Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 10 Tháng Hai, 2017, 06:14:31 AM



Tiêu đề: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Hai, 2017, 06:14:31 AM
              
        - Tên sách: Ký ức Pháo binh
        - Tác giả: Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên - nguyên Tư lệnh binh chủng Pháo binh.
        - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân.
        - Năm xuất bản: 2007.
        - Số hóa: ptlinh, maibennhau.


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Ky%20uc%20phao%20binh_zps4mtgg2yz.jpg)

LỜI GIỚI THIỆU

        Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên - nguyên Tư lệnh Binh chủng Pháo binh (1978 - 1988) với 45 năm trong quân ngũ thì đã có 40 năm liên tục gắn bó với sự nghiệp xây dựng - chiến đấu và trưởng thành của bộ đội pháo binh.

        Là một cán bộ tham mưu binh chủng về huấn luyện, nghiên cứu, tác chiến đồng thời cũng là một cán bộ chỉ huy trực tiếp lực lượng pháo binh tham gia các chiến dịch lớn qua hai cuộc kháng chiến từ chống thực dân Pháp đến chống đế quốc Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sau ngày đất nước thống nhất; mặc dù đã nghỉ hưu cùng tuổi đời trên 80 nhưng vẫn say mê với công tác nghiên cứu khoa học quân sự pháo binh và tiếp tục viết nhiều bài ký sự, kinh nghiệm chiến đấu, trao đổi nghiên cứu về nghệ thuật sử dụng pháo binh.

        "Ký ức pháo binh" là một cuốn sách gồm nhiều bài của đồng chí đã được chọn lọc trong số những bài viết đã từng đăng tải trên các báo và tạp chí quân sự, nó không những là những ký ức về cuộc đời binh nghiệp của Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên đối với sự nghiệp xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Binh chủng Pháo binh trong 45 năm phục vụ quân đội, phục vụ Binh chủng của đồng chí mà cuốn sách này còn là tập tài liệu giá trị giúp các thế hệ cán bộ pháo binh có thêm tư liệu cần thiết để nghiên cứu, tham khảo về những bài học kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu pháo binh trong hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc để vận dụng vào công cuộc xây dựng một Binh chủng Pháo binh theo hướng "Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại".

        Trân trọng giới thiệu với bạn đọc.


Thiếu tướng Tư lệnh Binh chủng Pháo binh        
Vũ Thanh Lâm                            


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Hai, 2017, 06:18:59 AM

ĐỐI THOẠI PHÁO BINH VIỆT NAM TRÊN CHIẾN TRƯỜNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

        Ngồi trước mặt chúng tôi là bốn vị tướng: Thiếu tướng Đỗ Quốc Ân - Tư lệnh Binh chủng Pháo binh, Thiếu tướng Lê Giám Đốc - Phó Tư lệnh về Chính trị Binh chủng Pháo binh và hai vị khách mời là Trung tướng Nguyễn Đình Ước và Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên đều là những vị tướng trưởng thành từ Binh chủng Pháo binh và từng là những vị chỉ huy pháo binh trên chiến trường Điện Biên Phủ. Cuộc gặp gỡ này được tiến hành theo đề nghị của Ban biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội để nói về một chủ đề rất lớn là sự trưởng thành và những chiến công của Pháo binh Việt Nam trên chiến trường lịch sử Điện Biên Phủ. Đây cũng là chủ đề cho một cuộc Hội thảo khoa học đang được chuẩn bị để tiến hành trong tháng Ba này - đúng vào những ngày mà 50 năm trước trên chiến trường Điện Biên Phủ, những đơn vị pháo binh non trẻ của Quân đội nhân dân Việt Nam được lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp nổ những phát pháo lệnh mở màn cho một chiến dịch lịch sử - để rồi kể từ những ngày đó, Điện Biên Phủ trở thành một huyền thoại, một cái tên được nhắc đến ở khắp nơi trên thế giới, một biểu tượng cho tinh thần bất khuất kiên cường chống xâm lược của nhân dân Việt Nam.

        Nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng càng ngày người ta càng viết nhiều, nói nhiều hơn về Điện Biên Phủ. Trung tướng Nguyễn Đình Ước - nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự cho chúng tôi biết rằng vừa rồi ở bên nước Pháp người ta cũng đã tổ chức một cuộc Hội thảo rất lớn, quy tụ đủ các nhà nghiên cứu lịch sử, chính trị, các tướng lĩnh, các cựu sĩ quan và binh sĩ từng chiến đấu trên chiến trường Điện Biên để thử một lần nữa tìm cách giải thích về sự thất bại của người Pháp ở lòng chảo Điện Biên 50 năm về trước. Lý lẽ chắc là có nhiều, và hẳn không thiếu những kiến giải thông minh, thú vị về cuộc bại trận lớn nhất trong lịch sử hiện đại của quân đội viễn chinh Pháp, nhưng có lẽ vẫn còn có nhiều điều mà chính những nhà nghiên cứu lịch sử quân sự của nước Pháp và phương Tây vẫn không hiểu được về sức mạnh làm nên chiến thắng của người Việt Nam. Cũng như người Pháp, sau này người Mỹ cũng đã tự đặt ra những câu hỏi tương tự và dường như họ vẫn chưa tìm ra được câu trả lời về cái gọi là "sự bí ẩn Việt Nam". Vì thế có thể 50 năm, 100 năm sau nữa vào những ngày này ở nước Pháp, nước Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới người ta vẫn còn tiếp tục tranh luận về những gì đã diễn ra trong 55 ngày đêm máu lửa ấy trên chiến trường Điện Biên.

        Mở đầu cuộc trò chuyện của chúng tôi, Đại tá Nhà văn Lê Thành Nghị - Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội thông báo với các vị tướng pháo binh về cuộc đi thực tế "về nguồn" của đoàn nhà văn quân đội đầu tháng Giêng vừa qua rồi nêu ra một vấn đề mà các nhà văn quân đội rất quan tâm.

        Nhà văn Lê Thành Nghị - Thưa các đồng chí lãnh đạo chỉ huy Bộ đội Pháo binh, thưa các vị khách. Trong chuyến đi vừa qua, chúng tôi đã dành nhiều thời gian để tìm hiểu, hình dung lại quang cảnh chiến trường Điện Biên Phủ ngày ấy và hiểu ra rằng: với một tập đoàn cứ điểm được xây dựng vững chắc và hệ thống hỏa lực mạnh như vậy thì tướng Na-va, tướng Đờ Cat-xtơ-ri và nhiều vị chỉ huy quân đội Pháp ở Điện Biên cũng như ở Việt Nam lúc đó có thể chủ quan, coi thường đối thủ, thậm chí thách thức đối thủ chấp nhận một cuộc quyết đấu cũng là điều dễ hiểu. Có phải, một trong những điều bất ngờ lớn nhất đối với Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ là sự xuất hiện một cách đột ngột và mạnh mẽ của Pháo binh Việt Nam?

        Trung tướng Nguyễn Đình Ước - Đúng... Quân đội Pháp cũng biết rằng chúng ta đã có một lực lượng pháo binh, nhưng chúng không ngờ rằng chúng ta lại huy động được và đưa một lực lượng pháo binh hùng mạnh đến vậy vượt qua núi non hiểm trở tới lòng chảo Điện Biên. Đặc biệt, chúng càng không ngờ ta đã đưa được cả lựu pháo 105 ly lên chiến trường này. Trước chiến dịch Điện Biên chúng chỉ mới thấy có sơn pháo, nghĩa là pháo mang vác và các loại súng cối của ta mà thôi. Ta đã giữ được bí mật về lực lượng cho đến phút cuối cùng, tạo ra một bất ngờ lớn cho địch, khiến chúng choáng váng không kịp trở tay. Bất ngờ thứ hai chính là bất ngờ về cách đánh của pháo binh ta. Một cách đánh tổng hợp, sáng tạo, phát huy hiệu lực của tất cả các loại pháo mà địch chưa từng gặp bao giờ trên chiến trường Đông Dương.

        Nhà văn Khuất Quang Thụy - Chúng tôi cũng được biết rằng trước Điện Biên Phủ, Pháo binh Việt Nam cũng đã có những trận đánh rất hay như đánh tàu địch trên sông Lô hay ở chiến dịch Biên Giới - Thu Đông năm 1950. Nhưng để có được một lực lượng pháo binh hùng mạnh cho trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ chắc hẳn chúng ta đã phải có một cuộc chuẩn bị rất kỹ càng và bí mật?


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Hai, 2017, 06:22:03 AM

        Thiếu tướng Đỗ Quốc Ân - Đúng vậy, trước chiến dịch Thu Đông năm 1950, pháo binh của quân đội ta mới chỉ được tổ chức thành những phân đội, liên đội, quy mô tác chiến hiệp đồng còn nhỏ, chủ yếu là tác chiến hỗ trợ bộ binh. Trong chiến lược xây dựng lực lượng vũ trang, Đảng, Bác Hồ và Bộ Tổng Tư lệnh quân đội ta luôn hướng tới việc hình thành những đơn vị có khả năng tác chiến tập trung, tiến tới tác chiến hiệp đồng binh chủng. Có như vậy mới tạo được sức mạnh trên chiến trường để đánh những đòn then chốt, quyết định. Vì thế vào ngày 20 tháng 11 năm 1950, tại bản Nà Tấu, Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng Trung đoàn sơn pháo đầu tiên của quân đội ta là Trung đoàn 675 đã được thành lập. Sở dĩ lấy phiên hiệu là 675 vì trung đoàn gồm sáu liên đội là sơn pháo 75ly hợp lại. Xét về mặt quân số, trang bị thì có vẻ như ta làm một con số cộng, nhưng xét về mặt tư duy tác chiến hiện đại thì đây là một cấp số nhân, một sự trưởng thành về chất của Pháo binh Việt Nam. Sau này trên chiến trường Điện Biên, Trung đoàn sơn pháo 675 mà anh Nguyễn Đình Ước lúc đó là quyền Chính ủy, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hỏa lực cho bộ binh, cũng như trong những trận tập kích hỏa lực của pháo binh ta tại chiến trường. Đến năm sau, vào ngày 27 tháng 3 năm  1951, Bộ Tổng Tư lệnh lại ra quyết định thành lập Đại đoàn 351, là đại đoàn công pháo, đại đoàn binh chủng đầu tiên của quân đội ta. Đây lại là một bước tiến mới về tổ chức, xây dựng lực lượng và tư duy tác chiến. Trong đội hình Đại đoàn 351, về pháo binh có Trung đoàn 675 Sơn pháo 75 ly, Trung đoàn 45 lựu pháo 105 ly và Tiểu đoàn 960... Đây là một bước chuẩn bị rất quan trọng cho sự trưởng thành của Pháo binh Việt Nam. Trung đoàn pháo binh 45 có một lịch sử rất đặc biệt, có thể nói "rất Việt Nam" nữa. Vì để xây dựng một trung đoàn lựu pháo hiện đại vài năm sau sẽ làm mưa làm gió trên chiến trường Điện Biên, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã có một quyết định quan trọng là rút một trung đoàn bộ binh có xuất thân từ "tự vệ chiến đấu thành Nam Định", đó là Trung đoàn 34 của Liên khu 3, từng được Bác Hồ tặng danh hiệu "Trung đoàn Tất Thắng" để đưa đi học chuyển loại. Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên vốn là một cán bộ chỉ huy của Trung đoàn lựu pháo 45 từ ngày ấy, Thiếu tướng hẳn biết rất rõ quá trình xây dựng và trưởng thành của Trung đoàn 45.

        Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên - Vâng... Anh em cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn 34 hồi đó đa số là công nhân, nông dân, trình độ văn hóa rất hạn chế. Để bắn pháo được, trước hết phải dạy anh em học văn hóa đã rồi mới học kỹ thuật, chiến thuật. Được sự giúp đỡ về trang bị, vũ khí và huấn luyện của nước bạn Trung Quốc, sau 18 tháng huấn luyện chuyển binh chủng, chúng ta đã xây dựng thành công một trung đoàn lựu pháo hiện đại để chuẩn bị cho trận quyết chiến cuối cùng tại Điện Biên Phủ.

        Trung tướng Nguyễn Đình Ước - Phải nói rõ điều này, trước khi có lựu pháo thì sơn pháo 75 là hỏa khí hỗ trợ đắc lực cho bộ binh ta trong tất cả các chiến dịch, các trận đánh lớn. Nhưng nếu muốn khống chế được pháo binh địch trong một tập đoàn cứ điểm lớn như Điện Biên Phủ thì phải có lựu pháo 105 ly và phải được bố trí trong một thế trận hợp lý thì mới khống chế được pháo binh địch.

        Nhà văn Lê Thành Nghị - Chúng ta xây dựng trung đoàn lựu pháo đầu tiên từ năm 1951. Vậy mà tới tận năm 1954 chúng ta mới đưa lựu pháo vào trận. Một cuộc "mai phục ém quân" cũng rất dài phải không ạ?

        Trung tướng Nguyễn Đình Ước - Sử dụng vũ khí mới vào thời điểm nào là cả một nghệ thuật, là tài năng và bản lĩnh của những nhà cầm quân. Không phải ngẫu nhiên mà tới Điện Biên Phủ chúng ta mới để lựu pháo xuất trận, cũng không phải ngẫu nhiên mà tên lửa Sam và máy bay MiG xuất hiện và đánh thắng những trận đầu quan trọng vào những năm 1966 - 1967 hay xe tăng của Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ xuất trận lần đầu khi ta đánh trận Khe Sanh, nơi mà tướng Oét-mo-len và Bộ chỉ huy của ông ta từng ký cam kết bằng máu để không xảy ra một "Điện Biên Phủ" thứ hai ở Việt Nam. Lựu pháo 105 ly hồi đó là một hỏa khí có uy lực rất mạnh, thằng Tây vốn rất sùng bái vũ khí, vì thế khi những "ông sấm" lần đầu lên tiếng ở Điện Biên đã tạo nên một sự chấn động về tâm lý rất lớn cho quân đồn trú tại Điện Biên. Và tôi nghĩ rằng khi tiếng lựu pháo của ta vang lên trong lòng chảo Điện Biên thì cả tướng Na-va, cả Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương cũng phải giật mình.

        Nhà văn Khuất Quang Thụy - Chúng tôi nghe kể rằng chỉ riêng chuyện đưa được trung đoàn lựu pháo về Việt Nam cũng đã là cả một trang huyền thoại lý thú rồi, phải không ạ?


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Hai, 2017, 01:50:42 PM

        Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên - Rất lý thú. Vì có lẽ chẳng ở đâu lại có thể có được một cuộc hành quân pháo binh lạ lùng đến thế. Pháo xe kéo hẳn hoi nhưng lại được hành quân bằng đường thủy. Phải mất hai tháng trời chuẩn bị trung đoàn mới chặt đủ 30 ngàn cây bương, đóng được 100 cái bè, mỗi bè có trọng tải 4 tấn. Pháo xe kéo hẳn hoi, nhưng lại không hành quân đường bộ mà được tháo tung ra, đưa xuống bè nứa, đi đường sông. Đưa được hàng trăm tấn vũ khí, khí tài, xe cộ vượt qua được 25 cái thác trên một đoạn đường dài trên 100 ki-lô-mét đường sông quả là một kỳ công. Chính đồng chí Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái khi đến thăm trung đoàn sau cuộc hành quân này đã nhận xét rằng "Đây là một cuộc hành quân hiếm có trong lịch sử chiến tranh thế giới từ xưa tới nay". Đây cũng là một sáng kiến rất táo bạo, độc đáo, và cũng là một cú bất ngờ khiến cho tình báo, gián điệp và máy bay do thám của địch không thể phát hiện được trung đoàn lựu pháo của ta đang ở đâu?

        Nhà văn Lê Thành Nghị - Nhưng vào cuối năm 1953. Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương cũng biết rằng Việt Minh đã có lựu pháo 105 ly chứ ạ?

        Trung tướng Nguyễn Đình Ước - Biết chứ... Nhưng chúng không biết được chúng ta đang ở đâu và chúng cũng cho rằng bộ đội ta chưa thể sử dụng lựu pháo trong những trận đánh lớn, nhất là đánh tập trung hiệp đồng binh chủng. Chúng lại càng không thể tin rằng chúng ta có thể đưa lựu pháo lên Điện Biên mà lại đưa lên cả hơn hai chục cỗ đại bác nặng nề, cồng kềnh đến như thế!

        Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên - Chính các chiến sĩ pháo binh lúc đó cũng không hình dung nổi làm sao mình lại có thể vượt qua hơn 500 ki-lô-mét đường mới mở, đèo cao suối sâu, khe hiểm để đưa được cả một trung đoàn pháo an toàn lên chiến trường Điện Biên. ở đây phải kể tới công lao to lớn của hàng ngàn hàng vạn dân công và bộ đội công binh ngày đêm xẻ núi mở đường cho pháo ta lên Điện Biên. Có hàng trăm câu chuyện cảm động về gương hy sinh thầm lặng của những người mở đường thắng lợi. Có thể nói rằng nếu không có họ thì chúng ta cũng không thể có chiến thắng lịch sử này.

        Nhà văn Khuất Quang Thụy - Đến tận ngày hôm nay, con đường lên Điện Biên của chúng ta vẫn còn rất hiểm trở, chúng tôi thật khó hình dung được ý chí và quyết tâm của quân dân chúng ta ngày ấy. Có lẽ đây chính là một trong những điều làm nên cái mà các tướng lĩnh và những nhà nghiên cứu lịch sử phương Tây gọi là "sự bí ẩn" Việt Nam chăng? Nhưng vẫn còn một chuyện nữa, đó là chuyện kéo pháo vào kéo pháo ra? Chúng tôi cũng đã biết rằng do thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" mà phải kéo pháo ra, làm đường mới cho pháo vào trận địa. Nhưng để chấp hành được mệnh lệnh đó của Tổng tư lệnh chắc chắn là vô cùng gian khổ?

        Trung tướng Nguyễn Đình Ước - Gian khổ thì đã đành, pháo kéo vào rồi, bày binh bố trận rồi lại phải kéo ra. Mà kéo pháo ra bằng sức người, đâu phải chuyện đơn giản. Những tấm gương hy sinh lấy thân mình cứu pháo như anh hùng Tô Vĩnh Diện đâu phải chỉ có một. Hình như ở đơn vị anh Kiên lúc đó còn có một đồng chí nữa cũng hy sinh trong trường hợp như vậy, phải không?

        Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên - Vâng, đó là đồng chí Nguyễn Văn Chức, chiến sĩ Đại đội 806. Đó là khi đại đội này đang kéo pháo vượt qua một con dốc đứng thì pháo đứt dây, có nguy cơ lao xuống vực, đồng chí Chức đã dũng cảm lấy thân mình chèn vào bánh pháo để khẩu pháo bật nghiêng vào phía taluy, không rơi xuống vực. Đó là rạng sáng ngày 25-1, trong đợt kéo pháo vào. Ngày hôm đó toàn trung đoàn tôi đã hoàn thành việc đưa pháo vào trận địa. Sau đó thì có chuyện thay đổi phương châm tác chiến và phải kéo pháo ra. Bộ Tổng Tư lệnh rất coi trọng nhiệm vụ này nên đã thành lập cả một Bộ chỉ huy kéo pháo và chỉ định các đồng chí Lê Trọng Tấn - Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312, đồng chí Phạm Ngọc Mậu Chính ủy và đồng chí Đào Văn Trường - Đại đoàn phó đại đoàn Công pháo là những người chỉ huy chiến dịch kéo pháo ra. Sau khi đã kéo pháo ra thì Đại tướng Tổng tư lệnh tới thăm chúng tôi và nhắc nhở. Để chuẩn bị cho "đánh chắc, tiến chắc", pháo binh phải xây dựng công sự thật vững chắc, sẵn sàng đối đầu với pháo binh và máy bay ném bom của địch (Thiếu tướng lấy ra một tấm sơ đồ hầm pháo đưa ra cho mọi người xem). Đây các anh xem. Đây chính là sơ đồ cấu trúc hầm pháo lúc đó. Với sự giúp đỡ của công binh và bộ binh, chúng tôi đã xây dựng được mấy chục cái hầm pháo kiên cố như thế này ở nhiều trận địa khác nhau, rồi xây dựng mạng lưới đài quan sát, trận địa giả để đánh lạc hướng máy bay địch... Chính nhờ có hệ thống trận địa vững chắc, kiên cố mà pháo binh ta đã bảo toàn được lực lượng và chiến thắng pháo binh địch trong những trận đối pháo ác liệt và những trận oanh kích bằng máy bay của địch. Trong suốt chiến dịch Điện Biên Phủ, pháo binh ta không mất một khẩu nào, ngược lại thì pháo binh địch đã từng bước bị khống chế và tiêu diệt.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Hai, 2017, 01:58:01 PM

        Nhà văn Lê Thành Nghị - Có lẽ đây chính là lý do khiến trung tá Pi-rốt, chỉ huy pháo binh của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ phải tự sát?

        Trung tướng Nguyễn Đình Ước - Cũng không khó lý giải về cái chết của trung tá Pi-rốt. Là một viên sĩ quan chỉ huy pháo binh rất giỏi, lại ngạo mạn, nên y đã từng cam kết với Đờ Ca-xtơ-ri và cả Na-va rằng sẽ làm câm họng mấy khẩu pháo "tép" của Việt Minh bất kỳ lúc nào hắn muốn. Hắn cũng không thể tin được rằng pháo binh của Việt Minh đã đủ sức để đương đầu trực diện với pháo binh Pháp. Vì thế vào ngày 13 tháng 3, khi cùng một lúc 240 khẩu pháo, cối của ta đồng loạt dội lửa vào Him Lam, rồi sau đó bắn khống chế cả khu trung tâm và sân bay Mường Thanh thì Pi-rốt vô cùng sửng sốt. Điều khiến y bất ngờ không chỉ là quy mô và cường độ của trận tập kích mà còn vì hắn không ngờ pháo binh của Việt Minh lại bắn giỏi, bắn trúng và tạo nên một uy lực ghê gớm đến như vậy. Phải chứng kiến cảnh các trận địa pháo của mình bị bắn tan tác, hoàn toàn bất lực trước pháo binh đối phương nên Pi-rốt đành phải chọn cái chết.

        Nhà văn Lê Thành Nghị - Đúng là pháo binh ta ở Điện Biên Phủ đã chiến thắng trong cuộc đối đầu với pháo binh địch. Để bảo vệ các trận địa pháo của ta, ngoài việc làm hầm pháo kiên cố, bí mật ra, chúng ta còn có những biện pháp gì khác nữa?

        Trung tướng Nguyễn Đình Ước - Tất nhiên chúng ta phải có nhiều biện pháp. Thứ nhất là việc xây dựng trận địa kiên cố thì ta đã nói rồi. Mỗi hầm pháo ở Điện Biên Phủ là cả một công trình lớn. Vì thế cũng có lúc bom pháo địch đánh tới gần các hầm pháo mà ta vẫn an toàn. Thứ hai là có sự hỗ trợ, bảo vệ của pháo cao xạ. Khác với trận Nà Sản, lần này chúng ta đã bố trí một lực lượng phòng không khá mạnh đủ để khiến cho bọn phi công Pháp và Mỹ phải hoảng sợ nên không phát huy được lợi thế từ trên không. Thứ ba là có những trận địa nghi binh. Đó là những trận địa giả, mỗi lần pháo ta bắn thì những trận địa giả cho nổ bộc phá tạo khói, thu hút hỏa lực pháo binh và máy bay địch về phía mình, bảo vệ an toàn cho các trận địa pháo thật. Tôi biết một đồng chí rất giỏi làm trận địa giả, đó là anh Nguyễn Xuân Nhị, sau này anh ấy cũng trưởng thành, trở thành một đại tá rồi nghỉ hưu. Một mình anh ấy đã lôi kéo được không biết bao nhiêu là bom pháo về phía mình. Tôi cho rằng, đó cũng là những hành động rất anh hùng mà lịch sử không thể lãng quên.

        Nhà văn Khuất Quang Thụy - Các đồng chí có thể đánh giá như thế nào về cách đánh của pháo binh ta ở Điện Biên Phủ?

        Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên - Tôi cho rằng tới Điện Biên Phủ, pháo binh của chúng ta đã trưởng thành về nhiều mặt, trong đó có cả cách đánh. Có trận đánh tập kích lớn với nhiều tầng hỏa lực, nhiều loại pháo vào một cứ điểm kiên cố như Him Lam. Có thể nói đó là lối đánh sấm ran chớp giật áp đảo hoàn toàn hỏa lực địch, đánh trúng ngay cơ quan chỉ huy đầu não, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong dứt điểm. Nhưng lại có trận dùng hỏa lực pháo binh đánh địch phản kích ngoài công sự, với mật độ đạn dày đặc và độ chính xác cao, đó là trận đánh ngày 15-3 khi địch tung lực lượng cơ động ra định chiếm lại đồi Độc Lập vừa bị mất. Nhưng có lẽ trận đánh mà tôi tâm đắc nhất là trận phối hợp với bộ binh và pháo cao xạ khống chế và chia cắt sân bay Mường Thanh, tạo ra sự uy hiếp trực tiếp khu trung tâm căn cứ địch và cắt đứt cái dạ dày của chúng. Đây là một cách đánh phối hợp rất nhịp nhàng giữa các lực lượng pháo binh với nhau, giữa pháo binh và bộ binh, chứng tỏ trình độ hiệp đồng tác chiến của chúng ta đã tiến bộ rất nhiều. Ngoài ra, còn phải kể tới cách đánh kiềm chế, gây áp lực thường xuyên khiến kẻ địch trong lòng chảo Điện Biên ăn không ngon ngủ không yên, ở chỗ nào cũng cảm thấy không an toàn. Trong khi các đơn vị lựu pháo đánh từ xa, thì chúng ta vẫn phát huy lối đánh gần, cách đánh truyền thống của sơn pháo, ĐKZ súng cối.

Tạp chí văn nghệ quân đội số 593 tháng 3-2004       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Hai, 2017, 02:08:09 PM

TRUNG ĐOÀN 34 TẤT THẮNG - TRUNG ĐOÀN TRỌNG PHÁO ĐẦU TIÊN CỦA QUÂN ĐỘI TA

Nguyễn Hữu Mỹ và Nguyễn Trung Kiên       

        Sau chiến dịch Biên Giới 1950, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định xây dựng trung đoàn trọng pháo nhằm đáp ứng yêu cầu của chiến trường. Trung đoàn bộ binh 34 được vinh dự nhận nhiệm vụ vinh quang ấy.

        Cuối tháng 12 năm 1950, toàn Trung đoàn 34 được lệnh rút quân khỏi Nam Định lên Cao Bằng. Con đường hành quân đi bộ vòng vèo từ Vụ Bản sang Nho Quan - Ninh Bình, lên Dốc Cun - Hòa Bình, qua Chợ Chu - Thái Nguyên, về khu Nước Hai - Cao Bằng dài hơn 500 ki-lô-mét. Cuộc hành quân của trung đoàn trong thời điểm lúc bấy giờ khá vất vả. Nhiều anh em bị sốt rét, đau ốm.

        Tháng 3 năm 1951, trung đoàn lại hành quân dọc theo biên giới đến Hà Giang, sang Mông Tự, Vân Nam - Trung Quốc. Cuộc hành trình gian khổ, qua núi cao, rừng thẳm, suối sâu. Tại quân khu Tây Nam - Trung Quốc, anh em được bạn đón tiếp chu đáo. Trung đoàn được trang bị 20 khẩu pháo 105 ly với 3.500 viên đạn, 40 xe GMC, 2 xe công trình và cần cẩu, 33 máy quan trắc, 66 tổng đài và điện thoại, 100 ki-lô-mét dây. Chiến sĩ ta được trang phục theo tiêu chuẩn Quân giải phóng Trung Quốc. Khâu hậu cần do phía bạn phục vụ. Cán bộ Quân giải phóng Trung Quốc huấn luyện cho ta gọi là Công tác đoàn, gồm một cán bộ tham mưu trưởng trung đoàn, một cán bộ tham mưu, cán bộ kỹ thuật và một số cán bộ đại đội, trung đội huấn luyện nằm ngay tại đơn vị.

        Năm 1949, Trung Quốc mới được giải phóng, năm 1951 còn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng rất quý ta như anh em ruột thịt. Bạn cố gắng chăm lo cho trung đoàn mọi điều kiện để huấn luyện tốt. Hết năm 1952, ta hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện pháo binh.

        Tháng 1 năm 1953, trung đoàn được bạn tổ chức buổi lễ bàn giao trang bị và tiễn chân về nước. Hôm ấy là một kỷ niệm sâu sắc đối với cả bạn và ta. Tại sân vận động thị trấn Tân An (Mông Tự - Trung Quốc) diễn ra buổi lễ bàn giao thật trang nghiêm, cảm động. Thiếu tướng Trần Tử Bình thay mặt Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp nhận xe pháo, trang thiết bị của bạn tặng trung đoàn. Tiếp đó đồng chí Trần Tử Bình tặng trung đoàn lá cờ thêu tám chữ: "ẩn lặng như tờ, đánh mạnh như sét". Đồng chí Tư lệnh Quân đoàn 38 Quân giải phóng Trung Quốc cũng tặng lá cờ thêu bốn chữ Hán: "Bách phát bách trúng". Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 34 ôm hôn cán bộ, chiến sĩ Quân giải phóng Trung Quốc chia tay lưu luyến.

        Trở về bằng phương tiện cơ giới, nên trung đoàn nhanh chóng tới Lào Cai. Ai cũng mừng vui. Toàn bộ xe pháo lần lượt được đưa vào rừng Phố Lu chờ đợi. Để giữ bí mật, sau khi cân nhắc, cấp trên đã hạ lệnh cho xe pháo xuống bè xuôi Yên Bái. Nhận lệnh cho xe pháo xuống bè, anh em vô cùng lo lắng. Tháo ra thì dễ, lắp vào thì khó, liệu có làm nổi không? Lệnh trên phải thi hành. Một thử thách đầu tiên cho trung đoàn. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn quyết tâm thực hiện lệnh tháo xe, tháo pháo, gói bọc từng bộ phận để không bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển. Tỉnh ủy Lào Cai, Yên Bái cử cán bộ giúp trung đoàn, huy động hơn 30 thanh niên giỏi nghề sông nước cùng trung đoàn đưa thuyền bè vượt qua 25 thác ghềnh nguy hiểm từ Phố Lu về Yên Bái. Nơi nào hai bờ sông quang đãng, phải dừng lại, đi đêm. Cuộc hành trình đưa xe pháo về nơi tập kết bằng bè tuy vất vả nhưng anh em vẫn phấn khởi, vì từ nay ta đã có trọng pháo đánh địch. Đồng chí Trác đã cảm hứng sáng tác bài hát "Pháo xuôi bè" rất vui nhộn. Cuối cùng thuyền, bè chở pháo cập bến Âu Lâu (Yên Bái) an toàn. Để đảm bảo bí mật tuyệt đối, trung đoàn phải bốc dỡ xóa dấu vết ngay trong đêm. Ngày 21 tháng 4 năm 1953, toàn bộ xe pháo về đến Tuyên Quang an toàn tuyệt đối. Anh em trung đoàn thở phào yên tâm. Sau khi đào hầm giấu xe pháo xong, anh em tìm hang giấu đạn. Hằng ngày ôn luyện, cả trung đoàn ai cũng nóng lòng mong đợi có lệnh pháo được ra quân.

        Tháng 6 năm 1953, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng tham mưu trưởng dẫn đầu phái đoàn của Bộ đến thăm trung đoàn. Sau khi kiểm tra xong, đồng chí biểu dương "cán bộ, chiến sĩ trung đoàn có trình độ kỹ thuật khá thuần thục".

        Ngày 20 tháng 12 năm 1953, chúng tôi được triệu về Bộ Tổng Tham mưu nghe đồng chí Trần Văn Quang - Cục trưởng Cục Tác chiến phổ biến nhiệm vụ. Nhận nhiệm vụ xong, chúng tôi sang gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

        Đại tướng hỏi:

        - Tình hình pháo thế nào? Bây giờ hành quân lên Tây Bắc có khó khăn gì không?

        - Báo cáo Đại tướng, tất cả chuẩn bị sẵn sàng lên đường. Bản thân trung đoàn còn thiếu xe chở người, nhưng đã bàn kế hoạch hành quân với đồng chí Trần Văn Quang ưu tiên đưa pháo, đạn, trang bị và những nhân viên cần thiết đi trước. Còn bộ đội hành quân đi bộ. Đồng chí Quang hứa điều thêm xe cho trung đoàn.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Hai, 2017, 11:37:39 PM
           
        Đại tướng căn dặn:

        - Hành quân phải cẩn thận, đường rừng đi đêm khó, ban ngày phải trú quân trong rừng, ngụy trang thật kín. Chúc các đồng chí cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.

        Mong đợi mãi mới có lệnh xuất quân tham gia chiến dịch Thu Đông cùng với các đơn vị bạn. Từ khi Na-va tung quân vào cứ điểm Điện Biên Phủ, cả nước đã lên đường đi chiến dịch, nhưng Trung đoàn pháo binh Tất Thắng vẫn phải nằm im chờ lệnh. Cán bộ, chiến sĩ rất nóng ruột. Có chiến sĩ làm thơ gửi gắm tâm tư của trung đoàn như sau:

                                       "Chiến dịch Thu Đông đã đến rồi.
                                       Trung đoàn Tất Thắng vẫn nằm chơi.
                                       Sao không kéo pháo ra trận nhỉ?
                                       Chiến dịch Thu Đông đã đến rồi...".


        Hiểu được sự mong mỏi của Trung đoàn Tất Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã động viên và căn dặn: "Phải giữ bí mật về hỏa lực lớn mới giành được bất ngờ. Sử dụng trọng pháo vào lúc nào, ở đâu, phải có thời cơ và phải thu được thắng lợi đích đáng".

        Trở về báo tin vui, toàn trung đoàn nô nức nhanh chóng chuẩn bị kéo pháo ra trận. Ngày 22 tháng 12 năm 1953, trung đoàn 34 xuất phát từ Tuyên Quang, đến ngày 7 tháng 1 năm 1954 đơn vị tới vị trí tập kết ở Tuần Giáo an toàn. Cuộc hành quân dài hơn 500 ki-lô-mét cực kỳ gian khổ. Qua đèo Lũng Lô, Pha Đin, Tạ Khoa, Cò Nòi là những điểm phi cơ địch oanh tạc đánh phá ác liệt.

        Một cuộc họp lịch sử được tổ chức để Đại tướng trao nhiệm vụ cho các đơn vị tác chiến tại chiến dịch Điện Biên Phủ với tên gọi "Chiến dịch Trần Đình". Để giữ bí mật tuyệt đối, trung đoàn trọng pháo không dùng xe để chiếm lĩnh trận địa, mà kéo pháo bằng sức người. Đại đoàn 308, Trung đoàn sơn pháo 675, Trung đoàn công binh 151 làm nhiệm vụ mở đường để kéo pháo từ Nà Nham ki-lô-mét 70 vào ki-lô-mét 42, luồn lách trong rừng rậm, qua đỉnh Pha Sông cao 1.450 mét. Anh em trong trung đoàn băn khoăn lo lắng trước thử thách gian nan mới: Sau những ngày đêm hành quân bằng cơ giới vất vả dưới làn bom đạn của địch, nhiều đồng chí đã ngã xuống; nay lại kéo pháo bằng sức người; mỗi khẩu pháo nặng hai tấn phải kéo vượt qua dốc cao. Cả trung đoàn kéo pháo vào đến Bản Tấu thì có lệnh kéo pháo ra ngay. Chiến sĩ ngơ ngác nhìn nhau, chẳng hiểu thế nào. Hay là bị lộ chăng? Lại một chặng đường kéo pháo ra cực kỳ gian khổ, không kém lúc kéo pháo vào. Tổng cộng kéo pháo vào, kéo pháo ra mất 18 ngày. Đúng ngày mồng 3 Tết Nguyên đán, tức ngày 5 tháng 2 năm 1954, toàn bộ 24 khẩu pháo được kéo bằng tay trở lại vị trí ban đầu. Đến ngày mồng 5 Tết, bộ đội pháo binh mới được ăn Tết mừng "Kéo pháo vào, kéo pháo ra thắng lợi".

        Ngày 7 tháng 2 năm 1954, Bộ Chỉ huy chiến dịch họp cán bộ trung cao cấp toàn Mặt trận quán triệt phương châm "đánh chắc, tiến chắc", không phải như lúc đầu là "đánh nhanh, giải quyết nhanh".

        Trung đoàn pháo binh lại dùng xe chiếm lĩnh trận địa mới. Xây dựng 15 trận địa thành hai tuyến, lấy nóc hầm chỉ huy tướng Đờ Ca-xtơ-ri làm chuẩn. Từ các trận địa đến mục tiêu trung bình từ 6 đến 8 ki-lô-mét. Xây dựng 25 đài quan sát. Mỗi khẩu pháo đào một hầm đủ mười pháo thủ ở và một khẩu pháo. Gỗ dày 30 cen-ti-mét chôn xung quanh hầm. Nóc hầm rải một lượt nứa, một lượt đất dày 3 mét để chống bom. Công việc xây dựng trận địa pháo thật vất vả công phu. Từ đại đội bộ đến trận địa pháo, đài quan sát, đào giao thông hào để đi lại. Mọi sinh hoạt đều trong hầm. Không ai được làm gì trên mặt đất. Hệ thống điện thoại trận địa pháo mắc tới 380 ki-lô-mét dây vẫn chưa đủ.

        Đêm 11 tháng 3 năm 1954, trung đoàn pháo hoàn thành nhiệm vụ, hồi hộp chờ lệnh bắn quả đạn đầu tiên vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đúng lúc ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi điện đến hỏi:

        - Công tác chuẩn bị đã sẵn sàng chưa?

        - Báo cáo xong cả rồi..

        - Các  anh đã đi kiểm tra hết các đơn vị chưa? Hiện giờ còn khó khăn gì không?

        - Báo cáo Đại tướng, các đơn vị đã sẵn sàng. Khó khăn nhất hiện nay là thông tin thiếu dây, máy.

        Đại tướng ngừng nói điện thoại, chỉ thị cho cán bộ tham mưu:

        - Đồng chí Hoàng Văn Thái báo cho Cục trưởng thông tin Hoàng Đạo Thúy cố gắng điều chỉnh các máy điện thoại và dây của Mặt trận và lấy cả máy của tôi cho trung đoàn pháo. Tôi sẽ sử dụng chung máy của Bộ tham mưu.

        Sáng ngày 13 tháng 3 năm 1954, Đại tướng chỉ thị cho trung đoàn trưởng pháo binh:

        - Tập kích hỏa lực chiều nay mãnh liệt, bất ngờ, chuẩn xác. Đồng ý cho bắn thử hai phát vào cứ điểm Him Lam.

        Đúng 17 giờ, ngày 13 tháng 3 năm 1954, pháo ta bắn vào cứ điểm Him Lam, đạn trúng chỉ huy sở tiểu đoàn lê dương Pháp. Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 nhanh chóng tiến lên tiêu diệt cứ điểm Him Lam. Tên chỉ huy trưởng bị chết cùng chỉ huy phó và 200 tên trong hầm do pháo của ta. Còn 286 tên sống sót bị bắt làm tù binh. Ta thu toàn bộ vũ khí, trang bị của cứ điểm Him Lam.

        Tối ngày 14 tháng 3 năm 1954, đại đội 803, 802 bắn 100 phát vào cứ điểm Độc Lập chi viện cho Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 chiến đấu.

        7 giờ 15 phút, ngày 15 tháng 3 năm 1954, quân ta làm chủ cứ điểm Độc Lập.

        Địch ở trung tâm Mường Thanh cho hai tiểu đoàn, bảy xe tăng ra cứu viện đồi Độc Lập. Đại đoàn 308 và pháo binh ta bẻ gãy cánh quân cứu viện, 5 đại đội Âu Phi bị tiêu diệt và bắt sống. Chỉ trong hai ngày ta đánh thắng Him Lam, Độc Lập.

        Ngày 17 tháng 3 năm 1954, Đại đội 803 được lệnh nã pháo vào cứ điểm Bản Kéo. Quân địch khiếp sợ chạy tán loạn về Mường Thanh, một số ra hàng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi điện khen trung đoàn pháo binh: "Trong cuộc chiến đấu, pháo binh đã hoàn thành nhiệm vụ phối hợp với bộ binh một cách vẻ vang. Trong các ngày chiến đấu, pháo binh ta đã làm cho địch kinh hoàng. Pháo binh được đón nhận cờ "Quyết chiến, Quyết thắng" của Hồ Chủ tịch.

        Bị pháo binh ta tiến công dồn dập, quân địch thất bại nặng nề, tên quan năm Pi-rốt tư lệnh pháo binh địch, phó chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải tự sát tại chỉ huy sở, vì Pi-rốt không "khóa mõm" được pháo binh Việt Minh như lúc chúng xây dựng căn cứ Điện Biên Phủ đã từng huênh hoang tuyên bố: "Việt Minh không thể mang pháo vào được. Nếu có mang vào thì cũng không bắn tới được. Nếu Việt Minh đặt pháo gần thì khi bắn ánh lửa sẽ lộ, pháo binh của Pháp sẽ diệt ngay".

        Khi tập trung các binh chủng, các đại đoàn về cánh đồng Mường Phăng mừng chiến thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chụp ảnh lưu niệm với cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 34 - Tất Thắng, trung đoàn trọng pháo đầu tiên của quân đội ta.

(Hồi ký bạn chiến đấu pháo binh 1997)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Hai, 2017, 11:42:30 PM

KÉO PHÁO VÀO, KÉO PHÁO RA TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

        Ngày 13 tháng 1 năm 1954, trong hang núi Thẩm Bắc thuộc huyện Tuần Giáo, toàn cảnh Điện Biên Phủ hiện lên trên một sa bàn cát lớn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng Mặt trận, báo cáo trước toàn thể cán bộ chỉ huy các cấp về mục đích, ý nghĩa của chiến dịch "Trần Đình" (mật danh của chiến dịch Điện Biên Phủ). Về phương án tác chiến, là dùng ba mũi thọc sâu vào trung tâm Mường Thanh, nhằm chia cắt địch ra từng mảng mà tiêu diệt. Phương châm tác chiến là "Đánh nhanh, giải quyết nhanh", tập trung binh, hỏa lực mạnh đột phá từ hướng Tây. Hai trung đoàn trọng pháo và cao xạ 37 ly tập trung bố trí trên cánh đồng ở Bản Nghịu, Nà Hi, Nà Tấu phía Bắc và Tây Bắc Điện Biên Phủ. Hai trung đoàn pháo xe kéo phải bỏ xe lại khu tập kết, dùng sức người để kéo mấy chục cỗ pháo vượt qua dải núi hiểm trở, có đỉnh cao trên 1000 mét từ đường Tuần Giáo đi Lai Châu. Chúng tôi tập trung theo dõi hướng chỉ của chiếc gậy trong tay Đại tướng đang lướt từ từ trên sa bàn cát, qua những dãy nũi cao trập trùng mà trong lòng vô cùng lo lắng. Đại tướng giải thích thêm: "... Chúng ta mở đường, dùng sức người để kéo pháo không phải vì chúng ta không làm được đường cho xe chạy, mà chính là để giữ bí mật, để giành yếu tố bất ngờ...".

        Theo quyết tâm đó, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng Mặt trận, phổ biến kế hoạch làm đường kéo pháo vào trận địa:

        - Đại đoàn 308, Trung đoàn sơn pháo 675, Trung đoàn công binh 151 đảm nhiệm mở đường trong thời gian một ngày đêm.

        - Đại đoàn 312, Trung đoàn lựu pháo 45, Trung đoàn cao xạ 367, đảm nhiệm kéo 40 khẩu pháo vào trận địa, thời gian là bảy ngày đêm.

        - Đạn pháo do anh chị em dân công hỏa tuyến vận chuyển theo đường kéo pháo.

        - Bộ chỉ huy kéo pháo do các anh Lê Trọng Tấn - Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312, làm Chỉ huy trưởng; anh Phạm Ngọc Mậu - Chính ủy Đại đoàn 351 và anh Phạm Kiệt - Cục phó Cục Bảo vệ, làm Phó chỉ huy trưởng.

        - Ngày 15 tháng 1 năm 1954 bắt đầu mở đường, ngày 16 tháng 1 bắt đầu kéo pháo vào.

        Hội nghị kết thúc, nhiệm vụ rất khẩn trương, mọi công việc trao đổi, quán triệt đều được triển khai ngay trên đường trở về đơn vị trong ngày 14 tháng 1.

        Ngày 15 tháng 1, gần 6.000 con người, với công cụ làm đường, đã rải đều trên dọc tuyến đường men theo các đồi núi dài 15 ki-lô-mét, bắt đầu từ ki-lô-mét 70 bản Nà Nham, đường Tuần Giáo - Điện Biên, vắt qua đỉnh Pha Sông cao 1.150 mét, đổ xuống Bản Tấu, đường Điện Biên - Lai Châu, vươn tới Bản Nghịu, cánh đồng Nà Lư, nơi đặt trận địa pháo. Từ mờ sáng, bộ đội ta lao động liên tục để mở con đường rộng 3 mét. Mở đến đâu, ngụy trang đến đó. Đến chiều tối, con đường kéo pháo vào đã hoàn thành, nhưng còn có rất nhiều đèo dốc, có cái có độ dốc tới 50 - 60 độ; đường một bên là vách núi, một bên là vực sâu, rất nguy hiểm, pháo dễ rơi xuống vực, có nhiều đoạn rất trống trải.

        Ngày 16 tháng 1, Bộ chỉ huy kéo pháo quyết định kéo thử hai khẩu, gồm một khẩu lựu pháo và một khẩu cao xạ, để rút kinh nghiệm. Ban đầu, 20 chiến sĩ bộ binh dùng dây chão kéo một khẩu pháo, pháo thủ đảm nhiệm chèn, nâng càng, đẩy ghìm pháo. Lúc pháo được kéo qua cánh đồng Nà Nham, nơi có địa hình tương đối bằng phẳng, nên khá thuận lợi. Nhưng khi bắt đầu lên dốc thì pháo chỉ nhích dần từng tấc, rất nặng nề, khó khăn. Anh Mậu quyết định tăng số người kéo lên 30, rồi 40... Càng lên cao, số người càng tăng dần, tới 100 và trên 100 người để kéo một khẩu pháo. Trải qua đêm thứ nhất gian khổ, vất vả mà bộ đội ta cũng chỉ kéo pháo di chuyển được một ki-lô-mét đường. Vất vả nhất vẫn là anh em pháo thủ, vừa phải nâng càng, vừa chèn đẩy, ghìm khi lên xuống dốc; nhiều lúc pháo lăn sang phải, sang trái, người va vào cả khối sắt đau điếng. Ngày thứ hai, 17 tháng 1, đường kéo pháo bắt đầu vào sâu trong rừng, tương đối kín nên có thể kéo cả ban ngày, nhưng cũng chỉ kéo được tám khẩu và nhích thêm được một ki-lô-mét. Trước tình hình khó khăn đó, mà thời gian chỉ có bảy ngày, nên sang ngày thứ ba, Bộ chỉ huy kéo pháo quyết định cho anh em nghỉ tại chỗ, họp rút kinh nghiệm, rồi kết luận:

        - Công binh phải mở rộng thêm cua, hạ bớt độ dốc, thêm thiết bị tời ở các dốc để kết hợp giữa kéo bằng sức người và quay tời.

        - Bộ binh lấy dây cóc rừng buộc móc vào dây chão rồi quàng vào vai cho từng chiến sĩ kéo, vừa tăng lực vừa không vướng vào chân nhau. Khi kéo cần có sự chỉ huy thống nhất, theo hiệu lệnh: "Hai... ba nào - Dô... ta nào".

        - Pháo thủ đẽo thêm gỗ chèn pháo cho to hơn, đẽo guốc pháo theo hình con vịt để buộc vào dưới lưỡi cày đuôi càng pháo, nhằm thay thế việc nâng càng mà hai càng pháo vẫn lướt nhẹ trên mặt đường.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Hai, 2017, 11:45:07 PM

        Ngày thứ tư lại tiếp tục kéo pháo, đường càng lên tới đỉnh Pha Sông độ dốc càng lớn, có dốc phải sử dụng đến bảy cái tời, gọi là Dốc Bảy Tời. Những tiếng hô: "Hai... ba nào! Dô... ta nào!" râm ran suốt cả chặng đường kéo pháo. Có hôm trời mưa, đường trơn, bộ đội vẫn kéo pháo cả ngày lẫn đêm để đưa pháo vào trận địa đúng thời gian. Lính ta mất ngủ, lúc nghỉ là ngủ đứng, ngủ ngồi. Tổng cục Cung cấp đã tăng thêm tiêu chuẩn ăn cho anh em tới chín lạng gạo một ngày mà vẫn cứ đói. Những tấm gương dũng cảm, hy sinh để bảo vệ pháo ngày nào cũng xuất hiện.

        Khẩu đội phó Lê Thi đang lái càng pháo, bị càng va dập cả ống chân, đau đớn vô cùng nhưng không hề kêu mà cứ nghiến răng tiếp tục làm nhiệm vụ để khỏi ảnh hưởng đến tinh thần anh em khác.

        Khi đổ dốc, pháo trôi nhanh, pháo thủ Mận đã ghé cả vai mình vào bánh pháo, tay cầm chèn giữ pháo để pháo không tụt xuống vực. Bánh xe pháo chèn vào chân Mận, anh em tìm mọi cách để cứu bạn, vật vã, loay hoay mãi mà vẫn không đẩy được bánh xe pháo ra. Đồng chí Mận nghiến răng nói: "Thôi các cậu ơi, đằng nào chân tớ cũng hỏng rồi... Cứ cho pháo lăn qua để kịp đưa pháo vào trận địa". Nhưng rồi anh em đã cứu được Mận.

        Pháo của Khẩu đội 3, Đại đội 806, Tiểu đoàn 2 đang xuống dốc thì dây tời đứt, pháo lao mạnh, kéo theo cả đoàn người đang ghìm giữ. Trước nguy cơ khẩu pháo sẽ rơi xuống vực thẳm, bỗng có tiếng hô: "Hãy cứu pháo! Còn người còn pháo!". Ba đồng chí pháo thủ Chức, Ngòi, Cứ lao theo, cố chèn bánh xe pháo. Khẩu pháo chồm qua chèn, rồi đè lên cả thân người chiến sĩ pháo thủ Chức... Khẩu pháo mất đà, quật mạnh vào gốc cây và dừng lại. Đồng chí Chức đã dũng cảm hy sinh.

        Anh em pháo cao xạ cũng có nhiều gương dũng cảm bảo vệ pháo, nổi bật là tấm gương của Khẩu đội trưởng Tô Vĩnh Diện đã lấy thân mình chèn pháo... Và còn biết bao gương cán bộ, chiến sĩ đã bị thương, hy sinh do bom, đạn pháo địch trên đường kéo pháo vào.

        Đoạn đường kéo pháo cuối cùng cũng rút ngắn lại. Chính trong thời khắc hào hùng đó, nhạc sĩ Hoàng Vân đã cảm xúc sáng tác bài hát Hò kéo pháo:

                                  ... Sắp tới rồi đồng chí pháo binh ơi!
                                  Vinh quang thay! Sức người lao động...


        Ngày 25 tháng 1 là ngày N. Kể từ khi bắt đầu kéo pháo vào, đã qua chín ngày đêm. Với quyết tâm cao và kế hoạch tổ chức kéo pháo chặt chẽ, toàn bộ số pháo đã được bí mật đưa vào tới trận địa bắn. Đang gấp rút đôn đốc để hoàn thành mọi công tác chuẩn bị bắn cho kịp giờ nổ súng (17h00), chúng tôi nhận được thông báo giờ nổ súng lùi lại 1 ngày, tức ngày 26 tháng 1 năm 1954. Trời về chiều, từ trên đài chỉ huy, tôi đang dán mắt quan sát, theo dõi hoạt động của địch thì Trung đoàn trưởng pháo binh Hữu Mỹ, qua điện thoại, lệnh trực tiếp cho tôi:

        - Tối nay, 26 tháng 1, toàn tiểu đoàn bắt đầu chuyển pháo ra khỏi trận địa, trở về vị trí tập kết tại ki-lô-mét 63 đường Tuần Giáo - Điện Biên.

        - Như thường lệ, anh Hữu Mỹ hỏi: "Rõ chưa?".

        Tôi trả lời:

        - Rõ!

        - Thế thì chấp hành ngay đi, lý do sẽ được giải thích sau.

        Cuộc đàm thoại ngắn gọn, nhưng tâm tư tôi vô cùng nặng nề. Thế là biết bao công sức, mồ hôi, xương máu để kéo pháo vào được trận địa, chỉ còn chờ nổ súng lập công, thì lại... Nhưng đã là mệnh lệnh thì phải nghiêm chỉnh chấp hành.

        Hôm sau, chúng tôi được thông báo cụ thể chỉ thị của đồng chí Hoàng Văn Thái khi đồng chí xuống gặp các anh trong Bộ chỉ huy kéo pháo:

        - Cách đây mười ngày, địch còn nhiều sơ hở, trận địa chúng chưa được củng cố, công sự, chướng ngại vật còn sơ sài, ta chủ trương đánh nhanh, giải quyết nhanh trong vài ba ngày. Nay địch đã tăng cường lực lượng, bổ sung nhiều mìn, dây thép gai, số quân đông hơn, bố trí dày đặc, công sự kiên cố, có nhiều chướng ngại vật. Chúng đã xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm, thành hệ thống phòng ngự khá vững chắc. Đảng ủy Mặt trận đã quyết định hoãn cuộc tiến công, kéo pháo ra, tiếp tục chuẩn bị thêm thật kỹ để đánh chắc thắng. Việc kéo pháo ra là công việc cấp bách cần phải làm ngay và phải làm thật tốt. Trước sự thay đổi đột ngột này, khó khăn lớn nhất vẫn là tư tưởng anh em cán bộ, chiến sĩ. Cần lãnh đạo, đảng viên nêu cao tinh thần giác ngộ cách mạng để hoàn thành tốt nhiệm vụ...

        Quả vậy, khi lệnh kéo pháo ra truyền xuống các khẩu đội đã gây nên tâm lý xôn xao. Thường vụ Đảng ủy tiểu đoàn họp, rồi các chi bộ đại đội họp cấp tốc để quán triệt chỉ thị của trên, bàn việc lãnh đạo kéo pháo ra với quyết tâm là: "Tiêu diệt Trần Đình không thay đổi. Kéo pháo ra bây giờ chính là để trở lại lần thứ hai, khi đã có đủ mọi điều kiện chuẩn bị chu đáo chắc thắng sẽ đưa pháo vào chiếm lĩnh trận địa được nhanh gọn, bí mật, an toàn hơn".


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2017, 04:29:31 PM

        Bộ chỉ huy kéo pháo còn đề ra một số yêu cầu trong lần kéo pháo ra:

        - Triệt để chấp hành mật lệnh kéo pháo ra an toàn.

        - Tranh thủ kéo pháo ra càng nhanh càng tốt.

        - Anh dũng vượt qua nơi bị địch bắn chặn, tránh thương vong.

        - Tăng cường ngụy trang, giữ bí mật đường kéo pháo và nơi trú quân, làm công sự cho người và pháo.

        Cuộc vật lộn với đèo cao, dốc thẳm lại bắt đầu. Kéo pháo vào đã vô cùng gian khổ, nay kéo pháo ra lại càng gian khổ gấp bội. Quân địch đã đánh hơi và phát hiện con đường ta kéo pháo, nên ban ngày máy bay "Bà già" liên tục trinh sát, chỉ điểm cho máy bay khu trục ném bom. Ban đêm, chúng câu pháo dồn dập vào các cửa rừng Nà Nham, Bản Tấu, các bãi trống như bãi Chuối, suối Ngựa, dốc Cây Cụt...

        Có đêm, khi pháo ta đang kéo qua dốc Cây Cụt, pháo địch bất ngờ bắn trúng đội hình. Chiến sĩ ta vẫn nắm chắc dây kéo. Loạt đạn pháo thứ hai nổ, đồng chí chính trị viên đại đội đã hô lớn: "Đảng viên, các đồng chí quyết không rời pháo". Một giọng hát bắt nhịp bài Quốc tế ca cất lên, cả đội hình đồng thanh hát theo, át cả tiếng đạn nổ, đã tiếp sức cho lòng dũng cảm, tiếp tục đưa khẩu pháo xuống dốc an toàn.

        Có lần, cả Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 đã dũng cảm lao vào trong khói bom na-pan để kéo năm khẩu pháo vượt ra khỏi khu vực bãi để pháo mà máy bay địch phát hiện được, đang quần lượn bắn phá...

        Từ ngày 26 tháng 1 đến đêm 5 tháng 2 năm 1954, đúng ngày mồng 3 Tết Nguyên đán, khẩu pháo cuối cùng được ô tô vào đón kéo từ ki-lô-mét 70 trở về ki-lô-mét 63 đường Tuần Giáo, nơi tập kết của Trung đoàn lựu pháo.

        Bộ chỉ huy kéo pháo họp phiên cuối và nhận định: "Trải qua những ngày kéo pháo cực kỳ gian khổ, quyết liệt, bộ binh, công binh, pháo binh đã thực sự vượt qua thử thách. Tình đoàn kết keo sơn giữa ba binh chủng là truyền thống, là sức mạnh và là cơ sở vững chắc cho quân ta chiến đấu thắng lợi trong những ngày tới".

        Sau 20 ngày đêm liên tục lao động gian khổ, dũng cảm, ngày 7 tháng 2, tức mồng 5 Tết, anh em pháo binh chúng tôi mới chính thức được ăn cái Tết "Kéo pháo vào, kéo pháo ra thắng lợi". Hôm ấy, Đại tướng - Chỉ huy trưởng cũng đến thăm và chúc Tết pháo binh và cao xạ. Trong một khu rừng già ở ki-lô-mét 63, dưới trời mưa nặng hạt, Đại tướng ân cần thăm hỏi và căn dặn:

        - Thời gian vừa qua, các đồng chí đã làm tròn nhiệm vụ hành quân ra mặt trận. Các đồng chí lại đã làm tròn nhiệm vụ chuyển pháo vào trận địa, chuyển pháo ra vị trí tập kết. Những nhiệm vụ đó đã được coi như nhiệm vụ chiến đấu của bộ đội pháo binh, vì nó phải thực hiện trong điều kiện hết sức khó khăn. Nhiệm vụ sắp tới còn nhiều khó khăn và nặng nề hơn, phải chuẩn bị thật tốt, phải giữ gìn vũ khí tốt, tranh thủ ôn luyện kỹ thuật. Khi chiến đấu, sử dụng đạn dược phải thật tiết kiệm. Khi mọi việc chuẩn bị chu đáo, các đồng chí lại tiếp tục đưa pháo vào trận địa. Không bắn thì thôi, nhưng đã có lệnh bắn thì nhất định phải bắn trúng đích, làm cho quân địch lần này phải khiếp sợ trọng pháo và cao xạ của  quân ta...

        Thế là, từ phương châm tác chiến "đánh nhanh, giải quyết nhanh", Bộ chỉ huy Mặt trận đã chuyển sang "đánh chắc, tiến chắc". Với phương châm này, ta có thể tập trung ưu thế binh lực, hỏa lực vào từng đợt, từng trận chiến đấu.

        Trong hội nghị quán triệt nhiệm vụ tác chiến chiến dịch của Đại đoàn 351, tôi nhớ mãi câu nói của Chính ủy Đại đoàn Phạm Ngọc Mậu: "Pháo binh ta còn bé nhỏ, vốn liếng chưa có là bao, phải bảo đảm giữ gìn hỏa lực chiến đấu lâu dài, nên cấp trên đã quyết định làm đường để dùng xe kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa. Trung đoàn trọng pháo phải xây dựng trận địa có công sự thật vững chắc, pháo cũng phải có công sự có nắp dày 3 mét, chống được đạn pháo 155 ly của địch...".

        Thực hiện quyết tâm đó, ngày 10 tháng 2 năm 1954, Trung đoàn công binh 151, Trung đoàn sơn pháo 675, Đại đoàn 312, Đại đoàn 316 đồng loạt triển khai mở sáu con đường để xe ô tô kéo pháo vào trận địa bắn, đặt trên hai dãy núi Pú Hồng Mèo và Pú Tà Cọ. Sáu con đường đó là:

        - Đường số 1 từ Bản Tấu đến Tà Lùng, dài 27 ki-lô-mét, ở phía Tây Điện Biên Phủ.

        - Đường số 2 từ Bản Sôm đến Pú Hồng Mèo, dài 8 ki-lô-mét.

        - Đường số 3 từ Đa Voong đến Na Lời, dài 3 ki-lô-mét.

        - Đường số 4 từ Pe Na đến Tà Lời, dài 9 ki-lô-mét.

        - Đường số 5 từ Nà Nham đến Mường Phăng, dài 7 ki-lô-mét.

        - Đường số 6 từ Bản Xin qua đỉnh Pú Y Tao, cao gần 1.000 mét, đến Bản Tấu, chạy song song với con đường khi ta dùng sức người kéo pháo vào.

        Chiều dài của sáu con đường tổng cộng gần 75 ki-lô-mét.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2017, 04:34:07 PM

        Việc xây dựng công sự cho trận địa pháo do trung đoàn trọng pháo đảm nhiệm, được tiến hành sớm hơn một ngày; cứ một tiểu đoàn lựu pháo được tăng cường một tiểu đoàn bộ binh của Đại đoàn 312 để giúp lấy gỗ làm công sự và đào hầm pháo.

        Ngày 5 tháng 3 năm 1954, đường xe kéo pháo và công sự các trận địa pháo đã hoàn thành. Chập tối 6 tháng 3, theo lệnh của Bộ tư lệnh Đại đoàn 351, Đại đội 806 của tiểu đoàn tôi, dùng xe ba cầu kéo bốn khẩu pháo vào chiếm lĩnh trận địa thử nghiệm. Trận địa bắn của Đại đội 806 đặt cách cứ điểm Him Lam trên 3 ki-lô-mét về phía Đông. Chúng tôi cử một tổ trinh sát vào nằm sát hàng rào cứ điểm Him Lam, mang theo máy điện thoại dùng ký hiệu để báo về Sở chỉ huy tình hình của địch và tiếng rú của xe chạy. Đến 10 giờ đêm, bốn khẩu pháo đã vào "nhà ở" an toàn, xe đã quay về vị trí cất giấu mà vẫn không thấy trinh sát Him Lam báo về. Yếu tố bí mật, bất ngờ làm đường dùng xe kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa đã được bảo đảm. Ngày 8 tháng 3, tất cả các đại đội còn lại của lựu pháo, cao xạ pháo lần lượt chiếm lĩnh theo sáu mạch đường vừa khai thông. Ngày 11 tháng 3, tất cả "pháo đất", "pháo trời" đều đã sẵn sàng nổ súng.

        Cũng chiều hôm đó, báo Quân đội nhân dân, ấn hành tại Mặt trận, được đưa tới từng hầm pháo, đài quan sát pháo binh, mang theo những lời ân cần thiết tha của Bác Hồ kính yêu: "Các chú sắp ra trận, nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn nhưng rất vinh quang... Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới.

        Bác chờ các chú báo cáo thành tích để thưởng những đơn vị và cá nhân xuất sắc.

        Chúc các chú thắng to. Bác hôn các chú".

        Ngày 12 tháng 3, lệnh động viên của Đại tướng, Tổng tư lệnh cũng được truyền tới cán bộ, chiến sĩ: "Giờ ra trận đã đến!

        Tất cả cán bộ, chiến sĩ; tất cả các đơn vị; tất cả các binh chủng hãy dũng cảm tiến lên, thi đua lập công giành lá cờ Quyết chiến - Quyết thắng của Hồ Chủ tịch...".

        Đúng 17 giờ 10 phút ngày 13 tháng 3 năm 1954, theo hiệu lệnh của Bộ chỉ huy Mặt trận, gần 150 khẩu pháo 105, 75 ly, cối đồng loạt mở đợt tập kích hỏa lực trong 15 phút vào toàn bộ các mục tiêu trong khu trung tâm Mường Thanh, mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Gần một nghìn quả đạn pháo của ta đã phá hủy năm máy bay, phá hỏng 12 khẩu pháo, diệt trên 100 tên, phá hủy nhiều kho đạn của địch. Tiếp đó, pháo binh chuyển làn, tập trung bắn vào cứ điểm Him Lam, trực tiếp chi viện cho Đại đoàn 312 tiêu diệt gọn tiểu đoàn quân Pháp đóng ở cứ điểm này. Ngày tiếp theo, các trung đoàn trọng pháo, sơn pháo, cao xạ chi viện cho Đại đoàn 308 tiêu diệt một tiểu đoàn quân Pháp đóng ở cứ điểm đồi Độc Lập. Địch ở cứ điểm Bản Kéo ra đầu hàng. Pháp vội vã dùng hai tiểu đoàn, có chín xe tăng dẫn đầu, tiến hành phản kích hòng chiếm lại những vị trí đã bị quân ta đánh chiếm, nhưng đã bị pháo ta cùng bộ binh bắn tan nát đội hình, phải rút chạy tán loạn. Sau ba ngày đêm chiến đấu, nhiệm vụ tiến công đánh bóc vỏ giành thắng lợi giòn giã. Pháo xe kéo lần đầu xuất quân, trận đầu đánh thắng, đã củng cố niềm tin cho bộ binh và toàn Mặt trận. Bộ chỉ huy Mặt trận quyết định trao cờ Quyết chiến - Quyết thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho Đại đoàn công - pháo 351. Đại đoàn lại quyết định trao lá cờ đó cho Đại đội 806 thuộc Tiểu đoàn 2 lựu pháo 105 ly, là đại đội đã bắn những phát đạn đầu tiên vào cứ điểm Him Lam, mở màn chiến dịch.

        Về phía địch, từ chỗ huênh hoang vào khả năng pháo binh của chúng, nhưng sau ba ngày bị tổn thất liên tiếp, tướng Đờ Ca-xtơ-ri, chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cho gọi Pi-rốt, quan năm pháo binh, đến sở chỉ huy khiển trách thậm tệ. Từ hầm chỉ huy Đờ Ca-xtơ-ri trở về sở chỉ huy pháo, Pi-rốt đã tự kết liễu đời mình bằng một quả lựu đạn.

        Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử thắng lợi. Pháo binh ta tuy còn nhỏ bé nhưng đã phát huy vai trò to lớn trong chiến dịch, xứng đáng là hỏa lực chủ yếu của quân đội ta. Tám chữ vàng "Chân đồng vai sắt - Đánh giỏi, bắn trúng" của Bác Hồ trao tặng cho Bộ đội Pháo binh Việt Nam sau này, cũng bắt nguồn từ chiến công trong chiến dịch Điện Biên Phủ và từ những thành tích chiến đấu của Pháo binh qua chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi.

(Tạp chí lịch sử quân sự 3-2002)         


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2017, 04:42:10 PM
          
NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG PHÁO BINH TRONG CHIẾN DỊCH TIẾN CÔNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

        Binh chủng Pháo binh đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ của quân và dân ta. Chiến công oanh liệt đó đã đánh dấu một bước phát triển mới của nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch tiến công trận địa hiệp đồng binh chủng quy mô lớn.

        1. Tạo ưu thế lực lượng pháo binh chiến dịch, phát huy sức mạnh tổng hợp của Binh chủng

        Để bảo đảm được mật độ pháo binh trong tiến công trận địa và tập trung hỏa lực bảo đảm chi viện cho bộ binh đánh chắc thắng, ta đã sử dụng lực lượng pháo binh tập trung tới mức cao nhất theo khả năng hiện có. Cụ thể ta đã huy động:

        - 100% lực lượng pháo cơ giới.

        - 80% lực lượng súng cối cỡ lớn.

        - 75% lực lượng sơn pháo (so với tổng số pháo binh hiện có).

        Do kiên quyết tận dụng và huy động được tỷ lệ cao như vậy nên đã giành được ưu thế về số lượng như sau:

        - Ưu thế lực lượng pháo binh về chiến dịch: ta 2,1, địch 1.

        - Ưu thế lực lượng trên hướng chủ yếu chiến dịch: ta 2,3, địch 1.

        - Ưu thế lực lượng trong chiến đấu: ta 3, địch 1 (tỷ lệ trên tính theo số lượng, chưa tính hệ số chất lượng).

        Trong phân chia lực lượng pháo binh chiến dịch, ta đã tập trung 89% lực lượng cho thê đội một chiến dịch. Do kiên quyết tập trung như vậy, việc bảo đảm hỏa lực chi viện đột phá nhanh chóng đã đánh chắc thắng các trận then chốt mở đầu chiến dịch như các trận tiến công cứ điểm Him Lam và Độc Lập.

        Cùng với huy động lực lượng, tạo ưu thế số lượng như trên, ta còn xác định đúng nhiệm vụ, mục tiêu phù hợp tính năng của từng loại pháo, hiệp đồng giữa các loại pháo nhằm phát huy đến mức cao nhất vai trò và sức mạnh hỏa lực của từng loại pháo, tạo nên sức mạnh tổng hợp.

        Lực lượng pháo cơ giới tập trung lần đầu tiên tham gia chiến dịch chiếm tỷ lệ 14% trong tổng số lực lượng pháo toàn chiến dịch, được sử dụng để chi viện chung và phối thuộc một phần cho đại đoàn bộ binh tiến công hướng chủ yếu. Mục tiêu chủ yếu của pháo cơ giới là trận địa pháo, sở chỉ huy, sân bay, kho tàng của địch. Pháo cơ giới đã phát huy sức mạnh hỏa lực có tính chất quyết định trong những trận mở đầu, trận then chốt và đặc biệt trong giai đoạn tổng công kích kết thúc thắng lợi chiến dịch. Đặc biệt pháo cơ giới còn tạo ra những đòn hỏa lực bất ngờ, đánh đau, đánh hiểm đối với địch.

        Trong thành phần pháo cơ giới có 33% số pháo bắn đạn phản lực (H.6), tuy mãi gần cuối chiến dịch mới sử dụng. Nhưng sức mạnh hỏa lực của loại pháo mới đó đã góp phần quyết định vào việc sát thương sinh lực địch, phá hủy công sự địch, làm suy sụp tinh thần quân địch rất nhanh chóng, buộc địch phải nhanh chóng đầu hàng quân ta. Nhiều tên hàng binh địch đã nói: "Chưa bao giờ chúng tôi nghe thấy tiếng rít ghê sợ, những vệt lửa đỏ lừ, những ánh chớp và tiếng nổ kinh khủng như ở Điện Biên Phủ".

        Pháo cơ giới thực sự đã góp phần làm mất chỗ dựa chủ yếu của địch trong phòng ngự, hệ thống hỏa lực pháo binh, hạn chế mặt mạnh, khoét sâu mặt yếu của chúng ở Điện Biên Phủ.

        Lực lượng pháo khiêng vác chiếm tỷ lệ 86% trong tổng số pháo tham gia chiến dịch. Có nhiều đơn vị pháo đã từng gắn bó với bộ binh qua nhiều chiến dịch tiến công thắng lợi, nên đã có nhiều kinh nghiệm chiến đấu phong phú và sáng tạo. Nhưng cũng có lực lượng mới lần đầu tiên ra trận như tiểu đoàn ĐKZ75 ly, tiểu đoàn súng cối 82 ly.

        Lực lượng pháo khiêng vác được phối thuộc cho các tiểu đoàn, trung đoàn bộ binh, là lực lượng pháo đi cùng trong suốt quá trình chiến dịch, dưới sự chỉ huy trực tiếp của người chỉ huy bộ binh để bảo đảm chi viện trực tiếp cho mọi hành động chiến đấu của bộ binh như: đột phá, bao vây, đánh lấn, đánh địch phản kích v.v...

        Sơn pháo và ĐKZ75 ly chiếm 13% trong tổng số lực lượng pháo khiêng vác toàn chiến dịch, được sử dụng để tiêu diệt và phá hoại các lô cốt, hỏa điểm khi chi viện cho bộ binh đột phá, tiêu diệt xe tăng địch khi chúng ra phản kích, phá hủy các máy bay địch đậu trên sân bay, bắn tỉa quân địch ở các mục tiêu quan trọng v.v. Trong chiến dịch, pháo bắn ngắm trực tiếp đã tiêu diệt nhiều loại mục tiêu quan trọng của địch như: máy bay đậu trên sân, trận địa pháo, sở chỉ huy, lô cốt, hỏa điểm. Thí dụ: Trận ngày 30 tháng 3, sơn pháo bắn 22 phát diệt năm lô cốt, hỏa điểm của địch, 8 giờ sáng ngày 13 tháng 3, hai máy bay Đa-cô-ta của địch vừa hạ cánh bị sơn pháo của ta bắn cháy tất cả.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2017, 08:46:49 PM

        Súng cối 120, 82, 81 ly chiếm 87% tổng số lực lượng pháo khiêng vác tham gia chiến dịch, được phối thuộc cho các tiểu đoàn, trung đoàn bộ binh tiến công trên hướng chủ yếu. Súng cối 120 ly tổ chức thành đại đội 4 khẩu, súng cối 82 ly tổ chức thành tiểu đoàn 36 khẩu. Các loại súng cối này được sử dụng tập trung để chi viện cho bộ binh. Trong giai đoạn pháo bắn chuẩn bị, lực lượng súng cối dùng hỏa lực tiêu diệt các lực lượng vòng ngoài của địch; trong chi viện xung phong lực lượng súng cối là hỏa lực đi cùng để chi viện trực tiếp cho bộ binh đánh chiếm cứ điểm của địch và chi viện phát triển chiến đấu, ngoài ra, súng cối còn được sử dụng để khống chế sân bay và chế áp pháo binh, súng cối địch. Đặc biệt, khi đánh quân địch phản kích, súng cối đã góp phần quan trọng trong tiêu diệt sinh lực địch, đánh tan các cuộc phản kích của chúng.

        Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lực lượng pháo khiêng vác đã phát huy đến mức cao nhất truyền thống "Chân đồng, vai sắt - Đánh giỏi, bắn trúng", cùng với lực lượng pháo cơ giới tạo thành sức mạnh hỏa lực góp phần làm tăng thêm sức mạnh tổng hợp của pháo binh.

        Cùng với ưu thế về số lượng và tổ chức phân chia chiến đấu một cách hợp lý nhằm phát huy đầy đủ hỏa lực của các loại pháo, ta còn khéo léo bố trí lực lượng pháo binh táo bạo, hiểm hóc và bất ngờ để làm tăng thêm sức mạnh. Cụ thể trong chiến dịch, ta đã triển khai và bố trí đội hình pháo binh như sau:

        a) Hệ thống đài quan sát mặt đất của pháo binh được tổ chức và triển khai rộng khắp gồm 23 đài quan sát, bố trí trên các điểm cao, tạo thành các dải trinh sát chồng lên nhau và bao trùm toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch. Các phương tiện, khí tài trinh sát, đo đạc, đảm bảo đo mục tiêu và sửa bắn cho pháo chính xác, kịp thời và liên tục, bám sát mọi hoạt động, diễn biến của ta và của địch, giúp cho người chỉ huy pháo binh chỉ huy bắn và xử trí kịp thời các tình huống chiến đấu.

        Ngoài ra, pháo binh còn tổ chức ra các đài quan sát tiền tiến đi theo người chỉ huy bộ binh ở các mũi, các hướng để chi viện kịp thời trong chiến đấu.

        b) Hệ thống trận địa pháo được triển khai bố trí từ Đông Bắc Hồng Cúm đến Tây Bắc cứ điểm Độc Lập, hình thành thế trận vòng tròn gần khép kín tập đoàn cứ điểm của địch. Trận địa pháo nọ cách trận địa pháo kia trên 5 ki-lô-mét, kéo dài đội hình trên 30 ki-lô-mét. Trận địa bố trí phân tán nhưng bảo đảm hỏa lực rất tập trung. Đặc biệt pháo cơ giới bảo đảm có thể tập trung hỏa lực tới 80% lực lượng cho một mục tiêu. Các loại pháo bắn ngắm trực tiếp bố trí trên các núi cao, bảo đảm cự ly và xạ giới bắn có lợi nhất. Lựu pháo 105 ly bố trí có cự ly bắn trung bình từ 3 đến 8 ki-lô-mét, sơn pháo và súng cối có cự ly bắn trung bình từ 300 đến 500 mét. Nói chung các loại pháo, súng cối bố trí bảo đảm cự ly bắn có hiệu quả nhất.

        c) Các sở chỉ huy pháo binh có đủ phương tiện khí tài bảo đảm chỉ huy bắn và hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh. Hơn 300 ki-lô-mét dây điện thoại đã bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, phục vụ cho chỉ huy và hiệp đồng kịp thời, chặt chẽ.

        Trong điều kiện địa hình rừng núi phức tạp, cơ động khó khăn mà ta tạo được thế trận pháo binh như vậy là do có quyết tâm cao, có sự chỉ đạo chặt chẽ và sự nỗ lực chủ quan vượt bậc của cán bộ và chiến sĩ pháo binh và được sự giúp đỡ tận tình của tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch.

        Qua những điều nêu trên, ta thấy nghệ thuật tạo ưu thế lực lượng pháo binh trong chiến dịch Điện Biên Phủ không đơn thuần ở số lượng mà là nghệ thuật tạo ưu thế về sức mạnh tổng hợp bao gồm: sử dụng kết hợp giữa số lượng với chất lượng chiến đấu cao; giữa pháo cơ giới và pháo khiêng vác; giữa lực lượng mạnh với thế trận táo bạo, hiểm hóc, bất ngờ; giữa yếu tố địa hình với sự nỗ lực chủ quan vượt bậc của các lực lượng tham gia chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2017, 08:50:25 PM

        2. Vận dụng cách đánh hay của pháo binh trong chiến dịch

        Trong chiến dịch tiến công, khi đã tạo được ưu thế lực lượng mạnh hơn địch tức là đã có cơ sở để giành thắng lợi. Nhưng vấn đề quyết định để giành thắng lợi là phải có cách đánh.

        Trên cơ sở phương châm chỉ đạo "đánh chắc, tiến chắc", các đơn vị pháo đã vận dụng nhiều cách đánh có hiệu quả cao, những lối đánh hiểm, đánh đau, đánh bất ngờ và đánh liên tục.

        Để bảo đảm thực hiện được cách đánh hay trong chiến dịch, ta đã tiến hành xác định đúng các đối tượng, mục tiêu và tập trung pháo, đạn cho những mục tiêu chủ yếu nhất, đặc biệt là xác định các phương pháp bắn thích hợp cho các đối tượng, mục tiêu, nhằm bảo đảm hiệu quả sát thương cao, nhưng tiết kiệm đạn.

        Nghệ thuật vận dụng đánh hiểm là tập trung hỏa lực pháo binh đánh đòn phủ đầu để tạo ra được tình huống và thời cơ có lợi cho chiến dịch. Mục tiêu của đòn đánh hiểm là sinh lực cao cấp (sở chỉ huy), hệ thống hỏa lực và trung tâm thông tin... nhằm làm rối loạn chỉ huy và mất chỗ dựa chủ yếu của địch.

        Khẩu sơn pháo 75 ly của Phùng Văn Khẩu, táo bạo đưa lên bố trí ở đồi E tạo nên thế hiểm đối với địch. Trong trận ngày 23 tháng 4 đánh quân địch phản kích lên điểm cao Mâm Sôi và C1, trong vòng mười phút, khẩu đội sơn pháo của Khẩu đã lần lượt bắn trúng bốn khẩu pháo 105mm của địch và cũng trong trận này, khẩu ĐKZ75 ly của Trần Đình Hùng đã bắn đứt xích chiếc xe tăng đi đầu, còn hai chiếc sau quay đầu bỏ chạy; chi viện cho bộ binh đánh tan cuộc phản kích của địch.

        Ở Điện Biên Phủ, ta còn sử dụng một lực lượng lớn pháo binh (bảy đại đội) phối hợp với pháo cao xạ để đánh, nhằm cắt đứt tiếp tế bằng đường không của địch. Đây cũng là đòn đánh hiểm đối với Đờ Ca-xtơ-ri. Vì Điện Biên Phủ ở xa hậu phương đối với địch, mọi nguồn tiếp tế đều dựa vào hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm hoặc là thả dù.

        Sau khi bị pháo binh ta khóa chặt hai sân bay, địch sẽ tiếp tế hàng thả dù, nhưng lại bị pháo cao xạ ta bắn rơi nhiều máy bay, buộc địch phải bay cao và thả hàng vội vã. Như vậy, bộ binh ta đã thu được của địch trên năm ngàn viên đạn pháo các loại, giúp cho pháo ta có thêm đạn để đánh địch.

        Nghệ thuật của những đòn đánh bất ngờ là vận dụng hỏa lực pháo binh trong chiến dịch rất linh hoạt và luôn thay đổi cách bắn, không theo quy luật nhất định, làm cho địch khó phán đoán được ý đồ và hành động của quân ta. Mục đích của đánh bất ngờ để nhằm gây tổn thất lớn cho địch ngay trong thời gian đầu của đòn hỏa lực.

        Trong trận đánh đồi Him Lam, sau một đợt pháo bắn chuẩn bị, bộ binh của ta kịp thời xuất kích, đến trận đánh đồi Độc Lập lại khác. Trong trận đánh đồi Độc Lập, ta sử dụng pháo 105 ly, cối 120 ly bắn dồn dập 15 phút vào các sở chỉ huy và trận địa pháo binh, súng cối của địch. Lúc 17 giờ, pháo ta ngừng bắn, lập tức địch huy động toàn bộ pháo binh bắn chặn và bắn chi viện cứ điểm Độc Lập, đồng thời chúng còn cho không quân thả pháo sáng và đánh bom để ngăn chặn ta. Lúc này bộ binh ta vẫn còn giấu quân ở phía sau. Đến 17 giờ 15 phút, ta lại tiếp tục bắn các trận địa pháo và sở chỉ huy của địch và cứ như vậy đến quá nửa đêm, địch không thấy bộ binh ta tiến công nên Đờ Ca-xtơ-ri vội hí hửng nói với cấp dưới: "Thế là lực lượng tiến công của Việt Minh đêm nay đã bị nghiền nát". Nói vậy nhưng y vẫn chưa yên tâm, khoảng 2 giờ sáng vẫn hạ lệnh cho Pi-rốt tập trung hỏa lực pháo binh bắn dồn dập một lần nữa vào tuyến hào giao thông của ta từ xung quanh căn cứ vào đến cửa rừng. Khi trời đã gần sáng, không thấy quân ta động tĩnh, địch càng tin là ta không tiến công nữa. Nhưng đến 3 giờ 30 phút sáng ngày 15 tháng 3, ta tiến hành pháo bắn chuẩn bị và bộ binh ta tiến ra chiếm lĩnh vị trí xuất phát xung phong và liên tục bộc phá hàng rào mở cửa tiến công. Trong khi đó, Đờ Ca-xtơ-ri gọi điện cho Pi-rốt và tên chỉ huy cứ điểm Độc Lập nhắc: "Đừng có mắc mưu Việt Minh mà phung phí đạn". Mãi đến khi bộ binh ta phá đến hàng rào cuối cùng, địch mới biết và khi Đờ Ca-xtơ-ri được tin đã đích thân chạy đến hầm của Pi-rốt để chỉ huy hỏa lực yểm trợ, nhưng đã muộn! Vì ngay lúc đó cả tên Méc-co-nem, chỉ huy cũ và tên Các, chỉ huy mới, chưa kịp bàn giao căn cứ cho nhau đã phải chung số phận là bị thương nặng do đạn pháo của ta bắn chui lọt vào hầm chỉ huy ở cứ điểm Độc Lập. Đến 6 giờ 30 phút, quân ta đã đánh chiếm hoàn toàn cứ điểm này. Pháo binh ta đã thu ngay ba trong bốn khẩu cối 120 ly của địch để thành lập thêm một đại đội súng cối, làm tăng thêm lực lượng pháo dự bị chiến dịch.

        Cách đánh bất ngờ của pháo binh ta làm cho Đờ Ca-xtơ-ri khó quên. Khi bị bắt làm tù binh, y đã thú nhận: "Pháo binh, bộ binh của các ông hiệp đồng giỏi và đánh không thành quy luật, lúc các ông đánh tối, khi các ông đánh về sáng, có trận pháo binh bắn xong bộ binh xung phong, có trận chưa thấy động tĩnh gì thì bộ binh các ông đã đột nhập căn cứ, làm chúng tôi không kịp trở tay".

        Khái quát các cách đánh của pháo binh ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ta thấy thể hiện rõ nghệ thuật vận dụng hỏa lực pháo binh đã đạt được: chuẩn xác, kịp thời, bất ngờ, đạt hiệu suất sát thương lớn, hoàn thành nhiệm vụ hỏa lực trong thời gian quy định, với lượng đạn sử dụng tiết kiệm nhất.

(Tạp chí Quân đội nhân dân 5-1984)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2017, 08:54:25 PM

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG THẾ TRẬN VÀ SỬ DỤNG PHÁO BINH TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

        Cách đây 50 năm, lực lượng pháo binh non trẻ của quân đội ta đã lập được thành tích vẻ vang trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp Tổng chỉ huy chiến dịch kết luận: "Pháo binh ta tuy nhỏ nhưng đã có một tác dụng lớn trong chiến dịch Điện Biên Phủ". Nhớ lại một số kỷ niệm, kinh nghiệm, câu chuyện, kỳ tích chiến đấu của bộ đội pháo binh đã từng tham gia chiến dịch, xin được nói lại đôi điều về "Nghệ thuật xây dựng thế trận và sử dụng pháo binh trong chiến dịch Điện Biên Phủ" mà chủ yếu về trung đoàn pháo xe kéo đầu tiên của quân đội ta - Trung đoàn 45, lần đầu xuất trận.

        ...Cuối năm 1953, sau khi Na-va sang Đông Dương thay Xa-lăng với mộng tưởng giành lại thế chủ động trên chiến trường, ngày 20 tháng 11 năm 1953 đã cho sáu tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Sau đó lực lượng tăng lên tới 17 tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn công binh, một đại đội xe tăng, một đại đội xe vận tải khoảng 200 chiếc, một phi đội không quân thường trực khoảng 14 phi cơ các loại với tổng quân số là 16.200 tên. Về lực lượng pháo binh, chúng gồm hai tiểu đoàn pháo 105 ly, một đại đội pháo 155 ly, một tiểu đoàn cối 120 ly, với số pháo trên chúng tập trung bố trí ở Mường Thanh và Hồng Cúm, hai căn cứ này có thể yểm trợ cho nhau và cho các cứ điểm trong tập đoàn phòng ngự tại Điện Biên Phủ. Đạn dược dự trữ tương đối lớn nhưng nguồn bổ sung duy nhất chỉ dựa vào đường hàng không với sân bay dã chiến Mường Thanh. Với lực lượng pháo đạn như vậy cùng với hỏa lực không quân, Sác-lơ Pi-rốt, tên quan năm pháo binh, phó chỉ huy tập đoàn Điện Biên Phủ đã chủ quan về sức mạnh hỏa lực pháo binh của chúng và coi thường khả năng pháo của ta.

        Thực hiện chủ trương và kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954, Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, coi Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với địch và quyết định tập trung đại bộ phận chủ lực và toàn bộ lực lượng pháo binh dự bị của ta lên Mặt trận Điện Biên.

        Tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội pháo binh có Trung đoàn 45 (2 tiểu đoàn, 24 khẩu 105 ly); Trung đoàn sơn pháo 75 gồm 6 đại đội; Tiểu đoàn súng cối 120 ly. Cuối chiến dịch có thêm hai Tiểu đoàn pháo ĐKZ75 ly và Tiểu đoàn hỏa tiễn H6 - 12 dàn (mỗi dàn 6 nòng, cỡ đạn 75 ly với tầm bắn gần 10 ki-lô-mét); các đại đoàn bộ binh còn có bốn tiểu đoàn pháo, cối, ĐKZ và các đại đội cối 82 ly của trung đoàn bộ binh, tổng cộng khoảng 240 khẩu pháo, cối, ĐKZ các loại.

        Trải qua 55 ngày đêm chiến đấu liên tục đầy gian khổ, ác liệt, Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam vừa chiến đấu vừa xây dựng trưởng thành, càng đánh càng mạnh, lập nhiều chiến công, tô đẹp truyền thống vẻ vang của pháo binh. Cũng từ chiến dịch này. pháo binh đã mở ra đỉnh cao về nghệ thuật sử dụng pháo binh trong tác chiến hiệp đồng, góp phần đánh thắng quân xâm lược Pháp. ở đây bài viết xin trình bày một số ý kiến về sử dụng pháo binh mà tôi tâm đắc nhất.

        I/ KÉO PHÁO VÀO KÉO PHÁO RA BẰNG SỨC NGƯỜI VÀ LÀM ĐƯỜNG ĐỂ XE KÉO PHÁO VÀO CHIẾM LĨNH TRẬN ĐỊA

        Điện Biên Phủ cách xa hậu phương trên 500 ki-lô-mét, chỉ có một con đường duy nhất từ Tuần Giáo đến Điện Biên Phủ dài khoảng 80 ki-lô-mét vốn là con đường nhỏ, muốn cơ động pháo xe kéo, đường phải được mở rộng. Tuy nhiên Trung ương đã dự kiến và có kế hoạch bí mật sửa đường để trung đoàn trọng pháo đầu tiên của quân đội ta có thể tham gia chiến đấu được.

        Thực hiện nhiệm vụ của trên, pháo mang vác được lệnh hành quân từ đầu tháng 12 năm 1953, còn ngày 22 tháng 12 năm 1953 Trung đoàn 45 mới hành quân từ Tuyên Quang, ngày 7 tháng 1 năm 1954 tới Tuần Giáo và đêm 13 ngày 14 tháng 1 năm 1954 tập kết chiến dịch ở ki-lô-mét 63 đường 42 Tuần Giáo - Điện Biên.

        1. Kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa chiến đấu

        Ngày 13 tháng 1 năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch triệu tập hội nghị bàn kế hoạch tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh". Để giữ bí mật việc sử dụng pháo lớn trong chiến dịch, Bộ chỉ huy quyết định dùng sức người kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa bắn. Con đường kéo pháo bắt đầu từ Nà Nham ki-lô-mét 70 vượt qua các dãy núi cao từ 500 mét đến 1.150 mét với chiều dài 15 ki-lô-mét. Kế hoạch tổ chức làm đường và kéo pháo như sau:

        - Thành lập ban chỉ huy kéo pháo do các đồng chí Lê Trọng Tấn - Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312, Phạm Ngọc Mậu - Chính ủy Đại đoàn công pháo 351, Phạm Kiệt - Cục phó Cục Bảo vệ làm Chỉ huy.

        - Lực lượng mở đường là Đại đoàn 308, Trung đoàn công binh 151 của Bộ đảm nhiệm với thời gian một ngày (15-10-1954).

        - Lực lượng kéo pháo là cán bộ chiến sĩ Đại đoàn 312 và trung đoàn sơn pháo. Bắt đầu kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa từ đêm 16 tháng 1 năm 1954 với thời gian bảy ngày, để kịp cho ngày "N: 25-1-1954".


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2017, 11:48:26 PM

        Đêm 16 tháng 1 năm 1954, một khẩu lựu pháo và một khẩu cao xạ đã được kéo thử để rút kinh nghiệm. Mỗi khẩu nặng trên 2 tấn, lực lượng kéo lúc đầu ngoài pháo thủ còn được tăng cường thêm 20 chiến sĩ bộ binh, qua đồng ruộng thì nhẹ nhàng, đến khi gặp dốc đã phải tăng thêm 10 rồi 20 có lúc gặp dốc cao thêm mỗi khẩu tới 30 người. Vất vả vật lộn cả một đêm, đến sáng mà cũng chỉ kéo được quãng đường 800 mét. Ngày thứ hai (17-1-1954), lợi dụng qua rừng kín nên kéo cả ban ngày. Qua hai ngày mà mới chỉ kéo được tám khẩu với quãng đường gần 2 ki-lô-mét. Ngày thứ ba phải rút kinh nghiệm và một loạt công việc được bổ sung như mở rộng thêm đường, hạ bớt độ dốc, thiết bị tời kéo. Hậu cần mặt trận cũng tăng thêm định lượng gạo từ 8 lạng lên 1 ki-lô-gam gạo cho một chiến sĩ. Ngày "N" cứ sát gần, trời bắt đầu có mưa, dốc càng trơn, nhiều gian khổ, nhiều gương hy sinh dũng cảm xuất hiện, đoạn đường kéo pháo rồi cũng phải rút ngắn. Bài hát "Hò kéo pháo" của nhạc sĩ Hoàng Vân ra đời: "... sắp tới rồi đồng chí pháo binh ơi, vinh quang thay những người lao động..." đã phản ánh đúng như thế.

        Càng kéo anh em càng khẩn trương, quên mệt nhọc để kịp ngày nổ súng... qua chín ngày đêm với quyết tâm cao của hàng ngàn cán bộ chiến sĩ đã vượt mọi khó khăn, lập kỳ tích đặc biệt đưa 40 khẩu pháo vào kịp chiếm lĩnh trận địa an toàn bí mật.

        2. Kéo pháo trở lại vị trí tập kết ban đầu

        Chiều 25 tháng 1 năm 1954, trên cánh đồng Nà Hi, pháo binh đang hăm hở chuẩn bị những phần việc cuối cùng cho chuẩn bị chiến đấu thì được biết giờ "G" được hoãn lại thêm 24 giờ nữa tức là vào 17 giờ ngày 26 tháng 1 năm 1954. Thời giờ là vàng ngọc để pháo binh chuẩn bị chu đáo mọi mặt, khí thế sẵn sàng lập công nhất là với trung đoàn pháo xe kéo lần đầu xuất trận lên rất cao... Thế nhưng một quyết định mới của Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch vào hồi 11 giờ ngày 26 tháng 1 năm 1954 được ban hành. Sau khi cân nhắc toàn diện địch, ta..., Bộ Chính trị và Bác Hồ đã quyết định thay đổi cách đánh, chuyển kế hoạch từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Với quyết tâm đó, Bộ chỉ huy chiến dịch hạ lệnh cho pháo binh: "... Tất cả lực lượng pháo binh kéo trở lại vị trí tập kết chiến dịch cũ trên đường 41 ngay trong đêm nay 26-1-1954". Lệnh đó đến với pháo binh đã gây xáo trộn lớn về tư tưởng, bao nhiêu mồ hôi và máu đã đổ xuống, bao nhiêu gian khổ đã vượt qua, đến giờ lập công lại phải kéo pháo ra... Các chi bộ kịp thời họp để lãnh đạo việc kéo pháo ra với quyết tâm tiêu diệt "Trần Đình" không thay đổi.

        Chập tối 26 tháng 1 năm 1954, pháo binh đồng loạt rút khỏi trận địa. Cuộc vật lộn với đèo cao, dốc thẳm lại bắt đầu lại. Kéo pháo vào đã vô cùng gian khổ, giờ kéo pháo ra lại càng gian khổ hơn. Quân địch cũng đã phát hiện thấy hoạt động của ta trên đường kéo pháo ra nên chúng liên tục cho máy bay trinh sát, oanh tạc, ban đêm pháo địch bắn cầm canh càng gây cho ta nhiều thương vong. Nhiều gương hy sinh để bảo vệ pháo xuất hiện tiêu biểu là Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Chức và Tô Vĩnh Diện. Mờ sáng mồng 5 tháng 2 năm 1954, tức là mùng 3 Tết âm lịch, khẩu pháo cuối cùng được kéo về vị trí tập kết. Hoan hô mối tình đoàn kết keo sơn giữa ba binh chủng bộ binh, công binh, pháo binh. Đây cũng là truyền thống, là sức mạnh và là cơ sở vững chắc cho quân ta chiến đấu thắng lợi trong những ngày sắp tới.

        Ngày 7 tháng 2 năm 1954 (mồng 5 Tết âm lịch), các đơn vị mới ăn Tết, một cái Tết "kéo pháo vào, kéo pháo ra đại thắng lợi". Cũng hôm đó mờ sáng dưới trời mưa phùn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng Mặt trận đã đến thăm và chúc Tết động viên bộ đội pháo binh. Đại tướng căn dặn: "... thời gian qua, các đồng chí đã làm tròn nhiệm vụ hành quân ra trận, các đồng chí đã làm tròn nhiệm vụ chuyển pháo vào trận địa, chuyển pháo đến vị trí tập kết, những nhiệm vụ đó coi như nhiệm vụ chiến đấu... để giúp xây dựng binh chủng, rèn luyện một tác phong chiến đấu để hoàn thành nhiệm vụ sắp tới, tôi dặn các đồng chí mấy điểm:

        ...

        - Thứ ba là phải hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh. Nhiệm vụ của trọng pháo và pháo cao xạ là cùng bộ binh hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt địch...

        - Thứ tư là phải ra sức học tập kỹ thuật, bắn thật trúng đích (không bắn thì thôi, nếu đã bắn thì nhất định phải trúng đích) làm cho quân địch phải khiếp sợ pháo binh ta...".

        Những lời dặn ân tình nhân ngày đầu Xuân năm ấy của Đại tướng, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam không những là chỉ thị nóng bỏng của những ngày chuẩn bị chiến dịch, mà còn nhắc cho tất cả các thế hệ nối tiếp của Binh chủng Pháo binh lấy đó làm phương hướng xây dựng và chiến đấu sau này.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2017, 11:49:26 PM

        3. Làm đường để ô tô kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa bắn

        Dựa vào phương châm "đánh chắc, tiến chắc", việc bố trí hệ thống trận địa bắn pháo binh vừa phải phát huy tầm bắn có hiệu quả vừa phải duy trì hỏa lực liên tục vững chắc trong quá trình chiến dịch, nhưng lại phải giữ được bí mật bất ngờ để chiến đấu được lâu dài, do đó hệ thống trận địa pháo tốt nhất là dựa vào rừng núi. Sau khi đã xác định xong hệ thống trận địa, ngày 10 tháng 2 năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch triển khai năm con đường để dùng xe kéo pháo:

        - Đường đi Pú Hồng Mèo dài tám ki-lô-mét.

        - Đường đi Tà Lèng dài 27 ki-lô-mét.

        - Đường đi từ Bản Xin qua đỉnh Pu Y Tao đến Bản Tấu dài 18 ki-lô-mét.

        - Đường từ Mường Phăng đến Nà Nham dài bảy ki-lô-mét.

        - Đường đi Nà Lời dài ba ki-lô-mét.

        Đây là những con đường quân sự làm gấp dựa vào các sườn núi bao quanh Điện Biên Phủ, nằm trong tầm hoạt động của pháo binh địch, do đó việc làm đường phải giữ bí mật (ngụy trang theo kiểu giàn mướp nên máy bay địch hoạt động liên tục mà vẫn không phát hiện được). Lực lượng làm đường do Đại đoàn 312, 316 và Trung đoàn sơn pháo đảm nhiệm, khí thế mở đường sôi nổi có nhiều khẩu hiệu động viên bộ đội và dân công: "Tích cực làm đường cho pháo binh là tíchc cực tranh thủ thắng lợi"; "Bảo đảm đường sá thông suốt là tích cực tranh thủ thắng lợi"; "Thêm một người làm đường là tăng thêm điều kiện để chiến thắng quân địch...".

        Ngày 4 tháng 3 năm 1954 toàn bộ hệ thống đường cơ động và công sự trận địa bắn đã hoàn thành. Theo lệnh trên, Bộ tư lệnh Đại đoàn công pháo 351 quyết định dùng đại đội 806 làm đơn vị đột phá thử nghiệm việc chiếm lĩnh trận địa bằng xe kéo pháo vào đêm 5 tháng 3 năm 1954. Tiểu đoàn cử trinh sát mang theo máy điện thoại lên sát hàng rào cứ điểm Him Lam, nếu nghe có tiếng động cơ ô tô thì lập tức báo để ngừng việc dùng xe mà chuyển sang dùng sức người. Mờ tối, toàn Đại đội 806 (bốn xe pháo) vào chiếm lĩnh, đến 23 giờ thì chiếm lĩnh xong, từ vị trí nghe tiếng động ở Him Lam vẫn không có tín hiệu báo về, thế là ổn, yếu tố bí mật bất ngờ được bảo đảm...

        Như vậy, sự kiện "kéo pháo ở Điện Biên Phủ" đã nói lên nét độc đáo trong nghệ thuật dùng pháo xe kéo của chiến dịch, cũng đã trở thành câu chuyện huyền thoại về "kéo pháo ở Điện Biên Phủ" trong nhân dân Việt Nam.

        Ngày ấy, sau chín năm kháng chiến, quân đội ta mới có một trung đoàn trọng pháo xe kéo đầu tiên. Đó là vốn rất quý. Để phát huy yếu tố bí mật bất ngờ về sử dụng loại vũ khí mới, Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đã quyết định bỏ xe, dùng sức người để kéo 40 cỗ pháo vượt qua cả một dãy núi cao, rừng rậm ròng rã chín ngày đêm vào trận địa kịp ngày nổ súng tiến công tiêu diệt quân địch dự kiến trong ba đêm, hai ngày. Nhưng khi đã thay đổi cách đánh từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" lại kiên quyết chuyển toàn bộ số pháo đó trở về vị trí tập kết ban đầu. Đây là một quyết định vô cùng sáng suốt nhằm bảo vệ gìn giữ an toàn tuyệt đối lực lượng trọng pháo nhỏ bé lần đầu ra trận. Sau đó, ta lại làm đường để dùng xe ô tô kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa nhằm phát huy tính cơ động của pháo xe kéo. Bài học này đã được bộ đội pháo binh vận dụng, phát huy trong thời gian kháng chiến đánh Mỹ xâm lược, nhiều chiến dịch ta đã dùng sức người để kéo pháo hoặc tháo rời pháo thành nhiều bộ phận để khiêng, vác chiếm lĩnh trận địa ngắm bắn trực tiếp.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2017, 11:51:36 PM
         
        II/ XÂY DỰNG THẾ TRẬN VỮNG CHẮC, BỐ TRÍ HỆ THỐNG TRẬN ĐỊA PHÂN TÁN NHƯNG HỎA LỰC TẬP TRUNG, SỬ DỤNG PHÁO BINH THEO YÊU CẦU CHIẾN DỊCH, ĐÁP ỨNG PHƯƠNG CHÂM "ĐÁNH CHẮC, TIẾN CHẮC"

        1. Xây dựng trận địa pháo kiên cố

        Để chiến đấu được liên tục cả ban ngày lẫn ban đêm, không thể làm công sự dã chiến mà cần phải có công sự vững chắc.

        Ngày 7 tháng 2 năm 1954, khi đến thăm pháo binh tại Mặt trận, Đại tướng đã chỉ thị: "... Phải kiến trúc những trận địa pháo thật kiên cố, công sự phải thật dày, chắc đủ sức chống lại bom đạn của địch. Ngoài thì giờ chiến đấu phải tranh thủ thời gian bồi đắp thêm công sự. Đắp công sự dày thêm một phân tức là tạo thêm điều kiện thuận lợi để chiến thắng quân địch. Phải tổ chức nhiều trận địa nghi binh để làm lạc hướng quân địch, phân tán và tiêu hao vũ khí đạn dược của chúng".

        Chấp hành chỉ thị ấy, Mặt trận đã tăng cường cho mỗi Tiểu đoàn pháo 105 ly một tiểu đoàn bộ binh để làm công sự. Cơ sở xây dựng trận địa là đại đội pháo, khối lượng công sự của một đại đội gồm:

        - Hầm đặt pháo cho bốn khẩu.

        - Hàm để đạn chiến đấu và đạn dự trữ.

        - Hầm cho pháo thủ nghỉ ngơi.

        - Hầm chỉ huy trận địa.

        - Hầm để nấu ăn, kho dự trữ thực phẩm, nước uống.

        - Hầm để thương binh nhẹ.

        - Hệ thống giao thông hào giữa các khẩu đội và các hầm.

        Khối lượng đào công sự cho một hầm khẩu đội trung bình từ 200 mét khối đến 300 mét khối đất đá, khung hầm pháo cần có khoảng 10-12 cột gỗ và 6-8 xà đỡ với đường kính từ 30-40 cen-ti-mét, dùng đinh sắt chữ U để liên kết giữa cột - xà - gỗ lát nóc hầm pháo. Nắp hầm pháo được đắp dày từ 3-4 mét chia làm nhiều lớp, mỗi lớp dày khoảng 30-40 cen-ti-mét, hết một lớp đất lại đến một lớp nứa hoặc tre đập dập bó lại rồi xếp cao cho đủ 30-40 cen-ti-mét, giao thông hào đào sâu 1,5-1,8 mét. Thời gian để xây dựng một trận địa cần 10-15 ngày với 200 cán bộ chiến sĩ lao động liên tục ngày đêm. Do có trận địa vững chắc nên mặc dù quân địch ra sức bắn phá oanh tạc, nhưng pháo ta vẫn kiên cường chiến đấu, hỏa lực không hề bị gián đoạn. Nghĩ lại chỉ có khí thế của chiến dịch Điện Biên Phủ mới làm nên kỳ tích đó.

       2. Bố trí trận địa

        Trận địa bắn của sáu đại đội pháo 105 ly được bố trí thành một vành cung khoảng 30 ki-lô-mét từ Đông Nam đến Tây Bắc cánh đồng Mường Thanh, mỗi trận địa cách nhau từ 4 đến 5 ki-lô-mét, chính diện một trận địa cũng khoảng từ 250-400 mét. Cụ thể được bố trí như sau:

        - Hai Đại đội 801, 802 ở dãy núi Tà Lèng.

        - Trận địa Đại đội 803 ở Bản Tấu.

        - Đại đội 804 ở Nà Lời.

        - Đại đội 806 ở cao điểm 684 Nà Lời.

        - Đại đội 805 ở Pú Hồng Mèo.

        Lúc đầu bố trí như vậy bảo đảm năm đại đội có thể tập trung bắn vào các mục tiêu ở trung tâm Mường Thanh. Sau đợt một để phát huy tầm bắn có hiệu quả nên từ ngày 17 đến 19 tháng 3 năm 1954 có một đợt di chuyển các trận địa lên phía trước sát địch:

        - Hai Đại đội 801, 802 từ Tà Lèng khu Đông di chuyển về khu vực Bản Kéo ở Tây Bắc Mường Thanh.

        - Đại đội 803 cũng di chuyển lên phía trước 2 ki-lô-mét.

        - Đại đội 804 từ Nà Lời lên khu vực Him Lam.

        - Đại đội 805 từ Pú Hồng Mèo tiến lên cách Hồng Cúm 4 ki-lô-mét và sẵn sàng sử dụng được khi cần tập trung về Mường Thanh.

        Chỉ riêng Đại đội 806 vì do có vị trí sát địch, kín đáo, phát huy hỏa lực tốt nên vẫn trụ lại cho đến ngày toàn thắng.

        Để chuẩn bị cho đợt tiến công thứ ba nhằm phát huy hỏa lực bắn thẳng, trung đoàn lựu pháo đã hạ lệnh cho mỗi tiểu đoàn sẵn sàng một trung đội gồm hai khẩu đưa lên sát trung tâm Mường Thanh từ 1,5 đến 2 ki-lô-mét để ngắm bắn trực tiếp. Các trận địa, các đại đội sơn pháo sau đợt hai cùng di chuyển lên phía trước, cụ thể là:

        - Đại đội 755 chiếm lĩnh trận địa bắn thẳng trên đồi E.

        - Đại đội 753 bố trí trên đồi D.

        - Đại đội 752 bố trí ở đồi C tranh chấp giữa ta và địch.

        - Đại đội 757 lên đồi Cháy khu Đông.

        Giữa tháng 3 năm 1954, sau khi được Mỹ tăng cường máy bay B26, chúng mở đợt tiến công đánh phá các trận địa pháo ta, dùng cả bom na-pan, có ngày dùng tới 250 lần chiếc máy bay oanh tạc và cường kích. Nhưng qua 55 ngày đêm chiến đấu, pháo binh ta vẫn bám trụ kiên cường, chi viện cho bộ binh tiến công tiêu diệt địch.

        Lúc đầu quân địch đã coi thường pháo binh ta, chúng cho rằng pháo binh ta lực lượng còn nhỏ và yếu, không có cách gì vận chuyển đến địa điểm gần chúng, mà nếu có đưa được pháo binh vào những trận địa có thể uy hiếp chúng thì chúng có khả năng tức khắc phát hiện và tiêu diệt lực lượng pháo ta.

        Nhưng trái với dự tính của chúng, do sự chuẩn bị đầy đủ của ta từ khi nổ súng tiến công đến suốt quá trình chiến dịch, pháo binh nhỏ bé của ta không những không bị tiêu diệt mà ngược lại làm cho quân địch phải khiếp sợ, tên quan năm Sác-lơ Pi-rốt đã tự sát trước tài nghệ sử dụng pháo của Bộ chỉ huy chiến dịch.

        Vấn đề tổ chức xây dựng các trận địa bắn đều có công sự kiên cố, bố trí hệ thống trận địa phân tán hiểm hóc đã tạo ra một thế trận pháo binh vững chắc, mạnh và ổn định, sử dụng pháo binh theo yêu cầu chiến dịch để pháo binh chi viện hiệu quả cho các đại đoàn bộ binh, là bí quyết sử dụng pháo binh của quân đội ta.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Hai, 2017, 08:39:33 AM

        III/ CÁCH ĐÁNH CỦA PHÁO BINH SÁNG TẠO MƯU TRÍ

        Xuất phát từ nhiệm vụ của Bộ chỉ huy chiến dịch giao cho pháo binh là:

        - Yểm trợ đắc lực cho bộ binh tiến công.

        - Kiềm chế pháo của địch.

        - Tập kích hỏa lực vào sân bay, sở chỉ huy và căn cứ hậu cần địch.

        Khác với các chiến dịch trước đó, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lần đầu tiên ta sử dụng cả pháo xe kéo, pháo mang vác, pháo hỏa tiễn để bao vây tiến công quân địch. Pháo binh đã vận dụng linh hoạt các cách đánh: đánh gần, đánh xa, đánh bất ngờ, đánh liên tục, đánh dồn dập gây cho địch nhiều tổn thất về vật chất và căng thẳng về tinh thần. Đánh khống chế sân bay triệt tiếp tế đường không là một đòn đánh hiểm đẩy quân địch vào thế ngày càng khốn quẫn. Với cách đánh linh hoạt sáng tạo, chúng ta cũng đã khai thác và phát huy mọi tính năng tác dụng của từng loại pháo, đã sớm hình thành hai lối đánh hiệp đồng và độc lập. Qua 55 ngày đêm chiến đấu, nổi lên một số cách đánh của pháo là:

        1. Tổ chức hỏa lực pháo bắn chuẩn bị chiến dịch

        Trong chiến dịch có ba đợt tiến công, mở đầu mỗi đợt ta đều tiến hành tập kích hỏa lực vào tất cả mục tiêu chủ yếu của địch nhằm tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận sinh lực, phá hủy kho tàng, trận địa pháo binh súng cối, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh ta tiến công tiêu diệt các cứ điểm... Đây thực chất là hỏa lực pháo bắn chuẩn bị chiến dịch.

        - 17 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1954, để mở đầu chiến dịch tiến công, pháo binh ta đã thực hành pháo bắn chuẩn bị kéo dài một giờ với trên 240 khẩu pháo, cối các loại. Ngay 15 phút đầu, hỏa lực pháo ta đã gây cho địch tổn thất nặng tạo điều kiện cho bộ binh thực hành xung phong tiến công đánh chiếm cụm cứ điểm Him Lam.

        - 17 giờ 20 phút ngày 30 tháng 3 năm 1954 tiến hành đợt tập kích hỏa lực lần thứ hai cùng với các mục tiêu như trên, lực lượng tham gia lần này có thêm hai đại đội pháo lớn là đại đội sơn pháo 75 ly và một đại đội cối 120 ly ta vừa mới tổ chức bằng súng  cối chiến lợi phẩm thu được. Pháo đợt này chi viện cho cả ba đại đoàn cùng một lúc tiến công tiêu diệt tám cứ điểm địch.

        - 17 giờ ngày 1 tháng 5 năm 1954, với thời gian 30 phút, ta tiến hành đợt hỏa lực pháo bắn chuẩn bị lần thứ ba chi viện cho các đơn vị tiêu diệt nhiều cứ điểm ở cả ba hướng Đông, Tây và Hồng Cúm.

        - 20 giờ 30 phút ngày 6 tháng 5 năm 1954, đợt hỏa lực pháo bắn chuẩn bị cuối cùng với 261 khẩu pháo, cối có thêm tiểu đoàn hỏa tiễn và tiểu đoàn ĐKZ75 ly. Tạo điều kiện cho quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm, trong đó có đồi A1 - một căn cứ đề kháng lợi hại của khu Đông Mường Thanh.

        Qua 55 ngày đêm, bộ đội pháo binh đã bốn lần thực hành hỏa lực pháo bắn chuẩn bị, càng đánh càng mạnh và đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        2. Pháo binh chi viện cho bộ binh tiến công tiêu diệt quân địch có công sự kiên cố

        - Trận mở đầu tiến công cứ điểm Him Lam, Đại đoàn 312 được phối thuộc hai Đại đội 804 - 806 lựu pháo; hai Đại đội 753, 752 sơn pháo; hai Đại đội cối 120 ly tiến hành hỏa lực chuẩn bị một giờ.

        - Trận tiến công cứ điểm độc lập của Đại đoàn 308 được phối thuộc một Đại đội 803 lựu pháo; hai đại đội sơn pháo; hai Đại đội cối 120 ly.

        - Trận tiêu diệt cứ điểm đồi C1 đêm 30 tháng 3 được phối thuộc một Đại đội 806 lựu pháo; một đại đội sơn pháo 75 ly; một đại đội cối 120 ly.

        - Trận tiến công cứ điểm đồi A1 đêm 6 tháng 5 năm 1954, sau khi hỏa lực chuẩn bị 30 phút, dưới quyền yểm hộ của pháo bắn thẳng, bộ binh đánh chiếm từng lô cốt, chiến hào của địch. Đến 17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân ta tiêu diệt toàn bộ quân địch, bắt sống 200 tên có cả tên chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

        Đây là chiến dịch gồm nhiều trận tiến công quân địch trong công sự vững chắc, mỗi trận đều có hỏa lực pháo bắn chuẩn bị, hỏa lực chi viện phát triển tiến công và hỏa lực chi viện đánh bại các đợt phản kích của địch.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Hai, 2017, 08:43:41 AM

        3. Pháo binh chi viện bộ binh vây lấn tiến tới tiêu diệt cứ điểm

        - Trận tiêu diệt cứ điểm 106 của Trung đoàn 36 được Đại đội sơn pháo 754 bắn tiêu diệt từng ụ súng địch để bộ binh đánh lấn bao vây cứ điểm; đêm 1 tháng 4 năm 1954 sau khi Đại đội lựu pháo 803 bắn phá cứ điểm kết hợp sơn pháo, cối, pháo bắn thẳng, chi viện bộ binh xung phong tiêu diệt đại đội địch trong 30 phút.

        - Trận tiêu diệt cứ điểm 206 cùng với cách đánh như trên vào hai đêm 20 tháng 4 và 21 tháng 4 năm 1954, Đại đội 803 lựu pháo bắn 20 viên chi viện bộ binh xung phong. Đến 1 giờ sáng ngày 23 tháng 4 năm 1954, theo kế hoạch Đại đội lựu pháo 803 lại bắn 20 viên, khi bắn đến phát thứ 13 thì có lệnh ngừng bắn vì bộ binh đã bí mật thọc sâu vào tung thâm phòng ngự địch, 45 phút sau quân ta tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm, bắt sống 113 tên địch.

        - Trận đánh chiếm cứ điểm đồi C1 lần thứ hai, quân ta chiếm nửa đồi, địch chiếm nửa đồi, qua 30 ngày đêm giằng co đến ngày 1 tháng 5 năm 1954 được Đại đội 804 trực tiếp bắn phá hoại 30 viên đạn lựu pháo cùng với sơn pháo bắn thẳng từ đồi D, ta đã nhanh chóng tiêu diệt địch, bắt sống trên 100 tù binh.

        - Cũng đêm 1 tháng 5 năm 1954, Đại đội 806 cùng pháo bắn thẳng sau nhiều ngày vây lấn đã trực tiếp chi viện cho Đại đoàn 312 cùng một lúc nhổ hai vị trí cứ điểm 505A - 505B ở phía Đông sông Nậm Rốm...

        Cách đánh này của bộ binh thường dựa vào giao thông hào bao vây lấn dũi sát giao thông hào địch trên nhiều hướng, được sơn pháo và cối 82 ly trong tay trực tiếp chi viện khi vây lấn, thời cơ đến sẽ dùng thêm lựu pháo trực tiếp bắn phá hoại. Với lối đánh này, lựu pháo thường bắn sát đội hình chiến đấu bộ binh, do đó phải chuẩn bị phần tử thật chính xác và phải bắn trong tầm bắn hiệu quả nhất và ít tản mát về đạn nhất.

        4. Pháo binh chi viện bộ binh đánh bại các trận địa phản kích lớn của địch

        - Trận phản kích của hai tiểu đoàn địch sáng 15 tháng 3 năm 1954, sau khi cứ điểm Độc Lập của chúng bị thất thủ, bộ binh ta đã dựa vào công sự, có pháo binh chi viện đã tổ chức phòng ngự chặt, nắm thời cơ địch bộc lộ ta đã tập trung toàn trung đoàn lựu pháo bắn tập trung 200 viên đạn tiêu diệt số lớn địch, chúng vội vàng tháo chạy về Mường Thanh.

        - Sáng 23 tháng 4 năm 1954,  hai tiểu đoàn địch (có 3 xe tăng yểm hộ) dựa vào các cứ điểm 208 - 309 - 204 từ nhiều hướng liên tục phản kích nhằm chiếm lại cứ điểm 206. Ta chỉ sử dụng hai đại đội lựu pháo kết hợp với sơn pháo nắm thời cơ tập kích hỏa lực bằng mỗi lần hai phát bắn gấp, cuộc chiến diễn ra từ sáng đến chiều, địch bị tiêu hao nặng, ta diệt một xe tăng, địch bỏ chạy về Mường Thanh.

        - Trận phản kích tuyệt vọng của tiểu đoàn dù và tiểu đoàn lê dương địch từ trung tâm Mường Thanh ra đồi A1 và C1 cũng bị ba đại đội lựu pháo ta cùng sơn pháo bắn tan nát đội hình. Đây là trận phản kích thứ mười và cũng là trận phản kích cuối cùng của địch ở Điện Biên Phủ.

        Qua đó có thể rút ra: Đánh phản kích phải kết hợp giữa pháo bắn thẳng và súng bộ binh. Khi đã sử dụng pháo cần sử dụng tập trung với hỏa lực mạnh, mật độ đạn lớn, thời gian ngắn sẽ nhanh chóng sát thương lớn quân địch bộc lộ ngoài công sự.

        5. Pháo binh đánh độc lập

        - Trận mở đầu của lối đánh này là Đại đội sơn pháo 757. Lúc 10 giờ sáng ngày 3 tháng 2 (tức mồng 1 Tết), hai khẩu sơn pháo đã chuẩn bị chu đáo (từ mấy ngày trước) để đánh phá sân bay Mường Thanh. Sương sớm vừa tan, được lệnh của Đại đoàn trưởng Đại đoàn 316, sau 10 phát đạn, một chiếc Mo-ran bốc cháy, hai chiếc Hen-cát gãy cánh.

        - Ngày 23 tháng 4, khẩu đội Phùng Văn Khầu bị pháo binh và xe tăng địch đánh phá vào trận địa, mặc dầu anh em pháo thủ đều bị thương, khẩu đội bạn cũng bị sập hầm, nhưng đồng khí Khầu vẫn anh dũng kiên cường một mình vừa lao đạn vừa ngắm bắn, chỉ sau 15 viên đạn pháo đã tiêu diệt cả bốn pháo địch.

        - Ngày 24 tháng 4, một khẩu đội ĐKZ75 ly trên đồi D đã dùng hai viên đạn bắn cháy một xe tăng địch...

        Từ sau đợt tiến công lần thứ hai, trong tháng 4, các loại pháo của ta cùng với các chiến sĩ bộ binh đã tích cực nắm thời cơ thực hiện đánh tỉa, dùng ít đạn mà tiêu diệt được nhiều địch.

        Tiết kiệm đạn cũng là một vấn đề nổi bật trong chiến dịch. Chiến dịch càng kéo dài, lượng tiêu thụ đạn sẽ lớn, nguồn bổ sung đạn nhất là pháo lớn đều dựa vào nguồn vận chuyển từ hậu phương; những ngày cuối tháng 4, nguồn bổ sung chỉ chờ các đoàn xe tiếp tế, đạn được sử dụng rất tiết kiệm. Bộ chỉ huy chiến dịch quy định:

        - Cục trưởng Cục Tác chiến của Bộ chỉ huy Mặt trận mới được phép sử dụng mỗi lần bắn không quá mười viên đạn pháo.

        - Đại đoàn trưởng bộ binh được phép hạ lệnh sử dụng mỗi lần bắn là ba viên đạn lựu pháo.

        Nhiều chỉ huy bộ binh cấp trung đoàn không thấy hết khó khăn của pháo binh nên có đồng chí gay gắt nói... "các đồng chí pháo binh tiếc viên đạn hay tiếc xương máu đồng đội hơn".

        Nhưng cùng trong thời gian này, do ta áp sát sân bay địch, chúng không còn tiếp tế bằng hạ cánh xuống sân bay được nữa, mọi nhu cầu phải thả dù, nhưng bị cao xạ bắn mạnh, chúng phải bay cao, nên nhiều dù rơi ra ngoài cứ điểm, trong đó có cả dù tiếp tế đạn pháo 105 ly. Phong trào thu nhặt đạn pháo để chuyển cho pháo binh được phát động rộng rãi, chỉ trong một tuần lễ, anh em bộ binh đã thu được gần 6.000 viên đạn 105 ly, riêng ở Hồng Cúm, Đại đội pháo 805 đã nhận được 1.900 viên (tương đương với năm cơ số đại đội). Ngày 25 tháng 4, đoàn xe tiếp đạn của hậu phương đã vượt bom đạn chuyển kịp số đạn pháo theo yêu cầu của chiến dịch.

        Có thể nói lực lượng pháo binh của chúng ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tác chiến mà Bộ chỉ huy chiến dịch đã giao. Thành tích và chiến công của pháo binh trong chiến dịch Điện Biên Phủ đánh dấu một bước phát triển tương đối hoàn chỉnh về nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nó đã mở ra những vấn đề lớn đầu tiên để xây dựng và biên soạn một học thuyết về nghệ thuật quân sự sử dụng Pháo binh Việt Nam. Nó cũng là cơ sở vững chắc để mãi mãi Binh chủng Pháo binh lấy đó làm phương hướng nghiên cứu chỉ đạo xây dựng và chiến đấu.

        Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội pháo binh tại chiến trường Điện Biên Phủ lịch sử vẫn sống mãi trong lòng người lính Pháo binh Việt Nam.

        (Tạp chí lịch sử quân sự 4-2004 và Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ 3-2004)


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Hai, 2017, 08:47:22 AM
         
CHIẾN SĨ PHÁO BINH LÀM CHỦ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

        Trong thắng lợi lịch sử ở Điện Biên Phủ của quân và dân ta, Binh chủng Pháo binh đã góp phần to lớn và quyết định. Những cán bộ chiến sĩ pháo binh năm ấy trong bom đạn ác liệt, bất chấp đèo cao suối sâu, đói rét gian khổ nhưng với ý chí quyết chiến, quyết thắng đã chiến đấu quên mình cho chiến thắng vĩ đại. Trong những ngày cả nước hướng về thắng lợi hào hùng của dân tộc, phóng viên Tạp chí Khoa học và Phát triển đã đến thăm và trò chuyện với Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên - nguyên Tư lệnh Pháo binh, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 45 trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

        Ngôi nhà nhỏ nằm khiêm tốn dưới rặng cây. Tôi gặp khi ông đang chơi đùa với đứa cháu nội tinh nghịch và hiếu động. Khung cảnh thật ấm cúng, yên ả. Đã ngoài 70 nhưng ông vẫn rất nhanh nhẹn và khỏe mạnh, đặc biệt đôi mắt sáng tinh anh, hiền hậu, nếu không được giới thiệu trước có lẽ tôi nghĩ đó là vị giáo sư già chứ không phải là người lính đã từng xông pha trận mạc trên hầu khắp các chiến trường. Khi tôi hỏi ông về chiến dịch Điện Biên Phủ, ông đã kể cho tôi nghe bằng chất giọng ấm áp, chân thành và cảm động:

        Ngày 14 tháng 1 năm 1954, tôi tham gia hội nghị phổ biến kế hoạch tác chiến. Vấn đề đặt ra trước mắt là phải giữ được yếu tố bất ngờ để mở đường kéo pháo 105 ly và cao xạ 37 ly vào chiếm lĩnh trận địa phía Bắc Điện Biên Phủ. Trong điều kiện địch đánh phá ác liệt mà cả Đại đoàn 308 đã mở xong tuyến đường dài 15 ki-lô-mét, rộng 3 mét qua nhiều dốc núi để kéo pháo chỉ trong ngày 15 tháng 1. Cả Đại đoàn 312 cùng trung đoàn công binh dùng sức người kéo mấy chục cỗ pháo lớn nặng trên 2 tấn vượt qua bao đèo cao, suối sâu, suốt 10 ngày đêm. Đây là một kỳ tích lần đầu tiên chúng ta đưa pháo lớn vào trận đánh, nhưng theo quyết tâm chiến dịch thay đổi từ "đánh nhanh giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc", chúng ta đã làm đường to cho xe ô tô kéo pháo vào chiếm lĩnh cả bốn phía căn cứ tập đoàn quân địch ở Điện Biên Phủ phát huy đầy đủ tính cơ động, tính bí mật, tính mãnh liệt của trung đoàn trọng pháo đầu tiên của quân đội và cũng nhờ có đường xe mà pháo 105 ly, pháo cao xạ 37 ly chỉ trong ba đêm đã chiếm lĩnh trận địa an toàn, bí mật. Các công sự trận địa của pháo 105 ly phải thật kiên cố, hầm pháo đạn phải có nắp dày 2 mét chống được đạn pháo 155 ly của địch. Chính vì vậy mà Trung đoàn pháo 105 ly trong suốt 55 ngày đêm chiến đấu đã an toàn tuyệt đối, liên tục dùng hỏa lực của mình chi viện cho bộ binh chiến đấu. Sơn pháo, ĐKZ75 ly, cối 82 ly đã khôn khéo len lỏi vào sát địch mà đánh, bám trụ liên tục khống chế sân bay Mường Thanh, và chiếm giữ các độ cao có lợi thế ngắm bắn thẳng quân giặc ở tầm bắn lý tưởng nhất. Cuối chiến dịch, sự xuất hiện của "Ca-chiu-sa Việt Minh" càng làm cho địch hoang mang tan rã. Các trận đánh hay của pháo binh là sự phối hợp tuyệt vời giữa các loại pháo lớn nhỏ, trọng pháo 105 ly đánh vào đội hình bộ binh địch, sơn pháo trên đồi E diệt bốn khẩu 105 ly của địch, khẩu đội ĐKZ75 lycủa đồng chí Trần Đình Hùng diệt xe tăng địch ngay từ viên đạn đầu tiên, rồi trận phản kích vào sáng 7 tháng 5 có xe tăng lên cứ điểm đồi A1 cũng bị hỏa lực toàn Trung đoàn pháo 45 đánh tan nát. Và 20 giờ đêm 6 tháng 5 với tiếng nổ của khối bộc phá 1 tấn trong lòng cứ điểm cuối cùng đồi A1, quân ta ồ ạt đánh chiếm nốt các cứ điểm, sở chỉ huy bắt hàng ngàn tù binh và 17 giờ 55 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954, cờ Quyết chiến - Quyết thắng do Đại đoàn 312 tiến công đã cắm trên nóc hầm sở chỉ huy tướng Đờ Ca-xtơ-ri.

        Đây là chiến dịch đầu tiên của quân đội ta có sử dụng pháo 105 ly, vũ khí có kỹ thuật hiện đại để đánh địch. Từ loại pháo khiêng vác, lần đầu tiên có pháo xe kéo với tầm bắn dài 12 ki-lô-mét, uy lực đạn lớn và phải có tính toán khoa học để viên đạn có thể bắn trúng ở tầm xa, khắc phục được điều kiện thời tiết để viên đạn bắn trúng mục tiêu (đạn bay theo hướng cầu vồng và mỗi viên nặng 20 ki-lô-gam).

        Điều đáng lưu ý là trung đoàn pháo binh có tới 70% là những người mù chữ và trong thời gian 17 tháng đã tích cực học tập để có thể tiếp thu khoa học kỹ thuật, sử dụng tốt vũ khí hiện đại từ loại pháo bắn thẳng chuyển sang bắn đạn theo hướng cầu vồng. Phải quan sát chính xác, dùng phương tiện hiện đại qua hai đài quan sát để tìm đúng mục tiêu. Theo đài quan sát, xác định vị trí và tính tọa độ, phương hướng và thông tin bằng vô tuyến điện để truyền khẩu lệnh. Yếu tố chính xác đặt lên hàng đầu. Những người đã biết hướng dẫn cho những người chưa biết để tính toán và ngắm xoay theo góc để có thể bắn trúng mục tiêu.

        Pháo binh là một trong những binh chủng ra đời sớm và phát triển theo sự trưởng thành của quân đội và ngày càng hiện đại. Là Binh chủng chiến đấu bằng trí tuệ, hiệp đồng cao, mau lẹ và hết sức khoa học, Pháo binh là Binh chủng anh hùng, hỏa lực của lục quân và Bác Hồ đã tặng cho Binh chủng Pháo binh tám chữ: "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng".

        Thắng lợi Điện Biên Phủ là sự chỉ đạo tài tình và nghệ thuật vận dụng tư tưởng chiến lược tiến công, nghệ thuật tổ chức và phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Nét nổi bật là tiến công hiệp đồng binh chủng tạo nên ưu thế tuyệt đối cả về binh lực lẫn hỏa lực cho từng trận đánh.

        Điện Biên Phủ còn là nghệ thuật sử dụng pháo binh khá độc đáo lần đầu tiên với sự xuất hiện trọng pháo, pháo cao xạ. Tuy số pháo đạn không nhiều nhưng chúng ta đã khéo vận dụng với phương pháp bố trí pháo, kết hợp bố trí trận địa kiên cố của pháo xe kéo với cơ động luồn lách bám trụ đi cùng của sơn pháo, ĐKZ75 ly và cối 82 ly tạo nên sức mạnh hỏa lực trong hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh và pháo binh. Điện Biên Phủ qua hiệu quả chiến đấu của pháo binh đã đánh dấu bước ngoặt về vị trí, vai trò của hỏa lực pháo binh trong tác chiến hiệp đồng và xuất hiện lối đánh độc lập để tiêu diệt từng đơn vị địch phản kích, từng khẩu pháo, xe tăng, máy bay địch. Nếu tôi không nói quả là thiếu sót, Điện Biên Phủ còn thể hiện rõ tinh thần quyết chiến quyết thắng của pháo binh ta trong suốt 55 ngày đêm chiến đấu ác liệt, phải cộng cả 80 ngày đêm chịu đựng gian khổ hy sinh để hoàn thành mọi công việc chuẩn bị chiến đấu và chiếm lĩnh trận địa an toàn bí mật. Tinh thần đoàn kết hiệp đồng thể hiện một cách đầy đủ và tuyệt vời, bộ binh không tiếc mồ hôi xương máu tạo điều kiện thuận lợi nhất cho pháo binh phát huy hỏa lực, công binh và anh chị em dân công mở đường cho pháo đi, vận chuyển đạn cho pháo bắn, tất cả đã tạo nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Diệp Hà ghi                             
(Tạp chí Khoa học và phát triển số 14-1999)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Hai, 2017, 09:58:30 PM

KHÔNG NGỪNG PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG CỦA PHÁO BINH ĐIỆN BIÊN PHỦ

        Năm 1954, bộ đội pháo binh đã góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ. Sau chiến thắng, Bộ chỉ huy Mặt trận đã đánh giá cao vai trò của pháo binh ta trong chiến dịch: "Một trong những yếu tố thắng lợi là ta có lực lượng pháo binh mạnh với trang bị tương đối hoàn chỉnh, phát huy được hiệu quả cao nhất của sức mạnh hỏa lực, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ...".

        Với đội ngũ pháo binh mang vác thiện chiến và đội ngũ pháo binh cơ giới (Trung đoàn lựu pháo 105 ly) lần đầu xuất trận, nhiệm vụ của pháo binh trong chiến dịch là: Hiệp đồng cùng bộ binh, công binh, cao xạ và lực lượng chiến đấu khác phá hủy công sự, tiêu diệt sinh lực địch, bảo đảm cho bộ binh đột phá thành công từng cụm từng cụm cứ điểm, bóc đi từng lớp "vỏ cứng" của tập đoàn cứ điểm, tiến đến tổng công kích giành thắng lợi hoàn toàn.

        Quá trình tác chiến chi viện cho bộ binh đột phá là quá trình thường xuyên dùng hỏa lực hiệp đồng đánh công kiên, đánh vây lấn, đánh quân địch phản kích; đồng thời thường xuyên chế áp, tiêu diệt pháo địch, khống chế sân bay; bắn phá sở chỉ huy, kho tàng của tập đoàn cứ điểm...

        Quán triệt sâu sắc phương châm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến: "Tích cực, chủ động, cơ động linh hoạt"; "Đánh chắc, tiến chắc", bộ đội pháo binh đã bí mật, bất ngờ, cơ động giỏi, tập trung lực lượng cao, vượt qua mọi khó khăn, thử thách xây dựng thế trận mạnh và hiểm hóc, đánh địch liên tục, càng đánh càng áp đảo địch.

        Cách trung tâm Mường Thanh từ 3 đến 8 ki-lô-mét là vành đai sáu trận địa của sáu đại đội lựu pháo được khoét vào núi, phân tán trên một vòng cung 30 ki-lô-mét, ôm gọn lấy lòng chảo từ Đông qua Bắc đến Tây Bắc tập đoàn cứ điểm; 23 đài quan sát pháo binh các cấp được triển khai trên các điểm cao bao quanh Điện Biên Phủ, trong các đường hào tiền duyên, có thể phát hiện mọi hoạt động của địch, gọi bắn kịp thời cả ngày lẫn đêm.

        Vành đai sát địch, cách sở chỉ huy Đờ Ca-xtơ-ri từ 300 đến 3.000 mét là hệ thống trận địa sơn pháo 75, súng cối 120 ly của ta. Còn ĐKZ, súng cối nhẹ (60 - 81 - 82 ly) thì chiếm lĩnh, bám trụ cùng xung kích ngay trong đường hào tiến công, trong trận địa vây lấn sát gần, mặt đối mặt với quân thù.

        Thế bố trí hỏa lực nhiều tầng, nhiều lớp với mọi tầm cỡ và nhiều chủng loại như thế đã tạo thành lưới lửa, kịp thời chi viện cho bộ binh và hỗ trợ đắc lực cho nhau, khiến địch không sao đối phó nổi.

        Tích cực, chủ động hiệp đồng lập công tập thể là sức mạnh, là bài học truyền thống tiêu biểu của bộ đội pháo binh.

        Điện Biên Phủ là chiến dịch hiệp đồng quy mô lớn, đánh tập trung của bốn đại đoàn bộ binh chủ lực và Đại đoàn công - pháo 351. Pháo binh cơ giới lần đầu xuất trận đã đến được các chiến trường an toàn, bí mật, đúng thời gian, pháo được kéo bằng sức người qua những triền núi cao và được bố trí trong những căm hầm khá kiên cố, trước hết là nhờ có sự chi viện tích cực bằng trí tuệ, mồ hôi, công sức và cả máu nữa của các đại đoàn, các binh chủng bạn, của nhân dân ở ngay tiền tuyến và cả hậu phương.

        Điện Biên Phủ là trận đánh công kiên lớn nhất từ trước đến lúc bấy giờ của quân đội ta. Phương thức tác chiến của ta là trận địa vây lấn tiến công. Bộ binh ta đánh đến đâu phải làm chủ giữ vững trận địa đến đấy, đồng thời liên tục vây lấn, bắn tỉa, đào hào vây, chia cắt, thọc đường hào tiến công vào các cứ điểm cắt ngang sân bay và chia cắt các phân khu của chúng. Đối lại phương thức ấy, địch đã liên tiếp phản kích, giành giật quyết liệt với ta từng cứ điểm, từng mét hào. Hỏa lực pháo binh đặc biệt là hỏa lực lựu pháo chẳng những đã chi viện đắc lực cho bộ binh liên tiếp đột phá thắng lợi các trung tâm đề kháng địch mà còn tích cực chi viện cho bộ binh giữ vững trận địa, đập tan mọi trận phản kích bằng bộ binh và xe tăng của chúng.

        Các chiến sĩ lựu pháo, pháo cao xạ trẻ tuổi lần đầu ra quân đã bố trí bên nhau, bảo vệ đội hình chiến đấu cho nhau, cùng tích cực chi viện cho bộ binh đột phá tiến công, cùng đánh phá sân bay, cắt đứt đường tiếp tế, tiếp viện bằng đường không của địch. Hầu hết số máy bay thường trực trên hai đường bằng Mường Thanh, Hồng Cúm đã bị lựu pháo, sơn pháo, súng cối ta hủy diệt. Đêm 28 tháng 3 năm 1954, sân bay địch coi như bị mất hiệu lực. Từ đó, địch chỉ còn tiếp tế, tiếp viện bằng thả dù, song rất hạn chế vì tập đoàn cứ điểm đang bị thu hẹp bởi vòng vây quân ta ngày càng siết chặt. Hơn 50% lương thực, thực phẩm vũ khí, đạn dược của địch đã thả lạc sang trận địa ta. Pháo binh ta đã thu được 5.500 viên đạn lựu pháo 105 ly, đạn súng cối 120 ly, cùng rất nhiều đạn súng cối 81 ly do địch thả dù.

        Chân đồng, vai sắt, cơ động giỏi là truyền thống tiêu biểu và là bài học lớn thứ hai của bộ đội pháo binh trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Hai, 2017, 09:59:01 PM

        Đầu năm 1953, Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 351: "Khiêng pháo đi xa, đặt gần, bắn thẳng; bắn 100 phát trúng cả 100 thì đồn nào mà không hạ được". Làm theo chỉ thị của Người, đội ngũ pháo binh mang vác, với đôi chân đồng đôi vai sắt, đã cùng xung kích đi khắp các chiến trường đánh địch.

        Đáng chú ý là cuộc hành quân của hai trung đoàn pháo binh cơ giới (Trung đoàn lựu pháo 105 ly, trung đoàn pháo cao xạ 37 ly), đã giữ được bí mật tuyệt đối.

        Hai đoàn xe pháo cơ giới của ta đã vượt qua 500 ki-lô-mét đường độc đạo rừng núi, với bao đèo cao, vực thẳm như Lũng Lô, Tạ Khoa, Cò Nòi, Pha Đin... tập kết an toàn, đầy đủ, đúng thời gian quy định. Đến khi pháo ta nổ súng, kẻ thù vẫn không thể hình dung nổi làm sao ta lại có thể đưa được những khẩu pháo lớn lên núi rừng Điện Biên.

        Lấy sức người thay cơ giới là truyền thống "chân đồng vai sắt - cơ động giỏi" của các chiến sĩ sơn pháo được phát huy lên trong một điều kiện mới, yêu cầu mới. Khi Đại đoàn 308 có lệnh thần tốc, bất ngờ vượt biên giới, cùng bộ đội Pa-thét Lào đánh địch như vũ bão dọc theo tuyến sông Nậm Hu, tới tận Mường Lại và sát Luông Pha-băng, chiến sĩ pháo binh mang vác của các đại đội 765, 112, 113 đã theo tiếng gọi hiệp đồng "có lệnh là đi, có địch cùng đánh". Khi lên đường, các chiến sĩ pháo binh chỉ có một ngày gạo mang theo. Có đơn vị đã vừa nặng nề khiêng, vác pháo đạn, chỉ có nõn chuối, củ rừng thay cơm mà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        Không ngừng rèn luyện học tập nắm vững bản lĩnh chỉ huy thuần thục, tinh thông chiến thuật, kỹ thuật làm chủ mọi trang bị để luôn luôn đánh giỏi, bắn trúng, phát huy cao nhất sức mạnh hỏa lực là bài học truyền thống thứ ba của pháo binh trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

        Trước và trong chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ pháo binh đã phải nỗ lực nhiều mặt, không ngại khó, ngại khổ, ngại hy sinh, trên dưới một lòng tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu khá công phu để chuẩn bị thật chu đáo từ đội hình bố trí theo yêu cầu đánh lâu dài, đánh chắc thắng, bắn chắc trúng, đến công tác đo đạc bảo đảm độ chính xác cao, bảo đảm thông tin chỉ huy thông suốt, và các mặt bảo đảm khác như xe, pháo đạn. Đại đội sơn pháo 757 đã nổ súng kiềm chế, bắn phá sân bay địch từ trước ngày mở màn chiến dịch hàng tháng. Các chiến sĩ đã kiên cường hứng chịu bom, đạn của địch, đã mưu trí biết kết hợp chặt chẽ với trận địa nghi binh, nổ súng đúng thời cơ, đã bắn là trúng, ngày nào cũng lập công. Có ngày, khẩu đội đồng chí Đạt bắn một phát diệt luôn hai máy bay địch. Có hôm, một máy bay vận tải vừa hạ cánh liền bị ba viên đạn sơn pháo bắn trúng. Địch vội cho một xe tải chạy tới định kéo máy bay chạy trốn, liền bị bắn bồi cho một phát. Cả máy bay và ô tô bốc cháy, loạt đạn, lựu pháo 105 ly đầu tiên nổ tập trung cả 18 viên vào đúng trên đồi chỉ huy của trung tâm đề kháng Him Lam góp phần mở màn giòn giã cho trận đánh.

        Nhiều trận đánh quân phản kích địch, các chiến sĩ lựu pháo, sơn pháo, súng cối đã bắn tập trung, đánh kịp thời rất chính xác, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực tinh nhuệ của tập đoàn cứ điểm. Trong trận chi viện cho Trung đoàn bộ binh 98 chiếm giữ cứ điểm C1, Đại đội lựu pháo 804 đã đưa đường đạn vào trúng đội hình phản kích địch khi chúng chỉ cách xung kích ta có 100 mét.

        Đánh gần, đánh giỏi, bắn trúng là mục tiêu phấn đấu rèn luyện thường xuyên của bộ đội pháo binh. Truyền thống quý báu đó ngày càng được bồi dưỡng và đã phát huy cao trong đánh Mỹ.

        Đánh giỏi, bắn trúng bao giờ cũng đi đôi với truyền thống sử dụng tiết kiệm đạn, không bắn ẩu, không bắn khi không quan sát thấy mục tiêu, đã nổ súng là phải có hiệu quả, có hiệu suất chiến đấu cụ thể.

        Trong trận đánh lịch sử Điện Biên hầu như pháo ta bắn không có loạt đạn nào lãng phí, không có mục tiêu nào pháo ta bắn mà không có quan sát sửa bắn kể cả ban ngày lẫn ban đêm.

        Việc giữ gìn, sử dụng bền lâu vũ khí, khí tài, xe cộ trang bị, biết tiết kiệm từng viên đạn đã trở thành một trong những truyền thống vô cùng quý báu của bộ đội pháo binh ta.

        Ôn lại truyền thống quý báu của bộ đội pháo binh trong chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, đội ngũ pháo binh ta hôm nay càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình phải giữ gìn, phát huy cao những bài học truyền thống trong giai đoạn mới của cách mạng. Trong mọi cương vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ pháo binh nguyện xứng đáng với thế hệ Điện Biên anh hùng, quyết phấn đấu cho Binh chủng tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên giao, góp phần tích cực nhất của mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

        Cán bộ, chiến sĩ pháo binh hiện nay đang sống và chiến đấu như thế hệ cha anh ở Điện Biên Phủ, quyết xứng đáng là những chiến sĩ của Binh chủng Pháo binh anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

(Báo Quân đội nhân dân số 8260 ngày 01-6-1984)       
Pháo binh chống đế quốc Mỹ xâm lược                 


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Hai, 2017, 10:03:48 PM

ĐƯA TRỌNG PHÁO VÀO MẶT TRẬN ĐƯỜNG 9 - KHE SANH XUÂN 1968

        Cách đây gần 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 đã giáng một đòn vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào đàm phán với ta.

        Cùng tham gia đòn tiến công và nổi dậy ấy của quân dân miền Nam, bộ đội pháo binh cũng đã lần đầu trong lịch sử chiến đấu của mình bất ngờ và táo bạo đưa một lực lượng pháo đông đảo với nhiều loại pháo hiện đại để sử dụng đánh vào một chiến trường mà quân đội xâm lược Mỹ đã tập trung xây dựng thành tuyến phòng thủ kiên cố với số quân chiếm đóng đông nhất và hỏa lực pháo mạnh nhất theo dọc Đường 9 - Khe Sanh đến biên giới Lào.

        Trên cơ sở nắm bắt ý đồ chiến lược của Bộ và sự hướng dẫn Kế hoạch của Cục Tác chiến, từ tháng 8 năm 1967 Bộ Tư lệnh Pháo binh đã cử một đoàn cán bộ tham mưu tác chiến mang theo toàn bộ Trung đoàn trinh sát pháo binh 97 vào chiến trường Đường 9 - Khe Sanh với nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường cho một lực lượng pháo lớn gồm năm trung đoàn và một tiểu đoàn pháo hỏa tiễn (trong đó có ba trung đoàn pháo dự bị của Bộ 45 - 675 - 204 và Tiểu đoàn 16 hỏa tiễn) để tham gia tác chiến chi viện cho ba sư đoàn bộ binh 304, 320, 325 và Trung đoàn độc lập 270 với nhiệm vụ tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, thu hút, giam chân càng nhiều đơn vị với thời gian càng dài càng tốt để tạo điều kiện cho toàn bộ lực lượng vũ trang và nhân dân miền Nam thực hiện một ý đồ chiến lược quan trọng tuyệt mật.

        Đây là lần đầu ta sử dụng một số lượng đơn vị pháo lớn gồm nhiều loại trọng pháo (130, 152, Đ74, 100, 105, 85 và ĐKB) bố trí sát sông Bến Hải và cả phía Nam vĩ tuyến 17. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đưa được khối lượng xe pháo gần 200 khẩu chiếm lĩnh trận địa bí mật an toàn rồi bất ngờ nổ súng theo thời gian quy định. Yếu tố "bí mật bất ngờ" trong sử dụng pháo được đưa lên hàng đầu vì ở đây kể từ năm 1965, khi quân Mỹ đưa quân vào xâm lược miền Nam, chúng đã áp dụng mọi biện pháp hiện đại như hàng rào điện tử, thả máy trinh sát tiếng động cơ xe, đặt hệ thống trạm rađa phát hiện pháo ta cùng với hàng ngày tung các lực lượng thám báo nhằm theo dõi mọi hành động của bộ đội pháo, nhưng chúng ta cũng đã có kinh nghiệm giữ bí mật bất ngờ trong lần đầu sử dụng trọng pháo ở chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Lần này, quân xâm lược Mỹ vẫn cứ bị bất ngờ về nghệ thuật giữ bí mật của pháo binh ta, vì chúng có ngờ đâu trong thế trận chiến tranh nhân dân phát triển mạnh ở vùng địch tạm chiếm Quảng Trị, các buồng nhà dân là kho chứa đạn pháo lớn, ngoài sân vườn nhà dân là trận địa bắn pháo, những chiếc áo màu, chiếc đòn gánh của các cô gái cắt cỏ, làm đồng quanh các căn cứ quân sự của Mỹ lại là ký hiệu, vật chuẩn để chiến sĩ pháo binh đo đạc xác định phần tử bắn. Quân Mỹ cũng không ngờ cả một trung đoàn trọng pháo do xe xích kéo pháo Đ74 bắn xa 24 ki-lô-mét đã được bí mật xây dựng trong vùng rừng núi tỉnh Hòa Bình rồi bất ngờ hành quân bôn tập liên tục 47 ngày đêm dọc theo đường Trường Sơn qua ngầm Tà Lê, cua chữ A, đèo Phu La Nhích và an toàn chiếm lĩnh trận địa ở Nam vĩ tuyến 17 ngay trong vùng đường 9 sẵn sàng nổ súng vào cụm cứ điểm Tà Cơn - Khe Sanh; còn ở phía Bắc sông Bến Hải theo sự điều hành chỉ huy của cơ quan pháo Mặt trận, từng đại đội pháo 130, 152, 100, 105, 85 lần lượt bí mật chiếm lĩnh theo các đường cơ động được ngụy trang kín đáo. Để bảo đảm tuyệt đối giữ bí mật trong việc chuẩn bị chiến trường, mọi công tác chuẩn bị cho năm trung đoàn pháo từ việc xác định đội hình chiến đấu đến tính toán các phần tử bắn cho từng mục tiêu đều do đoàn cán bộ chiến sĩ đi chuẩn bị chiến trường của Bộ Tư lệnh pháo và cơ quan pháo Quân khu 4 đảm nhiệm tiến hành ròng rã trong bốn tháng và chỉ được lệnh bàn giao cho người chỉ huy trung đoàn pháo khi Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh chính thức giao nhiệm vụ tác chiến cho các Sư đoàn trưởng bộ binh.

        Với khối lượng công tác chuẩn bị chiến đấu lớn trên một chính diện mặt trận gần 70 ki-lô-mét, cán bộ chiến sĩ pháo đã khắc phục muôn vàn khó khăn, chịu đựng gian khổ và đã giữ được bí mật tuyệt đối, đưa toàn bộ 200 khẩu đại pháo của năm trung đoàn pháo vào trận địa bắn an toàn, trong đó có ba trung đoàn 45 - 675 - 84 đều bố trí trận địa ở Nam vĩ tuyến 17.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Hai, 2017, 12:40:00 AM

        Theo ý định của Bộ, Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh sẽ nổ súng sớm để thu hút địch. Theo lệnh của Tư lệnh Mặt trận Trần Quý Hai, tất cả 200 khẩu pháo lớn và hàng trăm khẩu cối, đã bất ngờ dội bão lửa vào các căn cứ sân bay, kho tàng, sở chỉ huy Mỹ ở Tà Cơn, các căn cứ hỏa lực Mỹ ở điểm cao 24, Quán Ngang, Đông Hà, Dốc Miếu và hầu hết các cứ điểm Mỹ - ngụy từ Cửa Việt đến Huổi San, Lao Bảo. Đạn trúng mục tiêu gây cho địch thương vong lớn, phá hủy nhiều máy bay, cụm pháo, làm nổ nhiều kho ở cụm cứ điểm Tà Cơn. Hoảng hốt trước đòn tiến công của ta, tướng Oét-mo-len đã phải thân chinh ra đường 9 trinh sát và ra lệnh dùng mọi ưu tiên để chống đỡ với cuộc tiến công của ta. Từ nước Mỹ, Giôn-xơn cũng phải tuyên bố: "...Chúng ta đang ở đêm trước một cuộc tiến công lớn vào Khe Sanh, tôi không muốn có một Điện Biên Phủ ở Khe Sanh...", tất cả mọi chú ý của kẻ địch đều dồn cả về Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh thì một bất ngờ lớn hơn trong lịch sử chiến tranh cách mạng ở nước ta, vào đêm 31 tháng 1 năm 1968 (Tết Mậu Thân) cùng với quân dân toàn miền Nam, Pháo binh Việt Nam đã tiến hành thắng lợi một cuộc tập kích hỏa lực mang tính chiến lược đều khắp vào hầu hết các mục tiêu chủ yếu trên khắp chiến trường miền Nam - mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân 1968 và đã gây cho địch bị động lúng túng và thiệt hại rất lớn về phương tiện chiến tranh, đồng thời tạo khí thế cho các lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân ta nổi dậy, làm chủ. Còn ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh dưới bom đạn ác liệt, pháo xe kéo vẫn kiên cường bám trụ liên tục bắn phá cụm cứ điểm Tà Cơn suốt trong 170 ngày đêm làm chúng không chịu đựng nổi, đến tháng 7 năm 1968, giặc Mỹ đã phải nhục nhã rút chạy khỏi Tà Cơn - Khe Sanh. Một vùng giải phóng rộng lớn phía Tây Đường 9 -Quảng Trị đã được giải phóng tạo thế cho quân dân ta mở những chiến dịch tiến công lớn hơn sau này.

        Với chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh đã mở ra một khả năng ta có thể dùng nhiều đơn vị pháo lớn cùng bộ binh tiến công vây hãm cụm cứ điểm phòng ngự kiên cố của Mỹ - ngụy dài ngày dưới điều kiện phi pháo hết sức ác liệt của chúng.

        Cũng từ chiến thắng Khe Sanh với việc vận dụng yếu tố bí mật - bất ngờ và táo bạo trong sử dụng pháo binh là tiền đề để chúng ta sử dụng rộng rãi pháo xe kéo kể cả trọng pháo ở chiến trường miền Nam.

        Tạo bí mật bất ngờ là một nghệ thuật sử dụng pháo, cũng là biểu hiện trình độ và tài nghệ của người chỉ huy và cơ quan tham mưu pháo các cấp đã có nhiều mưu kế luôn sáng tạo ra cái bất ngờ mà kẻ địch tưởng ta không thể làm được; chính cái mà ta đã làm được đó mới đem lại hiệu quả chiến đấu cao nhất trong nghệ thuật sử dụng Pháo binh Việt Nam.

        Nguyễn Trung Kiên - Nguyên  Chủ nhiệm Pháo binh Đường 9 - Khe Sanh
       (Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng báo Quân đội nhân dân tháng 5-2006)



Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Hai, 2017, 12:43:38 AM

PHÁO BINH MẶT TRẬN ĐƯỜNG 9 - KHE SANH TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968

        Trước khi nói về pháo binh Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, xin được tóm tắt về lai lịch của hai loại pháo hỏa tiễn mang vác được dùng chủ yếu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của các lực lượng pháo binh miền Nam là: pháo hỏa tiễn A12 và pháo ĐKB.

        Về pháo hỏa tiễn mang vác A12:

        Năm 1965, khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, lúc đó tôi là Trưởng phòng Tác chiến Bộ Tư lệnh Pháo binh, được đi theo đồng chí Nguyễn Thế Lâm - Tư lệnh Pháo binh, tới "Nhà rồng" gặp đồng chí Trần Văn Trà, Tổng Tham mưu phó, thay mặt Bộ giao nhiệm vụ tác chiến, đại ý như sau:

        "... Mỹ đã nhảy vào miền Nam với số quân rất lớn; vũ khí trang bị, máy bay, bom đạn, xe cộ tràn ngập và xếp ngổn ngang tại các cảng, sân bay, các căn cứ quân sự, doanh trại dã ngoại. Ta có cách gì đưa được đạn, pháo lớn có uy lực sát thương mạnh, chỉ vài quả đạn mà bắn vào các mục tiêu ấy thì ăn to! Không những chúng bị trừng trị, bị tổn thất nhiều về sinh lực, phương tiện chiến tranh mà còn bị suy sụp mạnh về tinh thần. Các đồng chí về khẩn trương nghiên cứu rồi báo cáo Bộ".

        Trên xe trở về cơ quan, hai chúng tôi đều suy nghĩ: bây giờ ta chưa có điều kiện đưa pháo xe kéo vào đánh, nếu chỉ dùng cối 82 ly hoặc ĐKZ thì tầm bắn hạn chế, quân Mỹ tăng cường phòng thủ, khó tiếp cận, uy lực đạn lại nhỏ thì hiệu quả sẽ không cao. Thế rồi, chúng tôi chợt nghĩ đến một loại pháo hỏa tiễn mà Liên Xô mới viện trợ, tức là pháo hỏa tiễn BM-14. Đây là một loại pháo đặt trên xe ô tô, mỗi xe có một dàn 17 ống phóng, cỡ đạn 140 ly, tầm bắn xa 8 ki-lô-mét, trong vài giây đồng hồ lần lượt 17 quả đạn bay ra khỏi ống phóng, lao tới mục tiêu; mỗi xe lại có một ống phóng dự bị, có thể tách ra bắn từng viên đạn với từng ống phóng. Ý định sử dụng loại vũ khí này được Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Pháo binh hoàn toàn nhất trí và báo cáo Bộ. Bộ lập tức phê chuẩn và chỉ thị cho các cơ quan nghiên cứu kỹ thuật, các công binh xưởng của Bộ cùng Binh chủng tập trung nghiên cứu bắn thử. Ta nghiên cứu không những chỉ dùng bắn đạn hỏa tiễn có ống phóng mà còn nghiên cứu cả cách bắn không cần ống phóng. Chúng tôi nghiên cứu thành công rồi cho sản xuất hàng loạt ống pháo. Bộ đặt tên cho loại pháo hỏa tiễn này là A12.

        Pháo hỏa tiễn ĐKB:

        Trong thời gian cơ quan Binh chủng cùng cơ quan Bộ nghiên cứu thành công pháo hỏa tiễn A12 thì Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ và Bộ Quốc phòng cũng nhờ Chính phủ Liên Xô giúp nghiên cứu sản xuất một loại pháo với những yêu cầu chiến thuật là: tầm bắn xa trên dưới 10 ki-lô-mét, uy lực lớn, gây cháy, sát thương nhiều phương tiện chiến tranh và nhất là bộ đội ta có thể mang vác được thuận lợi ở địa hình rừng núi. Dựa vào cấu tạo loại đạn pháo hỏa tiễn BM-21 với cỡ đạn 122 ly bắn xa được 10.800 mét. Bạn đã chế tạo cho ta một loại pháo đáp ứng được yêu cầu trên. Loại pháo này có hai bộ phận, nòng pháo và chân pháo, mỗi bộ phận chỉ cần một người mang vác gọn nhẹ, đạn nổ có độ nóng cao, mảnh đạn nhiều. Đúng ngày mồng 2 Tết Bính Ngọ (1966), pháo và đạn đã sang tới Việt Nam. Lúc đầu ta đặt tên loại pháo hỏa tiễn này là ĐKZ66, sau đổi thành ĐKB với ý định loại pháo hỏa tiễn này sẽ là loại pháo lớn chuyên dùng cho các chiến trường miền Nam.

        Sau khi nghiên cứu và bắn thử thành công cả pháo A12 và ĐKB, theo lệnh Bộ, ngày 17 tháng 4 năm 1966, Binh chủng Pháo binh được vinh dự tổ chức bắn trình diễn cả hai loại pháo với nhiều tầm bắn khác nhau để báo cáo Bác Hồ và Bộ Chính trị. Địa điểm bắn tại núi Múc trên trường bắn Pháo binh Hòa Lạc, Sơn Tây. Xem bắn xong, Người rất hài lòng và chỉ vào khẩu pháo hỏa tiễn A12 nói vui với mọi người: "Hàng nội hóa đấy!".

        Tiếp đó, theo chỉ thị của Bộ, một loạt các trung đoàn, tiểu đoàn độc lập được cấp tốc thành lập để tiếp nhận hai loại vũ khí mới này. Từ cuối năm 1966 đến đầu năm 1968, các đơn vị được thành lập xong. Sau khi được huấn luyện sáu tháng và tổ chức bắn đạn thật kết quả tốt, các đơn vị được lệnh hành quân tăng cường vào các chiến trường sau: Trung đoàn 368B trang bị pháo ĐKB vào chiến trường Khu 5; Trung đoàn 84A trang bị pháo ĐKB vào chiến trường Nam Bộ; Trung đoàn 84B trang bị pháo ĐKB vào Mặt trận B5 Quảng Trị; Tiểu đoàn 99 trang bị pháo A12 vào Mặt trận Đà Nẵng; Tiểu đoàn 95 và Tiểu đoàn 96 trang bị pháo A12 vào chiến trường Tây Nguyên; Trung đoàn 45 trang bị ĐKB vào Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh; ba Tiểu đoàn 32, 33, 34 trang bị hỗn hợp ĐKB và A12 vào chiến trường Thừa Thiên - Huế.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Hai, 2017, 12:45:57 AM

        Tổng số pháo đưa vào chiến trường là 500 pháo A12 và 200 khẩu ĐKB. Chính lực lượng này đã giáng cho địch những đòn sấm sét, làm nên chuyện thần kỳ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

        Tháng 8 năm 1967, theo lệnh của Tư lệnh Pháo binh, tôi lên gặp đồng chí Lê Ngọc Hiền - Cục trưởng Cục Tác chiến, để nhận kế hoạch đi chuẩn bị chiến trường mùa khô 1967 - 1968. Anh Hiền nói sơ qua việc tổ chức một bộ phận đi trước, cùng một số cán bộ của Bộ, vào chuẩn bị chiến trường cho một Mặt trận mới ở Đường 9 - Khe Sanh. Mặt trận này sẽ có một trung đoàn pháo xe kéo, trang bị loại pháo mới Đ74 vào chiến đấu ở Nam vĩ tuyến 17. Anh dặn: "Cậu đã có kinh nghiệm chiến đấu pháo ở Điện Biên Phủ nên Bộ đã trao đổi với Bộ Tư lệnh Pháo binh cử cậu đi. Tuyệt đối bí mật, chỉ mình cậu biết thôi".

        Trở về cơ quan, tôi huy động một số anh em có kinh nghiệm trinh sát, đo đạc và mang theo các phân đội đo đạc, trinh sát và máy thông tin 15 oát. Chúng tôi hành quân bằng xe vào Nông trường Quyết Thắng ở Tây Vĩnh Linh. Đến đấy, chúng tôi để xe lại rồi hành quân bộ theo đường mòn qua đồn biên phòng Cù Bai đến khu vực Hướng Hóa - Khe Sanh, triển khai chuẩn bị chiến trường cho hai trung đoàn pháo sẽ vào tham gia chiến đấu. Giữa tháng 10, mọi công tác chuẩn bị (đo đạc phần tử, dự kiến bố trí đội hình chiến đấu, xác định trận địa bắn, xác định tọa độ bắn cho các mục tiêu chủ yếu, đường để đưa pháo vào trận địa...) đã hoàn thành. Cuối tháng 11 năm 1967, Trung đoàn 675 được trang bị 36 khẩu pháo Đ74, có tầm bắn xa 24 ki-lô-mét mới được Liên Xô viện trợ và lần đầu sử dụng ở chiến trường Việt Nam, từ Hòa Bình bắt đầu hành quân vào chiến trường bằng xe xích. Dựa vào kinh nghiệm hành quân trước đây của lựu pháo 105 ly ở chiến trường Điện Biên Phủ, trung đoàn tổ chức đơn vị thành năm khối, mỗi khối đều có máy thông tin 15 oát, đêm đi, ngày nghỉ. Qua 46 ngày đêm theo đường Tây Nghệ An, Quảng Bình rồi nhập đường Trường Sơn qua cua chữ A, ngầm Tà Lê, đèo Phu La Nhích... đến đầu tháng 1 năm 1968, đơn vị đã tập kết đầy đủ, an toàn, bí mật ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Trung đoàn 45 trang bị khẩu pháo ĐKB, ngày 13 tháng 12 năm 1967, cũng từ Vĩnh Linh hành quân sang Mặt trận này.

        Theo kế hoạch, Mặt trận Quảng Trị bao gồm cả Đường 9 - Khe Sanh, sẽ nổ súng sớm hơn các chiến trường toàn miền Nam, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, thu hút, giam chân càng nhiều đơn vị địch ở chiến trường Quảng Trị với thời gian càng dài càng tốt để tạo thế và hiệp đồng với các chiến trường toàn Miền.

        Dựa vào hai trung đoàn pháo dự bị của Bộ (45 và 675), pháo binh của Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh được tổ chức thành hai cụm pháo hỗn hợp, cụ thể như sau:

        - Cụm Bắc do Trung đoàn 45, được tăng cường một Tiểu đoàn pháo xe kéo Đ74 của Trung đoàn 675, bố trí trận địa trên trục đường quân sự làm gấp Tây Bắc Tà Cơn, Hướng Hóa, có nhiệm vụ đánh phá các mục tiêu chủ yếu của Mỹ ở Tà Cơn và trực tiếp chi viện cho Sư đoàn 325 chiến đấu.

        - Cụm Nam do Trung đoàn 675, được tăng cường một Tiểu đoàn pháo ĐKB của Trung đoàn 45, bố trí trận địa trên trục đường 9, ngoài nhiệm vụ bắn vào các mục tiêu chiến dịch còn trực tiếp chi viện cho Sư đoàn 304 chiến đấu.

        Đúng 2 giờ ngày 21 tháng 1 năm 1968, cả hai hướng trên Mặt trận Quảng Trị, với 210 khẩu pháo lớn, trong đó có cả hai trung đoàn pháo ĐKB và A12, bắt đầu nổ súng. Riêng ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, hai trung đoàn pháo tập trung bắn mạnh vào các căn cứ quân sự Mỹ ở Tà Cơn, nhằm vào khu sân bay, sở chỉ huy, căn cứ hỏa lực pháo binh, kho tàng. Lợi dụng kết quả bắn của pháo, Sư đoàn 304 nhanh chóng đánh chiếm quận lỵ Hướng Hóa. Liên tiếp mấy ngày sau, quân ta đánh chiếm cứ điểm Huổi San, Lao Bảo. Đòn phủ đầu bất ngờ này đã gây cho địch nhiều tổn thất lớn.

        Nhưng bất ngờ hơn nữa là trong khi Mỹ phán đoán ta sẽ tiến công lớn vào Khe Sanh - Tà Cơn thì 0 giờ đêm 31 tháng 1 năm 1968, khi Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam vừa dứt lời Thơ chúc Tết của Bác Hồ kính yêu, một đòn tập kích hỏa lực pháo như vũ bão đã giáng xuống đầu kẻ thù. Hàng vạn viên đạn A12, ĐKB, cối, ĐKZ của các lực lượng pháo binh toàn miền Nam đã rót xuống trên 300 căn cứ quân sự, sân bay, quân cảng và cơ quan đầu não của Mỹ - ngụy, năm thành phố lớn, trong đó có Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ và hầu hết 36 tỉnh lỵ và 100 quận lỵ trên khắp miền Nam.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Hai, 2017, 12:05:57 PM

        Tại Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, để uy hiếp địch mạnh hơn và buộc địch phải đưa viện binh ra chiến trường này, từ 25 tháng 1 năm 1968, Sở chỉ huy Mặt trận đã tổ chức một bộ phận xuống cánh Nam giúp Bộ Tư lệnh Sư đoàn 304 tổ chức trận tiến công hiệp đồng binh chủng vào cứ điểm Làng Vây. Tôi được phân công theo Sở chỉ huy và được toàn quyền sử dụng pháo đạn của một tiểu đoàn Đ74 trong trận đánh.

        Căn cứ Làng Vây là căn cứ của một tiểu đoàn biệt kích, được xây dựng trên hai quả đồi, có công sự nửa nổi nửa chìm bằng bê tông cốt thép, có hệ thống mìn và sáu lớp hàng rào dây thép gai. Địch tổ chức phòng ngự thành bốn khu vực riêng biệt cho bốn đại đội biệt kích thám báo ngụy. Quân số có khoảng 700 lính ngụy và 30 cố vấn Mỹ. Căn cứ này được pháo binh và trực thăng của Mỹ từ Tà Cơn, Khe Sanh chi viện.

        Lực lượng ta có Trung đoàn 24, Sư đoàn 304, Tiểu đoàn 3, Sư đoàn 325, hai đại đội xe tăng (8 chiếc), hai đại đội đặc công của Bộ. Về pháo, ngoài pháo cối 120 ly, cối 82 ly và ĐKZ trong biên chế, Sư đoàn còn được Mặt trận tăng cường một tiểu đoàn pháo Đ74 trực tiếp chi viện tiến công. Đây là một trận tiến công hiệp đồng binh chủng đầu tiên của bộ đội ta ở miền Nam, có pháo xe kéo, xe tăng, đặc công, bộ binh, công binh, đánh vào một vị trí đóng quân của địch có công sự vững chắc.

        Đúng 0 giờ 17 phút ngày 7 tháng 2 năm 1968, pháo binh bắt đầu tiến hành hỏa lực chuẩn bị bằng hai Trung đoàn pháo 675 và 45 vào các căn cứ hỏa lực pháo binh, sở chỉ huy quân Mỹ ở Tà Cơn, cao điểm 845. Sau 15 phút, tiểu đoàn pháo Đ74 trực tiếp chi viện cho trận đánh, chuyển sang bắn vào Làng Vây, công binh bảo đảm cho xe tăng cơ động dựa theo suối, bí mật tiếp cận cứ điểm. Thấy pháo ta ngày càng bắn mãnh liệt, quân địch ở điểm cao 230 chạy dồn cả về cao điểm 320, nơi có công sự kiên cố hơn. Đài quan sát tiền phương bám theo bộ binh báo về và theo yêu cầu của người chỉ huy bộ binh, tiểu đoàn pháo tập trung hỏa lực cả 12 khẩu chuyển làn bắn vào cao điểm 320, kết hợp cả đạn nổ ngay và đạn nổ chậm. Cùng lúc đó, bộ binh ta cùng pháo bắn thẳng lần lượt mở xong các cửa mở.

        Khoảng 3 giờ ngày 7 tháng 2, bộ binh phát tín hiệu xung phong, pháo ngừng bắn, tám xe tăng của ta từ hai hướng, hất bỏ lá ngụy trang, đột nhiên xuất hiện dẫn đầu bộ binh tiến đánh căn cứ Làng Vây. Quân địch vốn đã khiếp sợ pháo ta nay lại thấy xe tăng, nhiều tên bỏ chạy, nhiều tên đầu hàng. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Ta đánh chiếm từng hầm ngầm. Đến 13 giờ ngày 7 tháng 2 năm 1968, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm. Sau trận đánh, Tư lệnh Mặt trận Trần Quý Hai và Chính ủy Lê Quang Đạo đã điện khen: "... Pháo binh ta đã đánh một trận hiệp đồng rất đẹp, bắn rất trúng, rất mãnh liệt, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh, xe tăng ta hoàn thành nhiệm vụ".

        Trong lúc này, ở Thừa Thiên - Huế, quân dân ta đã làm chủ thành phố Huế. ở Khu 5, các đơn vị pháo bắn phá vào sân bay Đà Nẵng, phá hủy nhiều máy bay, 160 quả đạn ĐKB bắn vào kho hậu cần An Đồn làm kho xăng và đạn bốc cháy liên tục 36 tiếng đồng hồ. Tiểu đoàn 3, Trung đoàn ĐKB của Nam Bộ, tối ngày 17 tháng 2, đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất. Pháo ta đánh liên tục năm  trận trong mấy ngày liền. Với 163 hỏa tiễn ĐKB, ta đã phá hủy nhiều máy bay, bom đạn, làm gián đoạn hoạt động của sân bay. Cũng trong đêm 17 tháng 2, ta dùng 200 quả đạn ĐKB bắn phá dữ dội vào căn cứ Mỹ ở Phú Lợi, hậu cứ của sư đoàn 1 bộ binh Mỹ, gây cho chúng nhiều thương vong. Còn ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, ta tiếp tục bắn phá các căn cứ quân sự Mỹ để các sư đoàn 304, 325 thắt chặt dần vòng vây quanh căn cứ Tà Cơn - Khe Sanh.

        Sau khi trở lại Sở chỉ huy Mặt trận, ngày 22 tháng 2, tôi lại được lệnh vào Mặt trận Thừa Thiên - Huế đảm nhiệm chức Chủ nhiệm Pháo binh của Mặt trận. ở đây, Bộ đã điều vào một tiểu đoàn ca nông 85 ly, nay lại điều thêm Tiểu đoàn pháo Đ74 của Trung đoàn 675 để thành lập trung đoàn pháo cho Mặt trận Thừa Thiên - Huế. Trên đường vào cũng là lúc tôi được biết quân ta vừa rút khỏi thành phố Huế sau 25 ngày đêm làm chủ. Quân Mỹ đã đưa sư đoàn kỵ binh bay ra cứu nguy cho mặt trận này và dùng máy bay B52 giội bom vào các nơi nghi ngờ có quân ta hoạt động. Vào chiến trường mới, tôi bắt tay vào công tác chuẩn bị để bảo đảm pháo binh cho những đợt tiến công tiếp theo. Vào ngày 4 tháng 5 năm 1968, quân dân ta lại mở đợt hai, tiến công vào 30 thành phố, thị xã, 70 thị trấn, quận lỵ, 27 cơ quan bộ tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn Mỹ - ngụy, 40 sân bay, kho tàng của Mỹ. Lần này, quân ta đánh thẳng vào tổng nha cảnh sát, tòa đô chánh, khu Đại sứ quán Mỹ, dinh thủ tướng ngụy quyền. Tại Thừa thiên - Huế, tiểu đoàn ĐKB, từ đêm 4 rạng mồng 5 tháng 5, đã đánh liên tục chín trận trong năm ngày liền, với 139 quả đạn ĐKB phóng vào sở chỉ huy và căn cứ không quân sư đoàn kỵ binh bay số 1 đặt tại Đồng Lâm, huyện Phong Điền, phá hủy gần 100 máy bay trực thăng, diệt hàng trăm tên Mỹ, làm tê liệt hoạt động của sư đoàn này. Sau trận đánh, tiểu đoàn được Mặt trận đề nghị tặng thưởng Huân chương Quân công. Huyện ủy Phong Điền viết thư ca ngợi chiến thắng Đồng Lâm của pháo binh.

        Những ngày tháng tiếp theo, pháo binh ĐKB và A12 cùng pháo cối ĐKZ vẫn duy trì hỏa lực tiến công địch. Trước những thất bại liên tục, ngày 1 tháng 11 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn cuộc ném bom miền Bắc nước ta, chấp nhận một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam.

 
(Tạp chí Lịch sử quân sự tháng 1-2004)           


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Hai, 2017, 12:09:04 PM

"BÃO TÁP" ĐÒN TẬP KÍCH PHÁO BINH MỞ ĐẦU CHIẾN DỊCH QUẢNG TRỊ 1972

        Tháng 6 năm 1970, sau khi tham gia chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, tôi được điều về làm Tham mưu phó Mặt trận B5 (Mặt trận Trị - Thiên) phụ trách hỏa lực (hồi ấy anh Phạm Đình Tê làm Chủ nhiệm Pháo binh Mặt trận B5). Vừa đặt chân tới Sở chỉ huy Mặt trận, các anh trong Bộ Tư lệnh như Cao Văn Khánh, Giáp Văn Cương, Lê Tự Đồng giao nhiệm vụ cho tôi tham gia bộ phận dự thảo kế hoạch tác chiến chiến dịch Đông Xuân 1972.

        Lực lượng tham gia chiến dịch gồm ba sư đoàn (304, 308, 324), hai trung đoàn bộ binh độc lập, một sư đoàn cao xạ, hai trung đoàn tăng thiết giáp và nhiều lực lượng bảo đảm khác. Về pháo binh, ngoài lực lượng tại chỗ, còn có bảy trung đoàn pháo binh xe kéo vừa được kiện toàn trang bị (gồm 45, 368, 38, 54, 58, 84). Mỗi trung đoàn biên chế từ hai đến ba tiểu đoàn pháo mặt đất và một Tiểu đoàn cao xạ 37 ly.

        Tôi đã liên tục có mặt ở chiến trường Trị - Thiên - Huế từ năm 1965 (Chủ nhiệm Pháo binh Mặt trận Khe Sanh - Đường 9 trong chiến dịch tiến công Xuân 1968, Chủ nhiệm Pháo binh Mặt trận B4 (Thừa Thiên - Huế) cho đến Binh đoàn 70 ở Đường 9 - Nam Lào). Vì thế, các yếu tố về địa hình, về địch nói chung và pháo địch nói riêng cũng nắm được khá nhiều, đủ cơ sở để triển khai phương án tác chiến pháo binh của chiến dịch. Sau hai tháng chuẩn bị, kế hoạch tác chiến pháo binh hoàn thành và được Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận thông qua. Tháng 9 năm 1971, tôi cùng anh Giáp Văn Cương ra Sở chỉ huy Quảng Bình, trực tiếp báo cáo kế hoạch tác chiến với đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng, thay mặt Bộ và Quân ủy Trung ương vào phê duyệt. Cùng đi theo anh Dũng còn có các anh Lê Văn Tri, Cục trưởng Cục Tác chiến; Phan Hàm và một số cán bộ cao cấp của Bộ. Anh Cương báo cáo kế hoạch tác chiến chung, tôi báo cáo kế hoạch sử dụng pháo binh. Qua nghiên cứu, trao đổi, cân nhắc, anh Dũng kết luận và chỉ thị: "Đồng ý với phương án sử dụng pháo binh. Trong chiến dịch này, ta sẽ sử dụng một lực lượng lớn, phải tạo được thế mạnh của Pháo binh Việt Nam. Chiến dịch này còn có sự kết hợp của quần chúng nên pháo binh còn phải đánh phá các trung tâm đầu não chính quyền ngụy ở Quảng Trị, tạo thế cho chiến tranh nhân dân. Đặc biệt, cần giữ bí mật tuyệt đối ý đồ chiến dịch và mọi công tác chuẩn bị, triển khai lực lượng pháo binh...".

        Trở lại Sở chỉ huy Mặt trận, chúng tôi trăn trở hai vấn đề: Làm thế nào để toàn bộ lực lượng pháo xe kéo triển khai chiếm lĩnh bí mật, đầy đủ, an toàn và kế hoạch hỏa lực pháo binh. Trong kế hoạch pháo lần này, Bộ chỉ thị phải tiêu diệt được pháo địch, nên nhiệm vụ này trở thành yêu cầu tác chiến số 1 của pháo binh, tốt nhất là khống chế và tiêu diệt được pháo địch ngay trong những ngày đầu chiến dịch.

        Về pháo binh địch, có khoảng trên 200 khẩu, chiếm 20% số pháo trên toàn chiến trường miền Nam của chúng. Số pháo trên được bố trí thành 14 căn cứ hỏa lực, gồm ba tuyến: Tuyến ngoài khá mạnh, gồm năm căn cứ (241, Đông Hà, Miếu Bái Sơn, Quán Ngang, Mai Lộc); mỗi căn cứ có từ 16 - 20 khẩu 105 - 155 ly, riêng hai căn cứ 241 và Đông Hà, mỗi nơi còn có bốn pháo tự hành 175 ly. Những căn cứ này đồng thời là vị trí đóng quân của các tiểu đoàn, trung đoàn bộ binh, thiết giáp ngụy, nên còn có các sở chỉ huy, công sự, chướng ngại vật khá kiên cố, có đủ hầm ngầm cho người, pháo, đạn. Tuyến giữa cũng có năm căn cứ, mỗi căn cứ có từ 6 - 8 pháo 105 - 155 ly. Tuyến sau (thị xã Quảng Trị, La Vang, Hải Lăng, cầu Thạch Hãn), mỗi căn cứ có từ một trung đội đến một đại đội pháo 105 ly.

        Khi làm kế hoạch, yêu cầu đặt ra là tất cả 14 căn cứ hỏa lực này của địch phải nằm trong tầm bắn của pháo xe kéo. Như vậy mới đảm bảo yêu cầu khống chế liên tục, có hiệu quả pháo địch. Dù đã cố gắng đưa các trận địa pháo tầm xa lên sát địch, nhưng một số căn cứ hỏa lực tuyến sau của địch vẫn không nằm trong tầm bắn của pháo xe kéo. Ta đã mạnh dạn sử dụng một tiểu đoàn pháo 130 ly của Trung đoàn 45, lợi dụng kết quả pháo ta bắn ngày N, thì ngay đêm đó tiểu đoàn này vào chiếm lĩnh trận địa nằm sâu trong tung thâm địch, cách bờ Nam sông Bến Hải 4,5 ki-lô-mét, cách phía Đông căn cứ Cồn Tiên 1,5 ki-lô-mét; ta bí mật đào trận địa, lót sẵn nửa cơ số đạn, làm ngầm qua sông Bến Hải. Tiểu đoàn này thực hiện đúng kế hoạch và tham gia hỏa lực từ sáng N+1, khống chế được toàn bộ 14 căn cứ pháo địch.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Hai, 2017, 12:13:06 PM

        Nội dung kế hoạch hỏa lực của đòn tập kích hỏa lực pháo binh còn nổi lên những điểm sau:

        - Giao nhiệm vụ cho từng đơn vị chịu trách nhiệm từng căn cứ hỏa lực địch: Năm căn cứ tuyến ngoài, mỗi nơi do một tiểu đoàn pháo đảm nhiệm; tuyến giữa do một đại đội pháo đảm nhiệm; tuyến sau do một trung đội pháo đảm nhiệm; yêu cầu là liên tục khống chế, không để cho pháo địch hoạt động.

        - Phương pháp bắn là kết hợp bắn cấp tập và tiến hành sửa bắn cho từng khẩu, bảo đảm chính xác cao nhất. Sau khi có phần tử bắn chính xác, tập trung diệt từng trận địa pháo địch bằng phương pháp bắn phá hoại kết hợp sử dụng đạn nổ ngay và nổ chậm. Khi có thời cơ tiêu diệt sinh lực địch hoặc phát hiện trận địa pháo mới, cụm trưởng chủ động thực hiện hỏa lực toàn cụm.

        - Đạn dược sử dụng là một cơ số đạn một khẩu, với khoảng gần một vạn viên đạn pháo các loại (100 tấn đạn).

        - Thời gian thực hành tập kích hỏa lực kéo dài 6 - 7 tiếng đồng hồ và tiến hành ban ngày để tiện quan sát kết quả và sửa bắn.

        - Để bảo đảm bất ngờ, không bắn thử mà thực hành đo đạc nhiều lần. Trung đoàn trinh sát của Bộ Tư lệnh Pháo binh đảm nhiệm đo đạc và chụp ảnh tất cả các căn cứ hỏa lực để kiểm tra mức chính xác phần tử bắn của các cụm pháo.

        Từ ngày 15 tháng 2 năm 1972, bốn đài quan sát chiến dịch và 11 đài quan sát các cụm bắt đầu chiếm lĩnh nắm địch. Ngày 22 tháng 2 năm 1972 phổ biến kế hoạch tác chiến cho các chủ nhiệm pháo binh sư đoàn, các chỉ huy cụm. Ngày 23 tháng 2 năm 1972, các cụm đồng thời chiếm lĩnh trận địa bắn, dưới sự chỉ huy thống nhất toàn Mặt trận.

        Lúc 12 giờ đêm 28 tháng 3 năm 1972, tất cả các đơn vị pháo trên toàn Mặt trận đều đã chiếm lĩnh trận địa bí mật, an toàn; đạn dược đủ hai cơ số một khẩu. Làm được như vậy là đã hoàn thành 50% nhiệm vụ của chiến dịch giao.

        Sáng 15 tháng 3 năm 1972, các anh trong Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm: Lê Trọng Tấn - Tư lệnh, Lê Quang Đạo - Chính ủy, Cao Văn Khánh - Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng... thông qua lần cuối kế hoạch. Chúng tôi đề nghị đặt tên cho đòn tập kích hỏa lực pháo binh này là "Bão táp", với lý do lần đầu ta tập trung sử dụng một lực lượng lớn pháo xe kéo, tiêu thụ số đạn lớn, thời gian thực hành hỏa lực kéo dài, yêu cầu về nhiệm vụ chuẩn bị của pháo binh cũng khá cao. Sau khi nghe chúng tôi báo cáo, anh Lê Trọng Tấn chỉ thị: "Nhất trí tên gọi đòn tiến công hỏa lực pháo binh mở màn chiến dịch tiến công Quảng Trị là "Bão táp". Lần này pháo binh phải phát huy hỏa lực thật bất ngờ, mãnh liệt, chính xác, trị ngay năm căn cứ hỏa lực pháo chủ yếu của địch ở tuyến ngoài, bảo đảm chắc chắn cho Sư đoàn 304 đánh chiếm cứ điểm 544 - Đồi Tròn, mở cửa chiến dịch. Hỏa lực pháo binh phải xứng đáng là "bão táp" giội xuống đầu quân địch, làm chúng khiếp sợ và quân ta phấn khởi. Đúng 10 giờ ngày N bắt đầu bắn".

        Đúng ngày N (30-3-1972), tại Sở chỉ huy Pháo binh, thông tin liên lạc đều thông suốt, lúc 9 giờ 30 phút, các đài quan sát vẫn báo cáo: "Trời mù, mục tiêu không quan sát rõ". Sau khi hội ý với anh em trong Sở chỉ huy, tôi đề nghị anh Tấn và anh Dũng cho lùi giờ G của pháo binh một tiếng (tức là 11 giờ ngày 30-3-1972) và được các anh đồng ý. Trước tình hình đó, anh Lê Quang Đạo xuống động viên anh em trong Sở chỉ huy pháo binh. Sự có mặt của Chính ủy Mặt trận làm anh em yên tâm. Đến 10 giờ 45 phút, anh Dũng lại gọi điện hỏi: "Liệu có cần lui thêm thời gian không...". Trước đó vài phút, các đài quan sát báo về là mục tiêu đã quan sát rõ. Tôi dõng dạc báo cáo: "Mục tiêu đã quan sát tốt, thông tin liên lạc đều thông suốt. Tất cả pháo binh sẵn sàng chờ lệnh đồng chí"... Đúng 10 giờ 55 phút, từ Sở chỉ huy Bộ chỉ huy chiến dịch, đồng chí Tư lệnh Mặt trận Lê Trọng Tấn phát lệnh: "Bão táp". Cả Sở chỉ huy pháo đồng thanh truyền lệnh "Bão táp" tới tất cả bảy cụm pháo binh, ba Sở chỉ huy pháo các sư đoàn bộ binh.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Hai, 2017, 12:43:27 AM

        Giờ phút lịch sử của chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị bắt đầu 247 khẩu pháo các loại của toàn Mặt trận trên các hướng đồng loạt trút đạn vào 20 căn cứ hỏa lực và sở chỉ huy của địch. Các đài quan sát liên tục báo về tin chiến thắng... "Căn cứ 241: tất cả đạn bắn trúng mục tiêu, kho đạn nổ. Miếu Bái Sơn bốc cháy. Sở chỉ huy Cồn Tiên: đạn cối 160 bắn sập nhiều hầm. Dốc Miếu: địch nhốn nháo, Điểm cao 182 phía Tây Quảng Trị địch rút chạy...".

        Những giờ phút đầu tiên của đòn tập kích diễn ra theo đúng kế hoạch, phá nhiều pháo, diệt nhiều địch. Đất trời Quảng Trị từ 11 giờ đến chiều tối 30 tháng 3 năm 1972 luôn dậy lên những loạt đạn như sấm rền. Lúc 13 giờ, chúng tôi điện cảm ơn và thông báo kết quả bắn cho các sở chỉ huy công binh, vận tải, thông tin, tăng - thiết giáp... các binh chủng bạn đã phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho pháo binh trút đạn lên đầu quân thù. Tối đó, quân ta đã đánh chiếm 544 - Đồi Tròn; ngày 1 tháng 4, đánh chiếm Động Toàn. Quân địch ở Cồn Tiên, Dốc Miếu rút chạy. Lúc 14 giờ ngày 2 tháng 4 năm 1972, toàn bộ trung đoàn 56 ngụy ở cứ điểm 241 đầu hàng, ta thu toàn bộ xe - pháo, kể cả bốn khẩu tự hành 175 ly.

        Lúc 15 giờ ngày 2 tháng 4 năm 1972, đồng chí Lê Trọng Tấn điện khen: "Pháo binh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đã trị được hệ thống pháo binh địch, phá nát hầm hào công sự địch, chi viện đắc lực cho Sư đoàn 304 và Trung đoàn 27 chiến đấu giành thắng lợi giòn giã, từng mảng quân địch đã đầu hàng hoặc rút chạy, thu được nhiều pháo binh, xe cơ giới địch...". Có lẽ, đây cũng là lời kết của đòn hỏa lực "Bão táp" pháo binh trên đất Quảng Trị 1972.

        Phát triển tiến công, Bộ Tư lệnh chiến dịch tiếp tục dùng tên gọi "Bão táp" để đặt tên cho các lần chuẩn bị hỏa lực tiếp sau: "Bão táp 2" được tiến hành trong ba tiếng đồng hồ, bắt đầu lúc 13 giờ ngày 8 tháng 4 năm 1972, với trên 3.000 đạn pháo lớn, chi viện cho các Sư đoàn 308, 304 tiến công tuyến Đông Hà, Phượng Hoàng, Cam Lộ; "Bão táp 3" với trên 6.000 đạn pháo lớn, có cả đạn pháo 105 - 155 ly thu được của địch và lực lượng pháo ta, có thêm Tiểu đoàn pháo phản lực BM-14 (9 xe với 153 ống phóng) và Tiểu đoàn tên lửa chống tăng B72, trang bị 50 bệ phóng và 500 đạn. Lúc 5 giờ ngày 27 tháng 4 năm 1972, "Bão táp 3" bắt đầu. Kết quả đã diệt hơn 50 xe tăng, thiết giáp, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bộ binh tiến công vào tung thâm phòng ngự Ái Tử, Đông Hà, La Phước, Triệu Phong, thị xã Quảng Trị, La Vang... Trong suốt 30 ngày đêm, với ba đòn "Bão táp" của hỏa lực pháo binh, ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị (ngày 2-5-1972).

        "Bão táp" - đòn tập kích pháo binh mở màn chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị, là trận đánh đạt hiệu suất cao của pháo binh. Từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đây là lần đầu ta tập trung sử dụng một lực lượng lớn: bảy trung đoàn pháo xe kéo cho một chiến dịch tiến công với quy mô hiệp đồng tác chiến binh chủng tương đối lớn, trên một không gian rộng (một tỉnh). Cũng trong năm tiến công chiến lược 1972 này, ở Mặt trận Tây Nguyên, ta chỉ sử dụng hai trung đoàn pháo xe kéo (40, 675) và tại Mặt trận Bình Long (Nam Bộ) cũng chỉ sử dụng hai trung đoàn pháo xe kéo (42, 208). Đây cũng là trận đánh mà bộ đội pháo binh đã sử dụng tất cả các loại pháo với 247 khẩu, tiến hành liên tiếp bắn phá trong sáu tiếng đồng hồ, với gần một vạn viên đạn và cũng là trận đánh mà ta đã tạo được thế chủ động sức mạnh pháo binh trên phạm vi một chiến dịch.

(Tạp chí Lịch sử quân sự tháng 2-2002)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Hai, 2017, 12:49:50 AM

SỞ CHỈ HUY PHÍA TRƯỚC

        Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống vẻ vang của Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết thắng, tôi xin được kể lại đôi điều về công việc của Sở chỉ huy phía trước trong suốt 12 ngày đêm vừa cơ động, vừa tổ chức một bộ phận quân đoàn đảm nhiệm đội dự bị cho các lực lượng vũ trang ta tiến công giải phóng thành phố Đà Nẵng Xuân 1975.

        Cùng với anh em cán bộ, chiến sĩ được điều về xây dựng quân đoàn từ những ngày đầu thành lập, tháng 11 năm 1973, nhiệm vụ đầu tiên của tôi lúc đó là nhanh chóng nắm tình hình pháo binh để xây dựng phương án kiện toàn tổ chức lực lượng, trang bị, kế hoạch huấn luyện, chuẩn bị cho Đảng ủy họp với hướng phấn đấu trong năm 1974, khả năng tác chiến của quân đoàn tăng lên một bước, đến năm 1975, có thể tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Khi cả quân đoàn bước vào mùa huấn luyện thì tôi lại được cử đi học ở Học viện Quân sự cấp cao Liên Xô. Sau khi tốt nghiệp (3-1-1975), tôi được cấp trên bổ nhiệm giữ chức Phó Tham mưu trưởng Quân đoàn 1.

        Ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân ta tiến công Buôn Ma Thuột, mở đầu Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Cũng ngày hôm đó, sau hơn một năm xây dựng, Quân đoàn 1 - binh đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta được lệnh của Bộ chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Sư đoàn 308 và Sư đoàn 320B ngừng lao động đắp đê sông Đáy và sông Hoàng Long, cơ quan tập trung triển khai mọi mặt cho bộ đội lên đường, các kế hoạch hiệp đồng với các cơ quan của Bộ để cơ động toàn quân đoàn bằng mọi phương tiện vào Nam được hình thành khẩn trương. Đảng ủy quân đoàn họp với quyết tâm: "Toàn quân đoàn khẩn trương, chu đáo mọi mặt để sẵn sàng hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ tác chiến khi có lệnh. Lực lượng cơ động của quân đoàn sẽ hình thành ba khối. Từng khối có sở chỉ huy để giúp người chỉ huy điều hành mọi công việc...". Bộ Tư lệnh quân đoàn cũng phân công các cán bộ chủ trì Bộ Tham mưu đảm nhiệm từng sở chỉ huy như sau:

        - Sở chỉ huy phía trước do đồng chí Nguyễn Trung Kiên - Phó tham mưu trưởng phụ trách.

        - Sở chỉ huy cơ bản do đồng chí Lương Ngọc Chi - Phó tham mưu trưởng phụ trách.

        - Sở chỉ huy phía sau do đồng chí Phạm Huần - Phó tham mưu trưởng phụ trách.

        Ngày 18 tháng 3, anh Hoàng Minh Thi, Bí thư Đảng ủy quân đoàn gọi tôi lên giao nhiệm vụ, với chức danh "Phó một" phụ trách tác chiến, tôi phải tổ chức và điều hành sở chỉ huy phía trước, giúp Tư lệnh và Chính ủy chỉ huy trực tiếp khối 1 và lãnh đạo toàn quân đoàn khi có lệnh cơ động chiến đấu.

        Những ngày này, chiến trường Tây Nguyên đang thắng lớn. Quân địch đã tháo chạy khỏi tỉnh Kon Tum, Plây Cu. Bộ Chính trị Đảng ta đã hạ quyết tâm sẽ giải phóng toàn bộ miền Nam trong năm 1975 và mở chiến dịch tiến công giải phóng Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng. Bộ cũng hạ lệnh cho Quân đoàn 1 cơ động ngay một nửa lực lượng vào tập kết ở phía Nam Quân khu 4.

        Ngày 20 tháng 3, Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xuống đơn vị trực tiếp giao nhiệm vụ tác chiến cho Bộ Tư lệnh quân đoàn. Ngay sau đó, anh Nguyễn Thế Bôn kéo tôi ra một góc hội trường:

        - Tối nay anh cùng sở chỉ huy phía trước xuất phát. Các anh sẽ tập kết ở phía Tây Đông Hà (Quảng Trị). Trên đường hành quân, anh nắm lại tình hình lực lượng khối 1 và nhớ luôn luôn phải giữ liên lạc với sở chỉ huy cơ bản.

        Tôi gật đầu:

        - Còn vấn đề gì nữa không anh?

        Đồng chí Tham mưu trưởng quân đoàn nói tiếp:

        - Tư lệnh Nguyễn Hòa và Chính ủy Hoàng Minh Thi sẽ đi sau vài hôm, vì hai người phải lên Bộ nhận kế hoạch tác chiến cụ thể. Đồng chí Trần Trọng Trai - Trưởng phòng Tác chiến ở lại cùng đi với Tư lệnh và Chính ủy, đồng chí Trưởng phòng Quân báo chuyển sang đội hình sở chỉ huy cơ bản...

        Vậy là tối hôm đó, sở chỉ huy phía trước gồm 22 cán bộ. Bộ Tham mưu, 5 cán bộ Cục Chính trị, 5 cán bộ Cục Hậu cần, các phân đội thông tin vô tuyến, hữu tuyến, phân đội trinh sát, phân đội cảnh vệ và phân đội phục vụ, tất cả khoảng 110 cán bộ, chiến sĩ được sắp xếp trên một xe chuyên dùng vô tuyến điện và 6 xe vận tải. Lương thực mang theo đủ dùng trong 20 ngày. Khoảng 5 giờ chiều, sau bữa cơm có tăng cường món thịt xào, anh em chúng tôi họp ở ven hồ kiểm tra một lần nữa về đồ dùng và trang bị mang theo rồi lên xe. Đoàn xe nổ máy, từ từ rời khỏi doanh trại hướng vào Nam, không khí thật trang nghiêm, đầy đủ khí thế sẵn sàng lập công hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Hai, 2017, 12:52:00 AM

        Ngày 24 tháng 3, chiến dịch tiến công giải phóng Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng bắt đầu. Ngày 23, chúng tôi đã có mặt ở địa điểm tập kết tại một xóm ven đường 9 phía Tây Đông Hà. Mọi việc đi đường thuận lợi an toàn. Đến ngày 25, tôi đã dần dần nắm được một số đơn vị của Sư đoàn 320B. Trong đó có Trung đoàn 27, Tiểu đoàn pháo 130 ly. Lữ đoàn 45, Tiểu đoàn 55 xe tăng. Riêng Lữ đoàn 202 xe tăng theo đường biển cơ động bằng tàu vận tải đổ bộ lên phía Bắc Quảng Trị. Trong việc bộn bề, chúng tôi lại nhận được thêm tin vui, phía trước, Quân đoàn 2 đã đánh chiếm thành phố Huế, đang phát triển vào phía Nam.

        Ngày 26 tháng 3, tôi nhận được lệnh của anh Nguyễn Hòa - Tư lệnh quân đoàn với nội dung: "Theo lệnh của Bộ, anh tổ chức ngay một lực lượng gồm Trung đoàn 27 (Sư đoàn 320B), Tiểu đoàn pháo 130, Tiểu đoàn 66 xe hiện đang tập kết ở khu vực Bắc đèo Hải Vân, sẵn sàng làm đội dự bị cho Quân đoàn 2 tiến công giải phóng Đà Nẵng, mọi công tác phải chuẩn bị và tập kết xong trong đêm 27 tháng 3...".

        Chúng tôi lập tức chia nhau xuống từng đơn vị truyền đạt lệnh của Tư lệnh quân đoàn và nắm lại tình hình, đồng thời cử đồng chí Phan Trang chỉ huy một số cán bộ, chiến sĩ lên đường làm nhiệm vụ tiền trạm điều khiển giao thông dọc đường hành quân, nhất là trong thành phố Huế, chuẩn bị nơi tập kết các đơn vi thuộc đội dự bị và cả vị trí sở chỉ huy phía trước. Lúc 17 giờ ngày 27, các đơn vị bắt đầu cơ động vào vị trí tập kết. Trên đường đi kiểm tra các đơn vị trước lúc xuất phát, khi tới Tiểu đoàn 66 xe tăng thì tôi được biết, còn một số xe tăng chưa đồng bộ về trang bị đạn pháo, đang cho người xuống tổng kho của Bộ gần đó nhận bổ sung. Vì vậy, tôi đã đồng ý để tiểu đoàn này xuất phát chậm một chút. Đoàn xe sở chỉ huy chúng tôi khi tới cầu An Lỗ trên sông Bồ lại gặp tiểu đoàn pháo tạm dừng đang chờ anh em công binh lắp phà vượt sông vì cầu phao không đủ trọng tải cho xe kéo pháo nặng trên 20 tấn. Đến khoảng 10 giờ đêm, khi chuyến phà chở xe pháo đầu tiên qua sông an toàn, chúng tôi lại tiếp tục tiến về phía trước. Khi vào thành phố Huế, đường tốt xe chạy bon bon qua cửa Ngọ Môn. Đây là lần đầu tiên tôi đặt chân tới cố đô Huế với bao cảm xúc phấn chấn, mới mẻ. Tôi nói với lái xe hãy đi chầm chậm lại để tận hưởng cái không khí thanh bình của một thành phố vừa được giải phóng mới hai ngày. Xe qua các ngã ba, ngã tư đều thấy có chiến sĩ giao thông hướng dẫn. Thành phố bị mất điện nhưng dọc phố hầu như nhà nào cũng vẫn còn thức. Nhiều người đứng cửa trìu mến nhìn theo vẫy tay chào đón đoàn xe chúng tôi đang nối nhau tiến vào Nam, nơi đang còn tiếng súng.

        Khi xe tôi đến Lăng Cô - Phú Lộc thì gặp đơn vị tiền trạm. Tôi nhìn đồng hồ, cũng đã đến giờ phải triển khai điện đài làm việc với sở chỉ huy cơ bản. Đoàn xe dừng lại, đem bản đồ đối chiếu địa hình, quan sát xung quanh và nghe đơn vị tiền trạm báo cáo, vị trí sở chỉ huy chưa xác định được, dựa vào núi thì núi cao, dựa vào nhà dân thì trống trải, trời lại đã gần sáng. Tôi đứng lên đưa mắt nhìn quanh và thấy ở phía đông đường quốc lộ số 1, cách khoảng 200 mét có một xóm khoảng vài chục nóc nhà, tất cả đều lợp tôn. Có lẽ đây là một ấp chiến lược được đặt trên một đồi cát. Xung quanh lơ thơ vài ba cây phi lao. Xa xa là biển. Tôi cử anh em vào trinh sát thì được biết, nhân dân ở đây đã di tản hết vào Đà Nẵng khi quân ngụy rút chạy qua. Anh em phát hiện có một tổ thông tin hữu tuyến của đơn vị bạn đang ở trong làng. Bên kia đèo Hải Vân, nơi quân ta đang tác chiến vọng lại nhiều loạt đạn pháo của mình bắn nghe rất rõ. Cùng lúc ấy, Tiểu đoàn pháo 130 ly đang cơ động tới, tôi liền trao nhiệm vụ cho đơn vị triển khai ngay đội hình chiến đấu theo dọc đường đèo về phía Nam, hướng bắn chuẩn là trung tâm thành phố Đà Nẵng. Tầm bắn cố vươn tới bán đảo Sơn Trà. Trong khi triển khai đội hình chiến đấu, đơn vị phải giữ liên lạc với sở chỉ huy. Thời gian lúc này là vàng là ngọc, phải tranh thủ từng giây từng phút. Vì thế sở chỉ huy phía trước cũng ngay lập tức phải triển khai để nắm tình hình chuẩn bị chiến đấu. Nhưng địa hình ở đây không thuận lợi như trên tôi đã nói. Một bên là núi cao, bên kia là các ấp chiến lược trống trải.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Hai, 2017, 07:55:27 PM

        Tôi suy nghĩ giây lát và chợt nhớ lại một trận chiến đã qua. Đó là vào đầu năm 1971, khi ấy tôi đang công tác ở Binh đoàn 70. Đơn vị chúng tôi được lệnh cơ động từ Nghệ An vào Vĩnh Linh tham gia chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Bấy giờ, sở chỉ huy cơ động do đồng chí Cao Văn Khánh nắm. Khi chúng tôi hành quân đến đồn biên phòng Cu Bai, anh Cao Văn Khánh đã ra lệnh triển khai sở chỉ huy binh đoàn ngay sát đường trục để kịp thời tổ chức chỉ huy các đơn vị bước vào chiến đấu kịp thời. Tôi lại nhớ hồi còn học ở Học viện Quân sự Vô-rô-si-lốp (Liên Xô) đã rút ra một bài học kinh nghiệm: Sở chỉ huy tập đoàn quân trong hành tiến khi phát triển chiến đấu tiến công, cần đặt gần trục đường chính bộ đội cơ động. Tôi hội ý nhanh với anh em cùng đi rồi quyết định tạm đặt sở chỉ huy ngay tại xóm ven đường. Nơi đây cách cầu Lăng Cô khoảng gần 2 ki-lô-mét. Tôi cử đồng chí Phan Trang phụ trách một số cán bộ và một phân đội trinh sát có trang bị máy bộ đàm dùng xe tiếp tục hành quân vượt đèo liên lạc với quân ta, nắm tình hình địch rồi báo cáo về. Khoảng 10 giờ, đồng chí Phan Trang bắt đầu có báo cáo về những tin tức quan trọng đầu tiên: Đã bắt liên lạc được với một đơn vị Quân đoàn 2, nắm được tọa độ sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy, quan sát được trung tâm thành phố Đà Nẵng và trạm ra đa bán đảo Sơn Trà... Đài quan sát của tiểu đoàn pháo cũng bắt đầu làm việc ngay sát cạnh sở chỉ huy chúng tôi.

        Khoảng quá trưa ngày 28, với sự cố gắng của cán bộ thông tin, chúng tôi đã nối thông liên lạc được với Sở chỉ huy Quân đoàn 2. Tôi vội cầm máy gặp anh Nguyễn Hữu An - Tư lệnh Quân đoàn 2. Hai anh em gặp nhau vô cùng mừng rỡ vì chúng tôi cùng học một khóa ở Học viện Quân sự Vô-rô-si-lốp tốt nghiệp trở về mới đầu năm 1975. Tôi vắn tắt báo cáo tình hình chuẩn bị đội dự bị theo lệnh của Bộ và đơn vị pháo 130 ly của chúng tôi đã sẵn sàng nổ súng. Nghe xong, anh An cám ơn về sự có mặt kịp thời của Quân đoàn 1, đồng thời anh thông báo cho biết, Quân đoàn 2 vừa đánh chiếm khu kho xăng Liên Chiểu cửa ngõ thành phố Đà Nẵng và căn cứ sư đoàn ngụy ở phía Tây thành phố cũng đã vào tay quân ta. Tình hình địch có hiện tượng rối loạn. Quân khu 5 cũng đã tiến sát phía Nam Đà Nẵng... Sau khi thông báo nhiều tin vui chiến thắng, anh Nguyễn Hữu An còn gọi tôi thân mật:

        - Trung Kiên ơi, trước mắt có thể chúng ta chưa sử dụng đến đội dự bị, nhưng pháo của các cậu lúc nào cũng cứ sẵn sàng nhá. Cho tớ gửi lời thăm Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1. Các cậu hãy giữ liên lạc với chúng tớ nhá. Chào quyết thắng.

        Tôi nghe rõ tiếng anh An cười rất vui trước khi rời máy. Thế là quá yên tâm rồi. Mọi công việc chuẩn bị để thực hiện lệnh của đồng chí Tư lệnh quân đoàn coi như cơ bản đã hoàn thành. Tôi vui mừng thảo điện báo cáo về sở chỉ huy cơ bản và anh Nguyễn Hòa.

        Khoảng 5 giờ chiều, tôi đang chuẩn bị lên phía trước nắm lại công việc thì xe Chính ủy xịch tới. Tôi còn chưa kịp báo cáo tình hình thì Chính ủy đã nghiêm nét mặt nói:

        - Đặt sở chỉ huy như thế này à?! Muốn để máy bay địch nó tiêu diệt à?! Kết quả học tập ở Vô-rô-si-lốp đây mà!

        Cả sở chỉ huy chúng tôi đang vui mừng đón Chính ủy bỗng trở nên ngơ ngác. Tất cả sững lại trước thái độ của đồng chí Chính ủy đang phê bình tôi. Còn tôi, tôi cố gắng bình tĩnh đợi anh Hoàng Minh Thi nói hết mới chậm rãi báo cáo với Chính ủy, về tình hình suy sụp của quân địch, về khí thế rất mạnh của quân ta và khả năng đánh chiếm toàn bộ thành phố Đà Nẵng chỉ còn từng giờ. Tôi còn báo cáo tiếp tình hình chuẩn bị chiến đấu của đội dự bị và mời Chính ủy nói chuyện với anh Nguyễn Hữu An. Có lẽ sau khi nghe tôi báo cáo và nhất là sau cuộc đàm thoại với đồng chí Tư lệnh Quân đoàn 2 đã làm cho Chính ủy vơi đi nỗi bực dọc ban đầu. Tôi lại báo cáo tiếp với anh là chúng tôi cũng đã chuẩn bị vị trí chính thức của sở chỉ huy rồi. Chính ủy nghe xong xua tay: "Thôi, không đi đâu nữa, ở đây cũng được". Sau đó anh cùng tôi bàn về đội dự bị nếu Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng đơn vị này. Anh cũng hỏi han sức khỏe anh em cơ quan, rồi cho công vụ ra xe đem vào cho chúng tôi tút thuốc lá và cho riêng tôi năm gói thuốc lào. Sau đó anh vui vẻ cùng tôi ăn cơm và lên xe xuống thăm anh em ở Trung đoàn 27 bộ binh.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Hai, 2017, 07:59:57 PM

        Trời tối dần, kế hoạch đi lên phía trước của tôi đành hủy bỏ. Sau điếu thuốc lào đã đời, tôi nằm trên võng ngẫm nghĩ lại sự việc vừa xảy ra, lại càng hiểu thêm cá tính của Chính ủy mình. Trong đêm đó, đồng chí Phan Trang thường xuyên báo cáo về tình hình phát triển tiến công thuận lợi của xe tăng và bộ binh Quân đoàn 2 ở phía Bắc, bộ đội Quân khu 5 ở phía Nam. Quân ta đang tiến sâu vào nội thành Đà Nẵng. Đến 10 giờ sáng ngày 29 tháng 3, pháo quân ta chuyển làn bắn chặn quân địch đang rút ra phía biển. Vậy là các mũi tiến công của bộ đội ta kết hợp cùng sự nổi dậy của nhân dân đã giải phóng thành phố Đà Nẵng vào ngày cuối tháng 3 năm 1975. Và chiến dịch tiến công Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng đã thắng lợi giòn giã.

        Cũng buổi sáng ngày 29 tháng 3, Phan Trang đã gặp anh Hoàng Đan - Tư lệnh phó Quân đoàn 2. (Anh Hoàng Đan trước đây là Tư lệnh phó - Tham mưu trưởng Quân đoàn 1), vì đang rất bận, anh Hoàng Đan không đến thăm anh em cơ quan được, chỉ nhắn qua Phan Trang, gửi lời cảm ơn Bộ Tư lệnh, cơ quan và bộ đội Quân đoàn 1 đã đến kịp thời. Anh Đan cũng gửi tặng cơ quan một xe jeép chiến lợi phẩm. Báo cáo xong, Phan Trang còn vui vẻ xin phép tôi cho anh em xuống tham quan thành phố mới giải phóng. Nghe đến đây tôi vội ngắt lời anh:

        - Phan Trang ơi, cho tất cả anh em trở về ngay sở chỉ huy! Cậu hãy cảm ơn anh Hoàng Đan và trả lại xe jeép vì ta đã đủ xe dùng. Tôi xin nhắc lại, không một ai được xuống thành phố!

        Tôi nói và liếc nhìn Phan Trang. Cậu ta xịu mặt. Tôi thông cảm với anh bạn trẻ, nhưng không thể vì một phút bốc đồng mà quên kỷ luật quân đội. Tôi chắc rằng Phan Trang rồi sẽ hiểu cho tôi.

        Ngày 30 tháng 3 năm 1975, Tư lệnh Nguyễn Hòa hạ lệnh, tất cả lực lượng quân đoàn trở lại tập kết ở Đông Hà - Quảng Trị.

        Ngày 1 tháng 4 năm 1975, tôi theo Thiếu tướng, Tư lệnh tới Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh 559 tại Bắc Cam Lộ, gặp đại diện Bộ Quốc phòng nhận nhiệm vụ mới: Quân đoàn 1 cơ động tiếp vào miền Đông Nam Bộ, tham gia trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn - Gia Định.

        Ngày 2 tháng 4 năm 1975, khối 1 của quân đoàn được tăng cường Trung đoàn 51 ô tô vận tải. Đội hình toàn khối sẽ xuất phát từ Quảng Trị theo đường 9 qua Tây Trường Sơn, vượt đèo "Ăm Pun" trở lại Đông Trường Sơn, rồi qua thị xã Kon Tum theo đường 14A lên Plây Cu, Buôn Ma Thuột, Phước Long và tập kết ở khu vực Đồng Xoài.

        Đúng ngày giờ xuất phát, tôi lệnh cho sở chỉ huy lên đường. Lên xe, tôi mở hé kính cho gió trời ào ạt lùa vào mát rượi và chợt nhớ lại quãng thời gian 12 ngày đêm đã qua kể từ lúc chúng tôi rời Tam Điệp. Bao nhiêu sự việc sôi động đã xảy ra! Bao nhiêu xóm làng, thành phố mới được giải phóng. Và chúng tôi, đội dự bị chiến dịch của Quân đoàn 1 đã triển khai kịp thời, đồng bộ mọi mặt. Nhưng dù sao, chúng tôi đã không kịp tham gia tiến công căn cứ quân sự liên hợp của Mỹ - ngụy ở Đà Nẵng. Dù thế, đây cũng là một dịp thử thách sự điều hành công việc của cơ quan tham mưu quân đoàn trong một chiến dịch lớn.

        Nghĩ ngợi lan man, tôi nhớ về cái ngày đầu tháng 3 năm 1975, khi tranh thủ tạt về Hà Nội thăm nhà, tôi có dặn lại vợ: "Chuyến này anh đi có lẽ hai năm nữa mới trở về". Nhưng giờ đây thời cơ lớn đã đến. Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm, nhất định sẽ giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm nay! Và chính chúng tôi, những người lính Quân đoàn 1 đang hết lòng hết sức thực hiện mệnh lệnh của đồng chí Đại tướng - Tổng tư lệnh: Thần tốc - Táo bạo - Quyết thắng. Không, không thể hai năm. Có lẽ chỉ hai tháng... Đường ra trận mùa khô nhiều bụi và xóc quá! Tôi đã thấm mệt, thèm ngủ. Rồi tôi thiếp đi một giấc ngon lành. Và tôi đã tỉnh giấc, thấy mình đang đi trong rừng Trường Sơn quen thuộc. Phía trước và phía sau xe tôi, trùng trùng tăng pháo và bộ đội thuộc quân đoàn yêu quý vẫn mải miết tiến về hướng Nam.

 
(Hồi ký bạn chiến đấu Quân đoàn 1 - 2003)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Hai, 2017, 08:01:31 PM
       
MẤY VẤN ĐỀ VỀ NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG PHÁO BINH TRONG MÙA XUÂN 1975

        Đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, nghệ thuật sử dụng pháo binh đã phát triển đến mức cao nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đó là nghệ thuật sử dụng pháo binh trong những chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn kết hợp với phong trào nổi dậy của quần chúng trước thời cơ lịch sử mới đầy tính biến động về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, nhằm kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng.

        Sau đây là mấy vấn đề chủ yếu trong nghệ thuật sử dụng pháo binh:

        1. Nắm vững quy luật của chiến tranh giải phóng, khẩn trương xây dựng lực lượng pháo binh mạnh, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn trong giai đoạn kết thúc chiến tranh

        Một vấn đề nổi bật về sử dụng pháo binh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là ngoài việc hoàn chỉnh hệ thống pháo binh ở các cấp, ta đã nhanh chóng phát triển lực lượng pháo binh xe kéo lớn mạnh đáp ứng kịp thời yêu cầu của thời cơ chiến lược, phù hợp với quy luật chiến tranh giải phóng ở giai đoạn kết thúc chiến tranh.

        "Quy luật chiến tranh cách mạng là từ những đơn vị nhỏ ban đầu phát triển thành những binh đoàn lớn tác chiến hiệp đồng binh chủng để tiêu diệt lớn lực lượng địch và cuối cùng phải đánh vào thành phố, đánh vào đầu não và đập tan chính quyền địch, mới đánh gục được địch, giải phóng Tổ quốc". Xuất phát từ quy luật trên, tác chiến hiệp đồng binh chủng đã trở thành xu thế tất yếu trong giai đoạn kết thúc của chiến tranh giải phóng. Từ đó đòi hỏi phải xây dựng những binh đoàn binh chủng hợp thành có đủ thành phần binh chủng kỹ thuật với sức đột kích lớn, cơ động cao, hỏa lực mạnh, có khả năng chiến đấu liên tục và tiêu diệt lớn quân địch.

        Nói đến tác chiến hiệp đồng binh chủng, không thể không nói đến pháo binh. Quy mô tác chiến hiệp đồng càng lớn thì hỏa lực pháo binh càng phải mạnh, tổ chức và trang bị kỹ thuật pháo binh càng phải được hoàn thiện, trong đó sự phát triển pháo binh xe kéo có ý nghĩa quyết định.

        Lịch sử hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đã chứng minh điều đó. Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gắn liền với sự xuất hiện trung đoàn pháo binh xe kéo đầu tiên của quân đội ta.

        Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch hiệp đồng binh chủng như Làng Vây, Khe Sanh (1968), Đường 9 - Nam Lào (1971), Quảng Trị, Tây Nguyên, Bình Long (1972), Phước Long (1974) cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đều gắn liền với sự trưởng thành và hoạt động của pháo binh xe kéo từ nhỏ đến lớn.

        Đây là một vấn đề có tính quy luật của tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân ta, trong đó có lực lượng pháo binh. Năm 1954 - 1960, lực lượng ta ở miền Nam chưa có pháo; đến năm 1960 - 1964, có súng cối lực lượng vũ trang ta đã góp phần đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt; năm 1968, có súng cối và hỏa tiễn lực lượng vũ trang ta đã góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ"; từ năm 1968, ở các chiến trường đã bắt đầu phát triển pháo binh cơ giới, đến năm 1972 pháo binh cơ giới đã phát huy vai trò của mình trên cả ba chiến trường Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.

        Sự hình thành lực lượng pháo binh xe kéo lớn mạnh đáp ứng yêu cầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là kết quả của một quá trình đấu tranh giải quyết nhận thức cũng như chuẩn bị về tổ chức lực lượng cụ thể qua các thời kỳ lịch sử của chiến tranh.

        Năm 1968, trong điều kiện gặp nhiều khó khăn về đường cơ động, đạn dược, nhiên liệu, ta đưa pháo xe kéo vào Khe Sanh, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm. Năm 1972, khi đã giải quyết được hệ thống đường cơ động, ta kiên quyết đưa pháo xe kéo và sử dụng trên các chiến trường trọng điểm, mở ra triển vọng to lớn sử dụng rộng rãi pháo binh xe kéo trên chiến trường miền Nam. Từ giữa năm 1973 trở đi, trước tình hình phát triển thuận lợi của cách mạng miền Nam, song song với việc hình thành các binh đoàn chiến dịch và chuẩn bị cho việc thành lập các quân đoàn mới, ta đã phát triển vượt bậc lực lượng pháo binh xe kéo. Cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, số lượng pháo binh xe kéo được sử dụng đã lên tới trên 20 trung đoàn, lữ đoàn, gồm 67 tiểu đoàn. Đây là bước phát triển nhảy vọt, tạo nên sức mạnh rất lớn của hỏa lực pháo binh mà nòng cốt là hỏa lực pháo binh xe kéo trong cuộc Tổng tiến công chiến lược.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Hai, 2017, 11:35:58 PM

        Sự phát triển của lực lượng pháo binh xe kéo qua các chiến dịch lớn trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, được thể hiện như sau:

        Chiến dịch:                   Số tiểu đoàn xe kéo:

        - Điện Biên Phủ    1954        2

        - Khe Sanh          1968        9

        - Tây Nguyên       1975        16

        - Huế - Đà Nẵng   1975        20

        - Hồ Chí Minh        1975        47

        Đi đôi với phát triển về số lượng, chúng ta đã cải tiến một bước tổ chức pháo binh như: hình thành pháo binh ba cấp trong các đơn vị chủ lực (pháo binh chiến dịch, pháo binh sư đoàn, pháo cối đi cùng); khôi phục và xây dựng các trung đoàn pháo binh xe kéo trong các sư đoàn chủ lực; hình thành các trung đoàn, lữ đoàn pháo binh chiến dịch tầm xa, cỡ lớn (25 tiểu đoàn pháo tầm xa trong tổng số 67 tiểu đoàn pháo xe kéo). Do đó đã tạo nên sự chuyển biến về chất trong tổ chức lực lượng pháo binh, khả năng hỏa lực của các binh đoàn binh chủng hợp thành được tăng cường, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ tác chiến trong cuộc Tổng tiến công.

        Trong điều kiện cụ thể của nước ta, để phát huy mạnh mẽ vai trò của hỏa lực pháo binh trong tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn thì việc sử dụng pháo lấy được của địch cũng là một nguồn bổ sung quan trọng làm cho lực lượng pháo binh ta thêm mạnh và tạo ưu thế hỏa lực rõ rệt đối với địch.

        Đây là kinh nghiệm có tính quy luật của chiến tranh giải phóng và cũng là một truyền thống của quân đội ta, đã được thực hiện thành công trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975, kinh nghiệm này càng được vận dụng rộng rãi góp phần tích cực làm cho bộ đội pháo binh càng đánh càng mạnh. Ta đã tổ chức được 27/67 tiểu đoàn bằng vũ khí, phương tiện lấy được của địch. ở nhiều sư đoàn thuộc Khu 5 và Khu 9, các trung đoàn pháo binh được thành lập trong chiến đấu và tham gia tác chiến ngay. Đối với những loại pháo mới của địch như pháo 155, 175 ly, ta đã tuyên truyền giác ngộ và dùng binh lính địch để sử dụng kịp thời. Để thực hiện yêu cầu này, ngay từ năm 1973, theo chỉ thị của Bộ, Binh chủng Pháo binh đã chuẩn bị đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật để khi cần có thể sử dụng tốt pháo và cối lấy được của địch.

        Để phát huy hiệu quả cao nhất của lực lượng pháo binh, nhất là pháo binh xe kéo, phải giải quyết một loạt vấn đề về tổ chức, thiết bị chiến trường và công tác bảo đảm như mạng đường sá, hệ thống hậu cần, tiếp tế đạn dược, nhiên liệu, các cơ sở sửa chữa và bảo đảm kỹ thuật.

        Vấn đề then chốt đối với pháo binh là mạng đường sá và sức kéo. Từ sau chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968), nhiều đồng chí lãnh đạo của ta đã đề cập vấn đề này, vì có đường cơ động để đưa xe tăng, pháo binh vào mới đánh lớn được. Với 20.000 ki-lô-mét đường chiến lược và đường chiến dịch được mở rộng trong suốt quá trình chiến tranh, đến năm 1974, pháo binh xe kéo đã có thể đi suốt chiều dài đất nước, tiến xuống áp sát vùng giáp ranh từ Trị - Thiên, Huế - Đà Nẵng, Plây Cu - Buôn Ma Thuột đến Đông Nam Bộ. Nhờ đó đã tạo nên thế bố trí pháo binh rộng khắp, hết sức cơ động, đã phát huy tác dụng rất lớn, đánh địch kịp thời, liên tục trong quá trình cuộc Tổng tiến công.

        Vấn đề thứ hai là phải vận chuyển một khối lượng đạn dược, nhiên liệu rất lớn. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, vấn đề này đã được giải quyết bằng sự nỗ lực của cấp chiến lược, chiến dịch cho đến từng đơn vị pháo binh, thực hiện trên dưới cùng làm để đáp ứng yêu cầu liên tục cơ động đánh địch.

        Vấn đề thứ ba là bảo đảm kỹ thuật cho pháo binh trong suốt quá trình chiến đấu. Trong giai đoạn chuẩn bị, cấp chiến lược, chiến dịch đã tiến hành bảo đảm ở từng đơn vị để nâng cao hệ số sử dụng của xe, pháo và khí tài. Trong quá trình chiến dịch, do tính cơ động cao nên việc bảo đảm kỹ thuật chủ yếu là ở các trung đoàn pháo để sửa chữa ngay tại chỗ, khai thác sử dụng phương tiện lấy của địch để thay thế.

        Ba yêu cầu trên đã được giải quyết đồng bộ bằng sự nỗ lực của các cấp, các lực lượng, tạo điều kiện cho pháo binh xe kéo phát triển chiến đấu trong một chiến dịch dài ngày (55 ngày đêm) và trên một chiến trường rộng lớn.

        Tóm lại, phát triển lực lượng pháo binh, nhất là pháo binh xe kéo, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô ngày càng lớn, là một yêu cầu tất yếu của chiến tranh giải phóng, nhất là ở giai đoạn cuối chiến tranh.

        Dưới sự chỉ đạo chiến lược sắc bén của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Binh chủng Pháo binh đã nhận thức đầy đủ và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này, góp phần xứng đáng vào Đại thắng mùa Xuân 1975.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Hai, 2017, 11:36:59 PM

        2. Quán triệt quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng, ra sức phát triển lực lượng pháo binh địa phương, hình thành pháo binh tại chỗ rộng khắp, đánh địch mọi lúc, mọi nơi

        Phát triển lực lượng pháo binh ba thứ quân vững mạnh là một vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng lực lượng pháo binh.

        Trong quá trình chiến tranh, pháo binh địa phương đã không ngừng phát triển, góp phần rất lớn tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, nhiệm vụ của pháo binh địa phương là chi viện cho lực lượng địa phương kết hợp cùng quần chúng nổi dậy, giải phóng các chi khu quận lỵ, tiến lên giải phóng từng tỉnh; hình thành lực lượng pháo binh tại chỗ rộng khắp, góp phần cùng pháo binh chủ lực tiêu diệt quân địch, bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ bờ biển để pháo binh chủ lực rảnh tay tập trung cơ động đánh địch. Trong thực tế, hoạt động của pháo binh địa phương Quảng Trị, Khu 5, đồng bằng Nam Bộ đã có tác dụng rất lớn, chi viện cho lực lượng địa phương tiến công giải phóng các tỉnh Quảng Trị, Quảng Ngãi, Tuy Hòa và một số tỉnh ở đồng bằng Nam Bộ.

        Sự phát triển của pháo binh địa phương rất phong phú, từ hẹp đến rộng, từ phân đội nhỏ đến các đại đội, tiểu đoàn tập trung (Quảng Trị, Quảng Ngãi, Tây Nam Bộ). Từ chỗ chỉ quen sử dụng pháo cối nhỏ, nhiều nơi đã sử dụng được pháo mang vác của bộ đội chủ lực chuyển giao và tiến lên sử dụng pháo xe kéo thu được của địch, từ xây dựng pháo binh cho bộ đội địa phương, đã mở rộng việc trang bị pháo cho cả lực lượng dân quân tự vệ.

        Theo đà phát triển của cuộc Tổng tiến công, lực lượng pháo binh địa phương càng phát triển nhanh chóng. Hầu hết pháo đạn lấy được của địch đã được sử dụng. Nhiều nơi đã tuyên truyền giác ngộ pháo thủ, lái xe của địch sử dụng ngay trong chiến đấu. Đây là một nét đặc sắc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Cùng với sự phát triển lực lượng, trình độ chiến đấu của pháo binh địa phương được nâng cao, vừa tham gia đánh hiệp đồng, vừa chủ động đánh độc lập, vừa tiến công, vừa phòng ngự giữ làng, giữ biển, tạo nên phương thức thứ hai của pháo binh trong chiến tranh nhân dân. Các trận tham gia chi viện cho bộ đội địa phương giải phóng Quảng Trị, Quảng Ngãi, Tuy Hòa..., chi viện cho tiểu đoàn địa phương Phú Yên chặn địch ở Phú Bồn là những trận hiệp đồng tốt; trận đánh của phân đội ĐKB Quảng Đà vào sân bay Đà Nẵng và Tiểu đoàn 6 pháo binh Quảng Trị cơ động từ Cửa Việt vào tham gia khóa chặt cửa Thuận An là những trận đánh độc lập có chất lượng cao.

        Một vấn đề cũng cần được nêu lên là: để nhanh chóng hình thành các đơn vị pháo binh khi thành lập các quân đoàn và sư đoàn, từ năm 1973, chúng ta đã chuyển giao việc xây dựng và sử dụng các đơn vị pháo chuyên đánh căn cứ cho bộ đội pháo binh địa phương. Do đó trong các chiến dịch tiến công, các đơn vị pháo này đã kết hợp chặt chẽ với pháo binh chủ lực cùng quần chúng nổi dậy đánh vào các căn cứ, sân bay kho tàng, sở chỉ huy của địch, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho pháo binh chủ lực hình thành những "quả đấm" hỏa lực mạnh.

        Nói đến Tổng tiến công và nổi dậy là phải nói đến hai phương thức tác chiến. Trong Đại thắng mùa Xuân 1975, việc hình thành và hoạt động tác chiến của bộ đội pháo binh địa phương đã góp phần không nhỏ vào phong trào tiến công và nổi dậy của địa phương, góp phần thúc đẩy nhanh đà tan rã và thất bại của địch.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Hai, 2017, 11:37:53 PM

        3. Nắm vững thời cơ chiến lược, quán triệt tư tưởng chỉ đạo "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng", bắn đúng thời cơ là một yêu cầu về sử dụng hỏa lực mang ý nghĩa chiến dịch rất lớn

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, sau đòn "điểm huyệt" của ta vào Buôn Ma Thuột, địch lâm vào thế bị động lúng túng, phải thực hành rút lui chiến lược. Tình hình đó đã tạo ra thời cơ lớn cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. Trước sự phát triển của cách mạng, pháo binh cần phải có cách đánh thích hợp thì mới đáp ưng được yêu cầu. Lúc này quân địch đã hoang mang rối loạn, dễ bị tan rã từng mảng. Đánh địch kịp thời không cho chúng hồi phục là một vấn đề có ý nghĩa quyết định. Do đó đánh kịp thời, bất ngờ, đúng thời cơ đã trở thành yêu cầu hàng đầu đối với pháo binh; nếu bắn đúng thời cơ thì chỉ cần một số đạn nhỏ cũng đạt được hiệu quả rất lớn, tạo điều kiện cho bộ binh và xe tăng chóng phát triển tiến công, tiêu diệt gọn từng bộ phận lớn quân địch, không cho chúng co cụm. Vai trò chủ yếu lúc này thuộc về pháo xe kéo vì phải có tầm bắn xa, uy lực lớn, mức chính xác cao, cơ động nhanh thì mới đáp ứng được yêu cầu nói trên.

        Hỏa lực bất ngờ của pháo binh bắn vào trung tâm đầu não quân địch ở Buôn Ma Thuột đã làm cho chúng rối loạn và nhanh chóng tan vỡ. Những trận đánh kịp thời của pháo binh Trị - Thiên và pháo binh Quân đoàn 2 bắn vào cửa Thuận An và Tư Hiền đã bịt chặt đường rút của địch, tạo điều kiện cho quân và dân Trị - Thiên và binh đoàn chủ lực tiêu diệt gọn quân địch, giải phóng thành phố Huế. Những trận đánh kịp thời của pháo binh Quảng Đà và các Trung đoàn pháo 164, 572 vào sân bay, trung tâm hành chính Đà Nẵng, Hòa Khánh đã tác động rất mạnh vào tinh thần ngụy quân ngụy quyền, tạo điều kiện cho các lực lượng của Quân đoàn 2 và Quân khu 5 nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng. Trận đánh kịp thời của pháo binh Sư đoàn 7, bằng một đại đội với một vài loạt bắn vào Đà Lạt đã buộc địch ở đây phải đầu hàng. Những trận đánh khóa chặt sân bay Biên Hòa và bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất trước khi ta tiến công vào Sài Gòn cũng có giá trị rất lớn về chiến dịch. Trên thực tế, mỗi khi pháo binh đánh kịp thời thì đều gây biến động lớn về tinh thần tâm lý đối với địch, hiệu quả đạn pháo được nhân lên gấp bội, góp phần cho bộ binh và xe tăng ta tăng tốc độ tiến công, giảm bớt được thương vong trong chiến đấu.

        Để đánh kịp thời cơ, ngoài yếu tố hàng đầu là quán triệt tư tưởng chỉ đạo chiến  lược của trên, nắm vững thời cơ, có quyết tâm cao, còn phải giải quyết tốt các vấn đề sau đây:

        - Bố trí thế trận pháo binh thích hợp và hết sức cơ động. Trong chiến dịch Tây Nguyên pháo binh đã kịp thời chi viện cho bộ binh chặn địch ở Phú Bồn, vì trước đó ta đã cài thế pháo binh trên hướng đường 7. Pháo binh ở Huế - Đà Nẵng kịp thời đánh vào các mục tiêu trọng điểm, chặn đường rút lui của địch, vì ta đã đưa pháo tầm xa, cỡ lớn vào áp sát vùng giáp ranh, bố trí thế trận hết sức cơ động vừa đánh được địch ở Huế, lại có thể cơ động hỏa lực đánh vào Đà Nẵng.

        - Vấn đề cơ động đóng một vai trò có ý nghĩa quyết định trong việc sử dụng pháo binh. Trong các chiến dịch, ta đã thực hành cơ động đường dài, cơ động chiến đấu nhanh nhất bằng mọi phương tiện có thể tận dụng được (đường bộ, bằng tàu biển, bằng phương tiện thô sơ như thuyền ghép của các đơn vị pháo binh Tây Nam Bộ).

        - Trong hành động chiến đấu của pháo binh, phải triển khai nhanh, chuẩn bị bắn bằng các phương pháp chính xác và nhanh nhất. Mục tiêu là tập trung vào trận địa pháo, sân bay, sở chỉ huy, cơ quan đầu não của địch, các hướng địch có thể rút lui bằng đường bộ, đường biển, đường không. Trong cuộc Tổng tiến công Xuân 1975, từ sau trận mở đầu Buôn Ma Thuột, pháo binh vừa hành tiến vừa đánh địch, nhiều trường hợp phải chuẩn bị rất gấp, có lúc không đợi triển khai đủ đội hình mà vào được khẩu nào, đơn vị nào là phát huy hỏa lực ngay. Tình hình này đã xuất hiện từ chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, khi Trung đoàn 45 vừa hành quân vừa triển khai đánh địch ở cầu Cha Ki. Đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, kinh nghiệm này đã được vận dụng phổ biến và phát huy hiệu lực lớn.

        Người chỉ huy pháo binh phải ở vị trí chỉ huy của bộ binh để giữ vững hiệp đồng, nắm chắc quyết tâm và yêu cầu của bộ đội binh chủng hợp thành, tổ chức chỉ huy chặt chẽ trong suốt quá trình chiến đấu và chiến dịch.

        Thắng lợi lịch sử của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đánh dấu một bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung và nghệ thuật sử dụng pháo binh nói riêng. Nhiều bài học rất quý đến nay vẫn có giá trị thiết thực đối với việc xây dựng và tác chiến của pháo binh trong giai đoạn mới.

        (Cuốn "Trận quyết chiến lịch sử do Viện lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản 1990)


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: pb47vp trong 16 Tháng Hai, 2017, 06:35:41 AM
Chào bác Giangtvx
Cảm ơn bác đã đưa kí ức Pháo Binh lên trang cho bạn đọc xa gần hiểu thêm về  ngành của tôi. Chúc bác và gia đình luôn mạnh khỏe và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Hai, 2017, 10:27:29 PM

NHỮNG TRẬN ĐÁNH HAY CỦA PHÁO BINH TRONG ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975

        Nhân kỷ niệm ngày toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhìn lại những hoạt động chiến đấu, xây dựng của bộ đội pháo binh thực sự là một kỳ tích, một trang sử vẻ vang về truyền thống pháo binh nhân dân Việt Nam. Nhân dịp này cũng xin được nói thêm về một vài suy nghĩ trong công tác chuẩn bị lực lượng mang tính chiến lược của Binh chủng Pháo binh cho "Đại thắng mùa Xuân 1975" và một số trận đánh hay của pháo binh qua những ngày tháng lịch sử ấy.

        Từ sau chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 và chiến thắng của cuộc tiến công chiến lược năm 1972, vai trò hỏa lực pháo binh trong tác chiến hiệp đồng quy mô lớn đã được xác định là "Hỏa lực chủ yếu". Nói đến vai trò hỏa lực chủ yếu, ngoài hỏa lực pháo mang vác phải kể đến vị trí của pháo binh xe kéo nhất là pháo xe kéo có tầm bắn xa uy lực đạn lớn; cũng có thể nói: "Quy mô tác chiến hiệp đồng binh chủng ngày càng lớn thì yêu cầu và quy mô sử dụng pháo binh sẽ tăng lên, ngược lại số lượng pháo binh tham gia chiến dịch ngày càng nhiều, cỡ nòng pháo lớn hơn thì chất lượng chiến dịch nhất định cũng cao hơn". Với quan điểm ấy, theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, ngay từ những tháng đầu năm 1973 bộ đội pháo binh một mặt luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu đánh bại mọi âm mưu lấn chiếm của địch, đồng thời cũng phải ra sức chuẩn bị xây dựng mọi mặt về tổ chức lực lượng, trang bị lại cho các đơn vị Pháo binh ở cả hai miền theo hướng kiện toàn, khôi phục và mở rộng các trung  - lữ đoàn pháo binh xe kéo, gấp rút điều chỉnh bổ sung xe pháo khí tài đạn cho các đơn vị pháo binh ở các chiến trường miền Nam nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng mới là chuẩn bị đánh lớn để thắng lớn.

        Các quân đoàn dự bị chiến lược của Bộ được trang bị tương đối hiện đại, có đầy đủ các binh chủng kỹ thuật bảo đảm, có sức đột kích lớn, có hỏa lực mạnh, có khả năng cơ động cao, sẵn sàng độc lập hoàn thành những nhiệm vụ tác chiến trên từng hướng chiến lược lần lượt được hình thành:

        - Ngày 24 tháng 10 năm 1973, Quân đoàn 1 được thành lập với tên gọi Binh đoàn Quyết thắng có Lữ đoàn Pháo binh 45 - một đơn vị pháo binh anh hùng có độ dày truyền thống chiến đấu từ chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954; các sư đoàn 308, 312, 320B đều có trung đoàn pháo xe kéo mang phiên hiệu 54, 58 và 186, mỗi trung đoàn đều trang bị hai tiểu đoàn lựu pháo 122 ly và một tiểu đoàn pháo nòng dài 85 ly.

        - Ngày 17 tháng 5 năm 1974, Quân đoàn 2 được thành lập với tên gọi Binh đoàn Hương Giang có Lữ đoàn pháo binh 164 một đơn vị có nhiều thành tích chiến đấu trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ gồm bốn tiểu đoàn pháo 130 ly và Đ74; các sư đoàn 304, 324, 325 đều có trung đoàn pháo xe kéo 68, 84, 178 được biên chế đủ mỗi trung đoàn ba tiểu đoàn pháo xe kéo.

        - Ngày 20 tháng 7 năm 1974, Quân đoàn 4 được thành lập với tên gọi Binh đoàn Cửu Long có Lữ đoàn pháo binh xe kéo 24, một đơn vị chủ lực của Bộ chỉ huy Miền đã dày dạn chiến đấu trên chiến trường miền Đông Nam Bộ biên chế bốn tiểu đoàn pháo xe kéo cỡ lớn còn ở ba sư đoàn của quân đoàn cũng khôi phục ba trung đoàn pháo xe kéo mang phiên hiệu 42, 28 và 210.

        - Mặt trận Tây Nguyên vốn là "B3" đảm nhiệm một địa bàn chiến lược của chiến trường Việt Nam được tổ chức hai trung đoàn pháo 675 và 40 trang bị pháo lớn có tầm bắn xa; ở ba sư đoàn 320A, 316 và 10 cũng đều khôi phục xây dựng trung đoàn pháo xe kéo, nhưng có trung đoàn mới biên chế hai tiểu đoàn.

        - Ở các quân khu miền Nam cũng xây dựng thành các trung đoàn pháo xe kéo như Quân khu Trị - Thiên có Trung đoàn 16 trang bị hỗn hợp pháo 130, 152, 100 và 85 ly; Quân khu 5 có hai trung đoàn 572 và 576; tại Mặt trận B2 kiện toàn Đoàn Pháo binh 75 cả về tổ chức và trang bị; Quân khu 9 xây dựng Trung đoàn 6 pháo binh có cả pháo xe kéo và pháo mang vác. Các sư đoàn bộ binh độc lập thuộc Quân khu 5, miền Đông Nam Bộ cũng xây dựng trung đoàn pháo trang bị hỗn hợp cả pháo xe kéo và pháo mang vác v.v...

        Đây là bước nhảy vọt về chất trong tổ chức phát triển lực lượng của Binh chủng Pháo binh, chỉ trong thời gian chưa đầy hai năm 1973 - 1974, chúng ta đã xây dựng xong sáu lữ đoàn và 26 trung đoàn pháo xe kéo có thể sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu từ tháng 12 năm 1974.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Hai, 2017, 10:29:14 PM

        Song song với việc xây dựng lực lượng, trong hai năm 1973 - 1974, ở từng chiến trường đã khẩn trương mở rộng và xây dựng các tuyến đường mới để nối tiếp từ đường chiến lược Trường Sơn tới từng chiến trường bảo đảm cho tất cả các loại xe kéo pháo hạng nặng có thể cơ động thuận lợi, có chiến trường mạng đường sá đã vươn dài sát đường số 1, đường 14 v.v...; có đơn vị pháo binh dựa vào nhiệm vụ tác chiến cũng xây dựng một số trận địa pháo xe kéo cho pháo 130 ly, Đ74 được lót một số đạn chỉ chờ lệnh là có thể đưa pháo vào chiếm lĩnh bắn tới các mục tiêu hiểm yếu trong các thành phố, sân bay, hải cảng v.v...

        Tóm lại công tác xây dựng phát triển, khôi phục lực lượng pháo binh xe kéo cùng với việc xây dựng mới hệ thống đường sá cho pháo binh cơ động, việc tổ chức mạng đo đạc pháo binh, tổ chức trinh sát nắm địch trên khắp các chiến trường miền Nam là những nhân tố rất quan trọng bảo đảm cho pháo binh có thể phát huy mạnh mẽ vai trò hỏa lực chủ yếu của mình theo yêu cầu tác chiến hiệp đồng quy mô lớn của quân đội ta trong các chiến dịch mang tính quyết chiến chiến lược cuối cùng.

        Vào mùa Xuân 1975, ngay từ tháng 1 năm 1975, quyết tâm của Bộ Chính trị là: "... Động viên mọi nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền trong thời gian hai năm 1975 - 1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam, tạo mọi điều kiện để tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa, đánh đổ ngụy quyền giành chính quyền về tay nhân dân...". Thực hiện ý định ấy của Đảng, theo lệnh của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, từ đầu tháng 3 năm 1975, Mặt trận Tây Nguyên vinh dự nổ phát súng đầu tiên bằng trận tiến công đánh chiếm Buôn Ma Thuột, thừa thắng quân ta mở chiến dịch tiến công giải phóng Thừa Thiên - Huế, kế tiếp là chiến dịch tiến công giải phóng thành phố Đà Nẵng và cuối cùng là Chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh đại thắng. Như vậy không phải là hai năm mà chỉ có hai tháng; qua 55 ngày đêm vừa tiến công vừa nổi dậy, bộ đội pháo binh đã cùng quân và dân miền Nam phát huy sức mạnh hỏa lực của mình bằng nhiều cách đánh hay cả trong đánh hiệp đồng và đánh độc lập, luôn luôn nắm vững thời cơ, nổ súng kịp thời, bắn trúng, hoàn thành mọi nhiệm vụ và yêu cầu của người chỉ huy chiến dịch, người chỉ huy binh chủng hợp thành.

        * Trong tác chiến hiệp đồng

        Nổi bật trong đánh hiệp đồng cần nhắc lại trong chiến dịch tiến công Tây Nguyên, một chiến dịch mà việc sử dụng pháo có bài bản vận dụng nhiều cách đánh sáng tạo, linh hoạt. Tây Nguyên là một địa bàn có vị trí chiến lược đối với Việt Nam và toàn Đông Dương, ở đó quân địch có sư đoàn bộ binh 23, 7 liên đoàn biệt động, 36 tiểu đoàn bảo an, 4 thiết đoàn gồm khoảng 400 xe tăng, xe bọc thép; về pháo có 8 tiểu đoàn, 7 pháo đội, 25 trung đội với 230 khẩu pháo các loại, riêng ở Buôn Ma Thuột có 7 trận địa pháo 105 - 155 ly với 32 khẩu. Quân ta tham gia chiến dịch có ba sư đoàn bộ binh, một trung đoàn xe tăng, hai trung đoàn cao xạ. Ngày 17 tháng 2 năm 1975, trong Hội nghị cán bộ quân chính, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến dịch phổ biến quyết tâm tác chiến: "...Tập trung lực lượng chủ yếu của chiến dịch vào khu vực Buôn Ma Thuột, mục tiêu then chốt là đánh chiếm Buôn Ma Thuột sau đó phát triển thắng lợi tiêu diệt địch giải phóng Cheo Reo - Gia Nghĩa và các quận lỵ chi khu trong ba tỉnh Tây Nguyên; trọng điểm vẫn là tỉnh Đăk Lăk. Cách đánh của chiến dịch là cắt đường số 14, 19, 21 ngăn chặn địch ứng cứu... Riêng trận tiến công then chốt Buôn Ma Thuột sẽ tiến công bằng hiệp đồng binh chủng quy mô tương đối lớn với binh - hỏa - lực tập trung ưu thế, đánh từ nhiều hướng có xe tăng, pháo xe kéo đi cùng bí mật thọc sâu chia cắt đánh thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột chiếm các mục tiêu hiểm yếu...".

        Nhiệm vụ của pháo binh trong chiến dịch là tập trung vào hai nhiệm vụ chủ yếu:

        - Tập trung pháo đạn chi viện bộ binh, xe tăng đánh trận then chốt Buôn Ma Thuột.

        - Tổ chức kiềm, diệt các trận địa pháo địch, không để chúng gây trở ngại đến hành động chiến đấu của ta.

        Lực lượng pháo binh tham gia chiến dịch, có năm trung đoàn pháo xe kéo (trong đó có hai trung đoàn pháo của Mặt trận) với 478 khẩu pháo cối (có 94 khẩu pháo xe kéo và 35 khẩu pháo mang vác cỡ lớn). Riêng trong trận tiến công then chốt Buôn Ma Thuột, ta tập trung ba trung đoàn pháo xe kéo với 60 khẩu pháo (quân địch có 32 khẩu), hai trung đoàn 675 và 40 là hai cụm pháo chiến dịch, Trung đoàn pháo xe kéo 187 là cụm pháo sư đoàn.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Hai, 2017, 05:59:18 AM

        Từ ngày 7 tháng 3 năm 1975, ta bắt đầu tiến công cứ điểm Chư Xê và đánh chiếm quận lỵ Thuẫn Mẫn để cắt đường 14; ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận tiến công đánh chiếm Buôn Ma Thuột mới chính thức bắt đầu, kế tiếp là đánh địch phản kích bằng đường không, đường bộ chiếm lại Buôn Ma Thuột rồi hợp vây tiêu diệt toàn bộ quân địch đồn trú thuộc ba tỉnh Tây Nguyên rút chạy. Qua trên 10 ngày đêm của chiến dịch, cách đánh của pháo binh nổi lên ba đòn hỏa lực được sử dụng tập trung và hiệu quả chi viện đắc lực cho ba sư đoàn bộ binh và xe tăng tiêu diệt gọn từng trung đoàn bộ binh, liên đoàn biệt động, thiết đoàn ngụy.

        Đòn hỏa lực thứ nhất - Pháo binh sử dụng ưu thế pháo đạn chi viện bộ binh xe tăng thọc sâu đánh chiếm Buôn Ma Thuột.

        Đây là một đòn hỏa lực pháo binh được chuẩn bị khá chu đáo, đầy đủ và bài bản cho một trận tiến công quy mô tương đối lớn, dùng hỏa lực pháo bắn chuẩn bị, bảo đảm cho bộ binh xe tăng đi làm nhiều mũi dựa vào đường quân sự làm gấp do công binh mở, thọc sâu đánh chiếm ngay cùng một lúc những mục tiêu chủ yếu trong thị xã Buôn Ma Thuột. Theo kế hoạch giờ G là 6 giờ ngày 10 tháng 3 năm 1975, nhưng thời tiết xấu nên đến 7 giờ 10 phút pháo binh mới bắt đầu thực hành hỏa lực chuẩn bị với gần 5.000 viên đạn cỡ lớn cùng một lúc vào ba mục tiêu chủ yếu là sở chỉ huy sư 23 ngụy, sở chỉ huy tiểu khu Đăk Lăk, căn cứ liên hiệp quân sự và bảy trận địa pháo địch. Đạn trúng mục tiêu ngay loạt đạn đầu, diệt nhiều địch, gây cháy nổ làm tê liệt hoàn toàn các trận địa pháo địch... Khoảng trưa, bộ binh và xe tăng đã chạm địch ở các cứ điểm ngoại vi thành phố; đến 15 giờ quân ta đánh chiếm được sở chỉ huy tiểu khu quân sự Đăk Lăk, khu căn cứ liên hợp quân sự và một phần sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy, căn cứ này địch tổ chức phòng ngự khá kiên cố, quân ta phải tổ chức lại để tiến công. Lúc 6 giờ sáng ngày 11 tháng 3 năm 1975, sau đợt hỏa lực pháo bắn chuẩn bị lần thứ hai với mật độ đạn lớn, kết hợp với pháo bắn thẳng của 85 ly, xe tăng và hỏa lực pháo mang vác; đến 9 giờ ta làm chủ sở chỉ huy sư 23 ngụy và tới 11 giờ cùng ngày quân ta cùng nhân dân đã làm chủ hoàn toàn Buôn Ma Thuột.

        Đòn hỏa lực thứ hai - Pháo binh cơ động trận địa, cơ động hỏa lực bám sát hành động của địch, bắn kịp thời chi viện đắc lực bộ binh xe tăng đập tan các cánh quân phản kích của địch để chiếm lại Buôn Ma Thuột.

        Đây là một giai đoạn hỏa lực pháo binh được thực hiện với nhiều mục tiêu nằm ngoài kế hoạch, lại phải di chuyển trận địa; nhưng do có dự kiến từ trước và tổ chức được nhiều đài quan sát luồn sâu, bám sát đội hình chiến đấu của hai Sư đoàn bộ binh 316 và 10, nên ngày 12 tháng 3 năm 1975 khi trung đoàn 45 ngụy đổ bộ bằng trực thăng xuống cao điểm 581 để cùng trung đoàn 53, liên đoàn biệt động 21 ngụy tổ chức phản kích thì lập tức bị hỏa lực các cụm pháo chiến dịch bắn trúng, bắn mạnh chia cắt đội hình của chúng, tạo điều kiện cho bộ binh xe tăng liên tiếp trong những ngày 13 đến 15 tháng 3 tiêu diệt từng trung đoàn địch, đánh chiếm căn cứ trung đoàn 53 ngụy; số địch còn lại phải rút chạy về Phước An. Trung đoàn bộ binh 24 đã dùng xe cơ giới truy kích có xe tăng tăng cường và được cụm pháo 675 trực tiếp chi viện. Sáng 16 tháng 3 năm 1975, sau đợt tập kích hỏa lực pháo Đ74 của cụm pháo 675, các mũi bộ binh xe tăng Trung đoàn 24 của ta đã đánh chiếm quận lỵ Phước An, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, thừa thắng quân ta đánh chiếm quận lỵ Chư Pa tiêu diệt tàn quân của sư đoàn 23 ngụy và đập tan toàn bộ kế hoạch phản kích của địch vào Buôn Ma Thuột.

        Đòn hỏa lực thứ 3 - pháo binh vừa cơ động vừa chuẩn bị chi viện Sư đoàn 320A hợp vây tiêu diệt toàn bộ quân địch thuộc ba tỉnh Tây Nguyên tháo chạy.

        Từ chiều 16 tháng 3, ta đã phát hiện quân địch từ hai tỉnh Kon Tum, Plây Cu bắt đầu rút theo đường 7 qua Cheo Reo về đồng bằng. Bộ chỉ huy Mặt trận lệnh cho Sư đoàn 320A có Trung đoàn 95 làm dự bị được tăng cường một tiểu đoàn xe tăng và cụm pháo binh 675 bám chặt và tiêu diệt gọn toàn bộ quân địch rút chạy khỏi Tây Nguyên. Kế hoạch tác chiến của Sư đoàn 320A như sau:

        - Trung đoàn 66 dùng xe ô tô cơ động được tăng cường hai khẩu 105 ly, hai khẩu 85 ly có nhiệm vụ chia cắt đội hình địch trên đường 7.

        - Trung đoàn 64 làm nhiệm vụ luồn sâu đánh chiếm một đoạn đường 7 phía Đông Nam thị xã Cheo Reo chặn đầu cuộc hành quân rút chạy của địch.

        - Trung đoàn 48 đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu được tăng cường trung đoàn pháo của sư đoàn.

        - Trung đoàn pháo 675 là cụm pháo của sư đoàn nhanh chóng cơ động chiếm lĩnh trận địa bắn ngay vào Cheo Reo.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Hai, 2017, 06:01:52 AM

        Lúc 16 giờ ngày 17 tháng 3 năm 1975, tiểu đoàn đi đầu của Trung đoàn 64 đã chạm địch trên đường số 7, tiêu diệt đoàn xe tám chiếc và làm chủ đường số 7, phía Đông Nam Cheo Reo 4 - 5 ki-lô-mét cùng ngày 17 tháng 3; sau khi bộ binh đánh chiếm Chư Pa mở đường cho pháo xe kéo cơ động và chiếm lĩnh trận địa, đến 11 giờ 30 phút ngày 18 tháng 3, pháo Đ74 đã bắt đầu rót đạn vào các mục tiêu trong thị xã Cheo Reo gây cho địch hoang mang rối loạn; 18 giờ 30 phút quân ta đã chiếm sân bay Cheo Reo; cụm pháo của Trung đoàn 48 bắt đầu phát huy hỏa lực, pháo 85 cùng xe tăng tiêu diệt các ổ đề kháng của địch, chi viện cho bộ binh liên tiếp đánh chiếm trại Ngô Quyền, ty cảnh sát, tiểu khu quân sự. Đến sáng 19 tháng 3, quân ta làm chủ hoàn toàn Cheo Reo, bắt gọn sáu liên đoàn biệt động, ba thiết đoàn xe tăng, sáu tiểu đoàn pháo 155 ly và 105 ly; ba tỉnh Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng.

        Đây là một trận tác chiến hiệp đồng quy mô lớn diễn ra có nhiều biến động ngoài kế hoạch trên một chính diện rộng, tung thâm sâu, địa hình rừng núi, đường sá ít; nhưng do có sự chuẩn bị chu đáo, xây dựng lực lượng pháo đủ cho các cấp trước chiến dịch nên pháo binh đã phát huy mạnh mẽ sức mạnh hỏa lực của mình. Trong tổ chức các cụm pháo rất linh hoạt như cụm pháo chiến dịch trong hai đòn hỏa lực 1 và 2, Bộ chỉ huy luôn nắm quyền sử dụng; đến khi quân địch rút chạy, Bộ chỉ huy đã nhanh chóng chuyển thuộc tất cả cho các sư đoàn sử dụng, do đó việc hiệp đồng tác chiến bộ - pháo được kịp thời và hiệu quả. Về cách bắn luôn coi trọng lối bắn trực tiếp của pháo xe kéo đi cùng bộ binh xe tăng trong chiến đấu tiến công, đây cũng là truyền thống đẹp sử dụng pháo xe kéo của Mặt trận Tây Nguyên.

        * Trong cách đánh độc lập

        Đánh độc lập của pháo binh trong Đại thắng 1975 cũng thể hiện một lối đánh độc đáo, nhất là việc sử dụng pháo nòng dài 130 ly và Đ74 đánh vào các mục tiêu trong tung thâm sâu của từng chiến dịch, hình thành một mũi tiến công mới bằng hỏa lực pháo binh nhằm bao vây chặn đứng từng mảng quân địch rút chạy, tạo điều kiện cho bộ binh xe tăng có đủ thời gian vận động tới tiêu diệt, hoặc làm nhiệm vụ đánh phá các sân bay chiến lược, các trung tâm đầu não ngụy quân ngụy quyền. Trong Đại thắng mùa Xuân 1975 có những trận đánh độc lập không những đã hoàn thành sứ mạng nhiệm vụ của chiến dịch, mà còn làm tròn nhiệm vụ mang ý nghĩa chiến lược góp phần thúc đẩy nhanh hơn quá trình tan rã và sụp đổ của những tập đoàn chiến lược của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các mũi tiến công của các binh đoàn bộ binh, xe tăng nhanh chóng giành toàn thắng cả về chiến dịch và chiến lược.

        Xin kể một số trận đánh hay:

        • Pháo 130 ly và Đ74 khóa cửa Thuận An, cửa Tư Hiền trong chiến dịch tiến công giải phóng Thừa Thiên - Huế.

        Trước thắng lợi to lớn ở chiến trường Tây Nguyên, ngày 20 tháng 3 năm 1975, Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 mở chiến dịch tiến công Thừa Thiên - Huế nhằm tiêu diệt sư đoàn 1 ngụy, giải phóng cố đô Huế. Theo kế hoạch, ngày 22 tháng 3 năm 1975 Sư đoàn 325 đã đánh chiếm Phú Lộc cắt quốc lộ 1 với Đà Nẵng, các hướng Tây và Bắc Thừa Thiên cũng tiến công mạnh, quân địch chuẩn bị rút chạy theo đường biển qua cửa Thuận An, cửa Tư Hiền. Quân khu Trị - Thiên lập tức hạ lệnh cho Đại đội 3 pháo 130 ly của Trung đoàn 16 bắn ngay vào quân địch ở cửa Thuận An, cảng Tân Mỹ. Đại đội 3 trang bị hai khẩu 130 ly bí mật bố trí trận địa ở Phong Sơn sát đường 1 đã lót đủ đạn, ngày 22 tháng 3 khi được lệnh, đại đội đã kịp thời nổ súng từ trưa ngày 22 tháng 3 năm 1975 vào cửa Thuận An. Trước sức tiến công mạnh của ta từ ba hướng Bắc, Tây, Nam vào thành phố Huế, quân địch bắt đầu chạy khỏi Huế, Trung đoàn 164 được lệnh điều thêm pháo 130 ly và Đ74 ra bố trí ở La Sơn, Sơn Quả cùng Đại đội 3 ở Phong Sơn, từ hai khẩu ban đầu lên 18 khẩu từ ngày 23 tháng 3 ta bắn mạnh khóa chặt đường rút chạy bằng tàu biển của địch, tạo điều kiện cho bộ binh xe tăng ngày 25 tháng 3 đánh chiếm cố đô Huế và hợp vây ở cửa Thuận An, cửa Tư Hiền bắt sống toàn bộ quân địch ở Thừa Thiên - Huế. Lượng tiêu thụ đạn bắn vào cửa Thuận An và cửa Tư Hiền như sau:

        Ngày 22 tháng 3 năm 1975 bắn 36 viên.

        Ngày 23 tháng 3 năm 1975 bắn 800 viên.

        Ngày 24 tháng 3 năm 1975 bắn trên 1.000 viên.

        Ngày 25 tháng 3 năm 1975 bắn trên 1.000 viên.

        Với gần 3.000 viên đạn pháo 130 ly và Đ74, chúng ta đã tạo thành một lưới lửa chặn đứng các đoàn tàu địch tiếp cận đón quân địch, tạo điều kiện chiến dịch tiến công giải phóng Thừa Thiên - Huế thắng lợi giòn giã, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ mấy vạn quân địch cùng tất cả các trang bị kỹ thuật hiện đại.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Hai, 2017, 07:45:32 PM

        • Pháo 130 ly và Đ74 bắn phá sân bay Đà Nẵng, cảng Đà Nẵng chặn đường rút chạy co cụm của toàn bộ quân địch ở khu liên hợp quân sự Đà Nẵng.

        Ngày 26 tháng 3 năm 1975, Quân khu 5 và Quân đoàn 2 từ hai hướng Bắc - Nam mở chiến dịch tiến công giải phóng Đà Nẵng. Ngay từ đêm 25 tháng 3, các đơn vị pháo 130 ly và Đ74 của Lữ đoàn 164 Quân đoàn 2 đã cơ động chiếm lĩnh trận địa bắn ở Gia Bảy, Mũi Trâu, Động Đen, một trận địa đã được chuẩn bị từ cuối năm 1974, có công sự, có phần tử sẵn sàng bắn tới các mục tiêu trong khu liên hợp quân sự Đà Nẵng. Được nhân dân giúp đỡ, các đài quan sát đã bám sát các mục tiêu như sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy, sân bay Đà Nẵng, cảng Đà Nẵng v.v... Ngày 28 tháng 3 ở hướng Bắc, Sư đoàn 304, Sư đoàn 325 Quân đoàn 2 đã tiến công đánh chiếm một số căn cứ phía Bắc và Tây Đà Nẵng; ở cánh nam Sư đoàn 2 Quân khu 5 cũng đã tiến vào ngoại vi thành phố. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, chúng dựa vào hai đường hàng không và đường biển di tản. Sau khi đã nắm chắc địch và quan sát rõ mục tiêu, theo lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch đúng trưa 28 tháng 3, pháo 130 ly và Đ74 tập trung bắn phá sân bay Đà Nẵng và cảng Đà Nẵng. Sân bay trúng đạn, kho bom nổ, đường băng hỏng và đến chiều tối thì sân bay hoàn toàn bị tê liệt ngừng hoạt động; sau đó ta tập trung bắn vào cảng Đà Nẵng và bãi biển Mỹ Khê; một số tàu đổ bộ trúng đạn bốc cháy, pháo ta tiếp tục bắn phá suốt đêm 28-3 vào cảng, các sở chỉ huy địch tạo điều kiện thuận lợi cho các sư đoàn có xe tăng chi viện từ nhiều hướng tiến công, đến sáng 29 tháng 3 đã đột nhập vào thành phố và 15 giờ cùng ngày quân dân làm chủ hoàn toàn thành phố Đà Nẵng sau 32 giờ mở chiến dịch tiến công. Trong công lao to lớn của quân và dân ta tiến công đánh chiếm khu liên hợp quân sự Đà Nẵng bắt sống hàng chục vạn quân địch với đầy đủ trang bị vũ khí xe cộ, phải nói đến vai trò hỏa lực của pháo 130 ly và Đ74 đã cơ động nhanh, bố trí trận địa táo bạo sử dụng hỏa lực tập trung bắn kịp thời, khóa chặt hai cửa rút chạy của địch là đường không và đường biển, tạo điều kiện thuận lợi cho các mũi tiến công hợp vây tiêu diệt quân địch.

        • Đại đội 26 pháo 130 ly miền Đông Nam Bộ bắn phá sân bay chiến lược Biên Hòa trước ngày mở Chiến dịch Hồ Chí Minh.

        Để bảo đảm cho các cánh quân của ta tiến công trong hành tiến và thần tốc cơ động tham gia Chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh, Bộ chỉ huy chiến dịch đã giao nhiệm vụ cho Đoàn pháo binh 75 đưa pháo 130 ly vào chiếm lĩnh trận địa ở Hiếu Liêm (thủy điện Trị An hiện nay) để khống chế tiến tới khóa chặt sân bay Biên Hòa, một căn cứ không quân chiến lược của ngụy.

        Đại đội 26 trang bị pháo 130 ly là một trong những đơn vị từ miền Bắc bổ sung, vốn đã bám trụ chiến đấu ở Mặt trận Vĩnh Linh từ những năm 1967 - 1968 và tháng 1 năm 1975 khi vừa vào tới chiến trường miền Đông Nam Bộ đã vinh dự tham gia trận tiến công giải phóng thị xã Phước Long, nay lại nhận nhiệm vụ đánh phá sân bay Biên Hòa với yêu cầu đánh liên tục, bám trụ dài ngày mà thời gian chuẩn bị lại gấp. Lúc 19 giờ ngày 9 tháng 4 năm 1975, toàn đại đội xuất phát, hành quân trong ba đêm trên một con đường quân sự làm gấp dài 130 ki-lô-mét vừa đi vừa mở đường, đến 3 giờ sáng ngày 11 tháng 4 năm 1975 xe pháo tới trận địa. Đúng 17 giờ ngày 14 tháng 4 năm 1975, toàn đại đội bất ngờ bắn loạt đạn đầu tiên vào sân bay Biên Hòa, đạn trúng mục tiêu, quân địch rối loạn, nhưng để giữ bí mật trận địa, lúc đầu ta chỉ bắn ban đêm, địch có di chuyển một số máy bay A37 về Cần Thơ và máy bay F5E về Tân Sơn Nhất nhưng chúng vẫn tiếp tục dựa vào đường băng bay đi đánh phá đội hình chiến đấu quân ta. Mặc cho máy bay địch ném bom và pháo binh địch phản pháo, anh em vẫn kiên cường bám trụ và nghiên cứu cách đánh liên tục cả ngày lẫn đêm với phương pháp bắn bắn giám thị và sử dụng linh hoạt từ đơn pháo đến trung đội hoặc đại đội; từ ngày 17 tháng 4 đại đội chỉ bắn khi quan sát thấy máy bay chuẩn bị xuất kích. Qua thống kê số lần bắn từng ngày như sau:

        - Ngày 17 tháng 4, 5 lần bắn đạn tiêu thụ 30 viên.

        - Ngày 18 tháng 4, 7 lần bắn đạn tiêu thụ 20 viên.

        - Ngày 19 tháng 4, 10 lần bắn đạn tiêu thụ 48 viên.

        - Các ngày 20 - 25 mỗi ngày khoảng 7 - 8 lần bắn, mỗi ngày đạn tiêu thụ khoảng 30 viên.

        Kết quả những ngày bắn đã bắn hỏng một số máy bay, đặc biệt hồi 15 giờ 30 phút ngày 22 tháng 4, đạn trúng kho bom nổ cháy kéo dài đến sáng hôm sau, đêm 25 tháng 4 sân bay bị tê liệt hoàn toàn do đạn bắn trúng hỏng đường băng, địch đã di tản số máy bay còn lại về Tân Sơn Nhất. Chiến công của Đại đội 26 pháo 130 ly chiến đấu ròng rã 12 ngày đêm với 326 viên đạn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khóa chặt sân bay chiến lược Biên Hòa. Ngày 26 tháng 4, sân bay Biên Hòa đóng cửa, cũng là ngày "N" của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Hai, 2017, 07:46:27 PM

        • Tiểu đoàn 3 pháo 130 ly Lữ đoàn 164 đánh phá sân bay Tân Sơn Nhất trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

        Nhiệm vụ đánh phá sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ chỉ huy chiến dịch cũng giao cho pháo binh đảm nhiệm. Cơ quan pháo binh chiến dịch giao cho nhiều đơn vị cùng đảm nhiệm, có cả pháo ĐKB tham gia nhưng để khống chế liên tục chỉ có pháo xe kéo. Pháo binh Quân đoàn 2 được vinh dự nhận nhiệm vụ đó bằng cách dựa vào thế tiến công theo hướng tác chiến của quân đoàn sau khi đánh chiếm quận lỵ Long Thành thì pháo vào Nhơn Trạch chiếm lĩnh trận địa. Tiểu đoàn 3 pháo 130 ly của Lữ đoàn được giao nhiệm vụ này sẽ hành quân theo đội hình tác chiến của Sư đoàn 325. Chiều 24 tháng 7 sư đoàn đã chiếm được quận lỵ Long Thành. Tiểu đoàn tiến lên vừa hành quân vừa chiến đấu với các ổ đề kháng còn sống sót dọc đường, lại phải chờ công binh bảo đảm phà vượt sông ở Phước Thiện nên đến đêm 28 tháng 4 mới tới Nhơn Trạch; khi đoàn xe pháo đến cách quận lỵ Nhơn Trạch 2 ki-lô-mét thì quân ta còn đang tiến công vào quận lỵ. Sau khi đối chiếu địa hình với bản đồ nếu đặt pháo tại đây cũng bắn tới Tân Sơn Nhất - nơi đấy là ấp Long Tân và Phú Thạch thuộc quận Nhơn Trạch, tiểu đoàn trưởng hạ lệnh triển khai đội hình và chuẩn bị phần tử bắn. Đúng 4 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4 năm 1975, toàn Tiểu đoàn pháo 130 ly đồng loạt bắn loạt đạn đầu tiên vào sân bay Tân Sơn Nhất.  Sân bay này từ tối 27 tháng 4 đã bị pháo ĐKB bắn phá dữ dội, rồi chiều 28 tháng 4 Phi đội Quyết thắng của không quân ta đã oanh tạc, đến nay pháo 130 ly bắn phá, có lúc bắn gấp, lúc bắn giám thị suốt cả ngày và đêm 29 tháng 4 năm 1975, làm sân bay gián đoạn hoạt động. Sáng 30 tháng 4 năm 1975 tiểu đoàn được lệnh ngừng bắn vì bộ binh và xe tăng của Quân đoàn 3 bắt đầu tiến công đánh chiếm sân bay, pháo 130 ly, Đ74 và 155 ly của Quân đoàn 3 đã bắn vào sân bay trực tiếp chi viện cho quân đoàn chiến đấu. Kể từ ngày 28 đến 30 tháng 4, pháo binh đã liên tục bắn phá sân bay với khoảng 1.200 đạn 130 ly, sân bay tê liệt, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch.

        • Đại đội 806 pháo 130 ly Quân đoàn 1 bắn phá bộ tổng tham mưu ngụy Sài Gòn.

        Quân đoàn 1 đảm nhiệm hướng tiến công phía Bắc, một trong năm hướng tiến công chiếm Sài Gòn - Gia Định, có nhiệm vụ đánh chiếm bộ tổng tham mưu ngụy quyền. Sư đoàn 320B tổ chức mũi thọc sâu bằng xe cơ giới có xe tăng và pháo 85 ly đi cùng do Trung đoàn 48 đảm nhiệm. Sáng 30 tháng 4 trên đường tiến quân bị thiết đoàn 3 quân ngụy chặn đánh, xe tăng của ta cùng bộ binh đã tiêu diệt thiết đoàn 3 địch và bắt sống tám xe tăng M41, bắt chúng lái xe dẫn đường đánh thẳng vào bộ tổng tham mưu ngụy. Tiểu đoàn 2 pháo 130 ly Lữ đoàn 45 được phối thuộc cho sư đoàn chi viện trực tiếp cho Trung đoàn 48 tiến công, khi bộ phận đi đầu của tiểu đoàn hành quân đến ngã ba Búng thì được lệnh triển khai trận địa bắn. Đại đội 806 sau khi chuẩn bị phần tử xong, đúng 10 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, toàn đại đội với mười phát bắn gấp đã bắn chính xác vào trung tâm sở chỉ huy bộ tổng tham mưu ngụy Sài Gòn, sau đó ngừng bắn vì bộ binh và xe tăng đã tiến tới cửa ngõ doanh trại bộ tổng tham mưu ngụy. Đây cũng là một trận đánh triển khai kịp thời pháo 130 ly chi viện bộ binh chiến đấu thọc sâu.

*

*      *

        Để thay cho lời kết, xin được nhắc lại lời Đại tướng Hoàng Văn Thái phát biểu trong cuộc hội thảo khoa học quân sự sử dụng Pháo binh Việt Nam (6-1986) nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 ngày truyền thống vẻ vang của Binh chủng Pháo binh Việt Nam anh hùng:

        "...Pháo binh Việt Nam không những phải đánh giỏi trong chiến dịch, chiến đấu mà còn phải nhạy bén về chiến lược đón bắt được ý đồ chiến lược, luôn luôn chủ động chuẩn bị sẵn sàng, quyết tâm thực hiện đánh theo yêu cầu chiến lược. Điều đó không chỉ nói lên bản lĩnh chiến đấu mà còn thể hiện phẩm chất chính trị của Binh chủng Pháo binh - một Binh chủng kỹ thuật hiện đại của quân đội ta...".


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Hai, 2017, 12:20:53 AM

HIỆU LỰC PHÁO BINH TRONG TÁC CHIẾN HIỆP ĐỒNG

        Các lực lượng vũ trang nhân dân ta, nhất là các binh đoàn chủ lực đang được tăng cường ngày càng nhiều vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại như vũ khí tự động, xe chiến đấu của bộ binh, xe tăng, các loại tên lửa, các loại máy bay chiến đấu, các loại hạm tàu, các phương tiện chỉ huy, thông tin, cơ động cùng các cơ sở bảo đảm vật chất kỹ thuật khác. Các binh chủng của lục quân, các quân chủng phòng không - không quân, hải quân được phát triển ngày càng hoàn chỉnh với trình độ chính quy ngày càng cao; nhiều binh đoàn, tập đoàn bộ đội hợp thành được xây dựng trên quy mô ngày càng lớn. Những điều đó tất yếu dẫn đến việc vận dụng phổ biến loại tác chiến hiện đại, tác chiến hiệp đồng binh chủng và quân chủng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

        Tác chiến hiện đại, tác chiến hiệp đồng binh chủng và quân chủng thể hiện tập trung trong phương thức tiến hành chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực, kết hợp với chiến tranh nhân dân địa phương. Loại tác chiến này có thể diễn ra từ những ngày đầu chiến tranh, trên tuyến đầu của Tổ quốc, dưới nhiều hình thức phong phú, trong đó có những hình thức tác chiến mới so với các hình thức tác chiến đã được vận dụng trong mấy chục năm chiến tranh giải phóng, chiến tranh giữ nước đã qua. Do đó làm nảy sinh một loạt vấn đề mới trong việc sử dụng và chỉ huy pháo binh để phát huy cao nhất hiệu lực của pháo binh trong sức mạnh tổng hợp của các binh chủng, quân chủng, các thứ quân.

        Nhiều nhà quân sự trong và ngoài nước cho rằng việc tăng thêm các phương tiện hỏa lực hiện đại không làm giảm vị trí, vai trò của pháo binh; tên lửa và pháo binh không loại trừ nhau trong tác chiến hiện đại. Song song với việc nghiên cứu, sản xuất các loại tên lửa, người ta rất chú trọng và không ngừng cải tiến pháo binh về nhiều mặt: tầm bắn, tốc độ bắn, độ chính xác, uy lực sát thương của đầu đạn, khả năng cơ động, trình độ hiện đại của hệ thống chỉ huy... cho phù hợp với yêu cầu tác chiến hiện đại. Nhiều nước đã hình thành binh chủng "pháo binh - tên lửa". Điều đó càng làm rõ thêm quan điểm đúng đắn của ta: "pháo binh là hỏa lực chủ yếu của lục quân".

        Như đã trình bày ở trên, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, tác chiến hiện đại, tác chiến hiệp đồng là loại tác chiến chủ yếu, phổ biến của các binh đoàn chủ lực, của quân đội ta. Do đó, loại tác chiến này cũng là loại hoạt động chiến đấu chủ yếu, phổ biến của bộ đội pháo binh. Bộ đội pháo binh không có khả năng tổ chức và tiến hành các chiến dịch độc lập. Một đôi khi có đơn vị pháo hoặc cụm pháo nào đó có nhiệm vụ đánh độc lập như bắn phá sân bay, kho tàng, tập kích hỏa lực vào sở chỉ huy, tiêu diệt các hạm tàu... của địch, thì khái niệm độc lập ở đây cũng có ý nghĩa tương đối. Vì các trận đánh này cũng phải tuân thủ nghiêm khắc với những quy định hiệp đồng về mục tiêu, thời gian, kết quả phải đạt được mà kế hoạch chung hoặc ý định chiến dịch đã xác định.

        Lịch sử chiến tranh nhân dân do Đảng ta lãnh đạo cũng như lịch sử Pháo binh Việt Nam đã ghi nhận: pháo binh là một Binh chủng tham gia chiến đấu hiệp đồng với bộ binh sớm nhất. Mỗi bước phát triển của quân đội ta đi từ tác chiến du kích tiến lên tác chiến chính quy, tác chiến hiện đại cũng là những cái mốc của sự trưởng thành về trình độ tác chiến hiệp đồng của bộ đội pháo binh với các binh chủng, quân chủng.

        Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến dịch Biên Giới (1950) đánh dấu sự xuất hiện trung đoàn pháo binh đầu tiên - Trung đoàn sơn pháo 675 hiệp đồng chiến đấu với sư đoàn và các trung đoàn bộ binh. Chiến dịch Hòa Bình (1952) ghi nhận khả năng chiến đấu liên tục dài ngày (78 ngày đêm) và trình độ chỉ huy hỏa lực tập trung tới cấp trung đoàn của bộ đội pháo binh khi chiến đấu hiệp đồng với bộ binh. Sự ra đời của pháo binh cơ giới Việt Nam, việc sử dụng kết hợp các loại pháo trong chiến đấu, chiến dịch lại được đánh dấu bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

        Trong kháng chiến chống Mỹ, chiến dịch Khe Sanh (1968) là chiến dịch đầu tiên ta dùng pháo tầm xa chi viện cho bộ binh và xe tăng tiến công địch. Sự lớn mạnh không ngừng của pháo binh về tổ chức, về trình độ tác chiến hiệp đồng còn thể hiện qua các chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), Trị - Thiên (1972)... Đỉnh cao của sự phát triển đó được thể hiện trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975, nhất là trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Hai, 2017, 12:21:53 AM

        Những kinh nghiệm phong phú của pháo binh trong mấy chục năm qua, cùng với sự lớn mạnh về mọi mặt của Binh chủng ngày nay là tiền đề vững chắc để nâng cao hơn nữa hiệu lực của pháo binh trong tác chiến hiệp đồng binh chủng, quân chủng, đáp ứng những yêu cầu mới của cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Muốn vậy, cần giải quyết tốt một số vấn đề sau đây:

        1. Nhận thức đúng đắn về hiệu lực chiến đấu của pháo binh: chi viện cho các binh chủng, quân chủng, trước hết là bộ binh và xe tăng hoàn thành nhiệm vụ

        Trong tác chiến hiệp đồng binh chủng, quân chủng, hỏa lực pháo binh chỉ có thể đạt được hiệu quả diệt địch cao nhất khi kết hợp chặt chẽ với hành động chiến đấu của bộ binh, xe tăng, bộ đội nhảy dù, đặc công, hải quân đánh bộ... với hỏa lực của không quân, hải quân và các hỏa lực khác góp phần tạo thành sức mạnh chiến đấu tổng hợp lớn nhất để hoàn thành nhiệm vụ chung của trận đánh, của chiến dịch. Đó cũng là điều kiện cơ bản để phát huy sức mạnh chiến đấu, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của pháo binh trong tác chiến hiệp đồng. Với vai trò là hỏa lực chủ yếu của lục quân, việc bảo đảm hỏa lực chi viện cho hành động của bộ binh và xe tăng là nhiệm vụ cơ bản, đồng thời là thước đo hiệu lực thực tế của pháo binh trong loại tác chiến này.

        Như mọi người đều biết, bộ binh và xe tăng là những binh chủng chủ yếu của lục quân, có vai trò quyết định trong việc giải quyết những nhiệm vụ chiến đấu, chiến dịch trên chiến trường ở mặt đất. Chỉ có chi viện đắc lực cho bộ binh và xe tăng hoàn thành nhiệm vụ trong tác chiến hiệp đồng, pháo binh mới thực hiện được vai trò hỏa lực chủ yếu của lục quân. Đây là một quan điểm cơ bản về tác chiến hiệp đồng của quân đội ta mà bộ đội pháo binh cần nắm vững và thực hiện bằng hành động chiến đấu thực tế. Vì thế, không thể chỉ đánh giá hiệu lực pháo binh qua số liệu đơn thuần sinh lực địch, phương tiện của chúng do các đơn vị pháo ta đã diệt và phá hủy, mà còn phải xét tới kết quả bắn pháo đó có tạo điều kiện cho bộ binh và xe tăng hoàn thành nhiệm vụ hay không?

        Trong các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước vừa qua, pháo binh đã hiệp đồng chặt chẽ và chi viện cho bộ binh, xe tăng ở nhiều trận chiến đấu và ở cả phạm vi chiến dịch, đã tích lũy được những kinh nghiệm nhất định. Song, nếu chỉ dừng lại ở những kinh nghiệm ấy, lấy đó làm căn cứ duy nhất để nghiên cứu và giải quyết cách đánh hiệp đồng của pháo binh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc thì thật không đúng.

        Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có những thay đổi, phát triển cả về mục đích, đặc điểm cũng như về lực lượng và phương thức tiến hành chiến tranh, về đối tượng tác chiến. Các lực lượng vũ trang ta, đặc biệt là các binh đoàn chủ lực có sự đổi mới rõ rệt về số lượng, chất lượng, về trình độ tổ chức, về vũ khí, trang bị kỹ thuật, về khoa học và nghệ thuật quân sự... Hoạt động của bộ đội trên chiến trường, trước hết là của bộ binh, xe tăng sẽ diễn ra trong những tình huống rất gay go, quyết liệt, phức tạp và thay đổi thường xuyên, trên các loại địa hình khác nhau, trên không gian rộng lớn... Do đó, không thể không đòi hỏi bộ đội pháo binh phải nâng cao hơn nữa trình độ tổ chức chỉ huy hỏa lực trong tác chiến hiệp đồng binh chủng, quân chủng.

        Có thể nêu một số nhiệm vụ của pháo binh chi viện hỏa lực cho bộ binh và xe tăng trong hai loại tác chiến cơ bản là tiến công và phòng ngự.

        Trong phòng ngự, pháo binh phải tổ chức một hệ thống hỏa lực chặt chẽ, hoàn chỉnh, chi viện đắc lực cho bộ binh và xe tăng đập tan cuộc tiến công của quân địch có số lượng lớn về quân lính và phương tiện chiến tranh. Hỏa lực ngăn chặn địch từ xa, hiệp đồng với các lực lượng ở dải tác chiến phía trước, tiêu hao, làm chậm sự vận động của địch, buộc chúng phải triển khai sớm. Tham gia hỏa lực phản chuẩn bị khi cấp trên tổ chức. Hỏa lực ngăn chặn, tiêu diệt, tiêu hao quân địch trước tiền duyên, trước các khu vực và điểm tựa phòng ngự. Hỏa lực bảo đảm cho bộ binh, xe tăng phản xung phong, phản kích, phản đột kích, tiêu diệt quân địch đột nhập, chiếm lại trận địa, nhất là tập trung hỏa lực tiêu diệt xe tăng địch bằng tất cả các phương tiện có thể (pháo chống tăng, tên lửa chống tăng,... và cả xe tăng, máy bay trực thăng nữa). Hỏa lực chế áp, tiêu diệt các trận địa tên lửa, pháo binh, súng cối địch. Hỏa lực chi viện cho các hành động tiến công (tập kích, phục kích đánh quân địch cơ động lực lượng, tập trung lực lượng, đánh vào sở chỉ huy, trận địa hỏa lực, căn cứ cơ sở hậu cần, hậu phương của chúng...) của các đơn vị trong quá trình phòng ngự. Hỏa lực bảo đảm các điểm tiếp giáp, các sườn giữa các binh đoàn. Phải tập trung hỏa lực đủ mạnh chi viện cho bộ binh và xe tăng đánh địch trên hướng tiến công chủ yếu của chúng; đồng thời chú ý bảo đảm hỏa lực cho các lực lượng tiêu diệt và đập tan các mũi thọc sâu của địch đánh vào sườn bộ binh, xe tăng ta. Trong quá trình phòng ngự, hỏa lực pháo binh phải bảo đảm cùng bộ binh, xe tăng và các binh chủng, quân chủng khác thực hiện tốt mục đích của phòng ngự là: ghìm địch lại, giữ vững lãnh thổ được giao, chặn đứng, bao vây, chia cắt địch, tiêu diệt từng bộ phận lực lượng tiến công và đập tan cuộc tiến công của chúng, tạo ra điều kiện chuyển sang phản công và tiến công tiêu diệt hoàn toàn quân địch.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Hai, 2017, 10:53:20 PM

        Trong tiến công, pháo binh phải xác định đúng các giai đoạn hành động và có kế hoạch hỏa lực thích hợp trong từng giai đoạn. Thực hiện tốt các đòn tập kích hỏa lực mạnh sát thương lớn quân địch, đặc biệt là khi bắn chuẩn bị tiến công (hoặc tham gia hỏa lực chuẩn bị tiến công). Phải tạo và giữ vững ưu thế hỏa lực trên hướng tiến công chủ yếu trong suốt quá trình tiến công. Yêu cầu cao nhất là phải bảo đảm hỏa lực chi viện kịp thời, liên tục có hiệu quả cho hành động của bộ binh, xe tăng ta tiến công với sức đột kích mạnh và tốc độ cao nhanh chóng tiêu diệt từng bộ phận quân địch và đánh chiếm những khu vực quan trọng trong chiều sâu phòng ngự của chúng. Hỏa lực pháo còn cần phải chi việc cho bộ binh, xe tăng đánh thọc sâu, bao vây, chia cắt quân địch. Bộ đội pháo binh sẵn sàng cùng bộ binh, xe tăng đánh tan các cuộc phản kích, phản đột kích của địch, kể cả việc chi viện cho các lực lượng này tạm thời chuyển sang chiến đấu phòng ngự trên một khu vực nào đó.

        Phải thấy rằng quá trình pháo binh chi viện cho bộ binh và xe tăng tiến công và phòng ngự là quá trình tổ chức và sử dụng hỏa lực rất phức tạp. Bản thân hai loại tác chiến tiến công và phòng ngự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cũng có những phát triển mới. Đối với quân đội ta nói chung, với bộ đội pháo binh nói riêng, tác chiến phòng ngự, nhất là phòng ngự hiện đại còn là loại tác chiến mà ta chưa có nhiều kinh nghiệm. Vì thế, bộ đội pháo binh phải thực sự nghiên cứu và giải quyết việc tổ chức, vận dụng hỏa lực, kể cả kỹ thuật bắn pháo để chi viện đắc lực cho bộ binh và xe tăng khi phòng ngự. Một số vấn đề mới như bảo đảm hỏa lực chi viện cho các lực lượng chiến đấu ở dải tác chiến phía trước, tổ chức và tham gia hỏa lực phản chuẩn bị, tổ chức hệ thống hỏa lực chống tăng, bảo đảm hỏa lực chi viện cho các lực lượng chiến đấu trong đội hình địch, trong thế xen kẽ... cần được nghiên cứu và giải quyết tốt. Trong tiến công, bộ đội pháo binh cũng phải tìm ra cách tổ chức và sử dụng hỏa lực tốt nhất, phù hợp với điều kiện pháo, đạn, phương tiện của ta để có thể liên tục chi viện cho bộ binh và xe tăng tiến công với tốc độ cao, tiến công địch trong hành tiến, cơ động hỏa lực và cơ động pháo ở địa hình rừng núi...

        Nhiệm vụ chiến đấu của quân đội ta trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc còn đòi hỏi bộ đội pháo binh phải hiệp đồng chặt chẽ với cả bộ đội đặc công, bộ đội nhảy dù, hải quân đánh bộ, máy bay, hạm tàu và cả dân quân tự vệ, phát huy được sức mạnh hỏa lực của mình để chi viện đắc lực cho các lực lượng này chiến đấu đánh quân địch đổ bộ đường biển, đánh quân địch đổ bộ đường không, đánh phá hậu phương của địch...

        Những phát triển trên đây đặt ra cho bộ đội pháo binh phải nâng cao hơn nữa tinh thần tích cực, chủ động, đoàn kết hiệp đồng với các binh chủng, quân chủng, vận dụng đúng đắn, sáng tạo và linh hoạt những nguyên tắc chiến đấu của pháo binh; hoàn thiện chiến thuật và kỹ thuật bắn pháo của mình.

        2. Phân chia pháo binh đúng đắn, phát huy đầy đủ sức mạnh hỏa lực của tổ chức pháo sẵn có, tạo nên mật độ hỏa lực cần thiết có hiệu quả trong chiến đấu và chiến dịch hiệp đồng

        Trong tác chiến hiện đại, pháo binh thường đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ bảo đảm hỏa lực cho các binh chủng, quân chủng chiến đấu trên một không gian rộng lớn, với những hạn chế nhất định về số lượng pháo, đạn và phương tiện kỹ thuật. Vì thế, cần có sự phân chia pháo binh thật khoa học, hợp lý để chi viện đắc lực cho các binh chủng, quân chủng hoàn thành được nhiệm vụ trong tác chiến hiệp đồng.

        Trước hết, việc phân chia phải bảo đảm cho pháo binh giải quyết những nhiệm vụ hỏa lực chủ yếu mà các đơn vị pháo được giao trong trận đánh, trong chiến dịch. Đó là sự phân chia pháo binh nhằm tập trung cả số lượng và chất lượng pháo, tạo nên sức mạnh hỏa lực cần thiết để thực hiện thành công những nhiệm vụ hỏa lực quan trọng nhất, để chi viện đắc lực cho những binh đoàn, đơn vị bộ đội hợp thành đảm nhận nhiệm vụ chủ yếu, hoạt động trên hướng chủ yếu của trận đánh, của chiến dịch. Sự phân chia này cũng còn nhằm tạo nên ưu thế hỏa lực, mật độ hỏa lực cao để giải quyết thắng lợi những tình huống quyết liệt, phức tạp tại những khu vực quan trọng của quá trình tác chiến. Đó cũng là sự phân chia pháo binh để vừa có hỏa lực chi viện trực tiếp cho các đơn vị bộ binh, xe tăng vừa có hỏa lực trong tay người chỉ huy binh chủng hợp thành các cấp, khi cần có thể tập trung hỏa lực pháo binh giải quyết những nhiệm vụ có liên quan đến tình hình chung.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Hai, 2017, 10:53:57 PM

        Việc phân chia pháo binh còn phải phù hợp với nhiệm vụ, chức năng, tính năng, sở trường của các tổ chức pháo, các loại pháo: pháo của các binh đoàn chủ lực, pháo của bộ đội địa phương, pháo dự bị của Bộ, pháo trong biên chế, pháo phối thuộc, pháo tại chỗ, pháo cơ động; pháo mang vác, pháo có xe kéo, pháo rãnh xoắn, pháo cối, pháo chống tăng, pháo phản lực... Ví như: trong chiến dịch, pháo của quân đoàn thường được giao nhiệm vụ đánh pháo binh địch, tăng cường hỏa lực cho các sư đoàn. Còn pháo của sư đoàn thì chủ yếu làm nhiệm vụ chi viện trực tiếp cho xe tăng, bộ binh nằm trong đội hình của sư đoàn. Pháo tại chỗ có khả năng chi viện kịp thời cho các lực lượng ngăn chặn và đánh bại các cánh quân tiến công của địch ngay từ đầu; pháo cơ động có uy lực lớn, tầm bắn xa, có khả năng tạo nên hỏa lực tập trung mạnh, kết hợp với hỏa lực pháo tại chỗ thì càng tạo được đòn hỏa lực tập trung có ưu thế, bảo đảm cho các binh chủng hành động thuận lợi trong các chiến dịch. Pháo bắn gián tiếp ở trận địa che khuất thường giữ được bí mật, bảo đảm an toàn, địch khó phát hiện. Song pháo bắn ngắm trực tiếp lại chính xác hơn, đỡ tốn đạn, đạt hiệu quả cao; đây là một truyền thống quý báu của pháo binh ta. Pháo phản lực nhiều nòng dùng tập trung sẽ có hiệu quả rất lớn khi đánh các khối sinh lực lộ quan trọng của địch trong một thời gian rất ngắn. Ngay các pháo mang vác mà nhiều cán bộ chỉ huy còn coi thường, như súng cối, ĐKZ lại có ưu điểm "đi cùng, bắn kịp" theo yêu cầu của bộ binh hơn bất kỳ loại pháo nào khác... Pháo của địa phương tuyến đầu có khả năng kịp thời phát hiện, ngăn chặn địch, khống chế các trục đường cơ động quan trọng, luồn sâu đánh hiểm vào hậu phương địch... Phân chia pháo binh phù hợp với những điểm trên là một biện pháp cơ bản để phát huy đầy đủ sức mạnh hỏa lực của các tổ chức pháo và các loại pháo có trong tay.

        Việc phân chia pháo binh trong tác chiến hiệp đồng binh chủng, quân chủng còn nhằm bảo đảm cho bộ đội pháo binh có khả năng liên tục chi viện hỏa lực cho các binh chủng chiến đấu với mật độ hỏa lực cao mà không phải thay đổi bố trí lớn và cơ động pháo phức tạp. Điều này rất quan trọng khi tác chiến hiệp đồng diễn ra trên những loại địa hình khó cơ động lực lượng lớn, khó quan sát, như địa hình rừng núi, địa hình nhiều sông ngòi... Vì vậy, khi phân chia các đơn vị pháo, số lượng pháo cho các đơn vị, binh đoàn hợp thành, khi tổ chức các cụm pháo các cấp, cũng như khi bố trí đội hình chiến đấu của pháo binh (đài chỉ huy quan sát, trận địa bắn cơ bản, trận địa bắn dự bị, trận địa bắn lâm thời, các khu hậu cần, kỹ thuật, mạng đường cơ động...) phải nghiên cứu nhiều yếu tố để xác định cho phù hợp. Cụ thể là: nghiên cứu kỹ số lượng pháo, đạn có trong tay; nhiệm vụ, hướng và khu vực hành động của các đơn vị, binh đoàn mà pháo binh phải chi viện; các tình huống phát triển cơ bản của trận đánh, chiến dịch; tính chất địa hình... Trên cơ sở đó, người chỉ huy bộ đội hợp thành và người chỉ huy pháo binh xác định một phương án phân chia pháo binh phù hợp, không phải chuyển thuộc các đơn vị pháo nhiều lần, không phải di chuyển nhiều trận địa pháo với khoảng cách lớn, không gây nên sự xáo trộn lớn về chỉ huy hỏa lực và bố trí đội hình chiến đấu của pháo...

        Những năm gần đây, bộ đội pháo binh đã có nhiều thay đổi. Sự thay đổi ấy không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng, cơ cấu tổ chức, trang bị, phương thức hành động; thay đổi từ pháo dự bị của Bộ đến pháo biên chế của quân đoàn, sư đoàn... và pháo của tiểu đoàn bộ binh. Nguyên số pháo xe kéo của sư đoàn đã nhiều hơn toàn bộ pháo xe kéo của quân đội ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Về uy lực đạn, tầm bắn, loại, cỡ, thì pháo trong biên chế của sư đoàn ngày nay hơn hẳn. Điều đó tạo ra khả năng cho người chỉ huy binh chủng hợp thành và người chỉ huy pháo binh dễ dàng hơn trong việc phân chia pháo binh, tạo nên mật độ cần thiết trong tác chiến hiệp đồng. Song, không phải cứ có nhiều pháo, đạn là tự nó tạo nên hệ thống hỏa lực tốt. Hệ thống hỏa lực pháo binh tốt chỉ có thể được tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong đó yếu tố rất quan trọng là phân chia pháo binh khoa học, hợp lý, sử dụng pháo binh đúng nguyên tắc và sáng tạo. Trong điều kiện pháo, đạn, phương tiện còn hạn chế, lại phải đánh một kẻ địch mạnh hơn, ta càng phải lựa chọn sự phân chia pháo binh hợp lý nhất. Chống cách phân chia tùy tiện, thiếu tính toán, thiếu cân nhắc, dàn đều, đại khái... Phải có tính tích cực, sáng tạo cao trong việc phân chia pháo binh để từ pháo của chiến dịch cho đến pháo của tiểu đoàn bộ binh được sử dụng tốt, phát huy đầy đủ sức mạnh sẵn có của mình, kết hợp được uy lực sát thương và phá hoại của các loại pháo có trong tay tạo thành hệ thống hỏa lực pháo binh vững chắc, có mật độ hỏa lực cần thiết, chi viện đắc lực, có hiệu quả nhất cho các binh chủng trong chiến đấu và chiến dịch hiệp đồng.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Hai, 2017, 10:35:19 AM

        3. Tổ chức và chỉ huy hỏa lực pháo binh liên tục, bất ngờ, kiên quyết, chính xác

        Hiệu lực pháo binh trong tác chiến hiệp đồng phụ thuộc rất lớn vào khả năng chỉ huy của người chỉ huy binh chủng hợp thành, người chỉ huy (chủ nhiệm) pháo binh và các cơ quan tham mưu của họ. Thực tế đã chỉ ra rằng, khi người chỉ huy binh chủng hợp thành có trình độ hiểu biết vững vàng về pháo thì sử dụng mạnh dạn, hợp lý, đồng thời tạo điều kiện cho các đơn vị pháo hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Có thể coi tổ chức chỉ huy hỏa lực thành công khi các nhiệm vụ hỏa lực được giao hoàn thành chính xác, kịp thời. Cơ sở của chỉ huy tác chiến pháo binh trong trận đánh, trong chiến dịch ở mỗi cấp là quyết tâm sử dụng pháo binh của người chỉ huy binh chủng hợp thành và chỉ thị sử dụng pháo binh của người chỉ huy pháo binh cấp trên. Quyết tâm sử dụng pháo binh sai thì không thể nói đến hiệu lực của hỏa lực pháo binh. Vì thế người chỉ huy (chủ nhiệm) và cơ quan tham mưu pháo binh phải đem hết sức mình giúp cho người chỉ huy binh chủng hợp thành xác định quyết tâm sử dụng pháo binh đúng đắn, hợp lý. Một quyết tâm như thế chỉ có thể xác định trên cơ sở nghiên cứu, phân tích khoa học và cụ thể các yếu tố như nhiệm vụ của trận đánh, của chiến dịch, nhiệm vụ của các đơn vị, các binh đoàn; số lượng pháo ta có; lực lượng và hành động của địch; chỉ thị sử dụng pháo của cấp trên; địa hình...

        Tác chiến hiệp đồng binh chủng, quân chủng có nhiều lực lượng tham gia, diễn ra trên không gian rộng, đòi hỏi hỏa lực pháo binh vừa tập trung được với mật độ cao, vừa chi viện kịp thời cho các hành động chiến đấu của các binh đoàn trên nhiều hướng. Vì thế, người chỉ huy và cơ quan tham mưu phải vận dụng thích hợp phương pháp chỉ huy "tập trung" và "phân cấp". Việc phối thuộc pháo tăng cường hỏa lực chi viện cho các binh đoàn hợp thành trong đội hình chung cũng như cho các binh đoàn hoạt động ở các hướng riêng lẻ, trên địa hình rừng núi thường áp dụng cách "phân cấp chỉ huy". Khi sử dụng tập trung hỏa lực nhiều cụm pháo binh để tạo nên sức mạnh hỏa lực cần thiết trong các giai đoạn, các nhiệm vụ tác chiến quan trọng của trận đánh, của chiến dịch như pháo bắn (hoặc tham gia hỏa lực) chuẩn bị trong tiến công và phản chuẩn bị trong phòng ngự, khi đưa thê đội 2 hoặc đội dự bị vào chiến đấu, khi tập trung các phương tiện chống tăng thì thực hiện "chỉ huy tập trung". Song, việc vận dụng các phương pháp chỉ huy này không thể rập khuôn, máy móc, tách rời nhau. Phải kết hợp chỉ huy tập trung hỏa lực và chỉ huy phân cấp, biết biến đổi quan hệ chỉ huy cho phù hợp với thực tế chiến đấu, chiến dịch. Có trường hợp một số đơn vị pháo đã được phối thuộc cho các binh đoàn, đang được sử dụng theo quan hệ phân cấp, cũng có thể chuyển sang quan hệ chỉ huy tập trung và khi cần thiết, một bộ phận pháo đang được sử dụng theo quan hệ chỉ huy tập trung tạm thời chuyển sang quan hệ chỉ huy phân cấp, phối thuộc cho các binh đoàn.

        Cũng nên nhớ rằng chỉ huy tập trung pháo binh chỉ có ý nghĩa khi biết tập trung đúng lúc, đúng chỗ và gắn liền với tập trung các lực lượng, phương tiện trinh sát.

        Trong các chiến dịch tiến công của cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, để thực hiện tập trung pháo binh có hiệu quả, Hồng quân Liên Xô đã tập trung ở những đoạn đột phá nhiều tiểu đoàn trinh sát pháo binh thuộc lực lượng dự bị của Bộ Tổng Tư lệnh tối cao, các phân đội không quân trinh sát, chụp ảnh, chỉ thị mục tiêu và các khí cầu quan sát; tập trung cán bộ trinh sát có trình độ phân tích, tổng hợp các tài liệu thu thập được. Nhờ đó, đã phát hiện được 60 đến 65% tổng số mục tiêu của địch, bảo đảm pháo bắn tập trung, chính xác đạt hiệu suất rất cao.

        Trong tác chiến hiệp đồng, sự nỗ lực của tổ chức chỉ huy hỏa lực pháo binh còn thể hiện ở sự chi viện hỏa lực liên tục, bất ngờ, kiên quyết, chính xác cho các hành động chiến đấu của các binh chủng.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Hai, 2017, 10:36:00 AM
       
        Việc chi viện hỏa lực liên tục chỉ có thể đạt được trên cơ sở tổ chức, duy trì và nhanh chóng khôi phục sự hiệp đồng giữa pháo binh với các binh chủng, các lực lượng khác, nhất là với bộ binh và xe tăng qua tất cả các giai đoạn của trận đánh, của chiến dịch - đặc biệt là những địa điểm, thời điểm quyết định và những tình huống quyết liệt... Đồng thời, cũng dựa trên cơ sở đó, các chỉ huy (chủ nhiệm) và cơ quan tham mưu pháo binh triển khai việc thực hiện quyết tâm sử dụng pháo binh của người chỉ huy binh chủng hợp thành bằng những tính toán toàn diện, chính xác; tính toán lập kế hoạch hỏa lực, kế hoạch bố trí, phân chia lại pháo; tính toán khối lượng, nhiệm vụ bắn cho nhiệm vụ trước mắt, nhiệm vụ tiếp sau, cho nhiệm vụ đột xuất - bắn ngoài kế hoạch; tính toán phương án cơ động, chiếm lĩnh, số đạn cần tiêu thụ; tính toán các khả năng và xác định các biện pháp đề phòng địch tập kích bằng không quân, hóa học, xe tăng, thậm chí cả bằng bộ binh vào trận địa pháo và đài chỉ huy quan sát của ta; tính toán, tổ chức bảo đảm các mặt thông tin, trinh sát, kỹ thuật, hậu cần và các kế hoạch khác..., đặc biệt là kế hoạch tổ chức và duy trì hệ thống thông tin chỉ huy, hiệp đồng giữa pháo binh và các binh chủng. Cần chú ý tới mạng lưới thông tin của các đơn vị pháo mới đến tăng cường, các đơn vị pháo được chuyển thuộc cho các binh đoàn khác, cho thê độ 2 trong quá trình chiến đấu, chiến dịch; bảo đảm bí mật, an toàn cho các đơn vị pháo, các bộ phận gần địch như đài chỉ huy quan sát, vị trí dễ lộ như trận địa bắn bằng cách tích cực ngụy trang, che giấu hành động, nghi binh lừa địch. Ngay cả các phương pháp chỉ huy bắn pháo, thời gian bắn pháo trong các giai đoạn, các tình huống cũng không nên rập khuôn, máy móc để nâng cao tính bí mật, bất ngờ của hỏa lực pháo binh.

        Trong tác chiến hiện đại, tác chiến hiệp đồng, các hoạt động chiến đấu sẽ diễn ra với nhịp độ cao nên yếu tố thời gian trong công tác tổ chức chỉ huy hỏa lực pháo binh sẽ trở thành một yếu tố vô vùng quan trọng. Bất kỳ sự chậm trễ nào trong khi hạ quyết tâm bắn đều có thể làm giảm hiệu quả bắn hoặc hoàn toàn làm mất tác dụng bắn. Trong khi đó, để bắn kịp thời, chính xác, bắn đúng thời cơ, các cán bộ chỉ huy pháo binh, cơ quan tham mưu và các phân đội của mình phải làm nhiều công việc, thực hiện nhiều phép tính phức tạp đòi hỏi độ chính xác cao, tốn nhiều công sức. Vì vậy, ngoài việc nâng cao trình độ, cải tiến phương pháp làm sao cho khoa học, hợp lý, còn phải sử dụng các phương tiện, khí tài hiện đại vào công tác chỉ huy như các loại ra đa, các máy trinh sát âm thanh, các xe đo đạc, các loại ảnh chụp máy bay, mặt đất, các loại máy tính và thước đo chuyên dùng... Bên cạnh đó, phải tận dụng được các khí tài giản đơn, vận dụng các kinh nghiệm; sở trường chỉ huy sẵn có để bảo đảm hệ thống chỉ huy hỏa lực pháo binh ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của tác chiến hiện đại.

        4. Nâng cao trình độ chiến thuật, kỹ thuật của bộ đội pháo binh trong tác chiến hiệp đồng

        Tác chiến hiệp đồng đòi hỏi bộ đội pháo binh phải có trình độ chiến thuật tinh thông, kỹ thuật điêu luyện. Về chiến thuật, trước hết, phải làm cho bộ đội pháo binh nắm vững hai phương thức tiến hành chiến tranh, nhất là phương thức tiến hành chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực, cũng như sự kết hợp chặt chẽ hai phương thức đó trong quá trình đấu tranh vũ trang của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ đó, cán bộ chỉ huy và cơ quan tham mưu pháo binh các cấp hiểu rõ nghệ thuật tác chiến, nguyên tắc hành động chiến đấu của các binh chủng, quân chủng, trước hết là của bộ binh và xe tăng trong tác chiến hiệp đồng, trong các loại tác chiến tiến công, phòng ngự, phản công. Trên cơ sở đó, nắm vững chiến thuật chung của bộ đội hợp thành, bộ đội pháo binh xác định đúng đắn và sáng tạo nguyên tắc sử dụng pháo binh, nguyên tắc hành động của mình trong các loại hình chiến dịch tiến công, chiến dịch phản công, chiến dịch phòng ngự, kể cả các loại hình xưa nay ít gặp (chống quân địch đổ bộ đường không, chống quân địch đổ bộ đường biển...), trên mọi loại địa hình (rừng núi, bờ biển, hải đảo...), trong mọi tình huống (đánh có thời gian chuẩn bị và khi không có thời gian chuẩn bị, đánh ban ngày, đánh ban đêm...). Một nội dung cơ bản nữa về chiến thuật là bộ đội pháo binh còn phải hiệp đồng chiến đấu thành thạo với lực lượng vũ trang địa phương, cả bộ đội địa phương và dân quân tự vệ trong các loại tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Hai, 2017, 11:36:22 PM

        Trình độ tinh thông chiến thuật của pháo binh còn thể hiện ở trình độ tổ chức trinh sát nắm địch, phát hiện kịp thời, chính xác các đối tượng cần đánh, các mục tiêu cần bắn: mục tiêu trong kế hoạch, mục tiêu ngoài kế hoạch, các mục tiêu mà bộ binh, xe tăng yêu cầu, đặc biệt là các mục tiêu quan trọng như sở chỉ huy, các trận địa tên lửa, các trận địa pháo binh, súng cối, vũ khí hóa học, vũ khí sinh học, nơi tập trung lực lượng chủ yếu của địch. Phải nắm chắc địch cả phía trước và phía sau, nắm chắc địch trên hướng chủ yếu và tất cả các hướng khác trong phạm vi có liên quan tới nhiệm vụ của pháo. Đó là một yếu tố cơ bản để bảo đảm sử dụng hỏa lực pháo binh chính xác, kịp thời, đáp ứng yêu cầu của trận đánh, của chiến dịch. Vì thế cán bộ, chiến sĩ trinh sát phải mưu trí, táo bạo, giỏi về phân tích, tổng hợp tin tức, thành thạo về thực hành quan sát, đo đạc. Trinh sát phải thực sự là "tai", là "mắt" của pháo binh.

        Trong điều kiện địa hình nước ta nhiều rừng núi nhất là ở vùng biên giới, mạng đường sá chưa phát triển, phương tiện cơ động còn hạn chế, vấn đề tổ chức và thực hành cơ động pháo trong quá trình tác chiến hiệp đồng cũng là một nội dung chiến thuật rất quan trọng. Theo tính toán lý thuyết và như thực tế diễn tập của Binh đoàn B04, trong chiến dịch tiến công, với tốc độ tiến công của xe tăng và bộ binh cơ giới trong một ngày, thì pháo của sư đoàn phải di chuyển ít nhất là một lần, còn pháo của trung đoàn ít nhất là hai lần. Do đó, việc chuẩn bị và thực hành cơ động pháo với số lượng lớn trong quá trình chiến đấu, chiến dịch phải được nghiên cứu và thực hiện rất sáng tạo, phù hợp với những điều kiện xăng, xe, chất lượng đường, thời tiết, địa hình nước ta; bảo đảm pháo binh cơ động kịp thời, chi viện đắc lực cho các binh chủng với mật độ hỏa lực cao. Điều đó phụ thuộc vào trình độ tổ chức của người chỉ huy các cấp trong việc xác định kế hoạch cơ động pháo trong trận đánh, trong chiến dịch; sự chuẩn bị từ trước ở mức độ nhất định về đường sá, bến vượt; tổ chức chỉ huy điều chỉnh; sự hiệp đồng giữa pháo binh, công binh và các lực lượng bảo đảm giao thông tại chỗ... Kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội pháo binh trong các cuộc chiến tranh vừa qua cho thấy, thực hiện cơ động pháo kịp thời là một biện pháp cơ bản để tạo nên sức mạnh hỏa lực cần thiết chi viện cho các lực lượng hoàn thành nhiệm vụ trong tác chiến hiệp đồng.

        Là Binh chủng kỹ thuật, trang bị ngày càng hiện đại, bộ đội pháo binh phải điêu luyện về kỹ thuật, trước hết phải nói đến trình độ bắn pháo giỏi. Để nâng cao hiệu lực pháo binh trong chiến đấu hiệp đồng, bộ đội pháo binh phải có trình độ bắn chính xác, kịp thời trong mọi tình huống phức tạp, khó khăn của chiến đấu. Cụ thể là bắn giỏi trong kế hoạch, bắn giỏi ngoài kế hoạch; bắn giỏi ở trận địa che khuất và đặc biệt giỏi bắn ngắm trực tiếp. Bắn giỏi mục tiêu không động và mục tiêu động; bắn giỏi trong trường hợp quan sát thấy và quan sát hạn chế; bắn giỏi mọi phương pháp (bắn núi, bắn biển...); bắn giỏi khi có thời gian chuẩn bị và cả khi thời gian chuẩn bị gấp... Trong điều kiện pháo, đạn của ta có hạn, bắn giỏi còn thể hiện ở chỗ, với số lượng đạn pháo tiêu thụ ít nhất mà lại đạt hiệu quả sát thương và phá hủy lớn.

        Để bắn giỏi, cán bộ, chiến sĩ pháo binh còn phải sử dụng thành thạo các loại pháo, các phương tiện tính toán, đo đạc, chỉ huy, thông tin, cơ động, trinh sát... nhất là các loại pháo và phương tiện hiện đại. Trên cơ sở đó, làm tốt khâu chuẩn bị kỹ thuật như đo đạc, chuẩn bị khí tượng, chuẩn bị phần tử bắn, chuẩn bị pháo đạn; hạn chế các sai số bắn pháo tới mức cho phép, bảo đảm đưa viên đạn pháo trúng mục tiêu. Bắn pháo trong chiến đấu hiệp đồng cần có trình độ kỹ thuật hiệp đồng giỏi. Hiệp đồng không chỉ với bộ binh, xe tăng mà cả với không quân, hải quân và các lực lượng khác. Phải thực hành thành thạo các quy định, quy ước, các ký hiệu, tín hiệu để nhận biết nhau, để chỉ thị mục tiêu, để yêu cầu bắn và ngừng bắn; bảo đảm bắn đúng lúc, đúng chỗ và ngừng bắn, chuyển làn kịp thời khi cần thiết.

        Bộ đội pháo binh phải làm tốt việc giữ gìn, bảo quản pháo, đạn, khí tài, xe máy và các phương tiện khác. Việc làm này là một bảo đảm cần thiết cho bộ đội pháo binh có khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, có hiệu quả bắn lớn, có sức chiến đấu mạnh thường xuyên, lâu dài. Vì thế mọi cán bộ, chiến sĩ pháo binh phải có ý thức giữ gìn vũ khí, khí tài; thực sự yêu quý, bảo quản tốt các trang bị của cá nhân, của tập thể. Thực hiện các chế độ bảo quản, kiểm tra kỹ thuật thường xuyên, nghiêm túc. Kiên quyết chấm dứt tình trạng sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật một cách tùy tiện, không tuân thủ quy định, quy trình kỹ thuật, làm bừa, làm ẩu, dẫn đến làm hư hỏng vũ khí, khí tài, xe máy... ảnh hưởng tới việc hoàn thành nhiệm vụ của bộ đội pháo binh.

(Tạp chí Quân đội nhân dân tháng 5-1983)         


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Hai, 2017, 11:37:54 PM

HỎA LỰC MẶT ĐẤT CHỦ YẾU CỦA LỤC QUÂN VÀ QUÂN ĐỘI TA

        Ngày 29 tháng 6 năm nay, bộ đội pháo binh kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Binh chủng trong tình hình chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động thường xuyên khiêu khích vũ trang, tiến hành phá hoại thâm độc về nhiều mặt, thực hiện âm mưu làm suy yếu và xâm lược nước ta.

        Tình hình đó đòi hỏi bộ đội pháo binh cùng toàn quân phải khẩn trương nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu cao, kịp thời trừng trị đích đáng những hành động xâm lược của kẻ thù, đồng thời nỗ lực lao động, công tác góp phần xây dựng đất nước.

        Là một Binh chủng chiến đấu, Binh chủng kỹ thuật, và hỏa lực mặt đất chủ yếu của lục quân và quân đội ta, nhiệm vụ nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội pháo binh theo phương hướng xây dựng một Binh chủng pháo hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến, đáp ứng yêu cầu của nền quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc là những vấn đề rất mới. Bộ đội pháo binh quyết làm tròn nhiệm vụ trên các mặt xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu.

        Trong lịch sử của mình chưa bao giờ bộ đội pháo binh lại có lực lượng mạnh, trang bị tốt như ngày nay. Theo yêu cầu mới của tình hình và nhiệm vụ, Binh chủng phấn đấu tạo nên một cơ cấu tổ chức hợp lý, cân đối, khoa học, hình thành thế trận hỏa lực mạnh mẽ, rộng khắp, có lực lượng tại chỗ mạnh, lực lượng cơ động mạnh, lực lượng hậu bị đông đảo với pháo binh dân quân, pháo binh dự bị được huấn luyện đầy đủ. Tình hình đòi hỏi Binh chủng phải tranh thủ thời gian để xây dựng, huấn luyện, phát huy truyền thống trước đây, vừa chiến đấu vừa xây dựng, huấn luyện cơ bản có hệ thống, bảo đảm huấn luyện tốt đội ngũ cán bộ, cơ quan chỉ huy, phân đội chuyên môn và nhân viên kỹ thuật. Đó là trách nhiệm thường xuyên của các cơ quan, nhà trường, đơn vị trong toàn Binh chủng. Nhiều đơn vị vượt khó khăn, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh huấn luyện chiến đấu như Đoàn H04, pháo binh dự bị, các đơn vị thuộc Đoàn pháo binh Hải đảo.

        Bộ đội pháo binh còn giúp người chỉ huy binh chủng hợp thành nắm được đặc điểm, khả năng, yêu cầu của pháo binh, để sử dụng hỏa lực có hiệu quả cao nhất và tạo điều kiện cho Binh chủng hoàn thành nhiệm vụ.

        Bộ đội pháo binh không ngừng phấn đấu xứng đáng là một trong những lực lượng nòng cốt của chiến đấu hiệp đồng binh chủng, nòng cốt trong chiến đấu bảo vệ lãnh thổ của Tổ quốc. Quán triệt khoa học và nghệ thuật quân sự của Đảng ta, bộ đội pháo binh tích cực rèn luyện để phát huy hai cách đánh sáng tạo và sở trường của mình là đánh hiệp đồng và đánh độc lập, đưa trình độ Binh chủng tiến lên những bước phát triển mới.

        Hỏa lực của pháo binh phải phục vụ đắc lực cho bộ binh và các đơn vị bạn chiến đấu. Vì vậy các đơn vị pháo binh phải rèn luyện để trong mọi tình huống đều "bắn trúng, đúng thời cơ, bất ngờ, mãnh liệt, đạt hiệu suất cao", góp phần quan trọng đánh bại các thủ đoạn chiến thuật của địch, diệt sinh lực, phá hủy vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng.

        Những trận đánh pháo tài giỏi trên sông Lô và ở Điện Biên Phủ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, những trận hủy diệt căn cứ 241, làm tê liệt sân bay chiến lược, bắn cháy tàu chiến, những trận chi viện lớn trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, những trận đánh pháo mãnh liệt, chính xác, kịp thời ở biên giới tây - nam là những bài học kinh nghiệm quý để pháo binh ta vươn lên, đánh thắng hoàn toàn mọi kẻ thù.

        Bộ đội pháo binh chiến đấu bằng vũ khí tập thể có uy lực mạnh, có tầm bắn xa, đưa viên đạn đến mục tiêu chính xác nhất, đúng thời cơ và có hiệu quả cao nhất. Được giao sử dụng nhiều loại vũ khí, xe máy, khí tài quý, các đơn vị đều quan tâm nâng cao hiệu suất trong mọi hoạt động của mình.

        Với trang bị ngày càng hiện đại, hoàn chỉnh, và đồng bộ hơn, cán bộ, chiến sĩ pháo binh ghi nhớ lời đồng chí Lê Duẩn khi đến thăm Binh chủng: "Bộ đội pháo binh đi sâu vào khoa học kỹ thuật. Càng chịu khó đi sâu vào khoa học kỹ thuật bao nhiêu càng thể hiện được lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng bấy nhiêu".

        Chính vì vậy mà ở các trường, các đơn vị mở những hội thi chọn cán bộ, chiến sĩ pháo thủ, thông tin, trinh sát, lái xe giỏi kỹ thuật, và mở những triển lãm sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Việc tổ chức biên soạn những tài liệu, sách giáo khoa thống nhất, đúng tiêu chuẩn, được tiến hành, tích cực và ngày càng đi vào nền nếp.

        Bộ đội pháo binh quyết nêu cao truyền thống vẻ vang của mình, tạo những chuyển biến mạnh mẽ, những kết quả cao trong việc thực hiện năm mục tiêu của cuộc vận động "Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu". Cụ thể là:

        - Chấp hành nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu. Các đơn vị pháo binh trong cả nước, kể cả các cơ quan, các trường, Binh chủng thực hiện đầy đủ các quy định về sẵn sàng chiến đấu, có nền nếp rèn luyện thực tế, có kiểm tra chu đáo. Tất cả nhằm đạt yêu cầu "Có lệnh là đi, đã đánh là thắng, càng đánh càng mạnh".

        - Coi trọng công tác nghiên cứu khoa học quân sự của Binh chủng, hoàn thành tốt việc tổng kết kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu của pháo binh ta trong hai cuộc kháng chiến vừa qua; từng bước xây dựng lý luận và nghệ thuật sử dụng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam; làm tròn trách nhiệm Binh chủng và đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài của pháo binh ta.

        - Phấn đấu hoàn thành chương trình huấn luyện chiến đấu hai năm 1981 - 1982 theo yêu cầu cơ bản, toàn diện, có hệ thống và thống nhất.

        - Tổ chức quản lý, bảo quản tốt xe pháo, vũ khí khí tài, cơ sở vật chất - kỹ thuật, xây dựng nền nếp chính quy trong Binh chủng. Cán bộ, chiến sĩ pháo binh phấn đấu trở thành những quân nhân cách mạng ưu tú, nghiêm chỉnh từ tư thế, lễ tiết, tác phong đến chấp hành mệnh lệnh cấp trên, pháp luật Nhà nước. Kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện trái với bản chất truyền thống; xây dựng nhiều điển hình cá nhân và tập thể mạnh về kỷ luật, tạo nên sức mạnh chiến đấu cao cho Binh chủng, góp phần giữ vững trật tự, trị an xã hội, và tăng cường tinh thần chủ động đoàn kết hiệp đồng với các quân chủng, binh chủng bạn.

        - Tích cực tham gia lao động xây dựng kinh tế, cần kiệm xây dựng Binh chủng, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thiết thực chăm lo bữa ăn và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của cán bộ, chiến sĩ, giữ vững sức khỏe phục vụ huấn luyện, chiến đấu của bộ đội, giảm bớt sự đóng góp của nhân dân.

        Với tuổi 35, bước vào thời kỳ mới, toàn Binh chủng quyết vượt mọi khó khăn, dũng cảm đi lên, giành những thắng lợi xuất sắc để xứng đáng với lòng tin cậy, yêu mến của Đảng, Chính phủ và binh chủng bạn, phát huy truyền thống tám chữ vàng "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu đã tặng bộ đội pháo binh anh hùng.

 
(Báo Nhân dân ngày 29-6-1981)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Hai, 2017, 09:38:06 AM
     
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ CỦA BINH CHỦNG PHÁO BINH

        Cách đây 40 năm, ngày 29 tháng 6 năm 1946, Đại đội pháo binh đầu tiên của quân đội ta được thành lập tại Thủ đô Hà Nội. Sáu tháng sau, hồi 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, ngày mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, phân đội pháo binh này đã có vinh dự nổ phát pháo đầu tiên vào đại bản doanh quân Pháp trong khu thành cổ ở Hà Nội, làm hiệu lệnh cho cuộc chiến đấu của quân và dân Thủ đô chống thực dân Pháp xâm lược.

        Suốt 40 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và Bác Hồ kính yêu, bộ đội pháo binh vừa chiến đấu vừa xây dựng, không ngừng trưởng thành, liên tiếp lập nên những chiến công vẻ vang, xây dựng nên truyền thống tốt đẹp, xứng đáng là hỏa lực chủ yếu của lục quân và là hỏa lực mặt đất chủ yếu của quân đội ta, góp phần to lớn vào thắng lợi vĩ đại của quân, dân cả nước trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta.

        Bộ đội pháo binh cũng đã sát cánh cùng quân đội và nhân dân hai nước anh em Lào và Cam-pu-chia chiến đấu liên tục, góp phần xứng đáng vào chiến công chung của cách mạng ba nước Đông Dương, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình.

        Trải qua 40 năm xây dựng và chiến đấu, bộ đội pháo binh đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, liên tiếp lập nhiều chiến công xuất sắc. Với những thành tích, chiến công đó, Binh chủng Pháo binh đã được Bác Hồ khen tặng tám chữ vàng "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng", được Nhà nước và Quốc hội tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân", 58 đơn vị và 10 cá nhân được tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang", hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đã được tặng thưởng huân chương cao quý các loại.

        Thành tích, công lao to lớn đó, sự lớn mạnh không ngừng của Binh chủng, bắt nguồn từ sự quan tâm chăm sóc đặc biệt của Bác Hồ kính yêu; từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình của Quân ủy Trung ương (nay là Đảng ủy Quân sự Trung ương), của Bộ Quốc phòng và các cơ quan của Bộ; từ sự giúp đỡ chí tình và có hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, trước hết là Liên Xô; từ sự đùm bọc thương yêu của nhân dân và sự giúp đỡ hết lòng của bộ binh và các quân chủng, binh chủng bạn; từ công lao to lớn của các cán bộ, công nhân quân giới trước kia và Tổng cục Kỹ thuật ngày nay, đã sản xuất và sửa chữa, cải tiến kịp thời các trang bị, xe, pháo, đạn, khí tài cho bộ đội pháo binh sử dụng; từ trách nhiệm chính trị và sự nỗ lực phi thường, tinh thần dũng cảm chiến đấu của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ pháo binh kế tiếp nhau trong 40 năm qua.

        Trên các chặng đường phát triển và trưởng thành của mình, Binh chủng Pháo binh đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm. Nhân ngày truyền thống vẻ vang của bộ đội pháo binh, từ thực tiễn và kinh nghiệm đã thu được, xin nêu một số vấn đề trong chiến đấu và xây dựng của pháo binh để nghiên cứu vận dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

        I. HỎA LỰC CHỦ YẾU CỦA LỤC QUÂN VÀ CỦA QUÂN ĐỘI TA

        Quân đội ta nói chung, Binh chủng Pháo binh nói riêng, ra đời trong thời kỳ mà chiến tranh đã được tiến hành bằng các phương tiện vũ khí, kỹ thuật hiện đại. Đồng chí Xta-lin đã tặng cho Pháo binh Xô-viết danh hiệu "Thần chiến tranh". ở nước ta, vai trò của hỏa lực pháo binh cũng sớm được xác định trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp. Pháo binh là một trong những Binh chủng được Đảng ta hết sức quan tâm xây dựng.

        Tuy vậy, cũng như đối với các binh chủng khác, trong thực tế hoạt động tác chiến của các lực lượng vũ trang, vai trò và tác dụng của pháo binh chỉ có thể được khẳng định, giữ vững và phát triển - khi có những điều kiện, những yếu tố cần thiết, thích hợp. Pháo binh Việt Nam ra đời trên cơ sở hết sức hạn chế cả về trang bị vũ khí và về cán bộ cũng như về tri thức, kinh nghiệm tổ chức, huấn luyện, chiến đấu. Cuộc kháng chiến chống xâm lược của quân và dân ta là cuộc chiến tranh nhân dân; đấu tranh vũ trang trong chiến tranh nhân dân ở nước ta có những đặc điểm khác với các cuộc chiến tranh bằng quân đội chính quy, hiện đại; vai trò của Pháo binh Việt Nam được thể hiện cụ thể như thế nào cũng là một vấn đề mới, phải qua thực tiễn chiến đấu mới dần dần nhận thức được.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Hai, 2017, 09:38:30 AM

        Trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến công của pháo binh Thủ đô, của các phân đội pháo thuộc Khu 10, bắn chìm hai đoàn tàu địch trên sông Lô, của những khẩu đội sơn pháo chi viện cho bộ binh xung kích trong trận tiến công địch như ở Đồng Bến, Suốt Rút (Hòa Bình) nói lên quyết tâm chiến đấu rất cao của bộ đội pháo binh, "có súng gì đánh súng ấy", có một - hai khẩu pháo cũng biết sử dụng để đánh địch. Thực tiễn chiến đấu đó đã bước đầu chỉ rõ, pháo binh có thể tác chiến độc lập, có thể dùng hỏa lực pháo để ngăn chặn địch và phối hợp tác chiến rất linh hoạt với hoạt động tác chiến phong phú, sáng tạo của chiến tranh nhân dân.

        Từ chiến dịch Biên Giới (1950) đến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), lần đầu tiên trong lịch sử chiến đấu của Binh chủng, pháo binh đã đảm đương vai trò hỏa lực chủ yếu trong trận đánh và trong chiến dịch có hiệp đồng tác chiến giữa bộ binh với pháo binh, công binh và phòng không. Tuy nhiên, những trận đánh, những chiến dịch như vậy chưa phải là phổ biến trên các chiến trường.

        Sau kháng chiến chống thực dân Pháp, trải qua thời gian 10 năm xây dựng Binh chủng trong điều kiện miền Bắc có hòa bình, được sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác về trang bị vũ khí và kinh nghiệm, đào tạo cán bộ, bộ đội pháo binh đã có bước trưởng thành về mọi mặt và đã có cơ sở, điều kiện để đảm đương vai trò hỏa lực như trong Nghị quyết của Quân ủy Trung ương (10-1964) đã chỉ rõ: "Pháo binh là một binh chủng hết sức quan trọng, là hỏa lực chính của lục quân và là hỏa lực chính của quân đội ta".

        Khi đế quốc Mỹ phát động chiến tranh xâm lược ở miền Nam nước ta và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, pháo binh đã phát huy vai trò hỏa lực của mình càng ngày càng cao, với nội dung, hình thức, phương pháp tác chiến ngày càng phong phú, quy mô ngày càng lớn hơn.

        Trong tác chiến hiệp đồng binh chủng có quy mô tương đối lớn như chiến dịch phản công ở Đường 9 - Nam Lào (1971), chiến dịch tiến công và chiến dịch phòng ngự ở Trị - Thiên (1972) và các chiến dịch khác ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, pháo binh đã đảm đương vai trò hỏa lực chiến dịch trong nhiều nhiệm vụ chiến đấu cụ thể khác nhau như: chi viện hỏa lực trực tiếp cho bộ binh, xe tăng đột phá; bắn phá các sở chỉ huy, căn cứ hậu phương; phá hủy các công sự phòng thủ chủ chốt; đánh phá trận địa pháo, tiêu diệt xe tăng, xe bọc thép của địch.

        Trong tác chiến độc lập và phối hợp với hoạt động tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương, vai trò hỏa lực pháo binh đã được thực hiện dưới các hình thức và phương pháp tác chiến luồn sâu, áp sát vào các vùng đồng bằng, đô thị, các mục tiêu có ý nghĩa chiến lược, chiến dịch của địch để tập kích hỏa lực. Bộ đội pháo binh ở miền Nam gồm cả pháo của chủ lực và địa phương đã tiến hành 28.000 trận tập kích hỏa lực; trong đó có những trận lớn như trận bắn phá sân bay Biên Hòa (10-1964), sân bay Đà Nẵng (1-1968), sân bay Plây Cu (2-1968). Nổi bật là trong cuộc Tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), đợt tập kích hỏa lực đồng loạt của bộ đội pháo thuộc cả ba thứ quân, đánh vào các cơ quan đầu não của ngụy quân, ngụy quyền, sở chỉ huy, sân bay, bến cảng, kho tàng, đã gây thiệt hại lớn cho địch và khiến địch vô cùng hoảng sợ.

        Vai trò hỏa lực chủ yếu mà Binh chủng Pháo binh đảm đương đã được thể hiện cụ thể và tập trung trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Bộ đội pháo binh đã tham gia với lực lượng gồm trên 200 tiểu đoàn pháo xe kéo, hàng trăm đội pháo mang vác, hình thành một hệ thống hỏa lực trong tác chiến chiến thuật, chiến dịch và chiến lược, trên các hướng tiến công chủ yếu và ở sâu trong lòng địch. Pháo binh đã hiệp đồng đắc lực với bộ binh, xe tăng trong các trận đánh then chốt, các mũi tiến công thọc sâu, chia cắt; đã cơ động hỏa lực kịp thời, giáng những đòn sấm sét, triệt phá thế co cụm, rút chạy và phản kích của địch, thúc đẩy quá trình tan rã chiến lược của địch.

        Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc nước ta, bộ đội pháo binh của ba thứ quân đã hình thành thế trận hỏa lực đánh trả các cuộc bắn phá của tàu chiến địch ở vùng ven biển. Bằng hỏa lực pháo mặt đất bố trí ở ven bờ biển, quân và dân ta đã bắn chìm, bắn cháy 276 tàu, xuồng địch, hạn chế một phần đáng kể hoạt động phá hoại của hải quân địch đối với miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Hai, 2017, 05:17:37 PM
         
        Từ thực tế lịch sử nêu trên đây, có thể kết luận về những điều kiện chính có ý nghĩa quyết định để Binh chủng Pháo binh đảm đương được thắng lợi vai trò hỏa lực của mình là:

        - Ngay từ khi mới ra đời, bộ đội pháo binh đã dựa được vào phong trào chiến tranh nhân dân mạnh mẽ, rộng khắp. trong thế trận chiến tranh nhân dân, được sự giúp đỡ và hết lòng chăm lo xây dựng của toàn dân, của các binh chủng, các thứ quân, bộ đội pháo luôn luôn có thế đứng, thế đánh mạnh mẽ, vững chắc và thế phát triển dồi dào. Nhờ vậy, sức mạnh và hiệu lực của pháo binh ta đã được nhân lên nhiều lần so với số lượng pháo và cơ sở vật chất kỹ thuật cho phép.

        - Thắng lợi và sự lớn mạnh của pháo binh trong quá trình tự khẳng định vai trò hỏa lực chủ yếu gắn liền với sự lớn mạnh, phát triển ngày càng hoàn chỉnh, đồng bộ của các binh chủng, các thứ quân trong lực lượng vũ trang ta. Từ trên cơ sở phát triển của các binh chủng mà Binh chủng Pháo binh được phát triển. Đồng thời, khi bộ đội pháo phát triển, khả năng bảo đảm hỏa lực được nâng cao hơn thì đó lại là yếu tố có tác động thúc đẩy sự phát triển của các binh chủng, các thứ quân cả trong tác chiến và xây dựng. Cứ mỗi chiến dịch, khi số lượng pháo tham gia nhiều, cỡ nòng pháo lớn hơn, thì chất lượng chiến dịch cũng cao hơn.

        - Binh chủng Pháo binh đã có quyết tâm cao, sự nỗ lực lớn trong quá trình chiến đấu và xây dựng để nhanh chóng đảm đương vai trò hỏa lực chủ yếu được giao phó. Trong mỗi bước trưởng thành, lớn mạnh của mình, bộ đội pháo binh luôn luôn có quyết tâm phấn đấu để nâng cao khả năng và hiệu quả hoàn thành các nhiệm vụ hỏa lực khác nhau. Từ chỗ mới chỉ đảm đương một phần nhiệm vụ hỏa lực trong một số trận đánh, chiến dịch, bộ đội pháo binh đã nhanh chóng tiến đến chỗ đảm đương các nhiệm vụ hỏa lực chính mà hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực cơ động và các lực lượng chiến tranh nhân dân địa phương đòi hỏi như: đánh pháo binh; chế áp sở chỉ huy; tiêu diệt xe tăng; phá hoại hệ thống công sự nơi mở cửa; phá hủy kho tàng của địch. Từ chỗ mới sử dụng được một số hình thức tác chiến, phương pháp, kỹ thuật bắn pháo, đã nhanh chóng sử dụng được các hình thức, phương pháp tác chiến và kỹ thuật bắn pháo, cơ động lực lượng trong tác chiến hiệp đồng binh chủng và tác chiến độc lập. Từ chỗ chưa có, đã nhanh chóng xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật pháo binh đồng bộ; bộ đội pháo binh đã có tiềm lực mạnh và khả năng tiến lên làm chủ các trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại và nghệ thuật sử dụng pháo hiện đại.

        II. NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ CỦA BINH CHỦNG

        Quá trình chiến đấu thắng lợi và trưởng thành, lớn mạnh của Binh chủng Pháo binh luôn luôn gắn liền với việc quán triệt đường lối, quan điểm, tư tưởng quân sự của Đảng, vận dụng khoa học và nghệ thuật của chiến tranh nhân dân Việt Nam để xây dựng hoàn chỉnh và phát triển nghệ thuật quân sự của Binh chủng.

        Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong mọi hoạt động tác chiến của chiến tranh nhân dân Việt Nam là tư tưởng tích cực tiến công. Nghệ thuật quân sự của Binh chủng Pháo cũng là nghệ thuật quán triệt tư tưởng tích cực tiến công và kiên quyết tiến công địch, bằng cách sử dụng và phát huy cao độ lực lượng và sức mạnh của pháo trong hai lối đánh: đánh hiệp đồng binh chủng và đánh độc lập. Hai lối đánh trên đã hỗ trợ, bổ sung cho nhau rất đắc lực. Tùy theo tương quan lực lượng và tình thế cụ thể trên chiến trường trong từng thời kỳ, mỗi lối đánh lại nổi lên thành lối đánh chính. Song, xét toàn cục mà nói thì lối đánh hiệp đồng binh chủng vẫn được coi là chủ yếu, và là phương hướng để rèn luyện, xây dựng Binh chủng, còn lối đánh độc lập là rất quan trọng.

        Đánh độc lập của pháo binh là lối đánh hình thành và phát triển trên nền tảng của cuộc chiến tranh nhân dân phát triển cao. Đặc trưng của nó là luồn sâu, đánh hiểm, hiệu suất cao, lấy ít thắng nhiều, lấy yếu đánh mạnh, có gì đánh nấy, tạo nên thế tiến công rộng khắp, liên tục trên các chiến trường. Hiệu quả của nó là sử dụng pháo, đạn rất ít mà đạt được kết quả sát thương và phá hủy lớn lực lượng địch, đưa chiến tranh vào tận hậu phương an toàn nhất của địch, buộc địch có lúc phải thay đổi cả thế bố trí quân sự của chúng trong từng vùng. Thật có ý nghĩa biết bao khi kẻ thù dùng B52, đánh ra miền Bắc thì lập tức trong miền Nam, chúng ta dùng cối và A.12, H.12, ĐKB đánh trả có hiệu quả vào các sân bay của địch, trong khi không quân ta chưa có điều kiện hoạt động, ta chưa có tên lửa đất đối đất. Đánh độc lập của pháo binh còn có giá trị đánh vào tâm lý, tinh thần địch, thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng ở vùng đồng bằng, đô thị mà địch tạm chiếm.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Hai, 2017, 05:19:06 PM

        Lối đánh độc lập thường do pháo binh địa phương thực hiện, được một bộ phận pháo binh chủ lực tại chỗ làm nòng cốt, vì pháo binh địa phương thông thạo địa hình, hiểu rõ quy luật hoạt động của địch, nắm chắc các mục tiêu, lại tự cấp tự túc được, nên có khả năng to lớn thực hiện lối đánh này. Về tổ chức, thường hình thành các phân đội pháo binh chuyên trách, được huấn luyện tinh nhuệ, được chuẩn bị tốt về mọi mặt một cách thường xuyên, để khi có nhiệm vụ, có thời cơ là đánh được ngay và có hiệu quả, bảo toàn được lực lượng.

        Đánh độc lập của pháo binh có thể thực hiện riêng lẻ từng trận hoặc tổ chức thành từng đợt tập kích hỏa lực đồng loạt mang tính chất chiến dịch trên toàn khu vực tác chiến, thường kết hợp với các chiến dịch hiệp đồng binh chủng, hoặc chiến dịch tổng hợp, hoặc phục vụ các yêu cầu chiến lược, các nhiệm vụ chính trị trong cuộc chiến tranh.

        Đánh hiệp đồng binh chủng, trực tiếp chi viện cho bộ binh, xe tăng chiến đấu là lối đánh chính, là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của bộ đội pháo binh. Trong lối đánh này, bộ đội pháo binh thường phải đáp ứng đầy đủ các nhiệm vụ hỏa lực như: chi viện đột phá, đánh phá sở chỉ huy, căn cứ hậu phương chiến dịch, công sự và trận địa pháo địch. Nghệ thuật sử dụng hỏa lực là, thông qua hoàn thành các nhiệm vụ hỏa lực, cách sử dụng lực lượng, góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của các binh chủng, quân chủng trong tất cả các loại hình chiến dịch tiến công, phản công và phòng ngự.

        Về sử dụng lực lượng, có thể rất linh hoạt, có chiến dịch sử dụng pháo xe kéo và pháo mang vác, có pháo binh chủ lực và pháo địa phương, cả pháo cơ động và pháo tại chỗ. Nhưng cũng có chiến dịch chỉ có pháo binh tại chỗ, hoặc có các loại pháo mang vác. Tuy vậy, dù là sử dụng lực lượng gì, pháo binh vẫn phải đảm nhiệm và hoàn thành tốt vai trò hỏa lực chủ yếu của mình.

        Trải qua thực tiễn chiến đấu, Binh chủng Pháo binh đã dần dần đi đến chỗ xác định và vận dụng thành công những nguyên tắc sử dụng pháo phù hợp với đặc điểm chiến tranh nhân dân của ta:

        1. Sử dụng tập trung pháo, tạo nên mật độ hỏa lực lớn, trong cả tiến công, phản công và phòng ngự

        Nguyên tắc này đã được nhận thức ngày càng đầy đủ, sát với thực tiễn chiến đấu của Việt Nam và đã được thực hiện nghiêm túc, sáng tạo. Hầu như trong tất cả các chiến dịch, các trận đánh lớn, chúng ta đều kiên quyết tập trung hỏa lực pháo trên hướng chủ yếu, vào nhiệm vụ chủ yếu, mục tiêu chủ yếu, thời cơ chủ yếu, nhằm tạo ra ưu thế hỏa lực hơn hẳn địch, bảo đảm nâng cao tốc độ tiến công và sức đột kích của bộ đội hợp thành trong tiến công, cũng như ngăn chặn có hiệu quả quân địch trong phòng ngự.

        Trong chiến dịch Nguyễn Huệ (1972), tất cả năm trung đoàn pháo của Miền, với toàn bộ lực lượng pháo xe kéo đã được tập trung trên hướng chủ yếu đường 13 (Bình Long). Trong trận Buôn Ma Thuột, chiến dịch Tây Nguyên (1975), đã sử dụng tập trung toàn bộ pháo tầm xa của chiến dịch. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã mạnh dạn tập trung hầu như toàn bộ lực lượng pháo binh dự bị chiến lược của Bộ.

        Tuy rất xem trọng việc tập trung số lượng pháo, song nghệ thuật sử dụng pháo của ta luôn luôn xác định mục đích của việc sử dụng hỏa lực tập trung là phải bảo đảm có đủ hỏa lực chi viện nhanh chóng, kịp thời, liên tục và có hiệu quả cho bộ binh (xe tăng), đủ hỏa lực chế áp chắc chắn các đối tượng mục tiêu quan trọng như pháo, xe tăng, công sự nơi cửa mở, sở chỉ huy địch. Để thực hiện mục đích đó, không phải chỉ tập trung về số lượng pháo, đạn mà cả về chất lượng trang bị, chất lượng đơn vị, cả công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và công tác chỉ huy, lãnh đạo chiến đấu. Nghệ thuật sử dụng pháo binh của ta tính toán một cách khoa học mức độ tập trung cần thiết đủ để đạt các mục tiêu chiến đấu đã được xác định tùy thuộc vào tình hình thực tế trên chiến trường và yêu cầu chiến đấu của bộ đội hợp thành, chứ không máy móc, cứng nhắc.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Hai, 2017, 02:36:39 AM

        2. Sử dụng kết hợp các loại pháo, phát huy đầy đủ hiệu quả của các loại pháo có trong tay, hình thành thế trận pháo binh hệ thống hỏa lực pháo binh mạnh mẽ, vững chắc trong chiến dịch và chiến đấu

        Lực lượng pháo binh của ta được tổ chức thành hệ thống lực lượng hỏa lực phù hợp với tổ chức ba thứ quân, cơ động và tại chỗ, phù hợp với phương thức kết hợp tác chiến của bộ đội chủ lực cơ động và của chiến tranh nhân dân địa phương. Pháo binh ta lại có nhiều loại pháo có tính năng chiến thuật và chiến dịch khác nhau. Bởi vậy, nghệ thuật sử dụng pháo của ta, trong lối đánh hiệp đồng hay độc lập, trong các loại hình tác chiến, đều chú trọng thực hiện kết hợp các loại pháo. Nội dung của nó là, phải sử dụng kết hợp giữa pháo xe kéo và pháo mang vác, giữa pháo cấp trên và pháo cấp dưới, giữa pháo tại chỗ và pháo cơ động, giữa pháo trên từng hướng chiến trường cũng như giữa pháo ba thứ quân. Nó phải tạo nên được một thế trận pháo binh, một hệ thống hỏa lực có hiệu lực cao nhất trong các trận đánh và trong các loại hình chiến dịch.

        Với nghệ thuật sử dụng kết hợp các loại pháo như vậy, bộ đội pháo binh của ta đã hình thành một hệ thống hỏa lực có sức mạnh cao cả về thế trận và lực lượng. Nó cũng cho phép ta nâng cao được khả năng cơ động của pháo, mặc dầu chúng ta còn nhiều hạn chế về phương tiện cơ động, đường cơ động.

        Mỗi loại pháo đều phát huy được cao độ các tính năng của nó. Pháo, cối trong biên chế của các tiểu đoàn, trung đoàn bộ binh bảo đảm tính kịp thời, độ chính xác và hiệu quả cao trong chi viện cho bộ binh (xe tăng) chiến đấu, tiêu diệt kịp thời các lực lượng địch cản trở hành động của các phân đội bộ binh, xe tăng trong quá trình chiến đấu. Pháo cấp trên và pháo xe kéo có tầm xa đã được sử dụng để hình thành hệ thống hỏa lực chiến dịch, nâng cao tốc dộ tiến công của chiến dịch, tiêu diệt quân địch tập trung, chi viện bộ binh (xe tăng) chiến đấu và đánh vào các mục tiêu phía sau của quân địch.

        3. Bắn chính xác, kịp thời, bất ngờ, đạt hiệu lực sát thương và phá hoại lớn.

        Là một Binh chủng kỹ thuật, pháo binh chỉ có thể đảm đương vai trò hỏa lực thông qua hiệu lực sát thương và phá hoại của từng viên đạn, từng loại pháo. Lực lượng pháo của ta có hạn, đạn pháo không có nhiều. Do đó nghệ thuật sử dụng pháo binh của ta đặc biệt quan tâm nâng cao nghệ thuật bắn pháo nhằm đạt yêu cầu bắn chính xác, đạt hiệu lực cao.

        Chúng ta đã giải quyết vấn đề đó bằng nhiều cách bắn pháo. Ngoài cách bắn thông thường của pháo binh, chúng ta đã áp dụng những cách bắn khác nhau như bắn ngắm trực tiếp, đưa pháo vào gần bắn thẳng. Các cách bắn được áp dụng phù hợp với yêu cầu của cách đánh của bộ đội hợp thành, phù hợp với yêu cầu đánh địch ở mọi cự ly xa và gần. Việc đưa pháo xe kéo lên cao, vào gần, bắn thẳng ở Tây Nguyên, Khu 5, rồi Nam Bộ trong những năm 1972 - 1975, đã chi viện cho bộ binh (xe tăng) đánh chiếm nhanh gọn hàng loạt cứ điểm, cụm cứ điểm, công sự vững chắc của quân Mỹ - ngụy Sài Gòn, đã làm phá sản chiến thuật phòng ngự cứ điểm, cụm cứ điểm của chúng.

        Mỗi cách bắn đều có cái hay và cái hạn chế của nó, cho nên nghệ thuật sử dụng pháo của ta không quá nhấn mạnh một cách bắn nào, mà yêu cầu phải kết hợp hài hòa giữa các cách bắn. Pháo bắn thẳng, bắn ngắm trực tiếp thường được tổ chức để chi viện cho bộ binh (xe tăng) trong từng trận đánh. Còn trong chiến dịch, hoặc trong một trận đánh có quy mô lớn, không gian rộng, thì vai trò của các cụm pháo bắn ngắm gián tiếp lại rất quan trọng, để bảo đảm đủ hỏa lực đánh địch trong toàn bộ chiều sâu và bề rộng của khu vực tác chiến. Điều này đã được thể hiện rất rõ trong các chiến dịch 1972 - 1975.

        Nghệ thuật sử dụng pháo của ta cũng xác định, bắn kịp thời là phải bắn đúng thời cơ, đúng yêu cầu về mục tiêu và thời gian của bộ đội hợp thành, là yếu tố rất quan trọng để nâng cao sức đột kích của bộ binh (xe tăng) và ngăn chặn đúng lúc các hoạt động của quân địch. Các đòn hỏa lực của pháo binh ở cửa Thuận An, cửa Tư Hiền, Đà Nẵng trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng 1975 là các dẫn chứng tiêu biểu.

        Yếu tố bất ngờ trong sử dụng pháo cũng đã được bộ đội pháo binh ta khai thác, sử dụng và cũng đã trở thành một nghệ thuật truyền thống của Binh chủng. Đặt pháo gần, bắn thẳng ở sông Lô; thế bố trí hiểm hóc và sự xuất hiện lựu pháo 105 ly ở Điện Biên Phủ; hỏa lực chuẩn bị trong chiến dịch Trị - Thiên 1972; sự xuất hiện của tên lửa chống tăng có điều khiển (B72) ở Đông Hà 1972; cơ động thần tốc, tập trung được một lực lượng lớn pháo binh trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, v.v... đó là những bất ngờ làm cho kẻ địch choáng váng và thất bại nhanh chóng.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Hai, 2017, 02:37:29 AM
           
        4. Chủ động hiệp đồng chặt chẽ và liên tục với bộ binh (xe tăng) và các lực lượng chiến đấu khác

        Nội dung chủ yếu của nguyên tắc này là: Kết hợp chặt chẽ hoạt động chiến đấu của pháo binh với hành động chiến đấu của bộ binh (xe tăng) và các lực lượng chiến đấu khác theo thời gian, không gian, mục tiêu, trong từng tình huống, từng giai đoạn của trận đánh, của chiến dịch, nhằm thực hiện quyết tâm của người chỉ huy binh chủng hợp thành.

        Có biết bao nhiêu những dẫn chứng điển hình về sự hiệp đồng tuyệt vời của pháo binh với bộ binh và xe tăng như đã nêu ở các phần trên, nhưng cũng có không ít những trận đánh hiệp đồng chưa tốt, nên việc bắn pháo đã không kịp thời, chuệch choạc, sự chi viện hỏa lực bị gián đoạn, không ăn khớp với hành động của bộ binh (xe tăng), làm cho kết quả chiến đấu bị giảm thấp, trận đánh bị kéo dài, thậm chí dẫn đến trận đánh không thành công.

       5. Thực hành cơ động pháo binh kiên quyết, kịp thời

        Cơ động pháo binh kịp thời vừa là nội dung, vừa là biện pháp quan trọng để chuyển hóa thế trận, tạo ra ưu thế tập trung lực lượng cũng như để bắn được kịp thời, bất ngờ. Do đó, dù tình huống khó khăn thế nào cũng phải kiên quyết thực hiện cho bằng được việc cơ động pháo binh theo yêu cầu và kế hoạch đã đề ra, cả về mặt chiến thuật, chiến dịch và chiến lược.

        Trong chiến tranh giải phóng, nhờ sự hết lòng giúp đỡ, tham gia chiến đấu của nhân dân và các binh chủng bạn, nhờ phát huy truyền thống "Chân đồng vai sắt", chúng ta đã đưa các loại pháo khiêng vác các cỡ đi từ Bắc vào Nam, đi từ rừng núi xuống đồng bằng, kịp có mặt trên các chiến trường trong từng giai đoạn lịch sử, kịp triển khai chiến đấu trong từng chiến dịch và từng trận đánh. Khi có pháo xe kéo, bộ đội pháo binh đã thực hiện các cuộc hành quân đường dài, hành quân thần tốc, đến chiến trường đúng thời gian, trong sự đánh phá ác liệt của pháo binh và không quân địch. Trong trận đánh, trong chiến dịch, có lúc kéo pháo vào, kéo pháo ra (Điện Biên Phủ), có lúc tháo pháo xe kéo ra khiêng vác, đưa vào gần bắn thẳng (Khu 5), có lúc phải kéo pháo bằng sức người khi đường sá khó khăn.

       III. THƯỜNG XUYÊN CHĂM LO VẤN ĐỀ KỸ THUẬT, BẢO ĐẢM "TRĂM PHÁT TRĂM TRÚNG"

        Bộ đội pháo binh được trang bị và chiến đấu bằng các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật ngày càng hiện đại, có tầm bắn xa, uy lực lớn, sức cơ động cao và hoàn thành nhiệm vụ của mình bằng hiệu quả của việc bắn pháo. Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt đã được xác định trong sử dụng pháo của ta là: "Hoàn thành nhiệm vụ bắn trong thời gian quy định, với số đạn tiêu thụ ít nhất, đạt được hiệu quả lớn nhất".

        40 năm xây dựng và chiến đấu là quá trình 40 năm bộ đội pháo binh luôn luôn tìm tòi, suy nghĩ, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, tìm ra các biện pháp tốt nhất, cách đánh hay nhất để đạt được yêu cầu trên, thực hiện đúng lời dạy của Bác Hồ kính yêu: "Đánh giỏi, bắn trúng".

        Bài học kinh nghiệm lớn trong vấn đề này là phải thực hiện nhiều biện pháp về kỹ thuật bắn, chỉ huy bắn, về rèn luyện trình độ bắn cũng như trình độ, thói quen giữ gìn vũ khí, trang bị.

        Để bắn trúng mục tiêu, với hiệu quả lớn, lượng tiêu thụ đạn ít, ngoài yếu tố chuẩn bị chính xác phần tử bắn, còn phải quan tâm đến việc chỉ huy bắn như: xác định đầy đủ tính chất mục tiêu (vị trí, kích thước, đặc điểm), xác định đúng số lượng, loại pháo dùng để sát thương địch, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, phương pháp bắn và sửa bắn chính xác, kịp thời trong quá trình bắn. Ngoài ra, còn phải kể đến trình độ thao tác thành thạo của cán bộ, chiến sĩ pháo binh nữa.

        Việc nâng cao trình độ thục luyện, trình độ tinh nhuệ của bộ đội pháo binh, trình độ thông thạo về bắn và chỉ huy bắn của cán bộ pháo binh là một yêu cầu hết sức nghiêm khắc trong xây dựng bộ đội pháo binh. Những năm thời bình từ 1955 - 1965, chúng ta đã xây dựng được một cơ sở, nền nếp đáng tự hào và một truyền thống vô cùng tốt đẹp. Những phong trào "pháo thủ toàn năng", "hội thao kỹ thuật", "hội thi bắn pháo" của sĩ quan, kể cả sĩ quan chính trị, hậu cần là giai đoạn chúng ta chuẩn bị rất tốt trước khi ra quân đánh Mỹ.

        Thực tiễn chỉ rõ, cần đề phòng và khắc phục những biểu hiện giáo điều, máy móc, thiếu nghiên cứu, sáng tạo trong chỉ huy bắn pháo. Ngay trong tính toán lượng tiêu thụ đạn dược để sát thương một mục tiêu, để làm kế hoạch hỏa lực cho một trận đánh, một chiến dịch, cũng đã có hiện tượng nhận thức lệch lạc, tính toán theo sách vở theo "mẫu, sào" đơn thuần. Tất nhiên, việc tính lượng tiêu thụ đạn dược phải xuất phát từ yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ được giao và nhu cầu số đạn để sát thương quân địch theo tính toán lý thuyết. Nhưng trong thực tiễn, chúng ta còn phải dựa vào hai yếu tố nữa là điều kiện thực tế pháo đạn của ta và lối đánh sáng tạo, độc đáo của pháo binh trong chiến tranh nhân dân của ta.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Hai, 2017, 10:53:08 PM

        Bộ đội pháo binh đã luôn luôn coi trọng việc nghiên cứu, khai thác, sử dụng, cải tiến kỹ thuật và nhất là xây dựng nền nếp quản lý, giữ gìn vũ khí, trang bị, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu.

        Là một Binh chủng kỹ thuật, một Binh chủng chiến đấu, quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công của Đảng, bộ đội pháo binh đã luôn luôn nghiên cứu, nắm vững và khai thác, sử dụng hết tính năng của vũ khí có trong tay, dám nghĩ, dám làm, mạnh dạn cải tiến vũ khí cho phù hợp với điều kiện tác chiến và cách đánh của chiến trường, như cải tiến H.12, A.12, dùng bệ bắn từng phát để tiện mang vác và luồn sâu, đánh hiểm, sản xuất ĐKB, v.v... Trong điều kiện chiến trường bị chia cắt, đã nghiên cứu giải quyết tốt việc sửa chữa tại chỗ kịp thời, bảo đảm cho bộ đội pháo binh giữ được nhịp độ chiến đấu trong mọi hoàn cảnh.

        Một nguồn bổ sung hết sức lớn lao để bộ đội pháo binh không ngừng lớn mạnh là lấy xe, pháo, đạn địch để tổ chức và trang bị những lực lượng mới của ta. Việc làm này đã trở thành một nguyên tắc, một truyền thống. Sau mỗi chiến dịch thắng lợi thì lại có thêm những đơn vị pháo mới ra đời. Người chiến sĩ pháo binh rất tự hào đã sử dụng thành thạo tất cả các loại vũ khí pháo binh của các nước xã hội chủ nghĩa anh em giúp đỡ, tất cả các loại pháo thu được của quân xâm lược Tưởng, Pháp, Mỹ với khối lượng rất lớn, kịp thời sử dụng ngay trong chiến dịch, chiến đấu.

        Để bảo đảm chất lượng xây dựng, sẵn sàng chiến đấu và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu, một vấn đề hết sức quan trọng đặt ra đối với Binh chủng là công tác bảo đảm kỹ thuật, mà nội dung chủ yếu của nó là "giữ tốt, dùng bền". Đây là một yêu cầu chính trị rất cao đối với tài sản rất lớn và vô giá mà Đảng và nhân dân giao cho.

        Một vấn đề nữa đặt ra là, phải xây dựng và giữ gìn được một đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật, chuyên ngành giỏi, đúng tầm cỡ của một Binh chủng kỹ thuật có trang bị hiện đại, nhằm khai thác, sử dụng, phát huy hết tính năng của từng loại pháo, đạn, khí tài, và giữ gìn, kéo dài tuổi thọ của chúng. Tiếc rằng, trong những năm chiến tranh, Binh chủng chưa thật quan tâm đúng mức, nên ở một số đơn vị làm chưa tốt, dẫn đến tình trạng vũ khí, khí tài xuống cấp quá nhanh, hoặc sử dụng còn bừa bãi, không tôn trọng yêu cầu kỹ thuật.

        IV. XÂY DỰNG BINH CHỦNG THEO HƯỚNG CÁCH MẠNG, CHÍNH QUY, TINH NHUỆ, NGÀY CÀNG HIỆN ĐẠI, CÀNG ĐÁNH CÀNG MẠNH

        Bộ đội pháo binh đã xây dựng lực lượng từ không đến có; từ pháo mang vác đến pháo xe kéo; xây dựng pháo ba thứ quân; lấy chất lượng cao thắng số lượng đông; lấy pháo địch đánh địch; thường xuyên chăm lo xây dựng con người; vừa chiến đấu vừa xây dựng, càng đánh càng mạnh.

        Một trong những thành công lớn của Binh chủng là đã tổ chức thực hiện thắng lợi việc xây dựng lực lượng đáp ứng kịp thời với yêu cầu tác chiến ngày càng phát triển, phù hợp với trình độ và cách đánh của bộ đội hợp thành trong các thời kỳ chiến tranh, phù hợp với yêu cầu xây dựng lực lượng qua từng giai đoạn cách mạng của các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.

        Lực lượng hoàn chỉnh pháo binh ba thứ quân đã được xây dựng cân đối, hợp lý, trong đó pháo binh bộ đội chủ lực là nòng cốt, được ưu tiên cả về số lượng và chất lượng trang bị, đã được xây dựng gọn, mạnh có chất lượng chiến đấu cao, bảo đảm có sức đột kích bằng hỏa lực mạnh, sức cơ động cao, để thực hiện thắng lợi những đòn tiêu diệt lớn trong phương thức tiến hành chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực, nhằm góp phần tạo nên sự thay đổi quyết định về so sánh lực lượng và cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Hiệu quả chi viện bộ binh (xe tăng) chiến đấu thắng lợi của pháo binh bộ đội chủ lực trong các chiến dịch Điện Biên Phủ, Đường 9 - Nam Lào, cũng như các chiến dịch lớn trong những năm 1972, 1975 đã chứng minh điều đó.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Hai, 2017, 10:54:23 PM

        Trong khi nhấn mạnh pháo binh bộ đội chủ lực là nòng cốt, chúng ta vẫn thường xuyên chăm lo xây dựng pháo binh bộ đội địa phương và pháo binh dân quân tự vệ trong mọi hoàn cảnh để luôn luôn hình thành hai lực lượng: pháo binh cơ động và pháo binh tại chỗ. Nét độc đáo, đáng tự hào nữa là, chúng ta đã có những phân đội pháo binh gái như Ngư Thủy, Long An, Bến Tre, những phân đội pháo binh phụ lão như Gio Linh (Quảng Trị), Bình Định, An Nhơn, đã bám trụ kiên cường, dũng cảm đánh địch có hiệu quả. Pháo binh tại chỗ là lực lượng cơ động nhanh nhất, đánh địch kịp thời nhất. Chính các lực lượng pháo binh địa phương này đã hỗ trợ đắc lực cho pháo binh bộ đội chủ lực trong các đòn tiến công chiến lược 1968, 1972, 1975, trong chiến dịch phản công Đường 9 (năm 1971), góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của các chiến dịch. Đó cũng là hỏa lực đánh địch dẻo dai, bền bỉ, liên tục giữa các đợt của một chiến dịch, giữa các chiến dịch, cũng như để giữ thế chiến trường khi các lực lượng pháo binh chủ lực đi vào củng cố. Thường pháo binh bộ đội địa phương được trang bị bằng các loại pháo, cối mang vác; ở một số địa bàn trọng yếu nhất định, có thể tổ chức pháo xe kéo, nhưng với quy mô nhỏ từ khẩu đội đến đại đội, và cần được huấn luyện để sử dụng các loại pháo, cối mà kẻ địch trang bị, để có thể kịp thời lấy pháo địch, đánh địch, tự trang bị cho mình, bảo đảm luôn có pháo, đạn chiến đấu.

        Việc rèn luyện, xây dựng pháo binh phải theo phương hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, ngày càng hiện đại, lấy lối đánh hiệp đồng quân, binh chủng trong mọi quy mô làm chính.

        Để bảo đảm tinh nhuệ, phải coi trọng huấn luyện cơ bản, từ cơ sở, có hệ thống. Như vậy, người cán bộ, chiến sĩ pháo binh mới có được hiểu biết về pháo binh một cách đầy đủ, bền vững, làm cơ sở cho việc vận dụng sáng tạo trong thực tế chiến đấu, sẽ có nhiều sáng kiến khắc phục khó khăn về kỹ thuật, về cách bắn, về tổ chức sử dụng pháo binh trong những tình huống phức tạp, trong những điều kiện khắc nghiệt, thiến thốn trên chiến trường cũng như có thể nhanh chóng nghiên cứu, sử dụng các vũ khí mới hoặc đạn dược của kẻ địch để hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ chiến đấu được giao.

        Trong xây dựng lực lượng pháo binh, chúng ta thường xuyên chăm lo đến nhiệm vụ xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ. Là một Binh chủng kỹ thuật, bộ đội pháo binh quan tâm tới cả hai đối tượng: cán bộ chỉ huy và cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật. Đảng, Bác Hồ và Chính phủ đã điều động một số lớn cán bộ ưu tú của bộ binh sang xây dựng Binh chủng pháo binh, tạo điều kiện cho sự phát triển nhảy vọt về tổ chức lực lượng pháo binh trong những năm đầu sau cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp. Đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật pháo binh cũng được từng bước hoàn chỉnh về tổ chức. Đến nay, các phân đội, binh đội pháo binh đều có cấp phó kỹ thuật; số lượng cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, có trình độ đại học và trên đại học ngày càng tăng. Là cán bộ của một Binh chủng kỹ thuật ngày càng trang bị hiện đại, cán bộ chỉ huy pháo binh, ngoài việc rèn luyện phẩm chất chính trị, năng lực và bản lĩnh chỉ huy chiến đấu, lòng yêu mến, gắn bó với Binh chủng, còn phải có trình độ văn hóa, kiến thức khoa học kỹ thuật và có tác phong kế hoạch, chuẩn xác. Binh chủng đã rất coi trọng xây dựng nhà trường chính quy, bồi dưỡng văn hóa cho cán bộ, coi trọng cả đào tạo, bổ túc, tập huấn; có đào tạo dài hạn nhưng lại có đào tạo ngắn hạn phù hợp với yêu cầu trước mắt.

        Pháo binh đã hết sức coi trọng xây dựng và phát triển chất lượng tổng hợp toàn diện của bộ đội pháo binh, mà nòng cốt là xây dựng con người, nhân tố quyết định để phát huy hết tính năng của vũ khí, trang bị hiện đại trong mọi điều kiện của chiến tranh để chiến thắng kẻ thù. Đó là con người giác ngộ xã hội chủ nghĩa, căm thù giặc, dũng cảm trong chiến đấu, có trình độ văn hóa, tinh thông kỹ thuật, chiến thuật, có tinh thần yêu quý, giữ gìn vũ khí, đạn dược, có ý thức tôn trọng tập thể, có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, có tinh thần quốc tế vô sản, sẵn sàng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Vì vậy, công tác đảng, công tác chính trị trong Binh chủng đã được coi là một vấn đề sống còn, cốt lõi và có ý nghĩa quyết định nhất, bảo đảm cho pháo binh không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.

(Tạp chí Quân đội nhân dân tháng 5-1986)       
Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên               


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2017, 09:21:25 AM

        Đánh pháo địch và đưa pháo ta vào gần ngắm bắn trực tiếp - hai yếu tố then chốt của nghệ thuật sử dụng pháo binh trong "đánh công kiên"

        Tiến công quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc (trước đây gọi là đánh công kiên) là một trong những hình thức chiến thuật chủ yếu của quân đội ta, được vận dụng khá phổ biến nhằm tiêu diệt địch, giải phóng dân, mở rộng vùng giải phóng. Hỏa lực pháo binh luôn là hỏa lực chủ yếu chi viện cho bộ binh chiến đấu, hiệu quả chiến đấu của pháo binh đã góp phần quan trọng trong tiêu diệt các cứ điểm, cụm cứ điểm quân địch, tạo điều kiện cho trận tiến công giành thắng lợi giòn giã, nhanh gọn.

        Nghệ thuật sử dụng pháo binh chi viện bộ binh "đánh công kiên" có nhiều nội dung, nhưng có thể khái quát đánh giá hiệu quả sử dụng pháo binh trong hai nhiệm vụ: đánh pháo binh súng cối của địch; tiêu diệt phá hủy các hỏa điểm công sự, lô cốt địch trên hướng cửa mở.

        Qua thực tiễn chiến đấu, dù trong một trận đánh có sử dụng nhiều hay ít pháo binh có pháo xe kéo cùng tham gia hay chỉ có pháo mang vác, hai nhiệm vụ trên vẫn là chính mà người chỉ huy pháo binh phải quan tâm, nhận thức đầy đủ và tìm mọi biện pháp để hoàn thành một cách xuất sắc. Đó cũng là quan điểm mang tính nguyên tắc về sử dụng pháo binh trong chiến đấu.

        Đánh pháo binh súng cối địch

        Kẻ địch thường dựa vào ưu thế của hỏa lực không quân, pháo binh nhằm sát thương quân ta từ khi vận động tiếp cận, triển khai đội hình đến khi tiến công tiêu diệt các cứ điểm, cụm cứ điểm. Pháo binh, súng cối địch thường bố trí ở hai trận địa:

        - Bố trí ngay ở từng cứ điểm hoặc cụm cứ điểm, gồm súng cối, ĐKZ các loại.

        - Bố trí tại các căn cứ hỏa lực để chi viện chung cho cả một khu vực phòng thủ hoặc trực tiếp chi viện cho từng cứ điểm hoặc cụm cứ điểm gồm pháo 105 - 155 ly và có nơi có cả pháo tự hành 175 ly.

        Trong kháng chiến chống thực dân Pháp ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tại các cứ điểm Độc Lập, đồi A, đồi C,... cụm cứ điểm Him Lam... đều có bố trí súng cối 106,7 ly, 81 ly và ĐKZ, nhưng ở trung tâm Mường Thanh còn có các căn cứ hỏa lực gồm pháo 105 và 155 ly nhằm chi viện hỏa lực cho tất cả các cứ điểm, cụm cứ điểm ngoại vi. Trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ, ở Quảng Trị, tất cả các cứ điểm, cụm cứ điểm phòng ngự ngoại vi đều được bố trí súng cối, ĐKZ; có cứ điểm có lúc còn tăng cường xe tăng để làm các hỏa điểm di động. Ưu thế về hỏa lực pháo binh địch ở Quảng Trị còn là hệ thống 14 căn cứ hỏa lực gồm hỗn hợp pháo 105, 155 ly và pháo tự hành 175 ly, bố trí thành ba tuyến:

        - Tuyến ngoài khá mạnh với năm căn cứ hỏa lực được bố trí cách các cứ điểm ngoại vi từ 2 - 4 ki-lô-mét: điểm cao 241, Đông Hà, Miếu Bái Sơn, Quán Ngang, Mai Lộc; mỗi căn cứ có từ 16 - 20 khẩu pháo 105 và 155 ly, riêng căn cứ điểm cao 241 và Đông Hà mỗi nơi còn có thêm 2 - 4 khẩu pháo tự hành 175 ly.

        - Tuyến giữa gồm năm căn cứ hỏa lực, mỗi căn cứ có từ 6  8 khẩu 105 và 155 ly như Ái Tử, Phượng Hoàng, Lai Phước, Đình Ngang, La Vang.

        - Tuyến trong có bốn căn cứ như thị xã Quảng Trị, Hải Lăng, Triệu Phong, cầu Quảng Trị, mỗi căn cứ có từ 2  4 khẩu 105 ly với nhiệm vụ hỗ trợ các căn cứ tuyến ngoài và ngăn chặn sự hoạt động của du kích, biệt động ta trong vùng tạm chiếm.

        Tổng số lực lượng pháo binh địch ở Quảng Trị lúc đó tất cả trên 200 khẩu pháo 105 - 155 - 175 ly chiếm 20% tổng số pháo của địch có ở miền Nam và 70% số pháo của cả vùng chiến thuật I của địch. Với số pháo trên, chúng đã tạo được mật độ hỏa lực cao để chi viện cho một trung đoàn bộ binh ngụy phòng ngự tại các cứ điểm, cụm cứ điểm (với khả năng là 4 - 5 đại đội pháo, gồm hai tiểu đoàn pháo); tiêu thụ đạn dược trong ngày của địch là từ 100 - 150 viên, lúc cao đến 400 viên đối với một khẩu pháo 105 ly, từ 80 - 120 viên và lúc cao đến 250 viên đạn pháo đối với 1 khẩu pháo 155 ly. Ngoài các trận địa pháo bố trí cố định tại các căn cứ hỏa lực, chúng còn có kế hoạch cơ động các đơn vị pháo phía sau ra chiếm lĩnh các trận địa bắn lâm thời ngay trên các trục đường giao thông để hỗ trợ hoặc tăng cường hỏa lực cho các cứ điểm phòng thủ.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2017, 09:24:03 AM
     
        Nhìn chung, quân địch ở miền Nam trên các vùng trọng điểm phòng ngự như Huế, Đà Nẵng, các tỉnh Tây Nguyên, các tỉnh miền Đông Nam Bộ, tổ chức hệ thống hỏa lực pháo binh của địch cũng được hình thành như ở Quảng Trị nhưng với mật độ và tiêu thụ đạn có ít hơn Quảng Trị đôi chút.

        Đối với pháo binh, súng cối địch, ta thường có nhiều cách như đánh tiêu diệt phá hủy các trận địa pháo địch, đánh chế áp pháo binh địch trong một thời gian nhất định và đánh kiềm chế pháo địch nhằm hạn chế sự hoạt động của chúng (khi nào địch bắn thì ta lại đánh trả).

        Đánh các trận địa súng cối, ĐKZ bố trí tại các vị trí, các cứ điểm, cụm cứ điểm thường nằm trong kế hoạch hỏa lực tiêu diệt, phá hủy cùng lúc với việc thực hành hỏa lực chuẩn bị trực tiếp chi viện bộ binh tiến công cứ điểm, cụm cứ điểm. Còn nhiệm vụ đánh các căn cứ hỏa lực pháo 105 - 155 ly của địch lại là một kế hoạch hỏa lực pháo binh riêng, có thể được thực hiện trước hoặc cùng một lúc với việc thực hiện kế hoạch hỏa lực pháo binh chuẩn bị cho trận tiến công. ở những chiến trường trong điều kiện ta chưa có thể đưa pháo xe kéo để đánh pháo địch mà chỉ dùng pháo mang vác, thường có tổ chức những đơn vị pháo chuyên trách lâm thời hình thành đảm nhiệm đánh pháo binh địch và được trang bị hỗn hợp súng cối, ĐKZ và ĐKB, sau trận đánh lại giải thể.

        Như trận Động Toàn, Thừa Thiên - Huế ngày 21 tháng 1 năm 1968, ta đã dùng một đội chuyên trách đánh pháo địch, gồm 29 khẩu pháo mang vác (9 khẩu ĐKB, 6 khẩu ĐKZ, 14 cối 82 ly) để chế áp sáu trận địa pháo 105 ly phía Nam Huế, bảo đảm cho bộ binh và đặc công tiếp cận, tiến công thắng lợi. Trận Đắc Xiêng ở chiến trường Tây Nguyên, từ ngày 1 đến 6 tháng 4 năm 1970 để chế áp bốn trận địa pháo 105 và 155 ly địch, ta đã tổ chức đơn vị chuyên trách đánh pháo địch, gồm 28 khẩu (20 khẩu ĐKZ, 3 cối 82 ly, 5 khẩu ĐKB) cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ chế áp bốn trận địa pháo địch.

        Đặc biệt, trong thời kỳ đánh Mỹ tại Quảng Trị, ta đã tổ chức trận tập kích pháo binh ngày 30 tháng 3 năm 1972 nhằm tiêu diệt, chế áp hoàn toàn tất cả 14 căn cứ hỏa lực pháo binh địch và các trận địa súng cối ở hầu hết các cứ điểm ngoại vi Quảng Trị. Trong trận tập kích hỏa lực pháo này, chúng ta đã sử dụng tới bảy trung đoàn pháo xe kéo với 124 khẩu pháo 130 ly, Đ74, lựu pháo 122 ly, canông 100 ly và canông 85 ly. Tham gia trận tập kích hỏa lực còn có 28 pháo phản lực ĐKB, 4 cối 160 ly và khoảng 300 cối 82 ly và ĐKZ. Số lượng đạn tiêu thụ tất cả là gần một vạn viên tương đương với 0,8 cơ số đạn. Phương pháp bắn là bắn phá hoại diệt từng trận địa pháo địch. Thời gian tập kích kéo dài liên tục trong 7 giờ (từ 11 giờ đến 18 giờ ngày 30-3-1972), được tiến hành trước giai đoạn hỏa lực chuẩn bị trực tiếp chi viện bộ binh xe tăng tiến công. Kết quả, ta không những phá hủy, chế áp hoàn toàn pháo địch, hỏa lực pháo binh của ta đã làm chủ hoàn toàn chiến trường, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các trung đoàn, sư đoàn bộ binh tiêu diệt gọn một loạt cứ điểm ngoại vi như điểm cao 544, Đồi Tròn, Động Toàn, Đầu Mầu, Ba Hồ,... phá toang tuyến phòng ngự phía Tây Đường 9 tỉnh Quảng Trị. Phát huy thế làm chủ, liên tiếp trong những ngày sau từ 31 tháng 3 năm 1972, tất cả các căn cứ hỏa lực địch đều bị pháo ta thực hành bắn giám thị làm cho chúng không thể khôi phục được hệ thống hỏa lực mà còn đẩy chúng vào tình trạng rệu rã tinh thần như toàn bộ quân địch ở căn cứ hỏa lực điểm cao 241 ra đầu hàng giao nộp toàn bộ xe pháo (ngày 2-4-1972) và trong những ngày này từ 1 đến 3 tháng  4 năm 1972 hàng loạt cứ điểm ngoại vi như Bến Hải, Hiền Lương, Cồn Tiên, Dốc Miếu vội vàng tháo chạy. Đây là một trận đánh pháo địch với quy mô lớn, được chuẩn bị chu đáo từ tháng 7 năm 1971 nên đã đánh chắc thắng. Tuy vậy, thế làm chủ hỏa lực pháo binh của ta cũng không duy trì được suốt thời gian chiến dịch nhất là khi quân ta phát triển tiến công vào sâu trong tung thâm phòng ngự địch, khi mà xuất hiện các trận địa pháo của địch từ phía sau cơ động ra và khi chúng ta phải di chuyển thay đổi trận địa bắn.

        Kinh nghiệm sử dụng pháo xe kéo để đánh pháo địch ở chiến trường Quảng Trị đã mở ra lối đánh cho tất cả các chiến trường miền Nam, nhất là trong các chiến dịch tiến công Buôn Ma Thuột, Huế - Đà Nẵng, Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ngày 13 tháng 3 năm 1954 do kế hoạch phân công chuyên trách đánh các trận địa pháo trong căn cứ Mường Thanh chưa đầy đủ nên khi bộ đội ta phát triển vào sâu trong cụm cứ điểm Him Lam cũng có lúc để pháo địch gây khó khăn, nên ta đã phải tập trung tất cả hỏa lực toàn Trung đoàn 45 lựu pháo để bắn chế áp mới kịp thời chi viện Sư đoàn 312 tiêu diệt gọn cụm cứ điểm Him Lam.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2017, 08:27:28 PM

        Đánh pháo binh, súng cối địch cũng thường chia ra ba mức yêu cầu: tiêu diệt, chế áp, kiềm chế. Người chỉ huy pháo binh phải căn cứ vào tình hình thực tế của từng trận tiến công (về tình hình hoạt động pháo địch, về địa hình đối với việc cơ động pháo binh và về khả năng pháo đạn ta có) mà chủ động đề nghị với người chỉ huy binh chủng hợp thành để có sự thống nhất đề ra yêu cầu phù hợp; trong đánh pháo địch cũng cần có kế hoạch kết hợp với các hoạt động tác chiến của các đơn vị pháo binh tại chỗ, của bộ đội đặc công, biệt động, các đơn vị du kích, bộ đội địa phương... để phối hợp đánh phá một số trận địa pháo địch cùng một lúc với kế hoạch tác chiến đánh pháo địch của pháo binh chủ lực.

        Đưa pháo vào gần - bắn ngắm trực tiếp, tiêu diệt hỏa điểm, công sự địch trên hướng cửa mở

        Tiêu diệt, phá hủy các hỏa điểm, công sự địch ở tiền duyên phòng ngự của cứ điểm trên hướng cửa mở bảo đảm cho bộ binh xung phong thuận lợi là nghệ thuật của người chỉ huy pháo binh. Để từng quả đạn pháo bắn ra với mức chính xác cao nhất, phá hủy từng mục tiêu địch trong một thời gian quy định với số lượng đạn pháo tiêu thụ ít nhất là một đòi hỏi cao đối với người chỉ huy pháo binh.

        Qua các trận "đánh công kiên" từ Đông Khê, Tu Vũ, Nghĩa Lộ, Him Lam, Độc Lập... (thời đánh Pháp); rồi Làng Vây, Đồi Tròn, Động Toàn, Plây Cần, Nông Sơn, Lộc Ninh, Dầu Tiếng... (thời đánh Mỹ) đã chứng tỏ đưa pháo xe kéo vào gần bắn ngắm trực tiếp là phương thức tác chiến chủ yếu của bộ đội pháo binh trong tiến công địch phòng ngự vững chắc. Với lối đánh này chúng ta đã phát huy cao độ lòng dũng cảm, ý chí cách mạng, tinh thần phục vụ bộ binh vô điều kiện.

        Trong chiến dịch Việt Bắc năm 1947 trên hướng sông Lô, với nhiệm vụ đánh tàu chiến địch, lúc đầu ta đặt pháo quá xa bắn không trúng đầu địch, sau ta di chuyển đưa pháo ra mép sông Lô cách tàu chiến địch chỉ 100 mét, cứ một phát đạn nhận chìm một tàu chiến địch. Trận Đông Khê, Nghĩa Lộ Trung đoàn sơn pháo 675 đã đưa sơn pháo 75 ly bắn thẳng ở cự ly từ 150-200 mét, tiêu diệt tất cả các hỏa điểm, công sự địch trên hướng cửa mở. Trận Him Lam, Độc Lập trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, sáu khẩu sơn pháo đã đặt ngay ở hàng rào dây thép gai trước cửa mở, bắn thẳng ở cự ly 100-150 mét, tiêu diệt trên 40 hỏa điểm lô cốt địch trong thời gian 20 phút. Chiến dịch Kon Tum 1972, tháng 5 ta tiến công cụm cứ điểm Plây Cần không thành công, sau một thời gian chuẩn bị, ngày 12 tháng 10 năm 1972 ta đã tháo, khiêng và kéo hai pháo lựu 105 ly và ba pháo canông 85 ly đặt ở cự ly 2 ki-lô-mét bắn ngắm trực tiếp đã nhanh chóng phá hủy 60 hỏa điểm lô cốt địch trước cửa mở, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh đánh chiếm cứ điểm Plây Cần.

        Trong chiến dịch tiến công Quảng Trị năm 1972, khi phát triển tiến công đánh vào cụm cứ điểm Đông Hà ngày 8 tháng 4 năm 1972, sau 3 giờ hỏa lực chuẩn bị với 3.000 đạn pháo xe kéo nhưng do bắn ở trận địa gián tiếp nên ta không phá hủy hết các hỏa điểm lô cốt địch ở Đông Hà, nhất là khi chúng lại đưa thêm xe tăng M48 tạo thành các hỏa điểm mới, đột phá lại càng gặp khó khăn. Ta đã phải tổ chức hỏa lực lại và tổ chức thêm cụm hỏa lực pháo binh diệt tăng và hỏa điểm dịch, lấy tiểu đoàn tên lửa chống tăng B72 làm nòng cốt với 50 bệ phóng và 500 đạn hỏa tiễu chống tăng cùng với gần 40 ĐKZ các loại tiến hành đánh phá các mục tiêu trên hướng cửa mở ba ngày từ 23 đến 26 tháng 4 năm 1972. Ngay loạt đạn đầu sáng 23 tháng 4, ta đã diệt 6 xe tăng, 12 hỏa điểm địch; sau 3 ngày đánh phá tiêu diệt trên 20 xe tăng, phá hủy hầu hết các hỏa điểm công sự địch trên tuyến phòng ngự ở Đông Hà. Chiến thuật vỏ thép cứng dựa vào xe tăng để co cụm ngăn chặn sức tiến công của quân ta bị phá vỡ và 5 giờ sáng 27 tháng 4 năm 1972, sau đợt hỏa lực chuẩn bị, bộ binh xe tăng đã đánh chiếm Đông Hà, thừa thắng phát triển tiến công, giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị.

        Ở chiến trường Tây Nguyên (Khu 5) khi ta tiến công cụm cứ điểm Thượng Đức, tháng 7 năm 1974, lúc đầu ta chỉ dùng pháo xe kéo bắn gián tiếp kết hợp với ĐKZ cũng ở cự ly vút tầm nên không tiêu diệt được hỏa điểm lô cốt địch trên hướng cửa mở. Ta chuẩn bị lại, làm đường đưa hai khẩu pháo canông 85 ly vào bắn ngắm trực tiếp ở cự ly 2 ki-lô-mét đã lần lượt tiêu diệt tất cả lô cốt hỏa điểm trên hướng cửa mở, nên tiến công tiêu diệt cứ điểm Thượng Đức thành công.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2017, 08:29:05 PM

        Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ từ năm 1972, bộ đội pháo binh chiến trường Tây Nguyên đã đi đầu vận dụng lối đánh gần của pháo xe kéo bắn ngắm trực tiếp và toàn miền Nam đã liên tiếp áp dụng lối đánh này trong tiến công giành thắng lợi như: Trận tiến công cứ điểm Non Nước (12-1972) ta cũng đưa pháo 105 ly vào bắn trực tiếp ở cự ly 2 ki-lô-mét. Trận tiến công Chư Nghé (22-9-1973) đã đưa cả pháo Đ74 vào bắn trực tiếp ở cự ly 4,5 ki-lô-mét, lựu pháo 105 ly ở cự ly 1,1 ki-lô-mét, canông 85 ly bắn thẳng ở cự ly 1 ki-lô-mét. Riêng trận Đắc Pét (16-5-1974) có thể nói ta đưa nhiều loại pháo xe kéo vào gần bắn ngắm trực tiếp nhất gồm Đ74 bắn ở cự ly 5 ki-lô-mét, lựu pháo 122 ly bắn ở cự ly 2,5 ki-lô-mét, lựu pháo 105 ly ở cự ly 1,6 ki-lô-mét, canông 85 ly ở cự ly 1,2 ki-lô-mét. Trận Nông Sơn (18-7-1974) cũng dùng hai pháo 105 ly bắn ở cự ly trên 3 ki-lô-mét và hai khẩu 85 ly cùng bắn ở cự ly 3 ki-lô-mét. Có trận, ta đã mạnh dạn đưa pháo canông 85 ly bắn thẳng ở cự ly 500 mét lựu pháo 105 ly bắn thẳng 600 mét như trận tiến công Đồng Xoài (26-12-1974). Trong chiến dịch tiến công Buôn Ma Thuột (3-1975) khi tiến công cụm cứ điểm Đức Lập (10-3-1975), ta cũng đưa pháo 105 ly ở cự ly 1 ki-lô-mét, canông 85 ly ở cự ly 2 ki-lô-mét...

        Qua kinh nghiệm chiến trường có thể tạm rút ra về tầm bắn thẳng có hiệu quả nhất của pháo mang vác như sau: sơn pháo 75 ly từ 100-300 mét; ĐKZ57 ly từ 150-300 mét; ĐKZ82 ly từ 200-400 mét; ĐKZ75 ly từ 300-500 mét.

        Còn pháo xe kéo vào gần ngắm bắn trực tiếp tốt nhất vẫn là pháo canông 85 ly ở cự ly 1.000 mét, còn để ngắm bắn trực tiếp cho tất cả các loại pháo xe kéo đều phải lệ thuộc vào địa hình, cố gắng càng đưa pháo vào gần thì mức chính xác càng cao. Hiện nay, bộ đội pháo binh có trang bị nhiều canông 76,2 ly, nhẹ, dễ tháo lắp, tiện kéo bằng sức người, khả năng bắn ngắm trực tiếp với mức chính xác cao, nên nghiên cứu thực nghiệm để sử dụng loại pháo này khi vận dụng chiến thuật "đánh công kiên".

        Qua hai cuộc chiến tranh giải phóng có thể nói trận tiến công Đông Khê, chiến dịch Biên Giới 1950 đã mở ra lối đánh đưa pháo mang vác vào gần bắn ngắm trực tiếp; trận tiến công Plây Cần (10-1972) trong chiến dịch Kon Tum 1972 đã mở đầu cách sử dụng pháo xe kéo đưa vào gần bắn ngắm trực tiếp. Việc đưa pháo mang vác vào gần bắn ngắm trực tiếp phải dựa vào thế bố trí chung của tuyến xuất phát tiến công của binh chủng hợp thành; pháo xe kéo vào gần bắn ngắm trực tiếp còn lệ thuộc vào điều kiện địa hình, yếu tố giữ bí mật cho một khối lượng lớn công tác chuẩn bị chiến đấu từ khi làm đường, vận chuyển đạn, tháo, khiêng pháo hoặc kéo pháo bằng sức người vào chiếm lĩnh trận địa bắn ngắm trực tiếp.

        Lối đánh gần, bắn ngắm trực tiếp diệt hỏa điểm công sự địch trên hướng cửa mở là một lối đánh truyền thống, lối đánh sở trường dũng cảm, sáng tạo của bộ đội pháo binh trong chiến tranh giải phóng, lối đánh này thể hiện tinh thần khắc phục khó khăn, biến yếu thành mạnh, bảo đảm đã bắn là trúng, nâng cao hiệu suất chiến đấu, tiết kiệm đạn dược.

        Nhấn mạnh vấn đề đánh pháo địch và đưa pháo ta vào gần bắn ngắm trực tiếp thành một nội dung về tư tưởng chỉ đạo trong nghệ thuật sử dụng pháo trong "đánh công kiên" nhằm nhắc chúng ta luôn trân trọng những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn chiến đấu. Nghệ thuật sử dụng pháo binh luôn phát triển, vũ khí trang bị khí tài pháo binh cũng không ngừng được cải tiến, cần tiếp tục nghiên cứu để vận dụng tốt những bài học kinh nghiệm chiến đấu trước đây. Theo tôi lối đánh này của bộ đội pháo binh chỉ có ngày một phát triển và hoàn thiện, luôn là hướng xây dựng và huấn luyện cho bộ đội ta mỗi khi lại vận dụng hình thức chiến thuật "đánh công kiên".

(Tạp chí Khoa học quân sự tháng 1-2003)       
Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên               


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Hai, 2017, 08:45:34 AM
         
MẤY VẤN ĐỀ VỀ NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG PHÁO BINH VIỆT NAM

        Trải qua 60 năm  xây dựng chiến đấu và trưởng thành, đặc biệt trong 30 năm vừa chiến đấu vừa xây dựng (1945 - 1975), các lực lượng pháo binh luôn phát huy được vai trò hỏa lực chủ yếu, đóng góp to lớn vào thắng lợi chung của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Những bài học kinh nghiệm về sử dụng pháo binh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã được tổng kết là tài sản vô giá của Binh chủng Pháo binh, là nguồn sức mạnh mà các thế hệ cán bộ chiến sĩ pháo binh luôn trân trọng, học tập, kế thừa, phát huy và vận dụng sáng tạo để luôn hoàn thành nhiệm vụ chính trị, xứng đáng là Binh chủng Pháo binh Anh hùng với truyền thống vẻ vang "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng".

        Pháo binh Việt Nam là hỏa lực chủ yếu của lục quân và quân đội ta

        Hỏa lực là một trong những yếu tố tạo điều kiện cho xung lực đột kích giành thắng lợi. Mấy chục năm sát cánh chiến đấu liên tục cùng các lực lượng vũ trang, hỏa lực pháo binh đã chứng tỏ là hỏa lực chủ yếu trong hệ thống hỏa lực nói chung của quân đội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, được Đảng ủy Quân sự Trung ương xác nhận: "Pháo binh là một Binh chủng hết sức quan trọng, là hỏa lực chính của lục quân và là hỏa lực chính của quân đội ta". Vị trí vai trò ấy của pháo binh đã được chứng minh bằng hiệu quả chiến đấu trên khắp các chiến trường, đi từ chiến công này đến chiến công khác góp phần quan trọng vào những thắng lợi quyết định của các giai đoạn lịch sử trong cuộc chiến tranh giải phóng.

        Thời kỳ chống thực dân Pháp có: Chiến thắng Sông Lô - Thu Đông năm 1947 với cách bố trí táo bạo bất ngờ đưa pháo đánh gần của các phân đội pháo binh Khu 10 đã bắn chìm hai đoàn tàu chiến của địch ở Đoan Hùng, Khe Lau. Trong chiến dịch Biên Giới (1950) với sự xuất hiện các đơn vị sơn pháo cùng với lối đánh "vào gần bắn thẳng", hỏa lực pháo binh đã lần lượt tiêu diệt từng lô cốt, hỏa điểm kiên cố trên hướng cửa mở tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh nhanh chóng tiêu diệt cứ điểm Đông Khê mở đường cho chiến dịch toàn thắng. Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ với sự có mặt trung đoàn trọng pháo đầu tiên của quân đội ta, cùng với các loại pháo cối mang vác bố trí hiểm hóc, hình thành thế trận bao vây quân địch, suốt 55 ngày đêm liên tục phát huy hỏa lực đánh vào các mục tiêu chủ yếu của địch và đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ tác chiến được giao, góp phần xứng đáng vào thắng lợi lịch sử của chiến dịch. Trong lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, năm 2004, đồng chí Trần Đức Lương - Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước đã đánh giá về vị trí vai trò của Pháo binh Việt Nam là một trong bốn kỳ tích của chiến dịch Điện Biên Phủ như sau: "... kỳ tích của lực lượng Pháo binh Việt Nam lần đầu đánh trận công kiên lớn đã dội bão lửa tiêu diệt được nhiều máy bay, pháo binh và đội hình địch... làm cho viên chỉ huy lực lượng pháo binh hùng hậu của Pháp tại Điện Biên Phủ phải phẫn uất mà tự vẫn...".

        Thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, pháo binh vẫn giữ vai trò nổi bật của mình như: Đòn tiến công hỏa lực trong Tết Mậu Thân 1968, trong đêm mồng 1 Tết, pháo binh đã bất ngờ đồng loạt dội bão lửa vào hầu hết các mục tiêu: sân bay, bến cảng, kho tàng dự trữ chiến lược, các sở chỉ huy, cơ quan đầu não của Mỹ - ngụy từ Sài Gòn đến tất cả các thành phố, thị xã, các vị trí đóng quân của địch, gây cho địch những tổn thất nặng nề về vũ khí, phương tiện chiến tranh và nhiều sinh lực địch, trong đó có nhiều sĩ quan cao cấp. Trong chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (1971), pháo binh đã kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng pháo binh tại chỗ và pháo dự bị của Bộ cơ động nhanh, kịp thời triển khai đội hình phát huy hỏa lực mạnh mẽ làm tê liệt hệ thống pháo binh địch, bắn phá sở chỉ huy các cấp, sát thương lớn quân địch, chi viện đắc lực cho bộ binh, xe tăng tiêu diệt địch. Trong hội nghị tổng kết chiến dịch, đồng chí Lê Duẩn - nguyên Tổng Bí thư đã có nhận xét về Binh chủng Pháo binh: "... trong chiến dịch Điện Biên Phủ vai trò của pháo binh là rất quan trọng, trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào không có pháo binh thì khó mà đánh thắng được...". Trong cuộc tiến công chiến lược 1972 ở chiến trường Quảng Trị, với đòn "Bão táp" ngày 30 tháng 3 năm 1972 của bảy trung đoàn pháo hạng nặng bắn một vạn viên đạn liên tục trong bảy tiếng đồng hồ đã làm tê liệt toàn bộ hệ thống trận địa pháo binh mạnh nhất của Mỹ - ngụy ở miền Nam, phá vỡ hoàn toàn hệ thống công sự kiên cố của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các sư đoàn chủ lực cùng xe tăng thọc sâu chia cắt giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Hai, 2017, 08:46:56 AM
     
        Trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1975, với lực lượng pháo ba thứ quân đã được triển khai rộng khắp, pháo chủ lực cơ động thần tốc, luôn thay đổi cách đánh, sử dụng lực lượng ưu thế tập trung, liên tục đánh địch, tạo điều kiện cho các binh đoàn chủ lực giành thắng lợi giòn giã trong các chiến dịch tiến công Buôn Ma Thuột, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng và Chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh.

        Trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta những năm 1965 - 1969 và 1972, các lực lượng pháo ba thứ quân đã giữ vai trò chủ yếu trong việc đánh trả các loại tàu chiến địch bắn phá vào bờ biển nước ta.

        Với kết quả chiến đấu trong cuộc chiến tranh giải phóng, bộ đội pháo binh thật xứng đáng với vai trò là hỏa lực chủ yếu như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kết luận trong Hội nghị tổng kết chiến tranh năm 1975 như sau: "... Một Binh chủng từ khi thành lập đến nay, trong suốt 30 năm chiến đấu đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, xứng đáng với vai trò là hỏa lực mặt đất chủ yếu của lục quân và quân đội ta...".

        Cách đánh của pháo binh là: pháo đánh hiệp đồng và pháo đánh độc lập

        Trải qua quá trình chiến đấu, bộ đội pháo binh đã rút ra một bài học là không thể lấy lực chọi với lực mà phải thắng chúng bằng lối đánh, cách đánh (mưu kế), bằng thế trận pháo binh nhân dân, pháo binh ba thứ quân và đã sáng tạo ra hai cách đánh độc đáo: đánh độc lập và đánh hiệp đồng. Trong Hội thảo khoa học quân sự pháo binh tháng 6 năm 1986, Đại tướng Hoàng Văn Thái đã phát biểu: "Khác hẳn với hoạt động của pháo binh trong những cuộc chiến tranh quy ước thường đọ sức chủ yếu giữa hai lực lượng quân đội tham chiến; pháo binh ta đã tạo ra nhiều cách đánh rất phong phú có cả những cách đánh chưa hề có tiền lệ nhất là hai cách đánh rất phổ biến và có hiệu quả là đánh hiệp đồng và đánh độc lập...". Hai lối đánh này đã hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong từng tình huống cụ thể trên từng chiến trường của từng thời kỳ cách mạng. Song xét cho cùng, về toàn cục thì lối đánh hiệp đồng vẫn là chủ yếu, còn lối đánh độc lập là hết sức quan trọng.

        Pháo đánh độc lập

        Đánh độc lập của pháo binh được nảy sinh từ phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân, của chiến tranh du kích, vì yêu cầu lối đánh này là sử dụng pháo luồn sâu đánh hiểm, lấy ít thắng lớn, lấy yếu đánh mạnh, tạo ra một thế trận tiến công rộng khắp ở mọi nơi. Hiệu quả của cách đánh này là dùng một số pháo đạn ít mà sát thương và phá hủy lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh hiện đại của địch, buộc quân địch luôn bị động có lúc phải thay đổi cả thế bố trí quân sự.

        Để đánh độc lập tốt là phải dựa vào dân, nên lực lượng tham gia đánh độc lập thường là pháo của bộ đội địa phương, pháo của dân quân du kích hoặc cũng có thể là đơn vị pháo chủ lực được trang bị và huấn luyện chuyên trách với lối đánh độc lập đảm nhiệm.

        Lối đánh này có thể diễn ra theo từng trận đánh riêng lẻ hoặc có lúc tổ chức thành từng đợt tập kích hỏa lực mang tính chiến lược hoặc chiến dịch. Lối đánh này cũng có thể là một nhiệm vụ hỏa lực mang tính chiến dịch được giao trong, trước hoặc sau mỗi chiến dịch như đánh phá hệ thống pháo địch, sân bay sở chỉ huy địch hoặc đánh vào đội hình địch đang tập kết...

        Pháo đánh hiệp đồng

        Tác chiến hiệp đồng binh chủng là phương thức tác chiến chủ yếu của các binh đoàn chủ lực. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân và dân ta đã tiến hành khoảng 100 chiến dịch lớn nhỏ, bộ đội pháo binh cũng đã từng tham gia dưới các mức độ khác nhau trong hầu hết các chiến dịch đó. Lực lượng pháo tham gia chiến dịch bao gồm cả pháo binh và súng cối, pháo xe kéo và pháo mang vác, pháo chủ lực và pháo địa phương, pháo cơ động và pháo tại chỗ, các đơn vị pháo đều hoàn thành nhiệm vụ tác chiến mà người chỉ huy chiến dịch giao, trong đó có nhiều chiến dịch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Qua 30 năm chiến đấu, pháo binh đã có mặt trong các loại hình chiến dịch như:

        Chiến dịch tiến công

        Trong nhiều chiến dịch tiến công, nếu đem so sánh số đầu khẩu pháo tham gia giữa ta và địch thì có nhiều chiến dịch số pháo của ta còn ít hơn địch, nhưng do nghệ thuật dùng pháo của ta cùng với việc nắm thời cơ để có thể tập trung ưu thế đánh vào cái mạnh nhất thời của địch như: hệ thống trận địa pháo, cối địch; hệ thống công sự hỏa điểm trên hướng cửa mở; hệ thống sở chỉ huy chủ yếu của địch; hệ thống sân bay; nơi địch đang tập kết lực lượng... Kế hoạch hỏa lực của các chiến dịch tiến công thường gồm hai giai đoạn: giai đoạn hỏa lực chuẩn bị tiến công và giai đoạn chi viện tiến công.

        Trong tác chiến hiệp đồng các chiến dịch tiến công quy mô càng lớn thì vai trò pháo xe kéo nhất là pháo bắn với cự ly xa, uy lực đạn lớn càng phát huy đầy đủ tác dụng của nó.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Hai, 2017, 08:36:03 PM

        Chiến dịch phản công

        Với loại hình này, pháo binh đã có những thành công nổi bật về cách sử dụng pháo cơ động và pháo tại chỗ, hình thành một thế trận hỏa lực bao vây nhiều hướng cùng một lúc tập trung đánh vào quân địch khi chúng còn chưa có công sự. Đồng chí Lê Trọng Tấn - Tư lệnh chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã đánh giá về pháo binh trong Hội nghị tổng kết chiến dịch 1971 như sau: "... Ta đã sử dụng pháo binh bố trí thích hợp trên cả bốn hướng và đã đảm bảo chế áp gần như toàn bộ đội hình pháo binh địch từ Lao Bảo đến Bản Đông...".

        Chiến dịch phòng ngự

        Đây là một loại hình chiến dịch mà pháo binh còn ít kinh nghiệm, cũng có chiến dịch lực lượng pháo phát huy khá tốt như chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum năm 1972. Nhưng cũng có chiến dịch do nhận thức chưa đầy đủ còn lúng túng giữa tiến công và phòng ngự nên cũng đã gây thiệt hại cả về xe lẫn pháo như đợt hai chiến dịch Quảng Trị năm 1972. Đây cũng là bài học về sử dụng pháo binh cần nghiêm túc rút kinh nghiệm theo hướng mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong tham luận Hội thảo Đại thắng mùa Xuân 1975, tháng 4 năm 2005: "... Cách mạng là tiến công, tư tưởng chiến lược của chiến tranh cách mạng bao giờ cũng là tư tưởng tiến công, còn hình thức tác chiến thì có tác chiến tiến công, tác chiến phòng ngự cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu...".

        Hai cách đánh của pháo binh hình thành và phát triển cùng với sự phát triển nghệ thuật quân sự của quân đội ta. Pháo binh là một thành phần trong tổ chức chiến đấu của bộ đội hợp thành, nên trong mọi hoạt động chiến đấu của pháo binh đều gắn liền với hoạt động chiến đấu của bộ đội hợp thành và trong hai cách đánh trên thì cách đánh chủ yếu và cơ bản vẫn là pháo đánh hiệp đồng.

        Nguyên tắc sử dụng Pháo binh Việt Nam

        Trước đây, năm 1975 trong Tổng kết chiến đấu những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ và năm 1986 trong Hội thảo khoa học quân sự pháo binh qua 40 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành cũng đã nêu ra năm nguyên tắc sử dụng pháo binh với nội dung tóm tắt sau:

        - Kiên quyết sử dụng lực lượng tập trung.

        - Sử dụng rộng rãi các loại pháo, kết hợp khéo léo mọi tầm cỡ hỏa lực.

        - Cơ động hỏa lực, cơ động hỏa khí thật linh hoạt.

        - Tích cực chủ động hiệp đồng với bộ binh, đặc công, xe tăng.

        - Bí mật bất ngờ, đánh mạnh bắn trúng.

        Trải qua nghiên cứu một cách tổng hợp những kinh nghiệm chiến đấu pháo binh, nhất là những bài học tác chiến trong 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ có thể chỉ cần nêu thành bốn nguyên tắc sử dụng của Pháo binh Việt Nam là:

        - Sử dụng tập trung trong thế trận vững chắc của pháo ba thứ quân.

        - Phát huy hỏa lực pháo mạnh mẽ, nắm vững yếu tố bí mật bất ngờ, đánh kịp thời, đánh đúng thời cơ.

        - Pháo đã bắn là phải bắn trúng, phát huy hết tính năng từng loại pháo đạn.

        - Pháo binh luôn lấy yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng, lấy yêu cầu nhiệm vụ tác chiến của bộ binh làm mục tiêu chiến đấu của mình.

        Với bốn nguyên tắc trên có thể tóm tắt: sử dụng tập trung, hỏa lực mạnh bất ngờ, bắn trúng đích và phục vụ bộ binh vô điều kiện.

        Sử dụng tập trung trong thế trận vững chắc của pháo ba thứ quân

        Nghệ thuật dùng pháo là phải tạo ra được thế trận tổng hợp của pháo ba thứ quân, trước hết phải xây dựng lực lượng pháo của bộ đội địa phương, của dân quân tự vệ luôn có đủ sức mạnh đảm nhiệm nhiệm vụ tác chiến tại chỗ, có như thế mới tạo điều kiện cho pháo binh chủ lực các cấp nhất là pháo dự bị quân khu, dự bị của Bộ và pháo các binh đoàn chủ lực có thể sử dụng giành ưu thế hỏa lực để hoàn thành những nhiệm vụ trọng yếu được giao.

        Sử dụng tập trung trước hết là tập trung lực lượng pháo đạn trên một hướng, một khu vực vào thời cơ quyết định của chiến dịch, của chiến đấu; nói đến tập trung là nói đến cả việc tập trung về khả năng tổ chức chỉ huy hỏa lực, về tổ chức bảo đảm các mặt nhất là việc bảo đảm đạn, bảo đảm kỹ thuật. Sử dụng tập trung phải tạo được ưu thế hơn hẳn địch, áp đảo địch trong từng trận đánh, từng chiến dịch, bảo đảm kịp thời chi viện hỏa lực cho bộ binh tiến công, nhanh chóng tiêu diệt quân địch.

        Ví dụ như: Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, ta đã kiên quyết đưa ra tất cả lực lượng pháo dự bị tham gia chiến dịch; chiến dịch tiến công Quảng Trị đợt một năm 1972, ta đã tập trung bảy trung đoàn pháo tạo ra một ưu thế hỏa lực mạnh, chế áp hệ thống pháo địch trên Đường 9. Chiến dịch tiến công Tây Nguyên 1975, ta tập trung sáu trung đoàn và ba tiểu đoàn pháo xe kéo với 478 khẩu pháo và cối trong khi quân địch chỉ có 230 khẩu; riêng trận tiến công Buôn Ma Thuột, ta tập trung ba trung đoàn pháo xe kéo với trên 70 khẩu pháo cỡ lớn trong khi địch chỉ có 32 khẩu pháo. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ta đã tập trung tới 20 trung - lữ đoàn và 8 tiểu đoàn độc lập pháo xe kéo (55 tiểu đoàn) với 789 khẩu pháo tổ chức thành 30 cụm pháo các cấp (3 cụm pháo chiến dịch, 6 cụm pháo quân đoàn, 12 cụm pháo sư đoàn và 9 cụm pháo trung đoàn) - Đây là một chiến dịch mà ta đã tập trung ưu thế tuyệt đối để bảo đảm cho chiến dịch đánh nhanh thắng nhanh.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Hai, 2017, 08:38:54 PM

        Việc sử dụng tập trung không chỉ là tính số đầu khẩu mà còn phải tính đến chất lượng trang bị và số lượng đạn tiêu thụ. Mức độ tập trung còn tùy thuộc vào tình hình thực tế ở từng chiến trường, từng chiến dịch và yêu cầu của người chỉ huy bộ đội hợp thành, nhưng dù điều kiện nào cũng cố tạo ra một ưu thế hỏa lực cần thiết đủ mạnh để có thể bảo đảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tác chiến được giao.

        Để giữ vững và phát huy sức mạnh ưu thế hỏa lực trong chiến đấu, từng chiến dịch luôn phải quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện để phát huy sức mạnh tổng hợp của pháo ba thứ quân. Bài học Chiến dịch Hồ Chí Minh trong lúc ta tập trung cho chiến dịch số lượng lớn pháo binh nhưng ở phía sau từ Khu 5, Khu 6, Thừa Thiên - Huế, Khu 4, Khu 3... vẫn luôn có lực lượng pháo sẵn sàng chiến đấu. Tuy nhiên, khi bố trí hệ thống trận địa bắn cần coi trọng "Hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung" kết hợp với trận địa giả, trận địa nghi binh và cố gắng bảo đảm công sự; như Điện Biên Phủ, sáu trận địa pháo 105 ly bố trí trên một vành cung khoảng 30 ki-lô-mét; ở chiến dịch Quảng Trị 1972, bảy trung đoàn pháo cũng bố trí trên một vành cung khoảng 80 ki-lô-mét.

        Phát huy hỏa lực pháo mạnh mẽ, nắm vững yếu tố bí mật bất ngờ, đánh kịp thời, đánh đúng thời cơ.

        Đây là một nguyên tắc giúp cho người chỉ huy pháo binh giành thế chủ động tiến công liên tục bằng hỏa lực, đánh địch trong mọi tình huống, đây cũng là yêu cầu nghiêm ngặt khi sử dụng hỏa lực pháo binh để phát huy hiệu quả vai trò hỏa lực với đầy đủ ý nghĩa của nó.

        Vận dụng nguyên tắc này đòi hỏi người chỉ huy pháo binh luôn tìm ra cái mới để tạo ra những đòn bất ngờ mỗi khi sử dụng hỏa lực, có khi bất ngờ về quy mô sử dụng lực lượng pháo đạn, có khi bất ngờ về phương pháp tổ chức hỏa lực, có khi bất ngờ về thời gian phát huy hỏa lực, cũng có khi bất ngờ cả về cách đánh và xuất hiện một loại vũ khí mới mà địch chủ quan cho ta không có hoặc có mà không thể đưa tới được, lại có lúc bất ngờ về bố trí đội hình chiến đấu về nghi binh trận địa giả. Đây là một cuộc đấu trí không thể rập khuôn. Có phát huy được yếu tố bí mật bất ngờ mới phát huy được hỏa lực mãnh liệt và chỉ có phát huy hỏa lực mãnh liệt mới làm cho quân địch khiếp sợ pháo binh ta.

        Ví dụ, trong chiến dịch Thu Đông 1947, pháo ta đã đưa sát mép sông Lô ở Khoan Bộ, Đoan Hùng, Khe Lau nhằm thẳng vào từng tàu chiến địch mà bắn. ở Điện Biên Phủ, ta đã kéo pháo vào kéo pháo ra bất ngờ phát huy hỏa lực trọng pháo làm chỉ huy pháo địch phẫn uất tự sát. Trong chiến dịch tiến công Quảng Trị 1972, với đòn hỏa lực "Bão táp" đập tan hệ thống pháo địch buộc từng tiểu đoàn, trung đoàn địch ra đầu hàng. Chiến dịch Hồ Chí Minh, với tinh thần thần tốc táo bạo chỉ trong mười ngày đêm, ta đã cơ động hàng chục trung, lữ đoàn tham gia chiến dịch trong đó có cả các trung đoàn pháo xe kéo cơ động từ Ninh Bình vào Sài Gòn với chặng đường hành quân trên 1.700 ki-lô-mét.

        Pháo đã bắn là phải bắn trúng, phát huy hết tính năng từng loại pháo đạn

        Nguyên tắc này nói lên yêu cầu nghiêm khắc mỗi khi sử dụng pháo phát hỏa. Đây cũng chính là thước đo trình độ và bản lĩnh các đơn vị pháo, để đánh giá việc hoàn thành các nhiệm vụ chiến đấu được giao. Trong thư khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh có căn dặn "Đánh giỏi bắn trúng" và khi Người về thăm Đại đoàn 351 tháng 4 năm 1953 cũng đã chỉ thị: "Đưa pháo vào gần địch mà bắn, bắn trăm phát trúng cả trăm thì đồn nào không hạ được...". Trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh chiến dịch đến thăm bộ đội pháo binh tại chiến trường đã chỉ thị: "... Phải ra sức học tập kỹ thuật, bắn thật trúng đích, không bắn thì thôi nếu đã bắn thì nhất định phải bắn trúng đích, làm cho quân địch phải sợ trọng pháo ta...".

        Cơ sở của việc phát huy hỏa lực mạnh mẽ nhằm đạt hiệu lực sát thương lớn quân địch, phá hủy hàng loạt phương tiện chiến tranh của địch là pháo bắn trúng mục tiêu và phát huy hết tính năng của từng loại pháo đạn.

        Việc sử dụng đạn cho từng mục tiêu, cho từng nhiệm vụ bắn cũng cần cân nhắc không thể tính toán theo kiểu "mẫu - sào", mà phải dựa vào tính chất mục tiêu và lượng đạn dược ta có để tìm cách phát huy hết tính năng từng loại pháo đạn. Cùng nhiệm vụ đó nếu cần tiêu diệt bắn ở cự ly gián tiếp thì tốn hàng trăm viên, nhưng dám đưa pháo xe kéo vào gần quan sát nắm chắc địch, quan sát được điểm rơi của đạn bắn ngắm trực tiếp thì chỉ cần vài viên đạn cũng nhanh chóng tiêu diệt được quân địch. Truyền thống tốt đẹp của Binh chủng Pháo binh là sử dụng pháo đánh gần, bắn có quan sát thấy, táo bạo dùng lối bắn ngắm trực tiếp cho tất cả các loại pháo. Để thực hiện được đầy đủ nguyên tắc này vấn đề mấu chốt là "Con người sử dụng pháo" phải là những chiến sĩ pháo binh có trình độ, bản lĩnh chính trị vững vàng.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2017, 12:04:50 PM

        Pháo binh luôn lấy yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng, lấy yêu cầu tác chiến của bộ binh làm mục tiêu chiến đấu của mình.

        Chiến đấu hiệp đồng binh chủng là sự phối hợp hoạt động chiến đấu của pháo binh với hoạt động chiến đấu của bộ binh, xe tăng và các lực lượng chiến đấu khác nhằm tạo thành sức mạnh tổng hợp nhanh chóng tiêu diệt quân địch. Chủ động hiệp đồng và hiệp đồng chặt chẽ liên tục với bộ binh đã trở thành một vấn đề có tính nguyên tắc, truyền thống mỗi khi lực lượng pháo binh tham gia chiến đấu. Pháo binh là một thành phần trong tổ chức hợp thành của lục quân, hỏa lực pháo binh là một trong những yếu tố cơ bản của chiến đấu hiệp đồng binh chủng, hỏa lực pháo binh tạo điều kiện tăng sức đột kích của xung lực giành thắng lợi trong mọi tình huống chiến đấu.

        Sự kết hợp hỏa lực giữa các loại pháo, kết hợp giữa bắn gián tiếp, bắn trực tiếp; kết hợp giữa pháo tầm xa và pháo cơ động luồn sâu đánh vào các mục tiêu trong trung tâm phòng ngự địch đã tạo ra một lưới lửa mạnh có thể cùng một lúc chi viện cho bộ binh, đánh rộng khắp vào toàn bộ các mục tiêu trên chính diện và chiều sâu phòng ngự của địch khi ta tiến công và trên toàn đội hình triển khai tiến công của địch khi ta phòng ngự.

        Nội dung chủ yếu của hiệp đồng chiến đấu giữa bộ binh và pháo binh là phải luôn duy trì và giữ vững hoạt động chiến đấu của pháo binh với hành động chiến đấu của bộ binh xe tăng theo thời gian, không gian, theo từng mục tiêu trong từng tình huống, từng giai đoạn của trận đánh, của chiến dịch. Trong tiến công, pháo binh phải tập trung hoàn thành bằng được việc tiêu diệt hỏa điểm, công sự trên hướng cửa mở, hướng tiến công chủ yếu của bộ binh xe tăng và kiềm diệt pháo cối địch. Trong phòng ngự là phải tập trung hỏa lực đập tan các mũi đột kích chủ yếu của địch. Để duy trì sự hiệp đồng, vị trí người chỉ huy pháo binh các cấp phải ở sát gần người chỉ huy bộ binh, phải có tổ sĩ quan quan sát đi theo người chỉ huy phân đội bộ binh khi chi viện cho một hướng nào đó tác chiến độc lập.

        Bốn nguyên tắc sử dụng pháo có liên quan mật thiết với nhau, vận dụng và thực hiện đầy đủ các nguyên tắc trên sẽ bảo đảm cho pháo binh luôn phát huy vai trò hỏa lực, đồng thời còn tạo ra nhiều cách đánh hay.

        Nghệ thuật sử dụng pháo là một công trình về khoa học quân sự của một Binh chủng chiến đấu, nó luôn phát triển cùng với sự phát triển của vũ khí trang bị, của nghệ thuật sử dụng lực lượng và cách đánh của binh chủng hợp thành, nhưng phương hướng sử dụng Pháo binh Việt Nam trong thời gian tới vẫn phải quán triệt tinh thần lấy ít thắng nhiều, lấy kém hiện đại thắng kẻ địch hiện đại hơn.

(Tạp chí Khoa học quân sự tháng 2-2006)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2017, 12:05:55 PM

MỘT SỐ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG PHÁO BINH TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC

        Pháo binh là một trong những Binh chủng kỹ thuật chiến đấu rất quan trọng của các lực lượng vũ trang nhân dân, là phương tiện hỏa lực chủ yếu trên mặt đất của quân đội ta. Pháo binh có thể chiến đấu trên mọi chiến trường, với mọi loại địa hình và thời tiết khác nhau, cả ban ngày và ban đêm, cả phía trước và phía sau lưng địch. Từ khi ra đời đến nay, bộ đội pháo binh, với các cách đánh rất mưu trí, linh hoạt, táo tạo, bất ngờ, dũng cảm, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ với các binh chủng và các lực lượng khác đã lập nên những chiến công hết sức vẻ vang, làm cho địch bị tổn thất rất lớn về sinh lực, vũ khí, kỹ thuật và các cơ sở vật chất, hậu cần khác...

        Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù tương lai nếu xảy ra đang đặt ra cho bộ đội pháo binh những yêu cầu và nhiệm vụ mới hết sức lớn lao. Điều đó đòi hỏi bộ đội pháo binh phải phát huy cao độ truyền thống "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng" và ra sức học tập, rèn luyện về mọi mặt để không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu, cùng với toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi đường lối, chiến lược quân sự của Đảng ta, hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu trong giai đoạn mới.

        Nghệ thuật quân sự nói chung, nghệ thuật tác chiến của pháo binh nói riêng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa có những sự phát triển mới. Điều đó phản ánh những nội dung mới trong đường lối và chiến lược quân sự của Đảng ta, sức mạnh mới của quân và dân ta, sự thay đổi đối tượng tác chiến... Vì thế, việc nghiên cứu và giải quyết nghệ thuật tác chiến của pháo binh trong cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc phải dựa chắc vào đường lối và chiến lược quân sự của Đảng trong giai đoạn mới; kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật tác chiến của pháo binh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vừa qua. Trên cơ sở đó, làm rõ những nội dung mới trong những nguyên tắc sử dụng pháo binh, trong các hành động chiến đấu của bộ đội pháo binh cho phù hợp với phương thức tiến hành chiến tranh và các cách đánh với hành động chiến đấu của các binh chủng, quân chủng trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

        Điều cơ bản là nghệ thuật tác chiến của pháo binh phải bảo đảm cho bộ đội pháo binh phát huy đầy đủ vai trò hỏa lực chủ yếu trên mặt đất của quân đội trong chiến tranh nhân dân hiện đại, trong tác chiến hiệp đồng binh chủng, quân chủng với quy mô ngày càng lớn, góp phần đắc lực nâng cao sức mạnh đột kích, sức mạnh hỏa lực và sức cơ động của các binh đoàn trong quá trình chiến tranh.

        Trước hết, nghệ thuật tác chiến của pháo binh phải góp phần vào việc phát huy sức mạnh chiến đấu tổng hợp của các quân chủng, binh chủng để thực hiện thắng lợi tư tưởng chiến lược, quyết tâm chiến lược cũng như mục tiêu chiến lược của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Khác với các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước trước đây, cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi bộ đội pháo binh phải chiến đấu bằng sức mạnh hỏa lực lớn nhất, chi viện đắc lực cho các binh chủng, quân chủng chủ động và kịp thời giáng trả những đòn mạnh mẽ vào quân xâm lược ngay từ những ngày đầu của chiến tranh, khi địch vừa xâm phạm bờ cõi nước ta. Bộ đội pháo binh phải chi viện đắc lực cho bộ binh, xe tăng, cho các lực lượng chiến đấu với những loại hình chiến dịch khác nhau, theo nhiều hình thức chiến thuật phong phú trên các loại địa hình phức tạp.

        Nghệ thuật tác chiến của pháo binh phải phát huy đầy đủ uy lực của các loại pháo trong cả chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực và chiến tranh nhân dân địa phương, trong cả phòng ngự, phản công và tiến công phù hợp với tính chất hiện đại của cuộc chiến tranh. Để đáp ứng yêu cầu cơ bản này, bộ đội pháo binh phải lựa chọn và xác định tổ chức hỏa lực chi viện cho phù hợp với hành động của các binh chủng, các lực lượng trong các loại hình chiến dịch phòng ngự, phản công, tiến công; các loại chiến dịch chống quân địch đổ bộ đường biển, chống quân địch đổ bộ đường không, chiến dịch đánh căn cứ hậu phương địch; kể cả các loại hình chiến dịch của chiến tranh nhân dân địa phương; các hình thức chiến thuật. Phải tổ chức hỏa lực chi viện quy mô lớn, đạt hiệu lực cao trong các cuộc phản công chiến lược và tiến công chiến lược. Bộ đội pháo binh phải nâng cao vượt bậc trình độ tổ chức chiến đấu và chỉ huy bắn để bảo đảm chi viện liên tục và ngày càng mạnh cho các binh chủng, các lực lượng chiến đấu khi phát triển từ phòng ngự sang phản công, từ phản công sang tiến công hoặc kết hợp cả phòng ngự, phản công, tiến công trên một địa bàn lớn. Yêu cầu trên đây còn đòi hỏi pháo binh phải cải tiến phương pháp bắn, nâng cao kỹ thuật bắn, bảo đảm phát huy đầy đủ uy lực của các loại pháo có trong tay, chi viện đắc lực cho các binh chủng, các lực lượng trong từng loại hình chiến dịch, từng cách đánh.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2017, 12:06:34 PM

        Nghệ thuật tác chiến của pháo binh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có một thế lợi hơn hẳn so với quá trình chiến đấu của pháo binh trong các cuộc chiến tranh trước đây. Đó là việc chuẩn bị và thực hành chiến đấu của pháo binh, được thực hiện một cách chủ động trên cơ sở của tổ chức phòng thủ chiến lược bảo vệ Tổ quốc ở từng địa phương và trên cả nước. Trong tổ chức phòng thủ đó, nhân dân, quân chủ lực, quân địa phương đã hình thành sẵn thế trận đánh quân xâm lược với những điều kiện thuận lợi về tổ chức lực lượng, tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức bảo đảm hậu cần - kỹ thuật... Do đó, bộ đội pháo binh phải tận dụng những điều kiện thuận lợi của thế trận làm chủ của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc để nâng cao vượt bậc sức mạnh chiến đấu của mình. Dựa vào thế bố trí lực lượng chiến đấu của quân và dân ta trong từng địa phương, pháo binh phải hình thành thế bố trí chiến đấu có lợi nhất cho mình trong thế trận chung của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với nhiệm vụ chi viện đắc lực cho các binh đoàn, các lực lượng chiến đấu thắng lợi. Bộ đội pháo binh có thể hình thành trước mạng lưới quan sát, mạng lưới thông tin, mạng đo đạc, hệ thống trận địa bắn có lợi... trên những địa bàn có nhiệm vụ với sự tận dụng cao kết quả chuẩn bị của các binh đoàn, của quân và dân tại chỗ. Kết hợp chặt chẽ với quân và dân địa phương trong công tác chuẩn bị chiến trường, bộ đội pháo binh có thể hình thành được hệ thống đường cơ động, đáp ứng yêu cầu cơ động hỏa lực, cơ động pháo quy mô lớn của tác chiến hiện đại. Bộ đội pháo binh phải khai thác đầy đủ khả năng của địa phương, phối hợp với các lực lượng chiến đấu, xây dựng một hệ thống bảo đảm hậu cần và bảo đảm kỹ thuật tại chỗ để chiến đấu liên tục với lượng tiêu thụ, tiêu hao lớn về đạn dược, vật tư, lương thực, nhiên liệu.

        Để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và phát huy đầy đủ sức mạnh chiến đấu của bộ đội pháo binh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, cần nghiên cứu, giải quyết đúng đắn, sáng tạo một số vấn đề về nguyên tắc sử dụng pháo binh sau đây:

        1. Sử dụng tập trung tạo nên mật độ hỏa lực lớn trên hướng chủ yếu trong cả tiến công, phản công và phòng ngự.

        Đối với pháo binh, thuật ngữ "tập trung" không chỉ có nghĩa là tập trung số lượng lớn phương tiện hỏa lực trên một địa đoạn nhỏ hẹp, mà còn có nghĩa sử dụng chúng ra sao để tạo nên ưu thế và mật độ hỏa lực lớn ở nơi cần thiết vào thời gian cần thiết, yểm trợ đắc lực cho các binh chủng, các lực lượng khác hoạt động chiến đấu thuận lợi, nhất là với bộ binh và xe tăng.

        Bộ đội pháo binh đã có nhiều kinh nghiệm sử dụng tập trung hỏa lực trong phản công và tiến công đánh vào căn cứ hậu phương địch. Những kinh nghiệm đó cần phải được nâng cao cho phù hợp với những sự phát triển mới về nhiệm vụ chiến đấu, về khả năng mới của pháo binh. Người chỉ huy pháo binh và người chỉ huy binh chủng hợp thành còn phải vận dụng nguyên tắc sử dụng tập trung hỏa lực pháo trong phòng ngự, tạo nên mật độ hỏa lực lớn của pháo trong các giai đoạn đánh địch ở trước trận địa, chi viện đắc lực cho bộ binh, xe tăng, phản xung phong, phản kích, và tiến công quân địch. Việc sử dụng hỏa lực pháo còn phải được vận dụng đúng đắn trong nhiệm vụ chi viện cho các binh chủng các lực lượng đánh quân địch đổ bộ đường biển, đánh quân địch đổ bộ đường không...

        Nguyên tắc tập trung hỏa lực pháo có sự phát triển mới khi bộ đội pháo binh đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây. Trình độ tổ chức chiến đấu, chỉ huy bắn của cán bộ, trình độ kỹ thuật của chiến sĩ có nhiều tiến bộ. Phương tiện quan sát, đo đạc, tính toán, thông tin, phương tiện cơ động... được cải tiến hơn trước. Các đơn vị pháo ở các cấp được trang bị ngày càng hiện đại hơn, với nhiều loại pháo có uy lực lớn, độ chính xác cao. Công tác chuẩn bị chiến đấu, chuẩn bị chiến trường được thực hiện theo kế hoạch từ trước trên từng địa phương và trên cả nước... Tất cả những yếu tố đó làm cho việc vận dụng nguyên tắc tập trung hỏa lực pháo có nhiều thuận lợi. Mật độ hỏa lực tập trung sẽ lớn, đủ sức chế áp những mục tiêu lớn, hỏa lực tập trung nhanh, kịp thời chi viện đắc lực cho các đơn vị chiến đấu.

        Để sử dụng tập trung hỏa lực pháo vào những hướng chủ yếu, vào những mục tiêu quan trọng, trong thời gian quyết định, người chỉ huy binh chủng hợp thành và người chỉ huy pháo binh phải có sự chỉ huy tập trung thống nhất theo kế hoạch và phương án tác chiến đã đề ra. Các cán bộ đó phải có năng lực và trình độ chỉ huy số lượng lớn pháo trong tác chiến hiệp đồng quân chủng, binh chủng trên quy mô lớn. Phải thường xuyên nắm chắc tình hình địch, tình hình ta và tình hình đơn vị bạn có liên quan để nhanh chóng hạ quyết tâm chính xác, sử dụng các loại pháo đúng tính năng, tác dụng.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2017, 12:07:20 PM

        Tất nhiên mức độ tập trung nhiều hay ít, sử dụng những loại pháo nào cho thích hợp v.v... còn phụ thuộc vào tình hình thực tế chiến trường, như số lượng địch nhiều hay ít, chúng tập trung hay phân tán, đang vận động hay dừng lại, tính chất và tầm quan trọng của các loại mục tiêu bắn... Đồng thời phải căn cứ vào yêu cầu của các binh chủng và các lực lượng đang chiến đấu. Điều quan trọng là phải thực hiện tập trung hỏa lực pháo với mật độ lớn; tập trung nhanh chóng đối với những mục tiêu ngoài kế hoạch, trong những tình huống ngoài dự kiến, để chi viện cho các binh chủng, các lực lượng chiến đấu. Đây là những tình huống có thể xảy ra ngay trong những ngày đầu của chiến tranh trên vùng biên giới, ven biển, hải đảo. Do vậy, việc thường xuyên trinh sát nắm chắc địch, nắm vững hành động chiến đấu của các đơn vị trong quá trình chiến dịch, chiến đấu, tổ chức cơ động hỏa lực nhanh chóng, kịp thời, đủ số lượng cần thiết và đúng thời gian, đúng địa điểm đã quy định; chủ động dự kiến những kế hoạch và biện pháp thực hiện tập trung hỏa lực pháo cho những yêu cầu, tình huống đột xuất, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người chỉ huy đáp ứng đòi hỏi tình hình thực tế trên chiến trường.

        Để việc sử dụng tập trung hỏa lực pháo binh, thiết thực góp phần nâng cao sức đột kích, hỏa lực và sức cơ động của các binh chủng, người chỉ huy pháo binh phải luôn luôn duy trì sự hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, trước hết là với bộ binh và xe tăng. Trong quá trình hiệp đồng, người chỉ huy pháo binh phải nắm vững nhiệm vụ chiến đấu của các binh đoàn, các lực lượng, chủ động đề nghị với người chỉ huy binh chủng hợp thành những ý kiến sử dụng pháo, trực tiếp quan sát, theo dõi tình hình, giữ vững thông tin liên lạc hiệp đồng... Phải lấy việc chi viện cho các binh chủng, các lực lượng hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo hiệu lực thực tế của việc sử dụng tập trung hỏa lực pháo.

        2. Sử dụng kết hợp các loại pháo, phát huy đầy đủ hiệu quả các loại pháo có trong tay, hình thành hệ thống hỏa lực pháo binh mạnh và vững chắc trong chiến dịch và chiến đấu

        Kết hợp chặt chẽ các loại pháo trong quá trình chiến đấu chính là nhằm phát huy cao độ hiệu quả của các loại pháo có trong tay, để tạo thành sức mạnh hỏa lực tổng hợp to lớn của pháo binh, nhằm nhanh chóng tiêu hao, tiêu diệt những lực lượng quan trọng của địch, chi viện kịp thời cho bộ binh, xe tăng và các lực lượng khác chiến đấu.

        Như chúng ta đã biết, xuất phát từ nhiệm vụ chiến đấu, điều kiện trang bị kỹ thuật, địa hình, trình độ của cán bộ, chiến sĩ, mỗi cấp từ phân đội đến binh đoàn lớn được trang bị các loại pháo khác nhau. Các loại pháo trang bị cho các binh đoàn, binh đoàn chủ lực của Bộ Tổng Tư lệnh, của các quân khu và các binh đoàn tại chỗ cũng không hoàn toàn giống nhau. Trong chiến đấu, chiến dịch, lực lượng pháo binh cũng được phân chia thành những bộ phận với những nhiệm vụ hỏa lực riêng, hỏa lực đi cùng, hỏa lực chi viện trực tiếp, hỏa lực chi viện chung...

        Do sự phát triển của lực lượng pháo binh, trong quân chủ lực, quân địa phương đã có nhiều loại pháo có tính năng, tác dụng khác nhau, mỗi loại pháo đều có những ưu điểm, nhược điểm nhất định và có hiệu lực diệt nhiều địch nếu được sử dụng đúng.

        Để hình thành một hệ thống hỏa lực chiến dịch, chiến đấu mạnh, vững chắc và cơ động, phải sử dụng kết hợp chặt chẽ các loại pháo, sử dụng đúng tính năng, tác dụng từng loại pháo nhằm đánh địch từ xa đến gần, bắn được nhiều loại mục tiêu, chi viện chính xác và kịp thời cho bộ binh và xe tăng chiến đấu, vừa đánh mạnh vào đội hình địch đang trực tiếp đối địch với ta, vừa đánh vào lực lượng tiếp sau của chúng. Các phân đội bộ binh, xe tăng phải phát huy đầy đủ hiệu lực của pháo đi cùng để tiêu diệt nhanh chóng các mục tiêu cản trở hành động chiến đấu của mình, không ỷ lại vào pháo cấp trên. Người chỉ huy các trung đoàn, sư đoàn bộ đội hợp thành phải sử dụng đến mức cao nhất hỏa lực của pháo và súng cối trong biên chế hoặc được tăng cường để chi viện trực tiếp và kịp thời cho các phân đội thuộc quyền chiến đấu, nhất là trong những tình huống khẩn trương, quyết liệt, không chỉ trông chờ vào hỏa lực của cấp trên. Phải thấy rằng, tích cực sử dụng và sử dụng tốt pháo đi cùng, pháo và súng cối trong biên chế trong các tiểu đoàn bộ binh, trong các trung đoàn, sư đoàn bộ đội hợp thành, là một biện pháp để nâng cao hiệu quả bắn, độ chính xác, tốc độ bắn của pháo, và chi viện đắc lực cho bộ binh và xe tăng chiến đấu. Còn pháo của cấp trên thì chủ động chi viện cho cấp dưới, trước hết là cho đơn vị ở hướng chủ yếu, trong những tình huống khẩn trương, tạo điều kiện cho cấp dưới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        Trong quá trình hình thành một hệ thống hỏa lực chiến dịch, chiến đấu bằng sự kết hợp sử dụng các loại pháo, kết hợp hỏa lực pháo ở các cấp, không nên chỉ thiên về sử dụng một loại pháo, hoặc sử dụng pháo không đúng tính năng, tác dụng. Thực tế chiến đấu cho thấy, không ít những hiện tượng chỉ yêu cầu pháo cỡ lớn, có tầm bắn xa chi viện. Đối với những mục tiêu nhỏ, di động thì sử dụng pháo bắn thẳng, súng cối có thể đạt hiệu quả hơn là pháo cỡ lớn tầm xa. Còn có hiện tượng dùng pháo chống tăng để bắn những toán bộ binh địch cũng gây ra lãng phí đạn dược và đạt hiệu quả bắn thấp.

        Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, việc sử dụng kết hợp các loại pháo, sử dụng đúng tính năng, tác dụng từng loại pháo phải đáp ứng yêu cầu hình thành hệ thống hỏa lực pháo binh cho phù hợp với từng cách đánh, từng loại hình chiến dịch và hình thức chiến thuật, nhất là đối với các loại hình chiến dịch và hình thức chiến thuật mới.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2017, 09:03:32 PM

        3. Bắn chính xác, kịp thời, bất ngờ, đạt hiệu lực sát thương lớn quân địch

        Đây cũng là căn cứ đầu tiên để đánh giá trình độ và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của bộ đội pháo binh.

        Đặc điểm tác chiến hiện đại cho thấy tính cơ động của cả hai bên tham chiến đều cao hơn trước; kỹ thuật che giấu, đánh lừa đối phương ngày càng tinh vi; phương tiện và kỹ thuật phá hoại thông tin chỉ huy phát triển... Điều đó ảnh hưởng không ít đến việc vận dụng có hiệu quả nguyên tắc trên đây trong quá trình chiến tranh. Hơn nữa, đánh với một kẻ địch đông, chúng có thể tiến công đồng thời cả trên đất liền, trên biển, trên không thì mục tiêu bắn của pháo binh có thể xuất hiện rất nhiều trong cùng một thời gian, đòi hỏi phải có sự lựa chọn đúng đắn. Để thực hiện nguyên tắc này, bộ đội pháo binh phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu cao, không ngừng nâng cao trình độ và năng lực chỉ huy bắn của cán bộ, nâng cao kỹ thuật bắn điêu luyện của chiến sĩ, trình độ hiệp đồng trong nội bộ pháo binh. Các phân đội đo đạc, tính toán phải áp dụng phương pháp tính toán tiên tiến để đạt độ chính xác cao nhất, với thời gian ngắn nhất. Cán bộ chỉ huy phải lựa chọn phương pháp quyết định phần tử bắn thích hợp nhất, quyết định phương pháp bắn đúng để đạt hiệu quả sát thương lớn quân địch. Phải biết che giấu hành động, che giấu bố trí pháo binh, tích cực nghi binh đánh lừa địch, triệt để giữ vững yếu tố bí mật, bất ngờ cả trong quá trình chuẩn bị chiến đấu, trong chiến đấu và sau khi chiến đấu.

        Trong quá trình chỉ huy bắn, người chỉ huy pháo binh phải tích cực chủ động đề nghị với người chỉ huy binh chủng hợp thành về lựa chọn mục tiêu, xác định phương pháp bắn chính xác; nghiêm chỉnh thực hiện mệnh lệnh của người chỉ huy binh chủng hợp thành. Phải quyết định đúng phương pháp bắn, thời gian bắn, số đạn bắn cho thích hợp với mục tiêu.

        Để thực hiện yêu cầu bắn nhanh, bắn trúng, bắn đúng mục tiêu, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ và đạt hiệu suất diệt địch cao, các đơn vị pháo binh phải thực hiện bắn gần, bắn trong tầm bắn có hiệu quả nhất. Tích cực sử dụng lối bắn ngắm trực tiếp, quan sát tại pháo vừa đạt độ chính xác cao vừa có sức phá hủy lớn làm cho địch bị động đối phó, không kịp trở tay. Bố trí hệ thống các loại pháo cho thích hợp để mỗi loại pháo đều có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ bắn trong tầm bắn có hiệu quả cao nhất. Đây là lối đánh sở trường của quân đội ta, đòi hỏi bộ đội pháo binh phải phát huy cao độ sở trường đó trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

        Việc giữ gìn pháo, đạn và các khí tài đúng với yêu cầu kỹ thuật, bảo đảm độ chính xác của vũ khí, trang bị kỹ thuật trong điều kiện khí hậu phức tạp như ở nước ta là một yếu tố rất quan trọng để bảo đảm bắn chính xác của pháo binh trong chiến đấu.

        4. Hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh, xe tăng và các lực lượng chiến đấu khác

        Mọi hoạt động chiến đấu của pháo binh phải ăn khớp, nhịp nhàng với các hành động chiến đấu của bộ binh, xe tăng và các lực lượng chiến đấu khác. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, sự hiệp đồng chiến đấu giữa pháo binh, bộ binh, xe tăng và các lực lượng khác có thể diễn ra với quy mô vừa và lớn ngay từ những ngày đầu của chiến tranh, trên những vùng biên giới, ven biển... Số lượng bộ binh, xe tăng và các lực lượng khác tham gia chiến đấu ngày càng lớn. Tác chiến hiệp đồng giữa bộ binh và xe tăng, pháo binh và các binh chủng khác được vận dụng trong nhiều loại hình chiến dịch như tiến công, phản công, phòng ngự, trong các chiến dịch đánh quân địch đổ bộ đường biển, đổ bộ đường không, trong các cuộc phản công chiến lược và tiến công chiến lược. Nghệ thuật tác chiến của bộ binh, xe tăng và của các binh chủng khác có những phát triển mới. Tình huống chiến đấu, chiến dịch diễn ra rất mau lẹ, phức tạp... Tất cả những yếu tố đó đặt ra những yêu cầu mới và nội dung mới trong tác chiến hiệp đồng giữa pháo binh với bộ binh, xe tăng và các binh chủng khác.

        Để thực hiện nguyên tắc trên đây, người chỉ huy bộ đội pháo binh phải nắm vững những sự phát triển mới của nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nắm vững nhiệm vụ, nghệ thuật tác chiến của bộ binh, xe tăng và các binh chủng khác làm cơ sở xác định kế hoạch, hành động của mình trong chiến dịch và chiến đấu.

        Trong từng chiến dịch, từng trận đánh, người chỉ huy pháo binh phải hiểu tường tận nhiệm vụ chiến đấu, mục tiêu đánh chiếm và bảo vệ, kế hoạch hành động cụ thể của các binh đoàn, những dự kiến xử trí trong những tình huống cơ bản... Xác định kế hoạch chi viện hỏa lực của pháo binh phải là kết quả của sự cân nhắc, tính toán cụ thể của người chỉ huy binh chủng hợp thành, người chỉ huy pháo binh, và được cấp trên phê chuẩn.

        Kinh nghiệm chiến đấu của pháo binh qua nhiều năm cho thấy, tính tích cực, chủ động của pháo binh trong quá trình hiệp đồng với bộ binh, xe tăng là một yếu tố quan trọng để tạo nên sức mạnh chiến đấu tổng hợp to lớn góp phần chặn đứng và đập tan mọi cuộc tiến công xâm lược của kẻ thù. Trong quá trình hiệp đồng, bộ đội pháo binh phải chấp hành nghiêm túc và triệt để các mệnh lệnh của người chỉ huy binh chủng hợp thành, tôn trọng và thực hiện đầy đủ mọi quy ước của kế hoạch hiệp đồng. Bản thân pháo binh phải phát huy tính năng động sáng tạo, khắc phục khó khăn để chiếm lĩnh và triển khai đội hình chiến đấu đúng thời gian, đúng vị trí, hoàn thành công tác chuẩn bị bắn đúng hạn định, bảo đảm bắn kịp thời, bắn trúng, bắn đúng mục tiêu theo yêu cầu của người chỉ huy binh chủng hợp thành. Người chỉ huy pháo binh phải chủ động đề xuất ý kiến về kế hoạch hiệp đồng chiến đấu, kế hoạch hỏa lực, kế hoạch cơ động, v.v... Người chỉ huy bộ đội hợp thành phải thấy hết đặc điểm chiến đấu của pháo binh, tạo điều kiện cho pháo binh phát huy được vai trò là phương tiện hỏa lực diệt địch chủ yếu trên mặt đất của quân đội ta, hoàn thành mọi nhiệm vụ.

 
(Tạp chí Quân đội nhân dân, tháng 6-1981)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2017, 09:04:25 PM
         
NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG PHÁO BINH TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC

        Nghệ thuật sử dụng pháo binh trong cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang được nghiên cứu để xây dựng thành một lý luận về học thuật sử dụng pháo binh trong thời kỳ mới.

        Những năm tới trên thế giới, hòa bình hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc tôn giáo, chạy đua vũ trang, hành động can thiệp lật đổ, tranh chấp về biên giới, vùng tài nguyên thiên nhiên vẫn tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp; trong nước các thế lực thù địch vẫn đang ráo riết thực hiện âm mưu "Diễn biến hòa bình" gây bạo loạn lật đổ hòng làm thay đổi chế độ chính trị nước ta. Chúng ta - những chiến sĩ Quân đội nhân dân phải luôn nhận rõ bản chất các đế quốc và các thế lực thù địch vẫn còn có thể hung hăng hiếu chiến và ngạo mạn coi thường luật lệ quốc tế và dư luận của nhân loại yêu chuộng hòa bình, chúng còn tự đặt cho mình có quyền trừng phạt thậm chí tiến quân xâm lược chiếm đóng các nhà nước có chủ quyền mà chúng cho là đe dọa đến lợi ích của chúng. Chính sách trên thế mạnh của chúng vẫn là mối đe dọa chủ yếu đối với hòa bình và ổn định thế giới, với an ninh của các quốc gia và chủ quyền của các dân tộc trong đó có cả Tổ quốc chúng ta.

        Chúng ta phải không ngừng nâng cao cảnh giác, nắm chắc tay súng sẵn sàng chiến đấu đánh bại mọi âm mưu liều lĩnh của các lực lượng hiếu chiến và các thế lực thù địch để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

        Nếu một khi kẻ thù mở cuộc tiến công xâm lược lớn vào nước ta thì cuộc chiến tranh ấy kẻ địch sẽ phát huy ưu thế sức mạnh để tiến công ta cả ba mặt: trên không, trên biển và trên bộ, tư tưởng chỉ đạo của chúng có thể là: "Đánh nhanh, thắng nhanh và tổn thất ít". Tính chất chiến tranh sẽ diễn ra phức tạp, trình độ ác liệt sẽ diễn ra trên một không gian rộng, không phân biệt hậu phương và tiền tuyến, chúng sẽ dùng mọi vũ khí công nghệ cao, sử dụng các loại vũ khí đạn, tên lửa có tầm bắn xa, độ chính xác cao, sức hủy diệt lớn. Về mặt pháo binh, chúng có thể sử dụng nhiều pháo tự hành, các loại pháo trên hạm, pháo trên xe tăng thiết giáp, đồng thời chúng cũng có nhiều phương tiện trinh sát hiện đại, chuẩn bị phần tử xạ kích với trình độ công nghệ cao, hệ thống chỉ huy bắn cũng tự động hóa nên mọi công tác chuẩn bị và hiệu chỉnh bắn cũng tương đối nhanh và hiệu quả hơn; với kẻ địch như vậy sẽ tác động lớn đến mọi hành động chuẩn bị, cơ động và chiến đấu của bộ đội pháo binh ta trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai.

        Tuy vậy, cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tương lai của chúng ta sẽ được tiến hành trong thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển, trong thế trận phòng thủ khu vực của từng địa bàn được xây dựng khá vững chắc, trong thế trận pháo binh ba thứ quân đã được chuẩn bị và dày công diễn tập, chúng ta sẽ vận dụng kết hợp tác chiến giữa việc cơ động của bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang tại chỗ, kết hợp giữa chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích để tạo thành một thế trận có lợi cho việc chủ động tiến công, phản công đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của bất kỳ lực lượng thù địch nào dám xâm chiếm Tổ quốc của chúng ta.

        Trong nhiều năm tới, hỏa lực pháo binh vẫn là hỏa lực chủ yếu của lục quân và là hỏa lực mặt đất chủ yếu của quân đội ta. Hỏa lực pháo binh vẫn đóng vai trò quan trọng để bảo đảm cho bộ binh xe tăng và các lực lượng vũ trang khác trong mọi loại hình chiến dịch, loại hình chiến đấu. Thế nhưng trong thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lực lượng chủ yếu của pháo binh - nhất là lực lượng pháo dự bị, các cấp cần khôn khéo, nhanh chóng kịp thời cơ động phòng tránh những đòn tiến công tập kích hỏa lực của địch nhằm bảo toàn lực lượng, sau đó tùy thời cơ sẵn sàng, kín đáo cơ động bước vào chiến đấu phòng thủ rồi kiên quyết tập trung sử dụng khi ta chuyển sang phản công hoặc tiến công tiêu diệt quân địch, từ đó việc sử dụng pháo binh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có thể có những đặc điểm:

        - Sử dụng pháo binh trong phòng tránh và đánh trả đòn tiến công hỏa lực đầu tiên của địch.

        Đây là vấn đề vừa mới vừa chưa có nhiều kinh nghiệm để đối phó với một cuộc tập kích hỏa lực ồ ạt của địch, đòn tiến công hỏa lực của địch có thể gồm lực lượng không quân, đạn tên lửa điều khiển từ xa, các loại pháo, tên lửa đặt trên các pháo hạm hải quân. Chúng coi đòn tiến công hỏa lực này là biện pháp chủ yếu nhằm làm rối loạn nền kinh tế đối phương, phá hoại các cơ sở quốc phòng, các sân bay bến cảng, các kho tàng dự trữ chiến lược, đây là một giai đoạn chiến đấu mà chúng gọi là "làm mềm chiến trường" trước khi thực hành một cuộc tiến công quy mô trên bộ, thời gian đòn tiến công hỏa lực này dài hay ngắn tùy thuộc điều kiện và yêu cầu của chúng nhưng sẽ diễn ra rất ác liệt, liên tục cả về thời gian, về quy mô và cường độ. Lực lượng pháo binh của chúng ta cũng sẽ là một trong những mục tiêu đầu tiên mà kẻ địch đánh phá, vì thế nếu một khi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xảy ra, bộ đội pháo binh nhất là lực lượng pháo dự bị của Bộ, quân khu, pháo của các binh đoàn chủ lực nhất thiết phải tổ chức sơ tán, nhanh chóng phòng tránh kịp thời, hạn chế đến mức thấp nhất về tổn thất lực lượng, trang bị xe pháo đạn, khí tài bảo toàn được lực lượng, giữ vững được thế trận, giữ vững được hệ thống chỉ huy.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2017, 09:05:00 PM

        Trong khi đại bộ phận sơ tán phòng tránh theo các kế hoạch đã được chuẩn bị chu đáo từ thời bình, cũng phải sẵn sàng một phần lực lượng triển khai ở những khu vực phòng thủ chủ yếu, nơi ấy đã có sẵn công sự đường hầm kiên cố hoặc trận địa lâm thời nhưng có sẵn phương tiện để xây dựng công sự tương đối vững chắc chống được mọi bom đạn địch, lực lượng này thường là pháo tại chỗ của quân khu, tỉnh, thành phố luôn ở tư thế chiến đấu sẵn sàng phát huy hỏa lực chi viện cho lực lượng phòng thủ kịp thời tiêu diệt các lực lượng phản ứng nhanh khi chúng đổ bộ đường biển hoặc đổ bộ đường không vào đất liền hoặc hậu phương ta, đây là phương án tác chiến luôn được bổ sung theo kế hoạch định kỳ diễn tập thời bình của từng quân khu, từng tỉnh. Về công sự đường hầm cho pháo, cần nghiên cứu để có thể một công sự sử dụng được nhiều loại pháo và cũng cần xây dựng bổ sung thêm một số trận địa đường hầm cho pháo ở phía Nam vùng ven biển và các đảo quan trọng. Cũng cần xây dựng hoàn thiện phương án tác chiến dùng hỏa lực pháo ven biển, pháo trên đảo cùng hỏa lực của hải quân ta để chế áp hoặc tiêu diệt các pháo hạm của hải quân địch.

        - Sử dụng pháo binh trong tác chiến phòng thủ.

        Trong kế hoạch tác chiến phòng thủ quốc gia, kế hoạch tác chiến phòng thủ của từng quân khu, tỉnh, thành, huyện luôn có nhiều phương án có thể cùng một lúc diễn ra với quy mô lớn với nhiều chiến dịch, cũng có thể chỉ có một số trận chiến đấu, nhưng tất cả các lực lượng vũ trang luôn có sự chỉ huy thống nhất của Bộ, quân khu, tỉnh với phương châm:

        - Làng giữ làng.

        - Xã giữ xã.

        - Tỉnh giữ tỉnh...

        Sử dụng lực lượng pháo binh súng cối trước hết là sử dụng lực lượng pháo phòng thủ tại chỗ, pháo của bộ đội địa phương, pháo của dân quân tự vệ. ở những khu vực phòng thủ mang tính chiến lược mới có thể sử dụng một phần lực lượng pháo dự bị của quân khu hoặc của Bộ. Việc sử dụng pháo trong phòng thủ luôn quán triệt tinh thần dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận pháo ba thứ quân phát huy rộng rãi lối đánh độc lập, chủ động và liên tục tiến công quân địch, tùy thời cơ có thể có những trận tập kích hỏa lực đồng loạt mạnh trong cùng một thời gian vào nhiều mục tiêu như các nơi tập kết quân địch đứng chân chưa vững như: hệ thống sở chỉ huy, hệ thống hỏa lực pháo binh, các sân bay, cảng, kho tàng địch. Nên tận dụng lối đánh lấy pháo đạn địch để đánh địch, kiên quyết áp dụng lối đánh gần bắn thẳng. Tư tưởng chỉ đạo trong phòng thủ của pháo binh là "chủ động tiến công, tiến công liên tục quân địch" nhằm làm cho kẻ địch rối loạn hệ thống chỉ huy, hệ thống vận chuyển cơ động, hệ thống bố trí đội hình, làm cho chúng phải khiếp sợ pháo cối ta ngay từ khi đặt chân lên đất nước ta. Còn trong kế hoạch đánh trả quân địch đổ bộ quy mô lớn, trước mắt xây dựng kế hoạch hỏa lực tập trung vào vùng biển gần nơi quân địch bắt đầu đổ quân và xe cộ tiến công lên đất liền.

        Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, vai trò đảo, quần đảo, bán đảo có vị trí hết sức quan trọng trong việc ngăn chặn tốc độ tiến quân và chia cắt đội hình của địch. Pháo binh ở đảo, quần đảo, bán đảo là hỏa lực quan trọng cùng với hải quân để chế áp, tiêu diệt tàu chiến địch. Các pháo thủ trên đảo thường phải sử dụng thành thạo nhiều loại pháo, cối và cả vũ khí bộ binh.

        - Sử dụng pháo binh trong tác chiến phản công, tiến công tiêu diệt quân địch đã đột nhập.

        Tổ chức chiến dịch phản công hoặc tiến công quân địch đã đột nhập vào đất nước ta chủ yếu tiến hành khi ta đã tiêu diệt, tiêu hao lớn lực lượng địch và cục diện chiến trường đã tạo ra được một thế trận và thời cơ có lợi cho ta. Cũng có thể có từng chiến dịch phản công hoặc chiến dịch tiến công trên từng hướng phòng thủ đất nước hoặc cũng có thể cùng một lúc có nhiều chiến dịch phản công, tiến công diễn ra trên cùng một lúc trên nhiều hướng phòng thủ.

        Lực lượng tham gia tác chiến khi ta mở chiến dịch phản công hoặc tiến công có thể có các quân đoàn dự bị của Bộ kết hợp với các lực lượng chiến đấu tại chỗ của từng quân khu, tỉnh, thành phố, lúc này là thời cơ để sử dụng tập trung các lực lượng pháo binh dự bị của Bộ tham gia cùng với pháo tại chỗ hình thành các quả đấm hỏa lực chi viện đắc lực cho bộ binh và các lực lượng vũ trang thực hành phản công hoặc tiến công tiêu diệt quân địch.

        Những bài học sử dụng pháo binh trong hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vẫn có giá trị để vận dụng một cách sáng tạo, nhưng về nguyên tắc sử dụng pháo binh như sử dụng tập trung, phát huy hỏa lực bí mật bất ngờ, bắn trúng đích và chi viện đắc lực cho bộ binh xe tăng... là không thể bỏ qua được.

        Vấn đề sử dụng pháo trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc là vấn đề mới, ta chưa có nhiều kinh nghiệm cho nên cần nêu thành từng chuyên đề theo các bước chuẩn bị chiến đấu, thực hành chiến đấu trong mỗi loại hình chiến dịch, loại hình chiến đấu để tập trung đi sâu nghiên cứu rồi đem vận dụng vào công tác huấn luyện chiến đấu, diễn tập người chỉ huy và cơ quan tham mưu có hoặc không có thực binh, từ đó rút ra những kết luận bổ ích để hoàn thiện dần lý luận nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

(Tạp chí Khoa học Quân sự, tháng 9-2006)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2017, 09:07:30 PM
       
40 NĂM XÂY DỰNG VÀ CHIẾN ĐẤU VẺ VANG CỦA BỘ ĐỘI PHÁO BINH

        Ngày 29 tháng 6 năm 1986, Binh chủng Pháo binh tròn 40 tuổi. Là một trong những binh chủng được thành lập sớm, là hỏa lực mặt đất chủ yếu của lực lượng vũ trang nhân dân, cho nên mỗi chiến công, mỗi bước trưởng thành của bộ đội pháo binh đều gắn liền với những chặng đường chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của quân đội ta.

        Đêm 19 tháng 12 năm 1946, với những khẩu pháo cướp được từ tay giặc, pháo binh ta đã nã vào đại bản doanh quân Pháp trong thành Hà Nội, trở thành pháo lệnh mở màn cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược. Tên các Pháo đài Láng, Xuân Canh, Xuân Tảo đi vào lịch sử và là niềm tự hào đầu tiên của các chiến sĩ pháo binh.

        Sau những chiến công nổi bật như Sông Lô - Thu Đông 1947, trận công kiên chi viện bộ binh tiêu diệt chiến dịch Biên Giới 1950, đến đỉnh cao là những đòn hỏa lực mạnh mẽ, có hiệu quả của lựu pháo 105 ly trong chiến dịch Điện Biên Phủ, làm nổi bật vai trò hỏa lực pháo binh trong tác chiến hiệp đồng, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm mạnh nhất, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống thực dân Pháp xâm lược.

        Những năm hòa bình xây dựng (1954 - 1964), lực lượng pháo binh lớn mạnh nhanh chóng, kể cả pháo dự bị cũng như pháo của các quân khu, các sư đoàn chủ lực. Sự lớn mạnh về số lượng và chất lượng của pháo binh trong những năm xây dựng hòa bình là tiền đề vật chất để Binh chủng cùng với toàn quân, toàn dân bước vào cuộc đọ sức quyết liệt với một kẻ thù có tiềm lực quân sự và kinh tế lớn là đế quốc Mỹ.

        Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, với số pháo cối tại chỗ cùng với sự chi viện lớn lao của pháo binh miền Bắc, các đơn vị pháo binh miền Nam đã nhanh chóng hình thành và phát triển từ nhỏ đến lớn. Bằng cách luồn sâu, đánh hiểm, pháo binh đã góp phần tiêu diệt một số lớn những sinh lực cao cấp như sĩ quan giặc lái, nhân viên kỹ thuật Mỹ, phá hủy một khối lượng lớn máy bay, bom đạn và nhiều phương tiện chiến tranh khác.

        Ngoài nhiệm vụ chi viện hết mình cho chiến trường miền Nam đánh thắng, pháo binh miền Bắc thật sự làm nòng cốt chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ khi chúng dùng đại bác từ các tàu biển để gây tội ác. Không chỉ pháo chủ lực mà cả pháo địa phương, pháo dân quân cũng tham gia trừng trị tàu chiến Mỹ.

        Cho tới cuối năm 1974, lực lượng pháo binh ở cả hai miền đã phát triển vượt bậc về số lượng và chất lượng, đã chuẩn bị tốt về mọi mặt cho một trận đọ sức quyết liệt của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 lịch sử. Chưa bao giờ pháo binh ra quân với lực lượng hùng hậu như vậy. Hơn 200 tiểu đoàn pháo xe kéo với hàng nghìn khẩu đủ tầm, đủ cỡ, hàng trăm phân đội pháo binh mang vác đã hòa vào dòng thác tiến công thần tốc trên toàn chiến trường. Từ trận mở màn Buôn Ma Thuột đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, pháo binh ta một lần nữa phát huy vai trò hỏa lực cho cơn lốc tiến công, đánh sập ý chí của kẻ thù, đẩy nhanh sự tan rã từng mảng lớn của chúng, góp phần kết thúc cuộc chiến tranh thần thánh lần thứ hai của dân tộc, thực hiện độc lập và thống nhất Tổ quốc.

        Cũng trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, với tinh thần Đông Dương là một chiến trường, pháo binh ta đã sát cánh cùng quân đội cách mạng hai nước anh em Lào và Cam-pu-chia chiến đấu liên tục qua mọi thời kỳ, góp phần xứng đáng vào chiến công chung của cách mạng ba nước, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình.

        Ghi nhận sự trưởng thành nhanh chóng và thành tích xuất sắc của bộ đội pháo binh trong những năm chiến tranh, Đảng và Nhà nước đã tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Binh chủng Pháo binh, một trong những binh chủng, quân chủng được tuyên dương anh hùng đợt đầu tiên; 58 đơn vị và mười cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng huân chương cao quý các loại, lá cờ truyền thống của Binh chủng lấp lánh tám chữ vàng Bác Hồ khen tặng: "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng" là nguồn cổ vũ bất tận các chiến sĩ pháo binh.

        Bước vào thời kỳ toàn Đảng, toàn dân thực hiện chiến lược do Đại hội lần thứ IV và lần thứ V của Đảng đề ra, bộ đội pháo binh nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phát huy truyền thống tốt đẹp của quân đội và Binh chủng, tiếp tục xây dựng, trưởng thành và lớn mạnh, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Một mặt, phát huy vai trò hỏa lực chủ yếu chi viện tốt cho bộ binh chiến đấu thắng lợi trên chiến trường biên giới Tây - Nam, mặt khác ra sức xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện tốt năm mục tiêu của cuộc vận động lớn "Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu" và bốn năm liền (1982, 1983, 1984, 1985) được tặng cờ thi đua luân lưu của Hội đồng Bộ trưởng.

        Thành tích vẻ vang và sự lớn mạnh không ngừng của bộ đội pháo binh trong 40 năm qua bắt nguồn từ sự quan tâm chăm sóc đặc biệt của Bác Hồ kính yêu, từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương (nay là Đảng ủy Quân sự Trung ương), của Bộ Quốc phòng và các cơ quan của Bộ; từ sự đùm bọc, chở che của nhân dân cả nước, sự giúp đỡ hết lòng và sự đoàn kết hiệp đồng của bộ binh và quân chủng, binh chủng bạn; từ sự giúp đỡ chí tình và có hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, trước hết là Liên Xô; từ tình đoàn kết chiến đấu của quân đội và nhân dân hai nước Lào và Cam-pu-chia anh em. Chặng đường 40 năm qua cũng ghi nhận sự cố gắng to lớn của bao thế hệ cán bộ và chiến sĩ pháo binh.

        Những thành tích vẻ vang, truyền thống tốt đẹp, những phần thưởng cao quý và nhiều bài học kinh nghiệm đúc kết được trong 40 năm qua là nguồn cổ vũ lớn lao bộ đội pháo binh vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

        Trong không khí chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân hướng về Đại hội lần thứ VI của Đảng, toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân, nhân viên Binh chủng Pháo binh kỷ niệm lần thứ 40 ngày truyền thống của mình bằng những hành động thiết thực, toàn Binh chủng đẩy mạnh phong trào thi đua với khí thế cách mạng mới nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 1986, với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Mỗi cán bộ, chiến sĩ pháo binh cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu tốt; nâng cao sức mạnh tổng hợp, hoàn thành có chất lượng huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, quản lý, giữ gìn trang bị kỹ thuật; rèn luyện kỷ luật nghiêm; củng cố và phát huy quan hệ quân dân bền chặt; tích cực lao động sản xuất để vừa tự cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, vừa góp phần xây dựng đất nước... phấn đấu xây dựng Binh chủng Pháo binh cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, ngày càng hiện đại; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện. Trước mắt tiếp tục làm tốt đợt tự phê bình và phê bình, tích cực sửa chữa khuyết điểm, tiến hành tốt đại hội Đảng các cấp, tạo những chuyển biến mới trong toàn Binh chủng, lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng.

(Báo Nhân dân, ngày 28-6-1986)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2017, 12:22:19 AM

40 NĂM TRƯỞNG THÀNH CỦA NGÀNH KỸ THUẬT PHÁO BINH

        Từ những ngày đầu thành lập (29-6-1946) với những khẩu sơn pháo 75 ly và cao xạ không đủ bộ phận thu được của phát xít Nhật và của quân Tàu Tưởng, qua 40 năm xây dựng và chiến đấu, Binh chủng Pháo binh đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, với những trang bị ngày càng hiện đại, là hỏa lực chủ yếu của lục quân nói riêng, của quân đội ta nói chung và đã góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, xứng đáng với truyền thống "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng" của Bác Hồ khen và danh hiệu Binh chủng "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

        Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của một Binh chủng kỹ thuật đã ghi nhận sự có mặt, vị trí, vai trò và thành tích của ngành kỹ thuật pháo binh. Thật vậy, quá trình xây dựng, trưởng thành của ngành kỹ thuật pháo binh, luôn gắn chặt với quá trình xây dựng và trưởng thành của Binh chủng, không ngừng phát triển từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ giản đơn đến phức tạp, từ thô sơ đến hiện đại, đã đáp ứng được yêu cầu của từng giai đoạn trong hai cuộc kháng chiến vừa qua và ngày nay đang phục vụ tốt cho huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và xây dựng của Binh chủng.

        Một số rất ít công nhân, cán bộ kỹ thuật của Sở pháo thủ Pháp, của Nhà máy xe lửa Gia Lâm, các hãng Avia, Star, Stai, của Mỏ than Uông Bí, Mạo Khê, Nhà máy Trường Thi, Ba Son... với tinh thần yêu nước nồng nàn, đã trở thành những người "lính thợ pháo binh" đầu tiên của Binh xưởng trọng pháo thuộc Phòng Quân giới Bộ Quốc phòng. Trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, đội "lính thợ" ấy đã cùng bộ đội và nhân dân thu nhặt, dồn lắp, cải tiến những khẩu pháo lấy được của Nhật - Pháp - Tàu Tưởng, gom nhặt từng viên đạn pháo, xây dựng vốn cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu của ngành kỹ thuật pháo binh, phục vụ các mặt trận và trực tiếp là đoàn Pháo binh đầu tiên của Thủ đô Hà Nội được thành lập ngày 29 tháng 6 năm 1946.

        Trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ, cơ sở vật chất nghèo nàn, kinh nghiệm chưa có, nhưng với tinh thần tự lực tự cường, ngành kỹ thuật pháo binh đã mạnh dạn sử dụng những hiểu biết ít ỏi của mình để sản xuất, tự tạo ra những vũ khí thô sơ để đánh địch, đáp ứng một phần yêu cầu chiến đấu của những ngày đầu kháng chiến. Lần lượt bom ba càng, các loại súng bắn đạn ghém, các loại súng cối, súng SKZ, FT, SSA, SSB, phóng bom... ra đời đã làm tăng hỏa lực của bộ binh trong chiến đấu, tạo nên hỏa lực đa dạng của pháo binh; điển hình là việc nối nòng của hai khẩu pháo hỏng thành một khẩu pháo hoàn chỉnh là việc làm độc đáo của Ngành Kỹ thuật pháo binh, kịp thời phục vụ cho trận đánh ở Phố Lu (3-1950); đã góp phần xây dựng những đại đội pháo, những tiểu đoàn pháo của các trung đoàn, đại đoàn bộ binh, của các chiến khu và tiến lên thành lập các trung đoàn pháo binh mang vác của Bộ.

        Trên đà phát triển của cuộc chiến tranh từ chỗ chỉ có pháo nhỏ, dùng sức người mang vác là chính, cuối năm 1950, trung đoàn pháo binh xe kéo đầu tiên ra đời bảo đảm cho yêu cầu đánh tập trung, hiệp đồng quy mô lớn, diệt các tập đoàn cứ điểm của địch.

        Để đảm bảo kỹ thuật cho những đơn vị pháo ngày càng hiện đại, với sự giúp đỡ của trên, Ngành Kỹ thuật pháo binh cũng được bổ sung nhiều cán bộ, nhân viên kỹ thuật, không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ của mình. Những thợ pháo, thợ xe, những lái xe đầu tiên ấy, ngày nay có nhiều đồng chí đã trở thành những cán bộ chỉ huy kỹ thuật, có kinh nghiệm, đáp ứng cho sự phát triển của ngành.

        Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Binh chủng Pháo binh đã có một bước nhảy vọt về lượng và chất. Đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật cũng được dần dần bổ sung đồng bộ, đáp ứng sự phát triển của Binh chủng với những trung đoàn, lữ đoàn pháo binh xe kéo tầm xa.

        Với phong trào thi đua "Pháo thủ toàn năng", thi đua "Ba nhất", cán bộ nhân viên kỹ thuật trong Binh chủng Pháo binh không ngừng vươn lên làm chủ vũ khí trang bị mới, phục vụ công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Những quy định chế độ kỹ thuật, giữ tốt dùng bền đã trở thành phong trào quần chúng, được chấp hành nghiêm chỉnh trong Binh chủng. Công tác nghiên cứu cải tiến, công tác thu hồi và nghiên cứu sử dụng các trang bị kỹ thuật của địch để đánh địch trở thành phong trào phổ biến ở các chiến trường góp phần phát triển rộng rãi cách đánh của pháo binh. Qua thực tế đảm bảo kỹ thuật, ngành kỹ thuật tích lũy được một số kinh nghiệm trong công tác sửa chữa, bảo dưỡng, bảo quản vũ khí, khí tài. Nhiều đội sửa chữa cơ động đã bám sát các đơn vị, giải quyết kịp thời các yêu cầu chiến đấu và đảm bảo kỹ thuật.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2017, 12:23:05 AM

        Hệ thống đảm bảo kỹ thuật: xưởng, trạm của Bộ, các quân khu, quân đoàn, các trạm sửa chữa tổng hợp của các trung đoàn, lữ đoàn pháo binh cũng dần dần được kiện toàn và được bổ sung trang thiết bị, dụng cụ đủ sức bảo đảm kịp thời cho cơ động và sẵn sàng chiến đấu. Xưởng sửa chữa của Binh chủng có cơ sở sửa chữa khí tài quang học mạnh, chất lượng sửa chữa khá cao. Nhiều đồng chí đến nay đã có 20, 30 năm tuổi nghề, đã đóng góp nhiều công sức trong việc đào tạo huấn luyện đội ngũ công nhân kỹ thuật sửa chữa khí tài hiện nay.

        Hệ thống các trường kỹ thuật cũng được xây dựng cung cấp cho Binh chủng nhiều lái xe, thợ sửa chữa xe, pháo, khí tài và cán bộ kỹ thuật, từng bước cân đối giữa lực lượng sử dụng, chỉ huy và lực lượng đảm bảo kỹ thuật pháo binh.

        Sau chiến thắng chống đế quốc Mỹ và thống nhất Tổ quốc, Binh chủng Pháo binh đã lớn mạnh vượt bậc, có sự nhảy vọt về chất. Nhiều trang bị kỹ thuật cũ được đổi mới và nhiều trang bị kỹ thuật tương đối hiện đại và ngày càng hiện đại được bổ sung. Lực lượng kỹ thuật cũng lớn mạnh đáp ứng sự phát triển của Binh chủng. Về tổ chức, ngành kỹ thuật được tách riêng và hệ thống cấp phó chỉ huy phụ trách về kỹ thuật được kiện toàn từ trên đến đơn vị cơ sở đã giúp cho người chỉ huy các cấp nắm chắc, quản lý, sử dụng tốt các trang bị kỹ thuật, đưa việc chấp hành các quy định chế độ kỹ thuật vào nền nếp, xây dựng được các khu kỹ thuật, nhà xe pháo chính quy, tạo điều kiện để triển khai các mặt công tác kỹ thuật hàng ngày đúng vị trí của một Binh chủng kỹ thuật hiện đại. Nhiều cán bộ nhân viên chuyên môn kỹ thuật trẻ đào tạo cơ bản trong và ngoài nước được bổ sung, bên cạnh những cán bộ kỹ thuật lâu năm có nhiều kinh nghiệm đảm bảo chiến đấu, tạo nguồn kế tiếp, cân đối và đồng bộ. Ngày nay đội ngũ cán bộ nhân viên kỹ thuật đang tiếp tục phát huy truyền thống và khả năng của ngành để học tập tiếp thu kỹ thuật mới, chỉ đạo công tác đảm bảo kỹ thuật nhằm khai thác hết tính năng trang bị vũ khí hiện có, duy trì nền nếp bảo quản, bảo dưỡng, chấp hành các chế độ kỹ thuật, phục vụ cho Binh chủng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng.

        Tuy còn nhiều mặt hạn chế so với yêu cầu xây dựng của một Binh chủng được trang bị kỹ thuật hiện đại, đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật pháo binh cũng góp phần xứng đáng vào thành tích chung của Binh chủng. Qua 40 năm xây dựng và trưởng thành của Ngành Kỹ thuật pháo binh có thể rút ra được những bài học thực tế sau:

        1. Pháo binh là một Binh chủng kỹ thuật, vũ khí phương tiện kỹ thuật không ngừng được cải tiến và ngày càng hiện đại. Cùng với con người giác ngộ cách mạng là yếu tố quyết định, vũ khí phương tiện kỹ thuật luôn luôn là yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh vật chất của lực lượng vũ trang nhân dân. Trong điều kiện nền kinh tế của nước ta còn nghèo, nền công nghiệp quốc phòng chưa phát triển thì yếu tố đó càng trở thành hết sức quan trọng. Do vậy phải giáo dục tinh thần quý trọng trang bị kỹ thuật có trong tay, phải thấm nhuần đó là mồ hôi, xương máu của giai cấp công nhân, của đồng chí, đồng đội, là sự giúp đỡ vô tư của tinh thần đoàn kết quốc tế anh em.

        2. Là một Binh chủng kỹ thuật thì công tác bảo đảm kỹ thuật pháo binh phải vừa là nội dung bảo đảm bắn pháo đạt hiệu suất, vừa là yêu cầu duy trì sức chiến đấu cao. Do vậy phải luôn giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ pháo binh nhận thức rõ yêu cầu nội dung của công tác đảm bảo pháo binh là giữ tốt, dùng bền, an toàn, tiết kiệm, tích cực khắc phục khó khăn tạo nguồn, có gì dùng nấy, có gì đánh nấy, tích cực sử dụng trang bị của địch để đánh địch, chấp hành nghiêm các chế độ kỹ thuật sửa chữa, bảo quản, bảo dưỡng có chất lượng, sử dụng hợp lý và đúng tính năng vũ khí, phương tiện. Trong đó người chỉ huy các cấp phải là người chịu trách nhiệm trước cấp trên trong việc tổ chức triển khai thực hiện các nội dung yêu cầu đó.

        3. Là một Binh chủng có nhiều kỹ thuật hiện đại đòi hỏi công tác phục vụ đảm bảo kỹ thuật rất phức tạp và hết sức nghiêm khắc. Đội ngũ cán bộ nhân viên chuyên môn kỹ thuật phải giữ vai trò nòng cốt thực hiện các chế độ quản lý, giữ gìn trang bị kỹ thuật, tổ chức tốt việc khai thác sử dụng hết tính năng chiến kỹ thuật của các loại trang bị phương tiện kỹ thuật đã có, mạnh dạn phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để duy trì sức chiến đấu, tiến tới sản xuất các chi tiết, cụm bộ phận, giải quyết đồng bộ và sẵn sàng đáp ứng sự nhảy vọt về chất của bộ đội pháo binh khi có điều kiện. Muốn vậy phải giữ gìn đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, bồi dưỡng ý chí trách nhiệm, nâng cao trình độ kỹ thuật vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật. Đặc biệt chú ý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật chuyên sâu, thợ đầu ngành giỏi, luôn bám sát những tiến bộ khoa học - kỹ thuật hiện đại trong, ngoài Binh chủng và của thế giới để ứng dụng vào sự phát triển của bộ đội pháo binh.

        Bề dày thành tích của Pháo binh trong 40 năm qua rất lớn, trong đó có sự đóng góp xứng đáng của Ngành Kỹ thuật Pháo binh. Với sự giúp đỡ của các Tổng cục, các cơ quan trong và ngoài quân đội, Ngành Kỹ thuật Pháo binh sẽ không ngừng phấn đấu vươn lên làm tốt chức năng của mình, góp phần tạo thành sức mạnh tổng hợp của Binh chủng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng, của Nhà nước và Bộ Quốc phòng giao cho.

(Tạp chí Khoa học kỹ thuật quân sự tháng 5-1986)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2017, 12:24:45 AM

HUẤN LUYỆN LÀ NHIỆM VỤ TRUNG TÂM, THƯỜNG XUYÊN CỦA BỘ ĐỘI PHÁO BINH

        Bộ đội pháo binh được Đảng và Nhà nước mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng thường xuyên chăm lo xây dựng, đã không ngừng trưởng thành lớn mạnh về mọi mặt, luôn luôn làm tròn chức năng là hỏa lực mặt đất chủ yếu của lục quân và quân đội ta, được các quân chủng, binh chủng bạn yêu mến, tin tưởng. Quá trình xây dựng và trưởng thành vượt bậc, liên tục chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của Binh chủng là quá trình các tổ chức Đảng và người chỉ huy pháo binh các cấp đã biết hướng mọi sự suy nghĩ của mình vào việc không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp của bộ đội; trong đó, nâng cao trình độ huấn luyện quân sự và giáo dục chính trị là nhiệm vụ chủ yếu.

        Thấm nhuần sâu sắc rằng: huấn luyện quân sự không có mục đích nào khác là để đánh thắng mọi kẻ thù trong mọi tình huống; chỉ có huấn luyện thường xuyên, có nền nếp, thực sự thực tế thì mới không ngừng rèn luyện được bộ đội, mới làm cho bộ đội nhanh chóng trưởng thành, chiến đấu giỏi, lập công xuất sắc; huấn luyện tốt kết hợp chặt chẽ với các biện pháp động viên, giáo dục chính trị tư tưởng phong phú mới làm cho bộ đội có kỷ luật nghiêm; 35 năm qua, thời bình cũng như thời chiến, tổ chức Đảng và người chỉ huy pháo binh các cấp không một lúc nào lơi lỏng nhiệm vụ huấn luyện quân sự cho cán bộ, cơ quan, phân đội pháo binh. Ngày nay, trước tình hình và nhiệm vụ mới, bộ đội pháo binh không ngừng phát triển về số lượng và cải tiến về chất lượng trang bị. Công tác huấn luyện quân sự đối với bộ đội pháo binh đã thực sự trở thành công tác trung tâm để xây dựng Binh chủng. Trên cơ sở đường lối chính trị, tư tưởng quân sự đúng đắn và sáng tạo của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh huấn luyện chiến đấu của đồng chí Bộ trưởng và chỉ thị hướng dẫn tổ chức thực hiện của đồng chí Tổng Tham mưu trưởng, bộ đội pháo binh đã làm tốt và quản lý chặt, tổ chức thực hiện kiên quyết kế hoạch huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị hàng năm.

        Xây dựng cho được một kế hoạch huấn luyện cân đối, hoàn chỉnh, có cơ sở khoa học và thực tiễn, giải quyết được những mâu thuẫn thường xảy ra đối với các đơn vị quân đội nói chung và pháo binh nói riêng như: mâu thuẫn giữa yêu cầu tập trung hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện với yêu cầu hoàn thành các nhiệm vụ đột xuất, thường xuyên khác (kể cả việc trực tiếp tham gia từng đợt, từng trận chiến đấu); mâu thuẫn giữa yêu cầu chất lượng huấn luyện cao với trình độ cán bộ còn thấp; mâu thuẫn giữa nhu cầu lớn, đa dạng về phương tiện vật chất huấn luyện với khả năng cung ứng có hạn, v.v... đòi hỏi rất công phu. Binh chủng đã phân cấp làm, phê chuẩn và quản lý kế hoạch rõ rệt. Khi xây dựng kế hoạch, nhiều lúc phải cân nhắc từng nội dung huấn luyện với thời gian cần thiết để huấn luyện bảo đảm dành nhiều thời gian để cán bộ chiến sĩ được luyện tập tại thao trường; phải tính toán rất cụ thể, kể cả việc sử dụng từng chiếc xe, từng khẩu pháo, từng viên đạn bắn, từng lít xăng dầu. Quá trình triển khai kế hoạch huấn luyện cũng là quá trình thường xuyên đấu tranh khắc phục mọi khó khăn để thực hiện bằng được kế hoạch huấn luyện đã đề ra. Binh chủng đã xây dựng thành nền nếp hội báo huấn luyện hàng tháng, nền nếp thâm nhập đơn vị của cán bộ các cơ quan, định kỳ tổ chức các đoàn cán bộ do cơ quan Tham mưu chủ trì đi kiểm tra kết quả huấn luyện theo tiêu chuẩn huấn luyện đề ra.

        Nói đến yêu cầu tác chiến của bộ đội pháo binh là nói đến yêu cầu "Chính xác, kịp thời, tốn ít đạn, đạt hiệu suất cao". Đó là kết quả của công tác tham mưu điều hành, sử dụng binh lực và hỏa lực pháo binh đã nâng đến trình độ nghệ thuật. Đó là sản phẩm tất yếu của công phu rèn luyện đến mức làm chủ được một khoa học - khoa học về binh khí thao tác pháo và bắn pháo - của mỗi cán bộ và chiến sĩ pháo binh, đặc biệt là cán bộ. Đó là sự hiệp đồng chặt chẽ giữa mỗi thành viên trong một phân đội, giữa các phân đội với nhau, giữa cán bộ và cơ quan pháo binh các cấp, giữa bộ đội pháo binh và binh chủng hợp thành. Do đó, từ lâu nay, nội dung chương trình huấn luyện phải bao gồm các vấn đề: huấn luyện cán bộ, huấn luyện cơ quan tham mưu các cấp, hợp luyện chỉ huy bắn, huấn luyện chiến thuật có hoặc không có bắn đạn thật; trong đó huấn luyện cán bộ là khâu trung tâm.


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2017, 01:46:34 PM

        Cái mới trong việc thực hiện các nội dung đó ở mấy năm gần đây là: việc huấn luyện cán bộ và cơ quan các cấp đã bắt đầu đi vào nền nếp, tương đối chính quy; đã hết sức chú trọng rèn luyện trình độ kỹ thuật theo chức trách, thực hiện "miệng nói tay làm, thực sự thực tế" của cán bộ chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên, của cán bộ cơ quan các cấp từ Binh chủng trở xuống; đã kết hợp chặt chẽ giữa các lớp tập huấn với học tập thường xuyên hàng ngày hàng tuần; đã thực hiện một bước: "Cán bộ cấp trên dạy cán bộ cấp dưới; người chỉ huy dạy đơn vị; cơ quan cấp trên, chỉ đạo nghiệp vụ cho cơ quan cấp dưới". Nếu như năm 1979, Binh chủng mở được 579 lớp tập huấn cho 16.749 lượt cán bộ thì năm 1980 mở đến 740 lớp cho 20.741 lượt cán bộ. Và mới năm tháng đầu năm 1981, chỉ tính ở một số đơn vị pháo dự bị đã mở 50 lớp cho 1.200 lượt cán bộ các cấp. Năm 1980 đã có trên 70 đơn vị từ tiểu đoàn đến trung đoàn, lữ đoàn pháo, riêng pháo dự bị có 100% số đơn vị, có sa bàn bắn súng kẹp nòng thay pháo để cán bộ các cấp trong đơn vị luân phiên đến ôn luyện các bài bắn pháo, thực hiện "ngày nào cũng có tiếng đạn bắn trên sa bàn". Trung đoàn 166, nhà ở chưa đủ, nhưng đã có đủ sa bàn bắn tập. Trung đoàn 40 nhà tranh vách đất, nhưng có khu sa bàn bắn pháo đúng quy cách, có chế độ luyện tập chặt chẽ, được các đồng chí chỉ huy các đơn vị bộ đội hợp thành trong quân khu tham quan nêu gương học tập. Nhờ kiên quyết tổ chức sa bàn bắn tập và các bài tập hợp luyện chỉ huy bắn thu gọn, sát gần khu đóng quân mà ở các đơn vị pháo dự bị có 100% cán bộ từ trung đội đến trung đoàn trưởng, lữ đoàn trưởng mỗi tháng được tập bắn từ 1-3 lần, mỗi đại đội đến trung lữ đoàn pháo được hợp luyện chỉ huy bắn từ 1-2 lần, cơ quan tham mưu trung đoàn, lữ đoàn được luyện tập 1 lần một tháng. So với năm 1979 thì năm 1980 toàn Binh chủng có số đại đội được diễn tập chiến thuật có bắn đạn thật tăng gấp 3 lần, số tiểu đoàn tăng gấp 2 lần, số cụm pháo tăng gần 3 lần. Như vậy, có tới hơn 70% số trung đoàn lữ đoàn pháo phía Bắc và 100% số trung đoàn, lữ đoàn pháo của các binh đoàn chủ lực dự bị của Bộ được diễn tập bắn đạn thật.

        Nhờ nội dung chương trình và phương pháp tổ chức huấn luyện như trên, nên trình độ cán bộ, chiến sĩ pháo binh được trưởng thành nhanh chóng.

        Tuy huấn luyện của bộ đội pháo binh đã có những kết quả tốt có nhiều chuyển biến đáng mừng; song, những vấn đề tồn tại không phải là ít. Một số đơn vị chưa kiên quyết khắc phục khó khăn để nghiêm túc duy trì nền nếp huấn luyện cán bộ, nền nếp luyện bắn sa bàn, nền nếp hợp luyện chỉ huy bắn, nền nếp luyện tập cơ quan tham mưu các cấp. Một số cán bộ kể cả cán bộ trung đội đến trung đoàn, lữ đoàn, chưa trực tiếp huấn luyện đơn vị mình v.v... Do đó, trình độ kỹ thuật cơ bản của cán bộ, chiến sĩ còn chưa thật vững chắc. Tại một quân khu, khi kiểm tra bắn sa bàn của 12 đại đội trưởng thì có đến 5 đồng chí kém; kiểm tra 1 nội dung công tác trận địa của 8 đại đội phó thì 7 đồng chí kém; kiểm tra 26 chiến sĩ theo nghiệp vụ chuyên môn thì 9 đồng chí không đạt yêu cầu; v.v... Những tồn tại đó, đòi hỏi mỗi cán bộ chiến sĩ pháo binh phải thật sự nghiêm khắc với mình hơn nữa; phải ra sức thực hiện triệt để chỉ thị huấn luyện của Bộ Tư lệnh đã nêu từ đầu năm 1981, làm cơ sở vững chắc cho việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ huấn luyện cả năm.

        Thường xuyên suy nghĩ để huấn luyện thật tốt là sự thể hiện cụ thể chất lượng công tác đảng, công tác chính trị, trách nhiệm cao của mỗi tổ chức Đảng và người chỉ huy pháo binh các cấp trước nhân dân, trước yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; là tạo cơ sở vật chất để bộ đội pháo binh thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ đối với Binh chủng "... đánh giỏi bắn trúng". Đó là hành động thiết thực để tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của bộ đội pháo binh Việt Nam anh hùng.

(Tạp chí Huấn luyện, Bộ Tổng Tham mưu  tháng 6-1981)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2017, 01:50:26 PM
       
TIẾNG PHÁO LO VÀ TIẾNG PHÁO MỪNG

        Đại đội 3 và Đại đội 7 đoàn M86 pháo binh (Binh đoàn Quyết thắng) có vinh dự được bắn đạn thật báo cáo kết quả giai đoạn I mùa huấn luyện năm nay (1986) với đồng chí Tư lệnh pháo binh trước ngày hội truyền thống của Binh chủng.

        Sau đêm mưa rào, sáng nay trời hửng nắng, trên tuyến bắn cờ đỏ bay phấp phới bên những tấm khẩu hiệu màu xanh, thao trường rộn rã tiếng người, tiếng xe. Hai phát pháo hiệu bay vút lên trời báo hiệu giờ nổ súng bắt đầu.

        Đứng trước hàng quân đồng chí Thiếu tướng Tư lệnh Nguyễn Trung Kiên thong thả hỏi:

        - Khẩu đội nào xung phong bắn trước?

        Nhiều cánh tay giơ lên, Tư lệnh hài lòng. Một chiến sĩ trẻ, người thấp nhỏ chạy vụt lên phía đài chỉ huy dõng dạc nói:

        - Tôi binh nhất Đinh Xuân Chi - Khẩu đội trưởng Khẩu đội 1 Đại đội 7 báo cáo đồng chí Thiếu tướng Tư lệnh, Khẩu đội 1 đã sẵn sàng, xin chỉ thị đồng chí.

        - Được! - Tư lệnh gật đầu và quay sang hỏi Đoàn trưởng Nguyễn Xuân Thân - Khẩu đội pháo 85 được bắn mấy phát?

        - Báo cáo Tư lệnh theo giáo trình thì pháo 85 được bắn bốn phát, pháo lựu 122 được bắn sáu phát.

        Đồng chí Tư lệnh cười và nói:

        - Mỗi loại pháo hôm nay bớt đi một viên để tiết kiệm đạn, bởi vì pháo đã bắn đến phát thứ ba mới trúng thì trên thao trường là đạt điểm 3, nhưng trên chiến trường kẻ thù đã có đủ thời gian để bắn lại ta. Năm nay Binh chủng ta tròn 40 tuổi nên tôi muốn các đồng chí bắn phải đạt từ điểm 4 đến điểm 5 (từ khá đến giỏi). Đó vừa là truyền thống của Bộ đội Pháo binh Việt Nam anh hùng vừa là yêu cầu bức thiết của thực tế chiến đấu đòi hỏi. Chúng ta phải phấn đấu xây dựng nhiều đại đội pháo binh tinh nhuệ, các đồng chí có rõ ý tôi phát biểu không?

        - Rõ! - Cả hàng quân đồng thanh đáp.

        Nhận lệnh, các chiến sĩ khoác vòng lá ngụy trang gò lưng đẩy pháo. Niềm vui bồng bột của khẩu đội trưởng Chi cũng như thôi thúc các pháo thủ nhanh chóng vượt qua mọi khó khăn để chiếm lĩnh trận địa. Đối với họ đây là loại pháo đã quen thuộc trong huấn luyện và cả trên mặt trận, nhưng viên đạn đầu chỉ làm sạt mép phải mục tiêu. Khẩu đội trưởng đánh dấu điểm nổ và sửa bắn, phát thứ hai rồi thứ ba đạn xa dần, xa dần. Cả Đại đội 7 im lặng, không khí thao trường chùng hẳn xuống.

        Tư lệnh xuống bắt tay khẩu đội trưởng và động viên toàn khẩu đội:

        - Viên đầu các đồng chí bắn tốt, hai viên sau bắn chưa tốt, đồng chí Đại đội trưởng và Khẩu đội trưởng đã tìm ra nguyên nhân chưa?

        - Báo cáo Tư lệnh - Đại đội trưởng nói - Chúng tôi đã rút ra bài học rồi ạ!

        Tư lệnh nghiêm nét mặt nói:

        - Nếu ở mặt trận, bài học đó phải trả bằng máu đấy, hãy nhớ lấy!

        Để ổn định tâm lý, Tư lệnh cho Đại đội 7 tạm ngừng và Đại đội 3 lựu pháo 122 vào vị trí bắn. Về loại pháo này có anh em bộ binh nói đùa: "Súng lục mặt đất thì bắn thẳng làm sao". Và từ ngày được trang bị loại pháo này, Đoàn M86 cũng chưa lần nào đưa pháo lựu 122 bắn trực tiếp, do đó đây cũng là lúc mà Đại đội 3 muốn trả lời người anh em trong binh chủng hợp thành hơn là cuộc thi đua bắn pháo trực tiếp với Đại đội 7 pháo canông 85.

        Để bảo đảm an toàn, mọi pháo thủ sau khi chuẩn bị bắn xong thì lùi về phía sau, chỉ còn lại pháo thủ giật cò.

        - Bắn!

        Khẩu pháo 122 chồm lên, trái phá nổ tung lô cốt địch. Cả thao trường như bị nỗi lo dồn nén, bỗng bật tung:

        - Trúng rồi!

        - Hoan hô Đại đội 3!

        - Súng lục mặt đất muôn năm!

        Đợi những làn sóng âm thanh mừng rỡ lắng dần. Tư lệnh cho hai khẩu đội của hai Đại đội 7 và 3 cùng bắn.

        Rút kinh nghiệm từ thất bại của Khẩu đội 1, hạ sĩ Khẩu đội trưởng Lê Văn Đệ cho anh em làm công tác chuẩn bị bắn thật chu đáo tỷ mỷ, pháo thủ số 1 hạ sĩ Trần Văn Tập thận trọng kiểm tra đi, kiểm tra lại phần tử bắn.

        "Phải lấy lại danh dự cho Đại đội 7 pháo canông 85" - với quyết tâm ấy, tất cả anh em Khẩu đội 2 đều náo nức chờ lệnh.

        - Bắn!

        Hai tiếng nổ đầu nòng của hai khẩu đội của hai loại pháo chưa cùng một lúc, nhưng cả hai mục tiêu đều bị diệt, đất, khói, lửa tung lên. Cả thao trường sôi động trong tiếng reo hò, nhưng tiếng hô to nhất vẫn là cán bộ chiến sĩ của Đại đội 7 pháo 85 ly: "Có thế chứ - Khẩu đội 2 rất cừ".

        Hai khẩu đội cuối cùng tiến lên tuyến bắn và họ cùng bắn hạ mục tiêu ngay từ phát đạn đầu.

        Kết quả, Đại đội 3 lựu pháo đạt "giỏi", Đại đội 7 pháo 85 đạt "khá". Đồng chí Tư lệnh trở lại hàng quân cùng người chỉ huy Binh đoàn Quyết Thắng và phát biểu:

        - Thay mặt Bộ Tư lệnh Pháo binh, tôi nhiệt liệt biểu dương và chúc mừng thành tích của các đồng chí. Mong rằng từ cuộc bắn đạn thật hôm nay, chúng ta phải phấn đấu nhiều để bắn trực tiếp cũng giỏi, bắn gián tiếp cũng giỏi, xây dựng được nhiều đại đội pháo tinh nhuệ xứng đáng với niềm tin yêu của các đồng chí bộ binh.

        Rồi đồng chí quay sang đồng chí chỉ huy Binh đoàn Quyết Thắng, cả hai cùng cười, bắt tay nhau và vỗ tay chúc mừng thành tích huấn luyện pháo của Binh đoàn Quyết Thắng, đồng chí chỉ huy Binh đoàn Quyết Thắng nói:

        - Đúng! Chính đồng chí Tư lệnh và các chiến sĩ pháo Binh đoàn M86 đã giúp tôi càng thêm tin tưởng vào các đơn vị hỏa lực chủ yếu của Binh đoàn.

        Hoàng Tâm Đắc ghi

(Tạp chí Pháo binh số 67 ngày 29-6-1986)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2017, 01:52:52 PM

KẾ THỪA TRUYỀN THỐNG  "CHÂN ĐỒNG, VAI SẮT, ĐÁNH GIỎI, BẮN TRÚNG"

        Cách đây 40 năm, ngày 29 tháng 6 năm 1946, đội pháo binh đầu tiên của quân đội ta được thành lập tại Thủ đô Hà Nội. Sáu tháng sau, đêm 19 tháng 12 năm 1946, phân đội pháo binh này đã vinh dự nhận nhiệm vụ nã phát pháo đầu tiên vào đại bản doanh quân Pháp xâm lược trong Thành Hà Nội, làm hiệu lệnh cho cả nước bước vào cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược.

        40 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, đứng đầu là Bác Hồ muôn vàn kính yêu - người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, bộ đội pháo binh đã vừa chiến đấu, vừa xây dựng, vừa huấn luyện, không ngừng trưởng thành, liên tiếp lập nên những chiến công vẻ vang. Quá trình xây dựng chiến đấu và trưởng thành đó, bộ đội pháo binh đã tỏ ra xứng đáng là hỏa lực chủ yếu của lục quân và là hỏa lực mặt đất chủ yếu của quân đội ta, góp phần tích cực vào thắng lợi vĩ đại của quân và dân cả nước trong cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc.

        Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, với một số pháo đạn thu được của phát xít Nhật và quân Tàu Tưởng, các phân đội pháo binh của ta đã lần lượt được tổ chức ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam. Năm 1950, trung đoàn pháo binh mang vác ra đời. Năm 1951, cùng với các đại đoàn chủ lực, đại đoàn công pháo được tổ chức, trong đó có trung đoàn pháo binh xe kéo đầu tiên của quân đội ta.

        Từ những trận đánh nhỏ bé có pháo cối chi viện cho bộ binh chiến đấu trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bộ đội pháo binh đã tiến lên dùng hỏa lực chi viện cho bộ binh liên tục chiến đấu trong các chiến dịch Biên Giới, Trung Du, Hà - Nam - Ninh, Thượng Lào... Đâu có dấu chân các chiến sĩ xung kích là ở đó có tiếng pháo chi viện của chiến sĩ pháo binh. Từ những trận đánh nổi tiếng của pháo binh như chiến thắng Sông Lô (1947), trận công kiên chi viện bộ binh tiêu diệt cứ điểm Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới (1950), tiến đến đỉnh cao là những đòn hỏa lực mạnh mẽ có hiệu quả của cả pháo mang vác và pháo xe kéo trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954), càng làm nổi bật vai trò hỏa lực pháo binh trong tác chiến hiệp đồng, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương lúc đó, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống thực dân Pháp của dân tộc ta.

        Năm 1954, do yêu cầu nhiệm vụ cách mạng mới, Bộ Tư lệnh Pháo binh được thành lập. Từ hai trung đoàn: một trung đoàn pháo xe kéo và một trung đoàn pháo mang vác, đã phát triển thành một Binh chủng gồm các trung đoàn, lữ đoàn pháo binh dự bị, các trung đoàn pháo binh trực thuộc quân khu và thuộc các sư đoàn bộ binh; các phân đội súng cối, ĐKZ trong biên chế của các binh đội, phân đội bộ binh. Trang bị kỹ thuật của các đơn vị pháo binh ngày càng được cải tiến. Trình độ chính trị, kỹ thuật, chiến thuật, của các đơn vị pháo binh đã được nâng lên một bước quan trọng. Các chế độ trong huấn luyện chiến đấu, trong bảo quản giữ gìn trang bị kỹ thuật được xây dựng thành nền nếp, đặt nền móng vững chắc cho một Binh chủng kỹ thuật chính quy và tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến lược lúc đó là: Sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam.

        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với số pháo cối tại chỗ và lấy được của địch, cùng với nguồn chi viện to lớn của miền Bắc, các đơn vị pháo binh miền Nam đã nhanh chóng hình thành và phát triển. Năm 1957, các phân đội pháo cối đầu tiên được thành lập trên chiến trường miền Nam. Năm 1966 và 1967, tổ chức các trung đoàn pháo binh hỗn hợp của bộ đội chủ lực quân khu, Mặt trận và từ đó trên toàn miền Nam đã hình thành thế trận bố trí hỏa lực của pháo binh ba thứ quân. Cùng với cách đánh hiệp đồng, cách đánh độc lập, sáng tạo, tuyệt vời của pháo binh đã làm quân thù bị thiệt hại nặng nề về vật chất, khiếp đảm về tinh thần, nhất là trong cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Đến năm 1971, 1972, các trung đoàn pháo xe kéo đã xuất hiện tham gia tác chiến tập trung chi viện cho bộ binh, xe tăng, chiến đấu trong các chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Trị - Thiên, Kon Tum, Nguyễn Huệ... Trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, bộ đội pháo binh đã cơ động thần tốc, táo bạo, tham gia với một lực lượng lớn chưa từng có, góp phần giành thắng lợi quyết định, kết thúc một cách huy hoàng cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

        Bộ đội pháo binh cũng đã tham gia làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả, sát cánh cùng quân đội và nhân dân hai nước anh em Lào, Cam-pu-chia chiến đấu liên tục qua mọi thời kỳ lịch sử, góp phần xứng đáng vào chiến công chung của ba nước Đông Dương.

        Ngay sau khi đất nước vừa giành được độc lập, thống nhất toàn vẹn, trước âm mưu xâm lược của kẻ thù mới, bộ đội pháo binh lại cùng các lực lượng vũ trang và nhân dân liên tục chiến đấu kiên cường ở biên giới Tây Nam bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

        Trải qua 40 năm xây dựng và chiến đấu, Binh chủng Pháo binh đã không ngừng trưởng thành lớn mạnh, liên tiếp lập nhiều chiến công xuất sắc, được Bác Hồ khen tặng tám chữ vàng "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng" và được Quốc hội, Chính phủ tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hàng vạn cán bộ chiến sĩ pháo binh được tặng thưởng huân chương cao quý các loại. 58 đơn vị và 10 cá nhân được tuyên dương "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2017, 08:12:47 PM

        Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, bộ đội pháo binh đã luôn coi trọng công tác huấn luyện chiến đấu, coi đây là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của Binh chủng. Từ một số vốn rất nhỏ bé về trang bị và trình độ chuyên môn kỹ thuật, đến nay Binh chủng đã có lực lượng hùng hậu với đội ngũ cán bộ chỉ huy tham mưu, giáo viên nhà trường nắm vững kỹ thuật, chiến thuật tích lũy nhiều kinh nghiệm huấn luyện chiến đấu; với đội ngũ cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật có năng lực khai thác sử dụng và giữ gìn tốt các trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại.

        Cán bộ, chiến sĩ pháo binh đã kiên trì học tập rèn luyện để làm chủ và phát huy hết tính năng của vũ khí trang bị, có cách đánh, cách bắn sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu, đánh bại pháo binh của mọi kẻ thù xâm lược có ưu thế hơn về số lượng và trình độ hiện đại của trang bị kỹ thuật.

        Công tác huấn luyện của Binh chủng đã thực hiện tốt theo phương hướng sau đây:

        1. Huấn luyện sát thực tế chiến đấu, lấy tác chiến hiệp đồng binh chủng làm phương hướng, lấy bắn pháo làm khâu chính. Xuất phát từ thực tế chiến trường, từ cách đánh của binh chủng hợp thành để giải quyết nội dung và tổ chức phương pháp huấn luyện, chống giáo điều máy móc. Luyện bắn pháo và chỉ huy bắn đã thành chế độ bắt buộc thường xuyên và cũng đã trở thành phong trào sôi nổi rộng rãi của sĩ quan và phân đội. Do đó nhiều đơn vị pháo binh tham gia chiến đấu đã nhanh chóng thích ứng với chiến trường, đã ra quân là đánh thắng và đánh thắng ngay từ trận đầu.

        2. Huấn luyện cơ bản, hệ thống toàn diện làm cơ sở cho huấn luyện hiệp đồng và phấn đấu đạt trình độ tinh nhuệ. Do được huấn luyện cơ bản vững chắc từ từng người, phân đội nhỏ đến huấn luyện hiệp đồng thành thạo nên bộ đội pháo binh đã bảo đảm được yêu cầu bắn chính xác, kịp thời, có hiệu quả, vận dụng sáng tạo cách đánh, cách bắn trong những điều kiện khác nhau nên đã có nhiều trận đánh đạt hiệu suất cao, tiết kiệm đạn pháo.

        3. Tập trung huấn luyện cán bộ chỉ huy và nhân viên chuyên môn kỹ thuật là thành phần nòng cốt trong biên chế của các đơn vị pháo binh. Về huấn luyện cán bộ, đã coi trọng đào tạo cơ bản dài hạn và đào tạo ngắn hạn tại trường; đồng thời duy trì nền nếp bồi dưỡng huấn luyện chặt chẽ theo chế độ học tập tại chức ở đơn vị và huấn luyện ngay cả trong chiến đấu, nên trình độ cán bộ được nâng lên theo kịp quy mô tác chiến với đà cải tiến trang bị, bảo đảm có đủ số lượng cán bộ đáp ứng yêu cầu xây dựng, huấn luyện chiến đấu và phát triển mở rộng lực lượng.

        4. Huấn luyện kết hợp chặt chẽ với xây dựng ý thức tổ chức kỷ luật và nền nếp chính quy. Các chế độ chính quy trong huấn luyện sinh hoạt và bảo quản giữ gìn vũ khí trang bị của Binh chủng được xây dựng và thực hiện thành nền nếp ngay từ cuối những năm 1950. Trong huấn luyện, những chế độ như luyện bắn pháo, luyện chỉ huy bắn, kiểm tra huấn luyện... đã trở thành tiềm thức của cán bộ pháo binh. Trong bảo đảm kỹ thuật thì những chế độ "sáng lau sương, chiều lau bụi" đã trở thành nếp sống quen thuộc của chiến sĩ pháo binh. Những chế độ này được duy trì cả trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ ác liệt và đến nay được bổ sung hoàn thiện hơn, đã có tác dụng lớn với việc nâng cao kết quả huấn luyện, giữ tốt, dùng bền vũ khí trang bị, giữ nghiêm kỷ luật.

        Tuy vậy, trước yêu cầu nhiệm vụ rất nặng nề của công cuộc bảo vệ Tổ quốc hiện nay, bộ đội pháo binh còn phải ra sức khắc phục một số mặt còn yếu trong xây dựng, huấn luyện, tác chiến và giữ gìn vũ khí trang bị, nhằm xây dựng Binh chủng theo hướng gọn, mạnh có chất lượng cao và tinh nhuệ, bảo đảm trong bất kỳ tình huống chiến tranh nào cũng chiến đấu giành thắng lợi.

        Công tác huấn luyện của bộ đội pháo binh những năm tới vẫn tiếp tục thực hiện theo phương hướng đã được xác định trên đây, nhưng trong tình hình mới cần chú ý những vấn đề sau:

        1. Huấn luyện sát với yêu cầu nhiệm vụ của từng đối tượng, sát phương án tác chiến của từng đơn vị, sát với tình hình địch và điều kiện địa hình, thời tiết cụ thể của từng địa bàn.

        Phải huấn luyện bộ đội trong những điều kiện khó khăn phức tạp, sát gần với chiến đấu để nâng cao bản lĩnh đáp ứng yêu cầu của chiến tranh.

        2. Trong phương hướng xây dựng bộ đội pháo binh tinh nhuệ, phải đặc biệt chú ý đến vị trí của đại đội pháo binh là phân đội cơ sở, có thể độc lập thực hiện các nhiệm vụ hỏa lực, đồng thời cũng là cơ sở quan trọng để huấn luyện hiệp đồng tác chiến  và chỉ huy bắn với quy mô lớn hơn. Vì vậy cần phải phấn đấu xây dựng được nhiều đại đội pháo binh tinh nhuệ.

        Phải bằng mọi biện pháp tích cực nhất nâng cao mức chính xác của hỏa lực pháo binh, khắc phục hiện tượng giản đơn, đại khái trong bắn pháo còn tồn tại ở một số đơn vị pháo binh. Pháo binh là vũ khí tập thể, chỉ có thể thực hiện được yêu cầu bắn chính xác khi mọi cá nhân và phân đội thành phần của nó được huấn luyện cơ bản đạt mức vững chắc, thực hiện đúng những quy tắc, quy định trong chuẩn bị và thực hành bắn, đồng thời được huấn luyện hiệp đồng với nhau một cách thành thạo.

        3. Phải tăng cường huấn luyện kỹ thuật cho cán bộ chỉ huy và đặc biệt coi trọng đưa việc huấn luyện bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật lên đúng với vị trí của một Binh chủng kỹ thuật đã phát triển lớn mạnh và có trang bị ngày càng hiện đại, trên cơ sở đó mới có thể khai thác sử dụng có hiệu quả và giữ gìn tuổi thọ của trang bị kỹ thuật - tài sản vô cùng quý giá mà Đảng, nhân dân và quân đội đã giao cho Binh chủng.

        4. Trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, nhiệm vụ xây dựng Binh chủng mạnh và tinh nhuệ trước tình hình xã hội có những mặt tiêu cực tác động, cần phải hết sức quan tâm tăng cường kỷ luật quân đội. Vì vậy công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và giáo dục chính trị cần được kết hợp chặt chẽ, có những biện pháp cụ thể tỷ mỷ và hiệu lực, tạo nên chuyển biến mạnh mẽ về xây dựng tính tổ chức, chấp hành điều lệnh, rèn luyện kỷ luật, và nền nếp chế độ chính quy, trên cơ sở đó nâng cao ý chí chiến đấu của bộ đội.

        Phát huy truyền thống vẻ vang - truyền thống "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng", bộ đội pháo binh không ngừng mài sắc tinh thần cảnh giác, luôn sẵn sàng chiến đấu và nâng cao khả năng, trình độ sẵn sàng chiến đấu, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

(Tạp chí Huấn luyện, Bộ Tổng Tham mưu tháng 6-1986)       


Tiêu đề: Re: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2017, 08:14:50 PM

GÌN GIỮ, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG "CHÂN ĐỒNG, VAI SẮT, ĐÁNH GIỎI, BẮN TRÚNG"

        Mới ngày nào từ tiếng pháo mở màn cho cả nước đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp (19-12-1946) đến nay, bộ đội pháo binh đã trải qua một chặng đường lịch sử vẻ vang: "60 năm xây dựng - chiến đấu và trưởng thành".

        Là một Binh chủng chiến đấu, lại là một Binh chủng kỹ thuật được ra đời sớm của Quân đội nhân dân Việt Nam, trải qua những năm tháng liên tục chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đầy gian khổ, lập nhiều chiến công oanh liệt, Binh chủng đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng biểu dương nhân ngày kỷ niệm 25 năm thành lập Binh chủng (29-6-1971) với 16 chữ:

                                           Xây dựng thành công.
                                           Tác chiến thắng lợi.
                                           Phát triển không ngừng.
                                           Lớn mạnh vượt bậc.


        Với 16 chữ ấy đã khái quát nói lên thành tích của bộ đội pháo binh trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, 16 chữ ấy cũng nói lên truyền thống tốt đẹp xây dựng, chiến đấu của pháo binh. Và chính cũng từ những năm tháng chiến đấu oai hùng đã khẳng định vị trí, vai trò pháo binh là hỏa lực chủ yếu của lục quân và hỏa lực mặt đất chủ yếu của quân đội ta, vì chúng ta đã hết lòng vì bộ binh, vì yêu cầu và nhiệm vụ chiến đấu mà phục vụ vô điều kiện và đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu được giao.

        Chúng ta cũng đã xây dựng được một nền khoa học về nghệ thuật sử dụng pháo binh hết sức độc đáo, đó là hai lối đánh của pháo binh: Đánh hiệp đồng và đánh độc lập; là nghệ thuật đưa pháo vào gần bắn thẳng, là không bắn thì thôi, đã bắn là bắn trúng địch làm cho kẻ địch phải khiếp sợ Pháo binh Việt Nam.

        Chúng ta cũng đã xây dựng được một truyền thống tốt đẹp "vừa chiến đấu vừa xây dựng", càng đánh càng mạnh, trận sau thắng to hơn trận trước, đã xuất quân là đánh thắng, từ một đại đội khi mới thành lập đến nay đã trở thành một Binh chủng chính quy tương đối hiện đại, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống. Đây cũng là công lao của nhiều thế hệ cán bộ chiến sĩ pháo binh đã từng bỏ mồ hôi, xương máu để vun đắp truyền thống pháo binh trong suốt chặng đường 60 năm qua.

        Cũng từ trong thực tế rèn luyện chiến đấu và xây dựng đã tôi luyện cho người lính pháo binh luôn nêu cao đức tính kiên trung, chiến đấu dũng cảm ngoan cường, không sợ khó khăn gian khổ với khẩu hiệu "Đâu cần pháo binh có, khó mấy pháo binh cũng vượt qua" và tất cả chiến công 60 năm qua của bộ đội pháo binh đã khẳng định bản lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam luôn "Tận trung với nước, với Đảng, tận hiếu với dân với một quyết tâm sắt đá là hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao".

        Tám chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu khen tặng Binh chủng Pháo binh vừa là truyền thống dũng cảm kiên cường trong xây dựng và chiến đấu, đồng thời cũng là những lời căn dặn, những huấn thị của Bác Hồ đối với phương hướng xây dựng và chiến đấu cho Binh chủng Pháo binh mà các thế hệ cán bộ chiến sĩ phải luôn nắm chắc và quán triệt trong đường lối xây dựng, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, nội dung tóm tắt là:

        a) Phải thường xuyên chăm lo rèn luyện giáo dục tư tưởng luôn kiên định vững vàng về bản lĩnh chính trị trước mọi gian khổ, khó khăn, ác liệt trong chiến đấu, trong huấn luyện phải làm đúng như lời Bác dạy: "Chân đồng, vai sắt".

        b) Phải không ngừng nâng cao trình độ học thuật, kỹ thuật sử dụng thành thạo mọi trang bị xe pháo khí tài, luôn sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ, yêu cầu mà Đảng và nhân dân, quân đội trao cho trong từng thời kỳ cách mạng, đã chiến đấu là đánh thắng, phải thực hiện được lời Bác: "Đánh giỏi, bắn trúng".

        Để giữ gìn và phát huy truyền thống vẻ vang ấy, để thực hiện lời dạy của Bác, mong rằng các thế hệ cán bộ chiến sĩ chúng ta không những chỉ dũng cảm ngoan cường lập công khi chiến đấu mà còn tự lực tự cường, chủ động sáng tạo, vượt khó vươn lên để xây dựng Binh chủng luôn vững mạnh toàn diện.

        Trong những năm tới để phấn đấu xây dựng trở thành một Binh chủng Pháo binh cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống là một đoạn đường còn dài, còn nhiều gian khổ. Nhưng chúng ta tin tưởng toàn Binh chủng nhất định hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ vinh quang ấy, vì chúng ta tự hào đã có một độ dày truyền thống và kinh nghiệm xây dựng - chiến đấu 60 năm qua, chúng ta lại có một đội ngũ cán bộ chiến sĩ pháo binh kế tiếp đang lãnh đạo, chỉ huy Binh chủng với đầy đủ bản lĩnh chính trị, trí tuệ đã và đang gìn giữ và phát huy truyền thống "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã khen tặng.

        Trích phát biểu trong cuộc gặp mặt các thế hệ chỉ huy qua các thời kỳ nhân kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Binh chủng Pháo binh 26-6-2006.

HẾT