thái tình cảm của nhiều người khác. Bây giờ, 30 năm sau, chẳng còn ai cảm nhận Mậu Thân như thế nữa. Khoảng cách từ đêm mùng Hai Tết Mậu Thân 1968 đến cuộc hội thảo khoa học đầu Xuân Mậu Dần 1998 của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã có những sự kiện cực kỳ trọng đại mà nổi bật là Đại thắng mùa Xuân 1975 coi như một ghi nhận rõ rệt về kết quả của Mậu Thân trong quá trình kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Với phương châm chỉ đạo cuộc chiến tranh chống Mỹ của Đảng ta - đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn, kết hợp ba vùng chiến lược và hai phương thức: đấu tranh chính trị và vũ trang, kết hợp ba mũi giáp công: chính trị, quân sự và binh vận kết hợp công kích quân sự và nổi dậy quần chúng, kết hợp đấu tranh nội địa với đấu tranh ngoại giao; phát huy thựclực tại chỗ kết hợp với thực lực một nửa nước đã được giải phóng hoàn toàn; lấy thực lực chính trị - quân sự bản thân là chính đi song đôi với tranh thủ sự giúp đỡ eác mặt của phe Xã hội chủ nghĩa, của lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình trên thế giới, đặc biệt tranh thủ sự ủng hộ và cảm tình của nhân dân Mỹ; lấy thực lực bản thân là chính đồng thời coi trọng khai thác mâu thuẫn nội bộ kẻ thù… Mậu Thân là một trong bốn sự kiện lớn nhất của 21 năm đánh Mỹ: 3 sự kiện kia là Đồng Khởi 1959-1960, “Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội và chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. Sự kiện Mậu Thân là gạch nối giữa Đồng Khởi, Điện Biên Phủ trên không và Đại thắng mùa Xuân 1975 tạo thành tổng thể bức tranh giải phóng đất nước. Như tất cả chúng ta đều biết, Mỹ là cường quốc hàng đầu của thế giới - cả tiềm lực kinh tế lẫn quân sự, dân số, đất đai cùng trình độ công nghệ, kỹ thuật đều hơn ta gấp nhiều lần. Đánh với một kẻ thù nhơ thế hoàn toàn không đơn giản, nhất là dân tộc ta tự lực tiến hành kháng chiến, có nhờ bè bạn giúp đỡ mặt này, mặt khác nhưng tuyệt nhiên không nhờ chi viện thực binh. Trong điều kiện như thế, đấu trí trở thành sức mạnh chủ đạo, lực lượng tổng hợp trở thành chủ lực và nghệ thuật chính trị - quân sự trở thành phương thức định đoạt thắng bại. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn đã vạch ra phương thức đánh và thắng Mỹ đầy sáng tạo. Kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Pháp, và xa hơn, kinh nghiệm của cha ông qua các cuộc chiến tranh giữ nước, trên cơ sở sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Mình, đồng chí Lê Duẩn cùng Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã tìm được lối đi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta trong diều kiện của thế giới hiện đại và trong truyền thống phong phú của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 02:23:39 pm

        Một khi đã xác lập phương châm đấu tranh kết hợpchính trị và vũ trang thì đương nhiên đô thị trở thành mục tiêu chủ yếu của cách mạng. Phong trào nông thôn và vùng rừng núi dù mạnh mà phong trào đô thị yếu, khả năng tác động toàn cục sẽ kém. Kinh nghiệm của quá khứ cho thấy, ví dụ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 rộng thế song không dấy lên được ở Sài Gòn, kết quả cuộc khởi nghĩa thất bại.  Tổng khởi nghĩa tháng Tám sở dĩ thành công nhanh gọn khớp nước vì nơi bùng nổ là Hà NộI, Huế, Sài Gòn và các tỉnh lỵ. So với trước kia, yêu cầu tiến vào đô thị càng bức xúc khi kẻ thù là một đế quốc mạnh, khi bộ máy tay sai được tổ chức hiện đại. Trên cơ sở nhận thức ấy, Đảng ta dần dần hoàn thiện quan điểm và lên phương án hành động. “Ý định đánh một đòn vang dội” nảy sinh trong tính toán chiến lược của Đảng trước Mậu Thân khá lâu. Tháng 11-1960, khi Nguyễn Chánh Thi đảo chính Ngô Đình Diệm, Xứ ủy Nam Bộ mà đồng chí Nguyễn Văn Linh là Bí thư, đã chớm nghĩ một phương thức tạo bước ngoặt trong chiến tranh.

        Bấy giờ, trọng điểm là phá “khu trù mật”. Danh từ “cướp thời cơ” xuất hiện, lực lượng huy động lao ra phía trước. Song một là: Nguyễn Chánh Thi thất bại nhanh quá, hai là chúng ta mới vừa chuyển từ đấu tranh đơn thuần chính trị lên hình thái chính trị - vũ trang kết hợp, thực lực quân sự đang gây dựng nên không khai thác cao được sự xung đột nội bộ địch. Tháng 11-1963, một lần nữa chúng ta xuống đường “cướp thời cơ”, nhưng Diệm không đề kháng lâu hơn ta tưởng - chúng ta cũng chỉ giành được một số thắng lợi phá ấp chiến lược. Từ sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, với những xáo trộn liên miên trong nội bộ bọn cầm quyền sài Gòn, Đảng ta đã bắt tay vào nghiên cứu kỹ hơn, chủ động hơn. Ai cũng biết, một cú đánh chỉ thực sự vang dội khi đối tượng tiến công là Sài Gòn, thủ đô cua địch, trung tâm điều khiển chiến tranh của Mỹ. Một trận đánh nhỏ ở sân gôn Tân Bình, một vụ nổ khách sạn Brinsk, tàu Card, nhà hàng nổi Mỹ Cảnh, một vụ pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hòa, v.v. đã xáo trộn dữ dư luận, thấu tận Oa-sinh-tơn, na ná như chiến thắng Ấp Bắc, Bình Giã... còn nói gì nếu là hành động phối hợp cả chính trị - quân sự - binh vận trên một diện rộng khắp Sài Gòn cùng các thành phố, thị xã, thị trấn khác ở miền Nam thì giá trị phải mang ý nghĩa cao rộng vô cùng. Năm 1964, một kế hoạch hành động tương tự được Trung ương xem xét. Tuy nhiên, lúc ấy, nếu lực lượng biệt động được xây dựng tương đối khá nhằm vào những mục tiêu tiêu biểu nhất ở Sài Gòn thì lực lượng quân sự và chính trị nói chung chưa đảm bảo nổi chức trách nối tiếp biệt động và phát huy thắng lợi. Các tỉnh miền Nam, thực lực chính trị, quân sự quanh và trong lòng thành thị nói chung còn yếu. Quy mô lực lượng chủ lực của chúng ta mới đến cấp trung đoàn, trang bị kém. Bộ đội địa phương vừa hình thành, du kích chiến tranh mạnh hơn nhưng chưa bám được vùng ven và các vùng xung yếu. Lực lượng chính trị, đặc biệt nội thành Sài Gòn, đang ở vào thời kỳ tranh chấp giữa cách mạng với các phe phái phản động cơ hội, quyền lãnh đạo của Đảng còn thấp trong thanh niên, sinh viên, học sinh, trong tín đồ đạo phật - bấy giờ quy tụ khá đông quần chúng tốt, trong công nhân lao động.

        Lợi thế rõ nhất của ta là thực binh Mỹ ở miền Nam chưa lên đến con số sau này, song nhơ vậy cũng còn một bài toán bỏ ngỏ: giới “điều hâu’ Mỹ dễ kết luận rằng chúng thiếu quân số viễn chinh cần thiết. Nghĩa là ý chí của Mỹ chưa nhụt.  Kế hoạch hoãn lại, Trung ương chỉ đạo cả miền Nam tích cực sửa soạn điều kiện tốt hơn về lực lượng và phong trào.

        Diễn biến tình hình của những năm 1966 - 1967 cho thấy dời ngày hành động lại là hợp lý. Trong hai năm dó, quân chủ lực của chúng ta được tăng cường rõ rệt, bộ đội địa phương vững vàng hơn. Thử thách mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 với việc bẻ gãy chiến dịch Xê-đa Phôn ở ngoại vi Sài Gòn báo hiệu khả năng tổng tập kích chiến lược đã chín muồi. Trong hai năm đó, thực binh Mỹ, chư hầu và quân đội Sài Gòn lên đến con số khổng lồ, Mỹ tung vào chiến trường các phương tiện kỹ thuật tối tân, kể cả mảy bay ném bom chiến lược B.52, pháo tầm xa, chất độc hóa học, nhiều loại trực thăng. Hạm đội Mỹ được huy động, tàu sân bay túc trực ở biển Đông. Nghĩa là Mỹ sử dụng gần như tổng lực - quy mô lớn nhất đối với một cuộc viễn chinh, chỉ trừ đại chiến thế giới lần thứ hai và trừ vũ khí nguyên tử.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 02:24:55 pm

        Cuộc đụng độ nếu xảy ra là quân cách mạng và quân Mỹ chạm mặt, đọ sức trực tiếp - bài toán không còn ẩn số nữa.  Về phong trào chính trị nội thành Sài Gòn, hai năm đó tiến những bước dài. Đảng bắt đầu chủ động dấy lên các đợt tiến công mang tính chất quần chúng quanh các khẩu hiệu trọng yếu: hòa bình, dân chủ, đời sống, giữ gìn văn hóa dân tộc. Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam, mâu thuẫn dân tộc cùng nhiều loại mâu thuẫn khác giữa đông đảo quần chúng vùng tạm phiếm với bọn xâm lược thêm gay gắt, mặt nạ lừa bịp bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ từ từ rơi, Mỹ lần lượt hiện hình là kẻ cướp và bọn đầu cơ chính trị hiện hình là bọn bán nước, sự mơ hồ mức nào đó trước đây của quần chúng tan biến dần, cộng thêm sự bất mãn của tầng lớp trí thức và tơ sản thành thị trước các hoạt động lấn át của các công ty độc quyền Mỹ, mâu thuẫn giữa sĩ quan Sài Gòn với bọn chỉ huy Mỹ bây giờ không còn che đậy nữa, mâu thuẫn giữa bọn tay sai với nhau - phe quân nhân và phe dân sự, phe tham chính và phe chầu rìa, đảng phái này và đảng phái khác, nhóm cơ hội trong Công giáo. . . Quân Mỹ và chư hầu ồ ạt đổ bộ lên đất nước ta kéo theo nhiều tệ nạn về văn hóa, đảo lộn nền luân lý lâu đời của nhân dân ta. Bấy giờ phổ biến câu vè: “nhất sư, nhì Mỹ, tam đĩ, tứ tướng” bốn hạng được ưu đãi nhất. Đảng bắt đầu giành được quyền lãnh đạo qua tổ chức và cơ sở các trung tâm hàng đầu: Tổng hội sinh viên, Tổng hội học sinh, các trường học, một số nghiệp đoàn và xí nghiệp, các đoàn thể trí thức và giới Phật giáo các xóm lao động, thâm nhập trong quân đội và cảnh sát địch. Cách mạng ảnh hưởng đến cả một số nhân vật trong Quốc hội, sử dụng được một số báo chí công khai. Giới đạo Thiên Chúa cũng có một phân hóa nhất định, xuất hiện một số linh mục tiến bộ, nhọn lập trường dân tộc, tán thành Mặt trận Dân tộc giải phóng. Khí thế phong trào công khai khá mạnh: Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc, Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ, Tổng hội sinh viên, Tổng hội học sinh, Phong trào dân tộc tự quyết, Lực lượng quốc gia tiến bộ, Tổng liên đoàn lao động, Liên hiệp các nghiệp đoàn tự do, Nghiệp đoàn ký giả, Hội liên hiệp văn hóa nghệ thuật, Hội ái hữu nghệ sĩ, Nghiệp đoàn giáo học, Liên đoàn viên chức, các hội đoàn Phật tử... Ảnh hưởng của ta trong giới báo chí cũng khá mạnh, một số do ta hướng dẫn hoàn toàn như Hồn Trẻ, tác động mức độ nhơ Dân chủ mới, Đất Tổ, không kể báo chí nửa hợp pháp xuất bản như rừng ở khắp các cơ sở.

        Vào lúc này “sự kiện Đà Lạt” xảy ra, cơ sở của ta đã huy động một lực lượng quần chúng lớn tiến hành một kiểu giành chính quyền ở thành phố này, cùng song song tồn tại với địch trong nhiều tuần lễ. Đấy là công trình chỉ đạo phối hợp giữa Khu ủy Sài Gòn và Khu ủy Khu 6. Hiện thực ấy hé ra một khả năng mới mà Khu ủy Sài Gòn nghiêm túc nghiên cứu.

        Đầu năm 1967, ý định tổng công kích - tổng khởi nghĩa lại đượm gợi lên. Tháng 5-1967, theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Trung ương Cục bắt tay vào việc hoàn chỉnh kế hoạch hành động.

        Một mất mát bất ngờ: anh Nguyễn Chí Thanh, sau một thời gian ra Hà Nội làm việc với Bộ Chính trị sửa soạn vào Nam, đột ngột qua đời. Bộ Chính trị lập tức cử anh Phạm Hùng vào thay và sau đó bổ sung thêm anh Hoàng Văn Thái, và khi nổ súng, thêm anh Lê Đức Thọ. Tháng 7-1967, Hội nghị Khu ủy Sài Gòn - Gia Định họp mở rộng, đồng chí Võ Văn Kiệt, Bí thơ Khu ủy và là Ủy viên Trung ương Cục thông báo ý định của Bộ Chính trị và Trung ương Cục. Tôi vừa từ nội thành ra, bắt tay nghiên cứu chủ trương của Đảng. Tháng 8, Thường vụ Khu ủy gặp Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền - bấy giờ, đồng chí Phạm Hùng làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Linh và Hoàng Văn Thái, Phan Văn Đáng, Phó Bí thư. Khu ủy giao tôi dự thảo kế hoạch hoạt động nội thành, kết hợp các mũi và các cánh, sau khi Thường vụ Khu ủy bổ sung, tôi phải bảo vệ kế hoạch ấy trước Trung ương Cục và Quân ủy Miền. Bản kế hoạch được thông qua. Tư tưởng chủ đạo của kế hoạch là dựa vào lực lượng biệt động, các tiểu đoàn mũi nhọn, lực lượng du kích và vũ trang nhân dân, lực lượng chính trị quần chúng tạo cú bất ngờ giữa thủ đô định rồi cung lực lượng chủ lực chiếm lĩnh các trọng điểm của thành phố.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 10:17:50 pm

        Vào thời điểm đó, chúng tôi gặp một khó khăn rất lớn: đợt khủng bố lớn của địch đánh vào Đảng bộ nội thành - một số đồng chí Khu ủy viên bị bắt như anh Trần Văn Kiều, chị Lê Thị Riêng và một số cán bộ cốt cán khác, một mảng tổ chức quần chúng bị thiệt hại nặng do tên. Ba Trà, Bảy “Nhỏ”, Ca Vĩnh Phối phản (Ba Trà là ủy viên Đảng ủy Trí vận, Bảy Nhỏ là Thường vụ phân khu ủy Dĩ An - thị xã Gia Định, Ca Vĩnh Phối là phân khu ủy viên Thủ Đức – Thị Nghè). Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc, Hội bảo vệ nhân phẩm và một số tổ chức khác bị địch giải tán, những người cầm đầu bị bắt. Tuy nhiên, lực lượng chủ lực của phong trào quần chúng là thanh niên và công đoàn thì bảo tồn được. Lực lượng biệt động và du kích vũ trang không chuyên  thoát khỏi cuộc khủng bố. Nghĩa là các điều kiện chủ yêu ở nội thành còn nguyên vẹn.

        Tháng 10, Khu ủy mở hội nghị cán bộ trên đầu nguồn Sông Vàm Cỏ Đông. Tôi chủ trì cuộc hội nghị đó. Hội nghị nghiên cứu chủ trương của Bộ Chính trị Trung ương Cục, kế hoạch của Khu ủy. Hầu như không có một ý kiến phản bác. Tất cả đều tập trung nghe và suy ngẫm phần việc của mình.

        Sau đó, một loạt hội nghị do Trung ương Cục triệu tập bàn biện pháp hợp đồng giữa các cánh, các đội, các khu vực.  Lực lượng chủ lực các khu, kể cả Tây Nam Bộ và một số tiểu đoàn miền Bắc vượt Trường Sơn vừa đặt chân đến Nam Bộ, được điều về chiến trường trọng điểm. Tổ chức chỉ huy chiến trường cũng được bố trí. Thành lập khu trọng điểm do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí Thư Đảng ủy tiền phương tức Sài Gòn và phụ cận) do đồng chí Trần Văn Trà và đồng chí Mai Chí Thọ phụ trách Tiền  phương Bắc, đồng chí Võ Văn Kiệt và tôi phụ trách Tiền phương Nam. Bộ tư lệnh Tiền phương Bắc (còn gọi là Tiền phương I), phụ trách quân chủ lực hướng bắc, tây bắc, và đông thành phố, bao gồm Phân khu 1, 4, 5 và một phần Phân khu 2 (tức Củ Chi, Hoè Môn, Dĩ An, Gò Vấp, Lái Thêu, Thủ Đức một phần Bình Tân) mục tiêu là khu Quán Tri, Sân bay Tân Sơn Nhất, các căn cứ quân sự Gia Định, Bộ Tổng tham mưu, đồng thời phụ trách các tiểu đoàn chiếm lĩnh nối tiếp biệt động nội thành.

        Bộ tư lệnh Tiền phương Nam (còn gọi là Tiền phương II) phụ trách các đơn vị chủ lực hướng nam và một phần tây nam, toàn bộ lực lượng biệt động và quần chúng vũ trang, phụ trách nội thành (từ Quận 1 đến Quận 8, trừ Quận 9), điều khiển Phân khu 3 (Nhà Bè và Bình Chánh), một phần Phân khu 2, tỉnh Long An (trừ huyện Đức Hòa), dùng biệt động đánh các mục tiêu Đại sứ quán Mỹ, dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu, Đài phát thanh, Bộ tư lệnh Hải quân, kho xăng Nhà Bè, Tổng nha Cảnh sát, dùng lực lượng chủ lực đánh chiếm nửa sân bay Tân Sơn Nhất, phát động quần chúng chiếm các xóm lao động, chờ đón quân chủ lực vào thành .

        Đầu năm dương lịch 1968, Bộ tư lệnh Tiền phương Nam chuyển xuống Bố Bà Tây (Rừng Nhúm) và Bộ tư lệnh Tiền phương Bắc chuyển xuống Củ Chi. Chúng tôi tiếp tục hoàn thành những chi tiết cuối cùng trước khi nổ súng. Đồng chí Trần Văn Trà hỏa tốc ra Hà Nội báo cáo và trở về mang ý kiến cuối cùng của Bộ Chính trị trước ngày nổ súng không bao lâu. Chỉ đạo của Bộ Chính trị và đồng chí Lê Duẩn có một ý kiến quan trọng mà nhất thời chúng tôi chưa hiểu hết ý nghĩa: tổng công kính - tổng khởi nghĩa là một quá trình.  Bộ Chính trị quyết định nổ súng đêm mùng Hai, rạng mùng Ba Tết.

        Với chúng tôi, ngày giờ đó khá cập rập và có phần mâu thuẫn với dự kiến của chúng tôi: chúng tôi dự kiến đêm Bốn rạng mồng Năm sẽ có một cuộc tập hợp quần chúng lớn ở vườn Tao Đàn, gọi là tết Quang Trung”, tập họp hàng vạn người.

        Cũng vào thời điểm ấy, một biến cố xảy ra: chuyện đổi lịch, lùi Tết Nguyên Đán trước một ngày. Do đó, Huế và Khu 5 nổ súng trước chúng tôi.

        Đảng ủy Tiền phương Nam tập kết ở Ba Thu và khi nhận được quyết định ngày N giờ G - trưa hai mươi chín Tết, lập tức hành quân.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 10:19:40 pm

        Biệt động nổ súng đúng giờ vào các mục tiêu: dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tư lệnh Hải quân. Riêng mục tiêu Tổng nha Cảnh sát, kho xăng Nhà Bè, không thực hiện được. Lực lượng ta chiếm một nửa phía nam sân bay Tân Sơn Nhất. Các tiểu đoàn do Bộ tư lệnh Tiền phương Nam phụ trách cùng các lực lượng bán vũ trang - gồm cán bộ, công nhân viên các cơ quan Khu ủy và Trung ương Cục lọt sâu vào nội thành, kết hợp với lực lượng quần chúng, làm chủ một vùng rộng đến tận khu ngã sáu Chợ Lớn, Cầu Muối, Chợ Thiếc. Nhưng lực lượng chính quy không thọc vào được thành phố nên cuối cùng, chúng tôi phải rút. Sau đợt Một, đến tháng Năm, ta thực hiện đợt Hai. Lần này, biệt động không còn đủ sức đánh các mục tiêu, nhưng cửa ngõ tây nam vẫn mở, quân ta thọc sâu vào tận đường Tổng Đốc Phương. So với đợt Một, đợt Hai quân chủ lực tiến sâu hơn: Chiếm ngã tơ Hàng Xanh, bắc đường Chi Lăng giữa thị xã Gia Định.

        Trong cả hai đợt, chiến trường trọng điểm được sự phối  hợp vô giá của các địa phương: quân ta tiến công hầu hết tỉnh ly, quận lỵ khắp miền Nam.

        Về thực tế, tháng 6-1968, đợt tổng công kích - tổng khởi nghĩa coi như xong sứ mạng lịch sử của nó.

        Tôi không định ghi chép tỉ mỉ hai đợt Mậu Thân mà chỉ muốn nhấc vài mốc mà tôi cho là quan trọng. Giá trị của hai đợt Mậu Thân, ngày nay không phải bàn cãi nữa. Ơ đây, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân, dân ta đạt đến đỉnh cực cao, hàng vạn người xả thân cho sự nghiệp lớn, hàng nghìn người bị địch bắt và trải qua nhiều năm tháng cực kỳ gian khổ trong nhà giam mà kẻ thù quyết bức hại cả tinh thần lẫn thể xác, nhiều đồng chí đã hy sinh, nhiều người mang thương tật. Quần chúng nội thành đứng lên hành động dĩ nhiên trong điều kiện chiến tranh ác liệt, kẻ thù ném born ngay sào huyệt chúng, thì không thể dùng khái niệm khởi nghĩa thông thường để hiểu thái độ cửa quần chúng. Hiệu quả của hai đợt như thế nào, trên một bình diện rộng cả trong và ngoài nước, chúng ta đã biết. Đúng như đồng chí Lê Duẩn nói, Mậu Thân đã ném vào tình hình thành trì những quả bom dữ dội và cái gì diễn ra sau đó - Mỹ xuống thang, ngồi đàm phán, rút quân - là thành quả tất yếu của một biến động vào cỡ bước ngoặt. Trong cuộc chiến ở Nam Việt Nam, không có cú đánh nào choáng váng nước Mỹ bằng Mậu Thân, chúng ta rút ra nhận xét ấy không một phút cường điệu. Chính thực binh Mỹ chạm trán với chúng ta - chạm trán với một hình thái chiến tranh mà Mỹ chưa từng biết, không có tiền lệ, không được đưa vào giáo trình các trường và Viện nghiên cứu khoa học quân sự.

        Hết sức rõ ràng, lực lượng so sánh thực tế chưa cho phép chúng ta dứt điểm với đợt tiến công Mậu Thân: Mỹ còn mạnh. Nhưng, Mậu Thân đã làm cho Mỹ thấy rằng ở Việt Nam, Mỹ không thể mơ ước chiến thắng quân sự. ý chí của chúng suy sụp. Đó là cống hiến đặc sắc của Mậu Thân. Mặc dù sau Mậu Thân, Mỹ tiếp tục một thời gian nữa chính sách tăng quân, tăng khí tài chiến tranh, mở rộng chiến sự đến tận Cam-pu-chia, đẩy mạnh ném bom miền Bắc Việt Nam, phong tỏa các cảng, v.v... nhưng chính Mậu Thân đã đốt cháy tham vọng nhiều năm của Mỹ và toàn bộ cố gắng của chúng chi là hy vọng mỏng manh để hạn chế mức thua như sĩ diện của một cường quốc buộc chúng phải vớt vát. Tất nhiên, phải chờ các chiến dịch, các cuộc tiến công chiến lược tiếp sau, chờ “Điện Biên Phủ trên không”, chờ dư luận Mỹ thành phong trào phản chiến và Mỹ bị cô lập nặng nề trên trường quốc tế - nhưng về chiến lược, Mỹ hiểu phải thoát khỏi đường hầm trước khi không còn lối thoát.  Với nhận thức trên, hoàn toàn không có vấn đề gì để nghi vấn về sự cần thiết của các đợt Mậu Thân là một dấu mốc không thay thế nổi.

        Muốn đánh giá chính xác ý nghĩa cùng hiệu quả chính trị lớn lao của cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa Mậu Thân 1968 đối với toàn bộ quá trình kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, cần trước hết đặt nó trong một hiện thực lịch sử xác định và trong ý định lãnh đạo của Đảng ta.

        Có lẽ cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ là bài toán phức tạp và gay gắt nhất không những Đảng mà cả dân tộc ta phải xử lý từ khi đất nước cầm vũ khí giữ bờ cõi và giành lại chủ quyền suốt nhiều ngàn năm tồn tại.  Dĩ nhiên, mỗi sự nghiệp kháng chiến quá khứ đều có những khó khăn riêng và do đó khi giành được thắng lợi thì thắng lợi ấy luôn luôn đáng tự hào. Các triều đại phong kiến chúng ta kể từ Tây Sơn trở về trước chống cường địch phương Bắc với lực lượng so sánh ta bao giờ cũng kém hơn, xét quân số binh chủng và đôi khi cả trang bị bộ binh thông thường, song ta và định đều ở trong một trình độ sản xuất xấp xỉ nhau.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 10:22:11 pm

        Cuộc kháng chiến chống Pháp, nhất là chống Mỹ, tình hình khác hẳn, kẻ thù là nước công nghiệp tư bản phát triển vào bậc nhất thế giới, vượt trội hơn chúng ta về các phương tiện vật chất kỹ thuật quân sự và phục vụ cho quân sự có phương tiện chúng ở ưu thế tuyệt đối. Đó là một sự thực. Vả lại, xét đến mức mà chúng ta cũng chỉ mới đề cập phần sự thực của vân đề . Cuộc kháng chiến chống Mỹ mang tính chất khác hẳn các cuộc kháng chiến trước đó, cũng không hoàn toàn giống tính chất cuộc kháng chiến chống Pháp.

        Mỹ không nhằm dập tắt một phong trào giải phóng dân tộc mà nhằm bóp chết một hình thái xã hội, một chế độ chính trị trong hệ thống thế giới mới đang hình thành mà Việt Nam là thành viên, với sức cổ vũ mang giá trị quyết tâm. Bởi vậy, hoàn toàn đúng đắn khi chúng ta nói rằng chiến thắng đế quốc Mỹ là một chiến công lớn nhất của dân tộc ta từ ngày lập quốc bởi vì chúng ta nhận thức sự kiện ở góc độ mang tính giai cấp, dân tộc và xu thế của nó. Nước Nga từng đánh bại Na-pô-lê-ông năm 1812 song rõ ràng, không thể nào đánh đồng chiến công Bô-rô-đi-nô với cuộc công Béclin, đánh sụp chủ nghĩa phát xít Hít-le năm 1945. Muốn thắng Mỹ, ngoài lỏng dũng cảm, tính kiên trì, sự giúp đỡ của bạn bè, còn đòi hỏi phải có trí tuệ, nhất là trí tuệ ở đây là loại trí tuệ khá độc đáo, chưa có tiền lệ để ta suy ngẫm: Cuộc chiến tranh Triều Tiên 1951-1953 diễn ra ngay trong lúc chúng ta còn đánh Pháp. Chúng ta đều biết trên bán đảo Triều Tiên thực binh Mỹ và quân chí nguyện Trung Quốc trực tiếp chạm trán, chiến tranh có lúc đến tận cảng Phú Sơn, cực nam bán đảo và có lúc đến tận bờ sông áp Lục, sát biên giới Trung Quốc. Đàm phán Bàn Môn Điếm rối Giơ-ne-vơ chấm dứt xung đột với cái kết quả rõ rệt nhất là đường giới tuyến 38 phân hai phần đất nước Triều Tiên dời xuống phía Nam được 10 cây số.

        Tiền lệ như thế không thể không khiến bộ não của cách mạng Việt Nam phải tính toán trước đi, ngay liền sau khi vừa ký Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tác phẩm Đề cương cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn là những dự kiến phác thảo và cuộc “đồng Khởi” 1959-1960 ở Nam Bộ, cung cấp cho Đảng những cơ sở để làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn của chiến lược đánh và thắng Mỹ bằng kiểu cách Việt Nam.

        Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 - không xét ý định ban đầu và không xét về những mặt va vấp trong chỉ đạo thực hiện mà chỉ xét về cái đáng xét nhất là hiệu quả cuối cùng - là một công đoạn cực kỳ quan trọng trong chiến lược đánh và thắng Mỹ của Đảng ta, một sự tiến tới  “vừa mang tính chất đột xuất vừa biểu thị tính quy luật của một tư tưởng”, đến lúc đó, đã hình thành tương đối hoàn chỉnh.  Trọng điểm của Mậu Thân là Sài Gòn. Đây là nơi xung yếu nhất của Mỹ - ngụy. Trong mệnh lệnh của Bộ Chính trị, phổ biến bằng miệng, mục tiêu của cuộc tiến công và nổi dậy Sài Gòn được nghiên cứu kỹ, vạch đi vạch lại nhiều lần và cuối cùng, chỉ 5 tháng trước khi hành động, kế hoạch mới được thông qua, sau này còn tiếp tục bổ sung thêm chi tiết.  Để giành thắng lợi ở Sài Gòn, Bộ Chính trị và Trung ương Cục tổ chức hắn một khu trọng điểm gom nội thành Sài Gòn, năm phân khu xung quanh mà mỗi phân khu nối dài với một, hai tỉnh, như Phân khu 1 gồm cả bắc Gia Định, tây bắc Long An, tỉnh Tây Ninh; Phân khu 2 gồm phần còn lại của Long An và Mỹ Tho; Phân khu 3 gồm Nhà Bè, Cần Giuộc và vùng Rừng Sác; Phân khu 4 gồm Thủ Đức và cả tỉnh Biên Hòa; Phân khu 5 gồm Dĩ An và cả tỉnh Bình Dương (nay là Sông Bé).

        Tất nhiên, muốn hiểu chính xác Mậu Thân thì không thể xét diễn biến của nó như một chiến dịch đơn thuần quân sự. Trong mệnh lệnh Bộ Chính trị nhấn mạnh hai điểm mà ta phải giành cho kỳ được bất cứ với giá nào là Đại sứ quán Mỹ và dinh Độc Lập, tiêu biểu cho quyền uy của Mỹ và chinh quyền Sài Gòn ở miền Nam. Ta có thể nói rằng hai đợt Mậu Thân, nhất là đợt Một, đã làm choáng váng kẻ thù. Còn một quan niệm cần tranh luận: ở Sài Gòn, trong Mậu Thân, có nổi dậy của quán chúng không? Theo chúng tôi, phải trao đổi chung quanh hai chữ “nổi dậy”. Kinh nghiệm lịch sử ở ta và nhiều nước, quần chúng nổi dậy là một hiện tượng không bao giờ lặp lại, không theo một mẫu nào cả. Cách mạng tháng Mười Nga, thợ thuyền và binh lính kết hợp, trong một tình thế cách mạng cụ thể, lật đổ Chính phủ lâm thời tư sản và trận tiến công lớn tập trung ở Cung điện Mùa Đông với mức xô xát quyết liệt ngắn ngủi và với số thương vong nhỏ - nhỏ so vai một cuộc cách mạng lớn. Trước Cách mạng tháng Mười Nga, Công xã Pa-ri diễn ra một hình thức nổi dậy giành chính quyền của quần chúng lao động và sau đó, biến thành cuộc chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng bằng lực lượng dân chúng vũ trang và chướng ngại vật trên đường phố.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2017, 03:19:03 pm

        Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội bùng lên trong cao trào quần chúng giữa lúc kẻ thù suy sụp mà hoạt động vũ trang chỉ đóng vai trò xung kích hỗ trợ. Tình hình ở Sài Gòn năm 1945 cũng na ná như vậy.  Năm 1959-1960, nông thôn Nam Bộ “đồng khởi” - quần chúng diệt tề, trừ gian, thiết lập chính quyền cách mạng. Mậu Thân, chúng ta Tổng tiến công và nổi dậy. Nói cách khác, quần chúng nổi dậy trong điều kiện chiến tranh lên đến đỉnh cao. Một phóng viên của một tờ báo Mỹ hỏi tôi vài tuần lễ trước đây: Tại sao trong Mậu Thân, Sài Gòn không có đình công, bãi chợ, bãi khóa và biểu tình? Tôi trả lời: công xưởng, hiệu buôn, chợ không hoạt động, trường học nghỉ, dù không phải ngày Tết, giữa bom đạn xối xả, các hình thức ấy không cần chủ trương tự khắc cũng diễn ra; còn biểu tình, quần chúng kéo ra đường để làm gì và sẽ đạt hiệu quả gì? Nổi dậy trong trường hợp chiến tranh phải thể hiện trọng hình thức riêng, giành chính quyền ở các xóm lao động, giải tán chính quyền, kiểm soát đường phố, truy lùng bọn mật thám chỉ điểm, giữ an ninh trật tự, tổ chức quần chúng, dẫn đường, tiếp tế cho bộ đội, tải vũ khí, tải thương và săn sóc thương binh, vận động quân đội Sài Gòn về với cách mạng hoặc hạ vũ khí... mặc dù mỗi khu vực không đều, song cả thành phố đã xuất hiện không khí khác thường đó .

        Ta hiểu một trong những thất vọng lớn của Mỹ không chỉ vì quân biệt động và lực lượng vũ trang của ta thọc được vào thành phố, đánh các điểm đầu não xung yếu của chúng  mà còn vì chúng thấy thái độ đồng tình của quần chúng, thấp nhất cũng là rời bỏ khu vực chiến sự kéo vào khu trung tâm, tạo nên cảnh hoảng loạn. Ngay bọn phản động cũng không tổ chức nổi một cuộc phản biểu tình.  Ta hiểu quan niệm “nổi dậy” trong một hiện thực như vậy, theo tôi, là cách hiểu khoa học, không lấy bất cứ mô hình nào làm chuẩn.

        Tôi muốn giới thiệu thêm một khía cạnh không kém quan trọng, là đặc thù của Mậu Thân ở Sài Gòn: cả hai đợt không hề xảy ra một sự việc đáng tiếc nào trong mối liên hệ giữa quân cách mạng, lực lượng cách mạng với quần chúng bình thường, ngay với công chức, binh sĩ địch và gia đình họ. Sau Mậu Thân, ở SàI Gòn, bọn bồi bút chịu không nặn ra nổi một phóng sự, một quyển tiểu thuyết bôi bác Mậu Thân, bởi không không tìm được tư liệu. Về mặt này, kỷ luật Quân giải phóng và lực lượng cách mạng được tôn trọng rất nghiêm chỉnh.

        Chúng ta nhớ, sau hai mươi tám ngày rưỡi chính quyền Việt Minh làm chủ thành phố từ 25-8 đến 23-9-1945, Sài Gòn liên tục sống dưới chế độ thống trị của Pháp rồi Mỹ. Mậu Thân là lấy đâu ngần ấy thời gian, cách mạng công khai xuất hiện với con người “bằng xương bằng thịt”, xuất hiện ồ ạt, xuất hiện trong tư thế chiến đấu, thế mà lại được quần chúng đón tiếp, ít nhất cũng không với thái độ thù địch. Đó là nét nổi bật của Sài Gòn.

        Nét nổi bật đó đã một lần nữa bao trùm thành phố ngày 30 tháng 4 năm 1975; quân ta chỉ đánh mạnh ở vùng ngoài, thọc sâu nhanh không để kẻ địch co cụm, nhân dân đứng hẳn về phía cách mạng. Chắc Xuân Mậu Thân đã chuẩn bị  một phần tư tưởng cho đông đảo quần chúng Sài Gòn đón ngày 30 tháng 4, đón mùa Xuân đại thắng.

        Mậu Thân không phải không có những vấn đề cần đánh giá cho rõ. Cái tên “Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa” thiếu chính xác. Sau này, nó được điều chỉnh lại là “Tổng tiến công và nổi dậy”, lúc đầu việc bố trí kế hoạch tiến công còn máy móc, khiến lực lượng biệt động và lực lượng vũ trang tại chỗ không được các đơn vị mũi nhọn yểm trợ - phần lớn các tiểu đoàn yểm trợ do Bộ tư lệnh Tiền phương Bắc phụ trách . Trục hành tiến nặng theo hướng Bắc - nơi địch rất dày nhiều lớp phòng thủ, trong khi phía Nam chúng sơ khoáng.

        Lẽ ra, với đợt Một, Mậu Thân đã hoàn thành trách nhiệm và liền sau đó nếu giữ vùng ven thì tình hình sẽ thuận cho ta, ít nhất, đỡ tổn thất. Có thể đây là cái sai nghiêm trọng nhất của Mậu Thân. Tuy vậy, Mậu Thân vẫn là một cuộc tiến công chiến lược mà lòng dũng cảm, óc sáng tạo, nghệ thuật chọn thời cơ, mục tiêu của chiến sĩ, chỉ huy, lãnh đạo đạt trình độ cao, cung cấp cho đời sau những bài học quý giá.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2017, 03:21:15 pm
     
GHI NHỚ VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH VÀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN ĐÒN TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC MẬU THÂN 1968

Thượng tướng LÊ NGỌC HIỀN        

        Trong lịch sử kháng chiến thống Mỹ, cứu nước, đòn tiến công chiến lược “Tết Mậu Thân” 1968 là một sự kiện trọng đại Sự kiện lịch sử này, từ nhiều năm qua, đã thu hút sự chú ý tìm hiểu, lý giải cua các tác giả trong nước cũng như nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ. Đối với chúng ta, đây vẫn là một chủ đề cần phải được tiếp tục đi sâu nghiên cứu để rút ra những bài học lịch sử cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay cũng như mai sau. Với ý nghĩ đó, tôi ghi lại ở đây một số điểm chủ yếu liên quan đến quá trình xây dựng kế hoạch cũng như việc triển khai thực hiện đòn tiến công chiến lược Mậu Thân 1968.

        I. HÌNH THÀNH Ý ĐỊNH VÀ KẾ HOẠCH  TÁC CHIẾN CHIẾN LƯỢC.

        1.  Hình thành ý định:


        Trước khi có Nghị quyết Bộ Chính trị, tháng 6-1967, quân và dân ta đã trảỉ qua hơn 2 năm trực tiếp đương đầu với quân viễn chinh Mỹ. Trong cuộc chiến đấu đó, vận dụng phương châm chiến lược và phương thức tác chiến chiến lược của Trung ương Đảng, tư tưởng chỉ đạo của ta vẫn nhất quán như sau: trên cơ sở phát huy mạnh mẽ phong trào quần chúng nổi dậy đánh giặc, ta tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh du kích rộng khắp trên cả ba vùng, các chiến trường từ Trị Thiên đến cực Tây Nam Bộ. Đồng thời, nỗ lực phấn đấu đánh những đòn tác chiến tập trung của chủ lực, nâng mức tiêu diệt địch từ các đơn vị chiến đấu, chiến thuật (như đại đội, tiểu đoàn) tiến tới diệt các đơn vị cấp chiến dịch, chiến lược (lữ đoàn, sư đoàn quán Mỹ; trung đoàn, sư đoàn quân ngụy), đánh bại gọng kìm “tìm diệt” của quân Mỹ; phối hợp tích cực với đòn tiến công - nổi dậy ở vùng nông thôn, thành phố, đánh bại gọng kìm “bình định” do quân ngụy đảm nhiệm theo sự phân công của Mỹ.  Cần ghi nhớ rằng, trong tư tưởng chỉ đạo chiến lược của ta, đòn tác chiến tập trung tiêu diệt lớn quân Mỹ - ngụy có tác dụng “thối động” toàn chiến trường, góp phần tích cực vào việc giành thắng lợi quyết định, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Theo như cách đánh truyền thống của quân đội ta từ kháng chiến thống Pháp tới khi ta trực tiếp đánh quân viễn chinh Mỹ, những đòn đánh như thế của bộ đội chủ lực thường diễn ra ở vùng rừng núi.  Ngay như Nghị quyết Bộ Chính trì Trung ương Đảng tháng 6-1967 và chỉ thị của Quân ủy trung ương cũng đã tiếp tục đề ra mục tiêu phấn đấu là: đã diệt được tiểu đoàn Mỹ phải phấn đấu diệt cho thật gọn, tiến lên diệt trung đoàn lữ đoàn Mỹ cũng phải thật gọn.  Đã diệt gọn được chiến đoàn dã chiến ngụy phải phấn đấu diệt gọn trung đoàn, sư đoàn ngụy.

        Nhìn lại quá trình hơn hai năm trực tiếp đánh quân Mỹ, ta thấy rõ tuy bộ đội ta đã tiêu hao, tiêu diệt rất nhiều quân địch, nhưng diệt gọn từng đại đội, tiểu đoàn quân Mỹ bao gồm phải bắt tù binh, thu vũ khí, làm chủ trận địa... thì ta còn gặp nhiều khó khăn. Tình hình đó có khác so với những năm kháng chiến chống Pháp, tuy đối tượng tác chiến của bộ đội ta lúc đó cũng có nhiều đơn vị là lính âu Phi tinh nhuệ.

        Mặc dù Bộ Tổng tham mưu đã cử cán bộ trực tiếp chỉ đạo thí điểm cách đánh nhằm tiêu diệt gọn đơn vị quân Mỹ song cũng thấy điều kiện để khắc phục không phải dễ dàng. Chính vì thế, khi chuẩn bị bắt tay làm kế hoạch chiến lược thời gian tới, Bộ Tổng tham mưu suy nghĩ rằng, nếu ta cứ đi lên bằng cách thức như cũ thì khó có thể tạo nên chuyển biến chiến lược trên chiến trường...

        Bước sang tháng 7, tháng 8-1967, việc bắt tay xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược cho năm 1968 càng trở nên gấp gáp. Khi chuẩn bị xây dựng kế hoạch, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng có chỉ thị gợi ý cho “Tổ kế hoạch” Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu: “Phải thay đổi cách đánh tạo cho được đòn tiến công, có ý nghĩa chiến lược. Nếu cứ làm kế hoạch tác chiến theo cách đánh trước đây, kiểu “xuân thu nhị kỳ” thì chưa biết lúc nào ta mới đánh bại được địch”.  Trong khi “Tổ kế hoạch” còn đang suy nghĩ, tìm tòi song vẫn chưa nghĩ ra thì chính số đồng chí lãnh đạo chủ chốt Bộ Chính trị (đồng chí Lê Duẩn...) và Quân ủy trung ương đã trao đổi, đề xuất giải pháp mới. Hai tư duy chỉ đạo vừa sáng tạo, vừa táo bạo đã kết thành ý định quyết tâm chiến lược là đột ngột chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta từ rừng núi, nông thôn đánh thẳng vào sào huyệt, đầu não hiểm yếu nhất của địch là các thành phố, căn cứ trung tâm. Tuy các thành phố là nơi địch mạnh song chúng lại rất chủ quan, so hở. Đánh thẳng vào đó, ta sẽ tạo được bất ngờ lớn về chiến lược, giành thắng lợi lớn... Sự bất ngờ này ngay cả với phần đông cán bộ của ta. Vì quả thực, cho dù trong những năm trước đây, ta đã tổ chức, cài cắm nhiều đội du kích mật, các đội biệt động, các tổ đặc công, pháo cối tinh nhuệ, các tiểu đoàn mũi nhọn bám trụ vùng ven hoặc trong nội đô một số thành phố... nhưng ngay cả “Tổ kế hoạch cũng chưa hề nghĩ tới việc chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu vào các thành phố, trung tâm đầu não của địch trên toàn miền trong giai đoạn này, khi chiến tranh đang phát triển lên đỉnh cao, chưa phải là lúc kết thúc, ta có điều kiện giành toàn thắng.

        Theo phương hướng chiến lược mới, “Tổ kế hoạch” lập tức bắt tay ngay vào việc xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược. Trong suốt quá trình này, Bộ Tổng tham mưu đã liên tục trao đổi trực tiếp với các Bộ tư lệnh chiến trường chủ yếu về khả năng hành động của bộ đội ta khi đánh vào thành phố và khả năng nổi dậy của quần chúng cũng như khả năng binh biến của ngụy quân, ngụy quyền...  Chung quy lại, câu trả lời của các đồng chí đại diện Bộ tư lệnh các chiến trường chủ yếu là: bộ đội ta đủ khả năng đánh được vào thành phố. Tuy nhiên, việc có trụ lại và giữ được hay không còn tùy theo phản ứng của địch; việc quần chúng có nổi dậy và binh lính nguỵ có làm binh biến hay không... thì đề nghị cấp trên hỏi ý kiến cấp ủy(...). Một điều chắc chắn là, quần chúng vùng ven và trong nội thành sẽ ủng hộ bộ đội!


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2017, 03:22:53 pm

        2. Về kế hoạch tác chiến chiến lược.

        Trải qua một quá trình chuẩn bị, đến tháng 10-1967, tại cuộc họp Bộ Chính trị - Quân ủy trung ương, đồng chí Tổng tham mưu trưởng đã trình bày báo cáo về kế hoạch tác chiến chiến lược sau khi đã được Quân ủy trung ương đồng ý. Trong bản báo cáo này, khi đề cập tới vấn đề đánh giá tình hình, điều cốt lõi nhất chính là nhận định: cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ đã được đẩy tới đỉnh cao nhất, cả ta và định đều đang nỗ lực tìm mọi phương thức có hiệu lực nhất để “hạ thủ’ đối phương. Trước tình hình đó, mục đích, ý định của ta mà bản báo cáo đề cập là: Chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu từ rừng núi, nông thôn bất ngờ đánh thẳng vào các trung tâm đầu não của Mỹ - ngụy là các thành phố; hiệp đồng, phối hợp các lực lượng tiến công địch theo ngày, giờ quy định thống nhất trên toàn chiến trường; đòn tiến công quân sự đi trước một bướt kích nổ phong trào nổi dậy của quần chúng và binh biến trong ngụy quân, ngụy quyền nhằm:

        * Làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của địch và cục diện toàn chiến trường, làm rung động mạnh đến nước Mỹ...

        * Tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ; diệt, làm tan rã bộ phận quan trọng sinh lực ngụy, đặc biệt là bọn đầu sỏ Mỹ, ngụy.

        Hướng tiến công chiến lược chủ yếu là các thành phố, trung tâm đầu não của Mỹ - ngụy, trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, Huế, Đà Nẵng; hướng phối hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là mở chiến dịch lớn ở đường 9 - Khe Sanh nhằm diệt bộ phận quan trọng sinh lực Mỹ, căng kéo và kìm chân địch trên mặt trận này hỗ trợ cho hướng tiến công chiến lược chủ yếu, đồng thời nghi binh thu hút địch. Để thực hiện ý định chiến lược trên đây, bản báo cáo chỉ ra các bước thực hiện, các đợt hoạt động; dự kiến mức độ giành thắng lợi cũng như dự kiến việc xử lý các tình huống. Theo đó, đến tháng 11 năm 1967, ta sẽ mở đợt cao điểm tiến công địch như thường lệ để trực tiếp tạo thế, tạo lực; nghi binh, thu hút, đánh lạc hướng sự chú ý của địch.  Đó là đợt Đông. Đến Xuân Mậu Thân mới là đợt cao điểm quyết định. Trong đợt này, sẽ bất ngờ chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu đánh vào các trung tâm đầu não, các thành phố lớn, các căn cứ thị xã, thị trấn, quận lỵ trên toàn Miền. Dự kiến mức độ giành thắng lợi bản báo cáo đề ra ba mức. Mức cao nhất: cả ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng đều có tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, có binh biến của ngụy quân, ngụy quyền đều giành thắng lợi rất to lớn. Mức trung bình: chỉ có tiến công và nổi dậy ở Huế, Đà Nẵng hoặc ở một trong hai thành phố này. Mức bình thường: bộ đội ta đánh được vào hầu hết các mục tiêu đã đề ra nhưng lại phải rút ra ngay, không khuếch trương, mở rộng được thắng lợi chúng ra giành được. Trong trường hợp thứ ba này, ta dự kiến sẽ rút bộ đội ra để củng cố, để một bộ phận ở lại đánh du kích, đánh thường xuyên, duy trì phong trào và thế đứng chân ở vùng ven các đô thị. Ngoài 3 khả năng trên đây, bản báo cáo còn dự kiến tới khả năng địch bị thất bại lớn, có thể liều lĩnh đổ quân ra nam hoặc cả bắc Quân khu 4 hòng giành lại quyền chủ động chiến trường. Về phối hợp hành động và thời gian, lấy Tết Mậu Thân làm mốc nổ súng tiến công đồng loạt cho hướng tiến công chiến lược chủ yếu. Ngày, giờ cụ thể, Bộ Chính trị ủy quyền cho một số đồng chí chủ chốt nghiên cứu quyết định và ra lệnh cho các chiến trường.

        Các vấn đề nêu ra trên đây trống bản báo cáo của Bộ Tổng tham mưu đã được Hội nghị Bộ Chính trị - Quân ủy trung ương (tháng l0-1967) thảo luận kỹ lưỡng và thông qua, làm cơ sở để “các đồng chí bên quân sự” lo triển khai thực hiện cho kỹ. Đó là kết luận của đồng chí Trường Chinh chủ trì cuộc họp sau 5 ngày làm việc. Hội nghị lưu ý phải tuyệt đối giữ bí mật bản kế hoạch này, phải có kế hoạch nghi binh chiến lược, Bộ Chính trị còn phải tiếp tục suy nghĩ để bàn tiếp các vấn đề liên quan tới tổng khởi nghĩa, lập mặt trận thứ hai, lập chính phủ liên hiệp lâm thời, mở cuộc tiến công ngoại giao, chuẩn bị một số mặt công tác về tiếp quản trong trường hợp ta thắng lớn. Đến tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp tiếp và ra Nghị quyết về tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân. Nghị quyết tháng 12 năm 1967 của Bộ Chính trị đã được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 1 năm 1968 thông qua. Lúc bấy giờ, tôi không còn ở Hà Nội mà đã vào chiến trường.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2017, 03:24:41 pm

        II TRIỂN KHAI THỰC HIỆN KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN CHIẾN LƯỢC

        1. Về ngày, giờ nổ súng.


        Theo kế hoạch, 0 giờ đêm giao thừa Tết Mậu Thân là mốc thời gian quy định cho các đơn vị, các địa phương trên hướng chiến lược chủ yếu nổ súng tiến công đánh vào các trung tâm đầu não, các thành phố, thị xã, thị trấn, các căn cứ quân sự lớn, sân bay, quân cảng, kho tàng... quận lỵ trên toàn miền Nam. Trên thực tế, giữa các chiến trường, từ Khu 5 ra Trị - Thiên và Nam Bộ, thời điểm nổ súng có sự chênh lệch, cách nhau 24 tiếng đồng hồ. Mặc dù vậy, những yếu tố bất ngờ về chiến lược ta vẫn đạt được. Về việc phối hợp hiệp đồng với Mặt trận đường 9: Kế hoạch đề ra là phải mở Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh trước 10 đến 15 ngày. Thực hiện kế hoạch đó, Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh đã được mở vào ngày 20-1-1968 tức trước tết Mậu Thân mười ngày. Trước Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh khoảng mười ngày, chiến dịch Nậm Bạc (mở ngày 12-l-1968) cũng đã triển khai, diệt và làm tan rã ngụy Lào ở khu vực Bắc Lào.

        2.Về tổ chức thực hiện các đợt tiến công.

        Như đã trình bày ở trên, kế hoạch tác chiến chiến lược mà Hội nghị Bộ Chính trị - Quân ủy trung ương thông qua hồi tháng 10-1967 dự định đợt Đông (từ tháng 11 năm 1967)  là đợt vẫn đánh theo hướng lấy tiến công tiêu diệt địch ở khu vực rừng núi là chủ yếu nhằm phối hợp với đồng bằng, thành phố phá kế hoạch bình định của địch; nghi binh, làm lạc hướng sự chú ý của chúng, tạo thêm điều kiện cho các mặt chuẩn bị của ta. Tiếp đó, đúng đêm Giao thừa Xuân Mậu Thân 1968, ta sẽ đồng loạt nổ súng tiến công vào các thành phố, trung tâm đầu não địch trên toàn Miền. Đây là đợt tiến công cao điểm chủ yếu của ta. . Trên thực tế, cuộc tiến công đã diễn ra thành 3 đợt từ khi tiếng súng mở màn đêm giao thừa bắt đầu:

        * Đợt 1: bắt đầu đêm 29 rạng ngày 30 tháng 1 năm 1968.

        * Đợt 2: bắt đầu đêm 5 tháng 5 năm 1968. 

        * Đợt 3: bắt đầu đêm 17 tháng 8 năm 1968.

        Như chúng ta đã biết, ngay sau thắng lợi đợt 1, ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơh đã thừa nhận thất bại, buộc phải công khai tuyên bố:

        * Ngừng ném bom miền Bác từ vĩ tuyến 20 trở ra.

        * Cơ đại diện đến bàn thương lượng.

        * “Phi Mỹ hóa” chiến tranh, rút dần quân Mỹ.

        * Không ra ứng cử Tổng thống Mỹ nhiêm kỳ mới.

        Đến sau đợt 3, ngày 30-10-1968, Giôn-xơn đã phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam.

        Tôi điểm qua diễn biến thực tế của “Tết Mậu Thân” 1968 là để làm cơ sở cho việc ghi nhớ về một số vấn đề có liên quan tới sự chỉ đạo chiến lược trong suốt quá trình này.  Một là, tại sao Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương và Bộ.  Tổng tham mưu chấp nhận tiến công đợt 2 và đợt 3? Có đợt 4, đợt 5 vào đầu năm 1969 trên thực tế hay không?  Hai là, đến lúc nào ta mới chủ trương chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu từ các thành phố về nông thôn, rừng núi .

        Về vấn đề thứ nhất, Bộ Tổng, Quân ủy trơng ương và Bộ Chính trị chấp nhận đợt 2 là theo đề nghị có “căn cứ, cân nhắc thận trọng” của Trung ương Cục, Quân ủy Miền.  Cuối tháng 3 năm 1968, sau khi đã sơ bộ kiểm điểm đợt 1 tiến công vào Sài Gòn, Trung ương Cục - Quân ủy Miền đã cử đại diện (đồng chí Lê Trọng Tấn) ra Hà Nội trực tiếp báo cáo và đề nghị cho phép đánh đợt 2 vào Sài Gòn vì 2 lý do:

        * Yếu tố bất ngờ vẫn còn, mặc dù địch đã có về phòng giữ nội thành và vùng ven nhưng chúng vẫn còn nhiều sơ hở.

        * Chủ lực ta vẫn còn sung sức vì đợt 1 ta mới sử dụng bộ phận đặc công, số đội biệt động, du kích mật và quần chúng.

        Các tiểu đoàn mũi nhọn, các trung đoàn khu vực, các sư đoàn chủ lực cơ động chưa kịp thời gian phối hợp hiệp đồng tiến công địch, nên sức đột kích trong đợt 1 vẫn còn bị hạn chế. Nếu khắc phục được khuyết điểm này thì sức đột kích trong đợt 2 sẽ mạnh hơn nhiều và sẽ là một bất ngờ mới đối với địch.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 04:54:18 am

        Sau khi chấp nhận đề nghị mở tiếp đợt 2 vào Sài Gòn, Bộ Tổng tham mưu đã chỉ thị cho các chiến trường, các thành phố khác trên toàn miền Nam thống nhất đồng loạt tiến công vào 0 giờ 30 phút ngày 5-5-1968. Đồng thời, Bộ Tổng tham mưu còn đề nghị với Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương xúc tiến chuẩn bị việc kiểm điểm, đánh giá thắng lợi, ưu, khuyết điểm chỉ đạo đợt vừa qua, làm cơ sở cho việc đề ra chủ trương chính xác của đợt hoạt động sắp tới. Nhắc lại điều này, tôi nhớ tới không khí làm việc rất nghiêm túc, ,khẩn trương và đầy trách nhiệm trong cơ quan chỉ đạo chiến lược lúc đó chứ không hề có biểu hiện chủ quan, tự mãn với thắng lợi vừa giành được trên chiến trường.  Còn về chủ trương mở tiếp đợt 3 chính là theo đề nghị của Mặt trận Quảng Đà và một số mặt trận khác. Có điều, tinh thần khi chấp nhận đánh đợt 3 theo đề nghị đó khác hoàn toàn so với khi chấp nhận đánh đợt 2 vào Sài Gòn - Gia Định. Trước hết, cho đến tháng 6 năm 1968, sức đột kích của ta vào các thành phố đế giảm sút cho dù tình hình ở Quảng Đà có khá hơn so với các nơi khác. Hơn nữa, đến lúc này đã hình thành chủ trương chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu từ thành phố về nông thôn, rừng núi.  Cuối cùng, Bộ Tổng tham mưu biết rõ rằng, khả năng đánh vào thành phố của ta cho đến lúc này rất hạn chế, rằng lực lượng đánh vào đô thị chủ yếu là các đội pháo cối tinh nhuệ, đặc công, du kích mật... Vì vậy, khi chấp thuận mở đợt 3, Bộ Tổng tham mưu đã chỉ thị cho các chiến trường, các mặt trận “phối hợp hành động tùy theo khả năng thực tế để tiếp tục tiến công địch bằng phương pháp thích hợp nhằm phối hợp với Quảng Đà”...

        Như vậy là, trên thực tế, sau đợt 3, đã không còn có đợt 4, đợt 5 tổng công kích - tổng khởi nghĩa vào đầu năm 1969 nữa. Tuy thế, để nghi binh, lừa địch trong khi chủ lực ta đã chuyển về địa bàn nông thôn, rừng núi cũng như để phục vụ cho công tác tuyên truyền đối ngoại, phục vụ cho đấu tranh ngoại giao... ta đã bằng nhiều cách “tạo cảm giác tiếp tục đẩy mạnh các đợt tổng công kích - tổng khởi nghĩa nhằm vào đô thị.”

        Về vấn đề thứ 2: đến lúc nào thì ta mới chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu từ thành phố về nông thôn, rừng núi ?

        Như vừa trình bày ở trên, sau đợt 2 vào khoảng tháng 6 năm 1968, cơ quan lãnh đạo cao nhất là Bộ Chính trị - Quân ủy trung ương đã chính thức xác nhận phải chuyển hướng, cho dù chủ trương đó không thể hiện ra thành nghị quyết hoặc quyết định chính thức (vấn đề này đã được ghi trong biên bản cuộc hội ý của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt). Trên đây là một số ghi nhớ của tôi có liên quan tới hoàn cảnh khách quan của việc mở tiếp đợt 2, đợt 3 năm 1968. Nhắc lại hoàn cảnh khách quan đó không phải để phủ nhận sai sót chủ quan chậm đề ra việc chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu, từ thành phố về nông thôn đồng bằng, rừng núi khi tình hình đã thay đổi. Thực ra, sai sót đó bắt đầu từ việc chúng ta chưa vận dụng linh hoạt phương châm chỉ đạo chiến lược “ba vùng” của Trung ương Đảng: đột ngột, bất ngờ đánh thẳng vào các thành phố; đồng thời nhanh chóng chuyển về nông thôn đồng bằng và rừng núi, khi tình hình đã thay đổi, chuyển mặt trận đô thị thành mặt trận kiềm chế địch...


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 04:57:32 am
         
        III. ĐÁNH GIÁ VỀ MẬU THÂN 1968

        1. Đánh giá thắng lợi:


        Trong các văn kiện của Đảng đã ban hành, thắng lợi to lớn của quân và dân ta dịp “Tết Mậu Thân” đã được đề cập sâu sắc đầy đủ. Đó là thắng lợi hết sức to lớn, đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đỉnh cao nhất trong cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ là thắng lợi góp phần tích cực đánh bại chiến tranh phá hoại trên miền Bắc của chúng.

        Dưới đây xin làm rõ thêm một thắng lợi to lớn khác. Đó là qua thực tế tác chiến “Tết Mậu Thân” và trải qua nhiều cuộc họp liên tiếp kiểm điểm “đúng, sai”, “trúng, chệch” của các cơ quan lãnh đạo cao nhất, đến cuộc họp Bộ Chính trị - Quân ủy trung ương mở rộng, có đại diện Trung ương Cục và Quân ủy Miền cùng tham dự, do đồng chí Lê Duẩn chủ trì (họp từ ngày 25 tháng 10 đến ngày 3 tháng 11 năm 1968), đã có những kết luận chỉ ra phương hướng “sát đúng” nhiệm vụ trước mắt, đồng thời còn đề ra được phương hướng rõ ràng để có thể quy hoạch chiến lược vững chắc các bước đi lên giành “toàn thắng’.

        Một là: Tiếp tục khẳng định chuyển hướng chiến lược tiến công chủ yếu từ thành phố về nông thôn rừng núi đánh bại chiến lược: quét giữ” của địch. Mặt trận thành phố là hướng kiềm chế và tiến công địch bằng lực lượng tại chỗ, tinh nhuệ đánh nhỏ, đánh du kích giữ vững vùng ven, khôi phục phong trào nội thành. Ta chỉ tổng công kích - tổng khởi nghĩa đánh thành phố khi có điều kiện chín muồi, thuận lợi.

        Hai là: phân biệt xác định “giành thắng lợi quyết định”, đánh bại từng chiến lược địch khác hẳn với “giành thắng lợi hoàn toàn” là giành toàn thắng, đánh bại hoàn toàn quân địch, kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh. Nói lại như vậy đê tránh sự hiểu lầm rất lớn trong khi ta thực hiện phương châm chiến lược “đánh lâu dài, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn” như đã tiến hành trong “tết Mậu Thân”.

        Ba là: Đó phải là một quá trình qua hai bước, hai giai đoạn:

        * “Đánh cho Mỹ cút” đến tên “lính chiến đấu cuối cùng” ‘ khỏi Việt Nam.

        * Trên cơ sở đó tạo tương quan có lợi diệt, đánh tan rã hoàn toàn ngụy quân, nguỵ quyền giành “toàn thắng!..

        Bốn là: Thay đổi cách đánh quân Mỹ. Thực hiện đánh đau, ta không ham đánh lớn, đánh trận “quyết chiến chiến lược” mất còn với Mỹ, chủ yếu đánh nhỏ, vừa, bằng lực lượng tinh nhuệ; ta thương vong ít, gây được nhiều thương vong tổn thất với quân Mỹ để có tác động mạnh đến phong trào phản chiến đòi rút quân của nhân dân Mỹ. Đánh quân ngụy thì tiếp tục như cách đánh trước đây, ta tiến lên tiêu diệt và đánh tan rã hoàn toàn...

        2. Ưu điểm và khuyết điểm chủ yếu.

        a. Hai ưu điểm chủ yếu.

        * Một là: Như đồng chí Trường Chinh đã từng nhận xét: “Đây là đòn tiến công chiến lược có tính sáng tạo lịch sử”. Bởi vì hai lẽ: Bản thân phương châm chi đạo chiến lược và phương thức tác chiến trong kháng chiến chống Mỹ của ta cũng đã mang tính sáng tạo, phát triển những kinh nghiệm quý báu của Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Lẽ thứ hai là vì từ cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây đến kháng chiến chống Mỹ, quân đội ta thường lấy hướng tiến công chiến lược chủ yếu trong quá trình chiến tranh là hướng tiêu diệt lớn quân địch ở chiến trường rừng núi để làm chuyển biến chiến lược toàn cục chiến trường. Lần này ta đã sáng tạo, táo bạo thay đổi tư duy lấy hướng tiến công chiến lược chủ yếu là các thành phố trung tâm đầu não ...

        * Hai là: Các ưu điểm thuộc về tổ chức triển khai chiến lược được thống nhất, đồng loạt, bí mật, nghi binh gây bất ngờ lớn đối với kẻ thù.

        b. Ba khuyết điểm chủ yếu:

        * Một là: Chủ quan, đánh giá chưa chính xác, đúng với thực tế tình hình...

        * Hai là: Đề ra mức yêu cầu gần như “giành toàn thắng” như trong Nghị quyết Trung ương Đảng là quá cao.

        *  Ba là: Chậm và chưa chuyển kịp thời hướng tiến công chiến lược chủ yếu từ thành phố về nông thôn, rừng núi để ta bị tổn thất nặng nề .

        3. Bài học kinh nghiệm sâu sắc.

        Những ưu điểm, khuyết điểm chủ yếu trên đây tựu trung lại thành hai chủ đề chính của những bài học kinh nghiệm sâu sắc đối với chúng ta về: đánh giá địch, ta và đề ra phương châm, phương thức thích hợp, vận dụng sáng tạo trong quá trình chiến tranh.

        a. Ở đỉnh cao nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; ta vẫn kiên trì quan điểm đúng đắn đánh giá địch - ta. Đã tiếp tục phân tích trong cái mạnh “ghê gớm” của địch lúc chúng huy động lực lượng ở đỉnh cao nhất tìm ra chỗ yếu đồng thời lại là chỗ hiểm yếu do chúng chủ quan sơ hở để ra quyết định mạnh dạn, táo bạo lấy các thành phố trung tâm đầu não làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta. Nhưng một khi chỗ yếu đó của địch đã được khắc phục, ta đã chủ quan không dự đoán ngay trong kế hoạch từ trước để vận dụng phương châm cho linh hoạt, thay đổi kịp thời, nhanh nhậy chuyển hướng tiến công chủ yếu về nông thôn - rừng núi…

        b. Chúng ta lại càng nhận thức sâu sắc thêm, để ra phương châm chỉ đạo chiến lược các mặt thích hợp là vấn đề khoa học, nghệ thuật cao trong chỉ đạo toàn cuộc chiến tranh; thì vận dụng linh hoạt phương châm, phương thức ở các thời điểm khác nhau trong các giai đoạn chiến tranh từ khi khởi đầu, lúc ở đỉnh cao, khi kết thúc, lại càng là một vấn đề hệ trọng của khoa học quân sự.  Nếu Mỹ có công nghệ cao và vũ khí, trang bị kỹ thuật bậc nhất thế giới, gấp 10 gấp 100 lần hơn ta thì ta khiêm tốn và tự hào mà nói khoa học, nghệ thuật quân sự Việt Nam đã là gấp 10 gấp 100 lần hơn Mỹ. Ta phải luôn chăm lo đến việc phát huy, phát triển khoa học, nghệ thuật quân sự ưu việt, không để sút kém lạc hậu.  Phải chăm lo thường xuyên đến việc tổng kết kinh nghiệm của ta và học tập tham khảo kinh nghiệm, khoa học quân sự tiên tiến, hiện đại trên thế giới để không ngừng tiếp tục phát triển thế ưu việt của nền khoa học, nghệ thuật quân sự nước ta.  Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 là bài học sâu sắc cho chúng ta về những vấn đề trên



Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 05:04:12 am

VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH TRONG MẬU THÂN 1968

Thiếu tướng PHAN TRUNG KIÊN           
Ủy viên Trung ương Đảng - Tư lệnh QK7       

        Trong tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân toàn miền Nam dịp Tết Mậu Thân 1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn - Gia Định có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi đây là “thủ phử” của chế độ phản động Việt Nam cộng hòa - tay sai đế quốc Mỹ, là trung tâm đầu não điều hành bộ máy chiến tranh xâm lược của Mỹ - ngụy; là trung tâm quyết chiến chiến lược của ta, có tính chất quyết định số phận của ngụy quyền Sài Gòn, tạo ra bước ngoặt quyết định trong toàn bộ cuộc chiến tranh.

        Đánh vào trung tâm đầu não quân địch tại Sài Gòn - Chợ lớn - Gia Định là điều cực kỳ khó khăn, phức tạp, nhưng trong thời cơ lịch sử, với nỗ lực, cố gắng cao độ, cộng với những yếu tố thuận lợi về thế và lực chung, lực lượng vũ trang thành phố đã hoàn thành xuất sắc, góp phần làm nên những chiến công lịch sử Tết Mậu Thân. Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của các lực lượng vũ trang nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định thì đây là thời điểm thử thách cao nhất; cũng là vũ trang nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - thời cơ lực lượng Gia Định biểu lộ sức mạnh, ý chí và sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất của Đảng bộ, quân và dân địa phương.

        I. TỔ CHỨC CHIẾN TRƯỜNG VÀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG, CHUẨN BỊ ĐÓN THỜI CƠ CHIẾN LƯỢC LỚN.

        Sau khi quân và dân miền Nam đánh bại chiến dịch phản công mùa khô của Mỹ (1966 -1967) làm phá sản chiến lược 2 gọng kìm: tìm diệt và bình định của chúng, tình thế đã mở ra triển vọng to lớn trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, đánh bại một bước rất cơ bản cuộc “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Trước tình hình đó, cơ quan chỉ đạo chiến lược đã có nhiều cuộc họp quan trọng, nhằm đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ tiếp tục tiến lên. Tháng 1 năm 1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 14 đã thông qua nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị tháng 12 năm 1967 về việc “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành tháng lợi quyết định... Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đơa cuộc chiến tranh cách mạng lên một bước phát triển cao hơn bằng phương pháp tổng công kích - tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định”.

        Quán triệt và căn cứ vào ý định và phương hướng chiến lược của Bộ Chính trị, ngay từ tháng 10 năm 1967, Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền đã chỉ đạo quân và dân trên các chiến trường, đặc biệt là mặt trận Sài Gòn - Gia Định ra sức chuẩn bị mọi mặt cho “Tết Mậu Thân” 1968.  Tháng 10 năm 1967, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định tổ chức hội nghị mở rộng để tiếp thu Nghị quyết của Bộ Chính trị và Trung ương Cục, đề ra kế hoạch, mục tiêu tổng tiến công và nổi dậy. Trước mắt phải tổ chức lại chiến trường, khẩn trương xây dựng và phát triển thực lực cách mạng, thực hiện 2 nhiệm vụ lớn:

        Đánh chiếm các căn cứ đầu não của địch tại Sài Gòn. Phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, giành chính quyền; đồng thời cùng với lực lượng của phân khu và của Miền tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân. Do tính chất đặc biệt quan trọng của Sài Gòn - Gia Định trong tổng công kích - tổng khởi nghĩa, ngày 25 tháng 10 năm 1967, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, tổ chức lại chiến trường miền Đông theo yêu cầu nhiệm vụ mới; tổ chức Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định thành khu trọng điểm do Trung ương Cục trực tiếp chỉ đạo, gồm các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Trần Văn Trà.

        Trên cơ sở 5 cánh trước đây, Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và một phần của các tỉnh lân cận hình thành 5 phân khu, đồng thời là 5 mũi tiến công vào nội đô gồm:

        •  Phân khu 1, hướng Tây Bắc.

        •  Phân khu 2 và 3, hướng Tây và Tây Nam.

        •  Phân khu 4, hướng Đông Bắc.

        •  Phân khu 5, hướng Bắc.

        Và 1 phân khu nội thành là Phân khu 6 phụ trách lực lượng biệt động, Thành đoàn, Công vận, Hoa vận, Phụ vận và các cơ sở đảng ở các “lõm” chính trị địa phương.  Trên các hướng của 5 phân khu, Bộ chỉ huy Miền tăng cường một số trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh và hỏa lực, trợ chiến của Miền và một số đơn vị địa phương. Trung ương Cục thành lập 2 cơ quan: tiền phương Bắc và tiền phương Nam theo sát chỉ đạo Mặt trận Sài Gòn - Gia Định.

        Công tác hậu cần do Miền đảm nhiệm, kết hợp với hậu cần tại chỗ của các phân khu, đơn vị, địa phương, trước ngày N của chiến dịch, đã vận chuyển xuống vùng trung tuyến, vùng ven một khối lượng lớn gạo, thực phẩm, vũ khí phục vụ cho các đơn vị chiến đấu. Riêng lực lượng biệt động đã chuẩn bị được gần 400 cơ sở, trong đó có nhiều điểm trú, ém quân và hầm chứa vũ khí chu đáo. Các địa phương ờ vùng trung tuyến đã huy động hàng chục vạn ngày công vận tải hậu cần ra tuyến trước. Chỉ riêng xã An Tịnh, huyện Tràng Bàng đã có 5.000 dân công tham gia phục vụ chiến dịch. Tính đến hạ tuần tháng 12 năm 1967, công tác chuẩn bị trên các hướng cơ bản đã xong. Tuy nhiên vì thời gian câu thúc nên đã bộc lộ những nhược điểm khó khắc phục. Do yêu cầu bí mật cao, hầu hết các đơn vị chưa được học tập, thực luyện phương châm, phương thức, kỹ thuật, chiến thuật tác chiến trong thành phố. Công tác hợp đồng giữa các đơn vị, các phân khu, nhất là hiệp đồng về thời gian, về hành động, về thông tin liên lạc... còn giản đơn trước yêu cầu, nhiệm vụ đề ra rất lớn. Lực lượng nổi dậy cũng chưa được liên kết, chuẩn bị kế hoạch chặt chẽ, chu đáo.  Mặc dù bị thất bại trong 2 cuộc phản công chiến lược mùa khô, Mỹ vẫn tiếp tục tăng quân, chuẩn bị mở cuộc phản công mùa khô lần thứ 3 (1967-1968). Nhưng lần này vừa mới ra quân, chúng đã phải đối phó với các chiến dịch lớn của ta. Đến cuối tháng 1 năm 1968, phát hiện quân chủ lực của ta ở vùng trung tuyến, Mỹ vội vã hủy bỏ cuộc hành quân “Hòn đá vàng” ở Tây Ninh, chuyển về phòng ngự xung quanh Sài Gòn.

        Nhằm gia tăng các biện pháp phòng thủ nội đô, địch tổ chức các tuyến bảo vệ chia thành nhiều tầng, nấc rất phức tạp Cho đến những ngày trước Tết Mậu Thân, số quân bảo vệ Sài Gòn có tới 60 tiểu đoàn Mỹ, ngụy; ngoài ra còn 20 vạn biệt động quân, bảo an, dân vệ, cảnh sát dã chiến, hàng vạn khóa sinh và nhiều đơn vị cơ giới, binh chủng.  Như vậy, nhìn vào tương quan lực lượng ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định địch chiếm ưu thế hoàn toàn về binh hỏa lực và phương tiện chiến tranh, hệ thống bố phòng dày đặc và nghiêm ngặt.

        Trước tình hình còn nhiều khó khăn và nhiệm vụ được giao hết sức nặng nề, các đơn vị lực lượng vũ trang thành phố vẫn tràn đầy khí thế, quyết tâm, coi đây là niềm vinh dự, tự hào được trực tiếp chiến đấu giải phóng Sài Gòn, giải phóng quê hương, thống nhất đất nước nên sẵn sàng xả thân hy sinh vì thắng lợi cao nhất của cách mạng. Ba thứ quân của thành phố phối hợp chặt chẽ với các đơn vị bạn và lực lượng nổi dây từ ngoại thành đến nội đô, đều ở tư thế sẵn sàng tiến công vào hang ổ kẻ thù.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 05:07:49 am

        II. HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ CÔNG KÍCH VÀ MŨI NHỌN TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY. 

        Đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968 (tức đêm 1 rạng 2 Tết Mậu Thân), các đơn vị mũi nhọn và biệt động từ 2 đến 3 giờ sáng đã đồng loạt nổ súng tiến công nhiều mục tiêu ở nội ngoại thành Sài Gòn.

        Lực lượng biệt động do đột nhập bằng đường hợp pháp và ém quân sẵn . trong thành phố nên ngay từ phút đầu đã đánh vào các mục tiêu đầu não như: dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Đài phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh Hải quân... các trận đánh tại đây diễn ra vô cùng quyết liệt.  Địch huy động cả xe tăng, thiết giáp, máy bay, chất độc hóa học... đánh giải tỏa trong nhiều giờ. Mặc dù không có lực lượng tiếp ứng như trong kế hoạch hợp đồng, nhưng các đội biệt động đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, người trước ngã, người sau xông lên, thậm chí hy sinh đến người cuối cùng.

        Tại Đại sứ quán Mỹ, Đội biệt động 11 đánh chiếm được đến tầng 3, diệt nhiều tên Mỹ, ngụy, -phá hủy một số phòng; 16/17 chiến sĩ hy sinh, 1 bị bắt.

        Tại Đài phát thanh, Đội biệt động 4 đánh chiếm được tầng 1, phòng kỹ thuật phát thanh, giữ trận địa đến 6 giờ sáng, phá hủy đài, diệt gần 100 tên địch, ban cháy 2 xe tăng và 1 xe GMC; 10/11 chiến sĩ hy sinh.

        Tại Bộ tư lệnh Hải quân, Đội biệt động 3 đánh chiếm được gần 3 giờ đồng hồ, diệt nhiều tên; 12/14 chiến sĩ hy sinh .

        Tại dinh Độc Lập, Đội biệt động 5 bất ngờ đánh chiếm được cổng phụ và trụ lại đánh phản kích đến ngày mùng Hai Tết, diệt 2 xe Jép và nhiều tên địch. Cuộc chiến không cân sức, 8 chiến sĩ biệt động hy sinh.

        Tại Bộ Tổng tham mưu ngụy, cụm biệt động (6-7-9) gồm 27 tay súng đánh chiếm cổng số 6, trụ lại đánh phản kích đến ngày mùng Ba Tết. Hầu hết bị thương, hy sinh. Một số đội biệt động phụ trách các mục tiêu khác do bị trở ngại trên đường hành quân nên không thực hiện được kế hoạch.

        Nhìn chung, lực lượng biệt động đã hoàn thành xuất sắc đòn đánh phủ đầu các cơ quan trọng yếu của Mỹ - ngụy, làm rung động nội đô và choáng váng giới lãnh đạo Nhà trắng và Lầu năm góc, nhất là trận tấn công vào Đại sứ quán Mỹ - nơi được coi là bất khả xâm phạm. Các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu phải xuất phát hành quân xa và vượt qua hệ thống đồn bốt dày đặc, nhưng đã chấp hành mệnh lệnh nghiêm, kịp vào thành phố phối . hợp với lực lượng biệt động tấn công địch. Ở Bộ Tổng tham mưu ngụy, Tiểu đoàn 2 Gò Môn Phân khu 1 đột nhập vào cổng số 4, chiếm trường Sinh ngữ và kho đạn, “chia lửa” cho cụm Biệt động (6-7-9) ở cổng số 5 và 6. Ở hướng Tây Bắc, Tiểu đoàn Quyết Thắng (PKI) đánh chiếm được 2 căn cứ quan trọng là Cổ Loa, Phù Đổng, giữ trận địa được 2 ngày; sau đó chuyển về khu ngã năm Bình Hoà và ngã ba Cây Thị sát tòa thị chính và Bộ chỉ huy tiểu khu Gia Định, phát động quần chúng ngồi dậy và trụ lại chiến đấu nhiều ngày.

        Ở hướng Nam, Tiểu đoàn 6 Bình Tân (PK2) thọc sâu theo trục lộ Trần Quốc Toản (nay là đường 3/2), đánh lướt qua nhiều doanh trại của địch ở Quận 5, Quận 10, Quận 11 đến khu vực Sư Vạn Hạnh, Vườn Lài, cư xá Hỏa Xa... Trong ngày mùng Hai Tết đã tổ chức cuộc mít tinh hàng trăm quần chúng tại ngã bảy Lý Thái Tổ. Lực lượng vũ trang và nhân dân làm chủ khu vực từ Quận 5 sang Quận 10 suốt cả tuần lễ; sau đó địch dùng bom pháo đánh phá có tính chất hủy diệt để chiếm lại.

        Các tiểu đoàn của Phân khu 3 chia thành 2 cánh đánh chiếm các mục tiêu ở Quận 7, một phần các Quận 6 và 8; chiếm cầu số 3, các kho gạo bến Bình Đông, phía bắc cầu Nhị Thiên Đường; một mũi thọc sâu lên đường Hậu Giang, Tháp Mười, Dương Công Trừng, chợ Thiếc... cùng với cánh Hoa vận phát động quần chúng giành quyền làm chủ ở nhiều khu vực.

        Ở hướng Bắc, Tiểu đoàn 3 Dĩ An (PK5) ngay từ đầu đã chiếm được khu vực ngã tư Hàng Xanh - cầu Rạch Sưn; được nhân dân hỗ trợ, đơn vị đã bám trụ chiến đấu suốt 2 ngày đêm.

        Tiểu đoàn 4 Thủ Đức (PK4) chiếm được cù lao Bình Quới Tây, trụ lại đánh phản kích nhiều ngày. Ở phía Đông Nam, hỗ trợ cho lực lượng địa phương, đoàn đặc công Rừng Sác đánh chiếm đồn Phú Hứa (Nhơn Trạch), Lý Nhơn (Cần Giờ) và 6 ấp chiến lược khác. Đội 5 đột nhập cảng Nhà Bè, đánh chìm tàu Tu-rít trọng tải 10.000 tấn...


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 09:02:20 pm

        Nhìn chung, trên các hướng lực lượng vũ trang tiến công, khí thế cách mạng của quần chúng rất sôi nổi, tạo mọi điều kiện cho các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Nhân dân dẫn đường, tiếp tế, tải thương, nuôi giấu thương binh, treo cờ Mặt trận, làm vật chướng ngại trên đường phố, tích cực gọi loa, tuyên truyền binh địch vận làm rã hàng ngũ quân địch.  Nhiều nơi quần chúng phối hợp tác chiến với bộ đội. Nhiều gia đình động viên con em gia nhập Quân giải phóng...  Cùng với các mũi tiến công của các đơn vị tập trung, lực lượng dân quân du kích chiến đấu với quy mô cấp tiểu đội, trung đội, đại đội, kết hợp với bộ đội địa phương và phân khu tấn công vào thị trấn, quận ly, chi khu... tiêu hao, tiêu diệt bộ binh, chiến xa, máy bay bằng súng trường, mìn trái... Số địch do dân quân, du kích tiêu diệt chiếm tỷ lệ 1/5 tổng số địch bị diệt của 3 thứ quân.

        Lực lượng dân quân du kích cũng đã tổ chức hàng ngàn cuộc võ trang tuyên truyền ở vùng ven, vùng sâu, vùng yếu, các khu ấp chiến lược, phá rã một mảng lớn cơ sở tề ngụy, diệt nhiều tề điệp, cảnh sát, bình định, ác ôn, huy động hàng chục vạn lượt người .tham gia phục vụ chiến dịch, vận động hàng chục vạn gia đình binh sĩ, làm rã ngũ hàng ngàn bảo an, dân vệ … Do xây dựng được lực lượng nội tuyến nên ta đã tránh được nhiều tổn thất trong và sau chiến đấu.  Đêm 17 tháng 2, ta mở cao điểm 2 của đợt 1. Các đơn vị của cấp trên và thành phố pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tư lệnh MACV, Tổng nha Cảnh sát, Đài ra-đa Phú Lâm, gây cho địch nhiều thương vong, phá hủy nhiều máy bay; tấn công sở chỉ huy, chiếm tiểu đoàn 3 dù ở Tân Thới Hiệp (Hóc Môn), đột kích vào kho xăng Vũng Bèo; đánh Tiểu đoàn 30 biệt động quân ở Phú Lâm và Lữ đoàn 3 sư đoàn 25 Mỹ ở Vĩnh Lộc (Bình Chánh), phá sập cầu Gò Dưa, cầu Giồng Ông Tố, cầu kinh Thanh Đa...  Mặc dù bị tiêu hao quân số và vũ khí trong đợt 1 Tết Mậu Thân và chiến đấu liên tục trong thời gian “đệm” giữa 2 đợt chưa kịp củng cố, nhưng các đơn vị lực lượng vũ trang thành phố vẫn tưng bừng khí thế bước vào đợt chiến đấu mới trong điều kiện yếu tố bí mật, bất ngờ không còn.

        Đợt 2 tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định mở màn từ đêm 4 rạng ngày 5 tháng 5 năm 1968.  Các đơn vị pháo binh bân cấp tập vào sân bay Tân Sơn Nhất, Đại sứ quán Mỹ, dinh Độc Lập, Tân Cảng, Bộ tư lệnh Hải quân, Tổng nha Cảnh sát... sau đó các tiểu đoàn mũi nhọn nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu quy định.

        Tiểu đoàn 267 (PK 2) chiếm được khu vực Minh Phụng, đường 46, nghĩa trang Bình Thới. Tiểu đoàn 1 Phú Lợi (PK4) đánh cầu Phan Thanh Giản, phát triển chiếm đoạn cuối đường Tự Đức (Quận I), làm chủ khu vực Thị Nghè, phân khu 5 tấn công cầu Bình Lợi.

        Ở nội đô, các đội vũ trang tuyên truyền tự vệ, biệt động đoàn thể xuất hiện. Ở vùng chợ Thiếc, đường Cao Đạt, phía bắc cầu chữ Y, đánh chiếm tòa hành chính Quận 5. Ở khu vực cầu Ông Lãnh, cầu Kho, chợ Năng Xi, nam đường Trần Hưng Đạo, Quận 2, khu Bàn Cờ - Quận 3, khu xóm Chiếu - Quận 4... địch phản ứng quyết liệt. Các đội võ trang tuyên truyền đã đánh lui nhiều đợt cảnh sát dã chiến quận 5 đến giải tỏa hành chính khu chợ Thiếc và Cao Đạt. Anh chị em chiến đấu rất dũng cảm, nhưng vì lực lượng quá ít, nên phần lớn bị địch bật và hy sinh.

        Những ngày tiếp theo, ta mở thêm mặt trận ngã tư Bảy Hiền, cầu chữ Y, Tân Thới Hiệp. Tại cầu chữ Y trận chiến kéo dài đến ngày 11/5, địch bị tổn thất nặng, nhưng ta không vượt được cầu để phát triển vào thành phố. Tại Tân Thới Hiệp, địch điều quân dù đến phản kích, có xe tăng và phi pháo yểm trợ. Trận đánh kéo dài đến trưa ngày 11 tháng 5 mới kết thúc. Gần 1 tiểu đoàn địch bị tiêu diệt, nhưng Trung đoàn 16 phối thuộc Phân khu 1 bị thương vong lớn.

        Trong lúc mặt trận Minh Phụng - Đường 46 - Thị Nghè - Tự Đức do ta chiếm giữ chiến sự diễn ra sôi động, các đơn vị của thành phố phân tán nhỏ giành giật với địch từng ngôi nhà, góc phố để cùng phối hợp cho đến hết ngày 7 tháng 5.

        Với lực lượng được tiếp ứng từ phía sau, ta tiếp tục đánh bồi, đánh nhồi địch. Ngày 25 tháng 5 năm 1968, Mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định mở cao điểm 2 của đợt 2 xuân hè Mậu Thân, chủ yếu ở 2 hướng Bắc và Tây thành phố. Ở hướng Bắc Trung đoàn Đồng Nai của Phân khu 5 và Tiểu đoàn Quyết Thắng 2 của Phân khu 1 phối hợp tiến công tỉnh lỵ Gia Định. Trung đoàn Đồng Nai chiếm được khu vực ngã năm Bình Hòa, Cây Quéo. Tiểu đoàn Quyết Thắng 2 đột kích mạnh đánh chiếm cầu Hang, cầu Băng Ki, xóm Cây Thị, xóm Thơm, xóm Gà, Sở Rác, một phần đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ), nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, liên tục chiến đấu chống địch phản kích, làm chủ 18 ngày đêm trong thành Gia Định. Hướng Tây, lực lượng chính của Tiểu đoàn 6 Bình Tân có sự phối hợp của một số đơn vị và lực lượng võ trang đoàn thể, đánh địch ở cư xá Phú Lâm A, cầu Tre, đường Hậu Giang, phát triển sâu vào làm chủ khu vực Chợ Lớn cũ, Chợ Lớn mới, có mũi tiến công đến đường Nguyễn Văn Thoại, chợ An Đông... Cuộc chiến đấu quyết liệt kéo dài đến ngày 7 tháng 6 mới kết thúc.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 09:03:14 pm

        Điểm qua một số diễn biến chính trong 2 đợt tiến công và nổi dậy tại địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định ta thấy nổi rõ lên thế mạnh và vai trò, vị trí của lực lượng vũ trang địa phương (lực lượng tại chỗ) trong cuộc tiến công chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt đối với cục diện chiến trường miền Nam và cả nước. .

        Một là, qua 2 cuộc đọ sức với giặc Mỹ, quân và dân Sài Gòn - Chớ Lớn - Gia Định được thử thách ở mức độ cao, khẳng định lòng tin đánh tháng Mỹ trong mọi tình huống.  Tứ đó đã xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân hoàn chỉnh với diện rộng và có chiều sâu, thiết lập được hệ thống hành lang huyết mạch giao liên, bàn đạp, cơ sở, trên nhiều hướng từ vùng căn cứ vào vùng ven và tận nội thành. Đây là thế mạnh cơ bản, không có một lực lượng nào khác thay thế được.

        Do vậy, trước khi bướt vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, với nhiệm vụ rất khẩn trương và nặng nề, do yêu cầu bí mật tuyệt đối không được phổ biến trước, các thứ quân của thành phố vẫn triển khai tốt mọi mặt, nắm vững thời cơ, xây dựng quyết tâm cao, chiến đấu anh dũng, lập công xuất sắc hoàn thành vượt mức nhiệm vụ được giao.

        Hai là: Do là lực lượng tại chỗ, thông thạo địa hình, nắm chắc địch và quy luật hoạt động của chúng, các mục tiêu đã được điều nghiên và các cơ sư đã chuẩn bị trước, nên lúc nào cũng sẵn sàng tác chiến, bảo đảm bí mật, bất ngờ và thắng lợi. Đặc biệt là lực lượng biệt động đã đột nhập vào thành - phố bằng con đường hợp pháp không có một trường hợp nào bị lộ, trong đó Đội 11 nhận nhiệm vụ đánh Đại sứ quán Mỹ chỉ nhận lệnh trước 2 ngày, vẫn khắc phục khó khăn. Tổ chức được lực lượng và đưa vũ khí vào điểm tập kết, kịp thời xuất phát đánh chiếm mục tiêu đúng giờ quy định của trên.

        Trong quá trình chiến đấu quyết liệt, mặc dù lực lượng quá chênh lệch, không có lực lượng tiếp ứng, các đơn vị của thành phố vẫn linh hoạt, sáng tạo, chủ động duy trì cuộc chiến đấu, gây rối loạn trong nội thành, đồng thời căng kéo địch khắp nơi, làm cho chúng luôn phải bị động đối phó, bỏ trống một số khu vực. Các đơn vị mũi nhọn như Tiểu đoàn Quyết Thắng, Tiểu đoàn Bình Tân trụ lại chiến đấu được dài ngày trong nội đô là nhờ linh hoạt dựa vào dân trong các khu phố và xóm lao động.

        Khả năng và hiệu quả chiến đấu của lực lượng vũ trang thành phố được trên đánh giá rất cao trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Đặc biệt là khả năng đột phá, thọc sâu, đánh hiểm của các đơn vị mũi nhọn và các đội biệt động, quân số ít, lối đánh đơn giản, nhưng độ chính xác cao, diệt được nhiều sinh lực cao cấp của Mỹ - ngụy, gây chấn động trên phạm vi rộng lớn. Đây là một thế mạnh rất đặc thù của lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

        Ba là: Trong quá trình chiến đấu đã kết hợp tốt 3 mũi giáp công: vũ trang, chính trị, binh vận, đồng thời kết hợp tốt giữa tiến công và nổi dậy - nổi dậy và tiến công giành quyền làm chủ của nhân dân, diệt ác phá kìm, phá lỏng, phá rã bộ máy kìm kẹp của định ở cơ sở và làm tan rã hàng ngũ quân địch. Đây là phương châm chiến lược, là phương thức xuyên suốt trong quá trình đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã được phát huy một cách nhuần nhuyễn, toàn diện và mạnh mẽ trong tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, cũng như sau này cho đến kết thúc cuộc chiến tranh. Lực lượng vũ trang tại chỗ đa vận dụng thành công “2 chân, 3 mũi”, tạo được sức mạnh tổng hợp, góp phần làm nên chiến thắng Mậu Thân lịch sử tại Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

        Đối với lực lượng vũ trang thành phố, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã khép lại sau đợt 2.  Trong ý nghĩa chung của thắng lợi mang tính chiến lược, các lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã khẳng định vai trò và sức mạnh trên địa bàn đặc trưng là trung tâm đầu não của Mỹ - ngụy. Trình độ nghệ thuật tác chiến của 3 thứ quân có bước phát triển nhảy vọt, mở ra những khả năng mới. Qua đó khẳng định những chủ trương sáng suốt, kịp thời, tính đúng đắn, sáng tạo, độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghệ thuật chỉ đạo, điều hành chiến tranh nhân dân và chỉ đạo tác chiến của Đảng ta trên địa bàn đô thị, và làm nổi rõ vai trò, vị trí quan trọng của lực lượng tại chỗ.

        Với chiến thắng Xuân Mậu Thân, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã góp phần quan trọng và xứng đáng vào thắng lợi chung của miền Nam và cả nước, mở ra một thời kỳ mới, một cục diện mới, tạo ra một bước ngoặt mới của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri, từng bước đi đến chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Đây là bước ngoặt lịch sử, đưa cuộc chiến đấu đầy hy sinh gian khổ của nhân dân ta đi tới thắng lợi hoàn toàn trong mùa xuân 1975.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 09:06:04 pm
       
CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - KHE SANH TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN NĂM 1968

Thiếu tướng HOÀNG ĐAN        

        Thực hiện chủ trương đánh cho Mỹ cút, mùa xuân năm 1968, bắt đầu từ ngày Tết, ta chủ trương tiến công đồng loạt vào hầu hết các thành phố, thị xã trên toàn miền Nam. Để kéo quân Mỹ ra xa các thành phố, thị xã và làm chúng lầm tưởng mùa xuân 1968 ta vẫn lấy tiến công địch ở rừng núi là chính, ta mở Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh, trong đó lấy khu vực Khe Sanh làm khu vực tác chiến chủ yếu.

        Trong 2 mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” mà biện pháp chủ yếu là “tìm diệt” chủ lực ta. Mỹ thường nhanh chóng tập trung lực lượng để tiến công, khi phát hiện lực lượng ta. Để tiêu diệt nhiều địch, ít thương vong, ta thường tạo bất ngờ đánh một số trận. Khi địch tập trung lực lượng đối phó, ta nhanh chóng chuyển sang khu vực khác, nơi chúng có nhiều sư hở. Nay với nhiệm vụ kéo địch ra ngoài, giam chân địch một thời gian dài trên địa bàn rừng núi, bộ đội trên mặt trận Khe Sanh phải trụ lại và tác chiến dài ngày với chúng. Như vậy, chúng ta phải giải quyết cả tinh thần và phương pháp tác chiến để đánh được dài ngày trong điều kiện địch có hỏa lực mạnh, có sức cơ động cao.  Trải qua 6 tháng bám trụ và liên tục tiến công địch, ta đax kéo được các đơn vị cơ động mạnh, bao gồm toàn bộ sư đoàn kỵ binh bay, hầu hết lực lượng dự bị của thủy quân lực chiến, đánh cho chúng thiệt hại nặng, tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta tiến công vào thành phố, thị xã. Tiến công đánh bại liên tục các lực lượng giải tỏa cho quân chiếm đóng, ta còn buộc địch rút chạy khỏi Khe Sanh, một địa bàn chiến lược quan trọng đối với địch trong việc ngăn chặn lực lượng ta từ miền Bắc vào chi viện cho miền Nam. Nhiều hãng tin, nhiều nhà quân sự phương Tây đã xem việc rút chạy khỏi Khe Sanh là một thất bại về chiến lược đối với Mỹ. Tướng Pháp Rơ-nê-cô-nhi ngày 27-1-1968 đã nói: “Khe Sanh đã trở thành một nơi tượng trưng, nếu người ta bỏ Khe Sanh tức là người ta thừa nhận thất bại”.  Báo Nước Pháp buổi chiều ngày 29-6-1968 viết: “Trong khi rút bỏ Khe Sanh, quân Mỹ muốn cứu vãn Sài Gòn... Như vậy, một lần nữa quyền chủ động lại về tay Việt Cộng. Họ đã buộc quân Mỹ phải thay đổi chiến lược để đối phó với những sức ép mới”. Đài phát thanh BBC ngày 30-6-1968 nói: việc rút lui Khe Sanh không phải đơn giản bỏ rơi một yếu điểm, mà là bỏ rơi một ảo tưởng và một chính sách. Tất cả nỗ lực của Hoa Kỳ dựng lên đã tan ra tro như những pháo đài xi măng cốt sắt ở Khe Sanh”. Hãng tin ASP ngày 27-6-1968 viết: “Việc quân Mỹ rút khỏi Khe Sanh” là một thất bại đối với Mỹ. Các qân chức cao cấp của Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn đã từng nói phải bảo vệ căn cứ này bằng bất cứ giá nào, thậm chí nhiều người phát ngôn của lính thủy đánh bộ còn nói: “Nếu chúng ta rút khỏi Khe Sanh thì liệu chúng ta dừng lại ở đâu? Trên biển Nam Hải chắc?”.

        Có thể kết luận, với chiến công đánh đồng loạt nhiều thành phố và thị xã, cùng với chiến công đánh bại địch ở Khe Sanh, ta đã làm thất bại chiến lược “tìm diệt của Mỹ, buộc chúng phải chuyển sang chiến lược “quét và giữ” phải từng bước xuống thang, từng bước rút quân về nước. Chiến trường Khe Sanh thực sự là một nơi thử thách tinh thần và nghệ thuật tác chiến của quân đội hai bên. Trước hết, tôi muốn nói về tinh thần chiến đấu. Bên phía quân đội ta, chúng ta có thể nói, khắp nơi, phía trước cũng như phía sau các đơn vị chiến đấu cũng như các đơn vị phục vụ đều thể hiện tinh thần chiến đấu rất cao. Nếu không có tinh thần chiến đấu cao không thể đánh thắng được quân Mỹ ở Khe Sanh, nơi tập trung một số lượng bom đạn chưa từng có trên mỗi mét vuông.

        Có thể kể một gương chiến đấu dũng cảm trong trăm ngàn gương khác:

        Cách căn cứ Tà Cơn 800m có cao điểm 71. Bố trí hỏa lực ở đây có thể bắn trúng bất kỳ tên địch nào cơ động trên mặt đất, có thể bắn trúng bất kỳ loại phi cơ nào cất và hạ cánh ở sân bay Tà Cơn. Quân địch xem đây là một “cái gai” phải nhổ cho bằng được. Ngày này qua ngày khác, chúng đã trút xuống đây không biết bao nhiêu bom đạn, làm sụt lở hàng mấy mét trên đỉnh cao điểm. Anh em đã nói đùa nên gọi đây là cao điểm 69 vì thực tế chiều cao đã bớt đi 2m so với lúc đầu. Tất nhiên, chúng ta cũng chịu tổn thất ở đây cả người và vũ khí. Tôi thực sự khâm phục và xúc cuộng khi gặp một trung đội súng máy 12,7mm lên thay đơn  vị bạn mất sức chiến đấu. Họ cười nói với tôi: “Thủ trưởng em có gì ăn được cho anh em thêm, lần này chắc chắn anh em không trở về nữa đâu”. Họ biết lên đỉnh cao điểm 71 chắc chắn khó tránh khỏi thương vong, nhưng vẫn vui  vẻ làm nhiệm vụ. Cũng thời gian đó phía quân Mỹ thì sao?  Hấng tin Roi-tơ ngày 17-3-1968 dẫn lời viên đại úy Hoàng Phổ, một chỉ huy của tiểu đoàn biệt động Nam Việt Nam nói: “Nếu lính chúng tôi ở lại Khe Sanh nữa thì họ sẽ mất hết tinh thần và tuyệt vọng. Tuần trước hai người lính của tôi không chịu được gian khổ đã tự bắn vào mình, rồi nói là bị địch bắn”. Báo Anh Tin hàng ngày, ra ngày 11-2-1968 viết:  Quân đội Mỹ đã bị xơi no đòn, kinh hoàng và mất hết tinh thần, luôn lo ngại rằng đối phương có thể đánh bất kỳ lúc nào. Một trung sĩ nói: “Ôi thượng đế! Chúng con còn phải chịu đựng tình trạng này bao lâu nữa”. Về nghệ thuật tác chiến, chúng ta bằng nhiều phương pháp khác nhau, đã tiêu diệt một số cứ điểm ở Khe Sanh như quận ly Hướng Hóa, các cứ điểm khơ vực Tà Mây, cụm cứ điểm Làng Vây. Sau đó’ chúng ta vào vây hãm căn cứ Mỹ ở Tà Cơn, gây cho chúng nguy khốn, buộc Mỹ phải đưa quân lên giải tỏa. Song chẳng những chúng không giải tỏa được cho bọn chiếm đóng mà còn bị đánh cho tả tơi.  Cuối cùng bọn địch ở Tà Cơn cũng phải rút chạy. Trước đây các tướng Mỹ đã từng nói: “Quân đối phương chỉ giỏi lẩn trốn, nếu họ chịu trực tiếp đánh nhau với “ chúng tôi, chúng tôi sẽ tiêu diệt họ”. Nhưng ở Khe Sanh thì sao? Quân Mỹ không phải đi đâu tìm diệt cả. Không phải một vài đơn vị nhỏ, hàng mấy vạn quân ta có đủ các ‘ binh chủng bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo phòng không trực tiếp đánh nhau với quân Mỹ suốt 6 tháng trên một chiến trường không rộng. Chỉ có quân ta tìm diệt quân Mỹ, còn quân Mỹ, cả quân chiếm đóng và quân ứng viện đều phải rút khỏi Khe Sanh để tránh bị ta tiêu diệt. Rõ ràng ở đây quân đội ta đã đánh bại các biện pháp tác chiến của Mỹ. Cũng như quân đội Pháp trước đây, quân Mỹ chịu thua ta khi chúng có số lượng quân lớn nhất, nhưng đã bị chúng ta đánh bại các biện pháp tác chiến.

        Kỷ niệm 30 năm chiến thắng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), tôi viết những dòng này trước hết để thay một nén hương, tưởng niệm các đồng đội đã hy sinh, để nói với những gia đình có người thân không trở về sau chiến tranh, rằng người thân của họ đã hy sinh vì độc lập của dân tộc, vì hạnh phúc cua nhân dân. Thế hệ chúng ta cũng như các thế hệ mai sau đời đời biết ơn các anh hùng hệt sĩ, chỉ làm những gì vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 09:12:13 pm

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG THỪA THIÊN-HUẾ TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968

Đại tá NGUYỄN VĂN GIÁO                         
Quyền chỉ huy trưởng BCHQS Tỉnh Thừa Thiên – Huế       

        Chiến công Xuân Mậu Thân tiến công và làm chủ thành phố Huế 25 ngày đêm của quân và dân Thừa Thiên - Huế được cả nước và bè bạn khắp nơi cổ vũ động viên, Đảng, Nhà nước biểu dương khen ngợi và tặng quân dân Thừa Thiên - Huế 8 chữ vàng: “Tấn công, Nổi dậy, Anh dũng, Kiên cường” .

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Huế, với phương thức tiến công về quân sự và nổi dậy của quần chúng cách mạng giành chính quyền, các lực lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên-huế đã cống hiến hết sức mình để giành thắng lợi. Trong đó, mũi tiến công quân sự diễn ra vô cùng quyết liệt trong suốt cả quá trình chuẩn bị, tiến công và sau tiến công.

        Bước vào năm 1968, để phát huy thằng lợi to lớn trong nl’ìa khô, song song với Mặt trận đường 9, Quân khu Thừa Thiên - tuế mở mặt trận đô thị đánh vào trung tâm đầu não của Mỹ - ngụy.

        Giữa lúc các Đoàn 5 thuộc Huế, Đoàn 4 Phú Lộc và Đoàn 6 Phong - Quảng đang khẩn trương chuẩn bị thực hiện kế hoạch tiến công và nổi dậy của Quân khu thì ngày 19-11-1967, Khu ủy và Quân khu nhận được chỉ thị của Bộ Chính trị và mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng về cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa trên toàn miền Nam. Đối với chiến trường Thửa Thiên - Huế, Trung ương chỉ rõ: chiến trường Thừa Thiên - Huế là một trong hai chiến trường trọng điểm của toàn Miền. Hướng đường 9 do chủ lực Bộ có nhiệm vụ thu hút, phân tán lực lượng cơ động chiến lược của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn Miền. Thừa Thiên - Huế phải tiến cộng và nổi dậy đồng loạt đánh chiếm thành phố Huế và các thị xã, thị trấn, đánh tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền, giải phóng nông thôn, thiết lập chính quyền cách mạng, tiêu diệt và tiêu hao nhiều quân Mỹ, bao vây cô lập chúng, làm cho “chúng không ứng cứu được quân ngụy, sẵn sàng đánh địch phản kích, đánh cho chúng bị tổn thất nặng, giữ vững chính quyền cách mạng, tạo điều kiện tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”.

        Với tinh thần hết sức khẩn trương, ngày 3-12-1967, Thường vụ. Khu ủy họp để bàn triển khai thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương và xác định tư tưởng chỉ đạo là: động viên toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân tập trung sức lực và trí tuệ, khẩn trương đẩy mạnh chuẩn bị về mọi mặt, bảo đảm chấp hành triệt để chỉ thị và mệnh lệnh của cấp trên. Quyết tâm cửa Khu ủy và Quân khu là:

        * Tập trung lực lượng chủ yếu của Quân khu cùng với lực lượng của các đoàn, các huyện, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng. vũ trang, chinh trị, bí mật, bất ngờ tiến công trúng các mục tiêu, nổi dậy chiến đấu, phục vụ chiến đấu, lập chính quyền cách mạng.

        * Tiêu diệt tiêu hao nặng quân Mỹ và chơ hầu, đẩy mạnh binh địch vận trong ngụy quân, ngụy quyền, đánh bại ý chí xâm lược và chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ trên chiến trường Thừa Thiên - Huế, bảo vệ và phát huy sức mạnh chính quyền cách mạng.

        *  Tập trung trọng điểm là Huế, đánh vào trung tâm đầu não của ngụy quân, ngụy quyền, căn cứ quân sự lớn của Mỹ, cắt đứt giao thông Đà Nẵng - Huế - Quảng Trị, mở mặt trận đánh giao thông Phúc Lộc (mặt trận 4), ở Quảng Trị (mặt trặn 7) tạo điều kiện cho mặt trận Huế (mặt trận 5) phát triển tiến công, nổi dậy.

        *  Chia mặt trận Huế làm hai cánh: Bắc sông Hương và Nam sông Hương. Cánh Bắc là hướng chính, điểm tiến công khởi nghĩa chủ yếu của mặt trận lúc đầu. Cánh Nam là điểm tiến công khởi nghĩa quan trọng, đồng thời là hướng chủ yếu đánh địch phản kích. Thành thị là trọng điểm nhưng nông thôn phải đồng thời khởi nghĩa sức mạnh tiến công nổi dậy. Về thời gian của chiến dịch: Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, sẽ tiến hành tổng tiến công và nổi dậy vào  Tết Mậu thân (31-l-1968). Trong 7 ngày đêm bảo đảm hoàn thành các mục tiêu cơ bản, tập trung chủ yếu vào 2 ngày 3 Quyết tâm cửa Khu ủy và Quân khu là:

        *  Tập trung lực lượng chủ yếu của Quân khu cùng với lực lượng của các đoàn, các huyện, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng. vũ trang, chinh trị, bí mật, bất ngờ tiến công trúng các mục tiêu, nổi dậy chiến đấu, phục vụ chiến đấu, lập chính quyền cách mạng.

        *  Tiêu diệt tiêu hao nặng quân Mỹ và chư hầu, đẩy mạnh binh địch vận trong ngụy quân, ngụy quyền, đánh bại ý chí xâm lược và chiến lược l’ehiến tranh cục bộ” của Mỹ trên chiến trường Thừa Thiên - Huế, bảo vệ và phát huy sức mạnh chính quyền cách mạng.

        *  Tập trung trọng điểm là Huế, đánh vào trung tâm đầu não của ngụy quân, ngụy quyền, căn cứ quân sự lớn của Mỹ, cắt đứt giao thông Đà Nẵng - Huế - Quảng Trị, mở mặt trận đánh giao thông Phúc Lộc (mặt trận 4), ở Quảng Trị (mặt trặn 7) tạo điều kiện cho mặt trận Huế (mặt trận 5) phát triển tiến công, nổi dậy.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 09:16:23 pm

        *  Chia mặt trận Huế làm hai cánh: Bậc sông Hương và Nam sông Hương. Cánh Bắc là hướng chính, điểm tiến công khởi nghĩa chủ yếu của mặt trận lúc đầu. Cánh Nam là điểm tiến công khởi nghĩa quan trọng, đồng thời là hướng chủ yếu đánh địch phản kích.  Thành thị là trọng điểm nhưng nông thôn phải đồng thời khởi nghĩa sức mạnh tiến công nổi dậy.  Về thời gian của chiến dịch: Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, sẽ tiến hành tổng tiến công và nổi dậy vào Tết Mậu thân (31-l-1968). Trong 7 ngày đêm bảo đảm hoàn thành các mục tiêu cơ bản, tập trung chủ yếu vào 2 ngày 3 Thành đội chỉ huy trực tiếp gồm thoảng 1.000 quân. Ngoài ra còn có nhiều đội công tác vũ trang hoạt động trên các khu vực nhỏ. Tất cả các lực lượng này đều được xây dựng và huấn luyện tử tháng 10-1967. Sức khỏe bộ đội trước đây giảm sút do thiếu ăn nay được tăng cường, tiêu chuẩn bữa ăn được nâng lên. Công tác chính trị, tư tưởng được phát động mạnh mẽ ở tất cả các đơn vị trên tinh thần: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua” và “ Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”. Một loạt hoạt động quân sự được mở tử 6-1 đến 27-1 nhằm giữ chân, nghi binh đánh lạc hướng địch. Các đơn vị Đoàn 5: tập trung diệt ác trừ gian làm trong sạch địa bàn.  Bộ đội địa phương và du kích các huyện ngoại thành (Phú Vang, Hương Thủy, Hương Trà) chặn đánh 2 cuộc càn của 4 tiểu đoàn ngụy lên vùng núi Hươhg Trà, diệt 300 tên địch, buộc chúng phải rút lui, bảo vệ được căn cứ đang chuẩn bị cho chiến dịch Xuân 1968. Ở mặt trận 6, bộ đội và du kích đánh địch ở ấp Mỹ Xuân, Thủ Lễ, phá đường An Lỗ - Sịa.  Tại mặt trận 4, các đơn vị bộ binh, đặc công, công binh, hỏa lực tập trung tiến công vị trí cầu Hai, đồn An Bằng, đồn Nước Ngọt diệt 400 tên địch. Du kích các xã tiến công các căn cứ địch trên dọc tuyến quốc lộ 1A, phá 20 ki-lô-mét thuộc đoạn Hải Vân-Huế.

        Đội hoạt động quân sự trên địa bàn Thừa Thiên thực hiện được việc đánh phá, cắt giao thông địch, góp phần vào việc chuẩn bị hành lang, địa bàn cho cuộc hành quân của các đơn vị chủ lực và tiếp cận các mục tiêu theo kế hoạch tiến công.

        Cuộc hành quân của 11 tiểu đoàn tập trung hướng chính vào mặt trận Huế bắt đầu từ chiều 30-I-1968, gồm 8 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn đặc công. Các đội vũ trang biệt động, các đội công tác trên nhiều hướng, nhiều mũi cũng vượt qua vòng vây dày đặc của địch tiến vào mục tiêu. 2 giờ 33 phút ngày 31-1-1968, pháo binh của ta đồng loạt nã vào những căn cứ lớn của địch làm hiệu lệnh mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy lịch sử. Trung đoàn 6, Trung đoàn 9, Đoàn 5, các đội đặc công, biệt động, trinh sát vũ trang, các đại đội bộ đội địa phương, các đội công tác, du kích, tự vệ nội, ngoại thành đồng loạt tiến đánh các mục tiêu.

        Ở cánh Bắc: Đại đội 1 đặc công và Đại đội 2 bộ binh thuộc Trung đoàn 6 tiến công Sở chỉ huy Sư đoàn 1 ngụy ở Mang Cá. Đại đội 2 (Tiểu đoàn 2 đặc công) và Đại đội 2 (Tiểu đoàn l Trung đoàn 6) ba lần đánh chiếm sân bay Tây Lộc, tiêu hao nặng 2 tiểu đoàn địch ra phản kích. Cùng lúc Đại đội 14 đặc công và Đại đội 3 (Tiểu đoàn 2, trung đoàn 6) tiến công vào khu Đại Nội diệt đơn vị Hắc Báo. Đại đội 3 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 6) tiến chiếm Cột cờ Thành nội.  9 giờ 31-1-1968, chiến sĩ Trung đoàn 6 Nguyễn Văn Tuyên đã cắm cờ lên đỉnh cột cờ Phú Văn Lâu. Đồng thời một số đơn vị Trung đoàn 6 đánh chiếm các mục tiêu vòng ngoài như cầu Bạch Hổ, Kim Long, Kẻ Vạn, Văn Thánh, tiêu diệt và tiêu hao 2 tiểu đoàn địch, đánh chiếm cầu An Hòa, làng An Hòa, 5 lần đánh bại Tiểu đoàn 7 ngụy phản kích, diệt 5 xe M-113 và nhiều tên địch buộc chúng tháo chạy vế hướng Bao Vinh để vào Mang Cá.

        Tiểu đoàn 116 (Trung đoàn 9) tiến đánh vùng La Chứ, Quê Chữ, An Lưu, Bổn Trì, Bổn Phổ, diệt 1 đại đội ngụy. Bộ đội ta cùng với các đội biệt động dẫn đường đánh chiếm cửa Hương, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba và khu phố Đông Ba.  Lực lượng Tiểu đoàn 10 (Đoàn 5) và đội biệt động từ hướng Phú Vang hành quân đánh chiếm khu Gia Hội.

        Ở cánh Nam: Tiểu đoàn 1 đặc công (Đoàn  tiến công Trung đoàn 7 thiết giáp ngụy ở Tam Thai, diệt 350 tên địch, phá hủy 35 xe thiết giáp và xe tăng.

        Tiểu đoàn 4 bộ binh (Đoàn 5) đánh chiếm cầu Kho Rèn diệt sở chỉ hay canh sát dã chiến, chiếm khu vực Ngã 6, đánh chiếm Đài phát thanh Huế.

        Các đại đội của Tiểu đoàn 815 bộ binh tiến công tiêu diệt gọn đại đội Nam Triều Tiên tại khu Tàu Lăng, đánh chiếm Phước Quả, Ty sắc tộc, Tòa tỉnh trưởng, phá nhà lao Thừa Phủ (giải phóng 2.000 cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt), nhà lao Thẩm Vấn (giải phóng 107 người). Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 1 đặc công (Đoàn 5) đánh chiếm tiểu khu Thừa Thiên, khách sạn Thuận Hóa, Hương Giang và đánh vào An Cựu diệt 2 đoàn bình định.

        Tiểu đoàn 10 (Đoàn 5) đánh Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 3 ngụy) ở Đổng Di và Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 3 ngụy) ở Tam Đông.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 09:36:33 am

        Ngày 31-1 và đêm 1-2-1968, lực lượng ta đã cơ bản chiếm được thành phố, ngăn chặn không cho địch chi viện cho Huế. Tuy vậy do ta chưa dứt điểm được vị trí địch ở Mang Cá nên sau này địch gây cho ta nhiều khó khăn. Từ ngày 2 đến 7-2-1968, bộ đội ta liên tiếp đánh địch phản kích, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, giành quyền làm chủ, tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

        Ở các huyện ngoại thành Huế, bộ đội địa phương và dân quân du kích đánh địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy, phát triển lực lượng.

        Tại mặt trận 4 (Phú Lộc), các đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh cắt giao thông, mở vùng giải phóng. Ở mặt trận 6 (Phong Quảng), bộ đội địa phương và dân quân du kích đánh chiếm nhiều căn cứ địch, bao vây quận ly Phong Điền, tiến công địch ở vùng Thanh Lương, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy.

        Đội tự vệ khu Gia Hội được thành lập trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã hăng hái, dũng cảm chiến đấu, bắn cháy nhiều tàu chiến địch trên sông Hương. Tiểu đội 11 cô gái Hương Thủy đã gan dạ bám trục đường chợ Cống - Vân Dương phối hợp với Tiểu đoàn 10 đánh địch phản kích, diệt hàng trăm Mỹ-ngụy, bắn cháy 5 xe tăng. Từ ngày 8-2-1968, địch bắt đầu phản kích dữ dội. Chúng huy động lực lượng tổng dự bị từ Sài Gòn và vùng I chiến thuật ra, rút một số quân ở Đường 9 vào tiến hành phản kích, giải vây cho Huế, nâng tổng số địch tại mặt trận Huế lên 23 tiểu đoàn (trong đó có 15 tiểu đoàn Mỹ). Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt, ta và địch giành nhau từng căn nhà, từng góc phố. Bất chấp địch đông hơn ta nhiều lần và có hỏa lực rất mạnh, quân và dân thành phố Huế vẫn kiên cường đánh địch phản kích. Có ngày ta diệt hơn 1.000 tên địch, bắn rơi, bắn cháy và phá hủy hàng chục máy bay và xe tăng.

        Do so sánh lực lượng quá chênh lệnh, Bộ chỉ huy mặt trận quyết định cho lực lượng rút khỏi thành phố từ 25-2-1968...

        Sau 25 ngày đêm chiến đấu và làm chủ thành phố Huế, quân và dân ta đã diệt, bắt sống, bức hàng hơn 25.000 tên địch, bắn rơi và phá hủy 255 máy bay, bản cháy 41 tàu chiến, phá hủy 533 xe quân sự và nhiều kho đạn lớn của địch.

        Quân dân ta đã đánh mạnh, đánh trúng vào cơ quan đầu não Mỹ-ngụy, đập nát hệ thống chính quyền ngụy từ thôn đến tỉnh. Ta đã giải phóng gần 10.000 dân, 20 xã, 271 thôn; thành lập chính quyền ở 200 thôn; chính quyền quận, huyện, xã, phường; chính quyền cách mạng tỉnh Thừa Thiên-huế. Lực lượng vũ trang ba thứ quân trưởng thành nhanh chóng cả về tổ chức, chỉ huy, cả về kỹ thuật, chiến thuật, đặc biệt là đánh trong thành phố. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết, địch tập trung lực lượng phản kích quyết liệt, chúng mở nhiều cuộc hành quân giải tỏa ra hậu cứ của ta. Cuộc chiến đấu chống địch phản kích ác liệt diễn ra trên cả 3 vùng chiến lược.  Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do sự ngăn chặn của địch, như tháng 5-1968, Tiểu đoàn 10 bị bao vây ở Vĩnh Thái (Phú Vang) phải mở đường máu đưa 500 cán bộ, chiến sĩ thoát vòng vây lên căn cứ, bộ đội thiếu ăn, đau yếu, sức khỏe giảm sút nhưng các lực lượng vũ trang trên chiến trường Thừa Thiên - Huế đã chấp hành nghiêm túc kế hoạch tiến công đợt 2, phối hợp với Sài Gòn. Trong tháng 5 và tháng 6 đã đánh hàng trăm trận càn quét của các đơn vị kỵ binh bay ở Phong Điền - Quảng Điền, đánh vào 66 mục tiêu, căn cứ, quận ly như: ấp 5, Động Toàn, Phú Thứ, Đồng Lâm, Mang Cá cật giao thông Thuận An - Huế, Huế - Đà Nẵng. Ở miền núi, bộ đội ta đánh bại cuộc hành quân lớn của địch, buộc lòng rút khỏi A Lưới.

        Trong 3 tháng 4, 5 và 6 năm 1968 quân dân Thừa Thiên - Huế và làm bị thương gần 2.500 tên địch (trong đó diệt 25 đại đội Mỹ - ngụy), bắn rơi và phá hủy 72 máy bay, 30 xe quân sự, 33 khẩu pháo địch.  Mùa mưa 1968, trước tình hình khó khăn ở chiến trường và do yêu cầu củng cố lực lượng, phần lớn các đơn vị chủ lực Quân khu ra hậu phương củng cố. Một số đơn vị như Tiểu đoàn 10, Tiểu đoàn 4 bộ binh; Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 đặc công; Tiểu đoàn 323 pháo binh, Tiểu đoàn trinh sát, các đội biệt động vẫn bền bỉ, chịu đựng gian khổ, ác liệt, kiên trì bám trụ giữ địa bàn, giữ thế, tạo thế mới để tiến công địch, khôi phục phong trào.

        Hội nghị Khu- ủy Trị - Thiên tháng 11 năm 1968 đã đánh giá cao thành tích trên của các đơn vị vũ trang: Suốt trong thời gian đánh Huế đã chiến đấu hết sức dũng cảm, ngoan cường và sáng tạo, đã lập được nhiều chiến công anh dũng; được nhân dân hết lòng ca ngợi và yêu mến. Tiếp theo đó lại liên tục chiến đấu với địch, chịu đựng nhiều gian khổ, thiếu thốn, vẫn giữ ứng lực lượng, phát huy truyền thống nâng cao trình độ chiến đấu, đã đánh được nhiều trận nhỏ, vừa đánh một số trận tốt, gây cho địch nhiều tổn thất nặng


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 09:45:54 am

TIẾN CÔNG ĐỒNG LOẠT, NỔI DẬY LIÊN TỤC Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Đại tá TRƯƠNG MINH HOẠCH       

        Xuân Mậu Thân 1968, cùng với toàn miền Nam, quân dân đồng bằng sông Cửu Long đã tiến hành cuộc Tổng tiến công và nồi dậy đồng loạt, đều khắp ở các thành phố, thị xã. Trước khi bước vào cuộc Tổng tiến công, theo sự chỉ đạo của Trung ương cục và Bộ tư lệnh Miền, quân dân đồng bằng sông Cửu Long (gồm Khu 9 và Khu 8) khẩn trương chuẩn bị mọi mặt. Mỗi quân khu đều xác định trọng điểm tiến công. Ở Khu 9, trọng điểm 1 là thành phố Cần Thơ, trọng điểm 2 là thị xã Vĩnh Long. Ở Khu 8 trọng điểm 1 làm thành phố Mỹ Tho, trọng điểm 2 là thị xã Bến Tre. Tại các trọng điểm đều thành lập Ban chỉ đạo khởi nghĩa. Việc chuẩn bị tổng tiến công và nổi dậy được tiến hành khẩn trương, nhưng ngày ln được. giữ bí mật tuyệt đối, ngay cấp quân khu cũng không biết trước. Vì vậy, một số đơn vị, địa phương chưa kịp hoàn thành công tác chuẩn bị, đạn pháo chưa chuyển đủ để đánh vào thành phố, có đơn vị còn ở xa mục tiêu... Thế nhưng khi có lệnh tổng tiến công, các cấp, các ngành, các đơn vị đều nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh với quyết tâm cao, với khí thế “thời cơ ngàn năm có một”.

        Tại trọng điểm 1 của Khu 9, thành phố Cần Thơ - trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế của miền Tây Nam Bộ, có nhiều mục tiêu quan trọng như: Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 - vùng 4 chiến thuật ngụy, Tòa lãnh sự Mỹ, cư xá tình báo  Mỹ, sân bay Trà Nóc, sân bay Lộ Tẻ, khu hậu cần kỹ thuật của vùng 4 và nhiều mục tiêu khác... Đúng 03 giờ sáng ngày 1 2-1968, các đơn vị ta đồng loạt nổ súng tiến công cán mục tiêu trong thành phố theo quy định. Sau khi pháo bắn chế áp mãnh liệt vào Sở chí huy Quân đoàn 4 - vùng 4 chiến thuật và sân bay Lộ Tẻ, Đội biệt động Cần Thơ tiêu diệt đơn vị cảnh sát dã chiến ở Đầu Sấu, mở đường cho Tiểu đoàn Tây Ô nhanh chóng tiêu diệt lực lượng địch trên đường tiến công, làm chủ trục giao thông tử Đầu Sấu đến ngả tư đường Tự Đức (nay là đường Lý Tự Trọng); tiến công lãnh sự Mỹ và cơ quan tình báo Mỹ trên đường Hùng Vương, tiếp tục phát triển đến bến xe mới. Tiểu đoàn 307 đánh chiếm khu vực Đài phát thanh, khu hậu cần và Trung tâm nhập ngũ vùng 4 chiến thuật.

        Ở hướng bắc thành phố, Tiểu đoàn 303 và đặc công đánh vào sân bay Lộ Tẻ. Đại đội 3 (Tiểu đoàn 303) vượt qua khu thông tin, bộ phận còn lại của tiểu đoàn không qua được, bị xe M113 địch chia cắt. Không được tiếp ứng, Đại đội 3 bị tổn thất nặng. Đến sáng, Tiểu đoàn 303 rút ra bám trụ phía sau phi trường, từ cầu Tham Tướng đến cầu Rạch Ngỗng.  Tiểu đoàn 309 do nhận lệnh trễ nên ngày đầu chưa tham gia tiến công cỏn đang làm công tác vũ trang tuyên truyền ở Phụng Hiệp. Ngày hôm sau tiểu đoàn mới cấp tốc hành quân lên Cần Thơ, cùng các đơn vị bạn đánh vào khu vực cầu Tham Tướng, khu văn hóa, làm chủ khu vực này 1 ngày 2 đêm.

        Từ sáng ngày 1-2, địch phản kích quyết liệt bắn phá bừa bãi, máy bay ném bom ngay trong nội thành để chặn bước phát triển của ta. Các đơn vị ta bám trụ tại chỗ đánh địch phản kích quyết liệt. Ngày 3-2, địch cho 1 tiểu đoàn dù (quân dự bị chiến lược) đến phản kích bị các đơn vị ta đánh thiệt hại nặng. Đến ngày 4-2-1968 do tình hình khó khăn và thương vong cao, các đơn vị ta lần lượt rút ra vùng ven lộ Vòng Cung. Từ đây các đơn vị liên tục đánh địch phản kích.  Sáng ngày 6-2-1968, ta đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 42 và 44 biệt động quân. Đêm đến tập kích Tiểu đoàn 2 (Sư đoàn 21 ngụy) và một đại đội bảo an. Ngày 11-2-1968, ta tiếp tục chặn đánh Tiểu đoàn  thủy quân lục chiến tại rạch Rau Răm và Tiểu đoàn 7 thủy quân lục chiến tại rạch Bà Chủ Kiểu, Khoán Châu, diệt nhiều quân địch. Cũng tử vùng ven lộ Vòng Cung, 01 giờ đêm ngày 18-2, một bộ phận đặc công và Tiểu đoàn 307 bí mật tiến công sân bay Lộ Tẻ, diệt 1 đại đội bảo an, phá hủy 29 máy bay, 1 kho đạn. Đến 8 giờ sáng cùng ngày, bộ đội ta rút ra ngoài, địch cho Tiểu đoàn 42 biệt động quân đuổi theo đến rạch Rau Răm. Tiểu đoàn 307 nổ súng đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn này, buộc chúng phải rút chạy. 09 giờ, Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 2, Sư đoàn 9 Mỹ) bật đầu hành quân phản kích. Các đơn vì tại lộ Vòng Cung chặn đánh quyết liệt, diệt hàng trăm tên, bắn rơi 2 máy bay, bẻ gãy cuộc hành quân phản kích của quân Mỹ. Đây là trận diệt bộ binh Mỹ đầu tiên ở Cần Thơ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 09:46:22 am

        Sáng ngày 20-2, một tiểu đoàn bộ binh khác cũng thuộc Lữ đoàn 2 (Sư đoàn 9 bộ binh Mỹ) dùng tàu rút khỏi rạch Rau Răm, rồi quay lại đánh vào đội hình ta. Ta tổ chức các bộ phận nhỏ chặn đánh, buộc địch phải co cụm tại Ngã Bát.  Đêm ta bí mật tiếp cận, tập kích cụm quân Mỹ ở đây, diệt gọn 1 đại đội.

        Tiếp theo, trong tháng 3-1968, các đơn vị của quân khu, tỉnh và thành phố tiếp tục bám trụ lộ Vòng Cung đánh địch phản kích. Nổi nhất là trận đánh 2 tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 21 ngụy ngay tại rạch Rau Răm, diệt 76 tên, làm bị thương 109 tên. Đồng thời sử dụng pháo cối nhiều lần bắn vào các căn cứ quân sự trong thành phố, gây cho địch nhiều thiệt hại.

        Như vậy, tại trọng điểm 1 thành phố Cần Thơ, quân và dân ta đã 60 ngày đêm kiên trì bám trụ vùng ven lộ Vòng Cung liên tục đánh Mỹ, diệt ngụy. Suốt thời gian tiến công và bám trụ đánh địch phản kích ta diệt 1.540 tên địch, làm bị thương 1.409 tên, bân rơi và phá hủy 129 máy bay, phá hủy 8 pháo, bắn cháy 3 xe M113. Về ta, các đơn vị cũng bị tổn thất lớn.

        Phối hợp với tiến công quân sự, lực lượng chính trị của quần chúng nổi dậy tiến công, binh vận, bao vây đồn bốt, phá ấp chiến lược, dẫn đường, tiếp tế và cất giấu, nuôi dưỡng điều trị thương binh... Các huyện phía sau huy động hàng ngàn thanh niên bổ sung cho các đơn vị chủ lực khu, tỉnh, bảo đảm liên tục chiến đầu.

        Tại trọng điểm 2 của Khu 9 - thị xã Vĩnh Long, đúng 01 giờ đêm 1 - 2, từ hướng nam, Tiểu đoàn 306 đột nhập thị xã, đồng loạt nổ súng. Ta nhanh chóng chiếm căn cứ bảo an, ty cảnh sát, khu trung tâm thông tin Hoa Lư. Cùng lúc, Tiểu đoàn 1 của tỉnh đột nhập sân bay, phá hủy trên 60 máy bay trực thăng, chiếm đại bộ phận sân bay. Tiểu đoàn 308 vượt sông gặp khó khăn. Bộ phận đi đầu gồm 50 chiến sĩ vào được thị xã, bị địch bao vây, cô lập nên thương vong lớn.  Đến 5 giờ sáng 1 - 2, Tiểu đoàn 306 đã chiếm được một phần ba thị xả Vĩnh Long. Địch ở thị xã tập trung lực lượng phản kích quyết liệt. Các đơn vị ta giữ vững quyết tâm, củng cố trận địa đã chiếm, phòng ngự ứng chắc, đánh địch phản kích.

        Trong hai ngày 2 và 3 - 2, ta vẫn làm chủ và tiếp tục tiến công. Tiểu đoàn 306 tổ chức đánh lấn từng khu vực, chiếm được tòa hành chính tỉnh, làm chủ hai phần ba thị xã.  ở hướng tây, Tiểu đoàn 1 bộ đội tinh rút ra vùng ven, tiếp tục bao vây khống chế sân bay, làm chủ bến phà Mỹ Thuận, chặn quân viện ở hướng Sa Đéc. Tiểu đoàn 308 phòng ngự theo tuyến sông, bao vây thị xã, đánh quân phản kích.

        Sang ngày 4 - 2, địch đưa nhiều xe thiết giáp và trực thăng phun lửa, vừa phản kích vừa đốt nhà, hủy diệt các khu phố ta chiếm, hòng đẩy lực lượng ta ra khỏi thị xã. Tiểu đoàn 306 bám công sự đánh bại các đợt phản kích quyết liệt của địch, đồng thời cùng với nhân dân và lực lượng thị xã dập lửa, bảo vệ tài sản của đồng bào, băng bó cứu chữa nhân dân bị thương. Lúc này phía sau đã kịp thời bổ sung cho Tiểu đoàn 806 trên 500 quân, phần lớn là bộ đội địa phương và du kích tình nguyện. Ngày 5 - 2, ta chiếm phần lớn thị xã, địch chỉ còn lại dinh tỉnh trưởng. Tên tỉnh trưởng Vĩnh Long hoảng sợ xuống tàu chạy ra giữa sông Tiền, dùng điện thoại liên lạc với vùng 4 chiến thuật xin cứu viện.

        Trước nguy cơ thị xã Vĩnh Long thất thủ, ngày 6-2, quân liỹ dùng pháo hạm, không quân và trực thăng vũ trang dành phá ác liệt vào nội ô và vùng ven thị xã, hòng tiêu diệt lực lượng ta. Sau đó địch dùng 40 trực thăng đổ 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 2 (Sư đoàn 9 bộ binh Mỹ) xuống phía sau lộ Cầu vồng, từ Quặn Mới đến căn cứ 80, cùng quân ngụy hình thành 2 mũi bao vây quân ta trong thị xã. Tiểu đoàn 306 tập trung đánh bộ binh Mỹ đang bịt hành lang vào thị xã 23 giờ cùng ngày, tiểu đoàn tập kích một cụm quân Mỹ ở hướng nam cầu Cá Trê, gây cho địch nhiều thiệt hại.  Trước tình hình địch tăng cường lực lượng phản kích, Mỹ trực tiếp can thiệp, giải tỏa cho ngụy, và qua 6 ngày đêm chiến đấu, thương vong của ta khá lớn - nếu giữ quyết tâm đánh chiếm toàn bộ thị xã như kế hoạch cũ sẽ không có lợi, Ban chỉ huy Mặt trận quyết định cho toàn bộ lực lượng ta rút ra vùng ven, gài thế đánh viện, bao vây thị xã,  giải phóng nông thôn.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 09:46:39 am

        01 giờ ngày 7 - 2, Tiểu đoàn 306 tập kích cụm quân Mỹ ở nam cầu Cá Trê, diệt 1 đại đội, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, mở đường đưa hết thương binh và toàn tiểu đoàn cơ động ra Phước Hậu, cách thị xã Vĩnh Long 5km về phía nam. Tử đây, Tiểu đoàn 306 bám trụ làm chủ vùng ven, bao vây uy hiếp thị xã Vĩnh Long, cắt đứt lộ 4 và lộ 7, thu hút địch, tạo điều kiện cho 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh đẩy mạnh tiến công ba mũi quân sự, chính trị, binh vận), diệt đồn, giải phóng nông thôn.

        Qua 6 ngày đêm tiến công và làm chủ thị xã Vĩnh Long, ta diệt trên 2.000 tên địch, bắt hàng trăm tên, phá rã 1.200 cảnh sát, 1.000 phòng vệ dân sự và bộ máy ngụy quyền thị xã bắn cháy 25 xe M113, bắn chìm 10 tàu, phá hủy 8 pháo và hàng chục xe quân sự, bắn rơi và phá hủy 65 máy bay, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh; thu trên 500 súng các loại và nhiều máy VTĐ. Về ta, Tiểu đoàn 308 thương vong trên 300 đồng chí cán bộ, chiến sĩ. Cùng lúc với 2 trọng điểm của Khu 9, ở Khu 8 (miền Trung Nam Bộ), tại trọng điểm 1 - thành phố Mỹ Tho, ta đồng loạt nổ súng đánh vào các mục tiêu đã quy định. Quân khu 8 sử dụng 2 trung đoàn 1 và 2) Tiểu đoàn 514 tỉnh Mỹ Tho, 5 đội biệt động của thành phố. Do Trung đoàn 2 đến trễ (ngày N + 1 mới đến), kế hoạch tiến công thay đổi. Đến giờ quy định, Trung đoàn 1 (Tiểu đoàn 261A, 261B) và Đại đội 2 của thành phố Mỹ Tho nhanh chóng vượt sông Bảo Định, chia làm 3 mũi đánh vào trung tâm thành phố. Đến 7 giờ sáng ngày 1-2, ta chiếm được bến xe, lộ Vòng Nhỏ và tiến đến Giếng Nước. 9 giờ cùng ngày, 2 tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy từ căn cứ Hùng Vương ra giải tỏa, nhưng đến khu vực Giếng Nước và lộ Vòng Nhỏ bị ta chặn đánh thiệt hại nặng, buộc chúng phải lùi lại, bố trí ngăn chặn, ta không tiến vào được. Tiểu đoàn 514 đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 32 biệt động quân ở ấp 1 xã Đạo Thạnh. Các đội biệt động thành phố diệt 3 lô cốt ở khám đường Mỹ Tho, nhằm giải thoát cho tù chính trị, nhưng không thành công. Sang ngày 3-2, Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn 9 Mỹ và 3 tiểu đoàn bộ binh ngụy, 2 chi đoàn xe M.113 phản kích mạnh. Trung đoàn 1 chặn đánh quyết liệt, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn Mỹ, 1 tiểu đoàn ngụy, diệt 20 xe M.113. Đến 16 giờ chiếu cùng ngày, địch dùng 48 khẩu pháo ở các trận địa xung quanh thị xã và pháo hạm trên tàu cùng không quân liên tục giội bom, pháo vào đội hình ta, Trung đoàn 1 bị thiệt hại nặng phải rút ra vùng ven bám trụ đánh địch phản kích. Trung đoàn 2 sau khi đánh thiệt hại nặng chi khu Trung Lương, diệt 15 đồn trên lộ 4, đánh thiệt hại một tiểu đoàn Mỹ, phá hủy 70 xe quân sự, bị đính phản kích cũng phải rút ra vùng ven.

        Cùng với tiến công quân sự, có trên 11.000 lượt quần chúng ở các vùng nông thôn kéo vào, cùng với 500 quần chúng tại thành phố nổi dậy, đấu tranh trực diện với tên tỉnh trưởng, Bộ tư lệnh Sư đoàn 7 ngụy, đòi chúng không được ném bom, bắn pháo bừa bãi, gây nhiều thiệt hạt cho người dân vô tội. Lực lượng 3 mũi giáp công bao vây 7 đồn, diệt 2 đồn, bức rút 3 đồn, bức hàng 1 đồn, truy lùng, diệt 120 tên tề, công an, do thám, giải phóng 2 xã Đạo Thạnh và Mỹ Phong. .

        Tại trọng điểm 2 của Khu 8 - thị xã Bến Tre, lực lượng tiến công vào thị xã gồm các tiểu đoàn bộ binh 516, 2, 3 và 4; các đại đội binh chủng được tập trung lại thành trung đoàn. Ngoài ra còn có khoảng 7 tiểu đoàn dân quân, du kích và lực lượng quần chúng khoảng 10.000 người.  01 giờ ngày 1-2, ta bắn pháo cối vào Sở chỉ huy Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy. Tiểu đoàn 516 (đơn vị chủ công) vượt sông Bến Tre đánh vào dinh tỉnh trưởng, nhưng không chiếm được. Các mũi khác của Tiểu đoàn 2, 3 và 4 tiến công các mục tiêu trong thị xã như: Sở chỉ huy Trung đoàn 10, trận địa pháo, đài phát thanh và sân bay Tân Thành... Trong đêm ta đã chiếm và làm chủ hầu hết các khu vực trong thị xã và bao vây chặt dinh tỉnh trưởng. Đến chiều ngày 3 - 2, được tăng cường 1 tiểu đoàn Mỹ từ Đồng Tâm (Mỹ Tho), địch tập trung phản kích mạnh. Đêm 3 - 2, đại bộ phận các lực lượng ta rút ra ngoại ô, củng cố lại đội hình đánh địch phản kích, chỉ để lại một bộ phận bao vây dinh tỉnh trưởng.

        Các vùng nông thôn trong toàn tỉnh cũng đồng loạt tiến công và nổi dậy, làm tan rã phần lớn bộ máy kìm kẹp ở xả, ấp; bức hàng, bức rút 40 đồn bốt, giải phóng 4 xã, 25 ấp’ Đặc biệt ta đã tập trung mở rộng vùng giải phóng ở huyện Chợ Lách, hình thành thế vây ép thị xã.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 10:34:50 pm

        Đồng loạt với tiếng súng tiến công ở các trọng điểm, hầu hết các thị xã trên khắp chiến trường đồng bằng sông Cửu Long cũng bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.  Tại Trà Vinh, lực lượng tiến công thị xã có 2 tiểu đoàn của tỉnh, 1 đại đội địa phương huyện Càng Long, 1 đại đội huyện Châu Thành, 1 đại đội pháo binh, 1 đại đội đặc công phối hợp với lực lượng vũ trang và chính trị trong thị xã chia làm 3 cánh, đánh chiếm các mục tiêu trong thị xã. Đêm 31-1, rạng 1-2, các cánh quân đồng loạt nổ súng tiến công thị xã. Cánh 1 tiến công từ vàm Trà Vinh đánh thẳng đến dinh tỉnh trưởng, mở cửa khám, giải thoát mấy trăm cán bộ, chiến sĩ, chiếm 1 góc dinh tỉnh trưởng. Cánh 2 từ Đa Lộc, Tri Tân đánh chiếm khu vực rạp hát Thái Bình, cầu Long Bình, làm chủ khu vực này. Cánh 3 đánh sân bay, Sở chỉ huy Trung đoàn 14 (Sư đoàn 9) dùng pháo khống chế sân bay và trận địa pháo của địch.

        Sáng 1-2, quần chúng nội ô nổi đậy kéo vào đồn bốt, kêu gọi con em mình trở về với cách mạng. Đến 13 giờ, Tiểu đoàn 2 (Sư đoàn 9 ngụy) cùng 1 chi đoàn xe M113 từ Cầu Ngang kéo về phản kích, giải vây dinh tỉnh trưởng, làm ta thương vong 1 trung đội. Chiều cùng ngày, địch tập trung lực lượng phản kích liên tục, quyết liệt. Các đơn vị ta phải chuyển sang đánh địch phản kích. .

        Trước tình thế giằng co kéo dài không có lợi, ta không thể dứt điểm được thị xã, Tỉnh ủy chủ trưởng rút toàn bộ lực lượng ra khỏi thị xã, chỉ để lại một bộ phận bám chặt vùng ven, kiềm chân địch tại chỗ, phần lớn lực lượng được đưa về giúp các huyện tranh thủ thời cơ mở rộng vùng giải phóng, làm chủ nông thôn. Đến ngày 5-2, quân dân Trà Vinh đã tiêu diệt và làm tan rã khoảng 5.000 tên địch, bức hàng, bức rút 50 đồn bốt, giải phóng thêm 14 xã, 5 ấp với trên 100. 000 dân.

        Ở Sóc Trăng, đêm 1-2, 1 tiểu đoàn và 3 đại đội độc lập của tỉnh cùng 1 đại đội huyện đồng loạt nổ súng tiến công trung tâm thị xã, chiếm được toàn bộ khu hậu cần, khu gia binh, khu vực hồ Nước Ngọt, sân bay Sóc Trăng... sau đó, các đơn vị ta tiếp tục đứng lại trong thị xã đánh địch phản kích quyết liệt suốt 3 ngày, tiêu diệt trên 400 tên, nhưng bộ đội ta cũng bị thương vong nhiều. Ở vùng nông thôn, lực lượng địa phương nổi dậy gỡ được 30 đồn bốt, giải phóng 6 xã với 10.000 dân.

        Tại Bạc Liêu, lực lượng tiến công thị xã chia làm 2 mũi. Mũi chủ yếu có 1 tiểu đoàn của tỉnh, 1 trung đội biệt động.  Mũi này không vượt sông đúng thời gian quy định, do nước lớn. Mũi thứ yếu có 4 trung đội bộ binh, 1 đại đội hỏa lực và 1 đại đội dân quân tiến công từ Châu Thới qua Tân Tạo, tiến đến đầu sân bay, phá khám lớn. Sau đó phát triển đánh chiếm bệnh viện, cứ điểm pháo binh của Sư đoàn 21 đóng ở bót Hội Đồng Điều. Suốt ngày 1-2, ta tiếp tục tiến công địch.  Mũi chủ yếu dùng xuồng vượt kinh sang Bạc Liêu, đánh chiếm Phường 6, Phường 5, sau đó rút ra cầu Kim Cấu - Vĩnh Trạch. Quần chúng nổi dậy cùng lực lượng vũ trang truy quét bọn tề xã ấp, ác ôn.

        Đêm 3-2, mũi chủ yếu tiếp tục đánh vào Phường (5, 6, truy quét bọn ác ôn, đến sáng lại rút về Hương Hội. Đêm 5-1, đội biệt động đột phá khu thẩm vấn Mỹ, đánh thiệt hại 1 đại đội thám báo. Sang đêm 8 - 2, ta tiếp tục chiếm lại Khu 8 và 4, địch tập trung phản kích quyết hệt. Suốt đợt tiến công vào thị xã, đánh địch nhiều ngày, ta diệt và làm bị thương trên 300 tên, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch, nhưng lực lượng ta cũng tổn thất lớn. Tại thị xã Cà Mau, đúng 0 giờ đêm giao thừa (1-2-1968), Tiểu đoàn U Minh 2 nổ súng tiến công đánh chiếm chùa Phật Tổ và đột nhập vào Phường 2, Phường 3 và Phường 4.  Đại đội 1 của thị xã đánh chiếm bót Thầy Giàu, đánh thiệt hại nặng 1 đại đội bảo an. Đại đội 2 đánh chiếm “làng chiêu hồi”, phát triển đến trường trung học Từ Cường. Đại đội 3 phát triển đến rạp hát Huỳnh Long, vượt Kinh 16, đánh ép chính diện trại Phạm Ngũ Lão, phá sập một góc trại. Lực lượng của thị xã làm chủ một khu vực khá rộng từ bót Thầy Giàu đến Giồng Kè.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 10:35:56 pm

        Tiểu đoàn U Minh 3, tuy đến sau 1 giờ, nhưng vẫn nổ súng đánh chiếm những mục tiêu được giao; chiếm nhà thương mới, phát triển đánh vào tiểu khu và Tòa hành chính. Do thiếu chất nổ nên đơn vị không mở được cổng Tòa hành chính và dinh tỉnh trưởng. Đến sáng địch cho máy bay ném bom vào trận địa Tiểu đoàn U Minh 3 và đưa Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 32 ngụy) ở Tân Thành đổ theo đường Cái Nhứt, vòng phía sau Tiểu đoàn U Minh 3. Tiểu đoàn đánh địch quyết liệt ở khu vực này, diệt 1 đại đội.  Cùng lúc, ở phía nam Cà Mau hình thành 2 đại đội gồm du kích Cái Nước, Ngọc Hiển, du kích xã Lợi An, Lương Thế Trân, Thanh Điền tiến vào nội ô. Lực lượng này đột nhập vào phường 8, Phường 9, giải tán tề và phòng vệ dân sự, diệt ác ôn, làm chủ khu vực này suốt đêm. Phối hợp với tiến công thị xã Cà Mau, quân dân huyện Duyên Hải (Ngọc Hiển) bao vây chi khu Năm Căn. Hàng chục vạn lượt người tích cực đào hơn 1.000 mét chiến hào, đắp 132 công sự chiến đấu, xây dựng 4 hầm mìn, cắm hơn 20.000 chông, gài 700 trái nổ và góp hàng ngàn ngày công tiếp tế cho lực lượng bao vây. Trong suốt thời gian bao vây, lực lượng ta liên tục đánh địch phản kích, có ngày phải đánh 5 trận, đồng thời thường xuyên bắn tỉa, làm địch không dám ra khỏi công sự. Ngày 12-2, địch ở chi khu Năm Căn phải rút chạy về đồn Đồng Cùng. Quân ta san bằng dồn bốt, thu 20 súng, giải phóng hoàn toàn huyện Duyên Hải. Tại Rạch Giá, lúc 3 giờ ngày 1-2, Tiểu đoàn 207 tỉnh chia làm nhiều mũi nổ súng tiến công các mục tiêu trong thị xã.  Đại đội 616 pháo binh dùng ĐKZ 75 và cối 82 bắn vào cư xá  và trại biệt kích Mỹ. Qua 15 phút chiến đấu, ta chiếm được một góc trung tâm hành quân của tiểu khu, khu bưu điện, trại cảnh sát, ty ngân khố; phát triển đánh qua dinh tỉnh trưởng, khu khám lớn, đến cầu Ôi. Các mũi không phát triển tiếp được vì các chiến sĩ biệt động dẫn đường hy sinh và bị thương gần hết. Bộ đội không thạo địa hình, nên Đại đội 3 đứng trước khám lớn mà không biết giải thoát được tù chính trị. Cơ sở binh vận trong đại đội thiết giáp không dám hánh động.

        Sau 30 phút bị bất ngờ, rối loạn, địch bật đầu phản kích mạnh. Đại đội thiết giáp từ Tắc Ráng vào, cùng bộ binh đánh giằng co quyết liệt với ta tại khu Bưu Điện, khi xe địch chạy vào nội ô, trung đội công binh của ta phục kích tại  cổng Rạch Miễu không bắn, vì tưởng lầm xe của lực lượng binh vận khởi nghĩa. Các lực lượng ta chiến đấu dũng cảm song vẫn không chiếm được mục tiêu theo phương án, lại bị thương vong cao. 5 giờ sáng 1-2, lúc lượng ta rút ra Rạch Giồng chuẩn bị đánh địch phản kích. Nhiều đồng bào trong trội ô thị xã đã che giấu, nuôi chứa, điều trị thương binh một hai ngày rồi đưa ra vùng giải phóng.

        Phối hợp với tiến công vào thị xã, các huyện trong tỉnh Rạch Giá bằng 3 mũi giáp công nổi dậy bao vây chi khu, bức rứt nhiều đồn bốt, giải phóng nhiều vùng nông thôn. Ở thị xã Châu Đốc, trọng điểm tiến công của tỉnh An Giang lúc 2 giờ sáng ngày 1-2, bộ đội tỉnh, lực lượng chính trị, binh vận đồng loạt tiến công. Sau vài giờ chiến đấu, ta gần như làm chủ thị xã. Cánh thứ nhất chiếm được tiểu khu khu bệnh viện, loại Đại đội 801 hành chính tiếp vận cửa địch ra khỏi vòng chiến đấu và tiếp tục tiến công dinh tỉnh trưởng. Cánh thứ hai làm chủ hoàn toàn đường núi, diệt đồn quần cảnh trụ sở cảnh sát dã chiến, chia làm 2 mũi đánh vào khu vực nhà tên tỉnh phó và tiến ra bến đò. Cánh thứ 3 chiếm khu vực cầu sắt An Biên, bao vây địch ở trong nhà Phủ Vị, vũ trang tuyên truyền lên khu vực đất thành.  Đến 6 giờ sáng 1-2, địch chỉ còn 10 cụm, tử thủ ở dinh tỉnh trưởng nhà Phủ Vị. Chiều 1-2, địch dùng máy bay ném bom và bắn pháo phá hủy một số khu vực trong thị xã. Lực lượng Sư đoàn 21 ngụy đổ quần tăng cường 1 tiểu đoàn xuống sân bay, 1 đại đội xuống cánh đồng hướng kinh Lò Heo, kết hợp với địch tại chỗ phản kích mạnh vào nội ô thị xã.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 10:36:13 pm

        Đêm 1-2 nhận thấy tình thế bất lợi nếu ta tiếp tục ở lại nội ô, toàn bộ lực lượng ta rút về căn cứ. Riêng cánh quân cầu 14-15 vẫn ở lại, bám trụ trong thị xế, đến sáng 2-2, địch phản kích, toàn bộ cánh quân này chiến đấu chặn địch và đã anh dũng hy sinh, chỉ còn 1 đồng chí. Ở thị xã Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, lực lượng bảo đảm chưa chuyển đạn dược và thuốc nổ cho eác đơn vị, nên giờ nô súng phải hoãn lại 1 ngày. Do đó ta mất thời cơ nổ súng đồng loạt với các chiến trường, địch cảnh giác đề phòng, 1 giờ ngày 22, các lực lượng ta nổ súng tiến công. Quân địch trong thị xã đã có phòng bị, chúng chiếm các cao điểm và địa hình có lợi, phát huy các loại hỏa lực chặn đánh rất ác liệt. Tiểu đoàn 1 tỉnh không chiếm được mục tiêu trứớc mặt, cũng không phát triển sâu vào thị xã được. Hướng thứ yếu Tiểu đoàn 2 đánh chiếm cư xá Mỹ, phát triển tiến công bọn cảnh sát và Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 16 ngụy) gây cho chúng một số thiệt hại, nhưng bị địch dùng đạn hóa học ngăn chặn phải dừng lại.

        Ngày 3-2, Tiểu đoàn 1 và 2 bám giữ các địa bàn đã chiếm, hỗ trợ lực lượng mật và quần chúng truy lùng bọn ác ôn. Đêm 3-2, Tiểu đoàn 2 tiếp tục tiến công đánh chiếm khu phố Mỹ Ngãi, đồn Mỹ Ngãi, tua Kinh Cụt. Địch ở các nơi này rút chạy, ta truy kích vào tận nội ô. Quần chúng trong thị xá nổi dậy cùng bộ đội diệt ác ôn, san bằng đồn bốt, đánh hỏng cầu Kinh Cụt.

        Từ ngày 4 đến 8-2, hai tiểu đoàn của tỉnh và các đơn vị vẫn tiếp tục đánh địch ở các xã vùng ven và từng lức đánh vào nội Ô thị xã, gỡ nhiều đồn bốt, hỗ trợ quần chúng nổi dậy diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp. Trong 7 ngày tiến công và nổi dậy, ta diệt 500 tên địch, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 41 biệt động quân và Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 16, Sư đoàn 9 ngụy), gỡ 20 đồn bốt, giải phóng 3 xã: òa An, Tân Thuận Ông, Tân Thuận Tây, 16 ấp với 50.000 dân.  ớ thị xã Mộc Hóa, tỉnh Kiến Tường, do phải hành quân xa và phải vượt qua sông Vàm Cỏ Tây nên đến ngày 1-2, các đơn vị ở hướng chủ yếu vẫn chưa tiếp cận được mục tiêu.  Đến 4 giờ sáng ngày 2-2, bộ đội tỉnh và bộ đội địa phương ở cánh đông mới nổ súng tiến công thị xã. Tuy đã cảnh giác nhưng địch vẫn không chống trả nổi, phải tháo chạy về hướng cầu Cá Rô, một số ra hàng. Ở cánh tây, lực lượng ta vẫn chưa đến kịp để phối hợp, nên khi địch phản kích mạnh lực lượng cánh đông bị đẩy lùi và thiệt hại nặng. Do đòn tiến công quân sự vào thị xã Mộc Hóa không thuận lợi, nên lực lượng chính trị và binh vận không phát huy được hiệu quả, cuối cùng lực lượng dân công phải quay về vị trí cũ, lực lượng chính trị rút về Bậc Chang.

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, cùng với toàn miền Nam, quân dân đồng bầng sông Cửu Long đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, tiến công đồng loạt vào hầu hết các thành phố, thị xã, chi khu, quận ly của địch, đưa chiến tranh vào tận hang ổ, vào các cơ quan đầu não của chúng. Ta đã đánh chiếm được một số mục tiêu quan trọng và đánh địch phản kích quyết liệt, nhất là ở các trọng điểm: Cần Thơ (đánh trong nội ô, sau đó chiến đấu quyết liệt 60 ngày đêm ở vùng ven lộ Vòng Cung); Vĩnh Long (ta đánh chiếm và làm chủ 6 ngày đêm), Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Châu Đốc... ở vùng nông thôn, bộ đội địa phương, dân quân du kích làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy tiến công địch bằng 3 mũi: quân sự, chính trị, binh vận; bao vây đồn bốt, giải phóng nông thôn. Thắng lợi to lớn ở đồng bằng sông Cửu Long trong Tết Mậu Thân 1968 góp phần cùng toàn miền, giáng cho Mỹ - ngụy đòn bất ngờ, làm đảo lộn toàn bộ chiến lược chiến tranh của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 10:38:26 pm
       
THANH NIÊN, SINH VIÊN, HỌC SINH HUẾ TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968

PTS LÊ CUNG               
Đại học Sư phạm Huế        

        Trong phong trào đấu tranh cách mạng ở các đô thị miền Nam (1954-1975), Huế được xem như là một điểm nóng trong đó phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh giữ một vị trí quan trọng. Trên cả hai mặt trận chính trị và quân sự, phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh Huế như một mũi nhọn xung kích, mặt đối mặt với quân thù. Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi muốn góp phần tìm hiểu phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh Huế trong chiến công Tết Mậu Thân 1968 - chiến công mãi mãi để lại như một dấu son của niềm tự hào dân tộc trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sau “sự kiện bàn thờ xuống đường”(Trong phong trào đấu tranh chính trị “một trăm ngày” (2-1966 -6-1966) thanh niên, sinh viên, học sinh Huế đa thành lặp những đội quân bán vũ trang với tên gọi là Đoàn sinh viên quyết tử. Trong những ngày cuối cùng của phong trào, hàng ngàn bàn thờ Phật được đưa ra đường đê chống trả sự đàn áp quyết liệt của kẻ thù. Do vậy, một số nhà nghiên cứu đã gọi phong trào chính trị trên đây là Sự kiện bàn thờ xuống đường), rất đông thanh mến, sinh viên, học sinh Huế thoát ly lên chiến khu với một ước mơ sớm có ngày trở về giải phóng quê hương. Họ đã dự các lớp học chính trị, huấn luyện quân sự. Người đô thị gặp người chiến khu; tình bạn, tình quê hương, tình đồng chí, tình đồng đạo, tình cảm và lý trí, lý tưởng và ước mơ... tất cả gặp nhau, quyện vào nhau, biến thành ý chí, hành động và sức mạnh để bước vào những ngày lịch sử.

        Đã từng chứng kiến những nỗi đau chia cắt của đất nước, sự dã man của kẻ thù, tuổi trẻ Huế khát khao ngày dân tộc độc lập, đất nước thống nhất. Trước giờ ra quân, Nguyễn Đức Thuận, một sinh viên Đại học Sư phạm, ban Anh văn, đã tâm sự với bạn bè: “Giải phóng, mình sẽ đi xe đạp ra Hà Nội để được gặp Bác Hồ. Dọc đường sẽ ghé thăm cầu Hiền Lường, Đồng Hỡi, Vinh, cầu Hàm Rồng. Mỗi nơi sẽ dừng lại một ngày cho biết các thành phố miền Bắc ruột thịt, cho bõ những ngày đau xót vì đất nước chia cắt. Không cần đem tiền bạc làm chi. Đến đâu xin cơm ăn đến đó. Đồng bào miền Bắc sẽ nuôi mình chu đáo là điều chắc chắn. Chỉ cần mang theo một cặp lốp ruột xơ-cua để chủ động sửa xe. Tại thành phố, Mỹ và tay sai ra sức “bình định”, “dẹp loạn”, nhưng vẫn không tài nào ngăn cản được những hoạt động yêu nước và cách mạng của tuổi trẻ Huế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng thanh niên sinh viên học sinh Huế được phân công bám sát địa bàn, bí mật xây dựng cơ sở đón thời cơ để khôi phục phong trào. Ngày 15-7-1966, chỉ hơn một tháng sau khi phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh Huế tạm thời lắng xuống, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy, ủy ban sinh viên tranh thủ cách mạng cho ra đời tuần báo Sinh viên quật khởi. Nhân danh Ủy ban sinh viên tranh thủ cách mạng, báo Sinh viên quật khởi tuyên truyền đường lối của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, kêu gọi nhân dân Huế vững tin vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình; đồng thời vạch trần bản chất tay sai bán nước của chính quyền Sài Gòn: trên chính trường, liên tiếp là những chính phủ phản bội, phản cách mạng, (và lúc đó) là Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, một tập đoàn bán nước, tay sai đắc lực nhất cho chính sách thực dân mới của Mỹ”.

        Qua năm 1967, từng bước cơ sở đã được xây dựng trở lại. Từ giữa 1967 trở đi, lực lượng cơ sở nội thành phát triển đều khắp trong các tầng lớp xã hội, trên khắp địa bàn thành phố, nhất là trong thanh niên, sinh viên, học sinh. Ban đại diện sinh viên ở các phân khoa và Ban đại diện sinh viên liên khoa do cơ sở của ta nắm giữ. Trong tháng 9, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy Huế, thanh niên, sinh viên, lọc sinh Huế đã tổ chức nhiều cuộc bãi khóa, mít tinh, tố cáo sự can thiệp của Mỹ vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2017, 07:55:37 am

        Khi Mỹ, Thiệu - Kỳ tổ chức cuộc bầu cử tổng thống (3-9) và hạ nghị viện (22-10), thanh niên, sinh viên, học sinh Huế đã tổ chức nhiều hình thức vận động kêu gọi đồng bào không đi bỏ phiếu. Tuần báo Cứu lấy quê hương ra tháng 10-1967 viết: “Chúng ta không lạ gì bộ mặt đểu giả của bọn chúng nữa. Nhất định chúng ta không hy sinh một ngày chủ nhật quý giá để phục vụ cho âm mưu đen tối của bọn chúng, bởi vì chúng ta biết rằng mỗi lá phiếu được bỏ - dù vô tình hay miễn cưỡng - cũng sẽ khuyến khích bọn chúng đi sâu vào con đường phát-xít, độc tài và chúng ta cũng biết rằng mọi “quốc hộì”, mọi “nghị viện” được hình thành trong đô-la và bom đạn Mỹ chỉ là nơi múa rối của một bọn người... Cương quyết tẩy chay trò hề ngày 22-10 sắp tới”.  Trong bài Bàn về chủ quyền quốc gia, sau khi phân tích những quan điểm sai trái của những người đang bị Mỹ và tay sai đánh lừa bằng những ngôn từ hoa mỹ như: “cộng hòa”, “dân chủ”, “tự do”, báo Cứu lấy quê hương khẳng định:

        “Cả dân tộc đang đứng dậy, những tiếng thét căm hờn từ đáy lòng của thanh niên, sinh viên, học sinh, đồng bào yêu nước, đang vang lên khắp các thành phố miền Nam: “Phải trả lại chứ quyền quốc gia cho người Việt Nam”... “Người Mỹ không được can thiệp vào nội bộ Việt Nam”. Vì vậy, trong hiện tại, đi với dân tộc có nghĩa là chống lại cái chính sách âm mưu đồng hóa, nô lệ của người Mỹ và nhất định phải tiến đến cuộc chiến đấu một mất một còn với ngoại bang để cứu lấy quê hương.”

        Trong tháng 10, lực lượng cách mạng trong sinh viên đã lớn mạnh. Ban cán sự sinh viên, học sinh được thành lập. Tháng 12-1967, dưới sự chỉ đạo của Ban cán sự, Ban đại diện sinh viên trường Đại học Sơ phạm, Đại học Văn khoa đãtổ chức nhiều buổi đọc thơ và hát những ca khúc có nội dung yêu nước và cách mạng.

        Song song với các hình thức đấu tranh công khai, việc chuẩn bị đánh chiếm Huế cũng được lãnh đạo gấp rút tiến hành trong thanh niên, sinh viên, học sinh. Trong tháng 12-1967, Thành ủy Huế chỉ đạo cho Ban cán sự trong sinh viên, học sinh, tuyên truyền và tổ chức 300 sinh viên, học sinh Huế, đưa lên chiến khu để huấn luyện, sẵn sàng tham gia chiến đấu. Trong lúc đó, những tấn vũ khí được bí mật đưa vào thành một cách an toàn bằng những đường dây khác nhau, trong đó có đường dây của Tuổi trẻ Huế. Khó khăn hơn cả là làm thế nào đưa đại quân vào thành mà vẫn giữ được bí mật cho đến trước giờ nổ súng tiến công, nhất là hướng Bắc Huế có sông đào bao quanh, tường thành Mang Cá cao, không có điểm bám khi quân ta muốn vào bên trong. Một số thanh niên, sinh viên Huế vừa ra “vùng bàn đạp” được bố trí trở lại Huế làm nhiệm vụ trinh sát. Kiên trì bám sát địa bàn và họ đã tìm ra lộ trình an toàn. Đường bộ thì đi qua một con đập nhỏ nằm kẹp giữa cầu An Hòa và cầu Bao Vinh; còn vào Mang Cá thì theo một cây dừa mọc bám vào tường. Trong lúc đó một số khác được sự giúp đỡ cửa nhân dân, đã cùng bộ đội đặc công vào áp sát cửa Chánh Tây, ém sẵn ở đấy trước giờ hành động, đợi khi có hiệu lệnh, họ sẽ tiêu diệt tiểu đội lính gác và nhanh chóng mở cửa để đón đại quân vào thành. 

        Trường hợp như Trần Điền, một đoàn viên thanh niên, bị bại liệt hai chân từ nhỏ, chuyên làm nghề câu cá kiếm sống. Khi được lãnh đạo giao nhiệm vụ đưa vũ khí vào thành bằng thuyền nan, Điền nhận lời và đưa ra phương án vận chuyển bằng cách bọc sổ vũ khí trong túi nhựa lớn, thả xuống dòng sông và có dây nối với thuyền. Cứ thế, Điền kéo đi cho đến cầu Gia Hội thì bàn giao cho chiếc thuyền đã được đánh dấu “X”. Nếu có gì bất trắc, Điền sẽ buông dây néo túi vũ khí cho nó lặn xuống đáy sông, thế là xong. Và Điền đã thực hành công việc đưa vũ khí vào thành bằng phương án này. Hoặc trường hợp như anh Tẩy, chị Gái, đã được ra vùng giải phóng 10 ngày trước Tết; Gái đã đưa vũ khí từ Xuân, Quảng Xuyên vào thành phố qua những chuyến đò chở nông sản từ nông thôn lên thành phố. Thủ pháo bỏ vào ghè, hủ đất nung, phía trên đổ đầy đậu, mè. Súng ngắn, tài liệu, mìn nổ chậm... bỏ vào ruột quả bí, quả bầu…

        Đúng 2 giờ 33 phút sáng ngày 1-2-1968 (tức mồng Hai Tết Mậu Thân), Thanh Toàn, một học sinh đã cùng với bộ đội đặc công dùng thuốc nổ tiêu diệt đại đội lính ngụy gác, mở cửa Chánh Tây, mở đường cho Quân giải phóng tiến vào chiếm lĩnh Thành nội.

        Từ cửa Chánh Tây, một cánh quân, do sinh viên Lê Hữu Dụng dẫn đường tiến công quân địch ở Cửa Hữu, từ đó phát triển đánh chiếm cột cờ thành phố, cửa Thượng Tứ, rạp Hưng Đạo rồi thẳng tiến chiếm bốt Đông Ba. Cùng lúc ấy, một thanh niên cơ sở của ta cũng vừa cắt xong dây thép gai ở cống Thủy Quan, mở đường cho bộ đội đặc công đánh chiến sân bay Tây Lộc.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2017, 07:56:34 am

        Tết Mậu Thân lịch sử của Huế thực sự đã được mở ra. Và suốt 25 ngày đêm sau đó, thanh niên, sinh viên, học sinh cùng với nhân dân Huế đã phát huy tính tích cực, năng động sát cánh cùng bộ đội đánh địch, làm chủ thành phố trên tất cả các mặt trận.

        Ở khu vực Thành nội, ngay sau khi Quân giải phóng vừa chiếm lĩnh thành phố, Mặt trận thanh niên Huế được thành lập bao gồm sinh viên, thanh niên công nhân, thanh niên phật tử. Trụ sở đặt ở Bưu điện Đông Ba, sát đường Mai Thúc Loan. công việc đầu tiên là tìm mọi cách thông báo cho nhân dân biết bộ đội đã chiếm thành phố và kêu gọi, vận động quần chúng nổi dậy, cùng bộ đội làm chủ thành phố; kêu gọi ngụy quân, ngụy quyền ra trình diện. Hồi ký của một chiến sĩ thân gia nổi dậy ở Huế viết: “Đến 9 giờ thì tiếng nói Cách mạng đãđược phát đi tử ngôi nhà Bưu điện, cửa Đông Ba, loan báo cho đồng bào nội thành rd Huế đãđược giải phóng và kêu gọi đồng bào bình tĩnh, đón tiếp bộ đội giải phóng, hưởng ứng các chủ trương của chính quyền cách mạng, xóa bỏ tất cả điều lệnh của ngụy quyền. Hàng trăm người đãtập trung ở xung quanh loa để nghe. Có một số bà mẹ đưa mật nhìn chúng tôi, trông mong được gặp mặt người thân quen nào đó. Giữa lúc ấy thì Ninh, sinh viên Y khoa lái một chiết xe Jeep quân sự đến, Thuận và Đội cầm loa pin nhảy lên, và thế là hình thành một tổ thông tin lưu động xung kích của thành phố. Nhiều thanh niên, sinh viên, học sinh theo các đội công tác đi dán các tài liệu tuyên truyền. Có người xung phong thu tin tức, đánh máy, in rô-nê-ô các tài liệu để đưa đi phân phát.

        Và cũng ngay từ buổi trưa đầu tiên này, một nhu cầu mới đặt ra - cơm nước cho bộ đội và các đội công tác. Đoan Trinh sinh viên Đại học Sài Gòn, ban Vạn vật về nghỉ Tết cũng lao ngay vào công việc. Người nữ sinh viên này đã nhanh chóng tập hợp các mẹ, các chị rồi phân công nhau lo việc cơm nước, kịp thời phục vụ bộ đội tiếp tục đánh địch.

        Khi được hỏi về sự khéo tay, nhanh nhẹn trong công tác hậu cần, Đoan Trinh nói: Thiệt ra, chính cách mạng làm cho tinh thần em bay bổng, nên tay chân hóa ra lanh, trí óc em hóa ra linh lợi, nghĩ ra được nhiều việc đó thôi”, Những ngày tiếp theo có thêm chị Lê Thị Mai về cùng phụ trách, làm cho bếp ăn có quy mô hơn, phục vụ tốt việc nuôi quân, kể cả những ngày chống địch phản kích ác liệt. Ở khu phố Phú Hòa ngoài thành, Hội thanh niên, sinh viên, học sinh ra đời, đi về từng đường phố, các xóm nhà tuyên truyền thắng lợi, mở Đài phát thanh Hà Nội, Đài phát thanh Giải phóng cho đồng bào nghe. Các đội tự vệ đường phố được thành lập, nhanh chóng phát triển, tập trung hàng trăm nam nữ thanh niên vào đội ngũ chiến đấu. Ở khu Gia Hội, Đội tuyên truyền khơi nghĩa tập hợp được hàng trăm thanh niên, sinh viên, học sinh. Họ dùng xe ô tô và xe gắn máy đi khắp các đường phố, các xóm lao động báo tin chiến thắng, giải thích chính sách của Mặt trận và chia nhau đi viết khẩu hiệu, căng áp-phích, gọi loa phóng thanh, vận động thanh niên tham gia kháng chiến. 5 trung đội tự vệ đãđược thành lập. Lễ trao cờ, trao súng, trao nhiệm vụ được tổ chức trọng thể tại Trường tiểu học Gia Hội. Ở phía nam thành phố, khi quân ta vượt qua được những vị trí tiền tiêu của địch, nhiều thanh niên tình nguyện tham gia dẫn đường hoặc đào hào, xây chiến lũy. Nhờ sự hợp lực của quần chúng, quân ta triển khai đánh phiếm những vị trí then chốt của địch, bắt được nhiều sĩ quan cố vấn và tình báo CIA Mỹ, nhiều quan chức cao cấp trong ngụy quyền Thừa Thiên. Đặc biệt ở nhà lao Thừa Phủ, có tới hơn 2.000 người bị giam giữ, đa số là các tù chính trị. Ta tấn công hai lần nhưng không thành. Lần thứ ba, quân ta đang bố trí kế hoạch giải phóng nhà lao thì một thanh niên đào binh mang súng ra hàng, cho biết bọn địch rất dao động và xin dẫn đường cho bộ đội. Quân ta bí mật tiến vào phối hợp với anh chị em trong nhà lao nổi dậy, đánh chiếm toàn bộ nhà lao, giải phóng những người bị giam giữ.

        Trong công tác binh vận, rút kinh nghiệm phong trào năm 1966, trong những ngày tháng nổi dậy Xuân Mậu Thân, thanh niên, sinh viên, học sinh Huế đã khá thành công trong việc kêu gọi sĩ quan binh lính và nhân viên ngụy quyền Sài Gòn trở về với nhân dân, giúp họ thành lập một số tổ chức như “Đoàn nghĩa binh cảnh sát”, “Hội binh sĩ yêu nước ly khai”. Các tổ chức này có mặt ở hầu hết các khu phố và ra tuyên bố kêu gọi binh sĩ ngụy bỏ hàng ngũ địch trở về với cách mạng; tiếp nhận sĩ quan, binh sĩ đến ghi tên, nộp vũ khí và làm giấy cam đoan không trở lại với địch. Nhờ dựa vào quần chúng và sự hợp lực của “Hội binh sĩ yêu nước ly khai”, lực lượng cách mạng đã bắt giữ được nhiều sĩ quan và tay sai đắc lực lẩn trốn. Họ còn giúp huấn luyện thanh niên sử dụng vũ khí Mỹ. Khi địch phản kích, nhiều sĩ quan và binh lính đã giác ngộ chiến đấu bên cạnh Quân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2017, 07:56:43 am

        Tuổi trẻ Huế cũng có mặt trong bộ máy chính quyền cách mạng ở các khu.  Thiết là sinh viên Đại học Luật khoa, cơ sở cách mạng nội thành, đãnhiều lần lên chiến khu huấn luyện rồi lại trở lại thành phố hoạt động. Trước ngày tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, Thiết đãlên chiến khu nhận nhiệm vụ và cửng đại quân tiến về Huế. Trong buổi lễ ra mắt đồng bào của Ủy ban khu phố Phú Hòa, Thiết được cử làm Chủ tịch.  Không khí phấn chấn và rạo rực của Huế trong những ngày nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 được phản ánh phần nào qua đoạn hồi ký ‘sau đây: “Giờ đây Huế đã thuộc về quân dân Huế. Tiếng đàn, tiếng hát, tiếng loa phóng thanh. Đoàn văn công Quân khu đang chuẩn bị biểu diễn chào mừng Huế giải phóng, các diễn viên đang ngồi trước gương hóa trang với những bộ áo xống trong các vai diễn của mình. Trên đường anh chị em thanh mền, sinh viên, học sinh súng khoác chéo vai, khăn đỏ đeo tay đang đi lại để làm nhiệm vụ bảo vệ.  Trên các xe thông tin chạy ngược xuôi, một giọng con gái Huế đang đọc đi đọc lại những chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng, Liên minh của các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình. Các mẹ, các chị tiểu thương tíu tít với những làn xách, gồng gánh, với xe chở thực phẩm lương thực thuốc men... để lo bữa ăn, viên thuốc cho các lực lượng giải phóng. Cả thành phố đã.náo nức đứng dậy.

        Khi địch phản kích, thanh niên, sinh viên, học sinh Huế xung phong gia nhập các đơn vị vũ trang giải phóng ngày mỗi đông. Họ được trang bị bằng vũ khi lấy được của địch cùng bộ đội đánh trả sự phản công của địch trên tất cả các điểm chốt.

        Vượt lên trên bom đạn ác hệt của địch, tuổi trẻ Huế  trước sau vẫn kiên quyết đánh trả địch đến giây phút cuối cùng. Đặc biệt tiểu đội “11 cô gái sông Hương’ do tiểu đội trưởng Phan Thị Liên phụ trách, với khẩu hiệu: “Thà hy sinh, nhất định không rời trận địa!” đã phối hợp với bộ dội K10, đánh lui một tiểu đoàn lính Mỹ thiện chiến, gây cho chúng nhiều thương vong, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

                                      “Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường
                                      Khôn ngoan bày trận khắp trong phường  .
                                      Bác khen các cháu dân quân gái
                                      Đánh giặc Huê Kỳ phải nát xương”

        Trong công tác tải thương đã có rất đông thanh niên, sinh viên, học sinh Huế tham gia. “Họ đa  số là dân thành phố, chưa quen gian khổ và chưa hề nếm mùi khói lửa chiến tranh; thế nhưng họ vẫn tự nguyện đóng góp cho cách mạng một cách tích cực, nhiệt tình, có lẽ phần lớn là lòng khâm phục, kính trọng của họ trước sự hy sinh cao cả của bộ đội và một phần do người Huế vốn đôn hậu, giàu tình thương, ý thức được việc làm chính nghĩa. Thật là xúc động biết bao khi mà hình ảnh nhiều thiếu nữ Huế manh khảnh dìu anh em thương binh mù mắt, gãy chân băng qua lửa đạn để đi bộ suốt đêm về vùng hậu cứ Trường Sơn. Cuộc chiến tranh chính nghĩa này là một cuộc chiến tranh nhân đạo nhất. Chỉ có nhân đạo và chính nghĩa mới có sức thuyết phục lòng người mạnh me đến thế.

        Điều cần nói thêm là sau khi quấn ta rút khỏi thảnh phố, có trên 1.000 người dân nội thành theo quân giải phóng về chiến khu. Họ được sống trong sự chăm sóc chu đáo của Đảng và Nhà nước ta. Theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 7-1968 có tới 700 người, hầu hết là sinh viên, học sinh, được ra Hà Nội tiếp tục ăn học. “Sinh viên thì vào tiếp tục học ở các trường đại học, học sinh nhỏ thì Thành ủy Hà Nội đến nhận và bố trí vào các trường ở Thủ đô. Số này ra ở tập trung thành một đơn vị của Huế, gọi là “K học sinh Bác Hồ”.

        Phát huy truyền thống đánh giặc, giữ nước của bao thế hệ cha anh, qua suốt 25 ngày đêm của Tết Mậu Thân lịch sử (1968), thanh niên, sinh viên, học sinh Huế đã sát cánh cùng với Quân giải phóng, cùng với nhân dân thành phố thân yêu của mình, đã có mặt trên khắp mọi chiến hào, trận địa với một quyết tâm cao nhất vì sự nghiệp Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Những tên tuổi như Nguyễn Thiết, Lê Minh Trưởng, Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Phương Mai,  Nguyễn Thị Hoa, Hoàng Thị Sáu... đã hiến dâng tuổi trẻ của mình cho sự nghiệp cao cả của đất nước và của Huế nói riêng. Tất cả đã góp phần tô thắm truyền thống đấu tranh cách mạng của tuổi trẻ Huế và cả nước, làm cho Huế vốn nên thơ và cổ kính đậm tính chất anh hùng ca của thời đại, đúng như báo Gram-ma (Cu-ba) thời đó đã viết: “Có một cái tên đã thu hút sự chú ý của toàn thế giới. Đó là Huế, kinh đô của nước Việt Nam xưa. Huế đang đi vào lịch sử của những thành phố anh hùng”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2017, 08:00:18 am
       
KHE SANH TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968

PTS NGUYỄN QUÝ          
Viện lịch sử Đảng          

        1. Đường 9 - Khe Sanh vừa là một hướng tiến công vừa là một đòn nghi binh chiến lược, tạo yếu tố bí mật, bất ngờ về ý đồ chiến lược của ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968:

        Trong lúc hơn một triệu quân Mỹ, ngụy và chư hầu co vào phòng ngự giữ chặt các thành phố, thị xã, nhất là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, làm thế nào đưa lực lượng ta vào tiến công các trung tâm đô thị được bí mật, bất ngờ là vấn đề cực kỳ khó khăn, phức tạp. Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương đã dùng mưu kế đánh lừa địch làm cho chúng mắc sai lầm về chiến lược và chiến dịch, phải bị động đối phó với ta, tạo thời cơ cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân .

        Hội nghị Ban Chấp hành trung ương lần thứ 14 đã thông qua Nghị quyết của Bộ Chính trị (12-1967) đề ra yêu cầu của cuộc tiến công và nổi dậy là “phải tuyệt đối giữ cho được nhân tố bất ngờ”. Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh, một hướng tiến công chính của bộ đội chủ lực, buộc quân Mỹ phải tập trung đối phó ở đây, bỏ hở thành phố. Thời điểm tiến công Khe Sanh không sớm quá và cũng không muộn quá so với thời gian Tổng tiến công và nổi dậy ở các thành phố. Thực hiện chủ trương này đêm 20 tháng 1 năm 1968, trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 10 ngày, các sư đoàn chủ lực của ta đã nổ súng tấn công Khe Sanh - một căn cứ quan trọng của Mỹ.

        Với diện tích mỗi bề gần 10km, thuộc miền núi phía Tây tỉnh Quảng Trị, căn cứ Khe Sanh là khu vực phòng thủ rất mạnh của định hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc vào miền Nam qua giới tuyến quân sự tạm thời, là tấm bình phong che chở khu vực phòng thủ phía Đông đường 9, bảo vệ vùng ven biển thuộc tỉnh Quảng Trị. Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam cho rằng Khe Sanh là “cái mỏ neo”, là bàn đạp cho các cuộc hành quân trên bộ, cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh. Do đó, ngày 20-1-1968, quân ta nổ súng đánh Khe Sanh, chiếm quận ly Hướng Hóa, vây hãm Làng Vây và Tà Cơn... thì Bộ chỉ huy Mỹ cho rằng đây có thể là một Điện Biển Phủ. Ngay lập tức, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn chỉ thị cho tướng Tay-lo lập “Phòng tình hình dặc biệt tại Nhà trắng để theo dõi tình hình chiến sự ở Khe Sanh, đồng thời yêu cầu tướng Uy-lơ - Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, nộp báo cáo về cách thức bảo vệ Khe Sanh và ra lệnh cho Hội đồng tham mưu trưởng và tướng Oét-mo-len phải cam kết giữ Khe Sanh bằng bất cứ giá nào. Đòn tấn công Khe Sanh đã thu hút tâm trí của những người cầm đầu ở Nhà trắng và Lầu năm góc, tạo nên yếu tố bí mật, bất ngờ về ý đồ chiến lược của ta. Giữa lúc Mỹ và Sài Gòn lo đối phó với ta ở Khe Sanh thì đêm 31 tháng 1 rạng ngày 1 tháng 2 (đêm giao thừa), quân dân ta đồng loạt tiến công vào các thành phố, thị xã, quận lỵ trên toàn miền Nam. Địch hoàn toàn bất ngờ trước cuộc tiến công rộng lớn, mãnh liệt của ta.

        Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân đã làm cho Tổng thống Mỹ Giôn-xơn bị kinh ngạc”, ông ta cảm thấy không có sự lựa chọn nào trong vòng ít tháng sau ngoài việc phải lo đối phó với phong trào phản đối chiến tranh trong nước Mỹ đang dâng cao. Cuối cùng Giôn-xơn phải quyết đình xuống thang chiến tranh. Đó là sự thừa nhận thất bại đầu tiên của Mỹ ở Việt Nam của Giôn-xơn. Hai tác giả Xiêm và Líp-xơn trong “Sổ tay sự kiện chiến tranh Việt Nam” đã cho rằng vũ khí chủ yếu của cộng sản tiến công 41 thành phố và thị trấn ở miền Nạm là “sự bất ngờ” (...) cả về mục tiêu, thời điểm, về Lực lượng và cách đánh”. Các tác giả Mai-cơn Mác-li-a trong cuốn “Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày đã viết các trận đánh trong Tết Mậu Thân làm người ta có cảm tưởng rằng Khe Sanh có vẻ như là cuộc bao vây để đấy. Nếu vậy thì Bắc Việt Nam là bậc thầy trong việc nghi binh”. “Khe Sanh trở thành trận đánh được bàn cãi nhiều nhất trong cuộc chiến tranh này”


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 07:55:03 am

        2. Cuộc chiến đấu ở Khe Sanh đã góp phần thực hiện chủ trương của Đảng về việc căng địch ra khắp nơi, thu hút giam chân lực lượng chiến dịch của địch. Căn cứ vào các nghị quyết của Bộ Chính trị, của Ban Chấp hành trung ương Đảng, Quân ủy trung ương xác định:

        Đường 9 - Khe Sanh sẽ là chiến trường chính của đòn tiến công do bộ đội chủ lực tiến hành “nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến dịch của địch”. Cơ quan chỉ huy Mặt trận B5 (đường 9) được thành lập với nhiệm vụ tổ chức chỉ huy bộ đội “tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, chủ yếu là quân Mỹ, khi có điều kiện thì phá vỡ tuyến phòng ngự của chúng ở đường 9 - Bắc Quảng Trị để phát triển vào Thừa Thiên - Huế, thu hút lực lượng Mỹ - ngụy từ các chiến trường khác, kìm chân và tiêu diệt chúng, hiệp đồng chặt chẽ các chiến trường toàn quốc, tạo điều kiện cho chiến trường Trị - Thiên - Huế khởi nghĩa giành thắng lợi ở thành phố, chủ yếu là Huế và giải phóng nông thôn đồng bằng”.

        Là mục tiêu chủ yếu trên chiến trường phía Tây của Mặt trận B5, Khe Sanh đã trở thành nơi thu hút, giam chân và là “tử địa” của quân địch. Ngoài các tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ và biệt động quân Nam Việt Nam với đầy đủ vũ khí hiện đại được máy bay các loại yểm trợ, vào cuối tháng 12 năm 1967, khi phát hiện lực lượng của ta đánh Khe Sanh, Bộ chi huy quân Mỹ ở miền Nam đã lập tức điều thêm 12 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn ky binh bay, Sư đoàn 101 không vận Mỹ, Sư đoàn thủy quân lục chiến ngụy ra khu vực đường số 9. Từ tháng 1 đến hết tháng 3 năm 1968, do các trận tiến công cứ điểm của ta chưa đủ mạnh và từ 31 tháng 1 năm 1968 cuộc Tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân ta đã nổ ra, sau đó chúng lại bị thu hút vào việc giải tỏa thành phố Huế và các đô thị khác nên địch chưa tăng viện binh lớn cho Khe Sanh, song căn cứ này đã trở thành nơi thu hút một lực lượng quan trọng của không quân và pháo bính Mỹ. Từ ngày 10 tháng 2 đến 31 tháng 3, máy bay chiến thuật ném 35.000 tấn bom, máy bay B52 ném 75.000 tấn bom và pháo 175 ly bắn 100.000 quả đạn xuống khu vực này.  Từ ngày 1 tháng 4 năm 1968, Bộ chỉ huy Mỹ đã huy động tới 17 tiểu đoàn quân Mỹ gồm toàn bộ Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 của Mỹ, 1 chiến đoàn dù ngụy và 1 tiểu đoàn biệt động quân, 130 khẩu pháo, 60 xe tăng mở cuộc hành quân , “Ngựa bay” và “Lam Sơn 207’ để giải tỏa Khe Sanh.

        Như vậy, bằng đòn tấn công của bộ đội chủ lực, ta đã thu hút và giam chân một lực lượng lớn quân địch ở Khe Sanh, lúc cao nhất lên tới 12 vạn tên gồm 32 tiểu đoàn, trong đó có 26 tiểu đoàn Mỹ, chiếm một phần tư số tiểu đoàn chiến đấu Mỹ ở miền Nam, cùng nhiều phương tiện chiến tranh, tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến trường khác trên toàn miền tiến công và nổi dậy. Chính cuộc vây hãm quân địch ở căn cứ Khe Sanh trực tiếp góp phần quan trọng cho quân và dân ta ở thành phố Huế giành và giữ được cố đô suốt 25 ngày đêm, ghi nên một chiến công oai hùng của quân và dân thành phố. Không chỉ thu hút giam chân một bộ phận binh lực địch, trong suốt 170 ngày đêm tấn công và truy kích địch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch và cuối cùng buộc quân Mỹ phải rút bỏ Khe Sanh làm chấn động toàn nước Mỹ, làm đau đầu những kẻ hiếu chiến trong chính giới Mỹ. Đánh giá thất bại của quân Mỹ trong Tết Mậu Thân, Kít-xính-giơ, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Mỹ cho rằng quân Mỹ đã sai lầm khi đưa tới 9 lực lượng tinh nhuệ nhất của nước Mỹ lên những nơi chỉ chiếm 4% số dân miền Nam ở vùng rừng núi, trong đó có chiến trường đường 9; rằng Hà Nội đã chơi trò đấu bò tót, lừa con bò tót Mỹ ra vòng ngoài rồi dùng lực lượng quân sự bất thần đánh ập toàn bộ đô thị bên trong, làm cho Bộ chỉ huy Mỹ không kịp trở tay.

        3. Chiến thắng Khe Sanh hòa quyện cùng với chiến công vĩ đại tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta sang một thời kỳ mới.

        Chiến thắng Khe Sanh đãđập vỡ một mảng trọng yếu trên tuyến phòng thủ đường 9 của địch, giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị. Thất bại của Mỹ ở Khe Sanh là thất bại rất nặng nề cả về quân sự và chính trị, làm phá sản chiến thuật phòng ngự cụm cứ điểm của quân Mỹ, chứng tỏ dù chúng có phương tiện vũ khí hiện đại cũng không thể trụ vững trước sức tiến công của ta. Chiến thằng Khe Sanh hòa cùng cuộc Tổng tiến công và nổi đậy Tết Mậu Thân đã làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Về mặt chính trị, chiến thắng Khe Sanh và cuộc Tổng tiến công Mậu Thân đã làm phơi bày cái yếu của “sức mạnh” Mỹ trước toàn thể thế giới, làm cho “uy tín nước Mỹ suy sụp, Mỹ rốt cuộc bị mất thể diện”.

        Cuộc tấn công và nổi dậy trên toàn miền Nam, cùng với cuộc chiến đấu ở đường 9 - Khe Sanh phá vỡ thế bố trí chiến lược của Mỹ, ngụy, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt việc đánh phá miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-ri. Oét-mo-len đã phải thú nhận: “Họ đã đạt được mục tiêu là làm cho phía Mỹ phải đơn phương xuống thang, ngừng ném bom, đình chỉ việc tăng quân và làm hỏng một chiến lược đánh mạnh và trong quá trình đó làm cho người Mỹ phải đến bàn hội nghị”. Thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy và ở Khe Sanh minh chứng cho trí tuệ sáng suốt, quyết tâm sắt đá sự đúng đắn sáng tạo của Đảng trong việc đấu trí, đấu lực với kẻ thù trong mùa xuân 1968 lịch sử.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 08:01:14 am
     
ĐỌC THƯ CHÚC MỪNG  NĂM MỚI 1968 CỦA BÁC HỒ

QUỐC HÙNG        

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/7_Hai_bagravei_th_chuacutec_Tt_nm_Thacircn_ca_Baacutec_H_zps6cmj6v0t.jpg)


        Đã từ nhiều năm, mỗi khi xuân sang, Tết đến, đồng bào và chiến sĩ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài lại hân hoan chờ đón thơ chúc Tết của Bác.

        Giao thừa Tết Mậu Thán, qua làn sóng Đài tiếng nói Việt Nam, đồng bào và chiến sĩ trên khắp mọi miền của đất nước sung sướng đón nghe tiếng nói ấm áp, chứa chan tình thương yêu của Bác. Những năm trước, Bác thường điểm lại thành tích trong một năm vừa qua. Năm nay, Bác tổng kết súc tích tình hình và thành tích chiến đấu của quân và dân hai miền trong 3 năm. Thơ Bác có đoạn:

        “Từ năm 1965, đế quốc Mỹ đưa hàng chục vạn quân trực tiếp xâm lược miền Nam nước ta và gây chiến tranh phá hoại miền Bác nước ta, nhân dân ta đoàn kết một lòng, kiên quyết đánh Mỹ, cứu nước, đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang.  Đến cuối năm 1967, quân và dân miền Nam Anh hùng đã diệt, làm bị thương và làm tan rã hàng chục vạn quân Mỹ, quân ngụy và quân chư  hầu. Quân và dân miền Bác anh hùng đã bắn tan xác 2.680 máy bay giặc Mỹ”.

        Chúng ta đều biết, tháng 5 năm 1967, sau thắng lợi trong mùa khô 1966-1967, đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của 400.000 quân viễn chinh Mỹ ở chiến trường miền Nam và đánh bại các bước leo thang chiến tranh mới bằng không quân và hải quân của Mỹ trên miền Bắc, Bác đã chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị để phân tích tình hình, phát hiện sự lúng túng về chiến lược của Mỹ, đề ra chủ trương chiến lược đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ phát triển lên một bước mới. Tiếp đó, Bác chủ trì nhiều cuộc họp khác của Bộ Chính trị, đặc biệt là Hội nghị tháng 12 năm 1967 và Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (tháng l-1968) thông qua quyết tâm và kế hoạch mở cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa ở miền Nam trong dịp Tết Mậu Thân.

        Tinh thần của nhận định và chủ trương đó đã được Bác viết trong Thơ chúc mừng năm mới 1968: “Sang năm nay, bọn Mỹ xâm lược càng bị động, càng lúng túng, quân và dân ta thừa thắng xông lên, nhất đinh giành được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa”.

        Sau khi gửi lời chúc mừng đến các nước xã hồi chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân đần tiến bộ Mỹ đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta; gửi lời chúc kiều bào ta ở nước ngoài, Bác có 4 câu thơ chúc đồng bào và chiến sĩ cả nước:

                                    “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
                                    Thắng trận tin vui khắp nước nhà
                                    Nam Bắc thi đua dành giặc Mỹ.
                                    Tiến lên!
                                                     Toàn thắng ắt về ta!”


        Câu thơ đầu thoảng nghe như một lời tiên đoán, nhưng thực ra là một khẳng định, một niềm tin chắc chắn vào sự hơn hẳn, chiến thắng lớn hơn hẳn của Xuân này so với mấy Xuân qua. Câu thứ hai nhẹ nhàng, thanh thoát lời loan tin thắng trận, niềm vui chiến thắng bay xa, lan tỏa khắp nước nhà. Câu thứ ba là lời giao ước thi đua đánh giỏi hơn nữa, đánh mạnh hơn nữa giữa đồng bào và chiến sĩ hai miền Nam Bắc. Và câu thơ cuối, vang lên như một lời hịch, giục giã xông lên, tiến vào một giai đoạn mới với niềm tin sát đá “Toàn thắng ắt về ta”.

        Mỗi câu thơ và cả bài thơ tứ tuyệt của Bác đều có nhạc, có họa và có “thép”, có sức truyền cảm mạnh mẽ. Nó ôm gọn cả không gian và thời gian, tràn trề khí thế, niềm tin và niềm vui của mùa xuân mở đầu năm mới 1968. Nó thể hiện sinh động quyết tâm mới, nỗ lực mới hơn hẳn những năm trước của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Nó hiệu triệu, cổ vũ đồng bào và chiến sĩ cả nước đúng thời điểm nổ súng mở màn cuộc tiến công mới đêm giao thừa Tết Mậu Thân và giục giã vươn lên vượt qua mọi khó khăn thử thách trong những ngày tháng tiếp sau đó. Nó mở ra một ngày mai sáng lạn và chắc chắn, ngày toàn thắng ắt sẽ đến của cuộc kháng chiến.

        Khi tìm hiểu về sự bất ngờ của Mỹ trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy rộng khắp ở các đô thị miền Nam của quân và dân ta trong mùa xuân 1968, có một nhà báo Mỹ đã nhận ra rằng Mỹ đã bị bất ngờ, đã không chú ý đến bài thơ chúc Tết Mậu Thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó Người đã khéo léo thể hiện một chủ trương lớn của Đảng, đã động viên đồng bào của Người tiến vào một năm mới, một giai đoạn mới, một mùa xuân kháng chiến với những chiến công mới hơn hẳn những mùa xuân trước.

        Còn với chúng ta, với “thế hệ Tết Mậu Thân”, cho dù thời gian đã 30 năm, mỗi khi nhớ lại mùa xuân rạo rực khí thế Tổng tiến công và nổi dậy năm Mậu Thân, không ai không nhớ bài thơ chúc Tết của Bác. Và mỗi khi đọc lại bài thơ chúc Tết của Bác, mỗi chúng ta không ai không nhớ một mùa xuân tràn đầy lạc quan cách mạng, một Tết Mậu Thân được mở đầu bằng bài thơ chúc Tết của Bác kính yêu.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 08:04:42 am

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ SỰ KIỆN TẾT MẬU THÂN -1968

NGUYỄN ĐỨC HÙNG (TƯ CHU)       

        Ba mươi năm đã trôi qua, cuộc tiến công Tết Mậu Thân đã đi vào lịch sử nhưng việc đánh giá về thắng lợi và tổn thất của ta vẫn còn những ý kiến chưa được hoàn toàn nhất trí. Mong rằng ở cuộc hội thảo lần này, những vấn đề tồn tại đó sẽ được làm sáng tỏ khi mà nhiều nhân chứng lịch sử những người làm nên chiến công vẫn còn.

        Những diễn biến thực tế, ngay cả về phía địch, đều chứng tỏ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã giành thắng lợi to lớn và vang dội, là đòn quyết định buộc địch phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh ngồi vào bàn hội nghị đàm phán với ta ở Pa-ri, v.v... Đặc biệt, chiến thắng Xuân Mậu Thân đã làm rung chuyển cả nước Mỹ, góp phần làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ. Chính trên đã thắng lợi Mậu Thân mà quân - dân ta tiếp tục cuộc chiến đấu “đánh cho Mỹ cút” năm 1973, rồi “đánh cho ngụy nhào” trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

        Đối với thành phố Sài Gòn - Gia Định, ngoài thắng lợi chung, có thêm một thắng lợi - theo tôi - rất cơ bản: Mậu Thân 1968 thật sự là một cuộc phát động cách mạng trong quần chúng với quy mô lớn nhất, ngay ở sào huyệt quan trọng nhất của Mỹ - ngụy. Trong những ngày này, người dân thành phố Sài Gòn - Gia Định từ ngoại Ô đến nội thành, lòng hướng về cách mạng, sục sôi ý chí tiến công, sấn sàng và hăng hái tham gia vào cuộc chiến đấu bằng nhiều hình thức. Hình ảnh cao đẹp của các chiến sĩ giải phóng quân với mũ tai bèo và khẩu súng AK, đôi dép râu và đặc biệt là phong cách của người chiến sĩ cách mạng đã để lại ấn tượng mạnh mẽ trong người dân thành phố. Hiệu qua của sự phát động cách mạng này, ngày càng ngấm sâu trong suy nghĩ, tình cảm và đời sống chiến đấu của quân dân đô thị - tiền đề cho những thắng lợi kế tiếp về sau.

        Thắng lợi Mậu Thân gắn liền với tinh thần cách mạng tuyệt vời sự nỗ lực phi thường của nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân ta mà trước hết là nhờ có sự chỉ đạo nhạy bén và sáng tạo của Đảng đã đề ra chủ trương đúng đắn: Tổng tiến công và nổi dậy; kết hợp giữa cao trào chính trị của quần chúng với một kế hoạch quân sự tiến công vào kẻ địch trên toàn bộ miền Nam. Đây là trường hợp “độc nhất vô nhị mà trên thế giới chưa có tiền lệ. Và nhiều vấn đề quan trọng khác cũng được xác định thông minh, sáng tạo như: thời cơ tiến công, khu trọng điểm và thời điểm đột phá, nhằm chỗ sơ hở đánh vào sào huyệt - cơ quan đầu não của Mỹ - ngụy…

        Từ chủ trương đúng đắn đó, ta đã tranh thủ thời gian khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt, tổ chức các lực lượng chiến đấu.

        Ở khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định, ta có chủ trương xây dựng một đơn vị vũ trang tinh nhuệ nhằm bảo đảm sự đột kích đồng loạt vào các mục tiêu trọng yếu nhất của địch. Đoàn Biệt động Sài Gòn mang phiên hiệu F100 ra đời, bắt tay ngay vào chuẩn bị các điều kiện cần thiết, tập dượt sát yêu cầu chiến đấu ở đô thị, nên khi có lệnh đã lên đường làm nhiệm vụ được ngay.

        Lực lượng này, đã góp phần xứng đáng trong thắng lợi Mậu Thân 1968, ghi đậm chiến tích oai hùng của mình trong lịch sử 300 năm của Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.

        Trong Mậu Thân 1968, có hai vấn đề mà tôi nhận thức sâu sắc nhất về sự lãnh đạo tài tình của Đảng và tôi coi là thần kỳ: “Một là: Ta giữ được bí mật tốt nhất, địch bị bất ngờ cao nhất. Ta đã huy động hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, tập kết một khối lượng vật chất, kỹ thuật rất lớn để mở các cuộc tiến công vào các thành phố, thị xã, trong đó có “thủ đô” của ngụy quyền Sài Gòn và hàng chục căn cứ của Mỹ - ngụy mà địch không hay biết. Hai là: Khí thế của bộ đội và đặc biệt là khí thế của quan chúng cách mạng ở thành phố, thị xã, thị trấn rất cao.  Ai ai cũng muốn cầm vũ khí, cũng muốn được đảm nhận bất cứ một công việc gì - không quản việc nặng nhọc, khó khán hay nguy hiểm, miễn sao đóng góp được công sức của mình vào việc đánh đổ Mỹ - ngụy, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”.

        Thắng lợi của ta rất lớn và oanh liệt, tạo ra bước ngoặt quyết định của chiến tranh. Sự tổn thất của ta về sinh lực trong cuộc tiến công Mậu Thân 1968 rất lớn. Và chính sự tổn thết lớn này là mối ưu tư, day dứt cho nhiều đồng chí trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy chiến đấu trong Mậu Thân. Điều đó cũng là một lý do chủ yếu đưa tới những ý kiến danh giá khác nhau, tranh luận với nhau gần 30 năm nay.  Khoảng cách về đánh giá Mậu Thân trong đội ngũ cán bộ còn gay gắt. Ta thắng hay thua, tổn thất và hiệu quả...?  Có lẽ vấn đề cốt lõi là cần tổng kết kinh nghiệm chiến tranh, qua đó để tìm ra bài học nghiêm túc, bổ ích cho các cấp về việc vạch kế hoạch và chỉ đạo hoạt động quân sự qua sự kiện Mậu Thân 1968. Tất nhiên, thắng lợi nào cũng có hy sinh, tổn thất, phải trả giá, nhưng ngoài sự hy sinh, tổn thất cần thiết - tôi nghĩ rằng cũng có những sự hy sinh, tổn thất - lẽ ra có thể tránh được hoặc giảm bớt. Về chỉ đạo tác chiến trong thành phố. Theo kế hoạch chiến đấu trong đợt 1 Tết Mậu Thân thì các đơn vị Biệt động có nhiệm vụ xung kích đánh chiếm đầu cầu, cố giữ được 1 giờ, sẽ có các tiểu đoàn bộ binh mũi nhọn của các phân khu tiến vào tiếp ứng để đánh chiếm toàn bộ mục tiêu, tiêu diệt cơ quan đầu não của Mỹ - ngụy, đồng thời có binh biến của một số đơn vị ngụy quân, có nổi dậy của hàng vạn thanh niên và quần chúng ở các quận nội đô để giành quyền làm chủ các địa bàn, mục tiêu ta chiếm được. Trên thực tế thì bộ đội chủ lực có nơi không vào kịp, hoặc không vào được, chỉ có các đơn vị biệt động đánh vào 5 mục tiêu một cách đơn độc, để rồi từ tiến công phải chuyển sang phòng ngự, có đơn vị phải chiến đấu đến người cuối cùng.

        Cấp lãnh đạo chỉ huy không nắm chắc tình hình, không thấy hết những khó khăn và thiếu sự am hiểu chiến trường nội đô, dự kiến không sát các tình huống khi đưa đội hình chiến đấu lớn thọc sâu vào đô thị với một hệ thống bố phòng dày đặc của địch. Ngay việc tính toán cự ly từ nơi ém quân gần nhất của tiểu đoàn đến mục tiêu, nếu địch không ngăn cản thì đi bộ trong một giờ theo quy định cũng không đến kịp .

        Sự hiệp đồng của các phân khu với lực lượng Biệt động phối thuộc để đánh vào các mục tiêu như: Tổng nha -Cách sát, biệt khu Thủ đô ngụy, khám Chí Hòa, v.v... cũng không chặt chẽ .

        Mấy suy nghĩ nêu trên, chủ yếu về đợt 1 Tết Mậu Thân trên địa bàn Sài Gòn - Gia Định. Việc đánh giá tổng quát về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân đã có tài liệu Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: thắng lợi và bài học” của Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị đề cập.

        Cuối cùng, với truyền thống và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tôi mong rằng các cơ quan trung ương và thành phố có sự quan tâm thúc đẩy việc giải quyết quyền lợi, chính sách cho những cán bộ, chiến sĩ, đã hy sinh cho sự nghiệp lớn của dân tộc và những người có công đóng góp cho thắng lợi vang dội này mà nhiều năm qua ta còn bỏ ngỏ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 08:11:53 am

MỘT ĐƠN VỊ CHỦ LỰC TIẾN CÔNG VÀO SÀI GÒN

TẠ MINH KHÂM       

        Suốt hai mùa khô (1965-1968 và 1966-1967), Mỹ - ngụy đều liên tiếp bị thất bại. Đặc biệt, mùa khô 1966-1967, địch đã sử dụng tới 45.000 quân, cùng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, mở cuộc “hành quân Gian-xơn Xi-ti” nhằm đánh vào cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam là Trung ương Cục và “tìm diệt” chủ lực quân giải phóng.  Nhưng chỉ sau bốn ngày địch mở cuộc hành quân, hãng AFP đã đưa tin: “Cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti là hy vọng lớn của Mỹ trong giai đoạn trước mắt, hành quân có nhiều tham vọng nhất trong chiến tranh, nhưng kết quả thật đáng buồn, trong bốn ngày qua không thấy dấu vết của nhà lãnh đạo Mặt trận giải phóng nào cả, đài phát thanh vẫn tiếp tục phát thanh, không gặp một tên du kích nào, nhưng đi đến đâu cũng bị đánh”. Mỹ - ngụy buộc phải kết thúc cuộc hành quân sớm hơn một tháng theo dự kiến.

        Sau thất bại nặng nề của cuộc “hành quân Gian-xơn  Xi-ti” trong mùa khô 1967, Nhà trắng  và Lầu năm góc đã “phân vân” về “chiến thắng quân sự” của Mỹ ở chiến trường miền Nam Việt Nam.

        Từ thực tế trên chiến trường, kết hợp với tình hình trong nước và quốc tế trong năm 1967, Bộ Chính trị Trung ơng Đảng khẳng định: ta đang ở thế thắng, thế chủ động; địch đang ở thế thua, thế bị động. Ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định.

        Sự kiện Tết Mậu Thân đã cách đây 30 năm, trong quãng thời gian đó có những ý kiến đánh giá và bình luận khác nhau về tiến công và nổi dậy ‘ chủ lực với địa phương, thắng lợi của đợt 1, đợt 2, v.v...

        Là một cán bộ từng chỉ huy đơn vị tham gia cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, tôi xin được góp một số ý kiến trong cuộc hội thảo này.

        Việc đưa các đơn vị chủ lực vào thành phố tác chiến dài ngày đã góp phần thắng lợi to Lớn của Tết Mậu Thân. Sau chiến thắng Đồng Xoài (2-9-1965) trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, ta lần lượt thành lập các sư đoàn chủ lực, đó là các sư đoàn 9, 5, 7 (trong tác chiến có lúc còn gọi là công trường). Các đơn vị chủ lực ta lần đầu tiên đánh vào thành phố, tuy khó khăn gấp bội so với tác chiến ở vùng rừng núi, nhưng đây là thời cơ lớn để phát huy sức mạnh tổng hợp tiến công địch.

        Trong một cuộc họp phổ biến kế hoạch tiến công của chủ lực đồng chí Phạm Hùng, lúc đó là Bí thư Trung ương Cục nhấn mạnh là kế hoạch phải có nhiều tình huống. Tình huống nào thuộc phạm vi chiến lược, tình huống nào thuộc phạm vi chiến dịch, tình huống nào thuộc phạm vi chiến thuật... để cán bộ các cấp suy nghĩ có cách xử trí sáng tạo trong quá trình tác chiến.

        Bước vào đợt hai của cuộc Tổng tiến công, Sư đoàn 9 được phân công đánh vào nội thành, Sư đoàn 5 đánh vào sân bay Biên Hòa, Sư đoàn 7 đánh vào Phú Lợi, Lái Thiêu. Quân ta tiến công vào các mục tiêu ở Củ Chi - Quang Trung - Hoóc Môn, sau đó chuyển sang đánh vào trường đua Phú Thọ, sân bay Tân Sơn Nhất (cổng Phi Long) và Phú Lâm Trên hướng tiến công của Sư đoàn 9, ta bí mật đưa được hơn 10.000 quân vào các mục tiêu trong nội thành một cách an toàn đế là một thắng lợi to lớn. Có được thắng lợi bước đầu này phải kể đến sự hiệp đồng chặt chẽ của các lực lượng thuộc Mặt trận sài Gòn - Gia Định.

        Sư đoàn 9 trước khi nhận nhiệm vụ tham gia cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân đang đứng chân ở Ba Thu (Cam-pu-chia), trên đường hành quân thâm nhập vào nội thành phải liên tục tác chiến với lực lượng địa phương quân, biệt động, lính dù. Trang bị của Sư đoàn chỉ có súng B40, B41 và  vũ khí nặng phải để lại ở hậu cứ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 10:19:23 pm

        Tiến quân qua khỏi vùng ven, bước vào khu vực dân cư vùng đô thị, các đơn vị trong Sư đoàn tác chiến theo phân đội nhỏ, chủ yếu đảm bảo các khu vực được phân công, không cho địch chia cắt, bao vây. Nhiệm vụ dò và dẫn đường cho các hướng, các mũi trong thành phố vô cùng quan trọng, phải có trinh sát công khai để nắm chân tình hình địch trong từng mục tiêu mà Sư đoàn đảm nhiệm. Nếu không có nhân dân và các lực lượng vũ trang tại chỗ giúp đỡ, hiệp đồng thì không thể hoàn thành nhiệm vụ.

        Cùng với việc nắm địch, dẫn đường, bà con còn cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men cho bộ đội. Khi chiến sự ác liệt diễn ra, bà con phải đi sơ tán, trong nhà còn gạo, bánh, thịt kho của ngày Tết... có kèm theo một mảnh giấy ghi dòng chữ vội vàng: “Các anh cứ ăn để chiến đấu...”.  Trong những ngày chiến đấu, thương binh, tử sĩ của các đơn vị bộ đội đều được nhân dân giúp đỡ, chuyển hết về phía sau. Các nhiệm vụ canh gác, cáng thương, bảo đảm lương thực, thuốc men đều lo nhân dân lo giúp. Anh em mình hỏi: làm sao huy động được dân ?” Họ trả lời: “Đến những nơi không có chiến sự để lấy người, họ không bao giờ từ chối đâu”. Có ý kiến cho rằng: Tết Mậu Thân không có quần chúng nổi dậy. Tôi nghĩ, nổi dậy thời kỳ “chiến tranh cục bộ” khác với thời kỳ “chiến tranh đặc biệt’. Trong “chiến tranh đặc biệt” đội quân tóc dài biểu tình ngăn chặn ngụy quân, nguỵ quyền, trong đoàn biểu tình đó có cả cha mẹ, vợ con, anh em của họ, nên quân ngụy không thể bắn vào những người biểu tình. Còn lúc này khi quân đội Mỹ đã vào tham chiến thực sự thì hình thức nổi dậy của nhân dân cũng phải khác trước, phải dùng nhiều hình thức linh hoạt khác để nhân dân tham gia đánh địch.

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân nếu không có sự giúp đỡ của đồng bào từ khi chuẩn bị đến khi chiến đấu thì cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 9 không thể hoàn thành nhiệm vụ khi đánh vào nội thành.

        Đợt một của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, ta bất ngờ tiến công vào các cơ quan đầu não ở Sài Gôn gây kinh hoàng cho địch, tiếp tục đánh vào thành phố đợt hai càng làm cho dơ luận thế giới thấy rõ khả năng quân Mỹ cũng không đảm bảo cho quân ngụy “giữ nhà” được.

        Trong đợt hai của cuộc Tổng tiến công, các đơn vị chủ lực của ta như Sư đoàn 5, Sư đoàn 7 đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch nhất là quân Mỹ. Tại Đức Hòa trong một trận tập kích, Sư đoàn 9 đã tiêu diệt 79 xe các loại của địch. Lực lượng chủ lực của ta đã liên tiếp tiến công vào các đơn vị lính Mỹ như: Sư đoàn 1 - “Anh cả đỏ”, Sư đoàn 25 - Tia chớp nhiệt đới”, Trung đoàn 11 thiết giáp...  Có ý kiến cho rằng: trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, chỉ có đợt một đã đủ, không cần có đợt hai. Đợt hai gây cho ta nhiều thương vong.

        Thực tế trong đợt hai của cuộc Tổng tiến công, ta đã tạo thêm một đòn đánh mạnh của quân chủ lực vào nội đô Sài Gòn, làm rung chuyển cả Nhà trắng và Lầu năm góc. Rõ ràng, ta tiếp tục tiến công đợt hai là cần thiết, và cùng với đợt một, mới tạo ra được bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh. Đành rằng quá trình tác chiến diễn ra từ đợt hai về sau ta cũng gặp nhiều khó khăn và tổn thất. Nói về những thất bại của Mỹ trong Mậu Thân 1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã viết trong hồi ký như sau:

        “Kết thúc năm 1968, sau nhiều năm tiến hành cuộc chiến tranh gay cấn nhất ở Việt Nam, tôi thật sự không tin mình có thể sống sót nếu ở lại Nhà trắng một nhiệm kỳ nữa vì tình hình đen tối của chúng ta (tức là Mỹ) ở Việt Nam đã làm tôi căng thẳng suốt 1.886 ngày đêm, ít khi được ngủ trước 2 giờ sáng”.

        Tháng 4 năm 1997, khi Mác Na-ma-ra, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ qua Hà Nội có làm việc với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong đoàn có tiến sĩ A.J Langgath - Giáo Sư trường báo chí Mỹ, trong chiến tranh ở Việt Nam, ông ta làm phóng viên. Gặp chúng tôi ở thành phố Hồ Chí Minh, ông ta có đề cập đến câu thơ chúc Tết năm 1969 của Bác Hồ: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. ông ta nói: Câu thơ của Bác Hồ cho thấy rõ các ông không đủ sức diệt nửa triệu quân Mỹ ở chiến trường, nhưng các ông đủ sức diệt ý chí của quân Mỹ và làm thức tỉnh người Mỹ”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 10:33:33 pm

CÔNG TÁC ĐẢM BẢO TÁC CHIẾN CỦA BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN

TRẦN PHẤN CHẤN - NGUYỄN VĂN TRÍ       

        Tháng 4 năm 1965, tại căn cứ Suối Dây tỉnh Tây Ninh, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định họp quán triệt Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 và triển khai nhiệm vụ theo yêu cầu “Kế hoạch X” đã được đặt ra từ trước mùa khô 1964-1965 với phương án chuẩn bị tích cực kiềm chế và thắng địch trong cuộc “chiến tranh đặc biệt” ở mức cao nhất ở miền Nam, ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng eủa cả nước giành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương đối ngắn; đồng thời sấn sàng đánh Mỹ trong trường hợp chúng đưa quân chiến đấu vào chiến trường, thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

        Từ đó, một trong những nhiệm vụ trên giao cho Quân khu Sài Gòn - Gia Định về mặt vũ trang là tiến hành xây dựng một lực lượng biệt động, chuẩn bị các điều kiện bảo đảm để lực lượng này có thể cùng một lúc bất ngờ tập kích chiếm lĩnh các cơ quan đầu não cấp trung ương của ngụy tại Sài Gòn - Chợ Lớn và vùng ngoại ô khi có thời cơ chiến lược .

        Thực hiện nhiệm vụ trên, Quân khu ủy và Bộ chỉ huy Quân khu Sài Gòn - Gia Định thành lập Đoàn biệt động, mật danh là F100.

        Về công tác bảo đảm, nhiệm vụ cụ thể của F100 là trực tiếp và bí mật tiến hành chuẩn bị các điều kiện bảo đảm cho F100 và cả các lực lượng biệt động được bố trí sẵn trong thành phố thực hiện nhiệm vụ như đã xác định. Có 25 mục tiêu tại Thủ đô địch lúc bấy giờ được xếp vào “loại A1 bao gồm các cơ quan đầu não của ngụy về quân sự, chính trị, kinh tế, các khu vực xung yếu về quân sự, các đầu mối giao thông thủy bộ... Nội dung bảo đảm tại chỗ gồm: Lực lượng xung kích, các hầm vũ khí, chỗ tập kết quân, phương tiện vận chuyển và chiến đấu, lực lượng công khai, cơ cấu chỉ huy tại chỗ của lực lượng biệt động và sở chỉ huy của cấp trên trong nội thành...

        Khác với trước, ở Sài Gòn, việc bảo đảm được chuẩn bị cho từng trận, từng tổ, đánh xong trận này thì chuẩn bị cho trận khác; nay phải đồng thời chuẩn bị một loạt mục tiêu, nhiều vũ khí phương tiện chiến đấu, phải có sẵn ở khu vực tác chiến, nhiều tổ chức và nhiều cơ sở. Công tác bảo đảm mọi mặt phải tiến hành ngay trong lòng địch, nên nhiệm vụ này được xác định là ‘phần chìm”, phần hạn chế tối đa người biết, ngay những người trực tiếp làm cũng chỉ biết được phần việc của mình.

        Hai bộ phận bảo đảm đầu tiên được thành lập là:

        - Bộ phận vận chuyển từ căn cứ ngoài vào thang nội thành lấy mật danh là A20, chỉ huy trưởng là Đỗ Tấn 1 chỉ huy trưởng: Nguyễn Đức Hùng (Tơ Chu), Chinh ủy: Võ Thành Phong (Ba Phong), chính trị viên -  bí thư chi bộ là Dương Long Sang (Hai Sang)

        -Bộ phận xây dựng nội thành, mật danh là A30, chỉ huy trưởng là Ngô Thành Vân (Ba Đen), chính trị viên - bí thơ chi bộ là Võ Văn Thành (Sáu Thành), sau đó, năm 1966 là Nguyễn Văn Trị (bí thơ chi bộ) . Đồng chí Ngô Văn Thành phụ trách chung, chủ yếu là bộ phận căn cứ; đồng chí Nguyễn Văn Trị phụ trách công tác Đảng và nội thành. 

        Đầu năm 1967, Đảng ủy, Bộ chỉ huy quân khu SàI Gòn - Gia Định chỉ thị hai đơn vị tập trung vào nội thành. A20 đổi thành J8, A30 đổi thành J9 (gọi là cụm), hai đảng ủy cụm được thành lập.

        Đảng ủy J8 gồm: bí thơ Dương Long Sang, các đảng ủy viên: Võ Văn Thành, Sáu Ven.

        Đảng ủy J9 gồm: bí thơ Ngô Thành Vân (kiêm chỉ huy trưởng); các ủy viên: Nguyễn Văn Trí (kiêm chính trị viên), Nguyễn Lập Hòa (chỉ huy phó). Đảng ủy J9 gồm 3 chi bộ (hai ở bên trong, một ở bàn đạp).

        Tháng 5 năm 1965, một đơn vị chiến đấu Mỹ đầu tiên đã vào chiến trường Đông Nam Bộ (Lữ đoàn dù 173), báo trước sự chuyển chiến lược của Mỹ từ “chiến tranh đặe biệt sang chiến tranh cục bộ”. Mặc dù phương án kết thúc chiến tranh giải phóng miền Nam trong “chiến tranh đặc biệt”, cùng “kế hoạch X” không thực hiện được nhưng đã tạo được cho ta thêm điều kiện sẵn sàng đánh Mỹ trong suốt hai năm 1966-1967, đồng thời sẵn sàng chớp thời cơ thực hiện tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. 


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 10:34:10 pm

        Ngay từ trước năm 1965, cùng với quá trình xây dựng cơ sở, ta đã xây dựng được các lõm chính trị ở các xóm lao động, từ đó xây dựng được các hầm bí mật, cơ sở tạm trú, các cơ sở giao liên hợp pháp ... Các cơ sở nội thành đã chuyển về trên nhiều phương tiện phục vụ chiến đấu như đồng hồ (để tạo mìn hẹn giờ), xe đạp, radio, máy ảnh, Ô tô, bản đồ hệ thống cống trong thành phố... Từ sau khi thành lập F100, ta đã xây dựng, phát triển mạnh mẽ hệ thống bảo đảm, trước hết là vũ khí phục vụ tác chiến nội thành.  Nói đến việc xây dựng hệ thống cơ sở ém vũ khí ở nội thành phải nói đến việc xây dựng cả hệ thống bàn đạp, hành lang vận chuyển trên bộ, dưới sông, các hầm bí mật chứa vũ khí. Bên trong, địch đánh phá cơ sở, lục soát, hàng đêm, bắt chụp ảnh từng nhà để truy tìm ‘Việt Cộng”. Bên ngoài chúng đánh phá hành lang, bàn đạp, hòng đẩy ta ra xa Sài Gòn hàng trăm cây số, cùng với các chốt ngăn chặn, hành quân cảnh sát, hành quân “bình định” và hành quân “tìm diệt” (như các cuộc hành quân Grimp, Cédarfalls...).  Đảng ủy, Bộ chỉ huy quân khu nêu khẩu hiệu và phương châm hành động cho các cánh, các đơn vị đột nhập: “Khẩn trương, táo bạo, vững chân”, “thọc sâu - trụ bám - bung ra”. “Dựa vào dân”, quán triệt phương châm trên, lực lượng bảo đảm quyết tâm xây dựng vùng “tam giác sắt” (Tên do quân Mỹ đặt để chi một vùng đất ở phía bắc Sài Gòn, hình tam giác với ba đinh là thị trấn Bến Cát, ngã ba sông Sài Gòn và sông Thị Tính, Thi Lơ, Bến Súc, về sau hiểu rộng là ca một vùng giáp giới các tuyến Bến Cát - Củ Chi - Tráng Bàng: (Thanh An - Cỏ Trách, Bến Dược, Bến Súc, Tranh Tuyền...), lưng dựa Hố Bò, Phú Mỹ Hơng (Củ Chi), xuống Củ Chi (Thái Mỹ - Truông Viết - Phước Trạch), Tràng Bàng (An Tịnh - Gia Lộc - thị trấn).) làm nơi đứng chân gồm từ căn cứ Bến Cát .

        Ta có xí nghiệp cao su ở Rạch Bắp (Bến Cát) làm cao su các thiết bị cao su, chuyển vũ khí bằng đường bộ, đường sông xuống Sài Gòn. Những người đảm đương chủ yếu cho việc này là gia đình ông Võ Văn Nhân (Chín Khổ) vận chuyển đường sông, các anh Năm Phùng, Sáu Mỉa vận chuyển đường bộ.

        A30 xây dựng được một đội ngũ giao liên chuyên nghiệp và giao liên hợp pháp. Các gia đình ông Dương Văn Ten (Chín Ten); ông Tư Dậu ven quốc lộ 1 và chung quanh là cả một khu vực hầm bí mật chứa vũ khí, kể cả tủ thờ trong nhà. Có những gia đình là điểm trung chuyển vũ khí.  Hệ thống cơ sở này giúp các đơn vị bảo đảm bảo vệ vững chắc các hầm vũ khí, đồng thời tạo được cơ sở tài chính để tự nuôi sống đơn vị.

        Việc xây dựng các điểm ém vũ khí nội thành là công việc hết sức phức tạp, trong đó phải đạt các yêu cầu: đúng chỉ đạo của trên về khu vực, đất phải cao ráo (sâu 2m không có nước), địa điểm thông suốt đường xe vận tải nhẹ, và đặc biệt để đạt yêu cầu an toàn thì việc chọn người là tối quan trọng. Khi đã có vũ khí, có người cách mạng trong nhà thì cả gia đình trên ‘ngàn núi lửa’, cho nên không chỉ cần có “tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh mà còn phải có bản lĩnh, mưu trí.

        Cuối năm 1967, sau khi đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô của Mỹ, quân dân ta bước vào thời điểm chuẩn bị gấp rút nắm bắt thời cơ “một ngày bằng hai mươi năm” .

        Đến lúc này lực lượng bảo đảm đã nắm được một hệ thống 15 lõm chính trị trên toàn nội thành với trên 200 gia đình, trên 300 người tham gia và đã xây dựng được 15 cơ sở ém vũ khí, ém người, đặt cơ quan chỉ huy (mỗi cơ sở có thể có nhiều hầm) .

        Những cơ sở ém vũ khí quan trọng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân gồm nhà số 65 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (Quận I) tức hiệu may Quốc Anh của gia đình đồng chí Trần Phú Cương và vợ là Trần Thị út (cũng là chiến sĩ biệt động).

        Kho nhà 436/58 Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách mạng Tháng 8) do đồng chí Lê Tấn Quốc (Bảy Rau Muống) phụ trách. Kho này kết hợp với kho đồng chí Trần Văn Lai phục vụ tiến công dinh Độc Lập.  Hầm nhà số 287/70 Trần Quí Cáp (nay là đường Võ Văn Tần - Quận 3) của đồng chí Trần Văn Lai (Tự Mai Hồng Quế, năm USOM) phục vụ tấn công dinh Độc Lập. Các khu vực: ấp Đông Ba, Phú Nhuận (nay là phường 7, quận Phú Nhuận); Vo Di Nguy (nay là Phan Đình Phùng) - Tự Đức - Sơ Nguyễn Minh Chiếu (Phú Nhuận); Lê Quang Định, Cây Quéo (Bình Thạnh, Lê Văn Duyệt (nay là Đinh Tiên Hoàng - Bình Thạnh) - Bùi Hữu Nghị - chợ Bà Chiếu, Bàn Cờ; đường Vạn Kiếp, đường Trần Tể Xương, bót Hàng Keo (Gia Định); Trần Quang Diệu (Quận S); đường Trần Quốc Toàn (nay là 312), đường Lý Thái Tổ (lúc đó thuộc Quận 3, nay Quận 10) Hàng Xanh - Bạch Đằng - Hồng Thập Tự (nay là XÔ Viết Nghệ Tĩnh, Bình Thạnh); Cầu Kho, xóm lao động và cầu Công Lý (nay là Nam Kỳ khởi nghĩa và Nguyễn Văn Trỗi); các đường Lê Thánh Tôn, Gia Long (nay là Lý Tự Trọng), Nguyễn Trung Trực; Hòa Hơng; Tân Định - xóm Chùa; Thuận Kiều - Triệu Đà (nay là Ngô Quyền, Quận 10).

        Hầm nhà số 248/27 Nguyễn Huỳnh Đức (nay là Huỳnh Văn Bánh, Phú Nhuận) do bà Bùi Thị Lý xây dựng, kết hợp hai hầm và kho khác phục vụ tiến công Bộ tổng tham ngưu ngụy; hầm kho nhà số 281/26/29 Trương Minh Ký - Phú Nhuận (nay là Lê Văn Sỹ - Tân Bình) cua đồng chí Phan Văn Bảy, sau giao lại cho con gái là Phan Thị Thúy; hầm nhà số 438/38B ấp Bác ái, xã Bình Hòa (nay là đường phan Văn Trị, phường 11, quận Bình Thạnh) của đồng chí Trần Văn Miệng (mất trước Mậu Thân, giao lại cho vợ là Võ Thị Sang) .


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 10:34:31 pm

        Hầm nhà 59 Phan Thanh Giản, Đa Kho, Quận 1 (nay là đường Điện Biên Phủ) của chị Nguyễn Thị Huệ (Hai Phê) phục vụ tiến công tòa Đại sứ Mỹ.

        Hầm nhà 93/22 Cường Để (nay là Ngô Đức Kế, quận Bình Thạnh) phục vụ tiến công Bộ tơ lệnh Hải quân ngụy.  Nhà số 171 đường Bạch Đằng, Hàng Xanh, quận Bình Thạnh của gia đình đồng chí Vũ Bá Tài, nơi trú đóng của 8 cán bộ, chiến sĩ cơ yếu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân.

        Đặc biệt, tiệm Phở Bình số 7 Yên Đổ (nay là Lý Chính Thằng, Quận 3) của gia đình ông Ngô Toại là Chỉ huy sở tiền phương của Phân khu 6 (ngay trước giờ xuất quân và trong đợt 1 có mặt các đồng chí Võ Văn Thạnh - chính ủy Phân khu và Nguyễn Đức Hùng, tham mưu trưởng - nguyên chi huy trưởng F100).

        Bên cạnh các cơ sở trên, còn các cơ sở quan trọng khác đã phục vụ những trận đánh nổi tiếng trước 1968 hoặc trong phương án phục vụ tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân nhưng do những điều kiện, tình huống cụ thể không phục vụ được. Đặc biệt một kho hầm đã xây dựng, chứa vũ khí suốt 10 năm (kể cả sau 1968) là kho hầm số 18a/4 đường Trần Que Toán Quận 3 nay là đường 3-2) của đồng chí Đỗ Văn Căn (Ba Mủ) nằm trong phương án phục vụ tiến công, tổng nha cảnh sát ngụy, nhưng do tình huống cụ thể không phục vụ được.

        Vũ khí được ém trong các hầm kho chủ yếu là thuốc nổ, súng AK, lựu đạn, mìn, kíp nổ, súng ngắn, một số hầm có súng cối, B40... Thuốc nổ thường mỗi hầm trên dưới 100kg (cá biệt 400kg, phục vụ đánh cầu Bình Lợi), AK trên dưới 10 khẩu.

        Bên cạnh vấn đề vũ khí, việc bảo đảm phương tiện phục vụ chiến đấu như xe Ô tô, xe gắn máy... cũng là công tác phức tạp, đặc biệt như đảm bảo xe du lịch chuyên chở thuốc nổ, phục vụ chiến đấu viên hành quân xuất kích.

        Ví dụ: Kho hầm số 8/4 đường Vườn Chuối Quận 3 do chị Lân Thị ẩn (Chín Lộc) phụ trách, đã chứa khẩu cối 82 ly và đã pháo kích dinh tướng Oét-mo-len .

        Một hầm ở đường Tôn Thất Đạm, Quận 1, do đồng chí Ba Tường phụ trách, có khẩu cối 61, tháng 12 năm 1967 đế pháo kích lễ đài nhậm chức tổng thống của Nguyễn Văn Thiệu.

        Hầm ở nhà tang lễ nghĩa địa Triều Châu Phú Thọ do Trần Thị Bi xây dựng, có khẩu cối 82 li, phục vụ pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất.

        Hầm nhà 47 Nguyễn Đinh Chiếu do ông Hà Văn Xơng xây dựng để phục vụ tiến công Tết Mậu Thân.

        Qua hơn hai năm chuẩn bị công phu, phức tạp, lực lượng bảo đảm tác chiến biệt động Sài Gòn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng những cơ sở đứng chân, cất giấu vũ khí cho các cuộc tiến công ở nội đô. Dựa vào những cơ sở đã có trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ta đã phát triển các cơ sở và ém vũ khí sắn tại nội đô thuận lợi phục vụ đắc lực các mũi tiến công các mục tiêu chiến lược giữa “Thủ đô” địch như dinh Độc Lập, tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Đài phát thanh Sài Gòn, Bộ t ư lệnh Hải quân ngụy...

        Lực lượng bảo đảm tác chiến biệt động đã góp phần tạo bí mật, bất ngờ các khu hầm chứa từ lúc đưa vào đến lúc xuất phát tiến công đều an toàn, không một người bị bắt, không một điểm nào bị lộ.

        Đó là kết quả của quá trình “thọc sâu - bám trụ - bung ra” đầy gian khổ hy sinh, dựa vào dân, kết hợp tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” với mưu trí, kỷ luật nghiêm minh của cán bó, chiến sĩ lực lượng bảo đảm, các đảng viên, lực lượng quần chúng cơ sở và cả những “người tự nhiên mà nhập cuộc”.

        Không thể nói hết sự chịu đựng hy sinh của những người rừng cuộc, như trường hợp chị Ba Trầu (xã An Tịnh - Tràng Bàng) trong nhà có hầm ém người cách mạng, bị địch bắt treo ngược đầu tra tấn đến chết đi sống lại vẫn không khai; như chị giao liên Hạnh bị chúng bất lột hết quần áo để tra khảo vẫn giữ tròn khí tiết... Đặc biệt, gia đình tiệm Phở Bình, nơi đặt sở chỉ huy tiền phương Phân khu 6, sáng mồng Ba Tết bị địch bao vây, cả cha mẹ, con gái, con rể đều bị bắt. Người cha - bác Ngô Toại bị đưa về Tổng nha Cảnh sát, bị lột hết quần áo, trói chặt chân vào ghế rồi đánh, đổ nước vào miệng, xịt dầu lên tóc rồi đánh...  chết đi sống lại, bác vẫn không khai điều gì . Địch đày ra Côn Đảo và tiếp tục tra tấn nhưng không khai thác được gì hơn.

        Cán bộ lực lượng bảo đảm đồng thời là cán bộ tác chiến biệt động đã được Nhà nước phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang có đồng chí Đỗ Tấn Phong (Ba Phong, chính trị viên A20, chỉ huy trưởng lực lượng biệt động tiến công Bộ Tổng tham mưu nguỵ); liệt sĩ Trần Phú Cương (Năm Mộc, chủ kho hầm 65 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, chỉ huy phó Đội 4 biệt động tiến công Đài phát thanh Sài Gòn); liệt sĩ Lê Tấn Quốc (Bảy Rau Muống, phụ trách kho nhà số 436/58 Lê Văn Duyệt, chỉ huy phó Đội biệt động 11 tiến công tòa Đại sứ Mỹ).

        Tháng 12 năm 1989, Bộ Văn hóa Thông tin đã công nhận ba di tích Văn hóa lịch sử cấp quốc gia: Nhà số 7 đường Lý Chính Thắng (Quận 10) - tiệm Phở Bình, do ông Ngô Văn Toại làm chủ, nơi đặt Sở chỉ huy tiền phương Phân khu 6 trong đợt 1 Tết Mậu Thân; hầm vũ khí phục vụ tiến công dinh Dốc Lập, do ông Trần Văn Lai làm chủ, nhà số 2S7/70 đường Nguyễn Đình Chiếu, phường 5, Quận 3; hầm vũ khí (tồn tại 10 năm, vũ khí được bảo quản tốt) do ông Đỗ Văn Căn làm chủ, nhà số 183/4 đường 3- 2, Quận 10.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Ba, 2017, 08:34:04 am

ĐÒN GIÁNG PHỦ ĐẦU CỦA LỰC LƯỢNG BIỆT ĐỘNG VÀO CÁC MỤC TIÊU ĐẦU NÃO CỦA MỸ, NGỤY TẠI SÀI GÒN

Thượng tá HỒ SĨ THÀNH                   
Bộ Chỉ huy quân Sự Thành phố Hồ Chí Minh       

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đi qua vừa đúng 30 năm. Giờ đáy khi nghiên cứu về Mậu Thân, ta không thể không nói tới Biệt động Sài Gòn, một lực lượng mang tính đặc chủng, số lượng không đông, trang bị vũ khí nhẹ nhưng đã gây nên bao nỗi kinh hoàng cho quân giặt ở tận hang ổ cuối cùng của chúng. Và trên bình diện chung của cuộc tiến công và nổi dậy, những chiến công xuất sắc của Biệt động Sài Gòn có một giá trị không nhỏ khi đánh thẳng vào các mục tiêu đầu não bộ máy chiến tranh khổng lồ của Mỹ-ngụy ngay tại Sài Gòn, làm rung chuyển toàn bộ quân địch trên chiến trường và tác động cả nước Mỹ.

        Trong lịch sử xây dựng và chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta, lực lượng Biệt động ra đời như một sự tất yếu nhằm đánh địch ngay trong lòng địch, nhất là đối với một thành phố lớn như Sài Gòn, luôn được bố phòng chặt chẽ, nghiêm ngặt Trong thập niên 60, nhất là từ khi Mỹ ồ ạt đưa quân xâm lược Việt Nam, biệt động trở thành lực lượng tác chiến tinh nhuệ, có nghệ thuật chiến đấu phát triển đa dạng phong phú, thực sự trở thành mối nguy hiểm thường trực đối với Mỹ, ngụy. Với lối đánh hết sức táo bạo, bất ngờ và đầy sáng tạo, linh hoạt, biến hóa, lực lượng Biệt động đã liên tiếp gây cho địch những tổn thất nặng nề về sinh lực cao cấp và phương tiện chiến tranh. Hàng loạt trận đánh vang dội vào các mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất, cơ quan viện trợ Mỹ MAAG, tàu chở máy bay US Card, nhà hàng nổi Mỹ Cảnh, cơ xá Brínk, khách sạn Caravelle, Metropol, Victoria... từng gây chấn động trong nước và thế giới.

        Để bảo đảm cho nhiệm vụ tác chiến nội thành, lực lượng biệt động đã xây dựng được một hệ thống cơ sở từ nội thành tới ngoại thành hết sức công phu, tạo những hành lang và bàn đạp vững chắc, liên lạc, vận chuyển hàng chục tấn vũ khí vào thành phố. Đây là một đội quân hoạt động thầm lặng nhưng rất dũng cảm, thông minh, bền bỉ, đóng một vai trò quan trọng vào thành công của các trận đánh ở nội đô, nhất là trong những thời điểm mang tính quyết định.

        Để chuẩn bị cho thời cơ chiến lược lớn, từ năm 1965, Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định đã chỉ đạo lực lượng Biệt động xây dựng các hầm chứa vũ khí và ém quân trong nội thành. Tính đến cuối năm 1967, ta đã thiết lập được 19 “lõm” chính trì ngay sát những mục tiêu trọng yếu của địch, bao gồm 325 gia đình, tạo nên 400 điểm ém quân và 12 kho vũ khí. Điển hình là các “lõm” chính trị ở khu Cầu Bông (Gia Định), khu xóm Chùa, Tân Định (Quận 1), khu lao động Bàn Cờ (Quận 3)... Lực lượng bảo đảm cũng đã xây dựng được các cơ sở đặt sở chỉ huy, trong đó có tiệm phở Bình - số 7 Yên Đỗ (nay là Lý Chính Thắng) là Sở chỉ huy Biệt động trong Tết Mậu Thân.  Với kỹ thuật ngụy trang tài tình, khôn khéo và mưu trí, các đơn vị bảo đảm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyển vào nội thành một khối lượng lớn vũ khí phục vụ các đơn vị chiến đấu gồm 450 kg thuốc nổ TNT, 100 súng K54, 50 súng AK, 500 lựu đạn, 3 khẩu cối, 1 khẩu ĐKZ và 90 quả đạn. Đột xuất trong đợt 2 Mậu Thân, đã vận chuyển 12 xe vũ khí vào khu vực Phú Thọ Hòa.

        Thực hiện Nghị quyết của Trung ương về tháng tiến công và nổi dậy, Mặt trận Sài Gòn - Gia Định đã bố trí lại thế trận và lực lượng gồm 5 phân khu ngoại thành trên 5 hướng và một phân khu nội thành là Phân khu 6.

        Phân khu 6 phụ trách lực lượng võ trang nội thành, drới sự chỉ huy trực tiếp của các đồng chí Trần Hải Phụng, Võ Văn Thạnh, Nguyễn Đức Hùng (tức Tư Chu) gồm các lực lượng Biệt động Thành, Thành đoàn, Công vận, Hoa vận, Phụ vận, An ninh... Riêng lực lượng Thành đoàn có cả võ trang biệt động, võ trang tuyên truyền và lực lượng công khai tổ chức quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền.  Trong hai nhiệm vụ trọng yếu mà Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền giao cho Sài Gòn - Gia Định thì trọng trách hàng đầu, đánh vào các cơ quan đầu não của Mỹ, ngụy, do lực lượng Biệt động đảm trách. Dự kiến lúc đầu 24 mục tiêu, sau rút lại còn 9 mục tiêu trong nội thành. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, phức tạp nhưng cũng rất vinh quang đối với lực lượng Biệt động, được cấp trên tin tưởng giao phó. Và ở thời điểm này, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của lực lượng Biệt động rất cao, khí thế và lực lương đã có bước phát triển vững chắc ở toàn Miền nói chung và Sài Gòn - Gia Định nói riêng.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Ba, 2017, 08:34:53 am

        Để đảm bảo tác chiến thành công các mục tiêu chiến lược tại nội thành Sài Gòn, đánh đòn bất ngờ, hiểm hóc vào cơ quan trọng yếu cua địch, thành phố thành lập các đội Biệt động mang số từ 1 đến 9 gồm trên 100 cán bộ và chiến đấu viền; được tổ chức thành 3 cụm để tấn công vào 9 mục tiêu.

        * Cụm (3-4-5) gồm các đội 3, 5 có nhiệm vụ tấn công dinh Độc Lập, Đài phát thanh Sài Gòn, Bộ tư lệnh Hải quân ngụy.

        * Cụm (6-7-9) gồm các đội 6, 7, 9 có nhiệm vụ tấn công Bộ Tổng- tham mưu ngụy.

        * Cụm (1-2-8) gồm các đội 1, 2, 8 có nhiệm vụ tấn công cổng Phi Long (sân bay Tân Sơn Nhất), Biệt khu Thủ đô, khám Chí Hòa.

        Vào giờ chót, Tiền phương 2 do đồng chí Võ Văn Kiệt phụ trách, quyết định Phân khu 6 đảm nhiệm thêm mục tiêu tòa Đại sứ Mỹ. Tình thế rất bức xúc, chỉ trong 2 ngày Đội biệt động 11 được cấp tốc thành lập từ các cơ quan, đơn vị bảo đảm, vũ khí phải lên Củ Chi tổ chức chở vào nội thành cất giấu để kịp tác chiến cùng’lúc với các mục tiêu khác. Cả một khối lượng lớn công việc đầy nguy hiểm được thực hiện nhanh chóng suôn sẻ trong vòng mấy chục giờ đồng hồ là một nỗ lực kỳ diệu của các đồng chí phụ trách công tác báo đảm và các gia đình cơ sở biệt động.

        Vào thời điểm này; lực lượng phòng thủ bảo vệ Sài Gòn cả Mỹ lẫn ngụy có tới 8 sư đoàn và 8 tiểu đoàn thủy quân lục chiến ở vòng trong, vòng ngoài, chưa kể trên 20 vạn các sắc lính địa phương và các đơn vị cơ giới, binh chủng.  Nhìn vào tương quan so sánh lực lượng ở mặt trận Sài Gòn - Gia Định, địch chiếm ưu thế hoàn toàn về binh, hỏa lực và phương tiện. Nhưng chúng có một điểm yếu để ta khai thác. Đó là sự sơ hở trong ngày Tết, xuất phát từ ý thức chủ quan, coi thường khả năng đối phương. Mặt khác, đối với lực lượng đặc công, biệt động, địch có một điểm yếu cố hữu có tính quy luật là “vỏ cứng ruột mềm”, nên khi ta lọt được vào đánh từ trong ra dễ gây rối loạn, biến động lớn.  Bằng lực lượng tại chỗ, bằng con đường hợp pháp; các chiến sĩ biệt động đã đột nhập an toàn vào thành phố từ nhiều hướng và móc nối gặp nhau tại các điểm hẹn nhận nhiệm vụ và chuẩn bị phương án, vũ khí... Đến 30 Tết, các đơn vị đã hoàn tất công tác chuẩn bị, quán triệt nhiệm vụ, các phương án tác chiến từng mục tiêu và kế hoạch hợp đồng bảo đảm...

        Đây là bước rất quan trọng, các đơn vị đều giữ được yếu tố bí mật cho đến giờ G nổ súng, bảo đảm thành công một phần của trận đánh.

        Mặc dù còn rất nhiều khó khăn, nhưng giờ phút mong đợi từ lâu đã đến, tất cả cán bộ, chiến sĩ biệt động đều trong trạng thái phấn khởi, tin tưởng và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Trong kế hoạch hợp đồng, khi biệt động chiếm giữ mục tiêu được một giờ, sẽ có các tiểu đoàn mũi nhọn, lực lượng thanh niên xung kích đến tiếp ứng.

        Do chuẩn bị tốt về vật chất và tinh thần, lại có yếu tố “nhân hòa địa lợi”, lực lượng biệt động bước vào cuộc tiến công và nổi dậy với một quyết tâm cao độ. Ngay từ những phút đầu của giờ G đêm 80 rạng 31-1-1968, các cụm biệt động đã đánh vào các mục tiêu đầu não của địch.  Tại Bộ tổng tham mưu ngụy, cụm biệt động (6-7-9) gồm 27 tay súng tấn công vào cổng số 5 trước bãi xe Tân Bình).  Địch với số quân đông gấp bội bao vây và phản kích ác liệt.  Trận đánh kéo dài (trên đoạn đường Hoàng Văn Thụ và Trương Quốc Dung) cho đến ngày 3 Tết mới chấm dứt. Địch chết và bị thương gần 100 tên, 2 xe thiết giáp và 1 đại liên bị phá hủy. Ta hy sinh 2, còn lại hầu hết bị thương, phải rút do hết đạn.

        Tại Đài phát thanh Sài Gòn, đội  biệt động gồm 11 đồng chí tấn công, sau 5 phút đã chiếm được đài phát sóng. Địch dùng cả xe tăng, bộ binh, máy bay đánh giải tỏa liên tục. Các chiến sĩ chiến đấu vô cùng quả cảm, giữ trận địa đến 6 giờ ngày 31-1, do không có lực lượng tiếp ứng đành phá hủy đài. Ta tiêu hao nặng một đại đội lính dù và 1 trung đội bảo an, diệt 38 tên, bắn cháy 2 xe bọc thép và 1 xe GMC, 10/11 chiến sĩ hy sinh.

        Tại Dinh Độc Lập, đội 5 gồm 15 đồng chí, trong đó có 1 nữ chiến sĩ , tấn công vào cổng hông đường Nguyễn Du. Một số lọt vào trong khuôn viền dinh Độc Lập, bị hy sinh, số còn lại 7 đồng chí hầu hết bị thương, trụ lại chiến đấu trên đường Nguyễn Du và Thủ Khoa Huân đến mùng Hai Tết.  Địch bị diệt 50 tên, 2 xe Jép bị bắn cháy.

        Tại Bộ tư lệnh Hải quân, Đội 3 gồm 14 đồng chí tấn công chiếm giữ mục tiêu được 3 giờ. Bị địch bao vây và phản kích quyết liệt 12 đồng chí hy sinh, 2 đồng chí bị bắt.

        Tại Đại sứ quán Mỹ, Đội 11 gồm 17 đồng chí đánh chiếm được đến tầng 2, phá hủy một số phòng tài liệu. Đến 8 giờ sáng mùng 2 Tết địch mới đổ quân được xuống sân thượng và dùng chất độc hóa học đánh từ trên xuống, mới chiếm lại được Địch đưa tin: 5 binh sĩ Mỹ tử thương, 22 bị trọng thương chết tại bệnh viện. Số bị thương lên tới 124 người...”.  ta hy sinh tại chỗ 16, còn lại 1 đồng chí bị địch bắt.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Ba, 2017, 08:35:28 am

        Cụm biệt động (l-2-8) không thực hiện được kế hoạch đánh vào Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát, do hành quân chậm.

        Đội Biệt động 90C không hoàn thành nhiệm vụ đánh nhà lao Chí Hòa, giải thoát tù nhân, do giữa đường đụng địch phải nổ súng chiến đấu và rút lui.

        Như vậy, trong ngày đầu mở màn chiến dịch Xuân Mậu Thân, lực lượng biệt động xung kích đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh chiếm 5 trong 9 mục tiêu quy định. Tuy số lượng diệt địch không nhiều nhưng đều đánh trúng cơ quan đầu não trọng yếu của Mỹ - ngụy tại nơi sào huyệt của chúng. Các trận đánh, đặc biệt là trận tấn công vào Đại sứ quán Mỹ, đều gây tiếng vang lớn, gây chấn động mạnh, thôi thúc khí thế chiến đấu của quân và dân eả nước, đồng thời làm chấn thương tinh thần rất nặng đối với giới lãnh đạo Nhà trắng và Lầu năm góc Mỹ.

        Trong cuốn sách dày 380 trang với tựa đề khô gọn độc một chữ “tết” của tác giả Đon O-bơ-đo-phơ gồm 8 chương nói về Tết Mậu Thân, đã dành hẳn một chương mô tả trận đánh sứ quán Mỹ và ảnh hưởng của nó .

        “Tuy là một trận đánh nhỏ về số người tham gia” nhưng đã kích động mạnh công chúng nước Mỹ về chính trị và tâm lý Sứ quán Mỹ là nơi ngọn cờ sao và vạch chính thúc cắm trên lãnh thổ Nam Việt Nam, là điểm tượng trưng cho mọi cố gắng và quyền lực của Mỹ ? Làm cho người ta nghĩ rằng các lực lượng cộng sản mạnh hơn nhiều so với mức mà Chính phủ Mỹ mô tả... và như vậy chiến tranh còn lâu mới kết thúc...”.

        Tờ Tin hàng ngày Oa-sinh-tơn (Dai ly News Washington) đăng xã luận với tựa đề hoang mang:

        “Chúng ta trước đây ở đâu? Chúng ta hiện nay đang ở đâu? kèm theo là bức phiếm họa vẽ Oét-mo-len đụng đầu với một chiến sĩ giải phóng ở góc một ngôi nhà có đề chữ “Sứ quán Mỹ - Sài Gòn những ngôi sao cấp tướng bật khỏi cầu vai áo, súng của Oét-mo-len rơi xuống đất, còn súng của người chiến sĩ giải phóng thì cắm vào bụng Oét-mo-len, với dòng chữ phụ đề “Chúng ta đi qua chỗ ngoặt... tướng Oét mo-len ạ!”

        Trong đợt 2 tiến công và nổi dậy, từ 4 - 5 đến 18-6-1968, do bị tổn thất nặng trong đợt 1, các đơn vị biệt động xung kích không tham gia, chỉ có một đơn vị nhỏ dùng chất nổ đánh thiệt hại nặng Đài truyền hình Sài Gòn. Tuy nhiên, các lực lượng biệt động, đoàn thể vẫn phát huy vai trò của mình trong việc phối hợp với các đơn vị mũi nhọn thọc sâu và cùng quần chúng nhân dân, đánh chiếm, làm chủ nhiều khu vực trong nội thành ở quận 1, 2, 5, 6, 7, 8, 10..., gây cho địch những tổn thất đáng kể. Nổi bật là tiểu đoàn biệt động Lê Thị Giảng đã chiếm lĩnh hẻm 83 Đề Thám (Quận 1), vận động nhân dân làm công sự, tổ chức chiến đấu đánh lui nhiều đợt tấn công của địch. Lực lượng biệt động Hoa vận đánh chiếm được tòa hành chính Quận 5, tấn công Ty cảnh sát Quận 5, bót Bà Hòa, cùng đồng bào làm chủ một số khu vực ở Quận 8, diệt nhiều ác ôn trong bộ máy hạ tầng cơ sở của địch.

        Là lực ]ương chiến đấu tinh nhuệ, Biệt động Sài Gòn đã khẳng định được vị trí vai trò xung kích của mình trong thời cơ lịch sử, với nghệ thuật chiến đấu phát triển đến đỉnh cao.

        Bằng những chiến công xuất sắc đánh vào trung tâm đầu não chiến tranh của Mỹ, ngụy, lực lượng biệt động đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và cả miền Nam, tạo một bước ngoặt mới làm thay đổi cục diện chiến tranh, đưa cuộc kháng chiến tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong mùa Xuân 1975, quét sạch quân xâm lược ra khỏi Tổ quốc, thực hiện thống nhất nước nhà.

        Đánh giá về thắng lợi Xuân Mậu Thân 1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 nêu rõ: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng, tạo ra một bước ngoặt của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại chiến lược “chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, buộc địch phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri, chấm dứt ném bom không điều kiện, chủ trương phi Mỹ hóa chiến tranh, màn đầu thời kỳ xuống thang...”

        Đối với lực lượng Biệt động, bài học rút ra từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định là:

        Một, nắm quyền chủ động, chuẩn bị thế bí mật bất ngờ, dựa chắc vào dân. Khi nổ súng thì tấn công liên tục, đánh trúng đầu lão địch; phát huy nghệ thuật sở trường; lấy ít đánh nhiều, đánh đúng thời cơ, đúng mục tiêu chiến lược

        Hai, quán triệt yêu cầu then chốt: hoạt động trong thành phố do địch chiếm đóng, phải có tinh thần độc lập tác chiến rất cao, biết tổ chức giỏi, bí mật cao, kỷ luật tốt, nên đã hoàn thành trọng trách trong thời điểm lịch sử.

        Ba, thừa hưởng bài học ‘biết địch biết ta”, nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng tiến công, nên đế thắng địch trên cả hai phương diện ý chí, trí tuệ và tài mưu lược trên chiến trường. 


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2017, 09:25:20 am

HOẢ LỰC PHÁO BINH TRONG TẾT MẬU THÂN 1968

Đại tá, PTS TỐNG NGỌC TRĂNG       
Tư lệnh Binh chủng Pháo binh           

        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hào hùng của dân tộc ta có rất nhiều ‘ sự kiện to lớn được lịch sử ghi nhận như những mốc son chói lọi, mà dư âm của nó vẫn còn vang vọng mãi trong lòng mỗi người chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là một sự kiện như thế.

        Trải qua 30 năm, đến nay ý nghĩa, vị trí, vai trò và tầm vóc lịch sử của sự kiện Tết Mậu Thân 1968 vẫn còn nguyên giá trị. Kỷ niệm 30 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy lịch sử này, chúng ta cùng nhau nhớ lại, hồi tưởng và suy ngẫm để không chỉ tự hào về đất nước ta, dân tộc ta mà thêm một lần nữa cùng nhau khẳng định tài nghệ của Đảng và Bác Hồ trong việc lãnh đạo đất nước tiến hành đấu tranh vũ trang chống chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ; đồng thời cũng tìm ra những kinh nghiệm thực tiễn quý báu cho sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, cũng như cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

        Khi xác định ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chúng ta có thể khẳng định: đây là một đòn chiến lược quyết định đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ”, một cố gắng quân sự lớn nhất của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Bằng đòn chiến lược tổng tiến công và nổi dậy trên cả 3 vùng: đô thị, nông thôn đồng bằng và rừng núi, ta đã đưa chiến tranh vào sâu trong thành phố, tiêu diệt và phá hủy nhiều binh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, làm tan rã chính quyền phản động ở nhiều nơi, giữ vững và phát triển thế chủ động của ta, mở rộng vùng giải phóng.

        Thắng lợi mà cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã giành được vào thời điểm của miền Nam có tới 486.000 lính Mỹ, 57.800 quân chư hầu, 650.000 quân ngụy với nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại như máy bay, xe tăng, pháo binh, riêng pháo binh chúng có tới  111 tiểu đoàn với 1.936 khẩu pháo các loại) ... là một thắng lợi mang tầm vóc chiến lược vượt ra ngoài dự đoán của quân xâm lược. Chiến thắng đó đã làm thay đổi lục diện chiến tranh theo hướng có lợi cho ta, chứ không như Phó đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đã tuyên bố đầy lạc quan là: “Chúng ta sẽ nghiền nát kẻ thù bằng sức mạnh tuyệt đối của lực lượng vũ trang Mỹ và đồng minh”.

        Là hỏa lực chủ yếu của lục quân và hỏa lực mặt đất chủ yếu của quân đội hỏa lực pháo binh đã giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc Tổng tiến công chiến dịch này, chi viện đặc biệt cho các lực lượng vũ trang chiến đấu, hỗ trợ đồng bào nổi dậy, góp phần làm nên thắng lợi vang dội của quân - dân miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Đòn hỏa lực mà bộ đội pháo binh giáng lên đầu quân xâm lược và bè lũ tay sai bán nước là đòn hỏa lực mạnh, mang tính chiến lược nằm trong ý định thống nhất của cuộc Tổng tiến công.

        Thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12 năm 1967 và lời kêu gọi của Bác Hồ: “tiến lên toàn thắng ắt về ta”, trong khỉ thế cả nước nhộn nhịp chuẩn bị cho một cuộc tổng công kích lớn, từ tháng 10 năm 1967 Binh chủng Pháo binh đã tích cực, khẩn trương, chuẩn bị trước về mọi mặt để tham gia đòn tiến công chiến lược lịch sử, nhất là khẩn trương chuẩn bị lực lượng pháo binh trên các chiến trường.

        A-  CHUẨN BỊ LỰC LƯỢNG:

        Song song với việc củng cố, ổn định biên chế pháo binh trong các trung đoàn bộ binh, Sư đoàn bộ binh trong lực lượng vũ trang 3 thứ quân, điều chỉnh lực lượng pháo binh giữa các mặt trận, quân khu, Bộ Tư lệnh Miền, Binh chủng đã khẩn trương đưa nhiều đơn vị pháo phản lực, pháo xe kéo từ miền Bắe vào ác chiến trường miền Nam, đưa lực lượng pháo binh tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tăng lên đáng kể . Cụ thể :

        Khẩn trương xây dựng các đơn vị pháo hỏa tiễn H12 cho Nam Bộ, điều 2 trung đoàn 40 và 208 pháo mang vác cho chiến trường B2 và B3, điều chỉnh các tiểu đoàn ĐKB lẻ giữa B5 và B4.

        Đưa hai Trung đoàn 675 và 16 pháo xe kéo từ miền Bắc vào chiến trường, đưa tiểu đoàn ĐKB, Trung đoàn 208 hành quân bằng cơ giới từ Hà Tĩnh vào B3... kịp thời gian, sẵn sàng tham gia chiến đấu.

        Ở miền Đông Nam Bộ: có Đoàn 69 - pháo binh Miền gồm 3 trung đoàn pháo mang vác trang bị ĐKB và cối 120.  Đó là Trung đoàn pháo 724, 208 và Trung đoàn pháo 96 (mới hành quân từ Tây Nguyên vào) và 10 tiểu đoàn cối, ĐKZ, súng máy cao xạ ở các đơn vị trực thuộc khác.

        Các quân khu 6, 7, 8 có các tiểu đoàn cối, ĐKZ. Quân khu 9 có Trung đoàn pháo 6. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 có 3 trung đoàn pháo. Trung đoàn 575 (có Tiểu đoàn 9 trang bị súng cối và 2 tiểu đoàn KB từ miền Bác vào tháng 5 năm 1967). Trung đoàn 57 nguyên là Trung đoàn pháo 68 và Trung đoàn pháo  thuộc Sư đoàn bộ binh 2.

        Mặt trận đường 9 - Khe Sanh có 5 trung đoàn pháo: 3 trung đoàn pháo xe kéo là Trung đoàn pháo 164, 204 và Trung đoàn pháo 675 (mới vào đầu 1968), 2 trung đoàn pháo phản lực ĐKB 84 và 45; một tiểu đoàn BM 14 (thuộc Trung đoàn pháo 16).


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2017, 09:29:07 am

        B-  CHUẨN BỊ CHIẾN TRƯỜNG.

        Cùng với nhân dân và lực lượng vũ trang trên toàn miền, bộ đội pháo binh đã tiến hành nhiều mặt công tác chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy như trinh sát nắm địch, tổ chức thông tin liên lạc, vận chuyển đạn, chuẩn bị đường, đo đạc địa hình chiến đấu... mọi công việc diễn ra hết sức bí mật, khẩn trương.

        Binh chủng Pháo binh đã gửi vào các chiến trường hàng trăm tấn khí tài, dụng cụ, phụ tùng thay thế cho xe pháo, hàng chục tấn thuốc men, nhu yếu phẩm nên đã giảm được khó khăn, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các đơn vị pháo binh bước vào chiến đấu, nhất là với các đơn vị mới được thành lập cũng như mới đưa từ miền Bc vào. Với kết quả của công tác chuẩn bị trên, pháo binh đã tạo được thế trận rộng khắp, phát huy được khả năng chiến đấu của đơn vị có trong lực lượng pháo binh 3 thứ quân; kết hợp được hỏa lực pháo xe kéo với pháo mang vác, pháo cơ động với pháo tại chỗ... trên khắp chiến trường miền Nam.

        C-  ĐÒN TẬP KÍCH HỎA LỰC MANG TÍNH CHIẾN LƯỢC CỦA PHÁO BINH.

        Đợt 1 (từ ngày 30 đến ngày 31 tháng 1):


        Trong đợt 1 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, ngay đêm giao thừa Tết Mậu Thân (đêm 30 rạng ngày 31-l-1968) vào lúc 0 giờ 30 phút với lực lượng 56 tiểu đoàn pháo trên miền Nam (không kể các loại pháo cối nhỏ), bao gồm: 30 tiểu đoàn ĐKB, 20 tiểu đoàn pháo rãnh xoắn cỡ từ 85 đến 130mm, 1 tiểu đoàn A12, 1 tiểu đoàn H12, 1 tiểu đoàn BM14 và 3 tiểu đoàn cối 120, pháo binh ta đã nổ súng mở màn cho cuộc tổng tiến công, đồng loạt bắn vào 42 sân bay, 65 sở chỉ huy, 24 căn cứ lớn nhỏ và nhiều mục tiêu quan trọng khác của địch nằm rộng khắp toàn miền Nam, chi viện đắc lực cho các lực lượng vũ trang nhãn dân ta tiến công, hỗ trợ nhân dân nổi dậy ở 4 thành phố, 3 thị xã, và hàng trăm căn cứ lớn mà trọng điểm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng.

        Tại chiến trường B1 (Đà Nẵng): đêm giao thừa (30-l-1968), Trung đoàn pháo 575 và Trung đoàn pháo 577 pháo kích dữ dội vào sân bay Đà Nàng và một số căn cứ quân sự địch ở Tuần Dưỡng, Cám Rơi ... phá hủy 50 máy bay, thiêu cháy 3 bể dầu lớn, phá hỏng trên chục khẩu pháo, diệt hàng trăm tên địch.

        Tại chiến trường B2 (Nam Bộ): vào lúc 2 giờ ngày 31 tháng 1 (sau giao thừa hai giờ) các đơn vị thuộc Đoàn 69 - pháo binh Miền tập kích hỏa lực mãnh liệt vào các mục tiêu quan trọng của địch như: sân bay, các căn cứ quân sự, các trận địa pháo, kho tàng... gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Trung đoàn pháo binh 96 dùng pháo ĐKB tập kích vào Lai Khê, Dầu Tiếng, Phú Lợi - căn cứ Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 1 - “Anh cả đỏ” của Mỹ, không cho chúng đưa quân về Sài Gòn ứng cứu. Bằng 270 viên đạn ĐKB, pháo binh ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, buộc lữ đoàn này từ thế sẵn sàng lên đường cứu nguy cho Sài Gòn và các khu khác phải xin viện cứu nguy cho chính mình. Trung đoàn pháo binh 724 (pháo ĐKB) phối thuộc Sư đoàn bộ binh 5 tập kích sân bay Biên Hòa. Đây là một căn cứ không quân lớn của Mỹ - ngụy ở vùng 3 chiến thuật. Bằng 42 khẩu ĐKB của trung đoàn cùng với các loại pháo cối của Sư đoàn 5, pháo binh ta đã trút bão lửa xuống sân bay Biên Hòa, gây nên những đám cháy lớn và tiếng nổ liên tục kéo dài đến hai ngày sau, làm cho sân bay bị hư hỏng nặng, buộc phải ngừng hoạt động nhiều ngày để khắc phục. Cũng vào lúc 3 giờ sáng ngày 31-1-1968, Tiểu đoàn pháo 2, Trung đoàn 28 đã phóng 100 viên đạn ĐKB vào căn cứ Đồng Dù; Trung đoàn 724 đã bắn gần 200 viên ĐKB vào căn cứ Phước Vĩnh, Bình Long tiêu diệt nhiều sinh lực, hỏa khí của địch.

        Tại chiến trường B3 (Tây Nguyên): Vào lúc 0 giờ 55 phút, ngày 31-1-1968 Trung đoàn pháo 40 cùng các đơn vị pháo binh khác đã đồng loạt nổ súng vào quân Mỹ - ngụy ở thị xã Plây Cu, Kông Tum, các sân bay A Ria, Đắc Tô và Sở chỉ huy Sư đoàn 23... làm sập 25 nhà lính, phá hủy 13 trực thăng, 6 máy bay vận tải, bắn cháy 1 kho xăng, phá hủy 2 pháo và diệt hàng trăm tên địch.

        Trên chiến trường B4: Pháo binh ta có ba tiểu đoàn 32, 33, 34 pháo ĐKB cùng các đơn vị súng cối, ĐKZ của các trung đoàn bộ binh. Đúng 2 giờ 30 phút ngày 30-1-1968, pháo binh đồng loạt bắn mãnh liệt vào sân bay Phú Bài, khu đóng quân của trung đoàn thiết giáp ngụy, trung đoàn ky binh bay Mỹ, các căn cứ: La Vang, Ái Tử, Đông Hà...


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2017, 09:30:57 am

        Tại chiến trường B5: Pháo binh đường 9 - Khe Sanh đã bắn giòn giã, chi viện tích cực cho bộ binh giữ các chốt Bạch Cầu, Đại Độ, đánh địch hành quân dã ngoại ở Mai Xá Chánh, vây ép địch ở căn cứ Tà Cơn...

        Bị giáng đòn hỏa lực mạnh, bất ngờ vào đúng đêm giao thừa - thời điểm mà quân Mỹ - ngụy chủ quan, sơ hở nhất, nên chúng đã bị động, lúng túng đối phó và bị tổn thất nặng nề. Trên khắp miền Nam, đặc biệt là ở các thành phố, thị trấn, thị xã, pháo binh ta đã trút bão lửa xuống đầu thù, bắn vào nhiều mục tiêu quan trọng, cơ quan đầu não của địch như: Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu ngụy, các bộ Tư lệnh quân đoàn, Sư đoàn, lữ đoàn Mỹ - ngụy, căn cứ quân sự, nhiều sân bay, trận địa pháo địch...

        Trong lúc địch đang choáng váng trước đòn đánh hiểm, bất ngờ của pháo binh ta trên toàn miền thì tiếp ngay sau đó, kể từ ngày mồng một Tết, pháo binh ta tiến công liên tục, thực hiện “đánh bồi”, “đánh nhồi” làm cho địch càng choáng váng, lúng túng, bị động đối phó để tiêu diệt nhiều hơn, tan rã nhanh hơn. Điển hình như: trận tập kích hỏa lực mãnh liệt vào sân bay Biên Hòa (ngày 31 tháng 1), Tân Sơn Nhất (ngày 18 tháng 2) của pháo binh miền Đông Nam Bộ, Hòa Bình ngày 31 tháng 1 của pháo binh Tây Nguyên; các trận tập kích vào trung tâm huấn luyện Đống Đa, sở chỉ huy của Sư đoàn bộ binh 1 ngụy, Sư đoàn bộ binh 3 Mỹ, các căn cứ La Vang, Ái Tử ngày 1 đến 2 tháng 2 năm 1968 của pháo binh Trị Thiên - Huế; các trận hiệp đồng với bộ binh đánh vào thị xã Kông Tum, Buôn Ma Thuột, Plây Cu. Pháo binh chi viện cho bộ binh, xe tăng tiến công cứ điểm Làng Vây ngày 6-2-1968, tham gia vây ép cứ điểm Tà Cơn của pháo binh mặt trận Đường 9 - Khe Sanh; các trận tập kích căn cứ Lai Khê, Đồng Dù, Phú Lợi trong các ngày 17 đến 22 tháng 2 và 1-3-1968 của pháo binh chiến trường B2... Những trận pháo kích của ta diễn ra không thành quy luật, gây cho địch lúng túng tìm ra cách đối phó hiệu quả.

        Như vậy, trong vòng 60 ngày đêm của đợt 1 cuộc Tổng tiến công kể từ đêm 30 tháng 1 đêm giao thừa) đến 31-3-1968, pháo binh miền Nam đã đánh 652 trận độc lập và hiệp đồng lớn, tính trung bình mỗi ngày đánh 11 trận.

        Kết quả pháo binh ta đã diệt hàng ngàn tên Mỹ - ngụy, phá hủy hàng trăm máy bay các loại ở 42 sân bay trên toàn miền Nam, trong đó sân bay Tân Sơn Nhất bị đánh tới 12 lần, có tuần bị đánh 9 lần, riêng 2 sân bay Cam Ranh và Phù Cát từ trước chưa bị đánh lần nào thì nay cũng bị đánh nhiều lần; bị pháo binh ta bắn cháy 242 kho hậu cần, trong đó có kho chứa hàng vạn lít xăng. Pháo binh còn bắn chìm 47 tàu chiến và vận tải, phá hủy 159 khẩu pháo của địch gồm các loại tử 105 đến 155mm. Đặc biệt đợt này pháo binh đã chi viện tích cực, bảo đảm cho bộ binh chiến đấu trong nội thành, làm chủ thành phố Huế trong 25 ngày đêm.

        Có thể nói, sau hơn 2 tháng tiến công và nổi dậy, ta đã thu được thắng lợi vô cùng to lớn, tạo nên một bước ngoặt quan trọng để tiến lên giành thắng lợi quyết định cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam.

        Đợt 2 (tháng 3 đến tháng 6 năm 1968):

        Thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị  (tháng 4 năm 1968) đợt 2 tổng tiến công và nổi dậy bắt đầu từ ngày 4 tháng 5 năm 1968. Mặc dù địch đã có chuẩn bị trước, tập trung 2/3 lực lượng Mỹ và toàn bộ lực lượng tổng trù bị của quân ngụy để cố thủ các thành phố lớn, nhất là vùng xung quanh Sài Gòn, nhưng ta đã thừa thắng xốc tới, đồng loạt đánh vào 30 thành phố, thị xã, 70 thị trấn, quận ly, chi khu quân sự, 27 bộ Tư lệnh quân đoàn, Sư đoàn, lữ đoàn Mỹ - ngụy, 40 sân bay và các kho tàng quan trọng khác...

        Để chi viện cho các lực lượng tổng tiến công đợt 2, đêm rạng ngày 5-5-1968, pháo binh trên khắp các chiến trường miền Nam lại đồng loạt nổ súng đánh vào 32 thành phố, thị xã, thị trấn, các quận ly, các sở chỉ huy, chi khu quân sự địch.

        Tại chiến trường B1: Pháo binh đã đánh vào 5 sân bay:

        Đà Nẵng, Nước Mặn, Chu Lai, Xuân Thiều... quận ly Thiếu Nhơn, cụm cứ điểm Hà Tân, chi viện cho quần chúng nổi dậy

        Ở chiến trường B2: Để hoàn thành nhiệm vụ trên giao, pháo binh đã kiên quyết luồn sâu, phối hợp cùng bộ binh, đặc công, biệt động đánh phá liên tục vào các cơ quan đầu não và căn cứ quan trọng nhất của Mỹ - ngụy ở trung tâm Sài Gòn và vùng lân cận như: Dinh tổng thống, Bộ Tổng tham mưu, Sứ quán Mỹ, Bộ Tư lệnh biệt khu, các căn cứ Phú Lợi, Đồng Dù, Lai Khê, Dầu Tiếng, Bình Long... Phục vụ đắc lực cho các mũi đấu tranh chính trị và các hoạt động vũ trang.

        Ở chiến trường B3: Pháo binh Tây Nguyên đã đánh 201 trận, diệt hàng trăm tên địch, phá hủy 276 máy bay, 20 xe cơ giới 74 pháo, 16 kho xăng, 1 kho đạn... nằm trên các khu vực Plây Cần, Plây Cu, Buôn Mê Thuột...


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2017, 09:35:48 am

        Trên chiến trường B4: Ngày 5-5-1968 pháo binh đồng loạt bắn vào các căn cứ La Vang, Ái Tử, Mai Lĩnh, thị xã Quảng Trì, quận lỵ Hải Lăng, sân bay Tây Lộc... Đáng chú ý trong đợt này pháo binh đã đánh nhiều trận để phối hợp chiến trường, tập kích hỏa lực vào trung tâm xe tăng số 6, trung đoàn kỵ binh bay của Mỹ và nhiều căn cứ quân sự quan trọng khác; trong đó có trận ngày 29-5-1968 bằng 12 viên đạn ĐKB ta đã bắn trúng khu đỗ máy bay các loại kho tàng của địch, gây cháy nổ dây chuyền nhiều máy bay, xe cơ giới cháy suốt đêm, kéo dài sang ngày hôm sau.

        Tại chiến trường B5: Pháo binh đã chi viện cho bộ binh vây ép cứ điểm Tà Cơn và đánh địch rút chạy, độc lập tập kích hỏa lực vào các căn cứ quan trọng như: điểm cao 88, Hồ Khê (ngày 14 tháng 5), Cảng Cửa Việt (ngày 28 tháng 5), Đông Hà (ngày 20 tháng 6). Điển hình là ngày 26 tháng 6 ta dùng  khẩu pháo 130mm bắn trúng vào kho xăng, kho đạn địch, gây nổ lớn, phá hủy 100 xe quân sự, 6 máy bay, 6 pháo 105 và 155, chế áp sở chỉ huy của Sư đoàn thủy quân lục chiến, làm tê liệt sân bay suốt 28 giờ.

        Tóm lại, trong 2 đợt tiến công và nổi dậy, pháo binh đã tham gia chiến đấu 2.030 trận, bao gồm 426 trận hiệp đồng và 1614 trận độc lập, tiêu diệt hàng nghìn địch, phá hủy 385 pháo cối, 2.149 máy bay, 2.06 xe cơ giới, 508 kho tàng các loại.

        Với kết quả chiến đấu trên, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đầu Xuân 1968 pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng, chiến đấu đạt hiệu quả cao, lập thành tích to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao.

        MỘT SỐ  KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ THỰC TIỄN:

        Qua thực tế các trận đánh của pháo binh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 có thể rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn sau:

        1- Để hoàn thành nhiệm vụ hỏa lực của đòn tập kích mang tính chiến lược, pháo binh phải được sử dụng rộng rãi trong các nhiệm vụ, tập trung lực lượng hợp lý trên các chiến trường, sử dụng kết hợp nhiều chủng loại pháo, bố trí thế trận hợp lý, đánh đồng loạt, chiến đấu liên tục trong từng đợt, không thành quy luật gây cho địch lúng túng, bị động đối phó .

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy được chia ra làm nhiều đợt, trong từng đợt các lực lượng ta tiến công đồng loạt vào các thành phố, thị xã, thị trấn, những nơi có địch chiếm đóng. Để hỗ trợ cho lực lượng vũ trang nhân dân ta tiến công, đồng bào nổi dậy, pháo binh được giao bắn phá các mục tiêu quan trọng như: đầu não chỉ huy, các căn cứ quân sự, sân bay, bến cảng, kho tàng của địch ở cả 3 vùng chiến lược đô thị, nông thôn đồng bằng và rừng núi. Từ Bắc Quảng Trị đến đồng bằng Nam Bộ, pháo binh đã sử dụng 1 lượng chiến đấu với quy mô lớn chưa từng có so với chiến tranh chống Pháp trước đây cũng như kể từ 1965 khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào Nam Việt Nam.

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này ta đã sử dụng cả pháo xe kéo, mang vác, tổng cộng 56 tiểu đoàn pháo các loại, trong đó có tới 30 tiểu đoàn ĐKB, 6 tiểu đoàn pháo xe kéo (122 - 130mm), 1 tiểu đoàn BMI4. Ngoài các đơn vị pháo binh trực thuộc Bộ chỉ huy Miền và các quân khu, còn huy động cả pháo trong biên chế các đơn vị chủ lực, pháo bộ đội địa phương và dân quân tự vệ.

        Có thể nói, bằng lực lượng có trong biên chế 3 thứ quân, pháo binh ta đã tạo ra được một thế trận liên hoàn, hiểm hóc và rộng khắp, bảo đảm chi viện kịp thời cho các hoạt động tiến công và nổi dạy trên toàn miền ở cả 3 vùng chiến lược: đô thị, nông thôn đồng bằng và rừng núi.

        Tuy các đơn vị pháo binh hoạt động tác chiến theo kế hoạch của từng chiến trường, nhưng phải theo một ý định thống nhất trên toàn miền; do vậy việc phân công mục tiêu và hợp đồng chiến đấu phải rất chặt chẽ, nổ súng đồng loạt, đánh rộng khắp, sau đó đánh không thành quy luật gây cho địch lúng túng không thể đối phó và ứng cứu cho nhau.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2017, 09:36:11 am

        2. Vận dụng lỉnh hoạt, sáng tạo 2 cánh đánh: đánh độc lập và hiệp đồng.   

        - Về đánh hiệp đồng:

        Trong 2 đợt tổng tiến công và nổi dậy, các trận đánh hiệp đồng binh chủng lớn chưa nhiều, song ở nhiều hướng, nhiều chiến trường pháo binh đã tham gia đánh hiệp đồng binh chủng, chi viện cho bộ binh đánh ngoài công sự, vừa chi viện đánh trong công sự. Do chủ động hiệp đồng và tích cực làm tốt công tác chuẩn bị nên đã có nhiều trận đánh đạt kết quả cao như: hiệp đồng với bộ binh - xe tăng đánh cứ điểm Làng Vây ngày 6-2-1968, đánh địch ứng cứu giải tỏa xung quanh Sài Gòn, các trận đánh chiếm và giữ thành phố Huế trong suốt 25 ngày đêm tháng 2 năm 1968... Đặc biệt, ở Mặt trận đường 9 đã sử dụng pháo xe kéo chi viện bộ binh giữ chốt, đánh địch phản kích, chi viện đánh lấn, vây ép địch ở Tà Cơn.

        - Về đánh độc lập:

        Với yêu cầu nhiệm vụ tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy  nhiều phương tiện chiến tranh của địch, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, pháo binh đã vận dụng sáng tạo lối đánh độc lập với nhiều hình thức phong phú. Pháo binh đãkết hợp cả hình thức bôn tập đánh vào căn cứ rồi rút nhanh với luồn sâu trụ lại đánh dài ngày. Đáng chú ý là đã có nhiều đơn vị pháo binh mang vác được trang bị pháo hỏa tiễn ĐKB, H12, cối, A12  luồn sâu đánh hiểm, khống chế các sân bay trong thời gian dài như: sân bay Tà Cơn, Phú Bài, Đà Nằng, Tân Sưn Nhất, làm mất tác dụng lực lượng hỏa lực quan trọng của địch. Trong đánh độc lập pháo binh đã dùng rộng rãi các phương pháp bắn, phổ biến là tập kích hỏa lực vào những nơi bộ binh không có khả năng tiếp cận, nơi đầu não, trung tâm sào huyệt của địch - nơi chúng coi là an toàn nhất. Điển hình là các trận đánh vào mục tiêu đầu não, quan trọng ở Cam Ranh, Vũng Tàu, Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng... Đáng chú ý trong các trận đánh độc lập pháo binh đã không những đánh vào các căn cứ, mục tiêu quan trọng trên mặt đất mà còn đánh cả các mục tiêu vận động trên mặt nước khi địch cơ động trên sông, đi tăng viện ứng, ưu tú như các trận đánh trên sông Ba Các, Bến Tre.

        Xuất phát từ Tư tưởng chỉ đạo pháo binh đánh độc lập, “kiên quyết, táo bạo, luồn sâu, sẵn sàng trụ lại, dựa vào địa phương, mưu trí, linh hoạt sử dụng lực lượng, tận dụng và kết hợp các loại hỏa lực có trong tay...”, pháo binh đã kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn bảo đảm đánh liên tục, đánh trúng mục tiêu quan trọng đạt hiệu suất cao.

        Thực tiễn đã chứng minh, trên các chiến trường trong cả 2 đợt tổng tiến công, pháo binh đã vận dụng rất linh hoạt và sáng tạo cả hai cách đánh, bảo đảm đạt hiệu quả cao trên cơ sở sử dụng lực lượng, đạn dược hợp lý. Do vậy pháo binh ta đã tập trung được hỏa lực, biến yếu thành mạnh, biến tầm gần thành tầm xa, luồn sâu, ém sẵn, đánh vào chỗ hiểm, chọn đúng mục tiêu có tác dụng dây chuyền để sát thương sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh, nhanh chóng làm tan rã thế, lực của địch.

        Một bài học thực tế rút ra là: dù là đánh độc lập hay hiệp đồng để đạt hiệu quả cao trong chiến đấu thì yếu tố cuối cùng vẫn là phải bán trúng, đúng thời cơ. Ví dụ ngày 29-5-1968, với 12 viên đạn ĐKB bắn vào Đồng Lâm, pháo binh đã làm cháy 1 kho xăng, nổ nhiều kho đạn, bắn cháy và phá hủy nhiều máy bay, diệt 200 tên địch. Đây là trận điển hình về chọn thời cơ đúng, nhằm vào lúc địch đã tập trung máy bay, bom đạn chuẩn bị đi càn.

        3-Vừa chiến đấu vừa học tập nâng cao trình độ:

        Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hỏa lực trong cuộc Tổng tiến công, nhiều đơn vị pháo binh đã được điều chỉnh, bổ sung vũ khí trang bị; nhiều đơn vì vừa được thành lập, xây dựng ở hậu phương đã nhanh chóng lên đường làm nhiệm vụ, quá trình hành quân vào chiến trường đã tranh thủ học tập nâng cao trình độ đến nơi là chiến đấu được ngay, bảo đảm đánh thắng ngay từ trận đầu. Các đơn vị đang tác chiến tại chỗ ở chiến trường cũng tranh thủ thời gian “đệm” giữa các trận, đợt tiến công để bồi dưỡng cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật, thường xuyên sơ kết rút kinh nghiệm để nâng cao trình độ tác chiến, trình độ kỹ chiến thuật, cũng như khả năng tổ chức chỉ huy bộ đội. Các đơn vị pháo xe kéo lần đầu tiên vào chiến trường miền Nam đã chiến đấu tốt và luôn quan tâm phát triển lực lượng. Điển hình như:

        Trung đoàn 675 trong quá trình chiến đấu đã phát triển thành 2 trung đoàn. Tuy mới được hình thành nhưng Trung đoàn 67(5B đã được tăng cường cho chiến trường Trị Thiên, chiến đấu giành nhiều thành tích trong các trận đánh ở A Sầu, A Lưới...

        Việc sử dụng kiêm nhiệm nhiều loại cũng đã trở thành yêu cầu chiến đấu phổ biến trên các chiến trường. Điển hình ở chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ đã có đơn vị sử dụng tới 5 loại pháo, bao gồm ĐKB, cối 120, cối 82, ĐKZ và cả Sơn pháo 75.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đến nay đã tròn 30 năm, Chiến thắng mà quân dân miền Nam đã giành được là hết sức to lớn. Những bài học kinh nghiệm về chọn thời cơ tiến hành  một cuộc Tổng tiến công chiến lược cũng như những vấn đề về nghệ thuật sử dụng pháo binh chi viện cho các hoạt động tổng tiến công và nổi dậy thực sự đã trở thành di sản vô cùng quý báu trong kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Chiến thắng ấy ngày nay đang gợi mở cho chúng ta nhiều điều phải suy ngẫm, tổng kết để phát triển, hoàn thiện lý luận cũng như thực tiễn nhằm không ngừng nâng cao khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân ta, đáp ứng yêu cầu cao củanhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2017, 09:40:10 am
       
BỘ ĐỘI ĐẶC CÔNG BIỆT ĐỘNG TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY

Đại tá TRẦN THANH PHƯƠNG        
Tư lệnh Binh chủng Đặc công        

        Cách đây 30 năm, quân và dân cả nước ta mà trực tiếp là quân dân miền Nam đã ghi một mốc son trong lịch sử chống đế quốc Mỹ xâm lược. Tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam. Thời cơ phát động cuộn tiến công là nhân ngày Tết Mậu Thân năm 1968 nhằm lúc địch sơ hở, dùng lực lượng tinh nhuệ, trong đó có Bộ đội đặc công, tập kích vào thành phố, phát động quần chúng nổi dậy, giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ ...

        Thay mặt cán bộ chiến sĩ Binh chủng Đặc công, trong cuộc hội thảo khoa học này tôi xin tham luận một số vấn đề xoay quanh việc sử dụng đặc công trong “Tết Mậu Thân” 1968.

        Binh chủng Đặc công thành lập ngày 19 tháng 3 năm 1967. Bác Hồ, Trung ương Đảng và Quân ủy trung ương quyết định thành lập Binh chủng thời điểm này với ý định trước mắt là sử dụng đặc công như một lực lượng xung kích trong tổng tiến công. Nắm vững quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương, Binh chủng Đặc công đã khẩn trương xúc tiến mọi công tác chuẩn bị để tham gia cuộc Tổng tiến công.

        1. Công tác chuẩn bị lực lượng trước tiến công.

        Ở miền Bắc, năm 1967 Binh chủng Đặc công đã tuyển được 3.835 cán bộ chiến sĩ trong đó có 457 cán bộ từ trung đội trưởng đến tiểu đoàn trưởng, tập trung huấn luyện sát với yêu cầu của tổng tiến công như đánh các căn cứ, hậu cứ, kho tàng, sân bay, đánh thành phố, đánh độc lập và hiệp đồng... đã tăng cường cho chiến trường 2.563 cán bộ chiến sĩ tổ chức thành một tiểu đoàn, 40 đội, 7 khung cán bộ tiểu đoàn, 30 khung cán bộ đại đội.

        Ở các chiến trường miền Nam, đến cuối năm 1967 lực lượng đặc công biệt động đã có hàng vạn chiến sĩ gồm 1 trung đoàn, 2 đoàn (Tương đương trung đoàn), 21 tiểu đoàn, 58 đội và hàng trăm trung đội, tiểu đội. Lực lượng đặc công đã tổ chức thành hệ thống, có lãnh đạo chỉ đạo từ trên xuống dưới để làm tham mưu cho chỉ huy các mặt trận và các đơn vị trong xây dựng và tác chiến.

        Bộ Tư lệnh Đặc công cùng các mặt trận đã tham mưu cho Bộ điều chỉnh lực lượng để bố trí trên các địa bàn chiến lược. Đến cuối năm 1967, tại vùng ven Sài Gòn, các phân khu 1, 2, 3, 4, 5 có từ một đến hai tiểu đoàn bộ binh mũi nhọn trang bị nhẹ và mạnh, được huấn luyện chiến thuật đặc công.

        Trong nội thành Sài Gòn ( Phân khu 6) có 11 đội biệt động, các đơn vị tự vệ mật, công an và các đội công tác vũ trang. Đặc công và biệt động Sài Gòn đã xây dựng được hệ thống hành lang, bàn đạp, cơ sở nhân dân trong nội thành, vùng ven và quanh các mục tiêu quan trọng gồm 19 cơ sở chính trì, 22 gia đình cơ sở, 400 điểm giấu ém quân, vũ khí và lương thực...

        Tại Huế, trong nội thành và vùng ven có 3 tiểu đoàn đặc công và 10 đội biệt động. Nhân dân các khu vực Viễn Chinh, Đức Thái, Mực Tra, Dương Mông... đã chuẩn bị sẵn sàng lương thực và hàng trăm hầm bí mật để giấu ém bộ đội đặc công sát mục tiêu tiến công.

        Ở các thành thị khác trên toàn miền Nam, các đơn vị đặc công của Miền, các quân khu, Sư đoàn, trung đoàn chủ lực và đặc công các tỉnh, huyện đều được luồn ém sẵn ở những khu vực trọng điểm, những mục tiêu quan trọng.

        Giáp Tết Mậu Thân, các đơn vị đặc công và biệt động đã được lệnh phân tán thành nhiều tổ, bằng nhiều đường khác nhau hòa nhập vào dòng người đi sắm Tết, bí mật ém quân, vũ khí, đạn dược vào các gia đình cơ sở hoặc các vị trí tập kết cuối cùng, đồng thời trinh sát lại mục tiêu lần cuối.  Hàng vạn cán bộ chiến sĩ đặc công, hàng trăm tấn vũ khí đặc chủng đã được bố trí cất giấu ngay trong lòng địch. Bộ đội đặc công như những mút dao nhọn sẵn sàng đâm thẳng vào yết hầu của địch khi có lệnh tiến công.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2017, 04:47:15 am

        2. Bộ đội đặc công biệt động là mũi nhọn xung kích trong tổng tiến công.

        Đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta nổ ra mạnh mẽ, quyết liệt, đồng loạt ở Sài Gòn, Huế và nhiều thành phố, thị xã, thị trấn miền Nam.

        Tại Sài Gòn, lúc 2 giờ sáng ngày 31 tháng 1, Đội biệt động số 11 gồm 17 chiến sĩ do đồng chí Ngô Thành Vân chỉ huy đã tiến công Đại sứ quán Mỹ và chiếm được lầu hai của Sứ quán. Đến 9 giờ cùng ngày, quân cảnh Mỹ dùng trực thăng đổ xuống sân thượng, phản kích quyết liệt. Do không có lực lượng tiếp ứng nên 16/17 chiến sĩ đã  dũng hy sinh; ta không giữ được mục tiêu.

        01 giờ sáng 31 tháng 1, Đội biệt động số 3 do đồng chí Bá Thanh chỉ huy gồm 15 chiến sĩ (có một nữ) đã tiến công Dinh Độc Lập địch chống trả quyết liệt. Đến 5 giờ sáng, tám chiến sĩ hy sinh, bốn bị thương, còn ba chiến sĩ vẫn bám trụ kiên cường đến sáng nhưng vì không có lực lượng tiếp ứng nên ta phải rút quân. Đồng chí Nguyễn Thị Chín bị địch bát và tra tấn dã man nhưng chị vẫn giữ vững khí tiết người chiến sĩ cách mạng.

        Cùng đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1, đồng chí Đỗ Tấn Phong chỉ huy các đội biệt động 6, 7, 9 (27 người) tiến công Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Sau 15 phút ta làm chủ cổng số 5 và một phần mục tiêu, đến 9 giờ sáng, địch phản kích quyết liệt, ta bị thương vong nhiều nên phải rút lui. Cùng đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1, đồng chí Nguyễn Văn Tăng chỉ huy Đội biệt động số 4 (11 người), sau ít phút tiến công đã chiếm giữ được Đài phát thanh 3 giờ. Ngay sau đó địch phản kích. Ta bị thương vong 10 đồng chí nên phải rút lui sau khi đã phá hủy Đài phát thanh.

        Ở vòng ngoài Sài Gòn, đặc công và biệt động cùng bộ binh đánh phá Tổng kho Hạnh Thông Tây, căn cứ Bộ Tư lệnh Pháo binh Cổ Loa, Bộ Tư lệnh Thiết giáp Phù Đổng, sân bay Tân Sưn Nhất, quận Nhà Bè, Bộ Tư lệnh Hải quân, kho xăng dầu Nhà Bè, Thành Tuy Hạ...

        Tại Huế, lực lượng đặc công có 3 tiểu đoàn, 6 đội biệt động tham gia. Trước Tết các đơn vị hành quân theo nhiều hướng, vượt qua nhiều sông ngòi, đồn bốt địch đến ví trí tập kết an toàn, đúng thời gian quy định. Trên hướng Bắc, đặc công biệt động được giao nhiệm vụ cùng bộ binh đánh Sở chi huy Sư đoàn bộ binh 1 của địch’ở Mang Cá, sân bay và khu kho ở Tây Lộc, khu Đại Nội. Hướng Nam, đặc công cùng bộ binh đánh căn cứ trung đoàn thiết giáp ngụy ở Tam Thai và tiểu đoàn bộ binh Mỹ ở Nam Giao.

        Lực lượng đặc công, biệt động ở Huế không lớn, nhưng đã cùng 8 tiểu đoàn bộ binh đánh chiếm và làm chủ được 39 mục tiêu quan trọng trong thành phố. Lực lượng đặc công đã làm nòng cốt cho đánh chiếm các mục tiêu trên, phá hàng trăm xe tăng, xe quân sự, máy bay, tiêu diệt và bắt giữ gần một ngàn tên địch, cùng lực lượng vũ trang tại chỗ phát động quần chúng nổi dậy mạnh mẽ, rộng khắp, làm chủ nhiều khu vực dài ngày, có khu vực tới 25 ngày đêm, trong đó có khu Đại Nội. Từ 5 giờ sáng ngày 31 tháng 1, lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng đã phấp phới bay trên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn.

        Tuy ở Huế sự hiệp đồng giữa đặc công và các tiểu đoàn bộ binh có khá hơn, nhưng sự hiệp đồng đó vẫn chưa được chặt chẽ, chưa được tiếp sức kịp thời nên chưa phát huy được chiến quả bước đầu mà đặc công đã đánh chiếm như:

        Sở chỉ huy Sư đoàn bộ binh 1 của địch, ta không đánh được mà chỉ bao vây suốt quá trình đánh Huế, sân bay và khu kho Tây Lộc cũng chỉ giữ được có 1 ngày...

        Tại các thành phố, thị xã, thị trấn khác trên toàn miền Nam, đặc công được giao nhiệm vụ nòng cốt đánh chiếm các mục tiêu hiểm yếu, quan trọng nhất như các tiểu khu, chi khu, biệt khu, tỉnh đường, quận ly, tòa hành chính, ty công an, cảnh sát, biệt kích, biệt động quân, các sở chỉ huy các cấp của Mỹ, ngụy, khu cố vấn, nhà lao... Các loại mục tiêu trên, đặc công đã đánh chiếm, làm chủ toàn bộ hoặc một phần mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng nổi dậy diệt đầu sỏ, ác ôn, làm tan rã bộ máy ngụy quyền, giành quyền làm chủ trong một thời gian nhất định.

        Ngoài nhiệm vụ làm mũi nhọn đánh trong thành thị, đặc công còn được sử dụng đánh các sân bay: Tân Sơn Nhất, Biên Hòa (ngày 31-l); Xuân Thiều, Bà Rịa (ngày 5-2); Cù Hanh (ngày 7-2) ; Đông Tác (ngày 20-2) ... phá hủy hàng trăm máy bay, tiêu diệt hàng trăm giặc lái của địch, làm hạn chế sức cơ động trong tác chiến của chúng. Đặc công còn đánh hàng loạt kho tàng lớn của địch như: Hạnh Thông Tây, Nhà Bè, Long Bình (ngày 31-4), An Khê (ngày 17-2), Đèo Son (ngày 24-2) đốt cháy hàng trăm triệu tấn xăng dầu, bom đạn của địch, làm cho chúng lâm vào tình trạng khó khăn về hậu cần trong tác chiến. Riêng trận đánh Tổng kho Long Bình đã làm cho các trận địa pháo vùng chiến thuật 3 của địch bắn rất thưa thớt vì thiếu đạn. Đặc công còn đánh nhiều căn cứ xe tăng, thiết giáp, trận địa pháo binh, các cầu giao thông quan trọng. Đặc biệt, Đoàn đặc công nước 126 đã ngăn chặn vận chuyển đường thủy của địch trên sông Cửa Việt từ mấy tháng cuối năm 1967 đến đầu 1968, vây hãm cảng Cửa Việt, phá hủy 14 tàu địch, làm tắc nghẽn soạn sông từ Thanh Xuân đi Cửa Việt.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2017, 04:49:20 am

        3. Về việc sử dụng đặc công biệt động trong tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

        Từ giữa năm 1966 về trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn theo dõi từng bước trưởng thành của lực lượng đặc công.

        Đến giữa năm 1966, Người và Quân ủy trung ương đã đề cập tới việc thành lập Binh chủng Đặc công. Cuối năm 1966, đồng chí Cao Pha - Phó cục trương Cục Nghiên cứu (Cục II) đã được phép trực tiếp báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình xây dựng lực lượng và tác chiến của đặc công trên chiến trường. Tháng 1 năm 1967, đồng chí Cao Pha lại được phép trình bày về tác chiến đặc công trong Hội nghị Ban Chấp hành trung ương lần thứ 13. Đến tháng 2 năm 1967, Quân ủy trung ương quyết định thành lập Binh chủng Đặc công và chính thức công bố vào ngày 19 tháng 3 năm 1967. Từ tháng 7 năm 1967, Bộ Chính trị đã có ý định rõ rệt sử dụng đặc công làm mũi nhọn (xung kích) đánh vào các thành thị miền Nam, mở đầu trong tổng tiến công. Điều ấy có thể khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Quân ủy trung ương - Bộ Quốc phòng đã suy nghĩ nhiều, đi đến quyết định xây dựng đặc công thành binh chủng để sử dụng ngay vào Tổng tiến công, khẳng định sự tin Tưởng của Đảng và quân đội với lực lượng đặc công. Đó là những chủ trương đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

        Trên thế giới, chưa có .một cuộc tiến công chiến lược nào đồng loạt nổ ra trong cùng thời điểm, trên toàn chiến trường mà hướng chính là các thành thị - đầu não các cấp trong chiến tranh của đối phương như kiểu Việt Nam. Hơn thế nữa, họ có thể tập kích chiến lược nhưng phải bằng máy bay, tên lửa, pháo binh tầm xa, rồi giải quyết chiến trường bằng sức mạnh của binh chủng hợp thành. Nhưng ở Việt Nam vào thời điểm năm 1968, chúng ta chưa đủ khả năng tiến công địch dựa trên sức mạnh hỏa lực, trong khi thời cơ chiến lược và nhiệm vụ quân sự buộcchúng ta phải tiến hành cuộc tiến công và nổi dậy ở quy mô chiến lược để đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của địch, thì việc sử dụng đặc công và các đơn vị bộ binh mũi nhọn làm nòng cốt trong Tổng tiến công là chủ trương đúng đắn, táo bạo có cơ sở khoa học. Vì chúng ta có chiến tranh nhân dân, có lực lượng đặc công trong ba thứ quân được nhân dân che chở, có nghệ thuật quân sự độc đáo, lấy ít đánh nhiều, đánh gần đánh nhanh, đánh bất ngờ, đánh liên tục gây cho địch thiệt nại nặng nề lại không tốn kém về vũ khí trang bị...

        Riêng về lực lượng đặc công, tuy còn non trẻ nhưng đã tham gia tổng tiến công với lực lượng tới hàng vạn người trên một không gian rộng hàng chục vạn ki-lô-mét vuông, đồng loạt tiến công trong cùng thời điểm vào những mục tiêu quan trọng thì đó là một điều kỳ diệu của nghệ thuật tác chiến độc đáo. Thượng nghị sĩ Mỹ Rô-bớt Ken-nơ-đi ngày 10 tháng 2 năm 1968 phải kinh ngạc kêu lên: “Tại sao nửa triệu lính Mỹ và 70 vạn lính ngụy Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất, lại không có khả năng bảo vệ được một thành phố khỏi bị đối phương tiến công”. (Theo Gơ-bơ-ri-en Bôn-nê trong sách “Chiến lược quân sự”).

        Sở dĩ lực lượng đặc công biệt động hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, là bởi có sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Quân ủy trung ương, Bộ Quốc phòng; sự che chở giúp đỡ tận tình của nhân dân cả nước, nhất là các địa bàn đặc công tác chiến; sự quán triệt sâu sắc nhiệm vụ của các cấp ủy Đảng và chỉ huy các cấp của các lực lượng đặc công và các mặt trên nên đã tiến hành công tác chuẩn bị toàn diện, công phu, đưa một lực lượng lớn, khối lượng vũ khí trang bị lớn vào ngay trong hậu phương đối phương, bí mật, an toàn, đúng thời gian quy định mà đối phương không hay biết gì. Khi thực hành tác chiến thì lực lượng đặc công có quyết tâm rất cao, rất dũng cảm, ngoan cường, kỹ thuật, chiến thuật giỏi và tinh nhuệ, khắc phục mọi khó khăn, bằng mọi cách để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Nhiều trận đánh chỉ còn một, hai người vẫn kiên quyết giữ mục tiêu khi chưa có lệnh rút lui...

        Việc hiệp đồng và bảo đảm cho tác chiến của bộ đội đặc công biệt động trên không gian rộng lớn với nhiều trận đánh, nhiều lực lượng và phương tiện vật chất trong điều kiện bí mật cũng là điều kỳ diệu. Điều đó chứng tỏ vai trò chỉ đạo của Bộ, của Bộ Tư lệnh Đặc công, Bộ Tư lệnh các mặt trận rất tỉ mỉ, chặt chẽ và đặc biệt vai trò các cấp ủy Đảng, các cơ sở và nhân dân các khu vực tác chiến rất quan trọng.  Không có chiến tranh nhân dân, không có thế trận trên cả ba vùng chiến lược, không có nhân dân yêu nước của cả 2  miền Nam Bắc... thì không thể làm được điều đó, không thể có một “Tết Mậu Thân” chấn động địa cầu.

        Đã 30 năm qua, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 vẫn là một sự kiện nổi bật, một mốc son sáng chói trong lịch sử chống đế quốc Mỹ xâm lược, đáng để cho chúng ta và con cháu chúng ta tự hào, học tập, bạn bè thế giới khâm phục. Chúng ta cũng biết đến những người đã trực tiếp tham gia, nhất là những người đã hy sinh anh dũng trong Tổng tiến công để góp phần rút ngắn con đường đi đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, để ngày hôm nay chúng ta được hưởng hạnh phúc trong hòa bình, xây dựng đất nước từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2017, 04:53:04 am

CÁCH ĐÁNH SÁNG TẠO

HOÀNG DŨNG                       
Trưởng ban Tổng kết chiến lược – BQP       

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (năm 1968) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là một trong những sự kiện lớn, có tầm vóc lịch sử và thời đại. Song, vẫn còn dồn đọng những ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau, trong cách nhìn nhận đánh giá sự kiện này không chỉ ở nước Mỹ mà cả trong nước ta.

        Những năm tháng gần đây, đã có thêm nhiều cứ liệu mới từ cả hai phía, ta và đối phương được công bố. Độ lùi thời gian và sự lắng đọng của dòng chảy lịch sử cho phép ta tiếp cận sâu hơn, xác thực hơn, trước tiên là nhằm đánh giá đúng sự kiện. Đương nhiên cần phải có cái nhìn toàn diện và tổng thể cả về chính trị, chiến lược và chính sách... Trên ý nghĩa đó, tôi xin phép cung cấp thêm một vài nét thông tin về trận quyết chiến lịch sử này.

        1. Tư duy sáng tạo về cách đánh của trận quyết chiến.

        Kháng chiến chống Mỹ là một trong cuộc chiến tranh cách mạng. Phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân và  nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc của ta là sự thể hiện phương pháp cách mạng. Nó phải tuân theo quy luật của phương pháp cách mạng nên nói đến cách đánh, không thể chỉ nói đơn thuần về mặt quân sự mà nhất thiết phải bao gồm cả quân sự, chính trị, chiến tranh và khởi nghĩa, tiến công và nổi dậy, đánh địch trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị, binh địch vận, trên cả ba vùng chiến lược. Trong quá trình 21 năm chống Mỹ, cứu nước, dưới ngọn cờ lãnh đạo chiến tranh cách mạng của Đảng, nhân dân ta đã trải qua hai đỉnh cao thắng lợi, đồng thời có thể gọi là hai trận quyết chiến chiến lược.

        Một là, đỉnh cao thắng lợi trực tiếp đánh bại đội quân viễn chinh Mỹ cùng chiến lược “chiến tranh cục bộ” của chúng ở thời điểm đế quốc Mỹ đã dốc cố gắng chiến tranh cao nhất, quyết định đánh cho “Mỹ cút” bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân (1968).

        Hai là, trận quyết chiến chiến lược đánh thắng chiến lược chiến tranh cuối cùng của Mỹ, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại vào mùa Xuân 1975 đại thắng, thu giang sơn về một mối.

        Điểm đặc sắc và cũng là nét nổi bật nhất trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự của ta trong Tết Mậu Thân là đã tìm ra và thực hiện thành công xuất sắc một cách đánh mới vượt ra ngoài dự lường và mọi sự tính toán trước đó của Nhà trắng - Lầu năm góc và bộ Tư lệnh MACV ở Sài Gòn.

        Đến mùa Thu năm 1967, quân và dân ta đã thắng liên tiếp hai cuộc phản công chiến lược 1965-1966 và 1966-1967 của Mỹ ở miền Nam, đánh thằng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của chúng ở miền Bắc, làm thất bại một bước đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động.

        Đánh giá tình hình chiến lược lúc đó, ta cho rằng lực lượng quân sự của địch còn rất đông, tiềm lực chiến tranh của chúng còn lớn, nhưng trước những thất bại liên tiếp của cuộc chiến tranh trên bộ ở miền Nam và hiệu lực hạn chế của cuộc chiến tranh không quân đánh phá miền Bắc và trên đường hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam, giới cầm quyền nước Mỹ bị phân hóa thành nhiều phe phái đối lập giữa hòa và chiến. Tuy chính phủ Mỹ vẫn ngoan cổ chủ trương tiếp tục cuộc chiến tranh, sang chỉ tăng giới hạn cuối cùng việc đưa quân Mỹ sang Việt Nam tới con số tột đỉnh 530.000 vào cuối năm 1968. Đế quốc Mỹ đang bị kẹt trong thế ngập ngừng về chiến lược, tiến lui đều khó.

        Như vậy, cố gắng chiến tranh của Mỹ lúc này đã đến ỉnh cao. Tư duy chiến lược của ta trải qua một quá trình phân tích, chọn lựa để tìm ra một cách đánh thích hợp nhất bao gồm cả mục tiêu, hướng tiến công, phương thức đánh và thời điểm nổ súng. Nếu đánh theo kiểu như các hoạt động đông - xuân hai năm trước thì vẫn có thể tiêu hao, tiêu diệt thêm một số lực lượng dịch, mở được đất, giành thêm dân, nhưng sẽ không tạo được chuyển biến chiến lược gì đáng kể. Ta cũng đã đề ra mục tiêu cao hơn là phấn đấu “tiêu diệt lữ đoàn Mỹ”, “đánh gục một số Sư đoàn ngụy”, nhưng sức ta lại chưa cho phép giành thắng lợi chắc chắn. Và làm như vậy thì cuộc chiến tranh vẫn nhùng nhằng kéo dài.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2017, 04:53:35 am

        Tình hình chiến lược đã cho phép ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định. Đây là thời cơ chiến lược lớn để tiến hành một cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt (lúc bấy giờ ta gọi là tổng công kích - tổng khởi nghĩa), tuy rằng trên chiến trường quân địch còn nguyên vẹn trên một triệu quân, trong đó có nửa triệu quân Mỹ làm nòng cốt.

        Cần giáng cho quân đích những đòn tiến công sấm sét làm thay đổi cục diện chiến tranh, đặc biệt là làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc không phải xuống thang chiến tranh. Phải mạnh dạn, táo bạo, không ngần ngại .

        Điều trước hết là vấn đề tạo thế, tạo lực, chọn hướng tiến công cho đúng, có cách đánh hay, cả quân sự và chính trị, cả tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, cả chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực và chiến tranh nhân dân địa phương; phải chọn đúng thời cơ tiến công để tạo được bất ngờ lớn nhất.

        Chủ trương của ta là căng địch trên khắp các chiến trường, kéo quân chủ lực, nhất là quân Mỹ ra các chiến trường lựa chọn (rừng núi, giáp ranh), tiêu diệt bộ phận và giam chân các binh đoàn quân Mỹ. Đó là một đòn đánh chính, một hướng tiến công của bộ đội chủ lực; không phải là đơn thuần nghi binh mà là một hướng phối hợp quan trọng.

        Một đòn chính nữa là đưa chiến tranh vào thành thị. Đây là hướng rất hiểm, đồng thời là hướng chủ yếu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy nhằm đánh ập vào các thành thị, hệ thống trung tâm đầu não chỉ huy, là “tim và óc” của kẻ thù, các kho tàng, hậu cứ, các sân bay bằng lực lượng quân sự tinh nhuệ là chính, cùng với lực lượng chính trị của quần chúng cách mạng, kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh địch vận.

        Từ ngày 12 đến 27-1-1968, Liên quân Lào - Việt mở chiến dịch Nậm Bạc. Ngày 20 tháng 1 năm 1968 ta mở màn chiến dịch Khe Sanh. Những quả đạn pháo tầm xa bắn vào Tà Cơn (Khe Sanh) như “rơi ngay vào Oa-sinh-tơn”. (Lực lượng ta tham gia chiến dịch Khe Sanh gồm 3 Sư đoàn (304, 320, 325) và 3 trung đoàn bộ binh cùng các trung đoàn pháo binh, pháo cao xạ, công binh, xe tăng hình thành một chiến dịch tiến công hợp đồng binh chủng).

        Khe Sanh trở thành trận đánh được bàn cãi nhiều nhất trong cuộc chiến tranh này... Tổng thống Giôn-xơn bắt các tham mưu trưởng liên quân lập văn kiện, “được ký tên bằng máu  cam kết rằng Khe Sanh sẽ không sụp đổ ( Mai-cơn Mác-li-a - Cuộc chiến tranh 10 ngàn ngày, Sách dịch, Nxb Sự thật, Hà Nội 1990, tí. 148). Oét-mo-len đã phải điều đến 3 Sư đoàn, lệnh cho máy bay B.52 đánh phá. Mặt trận Khe Sanh, đã thu hút và giam chân được một bộ phận lớn các Sư đoàn quân địch (17/33 lữ đoàn), phối hợp rất tích cực với cuộc tiến công và nổi dậy toàn miền.

        Đúng vào đêm giao thừa Tết Mậu Thân (30 và 31-1-1968), quân và dân miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy, đánh vào 4 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn, 4 bộ Tư lệnh quân đoàn, hầu hết các bộ Tư lệnh Sư đoàn, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần.  Tại Sài Gòn, đặc công và biệt động đánh thắng vào tòa Đại sứ Mỹ. Ta làm chủ thành phố Huế 25 ngày đêm. Nhân dân nông thôn Nam Bộ và miền Trung Trung Bộ tiến công và nổi dậy dồn dập, phá rã hàng mảng lớn bộ máy kìm kẹp, bức hàng, bứe rút hàng trăm đồn bốt. Quân ngụy tan rã từng mảng lớn, trong mấy ngày Tết. ‘chiến tranh Việt Nam có quá nhiều bất ngờ, nhưng không có bất ngờ nào làm người ta phải sửng sốt nhiều hơn trận tiến công Tết. Đặc biệt nó lại diễn ra ngay trong Sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, nơi từng nhiều lần tuyên bố rằng “tình hình tồi tệ đã qua rồi”. Tờ Thời báo Mỹ số ra ngày 9-2-1968 gọi đây “chắc chắn là một hành động bất ngờ thần thánh, một lực lượng địch tản mát và không ai thấy được, bị săn đuổi khắp nơi, không lúc nào ngừng, bỗng dưng xuất hiện và đồng loạt tiến công ở hàng trăm trận địa trên khắp nước”. Giới quân sự Mỹ cho rằng vũ khí mạnh nhất của cuộc tiến công Tết là sự bất ngờ.

        Tại chiến trường, nửa triệu quân Mỹ “như con cá voi mắc cạn”. Cả nước Mỹ bị rung chuyển. Báo chí phương Tây hồi đó mô tả cuộc tiến công Tết là một tiếng sét nện đúng đỉnh Nhà Trắng. Với ta cho đến thời điểm này, đây là cuộc động binh lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc.

        Thật là một quyết tâm chiến lược kiên quyết, táo bạo, biểu thị tập trung một Tư duy quân sự lỗi lạc và cực kỳ sáng tạo .Để lấy nhỏ thắng lớn, ít địch nhiều, đây cũng là sự kế thừa binh thư của Trần Quốc Tuấn “dĩ đoản chế trường”, “đánh vào chỗ không có thành, công vào chỗ không có lũy, chiến vào chỗ không có trận”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2017, 04:58:37 am
       
       2. Tạo nên một bước ngoặt quyết định cuộc kháng chiến chống Mỹ.

        Hàng chục năm nay, biết bao sách báo của nước Mỹ thua trận đã viết rất nhiều về việc đánh giá cuộc tiến công Tết của ta. Các tổ chức khoa học và nghiên cứu chiến lược Mỹ cũng đã tiến hành nhiều cuộc hội thảo (có những cuộc định kỳ) để “giải phẫu” và truy cứu nguyên nhân thất bại của Mỹ.  Có một điều khác lạ là riêng giới cầm quyền chính thức các triều đại từ thi Tổng thống Giôn-xơn lại thường tỏ thái độ cố tình lẩn tránh sự kiện Tết Mậu Thân (?). Ngày 23-l-1982, hãng truyền hình Mỹ CBS đã công bố một tài liệu dài 90 phút buộc tội tướng Uy-li-am Oét-mo-len đã có dụng ý che giấu sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam, hạ thấp số quân thâm nhập từ miền Bắc vào trong năm 1967 và thổi phồng quá mức chiến tích “tìm diệt” và đếm xách hòng phác họa bức tranh thắng lợi quân sự của Mỹ trong dịp Tết đánh lừa các nhà lãnh đạo cấp cao của ông ta tới cấp tổng thống. Oét mo-len đã kiện hãng CBS về tội vu khống và đòi bồi thường danh dự 120 triệu đô la. Sau 3 năm, ngày 19-2-1985, Oét-mo-len rút đơn kiện CBS. Vụ kiện đã được dàn xếp và giảng hòa. Dư luận Mỹ gọi đây là một “cuộc xét xử phỉ báng lớn nhất thế kỷ”1..

        Còn ở nước ta, bên thắng trận, lại cũng có những người đã ngộ nhận cho rằng cuộc tiến công Tết là một thất bại quân sự của ta. Một số người khác thì cho là “được không bằng mất” do sự tổn thất của ta quá nặng. Trong cuộc hội thảo khoa học của Bộ Quốc phòng tổ chức tháng 3 năm 1986 tổng kết thắng lợi của cuộc Tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, đã có ý kiến cho rằng “Tết Mậu Thân đã đánh dấu một bước ngoặt đi xuống của cuộc chiến tranh”(!).

        Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng đã có sự tổng kết và đánh giá rất cô đúc và chính xác về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Ở đây chỉ góp thêm một số luận chứng. Trận quyết chiến chiến lược Tết Mậu Thân đã trực tiếp đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ”, một chiến lược quan trọng và then chốt trong ba chiến lược chiến tranh của chiến lược toàn cầu quân sự “phản ứng linh hoạt của đế quốc Mỹ”. Từ phản công chiến lược bằng biện pháp ‘tìm diệt và bình định”, Mỹ phải chuyển vào phòng ngự chiến lược, thực hành biện pháp “giật và giữ”, từ leo thang trong thế thua, chúng buộc phải xuống thang chiến tranh, từ Mỹ hóa cao độ cuộc chiến tranh buộc phải chuyển sang “phi Mỹ hóa” rồi Việt Nam hóa chiến tranh”. Đế quốc Mỹ phải ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra đã chấm dứt cuộc chiến tranh không quân đánh phá miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri. Đối với Mỹ thất bại : chiến lược nặng nề đó đã làm đảo lộn thế chiến lược của Mỹ. Tại chiến trường, đảo lộn toàn bộ quan điểm của Mỹ về lực lượng so sánh, đảo lộn những nhận thức chủ quan của Mỹ trong đánh giá.phong trào giải phóng dân tộc, đảo lộn cả quan điểm chiến lược, chiến thuật trong một cuộc “chiến tranh hạn chế” kiểu thực dân mới trong khuôn khổ của chiến lược phản ứng linh hoạt. Trong cuồn sách “Giải phẫu một cuộc chiến tranh”, nhà sử học Mỹ Ga-bơ-ri-en Côn-cô đã dành cả một chương phân tích cuộc tiến công Tết và đánh giá: “Tết Mậu Thân là sự kiện quan trọng nhất của cuộc chiến tranh... Đối phương đã đạt được các mục tiêu chiến lược mà họ để ra”.

        H.Kit-xing-giơ khi đó còn ở trường đại học Ha-uốc viết cuốn sánh “Thương Lượng về Việt Nam” đã đánh giá “trong Tết Mậu Thân, Oét-mo-len đã điều 94% lực lượng tinh nhuệ nhất của Mỹ lên những nơi chỉ chiếm 4% dân số Việt Nam ở vùng rừng núi, trong đó có chiến trường đường số 9 - Khe Sanh”. ông ta cho rằng Hà Nội đã chơi trò người đấu bò lừa được “con bò tót” Mỹ ra vòng ngoài rồi dùng lực lượng quân sự, chính trì của họ, bất thần đánh ập vào các đô thị phía trong là nơi Mỹ sơ hở làm cho bộ chỉ huy Mỹ không kịp trở tay ? Cuối cùng ông ta kết luận: “như vậy chiến tranh quy ước của Mỹ không thắng tức là đã thua, còn chiến tranh du kích đối phương thì không thua, tức họ đã thắng”. Cuộc thăm dò dư luận nước Mỹ vào ngày 25-3-1968 đã kết luận rừng 80% người Mỹ coi cuộc tiến công Tết là một đòn làm thất bại những mục tiêu của Mỹ ở Việt Nam... còn tướng Oét-mo-len sau này phải xác nhận “đây là khúc ngoặt cửa cuộc chiến tranh. Lẽ ra là khúc ngoặt đi lên, nhưng đây lại là khúc ngoặt đi đến thất bại” của Mỹ.

        Với ta, tuy diễn biến thực tế đã không có khởi nghĩa ở thành thị, không có tổng khởi nghĩa như dự kiến nhưng ta thực sự đã giành được một thắng lợi quyết định. Tầm cao thắng lợi chiến lược không chỉ ở chỗ tiêu hao, tiêu diệt một số lực lượng quân Mỹ, làm cho ngụy quân, ngụy quyền suy yếu đến mức nhiều năm sau không hồi phục được mà còn ở chỗ đã làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của Mỹ, loại bỏ được đối tượng tác chiến chủ yếu là quân viễn chinh Mỹ, trên chiến trường miền Nam, đánh bại cuộc chiến tranh của không quân Mỹ ở miền Bậc. Việc đánh thắng chiến lược chiến tranh cục bộ “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một thời kỳ mới - mở đầu bước tiến lên đánh thắng chiến lược chiến tranh cuối cùng của đế quốc Mỹ.

        Về phía đối phương, chưa có sự đánh giá nào sâu sắc hơn về mức độ thất bại của Mỹ ở Việt Nam như A-Tư Slê sing-giơ, trước đó là cố vấn đặc biệt của tổng thống Ken-nơ-đi, rằng: “Ngày 31-3-1968, khi Tổng thống Giôn-xơn nói trước quốc hội về vấn đề Việt Nam, ông ta không chỉ tuyên bố ngừng leo thang quân sự, đẩy mạnh tìm kiếm thương lượng và thôi không ra tranh cử tổng thống... mà ông   ta còn nói sự sụp đổ của một chính sách mà thậm chí cũng  là sự chấm dứt của một thời đại”, (ý muốn nói đến sự chấm  dứt cửa thời đại đế quốc Mỹ tự coi là một cường quốc siêu  đằng, nói đến sự sụp đổ trong vai trò của Mỹ trên thế giới).

        Mức đánh giá ban đầu của chúng ta những ngày sau chiến tranh còn có sự dè dặt, nói thắng lợi của cuộc Tổng  tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân “là một bước ngoặt lớn’ hoặc “bước ngoặt chiến lược đầu tiên”. Đến 26 năm sau, ngày 23-4-1994, khi thông qua và kết luận tài liệu “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, Bộ Chính trị - Ban Bí thư Trung ương Đảng ta (Khóa VII) đã đánh giá rằng: tết Mậu Thân thắng rất lớn, mà lớn nhất là đánh bại được ý chí xâm lược của Mỹ, tạo nên bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh’...

-----------------------
        1. Phi-líp B.Da-vit-Sưn - Những bí mới cua cuộc chiến tranh Việt Nam, Sách dịch, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tí.48-157 (Oét-mo-len kiện CBS).


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 05:32:05 am

        3. Giới hạn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy:

        Theo ý định chiến lược trước đó của ta và sự chỉ đạo của cấp cao nhất, sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ngày Tết và đến ngày Mỹ thay đổi chiến lược, các chiến trường vẫn tiếp tục phấn đấu đưa chiến tranh cách mạng vào thành thị. Tuy sự bố trì lực lượng của chúng ta là đại bộ phận quân chủ lực vẫn đứng ở vòng ngoài nhưng tư tưởng chỉ đạo vẫn bám thành thị đến cùng đã tạo thành thế bỏ trống nông thôn. Chiến trường Nam Bộ, trước hết là Sài Gòn và Khu V có tiến hành tiếp hai đợt đánh vào thành thị tháng 5 và tháng 8 năm 1968. Riêng mặt trận Sài Gòn trong đợt tháng 5, ta còn giành được một số thắng lợi nhất định.

        Có một số ý kiến khi đánh giá về cuộc tiến công và nổi dậy Tết thường gộp cả hoạt động của ta cho đến hết năm 1968, do vậy đẻ thêm nhiều vướng mắc về cách nhìn nhận và đánh giá sự kiện Tết.

        Cuộc hội thảo dài ngày ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm 1986 về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã đi đến những kết luận đúng đắn, tuy vậy cũng đã ghi nhận kết thúc sự kiện này sau đợt đánh thứ hai là tháng 5 năm 1968.

        Năm 1973, Hội nghị Trung lương lần thứ 21 trong đánh giá về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, sau khi nêu rõ tầm cao của thắng lợi đã đánh giá thêm một số khuyết điểm: chủ quan trong việc đánh giá tình hình nên đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó chưa thấy những cố gắng mới lúc đó của địch, những khó khăn của ta, cho nên ta gặp khó khăn trong một thời gian. Chúng tôi nghĩ rằng sự nhận định đánh giá trên đây là nghiêm túc, thẳng thắn và đúng mức. Như vậy mới có thể phân biệt được đúng, sai, phải, trái; phân biệt thắng lợi, thành tích và sai lầm, khuyết điểm, để không dồn tất cả vào một cục trong nhìn nhận, xem xét và đánh giá một sự kiện lịch sử. Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên xi. Nhưng trong tổng kết và đánh giá các sự kiện lịch sử, ta cần có phương pháp xem xét và xử lý thích đáng để tiếp cận chân lý, rút ra bài học cần thiết và bổ ích.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 05:36:51 am

MỘT PHÁT KIẾN LỚN VỀ CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA

Đại tá NGUYỄN VĂN MINH       

        Sau hai mùa khô đọ sức quyết liệt với quân Mỹ, ta giành lược những thắng lợi to lớn, thế và lực của cách mạng mạnh lên, có bước phát triển mới. Dù vậy, trên thực tế ta chưa tiêu diệt được những đơn vị lớn quân Mỹ cũng như quân ngụy. Quân Mỹ bị thất bại trong kế hoạch chiến lược “tìm và diệt”, thương vong lên cao, ý chí giảm sút, đang bị động, lúng túng về chiến lược, chiến thuật, tiến lui đều khó, trong khi cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ đang đến gần. Tình hình đó tạo cho ta những điều kiện và thời cơ thuận lợi để đẩy mạnh cuộc kháng chiến. Tháng 6 năm 1967, Hội nghì Bộ Chính trị chủ trương nhân cơ hội này động viên lực lượng chuẩn bị đánh một đòn quyết định, tạo chuyển biến nhảy vọt cho cách mạng miền nam.

        Theo tinh thần đó, Bộ Tổng tham mưu soạn thảo kế hoạch tác chiến nâng dần mức đánh tiêu diệt chiến thuật sang tiêu diệt chiến dịch và chiến lược. Nghiên cứu kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị nhận thấy kế hoạch tác chiến làm theo kiểu “xuân thu nhị kỳ”, nâng dần mức đánh tiêu diệt năm sau cao hơn năm trước thì khó “xơi được thằng Mỹ”, khó có thể giành thắng lợi quyết đình theo ý đồ của Trung ương.

        Trong hai năm đánh Mỹ, ta diệt binh lực địch thì nhiều, nhưng chưa đánh tiêu diệt gọn được tiểu đoàn Mỹ nào, bắt được ít tù binh, thu chưa được nhiều vũ khí vì quân Mỹ mạnh, phương tiện hiện đại, cơ động nhanh, phi pháo nhiều. Do đó, nâng mức đánh tiêu diệt từ tiểu đoàn lên lữ đoàn, trung đoàn, Sư đoàn quân Mỹ khó có  thể làm được. Trong thơ gửi Khu ủy Sài Gòn - Gia Đình tháng 1 năm 1967, đồng chí Lê Duẩn đã chỉ ra rằng: “Trong một giai đoạn nhất định, cuộc chiến tranh cách mạng vừa quân sự vừa chính trị của ta sẽ phát triển đến tổng công kích, tổng khởi nghĩa nhằm đánh bại về cơ bản lực lượng quân sự chính trị của địch ở tất cả các vùng do chúng kiểm soát mà hướng chính là thành thị, giành trọn vẹn chính quyền về tay nhân dân”. Đồng chí còn nói thêm: “Trong quá trình chiến tranh cứu nước ở miền Nam, nếu ở giai đoạn đầu đấu tranh chính trị và quân sự ở nông thôn đã có tác dụng  quyết định giành thắng lợi từng bước và làm thay đổi lực lượng so sánh ngày càng có lợi cho cách mạng, thì ở giai đoạn cuối, những đòn tiến công mãnh liệt về quân sự và chính trị ở thành thị, đánh vào một trong những chỗ dựa của địch, cũng là những đoàn quyết định đánh bại hoàn toàn chính sách xâm lược của đế quốc Mỹ”.

        Tháng 4 năm 1967, đồng chí Nguyễn Chí Thanh ra Bắc báo cáo về tình hình miền Nam, có đề xuất với đồng chí Lê Duẩn là ta phải tổ chức những cuộc tiến công đánh thẳng vào hang ổ địch trong các thành phố, thị xã thì sẽ có chuyển biến lớn. Đồng chí Lê Duẩn tán thành ý kiến của đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Đây là vấn đề mà đồng chí Lê Duẩn đang trăn trở, ý đồ chiến lược càng sáng tỏ thêm.

        Xuất phát từ những suy nghĩ trên, khi trao đổi với đồng chí Văn Tiến Dũng về kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tham mưu, đồng chí Lê Duẩn nảy ra ý định phải có cách đánh mới, phải khởi nghĩa và tiến công địch ở đô thị nhất là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng thì mới có chuyển biến. Đồng chí Văn Tiến Dũng nhất trí với ý kiến của đồng chí Lê Duẩn, nhưng cách đánh mới như thế nào thì chưa hình dung được cụ thể. Song theo các đồng chí thì phải khởi nghĩa và đánh vào đầu não địch ở các trung tâm thành phố - nơi địch cho là an toàn, ổn định nhất. Có làm được như vậy mới đánh bại địch về chiến lược. Vì đánh được vào các thành phố, nhất là Sài Gòn mới làm thối động hậu phương địch, làm rung động nhức Mỹ, tạo nên làn sóng đấu tranh chính trị của nhân dân các đô thị miền Nam, nhân dân Mỹ, đồng thời cũng để tỏ rõ thế và lực của ta mạnh chứ không tàn lụi như Mỹ, ngụy tuyên truyền.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 05:37:12 am

        Tháng 10 năm 1967, đồng chí Trường Chinh chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị thảo luận về tình hình miền Nam, đánh giá so sánh lực lượng địch, ta và chủ trương chuyển cách đánh theo gợi ý của đồng chí Lê Duẩn. Vấn đề đặt ra là bộ đội ta có đánh được thành phố không? Có nổi dậy được không? Bộ Chính trị, mời một số đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường ra hỏi ý kiến.

        Ở Nam Bộ, các đồng chí cho biết là đánh được, nhưng có trụ được, nổi dậy được hay không thì chưa rõ. Các đồng chí Khu V thì bảo đảm ta đánh vào là có nổi dậy và thắng lợi... Bộ Chính trị tranh luận rất sôi nổi về khả năng đánh vào các thành phố và khả năng khởi nghĩa. Đòn quân sự đã rõ, nhưng gay cấn nhất là vấn đề khởi nghĩa ở đô thị trong khi lực lượng quân Mỹ, ngụy còn hơn một triệu tên, trang bị hiện đại, chính quyền Sài Gòn còn đang kìm kẹp khống chế quần chúng gắt gao. Kết thúc Hội nghị Bộ Chính trị, đồng chí Trường Chinh kết luận: Về quân sự, đánh vào thành phố là có khả năng, Bộ Tổng tham mưu làm kế hoạch tác chiến theo hướng Bộ Chính trị đã quyết; vấn đề khởi nghĩa thì phải nghiên cứu thêm và chờ ý kiến của một số đồng chí nữa sẽ quyết định.

        Giữa lúc Bộ Chính trị đang nghiên cứu, phân tích tình hình, tính toán các phương án chiến lược để có quyết định chính thức, thì quân và dân ta ở miền Nam, sau khi đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti ở chiến khu Dương Minh Châu, tiếp tục tiến công địch trên đường số 4, đánh địch ở thị xã Phước Long, Lộc Ninh, tập kích sân bay Trà Nóc, Sở chỉ huy Sư đoàn dù 101 Mỹ, v.v... giành những thắng lợi lớn.  ở Tây Nguyên, ta mở chiến dịch Đắc Tô đánh thiệt hại nặng hai lữ đoàn Mỹ. Các đòn tiến công này buộc Oét-mo-len phải hủy bỏ cuộc phản công chiến lược lần thứ ba, co lực lượng về giữ Sài Gòn - Gia Định và Trị - Thiên. Rõ ràng địch có bước suy yếu mới. Trong khi đó, sáu tháng cuối năm chi viện của miền Bác cho chiến trường miền Nam tăng hơn các năm trước, làm cho lực lượng cách mạng và lực lường ví trang giải phóng phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, thế trận chiến tranh nhân dân được củng cố vững chắc và có bộc phát triển mới.

        Trên cơ sở tình hình đặt ra, đầu tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp nhận định: “Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược”. Do thất bại có tính chất chiến lược trong năm 1967, xu thế phát triển cuộc chiến tranh trong cả nước năm 1968 là : “Địch sẽ ngày càng chuyển vào phòng ngự một cách bị động hơn trước".

        Từ những nhận định trên, Bộ Chính trị chủ trương:

        “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. Đây là nhiệm vụ trọng đại và cấp bách. Bộ Chính trì quyết định: Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định”.

        Ta tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong điều kiện địch còn hơn một triệu quân và có tiềm lực chiến tranh lớn cho nên đòn tiến công quân sự trên các chiến trường chính phải kết hợp chặt chẽ với nổi dậy của nhân dân ở các đô thị lớn để hỗ trợ lẫn nhau, thúc đẩy, toàn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy khắp cả 3 vùng đô thị, nông thôn đồng bằng, miền núi. Bộ Chính trị dự kiến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy có thể phát triển theo ba khả năng:

        Một là ta giành thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, công kích và khởi nghĩa thành công ở các đô thị lớn, ý chí xâm lược của địch bị đè bẹp, địch phải chịu thương lượng đi đến kết thúc chiến tranh theo mục tiêu, yêu cầu của ta.

        Hai là, tuy ta giành thắng lợi quan trọng ở nhiều nơi nhưng địch vẫn còn lực lượng dựa vào những căn cứ lớn và tăng thêm lực lượng từ ngoài vào phản công giành lại những vị trí quan trọng và các đô thị lớn - nhất là Sài Gòn để tiếp tục chiến đấu với ta.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 05:37:31 am

        Ba là, Mỹ tăng cường nhiều lực lượng, mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, sang Lào và Cam-pu-chia hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh, gỡ thế đang thua của chúng.

        Bộ Chính trị chỉ rõ ta phải nỗ lực phi thường giành thắng lợi cao nhất theo khả năng một, nhưng phải chuẩn bị sẵn sàng chủ động đối phó với khả năng hội, khả năng ba, tuy ít.

        Tháng 1 năm 1968, để giữ bí mật ý đồ chiến lược, Ban Chấp hành Trung ương lên họp ở Kim Bôi, Hòa Bình để thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng12 năm 1967. Hội nghị Trung ương phân tích sâu sắc toàn diện các vấn đề Bộ Chính trị nêu ra, tính kỹ các phương án, cuối cùng Trung ương nhất trí với Bộ Chính trị và lấy đó làm Nghị quyết Trung ương (lần thứ 14).  ..

        Phát biểu trong Hội nghị, đồng chí Trường Chinh cho đây là một sáng tạo lớn của Đảng ta. Lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới, vấn đề đánh tiêu diệt chiến dịch và chiến lược để kết thúc chiến tranh đã trở thành quy luật, trong chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ sau khi Hồng quân Liên Xô đánh tiêu diệt Tập đoàn quân 6 và Tập đoàn quân xe tăng 4 của Đức ở Xta-lin-gtat thì cuộc chiến trận vệ quốc của nhân dân Liên Xô mới đi vào bước ngoặt thắng lợi, tạo điều kiện cho Hồng quân Liên Xô phát triển cuộc tiến công đánh tiêu diệt chiến lược quân Đức ở Béc-lin; tiếp sau tiêu diệt đội quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu, Nội Mông, Triều Tiên, Xa-kha-lin... cùng với thắng trận quân các nước đồng minh đòi buộc Đức quốc xã và Nhật Hoàng đầu hàng Đồng Minh không điều kiện, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của ta cũng diễn ra bằng các đòn đánh tiêu diệt chiến thuật, chiến dịch rồi tiến lên đánh tiêu diệt chiến lược ở Điện Biên Phủ, kết thúc chiến tranh. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, kẻ địch là một siêu cường, chúng tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược “tăng cường Tư bản” nhờ vào những thành tựu khoa học - kỹ thuật phá triển với những phương tiện hiện đại, tinh xảo và vũ khí công nghệ cao, sức cơ động lớn. Khi tiến hành kế hoạch “tìm và diệt” Bộ Quốc phòng Mỹ tin tưởng sẽ “đưa cuộc chiến tranh đến tận xứ sở của địch, làm cho kẻ địch không thể tự do đi lại ở bất cứ nơi nào trên đất nước... và giáng cho kẻ địch những đòn thật nặng nề”. Qua hơn hai năm đọ sức với ta, quân Mỹ bị thất bại liên tiếp, không đưa được “chiến tranh đến tận xứ sởi’ của đối phương như chúng muốn. Còn ta tuy giành được những thắng lợi lớn, đã tạo được những thời cơ cách mạng thuận lợi, nhưng so sánh lực lượng trên chiến trường ta không hơn địch, trang bị vũ khí thua kém đối phương, cơ động tác chiến chủ yếu bằng sức người, đôi chân, nên không đánh được những đòn tiêu diệt chiến dịch, chiến lược đối với quân Mỹ cũng như quân ngụy, để giành thắng lợi quyết định. Từ thực tiễn đó, Đảng ta đã đề ra cách đánh thẳng vào nơi đầu não địch ở trung tâm các đô thị, đưa cuộc chiến tranh vào tận hang ổ, hậu phương địch bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa, làm cho ý chí xâm lược của Mỹ lung lay, buộc chúng phải ngừng bắn, chịu rút quân và đàm phán với ta.

        Kết quả cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân chứng tỏ Đảng ta không máy móc, mà luôn luôn có những phát kiến chiến lược lớn, luôn luôn sáng tạo trong chủ trương cũng như chỉ đạo toàn dân, toàn quân hành động.

        So sánh với các cuộc chiến tranh trên thế giới và sau 30 năm nhìn lại, suy nghĩ về chủ trương của Đảng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân (1968), ta càng thấy rõ tầm nhìn chiến lược sắc sảo, tư duy độc lập, tự chủ và đầy sáng tạo của Đảng đứng đầu là Chủ tịch. Hồ Chí Minh mà tập trung là Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương, trong đó đồng chí Lê Duẩn đã có những phát kiến chiến lược sáng tạo


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 05:45:15 am

GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ NHÂN DÂN LAO ĐỘNG SÀI GÒN CHUẨN BỊ CHO CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG TẾT MẬU THÂN

VŨ TANG BỒNG       

        Đến cuối năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta ở miền Nam đã giành được những thắng lợi to lớn. Trên cơ sở nhận định đúng đắn tình hình và phân tích thời cơ một cách khoa học, Đảng ta quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Mậu Thân nhằm giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Sài Gòn - Gia Định được chọn làm trọng điểm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

        Tuy chưa đạt được yêu cầu theo khả năng thứ nhất - một trong ba khả năng mà Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 14 đã dự kiến, nhưng thắng lợi của cuộc Tổng tiến công Mậu Than đã làm rung chuyển cả nước Mỹ. Ta đã làm thay đổi hẳn thế trận, đưa chiến tranh vào tận sào huyệt địch, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của chúng, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán với ta tại hội nghị Nhân kỷ niệm lần thứ 30 ngày nổ ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, dựa vào các Báo cáo tổng kết của Bộ chỉ huy quân sự Thành phố ồ Chí Minh, của Bộ Tư lệnh Quân khu 7, kết hợp với khảo sát thực tế, khai thác nguồn Tư liệu kể từ các nhân chứng, chúng tôi xin đề cập tới vai trò to lớn của công nhân và nhân dân lao động Sài Gòn trong quá trình chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công ở địa bàn trọng điểm này.

        1. Tham gia xây dựng thế trận, tạo chỗ đứng chân, bảo đảm vật chất cho các hoạt động chiến đấu trong nội đô.

        Sài Gòn - Gia Định dưới thời Mỹ-ngụy là thành phố lớn nhất miền Nam có hơn 3 triệu dân, với 12 quận và 6 huyện ngoại thành. Đây không chỉ là nơi tập trung các cơ quan đầu não mà còn là căn cứ quân sự khổng lồ, có quân cảng và căn cứ không quân vào loại lớn nhất của Mỹ ở Đông Nam Á, vì vậy chúng bảo vệ rất chu đáo, cẩn mật.  Địch lập ra 3 vành đai phòng thủ, nhằm ngăn chặn từ xa các đòn tiến công của ta:

        •   Bộ binh cơ giới và trực thăng vũ trang của Mỹ án ngữ vành ngoài.

        •   Lực lượng chủ lực ngụy bảo vệ khu trung tuyến.

        •   Vùng ven đô và trong nội thành là mạng lưới cảnh sát do thám, phòng vệ dân sự gồm hàng chục vạn tên.  Hệ thống tổ chức khủng bố của địch cực kỳ tàn bạo nhưng lại rất tinh vi, được đúc rút từ kinh nghiệm chống nổi dậy của bọn phản động nhiều nơi trên thế giới.

        Trong tình hình kể trên, việc tổ chức và duy trì thường xuyên các hoạt động chiến đấu, đặc biệt là chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công là công việc cực kỳ phức tạp và khó khăn. Trên cơ sở đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, kế thừa và vận dụng những kinh nghiệm xây dựng căn cứ trong khởi nghĩa vũ trang, dựa vào giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thanh niên, học sinh thành phố, khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định đã dày công xây dựng lực lượng, tạo chỗ đứng chân, bảo đảm vật chất cho các hoạt động chiến đấu trong nội đô. Đó là cả một quá trình chuẩn bị trong nhiều năm.

        Sau Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, một số cán bộ đảng viên trung kiên, có kinh nghiệm hoạt động hợp pháp như Phạm Văn Hai, Lê Tấn Quốc, Ngô Thành Vân (Ba Đen), Đỗ Văn Trực (Ba Phong), Trần Thị Bi (Ba Bi), Nguyên Văn Trí (Hai Tro Đỗ Văn Căn (Ba Mủ)... được Thành ủy Sài Gòn - Gia Định phân công ở lại xây dựng cơ sở trong công nhân và trong các nghiệp đoàn, xóm thợ. Thông qua quan hệ gia đình, quan h họ hàng, quan hệ đồng hương, đồng nghiệp... ngay từ trước năm 1960 các đồng chí đã xây dựng được hàng trăm cơ sở trong các nghiệp đoàn thợ máy, tắc-xi, cao su, thợ bạc, xếp dỡ...

        Từ năm 1960 trở đi, các cơ sở được nhân mối phát triển thêm. Theo sự chỉ đạo của Khu ủy các cơ sở trung kiên nhất được xây dựng thành các “lõm” chính trị, các khu căn cứ ngay trong lòng địch, tạo nên chỗ đứng chân, nguồn bảo đảm vật chất và bổ sung lực lượng cho các đơn vị biệt động, bộ đội chủ lực và bộ đội đia phương. Các cơ sở đều có vỏ bọc hợp pháp, đa dạng và được phân chia theo yêu cầu nhiệm vụ trước mất hoặc lâu dài. Có cơ sở cả gia đình đều là những người trụ bám và cất giấu phương tiện hoạt động, vừa là những chiến sĩ biệt động trực tiếp chiến đấu như gia đình các đồng chí Lê Tấn Quốc, Nguyễn Thanh Xuân (Bảy Bê)...


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 08:21:18 pm
         
        Có cơ sở vừa là nơi trú ém, vừa là nơi bảo đảm kinh tài cho cách mạng, bảo đảm các yêu cầu vật chất phục vụ trực tiếp cho chiến đấu (quần áo, đồng hồ, xe đạp, xe gắn máy, Ô tô. ) như cơ sở kinh tài Nam Long do đồng chí Phạm Đình Quảng phụ trách. Vốn là một thợ sửa chữa Ô tô nổi tiếng ở Sài Gòn, khi nhận nhiệm vụ ở lại xây dựng cơ sở, đồng chí Phạm Đình Quảng đã tập hợp các bạn thợ cùng nghiệp đoàn thợ máy trước đây lập ra tổ hợp sửa chữa Ô tô, xe máy, sản xuất xe đạp, sau đó phát triển thành hãng Nam Long. Nhiều công nhân của hãng cùng đồng chí Quảng là những chiến sĩ biệt động ưu tú. Ngoài việc nuôi dưỡng, trực tiếp phục vụ các yêu cầu chiến đấu của biệt động, suốt từ năm 1956 đến 1975, hãng Nam Long đều đặn gửi ra căn cứ tháng ít nhất cũng 50.000 đồng, tháng cao nhất là 5 triệu đồng (số tiền khá lớn khi đó có thể nuôi 1 đại đội hàng tháng trời). Chỉ một ngày sau khi thành phố được giải phóng (30-4-1975) hãng Nam Long xuất một lúc 3.000 xe đạp tặng các cán bộ chiến sĩ làm nhiệm vụ quân quản. Đây cũng là cơ sở đầu tiên của Sài Gòn và miền Nam được chuyển thành xí nghiệp Quốc doanh - Đó là xí nghiệp sản xuất xe đạp và phụ tùng xe máy Cửu Long.

        Ngoài hãng Nam Long còn có hãng Sơn Bạch Tuyết và nhiều tổ hợp sản xuất khác cũng là cơ sở, chỗ đứng chân, nguồn cung cấp cho các hoạt động chiến đấu trong nội thành. Đặc biệt, hầu hết các cơ sở cao su ven Sài Gòn từ chủ sở, lái xe, thợ cạo mủ, thợ cán mủ, thợ chế biến gỗ...  đều là các chiến sĩ biệt động hoặc cơ sở cách mạng trung kiên.

        Cho đến trước ngày nổ ra cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, riêng trong nội thành đã có 11 đội biệt động cấp thành, 50 đội biệt động cấp quận và các đoàn thể: Công vận, phụ vận, Hoa vận, Thành đoàn... Ngoài ra còn có nhiều tổ tự vệ, du kích mật. Do điều kiện chiến đấu khó khăn phức tạp trong nội đô, nên ngay từ khi thành lập (trong kháng chiến chống Pháp) cho đến kháng chiến chống Mỹ, tuyệt dại bộ phần cán bộ chiến sĩ biệt động đều là công nhân hoàn cảnh xuất thân từ những gia đình công nhân giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Các “lõm chính trị”, “lõm” căn cứ cũng được xây dựng chủ yếu trong các xóm phố lao động. Theo báo cáo tổng kết của Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh tại Hội nghị tổng kết công tác hậu cần B2 (năm 1980) thì đến trước cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, riêng Ban bảo đảm thuộc biệt động thành đã xây dựng được 19l “lõm” chính trì, “lõm” căn cứ gồm 325 gia dình công nhân và lao động trung kiên. Đó là chưa kể đến hàng ngàn gia đình ơ sở mà các đội biệt động cấp thành, cấp quận và của các đoàn thể xây dựng nên Các gia đình cơ sở là những người ‘vừa làm công tác bảo vệ vừa lo ăn mặn, cung cấp phương tiện, tiền bạc cho các chiến sĩ biệt động và các đơn vị mũi nhọn trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân cũng như trong các hoạt động chiến đấu thường xuyên. Có thể nói, nếu không dựa vào giai cấp công nhân và những người dân yêu nước thầm lặng hy sinh cho cách mạng, chúng ta không thể tổ chức được cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân ở Sài Gòn, cũng không thể xây dựng được lực lượng chiến đấu tại chỗ, không thể tổ chức được bất kỳ trận đánh nào trong nội đô.

        Nhờ dựa được vào dân, chủ yếu là giai cấp công nhân và những người dân lao động, thanh niên, học sinh của  thành phố, nên trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân, Khu ủy Bộ Tư lệnh Mặt trận Sài Gòn - Gia Định hầu như không phải lo ăn mặc, sinh hoạt cho các lực lượng biệt động mà chỉ tập trung vào việc vận chuyển, cất giấu vũ khí, cấp cứu, nuôi dưỡng, bảo vệ thương binh. Ngay cả ở hai khâu then chốt này cũng phải dựa vào các cơ sở quần chúng.

        2. Xây dựng hệ thống kho hầm chứa vũ khí và vận chuyển vũ khí từ căn cứ vào ém sẵn trong nội thành, phục vụ các yêu cầu tác chiến.

        Theo phương án tác chiến, cuộc Tổng tiến công và nổidậy sẽ đồng loạt diễn ra trên phạm vi toàn thành phố và toàn miền Nam. Việc đánh chiếm bước đầu 25 mục tiêu ở Sài Gòn như dinh Độc Lập, Sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Đài phát thanh... được giao cho biệt động cấp thành, biệt động cấp quận và các đoàn thể, các tổ tự vệ mật cũng được giao mục tiêu của cấp mình. Các lực lượng biệt động có nhiệm vụ bất ngờ tập kích chiếm giữ  bàn đạp sau đó sẽ có các tiểu đoàn chủ lực mủi nhọn và lực lượng nổi dậy của quần chúng tới hỗ trợ dứt điểm, chiếm lĩnh hoàn toàn mục tiêu. Thực tế cho thấy, trong  chiến tranh nếu không có đòn tiến công quân sự dứt điểm của bộ đội chủ lực thì quần chúng không thể nổi dậy giành quyền làm chủ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 08:21:39 pm

        So với các hoạt động chiến đấu trước đây, nhiệm vụ của biệt động Sài Gòn trong cuộc Tổng tiến công càng nặng nề, khó khăn phức tạp hơn. Lực lượng chiến đấu tăng nhanh, phương thức tác chiến cũng thay đổi. Nhu cầu vũ khí ngoài mìn, lựu đạn còn là hàng tấn thuốc nổ các loại, tiểu liên AK, súng cối, B40... Đặc biệt, ngoài việc bảo đảm cho các trận chiến đấu thường xuyên, còn phải có dự trữ để phục vụ các đơn vị biệt động bất ngờ tấn công dứt điểm các mục tiêu đầu não.

        Tuy nhiên công tác chuẩn bị cho tổng tiến công lại có thuận lợi rất lớn là được thừa hưởng những thành quả xây dựng của nhiều năm trước đó. Ngay từ những năm 1964-1965, thực hiện phương án đón thời cơ chiến lược. (Theo dự kiến, thời cơ chiến lược sẽ xuất hiện vào cuối năm 1965, song do Mỹ đưa quân vào rất nhanh nên thời cơ chiến lược lúc này chưa xuất hiện). Khu ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Sài Gòn - Gia Định đã thành lập Ban bảo đảm gồm hai đội A20 và A30 chuyên làm nhiệm vụ xây hầm và tổ chức vận chuyển cất giấu vũ khí. (A20 chuyên lo tổ chức vận chuyển vũ khí từ căn cứ vào thành phố do đồng chí Đỗ Tấn Phong làm đội trưởng, đồng chí Dương Long Sang làm chính trị viên; A30 chuyên xây dựng hầm cất giấu vũ khí trong thành phố do đồng  chí Ngô Thành Vân (Ba Đen) làm đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Trí thai Tri) làm chính trị viên).

        Việc lựa chọn người đưa vào các đội A20 và A30 được tiến hành theo những tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt. Những người được chọn đều phải là những cán bộ đảng viên và quần chúng trung kiên đã từng được thử thách trong lao tù đã từng chịu đựng và vượt qua mọi thủ đoạn tra tấn của kẻ thù. Tất cả đều phải có nghề nghiệp ổn định, đã tạo được “vỏ bọc” vững chắc. Đây là hai tiêu chuẩn bắt buộc và cũng là hai tiêu chuẩn quan trọng nhất. Cũng vì vậy tuyệt đại bộ phận những đồng chí này đều đang là những công nhân hoặc thợ thủ công lâu năm. Khi được chọn vào A20 và A30, các đồng chí tạm rút khỏi các hoạt động chiến đấu trực tiếp.

        Nhờ công tác tổ chức được tiến hành khẩn trương, chu đáo cẩn mật, với trình độ có thể nói đạt đến mức nghệ thuật; nhờ tinh thần tận tụy, sẵn sàng hy sinh của các cán bộ chiến sĩ, của những người công nhân và nhân dân lao động thành phố, nên đến trước cuộc Tổng tiến công, hai đội A20 và A30 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đã xây dựng được hàng trăm kho hầm chứa hàng trăm tấn vũ khí sát các vị trí chiến lược của địch. Mỗi mục tiêu đều được “dành sẵn” từ 1 đến 3 hầm vũ khí, số lượng vũ khí mỗi hầm khoảng một tấn.

        Việc xây dựng các căn hầm cùng với quá trình tiếp nhận, cất giấu, bảo quản khối lượng vũ khí nói trên diễn  ra trước mắt địch là một chuỗi công việc cực kỳ khó khăn và nguy hiểm. Nó đòi hỏi người thực hiện nhiệm vụ ngoài  kinh nghiệm hoạt động bí mật, ngoài trí thông minh phải chấp nhận những hy sinh thầm lặng không thể tính được. Các đồng chí đó phải tự mình lo mua vật liệu và xây cất.  Phải giữ bí mật tuyệt đối cả với những người thân trong gia đình. Ngay bản thân các đồng chí đó khi xây dựng xong hầm mới được biết sẽ dùng hầm để cất giấu vũ khí, còn dùng để đánh mục tiêu nào và khi nào sử dụng thì không được phổ biến. Có thể nói mỗi căn hầm vũ khí được xây dựng trong nội đô là cả một kỳ công.

        Đồng chí Đỗ Văn Căn (tức Ba Căn, tức Ba Mủ) công nhân hãng dầu Khánh Hội, năm 1954 được gài lại hoạt động đơn tuyến trong nghiệp đoàn thợ bạc. Khi được giao nhiệm vụ đã cùng vợ là đồng chí Nguyễn Thị Cúc và 5 con nhỏ bán nhà ở Tân Định, đến căn nhà 183/4 đường Trần Quốc Toán (Quận 10) ngay sát hông “Biệt khu Thủ đô” của nguỵ. Cũng theo lệnh trên, đồng chí bỏ nghề thợ bạc chuyển sang học nghề cạo mủ cao su, nhằm tạo nên cái “vỏ’, hợp pháp đe gần một năm sau đó, vận chuyển hơn một tấn vũ khí được giấu trong các bành mủ cao su, về cất giữ ở căn hầm do đồng chí xây dựng ngay cửa ra vào, nơi hàng ngày gia đình dùng làm chỗ ăn ngủ, tiếp khách. Quá trình đào hầm vợ con không hề hay biết. Sau đó Ba Căn lại cùng với ông Phạm Văn Đây, công nhân chế biến cao su xây dựng căn hầm vũ khí thứ hai tại nơi sản xuất ở 232 đường Dương Bá Trạc (cạnh cầu chữ Y). Còn chị Cúc cũng bí mật xây dựng một căn hầm vũ khí khác dưới đáy bể cá cảnh ở căn nhà thứ hai do chị đứng tên.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 08:21:58 pm

        Còn biết bao tấm gương chiến đấu và hy sinh thầm lặng không thể kể hết như vợ chồng anh hùng liệt sĩ Trần Phú Cương (Năm Mộc) xây dựng kho vũ khí dùng để đánh Đài phát thanh ngụy. Bản thân đồng chí Cương cũng là một chiến sĩ tham gia đánh chiếm Đài phát thanh và đã hy sinh anh dũng, được truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Đồng chí Năm Thuận vừa là chủ căn hầm vũ khí, vừa là lái xe cùng đồng đội đánh vào sứ quán Mỹ. Và biết bao công nhân, và nhân dân lao động Sài Gòr - gia Định đã sắn sàng hy sinh tất cả để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công. Chính những con người như thế đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thực hiện đúng ý đồ của cấp trên, góp phần làm nên những chiến công vang dội của quân dân Sài Gòn - Gia Định trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968.

        Trong điều kiện địch khủng bố ‘ngăn chặn rất khốc liệt thì vận chuyển hàng trăm tấn vũ khí vào thành phố là một nhiệm vụ then chốt trong công tác chuẩn bị cho Tổng tiến công. Khâu này đòi hỏi không những chỉ dựa vào lòng dũng cảm, trí thông minh của mỗi cán bộ, chiến sĩ và các cơ sở quần chúng, vào chất lượng mọi mặt của hệ thống hành lang đã xây dựng từ vùng giải phóng Củ Chi, Bến Cát vào nội thành mà còn đòi hỏi cơ quan lãnh đạo, chỉ huy phải biết phát huy sức mạnh của các yếu tố khách quan, chủ quan để tổ chức vận chuyển an toàn, hạn chế những tổn thất do địch ngăn chặn, đánh phá.

        Để đưa được vũ khí vào thành phố, công tác nghi trang, ngụy trang đóng vai trò quyết định. Công tác này đòi hỏi vũ khí kể cả súng và đạn B40, ĐKZ phải được ngụy trang trong các lọại hàng hóa phù hợp với sản xuất ở khu vực, phù hợp với nghề nghiệp của người giữ kho vũ khí trong nội thành. Chẳng hạn, ngụy trang bằng bành mủ cao su (vũ khí được giấu trong ruột bành mủ) thì phải xuất phát từ những khu vực đồn điền cao su. Bành mủ chứa vũ khí phải có hình thức, trọng lượng y hệt bành mủ thường, khi vận chuyển không bị xộc xệch, đề phòng địch phát hiện và vũ khí bị kích nổ. Người nhận phải là người làm nghề cán mủ hoặc sản xuất các đồ hàng cao su, có giấy tờ chuyên chở mua bán cao su. Từ đó lại đặt ra yêu cầu là phải có những đồn điền cao su do ta quản lý, phải có người của ta sắm vai chủ sở để giao thiệp ký hợp đồng sản xuất, mua bán, xuất khẩu mặt hàng này.

        Tạo được cách ngụy trang, nghi trang cao là bảo đảm chắc chắn nhất cho sự thành công của công tác vận chuyển, giúp người vận chuyển thêm bình tĩnh khi phải đối phó trực diện với kẻ thù. Nó đòi hỏi những người chuyên làm nhiệm vụ ngụy trang, nghi trang phải có óc sáng tạo, có tay nghề cao. Các kỹ xảo ngụy trang, những công nhân làm công tác ngụy trang, nghi trang được Bộ Tư lệnh Quân khu giữ gìn, bảo vệ bằng các biện pháp bảo mật cao nhất.

        Sau khi hoàn thành việc ngụy trang, nghi trang, vũ khí được vận chuyển vào thành phổ theo 3 chặng cơ bản:    

        •   Chặng thứ nhất: từ căn cứ giải phóng đến căn cứ bàn đạp (vùng giáp ranh).

        •   Chặng thứ hai: từ căn cứ bàn đạp lên trục lộ giao thông (do địch kiểm soát).

        •   Chặng thứ ba: tuyến di chuyển trên đường giao thông vào nội thành.

        Ở cả ba chặng trên, tuyệt đại bộ phận lực lượng vận chuyển đều không biết mình chuyên chở thứ hàng gì . Ở khâu cuối cùng người nhận vũ khí và người chở vũ khí cũng không được phép giáp mặt nhau, không biết giao cho ai, nhận của ai. Để đảm bảo vận chuyển đến đích và an toàn, đòi hỏi phải có sự hiệp đồng chặt chẽ, chính xác bằng ký, tín hiệu giữa các tuyến, giữa người nhận và người vận chuyển. Hệ thống ký, tín hiệu này do người chỉ huy cao nhất quy định. Với cách tổ chức trên, trước Tết Mậu Thân, hàng trăm tấn vũ khí đã được vận chuyển vào thành phố ém sẵn cạnh các mục tiêu hoàn toàn bất ngờ với địch.

        Người góp nhiều công sức vào nhiệm vụ nặng nề này là đồng chí Nguyễn Văn Chiều (Năm Chiếu) thơ ký công đoàn cao su giải phóng miền Nam, đồng thời là một chiến sĩ biệt động ưu tú Chính đồng chí là người đứng ra môi giới, thuê lại hàng chục đồn điền cao su ở Củ Chi, Bến Cát và bố trí cho đồng đội như: Sáu An, Sáu Mỉa, Tư Gia, Bảy Huệ... đứng ra quản lý, tổ chức sản xuất, chế biến và vận chuyển. Các đồng chí Ba Bảo, Nam Phùng (lái xe Ô tô), Dương Văn Ten, Mười Tùng (chở xe bò), nhín Khổ (lái đò)... là những người lập được nhiều thành tích trong nhiệm vụ vận chuyển vũ khí.  

        Ngoài cách tổ chức trên, các lực lượng biệt động vẫn dùng giao liên hoặc bản thân chiến đấu viên vận chuyển vũ khí bằng đường bộ hoặc đường sông. Cách thức vận chuyển chủ yếu là ngụy trang theo phương tiện, đồ nghề. Cách này chủ yếu chỉ chuyển các vũ khí nhẹ và gọn như: lựu đạn, súng ngắn và thuốc nổ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2017, 08:44:39 pm

        3. Góp phần cứu chữa, bảo vệ thương binh :

        Đây là vấn để rất nan giải đặt ra cho công tác bảo đảm chiến đấu, nhất là ở các trận đánh theo phương thức tập kích vào các mục tiêu đấu não của địch. Các trường hợp bị trọng thương, việc cứu chữa, bảo vệ lại càng phức tạp, do thương binh không còn tự chủ được để trèo lên xe, ôm lưng người lái xe gắn máy để nhanh chóng thoát khỏi khu vực nguy hiểm.

        Nhằm giải quyết khó khăn này, Bộ Tư lệnh Mặt trận Sài Gòn - Gia Định và chỉ huy các cấp của các lực lượng chiến đấu đã chú trọng giáo dục, xây dựng lòng dũng cảm, bảo đảm yêu cầu hiệp đồng chiến đấu, rèn luyện kỹ chiến thuật điêu luyện cho ác chiến sĩ để có thể nhanh chóng trấn áp các ổ đề kháng, các ổ phục kích của địch, hạn chế thương vong. Ngoài ra mỗi chiến sĩ còn được huấn luyện thành thục các kỹ thuật sư cứu để có thể cứu chữa sơ bộ cho mình, cho đồng đội.

        Mặt khác, ngay từ những năm trước đó Ban chỉ đạo đấu tranh đô thị đã đặc biệt chú trọng đến việc tổ chức móc nối với một số y bác sĩ trọng nội thành (có phòng điều trị, phòng khám riêng) làm nơi cứu chữa và điều trị thương binh khi cần thiết. Nhiều cơ sở quần chúng và các chiến sĩ biệt động được giao nhiệm vụ mở hiệu bán tân dược và chích thuốc dạo (tiêm thuê) dự trữ những thuốc chiến thương cần thiết. Một số gia đình cơ sở được lệnh xây dựng hầm dành riêng cho thương binh. Trong nhưng ngày tổng tiến công, nhiều cơ sở được tổ chức thành lực lượng đón thương binh bằng các loại phương tiện (chủ yếu là Ô tô, xe gắn máy) ở các điểm hẹn trước. Nếu có thương binh sẽ nhanh chóng tổ chức cấp cứu nuôi dưỡng, rồi đưa thương binh ra vùng căn cứ ở ngoại thành. Do yêu cầu bí mật, nên những người này không được biết ý định chiến đấu và mục tiêu tiến công, khi được giao nhiệm vụ đến điểm hẹn cũng không được phổ biến rõ là đón thương binh. Song do được hướng dẫn từ trước nên khi có tình huống, quần chúng sẽ chủ động xử lý theo khả năng của mình.

        Về phần chiến đấu viên, trước trận đánh, anh em đều được thông suốt địa điểm khi lên sơ đồ, phương án tác chiến. Mỗi người đều được chuẩn bị sẵn một số giấy tờ hợp pháp để đề phòng trường hợp bị thương phải nằm lại nội thành.

        Bằng tất cả các biện pháp kể trên, mỗi trận đánh và trong suốt cuộc Tổng tiến công đã hình thành nên một mạng lưới cứu chữa, nuôi giấu thương binh trong thành phố mà nòng cốt là công nhân và nhân dân lao động được giác ngộ. Dựa vào dân, các lực lượng biệt động và chủ lực đã giải quyết được công tác phức tạp và khó khăn này.

        Thực tế của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân ở Sài Gòn -Gia Định đã khẳng định đó là cách giải quyết tối ưu.

        Qua một số mặt công tác chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Mậu Thân, có thể thấy trong quá trình chỉ đạo đấu tranh nội đô, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Sài Gòn - Gia Định luôn biết phát huy ưu thế tuyệt đối vế chính trị của ta ở nội thành, biết dựa vào dân mà nòng cốt là công thân và nhân dân lao động thành phố để tổ chức đánh địch, đưa chiến tranh vào tận hang ổ của chúng. Chính thờ dựa vào dân, biết phát huy truyền thống yêu nước, kinh thần cách mạng triệt để của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động, nên chúng ta không những tổ chức được các trận chiến đấu thường xuyên mà còn mở cuộc Tổng tiến công, đánh vào tất cả các cơ quan đầu não của địch.

        Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, gắn liền với sự đóng góp to lớn của giai cấp công nhân và nhân lân lao động Sài Gòn - Gia Định. Đây cũng là những bài học kinh nghiệm lớn trong công tác xây dựng hậu phương, căn cứ địa ngay tại hang ổ của địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam do Đảng lãnh đạo.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2017, 08:46:17 pm

PHỤ NỮ TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG THAM GIA TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968

PTS ĐINH THU XUÂN         

        Phụ nữ trong lực lượng vũ trang, đặc biệt là ở Sài Gòn - Gia Định đã có những đóng góp quan trọng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân (1968).

        Theo số liệu chưa đầy đủ, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, có trên hai triệu lượt phụ nữ miền Nam tham gia nổi dậy vũ trang bằng lợi thế phát huy lối đánh ba mũi sở trường. phụ nữ lực lượng vũ trang đã giữ một vai trò quan trọng trong chiến tranh nhân dân, vừa là lực lượng xung kích trong phong trào đấu tranh chính trị, binh vận, vừa là lực lượng bảo đảm hùng hậu, đồng thời là  lực lượng chiến đấu có hiệu quả.

        Kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn đấu tranh ba mũi, phong trào phụ nữ đã phát triển nhanh, xuất hiện nhiều nhân tố mới với hàng trăm đơn vị nữ thuộc các binh chủng: bộ binh, đặc công, biệt động, pháo binh, công binh... Đặc biệt các đơn vị biệt động, sử dụng hình thức cải trang đã tỏ ra rất thích hợp với khả năng và sở trường của phụ nữ.

        Ở miền Tây Nam Bộ, đội nữ đặc công Tây Đô (thành phố Cần Thơ) đã ba lần đánh sập cầu Phụng Hiệp. Mở đầu Xuân 1968 các nữ chiến sĩ đặc công đã đánh sập cầu lần thứ Tư, cắt đứt giao thông của địch trên tuyến Cần Thơ đi đất mũi Cà Mau suốt nửa tháng trời.

        Chỉ tính riêng đợt một cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên chiến trường Nam Bộ đã xuất hiện 50 đội nữ du kích tập trung, hoạt động với nhiều hình thức linh hoạt như: vừa đánh xong là cải trang hợp pháp, đến tận hiện trường điều tra kết quả trận đánh, nắm tình hình hoặc cùng đồng bào đấu tranh chính trị, tuyên truyền, phát huy chiến thắng, kết hợp vận động binh sĩ địch.

        Trung đội nữ vũ trang Bến Tre đánh gần 250 trận, loại khỏi vòng chiến 300 lính ác ôn. Trong đợt một và đợt hai Mậu Thân, riêng bốn trong tổng số 50 đội nữ vũ trang Nam Bộ đã loại khỏi vòng chiến 500 tên địch, phá hủy hàng chục khẩu pháo cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác.

        Khi cần tìm hiểu về các đơn vị nữ vũ trang không thể không nhắc đến Đội nữ pháo binh Long An. Được thành lập từ tháng 11 năm 1967, Đội nữ pháo binh này được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Long An trang bị cối 82 ly và súng máy cao xạ 12,7 ly, có nhiệm vụ: phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, bộ đội chủ lực Miền vừa tác chiến tiêu diệt sinh lực vừa khống chế các cụm pháo của địch và vận chuyển vũ khí phục vụ chiến trường.

        Tuy mới được thành lập nhưng Đội nữ pháo binh Long An đã liên tục đánh nhiều trận lớn, nhỏ, đủ các hình thức đánh độc lập, đánh phối hợp, đánh đồn bốt, đánh phục kích  hoặc tập kích các cụm pháo binh địch ở Hiệp Hòa, Quéo Ba, Hậu Nghĩa, Kinh Xàng..., pháo kích sân bay, kho tàng địch.

        Mới hai tuổi quân, Đội nữ pháo binh Long An đã tác chiến phối hợp và đánh độc lập khoảng 220 trận, làm địch tổn thất 18 máy bay, 8 xe tăng, một kho vũ khí, một kho xăng, 24 khẩu pháo, loại khỏi vòng chiến 1.200 tên địch.

        Nhiều trận Đội nữ pháo binh ông An đã gieo nỗi khiếp đảm cho kẻ thù bằng pháo kích như trận tiến công chi khu Hiệp Hòa (tháng Giêng năm 1968), hai khẩu đội nữ phối hợp với tiểu đoàn 2676 đã làm chủ căn cứ cấp huyện này hơn một tuần.

        Tháng 4 năm 1968, trong thế đánh phối hợp với các chiến trường Hậu Nghĩa, Hiệp Hòa, Rạch Kiến, Hiệp Thanh... Đội nữ pháo binh Long An đánh hai trận đẹp mất. Trận thứ nhất, đơn vị tập kích vào chốt Mỹ (thuộc Sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới) ở ấp Voi xã My Thạnh Đông, diệt cả một đại đội cối 82 ly, pháo kích vào cụm quân Mỹ ở Đức Lập, khi chúng chuẩn bị đi càn quét làm hỏng một số xe quân sự, loại khỏi vòng chiến 40 lính Mỹ buộc địch phải bỏ cuộc càn.

        Tháng 8 năm 1968, dưới sự chỉ huy của Bùi Thị Lan, suốt hai giờ, tám nữ pháo thủ đã nã đạn vào Chốt Mỹ ở Giồng Lớn (xã My Hạnh, huyện Đức Hòa), loại khỏi vòng chiến 30 lính Mỹ...

        Cùng với lực lượng vũ trang tỉnh, Đội nữ pháo binh Long An đã góp phần xứng đáng lập nên truyền thống “Long An trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2017, 08:46:47 pm

        Các đơn vị vũ trang nữ còn là đội quân hậu cần xuất sắc. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, bộ đội chủ lực phải vận động đườrg xa, qua sông, qua rạch, qua bưng lầy nên nhu cầu về tiếp tế đạn dược rất lớn; lương thực phải dự trữ sẵn và thương binh cần được đưa về hậu phương kịp thời... Yêu cầu phục vụ chiến trường, yêu cầu bảo đảm hậu cần đặt ra rất nặng nề và phần lớn nhiệm vụ này do các đơn vị nữ đảm nhiệm theo phương thức kết hợp giữa hậu cần khu vực với hậu cần tại chỗ.

        Trong Mậu Thân 1968, riêng tỉnh Trà Vinh đã có trên 7.000 lượt phụ nữ là dân quân du kích, thanh niên xung phong, bộ đội địa phương... đêm ngày xay giã hàng ngàn giạ gạo, cung cấp đủ lương thực cho các đơn vị bộ đội.

        Tại xã Mỹ Cẩm, trong một đêm bộ đội cần 700 đòn bánh tét mang theo trong lúc hành quân cấp tốc và yêu cầu đó đã được đáp ứng ngay. Ngoài ra, dọc theo quốc lộ số 4 (nay là quốc lộ I) trên các tuyến đường có bộ đội hành quân qua, phụ nữ đã chuẩn bị hàng vạn đòn bánh tét, heo, gà, trâu,  bò, cá, mâm, trứng, đường, sữa, trái cây, thuốc men và bằng  đủ các phương tiện, từ xe đạp, xe gắn máy, xuồng đuôi tôm ùn ùn chở ra mặt trận. Trung bình mỗi xã chị em vận động được năm đến mười xuồng ghe, tàu, thuyền chở hàng tiếp tế đến các địa điểm dự trữ hậu cần của tỉnh, huyện.

        Nếu quy số vật chất do phụ nữ tiếp tế cho bộ đội thành tiền thì riêng các tỉnh miền Tây quyên góp được 14 triệu đồng. Bến Tre quyên được hai triệu đồng, Mỹ tho, Kiến  Phong, Bà Rịa, Long Khánh, Bình Dương... mỗi tỉnh quyên được trên một triệu đồng.

        Khi chiến sự diễn ra ác liệt, các trạm quân y quân giải phóng không đủ sức thu dung thương binh thì lập tức hàng ngàn các mẹ, các chị đã nhận cả ngàn thương binh về nuôi ở nhà mình. Một lần ở Bến Tre có 60 thương binh mới được chuyển đến, trạm xá trưởng đang bối rối tìm cách bảo vệ  thương binh thì các mẹ, các chị ào đến trạm xá,  nhanh chóng phân tán thương binh đến từng nhà và nhanh chóng xóa dấu vết. Đêm đến, địch cụm lại đóng quân, chính các má, các chị lại đưa thương binh rút khỏi phạm vì địch càn quét chuyển về hậu cứ an toàn.  Ở hầu hết các trạm y tế, các trạm phẫu, bệnh viện dã chiến luôn có mặt các má, các chị, lo từng miếng cơm, chén cháo hoặc canh giấc ngủ cho các thương binh.

        Tại vùng ven Sài Gòn và các thành phố, thị xã, chị em phụ nữ phân công nhau đón hàng trăm thương binh về xóm ấp chăm sóc hàng tuần lễ mới đưa về căn cứ. Riêng các tử sĩ đều được đưa về làng chôn cất chu đáo. Có những trận ác liệt như trận kinh 14, Đội biệt động Tây Đô của Quân khu 9 bị tổn thất lớn: 40 chiến sĩ hy sinh. Khi lấy được xác thì các thi thể tử sĩ đã bốc mùi, nhưng các mẹ, các chị không hề quản ngại, lội xuống sình lầy, ôm từng tử sĩ về nhà tắm rửa sạch sẽ mới đem chôn cất. Các chị Cẩm Bê, Năm Nhứt, Năm Được, Trần Thị Chung, Nguyễn Thị Sánh, Trần Thị Tú ... ở huyện Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc Kiên Giang) đã nêu gương sáng trong công tác tìm kiếm tử sĩ đem về chôn cất.  Ở Sài Gòn - Gia Định, được Trung ương Cục chi viện 300 cán bộ, Khu ủy Sài Gòn tăng cường chỉ đạo các phân khu đẩy mạnh xây dựng lực lượng cốt cán trong các ngành, các giới, đặc biệt là trong giới nữ. Không khí đặc biệt khẩn trương sau khi lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, Thơ chúc Tết của Hồ Chủ tịch được phát đi bằng nhiều phương tiện. Phụ nữ vùng giải phóng T4 (Sài Gòn - Gia Định), vùng đất thép Củ Chi đã gấp rút thu mua, quyên góp lương thực, thực phẩm, thuốc men... chuyên chở ra cá kho hậu cần khu vực.  Phụ nữ trong các ấp chiến lược sẵn sàng đóng góp, vận chuyển vật chất ra căn cứ, bất chấp mạng lưới canh phòng dày đặc của địch. Tấm gương tiêu biểu trong công tác bảo đảm hậu cần của du kích Củ Chi là má Nguyễn Thị Rành (Tám Rành). Má nhận nhiệm vụ đi gom gạo của Hội mẹ chiến sĩ ở hai ấp Phước Hòa, Phước Hiệp khi đã bước qua tuổi 69. Chuẩn bị cho Mậu Thân 1968, trong vòng nửa tháng, riêng tổ Hội mẹ do má phụ trách đã quyên góp sẵn gạo, thuốc men, quần áo, thực phẩm đúng yêu cầu về số lượng, chất lượng, đủ chở một đoàn xe bò 10 chiếc, do má Tám đích thân chỉ huy.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2017, 08:47:57 pm

        Trên đường vận chuyển, đoàn xe của má đã phải vượt qua cuộc oanh kích của máy bay Mỹ. Có những loạt bom bi nổ chỉ cách đầu xe của má khoảng 15 đến 20 mét. Nhờ lòng dũng cảm, khéo léo của má Tám, đoàn xe vận chuyển hậu cần nhân dân của má đã tới đích an toàn.

        Chị Tư Xí (ở Lộe Thạnh - Củ Chi) nhờ tranh thủ dược trưởng ấp Nhỏ, sử dụng xe riêng của ông ta suốt cả tháng trời chở gạo tiếp tế cho Trung đoàn Quyết Thắng đủ nuôi quân huấn luyện, chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn.  Ở thị trấn Hóc Môn có chị Tư Đại đã vận động chị em tiểu thương may quần áo cho bộ đội cùng hàng trăm lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.

        Má Trần Thị Trong (mẹ của Anh hùng liệt sĩ Bành Văn Trân) đã gửi cả năm người con thân yêu của mình cho cách mạng và bốn trong số năm người con của má đã hy sinh vì độc lập, tự do của đất nước. Nhà má nằm sát hàng rào của sân bay Tân Sưn Nhất đã trở thành địa điểm tập kết của đơn vị biệt động F100. Đơn vị này được giao nhiệm vụ tiến công mục tiêu sân bay Tân Sưn Nhất. Nhiều chiến sĩ cảm tử đã lấy nhà má làm điểm xuất phát cho những trận tập kích vào sân bay và đã lập nên biết bao chiến công hiển hách. Ở vùng ngoại thành chằng chịt sông rạch như Quận 8, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét lùng sục các cơ sở cách mạng, bắt lính và triệt phá cá kho tàng, bến bãi hậu cần của lực lượng vũ trang thành phố. Nhiều gia đình nghèo như chị Chín Rớt (ở phường Chánh Hưng), bà Chai Vườn (ở Vàm Nước Lên) vẫn dành những nơi kín đáo nhất trong căn nhà lá đơn sơ của mình để nuôi giấu cán bộ. Chị Chín Rớt đã bị địch bất, tra tấn dã man đến sẩy thai vẫn không một lời khai báo. Noi gương chị Chín, chỉ trong vòng ba ngày Tết, phụ nữ Quận 8 đã quyên góp được 1.600.000 đồng để lo vật chất cho bộ đội. Bà Huỳnh Thị Như một phụ nữ nghèo, gia tài chỉ có một bầy vịt 200 con, nhưng bà đã hiến cả đàn vịt cho cách mạng khai quân. Tổ phụ nữ của bà Hai Cọp đã quyên góp, thu mua lương thực, thực phẩm đủ nuôi cả một trung đoàn trong vòng 10 ngày, v.v...

        Khâu quan trọng nhất trong công tác chuẩn bị cho tổng tiến công và nổi dậy là vận chuyển, tàng trữ, bảo quản vũ khí ngay trong lòng địch với khối lượng lên, nhiều chủng loại Phụ nữ đã đóng vai trò quan trọng trong công tác hậu cần đặc biệt này. Nổi lên trên trận tuyến thầm lặng nhưng rất hiểm nguy này là nữ đồng chí Nguyễn Thị Chánh (tức Tám Chánh) - Một trong những người phụ trách đường dây giao liên từ chiến khu vào nội thành Sài Gòn. Chị Tám Chánh phụ trách đường dây liên lạc từ căn cứ khu ủy về các quận 3, 5, 6 vùng ba và công đoàn thành phố. Đường dây của chị gồm 21 người chuyên trách (mà đa phần là phụ nữ).  Chuẩn bị cho Mậu Thân 1968, chị Tám được giao nhiệm vụ chuyển một lượng vũ khí lớn đến địa điểm quy định trước Tết. Đơn vị chị đã sử dụng hai chiếc ghe lớn ngụy trang dưới hình thức ghe chở thơm (dứa) cho chủ vựa để đưa vũ khí đến điểm hẹn. Ngoài ra, đơn vị chị Tám còn phải chuyển giao các văn kiện mật của Đảng, toàn bộ kế hoạch chiến dịch... 14 nữ chiến sĩ giao liên do chị Tám chỉ huy đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: Chiều 28 Tết, chuyển giao tuyệt đối an toàn đến các cơ sở đầu mối.

        Chị Nguyễn Thị Hảo - đồng đội gọi theo cách thân mật là chị “Sáu Rau Muống”. Chị đã bàn bạc cùng chồng là anh Bảy Quốc cất nhà ở vùng ven đô vừa trồng rau muống để sinh sống, vừa che mắt địch để cất giấu vũ khí.

        Trong căn nhà của chị ở tại hẻm 436 đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách mạng tháng Tám), tự tay chị Sáu đã bới từng thùng đất san đổ nền nhà, đào được căn hầm dài 2 mét 20, rộng 1 mét 20; sâu một mét, láng xi măng cẩn thận. Từ năm 1965, chị Hảo đã cất giấu tại căn nhà hầm này một lượng vũ khí, thuốc nổ khá lớn. Từ năm 1965 đến 1968, suốt ba năm ròng, vợ chồng chị Sáu Hảo đã giữ gìn kho vũ khí quý giá này cho Mậu Thân 1968.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Ba, 2017, 11:35:54 am

        Nói đến lực lượng biệt động không thể không nhân đến chị Nguyễn Thị Út (tức chị Năm Mộc) là người bạn đời và là trợ thủ đắc lực của chiến sĩ biệt động Trần Phú Cường (tự Năm Mộc). Chị út vốn có một tiệm may đã được anh Năm Mộc sửa lại cho phù hợp với yêu cầu của một kho chứa vũ khí. Nhằm tiếp cận gần hơn nữa các mục tiêu quan trọng, gia đình anh Năm Mộc rời nhà về số 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm và kho giấu vũ khí cũng được chuyển về địa điểm mới với bảng hiệu “Tiệm may Quế Anh”. Từ căn hầm bí mật này, anh Năm Mộc cùng đồng đội đã tề tựu, khui vũ khí lên để tiến công Đài phát thanh Sài Gòn và anh đã anh dũng hy sinh trong đêm giao thừa rền vang tiếng pháo xen lẫn tiếng súng tổng tiến công và nổi dậy.

        Bên cạnh những kho vũ khí quy mô như chị “Sáu Rau Muống”, chị Năm Mộc còn biết bao kho vũ khí phân tán khắp quận nội, ngoại thành bảo đảm cho cuộc tiến công đồng loạt. Đó là chưa kể các chị em hoạt động hợp pháp, được cài vào các bộ phận của guồng máy chính quyền Sài Gòn hoặc các cư xá Mỹ đã khéo léo sử dụng vỏ bọc và vị trí của mình để nuôi giấu cán bộ, cất vũ khí, tài liệu mật cho đến làm nhiệm vụ tiếp tế, liên lạc cho các cánh quân trong nội thành Sài Gòn.

        Trong Mậu Thân 1968, Ban Phụ vận Thành ủy Sài Gòn đã đóng vai trò quan trọng trong bố trí lực lượng, xây dựng cơ sở chinh trị giữa lòng thành phố. Những nữ cán bộ từng hoạt động lâu năm trong nội thành, từng vào tù ra khám được Thành ủy bố trí vào lực lượng cốt cán cho phong trào như các chị Phạm Thị Sứ (tự Năm Bắc), chị Đỗ Hữu Bích (Ba Bích).

        Nhiều chị được đưa thẳng từ căn cứ vào như Lê Thị Huệ (Chín Trang) về Quận 6; Đỗ Thị Vịnh (Hai Thảo) về Quận 1; chị Bảy Nghĩa về Quận 5; Nguyễn Thị Minh (Ba Hà) phụ trách khu Bà Chiều... Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, lực lượng phụ nữ được bố trí tại các địa bàn đã gây dựng hàng loạt cơ sở, đào tạo nòng cốt, xây dựng căn cứ “nhân tâm”, hình thành những “lõm chính trị” từ 10 đến 20 gia đình, chuẩn bị các đia điểm trú, ém, đóng quân cho lực lượng tại chỗ, vừa bảo đảm “hành lang” cho các đơn vị thọc sâu vào nội đô, chuẩn bị lương thực, thực phẩm, thuốc men,... vừa tiếp nhận, phân phối và cất giấu đạn dược, vũ khi, đồng thời chuẩn bị các phương tiện phục vụ cho nổi dậy đồng loạt như may cờ, cất dán khẩu hiệu, biểu ngữ, loa phóng thanh, in truyền đơn tuyên truyền chính sách của Mặt trận...

        Các chị, các mẹ, các em đã xây dựng được thế căn cứ “nhân tâm” vững chắc, rộng lớn với hàng trăm “lõm chính trị” tại các khu lao động như: Chợ Thuế (Quận 2); Lò Gạch, Lò Gốm, Lò Siêu, Cây Da Xà (Quận 6); Bàn Cờ, Vườn Chuối, Hòa Hưng, Chợ Đũi (Quận 3); Hàng Xanh, Đồng Ông Cộ, cầu Băng Ky (Bà Chiểu - Gia Định); Ngã Bảy, Vườn Lài (Quận 10 ) ; xóm Chùa (Quận 1 ) ... Những tên xóm làng, khu phố ấy đã đi vào Lịch sử bằng những địa danh cư dân nghèo khó, nhưng giàu truyền thống cách mạng.

        Phối hợp với các đoàn thể, Ban Phụ vận Sài Gòn - Gia ‘ Định đã mở một đợt tuyên truyền xung phong đột xuất trong vòng nửa tháng, kết thúc vào đêm 29 Tết với lượng truyền đơn phân phát lên tới ba vạn, cùng 3.500 thơ chúc Tết của Hồ Chủ tịch. Thiếp chúc mừng năm mới của Hồ Chủ tịch với bốn vần thơ như lời tiên đoán, như hiệu lệnh tiến công đã được đưa tới tận tay bà con ở các khu vực từ Cầu Cống, Kho 4, xóm Chiếu tới cầu ông Lãnh, Cầu Muối, Chợ Hòa Bình, Thái Bình, Xóm Củi...

        Tại Bến Thành, giữa làn sóng người nườm nượp của đêm chợ Tết cuối năm, nữ đồng chí Hồng Quân, chỉ huy đơn vị nữ tự vệ mật của thành phố đã bất ngờ xuất hiện thăm hỏi bà con, đọc lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam và Thơ chúc Tết của Hồ Chủ tịch. Đội nữ tự vệ đã được bà con che chở, rút lui an toàn sau khi hoàn thành nhiệm vụ ngay trước lười bủa vây dày đặc của cảnh sát ngụy.

        2 giờ sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968, các đội biệt động Sài Gòn - Gia Định được trang bị gọn nhẹ đồng loạt tiến công các mục tiêu quy định: dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất; Đài phát thanh; Tòa đại sứ Mỹ... Khắp các quận nội đô, phụ nữ sôi nổi tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy với vai trò to lớn.

        Ở Quận 6, lực lượng vũ trang nữ tiến công vào các mục tiêu quy định như: Ty cảnh sát, tòa hành chính quận. Nữ tự vệ Bình Tiên - Minh Phụng phối hợp với chủ lực diệt một xe tăng địch. Khi chiến sự diễn ra ở khu vực hãng rượu Bình Tây, nữ công nhân cùng với nam công nhân nhào ra lộ phục vụ chiến đấu và tiếp tế. Trong lúc đó, đội vũ trang tuyên truyền cánh Hoa Vận có các chị Quách Lan Anh, Quách Vân Anh, Khổng Quế Kình, Lương Dung đã phối hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trên địa bàn Quận 6, cùng các đơn vị bạn tiến công bót Bà Hòa - Nơi Mỹ - ngụy giam cầm nhiều cán bộ ta. Sau khi đã giải thoát cho anh chị em tù chính trị, đội rút về xóm Lò Gốm tổ chức mít tinh, kêu gọi quần chúng nổi dậy. Được sự ủng hộ của  đông đảo bà con, đội đã làm chủ hoàn toàn xóm Lò Gốm tới mồng Tám Tết, địch mới tổ chức phản công được.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Ba, 2017, 11:36:27 am

        Quận 2 với các địa danh Phú Thọ, Trường Đua, Chợ Thiếc là cửa ngõ Tây Nam, qua đó ba cánh quân từ Phân khu 2 tiến vào thành phố. Má Thái Thị Sen (nữ đảng viên chi bộ chợ Thiếc) xung phong dẫn đường cho một đơn vị chủ lực bị mất liên lạc. Trong lúc ba nữ đồng chí Giang Lê Hữu, Đinh Nữ, Trần Thị Trinh chỉ huy ba đội nữ tự vệ chiến đấu rất dũng cảm ở khu vực Trường đua Phú Thọ.  Đặc biệt ở khu Vườn Lài - Minh Phụng ngay giữa nội đô Sài Gòn, dưới sự Chỉ huy của hai nữ đồng chí Phạm Thị Sứ (Năm Bắc), Bảy Lợi, lực lượng xung kích của ta đã tiến về Ngã Bảy kéo cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam lên giữa quảng trường, thấp sáng hàng trăm ngọn đuốc cả vùng Ngã Bảy.

        Tòa đại sứ Mỹ là một trong những mục tiêu tiến công quan trọng của quân ta. Đội 5 Biệt động từng nổi tiếng với những trận tiến công khách sạn dành cho sĩ quan Mỹ như Caravelle, Brink, Metropole, tòa Đại sứ Mỹ, nay được giao nhiệm vụ tiến công vào thành Palôma. Nữ thượng sĩ trinh sát của Đội 5 trong trận đánh thành Palôma lần này là một cô gái mặc áo lam, đầu cạo. Đó là ni cô Liệu Thông (tên thật là phạm Thị Bạch Liên. Trước đó ni cô tu ở chùa Bốn Nguyện, sau chuyển đến chùa Tam Bảo ở góc đường Trần Quốc Toản - Lò Siêu). Ni cô Diệu Thông đã khéo léo bảo đảm cho Đội 5 tìm được đường tiến công bất ngờ và đường rút lui với sự hỗ trợ của nữ đồng đội như Tâm A, Tuyết, Thanh, Lưu, Mận...

        Mậu Thân 1968, trong lực lượng vũ trang thành phố Sài Gòn - Gia Định đã xuất hiện một tiểu đoàn mũi nhọn nữ, mang tên vị nữ Phó chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam - Phó Hội trưởng liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam. Đó là Tiểu đoàn Lê Thị Riêng.  Tiểu đoàn mũi nhọn này được thành lập sau đợt một cuộc tổng tiến công, trên cơ sở của Đội nữ Biệt động thành phố và tuyển thêm nữ chiến sĩ từ các tỉnh lên. Quân số ban đầu của tiểu đoàn là 150 người, do nữ đồng chí Lê Thị Bạch Các (tức Ba Xuân) làm tiểu đoàn trưởng, Đào Thị Huyền Nga (tức Hồng Quân) làm tiểu đoàn phó.

        Địa bàn hoạt động của Tiểu đoàn mũi nhọn Lê Thị Riêng là quận 2, 3, 4 và một phần Quận 1, với nhiệm vụ chính là trừ gian, đánh địch tại các khu phố, phát động nhân dân nổi dậy từ khu vực chợ cầu ông Lãnh tới Tổng nha cảnh sát.  Bốn giờ sáng ngày 5 tháng 5 năm 1968, tiểu đoàn nổ súng tiến công và phát loa kêu gọi đồng bào nổi dậy hỗ trợ lực lượng vũ trang đào công sự, dựng chiến lũy. Đồng bào từ chợ Cầu ông Lãnh, đường Cô Giang, Cô Bắc lên ga xe lửa, chợ Thái Bình, đường Nguyên Cư Trinh đã nhất tề nổi dậy.  Địch đối phó bằng cách tập trung lực lượng đông và sử dụng máy bay phản kích. Trước lực lượng địch đông hơn gấp bội, để bảo tồn lực lượng, tiểu đoàn phải phân tán đội hình sau 51 ngày đêm bám trụ ở đồng Ông Cô. Cả tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó đều trụ lại để thu hút hỏa lực địch, tạo điều kiện cho đơn vị rút ra ngoài an toàn. Trong lúc chặn giặe, tiểu đoàn trưởng Ba Xuân đã anh dũng hy sinh, tiểu đoàn phó Hồng Quận tiếp tục chặn địch cho đến khi hết đạn và chị đã phá tan khẩu súng để khỏi lọt vào tay giặc.

        Như bao đội vũ trang tuyên truyền khác, lực lượng vũ trang nữ Sài Gòn - Gia Định đã xuất hiện tại vùng thợ Thiếc, đường vòng Cao Đạt, bắc cầu Chữ Y, đánh chiếm tòa thị chính, tiến công Ty cảnh sát Quận 5. Tại các mặt trận cầu ông Lãnh, cầu Kho, chợ Năng Xy, nam đường Trần Hưng Đạo (Quận 1 ) khu Bàn Cờ (Quận 3), xóm Chiếu lực lượng vũ trang tuyên truyền đã phải đương đầu với sự phản ứng quyết liệt của địch. Các đội vũ trang đã đánh trả rất ngoan cường, nhưng do lực lượng có hạn nên phần lớn đã bị địch bắt hoặc hy sinh. Xúc động nhất là sự hy sinh cùng lúc của 32 nữ chiến sĩ tải thương tại mặt trận hai xã Vĩnh Lộc, Tân Kiên.

        Bằng nỗ lực phi thường và sự hy sinh lớn lao trong “Mậu Thân 1968”, quân dân ta đã làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm điểm tựa cho quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, mở đường chiến thắng tới Xuân 1975.

        Để tạo nên bước ngoặt - điểm tựa Xuân 1968, phụ nữ trong lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam và đặc biệt là Sài Gòn - Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh đã cống hiến xứng đáng, tô đẹp truyền thống vẻ vang của phụ nữ Nam Bộ Thành Đồng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Ba, 2017, 11:38:17 am

THANH NIÊN, SINH VIÊN SÀI GÒN VỚI TẾT MẬU THÂN 1968

CHU VĂN TÙNG       

        Cuộc Chiến tranh xâm lược của Mỹ nhằm áp đặt ách thống trị thực dân mới ở miền Nam Việt Nam là cuộc chiến tranh hết sức tàn bạo, thâm độc, ác liệt, đỉnh cao là những năm 1965-1968. Trong khoảng thời gian này, theo chân những đạo quân ồ ạt vào miền Nam là đô la, lối sống, văn hóa xấu độc kiểu Mỹ... Chưa bao giờ, vận mệnh dân tộc, nền văn hóa dân tộc... đứng trước thử thách khốc liệt như thời kỳ này. Bom đạn, lối sống Mỹ hàng ngày, hàng giờ hủy hoại văn hóa truyền thống, gây ra bao đau thương đối với mọi gia đình Việt Nam ở miền Nam nói chung, ở các đô thị miền Nam nói riêng, đặc biệt là Sài Gòn - trung tâm đầu não của Mỹ-ngụy...

        Khi chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới trở nên khốc liệt và đứng trước sự mất còn của dân tộc, của quê hương, của giống nòi, của mọi gia đình... trong trí thức, thanh niên, sinh viên, học sinh, tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, căm thù ách nô dịch của ngoại xâm, căm thù bọn tay sai cam tâm ôm chân đế quốc, càng trở nên mãnh liệt, sâu sắc.

        Đi sâu vào các khóm, phường, các xí nghiệp, trường học để phát động quần chúng đứng lên giành quyền làm chủ, thành lập các đội vũ trang trừng trị bọn phản động ác ôn, phá ách kìm kẹp của địch, bảo vệ thành quả của cách mạng.

        Phong trào đấu tranh chống Mỹ, ngụy của thanh niên, sinh viên, học sinh từ trước Tết Mậu Thân đã phát triển, ngày càng lan rộng, dưới nhiều hình thức... Chẳng hạn, phong trào đấu tranh chống Mỹ-Thiệu-Kỳ bùng nổ ở Huế, Đà Nẵng và nhanh chóng lan ra các đô thị tạm bị chiếm khác trong nửa đầu năm 1966.

        Đầu năm 1967, phong trào đòi “tự trị đại học” được dấy lên mạnh mẽ bắt đầu từ đại học Y khoa rồi lan ra các trường Sư phạm, Khoa học, Dược, Kỹ thuật Phú Thọ, Nông Lâm Súc, các phân khoa đại học... ở Sài Gòn. Chỉ một thời gian ngắn phong trào thu hút được làng ngàn sinh viên và nhiều giáo viên, nhà báo, nhà văn ham gia, tranh thủ được sự ủng hộ của nhiều giới chức, toàn thể tiến bộ khác ở Sài Gòn, Cần Thơ...

        Những tháng cuối năm 1967, cuộc đấu tranh của thanh liên, sinh viên, học sinh chống Mỹ- Thiệu-Kỳ lan rộng ra thiều đô thị trên toàn miền Nam. Trong tháng 9-1967, hàng nghìn sinh viên Đại học Y khoa, Dược khoa, Văn khoa, Sư Phạm, Khoa học đã bãi khóa để phản đối Thiệu - Kỳ độc tài, phát xít; lên án sự có mặt của Mỹ ở miền Nam. Trong khi đó sinh viên các Viện đại học Sài Gòn, Vạn Hạnh và Cần Thơ, Đà Lạt tiến hành đại hội. Đại hội đã công bố lập trường của mình là: Mỹ phải rút ra khỏi miền Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc. Đại hội còn gửi kiến nghị đến Tổng thư ký Liên hợp quốc, tổ chức tuần hành tới trụ sở quốc hội ngụy để đưa kháng thư; dừng lại chợ Bến Thành để tổ chức mít tinh. Trong cuộc tuần hành, mít tinh đó, thanh niên, sinh viên các trường đại học đã giương cao biểu ngữ: “Mỹ có thể đưa một triệu quân sang Nam Việt Nam nhưng sẽ không bao giờ đạt được mục tiêu của họ”; “Chỉ có người Việt Nam mới giải quyết được các vấn đề Việt Nam”; “chấm dứt ném bom miền Bắc”; “Mỹ rút quân về nước”. Hãng tin AP ngày đô đã nhận xét: “Đây là những hoạt động chống chính phủ nghiêm trọng nhất từ một năm nay”. Trong hai ngày 24 và 25-9, hàng ngàn phật tử phản đối chính quyền, phản đối Hiến chương phật giáo vừa ban bố (một bản hiến chương do những phần tử thân chính quyền Sài Gòn khởi thảo). Báo Pháp Pa-ri ban ngày (ngày 5-10-1967) viết: “Tại Sài Gòn, đang diễn ra một luồng tâm lý mạnh mẽ đòi Mỹ rút quân”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Ba, 2017, 11:38:41 am

        Trước sự phát tiền của phong trào, Thiệu đã ra lệnh giới nghiêm trong toàn thành phố Sài Gòn. Đầu tháng 10-1967, Hội đồng sinh viên liên Viện đại học họp báo về các cuộc đấu tranh vừa qua. Cảnh sát Sài Gòn bao vây, bắt một số người trong chủ tịch đoàn và một số sinh viên. Thế nhưng, sự khủng bố của chế độ Thiệu - Kỳ không làm cho phong trào lắng xuống. Ngược lại, phong trào vẫn tiếp tục phát triển về cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Tháng 12-1967, kỷ niệm lần thứ 7 ngày ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, cơ sở đoàn và các tổ chức sinh viên ở một loạt các trường đại học, trung học đã treo cờ Mặt trận, viết khẩu hiệu, rải truyền đơn phản kháng chế độ Sài Gòn, đòi Mỹ rút hết quân ra khỏi miền Nam...

        Lúc này, nhiều sinh viên đã trốn khỏi quân trường. Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn ra vùng giải phóng làm Tổng thư ký Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

        Thực hiện chủ trương của Hội nghị Đô thị của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, để chuẩn bị cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, cuối năm 1967 và những tuần đầu củanăm 1968 Khu Đoàn thanh niên gấp rút tổ chức lực lượng thành 3 bộ phận: lực lượng vũ trang, lực lượng bán vũ trang, lực lượng chính trị...Nhằm tập hợp lực lượng, tập dượt quần chúng nổi dậy, ngày 22-1-1968, bất chấp lệnh giới nghiêm, Liên hiệp giáo chức và phụ huynh học sinh đã tổ chức “Cây mùa Xuân Mậu Thân” tại trường tiểu học Hùng Vương. Hơn 7.000 người đã đưa con, em mình tới dự. Trong buổi lễ, một bản đồ khổ to nước Việt Nam được trang trọng treo lên, biểu thị khát vọng hòa bình, thống nhất của những người tham dự. Cần lưu ý rằng, lúc bấy giờ, ngụy quyền Sài Gòn cấm treo bản đồ Việt Nam thống nhất, chỉ cho phép treo bản đồ nửa nước Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 trở vào  Sau cuộc tập hợp lực lượng này, Ban thường vụ Thành đoàn Sài Gòn phối hợp với Hội đồng đại diện sinh viên và Tổng hội sinh viên tổ chức đêm văn nghệ “Mừng Tết Quang Trung” 26-1-1968 với sự tham gia của học sinh, sinh viên 21 phân khoa đại học, 53 trường trung học... tại sân trường Quốc gia hành chính. Hơn 12.000 người đổ về dự. Bài ca “Lên đàng” của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước vang lên biểu thị khí thế sục sôi của tuổi trẻ học đường trước ngày Tết Mậu Thân khởi phát...

        Các hoạt động vũ trang tuyên truyền của thanh niên, sinh viên những ngày cuối năm 1967 cũng được đẩy mạnh.  Học sinh, sinh viên nhiều trường phối hợp với lực lượng vũ trang Thành đoàn tổ chức một số hoạt động diệt trừ bọn phản động ở nội thành và vùng ngoại Ô thành phố. Ngoài ra, nhiều nhóm sinh viên còn chủ động tuyên truyền vận động thanh niên không đi lính, tổ chức cắm cờ Mặt trận ở trường đại học Dược khoa, đột nhập trường Huỳnh Khang Ninh cảnh cáo một số giáo viên phản động, rải truyền đơn Mặt trận ở một số trường trung học nội thành... Được đoàn thể cách mạng phân công, thanh niên, sinh viên, giáo viên một số trường công lập phối hợp với các chiến sĩ đặc công, biệt động thành, quân báo... điều tra tình hình ở nhiều địa điểm ta dự định tiến công, vẽ sơ đồ một số cứ điểm địch ở các quận nội thành, tham gia chuẩn bị địa điểm ém giấu quân và các nơi cất giấu vũ khí, tài liệu, truyền đơn...

        Khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân nổ ra, nhiều thanh niên, sinh viên, học binh đã cầm vũ khí sát cánh chiến đấu cùng các chiến sĩ Quân giải phóng. Nhiều toán vũ trang của các đoàn thể cách mạng, trong đó có cả lực lượng của Thành đoàn hoạt động ở các khu xóm Bàn Cờ, Vườn Chuối, Nguyễn Thông, Lê Văn Duyệt, khu vực chùa Ấn Quang, đường Minh Mạng... Nhiều người tham gia chỉ đường, tiếp đạn, tải lương, cứu chữa và nuôi dưỡng thương binh. Nhiều tổ, đội thanh niên, học sinh, sinh viên tỏa xuống các xóm lao động, phát loa vận động quần chúng nhân dân ủng hộ cách mạng, kêu gọi binh lính và cảnh sát ngụy bỏ súng về với gia dình, với nhân dân. Hãng thông tấn AP ngày 6-2-1968 thuật lại lời của Giám đốc công ty rượu Đông Dương: “Hàng trăm thanh niên sống ở vùng nhà máy rượu Chợ Lớn đã đi theo Việt Cộng và được phát băng đỏ đeo cánh tay và phát súng” . Không thể có thống kê cụ thể về con số thanh niên, sinh viên, học sinh tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào Tết Mậu Thân nhưng chắc chắn rằng, sự tham gia đó là đông đảo, bằng nhiều hình thức và với những mức độ khác nhau...


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2017, 05:10:36 am

        Sau những tuần đầu của Tết Mậu Thân, Tổng hội sinh viên và Hội sinh viên Sài Gòn đã thành lập ủy ban thanh niên, sinh viên, học sinh cứu trợ đồng bào bị nạn. Uy ban này tập hợp được 500 người, có sự tham gia, hỗ trợ của các giáo chức và các cơ sở nội thành khác. Các trung tâm cứu trợ được đặt ở các trường Phan Đình Phùng, Viện Ung thư Gia Định, trường nữ sinh Lê Văn Duyệt... Tại các trường trung học, một số văn phòng liên lạc học sinh cũng được nhanh chóng thành lập. Nhiều đoàn công tác lưu động của sinh viên, học sinh tình nguyện đi tới các vùng xảy ra chiến sự để giúp đỡ đồng bào xây cất, sửa chữa lại nơi ăn, chốn ở bị hư hại. Điều cần nói ở đây là, thông qua các hoạt động này, ta đã khéo léo tập hợp lực lượng, giác ngộ quần chúng, chuẩn bị bước vào cuộc đấu tranh mới. Mặt khác, một số trung tâm cứu trợ, một số văn phòng liên lạc lại cũng chính là nơi móc nối liên lạc, nơi ẩn giấu của cán bộ, chiến sĩ từ ngoài vào nội thành điều tra, nắm tình hình...

        Từ sau Tết Mậu Thân, chính quyền Sài Gòn tăng cường bắt lính, đôn quân bằng nhiều biện pháp, kể cả “quân sự hóa trường học”. Chúng lập ra “Sư đoàn sinh viên bảo vệ Thủ đô”. Đồng thời, chúng tìm mọi cách lung lạc tinh thần đấu tranh của quần chúng nhân dân, của thanh niên, sinh viên, học sinh, lôi kéo họ vào con đường chống lại nhân dân mình.  Phong trào đấu tranh của thanh niên, sinh viên, học sinh chống “quân sự hóa trường học” đã nổ ra nhiều nơi, dưới nhiều hình thức... ngay như ở “Sư đoàn sinh viên bảo vệ Thủ đô” sinh viên đã tổ chức bỏ tập luyện quân sự, bỏ gác, phá hoại quân trang, vũ khí...

        Bước vào đợt 2 tăng tiến công và nổi dậy, lực lượng thanh niên, sinh viên, học sinh đã tích cực, chủ động tham gia các mũi đột kích, phối hợp với các đội vũ trang của ủy ban, ngành, đoàn thể cách mạng đẩy mạnh hoạt động diệt ác rải truyền đơn, treo cờ Mặt trận ở đỉnh tháp nước trên đường Yên Đỗ, đường Phan Thanh Giản và ở nhiều khu phố khác. Tại các xóm lao động ở Bàn Cờ, Vườn Chuối, Nguyễn Thông... , tổ vũ trang của Thành đoàn đã đánh vào xe cảnh sát ngụy. Một số sinh viên tổ chức phá trạm biến thế điện ở đường Trần Quốc Toàn, Lý Thái Tổ, nhà Bưu điện Sài Gòn, phối hợp cùng quân giải phóng diệt hàng trăm địch...  Trong những cuộc chiến đấu đó, một số chiến sĩ Thành đoàn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, và anh dũng hy sinh.  Nhiều người thoát ly gia đình tham gia Quân giải phóng, thực hiện ước vọng của người thanh niên trí thức là chiến đấu để giải phóng thành phố, giải phóng quê hương.

        Sau đợt 1, đợt 2 Mậu Thân, tháng 8 năm 1968, Đại hội sinh viên Sài Gòn - Gia Định đã quyết định bố trí lại lực lượng. Nhiều cán bộ học sinh, sinh viên chuyển về hoạt động ở các xóm lao động. Cũng như nhiều đoàn thể và cơ sở cách mạng khác ở nội-ngoại thành, phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh sau Tết Mậu Thân, đặc biệt từ giữa năm 1968, lắng xuống do sự đàn áp, khủng bố quyết liệt của kẻ thù.  Tháng 10 năm 1968 Thiệu ban hành “luật 10/68”, cấm tất cả các cuộc biểu tình, đình công... Đối phó với phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh, ngày 6-10-1968, chúng đưa ra tòa xử anh Nguyễn Trường Côn - chủ bút báo “Sinh viên” và anh Nguyễn Thành Công - Tổng thư ký Hội đồng đại diện sinh viên Sài Gòn... Ngày 28-10-1968, các anh Nguyễn Thanh Tòng, Nguyễn Tuấn Thiển bị chúng xử tử vì đã tổ chức họp báo chống luật “Tổng động viên” của Thiệu... Dù vậy, đêm Nô-en 212-1968, thanh niên sinh viên, học sinh Sài Gòn - Gia Định lại tổ chức cuộc liên hoan văn nghệ trên đường Hùng Vương, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. Cuộc liên hoan văn nghệ biến thành cuộc biểu tình tuần hành rầm rộ qua nhiều đường phố. Những người tuần hành hô vang khẩu hiệu đòi hòa bình... Cảnh sát ngụy đã đàn áp tàn bạo, bắt đi một số sinh viên. Thế nhưng, cuộc tuần hành đã có tiếng vang rộng lớn, báo hiệu một thời kỳ phát triển mới của phong trào thanh mền, sinh viên, học sinh Sài Gòn- Gia Đình...

        30 năm đã trôi qua kể từ những ngày tháng hào hùng của mùa Xuân rực lửa 1968, trong không khí kỷ niệm chiến thắng của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, các thế hệ thanh mền, sinh viên,học sinh Việt Nam nói chung, của Sài Gòn - Gia Định hôm qua và thành phố Hồ Chí Minh hôm nay, có quyền tự hào về truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất của mình mà Mậu Thân 1968 là một dấu son trong sổ vàng truyền thống đó. Và chắc chắn, khí thế của Mậu Thân 30 năm về trước sẽ là một phần của hành trang của thế hệ trẻ hôm nay đang tiếp bước cha anh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2017, 05:13:13 am

CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CHO CHIẾN THẮNG MẬU THÂN  1968 Ở HUẾ

TRẦN TIẾN HOẠT       

        Như chúng ta đã biết, giữa năm 1967, sau khi cuộc “phản công chiến lược” mùa khô lần thứ hai của Mỹ - ngụy bị thất bại hoàn toàn, cả hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” bị bẻ gãy, 175 nghìn quân địch (trong đó có hàng nghìn quân Mỹ và chư hầu), đã loại khỏi vòng chiến đấu, hàng triệu tấn phương tiện chiến tranh bị phá hủy, nhiều người trong chính giới Mỹ và một số nhà nghiên cứu chiến lược phương Tây đã nhận ra: “Muốn tiến hành một cuộc chiến tranh “tốc chiến tốc thắng” ở Việt Nam là điều không thể thực hiện được’. Càng tăng thêm quân viễn chinh, mở hàng loạt cuộc hành quân lớn nhỏ, Mỹ - ngụy càng bị sa lầy, khốn quẫn. So với cuộc “phản công chiến  lược” mùa khô lần thứ nhất (1965-1966) thì thất bại của mùa khô lần thứ hai (1966-1967) nặng nề hơn nhiều. Mục đích chiến lược của Mỹ chẳng những không đạt được mà ngược lại, những “cố gắng phi thường” của Lầu năm góc chỉ đẩy Mỹ chui sâu hơn vào con đường hầm không lối thoát.

        Để phát huy thắng lợi đã giành được, đầu tháng 12 năm 1967, Hội nghị Bộ Chính trị nhận định: “chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ thuận lợi lớn. Đế quốc Mỹ đang đứng trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược”. Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là: Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh của ta lên một bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định”.

        Đối với chiến trường Trị Thiên - Huế, Bộ Chính trị xác định: “Huế là một trong hai chiến trường trọng điểm của toàn Miền (Sài Gòn, Huế). Nhiệm vụ cửa quân và dân Trị Thiên là thực  hành tổng tiến công và nổ dậy đồng loạt đánh chiếm thành phố Huế và các thị xã, thị trấn, đánh tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền, giải phóng nông thôn, thiết lập chính quyền cách mạng, tiêu diệt và tiêu hao nhiều quân Mỹ, làm cho chúng không ứng cứu được quân ngụy, sẵn sàng đánh địch phản kích, đánh cho chúng bị tổn thất nặng, giữ vững chính quyền cách mạng, tạo điều kiện tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”.

        Quán triệt nhiệm vụ của Bộ Chính trí giao cho, giữa tháng 12 năm 1967, Thường vụ khu ủy Trị Thiên - Huế do đồng chí Trần Văn Quang, Bí thư Khu uỷ kiêm Tư lệnh - Quân khu đã chỉ đạo Thành ủy Huế họp bàn triển khai nhiệm vụ. Là chiến trường “chứa đựng nhiệm vụ cách mạng về quân sự chính trị rất lớn”, Bộ chỉ huy Mặt trận Huế mới được trên chỉ định bao gồm. Tư lệnh Lê Minh, Chính ủy Lê Chưởng, Phó Tư lệnh Nam Long, Tham mưu trưởng Đặng Kinh, sau khi hạ quyết tâm “động viên nhân dân và lực lượng vũ trang thành phố phấn đấu vượt qua mọi khó khăn gian khổ hoàn thành nghĩa vụ của mình”, đã vạch kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy trong thành phố Huế Tết Mậu Thân.

        Đối với một thành phố đất không rộng, người không đông lại có trên 20 nghìn tên địch (chưa kể lực lượng chính quy Mỹ, ngụy đóng ở ngoại thành) chốt giữ căn cứ, đồn bốt kiên cố được bao bọc bởi tường cao, hào sâu như Mang Cá, Phan Sào Nam (tiểu khu Thừa Thiên) khách sạn Thuận Hóa, Hương Giang... cùng hàng chục đoàn “bình định”, mật vụ tình báo, quốc dân đảng, đại việt nhân xã, ác ôn ở Tây Lộc, Cồn Hến, Gia Hội, Kim Long, An Cựu... đã đặt ra cho Bộ Tư lệnh Quân khu Trị Thiên và Bộ Tư lệnh Mặt trận Huế phải nghiên cứu xây đựng kế hoạch “Tổng tiến công và nổi dậy” thật cụ thể, chặt chẽ. Với phương châm “coi trọng tiến công quân sự, tập trung đánh ngã quân địch”; đồng thời “coi trọng đẩy mạnh quần chúng khởi nghĩa”, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân phải quán triệt tư tưởng tiến công, tiến công liên tục, truy kích đến cùng thực hiện tất phương thức tác chiến “ngoài đánh vào, trong đánh ra; tích cực binh địch vận; triệt để đánh phá giao thông, cắt đứt đường tiếp tế của địch”... Từ phương châm hoạt động trên, Bộ Tư lệnh Mặt trận Huế đã đặt nhiệm vụ chuẩn bị mọi mặt cho kế hoạch “tổng tiến công và nổi dậy” lên hàng đầu. Ngay sau cuộc họp, các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân khu và Bộ  Tư lệnh Mặt trận đã thay nhau xuống từng hướng, từng mũi đôn đốc kiểm tra mọi công việc chuẩn bị cho chiến đấu. Các  đồng chí Thân Trọng Một - chỉ huy trưởng, Nguyễn Vạn -  chính ủy cánh Bắc; Nguyễn Thu - chỉ huy trưởng, Trần Anh Liên - Chính ủy cánh Nam, thành Huế đã triệu tập một số cán bộ chỉ huy Thành đội và cán bộ dân chính đảng có bề dày hoạt động ở nội đô trao đổi những vấn đề cụ thể trên cả ba mặt quân sự, chính trị, hậu cần để chỉ đạo nhiệm vụ chuẩn bị.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2017, 05:13:47 am

        Dựa trên cơ sở tình hình ta nắm được, Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định tăng cường đội ngũ cán bộ quân sự xuống chỉ đạo các đơn vị huấn luyện bổ sung cách đánh các mục tiêu địch trong thành phố, thị xã. Các cấp chỉ huy chiến dịch, chiến thuật cũng cử nhiều cán bộ chính trị, các tổ chức vũ trang công tác đi nghiên cứu thực địa, xây dựng và huấn luyện dân quân du kích ở một số địa bàn trọng điểm thuộc các huyện Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang (ngoại thành), Đông Ba, Đập Đá, An Hòa, ga Huế... (nội thành) hiểu biết những phương pháp phối hợp cơ bản giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng. Vì vậy trong những ngày cuối tháng 12 năm 1967, hầu hết các đơn vị chủ lực đứng chân ở Khe Trai, Động Chuối, trên thượng nguồn sông Bồ, sông Hữu Trạch xây dựng các bài tập có mục tiêu mô phỏng theo các căn cứ, đồn bốt, công sở Mỹ - ngụy ở thành phố và huyện thị để luyện tập cho bộ đội. Trên thao trường, các phân đội tập trèo tường vào thành, tiến công đồn bốt có công sự vững chắc, tập hành quân qua các địa bàn phức tạp có nhiều sông rộng, hào sâu, Tường rào ngăn cách. Mặc dù đã được tập luyện nhiều lần các bài học chiến thuật ấy, nhưng không vì thế mà cán bộ, chiến sĩ tập tành chiếu lệ “được chăng hay chớ”. Hàng ngày quân số tham gia tập luyện chiến thuật, kỹ thuật bình quân đạt 90% đến 95% .

        Cùng với việc tập luyện của bộ đội ở phía sau, các bộ phận trinh sát chuẩn bị chiến trường ở phía trước, được các tổ vũ trang công tác và dân quân du kích huyện, quận, phường, xóm giúp đỡ đã vượt qua các “ngạnh cây”, “đuôi cá!”, “mắt thần” ác ôn tề điệp của địch trinh sát các mục tiêu được giao, Cán bộ trinh sát các cấp, trên từng cương vị phụ trách, tìm hiểu kỹ từng đường hướng bộ đội hành quân tiếp cận, đo đếm, tính toán thời gian cụ thể từng cung, chặng, dự kiến nhiều tình huống phải xử lý khi phi pháo địch đánh vào đội hình. Trên các địa hình sông suối phức tạp như Kẻ Vạn, An Hòa, Lơi Nông, các tổ trinh sát đã lội nhiều lần tìm ra những đoạn nông sâu, rộng hẹp để tính toán tốc độ hành quân tiếp cận sao cho phù hợp với thời gian nổ - súng. Một số tổ trinh sát, đặc công nội thành không quản ngại mùi hôi thối nồng nặc của nước thải thành phố đã mò mẫm tìm ra hàng chục đường cống ngầm thông thoát từ nội thành chảy ra, tìm các nút lên xuống, họa sơ đồ đánh dấu để khi cần có thể dùng trong cơ động chiến đấu. Các tổ trinh sát luồn sâu vào các căn cứ, đồn bốt, công sở sào huyệt địch ở An Hòa, Mang Cá (nơi Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 đóng), sân bay Tây Lộc, khu vực Đại Nội (do đại đội Hắc Báo chiếm giữ)... nằm giấu mình dưới các bụi cây, bờ cỏ nắm bắt quy luật bọn lính tuần tra canh gác, quan sát từng mục tiêu, sờ đếm từng lớp rào, dự đoán các vị trí dùng mìn tăng, bộc phá, ống phá rào mở cửa; quyết định hướng tiến công chủ yếu, thứ yếu. Đặc biệt, mũi trinh sát do đồng chí Tu phụ trách đã dầm mình nhiều đêm dưới nước lần tìm bến vượt qua sông Đào - con sông mà muốn vào thành Huế không thể không vượt qua. Được sự giúp đỡ của cán bộ cơ sở, các anh đã tìm được một đội đá (đoạn giữa cầu An Hòa và cầu Bao Vinh) bộ đội mang vác vũ khí trang bị nặng có thể vượt qua được.

        Vừa chỉ đạo bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương khẩn trương học tập quân sự, chính trị, trinh sát chuẩn bị chiến trường, Bộ Tư lệnh Mặt trận đã tích cực chỉ đạo lực lượng an ninh khu, tỉnh xuống phối hợp với dân quân du kích địa phương mở rộng lực lượng, phát động phong trào xây dựng an ninh nhân dân từ huyện, xã đến quận, phường. Từ chỗ lực lượng an ninh còn mỏng, hoạt động rời rạc đến đầu tháng 1 năm 1968, Bộ Tư lệnh Mặt trận đã xây dựng mở rộng được một tiểu đoàn hơn 300 người, 7 đội trinh sát an ninh vũ trang - 110 người cắm chốt trên các hướng trọng điểm từ nam sông Hương tới bắc sông Bồ. (Trước tháng 11 năm 1967, toàn tinh Thừa Thiên - Huế chỉ có đội trinh sát vũ trang, hoạt động phân tán trên 4. hướng với lực lượng gần 40 người).   Các lực lượng an ninh mật ở nội đô có tác dụng rất lớn trong việc vận động gây dựng cơ sở cách mạng trong lòng địch. Lực lượng này không những theo dõi nắm chắc tình hình địch (số liệu, phiên hiệu, mạnh yếu của từng đơn vị) để cung cấp cho trên, mà còn vận động nhân dân biết “cải huấn”, cô lập bọn tề điệp ác ôn, mở rộng phong trào quần chúng yêu nước đấu tranh chống chế độ Mỹ - Thiệu, bảo vệ hành lang và địa bàn đứng chân, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội tiến công địch.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2017, 05:14:13 am

        Cùng thời gian này, để mở rộng Mặt trận toàn dân tộc đoàn kết chống Mỹ, cứu nước trong các tầng lớp nhân dân, cuối tháng 1 năm 1968, Quân khu ủy Trị Thiên đã chỉ đạo “ủy ban Mặt trận Trị Thiên - Huế” thành lập tổ chức “Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thành phố Huế ‘ do giáo Sư Lê Văn Hảo làm chủ tịch. Đây là một đoàn thể bao gồm trí thức, tôn giáo yêu nước ở thành - thị tán thành hòa bình hòa hợp dân tộc, sát cánh với Mặt trận dân tộc giải phóng đấu tranh chống Mỹ - ngụy. Sau khi thành lập, ủy ban liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam thành phố Huế đã ra lời kêu gọi đồng bào yêu nước, các bạn thanh niên sỉnh viên, học sinh, giáo chức tiểu học, trung học và đại học, các tín đồ phật giáo, công giáo yêu nước, cùng các anh chị em tiểu thương, lao động đã từng đấu tranh phong Mỹ và tay sai, hãy siết chặt hàng ngũ trong Mặt trận Liên minh dân tộc dân chủ và hòa bình, tiếp tục cuộc chiến đấu chống Mỹ - Thiệu, xây dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập. Liên minh dân tộc dân chủ và hòa bình ra đời đã tập hợp đông đảo các tầng lớp quần chúng cùng với Mặt trận Dân tộc giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Huế.

        Nhờ làm tốt nhiệm vụ xây dựng lực lượng đấu tranh chính trị ở cơ sở, nên lực lượng vũ trang toàn tỉnh phát triển mạnh mẽ, rộng khắp. Ở các huyện Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc, quần chúng nhiều xã, thôn được các tổ vũ trang công tác và du kích hỗ trợ, đêm đêm rủ nhau ra gò, bãi luyện võ nghệ, tập dùng gậy gộc, giáo, mác đánh trả quân địch; tập dượt đấu tranh chính trị chống lại chế độ hà khắc bất công, đòi thành lập chính quyền tự do, dân chủ do nhân dân bầu nên. Khắp đường làng, ngõ xóm ở vùng giải phóng xuất hiện các khẩu hiệu “Mâu cầm tay, dao phay tra cán”, “Thà hy sinh chứ không chịu sống quỳ”, “Toàn dân tiến lên giải phóng quê hương” thúc giục mọi người hăng say luyện tập. Để chuẩn bị phục vụ bộ đội tiến công tiêu diệt địch, các làng xã đều tổ chức những đội vận tải, cứu thương, đào hầm bí mật. Một số xã ở phía Bắc, phía Tây thành phố còn lùng diệt bọn ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân, buộc chúng co vào đồn “án binh bất động” để cho các lực lượng cách mạng vận chuyển vũ khí lót ổ, chuẩn bị địa bàn đứng chân tiến công địch. Chị Đặng Thị Chề thôn Mỹ Xá “hóa thân” trong vai người buôn chuyến lương thực, đóng thuốc nổ và súng đạn vào các bao tải lúa gạo, dùng xuồng máy vận chuyển, táo bạo vượt qua các trạm kiểm soát trên sông của địch đưa vũ khí vào bến Tượng an toàn. Anh Trần Điền, một cơ sở cách mạng đầy nhiệt huyết, dùng thuyền nan làm nghề chài lưới trên sông, bất chấp hiểm nguy rình rập, mạo hiểm “dong dần” nhiều bọc vũ khí thả ghìm dưới đáy thuyền giao nộp an toàn cho cơ sở ở cầu Gia Hội. Nhân dân hai thôn Liễu Cốc Thương (cây số 11) và Xuân Hòa thuộc huyện Hương Trà bị các đồn bốt địch theo dõi ngặt nghèo, nhưng vẫn khôn khéo vận chuyển một số lượng lớn vũ khí vào thành phố.

        Phía nam sông Hương, các đoàn thể cách mạng phát triển khá nhanh, ở các phường Phú Ninh, Phú Nhuận, Phú Xuân Phường Đúc, Xuân Giang, Vĩ Dạ, Vân Dượng, Thanh Thủy, sau khi bộ đội tiêu diệt căn cứ Phú Lộe (cuối tháng 12 năm 1967) loại khỏi vòng chiến đấu Trung đoàn 7 ngụy. Hàng chục cơ sở đã bí mật mua sắm quyên góp được hàng tạ thuốc men, hàng chục tấn lương thực, thực phẩm dự trữ  cho bộ đội vào thành phố. Các mạng lưới giao liên cũng theo “ đó tăng nhanh, mỗi đêm thường xuyên có từ 50 đến 70 người  ra vào thành phố làm nhiệm vụ. Các đoàn xe lam, xe lôi, các  gánh trái cây, các loại thuyền hai đáy chứa đựng vũ khí được đưa vào thành phố ngày càng nhiều.

        Đến cuối tháng 1 năm 1968, dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư  lệnh Quân khu Trị Thiên, và Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế, quân và dân các địa phương đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ hy sinh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị trên các hướng từ Trung đoàn 5, Trung đoàn 6, các tiểu đoàn đặc công, biệt động, tiểu đoàn độc lập trực thuộc quân khu, đến các Trung đoàn 1, Trung đoàn 9 của Bộ vào đánh phản kích, khi có lệnh xuất quân chiến đấu đều tiếp cận mục tiêu an toàn, đúng thời gian quy định. Việc chuẩn bị chu đáo cùng với việc xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, đã đảm bảo cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giành thang lợi, tạo đà cho 25 ngày đêm bám rụ chiến trường, đánh phản kích, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, chi viện cho các chiến trường khác chiến đấu giành thắng lợi.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Huế giành thắng lợi to lớn, toàn diện về quân sự và chính trị là do nhiều yếu tố. Nhưng có một yếu tố quan trọng là Quân khu ủy Trị Thiên - Huế, Thành ủy Huế đã chuẩn bị tiến công vào thành phố và căn cứ địch từ trước. Nếu không có sự chuẩn bị lâu dài, kiên trì cả thế và lực, cả hình thức tiến công và biện pháp nổi dậy, không có những trận đánh thí điểm để xây dựng lòng tin cho cán bộ chiến sĩ thì không thể có tiến công nổi dậy quy mô lớn như Xuân Mậu Thân 1968. Đây là một bài học quý báu về tổ chức thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ , cứu nước .


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2017, 05:16:35 am

VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG, NHÂN DÂN TRỊ THIÊN - HUẾ TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968.

NGUYỄN VĂN QUANG       

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Trị Thiên - Huế là chiến trường chiếm giữ thành phố lớn được dài ngày nhất - 25 ngày đêm và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cả về tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công trên một hướng chiến lược.

        Đánh giá về cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên - Huế, trong Xuân 1968, Hội nghị khoa học đợt 3 (8-1986) đã kết luận “... Xuân Mậu Thân, Huế đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt được mục tiêu cao và giành thắng lợi lớn. Đặc biệt, hoạt động nổi dậy của quần chúng có tổ chức và tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu của nhân dân trong thành phố thể hiện rõ hơn và đạt mức độ cao”.

        Thật vậy, cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên - Huế 1968 đã giành được nhiều kết quả to lớn. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận lớn quân ngụy (khoảng trên 20.000 tên), thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh.

        Ngụy quân, ngụy quyền các cấp ở Huế bị sụp đổ, tan rã: “ngụy quyền các xã, ấp vùng ven và nông thôn bị tê liệt cao độ. Ta đã giải phóng 296 thôn và 227.000 dân, trong đó có 240 thôn đã thành lập được chính quyền cách mạng lâm thời, có gần 10.000 du kích, trong đó có hơn 2.500 người được bổ sung cho chủ lực. Với 25 ngày đêm chiếm giữ thành phố, thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy ở Huế đã có sức cổ vũ to lớn đối với quân và dân ta trên các chiến trường và gây thối động mạnh đối với bọn đầu sỏ Mỹ-ngụy.

        Trong thắng lợi chung của  cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên - Huế Xuân 1968, ngoài vai trò có tính quyết định của bộ đội chủ lực, có sự đóng góp to lớn về sức người, sức của, chiến đấu và phục vụ chiến đấu của các tầng lớp nhân dân Trị Thiên - Huế.

        1. Mấy nét về con người và truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân Trị Thiên - Huế:

        Tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chiến trường Trị Thiên có một ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng đối với cả địch và ta trong chiến tranh. Vào cuối những năm 60, dân số Trị Thiên có khoảng 80 vạn người (Quảng Trị: 30 vạn và Thừa Thiên: 50 vạn)... vốn có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất, nhân dân Trị Thiên đã trải qua Tổng khởi nghĩa tháng Tám, 9 năm kháng chiến chống Pháp gian khổ rồi bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ. Đến năm 1965 phong trào chiến tranh du kích phát triển đều và có những vùng khá mạnh. Tỷ lệ dân số giữa các vùng như sau:

        •   Vùng nông thôn và đồng bằng là 550.000 người;

        •   Các đô thị khoảng 200.000 người, riêng thành phố Huế có khoảng 150.000 người;

        •   Vùng rừng núi chỉ có 50.000 người.

        Quần chúng nhân dân Trị Thiên có lòng yêu nước nồng nàn, được tôi luyện dạn dày trong chiến tranh cách mạng. Trị Thiên từ lâu là một vùng chiến trường trọng điểm, là nơi giành giật quyết liệt giữa ta và địch, Mỹ  ngụy dùng nhiều bom đạn chà đi xát lại nhiều lần. Mặt khác, do thiên tai khắc nghiệt, đây là vùng đất có nền kinh tế nghèo nàn, đa số nhân dân 2 tỉnh - đặc biệt là vùng rừng núi và giáp ranh, đều có cuộc sống khó khăn, lao động cực nhọc, chạy ăn từng bữa. Tuy nghèo khó nhưng nhân dân Trị Thiên đều một lòng tin tưởng hướng về cách mạng, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho bộ đội, sẵn sàng đứng lên đấu tranh quyết liệt với kẻ thù.

        Là một trong ba thành phố lớn ở miền Nam sau Sài Gòn và Đà Nẵng), Huế có một vị trí chính trị, quân sự hết sức quan trọng. Vốn là một cố đô của triều Nguyễn cũ, trong kháng chiến chống Mỹ, Huế thuỷ quyền kiểm soát của Mỹ-ngụy, là trung tâm chỉ đạo chiến lược của địch trên khu vực tiếp giáp đối đầu với miền Bắc. Ơ đây có trên 45 cơ quan hành chính ngụy quyền, đồng thời là nơi địch bố trí một bộ máy chiến tranh khá mạnh (có khoảng từ 2,5 đến 3 vạn quân) với nhiều vũ khí trang thiết bị tương đối hiện đại của Mỹ. Thành phần xã hội của thành phố Huế đa dạng và khá phức tạp. Số dân đi đạo Thiên chúa và Phật giáo chiếm một tỷ lệ khá lớn. (Riêng Thiên chúa giáo ở Huế có trên 1 vạn giáo dân). Số dân thuộc thành phần công chức và gia đình binh sĩ ngụy có khoảng 3 vạn, số học sinh sinh viên có khoảng 2,5 vạn, nhân dân lao động có khoảng 6 đến 7 vạn, phần đông là gia đình tiểu thương, thợ thủ công, dịch vụ. Nhân dân vùng nông thôn và thành phố có quan hệ chặt chẽ với nhau, nên mỗi biến chuyển về chính trị và quân sự ở nông thôn đều mau chóng ảnh hưởng trực tiếp vào thành phố. (Tháng 10 và 11-1963, phong trào Phật tử ở Huế nổi lên chống lại chinh quyền Diệm - Nhu đạt tới đỉnh cao. Đây là một trong những lý do có tính “châm ngòi” để Mỹ “bật đèn xanh” cho các tướng lĩnh ngụy làm đảo chính lật đổ và giết chết Diệm – Nhu).


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 08:33:25 am

        Giữa những năm 60, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Trị Thiên, đặc biệt là ở Huế, ngày càng phát triển mạnh. Liên tục có những cuộc đấu tranh chống Mỹ và tay sai như cuộc xuống đường chống Diệm - Nhu năm 1963, chống Khánh - Hương năm 1964, chống Mỹ - Thiệu - Kỳ những năm 1965-1966; phong trào xuống đường đấu tranh của học sinh - sinh viên đòi hòa bình, dân sinh, dân chủ thì hầu như tháng nào cũng xảy ra. Những cuộc đấu tranh này của quần chúng nhân dân đã nhiều phen làm cho Mỹ - ngụy hoảng sợ và tìm cách đối phó vất vả.

        Ở nội thành Huế, lực lượng chính trị và phong trào cách mạng của quần chúng, dưới sự chỉ đạo của 8 chi bộ Đảng ta đã xây dựng được khoảng 100 cơ sở bí mật và nửa công khai. Số quần chúng hướng về cách mạng và san sàng tham gia các cuộc đấu tranh, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, ta có thể huy động từ 4.000 đến 5.000 người trong một ngày đêm. Ngoài ra, một số khá đông nhân dân lao động, viên chức, tiểu thương tuy không nằm trong các tổ chức cách mạng, nhưng có lòng yêu nước và cảm tình với cách mạng, ta có thể tranh thủ lôi kéo họ khi cách mạng nổ ra.

        Trước khi nổ ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, ba huyện giáp với thành phố Huế là Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy có nhiều thôn xã đã được ta giải phóng và làm chủ, tạo thành vùng “đệm” quan trọng để chủ lực ta đứng chân và làm bàn đạp tiến vào thành phố. Cụ thể ta đã giải phóng được 86/270 thôn, với trên 70.000 dân. Ở 3 huyện này, ta đã xây dựng được nhiều đội dân quân du kích với quân số lên tới hơn 1.000 người. Các tổ chức quần chúng như: nông hội, thanh niên, phụ nữ thu hút gần 30.000 hội viên; Đoàn thanh niên lao động cũng có gần tới 1.000 đoàn viên. Đây thực sự là những con số đáng kể để ta phát động, nhân giống phong trào nổi dậy của quần chúng khi tổng công kích, tổng nổi dậy nổ ra trên địa bàn Trị Thiên - Huế.

        2. Các hoạt động và những đóng góp của quần chúng nhân dân Trị Thiên - Huế trong các đợt tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

        Theo kế hoạch đề ra trước khi bước vào đợt Tổng tiến  công và nổi dậy trên toàn địa bàn Trị Thiên - Huế, ta đã  khẩn trương và ráo riết chuẩn bị mọi mặt như: làm đường  tiến công, bắc cầu phà, vận chuyển lương thực, vũ khí đạn l dượ, thuốc men, đào hầm hào chiến đấu, chuyển quân...   đồng thời tiến hành các đợt hoạt động nghi binh, đánh lừa  định. Quần chúng nhân dân tại các vùng giải phóng cũng như vùng tạm phiếm đã có nhiều hoạt động tích cực giúp bộ đội hoàn thành tốt nhiệm vụ chuẩn bị chiến dịch. Trong các hoạt động chuẩn bị này hàng chục ngàn nhân dân, học sinh, sinh viên, thanh mền, có cả cụ già, em nhỏ, đã tình nguyện có mặt tại các vị trí phục vụ bảo đảm chiến trường theo sự phân công của chỉ huy và các tổ chức đoàn thể.

        Cùng với bộ đội, nhân dân đã tu sửa và làm mới được gần 100 km đường tiến công, sửa chữa và bắc được hàng trăm cầu cống, bến phà các loại, đào đắp vận chuyển trên 500 nghìn m3 đất đá và hàng ngàn hầm hố phòng tránh, trú ẩn. Trước ngày tổng công kích và nổi dậy, chiến trường mới dự trữ được trên 1.500 tấn gạo, nhưng còn nằm rải rác ở vùng hậu cứ giáp ranh, dự kiến phải mất 4 đến 5 ngày vận chuyển mới đến tay bộ đội tại các hướng tiến công. Đặc biệt là mặt trận trọng điểm Huế lúc này chỉ mới có 130 tấn gạo, so với yêu cầu còn thiếu khoảng 700 tấn mới đủ dự trữ cho bộ đội chiến đấu. Với tinh thần quyết tâm cao độ nhân dân đã được chính quyền và chỉ huy các cấp huy động ra vận chuyển gấp số gạo trên tới các đơn vị, vượt kế hoạch thời gian trước 2 ngày. Ngoài số gạo trên, Bộ cũng đã chuẩn y cấp cho mặt trận Trì Thiên - Huế 350 tấn gạo, 400 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men, song số hàng trên còn nằm tại các binh trạm đường 559, cách Huế gần 100 km.  Với các phương tiện vận chuyển như ghe xuồng, xe đạp thồ và bằng cả đôi vai, nhân dân tại các vùng giáp ranh đã giúp bộ đội chuyển hết số hàng trên về nơi tập kết một cách an toàn, bí mật.

        Nhân dân tại các vùng địch kiểm soát và nội đô Huế đã được các tổ chức bí mật của ta tại các cơ sở huy động trong đêm tối tham gia đào được hàng trăm hầm hào chiến đấu, hầm trú ẩn, chuẩn bị các cơ sở nuôi giấu thương binh, đóng góp lương thực, thuốc men cho bộ đội. Đến ngày tổng công kích, khởi nghĩa, nhân dân tại các vùng địch kiểm soát (giáp ranh và thành phố Huế) tổng cộng đã quyên góp được 2000 tấn gạo, 8 tấn thuốc men, dụng cụ y tế, trong đó có gần một nửa số hàng trên đã được vận chuyển tới vị trí tập kết.

        Để chuẩn bị cho phong trào khởi nghĩa và nổi dậy của quần chúng ở các vùng địch kìm kẹp cũng như nội đô Huế, các cơ sở quần chúng bí mật của ta được trên chỉ đạo đã ráo riết in được hàng chục tấn tài liệu, sách báo học tập tuyên truyền, truyền đơn, băng cờ, khẩu hiệu. Các tổ chức đoàn viên, học sinh, phụ nữ trong vùng nội đô đã mở được nhiều lớp tập huấn bí mật học về quân sự, chính trị, công tác binh vận, địch vận, công tác cứu thương, chỉ đường hướng dẫn kho bộ đội cũng như công tác giữ gìn an ninh trật tự khi thành phố được giải phóng.

        Trong quá trinh diễn ra các đợt tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân các tầng lớp quần chúng nhân dân, học sinh, sinh viên cũng đã có nhiều đóng góp to lớn trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, phối hợp với bộ đội nổi dậy giành quyền làm chủ tại hầu hết các thôn, xã, huyện, thị xã, thành phố trên địa bạn Trị Thiền - Huế.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 08:34:03 am

        Do phạm vi của bài viết, chúng tôi không thể trình bày hết được vai trò và những hoạt động to lớn, phong phú của quần chúng nhân dân trong các đợt tổng tiến công và nổi dậy. Ở đây, chỉ xin điểm lại một số hoạt động nổi bật của  quần chúng nhân dân tại những hướng, vùng tiêu biểu.

        Trên cánh bắc Huế, đêm 30 tháng 1 nărn 1968, một  cánh quân của bộ đội ta đánh vào sân bay Tây Lộc. Được quần chúng cơ sở bên trong giúp đỡ và trực tiếp dẫn đường, bộ đội ta đã bí mật đột nhập qua cổng Thủy Quan, nhanh chóng theo sông Ngự Hà vào góc tây nam sân bay, đánh chiếm khu nhà lính bảo vệ, bắn cháy được 20 máy bay và nhiều xe pháo trong khu vực này. Trong lần đánh thứ 2, đêm 31 tháng 1, cũng được cơ sở quần chúng dẫn theo đường tắt bí mật, ta đã diệt gọn và chiếm toàn bộ sân bay, phá 40 máy bay, 100 xe quân sự, đốt 1 kho đạn và 1 kho xăng. Nhờ có quần chúng dẫn đường, kết quả đánh sân bay đã giành thắng lợi lớn.

        Tại các mũi đánh vào nội đô Huế như Đại Nội, Cột Cờ Ngọ Môn, cửa Đông Ba... cũng nhờ có du kích và cơ sở ngầm dẫn đường, bộ đội chủ lực ta đã nhanh chóng đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng, diệt và làm tan rã nhiều địch. Trong thành nội, ta chiếm hết các ty, sở của ngụy quyền. Quần chúng, thanh niên, học sinh, tự vệ cùng bộ đội xông vào từng khu phố, góc nhà truy bắt bọn ác ôn, phản động, kêu gọi nguy quân, ngụy quyền ra hàng chính quyền cách mạng. Mặc bom đạn cày tung mặt đường, hàng ngàn quần chúng vẫn đổ ra đường phố tiếp tế cơm ăn, thuốc men, đạn dược cho quân ta, làm công tác cứu thương, chuyển thương binh, tử sĩ về tuyến sau...

        Phối hợp các mũi chủ lực đánh vào nội đô Huế, các lực lượng biệt động, du kích tự vệ mật cùng quần chúng cách mạng đã tiến công nổi dậy làm chủ khu phố Gia Hội, lùng diệt bọn ác ôn, cảnh sát ngụy, đập tan bộ máy ngụy quyền tại các phường, quận, lập chính quyền cách mạng, tổ chức và phát triển tự vệ chiến đấu, trang bị bằng vũ khí lấy được của địch. Phong trào đấu tranh của quần chùng tại nội đô phát triển rất cao từ ngày đầu đến ngày cuối, khi ta rút khỏi thành phố, các tầng lớp nhân dân lại chuyển sang che chở, hỗ trợ cho bộ đội rút ra được an toàn.

        Tại các vùng ngoại vi bắc Huế như La Chữ, Quế Chữ..., lực lượng vũ trang địa phương cùng quần chúng nhân dân đã đồng loạt nổi dậy đánh chiếm các căn cứ, công sở cửa địch, phá ấp chiến lược, thành lập chính quyền cách mạng, xây dựng làng xã chiến đấu, đưa con em bổ sung vào lực lượng vũ trang, đóng góp được nhiều của cải, vật chất ủng hộ bộ đội, triển khai lực lượng chuẩn bị đánh địch phản kích tăng viện vào Huế. Tại huyện Hương Trà đông đảo quần chúng cách mạng cùng lực lượng vũ trang huyện xã... nổi dậy làm chủ trên nhiều vùng, diệt trừ ác ôn, tích cực vây lùng, gọi hàng bọn tàn binh địch, phá hoại và làm tê liệt giao thông. Tại đây, nhiều thôn, xã chính quyền cách mạng đã được thành lập, nhân dân lấy súng địch tự trang bị cho mình. Đối với Hương Trà, một huyện yếu ở Thừa Thiên, trước đây có nhiều cơ sở trắng, nay trong khí thế tiến công và nổi dậy đã có một phong trào phát triển cao chưa từng có. Nhân dân đã gọi hàng được một đại đội bảo an ở An Thành và 1 trung đội dân vệ ở Triều Sơn Tây, thu nhiều súng đạn...

        Tại huyện Hương Thủy (thuộc cánh nam) phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ, quần chúng nhân dân đã nổi dậy đánh chiếm cầu An Cựu, phát triển bao vây và diệt nhiều vị trí địch ở Miếu Đại Càng, Cầu Lèn, Long Thọ...  Trước sự tan vỡ, hốt hoảng của địch, quần chúng đã nổi dậy khởi nghĩa rầm rộ, mạnh mẽ, nhất là ở các xã Mỹ Thủy, Thanh Thủy, Vân Dương, Hải Thủy, Xuân Hòa.  Nhiều ổ ác ôn tập trung ở Thanh Thủy Thượng, Mỹ Thủy, đã bị nhân dân trừng trị, hàng trăm tên có nợ máu đã phải đền tội. Trong khí thế cao độ, quần chúng đã kéo đến bao  vây, uy hiếp các đồn bốt ở Thanh Thủy Chánh Vân Dương, Xuân Hòa, bọn địch ở đây đã hốt hoảng rút chạy, bỏ lại nhiều súng đạn, thuốc men... Quần chúng nhân dân với súng đạn vừa thu được của địch đã kéo ra phá các bốt dọc trên Quốc lộ 1, bao vây và cắt đứt tuyến giao thông ở đoạn Phú Bài, An Cựu. Du kích, tự vệ tử các xã An Thủy, Thiên Thủy tiến vào khu phố 5, chợ Cống hỗ trợ quần chúng đô thị nổi dậy giành quyền làm chủ. Nhiều vùng trước đây còn yếu nay đã tự giải phóng, giành được quyền làm chủ với mức độ khác nhau.

        Tại huyện Phú Vang, dọc theo tỉnh lộ từ Thuận An đến Huế, quần chúng nhân dân cùng dân quân du kích, các đội công tác đã tiến công, nổi dậy mạnh mẽ trên khu phố 5. Trước sức đấu tranh, nổi dậy của nhân dân, địch ở các vị trí như Phú Thiện, An Thuyền, Tài Mậu hốt hoảng tự tan vỡ... chính quyền cách mạng đã được nhanh chóng thành lập tại các thôn xã này.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 08:34:48 am

        Đặc biệt nổi bật trên hướng nam là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lực lượng vũ trang, biệt động với sự nổi dậy đấu tranh chính trị, binh vận của các lực lượng quần chúng nhân dân qua hai sự kiện đánh chiếm nhà lao Thừa Phủ, dinh Tỉnh trưởng (ngày 31-l) và nhà lao Thẩm Vấn (ngày 2-2). Lúc đầu các mũi tiến công này do các đội đặc công tiến công, nhưng không thành công do lực lượng ít, không thông thạo địa hình bố trí của nhà lao, lại gặp địch phản công quyết liệt phải chuyển sang đánh kéo dài. Sau đó nhờ quần chúng nhân dân nổi dậy kéo đến bao vây nhà lao, thuyết phục, gọi hàng lính cai ngục, đồng thời dẫn bộ đội bí mật tiến theo các đường hầm đánh từ trong ra, cuộc đánh chiếm hai nhà lao mới thành công. Quần chúng nhân dân cùng đặc công đã diệt gọn 1 trung đội bảo an canh giữ nhà lao, gọi hàng nhiều tên khác, giải phóng an toàn 2.300 chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu nước bị địch cầm giữ lâu ngày. Trong số tù chính trị này, hơn 1.000 chiến sĩ cách mạng nòng cốt đã được bổ sung ngay tại chỗ cho các mũi, hướng chiến đấu của chủ lực và địa phương.

        Tóm lại, trong những ngày tiến công và nổi dậy ở Trị  Thiên - Huế Xuân 1968, quần chúng nhân dân cùng lực lượng vũ trang 3 thứ quân đã phối hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, đánh rất trúng vào bọn đầu sỏ ngụy quyền, tay sai, vào những cơ quan đầu não của địch trong tỉnh cho đến các cơ quan ngụy quân, ngụy quyền ở các huyện, quận, thôn xã, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề, chế độ tay sai bị tê liệt trong một thời gian dài. Khí thế cách mạng cửa quần chúng nhân dân trong những ngày tiến công và nổi dậy đã được phát động rầm rộ và rộng khắp cao chưa từng có.

        Nhân dân Trị Thiên - Huế như được sống lại trong những ngày quật khởi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong cao trào cách mạng Xuân 1968, cán tầng lớp quần chúng nhân dân, thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức đã có một cơ hội tốt đẹp để biểu hiện tinh thần yêu nước và ý thức cách mạng bấy lâu nay bị địch kìm kẹp, lung lạc. Đã có hàng ngàn, hàng vạn quần chúng được cống hiến sức mình trong các công việc khác nhau như chiến đấu, phục vụ bảo đảm chiến đấu, làm nội ứng và chỉ đường cho bộ đội, giữ gìn an mình trật tự, vây bắt tề điệp, phản động, đi dân công, cất giấu chăm sóc thương binh, tử sĩ, úy lạo bộ đội, đào hầm hố, xây dựng làng chiến đấu, đóng góp lương thực, thuốc men cho bộ đội. Dù công việc nào, lớn hay nhỏ, họ đều làm với một tinh thần tự nguyện quên mình. Ngoài ra còn có hàng ngàn thanh niên, học sinh, con em nhân dân đã xung phong tòng quân và vào du kích tự vệ.

        Sở dĩ ở Trị Thiên - Huế Xuân 1968 đã phát động được cao độ vai trò của quần chúng nhân dân trong tiến công và nổi dậy là vì mấy nguyên nhân sau:

        •  Một là, nhân dân Trị Thiên - Huế vốn từ lâu có truyền thống yêu nước và cách mạng, tuy bị địch kìm kẹp, khủng bố và lung lạc dài ngày nhưng các cán bộ, đảng viên và cơ sở đảng của ta đã kiên trì bám trụ sâu vào lòng dân tuyên truyền, giáo dục, lôi kéo nên đa số nhân dân vẫn một lòng tin tưởng ở Đảng, hướng về cách mạng, chỉ chờ cơ hội là vùng lên. Bài học về bám trụ, bắt rễ sâu vào lòng dân của cán bộ chiến sĩ ta luôn có giá trị nóng hổi cho đến ngày nay.

        •  Hai là, khi đặt mục tiêu tiến công và nổi dậy, chúng ta đã biết lấy quyền lợi của nhân dân và Tổ quốc đặt lên trên hết, đó là nhằm tiêu diệt và đánh đổ ngụy quân, ngụy quyền phản động, tay sai, giải phóng đất đai và con người khỏi áp bức, kìm kẹp, đem lại cuộc sống hòa bình, tự do, dân sinh, dân chủ cho đại đa số nhân dân. Mục tiêu đó là phù hợp với nguyện vọng tha thiết của nhân dân nên được mọi tầng lớp nhiệt tình ủng hộ.

        •  Ba là, trong tiến công và nổi dậy, đi đội với việc phát động quần chúng đứng lên đấu tranh, bộ đội ta từ chỉ huy đến chiến sĩ đã chấp hành nghiêm kỷ luật quân dân, một lòng đoàn kết và yêu thương nhân dân nên đã gây được niềm tin sâu sắc, được nhân dân coi như con em của mình và hết lòng che chở, bảo vệ .

        Sau 25 ngày đêm chiếm giữ thành phố Huế, trước tình hình mới, bộ đội ta đã lần lượt rút lui khỏi thành phố và các vùng giáp ranh. Trong cuộc rút lui này, nhân dân lại một lần nữa tìm cách giúp đỡ, che chở bộ đội, tìm cách kéo địch về phía mình để bộ đội rút ra an toàn, nhanh chóng.

        Có thể nói, sự hy sinh về sức người, sức của của nhân dân trong cuộc Tổng tiến công là rất lớn. Mặc dù khí thế cách mạng của quần chúng rất cao, nhưng do đòn chủ lực của ta chưa đủ sức đập tan bộ máy sinh lực địch nên tổng khởi nghĩa đã không nổ ra như dự định. Tuy vậy, với tinh thần nổi dậy của nhân dân đã được thể hiện tuyệt vời trong Tết Mậu Thân là bằng chứng tin cậy để Đảng ta khẳng định rằng: nếu đòn chủ lực của ta đủ mạnh, nếu được chuẩn bị chu đáo về mọi mặt và thời cơ lịch  sử chín Muồi thì chắc chắn lần tổng tiến công và nổi dậy tiếp theo sẽ thành công trọn vẹn. Điều này được thực tế lịch sử chứng minh trong Xuân 1975, chỉ trong vòng không đầy 3 tháng: từ ngày 4 tháng 3 đến ngày 30 tháng 4, quân và dân toàn miền Nam đã thực hiện xuất sắc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đập tan hoàn toàn bộ máy ngụy quân, ngụy quyền, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam, thu non sông về một mối. 


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 08:48:19 am

ÂM HƯỞNG CỦA TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN  LƯỢC


PTS ĐẶNG DŨNG CHÍ         
Tạp chí Lịch sử Đảng         

        Đòn chiến lược Mậu Thân 1968 (từ đây xin được viết tắt là “Mậu Thân”) quả là hiện tượng “độc nhất vô nhị” trong lịch sử chiến tranh. Hiếm có trận đánh nào lại gây tranh cãi nhiều và dai dẳng đến như thế. Sự khác nhau về đánh giá không chỉ giữa những người ở hai trận tuyến, mà cả giữa những người cùng trận tuyến; không chỉ ngay lúc “nó” đang diễn ra, mà đến nay, 30 năm đã trôi qua, cuộc tranh luận vẫn chưa dứt. Những tư liệu mới được hé mở ngày càng giúp ta hiểu rõ thêm và đánh giá sát hơn “kỳ lạ” này.Trong các cuộc tranh luận ấy, nổi lên một số vấn đề: Đây chỉ là một trận đánh (tuy diễn ra trên quy mô lớn) hay thực sự là đòn quyết chiến chiến lược? Tác động của cuộc đọ sức “Mậu Thân 1968” đối với mỗi bên tham chiến là gì ?

        Đây là một trong những câu hỏi lớn của sự kiện “Mậu Thân 1968”. Bài này chỉ xin góp một vài suy nghĩ nhỏ vào việc làm sáng tỏ vấn đề nêu trên.

        1. “Mậu Thân” là một trận quyết chiến chiến lược.

        Thực ra, trận quyết chiến chiến lược phải được cả hai bên tham chiến chấp nhận từ ý đồ và dốc toàn lực cho trận đấu lại thường diễn ra trên một không gian và thời gian nhất định. Trận “Mậu Thân” lại có nét đặc thù là diễn ra trên quy mô lớn (khắp miền Nam), kéo dài nhiều tháng, phiá Mỹ dường như chưa sẵn sàng cho một trận đánh quyết liệt có tính quyết định này nên cách gọi của nó cũng rất khác nhau. Suốt 30 năm qua, người Mỹ thường gọi là “Cuộc tiến công Tết”; còn chúng ta lại dùng các cụm từ “Cuộc Tổng công kích, tổng khởi nghĩa”, “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968”, có người lại chỉ xem đó là một trận tập kích chiến lược... Vậy thực chất của cuộc đọ sức này là gì? Nếu xem xét kỹ, chúng ta có thể thấy cuộc đọ sức “Mậu Thân” đã hội đủ những yếu tố của một trận quyết chiến chiến lược.

        Sau hai năm đọ sức trực tiếp giữa quân viễn chinh Mỹ với quân cách mạng (gồm 3 thứ quân) Việt Nam, từ giữa năm 1967, chiều hướng cuộc chiến đã ngày càng rõ rệt. Tình hình ngày càng trở nên bất lợi cho Mỹ, đồng thời những yếu tố tạo ra cơ hội giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cho cách mạng Việt Nam đang dần xuất hiện. Cũng như kháng chiến chống Pháp, chấp nhận cuộc đụng đầu lịch sử với tên đế quốc đầu sỏ là Mỹ, Đảng ta đã đề ra chiến lược đánh lâu dài. Nhưng đánh lâu dài không có, nghĩa là kéo dài vô hạn độ, mà là nhằm không ngừng tạo ra thế và lực cho cách mạng, giành thắng lợi từng bước, tiến lên “giành thắng lợi quyết định” khi thời cơ xuất hiện. Một đòn “quyết định’ đã được trù tính, nhưng Mỹ đưa quân vào quá nhanh. Qua các cuộc thử sức với quân Mỹ, ý định này lại được đặt ra. Từ đầu năm 1967, các nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng ta đã cảm được tình trạng lưỡng nan về chiến lược của Mỹ trong vấn đề Việt Nam. Vì vậy, song song với việt triển khai một chiến lược ngoại giao năng động (và chủ động, từ tháng 1-1967), bộ chỉ huy tối cao đã sớm hình thành ý định đánh một đòn có ý nghĩa quyết định nhằm đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc chúng phải đi vào thương lượng tìm giải pháp cho vấn đề Việt Nam - điều mà giới cầm quyền Mỹ đã bắt đầu nhận thức ra để tìm “lối thoát trong danh dự”. Thời cơ để tấn công địch là vào năm bầu cử tổng thống ở Mỹ. Hướng tấn công là đánh vào hầu hết các thành phố, thị xã, quận lỵ ở miền Nam, nhất là Sài Gòn và Huế.  Ngày mở màn được xác định là dịp Tết, vào lúc mà địch lơi lỏng nhất. Trước khi tấn công, ta đã thành công lớn trong việc nghi binh, điều địch tới Khe Sanh.

        Chưa bàn tới những mục tiêu (đã nêu trong các văn kiện lúc ấy) đòn “Mậu Thân” đã được hình thành sớm, được chuẩn bị khá kỹ và tài tình, thể hiện sự nhạy cảm và đúng đắn của Bộ chỉ huy tối cao, nhằm làm thay đổi cục diện chiến tranh, có lợi cho cách mạng Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 10:05:45 am

        Đối với Mỹ, đưa quân viễn chinh vào tham chiến là điều bất đầu dĩ khi đang áp dụng chủ nghĩa thực dân mới. Song đã buộc phải sử dụng con bài ấy thì Mỹ bao giờ cũng hy vọng nhanh chóng đè bẹp đối phương, giành thắng lợi quyết định. Đưa hàng vạn quân vào miền Nam, Mỹ hòng sớm lập lại thế ổn định đã bị mất, khôi phục quân ngụy, tìm ra giải pháp có lợi nhất. Mỹ thực hiện chiến lược “tìm diệt” và “bình định”. Chiến lược này bị bẻ gãy. Mỹ không đạt được mục tiêu đặt ra, mà còn chịu những tổn thất lớn. Càng kéo dài chiến tranh ở Việt Nam thì số lính Mỹ bị thương vong càng lớn, chi phí quân sự càng cao. Chính phủ Mỹ vừa phải bắt thêm lính, vừa phải rút lực lượng từ các khu vực chiến lược khác ném vào miền Nam; đồng thời buộc cắt giảm các chi phí xã hội khác và tăng thuế để bù vào khoản ngân sách thiếu hụt. Tất cả những biện pháp chữa cháy ấy thực sự đụng chạm đến lợi ích hàng ngày của người dân Mỹ và làm tan vỡ hy vọng về một “xã hội Mỹ vĩ đại” mà Tổng thống Giôn-xơn từng vẽ lên trước dân chúng Mỹ. Xã hội Mỹ bị chia rẽ sâu sắc bởi biết bao vấn đề chính trị nội bộ. Càng sa lầy ở việt Nam, các ưu thế của Mỹ bị tước bỏ dần, lợi ích chiến lược của l\iỹ có nguy cơ bị thu hẹp và lấn át. Lợi dụng cơ hội, nhiều đồng minh của Mỹ đã vươn lên giành những vị trí quan trọng về kinh tế, dần thoát khỏi sự kiểm soát của Mỹ. Liên Xô cũng có nhiều cơ hội đuổi kịp và vượt Mỹ trên một số mặt, nhất là về quân sự.

        Tất cả những điều trên đã đưa Mỹ đến chỗ bế tắc và đầy mâu thuẫn, cả về chiến lược, chiến thuật, biện pháp; cả về lợi ích chiến lược và lợi ích bộ phận... Trong chính giới Mỹ đã bắt đầu xuất hiện những tranh cãi gay gắt về cách tiến hành chiến tranh và lối thoát của Mỹ.

        Đúng vào lúc đó, trận “Mậu Thân” đã nổ ra. Đôn O bơ-đo-phơ đã nhận xét: “... Cuộc Tổng tiến công đã đánh vào chế độ chính trị của Mỹ vào đúng lúc nó tỏ ra do dự nhất về đường lối và đang mang những mẩm mống của sự thay đổi”. “Sự thay đổi” ấy là gì, nếu không phải là việc rút W.C. Oét mo-len - Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam - đã “thấy trước khả năng bắt đầu rút quân Mỹ vào năm 1969. Dĩ nhiên là Oét-mo-len tính đến việc rút quân sau khi đã giành được thắng lợi quyết định. Chính Oét-mo-len “... đã một lần công khai nói rằng vào một lúc nào đó, Hà Nội sẽ tạo ra một Điện Biên Phủ thứ hai. Tham vọng của Hà Nội chính là cơ hội cho Oét-mo-len.  Ông ta quyết thực hiện một Điện Biên Phủ đảo ngược”. Và, khi trận Khe Sanh xuất hiện, Oét tin rằng đây chính là điều ông ta đang mong đợi; 40% lực lượng bộ binh và thiết giáp ở miền Nam Việt Nam được ông ta ném vào Khe Sanh và vùng I. Trận đánh ở Khe Sanh quan trọng đến mức, mà chính Giôn-xơn bắt thuộc hạ phải lập một sa bàn về Khe Sanh ở phòng tình hình và Đô đốc Wrô-stâu thường xuyên mô tả diễn biến trận đánh để ông ta rõ. Giôn-xơn còn yêu cầu Oét-mo-len và Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân E.Uy-lơ lập văn kiện “được ký bằng máu” cam kết rằng Khe Sanh sẽ không sụp đổ...

        Mặc dù bị mắc lừa, song chỉ chừng ấy bằng chứng công có thể thấy, Mỹ sẵn sàng chấp nhận một cuộc đọ sức để “phân định hơn thua” trước khi đưa quân về nước. Nỗ lực cao độ của cả hai phía, như đã trình bày, có thể giúp ta khẳng định, cuộc đọ sức “Mậu Thân” thực sự là một trận quyết chiến chiến lược. Diễn biến cuộc chiến sẽ cũng chứng minh rõ điều ấy.

        2. Tác động của “Mậu Thân” rút cuộc đều dẫn tới câu hỏi: Vậy thì, trong cuộc “so găng” ấy, ai chẳng ai thua?

        Trả lời câu hỏi này, hầu hết giới chính trị và quân sự Mỹ đều khẳng định dứt khoát là “cộng sản” thất bại về quân sự, nếu có chăng thì cùng lắm là về mặt tâm lý ở nước Mỹ (?!). Đối với chúng ta, không ít ý kiến cũng cho là như vậy, hay có thắng nhưng phải trả giá quá đắt. Những ý kiến ấy không phải chỉ là của lớp hậu sinh, mà cả những người đã từng trực tiếp tham chiến; không chỉ ở cấp thấp, mà cả ở cấp cao. Có không ít chữ “nếu” được nêu ra đối với sự kiện.

        Clau-dư-vit từng viết: Chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng thủ đoạn khác. Như thế, chiến tranh hay kết quả của các hoạt động quân sự không thể tách rời chính trị. Nó chỉ xem xét đơn thuần về mặt quân sự, đôi khi không thấy hết thực chất của một cuộc đọ sức, mà còn cần xem xét tác động của đòn quân sự đến tình hình chính trị của các bên tham chiến.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 10:06:06 am

        Đối với cách mạng Việt Nam, “Mậu Thân” đã chứng tỏ nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, đồng thời phơi bày toàn bộ thế yếu của Mỹ-ngụy. Theo Đon O-bơ-đo-phơ thì, chỉ với lực lượng 67.000 quân trong tổng số 240.000 quân) cộng sản đã buộc chừng 1.100.000 tay súng (cùng khối lượng lớn phương tiện chiến tranh của Mỹ - npụy và chư hầu) phải dàn ra chống đỡ. Cuộc tấn công diễn ra trên một không gian rất rộng mà Mỹ-ngụy không hay biết gì; trận Khe Sanh đã thu hút được 2/5 quân chiến đấu Mỹ và đánh lừa được cả bộ máy quân sự chính trị Mỹ.  Chỉ chừng ấy cũng đủ thấy đâu là khả năng về quân sự của các bên tham chiến. “Mậu Thân” thực sự tạo ra bước ngoặt của  chiến tranh. Mặc dù còn hết sức ngoan cố, sau “Mậu Thân”,  Mỹ đã bắt đầu quá trình rút quân khỏi miền Nam, từng bước xuống thang trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đàm phán.

        Nếu nói rằng thất bại thì sao chúng ta buộc được Mỹ phải chấp nhận kết cục ấy. Và cũng tại sao chúng ta lại đánh bại được các kế hoạch chiến tranh của định trong các năm 1970, 1971; đặc biệt là đòn tiến công chiến lược vang dội trong năm 1972?

        Đồng chí Trần Bạch Đằng nhiều lần cho biết rằng, ngay từ năm 1969, đồng chí Lê Duẩn đã nói đại ý: “Mậu Thân” như cú giội bom khiến cho các vấn đề chính trị nước Mỹ tung tóe ra.  Đây thực sự là một phát hiện độc đáo “ Cả ý tưởng tiến  hành đòn “Mậu Thân”, cũng như tầm ảnh hưởng của “nó”.  Thực tế lịch sử đã chứng minh phát kiến này. Đó cũng là  nguồn gốc dẫn đến sự thay đổi chiến lược của nước Mỹ và giải thích thái độ của Tổng thống Giôn-xơn ngày đó. Cũng từ đây, đã mở đường cho một mặt trận mới - mặt trận đấu tranh ngoại giao, thực hiện chiến lược “vừa đánh, vừa đàm”  giữa Mỹ và Việt Nam.

        Đối với Mỹ, nếu nói rằng “cộng sản” thất bại về quân sự  thì theo lôgic, hiển nhiên phần thắng thuộc về họ. Nhưng nếu Mỹ thắng thì việc gì Oét phải xin thêm nhiều quân đến thế và rồi phải chấp nhận kết cục thảm hại này: Oét-mo-len bị triệu hồi, Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom và không ra tranh cử nhiệm kỳ nữa, chấp nhận đàm phán và thừa nhận Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam... Nếu Mỹ thắng về quân sự ở miền Nam Việt Nam thì chắc chắn Tổng  thống Giôn-xơn không lâm vào tình trạng lúc nào cũng cảm thấy “đang bị đuổi tứ phía bởi một cuộc nổi dậy khổng lồ đến từ các hướng” và không đến nỗi suốt thời kỳ chiến tranh không bao giờ ông ta được đi ngủ trước 2 giờ sáng?...

        Và nếu Mỹ thắng thì một tổng thống mới - “cỡ” Nic-xơn  không dại gì mà không phát triển thắng lợi để giành thắng lợi lớn hơn, mà lại tiếp tục con đường “phi Mỹ hóa” (mặc dù có xảo quyệt hơn)! Như thế đủ thấy, “Mậu Thân” là một thắng lợi quân sự,chính trị không thể phủ nhận được, không thể “tranh giành” được của lực lượng cách mạng Việt Nam. Đúng là chúng ta đã phải trả giá cho thắng lợi. Song trong chiến  tranh có thắng lợi nào được coi là “rẻ” đâu. Những gì các nhà tổng kết nêu ra và giả thiết “nếu’ thế nọ, “nếu” thế kia, thì đấy chỉ là mong muốn đạt đến cái tối ưu - mà rất hiếm có được trong chiến tranh. Như để có Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, cách mạng Việt Nam phải đi qua 9 năm máu lửa (và có thể còn tính xa hơn nữa); để có được một câu: “Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”; như trong Điều 1, Chương I “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”  được ký ở Pa-ri (Pháp, 1973), dân tộc Việt Nam phải chiến đấu ngót 30 năm trời, với biết bao tổn thất mà hậu quả của nó còn dai dẳng suốt nhiều thế hệ. Hiểu rõ chân lý ấy sẽ giúp ta hiểu thêm về các đợt tấn công tiếp theo. Chính các đợt tấn công ấy đã góp phần làm lung lay tận gốc ý chí của kẻ xâm lược, thúc đẩy bước ngoặt của chiến tranh - nước Mỹ không đủ kiên nhẫn để chịu thêm những cuộn đấu như vậy nữa. Dĩ nhiên, dưới sự điều khiển của Níc-xơn, nước Mỹ còn để lại nhiều tội ác nữa ở Việt Nam, song cuộc đụng đầu lịch sử đã bước vào hiệp cuối, mà phần thắng không về phía Mỹ.

        “Mậu Thân” đã để lại dấu ấn không phai mờ trong lịch sử Việt Nam và nước Mỹ. Khẳng định lại chiến thắng để chúng ta trân trọng hơn chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 10:07:46 am

MẬU THÂN 1968 TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ QUÂN SỰ DÂN TỘC

PTS LÊ ĐÌNH SỸ         

        Lịch Sử quân Sự Việt Nam từng ghi đậm những trang hào hùng trên chặng đường dài hàng ngàn năm đánh giặc giữ nước đầy gian lao thử thách nhưng rất vinh quang. Nhân dân ta, trải qua các thời đại, đã phải tiến hành hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng cùng hàng chục cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, mà trong đó có những sự kiện quân sự nổi tiếng, khắc đậm những dấu ấn lớn vào sử sách, để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho hậu thế.

        Tết Mậu Thân 1968 với tính đặc sắc và hiệu quả chiến lược rộng lớn của nó, là một sự kiện lịch sử như thế. Đối với lịch sử Việt Nam, Tết Mậu Thân 1968 là một sự kế thừa truyền thống, một mắt xích trong chuỗi dài những chiến công của người Việt Nam đánh giặc giữ nước. Trong lịch sử dân tộc ta đã từng có những cuộc tiến công lớn, những trận quyết chiến chiến lược diễn ra vào mùa xuân, trong dịp Tết Nguyên đán truyền thống. Cuộc khởi nghĩa vào mùa xuân năm 40 của nhân dân Âu Lạc dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng là thí dụ đầu tiên. Lúc đó, nhân dân ta đã nhất tề nổi dậy tiến công vào 56 huyện, thành trong cả nước, lật nhào chính quyền đô hộ nhà Đông Hán đang lúc cường thịnh, giải phóng toàn bộ đất nước. Tiếp đó, biết bao mùa xuân lịch sử mà quân dân ta đã vùng lên khởi nghĩa, đã ra trận để chống lại ách ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc. Mùa xuân năm 544, Lý Bí đã khởi nghĩa thành công, thiết lập Nhà nước Vạn Xuân và hiên ngang xưng là Lý Nam Đế - Hoàng đế nước Nam đối diện với Hoàng đế Trung Hoa thuở ấy. Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt và Trần Quốc Tuấn đã từng tổ chức và thực hành những cuộc tiến công lớn vào dịp giáp Tết, vào mùa xuân các năm 938, 981, 1077 và 1258. Đặc biệt, Tết Kỷ Dậu, xuân năm 1789, người anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung - Nguyên Huệ đã thực hành cuộc tiến công chiến lược, cùng một lúc, bằng nhiều hướng, tiến vào Thăng Long, bất thần đánh thẳng vào sào huyệt Tôn Sỹ Nghị ở cung Tây Long, khiến quân giặc không kịp trở tay chống đỡ và chỉ trong vòng năm ngày đầu Xuân Kỷ Dậu (từ đêm giao thừa đến sáng mồng 5 Tết) đã đánh tan tành 29 vạn quân Thanh xâm lược cùng hàng vạn quân Lê Chiêu Thống phản bội. Những trận đánh nổi tiếng, những cuộc tiến công trong các thời kỳ đó đều để lại những dấu ấn không thể mờ phai trong lịch sử, đểu để lại những bài học lớn mà các triều đại các thế hệ sau kế thừa và phát huy trong sự nghiệp đánh giặc cứu nước của mình.

        Tết Mậu Thân 1968 là sự kế thừa lịch sử trong điều kiện mới. Lúc đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ đã phát triển đến đỉnh cao, thế và lực trên chiến trường miền Nam đã thay đổi có lợi cho ta, tình thế cách mạng đã mở ra những điều kiện để Đảng ta tiến hành một cuộc Tổng tiến công và nổi dậy quy mô lớn trên toàn bộ chiến trường.

        Đối với truyền thống quân sự dân tộc, Tết Mậu Thân 1968 là một bước phát triển sáng tạo. Nếu như cuộc tiến công của Quang trung vào dịp Tết Kỷ Dậu (1789) là một sự kiện điển hình của một cuộc tổng tiến công trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thì Tết Mậu Thân 1968 là một điển hình của một cuộc tổng tiến công trong chiến tranh giải phóng dân tộc. Ở các cuộc tổng tiến công nói trên, các yếu tố bất ngờ, thần tốc, táo bạo và mãnh liệt đều được triệt để phát huy. Song do điều kiện lịch sử khác nhau, trong mỗi cuộc chiến tranh việc sử dụng sáng tạo các yếu tố nghệ thuật và hiệu qua chiến đấu đều có khác. Có thể nói, đó đều là những giai đoạn mà Bộ Tham mưu chiến tranh đã có những quyết sách chiến lược hết sức táo bạo và sáng tạo. Quang Trung - Nguyễn Huệ tiến công giải phóng Thăng Long khi 29 vạn quân Thanh đang hầu như còn nguyên vẹn, trong khi đó quân ta chỉ có khoảng 10 vạn. Quang Trung đã triệt để khai thác yếu tố bất ngờ, nhân lúc Tôn Sỹ  Nghị đang rất chủ quan, khinh địch, thiếu phòng vệ; khi chúng mới giành được vài thắng lợi ban đầu, đang cho quân nghỉ ngơi đón xuân, ăn mừng chiến thắng. Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 nổ ra vào giai đoạn quân viễn chinh Mỹ đã lên tới gần nửa triệu và quân ngụy có tới gần 70 vạn. Quân và dân miền Nam đã tiến công vào thời điểm mà cả Mỹ, lẫn ngụy đều không ngờ tới. Sự kiện Mậu Thân 1968 là bước tiếp nối đay sáng tạo của truyền thống quân sự dân tộc. Là một cuộc tổng tiến công trong chiến tranh giải phóng, Tết Mậu Thân 1968 đã kết hợp tiến công và nổi dậy, nhằm đạt cả hai mục tiêu quân sự và chính trị. Đây là một cuộc tiến công chiến lược cả về quân sự và chính trị trên cả ba vùng chiến lược, trong đó mặt trận đô thị được xác định là hướng tiến công chủ yếu. Cuộc tiến công nổ ra đồng loạt trên 4 thành phố lớn, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn; đánh vào hầu hết các cơ quan đầu não trung ương và địa phương cả Mỹ lẫn ngụy, bao gồm cả 4 bộ tư lệnh quân khu - quân đoàn, 8 bộ tư lệnh sư đoàn, 2 bộ tư lệnh biệt -khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến, 30 sân bay và nhiều tổng kho lớn. Trong đó có những trận đánh gây chấn động lớn như đánh tòa Đại sứ Mỹ, dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu ngụy ở Sài Gòn và 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế. Đó quả là một sáng tạo về hình thức tiến công, tạo ra một hiệu lực cộng hưởng lớn lao; đánh vào tinh thần quân địch, làm lung lay ý chí xâm lược của chúng.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 10:08:25 am

        Trong lịch sử Việt Nam, mùa xuân năm 40, dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, nhân dân Âu Lạc cũng đã có một cuộc tổng tiến công đồng loạt vào 56 huyện thành trong cả nước. Tuy nhiên, thuở đó quân xâm lược chỉ mới làm chủ được các trung tâm huyện ly, còn các vùng nông thôn rộng lớn vẫn thuộc quyền cai quản của các thủ lĩnh người Việt. Trong chiến tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV, Lê Lợi và Nguyễn Trãi, khi đã làm chủ được tình thế, cũng không thực hiện đồng loạt tiến công vào các hành trì, cho rằng “đánh thành là hạ sách” và chủ trương ‘vây thành diệt viện”. Trong không chiến chống Pháp xâm lược, ngay cả khi quân và dân ta đã giải phóng được nhiều trung nông thôn, rừng núi và đồng bằng rộng lớn, chúng ta cũng không chủ trương một cuộc tổng tiến công vào các đô thị. Chính vì thế, tổng tiến công và nổi đậy đồng loạt của tết Mậu Thân trong kháng chiến chống Mỹ là một sự kế thừa và phát triển rất lớn về phương thức và nghệ thuật tiến hành chiến tranh giải phóng ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

        Tết Mậu Thân là sự tiếp nối, phát triển truyền thống quật cường của người Việt Nam trong cuộc chiến đấu vì tự do độc lập. Đó là truyền thống dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng những kẻ thù lớn mạnh. Có thể nói rằng, đây là lần đầu tiên trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, dân tộc ta tuy lực lượng quân sự còn rất chênh lệch so với địch, đã thực hành một cuộc tiến công lớn, đánh một đòn bất ngờ và mạnh mẽ vào ý chí của đế quốc Mỹ. Đó là lối đánh chưa từng diễn ra trong kháng chiến và cũng hiếm có trong lịch sử chiến tranh cách mạng. Cuộc tiến công diễn ra khiến những người điều hành chiến tranh ở Hoa Kỳ sững sờ, choáng váng. Chúng không ngờ quân ta lại mở được cuộc tiến công đánh vào những mục tiêu mà trước đến giờ chúng cho là kiên cố nhất. Cuộc tiến công “tết”, vì thế, càng thể hiện ý chí quyết tâm của người Việt Nam trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước.

        Xưa nay dân tộc Việt Nam chiến thắng xâm lược không chỉ bằng chủ nghĩa anh hùng, không chỉ bằng ý chí và lòng yêu nước truyền thống, mà bằng cả trí tuệ của mình, một trí tuệ biết dồn đúc và nhân lên sức mạnh để một dân tộc nhỏ có khả năng chiến thắng một kẻ thù lớn mạnh, có tiềm lực kinh tế, quân sự gấp nhiều lần. Sức mạnh Việt Nam trong chiến tranh là sức mạnh trí tuệ Phù Đổng, vụt lớn lên để chiến thắng bạo tàn. Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 là một biểu hiện của sức mạnh trí tuệ đó.  Tất cả những cố gắng của quân và dân ta lúc ấy đều nhằm đạt mục tiêu là giáng một đòn thật mạnh và hiểm, bất ngờ và đồng loạt, làm cho đối phương phải lung lay ý chí xâm lược, tạo nên sự thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cho đến lúc đó, chưa có một cuộc động binh và huy động lực lượng nào có quy mô lớn và khí thế cao như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.

        Cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của ta như một đòn sét đánh đối với bọn trùm xâm lược làm choáng váng cả nước Mỹ, làm chấn động cả dư luận thế giới và báo hiệu trước nguy cơ lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân đội Mỹ sẽ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh.

        Thắng lợi của ta trong Tết Mậu Thân thật là to lớn.  Bằng cuộc Tổng tiến công chiến lược này, ta đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, khiến chúng dù rất ngoan cố và rất đông quân cũng phải bất đầu quá trình xuống thang chiến tranh, phải chuyển sang chiến lược “phi Mỹ hóa chiến tranh”, rồi “việt Nam hóa chiến tranh”, phải bắt đầu rút quân Mỹ về nước, chấm dứt cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bác, phải ngồi vào bàn đàm phán với chúng ta ở Pa-ri. Như thế, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Tết Mậu Thân 1968 là biểu hiện ý chí và sức mạnh quật cường của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam; biểu hiện tài thao lược, sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng: đó là nghệ thuật nắm bắt thời cơ để chủ động giáng đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh; đó là nghệ thuật tiến công bằng cách đánh chiến lược mới, giành thế bất ngơ, đưa chiến tranh vào đô thị; đó là nghệ thuật tổ chức, bố trí và sử dụng lực lượng để lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy trí tuệ của con người Việt Nam để chiến thắng vũ khí và trí tuệ của kẻ xâm lược. Tết Mậu Thân là một sự kế thừa và phát huy lên một tầm cao mới, trong điều kiện mới truyền thống đánh giặc giữ nước và nghệ thuật quân sự của người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, Tết Mậu Thân 1968 là một cột mốc lớn, một sự kiện lịch sử nổi bật của lịch sử quân sự dân tộc, làm phong phú thêm kho tàng kinh nghiệm truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2017, 08:56:09 pm

VỀ ĐỢT TIẾN CÔNG THÁNG 5 NĂM 1968

PTS HỒ KHANG       

        Sau thắng lợi vang dội của Tết Mậu Thân, thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 4 năm 1968, trong tháng 5 năm 1968, quấn và dân ta trên chiến trường mở tiếp đợt tiến công mà hướng chính vẫn nhằm vào đô thị. Trong điều kiện yếu tố bất ngờ không còn, địch đã dồn về phòng thủ, lực lượng ta bị tổn thất trong đợt Tết Mậu Thân, đợt tiến công trên đây gây cho địch những thương vong nặng nề về sinh lực và tổn thất về phương tiện chiến tranh nhưng ta cũng bị tiêu hao lớn. Hơn nữa, trong lúc ta dồn sức vào đô thị, địch kịp thời lợi dụng cơ hội đó để tung quân chiếm lại những vùng chúng vừa bị mất trong dịp Tết Mậu Thân. Từ đấy, thế trận 3 vùng chiến lược của ta ngày càng bị suy giảm. Từ giữa năm 1968 đến giữa năm 1970, cách mạng miền Nam gặp nhiều thử thách, khó khăn...

        Tình hình trên làm cho việt xem xét đợt tiến công tháng 5 năm 1968 có khuynh hướng xem nặng mặt hạn chế mà hậu quả là làm cho cục diện chiến trường sau Tết Mậu Thân trở nên “xấu hơn trước năm 1968”, cách mạng miền Nam lâm vào “thời kỳ đen tối”. Có ý kiến cho rằng: “Đáng lẽ sau đợt 1, nếu ta biết ngừng và chuyển hướng hoạt động chiến đấu để chống bình định mới đúng”, “nếu ta có chủ trương từ trước, từ đầu, thì rất hay”; “sau đợt 1, nên chuyển hướng ngay là đúng nhất, hay nhất” ...

        Tuy nhiên để làm rõ vai trò, vị trí của đợt tiến công tháng 5 năm 1968, cần phải đặt nó trong bối cảnh tổng thể của thời kỳ lịch sử sau Tết Mậu Thân, cần phải đặt ra và giải quyết những vấn đề sau:

        1. Ý đồ chiến lược thực sự của hai bộ thống soái Mỹ và Việt Nam sau đợt Tổng tiến công Tết Mậu Thân.

        2. Những nhân tố quốc tế đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới tính toán chiến lược của Mỹ và Việt Nam thời kỳ sau Mậu Thân.

        3. Phía Việt Nam sẽ ngồi vào bàn đàm phán trực tiếp với Mỹ ở thế và lực nào nếu như sau Tết Mậu Thân, chúng ta thôi không tiến công vào đô thị mà quay ra củng cố vùng giải phóng nông thôn? Và liệu Mỹ, ngụy có chịu ngừng các hoạt động quân sự để ta “củng cố” khi chúng vẫn còn hơn một triệu quân, với khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại?

        Từ Tết Mậu Thân trở về trước, lập trường của Đảng, Chính phủ ta là: Mỹ phải chấm dứt không điều kiện mọi hành động chiến tranh chống phá Việt Nam dân chủ cộng hòa trước khi có bất cứ cuộc tiếp xúc chính thức nào giữa đại diện Mỹ và Việt Nam. Đến ngày 31-3-1968, mặc dù phải đơn phương xuống thang chiến tranh và tuyên bố sẵn sàng cử đại diện đàm phán với phía Việt Nam, nhưng trên thực tế, Mỹ vẫn duy trì cuộc chiến tranh phá hoại miền Bấc từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 20, các chuyến bay trinh sát trên vùng trời, vùng biển miền Bắc và ném bom trở lại trên lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chiến sự vẫn không ngừng tiếp diễn và ngày càng ác liệt. Tháng 3 và tháng 4-1968, địch tập trung lực lượng, liên tiếp mở các cuộc hành quân quy mô lớn nhằm đánh bật lực lượng vũ trang ta ra xa các đô thị, khôi phục lại các tuyến giao thông chiến lược bị cắt đứt đồng thời tăng cường đàn áp, khủng bố ác liệt các cơ sở cách mạng của ta, ráo riết “bình định” nhằm giành lại các vùng nông thôn, đồng bằng, đặc biệt là các vùng trọng điểm vừa bị mất.

        Đứng trước tình hình này, Đảng ta không thể không cân nhấc kỹ lưỡng mọi phương án hành động nhằm đưa sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta tiếp tục phát triển.  Kinh nghiệm của những lần đàm phán trực tiếp với phía Pháp năm 1945, 1946 đã để lại cho Đảng ta những bài học quý báu trong cuộc đấu tranh ngoại giao cũng như sự cảnh giác cao độ của một nước nhỏ khi đàm phán hòa bình với một nước đế quốc lớn đầy tham vọng. Đặc biệt là những kinh nghiệm dày dạn trong đấu tranh ngoại giao từ năm 1965 đến Tết Mậu Thân 1968 cũng như sự thấu hiểu bản chất của đế quốc Mỹ.

        Đảng và Chính phủ ta nhận thứ rõ ràng rằng, cái gọi là “sáng kiến hòa bình”, thương lượng không điều kiện của Mỹ trước đây chỉ là luận điệu tuyên truyền nhằm đánh lạc hướng dư luận, che giấu các hành động chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Cho nên, chúng ta không hề ảo tưởng vào “thiện chí hòa bình” của Mỹ. Tuy nhiên, đương đầu với Mỹ - một cường quốc đế quốc lớn của thế kỷ XX, Đảng ta luôn luôn chủ trương phải giữ vững quyết tâm chiến lược, đồng thời áp dụng sách lược đấu tranh chính trị và ngoại giao khôn khéo để phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với đấu tranh quân sự tạo nên sức mạnh to lớn đánh thắng địch. Trước đó, từ tháng 1-1967, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 13 (khóa III) quyết định mở mặt trận đấu trình ngoại giao, xem “đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường mà trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”.

        Từ quan điểm nhất quán đó, trước đề nghị đàm phán của Mỹ ngày 31-3-1968 và trước hành động thực tế của Mỹ, nguỵ trên chiến trường, Đảng, Chính phủ ta đã một mặt, sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ; mặt khác, kiên quyết “động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phát huy khí thế chiến thắng, tiếp tục phát triển tiến công toàn diện (...) đẩy địch vào thế thất bại liên tiếp ngày càng suy yếu, tan rã, không sao gượng dậy được nhằm đi tới giành thắng lợi quyết định”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2017, 08:56:35 pm

        Đây là chủ trương chiến lược thể hiện bản lĩnh vững vàng và sách lược mềm dẻo của Đảng ta trong tình hình lúc đó  Bởi lẽ , sau ngày 31-3- 1968 , nếu ta từ chối cử đại diện tiếp xúc trực tiếp với đại diện Chính phủ Mỹ thì Mỹ “đẩy quả bóng sang sân” chúng ta. Ngày 3-4-1968, Chính phủ ta đã tuyên bố: “sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việt ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện đối với Mỹ, cho dù có ngồi vào bàn đàm phán đầu tháng 4-1968 đi chăng nữa thì Mỹ cũng đàm phán trên thế của kẻ mạnh. Cố vấn Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đã bình luận việc ta chấp nhận cử đại diện đàm phán với Mỹ là “tự thừa nhận họ (tức Việt Nam dân chủ cộng hòa) đã ở vào một tình thế quân sự suy yếu”. Trong khi đó, Ha-ri-man - người cầm đầu phái đoàn Mỹ hội đàm với phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã nói tại cuộc họp ngày 9-4-1968 rằng: Trong cuộc hội đàm sắp tới, Mỹ phải cầm chắc sẽ đạt được những kết quả tích cực. Quan điểm của phía Mỹ là: “Chúng ta (tức Mỹ - TG) càng mạnh về quân sự trên chiến trường thì lập trường chúng ta trong thương lượng càng có thế”. Muốn vậy, Mỹ cần phải gia tăng hơn nữa những nỗ lực quân sự trên chiến trường.

        Theo hướng hành động đó, trong khi trên chiến trường, Mỹ dồn sức mở hàng loạt cuộc hành quân quy mô lớn, sử dụng ồ ạt bom đạn, chất độc hóa học, hòng đánh bật quân ta ra khỏi đô thị thì ở Hội nghị, phía Mỹ ngang nhiên đặt điều kiện cho việc chấm dứt ném bom hoàn toàn miền Bắe, bằng cách buộc ta phải:

        •    Công nhận đại diện chính quyền Sài Gòn tại Hội nghị Pa-ri. Chấm dứt không điều kiện việc đưa người, vũ khí vào miền Nam.

        •   Ngừng các cuộc tiến công vào các thành phố lớn miền Nam.

        Công khai bám giữ lập trường trên, ngày 20-7-1968, trong thông cáo chung nhân cuộc hội đàm giữa Giôn-xơn, Nguyễn Văn Thiệu tại Hô-nô-lu-lu, phía Mỹ khăng định lại cam kết “quyết tâm ngăn chặn xâm lược”, “không bỏ miền Nam Việt Nam, Mỹ rút quân thì Bắc Việt Nam cũng phải rút quân”. Tiếp đó, trung tuần tháng 8-1968, phát biểu tại Hội nghị cựu chiến binh Mỹ, Giôn-xơn một lần nữa tái xác nhận quan điềm của Chính phủ Mỹ là: không có ý đồ tiến xa thêm nữa cho đến khi có đủ lý do để tin rằng, phía bên kia có những ý đồ nghiêm chỉnh để phối hợp với Mỹ xuống thang chiến tranh và nghiêm chỉnh tiến tới hòa bình. Trong khi đó, chính quyền Sài Gòn công khai đòi đàm phán trực tiếp với Hà Nội - chứ không phải là với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

        Rõ ràng là, sau ngày 31-3-1968, lập trường nhất quán của Mỹ vẫn là buộc Chính phủ ta phải thỏa mãn các điều kiện mà Mỹ đưa ra trước khi chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Thực chất, đó vẫn là đòi hỏi trịch thượng của kẻ mạnh.

        Trước tình hình đó, Đảng ta vẫn kiên định lập trường “ vừa đấu tranh đòi Mỹ phải đơn phương chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại miền Bác, vừa chỉ đạo quân và dân ta ở miền nam đẩy mạnh tiến công dù không còn thế bất ngờ như trước, mà ta vẫn đủ sức tiếp tục đánh mạnh vào các thành thị”.

        Như vậy, diễn biến chiến trường sau Tết Mậu Thân thực chất là sự phản ánh ý đồ chiến lược thực sự của hai bộ thống soái Việt Nam và Mỹ: giành ưu thế trên trường để tạo ưu thế ở bàn hội nghị. Trong điều kiện quyết liệt đó, các bên tham trận đều bị tổn thất nặng. Đó cũng chính là thời điểm số lượng thương vong của Mỹ đã gia tăng ghê gớm, nó lên gấp hai lần tổng số thương vong của tất cả các năm trước đó cộng lại: 30.610 người so với 16.210 người. Chỉ 6 tháng đầu năm 1968, Mỹ, ngụy thừa nhận bị tổn thất 101.400 người. Đó là sự ác liệt mà mỗi bên đều buộc phải chấp nhận nhằm khẳng định ý chí, chẳng định thế của mình trên chiến trường để giành lợi thế trên bàn đàm phán. Điều này không chỉ được chứng nghiệm trong thời điểm có tính bước ngoặt lớn là năm 1968 mà sau đó còn tái diễn trong năm 1972 để đi tới Hiệp định Pa-ri tháng 1-1973.

        Rõ ràng là phải thông qua nhưng hoạt động cụ thể trên chiến trường - đặc biệt vào những thòi điểm quyết định, quân và dân ta mới buộc phía Mỹ phải xuống tiếp một nấc thang chiến tranh bằng việc: ngày 31-10-1968, bỏ qua sự phản ứng gay gắt của chính quyền Sài Gòn, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã đơn phương tuyên bố chấm dứt hoàn toàn mọi hành động chống phá nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà không còn đưa ra điều kiện đòi ta phải ngừng chi viện cho cách mạng miền nam; công nhận đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pari mà trước đó phía Mỹ vẫn nhất mực phủ nhận... Buộc được Mỹ xuống thấp một nấc thang chiến tranh trong khi trên chiến trường, quân số Mỹ, ngụy và chư hầu tiếp tục tăng đến đỉnh cao là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược to lớn của nhân dân Việt Nam, là một thành công trong chỉ đạo chiến lược nhất quán của Đảng ta: kéo Mỹ xuống thang chiến tranh để đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của Mỹ.

        Điểm lại một số sự kiện lịch sử trên đây, có thể thấy rằng, để buộc Mỹ xuống nấc thang chiến tranh ngày 31-10-1968, chúng ta phải dồn tâm lực, đẩy mạnh đợt tiến công tháng 5 năm 1968 để khẳng định thế và lực của ta, buộc Mỹ phải đàm phán theo điều kiện của chúng ta...


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2017, 08:58:49 pm

CHIẾN CÔNG LÀM NÁO ĐỘNG CẢ NƯỚC MỸ

Đại tá NGUYỄN HUY TOÀN         

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), quân và dân ta đã đồng loạt đánh địch ở hầu hết các thành phố và thị xã khắp miền Nam, là những nơi xung yếu và tương đối sơ hở của địch, làm cho chúng hoàn toàn bị bất ngờ cả về không gian, thời gian và quy mô của cuộc chiến.

        Đây là một sáng tạo lớn của Đảng ta, trong lịch sử quân sự thế giới xưa nay chưa từng có. Phát huy truyền thống “lấy ít địch nhiều” ta đã đánh vào lúc địch nhiều quân nhất (120 vạn, trong đó có hơn 50 vạn quân viễn chinh Mỹ và chư hầu của Mỹ), được trang bị những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất. Ta lại đánh vào lúc chúng đang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” mà biện pháp chủ yếu là “tìm diệt” quân chủ lực và chụp bất cơ quan đầu não của ta, với tham vọng “bẻ gãy xương sống Việt Cộng”.

        Thật là trớ trêu thay, Mỹ không phải “vất vả” đi tìm Việt Cộng ở đâu cả, mà chính ta đã vào tận các hang ổ của chúng mà đánh, đến nỗi tờ tin hàng ngày Oa-sinh-tơn đã mô tả: “Dân chúng Mỹ choáng váng, không khí Oa-sinh-tơn ảm đạm. Tổng thống vừa đau tim, vừa đau đầu. Sự sửng sốt ngày đầu chuyển sang rã rời tuyệt vọng”.

        Riêng ở Sài Gòn, quân và dân ta đã đánh hầu hết các cơ quan trọng yếu của địch, với một lực lượng ban đầu nhỏ bé, đó là 106 chiến sĩ biệt động - những người anh hùng nhất của chúng ta. Đôn O-bơ -đo -phơ trong tập ký “Tết” đã nhận xét: một trận đánh nhỏ về số người tham gia nhưng náo động cả nước Mỹ, tác động vào niềm tin, suy nghĩ cua hàng triệu người Mỹ và tương lai của giới lãnh đạo nước Mỹ” .

        Thco lời kể của đồng chí Tư Chu - nguyên Phó tư lệnh Bộ chỉ huy Sài Gòn - Gia Định, kiêm chỉ huy các lực lượng biệt động, ngày 24 tháng 1 năm 1968, đồng chí Võ Văn Kiệt - Bí thư sở chỉ huy Tiền phương II giao nhiệm vụ cho các đơn vị đánh trong nội thành như sau: ‘sử dụng toàn bộ lực lượng của F100 (biệt động) và biệt động của các cánh, các ngành đã ém trong thành phố, bất ngờ tiến công đồng loạt một số mục tiêu thuộc các cơ quan đầu não của Mỹ-ngụy ở Sài Gòn. Các đơn vị biệt động có nhiệm vụ tập kích từ giờ G, đánh chiếm khống chế các mục tiêu này và giữ cho được trong 1 giờ, bảo đảm cho lực lượng thanh niên đến tiếp tế để tăng cường sức đề kháng tại chỗ, và bảo đảm cho các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu đánh chiếm thuận lợi.

        106 chiến sĩ biệt động của chúng ta được phân chia nhiệm vụ như sau:

        Đội 5, 19 người, có 1 nữ, do đồng chí Tô Hoài Thanh chỉ huy trưởng, đồng chí Trương Văn Rồi - chính trị viên, đánh dinh Tổng thống ngụy.

        Đội l, 20 người có 1 nữ, do đồng chí út Nhỏ chỉ huy, có đồng chí Vân và Tươi là phái viên của sở chỉ huy đi cùng, có nhiệm vụ đánh vào Sứ quán Mỹ.

        Đội 6 và 9, gồm 30 người có 6 nữ, do đồng chí Đỗ Tấn Phong chỉ huy trưởng và đồng chí Năm Đức - chính trị viên, có nhiệm vụ đánh Bộ tổng tham mưu ngụy.

        Đội 3, 20 người, có 3 nữ, do đồng chí Trần Văn Lém chl huy trưởng, đồng chí Quốc - chính trị viên, đánh Bộ tư lệnh Hải quân ngụy.

        Đội 4, 14 người, có 2 nữ, do đồng chí Nguyễn Gia Lộc chỉ huy trưởng, đồng chí Đặng Văn Tẻo - chính trị viên đánh Đài phát thanh ngụy.

        Bài viết này không thể kể hết diễn biến chiến đấu và những tấm gương sáng chói chủ nghĩa anh hùng cách mạng của 106 chiến sĩ chúng ta, tôi chỉ xin cung cấp một số tư liệu để tham khảo.

        Để chuẩn bị cho trận đánh, trước hết phải xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ở đô thị một cách vững chắc. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo phương châm “ba vùng chiến lược, và chỗ dựa vững chắc là lòng dân, quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã bền bỉ, công phu chuẩn bị thế trận chiến tranh nhân dân ở nội đô trong nhiều năm. Đến tháng  12 năm 1965 ta đãnxây dựng được 10 hầm chứa vũ khí, 2 hầm rộng và một số nhà cơ sở gần các mục tiêu cần đánh ở trung tâm Sài Gòn để làm sở chỉ huy. Việc vận chuyển hàng trăm tấn vũ khí vào thành phố là một kỳ công của Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn - Gia Định. Vợ chồng ông  Chín (Hóc Môn) suốt đời chèo thuê, chở mướn trên sông Sài Gòn đã đưa được cả cối 82 và ĐKZ 15 vào thành phố, chị Bùi Thị Lý có chồng là tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, vừa hoạt động vừa nuôi hai con nhỏ. Khi được tổ chức gợi ý về công tác này, đã hiến số vàng dành dụm được để mua ngôi nhà phù hợp với địa điểm mà cách mạng yêu cầu. Mọi công tác chuẩn bị chiến đấu đã được hoàn tất trong vòng bí mật. Trong lịch sử quân sự dân tộc, chúng ta thường thắng những đội quân xâm lược lớn theo cách riêng của mình. Để phá âm mưu chuẩn bị tấn công xâm lược của địch, Lý Thường Kiệt đã đưa quân sang tập kích vào hậu phương chiến dịch của chúng. Vó ngựa mạnh mẽ và kiêu căng của đội ky binh Nguyên Mông đã đánh chiếm nhiều nước châu Âu và châu Á, nhưng đến Việt Nam cả ba lần đều bị thua vì nhà Trần chưa bao giờ đánh khi chúng ngồi trên mình ngựa, các trận Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng đều là lúc chúng đã xuống ngựa. Khi vây hãm quân Minh ở thành Đông Quan, Lê Lợi đã sai quân đi chặn đánh viện binh và chém đầu Liễu Thăng, khi mất quân viện, Vương Thông đã phải đầu hàng. Thời chứng Mỹ, cách đánh của Biệt động và Đặc công là cách riêng hết sức độc đáo chưa từng có trên thế giới.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2017, 08:59:23 pm

        Thật vậy! Tất cả các mục tiêu trong nội đô Sài Gòn, sào huyệt của địch ta đểu đánh chiếm mau lẹ đến nỗi Oét mo-len “bị choáng váng về việc cộng sản có thể phối hợp nhiều cuộc tiến công như thế mà lại trong vòng bí mật”.

        Trận đánh ở Đài phát thanh Sài Gòn, sau 5 phút ta làm chủ khu vực đài, và đã giữ được đến 6 giờ sáng. Nhưng vì lực lượng tiếp ứng không vào kịp, địch dùng cả máy bay trực thăng và xe thiết giáp phản kích. Cuối cùng còn lại đồng chí Năm Lộc - đội trưởng, Bẩy Thân - đội phó và hai chiến đấu viên Hồng và Chín. Các anh đã kết lại với nhau dùng 20 kg thuốc nổ cuối cùng, phá hỏng đài và hy sinh anh dũng.

        Trận đánh vào Sứ quán Mỹ, với một lực lượng ít mà tinh nhuệ, ta đã chiếm được tầng trệt một cách dễ dàng, 5 phút sau đã chiếm được lầu trên. Thu súng đạn và bắt một số tù binh cho vào một phòng khóa trái cửa lại. Ơ đây, anh em đã giữ được đến 7 giờ sáng nhưng đại quân ta cũng chưa vào kịp. Đồng chí Ngô Văn Vân (Ba Đen) người phụ trách chung trận đánh, đã liều chết với giặc bằng trái lựu đạn cuối cùng, nhưng anh chỉ bị thương và bị bắt, năm 1973 địch phải trao trả.

        Trong quyển sách “Việt Nam cuộc chiến tranh mười ngàn ngày” Mi-sen Mac-li-a viết: “Chiến tranh Việt Nam có nhiều bất ngờ, nhưng không có bất ngờ nào làm người ta phải sửng sốt nhiều hơn trận tấn công Tết, đặc biệt là nó diễn ra ngay trong Sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Nó đã làm cho một số người phải ra đi. Đó là Bộ trưởng Mác Na-ma-ra, tướng Oét-mo-len và chính Tổng thống Giôn-xơn nữa”.  Nếu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy là một đòn bất ngờ lớn đối với địch, thì đòn đánh của các chiến sĩ biệt động Sài Gòn là đỉnh điểm của sự bất ngờ. Chỉ với số chiến sĩ tương đương với số quân của một đại đội bộ binh, ta đã luồn vào tận “tim gan” của địch, đánh cho nó một đòn đau nhớ đời. Nhờ các phương tiện thông tin đại chúng người dân Mỹ có thể nhìn thấy tận mắt những chiến sĩ ta đánh Sứ quán Mỹ - Lầu năm góc ở miền Nam, và đánh dinh Độc Lập - phủ tổng thống của Việt Nam cộng hòa như thế nào. Những trận đánh trong nội đô Sài Gòn của biệt động, không chỉ tính kết quả bằng số thương vong mà còn phải tính ta đã thắng cả về quân sự, chính trị cả về tâm lý và dư luận. Đây chính là đòn đánh hiểm, phơi bày thế suy yếu, thất bại của Mỹ - ngụy ở một thành phố lớn nhất. Để lập nên chiến công đầu sáng chói ở Sài Gòn – Gia Định Mậu Thân 1968, trong số 106 chiến sĩ thân yêu của chúng ta, có 61 người hy sinh. Trong đó có đồng chí Trần Văn Lém (Bảy Lốp) bị bắt và bị Nguyễn Ngọc Loan - tổng giám đốc cảnh sát quốc gia ngụy dùng súng ngàn bắn vào đầu gục tại chỗ, cảnh này được chiếu trên truyền hình và đăng báo làm xúc động cả nhân loại. Họ đã lên án hành động man rợ này của địch. 12 người bị bắt đến năm 1973 địch chỉ trao trả 9 người . Bốn người được tuyên dương Anh hùng; đó là các đồng chí Lê Tấn Quốc (bí danh là Bảy Rau Muống), Trần Phú Cường (Năm Một), Phan Thị Mỹ (Tư Oanh) và Đỗ Tấn Phong.

        Trở về đời thường, những chiến sĩ biệt động - những “VC” làm náo động nước Mỹ - lại sống bình lặng khiêm tốn như cha anh của mình trong lịch sử, có giặc thì đánh, hết giặc lại cùng nhau xây dựng quê hương đất nước. Nhân cuộc Hội thảo khoa học này, tôi muốn kiến nghị hai điểm:

        Một là: Vì thành tích đặc biệt xuất sác của lực lượng Biệt động, năm 1967, Đội 5 Biệt động Sài Gòn - Gia Định - đơn vị sau này đánh dinh Tổng thống ngụy – đã được tuyên dương đơn vị Anh hùng với 16 chữ vàng ‘ĐOÀN KẾT MỘT LÒNG, MƯU TRÍ VÔ SONG, DŨNG CẢM TUYỆT VỜI, TRUNG KIÊN BẤT KHUẤT”, năm 1976 lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng hiện nay các lực lượng vũ trang ở thành phố Hồ Chí Minh không có đơn vị nào giữ phiên hiệu của đơn vị Biệt động Anh hùng hồi chống Mỹ.

        Thành tích và truyền thống của các lực lượng vũ trang nói chung, Biệt động nói riêng được xây dựng bằng những chiến công oai hùng, bằng xương máu và nước mắt của nhiều người, có khi là cả một thế hệ, cần được trân trọng lưu giữ bằng một đơn vị cụ thể (dù là nhỏ thôi), vì đây là một trong những tổ chức mà chỉ có Quân đội nhân dân Việt Nam mới có, còn hiệu quả của tổ chức này thì chắc ai cũng biết. Hơn nữa, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai, ta vẫn phải tổ chức ra các đội biệt động. Nên chăng, vừa duy trì một đơn vị nhỏ để giữ truyền thống, vừa tổ chức nghiên cứu khoa học cả về lý luận và thực tiễn, cả tổ chức và nghệ thuật quân sự về lực lượng này.

        Hai là: Do điều kiện hoạt động trong lòng địch, biệt động là lực lượng được hình thành trên cơ sở phong trào cách mạng của quần chúng do Đảng lãnh đạo, đã bố trí công việc của người ấy, nhiều đội viên không thoát ly sản xuất, nhiều người chỉ quan hệ với nhau qua bí danh. Nay đã sau 30 năm, nhiều đồng khí hy sinh cũng chưa biết tên thật, chưa tìm thấy phần mộ, trong số 106 chiến sĩ hồi Mậu Thân, nhiều người đã hy sinh chưa được xét khen thưởng và thực hiện chính sách. Chị Nguyễn Thị Phê, sau Mậu Thân, cơ sở bị lộ, địch bắt cả nhà chị đày ra Côn Đảo. Mẹ - Vũ Thị Lương và 2 con trai, 1 con gái, 1 dâu, 1 rể - cả gia đình đều là biệt động. Sau Mậu Thân các con mẹ bị địch bắt đi tù. Mẹ tần tảo vừa nuôi các con trong tù, vừa gây quỹ cho cách mạng. Rất cần thiết phải tổ chức thu lượm tin tức, và thực hiện chính sách đối với những chiến sĩ “gan vàng dạ sắt” này, những người đã lập công xuất sắc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2017, 03:05:22 pm

THẮNG LỢI CHIẾN LƯỢC TẾT MẬU THÂN 1968

PTS NGUYỄN MẠNH HÀ       

        Ba mươi năm đã trôi qua, sự kiện Tết Mậu Thân 1968, theo đánh giá của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Rô-bớt Mác Na-ma-ra thời kỳ 1961-1968, là một sự kiện quan trọng nhất, quyết định nhất của chiến tranh Việt Nam. Thắng lợi và ảnh hưởng to lớn của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ là một thực tế hiển nhiên. Tuy nhiên, đây là một sự kiện lớn lao và rất phức tạp, nên đến nay vẫn còn các ý kiến đánh giá khác nhau xung quanh sự kiện này.

        Về phía Mỹ, nhiều chính khách và tướng lĩnh Mỹ liên quan trực tiếp tới chiến tranh Việt Nam thời kỳ này tuy thừa nhận Mỹ đã bị giáng một đòn nặng nề trên chiến trường về mặt chiến lược vả bị tổn thất lớn, suy sụp tinh thần chiến đấu, nhưng không thua về quân sự. Rằng quân đội Mỹ sắp sửa giành thắng lợi quyết định thì bị giới lãnh đạo dân sứ trong chính phủ Mỹ buột phải bỏ cuộc... Những người có quan điểm trên lý giải rằng:

        Thứ nhất, sau một thời gian bị bất ngờ, choáng váng, quân Mỹ và ngụy Sài Gòn đã củng cố lại và thực hành phản kích quyết liệt, dần dần giành lại quyền kiểm soát các đô thị, đẩy chủ lực quân giải phóng ra xa các vùng ven, đồng bằng và đầu mối giao thông.

        Thứ hai, quan điểm quân sự truyền thững về thắng thua trên chiến trường của Mỹ và phương Tây là phải được căn cứ vào sự chuyển dịch đường chiến tuyến giữa hai bên tham chiến. Vì thế, Mỹ cho rằng phạm vi hoạt động của chủ lực Quân giải phóng sau Tết Mậu Thân đã bị đẩy ra xa và thu hẹp rất nhiều, chi còn các căn cứ trên rừng núi, giáp với Cam-pu-chia.

        Thứ ba, bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn lấy việc thống kê tổn thất của ta về lực lượng trong các đợt tiến công Mậu Thân làm mốc đo thắng lợi quân sự của Mỹ. Theo đó nếu tổn thất của Quân giải phóng miền Nam ngang bằng hoặc lớn hơn số lượng bổ sung từ miền Bắc vào thì có nghĩa là quân Mỹ đã thắng...

        Tuy nhiên, có một bộ phận trong chính giới Mỹ không đồng tình với cách lý giải trên. Giữa lúc cuộc tiến công Tết Mậu Thân của ta lên đến đỉnh cao (2-1968), Tổng thống Giôn-xơn quyết định thành lập ủy ban Clíp-phớt để bàn việc tăng thêm 20,6 vạn quân Mỹ theo yêu cầu của Tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam - tướng Oét-mo-len. Nhưng ủy ban Clíp-phớt lại tập trung thảo luận về chiến lược tương lai của Mỹ ở Việt Nam. Kết luận đưa ra: chiến lược quân sự Mỹ ở Việt Nam là vô vọng, dù có đưa thêm bao nhiêu quân và tiền của, vũ khí đi chăng nữa. Bản thân Đin A-ki-sưn, ngoại trưởng dưới thời Ai-xen-hao và là cố vấn của Giôn-xơn đã phải thốt lên: cuộc Tổng tiến công Tết cho thấy số 50 vạn quân Mỹ là vô cùng thiếu, không thể nào đánh đuổi khuất phục nổi Việt Cộng. Đây chính là nhận định và tâm trạng phổ biến của rất nhiều người Mỹ đã dính líu vào Việt Nam thời bấy giờ...  về phía ta, trong khi hầu hết các ý kiến, sách báo, hội thảo xung quanh sự kiện này đều cho rằng cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân là một thắng lợi chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến tranh, thì không phải không còn ý kiến cho rằng lực lượng ta bị tổn thất nặng, nhất là trong các đợt sau, rằng thắng lợi Tết Mậu Thân là thắng lợi lớn của một trận tập kích chiến lược...

        Vấn đề này, chúng tôi xin có một số ý kiến để góp phần khẳng định, làm rõ hơn thắng lợi chiến lược của cuộc Tổng tiến công Tết Máu Thân.

        Trong thơ gửi các đồng chí Trưng ương Cục tháng 7-1970, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: “Trong đợt tiến công, nổi dậy dịp Tết Mậu Thân, ta đã thắng lợi rất to, địch đã thua rất nặng. Rõ ràng trận này đã mở ra bước ngoặt chiến lược đánh đấu thời kỳ Mỹ phải xuống thang trong chiến lược chiến tranh cục bộ”.

        Bên cạnh nhiều ý kiến đã thống nhất về đánh giá thắng lợi chiến lược của Tết Mậu Thân, chúng tôi thấy cần làm rõ hơn mấy vấn đề sau:

        Một là, về mặt chiến lược, quân và dân miền Nam đã giữ vững được thế tiến công chiến lược, mặc dù tình hình sau Tết Mậu Thân cực kỳ khó khăn. Bằng chứng là ta đã đánh bại mục tiêu tao trùm của Mỹ muốn đổ quân chiến đấu Mỹ vào để tiêu diệt Quân giải phóng, hoàn thành chiến lược chiến tranh cục bộ rồi nhanh chóng rút quân. Ta đã đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của Mỹ - ngụy. Từ chủ trương “Tìm diệt”, tấn công vào tận căn cứ của đối phương, quân Mỹ đã phải quay về thực hiện “quét và giữ”. Đây là một bước lùi có ý nghĩa chiến lược của Mỹ ngay khi mới khai triển hàng chục vạn quân tinh nhuệ vào Việt Nam nhằm “đè bẹp đối phương”.

        Hai là, lần đầu tiên ta đã thực hiện được cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trên hầu khắp các đô thị, địa phương miền Nam đưa chiến tranh vào tận sào huyệt của Mỹ-ngụy. Đây là một bất ngờ về chiến lược của Mỹ trong khi Mỹ cho rằng quân giải phóng đã “hết hơi”. Mặc dù tổng quân số vào thời điểm cuối 1967 lên tới một triệu người, song quân Mỹ - ngụy không làm chủ được tình thế, không tiêu diệt được chủ lực đối phương, không ngăn chặn được nguồn tiếp tế từ miền Bắc vào. Mỹ bị thua về thế, bị hãm vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan trong khi vẫn còn đông quân nhiều tướng. Một nước lớn đánh với một nước nhỏ yếu hơn mà không thắng, trong khi một nước nhỏ đánh cho nước lớn thất điên bát đảo, chẳng những không thua mà còn càng ngày càng mạnh hơn, đủ để nói lên thất bại hiển nhiên của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2017, 03:05:44 pm

        Ba là, nếu trước Tết Mậu Thân Mỹ tìm mọi cách để thắng, thì sự thể sau Tết Mậu Thân lại ngược lại. Vấn đề bây giờ là Mỹ tìm cách thua như thế nào để đỡ mất thể diện, cuộc tiến công Tết đã đánh bại ý chí leo thang tiếp tục chiến tranh của Mỹ. Giờ đây, Mỹ đã nhận ra rằng không thể đánh bại Việt Cộng, dù có tăng thêm bao nhiêu quân chăng nữa. Báo giới Mỹ nói nhiều về thất bại tâm lý và chính trị của Mỹ, về hậu quả của cuộc tiến công. Nội bộ chính quyển Mỹ chia rẽ nghiêm trọng. Một cuộc chiến tranh khác nổ ra ngay trong lòng nước Mỹ. Chưa bao giờ người dân Mỹ được biết tường tận sự kiện chiến tranh Việt Nam như trong Tết Mậu Thân. Nếu Mỹ không thua thì chắc chắn không có bài diễn văn 31-3-1968 của Giôn-xơn, chấp nhận đàm phán, hạn chế ném, bom miền Bắc, bắt đầu rút quân chiến đấu Mỹ khỏi Việt Nam. Vị tổng thống đầy tham vọng này còn phải ngậm ngùi tuyên bố không ra ứng cử nhiệm kỳ 2.

        Bốn là, việc các chính khách và tướng lĩnh Mỹ nhận rằng Mỹ đã thắng về quân sự trên chiến trường dịp Tết Mậu Thân chỉ là một sự tính toán cơ học, máy móc. Chúng ta không phủ nhận lực lượng Quân giải phóng bị tổn thất khá nặng, nhiều vùng căn cứ và đất đai bị địch chiếm, tình thế nhiều địa phương trở nên khó khăn hơn nhiều sau đợt 2...  Nguyên nhân có thể là do đề ra mục tiêu, thời gian và địa bàn tiến công chưa thực sát hợp. Nhưng tình thế khó khăn đó chỉ là tạm thời. Điều đạt được có ý nghĩa từ cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân của quân dân miền Nam là buộc Mỹ phải rút ra kết luận: không thể dùng sức mạnh quân sự để áp đặt ý đồ chính trị của Mỹ ở Việt Nam. Chưa bao giờ số quân chiến đấu Mỹ chết và bị loại khỏi vòng chiến đấu, tính theo từng tuần, lại nhiều như thời kỳ này. Các số liệu của Mỹ cũng thừa nhận như vậy.

        Năm là, cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân đã mang lại cho quân và dân ta một xung lực mới, khả năng mới và củng cố niềm tin vững chân vào trọng lực cuối cùng ngay trong những ngày tháng gay go, ác liệt nhất. Nếu so với kháng chiến chống Pháp, chúng ta phải tập trung hầu như toàn bộ các đơn vị chủ lực tinh nhuệ của quân đội vào một trận quyết chiến chiến lược ở một địa bàn xa trung tâm đất nước tại Điện Biên Phủ, thì trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân ta đã có đủ lực lượng cùng lúc đánh đồng loạt vào gần 40 thành phố, thị xã toàn miền Nam, trong đó tập trung vào các sào huyệt quan trọng, hiểm yếu nhất của Mỹ và ngụy quyền như Sài Gòn, Huế...

        Như vậy, cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân là một thắng lợi chiến lược do có sự chuẩn bị kỹ càng mọi mặt đánh nhiều đợt, nhiều lực lượng, có tiến công và nổi dậy nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược đề ra, không phải là đòn tập kích.

        Về sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam nói chung, Tết Mậu Thân nói riêng, mới đây, tháng 5-1997, Nhà xuất bản Háp-pơ Côn-lin của Mỹ đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách có tiêu đề: “Không làm tròn bổn phận - Lin-đơn Giôn-xơn, Rô-bớt Mác Na-ma-ra, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân và những lời dối trá đã dẫn tới cuộc chiến tranh Việt Nam” (Dreliction of duy - Lyndon Johnson, Robest Mc Namara, the joint chiefs of staff, and the lies thất led to Việt Nam) của tác giả Mác Mát-xtư. Nội dung chính của cuốn sách, đang gây được sự chú ý của dư luận, là làm rõ điều gì đã xảy ra, tại sao và ai chịu trách nhiệm về những quyết định đã dẫn tới việc can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Cuốn sách góp phần làm thay đổi quan điểm hiện đang phổ biến ở Mỹ cho rằng đây là một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi trên cơ sở vạch rõ vai trò của các cố vấn thân cận của Tổng thống Mỹ Giôn-xơn như Mác Gioóc-giơ Bân-đi, Đin Rát-xcơ, Gioóc-giơ Bôn, Mác-xoen Tay-lo và đặc biệt là Mác Na-ma-ra, rằng các nhà hoạch định chính sách của Mỹ bị bó buộc bởi lý thuyết về chính sách ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, và do vậy phải được vô tội trước hậu quả cuối cùng đó. Có người hỏi, vì sao để chống cộng sản, Mỹ lại không đưa quân vào lục địa Trung Quốc?  Quyết tâm đưa quân Mỹ vào Việt Nam; cầm quyền Mỹ nhằm áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở Nam Việt Nam và tin chắc rằng sẽ thắng vì Việt Nam là nước nhỏ.

        Nhà bình luận nổi tiếng của tờ “Tin Mỹ và thế giới”, đồng thời là đồng tác giả cuốn sách: “Có một thời, chúng ta là những người lính... và trẻ trung”, Giô-dép Ga-lô-uây viết: “ở đây (trong sách của Mát-xtư) có những điểm mà bạn chưa từng được đọc trong cuốn sách của R.Mác Na-ma-ra (Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những loài học về Việt Nam, in 1995). Cuộc chiến tranh Việt Nam không diễn ra một cách đun thuần, nó không phải là một cuộc xung đột ngẫu nhiên của chiến tranh lạnh giết chết 58.000 người Mỹ và một triệu người Việt Nam. Mát-xtư đã khám phá các hồ sơ vừa mới được gỡ dấu mật và trong những trang tài liệu này tỏa ra ánh sáng rõ ràng và hiểu biết về việc làm như thế nào mà các nhà lãnh đạo lỗi lạc, được che đậy dưới một lớp bảo vệ bằng những lời nói dối và những từ như “tối mật”, đã dùng thủ đoạn và mánh khóe kéo đất nước chúng ta tuột xuống con đường dẫn tới chiến tranh và sự bại trận cay đắng”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2017, 03:07:55 pm

SỰ KIỆN TẾT MẬU THÂN 1968 QUA NHẬN XÉT CỦA MỸ VÀ NƯỚC NGOÀI

NGUYỄN XUÂN NĂNG       

        Cách đây vừa tròn 30 năm, vào Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào 4/6 thành phố, 37/46 thị xã và hàng trăm thị trấn trên toàn miền Nam. Trong lịch sử chiến tranh thế giới cũng như lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, chưa bao giờ có cuộc tiến công đồng loạt, đều khắp và rộng lớn như Mậu Thân 1968. Mậu Thân 1968 với hiệu lực chiến đấu “cộng hưởng” lớn lao chưa từng có đã làm rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm góc. Cũng chính vì vậy, nó gây chấn động dữ dội trong dư luận không chỉ ở nước Mỹ mà trên toàn thế giới. Sự chấn động ấy được thể hiện qua một số sách báo xuất bản lúc đó và cả sau này.

        Nhà sử học Mỹ Ga-bơ-ri-en Côn-cô trong tác phẩm “Giai phẫu một cuộc chiến tranh” xuất bản tại Nữu-ước năm 1985, đánh giá: “Cuộc tiến công Tết là sự kiện quan trọng nhất và phức tạp nhất của chiến tranh Việt Nam”. Theo ông: với Mậu Thân 1968, Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh ngoài nước đầu tiên của Mỹ kể từ năm 1882 đã gây ra cuộc khủng hoảng xã hội, nội bộ sâu sắc và một sự phân hóa về hình trị.  Còn tướng Mắc-xoen Tay-lo - cựu đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, sau khi từ chức (tháng 6 năm 1965) về làm cố vấn đặc biệt của Tổng thống Giôn-xơn, trong hồi ký “Thanh gươm và lưỡi cày” xuất bản tại Nữu-ước năm 1972 đã thừa nhận: “Ngày 31-1-196S, quân địch (tức quân giải phóng) tiến công và chỉ trong vòng 2 ngày họ đã tiến vào 5 đô thị lớn, 39 tỉnh lỵ và nhiều thành phố. Những trận tiến công của họ đã được báo chí Mỹ tường thuật dưới dạng những hàng tít lớn được chiếu trên các màn ảnh vô tuyến truyền hình và đã làm cho phần lớn dân chúng Mỹ và một số quan chức kinh hoàng. Phải rất lâu họ mới hoàn hồn và trong một số trường hợp sự hoàn hồn đó mãi mãi không bao giờ được khôi phục lại hoàn toàn”.

        Tay-lo còn nói: “Những điều bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho tôi không phải là việc đối phương đã mở được một cuộc tiến công lớn mà chính là việc họ đã mở cùng một lúc nhiều trận tiến công mãnh liệt đến như thế”.  Oét-mo-len - nguyên Tư lệnh Bộ chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam viết trong “Một quân nhân tường trình” xuất bản ở Nữu-ước năm 1976: “Việt Cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại... các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa... Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta (Mỹ) phải công nhận, đối phương đã giáng cho chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề. Oét-mo-len còn nhận xét một cách bi quan rằng: “Chiến tranh đã trở thành một vấn đề chính trị với triển vọng địch (QGP) có thể thắng ở Oa-sinh-tơn như họ đã thắng ở Giơ-ne-vơ 1954. Ý chí của các chính khách Mỹ đang suy giảm”.

        Cựu tổng thống Mỹ Ai-xen-hao, ngày 27-3-1968 nghĩa là chưa đầy 2 tháng sau khi ta mở cuộc tiến công đã phải than thở: “... Chưa bao giờ gặp phải tình trạng đáng buồn như tình cảnh hiện nay của nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về chiến tranh”.

        Ngay đương kim Tổng thống Giôn-xơn lúc bấy giờ cũng tỏ ra chán nản, dao động sâu sắc. Trong hai ngày 25 và 26-3-1968, ông ta đã triệu tập một cuộc họp “những nhân vật am hiểu tình hình nhất”. Phiên họp kéo dài với những thành viên hội nghị gồm những người nắm những địa vị then chốt nhất trong chính phủ Mỹ, Giôn-xơn đã hỏi quan điểm từng người một. Và, “Tổng thống đãnhận được những câu trả lời vô vùng bi quan của những người từ trước đến nay được xem là loại cứng rắn... Cuối cùng, Tổng thống quyết định rời khỏi sân khấu chính trị với hy vọng thống nhất lại một quốc gia đang bị chia rẽ và điển hình của sự chia rẽ đó là sự chia rẽ ngay trong những người thân cận nhất của Tổng thống”. Sau đó, Níc-xơn gặp Nguyễn Văn Thiệu tại đảo Ha-oay để bàn về việc Mỹ sẽ rút quân khỏi Việt Nam. Hen-ry Kít-sinh-giơ, ngoại trưởng Mỹ nhận xét:

        “Việc Tổng thống chúng ta chỉ có thể gặp người lãnh đạo một nước mà hơn 30.000 người Mỹ đã chết vì nó trên một hòn đảo hiu quạnh trong một khung cảnh đẹp trời của Thái Bình Dương chứng minh tình hình rối như tư vò mà chiến tranh Việt Nam đã dìm xã hội chúng ta vào”.

        Đó là lời của các nhân vật chóp bu trong giới cầm quyền Mỹ. Còn báo chí Mỹ thì sao?.

        Tờ tin tức Hoa Thịnh Đốn ngày 31-1-1968 đã viết: “Các cuộc tiến công ồ ạt, táo bạo của cộng sản ngày 31-1 vào Sài Gòn, 8 tỉnh ly và 30 thị trấn nhỏ hơn là một điều đáng kinh ngạc. Cảnh sát quân sự Mỹ đã phải đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống nóc nhà sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích” nhưng lại bị cộng sản chiếm trong 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để buộc chính phủ Giôn-xơn dẹp đi, coi là không có giá trị những nhận định lạc quan của mình”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2017, 03:08:18 pm

        Thời báo Nữu-ước, tờ báo lớn nhất nước Mỹ số ra ngày 1-2-1968 bình luận: “Cuộc tiến công của đối phương đột nhập cả đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn cho thấy thêm những bằng chứng đau xót về sức mạnh có hạn của Mỹ ở châu Á.  Bằng chứng cuộc tiến công táo bạo vào những thành phố chính ở miền Nam Việt Nam và bằng sự tập trung quân ở Khe Sanh, cộng sản đã làm tiêu tan niềm lạc quan bao trùm lên Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn trong mấy tháng qua. Đây rõ ràng không phải là hành động của một đối thủ đang yếu dần như các nhà quân sự Mỹ đã khẳng định hồi tháng 11 năm Cũng tờ báo này, trong số ra ngày hôm sau 2-1-1968, có đoạn: “Chiến thắng của Việt Cộng chứng minh sự suy yếu của cơ cấu chính trị mà Mỹ dùng làm chỗ dựa trong cố gắng chiến tranh và đe dọa thủ tiêu hoàn toàn các cơ cấu chính trị đang suy yếu”. Tác giả bài báo tỏ ý lo ngại rằng: “Hậu quả chính trị do thắng lợi đáng kinh ngạc của Việt Cộng gây ra lần này mới là nguy hại nhất”.

        Không chỉ báo chí Mỹ, các báo phương Tây và các nước trên thế giới ở góc độ này hay khác đều đưa tin và bình luận về sự kiện lịch sử này.ư

        Hãng thông tấn Roi-tơ của Anh ngày 3-2-1968 nói: “Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tấn công phối hợp ở Sài Gòn và ở các trung tâm chủ chốt khác tại Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi ngạc nhiên”. Kế đó ngày 5-2-1968 hãng này thống kê: “Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu đô la mà vẫn không bảo vệ được một tấc đất vuông nào ở miền Nam Việt Nam cả”. Trong khi đó báo Người quan sát (Anh) tỏ ra ngạc nhiên khi than rằng: “Người ta không thể tin là một tình hình như thế lại có thể xảy ra”. Báo Pháp “thế giới” ngày 1-2-1968 mỉa mai: “Người Mỹ đã từng khẳng định dân chúng Nam Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận dân tộc giải phóng, giờ đây liệu họ còn có thể nêu lên những lý lẽ như thế nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng khâm phục về sức mạnh và lòng dũng cảm của Việt Cộng như vậy”. Báo “Chiến đấu” ngày 1-2-1968 khẳng định: “Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt chính trị trong cuộc chiến tranh này rồi. Những gì xảy ra ở Sài Gòn cũng đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc giải phóng đã nắm được các tầng lớp dân chúng ‘ở Nam Việt Nam trong mức độ lớn biết dường nào”.

        Tờ Lơ-phi-ga-rô (Pháp) ngày 2-2-1968 ca ngợi: “Cuộc tiến công lừng danh của Việt Cộng cho ta thấy trước hết cái tài tình của những người chỉ huy trong việc hướng dẫn cuộc chiến tranh vừa quân sự, vừa chính trị này. Về mặt đối nội - họ vừa thu được một thắng lợi lớn; họ chứng tỏ cho nhân dân Việt Nam thấy rằng họ có thể đánh nơi nào và lúc nào cũng được hết. Họ làm cho chính phủ Sài Gòn và quân đội của chính phủ này trở thành một trò cười. Họ tăng cường sự kiểm soát của họ, và do đó, làm giảm bớt sự kiểm soát của chế độ Sài Gòn đối với dân thường, những người dân thường nay thì đầy lòng kính nể và khâm phục đối với Mặt trận dân tộc giải phóng”.

        Nhiều báo của các tổ chức Đảng Cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đều tỏ thái độ khâm phục với cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân ta qua sự kiện Tết. Báo Nhân đạo cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp ngày 1 2-1968 đã ca ngợi: “Đây là cuộc tiến công lớn nhất của các lực lượng vũ trang giải phóng. Những người yêu nước miền Nam Việt Nam đã chứng to rằng ở khắp nơi, quyền chủ động đang thuộc về họ, họ có thể quyết định địa điểm, thời gian của các cuộc tiến công làm cho Bộ chỉ huy Mỹ luôn luôn bở hơi tai”.

        Các nước trong phe xã hội chủ nghĩa lúc đó thì vui mừng. Hầu như báo của nước nào trong ngày 31 tháng 1 và 1 tháng 2 cũng đăng bài biểu lộ niềm hân hoan trước thắng lợi của nhân dân ta. Tiêu biểu là tờ “Diễn đàn nhân dân Ba Lan”, báo có đoạn: “Các trận đánh táo bạo được chuẩn bị tốt của những người yêu nước miền Nam Việt Nam là sự phát triển của các cuộc tiến công trên một quy mô rộng lớn mà Quân giải phóng đãmở đầu trong tháng Giêng năm nay vào những lúc, ở những nơi và với hình thức mà họ lựa chọn. Quân giải phóng trên thực tế đã trói chân, khóa tay tất cả các lực lượng chiến đấu của quân thù trong khắp các tỉnh”.

        Qua một số sách báo Mỹ và nước ngoài nói về sự kiện Tết Mậu Thân 1968 có thể nhận thấy: dù ở góc độ nào, dưới con mắt của nhà chính trị, nhà sử học hay nhà báo, từ người dân bình thường đến các tướng lĩnh cao cấp thậm chí cả Tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ lúc bấy giờ đều phải thừa nhận tác động to lớn của sự kiện Tết Mậu Thân 1968 đối với toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Điều này chứng tỏ tầm vóc và ý nghĩa sâu sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968 của quân và dân ta ở miền Nam. Nó đập tan những luận điểm sai trái và xua đi những nghi ngờ về thắng lợi của ta trong sự kiện lịch sử này.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2017, 12:03:19 am

NGHỆ THUẬT TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY

PTS PHẠM VĂN THẠCH       

        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của nhân dân ta, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 là một sự kiện trọng đại. Nó để lại nhiều bài học quý báu, có giá trị lớn về lý luận và thực tiễn.

        Như chúng ta đã biết, do thất bại trong chính sách xâm lược thực dân mới thông qua chế độ cai trị độc tài phát xít của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân Mỹ vào trực tiếp tham chiến trên quy mô lớn ở miền Nam, dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc - hậu phương lớn của cuộc kháng chiến. Đây là bước leo thang chiến tranh hết sức nguy hiểm của Mỹ với tham vọng đè bẹp cách mạng miền Nam trong một thời gian ngắn. Đứng trước tình thế hiểm nghèo này, Đảng ta đã bình tĩnh, sáng suốt phân tích, đánh giá toàn diện, sâu sắc chiến lược mới của Mỹ, những mặt mạnh và yếu của chúng, thế và lực của ta, từ đó hạ quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ chính xác, tạo nên sự nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn quân toàn dân. Nhờ vậy, quân và dân ta đánh thắng quân Mỹ ngay từ khi chúng vừa đặt chân vào miền Nam. Đó là các trận Núi Thành, Vạn Tường, Đất Cuốc, Bầu Bàng, Plây Me... Chiến công chúng Mỹ ngay từ những trận đầu đã khẳng định khả năng có thể đánh và đánh thắng quân Mỹ của quân và dân ta. Điều đó có ý nghĩa hết sức quan trọng ở thời điểm đầu cuộc “đọ sức” trực tiếp giữa ta và quân Mỹ như chính các tướng lĩnh Mỹ, khì nói về trận Plây Me, đã cho là một trận đánh làm thay đổi chiều hướng của cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, ở đây chúng ta mới đánh thắng quân Mỹ ở quy mô chiến thuật.

        Bước vào mùa khô 1965-1966 và 1966-196r/1 quân Mỹ tập trung lực lượng cùng với vũ khí, trang bị hiện đại liên tiếp rnở hai cuộc phản công chiến lược quy mô lớn vào miền Đông Nam Bộ và Trung Bộ nhằm “tìm diệt” chủ lực ta, “xóa sổ” cơ quan đầu não kháng chiến ở miền Nam, thực hiện mưu đồ giành thắng lợi quyết định, nhưng đều bị quân và dân ta đánh bại. Đây là thắng lợi lớn của ta. Chúng ta không những đánh thắng quân Mỹ ở quy mô chiến thuật mà cả ở quy mô chiến dịch.

        Có thể nói, đến giữa năm 1967, quân và dân ta đã giành những thắng lợi lớn liên tiếp, trận sau thắng lớn hơn trận trước và làm thất bại nghiêm trọng chiến lược “tìm diệt” của Mỹ. Địch bị thất bại nặng nề. Ta đang ở thế thắng, thế chủ động và có bước phát triển mới về thế và lực; địch ở thế thua, thế bị động. Tình hình đó làm cho giới cầm quyền ở Nhà trắng và Lầu năm góc phân hóa sâu sắc, tỏ ra giao động, lúng túng, ngập ngừng về chiến lược. Trong khi đó, cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ đang đến gần, phong trào chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam ngay tại nước Mỹ và trên thế giới ngày càng cao. Chúng ở trong tình trạng “tiến  thoái lưỡng nan” cả về quân sự và chính trị. Nhạy bén nắm bắt, phân tích và đánh giá chính xác cục diện trên, Hội nghị Bộ Chính trị đầu tháng 12 năm 196’7 nhận định: “Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn” để “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. Muốn vậy, cần có một đòn đánh mạnh có ý nghĩa chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh. Từ nhận định đó, Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định”.

        Hướng tiến công chiến lược chủ yếu là các thành thị, trung tâm đầu não của Mỹ-ngụy, trọng điểm là Sài Gòn – Gia Định, Huế, Đà Nẵng. Đêm 20 rạng ngày 21-1-1968, ta mở Mặt trận đường 9 -_Khe sanh nhằm nghi binh, thu hút, kìm chân một lực lượng quan trọng quân Mỹ, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, hỗ trợ cho hướng tiến công chiến lược chủ yếu nói trên.

        Đúng đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968 (ngày 30 - 31-1-1968) quân và dân ta đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào 4/6 thành phố, 37/46 thị xãvà hàng trăm thị trấn, các căn cứ quân sự, hậu cần, sở chỉ huy... lớn của địch trên toàn miền Nam.

        Bằng cuộc tiến công táo bạo, bất ngờ, ta đã đánh thắng vào các vị trí quan trọng nhất của Mỹ - ngụy như Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống ngụy, Bộ Tổng tham mưu, Tổng nha Cảnh sát ngụy, Đài phát thanh... ở Sài Gòn, tiến công, làm chủ thành phố Huế (25 ngày) và hầu khắp vùng nông thôn, tiêu diệt nhiều sinh lực, nhất là sinh lực cấp cao của địch, phá hủy một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thán 1968 đã giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, làm rung chuyển nước Mỹ và lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, phải “phi Mỹ hóa chiến tranh”, rồi ‘Việt Nam hóa chiến tranh” để từng bước rút quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến.

        Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, rộng khắp, trên quy mô lớn toàn miền Nam - lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thật sự là một đòn chiến lược giành thắng lợi quyết định, tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta. Đó là một nét hết sức độc đáo, bước phát triển cao, rất sáng tạo của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam.

        Trong chiến tranh, yếu tố quyết định thắng lợi luôn luôn tùy thuộc vào so sánh lực lượng, thế và lực giữa hai bên tham chiến. Đó là một quy luật phổ biến trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào. Dĩ nhiên, sức mạnh trong chiến tranh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, điều kiện nhưng các yếu tố ấy, phải được thể hiện thành sức mạnh cụ thể để chiến thắng đối phương.

        Trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ - một cường quốc tư bản hàng đầu thế giới có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn hơn ta nhiều lần, Đảng ta cho rằng phải bằng bạo lực cách mạng bao gồm hai lực lượng: lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao; kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị; đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh lớn, vừa, nhỏ, thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ...  nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp đánh Mỹ, thắng Mỹ, từng bước làm chuyển biến cục diện chiến tranh, tiến lên giành toàn thắng. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng chính trị và vũ trang, cùng với các hình thức đấu tranh như trên, tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, đấu tranh quân sự chính trị, ngoại giao gắn chặt với nhau, trở thành một quy luật trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

        Tổng tiến công và nổi dậy với quy mô lớn, tính đồng loạt, nhằm vào các mục tiêu chiến lược có tác động lớn, có ý nghĩa bước ngoặt trong tiến trình và đối với kết cục của chiến tranh như thực tiễn chứng tỏ.

        Nghệ thuật tổng tiến công và nổi dậy đã được Đảng ta, quân và dân ta phát triển lên đỉnh cao nhất để giành toàn thắng trong mùa Xuân 1975. Đó là những vấn đề cần được nghiên cứu, đúc kết về lý luận nhằm làm phong phú thêm kho tàng tri thức quân sự và nghệ thuật quân sự độc đáo Việt Nam và vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xãhội chủ nghĩa ngày nay.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2017, 12:09:41 am

CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968
(Tổng thuật qua tài liệu Mỹ)

Thiếu tướng NGUYỄN ĐÔN TỰ       

PHẦN I

BỐI CẢNH CUỐI NĂM 1967

        1.Tình hình quân sự:

        Số quân Mỹ đến tháng 12 năm 1967 ở Việt Nam: 485.600 tên.

        Theo Westmoreland, từ 1966 Mỹ đã thực hiện kế hoạch: lực lượng Sài Gòn tập trung bảo vệ vùng đông dân trong khi lực lượng Mỹ làm lá chắn để phía sau tiến hành công tác bình định. Lực lượng Mỹ hoạt động xa vùng dân cư để phát huy được hỏa lực và cơ động, chống lại các đơn vị chủ yếu của Bắc Việt Nam và quân giải phóng.

        Nhà sử học của lính thủy đánh bộ Mỹ - chuẩn tướng Edwin Simmonus bình luận: “Sự thật là chúng ta vi phạm nhiều nguyên tắc cơ bản của chiến tranh, chúng ta không có mục đích rõ ràng. Chúng ta không có thống nhất chỉ huy, không bao giờ có chủ động. Câu nói thông thường là “lực lượng phản ứng”, lực lượng của chúng ta chia rẽ và lộn xộn.  Do chúng ta không có một chiến lược rõ ràng nên phải tính thành tích bằng con số thống kê: ngày chiến đấu của tiểu đoàn, số ấp được kiểm soát, số chết qua “đếm xác”... Cuộc tranh cãi về chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tranh kéo dài. Đến giữa năm 1967, cuộc họp cấp cao nhất ở Honolulu đã không xác định được chiến lược và cũng không quyết định được vấn đề gì có tầm chiến lược, ngoài việc bàn về ngăn chặn tiếp tế tử Bắc vào Nam.

        Cuộc chiến tranh bằng không quân mà Mỹ đặt nhiều hy vọng đã không đạt được các mục tiêu đề ra: không phá được tiềm lực của miền Bắc (còn được viện trợ gấp bốn lần mức bị thiệt hại), không chặn được tiếp tế vào miền Nam, không phát huy được trong chiến đấu ở vùng rừng núi, trong khi đó lại bị chiến tranh nhân dân Việt Nam đánh cho thiệt hại nặng, đến tháng 11 năm 1967 đãmất hơn 1.000 máy bay trị giá hơn 6 tỷ đô-la. Quyết tâm chống Mỹ của lãnh đạo Việt Nam không hễ bị lay chuyển.

        Ở miền Nam, quân giải phóng vẫn chủ động trong các trận đánh, tức là chủ động về địa điểm và thời gian tác chiến, đánh rồi rút, không chủ trương giữ đất. Từ giữa năm 1967, ta chỉ có một số trận đánh ở Làng Vây, Hải Lăng, Cồn Tiên phía nam khu phi quân sự; Đắc Tô ở Tây Nguyên đánh Lộc Ninh, Sông Bé giáp Cam-pu-chia. Đầu tháng 1 năm 1968 hoạt động rộ lên ở Khe Sanh, địch cho ta có đến 4 sư bộ binh và 2 trung đoàn pháo ở quanh khu vực này. Đây là cơ hội để Mỹ phát huy cao độ lực lượng không quân pháo mặt đất và pháo hạm. Như vậy chỉ trận Đắc tô Khe Sanh cỡ sư đoàn, còn là các trận nhỏ, ở dọc biên giới. Địch có các cuộc hành quân Persing ở Tam Quan và Bình Định, phản ứng mạnh ở Đắc Tô và Khe Sanh. Chúng cho rằng lực lượng ta lùi về Cam-pu-chia, biên giới Lào và khu phi quân sự, chứng tỏ là khả năng chiến đấu giảm sút do bị thiệt hại nhiều. Đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker, tướng Westmoreland, Robert Komer phụ trách chương trình bình định, đều gây ấn tượng cho mọi người là quân giải phóng đang thua trận, quân Mỹ đã đẩy lùi được họ ra vùng rừng núi ở biên giới.

        2. Đánh giá sự thất bại của quân giải phóng và mức độ nào thì phải chịu thua.

        Theo tính toán của Tình báo quân đội Mỹ (DIA) và ủy ban tình báo quốc gia thì cộng sản có thể kéo dài chiến tranh vô thời hạn nếu bị thiệt hại dưới 3,265 người một tuần. Trong khi đó, con số thống kê năm 1966 thì bình quân cao nhất một tuần theo MACV là 2,460. Nếu tính bình quân quý I năm 1967 thì đạt mức rất cao là 3,696 người/tuần. Nếu đạt được con số bình quân đó cả năm 1967 thì số hụt của cộng sản là 431 người/tuần thì cũng phải 10 năm mới diệt hết họ. Số thiệt hại gồm bị chết, bị bắt, đào ngũ. Theo điều tra của ngành thống kê thì số “đếm xác” thường được tăng 50%, số người đào ngũ được tăng gấp đôi. Hơn nữa cứ tính 6 người chết mới thu được một khẩu súng thì nhiều người chết không phải là lính mà là cư dân hoặc người qua đường. Do đó, có thể thấy con số thống kê về lực lượng vũ trạng của quân giải phóng bị thiệt hại là quá phóng đại.  Quân đội Mỹ không có khả năng định chỉ tiêu nâng mức thiệt hại của quân giải phóng vì chủ động tấn công không thuộc về quân Mỹ. Westmoreland lại đang chứng tỏ với Tổng thống Johnson và nước Mỹ là đang thắng cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Vậy tổng số lực lượng của cộng sản ở miền Nam là bao nhiêu, Westmoreland báo cáo số quân địch ở miền Nam là 285.000, số tiêu hao lớn hơn số bổ sung. Nhưng Samuel Adams chuyên viên phân tích của CIA, với những tài liệu mới bắt được thì số Việt cộng là 600.000 người, không phải như con số của tham mưu liên quân là 271.000 người. Đại tá Gains B.Hawkms phụ trách theo dõi các đơn vị Việt cộng trong cơ quan tình báo của Westmoreland cho rằng số quân V.C là 500.000 người: Wheeler tham mưu trưởng liên quân điện cho Westmoreland không được công bố cho báo chí con số “nghiên cứu’ trên. Westmoreland cũng chỉ thị cho cơ quan là không được báo cáo về Mỹ, vì con số đó sẽ là một “quả bom chính trị”.

        Tranh cãi giữa CIA và DIA kéo dài hàng tuần. DIA được lệnh giữ con số khoảng 300.000. Tháng 9-1967 George Carver được phái đi Sài Gòn gặp Komer, lúc này là đại diện cá nhân của Tổng thống, hàm đại sứ. Komer cho là không nên tính du kích và dân quân vào quân cố định vì loại này chất lượng thấp, chỉ làm nhiệm vụ từng thời gian, phần lớn không có súng. Quân đội Mỹ không có loại lực lượng này, vả lại trình độ của họ thấp không đe dọa lực lượng Mỹ. Nên con số được chấp nhận là 299:OOO người. Tháng 10-1967, đại sứ Bunker điện cho Walt Rostows, cố vấn an ninh, là nên loại số 120.000 du kích vì dễ gây ra những lộn xộn và rắc rối. Lúc này Rostows đang phụ trách “ủy ban chiến lược tâm lý” ở Nhà trắng nhằm giới thiệu chiến tranh Việt Nam càng thuận lợi càng tốt nên chấp nhận ngay.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2017, 12:11:51 am

        3. Westmoreland xin tăng quân cho năm 1968.

        Từ giữa năm 1967, phải xác định tổng số quân Mỹ ở Việt Nam trong năm 1968. Năm 1966, Westmoreland đã xin cho năm 1967 là 124 tiểu đoàn chiến đấu gồm 555.741 người, nhưng chỉ được duyệt là 470.366 người.  Westmoreland trình bày với Johnson là 70.000  quân Mỹ của năm 1967 không đặt Mỹ trong tình trạng nguy hiểm, nhưng không đủ để đối phó với sự tăng cường của địch, gây một cuộc chiến tranh tiêu hao ở Đông Nam Á, phải tăng quân để giành thắng lợi. “Trừ phi quyết tâm của địch bị sụp đổ hay trừ phi có sự cân đối thâm nhập (so với thương vong), cuộc chiến tranh còn kéo dài 5 năm. Nếu tăng thêm 23 sư đoàn thì thời gian còn 3 năm”.

        Theo “Tài liệu của Lầu năm góc” thì lực lượng cần thêm tối đa để giành thắng lợi là 43 sư đoàn, 10 đại đội máy bay chiến thuật, 1 sân bay mới, 1 đội tàu cơ động trên sông. Số quân ước 201.250 cộng với trần của 1967 là 470.366 nâng tổng số lên 671.616 năm 1968.

        Westmoreland chỉ yêu cầu như đề nghị năm 1966 là’ 555.741 người, nhưng thay cơ cấu, tức xin thêm 28 sư đoàn, còn hậu cần cho số đơn vị mới này sẽ xin sau. Thực tế được duyệt là 525.000 (sau Tết 68, Johnson cho phép trần của 1968 là 549 .500). Như vậy theo tính toán của Westmoreland với số quân lược tăng thêm phải 3 năm mới giành được thắng lợi với quân giải phóng là 299.000 người không kể quân du kích.

        Lực lượng các bên trước cuộc tổng tiến công tết 1968:

        Tổng số quân mỹ và quân đồng minh là 1.292.000.

        Quân Sài Gòn: Có 342.951 quân chính quy: lục quân, hải quân, không quân, lính thủy đánh bộ. Có 12.000 cố vấn Mỹ trong các đơn vị lục quân, mỗi sư đoàn có 300 cố vấn Mỹ làm các nhiệm vụ liên lạc, cố vấn, chuyên viên hậu cần. Mỗi tiểu đoàn có một tổ 3 đến 5 cố vấn Mỹ. Người cố vấn Mỹ nào cũng có máy thông tin riêng nên họ liên lạc rất nhanh với hệ thống hỏa lực của họ.

        Trước hết, phần lớn các đơn vị thiếu phương tiện thông tin, phương tiện cần thiết để gọi pháo và không quân chi viện. Về trang bị, chỉ những đơn vị xung kích nhất mới được trang bị M16 như các tiểu đoàn của dù, lữ đoàn lính thủy đánh bộ, một trung đoàn bộ binh và 5 tiểu đoàn biệt động quân. Những đơn vị khác được trang bị súng lạc hậu hơn, rõ ràng là thua loại AK-47 của các đơn vị Bắc Việt Nam và lực lượng chủ lực quân giải phóng.

        Điểm yếu của quân đội Sài Gòn là Thiệu củng cố quyền lực nên bố trí các người chỉ huy là tay chân của mình nên sự chỉ huy chiến đấu kém; người lính đều hiểu rằng sĩ quan làm giàu nhờ Mỹ. Mỹ đánh giá là 6 trong số 10 sư đoàn Sài Gòn không có hiệu quả.

        Ngoài quân chính quy, còn 151.376 quân địa phương, 148.789 bảo an và 42.000 dân vệ; cảnh sát quốc gia có 70.000.

        Quân Mỹ:

        Có 9 sư đoàn, 1 trung đoàn kỵ binh cơ giới và 2 lữ đoàn độc lập. Số đơn vị trên có 100 tiểu đoàn bộ binh và cơ giới, quân số 331.098 lục quân và 78.013 lính thủy đánh bộ. Các đơn vị có tinh thần chiến đấu cao là lính thủy đánh bộ, Sư đoàn ky binh số 1, Lữ đoàn nhảy dù 173 và Trung đoàn thiết giáp 11. Tất cả có 3.100 trực thăng.

        Yếu điểm của quân Mỹ là chế độ luân phiên 1 năm ở Việt Nam. Một sĩ quan Mỹ nói nước Mỹ không phải có 10 năm kinh nghiệm chiến tranh ở Việt Nam mà có “kinh nghiệm mười lần một năm”. Thường lính Mỹ chiến đấu khá là từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 8. Họ nghĩ chiến tranh không thắng lợi trong nhiệm kỳ của họ, dại gì mà cố gắng, sĩ quan thường 6 tháng ở đơn vị, 6 tháng ở cơ quan tham mưu.

        Quân đồng minh của Mỹ:

        Đội đặc nhiệm Úc số 1 (3 tiểu đoàn khoảng 6.000 người).

        Trung đoàn tình nguyện quân đội Thái (2.400 quân).

        Sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ Nam Hàn;Sư đoàn số 9 Bạch Mã Nam Hàn: Lữ đoàn lính thủy đánh bộ số 2 Nam Hàn.  Tổng quân số Nam Hàn là 48.800.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2017, 12:14:12 am

        Quân giải phóng:

        Có hai thành phần rõ rệt: Bắc Việt Nam và quân giải phóng (VC). Tình báo Mỹ đánh giá thời gian tấn công Tết, khoảng 50% số 197 tiểu đoàn chủ lực là quân chính quy Bắc Việt Nam. Đầu 1968, tình báo Mỹ phát hiện 7 sư đoàn Bắc Việt Nam, quân số khoảng 60.000 người, không kể một số quân Bắc Việt Nam biên chế vào các đơn vị chủ lực của quân giải phóng.

        Sĩ quan và chiến sĩ sống liên tục ở chiến trường miền Nam, không có chế độ đi phép, không có giải trí, nói chung thiếu thốn về vật chất, tình cảm...

        Quân giải phóng có 2 trình độ: Lực lượng chủ lực có khoảng 60.000 người và các lực lượng bán vũ trang hoặc du kích, lực lượng bán vũ trang đánh rồi chuồn, phục kích, đặt mìn. Rất khó xác định các tổ chức bán vũ trang nhưng cơ quan chỉ huy của Westmoreland cho là độ 400.000 người.  Chủ yếu chiến đấu theo đơn vị bộ binh nhẹ, không có hỏa lực pháo binh và không quân, nên chủ trương đánh gần và dụ địch vào những nơi rừng núi, địch không phát huy được không quân, pháo binh. Thường trinh sát rất kỹ mục tiêu sẽ tấn công. Thường dùng lực lượng địa phương làm liên lạc dẫn đến cận mục tiêu để quan sát khi vẽ, làm sa bàn để phổ biến cho cán bộ chiến sĩ.

        Không có pháo binh, nhưng thay vào đó là rốc-két, súng không giật, cối 82mm và 120mm. Cối 120 là loại nguy hiểm nhất, bắn xa 6 km, chia làm 3 bộ phận để mang vác qua địa hình khó. Xạ thủ trực tiếp tính toán các phần tử bắn, thường loại 120 bắn khá chính xác.

        Còn loại rốc-két l07mm, 122mm và 140mm kém chính xác hơn - nhưng bắn khối thuốc nổ lớn hơn, nhẹ nhàng dễ mang vác hơn.

        4. Năm 1968 là năm bầu cử tổng thống, Westmoreland đề cao khả năng giành thắng lợi cuộc chiến tranh Việt Nam.

        Tổng thống Johnson thuộc đảng Dân chủ trong nhiệm kỳ đã có một số hoạt động đáng kể về mặt kinh tế, xã hội, nhưng uy tín về điều hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam ngày một giảm. Trong nội bộ đảng Dân chủ, Eugene Mc Carthy tuyên bố sẽ ứng cử với đề tài “hòa bình ở Việt Nam” và cuộc thăm dò dư luận cho thấy có khả năng được đảng đề cử thay Johnson. Johnson muốn tuyên truyền cuộc chiến tranh Việt Nam phát triển thuận lợi, chiến thắng đã trong tầm tay. Ông gọi Westmoreland về nước báo cáo. Trong cuộc họp kín với ủy ban quân lực ngày 16-11-1967, Westmoreland nói là có thể giành thắng lợi trong 2 năm và “mọi hy vọng của cộng sản đã phá sản”. Ngày 21-11-1967, ông ta nói trong câu lạc bộ Báo chí Quốc gia là bây giờ chỉ còn việc quét sạch kẻ địch ra khỏi Việt Nam, chỉ cần 2 năm.

        Johnson rất phấn khởi cho tiến hành một chiến dịch tuyên truyền là cộng sản đang từ từ thua cuộc chiến tranh. Ngày 24-1-1968, Robert Komer phụ trách chương trình bình định họp báo ở Sài Gòn tuyên bố: “Chúng ta bắt đầu năm 1968 trong tư thế thuận lợi hơn bất kỳ thời gian nào trước đây”. Như vậy cuối năm 1967, đầu 1968, Nhà trắng và Lầu năm góc sống trong sự lạc quan giả tạo được tô hồng bởi các cấp do sự áp đặt từ trên. Tuy nhiên các cơ quan quyền lực cao nhất chia làm hai phái:

        MACV (Bộ tư lệnh Mỹ ở Việt Nam), CIHCPAC (Bộ tư lệnh Thái Bình Dương), Tham mưu trưởng liên quân, cơ quan sứ quán Mỹ ở Sài Gòn có quan điểm là có thể thắng cuộc chiến tranh nếu tăng quân.

        CIA, Bộ trưởng Quốc phòng, hệ thống thống kê, Bộ Ngoại giao có quan điểm là Mỹ đang thất bại ở Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:29:14 am

        5. Những tin tức thu lượm được trước cuộc tiến công.

        Mỹ biết có cuộc họp quan trọng ở Hà Nội giữa năm 1967, có mời đại sứ ở các nước về dự, nên Mỹ phán đoán có thể Việt Nam sẽ có sáng kiến nào đó về ngoại giao, không hề biết đó là cuộc họp quyết định cuộc Tổng tiến công Tết 1968.

        Bắt được một tài liệu ủy ban tỉnh Bình Định gửi cán bộ:

        “Tổng tấn công 1.000 năm mới có một lần, sẽ quyết định số phận đất nước, sẽ chấm dứt chiến tranh. Đó là ý muốn của Đảng và nhân dân”.

        Ngày 25-11-1967, thu được một tài liệu gửi cán bộ quân sự chính trị “Quán triệt tình hình và nhiệm vụ mới” vạch rõ 3 bước là tấn công các căn cứ quân sự Mỹ, gây cho quân ngụy tan rã và vận động quần chúng nổi dậy. Ngày 5-1-1968, MACV ra một thông cáo báo chí “Tài liệu bắt được 25-11-1967 chứng tỏ đã đến giai đoạn quyết định trong đã có đoạn: “tấn công quân sự mạnh mẽ, kết hợp với nổi dậy của quần chúng địa phương để chiếm thành phố và đô thị. Lực lượng vũ trang dồn xuống đồng bằng, chiếm lấy chính quyền và cố gắng lôi kéo từng đơn vị lữ đoàn, trung đoàn của ngụy. Tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân và rải truyền đơn tới sĩ quan và binh lính ngụy”.

        Tài liệu này được tình báo đánh giá là không tin cậy, chỉ nhằm mục đích động viên nội bộ. Về cuộc họp anh hùng chiến sĩ thi đua lần thứ 2, có nêu một số điển hình về dũng sĩ diệt Mỹ: Một chiến sĩ cụt một tay, tập bắn với vai đã giết được 2 Mỹ, một chuyên gia về mìn đã giết được 400 tên địch, 1 em 17 tuổi cũng là dũng sĩ diệt Mỹ nói “Nếu căm thù địch thì một trẻ em cũng giết được Mỹ”. phát hiện cuộc họp này chỉ chứng minh quyết tâm chống Mỹ còn cao, chưa suy giảm như ước đoán của Mỹ. Ngày 20-11-1967, Sư đoàn 23 ngụy bắt được kế hoạch tấn công Ban Mê Thuộc. Đại tá Đào Quang An không đi phép, phái tuần tiễu đi cách thị xã 10 km để thăm dò tình hình. Quy Nhơn: ngụy cũng phát hiện được tin sẽ có cuộc tấn công vào Quy Nhơn, nhưng không có biện pháp gì. Đà Nẵng: một nhân viên cảnh sát ngụy lọt được vào hàng ngũ Việt Cộng và biết sẽ có cuộc tấn công. Hoàng Xuân Lãm (chỉ huy Quân đoàn 1) khi được nhân viên tham mưu báo tin trên thì trả lời “vô nghĩa”; khi cuộc tấn công diễn ra, Lãm phải lái xe qua làn đạn để đến chỉ huy sở.  Ngày 30-1-1968 một đài truyền tin Mỹ nhận được tin về lệnh tấn công của cộng sản vào Huế đêm 30-1, tin được báo cáo lên các cấp, nhưng đơn vị bảo vệ Huế không nhận được.  Đó cũng là một thất bại của tình báo.

        Ngô Quang Trưởng, Sư trưởng sư 1 ngụy được Westmoreland yêu cầu bỏ lệnh ngừng bắn Tết. Trưởng báo động 100%, nhưng sư đoàn chỉ còn một nửa quân số. Trưởng không nghĩ là cộng sản sẽ tấn công Huế, nên bố trí quân ở phía ngoài thành phố. Đây cũng là sự thất bại trong công tác chuẩn bị.

        Westmoreland ngày 20-12-1967 có báo cáo về Mỹ là địch sẽ có một cố gắng tối đa, nhưng lại nghĩ là sẽ tập trung vào Khe Sanh. Đô đốc Sharp, Tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương lại cho là ít có khả năng Việt Cộng hoạt động lớn. Một sĩ quan Mỹ sau này nói “Nếu chúng tôi bắt được toàn bộ kế hoạch tấn công, chúng tôi cũng không thể tin được”.  Có thể nhận xét về tin tức tình báo về cuộc tấn công Tết 1968:

        Một là: không có người dân nào báo cho địch về hoạt động chuẩn bị tấn công của quân giải phóng (di chuyển hàng vạn con người, hàng vạn tấn vũ khí, lương thực vào vùng đô thị xưa nay bất khả xâm phạm). Suốt thời gian chuẩn bị không có người nào đào ngũ để địch khai thác.

        Hai là: địch có thu được một số tin tức lẻ tẻ nhưng bộ máy, chiến tranh của Mỹ - ngụy đều đánh giá quá thấp đối phương, đang say sưa với thắng lại (giả tạo) nên không tin là VC có thể tấn công vào các đô thị. Riêng Westmoreland nghĩ rằng đối phương sẽ cố gắng lớn nhưng lại phán đoán sai là sẽ tập trung vào Khe Sanh, muốn biến Khe Sanh thành Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:32:45 am
         
PHẦN II

DIỄN BIẾN CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN

(Qua tài liệu thu thập của các nhà báo)        

        Đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968, quân giải phóng đã tấn công vào tất cả các căn cứ quan trọng của Mỹ, vào các thành phố và đô thị ở miền Nam Việt Nam, lực lượng ước chừng 84.000 người đã đột nhập đồng thời vào 5 trên 6 thành phố, 36 trên 44 thị xã, 36 trên 242 huyện ly, 25 sân bay, nhiều kho tàng, ấp chiến lược, trụ sở chính quyền, trạm cảnh sát.

        Cuộc chiến đấu làm chấn động dư luận nhiều nhất là trận đánh ở Sài Gòn và Huế.

        1. Cuộc tiến công vào Sài Gòn.

        Quân giải phóng sử dụng 35 tiểu đoàn, đánh vào 6 mục tiêu chính: sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, dinh Độc Lập, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tư lệnh Hải quân, Đài phát thanh.  11 tiểu đoàn khoảng 4.000 người phần lớn là người địa phương, cả nam lấn nữ, tấn công trung tâm thành phố. Tiểu đoàn đặc công số 10 của Sài Gòn có 250 nam nữ, rất thạo nội thành phố, một số là người đạp xích lô, lái xe tải, dẫn đầu các cuộc tấn công, chiếm giữ một số mục tiêu rồi đợi viện binh tới. Vũ khí đạn dược được chuyển vào nội thành bằng cách giấu trong các xe chở rau, chở hoa quả, các quan tài, chở bằng ghe thuyền theo sông rạch, được tập trung cất giấu trong các nhà là cơ sở cách mạng. Còn người thì vào bằng nhiều ngả, mặc như dân, có người mặc quân phục ngụy hoặc cảnh sát, tất cả đều lọt qua sự kiểm soát của định.

        Quân Mỹ đóng ở ngoài thành phố, trong nội thành chỉ có Tiểu đoàn quân cảnh 716 gồm 1.000 tên phải bảo vệ 130 cơ sở của Mỹ, chỉ có 300 tên sẵn sàng chiến đấu; quân cảnh ngụy có 300 tên nhưng chỉ có 25 tham gia cùng với Mỹ.  Quân ngụy còn có 3 sư đoàn để bảo vệ thành phố nhưng đi phép Tết một nửa quân sổ. Đêm 30 tháng 1, dân Sài Gòn nô nức ra phố mừng xuân, đốt pháo thoải mái (bỏ lệnh cấm đốt pháo Ngày tết).

        * Trận tiến công sứ quán Mỹ.

        Từ một xưởng sửa chữa Ô tô cách sứ quán 5 khối nhà, 19 đặc công thuộc Đại đội 10 lên một xe vận tải nhỏ Peugot và một xe taxi tiến ra phía sứ quán. Một cảnh sát Sài Gòn thấy xe không có đèn không muốn rắc rối nên không có hành động gì . Ra đường Thống Nhất, 4 cảnh sát bảo vệ vòng ngoài sứ quán bỏ chạy mà không bắn một phát đạn nào. Khi xe đến gần cổng sứ quán thì 2 quân cảnh Mỹ bị bắn, có bắn lại rồi chạy vào đóng cửa lại. Đặc công xuống xe, dùng thuốc nổ phá thủng một lỗ rộng 1m của bức tường cao 2m50. Lúc này là 2 giờ 47 phút sáng 31-1-1968. Quân cảnh Mỹ báo qua máy thông tin: “Sứ quán bị tấn công, định đã lọt vào sứ quán, cứu tôi với”, Một xe jeep có 2 quân cảnh Mỹ nghe được và chạy đến cứu viện bị đặc công bên ngoài sứ quán bắn chết. Bên trong khuôn viên sứ quán, bắn nhau giữa hai bên, phút đầu tiên 2 quân cảnh rút vào trong cổng bị bắn chết, ta có 2 cán bộ hy sinh. Ta bắn rốc-két phá hỏng biểu tượng của sứ quán, làm bị thương nặng một quân cảnh, trong 5 phút đầu tiên, 5 lính Mỹ bị bắn chết.

        Bên ngoài quân tăng viện Mỹ đã tới nhưng do hỏa lực của ta khá mạnh khiến họ không vào sứ quán được, đêm tối họ không nhìn thấy lỗ thủng ở tường.

        * Tin điện qua rađìo của tiểu đoàn quân cảnh Mỹ:

        3.59: Cối và rốe-két bắn vào sứ quán, yêu cầu tăng viện.

        4.07: Xe gíp số C9A báo cáo có xe vận tải 2 tấn chở 25 lính Mỹ đến tăng viện cho nhà sĩ quan độc thân số 3 bị trúng rốc-két và mìn, thương vong nặng.

        4.08: Xe gíp số C9A trúng đạn, 2 quân cảnh chết.  

        4.19: Nhà sĩ quan độc thân số 3 yêu cầu tiếp tế đạn.

        4.20: Tướng Westmorelanđ ra lệnh ưu tiên cướp lại sứ quán.

        4.30:  Yêu cầu xe thiếp giáp và trực thăng để tấn công sứ quán.

        Số phóng viên phương Tây cơ trú gần sứ quán, khi nghe tiếng súng đã đến ngay sứ quán để quan sát tại chỗ. Một phóng viên AP hỏi đại úy quân cảnh đứng bên ngoài sứ quán và được trả lời “Việt Cộng đang ở trong sứ quán. Chúng tôi đang bị bắn từ phía trên kia, hãy cúi thấp đầu xuống”. Thế là đủ để phóng viên gửi bản tin về Mỹ chỉ 15 phút sau khi cuộc tấn công bắt đầu: Việt Cộng đã chiếm một phần sứ quán Mỹ ở Sài Gòn sớm ngày thứ tư... Biệt kích cộng sản đã đột nhập được vào tòa nhà bất khả tiến công bằng một cuộc phối hợp pháo binh và xung phong của du kích, đưa cuộc chiến tranh hạn chế vào Sài Gòn”.

        Bản tin đến vừa kịp chỉ đăng các báo buổi sáng ở miền Đông nước Mỹ gây chấn động dư luận là kẻ địch đã chiếm biểu tượng của uy tín Hoa Kỳ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:36:38 am

        Khi biết sử quán bị tấn công, đại sứ Mỹ Ellsworth Bơnker đang ngủ ở biệt thự cách sứ quán vài ngôi nhà, chuồn đến ẩn nấp ở nhà một nhân viên sứ quán. Nhà ngoại giao trực đêm ở sứ quán, Allen Wendt, chui vào buồng mật mã và khóa trái lại. Tin của hãng AP gửi về làm Johnson bật dậy gọi điện đến sứ quán hỏi tin tức.

        Lúc 5h00’, theo yêu cầu từ Hoa Thịnh Đốn, Westmorelan điều động một trung đội dù, bay trực thăng đến định đổ bộ trên nóc sứ quán nhưng bị bắn mạnh quá phải quay về. Đến khi trời sáng, quân tiếp viện Mỹ vào được sứ quán, sau một thời gian chiến đấu, làm chủ được tình thế thì các nhà báo cũng ào vào.

        9h30’ Westmoreland mới đến, vội vã tổ chức họp báo. Trong khi máu me, chết chóc, tàn phá đầy rẫy trong khuôn viên sứ quán thì Westmoreland lại nói một cách lạc quan là VC không vào được tòa nhà của sứ quán, họ đã thất bại, Mỹ đã làm chủ tình hình; nhiều nhà báo không tin ở tai mình nữa.  Người Mỹ rất sửng sốt khi phát hiện xác VC nằm cạnh khẩu đại liên Liên Xô là anh lái xe nhiều năm của sứ quán.  Khi người Mỹ đọc báo buổi sáng, họ có cảm tưởng là VC đã chiếm sứ quán và Westmoreland nói láo.

        * Tiến công dinh Độc Lập.

        Các phóng viên truyền hình vừa theo dõi xong cuộc tấn công vào sứ quán thì một trận đánh khác lại diễn ra ngay gần đó. Đó là trận đánh gần dinh Độc Lập. Những xác chết của Mỹ và ngụy còn nằm dọc đường, đơn vị của họ đang bao vây một căn nhà trong đó có 13 nam và 1 nữ đặc công phòng thủ, sau khi rút khỏi cuộc tấn công vào dinh của Thiệu.

        1 giờ 30 sáng 31 tháng 1 một đội đặc công 34 người tấn công dinh Độc Lập theo như cách đánh vào sứ quán, dùng B40 bắn vào cổng, rồi đột nhập vào trong khuôn viên. Đây là nơi phòng thủ mạnh nhất ở Sài Gòn, có lực lượng bảo vệ, quân cảnh, cảnh sát và 2 xe tăng. Lực lượng tấn công yếu hơn nhiều nên sau một thời gian chiến đấu ác liệt, đã rút khỏi căn nhà nói trên và giữ được 2 ngày, đẩy lui cuộc tấn công của Mỹ - ngụy, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng (tổng số hy sinh trong dinh Độc Lập và căn nhà phòng thủ trên là 32 người).

        * Đánh chiếm Đài phát thanh.

        Phóng viên phương Tây không có ai được đi theo quân giải phóng nên không rõ tình tiết trận này. Cho đến nhiều năm sau cuộc chiến tranh, có người may mắn tìm gặp được một cựu chiến binh của quận giải phóng trực tiếp chỉ huy trận đánh này. Đó là anh Đặng Xuân Tèo, câu chuyện anh nói lên nhiều vấn đề trong đó có khả năng cộng sản tổ chức một trận chiến lớn như thế mà Mỹ và ngụy không phát hiện được.

        Anh Tèo người nhỏ con, đã suýt chết trong chiến dịch Lédar Falls năm 1966 ở vùng tam giác sắt gần biên giới Cam-pu-chia phía Bắc Sài Gòn. Tháng 11 năm 1967, cấp trên của Tèo giao cho anh huấn luyện một đội 14 người để tấn công Đài phát thanh Sài Gòn, coi nhiệm vụ này đời người mới có một lần. Nhiệm vụ của đội là giữ tòa nhà trong 2 tiếng đồng hồ, sau đó đơn vị chính quy sẽ đến thay thế. Tèo hiểu những khó khăn của trận đánh. Đài phát thanh là phương tiện thông tin chủ chốt, thường là mục tiêu ưu tiên tranh chấp trong các cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Sài Gòn. Nghiên cứu kỹ các cuộc đảo chính, Tèo thấy đội của anh dễ dàng diệt trung đội bảo vệ đài và làm chủ khu vực Nhưng vấn để thực tế là làm sao giữ cho được đến khi có viện binh đến.

        Tèo ăn tết sớm hơn 2 ngày, cúng lễ tổ tiên theo đúng phong tục. sau đó bắt tay vào hành động. Từ nhiều năm trước, người của VC đã mua được một villa cách đài phát thanh gần 200 mét, giấu trong lầm nhà vũ khí dùng trong hoạt động khủng bố hoặc trong các nhu cầu như cuộc tấn công hiện nay. Các đồng chí của Tèo thâm nhập vào thành phố riêng từng người bằng xe buýt, xe vận tải, xe máy và đến tập trung ở nhà villa, đến đó họ hơi thất vọng vì phần gỗ của súng bị mối xông, phải lấy giẻ để bọc lại. Đúng 3h00’ sáng 31-1-1968 đúng giờ các nơi khác cùng nổ súng, họ xuất phát đi làm nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:38:40 am

        Đội đặc công được tổ chức rất tốt, đi trên một xe chứa thuốc nổ, tiến qua cổng vào sân đài phát thanh trong khi có đại liên ở mái nhà gần đó yểm trợ. Đợt tấn công ngay bước đầu đã tiêu diệt gần hết trung đội bảo vệ đang ngủ ở trên sân thượng. Cuộc chiến đấu kết thúc trong 10 phút và quân giải phóng đã làm chủ đài phát thanh. Một chuyên viên về phát thanh của Bắc Việt Nam đi theo đội đặc công, có mang theo một băng cát-sét ghi sẵn tuyên bố Sài Gòn đã được giải phóng và một số tài liệu tuyên truyền. Anh này có sơ đồ tỉ mỉ bố trí trong đài phát thanh và có những chìa khóa chính do một nhân viên trong đài đã dập mẫu đưa ra từ trước.  Kế hoạch phát thanh đã không thực hiện được do viên trung tá quân đội Sài Gòn phụ trách đài đã dự kiến trường hợp bị tấn công, sẽ phát một tín hiệu tắt nguồn điện của đài phát cách đấy 20 km, và chỉ cho chạy các băng nhạc cổ điển, nhạc hành khúc. Quân tiếp viện đã không đến đúng hẹn. Trời sáng, đội đặc công bị quân Sài Gòn vây bên ngoài. Tèo thấy triển vọng rất mong manh, quân số chỉ còn 8 người.  Nhưng chúng tôi còn một số thuốc nổ. Súng đã hết hạn.  Chúng tôi không biết nên tiếp tục giữ hay phá hủy đài phát thanh này. Các đồng chí của tôi quyết định tôi phải tìm cách thoát ra khỏi đây để về báo cáo với cấp trên và sẽ trở lại với lệnh mới. Tôi rút ra được không lâu sau đó, các bạn tôi đã cho nổ khối thuốc nổ phá tan toà nhà và tất cả hy sinh theo.  Khán giả đài truyền hình Mỹ thấy sau đó trên màn hình cảnh các lính Sài Gòn lục soát thi hài VC để tìm tiền và đồ vật có giá trị, lục lọi ngay đài phát thanh và ăn cắp những trang bị còn nguyên vẹn.

        Nhưng đài truyền hình đưa tiếp một hình ảnh đáng ghi nhớ nhất trong cuộc nổi dậy ở Sài Gòn, một cảnh tượng nóng bỏng của toàn bộ cuộc chiến tranh xảy ra ở góc một đường phố. Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Giám đốc cảnh sát quốc gia Nam Việt Nam, là người cảnh sát thô bạo nhất, đã đàn áp dã man những người phật giáo bất mãn ở Huế 2 năm trước đây. Bây giờ ông ta còn hung hăng hơn nhiều. Loan đi tua trong thành phố để củng cố sự phòng thủ. Sáng hôm đó phóng viên nhiếp ảnh AP là Eddie Adams và nhà quay phim Võ Sửu làm việc cho NBC thấy gần chùa Ấn Quang một toán tuần tra dẫn một tù binh đã bị trói, anh này mặc quần cộc đen và sơ mi thể thao. Đám lính giao tù binh cho Loan.  Không một chút do dự, Loan rút súng ngắn ra làm hiệu cho những người đứng gần lùi ra xa, rồi gí súng vào đầu tù binh và nổ súng. Người tù binh nhăn mặt rồi từ từ ngã xuống, máu trong đầu tuôn ra hè phố. Sự việc xảy ra tức thì, chỉ nghe tiếng nổ súng của Loan, tiếng chụp ảnh của Adams và tiếng máy quay phim của Võ Sửu. Ngày hôm sau, các báo đều đăng trên trang nhất cảnh Loan bắn chết tù binh. Buổi chiều đài truyền hình phát phim đặc biệt của NBC về sự kiện này, có bớt đi đoạn chảy máu từ đầu tù binh để khán giả khỏi phải xem cảnh hãi hùng này.

        * Cuộc tiến công vào Bộ Tổng tham mưu.

        Bắt đầu lúc 2h00’, đơn vị đặc công tấn công vào cổng số 5 thì một xe quân cảnh Mỹ xuất hiện. Quân tấn công bắn vào xe quân cảnh làm cho lính Sài Gòn ở cổng sổ 5 vội đóng cổng lại và chuẩn bị đối phó. Có thêm nhiều quân cảnh Mỹ đến trợ giúp quân ngụy nên cuộc tấn công của đặc công vào cổng số 5 không kết quả. Trong khi đó, một lực lượng khác, Tiểu đoàn 2 địa phương, có nhiệm vụ tấn công vào cửa số 4, nhưng đến chậm nên đến 7 giờ sáng mới tới nơi. Tiểu đoàn này đã đột phá được và vào chiếm tòa nhà có biển to đề là Bộ Tổng tham mưu. Thực ra đây chỉ là một trong các tòa nhà chỉ huy, nhưng không phải là tòa nhà quan trọng nhất.

        Đơn vị tấn công quan niệm là đã hoàn thành nhiệm vụ, đào hầm để phòng thủ, đợi đơn vị tiếp viện đến. Thực ra nếu họ linh hoạt đánh chiếm tiếp các tòa nhà khác thì có thể làm tê liệt toàn bộ hệ thống thần kinh của quân đội Sài Gòn lúc này không được bảo vệ . Đáng lẽ lực lượng tấn công đạt được thắng lợi xuất sắc nhưng do máy móc thực hiện kế hoạch, đến trưa thì quân dù và lính thủy đánh bộ đã đẩy lùi được Tiểu đoàn 2 ra khỏi Bộ Tổng tham mưu. Sau đó, một máy bay lên thẳng Mỹ đã đưa Nguyễn Văn Thiệu đến, Thiệu biến nơi đây thành chỉ huy sở khẩn cấp, sử dụng các phương tiện chưa bị phá hoại để điều hành đối phó với cuộc tấn công của quân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:49:25 am

        * Sân bay Tân Sơn Nhất.

        Một đơn vị giải phóng tấn công vào hàng phòng thủ dày đặc của sân bay, đốt cháy nhiều máy bay và trực tiếp giao chiến với quân Mỹ. Chỉ huy sở của MACV (còn gọi là Lầu năm góc Phương Đông) cũng bị đạn rốc-két và bộ binh tấn công.

        Địch đối phó chủ yếu bằng trực thăng vũ trang. Số này bị bắn trả rất mạnh khiến nhiều chiếc bị thương...

        * Bộ tư lệnh Hải quân.

        Một đội 12 đặc công, dùng thuốc nổ phá thủng tường, đột nhập vào chiếm được cơ quan chỉ huy, bố trí ở đó để đợi lực lượng tiếp sau, nhưng lực lượng này không đến, 10 hy sinh.

        Toàn cảnh cuộc chiến đấu ở Sài Gòn không được các báo chí phản ánh hết vì họ không đủ phóng viên đi khắp các nơi mà chỉ tập trung vào các mục tiêu chính. Đến tờ mờ sáng 31 tháng 1 thì quân giải phóng đột nhập chủ yếu từ hướng Tây và Nam của Sài Gòn, làm chủ phần lớn Chợ Lớn, tấn công tiêu diệt nhiều trạm cảnh sát, cơ quan chính quyền quận, khu phố, kho tàng khắp thành phố. Tướng Mỹ Weygand chỉ huy khu vực Sài Gòn không thể có khái niệm gì về chiến thuật của cuộc tiến công nhiều hướng, nhiều mũi. Từ 3h00’, ông ta điều khẩn cấp từ ngoài thành phố vào 5.000 lính Mỹ để tăng cường bảo vệ các cơ sở của Mỹ trong nội thành Sài Gòn.

        Các đơn vị giải phóng tiến công Sài Gòn không có khái niệm về toàn cảnh cuộc tấn công. Phần lớn chỉ được phổ biến là họ tham gia một cuộc tấn công, quy mô không được biết, điều này cần thiết vì lý do bảo mật, việc này đã hạn chế sự phối hợp của các đơn vị. Vì thế lúc đầu đạt được nhiều thắng lợi, nhưng một khi trụ lại, đơn vị giải phóng phải phòng thủ chống với sự phản công ngày càng lớn của Mỹ - ngụy.

        Bị đẩy lùi khỏi 6 mục tiêu chính, bên tấn công phân tán thành các đơn vị nhỏ và ẩn nấp trong nhiều nhà khắp Sài Gòn. Đặc biệt nhiều bộ phận đã bám vào khu vực trường đua Phú Thọ. Tiểu đoàn 6 giải phóng đã chiếm trường đua từ ngay đợt tấn công đầu tiên. Những nhà làm kế hoạch tấn công đã đánh giá mục tiêu trường đua là đầu mối của nhiều tuyến giao thông lớn, nếu kiểm soát được khoảng đất trống sẽ làm cho đối phương không thể dùng để trực thăng chuyên chở tăng viện và là nơi dễ nhận biết đối với nhiều chiến sĩ giải phóng sống ở nông thôn không quen đường phố Sài Gòn.

        Bắt đầu phát hiện có lực lượng giải phóng ở Phú Thọ vào hồi 4h4’5 sáng 31-1 khi một xe tuần tiễu của tiểu đoàn quân cảnh Mỹ số 716 báo điện về “người lái xe đã bị một mảnh dạn vào ruột và tôi đang bị súng máy hạng nặng bắn. Có thể giúp tôi được không?” sau đó đài im bặt. Trước khi tiếp viện đến, hai quân cảnh đã bị bắn chết.

        Một đại đội Lữ đoàn 199 bộ binh Mỹ lên xe vận tải và xe thiết giáp 8h00’ sáng 31-1 tiến về phía trường đua, cách 6 khối nhà thì bị súng đại liên bắn từ các mái nhà dọc bên đường. Một quả rốc-két bắn trúng xe thiết giáp đi đầu giết chết trung đội trưởng và hai người lái. Súng trường, súng đại liên, súng phóng lựu đạn của quân giải phóng làm cho cuộc tấn công cửa Mỹ rất chậm; đẩy lùi cuộc tấn công, đại đội Mỹ phải tổ chức lại và tiến lên dưới sự yểm trợ của trực thăng vũ trang và súng không giật, đến 4h30 nhiều thì tới được trường đua. Đến tối, một đại đội được chuyển đến để tăng cường và lính Mỹ tổ chức một vành đai phòng thủ. Trong nhiều ngày sau đó, thêm viện binh đến trong đó có Tiểu đoàn 33 biệt động quân của Sài Gòn, hai bên cùng mở rộng vành đai kiểm soát gần Phú Thọ. Nhưng không dễ dàng. Một đại đội cơ giới Mỹ tiến theo một phố hẹp cách trường đua có 3 khối nhà, bất ngờ bị phục kích bởi rốc-két và đại liên, đợt bắn đầu phá hủy 2 xe thiết giáp và làm hỏng chiếc thứ 3. Xe còn lại dùng hỏa lực yểm trợ cho việc lấy xác và người bị thương. Rồi những tên sống sót quay trở về trường đua vừa kịp để giúp đẩy lùi một cuộc phản kích qúy mô lớn của quân giải phóng. Cuộc chiến đấu khi tăng khi giảm còn diễn ra nhiều ngày ở Phú Thọ. Các đơn vị đã đánh các mục tiêu lớn ở Sài Gòn đóng góp lực lượng cho cuộc chiến đấu ở đây kéo dài trong 2 tuần.

        Thành phố rất lộn xộn. Những lính Mỹ và dân sự sống ngoài các doanh trại và ngoài trung tâm thành phố buộc phải ẩn nấp trong nhà mình và tự bảo vệ bằng loại súng nhỏ. Cách sứ quán Mỹ nửa dặm, người ta trông thấy cán bộ chính trị của Mặt trận giải phóng đi từng nhà giải thích về chiến thắng của Mặt trận. Có cuộc bắn nhau ở quảng trường gần đó giữa lính ngụy và quân giải phóng mặc quân phục ngụy. Các đơn vị xe tăng tràn vào các phố, phá hủy nhiều tòa nhà trên đường tiến. Cháy lan rộng cả khu vực nhà tranh và nhà mới làm bị san phẳng. Từng đoàn dân hoảng sợ quân đội và máy bay ném bom, tràn ra phố mang theo người chết và bị thương trên xe đạp hoặc xích lô.  Cho đến ngày 3-3, 5 tuần sau cuộc tấn công đầu tiên, các đơn vị biệt động quân Sài Gòn mới làm chủ được thành phố ban ngày. Ở Sài Gòn có 9.580 nhà bị phá, hàng nghìn dân thương vong, theo điều tra của MACV thì chủ yếu do Mỹ gây ra.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:51:38 am

        2. Tiến công Long Bình, Biên Hòa.

        Nằm ở phía Bắc Sài Gòn gần 30 km, hệ thống kho hậu cần hiện đại Long Bình nối liền vời căn cứ không quân to lớn Biên Hòa là những mục tiêu to lớn của Mỹ mà quân giải phóng rất quan tâm. Sáng ngày 31-1, bất đầu trận pháo kích dữ dội bằng rốc-két và súng cối vào căn cứ trên. Trung đoàn kỳ cựu số 275 của quân giải phóng tấn công phía bắc căn cứ Long Bình trong khi tiểu đoàn địa phương đánh nghi bình vào các lô cốt phía Đông. Đồng thời đặc công đột nhập kho đạn ở ngay phía Bắc Long Bình gây ra tiếng nổ long trời và khói cao hàng nghìn mét. Trong khi đó trung đoàn giải phóng số 274 tấn công Biên Hòa. Nhiều toán nhỏ đột nhập vào Đông Nam và Tây Nam sân bay. Thiếu úy John A.Novak chỉ huy lực lượng bảo vệ đã không đối phó nổi, phải yêu cầu đại đội trực thăng vũ trang Cobras đến yểm trợ. Kế hoạch tấn công của quân giải phóng rất nhịp nhàng và dũng mãnh.  Sau đợt pháo kích nửa giờ, Đại đội 2 Tiểu đoàn 47 Mỹ  được điều từ Bến Cát đến Long Bình. Trời bắt đầu sáng, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 560 được chở bằng máy bay đến Biên Hòa. Trung đoàn ky binh cơ giới số 11 phải mất 12 tiếng đồng hồ hành quân để trong ngày đến được Long Bình. Hoạt động mạnh hơn cả là bộ phận kỵ binh cơ giới của sư 9 bộ binh Mỹ đóng ở Đông Bắc Sài Gòn: 7 giờ sáng 31-1 được lệnh phái đội A đến cứu Biên Hòa, chỉ đoàn để lại 1/3 quân số để bảo vệ căn cứ pháo binh rồi tiến thẳng lên Biên Hòa.  Ra khỏi doanh trại chưa được bao xa thì chi đoàn rơi vào trận địa phục kích, vừa tiến vừa dùng hỏa lực xe thiết giáp yểm trợ trên đoạn đường 2 km.

        Chiếc xe tăng dẫn đầu đoàn xe đến một cầu xi măng nhỏ, vượt qua dễ dàng. Bỗng nhiên một tiếng nổ rung trời làm sập cầu Đoàn xe thiết giáp phải tìm đường ngầm vượt qua, nhưng chiếc xe tăng phải nằm lại. Đội A đi trước tới thị xã Biên Hòa thấy ở quảng trường giữa thị xã có rất đông người, bỗng nhiên phát hiện đám đông đó toàn là địch. Quân giải phóng nổ súng phá hỏng 2 xe thiết giáp. Nhiều xe thiết giáp khác tham gia bắn bằng các loại súng, làm cho quân giải phóng phân tán nấp vào các nhà, đẩy các xe hỏng ra một bên để cố vào tới sân bay. Bây giờ chi đoàn chỉ còn 1 xe tăng và 8 xe thiết giáp.  May mắn cho họ là khi gần đến sân bay, trực thăng phát hiện có nhiều địch bố trí dọc đường số 1 mục đích để chặn các  đoàn tiếp viện. Thế là đoàn xe cơ động sang một đường khác song song với đường số 1 và cuối cùng vào được sân bay. Sự có mặt của đoàn xe đã giúp Tiểu đoàn 2 Trung đoàn bộ binh số 506 đang thất bại đẩy lùi được nhiều đợt xung phong. Đến cuối ngày, chiếc xe tăng bị 1 lần trúng đạn, 2 lần phải thay đổi tổ lái Trong số 12 xe thiết giáp lúc ban đầu, đến chập tối chỉ còn 6 chiếc. Lực lượng bộ binh bị thiệt hại nặng. Số sống sót xưa nay ấm ức vì chỉ bị phục kích, bị bắn nhưng không thấy địch, lần này hai bên đối diện đánh nhau kịch liệt. Trong ngày 1-2-1968 Mỹ phải huy động tất cả 5 chi đoàn thiết giáp hơn 500 xe đến tác chiến ở Sài Gòn, Biên Hòa và Long Bình.

        3. Đà Nẵng.

        Một cảnh sát ngụy thâm nhập được vào tổ chức giải phóng địa phương, báo cáo là sẽ có cuộc tấn công; một đại đội dược tăng cường đến chỉ huy sở Quân đoàn 1 ngụy ở ngoại Ô thành phố. Khi tướng Hoàng Xuân Lãm chỉ huy. Quân đoàn 1 được sĩ quan tham mưu báo cáo là cuộc tấn công Đà Nằng sẽ xảy ra, ông ta phán: “vô nghĩa”.

        Các đơn vị giải phóng quân địa phương, đặc công tham gia tấn công đợt đầu tiên vào các chỉ huy sở sân bay Đà Nẵng, căn cứ huấn luyện và hậu cần đài phát thanh. Quân giải phóng đã chiếm được một số khu vực trong thành phố, sân bay bị tê liệt. Hoàng Xuân Lãm phải lái xe qua làn đạn đến chỉ huy sở. Ông ta yêu cầu cố vấn Mỹ cho ném bom vào quân giải phóng, loại bom to, bất kể là khu vực ném bom quá gần các vị trí quân ngụy, kể cả chỉ huy sở Quân đoàn.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:52:32 am

        4. Đồng bằng sông Cửu Long: 13 trên 16 tỉnh ly bị tấn công.

        - Mỹ Tho: 3 tiểu đoàn quân giải phóng và một đại đội đặc công vào được nội thành, còn 1 tiểu đoàn trụ lại ngoại ô. Lực lượng của Sư đoàn 7 ngụy không chống cự nổi (4.000 có mặt, 3.500 đi phép) phải xin tiếp viện của lực lượng cơ động trên sông của Mỹ (Mobile Riverine Foree), 2 tiểu đoàn của lực lượng này được phái đến. Cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt, đánh từng nhóm là cách đánh không quen đối với lực lượng cơ động trên sông và trang bị vũ khí cũng không thích hợp. Phải mất 3 ngày mới kiểm soát được Mỹ Tho sau khi Mỹ dùng bom đạn phá hủy 1/3 thành phố này.

        - Bến Tre: có 35.000 dân. Một trung đoàn tăng cường của quân giải phóng gồm 2.500 người đã đánh chiếm được thị xã này. Mỹ đã huy động pháo binh, máy bay đánh phá không phân biệt, tiêu hủy hoàn toàn một nửa thị xã.

        Chính ở đây một viên thiếu tá Mỹ trước cảnh ảô nát, chết chóc của thành phố đã nói một câu nổi tiếng “cần thiết phải phá hủy thành phố để cứu lấy nó”.

        - Cần Thơ, Rạch Giá, Vĩnh Long cũng bị quân giải phóng đánh chiếm. Sự chống cự của quấn ngụy rất yếu ớt, Mỹ đối phó là chính, chủ yếu bằng lực lượng cơ động trên sông và máy bay ném bom, hoạt động liên tục trong một tháng để giành lại quyền kiểm soát các đô thị và thị trấn ở đồng bằng sông Cửu Long. Người Mỹ thừa nhận: Ơ đây cũng như ở các nơi khác, những thắng lợi về chiến thuật không che giấu được sự thật là quân giải phóng đã chứng minh cho dân chúng đồng bằng Cửu Long là mặc dù có sự giúp đỡ của Mỹ, họ có thể tấn công bất cứ nơi nào, và bất cứ lúc nào. Vì cuối cùng chiến tranh thắng hay bại cũng là do sự cố gắng của nhân dân Nam Việt Nam nên sự chứng minh đó là góp phần vào thắng lợi chiến lược của cộng sản.

        Một thuyền trưởng trong lực lượng cơ động trên sông hiểu rất rõ hậu quả của cuộc tấn công Tết đối với đồng bằng Cửu Long: “Sau Tết toàn bộ vùng này đã thay đổi thực sự”. Nói về một thành phố bị tàn phá nặng nề trong chiến đấu, ông ta tiếp: “VC làm cho nơi này tan tác và tôi nghĩ là người Mỹ bị phê phán nhiều hoặc ít về việc này. Chúng ta phải rút khỏi thành phố, đến khi quay trở lại thì có rất ít người Việt Nam có cảm tình với chúng ta”.

        Sự việc ở tỉnh Bến Tre đã chứng minh điều nhận xét của viên thuyền trưởng là đúng.

        Người Mỹ nhận xét tướng tá ngụy ở đồng bằng sông Cửu Long: viên thiếu tướng chỉ huy Quân khu đã ở lý trong chỉ huy sở nhiều ngày liền, được bảo vệ bởi xe tăng và thiết giáp, mặc cho cố vấn Mỹ chỉ huy cuộc phòng thủ. Cũng như vậy, đại tá chỉ huy tỉnh Vĩnh Long suy sụp trước diễn biến tình hình, khi một cố vấn Mỹ hỏi là trực thăng bị bắn có quyền bắn trả lại không thì ông đại tá chỉ trố mắt nhìn.  Một cố vấn khác thấy ông tỉnh trưởng mặc thường phục bên ngoài bộ quân phục.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:53:37 am

        5. Miền Trung.   

        Cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra ở 12 tỉnh miền Trung. Những cuộc tấn công bộ binh lớn vào 7 thị xã và 3 mục tiêu khác. Ở Quy Nhơn, trước cuộc tấn công, lực lượng phòng thủ của ngụy bắt được 11 nhân viên của quân giải phóng, do đó biết được kế hoạch cuộc tấn công. Nhưng nội bộ quân Sài Gòn lộn xộn không coi trọng tin này; quân giải phóng tấn công đúng như kế hoạch được biết và chiếm được các mục tiêu kể cả nhà tù giam 11 người bị bắt trước đó và bắt được tên đại úy Sài Gòn đã vây bạt 11 người trên.

        Quân giải phóng tấn công Nha Trang, Tuy Hòa, Chu Lai, Phú Bài và căn cứ Mỹ ở Cam Ranh. Đà Lạt, nơi nghỉ mát của các tướng ngụy và có Học viện quân sự đã bị 6 tiểu đoàn quân giải phóng tấn công, đánh chiếm trong nhiều ngày.  Khi chiếm Quảng Ngãi, quân giải phóng đã mở cửa nhà tù và thả hàng ngàn người bị bắt.

        Tiêu biểu là cuộc chiến đấu ở Ban Mê Thuộc. Ở đây Sư đoàn 23 ngụy bắt được kế hoạch tấn công thành phố từ ngày 20-1. Chỉ huy sư đoàn là đại tá Đào Quang An đã hủy việc đi phép Tết của đơn vị, phải tuần tiễu đi cách xa thành phố gần 10 km, đội tuần tiễu đã phát hiện bộ phận của Trung đoàn 33 Bắc Việt Nam đang chuyển vào vị trí tấn công. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ở Ban Mê Thuột trong 3 ngày rưỡi, quân ngụy bị thiệt hại rất nặng vì không quen chiến đấu trong thành phố. Do đó An phải sử dụng pháo binh và máy bay đánh phá gây sự tàn phá tai hại cho dân chúng. Cuộc chiến đấu còn diễn ra trong 9 ngày nữa, trung tâm thành phố 4 lần thay quyền kiểm soát của bên này hay bên kia trước khi Sư đoàn 23 làm chủ được tình hình.  Đến ngày 21-2, có tin là cơ quan chỉ huy của quân giải phóng ra lệnh rút khỏi các đô thị (trừ Huế), chuyển sang pháo kích bằng cối và rốc-két, đánh bằng đặc công và rút.

        Đáng chú ý là ngày 7-2-1968, quân Bắc Việt Nam có xe tăng dẫn đầu đã chiếm Làng Vây là một vị trí của lực lượng đặc biệt gần Khe Sanh. Cơ quan chỉ huy Mỹ lại đau đầu xem có phải đây là trận mở đầu cho việc tấn công Khe Sanh,  nhưng sau thấy đây chỉ là thời cơ vị trí này sơ hở nên đơn vị Bắt Việt Nam tranh thủ tiêu diệt.

        6.  Huế.

        Trận đánh ở Huế là trận ác liệt nhất, một thành phố cổ, gồm nhiều đền chùa và lâu đài do vua Gia Long xây dựng vào thế kỷ 19, theo kiểu cấm thành ở Bắc Kinh. Ở trong thành có một cột cờ cao nhất miền Nam Việt Nam. Có cầu đường sắt và đường bộ qua sông Hương là con đường chính tiếp tế cho các đơn vị ngày càng đông ở phía nam khu phi quân sự. Cuộc tấn công Huế được chuẩn bị từ 5 tháng trước, sĩ quan tình báo quân giải phóng đã có danh sách 196 mục tiêu ưu tiên tấn công, đồng thời có danh sách của những người cần bắt giữ. Từng cơ sở dân sự, quân sự đều được đánh dấu.  Chủ trương bắt cả người nước ngoài trừ người Pháp (có thể do De Gaulle hay phát biểu chống Mỹ).

        Ngày 30-1-1968, một đài thông tin của Lục quân Mỹ thu được một lệnh tấn công Huế đêm đó, nhưng lực lượng bảo vệ Huế không nhận được thông báo. Trong thành phố, chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy trưởng Sư đoàn 1 ngày, nhận được báo động của Westmoreland yêu cầu hủy bỏ ngừng bắn. Trưởng được Mỹ coi là tướng khá nhất của Nam Việt Nam, họp các sĩ quan ở chỉ huy sở và tuyên bố báo động 100% đều được bố trí phòng thủ vòng ngoài thành phố. Nhưng một nửa số quân nhân của sư đoàn đã đi phép. Khi cuộc tiên công bắt đầu, chỉ có đại đội trinh sát Hắc Báo bảo vệ chỉ huy sở ở góc phía bắc thành phố Huế. Các đơn vị yểm trợ bố trí rải rác trong thành phố. Bên kia bờ sông Hương, bờ phía nam có cơ quan MACV (chỉ huy trợ giúp quân sự ở Việt Nam) ở đó có các cố vấn quân sự Mỹ và cơ quan tham mưu. Trên đây là 2 cứ điểm cô lập chống lại cuộc tấn công khi tiểu đoàn đặc công số 12 của quân giải phóng người Huế, 2 trung đoàn bộ binh Bắc Việt Nam và 1 tiểu đoàn rốc-két tràn vào chiếm thành phố Huế.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 01:45:20 pm

        Đúng 2 giờ sáng ngày 31-1, một đội tuần tiễu của Trưởng báo cáo là có ít nhất 2 tiểu đoàn quân địch đang tiến về phía thành phố. Sự say sưa trong ngày Tết đã làm ông ta không sử dụng tin tức đó và không báo cho đồng minh ở MACV biết. Họ chỉ biết sự có mặt của địch một giờ 0 phút sau đó khi một tá rốc-két 122mm rơi vào khu vực MACV, pháo kích bằng cối và rốc-két tiếp tục, là hỏa lực chuẩn bị để cho quân giải phóng địa phương đã xâm nhập vào thành phố từ trước, mặc thường phục, chiếm linh vị trí đợi quân Bắc VN đang tiến nhanh vào nội thành.

        Quân tiến công đã đợi đợt pháo kích kết thúc, 5 phút sau mới tấn công trụ sở MACV nên Mỹ tranh thủ bố trí chiến đấu, đưa một khẩu đại liên lên một chòi gác bằng gỗ cao 6m, chặn được đợt xung phong đầu tiên của 40 binh sĩ thuộc Trung đoàn 4 Bắc Việt Nam. Một phát B40 đã tiêu diệt ổ súng máy trên chòi canh, bộ đội tiến vào cổng, gặp một số lính thủy đánh bộ Mỹ trong một lô cốt, nên phải tiến chậm lại. Quân giải phóng thay đổi chiến thuật, dùng súng cối và súng tự động từ các nhà cao chung quanh bắn sang. Bị cô lập không biết có cuộc tấn công trong toàn quốc, nên bộ phận MACV cố bám giữ và cầu cứu tiếp viện. Bao vây chung quanh MACV và hoạt động bên kia sông là Trung đoàn 4 và 6 của Bắc Việt Nam, hiện đã kiểm soát phần lớn thành phố và đã đi lại tự do trong các phố. Cờ giải phóng đã được kéo lên trên cột cờ cao nhất thành phố. Quân giải phóng và VN chỉ cần hai tiếng đồng hồ là chiếm xong thành phố lớn thứ hai của Nam Việt Nam.

        Cách phía nam Huế 16 km có căn cứ của lính thủy đánh bộ Mỹ, phó chỉ huy Sư đoàn 1 lính thủy đánh bộ là chuẩn tướng Fosterlatlue được tin có hoạt động địch trong địa bàn ông ta phụ trách. Ông ta cũng nhận được điện cầu cứu của bộ phận bị vây hãm của MACV qua hệ thống các cấp chỉ huy nên có vẻ cũng không cấp bách lắm. ông ta không được biết cả quy mô lẫn bản chất các sự kiện ở Huế. Nhưng theo lệnh trên, ông điều 2 trung đội mới của Đại đội A Tiểu đoàn 1, lên xe vận tải tiến về Huế, không biết rằng gần một sư đoàn đối phương đang đợi họ. May mà có kết hợp được với 4 xe tăng M48 trên đường tiến. Đến ngoại ô Huế thì bị quân giải phóng nổ súng làm bị thương nhiều xe. Đoàn xe tiếp tục tiến qua làn đạn, vượt qua một cái cầu bắc qua một lạch nước mà quân giải phóng đã phá một phần, đến một dãy nhà, loại nhà hai tầng bằng gỗ, không có vỉa hè và điều tai hại là không có dân.  Đại úy Gordon Batcheller ra lệnh cho lính rời xe vận tải, leo lên xe tăng, đại úy đi xe đầu, vừa tiến vừa bắn vào dãy nhà hai bên phố. Lập tức bị bắn lại bằng AK47 như đổ đạn và rốc-két phóng trúng chiếc xe đi đầu, viên đại úy bị rất nhiều mảnh đạn, thông tin viên rađiô trên xe, bị cụt hai chân. Từ các nhà lân cận và trên mái một số nhà khác, quân Bắc Việt Nam bắn xối xả vào hai đại đội A. Tác chiến trong phố rất khác với cách đánh ở đồng ruộng và rừng núi ở đó, đại đội này ít khi nhìn thấy địch. Đại đội A bị thương vong nặng yêu cầu được tăng viện.

        Khoảng trưa, những người chỉ huy ở Phú Bài mới biết là Đại đội A bị tai họa. Trung tá Markcus Gravel nhận nhiệm vụ điều Đại đội B đến tăng viện cho Đại đội A. Họ gặp được những người sống sót của Đại đội A do một thượng sĩ Mỹ bị thương chỉ huy và cùng tiến về hướng MACV, máy bay trực thăng đến chuyên chở số bị thương.

        Khi đến được trụ sở MACV, hai đại đội tuy đã bị thương vong nặng nề, lại được lệnh của tướng Latlue là vượt sông Hương, tiến qua Thành nội và liên lạc với tướng Trưởng ở chỉ huy sở Sư đoàn 1. Trung tá Gravel phản đối nhưng không ăn thua, vẫn phải chấp hành mệnh lệnh. Khi đoàn quân đến giữa cầu bắc qua sông Hương thì quân giải phóng nổ súng, 10 lính thủy đánh bộ chết và bị thương trong loạt đạn đầu. Đại đội B cố tiến nhưng lại bị phục kích ở khu phố hẹp gần Thành nội, Gravel ra lệnh rút lui. 50 trong số 150 quân của ông ta đã chết hoặc bị thương. Đêm đó Gravel lồng lộn chống lại mệnh lệnh điên rồ đưa quân ông ta vào chỗ chết. Nhưng ông ta cũng được an ủi một chút là nếu quân Bắc Việt Nam để cho đại đội của ông ta vào sâu trong dãy phố hẹp hãy nổ súng thì đại đội ông ta chân không còn ai. Họ nổ súng quá sớm.

        Hai vị trí MACV và chỉ huy sở Sư đoàn 1 đứng vững được đã làm đảo lộn kế hoạch của bên tấn công. Trực thăng đã có thể chở quân tăng viện đến hai nơi đó và biến thành căn cứ để phản công lấy lại thành phố Huế. Dù sao thì hai đại đội lính thủy đánh bộ đến với nơi đó trong ngày đầu tiên cũng có tác dụng tốt.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 01:45:57 pm

        Một trong những mục tiêu đầu tiên của quân giải phóng là trại giam có 2.500 người. Sau khi được giải phóng, 500 người đã tham gia quân giải phóng. Trong đợt tấn công đầu tiên, quân giải phóng đã lấy được nhiều vũ khí khi chiếm kho vũ khí của ngụy. Điều này cộng với khả năng giữ thông được đường tiếp tế tử A Sầu, cách 50 km về phía tây, có nghĩa là quân giải phóng được trang bị đầy đủ súng và có lượng đạn dồi dào. Thêm vào đó, lại có thêm 5 tiểu đoàn tăng viện thêm vào số 9 tiểu đoàn tấn công ban đầu. Thời tiết cũng ủng hộ họ. Trời mờ hạn chế nghiêm trọng hoạt động không quân. Tuy nhiên, theo Mỹ, quân giải phóng đã cứng nhắc không tìm cách tiêu diệt hai cứ điểm còn lại trong thành phố mà lại tổ chức hầm hào để chờ đợi cuộc phản công của Mỹ.

        Ngày thứ 2 ở Huế, 1-2-1968, đã thiết lập kiểu cách cho cuộc chiến đấu còn lại. Các tướng từ Latlce trở lên, nói câu chữ là “quét sạch” và “đẩy lùi VC ra khỏi Huế sáng nay” .  Trong khi đó 4 đại đội lính thủy đánh bộ bắt đầu cuộc chiến đấu từng nhà trong khu vực 11 khối nhà bên bờ sông phía nam. Mỗi ngõ, mỗi góc phố, cửa sổ và tường của vườn đều tiềm tàng sự chết chóc. Cách duy nhất để tiến lên là phá một lối đi qua đường bằng bazôka hoặc súng không giật rồi phái tổ chiến đấu qua lỗ thủng hoặc trèo qua từng vườn, việc này đòi hỏi phải hết sức dũng cảm. Lính thủy đánh bộ với tinh thần đồng đội đã động viên những lính 18 và 19 tuổi làm những việc đó, lặp đi lặp lại nhiều lần, trong gần một tháng trời? Trong suốt thời gian chiến đấu chỉ có 2 tiểu đoàn thiếu quân số làm nhiệm vụ.

        Trong khi lính thủy đánh bộ chiến đấu ở bờ nam, trung tướng Hoàng Xuân Lãm tìm cách lấy lại Thành nội. ông ta định dùng khu vực chỉ huy sở Sư đoàn 1 làm bàn đạp cho cuộc hành quân. Trước hết phải điều thêm quân đến tăng viện, điều này rất khó khăn. Đơn vị ky binh cơ giới số 7 của quân ngụy và 2 tiểu đoàn dù phải mở đường máu để vào Huế. Cũng như vậy, Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 1 bị thiệt hại đáng sợ trong cuộc tiến công. Trong ngày 1-2, tiểu đoàn dù số 2 và đơn vị ky binh số 7 đã lấy lại được sân bay Tây Lộc nhưng phải trả giá rất đắt: 12 chiếc xe thiết giáp bị phá hủy và chi đoàn trưởng chi đoàn thiết giáp bị bắn chết.  Từng bước tiến quân Nam Việt Nam bị chững lại rất ác liệt, y như quân Mỹ gặp phải ở bờ nam, nên chỉ tiến rất chậm từ những vị trí được chuẩn bị kiên cố. Đến 4-2, một tiểu đoàn của Trung đoàn 3 dù (trung đoàn bị què quặt do bị thiệt hại nhiều) tấn công phía cửa An Hòa ở tây bắc Thành nội. Đêm 6-2, một cuộc phản công mãnh liệt của quân Bắc Việt Nam đã lấy lại được bức tường Đông Nam mà quân Sài Gòn mới chiếm được.

        Ở phía ngoài Huế, Sư đoàn 1 kỵ binh Mỹ đổ quân xuống đoạn giữa đường A Sầu để cắt đứt nguồn tiếp tế vào Huế.  Hành quân trong thời tiết sương mù nên không có sự chi viện của trực thăng vũ trang và rốc-két như thường lệ. Bị 2 tiểu đoàn Bắc Việt Nam bố trí trong công sự đánh lại, quân Mỹ thất bại buộc phải rút ngay để chuẩn bị đối phó với cuộc phản công. Quân Bắc Việt Nam phản công bằng AK47, được yểm trợ bằng nhiều súng máy hạng nặng, nhiều lần xung phong vào vị trí của Mỹ, nhưng vẫn không chiếm được, vì có pháo 105 chi viện. Đến trưa, số thương vong của Mỹ tăng nhiều do bị súng cối bắn liên tiếp vào đội hình dày đặc trong căn cứ. Đạn của kỵ binh đã cạn. Trực thăng đến chỉ chở đi được những người bị thương nặng nhất dưới làn đạn dày đặc của đối phương. Đến tối, người chỉ huy tiểu đoàn là trung tá Diek Sweet ra một quyết định táo bạo là rút lui vì tiểu đoàn bị cô lập không thể giữ nổi vị trì. Hướng rút không phải về nơi có đơn vị bạn, mà rút về phía ruộng lúa, tuyệt đối im lặng, không được dùng súng, nếu họ bắn thì nằm xuống.  Phải mang theo cả những người bị thương, đi trong trời rét, mưa, tối như mực. Sau 11 giờ hành quân đầy nguy hiểm, tiểu đoàn ky binh số 2 đến được một quả đồi, ở đó được trực thăng tiếp tế nhưng đã thất bại trong nhiệm vụ cắt đường tiếp tế của định vào Huế.

        Trở lại nội thành, cuộc chiến đấu giành giật từng căn nhà làm nản lòng các viên chỉ huy Mỹ - ngụy. Lúc đầu việc cấm dùng pháo binh và máy bay ném bom để bảo vệ di tích lịch sử của Huế cộng với thời tiết xấu đã hạn chế sự tiến triển của cuộc chiến đấu. Ngày 9-2, một phóng viên hỏi người chỉ huy Sư đoàn 1 quân Nam Việt Nam là có phải Thành Cổ quan trọng đến mức không được ném bom?  Tướng Trưởng trả lời: “Anh phóng đại vấn đề. Nơi đó chỉ để du lịch, nhưng nếu chúng tôi gặp phải sự chống cự mạnh thì chúng tôi sẽ ném bom, bắn pháo, đủ mọi thứ”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 01:46:47 pm

        Thời tiết xấu, lính thủy đánh bộ Mỹ chiến đấu thiếu sự yểm trợ của hỏa lực. Phải dùng pháo của xe tăng và loại súng không giật 106 ly để loại các tay súng bắn tỉa và các ổ súng đại liên. Nhưng phát hiện cho được mục tiêu là việc khó khăn và phải trả giá đắt. Một lính thủy đánh bộ kể lại:

        “Trông thấy một trung đội bị tiêu diệt cả đống bên rìa các tường ở vườn. Khi một lính Mỹ nhô đầu lên khỏi tường để quan sát thì bị AK47 bắn trúng mặt, ‘anh ta ngã xuống chỉ kịp kêu tiếng “mẹ” rồi chết”.

        Đến 10-2, lính thủy đánh bộ Mỹ đã kiểm soát được bờ nam. Bây giờ phải quan tâm đến Thành nổi bên kia sông. Cơ quan chỉ huy Mỹ ở Phú Bài không sát với tình hình, ví dụ có kế hoạch cho quân vượt qua cầu, nhưng cầu đã bị quân giải phóng phá một tuần trước đó. Dù quân Nam Việt Nam đã kiểm soát 3/4 Thành Cổ, nhưng quân Bắc Việt Nam vẫn giữ được các vị trí rất mạnh và vẫn được tiếp tế từ vùng núi phía tây. Hơn nữa, có cơ hội là họ phản công rất mãnh liệt. Biểu hiện của tinh thần chiến đấu của họ là trận đánh đêm kỳ diệu của đặc công nước làm sập hai nhịp của một cầu quan trọng.

        Quân tiếp viện được đưa từ Sài Gòn ra để giúp giải phóng Thành nội. Lính thủy đánh bộ Nam Việt Nam sau khi giải tỏa được Sài Gòn, được điều ra để thay thế những tiểu đoàn dù đã bị đánh tơi tả. Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 5 lính thủy đánh bộ Mỹ vào tham chiến từ 12-2. Cuộc chiến đấu ở đường phố đã nghiền nát đơn vị này qua sự mất mát các trung đội trưởng. Sau 9 ngày chiến đấu, trong số 10 trung đội thường do các trung úy chỉ huy, nay chỉ huy các trung đội gồm có 3 thiếu úy, 5 thượng sĩ và 2 trung sĩ.  Trận đánh vào thành gặp những khó khăn không kém bất kỳ những khó khăn nào trong lịch sử của lính thủy đánh bộ Mỹ. Xe tăng hoạt động rất không thuận lợi trong những phố hẹp. Phải dùng chất độc CS quy mô lớn nhưng không xa hơn 150 mét. Lính thủy đánh bộ phải đổ máu nhiều trong những hoạt động đó.

        Trong tuần từ 13-20 tháng 2, bốn đại đội lính thủy đánh bộ bị chết 47, bị thương nặng 240, bị thương nhẹ 60. Thiệt hại của lính thủy đánh bộ nặng đến mức phải lấy quân bổ sung thẳng từ trại huấn luyện ở Mỹ. Vụng về một cách tuyệt vọng trong đánh ở thành phố, họ thường phải bỏ mạng. Ngày 16-2, nhân viên kỹ thuật rađiô của Mỹ nhận được một điện và dịch mã được:

        “Người chỉ huy của Bắc Việt Nam trong Huế báo cáo là thương vong nhiều trong đó có một sĩ quan cấp cao và xin rút ra. Nhưng lệnh trên là ở lại và tiếp tục chiến đấu. Ngày 21-2, Sư 1 ky binh đã bịt được đường tiếp tế từ ngoài vào Huế. Ngày hôm sau, lính thủy đánh bộ chuẩn bị cho cuộc phản công cuối cùng và báo cáo là ít chạm địch hơn mọi ngày. Trong khi đó quân Nam Việt Nam cũng bắt đầu tiến quán. Đại đội Hắc Báo của Sư 1 Nam Việt Nam được chọn làm đơn vị tấn công Thành nội và hạ được cờ giải phóng sau 25 ngày trên Thành nội. Một sĩ quan lính thủy đánh bộ nhận xét một cách cay đắng: “Báo cáo của MACV sẽ là quân Nam Việt Nam lấy được Thành nội. Đúng là nước rửa bát của cơ quan thông tin đại chúng... Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 5 lính thủy đánh bộ lấy được Thành nội. Quân Nam Việt nam chỉ là khán giả”.

        Huế là trận đánh dài nhất trong chiến tranh. Thiệt hại lớn theo tiêu chuẩn Việt Nam; trong 26 ngày chiến đấu, quân Nam Việt Nam chết 384 và bì thương 1.800; Lục quân Mỹ chết 74 và bị thương 507; 3 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ chết 142 và bị thương 857.

        Không quân Mỹ ném bom tàn phá khu dân cư, không quân Nam Việt Nam ném bom bắn phá Thành nội, làm hỏng nhiều tòa nhà theo kiến trúc cổ trước thời thực dân. Có 14.000 người chết, trong đó khoảng 300 do quân giải phóng gây ra, 24.000 dân bị thương, 627.000 dân mất nhà cửa, chủ yếu do không quân, pháo binh Mỹ - ngụy.

        Lúc Huế bắt đầu bị tấn công, tất cả các bác sĩ Việt Nam trốn vào trong các trung tâm ty nạn ở trường đại học, chiếm gạo và thuốc men và không chịu đi cứu chữa hàng trăm bệnh nhân từ các khu vực chiến đấu. Khi quân Mỹ xuất hiện thì họ đòi đi, bỏ lại hàng chục bệnh nhân đang chết vì hoại tử.

        Còn chính quyền Huế thì coi như không còn tồn tại. Tỉnh trưởng cũng là đại tá Phạm Văn Khoa trong 6 ngày  đầu cuộc tấn công Tết trốn trên xà nhà một bệnh viện và thời gian còn lại tổ chức các bạn bè ăn cắp các chuyến tiếp  tế gạo cho các trại tỵ nạn khỏi bị chết đói. Bị kết tội là biết trước cuộc tấn công 2 ngày, Khoa tự bào chữa là cố ý để cho quân giải phóng vào Huế để bị bẫy tại đây. Lính của Khoa theo gương của y (1.000 đi phép tết) đã đến các trại ty nạn và ở lại đó trong 3 tuần không chịu tập hợp lại. Một người Mỹ nhận xét: “một đại tá chẳng làm được việc gì cả, hắn trốn trong 3 tuần liền”. Khi chiến sự chấm dứt, cũng những người lính đó ra lục soát một cách trắng trợn và có hệ thống các nhà để lấy cắp. 17 ngày sau, đại tá Khoa ra lệnh sẽ bắn kẻ nào ăn cắp. Một chức trách Mỹ nói: “Lúc này thì mọi thứ đều đã bị đánh cắp, có khi đến lần thứ hai”. Frank Kelly, một trong những người Mỹ có kinh nghiệm nhất ở Việt Nam nói: “Tôi đi vào các trại tỵ nạn, nhiều đại tá mặc thường phục, nhiều bà thuộc tầng lớp trên của xã hội, giáo sư đại học... cầu xin tôi giúp họ chạy trốn”. Đối với nhiều người Mỹ tại chỗ thì cuộc tấn công Tết đãlàm mất tinh thần chính quyền Sài Gòn và những người ủng hộ họ.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 01:47:50 pm

PHẦN III

ĐÁNH GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC TIẾN CÔNG TẾT 1968

        Cuộc Tổng tiến công Tết 1968 nổi tiếng về sự bất ngờ, đã đạt kết quả quyết định, tạo ra một bước ngoặt trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đã 30 nărn trôi qua nhưng cuộc tranh cãi của các nhà quân sự, chính trị, sử học về cuộc tấn công này vẫn chưa chấm dứt.

        Tướng Westmoreland, tổng chỉ huy lực lượng quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam, cho ràng “Mỹ không thua bất cứ trận chiến đấu nào, cộng sản thắng chúng tôi về tâm lý”. Đại tá Harry G.Summers Jr, thuộc Viện nghiên cứu chiến lược, Trường chiến tranh quân đội Mỹ lại viết “Mỹ thắng về chiến thuật, thua về chiến lược”. Nhà báo James R.Arnold bình luận “cộng sản không đánh bại được lính Mỹ, nhưng đánh bại chiến lược của các tướng Mỹ, các nhà lãnh đạo chính trị và đã làm đảo lộn dư luận của người dân Mỹ”.

        Một số nhà quân sự, nhà báo Mỹ cho rằng cuộc tấn công Tết 68 đã thất bại vì đã không kích động được quần chúng nổi dậy mà còn phải trả giá đắt do mất nhiều cán bộ và cơ sở cốt cán ở địa phương.

        Nhiều người Mỹ kâcs lại cho cuộc tấn công Tết là một thắng lợi của cộng sản, là thất bại của Mỹ, buộc người Mỹ phải xét lại mục tiêu của cuộc chiến tranh xem có đáng để hàng vạn thanh niên Mỹ chết, đáng để chi hàng trăm tỷ đô la của người dân đóng thuế. Ý kiến số đông là nên rút ra khỏi cuộc chiến tranh.

        Một số ít diều hâu thì bực tức trước sự chủ động tiến công của quân giải phóng, cho là chính quyền Johnson đã không kiên quyết giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh, đòi tổng thống tăng thêm quân cho Westmoreland, mở rộng chiến tranh sang Lào và Cam-pu-chia, cho quân tấn công ra miền Bắc bất chấp sự phản ứng của Liên Xô, Trung Quốc.

        Westmoreland có thất bại về quân sự không?  Ôg ta rất chủ quan trong đánh giá tình hình quân sự, cho quân giải phóng suy yếu, đã bị đẩy lùi ra vùng rừng núi ở biên giới.

        Westmoreland đánh giá không đúng đối phương vì dựa vào con số thống kê thường được thổi phồng quá đáng, một nửa số các đơn vị tấn công Mỹ chưa hề nắm được, nhiều đơn vị quân giải phóng được coi là xóa sổ nay lại xuất hiện.  Có cả một bộ máy tham mưu và tình báo rất lớn, nhưng Westmoreland đánh giá quá thấp đối phương, dẫn đến bị bất ngờ trong cuộc tấn công của quân giải phóng Tết 1968, đánh vào các thành phố, đô thị, các mục tiêu quân sự ở sâu trong sào huyệt bất khả xâm phạm của Mỹ. Bất ngờ này được các nhà quân sự Mỹ đánh giá là tương đương như trận Nhật tấn công Trân Châu Cảng. Để xảy ra một bất ngờ tầm chiến lược như thế rõ ràng là một thất bại về công tác tham mưu, công tác tình báo, công tác chỉ huy, nói chung là một thất bại lớn về quân sự. Chống với hơn nửa triệu quân Mỹ và đồng minh, gần một triệu quân Sài Gòn, quân giải phóng, theo ước tính của MACV, có 8.000 người với vũ khí nhẹ đã tấn công và làm chủ các mục tiêu trong nhiều ngày, dài nhất là ở Huế trong 25 ngày, gây cho quân Mỹ và quân Sài Gòn những thiệt hại về sinh mạng khá nặng nề trong một thời gian ngắn. Cách bố trí chiến lược, quân Sài Gòn ở vòng trong, vùng đông dân, các đô thị, còn Mỹ ở vòng ngoài là không phù hợp vì sức chiến đấu của quân Sài Gòn rất kém, có sư đoàn (như Sư 22 ở Quảng Ngãi) không có tinh thần chiến đấu. Đó là sai lầm về chỉ huy chiến lược.

        Hơn nữa, hầu hết các đơn vị của Mỹ - ngụy không được huấn luyện và trang bị cho cuộc chiến đấu trong đường phố, giành giật từng ngôi nhà, từng mảnh vườn. Nên quân giải phóng giữ quyền chủ động, chiếm giữ được các mục tiêu trong nhiều ngày, làm cho ngay quân Mỹ cũng hết sức lúng túng, bị thương vong nhiều, quân ngụy thì mất tinh thần chiến đấu kể cả nhiều cấp chỉ huy. Đó cũng là một thất bại của Westmoreland trong việc để tình trạng quân đội không sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống, dẫn đến việc Mỹ phải dùng không quân ném bom tàn phá nhiều khu phố, giết hại nhiều người dân đô thị mà Mỹ - ngụy tự cho là có nhiệm vụ bảo vệ .

        Người Mỹ cho rằng tác động của việc sứ quán Mỹ bị tấn công đối với dân Mỹ như thế nào thì việc đánh chiếm Huế cũng tác động đến quân đội và nhân dân Nam Việt Nam như thế. Điều đó được thể hiện qua tỷ lệ đào ngũ của quân Sài Gòn: Cuối 1967 có 10,5 phần nghìn, sau Tết 68 tăng lên, 16,5. Riêng tháng 6-1968 có 13.506 lính ngụy đào ngũ. Chương trình bình định bị đẩy lùi, nhiều nơi coi như phá sản. 1/3 các đơn vị quân đội ngụy phụ trách bảo vệ bình định rút về thành phố. 1/2 số các đội bình định rời bỏ các thôn ấp. Không quân Mỹ hủy diệt các thôn ấp quanh thành phố, đô thị, nơi nghi ngờ có quân giải phóng. Quốc sách ấp chiến lược bị giáng một đòn nặng nề chưa từng thấy. Đây cũng là một thất bại chiến lược mà Westmoreland phải gánh chịu, không đổ tội cho ai được.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2017, 06:45:10 pm

        Vai trò và hiệu lực của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu rất mờ nhạt. Thiệu lo đề phòng bị đảo chính, các tướng tá mà Thiệu tin cẩn được cất nhắc vào các chức vụ cao nhất thì không có năng lực, lo vơ vét làm giàu, lúc diễn ra cuộc tấn công thì bỏ nhiệm vụ, không có trình độ và tinh thần đối phó với quân giải phóng. Sau cuộc tấn công hàng tháng, các nơi bị phá nặng như Bến Tre, Mỹ Tho, Cần Thơ, ngay ở Chợ Lớn, Huế... chính quyền không giúp gì để khôi phục.  Một chính quyền do Mỹ dựng nên, bỏ bao nhiêu sinh mạng và tiền của để bảo vệ, nay dưới con mắt của người dân Việt Nam, rõ ràng là một chính quyền bù nhìn, Westmoreland có thấy ràng chính ông đã đánh bại mục đích chính trị của cuộc chiến tranh mà tổng thống Mỹ đã vạch ra?  Giới lãnh đạo chính trị và quân sự Mỹ tự an ủi về cái gọi là thắng lợi của Mỹ tức là đã gây thiệt hại cho quân giải phóng và Bắc Việt Nam nặng nề đến mức phải 4 năm sau, năm 1972, mới có thể mở cuộc tấn công quy mô lớn. Cấp lãnh đạo và người dân Việt Nam đều biết rằng chống lại đế quốc Mỹ là một siêu cường về quân sự, tất nhiên không thể anh khỏi sự thiệt hại to lớn về người và của. Sự trả giá đã xứng đáng cho mục tiêu độc lập, thống nhất của Tổ quốc.

        Người Việt Nam rất mong muốn đạt được hòa bình có đất nước qua cuộc đàm phán ở Paris. Chúng ta rất kiên trì tìm giải pháp cho cuộc chiến tranh. Nhưng Nixon, con người rất hiếu chiến, trúng cử tổng thống, ông ta muốn giành thắng lợi quân sự trong cuộc chiến tranh. Chính ông ta cho mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia (1970), sang Lào (1971), thúc đẩy quân ngụy lấn chiếm vùng giải phóng ở miền Nam. Những hoạt động quân sự lớn đó của Mỹ - ngụy đã bị đánh trả đích đáng. Và chỉ sau đó, quân đội chúng ta mới mở các cuộc tấn công lớn ở miền Nam, chứ không phải những thiệt hại lớn của ta trong Tết 1968 đã làm mất sức chiến đấu trong nhiều năm như luận điệu của nhà cầm quyển Mỹ. Quan điểm “thắng về chiến thuật, thua về chiến lược” không đúng với lý luận cũng như thực tiễn cuộc chiến tranh Việt Nam.

        Trong chiến tranh cách mạng, chiến lược quân sự phục vụ cho mục đích chính trị. Mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch đều có yêu cầu về quân sự và chính trị, chiến lược quân sự được thực hiện qua nhiều chiến dịch, nhiều trận chiến đấu. Muốn chiến lược thắng thì nói chung chiến dịch, chiến đấu phải thắng. Phải thừa nhận rằng trong thực tế chiến đấu thì có trận thắng, có trận thua, nhưng bên trong chung cuộc phải là bên có những trận chiến đấu, những chiến dịch đạt được những thắng lợi mang tính quyết định (Oa-tec-lô, Điện Biên Phủ...). Quân giải phóng không thể đạt được thắng lợi về chiến lược nếu không có những thắng lợi về chiến thuật.

        Đại tá Harry G.Summers có thể tự hào chính đáng về thành tích đảm bảo hậu cần cho quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam: vận chuyển nhịp nhàng quân đi quân về nửa vòng trái đất một triệu con người một năm; cung cấp không sai sót hàng triệu linh kiện, phụ tùng thay thế cho hàng trăm các loại máy bay, xe tăng, vũ khí các loại; đáp ứng kịp thời các loại bom đạn, thực phẩm; tổ chức cấp ‘cứu rất hiệu quả. . Nhưng vì tổng thống Mỹ đã chọn sai đối tượng, sai chiến trường, chỉ đạo chiến lược lại sai lầm và quan liêu nên đầu vào thì khá hoàn chỉnh nhưng đầu ra thì là một sự thất bại thảm hại. Lần đầu tiên Mỹ chịu thua trận, mà thua một nước yếu hơn Mỹ cả trăm lần. Ngoài sự đọ sức ở chiến trường, người Mỹ chắv củng phải thấy rằng đây còn là một sự đấu trí quyết liệt. Đấu trí giỏi hỗ trợ hiệu quả cho chỗ yếu kém của đấu lực. Hình như người Mỹ nặng về thực tiễn không thấy hết vấn đề này.   

        Tác động tiến công Tết 1968 đến chính trường nước Mỹ. Lần đầu tiên trong lịch sử, qua vô tuyến truyền hình màu, chiến tranh được đưa vào hàng triệu gia đình Mỹ cảnh tàn phá giết chóc của chiến tranh, đặc biệt cuộc tấn công Tết 1968. Trong cuộc chiến đấu ở Sài Gòn, Huế, cũng như các cuộc chiến đấu ở các thành phố và đô thị khác ở Nam Việt Nam, các phóng viên truyền hình có mặt đều quay phim cho các buổi truyền hình tối ở Mỹ, để hàng triệu người Mỹ thấy bi kịch về hành động của chồng, con và anh em họ ở chiến trường. Một lính thuỷ đại đội lính thủy đánh bộ do Myron Harrington chỉ huy ở Huế trả lời một phóng viên ngày 24-2-1968 về câu hỏi: “Anh thấy điều gì là gay go nhất?”. “Không biết địch ở đâu cả, đấy là điều tồi tệ nhất. Mà họ có thể ở bất cứ đâu. Chỉ mong còn được sống. Mọi người đều muốn về nhà và đi học tiếp - Thế thôi ?”.  Harrington cũng nhận xét: “Là một lính thủy đánh bạn, tôi phải ca tụng sự dũng cảm và kỹ luật của quân Bắc Việt Nam. Nhiều khi chúng tôi chỉ cách nhau hai, ba mươi mét. Làm sao sống sót được là tên của trận chiến đấu trong chỗ tranh tối tranh sáng này, nơi có tiếng nổ thường xuyên. Lại còn cái mùi hôi thối (của xác chết), anh ngửi thấy khi ăn khẩu phần y như ăn sự chết chóc. Nó ngấm vào quần áo mà không thể giặt được vì thiếu nước”... Đại đội của anh ta bị 17 chết khi tấn công vào Thành nội.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2017, 06:46:56 pm

        Người dân Mỹ, kể cả nhiều chính khách, tin ở những cảnh trên vô tuyến truyền hình hơn là những thông báo lạc quan của chính quyển. Họ thấy VC mạnh hơn nhiều so với những tuyên bố của tổng thống và Westmoreland. Sự tàn phá, chết chóc do bom đạn Mỹ gây ra ở các thành phố và đô thị nhằm đạt mục đích gì? Chồng con họ hy sinh và tàn phế có phải vì lợi ích chính đáng của nước Mỹ không? ấn tượng sâu sắc của cuộc tấn công Tết 1968 vào hàng loạt thành phố và đô thị ở miền Nam, một bất ngờ lớn đối với nhà cầm quyền Mỹ, là Mỹ không thể thống cuộc chiến tranh ở Việt Nam, thậm chí có thể thất bại. Thái độ chung của người Mỹ là: “Trước hết chúng ta tham gia vào công việc ở Việt Nam là một sai lầm. Nhưng bây giờ chúng ta đã ở đấy thì hãy đánh thắng hoặc rút khỏi Việt Nam”.

        Sau cuộc tấn công Tết, uy tín của Johnson đối với việc điều hành cuộc chiến tranh giảm từ 40% xuống còn 26%, về điều hành đất nước nói chung cũng giảm từ 48% còn 36%.  Như vậy dân chúng không còn tin tưởng vào tổng thống. Quan trọng hơn có lẽ là Johnson đã bị bỏ rơi bởi các thành phần phát ngôn của dân chúng như các bình luận viên của báo chí, truyền hình, những nhà doanh nghiệp, các nhà giáo dục, các giáo sĩ và nhiều giới thượng lưu mà tiếng nói ở Washington mạnh hơn các nơi khác. Những người lãnh đạo đã bắt đầu thấy sai lầm của cuộc chiến tranh. Bây giờ họ kết luận là cuộc xung đột vô nghĩa đe dọa chia rẽ và làm rối loạn nội bộ quốc gia và làm tiêu tan tài sản chung, không còn xứng đáng với công sức bỏ ra nữa. Sát với giới nắm quyền lực họ mất tin tưởng vào tổng thống chậm hơn công chúng. Nhưng một khi họ thay đổi thì ảnh hưởng của họ đè nặng lên các nhà chính trị, các chức trách của chính phủ và ngay cả Johnson.

        Cuộc tấn công Tết làm choáng váng Johnson. Phần lớn các báo cáo tới ông đều cho là cộng sản bị suy yếu nên ông không báo giờ có thể tưởng tượng được là họ có thể tấn công sứ quán Mỹ ở Sài Gòn hoặc tấn công các đô thị ở Nam Việt Nam. Sáng ngày 31-1, sau một đêm kiểm tra hàng lô các điện từ Sài Gòn, phản ứng đầu tiên của ông ta là phải phối hợp nhịp nhàng dư luận theo hướng lạc quan. Ông ta ra lệnh cho Westmoreland họp báo hàng ngày để “làm an lòng dân là đã kiểm soát được tình hình” và nói với cơ quan báo chí Nhà trắng là cuộc tấn công của cộng sản đã “hoàn toàn thất bại”. Đồng thời chỉ thị cho Dan Rusk (Bộ trưởng ngoại giao), Mc.Namara (Bộ trưởng Quốc phòng), Walt Rostows (cố vấn an ninh quốc gia) là phát biểu trên báo chí và truyền hình theo hướng đó.

        Nhưng bình luận của báo chí lại theo chiều hướng đen tối. Một bài xã luận bất thường của tờ Wall Street Journal xưa nay vẫn phục thiện cảnh cáo là “nhân dân Mỹ cần phải sẵn sàng chấp nhận triển vọng toàn bộ những cố gắng của Mỹ ở Việt Nam có thể sẽ thất bại”.

        Walter Conkite, một nhân vật có uy tín nhất trong giới báo chí, lời nói có ảnh hưởng rất lớn với cử tri, vốn có quan điểm cân đối về cuộc chiến tranh nếu không nói là có thiện cảm. Bây giờ, vào tối 27-2-1968 ông nêu lên một bản án mới. Vừa từ Sài Gòn về, ông bác bỏ những dự báo của chính quyền về thắng lợi, thay vào đó là dự đoán “chắc chắn hơn bào giờ hết là kinh nghiệm đổ máu ở Việt Nam sẽ đi tới một sứ bế tắc”. Buổi truyền hình làm Johnson bị sốc, phiền muộn, vì nghĩ rằng bài bình luận tuyệt vọng của Conkite sẽ dấy lên dư luận không ủng hộ cuộc chiến tranh. Nhưng Conkite cũng như các nhà báo khác chỉ đi theo sau dư luận công chúng Mỹ, phản ánh hơn là tạo dựng nên.

        Dan Rusk, diều hâu nhất trong đám diều hâu, cũng bắt đầu nghi ngờ cuộc chiến tranh, tuy lần họp báo bị các nhà báo dồn hỏi đòi ông giải thích về sự thất bại của Mỹ trong việc không phát hiện được cuộc tấn công Tết, ông đã nổi cáu một cách không bình thường: “Các anh đứng về phía bên nào? Báo chí, phát thanh, truyền hình không đáng một đồng xu trừ khi Mỹ thắng trận...”. Sau này ông kể lại là dân ở quê ông hỏi “Dean, nếu anh không thể nói với chúng tôi khi nào chiến tranh kết thúc, vậy thì chúng ta cần phải rời bỏ nó.”, lúc đó ông không trả lời được nhưng thâm tâm ông đồng tình với họ .

        Làm sao ông Johnson có thể khơi lên niềm lạc quan đối với cuộc chiến tranh khi đối với nhiều người trợ lý của ông, cuộc chiến tranh đã là một sự ô nhục? Harry Hepherson, người cùng quê, một luật sư trẻ rất nhạy cảm, là người tin cẩn chuyên viết các bài phát biểu của tổng thống, ngồi ở Nhà trắng, bên cạnh buồng teletype, đài thu tin đang nhận tới tấp sự bảo đảm của Westmoreland về sự thất bại dứt khoát của cộng sản. Mc Pherson kể lại là đã thấy sự thật trên màn hình: “Tôi theo dõi sự xâm nhập vào khuôn viên sứ quán Mỹ và thấy khủng khiếp cảnh tướng Loan giết một tù binh VC.  Anh có cảm giác ghê sợ, bất tận về cuộc chiến tranh và tính chất vô đạo đức của nó trong đó một tù binh bị bản bằng cách gí súng vào đầu. Tôi gạt ra bên các điện mật. Tôi được thuyết phục nhiều hơn bởi màn hình và báo chí. Tôi chán ngấy với sự lạc quan không ngừng gửi tới từ Sài Gòn”...


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2017, 06:47:21 pm

        Theo Richard Holbrook lúc này được phái đến Sài Gòn để xem xét tình hình thì “đại sứ Ellsworth Bunker còn bình bĩnh nhưng Westmoreland thì mất tinh thần, bị xúc động mạnh, con người hoàn toàn suy nhược”, khác hẳn những bức điện lạc quan gửi về Washington. ông ta “bị choáng váng về việc cộng sản có thể phối hợp nhiều cuộc tấn công như thế mà lại trong vòng bí mật”.

        Johnson rất lo ngại về Khe Sanh vì nơi đây có thể trở thành Điện Biên Phủ, sẵn sàng gửi thêm quân cho Westmoreland. Nhưng Westmoreland không nhận vì nếu có quân thêm thì trái với các nhận định lạc quan của ông ta. Ngày 8-2-1968, tướng Wheeler - Chủ tịch tham mưu trương liên quân, điện cho Westmoreland là tổng thống không sẵn sàng nhận sự thất bại” và thêm “nếu anh cần thêm quân thì xin đi”. Westmoreland đáp là cần một sư đoàn mới vào tháng 4 nếu tình hình ở các tỉnh phía Bắc của Việt Nam xấu đi.  Wheeler dặn dò Westmoreland là cuộc xung đột đã vào “giai đoạn quyết liệt” và đòi ông ta đưa ra yêu cầu cần thiết cho mọi tình huống. Ngày 11-2-1968, Wheeler giải thích cho Johnson là Westmoreland không “kiên quyết đòi tăng quân và có thể đối phó với tình hình, nhưng thêm quân sẽ cho ông ta tăng thêm khả năng giành lại chủ động và tiến hành tấn công vào lúc thích hợp”. Thế là Westmoreland chính thức xin thêm quân, gạt bỏ sự lạc quan trước đây. Trong điện có câu “sự thất bại hoàn toàn có thể xảy ra nếu tôi không được tăng thêm quân. Tôi rất cần được tăng viện. Thời gian là cốt tử”.

        Wheeler và các tham mưu trưởng liên quân muốn tăng quân để buộc Johnson phải cho phép động viên lực lượng dự bị, điều mà Johnson đã nhiều lần từ chối, để cho nhiều đơn vị Mỹ chỉ còn khung, thiếu hẳn quân số. Ngay đơn vị duy nhất sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ nước Mỹ là Sư đoàn 82 dù cũng phải rút 1/3 quân số để đưa sang Việt Nam. Thủy quân lục chiến cũng không hấp dẫn đối với người được tuyển mộ. Để tình trạng lực lượng như vậy ảnh hưởng lớn đến vai trò toàn cầu của Mỹ và rơi vào đúng sự đánh giá của tướng Võ Nguyên Giáp là cuộc chiến tranh làm chảy máu nước Mỹ.

        Ngày 23-2-1968, Wheeler bay sang Sài Gòn, thông báo là Mc Namara sẽ bị thay thế bởi Clark Clifford con người khuyến khích sự cứng rắn; có thể Johnson đồng ý động viên dự bị, cho phép đánh sang Lào, Cam-pu-chia và cả phần phía Nam của Bắc Việt Nam. Thế là Westmoreland tính toán và đưa ra con số là 206.000 quân tăng thêm cho Việt Nam, trong đó 108.000 vào 1-5-1968, số còn lại vào tháng 9 và tháng 12 nếu cần thiết.

        Khi báo cáo với Johnson, Clifford không nói đến việc đánh sang Lào và Căm-pu-chia. Trái lại, Westmoreland người chỉ huy ở chiến trường đang ở trong tình thế nguy hiểm nếu không nhanh chóng nhận được tăng viện. Trái với sự lạc quan trước đây của Westmoreland, ông ta nói cuộc tấn công Tết là một đòn đau và lưu ý là “cuộc tấn công to lớn, mãnh liệt trong phạm vi toàn lãnh thổ của địch chưa phải đã chấm dứt”. Con đường duy nhất để tránh thảm họa ở Việt Nam là tăng thêm quân, có nghĩa là phải động viên dự bị. Clark Clifford cùng dự buổi báo cáo hôm đó, ngày 28-2-1968, còn nhớ là báo cáo quá đen tối, quá chán ngán đến nỗi gây ra một cú số thực sự. Chưa báo giờ ông ta thấy Johnson lại lo lắng đến thế...

        Đây là một thách thức lớn nhất về vấn “đề Việt Nam đối với Johnson là người đã suy nghĩ nát óc trước khi đưa quân vào Việt Nam cách đây 3 năm. Đáp ứng yêu cầu thêm quân của Wheeler thì phải đặt đất nước vào tình trạng chiến tranh đang tăng lên trong năm bầu cử tổng thống. Nhưng bác bỏ Wbeeler có nghĩa là từ bỏ chiến thắng và có khi còn chuốc lấy thất bại. Johnson không thể xét đoán nếu không sự nghiên cứu toàn diện về các sự lựa chọn. Quay sang Clifford, ông giao cuộc nghiên cứu mới này và nói: “Hãy cho tôi điều gì ít xấu nhất”...

        Clifford là một trong những luật sư nổi tiếng nhất ở Washington, đã thành công trong sự nghiệp: tiền tài, uy tín, quyền lực nên không cần một vị trí cao nào để tự đặt mình. Nhận chức Bộ trưởng Quốc phòng là để giúp Johnson, có thể nói thẳng thắn hơn các người khác trong Nhà trắng; các quan chức Bộ Quốc phòng lúc đầu rất ngán cái ông bộ trưởng diều hâu này, có người còn định từ chức, nhưng sau lại nghĩ là phải làm thay đổi ông ta. Clifford từ trước đến nay là người rất kiên trì bảo vệ chính sách Việt Nam của chính phủ nên Johnson hy vọng ông ta là người vững vàng hơn Mc Namara.  Mùa hè năm 1967, Johnson cử ông ta đi thuyết phục một số đồng minh của Mỹ tăng thêm quân đến Việt Nam. Những nhà lãnh đạo các nước Thái Lan, Phi-li-pin, Úc và Tân Tây Lan - là những đôminô bị đe dọa bởi cộng sản - đều từ chối tăng quân. Trở về nước, Clifford thấy: “Phân vân, lúng túng, lưu tâm” là có thể “đánh giá của chúng ta về sự nguy hiểm cho sự ổn định ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là phóng đại”. Sự nghi ngờ của ông ta tăng hơn nửa sau khi ông vào Nhà trắng từ 1-3-1968.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2017, 07:49:16 am

        Ở Bộ Quốc phòng có Paul Warnke, trợ lý bộ trưởng về các vấn đề an ninh quốc tế, được hơn một năm đã nhanh chóng đẩy cuộc chiến đấu ở Việt Nam đi vào ngõ cụt, ở đó lính Mỹ chết vô ích bởi vì tuy có thắng nhiều trận nhưng không thể thắng được cuộc chiến tranh. Warnke đã thuyết phục được Mc Namara theo quan điểm đó. Nay phải tác động Clifford, nếu không kết quả ông sẽ từ chức.

        Johnson giao nhiệm vụ cho Clifford ngày 28-2, đòi ngày 4-3-1968 phải trả lời. Thật quá gấp. Nhóm nghiên cứu gồm 13 người trong đó có Rusk, Rostows, Wheeler, Maxwell Taylor, Henry Fowler (Bộ trưởng Bộ Tài chính) và Mc Namara.

        Sau khi phân tích về địa lý chính trị, Rostows lập luận đòi có hành động cứng rắn ở Việt Nam để ngăn chặn “xâm lược ở Trung Đông, các nơi khác ở châu Á, và có thể ở cả cháu Âu” và trong những tuần sắp tới, ông ta ép Johnson chuẩn y cho đánh thọc vào Bắc Việt Nam và Lào. Wheeler và Taylor ủng hộ cách đề cập năng động đó, trong khi Mc Namara cho rằng sự lựa chọn duy nhất là một giải pháp thương lượng. Fowler đưa ra một ý nghĩ ôn hòa. ông giải thích là tăng cường lực lượng sẽ tăng chi phí của cuộc chiến tranh và do đó phải chia cắt bớt các chương trình xã hội ở trong nước, giảm một số chi tiêu về quân sự và ngoại viện. Ngay như thế, cũng cần phải tăng thuế, nhưng khó được Quốc hội thông qua. Nhưng khó khăn nghiêm trọng về kinh tế và tài chính đe dọa đất nước, trừ phi chính quyền kêu gọi được sự hy sinh của nhân dân, một chiều hướng không thể chấp nhận được trong năm bầu cử tổng thống.

        Clifford hiểu ngay tình hình rắc rối nàv vượt xa vấn đề hạn hẹp là triển khai thêm quân. ông đứng trước một việc là đánh giá lại toàn bộ chính sách của Mỹ đối với Việt Nam.  Thay vào việc chỉ đánh giá nhu cầu tăng quân và vũ khí, ông ta phải kiến nghị “việc thông minh nhất cần phải làm cho đất nước” .

        Các bộ phải khẩn trương gửi các kiến nghị đến để góp tài liệu cho bản báo cáo. Warnke được Clifford giao cho nhiệm vụ chắp bút, có suy nghĩ là thủ trưởng mới sẽ “làm những điều mà chúng tôi nghi là cần phải làm”. Bộ phận tham mưu của ông phần lớn là các chức trách dân sự và quân sự còn trẻ, đã chán ngấy sự vô nghĩa của cuộc chiến tranh, thấy đây là cơ hội duy nhất để thực hiện một sự thay đổi lớn. “Chúng tôi sẽ viết những gì chúng tôi đã suy nghĩ dù có bị đuổi việc”. Họ đã hoàn thành dự thảo “đánh thẳng vào những động cơ cơ bản” của Mỹ ở Việt Nam.

        Ngày 1-3, Warnke đọc bản dự thảo cho Clifford, Wheeler và một số khác cùng nghe, vẽ lên một cảnh không hấp dẫn về tình hình. Do cộng sản có thể đáp ứng mọi sự tăng quân của Mỹ, việc leo thang theo đề nghị của Wheeler và Westmoreland không hứa hẹn sớm chấm dứt cuộc chiến tranh. Hơn nữa chiến lược đó sẽ kéo theo sự chi tiêu lớn ở Việt Nam và đặc biệt ở Mỹ và sự phụ thuộc của chi phí về kinh tế và xã hội đối với chi phí về quân sự sẽ dấy lên một nguy cơ đưa tới một cuộc khủng hoảng không thể lường trước được. Hơn nữa, tăng thêm nhiều quân Mỹ sẽ khuyến khích chế độ Sài Gòn tin rằng Mỹ “sẽ tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh khi họ làm chính trị ở hậu trường và cho phép tham nhũng một cách rộng rãi”. Do đó Warnke đề nghị các đơn vị Mỹ rút về bảo vệ vùng đông dân ở ven biển và yêu cầu quân đội Nam Việt Nam được huấn luyện và trang bị để trở thành lực lượng có hiệu quả hơn.

        Bản trình bày của Warnke làm cho Wheeler kính ngạc và các tham mưu trưởng liên quân nhanh chóng đáp lại bằng yêu cầu có hành động mạnh mẽ. Westmoreland lại kêu gọi cho đánh sang Lào, trong khi đô đốc Sharp muốn ném bom mạnh hơn nữa Bắc Việt Nam vì sự cứng rắn “là chính sách duy nhất mà cộng sản hiểu được”.

        Sự mơ hồ của các biện pháp làm Clifford lo ngại. Ông muốn có sự trả lời chính xác của Wheeler và đồng sự của ông ta. “Cần thời gian bao nhiêu để thắng lợi ở Việt Nam? Họ có cần nhiều quân hơn nữa không? Họ có thể cần nhiều hơn, kẻ địch có thể tăng quân tương xứng để đáp lại phần chưa có”. Như vậy kế hoạch nào có thể thắng cuộc chiến tranh? Chỉ có kế hoạch là tiêu hao sẽ làm cho cộng sản suy nhược, nản lòng. Đã có dấu hiệu nào là họ đã đến điểm đó chưa? Không, chưa có dâu hiệu nào”.

        Từ đầu tháng 3, Clifford đã lẳng lặng quay ra chống chiến tranh và kết luận “việc chúng ta sắp làm là hao phí của cải của đất nước và tính mạng con người chúng ta ở nơi rừng rậm”. Từ đó Mỹ cần cắt đứt sự dính dáng vào Việt Nam và rút ra từng bước. Người quyết định cuối cùng là tổng thống, nên cần phải thận trọng, không nên để Johnson bị đột ngột. Và cũng không nên tạo ra đối địch với Wheeler và các tham mưu trưởng liên quân.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2017, 07:49:51 am

        Ngày 4-3, sau khi gọt rũa kiệt sức ngày cuối tuần, Clifford gửi bản báo cáo tới Nhà trắng. Báo cáo này thận trọng hơn nhiều so với đề nghị của Warnke, nhưng có điều chủ yếu là làm Johnson bớt chú ý đến việc xét tăng quân mà đưa ông ta vào xét vào đề rộng lớn hơn. Đồng ý việc động viên dự bị nếu có những yêu cầu khẩn cấp trên thế giới nhưng không đồng ý tăng vai trò chiến đấu của Mỹ ở Việt Nam, vì “không có lý do nào để tin rằng cộng sản có thể bị đánh bại nếu thêm 200.000 quân Mỹ, thậm cíi tăng gấp đôi, gấp ba số lượng đó”. Báo cáo có nêu Westmoreland không nên tìm cách đánh bại hoàn toàn kẻ địch, nghĩa là nên rút quân Mỹ về ven biển và cảnh cáo chính quyền Nam Việt Nam là sự viện trợ của Mỹ tiếp tục tùy theo sự cải tiến quân đội của họ. Như vậy lần đầu tiên chế độ Sài Gòn được lưu ý là sự kiên trì của Mỹ có giới hạn.

        Phản ứng của Johnson rối xòe. Ông thấy bản báo cáo bi quan, không đúng và muốn dựa vào Westmoreland hơn là số dân sự ở Bộ Quốc phòng. Nhưng ông ta cũng nhạy cảm vời những phê phán ngày càng tăng về cuộc chiến tranh của báo chí và truyền hình, nên ông lùi lại việc ra quyết định. Lúc này, Rusk đề xuất với Clifford một sáng kiến để gây lại uy tín cho tổng thống: giảm việc ném bom Bắc Việt Nam, coi như tiền đề cho cuộc thương lượng với cộng sản. Nếu họ từ chối thì sẽ có cớ để tăng cường chiến tranh: Vấn đề này được đưa ra‘với Johnson ngày 5-3. Nhưng Clifford và Warnke phản đối, vì sợ cộng sản không chấp nhận sẽ là cớ để các tham mưu trưởng liên quân đòi mở rộng chiến tranh. Trong 3 năm qua đã có 8 lần ngừng ném bom nhưng không có kết quả. Nhưng Clifford nghĩ lại là cũng cần có một đề nghị hòa bình để làm dịu dư luận, có thể có lúc phải dùng đến ý kiến của Rusk.

        Tin tức về tăng quân đã lọt đến Thượng viện. Thượng nghị sĩ Robert Kennedy phản đối ngay trên diễn đàn Thượng viện. Các thượng nghị sĩ khác như William Fallright và Gaylord Nelson tố cáo mọi cuộc leo thang. Fallright tuyên bố “chúng ta đã chọn địa điểm sai lầm, tiến hành một cuộc chiến tranh sai lầm”. Các thượng nghị sĩ thuộc phái diều hâu như John Stennis, Shenry Jackson xưa nay vẫn ủng hộ giới quân sự, nay cũng thấy sự vô vọng của cuộc chiến tranh. Hai ông đã thông báo quan điểm cho Clifford và cho cả Wheeler, cảnh cáo là họ không thể xin thêm quân nếu chính quyền không có chiến lược thắng cuộc chiến tranh.

        Thứ trưởng Bộ Không quân Townsed loopes đã chuyển sang chống cuộc chiến tranh, đã lộ cho phóng viên Nữu-ước thời báo là đang có sự tranh cãi về tăng quân ở Bộ Quốc phòng. Thế là phóng viên điều tra tích cực tin này.

        Ngày 10 - 3, tờ Times đăng trên trang nhất 3 dòng tít lớn:“Westmoreland xin thêm 206.000 quân, gây tranh cãi trong chính quyền, Johnson nổi giận, nhưng sai lầm là đã cho thư ký báo chí công bố là Nhà trắng chưa nhận được yêu cầu tăng quân cụ thể.

        Rusk phải đến báo cáo trong 11 tiếng đồng hồ ở ủy ban đối ngoại của Thượng viện, làm cho dân Mỹ hiểu là có sự bất đồng giữa Thượng viện và chính quyền về vấn đề Việt Nam.  Đúng thời gian này, thượng nghị sĩ Eugene Mc Carthy tuyên bố sẽ ứng cử trong đảng Dân chủ để được đề cử ra tranh cử tổng thống với nội dung là hòa bình ở Việt Nam. Ba ngày sau, Robert Kennedy cũng tuyên bố ra ứng cử cũng với đề tài Việt Nam để đánh bại Johnson. Ông sẽ không ứng với hai điều kiện: Johnson phải công nhận công khai chính sách sai lầm về Việt Nam và cử một ủy ban có ông (tức Kennedy) là thành viên để kiến nghị chính sách mới về Việt Nam. Johnson bác bỏ đề nghị này và tuyên bố ngày 17-8: “chúng ta sẽ và đang thắng”.

        Cuộc họp của đảng Dân chủ ở Wisconsin dự định vào 2-4, Johnson bị thách thức nghiêm trọng bởi cả Kennedy và Mc Carthy. Các cố vấn của Johnson thấy không những ông sẽ thất bại mà rồi đảng Dân chủ cũng sẽ thất bại. Một trong số cố vấn là James L.Rowe, đảng viên kỳ cựu từ thời Russevelt, gửi cho Johnson một kiến nghị: trong khi Kennedy và Mc Carthy là ứng cử viên hòa bình, ông không thể là ứng cử viên của chiến tranh. Bây giờ ít người muốn thắng cuộc chiến tranh. Mọi người muốn rút khỏi Việt Nam, vấn đề còn lại là rút ra như thế nào. “Hãy có hành động nào đó thật hấp dẫn, thật nổi bật” để lấy lại ngọn cờ hòa bình.

        Sáng 20-3, sau khi nhận được kiến nghị của Rowe, Johnson gọi điện cho Clifford và nói: “Hãy làm một đề nghị hòa bình”. Ba ngày sau, Johnson bí mật phái Wheeler đi Phi-lip-pin để báo cho Westmoreland là đừng có hy vọng được tăng quân. Tổng thống chỉ cho thêm 13.500 quân, còn Westmoreland phải gợi ý Nam Việt Nam nỗ lực hơn. Dưới áp lực của Mỹ, Sài Gòn mới động viên thanh niên 18 tuổi, điều mỉa mai là Mỹ đã động viên loại cùng tuổi từ 3 năm nay.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2017, 07:50:30 am

        Qua thái độ có thay đổi của Clifford, Johnson giảm lòng tin với ông ta, có khi hỏi ý kiến, có khi không, giữa hai người đã có khoảng cách. Lúc này Johnson không muốn mở rộng chiến tranh, nhưng cũng chưa muốn rời bỏ Việt Nam. Ông chưa sẵn sàng cho ngừng ném bom Bắc Việt Nam vì sợ rằng có thể làm nguy hại cho lực lượng Mỹ ở Khe Sanh.  Chiến lược của ông bây giờ là “hãy treo lại”.

        Cuối tháng 3, Clifford và các trợ lý ở Bộ Quốc phòng thấy thất vọng, muốn cả tập thể từ chức, nhưng lại thấy việc đó làm rung chuyển chính quyền và làm chia rẽ đất nước. Clifford nghĩ cách lùng liều thuốc mạnh để thay đổi cách suy nghĩ của Johnson. ông tính mời các chính trị quốc gia lão thành họp lại, gọi là hội nghị những nhà khôn ngoan để góp ý kiến với Johnson (kiểu hội nghị Diên Hồng của ta).  Clifford rất khôn khéo, đã gọi điện trước khi mời thì phần lớn các vị trước đây ủng hộ chiến tranh, từ sau cuộc tấn công Tết quay sang chống chiến tranh. Dan Acheson nguyên bộ trưởng Ngoại giao thời Truman là người chủ chốt của nhóm người trên, đã yêu cầu Clifford tìm cách rút ra khỏi cuộc chiến tranh, Arthur Golaberg, đại sứ Mỹ ở Liên hiệp quốc cũng có quan điểm như vậy.

        Nhóm được mời dự gồm 14 người, họp ăn cơm tối ở Bộ Ngoại giao ngày 25-3. Có mặt ngoài Acheson và Goldberg, Gcórge Ball, Megxorge Bundy, Henry Cabot Lodge, Abe Forta8 đều là các Vị đã từng tranh cãi nhiều về Việt Nam. Các vị mới là Douglas Dillon, nhà tài chính đã từng phục vụ cả Tổng thống Eisenhower và Kennedy; John J.Mc Cloy và Robert Murphy nhà ngoài giao, Maxwell Taylor và hai đại tướng đã về hưu: Omar Pnadly của đại chiến 2 và Mathew Ridway, Tư lệnh Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên. Tất nhiên còn có Rusk, Rostows, Wheeler và Clifford.

        Clifford nêu ba sự lựa chọn của tổng thống để mọi người góp ý kiến: leo thang chiến tranh với tăng quân và ném bom mạnh hơn; theo đuổi chiến tranh như mức hiện nay; hoặc giảm.

        Hôm sau hội nghị lại tiếp tục, ăn trưa cùng Johnson. Tổng thống hỏi ý kiến từng người một. Các câu trả lời làm ông ta kinh ngạc. Tất cả đều muốn rút ra khỏi cuộc chiến tranh, trừ Bradley, Murphy, Fortas và Taylor. Acheson ngồi bên phải Johnson là người nói nhiều nhất: Vấn đề cơ bản ở Việt Nam là chế độ Sài Gòn thiếu sự ủng hộ của dân chúng, và cũng vấn đề đó gây tai họa cho chính quyền Mỹ, tức là thiếu sự ủng hộ của quần chúng đối với cuộc chiến tranh. Khi một người phản đối ý kiến của ông ta về chính sách của Mỹ là một cố gắng để áp đặt một giải pháp quân sự đối với cộng sản, Acheson nổi giận: “Thế ta đưa 500.000 quân đến đó để đuổi theo gái à ? Các anh đều biết rõ là chúng ta cố ép kẻ địch để có hòa bình...”.

        Khi các cố vấn nổi tiếng đi rồi, Johnson càu nhàu “có kẻ nào đó bỏ thuốc độc vào giếng”. Bực tức ông ta ra lệnh tìm cho ra thủ phạm, cho gọi Habib lại nhưng Habib đã đi khỏi thủ đô. Trong hồi ký, Johnson thừa nhận là các chính khách lão thành đã làm ông ta lung lay sâu sắc. “Nếu các vị đó bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các báo cáo về cuộc tấn công Tết đến như thế thì người dân bình thường sẽ suy nghĩ như thế nào?”, ông cảm thấy “chúng ta tự đánh bại chúng ta”. Clifford rất khoái, nhưng còn phải làm thế nào để Johnson quyết định xuống thang chiến tranh, ông liên kết với Mc Pherson là người viết các bài phát biểu cho tổng thống và có quan điểm gần với Clifford. Hiện Mc Pherson đang được chỉ thị của Johnson viết bản tuyên bố vào cuối tháng 3. Đến tuần cuối cùng đã dự thảo đến năm, sáu lần. Đây là một công trình do nhiều cơ quan đóng góp ý kiến. Clifford gặp ở Bộ Ngoại giao Rusk, Rostows, William Bundy và Mc Pherson, muốn thay đổi hẳn bản dự thảo vì đây là một bài giảng về chiến tranh không phải là một tuyên bố hòa bình mà tổng thống cần. Ví dụ, câu đầu là: Tôi muốn nói về chiến tranh ở Việt Nam, yêu cầu thay bằng tôi muốn nói về hòa bình ở Việt Nam.

        Cả Clifford, Rusk, Rostows đồng ý thêm câu hạn chế ném bom miền Bắc Việt Nam. Sáng 30-3, Johnson họp các cố vấn để thông qua lần cuối cùng bài tuyên bố để đọc vào 9 giờ tối 31-3. Cuộc họp kéo dài đến tận chiều.

        Như ta đã biết, Johnson tuyên bố không ứng cử nhiệm kỳ 2, hạn chế ném bom miền Bắc dưới vĩ tuyến 20, sẵn sàng đàm phán với Việt Nam dân chủ cộng hòa (chỉ định Averel Harnman đàm phán khi nào cộng sản chấp nhận).

        Như vậy, cuộc tấn công Tết 1968 đã tác động rất sâu rộng đến nhân dân và chính giới Mỹ, đặc biệt là lật ngược quan điểm của những nhà chính trị, quân sự diều hâu nhất, chính những người này đã góp phần quyết định để tổng thống Mỹ phải xuống thang chiến tranh, mở đường cho việc rút quân Mỹ về nước.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2017, 07:54:44 am

        PHỤ LỤC I

        1.Các đơn vị Mỹ: (31-1-1968):


        - Các Sư đoàn:

        + Sư 1 lính thủy đánh bộ:  22.466     

        + Sư  3 lính thủy đánh bộ:  24.417   

        + Sư 1 ky binh (sư tốt nhất): 18.647 

        + Sư 1 bộ binh:17.539

        + Sư 4 bộ binh: 19.042

        + Sư 9 bộ binh:16.153

        +  Sư 23 (America):15.825 

        + Sư 25 bộ binh: 17.666.   

        + Sư 101 dù  : 15.220.

        - Các lữ đoàn và đơn vị khác:

        + Lữ đoàn 173 dù: 5.313 

        + Lữ 199 bộ binh: 4.215 

        + Trung đoàn 11 kỵ binh cơ giới:  4.331

        + Đội lực lượng đặc biệt số 5 (dù):   3.400

        Tổng hợp: 79 tiểu đoàn bộ binh, 23 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, 3.100 trực thăng.

        2. Lực lượng đồng minh của Mỹ:

        - Lực lượng đặc nhiệm số 1 của Úc (3 tiểu đoàn khoảng 6.000).

        - Trung đoàn tình nguyện quân đội Hoàng gia Thái. (Queen Cobras khoảng 2.400).

        - Sư đoàn bộ binh Capital (Mãnh Hổ) Nam Hàn.

        - Sư đoàn 9 (Bạch Mã) Nam Hàn .

        - Lữ đoàn 2 lính thủy đánh bộ (Nam Hàn) 

        Lực lượng Nam Hàn trước Tết là 48.800.

        3.Các đơn vị Việt Nam (ngụy Sài Gòn):

        - Sư dù (xuất sắc). 

        - Lính thủy đánh bộ (2 lữ đoàn, mỗi lữ 3 tiểu đoàn).

        - Sư 1 (khá nhất).

        - Sư 2 (đào ngũ cao).   

        - Sư 5 (trung bình)

        - Sư 9 ( kém nhất) .

        - Sư 18 (Chiến đấu không hiệu quả). 

        - Sư 21 (tốt).       

        - Sư 22 (Có khá lên).   

        - Sư 23 (có khá lên).     

        - Sư 25 (khá lên sau khi được trang bị M16).

        - Các tiểu đoàn biệt động quân (không đều, từ kém đến rất tốt) .

        - Lực lượng địa phương: 151.376.   

        - Lực lượng bảo an: 148.789. 

        - Dân vệ: 42.000.   

        - Cảnh sát quốc gia 70.000.

        Tổng cộng quân số Mỹ,  nguỵ và đồng minh của Mỹ đến 3l-12-1967: 1.298.000 người.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2017, 10:44:46 pm
       
        PHỤ LỤC II

        Tiểu đoàn quân cảnh số 716 (Mỹ): Bản kê các điện nhận được trong 2 giờ đầu cuộc tiến công bất ngờ vào các mục tiêu ở Sài Gòn:

        03h00: Cư Xá Số 3 Của sĩ quan Mỹ độc thân báo cáo có hoạt động của địch.

        03h15: Sứ quán Mỹ bị tấn công.  

        03h16: Tiếng nổ ở cư xá Phoenix.

        03h17: Tiếng nổ ở cư xá Townhouse.

        03h18: Cư xá số 1 bị tấn công

        03h19: Cư xá Mc Arthur bị tấn công.

        03h21: Báo cáo có tấn công vào cư xá Rex. .

        03h25: Tiếng nổ ở cơ xá số 2.

        03h30: Có tiếng súng tự động nổ và tấn công cư xá số 3.

        03h41: Quân cảnh ở sứ quán Mỹ yêu cầu tiếp tế đạn khẩn cấp    

        03h42: Súng bắn mạnh vào cư xá Metropole.  

        03h50: Đạn súng cối rơi vào cơ xá Montana.

        03h58: Cảng Sài Gòn báo cáo có tiếng súng nhỏ và súng tự động.

        03h59: Súng cối và rốc-két bắn vào sứ quán Mỹ, yêu cầu tăng viện.

        04h07: Xe gíp quân cảnh Mỹ số C9A báo cáo xe vận tải 2 tấn chở 25 người trong đội phản ứng đến cư xá số 3 bị rốc-két và mìn Claymore. Thiệt hại nặng.

        04h08: Xe gíp C9A bị trúng đạn, cả 2 quân cảnh Mỹ chết.

        04h19: Cư xá số 3 xin tiếp tế đạn.  

        04h20: Tướng Westmoreland gọi; ra lệnh ưu tiên số 1 là đánh chiếm lại sứ quán Mỹ. .

        04h49: Cư xá Cleveland và Columlia yêu cầu đạn và giúp đỡ.

        05h50: 3 quả mìn nổ ở xưởng máy Sài Gòn, phát hiện thấy có đặt bẫy.  

        15 Tháng Mười, 2008, 06:40:54 pm

        PHỤ LỤC III

        - 1967:

        7/7 : Quyết định ở Hà Nội mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy.  Cuối tháng: Lãnh đạo Việt Cộng họp ở Cam-pu-chia bàn về thực hiện cuộc tấn công.

        29-7: Bạo động ở Detroit, chính phủ phái 15.339 quân cảnh vệ quốc gia và liên bang đến Detroit.

        7-8: Tham mưu trưởng Lục quân báo cáo là đã thấy “mùi chiến thắng” qua sự nỗ lực của đồng minh; bắt đầu chiến dịch tuyên truyền của chính quyền Johnson.

        21-9 - 3-10: Bạo động ở Lầu năm góc, 3 tiểu đoàn dùng hơi chảy nước mắt đẩy lùi tấn công của dân bằng đá và chai lọ.

        21-11: Westmoreland dự đoán có thể bắt đầu rút quân Mỹ sau 2 năm.

        15-12: Chuyển giao trách nhiệm phòng thủ Sài Gòn cho quân Nam Việt Nam.

        20-12: Westmoreland báo cho Washington là cộng sản quyết định cố gắng mở cuộc tấn công rộng lớn để giành thắng lợi.

        - 1968:

        10-1: Westmoreland lệnh rút một số đơn vị Mỹ về gần Sài Gòn.

        20-1: Bao vây Khe Sanh bắt đầu.

        23-1: Bắc Triều Tiên bắt tàu USS Pueblo của Mỹ.

        29-1: Các đồng minh bắt đầu ngừng bắn tết.

        30-1: Cộng sản mở cuộc tấn công vào Quân khu 1 và Quân khu 2.

        31-1: Cuộc tiến công toàn lãnh thổ của cộng sản bắt đầu.

        8-2: Xe tăng Bắc Việt Nam chiếm Làng Vây, phía ngoài Khe Sanh. Các nơi khác, Việt Cộng và Bắc Việt Nam chỉ còn giữ ngoại Ô Sài Gòn và Huế.

        13-2: Thăm dò dư luận của Gallups thấy 50% không tán thành cách điều hành chiến tranh của Johnson.

        17-2: Thương vong lớn nhất của Mỹ trong một tuần (10-17-2): 543 chết, 2.547 bị thương.

        18-2: 45 đô thị và căn cứ bị pháo kích, nhưng chỉ có 4 cuộc tấn công bộ binh.

        21-2: Có lệnh của chỉ huy cộng sản là rút quân và trở lại đánh trả.

        24-2: Lấy lại được Thành nội, Huế.

        27-2: Walter Conkite của CBS tuyên bố với toàn quốc là thương lượng là con đường duy nhất để rút khỏi cuộc chiến tranh.

        01-3: Thay bộ trưởng Quốc phòng Robert Mc Namara bằng Clark Clifford.

        10-3: New York Times đưa tin Westmoreland muốn thêm 206.000 quân.

        12-3: Eugene Mc Carthy được 42% số phiếu ở cuộc bầu cử sơ bộ của đả ng Dân chủ ở New Hampshire.

        16-20-3: Thăm dò của Galiups thấy lần đầu tiên bồ câu nhiều hơn diều hâu.

        20-3: Áp lực của Bắc Việt Nam ở Khe Sanh giảm.

        26-3: Cố vấn riêng của Johnson báo cáo là nhân dân Mỹ đã mất tin tưởng vào chiến tranh và nước Mỹ nên rút ra.

        30-3: Johnson tuyên bố ngừng ném bom một phần, muốn đàm phán và quyết định thôi không tái ứng cử.

        16-4: Lầu năm góc thông báo sự thay đổi chính sách từng bước chuyển cho lực lượng Nam Việt Nam phụ trách chiến đấu tuyến trước, nguồn gốc của “Việt Nam hoá”.

        3-7: Abrams thay Westmoreland (được lên làm Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân).

        - 1969:

        8-6: Tuyên bố đợt rút quân đầu tiên của Mỹ.

        - 1972:

        30-3: Cuộc tiến công lớn toàn miền của cộng sản.

        1973:

        27-1: Ký Hiệp định Paris.

        29-3: Người lính cuối cùng của Mỹ rút khỏi Mìên Nam Việt Nam

        Tài liệu tham khảo:

        1- Tẹt offensive 1968 - James R.Arnold

        2- Việt Nam A History - Stanìey Karnow.  

        3- The Perfect War - James William Gibson  

        4- Fire in the la ke - Frances Fitg gerald  

        5- On Strategy - Harry G.Summers


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2017, 10:48:06 pm

CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968 – 30 NĂM SAU NHÌN LẠI

Trung tướng, PGS NGUYễN ĐÌNH ƯỚC           
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam       

        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 là một sự kiện lớn đánh dấu mốc quan trọng có ý nghĩa chiến lược Mậu Thân 1968 cũng là một sự kiện phức tạp và gây nhiều tranh cãi nhất từ trước đến nay. Xung quanh Mậu Thân, đã từng có nhiều cuốn sách, nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu và các cuộc hội thảo, kể cả ở trong và ngoài nước, song dường như ở sự kiện này còn tiềm ẩn nhiều vấn đề chưa được làm sáng rõ.

        Gần một phần ba thế kỷ đã trôi qua, nhìn lại Mậu Thân 1968 với những chứng cứ, những tư liệu và phương pháp tiếp cận mới, chúng ta thấy thêm điều gì ở sự kiện lịch sử v đại này.  trước hết, xin được bắt đầu từ tên gọi của sự kiện Mậu Thân 1968, đã có nhiều cách gọi khác nhau: “Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968”; “Cuộc tiến công đồng loạt Tết Mậu Thân”, “Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân”; “Tập kích chiến lược Tết Mậu Thân”. Vậy thực chất nó là gì và vì sao lại có những tên gọi đó?

        Điểm xuất phát đầu tiên phải kể đến là hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1967. Trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình địch - ta trên chiến trường, từ kinh nghiệm của Tổng khởi nghĩa tháng Tám, của việc đưa hai đại đoàn chủ lực vào đồng bằng Bắc Bộ năm 1952 trong kháng chiến chống pháp và đồng khởi năm 1960, Bộ Chính trị chủ trương Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968. Chủ trương này được cụ thể hóa trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 14 (1-1968): “nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất bằng phương pháp Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định...”.

        Như vậy, chủ trương của Đảng ta là Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa. Vì thế mới có tên gọi Mậu Thân 1968 là cuộc “Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa” . Song, trên thực tế không đủ những điều kiện cho một cuộc Tổng khởi nghĩa nên Tổng khởi nghĩa đã không xảy ra. Nhưng ở từng vùng, từng địa phương vẫn có quần chúng nổi dậy (Mỹ Tho, Bến Tre, Quảng Ngãi...). Do đó, thực chất Mậu Thân 1968 là một cuộc tiến công chiến lược trên quy mó toàn miền Nam có sự tham gia nổi dậy của quần chúng (nhưng quy mô không lớn như Tổng khởi nghĩa). Đây cũng là lần đầu tiên trong kháng chiến chống Mỹ xuất hiện một cuộc tiến công chiến lược (sau đó có tiến công chiến lược năm 1972 và Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975).

        Tiến công chiến lược là một hình thức tiến công mới xuất hiện trong kháng chiến chống Mỹ có quy mô rất lớn, gần như toàn miền Nam trong một thời gian nhất định nhằm mục tiêu chiến lược theo một kế hoạch đồng bộ. Mậu Thân 1968 cũng không chỉ đơn thuần là một cuộc tập kích chiến lược, vì không chỉ có tiến công quân sự mà còn có nổi dậy của  quần chúng, không chỉ có một đợt mà nhiều đợt. Với bản chất của nó như đã nói ở trên thì tên gọi mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (7-1973) xác định cho Mậu Thân 1968: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 hay như công trình Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thắng lợi và bài học đã được Bộ Chính trị thông qua gọi là: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968” là chính xác nhất. Nó phù hợp với diễn biến thực tế khi mà Đảng ta chủ trương Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa nhưng Tổng khởi nghĩa không diễn ra.

        Mậu Thân 1968 có nhiều nét đặc sắc và sáng tạo, trước hết là xác định hướng tiến công chủ yếu một cách táo bạo và tìm ra cách đánh mới: Phương thức tiến công đồng loạt dưới nhiều hình thức (quân sự, chính trị, binh vận), bằng nhiều lực lượng (chủ lực, đặc công, biệt động, lực lượng tại chỗ...). Có lẽ trong lịch sử chiến tranh thế giới (kể cả cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô trước đây các cuộc chiến tranh cách mạng Trung Quốc) cũng như lịch sử đấu tranh phong ngoại xâm cửa dân tộc ta thưa bao giờ có cuộc tiến công đồng loạt, đều khắp, rộng lớn như Mậu Thân 1968.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2017, 10:48:25 pm

        Nếu đồng khởi cuối 1959 đầu 1960 là phong trào khởi nghĩa của quần chúng nhân dân, một cuộc khởi nghĩa từng phần nhằm giành lấy chính quyền cơ sở, diễn ra chủ yếu ở các vùng nông thôn, đồng bằng và rừng núi - nơi chính quyền địch tương đối yếu, thì Mậu Thân 1968, ta đồng loạt tiến công vào hầu khắp các đô thị  trên 6 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn - nơi cơ quan đầu não, nơi chính quyền địch mạnh. Cuộc tiến công  mãnh liệt vào các mục tiêu xung yếu ở Sài Gòn - Gia Định - nơi tập trung cơ quan đầu não cao nhất của địch đã có ảnh hưởng rất rộng lớn, sâu sắc. Cuộc chiến đấu ở thành phố Huế 25 ngày đêm chứng tỏ nổi bật sức mạnh và tính chủ động của cuộc tiến công. Xét cả về quy mô cũng như tính chất đồng loạt, Mậu Thân 1968 đã sáng tạo ra một hình thức tiến công chiến lược mới với hiệu lực chiến đấu “cộng hưởng” lớn lao chưa từng có, làm lung lay ý chí xâm lược của một siêu cường.

        Chính cuộc tiến công táo bạo này đã làm cho những người  điều hành chiến tranh Hoa Kỳ sững sờ, choáng váng. Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của kẻ địch, tất cả thành phố, tỉnh lỵ, trước đó hầu như đứng ngoài cuộc chiến, đều bị tiến công đồng loạt.  Các mục tiêu quan trọng nhất từ Bộ Tổng tham mưu đến biệt khu Thủ đô, từ Dinh Tổng thống ngụy đến tòa Đại sứ Mỹ đều bị tiến công ác liệt. Cái thế của đôi bên trong chiến tranh bỗng chốc bị đảo lộn, hậu phương thành tiền tuyến, tiền tuyến biến thành hậu phương. Hãng thông tấn AFP (Pháp) ngày 3-2-1968 đã đưa tin: “Đây thực chất là chiến trường- rộng lớn nhất trong các cuộc chiến tranh.  Toàn bộ nước Việt Nam đều bốc lửa từ Khe Sanh đến Cà Mau”. Chính tướng Oét-mo-len, Tổng chỉ huy quân sự Mỹ lúc đó ở miền Nam Việt Nam đã phải thừa nhận: “Việt cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại... các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa. Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta phải công nhận dối phương đã giáng cho chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nấng nề”.

        Cuộc tiến công đồng loạt Mậu Thân 1968 không chỉ diễn ra một đợt mà liên tiếp nhiều đợt. Ta không chỉ tiến công tuần tự từ ngoài vào trong mà kết hợp cả từ ngoài vào trong và từ trong ra ngoài khiến địch đã bất ngờ càng bất ngờ hơn.

        Vấn đề này, có nhiều ý kiến cho rằng việc đánh nhiều đợt là không cần thiết vì sau đợt 1 yếu tố bất ngờ không còn nữa và mọi tác động quân sự, chính trị, tâm lý... đều đã diễn ra ngay từ sau đợt tiến công hồi Tết rồi. Thực tế không hoàn toàn như vậy. Với mọi kẻ thù hiếu chiến và ngoan cố như đế quốc Mỹ, dù đợt 1 Mậu Thân 1968 có mạnh mẽ và gây choáng váng cho giới cầm quyền Mỹ đến đâu đi chăng nữa, ý chí của chúng cũng chưa thể lung lay tận gốc được. Chính việc ta đánh tiếp đợt 2 vào Sài Gòn đã chứng minh rằng không có yếu tố bất ngờ nhưng chủ lực ta vẫn đánh được vào thành phố lớn nhất và sức mạnh của ta không phải là kiệt quệ như những kẻ diều hâu ở Hoa Kỳ đã tuyên bố.

        Kỷ niệm 30 năm cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, báo Nước Đức mới số ra ngày 7 và 8 tháng 2 năm 1998 đã viết: “Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 đã đồng thời nổ ra ở 36 trong 44 tỉnh ly và 5 trong 6 thành phố lớn ở miền Nam Việt Nam. Cuộc bao vây căn cứ Khe Sanh của quân Mỹ trong nhiều tuần lễ, việc giải phóng cố đô Huế và các trận đánh trên các đường phố Sài Gòn, các đơn vị đặc công đã chiếm dược phần lớn Tòa đại sứ quán Mỹ được phòng thủ cẩn mật đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Tuy Mỹ và các đồng minh đã có thể chuyển sang phản công, nhưng đợt tấn công tiếp theo của Quân giải phóng trong tháng 5 v à 6-1968 đã chứng tỏ rằng kẻ xâm trước đã vĩnh viễn mất đi thế chủ động chiến lược”. Những đòn đánh bồi, đánh cho đủ “đô” đó mới làm cho những tên diều hâu ở Mỹ không thể “kiên nhẫn” được nữa. Việc thay đổi chiến lược chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, hạn chế chiến tranh phá hoại miền Bắc, thỏa thuận đàm phán hòa bình mặc dù đã được quyết định từ tháng 3-1968 - nghĩa là sau đợt 1 Tết Mậu Thân 1968, nhưng phải trải qua các đợt chiến đấu ác liệt trên chiến trường, đến 11-1968, Mỹ mới tuyên bố chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh bằng không quân ở miền Bấc và chịu chấp nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng là một thành viên hòa đàm tại Pa-ri. Hoa Kỳ ỷ vào tiền bạc và sức mạnh nên không bao giờ chịu thua non.  Mậu Thân 1968 không chỉ sáng tạo về phương pháp và hình thức tiến công mà còn ở nghệ thuật chọn thời cơ chiến lược để tạo ra bước ngoặt quyết định của chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2017, 08:45:56 pm

        Ta chọn thời cơ vào năm 1968 là năm bầu cử Tổng thống Mỹ, năm mà tình hình nước Mỹ rất nhạy cảm về chính trị. Vào thời điểm này, Mỹ đã qua 8 năm trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Chúng cũng đã từng mở hai cuộc phản cộng chiến lược lớn vào mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 nhưng không đạt được kết quả gì đáng kể, trái lại chúng còn bị quân và dân miền Nam đánh cho thiệt hại nặng nề và thất bại hoàn toàn trong mục tiêu chiến lược bẻ gãy xương sống Việt Cộng. Leo thang đánh phá miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam và uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta cũng không xoay chuyển được tình thế. Những cố gắng của Mỹ vào thời điểm này đã gần đến đỉnh cao. Tính đến tháng 12-1967, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam nửa triệu quân với 40% số sư đoàn bộ binh sẵn sàng chiến đấu của nước Mỹ, 30% lực lượng không quân chiến thuật, 1/3 lực lượng hải quân. Lực lượng dự trữ dành cho một cuộc “chiến tranh cục bội”. Mỹ đã dùng hết, thậm chí còn sử dụng cả một phần lực lượng dự trữ dành cho chiến lược toàn cầu, chi phí cho chiến tranh Việt Nam tính đến 1968 lên tới 60 đến 70 tỷ đô la (gấp 3 lần chiến tranh Triều Tiên). Gánh nặng chiến. tranh Việt Nam đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế và xã hội nước Mỹ, đến chiến lược toàn cầu và xây dựng quốc phòng của Mỹ. Đế quốc Mỹ đang trong tình thế “tiến thoái lưỡng nan”.

        Về phía ta, đây là lúc các lực lượng quân sự, chính trị ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó và ta đang nắm quyền chủ động trên chiến trường. Từ những phân tích đánh giá trên, Đảng ta đã khẳng định: “chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn”, tình hình đó cho phép chúng ta “có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định”...

        Thời điểm 1968 quả là hội tụ các điều kiện thuận lợi cả  về quân sự và chính trị cho giành thắng lợi lớn theo ý đồ của ta. Thời cơ này được ta tạo ra và nắm bắt đúng lúc, không sớm và cũng không muộn. Nếu sớm quá, ta chưa đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược mùa khô  trong 3 năm (1965-1967) thì Mỹ cũng không chịu thua vì còn quỹ thời gian để triển khai đầy đủ chiến lược chiến tranh cục bộ. Nếu để muộn, cuộc tổng tiến công sau năm bầu cử thì áp lực quân sự khó làm rung chuyển nước Mỹ, khó làm lung lay ý chi xâm lược của giới cầm quyền. Độc đáo hơn, ta chọn thời cơ tiến công vào dịp Tết Nguyên đán - đúng đêm giao thừa, lúc mà địch dễ bộc lộ sư hở, chủ quan. Vì thế khi bị ta tiến công, địch hoàn toàn bị bất ngờ. Nhiều tài liệu của địch đã xác định rằng: Vào nhưng ngày “tết Mậu Thân”, các đơn vị quân đội Sài Gòn chỉ còn một nửa quân số, khiến cho Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn vô cùng lúng túng trong việc ứng phó.

        Còn về hướng tiến công chủ yếu, Mậu Thân 1968 ta nhằm vào đô thị, nơi tập trung các cơ quan đầu não Trung ương và địa phương của chính quyền Sài Gòn. Đó là những mục tiêu tập trung sinh lực cao cấp của cả Mỹ và ngụy, những mục tiêu nhạy cảm nhất trong bộ máy chiến tranh của chúng ở miền Nam. Địch vẫn cho rằng bộ đội ta ít kinh nghiệm đánh thành phố và chưa có khả năng đánh vào các trung tâm đầu não của chúng. Hơn nữa, từ năm 1968, ta chủ động mở Mặt trận đường 9, coi đây là một hướng tiến công của quân chủ lực, tiêu hao, tiêu diệt địch, đồng thời kéo một lực lượng lớn quân Mỹ ra giam chân tại Khe Sanh. Và trong lúc Oét-mo-len đang cố gắng điều động lực lượng lên “cố giữ bằng được cái chốt Khe Sanh” thì Việt Cộng lại mở một loạt trận tiến công táo bạo và bất ngờ vào hầu hết các căn cứ Mỹ và ngụy ở Nam Việt Nam”.

        Có thể nói, chọn đô thị làm hướng tiến công chủ yếu là ta đã chọn vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù. Đòn hiểm đó đã phơi bày đầy đủ sự thất bại về quân sự và sự yếu kém của Mỹ  ngụy. Đây là lần đầu tiên trong suốt bao nhiêu năm kháng chiến, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào thành thị, thực hiện một đòn đánh hiểm, đánh đau, đánh vào yết hầu, vào “trung ương thần kinh địch”. Rô-bớt Ken-nơ-đi - Thượng nghị sĩ Mỹ đã phải thốt lên rằng: ‘tại sao nửa triệu lính Mỹ có 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2017, 08:46:31 pm

        Mậu Thân 1968 quả là có nhiều độc đáo và sáng tạo. Điều này thì không ai có thể phủ nhận, song vấn đề có nhiều ý kiến còn khác nhau về Mậu Thân 1968 là đánh giá thắng lợi ùa ưu điểm, khuyết điểm trong chỉ đạo chiến lược đa phần thống nhất đánh giá Mậu Thân 1968 là một thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược. Song cũng có ý kiến trên cơ sở đối chiếu mục tiêu đề ra ban đầu và kết quả đạt được mà cho rằng: “Đợt 1 ta thắng, sau ta thua, thế là hòa”. Một số ý kiến bằng sự so sánh đơn thuần số lượng thương vong của đôi bên đã đặt câu hỏi về sự cần thiết của Mậu Thân và kết luận: chúng ta đã phải trả giá quá đắt cho thắng lợi. Giới quân sự và nhiều chính khách Mỹ cũng như phương Tây cho rằng: ta chỉ thắng về tâm lý, chính trị, còn thua về quân sự... Tổng thống Mỹ Giôn-xơn trong hồi ký của mình đã nhận định: “Dù so với bất kỳ tiêu chuẩn nào thì trận tiến công Tết cũng là một thất bại quân sự nặng nề với Bắc Việt Nam và Việt cộng”. Hen-ry Kít-xinh-giơ trong Những ‘năm ở Nhà trắng viết: Ngày nay, hầu hết chuyên viên về Việt Nam công nhận: đó (Tết Mậu Thân) là một thất bại thảm hại (với Bắc Việt Nam); còn  Đôn O-bơ-đo-phơ (Don Oberdoi fer) trong cuốn “Tết” lại khẳng định: “Cái trớ trêu của cuộc tiến công Tết là ở chỗ cộng sản đã thua trên chiến trường nhưng đã thắng về chính trị trên nước Mỹ”.

        Vậy sự thật là thế nào? Muốn đánh giá thắng lợi hay thất bại phải xuất phát từ mục tiêu chiến tranh của hai bên và mục tiêu chiến lược quân sự trong từng thời kỳ. Về phía Mỹ, từ giữa năm 1965, trước nguy cơ chiến lược “chiến tranh đặc biệt’ bị phá sản, chúng đã quyết định chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đây là cố gắng cao nhất của Mỹ (về huy động lực lượng, binh khí kỹ thuật và bộ máy điều hành chiến tranh), là chiến lược quan trọng nhất, then chốt nhất mà Mỹ - ngụy hy vọng có thể giành được thắng lợi quyết định trong chiến tranh. Mục tiêu bao trùm của Mỹ trong chiến lược này là:

        Triển khai lực lượng lớn quân Mỹ để tiêu diệt chủ lực quân giải phóng, đánh gãy xương sống Việt cộng; leo thang đánh phá miền Bắc nhằm phá hoại tiềm lực, ngăn chặn miền Bằc đưa quân vào miền Nam.  Bình định tiêu diệt tận gốc cơ sở kháng chiến của ta.

        Để thực hiện những mục tiêu này, chúng dự định một kế hoạch gồm 3 giai đoạn:

        • Giai đoạn 1 (từ tháng 7 đến 12-1965): đưa ồ ạt quân Mỹ và quân các nước đồng minh vào miền Nam, hoàn thành việc triển khai lực lượng chuẩn bị cho các hoạt động ở giai đoạn sau.

        • Giai đoạn 2 (từ tháng 1 đến 6-1966): mở cuộc phản công chiến lược “tìm và diệt” ở những vùng ưu tiên để tiêu diệt chủ lực đối phương, giành lại quyền chủ động chiến trường, tổ chức lại các hoạt động “bình định nông thôn”.

        • Giai đoạn 3 (từ tháng 7-1966 đến 12-1967): mở tiếp các cuộc tiến công “tìm diệt” những đơn vị chủ lực quân giải phóng còn lại, phá căn cứ kháng chiến và tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam, hoàn tất chương trình bình định nông thôn, bắt đầu rút quân Mỹ về nước.

        Về phía ta: Ngay từ đầu cuộc chiến tranh chưa bao giờ Đảng ta có ảo tưởng thắng Mỹ trên thế áp đảo về quân sự thuần túy bởi điều đó khó có thể thực hiện được. Mục tiêu của ta là đánh cho My những đòn đau, đánh vào ý chí xâm lược của chúng, buộc chúng phải rút quân khỏi miền Nam (đánh cho Mỹ cút) . Muốn vậy phải huy động sức mạnh tổng hợp làm cho Mỹ từ sa sút tinh thần đến lung lay tận gốc ý chí xâm lược của chúng. Nói cách khác, là phải làm cho giới cầm quyền Mỹ hiểu rằng chúng càng đánh thì càng sa lầy, càng thất bại, còn nhân dân Mỹ thì phản đối cuộc chiến tranh vô nghĩa, hao người, tốn của, càng kéo dài càng vô vọng, chỉ càng làm cho vị trí nước Mỹ suy yếu.  Đối chiếu với Mậu Thân 1968 chúng ta thấy:

        • Sau 3 năm trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, Mỹ không đánh gãy được xương sống của Việt Cộng, trái lại xương sống của Việt cộng còn mạnh lên rõ rệt. Quân Mỹ không thực hiện được chiến lược “tìm diệt” mà chủ lực Việt cộng còn tìm đánh quân Mỹ, quân ngụy ở ngay các thành phố lớn như Sài Gòn - Huế...

        • Thế chiến lược của quân Mỹ trên toàn miền Nam bị đảo lộn qua đòn Mậu Thân. Chiến tranh” đã diễn ra ác liệt ở các thành thị - nơi Mỹ cho là an toàn nhất. Trong lúc đó một bộ phận quan trọng quân My lại bị ta ghìm chân ở đường 9 - Khe Sanh, không thể bảo vệ được các thành thị.  Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân vả hải quân của Mỹ trên miền Bắc Việt Nam đã thất bại rõ ràng vì Mỹ không thể nào ngăn chặn nổi miền Bắc tăng cường chi viện cho miền Nam.

        • Không lẽ chỉ do tác động của tâm lý hay sức ép về chính trị mà Mỹ phải thay đổi chiến lược từ “tìm diệt” sang “quét và giữ”, phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán hòa bình với ta. Đây rõ ràng là một thắng lợi to lớn về quân sự bơi ta đã dùng sức mạnh quân sự, chính trị để đạt mục tiêu chiến lược của mình, làm thất bại mục tiêu chiến lược của địch trong một giai đoạn quyết định của chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2017, 08:47:00 pm

        Thắng lợi to lớn mà ta đạt được trong Mậu Thân 1968 đã làm lung lay tận gốc ý chí của kẻ xâm lược. Đây là một sáng tạo của Đảng ta - là sự phát triển nghệ thuật chiến tranh cách mạng lên một tầm cao mới - không theo lối cổ điển trong chiến tranh là chỉ nhằm tiêu diệt lực lượng đối phương, mà dùng sức mạnh tổng hợp đánh vào ý chí của đối phương. Trong chiến tranh hiện đại, chỉ có kẻ ngu ngốc mới chịu thua khi bị tiêu diệt đến tên lính cuối cùng.  Với sự phát triển của thế giới hiện đại, người ta có thể xác định sớm chiều hướng của chiến tranh.

        Vả lại trong thời đại ngày nay, không có vấn đề quân sự nào tách rời với chính trị. Quân sự gắn chặt với chính trị. Chỉ có những kẻ quân sự đơn thuần hoặc “vũ khí luận” mới cố tình tách biệt ra để bào chữa cho thất bại của mình.  Trong các cuộc chiến tranh trước đây, để chiến thắng, người ta thường đặt mục tiêu đánh diệt bao nhiêu quân địch, đánh cho đối phương kiệt quệ về lực lượng, không đủ sức để tiếp tục chiến đấu phải chịu thua trên chiến trường.  Với một dân tộc nhỏ, trang bị vũ khí kỹ thuật còn hạn chế như dân tộc ta để chống lại một tên đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh như đế quốc Mỹ, việc thắng bằng thế áp đảo về quân sự trên chiến trường  khó có thể đạt được.

        Thắng Mỹ không thể chỉ bằng sự hy sinh, lòng dũng cảm mà hơn cả là trí tuệ, tài thao lược. Chúng ta phải biết tiếng địch từng bước, thắng Mỹ vừa với sức ta. Chủ trương của Đảng ta là tận dụng ưu thế tuyệt đối về chính trị và năng lực phát động và tổ chức sức mạnh tổng hợp qua một quá trình chiến đấu lâu đài, làm phá sản kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của chúng, buộc chúng phải chịu thua vì tuy còn sức mạnh nhưng các yếu tố để chiến thắng không còn, “thua vì khủng hoảng toàn diện và bế tắc”, chấp nhận rút quân về “trong danh dự”; “thua từ trong ý chí của kẻ điều hành chiến tranh”.

        Mậu Thân 1968 với những đòn tiến công đồng loạt, liên tục, mạnh mẽ, đều khắp ta đã làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

        Nhà sử học Ga-bri-en Côn-cô trong “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” đã viết: “Tiến công Tết Mậu Thân là một cú sức đối với Mỹ” và “tác động quyết định nhất của cuộc tấn công Tết cho ta thấy rằng thực tế Mỹ đang đứng trước một cuộc khủng hoảng tiềm tàng và nghiêm trọng”. “Tết” cho ta thấy rằng đã đến lúc phải quan tâm đến những giới hạn của Mỹ. Nếu theo đuổi một quy mô leo thang ở mức cao hơn sẽ gây thiệt hại to lớn cho vị trí kinh tế của Mỹ ở trong nước cũng như ngoài nước, cho sức mạnh quân sự của Mỹ trong chiến lược toàn cầu và cho đời sống chính trì của Mỹ.  Đó là cái giá mà không mấy người nghiêm chỉnh muốn trả”.  Giới lãnh đạo Mỹ phải thừa nhận rằng: Tết Mậu Thân “đã đặt họ “trước một bước rẽ trên đường đi” và ‘các giải pháp để lựa chọn đã bày ra trong một thực tế tàn nhẫn”.

        Clíp phớt, một chính khách thuộc phái “diều hâu’, người được Giôn-xơn chỉ định thay Mắc Na-ma-ra làm Bộ trưởng Quốc phòng sau sự kiện Tết đã đưa ra kết luận chính thức báo cáo với Tổng thống Giôn-xơn: “Dù có thêm 20 vạn quân cũng không thể đẩy địch ra khỏi Nam Việt Nam hoặc tiêu diệt được lực lượng họ”. “Nếu tiếp tục leo thang hơn nữa sẽ làm nổ ra một cuộc khủng hoảng trong nước với quy mô chưa từng cói’.Chíp phớt còn tin chắc rằng: đường lối quân sự mà Mỹ theo đuổi ở Việt Nam trong suốt những năm “chiến tranh cục bộ” không chỉ không có tận cùng mà còn vô vọng.

        Đối với Tổng thống Giôn-xơn: Cuộc tiến công Tết đã làm ông ta choáng váng. Khoảng thời gian tháng 2, tháng 3-1968 là quãng thời gian u ám nhất trong đời hoạt động chính trị của Giôn-xơn và tất cả đều bắt nguồn từ cuộc chiến tranh Việt Nam và hậu quả trực tiếp “Tết Mậu Thân”. Điều tra của Viện Ga-lớp sau cuộc tiến công Tết cho thấy số người ủng hộ Giôn-xơn chỉ còn 36%, số người ủng hộ đường lối chiến tranh của Mỹ xuống thấp tới mức kỷ lục: 26%. Với sức ép Tết Mậu Thân, Giôn-xơn đã phải tuyên bố không ra tranh cử tổng thống Mỹ trong nhiệm kỳ tiếp theo.

        Hậu quả Tết Mậu Thân đối với Mỹ thật nặng nề. Nó thể hiện không chỉ ở sự chia rẽ gay gắt trong nội bộ giới lãnh đạo Mỹ, ở sự khủng hoảng về chiến lược của Mỹ ở Việt Nam mà cả sự phẫn nộ của công chúng Mỹ với chính phủ. Trước tình hình đó, Quốc hội Mỹ phải xem xét lại toàn bộ chính sách và chiến lược của Mỹ ở Nam Việt Nam, không chấp nhận tăng quân cho Oét-mo-len. Nói như In A-ki-sưn - nguyên Ngoại trưởng Mỹ: Mỹ không còn hy vọng gì khác ngoài việc “cần phải đánh giá lại và thay đổi hoạt động của các lực lượng mặt đất, cần phải dừng hay giảm nhiều cuộc ném bom và chấm dứt chiến tranh sao cho Mỹ ít bị thiệt hại nhất”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2017, 08:47:30 pm

        Như vậy, rõ ràng là thắng lợi Mậu Thân 1968 rất to lớn. Bộ Chính trị cũng đã đánh giá: Mậu Thân 1968 là một “thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng tạo ra bước ngoặt quyết định cua cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-r chấm dứt ném bom không điều kiện, chủ trương phi Mỹ hóa chiến tranh, mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh”.

        Mặc dù vậy, Mậu Thân 1968 không phải không có khuyết điểm nghiêm trọng. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (7-1973), Đảng ta đã   nghiêm khác kiểm điểm và công nhận: “Chúng ta cũng đã mắc một số khuyết điểm: chủ quan trong việc đánh giá tình hình cho nên ta đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tinh hình thực tế lúc đó, nhất là sau đợt tiến công Tết Mậu Thân, ta đã không kịp thời kiểm điểm và rút kinh nghiệm ngay, nhằm đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời”.  Đúng là trong đánh giá tình hình, Đảng ta rất sắc sảo và nhạy bén, tạo và nắm được thời cơ chiến lược, thấy được chỗ sơ hở của địch ở đô thị, thấy được động thái của địch ở chiến trường, phát hiện giới hạn khả năng tham chiến của Mỹ ở Việt Nam (theo tính toán của Mỹ giới hạn đó là hai năm rưỡi, nay đã quá 3 năm) và những bế tắc về chiến thuật, chiến lược của Mỹ... Nhưng chúng ta có phần chưa sát tình hình, đề ra yêu cầu quá cao: Tổng khởi nghĩa trong lúc quân đội của địch còn tới hơn một triệu tên. Về vấn đề chuyển hướng, nguyên nhân chính là do chỉ đạo chưa sát của trên nhưng cũng còn do dưới báo cáo lên thiếu chân thực, thường bốc đồng về thành tích. Có chiến trường do chưa dứt điểm được nên cố dấn. Mặt trận Quảng Đà và một số nơi khác còn đề nghị trên cho tiếp tục đánh đợt 3. Đây là một khuyết điểm trong điều hành chiến tranh của ta. Đại tướng Hoàng Văn Thái sau này nhớ lại? “Ở B9 hồi ấy, chúng tôi cũng có phần trách nhiệm, lúc đó cũng quá nhiệt tình, phấn chấn, say sưa thắng lợi, nghe báo cáo của dưới không hết, báo cáo lên trên không đầy đủ... cũng góp phần làm cho trên không đủ cơ sở để đánh giá lại  tình hình cho thật khách quan, đúng như nó có”.

        Lẽ dĩ nhiên, trong cuộc chiến đấu ác liệt, liên tiếp và kéo dài đó, cả hai bên đều bị thiệt hại nặng hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó. Mỹ đã thú nhận: ở Huế ta đã diệt 300 tên ác ôn. Còn bọn Mỹ đã giết hại 14.000 dân thường.  Một sĩ quan Mỹ đã tuyên bố: phải ném bom san bằng cả tỉnh ly Bến Tre, Mỹ Tho... để cứu lấy nó. Theo sách Sổ tay sự kiện chiến tích Việt Nam của hai tác giải Mỹ Stein và Leepson: Năm 1968 “là năm gia tăng ghê gớm số thương vong của Mỹ ở miền Nam. Nó gần gấp hai tổng số thương vong của tất cả các năm trước cộng lại (30.610 so với 16.201)”. Cũng theo hai tác giả này, số binh lính Mỹ bị giết ở miền Nam năm 1968 là 14.5891. Về phía ta, chỉ riêng B2 thương vong năm 1968 cao hơn tất cả các năm từ 1961 đến 1970. Thương vong của ta tuy có lớn nhưng để đánh bại ý chí xâm lược của một siêu cường thì sự hy sinh cao cả ấy là cần thiết và xứng đáng.

        Điểm cuối cùng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi khi bàn về Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa.

        Đã có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề này.  Có người trên cơ sở đối chiếu chủ trương đề ra (Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa) với thực tế diễn biến không xảy ra (chỉ có Tổng công kích, không có Tổng khởi nghĩa) mà cho rằng đề ra như vậy là sai. Có người cho về lý luận thì đúng nhưng thực tế không xảy ra. Lại có ý kiến không coi là sai mà chỉ cho đó là một khả năng ta chưa thực hiện được.  Muốn đánh giá đúng hay sai phải căn cứ trên cả hai cơ sở lý luận và thực tiễn.

        Về lý Luận: Lê-nin đã chỉ ra ba điều kiện để tổng khởi nghĩa có thể xảy ra và thắng lợi:

        1 Không những đội tiên phong mà cả đại bộ phận giai cấp cách mạng thấy sự cần thiết phải làm cách mạng và sẵn sàng chiến đấu hy sinh để lật đổ chính quyền cũ, dựng lên chinh quyền mới .

        2. Kẻ thù của cách mạng bị khủng hoảng, suy yếu, cắn xé lẫn nhau.

        3. Giai cấp trung gian đứng về phía cách mạng, ủng hộ  và sẵn sàng đi theo cách mạng, chống lại kẻ thù.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2017, 08:47:55 pm

        Đồng chí Lê Duẩn cũng đã nói: “Muôn tiến tới tổng khởi nghĩa thì phải làm cho quân đội dịch bị đánh bại, mà ở đây quân đội địch bị đánh bại chủ yếu do Lực lượng vũ trang cách mạng của ta”. Đồng chí còn nhấn mạnh: Trong chiến tranh cách mạng chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam: ‘để có tổng khởi nghĩa phải có tổng công kích về quân sự và tổng công kích về quân sự phải đi trước một bước” ... Tuy nhiên điều kiện của Cách mạng tháng Mười Nga và Cách mạng tháng Tám khác với kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta. Nghị quyết Trung ương 14 (1-1968) cũng chỉ rõ điều đó: “Ta tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa không phải trong điều kiện kẻ địch đã kiệt quệ trong một cuộc thế giới chiến tranh (như trong trường hợp Cách mạng Tháng 10 Nga hay Cách mạng Tháng 8 của ta) mà là trong khi địch còn trên một triệu quân và một tiềm lực chiến tranh lớn”. Song từ kinh nghiệm Cách mạng Tháng 8-1945 và Đồng Khởi 1960 cho thấy khả nặng huy động lực lượng quần chúng nổi dậy là có thể thực hiện được. Mặt khác, ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp, đánh địch bằng cả lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, bằng cả tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng trên cả ba vùng chiến lược: nông thôn đồng bằng, rừng núi, và đô thị, ta cũng đã xây dựng được lực lượng chính trị và quân sự tương đối mạnh, ta đang trên thế thắng và đang nắm quyền chủ động trên khắp các chiến trường... còn địch quân số tuy đông nhưng tinh thần đã bạc nhược và bắt đầu suy sụp, về chính trị, quân địch đang lâm vào tình trạng mâu thuẫn khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng”.

        Nhưng thực tế tổng khởi nghĩa đã không diễn ra như dự kiến. Nguyên nhân do ta đánh giá thấp kẻ địch (Mỹ-ngụy còn khá đông và tiềm lực chiến tranh còn mạnh), phần khác do những nỗ lực chủ quan của ta cũng chưa đủ (chẳng hạn chưa chuẩn bị kịp lực lượng quần chúng nổi dậy ở đô thị, chủ lực chưa có thể tạo những quả đấm mạnh đánh quỵ các trung đoàn chủ lực của địch và bẻ gãy các cuộc phản kích của chúng... ). Tuy đề ra như vậy nhưng trong thực tế thì việc vận dụng phải linh hoạt và sáng tạo, không nhất thiết đề ra tổng khởi nghĩa là phải thực hiện cho bằng được trong bất kể tình huống nào. Đề ra Tổng khởi nghĩa đồng thời với tổng công kích, Đảng ta cho đó là một ‘khả năng, một dự kiến có thể phát triển của tình hình. Ta cố gắng phấn đấu để đạt được khả năng đó vì nếu kết hợp được cả tổng công kích - tổng khởi nghĩa, ta phát huy được cao độ sức mạnh tổng hợp thì thắng lợi của ta càng to lớn hơn. Ngược lại, nếu không đủ điều kiện để Tổng khởi nghĩa ta tập trung tiến công về quân sự là chủ yếu, không cố thực hiện tổng khởi nghĩa non, dễ bị địch đàn áp gây tổn thất lớn”.

        Nói như vậy không có nghĩa Mậu Thân 1968 ta chỉ có tiến công quân sự, chỉ có Tổng công kích. Không có tổng khởi nghĩa không có nghĩa là không có nổi dậy. Nói như Thượng tướng Trần Văn Trà: “Không có nổi dậy của quần chúng thì không thể đánh theo kiểu Mậu Thân được. Cách đánh của Mậu Thân quả là độc nhất vô nhị trong chiến tranh từ trước đến nay mà lực lượng ta dùng là lực lượng tổng hợp quân sự, chính trị, trong nước và ngoài nước”. Mậu Thân 1968 thật là một cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

        Đến đây chúng ta có thể kết luận: Mặc dù có những khuyết điểm, song thắng lợi to lớn mà Mậu Thân 1968 tạo ra không ai có thể phủ nhận được. Thắng lợi ấy bắt nguồn từ đường lối kháng chiến của Đảng với hai lực lượng quân sự và chính trị, với phương châm 3 vùng, với tư tưởng chiến lược tiến công, đánh lâu dài nhưng biết tạo thời cơ giành thắng lợi quyết định và sự chỉ đạo nhạy cảm, tài trí và sáng tạo của BCH Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tầm nhìn xa trông rộng, từ lâu Bác Hồ và Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã nhận thấy rằng ta không đủ sức  để đánh tiêu diệt cùng một lúc cả Mỹ lẫn , ngụy, giành thắng lợi hoàn toàn nên đã chủ trương đánh cho “Mỹ cút” rồi tiến tới đánh cho “ngụy nhào”. Theo dõi chặt chẽ tình hình diễn biến trên chiến trường, cả ở nước Mỹ và trên thế giới, tháng 6-1967, Hội nghị Bộ Chính trị do Hồ Chủ tịch chủ trì đã dự kiến xu thế phát triển của cuộc chiến tranh và phát hiện thời cơ chiến lược đang xuất hiện, từ đó Bộ Chính trị sớm chuẩn bị để đón thời cơ. Đến Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1967, kế hoạch táo bạo cho Tết Mậu Thân đã được vạch ra. Tại Hội nghị này, trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng địch ta và những bế tắc trong chiến lược của Mỹ, Bộ Chính trị đãxác định: Thời cơ chiến lược đã xuất hiện và quyết định mở cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa vào dịp Tết Mậu Thân 1968.  Không chỉ sắc sảo trong việt phát hiện thời cơ và hạ quyết tâm chính xác, kịp thời, trong Mậu Thân 1968, Đảng ta còn xuất sắc trong việc tổ chức, bố trí và điều động lực lượng, chọn hướng và phương thức tiến công gây bất ngờ lớn đối với địch. Sách Việt Nam - Giờ quyết định của hãng thông tấn Pháp AFP tiết lộ: “Những sai lầm nặng nhất của các tổ chức tình báo - không còn nghi ngờ chút nào - là không tin rằng Việt Cộng có thể huy động được số người đông đảo và ném ra những cuộc tiến công hết sức ác liệt  với một sự hợp đồng chặt chẽ và một cường độ lớn như vậy”.


Tiêu đề: Re: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2017, 08:49:02 pm

        Cùng với Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương, Ban Chấp  hành trung ương Đảng và Bác Hồ, đồng chí Lê Duẩn và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - những học trò xuất sắc của người cũng có những phát kiến quan trọng góp phần vào thành công của Mậu Thân. Trước ngày nổ ra sự kiện Tết có hai tuần (ngày 18-1-1968), trong thư gửi Trung ương Cục và Quân ủy Miền, đồng chí Lê Duẩn đã có những chỉ đạo sắc sảo Đồng chí nhận định: “Đế quốc Mỹ đang ở vào tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược. So với mục đích chính trị, quân sự mà Mỹ đề ra với tình hình chính trị kinh tế xã hội của nước Mỹ thì những cố gắng chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam hiện nay đã tới đỉnh cao nhất.  Tình hình trên đây cho phép chúng ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang thời kỳ giành thắng lợi quyết định. Đây là thời cơ chiến lược lớn để tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa”.

        Nói đến thành công của Mậu Thân 1968, cũng không thể không nói tới sự năng động, nhạy bén và tính kiên định của lãnh đạo của Trung ương Cục, các thành ủy, các khu ủy, chỉ huy các chiến trường các mặt trận và ở từng cơ sở. Thượng tướng Trần Văn Quang đã viết: Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công ở mặt trận Trị Thiên - Huế là “Khu ủy, Quân khu có quyết tâm cao, ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần kiên quyết, triệt để trong việc chấp hành mệnh lệnh... Khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu còn có ưu điểm chọn cách đánh hợp lý, chuẩn bị và tổ chức đợt hoạt động một cách hết sức tỉ mỉ, cụ thể...”.

        Thắng lợi của Mậu Thân 1968 còn là thắng lợi của lòng quả cảm, trí thông minh và anh dũng tuyệt vời của quân và dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc. Để có Mậu Thân 1968, chúng ta đã huy động tổng lực các lực lượng từ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đến đặc công, biệt động, pháo binh... Có thể nói, trong cuộc kháng chiến công Mỹ, nếu không kể cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 sau này, chưa bao giờ ta huy động được một lực lượng cả quân sự và chính trị lớn như vậy. Nhờ đó, chúng ta phát huy cao động được sức mạnh tổng hợp để tiến công đồng loạt và nổi dậy liên tục, làm kẻ thù khiếp sợ, song cũng chính từ những trận chiến đấu ác liệt và kéo dài này, hàng ngàn đồng bào và chiến sĩ ta đã phải ngãxuống. Có những đơn vị biệt động, đặc công chiến đấu và hy sinh đến người cuối cùng. Tinh thần hy sinh cao cả đó của quân và dân ta thật đáng khâm phục.

        Hồ Chủ tịch khi đánh giá thắng lợi Mậu Thân 1968 đã nói: “Đó là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn và sức mạnh của toàn dân đoàn kết quyết chiến quyết thắng, quyết giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”.  Bài học lớn nhất cửa Mậu Thân 1968 chính là ở ý chí kiên cường, quyết tâm cao vào sự sáng tạo, biết dựa vào dân, biết phát huy sức mạnh tổng hợp, đoàn kết, thống nhất và kỷ luật. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, bài học đó vẫn còn nguyên giá trị.


LỜI BAN BIÊN TẬP

        Trong quá trình chuẩn bị Hội thảo khoa học về CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968, chúng tôi đã nhận được nhiều bản tham luận.

        1. Trong một số bản tham luận, số liệu về biệt động chưa thật thống nhất. Vì là hội thảo khoa học, chúng tôi giữ nguyên theo tác giả.

        2. Do khuôn khổ cuốn sách và điều kiện thời gian có hạn, một số bản tham luận chưa in được trong cuốn kỷ yếu.

        Xin cảm ơn và mong được thông cảm !

HẾT