Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2017, 10:29:21 AM



Tiêu đề: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2017, 10:29:21 AM
      
        - Tên sách: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước
        - Tác giả: Hồ Khang
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2005
        - Số hoá: ptlinh, chienvit, Giangtvx.


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/tet-mau-than-1968-buoc-ngoat-lon-cua-cuoc-khang-chien-chong-my-cuu-nuoc_zps9ibuszcf.jpg)

LỜI THƯA CÙNG BẠN ĐỌC

        Trong các đề tài khoa học của chuyên ngành lịch sử quân sự Việt Nam, "Tết Mậu thân 1968" chắc chắn vẫn sẽ còn là một đề tài thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước, bởi cuộc tiến công rộng khắp, bất ngờ và rất táo bạo này hàm chứa trong đó nhiều bài học về nghệ thuật quân sự, như nghệ thuật phát hiện và chớp thời cơ chiến lược, nghệ thuật nghi binh “lừa" địch, nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng, nghệ thuật chọn hướng, chọn mục tiêu, chọn hình thức và phương thức tiến công... để buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta... Và trên tất cả là, sau "Tết Mậu thân”, đã có nhiều cuộc thảo luận trong giới quân sự, đánh giá khá gay gắt về sự thành hay bại, được hay chưa được của sự kiện "Tết" này.

        Thú thực, chưa bao giờ chúng tôi dám nghĩ đến việc viết được một điều gì đó về đề tài vốn gây nhiều tranh cãi này. Thế nhưng thật may mắn cho tôi, gần 20 năm trong quân ngũ, tôi đã được quân đội phân công vào bộ môn nghiên cứu lịch sử kháng chiến chống Mỹ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam mà tại đó, tôi được sớm gắn bó với đề tài “Tết Mậu thân" trong vài công trình tập thể do tổ chức hoặc nhóm biên soạn phân công và đã được tiếp xúc với khá nhiều tài liệu có hạn quan tới quá trình hoạch định “Tết Mậu thân". Hơn nữa, chính qua công việc, các Thủ trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã khuyên khích tôi nên đi sâu hơn nữa vào đề tài và tạo mọi điều kiện cho tôi thử sức mình trong luận án Phó tiến sĩ khoa học lịch sử “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 tại miền Nam Việt Nam”.

        Người ta nói, trong một đề tài nghiên cứu khoa học, tư liệu đã là 80 phần trăm của sự thành công. Điều đó cũng đúng, nhưng với đề tài này, sự thành công của chúng tôi lại chính là ở chỗ đã được gần gũi, học hỏi trực tiếp từ các vị tướng lĩnh, đồng thời là các nhà khoa học quân sự hoặc giữ vai trò phụ trách mặt này, mặt khác trong "Tết Mậu thân”, hoặc phải theo dõi từng ngày, từng giờ các trận đánh để làm công tác báo chí, tuyên truyền trong suốt quá trình diễn biến của cuộc tiến công từ lúc mở màn đến khi kết thúc thắng lợi. Đó là Thượng tướng Giáo sư Hoàng Minh Thảo, Trung tướng Giáo sư Đỗ Trình, Trung tướng Giáo sư Hoàng Phương, Thiếu tướng Phó giáo sư Cao Pha, Trung tướng Phó giáo sư Nguyễn Đình Ước, Trung tướng Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Quốc phòng Đoàn Chương, cố Trung tướng Phó giáo sư Bùi Công Ái, Đại tá Phó giáo sư Trần Bưởi, Đại tá Nguyễn Huy Cầu...

        Chuyên luận này của chúng tôi chính là sự nâng cao, đì sâu thêm từ bản luận án phó tiến sĩ khoa học trên đây.

        Thật vô cùng xúc động, chính trong những ngày hoàn chỉnh bản thảo chuyên luận này, qua báo Nhân Dân và Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, chúng tôi được biết tại một số địa phương miền Nam, một số mộ tập thể các liệt sĩ hy sinh trong dịp Tết Mậu thân năm 1968 vừa được phát hiện.

        Ba mươi năm đã trôi qua, kể từ khi các Anh ngã xuống! Ba mươi năm qua, đã có biết bao bài báo, công trình biên khảo và hội thảo khoa học về cuộc tiến công mà các Anh đã mang màu mình làm nên chiến thắng!

        Tôi chỉ mong chuyên luôn này được như một nén hương tưởng niệm các Anh -những người con thân yêu của Tổ quốc, những giọt máu của các Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã hy sinh cho thế hệ chúng tôi được sống, học tập để hôm nay có thể viết được đôi điều dù còn là nhỏ bé về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân vĩ đại dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.

        Xin chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tập chuyên luận của tôi đến được đông đảo bạn đọc và nhân dịp cuốn sách được xuất bản, cho phép tôi chân thành cảm ơn Phó giáo sư Lê Mậu Hãn, Phó giáo sư Đỗ Quang Hưng trong việc hướng dẫn khoa học cho chúng tôi từ đề cương công trình tới sự bố cục sao cho chặt chẽ của từng chương mục và toàn thể các vị tướng lĩnh, đồng thời là các thủ trưởng, là những người thầy của chúng tôi đã giúp chúng tôi hoàn thành chuyên luận này.

TÁC GIẢ        



Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2017, 10:39:34 AM
       
LỜI TỰA TÁI BẢN

        Chuyên luận của chúng tôi từ lần đầu được xuất bản năm 19981 nhân dịp tròn 30 năm sự kiện Tết Mậu thân 1968, đã có bảy năm hiện diện trước bạn đọc. Trong khoảng thời gian đó, đã có thêm những công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học của các đồng nghiệp, và đặc biệt là nhiều tư liệu mới được công bố. Điều này chứng tỏ sự kiện lịch sử Tết Mậu thân - như chúng tôi từng thưa cùng bạn đọc trong lần xuất bàn năm 1998, đã đang và sẽ còn là một chủ đề thu hút sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu của giới khoa học lịch sử ở trong và ngoài nước. Những kết quả nghiên cứu và những tư liệu mới đã củng cố cho các nhận định trong công trình tại lần xuất bàn trước của chúng tôi. Đồng thời, từ khi chuyên luận ra mắt bạn đọc, chúng tôi đã có nhiều cơ hội trình bày kết quả nghiên cứu của mình trước các bạn sinh viên, các học viên, nghiên cứu sinh ở Khoa Sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Lịch sử Đảng, Phân viện Báo chí tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Trong những dịp như thế, những câu hỏi mà các học viên đặt ra đã gợi cho chúng tôi những suy nghĩ liên quan tới đề tài. Chính vì thế trong lần tái bản này, chúng tôi đã dành nhiều công sức cho việc sửa chữa và đi sâu vào trình bày một số vấn đề mà trước đây chưa có điều kiện đề cập cặn kẽ.

        - Tại chương I, chúng tôi xin khái quát một cách có hệ thống hơn quá trình hình thành ý đồ Tết của các cơ quan chỉ đạo chiến lược Việt Nam -một quá trình thực không đơn giản, không hề chủ quan, “duy ý chí" như nhìn nhận của một số người. Sở dĩ chương I có thể bổ sung được vấn đề cốt tủy đó là bởi chúng tôi căn cứ từ những tài liệu trong các bài nói, bài viết của các nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội lúc bấy giờ. Chúng tôi thấy rằng ý đồ chính của Tết Mậu thân chỉ là nhằm mục tiêu buộc phía Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Ý đồ chiến lược đó là nhằm hiện thực hóa chủ trương lớn mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 13 (tháng 1 năm 1967) đề ra” đã đến lúc, trên cơ sở những thắng lợi của ta và thất bại của địch, chúng ta có thể và cần phải chủ động bước vào một giai đoạn mới của cuộc chiến: vừa đánh vừa đàm. Nghiên cứu kỹ một số bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội lúc bấy giờ, chúng tôi đã nhận ra ở đây những tư tương chủ đạo mà nổi bật là "Ta biết tiếng Mỹ vừa với sức ta”; chúng ta đã biết khởi đầu cuộc chiến thì chúng ta cũng biết cách kết thúc cuộc chiến theo truyền thống quân sự Việt Nam. Và quả thật, trước khi hình thành ý đồ chiến lược "Tết”, vào những tháng đầu của năm 1967, phía Việt Nam chỉ yêu cầu phía Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc -chứ không còn bao gồm cà việc Mỹ phải rút hết quân đội viễn chinh ra khỏi miền Nam như trước đây chúng ta từng tuyên bố. Việc chúng ta hạ thấp yêu cầu so với tuyên bố trước 1967 là cốt tạo ra đồng thuận cho một cuộc hòa đàm giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ để giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam. Thế nhưng đáp lại thiện chí đó của ta, tập đoàn cầm quyền Mỹ vẫn kiên quyết đưa ra điều kiện có đi có lại bằng cách buộc ta phải công khai cam kết không được "lợi dụng" việc Mỹ ngừng ném bom để đưa người và vũ khí vào miền Nam. Thư của Tổng thống Mỹ Giôn-xơn gửi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8 tháng 2 năm 1967 đã thể hiện rõ việc Mỹ còn rất ngoan cố, ý chí xâm lược của Mỹ chưa hề bị lung lay. Chính vì vậy, phía Việt Nam đã bắt tay xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược nhằm mục tiêu giáng một đòn thật mạnh, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh.

        Chúng ta còn nhớ rằng, cho đến thời điểm năm 1967, tương quan lực lượng quân sự trên chiến trường miền Nam Việt Nam vẫn nghiêng lệch về phía Mỹ. Chỉ tính quân chủ lực, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn (M.A.C.V) có trong tay một đội quân lên tới gần 1 triệu 30 vạn tên; hơn nữa, Mỹ lại chiếm ưu thế hầu như áp đảo về hỏa lực, sức cơ động, trên không, trên sông, trên biển. Trong khi đó, về phía ta, khối bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương trên chiến trường miền Nam chỉ gần 27 vạn quân. Với tương quan lực lượng rất chênh lệch như vậy bộ máy chỉ đạo cuộc chiến tranh của chúng ta bằng trí thông minh, lòng quả cảm và khát vọng cháy bỏng về một ngày hòa bình, vẫn kiên quyết chỉ đạo toàn quân, toàn dân ta biến điều tưởng như không thể trở thành có thể. Tất cả những ý kiến có vẻ trải ngược “nước lửa" với nhau về vấn đề Tết Mậu thán chung quy là vấn đề quán triệt ý đồ chiến lược đã được chúng tôi trình bày rõ hơn trong chương I.

-------------------
        1. Hồ Khang: Tết Mậu thân 1968 tại miền Nam Việt Nam, Nxb QĐND, H. 1998


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2017, 10:42:31 AM
       
        - Tại chương II, trong lần tái bản này, chúng tôi trình bày cụ thể hơn quá trình chuẩn bị và nghi binh chiến lược của các cơ quan đầu não, các cấp lãnh đạo, chỉ huy trên chiến trường; quá trình diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam. Trên cơ sở nhiều tư liệu mới, chúng tôi phân tích kỹ hơn vấn đề từng gây tranh cãi lâu nay về thời điểm sau Tết Mậu thân, tức là khi nào các cơ quan chỉ đạo chiến lược chủ trương chuyển hướng tiến công chủ yếu về địa bàn nông thôn và rừng núi. Tuy vậy, do bố cục có chủ định, chúng tôi sẽ bàn thêm về vấn đề này tại mục “Những đợt tiến công sau Tết" ở chương III.

        - Chương III nhằm lý giải nỗi kinh hoàng của giới lãnh đạo Mỹ trước đòn tấn công Tết Mậu thân cả trên chiến trường và ở ngay giữa lòng nước Mỹ. Đòn Tết Mậu thân chẳng những ngay từ đầu đã giành được yếu tố bất ngờ, đánh mạnh vào những nỗ lực chiến tranh của Mỹ mà còn quan trọng là ở chỗ chỉ sau khi bị thất bại về quân sự trên chiến trường, Mỹ mới buộc phải xuống thang chiến tranh, chuyển giao gánh nặng chiến tranh lên vai chính quyền Sài Gòn. Kết quả là Mỹ buộc phải đơn phương ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri.

        Ở đây chúng tôi muốn được nhắc lại lời của một tác giả Mỹ -nhà báo Đôn O-bớc-đoi-phơ, khi ông nhìn nhận về sự kiện lịch sử Tết Mậu thân: “Đây là một câu chuyện về một bước ngoặt, khi người dân và các dân tộc đang tìm kiếm những cách nhìn nhận và hướng đi mới. Miêu tả một hành động quân sự không tính đến những hậu quả chính trì của nó, hay miêu tả một hành động chính trị mà không nói đến những yếu tố đang biến chuyển trên chiến trường, tức là mất đi một nửa". Quả thật là một nhận xét tinh tế. Ở đây không hẹn mà nên, Đôn O-bớc-đoi-phơ nhìn thấy yếu tố chính trị của chúng ta sau yếu tố quân sự! Nói cách khác, "Tết" là phần nổi của tảng băng; nhận thức về phần chìm của nó mới là nhân tố có ý nghĩa quyết định. Phần chìm của tảng băng đó nằm sâu trong ý đồ chiến lược của chúng ta: bằng mọi giá phải kéo Mỹ xuống thang, buộc chúng ngồi vào bàn đàm phán.

        “Lịch sử, nói chính xác hơn, là hiện thực lịch sử chỉ xảy ra một lần, duy nhất và không thể chữa lại nhưng nhận thức lịch sử cũng như viết sử, có thể làm đi làm lại nhiều lần"1. Trước sự kiện Tết Mậu thân, 37 năm đã trôi qua là một khoảng thời gian đủ dài để người viết sử nhìn lại những vấn đề xung quanh hiện tượng lịch sử này. Chắc chắn không ai có thể nói rằng đã nắm được toàn bộ sự thật của sự kiện lịch sử trọng đại ấy. Bởi thế, hy vọng với sự làm việc hết sức nghiêm túc, khoa học và trân trọng lịch sử, trên cơ sở của nhiều tư liệu mới, chúng tôi có thể trình bày nhận thức sâu hơn để nhìn nhận thêm về sự thật lịch sử của Tết Mậu thân. Những tư liệu chúng tôi có, chưa thể là đầy đủ, vì vậy, sự thiếu sót cũng là điều khó tránh. Rất mong bạn đọc góp ý kiến phê bình để những lần xuất bản sau, chuyên luận có thể được hoàn thiện hơn. Chúng tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã động viên và ủng hộ tác giả trong việc tái bản, đưa cuốn sách đến với bạn đọc.

Hà Nội, 2005        
Tác giả            

--------------------
        1. Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ Xưa và nay, tạp chí Xưa và nay, 5.1994.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2017, 10:59:34 AM

MỞ ĐẦU

        Thoắt đó mà sự kiện lịch sử "Tết Mậu thân"1 đã trôi qua hơn một phần ba thế kỷ! Nhưng thời gian không hề làm cho sự kiện này bị nguội lạnh mà nó vẫn luôn được thức dậy trong các giới chính trị, quân sự, sử học, báo chí... Nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều cuốn sách, bài báo và công trình biên khảo... vẫn như đang muốn đào sâu hơn mỗi khi đề cập tới sự kiện lịch sử này nham tìm hiểu, đánh giá, xác định lý do, vị trí lịch sử của cái “TẾT" không lấy gì làm vui vẻ đối với Nhà Trắng: tìm hiểu vì sao nó đã xảy ra và tại sao nổ đã gây nên sức thôi động mạnh mẽ, ngay ở giữa lòng nước Mỹ...

        Tuy nhiên không phải mọi vấn đề đã trở nên sáng tỏ. Chính vì vậy mà về mặt khoa học cho đến nay, "Tết Mậu thân" vẫn còn là một đề tài không ngừng gây ra nhiều ý kiến tranh luận. Như một khối thủy tinh nhiều chiều cạnh, “Tết Mậu thân" thâu nạp nhiều nguồn ánh sáng để tự phản quang thành nhiều diện, nhiều hình. Người đứng ở góc độ này tưởng mình đã thấy được toàn thể. Người đứng ở góc độ kia lại như thấy chưa biết nhận diện ra sao. Có người tự nhận mới biết tới sự kiện này ở một chiều, một cạnh khía nhất định. Nhưng có một điều dường như dễ thấy là: ngay từ khi "Tết Mậu thân bùng nổ cho tới nay, giới quân sự và nhiều nhà lãnh đạo nước Mỹ vẫn không thừa nhận là quân đội Mỹ đã bị thất bại về quân sự trên chiến trường miền Nam Việt Nam ngày đó. Trong hồi ký "Tường trình của một quân nhân" W. Oét-mo-len, nguyên Tư lệnh Bộ chi huy viện trợ quân sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn (M.A.C.V) thời kỳ Mỹ tiến hành chiến tranh cục bộ (1965-1968) đã cho rằng, trong Tết Mậu thân 1968, Việt cộng và Bắc Việt Nam bị thất bại nặng nề về quân sự trên chiến trường và quân đội Mỹ sắp sửa giành thắng lợi quyết định đã bị giới lãnh đạo dân sự trong Chính phủ Mỹ buộc phải bỏ cuộc. Ông viết: "Với sự cảm phục quá đáng, chẳng ai còn thì giờ để nghĩ rằng ngay trong chiến tranh chính quy, bọn tấn công ẩn nấp có thể luồn qua phòng tuyến để gây thiệt hại ở tuyến sau. Trong chiến tranh không chính quy, cơ hội đó còn nhiều hơn nữa. Trong nội chiến, bọn gián diệp và bọn biệt kích Yankee đôi khi đã đột nhập vào vành đai phòng thủ cẩn mật của Richamond. Cái đáng ngạc nhiên không phải là ở chỗ Việt cộng đánh các cơ sở như Sứ quán mà là ở chỗ họ đã làm như vậy rất ít lần”2 . Nhìn lại "Tết Mậu thân", Tổng thống Mỹ Giôn-xơn trong hồi ký của mình đã nhận định rằng: "Dù so với bất kỳ tiêu chuẩn nào thì trận tiến công Tết cũng là một thất bại quân sự nặng nề với Bắc Việt Nam và Việt cộng"3 . Ông tin là: "Các nhà viết sử và các nhà Phân tích quân sự sẽ coi trận tiến công này và những hậu quả của nó là thất bại thảm khốc nhất của Cộng sản trong cuộc chiến tranh Việt Nam"4.

--------------------
        1. Để giản tiện, từ đây cụm từ "cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu thân 1968" được thay bằng các tên gọi quen thuộc, như "sự kiện Tết Mậu thần" "Tết Mậu thân" hoặc "Tết".

        2. William C. Westmoreland. A soilder’s report (Tường trình của một quân nhân). Garden City, Doubleday and company, 1976. Nxb Trẻ, Thành phế Hồ Chí Minh trích dịch, 19S8, tr.122.

        3. Lyndon Baines Johnson: The advantage Point (Lợi thế). Persdives of the Presidency 1963-1969. London, Weidenfed and Nicolson, 1972. Bản dịch của Thông tấn xã Việt Nam (Về cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta), Hà Nội, 1972, tr.293.

        4. Lyndon Baines Johnson: The advantage Point (Lợi thế). Persdives of the Presidency 1963-1969. London, Weidenfed and Nicolson, 1972. Bản dịch của Thông tấn xã Việt Nam (Về cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta), Hà Nội, 1972, tr.293.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 05:56:25 AM

        Hen-ri Kít-xinh-gơ trong hồi ký Những năm ở Nhà Trắng cho biết thêm "Ngày nay, hầu hết chuyên viên về Việt Nam công nhận đó (Tết Mậu thân), là một thất bại thảm hại (đối với Bắc Việt Nam); nhưng quy mô của nó và giá hy sinh của nó làm cho nó trở thành một chiến thắng về mặt tâm lý"1. Vì thế, trong Tổng kết chiến tranh Việt Nam, Bộ quốc phòng Mỹ kết luận: "Cuộc tấn công Tết đã làm suy yếu trầm trọng Việt cộng"2. Trong khi đó, nhà báo danh tiếng Đôn O-bớc-đoi-phơ, người đã chứng kiến trực tiếp đòn Tết Mậu thân ở miền Nam Việt Nam, đã dành nhiều tâm sức điều tra về sự kiện này để viết cuốn Tết cũng khẳng định: "Cái trớ trêu của cuộc tiến công Tết là ở chỗ Cộng sản đã thua trên chiến trường nhưng đã thắng về chính trị trên nước Mỹ"3. Gần đây, trong cuốn "Những bí mật về chiến tranh Việt Nam", Trung tướng Đa-vít-sơn, nguyên là Cục trưởng Cục tình báo Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ (M.A.C.V) từ tháng 6.1967 đến tháng 5.1969, cho biết: "Không có sử gia danh tiếng nào chịu chấp nhận là Mỹ đã thất bại về quân sự trong Tết"4.

        Lý giải về điều này, nhiều tác giả và phương Tây cho rằng, trong dịp Tết Mậu thân, báo chí và vô tuyến truyền hình Mỹ đã tô đậm và phóng đại về sự kiện lịch sử này, khiến cho dư luận Mỹ nhận thức sai lệch về thực tế trên chiến trường miền Nam Việt Nam, làm nản lòng các tầng lớp xã hội ở Mỹ và buộc Chính phủ Mỹ phải rút bớt cam kết, giảm dần dính líu về quân sự của Mỹ ở Việt Nam. Theo tác giả cuốn Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-zơ-ven đến Ních-xơn thì, “không nghi ngờ gì nữa, báo chí đã phóng đại thắng lợi về quân sự của Việt cộng trong những phần đầu của cuộc tiến công và do đó, đã đóng góp vào thắng lợi của họ về mặt tâm lý"5. Tư lệnh chiến trường Mỹ ngày đó -Oét mo-len -thì cho rằng: "Báo chí và vô tuyến truyền hình đã tạo ra một vòng hào quang không phải thắng lợi mà là thất bại kết hợp những phần tử chống chiến tranh to mồm nên đã ảnh hưởng đến các quan chức nhát gan ở Oa-sinh-tơn" khiến cho quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam “đang sắp thắng" bị buộc phải "bỗng nhiên bỏ cuộc"6.

----------------------
        1. Henry Kissinger: The White House years (Những năm ở Nhà Trắng). London Weidenfeld and Nicolson and Michael Joseph, 1979. Thư viện Quân đội Trung ương sao lục, 1981, T1, tr.2.

        2. Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ quốc phòng Mỹ. Thư Viện Quán đội Trung ương sao lục, 1982.

        3.  Don Oberdoifer: Tết, Doubeday Company, New York, 1971. Nxb Tổng hợp An Giang trích dịch, 1988, tr.180.

        4. P.B. Davidson: The secrets of the Vietnam War (Những bí mật về chiến tranh Việt Nam). Laucer Publishers Pvt. Ltđ.1992. Tạp chí Lịch sử quân sự trích đăng, số 1.1993, tr.54.

        5. Peter A. Poole: The United States and Indochina From FDR to Nison (Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-zơ ven đến Ních-xơn. Hinsdale, The Druden PREBS, 1973. Nxb Thông tin lý luận dịch in, H.1986, tr.241)

        6. W.C. Westmoreland: Tường trình của một quân nhân, Sđd, tr.137.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 06:04:28 AM

         Nhìn chung lại, có thể thấy rằng, quan điểm xem xét, đánh giá và lý giải về “Tết Mậu thân" như trên là tương đối phổ biến ở Mỹ và nhiều nước phương Tây. Điều này không chỉ bởi vào dịp Tết Mậu thân, Mỹ, ngụy, chư hầu có mặt tại miền Nam lên tới hơn 1 triệu 200 nghìn quân, sau một thời gian bị choáng váng đã lấy lại bình tĩnh, phản kích quyết liệt, giành lại quyền kiểm soát các đô thị, đẩy chủ lực ta ra xa các vùng ven, vùng đồng bằng và các đầu mối giao thông, các căn cứ quân sự... mà còn xuất phát từ quan điểm quân sự truyền thống của quân đội Mỹ và phương Tây. Theo quan điểm này, thắng hay bại về quân sự phải được căn cứ vào sự chuyển dịch của lằn ranh chiến tuyến giữa hai bên. Điều đó đã được chứng nghiệm trong hai cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, lần thứ hai và chiến tranh Triều Tiên. Quan điểm này thể hiện rất rõ ở chỗ: sau khi nhận ra rằng quân Mỹ buộc phải tiến hành một cuộc chiến tranh không chính quy - một cuộc chiến tranh du kích mà đối tượng "tìm - diệt" của quân Mỹ là các đơn vị Quân giải phóng lúc ẩn, lúc hiện... Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn đã lấy việc thống kê tổn thất của đối phương làm mốc đo về thắng lợi quân sự của Mỹ. Trong một cuộc chiến tranh không phân trận tuyến nên dĩ nhiên, giới quân sự Mỹ lấy việc "đếm xác”, làm chỉ số để đo đếm “thắng lợi” của họ trên chiến trường. Trong khói lửa của chiến tranh và các trận giao chiến xáy ra dưới tầm hỏa lực dữ dội của Mỹ, nhiều người cho rằng, "các nhà thống kê" Mỹ đã chẳng phải cố gắng gì nhiều khi tiến hành công việc "đếm xác" theo yêu cầu của Bộ chỉ huy quần sự Mỹ (M.A.C.V) -cái cơ quan luôn khuyến khích các cấp dưới quyến phải “báo cáo vống lên" bắng cách thêm thắt vào số binh lính của đối phương bị diệt. Giáo sư sử học Mỹ G.C. Hê-ring trong cuốn Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ (được xuất bản ngay sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc) cho biết: "Ông Philíp Capatô nhớ lại: "Nếu có xác chết là người Việt Nam thì đó là Việt cộng, đây là một việc làm theo kinh nghiệm"). Theo đó nếu tổn thất của Quân giải phóng miền Nam ngang bằng hoặc lớn hơn số bổ sung từ miền Bắc vào thì điều này có nghĩa là quân đội Mỹ đang giành được thắng lợi về quân sự trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Lấy "mốc đo" này làm hệ quy chiếu, giới quân sự và nhiều tác giả Mỹ đã đi tới nhận xét rằng: "Tết Mậu thân" là một thất bại về quân sự của quân và dân Việt Nam.

        Ở Việt Nam, trong các cuộc hội thảo và sách báo viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phần đông các nhà nghiên cứu đều nhất trí nhận định: quân và dân Việt Nam đã giành được thắng lợi chiến lược to lớn trong "Tết Mậu thân”. Tuy nhiên, có ý kiến, trên cơ sở so sánh mục tiêu đề ra ban đầu cho cuộc tiến công “Tết Mậu thân" và kết quả đạt được cũng như trên cơ sở tính đếm những tổn thất của ta trong và sau “Tết Mậu thân"... đã di tới kết luận rằng: "Đợt một ta thắng, sau ta thua; thế là hòa"1. Thậm chí, có một số người còn khẳng định: “Tết Mậu thân" 1968 đã "không tạo được một bước phát triển đi lên của chiến tranh cách mạng miền Nam, không thay đổi được cục diện chiến trường có lợi cho ta; mà đã làm cho cục diện xấu hơn năm 1968. Cũng có thể nói trắng nó –  “Tết Mậu thân" - đã tạo nên một bước tạm thời đi xuống của cục diện chiến trường miền Nam, buộc quân và dân ta phải phấn đấu gian khổ, ba, bốn năm sau mới dần dần hồi phục được"2. Theo đồng chí Trần Văn Trà, cho đến nay, không phải đã hết ý kiến cho mầng: "Tết Mậu thân" là một thất bại của ta. Ngay như các cấp của ta tại chiến trường sau Mậu thân phải đối phó gay go với phản kích, bình định, với kế hoạch Phượng Hoàng của địch cũng không thấy hết thắng lợi; nghi ngờ sự giải thích ở trên"3.

------------------
        1. Dẫn theo bài phát biểu tổng kết cuộc Hội thảo khoa học về "Tết Mậu thân" do Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Việt Nam tồ chức tháng 3 năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh của Đại tướng Hoàng Văn Thái. Tạp chí Lịch sử quân sự số tháng 2. 1988 trích đăng dưới đầu đế: Mấy vân đề về chiến lược trong cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968.

        2. Trích từ tham luận: Một số ý kiến và kết quả thực hiện chủ trương Tổng công kích -Tổng khởi nghĩa của Cục khoa học quân sự -Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Việt Nam tại Hội thảo khoa học tháng 3 năm 1986. Lưu tại Viện Lịch sử quán sự Việt Nam, số đăng ký TL.TK. 2469.

        3. Trần Văn Trà: Thắng lợi và suy nghĩ về thắng lợi. Tạp chí Lịch sử quân sự số 2. 1988.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 06:13:03 AM
   
        Một số người khác đề nghị chỉ nên đánh giá thắng lợi của "Tết Mậu thân" ở mức chỉ “là trận tập kích lớn thôi, một trận tập kích chiến lược giành được thắng lợi lớn” 1. Sau hơn hai chục năm nhìn lại, đồng chí Lê Đức Thọ đã đặt ra câu hỏi: "Ngày đó, nếu mục đích trong cuộc Tổng công kích -Tổng khởi nghĩa Tết Mậu thân mà chúng ta đã đề ra chỉ là đánh thất bại nặng; nhất là nhằm vào những vị trí ở trung tâm đầu não địch để buộc chúng ngồi vào bàn đàm phán thì ta có cần mở cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa giành chính quyền như chúng ta đã đề ra để đến nỗi bị tiêu hao quá nhiều lực lượng như thế không? Cái giá ấy đắt quá!" 2.

        Như vậy, xung quanh sự kiện “Tết Mậu thân 1968", nhiều vấn đề đã và đang được đặt ra, nhiều ý kiến nhận định, đánh giá về sự kiện lịch sử này vẫn còn khác biệt, thậm chí đối lập nhau... Sở dĩ có tình hình trên đây là bởi nhiều nguyên nhân: quan điểm xem xét của các tác giả, cách thức tiếp cận vấn đề, nguồn tài liệu từ hai phía Mỹ và Việt Nam còn bị hạn chế và chưa được thẩm định kỹ lưỡng. Mặt khác, tính đa diện, sự phức tạp của hiện tượng "Tết Mậu thân 1968"; của thời kỳ lịch sử trước, trong và sau Tết Mậu thân đã là một trong số những nguyên nhân làm cho việc nghiên cứu sự kiện lịch sử này gặp không ít khó khăn...

        Tình hình đó khiến cho việc tổng kết, nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy về "Tết Mậu thân” nói riêng, về lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) nói chung gặp trở ngại, khó khăn. Không chỉ những bài báo khoa học, những công trình chuyên khảo về "Tết Mậu thân" đưa ra những nhận xét, đánh giá khác nhau, trái biệt nhau mà ngay cả những cuốn lịch sử đã được ấn hành ở Trung ương và các địa phương thời gian qua về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng tỏ ra lúng túng khi đề cập tới sự kiện lịch sử này: hoặc là trình bày sơ lược diễn biến hoặc là đề cập tới thắng lợi của ta, thất bại của địch trong dịp Tết Mậu thân một cách khái quát, chung chung; chưa làm rõ ta thắng ở chỗ nào, địch thua ra sao trên chiến trường miền Nam Việt Nam, chưa lý giải tại sao giới lãnh đạo nước Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận sự thất bại hoàn toàn của chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam. Vì vậy mà, những trình bày về sự kiện “Tết Mậu thân” trong sách báo của ta thời gian qua chưa có sức thuyết phục cao đối với người đọc. Đặc biệt ở nước Mỹ trong hơn hai thập kỷ qua, nếu như các nhà cầm quyền thường tìm cách tránh né mỗi khi phải đụng dấu với sự kiện lịch sử này thì giới học giả và các nhà chiến lược lại hết sức quan tâm. Họ xem đây là một sự kiện lịch sử cần được tìm hiểu, đánh giá, lý giải một cách nghiêm túc, để rút ra những bài học lịch sử không chỉ cho chính giới Mỹ mà như thôi thúc tự bên trong của một đề tài khoa học do lịch sử đã đặt ra một cách khách quan. Đó cũng là diều thôi thúc chúng ta cần suy ngẫm thêm về tầm vóc và tính chất sâu sắc của hiện tượng lịch sử này - hiện tượng “quan trọng nhất và phức tạp nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam” như G. Côn-cô -Giáo sư sử học Mỹ, từng nhận định về "Tết Mậu thân" trong tác phẩm Giải phẫu một cuộc chiến tranh3 của ông.

        Chọn đề tài “Tết Mậu thân” cho một chuyên luận khoa học, chúng tôi đã lường trước được những khó khăn. Song, bên cạnh đó không phải là không có những thuận lợi nhất định: Một là, do công tác trong Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, chúng tôi được sự khích lệ của các thủ trưởng Viện cũng như các tướng lĩnh và các nhà nghiên cứu trong việc xác lập đề tài cũng như việc tìm đọc các tư liệu cần thiết; hai là, do nhu cầu công tác, từ lâu nay, chúng tôi đã thâm nhập được nhiều tư liệu quý trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong đó có “Tết Mậu thân”; ba là, chúng tôi không đơn độc trong việt nghiên cứu, thậm chí là đã được thừa hưởng nhiều ý kiến trong các cuộc hội thảo về "Tết Mậu thân" cũng như các bài báo của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các tướng lĩnh và các nhà nghiên cứu di trước về vãn đề này. Vả chăng, trong chuyên khảo của mình, chúng tôi không có ý định dàn trải cũng như không có tham vọng giải quyết - dù chỉ là mô tả chi tiết từng đợt hay diễn biến trên từng chiến trường cụ thể, mà chỉ tự giới hạn mô tả, phân tích, đánh giá về cuộc tiến công này trong phạm vi ĐỢT TẾT - đợt thường được báo chí và các công trình nghiên cứu gọi là Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân. Cụ thể hơn, chúng tôi sẽ gắng đi sâu tìm hiểu nguyên nhân chủ quan và khách quan của sự hình thành ý đồ chiến lược Tết của Đảng cũng như phác họa lại - một cách tổng quát - diễn biến của cuộc tổng tiến công này để phân tích, lý giải, đánh giá tác động chiến lược của Tết từ hai phía: trên chiến trường miền Nam Việt Nam và ở giữa lòng nước Mỹ; qua đó, góp phần khẳng định lại giá trị to lớn không thể phủ định được của "Tết Mậu thân"; đồng thời làm sáng tỏ quan niệm Thắng - Bại về quân sự trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam (1954-1975) - một vấn đề hiện còn khác biệt từ trong quan niệm của giới quân sự, chính trị, sử học ở Mỹ và phương Tây.

        Việc cắt đoạn để nghiên cứu ĐỢT TẾT - ĐỢT I (từ mở đầu đến ngày 31 tháng 3 năm 1968) không phải là do ý muốn chủ quan của chúng tôi trong đề tài nghiên cứu này, thấy "dễ làm, khó bỏ" hay vì thấy những tổn thất trong các đợt tiến công tháng 5, tháng 8 năm 1968 của chúng ta mà cố tình tránh né; cũng không phải chỉ bám vào nghĩa đen của khái mềm thời gian: Tết, mà đó là do thực tế khách quan quy định. Thực tế khách quan đó là: sau ngày 31 tháng 3 năm 1968, cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam đã ngoặt sang một giai đoạn khác - giai đoạn mà hiệu lực quyết định của "Tết Mậu thân" đã làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ" bằng tuyên bố đêm 31 tháng 3 năm 1968 của Tổng thống Mỹ Giôn-xơn và kể từ đó trở đi, “Tất cả CỤC DIỆN và KHUÔN KHỔ của cuộc chiến tranh đã thay đối”4.

--------------------
        1. Trần Độ: Tết Mậu Thân -trận tập kích chiến lược. Tạp chí Lịch sử quân sự số 2.198S.

        2. Lê Đức Thọ: Một số vấn đề tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1989, tr.56.

        3. Ga-bri-en Côn-cô: Anatomy om a war (Giải phẫu một cuộc chiến tranh). Pantheon books, New York -1985. Bản dịch. Nxb Quần đội nhân dân, H, 1991. Bản in lần thứ hai.
 
        4. Bình luận của người viết Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ về diện văn ngày 31 tháng 3 năm 1968 của Giôn-xơn, dẫn theo Tài liệu mật Lầu Năm Góc, Thư viện Quân đội dịch, 1980, lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự việt Nam, số ký hiệu: VL781-82, tr.569.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 07:53:13 PM

CHƯƠNG I

TÌNH THẾ MỚI VÀ CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

        I. TÌNH THẾ MỚI CỦA CUỘC CHIẾN TRANH GIỮA VIỆT NAM VÀ MỸ

        Sau 10 năm (1954-1964) thế chân Pháp nhảy vào miền Nam Việt Nam và sau 4 năm (1961-1964) tiến hành chiến lược "chiến tranh đặc biệt", mặc dù đã bỏ ra nhiều tiền của và công sức, thi hành nhiều thủ đoạn và biện pháp, nhưng phía Mỹ vằn không dập tắt được phong trào cách mạng miền Nam. Đến giữa năm 1965, mặc dù đã được đẩy lên tới đỉnh cao; vượt quá mức lý thuyết và dự tính ban đầu, nhưng chiến lược “chiến tranh đặc biệt" của Mỹ ở miền Nam Việt Nam vần có nguy cơ bị quân và dân miền Nam dành bại hoàn toàn. Tình hình đó đặt Mỹ đứng trước sự lựa chọn gay cấn:

        1. Hoặc đơn phương rút khỏi miền Nam Việt Nam, từ bỏ các mục tiêu chiến lược đã định trong cuộc chiến tranh này;

        2. Hoặc phải thay đổi chiến lược, đưa quân chiến đấu trên bộ của Mỹ vào, tiếp tục theo đuổi các mục tiêu chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

        Ngược dòng thời gian, người ta thấy được rằng: sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt là từ sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời (1949) và sau khi cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) kết thúc, vấn đề Việt Nam ngày càng ám ảnh giới lãnh đao cao cấp Mỹ. Bởi lẽ, là một cường quốc đang theo đuổi chiến lược thống trị toàn cầu, phía Mỹ quan niệm rằng: “Việc để mất bất cứ một nước nào ở Đông Nam Á vì hành động xâm lược của Cộng sản sẽ có một hậu quả tâm lý, chính trị và kinh tế nghiêm trọng. Trong trường hợp thiếu sự phản ứng có hiệu quả và kịp thời, việc mất bất cứ một nước riêng lẻ nào đó chắc chắn sẽ dẫn tới việc các nước còn lại trong nhóm này quy phục một cách tương đối nhanh chóng hoặc đi theo chủ nghĩa cộng sản"1. Những chỗ in nghiêng là do chúng tôi(H.K). Trong mắt giới lãnh đạo nước Mỹ, "Ách thống trị của Cộng sản, dù với biện pháp gì... trước mắt sẽ gây nguy hại nghiêm trọng và về lâu dài nguy hại một cách nguy kịch đến lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ”2. Trong khi đó, cách mạng Tháng 8 năm 1945 và liền sau đó là Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam, theo cách nhìn của Mỹ, là một phong trào cách mạng có khuynh hướng Cộng sản; đang uy hiếp lợi ích của Mỹ ở khu vực Đông Nam châu Á. Nói cách khác, vấn đề Việt Nam từ sau năm 1945 và nhất là trước năm 1954, đã chiếm giữ một vai trò ngày càng lớn trong chiến lược toàn cầu của Mỹ.

        Vì lẽ dó, từ tháng 7 năm 1954 trở về trước, chính sách của Mỹ là tăng cường viện trợ quân sự cho Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Khoản viện trợ đó lớn đến mức chiếm tới 78% toàn bộ chiến phí của Pháp vào năm 1954 ở Đông Dương.

        Thắng lợi của nhân dân Việt Nam ở Điện Biên Phủ và Hiệp dình Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam và đông Dương được ký kết sau đó (7.1954), trong quan niệm của giới lãnh đạo nước Mỹ, “là một thảm họa; đã hoàn thành bước tiến quan trọng của chủ nghĩa cộng sản, có thể dẫn tới việc mất cả Đông Nam Á"1.

        Do vậy, từ chỗ chỉ là một kẻ can thiệp thông qua viện trợ quân sự cho Pháp, sau năm 1954, Mỹ chuyển sang đóng vai trò là kẻ xâm lược bằng cách hất càng Pháp để trực tiếp nắm lấy miền Nam Việt Nam.


------------------------
        1. Tuyên bố của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ Về các mục tiêu và đường lối hành động của Mỹ ở Đông Nam Á đầu năm 1952. Dẫn theo Tài liệu mật của Bộ quốc phòng Mỹ về chiến tranh xâm lược Việt Nam. Việt Nam thông tân xã dịch và phát hành 8.1971, T1, tr.39.

        2. Tuyên bố của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ Về các mục tiêu và đường lối hành động của Mỹ ở Đông Nam Á đầu năm 1952. Dẫn theo Tài liệu mật của Bộ quốc phòng Mỹ về chiến tranh xâm lược Việt Nam. Việt Nam thông tân xã dịch và phát hành 8.1971, T1, tr.39.

        3. Kết luận của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ tháng 8.1954. Dần theo Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd, T1, tr.27.
   


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 08:00:49 PM

        Từ năm 1955 đến năm 1960, Mỹ ra sức xây dựng chính quyền và quân đội Sài Gòn, sử dụng bộ máy chính quyền và lực lượng quân sự này để đàn áp đẫm máu phong trào cách mạng miền Nam1, biến chính quyền và quân đội Sài Gòn thành công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Thế nhưng, vượt qua tổn thất và đau thương, cách mạng miền Nam từng bước hồi phục. Trên cơ sở bảo tồn, tích lũy và từng bước phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, vào năm 1959 và năm 1960, nhân dân miền Nam đã vùng dậy "Đồng khởi" đập tan ách thống trị cơ sở của chính quyền Sài Gòn ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn, thiết lập chính quyền cách mạng; giáng một đòn bất ngờ vào chiến lược Ai-xen-hao, làm thất bại một hình thức thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ.
   
        Trước tình hình đó, từ năm 1961 đến năm 1964, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt", một loại hình chiến tranh hạn chế mà Mỹ cho là thích hợp nhất hòng đè bẹp chiến tranh cách mạng miền Nam để thực hiện quyền thống trị của Mỹ bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Từ đây, Việt Nam - điểm chủ chốt trong chiến lược của Mỹ ở Đông Nam Á, đã được chọn làm nơi thí điểm đầu tiên cho một loại hình chiến tranh - mà theo chủ quan của Mỹ, "sau này có thể đem áp dụng vào những nơi thác trong hoàn cảnh thích hợp ở châu Mỹ Latinh, Trung Đông và có thể ở cả Trung Âu nữa"2.

        Để thực hiện chiến lược chiến tranh đó, Mỹ đã tăng cường cố vấn và lực lượng yểm trợ chiến đấu Mỹ vào miền nam, tăng viện trợ cho chính quyền và quân đội Sài Gòn, mở rộng và tăng cường quân đội Sài Gòn (trên các mặt: số lượng, trang bị, huấn luyện, cơ cấu chỉ huy... nhằm thích ứng với nhiệm vụ đánh bại chiến tranh du kích), đẩy mạnh chương trình bình định (lấy việc lập ấp chiến lược làM trọng tâm), ra sức củng cố hệ thống chính quyền cơ sở của chế độ Sài Gòn, tiến hành các hoạt động chống phá miền Bắc Việt Nam từ bí mật đến công khai...

        Đồng thời với việc triển khai mạnh mẽ các biện pháp trên đây, Mỹ bắt đầu đẩy quân đội Sài Gòn ra trận. Với sự yểm trợ về hỏa lực và sự dìu dắt của cố vấn Mỹ, đội quân đánh thuê cho Mỹ đó đã mở hàng ngàn cuộc hành quân nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang Cách mạng miền Nam, hỗ trợ cho việc gom dân, lập "ấp chiến lược"... Đầu năm 1965, cố gắng của Mỹ trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt" đã tới đỉnh cao3. Dù vậy, ba chỗ dựa chủ yếu của Mỹ trong cuộc chiến tranh này là: quân đội và chính quyền Sài Gòn; hệ thống "ấp chiến lược"; vùng đô thị vẫn có nguy cơ bị sụp đổ trước sức tiến công mạnh mẽ của Cách mạng miền Nam.

        Thế là, sau hơn chục năm cố gắng một cách có ý thức rõ ràng, một lần nữa, lợi ích chiến lược toàn cầu của Mỹ ở Đông Nam Á vẫn bị đe dọa.

        Đây cũng là lúc cuộc chiến tranh nhân dân ở miền Nam Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi; nông thôn đồng bằng; đô thị). Và miền Bắc, sau gần 10 năm xây dựng trong hòa bình, đã trở nên vững mạnh và trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước. Về phía Mỹ, nền kinh tế trong nước đã trải qua 5 năm phát triển khá cân đối (1960-1965), chi phí cho cuộc "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam Việt Nam chưa nhiều, nội bộ chính quyền Mỹ ổn định giữa chính quyền và Quốc hội Mỹ còn thống nhất trong vấn đề chiến tranh Việt Nam - một cuộc chiến tranh mà đối với phần lớn nhân dân Mỹ vẫn còn xa vời; chưa tác động đáng kể tới cuộc sống của họ.

--------------------------
        1. 4 năm (1955-1958), cả miền Nam tổn thất 9/10 số cán bộ, đảng viên. Ở Nam Bộ, khoảng 7 vạn cán bộ, đảng viên bị địch giết; gần 90 vạn cán bộ, đảng viên bị bắt, bị tù đày, gần 20 vạn bị tra tần thành tàn tật chỉ còn 5.000 đảng viên so với 60.000 đảng viên trước đó. Ở Khu 5 (lúc bấy giờ còn gồm cả Trị - Thiên và cực Nam Trung Bộ), khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi bộ viên xã bị bắt, bị giết. Riêng Trị - Thiên chỉ còn 160 trong tổng số 23.400 cán bộ, đảng viên trước đó. Dẫn theo Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trì quốc gia, H, 1996, tr.321.

        2. Tạp chí Blater (Tây Đức). 4.1963. Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam; Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu trước, NXB Sự thật, H, 1991, T1, tr.65.

        3. Ví như Mỹ từng bước đưa các đơn vị chiến đấu Mỹ cỡ lữ đoàn vào tham chiến ở miền Nam, sử dụng không quân, hải quân Mỹ đánh phá miền Bắc trên quy mô ngày càng mở rộng...


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2017, 08:05:19 PM

        Trong bối cảnh đó, phía Mỹ quyết định thay đổi chiến lược chiến tranh để giành thắng lợi quyết định ở miền Nam Việt Nam: chuyển từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt" sang chiến lược "chiến tranh cục bộ”. Mục tiêu bao trùm của Mỹ trong cuộc chiến tranh này là triển khai lực lượng lớn từ Mỹ sang, dùng "phản công" tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng miền Nam, leo thang đánh phá miền Bắc, buộc Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thương lượng theo điều kiện của Mỹ. Tuy nhiên, để tránh gây ảnh hưởng xấu đến thế bố trí chiến lược toàn cầu của Mỹ; tránh làm ảnh hưởng xấu tới tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước; tránh lôi kéo các nước lớn (Liên Xô, Trung Quốc) trực tiếp tham chiến...., chính quyền Giôn-xơn chủ trương đưa quân Mỹ vào nhanh rút ra nhanh, nghĩa là muốn giành thắng lợi quyết định trong một thời gian ngắn.

        Do vậy, tháng 7 năm 1965, Tổng thống Giôn-xơn đã chấp nhận và chính thức thông qua kế hoạch chiến lược “Tìm và diệt" của tướng Oét-mo-len - Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam (M.A.C.V). Theo đó, Mỹ sẽ hoàn tất các mục tiêu chiến lược của cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam trong khoảng thời gian từ hai năm đến hai năm sáu tháng. Kế hoạch này được dự dình thực hiện qua 3 giai đoạn:

        -  Giai đoạn 1, từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1965, đưa nhanh quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ vào miền Nam, ngăn chặn chiều hướng thua của quân đội Sài Gòn, hoàn thành việc triển khai lực lượng, chuẩn bị cho các hoạt động giai đoạn 2.

        -  Giai đoạn 2, từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1966, mở cuộc phản công chiến lược "Tìm và diệt" ở những vùng ưu tiên để tiêu diệt chủ lực đối phương, phá chiến tranh du kích, giành lại quyền chủ động chiến trường từ tay đối phương, tổ chức lại các hoạt động "bình định nông thôn".

        -  Giai đoạn 3, từ tháng 7 năm 1966 đến tháng 6 năm 1967 (hoặc tháng 12 năm 1967), mở tiếp các cuộc tiến công “Tìm và diệt" những đơn vị chủ lực Quân giải phóng còn lại, phá căn cứ kháng chiến và tiêu diệt cơ quan đầu não của Cách mạng miền Nam, hoàn tất chương trình “Bình định nông thôn” rút quân Mỹ về nước.

        Theo Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, “Ý nghĩa cơ bản nêu rõ trong chiến lược "Tìm và diệt" là muốn đưa cuộc chiến tranh đến tận xứ sở của kẻ địch, làm cho kẻ địch không thể tự do đi lại ở bất cứ nơi nào trên đất nước... và giáng cho kẻ địch những đòn thật nặng nề"1.

        Từ mùa hè 1965, các đơn vị chiến đấu Mỹ cùng một số đơn vị quân Nam Triều Tiền, Ốt-xtrây-li-a, Niu-di-lân... bắt đầu ồ ạt đổ vào miền Nam. Ngoài số quân trực tiếp chiến đấu không ngừng tăng lên trên chiến trường, toàn bộ lực lượng thuộc Bộ tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương cũng được huy động vào việc yểm trợ tác chiến, bảo đảm hậu cần cho cánh quân trên bộ ở Nam Việt Nam. Chiến tranh phá hoại miền Bắc do Bộ tư lệnh không quân Thái Bình Dương phụ trách. Bộ tư lệnh Thái Bình Dương còn thường xuyên duy trì một lực lượng lục quân sẵn sàng chi viện cho quân Mỹ ở miền Nam hoặc đổ bộ lên miền Bắc Việt Nam, nếu cần.

        Mùa mưa 1965, quân Mỹ gấp rút triển khai chiếm lĩnh những địa bàn chiến lược trọng yếu. Lực lượng đảm bảo hậu cần khổng lồ của quân đội Mỹ khẩn trương xây dựng các căn cứ quân sự liên hợp, các căn cứ xuất phát hành quân, các căn cứ hậu cần ở những khu vực then chốt. Các tuyến giao thông chiến lược, hệ thống cảng biển, sân bay, bãi đáp trực thăng... cũng được khẩn trương mở rộng, xây dựng và hiện đại hóa.

        Hỗ trợ cho quá trình triển khai lực lượng, thiết lập hệ thống căn cứ quân sự và hậu cần, một số đơn vị Mỹ và quân đội Sài Gòn mở hàng ngàn cuộc hành quân lớn, nhỏ; tập trung vào vùng xưng quanh các căn cứ Mỹ. Ngoài ra, bom đạn, chất độc hóa học được sử dụng ở mức độ ngày càng nhiều đánh vào vùng giải phóng, vùng tranh chấp; đánh xuống các tuyến hành lang, các căn cứ kháng chiến của lực lượng Cách mạng miền Nam. Lần đầu tiên, máy bay ném bom chiến lược B.52 được đưa ra sử dụng trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

        Nhằm tạo lập sự ổn định về chính trị, làm cơ sở cho cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, ngày 18 tháng 6 năm 1965, Mỹ giật dây cho hai tướng trẻ Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh thành lập chính phủ quân sự tại Sài Gòn.

        Trên miền Bắc, cuộc chiến tranh không quân của Mỹ từng bước được mở rộng về quy mô, gia tăng về cường độ và gắn bó chặt chẽ với nhịp độ chiến tranh trên bộ ở miền Nam.

        Đối với hai nước láng giềng của Việt Nam, Mỹ đẩy mạnh "chiến tranh đặc biệt” ở Lào, sử dụng sức ép quân sự và ngoại giao hòng buộc Chính phủ Vương quốc Campuchia từ bỏ thái độ trung lập.

------------------------
        1. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. T1. Tlđd, tr.137)
   


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 09:21:00 AM

        Trên trường quốc tế, Mỹ triệt để lợi dụng mâu thuẫn Xô - Trung và sự bất đồng trong phong trào cộng sản quốc tế để cô lập Việt Nam, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược. Ở trong nước, chính quyền Mỹ thi hành các biện pháp nhôm bưng bít tin tức về các chiến tranh ở Việt Nam, che giấu các hoạt động chiến tranh của Mỹ trên chiến trường. Bằng cánh đó, chính phủ Mỹ hy vọng duy trì dược sự đồng tình của Quốc hội và tranh thủ được ủng hộ của nhân dân Mỹ đối với chính sách “leo thang" chiến tranh của chính quyền Mỹ ở Việt Nam.

        Trước việc Mỹ thay đổi chiến lược - đưa quân vào trực tiếp tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam, quân và dân hai miền Nam, Bắc Việt Nam không nao núng ý chí, quyết tâm, bình tĩnh, tự tin bước vào cuộc chiến đấu mới.

        Dưới Bự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" đã trở thành mục tiêu, lẽ sống của nhân dân miền Bắc. Vì thế, ngay sau đó, được miền Bắc chi viện, khối chủ lực cơ động của Quân giải phóng miền Nam đã phát triển từ 10 trung đoàn (1964) lên tới 5 sư đoàn, 11 trung đoàn bộ binh và nhiều trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật với vũ khí, trang bị tương đối hiện đại. Bên cạnh khối chủ lực cơ động, bộ đội địa phương và dân quân du kích cũng dã nhanh chóng được mở rộng, tăng cường: mỗi tỉnh có 1 đến 2 tiểu đoàn và hàng chục đại đội bộ đội chủ lực cùng hàng trăm trung đội, tiểu đội du kích... Như vậy là bắt đầu từ đây, ở miền Nam, lực lượng vũ trang ta đã củng cố vững chắc hơn nữa thế trận liên hoàn trên các địa bàn chiến lược: khối chủ lực đứng chân vững chắc ở miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, đồng bằng Khu 5; bộ đội địa phương và dân quân du kích hoạt động xen kẽ với dịch, hỗ trợ trực tiếp cho phong trào chống phá "bình định" và đấu tranh chính trị của nhân dân tại chỗ. Xung quanh các căn cứ quân sự; làng xã chiến đấu được liên kết lại, hình thành các "vành đai" áp sát, bao vây, trực tiếp uy hiếp quân Mỹ ngay tại vị trí xuất phát hành quân của chúng. Ở vùng ven đô, dân quân, du kích, đặc công, các đội pháo cối chuyên trách được tăng cường. Trong các đô thị, cơ sở chính trị cũng được chú ý phát triển.

        Dựa trên thế trận đã dược chủ động hình thành đó, khi quân Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam, lực lượng vũ trang quân giải phóng chẳng những không bị động lùi về phòng ngự chống đỡ mà ngược lại, đã chủ động tiến công một số đơn vị quân Mỹ nhằm tìm hiểu khả năng thực tế quân Mỹ để tìm ra cách đánh phù hợp. Vì vậy, ngay trong năm 1965, chiến thắng của Quân giải phóng miền Nam đã làm nức lòng cả nước. Đó là các trận đánh đã đi vào lịch sử: Trận Núi Thành (3.1965), một đại đội bộ đội địa phương quân giải phóng tập kích vào một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ; trận Vạn Tường (8.1965), một trung đoàn chủ lực Quân giải phóng đã đương đầu thắng lợi với cuộc tiến công hiệp đồng binh chủng của một lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ với số quân lớn hơn ngay tại vùng đồng bằng ven biển; tiếp đó, Quân giải phóng đã chủ động mở chiến dịch Plây Me (11.1965) trên miền rừng núi Tây Nguyên, tiêu diệt gọn một tiểu đoàn của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 của Mỹ. Như hòa nhịp với chiến trường Khu 5, ở miền Đông Nam Bộ, chủ lực Quân giới phóng đã tập kích vào lữ đoàn dù Mỹ 173 tại Đất Cuốc và tấn công vào lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn bộ binh số 1 - sư đoàn được mệnh danh là “Anh cả đỏ " tại Bàu Bàng (11.1965).

        Từ thực tiễn chống Mỹ, cứu nước trên khắp cả hai miền Nam, Bắc trên đây và trên cơ sở phân tích toàn bộ tình hình trong nước và trên thế giới có liên quan tới cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12, khóa III (12.1965) đã đi tới kết luận: "Ngày nay, mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Tuy cuộc chiến tranh trở nên gay go, ác liệt nhưng nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch"1 (Nghị quyết hội nghị Ban Chấp bành Tnmg ương Đảng lần từ 12 (khóa III), tháng 12 năm 1965). Hội nghị hạ quyết tâm chiến lược: "Động viên lực lượng của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào”2 (Nghị quyết hội nghị Ban Chấp bành Tnmg ương Đảng lần từ 12 (khóa III), tháng 12 năm 1965). Cũng tại Hội nghị này, Trung ương Đảng đã vạch rõ phương châm chiến lược chung trong cược kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phải là "đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính”3 (Nghị quyết hội nghị Ban Chấp bành Tnmg ương Đảng lần từ 12 (khóa III), tháng 12 năm 1965). Tuy nhiên, trong hoàn cảnh cụ thể lúc đó, Hội nghị cũng đã sáng suốt lường trước được khả năng nhằm chớp thời cơ và lưu ý các cấp chiến lược rằng: Trên cơ sở quán triệt và vận dụng phương châm đánh lâu dài mà Nghị quyết đã chỉ ra, chúng ta “phải cố gắng cao độ, tập trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ, giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam”1.

----------------------
       1. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (khóa III), tháng 12 năm 1965).


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 09:21:44 AM

        Tinh thần đó được thể hiện cụ thể thành những nội dung chính sau dây:

        1. Tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận quan trọng quân đội Mỹ, làm cho Mỹ bị tổn thất nặng, không thể thực hiện được các nhiệm vụ quân sự và chính trị của chúng.

        2. Tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy tới mức nó không còn là một lực lượng mà Mỹ có thể dựa vào đó để tiếp tục chiến tranh. Và, khi Mỹ buộc phải chuyển sang giải pháp chính trị, thì thế và lực của ngụy quân ngụy quyền sẽ không đủ sức để duy trì và giữ vững chế độ của chúng.

        3. Trên cơ sở đó, đè bẹp ý chí xâm lược của Mỹ, thực hiện mục tiêu về độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà.

        Như lịch sử đã chứng minh, tinh thần của Nghị quyết 12 đã có tác dụng chỉ đạo kịp thời, từng bước làm thất bại các biện pháp chiến lược chiến tranh cục bộ Mỹ. Lúc này, trên chiến trường, về phía Mỹ, đến cuối năm 1965, hơn 20 vạn quân Mỹ và chư hầu (trong đó có 184.134 tên Mỹ) đã triển khai xong ở các địa bàn chiến lược. Đầu năm 1966, chúng lại đưa thêm hai trung đoàn, lữ đoàn, một sở chỉ huy sư đoàn cùng Tập đoàn không quân số 7 vào miền Nam1 . Như vậy là toàn bộ quân Mỹ, ngụy và chư hầu đã hợp thành đội quân 72 vạn tên. Với lực lượng đông đảo ấy, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ quyết định mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, mùa khô 1965-1966, nhằm "tìm diệt" chủ lực Quân giải phóng, giành lại quyền chủ động trên chiến trường, giải tỏa áp lực quanh các đô thị và khai thông những tuyến đường giao thông chiến lược, "bình định" các vùng nông thôn quan trọng, ổn định và tăng cường hiệu lực của chính quyền, quân đội Sài Gòn.

        Thực hiện mục tiêu trên, Bộ chỉ huy quân sự của tướng Oét mo-len quyết định dùng toàn bộ "vốn liếng” quân sự nói trên để tập trung đánh vào năm hướng ở hai chiến trường trọng điểm là Đông Nanh Bộ và Khu 5 (bao gồm Tây Bắc Sài Gòn, Đông Sài Gòn, Nam tỉnh Phú Yên, Bắc tỉnh Bình Định và Nam Quảng Ngãi). Như vậy, cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 của Mỹ ở miền Nam đã diễn ra trên một quy mô rộng lớn, bằng một lực lượng đông nhằm các mục tiêu đầy tham vọng. Đồng thời, trên miền Bắc Việt Nam, không quân, hải quân Mỹ đã leo thang đánh phá ác liệt. Tháng 2 năm 1966, địch tập trung oanh tạc các tuyến đường từ Thanh Hóa trở vào. Từ tháng 3 năm 1966, không quân chiến thuật Mỹ đánh vào một loạt mục tiêu giao thông và các khu công nghiệp Hòn Gai, Cẩm Phả, Việt Trì. Thậm chí Mỹ còn cho máy bay B.52 ném bom xuống khu vực đèo Mụ Giạ ở Tây Quảng Bình...

        Với một binh lực hùng hậu, sử dụng các thành tựu khoa học quân sự tiên tiến, giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn và Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn tin chắc bang sẽ nhanh chóng đè bẹp được đối phương! Thế nhưng, dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng và phát triển trong những năm đánh thắng chiến lược "chiến tranh đặc biệt” kết hợp chặt chẽ các hình thức tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội dịa phương và dân quân du kích..., với một tầm nhìn xa và ý thức chủ động đón địch để đánh, lực lượng vũ trang ta đã liên tục chặn đánh, kìm chân, phản công và tiến công để bẻ gãy nhiều cuộc hành quân "tìm diệt" của quân Mỹ và chư hầu. Ở vòng ngoài là như vậy. Còn ở vòng trong, các đơn vị đặc công, biệt động, các đội pháo cối chuyên trách, lực lượng du kích “Vành đai diệt Mỹ” đã tổ chức các trận tập kích, phục kích, đánh sâu, đánh hiểm vào hậu cứ, hậu phương, căn cứ xuất phát hành quân của địch. Ngay cả ở các khu vực mà địch tập trung đánh phá ác liệt hơn như Sài Gòn - Gia Định, lực lượng vũ trang ta vẫn bám trụ kiên cường. Nhân lúc quân địch bị gìm chân, phân tán trên nhiều hướng, các đơn vị chủ lực Quân giải phóng đã chủ động mở các cuộc tiến công đánh thiệt hại nặng sư đoàn 1, sư đoàn 25 bộ binh và lữ dù 173 của Mỹ ở Củ Chi, Bến Cát, Nhà Đỏ - Bông Trang, Võ Xu, Bình Tuy, dốc Bà Nghĩa, tỉnh lộ 16, núi Lá... Chủ lực Quân khu 5 đánh địch ở Tây Sơn Tịnh (Bắc Quảng Ngãi), đánh thiệt hại nặng lính thủy đánh bộ Mỹ ở Đông Giáp...

--------------------
        1. Theo báo cáo về cuộc chiến tranh Việt Nam của Gr.Sap và Oét-mo-len - Bộ quốc phòng Mỹ xuất bản năm 1969, tính đến 1.1966, các đơn vị Mỹ có mặt ở miến Nam Việt Nam gồm: Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1, sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3, sư đoàn ky binh bay số 1, sư đoàn bộ binh số 1, lữ đoàn 1 sư đoàn 101, lữ đoàn 2 au đoàn 25, lữ đoàn dù 173.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 09:29:33 AM

        Như vậy là gọng kìm “tìm diệt" mà Mỹ thực thi đã bị bẻ gãy. Còn mục tiêu "bình định" nông thôn do quân ngụy đảm nhiệm trong đợt phản công lần thứ nhất này, xem ra cũng không sáng sủa gì: kết hợp chặt chẽ phương châm đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đánh địch bằng "ba mũi giáp công" quân sự, chính trị, binh vận, quân và dân ta đã thu được nhiều kết quả. Cụ thể là đã phá vỡ Kế hoạch bình định 900 ấp, củng cố 19.000 ấp trong năm 1966 do tổng thống Mỹ Giôn-xơn và Nguyễn Văn Thiệu nhất tri tại Hô-nô-lu-lu vạch ra từ ngày 20 tháng 4 năm 1965. Ở Khu 5, Trị - Thiên, Tây Nguyên, hơn 2 triệu đồng bào giành được quyền làm chủ. Vùng giải phóng ở Bình Định Quảng Ngãi, Quảng Nam, Quảng Đà, Gia Lai, Công Tum, Đắc Lắc, Quảng Trị, Thừa Thiên được giữ vững. Căn cứ du kích và hệ thống làng xã chiến đấu ngày càng được mở rộng ở nhiều vùng nông thôn, rừng núi...

        Như vậy là đến giữa năm 1966, không "tìm diệt" được các đơn vị chủ lực Quân giải phóng, không đạt được chỉ tiêu “bình định" các vùng trọng điểm nông thôn miền Nam, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) buộc phải kết thúc cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất sớm hơn dự định1. Trong khi đó, mục tiêu ổn định chính quyền và quân đội Sài Gòn, khai thông các tuyến giao thông chiến lược, giải tỏa áp lực quanh các thành phố, các căn cứ quân sự Mỹ cũng không được thực hiện. Nhiều đô thị lớn của địch như Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng,... nhiều tuyến giao thông như quốc lộ 1, đường 15 từ Vũng Tàu đi Biên Hòa... vẫn bị ta gây áp lực. Đặc biệt là từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1966, nội bộ chính quyền và quân đội Sài Gòn bị chia rẽ sâu sắc - nhân việc Hội đồng quân sự do Thiệu - Kỳ cầm đầu cách chức Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh quân đoàn 1. Chỉ 24 giờ sau khi Thi bị cách thức, sĩ quan và binh lính ủng hộ Thi tại Huế, Đà Nẵng tuyên bố ly khai chính quyền Sài Gòn. Sinh viên, học sinh, tăng ni phật tử... ở các thành phố miền Trung xuống đường biểu tình với khẩu hiệu chống Mỹ - Thiệu... Giữa tháng 6 năm 1966, Thiệu - Kỳ mới lập lại quyền kiểm soát ở Huế, Đà Nẵng. Dù vậy, qua sự kiện này, uy thế, hiệu lực của chính quyền và quân đội Sài Gòn đã bị tổn thương, suy sút nghiêm trọng.

        Đầu tháng 5 năm 1966, trong báo cáo gửi lên tổng thống Mỹ Giôn-xơn, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn C. Lốt-giơ cho rằng: Tình hình chung ở miền Nam là ảm đạm. Theo ông, cố gắng quân sự của Mỹ những tháng đầu năm đã "không làm hao tổn được Việt cộng, không tiêu diệt được đơn vị chính quy nào của Việt cộng, không ngăn chặn được du kích phát triển"2. Tháng 6 năm 1966, phát hiện ta mở Mặt trận đường 9 - Bắc Quảng Trị, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) vội điều sư đoàn 1 và sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ cùng chiến đoàn tổng trù bị ngụy ra ứng phó trên hướng chiến lược này. Lực lượng dịch, do vậy, càng bị căng kéo, dàn mỏng trên chiến trường, thế bố trí chiến lược của địch ngày càng trở nên mất phương hướng. Chính vì thế mà đến giữa năm 1966, tình hình đã trở nên rõ ràng là sức mạnh quân sự Mỹ không thể nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam"3.

----------------------
        1. Theo sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), T1, Nxb Sự thật, H, 1990, kết quả mùa khô 1965-1966, quân và dân miền Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 68.000 tên địch, trong đó có 3,5 vạn tên Mỹ, tiêu diệt và đánh thiệt hại 9 tiểu đoàn Mỹ, 7 tiểu đoàn ngày, bắn rời, phá hủy 940 máy bay, bắn cháy, phá hỏng 6.000 xe quân sự. Theo thống kê của Trung tâm hành quán Bộ tổng tham mưu quần đội Sài Gòn, từ tháng 10 năm 1965 đến tháng 6 năm 1966, chúng bị thiệt hại 51.000 quân, mất 9.400 vũ khí, 300 máy bay, bị bắn chìm, bắn cháy 38 tàu thuyền.

        2. Dẫn theo: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Sđd, tr.131, 132.

        3. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 07:32:12 PM

        Ở miền Bắc thì, mặc dù đã sử dụng một khối lượng lớn bom đạn, áp dụng nhiều thủ đoạn đánh phá, và mặc dù đã phịu tổn thất nhiều máy bay và người lái1 nhưng chiến dịch "Sấm rền" của không quân Mỹ đã không đạt được kết quả như dự tính ban đầu. Trong một báo cáo gửi lên Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mắc-na-ma-ra, cơ quan tình báo Bộ quốc phòng Mỹ nhận định: "Ý kiến cho rằng phá hủy hoặc dọa phá hủy nền công nghiệp Bắc Việt Nam thì sẽ buộc Hà Nội phải quỳ gối; nhìn lại, thì thấy đó là một nhận định sai lầm"2. Ngay cả mục tiêu ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam cũng vậy, bởi vì: “Hệ thống vận tải Bắc Việt Nam rất thô sơ và xem ra rất dễ bị đánh tan nhưng lại rất cơ động và có khả năng phục vụ vượt xa mức yêu cầư”3. Vả chăng, theo cơ quan này, “Chi viện cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam không phải là một điều căng thẳng rất lớn đối với nền kinh tế Bắc Việt Nam. Các lực lượng Bắc Việt Nam và Việt cộng ở Nam Việt Nam không phải là một đạo quân lớn. Họ không đánh nhau như các sư đoàn chính quy hoặc những đạo quân lớn ra trận với xe tăng, máy bay, súng đại bác dã chiến; họ không cần tiếp tế bằng những đoàn xe vận tải, tàu hỏa hoặc tàu thủy. Họ đánh rồi rút bộ, tự túc ở địa phương và thường tình không giao chiến khi nguồn tiếp tế bị giảm sút”4.

        Mùa hè 1966, Hội nghị chuyên đề bí mật bao gồm một tập thể các nhà khoa học có danh tiếng của Mỹ họp dưới sự đỡ đầu của chính phủ Mỹ để nghiên cứu toàn bộ kết quả cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam đã đi đến kết luận rằng: "Tính đến tháng 7 năm 1966, các hoạt động ném bom của Mỹ ở Bắc Việt Nam đã không có ảnh hưởng trực tiếp đáng kể nào đến khả năng của Hà Nội trong việc tiến hành và hỗ trợ các hoạt động quân sự ở Nam Việt Nam”5. Tình hình đó khiến cho Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mắc-na-ma-ra "phải suy nghĩ lại vai trò của toàn bộ chiến dịch oanh tạc trong cố gắng của Mỹ. Ông rất đau khổ biết rõ tình trạng bất lực của các lực lượng không quân trong việc ngăn chặn các hoạt động thâm nhập vào Nam và không thấy biểu hiện gì chứng tỏ oanh tạc có khả năng bẻ gãy ý chí của Hà Nội, làm cho dân chúng mất tinh thần hoặc ép Bắc Việt Nam phải tới bàn hội nghị"6.

------------------------
        1. Đến hết tháng 4 năm 1966, số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời miền Bắc là 1.005. Con số này đạt tới 1.620 chiếc vào tháng 12 năm 1966.

        2. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd, T2, tr.140, 141.

        3. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd, T2, tr.140, 141.

        4. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd, T2, tr.141.

        5. Tài Liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ cho biết tham dự hội nghị này là "các nhà khoa học xuất sắc nhất của Mỹ, những người đã giúp chính phủ sản xuất nhiều hệ thống vũ khí hiện đại nhất - kể từ khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc".

        6. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd, T2, tr.149.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 07:39:01 PM

        Những cố gắng chiến tranh của Mỹ trong mùa khô 1965-1966 không đạt được mục tiêu dự định là một bất ngờ lớn, một thất bại có ý nghĩa chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Thất bại đó khiến cho nhiều quan chức cấp cao trong chính quyền Giôn-xơn từ hoài nghi đi tới chỗ nhận rõ: Sức mạnh quân sự Mỹ không thể nhanh chóng kết thúc chiến tranh, giành phần thắng cho Mỹ như dự tinh ban đầu. Tình hình đó buộc chính phủ Mỹ từ tháng 4 năm 1966 trở đi phải "triệu tập nhiều cuộc họp để xem xét khả năng lựa chọn ở Việt Nam"1 như tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ xác định. Cuộc tranh luận diễn ra trong nơi bộ chính quyền từ mùa hè năm 1966 chủ yếu xoay quanh chiến lược quân sự của Mỹ ở Việt Nam. Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ với Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam Oét-mo-len liên tục gây sức ép đòi Giôn-xơn chấp thuận các đề nghị của họ nhằm đẩy mạnh hơn nữa cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam - bằng cách tăng quân vào miền Nam, đánh phá với cường độ cao toàn bộ mục tiêu ở miền Bắc, phong tỏa các cảng biển, cửa sông miền Bắc, và chuẩn bị phương án dùng bộ binh đánh ra Nam Quân khu 4... Thứ trưởng ngoại giao Mỹ Gioóc-dơ Bon, trợ lý Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mác-nâu-tơn, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mắc-na-ma-ra không đồng ý quan điểm này bị phái quân sự phản dối gay gắt. Cuộc tranh luận đó đã biểu lộ sự rạn nứt của khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ chính quyền Giôn-xơn - điều mà trước đó gần một năm chưa xuất hiện bởi tất cả các thành viên trong chính phủ Mỹ lúc bấy giờ đều tin tưởng sâu sắc rằng sức mạnh quân sự Mỹ sẽ nhanh chóng đè bẹp đối phương.

        Dù sự rạn nứt đó chưa đến mức gay gắt nhưng "từ nay trở đi, nhận định của giới quân sự Mỹ về việc nên tiến hành chiến tranh ra sao và phải cần những gì" cho cuộc chiến này "đã thành vấn đề”2.

        Sau mùa khô 1965-1966, cả ta và địch đều đã tranh thủ mùa mưa để chuẩn bị bước vào cuộn đọ sức quyết liệt mới: mùa khô 1966-1967.

        Phát huy thắng lợi vừa giành được, quân và dân miền Nam tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tiến công quân sự và chống phá bình định, củng cố và bổ sưng thêm lực lượng, vũ khí, phương tiện chiến tranh, thành lập thêm một số đơn vị, bố trí lại thế trận trên một số địa bàn... Để căng kéo lực lượng cơ động chiến lược của dịch, hút chúng ra những khu vực mà ta có điều kiện tiêu diệt, Bộ Chính trị Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân khu Trị - Thiên (tháng 4 năm 1966), mở Mặt trận đường 9 - Bắc Quảng Trị (tháng 6 năm 1966). Mặt trận mới mở này bao gồm ba huyện Do Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa; phía bắc giáp Vĩnh Linh, Quảng Bình, phía tây giáp Trung, Hạ Lào, phía đông giáp biển Đông và phía nam giáp Hải Lăng, sông Ba Lòng, thị xã Quảng Trị. Đối với ta, đường 9 - Bắc Quảng Trị là cửa ngõ tiến vào giải phóng miền Nam; còn với địch - là tuyến đầu ngăn chặn chủ lực miền Bắc. Tại mặt trận này, ta bố trí hai sư đoàn bộ binh (324 và 325C) uy hiếp tuyến ngăn chặn địa bàn phía bắc của dịch, buộc Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) phải tăng quân ra Trị - Thiên; nâng tổng số quân Mỹ, ngụy có mặt tại đây lên xấp xỉ 42.000 tên (có 16.750 tên Mỹ). Nhân lúc một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động của địch bị hút ra Trị - Thiên, chủ lực và bộ đội địa phương ta mở chiến dịch Bình Long (Nam Bộ), Bắc Phú Yên (Khu 5) Bắc Công Tum, Tây Gia Lai (Tây Nguyên)... khiến địch phải điều lực lượng chống đỡ.

        Trên miền Bắc, đáp ứng yêu cẩu tăng cường sức mạnh quốc phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố lệnh Động viên cục bộ (tháng 7 năm 1966). Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Người ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước nêu cao quyết tâm kháng chiến chống Mỹ xâm lược - trong đó Người xác định: cho dù "chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song, nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn"3.

-----------------------
        1. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd, T2, tr.154.

        2. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.182, 183.

        3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Ti2, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1996, tr.31-32.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2017, 07:43:01 PM

        Về phía địch, tháng 10 năm 1966, Giôn-xơn triệu tập hội nghị khối quân sự Đông Nam Á, gọi tắt là S.E.A.T.O2 (Được Mỹ thành lập vào tháng 9 năm 1954, bao gồm các nước Mỹ, Anh, Pháp, Ốt-xtrây-li-a, Niu Di-lân, Pa-kit-xtan, Phi-líp-pin, Thái Lan. Trong Hiệp ước của khối này, Đông Dương được xem là "Khu vực bảo hộ” của khối) ở Ma-ni-la nhằm động viên các nước đồng minh châu Á tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào chiến tranh Việt Nam. Tháng 11 năm 1966, Bộ quốc phòng Mỹ quyết định tăng thêm quân vào miền Nam; đạt tới mức 469.000 quân vào giữa năm 1968. Không quân Mỹ được lệnh tăng cường đánh phá vào một loạt các mục tiêu kinh tế, quân sự trên miền Bắc.

        Mùa khô 1966-1967, Mỹ tung vào cuộc phản công chiến lược lần thứ hai một lực lượng lớn bao gồm 20 sư đoàn và 10 lữ đoàn chủ lực (có 7 sư đoàn và 4 lữ đoàn Mỹ), 4.000 chiếc máy bay, 2.500 xe tăng, xe bọc thép, 2.500 khẩu pháo, 500 tàu thuyền chiến đấu cùng hàng chục vạn tán bom đạn, chất độc hóa học. Nếu tính cả số quân Mỹ trên Hạm đội 7, ở các căn cứ quân sự Mỹ tại Thái Lan, Nhật Bản, Phi-líp-pin, Gu-am tham gia chiến tranh Việt Nam, thì tổng cộng số quân tham chiến trong cuộc phản công lần này vượt xa số quân tham gia cuộc phản công lần thứ nhất; gần 1 triệu 20 vạn tên Mỹ, ngụy, chư hầu1. Ngoài ra, Mỹ, ngụy còn tung vào cuộc phản công hàng vạn tề điệp ác ôn, hàng trăm đội "cán bộ bình định".

        Để chi phí cho một lực lượng tham chiến lớn như vậy, Giôn-xơn đã buộc phải tăng ngân sách quân sự tài khóa 1966-1967 lên tới mức cao. Ngân sách đó dự toán lúc dầu 48 tỉ đô la, sau tăng lên 68 tỉ dô la, trong đó 40%, tức xấp xỉ 28 tỉ đô la là dành cho cuộc chiến tranh Việt Nam.

        Rút kinh nghiệm từ cuộc phản công lần trước, lần này, mặc dù lực lượng quân sự đã tăng thêm nhưng Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) đã chủ trương chỉ tập trung quân đánh trên một hướng (miền Đông Nam Bộ) nhằm "tìm diệt" chủ lực Quân giải phóng và cơ quan đầu não của Cách mạng miền Nam. Bên cạnh gọng kìm “tìm diệt", Bộ chỉ huy quân sự Mỹ nhấn mạnh hơn trong việc tăng cường chương trình "bình định" so với đợt một, xem đó là gọng kìm quan trọng thứ hai trong mùa phản công chiến lược này. Toàn bộ chủ lực quân đội Sài Gòn được sử dụng vào nhiệm vụ “bình định” nhằm kiểm soát khu vực đồng bằng quan trọng, nới rộng vành đai an ninh quanh các đô thị lớn, từ đó tiến tới cô lập và tiêu diệt cơ sở cách mạng ở nông thôn đồng bằng và vùng ven đô thị. Trên các hướng đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Trị - Thiên, địch chủ trương kiềm chế hoạt động của ta, chú trọng phòng thủ khu vực Đường 9 - Quảng Trị. Hỗ trợ cho cuộc phản công chiến lược lần thứ hai này, Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, gấp rút triển khai các hoạt động ngoại giao thăm dò thái độ của Hà Nội và để đối phó vời dư luận trong nước cũng như trên thế giới.

        Với nỗ lực quân sự lớn và bằng những thủ đoạn quân sự chính trị, ngoại giao kết hợp trên đây, giới cầm quyền Oa-sinh-tơn hy vọng cuộc phản công chiến lược lần này sẽ giành thắng lợi, làm chuyển biến cục diện chiến trường vào giữa hoặc cuối năm 1967 có lợi cho Mỹ để bước vào năm 1968 - năm bầu cử tổng thống Mỹ.

        Thực hiện ý đồ đó, về mặt quân sự, từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 6 năm 1967, theo số liệu của địch1 (Dẫn theo: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Sđd, tr.147), Mỹ, ngụy, chư hầu đã mở 2.732 cuộc hành quân "tìm diệt" và càn quét từ cấp tiểu đoàn đến cấp quân đoàn, trong đó có 426 cuộc hành quân của quân Mỹ và chư hầu; chủ yếu làm nhiệm vụ “tìm diệt" chủ lực và cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam. Nhằm mục tiêu đó, toàn bộ nỗ lực quân sự của lực lượng chiến đấu Mỹ hiện có trên chiến trường miền Nam chủ yếu dồn vào việc đánh phá các căn cứ của ta ở phía Bắc và Đông Sài Gòn. Trên hướng này, Bộ chỉ huy quán sự Mỹ tập trung 7 sư đoàn, 5 lữ đoàn quán Mỹ, ngụy, chư hầu, trong đó có những đơn vị thiện chiến của quân đội Mỹ như sư đoàn bộ binh số 1, sư đoàn bộ binh số 25; lữ đoàn dù 178, 199... Trong vòng 6 tháng (từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 4 năm 1967), trên hướng này, địch liên tiếp mở 3 cuộc hành quân quy mô lớn nối tiếp nhau, dành vào cụm căn cứ của ta ở phía Bắc Sài Gòn.

        Ngày 14 tháng 9 năm 1966, địch mở cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ (Atteleboro) với 30.000 quân Mỹ, ngụy nhằm đánh đòn bất ngờ vào khu căn cứ Dương Minh Châu, tiêu diệt chủ lực, phá căn cứ, kho tàng của ta2.

---------------------------
        1. Trong khi đó, địch ước đoán lực lượng vũ trang ta ở miền Nam có 7 sư đoàn, 33 trung đoàn, 147 tiểu đoàn, tổng cộng 280.000 quần. Dẫn theo: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Sđd, tr.134.

        2. Lực lượng quân Mỹ tham gia cuộc hành quân gồm lữ đoàn bộ binh nhẹ 196, 5 lữ đoàn bộ binh thuộc các sư đoàn 1, 4, 25, lữ đoàn dù 173 và trung đoàn thiết giáp 11.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 02:26:03 PM

        Phán đoán được ý đồ của địch, Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền quyết định sử dụng Sư đoàn 9, các đơn vị pháo cối đặc công, bộ đội địa phương, dân quân du kích Dầu Tiếng, Tây Ninh và tự vệ cơ quan chủ động mở chiến dịch Tây Ninh nhằm đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn của địch. Lực lượng ta được bố trí sẵn trên những khu vực dự kiến địch sẽ tiến công, hình thành thế trận liên hoàn hỗ trợ cho nhau giữa phía trước, phía sau, giữa các thứ quân: chủ lực, dịa phương, dân quân du kích và tự vệ cơ quan... Dựa trên thế trận đó, lực lượng vùng căn cứ liên tục chặn dành và tiến công vào đội hình hành quân của các đơn vị Mỹ, bẻ gấy nhiều mũi tiến quân và gây cho không nhiều thiệt hại về sinh lực, phương tiện chiến tranh. Sau 72 ngày đêrn đối phó với lực lượng vùng căn cứ trong một thế trận bất lợi cho Mỹ, ngày 24 tháng 11, Oét-mo-len phải chấm dứt cuộc hành quân, rút toàn bộ lực lượng còn lại ra khỏi khu vực căn cứ Dương Minh Châu trong khi các mục tiêu đề ra cho cuộc hành quân không thực hiện được.

        Sau cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ dồn sức củng cố lực lượng, ổn định tinh thần sĩ quan và binh lính Mỹ, mở tiếp cuộc hành quân Xi-đa-phôn - (Cedarfall) - cuộc hành quân lớn cấp quân đoàn thứ hai đánh vào Bến Súc - Củ Chi - Bến Cát - khu vực bàn đạp của ta uy hiếp Sài Gòn từ phía Bắc. Địch sử dụng vào cuộc hành quân này các sư đoàn bộ binh số 1, số 25, lữ đoàn dù 178 và trung đoàn thiết giáp số 11 Mỹ, cùng một số chiến đoàn ngụy và hàng trăm xe tăng, trọng pháo, hàng ngàn lượt chiếc máy bay ném bom, máy bay trực thăng vũ trang. Với quy mô như thế, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tin chắc sẽ “tìm diệt" được các đơn vị chủ lực của ta, phá căn cứ du kích, chia cắt vùng giải phóng hai tỉnh Gia Định, Thủ Dầu Một, mở rộng khu vực vành đai phòng thủ phía Bắc Sài Gòn.

        Thế nhưng, dựa vào hệ thống công sự, địa đạo được cấu trúc vững chắc, quân và dân Củ Chi, Bến Cát, Trảng Bàng đã bám trụ kiên cường, liên tục tổ chức các trận tập kích vào đội hình trú đóng ban đêm của quân Mỹ, ngụy. Nhân lúc địch dang lo đối phó với lực lượng vũ trang tại chỗ của ta thì chủ lực Quân giải phóng miền Nam phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ của Quân khu Sài Gòn - Gia Định mở các cuộc phục kích, táp kích vào bên sườn, sau lưng các đơn vị quân Mỹ, gây cho chúng nhiều thiệt hại về sinh mạng và phương tiện chiến tranh.

        Sau gần một tháng đánh phá, chịu tổn thất hàng nghìn lính chiến đấu nhưng không tiêu diệt được lực lượng vũ trang ẩn sâu dưới hệ thống công sự, địa đạo của ta, ngày 26 tháng 1 năm 1967, địch buộc phải chấm dứt cuộc hành quân, dồn 15.000 dân về thị xã Bình Dương. Trong khi đó, Thành ủy, sở chỉ huy Bộ tư lệnh Sài Gòn - Gia Định cùng Trung đoàn 16 chủ lực Miền vẫn tiếp tục trụ bám ở vùng “đất thép" Củ Chi ngay sát Sài Gòn - Gia Định. Đó là một thất bại nữa của địch trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai này. Nhưng không phải vì thế mà Bộ chỉ huy quân sự Mỹ đã chịu từ bỏ mục tiêu dùng lực lượng quân sự mạnh đánh vào cán cứ của ta nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và chủ lực của Quân giải phóng miền Nam hòng thay đổi cục diện chiến trường, tạo ra bước ngoặt chiến tranh có lợi cho Mỹ trong năm 1967. Nhưng mục tiêu này, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ huy động 45.000 quân, 1.200 xe tăng, xe bọc thép, hơn 250 khẩu trọng pháo, 17 phi đoàn máy bay mở cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti (Junction City) - một cuộc hành quân lớn nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam - đánh vào căn cứ Dương Minh Châu.

        Căn cứ Dương Minh Châu, trong bản đồ quân sự Mỹ, được gọi là chiến khu C. Đây là khu vực giữa vùng rừng núi rộng lớn, thưa dân thuộc tỉnh Tây Ninh. Hình thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tiếp tục được củng cố trong kháng chiến chống Mỹ, căn cứ này là nơi tập trung cán bộ, nhân viên các cơ quan, nhà trường, xưởng máy, bệnh viện, kho tàng, đài phát thanh... thuộc Trung ương Cục, Mặt trần Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Bộ chỉ huy Miền. Hệ thống cơ quan, kho tàng, bệnh viện, trường học... được bố trí dọc theo triền suối cạn, ẩn dưới tán rừng, trong các công sự nửa chìm nửa nổi, nối liền với nhau bằng mạng giao thông hào liên hoàn, chằng chịt. Ngay từ giữa năm 1966, trên cơ sở phán đoán ý đồ của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, Bộ chỉ huy Miền đã triển khai kế hoạch củng cố và tổ chức phòng thủ căn cứ theo phương châm trụ bám đánh địch tại chỗ. Tiếp đó, sau cuộc hành quân Xi-đa-phôn, Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền khẩn trương tổ chức lực lượng nhân viên các cơ quan quân - dân - chính - Đảng thành những đơn vị du kích tự vệ, bộ đội địa phương. Lực lượng này có nhiệm vụ trụ bám địa bàn, đánh địch tại chỗ, tạo điều kiện cho chủ lực thực hiện các đòn đánh tiêu diệt quân Mỹ. Vùng căn cứ được chia thành 13 "huyện", mỗi "huyện" chia thành từng "ấp", từng “xã” chiến đấu có hệ thống công sự, trận địa, hầm hào vững chắc và liên hoàn hỗ trợ cho nhau.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 02:26:36 PM

        Dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân được tạo ra ở địa bàn hầu như không có dân, lực lượng tại chỗ đã trụ bám trận địa vật lộn với địch, tiến công rộng khắp bằng nhiều hình thức. Nhờ đó, các đơn vị chủ lực Miền "dĩ dật đãi lao", đón đánh vào chỗ sơ hở của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 5 năm 1967; Oét-mo-len buộc phải tuyên bố chấm dứt cuộc hành quân lớn nhất này.

        Thế là sau hơn 50 ngày đêm dồn sức đánh vào vùng căn cứ rộng chừng 1.500km2, chịu tổn thất 14.000 quân, gần 1.000 xe quân sự các loại, 160 máy bay nhưng bộ chỉ huy quân sự Mỹ lại một lần nữa không đạt được mục tiêu mong muốn! Thất bại có ý nghĩa chiến lược này đã làm tiêu tan niềm hy vọng vào các cuộc hành quân "tìm và diệt" ở cấp quân đoàn của Mỹ - các cuộc hành quân mà Nhà Trắng hy vọng có thể trở thành giải pháp để giải quyết vướng mắc về chiến tranh diện địa, qua đó mà giành thắng lợi về quân sự ở Việt Nam. Ở các chiến trường khác như đồng bằng sông Cửu Long, Khu 5, Tây Nguyên và Trị - Thiên, những cố gắng quân sự của Mỹ không hề có một chút thắng lợi nào đáng kể. Đó là tất cả những lý do vì sao Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn buộc phải tuyên bố chấm dứt cuộc phản công chiến lược lần thứ hai - mùa khô 1966-1967, lui quân về chiếm đóng trên các địa bàn chiến lược, tập trung ở hai cực Sài Gòn - Gia Định và Trị - Thiên.

        Cần phải nói thêm ở đây rằng: Trong hai cuộc phản công của Mỹ mà chúng tôi trình bày trên đây, mặc dù Mỹ đều thất bại, mặc dù cả hai cuộc phản công này phía Mỹ đều chủ trương thực hiện hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định"; nhưng, ý nghĩa và mức độ của hai gọng kìm này ở mỗi cuộc phản công có khác nhau - và chính điều khác biệt này, ngẫm cho kỹ, đã thể hiện sự chủ quan, sai lầm về chiến lược của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ.

        Nếu như ở cuộc phản công lần thứ nhất, Mỹ đặt mũi "tìm diệt” là chủ yếu, còn “bình định” chỉ là mũi thứ yếu - mà ở đó, quân ngụy được phân công đảm nhiệm với tư cách là kẻ thuộc hạ giữ nhà - thì, sang đến cuộc phản công lần thứ hai, do quan điểm quân sự máy móc của Mỹ lấy việc “đếm xác Việt cộng và quân Bắc Việt Nam” làm thước đo thắng lợi(!) Mỹ tin chắc rằng đã “tìm diệt" được một bộ phận quan trọng chủ lực Quân giải phóng, làm mất chỗ đứng chân của họ ở đồng bằng, nên đã chủ quan nâng gọng kìm "bình định" lên thành một gọng kìm ngang tầm, song song với gọng kìm “tìm diệt".

        Theo kế hoạch, Mỹ và Sài Gòn dự định năm 1967 sẽ nỗ lực "bình định" 3.500 ấp trên toàn miền, tập trung vào các vùng "ưu tiên quốc gia"1 (Đó là các địa phương xung quanh Sài Gòn - Gia Định, các tỉnh Long Khánh, Phước Tuy, Bình Dương, Long An, Tây Ninh, Bình Long, Vĩnh Long, Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Kiến Phong, Trị - Thiên, Bình Định, Tuy Hòa, Lầm Đồng, Plây Cu, Công Tum). Mục tiêu chủ yếu của chương trình "bình định" là nhôm triệt phá phần lớn cơ sở cách mạng trong nông thôn miền Nam để tách lực lượng vũ trang khỏi sự đùm bọc, che chở của nhân dân. Đó là biện pháp mà R.Cô-mơ (Robet Komer) - đặc phái viên “bình định" của Giôn-xơn, quan niệm như “nhát dao đâm vào tim Việt cộng". Để đạt mục tiêu trên, ngoài việc đào tạo gấp rút "cán bộ bình định”2 (Chương trình huấn luyện "Cán bộ bình định" (hoặc còn gọi là “cán bộ phát triển cách mạng") do Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) đảm nhiệm về kinh phí và huấn luyện. Chương trình này đã đào tạo, huấn luyện được gần 20.000 tên trong năm 1966, 60.000 tên trong năm 1967 và 60.000 tên trong nam 1968. Sau khi ra trường, toàn bộ số này được chia thành các đoàn, mỗi đoàn 59 tên; được tung về các vùng nông thôn làm cắc công việc như phòng thủ, trị an (30 tên), giáo dục, y tế, văn hóa... (29 tên). Tuy nhiên, chương trình này vấp phải một loạt khó khăn. Một trong những khó khăn đó là việc tuyển mộ những người xuất thân nông dân đã không đạt được con số như ý muốn của những người phụ trách chương trình. Theo Mai-cơn Mác-li-a, tác giả cuốn Việt Nam - cuộc chiến tranh mười nghìn ngày thì, sở dĩ có tình trạng này là bởi “Việt cộng đã thu hút họ - những thanh niên nông thôn, vào tổ chức", chỉ còn một lũ thanh niên thành thị khoác áo bà ba đen gửi đến bảo vệ xóm ấp để chống Việt cộng" (Tạp chí Lịch sử quân sự, số 9.1988)) tung xuống nông thôn, Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn sử dụng hầu hết toàn bộ quân đội Sài Gòn kết hợp với lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát mở hàng ngàn cuộc hành quân càn quét, liên tục đánh phá, chà đi xát lại nhiều vùng nông thôn. Không quân và các trận địa pháo của Mỹ đã dội xuống vùng giải phóng, vùng tranh chấp một khối lượng bom đạn khổng lồ và chất độc khai quang để tàn sát dân thường, hủy hoại mùa màng, nhà cửa.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 02:31:27 PM


        Chúng còn dùng những biện pháp bạo lực nhằm cưỡng bách người nông dân phải bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn, vào sống trong các "ấp đời mới", "ấp tân sinh" thà thực chất cũng là biến tướng của mô hình "ấp chiến lược”, thời Ngô Đình Diệm. Bên cạnh các biện pháp quân sự từ năm 1967, Mỹ, ngụy còn triển khai các chương trình kinh tế, chính trị, văn hóa... để hỗ trợ và thúc đẩy công cuộc “bình định" tiến triển…1. "Cô-mơ có trong tay 1,7 tỉ đô la viện trợ kinh tế có thể sử dụng được... ông ta đã có hàng ngàn tấn lúa giống thần nông đủ loại, hàng ngàn tấn đỗ tương, phán bón, hàng ngàn thùng dầu ăn, hàng tấn thuốc chữa bệnh, với những bãi đất khổng lồ lát đầy xi măng và tôn, nhiều kho đồ sộ chứa đủ loại từ bàn chải răng đến máy khoan, máy khâu, máy hàn kiểu mới nhất... Tất cả đã sẵn sàng để lôi kéo 18 triệu quả tim và khối óc của nạn dân miền Nam"2.).

        Những biện pháp trên đây của Mỹ, ngụy đã làm cho cuộc đấu tranh chống phá "bình định" của quân và dân miền Nam gặp nhiều khó khăn. Trong cuộc đấu tranh đầy gian khổ và phức tạp đó, đã có một bộ phận nông dân, thậm chí cá một bộ phận cán bộ, đảng viên không phịu nổi thiếu thốn hy sinh... đã bỏ vào vùng địch, ra đầu thú, đầu hàng (Theo hồi ký của Giôn-xơn, “số Việt cộng về chiêu hồi năm 1965 là 16.000, năm 1966 là 22.000, năm 1967 là 27.000. Đầu năm 1967 bắt được tài liệu mật của Việt cộng nói họ mất khoảng 1 triệu dân chỉ trong nửa cuối năm 1966". Theo Giới thiệu hồi ký của Giôn-xơn của Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ga-bri-en Côn-cô trong Giải phẫu một cuộc chiến tranh cho biết: bom đạn và đau khổ đã buộc người nông dân miến Nam phải dồn vào đô thị để lánh nạn và tìm kế sinh nhai, đưa số di cư lên đến 3 triệu người vào cuối năm 1967". Nếu con số trên đây là đúng thì "Sự việc này quả là một món nợ chính trị của vần đề bình định". Nhưng còn hơn thế, con số đó đã vô hình chung nói lên rằng: việc chi phí cho vấn đế dân tị nạn đã ngốn hết phần lớn kinh phí của Mỹ và chính phủ Sài Gòn dự chi cho chương trình “bình định"! Quả thật là một mầu thuẫn - hơn nữa là điều bất ngờ ngoài dự toán "khôn ngoan" của Mỹ. Lợi bất cập hại!). Nhưng nhìn chung, quân và dân ta ở các vùng nông thôn đã kiên trì phương châm "3 bám" (bám đất, bám dân, bám đánh địch), đẩy mạnh "8 mũi giáp công" (tiến công địch về quân sự, chính trị, binh vận), chặn đánh quyết liệt các cuộc hành quân càn quét, hành quân "bình định” của Mỹ, ngụy; trừng trị bọn tề điệp nầm vùng, bọn tay sai ác ôn và các đoàn "cán bộ xây dựng nông thôn”; phá rối và vô hiệu hóa chính quyền cơ sở của địch ở nhiều nơi; giữ vững và mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng; xây dựng thành hệ thống làng xã chiến đấu liên hoàn, thành các “lõm chính trị", khu du kích, thành "Vành đai diệt Mỹ" để bao vây, áp sát các khu căn cứ quân sự Mỹ, các vùng ven đô thị uy hiếp nhiều tuyến giao thông huyết mạch.

-------------------------
        1. Tháng 3 năm 1967, Giôn-xơn triệu tập hội nghị Gu-am, nhằm soát xét toàn bộ chương trình "bình định" được triển khai trong năm 1966 và bàn biện pháp thực hiện trong năm 1967. Tại cuộc họp này, Giôn-xơn chính thức thông báo quyết định cử R.Cô-mơ Bang làm phó đại sứ ở miền Nam Việt Nam, đặc trách công tác "bình định" cho Oét-mo-len, tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam (M.A.C.V).

        2. Theo Mai-cơn Mác-li-a: Cuộc chiến tranh ở nông thôn - Tạp chí Lịch sử quân sự số 9.1988.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 10:29:35 PM

        Do những cố gắng trên đây, chỉ trong mùa khô 1966-1967, quân và dân miền Nam đã giành thêm 390 xã, áp; nâng số xã, ấp được giải phóng lên 700 xã và 6.750 ấp. Trong khi đó chính quyền Sài Gòn chỉ còn kiểm soát (ở các mức độ khác nhau) 5.400 ấp trong tổng số 16.293 ấp trên toàn miền. Theo đánh giá của phía chính quyền Sài Gòn, chương trình “bình định" năm 1967 chỉ đạt 13% so với kế hoạch ban đầu. Trong báo cáo gửi lên Giôn-xơn đầu năm 1967 sau chuyến đi miền Nam Việt Nam trở vế, Mắc-na-ma-ra nhận định: “Công tác bình định có lẽ đã thụt lùi. So với 2 hoặc 4 năm trước đây, các lực lượng địa phương thoát ly của địch và các lực lượng du kích nửa thoát ly đã lớn mạnh hớn. Các trận đánh, khủng bố và phá hoại đã tăng cả về cường độ lớn quy mô. Nhiều đường xe lửa bị đóng và đường bộ bị cắt đứt. Thóc lúa mà người ta chờ đợi đem bán ở ngoài chợ đã không được nhiều. Hạ tầng cơ sở chính trì của Việt cộng lan ra hầu hết đất nước, tiếp tục tạo cho kẻ địch lợi thế tình báo to lớn. Không ở đâu có an ninh hoàn toàn, ngay cả sau phòng tuyến của lính thủy đánh bộ Mỹ và Sài Gòn. Tại nông thôn, hầu như địch kiểm soát hoàn toàn về ban đêm"1. Thế nhưng, theo sự đánh giá Mai-cơn Mác-li-a, con số 13% trên dây vẫn là con số phóng đại quá mức. Bởi vì ngay tại những vùng mà chính quyền Sài Gòn thông báo đã hoàn toàn kiểm soát thì "tình hình an ninh vẫn bị đe dọa. Bởi lẽ, làm sao phân biệt được Việt cộng với người Việt Nam khác đi trên đường làng, làm sao bảo đảm hạt giống đậu tương và máy khâu cấp phát đến tay dân"2. Vả chăng, ngay tại vùng do Mỹ, ngụy kiểm soát hay tại những vùng tranh chấp, bom đạn và lối sống Mỹ đang hàng ngày, hàng giờ phá vỡ cuộc sống và lối sống vốn đã bình ổn từ nhiều năm của mọi gia đình Việt Nam, gây ra bao đau thương tang tóc, chia lìa cho mọi người dân thì cho dù Mỹ có cố gắng bao nhiêu hoặc dùng thủ đoạn và biện pháp nào di nữa, thì từ trong bản chất và trên những hành động thực tế, Mỹ đã không thể tạo được không khí yên "bình" để mà ổn "định" lòng dân ở một phương trời xa lạ! Nhiều tác giả Mỹ lúc bày giờ và ngay cả sau này cũng đã từng thừa nhận thực tế đó trong cố gắng "bình định" của Mỹ: “Công việc bình định lao đao y như một người bà con họ hàng nghèo vậy" (...)”. Trên thực tế, "Mỹ không thể phá được quân Việt cộng khởi nghĩa,... không thể nào đối phó được tốt với cả một đất nước thù tịch với mình”. Theo Cincinatus: Tự hoại - sự tan rã và suy sụp của quân đội Mỹ trong kỷ nguyên Việt Nam. Trung tâm thông tin - khoa học quân sự Bộ Tổng tham mưu địch).

        Trong những điều kiện đó, phong trào đấu tranh chính trị tại những vùng do Mỹ, ngụy kiểm soát ngày càng phát triển. Năm 1967, tuy không bùng nổ thành cao trào nhưng phong trào đã đi dần vào chiều sâu, gắn chặt với mục tiêu chung của cả dân tộc là chống Mỹ và tập đoàn tay sai Thiệu Kỳ. Mùa khô 1966-1967, hơn một triệu đồng bào các tỉnh dông bằng sông Cửu Long biểu tình chống địch càn quét bắn pháo, rải chất độc phá hoại ruộng vườn, triệt phá mùa màng, bắt lính, aồn dân, hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích phát triển. Trong các thành phố lớn Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, những tháng đầu và các tháng 7, 8, 9 - 1967, học sinh, sinh viên, tăng ni, phật tử, công chức, nhà buôn và các tầng lớp xã hội khác đã tổ chức một số cuộc biểu tình, hội thảo với nội dung dòi Mỹ phải rút quân về nước, đòi phải giữ truyền thống văn hóa dân tộc, chống lại sự du nhập lối sống Mỹ; đòi Thiệu - Kỳ phải từ chức, đòi chấm dứt chiến tranh, vãn hồi hòa bình. Trong các cuộc đấu tranh đó, hơn một trăm nhà sư đã tuyên bố sẽ tự thiêu trên đường phố để phản đối Mỹ, ngụy... Những cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam nói trên đã góp phần làm cho tình hình chính trị, xã hội của chế độ Sài Gòn thêm rối ren, hậu phương chiến tranh của Mỹ, ngụy càng thêm mất ổn định. Ngay cả hàng triệu nông dân miền Nam chạy vào các đô thị để tránh sự tàn phá của bom đạn, chất độc hóa học của Mỹ thì cũng không phải là họ "rút lui khỏi chính trị" mà thực chất, như nhận thức của các chuyên gia Mỹ, đấy chính là biểu hiện sự "lãnh đạm có phần thân Việt cộng" của số người đông đảo này3!

--------------------
        1. Theo Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.201.

        2. Mai-cơn Mác-li-a: Cuộc chiến tranh ở nông thôn - Tạp chí Lịch sử quân sự, 9.1988.

        3. Theo G. Côn-cô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, T1, tr.248.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 10:36:47 PM

        Gọng kìm "bình định" của Mỹ, ngụy còn thất bại ở chỗ: khi đưa quân chiến đấu vào Nam Việt Nam, Mỹ hy vọng có thể giúp cho chính quyền và quân đội Sài Gòn đủ sức tự đứng vững để thực hiện mục tiêu chính trì của chiến lược "chiến tranh cục bộ", cũng đã không thực hiện được. Ngược lại quân đội và chính quyền đó ngày càng phụ thuộc nặng nề vào sự có mặt của quân đội Mỹ, cơ sở xã hội của chính quyền Sài Gòn ở cả thành thị và nông thôn ngày càng bị thu hẹp dần. Đúng như bản Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ quốc phòng Mỹ sau này ghi nhận: "Những người lãnh đạo chính phủ Nam Việt Nam (trừ Diệm) đã không thể tránh khỏi nhãn hiệu là "tay sai", trước hết là của Pháp và sau đó là của Mỹ. Do đó, họ bị quần chúng coi là xa lạ. Sự cầm quyền của họ chỉ là nhờ sự ủng hộ của Mỹ”. Tình trạng đó khiến nhiều quan chức cao cấp trong chính phủ Mỹ ngay từ năm 1967, cũng đã trở nên ngao ngán: "Sự thật không đáng phấn khởi chút nào... Vì, cũng như những năm 1961, 1963, 1965 đến năm 1967, Mỹ đã không tìm ra được một "công thức" hoặc "chất xúc tác" nào để rèn luyện họ”2. Trên thực tế, chiến lược "chiến tranh cục bộ của Mỹ không chỉ dừng lại ở hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" ở miền Nam mà thôi, mà hai gọng kìm đó, muốn thắng lợi, cần phải ngăn chặn bằng được sự chi viện của miền Bắc. Vì thế càng thất bại ở miền Nam, Mỹ càng leo thang đánh phá miền Bắc dữ dội hơn. Đây là một điều tưởng như lôgíc nhưng lại chứa đầy mâu thuẫn trong chiến lược Mỹ. Bởi vì, khi mà Mỹ hao tổn sức người, sức của vào việc đánh phá miền Bắc hòng uy hiếp ý chí của miền Bắc trong việc chi viện cho miền Nam thì cũng chính là lúc Mỹ đã rơi vào một canh bạc vô vọng: Leo thang đã khó - mà leo thang đến đâu thì Mỹ chưa thể lường trước được bởi vì đây không chỉ ở chỗ tiềm lực quân sự Mỹ là có hạn mà còn là ở chỗ đụng tới miền Bắc - một quốc gia có chủ quyền - là Mỹ phải tính toán tới phản ứng của Liên Xô, Trung Quốc và toàn phe xã hội chủ nghĩa lúc ấy. Nhưng không leo thang thì vô hình trung Mỹ đã tự thừa nhận thất bại của chiến lược “chiến tranh cục bộ". Cho nên, sự "leo thang” của Mỹ, suy cho kỹ, lại là sự thử thách ý chí xâm lược của chính Mỹ, là con bài chót là Mỹ phải "chơi" trong "canh bạc Việt Nam".

        Chính vì lẽ đó mà bước vào năm 1967, không quân Mỹ tập trung oanh tạc dữ dội sáu hệ thống mục tiêu trên miền Bắc là: điện lực, công nghiệp, giao thông, kho dự trữ nhiên liệu sân bay và các trận địa phòng không, các cơ sở quân sự Tháng 2 năm 1967, Giôn-xơn chuẩn y đề nghị của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, cho phép mở rộng phạm vi đánh phá trong khu vực Hà Nội, Hải Phòng, tiến hành rải mìn trên các luồng Bông, cửa biển, dùng hải quân khống chế gắt gao khu vực ven biển từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 20. Máy bay ném bom B-52 và pháo binh từ bờ Nam sông Bến Hải đã đánh phá dữ dội khu vực Hồ Xá, Vĩnh Linh. Theo tinh toán của một số tác giả Mỹ, đến cuối năm 1967, Mỹ đã ném xuống miền Bắc Việt Nam 1.630.000 tấn bom3; nhiều hơn khối lượng bom đạn Mỹ ném xuống châu Âu trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, gấp hai lần số bom ném xuống Triều Tiên, gấp ba lần số bom ném xuống chiến trường Thái Bình Dương trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. “Cái thác bom dội xuống Việt Nam đạt tới mức cứ mỗi dặm vuông hứng chịu tới 12 tấn ở cả miền Bắc và miền Nam, và khoảng 100 pao (50kg) chất nổ chia cho mỗi đầu người dân Việt; kể cả dàn bà và trẻ con, mà rất nhiều người trong số họ không nặng tới trọng lượng đó; kể cả máu, thịt và xương"4. Bom đạn Mỹ đã gây cho miền Bấc những tổn thất nặng nề. Cơ quan phân tích của Cục tình báo trưng ương Mỹ ước tính, chiến dịch "Sấm rền" của không quân Mỹ đã sát hại 13.000 người miền Bắc trong năm 1965, 24.000 người trong năm 1966 và khoảng 29.000 người trong năm 1967; phần lớn là dân thường (80%)5. Số liệu thống kê của Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân dội nhân dân Việt Nam cho biết, trong 4 năm (1964-1968), 14.000 quân nhân và 60.000 dân thường miền Bắc đã bị bom đạn Mỹ giết hại6. Ngoài tổn thất về sinh mạng, miền Bắc còn bị thiệt hại nặng nề về vật chất, của cải. Hầu hết hệ thống giao thông, cầu đường, nhà ga, kho tàng, bệnh viện và nhiều cơ sở kinh tế, nhiều công trình công cộng… đều bị trúng bom Mỹ, 25 trong số 30 thị xã trên toàn miền Bắc bị tàn phá.

-------------------------
        1. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ quốc phòng Mỹ, Tlđd, tr.18.

        2. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.180.

        3. Theo Đôn O-bớc-đoi-phơ, TẾT, Sđd, tr.55.

        4. Theo Đôn O-bớc-đoi-phơ, TẾT, Sđd, tr.55.

        5. Theo Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.185.

        6. Tập thống kê số liệu về Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2017, 10:46:15 PM

        Dưới bom đạn đánh phá ngày đêm vô cùng ác liệt của máy bay, tàu chiến Mỹ, miền Bắc vẫn không nao núng ý chí, quyết tâm, vừa kiên cường đánh trả không quán, hải quân địch, vừa duy trì sản xuất và tăng sức chi viện cho chiến trường. Lực lượng phòng không ba thứ quân miền Bắc, bằng cách đánh mưu trí, sáng tạo, kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến bảo vệ khu vực trọng điểm và tác chiến cơ động, vừa thực hành chiến thuật "chốt” bảo vệ trực tiếp từng mục tiêu, vừa "cơ động phục kích”, hiệp đồng chặt chẽ giữa tên lửa với cao xạ, giữa hỏa lực phòng không mặt đất với không quân chiến đấu, giữa phòng không chủ lực với lực lượng phòng không của các địa phương... đã giáng trả mạnh mẽ các bước leo thang của không quân Mỹ, bắn rơi, bắn cháy 1.067 máy bay trong năm 1967. Vùng bờ biển, lực lượng pháo binh 3 thứ quân cũng lập thành tích bắn trúng, bắn cháy 69 tàu chiến địch ngoài khơi. Trên mặt trận giao thông vận tải, mặc dù địch dành phá, phong tỏa, ngăn chặn gắt gao bằng nhiều thủ đoạn, khiến cho vận tải đường sắt, đường biển bị sút giảm nhưng bù lại, lực lượng vận tải đường bộ, đường sông không ngừng phát triển về số lượng, cải tiến về phương thức, nâng mức vận chuyển hàng hóa trong năm 1967 lên gấp 6 lần so với năm 1965, đáp ứng dòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ vận tải chi viện chiến trường.

        Trên mặt trận sản xuất, khắc phục sự đánh phá ác liệt của máy bay, tàu chiến Mỹ, ra sức tận dụng những điều kiện hiện có, nhân dân miền Bắc kiên cường bám ruộng đồng, nhà máy, công sở, trường học, duy trì sản xuất, ổn định đời sống, phát triển sự nghiệp văn hoa, giáo dục, y tế làm cho miền Bắc thực sự là một hậu phương vững bền, ổn định ngay cả trong khói lửa chiến tranh. Hai năm 1966, 1967, hậu phương đó đã đưa vào chiến trường 149.037 quân, đã dộng viên hơn 360.000 thanh niên nam, nữ vào quân đội, thanh niên xung phong, đáp ứng đòi hỏi ngày càng tăng của cuộc chiến tranh trên cả hai miền đất nước1.

        Như vậy đến năm 1967, cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân, hải quân Mỹ đã không diễn ra xuôi xẻ theo tính toán ban đầu trước “canh bạc Việt Nam” của giới lãnh đạo Mỹ. Ngược lại, cuộc chiến tranh đó - cũng như cuộc chiến tranh trên bộ ở miền Nam - đã gây ra cho chính Mỹ nhiều vấn đề nan giải; đặt Mỹ đứng trước tình thế bế tắc mà hậu quả của nó là đã buộc Mỹ phải chịu những phí tổn nặng nề về tiền bạc và sinh mạng người Mỹ.

        Về kinh tế: Trong những năm chiến tranh đặc biệt, Mỹ chỉ trích một khoản tiền không lớn lắm, (năm cao nhất cũng chỉ gần 1.500 triệu đô la trong khi ngân sách quốc phòng hàng năm của Mỹ lên tới sáu hoặc bảy chục tỉ dô la) để chi phí cho huấn luyện, trang bị, nuôi dưỡng quân đội Sài Gòn và đội ngũ cố vấn Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Thế nhưng những năm chiến tranh cục bộ, chi phí cho chiến tranh Việt Nam tăng vọt, từ 4,7 tỉ đô la (tài khóa 1965 - 1966) tăng lên 24 tỉ đô la (tài khóa 1966-1967) và hơn 30 tỉ đô la (tài khóa 1967-1968). Chi phí chiến tranh thì ngày càng cao vọt nhưng chính quyền Mỹ không thể tính đến việc bù đắp ngân sách bằng biện pháp tăng thuế trong khi đang muốn bưng bít lừa dối dư luận và Quốc hội Mỹ về cuộc dính líu ngày càng bị sa lầy sâu ở Việt Nam2. Chỉ nhìn vào những con số chi trong các tài khóa trên đây, chúng ta cũng dễ dàng hình dung cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam đã "ngoạm vào" ngân sách của chính phủ liên bang đến mức độ nào. Một thống kê đáng tin cậy từ phía Mỹ cho hay: nếu trong những năm từ 1964 trở về trước, ngân sách chính phủ liên bang đạt số dư trung bình là 3,6 tỉ đô la hàng năm, thì đến năm 1966 ngân sách bỗng thiếu hụt 6,2 tỉ đô la và năm 1967 thiếu hụt 10,7 tỉ đô la. Sang năm 1967, ngân sách của chính phủ Hoa Kỳ thâm thủng tới 25,3 tỉ đô la3!. Hệ quả tất yếu của tình trạng thiếu hụt ngân sách này là nạn lạm phát tăng nhanh, trở thành "gánh nặng” tai ác nhất trong tất cả gánh nặng của nước Mỹ thời kỳ này4; khiến cho nền kinh tế Mỹ, vào năm 1968, bắt đầu suy thoái5. Trong năm này, giá cả các mặt hàng tăng vọt 4%, sản xuất có biểu hiện ngừng trệ, đời sống nhân dân Mỹ gặp khó khăn, 3,8 triệu lao động Mỹ thất nghiệp hoàn toàn. "Cuộc chiến tranh chống nghèo đói" mà Gíôn-xơn hứa với cử tri Mỹ đã trở thành "cuộc chiến tranh gây nghèo đói". Và, những mục tiêu của chương trình "Xã hội vĩ đại" mà Giôn-xơn hứa hẹn trong cuộc tranh cử vào Nhà Trắng năm 1964 đã bị "bắn gục trên chiến trường Việt Nam"6.


------------------------
        1. Số liệu dẫn theo Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Sđd, Tr, tr.276.

        2. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.107.

        3. Dẫn theo R. Stê-en: Hy vọng hão huyền, thực tế phũ phàng - những hậu quả kinh tế của chiến tranh Việt Nam. Viện TTKHXH-UBKKXH Việt Nam dịch, H.1978.

        4. Phát biểu của Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tại cuộc họp báo ở Oa-sinh-tơn tháng 11 năm 1966, dẫn theo Văn Tập: Chiến tranh Việt Nam và kinh tế Mỹ. Nxb Khoa học xã hội, H.1973.

        5. R.Stê-ven trong cuốn sách: Hy vọng hão huyền, thực tế phũ phàng - những hậu quả của chiến tranh Việt Nam đối với nền kình tế Mỹ cho rằng? "Sự lãng phí vờ trách nhiệm mà chính quyền Giôn-xơn bòn rút từ nền kinh tế Mỹ để chi dùng cho mục đích chiến tranh, đã mở đầu cho một thời kỳ lạm phát nghiêm trọng, đã nhấn chìm nạn kinh tế Mỹ". Sđd, tr.9.

        6. Phát biểu của lãnh tụ người Mỹ da đen Mác-tin Lu-thơ-king, ngày 25 tháng 2 năm 1967. Dẫn theo A.Am-tơ Lời phán quyết về Việt Nam. Nxb Quân đội nhân dân, H.1985, tr.196.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2017, 03:29:24 PM

        Về xã hội: Suy thoái kinh tế, một loạt các vấn đề xã hội trong nước (nạn phân biệt chủng tộc, nạn thất nghiệp, nạn nghèo đói, bệnh tật, thất học trong một bộ phận nhân dân lao động Mỹ...) bị phó mặc cho ngẫu nhiên định đoạt do việc chính phủ liên bang ngày càng dồn tâm trí và tiền của vào cuộc chiến tranh Việt Nam và cuối cùng, số lính Mỹ bị chết trên chiến trường Việt Nam ngày càng nhiều đã làm cho bầu không khí xã hội Mỹ trở nên u ám, nặng nề, khiến cho một bộ phận công chúng Mỹ từ chỗ ủng hộ đã chuyển sang phản đối chính sách chiến tranh Việt Nam của chính quyền Giôn-xơn. Sau này, khi xem xét kỹ dư luận công chúng Mỹ thì Bộ quốc phòng Mỹ nhận thảy "sự ủng hộ chiến tranh Việt Nam giảm dần, đặc biệt sau khi xuất hiện sự trì trệ trong nền kinh tế Mỹ cuối năm 1965, đầu năm 1966"1. Vào lúc đó, ở nhiều thành phố lớn của Mỹ, phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt là học sinh, sinh viên, người Mỹ da đen mà cuộc sống thường ngày đã bị chiến tranh Việt Nam làm cho gián đoạn, khốn đốn. Từ chỗ ban đầu chỉ là cuộc biểu tình tuần hành, hội thảo, đốt thẻ quân dịch, bỏ ra nước ngoài..., bước sang năm 1967, phong trào phản dối chiến tranh đã biến thành các cuộc bạo động quyết liệt ở nhiều thành phố Mỹ như Niu Giếc-xây Đi-troa, Mi-si-gân... Trong khi đó, các phương tiện truyền thông Mỹ - bộ lọc giúp công chúng Mỹ nhận thay và hiểu rõ cuộc chiến tranh đẫm máu ở bên kia đại dương - đã và dang chuyển động theo hướng thay đổi lập trường đối với chiến tranh. Nếu như, vào những ngày dầu Mỹ leo thang chiến tranh, báo chí Mỹ đã ủng hộ đường lối của chính quyền thì giờ đây, nhiều tờ báo có thế lực và các hãng truyền hình khổng lồ ở Mỹ đã chuyển sang nghi ngờ, bi quan và đặt lại vấn đề về cuộc chiến tranh mà Mỹ đang tiến hành ở Việt Nam Ngay như tờ Thời báo Niu-oóc (The New York times) - một tờ báo lớn ở Mỹ từng kiên trì ủng hộ một cách mạnh mẽ và đầy sức thuyết phục cho cố gắng chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam thì giờ đây cũng thay đổi lập trường. Sự "trở cờ" của tờ báo lớn này ở trong lòng nước Mỹ đã là một đòn nặng giáng vào chính phủ”2 và là bằng chứng đau lòng về sự rạn nứt, khủng hoảng lòng tin của nhân dân và chính giới Mỹ. Thế nhưng, tất cả sự phản đối chiến tranh diễn ra trên đường phố, trong các khu đại học và trên mặt báo cũng như trong các chương trình phát sóng của các hãng truyền hình Mỹ... không còn là làn sóng dư luận đơn thuần nữa - mà đến đây, “làn sóng" này đã đủ sức làm thay đổi lập trường của nhiều nghị sĩ Quốc hội Mỹ - nơi mà các “Ông Nghị" đông đảo dại diện cho các khối cử tri của từng bang trong "Hợp chủng quốc Hoa Kỳ" đều đã cảm thấy chiến tranh Việt Nam đã "gõ cửa từng gia đình" của chính họ. Vì thế, ngày càng nhiều nghị sĩ phản đối chính sách chiến tranh cũng như cách thức tiến hành chiến tranh của cơ quan hành pháp Mỹ. Họ đòi hỏi phải giảm bớt cam kết, hạ thấp các mục tiêu của Mỹ ở Việt Nam, tìm một giải pháp nhằm sớm đưa nước Mỹ thoát khỏi cuộc chiến tranh mà trước đó, trong Nghị quyết “Vịnh Bắc Bộ", chính các "Ông Nghị" này đã long trọng tuyên bố: tán thành và ủng hộ quyết tâm của tổng thống, với tư cách là Tổng tư lệnh, để có những biện pháp cần thiết nhằm đẩy lùi bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào chống lại các lực lượng của Mỹ3. Xu hướng thay đổi đó trong lập trường Quốc hội Mỹ đã và đang trở thành áp lực chính trị ngày càng tăng đối với chính quyền Mỹ và đối với cá nhân Tổng thống Mỹ Giôn-xơn.

        Đứng trước thái độ của dư luận và sức ép từ phía Quốc hội, nội bộ Chính phủ Mỹ càng thêm phân hóa. Một cuộc thăm dò dư luận cho thấy, sự tín nhiệm của nhân dân Mỹ với chính phủ Giôn-xơn từ cuối năm 1966 trở đi đã sa sút nghiêm trọng. Người ta thấy đây là một chính phủ đang phải tự vật lộn với mình vì một số nhà vạch kế hoạch ở cấp cao đã thay đổi quan điểm trước sức ép của một cuộc chiến tranh kéo dài. Đại loại, sự thay đổi quan điểm ở đây có thể chia thành ba loại khác nhau: Một là phe Mắc-na-ma-ra mà người ta vẫn quen gọi là "Nhóm Bồ câu bị vỡ mộng" đang muốn tìm cách giới hạn để sau đó làm giảm bớt quy mô của cuộc chiến tranh; hai là phe quân sự - "Nhóm Diều hâu” - đứng đầu là các tham mưu trưởng liên quân Mỹ và Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam tướng Oét-mo-len được xem như phái hiếu chiến nhất lúc ấy, luôn gây sức ép thúc giục chính phủ phải mở rộng chiến tranh; ba là phái "Trung dung", tiêu biểu là Tổng thống Mỹ Giôn-xơn cùng một số quan chức dân sự cấp cao trong chính phủ và Bộ ngoại giao Mỹ. Sở dĩ gọi họ là phái "Trung dung” vì họ đang đứng ở thế chênh vênh trên bờ vực phân ranh giới giữa nhóm "Bồ câu” và nhóm "Diều hâu”, cốt “dĩ hòa vi quý” hòng chờ đợi một cuộc bầu cử cho thuận chèo mát mái.

-----------------------
        1. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd, tr.40.

        2. Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẾT, Sđd, tr.47.

        3. Nghị quyết 'Vịnh Bắc Bộ" của Quốc hội Mỹ. Dẫn theo A.Am-tơ Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd, tr.95.
 


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2017, 03:34:05 PM

        Vào tháng 8 năm 1967, khi cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966-1967 trên chiến trường Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị đánh bại hoàn toàn, Oét-mo-len - Tư lệnh chiến trường Mỹ tại miền Nam - được Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ hậu thuẫn mạnh mẽ, đã đề nghị Oa-sinh-tơn tăng thêm lực lượng chiến đấu vào miền Nam. Tháng 4 năm 1967, ông được gọi về Oa-sinh-tơn để tường trình các "luận chứng" mà ông ta yêu cầu. Trong cuộc gặp Tổng thống Giôn-xơn tại Nhà Trắng, viên tư lệnh chiến trường này đã đề nghị xin tăng quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam theo hai mức. Mức một gồm 100.000 quân là lực lượng tối thiểu mà theo ông, để kiềm chế áp lực đang gia tăng của quân đội Bấc Việt Nam ở khu vực khu phi quân sự gây nên và để duy trì “thế chủ động chiến thuật" của Mỹ trên chiến trường. Mức hai, gồm 201.250 quân để đưa tổng số quân Mỹ chiến đấu ở miền Nam Việt Nam lên tới 671.616 người vào giữa năm 1968, nhằm tiêu diệt hoặc làm tê liệt quân chủ lực của địch nhanh hơn và tước bỏ những khu "đất thánh" an toàn đã được Việt cộng thiết lập từ lâu ở Nam Việt Nam. Khi Giôn-xơn lo lắng hỏi “thời hạn dự định kết thúc cuộc chiến tranh sẽ là bao lâu nếu như vị tổng thống này chấp nhận mức một hoặc mức hai, Oét-mo-len thưa rằng: nếu tăng quân ở mức tối đa chiến tranh có khả năng còn tiếp diễn trong 2 năm; tăng ở mức tối thiểu - sẽ là 3 năm. Còn nếu yêu cầu tăng quân không được chấp thuận thì - theo biên bản cuộc họp mà tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ dẫn, Oét-mo-len cho rằng: ông “sẽ không biết xoay xở ra sao khi phải chống lại số quân tăng viện mà quân địch có thể cung cấp được”1. Trong khi đó, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ lại yêu cầu mở rộng chiến tranh mặt đất sang vào, Campuchia và phần đất phía Nam của Bắc Việt Nam; leo thang đánh phá toàn bộ hệ thống mục tiêu - kể cả đê điều của miền Bấc Việt Nam; phong tỏa chặt cảng biển Hải Phòng; tăng thuế và gọi quân trù bị Mỹ để bù đắp vào số quân thiếu hụt ở các căn cứ quân sự Mỹ trên khắp thế giới do phải dồn cho chiến trường Việt Nam. Nhưng, nếu chấp nhận những yêu cầu này, số phận chính trị của bản thân Tổng thống Mỹ Giôn-xơn sẽ không còn hy vọng gì trong cuộc bầu cử sắp tới. Vì thế, khi toàn bộ các đề nghị trên đây vừa được tiết lộ thì sự bất đồng quan điểm một cách gay gắt giữa phái quân sự và phái dân sự trong chính phủ Giôn-xơn nổi lên ngay lập tức, đến nỗi các tham mưu trưởng liên quân Mỹ tuyên bố họ sẽ công khai từ chức nếu các đề nghị nói trên của họ bị bác bỏ.

        Ngay sau cuộc họp giữa Giôn-xơn và Oét-mo-len, ngày 24 tháng 4 năm 1967, quyền Ngoại trưởng Mỹ Ni-cô-lai Ka-zen-bách (Nicolas Kazenbach) đã ra lệnh tiến hành một cuộc kiểm điểm liên bộ - Ngoại giao, Quốc phòng, Cục tình báo trung ương CIA, Tài chính... - về hai phương án lựa chọn lớn trong đường lối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam:

        Phương án một: Cung cấp cho Oét-mo-len thêm 200.000 quân, tăng cường các hoạt động quân sự trên mặt đất ra ngoài lãnh thổ Nam Việt Nam, tăng cường cuộc chiến tranh trên không và trên biển đối với miền Bắc Việt Nam.

        Phương án hai: Giới hạn tăng quân ở mức có thể cung cấp mà không động viên quân dự bị, xét việc ngừng ném bom các vùng ở phía bắc vĩ tuyến 20 hoặc “nếu muốn tạo một cơ hội có giải pháp thật hấp dẫn (tức Hà Nội chấp thuận ngồi vào bàn thương lượng để Mỹ rút lui khỏi Việt Nam trong danh dự - H.K) thì ngừng ném bom toàn bộ Bắc Việt Nam"2.

        Trong sự lựa chọn này, phái quân sự kiên quyết giữ vững lập trường theo phương án một, phái dân sự phản đối gay gắt, đòi thực hiện phương án hai.

        -  Tại Bộ ngoại giao Mỹ, trong bị vong lục gửi Quyền Ngoại trưởng N. Ka-zen-bách ngày 1 tháng 5 năm 1967. Uy-li-am Bân-đi (William Putnam Bundy) - Thứ trưởng ngoại giao phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương - chống lại việc mở rộng các hoạt động mặt đất ra miền Bắc Việt nam, kịch liệt phản đối đưa một sư đoàn quân đội Sài Gòn vượt biên giới sang Lào, không đồng ý phong tỏa cảng Hải Phòng vì sợ Liên Xô và Trung Quốc sẽ phản ứng mạnh.

        -  Ở Lầu Năm Góc, sự phản ứng lại xuất phát từ một hướng khác. Cục phân tích các hệ thống của Bộ quốc phòng Mỹ đã dưa ra một loạt các văn kiện nhằm bác bỏ lập luận của Oét-mo-len khi ông này cho rằng: Tổn thất của Việt cộng và quân Bấc Việt Nam sẽ tăng lên tương ứng với số quân Mỹ được đưa thêm vào Nam Việt Nam. Theo các văn kiện mà Cục phân tích hệ thống Bộ quốc phòng Mỹ công bố trong tháng 4 và tháng 5 năm 1967 thì, khi phân tích một loạt các trận đánh ở miền Nam Việt Nam, có 46% số trận do đối phương chủ động phục kích quân Mỹ, 88% số trận do đối phương chủ động khởi chiến, 68% số mục tiêu mà quân Mỹ gặp phải là những tay súng của đối phương “ẩn sâu trong hầm hào hoặc địa đạo" khiến cho quân Mỹ khó có thể tiêu diệt được. Ngoài ra, thông qua việc phân tích các trận giao tranh, cơ quan này còn đưa ra các tỉ lệ xác suất như sau: trong 56 trận, có 84% số trận do đối phương sẵn sàng và dừng lại chiến đấu trong một kiểu trận địa chiến, 78% trường hợp do đối phương chủ động phục kích hoặc hoàn toàn nắm lợi thế về yếu tố bất ngờ. Vì thế, theo cơ quan này, trái với lập luận của Oét-mo-len, sự tăng thêm quân Mỹ vào Nam Việt Nam không thể làm tăng thêm tổn thất tương ứng cho Việt cộng và quân Bắc Việt Nam.

-------------------
        1. Tài liệu một Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.189.

        2. Theo Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.191.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2017, 03:40:16 PM

        Trong khi đó cũng vào đẩu tháng 5 năm 1967, Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) công bố 3 văn kiện tiếp sức thêm cho những người chống đối việc mở rộng chiến tranh không quân chống miền Bắc Việt Nam. Theo đó, "27 tháng Mỹ ném bom đã ít có tác dụng rõ rệt đến chiến lược chung của Hà Nội trong việc tiến hành chiến tranh, ít tác động tới quan điểm đầy tin tưởng của họ về thương lượng"1. Trong văn kiên công bố ngày 12 tháng 5 năm 1967, CIA cho rằng: "Thái độ của Bắc Việt Nam sau những cuộc ném bom keo dài là một thái độ kiên quyết đi đôi với sức chịu đựng to lớn vẫn còn chưa bộc lộ hết” 2.

        Được hỗ trợ bởi kết luận rút ra từ những con số thống kê đó của các cơ quan phân tích trên đây, Mác Nôt-tơn (Mc.Naughton) - trợ lý Bộ trưởng quốc phòng, nhân vật có thế lực lớn hàng thứ ba trong Lầu Năm Góc - đã cùng với Mắc-na-ma-ra phản đối gay gắt đề nghị của phái quân sự. Trước sự phản đối này, dư luận Mỹ ngày đó hóm hỉnh - nhưng không hề đùa bỡn - bình luận rằng: Mác Nót-tơn vốn là cha của đứa con trai 18 tuổi sắp bước vào trường đại học, nên ông đặc biệt nhạy cảm với tình trạng bất mãn, chống đối chinh quyền, phản đối chiến tranh đang tăng nhanh trong thanh niên, sinh viên và các tầng lớp xã hội khác ở Mỹ. Trong một bị vong lục gửi Mắc-na-ma-ra, ông viết: Một cảm giác mà nhiều người cảm thảy và cảm thảy mạnh mẽ là chính quyền này mất trí, (...) là Mỹ đang cố gắng áp đặt một số hình ảnh của mình lên những dân tộc xa xôi mà Mỹ không thể hiểu cũng như không thể hiểu được thế hệ trẻ hiện nay ở nước Mỹ. Và chúng ta đang đưa sự việc đến mức độ phi lý. Liên quan tới cảm giác này là tình trạng phân cực ngày một tăng đang xảy ra trên nước Mỹ với những mầm mống của sự chia rẽ tệ hại nhất trong nhân dân Mỹ kể từ hơn một thế kỷ nay". Vì vậy, giờ đây, ông cho rằng: "Triết lý của cuộc chiến tranh Việt Nam phải được đưa ra tranh luận cho ra lẽ để ai nấy khỏi theo đuổi những tiến đề của riêng mình và để khỏi đưa nước Mỹ ngày càng chìm sâu thêm nữa"3 vào Việt Nam. Thực ra, đây không chỉ là ý kiến cá nhân của Mác Nồt-tơn - dù cho ông là nhân vật thứ ba của Lầu Năm Góc - mà đó còn là sự trùng hợp với quan điểm của nhân vật số một ở Lầu Năm Góc là Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mắc-na-ma-ra. Trong bị vong lục ngày 19 tháng 5 năm 1967 gửi Giôn-xơn, Mắc-na-ma-ra đã đưa ra những lập luận chứng chiến lược mở rộng chiến tranh. Thậm chí, theo nhận định của Mắc-na-ma-ra, nước Mỹ đã đi vào con đường bế tắc, không thể có một giải pháp nào hấp dẫn khả thi được. Bởi vì, dù cho Mỹ có tiếp tục chính sách ôn hòa hiện nay, cố tránh một cuộc chiến tranh mở rộng cũng sẽ không thể làm thay đổi được tư tưởng của Hà Nội; ngược lại, nếu Mỹ tăng mức quân số và những hành động chống phá miền Bắc tất yếu sẽ dẫn tới khả năng làm cho Mỹ mắc kẹt sâu hơn ở Đông Nam Á và lao vào một cuộc chiến tranh với Trung Quốc và Nga. Vì vậy Mỹ buộc phải lựa chọn một trong số "những giải pháp không hoàn hảo"4 cụ thể là ông đưa ra kiến nghị: "Chính phủ Mỹ cần khuyến khích chính quyền Sài Gòn tiếp xúc với những phần tử không Cộng sản thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nanh, sẵn sàng chấp thuận việc thành lập một chính phủ "có đủ màu sắc” ở miền Nam Việt Nam"5.

        Xem ra, ý kiến trên đây của Bộ trưởng quốc phòng Mỹ còn lúng túng hơn cả Mác Nót-tơn: “Xuống thang" thì không thỏa mãn Hà Nội; "Leo thang” thì sợ đụng đầu với Liên Xô và Trung Quốc. Còn như trông mong ở chính quyền Sài Gòn để tìm những phần tử không Cộng sản - thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam để bấu víu vào thì khác gì đi tìm mặt trăng lúc chính ngọ!

        Trước những quan điểm trái ngược và lúng túng của đội ngũ cố vấn cấp cao trong chính phủ lúc đó, Tổng thống Mỹ đành phải chọn con đường mà các tài liệu gọi là tiếp tục “Leo thang từng bước" hay là đường lối “O ép từ từ"6. Cái đường lối “trung dung" của Giôn-xơn là như vậy đó: "Leo thang" hay "O ép” là chữ dùng để thỏa mãn phái "Diều hâu”; còn như "từng bước" và "từ từ" là chữ dùng để an ủi phái "Bồ câu” vậy!

        Thế là, mùa thu năm 1967, Giôn-xơn phải thực thi những hành động cũng thật "trung dung" nửa vời hòng dung hòa cả hai phái bằng cách quyết định tăng thêm 55.000 quân sang miền Nam Việt Nam (thay vì 200.000 quân như Oét-mo-len đề nghị), chấp thuận yêu cầu của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ oanh tạc thêm 57 mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam (chứ không phong tỏa cảng Hải Phòng như Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ yêu cầu). Tuy nhiên, việc động viên lực lượng trù bị như đề nghị của giới quân sự Mỹ vẫn được Giôn-xơn xem như một hàng rào chính trị mà ông không muốn vượt qua.

        Tất cả những diễn biến trên đây đã biểu hiện chính giới Mỹ đang ngập ngừng đứng trước ngã ba đường trong việc tìm kiếm chiến lược mới của Mỹ tại chiến trường Việt Nam.

-----------------------
        1. Theo Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.194.

        2. Theo Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.194.

        3. Theo Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.194.
    
        4. Dẫn theo Hồi ký của Lin-đơn Giôn-xơn. Việt Nam Thông tấn xã dịch và phát hành, H.1972, tr.262.

        5. Dẫn theo Hồi ký của Lin-đơn Giôn-xơn. Việt Nam Thông tấn xã dịch và phát hành, H.1972, tr.262.

        6. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.178.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2017, 03:49:49 PM

        Như vậy trải qua hai năm tiến hành chiến tranh cục bộ, mặc dù đã áp dụng nhiều thủ đoạn và biện pháp về quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao và đã chịu nhiều tổn thất to lớn về người và của nhưng phía Mỹ vẫn luôn luôn ở thế bị động về chiến lược và chiến thuật. Tất cả các mâu thuẫn của việc Mỹ đưa quân vào miền Nam1 không những không khắc phục được mà ngày càng trở nên sâu sắc hơn. Kế hoạch chiến lược dự định giành thắng lợi quyết định, hoàn tất các mục tiêu chiến lược, rút quân Mỹ về nước vào giữa hoặc cùng lắm cuối năm 1967 mà Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở miền Nam vạch ra và đã được Oa-sinh-tơn chấp nhận từ ngày đầu chiến tranh cục bộ, đã bị phá vỡ2. Thực tế đó được chính Oét-mo-len - Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam - thừa nhận trong cuộc gặp Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tại thủ đô Oa-sinh-tơn tháng 4 năm 1967. Theo Oét-mo-len, "trừ phi ý chí chiến đấu của địch (tức nhân dân Việt Nam) bị đập tan hoặc tổ chức cơ sở của Việt cộng bị phá vỡ, còn không, cuộc chiến tranh có thể còn phải tiếp diễn trong vòng năm hoặc sáu năm nữa"3. Đến giữa năm 1967, chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ đã bị chặn đứng lại. Chẳng những thế, việc thất bại này đã làm cho quân Mỹ bị chủ lực Quân giải phóng miền Nam kéo vào "trò chơi đuổi bắt" và thực tế, lực lượng của Mỹ và đồng minh bị căng mỏng trên các chiến trường, bị vây hãm trong thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam. Đồng thời, việc ném bom nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đường mòn Hồ Chí Minh một cách ào ạt và liên tục cũng đã tự nó nói lên rằng: Tác động của chiến tranh không quân cuối cùng cũng mỏng manh như biện pháp "tìm diệt" và "bình định" trong việc xác định kết quả của cuộc chiến tranh hạn chế. Việc đó chẳng những không giải quyết được thế tiến thoái lưỡng nan của Mỹ trong chiến lược chiến tranh hạn chế - một loại chiến tranh mà Mỹ đã không thể giữ thế trá hình, giấu mặt, buộc phải nhảy ra và dấn sâu vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam cách xa Mỹ nửa vòng trái đất; mà thất bại đó cùng với những tổn phí nặng nề về đô la và sinh mạng lính Mỹ còn đặt Mỹ đứng trước những khó khăn rất lớn về chính trị, quân sự kinh tế, xã hội - không chỉ ở miền Nam Việt Nam mà cả trong lòng nước Mỹ. Tình hình này ngày càng trở nên nóng bỏng trong lúc nước Mỹ đang tiến dần tới năm vận động tranh cử tổng thống nhiệm kỳ mới 1968 - 1972. Đây là thời điểm rất nhạy cảm trong đời sống chính trị, xã hội nước Mỹ. Vì thế, mặc dù muốn nghiêng về giới quân sự hiếu chiến để tăng thêm hàng chục vạn quân Mỹ vào miền Nam, đẩy mạnh hơn nữa chiến tranh phá hoại miền Bắc... nhưng Tổng thống Mỹ Giôn-xơn vẫn buộc phải thận trọng trong việc tính toán, chọn lựa bước đi của Mỹ ở Việt Nam sao cho vừa tránh được sự đảo lộn bất ngờ nào trên chiến trường, vừa xoa dịu được dư luận trong nước, ổn định được nội bộ để có thể bước vào năm vận động tranh cử một cách "xuôi chèo, mát mái"; giành thắng lợi thêm một nhiệm kỳ mới để tiếp tục nỗ lực quân sự ở Việt Nam...

        Về phía ta, qua hai năm đương đầu với chiến tranh cục bộ, quân và dân ta ở miền Nam vẫn giữ vững và phát huy mạnh mẽ thế tiến công, đánh bại các cố gắng chiến tranh của địch, làm phá sản một bước quan trọng kế hoạch chiến lược của chúng, giữ vững quyền chủ dộng chiến trường, mở rộng vùng giải phóng và vùng làm chủ ở khu vực rừng núi, nông thôn đồng bằng và xung quanh các đô thị, các căn cứ, các tuyến giao thông huyết mạch của Mỹ, ngụy. Lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của ta đến năm 1967 đã phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Trên chiến trường miền Nam, chỉ riêng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương đã tăng từ 115.500 (năm 1964) lên 176.600 (1966) và 277.000 (1967). Ngoài ra, khắp mọi địa phương miền Nam, lực lượng dân quân du kích cũng có bước phát triển. Tất cả các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích được bố trí tương đối hợp lý trên các địa bàn chiến lược và đã vận dụng các phương thức tác chiến một cách linh hoạt, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, nhất là đã đánh vào một số thành thị, vào hàng loạt căn cứ, sân bay, kho tàng và đường giao thông chiến lược Mỹ, ngụy. Trong khi đó, lực lượng chính trì và các hình thức đấu tranh chính trị trong những vùng bị Mỹ - ngụy kiểm soát, nhất là ở các đô thị cũng được chú trọng phát triển.

--------------------
        1. Ví như mâu thuẫn giữa việc đưa quân Mỹ vào trực tiếp tiến hành chiến tranh với yêu cẩu phải giấu mặt, trá hình của chính sách xâm lược thực dán kiểu mới; giữa đế quốc Mỹ với dân tộc Việt Nam; giữa quân Mỹ với quân đội Sài Gòn; giữa phân tán và táp trung bình lực; giữa chiếm đóng và cơ động; giữa "bình định" và "tìm diệt"; giữa yêu cầu đánh nhanh, thắng nhanh và buộc phải đánh kéo dài...

        2. (Ngay từ tháng 10 năm 1966, Mắc-na-ma-ra đã nói với Giôn-xơn: Mỹ "đã dự đoán sai là chiến tranh có thể kết thúc một cách thỏa đáng trong vòng hai năm". Dẫn theo: Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.207.

        3. Dẫn theo: Tài liệu một Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.207.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 05:09:53 AM

        Trên miền Bắc, mặc dù chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ngày càng mở rộng cả về quy mô, cường dộ và gây ra cho ta những tổn thất nặng nề về người và của, nhưng trong khói lửa chiến tranh, miền Bắc vẫn là một hậu phương ổn định và bền vững. Tính ổn dính và bền vững đó của hậu phương chiến tranh là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng để miền Bắc cùng một lúc vừa sản xuất, vừa chiến dấu đánh bại các bước leo thang của không quân, hải quân Mỹ, vừa đáp ứng mạnh mẽ và liên tục mọi yêu cầu ngày càng tăng của chiến trường.

        Trên thế giới, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta ngày càng được dư luận thế giới và chính phủ nhiều nước đồng tình ủng hộ, giúp đỡ.

        Tất cả các nhân tố khách quan trên đây đã được Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương theo dõi chặt chẽ, kịp thời đánh giá để đi tới nhận định: một THỜI CƠ MỚI đang xuất hiện cho phép ta có thể và cần phải tìm phương cách khai thác triệt để nhằm tạo thế xoay chuyển cục diện chiến tranh. Vấn đề đặt ra ở đây là: tuy Mỹ bị sa lầy và rất lúng túng trong ý đồ chiến lược bởi thấy sức mạnh quân sự của Mỹ không thể giành thắng lợi trên chiến trường Việt Nam, song Mỹ vẫn chưa sẵn sàng xuống thang chiến tranh, vẫn muốn dùng sức mạnh quân sự để ép đối phương ngồi vào bàn đàm phán theo điều kiện của Mỹ. Trong khi đó, mặc dù đã giành được thắng lợi, làm thất bại các mục tiêu chiến lược của Mỹ qua hai mùa phản công nhưng phía Việt Nam cũng chưa đủ lực để mong đánh bật được 50 vạn quân chiến đấu Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam. Muốn chớp thời cơ có lợi để tạo nên bước ngoặt quyết dính của cuộc chiến tranh - trong điều kiện so sánh lực lượng quân sự trên chiến trường vẫn nghiêng về phía địch, cần phải giải quyết một loạt ván đề thuộc về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược, nhằm tác động nhanh, mạnh và kịp thời tới ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua về quân sự, phải xuống thang chiến tranh...

        Đây là lúc mà chúng ta có thể thực hiện ý đồ đề ra từ tháng 1 năm 1967 là "cần phải tích cực, khẩn trương, kiên quyết và linh hoạt, cố gắng đến cao độ để thực hiện chủ trương giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn, đồng thời tạo nên những điều kiện và cơ sở vững chắc để đánh thắng địch trong tình huống chiến tranh kéo dài"1.

--------------------
        1. Chỉ thị ngày 21.1.1967 của Thường trực Quân ủy Trung ương gửi Trung ương Cục, Quân ủy Miền, Khu ủy Khu 5, Khu ủy Trị - Thiên. Dẫn trong Điện chỉ đạo cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1968, tài liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 05:19:50 AM
     
       II. CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG

        Trước những thất bại của địch và thắng lợi của ta trên cả hai miền Nam, Bắc, từ cuối năm 1966, đầu năm 1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã đi tới chủ trương tạo điều kiện tiến tới mở ra cục diện vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh; xem đó là sách lược hỗ trợ cho đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị của quân và dân ta. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (họp từ ngày 23 đến ngày 26 tháng 1 năm 1967), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh trình bày Đề cương báo cáo về công tác đấu tranh ngoại giao, trong đó chỉ rõ: "Để đánh bại kẻ thù hết sức ngoan cố và xảo quyệt là đế quốc Mỹ xâm lược, ta phải giữ vững quyết tâm cao độ, nắm vững phương châm chiến lược, đồng thời phải biết cạch đánh thắng địch, vận dụng sách lược khôn khéo, giành thắng lợi từng bước"1. Vì thế, nếu như từ năm 1966 trở về trước, Bộ Ngoại giao ta đã nhiều lần công khai tuyên bố đòi Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam và chấm dứt hoàn toàn mọi hành động chống phá miền Bắc Việt Nam trước khi có bất cứ một cuộc nói chuyện nào giữa Việt Nam và Mỹ thì giờ dây, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 này, trên mặt trận ngoại giao, Đảng ta mềm dẻo hơn trong sách lược bằng việc chủ trương hé mở khả năng phía Việt Nam sẽ đi vào đàm phán nếu Mỹ chấm dứt ném bom không điều kiện miền Bắc chứ không gắn với việc đòi Mỹ rút khỏi miền Nam nữa. Tuy nhiên, Đảng ta cũng lưu ý rằng, trong quá trình thực hiện sách lược mềm dẻo, linh hoạt trên đây, chúng ta "cần dự kiến trước mọi khả năng. Cần đề phòng và khắc phục những nhận thức và tư tưởng lệch lạc trong nội bộ ta. Đồng thời có kế hoạch vận động giải thích, thuyết phục những nước anh em có thể nghi ngờ ta thương lượng non, do đó tỏ thái độ trực tiếp hoặc gián tiếp không đồng tình với ta; hoặc quá nặng về đàm phán giải quyết vấn đề đi đến thúc ép ta sớm đi tới giải pháp chính trị trong khi tình hình chưa chín muồi. Ta cần hết sức tránh không để quân thù lợi dụng sự bất đồng về sách lược giữa ta và nước anh em. Các nước trung gian cũng sẽ có những phản ứng khác nhau, ta cần tranh thủ sự ủng hộ của họ, đồng thời ngăn chặn ý đồ của họ muốn làm trung gian, gây thêm tình hình phức tạp"2.  Cần lưu ý thêm rằng, những năm Mỹ tiến hành chiến tranh cục bộ, song song với việc gia tăng hoạt động quán sự trên chiến trường, chính quyến Giôn-xơn còn đáy mạnh các hoạt động ngoại giao nhằm che giấu thái độ hiếu chiến của Mỹ, đánh lạc hướng chú ý của dư luận trong nước và trên thế giới. Theo yêu cấu của phía Mỹ, nhiều nhân vật hoặc một số chính phủ đã làm trung gian để thàm dò thái độ của Chính phủ ta đối với các tuyên bố "đàm phán", "thương lượng" của Mỹ. Chỉ riêng Liên Xô, từ năm 1965 đến 1968, đã 24 lần truyền đạt ý kiến của phía Mỹ cho ta về vần đế này. Còn theo tác giả G.C.Hê-ring trong cuốn “Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ" (Nxb Chính trị quốc gia, H, 1998), thì từ năm 1965 đến nam 1967, đã có tới 2.000 nỗ lực nhằm bất đầu cắc cuộc đàm phán hòa bình. Theo tác giả này thì cả Mỹ và Việt Nam "không bên nào có thể tỏ ra thờ ơ với những nỗ lực như vậy, nhưng cũng không bên nào muốn có những nhượng bộ cần thiết để biến các cuộc đàm phán trở thành hiện thực" (tr.210)).

        Đặt trong bối cảnh quốc tế và khu vực có liên quan tới cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam, xềt tình hình chiến trường và những diễn biến trong nội tình nước Mỹ cho đến thời điểm đó thì quyết định hé mở khả năng sẽ dẫn đến việc tiếp xúc chính thức và công khai giữa Việt Nam và Mỹ nếu Mỹ ngừng ném bom miền Bắc không điều kiện là đòn tiến công ngoại giao linh hoạt, chủ động và sắc bén của Đảng ta. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương (ngày 28.1.1967) khẳng định: "Chúng ta tiến công địch về mặt ngoại giao bây giờ là đúng lúc"3. Và chỉ rõ: "Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta hiện nay, đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động"4.

--------------------
        1. Đề cương báo cáo tại Hội nghị Trung ương, ngày 23.1.1967, dẫn trong Văn kiện Đảng - Toàn tập, T28 (1967), Nxb Chính trị quốc gia, H, 2003, tr.124, 125.

        2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T28, Sđd, tr.129.

        3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T28, Sđd, tr.174.

        4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T28, 1967, Sđd, tr.174.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 05:25:40 AM
     
        Quan điểm này của Đảng ta, rồi ra sẽ được quán triệt trong các hoạt động chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo chiến tranh từ giữa năm 1968 trở đi. Còn trước mắt, thực hiện nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Tnmg ương lần thứ 18, ngày 28 tháng 1 năm 1967, Bộ Ngoại giao ta ra tuyên bố khẳng định lập trường trước sau như một của nhân dân Việt Nam là kiên quyết chiến đấu để bảo vệ độc lập, tự do. Đồng thời, tuyên bố của Bộ Ngoại giao cũng chỉ rõ: phía Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chỉ sau khi Mỹ thực hiện điều này thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ mới có thể nói chuyện được. Thế nhưng, bất chấp thiện chí của ta, trong thư đề ngày 8 tháng 2 năm 1967 gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng thống Mỹ L.B Giôn-xơn đã dưa ra những điều kiện như đòi miền Bắc phải bảo đảm trước việc chấm dứt tăng viện cho miền Nam. Về thực chất, đó là đòi hỏi vô lý, thể hiện thái độ của Mỹ vẫn muốn đàm phán trên thế mạnh. Còn trên thực tế, ngày 14 tháng 2 năm 1967, Giôn-xơn lại ra lệnh cho không quân Mỹ ném bom trở lại thiến Bắc. Thái độ và hành động đó của Mỹ buộc chúng ta phải tính toán, tìm phương cách nhằm kéo Mỹ phải xuống thang chiến tranh, phải ngừng ném bom miền Bấc, đặc biệt trong năm bản lề này.

        Vì vậy từ những tháng đầu của năm 1967, trên cơ sở phân tích hnh hình mọi mặt và dõi theo sát diễn biến thực tế trên chiến trường, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nhận thấy: "Những thắng lợi của ta trong đông - xuân 1966-1967 đã tạo ra hình thế mới có lợi cho ta, bất lợi cho địch"1. Kế hoạch chiến lược dông - xuân 1967-1968 lập tức được khởi thảo nhằm mục đích tận dụng tình thế mới có lợi đó để đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ tiếp tục phát triển.

        Tháng 5 năm 1967, ngay sau khi cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của quân Mỹ kết thúc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá tình hình, xem xét dự thảo kế hoạch chiến lược đông - xuân 1967-1968. Tiếp đó, tháng 6 năm 1967, Hội nghị Bộ Chính trị lại được triệu táp và đã bàn bạc rất kỹ dự thảo kế hoạch chiến lược này. Hội nghị nhận định những thắng lợi của quân và dân ta giành được trên hai miền Nam, Bắc là to lớn, toàn diện. Thắng lợi đó đã làm thất bại một bước rất cơ bản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, đẩy Mỹ vào thế lúng túng, bị động cả về chiến lược lẫn chiến dịch.

        Hội nghị còn nhận định rằng, về phía ta, cả thế và lực đang có những tiến bộ, cho phép ta "trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn"2.

        Nhưng tương đối ngắn là bao lâu? Tuy bàn bạc rất tỉ mỉ về tương quan lực lượng lúc đó, Hội nghị cũng chỉ có thể dự kiến sẽ giành thắng lợi quyết định trong năm 1968 theo phương hướng ĐÁNH LỚN. Muốn vậy, nhiêm vụ quân sự của ta là phải tiêu diệt một bộ phận sinh lực quân Mỹ, làm mất khả năng tiến công của chúng, đồng thời phải tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, khiến cho chúng không còn là lực lượng chiến lược trong tiến công và phòng ngự mà Mỹ dựa vào đó để tiến hành chiến tranh.

        Về phương thức đấu tranh, Hội nghị xác định trong khi kiên trì tiến công địch toàn diện về quân sự, chính trị, ngoại giao, cần chuẩn bị đánh những trận quy mô lớn, có hiệu suất cao, tạo điều kiện để đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại giao.

        Cho đến thời điểm này, những người tham gia khởi thảo kế hoạch chiến lược đông - xuân 1967-19682 (Khi xây dựng các kế hoạch tuyệt mật, theo quy định của Bộ Tổng tham mưu Quán đội nhàn dân Việt Nam, Cục Tác chiến lập ra Tổ làm kế hoạch do Cục trưởng Cục Tác chiến phụ trách. Trên cương vị đó, Cực trưởng Cục Tác chiến được trực tiếp làm việc với các đồng chí chủ chốt trong Quân ủy Trung ương và Bộ Chính trị để chuẩn bị kế hoạch trước khi trình lên cấp lãnh đạo cao nhất) mới chỉ dự kiến: tổ chức các trận đánh tiêu diệt từ 3 đến 5 lữ đoàn quân Mỹ và từ 3 đến 5 Sư đoàn quân đội Sài Gòn; giải phóng từ 8 đến 10 triệu dân... Thực ra, đó là cách làm như các đông - xuân trước, có khác thăng cũng chỉ là với mức cao hơn mà thôi. Hơn nữa, mặc dù Bộ Tổng tham mưu đã cử cán bộ tới các chiến trường, các mặt trận chỉ đạo thí điểm cách đánh tiêu diệt gọn các đơn vị quân Mỹ, song trên thực tế, đấy không hề là vấn đề đơn giản vì cho đến thời điểm đó, trước một đối thủ như quân Mỹ, khả năng đánh tiêu diệt của bộ đội ta còn hạn chế, không thể sớm khắc phục trong một sớm một chiều.

--------------------
        1. Dẫn theo Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, T2, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1995, tr.384.

        2. Dẫn theo Lịch sử Đảng Cộng sàn Việt Nam, T2, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1995, tr.385.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 09:24:35 PM

        Từ tháng 7 năm 1967, phương án tác chiến chiến lược tiếp tục được bổ sung. Đó là cả một quá trình tính toán, bàn bạc, cân nhắc, hoàn thiện dần từng bước chủ trương chiến lược giữa Tổng hành dinh với lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, với các ngành, các cấp... có liên quan. Trong quá trình này, Tổng hành dinh nhận thấy: nếu cứ tiếp tục mở các hoạt động quân sự như trước, đánh theo cách đánh cũ thì khó tận dụng được thời cơ có lợi để tạo nên chuyển biến chiến lược trên chiến trường, chiến tranh sẽ vẫn diễn ra trong thế nhùng nhằng, giằng co. Nhưng mặt khác, trước đối thủ có hỏa lực mạnh và dồi dào, sức cơ động cao, khả năng tiếp ứng nhanh, lại chiếm ưu thế áp đảo trên không, trên sông, trên biển... như quân Mỹ thì phương án bao vây để tiêu diệt lớn đội quân này - như ta đã từng làm ở lòng chảo Điện Biên Phủ đối với quân viễn chinh Pháp trước đây, là không hiện thực. Trong lúc Tổ kế hoạch Cục Tác chiến còn đang trong quá trình tìm tòi cách đánh - nhưng vẫn chưa nghĩ ra, thì “chính số đồng chí lãnh đạo chủ chốt Bộ Chính trị (đồng chí Lê Duẩn...) và Quân ủy Trung ương đã trao đổi, đề xuất giải pháp mới. Hai tư duy chỉ đạo vừa sáng tạo, vừa táo bạo đã kết thành ý định quyết tâm chiến lược là đột ngột chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta từ rừng núi, nông thôn đánh thẳng vào sào huyệt, đầu não hiểm yếu nhất của địch là các thành phố, căn cứ trung tâm... Đánh vào đó, ta sẽ tạo được bất ngờ lớn về chiến lược, giành thắng lợi lớn”1. Cũng theo tác giả, thì ý định này còn là “một bất ngờ đối với cả phần đông cán bộ ta" và ngay cả đối với “Tổ kẽ hoạch". Trong một bài viết khác in trong cuốn. Lê Duẩn - một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia, H, 2002), Thượng tướng Lê Ngọc Hiền cho biết: tháng 9 năm 1967, đồng chí Văn Tiến Dũng gặp và lệnh cho "Tổ kế hoạch" làm kế hoạch đánh vào thành phố, sau này, Đại tướng Vân Tiến Dũng cho biết đó là đế xuất của đồng chí Lê Duẩn).

        Tiếp thu ý tưởng táo bạo đó, "Tổ kế hoạch” lập tức bắt tay xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược một cách tỉ mỉ, toàn diện - bao gồm kế hoạch tác chiến thực và kế hoạch nghi binh. Toàn bộ ý định chiến lược này được giữ bí mật nghiêm ngặt (Kể cả việc không đưa ra bàn bạc về chủ trương chiến lược này ở Trung ương. Còn trong Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, chỉ ai được phân công làm kế hoạch mới được biết vế chủ trương mới này). Quân ủy Trung ương trực tiếp chỉ đạo và đôn đốc việc chuẩn bị ở cả hai miền Nam, Bắc (Chính xác hơn có thể thấy rằng: tháng 8 năm 1967, khi đồng chi Phạm Hùng được cử vào Nam thay đồng chí Nguyễn Chí Thanh vừa mất (7.1967) ý định đánh vào thành phố đã hình thành và do vậy, kế hoạch đông - xuân 1967-1968 cũng được chuẩn bị lại. Ngay sau đó, các đồng chí phụ trách chiến trường được lệnh ra Hà Nội báo cáo tình hình và bàn cách đánh mới như các đồng chí Lê Đức Anh (9.1967), Trần Văn Trà (11.1967), Cao Văn Khánh, Nguyễn Năng, Lê Chưởng...

        Trong 5 ngày, từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 10 năm 1967, Bộ Chính trị lại họp bàn cụ thể hơn về chủ trương và kế hoạch chiến lược năm 1968 (Dự Hội nghị gồm các ủy viên Bộ Chính trị: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Lê Đức Thọ và các đồng chí là ủy viên Trung ương Đảng, ủy viên Quân ủy Trung ương Tố Hữu, Lê Văn Lương, Song Hào, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Quý Hai. Các đồng chí Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, "vì lý do sức khoe, vắng mặt, đi chữa bệnh nước ngoài” - như Biên bản Hội nghị ghi chú rõ. Chủ trì Hội nghị là đồng chí Trường Chinh. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Đây là hội nghị rất quan trọng để vạch ra kế hoạch tiến công táo bạo "Tết Mậu thân" lịch sử. Tại Hội nghị này, thay mặt Quân ủy Trung ương, đồng chí Văn Tiến Dũng đã trình bày dự thảo Kế hoạch chiến lược Đông Xuân Hè 1967-1968 làm cơ sở cho Bộ Chính trị đi vào bàn bạc, thảo luận. Về tình hình địch, bản Dự thảo chỉ rõ: với quân số, số lượng bom đạn và một ngân sách chiến tranh lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ và sau gần 3 năm trực tiếp đưa quân xâm lược miền Nam, Mỹ đã bị sa lầy và thất bại rất nặng nề về tất cả các mặt ở hai miền Nam, Bắc và cũng không đạt được âm mưu thôn tính dần nước Lào. "Đặc điểm tình hình của Mỹ ở miền Nam Việt Nam hiện nay là tất cả các chỗ yếu của quân Mỹ và thế bị động về chiến dịch, chiến lược và chính trị của chúng không chỉ xuất hiện trong lúc chúng mới khởi sự chiến tranh, trong lúc quân Mỹ, quân ngụy còn ít, trong lúc chúng chưa lôi kéo được nhiều nước chư hầu đưa quân tham chiến ở miền Nam, mà xuất hiện sau sáu năm chiến tranh đặc biệt và cục bộ và trong lúc quân Mỹ - ngụy và chư hầu đã lên tới trên một triệu người, trong lúc tập đoàn thống trị ở Mỹ càng kéo dài và mở rộng chiến tranh càng bị phản đối, bị cô lập ở Mỹ và ở khắp nơi trên thế giới hơn bao giờ hết"2.

-------------------------
        1. Thượng tưởng Lê Ngọc Hiền: Ghi nhớ về xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện đòn tiến công chiến lược Mậu thân 1968. (Bài đăng trong kỷ yếu Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu thân 1968. Nxb Quân đội nhân dân, H, 1998, tr.111-112.

        2. Kế hoạch chiến lược Đông Xuân Hè 1967 - 1968, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 09:32:42 PM

        Tuy bị thất bại nặng cả về quân sự, "đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tăng thêm nỗ lực chiến tranh... tìm cách thông qua đàm phán để nếu có thể rút ra khỏi chiến tranh ở miền Nam thì vẫn duy trì được ngụy quân, ngụy quyền; hoặc nếu không thực hiện được âm mưu ấy thì chúng vẫn có thể duy trì được tình hình của chúng ở miền Nam không bị đảo lộn một cách bất ngờ, chờ sau cuộc tổng tuyển cử tổng thống sắp tới ở Mỹ, chúng sẽ định ra những bước tiếp theo của cuộc chiến tranh"1.

        Về phía ta, bản Dự thảo nhận định rằng, với những thắng lợi giành được trên cả hai miền Nam, Bắc, "chúng ta đang giữ quyền chủ dộng trong cuộc chiến tranh, đẩy địch vào thế bị động toàn diện và đang thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta đến sát một bước ngoặt chiến lược quyết định"2. Trong những điều kiện đó, như Dự thảo đã chỉ rõ, trên cơ sở nhạy bén nắm bắt thời cơ chiến lược ra sức chuẩn bị mọi mặt, cần "nhanh chóng và nhất loạt thực hiện một cuộc đột kích chiến lược bất ngờ và mãnh liệt nhất, bằng cả lực lượng vũ trang và chính trị, tức là khởi sự một cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa mạnh mẽ và quyết liệt nhất để giành lấy thắng lợi cao nhất và chủ động nhất"3. Để tổng công kích, tổng khởi nghĩa, nguyên tắc phải tuân thủ là: tiến công hết sức bất ngờ, dùng bạo lực mạnh mẽ và táp trung nhất, tiến công đồng loạt, nhằm vào cả Mỹ và ngụy. Dự thảo kế hoạch còn đề cập tới những nội dung lớn của từng đợt tiến công chiến lược nhiệm vụ chung, nhiệm vụ của từng miền và nhiệm vụ cụ thể của từng chiến trường...

        Ngoài bản dự thảo kế hoạch trên đây, Bộ Chính trị còn dành thời gian nghe báo cáo về tình hình địch của Cục 2, về tình hình ta của Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, về cáo kế hoạch tác chiến của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ.

        Trên cơ sở thảo luận rất kỹ các báo cáo trên đây, đặc biệt là Kế hoạch chiến lược Đông Xuân Hè 1967-1968 do Quân ủy Trung ương dự thảo, Bộ Chính trị nhận định: "Mỹ đang thất bại lớn, vì có tăng quân cũng không giải quyết được gì mà tình hình càng bế tắc, càng bị cô lập thêm, mâu thuẫn càng sâu sắc"4. Tuy nhiên, Mỹ vẫn còn rất ngoan cố, trong nội bộ còn đấu tranh. Do vậy Mỹ đang cố gắng tăng cường lực lượng để giữ cho tình hình không xấu đi, cố gắng cho khỏi bị cô lập hơn nữa. Trong khi đó, như Bộ Chính trị đã nhận định, "thắng lợi của ta là thắng lợi của một nước bé định thắng khổng lồ đế quốc Mỹ"5. Chớp thời cơ này, Bộ Chính trị quyết định thực hiện một phương thức tiến công, một cách đánh mới có hiệu lực cao nhằm "làm thay đổi tình hình (làm được chủ yếu do cố gắng của ta), thay đổi cục diện, chuyển biến chiến lược" trên chiến trường miền Nam và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Phải thấy rằng, đây là một quyết định rất táo bạo của Đáng ta. Bởi vì, nếu chỉ nhìn thuần túy vào tương quan lực lượng quân sự thì bấy giờ (tháng 10 năm 1967) không thể có được chủ trương táo bạo đó. Hơn nữa, Bộ Chính trị nhận thấy cho đến lúc ấy, nhiều nơi, nếu "đánh vào thị xã mà giữ lại ta cũng chưa làm được” và “khả năng đánh tiêu diệt của ta còn yếu”. Nhưng ở đây là vấn đề chớp thời cơ, táo bạo, sáng tạo cách đánh mới, tạo nên hiệu lực có ý nghĩa chiến lược mới.

---------------------
        1. Kế hoạch chiến lược Đông Xuân Hè 1967 - 1968, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

        2. Kế hoạch chiến lược Đông Xuân Hè 1967 - 1968, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

        3. Kế hoạch chiến lược Đông Xuân Hè 1967 - 1968, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

        4. Kết luận của đồng chí Trường Chinh. Dẫn trong Biên bản Hội nghị Bộ Chính trị bàn về Kế hoạch chiến lược mùa thu: Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Đông Xuân Hè 1967-1968. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân Sự việt Nam.

        5. Kết luận của đồng chí Trường Chinh. Dẫn trong Biên bản Hội nghị Bộ Chính trị bàn về Kế hoạch chiến lược mùa thu: Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Đông Xuân Hè 1967-1968. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân Sự việt Nam.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 09:41:17 PM

        Cách mạng Tháng Tám là như thế. Về sau này, chiến thắng mùa Xuân 1975 cũng là như thế. Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng địch - ta và sự lúng túng của Mỹ như trên đã phân tích, Bộ Chính trị xác định rất rõ: đến thời điểm này, thời cơ chiến lược đã xuất hiện. Muốn chớp thời cơ này, chúng ta cần phải gấp rút tăng cường lực lượng và sức mạnh tiến công địch. Ở đây, cần nhắc lại cách nhìn xuyên suốt của Đảng ta về sức mạnh, về so sánh lực lượng địch - ta trong chiến tranh cách mạng miền Nam. Trong bài viết tại Tạp chí Quân đội nhân dân, tháng 3 năm 1967, đồng chí Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn chỉ rõ: "Chiến tranh nhân dân ở miền Nam là một cuộc tiến công toàn diện của cách mạng miền Nam vào nền tảng thống trị của bọn Mỹ và tay sai chứ không đơn thuần là một cuộc tấn công về quân sự. Sức mạnh của nó không đơn thuần là sức mạnh quân sự (nhất là trong thời kỳ đầu thì chủ yếu không phải là sức mạnh quân sự), mà là một sức mạnh tổng hợp mọi mặt về chính trị - tinh thần, về quân sự, về thế và lực của cả nhân dân và đất nước (...). Khi so sánh lực lượng, nói mạnh yếu là nói trong những điều kiện nhất định. Nhất là phải xem những lực lượng đó với hiệu lực thực tế (efrlcacité) trong hành động, trong cuộc đọ sức trực tiếp với nhau, mà trong hành động thì trên cơ sở những điều kiện vật chất nào đó, tính năng động của con người (bao gồm cả ý chí, tài năng, mưu trí sáng tạo) có tác dụng quyết định"1. Trong thư gửi Khu ủy Sài Gòn - Gia Định tháng 7 năm 1967, đồng chí Lê Duẩn nhất mạnh: Xét lực lượng so sánh đôi bên trên chiến trường "là phải xét kết quả tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, của các lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa mà mỗi bên sử dụng để chống lại đối phương. Nó không phải là trừu tượng mà là cụ thể, nó không phải là một tỉ lệ bất biến mà là một so sánh trong vận động, kết quả của quá trình phát triển biện chứng về số lượng cũng như về chất lượng của các yếu tố, các lực lượng nói trên”2.

        Chính là xuất phát từ quan điểm đánh giá sức mạnh và so sánh lực lượng như trên cũng như xuất phát từ kinh nghiệm của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, của kháng chiến chống Pháp (Ví như cuối năm 1951, khi Bộ chỉ huy Pháp đánh ra Hòa Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định vừa đánh địch trên hướng chính diện, vừa táo bạo đưa hai đại đoàn vào mở mặt trận mới của bộ đội chủ lực sâu trong vùng địch kiểm soát, phát động và tạo điều kiện đẩy mạnh chiến tranh vùng sau lưng địch. Như lịch sử đã chứng minh, quyết định trên đây đã đưa đến thắng lợi to lớn, toàn diện của ta trong chiến dịch Hòa Bình - Một chiến dịch đã làm cho người pháp "hoàn toàn hết hy vọng đánh thắng ông Hồ Chí Minh" như tác giả M.Mác-li-a từng nhận xét trong cuốn sách "Việt Nam - cuộc chiến tranh mười nghìn ngày" của ông) và của Đồng khởi 1960 mà Đảng ta chủ trương tổng công kích và tổng khởi nghĩa. Hơn nữa, ngay tại hội nghị tháng 10 năm 1967 này, Bộ Chính trị còn chủ trương tạo một bất ngờ lớn về chiến lược đánh địch (Căn cứ vào tình hình trực tiếp liên quan tới cuộc chiến giữa Mỹ và Việt Nam lúc đó, Đảng ta chủ trương giữ nghiêm ngặt ý đố chiến lược này cả đối với các nước anh em, bè bạn. Phát biểu tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (tháng 1 năm 1968), đồng chí Lê Duẩn cho biết: Chủ trương tổng công kích - tổng khởi nghĩa "anh em ta không hiểu đâu. Không ai biết chuyện này, không ai ngờ đâu. Ta không dám bàn với ai cả, bí mật lắm...". Đồng chí khẳng định: ta đã biết khởi sự cuộc chiến tranh thì cũng biết kết thúc cuộc chiến tranh, "ta độc lập không theo ai cả”3. Vì bí mật, bất ngờ cũng là một lực lượng vật chất vô cùng to lớn trong chiến tranh. Chính vì vậy mà, để tạo được bất ngờ về chiến lược, Bộ Chính trị quyết định thời gian bắt đầu mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Mậu thân 1968 (Cũng tại cuộc họp quan trọng này, Bộ Chính trị đã phát hiện ra sự hoang mang của Mỹ đến cao độ. Sự hoang mang đó thậm chí đã thể hiện như một nỗi ám ảnh. Ám ảnh về một trận Điện Biên Phủ sẽ đến với Mỹ tại miến Nam Việt Nam! Có điều, nỗi ám ảnh đó lại được thể hiện bàng những nhận định của phía Mỹ tưởng như chắc nịch mà ngày nay đọc lại ta có thể thấy rõ như những lời tự trấn an. Đó là khi Mỹ cho rằng "Sắp tới, phía Việt Nam chưa đủ sức làm một “Điện Biên Phủ”(!) mà sẽ vẫn chỉ đánh lâu dài”.

----------------------
        1. Lê Duẩn: Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1993, tr.295, 297.

        2. Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H, 1985, tr.177.

        3. Bài phát biểu của đồng chí Lê Duẩn tại Hội nghị lần thứ 14, Ban Chấp hành Trung ương, tháng 1 năm 1968 - bài gỡ từ bàng ghi âm. Dẫn theo Văn kiện Đảng - Toàn tập, T29, 1968, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2017, 09:48:00 PM

        Chúng tôi muốn nghĩ rằng có thể chính sự hoang mang, tự trấn an này của Mỹ đã khiến sự mẫn cảm của cơ quan chỉ đạo chiến lược phía Việt Nam kịp thời “tương kế tựu kế" nhằm tô đậm thêm, củng cố thêm cho sự trấn an đó bằng cách tập trung một số sư đoàn chủ lực xung quanh căn cứ Khe Sanh. Hành động này, ngay lập tức đã kích thích phía Mỹ dồn tâm trí và lực lượng vào vùng núi rừng Tây Quảng Trị, đặt một bộ phận lớn quân Mỹ vào thế “cá voi mắc cạn” khi “Tết Mậu Thân" nổ ra ở một loạt các đô thị trên toàn Miền. Quả thật đây là một "bài học đất giá" của giới quân sự Mỹ trong chiến tranh Việt Nam và chứng tỏ trí tuệ Việt Nam trong điều hành chiến tranh cách mạng đã vượt lên trên trí tuệ của các tướng lĩnh Hoa Kỳ. Vế vấn đế này, chúng ta sẽ phải đi sâu hơn nữa vào tài liệu của Bộ Chính trị, Bộ Quác phòng để nêu bật lên như một bài học về nghệ thuật quân sự của chúng ta). Dự đoán cho thắng lợi này, Bộ Chính trị đã chỉ rõ: "Ta tranh thủ giành thắng lợi cao nhất, song cũng có thể là đạt mức độ thôi".

        Sau hội nghị Bộ Chính trị tháng 10 năm 1967, các chiến trường bắt tay chuẩn bị trực tiếp cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968.

        Ngày 28 tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt; chính thức thông qua Kế hoạch chiến lược năm 1968 và nhiệm vụ của quân và dân ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh dự và chỉ đạo hội nghị. Đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng "báo cáo toàn bộ vấn đề và quán xuyến việc thảo luận" (Trong bài Bác Hồ với Tết Mậu thân năm ấy, đăng trên tờ Văn nghệ số Tết Mậu Dần 1998, đồng chí Vũ Kỳ cho biết, ngày 28 tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt ngay bên nhà sàn của Bác, đề ra nhiệm vụ trọng đại và cấp bách là động viên sức mạnh của cả nước, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Tiếp đó, sáng ngày 30 tháng 12 nam 1967, Bác lại dự họp Bộ Chính trị; chiều ngày mồng một Tết Mậu thân, Bộ Chính trị đến làm việc với Người. "Bác căn dặn thêm công việc trước khi Bác lên đường tiếp tục đi nghỉ ở Trung Quốc". Cũng theo đồng chí Vũ Kỳ, "chỉ thị cụ thể của Bác cho các chiến trường là:

        Kế hoạch phải thật tỉ mỉ
        Hợp đồng phải thật ăn khớp
        Bí mật phải thật tuyệt đối
        Hành động phải thật kiên quyết
        Cán bộ phải thật gương mẫu”).

        Tháng 1 năm 1968, hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 họp tại Hà Nội đã thông qua Nghị quyết tháng 12 năm 1967 của Bộ Chính trị, quyết định thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. 

        Bộ Chính trị nhận định: “Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Đế quốc Mỹ đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược"1. So với mục tiêu chính trị và quân sự có hạn của chúng ở miền Nam, thì những cố gắng chiến tranh của Mỹ (cùng những thiệt hại nặng nề của chúng) ở Việt Nam đã lên tới đỉnh cao. Vì thế, "xu hướng của tình hình trong cả nước năm 1968 là địch sẽ ngày càng chuyển vào phòng ngự bị động hơn trước"2. Trong khi đó, "chúng ta đã thắng địch cả về, chiến lược lẫn chiến thuật. Thế và lực của ta phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết"3. Mặc dù hiện nay chúng ta còn một số nhược điểm như khả năng bổ sung lực lượng tại chỗ, trình độ đánh tiêu diệt những đơn vị lớn quân Mỹ, xây dựng thực lực chính trị và chỉ dạo phong trào thành thị vẫn bị hạn chế, đồng thời chúng ta cũng gặp khó khăn về hậu cần, giao thông vận tải, công tác ngụy vận, địch vận... nhưng, "điểm cơ bản của tình hình vẫn là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi. Địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn"4.

--------------------
        1. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lớn thứ 14 (tháng 1 năm 1968). Dẫn trong Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T29, 1968, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004.

        2. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lớn thứ 14 (tháng 1 năm 1968). Dẫn trong Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T29, 1968, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004.

        3. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lớn thứ 14 (tháng 1 năm 1968). Dẫn trong Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T29, 1968, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004.

        4. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lớn thứ 14 (tháng 1 năm 1968). Dẫn trong Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T29, 1968, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 09:52:26 AM

        Trên cơ sở phân tích toàn bộ tình hình địch, ta, trong nước và trên thế giới có liên quan cũng như lượng định khả năng diễn biến của tình hình, Bộ Chính trị Tnmg ương Đảng hạ quyết tâm: "Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định. Để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, "Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của Đảng ta trong thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định"2. Mục tiêu chiến lược của tổng công kích - tổng khởi nghĩa nhằm tiêu diệt và làm tan rã tuyệt đại bộ phận quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân; tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được các nhiệm vụ chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam. "Trên cơ sở đó, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc, còn ta thì bảo vệ được miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đạt được những mục tiêu trước mắt của cách mạng miền Nam là độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà”3.

        Bộ Chính trị cho rằng: "Ta tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa không phải trong điều kiện địch đã kiệt quệ mà trong lúc địch còn trên một triệu quân và một tiềm lực chiến tranh lớn, nhưng đội quân đó đã liên tiếp thất bại về chiến lược và chiến thuật, quân số tuy đông nhưng tinh thần đã bạc nhược và bắt đầu suy sụp. Về chính trị, quân địch đang lâm vào tình trạng mâu thuẫn, khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng, không không còn có thể cai trị nhân dân miền Nam được nữa và nhân dân miền Nam cũng không chịu sống dưới ách thống trị của chúng nữa. Trong khi đó, ta đang trong thế thắng và đang nắm quyền chủ động trên khắp các chiến trường; lực lượng vũ trang ta đã lớn mạnh về mọi mặt, đội quân chính trị của ta đã lớn mạnh về mọi mặt... và rất hùng hậu; đại bộ phận quán chúng nhân dân trong các vùng tạm chiếm đã được rèn luyện và thử thách qua nhiều năm đấu tranh kiên quyết và bền bỉ, đã tỏ rõ quyết tâm cách mạng rất cao"4. Trong điều kiện như vậy, Bộ Chính trị chủ trương "về biện pháp,... không chỉ tổng công kích mà đồng thời phát động tổng khởi nghĩa; tiêu diệt và làm tan rã quân địch, đánh đổ bộ máy cai trị đầu não của ngụy quyền, làm rối loạn và tê liệt tận gốc bộ máy chiến tranh của Mỹ, ngụy, biến hậu phương và dự trữ chiến lược của dịch thành hậu hương và dự trữ chiến lược của ta, làm thay đổi lực lượng so sánh một cách mau chóng có lợi cho ta, không lợi cho dịch và giành thắng lợi quyết định về ta"5.

        “Cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa sắp tới sẽ là một giai đoạn, một quá trình tiến công chiến lược rất phức tạp”6; giai đoạn đó dài hay ngắn là tùy thuộc vào sự cố gắng chủ quan của ta và sự đối phó của địch. Tuy nhiên trong tình hình địch đã chuyển vào thế bị động phòng ngự và đang tiến thoái lưỡng nan về chiến lược thì "những cố gắng chủ quan và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của ta có tác dụng quyết định trực tiếp"7 trong việc rút ngắn thời gian tổng công kích - tổng khởi nghĩa, trong đó, việc chọn hướng tiến công chiến lược giữ vai trò rất quan trọng. Bộ Chính trị đã quyết định: một mặt, phải "sử dụng tốt nhất lực lượng vũ trang của ta, căng địch ra khắp các chiến trường, phải biết điều động lực lượng quân sự của địch ra các chiến trường quan trọng, sử dụng những quả đấm mạnh đánh quỵ các binh đoàn chủ lực của địch, đồng thời biết kịp thời phản công tiêu diệt địch, bẻ gãy các cuộc phản công của chúng"8. Đó là một hướng tiến công của bộ đội chủ lực. Mặt khác, "đòn chính của ta phải nhằm vào các thành thị quan trọng, kết hợp lực lượng xung kích về quân sự với lực lượng chính trị của quần chúng ở các đô thị và những vùng nông thôn kế cận vùng dậy đánh sập các cơ quan đầu não của Mỹ - ngụy, đánh phá các hậu cứ của địch, các cơ sở hậu cần, các trung tâm thông tin, phương tiện giao thông vận tải chiến lược của địch là những yếu tố vật chất không thể thiếu được trong bản thân sức mạnh của quân đội chính quy và hiện đại của Mỹ. Đồng thời kêu gọi binh lính địch đứng lên phản chiến cùng nhân dân khởi nghĩa. Đó là đòn ác liệt nhất, hiểm hóc nhất đánh vào óc tim, mạch máu của địch, cũng là cách tốt nhất để phối hợp ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, để tiêu diệt nhiều nhất sinh lực địch, làm sập chỗ dựa chính trị của địch và đè bẹp ý chí xâm lược của chúng"9.

--------------------
        1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9. Nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (tháng 1 năm 1968). Tlđd.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 09:57:22 AM

        Tiến hành cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa, Bộ Chính trị dự kiến tình hình có thể diễn biến theo một trong ba khả năng:

        1. Ta giành được thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, những cuộc công kích và khởi nghĩa của ta cuối cùng thành công ở các đô thị lớn. Địch bị thất bại đến mức không còn gượng dậy được. Ý chí xâm lược của chúng bị đè bẹp, phải chịu thua, buộc chúng phải thương lượng và phải kết thúc chiến tranh theo những mục tiêu và yêu cầu của ta.

        2. Tuy ta giành được thắng lợi ở nhiều nơi nhưng địch tập trung và tăng thêm lực lượng từ ngoài, giành và giữ những vị trí quan trọng, ổn định được các thành thị lớn, nhất là Sài Gòn - Gia Định, dựa vào các căn cứ lớn để tiếp tục chiến đấu với ta.

        3. Mỹ động viên và tăng thêm nhiều lực lượng, mở rộng chiến tranh cục bộ ra miền Bắc, sang Campuchia và Lào hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh và gỡ thế thua của chúng.

        Trong ba khả năng trên đây, Bộ Chính trị cho rằng, cần nỗ lực phi thường, đem hết tinh thần và lực lượng để giành thắng lợi theo khả năng thứ nhất; đồng thời phải sẵn sàng đối phó với khả năng thứ hai; khả năng thứ ba tuy có ít nhưng cần cảnh giác đề phòng để chủ động đối phó.

        Bộ Chính trị đề ra các nhiệm vụ cụ thể cho quân và dân hai miền Nam, Bắc trên từng mặt đấu tranh.

        Về đấu tranh quân sự: phải phối hợp chặt chẽ giữa tổng công kích và tổng khởi nghĩa, giữa các chiến trường, phải thu hút cho được lực lượng cơ dộng của địch ra vòng ngoài để dành tiêu diệt; thực hành công kích mãnh liệt vào các thành thị nhất là các thành thị lớn đồng thời phát động công kích và khởi nghĩa ở khắp các chiến trường, tiến công đồng loạt vào các yết hầu của địch và những cơ sở hậu cần, làm tê liệt mọi sự đề kháng của Mỹ - ngụy.

        Về đấu tranh chính trị, “phát động quẩn chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa (kết hợp với tổng công kích) cho đến thành công, đập tan ngụy quyền và các tổ chức phản động khác xây dựng chính quyền cách mạng và phát triển nhanh chóng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang quần chúng". Khẩu hiệu trung tâm trong khởi nghĩa là: Độc lập tự do, hòa bình, cơm áo, ruộng đất, chấm dứt chiến tranh xâm lược; đế quốc Mỹ phải rút quân về nước, chủ quyền thuộc về người Việt Nam"1. Thành lập mặt trận thứ hai bên cạnh Mặt trận Dân tốc Giải phóng miền Nam Việt Nam với cương lĩnh rộng rãi hơn và “sẽ giữ thái độ độc lập với Mặt trận Dân tộc Giải phóng” 2.

        Về binh vận, phải thực hành công tác địch vận, ngụy vận, góp phần làm tan rã quân ngụy và gây phong trào phản chiến trong nội bộ chúng, thực hiện khẩu hiệu "công - nông - binh liên hiệp". Đồng thời gây phong trào phản chiến trong quân đội Mỹ và chư hầu.

        Về đấu tranh ngoại giao, cấn có phương pháp và hình thức thích hợp để tiến công địch trong lúc chúng đang lúng túng bị động và “phải mở đường cho địch đi vào thương lượng theo hướng có lợi nhất cho ta"3.

        Miền Bắc “phải bảo đảm công tác tăng cường hậu phương lớn và công tác chi viện miền Nam"4, “phải ra sức giúp đỡ nhân dân Lào giành thêm thắng lợi mới, ủng hộ mạnh mẽ nhân dân Campuchia, chống mọi âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai"5[/sup. Ở đây, chúng tôi muốn được lưu ý thêm rằng, trong lời phát biểu tại Hội nghị này, đống chí Lê Duẩn nói đại ý: mặc dù Mỹ đang bị động, đang lầm vào thế khó khân, "nhưng nó lại là kẻ mạnh... nên ta phải biết thắng nó". Muốn vậy, chúng tà khòng thể đánh theo lối đánh cũ "mà phải chuyển qua một giai đoạn mới, tức giai đoạn tổng công kích, tổng khởi nghĩa 'buộc" nó phải đi đến ngồi với ta, thương lượng với ta". Điếu đó cho phép chúng ta nghĩ rằng, thực chất khi đi tới quyết định mở cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, Đảng ta nhằm buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán với ta. Và như thế, mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, mục tiêu hàng đầu của ta là tập trung đẩy mạnh những nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên cả 2 miền để hiện thực hóa chủ trương Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng làn thứ 13 đã chỉ rõ: "chủ động vận dụng sách lược vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh”. Vế vấn đề này, cũng trong bài phát biểu tại Hội nghị Trung ương 14, đống chí Lê Duẩn nhấn mạnh: “Lịch sử Việt Nam ta đánh giặc rồi kêu giặc, đánh giặc mãi mãi không được. Nguyễn Trãi trước kia như vậy. Bây giờ ta cũng làm như vậy. Vì nó là đế quốc mạnh như vậy, cho nên ta phải biết thắng nó").

----------------
        1, 2, 3, 4, 5. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lớn thứ 14. Tlđd.
 


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 10:02:05 AM

        Bộ Chính trị giao cho Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam gấp rút hoàn chỉnh phương án tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

        Căn cứ vào Nghị quyết Bộ Chính trị được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 thông qua, Quân ủy Tnmg ương và Bộ Tổng tư lệnh đã hoàn chỉnh phương án tổng công kích tổng khởi nghĩa và xác định cụ thể: Cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực, mà chiến trường chính là đường 9 - Khe Sanh, nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, một đòn tiến công chiến lược đánh vào thị xã, thành phố quy mô trên toàn liền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng nông thôn và đô thị mở dầu cho tổng công kích - tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn, Nam Bộ, Trị - Thiên - Huế, trọng điểm là Sài Gòn, Huế và các thành phố lớn. Thời gian tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa được chọn vào dịp Tết Mậu thân 1968. Đến ngày 21 tháng 1 năm 1968, thời điểm nổ súng mở màn cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa mới được xác định đúng vào đêm giao thừa.

        Tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa trong điều kiện thời gian chuẩn bị gấp, địch tăng cường đánh phá ác liệt lại phải tuyệt đối giữ bí mật, bất ngờ, các chiến trường được lệnh phải cố gắng khai thác và sử dụng có hiệu quả vật chất và lực lượng hiện có.

        Cũng vào ngày 21 tháng 1 năm 1968, trong mật điện gửi Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Khu 5 và Khu ủy Trì - Thiên; Bộ Chính trị phổ biến cho riêng các đồng chí Phạm Hùng, Võ Chí Công, Trần Văn Quang chủ trương của Bộ Chính trị về việc thành lập Mặt trận thứ hai, lấy tên là “Liền minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình" nhằm "phân hóa địch đến mức cao nhất, tranh thủ và tập hợp thêm những lực lượng, những cá nhân chống Mỹ và Thiệu - Kỳ và tranh thủ các tầng lớp trung gian ở đô thị, đồng thời để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi ở ngoài nước"1. Mặt trặn này sẽ giữ thái độ độc lập với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, tuyên bố liên minh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng và những người muốn cho miền Nam Việt Nam có chủ quyền, độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập.

        Trở lên, chúng tôi đã trình bày bối cảnh và quá trình hình thành ý đồ chiến lược của Đảng ta trong việc quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968. Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi thấy nổi cộm lên một số vấn đề lý luận mà chúng tôi chưa có điều kiện đặt ra để giải quyết đặc biệt là vấn đề tổng khởi nghĩa trong chiến tranh cách mạng miền Nam. Về vấn đề này, từ nhiều năm qua, đặc biệt là sau khi nước nhà thống nhất, tại các cuộc hội thảo khoa học, trên các trang viết của tướng lĩnh hoặc các nhà nghiên cứu, các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng. Trong khi có một số xem tổng khởi nghĩa trong chiến tranh là một khả năng - thì một số khác dứt khoát khẳng định rằng: đó là điều không thể xảy ra và vì thế việc Đảng ta chủ trương phát động tổng khởi nghĩa, đặt tổng khởi nghĩa ngang với tổng công kích và lấy tổng khởi nghĩa để mong kết thúc chiến tranh vào năm 1968 là hệ quả của lối tư duy duy ý chí.

        Vấn đề này, có lẽ nó phải được đặt ra để suy nghĩ một cách nghiêm túc như một đề tài chuyên biệt hay một công trình tập thể - mà ở đó, mỗi cá nhân sẽ chỉ là một phân nhánh của đề tài.

        Song, về mặt phương pháp luận, trong khi tiếp xúc với những tư liệu, chúng tôi thảy đã có nhiều điều đáng suy ngẫm: Dường như những ý kiến phê phán trên đây đều đã gặp gỡ nhau ở chỗ:

        a) Bám quá chặt vào các luận điểm của Mác, Ăng-ghen và Lênin về điều kiện để nổ ra tổng khởi nghĩa.

        b) Bám quá sát vào các câu chữ trên báo chí sau phút nổ súng và các nghị quyết công khai của Đảng về chủ trương mở cuộc tiến công "Tết Mậu thân 1968".

        Thực ra, vấn đề không đơn giản như vậy. Vì khi tiếp xúc với một số văn bản, bức điện, chỉ thị, biên bản Hội nghị Bộ Chính trị đã hoặc còn chưa được công bố liên quan tới đề tài Tết, thì chúng tôi thấy rằng:

        a) Suốt hàng năm trời chuẩn bị cho "Tết Mậu thân", các văn bản, tài liệu trên đây không chỉ dùng thuật ngữ "tổng công kích - tổng khởi nghĩa mà còn dùng xen kẽ các thuật ngữ khác như. “Tổng tiến công và nổi dậy” hoặc “tiến công và nổi dậy”.

        b) Và ngay trong một nghị quyết - Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị tháng 12 năm 1967 mà sau đó được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 thông qua - cũng đã dùng xen kẽ các thuật ngữ này.

        c) Vả chăng, hoạt động "Tết Mậu thân" là hoạt động có quy mô rộng lớn, phức tạp. Để bảo đảm bí mật, bất ngờ, đến sát ngày nổ súng, các chỉ thị chỉ được phép truyền đạt bằng miệng tới các tư lệnh chiến trường.

------------------
        1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T29, 1968, Sđd, tr.164.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 10:05:05 AM

        Vì thế chúng tôi suy nghĩ: liệu sự truyền đạt đó có gì là bảo đảm rộng đã thể hiện được hoàn toàn đầy đủ ý đồ về tư tưởng chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ương?1, ghi nhận: "Để đề phòng các nơi linh hoạt mà không nắm vững quyết tầm của Trung ương, Bí thư Trung ương Cục Phạm Hùng nhắc các bí thư khu ủy: chỉ được phổ biến khả năng 1 ("dứt điểm" đô thị). Hai khả năng còn lại... chỉ được phổ biến cho biết khi có ý kiến Trung ương Cục", tr.309). Bởi ngay trong Nghị quyết tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị đã tính toán tới BA khả năng thắng lợi mà ở đó chỉ có khả năng thứ nhất là mang tính chất thắng lợi của tổng khởi nghĩa.

        Đó là chưa kể - chúng tôi nghĩ - khả năng thứ nhất trên đây có thể như một ước muốn cháy bỏng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc mà sau khi chớp được thời cơ, Đảng ta muốn bàn tới như một khẩu hiệu hành động, một mục tiêu cao nhất, lý tưởng nhất trong trận quyết chiến chiến lược này.

        Chỉ xét về mặt văn bản thôi, cũng đã cần phải có một chuyên đề nghiên cứu riêng biệt mới có thể tiếp cận được hoàn toàn đầy đủ ý đồ chiến lược "Tết Mậu thân" của đảng (Ở đây, chúng tôi muốn lưu ý thêm rằng, ngay từ năm 1962, khi phân tích tình hình cách mạng Lào sau chiến thắng Nậm Thà, đồng chí Lê Duẩn từng lưu ý các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam ràng "Đế quốc Mỹ phải thua nhưng có thể thua đến mức nào, ta phải thắng nhưng thắng đến mức nào”. Trên cương vị là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngay từ ngày đó, vấn đề THẮNG MỸ ĐẾN MỨC NÀO đã được đồng chí đặt ra để suy nghĩ, để "tính toán, đo lường cho chuẩn xác”. Trong những năm tiếp theo, vấn đề trên đây thường xuyên xuất hiện trong nhiều bài nói, bài viết, điện chỉ đạo... của đồng chí. (xem Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H,1985). Trong thư gửi Khu ủy Sài Gòn - Gia Định ngày 1 tháng 7 năm 1967, đồng chí Lê Duẩn viết: “Phấn đấu tiến tới tổng công kích - tổng khởi nghĩa là quyết tâm cách mạng rất cao, là phương pháp cách mạng rất quyết liệt, rất triệt để của chúng ta. Song mặt khác, chúng ta phải có sách lược mềm dẻo và biết thắng với mức độ thích hợp". Gần ba tháng sau đó, trong cuộc họp Bộ Chính trị tháng 10 năm 1967 bàn về "Tết Mậu thân", đồng chí Trường Chinh chủ trì cuộc họp đâ kết luận: "Ta tranh thủ giành thắng lợi cao nhất, song cũng có thể đạt mức độ thôi". Phát biểu trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (tháng 1 năm 1968), đồng chí Lê Duẩn cho biết, đã một số lần, đồng chí "nói chuyện với các đồng chí Lưu Thiếu Kỳ, đồng chí Brêgiơnhép là chúng tôi biết khởi sự cuộc chiến tranh thì chúng tôi biết kết thúc cuộc chiến tranh. Ta độc lập không nghe ai cả"... Những ý kiến phát biểu trên đây của một số đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng là cơ sở rất quý, đặc biệt với những ai muốn tìm hiểu sâu hơn ý đồ chiến lược của cơ quan chỉ đạo chiến lược của Việt Nam trong dịp "Tết Mậu thân").

----------------------
        1. Cuốn Lịch sứ Bộ chl huy Miền (1961-1976) (do Nxb Chính trị quốc gia ấn hành năm 2004.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 10:41:26 PM
       
CHƯƠNG II

TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN, ỨNG PHÓ CỦA MỸ, NGỤY TRÊN CHIẾN TRƯỜNG

        I. CHUẨN BỊ VÀ NGHI BINH CHIẾN LƯỢC

        Chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân là cả một quá trình nỗ lực phấn đấu, khắc phục nhiều gian khổ, khó khăn của các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược, của các cấp lãnh đạo, chỉ huy trên chiến trường, của quân và dân hai miền Nam, Bắc Việt Nam.

        Ngay từ tháng 5 năm 1967, sau thắng lợi đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, mùa khô 1966-1967, căn cứ vào Dự thảo kế hoạch tác chiến chiến lược đã được Bộ Chính trị Trung ương Đảng thông qua lần 1, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các chiến trường vừa đẩy mạnh đợt tác chiến mùa mưa 1967, vừa gấp rút bắt tay chuẩn bị cho cuộc tiến công và nổi dậy năm 1968 theo phương hướng đánh lớn. Do vậy, ngay từ giữa năm 1967, trên thực tế, quân và dân ta trên cả hai miền đã đi vào chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968.

        Trên miền Bắc, cuối tháng 7 năm 1967, Quân ủy Trung ương mở các lớp tập huấn nhằm quán triệt về tình hình và nhiệm vụ mới cho cán bộ cao cấp, trung cấp trong toàn quân. Tháng 8 năm 1967, lực lượng vũ trang nhân dân mở cuộc vận động lớn "Nâng cao chất lượng, phát huy sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Các sư đoàn dự bị chiến lược 308, 304, 320, 312 gấp rút kiện toàn về tổ chức, lực lượng, biên chế, trang bị vũ khí, khẩn trương triển khai công tác huấn luyện chiến đấu nhằm nâng cao trình độ tác chiến hiệp đồng quân binh chủng. Lực lượng phòng không, phòng thủ bờ biền, lực lượng giao thông vận tải, công binh... chấn chỉnh về tổ chức, tăng cường về số lượng, hoàn chỉnh thế trận nhằm bảo vệ vững chắc miền Bắc, giữ vững mạch máu giao thông chi viện cho chiến trường. So với năm 1965, đến cuối năm 1967, số trung đoàn, tiểu đoàn pháo cao xạ tăng từ 2,5 lần đến 4,7 lần; số trung đoàn tên lửa tăng 5 lần, các trận địa ra đa cảnh giới tăng 2 lần. Lực lượng phòng không của dân quân, tự vệ phát triển về số lượng, được trang bị thêm các loại súng máy và cao xạ. Các lực lượng vận tải quân sự của Bộ Quốc phòng, của các quân khu cũng được tăng cường và phối hợp hoạt dộng chặt chẽ với lực lượng giao thông vận tải dân sự. Tháng 9 năm 1967, Hội đồng Chính phủ tổ chức Hội nghị phòng không nhân dân nhằm rút kinh nghiệm công tác phòng không, phòng tránh máy bay, công tác khắc phục hậu quả đánh phá của địch, công tác duy trì và bảo đảm sinh hoạt, sản xuất trong điều kiện dịch đánh phá ác liệt. Từ kinh nghiệm của các địa phương, Hội nghị đã đề ra các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác phòng không, phòng tránh và bảo đảm sinh hoạt, sản xuất trong thời gian tới, đề phòng các bướt leo thang và các thủ đoạn đánh phá mới của không quân, hải quân Mỹ. Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng chỉ đạo chặt chẽ việc chuẩn bị và triển khai phương án đánh địch đổ bộ đường biển, đổ bộ đường không vào Nam Quân khu 4. Phương án này được quán triệt sâu rộng trong các đơn vị vũ trang và nhân dân trên địa bàn Quân khu.

        Nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Binh chủng Đặc công. Ngày 19 tháng 3 năm 1967, Binh nhung Đặc công chính thức ra đời. Ngay sau đó, Binh chủng được lệnh khẩn trương tổ chức các đơn vị đặc công tăng cường cho các chiến trường, bổ túc, đào tạo cán bộ đặc công cho toàn quân. Trong năm 1967, Binh chủng đã huấn luyện được 3.835 chiến sĩ đặc công, đào tạo và bổ túc gần 1.000 cán bộ trung đội, đại đội và tiểu đoàn, tăng cường cho chiến trường miền Nam 2.563 cán bộ, chiến sĩ.

        Để đảm bảo lực lượng chiến đấu trên chiến trường miền Nam và ở hậu phương miền Bắc, công tác tuyển quân được xúc tiến mạnh mẽ. Chỉ một thời gian ngắn, hàng vạn nam nữ thanh niên có trình độ văn hóa, có giác ngộ chính trị có sức khỏe được động viên vào lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong. Trong năm 1967, số quân rời hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam chiến đấu tăng 1,5 lần so với năm 1966. Từ quý II năm 1967 đến quý I năm 1968, 15 vạn 5 ngàn quân đã được đưa vào miền Nam. Trong hơn 2 tháng, nghĩa là từ cuối tháng 12 năm 1967 đến cuối tháng 1 năm 1968, miền Bắc tổ chức chuyển vào chiến trường một khối lượng vật chất gồm 3 vạn tấn; riêng mặt trận Thừa Thiên - Huế, Binh trạm 42 tổ chức chuyển gấp 3.000 tấn lương thực, vũ khí, đạn dược phục vụ cho việc đánh chiếm Huế.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 10:44:58 PM

        Trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, Đoàn 559 nhanh chóng mở rộng mạng đường, tăng thêm lực lượng và phương tiện, cải tiến phương pháp ván chuyển, bảo vệ vận chuyển. Mặc dù địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt bằng nhiều thủ đoạn nhưng đến cuối năm 1967, tuyến vận tải chiến lược tiếp tục vươn sâu xuống các mặt trận, vươn xa về phía nam với mạng trục ngang 800km, mạng trục dọc 3.000km, mạng đường vòng tránh 500km và hệ thống binh trạm, kho tàng, bến bãi ẩn dưới tán cây rừng Trường Sơn. Nhờ đó 6 tháng cuôl năm 1967, tuyến vận tải chiến lược đã nhận từ miền Bắc, vận chuyển vào Nam một khối lượng vật chất lớn gấp 6 lần năm 1965, đảm bảo hành quân cho hàng chục vạn lượt người từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc.

        Được miền Bắc dồn sức chi viện, lực lượng cách mạng miền Nam có bước phát triển nhanh chóng. Đến cuối năm 1967, lực lượng vũ trang Quân giải phóng lên tới 220.000 quân chủ lực và 57.000 quân địa phương, chưa kể dân quân, du kích, tự vệ. Ngoài số hiện có, các chiến trường còn tổ chức thêm một số đơn vị nhằm đáp ứng đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới: Miền Đông Nam Bộ thành lập Trung đoàn Quyết thắng, Khu 5 thành lập Trung đoàn 401 đặc công, Đồng bằng sông Cửu Long, Quân khu 8 thành lập 2 tiểu đoàn và tổ chức lại chủ lực Quân khu thành 2 trung đoàn; Quân khu 9 thành lập thêm Tiểu đoàn 807, đồng thời tổ chức chủ lực Quân khu thành 1 lữ đoàn và 5 tiểu đoàn.

        Cần lưu ý ở dây rằng, tại miền Nam, các chiến trường dự kiến đến giữa năm 1968 mới bắt đầu mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy, và bắt tay chuẩn bị theo dự kiến đó. Thế nhưng, tháng 10 năm 1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp bàn và quyết định thời điểm bắt đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Nguyên đán năm Mậu thân 1968. Với thời gian còn 3 tháng, việc chuẩn bị trở nên cập rập. Trong một thời gian ngắn, các chiến trường, các mặt trận, các địa phương phải khẩn trương hoàn chỉnh phương án, kế hoạch công kích, khởi nghĩa; tổ chức, điều động, bố trí lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị và binh vận; phân chia chiến trường; tổ chức hệ thống đảm bảo hậu cần; triển khai mạng lưới giao liên từ căn cứ tới vùng ven vào nội thành; chuẩn bị khu vực ém giấu lực lượng, vũ khí và các bàn đạp xuất phát tiến công; tổ chức điều tra các mục tiêu và nắm tình hình địch ở nội đô... Để khắc phục mâu thuẫn giữa thời gian quá ngắn và nội dung chuẩn bị quá nhiều, các chiến trường đã phân cấp, phân hướng, trên, dưới đồng thời chuẩn bị.

        Tại chiến trường miền Đông Nam Bộ, tháng 10 năm 1967, Trung ương Cục miền Nam quyết định giải thể Quân khu I miền Đông, Quân khu IV Sài Gòn - Gia Định, thành lập Khu trọng điểm gồm Sài Gòn - Gia Định và một số địa phương thuộc các tỉnh bao quanh như Long An, Hậu Nghĩa, Bình Dương, Biên Hòa. Trên cơ sở "Kế hoạch X" được khởi thảo cuối năm 1964 và được bí mật chuẩn bị trong các năm sau đó (Cuối năm 1964 đầu năm 1965, Trung ương Cục miến Nam hoạch định kế hoạch đón thời cơ, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định. Kế hoạch tuyệt mật này mang tên "Kế hoạch X”, lấy Sài Gòn - Gia Định làm địa bàn trọng điểm thực hiện kế hoạch. Tuy nhiên sau đó, vì Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam nên việc xúc tiến thực hiện kế hoạch bị hoãn lại), giờ đây Trung ương Cục quyết định chia Khu trọng điểm thành 6 phân khu. 5 phân khu vòng ngoài được lập ra với ý nghĩa lấy Sài Gòn, Chợ Lớn và tỉnh lỵ Gia Định làm mục tiêu tiến công và các vùng bao quanh là những bàn đạp xuất phát tiến công. Về địa hình, 5 phân khu này có vùng nông thôn, vùng ven đô và một số quận nội thành. Ở nội thành có phân khu 6. Đây là phân khu không bao gồm các khu vực địa lý mà chỉ phụ trách các lực lượng quân sự, chính trị hoạt động trong nội thành. 5 phân khu bao quanh gồm:

        -  Phân khu 1 ở hướng Bắc và Tây Bắc Sài Gòn, lấy chiến khu Bời Lời vùng Bưng Còng làm căn cứ xuất phát tiến công xuống phía Bắc.

        -  Phân khu 2 ở hướng Tây và Tây Nam, lấy vùng Vàm Cỏ Đông làm căn cứ tiến xuống các khu vực mục tiêu ở Bà Quẹo phía Tây Sài Gòn và Mũi Tàu Phú Lâm.

        -  Phân khu 3 ở phía Nam, lấy vùng Đông Nam Bến Lức và khu vực dọc theo sông Nhà Bè làm căn cứ tiến xuống các khu vực mục tiêu cầu chữ Y và khu Khánh Hội.

        -  Phân khu 4 ở hướng Đông, lấy vùng giồng Ông Tố và khu vực Hiệp Bình làm căn cứ tiến quân xuống các khu vực cầu Xa Lộ và cầu Bình Lợi.

        -  Phân khu 5 ở hướng Đông Bắc, lấy vùng Tây Bắc Tân Uyên làm căn cứ tiến xuống khu vực phía Tây Thủ Đức, cầu Xa Lộ, cầu Bình Lợi1 (Cụ thể hơn, mỗi phân khu bao gồm địa bàn các địa phương sau: Phân khu 1: gồm một phần huyện Trảng Bàng và các huyện Dầu Tiếng, Bến Cát, Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp. Phân khu 2 gồm Bắc Long An (Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Thủ), Bình Tân (Bình Chánh, Tân Bình), Quận 6, Quận 5, Quận 3. - Phân khu 3 gồm Nam Long An (Chầu Thành, Tán Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc), Nhà Bè, Quận 8, Quận 7, Quận 4, Quận 2. Phân khu 4 gồm Thủ Đức, Thạnh Mỹ Tây, Quận 9, Quận 1. - Phân khu 5 gồm Tân Uyên, Lái Thiêu, Dĩ An, Bình Hòa, Phủ Nhuận và một phần đất của Quận 1, Quận 3).

---------------------
        1. Số liệu dẫn trong tài liệu số 790 tại kho K4 Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 10:46:28 PM

        Ở các phân khu, Trung ương Cục chỉ định Phân khu ủy và Bộ chỉ huy phân khu. Mỗi Phân khu ủy chia làm hai bộ phận, một bộ phận chỉ đạo các hoạt động trên địa bàn nông thôn và một bộ phận chỉ đạo các hoạt động trên địa bàn đô thị thuộc phân khu. Các phân khu ủy chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Khu ủy Khu trọng điểm do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm bí thư. Về mặt quân sự, Trung ương Cục quyết định thành lập hai Bộ chỉ huy tiền phương: Bộ Chỉ huy tiền phương 1 (hoặc gọi là Bộ Tư lệnh Tiền phương Bắc) do đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh, phụ trách các mũi phía Đông, phía Bắc và các đơn vị chủ lực Miền; Bộ Chỉ huy tiền phương 2 (hoặc còn gọi là Bộ Tư lệnh Tiền phương Nam) do đồng chí Võ Văn Kiệt làm Tư lệnh phụ trách các mũi phía Nam, Tây Nam và các lực lượng nội thành. Toàn bộ các lực lượng vũ trang chiến đau trên Mặt trận Sài Gòn - Gia Định được chia làm 3 khối.

        -  Khối biệt động thành gồm hơn 100 cán bộ, chiến sĩ biệt động từ Đoàn F100 giải thể, tổ chức thành 3 cụm, mỗi cụm phân thành từng đội. Nhiệm vụ của Khối là đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu Bộ tổng tham mưu ngụy, dinh Độc Lập, Đài phát thanh, Bộ Tư lệnh hải quân, Tòa Đại sứ Mỹ (Được giao nhiệm vụ tổ chức đánh Tòa Đại sứ Mỹ vào giờ chót (ngày 25 tháng 1 năm 1968), trong khoảng thời gian ngắn, đồng chí Ba Đen đã khẩn trương "gom nhặt" từng người trong đội bảo đảm, thành lập Đội biệt động 11 gồm 17 cán bộ, chiến sĩ để thực hiện nhiệm vụ này), Biệt khu Thủ dô, Khám Chí Hòa, Tổng nha cảnh sát. Theo kế hoạch, sau khi đánh chiếm, các đội biệt động sẽ phải trụ lại trong khoảng thời gian từ nửa giờ đến 2 giờ, chờ các tiểu đoàn mũi nhọn và lực lượng thanh niên, sinh viên đến tiếp ứng (Theo kế hoạch, sau khi đánh chiếm, các đội biệt động ở các mục tiêu sẽ được tiếp ứng như sau: Bộ Tổng tham mưu ngụy: 2 tiểu đoàn mũi nhọn và 5.000 thanh niên, sinh viên. - Biệt khu Thủ đô: 1 tiểu đoàn mũi nhọn và 1.000 thanh niên, sinh viên. Khám Chí Hòa. 1 tiểu đoàn mũi nhọn và 1.000 thanh niên. sinh viên. - Tổng Nha cảnh sát: 2 tiểu đoàn mũi nhọn và 1.000 thanh niên, sinh viên. Dinh độc Lập: 1 tiểu đoàn mũi nhọn và 200 thanh niên, sinh viên. Đài phát thanh: 1 tiểu đoàn mũi nhọn và 200 thanh niên, sinh viên. Bộ Tư lệnh hải quân: 1 tiểu đoàn mũi nhọn và 200 thanh niên, sinh viên).

        -  Khối các Tiểu đoàn mũi nhọn và các lực lượng đặc công của các phân khu 1, 2, 3, 4, 6. Mỗi phân khu cô từ 4 đến 6 tiểu đoàn mũi nhọn hoặc tiểu đoàn đặc công. Các tiểu đoàn này được tổ chức và trang bị gọn nhẹ, xuất phát từ các căn cứ bàn đạp, dùng phương pháp bôn tập luồn sâu vào tiếp ứng cho các đội biệt dộng trong nội thành, đánh dịch phản kích, mở rộng khu vực kiểm soát. Một số tiểu đoàn mũi nhọn, tiểu đoàn dặc công các phân khu được giao nhiệm vụ danh chiếm các mục tiêu như sân bay Tân Sơn Nhất, cầu Bình Lợi, cầu Xa Lộ, kho quân cụ Gò Vấp...

        -  Khối chủ lực Miền được tăng cường thêm 1 trung đoàn bộ binh của Mặt trận Tây Nguyên và một số đơn vị binh chủng từ miền Bắc vào, bao gồm 3 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn pháo binh, 1 trung đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng như công binh, đặc công, thông tin, phòng hóa... Tất cả các đơn vị này được bố trí ở khu vực vùng ven trên hướng Đông, hương Bắc và Tây Bắc Sài Gòn, có nhiệm vụ chặn đánh các sư đoàn chủ lực Mỹ, ngụy; không cho chúng quay về ứng cứu cho khu vực nội thành.

        Bên cạnh lực lượng vũ trang, cơ sở chính trị nội - ngoại thành cũng được gấp rút phát triển. Đến cuối năm 1967, ở nội thành, đã có được 19 cơ sở chính trị gồm 325 gia đình. Phần lớn các gia đình này đều ở gần các mục tiêu đánh chiếm của các đội biệt động. Ta đã tạo được 400 điểm ém giấu lực lượng, vũ khí, trang bị trong nội thành và các khu vực ven đô. Tổ chức Đảng và các đoàn thể cách mạng (công đoàn, thanh mền, phụ nữ, nông hội...) đều được xây dựng ở các quận, huyện nội ngoại thành1 (Theo số liệu của Ban lịch sử Đảng Thành phố Hồ Chí Minh, đến cuối 1967, tổ chức và lực lượng đảng viên ở một số quận như sau: - Quận 3, Quận 5, Quận 6 có 60 đảng viên, các xã đều có chi bộ Đảng. - Quận 2, Quận 4 có 14 chi bộ Đảng. Quận 7, Quận 8 có 18 chi bộ. - Quận Nhà Bè có 15 đảng viên). Nhìn chung, so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra thì lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh quần chúng nội, ngoại thành còn yếu. Nhiều căn cứ, lõm du kích, lõm chính trị bị địch đánh tróc, nhất là ở địa bàn Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp.

        Để bảo đảm tiếp tế vũ khí, lương thực cho lực lượng vũ trang, Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền tổ chức 5 đoàn hậu cần khu vực tương đương 5 trung đoàn. Ngoài các đoàn hậu cần, lực lượng vận chuyển vũ khí hoạt động trên địa bàn vùng ven Sài Gòn cũng được tổ chức và tăng cường. Đến cuối năm 1967, Nam Bộ nhận được hơn 5.000 khẩu súng bộ binh, trong đó có súng B.40, B.41. Nhân dân vùng ven thành lập các đội cứu thương, tải thương, tiếp tế hậu cần cho bộ đội. Hàng vạn lượt người đã tham gia vận chuyển vũ khí, lương thực từ căn cứ về vùng ven.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2017, 10:47:41 PM

        Để phục vụ cho cuộc tiến công vào đô thị, Phòng Quân báo, Phòng Thông tin Miền gấp rút hoàn thành một khối lượng lớn công việc như sưu tầm bản dỗ thành phố, thị xã; điều tra các mục tiêu mà biệt dộng và các tiểu đoàn mũi nhọn sẽ tiến công; đưa đón cán bộ chỉ huy quân sự vào nội thành khảo sát thực địa; chuẩn bị lực lượng trinh sát dẫn đường; tổ chức mạng thông tin, liên lạc... Tất thảy những công tác ấy được thực hiện với sự mưu trí, dũng cảm của cán bộ và chiến sĩ ta đã bao năm gần bó với địa bàn, dựa chắc vào cơ sở và quần chúng cách mạng, dựa vào lòng dân...

        Tại chiến trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Quân khu 8, Quân khu 9 cũng gấp rút hoàn chỉnh phương án tổng tiến công và nổi dậy, lấy thị xã, thị trấn, quận lỵ trên địa bàn quân khu làm hướng tấn công chính. Lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị được tổ chức lại và tăng cường thêm một bước phù hợp với phương án đề ra. Bằng cách động viên lực lượng tại chỗ, các quân khu này đã thành lập thêm một số đơn vị bộ đội chủ lực trực thuộc Quân khu, tỉnh, huyện. Các quân khu cũng đã điều động cán bộ chính trị, cán bộ quân sự về tăng cường cho những địa phương phong trào còn yếu.

        Ở Khu 6, trong điều kiện địch càn quét, đánh phá ác liệt sự liên lạc giữa Trung ương Cục và Quân khu gặp nhiều khó khăn, mãi tới ngày 8 tháng 1 năm 1968, Thường vụ Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu mới nhận được chủ trương và nhiệm vụ cụ thể của trên giao cho Quân khu. Dù vậy, với ý thức chấp hành mệnh lệnh và quyết tâm cao, Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu lập tức họp bàn biện pháp thực hiện và quyết định chọn Đà Lạt, Phan Thiết là trọng điểm tổng tiến công và nổi dậy của Quân khu.

        Khu 5, được chia thành bốn hướng tiến công: Hướng Quảng Nam - Đà Nẵng, hướng Bình Định (bao gồm cả An Khê), hướng Tây Nguyên và hướng Phú Yên - Khánh Hòa. Trong kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy của Quân khu, tỉnh Quảng Đà được xác định là chiến trường chính và thành phố Đà Nẵng là trọng điểm. Tháng 7 năm 1967, Bộ tư lệnh Quân khu thành lập Mặt trận 4 để thống nhất chỉ huy tất cả các đơn vị vũ trang chiến đấu trên Mặt trận này. Vào lúc thành lập, Mặt trận 4 bao gồm toàn bộ lực lượng vũ trang của Tỉnh đội Quảng Đà, của Thành đội Đà Nẵng và một số đơn vị bổ sung của Quân khu. Trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Mặt trận dược tăng cường thêm 2 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn bộ binh từ miền Bắc mới hành quân vào. Tháng 11 năm 1967, Quân khu thành lập trung đoàn đặc công đầu tiên của Quân khu, sử dụng dể dành chiếm thị xã Quảng Ngãi. Tất cả các tỉnh đội, các địa phương trên địa bàn Quân khu, từ tháng 11 năm 1967, được lệnh vừa duy trì các hoạt động tác chiến thường kỳ, vừa gấp rút bổ sung và chấn chỉnh các đơn vị hiện có, thành lập các tiểu đoàn mũi nhọn, tăng thêm các đội biệt dộng, huấn luyện cách đánh trong thành phố. Đến trước ngày tổng tiến công và nổi dậy, đội quân chính trị sẽ tham gia khởi nghĩa ở đô thị trên địa bàn Quân khu lên tới 20 vạn người. Phần lớn trong số đó là nhân dân vùng căn cứ, vùng giải phóng và vùng ven các thành phố, thị xã, thị trán. Đội quân này được tổ chức thành từng đại đội hoặc tiểu đoàn, do các đồng chí trong cấp ủy Đảng ở các địa phương phụ trách. Theo kế hoạch, khi tiến công và nổi dậy ở đô thị nổ ra, lực lượng này sẽ từ ngoài kéo vào, phối hợp với quẩn chúng ở nội đô khởi nghĩa giành chính quyền.

        Theo kế hoạch của Khu ủy Khu 5, cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở các đô thị trên địa bàn Khu sẽ tùy thuộc vào điều kiện và khả năng của từng nơi mà áp dụng phương thức phù hợp. Ví như, đối với Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn: chủ yếu là dùng khởi nghĩa, còn các đô thị vùng đồng bằng ven biển thì tiến công quân sự và khởi nghĩa song song; trong khi đó, các thị xã ở Tây Nguyên như Plây Cu, Công Tum, Buôn Ma Thuột thì đòn tiến công quân sự là chủ yếu.

        Ở Trị - Thiên, chuẩn bị cho tổng tiến công và nổi dậy, từ tháng 5 năm 1967, Tnmg ương Đảng chuẩn y việc tổ chức lại hệ thống lãnh đạo, chỉ huy cho phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ quân sự mới đối với chiến trường quan trọng này. Theo đó, các tỉnh ủy và tỉnh đội giải thể. Các huyện ủy dặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy. Về mặt quân sự, trên các hướng, thành lập các đoàn theo từng khu vực nhằm phân rõ trách nhiệm cho từng cấp chỉ huy trên từng khu vực mặt trận. Các đoàn chịu sự chỉ huy trực tiếp của Bộ tư lệnh Quân khu.

        -  Đoàn 4: Phụ trách khu vực Phú Lộc.

        -  Đoàn 5: Phụ trách mặt trận thành phố Huế và 3 huyện ngoại thành là Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang.

        -  Đoàn 6: Phụ trách 2 huyện Phong Điền, Quảng Điền (tỉnh Thừa Thiên).

        -  Đoàn 7: Phụ trách 2 huyện Triệu Phong, Hải Lăng (tỉnh Quảng Trị).

        -  Đoàn 31 : Phụ trách khu vực từ đường 9 trở ra đến giới tuyến quân sự tạm thời và chịu sự chỉ huy của Bộ tư lệnh Mặt trặn đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5).


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2017, 08:03:09 AM

        Tháng 12 năm 1967, Thường vụ Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 1 (Bấy giờ, do đồng chí Trần Văn Quang - Bí thư Khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu, phụ trách) hạ quyết tâm tiến công và nổi dậy ở Trị - Thiên, xác định mặt trận thành phố Huế là chiến trường trọng điểm, Quảng Trị và Phú Lộc là hai chiến trường phối hợp. Ban chỉ đạo tổng tiến công và nổi dậy toàn khu và mặt trận Huế do Ban thường vụ Khu ủy và Thường vụ Quân khu ủy hợp thành. Về quân sự, một Bộ chỉ huy mặt trận Huế được chỉ định, gồm Tư lệnh Lê Minh, Chinh ủy Lê Chưởng, Phó Tư lệnh Nam Long, Tham mưu trưởng Đặng Kinh. Theo kế hoạch quân sự, Mặt trận Huế được chia làm hai cánh, lấy sông Hương làm giới tuyến chiến đấu giữa mỗi cánh. Cánh Bắc là hướng tiến công chủ yếu, cánh Nam là hướng tiến công quan trọng; đồng thời là hướng chủ yếu đánh dịch phản kích. Kế hoạch khởi nghĩa dự định ngay đêm tiến công và ngày hôm sau sẽ phát dộng mạnh mẽ nhân dân thành phố, nhân dân nông thôn tiến hành khởi nghĩa vũ trang, chiếm toàn bộ thành phố và vùng nông thôn. Để đảm bảo hậu cần tiếp tế phục vụ tổng tiến công và nổi dậy, Khu ủy và Quân khu ủy thành lập Ban chỉ đạo, chỉ huy hậu phương toàn khu.

        Từ tháng 12 năm 1967, quân và dân Trị - Thiên khẩn trương hoàn tất các mặt chuẩn bị. Trước ngày cuộc tiến công và nổi dậy bắt đầu, lực lượng vũ trang Quân khu có 4 trung đoàn, 4 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn đặc công, 15 đội biệt động thành, một số đơn vị binh chủng. Mỗi huyện trong Quân khu đều có 1 đại đội bộ đội tập trung và bàng trăm dân quân, du kích. Toàn bộ lực lượng này, ngay tư những tháng cuối của năm 1967, đã được chấn chỉnh về biên chế, tổ chức; bổ sung quân số, trang bị; đẩy mạnh việc học tập rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật - nhất là cách đánh trong thành phố, phương pháp phối hợp giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng... Hầu hết các đơn vị chủ lực Quân khu bấy giờ đang đứng chân ở Khe Trài, Động Chuồi vùng thượng nguồn sông Bồ, sông Hữu Trạch. Các đơn vị này lập ra những bãi tập mà ở đó, các mục tiêu tiến công là sự "mô phỏng” những mục tiêu trong nội thành Huế để thao luyện bộ đội. Đồng thời, vào lúc đó, các tổ đội vũ trang công tác, các bộ phận trinh sát chuẩn bị chiến trường đã mưu trí và bí mật tiếp cận các mục tiêu xung quanh và bên trong Huế như khu vực An Hòa, Mang Cá - nơi bộ tư lệnh sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn đóng bản doanh; sân bay Tây Lộc, khu vực Đại Nội... Cùng lúc, lực lượng an ninh khu tỉnh tỏa xuống phối hợp với dân quân, du kích địa phương mở rộng lực lượng. Trước tháng 11 năm 1967, trên địa bàn Thừa Thiên - Huế chỉ có 5 đội trinh sát vũ trang hoạt động khá phân tán thì đến đầu tháng 1 năm 1968, Bộ tư lệnh Mặt trận đã xây dựng được 1 tiểu đoàn và 7 đội trinh sát an ninh vũ trang với tổng số hơn 400 người.

        Ở nội thành Huế, cho đến trước ngày nổ súng tiến công, ta đã có 8 chi bộ Đảng và 100 cơ sở bí mật, nửa bí mật. Để phát động quần chúng nổi dậy, Khu ủy đã mở nhiều lớp tập huấn cho 700 cán bộ và quần chúng cách Mạng cơ sở ở đô thị và nông thôn đồng bằng vùng địch chiếm. Sau khi kết thúc khóa tập huấn, họ trở về địa phương, thành lập các đội công tác, làm nòng cốt phát động quần chúng khởi nghĩa. Về hậu cần, bằng việc thu mua và dựa vào sự đóng góp của nhân dân, hậu cần Quân khu đã chuẩn bị được gần 2.000 tấn lương thực ở đồng bằng, 1.000 tấn ở vùng căn cứ, 8 tấn thuốc men và dụng cụ y tế. Để phục vụ bộ đội tiến công, nhiều địa phương tổ chức các đội vận tải, cứu thương, đào hầm bí mật. Một số xã phía bắc, phía tây cố đô Huế, ta dẩy mạnh lùng diệt, trán áp bọn ác ôn, buộc chúng co vào dồn, tạo thêm điều kiện cho việc vận chuyển vũ khí, lương thực và tạo bàn đạp xuất phát tiến công cho các đơn vị vũ trang. Trong khi đó, phía nam sông Hương, ở các phường Phú Ninh, Phú Nhuận, Phú Xuân, Phường Đúc, Xuân Giang, Vĩ Dạ, Vân Dương, Thanh Thủy, các đoàn thể cách mạng phát triển khá nhanh; đặc biệt từ tháng 12 năm 1967 trở đi, nghĩa là sau khi căn cứ quân sự địch ở Phú Lộc bị ta đánh chiếm.... Mạng lưới giao liên, giao thông, nhờ vậy, dược củng cố và mở rộng; mỗi đêm có dện hàng chục người ra vào nội thành làm nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2017, 08:07:29 AM

        Như vậy trong điều kiện thời gian gấp, chiến trường bị chia cất mạnh, hơn một triệu quân Mỹ, ngụy, chư hầu với hệ thống dồn bốt, trạm kiểm soát và bộ máy kìm kẹp cùng mạng lưới tình báo, gián diệp giăng khắp mọi nơi nhưng quá trình chuẩn bị của ta vẫn giữ được bí mật. Được như vậy là bởi ta xây dựng dược thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển trên cả ba vùng chiến lược. Thế trận đó đan cài, xen kẽ với vùng địch kiểm soát. Tổ chức và con người của ta cài cắm, lồng xen vào hàng ngũ địch ở nhiều cấp nhiều nơi. Mặt khác, trong suốt quá trình này, ta dựa vào sự che chở, giúp đỡ, tham gia của đông đảo nhân dân ở vùng giải phóng, vùng giáp ranh, vùng tranh chấp và vùng địch kiểm soát. Thế trận và lòng dân đó cho phép quân và dân ta trên chiến trường, trong một khoảng thời gian không nhiều, đã hoàn tất được mọi mặt chuẩn bị với một khối lượng công việc phức tạp, khó khăn trên quy mô rộng lớn toàn miền từ rừng núi đến đồng bằng, từ nông thôn tới đô thị, từ vùng giải phóng vào vùng địch kiểm soát...

        Cùng với quá trình chuẩn bị, các chiến trường đã mở đợt hoạt động Thu Đông 1967. Đợt hoạt động này nằm trong khuôn khổ giai đoạn 1 của kế hoạch tác chiến chiến lược1.  Về hoạt động của lực lượng vũ trang ta tại vùng ven Sài Gòn - Gia Định trước Tết Mậu thần, ngay từ tháng 8 nam 1968, Bộ tổng tham mưu ngụy đã thú nhận: "Những tháng cuối năm 1967, thường thấy các vụ khủng bố, ám sát xảy ra ở khu Gò Vấp, là vùng ngoại ô tiếp cận ngay thành phố Sài Gòn. Có lẽ đây là khu vực cuối cùng thuộc vùng lân cận thủ đô có hệ thống làng xã còn vững chãi trong thời gian bấy giờ mà địch (tức Quân giải phóng) cần thanh toán hạ tầng cơ sở để khống chế, kiểm soát vùng này. Cũng vào cuối năm 1967, người ta thường thấy địch đột nhập ngay từ chập tối vào các khu phế ở miệt Phú Lâm - Chợ Lớn... Sau những vụ này, những ngày kế tiếp, sinh hoạt bình thường lại diễn ra như không có dấu vết và trở ngại nào tại những khu vực xảy ra biến cố. Tuy địch đã tiến sát tới đô thành nhưng vẫn cố duy trì một tình trạng an ninh giả tạo"2.. Mục đích của đợt hoạt động này là trực tiếp tạo thế, tạo lực cho "Tết Mậu thân"; buộc địch phải phân tán chiến lược trên chiến trường, nghi binh làm lạc hướng chú ý của chúng, tạo thêm diều kiện thuận lợi cho quá trình chuẩn bị của ta.

        Ở vùng ven đô thị và nông thôn, đồng bằng, lực lượng vũ trang tại chỗ được lệnh duy trì các hoạt động theo như lệ tháng: Đánh phá giao thông, tập kích các căn cứ quân sự căn cứ hậu cần và một số mục tiêu trong nội đô, chặn đánh các cuộc hành quân càn quét của Mỹ - ngụy, đẩy mạnh các hoạt động diệt tề, trừ gian, chuẩn bị địa bàn xung quanh các đô thị.

        Ở Nam Bộ, lực lượng vũ trang tại chỗ của ta tiến công địch trên đường số 4, chặn cắt giao thông trên đoạn dường này từ Mỹ Tho đến Tân An. Lực lượng vũ trang Quân khu 9 tập kích sân bay Trà Nóc (Cần Thơ), dành địch càn quét ở khu vực Nam, Bắc lộ 4 (Mỹ Tho). Lực lượng vũ trang dịa phương cùng các đội biệt động, đặc công tập kích sở chỉ huy sư đoàn dù 101 Mỹ ở Hóc Môn, tiến công chi khu quân sự Cần Giuộc, tập kích căn cứ của lữ đoàn 1, sư đoàn bộ binh 25 Mỹ ở Củ Chi, đánh địch ở Tịnh Biên (Châu Đốc), Cao Lãnh (Sa đéc).

        Ở khu vực đồng bằng ven biển miền Trung, lực lượng vũ trang tại chỗ Khu 6, Khu 5 duy trì các hoạt động chống phá càn quét bình định, dành cắt giao thông, tập kích các căn cứ hành quân hỗn hợp của quân Mỹ, quân ngụy ở Bàu Ốc cách thị xã Phan Thiết 80km về phía Đông, tiến công quận lỵ Tuy Phước (phía Bắc Quy Nhơn), thị trấn Đập Đá (Bình Định), đánh vào một số căn cứ quân sự Mỹ ở Quế Sơn Tiên Phước, Tam Kỳ (Quảng Nam),...

-------------------
        1. Kế hoạch tác chiến chiến lược dự kiến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy gồm 3 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Tiến hành trong mùa Đông 1967 và đầu tháng 1 năm 1968. Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là kiếm chế, thu hút lực lượng cơ động Mỹ ra cùng rừng núi đường 9 - Khe Sanh, tạo điều kiện cho đòn tiến công và khởi nghĩa đô thị. - Giai đoạn 2: Xuẩn 1968, cao điểm là Tết Mậu thần: thực hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở các đô thị và vùng nông thôn đồng bằng, miền núi. - Giai đoạn 3: đánh địch phản kích, giữ vững thành quả giành được trong giai đoạn 2.

        2. Cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa của Việt cộng Mậu thân 1968. Bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa, tháng 8 năm 1968, tr.385.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2017, 08:14:02 AM

        Tại Trị - Thiên, trong suốt tháng 1 năm 1968, lực lượng vũ trang Trị - Thiên đẩy mạnh hoạt động trên hai hướng Nam và Bắc thành phố Huế nhằm giữ chân, nghi binh đánh lạc hướng dịch (hướng Quảng Trị) và chặn cắt giao thông tiếp tế của chúng (hướng Phú lộc). Trong khi đó ở vùng ven Huế, lực lượng vũ trang tại chỗ duy trì các hoạt động diệt ác, trừ gian, khống chế bọn tay sai, chỉ điểm của dịch; tập kích một số mục tiêu nhỏ vùng phụ cận như ấp Mỹ Xuyên (Phong Điền), Thủ Lệ (gần Sịa), phá đường An Lỗ - Sịa, chặn đánh 2 cuộc càn của quân ngụy vào vùng núi Hương Trà.

        Trong khi duy trì các hoạt dộng như lệ thường ở vùng ven và vùng nông thôn đồng bằng, chủ lực Quân giải phóng liên tiếp mở các chiến dịch có quy mô tương đối lớn ở khu vực rừng núi nhằm lôi kéo, đặng ghìm chân một bộ phận quan trọng chủ lực Mỹ tại vòng ngoài.

        Từ ngày 27 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1967, Bộ chỉ huy Miền sử dụng 2 sư đoàn bộ binh (sư đoàn 7 và 9), 1 sư đoàn pháo binh (Sư đoàn 69) cùng bộ đội địa phương hai tỉnh Bình Long, Phước Long mở chiến dịch Lộc Ninh - đường 13 - chiến trường chính mà quân Mỹ liên tiếp tung ra các cuộc phản công chiến lược trong hai mùa khô trước đó nhằm tiêu diệt các đợn vị chủ lực Miền; liên tục tiến công vào các cụm quân thuộc sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ, sư đoàn bộ binh 25 Mỹ và sư đoàn bộ binh số 5 ngụy, tiêu diệt nhiều sinh lực địch là phương tiện chiến tranh của chúng. Nhận xét về hoạt động nói trên của ta, sau Mậu thân, dịch vẫn cho rừng: mục đích chính của chiến dịch Lộc Ninh - đường 13 của ta chỉ là “để gây tiếng vang quốc tế và cũng để có thể rút an toàn lực lượng qua biên giới dễ dàng"1.

        Đầu tháng 11 năm 1967, lực lượng vũ trang Tây nguyên mở chiến dịch Đắc Tô nhằm bức địch phải điều lực lượng cơ động chiến lược lên Tây Nguyên, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận chủ lực ngụy thuộc quân đoàn 2, tạo điều kiện cho vùng ven, vùng đồng bằng đẩy mạnh chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Quả nhiên, chiến dịch vừa mở ra, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) đã buộc phải điều sư đoàn 4 Mỹ và lữ đoàn dù 174 từ Gia Lai, Đắc Lắc và Phú Yên lên Đắc Tô đối phó. Suốt gần một tháng, "nhiều trận đánh đẫm máu đã xảy ra"2, quân Mỹ bị những tổn thất nặng nề về người và vũ khí.

        Nhận xét về chiến dịch Lộc Ninh - đường 13 và chiến dịch Đắc Tô, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn vẫn chủ quan cho rằng, “đối phương đã bị những thiệt hại nặng nề đến nỗi nỗ lực chính của Việt cộng và quân Bắc Việt hiện nay phần lớn chỉ giới hạn ở vùng biên giới Nam Việt Nam"3. Còn phía ngụy thì cho rằng "đại để, qua các trận đánh trên, địch (Quân giải phóng) đã làm những công việc tuyệt vọng và chỉ nhằm gây những tiếng vang yếu ớt”4 (Cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa của Việt cộng Mậu thân 1968, Sđd, tr.358, 359).

        Cùng với các hoạt động trên chiến trường miền Nam trong Thu Đông 1967, cơ quan chỉ đạo chiến lược đã đề ra các biện pháp nghi binh nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của Bộ chỉ huy đối phương. Tháng 9 năm 1967, trên báo Nhân Dân và Quân đội nhân dân, xuất hiện bài "Thắng lợi lớn, nhiệm vụ lớn" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bài báo khẳng định lại phương châm của ta là đánh lâu dài và kêu gọi quân và dân chiến trường ra sức bảo tồn lực lượng. Bài báo lập tức được Cục tình báo trung ương Mỹ CIA dịch và phân phát qua chi nhánh công khai của nó là Sở thông tin và truyền thanh nước ngoài. Vào tháng 11 năm 1967, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam đã phổ biến trực tiếp cho các tư lệnh chiến trường kế hoạch nghi binh chiến lược. Nhằm mục dịch đó, một bản kế hoạch tác chiến giả được gửi cho các cấp tại chiến trường miền Nam5.

--------------------
        1, 2, 4. Cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa của Việt cộng Mậu thân 1968, Sđd, tr.358, 359.

        3. Dẫn theo Nây Si-hân: Lời nói dối choáng lộn, T2, Sđd, tr.392.

        5. Để giữ bí mật, chủ trương và kế hoạch tác chiến thật chỉ được phố biến cho các chiến trường trực tiếp bằng miệng - thông qua phái viên của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam hoặc cán bộ giữ cương vị chủ chốt ở chiến trường phải ra Hà Nội nhận lệnh, chứ không hề có văn bản.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2017, 08:20:09 AM

        Trong hồi ký Tường trình của một quân nhân, Oét-mo-len cho biết, vào tháng 11 năm 1967, quân Mỹ đã thu được một bản tài liệu quan trọng về kế hoạch quân sự năm 1968 của đối phương ở gần Đắc Tô phía bắc Tây Nguyên - nơi từ ngày 3 đến ngày 28 tháng 11 năm 1967, ta sử dụng một bộ phận lực lượng gồm 1 sư đoàn tăng cường, 1 trung đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn súng máy cao xạ... mở chiến dịch tiến công nhằm nghi binh "lừa địch". Cuốn Cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa của Việt cộng của Ban quân sử - Bộ tổng tham mưu Quân lực Việt Nam cộng hòa, ghi nhận: "Một bản tài liệu… đã được tìm thấy tại tỉnh Tây Ninh ngày 25 tháng 11 năm 1967 gồm 10 trang chữ in. Tài liệu đề ngày 1 tháng 9 năm 1967. Tài liệu này cũng như các tài liệu khác của Việt cộng được in trên giấy báo khổ sách nhỏ và được ngụy trang ngoài bìa thành một cuốn nghiên cứu giáo lý đạo Phật, tên sách là “Tế độ chúng sinh" của Thượng tọa Thích Minh Tâm, Nhà xuất bản Lục Hòa Tăng. Bên trong tài liệu ghi rõ “tài liệu học tập tình hình mới, nhiệm vụ mới" cho các cán bộ sơ cấp, đảng viên và quần chúng cảm tình viên".

        Cũng tại cuốn sách này, Bộ tổng tham mưu Quân lực Việt Nam cộng hòa nhận thấy: "Kế hoạch tổng công kích - tổng khởi nghĩa còn dự liệu tung ra một tin đồn là Mặt trận Dán tộc Giải phóng miền Nam được sự thỏa thuận của Hoa Kỳ chỉ đánh vào các đơn vị và cơ cấu chỉ huy của Việt Nam cộng hòa. Sự thật, trong cuộn tống công kích này, quân địch đã không đánh vào bất cứ một cơ sở Hoa Kỳ nào. Như vậy, tin đồn của Việt cộng được phóng ra đã dựa vào một vài yếu tố cụ thể là vào trước Tết, sau lời tuyên bố của Ngoại trưởng Bắc Việt Nguyễn Duy Trinh ngỏ ý mở hội đàm, một vài nhân vật của Mặt trận Giải phóng có giao dịch tiếp xúc với tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại thủ đô Sài Gòn về vấn đế này. Một người trong các nhân vật này bị Tổng nha cảnh sát quốc gia bắt và chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan - tổng giám đốc cảnh sát quốc gia, ra ý phản đối việc Hoa Kỳ xen lẫn vào nội bộ của Việt Nam và vì một áp lực nào đó có lẽ là tòa Đại sứ Hoa Kỳ can thiệp đòi tha nhân vật nói trên khiến ông xin từ chức nhưng Hội đồng nội các bác đơn, không chấp thuận. Cũng tin đồn này cho rằng vì Việt Nam cộng hòa có một thái độ cứng rắn trong vấn đề liên hiệp với Mặt trận Giải phóng miền Nam trái với ý Hoa Kỳ nên người Mỹ để mặc cho Việt cộng đánh vào các cơ sở và lực lượng của Việt Nam cộng hòa để xem phản ứng của quân đội đạt được đến mức nào và cũng là một cơ hội để Hoa Kỳ xem khả năng tấn kích cửa Việt cộng thực hư ra sao hầu đánh giá việc mua bán trong việc thương thuyết"1.

        Những tài liệu đó chính là bản kế hoạch tác chiến giả, tài liệu giả do ta tung vào mà nội dung của nó, theo Oét-mo-len, càng củng cố thêm nhận định của ông là “Việt cộng đang trong quá trình thất bại lớn mà trận Đắc Tô là bước mở đầu” của quá trình này. Vì vậy theo phán đoán của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn (M.A.C.V) thì, trong năm 1968, trọng tâm hoạt động của quân và dân ta ở miền Nam sẽ là chống phá "bình định”, mở một số trận đánh dọc biên giới, tiến công các mục tiêu ở 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, tìm cách bảo tồn lực lượng, cố gắng duy trì mức độ giao tranh như năm 1967.

        Xuất phát từ nhận định, đánh giá về ý đồ và khả năng của ta như vậy, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ chủ trương ổn định tình hình nội bộ chính quyền và quân đội Sài Gòn, tiếp tục thực hiện biện pháp chiến lược “tìm diệt” và "bình định”, đẩy mạnh đánh phá khu vực hành lang vận chuyển và triệt phá căn cứ, kho tàng của ta ở vùng rừng núi. Trong điều kiện Mỹ không còn khả năng tăng quân lớn, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ - để duy trì thế giằng co, vẫn quyết định mở cuộc phản công chiến lược lần thứ 3, mùa khô 1967-1968 mà hướng chủ yếu vẫn là miền Đông Nam Bộ và hướng quan trọng là khu vực Trị - Thiên.

        Theo kế hoạch này, Mỹ sẽ tuần tự tập trung lực lượng đánh vào các mục tiêu trọng diềm như hệ thống các căn cứ của ta ở miền Đông Nam Bộ, các đẩu mối giao thông trên hành lang vận chuyển Bắc - Nam để hỗ trợ cho quân ngụy Sài Gòn đẩy mạnh chương trình “bình định" vùng nông thôn đồng bằng Nam Bộ; ngăn chặn chủ lực ta ở khu vực tiếp giáp với Lào trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Tại Trị - Thiên, Oét-mo-len dự kiến sẽ mở bốn cuộc hành quân mang mật danh “Yord”, càn quét vùng biên giới Việt - Lào ở 4 tỉnh phía Bắc của miền Nam Việt Nam nhằm lập lại quyền kiểm soát thung lũng A Sầu...

------------------
        1.  Tường trình của một quân nhân. Oét-mo-len. Sđd, tr. 59-60.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2017, 08:24:34 AM

        Như vậy, theo dự định của cuộc phản công lần này, người ta thấy Bộ chỉ huy quân sự Mỹ đã tỏ ra dè dặt trong việc xác định mục tiêu mặc dù có trong tay hơn 1.200.000 quân - trong đó có 486.000 quân Mỹ. Âm mưu của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn và của giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn là cố giữ thế giằng co trên chiến trường, tránh mọi sự đảo lộn bất ngờ ở miền Nam Việt Nam, chờ cho kỳ bầu cử tổng thống Mỹ tháng 11 năm 1968 kết thúc sẽ tính toán bước đi tiếp theo.

        Tại Mỹ, vào những tháng cuối năm 1967, theo lời khuyên của Đin A-che-sơn1 và nhóm cố vấn cấp cao về Việt Nam "Những nhà thông thái", chính quyền Giôn-xơn triển khai mạnh mẽ chiến dịch tuyên truyền về thắng lợi của Mỹ ở Việt Nam nhằm chống lại sự xói mòn lòng tin trong dư luận Mỹ đối với chính quyền. Cố vấn Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ Rốt-xtâu được Giôn-xơn chỉ định theo dõi mọi nhân vật trong Quốc hội chống đối đường lối chiến tranh của chính quyền Mỹ tại Việt Nam để có biện pháp đối phó. Giôn-xơn cũng thành lập Nhóm thông tin về Việt Nam nằm trong văn phòng thừa hành của tổng thống. Nhiệm vụ của nhóm này là thông báo đều đặn tình hình tiến bộ của Mỹ ở Việt Nam nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Mỹ. Vào giữa tháng 11 năm 1967, nhân ngày Cựu chiến binh Mỹ, Giôn-xơn đi một loạt các bang trong nước nhóm thuyết phục các tầng lớp xã hội Mỹ tin rằng, Mỹ đang thực sự đạt được các tiến bộ vững chắc ở Việt Nam. Đại sứ và Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn được triệu về Oa-sinh-tơn nhằm bênh vực cho dường lối chiến tranh của Giôn-xơn. Phối hợp chặt chẽ với các hoạt động tuyên truyền ở Mỹ, tại Sài Gòn, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ được lệnh tổ chức đều đặn các buổi thuyết trình về thắng lợi của Mỹ và quân đồng minh. Bằng chiến dịch tuyên truyền đó, chính quyền Mỹ đã phần nào hồi sinh niềm hy vọng giành thắng lợi trong một bộ phận công chúng Mỹ, ngăn chặn sự "han rỉ" trong thái độ ủng hộ chính quyền, ủng hộ chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, "cái giá" phải trả cho sự hồi sinh đó, như nhận xét của tác giả Đôn O-bớc-đoi-phơ, "quả là đắt". Bởi vì, chính phủ Mỹ phải đổi lấy sự ủng hộ của dân chúng bằng "một lời hứa hẹn vế tương lai"1 để rồi không bao giờ trở thành hiện thực!

        Vào tháng 12 năm 1967, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố phóng thích 2 tù binh Mỹ để họ trở về đoàn tụ với gia đình nhân dịp lễ Nô-en 1967.  Cử chỉ này của Chính phủ ta khiến cho một số quan chức cao cấp trong chính phủ Mỹ vội chủ quan nhận định: "Các nhà lãnh đạo Hà Nội đã từ bỏ hy vọng chiếm được miền Nam trong một tương lai gần"3! Điều này, theo họ có nghĩa là: khả năng đàm phán trực tiếp với đại diện miền Bắc Việt Nam đang hé mở và "Mỹ đang ở trong một giai đoạn Bàn Môn Điếm nào đó"!4. Tại buổi chiêu đãi đoàn ngoại giao ở Hà Nội ngày 30 tháng 12 năm 1967, người ta vẫn còn thấy Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh ngỏ ý rằng: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ đi vào đàm phán với chính phủ Mỹ một khi phía Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam5. Tín hiệu này càng làm cho nhiều nhân vật chủ chốt trong chính quyền Giôn-xơn thêm hy vọng. Và chính vì thế mà sức ép đòi ngừng ném bom miền Bắc để mở đường đi vào đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lập tức tăng lên mạnh mẽ ở trong chính quyền Mỹ, trong dư luận Mỹ và trên thế giới.

-------------------
        1. Đin A-che-sơn (Dan Acheson): Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ từ năm 1949 đến 1953 trong chính quyền Tổng thống Mỹ Tru-man, sau này là một thành viên có ảnh hưởng trong nhóm cố vấn về chính sách đối ngoại Mỹ cho đến khi qua đời vào năm 1969; là cố vấn cho Tổng thống Mỹ Giôn-xơn về vần đế Việt Nam trong Nhóm những nhà thông thái từ năm 1965 đến năm 1968.

        2. Đôn O-bớc-đoi-phơ: Tết, Sđd, tr.72.

        3, 4. Dẫn theo Nây Si-han: Lời nói dối choáng lộn, Sđd, T2, tr.390.

        5. Trước đó, ta chưa bao giờ công khai tuyên bố sẽ đi vào đàm phán, mà chỉ mới hé mở khả năng "có thể nói chuyện với Mỹ" sau khi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc. Tuyên bố trên đây của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh là đòn tiến công ngoại giao, ngoài mục đích tăng cường sức ép và khoét sâu thêm mâu thuẫn trong nội bộ địch, còn có tác dụng che giấu ý đồ ta ta trước khi mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 08:16:05 AM

        Đồng thời với thao tác nghi binh trên mặt trận ngoại giao, trên mặt trận quân sự, ta đã bàn với bạn Lào mở chiến dịch Nậm Bạc, buộc địch phải phân tán lực lượng, đối phó không chỉ trên chiến trường miền Nam mà cả trên chiến trường Lào, tạo điều kiện cho đòn tiến công đồng loạt đánh vào các đô thị miễn Nam Việt Nam.

        Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 12 tháng 1 năm 1968, liên quân Lào - Việt nổ súng mở màn chiến dịch, tiêu diệt địch ở khu vực Bắc Lào. Cùng lúc đó, tại miền Nam Việt nam, các sư đoàn, các trung đoàn chủ lực Quân giải phóng cùng các đơn vị binh chủng bắt đầu rời căn cứ, hướng về các trung tâm dân cư và các đô thị, kể cả Sài Gòn - Gia Định Đồng thời, một số. sư đoàn chủ lực miền Bắc đã tập kết lực lượng xung quanh khu vực rừng núi Khe Sanh, hình thành thế bao vây, uy hiếp căn cứ có tầm quan trọng chiến lược này của địch. Trước tình hình đó, ngày 13 tháng 1 năm 1968, Oét-mo-len buộc phải ra lệnh hủy bỏ dự án mở cuộc phàn công chiến lược lần thứ 3; triệt thoái các đơn vị Mỹ đã triển khai đánh vào chiến khu C, chiến khu D ở miền Đông Nam Bộ, lùi về giữ vùng quanh Sài Gòn - Gia Định1. Đồng thời, vì có mối đe dọa ở phía Bắc, Mỹ cũng buộc phải hủy bỏ các cuộc hành quân mang mật danh “York” ở các tỉnh phía Bắc; lệnh cho sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ thôi không từ Tây Nguyên về miền Đông Nam Bộ theo như dự định ban đầu mà cùng với lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 Mỹ chuyển ra Thừa Thiên, tăng cường cho mặt trận phía Bắc.

        Như vậy, đang từ thế chuẩn bị phản công chiến lược nhằm giành quyền chủ động chiến trường, lực lượng quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam buộc phải quay về phòng ngự bị động trên hai hướng chính là xung quanh Sài Gòn và Trị - Thiên.

        Giữa lúc đó, đêm 20 tháng 1 năm 1968, lực lượng vũ trang ta bất ngờ nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm Khe Sanh, uy hiếp mạnh tuyến phòng thủ đường 9 của địch. Chiến dịch Khe Sanh nổ ra đã phá tan những cố gắng của chính quyền Giôn-xơn trong việc thuyết phục công chúng Mỹ tin rằng với Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam đã thấy "ánh sáng cuối đường hầm".

        Khe Sanh, một vị trí có tầm quan trọng chiến lược ở miền núi phía Tây Quảng Trị, nằm trên cao nguyên mỗi bề gần 10km. Đây là khu vực phía Tây phòng tuyến Mắc-na-ma-ra mà địch phòng thủ rất mạnh nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, là bình phong chắn giữ cho khu vực phía đông đường 9, bảo vệ vùng dân cư đồng bằng ven biển thuộc tỉnh Quảng Trì. Dưới con mắt của các tướng lĩnh Mỹ, Khe Sanh là một căn cứ tuần tra để ngăn chặn chủ lực miền Bắc thâm nhập từ Lào sang theo đường số 9; là một căn cứ cho các hoạt động của lực lượng dặc biệt Mỹ và ngụy nhằm đánh phá các căn cứ của ta trên đất Lào; là sân bay phục vụ cho việc trinh sát đường không tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn; "là cái mỏ neo ở phía Tây cho hệ thống phòng thủ phía Nam khu phi quân sự; và là một bàn đạp cho các cuộc hành quán trên bộ để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh" 2. Theo Oét-mo-len, bỏ Khe Sanh tức là đã bỏ mất tất cả lợi thế đó, "đồng thời chấp nhận cái tất yếu là đưa chiến tranh vào vùng dân cư ven biển thuộc tỉnh Quảng Trị” 3. Vì tầm quan trọng đó, nên chiến dịch Khe Sanh của ta vừa mở màn đã lập tức thu hút tâm trí của giới lãnh đạo Mỹ. Giôn-xơn chỉ thị cho tướng Tay-lo lập phòng "Tình hình đặc biệt" tại Nhà Trắng và đích thân theo dõi diễn biến tình hình Khe Sanh từng giờ. Ông cũng lệnh cho các tham mưu trưởng liên quân Mỹ phải cam kết giữ vững Khe Sanh ông mọi giá, lệnh cho Oét-mo-len hàng ngày phải gửi về Oa-sinh-tơn báo cáo tình hình chiến sự Khe Sanh.

        Vì tình hình căng thẳng ở Khe Sanh, đêm đêm, Oét mo-len phải ngủ lại tại Trung tâm hành quân trong Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn. Ông và các cộng sự của mình trong Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) nhận định Khe Sanh là hướng tấn công chính của ta trong Đông - Xuân 1968. Ám ảnh bởi Điện Biên Phủ nam 1954 đã chôn vùi uy danh quân đội Pháp, Oét-mo-len cho mời nhà sử học quân sự công tác tại M.A.C.V, đại tá Rác-gơ thuyết trình về nguyên do đưa đến sự bại trận của quân đồn trú Pháp ở Điện Biên Phủ. Theo nhà sử học này, tại Điện Biên Phủ năm 1954 cũng như nhiều nơi khác trong lịch sử chiến tranh thế giới, sở dĩ quân dồn trú thất bại là bởi bị bao vây và mất hết quyền chủ động. Kết luận đó, theo hồi ký của Oét-mo-len, khiến cho ông và cả Bộ chỉ huy vô cùng choáng váng. Trong lo lắng, Oét-mo-len quyết định thành lập Sở chi huy tiền phương của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Vùng 1 chiến thuật nhằm kiểm soát, chỉ huy toàn bộ lực lượng Mỹ - ngụy ở mặt trận phía Bắc, và nhằm đối phó kịp thời với tình hình chiến sự ở Khe Sanh. Toàn bộ lực lượng này, vào cuối tháng 1 năm 1968, lên tới 40% số tiểu đoàn bộ binh và thiết giáp mà M.A.C.V hiện có trong tay.

------------------------
        1. Theo hồi ký Tường trình của một quân nhân thì các đơn vị chiến đấu Mỹ sau khi lui quân về đã được bố trí ở "vùng chu vi Sài Gòn hoặc dọc các hành lang đi từ các khu an toàn ở biên giới tới Thủ đô".

        2, 3. W.Oet-mo-len: Tường trình của một quân nhân. Thư viện Quân đội trung ương sao lục, T 3, tr.166.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 08:23:19 AM

        Như vậy đến trước ngày cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân nổ ra, phía Mỹ vẫn hoàn toàn lạc hướng trong việc phán đoán ý đồ chiến lược thực sự của ta. Ngay cả các sĩ quan tình báo trong Bộ chỉ huy quân sự Mỹ sau này cho biết, nếu như lúc đó, họ nắm được toàn bộ kế hoạch của cuộc Tổng tiến công đi nữa, thì họ cũng sẽ “không thể nào tin được"1 và không hiểu nổi "bản chất" của hành động này. Còn Tư lệnh chiến trường Mỹ, tướng W Oét-mo-len sau khi rời Việt Nam về Mỹ, đã nhận xét trong hồi ký của ông rằng: “Bắc Việt Nam đã vạch ra một bài bản khôn khéo, trong đó có việc đe dọa Khe Sanh rồi đánh tiếng rất khôn ngoan về vấn đề thương lượng. Thế rồi dù là vô tình, nhiều người Mỹ, trong đó có giới báo chí, Quốc hội và các nhà trí thức ở các trường đại học - thậm chí cả các quan chức chính phủ, đã bị đóng vai trò mà người ta dành cho họ một cách có hiệu quả" đến nỗi "như thể họ đã được đọc trước văn bản thương lượng"2. Đó là phát biểu của ông ta sau này. Còn dịp Tết Mậu thân, giữa cảnh đổ nát và xác người ngổn ngang ở sân tòa đại sứ trong ngày đầu cuộc Tổng tiến công nổ ra, ông ta nhận định: "Nỗ lực chính của Bắc Việt Nam vẫn là nhằm vào Khe Sanh và vùng bắc Trung phần"3.

        II. DIỂN BIẾN CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY ĐỒNG LOẠT TẾT MẬU THÂN

        Các hoạt động nghi binh chiến lược, đặc biệt chiến dịch Khe Sanh mở màn trước Tết Mậu thân 1968 mười ngày, đã làm cho Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn (M.A.C.V) và giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn bị lạc hướng. Trong khi phía Mỹ dồn tâm trí và lực lượng ra hướng đường 9 - Khe Sanh, nhận định Khe Sanh là một Điện Biên Phủ trong ý đồ chiến lược của Bộ thống soái Việt Nam thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân đồng loạt nổ ra trên khắp chiến trường miền Nam mà hướng chính là nhằm vào đô thị - trung tâm quân sự, chính trị và kinh tế của Mỹ, ngụy.

        Đêm 29 rạng ngày 30 tháng 1 năm 1968 (tức đêm giao thừa theo lịch miền Nam), quân và dân các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung và Tây Nguyên dã đồng loạt tiến công vào các thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ và hàng loạt căn cứ, kho tàng, sở' chỉ huy, sân bay, bến cảng... của địch, mở dầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trên khắp chiến trường miền Nam4.

--------------------
        1. Dẫn theo Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẾT, Sđd, tr.80.

        2. W.Oét-mo-len Tường trình của một quân nhân, Sđd, T3, tr.173.

        3. Dẫn theo Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẾT, Sđd, tr.34.

        4. Việc các địa phương Quân khu 5 nổ súng tiến công sớm hơn một ngày so với Quân khu Trị - Thiên, Quần khu 6, Quân khu 7... đã được một số cuốn sách xuất bản ở Trung ương và địa phương đề cập. Cuốn Nam Trung Bộ kháng chiến 1945-1975 ghi chú rằng: "Cuối năm 1967, vì lý do khoa học, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố ngày mồng một Tết âm lịch Mậu thân chậm hơn lịch cũ một ngày (tức ngày 30 tháng 1 năm 1968), trong lúc đó, ngụy quyến Sài Gòn vẫn giữ như lịch cũ (tức ngày 31 tháng 1 nam 1968)". Vì giờ nổ súng trên toàn chiến trường được quy định đúng vào đêm giao thừa nên hiển nhiên, việc đổi lịch trên đây dẫn đến tình trạng giữa các chiến trường sẽ đánh lệch ngày giờ như dự tính ban đầu. "Phát hiện tình hình này, Bộ Tổng Tham mưu lệnh cho các địa phương nổ súng trước lùi lại (một ngày) cho thống nhất (sách Quân khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng). Cũng theo cuốn sách này, "trong hội nghị tổng kết cuộc Tiến công và nổi dậy Xuân 1968, từ ngày 1 đến ngày 8 tháng 8 năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh, các đồng chí ở Cục Tác chiến khẳng định: lệnh viết rõ là giao thừa (miền Nam). Nhưng vì một số địa phương không nghiên cứu kỹ nên làm sai". Thế nhưng, "Lệnh" này được gửi đi từ bao giờ thì sách này không ghi rõ. Trong khi đó, cuốn Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, 1 tập II cho biết: "Chiều ngày 29 tháng 1 năm 1968, Quân khu 5 nhận được điện hoãn cuộc tiến công sang đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1". Nếu vậy, bức điện gửi đi đã là qúa muộn nếu như đặt trong điều kiện chiến trường ác liệt lúc đó. Cho nên, trên thực tế, lệnh hoãn ngày giờ nổ súng tiến công trên đây, quả thực cũng "chi kịp báo cho Sư đoàn 2, Sư đoàn 3, Trung đoàn 10 và hải tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi", còn lại, "các tỉnh Quảng Đà, Phú Yên, Bình Định, Khánh Hòa không nhận được (lệnh) nên vẫn nổ súng theo kế hoạch ban đầu là đêm 29 rạng ngày 30 tháng 1 năm 1968" (sách: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập II). Chúng tôi không chuyên môn về lịch Việt Nam mà ở đó, phép tính âm lịch, tháng đủ, tháng thiếu, tháng nhuận... là một chuyên môn sâu, nên không thể giải thích được “lý do khoa học” của việc "công bố ngày mồng một Tết âm lịch Mậu thân năm ấy chậm hơn lịch cũ một ngày". Sau này, đã có những ý kiến cho rằng, việc dùng lịch âm mà không dùng lịch dương để quy định ngày giờ nổ súng rất đáng được đem ra phân tích. Dưới góc độ nghiên cứu một sự kiện lịch sử đã diễn ra hơn 30 năm qua, chúng tôi nghĩ rằng, việc quy định ám lịch và việc "đổi lịch" mà ngay sau đó, một số địa phương ở chiến trường Quân khu 5 đánh sớm hơn một ngày với toàn Miền tự bản thân nó, đã là một HÀNH ĐỘNG NGHI BINH tầm chiến lược thu hút tâm trí và lực lượng địch vào chiến trường không phải là trọng điểm trong kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1988... Vả chăng, lực lượng tiến công trong ngày đầu ở các địa phương Quân khu 5, thực ra cũng mới chỉ chủ yếu là bộ đội địa phương và dân quân du kích...


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 08:28:21 AM

        23 giờ ngày 29 tháng 1: Nha Trang.

        0 giờ ngày 30 tháng 1: Tuy Hòa.

        0 giờ 30 phút ngày 30 tháng 1: Tân Cảnh.

        0 giờ 45 phút ngày 30 tháng 1: Buôn Ma Thuột.

        0 giờ 55 phút ngày 30 tháng 1: Plây Cu.

        1 giờ ngày 30 tháng 1: Đà Nẵng, Hội An.

        1 giờ 15 phút ngày 30 tháng 1: Quy Nhơn, Công Tum...

        Tại Tây Nguyên, vào lúc 0 giờ 30 phút ngày 30 tháng 1 năm 1968, một tiểu đoàn chủ lực thuộc Trung đoàn 174 bộ đội Tây Nguyên đã nổ súng đánh vào Tân Cảnh, thị trấn nhỏ nằm dưới chân một ngọn đồi cách Đắc Tô 3km và cách thị xã Công Tum chừng 40km về phía Bắc - nơi đặt sở chỉ huy trung đoàn 42 quân đội Sài Gòn. Ít phút sau đó, các tiểu đoàn 401, 406, 300 bộ đội địa phương tỉnh Gia Lai, Công Tum, Đắc Lắc phối hợp với lực lượng đặc công của Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã tiến công sân bay Cù Hanh, A-ri-a và các thị xã Buôn Ma Thuột, Plây Cu, Công Tum. Ngay từ đầu, quân ta đã đánh trúng một số mục tiêu đầu não của chính quyền địch như khu hành chính, dinh tỉnh trưởng, ty cảnh sát, tỉnh đoàn bảo an, đài phát thanh... cùng các căn cứ, sở chỉ huy quân sự địch ở bên ngoài và bên trong thị xã.

        Tại các tỉnh đồng bằng ven biển Khu 5, lực lượng vũ trang ta tiến công vào một loạt các thành phố, thị xã - như Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Hội An, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang và hơn 40 thị trấn, quận lỵ cùng hàng trăm mục tiêu quân sự, chính trị của địch trên địa bàn chiến lược trọng yếu này.

        Còn ở thành phố Đà Nẵng - một căn cứ quân sự liên hợp lớn của Mỹ, ngụy, một trong ba trọng điểm của cuộc Tổng tiến công Tết Mậu thân thì, mặc dù đã dược chuẩn bị từ trước khá lâu nhưng ngay từ đầu, cuộc tiến công và nổi dậy dã gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chính của khó khăn này là do công tác nắm địch không chắc, chuẩn bị mọi mặt chưa chu đáo, tổ chức hành quân chiếm lĩnh bàn đạp xuất phát tiến công chưa tốt nên đã bị địch chặn đánh quyết liệt ngay trên đường hành quân.

        Theo kế hoạch, đêm 29 rạng ngày 30 tháng 1 năm 1968, lực lượng pháo binh, đặc công, bộ binh, biệt động sẽ dộng loạt đánh phá các sân bay, trận dịa pháo, kho tàng; chiếm một số mục tiêu chủ yếu trong thành phố để hỗ trợ cho quần chúng từ bên ngoài kéo vào phối hợp với quần chúng bên trong nổi dậy giành chính quyền. Ở Đà Nẵng, phương thức vạch ra để giành thắng lợi là dùng sự nổi dậy của quần chúng giành chính quyền là chính.

        Thế nhưng, đêm 29 tháng 1, lực lượng luồn sâu đánh chiếm sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy trên đường hành quân đã bị địch chặn lại bên bờ sông Cẩm Lệ. Chỉ có một bộ phận nhỏ gồm 57 cán bộ, chiến sĩ di trước vượt được qua sông, tiến công vào mục tiêu và chiến đấu dện người cuối cùng trước một lực lượng địch đông hơn gấp bội, có xe tăng, pháo binh và máy bay yểm trợ. Trong khi đó Sư đoàn 2 bộ binh chủ lực Quân khu 5 có nhiệm vụ đánh ra phía Nam Đà Nẵng do nhận được lệnh hoãn ngày nổ súng tiến công đã lùi về phía sau. Địch tập trung lực lượng và dùng pháo binh, máy bay đánh phá, ngăn chặn mọi ngả dường dẫn vào Đà Nấng. 40.000 quần chúng các huyện xung quanh dược tổ chức thành đại đội, tiểu đoàn đã bị chặn lại trên đường vào thành phố. Hơn 100 cán bộ đã bị bắt, bị hy sinh. Bên trong thành phố, phong trào nổi dậy của quần chúng nhân dân không thực hiện nổi.

        24 giờ sau khi quân và dân các tỉnh ven biển miền Trung và Tây Nguyên nổ súng mở màn, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy dộng loạt nổ ra ở khắp các tỉnh và thành phố lớn miền Nam. Bộ binh, đặc công, pháo binh ta ngay từ những phút đầu dã đánh mạnh, dành trúng các mục tiêu trọng yếu của dịch ở Sài Gòn, Huế, Quảng Trị, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt, Tây Ninh, Bến Tre, Biên Hòa, Mỹ Tho, Cần Thơ, Trà Vinh, Châu Đốc, Vinh Long, Cà Mau, Sóc Trăng, Rạch Giá...


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 10:41:17 PM

        Tại Mặt trận Huế, thành phố lớn thứ ba miền Nam với dân số 15 vạn người - tính đến thời điểm cuối năm 1967, là nơi tập trung các cơ quan đầu não chỉ đạo chiến tranh của Mỹ, ngụy ở khu vực Vùng 1 chiến thuật, nơi địch tập trung một bộ phận khá lớn binh lực và phương tiện chiến tranh1 thì, vào lúc 2 giờ 33 phút ngày 31 tháng 1 năm 1968, pháo binh của ta đồng loạt dội đạn xuống các mục tiêu của địch ở khu Tam Giáp, khu Phan Sào Nam, Phú Bài, Động Tòa, Đông Ba, mở đầu cho cuộc tiến công đánh chiếm thành phố - Cố đô này. Ngay sau đó, lực lượng tiến công trên 2 cánh đồng loạt đánh vào 39 khu vực mục tiêu trong và ngoài thành phố.

        Ở cánh Bắc, phía tả ngạn sông Hương, khi pháo binh ta sau một thời gian bắn cấp tập, chuẩn bị chuyển làn thì Trung đoàn 6 bộ binh cùng một số tiểu đoàn bộ binh, đặc công, pháo cối và các đội biệt động thành... chia làm nhiều mũi tiến đánh khu Mang Cá - nơi đặt sở chỉ huy của sư đoàn 1 bộ binh quân Sài Gòn, khu An Hòa, cửa Chánh Tây, sân bay Tây Lộc, cửa Hữu, cửa Thượng Tứ, khu Đông Ba, khu Cột Cờ, khu Đại Nội, cầu Bạch Hổ, khu vực Kim Long, khu Gia Hội, Kẻ Vạn, Văn Thánh... hầu hết các mục tiêu quy định đều đã bị quân ta đánh chiếm, chỉ trừ khu Mang Cá và sân bay Tây Lộc.

        Cùng lúc với cánh Bắc, ở cánh Nam, phía hữu ngạn sông Hương, Trung đoàn 9 bộ binh được tăng cường 2 tiểu đoàn của Thành đội Huế, 2 tiểu đoàn đặc công và một số đơn vị binh nhung, biệt động, dân quân du kích 2 huyện vùng ven Hương Thủy, Phú Vang... tiến công căn cứ trung đoàn 7 thiết giáp ngụy ở Tam Thai, đại đội Nam Triều Tiên ở khu Tàu Lăng, khu công binh Nam Giao, sở chỉ huy lực lượng cảnh sát dã chiến, khu kho Rèn, Ngã Sáu, Đài phát thanh... Lực lượng cánh Nam còn đánh mạnh vào các đơn vị địch ở Phước Quả, ty Sắc Tộc, chiếm Tòa tỉnh trưởng, giải phóng 2.000 cán bộ, chiến sĩ bí địch giam cầm ở lao Thừa Phủ; chiếm khu vực nhà ga, xưởng quân cụ, tiến công khách sạn Mỹ là khách sạn Hương Giang và khách sạn Thuận Hóa. Như vậy, hầu như tất cả các cơ quan đầu não chính quyền và quân đội Sài Gòn tỉnh Thừa Thiên và các cơ quan đại diện chính quyền trung ương đặt tại Huế đầu bị ta đánh chiếm.

        Rạng sáng hôm sau, ngày 1 tháng 2 năm 1968, tuy tiếng súng vẫn rộ lên ở nhiều nơi nhưng phần lớn thành phố Huế đã nằm trong tay Quân giải phóng. Trong sương sớm, lá cờ nửa đỏ nửa xanh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã phấp phới trên cột cờ Thành Nội. Sáng ngày 3 tháng 2, quần chúng bắt đầu nổi dậy lùng diệt, truy quét ác ôn và tàn binh ngụy, phá bỏ bộ máy kìm kẹp, thiết lập chính quyền cách mạng ở cơ sở, xây dựng công sự, trận địa phòng thủ, cứu chữa thương binh, vận động binh lính và nhân viên chính quyền cũ ra trình diện chính quyền cách mạng (Đã có hơn 10.000 sĩ quan, binh lính, cảnh sát, nhân viên chính quyền cũ ra trình diện chính quyền cách mạng)... Các tổ chức đoàn thể mới như "Hội binh sĩ yêu nước", "Đoàn nghĩa binh cảnh sát " được thành lập, tập hợp hàng trăm hội viên, đoàn viên. Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình thành phố Huế (gồm các nhân sĩ, trí thức, sinh viên, chức sắc tôn giáo yêu nước) ra đời, phát lời kêu gọi các tầng lớp nhân dân đoàn kết đứng lên chống Mỹ và tay sai2.

----------------------
        1. Toàn bộ Mặt trận Huế, cho đến thời điểm nổ ra cuộc Tống tiến công và nổi dậy, địch có khoảng 25.000 đến 30.000 quân, gồm 13 tiểu đoàn bộ binh (8 tiểu đoàn quân Sài Gòn, 5 tiểu đoàn quân Mỹ), 2 trung đoàn thiết giáp, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn biệt kích, 2 tiểu đoàn công binh, 2 tiểu đoàn vận tải, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, 2 tiểu đoàn hải thuyền, 12 đại đội bảo an, 3 tiểu đoàn cảnh sát, 96 trung đội dân vệ, 18 đoàn bình định, 100 máy bay vận tải, một số đơn vị trực thuộc của Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn và Sư đoàn 8 lính thủy đánh bộ Mỹ... Toàn bộ lực lượng này được bố trí trên hai khu vực bắc và nam thành phế Huế, mỗi khu vực, hệ thống phòng thủ được tổ chức thành vòng trong và vòng ngoài kiên cố, hỗ trợ cho nhau.

        2. Liên quan tới việc thành lập Mặt trận thứ hai, sách "Cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa của Việt cộng" ghi nhận: "Tại thủ đô, Mặt trận liên minh dân tộc Dân chủ và Hòa bình" chưa kịp xuất hiện nhưng thành phần của Mặt trận này, sau đớ cũng được tiết lộ do Luật sư Trịnh Đình Thảo, ông Lâm Văn Tết và Thượng tọa Thích Đôn Hậu cầm đầu. Thành phần này thuộc trong tổ chức Trung ương. Còn tại Huế, một tổ chức loại này đã thật sự ra mắt hoạt động do Giáo sư Lê Văn Hảo cầm đầu và đã gây ra nhiều xáo trộn chính trị tại thành phố này (Sđd, tr.59).


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 10:43:52 PM

        Tại các huyện vùng ven như Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, lực lượng vũ trang được sự hỗ trợ của quần chúng nhân dân đánh chiếm các mục tiêu vòng ngoài của địch, bức rút đồn bốt, gọi hàng và làm tan rã lực lượng dân vệ truy quét bọn ác ôn và tay sai ngoan cố, mở rộng vùng giải phóng xung quanh Huế.

        Trong khi đó, trên các hướng phối hợp, các đơn vị vũ trang Trị - Thiên nổ súng tiến công, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ ở nhiều vùng nông thôn.

        Ở hướng Phú Lộc, ta đánh chiếm quận lỵ, phá sập cầu Hai, cầu Nước Ngọt và một số cầu cống khác, tiếp tục chặn cắt đường số 1 - đoạn từ Đà Nẵng ra Huế trong nhiều ngày, thực hiện đúng kế hoạch của Quân khu giao cho. Đồng thời, trên hướng này, quân ta bao vây các đồn An Bằng, Thừa Lưu, giải phóng khu vực xung yếu ven biển, khu vực phía Nam cầu Hai và khu vực Ruồi.

        Ở hướng Phong Điền, Quảng Điền, lực lượng vũ trang Mặt trận 6 cắt đứt tuyến đường Phú Ốc - Sịa, bao vây quận lỵ Sịa của huyện Quảng Điền, buộc địch rút bỏ khu vực vùng đồng bào công giáo Thanh Lương. Hơn 3.000 quần chúng huyện Hương Điền bao vây uy hiếp quận ly Phò Trạch.

        Ở Quảng Trị, mặc dù địch bố trí lực lượng phòng thủ khá dày đặc (Trước ngày ta nổ súng tiến công, địch tăng tiếp tới khu vực Quảng Trị 2 tiểu đoàn kỵ binh không vận Mỹ và 6 tiểu đoàn quân đội Sài Gôn nhằm củng cố khả năng phòng thủ thị xã quan trọng này) nhưng đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1, ta đánh mạnh vào phía Đông Nam thị xã, tiêu diệt 1 tiểu đoàn quân Sài Gòn ở khu vực Tri Bưu, đánh tiêu hao nặng 1 tiểu đoàn khác đến phản kích suốt ngày 31 tháng 1. Cùng đêm, một bộ phận quân ta bí mật vượt dòng Thạch Hãn, đột nhập vào bên trong đánh chiếm ty Cảnh sát, dinh Tỉnh trưởng, nhà máy Đèn. Tuy nhiên, cả 2 mũi tiến công của quân ta đều bị địch chặn đánh quyết liệt, không tiếp tục phát triển được. Trong khi đó, các mũi đánh vào La Vang Thượng, La Vang Trung, Cầu Lớn cũng không dứt điểm. Vì thế đêm 31 tháng 1, toàn bộ lực lượng ta phải rút ra bên ngoài thị xã.

        Tại Quân khu 6, chiều ngày 8 tháng 1 năm 1968, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu mới được truyền đạt chủ trương Tổng công kích - tổng khởi nghĩa và đến chiều ngày 29 tháng 1 mới nhận được lệnh nổ súng tiến công vào giao thừa Tết Mậu thân. Mọi mặt chuẩn bị phải gấp rút hoàn thành trong một khoảng thời gian quá ngắn. Dù vậy, với quyết tâm cao và niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi, 0 giờ ngày 1 tháng 2 năm 1968, lực lượng vũ trang Khu 6 đã nổ súng tiến công thị xã Phan Thiết - tỉnh ly ven bờ biển miền Trung, có số dân 50.000 người, nổi tiếng với nghề làm nước mắm truyền thống. Do đánh chậm hơn các nơi khác nên ở đây địch đã kịp đề phòng. Nhưng phía tiến công vẫn đột kích sâu, đánh chiếm phần lớn tòa Hành chính tỉnh và một số cơ quan tiểu khu, làm chủ khu vực Nhà ga và xung quanh đồn Trịnh Tường; phát động nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ hầu hết các phường Ơ tả ngạn dòng sông Ca Ty chia đôi thị xã.

        Tại Đà Lạt, lực lượng vũ trang Khu 6 đã đánh mạnh vào Bộ chỉ huy tiểu khu, Tỉnh đoàn bảo an, dinh Tỉnh trưởng, Nhà lao, tòa Thị chính, ty Cảnh sát, khu vực Nhà ga, trường Chiến tranh chính tri, sân bay Cam Ly... Sáng ngày 1 tháng 2, Quân giải phóng đã làm chủ nhiều khu vực trong thị xã. Dựa vào đó, quân ta tiếp tục phát triển tiến công và đánh địch phản kích trong hơn 10 ngày.

        Sài Gòn - Gia Định là trọng điểm thứ nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân. Tại thành phố rộng lớn này, để bảo vệ trung tâm chính trị , quân sự và kinh tế của chế độ Sài Gòn; bảo vệ các cơ quan chỉ huy đầu não của bộ máy chiến tranh Mỹ, ngụy, địch bố trí nhiều loại lực lượng và phương tiện chiến tranh, hình thành nhiều tuyến phòng thủ vững chắc.

        Đến cuối năm 1967, ở vòng ngoài, trên hướng Tây Bắc, ngoài căn cứ Đồng Dù với sư đoàn 25 và 2 lữ đoàn quân Mỹ, địch còn bố trí sư đoàn bộ binh 25 ngụy, nhiều tiểu đoàn biệt động quân và một số đại đội bảo an. Trên hướng Bắc, có căn cứ Lai Khê của sư đoàn 1 bộ binh Mỹ cùng sư đoàn 5 ngụy và hàng chục tiểu đoàn biệt động quân. Khi cần thiết, hướng này còn được lực lượng của trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ ở Bàu Trai, Bến Cát hỗ trợ.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2017, 10:45:14 PM

        Ở hướng Đông và Đông Bắc, ngoài quân dù Mỹ ở Biên Hòa, địch còn bố trí các đơn vị quân Nam Triều Tiên (đóng ở Dĩ An), quân Úc (đóng ở Long Bình) và sư đoàn 18 nguỵ (đóng ở Xuân Lộc). Bảo vệ hướng Nam có lực lượng dù, lính thủy đánh bộ ngụy và các đơn vị hải quân ngụy. Ngoài ra, một bộ phận thuộc sư đoàn bộ binh 9 quân Mỹ hoạt động ở phía Tiền Giang và phía bắc sông Hậu cũng là lực lượng sẵn sàng tiến về bảo vệ phía Nam Sài Gòn.

        Vòng trong, ngoài lực lượng bảo vệ trị an của biệt khu Thủ đô và các đơn vị cảnh sát dã chiến, địch còn bố trí một số tiểu đoàn, đại đội quân Mỹ và ngụy ở sân bay Tân Sơn Nhất, ở các trại : Đống Đa, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung...

        Ngoài ra, trên các ngả đường dẫn vào thành phố, ở các vùng ven, tại các khu phố, mạng lưới tình báo, gián điệp, mật vụ cùng hệ thống bốt canh, trạm kiểm soát của địch giăng khắp mọi nơi...

        Để tiến công và nổi dậy tại trung tâm đầu não của Mỹ, ngụy, trong phương án đề ra, Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền chủ trương sử dụng toàn bộ lực lượng của Đoàn F.100 (Tháng 6 năm 1965, Khu ủy và Quân khu ủy Sài Gòn - Gia Định quyết định thành lập Đoàn biệt động F.100 với nhiệm vụ bí mặt chuẩn bị để có thể, khi được lệnh, tập kích cùng một lúc các cơ quan đầu não trung ương của địch tại Sài Gòn - Gia Định) và biệt động các cánh, các ngành bất ngờ đánh chiếm 9 mục tiêu để trong một thời gian ngắn, làm tệ liệt sự đề kháng của địch; chốt chân giữ vững các "đầu cầu” để chờ các tiểu đoàn mũi nhọn và lực lượng thanh niên sinh viên đến tiếp ứng, đặng mở rộng phạm vi kiểm soát, phát động nhân dân vùng dậy khởi nghĩa. Trong khi đó, các sư đoàn, trung đoàn chủ lực chặn đánh địch ở vòng ngoài, nhằm kìm chân địch, không để chúng kéo vào cứu nguy trong nội đô; đồng thời sẵn sàng kéo vào thành phố khi được lệnh.

        Tại đây, cũng như nhiều nơi trên chiến trường, do đánh chậm, trước giờ quân ta nổ súng tiến công, địch đã tăng cường đề phòng. Vì thế, trên các ngã ba, ngã tư đường phố, địch đã bố trí các xe Jép có gắn đại liên phòng vệ và các đội tuần tra cơ động trên đường. Các đơn vị chiến đấu Mỹ được đặt trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất... Mặc dù vậy, 2 giờ sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn - Gia Định vẫn bắt đầu.

        Ngay từ phút nổ súng đầu tiên, trong thành phố, các đại đội biệt động trang bị gọn nhẹ đã lập tức đồng loạt và bất ngờ đánh vào các mục tiêu quy định: dinh Độc Lập, Bộ tổng tham mưu ngụy, Bộ tư lệnh Hải quân ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh, tòa Đại sứ Mỹ, Đại sứ quán Phi-líp-pin1 (Lực lượng đánh vào tòa Đại sứ Phi-líp-pin là các chiến sĩ thuộc Ban An ninh Thành ủy Khu Sài Gòn - Gia Định và tự vệ của Thành đoàn. Mục tiêu của trận đánh là bắt Nguyễn Văn Thiệu nhưng vì cơ sở nội thành báo sai địa điểm; cho rằng tòa nhà trên đường Trương Minh Giảng là nhà riêng của Nguyễn Văn Thiệu nhưng thực ra, đó là tòa Đại sứ phi-líp-pin). Tuy nhiên, các mục tiêu khác, như: Tổng nha cảnh sát, Biệt khu thủ đô, Khám Chí Hòa..., ta không đánh được vì các đội biệt động đã bị địch ngăn chặn trên đường hành quân. Lực lượng vũ trang của các ban, ngành, đoàn thể như các đội tự vệ, biệt động của Thành đoàn, Thanh niên, Công đoàn, Hoa vận, Phụ nữ... hoạt động rộng khắp, đánh các bốt cảnh sát, truy diệt ác ôn ở phường Bến Đá, phường Bàn Cờ... Ở những nơi và trên những hướng có lực lượng vũ trang Quân giải phóng tiến công, khí thế cách mạng của quần chúng dấy lên khá mạnh mẽ, sôi nổi. Nhân dân đã giúp bộ đội chiến đấu dưới nhiều hình thức như dẫn đường, tiếp tế lương thực, tải thương, cứu chữa và nuôi giấu thương binh, treo cờ Mặt trận, dựng chướng ngại vật trên đường phố cản địch phản kích, tham gia truy bắt ác ôn... Nhiều nơi, nhân dân trực tiếp phối hợp chiến đấu với bộ đội, vận động con em gia nhập Quân giải phóng. Trong khi đó, lực lượng dân quân du kích đẩy mạnh các hoạt động võ trang tuyên truyền ở vùng ven, phối hợp với bộ đội địa phương tiến công vào nhiều mục tiêu trong các thị trấn, quận ly, chi khu...


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Ba, 2017, 08:40:28 AM

        Đồng thời với hoạt động của biệt động, các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu cũng mở các cuộc tiến công vào những mục tiêu quy định. Trên hướng Đông và Đông Bắc thành phố, các đơn vị thuộc Phân khu 4 và Phân khu 5 đánh địch trên đường 13, khu vực Bình Triệu, xa lộ Biên Hòa, ngã tư Hàng Xanh... Ở hướng Tây Nam, các tiểu đoàn mũi nhọn Phân khu 2 phối hợp với Trung đoàn bộ binh 16 và lực lượng đặc công tiến công sân bay Tân Sơn Nhất, chiếm hãng dệt VINATEXCO, trụ bám đánh địch phản kích ở khu vực cầu Tham Lương. Tiểu đoàn mũi nhọn mang tên "Tiểu đoàn 6 Bình Tân" trên đường tiến vào mục tiêu Biệt khu Thủ đô đã tiêu diệt trại cảnh sát dã chiến cạnh trường đua Phú Thọ, đánh địch ở ngã tư đường Nguyễn Văn Thoại, làm chủ trường Nữ quân nhân, kiểm soát một khu vực rộng lớn từ chùa Từ Nghiêm đến chùa Ấn Quang - có 4 đại lộ bao quanh là đại lộ Nguyễn Tri Phương, đại lộ Trần Quốc Toản, đại lộ Lý Thái Tổ, đại lộ Minh Mạng1. Ở hướng Nam, các tiểu đoàn mũi nhọn Phân khu 3 xuất phát từ các bàn đạp vùng ven Long Càng, Long Định, Hiệp Phước, Phước Lại, rạch Bà Tàng tiến vào nội thành, đánh chiếm khu vực Phú Định, Lò Gốm, chợ Thiếc, cầu Nhị Thiên Đường, phường Bến Đá, phường Hùng Thái, phường Đa Phước... Ở hướng Bắc và Tây Bắc, lực lượng vũ trang Phân khu 1 đánh chiếm Bộ chỉ huy thiết giáp ngụy ở trại Phù Đổng, chiếm một phần Bộ chỉ huy pháo binh ngụy ở trại Cổ Loa, căn cứ tiểu đoàn pháo binh ở trại Nỏ Thần, căn cứ 80 quân cụ, căn cứ 60 truyền tin. Tiếp đó, tiểu đoàn 1 bộ binh thuộc Trung đoàn “Quyết Thắng" phát triển tiến công về hướng ngã năm Bình Hòa, ngã ba Cây Thị. Trong lúc đó, tiểu đoàn mũi nhọn Gò - Môn cùng một bộ phận đặc công trên đường thọc vào Bộ tổng tham mưu ngụy, bị lạc hướng, phải tìm đường theo sự chỉ dẫn của nhân dân mới đến được mục tiêu tác chiến. Vì vậy, sáng mồng hai Tết, (tức 7 giờ ngày 31 tháng 1)2, Tiểu đoàn mới nổ súng đánh chiếm cổng số 4 Bộ tổng tham mưu ngụy. Cùng thời gian trên, một bộ phận Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 9 chủ lực Miền tiến công trung tâm huấn luyện Quang Trung, đánh địch ở vùng Tân Thới Trung, Thới Trung Thôn, Trung Mỹ Tây, Xuân Thới Thượng.

        Xung quanh Sài Gòn-Gia Định, một loạt các căn cứ quân sự trụ sở của quân đội và chính quyền Sài Gòn ở Biên Hòa, Bình Dương, Hậu Nghĩa, Long An... cũng bị tiến công.

        Xa hơn về phía Nam Sài Gòn là vùng đồng bằng châu thổ mênh mông. Đây là vựa lúa lớn của miền Nam Việt Nam, một địa bàn chiến lược trọng yếu đối với ta và địch. Trước Tết, cơ quan phụ trách “bình định" và các cố vấn Mỹ đã từng tuyên bố lạc quan về tình hình an ninh tại các tỉnh đồng bằng đông dân cư này. Thế nhưng, đêm 31 tháng 1 rạng sáng ngày 1 tháng 2 và những ngày tiếp sau, lực lượng vũ trang Quân giải phóng (hầu hết là lực lượng vũ trang địa phương) đã tiến công vào 13 trong số 14 thị xã và nhiều quận lỵ, thị trấn, căn cứ quân sự và hệ thống đồn bốt của chính quyền, quân đội Sài Gòn trên toàn vùng. Cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long đã làm cho Mỹ, ngụy càng thêm bối rối trong khi chưa kịp định thần trước việc Huế, Sài Gòn và một loạt các đô thị bị tiến công; Khe Sanh - đường 9 đang bị bao vây, uy hiếp...

        Đòn tiến công bất ngờ, mãnh liệt vào đô thị đã buộc Mỹ, ngụy phải co lực lượng từ các nơi về cứu nguy, bỏ ngỏ vùng nông thôn. Nắm vững thời cơ này, lực lượng vũ trang tại chỗ đã hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ ở nhiều nơi, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn.

----------------------
        1. Sách Cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu thân... của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam cộng hòa ghi: "Người ta thấy địch (Quân giải phóng), tấn công vào khu vực này là một khu vực đông dân cư lao động và là nơi có chùa Ấn Quang từng xuất phát các cuộc xuống đường chống chính phủ, nhằm để nhen nhóm lên một cuộc nổi dậy của nhân dân phát xuất từ đây lan tràn vào đô thị". tr.54.

        2. Một số cuốn lịch sử địa phương như Miền Đông Nam Bộ kháng chiến - Nxb Quân đội nhân dân, H, 1993; Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân - Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, ghi rằng: mãi ngày 1 tháng 2, Tiểu đoàn 2 Gò Môn mới tới cổng số 4 Bộ tổng tham mưu ngụy. Thế nhưng một số văn bản khác như tài liệu nội bộ của Viện Lịch sử quần sự Việt Nam: Hướng tiến công Sài Gòn-Gia Định (1968) lại ghi sáng 31 tháng 1, tiểu đoàn này đã có mặt và nổ súng đánh vào cổng 4 Bộ Tổng tham mưu. Đối chiếu với tài liệu của Ban quân sử thuộc Bộ tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn, chúng tôi cho rằng: sáng 31 tháng 1, Tiểu đoàn 2 Gò - Môn đã đến được cổng 4 Bộ tổng tham mưu ngụy là chính xác.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Ba, 2017, 08:47:22 AM

        Bị tiến công rộng khắp ở thành thị và nông thôn, thoạt đầu, địch lúng túng chống đỡ. Nhưng ngay sau đó, chúng nhanh chóng lấy lại bình bĩnh, điều động lực lượng, tổ chức phản kích. Cuộc giao tranh nhằm giành quyền kiểm soát các khu vực mục tiêu trọng yếu diễn ra quyết liệt ở các đô thị trên phạm vi toàn Miền. Trong cuộc chiến đấu đó phía Mỹ, ngụy chiếm ưu thế về quân số, vũ khí, hỏa lực. Để đánh bật các đơn vị Quân giải phóng ra khỏi các mục tiêu đang chiếm giữ, lực lượng phản kích, ngoài số quân áp đảo, đã đem vào sử dụng cả các loại vũ khí hạng nặng như xe tăng, đại bác, chất độc hóa học và không quân. Bom đạn Mỹ đã san bằng nhiều khu phố, phá hoại nhiều nhà cửa, giết hại nhiều dân thường ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Huế; ở các thị xã Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Phan Thiết... và một loạt các thị trấn, quận lỵ khác1. Vì thế, từ đầu cuộc phản công của địch, cuộc chiến đấu trong đô thị đã diễn ra rất ác liệt do địch chiếm ưu thế về quân số và hỏa lực. Cho dù bộ đội ta đã chiến đấu anh dũng, giành giật quyết liệt với địch từng ngôi nhà, từng góc phố; gây cho chúng nhiều tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh,... nhưng, phía ta cũng bị tiêu hao nặng. Cuộc chiến tuy ác liệt, bom đạn rền trời, nhưng đòn công kích quân sự của ta chưa đủ mạnh để làm chỗ dựa chắc chắn cho phong trào nổi dậy của quần chúng, nên không diễn ra khởi nghĩa ở các đô thị như lường tính ban đầu. Trước tình hình đó, sau khi chiếm giữ các mục tiêu một thời gian, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, lực lượng chiến đấu trong nhiều đô thị của ta đã phải rút ra vùng ven củng cố và bổ sung quân số, giữ bàn đạp tiến công.

        Riêng mặt trận Sài Gòn - Gia Định, cuộc chiến đấu trên đường phố, ở vùng ven kéo dài nhiều ngày và rất quyết liệt. Ngay từ sáng sớm ngày 31 tháng 1, địch điều tiểu đoàn dù số 1 ngụy giải tỏa Đài phát thanh, tiểu đoàn dù số 8 giải tỏa Bộ tổng tham mưu, tiểu đoàn dù số 6 giải tỏa sân bay Tân Sơn Nhất. Liên đoàn biệt động 5 gồm 4 tiểu đoàn trấn đóng trên vòng cung Thủ Đức - Nhà Bè - Bình Chánh - Hóc Môn được điều gấp vào nội thành Sài Gòn. Trong ngày 31 tháng 1, thêm 3 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ ngụy được không vận từ Vũng Tàu và Cai Lây (Định Tường) về Sài Gòn. Những ngày tiếp theo, thêm nhiều đơn vị Mỹ và ngụy tiếp tục được điều tới mặt trận Sài Gòn - Gia Định2.

        Với lực lượng tăng viện nhanh và ngày càng nhiều, phía Mỹ và quân đội Sài Gòn liên tiếp mở nhiều cuộc phản kích giải tỏa các khu vực nằm trong tay Quân giải phóng. Trong các ngày từ 31 tháng 1 đến 4 tháng 2, nhiều trận đánh ác liệt tiếp diễn trên đường phố Sài Gòn.

        Tại khu vực dinh Độc Lập, 15 chiến sĩ biệt động3do đồng chí Trương Hoàng Thanh chỉ huy, sau khi dùng thuốc nổ phá tung cánh cửa sắt, đã vấp phải hỏa lực bắn chặn của quân canh giữ, không phát triển tiến công được vào bên trong dinh, phải bám bậc thềm phía ngoài chiến đấu. Sáng ra, địch tăng viện, có cả xe bọc thép yểm trợ. Tiểu đoàn mũi nhọn và lực lượng sinh viên tiếp ứng không tới được các chiến sĩ biệt động buộc phải lùi ra phía ngoài, triển khai đội hình chiến đấu trên đường Nguyễn Du. Cuộc chiến đấu không cân sức. Tám chiến sĩ bị hy sinh. Số còn lại bị rơi vào tay địch.

---------------------
        1. Việc phía Mỹ cố ý sử dụng ồ ạt hỏa lực trong các đô thị miền Nam dịp Tết Mậu thân..., đã được nhiều phóng viên báo chí và vô tuyến truyền hình lúc đó phản ánh. Ngày 7 tháng 2 năm 1968, Hãng thông tấn AP đã phát bài của nhà báo Mỹ Pi-tơ Ác-nét. Bài báo có đoạn viết: “Đến mức nào thì anh nã súng đại bác bắn phá và gọi máy bay phản lực ném bom các khu phố trong thị xã anh? Đến lúc nào thì việc gây thương vong cho dân thường trở thành một việc mà anh không cần bận tâm đến làm gì? Người ta đã trả lời cho máy câu hỏi đó ngay trong mấy giờ đầu của các trận đánh giành thị xã Bến Tre trước đây là một thị xã thanh bình có 35.000 dân trên bờ sông Cửu Long. Một thiếu tá Mỹ nói: Cần phải phá hủy thị xã để bảo vệ nó". Hãng tin Roi-tơ ngày 10 tháng 2 năm 1968 kể lại lời một sĩ quan cao cấp Mỹ: "Anh có thể kiểm tra sự thiệt hại theo tỉ lệ trực tiếp với hỏa lực. Như vậy tức là phía Mỹ đúng là đã gây ra cảnh tàn phá nhiều hơn. Phía Mỹ có khả năng đánh sập cả một khu phố bằng máy bay để tìm bắt một vài Việt cộng lẩn trốn. Ngược lại, Việt cộng đánh lén vào thành thị cho nên họ cố gàng càng ít gây ra tiếng động càng hay". Cần nói thêm rằng, việc Mỹ sử dụng không hạn chế hỏa lực dịp Tết Mậu thân dù có giúp cho Mỹ giành lại quyền kiểm soát các đô thị từ tay đối phương đi chăng nữa thì bản thân hành động đó lại là một trong số những bằng chứng biểu hiện sự thất bại của Mỹ về mặt chính trị trong dịp Tết Mậu thân nói riêng, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam nói chung.

        2. Hãng thông tấn AFP ngày 3 tháng 2 năm 1968 đưa tin cho biết ở Sài Gòn lúc đó có chừng 3.500 Quân giải phóng, còn phía Mỹ và quân đội Sài Gòn có tới 500.000 quân gồm 15 tiểu đoàn Mỹ, 18 tiểu đoàn ngụy, 34.000 cảnh sát dã chiến.

        3. Tác giả Hồ Sĩ Thành, trong cuốn Biệt động - những chiến công bất tử (Nxb Trẻ, 2002), ghi rằng, đánh vào dinh Độc Lập gồm 17 chiến sĩ của đội biệt động 5.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2017, 09:43:09 AM

        Tại khu vực Bộ tư lệnh hải quân, ta gặp khó khăn ngay từ đầu. 16 chiến sĩ biệt động do đồng chí Nguyễn Văn Lém (Bảy Lốp) chỉ huy chiến đấu quyết liệt; 14 bị hy sinh và 2 bị bắt ngay trong dêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 giữa vòng vây quân thù. Đồng chí Bảy Lớp bị bắt và bị kẻ thù sát hại ngay sau đó.

        Ở khu vực Bộ tổng tham mưu nguỵ, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt trong các ngày 31 tháng 1 và 1 tháng 2. Cụm biệt động 679 gồm 27 tay súng; sau khi đánh chiếm cổng số 5 và cổng Phi Long, vì lực lượng ít, địch đông nên không thể lọt vào bên trong được. Trời sáng, địch điều thêm lực lượng và xe bọc thép phản kích. Dựa vào các tòa nhà trên đường Trương Quốc Dung, các chiến sĩ biệt động đánh trả kiên cường, loại khỏi vòng chiến hàng trăm tên, bắn cháy 2 xe bọc thép. Nhưng phía ta cũng bị tổn thất và hết đạn. 2 giờ chiều ngày 31 tháng 1, các chiến sĩ còn lại buộc phải rút lui. Trong khi đó, ở cổng số 4 Bộ tổng tham mưu ngụy, Tiểu đoàn 2 Gò - Môn đến chậm, mãi đến 7 giờ sáng ngày 31 tháng 1 mới nổ súng tiến công. Do đánh chậm, yếu tố bất ngờ không còn. Dù vậy, một bộ phận lực lượng Tiểu đoàn 2 Gò - Môn vẫn còn lọt được vào phía trong chiếm trường Sinh ngữ quân đội Sài Gòn. Trong ngày 31 tháng 3, địch tăng viện tới khu vực này 3 tiểu đoàn quân dù và lính thủy đánh bộ, mở nhiều đợt phản kích. Trực thăng vũ trang của địch bắn phá ồ ạt xuống những khu vực mà chúng tình nghi là quân ta chiếm giữ, làm hư hại nặng trường Sinh ngữ, trường Tổng quản trị, trung tâm Huấn cụ và các khu vực kế cận. Sáng ngày 1 tháng 2, lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 2 Gò - Môn rút khỏi khu vực cổng số 4 Bộ tổng tham mưu. Trên đường rút lui Tiểu đoàn bị thương vong nặng; khi về tới căn cứ, từ 500 chiến sĩ, Tiểu đoàn chỉ còn lại 28 người!

        Tại khu vực Đài phát thanh Sài Gòn, 12 chiến sĩ biệt động và 2 phục vụ viên sau 3 phút chiến đấu mưu trí đã chiếm đài loại khỏi vòng chiến đấu trung đội bảo vệ của địch. Tuy nhiên, do thiếu nhân viên kỹ thuật và vì địch có kế hoạch dự phòng nên ta không sử dụng được đài phát thanh như trù liệu. Ngay sau khi bị mất Đài phát thanh, địch tổ chức phản kích nhanh và quyết liệt. Chúng sử dụng cả trực thăng vũ trang và xe tăng yểm trợ cho quân phản kích. Cuộc chiến không cân sức. Lực lượng biệt động bị thương vong toàn đội; chỉ còn lại 2 nhân viên kỹ thuật lánh được khỏi vòng vây.

        Tại tòa đại sứ Mỹ, 17 chiến sĩ biệt động do đội trưởng Ngô Thành Vân (Ba Đen) chỉ huy, sau khi lọt vào phía trong đã nhanh chóng đánh chiếm từ tầng 1 đến tầng 3. Phân đội cảnh vệ Mỹ chống trả quyết liệt nhưng không đẩy lùi được cuộc tấn công. 7 giờ sáng ngày 31 tháng 1, một trung đội quân cảnh Mỹ mới lọt được vào cổng chính. Kịch chiến xảy ra trong khu vườn Sứ quán. Địch dùng máy bay lên thẳng định đổ quân lên nóc tòa Sứ quán nhưng bị hỏa lực mặt đất bắn lên dữ dội. Phía dưới, các chiến sĩ biệt động chiến đấu đến người cuối cùng. 9 giờ ngày 31 tháng 1, địch chiếm lại toàn bộ khu vực Sứ quán giữa ngổn ngang gạch vụn và xác người. Địch thương vong 124 tên. Đội trưởng Ngô Thành Vân bị bắt.

        Tại nhiều nơi khác, các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu cũng đã chiến đấu quyết liệt trước lực lượng địch phản kích có quân số áp đảo, lại được trọng pháo, xe thiết giáp, máy bay ném bom chiến thuật và trực thăng vũ trang chi viện hỏa lực ồ ạt. Chiến sự diễn ra ác liệt tại các khu vực: ngã năm Bình Hòa, ngã ba Cây Thị (hướng Phân khu 1); tại khu vực hãng dệt VINATEXCO, cầu Tham Lương, cầu Tre phía Tây sân bay Tân Sơn Nhất và các khu vực đường Trần Quốc Toản, thợ Thiếc, trường đua Phú Thọ, trường Nữ quân nhân, đường Nguyễn Văn Thoại, chùa Ấn Quang, đường Nguyễn Tri Phương, đường Triệu Đà, đường Lê Đại Hành, cư xá Lữ Gia, đường Nguyễn Kim... (hướng Phân khu 2); khu vực nhà Hội đồng, cầu số 3, kho gạo Bình Đông, cầu Nhị Thiên Đường, phường Bến Đá, phường Hùng Thái, khu vực Phú Định, Lò Gốm, hãng rượu Bình Tây, đường Hậu Giang, cầu Tân Quy... (hướng Phân khu 3); khu vực Hàng Xanh, Cầu Sơn, Phú Cường, Cù lao Bình Qưới... (Phân khu 4 và Phân khu 5). Tại các khu vực này, Quân giải phóng đã bám trụ từng cao ốc, từng hẻm phố, từng ngả đường, từng ngôi nhà, từng mô đất... quần lộn với địch, đánh bật nhiều đợt phản kích của chung ở một số nơi, các chiến sĩ Quân giải phóng đã đưa súng đại liên đặt trên tầng thượng các tòa cao ốc để đón đánh máy bay địch và khống chế khu vực xung quanh các tòa cao ốc đó...


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2017, 09:46:50 AM

        Trong khi chiến sự diễn ra quyết liệt tại đô thành Sài Gòn, Bộ chỉ huy Miền đã nhanh chóng và kịp thời sử dụng một số đơn vị bộ đội chủ lực Miền, mở gấp một loạt trận đánh ở vòng ngoài để hỗ trợ.

        Sư đoàn 5 đánh vào sân bay Biên Hòa, khu kho Long Bình, sở chỉ huy dã chiến số 2 của quân Mỹ, Bộ tư lệnh quân đoàn 3 ngụy. Tiếp đó, một bộ phận lực lượng sư đoàn tổ chức chốt chặn ở khu vực ngã ba Tam Hiệp thuộc thị xã Biên Hòa.

        Sư đoàn 7 tiến công sở chỉ huy sư đoàn 5 ngụy tại Bến Cát, tập kích các cụm quân thuộc sư đoàn 1 bộ binh "Anh cả đỏ” và căn cứ của trung đoàn thiết giáp số 11 Mỹ ở khu vực Phú Giáo.

        Sư đoàn 9 giao chiến với lữ đoàn 1, sư đoàn 25 bộ binh “Tia chớp nhiệt đới" ở Củ Chi...

        Các trận đánh trên đây đã có tác dụng ghìm chân một bộ phận quan trọng chủ lực Mỹ, ngụy, không cho chúng tăng viện cho Sài Gòn. Tuy nhiên, do chủ trương bảo toàn lực lượng, các sư đoàn, trung đoàn chủ lực Miền vẫn không tiến vào nội đô. Vì thế, lực lượng chiến đấu trong thành phố trở nên đơn độc, bị bao vây bốn mặt, bị hao tổn nặng nề: 80% chiến sĩ biệt động bị hy sinh và bị bắt, 50% lực lượng các tiểu đoàn mũi nhọn bị thương vong; một số tiểu đoàn khi rút ra chỉ còn lại 1/5, 1/10 quân số1. Cơ sở nội thành bị bộc lộ và tổn thất nhiều... Trước tình hình đó, lực lượng chiến đấu trong thành phố được lệnh rút ra ngoại ô.

        Từ giữa tháng 2 năm 1968, vùng ven đô trở thành chiến trường nóng bỏng, nơi diễn ra các cuộc giao tranh quyết liệt giữa ta và địch nhằm chiếm giữ các khu vực bàn đạp tiến công vào nội đô Sài Gòn.

        Từ đây, trên toàn chiến trường, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân sau những ngày bùng lên mạnh mẽ, đã giảm dần. Riêng mặt trận phía Bắc, chiến sự vẫn diễn ra ác liệt tại đường 9 - Khe Sanh và Huế.

        Tại đường 9 - Khe Sanh đêm 6 và ngày 7 tháng 2, Sư đoàn 304 chủ lực miền Bắc nổ súng đánh chiếm làng Vây - cứ điểm mạnh trong hệ thống phòng thủ khu vực đường 9 của địch, mở rộng bàn đạp nhằm đến ngày 8 tháng 2 tổ chức vây hãm căn cứ Tà Cơn. Đến ngày này, pháo binh ta bắn khống chế sân bay trong căn cứ này của địch. Song, máy bay lên thẳng Mỹ vẫn hạ cánh được. Vì thế, từ ngày 15 tháng 2, ta chuyển sang chiến thuật vây lấn, toan áp dần vào cứ điểm địch. Ở phía tây sân bay Tà Cơn, mũi vây lấn của ta đã xuyên được vào giữa các lớp hàng rào (cách chiến hào địch một tầm súng bộ binh). Các mục tiêu bên trong căn cứ địch đã bắt đầu bị uy hiếp bằng hỏa lực bắn thẳng và chịu sự khống chế của pháo binh ta. Tất cả những chiến thuật ta áp dụng xung quanh căn cứ Tà Cơn vào tháng 2 năm 1968 dường như là sự áp dụng lại chiến thuật mà ta đã dùng ở Điện Biên Phủ năm xưa...

        Tuy nhiên, do tình hình nóng bỏng ở Mặt trận Huế và do áp lực của ta ở đường 9 - Khe Sanh chưa đủ mạnh nên Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) chưa thể tăng viện lớn cho khu vực đường 9 - Khe Sanh. Thay vì bằng việc sử dụng bộ binh, địch đã phải dùng hỏa lực pháo binh, máy bay - kể cả B.52, đánh phá dữ dội khu vực bao quanh căn cứ Tà Cơn suốt ngày đêm nhằm làm giảm áp lực vây hãm của ta.

        Tại Huế, sau những ngày đầu tiến công và nổi dậy giành thắng lợi vang dội, lực lượng ta ở cả hai cánh chuyển sang đánh địch phản kích. Cánh Bắc - phía tả ngạn sông Hương, do ta không chiếm được đồn Mang Cá và khu vực sân bay Tây Lộc, không chia cắt và ngăn chặn được địch ở hướng Bao Vinh nên địch có điều kiện tăng cường lực lượng vào Mang Cá và Tây Lộc, dựa vào đó để phản kích vào khu vực thành nội và nhiều nơi khác. Ở cánh Nam, địch phản kích đánh bật lực lượng ta ra khỏi nhiều mục tiêu, buộc ta phải lùi ra tuyến ven sông An Cựu, Vân Dương và vùng Long Thọ. Tại đây, các đơn vị cánh Nam lại cố gắng tổ chức các trận tập kích sâu vào một số mục tiêu trong thành phố. Như vậy, trên thực tế, từ ngày 5 tháng 2, lực lượng cánh Nam đã rút khỏi nội thành, ra trụ bám ở vùng ven.

        Từ ngày 7 tháng 2, 14 tiểu đoàn chủ lực Mỹ, ngụy với sự chi viện hỏa lực ồ ạt của không quân, pháo binh và xe tăng mở các đợt phản kích nhằm chiếm lại khu vực phía bắc thành phố - phía tả ngạn sông Hương. Tiếp đó, thêm nhiều đơn vị chủ lực địch được tung vào mặt trận này; đưa tổng số có mặt tại Huế lên 23 tiểu đoàn chủ lực Mỹ, ngụy (trong đó có 15 tiểu đoàn chủ lực Mỹ). Ngoài ra, sư đoàn 1 kỵ binh không vận Mỹ chiếm đóng phía bắc và tây bắc Huế nhằm ngăn chặn sự tăng viện của ta. Không quân Mỹ dội bom vào các mục tiêu do quân ta chiếm giữ, tàn phá nhiều nhà cửa và công trình kiến trúc của cố đô Huế.

--------------------
        1. Dẫn theo Miền Đông Nam Bộ kháng chiến (1945-1975), T2, Nxb Quân đội nhân dân, H, 1997, tr.339, 340.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2017, 09:57:18 AM

        Để phối hợp cùng toàn Miền, ta tăng cường lực lượng vào khu vực Thành Nội, kiên quyết giữ vững những mục tiêu đang chiếm giữ. Ở vùng ven, ta mở các trận tiến công địch ở Nam Giao, Long Thọ, Tam Thai, cầu Bến Ngự, cầu Lò Rèn, Đập Đá, Vĩ Dạ, An Cựu... nhằm buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, hỗ trợ cho lực lượng chiến đấu trong nội thành.

        Từ ngày 9 tháng 2, giao tranh nổ ra tại nhiều nơi trong thành phố. Những trận đánh ác liệt tiếp diễn Ơ khu vực Phú Văn Lâu, cửa Đông Ba, đồn Mang Cá, đài phát thanh Huế... Tại Đông Ba, cửa Hữu, cửa An Hòa, cửa Thượng Tứ..., ta và địch giành giật nhau từng căn phố, từng khu vườn, từng khúc đường, từng bãi trống... Địch bị thiệt hại nặng nhưng ta cũng bị hao tổn nhiều.

        Phối hợp chiến đấu với chủ lực Quân giải phóng, du kích và bộ đội địa phương đẩy mạnh các hoạt động tiến công địch rộng khắp. Đội tự vệ khu phố Gia Hội được thành lập ngay trong những ngày Tổng tiến công và nổi dậy, đã hăng hái, dũng cảm chiến đấu, bắn cháy một số tàu chiến địch trên sông Hương. Ở khu vực chợ Cống - Vân Dương, tiểu đội du kích gồm 11 cô gái Hương Thủy trụ bám địa bàn, phối hợp cùng các chiến sĩ Tiểu đoàn 10 (Đoàn 5) đánh địch phản kích, diệt hơn trăm tên Mỹ và bắn cháy 5 xe tăng... Tiểu đội du kích 11 cô gái Hương Thủy còn được biết đến với cái tên Tiểu đội 11 cô gái sông Hương. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thơ khen:

                                    Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường
                                    Khôn ngoan bày trận khắp trong phường
                                    Bác khen các cháu dân quân gái
                                    Đánh giặc Huê Kỳ phải nát xương


        Liệt sĩ Phạm Thị Liên - người phụ trách tiểu đội sau này đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Ngày 21 tháng 2, sau nhiều lần phản kích, địch dồn ta về phía An Hòa. Ở khu vực Thành Nội, chúng chiếm thêm cửa Thượng Tứ, dồn ta về khu vực phía Tây Thành. Trước tình hình đó, để bảo toàn lực lượng, tránh bị bao vây, ngày 22 tháng 2, Khu ủy Trị - Thiên và chỉ huy mặt trận Huế quyết định rút toàn bộ lực lượng tác chiến trong thành phố ra ngoài1. Từ ngày 23 tháng 2 đến ngày 25 tháng 2, các đơn vị chủ lực, đặc công, biệt động, bộ đội địa phương, dân quân du kích, thương bệnh binh đã chủ động, bí mật lần lượt rút ra vùng giải phóng Phú Vang và vùng căn cứ miền núi Trị - Thiên.

        Trên toàn Miền, đêm ngày 17 rạng ngày 18 tháng 2, quân và dân ta đồng loạt tiến công bằng bộ binh, pháo binh vào 47 thành phố, thị xã, quận ly, thị trấn và nhiều căn cứ quân sự địch. Ở các tỉnh Định Tường, Kiến Hòa, Châu Đốc, Phan Thiết... bộ binh ta đánh sâu vào một số mục tiêu trong thị xã. Ở Sài Gòn, mặc dù lực lượng quân sự địch đã tràn ngập trong nội đô và đánh phá quyết liệt ở vùng ven nhưng lực lượng vũ trang ta vẫn thực hiện được một loạt trận tấn công nhằm vào các mục tiêu trong nội thành như: Trụ sở Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V), Bộ tư lệnh quân dù ngụy, Tổng nha cảnh sát, Nha cảnh sát đô thành Biệt khu thủ đô, Trung tâm ra đa Phú Lâm, Nhà máy Đèn chợ Quán, khu cư xá Mỹ... Liên tiếp trong các ngày 17, 21, 24 tháng 2, pháo binh ta đã nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất, khu kho xăng An Nhơn - Gò Vấp... Ở vùng ngoại vi, ta tấn công Nhà Đèn Thủ Đức, khu hậu cần Rạch Chiếc, cầu Bình Lợi, khu huấn luyện quân sự Trung Hòa, trung tâm huấn luyện Quang Trung, căn cứ Đồng Dù, chi khu quân sự Bình Chánh, thị trấn Hóc Môn; chặn đánh địch hành quân càn quét ở Vĩnh Lộc, Tân Thới Trung, Hóc Môn, Bà Điểm...

---------------------
        1. Thượng tướng Trần Văn Quang - nguyên Tư lệnh Quân khu Trị Thiên - Huế trong tham luận tại Hội nghị khoa học do Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức tháng 3 năm 1986 cho biết, khi quyết định rút lực lượng khỏi nội thành Huế, Khu ủy và Bộ tư lệnh quân khu Trị - Thiên "chỉ nghĩ làm sao bảo toàn được các đơn vị chiến đấu (các trung đoàn 3, 6, 9, 1 và các đơn vị đặc công, biệt động, bộ đội địa phương) không bị địch bao vây, tiêu diệt. Ngoài ra, không còn nghĩ được biện pháp nào để bảo toàn cơ sở quần chúng, không kịp nghĩ gì đến phương châm, phương pháp đấu tranh, càng không nghĩ được là sau khi rút ra phải làm gì và làm thế nào; ngoài việc lo sao cho bộ đội không bị đói". Xem thêm: Trần Văn Quang: Huế - 25 ngày đêm. Tạp chí Lịch sử quân sự trích đăng, số tháng 2 năm 1988.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2017, 05:07:16 AM

        Tiếp đó, ngày 25 tháng 2, bộ binh và pháo binh ta tiến công tỉnh lỵ Long Xuyên và một số thị trấn, quận lỵ trên toàn miền Nam; tăng cường áp lực phía Tây và Tây Bắc Sài Gòn - vùng Phú Thọ Hòa và Hóc Môn. Đêm 5 tháng 3, nhiều quận ly, thị trấn và một số thị xã lại bị tấn công bằng pháo cối và bộ binh. Tuy nhiên, từ tháng 3 năm 1968 trở đi, áp lực của ta xung quanh các đô thị giảm dần. Trên thực tế, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân đã kết thúc.

        Sau "Tết Mậu thân", lực lượng tiến công vào các đô thị của ta rút ra vùng ven hoặc rút về hậu cứ để củng cố. Trong lúc đó, quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn dốc sức mở các cuộc hành quân quy mô lớn hòng đẩy lực lượng ta ra xa các vùng ven đô thị, các căn cứ quân sự và hậu cần, các đầu mối giao thông huyết mạch, giải tỏa áp lực xung quanh các khu vực quan trọng này1 (Từ giữa tháng 3 năm 1968, Mỹ, ngụy tập trung 50.000 quân mở chiến dịch mang tên "Quyết thắng" trên địa bàn 5 tỉnh Gia Định, Long An, Biên Hòa, Bình Dương, Hậu Nghĩa. Xa hơn về phía Nam, địch mở chiến dịch "Trương Công Định" ở vùng Hậu Giang. Tại khu vực giới tuyến quân sự tạm thời, tại Táy Nguyên, tại Quáng Nam, Quảng Ngãi..., Mỹ, ngụy mở nhiều chiến dịch càn quét, đánh phá ác liệt cơ sở cách mạng và vùng làm chủ, vùng giải phóng của ta). Cùng với các cuộc hành quân giải tỏa đó, Mỹ, ngụy đã liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét nhằm triệt phá cơ sở cách mạng của ta ở nội đô và vùng ven đô. Trong các cuộc hành quân đó, chúng đã sử dụng ồ ạt bom đạn triệt hạ nhiều làng mạc nhằm lập vành đai trắng xung quanh các đô thị và các căn cứ1; thẳng tay tàn sát nhiều người dân vô tội hòng gây nỗi khiếp sợ trong nhân dân miền Nam Việt Nam2. Cần lưu ý thêm ở đây rằng, con số chính xác số người bị quân Mỹ tàn sát ở Sơn Mỹ là 501 người, trong đó có 173 trẻ em và 182 phụ nữ. Nhưng thực ra, không phải chỉ sau "Tết Mậu thân" mà ngay từ những nam trước, quân đội Mỹ đã tiến hành nhiều vụ thảm sát dân thường vô tội ở miền Nam Việt Nam (trong khi không quân và hải quân Mỹ dội bom xuống nhiều khu vực dân cư, trường học, bệnh viện, nhà thờ, chùa chiền... trên miền Bắc Việt Nam). Gần đây hành động thảm sát vô nhân tính ngày ấy của quân Mỹ đã bị một số tờ báo Mỹ đưa ra ánh sáng. Ví như, tờ “Lưỡi dao cạo" (The Blade) ngày 19 tháng 10 năm 2003 đã khởi đăng một loạt phóng sự và ảnh điều tra xung quanh các vụ thảm sát thường dân Việt Nam mà đơn vị đặc nhiệm Mỹ có tên là "Lực lượng mãnh hổ (Tiger Force) thuộc sư đoàn kỵ binh bay số 101 Mỹ tiến hành trong khoáng thời gian từ tháng 5 đến tháng 11 năm 1967 tại các địa phương thuộc Quảng Ngãi và Tây Nguyên. Dựa trên một bản báo cáo được giải mật dài 22 trang của Bộ quốc phòng Mỹ và sau hơn 8 tháng điều tra, nhóm phóng viên của tờ "Lưỡi dao cạo" cho biết: đơn vị "Lực lượng mãnh hổ” gồm 45 binh sĩ Mỹ đã thực hiện nhiều vụ thảm sát thường dân trước khi xảy ra vụ Mỹ Lai. Đơn vị này được thành lập từ tháng 2 năm 1967 theo lệnh của Oét-mo-len. Trong một thời gian ngắn, đơn vị này đã giết hại dã man hàng trăm phụ nữ, trẻ em và người già không một tấc sắt trong tay, chôn sống họ trong những hố chôn tập thể. Tàn ác hơn, những tên lính trong đơn vị này còn cắt tai nạn nhàn làm vòng đeo cổ, cạy răng lấy vàng hay tra tấn tàn bạo họ. Con số nạn nhân của "lực lượng mãnh hổ" hiện nay chưa ai tính được, song nhóm phóng viên điều tra dẫn lời một cựu lính quân y trong đơn vị này cho biết, ông ta đã tính được có tới 120 người bị sát hại trong một tháng).

----------------------
        1. Việc Mỹ dùng một khối lượng lớn bom đạn đánh xuống các vùng ven đô thị đã được báo chí Mỹ và phương Tây ngày đó ghi nhận. Chỉ riêng xung quanh Sài Gòn - Gia Định, trong vòng 9 ngày đầu tháng 6 năm 1968, "máy bay B.52 đã thực hiện 166 phi vụ (...) nhằm ngăn chặn Việt cộng tập trung" (Hãng tin AP, ngày 21 tháng 6 nam 1968). Để hiểu rõ hơn mức độ tàn phá của bom đạn do máy bay B.52 rải thảm, cũng cần nhắc lại rằng: "Mỗi chiếc B.52 có đủ bom để trải xuống thành một hình chữ nhật dài 1.000 mét, ngang 100 mét. Thấy kết quả khả quan nên số phi vụ B.52 tại Nam Việt Nam được thực hiện ngày một tàng; trong nửa cuối năm 1965, mỗi tuần có 50 phi vụ; năm 1966, số phi vụ hàng tuần là 100; đầu năm 1967, mỗi tuần có 186 phi vụ và bây giờ (tháng 8 năm l968) thì mỗi tuần có 350 phi vụ. (Thời báo Niu-Oóc ngày 26 tháng 8 năm 1968). Ngay từ tháng 6 năm 1968, tướng Mỹ Abram - người thay Oét-mo-len làm tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn - đã tuyên bố: "Sẽ cho B.52 ném thật nhiều bom đến mức (...) chỉ cần phái một đội tuần tra không vũ trang đi xa với những quyển sổ tay để ghi kết quả" (Hãng tin AP, ngày 29 tháng 6 năm 1968).

        2. Điển hình là vụ thảm sát Sơn Mỹ - vùng ven thị xã Quảng Ngãi, ngày 16 tháng 3 năm 1968. Tập sách ảnh Nhật Bản "Việt Nam: cách mạng và tháng lợi, ghi lại vụ thảm sát này như sau: ngày 16 tháng 3 năm 1968, xã Sơn Mỹ, tỉnh Quảng Ngãi bị quân Mỹ triệt hạ, tàn sát một lúc 500 thường dân. Lúc đó, quân Mỹ dùng mọi loại máy bay sẵn có chia làm bốn tầng bay trên bầu trời Sơn Mỹ. Bay thấp dưới 300 mét là máy bay lên thằng vũ trang bắn chết tất cả những "Việt cộng" định thoát ra khỏi xã. Trên 800 mét là máy bay chở sĩ quan tư lệnh quân cơ động, chỉ huy trận đánh. Trên 800 mét là máy bay sư đoàn trưởng quan sát trận đánh. Sự tàn bạo lên đến cực điểm khi quân Mỹ coi những cuộc hành quân đó như một trò chơi thể thao. Nó làm chúng ta phần nỗ tới mức không thể nào tả nổi" (Dẫn theo Viện lịch sử Đảng, Hội đồng biên soạn lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến: Nam Trung Bộ kháng chiến (1945-1975), H, 1992, tr.403.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2017, 05:11:53 AM

        Ngoài ra, Mỹ - ngụy còn tăng cường các biện pháp khủng bố, kìm kẹp bằng nhiều thủ đoạn như: bắt giam những nhân vật đối lập - những người đã từng ra tranh cử tổng thống với Thiệu, Kỳ hồi năm ngoái; thành lập "Mặt trận cứu nguy dân tộc" do Trần Văn Đôn cầm đầu; đưa việc “phòng vệ dân sự" lên thành "quốc sách", xem đó là một trong những biện pháp chủ chốt để chống lại mọi cuộc tiến công của Quân giải phóng và mọi cuộc nổi dậy của nhân dân; thanh lọc các cơ quan hành chính; phát "thư tố cáo" cho từng nhà, từng người để khuyến khích việc giám sát lẫn nhau trong nhân dân, khuyến khích nhân dân "tố cáo Việt cộng" hoặc tố cáo binh lính ngụy bỏ trốn cho chính quyền Sài Gòn...

        Thông qua những biện pháp quân sự trên chiến trường miền Nam kết hợp với việc tập trung không quân, hải quân đánh phá dữ dội vùng đất "cán xoong" từ bắc vĩ tuyến 17 đến nam vĩ tuyến 20 nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nanh, Mỹ hy vọng sẽ trấn an được dư luận trong nội bộ nước Mỹ và giành thế mạnh trên bàn Hội nghị Pa-ri.

        Về phía ta, sau "Tết Mậu thân", nhằm "đẩy địch vào thế thất bại liên tiếp, ngày càng suy yếu, tan rã, không sao gượng dậy được"1, làm cho chúng "thất bại trên chiến trường, thất bại ở các thành thị lớn và thất bại ở ngay nước Mỹ"2, theo đề nghị của lãnh đạo, chỉ huy một số chiến trường3, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở tiếp các đợt tiến công và nổi dậy mặc dù lực lượng ta bị tổn thất chưa kịp bổ sung và trong điều kiện địch đã tăng cường bảo vệ xung quanh đô thị. Tuy nhiên, khác với đợt Tết Mậu thân - đợt mà các lực lượng vũ trang ta được lệnh “đánh theo yêu cầu”; trong hai đợt tháng 5 và tháng 8 năm 1968, lực lượng vũ trang ở các chiến trường được lệnh “đánh theo khả năng hiện có".

        Thực hiện chủ trương đó, lúc vào 0 giờ 30 phút ngày 5 tháng 5 năm 1968, quân và dân ta trên khắp chiến trường đã đồng loạt tiến công bằng bộ binh và pháo binh vào 31 thành phố, thị xã, 58 thị trấn, quận lỵ; đánh trúng 10 bộ tư lệnh quân đoàn và sư đoàn, 30 sân bay, 20 căn cứ xuất phát hành quân và trung tâm huấn luyện quân sự của địch. Trong đợt này, chiến sự diễn ra quyết liệt ở trọng điểm Sài Gòn - Gia Định và khu vực đường 9 - Khe Sanh.

        Ở Sài Gòn - Gia Định, trước cuộc tiến công, lực lượng quân sự địch dồn về đây lên tới 200.000 tên gồm quân Mỹ và quân Sài Gòn (60 tiểu đoàn). Bên cạnh đó, chúng tập trung hàng nghìn xe tăng, xe bọc thép; hàng trăm máy bay lên thẳng vũ trang đêm ngày quần đảo, lùng sục trên dịa bàn vùng ven... Hơn nữa, trước ngày mở màn đợt 2, Phó chính ủy Phân khu 1 T.V.Đ đã đầu hàng, chạy sang phía bên kia chiến tuyến. Dù vậy, Thường vụ Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền vẫn giữ vững quyết tâm ban đầu, không thay đổi mục tiêu tiến công và ngày, giờ nổ súng như đã định. Mở đầu cuộc tiến công, pháo binh ta bắn phá mãnh liệt sân bay Tân Sơn Nhất, Sứ quán, các khu nhà ở của đại sứ Mỹ, dinh Độc Lập, tân cảng Sài Gòn, bộ tư lệnh Hải quân, tổng nha Cảnh sát, Biệt khu thủ đô; đặc công và biệt động tập kích đài vô tuyến truyền hình, cầu Phan Thanh Giản; chủ lực Miền và các tiểu đoàn mũi nhọn cùng bộ đội địa phương đánh sâu vào trung tâm thành phố, chiếm giữ ngã tư Bảy Hiền, trường đua Phú Thọ, quận lỵ Gò Vấp, cầu Chữ Y, bốt cảnh sát Quận 8, cầu Bình Lợi, cầu Bình Hòa... Phối hợp với các lực lượng chiến đấu trong nội thành, ở ngoại vi Sài Gòn, bộ đội ta khống chế nhiều ngả đường dẫn vào thành phố, pháo kích vào một số kho tàng, sân bay, tiến công các đơn vị Mỹ, ngụy, đánh vào các thị trấn và quận lỵ địch. Mỹ, ngụy chống trả quyết liệt, tổ chức các cuộc phản kích quy mô lớn. Mặc dù chiếm ưu thế về quân số và hỏa lực yểm trợ nhưng Mỹ, ngụy không dễ dàng đánh bật được các lực lượng tiến công ra khỏi những mục tiêu đang bị chiếm giữ. Chiến sự tại khu vực trường đua Phú Thọ, cầu Tre, cầu Chữ Y, bến Phạm Thế Hiển, đường Minh Phụng diễn ra đặc biệt ác liệt trong một số ngày.

        Tại mặt trận đường 9 - Khe Sanh, ta tăng thêm lực lượng, đánh bại các cuộc hành quân giải tỏa của Sư đoàn ky binh không vận số 1 Mỹ và 4 tiểu đoàn ngụy, xiết chặt vòng vây xung quanh căn cứ Tà Cơn, dồn địch lâm vào tình thế có thể bị tiêu diệt hoàn toàn...

--------------------------
        1. Nghị quyết Bộ Chính trị, tháng 4 năm 1968.

        2. Nghị quyết Bộ Chính trị, tháng 8 năm 1968.

        3. Sau đợt 1 Tết Mậu thân, đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tư lệnh Bộ chi huy Miền được cử ra Hà Nội trực tiếp báo cáo với Bộ Chính trị và xin được mở đợt 2 vào Sài Gòn. Sau đợt 2, Mặt trận Quảng Đà và một số mặt trận khác đề nghị tiếp tục mở đợt 3.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2017, 08:08:26 AM

        Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ buộc phải rút bỏ Khe Sanh nhằm bảo toàn lực lượng (tháng 6 năm 1968) - sau khi đã bị hao tổn 17.000 quân và hàng trăm máy bay khiến cho tuyến phòng thủ đường 9 của địch đã bị đập vỡ ở một khâu trọng yếu. Đó là một thất bại nặng nề về quân sự và chính trị của Mỹ, chứng tỏ quân Mỹ không thể đứng vững được ở tuyến phòng thủ vòng ngoài trước đòn tiến công của chủ lực miền Bắc Việt Nam1.

        Sau đợt tiến công tháng 52, quân và dân ta trên chiến trường đã mở tiếp đợt tiến công tháng 8. Trong đợt này, ta sử dụng pháo binh là chủ yếu đánh vào một mục tiêu ở 27 thành phố, thị xã và 100 thị trấn, quận lỵ, chi khu quân sự địch.

        Đợt tiến công tháng 5 và tháng 8 năm 1968 bồi tiếp đòn nặng vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, gây cho chúng những tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh, buộc Mỹ phải cử đại diện tới Pa-ri trong tư thế bị suy yếu hơn trước.

        Về phía ta, do tiến công và nổi dậy liên tục, kéo dài, trên quy mô rộng lớn, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của ta trong năm 1968 đã bị tổn thất nặng nề: 111.306 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh và bị thương, hàng vạn quần chúng cách mạng đã ngã xuống. Riêng ở Nam Bộ, "thương vong của ta trong năm này cao hơn số thương vong của các năm từ 1961 đến 1970 cộng lại"3.

        Mặt khác, trong khi dồn sức tấn công vào đô thị hết đợt này đến đợt khác, ta đã bỏ hở vùng nông thôn đồng bằng. Lợi dụng tình hình này, địch tung quân đẩy bật các đơn vị chủ lực của ta ra xa các đô thị và căn cứ quân sự; đồng thời, tiến hành "bình định cấp tốc", ra sức càn quét và tranh chấp quyết liệt những vùng chúng vừa bị mất, đặc biệt là vùng ven Sài Gòn, đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải Khu 5 và Trị - Thiên. Từ tháng 11 năm 1968, địch mở các "chiến dịch Phượng Hoàng"4 nhằm “tiêu diệt chính quyền bí mật của Việt cộng" mà chúng tin chắc là “đã có những Uỷ ban cách mạng hoạt động trong 17 tỉnh, 5 thành phố và 2.541 xã"5 trên toàn miền Nam. Với nỗ lực và thủ đoạn mới, lại biết lợi dụng kịp thời sự sơ hở của ta ở nông thôn đồng bằng, từ giữa năm 1968 trở đi, địch dần dần líp lại được hầu hết những khu vực đã mất trong các đợt Tổng tiến công và nổi dậy tháng 2, tháng 5 năm 1968; khôi phục các tuyến giao thông quan trọng. Từ đây kéo dài tới các năm 1969, 1970, thế trận chiến tranh nhân dân trên cả ba vùng chiến lược bị sa sút, cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn và thử thách nặng nề...

        Tình hình trên đây khiến cho từ nhiều năm qua, đã có không ít bài viết đề cập tranh luận khá gay gắt xung quanh sự kiện "Tết Mậu thân" và việc mở các đợt tiến công tháng 5 và tháng 8 năm 1968. Nhiều người khi nhìn lại cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 đã không khỏi bị tình cảm chi phối nặng nề . Đây chính là vấn đề nổi cộm trong các hội nghị khoa học, trên các trang viết về “Tết Mậu thân", không ít người dè dặt khi tìm hiểu về đề tài này. Một số khác khi xem xét "Tết Mậu thân" đã nhận thấy sự kiện lịch sử đó đã "không tạo được một bước phát triển đi lên của chiến tranh cách mạng miền Nam, không thay đổi được cục diện chiến trường có lợi cho ta; mà làm cho cục diện xấu hơn năm 1968. Cũng có thể nói rằng nó đã tạo nên một bước tạm thời đi xuống của cục diện chiến trường miền Nam"46. Cũng đã có tác giả cho rằng: trong và sau Tết Mậu thân, "lực lượng kháng chiến của ta lâm vào tình trạng hết sức khó khăn. Cách mạng miền Nam đi vào thời kỳ đen tối"47. Sau hơn 20 năm nhìn lại, đồng chí Lê Đức Thọ đã đặt ra câu hỏi về sự cần thiết của việc mở cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa Tết Mậu thân và cho rằng cái giá mà ta phải trả cho thắng lợi "Tết Mậu thân" là “đắt quá"!48.
   
        Xét về mặt khoa học, những nhìn nhận và sự tranh luận trên đây là cần thiết, góp phần làm rõ hơn về một sự kiện lịch sử "quan trọng nhất và phức tạp nhất" của cuộc chiến tranh kéo dài, diễn ra trên quy mô rộng lớn và với cường độ vô cùng khốc hệt, và không vì thế mà làm giảm đi tầm giá trị đã đi vào lịch sử như một CỘT MỐC LỚN, ghi dấu BƯỚC NGOẶT LỚN của sự kiện này trên chặng đường dài 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trên cả hai miền Nam Bắc vì nền độc lập, tự do và sự vẹn toàn, thống nhất đất nước.

-----------------------
        1. Việc Bộ chỉ huy quân sự Mỹ buộc phải rút bỏ Khe Sanh để tránh bị tiêu diệt đã được dư luận thế giới ngày đó bình luận sôi nổi. Đài phát thanh BBC ngày 30 tháng 6 năm 1968 nhận định: “Việc rút lui Khe Sanh không phải đơn giản bỏ rơi một yếu điểm, mà là bỏ rơi một ảo tưởng và một chính sách. Tất cả nỗ lực của Hoa Kỳ dựng lên đã tan ra tro như những pháo đài xi măng cốt sắt ở Khe Sanh". Còn trước đó, ngày 27 tháng 6 năm 1968, Hãng tin AP viết: "Việc quân Mỹ rút khỏi Khe Sanh là một thất bại đối với Mỹ. Các quan chức cao cấp của Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn đã từng nói phải bảo vệ căn cứ này bằng bất cứ giá nào, thậm chí nhiều người phát ngôn của lính thủy đánh bộ Mỹ còn nói: "Nếu chúng ta rút khỏi Khe Sanh thì liệu chúng ta dừng lại ở đâu? Trên biển Nam Hải chắc?".

        2. Trong tham luận Ghi nhớ về xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện đòn tiến công chiến lược Mậu thân 1968 đăng trong kỷ yếu hội thảo khoa học (năm 1998), Thượng tướng Lê Ngọc Hiền - nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng, Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu cho biết: Sau đợt 2, vào khoảng tháng 6 năm 1968, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã chính thức xác nhận phải chuyển hướng tiến công chiến lược từ thành phố về nông thôn, rừng núi "cho dù chủ trương đó không thể hiện ra thành nghị quyết hoặc quyết định chính thức (vấn đề này được ghi trong biên bản cuộc hội ý của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt)". Cũng trong bài viết này, tác giả chỉ ra: "Trên thực tế sau đợt 3, đã không còn có đợt 4, đợt 5 tổng công kích - tổng khởi nghĩa vào đầu năm 1969 nữa. Tuy thế, để nghi binh, lừa địch trong khi chủ lực ta đã chuyển về địa bàn nông thôn, rừng núi cũng như để phục vụ cho công tác tuyên truyền đối ngoại, phục vụ cho đấu tranh ngoại giao... ta đã bằng nhiều cách “tạo cảm giác" tiếp tục đẩy mạnh các đợt tổng công kích - tổng khởi nghĩa nhằm vào “đô thị".

        3. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Mấy vấn đề về tổng kết chiến tranh và viết lịch sử quân sự (những bài nói và viết chọn lọc của Đại tướng Hoàng Văn Thái - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng từ năm 1980-1986), H, 1987, tr.278. Về tổn thất của ta trong năm 1968, xem thêm phần phụ lục.

        4. Tháng 7 năm 1968, địch lập ra Uỷ ban Phượng Hoàng các cấp nhằm đánh phá cơ sở Cách mạng miền Nam bằng các hoạt động ám sát bắt cóc. Nhân viên hoạt động trong tổ chức này phần lớn được tuyển chọn trong bọn ác ôn, được nhận lương và chịu sự chi đạo trực tiếp của Cục tình báo Trung ương Mỹ C.I.A.

        5. Hãng tin A.P, ngày 1 tháng 12 năm 1968.

        6. Trích từ tham luận Cục Khoa học quân sự - Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng trong Hội thảo khoa học tháng 8 năm 1986. Tlđd.

        7. Đỗ Thôn: Sai lầm chiến lược của đế quốc Mỹ... Tạp chí Lịch sử quân sự, số 8 năm 1986.

        8. LÊ ĐỨC THỌ: Một số vấn đề tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự, Sđd, tr.56.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 08:09:22 AM

CHƯƠNG III

HIỆU QUẢ “TẾt MẬU THÂN” VÀ MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ “TẾT”

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy "Tết Mậu thân" 1968 của quân và dân ta, không chỉ sau này mà ngay từ ngày đó - khi chiến sự đang diễn ra ở khắp các đô thị trên toàn miền Nam, đã đưa lại những hậu quả và hệ lụy nặng nề cho phía Mỹ. Nó giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ sau bao năm theo đuổi chiến tranh Việt Nam, nó buộc Mỹ phải đơn phương "xuống thang", thay đổi chiến lược rút dần quân Mỹ về nước... Nó trở thành nỗi ám ảnh không nguôi trong chính giới Mỹ, trở thành một "hội chứng Việt Nam" của Mỹ suốt bao năm qua, trở thành một kỷ niệm không vui của nước Mỹ nói chung - một nước lần đầu tiên bị thua trận trong lịch sử 200 năm lập nước của mình.

        Với "Tết Mậu thân", dù chưa đạt được yêu cầu của khả năng thứ nhất - một trong ba khả năng mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 dự kiến và dù phải hy sinh to lớn nhưng Đảng ta, nhân dân ta và quân đội ta đã xoay chuyển được cục diện tình hình mà trước đó ta chưa bao giờ tạo được. Cục diện đó cho phép quân và dân ta tiếp tục đưa cách mạng miền Nam tiến lên theo phương hướng chiến lược mới như lời Thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trước khi Người đi xa:

“... Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào"

        Chỉ sau khi Mỹ cút, Mỹ rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, chúng ta mới có thể tính đến chuyện dồn hết tâm lực đánh cho ngụy NHÀO với khí thế áp đảo "một ngày bằng hai mươi năm” đặng tiến thẳng tới dinh Độc Lập, giữ được một Sài Gòn hầu như nguyên vẹn, không diễn ra một cuộc "tắm máu” nào ở các đô thị miền Nam như nhiều người ở phía bên kia từng tường tượng vào mùa Xuân năm 1975. Để có được MÙA XUÂN TOÀN THẮNG này, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã phải trải qua chặng đường dài mấy mươi năm chiến đấu với biết bao thử thách hy sinh mà XUÂN MẬU THÂN 1968 là một CỘT MỐC LỚN - ghi dấu BƯỚC NGOẶT LỚN của cuộc chiến tranh.

        Thế nhưng lý giải về nguyên nhân, tác động của “Tết Mậu thân” giới quân sự, chính trị cũng như một số tác giả Mỹ - và ngay cả một số nhà nghiên cứu trong nước - thường vẫn chỉ tập trung vào các sự kiện như: sự bí mật, bất ngờ trong "Tết Mậu thân"; việc đưa tin và tô đậm ấn tượng về “Tết Mậu thân" của các phương tiện truyền thông Mỹ; sự phản ứng không đúng lúc của giới quân sự Mỹ; phong trào phản đối chiến tranh bùng lên dữ dội giữa lòng nước Mỹ v.v... Những điều đó đều đúng cả. Nhưng nó chỉ là những hệ quả, là những biểu hiện bên ngoài của "Tết Mậu thân" mà thôi. Những hệ quả và biểu hiện đó không phải là động lực chính làm cho chính giới Mỹ phải đi từ chỗ chủ động đến bị động; từ thế công đến thế thủ, và phải soát xét lại toàn bộ đường lối tiến hành chiến tranh để cuối cùng chịu thất bại cay đắng trên chiến trường Việt Nam.

        Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, SỰ THỰC là chỉ khi bị thất bại về QUÂN SỰ thì Mỹ mới chịu "xuống thang" chiến tranh ở chiến trường này - cái chiến trường mà ngay từ đầu Mỹ muốn "đánh nhanh, rút nhanh", nhưng thực tế đã cho thấy là “vô vọng", là không bao giờ có thể thực hiện được. Vấn đề này, từ trước "Tết Mậu thân" và ngay cả nhiều năm sau đó, giới tướng lĩnh quân sự và nhiều tác giả Mỹ đã lấy tiêu chí của một trận đánh để xem xét một chiến lược, lấy việc "đếm xác”, dựa vào con số thống kê về thương vong của hai bên để so sánh rồi phân thắng - bại. Phía Mỹ đã không hiểu được rằng một nước nhỏ như Việt Nam, khi chấp nhận cuộc đụng đầu với một "siêu cường" như thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vì tự do và độc lập của dân tộc mình, thì, mọi người Việt Nam yêu nước đều chung một ý chí: "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Ý chí đó, quyết tâm đó của ngày đầu toàn quốc kháng chiến năm 1946, gần hai mươi năm sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần nữa tuyên bố: "Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn". Vậy, xem xét thắng - bại của một chiến lược quân sự, một cuộc chiến tranh, điều chủ yếu là xem xét hiệu lực thực tế của chiến lược đó, của cuộc chiến tranh đó so với mục tiêu chiến lược đề ra ban đầu. Vì thế, để làm rõ sự thất bại của phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong dịp "Tết Mậu thân" - mà trước hết là thất bại vế quân sự, cần nhìn lại một cách toàn diện hơn hiệu quả của sự kiện này từ hai phía.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 08:17:24 AM
   
        I. HIỆU QUẢ "TẾT MẬU THÂN"

        1. Bước ngoặt chiến lược trên chiến trường miền Nam Việt Nam


        Từ những ngày đầu tiến hành chiến tranh cục bộ, mục tiêu bao trùm của Mỹ là dùng sức mạnh quân sự khổng lồ của Mỹ để tiêu diệt lực lượng vũ trang và cơ sở chính trị của cách mạng miền Nam, khủng bố tinh thần kháng chiến của nhân dân ta, củng cố chính quyền và quân đội Sài Gòn làm cơ sở cho sự thống trị miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Để đạt tới mục tiêu chiến lược đó, Mỹ liên tục tăng.. quân Mỹ vào miền Nam, kể cả việc lôi kéo và thúc ép một số đồng minh đưa quân vào cùng Mỹ trực tiếp tham chiến; sử dụng không quân, hải quân - hai “át chủ bài" trong thành phần lực lượng quân sự Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc với quy mô, cường độ ngày càng mở rộng và ngày càng khốc liệt. Mỹ đưa vào sử dụng và khai thác triệt để những thành tựu tiên tiến nhất của nền khoa học - công nghệ để tăng tính tàn phá và sức hủy diệt đối với một đất nước thua kém Mỹ nhiều lần về tiềm lực và sức mạnh kinh tế, quân sự... Ví như, để phát hiện vị trí của các đơn vị Quân giải phóng miền Nam, giới quân sự Mỹ đã dùng các máy ra đa nhỏ xách tay và các "máy ngửi" có thể phát hiện cả mùi nước tiểu; dùng máy tính 1430 của hãng IBM lập trình để dự toán thời gian và địa điểm mà đối phương có thể đánh. Trên miền rừng núi hay dọc theo lác dải rừng ngập mặn, Mỹ đã rải một khối lượng lớn chất độc hóa học nhằm làm rụng lá cây, "khai quang" để đối phương không còn chỗ ẩn náu(!). Sau này, một số tác giả Mỹ cho biết: "Phi hành đoàn trên máy bay C.123 thấm nhuần một khẩu hiệu rất mỉa mai "chỉ có các anh là chặn được các khu rừng" và đã rải khoảng 50.000 tấn hóa chất mang tên "tác nhân da cam" lên hàng triệu a cơ1 rừng, hủy diệt khoảng 1/2 rừng cây lấy gỗ của Nam Việt Nam và để lại những tổn thất đối với con người mà nhiều thập kỷ sau cũng chưa xác định được"2. Cần lưu ý thêm rằng, nhận xét trên đây của tác giả là xác đáng. Theo con số thống kê (chưa thật đầy đủ), hiện nay, ở hai miền Nam và Bắc có khoảng 2.000.000 người bị nhiễm chất độc hóa học và khoảng 500.000 trẻ em sinh ra bị dị dạng do chất độc "màu da cam" mà Mỹ đã rải xuống miền Nam trong những năm chiến tranh). Bên cạnh đó, Mỹ còn sử dụng một khối lượng bom đạn khổng lồ để tiến hành "một kiểu chiến tranh điên cuồng nhất" - như lời nhận xét của tác giả G.C. Hê-ring trong cuốn sách Cuộc chiến tranh dài ngày nhất nước Mỹ của ông, hòng đánh nát các căn cứ của Quân giải phóng miền Nam. Kiểu chiến tranh ấy, như lời của viên tướng Mỹ Uy-li-am Đi-puy - một trong những “kiến trúc sư” chính của chiến lược "tìm diệt", rằng: "Giải pháp ở Việt Nam là thêm bom, thêm pháo, thêm napan... cho đến khi phía bên kia sụp đổ và đầu hàng"3. Cũng theo tác giả, năm 1965 nước Mỹ dấn bước vào cuộc chiến tranh trên bộ ở miền Nam và leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam với niềm tin và sự lạc quan vào một thắng lợi quán sự chớp nhoáng và dễ dàng. Niềm tín ấy được diễn đạt trong lời nhận xét của một nhà báo Mỹ trên hàng không mẫu hạm Rêngiơ ngoài khơi Việt Nam nam 1965: "Cần phái phô diễn hạm tàu này cho Việt cộng thấy, như vậy, sẽ khiến họ dầu hàng”. Và Hê-ring nhận xét: "Điều quan trọng nhất của chủ nghĩa lạc quan mà đất nước này mang theo vào cuộc chiến tranh chính là điều giải thích rõ tại sao sau này lại có tâm trạng vô cùng thất vọng. Thất bại không bao giờ đến dễ dàng, trái lại nó đặc biệt khó khăn, chỉ vì trước đó người ta đã dự kiến chiến thắng với giá rẻ"4. Nhận xét ấy một lần nữa cho ta thấy rằng, trong mọi cuộc chiến tranh, Oa-sinh-tơn đều tính đến "từng xu” lỗ, lãi (!).

        Dựa vào sức mạnh quân sự hùng hậu, trong những năm 1965, 1966, 1967, Mỹ sử dụng quân Mỹ mở các cuộc hành quân "tìm diệt" chủ lực Quân giải phóng và cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam, dùng quân đội Sài Gòn yểm trợ chương trình "bình định" nông thôn miền Nam, dùng không quân và hải quân Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, nhằm uy hiếp tinh thần của nhân dân miền Bấc, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam... Và quả thật, trong khoảng thời gian này, trên cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam, 3 quân chủng là lục quân, không quân và hải quân Mỹ đã có thể đánh phá và uy hiếp những nơi nào mà Mỹ muốn, hòng "dồn đối phương vào chân tường" như nhận xét của nhiều tác giả Mỹ khi đề cập tới cuộc chiến tranh Việt Nam...

-------------------
        1. A cơ là mẫu Anh, bằng 4,050m2.

        2, 3, 4. G.C. Hê-ring: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất nước Mỹ, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1998, tr.192, 193.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 08:22:45 AM

        Thế nhưng trải qua hai mùa phản công chiến lược, các biện pháp trên đây không mang lại hiệu quả như Mỹ trông đợi. Ngược lại, qua hơn hai năm trực tiếp đương đầu với lục quân, không quân và hải quân Mỹ, lực lượng, thế trận chiến tranh nhân dân của ta không những không bị tiêu diệt và đẩy lùi mà càng phát triển trên khắp ba vùng chiến lược là rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị; ý chí, quyết tâm đánh Mỹ được tăng cường trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc. Lực lượng, thế trận, ý chí, quyết tâm đó cho phép quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu thân 1968.

        Trong gần hai tháng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam như những đợt sóng đánh vào 4 trong 6 thành phố lớn, 37 trong số 44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ.

        Tại nhiều đô thị, lực lượng vũ trang ta đã chiếm giữ nhiều nơi trong nhiều ngày, nhiều giờ. Hầu hết các cơ quan đầu não từ trung ương tới địa phương của Mỹ, ngụy bị tiến công. Bộ binh, pháo binh, đặc công, biệt động Quân giải phóng đã đánh mạnh, đánh trúng 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 trong số 11 bộ tư lệnh sư đoàn quân Sài Gòn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ cùng nhiều bộ tư lệnh lữ đoàn, trung đoàn, các tiểu khu, chi khu và hàng trăm căn cứ quân sự, kho tàng, sân bay bến cảng. Nhiều tuyến giao thông thủy bộ bị chặn cắt, nhiều cơ sở thông tin bị tiến công khiến hoạt động vận chuyển, liên lạc tại nhiều vùng do Mỹ, ngụy kiểm soát bị ngừng trệ. Như vậy, đây là lần đầu tiên trong nhiều năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, toàn bộ hệ thống phòng thủ đô thị của Mỹ, ngụy đã bị cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đầu Xuân Mậu thân 1968 của quân và dân miền Nam phá vỡ, hậu phương, hậu cứ chiến tranh của địch trở thành chiến trường - nơi đọ sức quyết liệt giữa hai bên tham chiến trong nhiều tuần, nhiều tháng.

        Trong cuộc đọ sức đó, bằng lối đánh táo bạo và dũng mãnh, các đơn vị vũ trang Quân giải phóng miền Nam đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy, phá hỏng nhiều vũ khí và dự trữ chiến tranh, làm rối loạn hậu phương, hậu cứ an toàn của chúng. Cho đến nay, thương vong của mỗi bên trong dịp Tết Mậu thân đã được một số sách đề cập. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa các con số trong các cuốn sách này là khá lớn. Ví như, cuốn Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975 - những sự kiện quân sự do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức biên soạn, được xuất bản năm 1988, cho rằng, trong 2 tháng đầu Xuân 1968, có 147.000 sĩ quan và binh lính địch bị diệt (trong đó có 43.000 quân Mỹ). Theo P.B. Đa-vít-xơn trong cuốn sách Những bí mật của chiến tranh Việt Nam xuất bản năm 1992 thì, tại cuộc họp báo ngày 7 tháng 3 năm 1968, Oét-mo-len cho rằng phía Mỹ và đồng minh đã tiêu diệt được 50.000 quân đối phương dịp Tết. Thực ra, trong giao tranh quyết liệt dịp Tết Mậu thân, các bên tham chiến đều bị tổn thất nặng nề so với thời kỳ trước đó. Tuy vậy, con số tổn thất của mỗi bên như các tài liệu nêu trên rõ ràng là quá cao so với thực tế. Gần đây, 2 tác giả Mỹ là J. Stêin và Mc.Lép-sơn trong cuốn Sổ tay sự kiện chiến tranh Việt Nam - sách do Nxb Chính trị quốc gia và trung tâm báo chí nước ngoài - Bộ Ngoại giao dịch và phát hành - ghi nhận: Năm 1968 "là năm gia tăng ghê gớm số thương vong của Mỹ ở miền Nam. Nó gần gấp 2 lần tổng số thương vong của tát cả các nam trước gộp lại (30.610 so với 16.201)". Cũng theo 2 tác giả này, số binh lính Mỹ bị giết ở miền Nam năm 1968 là 14.589. Chỉ trong 1 tuần từ ngày 10 đến ngày 17 tháng 2 năm 1968, đã có tới 543 lính Mỹ bị bỏ mạng trong các cuộc giao tranh nhằm giành lại quyền kiểm soát các đô thị từ tay Quân giải phóng. "Đó là một trong những tuần thương vong cao nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam"1. Sách cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa của Việt cộng Mậu thân 1968 của Quân đội Sài Gòn xuất bản tháng 8 năm 1968, cho biết con số cụ thể về thương vong của Mỹ, ngụy và chư hầu trong tháng 2 và tháng 3 năm 1968: Quân đội Sài Gòn bị tổn thất 20.977, có 4.909 chết. Quân Mỹ và đồng minh bị tổn thất 24.013, có 4.124 chết). Mặc dù cho đến nay, về số thương vong của mỗi bên vẫn chưa được phía Mỹ và Việt Nam công bố chính xác nhưng có thể khẳng định được rằng: Trong dịp Tết Mậu thân, tất cả các bên tham chiến đều bị hao tổn nặng nề về lực lượng, phương tiện chiến tranh.

----------------------
        1. Sổ tay sự kiện chiến tranh Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia - 1993, tr.81.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 08:31:24 PM

        Tuy nhiên, điều quan trọng khiến cho dư luận Mỹ và thế giới kinh ngạc lại là ở chỗ: Quân giải phóng miền Nam đã có thể mở cuộc tiến công rộng khắp, đồng loạt vào hàng trăm đô thị trên toàn miền và gây cho Mỹ bị nhiều thương vong trong khi họ chi sử dụng một bộ phận lực lượng không nhiều. Theo nhận định của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn lúc đó và được nhiều tác giả Mỹ sau này trích dẫn thì, Bộ chỉ huy Cộng sản đã tung vào một lực lượng ước chừng 67.000 quân trong tổng số 240.000 ở miền Nam Việt Nam... Dàn ra để chống lại họ là 1.100.000 tay súng – 492.000 quân chiến đấu Mỹ, 61.000 quân Nam Triều Tiên, Thái Lan và các nước trong "Thế giới tự do" khác, 342.000 quân thường trực của chính phủ Việt Nam cộng hòa và 284.000 quân địa phương và phòng vệ dân sự. Ngoài ra, Mỹ còn huy động 2.600 máy bay, 3.000 trực thăng và 3.500 xe thiết giáp"1 mong chống đỡ cuộc Tổng tiến công này. Cho dù sự chênh lệch về quân số, hỏa lực, phương tiện chiến tranh là hết sức lớn - nghiêng hẳn về phía Mỹ, nhưng Quân giải phóng miền Nam không những đã phá vỡ tuyến phòng thủ đô thị kiên cố của địch, gây cho chúng những tổn thất nặng nề về sinh lực, phương tiện chiến tranh mà còn ghìm chân được một đội quân đông hơn 1 triệu tên được trang bị hiện đại vào mặt trận đô thị. Mười bảy năm sau "Tết Mậu thân", G. Côn-cô trong Giải phẫu một cuộc chiến tranh đã xem đây là "một trong những bài học cay đắng nhất trong chiến đấu của Mỹ"2.

        Trong khi cuộc tấn công "Tết" đang lên tới đỉnh cao, Uy-lơ - Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã báo cáo về Oa-sinh-tơn ngày 17 tháng 2 năm 1968 rằng: Cuộc tấn công ban đầu của Việt cộng đã "gần thành công" ở hàng chục địa điểm. Để tránh được thất bại, Mỹ chỉ có thể có những biện pháp “phản ứng kịp thời". Sự phản ứng kịp thời đó đã buộc quân Mỹ phải sử dụng ồ ạt hỏa lực trọng pháo, máy bay và thiết giáp để san bằng nhiều khu phố, giết hại nhiều dân thường ngay ở giữa hậu cứ hậu phương chiến tranh của chúng. Tại Huế, “hỏa lực Mỹ đã biến 80% thành phố thành gạch vụn". Trọng pháo và máy bay Mỹ còn san bằng một nửa tỉnh lỵ Mỹ Tho - thị xã có 80.000 người dân sinh sống. Thị xã Bến Tre cũng chịu chung số phận.

        “Cần phải hủy diệt thành phố này đế cứu nó". Đó là lời của một viên sĩ quan Mỹ nói trong lúc đang chỉ huy quân Mỹ tàn phá thị xã Bến Tre, ngày 7 tháng 2 năm 1968. Cùng với hình ảnh trùm cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan dí súng vào đầu một chiến sĩ biệt động Quân giải phóng và bóp cò được trình chiếu trên màn ảnh nhỏ vô tuyến truyền hình Mỹ3, lời nói điển hình đó như một hình ảnh thu nhỏ về sự tàn bạo, tính hủy diệt của cuộc chiến tranh mả Mỹ đang tiến hành ở Việt Nam. Nó lập tức được phổ biến rộng rãi trên báo chí Mỹ và nhiều nước trên thế giới. Và, vô hình trung, những hình ảnh và lời nói này đã vạch trần sự trớ trêu đầy mâu thuẫn giữa mục đích và biện pháp của cuộc chiến tranh mà Mỹ đề ra từ ban đầu, hy vọng sẽ chinh phục được "khối óc và trái tim" người dân bản xứ; hy vọng có thể làm cho mọi người tin rằng sự có mặt của Mỹ là nhằm giúp cho nhân dân miền Nam Việt Nam bảo vệ và xây dựng một quốc gia tự do không cộng sản! Như vậy, cho dù sau đó, với quan điểm thuần túy quân sự, Mỹ có đẩy được Quân giải phóng ra khỏi các đô thị và xem đấy là một thắng lợi của mình thì "Tết Mậu thân, thực chất vẫn là một thất bại nặng nể về chính trị của Mỹ trên chiến trường Việt Nam. Thật chí lý khi mà, ngay trong "Tết Mậu thân", nhiều nhà bình luận Mỹ đã nhận ra rằng: việc ném bom và pháo kích bừa bãi của Mỹ có thể sẽ "đẻ ra nhiều Việt cộng hơn là giết họ"4.

------------------------
        1. Dẫn theo Đôn O-bớc-đoi-phơ: Tết, Sđd, tr.78.

        2. Dẫn theo G. Côn-cô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđa, T1, tr.287.

        3. Ghi chép sau đây của tác giá Đôn O-bớc-đoi-phơ cho người đọc hình dưng thêm về sự tàn bạo của tên trùm cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan. Theo đó, lúc Nguyễn Ngọc Loan đi về phía khu vực chùa Ấn Quang thì một thủy quân lục chiến Việt Nam bắt một người tình nghi là Việt cộng và trói lại. Người này... chỉ mặc một cái áo ca rô và một cái quần sóc. Tay anh ta bị trói quặt ra sau lưng và bị đánh đập. Người bị bắt bước xuống đường, tiến về phía Loan thì viên tướng này rút súng ngắn ra, vẫy tay xua lính và những người đứng gần tản ra. Người bị bắt đứng cách khoảng 3 hoặc 4 bước, mắt nhìn xuống... Viên tướng đưa cánh tay phải ra và ngón trỏ ấn vào cò. Một tiếng súng nổ. Người bị bắt chân bị trói nên quỵ xuống đường và sau đó ngã sóng soài, máu từ đầu vọt ra, Loan đút súng vào bao và bỏ đi". Chứng kiến từ đầu cảnh tượng đó, phóng viên ảnh Ét-đi A-đam chớp được thời khắc ấy và lập tức gửi bức ảnh về Mỹ. Bức ảnh được phóng to và in trên trang đầu của nhiều tớ báo, tạp chí ở Mỹ và trên thế giới. Cùng với Ét-đi A-đam, phóng viên hãng NBC Võ Sửu cũng đã quay trọn cuộc hành quyết và gửi về Mỹ cuốn phim này. Ngay sau đó, cuốn phim được biên tập và trình chiếu trên chương trình truyền hình, gây xúc động mạnh trong dư luận công chúng Mỹ và thế giới.

        4. Tạp chí Tin Mỹ và Thế giới, ngày 1 tháng 4 năm 1968.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 08:38:20 PM

        Tại nông thôn đồng bầng và rừng núi, đòn Tổng tiến công “Tết Mậu thân" đã làm cho bộ máy kìm kẹp của chế độ Sài Gòn và 50.000 cán bộ bình định thuộc 555 đội chẳng được ai ngó ngàng tới, làm mục rã một trong những "gọng kìm" của Mỹ. Bởi vì, một khi phần lớn các sinh lực Mỹ bị kìm chân ở đô thị, thì, ngay lập tức lực lượng vũ trang tại chỗ đã hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy diệt ác, trừ gian, giải tán dân vệ, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng, giáng đòn nặng vào hệ thống chính quyền cơ sở địch ở nông thôn.

        Tại Trị - Thiên, hơn 20 vạn dân thuộc 40 xã, 300 thôn đã phá rã ách kìm kẹp của địch, đưa vùng giải phóng toàn khu lên tới bốn phần năm số thôn.

        Tại Khu 5, Khu 6 đòn tiến công và nổi dậy của quân và dân ta đã "làm sụp đổ phần lớn bộ máy kìm kẹp của địch” ở nhiều tỉnh đồng bằng vùng duyên hải.

        Tại Tây Nguyên, được hỗ trợ của lực lượng vũ trang, đồng bào nhiều nơi đã phá bung khu tập trung, bỏ về buôn làng cũ làm ăn và xây dựng buôn làng thành các làng chiến đấu.

        Ở Nam Bộ, chính quyền cơ sở địch bị phá rã từng mảng, vùng làm chủ và vùng giải phóng được mở rộng tới sát nhiều thị trấn, quận lỵ...

        Tình hình trên đây đã được chính Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ thú nhận trong báo cáo gửi Giôn-xơn ngày 17 tháng 4 rằng: "Trên một phạm vi rộng lớn, Việt cộng đã nắm quyền kiểm soát nông thôn"... Chương trình "bình định” mà lúc đó Mỹ gọi là "Chương trình phát triển cách mạng" đã bị "thụt lùi nghiêm trọng"1. Vào thời gian này tại Oa-sinh-tơn, Văn phòng Hệ thống phân tích tình hình của Bộ quốc phòng Mỹ đưa ra nhận xét: "Cuộc tấn công Tết hình như đã vĩnh viễn giết chết chương trình bình định". Thậm chí, "do nhận thức sâu sắc thực tế sức mạnh quân sự của Cộng sản và dự kiến những hoạt động sắp tới của họ, một số người Mỹ đã bắt đầu nói đến khả năng thất bại"2 của Mỹ tại Việt Nam. Một quan chức Lầu Năm Góc chịu trách nhiệm nghiên cứu lịch sử cuộc chiến tranh vốn là người có nhiều kinh nghiệm ở Việt Nam đã đánh giá cao khả năng của đối phương dịp Tết Mậu thân và ghi trong bản báo cáo gửi lên cấp trên rằng: "Làn sóng đỏ của ảnh hưởng cách mạng sẽ tràn khắp nông thôn đến tận mép các tỉnh lỵ, quận ly"3. Ông ta cũng dự kiến rằng đến đáng 4 năm 1968, quân đội Sài Gòn sẽ có hiện tượng đào ngũ tập thể, có thái độ hoàn toàn lãnh đạm với chính quyền Sài Gòn, sẽ bắt tay với Cộng sản và trong dân chúng sẽ có biểu tình làm cho tình hình hỗn loạn...

        Sau này, một số tác giả Mỹ trong các công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam cũng gặp nhau ở những nhận thức về thất bại này của Mỹ. Ấy là khi họ đều nhận xét rằng: thật khó mà minh họa được tình hình kiểm soát của mỗi bên ở nông thôn. G.Côn-cô cho biết thêm vào dịp "Tết Mậu thân" từ Oa-sinh-tơn lẫn Sài Gòn dều đã phải nhất trí rằng: "Mặc dù Mặt trận Dân tộc Giải phóng không thành công ở các đô thị, nhưng họ đã thu được những thành tựu ở nông thôn"4. Lời thú nhận từ phía Mỹ, ngụy ở thời điểm "Tết Mậu thân" trên đây đã chứng minh rõ rằng: "Tết Mậu thân" không chỉ đưa chiến tranh vào tận hang ổ của Mỹ, ngụy mà còn là đòn nặng giáng vào chương trình “bình định" trên phạm vi toàn Miền.

        Tình hình đó khiến cho nhiều người Mỹ làm việc trong chương trình "bình định" hoang mang, kinh hãi. Và họ đã tỏ ra ngây thơ trong sự ngạc nhiên khi thấy rằng: "Việt cộng đã vào được tất cả các thành thị để tiến công mà không có một người Việt Nam nào báo cho chính phủ Nam Việt Nam biết”5. Tình hình đó rõ ràng đã là mối đe dọa trực tiếp tới sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn - một cơ cấu chính trị mà Mỹ từ lâu đã dựa vào để tiến hành chiến tranh xâm lược kiểu chủ nghĩa thực dân mới. Vì thế, cuối tháng 2 năm 1968, Uỷ ban Clíp-phớt - được thành lập theo sự chỉ định của Giôn-xơn nhằm cứu xét yêu cầu xin tăng viện 206.000 quân của tướng Oét-mo-len và của Hội đồng tham mưu trưởng hên quân Mỹ để ứng phó với đòn tiến công "Tết Mậu thân" - đã nhận thấy rằng: “Sự đáp ứng chính trị không có hiệu quả chính phủ Việt Nam cộng hòa có thể còn giúp cho Việt cộng cải thiện sự nghiệp của họ trong các đô thị cũng như nông thôn"6.

--------------------
        1. Dẫn theo Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.249.

        2, 3. Đôn O-bớc-đoi-phơ: Tết, Sđd, tr.129.

        4. G.Côn-cô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, T1, tr.289.

        5. Dẫn theo: Trần Văn Giàu: Miền Nam giữ vững thành đồng. Sđd, T5, tr.55.

        6. Dẫn theo G.Côn-cô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, T1, tr.303.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 08:49:23 PM

        "Sự đáp ứng" chính trị mà Mỹ nói ở đây không phải là cái gì khác mà chính là Mỹ giật dây Thiệu - Kỳ - Hương bắt giam các nhân vật đối lập thanh lọc các cơ quan hành chính, ban hành lệnh "tổng động viên" để bắt lính, đôn quân1 và đẩy việc "tổ chức phòng vệ dân sự" lên thành "quốc sách", cấm tụ họp quá 3 người, cấm ra vào các thành phố, phát "thư tố cáo" cho các gia đình... Hậu quả của những "đáp ứng chính trị" đó thực chất lại mang lại kết quả trái với mong muốn ban đầu của Mỹ. Nó càng làm tăng thêm sự thù địch và chống đối của nhân dân miền Nam, thu hẹp hơn cơ sở xã hội của chế độ Sài Gòn và làm suy yếu thêm lực lượng ngụy quân - một lực lượng vốn đã bại trận trước khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam, ngày càng lệ thuộc vào sự có mặt của quân đội Mỹ; và ngay trong nhiệm vụ "bình định" nông thôn trước đây nó cũng đã tỏ ra thụ động, bất lực2. Vì thế, người ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy vào lúc "Tết Mậu thân" nổ ra - hơn cả lượng định của quan chức Lầu Năm Góc mà chúng tôi vừa dẫn ra trên đây - tỷ lệ đào ngũ trong quân đội Sài Gòn đạt tới cạnh cao hơn bao giờ hết. Các tiểu đoàn chiến đấu của nó, trong hai tuần đầu của “Tết", chỉ còn một nửa số quân. Sau "Tết", tình trạng đào ngũ tiếp tục tăng lên, đặc biệt trong hàng ngũ binh lính mới3. Cũng từ đây, hiện tượng phản chiến ngày càng phổ biến, không chỉ trong hàng ngũ binh lính mà cả trong hàng ngũ sĩ quan, không chỉ có ở quân đội Sài Gòn mà cả ở quân đội Mỹ - một đội quân mà từ sau tuyên bố ngày 31 tháng 3 năm 1968 của vị tổng thống - tổng tư lệnh Giôn-xơn, đã bước vào thời kỳ thoái chí. Vì thế, hơn lúc nào hết, giờ đây trong các đơn vị quân Mỹ ở miền Nam, tình trạng khủng hoảng tinh thần, buông lỏng kỷ luật, sa sút ý chí chiến đấu trở nên phổ biến và ngày càng trầm trọng. Người ta nhận thấy rằng: "Chính từ năm 1968, đã phổ biến việc sử dụng ma túy và những vụ tấn công sĩ quan bằng lựu đạn" trong các đơn vị quân Mỹ và chủ trương "Việt Nam hóa" chiến tranh không những không ngăn được tình hình này "mà lại còn đẩy mạnh hơn"4. Hãy "tự lo lấy sinh mạng của mình, sống qua thời kỳ này" và cố gắng “đừng là người lính chết sau cùng ở Việt Nam" là tâm lý chung của đội quân viễn chinh Mỹ ở giai đoạn "kiên trì trong cơn ác mộng này"5.

        Như vậy, "Tết Mậu thân" đã phơi bày toàn bộ những yếu kém và bất lực của chính quyền Sài Gòn - một chính quyền mà quân đội và toàn bộ nền kinh tế của nó ngày càng lệ thuộc vào sự có mặt của Mỹ. Không ai ở Sài Gòn và Oa-sinh-tơn có thể tin rằng, một mai quân Mỹ rút, chính phủ Sài Gòn lại có thể tự tồn tại được6. Đó là lý do vì sao dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã bước vào "Tết Mậu thân" một cách tự tin, dũng cảm và quyết liệt đến nhường ấy. Bởi đây là đòn tiến công bất ngờ, với quy mô to lớn, nhằm vào chỗ yếu kém nhất của Mỹ ở miền nam là chính quyền Sài Gòn để làm nản lòng giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn7, đặng đè bẹp Ý CHÍ XÂM LƯỢC của Mỹ.

-------------------------
        1. Lệnh "tổng động viên" này quy định tuổi nhập ngũ của nam giới là từ 18 đến 50. Để bắt lính, chính quyền Sài Gòn đã áp dụng nhiều thủ đoạn và biện pháp như vây ráp các khu dân cư, bắt các nhà sư, đánh trượt phần lớn số học sinh thi tú tài...

        2. Việc Mỹ đẩy quân đội Sài Gòn vào nhiệm vụ "lính giữ nhà", có nghĩa là đảm trách gọng kìm "bình định", sau này đã được nhiều nhà phân tích bình luận rằng: quyết định đó đã làm suy yếu khả năng tác chiến của nó. Hơn nữa, những năm chiến tranh cục bộ, một số "tiến bộ" trong nỗ lực "bình định" nông thôn miền Nam lại đã bị chính các đơn vị quân Sài Gòn phá hỏng. Nhiều nơi, các đơn vị này bắt dân làng phải nộp thuế và tự đặt ra nhiều thứ "lệ phí" khác; ăn cắp cả lợn, gà của nông dân. Thế nên, khi được hỏi nhân tố hàng đầu nào giúp vào việc "bình định" trên địa bàn mình phụ trách, một cố vấn Mỹ lập tức trả lời: Hãy đuổi sư đoàn 22 Việt Nam cộng hòa ra khỏi khu vực đó (!).

        3. Nhiều tác giả Mỹ thừa nhận từ sau “Tết Mậu thân", việc Mỹ thực hiện chiến lược "Phi Mỹ hóa" rồi "Việt Nam hóa chiến tranh" đã đặt gánh nặng quá lớn lên vai quán đội Sài Gòn, làm nảy sinh hiện tượng đào ngũ. Hiện tượng này trở nên phổ biến. Chỉ riêng năm 1969, con số đào ngũ của quân ngụy là 107.000 người.

        4. Lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, bài viết của Laurent Césari, đăng trong Tạp chí Xưa và Nay, số 225, tháng 12 nam 2004.

        5. Dẫn theo Mai-cơn Mác-li-a: Việt Nam - cuộc chiến tranh mười nghìn ngày. Nxb Sự thật, H, 1990, tr.172.

        6. "Tết Mậu thân" đã là đòn nặng giáng vào chính quyền và quân đội Sài Gòn. Về điều này, tác giả cuốn: Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-zơ-ven đến Ních-xơn cho rằng: "Bài học cơ bản của TẾT là: Nam Việt Nam còn rất lâu mới tự đứng vững được với tư cách là một quốc gia không Cộng sản". Từ thực tế đó, Hen-ri Kít-xinh-gơ trong một bài đăng trên tạp chí Đối ngoại tháng 1 năm 1969 đã đi đến kết luận: Sức mạnh quân sự của Mỹ không thể đạt được mục tiêu chính trị ở Nam Việt Nam. "Cho đến nay, Mỹ vẫn không thể nào tạo ra được một cơ cấu chính trị có thể tự tồn tại được ở miền Nam Việt Nam sau khi Mỹ rút đi".

        7. Cuốn Cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa của Việt cộng của Ban Quân sử Bộ tổng tham mưu Quân lực Việt Nam cộng hòa cũng xác nhận: "Sự thật trong cuộc tổng công kích này, quân địch đã không đánh vào bất cứ một cơ sở Hoa Kỳ nào". Về phía ta, Đại sứ quán Mỹ mãi tới ngày 25 tháng 1 năm 1968 mới được bổ sung vào mục tiêu tiến công của biệt động.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 08:59:06 PM

        Đè bẹp ý chí xâm lược của Mỹ là mục tiêu quán xuyến của chúng ta. Bởi thế, ngay từ mục tiêu chiến lược ban đầu, Đảng ta không hề ảo tưởng thắng Mỹ trên thế mạnh đơn thuần về quân sự hay tiêu diệt toàn bộ quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam mà đã chủ trương đánh Mỹ và thắng Mỹ bằng sức mạnh tổng hợp mọi mặt về chính trị - tinh thần, về quân sự, về thế và lực của chiến tranh nhân dân… Sức mạnh đó bắt nguồn từ ý chí gang thép, từ quyết tâm sắt đá của cả một dân tộc không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ ; bắt nguồn từ truyền thống đánh giặc đầy mưu trí sáng tạo của cha ông trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước1.

        Để phát huy cao độ sức mạnh đó, trong "Tết Mậu thân", Đảng ta đã chủ trương, một mặt, đánh mạnh đồng loạt vào các thành phố, các cơ quan đầu não của Mỹ, ngụy bằng lực lượng tại chỗ để gây "cú xốc" mạnh, tác động nhanh tới ý chí xâm lược của Mỹ, mặt khác, rất chú trọng tới lực lượng nổi dậy đồng loạt của quần chúng ở nông thôn và đô thị. Việc tấn công đồng loạt vào các đô thị đã buộc toàn bộ lực lượng Mỹ đang từ thế phản công "tìm diệt" chủ lực Quân giải phóng và cơ quan đầu não của Cách mạng miền Nam phải dồn về mặt trận đô thị, lâm vào thế phòng ngự bị động chống đỡ. Tình hình quân Mỹ đã như vậy, nên lực lượng "Việt Nam cộng hòa" trong dịp "Tết Mậu thân" cũng lâm vào thế thủ co cụm quanh các thành phố, thị xã và thị trấn khiến cho Uy-lơ - Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã phải kêu gọi chính phủ Sài Gòn đưa quân đội đánh thốc ra vùng ven và vòng ngoài để giải tỏa áp lực cho Sài Gòn và các đô thị khác đang bị đối phương vây hãm. Thế nhưng, quân đội "Việt Nam cộng hòa" - theo chính lời họ nói - đang ở trong tình thế khó xử, vì họ không thể nào đối phó được với bất kỳ cuộc tấn công nào của "địch" vào các thành phố. Trong tình huống như vậy, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) buộc phải dốc hết lực lượng của mình để giải quyết vấn đề hòng làm giảm áp lực của đối phương ở các đô thị, các căn cứ quân sự, các đầu mối giao thông. Nhưng quan trọng hơn còn là ở chỗ, từ “Tết Mậu thân", Mỹ đã phải huy động toàn bộ 50% quân số ra các mặt trận phía Bắc để đối phó với những nguy cơ có thể xảy ra ở đây. Và việc này lại đặt Mỹ trước một tình thế khó khăn mới là lực lượng dự bị của Mỹ trên chiến trường đã bị tước đi quá mỏng. Điều đó sẽ rất nguy hiểm cho Mỹ nếu như Khe Sanh, Huế, Quảng Trị, Tây Nguyên và Sài Gòn lại bị đồng loạt tiến công. Vì những lẽ đó, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ước tính là cần phải xin tăng gấp 206.000 quân Mỹ sang Việt Nam vừa để giúp đỡ và khuyến khích quân đội Sài Gòn rời các thành phố, thị xã và thị trấn trở lại nông thôn, vừa để tăng cường khả năng ngăn chặn các cuộc tấn công kiểu "Tết Mậu thân" của đối phương. Việc xin tăng quân Mỹ vào miền Nam làm nổ ra sự tranh cãi gay gắt ở trong giới chức cao cấp Oa-sinh-tơn đến mức mà một số thành viên chính phủ Mỹ đã phải thẳng thừng nói rằng: ông Oét-mo-len không được sợ thua nếu yêu cầu xin thêm quân của ông ta không được Oa-sinh-tơn chấp thuận2, Oét mo-len viết: tôi trình bày nhu cầu tăng quân không phải bởi vì tôi sợ thua trận nếu không được tăng cường, nhưng bởi lẽ tôi không cảm thấy có thể hoàn toàn nắm thế chủ động bởi vì địch vừa mới tàng cường lực lượng của họ. Mặt khác, một sự thất bại có thể xảy ra nếu tôi không được tăng cường lực lượng và rất có thể chúng ta sẽ bị lấn chiếm ở các khu vực khác nếu tôi buộc phải thực sự tăng quân vào vùng 1 chiến thuật"3. Vào giữa tháng 3 năm 1968, đề nghị tăng thêm quân của Oét-mo-len và Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã bị bác bỏ. Điều đó có nghĩa là Mỹ không thể có quân số cần và đủ để tiếp tục theo đuổi chiến lược "tìm và diệt" như trước đây. Chính vì vậy mà từ sau Tết Mậu thân, quân chiến đấu Mỹ trên chiến trường miền Nam chuyển sang làm nhiệm vụ chiếm đóng, phòng thủ, thực hiện chiến lược quân sự "quét và giữ".

        Thế là sau bao năm tháng không "tìm diệt" được chủ lực Quân giải phóng miền Nam, quân Mỹ lại phải quay sang làm nhiệm vụ "linh giữ nhà" của quân đội Sài Gòn trước kia để tránh bị thương vong cao, để đẩy dần đội quân này ra trận trực tiếp đương đầu với chủ lực Quân giải phóng4!

------------------------
        1. Về điều này, ngay từ tháng 8 năm 1967, đồng chí Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng - Lê Duẩn đã viết: "Phải thấu hiểu con người Việt Nam, lịch sử dân tộc Việt Nam, có quyết tâm làm cách mạng đến cùng thì mới đánh giá được đúng sức mạnh to lớn đó" (Bài đăng trong Tạp chí Quân đội nhân dân, tháng 3 năm 1967).

        2. Trong bản phúc trình gửi Uy-lơ (Wheeler) - đại tướng, chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, ngày 12 tháng 2 năm 1968.

        3. Văn kiện của Bộ tư lệnh viện trợ quân sự, số 02018, 1218282 tháng 2 năm 1968. Dẫn theo H.Y. Schandler: Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ... Sđd, tr.181.

        4. Trong tổng số 300 tiểu đoàn chủ lực Mỹ, ngụy và chư hầu lúc bày giờ trên chiến trường miền Nam, có xấp xỉ 61% trong số đó, bao gồm 52 tiểu đoàn Mỹ, 107 tiểu đoàn ngụy, 23 tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên, Thái Lan... được triển khai xung quanh các thành phố lớn miền Nam. Tại Sài Gòn và Đà Nẵng, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ bố trí 3 lớp phòng thủ theo chiều sâu. Đó là sự kết hợp giữa bộ binh với hỏa lực của pháo binh và không quân, giữa lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động, giữa các lớp hàng rào với hỏa lực bắn chặn... Mục đích của Mỹ khi chuyển sang chiến lược "quét và giữ” là nhằm tránh cho quần Mỹ đỡ bị Quân giải phóng tiến công, là nhằm ngăn chặn và đẩy lùi mọi cuộc tiến công kiểu "Tết Mậu thân"... Tuy nhiên, hiệu lực thực tế của chiến lược quân sự này vẫn không hề mang lại kết quả như giới lãnh đạo Mỹ hy vọng.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2017, 09:09:21 PM

        Thế nhưng, việc chuyển sang chiến lược quân sự "quét và giữ" trên đây, trên thực tế, cũng không mang lại thay đổi là bao so với tính toán của Mỹ. Bởi vì, từ sau "Tết Mậu thân", các đô thị trên toàn miền Nam vẫn bị Quân giải phóng tiến công, số lính Mỹ 'bị thương vong ngày càng nhiều Người ta thấy được rằng, tổng số lính Mỹ bị diệt trong năm 1968 lên tới đinh cao chưa từng thấy trong lịch sử cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ...

        Như vậy với “Tết Mậu thân”, quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đã giành được những kết quả to lớn: tiêu hao, tiêu diệt thiếu sinh lực địch; phá hủy, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh; phá rã chính quyền cơ sở địch ở nhiều vùng nông thôn; phá vỡ hệ thống phòng thủ đô thị của Mỹ, ngụy trên quy mô toàn miền; làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng ở miền Nam Việt Nam. Nhưng quan trọng hơn là sự kiện "Tết Mậu thân" đã như một phép thử nhiệm màu làm phơi bày toàn bộ những mâu thuẫn mà Mỹ, ngụy đã không sao khắc phục được trong đường lối và cách thức điều hành chiến tranh; phơi bày toàn bộ sự thất bại về quân sự, chính trị của Mỹ trong suốt những năm chiến tranh cục bộ. Không phải đợi đến sau này mà ngay trong Tết Mậu thân, Cục tình báo trung ương Mỹ (C.I.A) cũng buộc phải thừa nhận rằng "những người Cộng sản đã đạt được các mục tiêu quân sự, chính trị và tâm lý lớn. Họ đã kiểm soát được những vùng nông thôn mới rộng lớn, đập tan hệ thống chính trị, kinh tế và quân sự của Việt Nam cộng hòa và ít ra là liên hệ được với khu vực đô thị một cách trực tiếp hơn và có tác dụng hơn1. Và: Cuộc tiến công của cách mạng đã thành công với một mức độ trọng yếu trong tất cả các mục tiêu ban đầu cửa mình, trừ cuộc khởi nghĩa ở đô thị"2. Thành công đó của "Tết Mậu thân" đã giáng một đòn quyết liệt vào ưu thế của quân đội Mỹ trên chiến trường Việt Nam, làm suy giảm vị trí và ảnh hưởng của chính quyền và quân đội Sài Gòn cả ở thành thị lẫn nông thôn, khiến cho giới lãnh đạo cao cấp Oa-sinh-tơn phải bàng hoàng, sửng sốt. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử 200 năm lập nước của mình, khả năng Mỹ có thể bại trận - mà lại là bại trận ở một nước nhỏ bé, yếu kém về kinh tế và về vũ khí trang bị, kỹ thuật chiến tranh - là chiến trường Việt Nam, đã hiện ra trước mắt nhân dân Mỹ.

        2. Những chấn động dữ dội giữa lòng nước Mỹ

        Thực ra, không phải đợi đến "Tết Mậu thân" mà như ở chương I đã trình bày, ngay từ khi Mỹ đem quân kéo vào miền Nam Việt Nam, đến năm 1968, Mỹ đã gặp nhiều lúng túng, giới lãnh đạo quân sự Mỹ đã bị đặt trước ngã ba đường, "tiến thoái lưỡng nan", không thể đánh theo bài bản định sẵn của Mỹ. Và điều này đã làm cho chính giới Mỹ nhiều lúc đã có ý xem xét lại đường lối quân sự và biện pháp chiến lược của Mỹ ở Việt Nam. Chính thế mà "Tết Mậu thân" đã như giọt nước cuối cùng làm tràn đầy cốc nước - làm bộc lộ sự phân hóa mạnh mẽ trong chính giới Mỹ. Người ta thấy từ những ngày đầu, khi cuộc tấn công "Tết Mậu thân" vừa xảy ra, nhiều nhà hoạt động chính trị Mỹ đã ý thức được ngay rằng: cuộc tấn công "Tết Mậu thân" chứng tỏ Mỹ hoàn toàn không kiểm soát được gì đất nước này"3, "Tết chứng tỏ nhân dân Việt Nam ủng hộ kẻ thù của Mỹ"4 (Lời của E.Mc. Các-ti, G.Rôn-nây, R.Ken-nơ-đi. Dẫn theo Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẾT. Sđd, tr.116), “Tết đã đập tan cái mặt nạ của những ảo tưởng chính thức từng che đậy không cho Mỹ nhìn thấy hoàn cảnh thực của Mỹ"5 (Lời của E.Mc. Các-ti, G.Rôn-nây, R.Ken-nơ-đi. Dẫn theo Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẾT. Sđd, tr.116) ở Việt Nam. Thế nên, khi "cái mặt nạ của những ảo tưởng" đó bị "Tết Mậu thân" đập tan, mâu thuẫn trong tập đoàn cầm quyền Mỹ vốn đã gay gắt, lại càng gay gắt thêm.

---------------------
        1, 2. Nhận định của CIA, ngày 10 tháng 2 nam 1968. Dẫn theo G.Côn-cô: Giải phẫu một cuộc chiên tranh. Sđd, T1, tr.288.

        3, 4, 5. Lời của E.Mc. Các-ti, G.Rôn-nây, R.Ken-nơ-đi. Dẫn theo Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẾT. Sđd, tr.116.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2017, 08:54:28 PM

        Cuộc đấu tranh nội bộ diễn ra trong chính quyền Mỹ, ngay từ đầu là việc xoay quanh các giải pháp cấp thời nhằm ứng phó với “Tết Mậu thân". Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ cho rằng: phải gửi thêm quân sang Việt Nam. Nhưng mâu thuẫn là ở chỗ: khi gửi bất kỳ một người lính nào, Mỹ cũng phải tìm cho được giải pháp tối ưu để không làm nóng thêm lực lượng dự bị chiến lược vốn đã đến giới hạn nguy hiểm. Giải pháp đó, giờ đây, chỉ có thể là gọi lực lượng trù bị vào quân đội. Đó là điều Tổng thống Mỹ Giôn-xơn trong suốt 3 năm leo thang chiến tranh đã tìm mọi cách né tránh để tranh thủ sự ủng hộ của Quốc hội và dư luận công chúng. Thế nhưng, Mắc-na-ma-ra vẫn cho sang miền Nam Việt Nam 10.500 quân và khuyên Tổng thống Giôn-xơn không gọi lực lượng trù bị nhập ngũ.

        Cho đến thời điểm đó, Mắc-na-ma-ra vẫn là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ mặc dù ba tháng trước, vào ngày 28 tháng 11 năm 1968, ông đã được Tổng thống Mỹ Giôn-xơn thông báo sẽ để ông thôi giữ chức, rời Lầu Năm Góc để sang Ngân hàng thế giới. Là người can dự trực tiếp vào chính sách của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, cho đến những tháng cuối của năm 1966, đầu năm 1967, Mắc-na-ma-ra bắt đầu tỏ ra "vỡ mộng" về một thắng lợi nhanh chóng của Mỹ tại đất nước này. Ông phản đối yêu cầu tăng quân và mở rộng phạm vi ném bom, phong tỏa cảng Hải Phòng của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ và Oét-mo-len. Trong bức thư đề ngày 1 tháng 11 năm 1967 gửi Giôn-xơn, ông đã trình bày nhận thức của mình về vấn đề này. Theo đó - như lời ông trong cuốn hồi ký Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, ông đã "đi đến kết luận và nói thẳng với tổng thống rằng, chúng ta không thể đạt được mục tiêu ở Việt Nam bằng biện pháp quân sự nào, và vì thế chúng ta phải tìm kiếm một mục tiêu chính trị nhỏ bé hơn thông qua đàm phán. Tổng thống Giôn-xơn không sẵn sàng chấp nhận điều đó”. Không làm cho Giôn-xơn thay đổi nhận thức về cuộc chiến mà Mỹ đang sa lầy ở Việt Nam, nhưng bức thư ngày 11 tháng 11 năm 1967 của Mắc-na-ma-ra lại đã như chính lời của ông, "làm căng thẳng mối quan hệ giữa hai người (Giôn-xơn và Mắc-na-ma-ra) vốn rất yêu mến và tôn trọng nhau, đi đến chỗ tan vỡ"1.

        Ngay sau khi tết Mậu thân" nổ ra, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ và Oét-mo-len hối thúc Giôn-xơn tăng quân sang miền Nam Việt Nam. Nhưng vấn đễ là ở chỗ: họ yêu cầu tổng thống phải gọi quân trù bị trước khi gửi bất cứ đơn vị nào sang miền Nam Việt Nam. Làm như vậy, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân muốn nước Mỹ cam kết dấn sâu hơn vào cuộc chiến này để giành chiến thắng.

        Giữ vững quan điểm của mình, Mắc-na-ma-ra một mặt vẫn gửi sang miền Nam Việt Nam 10.500 quân ứng phó cấp thời với "Tết Mậu thân” và mặt khác, khuyến nghị Giôn-xơn không động viên quân trù bị. Ông xem đó như một cử chỉ phản đối thái độ hiếu chiến của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân và Oét-mo-len2.

        Nhằm ứng phó với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ và tướng Oét-mo-len yêu cầu được tăng viện thêm 206.756 quân vào miền Nam - bao gồm 3 sư đoàn bộ binh, 15 phi đoàn máy bay chiến thuật cùng một số phi đoàn khác bổ sung cho lực lượng quân Mỹ hiện tại đang làm nhiệm vụ ở Việt Nam. Điều đó có nghĩa là Mỹ phải công khai đặt đất nước vào trạng thái có chiến tranh, đẩy quy mô chiến tranh lên mức độ mới mà hậu quả sẽ ra sao thì chính quyền Mỹ, cho đến tháng 2 năm 1968, vẫn chưa lường định được. Dễ hiểu vì sao giới chức cao cấp Mỹ đã phải sững sờ khi nhận được đề nghị xin tăng viện; Giôn-xơn phải cử người bạn thân cận là Clác Clíp-phớt - người vừa được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ thay Mắc-na-ma-ra, chủ trì một ủy ban bao gồm những nhà lãnh đạo cao cấp của Mỹ để nghiên cứu yêu cầu tăng viện của tướng Uy-lơ và Oét-mo-len vào thời điểm ấy. Ông Các Clíp-phớt từng phục vụ tại Nhà Trắng, dưới thời Tổng thống Mỹ Tru-man, từ tháng 5 năm 1945 đến tháng 2 năm 1950 với tư cách là cố vấn đặc biệt. Là người có mối quan hệ rộng rãi với giới kinh doanh lớn ở Mỹ, người rất nhạy bén về chính trị nên ông được cả Tổng thống Mỹ J.Ken-nơ-đi và tiếp đó là Tổng thống L.Giôn-xơn đặc biệt tín nhiệm. Trước "Tết Mậu thân 1968", ông là một trong số rát nhiều người ủng hộ mạnh mẽ chính sách leo thang chiến tranh của Giôn-xơn.

----------------------
        1. R.S. Mắc-na-ma-ra: Nhìn lại quá khử - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1995, tr.306.

        2. Trong hồi ký, Mắc-na-ma-ra ghi nhận: "Ngày 27 tháng 2 năm 1968, hoạt động chính thức cuối cùng của tôi, trong vấn đề Việt Nam là phản đối việc Westy (tức Oét-mo-len) nhắc lại đề nghị đưa thêm 200.000 quân trên cơ sở kinh tế, chính trị và đạo đức" (Sđd, tr.309).


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2017, 09:02:51 PM

        Cuối tháng 11 năm 1967, bình luận với Giôn-xơn về đề nghị ngừng ném bom miền Bắc để mở đường cho khả năng tiếp xúc với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Mắc-na-ma-ra, Các Clíp-phớt đã mạnh mẽ khẳng định: "Việc ngừng ném bom không điều kiện mà không có cố gắng nào để đòi hỏi một sự đáp ứng tương xứng, liệu có làm cho Hà Nội tin rằng chúng ta kiên quyết và không nhân nhượng trong niềm tin buộc họ phải từ bỏ ý đồ xâm lược không? Cáu trả lời lớn tiếng và đanh thép sẽ là "Không"1!. Quan điểm này của Các Clíp-phớt cũng là quan điểm của nhóm cố vấn cấp cao "Những nhà thông thái" trong cuộc họp với Tổng thống Mỹ Giôn-xơn cuối tháng 11 năm 1967. Tại cuộc họp này, chỉ trừ ông Gioóc-giơ Bon (George Ball), còn tất cả các thành viên của nhóm đã "nói với Tổng thống là ông đang đi đúng đường và tổng thống rất hài lòng... Mỹ đang thắng cuộc và không nên thay đổi. Dường như Mỹ sẽ chiếm ưu thế, do đó nên duy trì áp lực," bằng cách tiếp tục leo thang đánh phá miễn Bắc và giữ vững cam kết của Mỹ ở miền Nam2.

        Ngay từ phiên họp đầu, thay vì việc bàn bạc vấn đề tăng quân, giới chức Mỹ đã quay sang kiểm điểm toàn bộ chính sách chiến tranh và chiến lược quân sự của Mỹ ở Việt Nam. Sở dĩ có sự thay đổi trong cách thức tiếp cận đối tượng như thế là bởi giờ đây, việc tăng quân không còn đơn thuần chỉ gói gọn và xoay quanh vấn đề là lấy lực lượng nào để gửi sang Việt Nam mà không cần phải động viên đến các lực lượng dự bị của Hoa Kỳ... như những lần trước đây. Quả thật, giờ đây, dưới tác động dữ dội và rộng lớn của "Tết Mậu thân" - như chính ông Clíp-phớt sau này nhắc lại, "toàn bộ đối tượng của công tác nghiên cứu, tìm hiểu đã bắt đầu thay đổi"3. Theo ông, "khi chúng tôi bắt đầu nói đến ảnh hưởng của việc gửi 206.000 quân, đến việc gọi nhập ngũ lực lượng dự bị cần thiết, đến tính cách bấp bênh của đồng đô la, chúng tôi thấy là đang đứng trước hậu quả của việc ấy đối với đất nước sẽ thực sự vô cùng to lớn. Chỉ riêng các vấn đề tài chính đã là khủng khiếp rồi"4.

        Kiểm điểm chính sách Việt Nam và chiến lược quân sự mà nước Mỹ đang triển khai thực hiện trên chiến trường này, lẽ đương nhiên, những người trong Ủy ban Clíp-phớt buộc phải quay về với những mục tiêu ban đầu của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Trên vấn đề này, phụ tá Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, ông A-len E-thô-ven (Alain Enthoven) đã phác họa ra một bức tranh ảm đạm. Theo đó, lúc đầu, vào năm 1965, khi tung những đơn vị quân Mỹ vào miền Nam vào leo thang đánh phá miền Bắc, mục tiêu thứ nhất đã được công bố của Mỹ là gây khó khăn và tốn kém càng nhiều càng tốt cho Bắc Việt Nam nếu họ muốn tiếp tục yểm trợ có hiệu quả cho Việt cộng, và buộc Bắc Việt Nam phải chấm dứt việc chỉ đạo cuộc nổi dậy của Việt cộng. Thế nhưng, theo E-thô-ven, "trong khi buộc Bắc Việt Nam phải trả giá đắt thì người ta vẫn thấy là họ không thiếu khả năng để đối chọi với mỗi lần leo thang mới của Hoa Kỳ. Chiến lược "tiêu hao" của Mỹ đã không hiệu nghiệm. Gửi thêm 206.000 quân Mỹ vào lực lượng 525.000, 17 tiểu đoàn và 70 máy bay chiến đấu rõ ràng là tiêu phí thêm cho Hoa Kỳ 10 tỷ đô la mỗi năm, sự kiện đó sẽ nêu lên câu hỏi là ai sẽ gây tốn kém cho ai"5. Còn mục tiêu thứ hai là mở rộng quyền điều khiển và kiểm soát toàn cõi Nam Việt Nam của chính quyền Sài Gòn thì, "cuộc tấn công vào dịp Tết không những đã chứng minh là Hoa Kỳ không bảo vệ được một cánh hữu hiệu, mà còn chứng nhận rằng, chính phủ và quân lực Việt Nam cộng hòa không thực hiện được những tiến bộ thực sự trong công tác bình định bước đầu thiết yếu trên con đường mở rộng uy quyền, sự điều khiển và kiểm soát của chính phủ Nam Việt Nam"7.

----------------------
        1. Dẫn theo H.Y. Sehandler: Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ: L.Johnson và Việt Nam. Nxb T.p Hồ Chí Minh, 1999, tr.232.

        2. Sách trên, tr.233.

        3. Phỏng vấn trực tiếp ông Chác Clíp-phớt ngày 10 tháng 11 năm 1972 của tác giả Schandler, trong Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ Sđd, tr.249.

        4. Phỏng vấn trực tiếp ông Chác Clíp-phớt ngày 10 tháng 11 năm 1972 của tác giả Schandler, trong Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ Sđd, tr.249.

        5. Văn phòng trợ lý Bộ trưởng quốc phòng các vấn đề an ninh, bản thảo bị vong lục: Sự lựa chọn về chiến lược, ngày 29 tháng 2 năm 1968. Dẫn từ H.Y. Schandler, Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ... Sđd, tr.253, 254.

        6. Văn phòng trợ lý Bộ trưởng quốc phòng các vấn đề an ninh, bản thảo bị vong lục: Sự lựa chọn về chiến lược, ngày 29 tháng 2 năm 1968. Dẫn từ H.Y. Schandler, Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ... Sđd, tr.253, 254.

        7. Văn phòng trợ lý Bộ trưởng quốc phòng các vấn đề an ninh, bản thảo bị vong lục: Sự lựa chọn về chiến lược, ngày 29 tháng 2 năm 1968. Dẫn từ H.Y. Schandler, Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ... Sđd, tr.253, 254.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2017, 09:16:28 PM

        Trong khi đó, mục tiêu thứ ba là "đánh bại Việt cộng và lực lượng Bắc Việt ở Nam Việt Nam và bắt buộc họ phải rút lui", thì xem ra, cũng không hề có kết quả. "Cuộc tấn công vào dịp Tết chứng tỏ rằng Hoa Kỳ còn ở xa đích hơn là chúng ta (tức Hoa Kỳ) tưởng. Còn xa bao nhiêu thì đó là điều cần phải xem xét"1. Nhưng quả thật - cũng theo lời A-len E-thô-ven, "mặc dù ồ ạt đưa vào 500.000 quân Hoa Kỳ; 1,2 triệu tấn bom mỗi năm, 400.000 phi xuất hàng năm... và Hoa Kỳ tử thương 20.000, v.v... nhưng sự kiểm soát của chúng ta ở nông thôn và việc phòng thủ ở các khu vực thành thị trong lúc này lại chủ yếu ở mức trước tháng 8 năm 1965. Càng dính líu sâu, Hoa Kỳ chỉ đã đi đến chỗ bế tắc mà thôi"2.

        Trước thực trạng mà nước Mỹ đang lâm vào ở Việt Nam, Clác Clíp-phớt nhận thấy, "kế hoạch của Hoa Kỳ hình như là cứ gây tiêu hao hên tục và điều đó sẽ có cơ hội buộc đối phương vào một thời điểm nào đó không rõ trong tương lai, phải đi tới chỗ thỏa thuận"3. Thế nhưng, như là lời thừa nhận của chính ông: "Khi tôi cố tìm hiểu sẽ phải cần bao nhiêu thời gian để đạt được mục tiêu của chúng ta thì không một ai giải đáp được. Khi tôi hỏi cần thêm bao nhiêu quân nữa, liệu 206.000 quân có thể hoàn thành nhiệm vụ không, thì không một ai có thể đoán chắc cả"4.

        Thế cho nên, sau này, nhớ lại những phiên họp khẩn trương, đầy căng thẳng cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1968 dạo ấy, Chác Clíp-phớt cho biết: ông "không thể nhận thấy bao giờ chiến tranh kết thúc; không biết nó kết thúc bằng cách nào; không biết liệu những yêu cầu tăng quân và trang bị như vậy bao lâu nữa; không biết liệu đến bao giờ quân đội Nam Việt Nam có thể thay thế được quân Mỹ"5. Vậy nên, sau những ngày căng thẳng cuối tháng 2 , đầu tháng 3 năm 1968, ông tin chắc rằng: đường lối quân sự mà Mỹ theo đuổi ở Việt Nam suốt tháng năm chiến tranh cục bộ "không chỉ không có tận cùng mà còn vô vọng"6.

        Tuy nhiên, trong bản báo cáo chính thức gửi lên Tổng thống Giôn-xơn của Ủy ban Clíp-phớt ngày đó, nhiều vấn đề liên quan tới đường lối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam vẫn còn bỏ ngỏ: "Có thể họ quá chán nản, không muốn đưa dòng suy nghĩ của họ đến kết luận lôgíc cuối cùng"7. Nhưng dù vậy, kết thúc bản báo cáo, các thành viên thân gia ủy ban cho rằng: "Chính sách của Mỹ ở Việt Nam phải được xem xét dưới ánh sáng của chiến lược chính trị - quân sự toàn cầu của Mỹ"8. Bình luận về lời khuyến cáo này, Đôn O bớc-đoi-phơ viết: điều đó chứng tỏ các thành viên của Ủy ban đã để lộ ra rằng, Mỹ "không còn có thể kiểm soát được cuộc chiến tranh"9 mà Mỹ đang theo đuổi ở Việt Nam. Còn giới lãnh đạo Mỹ ngày đó phải thừa nhận rằng: "Tết Mậu thân" đã đặt họ "trước một bước rẽ trên đường đi", "các giải pháp để lựa chọn đã bày ra trong một thực tế tàn nhẫn"10. Nhưng đó không chỉ là sự khủng hoảng về chiến lược của Mỹ ở Việt Nam mà còn là sự thật đau đớn hơn nữa: sự chia rẽ gay gắt trong giới lãnh đạo Mỹ, sự phẫn nộ đang tăng lên trong công chúng Mỹ đối với chính phủ dưới tác động của "Tết Mậu thân". Ấy là khi, trong lúc chính quyền Mỹ đang lúng túng ứng phó với "Tết Mậu thân", đang ngập ngừng trước sự chọn lựa leo thang hoặc xuống thang chiến tranh... thì ở ngay trong các thành phố và các trường đại học Mỹ, phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền bùng lên mạnh mẽ. Vô tuyến truyền hình và báo chí Mỹ đã tới tấp đưa tin và bình luận về sự kiện này. Đôn O-bớc-đoi-phơ viết: hình ảnh trên truyền hình có chiều hướng nhất trí với ý kiến áp đảo của các phóng viên và tổng biên tập ở nước Mỹ: cuộc chiến tranh là bế tắc và sai lầm"11 đối với Mỹ.

--------------------
        1, 2, 3, 4. Dẫn từ H.Y. Schandler: Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ Sđd, tr.255, 281.

        5, 6. Ký ức của Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Clác Clíp-phớt vẽ cuộc họp với giới quân sự cấp cao sau cuộc tiến công Tết Mậu thân, tạp chí Lịch sử quân sự dịch đăng, tháng 1 năm 1993.

        7, 8, 9. Đôn O-bớc-đoi-phơ: Tết. Sđd, tr.157, 158.

        10. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.247.

        11. Đôn O-bớc-đoi-phơ: Tết. Sđd, tr.106.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2017, 09:21:17 PM

        Tờ Nhật báo phố Uốn, số ra ngày 23 tháng 2 năm 1968, đăng bài bình luận với tựa đề “Lôgíc của chiến trường" trong đó nhận định: "Chúng tôi cho rằng người Mỹ phải sẵn sàng chấp nhận - nếu quả đến nay họ chưa sẵn sàng, rằng cố gắng chiến tranh Việt Nam của Mỹ có thể thất bại hoàn toàn. Bắc Việt Nam có thể có đầy đủ nhân lực và trang bị vũ khí do đồng minh của họ cung cấp để tiến hành chiến tranh không ngừng, trong lúc quân chính phủ Sài Gòn tỏ ra bất lực, kể cả ở ngay trong thành phố của họ. Hơn nữa, hình như cố gắng quân sự của Mỹ chỉ tàn phá đất nước này chứ không bảo vệ được nó. Con đường danh dự và khôn ngoan duy nhất là Mỹ phải xuống thang chiến tranh và rút ra khỏi Việt Nam một cách trật tự nhất, ít thương vong nhất. Nếu như Tổng thống Giôn-xơn còn cảm thấy danh dự cá nhân quá cao, cảm thấy sự thất bại còn quá nặng, Quốc hội Mỹ sẽ sử dụng quyền lực của mình để cách chức ông ta khi cần thiết và đưa đất nước trở về con đường hòa bình". Bài bình luận này mà chúng tôi trích dẫn ra đây, ngày đó đã được đưa vào bản điều trần của Quốc hội Mỹ dịp "Tết Mậu thân". Kỹ thuật truyền thông hiện đại cùng với những bài tốc ký, những hình ảnh mà giới phóng viên truyền hình và báo chí Mỹ ghi lại được trên chiến trường đô thị trong dịp Tết Mậu thân đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phơi bày thực tế chiến tranh, giúp cho nhân dân Mỹ thấy được những gì đã và đang xảy ra trên chiến trường.

        Đương nhiên, báo chí, vô tuyến truyền hình chỉ là phương tiện truyền thông phản ánh các sự kiện chứ không phải là những phương tiện đủ khả năng tạo nên được các sự kiện. Và chính vì thế mà nó đã trở thành những "ý kiến áp đảo" lợi hại của giới phóng viên báo chí và vô tuyến truyền hình Mỹ dội thẳng vào Nhà Trắng và Lầu Năm Góc để phơi bày trước công chúng Mỹ về sai lầm của Mỹ trong dịp Tết Mậu thân, phản ánh thực tế thất bại về cả quân sự lẫn chính trị của Mỹ, ngụy trên chiến trường, ghi nhận mức độ tiến công đồng loạt và sức chống trả quyết liệt của các chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam. Bằng những thước phim quay trực tiếp cảnh tàn phá do bom đạn Mỹ gây ra ở các đô thị và đặc biệt là cảnh tượng rùng rợn mà ở đó người ta thấy viên tướng trùm cảnh sát ngụy Nguyễn Ngọc Loan đã chĩa súng bắn vào đầu tù binh tay không? Sự khách quan đến lạnh lùng này của các cơ quan thông tin đại chúng Mỹ, nhất là cảnh ghê rợn máu me quay cận cảnh được chiếu trên màn hình ti-vi màu chẳng những đã phá vỡ bức tường bưng bít tin tức chiến trường Việt Nanh của chính quyền Giôn-xơn đã dựng lên trước đây khiến cho các tầng lớp xã hội Mỹ thấy được sự trái ngược giữa thực tế xảy ra trên chiến trường Việt Nam xa xôi với những "thắng lợi” mà chiến dịch tuyên truyền của chính quyền Mỹ đưa lại, mà hơn thế, hiệu quả của các hoạt động thông tin đại chúng này đã đưa cuộc chiến tranh Việt Nam vào từng căn phòng của mọi gia đình Mỹ1 (Cần phải nói thêm rằng, vào lúc xảy ra sự kiện Trân Châu Cảng, cả nước Mỹ có có 10.000 chiếc máy truyền hình. Trong thời kỳ chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), con số đó lên tới 10 triệu chiếc. Đến Tết Mậu thân 1968, cả nước Mỹ có tới 100 triệu chiếc, nghĩa là cứ 17 gia đình Mỹ thì có 16 gia đình có máy và số lượng khán giả chiếm 96% dân số). Qua đây, nhân dân Mỹ nhận ra rằng: chính phủ và cá nhân Tổng thống Giôn-xơn đã và đang cố tình lừa dối họ. Vì lẽ đó  giờ đây sự thay đổi thái độ đối với chiến tranh Việt Nam của đông đảo các tầng lớp xã hội Mỹ đã bước vào giai đoạn quyết định và quá trình đó là không thể đảo ngược. Hồi ký của Giôn-xơn viết: trên báo chí và vô tuyến truyền hình nước Mỹ "có rất nhiều tin tức mô tả rất lâm ly... về trận tiến công hồi Tết. Hình như giới báo chí thi nhau xem ai đưa được những tin tức giật gân nhất và hấp dẫn nhất. Các nhà viết chuyên mục không có cảm tình với sự dính líu của Mỹ ở Đông Nam Á nhảy ngay lên diễn đàn. Một số người chỉ trích ở trong Thượng nghị viện và biết bao nhiêu người phản đối các cố gắng chiến tranh của Mỹ lên tiếng phụ họa thêm vào màn đồng ca thất bại chủ nghĩa. Nhân dân Mỹ và ngay cả một số quan chức trong chính phủ, trước cảnh tượng đen tối và gần như hỗn loạn này, đã bắt đầu nghĩ rằng: chắc hẳn là Mỹ đã bị thất bại”1. Vì vậy, theo Đôn O-bớc-đoi-phơ, thoạt đầu "khó mà nói công chúng Mỹ phẫn nộ với những người Cộng sản ở châu Á hơn hay với chính phủ Mỹ hơn"2. Thông thường, khi xảy ra khủng hoảng ở mọi nơi trên thế giới mà nó liên quan tới lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ thì, phản ứng đầu tiên của Quốc hội và nhân dân Mỹ là đoàn kết và ủng hộ nỗ lực của chính phủ và tổng thống nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra. Chiến tranh thế giới lần thứ 2, chiến tranh Triều Tiên trước kia và sự kiện Vịnh Bắc Bộ (tháng 8 năm 1964) đã chứng minh rõ điều đó. Người ta còn nhớ: khi xảy ra "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ", Quốc hội, giới báo chí, nhân dân Mỹ nhìn chung đã ủng hộ phản ứng của chính phủ Mỹ trước sự kiện này. Và ngay sau đó, "Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ" một "bản tuyên chiến đề trước ngày" của Mỹ đã được Quốc hội thông qua, mở đường cho chính quyền Giôn-xơn lao vào cuộc chiến tranh chống phá miền Bắc Việt Nam trên quy mô rộng lớn. Ngày đó, nước Mỹ đã "đứng vững và đoàn kết trong sự ủng hộ tổng thống một cách không nghiêng ngả trước tình huống trọng yếu này của lịch sử nhân loại"3.

----------------
        1. Hồi ký Giôn-xơn. Tlđd, tr.294.

        2. Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẾT. Sđd, tr.104.

        3. Phát biểu của thượng nghị sĩ Mỹ P. In-quay-rơ, tháng 8 nam 1964. Dẫn theo A. Am-tơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd, tr.99.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Ba, 2017, 11:48:12 AM

        Thế nhưng, gần 4 năm sau, ngay từ những tuần đầu của cuộc tiến công "Tết", sự ủng hộ và khối đoàn kết trước đây đã từng là hậu thuẫn vững chắc cho đường lối chiến tranh ở Việt Nam của chính quyền Giôn-xơn không còn nữa. Ngược lại, một cuộc tập hợp lực lượng phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền trên quy mô toàn quốc ở Mỹ đã bắt đầu. "Cuộc tổng tiến công Tết như một tia chớp soi sáng để những ai còn hồ nghi và những người đang bất mãn nhận thấy nhau”, giúp họ "có dũng khí để bây giờ công khai đấu tranh cho một chiến lược mới của Mỹ nhằm kết thúc cuộc chiến tranh không cần thắng lợi, không cần vinh quang”1. Ngay cả những người trước Tết Mậu thân còn ủng hộ đường lối của Giôn-xơn cũng quay ra bàn về chiến tranh, bàn về chiến lược quân sự của Mỹ với một tâm trạng buồn lo, thất vọng. Nhiều người trong số đó đã thay đổi lập trường, kiên quyết đòi chấm dứt chiến tranh, rút quân Mỹ về nước. Đó là một thay đổi bi thảm góp phần làm cho cuộc chiến tranh Việt Nam trở thành một vấn đề chính trị nóng bỏng ở Mỹ mà nguyên nhân trực tiếp là cuộc Tổng tiến công "Tết Mậu thân".

        Trong cuộc họp báo tổ chức ở Oa-sinh-tơn ngày 3 tháng 2 năm 1968 ngay sau khi "Tết Mậu thân” nổ ra, tổng thống Mỹ gọi những người phản đối chiến tranh ở Mỹ là những người thất bại chủ nghĩa, bị Cộng sản lừa dối và số đó chỉ là đại diện ít ỏi mà thôi. Tại cuộc họp báo này, ông đã đọc to các trích đoạn trong các bức điện từ Sài Gòn gửi về2 và bình luận: Cuộc tiến công của Cộng sản đã hoàn toàn thất bại; về mặt quân sự, “dù so với bất kỳ tiêu chuẩn nào thì đó cũng là một thất bại nặng nề đối với miền Bắc Việt Nam và Việt cộng"3. Tuy nhiên, ngay sau đó, một loạt sự kiện đã khiến tổng thống Mỹ không còn cách gì bưng bít mãi sự thật: ngày 14 tháng 2 năm 1968, ông đã đích thân bay đi Irắc để từ biệt những người lính được gửi sang Việt Nam nhằm ứng phó với "Tết Mậu thân”. Trong số những binh lính này, nhiều người vừa từ chiến trường Việt Nam trở về với vẻ mặt buồn rầu. Họ không còn là những thanh niên ra đi để tìm thú vui phiêu lưu mà đã là những cựu binh lão luyện buộc phải trở lại cuộc chiến tranh mà họ biết rõ sẽ có một số không bao giờ còn được trở về.

        Sau này, khi bình luận về đoạn phim tài liệu, trong đó có cảnh tổng thống Mỹ bắt tay binh lính sư đoàn dù 82 tại cầu thang máy bay vào một ngày tháng 2 hun hút gió - khi mà tổng thống đang đứng trước binh lính, lớn tiếng kêu gọi lòng hy sinh của họ nhưng đáp lại lời "hiệu triệu” của ông, những người lính chán chường chỉ biểu thị những nét mặt vô cảm hoặc những cái bắt tay hững hờ, một nhà bình luận Mỹ đã viết: "Có thể là những quyết định quan trọng làm đảo ngược chính sách của Hoa Kỳ trong một tháng rưỡi sắp tới đã bắt nguồn từ cái bắt tay lúng túng này"4.

        Chỉ sau đó mấy ngày, một cú sét đánh đã giáng xuống đầu tổng thống Mỹ. Đó là ngày 10 tháng 3, khi tờ Thời báo Niu-oóc tiết lộ tin tướng Oét-mo-len xin thêm 206.000 quân gửi sang tham chiến ở Việt Nam nhằm ứng phó với “Tết Mậu thân"5. Ngay khi tin tối mật này bị tiết lộ, nó đã trở thành sự kiện lớn ở Mỹ, trở thành "tiêu điểm" cho cuộc tranh luận chính trị và làm tăng thêm "tinh thần bất mãn của công chúng Mỹ"6.

---------------------
        1. Tau-xen Húp-pơ-xơ: Những giới hạn của sự can thiệp.

        2. Giôn-xơn không hề biết rằng, trong khi ông đọc to các bức điện đó, tất cả các phóng viên báo chí, vô tuyến truyền hình trong phòng họp đã xì xào ghé tai nhau để "truyền thông" một nghi ngờ của họ là: Có hai loại điện từ Việt Nam gửi về cho Tổng thống: một loại điện báo cho tổng thống biết sự thật cay đắng của Mỹ trên chiến trường; và một loại để Tổng thống trấn an dư luận!.

        3. Hồi ký Giôn-xơn. Tlđd.

        4, 6. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.246, 247, 254.

        5. Ngày 23 tháng 2 năm 1968, tướng Uy-lơ - Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ được lệnh sang thị sát tình lệnh tại chỗ ở miền Nam Việt Nam. Tại đây, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) báo cáo rằng: Cộng sản bị chết 40.000, ít nhất là 3.000 người bị bắt và khoảng 5.000 người bị thương hoặc bị chết vì thương tích bởi cuộc tiến công Tết - tiến hành 3 tuần trước đây. Báo cáo này của M.A.C.V làm nảy sinh vấn đề: lực lượng Quân giải phóng mà M.A.C.V phán đoán sử dụng vào cuộc tiến công Tết Mậu thân là 67.000, nếu con số thương vong trên đây là chính xác thì điều ấy có nghĩa là: Quân giải phóng đã bị mất 2/3 quân số, như vậy chẳng có lý do gì để xin thêm 206.000 quân Mỹ nữa.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Ba, 2017, 11:58:54 AM

        Sự bất mãn đó được thể hiện ngay 2 ngày sau, khi mà kết quả cuộc bầu cử thử của đảng Dân chủ ở Niu Hăm-sai được gửi về Oa-sinh-tơn cho thấy: Mác Các-ti - người chống đối chính sách chiến tranh của Giôn-xơn, đã giành hơn số phiếu so với đương kim tổng thống Mỹ. Sự kiện này chứng tỏ rằng: "Lin-đơn B. Giôn-xơn, nhà chính trị bậc thầy đã bị thách thức không phải bởi một người tranh phiếu hấp dẫn và được nhiều người hưởng ứng, mà bởi một ứng cử viên đã có khả năng động viên và thâu tóm được mọi sự bất bình và chán ngán đối với chiến tranh"1. "Dậu đổ, bìm leo", được khuyến khích bởi những biểu hiện ở Niu Hăm-sai, ngày 16 tháng 3, thượng nghị sĩ đảng Dân chủ R.Ken-nơ-đi - địch thủ chính trị của Giôn-xơn đã tuyên bố ra tranh cử và tiến công gay gắt vào đường lối hiếu chiến của Giôn-xơn. Cùng thời gian này, điều tra của Viện Ga-lớp cho thấy số người ủng hộ đường lối chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam xuống tới mức kỷ lục: 26%. Số người ủng hộ Giôn-xơn chỉ còn 36%. Cần nói thêm rằng, quy luật mà viện này cho thấy: một khi số người ủng hộ tổng thống thấp dưới mức 50% thì khi đó ông ta thực sự đã bị nguy khốn về chính trị.

        Tại sao lại có sự bất bình rộng lớn này của công chúng Mỹ? Trả lời câu hỏi này, "một trong số những nhân vật chính trị ủng hộ Giôn-xơn đã để công nghiên cứu vấn đề và kết luận: Nguyên nhân trực tiếp là cuộc tiến công vào dịp Tết"2 của quân và dân miền Nam Việt Nam!

        Trong những ngày căng thẳng đó, có lúc, tổng thống Mỹ đã lặng lẽ trở về Tếch-giát, quê hương ông, nơi có những dãy đồi nhấp nhô, mong tìm lại điều mà Giô-dép A.Am-tơ trong Lời phán quyết về Việt Nam gọi là "sự bình tĩnh của tâm hồn". Bởi lẽ, như sau này ông nhớ lại, lúc đó, ông cảm thấy "đang bị dồn đuổi tứ phía bởi một cuộc nổi dậy khổng lồ đến từ các hướng”3. Trong chốn riêng tư, ông tâm sự với bạn bè thân cận: "Cái khác nhau giữa việc J.Ken-nơ-đi bị ám sát và ông chỉ là ở chỗ: ông thì vấn còn sống (!) và điều đó lại càng bị dằn vặt nhiều hơn"4. Tháng 2 và tháng 3 năm 1968 thực sự là quãng thời gian u ám nhất trong đời hoạt động chính trị của ông và tất cả đều bắt nguồn từ hậu quả của "Tết Mậu thân".

        Nếu sự chia rẽ trong nội bộ chính quyền, trong đảng Dân chủ của Giôn-xơn và phong trào phản đối chiến tranh tăng nhanh của Mỹ là những yếu tố quan trọng khiến cho Giôn-xơn lâm vào tình trạng trên đây thì sự thay đổi quan điểm về đường lối chiến tranh ở Việt Nam của Quốc hội và của nhóm cố vấn cấp cao về Việt Nam (mà người ta vẫn gọi là "Những nhà thông thái" là một đòn cân não quyết định số phận chính trị của vị tổng thống này. Ngày 11 tháng 3, Ngoại trưởng Mỹ đin Rát-xcơ phải ra điều trần trước Uỷ ban đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ về chính sách của Mỹ ở Việt Nam5 (Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn cho biết: trong hai ngày 11 và 12 tháng 3 năm 1968, Ngoại trưởng Mỹ Đin Rát-xcơ phải liên tục trả lời các câu hỏi "đầy giọng khiêu khích" của các thượng nghị sĩ suốt 12 giờ đồng hồ. “Đây là một cuộc cật vấn kéo dài nhất đối với một quan chức nội các, lại được truyền hình trực tiếp cho dân chúng Mỹ biết"6. Ở một đoạn khác, Hồi ký Giôn-xơn ghi: "Chính sách của chúng ta bị chất vấn gay gắt và bị chỉ trích nặng nề ở Quốc hội"7. Tại Hạ nghị viện Mỹ, ngày 18 tháng 3 năm 1968, 139 nghị sĩ (trong đó có 89 nghị sĩ thuộc đảng Cộng hòa và 41 nghị sĩ đảng Dân chủ của (Giôn-xơn) đã ra nghị quyết yêu cầu Quốc hội Mỹ duyệt xét lại toàn bộ chính sách và chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó, Quốc hội Mỹ đã phản đối mạnh mẽ ý định tăng quân cho tướng W. Oét-mo-len; các nghị sĩ "ngày càng chán ghét chiến lược chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam"8. Ở Quốc hội đã vậy, còn thái độ của các "nhà thông thái” - đại diện cho các trùm tư bản Mỹ thì sao?

        Sau hơn nửa tháng tìm hiểu tình hình chiến tranh Việt Nam, bằng cách trực tiếp gặp các quan chức cấp cao Bộ ngoại giao, Bộ quốc phòng, Cục tình báo trung ương Mỹ (C.I.A), Đin A-che-sơn (Dean Acheson) - nguyên Ngoại trưởng Mỹ thời Tru-man, người có ảnh hưởng lớn đối với Giôn-xơn và được Giôn-xơn ủy quyền tìm hiểm thực tế tình hình chiến tranh ở Việt Nam, đã cho biết: "Càng đi sâu vào chính sách của Mỹ ở Việt Nam, ông càng thấy "tình hình là vô vọng”9 (Dẫn theo: Đôn O-bớc-đoi-phơ: Tết, Sđd, tr.63, 163). Vì thế, mặc dù trước Tết Mậu thân ông ta từng ủng hộ một cách kiên quyết và mạnh mẽ chính sách chiến tranh của Giôn-xơn thì đến ngày 15 tháng 3 năm 1968, ông ta buộc phải nói với Giôn-xơn rằng: “Tổng thống đang bị Hội đồng tham mưu trưởng liên quân lừa dối. Những gì mà Oét-mo-len đang cố gắng ở Việt Nam đều không thể thực hiện được, nếu không sử dụng vào đó các nguồn kinh tế và quân sự hoàn toàn không hạn chế"10. Nhưng ác thay, cho đến lúc ấy, "Không có mối liên quan giữa một bên là các mục tiêu quân sự và bên kia là thời gian và tài nguyên mà Mỹ có để thực hiện các mục tiêu đó. Cuộc tiến công Tết cho thấy số 50 vạn quân Mỹ là vô cùng thiếu, không thể nào đánh đuổi và khuất phục nổi Việt cộng"11 (Dẫn theo: Đôn O-bớc-đoi-phơ: Tết, Sđd, tr.63, 163).

--------------------
        1. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.255.

        2. Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẾT. Sđd, tr.166.

        3. Dẫn theo G.Côn-cô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Sđd, T1, tr.295.

        4. Dẫn theo Đôn O-bớc-đoi-phơ: Tết. Sđd, tr.159.

        5, 6, 7. Hồi ký Giôn-xơn. Tlđd, tr.338.

        8, 9, 11. Dẫn theo: Đôn O-bớc-đoi-phơ: Tết, Sđd, tr.63, 163.

        10. Dẫn theo Pi-tơ A. Pu-lơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-zơ-ven đến Ních-xơn. Sđd, tr.255.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Ba, 2017, 12:04:45 PM

        Như thế phỏng việc xin thêm 206.000 quân liệu đã phải là "đủ” để giành lại quyền chủ động ở chiến trường - mặc dù nếu được như vậy thì lực lượng dự trữ chiến lược Mỹ sẽ càng trở nên quá mỏng manh? Và vì vậy, theo Đin A-che-sơn, Mỹ không còn hy vọng gì khác ngoài việc "cần phải đánh giá lại và thay đổi hoạt động của các lực lượng mặt đất, cần phải ngừng hay giảm nhiều các các ném bom và châm dứt chiến tranh sao cho Mỹ bị ít thiệt hại nhất"1. Cuối cùng, ông cũng vô vọng mà kết luận với vị tổng thống rằng: "Đất nước không còn ủng hộ cuộc chiến tranh nữa"2. Người ta hiểu "đất nước" ở đây chẳng qua là các trùm tư bản Mỹ, những "ông bầu” của cuộc chiến tranh này.

        Cùng ngày, đại sứ Mỹ tại Liên hiệp quốc đã gửi tới Giôn-xơn bức giác thư thúc giục Giôn-xơn chấm dứt hoàn toàn việc ném bom miền Bắc Việt Nam để mở đường cho việc thương lượng. Đây cũng là quan điểm của nhiều quan chức cao cấp trong chính phủ Mỹ giữa những ngày xảy ra sự kiện "Tết Mậu thân".

        Ngay sau cuộc gặp giữa Giôn-xơn với Đin A-che-sơn, ngày 19 tháng 3 năm 1968, Clác Clíp-phớt - người vừa thay Mắc-na-ma-ra làm Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, đã yêu cầu Giôn-xơn triệu tập các phiên họp của nhóm cố vấn cấp cao "Những nhà thông thái" (Hết thảy thành viên thuộc nhóm này đã từng giữ các chức vụ cao trong chính phủ hoặc đã làm cố vấn cho các tổng thống Mỹ từ thời Tru-man, Ai-xen-hao, Ken-nơ-đi, Giôn-xơn) để giải quyết các vấn đề mà Uỷ ban Clíp-phớt còn bỏ ngỏ. Cần lưu ý rằng, trước Tết Mậu thân, trừ hai người là Gioóc-dơ Bon và Gôn-béc, còn tất các thành viên trong nhóm cố vấn cấp cao này - trong đó có Clác Chíp phớt - đều ủng hộ Giôn-xơn trong việc leo thang chiến tranh bằng không quân đánh phá miền Bắe Việt Nam. Bởi lẽ, họ có liên hệ chặt chẽ với giới tài chính, các tập đoàn luật và các tập đoàn kinh doanh đầy thế lực ở Mỹ. Quan điểm của họ chính là sự phản ánh trung thực thái độ của giới tài phiệt Mỹ.

        Đề nghị trên đây của Clác Clíp-phớt ngay khi ông lên làm Bộ trưởng quốc phòng, thực chất là ông muốn nhóm cố vấn cấp cao - mà đằng sau là giới tài phiệt Mỹ - nói thay cái điều mà "Uỷ ban Clíp-phớt” đã nêu ra trước đó nhưng chưa dám kết luận.

        Nhìn lại hoạt động của giới công nghiệp, tài chính Mỹ từ vài ba năm trước, người ta thấy được rằng: ngay trước 'Tết Mậu thân", họ đã cả tin rằng, sức mạnh quân sự Mỹ sẽ nhanh chóng giành thắng lợi ở Việt Nam. Tháng 11 năm 1965, Đin A-che-sơn từng tuyên bố "ủng hộ cam kết của Mỹ ở Việt Nam và quyết tâm đưa mọi tài nguyên quốc gia để thực hiện”3 bằng được cam kết đó.

        Thế nhưng, do phải đương đầu với những vấn đề khó khăn về kinh tế bởi chiến tranh Việt Nam gây ra, sự thâm hụt tài chính và lạm phát tăng lên nên giá trị đồng đô la Mỹ bị giảm đi nghiêm trọng. Nhiều ngân hàng châu Âu đã tung đô la để thu vàng về. Toàn bộ hệ thống tài chính thế giới lấy đồng đô la làm cơ sở ngày càng bị ảnh hưởng nghiêm trọng do việc "săn vàng" tăng nhanh. Vàng dự trữ của ngân khố Mỹ ngày một vơi, khiến có lúc Mỹ buộc phải đóng cửa thị trường vàng, làm xuất hiện nguy cơ bùng nổ các cuộc chiến tranh hối đoái giữa Mỹ với các nước tư bản phát triển và làm xuất hiện những khối mậu dịch riêng rẽ. Tháng 3 năm 1968, theo G. Côn-cô, "Nếu chính quyền Mỹ không đặt vị trí của việc bảo vệ đồng đô la lên tất cả các xem xét khác thì lúc đó, các ngân hàng châu Âu sẽ giữ quyền đòi một bước đi có thể làm dào lộn hoàn toàn địa vị của Mỹ trong nền kinh tế thế giới, với tất cả tác động đến vai trò lãnh đạo chính trị của Mỹ"4.

        Thế khó xử của Mỹ trong lĩnh vực kinh tế - tài chính bắt nguồn từ việc Mỹ bị sa lầy trong chiến tranh Việt Nam, kéo theo sự suy sụp nhanh chóng trong lĩnh vực quân sự toàn cầu. Khi bất đầu đưa quân chiến đấu trên bộ vào miền Nam, leo thang đánh phá miền Bắc, tiến hành chiến tranh cục bộ, quân đội Mỹ là đội quân đông gấp 4 lần quân đội Pháp, gấp 6 lần quân đội Tây Đức, I-ta-li-a và Anh. Tổng số quân Mỹ xấp xỉ 3,5 triệu, trong đó có gần 1.700.000 quân đóng ở hàng trăm căn cứ trên thế giới. Với một tiềm lực kinh tế mạnh và một lực lượng quân đội đông như vậy, chiến lược quân sự toàn cầu "Phản ứng linh hoạt" của Mỹ dự kiến đủ sức đối phó được với chiến tranh thế giới hoặc cùng một lức tiến hành hai cuộc chiến tranh cục bộ kiểu Việt Nam trên hai hướng và giành phần thắng. Thế nhưng, do phải dồn sức vào chiến tranh Việt Nam, lực lượng quân sự phi hạt nhân còn lại của Mỹ đã bị căng mỏng đến độ nguy hiểm ở hàng trăm căn cứ quân sự trên khắp thế giới, đến nỗi vào dịp Tết Mậu thân, 40% số sư đoàn chiến đấu của lục quân Mỹ, 50% số sư đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, 50% số máy bay chiến đấu, 30% số tàu chiến mỹ đang bị gìm chân trên chiến trường Việt Nam.

-------------------------
        1. Dẫn theo: Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẾT, Sđd, tr.168.

        2. Dẫn theo: Pi-tơ A.Pu-lơ: Nước Mỹ và Đông dương từ Ru-zơ-ven đến Ních-xơn. Sđd, tr.255.

        3. Dẫn theo: Đôn O-bớc-đoi-phơ: Tết, Sđd, tr.162.

        4. G. Côn-cô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Sđd, T1, tr.295.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Ba, 2017, 12:11:24 PM

        Cần mở ngoặc để nói ở đây rằng, trong chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ, châu Âu (chứ không phải châu Á và lại càng không phải là Việt Nam) là hướng trọng điểm mà Mỹ luôn luôn phải giành sự ưu tiên về tất cả các phương diện quân sự Mỹ. Thế nhưng, trên hướng trọng điểm này, vào những thời điểm căng thẳng, lực lượng quân đội Mỹ tập trung cao nhất cũng mới chỉ đạt tới con số 493.000 quân mà thôi. Còn tại Việt Nam, vào đầu năm 1968, số quân Mỹ trên bộ và số quân tập trung ngoài khơi đã lên tới 800.000 người, tức là gần gấp đôi số quân Mỹ triển khai ở châu Âu. Khi "Tết Mậu thân" nổ ra, Mỹ buộc phải soát xét lại toàn bộ chiến lược ở Việt Nam và trên phạm vi toàn cầu. Trong cuộc soát xét về mặt chiến lược này, người ta sửng sốt khi được biết rằng: nước Mỹ chỉ còn 5 sư đoàn dự bị chiến lược để ứng phó với mọi tình huống xảy ra trên khắp thế giới. Thậm chí, 5 sư đoàn này cũng chỉ có sư đoàn dù số 82 là còn đủ quân số và có thể chiến đấu được. Các sư đoàn khác do phải "vay" quân số để đổ vào chiến trường Việt Nam, thực tế có khi chỉ còn danh hiệu của sư đoàn hoặc bộ "khung" trước đây. Vả lại, ngay sau khi "Tết Mậu thân" nổ ra, sư đoàn dù 82 trên đây lại đã phải tung 1 trong số 3 lữ đoàn của mình sang Việt Nam nên "chỉ còn lại hai phần ba sư đoàn để bảo vệ nước Mỹ mà thôi!"1.

        Về quân số đã vậy, còn về chi phí quân sự dành cho chiến lược toàn cầu cũng đang trong tình trạng tương tự. Nhiều nhà vạch chiến lược Mỹ ngay ngày ấy nhận thấy, tại Việt Nam, Mỹ đã "tiêu trội" những chi phí dành cho nền quốc phòng Mỹ tới 110 tỷ đô la tính đến năm 1968 - phần lớn số tiền "tiêu trội" này đều "trái phép” và "làm hại tới an ninh các nước đồng minh"2 của Mỹ. Sau đó không lâu, tân Bộ trưởng quốc phòng Mỹ M.Le-đơ (M.Laird) thời Ních-xơn (1969-1973) khi tiếp quản "di sản" của các đồng nghiệp đi trướt để lại đã phát hiện ra rằng: Bộ quốc phòng Mỹ thời Giôn-xơn đã "đi vay lại những bộ phận rời, đạn dược, máy bay, tàu chiến" ở những nơi khác, "bòn rút ở các lực lượng khối NATO và bòn rút trang bị quân sự khắp thế giới để yểm trợ cho chiến tranh Việt Nam lúc đó"3 khiến cho ngân sách của Bộ quốc phòng Mỹ bị thiếu hụt trầm trọng, tác động xấu tới sức mạnh và uy tín của quân đội Mỹ!

        Bởi thế, trước một loạt sự kiện xảy ra trên thế giới vào dịp “Tết Mậu thân" và có liên quan trực tiếp tới lợi ích quân sự, chính trị và kinh tế Mỹ ở Béc-linh, Trung Đông, đặc biệt ở Triều.Tiên, chính quyền Mỹ vô cùng lúng túng. Ngày 23 tháng 1 năm 1968, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên bắt giừ chiếc tàu tình báo Pu-ê-blô của Mỹ và 83 người có mặt trên tàu. Vô tuyến truyền hình nước này đã chiếu lại cảnh những người bị bắt bị giải đi trên đường phố thủ đô Bình Nhưỡng. Sự kiện này là "một hành động làm nhục chính quyền Mỹ và chứng minh rằng chính quyền đã bất lực"4.

        Lợi dụng việc Mỹ bị sa lầy trong chiến tranh Việt Nam, các đồng minh chiến lược của Mỹ là Tây Âu và Nhật Bản đã nhanh chóng vươn lên, trở thành đối thủ cạnh tranh với Mỹ về kinh tế, chính trị. Liên Xô, Trung Quốc và khối hiệp ước Vác-sa-va ra sức tăng cường về nhiều mặt, đặc biệt là về quân sự. Tình hình đó khiến cho nhiều nhà hoạt động chính trị Mỹ nhận thấy: "Nếu Mỹ thua ở Nam Việt Nam thì Mỹ thua một cuộc chiến tranh. Nhưng nếu Mỹ lạc hậu một cách tuyệt vọng trong lĩnh vực chiến lược hạt nhân thì Mỹ có thế mất cả sự tồn tại của mình"5.

--------------------
        1. Lời của một thành viên thuộc Uỷ ban Quân lực Thượng nghị viện Mỹ dịp "Tết Mậu thân 1968". Dẫn theo Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẾT, Sđd, tr. 134.

        2. Dẫn theo Mai-cơn Mác-li-a: Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày. Sđd, tr.142, 143.

        3. Dẫn theo Mai-cơn Mác-li-a: Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày. Sđd, tr.142, 143.

        4. G.Côn-cô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Sđd, T1, tr.291.

        5. Lời phát biểu của Thượng nghị sĩ Mỹ Xten-nít - Chủ tịch tiểu ban điều tra về tình hình sẵn sàng chiến đấu của Thượng nghị viện Mỹ sau sự kiện Tết Mậu thân. Dẫn theo: Thất bại quân sự của đế quốc Mỹ, Nxb Quân đội nhân dân. H, 1979, tr.128.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2017, 05:27:57 AM


        Nhưng chính sự thất bại ở Việt Nam trong chiến tranh cục bộ đã kéo theo sự sụp đổ của chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt" của đế quốc Mỹ. Hơn nữa, mặc dù rất ngoan cố, thâm độc và rất hiếu chiến nhưng ngay sau khi bước chân vào Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Ních-xơn (Richard Nixon) vẫn buộc phải rút dần quân Mỹ về nước, thậm chí âm mưu thỏa hiệp với một số nước hòng ép Việt Nam phải nhượng bộ Mỹ, giúp cho Mỹ "rút ra trên thế mạnh".

        Rõ ràng rằng "Tết Mậu thân" đã là một “phép thử”, một chất xúc tác, đến độ đủ để phơi bày toàn bộ sự thất bại của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ; làm cho Mỹ không thể che giấu được thực lực của mình trước nhân dân Mỹ cũng như toàn thế giới… Thì ra qua chiến tranh Việt Nam, "Chàng khổng lồ" Mỹ cũng đã phải lộ cái "gót A-sin" của mình là phơi bày trước thế giới một sự thật khắc nghiệt: Sức mạnh kinh tế và quân sự Mỹ là có giới hạn; trong giới hạn đó, Mỹ không thể dùng các biện pháp quân sự để thắng cuộc chiến tranh mà lại không xé tan toàn bộ tổ chức của nước Mỹ và các mối quan hệ quốc tế”. (Bình luận của Ban biên tập tòa soạn báo Tuần tin tức Mỹ, ngày 11 tháng 3 năm 1968). Ngoài ra, Báo này còn khẳng định: Cuộc tiến công "Tết" cho thấy: "Trừ phi Mỹ sẵn sàng leo thang đến mức cuối cùng và kinh khủng - tức sử dụng đến vũ khí hạt nhân - còn không, hình như hiện nay Mỹ phải chấp nhận sự thật là Mỹ sẽ không bao giờ còn có thể giành được ưu thế quân sự quyết định ở Việt Nam nữa"1. Nhưng trước đ6, ngày 10 tháng 3 năm 1968, trong một chương trình phát hình đặc biệt của hãng NBE mà ở đó toàn bộ cuộc chiến đấu dịp Tết Mậu thân được trình chiếu lại - trận đánh ở tòa Đại sứ Mỹ, ở dinh Độc Lập, sân bay Tân Sơn Nhất, chùa Ấn Quang với cảnh Nguyễn Ngọc Loan bắn vào đầu tù binh..., phóng viên Mác Ghi bình luận: "Hiện nay, kẻ địch (Quân giải phóng - HK) đang giữ thế chủ động; họ đã mở rộng nhanh chóng vùng chiến sự... họ đã thay đổi chiến thuật; và họ đang chiến đấu dưới quyền một bộ chi huy thống nhất... Tóm lại, chúng ta thua trong cuộc chiến tranh này"; nếu Mỹ vẫn tiếp tục theo đuổi chiến tranh Việt Nam theo chiến lược cũ thì “sẽ phải gánh chịu những hậu quả không thể kể xiết cho vị trí kinh tế của Mỹ ở trong nước cũng như ngoài nước, cho sức mạnh quân sự của Mỹ ở những nơi khác và cho đời sống chính trị của Mỹ nữa"2. Thực tế này khiến cho giới tài chính và công nghiệp Mỹ buộc phải thay đổi quan điểm đối với cuộc chiến tranh Việt Nam.

        3. Bước ngoặt quyết định trong cuộc chiến tranh giữa đế quốc Mỹ và nhân dân Việt Nam

        Tất cả những điều trên đây đã buộc Tổng thống Mỹ phải thông báo sự thay đổi nhân sự trong chính phủ (chủ yếu là đối với một số tướng linh cao cấp liên quan chặt chẽ tới cuộc chiến tranh Việt Nam). Vì thế, ngày 23 tháng 3 năm 1968, tại phòng Bầu dục, trước đông đảo giới báo chí và phóng viên truyền hình, Tổng thống Giôn-xơn dã tuyên bố: Đố đốc Sáp (G. Sáp) - người chủ trương tăng quân vào miền Nam, đẩy mạnh ném bom miền Bắc, thôi giữ chức Tư lệnh Thái Bình Dương. Tướng Oét-mo-len thôi giữ chức Tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Sài Gòn (M.A.C.V)3. Tướng C.A.Bram - cấp phó của Oét-mo-len trong Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ (M.A.C.V) được gọi về Oa-sinh-tơn để "luận chứng" về kế hoạch quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam... Ngay ngày hôm sau, ngày 23 tháng 3 năm 1968, Gíôn-xơn đã cử tướng Uy-lơ bí mật bay tới căn cứ quân sự Mỹ ở Phi-líp-pin gặp Oét-mo-len. Tại đây ông thông báo cho Oét-mo-len rằng: số quân 206.000 mà ông và Oét-mo-len xin tăng viện đã hoàn toàn bị bác bỏ, chiến lược "tìm và diệt” đang bị chê trách ở Mỹ. Ông yêu cầu Oét mo-len, trong khi vẫn còn ở lại Nam Việt Nam, phải tìm một tên gọi khác thay thế cho tên gọi "tìm và diệt". Sau đó, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn đã lệnh cho các cấp chỉ huy dưới quyền trong các văn bản không được dùng từ "tìm và diệt". Thay vào đó, từ đây, các cuộc hành quân cơ động tấn công bắt đầu được gọi bằng tên mới: các cuộc "càn quét chiến đấu”, "trinh sát có vũ trang" hoặc đơn giản là các "cuộc càn quét"4.

-------------------------
        1. Dẫn theo Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẾT. Sđd, tr.149.

        2. G. Côn-cô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Sđd, T1, tr.312.

        3. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ bình luận: "Điều rõ ràng là tổng thống đã có quyết định về cuộc chiến tranh trên bộ trước ngày 22 tháng 3. Vào ngày đó, tổng thống đã công bố tướng Oét-mo-len sẽ được thay thế trong chức vụ Tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ Hoa Kỳ tại Việt Nam".

        4. Dẫn theo: Đôn O-bớc-đoi-phơ: Tết. Sđd, tr.175.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2017, 05:33:44 AM

        Đến đây, vai trò của giới tài phiệt đầy thế lực ở Mỹ lại xuất hiện. Liền trong hai ngày 25 và 26 tháng 3 năm 1968, nhóm cố vấn cấp cao "Những nhà thông thái" (The nise men) đã họp ở Oa-sinh-tơn để chính thức bày tỏ quan điểm của họ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam. Tham dự cuộc họp có các ông Đin A-ehe-sơn - Bộ trưởng ngoại giao dưới thời Tổng thống Tru-man, Gioóc-giơ Bon (George Ball) - Thứ trưởng ngoại giao thời Tổng thống Ken-nơ-đi, Mc.G. Bân-đi (Mc George Bundy) - Phụ tá đặc biệt cho Tổng thống Ken-nơ-đi và Tổng thống Giôn-xơn, D. Đơ-lông (Douglas Diplon) - Đại sứ Mỹ tại Pháp dưới thời Tổng thống Ai-xen-hao và giữ chức Bộ trưởng tài chính dưới thời Tổng thống Ken-nơ-đi, C.Van-xơ (Cyrus Vance) - Trợ lý Bộ trưởng quốc phòng dưới thời ông Mắc-na-ma-ra làm Bộ trưởng và là một nhà ngoại giao nhiều kinh nghiệm, A.Đin (Arthur Dan) - trưởng phái đoàn đàm phán của Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên, J.J. Mác-cloi (John J. McCloy) - cao ủy ở Tây Đức dưới thời Tổng thống Tru-man và là trợ lý của Bộ trưởng chiến tranh trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, tướng O.Brét-lây (Omar Bradley) - Tư lệnh chiến trường Mỹ trong chiến tranh thế giới lần thử hai và là Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân đầu tiên của quân đội Mỹ, tướng M. Rít-uây (Matthew Ridg Tay) - Tư lệnh chiến trường Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên và sau này là Tư lệnh khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO); tướng M.Tay-lo (Maxwell Taylor) - Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân dưới thời Tổng thống Ken-nơ-đi và sau này là đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, R. Mớc-phi (Roleert. Murphy) - một đại sứ chuyên nghiệp giàu kinh nghiệm thời Tổng thống Truman – Ai-xen-hao, H. Ca-bốt-lốt (Henry Cabotlodge) - nguyên thượng nghị sĩ và hai lần giữ chức đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, A. Poóc-tát (Aba Portas) - đương kim phu thẩm Tòa án tối cao Mỹ và là cố vấn riêng của Giôn-xơn, A. Gôn-béc (Arthur Goldberg) - Đại sứ Mỹ ở Liên hợp quốc.

        Trước khi có cuộc gặp chính thức với Giôn-xơn, nhóm "Những nhà thông thái" đã có cuộc gặp với các quan chức chính quyền trong bữa ăn trưa như Bộ trưởng ngoại giao, Bộ trưởng quốc phòng, Ha-ri-man (S. Averall Harriman), Rốt-xtâu (Rosstow), Giám đốc cục tình báo trung ương R.Hem (Richard Helms), tướng Uy-lơ, ông Nít-de (Nitze), N. Ka-zen-bách (Nicholas Katzenbach), W. Bân-đi (William Bundy). Trong cuộc gặp này, các thành viên của nhóm đã hỏi thêm cáo quan chức chính phủ tình hình bao quát về diễn biến trên chiến trường, công cuộc "bình dính" và tình trạng hiện thời của chính phủ Nam Việt Nam. Tiếp đó, nhóm nghe các báo cáo của một số quan chức chính phủ khác như P.C. Habip (Philip C. Habib), tướng W.E. đê-puy (William E. Depuy)...

        Ngày 26 tháng 3 năm 1968, tại Nhà Trắng, Giôn-xơn chính thức gặp gỡ các thành viên nhóm "Những nhà thông thái". Dự cuộc gặp còn có tướng C. Abram (Abrams) - người sẽ thay Oét-mo-len trên cương vị Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn, và tướng Uy-lơ. Tại cuộc họp này, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn buồn bã lắng nghe tất cả các thành viên của nhóm phát biểu và ông kết luận rằng: "Trừ các ông Mớc-phi, Brét-ti, Tay-lo, Phoóc-tát và tướng Uy-lơ, còn tất cả mọi người đều đề nghị rút ra khơi cuộc chiến tranh Việt Nam"1. Cũng theo O-bớc-đoi-phơ, trong cuộc họp này, H. Ca-bốt-lốt - người từng hai lần làm đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam, người chuyên theo dõi tình hình Việt Nam cho Ken-nơ-đi và Giôn-xơn, đã yêu cầu Giôn-xơn phải khẩn cấp xem xét để chuyển từ chiến lược "chiến tranh tiêu hao" và biện pháp chiến lược "tìm và diệt" sang một chiến lược mới. Chiến lược mới này nhấn mạnh vai trò của lực lượng quân sự Mỹ chỉ là "Tấm lá chắn", dựa vào đó, quân đội và chính quyền Nam Việt Nam phải được tổ chức lại để đảm nhận trách nhiệm chiến tranh). Thái độ mà phóng viên S.H.Lo-ri của tờ Lốt Ang-giơ-lét gọi là "quay ngoắt" của hầu hết thành viên nhóm không nhà thông thái" đối với cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm cho Giôn-xơn càng "dao động một cách sâu sắc"2. Sau này, trong hồi ký, Giôn-xơn cho biết suy nghĩ của ông, theo đó, "các nhà thông thái đã tỏ ra thông minh và là những người giàu kinh nghiệm. Tôi đã luôn luôn coi đa số các cố vấn này như những người rất vững vàng và có cân nhấc. Nếu họ đã bị ảnh hưởng bởi những báo cáo về việc tấn công TẾT sâu sắc đến như thế thì thử hỏi người dân bình thường trên đất nước này phải suy nghĩ đến thế nào"3.

        “Một trong những điều trớ trêu của cuộc chiến tranh này là cái bản án tử hình cho cuộc phiên lưu mà đến A-che-sơn đã có nhiều trách nhiệm trong việc khởi sự cũng lại do chính ông đọc"4. Cái “bản án tử hình" cho cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ ở Việt Nam chẳng qua chỉ là sự tóm lược quan điểm của đa số thành viên trong nhóm cố vấn cấp cao 1 Những nhà thông thái" đã cảm thấy từ hàng tháng nay.

        Nhưng phải đến hôm nay, họ mới hội đủ điều kiện chín muồi để chính thức nói với tổng thống của họ rằng: Mỹ "không còn có thế nào làm được cái công việc mà Mỹ đã khởi sự 3 năm trước đây", do vậy, "Mỹ buộc phải bắt đầu có biện pháp rút lui"5 (Neil Sheehan: Lời nói dối hào nhoáng, Sđd, T2, tr.429).

---------------------
        1. Lời kết luận Hội nghị của Giôn-xơn, ngày 26 tháng 3 năm 1968. Dẫn theo Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẸT. Sđd, tr.176.

        2. Dẫn theo Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.257.

        3. Hồi ký Giôn-xơn, Tlđd, tr.418.

        4, 5. Neil Sheehan: Lời nói dối hào nhoáng, Sđd, T2, tr.429.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2017, 05:46:09 AM

        Ba năm trước đây, khi tung các đơn vị thiện chiến và khét tiếng quân Mỹ vào chiến trường miền Nam Việt Nam, leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam, giới lãnh đạo nước Mỹ vững tin vào một thắng lợi quân sự dễ dàng, chớp nhoáng, mang tính quyết định. Ỷ vào sức mạnh quân sự khổng lồ của một siêu cường bậc nhất trong thế giới hiện đại, Oa-sinh-tơn nghĩ rằng bom đạn Mỹ sẽ bắt đối phương phải quỳ gối, chấp nhận những điều kiện áp đặt mà Mỹ đưa ra. Thế nhưng, cuộc chiến đấu bền bỉ, anh dũng, đầy mưu lược của quân dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam đã đốt cháy tham vọng trên đây của Mỹ. Dưới tác động rộng lớn và dữ dội của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy dịp Tết Mậu thân, đã đến lúc, nước Mỹ nhận thấy sâu sắc rằng, cái giá phải trả về nhân lực (để thực hiện các mục tiêu của Mỹ ở Việt Nam) bây giờ đã đến một mức mà không còn có thể đáp ứng được nếu không thực hiện việc gọi nhập ngũ một số lớn quân dự bị và thực hiện những điều chỉnh nghiêm trọng về kinh tế"1. Thật ra, như chúng tôi đã đề cập ở các phần trên trong chuyên luận này, cuộc tiến công Tết Mậu thân trên chiến trường miền Nam chỉ như là phần nổi của tảng băng. "Phần nổi tảng băng” ấy chỉ báo cho giới lãnh đạo cao cấp và dân chúng Mỹ nhận thấy rằng, "phần chìm" của nó là rất lớn; phần chìm đó là lòng kiên dũng của người lính Quân giải phóng, là sự ủng hộ của dân chúng miền Nam dành cho "kẻ thù của Mỹ", là tài mưu lược của bộ não chỉ đạo cuộc kháng chiến, là hiệu lực của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam... Qua "Tết Mậu thân", người Mỹ nhận thức được một sự thật hiển nhiên rằng: sức mạnh quân sự Mỹ sẽ chẳng bao giờ khuất phục được ý chí độc lập, tự do, thống nhất đất nước của người Việt Nam!

        Thế cho nên, "tháng 3 năm 1968, việc lựa chọn đã trở thành dứt khoát"2. Ngày 31 tháng 3 năm 1968, trong điện văn gửi đại sứ Mỹ tại các nước Ôt-xtrây-lia, Tân-tây-lan, Thái Lan, Lào, Phi-líp-pin và Nam Triều Tiên, Bộ ngoại giao Mỹ đã "nhấn mạnh chủ yếu đến ý nghĩa quan trọng của việc tăng cường hiệu lực chiến đấu của Chính phủ Nam Việt Nam và quân đội Việt Nam Cộng hòa với trang bị và các thứ chi viện cần thiết khác của Mỹ, coi đó là ưu tiên hàng đầu trong các hành động của Mỹ"3. Thực chất quyết định này là một sự giữ thể diện cho Mỹ bằng cách "hà hơi thổi ngạt" cho quân đội Sài Gòn - điều mà sau này người ta cho rằng Mỹ đã toan "đổi màu da trên xác chết"! Mấy giờ sau khi điện văn được chuyển đi, vào đêm 31 tháng 3 năm 1968 "lịch sử" ấy, với vẻ đắn đo và trang trọng, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn xuất hiện trên vô tuyến truyền hình toàn Liên bang đọc bài diễn văn quan trọng nhất trong cuộc đời chính trị của ông ta, "bài diễn văn bi thảm nhất"4 mà suốt 21 năm dính líu ở Việt Nam, chưa một vị tổng thống Mỹ nào phải đưa ra. Trong bài diễn văn đó Giôn-xơn tuyên bố:

        -  Mỹ đơn phương chấm dứt ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ vĩ tuyên 20 trở ra, sẵn sàng cử đại diện đi vào đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

        -  Chấm dứt thời kỳ trong đó Mỹ "tăng cường cam kết đưa các lực lượng quân Mỹ vào cuộc chiến tranh trên bộ”.

        -  Việc trang bị lại cho quân đội Nam Việt Nam sẽ được tăng nhanh để tạo cho chúng khả năng đảm nhận trách nhiệm lớn hơn trong việc phòng thủ Nam Việt Nam”5!

        Cuối cùng, ông tuyên bố không ra tranh cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ tiếp theo6.

        Bài diễn văn lập tức gây nên "tác động mãnh liệt ở Hoa Kỳ và khắp thế giới"7. Nó chứng tỏ một điều hiển nhiên rằng: "Hoa Kỳ đã vượt qua một bước ngoặt quan trọng trong cuộc chiến tranh cũng như trong chính sách và không có chuyện quay trở lại nữa"8.

-----------------------
        1. H.Y. Schandle: Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ, Sđd, tr.504.

        2, 3. Dẫn theo Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. T2, Tlđd, tr.258, 269.

        4. Dẫn theo Pi-tơ A.Pu-lơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-zơ-ven đến Ních-xơn. Sđd, tr.260.

        5. Dẫn theo Pi-tơ A.Pu-lơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-zơ-ven đến Ních-xơn. Sđd, tr.259, 260.

        6. Sau này, trong hồi ký, Giôn-xơn viết: "Kết thúc năm 1968, sau nhiều nam điều hành cuộc chiến tranh gay cấn nhất ở Việt Nam, tôi thực sự không tin mình có thể sống sót nếu ở lại Nhà Trắng thêm một nhiệm kỳ nữa. Vì tình hình đen tối của chúng ta ở Việt Nam đã làm cho tôi phải căng thắng suốt 1.886 đêm, ít khi ngủ trước hai giờ sáng”.

        7, 8. Những đoạn trích là bình luận của người viết Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ về diễn văn ngày 31 tháng 3 năm 1968 của Giôn-xơn (Tài liệu một Lầu Năm Góc, Thư viện Trung ương quán đội sao lục, lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, ký số hiệu: VL.781-82, tr.568, 569).

        1.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2017, 07:26:50 AM

        Như vậy với quyết định ngày 31 tháng 3 năm 1968, Mỹ mặc nhiên thừa nhận sự thất bại hoàn toàn của chiến lược “chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam. Ngày 31 tháng 3 do đó đã mở ra "một chương rất nhiều ý nghĩa trong lịch sử can thiệp của Hoa Kỳ: Cuộc chiến tranh Việt Nam đã đi đến hồi kết thúc”1 đối với Hoa Kỳ. Từ đó trở đi, phù hợp với việc thay đổi chiến lược chiến tranh - từ chiến tranh cục bộ sang "phi Mỹ hóa" rồi "Việt Nam hóa", vai trò, nhiệm vụ của lực lượng quân sự Mỹ trên chiến trường ngày càng giảm mạnh. Dù sau đó, Ních-xơn lên làm Tổng thống đã tìm mọi cách cứu vãn thất bại, nhưng cũng chỉ là đánh để rút dần quân Mỹ về nước. Điều đó là không thể đảo ngược được. Điều đó chứng tỏ thắng lợi của "Tết Mậu thân, đã tiếp tục phát huy hiệu lực mạnh mẽ suốt quá trình chiến tranh từ 1968 đến 1973. Sau Tết Mậu thân, Quốc hội Mỹ lần lượt ban hành các nghị quyết hạn chế hoạt động chiến đấu của lực lượng đó. Cho dù chiến tranh vẫn diễn ra ngày càng ác liệt, cho dù dính líu quân sự của Mỹ vẫn còn tiếp tục dưới thời chính quyền Ních-xơn thêm 5 năm nữa và phải 7 năm sau chế độ Sài Gòn mới hoàn toàn sụp đổ... nhưng, về mặt chiến lược, Mỹ bắt đầu thừa nhận đã bị thua từ mùa xuân 1968 bởi tác động sâu rộng của “Tết Mậu thân". Vì thế mà từ sau ngày 31 tháng 3 năm 1968, mọi diễn biến liên quan tới cuộc chiến tranh Việt Nam phải được xem xét trong một KHUNG CẢNH KHÁC - khung cảnh mà "tất cả CỤC DIỆN và KHUÔN KHỔ của cuộc chiến tranh đã thay đổi"2 (Bình luận của người viết Tài liệu một Bộ quốc phòng Mỹ, (Tài liệu mật Lầu Năm Góc. Tlđd, tr.569)).

        Đó là lý do vì sao khi đề cập tới "Tết Mậu thân, nhiều tác giả Mỹ đã xem đây là sự kiện có tính chất bước ngoặt không phải chỉ riêng đối với cuộc chiến tranh Việt Nam mà còn là bước ngoặt lớn của thời đại trong thế kỷ XX. Và đó cũng chính là lý do vì sao chúng tôi đặt phạm vi nghiên cứu của chuyên luận này ở việc tự giới hạn mô tả, đánh giá về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trong phạm vi ĐỢT 1. Dù vậy chúng tôi cũng không ngần ngại để mạnh dạn đưa ra vài nhận xét bước đầu của mình trong phần đầu chương III của chuyên luận khi đề cập tới vai trò và tác dụng của những đợt tiến công tiếp theo - Vấn đề lớn hiện còn nhiều ý kiến tranh luận và cũng là vấn đề - theo chúng tôi nghĩ - do đôi khi những cuộc tiến công tiếp theo này đã bị đồng nhất trong khái niệm "Tết Mậu thân 1968"3 (về mặt thời gian) nên phần nào đã ảnh hường tới việc nhận thức tầm vóc thắng lợi cũng như chủ trương chiến lược của Đảng ta trong khi hạ quyết tâm: "Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định" bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy lịch sử năm 1968.

--------------------
        1, 2. Bình luận của người viết Tài liệu một Bộ quốc phòng Mỹ, (Tài liệu mật Lầu Năm Góc. Tlđd, tr.569).

        3. Lâu nay, trong một số công trình và bài báo viết về kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), cụm từ "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu thân 1968" được dùng để bao quát các hoạt động của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam trong suốt năm 1968. Ví như, công trình tổng kết Quá trình chiền tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ, ngụy trên chiến trường B2 (Ban Tổng kết chiến tranh B2 năm 1984), viết: "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thán tuy chưa đạt được mục tiêu chiến lược một cách trọn vẹn (...) nhưng trên thực tế, ngay trong ĐỢT ĐẦU của cuộc tiến công (từ ngày 31 tháng 1 đến cuối tháng 2 năm 1968) đã làm đảo lộn mọi tính toán của địch trên chiến trường" (tr.168). Tác giả Trần Bạch Đằng trong bài Bàn thêm một vài khía cạnh của cuộc tổng diễn tập chiến lược Mậu thân 1968 đãng trên tạp chí Lịch sử quân sự số 7.1988, đã cho rằng "HAI ĐỢT MẬU THÂN, nhất là đợt 1, đã làm choáng váng kẻ thù”, "đặc thù của MẬU THÂN ở Sài Gòn là: CẢ HAI ĐỢT không hề xẩy ra một sự đáng tiếc nào". Gần đây, giáo sư Cao Vãn Lượng đã viết ở tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 1-2/1993: "Cuộc Tống tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu thân (1968) đã diễn ra thành NHIỀU ĐỢT...”. Theo chúng tôi, chính việc "gọi sự vật không đúng với cái tên của nó" như vậy đã là một nguyên nhân trực tiếp dẫn tới những nhận định không thống nhất - thậm chí là mâu thuẫn trong các công trình nghiên cứu về "Tết Mậu thân".


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2017, 07:33:08 AM

        II. NHỮNG SUY NGHĨ SAU "TẾT MẬU THÂN”

        1. Về những đợt tiến công sau “TẾT”


        Như chúng tôi đã trình bày ở phần cuối chương II, sau “Tết Mậu thân", trong điều kiện yếu tố bất ngờ không còn, địch đã tăng cường phòng thủ đô thị, lực lượng ta bị tổn thất chưa kịp phục hồi và bổ sung, việc ta vẫn nhằm vào đô thị, liên tiếp mở thêm các đợt tiến công và nổi dậy, dù có gây cho địch những thương vong nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh nhưng ta cũng bị tiêu hao lớn. Hơn nữa, nhân lúc ta dồn sức đánh vào đô thị, bỏ ngỏ trận địa NÔNG THÔN, địch kịp thời lợi dụng cơ hội đó để tung quân chiếm lại cái vùng vừa bị mất trong dịp Tết Mậu thân. Từ đấy THẾ TRẬN ba vùng chiến lược của ta ngày càng bị suy giảm: Mất bàn đạp đứng chân ở vùng ven, vùng nông thôn đồng bằng, các đơn vị vũ trang của ta phải lùi dần lên vùng rừng núi; thậm chí phải qua bên kia biên giới Campuchia và Lào, một số đơn vị chủ lực phải trở ra vùng Nam Quân khu 4 để củng cố lực lượng. Trong khi đó, tại các đô thị vùng ven, vùng đồng bằng bị địch chiếm, Mỹ - ngụy liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, hành quân bình định, triển khai mạnh mẽ các hoạt động "Phượng hoàng"... hòng tận diệt các cơ sở chính trị của cách mạng miền Nam. Từ giữa năm 1968 qua năm 1969 đến năm 1970, cách mạng rníền Nam lâm vào thời kỳ đầy thử thách, khó khăn.

        Tình hình trên đây khiến nhiều người khi nhìn lại các đợt tiến công tháng 5 và tháng 8 năm 1968 của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam ngày đó đã xem như một hạn chế về tầm nhìn hoặc sai lầm của các cấp chỉ đạo chiến lược mà hậu quả của sai lầm này đã làm cho cục diện chiến trường sau "Tết Mậu thân" trở nên “Xấu hơn trước năm 1968", cách mạng miền Nam lâm vào "thời kỳ đen tối". Nhiều ý kiến cho rằng: "Đáng lẽ sau đợt 1, nếu ta biệt ngừng và chuyển hướng hoạt động chiến đấu để chống địch bình định mới đúng"1; “nếu có chủ trương từ trước, từ đầu, thì rất hay, sau đợt 1 nền chuyển hướng ngay là đúng nhất, hay nhất, có nhiều khả năng giữ được lực lượng, đứng được ở vùng ven, nắm được nông thôn, địch vẫn phải thua to mà ta đỡ tổn thất"2; “Đặc biệt, lẽ ra với đợt 2, ta tiếp cận các thành phố, thị xã, giải phóng cả vùng nông thôn rộng lớn, nếu lấy việc giữ vững mới giải phóng làm hướng phấn đấu chính thì tình thế có cơ phát triển tốt hơn nhiều, ta đỡ hao sinh lực mà thế đến bàn hội nghị cũng vững hơn"3.

        Nhìn trên thực tế của chiến trường lúc ấy, những ý kiến trên đây quả thật có nhiều mặt xác đáng. Nhưng đó là những ý kiến được phát biểu vào 18, 20 năm sau “Tết Mậu thân" - nghĩa là nó đã mang sắc thái của những ý kiến TỔNG KẾT, RÚT KINH NGHIỆM nên không tránh được những chữ "NẾU", "ĐÁNG LẼ", “LẼ RA"... Nhưng sự kiện lịch sử lại là những sự kiện "một đi không trở lại", không có chữ NẾU NHƯ... Chính vì thế mà, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: "Lịch sử, nói chính xác hơn là hiện thực lịch sử chỉ xảy ra một lần, duy nhất và không thể chữa lại, nhưng nhận thức lịch sử, cũng như viết sử có thể làm đi làm lại nhiều lần"4. Và chỉ trong khi viết đi viết lại về một sự kiện lịch sử nào đó, người nghiên cứu mới đặt ra những chữ NẾU mang ý nghĩa giả thiết này để lật đi, lật lại một vấn đề theo nhiều chiều cạnh mà chiêm nghiệm, mà rút ra những bài học từ những chiến thắng hay chiến bại trong lịch sử. Ở một ý nghĩa nào đó, trong nghiên cứu khoa học lịch sử, chúng ta lại rất cần đào sâu vào nguyên nhân của những chiến bại. Bởi vì, những bài học rút ra từ những thắng lợi và thất bại bao giờ cũng là những bài học có tính cập nhật, cần thiết cho cuộc chiến đấu trong tương lai. Với ý nghĩa đó, chúng ta thường nói “thất bại là mẹ của thành công" là vì thế. Xô viết Nghệ - Tĩnh sở dĩ được xem là “cuộc tổng diễn tập lần thứ nhất" của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là do những người Cộng sản Việt Nam đã từ tổn thất đó mà chắt lọc được những bài học máu để 15 năm sau vùng lên, làm một cuộc tổng khởi nghĩa ít đổ máu trong lịch sử dân tộc. Cái cay đắng có thật của một số chiến trường sau Tết Mậu thân cũng chính là những "bài học" để 7 năm sau đó, chúng ta đã đưa sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam từ 3 năm rồi 2 năm trong kế hoạch, rút xuống chỉ còn 55 ngày đêm chiến đấu dũng mãnh mà giành lại được một Sài Gòn hầu như nguyên vẹn, tránh được "cuộc tắm máu” trong tưởng tượng của không ít người của phía bên kia.

        Với suy nghĩ như thế, trong chuyên luận này, chúng tôi không hề ngần ngại hay né tránh những tổn thất có thật hoặc những thiếu sót của các cấp chỉ đạo chiến lược mà chính Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 (năm 1973) đã chỉ ra.

------------------------
        1. Lê Đức Thọ: Một số vấn đề về tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự, Sđd, tr.54.

        2. Hoàng Văn Thái: Mấy vấn đề về chiến lược trong cuộc tiến công và nổi dậy xuân 1968. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 2 năm 1988.

        3. Trần Bạch Đằng: Mậu thân - cuộc Tổng diễn tập chiến lược. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 2 năm 1988.

        4. Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ xưa và nay. Tạp chí Xưa và Nay, số tháng 5 năm 1994.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 08:57:45 AM

        Chúng tôi nhận thấy rằng: trong quá trình nghiên cứu về "Tết Mậu thân", dù còn nhiều ý kiến chưa thống nhất nhưng chưa hề có một ai dám nghi ngờ hay phủ nhận hoàn toàn tác động chiến lược to lớn của cuộc tiến công đợt 1 - tức là Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu thân 1968; một cuộc tiến công mà, như đồng chí Lê Duẩn từng nhận định, như "một cú bombarde (ném bom, đập thẳng, đập mạnh) cho các yếu tố chính trị tung tóe ra"1; một cuộc tiến công mà, như một tác giả Mỹ đã nhận ra rằng: "Đảng hoàn toàn không được chuẩn bị sẵn sàng" để đón nhận quy mô to lớn của tác động TẾT”2. Nhưng vấn đề còn lại thường gây tranh luận, thường tạo nên sự né tránh, kiêng ky, do sợ "đụng chạm" chính là nằm ở những đợt tiến công tiếp theo như chúng tôi đã trình bày, đã được một số tác giả đặt ra nhiều chữ NẾU, GIÁ NHƯ, ĐÁNG LẼ... THÌ SẼ tránh được những tổn thất, tránh được sự "mất thế”... Đề tránh những mâu thuẫn, lúng túng trong cách nhìn nhận, đánh giá các đợt tiến công sau "Tết Mậu thân", chúng tôi nghĩ rằng: người nghiên cứu cần phải đứng trên quan điển lịch sử cụ thể, toàn diện hơn nữa để xem xét nó. Trong một loạt bài viết của cố đồng chí Lê Đức Thọ về Tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự, đã có lúc chúng ta bắt gặp một thoáng suy nghĩ này khi đồng chí cho rằng: trong việc tổng kết những giai đoạn cách mạng trước đây, "cần phải nắm chắc hoàn cảnh lịch sử của mỗi sự kiện, không được lấy tình hình và kinh nghiệm hiện nay để đối chiếu vào những sự kiện đã qua, bất chấp hoàn cảnh, thời gian không gian của sự kiện lịch sử lúc đó" 3.

        Vì vậy ở chuyên luận này, chúng tôi muốn đặt suy nghĩ của mình vào chính thời kỳ lịch sử sau "Tết Mậu thân", nghĩa là từ sau ngày 31 tháng 3 đến ngày 31 tháng 10 năm 1968, để xem xét, để đặt ra những câu hỏi cần thiết. Cần mở ngoặc để nói ngay ở đây rằng, làm như vậy, chúng tôi không hề có ý định phủ nhận những tổn thất của các đợt tiến công sau ngày 31 tháng 3 khi mà, do dồn sức tiến công mà hướng chính vẫn nhằm vào đô thị nên lực lượng và thế trận cách mạng miền Nam đã bị thương vong và suy giảm mạnh. Thế nhưng, để làm rõ vai trò và vị trí của các đợt tiến công tháng 5 và tháng 8 năm 1968, cần phải đặt nó trong bối cảnh tổng thể của thời kỳ lịch sử sau Tết Mậu thân. Điều này đòi hỏi phải có những công trình, những luận văn chuyên sâu vào thời kỳ lịch sử phức tạp này - mà ở đó, độ lùi của thời gian đã cho phép các văn bản, các tư liệu lịch sử liên quan tới tính toán chiến lược của cơ quan chi đạo chiến lược Việt Nam và giới lãnh đạo "chóp bu” Mỹ lúc đó đã được công bố, được đào xới tới từng chi tiết. Vẫn biết đó không phải là nhiệm vụ đặt ra cho chuyên luận này và thực sự là chúng tôi chưa thể đủ sức ôm trùm một khối tư liệu như mong ước, song trong quá trình thực hiện chuyên luận, chúng tôi thấy vẫn buộc phải tự đặt ra một số câu hỏi cho chính mình, xem như những “nghi vấn khoa học" nhằm bổ sung, soi sáng thêm cho những luận điểm của chúng tôi khi đặt cho mình nhiệm vụ nghiên cứu kỹ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968. Làm được như vậy, chúng tôi hy vọng rằng, những nghi vấn khoa học đặt ra mà nếu tìm được lời giải đáp đúng, sẽ càng tô đậm thêm thắng lợi của cuộc tiến công "Tết Mậu thân"; bằng không, đó cũng chỉ là những suy nghĩ bước đầu chúng tôi tự đặt ra cho mình phấn đấu tự giải đáp trong quá trình nghiên cứu sau này và không vì thế mà tác động vĩ đại của "Tết Mậu thân" bị giảm tầm giá trị đã đi vào lịch sử của nó - như một bước ngoặt, một cột mốc lớn trong tiến trình 21 năm (1954-1975) cuộc kháng chiến chống Mỹ.

        Quả thực là, cho đến nay, chưa một tác giả nào có điều kiện đầy đủ về tư liệu như chúng tôi mong ước để đi sâu hơn nữa vào từng đợt tổng tiến công tháng 5 và tháng 8 năm 1968 như một chuyên luận độc lập. Một chuyên luận như vậy, chúng tôi hình dung nhất định phải đặt ra và giải quyết được những câu hỏi sau đây:

        1. Ý đồ chiến lược thực sự của cơ quan chỉ đạo chiến lược Việt Nam và tập đoàn cầm đầu Nhà Trắng sau cuộc Tổng tiến công "Tết Mậu thân" là gì vậy?

        2. Những nhân tố quốc tế nào đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới tính toán chiến lược của Mỹ và Việt Nam thời kỳ sau "Mậu thân"?

--------------------
        1. Dẫn theo Trần Bạch Đằng: Mậu thân - cuộc Tổng diễn tập chiến lược Tlđd.

        2. G. Côn-cô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Sđd, T1, tr.310.

        3. Lê Đức Thọ: Một số vấn đề về Tổng kết chiến tranh và biền soạn Lịch sử quân sự. Sđd, tr.141.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 09:04:55 AM

        3. Phía Việt Nam sẽ ngồi vào bàn đàm phán trực tiếp với Mỹ ở tư thế như thế nào nếu như sau "Tết Mậu thân", quân và dân ta trên chiến trường thôi không tiến công vào đô thị mà quay ra củng cố vùng giải phóng nông thôn - vốn là địa bàn thuận lợi để Mỹ phát huy ưu thế về hỏa lực, bom đạn? Và liệu phía Mỹ, ngụy có chịu để yên cho chúng ta "củng cố" như vậy hay không khi Mỹ là nước lớn và khi trong tay chúng vẫn còn hơn một triệu quân, một khối lượng vũ khí, phương tiện chiến tranh lớn, hiện đại1?

        Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy được rằng: từ "Tết Mậu thân" trở về trước, lập trường của Chính phủ ta là: Mỹ phải chấm dứt không điều kiện mọi hành động chiến tranh chống phá Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước khi có bất cứ cuộc tiếp xúc chính thức nào giữa đại diện của Mỹ và Việt Nam. Đến ngày 31 tháng 3 năm 1968, do tác động của đòn "Tết Mậu thân", phía Mỹ phải đơn phương xuống thang chiến tranh, tuyên bố sẵn sàng cử đại diện đi vào đàm phán với phía Việt Nam nhưng trên thực tế, Mỹ vẫn duy trì cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 20, vẫn duy trì các chuyến bay trinh sát đường không trên vùng trời, vùng biển miền Bắc và vẫn giành quyền ném bom trở lại toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi cần.

        Trong khi đó, chiến sự trên chiến trường vẫn không ngừng tiếp diễn và ngày càng quyết liệt. Tháng 3 và tháng 4 năm 1968, địch tập trung lực lượng, liên tiếp mở các cuộc hành quân quy mô lớn nhằm đánh bật lực lượng vũ trang ta ra xa các đô thị, khôi phục lại các tuyến đường giao thông chiến lược đã bị cắt đứt, đồng thời tăng cường đàn áp khủng bố ác liệt các cơ sở cách mạng của ta, ráo riết tiến hành "bình định" nhằm giành lại các vùng nông thôn đồng bằng, đặc biệt là các vùng trọng điểm vừa bị mất.

        Đứng trước tình hình này, Đảng ta không thể không cân nhắc kỹ lưỡng mọi phương án hành động nhằm đưa sự nghiệp kháng chiến của nhân dân tiếp tục phát triển. Chúng tôi tin chắc rằng, ở đây, kinh nghiệm của những lần đàm phán trực tiếp với phía Pháp năm 1945, 1946 hoặc năm 1954 trong lịch sử chắc hẳn để lại cho Đảng ta nhiều bài học quý báu trong cuộc đấu tranh ngoại giao cũng như sự cảnh giác cao độ của một nước nhỏ ngồi "đàm phán hòa bình" với một nước lớn đầy tham vọng. Và bối cảnh phức tạp của quan hệ quốc tế mà ở đó, kể cả một số bè bạn của ta như Liên Xô và Trung Quốc vẫn còn những sự nhìn nhận không thuận chiều khi ta quyết định đi vào đàm phán với phía Mỹ, chắc chắn cũng là một nhân tố được Đảng ta lượng định, đánh giá trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Chúng ta còn nhớ mới chỉ 36 tháng trước khi Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đọc diễn văn ngày 31 tháng 3 năm 1965, phát biểu tại Ban-ti-mo (ngày 7 tháng 4 năm 1965), Giôn-xơn từng nói trắng: “Mỹ sẵn sàng thương lượng không điều kiện" với Hà Nội nhằm chấm dứt chiến tranh. Nhưng, cùng với lời tuyên bố này là việc quân viễn chinh Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam và không quân, hải quân Mỹ leo thang đánh phá dữ dội miền Bắc (!). Dư luận rộng rãi trên thế giới ngày đó đã nhận thấy giữa lời tuyên bố công khai với hành động thực tế của Chính phủ Mỹ là hai chiều ngược nhau. Đến tháng 9 năm 1967, đọc diễn văn tại Hội nghị lập pháp toàn quốc ở Xan An-tô-ni-ô, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố rằng: Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam "đã chuẩn bị sẵn sàng để thảo luận tối hôm nay”, với Bắc Việt Nam; sẵn sàng nói chuyện với Cụ Hồ Chí Minh”, sẵn sàng cử Bộ trưởng ngoại giao Ra-xcơ đi gặp Bộ trưởng Bộ ngoại giao của các vị ấy ngày mai", "sẵn sàng cử một đại diện có thẩm quyền của nước Mỹ đì bất cứ nơi nào trên trái đất để nói chuyện công khai hay bí mật với người phát ngôn của Hà Nội"2.

-------------------
        1. Trong và sau "Tết Mậu thân", quân đội Mỹ trên chiến trường công khai bộc lộ sự tàn bạo của họ bằng cách gây ra nhiều vụ tàn sát dã man đối với đồng bào ta ở miền Nam - mà Mỹ Lai đã là một điển hình; dội bom đạn ồ ạt xuống vùng ven, vùng nông thôn, vùng giáp ranh... Về điều này, viên tư lệnh chiến trường mới được cử thay Oét-mo-len là A.Ram đã tuyên bố: Mỹ sẽ "dùng B.52 ném thật nhiều bom đến mức (...) chỉ cần phái một đội tuần tra không vũ trang đi xa với những cuốn sổ tay để ghi chép kết quả (Hãng tin AP, ngày 29 tháng 6 năm 1968). Vì thế, "nếu trong nửa cuối năm 1965, mỗi tuần có 50 phi vụ B.52 tại Nam Việt Nam... thì bảy giờ, mỗi tuần có 350 phi vụ B.522 (Thời báo Niu-oóc, ngày 26 tháng 8 năm 1968. Dẫn theo Trần Văn Giàu: Việt Nam giữ vững thành đồng, T5, Sdd, tr. 115-116).

        2. Dẫn theo Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ: Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ trước Hội nghị Pa-ri. Viện Quan hệ quốc tế, H, 1990, tr.243.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 09:41:31 AM

        Nhưng chính là do kinh nghiệm dạn dày trong đấu tranh ngoại giao của Đảng ta cũng như sự thấu hiểu bản chất của đối phương mà chúng ta đã ít "xúc động" trước lời tuyên bố dường như là "thiện chí" đó của Mỹ. Và sự thực là đến trước "Tết Mậu thân", Mỹ vẫn quyết tâm giành thắng lợi trên chiến trường Việt Nam bằng biện pháp quân sự. Điều đó được chứng tỏ trong thông điệp ngày 17 tháng 1 năm 1968 về tình hình liên bang của Tổng thống Mỹ Giôn-xơn. Trong thông điệp này, khi đề cập tới chiến tranh Việt Nam, Giôn-xơn vẫn nói rằng "các cuộc thương lượng (với Bắc Việt Nam) phải trên cơ sở công thức Xan An-tô-ni-ô"1 - một công thức bề ngoài có vẻ “mềm dẻo” nhưng thực chất chứa đựng một lập trường thương lượng cứng rắn và có điều kiện của Mỹ; một công thức khả dĩ xoa dịu dư luận ở Mỹ và trên thế giới, qua đó, "để cho Mỹ vượt qua được năm khó khăn trước tuyển cử, còn lập trường của Mỹ vẫn là lập trường chiến tranh"2.

        Từ những thực tế đó, Đảng và Chính phủ ta nhận thức rõ ràng rằng, cái gọi là "sáng kiến hòa bình", "thương lượng không điều kiện" của Mỹ chỉ là luận điệu tuyên truyền nhằm đánh lạc hướng dư luận, che giấu các hành động chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Cho nên, chúng ta không hề ảo tưởng vào "thiện chí hòa bình" của Mỹ và kiểu Mỹ. Tuy nhiên, đương đầu với Mỹ - một nước lớn có tiềm lực quân sự và kinh tế mạnh hơn ta gấp nhiều lần, ngay từ những ngày đầu, trong khi chỉ ra phương hướng chiến lược cho quân và dân ta trong giai đoạn chiến tranh cục bộ, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 tháng 12 năm 1965) đã đồng thời nhấn mạnh: "Trong quá trình chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, ta phải giữ vững quyết tâm chiến lược, đồng thời áp dụng sách lược đấu tranh chính trị và ngoại giao khôn khéo để phối hợp với đấu tranh quân sự, chủ động tiến công, nêu cao ngọn cờ độc lập và hòa bình ,nhằm tranh thủ rộng rãi dư luận thế giới và cô lập hơn nữa đế quốc Mỹ”. Đến tháng 10 năm 1966, Bộ Chính trị đã họp để đánh giá tình hình và đề ra chủ trương "tích cực chủ động và tích cực tạo điều kiện vận dụng sách lược vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh, nhằm mục đích tranh thủ dư luận thế giới, cô lập đế quốc Mỹ, gây thêm khó khăn cho địch, làm cho chúng bị động, lúng túng và nội bộ chúng mâu thuẫn hơn nữa". Ba tháng sau đó - từ ngày 23 đến ngày 26 tháng 1 năm 1967, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 13 đã quyết định mở mặt trận đấu tranh ngoại giao. Hội nghị khẳng định “Chúng ta mở mặt trận ngoại giao bây giờ là đúng lúc" và cho rằng: "Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường mà trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động".

        Xuất phát từ chủ trương nhất quán trên đây, từ sau "Tết Mậu thân", trước đề nghị đàm phán của Giôn-xơn ngày 31 tháng 3 năm 1968 và trước hành động thực tế của Mỹ trên chiến trường, Đảng và Chính phủ ta đã, một mặt '”sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việt ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện"3; mặt khác, kiên quyết "động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phát huy khí thế chiến thắng, tiếp tục phát triển tiến công toàn diện, giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn nữa (...), đẩy địch vào thế thất bại liên tiếp, ngày càng suy yếu, tan rã, không sao gượng dậy được nhằm đi tới giành thắng lợi quyết định"4. Đây là một chủ trương chiến lược thể hiện bản lĩnh vững vàng và sách lược mềm dẻo của Đảng ta - một Đảng từng trải và dày dạn kinh nghiệm trong suốt bao năm ròng chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao ghềnh thác, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Bởi lẽ, sau ngày 31 tháng 3 năm 1968, nếu từ chối lời yêu cầu cử đại diện tiếp xúc trực tiếp với đại diện Chính phủ Mỹ thì chính là ta đã mắc mưu địch: ai cũng biết rằng, một mặt, Mỹ tuyên bố "Mỹ sẵn sàng cử đại diện để nói chuyện với Hà Nội" nhưng mặt khác, từ trong thâm tâm, Mỹ rất muốn ta từ chối để "đẩy quả bóng sang sân" chúng ta, đánh lạc hướng dư luận.

--------------------
        1. Dẫn theo Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ: Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ. Sđd, tr.243.

        2. Trả lời Thứ trưởng ngoại giao Ru-ma-ni ngày 17.12.1967 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Dẫn theo Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ: Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ. Sđd, tr.247.

        3. Tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 3 tháng 4 năm 1968. Dẫn theo Việt Nam - những sự kiện 1954-1975. Nxb Khoa học xã hội, T2, H, 1976, tr.82.

        4. Nghị quyết Bộ Chính trị, tháng 4 năm 1968.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 09:54:10 AM

        Thật vậy, trong bức điện văn gửi cho sứ quán Mỹ tại Sài Gòn giải thích việc Tổng thống Giôn-xơn giới hạn ném bom từ vĩ tuyến 20 trở vào, Bộ ngoại giao Mỹ nêu rõ rằng Hà Nội có thể sẽ "lên án" việc giới hạn đó của Mỹ và sẽ từ chối cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ. Mỹ hy vọng chính điều này tạo điều kiện cho Mỹ “sẽ được tự do hành động sau một thời gian ngắn" ngừng ném bom mà không bị dư luận trong nước và trên thế giới phản đối. Nhưng Mỹ không thể ngờ là ngay sau đó, ngày 3 tháng 4 năm 1968, Chính phủ ta đã tuyên bố "sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Việt Nam dân chủ cộng hòa để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện"1. Trước tuyên bố đó của Chính phủ ta, một tác giả Mỹ - Pi-tơ A. Pu-lơ đã nhận xét rằng: "Tốc độ đáp ứng của Hà Nội rõ ràng đã làm cho chính quyền Giôn-xơn bị bất ngờ - điều này được thể hiện qua việc giải quyết một cách lúng túng chung quanh vấn đề chủ yếu thuộc về thủ tục là triệu tập hội nghị ở đâu2. Về vấn đề này, tác giả G.C Hê-ring ghi nhận: "Câu trả lời tích cực của Hà Nội làm cho Oa-sinh-tơn kinh ngạc và nhiều quan chức Mỹ nghi ngờ Bắc Việt Nam có mưu mẹo khôn ngoan nhằm khai thác tình cảm chống chiến tranh ở Mỹ. Chính quyền Mỹ không có sự lựa chọn nào khác là chấp nhận đề nghị thương lượng trực tiếp của Hà Nội, nhưng họ quyết tâm không vội vã lao vào thương lượng"3. Cuối cùng, hai bên đồng ý lấy Pa-ri - thủ đô của nước Cộng hòa Pháp làm địa điểm gặp nhau, nhưng "Mỹ giữ lập trường cứng rắn ngay từ đầu”4 (G.C. Hê-ring: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Sđd, tr. 269).

        Thực tế đã cho thấy rằng: dù cho Mỹ có "thành tâm" khi ngồi vào bàn đàm phán đầu tháng 4 năm 1968 đi chăng nữa thì đó cũng là ngồi vào bàn trên thế của kẻ mạnh. Theo hồi ký của Giôn-xơn thì, trong cuộc họp giữa tổng thống với các quan chức hàng đầu trong Chính phủ Mỹ ngày 9 tháng 4 năm 1968 để bàn về việc cử đại diện đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Rốt-xtâu - cố vấn Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ - đã bình luận việc Hà Nội chấp nhận cử đại diện đàm phán với Mỹ chính là đã "tự thừa nhận họ (tức Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đã ở vào một tình thế quân sự suy yếu”5. Trong khi đó Ha-ri-man - người được Giôn-xơn cử cầm đầu phái đoàn Mỹ hội đàm với phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa - đã nói tại cuộc họp ngày 9 tháng 4 năm 1968 này rằng: “Trong những cuộc đàm phán sắp tới, chúng ta (tức phía Mỹ - HK) phải cầm chắc là chúng ta sẽ đạt được những kết quả tích cực". Để đạt được "những kết quả tích cực" đó trên bàn hội nghị, theo Ha-ri-man, Mỹ cần phải đẩy mạnh hơn nữa những nỗ lực quân sự ở trên chiến trường: "Chúng ta (tức là Mỹ) càng mạnh về quân sự trên chiến trường thì lập trường chúng ta trong thương lượng càng có thế"6.

        Xuất phát từ quan điểm đó, trong khi trên chiến trường Việt Nam, quân Mỹ và quân Sài Gòn "có những nỗ lực điên cuồng"7 như nhận xét của tác giả Mỹ Hê-ring, bằng việc dồn sức mở hàng loạt các cuộc hành quân quy mô lớn, áp dụng nhiều biện pháp, sử dụng ồ ạt bom đạn và chất độc hòng giành thêm những lợi thế mới8.

--------------------
        1. Tuyên bố ngày 3 tháng 4 năm 1968 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

        2. Pi-tơ A.Pu-lơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-zơ-ven đến Ních-xơn. Sđd, tr.162.

        3, 4. Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Sđd, tr.269.

        5, 6. Hồi ký Giôn-xơn. Tlđd, tr, 430, 431. Cũng cần nhắc lại ở đây rằng, đầu năm 1969, khi mới bước vào Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Ních-xơn đã làm một cuộc kiểm điểm liên bộ về tình hình chiến tranh Việt Nam. Trong cuộc kiểm điểm này, theo hồi ký “Những năm ở Nhà Trắng” của Kít-xinh-gơ thì, người ta dễ dàng nhận thấy "có một trường phái tư tưởng tương đối lạc quan (về thắng lợi của Mỹ ở Việt Nam - HK), bao gồm đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, ông Ét-uốt Bân-cơ, hai vị tổng tham mưu trưởng, tướng Abram và đô đốc Giôn Mc.Ca-in (John Mc.Cain) - chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương. Nhóm này nghĩ là khi người Bắc Việt Nam chấp nhận đi vào đàm phán hòa bình thì chính là họ đã thú nhận sự suy yếu của họ trên phươpng diện quân sự". Tlđd, tr.26).

        7. G.C. Hê-ring: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Sđd, tr.273.

        8. Theo G.A. Am-tơ: "những hoạt động mới này là nhằm cản trở các cuộc hội đàm hòa bình, mà cuối cùng đã được bắt đầu ở Pa-ri ngày 13 tháng 5 năm 1968".
 


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 10:03:14 AM

        Rõ ràng, Giôn-xơn muốn thương lượng trên thế mạnh, và chỉ sau khi giành được những thắng lợi mới ở Việt Nam". Ngoài ra, "Giôn-xơn (còn) công bố chính quyền ông ta sẽ không thừa nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng hay Việt cộng. Hơn nữa, tổng thống đòi hai nhượng bộ: Nam Việt Nam được phép xác định tương lai chính trị của mình, và Mỹ được phép duy trì một "sự có mặt có thể là quân sự, ở Đông Nam Á"1; đồng thời, trên trường quốc tế, Mỹ ra sức tuyên truyền về "thắng lợi quân sự của Mỹ và đồng minh ở Nam Việt Nam từ sau Tết Mậu thân thì trên bàn hội nghị, phía Mỹ đã ngang nhiên đặt điều kiện cho việc chấm dứt ném bom hoàn toàn miền Bắc - bằng cách buộc chúng ta phải:

        -  Công nhận đại diện chính quyền Sài Gòn tại Hội nghị Pa-ri;

        -  Chấm dứt việc đưa người, vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam;

        -  Ngừng ngay các cuộc tiến công vào các thành phố lớn ở miền Nam Việt Nam.

        Công khai bám giữ lập trường trên đây, ngày 20 tháng 7 năm 1968, trong Thông báo chung nhân cuộc hội đàm giữa Giôn-xơn với Nguyễn Văn Thiêu tại Hô-nô-lu-lu, phía Mỹ khẳng định lại cam kết của Mỹ "quyết tâm ngăn chặn xâm lược",  "không bỏ miền Nam Việt Nam",  "Mỹ rút quân thì Bắc Việt Nam cũng phải rút quân ra khỏi Nam Việt Nam"...

        Ngày 31 tháng 7 năm 1968, tại một cuộc họp báo, Giôn-xơn đe dọa nếu không có một đột phá tại Pa-ri, Bắc Việt Nam không thay đổi lập trường của mình, ông "sẽ buộc phải có những biện pháp quân sự mạnh"2. Trong lúc đó các tham mưu trưởng liên quân Mỹ không hề "khoan nhượng", đã liên tiếp thúc ép phải tiếp tục "leo thang", kể cả việc dùng máy bay B.52 ném bom các "vùng đất thánh" của Bắc Việt Nam ở Campuchia. Vào trung tuần tháng 8 năm 1968, phát biểu tại hội nghị cựu chiến binh Mỹ, Giôn-xơn đã lại một lần nữa xác nhận quan điểm của Chính phủ Mỹ là: "Không có ý tiến xa thêm nữa cho đến khi có đủ lý do để tin rằng, phía bên kia có những ý đồ nghiêm chỉnh để phối hợp với Mỹ xuống thang chiến tranh và nghiêm chỉnh tiến tới hòa bình"3. Trước tình hình này, trưởng phái đoàn đàm phán Mỹ Ha-ri-man đã có lúc yêu cầu Giôn-xơn thỏa hiệp nhưng ngay lập tức đề xuất đó của Ha-ri-man bị bác bỏ. Sau này, một nhà ngoại giao Mỹ cho biết: "Những cuộc thương lượng gay go nhất của chúng tôi là với Oa-sinh-tơn chứ không phải với Hà Nội. Vào mùa hè đó chúng tôi không thể thuyết phục được, ngay cả với tổng thống"4. Trong lúc đó, chính quyền Sài Gòn công khai đòi đàm phán trực tiếp với Hà Nội - chứ không phải với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

        Rõ ràng là, sau ngày 31 tháng 3 năm 1968, lập trường nhất quán của phía Mỹ vẫn là dành cho mình quyền tự do hành động ở miền Nam trong khi ép đối phương phải giảm thiểu các hoạt động tiến công, chấm dứt đưa người và vũ khí từ miền Bắc vào, công nhận đại diện chính quyền Sài Gòn trên bàn hội nghị - nghĩa là, buộc Chính phủ ta phải thỏa mãn các điều kiện của Mỹ đưa ra trước khi Mỹ chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Thực chất, đấy vẫn là đòi hỏi trịch thượng của kẻ mạnh. Trước tình hình đó, Đảng ta vẫn kiên định lập trường vừa đấu tranh đòi Mỹ phải đơn phương chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, vừa chỉ đạo quân và dân ta ở miền Nam đẩy mạnh tiến công quân sự - chính trị, mở tiếp đợt 3 mà hướng chính vẫn là đô thị, nhằm làm cho địch: "Thất bại trên chiến trường, thất bại ở các thành thị lớn và thất bại ở ngay nước Mỹ"5.

        Như vậy diễn biến chiến trường sau “Tết Mậu thân" thực chất là sự phản ánh ý đồ chiến lược thực sự của cơ quan chỉ đạo chiến lược Việt Nam và tập đoàn cầm đầu Nhà Trắng ở Oa-sinh-tơn: giành ưu thế trên chiến trường để tạo thế mạnh ở bàn hội nghị. Nhìn lại thực tế lịch sử này, có tác giả Mỹ đã bình luận rằng: "Hình như cả hai bên đều tham gia vào cuộc phô trương công khai sức mạnh ý chí của mình"6.


------------------
        1. G.A.Am-tơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd, tr. 229.

        2, 4. Dẫn theo G.C. Hê-ring: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Sđd, tr.271.

        3. Dẫn theo P.A. Pu-lơ: Nước Mỹ và Dông Dương từ Ru-zơ-ven đến Ních-xơn, Sđd, tr.264.

        5. Nghị quyết Bộ Chính trị, tháng 8 năm 1968.

        6. Pi-tơ A.Pu-lơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-zơ-ven đến Ních-xơn Sđd, tr.264.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 10:21:50 AM

        Trong cuộc đọ sức quyết liệt đó, chẳng ai lấy làm lạ rằng, các bên tham chiến đều bị tổn thất nặng nề: Nếu như 111.360 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang cùng hàng vạn quần chúng của ta đã hy sinh và bị thương trong năm 1968 thì cũng là trong năm này, số thương vong của quân Mỹ đã "gia tăng ghê gớm, nó gần gấp hai lần tổng số thương vong của tất cả các năm trước đó cộng lại - 30.610 người so với 16.210 người"1. Chỉ sáu tháng đầu năm 1968, Mỹ, nguỵ đã bị tổn thất 101.400 người - như chính tài liệu của họ đã tự thú nhận2. Bước sang năm 1969, "số người Mỹ đã chết trong những tuần lễ đầu lên tới 453, tuần lễ thứ hai là 336, tuần lễ thứ ba là 351; những thiệt hại của phía Nam Việt Nam (tức quân đội Sài Gòn) còn nặng nề hơn vì lên tới trung bình 500 người mỗi tuần"3. Qua những con số thương vong này, chúng ta cũng đã hình dung được phần nào sự ác liệt của cuộc chiến ngày đó - một sự ác liệt mà mỗi bên đều buộc phải chấp nhận nhằm khẳng định ý chí, khẳng định tư thế của mình trên chiến trường đặng thông qua đó, giành lợi thế trên bàn đàm phán. Điều này không chỉ được chứng nghiệm trong THỜI ĐIỂM có tính bước ngoặt lớn - là năm 1968, mà sau đó, còn tái diễn trong năm 1972 để đi tới Hiệp định Pa-ri tháng 1 năm 1973. Theo đồng chí Lê Đức Thọ, sau chiến dịch Quảng Trị năm 1972, tại Pa-ri, Kít-xinh-gơ có nói đại ý: Nếu chỉ thuần túy về mặt quân sự thôi thì chẳng bên nào lại đánh và chịu tổn thất đến mức như vậy. Trả lời Kít-xinh-gơ, đồng chí Lê Đức Thọ cho rằng: "Đó là vấn đề chính trị, đánh để giành thế mạnh về chính trị trong đàm phán, chứ còn đứng về quân sự thì không ai vì một mảnh đất nhỏ đổ nát mà đánh đến như thế” 4.

        Như vậy phải thông qua những hoạt động cụ thể trên chiến trường - đặc biệt ở vào một thời điểm quyết định, quân và dân ta ngày đó mới buộc được phía Mỹ phải xuống tiếp một nấc thang chiến tranh bằng việc ngày 31 tháng 10 năm 1968, bỏ qua sự phản ứng gay gắt của chính quyền Sài Gòn, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã đơn phương tuyên bố chấm dứt hoàn toàn mọi hành động chống phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - mà không còn đưa ra điều kiện đòi ta phải ngừng chi viện cho cách mạng miền Nam; công nhận đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị 4 bên ở Pa-ri - mà trước đó phía Mỹ vẫn nhất mực phủ nhận... Buộc được Mỹ phải đơn phương xuống tiếp một nấc thang chiến tranh trong khi trên chiến trường, quân số Mỹ, ngụy, chư hầu tiếp tục tăng đến đinh cao là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược to lớn của phía Việt Nam, là một thành công trong chỉ đạo chiến lược nhất quán của Đảng ta; kéo Mỹ xuống thang chiến tranh để đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của Mỹ.

        Nhắc lại một số diễn biến lịch sử liên quan tới thời kỳ sau "Tết Mậu thân”, chúng tôi không nghĩ rằng đã lột tả được bối cảnh của tình hình mọi mặt rất phức tạp của thời kỳ này cũng như chưa đề cập trực tiếp sự sai - đúng của các đợt tiến công tháng 5 và tháng 8 năm 1968. Dù vậy, chỉ qua việc điểm lại một số sự kiện lịch sử trên đây, chúng tôi vẫn cho rằng: Sau tuyên bố ngày 31 tháng 3 năm 1968 của Tổng thống Mỹ Giôn-xơn, chúng ta không thể nào ngồi vào bàn đàm phán trực tiếp với phía Mỹ ở tư thế chủ động của người chiến thắng được5. Để có được nấc xuống thang chiến tranh mới của Mỹ ngày 31 tháng 10 năm 1968 nói trên, chúng ta buộc phải dồn hết tâm lực và chấp nhận sự hy sinh bằng cách đẩy mạnh các hoạt động tiến công - bằng cách dấn tới để khẳng định TƯ THẾ đàm phán, buộc Mỹ phải đàm phán theo yêu cầu của chúng ta. Nếu nói như một tác giả Mỹ vừa dẫn trên đây, trong những đợt tiến công tháng 5 và tháng 8, "hình như cả hai bên đều tham gia vào cuộc phô trương công khai sức mạnh ý chí của mình" thì đó chỉ là một cách nói tưởng như khách quan nhưng về mặt nào đó là chưa đầy đủ và chính xác. Bởi vì, với một tiềm lực kinh tế và quân sự như Mỹ, Mỹ có thể phô trương thanh thế và uy lực quân sự ở bất cứ nơi nào mà Mỹ muốn - và thực tế gần đây, ở Cô-xô-vô, ở Áp-ga-ni-xtan hoặc ở I-rắc hiện nay chẳng hạn, Mỹ đã phô trương và giành chiến thắng bằng chiến lược "lấy thịt đè người" này. Còn như ở hoàn cảnh như chúng ta vào năm 1968, chúng tôi cho rằng chúng ta không hề có ý định "phô trương” mà thực chất là đã buộc phải gồng mình lên, chấp nhận sự hy sinh để biểu hiện sức mạnh ý chí của mình. Buộc phải gồng mình lên để "biểu hiện sức mạnh ý chí" của mình một cách chủ đích, có ý thức không bao giờ là đồng nghĩa với duy ý chí" hoặc sự “cay cú"6.

        Ở trường hợp cụ thể như trường hợp "Tết Mậu thân" và sau "Tết Mậu thân" này7, chúng tôi nghĩ có lẽ những câu thơ sau đây của một nhà thơ thời chống Mỹ đã diễn đạt súc tích hơn điều mà chúng tôi mong diễn đạt:

                                         Ta đây có thích gì máu đổ
                                         Thích gì nghe đạn nổ bom rơi
                                         Ta chiến đấu bởi không cam cúi cổ
                                         Để cho quân giặc Mỹ chém ngang người


-----------------------
        1. Jeff Stein - Marc Leepson: Sổ tay sự kiện chiến tranh Việt Nam. Sđd, tr.81.

        2. Dẫn lại: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Sđd, T1, tr.311.

        3. Hen-ri Kít-xinh-gơ: Những năm ở Nhà Trắng, T1. Tlđd, chương 8, tr.33.

        4. Lê Đức Thọ: Một số vấn đề tổng kết chiến tranh. Sđd, tr.67, 68.

        5. Nhiều tác giả Mỹ, ví như G.C. Hê-ring chằng hạn, đã nhận định: "Mỗi bên có thể tuyên bố "chiến thắng" của mình trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu thân, nhưng thế trận của mỗi bên đều yếu đi nhiều và không bên nào có đủ ảnh hưởng để ép buộc phía bên kia đi đến một giải pháp". Quả thật, phải hơn 4 năm sau, Hiệp định Pa-ri mới được ký kết nhưng riêng cuối năm 1968, rõ ràng, Mỹ đã phải xuống tiếp một nấc thang chiến tranh.

        6. Đồng chí Trần Bạch Đằng trong bài viết Mậu thân - cuộc Tổng diễn tập chiến lược đăng trên tạp chí Lịch sử quân sự, số 2 năm 1988 đã nhận xét rằng: "Sứ mệnh của Mậu thân căn bản hoàn thành với đợt 1. Ở đây, bệnh cay cú dẫn chúng ta đi xa, và do đó, qua đợt 2, vùng nông thôn giải phóng bị thu hẹp và đến đợt 3 thì trên thực tế, chúng ta để mất gần hết vùng giải phóng”.

        7. Các đợt tiến công sau "Tết Mậu thán" - mà nhiều tác giả xem đó là những đòn đánh bồi, đánh nhồi vào ý chí xâm lược của Mỹ, đã được báo Nước Đức Mới, số ra ngày 7 và 8 tháng 2 năm 1998, ghi nhận: "Tuy Mỹ và các đồng minh đã có thể chuyển sang phản công, nhưng đợt tiến công tháng 5 và tháng 6 năm 1968 đã chứng tỏ rằng kẻ xâm lược đã vĩnh viễn mất đi thế chủ động chiến lược".
 


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 10:28:29 AM

        2. Một số suy nghĩ về “Tết Mậu thân”

        “Tết Mậu thân" là sự kiện tạo nên bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh kéo dài suốt 21 năm tại Việt Nam (1954-1975) trên một quy mô rộng lớn, đồng thời cũng là hiện tượng phức tạp nhất trong công tác tổng kết và biên soạn lịch sử chiến tranh chống Mỹ. Vì là một sự kiện lịch sử có tính bước ngoặt của cuộc chiến tranh, lại diễn ra trên một địa bàn rộng lớn với một ý đồ chiến lược hết sức quy mô nhưng cũng vô cùng bí mật... nên cho đến nay, chúng tôi tin chắc rằng chưa một nhà nghiên cứu nào có thể dám cho rằng đã nắm được hết các tài liệu tối mật của Bộ Chính trị hay Quân ủy Trung ương (sau này là Đảng ủy Quân sự Trung ương) về chủ trương chiến lược này. Theo chúng tôi, những sự kiện lịch sử cận - hiện đại thường cần phải có độ lùi sáu, bảy chục năm hoặc hơn nữa kể từ khi sự kiện lịch sử đó diễn ra mới có thể tạo điều kiện cho các nhà khoa học tiếp cận tư liệu một cách đầy đủ; và khi đó, người ta mới hy vọng nhìn sự kiện lịch sử ấy từ chiều thẳm sâu của chúng trong mối tương quan đồng đại và lịch đại với các sự kiện lịch sử khác.

        Lại nữa, tất cả các công trình, báo cáo, bài nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước về "Tết Mậu thân" mà chúng tôi đọc được, chưa một công trình nào mang ý nghĩa là một công trình tổng kết dày dặn của Bộ Chính trị hay Đảng ủy Quân sự Trung ương, thậm chí dù chỉ là một công trình tập thể của một cơ quan tổng kết chiến lược; cũng như chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện về sự kiện mang tính chất cột mốc này. Chúng ta có thể đọc được những chương sách, những bài tạp chí, những bài phát biểu trong các hội thảo về "Tết Mậu thân" từ nhiều nguồn và ở những thời điểm khác nhau; song tác giả của các bài viết, bài nói này hoặc chỉ nhìn từ một góc độ, một chiến trường cụ thể, một đợt tiến công cụ thể; hoặc có tác giả nêu lên vấn đề tưởng như lý luận sâu sắc: "không được đùa với khởi nghĩa"1, nhưng xem ra lại quá lệ thuộc vào lý luận về các điều kiện khởi nghĩa của Mác, Ăng-ghen, Lênin trước đây - so sánh "Tết Mậu thân" với tổng khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Mười Nga và Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam, mà không để ý mảng lịch sử là một chuỗi sự kiện không lặp lại bao giờ...

        Còn như các sách, báo và tài liệu của nước ngoài, từ hồi ký Giôn-xơn, hồi ký Oét-mo-len... đến những chuyên khảo về "Tết Mậu thân" của một số phóng viên báo chí hay giới sử học Mỹ, tuy về mặt khách quan cũng cho chúng ta những số liệu cần thiết, những nhận định nhiều khi sắc sảo để tham khảo, nhưng chung quy, họ không thể giấu được chỗ đứng, góc nhìn của họ trước sự kiện này nên dĩ nhiên là có nhiều trang mô tả phiến diện, thậm chí là xuyên tạc...

        Chính vì thực trạng tình hình tư liệu hiện thời như vậy mà ở chuyên luận này, chúng tôi không đặt phạm vi nghiên cứu toàn bộ các cuộc tiến công kéo dài hàng năm trời sau "Tết Mậu thân", mà chỉ khuôn lại nghiên cứu ở cuộc tiến công đợt 1, tức là đến ngày 31 tháng 3 năm 1968 - cái ngày mà dưới tác động của đòn "Tết Mậu thân", cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ đã ngoặt sang cục diện khác, khung cảnh khác, khuôn khổ khác.

        Cố gắng miêu tả một cách cụ thể lịch sử và toàn diện đợt tiến công "Tết" này để rút ra được những bài học lịch sử cần thiết và mạnh dạn trình bày những suy nghĩ bước đầu của mình trong quá trình bắt tay vào nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng rằng đó sẽ là một đóng góp nhỏ trong việc tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử kháng chiến chống Mỹ.

        * Về phát hiện và chớp thời cơ chiến lược

        Từ xưa tới nay, thời cơ là một trong các điều kiện quan trọng mà mỗi bên tham chiến cần phát hiện để chớp lấy kịp thời nhằm tạo nên chuyển biến quyết định của cục diện chiến tranh. Thời cơ là cả một quá trình chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị thế trận; là cả một quá trình phân tích các nhân tố quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao liên quan tới cuộc chiến tranh trong một khoảng thời gian nhất định.

        Lãnh đạo quân và dân ta ở cả hai miền Nam, Bắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ, không bao giờ Đảng ta có ảo tưởng thắng Mỹ - cũng như với Pháp trước đây, trên thế áp đảo về sức mạnh quân sự thuần túy. Trong mấy chục năm chiến đấu dạn dày về kinh nghiệm của một nước nhỏ chống lại một kẻ xâm lược lớn, bao giờ Đảng ta cũng rất chú trọng vấn đề thời cơ chiến lược và ra sức chuẩn bị mọi mặt để tạo thời cơ. Và một khi thời cơ đến là ra sức thúc đẩy, chớp lấy thời cơ để hạ quyết tâm chiến lược kịp thời nhằm xoay chuyển cục diện chiến tranh.

------------------------
        1. Tống Hồ Trinh: Không được đùa với khởi nghĩa. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 7 năm 1988.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 10:32:42 AM

        Ngay từ cuối năm 1965, Nghị quyết đánh Mỹ của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (tháng 12 năm 1965) đã chỉ ra phương hướng giành thắng lợi trong chiến tranh cục bộ là: Trên cơ sở tiếp tục quán triệt phương châm đánh lâu dài, "cần cố gắng cao độ, tập trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ, giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam". Cần lưu ý rằng, ngay ở Nghị quyết này, khái niệm "Giành thắng lợi quyết định" ở đây không bao hàm ý nghĩa là tiêu diệt toàn bộ lực lượng quân sự địch mà thực chất chỉ là "đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, thực hiện mục tiêu về độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập , tiến tới thống nhất nước nhà".

        Theo dõi lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ từ sau năm 1965, chúng ta thấy phương châm chiến lược này đã quán xuyến trong từng chiến dịch, từng đợt hoạt động quân sự và chính trị. Chúng ta biết thắng địch từng bước, thắng từng bộ phận và luôn luôn tính sao cho "thắng Mỹ vừa với sức ta". Vì thế, sau thắng lợi đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, đánh bại các mục tiêu chiến lược của cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, Đảng ta nhận thấy thời cơ thuận lợi tiến lên giành thắng lợi to lớn hơn, đang đến gần.

        Trên chiến trường, mặc dù quân số địch lên tới mức cao nhưng tất cả ưu thế về binh lực, hỏa lực và sức cơ động của chúng bị hạn chế rất thiều trước thế trận và cách đánh của ta. Những chỗ yếu của địch không được khắc phục mà ngày càng bị khoét sâu thêm - đặc biệt là chỗ yếu về chính trị. Vì thế, mặc dù địch vẫn còn rất chủ quan nhưng nhìn chung, "Xu thế của tình hình trong cả nước năm 1968 là địch sẽ ngày càng chuyển vào phòng ngự một cách bị động hơn trước"1.

        Mặt khác, xuất phát từ sự phân tích rằng: Việt Nam không phải là mục tiêu quan trọng nhất trong chiến lược toàn cầu của Mỹ nên Mỹ không thể hy sinh mọi lợi ích ở các khu vực chiến lược khác vì cuộc chiến tranh Việt Nam, Đảng ta nhận thấy: "So với mục đích chính trị, quân sự nhất định của chúng thì những cố gắng chiến tranh lớn của Mỹ (cùng với những thiệt hại nặng nề của chúng) ở Việt Nam đã lên tới đỉnh cao”2. Đây là một nhận định rất quan trọng trong việc hoạch định kế hoạch chiến lược "Tết Mậu thân". Bởi vì, trong chỉ đạo chiến lược, nhận thức được đâu là thời điểm đỉnh cao trong cố gắng chiến tranh của đối phương để xác định thời điểm tiến hành đòn đành quyết định có ý nghĩa to lớn. Nếu nhận thức không chính xác chọn thời điểm giáng đòn quyết định không đúng lúc thì hiệu lực thấp, thậm chí kết quả có thể ngược lại so với tính toán ban đầu vì đối phương có thể phản ứng nhanh, tăng viện ồ ạt, tiếp tục nỗ lực chiến tranh ở mức mạnh mẽ hơn, gây cho ta những tổn thất to lớn.

        Ở trên chiến trường Việt Nam đã vậy, còn tại Mỹ, chính quyền Giôn-xơn đang gặp phải những khó khăn to lớn về chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội, ngoại giao do hậu quả bị sa lầy trong chiến tranh Việt Nam. Tất cả tình hình này của Mỹ được Đảng ta phân tích, đánh giá. Đồng thời, Đảng ta còn nhận rõ những khó khăn đó trong nội bộ nước Mỹ càng bị nhân lên khi mà năm vận động bầu cử tổng thống ở Mỹ đang xích lại gần. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là cần phải và có thể lợi dụng tình hình đó để buộc chính phủ Mỹ phải quyết định “xuống thang" chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán.

        Về phía ta, mặc dù ta vẫn còn nhiều khó khăn, nhược điểm (về tổ chức lực lượng, về khả năng đánh tiêu diệt lớn, về đảm bảo hậu cần, về phong trào đô thị...) nhưng "diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi. Địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn”3.

        Từ những phân tích, đánh giá diễn biến và xu thế phát triển của tình hình như thế, Đảng ta đã đi tới nhận định: "Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược"4. Tình hình đó cho phép chúng ta "có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định như Nghị quyết của Hội nghị của trung ương Đảng lần thứ 12 và 13 đã đề ra”5.

-------------------------
        1, 2, 3, 4, 5. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lằn thứ 14, tháng 1 năm 1968.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2017, 10:36:57 AM

        Như vậy trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo quân và dân ta ở cả hai miền Nam, Bắc đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ", Đảng ta đã luôn luôn kiên định chủ trương "giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam" - chủ trương quán xuyến suốt gần 3 năm (1965-1967) mà Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 (tháng 12 năm 1965) và 13 (tháng 1 năm 1967) đã dự kiến. Theo phương hướng này, trong khi chỉ đạo quân và dân ta trên chiến trường đẩy mạnh tiến công địch về quân sự và chính trị, ra sức chuẩn bị thế trận và lực lượng cho trận đánh quyết định, Đảng ta đồng thời theo dõi sát diễn biến trên chiến trường cũng như ở ngay trong nước Mỹ và trên thế giới. Khỉ phát hiện thấy động thái mới của địch sau mùa khô 1966-1967, Đảng ta đã dự kiến được xu thế phát triển của cuộc chiến tranh và phát hiện được thời cơ để hạ quyết tâm chiến lược kịp thời bằng việc mở cuộc tiến công "Tết Mậu thân" 1968. Vì vậy, trong thư gửi Trung ương Cục và Quân ủy Miền, đồng chí Lê Duẩn đã chỉ rõ: "Từ ba, bốn năm nay, ta đã chuẩn bị lực lượng và thế trận cho trận quyết chiến chiến lược này. Song, vì nhiều lý do, lực lượng ta chuẩn bị chưa đủ. Tuy vậy như Trung ương đã phân tích, khi đã có thời cơ thuận lợi nếu chúng ta biết làm và làm đúng, có sự nỗ lực vượt bậc thì lực lượng ít cũng có thể tạo nên sức mạnh, bảo đảm giành thắng lợi rất to lớn, rất quan trọng"1.

        Nếu để ý rằng, “bức thư” vào Nam gửi Trung ương Cục và Quân ủy Miền trên đây được gửi đi trước giờ G của “Tết Mậu thân" chưa đầy 2 tuần, rằng trong "bức thư" này, những điều trích dẫn trên đây được đặt dưới tiêu đề: "THỜI CƠ LÀ HẾT SỨC QUAN TRỌNG", chúng ta có thể xem đây như một mệnh lệnh cuối cùng sau 3 năm tạo thời cơ, chờ đón thời cơ và chớp lấy thời cơ để giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam, của Bộ Chính trị Trung ương Đảng.

        * Về nghệ thuật tiến công

        Nhằm tạo ra hiệu lực chiến lược mạnh, làm tan rã ý chí xâm lược của đối phương, Đảng ta đã chủ trương trong “Tết Mậu thân", vừa tiến công rộng khắp và đồng loạt - một cách đánh chiến lược mới; vừa táo bạo hướng sức mạnh của chiến tranh cách mạng vào các đô thị miền Nam. Đảng xem đó là "mũi nhọn thọc sâu vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng chiến lược đối với toàn bộ chiền trường và toàn bộ cuộc chiến tranh"2, là “đòn ác liệt nhất đánh vào tim óc, huyết mạch của địch, và cũng là cách tốt nhất để phối hợp ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược để tiêu diệt nhiều nhất sinh lực địch, làm sập chỗ dựa chính trị của địch và đè bẹp ý chí xâm lược của chúng”3 (Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14, tháng 1 năm 1968). Nhưng muốn tiến công vào hệ thống dinh lũy của Mỹ, ngụy - nơi được tổ chức phòng thủ chặt chẽ bằng nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều lực lượng, nhiều biện pháp, nhiều thủ đoạn... chúng ta phải giải quyết một loạt các vấn đề thuộc về nghệ thuật tiến công trong "Tết Mậu thân", đặc biệt là trong điều kiện tương quan lực lượng quân sự đôi bên trên chiến trường lúc bấy giờ nghiêng lệch về phía địch.

        Nghi binh chiến lược nhằm phân tán lực lượng chủ lực địch, làm lạc hướng sự đề phòng của chúng đã được các cơ quan chỉ đạo chiến lược và các cấp chỉ huy chiến trường triển khai thực hiện từ trước "Tết Mậu thân" bằng nhiều biện pháp và nhiều thủ đoạn kết hợp. Những tháng cuối năm 1967, chúng ta đã lần lượt mở một số chiến dịch ở' vùng ven biên giới, ở Tây Nguyên; đồng thời chúng ta duy trì các hoạt động quân sự ở vùng ven đô thị và ở vùng nông thôn đồng bằng như lệ thường. Các hoạt động như vậy khiến cho địch lầm tưởng rằng lực lượng của ta đã bị thương vong nặng qua cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966-1967, không còn khả năng mở các chiến dịch ở đồng bằng như trước. Điều này dường như là lôgíc với bài báo của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Việt Nam đăng trên nhật báo Nhân Dân và Quân đội nhân dân trong tháng 9 năm 1967, trong đó nhà lãnh đạo này khẳng định lại quyết tâm đánh lâu dài và kêu gọi toàn quân, toàn dân bảo toàn lực lượng. Trên mặt trận ngoại giao, vào tháng 12 năm 1967, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố phóng thích hai tù binh Mỹ. Tiếp đó Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ta công khai ngỏ ý tại một buổi chiêu đãi đoàn ngoại giao rằng: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ đi vào đàm phán với Mỹ. Điều đáng lưu ý là, trước đó ta mới chỉ công khai tuyên bố sẽ có thể "nói chuyện" nếu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc mà thôi. Tín hiệu ngoại giao này càng làm cho chính quyền Mỹ bị phân hóa giữa phái chủ chiến và phái chủ hòa. Nhưng điều quan trọng hơn lại là ở chỗ, qua những cử chỉ ngoại giao đó, giới lãnh đạo Mỹ càng thêm tin chắc là ta đã thực sự bị suy yếu trên mặt trận quân sự.

---------------------
        1. Thư gửi Trung ương cục và Quân ủy miền Nam, ngày 18 tháng 1 năm 1968 (Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr.192).

        2, 3. (Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14, tháng 1 năm 1968)


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2017, 03:18:45 PM

        Bước sang tháng 1 năm 1968, ta đã chủ động mớ hai chiến dịch quân sự lớn, một ở Nậm Bạc (Lào) và một ở đường 9 - Khe Sanh. Ngay lập tức Khe Sanh đã thu hút sự chú ý của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn và giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn. Sau này, một tác giả Mỹ - Mai-cơn Mác-li-a, đã bình luận rằng: đạn pháo của chủ lực miền Bắc dội xuống Khe Sanh đã "rơi ngay vào thủ đô Oa-sinh-tơn"1. Giới lãnh đạo Mỹ khi đó nhận định Khe Sanh là một "Điện Biên Phủ” trong ý đồ chiến lược của Bộ thống soái Việt Nam. Vì vậy, Giôn-xơn đã lệnh cho các tham mưu trưởng liên quân Mỹ phải cam kết giữ Khe Sanh bằng mọi giá. Chính là sự phán đoán sai lầm này của Mỹ đã buộc Mỹ phải trả giá nặng nề: tâm trí và lực lượng Mỹ dồn vào mặt trận Khe Sanh nên khi "Tết Mậu thân" nổ ra, một bộ phận quân Mỹ bị ở vào thế như "cá voi mắc cạn".

        Trong dịp "Tết Mậu thân" hướng tiến công chủ yếu nhằm vào đô thị miền Nam thực sự đã LÀ MỘT BẤT NGỜ LỚN, khiến cho địch trên chiến trường không kịp trở tay, khiến cho giới lãnh đạo Mỹ ở Oa-sinh-tơn ngày đó đã phải “sững sờ, choáng váng". Đây là lần đầu tiên trong suốt bao năm ròng kháng chiến, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào sâu trong lòng địch, đã biến hậu phương và hậu cứ địch thành chiến trường của ta. Đó là một thành công lớn của Đảng trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh - nghệ thuật đánh hiểm, đánh đau, đánh vào yết hầu, vào trung ương thần kinh địch. Bởi vì, "cùng với bấy nhiêu quân, với thế trận và so sánh lực lượng khi bước vào Đông - Xuân 1967-1968, nếu chúng ta vận dụng một chiến lược khác, chọn một hướng tiến công khác thì chắc rằng cuộc chiến tranh sẽ không thay đổi một cách đột biến, đẩy địch vào thế tồi tệ bốn bề nguy khốn (...) cả về quân sự và chính trị"2 như dịp Tết Mậu thân.

        Bất ngờ của "Tết Mậu thân" không chỉ là hướng tiến công mà còn là thời điểm tiến công. Thời điểm đó là dịp Tết Nguyên đán - lúc địch dễ bộc lộ sở hở, chủ quan và lơi lỏng nhất trong việc đề phòng. Thực tiễn đã cho thấy việc chọn thời điểm tiến công bất ngờ vào dịp Tết của ta là vô cùng sáng suốt. Sau này, nhiều tài liệu từ phía địch đã xác định rằng: vào những ngày khi "Tết Mậu thân" nổ ra, các đơn vị quân đội Sài Gò chỉ còn một nửa quân số, khiến cho Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn vô cùng lúng túng trong việc ứng phó. Cũng qua thực tế này, giới lãnh đạo ở Oa-sinh-tơn đã nản lòng. Một trong những sự nản lòng, "vỡ mộng" lớn nhất của Mỹ lúc đó là không còn hy vọng gì vào khả năng của chính quyền và quân đội Sài Gòn. Sau đó cho dù có trao dần gánh nặng chiến tranh sang vai quân đội ngụy nhằm "thay màu da trên xác chết" thì điều này không có nghĩa là quân ngụy đã thực sự mạnh lên dưới con mắt của Mỹ mà chẳng qua chỉ là sự "lót đường", là "cái cớ" cho Mỹ rút ra trong danh dự, trút bỏ dần trách nhiệm và đỡ mất mặt trước thế giới3.

        Trong "Tết Mậu thân", đòn tiến công của ta đã nhằm trúng vào các mục tiêu “yết hầu”, "huyết mạch", "tim óc" của địch. Hệ thống mục tiêu bị tiến công trong "Tết Mậu thân" bao gồm: các cơ quan đầu não trung ương và địa phương của chính quyền Sài Gòn, các sở chỉ huy, bộ tư lệnh sân bay, bến cảng, kho tàng, căn cứ truyền tin, đầu mối giao thông... Đó là những mục tiêu tập trung sinh lực cao cấp của địch, những mục tiêu nhạy cảm nhất trong bộ máy chiến tranh của chúng ở miện Nam. Đặc biệt, trong “Tết Mậu thân", tòa đại sứ Mỹ - nơi biểu trưng cho quyền uy của Mỹ tại Nam Việt Nam đã bị tiến công và bị chiến giữ trong nhiều giờ. Trên nền chung của hàng loạt đô thị và hàng loạt mục tiêu hiểm yếu bị tiến công đồng loạt, cuộc tiến công nhằm vào sứ quán Mỹ đã vượt xa tầm vóc ý nghĩa của một trận đánh cụ thể. "Xem ra, toàn thế giới đang hướng về sứ quán và phán xét hành động này như thể toàn bộ cuộc chiến tranh sẽ được quyết định"4 bởi việc giành giật quyền kiểm soát sứ quán của cả hai bên.

        Nghệ thuật tiến công "Tết Mậu thân" không chỉ là nghệ thuật chọn mục tiêu mà còn là nghệ thuật chọn hình thức và phương thức tiến công. Trong "Tết Mậu thân", chúng ta đã tiến công đồng loạt, tiến công bằng nhiều hình thức, nhiều lực lượng. Chúng ta không tiến công tuần tự từ ngoài vào trong mà kết hợp từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, khiến cho địch bị bất ngờ càng thêm bất ngờ và lúng túng.

--------------------
        1. Mai-cơn Mác-li-a: Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày. Sđd, tr.148.

        2. Lê Duẩn: Bài nói tại Hội nghị các bí thư tỉnh ủy miền Bắc, ngày 9 tháng 3 năm 1968. Dẫn theo Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II (1954-1975), Nxb Chính trị quốc gia, H, 1995, tr.398.

        3. Vào cuối năm 1968, các cố vấn Mỹ xếp hạng 2 sư đoàn quân đội Sài Gòn vào loại "cực kỳ kém", 8 sư đoàn chỉ ở mức "có khá lên" và chỉ có 1 sư đoàn là "giỏi". Cần phải nói thêm rằng, năm 1968 là năm nạn đào ngũ trong quán đội Sài Gòn "lên cao chưa từng thấy" như nhận xét của Hê-ring và tình trạng đó tiếp tục gia tăng trong năm 1969.

        4. Đôn O-bớc-đoi-phơ: TẾT, Sđd, tr.25.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2017, 09:01:58 PM

        Như vậy trong "Tết Mậu thân", việc nghi binh, chọn hướng, chọn thời điểm, chọn mục tiêu, chọn hình thức, và phương thức tiến công đã chứng tỏ bước phát triển mới trong nghệ thuật chi đạo chiến tranh, trong nghệ thuật tiến công của Đảng và quân, dân ta trên chiến trường. Trong khi chiến lược quân sự Mỹ là "tìm và diệt" , nhằm "đưa chiến tranh tới tận xứ sở" của đối phương và trong khi bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn vẫn nhất mực tin rằng chiến lược của đối phương là "lấy nông thôn bao vây thành thị"... thì chiến tranh lại nổ ra mạnh mẽ, đồng loạt ngay giữa Sài Gòn và một loạt các thành phố, thị xã, thị trên trên toàn miền Nam. Nếu để ý rằng vào đầu năm 1968, lực lượng quân sự địch tại miền Nam lên tới gần 1 triệu 30 vạn tên với hệ thống chính quyền tay sai, ấp chiến lược và mạng tình báo, đặc vụ giăng khắp mọi nơi thì cuộc tiến công "Tết" của chúng ta mà hướng chính là nhằm vào đô thị quả là một hành động "xuất thần", khiến cho các nhân viên C.I.A cũng phải thú nhận rằng: Nếu như họ có bắt được toàn bộ kế hoạch tiến công của đối phương thì họ cũng không sao hiểu được "bản chất" của kế hoạch đó. Nhưng chính là "bản chất" của kế hoạch chiến lược táo bạo này, chính là nghệ thuật tiến công sáng tạo - Tết Mậu thân" đã tạo nên hiệu quả chiến lược to lớn và tạo ra tính đặc sắc của sự kiện lịch sử này. Bằng nghệ thuật tiến công đó "Tết Mậu thân" đã giáng đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của Mỹ, khiến cho ý chí xâm lược của Mỹ bị lung lay mạnh trong khi cố gắng chiến tranh của họ tại Việt Nam đang lên tới đỉnh cao.

        Để có được nghệ thuật tiến công "Tết Mậu thân", toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã vượt qua nhiều gian khổ hy sinh, nêu cao quyết tâm tiến công quân địch, xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng vững chắc trên khắp ba vùng chiến lược, tổ chức và bố trí hợp lý lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang ba thứ quân ở đô thị, vùng ven, vùng nông thôn đồng bằng và rừng núi. Ngoài ra, nghệ thuật tiến công Tết Mậu thân còn là kết quả của cả một quá trình nắm bắt thực tiễn trên chiến trường và tình hình nội bộ nước Mỹ, từ đó tính toán chọn lựa và tìm cách đánh Mỹ, cách thắng Mỹ phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam của Đảng ta, của các cấp chỉ đạo, chỉ huy chiến trường.

        * Về nghệ thuật sử dụng lực lượng

        “Tết Mậu thân" được khởi xướng trong điều kiện lực lượng quân sự địch vẫn còn hơn một triệu tên, bộ máy chiến tranh của địch vẫn còn hiệu lực và tiềm lực chiến tranh của chúng còn dồi dào. Để đạt được mục tiêu chiến lược đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, Đảng chủ trương trong "Tết Mậu thân", sử dụng một cách tốt nhất lực lượng vũ trang của ta, dùng binh lực và hỏa lực mạnh của ta đánh vào các binh đoàn chủ lực địch, đánh mạnh vào thủ đô và các thành phố, tạo điều kiện cho hàng triệu quần chúng ở đô thị và các vùng nông thôn tạm bị chiếm nổi dậy khởi nghĩa, phối hợp với lực lượng quân sự của ta tiêu diệt và làm tan rã quân địch, đánh sập bộ máy đầu não của ngụy quyền, làm rối loạn và tê liệt tận gốc bộ máy chiến tranh của MỸ, ngụy, biến hậu phương và dự trữ chiến tranh của địch thành hậu phương và dự trữ chiến tranh của ta, làm thay đổi lực lượng so sánh một cách mau chóng và có lợi cho ta, không có lợi cho địch.

        Theo phương hướng đó, trước và trong Tết Mậu thân, các đơn vị bộ đội chủ lực ta đã mở một số chiến dịch ở vùng rừng núi miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, miền Tây Trị - Thiên nhằm kéo một bộ phận quan trọng chủ lực Mỹ lên chiến trường rừng núi, tạo điều kiện thuận lợi cho đòn tiến công và nổi dậy ở các đô thị bị Mỹ, ngụy chiếm đóng.

        Tại các đô thị, ở vùng ven, ta sử dụng một số đơn vị bộ đội chủ lực đánh chiếm các mục tiêu, kìm chân các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn chủ lực địch, tạo điều kiện cho lực lượng đặc biệt tinh nhuệ là các đội đặc công, biệt động, bất ngờ đánh chiếm một số cơ quan đầu não tại trung ương và địa phương của địch. Từ vùng ven các tiểu đoàn mũi nhọn được tổ chức và trang bị gọn nhẹ nhanh chóng đánh chiếm những lực tiêu được phân công. Một số tiểu đoàn đã tiến được vào các khu vực mục tiêu nằm sâu trong nội thành, trụ lại đánh địch phản kích trong nhiều ngày. Đồng thời, ta sử dụng pháo cối và rốc két đánh vào nhiều mục tiêu khác như sân bay, sở chỉ huy, trung tâm thông tin của địch...


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2017, 09:02:56 PM

        Phối hợp với lực lượng đặc công, biệt động, tiểu đoàn mũi nhọn, các đội vũ trang và bán vũ trang của các ban, ngành, đoàn thể như Thanh niên, Công vận, Phụ nữ, Hoa vận... cơ động đánh địch trên đường phố. Ở vòng trong là vậy còn ở vòng ngoài, các sư đoàn, trung đoàn chủ lực của ta đón đánh không cho các đơn vị chủ lực địch tăng viện vào vùng ven và nội thành, giữ phía sau cho các tiểu đoàn mũi nhọn.

        Những đòn quân sự trên đây có tác dụng châm ngòi cho quần chúng nổi dậy ở nhiều khu phố, nhiều đô thị1 (Dịp Tết Mậu thân, quần chúng nhân dân ở nhiều đô thị, đặc biệt là ở Sài Gòn và Huế, đã nổi dậy với nhiều hình thức trong điều kiện cuộc chiến diễn ra quyết liệt, dữ dội. Tựu trung, đó là việc ở nhiều khu phố, nhiều xóm thợ, nhân dân đã giải tán chính quyền cơ sở địch, giành quyền kiểm soát, truy bắt ác ôn, tiếp tế cho bộ đội, tải vũ khí, tải thương, cứu chữa và chăm sóc thương binh, dẫn đường cho bộ đội, kêu gọi binh lính Sài Gòn trở về với cách mạng... Trong một bài viết nhân dịp kỷ niệm tròn 30 năm Tết Mậu thân, tác giả Trần Bạch Đằng cho rằng, quần chúng nổi dậy, là một hiện tượng không bao giờ lặp lại; hiểu nổi dậy của quần chúng dịp Tết Mậu thân phải đặt nó trong bối cảnh xác định chứ không nên lấy những mô hình, những khuôn mẫu ở nơi khác hoặc dịp khác - chằng hạn như trong Cách mạng Tháng Mười Nga, Cách mạng Tháng Tám nam 1945 hoặc Đồng khởi năm 1960... làm tiêu chí soi xét. Tác giả Trần Bạch Đằng cho rằng, đến như sự đồng tình của nhân dân các đô thị đối với các đơn vị Quân giải phồng dịp Tết Mậu thân - ít nhất cũng không có thái độ thù địch, đã là một trong số những nhân tố khiến giới lãnh đạo nước Mỹ nản lòng; thất vọng. Còn Thượng tướng Trần Vãn Trà khẳng định: không có sự ủng hộ, đồng tình của nhân dân, không thể đánh theo kiểu Mậu thân) dưới nhiều hình thức và đến lượt nó, lại tiếp thêm sức mạnh cho đòn tiến công quân sự. Tận dụng thời cơ có lợi do đòn tiến công và nổi dậy ở đô thị tạo ra, lực lượng vũ trang tại chỗ đã hỗ trợ cho quần chúng ở nhiều vùng nông thôn bị địch chạm nổi dậy đập tan chính quyền cơ sở địch, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng.

        Với việc bố trí, tổ chức và sử dụng lực lượng như vậy, trong dịp "Tết Mậu thân", quân và dân ta trên chiến trường đã phát huy được đầy đủ và mạnh mẽ khí thế tiến công, biểu lộ ý chí, quyết tâm và lực lượng hùng hậu của mình, khiến cho giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn nhận thấy lực lượng quân sự của Mỹ - cho dù có tăng thêm hàng trăm nghìn quân nữa và ném vào đó hàng trăm tỷ đô la chiến phí đi nữa cũng không thể nào khuất phục nổi nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, ở Sài Gòn, mặc dù lực lượng không nhiều nhưng các đơn vị đặc công, biệt động, tiểu đoàn mũi nhọn và các đội vũ trang, bán vũ trang của Thành đoàn, Hoa vận, Công vận, Phụ vận... đã đánh sâu, đánh hiểm, đánh trúng và đánh đồng loạt vào nhiều mục tiêu yết hầu của địch ở trung ương và địa phương, tạo nên sức thôi động mạnh, tác động nhanh tới ý chí của kẻ thù. ĐÓ là một thành công nổi bật trong nghệ thuật bố trí và sử dụng lực lượng trong dịp "Tết Mậu thân " của Đảng ta, là một biểu hiện của nghệ thuật quân sự Việt Nam - nghệ thuật phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít đánh nhiều lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy trí tuệ con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam để chiến thắng vũ khí và sức mạnh bạo tàn của lực lượng quân sự Mỹ.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2017, 09:03:52 PM

        KẾT LUẬN

        Suốt chặng đường 21 năm chiến đấu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc (1954-1975), dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thử thách khốc liệt của chiến tranh, đã chịu nhiều tổn thất hy sinh, đã phải tự tìm đường đánh Mỹ - một cường quốc của thế kỷ XX đang theo đuổi chiến lược toàn cầu mà Việt Nam là một "đô-mi-nô" trong tính toán chiến lược từ lâu của Mỹ. Trên chặng đường 21 năm, Mỹ đã thi hành nhiều thủ đoạn và biện pháp, thay đổi nhiều chiến lược chiến tranh, bỏ ra nhiều tiền của và công sức hòng khuất phục đối phương. Tìm đường đánh Mỹ và tìm cách thắng Mỹ do đó, là cả một quá trình lâu dài, gian khổ, đầy sáng tạo và rất mưu lược của dân tộc Việt Nam. "Tết Mậu thân” với hiệu quả chiến lược của nó, đã là một thành công lớn trong quá trình này.

        “Tết Mậu thân", từ trong ý đồ của các cơ quan chỉ đạo chiến lược Việt Nam đến diễn biến thực tế trên chiến trường, là một hoạt động rộng lớn, phức tạp. Đương đầu với Mỹ - đối thủ có quân số đông, vũ khí hiện đại, hỏa lực dồi dào, sức cơ động cao, lại chiếm ưu thế áp đảo trên không, trên sông, trên biển... nên không thể có ảo tường đánh tiêu diệt đội quân viễn chinh này. Suốt những năm “chiến tranh cục bộ" - đỉnh cao nhất trong toàn bộ cố gắng chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, trong khi chỉ đạo quân và dân ta trên chiến trường giữ vững và phát huy mạnh mẽ chiến lược tiến công, ra sức chuẩn bị thế trận và lực lượng, Đảng ta đồng thời theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến liên quan tới cuộc chiến tranh - cả trên chiến trường, ở nước Mỹ và trên thế giới. Với tầm nhìn đó, Đảng ta đã dự kiến được xu thế phát triển của cuộc chiến tranh, phát hiện được thời cơ chiến lược đang xuất hiện. Trong điều kiện tương quan lực lượng quân sự lúe bấy giờ vẫn nghiêng về phía địch, song, nắm vững chiều hướng vận động của tình hình và để kịp chớp lấy thời cơ có lợi nhằm xoay chuyển cục diện chiến tranh, Đảng chủ trương đánh vào ý chí xâm lược của đối phương bằng SỨC MẠNH TỔNG HỢP của chiến tranh cách mạng miền Nam, bằng việc kết hợp chặt chẽ và nhịp nhàng giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao, nhằm vào toàn bộ mục tiêu hiểm yếu của địch trên chiến trường, đặc biệt bằng cách đánh hiểm, đánh vào yết hầu, đánh vào tim óc của địch, vào thời điểm nhạy cảm nhất trong đời sống chính trị của nước Mỹ - là năm vận động bầu cử tổng thống nhiệm kỳ mới.

        Vì thế hiệu quả chiến lược rộng lớn của "Tết Mậu thân" không do một nhân tố đơn lẻ nào tạo ra mà là kết quả tổng hợp của một loạt nhân tố quân sự - chính trị - tâm lý - ngoại giao. "Tết" chẳng những phơi bày toàn bộ quá trình thất bại của Mỹ trên chiến trường Việt Nam cả về quân sự, chính trị, phơi bày sự bất lực của một đạo quân đông tới gần 1 triệu 300 nghìn tên được trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại trước sức tiến công và cách đánh của đối phương, làm lộ rõ những sai lầm về chiến lược cũng như cách thức điều hành chiến tranh của giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn và giới tướng lĩnh Mỹ trên chiến trường, biểu dương ý chí, nghị lực và sức mạnh quật cường của quân dân Việt Nam... "Tết" còn làm bộc lộ những giới hạn trong sức mạnh quân sự, kinh tế của Mỹ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới chiến lược toàn cầu mà Mỹ theo đuổi từ lâu... Vì lẽ đó, cho dù Mỹ là một NƯỚC LỚN, một nước chưa hề bại trận trong lịch sử 200 năm lập nước của mình, một nước ở cách xa chiến trường Việt Nam đến nửa vòng quả đất thì "Tết Mậu thân" vẫn gây nên những chấn động dữ dội giữa lòng nước Mỹ khiến cho đông đảo các tầng lớp xã hội Mỹ - kể cả các quan chức cấp cao, các nghị sĩ, các tập đoàn tài phiệt đầy thế lực ở Mỹ, phải thay đổi quan điểm đối với cuộc chiến tranh, không còn hậu thuẫn cho chính sách chiến tranh của chính quyền Giôn-xơn nữa...


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2017, 09:04:21 PM

        Tất cả những điều đó buộc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn, vào đêm 31 tháng 3 năm 1968, đã phải xuất hiện trên vô tuyến truyền hình công khai tuyên bố đơn phương chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, rút bỏ cam kết đưa quân viễn chinh Mỹ vào cuộc chiến tranh trên bộ ở Việt Nam trong khi chưa một mục tiêu nào của cuộc chiến tranh này được thực hiện. Việc trút bỏ gánh nặng chiến tranh xuống vai chính quyền và quân đội Sài Gòn - một lực lượng vốn đã bại trận trước khi quân Mỹ buộc phải tham chiến và ngày càng phụ thuộc vào sự có mặt của quân Mỹ, về thực chất, là làm cho Mỹ phải phụ thuộc vào chính kẻ đang phải phụ thuộc vào mình. Đây là đảm bảo cho thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam. Vì thế, cho dù sau "Tết", cuộc chiến tranh vẫn còn kéo dài và rất ác liệt thì với quyết định ngày 31 tháng 3 năm 1968 của Tổng thống Mỹ Giôn-xơn, thực chất, SỐ PHẬN CUỘC CHIẾN giữa Mỹ và Việt Nam đã được định đoạt. Chính sau này, vào trưa ngày 22 tháng 4 năm 1975, với giọng điệu buồn bã, rời rạc, Nguyễn Văn Thiệu - Tổng thống Việt Nam cộng hòa, đã cay đắng khi phát biểu trên làn sóng đài phát thanh Sài Gòn: "Mỹ đã yêu cầu chúng ta thực hiện điều không thể làm được. Vì vậy, tôi đã bảo với họ: các ông đòi chúng tôi làm điều mà các ông đã thất bại với nửa triệu binh lính tinh nhuệ và sĩ quan có tài với gần 300 tỉ đô la chi phí trong 6 năm trời. Nếu tôi không nói các ông bị Cộng sản Việt Nam đánh bại, thì tôi cũng phải nói một cách khiêm tốn là các ông không thể chiến thắng. Nhưng các ông đã tìm đường rút lui trong danh dự". Nhưng đó là sự thừa nhận của Nguyễn Văn Thiệu 7 năm sau "Tết Mậu thân", khi chế độ Sài Gòn mà Mỹ dày công nuôi dưỡng đang trong cơn hấp hối; còn trước đó, vào năm 1971, Đôn O-bớc-đoi-phơ - tác giả cuốn sách điều tra nổi tiếng về sự kiện "Tết Mậu thân" đã nhìn nhận, "vì cuộc chiến chưa kết thúc và chung cuộc chưa rõ ràng, tầm quan trọng đầy đủ về cuộc tiến công Tết Mậu thân đang nằm ngoài tầm nhận thức chúng ta", nhưng dù vậy, "một điều xem ra đã rõ: lịch sử sẽ chẳng quên đi sự kiện này. Đối với mọi loại người và mọi cách suy nghĩ khác nhau, đây là một sự kiện có tính chất bước ngoặt, một trong những bước ngoặt lớn trong thời đại chúng ta".

        "Tết Mậu thân", tính đến ngày 31 tháng 3 năm 1968, là biểu hiện ý chí và sức mạnh quật cường của CON NGƯỜI VIỆT NAM, dân tộc Việt Nam; biểu hiện sức sáng tạo và tài mưu lược trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng: đó là nghệ thuật nắm bắt thời cơ để chủ động giáng dòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh; là nghệ thuật tiến công bằng cách đánh chiến lược mới, giành thế bất ngờ, đưa chiến tranh vào thành thị; là nghệ thuật tổ chức, bố trí và sử dụng lực lượng để lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy trì tuệ của con người Việt Nam để chiến thắng vũ khí và trí tuệ của bộ máy điều hành chiến tranh của Mỹ. Như thế, trong toàn bộ cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam (1954-1975), "Tết Mậu thân" là sự kế thừa và phát huy lên một tầm cao mới truyền thống đánh giặc và nghệ thuật quân sự của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam.

        Sau "Tết Mậu thân", những tổn thất to lớn của quân và dân ta trên chiến trường trong các đợt tiến công tháng 5 và tháng 8 năm 1968 là có thật. Nhưng dù vậy, không ai có thể phủ định được rằng: chỉ có bằng đòn "Tết Mậu thân", chúng ta mới có thể làm lung lay tận gốc Ý CHÍ XÂM LƯỢC của Mỹ, mới ĐÁNH CHO MỸ CÚt, Mỹ rút khỏi miền Nam để tạo được thế trận "nhân" vào mùa Xuân 1975, ĐÁNH CHO NGỤY NHÀO sớm hơn dự định đến không ngờ, giảm được bao nhiêu xương máu và của cải, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông vè một mối, đưa đất nước Việt Nam chúng ta tiến bước vào công cuộc ĐỔI MỚI hôm nay.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2017, 03:14:13 PM
         
ĐIỆN MẬT CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
(Số 00 ngày 23 tháng 1 năm 1967)

        Về tiếp tục đấu tranh ngoại giao, bảo vệ lập trường của ta trong thời gian tới* (Trích - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T28. Nxb CTQG, H, 2003)

        Gửi Trung ương Cục - Khu V

        1. Dư luận nói chung ủng hộ lập trường 4 điểm và 5 điểm của ta, lên án Mỹ xâm lược Việt Nam, đòi Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, rút quân khỏi miền Nam, công nhận Mặt trận. Gần đây, sau khi Mỹ leo thang ném bom miền Bắc, nhất là đánh phá Hà Nội, từ chối yêu cầu của U Thant1 (U Thang: Tổng thư ký Liên hợp quốc (B.T)), không chịu kéo dài ngừng ném bom trong mấy ngày lễ, thì dư luận lại càng tỏ ra phân vân với Mỹ, lo ngại Mỹ leo thang và lên án mạnh việc Mỹ ném bom miền Bắc. Khẩu hiệu đòi chấm dứt ném bom miền Bấc đã trở thành khẩu hiệu rất phổ biến và nổi bật. Trong hoàn cảnh đó, việc ta tiếp nhà báo Mỹ Salisbury và việc đại diện ta họp báo ở Pa-ri đã ảnh hưởng lớn đến dư luận và tạo nên một dịp mới để đẩy tới một bước cuộc đấu tranh đòi Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc.

        2. Bộ Chính trị nhận định là tình hình trước mắt rất thuận lợi cho ta bước đầu vẫn dùng sách lược, chủ động đưa ra vấn đề: Mỹ chấm dứt ném bom vĩnh viễn và không điều kiện thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ có thể nói chuyện.

        Thuận lợi là vì:

        a) Về mặt quân sự, Mỹ đang chập chững: ở miền Bắc, chúng chưa có bước leo thang mới đánh vào Hà Nội, Hải Phòng. Ở miền Nam, ta vẫn liên tiếp có những thắng lợi. Tuy Mỹ có tăng quân nhưng chúng đang lúng túng về chiến lược. Quyết tâm của ta cũng đã rõ.

        b) Dư luận thế giới đang sôi nổi, có lợi cho ta, không lợi cho địch. Mỹ đang lúng túng và mâu thuẫn nội bộ trong việc tiếp tục hoặc ngừng ném bom. Chúng ngừng thì chúng sẽ khó khăn cả về quân sự và chính trị. Chúng không muốn đi vào con đường vừa đánh vừa đàm phán. Chúng ngừng rồi thì càng khó ném bom lại. Nhưng mặt khác, nếu không ngừng ném bom thì chúng càng bị cô lập và không thể đi đến thương lượng được.

        Hiện nay Mỹ biết rõ rằng chúng ngừng ném bom thì ta có thể nói chuyện với chúng, nhưng nhân dân thế giới, nhân dân Mỹ chưa biết điều đó. Vì vậy, ta cần nêu công khai vấn đề Nếu lúc này ta không tiến công thì sẽ bỏ lỡ dịp, vì:

        -  Dư luận đang sôi nổi, nếu ta không làm gì tiếp thì nó sẽ lắng xuống.

        -  Mỹ sẽ leo thang, ta sẽ khó vận dụng sách lược hơn.

        -  Bạn bè của ta có thể hành động lệch lạc về phía này, phía khác, gây phức tạp cho việc ta vận dụng sách lược.

        3. Mục đích của ta nhằm: tranh thủ dư luận gây sức ép với Mỹ, làm cho chúng lúng túng bị động, đẩy mạnh phong trào đòi ngừng và chấm dứt ném bom miền Bắc, làm cho chúng khó khăn, lừng chừng trong việc leo thang. Tiến thêm xnột bước, ta đẩy mạnh đấu tranh trên dư luận, phối hợp với những thắng lợi trên chiến trường miền Nam, thì đến một lúc nào đó ta có thể buộc Mỹ phải ngừng ném bom trên thực tế để tiếp xúc với ta.

        4. Đại diện ta sẽ tiếp Mỹ theo yêu cầu của chúng và sẽ nói cho Mỹ biết phía Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ mới có thể nói chuyện với nhau. Sau đó, Bộ trưởng Ngoại giao ta sẽ trả lời phỏng vấn nói rõ ý chủ yếu đó.

        5. Có mấy khả năng:

        a) Mỹ bác bỏ.

        b) Mỹ đưa ra điều kiện để mặc cả. Sau một thời gian đấu tranh, có thể Mỹ ngừng ném bom trên thực tế để tiếp xúc; cũng có thể không.

        c) Mỹ nhận điều kiện của ta, ngừng ném bom và tiếp xúc.

        Hiện nay, ít có khả năng thứ nhất và rất ít khả năng thứ ba. Có thể diễn ra khả năng thứ hai. Ta không chủ quan, nhưng cần đấu tranh để buộc Mỹ ngừng ném bom. Có khả năng đi đến buộc Mỹ ngừng ném bom, và cũng có khả năng không. Nhưng ta vẫn có lợi về mặt chính trị.

        6. Sau khi ta đưa ra, một mặt ta phải tiếp tục đấu tranh mạnh với địch, chống thái độ ngoan cố của chúng. Mặt khác, tuy dư luận thế giới rất hoan nghênh ta, ta cần phải đấu tranh với khuynh hướng sai lầm ảo tưởng về đàm phán hòa bình.

        Trong nội bộ, cần phải uốn nắn những nhận thức và tư tưởng lệch lạc.

        7. Kế hoạch dự kiến như sau:

        a) Trước khi đưa ra vấn đề, ta đẩy mạnh tuyên truyền:

        -  Lên án Mỹ tăng cường chiến tranh xâm lược và tội ác của chúng ở hai miền.

        -  Vạch trần những thủ đoạn hòa bình bịp bợm của chúng.

        -  Nêu rõ Mỹ rất lúng túng bị động, có nhiều mâu thuẫn, khó khăn, chúng ngày càng bị cô lập.

        -  Đập mạnh thông điệp của Giôn-xơn gửi Quốc hội Mỹ.

        -  Đề cao chính nghĩa, quyết tâm, thắng lợi của ta.

        b) Sau khi công bố trả lời phỏng vấn của Bộ trưởng Ngoại giao ta, cần có kế hoạch tuyên truyền rộng rãi, các đại diện ta ở nước ngoài gặp chính phủ sở tại để giải thích rõ lập trường và nêu thiện chí của ta.

        c) Mặt trận cần tỏ thái độ; tỏ quyết tâm và yêu cầu của Mặt trận. Đồng thời nêu rõ sự đoàn kết nhất trí giữa hai miền, tán thành lời tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao ta dưới hình thức trả lời phỏng vấn (sẽ điền ý kiến vào sau).

        d) Cần làm tốt công tác tư tưởng, giải thích sâu rộng trong nội bộ cán bộ và nhân dân, đề phòng và khấc phục những nhận thức và tư tưởng lệch lạc, cần nhấn mạnh vấn đề quyết định là đấu tranh chính trị và quân sự trên chiến trường, địch rất ngoan cố, đây chỉ là bước tấn công ngoại giao, làm cho địch cô lập thêm một bước.

        e) Có kế hoạch đẩy mạnh đấu tranh chính trị, nhất là trong các đô thị, phối hợp với hoạt động ngoại giao của ta và đẩy mạnh công tác địch - ngụy vận.

BÁC HƯƠNG              1        
Lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng.      

------------------------
        1. Bác Hương: mật danh của Bộ Chính trị (B.T)


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2017, 03:18:43 PM
      
NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ 13 CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
(Số 155-NQ/TW, ngày 27 tháng 1 năm 1967)

        Về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta* (Trích - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T.28, Sđd)

        
I

        Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành nmg ương Đảng đã nghe báo cáo về tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân cả nước ta trong hơn một năm qua và đã nhất trí tán thành bản Nghị quyết của Bộ Chính trị về đẩy mạnh dấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam, tiếp tục thực hiện triệt để Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

        
II

        Sau khi nghe báo cáo về tình hình đấu tranh ngoại giao, Hội nghị đã nhận định và chủ trương như sau:

        1. Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quân và dân cả nước ta đã giành được những thắng lợi to lớn về mọi mặt.

        Ở miền Nam, quân giải phóng và đồng bào ta giữ vững và phát huy thế tiến công liên tục của cách mạng, đã đánh thắng cuộc "chiến tranh đặc biệt" và bước đầu đánh thắng cuộc "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực của quân viễn chinh Mỹ, quân ngụy và quân chư hầu, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, đầy mạnh phong trào đấu tranh ở các đô thị, dồn địch vào thế ngày càng lúng túng, bị động hơn nữa về quân sự và chính trị.

        Ở miền Bắc, quân đội và nhân dân ta vừa đẩy mạnh sản xuất vừa tích cực chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, nhằm bảo vệ miền Bắc, tăng cường lực lượng kinh tế và quốc phòng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời ra sức tăng cường lực lượng cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

        Trên mặt trận quốc tế, phong trào đấu tranh của nhãn dân thế giới chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhãn dân ta ngày càng rộng rãi và mạnh mẽ. Cuộc đấu tranh ngoại giao của ta đã đạt được những kết quả bước đầu. Chúng ta đã vạch trần những luận điệu "hòa bình" bịp bợm của đế quốc Mỹ, làm sáng tỏ lập trường chính nghĩa, giương cao ngọn cờ độc lập và hòa bình và nêu rõ khả năng tất thắng của ta. Dư luận quốc tế kể cả dư luận tiến bộ ở Mỹ, ngày càng cương quyết ủng hộ lập trường 4 điểm của Chính phủ ta và bản Tuyên bố 5 điều của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, cực lực lên án đế quốc Mỹ xâm lược, đòi chúng phải chấm dứt ném bom miến Bắc, thương lượng với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam và rút hết quân đội Mỹ cùng quân chư hấu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Việc đế quốc Mỹ tiếp tục leo thang trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, đặc biệt là việc đánh vào Thủ đô Hà Nội, làm cho chúng càng bị cô lập trước dư luận thế giới.

        Mặc dầu bị thất bại nặng về quân sự và chính trị, đế quốc Mỹ vô cùng ngoan cố và xảo quyệt, vẫn chưa chịu từ bỏ ý đồ xâm lược miền Nam và chia cắt lâu dài nước ta. Chúng đang ráo riết tăng quân Mỹ, quân chư hầu và phương tiện chiến tranh vào miền Nam Việt Nam để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam và tăng cường chiến tranh phá hoại miền Bắc, âm mưu tập kích và đổ bộ vào phía Nam Khu IV cũ hòng cứu vãn tình thế nguy khốn của chúng ở miền Nam.

        Do những thất bại về quân sự và chính trị trên chiến trường miền Nam, do những thiệt hại nặng nề trong chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và trước dư luận thế giới ngày càng lên án mạnh mẽ cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, đồng thời do tình hình chính trị, quân sự và kinh tế của nước Mỹ ngày càng rối ren, sút kém, bọn cầm quyền Mỹ đang ra sức tăng cường lực lượng hòng đánh mạnh, thắng nhanh về quân sự. Vì thế, năm 19ớ7-1968, đặc biệt là năm 1967 cuộc chiến đấu giữa ta và địch sẽ diễn ra rất gay go, quyết liệt. Địch cố giành thắng lợi quân sự và mong tạo cái thế vững vàng cho chúng để làm hậu thuẫn cho một giải pháp chính trị đi đến kết thúc chiến tranh một cánh có lợi cho chúng, đồng thời chuẩn bị điều kiện để khi cần thì kéo dài chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2017, 03:20:07 PM

        2. Chủ trương của Đảng là trên cơ sở nắm vững phương châm đánh lâu dài, cần phải động viên và tập trung lực lượng của cả nước, cổ gắng cao độ, đập tan âm mưu của địch, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn; đồng thời tích cực chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng địch trong trường hợp chiến tranh kéo dài hoặc mở rộng ra cả nước.

        Để thực hiện quyết tám chiến lược của ta, trên cơ sở tiếp tục phát huy những thắng lợi đã giành được, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam. Đi đối với đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam, ta cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp vời hai mặt đấu tranh đó để giành thắng lợi to lớn hơn nữa.

        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta hiện nay, đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chi có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động.

        Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh.

        Trong đấu tranh ngoại giao, chúng ta cần nắm vững mấy phương châm dưới đây:

        -  Phát huy thế mạnh, thế thắng của ta;

        -  Chủ động tiến công địch;

        -  Giữ vững tính độc lập, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em.

        Mục đích cuộc tiến công ngoại giao của ta lúc này là nhằm tố cáo mạnh hơn nữa những tội ác dã man của bọn xâm lược Mỹ, vạch trần thủ đoạn "hòa bình" bịp bợm của chúng; đề cao lập trường 4 điểm của Chính phủ ta và bản Tuyên bố 5 điều của Mặt trận Dân tộc giải phóng; làm sáng tỏ lập trường chính nghĩa và thế tất thắng của ta; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa bằng nhiều hình thức của nhãn dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, của nhân dân các nước tư bản chủ nghĩa, nhất là nhân dân Mỹ và mọi lực lượng yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, lập một mặt trận thống nhất của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ xâm lược.

        Trên cơ sở kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thể hiện trong lập trường 4 điểm của Chính phủ ta và bản Tuyên bố 5 điều của Mặt trận Dân tộc giải phóng, chúng ta còn vận dụng sách lược ngoại giao một cách linh hoạt, khôn khéo, nhằm khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước đế quốc khánh, phân hóa nội bộ bọn cầm quyền Mỹ, cô lập bọn hiếu chiến ngoan cố nhất, làm tan rã tinh thần ngụy quân, ngụy quyền và làm hoang mang tinh thần quân Mỹ, quân chư hầu, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị của ta ở miền Nam giành thắng lợi lớn. Chúng ta cần ra sức phấn đấu để tranh thủ hơn nữa dư luận thế giới ủng hộ những mục tiêu phấn đấu của ta là bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc; vạch mặt ngoan cố của đế quốc Mỹ và buộc chúng phải thừa nhận lập trường 4 điểm của tả, cụ thể là phải chấm dứt không điều kiện và vĩnh viễn việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phải công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam là người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam và phải thương lượng với Mặt trận, phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, vấn đề Việt Nam do nhân dân Việt Nam tự giải quyết.

        Trước mắt, chúng ta cần tập trung vào khẩu hiệu đòi Mỹ phải chấm dứt không điều kiện và vĩnh viễn việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

        Nếu do cuộc đấu tranh kiên quyết của ta và phong trào phản đối mạnh mẽ của nhân dân thế giới, bọn cầm quyền Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác đối với miền Bắc, thì ta có thể bắt đầu nói chuyện chính thức với chúng. Nhưng nếu chúng ngoan cố không chịu ngừng ném bom miền Bắc thì cuộc tiến công ngoại giao hiện nay của ta cũng giành được thắng lợi về chính trị, vì chúng ta có cơ hội nêu cao ngọn cờ độc lập và hòa bình, tiếp tục vạch trần bộ mặt ngoan cố, hiếu chiến và những thủ đoạn "hòa bình" bịp bợm của bọn xâm lược Mỹ, cô lập chúng hơn nữa trước dư luận thế giới. Như vậy, bất cứ trường hợp nào ta cũng giữ chủ động và tiến công địch.

        Chúng ta không lúc nào được quên rằng thắng lợi trên chiến trường là quyết định, cho nên trong bất cứ trường hợp nào, dù đế quốc Mỹ ngừng nén bom hoặc không ngừng ném bom miền Bắc, chúng ta cũng phải kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam và đẩy mạnh cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc theo quyết tâm chiến lược của ta theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2017, 03:20:58 PM

        3. Để thực hiện nhiệm vụ trên đây:

        a) Cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa miền Bắc và miền Nam. Trong khi miền Bắc đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, miền Nam cần mở rộng hơn nữa các hoạt động quốc tế nhằm làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ và ủng hộ mạnh mẽ hơn cuộc đấu tranh yêu nước và vô cùng anh dũng của nhân dân miền Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược: vạch trần tội ác dã nan của Mỹ và chư hầu ở miền Nam; nêu rõ tính chất bù nhìn của ngụy quyền Sài Gòn; đề cao hơn nữa vị trí và vai trò của giặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam; phổ biến thật rộng rãi Cương lĩnh và bản Tuyên bố 5 điều của Mặt trận.

        Các hoạt động đối ngoại của miền Bắc và miền Nam cần phải được phối hợp chặt chẽ, tuy nhiên bề ngoài miền Nam cần có màu sắc riêng của mình, thể hiện rõ tính độc lập của Mặt trận.

        b) Cần làm cho các nước xã hội chủ nghĩa và các đảng anh em, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, hiểu rõ quyết tâm chiến lược, khả năng chiến thắng và việc vận dụng sách lược của ta, do đó càng đồng tình và ủng hộ ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao của ta, tích cực giúp đỡ ta về vật chất và phối hợp tốt với ta về mặt đấu tranh ngoại giao.

        Chúng ta cần tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân và Chính phủ các nước khác trên thế giới, giải thích cho họ hiểu rõ thiện chí của ta và thái độ ngoan cố của đế quốc Mỹ, từ đó, vận động họ đấu tranh phong cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và ủng hộ lập trường của ta.

        c) Cần tăng cường công tác tư tưởng trong nội bộ, làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta:

        -  Tăng cường đoàn kết nhất trí, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối của Trung ương, phấn khởi và quyết tâm đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng;

        -  Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nêu cao ý chí quyết đánh, quyết thắng, biến lời kêu gọi ngày 17-7-1966 của Hồ Chủ tịch thành hành động thực tế mạnh mẽ hơn nữa, miền Bắc sản xuất và chiến đấu giỏi, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng thời hết sức tăng cường lực lượng cho sự nghiệp giải phóng miền Nam; miền Nam ra sức tiêu diệt thêm nhiều sinh lực của quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu, tiêu diệt và làm tan rã phần lớn quân ngụy, đẩy mạnh đấu tranh ở các đô thị làm cho ngụy quyền lung lay đến tận gốc;

        -  Nhận rõ những thắng lợi to lớn của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; nhận rõ mục đích và ý nghĩa của cuộc tiến công ngoại giao nhằm phối hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam, tiến lên giành những tháng lợi ngày càng to lớn hơn nữa;

        -  Nhận rõ âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ và thái độ ngoan cố của chúng: chừng nào bọn xâm lược Mỹ chưa bị thất bại thật nặng nề thì chúng chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược và còn đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam và tăng cường chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc;

        -  Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đập tan mọi luận điệu chia rẽ và xuyên tạc của địch; tích cực chống chiến tranh tâm lý và chiến tranh gián điệp của chúng;

        -  Đề phòng và khắc phục những biểu hiện của tư tường hữu khuynh, tiêu cực, ảo tường hòa bình, lơ là cảnh giác, ảnh hường không tốt đến sản xuất, chiến đấu và công tác. Mặt khác, cần đề phòng xu hướng coi nhẹ đấu tranh ngoại giao, không thấy hết sự cần thiết phải có sách lược linh hoạt, đúng đắn, nhằm tranh thủ dư luận rộng rãi trên thế giới phân hóa và cô lập cao độ kẻ thù, tăng cường lực lượng của ta, tạo thêm điều kiện giành thắng lợi cho cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.

        Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân hãy tăng cường đoàn kết chặt chẽ, tuyệt đối tin tưởng ở đường lối đúng đắn của Đảng, phấn khởi và anh dũng tiến lên, kiên quyết làm trọn nhiệm vụ lịch sử đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh; góp phần bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh phong trào giải phóng dân tộc và giữ gìn hòa bình ở châu Á và thế giới.

(Lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng.        )


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2017, 12:17:53 AM

THƯ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRẢ LỞI TỔNG THỐNG MỸ GIÔNXƠN1


        (Trích - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T.28, Sđd)

        Gửi Ngài L.B Giônxơn, Tổng thống nước Mỹ,

        Thưa Ngài,

        Ngày 10 tháng 2 năm 1967, tôi đã nhận được thư của Ngài. Đây là thư trả lời của tôi1 (Trong thư gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh (8-2-1967), Tổng thống Mỹ L.B Giônxơn đã đưa ra những điều kiện vô lý cho việc chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam, chấm dứt việc đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam. Đồng thời ngày 14-2-1967, L.B Giônxơn lại ra lệnh ném bom trở lại nền Bắc. Để tiếp tục tỏ rõ thiện chí, nguyện vọng hòa bình cửa Việt Nam, ngày 15-2-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn gửi L.B Giônxơn thư trả lời này).

        Nước Việt Nam cách xa nước Mỹ hàng vạn dặm. Nhân dân Việt Nam không hề động chạm đến nước Mỹ. Nhưng, trái với lời cam kết của đại diện Chính phủ Mỹ tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954, Chính phủ Mỹ đã không ngừng can thiệp vào Việt Nam, gây ra và mở rộng chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam nhằm chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Từ hơn hai năm nay, Chính phủ Mỹ còn dùng không quân và hải quân đánh phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nước độc lập, có chủ quyền.

        Chính phủ Mỹ đã phạm tội ác chiến tranh, phá hoại hòa bình và chống lại loài người. Ở miền Nam Việt Nam, nửa triệu quán Mỹ và quân chư hầu dùng những vũ khí tàn ác nhất và những thủ đoạn chiến tranh dã man nhất, kể cả bom napan, chất độc hóa học và hơi độc, để giết hại hàng loạt đồng bào chúng tôi, phá hoại mùa màng, triệt hạ làng mạc. Ở miền Bắc Việt Nam, hàng ngàn máy bay Mỹ trút hàng chục vạn tấn bom đạn phá hoại các thành phố, xóm làng, nhà máy, cầu đường, đê đập; tàn phá các nhà thờ, đình chùa, nhà thương, trường học. Trong thư, Ngài tỏ ra xót xa trước những đau thương, tàn phá ở Việt Nam. Xin hỏi Ngài ai đã gây ra những tội ác tày trời ấy? Chính là quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ. Chính phủ Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về tình hình cực kỳ nghiêm trọng ở Việt Nam hiện nay.

        Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ chống nhân dân Việt Nam là một sự thách thức đối với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến tranh đó là một sự đe dọa đối với phong trào độc lập của các dân tộc, đồng thời uy hiếp nghiêm trọng hòa bình ở châu Á và thế giới.

        Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất thiết tha với độc lập, tự do và hòa bình. Nhưng trước sự xâm lược của Mỹ, nhân dân Việt Nam đoàn kết một lòng, không sợ hy sinh, gian khổ, đã đứng lên kháng chiến và quyết kháng chiến đến khi giành được độc lập tự do thật sự và hòa bình chân chính. Cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng tôi được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân thế giới, kể cả những tầng lớp rộng rãi trong nhân dân Mỹ.

        Chính phủ Mỹ đã gây ra chiến tranh xâm lược Việt Nam thì con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược. Chính phủ Mỹ phải chấm dứt vĩnh viễn và không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chững nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; phải rút hết quân Mỹ và quân chư háu ra khỏi miền Nam Việt Nam; phải thừa nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miến Nam Việt Nam; phải để nhân dân Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình. Đó là nội dung cơ bản của lập trường 4 điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thể hiện những nguyên tắc và diều khoản chủ yếu của Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam. Đó là cơ sở cho giải pháp chính trì đúng đắn về vấn đề Việt Nam.

        Trong thư, Ngài có đề ý kiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ trực tiếp nói chuyện. Nếu Chính phủ Mỹ thật muốn nói chuyện thì trước hết Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khấc chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ mới có thể nói chuyện và bàn các vấn đề có liên quan đến hai bên.

        Nhân dân Việt Nam quyết không khuất phục trước vũ lực và quyết không nói chuyện trước sự đe dọa của bom đạn.

        Sự nghiệp của chúng tôi là chính nghĩa. Mong Chính phủ Mỹ hãy hành động hợp với lẽ phải.

        Chào ngài

HỒ CHÍ MINH       

----------------------
        1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, T.12, tr.230-232.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2017, 12:20:58 AM

NGHỊ QUYẾT CỦA THƯỜNG VỤ TRUNG ƯƠNG CỤC VÀ QUÂN ỦY MIỀN

        Ngày 5 tháng 2 năm 1968

        Về quân sự đối với khu trọng điểm1

        Tối 4-2-1968, Thường vụ Trung ương Cục đã họp nhận định tình hình khu trọng điểm trong mấy ngày qua và đề ra chủ trương tác chiến mới trong thời gian tới.

        I. NHẬN ĐỊNH TÌNH HÌNH

        1. Cùng với thắng lợi chung của toàn Miền, cuộc tấn công ở khu trọng điểm vừa qua đã giành được thắng lợi to lớn. Các lực lượng vũ trang của ta đã công kích đúng thời gian chung và trúng các mục tiêu chủ yếu, đã chiếm và giừ được trong một thời gian nhất định, đã gây cho địch những tổn thất nhất định về sinh lực và cơ sở vật chất, làm tê liệt và rối loạn ngay từ đầu hệ thống hành chánh đầu sỏ và hệ thống chỉ huy của ngụy, đặc biệt đã làm cho tinh thần bè lũ Mỹ - ngụy (kể cả bọn đầu sỏ) hoang mang dao động đến cực độ. Các đơn vị chiến đấu trong nội thành rất ngoan cường dũng cảm, tỏ ra có nhiều khả năng công kích rất lớn. Thắng lợi bước đẩu nói trên có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó đạt cơ sở vững chắc để liên tục tấn công địch và giành thắng lợi cuối cùng.

        Nhưng cuộc tấn công ở khu trọng điểm Miền chưa đạt yêu cầu về quân sự và chính trị. Nhiều tiểu đoàn mũi nhọn chưa vào được nội thành để tiếp sức cho các đội biệt động, do đó chưa dứt điểm các mục tiêu chính. Quân sự phối hợp chưa chặt, đánh chưa tốt nên chưa trở thành đòn xeo mạnh để phát động quần chúng đứng lên khởi nghĩa, làm biến đổi về căn bản cục diện chính trị ở thủ đô. Rõ ràng, ta đã lỡ mất một thời cơ cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang do Trung ương giao cho. Sở dĩ có tình hình đó một phần do nhiều nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu là do về mặt chỉ đạo chỉ huy, ta còn phạm khuyết điểm chủ quan đơn giản, tính toán kế hoạch chưa thật cụ thể, tỉ mỉ và chưa dự kiến hết các tình huống có thể xảy ra, tác phong thâm nhập kiểm tra từng giai đoạn chuẩn bị chưa chu đáo, chưa nắm thật vững và làm thật tốt khâu then chốt lúc đó là truyền đạt mệnh lệnh về thời gian tổ chức tiếp tục mục tiêu và tổ chức hiệp đồng giữa các đơn vị mũi nhọn và giữa đơn vị mũi nhọn với các đội biệt động.

        2. Mặc dù ta chưa hoàn thành nhiệm vụ như trên đã nói, song thắng lợi bước đầu đó đã mở ra những khả năng và thuận lợi rất cơ bản sau đây:

        -  Một là, trong thế tân công mạnh mẽ trên toàn Miền, ta đã thực hiện một mũi tấn công chiến lược hết sức lợi hại vào nơi huyết mạch chủ yếu của địch, hiện nay ta vẫn trụ bám đánh địch làm cho địch vô cùng bối rối, thế chiến lược này mỗi ngày mỗi phát triển vững vàng.

        -  Hai là, ta dùng lực lượng nhỏ mà giành thắng lợi lớn; từng đơn vị đã bám trụ được bên trong, nhiều tiểu đoàn ép sát vành ngoài và chưa tham chiến nhiều, chủ lực còn đang sung sức nối tiếp phía sau, hình thành thế chia cắt bao vây lịch nhiều vòng, trong ngoài hỗ trợ, trước sau hỗ trợ.

        -  Ba là, khí thế quấn chúng đang lên cao, quần chúng trải qua những ngày đầu chiến đấu ác liệt càng được tôi luyện, lực lượng chính trị đang trên bước phát triển mới.

        -  Bốn là, qua lần này ta có những kinh nghiệm mới hết sức quý báu về nhiều mặt.

        Thế nhưng, ta cần ra sức khắc phục những khuyết nhược điểm và khó khăn sau:

        -  Một là, vấn đề tổ chức chỉ huy, nắm tình hình các mũi bên trong và các cánh bên ngoài vẫn còn chuệch choạc.

        -  Hai là, việc tổ chức hiệp đồng chưa cụ thể chặt chẽ, chỉ huy tác chiến nội đô còn kém.

        -  Ba là, các đơn vị đánh bên trong có bị tiêu hao một phần vật chất, đạn được chưa được bổ sung, dự trữ đủ.

--------------------
        1. Trích - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T.29, Nxb CTQG, H, 2004.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2017, 12:21:40 AM

        3. Mặc dù có biết trước ý định tấn công của ta, nhưng địch vẫn bị bất ngờ về chiến lược và hết sức bị động lúng túng ngay từ đầu. Phần lớn ngụy quân và nguỵ quyền trong nội thành bị tê liệt. Sức phản kích của địch (chủ yếu là của lực lượng cơ động chiến lược) rất yếu và ngày càng suy yếu hơn. Một bộ phận lực lượng bộ binh và thiết giáp Mỹ được điều về để ứng cứu nhưng không nhiều và mạnh. Hiện nay, trên khu trọng điểm địch đang gặp những khó khăn sau đây:

        -  Một là, địch đã lâm vào thế bị bật ra khỏi sào huyệt chính, bị bao vây chia cắt và nếu ta càng đẩy lên thì địch không có khả năng khôi phục lại thế cũ.

        -  Hai là, lực lượng ngụy quân, cảnh sát trong nội thành và bộ máy ngụy quyền từ cơ sở đến Trung ương bị thiệt hại nặng, ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần của bọn chúng, chúng cũng không có khả năng hồi phục trở lại, do các chiến trường đều bị đánh nên khả năng đưa nhiều lực lượng cơ động về ứng cứu cho trọng điểm bị hạn chế.

        -  Ba là, về chính trị, địch đang lâm vào một giai đoạn khủng hoảng sâu sắc cực độ và ngày càng xấu hơn, ngày càng bị cô lập và bị quần chúng căm ghét cao độ.

        -  Bốn là, tình hình kinh tế đã, đang và còn sẽ gặp nhiều khớ khăn rất lớn.

        Vấn đề đặt ra là ta phải ra sức khoét sâu những khó khăn của chúng, làm cho chúng hoàn toàn mất hết khả năng phản ứng. Thế nhưng, hiện nay chúng vẫn còn nhiều lực lượng, đế quốc Mỹ hết sức ngoan cố, chúng đã và sẽ không từ một hành động dã man tàn bạo nào để đàn áp phong trào quần chúng, do đó ta cán phải có tinh thần cảnh giác hết sức cao, thường xuyên nghiên cứu âm mưu thủ đoạn mới của địch và kịp thời đề ra những biện pháp đối phó tích cực nhất để diệt được nhiều địch, bảo vệ được ta.

        4. Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền nhận định rằng, cuộc tấn công của ta ở khu trọng điểm đang trên đà phát triển thuận lợi, địch đang bị dồn vào tình thế bế tắc; ta hoàn toàn có khả năng liên tục tân công, liên tục đánh địch phản kích đã giành lấy thắng lợi quân sự quyết định, tạo điều kiện đưa quần chúng đứng lên giành tháng lợi cuối cùng.

        II. CHỦ TRƯƠNG TÁC CHIẾN MỚI Ở TRỌNG ĐIỂM TRONG THỜI GIAN TỚI

        1. Nhiệm vụ chung ở hướng trọng điểm trong thời gian tới là: kiên quyết giữ vững thắng lợi vừa giành được, phát huy thắng lợi từng giờ từng phút, phát triển mạnh cuộc chiến đấu trong Sài Gòn và chung quanh Sài Gòn hình thành thế bao vây nhiều tâng, kiền quyết tấn công địch, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lấn. Kết hợp đánh thường xuyên liền tục với từng đợt mạnh, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh và cơ sở vật chất của Mỹ-ngụy kết hợp với chiếm khu vực và mục tiêu quan trọng, vừa đánh vừa phát động quần chúng, xây dựng phát triển lực lượng ta, tạo ra những điều kiện tốt hơn để tiến lên dứt điểm giành thắng lợi cuối cùng.

        2. Nhiệm vụ cụ thể là:

        a) Giữ vững địa bàn đã chiếm được, đồng thời tiếp tục đưa thêm lực lượng vào bên trong ít nhất là 4 - 5D, đi đôi với ra sức xây dựng thêm tại chỗ các đơn vị tự vệ, đặc công, biệt động, làm cho các lực lượng đó trở thành hạt nhân thật rắn và vững, liên tục tấn công địch ở bên trong, các lực lượng vành đai gần phải ép sát nội thành, mỗi hướng độ 2 - 3D, chiếm giữ địa bàn đánh tại chỗ, làm chỗ dựa cho bên trong và tạo điều kiện thọc sâu vào trong đánh địch, chủ lực đứng vững trên vành đai ngoài, sẵn sàng đánh Mỹ phản kích, tiêu diệt phương tiện chiến tranh của Mỹ, tiêu diệt lực lượng ca động ngụy và hỗ trợ một phần cho địa phương giải phóng nông thôn. Giữ vững và phát triển thế đứng. Đó là điều kiện rất cơ bản để thực hiện liên tục tấn công, nhanh chóng làm thay đổi cục diện chiến trường.

        b) Trên cơ sở tiến hành vũ trang cho quần chúng và phát triển các lực lượng vũ trang nòng cốt nói trên mà phát triển rộng rãi chiến tranh du kích trong thành phố, vận dụng nhiều hình thức linh hoạt như bắn bia bắn tỉa, ném lựu đạn, tập kích đồn bót, phục kích bọn tuần tiễu, cướp hoặc phá kho tàng, đánh xe vận chuyển, lùng diệt ngụy quyền cơ sở và bọn đầu sỏ các lực lượng chính trị phản động v.v., kết hợp với đánh vừa từng trung đội, đại đội hoặc đại đội tăng cường, thọc sâu chia cắt đánh tập kích diệt gọn từng trung đội, đại đội hoặc tiểu đoàn địch, chiếm từng khu phố, tổ chức bố phòng chiến đấu trong thế liên hoàn hỗ trợ lẫn nhau. Phát triển thế tiến công đó càng vững, rộng và liên tục bao nhiêu càng làm cho địch nhanh chống bị suy sụp bấy nhiêu, tạo diều kiện nhanh chóng phát động quần chúng đứng lên.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2017, 12:22:57 AM

        c) Xây dựng bàn đạp trên các hướng xung quanh Sài Gòn thật vững, giải phóng toàn bộ vùng nông thôn từ phía sau ra phía trước, quét sạch toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền cơ sở và bộ máy tề điệp, thành lập chánh quyền cách mạng, phát động và tổ chức các đoàn thể quần chúng, làm trong sạch trong nhân dân, làm lực lượng thật vững và nhanh chóng xây dựng về các mặt, chú trọng tổ chức phòng không nhân dân, xây dựng thôn xã chiến đấu mạnh.

        d) Triệt để đánh phá các đường sá, cầu cống, chiếm giữ các nơi hiểm yếu gần sát Sài Gòn, làm tê liệt hoàn toàn khả năng vận chuyển từ các hướng về Sài Gòn, kể cả trên đường bộ và đường sông.

        đ) Phải đánh cướp lấy hoặc phá triệt để các kho đạn dược, vũ khí, chất đốt, lương thực, các nhà máy gạo trong và ngoài thành phơ, phải đánh với tinh thần thật kiên trì, đánh đi đánh lại từng mục tiêu, đánh lần này không được phải tổ chức đánh lần khác, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, phát động phong trào quần chúng cướp lấy hoặc phá hoại một cách rộng rãi.

        e) Phải kiên quyết chiếm và khống chế sân bay Tân Sơn Nhất thường xuyên đánh phá sân bay Biên Hòa. Đối với sân bay Tân Sơn Nhất, nếu lực lượng ta còn bên trong, thì kiên quyết trụ bám, tổ chức đưa thêm vào, tổ chức phòng ngự tốt để chiếm giữ; nếu đã bị bật ra thì kiên quyết tấn công chiếm lại hoặc thường xuyên pháo kích hay đánh bằng đặc công; tiếp tục bao vây, khống chế, pháo kích và đánh bằng đặc công các cụm cứ điểm quán Mỹ.

        g) Chủ lực đứng phía sau phải móc chặt với phía trước, tạo thời cơ tiêu diệt từng đơn vị lớn quân ngụy về ứng cứu hoặc diệt thật gọn từng đơn vị quân Mỹ bung ra phản kích, trong điều kiện được chuẩn bị tốt có thể tung một bộ phận chủ lực vào nội thành tập kích tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động ngụy rồi rút ra.

        h) Nhanh chóng phát triển lực lượng ba thứ quân trong và ngoài thành phố, tổ chức thêm đơn vị mới để tăng cường lực lượng dự bị, trên bàn đạp phải nhanh chóng phát triển xây dựng nhiều trung đội, đại đội, đưa lên phía trước đánh địch hoặc bổ sung, nhanh chóng bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cán bộ mới.

        3. Muốn thực hiện tốt những nhiệm vụ nói trên, cần giải quyết gấp một số vấn đề sau đây:

        a) Cần kịp thời chấn chỉnh tổ chức chỉ đạo chỉ huy, bảo đảm nắm được tình hình ở các cánh, các đơn vị, ở bên ngoài và bên trong, báo cáo lên trên nhanh chóng và kịp thời.

        b) Nhanh chóng rút kinh nghiệm về các mặt, nhất là kinh nghiệm về chỉ đạo chỉ huy, tổ chức hiệp đồng giữa các cánh và các đơn vị, chỉ huy tác chiến ở nội đô, phòng không nhân dân, v.v.

        c) Kiên quyết bảo vệ tuyến hành lang vững chắc từ sau ra trước đảm bảo cho bàng được vận chuyển đạn dược, lương thực đến các hướng, nhất là các hướng chủ yếu; hết sức tiết kiệm đạn dược, cướp vũ khí đạn dược địch trang bị cho mình.

        d) Tận dụng mọi khả năng để giải quyết vấn đề bổ sung quân số tại chỗ.

        đ) Thường xuyên tăng cường công tác chính trị tư tưởng, động viên khen thưởng kịp thời, nâng cao quyết tâm giành thắng lợi hoàn toàn, kịp thời giải quyết những tư tưởng mệt mỏi xốc nổi, chủ quan thừa mãn, v.v. Đi đôi với công tác thành, trị tư tưởng phải tổ chức tốt việc cải thiện sinh hoạt của các đơn vị.

        Tình hình trong toàn Miền cũng như ở khu trọng điểm đang trên đà phát triển vô cùng thuận lợi cho ta và hết sức bất lợi cho địch. Ta hoàn toàn có đầy đủ điều kiện để tiến lên dứt điểm. Hơn lúc nào hết, toàn Đảng bộ, các lực lượng vũ trang và nhân dân ở khu trọng điểm cần nhận thức rõ vị trí và ảnh hường quyết định của mình đối với các chiến trường toàn Miền, phải có một cố gắng phi thường, quyết thừa thắng xông lên, liên tục tấn công và liên tục đánh bại phản kích của địch, giành lấy thắng lợi cuối cùng, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ to lớn của Trung ương Đảng giao cho, hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của dân tộc.

        Trong khi tiến hành nhiệm vụ chung và các nhiệm vụ cụ thể trên đây, phải luôn luôn giữ cho được khí thế cách mạng sôi nổi của quần chúng, không để cho cuộc chiến đấu trong nội thành bị gián đoạn làm cho địch có thể củng cố lại một phần nào về quán sự và chính trị có lợi cho chúng, bất lợi cho ta.

Lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng.       


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:43:05 AM

BÀI PHÁT BIỂU CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ DUẨN TẠI HỘI NGHỊ LẦN THỨ 14 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Tháng 1 năm 19681

        Thưa các đồng chí,

        Trước hết, tôi xin báo cáo với các đồng chí lần này hội nghị Trung ương chúng ta họp, có một số đồng chí Trung ương bị ốm không đến được, có một số đồng chí bận việc không đến được. Trong Bộ Chính trị cũng có đồng chí bận việc không đến được, một số đồng chí sẽ đến, mai có đồng chí Thọ, đồng chí Dũng sẽ đến báo cáo.

        Thưa các đồng chí,

        Kỳ này họp Trung ương, đây là vấn đề quan trọng quá, vấn đề lớn quá. Chắc các đồng chí đã đọc nghị quyết của Bộ Chính trị, đã thấy đó là vấn đề lớn quá. Bộ Chính trị chúng tôi đã thảo luận rất lâu, đã thảo luận trong Bộ Chính trị nhiều lần, đã thảo luận với các đồng chí miền Nam mấy lần, với các đồng chí ở Trung ương Cục, ở Khu V và Trị - Thiên.

        Tất cả các đồng chí đều đồng tình và nhất trí với Bộ Chính trị. Cho nên, nghị quyết của Bộ Chính trị kỳ này đồng thời cũng là nghị quyết của tất cả các đồng chí ở miền Nam đã tham gia ý kiến.

        Bây giờ, tôi xin trình bày thêm một số ý kiến về Nghị quyết này.

        Trước hết, trong Hội nghị Trưng ương lần này, chúng ta đề ra một nhiệm vụ rất lớn là chuyển hướng một nhiệm vụ chiến lược quan trọng của cuộc chiến tranh nhân dân của chúng ta. Để trình bày thêm một số ý kiến trong nghị quyết, tôi xin nói rõ thêm một số tình hình ở miền Nam:

        a) Chuyển hướng từ thế phản công chiến lược của địch sang thế bị động chiến lược của địch.

        b) Âm mưu của địch.

        c) Phương hướng tiến lên của chúng ta và khả năng diễn biến của tình hình.

        d) Công tác của miền Bắc.

        Chúng ta nhận ràng: trong một cuộc chiến tranh cách mạng hay bất cứ một cuộc cách mạng nào, vấn đề quan trọng là đánh giá đúng tương quan lực lượng giữa ta và địch, đề ra cho được nhiệm vụ, yêu cầu về chiến lược, sách lược cho đúng. Việc này phải làm đúng thì ta mới thắng được. Kỳ này ta muốn chuyển hướng một nhiệm vụ chiến lược mới, không có cách nào khác, chúng ta cũng phải nghiên cứu tương quan lực lượng để đề ra nhiệm vụ. Nhưng trước khi nói rõ về tương quan lực lượng, tôi xin trình bày một vài điểm về quá trình phát triển của cách mạng miền Nam cho rõ thêm diễn biến của phong trào.

        Cuộc cách mạng miền Nam của chúng ta tạm gọi đã trải qua bốn thời kỳ:

        -  Thời kỳ phòng ngự về chiến lược, năm 1954 ta chuyển quân ra Bắc;

        -  Thời kỳ đồng khởi ở miền Nam;

        -  Thời kỳ chiến tranh đặc biệt;

        -  Thời kỳ từ chiến tranh đặc biệt chuyển qua chiến tranh cục bộ.

        Mỗi thời kỳ như vậy, rung ương đã đề ra những nhiệm vụ chiến lược rất quan trọng. Chính Trung ương đã đề ra đúng, nên diễn biến qua mỗi thời kỳ mới có thắng lợi như vậy.

        Chúng ta biết ràng trong thời kỳ năm 1954, chúng ta ai nấy đều biết rõ rằng không bao giờ hai năm có tổng tuyển cử. Ta đã nói như vậy, không bao giờ ta tin đế quốc lại có thể giao lại độc lập cho chúng ta. Chúng ta không bao giờ tin cái đó đâu. Ta không tin chút nào, khi đó mặc dầu ta tranh đấu cho hai năm tổng tuyển cử, nhưng chúng ta cơ bản không bao giờ tin, vì không có chuyện đó bao giờ cả. Cho nên, trong lúc đó đứng về miền Nam mà nói, từ thế cầm súng, có chính quyền, bây giờ chuyển tất cả súng ống, chính quyền ra miền Bắc, nghĩa là ta từ thế tiến công chuyển xuống thế thủ, thế yếu rồi. Trong lúc đó, địch đem toàn bộ lực lượng quân sự vào miền Nam, còn ta đem ra miền Bắc, chính quyền không còn nữa. Như vậy, rõ ràng ta từ thế mạnh, ta thụt xuống thế yếu, mặc dầu ta thắng lợi cả nước và nửa nước, nhưng đối với miền Nam là ở trong thế yếu. Nếu trong lúc đó, ta không biết thế thủ thì cách mạng sẽ tan nát. Cho nên, cách mạng phải biết tiến công, phải biết thế thủ. Lúc đó, ta chuyển vào bí mật, từ công khai trở lại bí mật; từ đấu tranh quân sự cao chuyển sang đấu tranh chính trị theo kiểu này, kiểu kia, hợp pháp, bất hợp pháp. Như vậy, rõ ràng từ thế tiến công, chúng ta trở lại thế thủ và ta đã biết giừ thế thủ để giữ vững cách mạng là chính, giữ vững thôi, không phát triển. Cố làm thế nào trong giai đoạn đó giữ vững được cách mạng là chính. Trung ương đề ra như vậy. Tôi còn nhớ lúc đó có nhiều nơi làm không đúng, nghĩa là cứ tiến công lung tung, rồi sau tan nát gần hết, như có một số tỉnh ở Khu V làm rất găng, găng rồi sau không được gì cả. Nhưng những nơi nào biết thế thủ, biết giữ vững lực lượng, biết đi vào bí mật, biết nắm vững vấn đề giữ vững được lực lượng thì ở nơi đó duy trì được lực lượng cách mạng. Nói như vậy, không phải là ta thế thủ hoàn toàn không phản công đâu, ta có phản công, phản công về chính trí bằng cách đấu tranh hợp pháp, bất hợp pháp. Cách mạng nói thế thủ, nhưng không bao giờ có thế thủ hoàn toàn đâu. Đứng về chiến lược chung lúc đó mà nói, chúng ta phải biết giữ lực lượng nếu không biết giữ lực lượng thì cách mạng sẽ tan nát. Ở trong Nam, tôi biết có chi bộ hàng trăm đảng viên, cuối cùng chỉ còn 5, 10 người. Thời kỳ công khai, có chính quyền, người ta vào rất đông. Hồi đó, tôi biết chi bộ đã biết chia thành ba loại đảng viên: loại A, loại B, loại C; loại A là loại phải rút vào bí mật, còn loại B, loại C coi như tan rã. Phải tổ chức lại chi bộ như thế để giữ bí mật hơn, nếu không, tan nát hết. Lúc đó phải làm như vậy. Trong giai đoạn đó, chúng ta đi vào thế thủ, chúng ta biết tổ chức quần chúng, biết chức Đảng, có vũ trang tuyên truyền, vũ trang tự vệ.


----------------------
        1. Bài gỡ băng ghi âm, lưu Hồ sơ Văn kiện Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III, chưa được đồng chí Lê Duẩn xem lại (B.T). - Trích: Văn kiện Đảng - Toàn tập, T29 - Sđd.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:44:02 AM

        Đó là một điểm mới của ta rút ra từ bài học kinh nghiệm trong thời kỳ bí mật thôi. Trong thời kỳ đó ở miền Nam là giai đoạn biết tổ chức quần chúng trở lại, biết tổ chức Đảng, biết chuẩn bị phương pháp đấu tranh có vũ trang tự vệ. Chính nhờ cách làm đó, ta mới giữ được lực lượng cách mạng, tuy còn có nhiều chuyện có nơi bị bắt bớ, nhưng về cơ bản là ta giữ được cách mạng; nếu không giữ được lực lượng cách mạng thì không bao giờ có cuộc đồng khởi đâu, vấn đề đó rất quan trọng. Ở Huế, 1 vạn đồng chí chỉ còn không đầy 100 đồng chí. Ở Khu V, khi công khai có 20 vạn đảng viên, sau này không còn được 1.000, chỉ còn mấy trăm người thôi. Nhưng ở Nam Bộ còn hơn 10 vạn đồng chí, vì biết chuyển hướng phong trào hơn.

        Khi ta chuyển hướng phong trào, đồng thời ta tiến công địch hơn nữa, đấu tranh chính trị là làm cho quần chúng hiểu không bao giờ chịu sống dưới quyền của Diệm. Lúc đó nó đã phải chuyển qua một chính quyền phát xít dùng bạo lực, dùng phương pháp hành chính, quân sự, để cai trị; phát xít đây không phải là phát xít thông thường, mà là phát xít với quân sự cai trị, đem từng sư đoàn, lữ đoàn đi cai trị, lê máy chém đi khắp nơi. Trong thời kỳ địch làm như vậy thì lay chuyển rất dữ trong đảng viên, trong quần chúng. Nhưng Bộ Chính trị và Trung ương Cục nhận định rằng: chính lúc này, Mỹ - Diệm đã thất bại cơ bản về chính trị, nó đã không thể cai trị được một cách bình thường, hoặc theo kiểu phát xít như trước nữa, mà đến nỗi phải lê máy chém đi khắp thôn quê. Đó là biểu hiện địch yếu, chứ không phải địch mạnh. Vì vậy, vùng dậy khởi nghĩa đi, có lực lượng trong tay, số vũ trang tuyên truyền tập trung lại mà khởi nghĩa. Đó là ý kiến đề ra khi đó. Lúc bấy giờ, Trung ương Cục rất đồng tình với việc đánh giá này của Trung ương. Tình hình lúc đó đang hoang mang, 30 vạn thanh niên chạy vào rừng U Minh ở, quần chúng đuổi theo cách mạng mà khóc; lúc đó, hoang mang chung trong nhân dân là như vậy. Nhưng Bộ Chính trị, Trung ương ta ngoài này đề ra cho miền Nam là không phải như vậy, chính bây giờ, địch thất bại cơ bản về chính trị, phải biết tập trung lại Bây giờ quần chúng vùng dậy được rồi. Trước đây, quần chúng có thể muốn hòa bình vì đánh giặc chín năm rồi, khi hòa bình trở lại, ai không muốn hòa bình. Khi đó ta chuyển hướng. Lúc đó chúng tôi tính trong một xã, chỉ có 5 - 10% muốn chống thôi, còn 80% muốn yên thôi; lúc bắt đầu hòa bình, lúc đó ta làm ta sẽ cô lập với quần chúng; quần chúng sau chín năm chiến đấu họ không muốn bạo lực ngay, nhưng đến lúc nó găng như vậy rồi, tất cả quần chúng đều muốn nổi dậy cả rồi; lúc này vấn đề sống chết đặt ra rồi. Cho nên, Đảng có thể nêu khẩu hiệu khởi nghĩa được. Chính đưa ra được đúng lúc là quần chúng vùng dậy; đó là cuộc đồng khởi; đồng khởi là cuộc nổi dậy của quần chúng.

        Đồng khởi là giai đoạn thứ hai, là thời kỳ quần chúng nổi dậy cướp chính quyền ở nông thôn, xây dựng lực lượng cách mạng. Từ thế thủ chúng ta đã chuyển qua thế tiến công rồi. Đây là một bước rất quan trọng, vì trên thế giới chưa có nước nào khởi nghĩa trong lúc trong nước lực lượng phát xít của chúng đang mạnh, dưới chế độ phát xít quân sự mà khởi nghĩa chưa nước nào làm nổi đâu, chưa có đâu. Cái đó ở một số nước to lớn, người ta xây dựng căn cứ dần dần thôi, còn tình hình khởi nghĩa trong một nước phát xít mà quân sự nó mạnh như vậy thì thế giới không dám làm như vậy. Các đảng anh em xưa nay nói cái này khó lắm, không làm được đâu. Miền Nam ta làm được là có một cái đặc điểm riêng, sau này chúng tôi sẽ nói. Ta vùng dậy được vì ta tiếp tục chín năm kháng chiến, vì ta có Cách mạng Tháng Tám, vì có nhiều vấn đề sau này nữa, không phải dễ như vậy. Đấy là đặc điểm của cách mạng Việt Nam ta, không phải dưới chế độ phát xít như vậy với lực lượng như vậy mà khởi nghĩa dễ đâu, Việt Nam ta làm được là có hoàn cảnh lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám trở lại, không phải chỉ lúc đó mà có đâu, vì đã chia ruộng đất v.v..

        Đó là giai đoạn hai, giai đoạn này, nếu lúc đó, chệch đi một chút nữa thôi, độ 5, 6 tháng mà không khởi nghĩa, theo tôi hiểu thì tan nát gần hết, phải 10, 20 năm liền chưa chắc đã dậy được, chưa phải 10 năm đâu. Nếu lúc đó làm mà chệch đi thì có thể 10, 20 năm, chưa biết khi nào vùng dậy. Tình hình phức tạp lắm, không phải dễ, bước ngoặt này khó lắm. Lúc đó, ta nhớ rằng trên thế giới, các đảng anh em đều khuyên ta đừng làm, làm rất nguy hiểm... Đảng ta độc lập, Đảng ta làm Cách mạng Tháng Tám, ta cũng độc lập. Cuộc cách mạng miền Nam, ta cũng độc lập; ta có cái độc lập của ta; ta thấy được vấn đề ta làm, ta làm nên. Đó là giai đoạn hai, quan trọng lắm. Bây giờ ta nghĩ lại cuộc đồng khởi này, ta đồng khởi trong lúc có nửa triệu quân Diệm nó đang chuẩn bị đánh ra miền Bắc; nó đã tổ chức ra quân đoàn để đánh ra miền Bắc. Ở nông thôn, nó phát xít hóa, nó cũng chuẩn bị đánh ra miền Bắc... mà ta vẫn khởi nghĩa.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:44:53 AM

        Đó là một giai đoạn. Từ khởi nghĩa đến chiến tranh đặc biệt, bọn Diệm không chặn nổi khởi nghĩa, cho nên buộc phải chuyển sang chiến tranh đặc biệt. Trước kia, Diệm nắm bộ tham mưu, nay Mỹ nắm lấy để điều khiển, lấy người Việt Nam đánh người Việt Nam thôi, nắm lấy để làm chiến tranh đặc biệt. Ta thấy khi chiến tranh đặc biệt, từ khởi nghĩa tiến lên qua chiến tranh đặc biệt, Trung ương chúng ta đề ra cho miền Nam vấn đề rất lớn là để chống lại cuộc chiến tranh đặc biệt của Mỹ - Diệm. Lúc đó địch có hai vấn đề lớn là "tìm diệt" và "kìm kẹp", nhưng nó kìm kẹp chủ yếu bằng ấp chiến lược. Chúng làm lớn lắm, quy mô lắm; còn các đội quân chủ lực của nó cơ động nhất thì chúng dùng vào tìm diệt, nghĩa là chúng tìm diệt ngay các lực lượng cách mạng mời mọc ra, mục kích của chúng là như vậy. Lúc dó, trong tư tưởng các đồng chí chúng ta thấy phá ấp chiến lược khó lắm. Không phải dễ đâu, mình phá, nó lại làm thôi. Sau trận Ấp Bắc, thì ngoài này, Bộ Chính trị, Quân ủy thấy vấn đề khác, thấy nó thua ở Ấp Bắc không phải là thua một trận chiến đấu, mà là thua về chiến thuật rồi, tức là nó có tàu bay, xe tăng, thiết giáp trực thăng... có hàng ngàn quân mà thua. Còn ta, ta chỉ có một tiểu đoàn thôi mà đánh tan được địch như vậy, rõ ràng nó thua về chiến thuật rồi. Vì vậy, đặt điều kiện là với phong trào chính trị chung lên, phải phá banh ra ấp chiến lược và đồng thời đưa mạnh quân đội lên, đánh các trận lớn, đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở các đô thị hơn nữa. Chính lúc đó là lúc ta đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở trong đô thị lên, phá ấp chiến lược và đánh những trận lớn; do đó mà chiến tranh đặc biệt nó bị thất bại. Đây là một vấn đề rất lớn; nếu lúc đó ta coi thường việc phá ấp chiến lược chẳng hạn và thấy rằng lực lượng quân sự của ta không dành bẻ gãy được chúng về chiến thuật, lúc đó mà chần chừ thì chúng ta khỏng thắng được đâu. Đây là một điểm rất lớn, rất quan trọng trong nhiệm vụ chiến lược đề ra trong giai đoạn đó.

        Khi chiến tranh đặc biệt sắp thất bại, Mỹ đưa vào 20 vạn quân, chuyển từ chiến tranh dặc biệt qua chiến tranh cục bộ. Lúc đó Mỹ... cho là nếu nó đưa vào 20 vạn quân, thì ở miền Nam phải di vào thế phòng ngự thôi, trở lại ba giai đoạn thôi, không có cách nào khác. Nó nghiên cứu kỹ lắm vì nó thấy trên thế giới đã như vậy mà. Đưa vào hai chục vạn quần để lùi giai đoạn mà... Nhưng Trung ương ta thấy khác, Trung ương ta nói: Không, ta phải đề ra thế tiến công, ta phải đánh thắng. Đó là điểm khác lắm đấy. Đề ra tiến công vì ta nhận thấy rằng cách mạng miền Nam đã đấu tranh theo kiểu Việt Nam thế này thì tiến công được. Qua trận Vạn Tường, có một giá trị rất lớn, cho ta thấy rõ ràng ta có đủ sức mạnh để đánh thắng 9.000 quân Mỹ; ngoài biển chúng có tàu thuỷ, trên bộ chúng có máy bay, xe tăng; ta chỉ có 2 tiểu đoàn đánh nó mà ta giết được hơn 1.000 tên, ta chỉ chết có 50 người. Rõ ràng là ta đủ sức đánh chiến tranh cục bộ rồi, rõ ràng quá rồi. Thực tiễn cho phép ta có thể 1 đánh 9, đánh 10, mà 9, 10 đây là nói về số lượng thôi, còn về sức chiến đấu trên chiến trường thì nó gấp 20, 30 lần ta. Cho nên tấn công nó được, không phải thế thủ gì đâu. Từ đó đến Bầu Bàng, Dầu Tiếng... Tấn công này quan trọng lắm, chính tấn công đó đã làm nó hoang mang thất bại. Sau này, lần thứ hai, nó đưa thêm vào 20 vạn quân nữa. Không những ta tấn công trên chiến trường cũ ta lại mở một loạt mặt trận mới, cả ở ngoài phía bắc này, ở Trị - Thiên, nó hoang mang ghê lắm, nó không ngờ ta mở mặt trận Trị - Thiên. Xưa nay, nó tưởng ngoài này ta không thể mở mặt trận được, nó muốn ta đánh theo cách đánh của nó. Ta đã phá vỡ kế hoạch của nó muốn đánh ra miền Bắc; đánh nó hoang mang hết cả. Vì vậy, đến mùa mưa, nó đi vào thế bị động, vào thế thủ, rõ ràng rồi. Những điểm đó, ta không nắm, không mở mặt trận Trị - Thiên thì nguy hiểm.

        Hôm nay, ta đánh Ơ Trị - Thiên... sức người nhiều hơn Điện Biên Phủ. ở Điện Biên Phủ có 4 vạn thôi, bây giờ ta đánh nó với 7 vạn người, vũ khí gấp 3, 4, 5 lần, lại hiện đại hơn... Trận to quá rồi, làm trận này thôi, riêng trong kia không làm nổi như vậy đâu; đây là cả hậu phương miền Bắc này, tất cả mới làm được. Chính mở mặt trận này là phân tán nó, kéo nó ra ngoài này mà tiêu diệt. Đây là vấn đề chiến lược lớn, cơ bản, để thấy rằng qua từng giai đoạn như vậy chúng ta đều đi đúng đường; từng bước ngoặt một, từng tương quan một, chúng ta đề ra được nhiệm vụ, đề ra được mục tiêu, ta bố trí được lực lượng đánh nó. Cho nên, đến bây giờ đây ta nhận thấy nó từ thế tiến công chuyển qua thế bị động chiến lược, từ khi vào mùa mưa dện bây giờ, đây là nói về chiến lược thôi, rõ ràng là chưa nói về chiến thuật.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:45:35 AM

        Trong cuộc chiến tranh cách mạng, vấn đề quan trọng lớn là từng giai đoạn lớn đề ra được nhiệm vụ chiến lược. Đây là bước ngoặt rất lớn. Rõ ràng là bây giờ địch đã chuyển hướng từ một thế tiến công phải chuyển sang thế bị động phòng ngự, trong giai đoạn phát triển cao nhất của chiến tranh cục bộ rồi. Bởi vì với nửa triệu quân Mỹ, với cách đánh thế này là một đỉnh cao nhất của chiến tranh cục bộ rồi. Nếu đánh qua một chiến lược khác thì khác, bởi vì bố trì lực lượng là theo mục đích yêu cầu; mục đích của nó là chiến tranh cục bộ thôi, không phải đương đầu với một cuộc chiến tranh lớn, to giữa hai phe hẳn hoi với nhiệm vụ quân sự chính trí ở miền Nam, từ chiến tranh đặc biệt sang chiến tranh cục bộ mốc cao nhất là nửa triệu quân, là khá cao rồi; còn nó lên một triệu quân thù sang chiến lược khác rồi, qua giai đoạn khác rồi. Do đó, ta thấy nó lừng chừng ở giữa. Năm nay, nó nói cả nam dưa sang nhiều lắm là 5 vạn quân, mà 3 tháng gần đây, ta diệt 3 vạn quân Mỹ rồi, cho nên, nó ở giai đoạn cao rồi, không thể tiến, không thể lui được nữa. Còn ta thì như thế nào? Bây giờ tôi muốn nói tại sao ta thắng về chiến lược, chiến thuật. Để nói về điểm này, tôi xin đưa ra vài con số để chứng minh là nó đã thất bại như thế nào, từ chiến tranh đặc biệt đến bây giờ.

        Trước kìa, đứng về so sánh lực lượng giữa ta và địch:

        -  1959 - 1960, khi ta mới bắt đầu khởi nghĩa, quân địch 7 ta 1 (lúc đó không có Mỹ đâu);

        -  1960: quân Diệm 10, ta 1;

        -  1961: địch 7, ta 1;

        -  1962 - 1963: địch 5, ta 1;

        -  1965 đến bây giờ: Mỹ vào nửa triệu người nữa, tất cả, đến bây giờ, địch 3, ta 1.

        Đó là con số quân đấy, nhưng về lực lượng cơ động, bây giờ ta 1, địch 0,5; địch thua ta về lực lượng cơ động nó 1, ta 2, ta mạnh hơn nó. Trên kia nói nó 3, ta 1 là nói cả quân ngụy (60 vạn), nhưng 60 vạn quân ngụy không đủ năng lực bình định thì nói con số để làm gì. Nói 3/1 là nói theo nghĩa đó. Còn nói quán Mỹ làm nhiệm vụ tìm diệt, không làm nổi. Không phải con số đâu, thực chất con số này ta mạnh chứ không phải nó mạnh, chưa nói đến lực lượng cơ động: ta 2, nó 1. Đấy là nói con số. Còn mạnh ở chỗ trên chiến trường, ai nắm quyền chủ động nữa. Rõ ràng ngay con số như vậy, ngay từ khi quân Mỹ vào, qua hai mùa khô, tà tiêu diệt cả Mỹ - ngụy hơn nửa triệu quân, trong đó hơn 6 vạn quân Mỹ và chư hầu. Lớn biết bao nhiêu mà kể; trong đó ta diệt từng tiểu đoàn, từng chiến đoàn xe tăng của nó, còn địch chưa bao giờ diệt ta 1 đại đội. Hôm nay tôi nói một vài con số để làm cơ sở mà nhận định tình hình thôi. Ngày mai, anh Dũng sẽ báo cáo tỉ mỉ, cụ thể hơn.

        Như vậy ta mới nói về quân sự, nói vài con số và như vậy rõ ràng đó là về quân sự nó thua rồi. Còn về mặt chính trị, chưa bao giờ địch rối loạn, thua như bây giờ. Về mặt chính trị ở trong Nam từ xưa đến nay, địch vẫn thua ta, địch vẫn thất bại chính trị cơ bản, chưa bao giờ địch rối loạn như bây giờ. Kỳ này sau bao nhiêu lần đổ lên đổ xuống, địch mới đưa ra được một chính quyền dân sự. Tại sao chúng phải đưa ra chính quyền dân sự? Trước kia, Trung ương đã nói rằng chiến tranh cục bộ của địch nhưng còn mang tính chất chiến tranh đặc biệt, nghĩa là vẫn theo thực dân kiểu mới; do đó, chính quyền là quan trọng chính quyền đó muốn làm vai trò thực dân kiểu mới phải là chính quyền dân sự mới làm nổi, nhưng địch làm không nổi. Đây là thất bại lớn lắm, rất lớn. Chưa lúc nào, mâu thuẫn trong nội bộ nó và quần chúng trong đô thị chống lại chúng mạnh như bây giờ. Còn thất bại của Mỹ rất rõ? Trong nước, nó phân tán như thế nào; về kinh tế rối loạn như thế nào; về quân sự cũng rối loạn, về quân sự ở miền Nam và về quân sự phòng thủ chung trên thế giới; về chính trị rối loạn và bị cô lập; chưa có nước nào bị cô lập ghê gớm như Mỹ bây giờ trên thế giới. Đến nỗi từ xưa đến nay chưa bao giờ có phong trào quần chúng nổi dậy mạnh mẽ như bây giờ ở Mỹ, quần chúng nổi dậy chống phân biệt chủng tộc như người da đen ở Mỹ, quần chúng đòi cải thiện đời sống. Tình hình này, nay mai sẽ là cuộc đấu tranh gay go nhất của Mỹ, không gỡ được.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 04:47:09 AM

        Trái lại, còn về ta, không những ta thắng lợi về quân sự, còn thắng lợi vế Mặt trận nữa. Mặt trận chưa thành một chính quyền, một chính phủ, trên thế giới chưa bao giờ có Mặt trận nào như vậy được thừa nhận như bây giờ. Trước đây ta có chính quyền, có Chính phủ đàng hoàng, có cả Liên Xô, Trung Quốc nữa, ta cũng chưa được công nhận như bây giờ. Bây giờ, Mặt trận thối mà cả thế giới, số người thừa nhận quan trọng đến như vậy. Vị trí của Mặt trận miền Nam trong lịch sử chưa có bao giờ như vậy. Đó là vì sao? Vì chính nghĩa về ta lớn quá. Sự thất bại của Mỹ to quá. Tất cả mọi người trên thế giới đều thấy cái phi nghĩa, đều thấy cái kém hèn, đều thấy cái yếu ớt, đều thấy tất cả cái gì xấu xa đều thuộc về phía Mỹ; còn những cái gì đẹp đẽ nhất của loài người, những cái chính nghĩa đều đưa về phía Mặt trận miền Nam, tất cả đều đưa về phía bên này. Thất bại của Mỹ lớn lắm, ta xem báo chí thì thấy rõ.

        Bây giờ ta xem lại vì sao ta thắng được về chiến lược, chiến thuật? Vì sao ta thắng được về chính trị, quân sự như vậy?

        Trước hết, sở dĩ chúng ta đã thắng lợi về chiến lược lớn như vậy mà cả về chính trị nữa, theo tôi nghĩ, chủ yếu nhất, cơ bản nhất là ta đã nắm được phương châm chiến lược tiến công. Cách mạng là tiến công, không tiến công là thất bại. Ta thắng từ khi đồng khởi đến chiến tranh đặc biệt và bây giờ tại sao ta thắng như vậy, nguyên nhân lớn nhất vế mặt quân sự mà nói là vì ta nắm được chiến lược tiến công; nếu ta nắm chiến lược phòng ngự, chiến lược cấm cự là sai mất rồi. Chính ta đã nắm được chiến lược tiến công mới thắng được Mỹ. Bài học này lớn lắm. Khi cần thế thủ lúc đầu thì thế thủ, nhưng cách mạng luôn luôn tiến công. Đó là chủ nghĩa Mác, đó là chủ nghĩa Lênin, không có cách gì khác. Khi thoái trào thì phải biết thế thủ, còn khi cách mạng đã vùng dậy rồi thì phải biết tiến công, không tiến công là thất bại, lừng chừng là nguy hiểm, là đứng tại chỗ thôi, không tiến lên được. Lịch sừ cách mạng là như vậy; bản chất cách mạng là như vậy, không tiến công là không được đâu. Cái này lớn lắm, rất lớn. Đảng ta đã nắm được như vậy. Cách mạng ta từ đồng khởi đến bây giờ là ta tiến công. Vì đánh giá được lực lượng chính trì, quân sự thế nào mới tiến công, chứ không phải dễ tiến công. Nói tiến công là một loạt vấn đề. Theo tôi hiểu, một là chủ nghĩa Mác - Lênin nói như vậy; Mác nói như vậy về Công xã pa ri, không tiến công là thất bại về sau, Lênin cũng nói như vậy; hai là, dân tộc Việt Nam ta xưa nay vẫn tiến công; ta đọc lại lịch sử sẽ thấy, không thế thủ đâu, lui về là để tiến công thôi, khi mất Hà Nội lui về là để tiến công, không bao giờ thế thủ. Con người Việt Nam đủ sức làm việc này. Đây là có nguyên nhân của nó. Và chúng ta có vốn cách mạng từ hơn hai mươi năm nay nữa. Tôi cho đây là vấn đề rất lớn. Nếu chúng ta không biết tiến công thì chúng ta không đến giai đoạn như bây giờ đâu, khác lắm rồi. Chính đế quốc Mỹ tính toán sai về ta chỗ này đấy, nó sai nhiều lắm, nó không hiểu được. Cố nhiên, trong thế tiến công này, từng sách lược một, có khi biết thế thủ cũng có, nhưng mà thế tiến công là chính. Chúng ta đặt toàn bộ thế tiến công này trước hết là ở trên vị trí thế giới đã, tôi thưa nói trong nước vội. Chúng ta đã nghiên cứu, nhận thấy bây giờ ở trên thế giới, cách mạng đang ở thế tiến công, chứ không phải chỉ ở Việt Nam. Vấn đề này quan trọng lắm, để cắt nghĩa vì sao nó lên từng bước, nó leo thang, nó không đưa ùa nửa triệu quân Mỹ vào một lúc. Chúng ta biết rằng, trên thế giới, giai đoạn này cách mạng đang ở thế tiến công, Mỹ không phải dễ dàng chuyển từ chế độ thực dân kiểu mới sang chế độ thực dân kiểu cũ , nó bị ép, không phải đem quân qua dễ lắm đâu. Tại sao như vậy. Vì nó đang bị cách mạng thế giới tiến công nó, cho nên nó dùng chính sách thực dân kiểu mới, nghĩa là từ thế tiến công đưa nguyên tử ra dọa người của nó phải chuyển qua thế phản ứng linh hoạt. Phản ứng linh hoạt có nghĩa là thế thủ rồi, rất rõ như vậy. Đây là điểm rất lớn. Ta thấy Mỹ từ chỗ tiến công, đem nguyên tử mà dọa người ta, đưa vào thế phản ứng linh hoạt, nghĩa là thế thủ rồi, hễ chỗ nào đánh nó thì nó phản ứng lại. Thế thủ đây không phải ý muốn của nó, đây là khách quan của lịch sử thế giới buộc nó. Nó trơ tráo tiến công không được Cuba ở gần nó ngay bên cạnh nó mà nó không tiến công được, không phải dễ dàng như vậy. Vì vậy ở ta, nó mới leo thang từng bước. Vì tương quan lực lượng trên thế giới kiềm chế, tương quan lực lượng trong nước nó buộc nó phải làm chuyện đó. Vì vậy, ta tiến công từng bước một tiến lên. Nếu nó từ chiến tranh đặc biệt đưa thẳng lên chiến tranh cục bộ thì ta đánh nó khó lắm. Nó tiến công cũng đi từng bước một; cái đó đều có tất yếu lịch sử của nó, không phải tự nhiên đâu. Nếu nó tính trước là nó là nước giàu như vậy, muốn nắm ngay Đông Nam Á này một cách mạnh đưa ngay lên chiến tranh cục bộ; điều đó trái với tình hình thế giới lúc đó, vì tương quan lực lượng thế giới buộc nó, không cho phép nó làm như vậy.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 01:49:07 PM

        Như vậy có hai cái công kích lớn nhất là công kích của các chiến trường lớn và công kích các đô thị lớn. Ta có lý luận quân sự khả năng công kích có những lực lượng quân sự khá mạnh, những chủ trương lớn và những mũi nhọn khá mạnh đánh ngay vào tim nó; vùng dậy cả về quân sự, chính trị trong một thời gian. Ở đây ta có nhảy vọt lên, nó có nhảy vọt xuống, ghê gớm lắm, không lường thế nào cho hết đâu. Nếu Sài Gòn bị sập một cái nửa triệu người, vài ba chục vạn người cầm súng cho ta đánh nó thì lắm vấn đề lớn lắm, không lường hết được. 30 vạn người cầm súng đánh nó một thời gian cả trong cả ngoài đều chiến đấu, lớn vô cùng, sức mạnh này lớn vô cùng, không lường hết được. Ở Hà Nội, lúc đầu một trung đoàn Thủ đô đánh hai tháng rồi ra, có việc gì đâu, huống chi bây giờ ta làm chủ, ta vào Sài Gòn đánh vài ba tháng ta ra cũng được, không có chuyện gì; ta đánh đây không phải là manh động như trước, không có chuyện này, mà đây là cả một chiến dịch, một cuộc chiến đấu về mọi mặt cả quán sự, chính trị, binh vận tiến lên, có điều kiện ta làm, vùng dậy rất lớn; điều này chúng ta thấy đã chín muồi, tức là có tiền dề làm được và sức mạnh lúc đó sẽ gấp 5, gấp 10 lần bây giờ.

        Ta mạnh lên, nó sụp xuống, hai cái nhảy vọt, hai cái ông. Có như vậy âm mưu xâm lược của nó sẽ bị thất bại, muốn dậy cũng không được nữa, phải thua thôi, không thể mở rộng chiến tranh ra, không còn cách gì khác.

        Tổng công kích, tổng khởi nghĩa là một việc làm lúc ta đã thắng về quân sự, đã đánh bại 1 triệu quân của nó, trong lúc đó về mặt chính trị thì có những điểm ta đã làm chủ gần chung quanh đô thị và trong đô thị đã diễn ra những giai đoạn tôi sẽ nói sau, đã có giai đoạn ta cầm quyền 70 ngày như ở Đà Nẵng rồi, quần chúng đã bạo lực nổi dậy trong đô thị và đã có lúc cầm quyền 70 ngày.

        Như vậy bây giờ nó có phải nhiệm vụ chiến lược như bây giờ không? Chúng ta nói điều cơ bản như thế đó thôi. Khi sự việc tiến lên, nó sẽ cớ nhiều vấn đề diễn biến, nhiều vấn đề bây giờ chưa thấy rõ. Như khi Cách mạng Tháng Tám, ta nói khởi nghĩa lên thôi, chứ có nói khởi nghĩa như thế nào đâu, có nói so sánh lực lượng như thế nào đâu, làm sao mà biết Sài Gòn sẽ khởi nghĩa như thế nào được, còn nhiều việc không biết trước như vậy được. Nếu lúc đó tính toán quân sự, ta có 1.000 người thì đánh làm sao hết khởi nghĩa rồi, nói như thế thì không thể có Cách mạng Tháng Tám đâu, tính toán theo kiểu đó thì thương lượng với nó cái gì đó cho yên thôi. Cách mạng Nga cũng vậy, nắm mấy điểm lớn thôi, dám vùng dậy.

        Ta cũng vậy. Ở đây, ta dám vùng dậy, dám với một khoa học, dám là vì nắm vững quần chúng ở nông thôn, dám nắm vững chiến lược chiến thuật, dám với lực lượng nắm sẵn trong tay rồi dám nắm vững mấy sư đoàn trong tay, dám của ta bây giờ khác hẳn, không phải dám phiêu lưu, dám của ta là rất vững vàng. Thành công thì cũng tốt, không thành công thì cũng mạnh hơn nữa, không sao cả. Cái này vững vàng lắm, rất vững vàng.

        Bây giờ muốn làm nhiệm vụ này, chúng ta phải chiến đấu trên chiến trường quân sự, ta điều quân nó ra mà đánh, vừa rồi ở Đắc Tô, ở đường 9, chiến trường Trị - Thiên. Đường 9 bây giờ đánh to lắm đấy, 7 vạn quân, vũ khí gập 2, 3 lên trước, mà có thể đánh 3, 4, 5 tháng. Anh Tuệ bảo đảm đánh hàng năm đấy. Trung Quốc cũng bảo đảm. Lương thực, khí tài bảo đảm hàng năm cũng được, không sao cả, mà ta biết đánh lắm, biết đánh bằng cách nào. Về quân sự, ta đã làm chủ chiến trường, ở đây, các đô thị lớn mấy năm nay, ta đã bố trí lực lượng khá, rất tốt. Như ở Sài Gòn lâu nay chúng ta đã đưa về gòn đó 6 tiểu đoàn, xung quanh bộ đội địa phương hàng trung đoàn. Trước có thế đâu. Nó thành như 6 múi bưởi - bây giở ta đánh cách Sài Gòn 5, 6 km. Hai năm nay, ta đã bố trí lực lượng quân sự rồi. Bây giờ lực lượng chung quanh đó từng trung đoàn, ngoài là từng sư đoàn. Như vậy hoàn thành bố trí lực lượng quan trọng vô cùng. Khi anh mở ra đưa lực lượng anh về rồi là khó lắm đấy. Trước đây đem quân về Hà  Nội là khó lắm, không phải dễ đâu, làm sao vượt được. Bây giờ ta đã có lực lượng dân quân du kích… Ba tháng vừa rồi, ta tiêu diệt nó 5, 6 vạn quân, cả Mỹ - ngụy. Bây giờ nếu ta mở mặt trận này, tôi nghe anh em miền Nam nói tinh thần nó bạc nhược lắm, nó sợ vô cùng, sư đoàn 25 của nó cũng yếu di rồi. Ở Huế ta đánh mạnh là nó tan rã. Mỹ đấy. Còn về quân ngụy, nó yếu vô cùng, nghe anh em nói khi ta đánh nó khóc lóc bạc nhược vô cùng. Còn các sư đoàn khác, ta đã nắm tình hình nó mạnh, yếu như thế nào? Như năm ngoái, sư đoàn 1, sư đoàn 2 của nó, nếu ta đánh mạnh, nó sẽ tan rã, chạy theo ta.

        Như vậy về quân sự, Trung ương nói, ở miền Nam cũng như ở cả nước ta, chưa có lúc nào ta sung sức như bây giờ, ta vững như bây giờ, khí giới có thể đánh hàng năm trời, lương thực cũng vậy. Chính bộ đội của ta ở miền Nam bây giờ là cao nhất.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 01:49:30 PM

        Còn về chính trị, theo tôi, ở đô thị cũng như ở Sài Gòn, có mấy giai đoạn:

        -  Giai đoạn 1 là Diệm đổ, phong trào quần chúng lên có tính chất bạo lực; không phải thường mà làm Diệm đổ.

        -  Giai đoạn 2 đã đưa ra khẩu hiệu Mỹ phải ra rồi và đã cướp chính quyền 70 ngày ở Đà Nẵng. Phong trào đô thị đã có tính chất bạo lực từ khi đánh đổ Diệm, đã qua đánh đổ Mỹ, đã có lúc nắm chính quyền.

        Nhưng từ phong trào đồng khởi cuối năm nay phong trào đô thị đã do ta chỉ đạo. Trước kia phong trào bật khởi; do mấy lần thất bại, phong trào đã chuyển hóa thành dưới quyền lãnh đạo của ta. Vụ vừa rồi, mấy vạn thợ, quần chúng công nhân đấu tranh, giai đoạn này do ta lãnh đạo. Và như vậy quần chúng đã khởi nghĩa, đã dùng bạo lực, quần chúng đã chín muồi, muốn nắm chính quyền. Hàng triệu người ra đường phố, quần chúng đó xưa nay chỉ chờ sức mạnh quân sự của ta. Hiện nay ở đô thị, đã có từng chòm, phường ấp ta làm chủ. Hầu hết đô thị đều sôi nổi, coi như bây giờ không có con đường nào khác, phải khởi nghĩa, phải đánh đổ Mỹ; chỉ có khởi nghĩa, cứu nước, cứu mình, không có con đường nào khác.

        Như vậy tiền đề đã có chưa? Tiền đề có rồi. Chính trị, quân sự ở đô thị đã lên rồi, bố trí lực lượng xung quanh đô thị đã làm rồi, các mũi nhọn quân sự được ta đẩy lên. Đó là tiền đề.

        Còn diễn biến nữa, giai đoạn chuyển lên nữa, đó là tiền đề chúng ta đề ra. Vì vậy, chính bây giờ, chúng ta không đề ra cái này là bỏ lỡ cơ hội, rồi phong trào sẽ lừng chừng, sẽ nguy hiểm, lúc đang thắng thế này.

        Đây là một mặt trận, bây giờ ta đánh đô thị, vấn đề quan trọng ta phải làm sập chính quyền của nó. Hơn nữa, đánh đô thị là đánh những căn cứ hậu cần của nó. Mỹ là một đội quân hiện đại, không có hậu cần, không có hải cảng không được Đánh đây là đánh hậu cứ mạnh nhất của nó, đánh cơ sở cơ bản của nó; không phải chỉ lật chính quyền bù nhìn; phải phá hết, phá rất dữ hậu cứ của nó. Quân đội Mỹ mấy năm nay sở dĩ đứng được là dựa vào trang bị. Nếu thiếu trang bị thì sập ghê gớm lắm. Cuộc khởi nghĩa của ta không phải chỉ cướp chính quyền đô thị, mà còn để đánh giặc, để chiến đấu, để phá hết tất cả lực lượng của nó nữa, đồng thời xây dựng chính quyền khác nữa. Đấy là về mặt quân sự, chính trị, chúng ta thấy có những điều kiện làm việc đó.

        Ý kiến này anh em đều có biết. Nhưng ở đây có vấn đề quan trọng là ta căn cứ vào tương quan lực lượng, ta có khả năng làm như vậy, nhưng cuộc khởi nghĩa phải biết nắm thời cơ. Thời cơ là nghệ thuật, còn so sánh lực lượng là khoa học. Thời cơ phải là có nghệ thuật, biết nắm nó, biết dùng nó thì lực lượng mạnh 1 thành gấp 5, gấp 10.

        Vấn đề này, anh em miền Nam sẽ cùng Bộ Chính trị nghiên cứu hơn nữa, cách đặt vấn đề như thế nào cho đúng hơn nữa. Nhưng mà phải biết so sánh lực lượng, phải biết nắm thời cơ, phải biết nắm cả hai, không có không được. Nếu chỉ nắm thời cơ mà không biết so sánh lực lượng cũng không được. Vì đây không phải chỉ có nghệ thuật quân sự mà phải có phân tích chính trị lý luận của khởi nghĩa. Vì đây không phải phân tích không thôi mà là thời cơ khởi nghĩa, phải cớ lực lượng chính trị. Lực lượng chính trị vùng dậy sẽ khác hẳn, khi vùng dậy như vậy sẽ là một đội quân. Ví dụ: thành phố Huế có 15 vạn dân, có thể có 9 vạn người cầm súng đánh nó thì khác hẳn. Đây không phải khởi nghĩa ở đô thị không thôi, mà trong lúc đó, ta còn khởi nghĩa ở nông thôn nữa. Vùng nông thôn nào chưa giải phóng, ta khởi nghĩa. Đây là hái mũi nhọn lớn là quân sự công kích vào đô thị và khởi nghĩa toàn bộ. Lúc này khẩu hiệu là công nông binh liên hiệp, tất cả lực lượng phản chiến sẽ ngả về ta.

        Gần đây, Mặt trận đưa ra Cương lĩnh, ngụy quân, nguỵ quyền hoang mang dữ lắm, muốn ngả theo ta một phần. Đến lúc đó tôi nghĩ sẽ có nhảy vọt lớn lắm.

        Ý kiến này không phải bây giờ đâu, tôi nhớ năm ngoái vấn đề này đã đề ra, ta đã nói phải khởi nghĩa từng phấn, tình hình hơn một năm nay đã có chuyển biến. Quần chúng đã có lực lượng thực sự, như ở Đà Nẵng đã giữ chính quyền 72 ngày rồi.

        Thế thì khởi nghĩa là một quan niệm, là một giai đoạn, ta phải thắng về quân sự và chính trị, thắng cả hai ở ngay yết hầu của chúng, ở ngay đô thị của chúng. Chúng ta chưa thể lường hết chuyển biến như thế nào, đến đó mới vận dụng hơn nữa. Nhưng rõ ràng nó sẽ phản công lại. Ta chuẩn bị đánh lại phản công của nó, tiêu diệt nó, truy kích nó, ta có điều kiện làm được.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 01:49:51 PM

        Đây coi là một chiến dịch, chuẩn bị đánh một giai đoạn, đánh 3 tháng, 5 tháng, 6 tháng. Đánh trong, đánh ngoài, dành mọi mặt, đánh nơi nó khó vận động hơn ta. Nó có thể kéo dài, rõ ràng là do tương quan lực lượng chuyển biến lúc đó. Do tài năng của mình, do sức chiến đấu của nó, bây giờ lường không hết được. Nhưng phải hiểu khởi nghĩa là một giai đoạn. Cướp chính quyền ở đây không phải để cai trị như tiếp quản đâu, mà để chiến đấu trong một thời gian đã, mà phải chiến đấu, chiến đấu cho nó quỵ đã, rồi hãy hay. Khởi nghĩa rồi, công kích nữa, khởi nghĩa rồi còn phải công kích mạnh hơn nữa.

        Những ý kiến này chúng tôi thảo luận với Trung ương Cục miền Nam rất kỹ, nhất trí nhiều lắm. Nhất trí đây không phải chỉ nhìn vào khả năng quần chúng mà nhất trí, không phải chỉ nhìn đường lối nói theo lôgíc mà nhất trí, mà đây vì thấy nhu cầu của quần chúng thật sự, nguyện vọng 1 quần chúng thật sự, thấy khả năng quần chúng thật sự có thể làm như vậy. Trong lúc đó có chỗ nào đó về quân sự ta có yếu phần nào, chừng nào chưa mạnh, nhưng mà quần chúng sẽ trực tiếp làm. Rõ ràng là Sài Gòn đã làm rồi. Bây giờ đã có quần chúng ra xem khởi nghĩa có phải của ta làm không, không phải của ta họ không làm. Kỳ này khác, gần đây ta lãnh đạo phong trào 1 vạn thợ. Từ khi phong trào Phật giáo thất bại, quyền lãnh đạo thuộc về ta. Sự mâu thuẫn giữa họ làm cho họ phân tán. Phong trào đã giao quyền lãnh đạo về cho Đảng ta. Bây giờ ta nghiên cứu phong trào Sài Gòn từ đầu đến cuối là bạo lực. Phong trào đấu tranh chính trị ở Sài Gòn là bạo lực, Phật giáo cũng là bạo lực thôi, đốt hòm phiếu, tự thiêu là bạo lực. Mấy năm nay bạo lực mới ở mức độ như hiện nay, chứ chưa phải bạo lực đến mức vùng lên cướp chính quyền. Chúng ta xem báo hay xem phim cũng thấy mức thế thôi.

        Ở Sài Gòn, trước khởi nghĩa, đảng viên không có ai, vài ba người thôi, lúc Cách mạng Tháng Tám ấy mà. Bây giờ ở Sài Gòn tôi biết có vài ba vạn đảng viên nằm im,... khi khởi nghĩa họ là đảng viên làm được việc, nay nằm im thôi.

        Bây giờ để tiến hành công việc này, Bộ Chính trị giao Tổng Quân ủy nghiên cứu về quân sự, anh Dũng sẽ báo cáo một số nét phương hướng chung về quân sự. Còn về chính trị, tôi nói thêm một số ý kiến.

        Cố nhiên quân sự phải bảo đảm làm sao ăn khớp với các cuộc khởi nghĩa khi nổi dậy ở đô thị. Phong trào này quan trọng là ở chỗ đô thị phải biết khởi nghĩa như thế nào? Quần chúng đã có, Đảng bộ đã có Có hai cách: một là phong trào khởi nghĩa từng bước có trước, rồi quân sự đánh vào; hai là quân sự đánh vào rồi khởi nghĩa lên. Hai cái. Quân sự đánh vào như vậy đập một cái mạnh tung tóe rồi khởi nghĩa vùng dậy. Cái đó tùy, nhưng phải có hai cái như vậy. Khởi nghĩa và công kích, hoặc công kích và khởi nghĩa. Nhưng chưa chắc khởi nghĩa có trước, tùy theo hoàn cảnh, có khi công kích có trước cũng có. Vấn đề này chúng tôi đã thảo luận với các đồng chí Sài Gòn đã lâu về khởi nghĩa đô thị. Muốn khởi nghĩa ở đô thị, ta biết rõ rằng quần chúng không chịu sống dưới chế độ này; chính quyền này không cai trị được quần chúng nữa; Đảng phải biết tập trung, tập hợp quần chúng. Vì vậy cho nên phải có những khẩu hiệu đúng, khẩu hiệu giao thời, những khẩu hiệu đưa ra tuyên truyền gì đây, khẩu hiệu đưa ra hành động gì đây, khẩu hiệu đưa ra giao thời thế nào? Tổ chức quần chúng cũng vậy, có những tổ chức chiến đấu, có tổ chức không phải của mình cũng như của Mặt trận..., giao thời nào đó rồi chuyển qua.

        Tất cả những tổ chức, khẩu hiệu để động viên, tập hợp quần chúng lâu nay thảo luận rất nhiều trong Sài Gòn. Đại thể như trong này khẩu hiệu chính bây giờ là độc lập, tự do. Cái đó quan trọng lắm. Độc lập, tự do xưa nay là một yêu cầu của dân tộc ta rồi, nặng lắm. Từ khi Bác kêu gọi "Không có gì quý hơn độc lập, tự do..." xúc động lắm, xúc động đến tình cảm sáu sắc lắm, các nước xúc động lắm. Cho nên, ta nêu độc lập tụ do, đây là một yêu cầu cấp thiết nhất, nhưng người hiệu triệu quan trọng lắm. Hai năm nay trên đài, báo nói: 'không gì quý hơn độc lập, tự do", cả đô thị, thôn quê đối với tất cả mọi người, câu nói của Bác cũng là điều hiệu triệu thiết tha nhất.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 01:51:55 PM

        Hiện giờ trong miền Nam đời sống trăm điều gian khổ, sống hôm nay, vợ con ngày mai không biết có còn không? Cho nên thôi chiến tranh, giành hòa bình, cứu nước, cứu nhà là vấn đề bức thiết ghê gớm lắm, hàng ngày, hàng giờ của các tầng lớp. Rồi cơm áo, ruộng đất. Khẩu hiệu cơ bản này là khẩu hiệu rất tha thiết trong lòng người ta; rõ ràng như cuộc khởi nghĩa của Nga trước tiên là bánh mì, ruộng đất, hòa bình. Ba khẩu hiệu thôi. Cái này quan trọng lắm. Hiện tại bây giờ họ tập hợp dưới khẩu hiệu này. Hìh thức đấu tranh chủ yếu bây giờ có hình thức công nhân, nông dân, thanh niên. Nhưng khởi nghĩa xong rồi, nay mai hình thức quan trọng nhất là chính quyền địa phương, chính quyền khu phố, hình thức này nó tập hợp như Xô viết tập hợp tất cả các lực lượng để mà chiến đấu, để cai trị. Ở miền Nam, dân ta có khả năng, dân ta biết lãnh đạo chính quyền 20 năm nay rối. Ta đưa mấy nghìn cán bộ vào nắm chính quyền dễ dàng, không khó nữa đâu. Ta có khả năng, không khó. Trên có chính quyền Trung ương, Trung ương chúng ta đề ra có một chính quyền Trung ương của Mặt trận mới; làm như vậy để có nhiều sách lược tốt. Mặt trận này tập hợp những người chưa vào Mặt trận giải phóng vì họ cho là cộng sản. Bọn đế quốc thấy Mặt trận thứ hai này, bọn muốn thôi cũng có cớ cho nó đây không phải là cộng sản, mà là một chính quyền khác. Trong chính quyền này, ta sẽ đưa những người thân Pháp vào đấy, thậm chí những người lâu nay làm việc với Mỹ mà không nguy hiểm cũng có thể đưa vào. Ta làm mạnh, ta làm nó lừng chừng, ta phân hóa nó... Sẽ có Mặt trận khác, tên khác, cờ khắc. Đây là cầm chính quyền. Phải tập hợp quần chúng, xây dựng được chính quyền cách mạng địa phương  đồng thời xáy dựng được chính quyền Trung ương.

        Nay mai đây, ngoài Bắc có một chính quyền, trong Nam có hai chính quyền: Mặt trận Giải phóng và Mặt trận mới. Tức 3 nhưng là 1, như đất với trời. Vậy thôi, chắc có lẽ 3 là 1, 1 là 3. Ta làm như vậy hợp với hoàn cảnh của chúng ta. Tình hình này anh em miền Nam nắm rõ lắm; người như thế nào, anh em đã chuẩn bị sẵn sàng. Cờ đã có rồi, cờ có thể trên đỏ, dưới đỏ giữa có sao vàng, v.v. Về chương trình tất cả có rồi, chuẩn bị tất cả rồi. Chỉ còn đánh nữa thôi, rồi vùng dậy nữa.

        Như vậy cuộc này nếu ta làm tốt, ta đánh 2, 3, 4 tháng, đánh thật tốt, nó phải rụng. Khi đó, đô thị sụp xuống, bọn Việt gian không còn nữa. Chính một diều kiện quan trọng để đánh thắng Mỹ là có chính quyền này. Bên này rụng rồi, ở bên Mỹ bọn hiếu chiến phải mất tinh thần. Có hàng triệu quần chúng ra đường biểu tình chống bọn hiếu chiến. Bọn hiếu chiến là không còn có cơ sở. Nếu khi khởi nghĩa xong rồi, nếu có 1 triệu người ra ngoài biểu tình giữa thành phố thì tinh thần bên nước Mỹ không còn gì.

        Tình hình đó, nếu ta đánh 3, 4, 5 tháng, nó đem quân vào ta giữ không nổi, ta ra, không có vấn đề gì, lực lượng ta sẽ mạnh hơn, ta không mất mà sức ta tăng gấp 2, 3. Nếu mà giừ được thì kết thúc, vì ta nắm nông thôn rồi, lực lượng ta có rồi; ta có đô thị rồi ta ra, lực lượng ta mạnh hơn trước. Bài học trung đoàn Thủ đô, ban đêm rút qua cầu .đume để ra, không có chuyện gì cả. Bây giờ nông thôn ta là một, không có vấn đề gì cả. Ta có kinh nghiệm, cho nên ta dám làm, mà làm mạnh, làm đến nơi (vỗ tay).

        Bây giờ trong miền Nam, anh em mình làm việc này, mình nắm vững chắc như vậy. Đây là như một chiến dịch sau lưng nó về quân sự, chính trị, mà mạnh hơn.

        Đại thể tình hình lúc khởi nghĩa là như vậy, đi vào cụ thể còn phức tạp lắm, đến lúc đó chúng ta sẽ làm. Nhưng nét lớn là như vậy Trung ương thấy rụng đây là một chủ trương rất bức thiết, không làm không được, mà làm là vững chắc, không có vấn đề gì lo cả. Chỉ có cái là ta muốn thắng nhanh hơn nữa, tốt hơn nữa, không thì ta phải đánh dài hơn. Còn khả năng vì nó thua, nó phải chuyển qua một cái đánh to lớn nữa, ít lắm. Đánh to ngay bây giờ Mỹ làm không nổi, ngày tiêu 30 tỷ lớn lắm, rối loạn lắm, mở rộng sao nổi. Mở rộng là phải có mặt trận đế quốc, nhất thiết phải có mặt trận đế quốc mở rộng cái gì một mình Mỹ không thôi, không bao giờ Mỹ làm nổi. Nhưng ta phải đề phòng, ta chuẩn bị. Còn nó, không bao giờ làm nổi đâu.

        Vấn đề này là một chủ trương lớn do Trung ương ta thảo luận từ mấy năm trước. Đấy là thực hiện chủ trương của Trung ương ta đã đề ra từ Nghị quyết 11, 121 đã đề ra hướng lớn. Đây là giai đoạn thực hiện thôi, không phải là mới. Tình hình như vậy, đã đề ra, đến bây giờ có điều kiện là làm thôi. Đáy là nó cũng biết thôi, biết mức nào thôi; đế quốc nó hiểu vì thiết thân nó suy nghĩ. Anh em ta không hiểu đâu. Không ai biết chuyện này, không ngờ đâu. Ta không dám bàn với ai cả bí mật lắm...

-------------------------
        1. Xem Đảng ng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, T 26, tr.622 (B.T).


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 05:13:02 PM

        Ở đây, sở dĩ Mỹ từng bước tiến công được, đem được quân vào mặc dầu ta có thế tiến công trên thế giới là do phe ta có lủng củng, nhưng nó tính sai, mặc dầu lủng củng như vậy nhưng tương quan ta vẫn mạnh hơn. Cho nên, nó tiến công đến đây, nó dám làm lên chút nữa. Còn ta tiến công nó, ta gắng lên chút nữa. Điều đó có nhược điểm của phe ta. Thế tiến công của cách mạng thế giới cho phép cách mạng Việt Nam tiến công, nhưng ta tiến công già dặn như vậy vì Việt Nam ta là một nước đặc biệt mạnh, ta có cái mạnh khác, ta dám đánh Mỹ, không phải Mỹ nhất thiết phải vào nửa triệu quân ở miến Nanh đâu. Nếu phe ta không có lủng củng, nhất trí với ta là một, thì nó thua từ chiến tranh đặc biệt thôi. Tìh hình như vậy, ta có thể tiến công thật sự, nhưng nó bị yếu đi cho nên địch có đà lên được. Ta cũng nắm lấy đó mà tiến công. Nếu trong lúc này không phải là người Việt Nam, nghĩa là một dân tộc đã làm ba cuộc cách mạng, thì không thể thắng như thế này đâu, mà "Mỹ sẽ thắng". Không phải lúc nào chiến tranh nhân dân cũng thắng cả đâu. Ở Mã Lai, chiến tranh nhân dân thất bại; ở Hy Lạp thất bại; ở Huk (Philíppin) cũng đã thất bại... Ở Mã Lai, đâu có lên cao như thế này, ở Philíppin lên cao lắm, đánh gần thành phố mà vẫn thất bại. Còn chúng ta, chúng ta đã làm Cách mạng Tháng Tám, đã kháng chiến. Chúng ta đặc biệt lắm, Việt Nam ta có 30 triệu người, 10 triệu người không làm nổi đâu, có nửa nước xã hội chủ nghĩa... Tất cả cái đó cộng lại mới làm được rõ ràng là ta đưa vào Nam 20 vạn người, không phải dễ đấu không có chủ nghĩa xã hội thì làm sao được. Nếu Việt Nam chỉ có 10 triệu người thì không làm được; nếu nhỏ quá thì không làm được đâu. Ta không thể nói độc đoán nhỏ thế nào cũng làm được cả đâu, phải cố sức lực thế nào, có phe ta giúp đỡ thế nào, không có phe ta không được đáu, phải có những điều kiện của nó. Đó là điểm lớn, chúng ta đã đánh giá đúng thế tiến công trên thế giới. Điểm này, anh Nguyễn Chí Thanh khi còn sống rất thú vị; khi ở miền Nam, anh ấy nói Việt Nam là tiến công, không có ba giai đoạn đâu.

        Chúng ta đã vận dụng thế tiến công này khác; ta tiến công cả ba vùng chiến lược: miền núi, nông thôn, đô thị; tiến công cả đô thị, nhưng tương quan lực lượng từng vùng khác nhau. Đã là tiến công, phải toàn diện, nhưng về phương pháp tiến công có khác nhau. Đồng thời nói tiến công ở ta có nghĩa là công nông là chủ lực dưới quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân. Không phải chỉ có nông dân là chủ lực, chúng ta có công nhân, nông dân là chủ lực. Vì vậy, chúng ta khác hẳn. Và ta hiểu tiến công như vậy cho nên phương pháp của ta là quân sự, chính trị song song. Về quân sự, lực lượng nó 7, ta 1, thì nói làm gì. Ta hiểu bạo lực ở đây là cả bạo lực chính trị. Ta nói chính trị ở đây không phải chính trị là cơ sờ, mà là lực lượng chính trị, là đội quân chính trị mạnh lắm. Có vậy lực lượng ta mới mạnh gấp 5, gấp 10 nó. Khác hẳn, hai cái: quân sự, chính trị cùng tiến lẽn. Bởi vậy, ở nông thôn, vừa khởi nghĩa, vừa công kích. Vừa rồi, 2/3 ấp chiến lược, ta đã công kích và khởi nghĩa. Chúng ta dùng lực lượng quân sự và chính trị mới phá được. Ở Mã Lai, đùng quán sự không thôi, không được. Chính chúng ta đã đễ ra ba vùng chiến lược. Ngay khi đặt vấn đề , ba năm nay chúng ta đã bao vây các đô thị rồi, như Sài Gòn có ba lực lượng bao vây nó, ở bên trong là lực lượng địa phương từng tiểu đoàn một, ra ngoài là lực lượng trung đoàn, ngoài nữa là lực lượng sư đoàn rồi. Mấy năm nay, đang chuẩn bị rồi. Nếu ta không đặt vấn đề như vậy 2, 3 năm nay ta đã không đưa về mấy tiểu đoàn. Đề ra tiến công đô thị, cho nên ta mới làm việc đó. Nói tiến công có nghĩa là phải có mục đích cách mạng là gì, phương pháp cách mạng là gì? Lực lượng cách mạng là công nông. Trong giai đoạn hiện tại mà nói, tôi cho ràng nước nào cũng vậy, cả thế giới đang làm cách mạng tiến công. Nói tiến công cách mạng là phải nói giai cấp vô sản, giai cấp công nhân, không có thì không có tiến công, vì trong giai đoạn hiện tại, giai cấp nông dân phải đi theo giai cấp công nhân mới có tiến công, không có cách nào khác. Nếu đi với giai cấp tiểu tư sản như ở Nam Dương, Ấn Độ thì không thể có tiến công. Chỗ này quan trọng đối với công tác chỉ đạo. Mấy năm nay, ta nắm vững, nếu không thì không thể có được như ngày nay. Vì ta đặt khác. Đó là vấn đề bố trí chiến lược chung.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 05:15:18 PM

        Nhưng còn về nhiệm vụ chiến lược quân sự, mấy năm nay Tổng Quân ủy đề ra những điểm rất đặc biệt Việt Nam. Đứng về chiến lược quân sự, đề ra chúng ta thắng ở đâu, phải biết làm chủ ở đấy, giành quyền làm chủ. Nếu chỉ đặt vấn đề tiêu diệt thôi mà không đề ra vấn đề làm chủ thì không về bao vây Sài Gòn được, ta không đem quân về bao vây đô thị được, đẽ tiêu diệt địch. Một là, khẩu hiệu của chúng ta là: "Một tấc không đi, một ly không bỏ", không thì không lãnh đạo như vậy được. Chúng ta không dang ra, chúng ta quyết giành quyền làm chủ, khác cơ bản lắm. Do đó, cho nên ta sử dụng tốt ba thứ quân một cách rất linh hoạt, rất đầy đủ. Hai là, Việt Nam ta đứng về quân sự mà nói, chúng ta phản đối một quả đấm, phải có nhiều quả đâm... Chúng ta có nhiều cùng chiến lược, nên chúng ta phản đối một quả đâm, phải có nhiều quả đâm. Đây là nói về chiến lược, nếu chúng ta ch có một quả đấm, chúng ta sai nghiêm trọng lắm. Chúng ta có nhiều vùng chiến lược, chúng ta phải căng địch ra mà đánh, nghĩa là chúng ta phải có nhiều quả đấm. Nói như vậy để mà nói trình độ quân sự của Đảng ta đánh thắng Mỹ đã trở thành chiến lược theo kiểu Việt Nam, đến mức như vậy, không phải chúng ta chỉ theo kiểu cũ, chúng ta biết vận dụng khác lắm. Nếu không, chúng ta không thể thắng được nửa triệu quân Mỹ. Cái đó không giống Liên Xô, Trung Quốc, mà là của Việt Nam, không những không giống mà còn có điểm trái ngược với Liên Xô, Trung Quốc. Cái này là Việt Nam đã tổng kết từ mấy chục năm nay, tổng kết từ Cách mạng Tháng Tám đến nay. Nếu không thì không thắng được đâu.

        Đứng về chiến lược, chúng ta có những điểm khác như vậy. Về chiến thuật, chúng ta có sáu phương thức tác chiến, mới lắm, sáng lắm, hăng lắm, sáng vô cùng. Nó làm đảo lộn tất cả chiến thuật của Mỹ. Ngay chuyện đánh thật cứ địch, ta diệt hàng ngàn máy bay, theo kiểu này xưa nay thế giới chưa có chuyện như vậy đâu. Tôi nói mấy chiến thuật lớn: chiến thuật đặc công, đánh giao thông, đánh hậu cứ..., đây là đặc sắc của Việt Nam, đặc biệt lắm mới làm được như vậy. Không có sáu phương thức này, không áp dụng đúng thì không thể thắng Mỹ được. Cái này đặc sắc Việt Nam, ch con người Việt Nam, kinh nghiệm Việt Nam và chỉ ở Việt Nam mới làm được chuyện này.

        Vừa rồi, tôi nói chuyện với mấy đồng chí Trung Quốc, gần đây ở vùng đồng bằng, chúng tôi tập trung nhiều lắm là hai tiểu đoàn, mà diệt được một tiểu đoàn Mỹ, đánh chín tàu lớn Mỹ với 100 súng lớn mà chỉ có bốn người thôi, lạ lắm, các đồng chí đó không hiểu nổi... Đánh chín tàu Mỹ với cả 100 súng lớn nhỏ, chỉ có bốn người đánh thôi mà đánh thắng được ta không mất gì cả, sao lạ lùng như vậy, đáng lẽ phải một sư đoàn mới đánh nổi, không phải ít đâu. Chiến thuật của ta đặc biệt như vậy. Chúng ta có chiến thuật của ta, chiến thuật đặc biệt lắm.

        Vì lý do gì ta đã thắng về chiến lược, chiến thuật? Vì về quân sự, chúng ta đã tổng kết được kinh nghiệm Việt Nam, chúng ta đã đề ra được đường lối quân sự Việt Nam. Ta có đường lối quân sự Việt Nam, ta có đường lối chiến lược, chiến thuật Việt Nam và cái đó hợp với người Việt Nam, ta làm được việc này.

        Cho nên, hai năm nay, ta tiêu diệt nửa triệu quân Mỹ và chư hầu, mà nó quy mô đến nỗi trên thế giới chưa có trận nào gay gắt như bây giờ, chưa có vùng nào đánh như Vĩnh Linh bây giờ. 16.000 chuyến B52 đánh ta. Thế giới có chuyện đó đáu? Điều đó chứng tỏ nếu chúng ta không có nhiệm vụ chiến lược chiến thuật, không có đường lối quân sự đúng, thì chúng ta không có thắng lợi như bây giờ đâu. Kết luận lại, tại sao ta thắng về chiến lược, chiến thuật đi đến bắt đế quốc Mỹ phải từ thế phản công qua thế bị động phòng ngự. Đó là thắng lợi về đường lối chính trị của ta trong thế tiến công và là thắng lợi cả về dường lối chiến lược quân sự, chiến thuật quân sự của ta trong thế tiến công.

        Chúng ta đã thấy định sau khi leo thang từ chiến tranh đặc biệt sang chiến tranh cục bộ, đến nay đã tới mức cao rồi. Nó nói "bình định", "tìm diệt", nhưng vẫn như cũ thôi, không có thêm gì cả. Sở dĩ như vậy là do chúng ta đã thắng lợi về chính trị chung, về chiến lược, chiến thuật và bây giờ đến mức ta thấy Mỹ không còn có phương hướng tiến lên rõ, mà phương hướng rút lui thì thế nào cũng không được. Tại sao như vậy? Âm mưu của Mỹ như thế nào? Nếu muốn tiến lên, hơn hai năm nay, Mỹ bị tiêu diệt 26 vạn, năm nay đưa vào 5 vạn, 5 vạn có nghĩa lý gì. Nếu muốn chống cự lại ta, phải đưa vào 20 vạn mới được, chống cự thôi, không phải thắng; đưa thêm 20 vạn, không phải 5, 10 vạn, nhưng Mỹ vấp phải nhiều khó khăn. Chỉ có trước đây định nói đưa quân vào trong 6 tháng, nay phải cố đưa vào nhanh hơn, chứ chưa có phương hướng gì rõ lắm. Chỉ sợ cũng không đưa nhanh được thôi.

        Nhưng vì sao nó chưa rút lui, sao bế tắc thế này nó chưa rút?


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 05:15:45 PM

        Trước hết, ta phải thấy âm mưu cơ bản của Mỹ thế nào, vị trí của đế quốc Mỹ trên thế giới như thế nào, trong vùng Đông Nam Á như thế nào, âm mưu của nó như thế nào. Xưa nay ta đã nói Mỹ là tên sen đầm quốc tế, muốn làm bá chủ hoàn cầu, vị tn của nó là như vậy. Mặc dầu vị tn đó bớt đi không thể làm được, không làm được như trước, nhưng mà  với một nước to như Mỹ, vị trí làm tên sen đầm quốc tế vẫn y nguyên, vẫn chưa bỏ. Đặc biệt vùng Đông Nam Á này, nó thấy ở đây lực lượng cách mạng của chủ nghĩa xã hội, lực lượng cách mạng Việt Nam, cách mạng Trung Quốc phát triển, lực lượng của phong trào độc lập dân tộc đang phát triển, nguy cơ mất cả Đông Nam Á. Ta còn nhớ Aixenhao đã nói nếu mất Đông Nam Á thì mất cả bao nhiêu nguyên liệu của nó, rất rõ. Tôi còn nhớ Hội nghị Sớcsin và Ruzơven với Xtalin lúc đó muốn trung lập hóa Đông Dương, sau nó bỏ đi. Mỹ đã đề ra vấn đề trung lập hóa Đông Dương từ khi còn Xtalin. Vấn đề Đông Dương quan trọng như vậy đấy, lúc đó Trung Quốc chưa thắng lợi, Việt Nam chưa thắng lợi, nó đã đặt vấn đề như vậy nó để cho Liên hợp quốc nắm tức là nó nắm. Vị trí Đông Dương nằm giữa hai khối: 500 triệu người ở Ấn Độ, 700 triệu người ở Trung Quốc, Nam Dương 100 triệu người. Thị trường này lớn lắm. Vấn đề thị trường không gì hơn là người. Người mua hàng, người tiêu dùng. Thị trường tư bản là người, không có gì khác nữa. Đất đai là để lấy nguyên liệu. Anh làm 8 giờ rồi, nó bán hàng cho anh để bóc lột anh nữa. Đối với tư bản đấy là quan trọng lắm. Không phải chỉ nguyên liệu, đất đai thôi đâu mà là vấn đề người, vấn đề thị trường người này nữa.

        Đó là vị trí của nó trên thế giới, ở Đông Nam Á là như thế. Sau khi thất bại ở Điện Biên Phủ, nó lập khối SEATO là để nắm vấn đề này, rồi một số tổ chức khác ở Liên hợp quốc nữa, giữa cáe nước như ục, Mã Lai, Nam Dương... nhiều lắm, không phải ít đáu. Với vị trí quan trọng như vậy, Mỹ đã đem sang lửa triệu quân, cuộc chiến tranh này có lẽ là cuộc chiến tranh to lần thứ ba của Mỹ, hai cuộc đại chiến trước là to nhất, Mỹ bây giờ dùng lực lượng quân đội hơn nửa triệu quân, lớn nhất từ sau đại chiến thứ hai đến nay. Nếu Mỹ thua ở Việt Nam có nghĩa là Mỹ thua cả về quân sự, chính trị, kinh tế thua toàn diện ở Việt Nam. Uy tín quân sự không còn, địa vị kinh tế không còn, có nghĩa là vị trí của nó bị lung lay. Còn về chi của nó, một năm nó tiêu 30 tỷ, chưa đến nỗi sao, còn có thể đưa được 5, 10 vạn người vào, nó cố giữ không được thua, vì thua thì sập lớn, sập toàn bộ chiến lược của nó trên thế giới. rinh hình là như vậy. Nhưng thắng thì nó không thắng được. Nó đoán sai ta và đoán sai lủng củng của phe âm mưu chủ yếu bây giờ là nó muốn duy trì một vài năm, nó thấy nó có nửa triệu quân, nó 3, ta 1, phe ta còn lủng củng, chưa có chuyện gì lắm. Nó muốn giữ nhùng nhằng qua 1968-1969, tổng tuyển cử xong, tổng thống mới lên, có quyến hạn rộng rãi, sẽ tính toán. Cho nên nó cố gắng đừng thua nữa. Nó cho là nó có thua cũng thua đến mức nào đó  thôi, ta đánh nó có thắng cũng chẳng thắng được. Bộ đội ta có tiêu diệt nó nhưng không được mấy, đánh vài trận rồi còng phải chuẩn bị. Nó biết chủ lực của ta có một số nhược điểm, vân chuyển khó khăn, tập trưng khó khăn, đánh binh đoàn không phải dễ. Nó tính toán như vậy. Nó đòi đánh ở Việt Nam, phải đánh ba cuộc chiến tranh: quân sự, chính trị, phá hoại miền Bắc. Nhưng nó không hiểu chính trị là thế nào đâu âm mưu của nó không phải đánh ra miền Bắc. Nó thấy mùa mưa vừa rồi, ta đánh nó, nó cho là ta đánh mức nào thôi, chưa phải mạnh lắm. Nó cho mùa mưa là mùa chính của ta, mùa khô là mùa của nó; hai mùa khô qua, nó đánh ta trước. Nó không ngờ mùa khô này ta lại đánh nó trước. Gần đây nổ hoang mang, nhưng nó chưa đoán hết lực lượng quân sự, chính trì của ta đâu.

        Vì vậy mục đích của Mỹ là cố duy trì tình hình này. Nó cho là phe ta chưa làm gì nó; Liên Xô giúp ta đến mức nào thôi, nó biết Liên Xô chưa dám giúp nhiều nữa; Trung Quốc thì bận. Tất cả điều kiện ấy làm cho nó có âm mưu như thế. Nếu trong lúc này, theo tôi nếu có hội nghị quốc tế cả phe họp lại, có cả ta, Liên Xô, rung Quốc, thì có lẽ nó khác rồi. Nhưng lúc này không họp được.

        Vì vậy cho nên âm mưu cơ bản của Mỹ hiện nay như vậy. Đúng như Nghị quyết 12 của Trưng ương đã nhận đính, nó cố duy trì tình trạng này trong năm 1968, có thua phần nào thôi, đừng thua lớn, có thua thì thua ít thôi để rồi tổng tuyển cử xong..., cố gắng đừng thua lớn.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2017, 05:18:49 PM

        Vì vậy ta phân tích tình hình ta thắng, nó thua, nó có âm mưu này. Cho nên Bộ Chính trị kỳ này nghiên cứu, ta có khả năng thắng, phân tích tình hình thấy ta có khả năng thắng âm mưu này của nó, đạt tới mục đích như Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương đã đề ra.

        Muốn làm được việc đó, bây giờ đã có điều kiện, là phải chuyển qua một chiến lược mới như Hội nghị Trưng ương đề ra.

        Bây giờ, chúng tôi trình bày những điều kiện nào, tiền đề như thế nào?

        Muốn thắng nó, làm sập nó dữ, không phải đánh thường thường như bây giờ, mà phải chuyển qua một giai đoạn mới, giai đoạn đó là chuyển qua tổng công kích, tổng khởi nghĩa, có khả năng đè bẹp ý chí xâm lược của nó; làm nó tan rã thật sự nó phải đi đến ngồi với ta, thương lượng với ta, vì nó thua không còn cách gì khác nữa.

        Điểm này, trước hết tôi nói đến tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Đây là chủ trương ta đề ra một nhiệm vụ mới, Trung ương ta đề ra rồi, nhưng thời cơ lúc nào thôi. Mấy năm nay, đánh giặc đều theo hướng đó, không phải bày giờ đâu. Mấy năm nay các vùng đô thị đều bố trí lực lượng để chiếm dần dần. Hai, ba năm rồi, từng bước một lấn xuống đô thị. Đó là hướng chiến lược chung.

        Cho nên ta đã làm chủ từng vùng trong đô thị. Mùa mưa vừa rồi, ta đã đánh hơn 40 thị trấn, thị xã lớn nhỏ. Đó là chuyện mới, ta đánh vào Huế và nhiều thị trấn khác. Tình hình xưa nay, ta đã chuyển hướng như vậy từng bước để tiến lên.

        Trước hết, ta quan niệm tổng công kích, tổng khởi nghĩa như thế nào, những tiền đề gì đặt cho ta làm chuyện này?

        Chúng ta cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa là một quan điểm mới. Ta có khởi nghĩa từng phần tiến lên, phấn đấu từ du kích chiến tranh nhàn dân tiến lên đấu tranh quân sự chính trị song song, tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Đó là lôgíc của sự phát triển ba vùng chiến lược, đó là một sự bố trí lực lượng về chiến lược của ta như vậy một lôgíc của chiến lược ta như vậy.

        Ở đây nói tổng công kích thì dễ hiểu, nhưng tổng khởi nghĩa thì như thế nào? Khi quân sự tiến lên mạnh thì dễ hiểu, mấy năm nay ta đã tiến công, vì ta có sức mạnh nhiều mặt hơn nữa thì ta tổng công kích được. Như năm ngoái, ta đã làm một phần, ta giải phóng đường số 4 ở Mỹ Tho, ta phối hợp khởi nghĩa và công kích là một, làm rất mạnh. Trước đây hai cái tách rời nhau, nhưng việc này nay ta đã làm là một - rồi đấy. Như vậy, tôi nói khởi nghĩa trước, nói tổng công kích, tổng khởi nghĩa sau.

        Quan niệm khởi nghĩa của Lênin đã nói khởi nghĩa ở đô thị là một cuộc cướp chính quyền, là giai đoạn đầu tiên của chiến tranh cách mạng, không có cuộc khởi nghĩa nào rồi là xong đâu, như ta làm Cách mạng Tháng Tám rồi, ta phải kháng chiến chín năm nữa. Khởi nghĩa mới giải quyết về chính trị, quán sự chưa mạnh đâu, sau phải đánh giặc nữa, đánh lâu nữa mới thắng được. Trên thế giới có hai cuộc khởi nghĩa thắng lợi là Liên Xô và Việt Nam. Liên Xô khởi nghĩa xong phải ba năm nội chiến. Việt Nam khởi nghĩa Tháng Tám xong, phải chín năm kháng chiến mới thắng được. Trên thế giới chỉ có hai nước khởi nghĩa thành công thôi, lịch sử chưa có đâu. Cuộc khởi nghĩa ta nói đáy là một giai đoạn cuối cùng, không phải giai đoạn đầu, không phải là một cú, mà là một giai đoạn. Trung ương đề ra một giai đoạn, không phải là giai đoạn đầu, mà là giai đoạn cuối, có thể 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, không phải một cú sẽ kéo dài tùy tình hình như vậy.

        Ta xem cuộc cách mạng của chúng ta đã có từng giai đoạn: từ 1960 đến bây giờ, từ chiến tranh đặc biệt sang chiến tranh cục bộ, từng lúc tiến công, có giai đoạn của nó.

        Bây giờ đây nghĩa giai đoạn là một khái niệm mới của một chiến lượt cách mạng mới, mà trên thế giới chưa có; thế giới ch có công kích không thôi hay khởi nghĩa không thôi. Công kích - khởi nghĩa là việc riêng biệt của Việt Nam làm bây giờ, còn trên lịch sử cách mạng thế giới chưa bao giờ. Đáy là một việc chúng ta làm, ta tổng kết kinh nghiệm của chúng ta và của thế giới, tổng kết để sáng tạo nên mà có giai đoạn này, không phải để nguyên như vậy. Ta hiểu không phải là một cú đâu mà bây giờ chúng ta phải biết ta công kích trên toàn chiến trường, ta biết khởi nghĩa ngay trong đô thị lớn, biến đô thị lớn, hậu phương của nó thành tiền phương đánh giặc của ta Ta mở mặt trận mới. Nếu năm ngoái, ta mở mặt trận Trị - Thiên, năm nay ta mở mặt trận mới ngay trong đô thị, mặt trận này dựa vào lực lượng chính trị, quân sự mới, đánh cả trong, cả ngoài; mở mặt trận ở trong ruột nó, đánh nó 3, 4, 5 tháng, chưa biết đến khi nào. Mặt trận đó bắt nó phải thua. Mặt trận đó giải quyết nhiều vấn đề từ chính quyền đến lực lượng, từ chính trị đến quân sự, nghĩa là tất cả, không phải chỉ đánh ở nông thôn, rừng núi mà đánh ngay trong quả tim nó, trong ruột nó, mà ta làm được việc này, bắt nó phải thua.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2017, 06:48:15 PM

        Hôm nay bàn trong Trung ương, lần này rất bí mật,... vì nếu lộ ra ngoài thì nguy hiểm. Cái này phải nắm thời cơ, lộ ra nguy hiểm lắm. Nhưng nói như thế này không phải địch không biết, không biết lúc nào thôi. Ta không làm đột biến, không ai biết, không có đâu, không phải như vậy, mà vẫn có phong trào quán chúng; nó biết vì ta có phong trào quần chúng. Nhưng phong trào quần chúng thế nào, nó không biết. Hiện nay, ở miền Nam, trong các nơi, đâu đâu cũng thấy năm nay sắp sửa có tiến công mạnh. Ngay ở Khu IX vừa rồi, đồng bào họ quyên 1 tỷ tiền miền Nam cho Mặt trận, không phải ít đâu. Quần chúng sôi nổi lắm. Đó mới là điều kiện. Nếu quần chúng không sôi nổi, không thiết tha chết sống thì không khởi nghĩa được. Còn về đảng viên, bây giờ..., tôi nghe nói anh Trần Quang ở Quảng Trị đang ốm không đi được; khi nghe nói nghiên cứu vấn đề này thì anh đi được, đi một ngày không sao cả, vì phấn khởi, như vậy đảng viên đã sẵn sàng ra chết sống, không có không làm được.

        Cho nên, khi đưa ra rồi, tất cả mọi người đều muốn chết sống làm cho được việc này. Để làm gì? Để mà tiến lên. Việc này rõ ràng lắm. Trước kia thấy rõ, bây giờ càng rõ lắm. Bây giờ tôi tin rằng khi phong trào nổi dậy, những chuyện anh hùng vĩ đại không lường hết, không lường được; nghĩa là người lãnh đạo phải biết vận dụng thắng lợi cao nhất thế nào thôi, chứ cái này lạ lùng lắm. Chúng ta không chủ quan đâu. Nhưng nếu có khả năng thứ ba, ta cũng không sợ đâu, ta vẫn đề phòng; không phải vì ta làm mà có đâu, không phải vì ta thắng mà nó chuyển sang.

        Vì vậy nhận định của Bộ Chính trị, yêu cầu Trung ương xem có đồng ý không, đề nghí cho ý kiến nhiều về chủ trương, phương hướng lớn thôi. Còn vấn đề cụ thể thì xin đi vào mức nào thôi, để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương  bàn, vì tình hình diễn biến phức tạp lắm.

        Để phối hợp với tổng khởi nghĩa, có một vấn đề quan trọng là vấn đề ngoại giao. Mặt trận ngoại giao rất quan trọng. Anh Trinh sẽ báo cáo thêm. Đây là vấn đề quan trọng lắm, vì Mỹ đang bị động trên thế giới, nó đang ở trong thế khó khăn nhất, nhưng nó lại là kẻ mạnh. Lịch sử Việt Nam ta đánh giặc rồi kêu giặc; đánh giặc mãi mãi không được. Nguyễn Trãi trước kia như vậy. Bây giờ ta cũng làm như vậy. Vì nó là đế quốc mạnh như vậy, cho nên ta phải biết thắng nó, nghĩa là thắng cao nhất, nhưng thắng được, nó ra được.

        Về mặt này, không phải ngoại giao lúc nào cũng có kết quả đâu. Khi nó sụp mới có kết quả trên cơ sở thất bại này của địch.

        Ngoại giao quan trọng lắm, ngoại giao này ta làm rồi, các đồng chí xem đề nghị phe ta như thế nào đây, ta cố gắng  làm, các đồng chí Trung Quốc, Liên Xô giúp ta như thế nào? Các Đảng Cộng sản khác, đồng thời ta động viên tất cả thế giới; vùng dậy thống nổ, ủng hộ ta, đứng dậy giúp ta.

        Bộ Chính trị sẽ làm hết sức. Nhưng ta làm hết sức là một chuyện, còn làm hay không thì do các bạn lại là chuyện khác.

        Tôi xin báo cáo, chưa bao giờ Liên Xô, Trung Quốc giúp ta tốt như bây giờ... Trước đây tôi đã mấy lần nói chuyện với các đồng chí Lưu Thiếu Kỳ, đồng chí Brêgiơnhép là chúng tôi biết khởi sự cuộc chiến tranh thì chúng tôi biết kết thúc cuộc chiến tranh. Ta độc lập, không nghe ai cả. Nói rõ ràng như, vậy không mập mờ nữa đâu. Nay mai ta kết thúc chứ. Không phải nhờ bạn, mà ta biết kết thúc cuộc chiến tranh.

        Trước hết, Trung ương ta phải nhất trí với nhau, ta nắm vững của ta, rồi ta yêu cầu các bạn giúp ta, quan trọng lắm...

        Như vậy vấn đề ngoại giao, các đồng chí Bộ Ngoại giao đang thảo luận, có thể ta với Mỹ bàn với nhau, bốn bên bàn nhau đã, rồi có hội nghị quốc tế thẻ nào đó... mà giải quyết.

        Để làm trọn nhiệm vụ này, rõ ràng là miền Bắc nước ta phải làm thế nào đóng góp nhiều nhất trong việc này. Nếu không có miền Bắc, riêng miền Nam, không thể thắng như bây giờ. Vừa rồi ta đưa 20 vạn vào. Miền Bắc đóng một vai trò rất quyết định... Kỳ này lấy quân đội thêm, phải 5, 10 vạn để làm việc này, để chuẩn bị bảo vệ miền Bắc nữa. Vì vậy kinh tế công nghiệp, nông nghiệp có khó khăn. Ta phải làm việc này: do bớt người, ta phải hết sức suy nghĩ, đem năng lực ta cố gắng hơn nữa. Rõ ràng là 5 tấn lúa, 2 con lợn, 1 lao động trên 1 héc ta, ta có thể làm, nếu ta quyết tâm vì cách mạng, yêu nước đi vào đấy, sáng tạo ra, nhất định làm được. Công nghiệp địa phương phải làm tốt nhất, nhanh nhất, năm trước làm chậm, nay một năm phải bằng 2 - 3 năm. Thương nghiệp phải làm tốt khâu phân phối, phục vụ đời sống như thế nào cho quần chúng phấn khởi.


        Ngoài việc đó, phải chuẩn bị, thành công rồi thì làm thế nào, cho nên phải suy nghĩ chuẩn bị. Tôi nghĩ phải chuẩn bị tinh thần cao nhất. Trung ương ta phải nắm phong trào, làm sao khi thắng lợi rồi phải đưa phong trào thành cao trào trong 5 - 10 năm. Đây là một dịp vĩ đại. Nước ta nghèo, phải nắm tư thế đó đưa lên 5 năm, 10 năm. Nếu ta để hở một thời gian, tinh thần cách mạng sẽ tụt xuống.

        Chuẩn bị để hàn gắn nhanh nhất cuộc chiến tranh. Chuẩn bị đối phó ở Khu IV; phong trào bộ đội địa phương, giao thông vận tải phải rất sẵn sàng.

        Đây là nhiệm vụ rất cơ bản, tôi thấy rằng quần chúng biết được thì rất phấn khởi, sẽ lên một cách lạ lùng lắm. Vì hai mươi năm chiến tranh đau khổ lắm, khi thắng lợi rất vĩ đại phấn khởi lắm.

        Về tình hình nền Bắc, anh Côn sẽ nói thêm. Chúng ta làm đúng. Những tư tưởng này, ta không chệch qua, chệch lại. Như vậy, cuộc chiến tranh của chúng ta qua từng giai đoạn đến đây là cái tất yếu. Qua đây mà ta có năng lực nắm lấy, nếu không nó qua mất. Anh em miền Nam đồng tình lắm, sáng lắm. Anh em đồng tình biểu hiện ở kế hoạch bố trí lực lượng sáng lắm.

        Điều đó chứng minh đề ra các nhiệm vụ đầy đủ lắm, tâm tình lắm; nghe anh em báo cáo cụ thể, phấn khởi lắm, chứng minh rằng nhiệm vụ của Bộ Chính trị đề ra rất kịp thời.

        Đề nghị Trung ương thảo luận chủ yếu vấn đề này.

        Ngày mai, Trung ương sẽ nghe:

        -  Anh Dũng báo cáo về quân sự;

        -  Anh Thư báo cáo về tình hình đô thị;

        -  Anh Trinh báo cáo về ngoại giao;

        -  Anh Côn, anh Thọ báo cáo về miền Bắc.

        Báo cáo thì nhiều, nhưng tập trung thảo luận thế nào để trước Tết ta về được. 

(Lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng)       


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2017, 06:54:58 PM
       
NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THƯ 14 CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG1

        Tháng 1 năm 1968

        ANH DŨNG TIẾN LÊN, THỰC HIỆN TỔNG CÕNG KÍCH VÀ TỔNG KHỞI NGHĨA, GIÀNH THẲNG LỢI QUYẾT ĐỊNH CHO SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

        I. TÌNH HÌNH VÀ TRIỂN VỌNG CỦA CUỘC CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC


        1. Từ giữa năm 1965, sau khi bị thất bại về cơ bản trong "chiến tranh đặc biệt", đế quốc xâm lược Mỹ đã phải bị động chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam1 (Nhưng vẫn còn mang một phần tính chất "đặc biệt"), đồng thời tiến hành ngày càng ác liệt cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

        Với trên một triệu quân bao gồm quân Mỹ, quân ngụy và quân chư hầu, đế quốc Mỹ đã mở hai cuộc "phản công chiến lược mùa khô" nhằm mục tiêu chủ yếu "tìm diệt quân chủ lực của ta, hòng đánh bại cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân miền Nam. Tuy nhiên, chỉ mới đến nửa cuộc "phản công chiến lược mùa khô", lần thứ hai, do bị thua to trong Chiến dịch Gianxơn Xity và bị quật lại bất ngờ trên chiến trường Trị - Thiên, Mỹ đã phải chuyển sang thực hiện chiến lược hai gọng kìm nhằm vừa tìm diệt, vừa bình định để đề phòng ta đánh lớn ngay trong mùa mưa năm 1967. Đó là sự chuyển hướng từ thế phản công chiến lược sang thế bị động phòng ngự về chiến lược; đó cũng là một bước thụt lùi về chiến lược của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam.

        Việc đế quốc Mỹ phải chuyển sang thế bị động phòng ngự về chiến lược trong "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, cộng với sự thất bại cơ bản của chúng trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, là một thất bại lớn về chiến Lược của đế quốc Mỹ trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

        Vì sao đế quốc Mỹ bị thất bại lớn về chiến lược như vậy?

        a) Trước hết vì Mỹ đã thất bại nặng về chính trị ở Việt Nam, ở trong nước Mỹ và trên thế giới, sự thất bại chính tri đó là nguồn gốc thất bại của Mỹ về chiến lược quân sự.

        b) Vì chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ nhằm duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam rõ ràng là không đương đầu nổi với chiến lược chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân đã phát triển đến mức rất cao của ta.

        c) Vì một loạt chiến thuật quân sự, cơ sở chủ yếu của chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, đã phá sản về cơ bản.

        2. Về phía ta, quân và dân ta đang đánh bại một bước phát triển cao của cuộc "chiến tranh cục bộ" của Mỹ ở miền Nam và đã làm phá sản về cơ bản của cuộc chiến tranh xâm lược của chúng trong cả nước ta.  

        Thắng lợi to lớn của ta chứng tỏ rằng Đảng ta chẳng những đã đánh giá đúng lực lượng so sánh giữa ta và địch, đã vạch ra đường lối, phương châm chiến lược cách mạng đúng đắn, mà còn nắm chắc được quy luật của chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân, vận dụng một cách tài tình nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, kịp thời đề ra phương hướng chỉ đạo chiến lược chính xác trên mỗi bướt phát triển của cách mạng:

        a) Sau khi Hiệp nghị Giơnevơ về Việt Nam được ký kết, bộ phận lớn lực lượng vũ trang của ta chuyển ra miền Bắc, còn lực lượng vũ trang của địch thì rút vào miền Nam, Đảng ta đã đề ra phương châm bảo tồn thực lực cách mạng, nhanh chóng chuyển sang thế phòng ngự chiến lược, đồng thời không ngừng phản công địch bằng cách đẩy mạnh đấu tranh chính trị dưới các hình thức hợp pháp và không hợp pháp, có tuyên truyền vũ trang và tự vệ vũ trang trợ lực, do đó ta đã giữ vững được phong trào cách mạng ở miền Nam.

        b) Khi đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Dình Diệm thi hành chính sách phát xít, thẳng tay khủng bố, bắn giết hòng tiêu diệt các lực lượng cách mạng ở miền Nam. Đảng ta đã đánh giá đúng sự thất bại cơ bản và thế yếu của địch về chính trị và đã chủ trương chuyển sang chiến lược tiên công, phát động khởi nghĩa từng phận ở một số vùng nông thôn rộng lớn. Thắng lợi to lớn của cuộc "đồng khởi" ở đồng bằng Nam Bộ cuối năm 1959 đầu năm 1960, đã tạo cơ sở cho việc mở rộng và đẩy mạnh đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự cho việc phát động một cuộc chiến tranh nhân dân toàn diện ở miền Nam.

---------------------
        1. Trích Văn kiện Đảng - Toàn tập, T29. Sđd.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2017, 06:55:47 PM

        c) Khi đế quốc Mỹ tiến hành "chiến tranh đặc biệt" nhằm quét sạch lực lượng cách mạng ở nông thôn bằng hệ thống "ấp chiến lược" và tìm diệt các lực lượng vũ trang cách mạng mới được xây dựng bằng một loạt chiến thuật mới, chúng ta đã chủ trương, một mặt tập trung lực lượng phá cho bằng được hệ thống kìm kẹp và phân lớn các “ấp chiến lược" của địch, giành lại quyền làm chủ ở nông thôn, phát triển đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, thực hiện ba mũi giáp công (quân sự - chính trị - ngụy vận) trong cả ba vùng chiến lược nông thôn đồng bằng, rừng núi và đô thị); mặt khác, nhanh chóng phát triển thực lực cách mạng, nhất là lực lượng quân sự, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, tiêu diệt thật nhiều quân chủ lực ngụy, đánh bại các chiến thuật mới của địch. Những thắng lợi quán sự, từ trận Ấp Bắc đến các trận Bình Giã, Ba Gia (tháng 3-1963 đến đông - xuân 1964-1965), phối hợp với cao trào phá "ấp chiến lược" ở nông thôn và làn sóng đấu tranh chính trị của quần chúng ở đô thị, làm cho địch lâm vào tình trạng khủng hoảng ngày càng trầm trọng, lần lượt làm sụp đổ ngụy quyền độc tài phát xít của Ngô Đình Diệm và nhiều chính phủ ngụy sau đó, đẩy cuộc "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ vào con đường phá sản.

        d) Khi Mỹ chuyển sang áp dụng chiến lược “chiến tranh cục bộ" và mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất với hai mươi vạn quân Mỹ, quân chư hầu và gần nửa triệu quân ngụy, hòng đẩy lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam vào thế phòng ngự hoặc cầm cự, chúng ta đã đánh giá đúng lực lượng so sánh giữa ta và địch, đã chủ trương kiên quyết giữ vững thế tiến công, vừa đánh Mỹ, vừa diệt nguỵ. Từ những trận phủ đầu đánh vào quân Mỹ ở Núi Thành, Vạn Tường, đến những trận lớn ở Bầu Bàng, Pơlâyme, Đất Cuốc v.v., quân và dân miền Nam đã liên tục tiến công, giành được những thắng lợi to lớn, luôn luôn giữ thế chủ động chiến lược trên toàn chiến trường, đánh bại bước đầu cuộc “chiến tranh cục bộ" của Mỹ.

        e) Khi giặc Mỹ mở cuộc “phản công chiến lược mùa khô" lần thứ hai với trên bốn mươi vạn quân Mỹ và trên nửa triệu quân chư hầu và quân ngụy, chúng ta đã chủ trương mờ mặt trận Trị - Thiên nhằm tiến công dịch trên một chiến trường mới, buộc địch phải phân tán hơn nữa lực lượng cơ động của chúng, làm thất bại ý định của địch là mở rộng chiến tranh ra phía Bắc giới tuyến và đưa quân vào đồng bàng sông Cửu Long; đồng thời, chúng ta phản công và đánh bại các cuộc hành quân "tìm diệt" lớn của địch, như chiến dịch Gianxơn Xity bẻ gãy gọng kìm "bình định" của địch, giữ vững thế làm chủ ở đồng bằng, làm đảo lộn chiến lược của địch và đẩy chúng sâu hơn nữa vào thế bị động phòng ngự.

        g) Đối với miền Bắc, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quán, chính là nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho phong trào cách mạng miền Nam, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm giảm quyết tâm chống Mỹ của miền Bắc, hòng buộc nhân dân hai miền nước ta phải kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng theo những điều kiện có lợi cho Mỹ. Chúng ta chủ trương kiên quyết làm thất bại mục tiêu đó của đế quốc Mỹ, nhanh chóng phát triển các lực lượng vũ trang phù hợp với yêu cầu mới của chiến tranh, đánh trả có hiệu quả và gây thiệt hại nặng cho không quân và hải quân của địch, đồng thời sẵn sàng đối phó với âm mưu của Mỹ mở rộng chiến tranh bằng lục quân ra miền Bắc. Chúng ta đã kịp thời chuyển hướng nền kinh tế quốc dân, giừ vững và phát triển sản xuất trong điều kiện có chiến tranh, căn bản bảo đảm giao thông vận tải thông suốt, kiên quyết bảo vệ và tiếp tục xây dựng miền Bắc xã hội chữ nghĩa và tăng cường chi viện cho cách mạng miền Nam.

        3. Cách mạng miền Nam phát triển trong những đi kiện và điểm sau đây:

        a) Cách mạng miền Nam giương cao ngọn cờ chống chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ trong điều kiện nhân dân cả nước ta đã đánh bại sự xâm lược của đế quốc Pháp, mở đầu thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi thế giới. Nó tiếp tục sự nghiệp vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó nhân dân ta, với chiến thắng oanh liệt Điện Biên Phủ, đã hoàn toàn giải phóng được một nửa đất nước.

        b) Cách mạng miền Nam nổ ra trong lúc miền Bắc đang đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong điều kiện nhân dân lao động ở miền Nam đã từng nắm chính quyền, làm cách mạng ruộng đất, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để bảo đảm những lợi ích cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần của mình và đã từng eầm súng bảo vệ chế độ đó trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

        c) Cách mạng miền Nam là một bước phát triển mới của phong trào cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam do giai cấp công nhân lãnh đạo. Nó là một bộ phận khăng khít của cao trào cách mạng thế giới đang ở thế tiến công, đang đánh lùi từng bước và đánh đổ từng bộ phận chủ nghĩa đế quốc nhằm lần lượt xoá bỏ những vỉ trí của chủ nghĩa đế quốc trên phạm thế giới.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2017, 07:55:43 AM

        d) Mặc dù đế quốc Mỹ là tên đế quốc đầu sỏ và hung hãn, có sức mạnh vật chất và kỹ thuật to lớn, có âm mưu và tham vọng làm bá chủ hoàn cầu, chúng đã vấp phải sức chống trả mãnh liệt của một dân tộc có hơn ba chục triệu người lấy công nông làm quân chủ lực của cách mạng, được một đảng mác xít - lêninnít kiên cường và từng trải lãnh đạo, một dân tộc liên tục làm ba cuộc cách mạng vĩ đại chống đế quốc trên hai mươi năm nay (Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hiện nay). Cách mạng miền Nam lại có hậu phương lớn trực tiếp là miền Bắc xã hội chủ nghĩa nối liền với hậu phương rộng lớn hơn, tức là phe xã hội chủ nghĩa.

        Trong những điều kiện và đặc điểm cơ bản nói trên, nhân dân Việt Nam có đầy đủ khả năng tạo ra cho mình một sức mạnh to lớn về chính trị và quân sự để chiến thắng bạt cứ bọn đế quốc xâm lược nào. Do đó, sự thất bại trước mắt của đế quốc Mỹ ở miền Nam đã rõ ràng và sự thất bại hoàn toàn của chúng là không thể tránh khỏi.

        4. Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn.

        Đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược. So với mục tiêu chính trị và quân sự có hạn của chúng ở miền Nam, thì những cố gắng chiến tranh của Mỹ (cùng với những thiệt hại nặng nề của chúng) ở Việt Nam đã tới đinh cao.

        Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ ở miền Nam hiện nay vẫn là tìm mọi cách để duy trì chủ nghĩa thực dân mới của chúng. Trước mắt, chúng ra sức ổn định ngụy quân, ngụy quyền, tăng thêm quân Mỹ và quân chư hầu đến một mức độ nhất định để cố giữ cho tình thế của chúng ở miền Nam trong năm 1968 không bị đảo lộn một cách bất ngờ, tiếp tục chính sách “bình định" và "tìm diệt" trên một quy mô nào đó hòng giừ vững những vị trí then chốt và đầu não của chúng, hòng làm yếu lực lượng của ta và đẩy ta vào thế cầm cự với chúng; đồng thời, tăng cường bắn phá miễn Bắc và tiến hành chinh sách ngoại giao xảo quyệt hòng cô lập ta, làm cho ta cuối cùng phải nản chí và thương lượng theo những điều kiện của chúng.

        Tuy âm mưu cơ bản và âm mưu trước mắt của địch là như vậy, nhưng do những thất bại liên tiếp của chúng trong thời gian qua, quân ngụy hiện nay không còn đủ sức làm nhiệm vụ "bình định", còn quân Mỹ và quân chư hầu thì không thể làm được nhiệm vụ "tìm diệt" có hiệu quả nữa. Lực lượng của địch đang bị dàn mỏng trên chiến trường và đang bị hãm trong vòng vây trùng trùng diệp điệp của ba thứ quân cách mạng và của nhân dân ta; thế chiến lược của chúng đã bị đảo lộn, tinh thần binh sĩ chúng càng thêm sa sút, bạc nhược. Mâu thuẫn nội bộ của Mỹ và ngụy ngày càng tăng, chúng ngày càng phải đương đầu với nhiều khó khăn rất lớn về chính trị, quân sự và tài chính. Vị trí chiến lược của Mỹ ngày càng suy yếu không những ở miền Nam nước ta và ở nước Mỹ, mà-cả trên phạm vi thế giới và chưa bao giờ chúng bị cô lập thảm hại như hiện nay.

        Do những thất bại có tính chất chiến lược của Mỹ ở miền Nam và do những thắng lợi to lớn của ta, trong đông - xuân này, địch khó có khả năng mờ cuộc “phản công mùa khô" lần thứ ba. Xu thế của tình hình trong cả năm 1968 là địch sẽ ngày càng chuyển vào phòng ngự một cách bị động hơn trước.

        Về phía ta, chúng ta đã thắng địch cả về chiến lược lẫn chiến thuật và thế lực của ta phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Lực lượng quân sự và chính trị của ta ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử chiến tranh giải phóng của ta. Chúng ta đang nắm quyền chủ động trên toàn bộ chiến trường, đã thực hiện được phương châm mở rộng quyền làm chủ trên từng vùng để tiêu diệt địch và tiêu diệt, nhiều sinh lực địch để mở rộng hơn nữa quyền làm chủ trên những vùng nông thôn đồng bằng và rừng núi rộng lớn. Ở chung quanh các thành thị và ngay cả ở từng bộ phận của một số thành thị, ta cũng đang mở rộng quyền làm chủ với những mức độ khác nhau.

        Các lực lượng vũ trang của ta đã tiến bộ vượt bậc, đã vận dụng những phương thức tác chiến chiến lược một cách độc đáo và linh hoạt, đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, nhất là đã từng đánh một cách thắng lợi vào hàng loạt thành thị lớn nhỏ, hàng loạt căn cứ, sân bay, kho tàng và đường giao thông chiến lược của địch.

        Quân chúng nhân dân ở các thành thị và những vùng còn tạm bị địch chiếm ở miền Nam đã nhiều lần nổi dậy khởi nghĩa với những hình thức khác nhau. Hàng triệu quần chúng đang sục sôi cách mạng và sẵn sàng vùng lên, sẵn sàng hy sinh tất cả để giành cho được độc lập, tự do, hòa bình, cơm áo ruộng đất. Nhân dân lao động miền Nam, nhất là công nhân ở Sài Gòn - Chợ Lớn, đang vùng dậy mạnh mẽ, mở ra một khí thế mới đấu tranh quyết liệt chống Mỹ và tay sai trong các thành thị.

        Hiện nay, chúng ta còn có một số nhược điểm trong các vấn đề bổ sung tại chỗ lực lượng vũ trang, đánh tiêu diệt những đơn vị lớn của Mỹ, xây dựng thực lực chính trị và chỉ đạo phong trào ở thành thị. Chúng ta cứng còn có những khó khăn nhất định về hậu cần, về giao thông vận tải, về công tác ngụy vận, dịch vận. Đó là những nhược điểm và khó khăn mà ta cần phải ra sức khắc phục trong quá trình tiến lên của cách mạng. Nhưng điểm cơ bản của tình hình vẫn là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn. Tình hình ấy cho phép ta chuyển cược chiến tranh cách mạng cửa nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2017, 07:56:20 AM

        II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA TA TRONG THỜI KỲ MỚI

        1. Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định, đạt tới mục tiêu chiến lược mà Đảng ta đã đề ra là:

        a) Tiêu diệt và làm tan rã tuyệt đại bộ phận quân ngụy, đánh đổ ngụy quyển các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân.

        b) Tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được các nhiệm vụ chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam.

        c) Trên cơ sờ đó, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc, còn ta thì bảo vệ được miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đạt được những mục tiêu trước mắt của cách mạng miền Nam là độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập tiến tới thống nhất nước nhà.

        Trong quá trình phấn đấu để giành thắng lợi quyết định theo những mục tiêu chiến lược nói trên, ta sẽ làm cho lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang của ta lớn mạnh vượt bậc, làm cho lực lượng địch tiếp tục suy yếu nhanh chóng, do đó mà bảo đảm cho ta có thể đối phó thắng lợi với bất cứ tình huống nào của cuộc chiến tranh.

        2. Chúng ta tiến hành tổng công kích và tổng khởi nghĩa như thế nào?

        Trước hết, cần nhận rõ ràng cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa sắp tới sẽ là một giai đoạn, một quá trình tiến công chiến lược rất mãnh liệt và phức tạp, kết hợp tiến công quân sự với tiến công chính trị, thực hành ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược và phối hợp với tiến công ngoại giao. Đó là một giai đoạn bao gồm nhiều chiến dịch lớn của lực lượng vũ trang cách mạng ở các vùng chiến lược quan trọng kết hợp với những cuộc nổi dậy dưới nhiều hình thức của quần chúng nhân dân cách mạng ở các thành thị và vùng nông thôn còn tạm bị chiếm, bao gồm những cuộc công kích kết hợp với những cuộc khởi nghĩa tại "đô thành" của địch và các thành phố lớn, đặc biệt là các thành phố X, Y, Z, nơi tập trung bộ máy quân sự và hành chính đầu não của địch.

        Cuộc  iến công của các lực lượng vũ trang trên các chiến trường chính và sự nổi dậy của nhàn dán ở các thành thị lớn là hai mũi tiến công chính kết hợp chặt chẽ với nhau, trợ lực lẫn nhau và thúc đẩy toàn bộ cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa khắp cả ba vùng thành thị, nông thôn đồng bằng và rừng núi. Đặc biệt, cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân ở các thành thị lớn là mũi nhọn thọc vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng quyết định đối với toàn bộ chiến trường và toàn cuộc chiến tranh. Vì vậy, tất cả những cuộc công kích và khởi nghĩa ở các vùng khác trên chiến trường miền Nam đều có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với các thành thị và trợ lực đầy đủ cho các cuộc công kích và khởi nghĩa ở các thành thị lớn. 

        Tổng công kích và tổng khởi nghĩa là một quá trình ta liên tục tiến công, truy kích, tiêu diệt và đánh đổ địch cả về quân sự và chính trị, đồng thời cũng là quá trình dịch phản kích ác liệt để giành giật và chiếm lại những vị trí chiến lược quan trọng đã mất. Giai đoạn tổng công kích và tổng khởi nghĩa sẽ kéo dài trong một thời gian nào đó hoặc có thể rút ngắn hơn, điều ấy tuỳ thuộc vào sự cố gắng chủ quan của ta và sự đối phó của địch. Nhưng trong tình hình địch phải chuyển vào thế bị động phòng ngự và đang tiến thoái lưỡng nan về chiến lược như hiện nay thì những cố gắng chủ quan và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của ta có tác dụng quyết định trực tiếp.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2017, 07:56:53 AM
     
        3. Muốn thực hiện thắng lợi cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa, ta phải đủ sức mạnh về quân sự và chính trị, phải biết chọn đúng những hướng tiến công và những biện pháp tiến công chiến lược.

        Ta tiến hành tổng công kích và tổng khởi nghĩa không phải trong điều kiện kẻ địch đã kiệt quệ trong một cuộc chiến tranh thế giới (như trong trường hợp Cách mạng Tháng Mười Nga, hoặc Cách mạng Tháng Tám của ta), mà là trong những điều kiện như sau: về mặt quân sự, địch còn trên một triệu quân và một tiềm lực chiến tranh lớn, nhưng đội quân đó đã liên tiếp thất bại về chiến lược và chiến thuật, quân số tuy đông nhưng tinh thần bạc nhược và bắt đầu suy sụp về mặt chính trị, địch đang lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng, chứng tỏ ra không thể thống trị nhân dân miền Nam được nữa và nhân dân miền Nam cũng không chịu sống dưới ách thống trị của chúng nữa; trong khi đó, ta đang trên thế thắng và đang nắm quyền chủ động trên khắp chiến trường; lực lượng vũ trang của ta đã lớn mạnh về mọi mặt, đội quân chính trị quần chúng của ta rất hùng hậu; đại bộ phận quần chúng nhân dân trong các vùng tạm bị chiếm đã được rèn luyện và thử thách qua nhiều năm đấu tranh gay go và đã tỏ rõ quyết tâm cách mạng rất cao.

        Trong những điều kiện như vậy, về phương pháp, ta chủ trương không chỉ phát động tổng công kích, mà còn đồng thời phát động tổng khởi nghĩa, tức là dùng lực lượng vũ trang mạnh của ta đánh vào các binh đoàn chủ lực của địch, đánh mạnh vào "đô thành" và các thành phố khác, tạo điều kiện cho hàng triệu quần chúng ở thành thị và các vùng nông thôn còn tạm bị chiếm nổi dậy khởi nghĩa, phối hợp với lực lượng vũ trang của ta để tiêu diệt và làm tan rã quân địch, đánh đổ các cơ quan đầu não của ngụy quyền, làm rối loạn và tê liệt đến tận gốc bộ máy chiến tranh của Mỹ và ngụy, biến hậu phương và dự trữ chiến lược của địch thành hậu phương và dự trữ chiến lược của ta, vừa liên tục tiến công tiêu diệt địch, vừa không ngừng phát triển lực lượng ta về chính trị và quân sự, làm thay đổi mau chóng lực lượng so sánh một cách có lợi cho ta, không có lợi cho địch và giành thắng lợi quyết định về ta.

        Để thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, một mặt, phải sử dụng tốt nhất lực lượng vũ trang của ta, căng địch ra khắp chiến trường, phải biết điều động lực lượng quân sự của địch ra các chiến trường quan trọng và sử dụng những quả đấm mạnh đánh quả các binh đoàn chủ lực của địch, đồng thời biết kịp thời phản công tiêu diệt địch, bẻ gãy các cuộc phớn kích của chúng; mặt khác, đòn chính của ta phải nhằm vào các thành thị quan trọng, kết hợp lực lượng xung kích về quân sự với lực lượng chính trị của quần chúng ở các thành thị và vùng nông thôn kề cận vùng dậy đánh sụp các cơ quan đầu não của Mỹ và ngụy, đánh phá các hậu cứ, các cơ sở hậu cần, các trung tâm thông tin và các phương tiện giao thông vận tải chiến lược của địch là những yếu tố vật chất không thể thiếu được trong bản thân sức mạnh của quân đội chính quy và hiện đại của Mỹ, đồng thời kêu gọi binh lính ngụy quay lại cùng với nhân dân khởi nghĩa. Đó là đòn ác liệt nhất đánh vào óc, tim, mạch máu của địch và cũng là cách đánh tốt nhạt để thực hiện ba mũi giáp công trong cả ba vùng chiến lược, để tiêu diệt sinh lực địch đến mức cao nhất, làm sụp đổ chỗ dựa chính trị của địch và đè bẹp ý chí xâm lược của chúng.

        4. Trong quá trình tổng công kích và tổng khởi nghĩa, phải nắm vững những phương châm và nguyền tắc như sau:

        Về phương châm, chúng ta phải thực hiện đến mức cao nhất các mặt kết hợp và phối hợp sau đây:

        -  Kết hợp đấu tranh quán sự với đấu tranh chính trị và ngụy vận, địch vận, thực hiện cho kỳ được khẩu hiệu "công nông binh liên hiệp".

        -  Kết hợp hoạt động ở cả ba vùng chiến lược: thành thị, nông thôn đồng bằng và rừng núi, đặc biệt chú ý kết hợp chặt chẽ và khôn khéo hoạt động trong các thành thị với hoạt động ở các vùng nông thôn kế cận. Phối hợp nhịp nhàng kế hoạch hành động trong phạm vi từng vùng một và trên phạm vi toàn chiến trường.

        -  Ở thành thị, kết hợp lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị từ ngoài tiến công vào với sự nổi dậy mạnh mẽ dưới nhiều hình thức của hàng triệu quần chúng nhân dân trong thành phố.

        -  Kết hợp việc tiêu diệt và làm tan rã địch với việc tăng cường nhanh chóng lực lượng của ta cả về quân sự và chính trị, làm cho ta càng đánh càng mạnh và có thể đối phó một cách thắng lợi với mọi tình huống diễn biến của cuộc chiến tranh.

        -  Kết hợp chặt chẽ tiến công quân sự, tiến công chính trị trong nước với tiến công ngoại giao.

        -  Phối hợp cuộc đấu tranh của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, thực hiện sự giúp đỡ nhau một cách thích hợp, làm cho địch không thể sử dụng được thế lực phản động ở Lào và Campuchia để chống lại phong trào cách mạng ở Việt Nam, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ mạnh mẽ và tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của phong trào nhân dân thế giới chống Mỹ xâm lược.

        Nguyên tắc cơ bản cần nắm vững trong quá trình tổng công kích và tổng khởi nghĩa là:

        Tập trung lực lượng quân sự và lực lượng chính trị đến mức cao nhất, một cách hợp lý nhất, tiến công mãnh hệt vào những hướng chiến lược chính; kiên quyết tiến công, liên tục tiến công, nhằm đúng vào những nơi xung yếu của địch mà đánh những đòn quyết định, giành cho kỳ được thắng lợi ở những nơi quyết định, phải tuyệt đối giữ cho được nhân tố bất ngờ; phải biết giành thắng lợi từng giờ, từng phút và không ngừng mở rộng thắng lợi; kiên quyết chống trả và bẻ gãy các cuộc phản kích của địch và truy kích địch đến cùng để giành thắng lợi cao nhất.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2017, 07:59:17 AM

        5. Dự đoán những khả năng phát triển của tình hình:

        Có thể có ba khả năng:

        a) Khả năng thứ nhất là ta giành được thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, những cuộc công kích và khởi nghĩa của ta cuối cùng thành công ở các thành thị lớn và ta lần lượt đập tan được những cuộc phản kích của địch, làm cho địch thất bại dện mức không thể gượng lại được nữa, đè bẹp ý chí xâm lược của địch, bắt chúng phải chịu thua, phải thương lượng, đi đến kết thúc chiến tranh theo những mục tiêu và yêu cầu của ta.

        b) Khả năng thứ hai là tuy ta giành được những thắng lợi quan trọng ở nhiều nơi, nhưng địch cố gắng tập trung và tăng viện thêm lực lượng từ ngoài vào, giành lại và giữ vững được những vị trí quan trọng, ổn định được các thành thị lớn, nhất là đô thành" và dựa vào các căn cứ lớn để tiếp tục chiến đấu với ta.

        c) Khả năng thứ ba là Mỹ động viên và tăng viện thêm nhiều lực lượng, mở rộng chiến tranh cục bộ ra miền Bắc Việt Nam, sang Campuchia và ở Lào, hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh và gỡ thế thua của chúng.

        Chúng ta phải nỗ lực phi thường, đem hết tinh thần và lực lượng, quyết chiến đấu giành cho kỳ được thắng lợi cao nhất theo khả năng thứ nhất, vì hơn lúc nào hết, chúng ta đang đứng trước thời cơ thuận lợi để giành thắng lợi quyết dính trong cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại của chúng ta theo mục tiêu chiến lược mà chúng ta đã định từ trước.

        Nhưng nếu tình hình diễn biến theo khả năng thứ hai, thì do những thắng lại quan trọng mà chúng ta đã giành được, lực lượng của ta không những không hề bi giảm sút, mà trái lại còn mạnh lên gấp bội về quân sự và chính trị, vùng giải phóng ở nông thôn đồng bằng và rừng núi sẽ được mở rộng và củng cố hơn, quân địch bị vây hãm trong các căn cứ của chúng sẽ bị ta thừa thắng mà tiếp tục tiến công cả về quân sự lẫn chính trị cho đến khi chúng bị đánh bại hoàn toàn.

        Trước mắt, khả năng thứ ba có rất ít, nhưng chúng ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng để chủ động đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra.

        III. MẤY NHIỆM VỤ VÀ CÔNG TÁC CỤ THỂ

        A. Về quân sự

        Nhiệm vụ chủ yếu của ta về quân sự là phải chuẩn bị và tiến hành tổng công kích (kết hợp với tổng khởi nghĩa) đến thắng lợi và phải nhanh chóng tăng cường lực lượng vũ trang cách mạng.

        1. Phải căn cứ vào nhiệm vụ và phương hướng chiến lược chung mà định ra nhiệm vụ quân sự, kế hoạch quân sự, đồng thời chuẩn bị về lực lượng, về phương hướng tác chiến chung trên toàn chiến trường và riêng từng chiến trường, nhất là ở những chiến trường trọng điểm, để khi tiến hành tổng công kích thì có thể kết hợp chặt chẽ với tổng khởi nghĩa và thực hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường.

        2. Về mục tiêu công kích, một mặt phải chọn đúng những chiến trường, phải có kế hoạch kéo cho được lực lượng cơ động của địch ra ngoài để tiêu diệt và đánh mạnh vào các đơn vị chủ lực lớn của địch; mặt khác, phải nhằm đúng hướng công kích chủ yếu là các thành thị, nhất là những thành thị lớn, nơi tập trung lực lượng và bộ máy dầu não của Mỹ và ngụy.

        3. Trong khi nắm vững mục tiêu công kích chính là các chiến trường trọng điểm và các thành thị, thì đồng thời phải phát động công kích và khởi nghĩa ở tất cả những vùng nông thôn và quận lỵ tạm bị chiếm, các đường giao thông chiến qua quần chúng cách mạng mà tuyên truyền sâu rộng những khẩu hiệu nói trên, phổ biến cương lĩnh chính trị và các chính sách cơ bản của Mặt trận Dân tộc Giải phóng; giữ vững và không ngừng nâng cao khí thế tiến công và quyết tâm chiến đấu của quần chúng để bảo vệ chính quyền cách mạng.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2017, 10:52:19 PM

        4. Thành lập Mặt trận thứ hai và tổ chức chính quyền mới.

        a) Để triệt để cô lập đế quốc Mỹ và bè lũ Thiệu - Kỳ để phân hóa địch dện mức cao nhất, tập hợp thêm những lực lượng, những cá nhân có tinh thần chống Mỹ và Thiệu - Kỳ và tranh thủ các tầng lớp trung gian ở các thành thị, đồng thời tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi hơn nữa ở ngoài nước, trong cao trào cách mạng của quần chúng, cần thành lập một Mặt trận thứ hai bên cạnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng, lấy một tên thích hợp với cương lĩnh rộng rãi hơn Cương lĩnh chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Mặt trận thứ hai này sẽ giữ thái độ độc lập đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, nhưng tuyên bố thực hiện liên minh với Mặt trận Dân tộc giải phóng và tất cả những người muốn phấn đấu cho miền Nam Việt Nam có độc lập, chủ quyền, dân chủ, hòa bình vả trung lập.

        b) Phải nhanh chóng tổ chức chính quyền cách mạng của nhân dân. Chính quyền cấp huyện, quận, khu phố, xã phải do ta nắm hoàn toàn và phải dựa hẳn vào sức mạnh của nhân dán lao động. Ở bên trên, phải kịp thời thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc. Chính phủ Trung ương và chính quyền cách mạng ở các thành phố cần có tính chất liên hiệp rộng rãi, phù hợp với sách lược của Mặt trận thứ hai, để có thể tập hợp được tất cả các lực lượng chống Mỹ và Thiệu - Kỳ, đồng thời phải có năng lực lãnh đạo cuộc kháng chiến, cứu nước và làm được nhiệm vụ quản lý hành chính.

        c) Cần chuẩn bị nhưng người tiêu biểu gồm nhiều thành phản để đưa vào chính quyền liên hiệp dân tộc và cơ quan lãnh đạo Mặt trận thứ hai, đồng thời phải chuẩn bị tuyên ngôn, chương trình hành động, chính sách, sách lược của các tổ chức này, đặc biệt là các vấn đề có hên quan đến chủ quyền dân tộc, độc lập và dân chủ, hòa bình và chiến tranh, đến các quyền dân chủ và dân sinh, đến các đảng phái, tôn giáo dân tộc, ngoại kiều, đến ngụy quân và nhân viên ngụy quyền, đến chính sách đối ngoại.

        5. Phải hết sức chú ý đến vấn đề trật tự, an ninh và vấn đề phòng tránh trong các thành thị mới giải phóng. Phải chiến đấu tốt để giữ gìn trật tự, trị an; ngược lại phải giữ vững trật tự, trị an và tổ chức phòng tránh tốt để bảo đảm chiến đấu thắng lợi. Cần nắm vững và dựa vào lực lượng quần chúng cơ bản, kiên quyết quét sạch các thế lực phản động, đập tan các tổ chức của địch và âm mưu phá hoại của chúng, nhanh chóng lập lại trật tự, khôi phục đời sống bình thường, đồng thời có phương sách đối phó với các loại tay sai của địch.

        Ngay sau khi thành lập Chính phủ Trung ương và chính quyền địa phương, phải có kế hoạch ban bố các quyền lợi cấp bách về chính trị và kinh tế cho quần chúng, đặc biệt phải nắm vững và giải quyết tốt vấn đề tiếp tế và ổn định đời sông của các tầng lớp nhân dân Ơ các thành thì lớn.

        6. Khi tiến hành khởi nghĩa ở thành thị, phải đồng thời phát động quần chúng ở các vùng nông thôn chung quanh các thành thị còn bị địch chiếm đóng nổi dậy khởi nghĩa kết hợp với công kích quân sự, phá tan toàn bộ hệ thống "ấp chiến lược" của địch, diệt tề, trừ gian, tước vũ khí của dân vệ hoặc kêu gọi họ ra hàng, đập tan các tổ chức phán động, tổ chức cho quần chúng đông đảo nhanh chóng tham gia chiến đấu và sản suất, làm cho phong trào cách mạng ở các thành thị và các vùng nông thôn gắn liền với nhau và thúc đẩy lẫn nhau, bảo đảm cho cuộc khởi nghĩa thành công và đập tan được sự phản kích của địch.

        C. Về công tác ngụy vận, địch vận

        Nhiệm vụ chủ yếu của công tác ngụy vận, địch vận là phải góp phần làm tan rã quân ngụy, gây phong trào khởi nghĩa trong ngụy quân, thực hiện khẩu hiệu "công nông binh liên hiệp" và gây phong trào phản chiến trong quân Mỹ và quân chư hầu, làm cho tổng công kích và tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi một cách thuận lợi.

        Đây là một nhiệm vụ có tính chất chiến lược, phải được thực hiện tốt. Cần phải củng cố lại các bộ máy chuyên trách, tổ chức các đội xung phong làm công tác ngụy vận, địch vận, đồng thời phải phát động toàn dân, toàn quân làm công tác ngụy vận, địch vận. Phải tăng cường tinh thần tiến công địch, khắc phục những nhược điểm và chậm trễ trong công tác ngụy vận, địch vận. Phải tuyên truyền và phổ biến sâu rộng các chủ trương, chính sách của Mặt trận đối với ngụy quân, ngụy quyền, kêu gọi ngụy quân làm binh biến, quay súng khởi nghĩa, cùng với nhân dân đập tan bộ máy chiến tranh của dịch, chấm dứt chiến tranh xâm lược, giành hòa bình, độc lập cho Tổ quốc, tự do, cơm áo và ruộng đất cho nhân dân.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2017, 10:52:38 PM

        D. Về hoạt động quốc tế và đấu tranh ngoại giao

        Nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động quốc tế và công tác ngoại giao là phải phối hợp chất chẽ và nhịp nhàng với đâu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở trong nước, tích cực phục vụ cho cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi. Do đó, cần phải có những phương pháp và hình thức thích hợp để tiến công ngoại giao, nhằm làm cho địch càng lúng túng, bị động, gây mâu thuẫn, phân hóa và cô lập địch đến cao độ, khiến cho địch do dự, lừng chừng trong âm mưu kéo dài chiến tranh, nhằm tích cực góp phần vào việc giành và củng cố từng bước những thắng lợi của ta, ra sức tranh thủ sự ủng hộ quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân tộc chủ nghĩa tích cực và của nhân dân thế giới.

        Công tác ngoại giao của ta phải nhằm tiến công địch trong lúc chúng đang lúng túng, bị động cả về quân sự và chính trị; đồng thời phải mở đường cho địch đi vào thương lượng theo hướng có lợi nhất cho ta. Phải chuẩn bị những phương án cần thiết để khi tình hình bắt buộc địch phải thương lượng với ta thì ta có thể luôn luôn giữ vững thế chủ động trong quá trình đàm phán. Phương án của ta phải đề ra cụ thể việc chấm dứt chiến tranh xâm lược, việc rứt hết quân Mỹ, quân chư hầu và xoá bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ ở miền Nam, việc nhân dân miền Nam tự quyết định trong vấn đề xây dựng chính quyền của mình, việc địch phải bồi thường thiệt hại chiến tranh đối với hai miền, việc bảo đảm hòa bình ở Việt Nam và toàn cõi Đông Dương, v.v...

        E. Về công tác tư tưởng, công tác tổ chức và vấn để chỉ đạo thực hiện

        Nhiệm vụ trung tâm trước mắt của Đảng là phải tập trung toàn lực chỉ đạo cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa cho đến toàn thắng.

        1. Công tác tư tưởng

        Phải làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhận thức đúng tình hình và nhiệm vụ trong thời kỳ mới, nhận rõ thắng lợi của ta, thất bại của địch, khả năng và triển vọng của tình hình, phương hướng phấn đấu cụ thể để giành thắng lợi quyết định trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; do đó mà tuyệt đối tin tưởng ở sự lãnh đạo của Trung ương, kiên quyết vì lợi ích tối cao của Tổ quốc, vì tiền đồ vẻ vang của dán tộc và sự sống còn của nhân dân cả nước mà ra sức vượt mọi khó khăn, chịu đựng mọi gian khổ, sẵn sàng hy sinh tất cả để xông lên tiến công địch, liên tục chiến đấu tới cùng để giành thắng lợi, đồng thời tích cực chuẩn bị để đối phó một cách thắng lợi với mọi tình huống. phải kiên quyết chống mọi biểu hiện của tư tường hữu khuynh, như cầu an, bảo mạng, sợ gian khổ, sợ khó khăn, sợ hy sinh, bi quan, tiêu cực hoặc chủ quan, nóng vội.

        Đối với cán bộ, đảng viên, phải có kế hoạch từng bước làm cho mọi người quán triệt quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, động viên toàn Đảng nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức và kỷ luật, phát huy tính tiên phong cách mạng, gương mẫu đì đầu, lôi cuốn toàn quân, toàn dân dũng cảm xông lên những nơi gay go, gian khổ nhất, những mũi nhọn của cuộc đấu tranh cách mạng, để đánh thắng quân thù, hoàn thành sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

        2. Công tác tổ chức và cán bộ

        Ở miền Nam, phải hết sức chú trọng xây dựng và phát triển các lực lượng nòng cốt trong các tổ chức quần chúng, các tổ chức bí mật và công khai hoặc nửa công khai, để kịp thời đáp ứng phong trào cách mạng rộng lớn của quần chúng. Khi quần chúng vùng lên khởi nghĩa, phải biết dựa vào công nhân và nhân dân lao động để nhanh chóng đào tạo và bồi dương những cốt cán mới trưởng thành trong phong trào thành một đội ngũ cán bộ đông đảo và đáng tin cậy, bao gồm đủ các loại cán bộ, hoạt động trong công nhân, thanh niên, phụ nữ, trí thức, tôn giáo và dân tộc.

        Phải sớm tăng cường ổn định các cơ quan lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường, nhất là các chiến trường trọng điểm, chuẩn bị đủ cán bộ có năng lực, có kinh nghiệm về hành chính, về trật tự trị an, về kinh tế, văn hóa và thông tin, tuyên truyền để bố trí vào bộ máy chính quyền các cấp và quản lý các thành phố mới giải phóng.

        Miền Bắc có trách nhiệm chuẩn bị tăng cường cho miền Nam một số cán bộ cốt cán theo yêu cầu của nhiệm vụ mới; ngoài ra, phải chuẩn bị một số cán bộ các ngành để bổ sung cho miền Nam khi giành được thắng lợi quyết định.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2017, 10:53:40 PM

        3. Chỉ đạo thực hiện

        Chỉ đạo thực hiện cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa là công tác trọng tâm trước mắt của toàn Đảng, cho nên Bộ Chính trị rung ương Đảng cần dành phần lớn thì giờ vào việc đó.

        Về công tác quân sự, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương có nhiệm vụ vạch ra kế hoạch và chỉ đạo thực hiện.

        Bộ Chính trị cần tổ chức việc trực tiếp theo dõi tình hình một cách chặt chẽ để hướng dẫn Trung ương Cục và các Khu ủy khu V, Khu ủy Trị - Thiên chỉ đạo phối hợp các mặt công tác đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, nhất là trong giai đoạn tổng công kích, tổng khởi nghĩa và công tác quản lý các thành thị và vùng nông thôn mới giải phóng.

        Để đảm bảo thực hiện tốt cuộc tiến công chiến lược, cần phải kiểm tra việc chuẩn bị thực tế ở các chiến trường và tổ chức bộ máy thông tin liên lạc thật chặt chẽ và thông suốt.

        4. Vấn đề giữ bí mật 

        Cần có chế độ và kế hoạch bảo đảm giữ bí mật một cách nghiêm ngặt về vấn đề thực hiện quyết tâm chiến lược của ta. Chế độ và biện pháp giừ bí mật do Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và trung ương Cục quy định. Quân ủy Trung ương có kế hoạch tiến hành nghi binh chiến lược.

        G. Về nhiệm vụ của miền Bắc

        Nhiệm vụ chủ yếu của miền Bắc trong thời gian trước mắt là phải bảo đảm công tác tăng cường hậu phương lớn và công tác chi viện cho miền Nam, phục vụ tốt nhất cho cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa giành được thắng lại.

        Phải ra sức xây dựng và củng cố lực lượng quốc phòng ở các địa phương, nhất là ở Khu IV cũ, ra sức đẩy mạnh sản suất nông nghiệp và công nghiệp, kiên quyết đánh bại mọi bắc leo thang mới trong cuộc chiến tranh phá hoại của giốc Mỹ bảo đảm giao thông vận tải thông suốt, nhất là trên những tuyến đường trực tiếp chi viện cho miền Nam và Trị Thiên.

        Phải vượt mọi khó khăn để hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước năm 1968 trong bất kỳ tình huống nào, bảo đảm củng cố hậu phương và chi viện cho tiền tuyến; đồng thời, phải chuẩn bị kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc và kế hoạch điều hòa kinh tế giữa hai miền khi miền Nam được giải phóng.

        Phải cố gắng tổ chức tốt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân miền Bắc, đồng thời động viên sức người, sức của đến mức cao nhất cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của cả hai miền; khi cấn, phải động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân chịu đựng thiếu thốn để chi viện cho tiến tuyến, bảo đảm cho miền Nam giành được thắng lợi quyết định.

        Trong khi tích cực bảo vệ miền Bắc, chi viện miền Nam, phải ra sức giúp đỡ nhân dân Lào giành thêm thắng lợi mới và ủng hộ mạnh mẽ nhân dân Campuchia chống mọi âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.

        Từ Hội nghị lần thứ 13 của rung ương Đảng đến nay, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta đã giành thêm được những thắng lợi to lớn và rực rỡ. Quân và dân ta rất anh hùng, đã và đang đánh thắng tên đế quốc cường bạo nhất trong phe đế quốc chủ nghĩa. Hiện nay, nắm vững thời cơ thuận lợi, chúng ta hạ quyết tâm tiến hành cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định cho cuộc chiến tranh yêu nước thần thánh của chúng ta.

        Nhân dân ta đang sống trong thời kỳ vẻ vang nhất, vĩ đại nhất của lịch sử dân tộc.

        Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân hãy tăng cường đoàn kết nhất trí, triệu người như một, đạp bằng mọi khó khăn, trở ngại, vượt qua mọi thử thách, hy sinh dũng cảm và mưu trí, thừa thắng xông lên thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, quyết tiêu diệt giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước, giành thắng lợi quyết định cho cuộc kháng chiến thống Mỹ, cứu nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà. Vì nghĩa vụ thiêng liêng đối với Tổ quốc, vì sự nghiệp cách mạng cao cả của nhân dân thế giới chúng ta hãy anh dũng tiến lên giành lấy toàn thắng!

(Lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng)       


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2017, 10:59:42 PM
 
ĐIỆN MẬT CỦA BỘ CHÍNH TRỊ1

        Ngày 21 tháng 1 năm 1968

        Gởi: Anh Bảy Cường2, anh Năm Công3, anh Bảy Tiến4.  

        Bộ Chính trị đã họp và có mấy chủ trương sau:

        1. Để đánh bại Mỹ và Thiệu - Kỳ, để phân hóa địch đến mức cao nhất, tranh thủ và tập hợp thêm những lực lượng, những cá nhân chống Mỹ và Thiệu - Kỳ và tranh thủ các tầng lớp trung gian ở đô thị, đồng thời để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi ở ngoài nước, trong cao trào đấu tranh sẽ tới của quần chúng, cần thành lập Mặt trận thứ hai lấy tên là "Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình".

        Mặt trận này kêu gọi đấu tranh thực hiện các khẩu hiệu: “Độc lập - chủ quyền", “Tự do - dân chủ”, "Hòa bình - trung lập”, “Cơm áo ruộng đất", "Mỹ rút quân”, “thành lập chính phủ Liên hiệp dân tộc", "Lập quan hệ bình thường giữa hai miền Nam Bắc, tiến tới thống nhất TỔ quốc".

        Mặt trận này sẽ giữ thái độ độc lập với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, tuyên bố liên minh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng và những người muốn cho miền Nam Việt Nam có chủ quyền, độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập.

        Cờ của Mặt trận này là hình chữ nhật để nằm ngang trên cùng là mầu đỏ, giữa là mầu xanh da trời như mầu xanh của cờ Mặt trận Giải phóng), dưới cùng cũng là màu đỏ (tức là cờ chia ba phần thì hai phần đỏ nằm ngang trên và dưới, một phần xanh nằm ngay ở giữa), ngay giữa cờ có ngôi sao vàng. Mặt trận thứ hai thành lập chủ yếu ở các thành phố, đặc biệt ở các thành phố lớn. Cơ quan trung ương của Mặt trận này sẽ ra ở Sài Gòn. Các nơi chuẩn bị sẵn người và phong trào để thành lập các chi nhánh địa phương và hưởng ứng ngay khi Sài Gòn ra được (hoặc trước Tết hoặc sau Tết vài ngày).

        2. Chánh quyền cách mạng sau này ở miền Nam sẽ lấy tên là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

        3. Về việc thực hiện cụ thể các vấn đề trên đây Bộ Chính trị giao cho TWC1 (TWC: Trung ương Cục (B.T)) trực tiếp chỉ đạo thực hiện.

        Vậy đối với các vấn đề này các anh có ý kiến gì thì một mặt báo cáo với B.C.T2 (B.C:T: Bộ Chính trị (B.T)), mặt khác điện trao đổi trực tiếp với TWC cho nhanh.

BỘ CHÍNH TRỊ        

(Lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng)        

-----------------------
        1. Trích Văn kiện Đảng - Toàn tập, T29, Sđd.

        2. Bảy Cường: một bí danh của đồng chí Phạm Hùng (B.T).

        3. Năm Công: một bí danh của đồng chí Võ Chí Công (B. T).

        4. Bảy Tiến: một bí danh của đồng chí Trần Văn Quang (B. T).

(http://img381.imageshack.us/img381/8466/image001xn9.jpg)


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2017, 08:52:52 PM
       
CÁC CHỮ VIẾT TẮT

        -  BCHTƯ    - Ban Chấp hành Trung ương.

        -  BTTM    - Bộ Tổng Tham mưu. 

        -  CTQG    - Chính trị quốc gia.

        -  HN       - Hà Nội.

        -  KCCM    - Kháng chiến chống Mỹ.

        -  KH       - Ký hiệu.

        -  KHXH    - Khoa học xã hội.

        -  NXB    - Nhà xuất bản.

        -  QĐND    - Quân đội nhân dân.

        -  ST     - Sự thật.

        -  TLLT    - Tài liệu lưu trữ.

        -  TCLSQS     - Tạp chí Lịch sử quân sự. 

        -  TVQĐ     - Thư viện Quân đội.

        -  TTLL    - Thông tin lý luận. 

        -  TTTKHQS - Trung tâm Thông tin khoa học quân sự. 

        -  VLSQSVN - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

        -  VNTTX    - Việt Nam Thông tấn xã.

        -  CAND    - Công an nhân dân.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2017, 08:54:21 PM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

        1. Giô-dép A am-tơ - Lời phán quyết về Việt Nam. Nxb QĐND, HN, 1982.

        2. Ph. Ăng-ghen - Bàn về chiến tranh nhân dân. Nxb ST, HN, 1970.

        3. Ban quân sử - Cuộc Tống công kích - Tổng khởi nghĩa BTTM quân lực của Việt cộng, Mậu thân 1968. Sài Gòn, Việt Nam cộng hòa 6.1968.

        4. Báo cáo của Bộ Chính trị trước hội nghị Trung ương Đảng (6.1966). TLLT tại VLSQSVN, KH.TW 1252.

        5. Báo cáo của lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định về quá trình thực hiện hai đợt Tổng tiến công và nổi dậy trong năm Mậu thân 1968. TLLT tại Thư viện Học viện Quốc phòng, KH.TL 6523.

        6. Báo cáo tổng kết phong trào du kích chiến tranh B3 từ tháng 10 năm 1967 đến tháng 8 năm 1968. TLLT tại VLSQSVN, KH.TK 2807.

        7. Báo cáo tổng kết công tác quân sự năm 1968 của Phòng Đặc công Miền. TLLT tại VLSQSVN, KH.TK 1951.

        8. Báo cáo đặc điểm tình hình địch tử khi ta bắt đầu nổ súng Tổng tiến công và nổi dậy đến ngày 12 tháng 5 năm 1 968. TLLT tại VLSQSVN, KH.TK 9675.

        9. Báo cáo tinh hình chính trị, tư tưởng quân đội ngụy năm 1968. TLLT tại VLSQSVN, KH.TK 2576.

        10. Mai Văn Bộ - Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1985.

        11. Bộ Tư lệnh Quân khu - Khu 5 - 30 - năm chiến tranh giải phóng, T2, 1989. 

        12. Bộ Tư lệnh Thông tin - liên lạc - Lịch sử bộ đội Thông lin liên lạc. T2,  (1955-1975), 1990.

        13. Bộ chỉ huy quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng: Quảng Nam - Đà Nẵng - 30 năm chiến đấu và chiến thắng. T2, (1945-1975). Nxb QĐND, HN. 1988.

        14. - Biên bản Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 10.1967). TLLT tại Bộ môn KCCM. VLSQSVN.

        15. Cincinnatus - Tự hoại - sự tan rã của quân đội Mỹ trong kỷ nguyên Việt Nam, TTTTKHQS dịch, 1982.

        16. Ga-bri-en Côn-cô - Giải phẫu một cuộc chiến tranh, T1, Nxb QDND, HN. 1980.

        17. Công tác bình định của chính quyền Sài Gòn sau Tống công kích Mậu thân 1968 (Của Lê Minh Đảo - thiếu tướng ngụy). TLLT tại VLSQSVN, KH.TK 3927.

        18. Chỉ thị của Bộ Chính trị gửi Trung ương  Cục vế nhận định và chủ trương của Bộ Chính trị trong phiên họp tháng 6 năm 1967. TLLT tại VLSQSVN, KH.TW 230.

        19. Chỉ thi của Thường vụ Quân ủy Trung ương gửi Trung ương Cục, Quân ủy Miền, Khu ủy Khu 5 Khu ủy Trị - Thiên (21 - 1 - 1967). TLLT tại VLSQSVN, KH.TW 916.

        20. Chiến trưởng Trị - Thiên trong kháng chiến  chống Mỹ. Nxb Thuận Hóa, Huế, 1985.

        21. Lê Duẩn - Cách mạng miền Nam và chiến tranh nhân dân chống Mỹ, cứu nước. Nxb QĐND, HN. 1970.

        22. Lê Duẩn  - Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, vì tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới. Nxb ST, HN.1976.

        23. Lê Duẩn - Thư vào Nam. Nxb ST, HN.1985.

        24. Lê Duẩn - Về chiến tranh nhân dân Việt Nam. Nxb CTQG, HN. 1993.

        25. Văn Tiến Dũng - Chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân. T1. Nxb QĐND, HN.1974.

        26. Văn Tiến Dũng - Bước ngoặt lớn của cuộc khăng chiến  chống Mỹ. Nxb ST, HN. 1989.

        27. Văn Tiến Dũng - Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự Việt Nam. Nxb QĐND, HN. 1974.

        28. Đảng CSVN - Văn kiện Đảng - Toàn tập. T28 (1967). Nxb CTQG, HN. 2003.

        29. Đảng CSVN - Văn kiện Đảng - Toàn tập. T29 (19S8).  Nxb CTQG, HN. 2004.

        30. P.B. Đa-vít-sơn - Cuộc Tổng tiến công Tết. TCLSQS, trích dịch, 1.1993.

        31. P.B. Đa-vít-sơn - Những bí mật về chiến tranh Việt Nam. TCLSQS. trích dịch, 1.1993.

        32. Trần Bạch Đằng  - Mậu thân - cuộc Tổng diễn tập chiến lược.  TCLSQS, 2.1988.

        33. Trần Bạch Đằng - Bàn thêm về một vài khía cạnh của cuộc Tổng diễn tập chiến lược Mậu thân 1968. TCLSQS, 7.1988.

        34. Trần Độ - Tết Mậu thân - trận tập kích chiến lược. TCLSQS, 2.1988.

        35. Ilya V.Gaida - Liên bang Xô viết và chiến tranh Việt Nam. Nxb CAND, HN.1998.

        36. Trần Văn Già - Miền Nam giữ vững thành đồng. T5, Nxb KHXH, HN.1970.

        37. Võ Nguyên Giáp  - Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng,  Viện Khoa học Quân sự, 1974.

        38. Võ Nguyên Giáp - Đường lối quân sự của Đảng ngọn cớ trăm trận trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta. Nxb QĐND, HN.1973.

        39. Võ Nguyên Giápn - Điện Biên Phủ xưa và nay. Tạp chí Xưa và nay, 5.1994.

        40. L.B. Gtôn-xơn - Lợi thế (hồi ký). VNTTX dịch và phát hành, HN. 1972.

        41. Hồ Chí Minh - Vì độc lập, vì tự do, vì chủ nghĩa xã hội. Nxb ST, HN.1970.

        42. Hồ Chí Minh - Về đấu tranh vũ trang và các lực lượng vũ trang nhân dân. Nxb QĐND, HN.1970.

        43. Hồ Chí Minh - Chiến tranh nhân dân Việt Nam. Nxb QĐND, HN. 1980.

        44. Georgec Hê-ring - Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ. Nxb CTQG, HN.1998.

        45. Tau-xen Húp-pơ-xơ - Những giới hạn của sự can thiệp. TVQĐ  dịch, 1980.

        46. Rô-bét Cô-mơ - Báo cáo về một cuộc chiến tranh khác ở miền Nam Việt Nam. VNTTX dịch và phát hành, HN.4.1967.

        47. Hen-ri Kít-xinh-gơ - Những năm ở Nhà Trắng. T1, TVQG dịch, HN.1981.

        48. Ký ức của Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Clác Chíp phớt về cuộc họp với giới quân sự cấp cao sau cuộc tiến công Tết Mậu thân. TCLSQS, 1.1993.

        49. V.I. Lê-nin - Những bài nói và viết về quân sự. T1 , Nxb QĐND, HN. 1976.

        21 Tháng Mười Hai, 2008, 04:32:24 pm

        50. V.I. Lê-nin - Bàn về chiến tranh, quân đội, khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự. Nxb QĐND, HN. 1964.


Tiêu đề: Re: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2017, 08:55:00 PM

        51. V.I. Lê-nin  - Chiến tranh du kích. Nxb QĐND, HN.1964

        52. Lịch sử bộ đội Đặc công. Nxb QĐND, HN

        53. Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ Hội - Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ trước nghị Pa-ri. Viện Quan hệ quốc tế, HN. 1990.

        54. Cao Văn Lượng - Về cuộc Tống tiến công và nổi dậy đổng  loạt Tết Mậu thân. Tạp ch Nghiên cứu lịch  sử 1-2.1993.

        55. Mai-cơn Mác-li-a - Cuộc chiến tranh ở nông thôn. TCLSQS, trích dịch, 9.1988.

        56. Mai-cơn Mác-li-a - Việt Nam - cuộc chiến tranh mười nghìn ngày. Nxb ST, HN. 1990.

        57. C.Mác, Ph.Ăng-ghen, - Những quan điểm cơ bản về khởi nghĩa, V.l Lê-nin, Sta-lin chiến tranh và quân đội. Nxb QĐND, HN.1973.

        58. C.Mác, Ph.Ăng-ghen - Về chiến tranh và quân đội. Nxb QĐND, HN. 1993.

        59. Mấy kinh nghiệm tiến công thị xã, thị trấn ở Khu 5 mùa thu 1967. TLLT tại VLSQSVN,  KH.TK 2813.

        60. Mấy vấn đề về "Việt Nam hóa chiến tranh". Viện Sử học, HN. 1973.

        61. Một số ý kiến về kết qủa thực hiện Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa. Nguyên nhân và những kinh nghiệm chính về chỉ đạo chiến lược (tham luận của Cục Khoa học quân sự tại Hội nghị tổng kết cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa do VLSQSVN  tổ chức tháng 3.1986). TLLT tại VLSQSVN, KH.TK 2469.

        62. Roobert S.Mắc-na-ma-ra  - Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những  bài học về Việt Nam. Nxb CTQG, HN. 1995.

        63. Miền Đông Nam Bộ kháng chiến. T2, Nxb QĐND, HN. 1993.

        64. Miền Nam anh hùng tiến công đồng loạt, nổi dậy đều khắp. Nxb QĐND, HN. 1968.

        65. Một năm thắng lợi nở như hoa. Nxb QĐND, HN. 1968.

        66. Nghị quyết Hội nghị BCHTW Đảng lần thữ 11 (3.1965). TLLT tại VLSQSVN, KH.TW 350.

        67. Nghị quyết Hội nghị BCHTW Đảng lần thứ 12 (12.1955). TLLT tại VLSQSVN, KH.TW 390.

        68. Nghị quyết Hội nghị BCHTW Đảng lần thứ 13 (1.1967). TLLT tại VLSQSVN, KH.TW 814.

        69. Nghị quyết Hội nghị Bộ Chỉnh trị (12.1967). TLLT tạì VLSQSVN, KH.TW 886.

        70. Nghị quyết Hội nghi BCHTW Đảng lần thứ 14 (1.1968). TLLT tại VLSQSVN, KH.TW 990.

        71. Nghị quyết Hội nghị Thường trực Quân ủy Trung ương (3.1968), về chủ trương và công tác quân sự năm 1968. TLLT tại VLSQSVN, KH .TW 1019.

        72. Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị (4.1968). TLLT tại VLSQSVN, KH.TW 1026.

        73. Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị (8.1968). TLLT tại VLSQSVN, KH.TW 1121.

        74. Nghị quyết Hội nghị BCHNV Đảng lần thứ 21 (1973). TLLT tại VLSQSVN, KH.TW 1261.

        75. Đôn O-bớc-đoi-phơ Tết. Nxb An Giang, 1988.

        76. Trần Văn Quang  - Huế - 25 ngày đêm. Tạp chí LSQS tháng 2.1988.

        77. Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ ngụy trên chiến trường B2. Ban Tổng kết chiến tranh B2, 1984.

        78. Quân khu 7 - Lịch sử Bộ chỉ huy Miền (1961-1976). Nxb CTQG, HN. 2004

        79. John Penycate - Tom Magold - Hầm Củ Chi Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1988.

        80. Đặng Phong - 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam. Viện nghiên cứu thị trường - giá cả. HN. 1991.

        81. Pi-tơ A Pu-lơ - Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-zơ-ven đền Ních-xơn. Nxb TTLL, HN. 1985.

        82. H.Y. Schapler - Sự nghiệp của một tổng thống bị đố vỡ - Johnson và Việt Nam. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 1999.

        83. Neil Sheehan - Lời nói dối hào nhoáng. T2, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.

        84. Jeff Stein - Mare – Leepson - Sổ tay sự kiện chiến tranh Việt Nam. Nxb CTQG và Trung tâm báo chí nước ngoài Bộ Ngoại giao, HN.1993.

        85. Robert W.Stevens - Hy vọng hão huyền, thực tế phũ phàng - những hậu quả kinh tế của chiến tranh Việt Nam. Viện thông tin KHXH, HN, 9.1979.

        86. R.H. Spector - Sau Tết - năm đẫm máu ở Việt Nam. Bản dịch viết tay. TLLT tại VLSQSVN.

        87. Tài liệu mật của Bộ quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, T2, VNTTX dịch và phát hành, HN. 1971.

        88. Tài liệu mật Lầu Năm Góc. TVQĐ dịch, HN, 1980.

        89. Nguyễn Văn Tảo  - Sài Gòn Mậu thân 1968. Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.

        90. Tập điện chỉ đạo Tổng công kích - tồng  khởi nghĩa của Quân ủy Trung ương. TLLT tại VL8QSVN.

        91. Tập thống kê số liệu về kháng chiến chống Mỹ (1954-1975). TLLT tại Bộ môn Lịch sử KCCM, VLSQSVN.

        92. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ quốc phòng Mỹ. TVQĐ dịch, HN.1982.

        93. Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam Thành Thành phố Hồ Chí Minh - Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968. Nxb, phố Hồ Chí Minh, 1988.

        94. Hoàng Văn Thái - Mấy vấn đề về chiến lược trong cuộc tiến  công và nổi dậy Xuân 1968. TCLSQS, 2.1988.

        95. Hoàng Văn Thái - Mấy vấn để về tổng kết chiến tranh và viết lịch sử quân sự. VLSQSVN, HN. 1987.

        96. Thất bại quân sự của đế quốc Mỹ. Nxb QĐND, HN. 1979.

        97. Đoàn Thêm - 1968 - Việc từng ngày. Nxb Phạm Quang Hải, Sài Gòn, 1969.

        98. Lê Đức Thọ - Một số vấn đề về Tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự. Nxb ST, HN. 1989.

        99. Đỗ Thôn  - Sai lầm chiến lược của đế quốc Mỹ. TCLSQS, 8.1986.

        100. Trần Văn - Thắng lợi và suy nghĩ về thắng lợt. TCLSQ8, 2.1988.

        101. Nguyễn Duy Trinh - Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước (1965-1975). Nxb ST, HN. 1979.

        102. Tống Hồ Trinh - Không được đùa khởi nghĩa. TCLSQS, 7.1988.

        103. Trường Chinh - Tiến lên dưới là cờ của Đảng. Nxb ST, HN. 1963.

        104. Văn Tậ p - Chiến tranh Việ i Nam và kinh tế Mỹ. Nxb KHXH, HN.1973.

        105. Viện Mác Lênin - Viện Lịch sử Đảng - Những sự kiện lịch sử Đảng, T4, Nxb TTLL, HN. 1985.

        106. Viện Mác Lênin - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam - Nghiên cứu văn kiện Đảng về kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nxb ST, HN. 1986.

        107. Viện Lịch sử Đảng - Hội đồng biên soạn lịch sử Nam Trung Bộ - Nam Trung Bộ kháng chiến (1945-1975), HN. 1992.

        108. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. T1, Nxb ST, HN. 1990.

        109. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam  - Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam. T2, Nxb QĐND, HN. 1994.

        110. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975). T2, Nxb QĐND, HN.1994.

        111. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Hướng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân  ở Trị - Thiên - Huế (1968). HN.1988.

        112. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Hướng tiến công Sài Gòn - Gia Định (1968). HN.1988.

        113. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Chiến dịch tiến công đường 9 - Khe Sanh,  Xuân Hè 1968. HN, 1987.

        114. Viện Lịch sử quân sử Việt Nam - Đề cương báo cáo tổng kết Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. TLLT tại VLSQSVN.

        115. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. HN.1991.

        116. Viện Lịch sử quân sự - Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Việt Nam những sự kiện quân sự. HN.1988.

        117. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh - Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. T2, Nxb CTQG, HN. 1995. 

        118. Việt Nam - những sự kiện. T2, (1954-1975), Nxb KHXH, HN. 1978.

        119. Willam Westmoreland - Tường trình của một quân nhân. T3. TVQĐ dịch, HN. 1982.

HẾT