Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: loiho000 trong 09 Tháng Hai, 2017, 07:44:37 PM



Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 09 Tháng Hai, 2017, 07:44:37 PM
Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát
vị tướng tài trí

(http://s2.upanh123.com/2017/02/09/16e084.md.jpg)


* CHỈ ĐẠO NỘI DUNG:
   - Trung tướng Phó Giáo sư LÊ HỮU ĐỨC
   - Thiếu tướng VÕ QUANG HỒ
   - Thiếu tướng HOÀNG KIM

* SƯU TẦM, TUYỂN CHỌN:
   - Nhà báo TẠ XUÂN LINH

* NHÀ XUẤT BẢN:
   QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

* NĂM XUẤT BẢN: 2008

* SỐ HÓA:
   - Scan: ptlinh
   - Ebook: Cao Trung Hiếu
   https://www.facebook.com/dragunov.svd.16





Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 09 Tháng Hai, 2017, 07:46:54 PM
LỜI GIỚI THIỆU

                  Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát (1921 - 1993), tên gọi thân thương là anh Bảy Phát, một người con ưu tú của quê hương xứ Quảng bất khuất, kiên trung. Ông nguyên là Tư lệnh Quân chủng Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc, nguyên Thứ trưởng Bộ Hải sản.

                    Sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám 1945 thành Công, ông hăng hái gia nhập hàng ngũ quân đội Cách mạng, trực tiếp cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương.

                    Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, khói lửa chiến tranh đã đào luyện ông từ một người lính can trường, trở thành một vị chỉ huy tài trí, mưu lược, quyết đánh và biết thắng kẻ thù. Tên tuối Nguyễn Bá Phát gắn liền với những chiến công vang dội của quân và dân Liên khu 5 thời kỳ chống Pháp, cũng như những chiến công oai hùng của quân và dân miền Bắc thời đánh Mỹ. Những địa danh nối tiếng như: đèo Hải Vân, Xuân Thiều, Gò Cà, Thanh Quýt, sông Trường Định,      v. v…. mãi mãi ghi sâu chiến công, trí thông minh và lòng quả cảm tuyệt vời của Nguyễn Bá Phát.
   
                    Đặc biệt, Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát là người có công lớn trong việc đặt nền móng xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam. Chiến công vang dội của bộ đội Hải quân (1964) đánh đuổi tàu khu trục Ma-đốc của Mỹ xâm phạm lãnh hải; huyền thoại đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, với những đoàn tàu không số vận chuyến vũ khí cho chiến trường miền Nam; việc rà phá thủy lôi chống phong tỏa cảng Hải Phòng, v. v... Sẽ mãi là niềm tự hào trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát vinh dự được Đảng và Nhà nước ta truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học quân sự đợt đầu tiên. Tên ông đã được đặt cho một đường phố chính ở thành phố Đà Nẵng, quê hương ông.
   
                    Kỷ niệm 14 năm ông đi xa, nhiều tướng lĩnh, đồng chí và bạn bè ông đã phối hợp với Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, tổ chức sưu tầm, biên soạn và xuất bản cuốn sách “Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát, vị tướng tài trí”.
   
                    Với tình cảm chân thành, với lối viết mộc mạc, giản dị, các tác giả đã góp phần khắc họa chân dung Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát một cách trung thực, sinh động và hấp dẫn.
   
                    Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!


                                     
 NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN



Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 09 Tháng Hai, 2017, 07:53:06 PM
MỘT NGƯỜI CON TIÊU BIỂU CỦA LIÊN KHU 5, MỘT VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Đại tướng Võ Nguyên Giáp

                 Đồng chí Nguyễn Bá Phát đã giác ngộ cách mạng tham gia tự vệ bí mật của Việt Minh từ tháng 6 năm 1945, tham gia Tổng khởi nghĩa ở quê hương, gia nhập Vệ quốc đoàn, xung phong Nam tiến là đội viên rồi đội trưởng thủy đội Bạch Đằng, Qui Nhơn (9-1945).

                  Sau ngày toàn quốc kháng chiến đồng chí đã lăn lộn chiến đấu ở chiến trường Liên khu 5 qua các cương vị: cán bộ Phòng Tham mưu Liên khu, Phó chỉ huy quân sự mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, chỉ huy trưởng mặt trận Ban Mê Thuột - Đường 14, là trung đoàn trưởng các trung đoàn 96, 93, 108 chủ lực Liên khu 5. Từ năm 1951 đến 1954 đồng chí là Tham mưu phó, rồi Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Liên khu 5, Tham mưu trưởng Mặt trận bắc Tây Nguyên. Đồng chí đã dũng cảm, mưu trí chỉ huy các đơn vị lập được nhiều chiến công vẻ vang góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
   
                  Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã trải qua các cương vị: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 305 (1954), Cục phó Cục Phòng thủ bờ biển (1955), Cục phó Cục Hải quân (1959), Đại tá Tư lệnh Hải quân (1964), tháng 3 năm 1965 Thiếu tướng Tư lệnh Hải quân cho đến năm 1976. Đồng chí Nguyễn Bá Phát là người có nhiều công lao xây dựng bộ đội Hải quân từ đầu cho đến khi trở thành Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam phát triển vững mạnh. Đồng chí đã cùng các đồng chí trong Đảng ủy, Bộ Tư lệnh lãnh đạo chỉ huy Quân chủng Hải quân vượt qua mọi khó khăn, nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, tự lực tự cường, chủ động, sáng tạo, chiến đấu dũng cảm và mưu trí, lập được nhiều chiến công oanh liệt, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
   
                  Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát nguyên Tư lệnh Hải quân là một người cộng sản trung kiên, một người con trung hiếu của Liên khu 5, một vị tướng tài trí của quân đội ta, có nhiều công lao đối với Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam. Tôi nhớ mãi Thiếu tướng Tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát, người đồng chí thân thiết mà tôi luôn tin tưởng mỗi lần trao nhiệm vụ cho đồng chí. Nhân dịp này, tôi thân ái gửi lời thăm hỏi ân cần đến gia đình đồng chí.


Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2007
(http://s2.upanh123.com/2017/02/09/Untitled620d6.md.png)
Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP



Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 09 Tháng Hai, 2017, 08:05:10 PM
ĐỒNG CHÍ NGUYỄN BÁ PHÁT NÓI VỀ ĐƠN VỊ VÀ BẢN THÂN MÌNH

                 Theo yêu cầu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh nhà, với trách nhiệm của một cán bộ bản địa chuyên trách về quân sự tại mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, trong suối thời kỳ kháng chiến chống xâm lược Pháp, tôi xin cung cấp một số tài liệu quân sự mà tôi biết và bản thân có tham gia. Trước khi đi vào nội dung chủ yếu của vấn đề, tôi xin phác qua quá trình tham gia cách mạng và một số công tác chính của tôi trong thời kỳ đó.

                   Tháng 6 năm 1945, tôi giác ngộ cách mạng được kết nạp vào tổ chức Thanh niên Cứu quốc và tự vệ bí mật địa phương. Sau đó, tôi được cử đi học lớp quân sự. Học xong tôi được cấp trên chỉ định làm chỉ huy trưởng lực lượng tự vệ tổng Thái Hòa.
   
                   Cách mạng tháng Tám năm 1945, tôi tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở tổng. Chẳng bao lâu sau, tôi về xã làm ủy viên quân sự. Lúc này anh ruột và chị ruột tôi cũng có chân trong Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời của xã.
   
                   Tháng 9 năm 1945, tôi xin gia nhập Vệ quốc đoàn tại Đà Nẵng và cũng ở đây, tôi tình nguyện tham gia thủy đội Bạch Đằng. Đến tháng 10 năm 1945, cả đơn vị này đi Nam tiến trong khí thế cách mạng đang lên cao.
   
                   Đơn vị của chúng tôi vào đến Qui Nhơn thì dừng lại để luyện tập. Lúc này bọn Nhật còn đóng ở đây để chờ quân Anh ra giải giáp.
   
                   Sự kiện ngày 23 tháng 5 năm 1945 ở Nam Bộ đã cho ta thấy toàn bộ âm mưu của bọn đế quốc. Để ngăn chặn tai họa đó có thể diễn ra ở khu vực này, đơn vị của chúng tôi được lệnh của cấp trên tiến công quân Nhật đóng tại Qui Nhơn. Trận thử lửa đầu tiên này đã đưa đơn vị của chúng tôi vào chi viện cho mặt trận Nha Trang, sau khi mặt trận này bị vỡ, tôi trở ra Bình Định và Phú Yên.
   
                   Lúc này tôi được đề bạt làm chỉ huy phó chi đội Phan Đình Phùng. Khoảng tháng 5 năm 1946, tôi được chỉ định làm Chỉ huy trưởng mặt trận Buôn Ma Thuột. Cũng trong thời gian này tôi gặp Tiểu đoàn Phan Thanh tại mặt trận Bôkeo.
   
                   Trong lúc Hội nghị Phông-ten-nơ-bờ-lô đang họp, thì quân Pháp từ Buôn Ma Thuột tiến công ra Pleiku và Kon Tum - Đại đoàn 23 do đồng chí Đào Văn Trương làm Tư lệnh trưởng, đồng chí Trần Lương làm Chính ủy và tôi làm Tham mưu trưởng được lệnh rút về Bình Định để chỉnh đốn lại lực lượng.
   
                   Do nhu cầu công tác, cấp trên điều tôi về nhận nhiệm vụ tại Ủy ban kháng chiến miền Nam Trung Bộ, chuyên trách công tác phá hoại. Lúc này, tôi có dịp về tỉnh nhà gặp Ủy ban kháng chiến Quảng Nam - Đà Nẵng để bàn kế hoạch phá hoại hệ thống cầu dọc quốc lộ số 1 và đường sắt.
   
                   Khoảng tháng 10 năm 1946, tôi được bổ nhiệm làm chỉ huy mặt trận An Khê.
   
                   Đầu tháng 12 năm 1946, sau khi gặp đồng chí Phạm Văn Đồng tại tỉnh Quảng Ngãi, tôi được điều ra mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng làm chỉ huy phó Ban Quân sự tỉnh. Ủy ban này do đồng chí Đàm Quang Trung làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ làm Chính ủy.
   
                   Sau tiếng súng kháng chiến nổ, ngoài chức trách Chỉ huy phó Ủy ban Quân sự, tôi còn kiêm nhiệm Chỉ huy trưởng Trung đoàn 96.
   
                   Đến tháng 1 năm 1947, Trung đoàn này được lệnh rút vào Quảng Ngãi để củng cố lực lượng, sau thời gian chiến đấu dũng cảm nhằm ngăn chặn bước tiến của quân thù.
   
                   Mùa hè năm 1948, theo lệnh của cấp trên, tôi đưa 2 Tiểu đoàn khá mạnh của Trung đoàn 96 ra hoạt động Quảng Nam - Đà Nẵng. Khoảng tháng 10 năm 1948, tôi thay đồng chí Đàm Quang Trung làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 kiêm Chỉ huy trướng mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng.
   
                   Đầu năm 1950, tôi được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng Trung đoàn 108 (đơn vị chủ lực của Quân khu). Cuối năm 1950, Trung đoàn này được lệnh ra hoạt động ở chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng.
   
                   Sau một thời gian hoạt động ở tỉnh nhà, đơn vị của chúng tôi lại rút vào Quảng Ngãi rồi chuyển lên Tây Nguyên tiêu diệt tiểu khu Konplong, mở đầu chiến thuật đánh công kiên trên chiến trường Liên khu 5. Cũng trong lúc này, Tiểu đoàn 59 được điều ra Quảng Nam - Đà Nẵng đánh sụp một lúc 8 tháp canh, mở ra phương hướng phá vỡ hệ thống tháp canh Đờ La-tua của địch.
   
                   Năm 1951, do nhu cầu công tác, cấp trên điều tôi về làm Tham mưu phó Quân khu. Giữa năm 1952, tôi trở ra Quảng Nam - Đà Nẵng cũng với một Trung đoàn chủ lực mở chiến dịch hè, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, và thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh ở tỉnh nhà tiến lên. Chiến dịch này do đồng chí Búi San làm chính ủy, đồng chí Trần Lê phụ trách chủ nhiệm chính trị.
   
                   Năm 1954, tôi được đề bạt Tham mưu trưởng Quân khu cho đến khi kết thúc chiến tranh.


                   Một số đặc điểm của tỉnh nhà trước khi tiếng súng kháng chiến bùng nổ
   
                   Quảng Nam - Đà Nẵng là một trong những tỉnh lớn ở Trung Bộ, dân số đông, tài nguyên phong phú. Riêng Đà Nẵng một thành phố nhượng địa của Pháp trước kia - chiếm một vị trí khá quan trọng về mặt quân sự ở miền Trung Đông Dương. Vì nó là hải cảng lớn và là căn cứ đầu cầu để triển khai lực lượng đánh chiếm Trị Thiên, và một số tỉnh của Khu 5, Tây Nguyên và Hạ Lào.
   
                   Một thành phố nằm trên vĩ tuyến 16 này đã chứng kiến bao sự kiện thay đổi: hết Pháp đến Nhật, Nhật đi quân Tưởng rồi bọn Pháp quay trở lại. Một số phần tử phản cách mạng và một số tên tay sai cũng ngo ngoe ngóc đầu dậy, nhưng đều bị ngọn triều cách mạng cuốn phăng đi.
   
                   Nhân dân tỉnh nhà có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng được thành lập ở khắp nơi và ngày càng vững mạnh. Chính quyền đó có đầy đủ uy thế và nghị lực để huy động quần chúng bảo vệ thành quả cách mạng vừa mới giành được.
   
                   Trình độ giác ngộ của quần chúng nhân dân khá cao, ai nấy đều gia nhập các tổ chức cứu quốc, tham gia dân quân tự vệ, một lòng một dạ bảo vệ và xây dựng chính quyền của mình.
   
                   Lực lượng quân sự của ta ở đây cũng khá mạnh ngoài Trung đoàn 93 của tỉnh nhà, cấp trên đã điều ra một trung đoàn chủ lực (Trung đoàn 96). Về trang bị và kỹ thuật tác chiến tuy còn kém, nhưng tinh thần chiến đấu thì rất cao.
   
                   Do vị trí rất quan trọng của Quảng Nam – Đà Nẵng (đặc biệt là Đà Nẵng) cho nên về phía địch, chúng tìm cách gia tăng lực lượng, tạo mọi điều kiện để đánh chiếm. Về phía ta thì Trung ương, Xứ ủy và Liên khu ủy cũng đặc biệt coi trọng, tăng cường cán bộ chỉ đạo về chính trị và quân sự, đưa Trung đoàn 96 ra làm nhiệm vụ tiếp phòng quân, hằng ngày, hằng giờ có ý kiến chỉ đạo đối phó với mọi tình huống xảy ra. Qua một số tình hình đặc điểm nói trên, thấy rõ tính chất gay go và quyết liệt của cuộc đấu tranh giữa ta và địch và cũng qua đó làm nổi lên một số điều kiện thuận lợi và một số yếu tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp.


*
*     *

                   Tình hình ở những nơi có quân đội Pháp đóng ngày một căng thẳng. Sau Tạm ước 14-9-1946, mức độ căng thẳng lại tăng lên, nghiêm trọng nhất là Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn. Đà Nẵng cũng nằm trong tình hình chung đó.
   
                   Sau khi nhận huấn thị của đồng chí Phạm Văn Đồng, đầu tháng 12 năm 1946 tôi nhận lệnh về tỉnh nhà nhận công tác. Qua tìm hiểu tình hình ở Ty Liên kiểm quân sự Việt - Pháp, tôi mới thấy hết trách nhiệm nặng nề của mình.
   
                   Lúc bấy giờ, bọn Pháp đóng quân ở Trẹm, sân bay Tháp Chàm thành phố Đà Nẵng. Bọn Pháp kiều thì ở đồn về phía ngã 5. Quân số của chúng cứ một ngày tăng lên, đến trước ngày tác chiến lực lượng của chúng có khoảng 5.000 tên trang bị vũ khí hiện đại.
   
                   Còn ta thì có quân tiếp phòng đóng xen kẽ với chúng. Tiểu đoàn 17 đóng tại Bình Hòa (giữa sân bay và thành phố). Tiểu đoàn 18 đóng ở phía nhà ga. Tiểu đoàn 19 chia làm hai bộ phận: một bộ phận đóng phía đèo Hải Vân và một bộ phận đóng tại Nghi An (phía tây sân bay). Thế trận đôi bên đều ở tình trạng sẵn sàng chiến đấu.
   
                   Ngoài những âm mưu và thủ đoạn chính trị như: gây cơ sở tình báo, dùng tiền tài mua chuộc, lôi kéo những tên tay sai cũ... chúng còn tăng quân số đòi triển khai lực lượng gây ra nhiều vụ khiêu khích, tạo điều kiện để tiến công tiêu diệt lực lượng ta. Nghiêm trọng nhất là vụ xé cờ của ta tại trụ sở mặt trận Việt Minh thành phố, gây nên sự phẫn uất cao độ trong quần chúng nhân dân.
   
                   Trước tình hình đó, thi hành mật lệnh của cấp trên, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Thành ủy, quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã khẩn trương và tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc kháng chiến.
   
                   Ủy ban Quân sự tỉnh được thành lập, đóng tại ngã tư Yên Khê. Ủy ban hành chính thành phố đã dời ra ngoại thành. Một bộ phận nhân dân đã được tản cư. Trên những con đường nhỏ từ chợ Cồn đi chợ Mới, từ ngã năm lên Sở Tám Gian... mọc lên những chướng ngại vật. Các cầu quan trọng Thủy Tú, Kỳ Lam, Cẩm Lệ, Câu Lâu, Vĩnh Điện... đều đã có kế hoạch phá hoại. Những cơ sở sản xuất vũ khí đều được chuyến đến nơi an toàn. Ta cũng đưa một số cán bộ đi chuẩn bị cơ sở hậu phương, xây dựng căn cứ địa.
   
                   Về mặt trận địch vận, ta cũng đã in truyền đơn kêu gọi binh lính địch. Các em thiếu nhi dùng truyền đơn đó gói bánh mì bán cho bọn chúng. Bắt được truyền đơn, bọn sĩ quan địch đã đưa đến kiện tại cơ quan Liên kiểm quân sự Việt - Pháp.
   
                   Về cơ sở ngầm, ta cũng đã đưa người của ta vào làm bồi bếp cho bọn sĩ quan địch để chờ cơ hội ám hại chúng ở ngoại vi thành phố dân chúng đã được lệnh chuẩn bị tản cư, làm vườn không nhà trống.
   
                   Lực lượng vũ trang của ta, Tiểu đoàn 17 và Tiểu đoàn 18 đã phối hợp với tự vệ Thành triển khai đội hình trên các đường phố chính. Ở các công sở quan trọng của ta, ngã năm, nhà máy đèn, nhà ga. Một số bộ phận quân ta, ban đêm đã vào tận sào huyệt địch: sân bay, đồn, trại... và luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu.
   
                   Tình hình nghiêm trọng như thế, song cơ quan Liên kiểm quân sự vẫn còn hoạt động, bộ đội ta và quân Pháp ban đêm vẫn đi tuần như thường lệ.
   
                   Ngày 15 tháng 12 năm 1946, tôi đi tây bắc Hòa Vang, Nghi An, Cẩm Lệ, Thanh Quýt để kiểm tra kế hoạch tác chiến và kế hoạch phá hoại hệ thống cầu. Đến ngã tư Yên Khê, tôi gặp các đồng chí trong Ủy ban Quân sự đang họp. Cuộc họp quan trọng này có mặt các đồng chí: Trương Quang Giao, Vũ Khương Ninh, Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Thúy, Đàm Quang Trung, v.v... đã quyết định một số phương hướng công tác như sau: 
   
                   - Tích cực và khẩn trương chuẩn bị, sẵn sàng đợi lệnh tiến công tiêu diệt địch, nhưng hết sức tránh khiêu khích.
   
                   - Chuẩn bị điều kiện rút về nông thôn xây dựng căn cứ địa để kháng chiến lâu dài.




Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 09 Tháng Hai, 2017, 08:09:49 PM
                   Diễn biến của quá trình kháng chiến ở Quảng Nam - Đà Nẵng
   
                   Hơn 10 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, đồng chí Nguyễn Chánh và anh Cao Văn Khánh ở Quân khu nói chuyện bằng điện thoại với chúng tôi đại để ra lệnh nổ súng tấn công địch.
   
                   Ngay sau đó, chúng tôi họp tại ngã tư Yên Khê, có mặt các đồng chí: Huỳnh Ngọc Huệ, Trần Đình Tri, Đàm Quang Trung, Nguyễn Bá Phát, Trần Thùy, Nguyễn Hữu Thành... để quyết định một số vấn đề cụ thể:
   
                   1. Đúng 12 giờ đêm nổ súng đánh chiếm sân bay nhà bọn Pháp kiều tại ngã năm làm hiệu lệnh cho c nơi khác tấn công địch.
   
                   2. Đổi Trung đoàn bộ Trung đoàn 96 lên phía Khánh Sơn, còn Trung đoàn bộ 93 thì vẫn bố trí phía trong Cẩm Lệ.
   
                   3. Ra lệnh phá các cầu quan trọng, chặt cây ngăn đường và sơ tán những ai còn trong thành phố.
   
                   Trong lúc chúng tôi đang họp thì anh Hà Văn Lâu điện vào cho biết Huế đã nổ súng và nhờ phá sập cầu Thủy Tú.
   
                   Thế là mệnh lệnh tấn công tiêu diệt địch đã lan ra, lực lượng của ta đã triển khai và bố trí ở những nơi đã định. Một số bộ phận đã bí mật vào tận sào huyệt địch. Tất cả đều sẵn sàng chờ mệnh lệnh hành động.
   
                   Nhưng mãi đến 6 giờ sáng mà vẫn chưa nghe súng lệnh nổ, các bộ phận vào tận doanh trại, đồn bốt địch đã rút về.
   
                   Sáng ra thấy đường phố vắng bóng người, nhiều chướng ngại vật mọc lên, bọn địch hoảng hốt quay điện thoại gọi cơ quan Liên kiểm quân sự, nhưng ta đã rút đi rồi.
   
                   Lúc này xe lửa không chạy nữa, ta cho ôtô chạy ra dùng địa lôi phá cầu Thủy Tú để làm hiệu lệnh.
   
                   Đến 6 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12, tiếng súng nổ ở gần nhà máy đèn cũng trong lúc này tự vệ công nhân đã dùng bom phá hỏng nhà máy đèn. Thế là cuộc kháng chiến bắt đầu.


                     Diễn biến chiến sự trong 3 ngày đầu đánh nhau với địch trong thành phố

                   Trong ngày đầu (20-12-1946) để gỡ thế bao vây, địch tiến đánh ta trên 5 trục lớn: Mũi đánh lên nhà ga, mũi đánh lên cầu vồng, mũi đánh lên đường Con Gà (qua ngã năm), mũi từ nhà máy đèn đánh lên cơ quan Liên kiểm quân sự và mũi từ nhà Morin-surim đánh lên Cổ Viện Chàm, sân bay. Địch tiến đến đâu đều bị quân ta chặn đánh. Quân ta ở trên nhà gác ném lựu đạn xuống đường gây cho địch nhiều thương vong. Tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ vang rền trong thành phố, những vật dụng trong nhà như bàn, ghế, giường, tủ... đều được vứt ra đường làm chướng ngại vật.
   
                   Đồng bào ta còn lại trong thành phố đều được đưa đi tản cư theo 4 hướng đã chuẩn bị trước: tây bắc Hòa Vang, Cẩm Lệ, Túy Loan, Điện Ngọc.
   
                   Trong ngày thứ hai (21-12-1946) địch cố giải tỏa thành phố, còn ta thì ra sức giữ chân địch lại. Về phía tây chúng tiến vào nhà ga, chợ Cồn. Mũi phía nam đánh lên chợ Mới Bình Hòa. Chiến sự diễn ra rất ác liệt. Địch chết rất nhiều, ta thương vong cũng khá. Trong lúc đó pháo địch ở hầm tàu bắn để uy hiếp tinh thần của quân và dân ta.
   
                   Qua ngày thứ ba (22-12-1946), địch và ta còn chạm súng ở phía tây thành phố. Chúng tập trung lực lượng đánh lên phía sân bay, gặp Tiểu đoàn 17 chặn đánh rất ác liệt. Sau ngày này, bọn địch ở thành phố đã liên lạc với sân bay, còn ta thì bị dạt ra ngoại vi (từ ngã tư Yên Khê, Nghi An, Phong Lệ xuống phía Đò Xu, An Hải).
   
                   Thế là sau 3 ngày kịch chiến, tuy địch đã giải tỏa thành phố và liên lạc với sân bay, song chúng đã bị tổn thất khá nặng. Đó là điều mà địch không lường trước được.
   
                   Lúc này thế trận của quân ta bố trí lại như sau: Tiểu đoàn 17 đóng ở Phong Lệ, Nghi An; Tiểu đoàn 18 đóng ở Hòa Mỹ, ngã tư Thanh Khê; Tiểu đoàn 19 chia làm hai bộ phận: một đại đội đóng về phía Đa Phước và một đại đội đóng phía đèo Hải Vân.
   
                   Trong thời gian từ 13-12-1946 đến 7-1-1947, ban ngày địch đánh ra phía ngã tư Yên Khê, ta dùng chiến thuật di động phòng ngự địa thế có lợi để chặn đánh địch, tối đến chúng lại rút về thành thì ta lại theo chân địch để tiêu hao sinh lực địch. Có lần ta đã vào nội thành đốt nhà ga, đánh địa lôi diệt xe địch.
   
                   Lúc này viện binh của địch đến Đà Nẵng, máy bay của chúng bắt đầu xuất hiện trên mặt trận, đại bác địch ở hầm tàu bắn lên tới tấp, tình hình chiến Sự thêm gay go ác liệt hơn. Tuy thế, trong suốt 16 ngày qua, ta và địch vẫn còn ở thế trận: địch tiến ta lui, địch lui ta tiến.
   
                   Để phá thế trận giằng co nói trên và bao vây tiêu diệt quân ta, ngày 7 tháng 11 năm 1947, địch đổ bộ lên vùng Phú Lộc, đánh gọng kìm chặn phía Đa Phước vô Đà Sơn, Đại La, đồng thời ở phía chính diện, chúng mở 3 mũi tấn công ta. Một mũi theo đường quốc lộ tiến lên Hòa Mỹ, một mũi đánh lên Nghi An và một mũi về phía Hòa An. Thế là trước mặt và sau lưng ta đều có giặc. Suốt ngày này, chiến sự diễn ra rất ác liệt, địch tiến vào đều bị ta đánh bật ra. Quân ta giữ vững vị trí chiến đấu cho đến khi được lệnh rút.
   
                   Sau trận này, địch đã giải tỏa ngoại vi thành phố, bao gồm: ngã tư Yên Khê, Hòa Mỹ, Phong Lệ, Thạch Nham, núi Phước Tường, Đại La, Đa Phước, Nam Ô, Liên Chiểu, Đồn Nhứt. Bọn địch chiếm giữ ở những nơi này nhằm bảo vệ thành phố đề phòng quân ta đánh vào hậu cứ của chúng, đồng thời chuẩn bị điều kiện đánh ra Thừa Thiên để giải vây cho Huế.
   
                   Hàng ngày, địch nống ra đánh lên các hướng Đại La, Thạch Nham, An Ngãi... còn ta thì sau khi rút ra giữ thế chặn địch lại, Tiểu đoàn 17 đóng từ Cẩm Lệ, Thạch Nham, Nghi An, Phước Tường đến Đại La; Tiểu đoàn 18 ở về phía Tùng Sơn, An Ngãi; Tiểu đoàn 19 vẫn đóng phía đèo Hải Vân, Nam Ô, Trung Sơn, Quan Nam. Một mặt ta lợi dụng địa hình lập những phòng tuyến để chặn địch lại, mặt khác, ban đêm ta cho một số bộ phận thọc vào thành phố, khu tây Hòa Vang để tiêu hao sinh lực địch. Sân bay Đà Nẵng bị ta đánh nhiều lần, có lần ta nã đại bác 75 ly thu được của Pháp vào sân bay, gây cho địch một số thiệt hại. Ta còn lợi dụng đường sắt chạy vào sân bay cho đầu máy chạy kéo theo một toa chở quả thủy lôi đã bấm giờ nổ. Nhưng do trình độ kỹ thuật còn non, tính toán chưa chính xác, cho nên chưa đến nơi thủy lôi đã nổ không gây thiệt hại gì cho địch.
   
                   Số tự vệ công nhân sau khi rút ra ngoài, đã hình thành một tiểu đoàn đóng phía Đông Sơn, An Lợi và thường đột nhập vào thành phố quấy rối địch. Dân quân du kích ngoại vi thành phố phối hợp với bộ đội diệt trừ một số tên tay sai đắc lực của địch.
   
                   Trong thời gian này, đồng bào ở nội thành rút ra và ở vùng Hòa Vang - Điện Bàn đã hăng hái tham gia phá đường, cắt dây điện thoại, tiếp tế cứu thương, ủy lạo bộ đội, v.v... đồng bào còn giúp bộ đội đào giao thông hào, xây dựng công sự dựng chướng ngại vật. Điều đó nói lên, ngay từ đầu, cuộc kháng chiến của ta chống bọn xâm lược Pháp đã mang tính chất nhân dân.
   
                   Đi đôi với các hoạt động trên, ta tiếp tục xây dựng các chiến khu ở miền Tây (Trung Man) mở 3 con đường (một liên lạc với Thừa Thiên, một với Hạ Lào và một đi về phía nam tỉnh nhà).
   
                   Sau khi đã chiếm được các vị trí phía tây và thành phố Đà Nẵng, hoạt động chủ yếu của địch lúc này là dồn lực lượng thông đèo Hải Vân và giải vây cho Huế. Ngày 17 tháng 2 năm 1947, sau khi được tăng quân, địch tiến đánh Thủy Tú, đổ bộ lên Liên Chiểu, Hải Vân. Về sau địch phải mở thêm một mũi nữa ở phía Lăng Cô đánh trở vào mới giải tỏa được đèo Hải Vân. Ngày 28 tháng 2 năm 1947, Tiểu đoàn 19 do đồng chí Cương chỉ huy đã đánh trận giao thông đầu tiên trên đèo tiêu diệt cả đoàn xe địch.
   
                   Ngay sau khi liên lạc với Thừa Thiên, địch huy động hải lục không quân mở cuộc tấn công quy mô nhằm đánh bật ta ra xa thành phố và chiếm vùng đất đai giàu có của tỉnh nhà. Từ tháng 3 năm 1947 đến tháng 6 năm 1947, địch lo củng cố hậu phương, thành lập tòa Đốc lý Đà Nẵng, tổ chức sở mật thám liên bang, ty cảnh sát, lập bang tá ở Hội An, trưởng và phó ban hội tề ở Vĩnh Điện, bắt đồng bào phải đi sửa đường, mua chuộc đồng bào hồi cư. Ta đưa cán bộ trở về củng cố chính quyền, gây lại sự hoạt động của các giới, xây dựng lại dân quân du kích. Các đội biệt động của Hòa Vang, Điện Bàn và dân quân Hội An đã bắt đầu hoạt động.
   
                   Còn lực lượng vũ trang của ta, sau khi rút khỏi thế gọng kìm bao vây của địch, thì hình thành một thế trận khác. Tiểu đoàn 17 ở hướng Đại Mỹ (Đại Lộc), Tiểu đoàn 18 lên khúc An Lợi, Phú Túc, Tiểu đoàn 19 rút lên phía Phó Nam, Nam Yên để uy hiếp lại đường đèo Hải Vân và Nam Ô. Hoạt động chủ yếu cua ta lúc này là đánh giao thông. Nhiều trận phục kích đánh xe địch đã diễn ra trên đường Vĩnh Điện - Bình Long. Trận đánh giao thông trên đèo Hải Vân lần thứ hai (23-6-1947) tiêu diệt đoàn xe địch chở đầy lính lê dương trong đó có tên quan năm Roger (chỉ huy miền Trung Đông Dương) vang dội toàn quốc.
   
                   Do có thành tích tiêu diệt địch, cho nên quân và dân tỉnh nhà được đồng chí Phạm Văn Đồng đại diện Chính phủ Trung ương tặng lá cờ có thêu 2 chữ “Giữ vững” và Trung đoàn 96 được vinh dự giữ lá cờ đó, vì đã lập được nhiều chiến công.
   
                   Đến tháng 8 năm 1947, để tiêu diệt chủ lực ta và đẩy quân ta lên núi, địch tập trung lực lượng tiến công ta trên mấy mũi: mũi tiến lên Phò Nam, Nam Yên; mũi lên phía Ngọc Sơn, Phú Túc, mũi đánh lên huyện Đại Lộc, Hà Nha, qua Phú Gia; mũi từ Tây Nguyên kéo xuống Thạnh Mỹ, Hội Khách; mũi Tây Nguyên về mũi Đại Lộc gặp nhau tại Hội Khách.
   
                   Để đối phó lại, ta chủ trương cho một bộ phận vừa đánh vừa rút lên phía Khe Dong, Phú Túc, Phú Buôn, Đồng Nghệ, An Điềm. Bộ phận còn lại thọc sâu vào vùng địch để hoạt động. Một đơn vị nhỏ của Tiểu đoàn 17 từ phía nam sông Thu Bồn rút về Trúc Hà, Đại Lãnh rồi tiến xuống vùng Ái Nghĩa, Phước Hiệp. Một bộ phận nhỏ của Tiểu đoàn 18 thọc xuống phía Túy Loan, Thạch Nham vùng Xuân Thiều, Quan Nam. Trung đoàn 96 đóng phía tây nam Bà Nà.
   
                   Các bộ phận lên núi đã khắc phục khó khăn, gian khổ làm được một số việc đáng kể, phát rẫy trồng màu, khai thông đường ra Thừa Thiên, giúp đồng bào tản cư, tăng gia sản xuất ổn định đời sống.
   
                   Lúc này, tình hình ở phía nam Thừa Thiên gặp nhiều khó khăn, thi hành chủ trương của Tỉnh ủy, ta đã giúp đỡ tỉnh bạn một số vật dụng cần thiết (quần áo, lương thực, thuốc men...) và nhất là đưa một số cán bộ người gốc Thừa Thiên về quê tham gia chiến đấu.
   
                   Khoảng tháng 10 năm 1947, quân số của địch trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng có một trung đoàn, chia ra 4 tiểu khu Tùng Sơn, Liên Chiểu, Vĩnh Điện, Ái Nghĩa. Chúng đã bắt đầu đóng một số đồn lẻ và lập tề ở một số nơi.
   
                   Lúc này, quân ta cũng chia 2 bộ phận, bộ phận lớn dựa vào rừng núi và vùng giáp ranh từ Phò Nam đến Đại Lộc để hoạt động. Bộ phận còn lại thọc xuống vùng Điện Tiến, Hòa Tiến, Trúc Bàu, Hội Vực… phối hợp với lực lượng bán vũ trang để tiêu hao sinh lực địch và diệt tề trừ gian.



Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 09 Tháng Hai, 2017, 08:14:02 PM
            Đến đây địch dừng lại để quay về bình định vùng đã chiếm được. Chúng mở nhiều cuộc càn quét nhỏ để cướp bóc, thu thuế, bắt lính, tàn sát nhân dân, bắt giết cán bộ, gây cho ta nhiều tổn thất. Chúng ra sức tuyên truyền cho chính quyền bù nhìn, lập tề xung quanh vị trí, tăng cường bảo vệ các trục giao thông quan trọng, nhất là quốc lộ số 1, đoạn đường sắt Đà Nẵng - Huế, lập vành đai bảo vệ thành phố Đà Nẵng.
   
            Đi đôi với âm mưu thủ đoạn trên, địch tăng cường đánh phá vùng giáp ranh và vùng tự do của ta, thọc lên phía Đồng Xanh, Đồng Nghệ, Bến Dầu, thọc vào Phước Chỉ, Hương An; hành quân sưu sách vùng ven biển Thăng Bình, Tam Kỳ; cho máy bay bắn phá các trục giao thông, chợ búa, nơi tập trung đồng bào tản cư, nhằm phá hoại các trục giao thông, chợ búa, phá hoại dự trữ kháng chiến của ta.
   
            Lực lượng quân sự của ta lúc này cũng được chỉnh đốn lại. Ủy ban Quân sự tỉnh đã giải thể. Trung đoàn 96 được lệnh rút vào Quảng Ngãi để củng cố. Trung đoàn 68 ở Quảng Ngãi được điều ra thay thế. Tháng 7 năm 1948, Bộ Tư lệnh Quân khu tăng cường cho mặt trận tỉnh nhà 2 Tiểu đoàn chủ lực (19 và 79 trực thuộc Liên khu). Tôi được lệnh trở về Quảng Nam - Đà Nẵng nhận công tác thì gặp lúc địch mở cuộc càn quét tương đối quy mô vào Hương An (Quế Sơn). Hai Tiểu đoàn 19 và 79 được lệnh phối hợp với Tiểu đoàn 39 (chủ lực của tỉnh) chặn đánh địch rất quyết liệt, gây cho chúng nhiều tổn thất, buộc chúng phải rút chạy, quân ta truy kích chúng đến sát Bà Rén.
   
            Trung đoàn 68 ra hoạt động chẳng được bao lâu phải rút vào vùng tự do để củng cố lại, vì phần đông cán bộ và chiến sĩ bị ốm. Sau đó, Trung đoàn này nhập với Trung đoàn 93 lập ra Trung đoàn 108 (địa phương).
   
            Trong lúc này, hoạt động của bộ đội ta chưa mạnh lắm, hoạt động của dân quân du kích tuy đều khắp, nhưng chưa đủ sức chống lại các cuộc tàn sát của địch; phong trào đấu tranh của quần chúng trên các mặt chính trị, kinh tế... đang còn yếu. Tình hình đó tạo điều kiện cho địch đánh phá ta một cách ác liệt, gây rất nhiều tổn thất và khó khăn cho ta.
   
            Có thể nói thời kỳ này là thời kỳ đau khổ nhất, bi đát nhất. Tuy nhiên phong trào du kích chiến tranh ở một số nơi như: Điện Tiến, Điện Ngọc, tây bắc Hòa Vang, tây Đại Lộc vẫn được giữ vững.
   
            Tháng 10 năm 1948, tôi thay đồng chí Đàm Quang Trung làm Chỉ huy trưởng mặt trận tỉnh nhà. Đồng chí Nguyễn Quyết làm Chính ủy.
   
            Khoảng tháng 10 năm 1948, Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng đã họp tại Phụng Loan (Thăng Bình) để nhận định tình hình và đề ra một số chủ trương công tác.
   
            Đường đèo Hải Vân là mạch máu giao thông của địch, và thành phố Đà Nẵng là vị trí chiến lược quan trọng ở miền Trung Đông Dương. Trong lúc địch tập trung lực lượng để bình định vùng bị chiếm, đánh phá vùng tự do và giáp ranh, chúng rút bộ phận quân ứng chiến ra Việt Bắc, thì tất nhiên ở hậu cứ của chúng sẽ có chỗ sơ hở tạo điều kiện thuận lợi để ta đánh uy hiếp Đà Nẵng, nhằm tiêu hao sinh lực địch, gây thanh thế cho ta, đồng thời phá kế hoạch bình định của địch và bảo vệ vùng tự do của ta.
   
            Để dìu dắt và nâng đỡ phong trào du kích chiến tranh, Tỉnh ủy quyết định thành lập ở mỗi huyện (bị chiếm cũng như tự do) một đại đội độc lập và ở tỉnh 2 tiêu đoàn tập trung (39 và 29).
   
            Thi hành chỉ thị của Liên khu ủy, Hội nghị đã quyết định mở đường sang Hạ Lào và giúp đỡ nước bạn một số điều kiện vật chất, đồng thời chuẩn bị lực lượng để chi viện cho Thừa Thiên.
   
            Việc chuẩn bị chiến trường, xây dựng cơ sở quần chúng, đặc biệt là phục vụ cho chủ lực đánh vào hậu cứ địch được các cấp ủy địa phương và các ngành liên quan xúc tiến rất khẩn trương tích cực, nhờ vậy chỉ trong vòng 2 tháng (11, 12-1948) mọi việc chuẩn bị đều căn bản hoàn thành. Việc mở đường đưa gạo ra đèo Hải Vân là việc lớn, đòi hỏi sự nỗ lực phi thường của quân và dân ta.
   
            Chuẩn bị xong, ngày 24 tháng 1 năm 1949, quân ta đánh trận giao thông lớn trên đèo Hải Vân tiêu diệt đoàn xe lửa và đoàn xe hơi 60 chiếc (diệt 13 xe) ngay đoạn đường ta tiêu diệt tên quan năm Roger năm 1947.
   
            Hoảng hốt trước sự tiến công bất ngờ của quân ta, địch vội vã rút bớt lực lượng ở các dồn phía nam Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc... về chống đỡ, đồng thời, chúng tập trung lực lượng khá mạnh vây bọc chủ lực của ta từ ngã ba Chánh Kế đến Quan Nam, Nam Ô, lấy sông Thủy Tú chặn đường rút lui của ta. Địch chỉ để hở một đoạn đường mà chúng đã bình định. Khúc sông ở đây cũng khá rộng, lại không có thuyền bè. Do đó, địch tưởng rằng quân ta không tài nào vượt qua được. Nhưng bọn xâm lược làm sao hiểu được cuộc rút quân kỳ diệu này. Nhân dân địa phương đã khiêng đến hơn 30 chiếc thuyền và trong lúc đồng bào ta đưa chủ lực sang sông thì dân quân du kích bộ đội địa phương lại hoạt động mạnh sau lưng địch, buộc chúng phải phân tán hỏa lực. Thế là chỉ trong một đêm, nhờ sự giúp đỡ của nhân dân và lực lượng bán vũ trang, bộ đội ta đã vượt sông một cách an toàn, thoát khỏi vòng vây của địch.
   
            Lợi dụng yếu tố bất ngờ, tháng 3 năm 1949, ta phục kích tiêu diệt một “pôlôtông” cơ giới của địch tại Gò Cà, do tên quan ba Pháp chỉ huy. Đây là trận giao thông táo bạo nhất, oanh liệt nhất, bắt được nhiều tù binh nhất (toàn lính lê dương) và thu nhiều vũ khí nhất. Bên ta thương vong rất ít.
   
            Từ đó, khí thế của quần chúng lên cao, phong trào chung phát triển mạnh, bọn tề ngụy mất tinh thần không còn hung hăng như trước. Đến đây đánh dấu mốc quân và dân tỉnh nhà đã làm chủ tình hình. Chính kẻ địch đã thừa nhận Quảng Nam - Đà Nẵng là một trong số chiến trường hoạt động mạnh nhất ở Đông Dương. Đại hội Đảng bộ Liên khu 5 với nội dung chủ yếu “Tích cực cầm cự chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” đã gửi điện khen ngợi quân và dân tỉnh nhà. Đó là một vinh dự lớn của chúng ta.
   
            Để tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, diệt bọn te ngoan cố, làm tan rã bộ máy ngụy quyền, mở rộng vùng du kích và đẩy thế làm chủ của quân và dân lên mạnh hơn nữa, tháng 6 năm 1949, Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng quyết định dùng lực lượng địa phương (Tiểu đoàn 29, Tiểu đoàn 39) và các đại đội độc lập, (2 tiểu đoàn chủ lực đã rút về Quân khu) mở chiến dịch hè lấy tên là chiến dịch Phạm Văn Đồng. Chiến dịch này mở màn từ tháng 7 năm 1949 đến tháng 9 năm 1949 thì kết thúc. Quân ta đã dùng kỳ tập tiêu diệt cứ điểm Thu Bồn, đánh vào Cẩm Phô, Phước Hiệp, đồng thời cắt các đoạn giao thông quan trọng. Một bộ phận quân ta đã đột kích quấy rối Đà Nẵng, đốt kho xăng dầu Liên Chiểu, đánh giao thông lật nhào một số đoàn tàu trên đèo Hải Vân. Đặc biệt, ta mở cuộc tổng công kích vào bộ máy ngụy quyền, bắt được nhiều tên, số còn lại chui rúc vào một số cứ điểm lớn của địch, nổi nhất là đột nhập thị xã Hội An bắt tên tỉnh trưởng Hồ Ngận.
   
            Sau chiến dịch này, địch bỏ một số đồn ở phía Đại Lộc, Duy Xuyên phía nam sông Thu Bồn, chỉ còn các đồn: Trà Kiệu, Gò Sài, Bà Rén và trong lòng địch chỉ còn những đồn bót giữ quốc lộ số 1. Trong lúc địch co lại thì vùng du kích của ta được mở rộng thêm, tây Đà Nẵng, tây bắc Hòa Vang, Hòa Quý, An Hải, Điện Bàn đều là vùng du kích cả.
   
            Hoạt động hè vừa qua còn có tác dụng về chính trị, làm cho hàng ngũ tề ngụy hoang mang dao động, đồng thời gieo vào lòng dân đô thị và thị trấn niềm tin tưởng phấn khởi đối với kháng chiến, rất nhiều người tìm bắt liên lạc với cán bộ ta.
   
            Phát huy khí thế đang lên, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định đưa ra Quảng Nam - Đà Nẵng một trung đoàn chủ lực, mở chiến dịch Đông Xuân 1949 -1950 lấy tên chiến dịch Võ Nguyên Giáp, nhằm tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, giải phóng một số đất đai, mở rộng vùng du kích.
   
            Hướng hoạt động chủ yếu của ta là đánh đèo Hải Vân và uy hiếp thành phố Đà Nẵng.
   
            Hướng phụ là Điện Bàn và nam Hòa Vang. Ý đồ của ta là đánh một trận lớn trên đèo Hải Vân, cắt đường giao thông của địch, đồng thời bố trí một lực lượng khá mạnh để tiêu diệt cánh quân địch hay chặn đường về của ta ở phía Chánh Kế, Phò Nam. Nhưng sự chuẩn bị của ta bị địch phát hiện được, thời tiết xấu, lương thực còn thiếu, cho nên ta phải chuyển hoạt động sang hướng khác mở màn chiến dịch bằng một loạt trận đánh kỳ tập vào một cứ điểm Cẩm Lệ, Thanh Quýt. Đánh đồn An Hải, đột nhập vào thành phố Đà Nẵng (tháp con gà).
   
            Tiếp đến, ta ém quân trong nhà dân, đánh trên giao thông tại Thanh Quýt, tiêu diệt đoàn xe địch từ Đà Nẵng vào Vĩnh Điện do tên quan tư Lơ-tu-léc chỉ huy.
   
            Thừa thắng, quân ta bao vây uy hiếp một số đồn bốt địch, làm cho bọn tề ngụy thêm hoang mang dao động, nhiều tên phải chui vào các phân khu để tránh đòn trừng phạt của quân ta. Sau đó quân ta lại đánh mạnh vào cứ điểm Hòa Vang gây cho địch nhiều thiệt hại.
   
            Sau hoạt động này, địch rút các đồn: Gò Sài, An Tân, Đông Sơn, Phò Nam và trên thực tế về phía Ô Gia (Đại Lộc) và một phần đất của huyện Duy Xuyên được giải phóng. Một số đất đai ở tây Hòa Vang cùng thoát khỏi sự kiểm soát của địch.
   
            Ở ngoại vi lúc này địch chỉ còn Hội An, Phước Trạch, Bà Rén, Trà Kiệu, Vân Ly, Xuân Đài, Ái Nghĩa. Ban ngày chúng lo giữ các trục giao thông quan trọng. Tối đến chúng rút về các đồn bốt chính, vì sợ bị tiêu diệt. Quân và dân ta làm chủ tình hình đến sát ngoại vi thành phố, thị xã.
   
            Vào khoảng hè 1950, về phía địch xuất hiện một loạt chiến thuật mới, đáng chú ý nhất là hệ thống tháp canh Đờ La-tua. Hệ thống tháp canh này cắm trên các trục giao thông quan trọng, rồi lan dần đến các vùng đông dân cư, nhằm từng bước lấn chiếm vùng du kích của ta, đồng thời mở rộng phạm vi kiếm soát của chúng.
   
            Sau chiến dịch này, lực lượng vũ trang của ta củng cố lại. Trung đoàn 108 (chủ lực của tỉnh) được rút vào Quân khu để cùng với 3 Tiểu đoàn chủ lực 19, 50 và 79 thành lập một trung đoàn chủ lực của Quân khu nhưng vẫn giữ phiên hiệu Trung đoàn 108.
   
            Mùa đông 1950, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định điều động Trung đoàn 108 ra lại tỉnh nhà, mở chiến dịch Hoàng Diệu, nhưng do trung đoàn này chưa thạo đánh cứ điểm, tháp canh cho nên quá trình phát triển của chiến dịch gặp nhiều khó khăn và chưa đạt mục đích yêu cầu đã định. Quân ta đánh một số trận giao thông ở Điện Hòa, Trà Kiệu, Bà Rén, song kết quả không lớn lắm.
   
            Sau đợt hoạt động này, nhìn chung phong trào du kích chiến tranh không sôi nổi như trước, và bắt đầu lắng xuống, vùng cơ bản du kích của ta vẫn được giữ vững.
   
            Trung đoàn 108 hoạt động cho đến tháng 10 năm 1950 thì được lệnh rút vào Quảng Ngãi. Sau thời gian luyện tập, nghiên cứu lối đánh công kiên, đông xuân 1950 - 1951, Tiểu đoàn 59 được lệnh ra lại mặt trận tỉnh nhà, đánh hệ thống tháp canh, gây lại phong trào du kích chiến tranh. Trong một đêm quân ta đã nhổ 8 tháp canh, mở ra phương hướng phá vỡ hệ thống tháp canh Đờ La-tua của địch.
   
            Cùng thời gian, 3 tiểu đoàn còn lại của Trung đoàn 108 được lệnh rút vào Tây Nguyên tiêu diệt tiểu khu Konplong, mở đầu chiến thuật công kiên của quân ta trên chiến trường Khu 5.
   
            Sau khi phá vỡ hệ thống tháp canh của địch, phong trào du kích chiến tranh ở tỉnh nhà nhìn chung có chiều hướng đi lên, nhưng chưa mạnh lắm, hình thái chiến tranh vẫn còn tính chất giằng co như cũ.



Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 09 Tháng Hai, 2017, 08:18:48 PM
                     Khái quát tình hình ở tỉnh nhà từ cuối 1951 đến trước khi ta mở chiến dịch hè năm 1952, nổi lên một số nét như sau:
   
                      Địch ra sức bình định vùng bị chiếm, bóp ép Vùng du kích, củng cố phòng tuyến dọc sông Cẩm Lệ và nam Thu Bồn để đánh phá vùng du kích Điện Bàn, xây dựng vùng an toàn bọc quanh Đà Nẵng, chúng còn mở rộng phạm vi hoạt động ra các bàn đạp và đánh phá vùng giáp ranh, uy hiếp các hành lang quan trọng của ta ở miền Tây tỉnh nhà.
   
                      Còn ta thì do bị thiên tai, bị địch họa, mùa màng bị mất, đời sống rất khó khăn, nạn đói đe dọa nghiêm trọng, tình hình chính trị có phần căng thẳng, tư tưởng của cán bộ và quần chúng có phần dao động, hoạt động của du kích bị thu hẹp, bộ đội địa phương chưa bám chắc địa bàn kiềm chế địch, phong trào chiến tranh du kích giảm sút nhiều.
   
                      Trước tình hình đó, Liên khu ủy chủ trương mở hoạt động hè, nhằm tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, phá thế bị uy hiếp, mở rộng vùng du kích, gầy dựng lại cơ sở quần chúng và phong trào du kích chiến tranh, ổn định tư tưởng của cán bộ và nhân dân, nâng cao khí thế của quần chúng để đẩy các mặt công tác khác tiến lên.
   
                      Tôi được cấp trên giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng, đồng chí Bùi San làm Chính ủy, đồng chí Trần Lê làm Chủ nhiệm Chính trị. Trung đoàn 803 được lệnh ra làm nhiệm vụ chủ công. Dùng phía nam sông Thu Bồn làm bàn đạp, trong đêm mở màn quân ta diệt khu hành chính Xuân Đài. Qua đêm thứ 2, ta đánh đồn Vân Ly. Ban ngày quân ta chống càn ở phía Duy Trinh.
   
                      Đêm thứ 3 ta đánh Phú Nông. Sau 3 đêm hoạt động, quân ta nghỉ một thời gian để củng cố lực lượng. Sau đó ta đưa một bộ phận vào lòng địch, một bộ phận lên phía tây Hòa Vang và một bộ phận ra đèo Hải Vân để hoạt động.
   
                      Trong khi ở phía bắc, ta đánh Kỳ Lam, Túy Loan, Bà Du, Lệ Sơn, đèo Hải Vân thì ở phía nam ta đánh Bà Rén và một số đồn bốt khác.
   
                      Một loạt hệ thống cứ điểm bằng công sự cải tiến của địch đều bị phá vỡ. Tình hình chiến trường đã trở lại hình thái như sau chiến dịch Phạm Văn Đồng (1949).
   
                      Từ sau tháng 7 năm 1952, địch không có phản ứng nào mạnh, chúng co lại và bị động đối phó. Tinh thần của bọn ngụy quân, ngụy quyền sút hẳn đi. Hoạt động chủ yếu của địch lúc này là củng cố công sự, ổn định tinh thần bọn tề ngụy, tăng cường bố phòng Đà Nẵng, tranh chấp các vùng chiêu an bị ta phá, tiếp tục bắt lính lẻ tẻ để bù đắp nạn hao hụt quân số.
   
                      Trong lúc bộ đội ta tiêu diệt quân địch thì các đơn vị bộ đội địa phương lại chuyển vào vùng tự do để củng cố lực lượng, trở lại tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập, rồi trở ra vùng bị chiếm để củng cố và phát huy thắng lợi của chiến dịch.
   
                      Đến năm 1953, một mặt địch ra sức xây dựng ngoại ô Đà Nẵng, mở rộng bến tàu, sân bay, làm thêm kho, tăng đồn trại, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động gián điệp ra vùng phụ cận. Trong mấy tháng đầu năm, địch mở một số đợt càn quét lớn vào các vùng du kích Hòa Vang, Điện Bàn, đóng thêm cứ điểm, thực hiện kế hoạch lấn chiếm và chia cắt vùng du kích của ta. Địch còn ra sức sửa chữa các công sự phòng ngự theo kiểu mới. Những cứ điểm boong-ke, hầm ngầm... xuất hiện ở nhiều nơi. Mặt khác, chúng tăng cường bắt lính với hình thức trắng trợn, nặng nhất là các đô thị Đà Nẵng, Hội An, phát triển nghĩa dũng đoàn, điều chỉnh lại lực lượng của chúng.
   
                      Đi đôi với các hoạt động trên, địch tăng cường phá vùng tự do, mở nhiều cuộc đổ bộ ven biển, thọc vào các vùng giáp ranh, khủng bố dân tàn nhẫn, cho máy bay bắn phá ác liệt (cả ban đêm) ở các nơi tập trung, các trục giao thông, ghe thuyền, trâu bò, gây cho ta nhiều thiệt hại.
   
                      Về phía ta, sau hoạt động hè, vẫn giữ được thế kiềm chế, bao vây địch ở một số cứ điểm. Du kích và bộ đội địa phương hoạt động đều, tiêu hao nhiều sinh lực địch. Một số cơ sở hậu cần của địch bị ta đốt phá (kho đạn chợ Cồn, kho dầu Liên Chiểu). Lực lượng du kích phát triển mạnh. Nhân dân ở vùng Điện Tiến, Điện Ngọc sử dụng vũ khí thô sơ như hầm chông, bàn chông... để giết giặc. Phong trào đấu tranh chống bắt lính lên cao, nhiều cuộc đấu tranh liên tiếp nổ ra ở Hội An, Đà Nẵng, khá đông thanh niên thoát khỏi tay giặc. Công tác địch ngụy vận được coi trọng hơn trước (trong các đồn bốt đều có cơ sở của ta). Việc bố phòng tự do được xúc tiến mạnh, nhất là các xã ven biển.
   
                      Địch mở chiến dịch Atlăng nhằm gỡ bớt thế bị động và vùng chiếm tự do Liên khu 5.
   
                      Chủ lực của Quân khu tiến lên Tây Nguyên thì địch bắt đầu đánh ra Phú Yên. Ta chỉ để lại một bộ phận nhỏ để chặn địch ở mặt này, còn lại thì hành quân tiến lên Tây Nguyên để giải phóng Kon Tum, chặn địch trên đường 19 tiến qua Đắc Lắc, đồng thời đánh mạnh ở Quảng Nam - Đà Nẵng và Khánh Hòa. Trên toàn quốc lúc này ta đang ở thế tiến công chiến lược: mở chiến dịch Điện Biên Phủ, đánh mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ. Quân ta ở mặt trận Thượng Lào, Hạ Lào cũng đang thắng lớn. Tôi được lệnh điều động về Bộ Tư lệnh Liên khu 5 đảm nhận chức vụ Tham mưu phó Liên khu. Trong chiến dịch bắc Tây Nguyên tôi được giao nhiệm vụ làm tham mưu cho chiến dịch để phối hợp với các chiến trường chính. Quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng hoạt động khá mạnh, dồn địch vào thế bị động lúng túng hơn, buộc chúng phải bỏ một số cứ điểm nhỏ để tập trung về các cứ điểm lớn như Ái Nghĩa, Vĩnh Điện, Quá Giáng, Túy Loan, Hội An, Đà Nẵng. Các trục giao thông bị du kích cắt đứt và làm chủ, việc tiếp tế của địch phải dùng máy bay một số cứu điểm (Núi Lở, Cầu Tá, v.v...) bị du kích bao vây. Tháng 7 năm 1954, ta đánh tan cuộc càn quét của địch vào vùng căn cứ du kích Điện Bàn diệt 800 tên. Bộ đội địa phương tập kích vào đồn Bồ Bồ diệt 120 tên, bắt hơn 300 tên, phá hủy 2 đại bác 105 ly và 120 xe. Tiếp đến một số cứ điểm chung quanh Đà Nẵng bị diệt (Đồn Giê-ni, đồn số 1 trên đèo Hải Vân) cầu Đờ Lát bị phá, thì có lệnh đình chiến. Từ đây, chuyển sang giai đoạn chuyển quân tập kết.


                  Một số nhận xét sơ bộ

              1. Quảng Nam - Đà Nẵng nói chung, thành phố Đà Nẵng nói riêng chiếm một chiến lược rất quan trọng ở miền Trung Đông Dương. Lực lượng ở đây tuy nhiều, song tinh thần chiến đấu bạc nhược, không có yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa, lại gặp phải đối tượng kiên cường, bất khuất, cho nên chúng càng đánh càng suy yếu và tất nhiên dẫn đến chỗ thất bại đau đớn, nhục nhã.
   
               Về phía ta, cũng do vị trí hết sức quan trọng của nó mà Trung ương, Xứ ủy, Liên khu ủy giành cho nó một số điều kiện cần thiết về cán bộ, về lực lượng vũ trang và những nhu cầu thiết yếu cho cuộc kháng chiến. Phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông, dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ, quân và dân tỉnh nhà đã đoàn kết chặt chẽ chiến đấu ngoan cường, chuyển từ không đến có, từ yếu thành mạnh, từ bị động phòng ngự chuyển qua tiến công tiêu diệt địch, góp phần đẩy mạnh cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc đến thắng lợi cuối cùng. Chính tên bại tướng Nava đã phải thừa nhận: “Quảng Nam - Đà Nẵng là một trong những chiến trường đánh mạnh nhất ở Đông Dương, nếu toàn bộ lưc lượng của chiến trường này được huy động thì cả Đông Dương sẽ bị uy hiếp”.
   
               Ngoài nhiệm vụ đánh giặc bảo vệ quê hương, quân và dân tỉnh nhà còn mở đường chi viện Hạ Lào, đi dân công phục vụ chiến trường Tây Nguyên, giúp Thừa Thiên một số điều kiện vật chất, và trong hoàn cảnh khó khăn, một bộ phận quân ta đã chuyển qua phía Nam tỉnh bạn để giúp bạn đánh địch và mở rộng khu căn cứ du kích.
   
               2. Cuộc chiến đấu của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng là một bộ phận của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Nó phản ánh lợi ích cơ bản và nguyện vọng sâu xa của toàn dân, động viên mạnh mẽ toàn dân đứng lên quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Tính chất toàn dân, toàn diện của cuộc chiến tranh đã thể hiện một cách đầy đủ và sinh động trên mọi lĩnh vực hoạt động của người dân. Nhân dân đã chấp hành triệt để lệnh tản cư, làm vườn không nhà trống, đã giúp bộ đội phá đường, dựng chướng ngại vật, xây phòng tuyến, cắt dây điện thoại trong những ngày đầu kháng chiến. Nhân dân đã giúp bộ đội vượt sông Thủy Tú thoát khỏi vòng vây của địch trong cảnh hết sức khó khăn, nguy hiểm. Nhân dân đã giấu bộ đội trong nhà, tạo điều kiện cho bộ đội ta tiêu diệt đoàn xe địch tại Thanh Quýt. Nhân dân đã hăng hái đi dân công phục vụ chiến trường, tham gia xây dựng ba thứ quân, xây dựng hậu phương vững mạnh để chi viện cho tiền phương đánh giặc.
   
               3. Lực lượng vũ trang của ta được xây dựng trên cơ sở của lực lượng chính trị, do đó, trình độ giác ngộ cách mạng của nó khá cao. Trước khởi nghĩa, một số đội tự vệ được hình thành trong hoàn cảnh hết sức thiếu thốn, khó khăn, nhưng nhờ sự bao bọc giúp đỡ của quần chúng cho nên nó tồn tại và trưởng thành. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền của ta được thành lập từ trên xuống dưới có đầy đủ uy tín và hiệu lực, các đoàn thể cứu quốc được tổ chức rộng khắp. Đó là cơ sở chính trị vững chắc để tổ chức và phát triển lực lượng vũ trang.
   
               Trong quá trình kháng chiến, hai lực lượng nói trên đã có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang lớn mạnh, và sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang đã có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng chính trị. Khẩu hiệu “toàn dân đi lính” được thực hiện. Quần chúng nhân dân đã tích cực xây dựng nhiệm vụ chính trị mà Tổ quốc và dân tộc đã giao cho. Rõ nét nhất là nhờ các hoạt động quân sự trong chiến dịch hè năm 1952, mà các tổ chức quần chúng trong vùng địch mới được củng cố lại, tư tưởng của cán bộ và nhân dân mới được ổn định, phong trào du kích chiến tranh mới được đấy lên.
   
               4. Chúng ta đã nhận thấy rằng không có hậu phương vững mạnh thì tiền tuyến không thể đánh thắng được, vì hậu phương là nguồn cung cấp sức người, sức của cho chiến tranh, là nguồn động viên, cổ vũ chính trị và tinh thần cho tiền tuyến. Do đó, trong quá trình kháng chiến, căn cứ địa và hậu phương của ta không ngừng được củng cố và mở rộng. Nó bao gồm vùng rừng núi (phía Trung Mang, Tiên Phước...) vùng đồng bằng miền biển thuộc các huyện tự do Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước... và ngay trong lòng địch cũng có những khu du kích như vùng Điện Tiến, Điện Ngọc, Hòa Tiến. Đó là chỗ đứng vững chắc cho bộ đội địa phương và quân chủ lực, là bàn đạp đánh vào hậu cứ địch, là nơi bồi dưỡng sức khỏe và luyện quân và là nguồn cung cấp nhân tài, vật lực cho cuộc chiến tranh.
   
               5. Chúng ta đã vận dụng một cách thích hợp nghệ thuật quân sự trong điều kiện và khả năng của ta. Điều đó thể hiện trên nhiều hình thức chiến thuật như sau:
   
               Trong 3 ngày đầu kháng chiến, quân ta kiên quyết giữ chân địch trong thành phố để đồng bào có đủ thời giờ lánh giặc và phân tán tài sản.
   
               Trước sự tấn công ào ạt của địch, quân ta vừa đánh vừa chặn địch, vừa rút lui có mức độ để bảo tồn lực lượng, quân ta vừa đánh địch ở chính diện, vừa cho một số bộ phận chuyển đánh địch ở sau lưng. Khi địch đóng đồn bốt và tiến hành bình định thì quân ta Chuyển sang đánh giao thông, chống càn quét, diệt tề trừ gian ngay sào huyệt địch, rồi tiến lên đánh cứ điểm và các công sự cải tiến.
   
               Nghệ thuật quân sự của ta thể hiện ở chỗ có lúc ta tập trung đánh những trận lớn, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng căn cứ du kích, giải phóng đất đai. Nhưng cũng có khi ta phân tán thành nhiều bộ phận nhỏ, thọc vào lòng địch để tiêu hao sinh lực địch và hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh.
   
               Nghệ thuật quân sự của ta thể hiện ở chỗ ta tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, lợi dụng sơ hở của địch, dùng yếu tố bất ngờ đánh những đòn đau vào hậu cứ địch, chẳng hạn như ta không đánh vào hướng Thu Bồn mà chuyển quân ra đánh đèo Hải Vân, uy hiếp thành phố Đà Nẵng, hoặc như ta tiêu diệt một “pôlôtông” cơ giới của địch tại Gò Cà.
   
               Nghệ thuật quân sự của ta còn thể hiện ở chỗ ta đã sử dụng cả 3 thứ quân đánh địch một cách nhịp nhàng, dùng lực lượng du kích và bộ đội địa phương đánh thường xuyên liên tục, từng vùng nhỏ, còn quân chủ lực thì đánh tập trung trong thời gian tương đối dài, với quy mô tương đối rộng.
   
               Nghệ thuật quân sự của ta còn thể hiện ở chỗ ta dùng lực lượng một cách thích hợp, trong đó hết sức chú trọng dùng lực lượng ít mà đạt hiệu quả chiến đấu cao, nhưng lối đánh đặc công là một trong hai nơi ở Liên khu 5 áp dụng đầu tiên lối đánh đó và đã đánh mạnh nhất.
   
               Ngoài ra, nghệ thuật quân sự của ta còn thể hiện trên nhiều hình thức diệt địch khác nhau, như đánh phá các cơ sở hậu cần của địch, vừa đánh địch vừa làm công tác địch vận, tiến công quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị. Kho xăng Liên Chiểu bị ta đốt nhiều lần, trong các đồn bốt địch đều có manh mối của ta, nhiều cuộc đấu tranh bắt lính đã xảy ra trong thành phố Đà Nẵng và thị xã Hội An đã chứng minh điều đó.
   
               Sở dĩ lực lượng quân sự của tỉnh nhà ngày càng trưởng thành và lập nhiều công tích vẻ vang là do một yếu tố quan trọng nhất, đó là sự lãnh đạo sáng tạo sáng suốt của Đảng mà cụ thể là Xứ ủy, Liên khu ủy và Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng.
   
               Đó là sự vận dụng một cách sáng tạo đường lối chiến lược, chiến thuật quân sự của Đảng vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của chiến trường tỉnh nhà. Đó là sự hiệp đồng chặt chẽ giữa quân sự và chính trị, giữa các cơ quan quân dân, chính Đảng từ trên xuống dưới. Tinh thần đó được thể hiện rõ nét trong các Nghị quyết quan trọng của Tỉnh ủy, của Ủy ban Quân sự tỉnh nhà và trong quá trình thực hiện các Nghị quyết đó ở các ngành hữu quan và các cấp ủy, địa phương. Nó còn thấm sâu trong quảng đại quần chúng và tiêu biểu nhất là sự gắn bó keo sơn giữa quân đội và nhân dân.


28-2-1976
Theo lời kể của đồng chí Nguyễn Bá Phát
tại nhà 34 Hàng Chuối, Hà Nội.
Trần Cang ghi




Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 10 Tháng Hai, 2017, 08:00:53 PM
NGUYỄN BÁ PHÁT, NGƯỜI CÁN BỘ QUÂN SỰ ƯU TÚ CỦA LIÊN KHU 5
Trung tướng Nguyễn Đôn(1)

                 Năm tháng đã trôi qua, hơn nửa thế kỷ. Quân đội và nhân dân Liên khu 5 vẫn còn nhớ mãi đồng chí Nguyễn Bá Phát, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 tiếp phòng quân Đà Nẵng, nguyên Tham mưu phó Liên khu 5, Tham mưu trưởng chiến dịch bắc Tây Nguyên năm 1953-1954. Sau này là Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam, với tất cả hình ảnh của một cán bộ ưu tú của Quân đội nhân dân Việt Nam, tiêu biểu của Liên khu 5.
   
                 Sự nghiệp cách mạng của một con người thường tỏ rõ lên nhiều mặt, nhất là trong cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, toàn dân, toàn diện của dân tộc anh hùng ta. Đồng chí Nguyễn Bá Phát cũng vậy. Nhưng ở đây chúng tôi xin nhắc lại những chiến công, với những phẩm chất cao đẹp của đồng chí từ thời đầu tiên đánh Nhật và suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ ở Liên khu 5 chúng ta. Đánh Nhật cố thủ trong nhà băng Đông Dương ở Quy Nhơn, anh thanh niên Nguyễn Bá Phát, mới được giác ngộ vì lòng yêu nước, đã mở đầu sự nghiệp chiến tích của mình bằng một sáng kiến, dùng búa đóng vào hột nổ đạn đại bác thay cho kim hỏa bị mất, của khẩu pháo duy nhất ta có được vào ngày mới khởi nghĩa. Tiếng súng nổ vang trời, lở đất khiến cho bọn Nhật ngoan cố phải đầu hàng. Lúc ấy anh chỉ là người lính trơn của quân đội thực dân mới quay về cách mạng. Những biểu hiện tích cực đầu tiên của anh đã giúp cho các đồng chí lãnh đạo của ta phát hiện ra phần nào ý chí đánh giặc của anh, sự năng động của anh, đã nhanh chóng lựa chọn anh, mạnh dạn đưa anh lên từ cấp bậc này đến cấp bậc khác, đến cấp chi đội rồi đại đoàn, không qua các thang nấc bình thường, đại đội hay tiểu đoàn. Thực tế trên chiến trường nam Tây Nguyên lúc bấy giờ, trong cuộc chiến đấu không cân sức với quân Pháp được quân Anh, Nhật ủng hộ, đã bộc lộ những nỗ lực ban đầu của anh, không những tiêu hao lực lượng của địch, làm chậm bước tiến của chúng, mà còn bảo tồn được lực lượng của ta, đưa quân về vùng tự do an toàn. Anh đã được nâng nhấc lên chức vụ Tham mưu trưởng Đại đoàn 23 rồi được bổ nhiệm Chỉ huy trưởng mặt trận An Khê.
   
                 Bắt đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, anh được điều về mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, nơi chôn nhau cắt rốn của anh, một chiến trường quan trọng. Ở đơn vị này, người chỉ huy cũ của Trung đoàn 96 tiếp phòng quân đã bỏ lỡ cơ hội, không dũng cảm đương đầu với quân giặc. Trong hai, ba ngày đầu tiên nắm Trung đoàn, với tất cả uy lực của một cán bộ chỉ huy, dưới làn đạn địch, Nguyễn Bá Phát đã nắm chắc được đơn vị, tổ chức chiến đấu, ngăn chặn được quân thù. Từ đó đơn vị lập được nhiều chiến công có tiếng vang trong thời kỳ đầu kháng chiến ở Đà Nẵng, và nhất là ở đèo Hải Vân “Đệ nhất hùng quan” của đất nước đã từng nổi tiếng từ thuở xa xưa.
   
                 Trong trận Hải Vân 3, anh đã nắm gần 2.000 quân kể cả dân quân phục vụ chiến trường, đánh địch cả trên tuyến đường xe lửa và xe hơi. Chiến thắng toàn vẹn anh lui quân trở về. Giặc Pháp đưa hàng ngàn quân ra chặn đường độc đạo phải qua sông lớn, phải qua nhiều suối của anh. Nguyễn Bá Phát đã tổ chức cuộc “Lui quân giữa lòng dân”. Chính quyền và nhân dân tây bắc Hòa Vang vui mừng hân hoan với chiến thắng đã vớt thuyền đang cất giấu dưới đáy sông lên, trong một đêm đưa hết đội quân qua sông về đến căn cứ an toàn. Hàng ngàn quân địch đã chưng hửng, ngạc nhiên không sao hiểu nổi sức mạnh thần kỳ của chiến tranh nhân dân đã đưa quân ông Phát trở về căn cứ an toàn.
   
                 Đó cũng chính là lúc quân và dân ta bắt đầu nỗ lực chuyển cuộc kháng chiến sang giai đoạn mới, tích cực cầm cự chuyển mạnh sang tổng phản công với nỗ lực hình thành các đơn vị Tiểu đoàn và Trung đoàn chủ lực để giáng cho địch những đòn đau hơn. Với sự ra đời của Trung đoàn 108 và 803, những chiến dịch tương đối lớn đã bắt đầu mở ra trên đất Quảng Nam trung dũng kiên cường và cả trong toàn Liên khu 5.
   
                 Nguyễn Bá Phát - người cán bộ năng động và sung mãn tinh thần chiến đấu tiêu diệt địch đã được tín nhiệm nắm Trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu, trước tiên là Trung đoàn 210, sau đổi tên Trung đoàn 108, đã ghi vào trang sử của Liên khu 5 những nét son rực rỡ của cuộc chiến tranh nhân dân.
   
                 Chỉ huy cả một Trung đoàn 108 lớn như vậy, đi từ chiến khu xuống vượt qua bao nhiêu đồn bót của địch. Anh Phát đã bố trí đơn vị phục kích nằm ngay trong các xóm làng khá đông đúc trên quốc lộ 1, chuẩn bị cho cuộc giao thông chiến lớn. Anh đã ém đơn vị nằm ngay trong nhà đồng bào với tất cả niềm tin ở nhân dân Điện Bàn, Hòa Vang sẽ giữ gìn bảo vệ bộ đội, không để lộ một tin tức nào cho giặc Pháp. Bọn chúng vẫn thường xuyên đi tuần tiễu trên đường quốc lộ, có lúc lùng sục sâu vào thôn xóm. Trung đoàn diệt cả một tiểu đoàn lính hỗn hợp lê dương và quân ngụy. Địch vẫn chưa giải thích nổi vì sao bí mật chiến trường ta vẫn giữ được đến phút cuối cùng khi quân ta xuất kích.
   
                 Nhân dân vô cùng ca ngợi thành tích của “Bộ đội Cụ Hồ” ở ngay trong lòng dân bất thần đánh địch. Họ không nghĩ rằng, chính bản thân họ là chủ thể làm nên chiến thắng thần kỳ, ủng hộ và giữ bí mật cho bộ đội ta.
   
                 Cuộc kháng chiến của ta, lực lượng của ta cứ phát triển đi lên phía trước. Bất chấp bao nhiêu thủ đoạn của quân giặc, nào là hệ thống tháp canh Đờ La-tua, nào là những dãy đồn bót kiên cố dựng lên theo kế hoạch của tên tướng đầu sỏ Đờ-lát Đờ Tát-xi-nhi, để ngăn chặn quân ta không tìm được không gian yên lành để trú quân hay đứng chân đánh lại chúng. Chúng không thể nào loại trừ được bộ đội ta, vận dụng các chiến thuật nội công, ngoại kích, các chiến thuật kỳ tập để diệt hàng loạt đồn bót địch ở Ngũ Giáp, ở Thu Bồn khiến cho quân địch hoang mang, bàng hoàng. Nhưng một vấn đề được đặt ra là làm sao vừa tiêu diệt được lực lượng địch, nhưng vẫn bồi dưỡng được lực lượng ta, để phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn chuẩn bị tổng phản công. Nghĩa là không chỉ đưa quân vận động đi đánh đông dẹp tây, nhưng chủ yếu là phải tiêu diệt được sinh lực địch, mà còn phải khai thác được kho tàng của địch để nhanh chóng bồi dưỡng cho lực lượng ta. Không những chúng ta vận động đi đánh các đơn vị ứng chiến, quân lưu động của địch mà còn phải mạnh mẽ tiến công vào các đồn bót căn cứ của địch để thu cho được vũ khí đạn dược và phương tiện chiến tranh khác của chúng. Vấn đề là phải tiêu diệt các đoàn quân ứng chiến của địch, mà còn phải tiêu diệt quân trong căn cứ, để chiếm các kho hậu cần bồi dưỡng lực lượng cho ta. Trong khi đó sự chi viện của miền Bắc vào Liên khu 5 lúc bấy giờ thật là quý giá, nhưng vẫn hạn chế trên đôi vai của anh bộ đội. Ta còn thiếu các phương tiện hỏa lực, đại bác, pháo binh, mặc dầu về sau này có những trận đánh ta vẫn thu được ít nhiều đại bác. Phải tiến tới tiêu diệt các căn cứ của địch, đó là khẩu hiệu hành động của bộ đội ta cùng với việc vận động tiêu diệt các đơn vị ứng chiến của địch.
   
                 Nguyễn Bá Phát đã cùng tập thể chỉ huy của Trung đoàn, của Liên khu suy nghĩ cách tiến công tiêu diệt các đồn bót lớn của địch. Trận chuẩn bị đánh đồn binh kiên cố của địch, đồn Konplong án ngữ miền tây Quảng Ngãi, ở trên giao cho Trung đoàn 108 là một thách thức mới với người chỉ huy đơn vị chủ lực đầu tiên của Quân khu. Anh Phát đã vận dụng nhiều kinh nghiệm của ta và của bạn, làm sao đưa cho được các vũ khí mà ta mới được chi viện của miền Bắc như súng phóng bom, ĐKZ vào sát các công sự kiên cố để tiêu diệt địch. Được sự giúp đỡ và cộng tác của ngành quân khí, ta đã sáng tạo ra cách đưa các vũ khí ta hiện có vào sát các cứ điểm của địch, để tiêu diệt các lô cốt, ụ pháo, ụ xe tăng của địch, để xóa sổ bọn chúng, làm chủ hoàn toàn trận đánh. Những lá chắn bằng thép hay các bao cát bảo vệ cho các xe đẩy, trên đó có đặt ĐKZ, súng phóng bom, giúp cho bộ đội ta tiếp cận và tiêu diệt hệ thống phòng ngự mạnh của địch từ 1-2 đại đội trở lên ở đồn Konplong. Ta đã chọc thủng được hệ thống phòng ngự kiên cố của địch, bắt tù binh thu một số lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh, hơn gấp mấy lần số mà ta phải tiêu hao trong lúc chiến đấu.
   
                 Chiến thắng Konplong đã mở đường cho bộ đội ta tiến lên chiến trường Tây Nguyên, có vị trí chiến lược hàng đầu của Liên khu 5. Mở đầu bằng chiến dịch tiêu diệt Cửu An - Thủy Tú - Đầu Đèo kết hợp với việc đánh quân tiếp viện trên đường Hoàng Hoa Thám. Lúc này anh Phát đã được đưa lên làm Tham mưu phó của Liên khu, phụ tá cho Bộ Tư lệnh, đang chỉ huy cả hai trung đoàn chủ lực trong chiến dịch lớn này.
   
                 Sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang ta trên chiến trường Việt Nam nói chung và của riêng Liên khu 5, với sự phát triển của ba thứ quân ở chiến trường địch hậu đã đặt ra một nguy cơ cho quân đội Pháp. Na-va (Henri Navarre), Tổng tư lệnh mới của Pháp phải đề ra chiến lược: “Giữ thế phòng ngự ở miền Bắc, thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam”. Được sự tiếp tay của quan thầy Mỹ, Na-va tập trung lực lượng cơ động khá lớn hơn 40 tiểu đoàn cùng với lực lượng địa phương tiến chiếm vùng tự do Liên khu 5, từ Bình Định đến Phú Yên, cái gai đã làm nhức nhối tim gan của quân đội Pháp ở Đông Dương.
   
                 Địch đã không ngờ rằng, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối tác chiến chiến lược của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 đã nắm vững phương châm chiến lược của ta, giao việc bảo vệ vùng tự do chủ yếu cho lực lượng địa phương. Còn chủ lực vẫn ung dung tiến lên bắc Tây Nguyên, mở chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 cùng một lúc mở cuộc tiến công như vũ bão vào hệ thống của địch ở Măng Đen, Măng Bút, Konbraik của địch.
   
                 Lúc bấy giờ, tôi (Nguyễn Đôn) trên cương vị Tham mưu trưởng của Liên khu 5 theo dõi sát sao cuộc chiến đấu bảo vệ vùng tự do chống lại các đơn vị chủ lực cơ động của Na-va. Đồng chí Phát với tất cả sự năng nổ rất tích cực, với cương vị mới là Tham mưu phó của Liên khu 5, anh được đưa lên làm phụ tá cho anh Chánh, Tham mưu trưởng của chiến dịch bắc Tây Nguyên. Anh đã đôn đốc việc vạch ra và thực hiện kế hoạch tác chiến Đông Xuân ở bắc Tây Nguyên. Có thể nói: Anh đã làm trọn nhiệm vụ đó một cách xuất sắc, kể cả lúc Trung đoàn 96 phục kích tiêu diệt Binh đoàn cơ động 100 của Pháp trên quốc lộ 19, cũng như lúc các Trung đoàn 108, 96 và 803 tiếp tục triển khai cuộc chiến đấu vào phía nam Tây Nguyên cho đến khi cuộc chiến tranh chấm dứt với việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ giữa ta và Pháp năm 1954.
   
                 Khi chuẩn bị chiến trường, anh Phát thường đi Sâu, đi sát, nắm chắc tình hình địch và tình hình ta đến từng chi tiết, kể cả đi đến hàng rào của quân địch, với tất cả tinh thần trách nhiệm suy nghĩ tiết kiệm xương máu của cán bộ và chiến sĩ ta. Đảng ủy và Bộ Tổng chỉ huy của ta đã đánh giá đúng phẩm chất chính trị, năng lực, quân sự của anh, đã đưa anh ra miền Bắc phụ trách xây dựng lực lượng Hải quân của ta từ trong trứng nước, đi lên thành một Quân chủng hùng mạnh, có thể chiến thắng cả quân đội Mỹ. Cho đến hôm nay, vinh dự của Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát cũng là vinh dự của bộ đội Liên khu 5, đã cung cấp một cán bộ tài ba cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguyễn Bá Phát đã có lập trường chiến đấu kiên định, tích cực tiến công kẻ thù, năng động và sáng tạo, không lùi bước trước khó khăn trở ngại nào. Tác phong của anh dễ thu hút và thuyết phục nhiều người, kể cả sĩ quan và chiến sĩ.

                                 
N.Đ


(1). Nguyên Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Liên khu 5, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.




Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 10 Tháng Hai, 2017, 08:03:26 PM
CHIẾC ĐỒNG HỒ BÁC HỒ TẶNG ĐỒNG CHÍ TƯ LỆNH HẢI QUÂN
                        
Thượng tá Trần Thanh Hằng

                 Một trong những chiếc đồng hồ Bác Hồ tặng cho các vị tướng có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của đất nước, hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, có một chiếc đồng hồ của Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

                   Đồng chí Nguyễn Bá Phát, quê ở thôn Trung Sơn, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, tham gia cách mạng từ năm 1945, từng là chỉ huy trưởng quân sự tổng Thái Hòa huyện Hòa Vang tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 12 năm 1946, đồng chí là chỉ huy trưởng Thủy đội Bạch Đằng, đánh lính Nhật ở nhà băng Quy Nhơn. Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí giữ nhiều chức trách quan trọng: từng là Chi đội phó Chi đội Phan Đình Phùng, Tham mưu trưởng Liên Khu 5, tham gia chỉ huy bộ đội chiến đấu lập công xuất sắc tại Liên khu 5.
   

                  Tháng 10 năm 1954, đồng chí là Sư đoàn phó Sư đoàn 305, đồng chí là Cục phó Cục Phòng thủ bờ biển, Cục phó Cục Hải quân. Năm 1958, đồng chí được phong quân hàm đại tá. Từ tháng 1 năm 1964 đến tháng 11 năm 1964, đồng chí là Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân. Từ tháng 12 năm 1964 đến tháng 2 năm 1975, đồng chí là Tư lệnh Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam kiêm Tư lệnh Quân khu Đông Bắc; Ủy viên Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng. Năm 1974, đồng chí là Tư lệnh Hải quân Tiền phương tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Từ tháng 9 năm 1976 đến năm 1987, đồng chí là Thứ trưởng Bộ Hải sản kiêm Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ.
   

                  Chúng tôi đến sưu tầm hiện vật tại nhà Thiếu tướng sau 10 năm đồng chí qua đời. Trên bàn thờ có nhiều kỷ vật về đồng chí: đó là ngôi sao vàng trên nền xanh gắn trên mũ mềm, những tập nhật ký và những tấm huân chương cao quý Đảng, Nhà nước tặng đồng chí. Đáng chú ý có chiếc đồng hồ mà đồng chí luôn giữ bên mình và coi đây là vật quý giá nhất trong đời của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương cao cả, thiêng liêng nhất, đồng chí luôn tự thấy mình phải phấn đấu hơn nữa để xứng đáng với phần thưởng cao quý này.
   

                  Trong tập hồi ký của mình, đồng chí có viết một đoạn kỷ niệm về Người: “Tôi nhớ vào dịp cuối năm 1961, Bác Hồ được tin vui các tỉnh Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Bà Rịa... đã tổ chức được 6 thuyền vượt biển ra Bắc an toàn. Ông cụ mừng lắm nên không đợi tôi lên Hà Nội báo cáo với Cụ mà bí mật xuống Hải Phòng gặp tôi. Tôi hoàn toàn bất ngờ khi thấy ông Cụ đẩy nhẹ cánh cửa phòng làm việc của tôi. Bất chợt tôi ngước lên bắt gặp ông Cụ có chòm râu bạc như tiên, không lẫn vào ai được. Tôi như con nai ngơ ngác, chưa kịp reo lên, ông Cụ ra hiệu cho tôi im lặng. Bất giác, tôi xúc động, nước mắt trào dâng. Ông Cụ chủ động nói: “Bí mật, bất ngờ là bí quyết của mọi thắng lợi, phải không chú Phát”. Tôi chưa kịp thốt lên chữ vâng, ông Cụ đã hỏi: Thế các chú trong ấy ra đi đâu cả rồi? Tôi bối rối: Các đồng chí trong ấy ra đêm qua, trời rét quá, lẽ ra đêm qua cháu phải lên Hà Nội báo cáo với Bác và các đồng chí Trung ương, nhưng sợ mất giấc ngủ, định sáng nay lên thì Bác đã xuống. Ông Cụ hỏi tôi về sự đón tiếp anh em Quân giải phóng có chu đáo không? Có đưa áo bông cho các chú ấy mặc không? Tôi thưa với Bác là chúng cháu đã đưa anh em về nghỉ tại số 83 Lý Nam Đế, Hà Nội. Bác khen chúng tôi thế là tốt. Bác còn nhắc đi nhắc lại hai chữ “bí mật” để tôi nhập tâm. Trước khi lên xe trở về Hà Nội, Bác kéo tôi ra đầu hồi nhà làm việc nơi có cây bàng che kín gió. Bác nói nhỏ vừa đủ cho tôi nghe: “Chú là gốc lính thủy Pháp, chú có nhiều kinh nghiệm đi biển, đánh thắng thằng Mỹ này phải khác với đánh thắng thằng Pháp. Chú đã có công quật ngã thằng Pháp ở dưới mặt biển, thì bây giờ chú phải quật ngã tiếp thằng Mỹ xâm lược này nữa chứ, chú Phát!” Nói rồi Bác cười. Tôi như nuốt từng lời của Bác.
   

                  Như được tiếp thêm sức mạnh, tôi cùng cán bộ, chiến sĩ Hải quân dốc hết tâm huyết của mình xây dựng lên một đoàn tàu không số, một con đường mòn trên biển bất chấp sóng gió, tàu chiến, máy bay, bom đạn của Hạm đội 7 Mỹ. Các con tàu không số cứ tiếp nối nhau vận chuyển vũ khí trang bị tiếp tế cho chiến trường miền Nam cho đến ngày Mỹ cút, ngụy nhào, Bắc Nam sum họp một nhà.
   

                  Câu chuyện cũ in đậm trong tâm tưởng của tôi. Mỗi lần nhớ lại kỷ niệm không thể quên đó, tôi lại giở những trang nhật ký cũ ra xem lại, hồi tưởng lại những khuôn mặt của những cán bộ, chiến sĩ đã đi trên các chuyến tàu không số đã mãi mãi không trở về và tự hỏi mình có việc gì đó chưa làm đúng với vinh dự trách nhiệm của người lính Cụ Hồ”.
   

                  Bây giờ kỷ vật của vị tướng Tư lệnh Quân chủng Hải quân đã trở thành hiện vật vô giá của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, mỗi khi chúng ta ngắm nhìn chiếc đồng hồ này, nghe câu chuyện của lớp cha anh, hẳn mỗi chúng ta sẽ có chung ý nghĩ của vị tư lệnh, có điều gì mình đã làm chưa xứng đáng với lớp người đi trước, phải cố gắng hơn nữa để xây dựng vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

                                 
T.T.H


Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 10 Tháng Hai, 2017, 08:15:28 PM
TRUNG ĐOÀN TRƯỞNG VÀ CHÍNH ỦY
Đại tướng Nguyễn Quyết(1)

                  Đà Nẵng là một hải cảng lớn, một căn cứ quân Sự quan trọng không chỉ ở nước ta mà cả ở miền Trung Đông Dương. Chiếm đóng Đà Nẵng, địch có âm mưu tiêu diệt lực lượng ta, mở rộng đánh chiếm vùng tự do, khai thông đường 14, đường đèo Hải Vân, cắt đứt hành lang đông tây, nam bắc, cô lập Liên khu 5, hoàn thành chia cắt chiến lược chiến trường Đông Dương dọc theo vĩ tuyến 16, vơ vét sức người, sức của ở miền Nam, làm bàn đạp tấn công chiến trường chính miền Bắc giành thắng lợi quyết định. Vì vậy, bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc, Quảng Nam - Đà Nẵng là chiến trường chính cả của ta và địch ở Liên khu 5.

                   Để chuẩn bị cho chiến trường trọng điểm này, Quân khu ủy điều đồng chí Đàm Quang Trung làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ làm Chính trị viên, đồng chí Nguyễn Bá Phát làm Chỉ huy phó. Tôi là Quân khu ủy viên được phân công về làm phái viên ở mặt trận. Vài tháng sau, đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ được điều đi công tác khác, tôi được chỉ định thay. Từ đó, tôi và đồng chí Nguyễn Bá Phát gắn bó với nhau ở chiến trường này mãi đến khi về Quân khu (5-1950).
   
                   Lực lượng chiến đấu ở đây có 2 trung đoàn. Trung đoàn 96 chịu trách nhiệm giam chân địch ở nội thành, Trung đoàn 93 phụ trách ở vòng ngoài, dọc sông Cẩm Lệ đến Mỹ Thị, núi Non Nước đến cầu Đỏ, phối hợp với Trung đoàn 96 ngăn không cho địch mở rộng chiếm đóng ra đông nam Đà Nẵng và sẵn sàng chi viện cho Trung đoàn 96.
   
                   Do không nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh nổ súng vào giờ quy định, đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 bị Quân khu cách chức. Ngay lập tức, đồng chí Nguyễn Bá Phát, chỉ huy phó mặt trận, được cử về thay trong tình huống đầy khó khăn phức tạp, yếu tố bí mật bất ngờ không còn nữa. Nhưng nhờ quán triệt đường lối chủ trương của Đảng, mệnh lệnh của Ban chỉ huy mặt trận, đồng chí đã kịp thời ổn định tinh thần cán bộ chiến sĩ, xoay chuyển tình thế. Được sự phối hợp chặt chẽ của Trung đoàn 93 và nhất là có thuận lợi lớn là phong trào chiến tranh nhân dân khá cao đã được các cấp ủy Đảng ở địa phương phát động, Trung đoàn 96 đã cùng tự vệ, công an, thanh niên nêu cao tinh thần quyết tử, bám sát quân thù, bẻ gãy từng đợt tiến công, giữ từng ngôi nhà, đoạn đường, góc phố. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt. Có tiểu đội hy sinh đến người cuối cùng để ngăn chặn, bao vây, ghìm chân địch, tiêu hao sinh lực địch và bảo toàn lực lượng ta để chiến đấu lâu dài.
   
                   Cuối tháng 1 năm 1947, trong lễ tuyên dương thành tích chiến đấu của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng, Trung đoàn 96 được vinh dự nhận lá cờ thêu hai chữ “Giữ vững” do đồng chí Phạm Văn Đồng đại diện Đảng và Chính phủ Trung ương trao tặng.
   
                   Sau hơn một vài tháng tiến công, quân Pháp tuy chiếm được Đà Nẵng, tây bắc Hòa Vang, nối thông đường đèo Hải Vân những vẫn chưa vượt được sông Cẩm Lệ để tiến về phía nam đánh chiếm vùng tự do của ta. Sau những ngày điều chỉnh lực lượng, được viện binh mới, địch dùng toàn lực mở cuộc tiến công lớn hòng phá vỡ vòng vây của ta ở Đà Nẵng. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch tiếp tục giằng co quyết liệt.
   
                   Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban Quân sự và Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng, Trung đoàn 96 và Trung đoàn 93 đã cùng với dân quân du kích xác định nhiệm vụ và phương thức chiến đấu, bố trí lại đội hình, vừa tiến công vừa phòng thủ, vừa chặn đánh địch ở phía trước, vừa thọc sâu vào sau lưng địch, vừa quấy rối, tiêu hao địch ở nội thành, vừa phục kích chặn đánh địch trên đường hành quân.
   
                   Có thể nói, sau 6 tháng ngoan cường chiến đấu, ta vừa đánh vừa xây dựng, vừa bảo toàn lực lượng, vừa phát động phong trào nhân dân du kích chiến tranh, vừa đánh vừa trưởng thành về mọi mặt. Trong lúc địch ào ạt tiến công, các trung đoàn chủ lực, đặc biệt là Trung đoàn 96, không những đánh trả địch khắp nơi mà còn giành thắng lợi vang dội, làm tiêu hao sinh lực địch, thu được súng, làm cho nhân dân tin tưởng phấn khởi, quân thù khiếp sợ như trận Đại La, Ba Khe và nhất là các trận đánh trên đường đèo Hải Vân từ đầu năm 1947, đã tiêu diệt nhiều đoàn xe địch, thu vũ khí, diệt nhiều sĩ quan và binh lính địch trong đó có đại tá Roger, chỉ huy phân khu Đà Nẵng.
   
                   Đây là giai đoạn đầu, cực kỳ khó khăn gian khổ. Ta đã sử dụng lực lượng chủ lực tinh nhuệ của địch, góp phần cùng cả nước làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh chiếm vùng tự do, buộc địch phải chuyển hướng chiến lược, quay về bình định vùng tạm chiến bắt đầu từ tháng 7 năm 1947, sớm hơn cả nước. Từ đó cho đến hết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng tạm chia làm 2 vùng rõ rệt: vùng tạm bị chiếm từ nam sông Thu Bồn trở ra đến đèo Hải Vân; vùng tự do từ nam sông Thu Bồn trở vào, nối liền với các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và gần hết tỉnh Phú Yên, hình thành một căn cứ vững chắc, làm hậu phương rộng lớn có tầm quan trọng quyết định không những cho cuộc kháng chiến ở Liên khu 5 mà cả miền nam Đông Dương.
   
                   Trong chiến thắng to lớn của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Ủy ban Quân sự và Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã tỏ ra là một cán bộ nghiêm túc, dũng cảm mưu trí chấp hành mệnh lệnh, được Quân khu, Ban chỉ huy mặt trận đánh giá cao. Tháng 6 năm 1947, đồng chí vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng.
   
                   Việc chống chiến lược bình định của địch diễn ra trong thời gian dài, vô cùng phức tạp, đầy hy sinh gian khổ. Để chuyển yếu thành mạnh, ta phải phát động chiến tranh toàn dân, toàn diện cả vùng tự do và vùng bị tạm chiếm, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh và sản xuất, giữa chiến đấu và xây dựng lực lượng. Riêng về quân sự, bộ đội chủ lực ta vừa chiến đấu vừa xây dựng cơ sở chính trị, cở sở vũ trang, xây dựng làng chiến đấu, xây dựng căn cứ, phát động nhân dân du kích chiến tranh, vừa đánh vừa nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, từng bước xây dựng bộ đội địa phương đủ sức làm nhiệm vụ chiến đấu tại chỗ để chủ lực sẵn sàng rút đi làm nhiệm vụ cơ động, bước đầu đánh cứ điểm nhỏ, đội ứng chiến nhỏ, tiến lên đánh cứ điểm vừa, đội ứng chiến vừa, từ quy mô đại đội đến tiểu đoàn, biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta.
   
                   Qua một năm thực hiện phương châm “du kích là chính, vận động chiến là phụ trợ nhưng cần đẩy vận động chiến tiến tới”, các đơn vị chủ lực đã phối hợp với dân quân du kích Quảng Nam - Đà Nẵng thực hiện việc chấn chỉnh lực lượng, kết hợp luyện quân với lập công, bám đất bám dân, tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm phát động chiến tranh du kích đạt kết quả, tạo điều kiện mở chiến dịch giành thắng lợi lớn.
   
                   Đông Xuân 1948-1949, thực hiện chủ trương của Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu 5, Trung đoàn 108 được tăng cường Tiểu đoàn 19 và Tiểu đoàn 79 của Quân khu, phối hợp cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích, mở một đợt hoạt động mạnh trên toàn tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Đồng chí Nguyễn Bá Phát - Trung đoàn trưởng và tôi - Chính ủy Trung đoàn 108 phụ trách đợt hoạt động này. Hướng đánh địch đầu tiên là đường đèo Hải Vân. Sáng ngày 24 tháng 1 năm 1949, quân ta phục kích tại đường ô tô và đường xe lửa, diệt 1 đoàn tàu quân sự và 1 đoàn xe cơ giới 18 chiếc của địch từ Đà Nẵng chạy ra Huế, phá hủy 1 đầu máy, 12 toa xe lửa, 15 xe cơ giới, diệt và làm bị thương hơn 300 tên địch. Tiếp đó, một đoàn xe 12 chiếc chạy từ Huế vào tiếp viện đến cầu Roger, 200 tên Pháp nhảy xuống, 40 tên bị quân ta tiêu diệt tại chỗ. Đây là trận thắng lớn thứ 3 của quân và dân ta trên đèo Hải Vân kể từ đầu năm 1947. Chiến thắng Hải Vân lần thứ 3 là thắng lợi của sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, là một điển hình tiêu biểu của chiến tranh nhân dân vùng sau lưng địch, thể hiện sinh động phong trào toàn dân đánh giặc và sự kết hợp chặt chẽ giữa Đảng bộ địa phương và Đảng bộ trong quân đội trong quá trình chuẩn bị chiến trường, thực hành chiến đấu và bảo toàn lực lượng lúc lui quân.
   
                   Sau một thời gian phân tán nhỏ, hỗ trợ cho phong trào du kích, ngày 3 tháng 2 năm 1949, Tiểu đoàn 79 phối hợp với 1 đại đội của Tiểu đoàn 19 đánh một trận phục kích lớn tiêu diệt toàn đại đội Tabo (Âu Phi), phá hủy và đốt cháy 14 xe cơ giới của địch tại Gò Cà, trên đường Ái Nghĩa đi Túy Loan (Hòa Vang).
   
                   Trận đèo Hải Vân và trận Gò Cà là hai hoạt động tập trung có những yếu tố của một chiến dịch, lần đầu xuất hiện trên chiến trường Nam Trung Bộ.



Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 10 Tháng Hai, 2017, 08:18:55 PM
                 Đợt hoạt động quân sự mạnh trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng đã góp phần thực hiện mục đích của Liên khu đề ra vừa tiêu diệt một phần sinh lực địch, vừa thúc đẩy phong trào nhân dân du kích chiến tranh vùng sau lưng địch phát triển lên một bước. Lực lượng bộ đội địa phương tuy mới thành lập nhưng đã trưởng thành vượt bậc, tiêu biểu là trận đánh độc lập, phục kích độn thổ giữa ban ngày của đại đội 8, bộ đội địa phương huyện Điện Bàn vào ngày 6 tháng 3 năm 1949, diệt 2 tiểu đội địch và trận tiêu diệt đồn núi Lở, san bằng 1 lô cốt, diệt gọn 1 trung đội địch của bộ đội địa phương và du kích huyện Đại Lộc. Đây là trận đánh có cơ sở nội ứng của binh vận và giành thắng lợi đầu tiên ở chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng.

                 Từ kinh nghiệm của đợt hoạt động Đông Xuân 1948-1949, Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu 5 quyết định mở chiến dịch hè thu 1949 tại chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng mang tên Phạm Văn Đồng. Lực lượng tham gia gồm Trung đoàn 108 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích tỉnh. Chiến dịch nhằm mục đích phối hợp với chiến trường toàn quốc, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, phá tan âm mưu chiếm vùng tự do phía tây huyện Đại Lộc của địch, nối liền từ Đà Nẵng đi Kon Tum, đẩy mạnh chiến tranh du kích... tạo thế chiến trường cho hoạt động Đông Xuân 1949-1950. Mục tiêu chủ yếu trước mắt là cứ điểm Thu Bồn, một cứ điểm then chốt của địch trên tuyến phòng thủ phía nam do 1 đại đội Âu Phi có nhiệm vụ chiếm giữ, ngăn chặn ta tiến công, đồng thời làm chỗ dựa cho ngụy quân, ngụy quyền kìm kẹp, đàn áp nhân dân vùng xung quanh.
   
                Đúng 16 giờ ngày 18 tháng 8 năm 1949, được sự giúp đỡ của cơ sở trong bộ máy ngụy quyền xã và nhân dân địa phương, 1 đại đội của Tiểu đoàn 39 phối hợp với Đại đội 7 của huyện Duy Xuyên và một trung đội trinh sát cải trang hướng dẫn, nổ súng tiêu diệt cứ điểm địch ở Kiểm Lâm, La Tháp, Giao Thủy, Phú Mỹ, An Khương. Trận đánh diễn ra quá nhanh đến nỗi bọn địch còn sống sót bàng hoàng trước mọi diễn biến. Kết quả, ta tiêu diệt và bắt sống 1 đại đội Âu Phi, thu toàn bộ vũ khí. Sau đó, ta lại phối hợp với cơ sở binh vận tiêu diệt các đồn Cẩm Lệ, Núi Lở.
   
                Để đối phó với sự tiến công của ta, địch tập trung lực lượng càn quét dữ dội, liên tục ở vùng nam - bắc sông Thu Bồn. Đảng ủy, Ban chỉ huy chiến dịch quyết định sử dụng lực lượng đánh vào cơ quan đầu não của địch ở Đà Nẵng, đồng thời, bộ đội địa phương và dân quân du kích các huyện và thị xã Hội An liên tục quấy rối, nghi binh, đánh giao thông, tập kích, phục kích, chống càn, làm cho địch lúng túng đối phó khắp nơi.
   
                Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 1.200 tên địch, đánh phá 34 cơ quan ngụy quyền, giải tán 17 ban tề, bắt cải tạo 487 tên tay sai, địch bị diệt và rút bỏ 18 đồn bốt. Vùng giải phóng của ta được mở rộng thêm ở các xã tây nam Đại Lộc và tây Duy Xuyên.
   
                Tuy chiến dịch hoạt động trong thời gian ngắn, quân số ít, nhưng đạt hiệu quả chiến đấu cao, giành thế chủ động chiến trường. Thắng lợi của chiến dịch ảnh hưởng đáng kể đến phong trào du kích chiến tranh ở Liên khu 5. Nó thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương, dân quân du kích, công an và nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh, bước đầu kết hợp quân sự với chính trị, binh vận, tạo thành sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Vùng sau lưng địch, đánh dấu bước trưởng thành của cả chủ lực và bộ đội địa phương về kỹ thuật tác chiến và xây dựng lực lượng.


*
*   *
             Sau 2 năm, kể từ tháng 4 năm 1948, với trách nhiệm chiến đấu tại địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng, chiến trường chính của Liên khu 5, Trung đoàn 108 đã làm trọn nhiệm vụ được giao, dẫn dắt, giúp đỡ bộ đội địa phương và dân quân du kích trưởng thành, góp phần quan trọng phát triển phong trào chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân, bảo vệ vững chắc vùng tự do, đưa chiến tranh vào vùng sau lưng địch, biến hậu phương địch thành tiền phương ta, làm thất bại âm mưu lấn chiếm, bình định của địch. Cũng qua những năm chiến đấu ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Trung đoàn đã trưởng thành lên một bước về kỹ thuật, chiến thuật, về chỉ huy tác chiến, từ đánh du kích lên vận động chiến, từ quy mô chiến thuật đến quy mô chiến dịch, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch hơn, lập được nhiều chiến công vang dội, được nhân dân tin yêu, quân thù khiếp sợ, trong đó, đồng chí Nguyễn Bá Phát, Trung đoàn trưởng đóng vai trò rất quan trọng.
   
                Sau khi xây dựng lực lượng địa phương mạnh, đủ sức tự bảo vệ, tháng 5 năm 1950, Trung đoàn 108 được rút về làm nhiệm vụ cơ động của Quân khu - vẫn do đồng chí Nguyễn Bá Phát làm Trung đoàn trưởng, tôi làm Chính ủy. Nhiệm vụ đầu tiên được giao là tham gia giải quyết tiếp vụ bạo loạn ở Sơn Hà (miền tây Quảng Ngãi).
   
                Từ khi trở lại xâm lược nước ta, thực dân Pháp không bao giờ từ bỏ âm mưu đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5. Từ năm 1949, lợi dụng một số sai lầm, khuyết điểm của cán bộ ta trong việc thực hiện chính sách dân tộc và một số cuộc vận động không phù hợp với trình độ, phong tục, tập quán của nhân dân miền núi, thực dân Pháp ở Kon Tum đã móc nối với bọn tù trưởng phản động, kích động quần chúng nổi lên chống lại cán bộ người Kinh, gây hận thù dân tộc, tổ chức và trang bị vũ khí cho bọn phiến loạn gồm hàng ngàn tên, hòng chiếm miền tây Quảng Ngãi làm bàn đạp đánh chiếm đồng bằng vùng tự do.
   
                Tháng 4 năm 1950, lực lượng chủ lực của Quân khu 5 đã đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm của quân Pháp xuống Sơn Hà, buộc chúng phải rút về Kon Tum, nhưng bọn phiến loạn và vấn đề ổn định chính trị (chủ yếu là ở Sơn Hà và Ba Tơ) vẫn chưa giải quyết được. Bọn phản động địa phương vẫn ngấm ngầm hoạt động, bí mật nhận súng của Pháp đưa về phát cho dân, đánh bật cán bộ ta ra phần lớn huyện Sơn Hà và gây mất ổn định nhiều vùng thuộc miền tây Quảng Ngãi. Đồng bào H’Re, một mặt vẫn thành kiến với cán bộ ta trong thực hiện chính sách trước đây cộng thêm những sai lầm mới trong thái độ và hành động của cán bộ và bộ đội ta trong thời kỳ đầu xử lý cuộc nổi loạn, nên vẫn chưa tin vào cách mạng, mặt khác, trong nhân dân, nhiều gia đình có con em tham gia lực lượng phiến loạn, bị bọn tù trưởng phản động khống chế nên vẫn lén lút tiếp tế, phục vụ cho chúng.
   
                Sau khi kiểm điểm những sai lầm, thiếu sót, Liên khu ủy đã quyết định lấy công tác vận động nhân dân làm căn bản. Cán bộ và bộ đội phải phân tán làm công tác tuyên truyền, giải thích chính sách trong cả đồng bào dân tộc Kinh, chăm lo giải quyết đời sống nhân dân, vận động tầng lớp trên, cô lập bọn cầm đầu phản động ngoan cố nhất.
   
                Được cán bộ cơ sở và một số người H’Re tiến bộ công tác, giúp đỡ, công tác vận động nhân dân đi đôi với truy lùng và gọi hàng bọn “Chí xẻng” bắt đầu có kết quả. Sau 3 tháng, ta đã tranh thủ được phần lớn nhân dân và một số tù trưởng tiến bộ. Các toán “Chí xẻng” bị truy lùng ráo riết, mất dần sự tiếp tế của dân, không còn chỗ đứng an toàn nữa; một số được thuyết phục trở về đầu thú, số còn lại chạy lên Konplong (một căn cứ bàn đạp ở Kon Tum để địch tung về đánh vùng tự do Quảng Ngãi) nhập với bọn đã chạy trước. Trong điều kiện cụ thể đó, để giải quyết vấn đề Sơn Hà, ngoài việc chủ yếu là đi sâu giáo dục quần chúng, vạch mặt, cô lập bọn phản động, làm cho quần chúng đứng về phía cách mạng, đồng tình với ta trong việc tiến công tiêu diệt bọn đầu sỏ phản động, còn phải tiêu diệt căn cứ bàn đạp chỉ huy tiếp tế cho bọn phản động và loạn quân ở Konplong.
   
                Konplong là một vị trí phân chi khu (sous-quartier) kiên cố của địch ở bắc Kon Tum, thường xuyên do hơn 200 quân đóng giữ. Đánh hơi thấy hoạt động của ta, địch thường xuyên đưa quân ra ngoài sục sạo và tăng quân lên đến 300 tên. Tên quan ba Đuy-sê, đồn trưởng huênh hoang tuyên bố “Khi nào rừng Konplong hết cây, Việt Minh mới lấy được đồn này”
   
                4 giờ 30 phút ngày 6 tháng 8, Trung đoàn bắt đầu nổ súng. Địch ngoan cố chống cự để chờ tiếp viện. Sau 8 giờ chiến đấu quyết liệt, quân ta làm chủ trận địa. Tên đồn trưởng và 90 lính bị diệt, 195 tên bị bắt. Ta thu 200 súng các loại, 20 tấn đạn và nhiều quân trang, quân dụng. Đây là trận đánh lớn thể hiện tinh thần tự lực, sáng tạo, khắc phục khó khăn trong điều kiện không có vũ khí lớn, mở ra bước ngoặt về đánh địch trong công sự vững chắc, bước đầu giải quyết khủng hoảng về chiến thuật đánh công kiên ở chiến trường Liên khu 5, nhờ học tập kinh nghiệm của chiến dịch Biên giới và các chiến trường toàn quốc. Từ kinh nghiệm đó, ta tiêu diệt cứ điểm Konplong lần thứ hai (15-8) và cứ điểm Tà Mực, hang ổ cuối cùng của bọn phản động đầu sỏ ở Konplong vào tháng 12 năm 1951. Chiến thắng Konplong có ý nghĩa lớn tạo tiền đề thắng lợi to lớn rực rỡ trong chiến dịch Đông Xuân 1952-1953 và đông xuân hè 1953-1954.
   
                Sau 8 năm liên tiếp bị thất bại, để chuyển bại thành thắng, thực dân Pháp can thiệp và Mỹ chủ trương phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, tập trung 40 tiểu đoàn tinh nhuệ mở chiến dịch Atlăng nhằm bình định miền Nam mà trọng điểm là vùng tự do Liên khu 5 để vơ vét sức người, sức của và làm bàn đạp tiến công ra miền Bắc giành thắng lợi quyết định trước khi kết thúc chiến tranh. Mở chiến dịch này, tướng Nava ôm mộng tưởng loại trừ Liên khu 5 mà chúng cho là một hiểm họa lớn thường xuyên đe dọa miền Nam Đông Dương bao gồm Nam Bộ, Lào và Campuchia.
   
                Không bị động với âm mưu của địch, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Liên khu 5 tập trung lực lượng chủ lực lên Tây Nguyên, coi Tây Nguyên là chiến trường chính, giao cho bộ đội địa phương và dân quân du kích cùng nhân dân chiến đấu bảo vệ vùng tự do, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng tạm bị chiếm, đẩy địch vào thế bị động phải phân tán lực lượng đối phó.
   
                Liên khu ủy phân công đồng chí Nguyễn Chánh, Bí thư Liên khu ủy, Chính ủy kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Liên khu 5 làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chính ủy và Tư lệnh trực tiếp chỉ huy mặt trận Tây Nguyên. Tôi - Chủ nhiệm Chính trị và đồng chí Nguyễn Đôn, Tham mưu trưởng Quân khu lo thường trực chỉ huy ở Bộ Tư lệnh Quân khu và phụ trách chống chiến dịch Atlăng ở vùng tự do. Đồng chí Nguyễn Bá Phát, Tham mưu phó Quân khu phụ trách tham mưu trưởng mặt trận Tây Nguyên. Một thời gian sau, đồng chí Nguyễn Đôn cũng lên Tây Nguyên cùng với đồng chí Nguyễn Chánh.
   
                Qua 7 tháng chiến đấu, với tinh thần anh dũng tuyệt vời của lực lượng vũ trang 3 thứ quân và nhân dân, có thể nói lấy tinh thần chống chọi với boong ke, thiết giáp và vũ khí tối tân của địch, với tài đấu trí thông minh, sáng tạo của lãnh đạo, chỉ huy, kết quả đem lại thật rực rỡ: phá vỡ một mảng phòng ngự lớn ở bắc Tây Nguyên, giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum, gần hết tỉnh Gia Lai, tiếp tục phát triển chiến dịch xuống phía nam, tiêu diệt binh đoàn tinh nhuệ 100 (GM100) của địch, giữ vững vùng tự do, giải phóng nhiều khu vực rộng lớn ở vùng bị chiếm, góp phần cùng quân và dân 2 nước bạn giải phóng một vùng rộng lớn ở Hạ Lào và đông bắc Campuchia.
   
                Chiến thắng chiến dịch Atlăng ở Liên khu 5 cùng với chiến thắng ở Hạ Lào và đông bắc Campuchia đã phá vỡ 2 thế mạnh của địch: phá cụm phòng ngự mạnh nhất, phá lực lượng cơ động mạnh nhất góp phần tạo bước ngoặt lịch sử của cuộc chiến tranh Đông Dương, phá âm mưu cao nhất và cũng là âm mưu cuối cùng của địch muốn chuyển “bại thành thắng”.
   
                Trong đợt hoạt động này, với trách nhiệm là tham mưu trưởng mặt trận Tây Nguyên, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã phát huy và nhân lên cao độ những kinh nghiệm ở chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng và nhất là những kinh nghiệm đánh cứ điểm Konplong (1951), cùng Bộ chỉ huy chiến dịch lập nên những chiến công Vang dội ở Liên khu 5, góp phần cùng cả nước chiến thắng thực dân Pháp, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.



Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 10 Tháng Hai, 2017, 08:23:10 PM
                Đồng chí Nguyễn Bá Phát là một trong những cán bộ chỉ huy có đức, có tài, một trong những cán bộ quân sự tiêu biểu của Liên khu 5. Trải qua 3 giai đoạn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí luôn luôn thể hiện lập trường kiên định, tinh thần cách mạng tiến công, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối chủ trương của Đảng, mệnh lệnh của cấp trên, tự lực, sáng tạo, biết lợi dụng địa hình địa vật, dựa vào tập thể, dựa vào dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, càng chiến đấu càng trưởng thành, lập được nhiều chiến công vang dội, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

                 Riêng đối với tôi, đồng chí Nguyễn Bá Phát là người bạn chiến đấu thân thiết và gắn bó với nhau nhiều năm từ kháng chiến toàn quốc đến kết thúc chiến tranh chống Pháp ở Liên khu 5. Trong 8 năm đó, trong công tác, chiến đấu cũng như cuộc sống riêng tư, giữa chúng tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc, khó quên.
   
                 Kết thúc giai đoạn I trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng, trước những cống hiến và đạo đức của đồng chí, với tư cách là Bí thư Đảng ủy Mặt trận, tôi đã ký quyết định kết nạp đồng chí vào Đảng. Cũng chính trong thời gian này, tôi cũng là người “chủ hôn” tác thành cho hạnh phúc trăm năm giữa đồng chí và đồng chí Điểm, cũng là người con gái, người cán bộ tốt của phụ nữ quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng. Trong chiến đấu, trước những giờ phút căng thẳng nhất, trái tim và khối óc chúng tôi đã hòa cùng nhịp đập, cùng đấu trí để chiến thắng quân thù. Những mẩu chuyện như trên có nhiều, ở đây tôi chỉ nêu ra một vài ví dụ:
   
                 Trận đánh lần thứ ba trên đèo Hải Vân (24-1- 1949), quân ta thắng lớn. Tên chỉ huy Pháp ở Đà Nẵng cay cú. Chúng cho rằng với địa hình hiểm trở này, quân ta chưa rút ra được. Lập tức chúng tập trung 8 tiểu đoàn cơ động Âu Phi rải ra bao vây trên một diện rộng từ Eo Ngựa đến Khe Xô, qua đèo Mũi Trâu và suốt hữu ngạn sông Trường Định hòng tiêu diệt lực lượng ta ở vùng núi tây bắc Hòa Vang. Để triệt đường quân ta vượt sông Trường Định, chúng tịch thu hết ghe thuyền tập trung về đồn bốt và phá hủy, nhận chìm một số khác ở sông Cửa Cấm. Chúng ra lệnh thiết quân luật cả vùng tây bắc Hòa Vang, không cho bất kỳ ai được qua sông và khoác lác tuyên bố “chuyến này quan lớn chặn quân Nguyễn Bá Phát đói lả rồi phải ra hàng”.
   
                 Đêm 26 tháng 1 năm 1949, một số đồng chí ở huyện ủy Hòa Vang và chi ủy xã vùng tây bắc Hòa Vang bí mật sang sông gặp Ban chỉ huy Trung đoàn chúng tôi bàn biện pháp lui quân an toàn cho đơn vị. Trao đổi, phân tích khá kỹ về 3 phương án, cuối cùng đã thống nhất “vượt sông Trường Định, lui quân giữa lòng dân”.
   
                 Tối ngày 27 tháng 1 năm 1949, một bộ phận lực lượng ta bí mật bơi qua sông, tập kích cứ điểm Nam O để nghi binh. Cùng đêm đó, đồng bào vùng tây bắc Hòa Vang huy động trên 30 chiếc thuyền từ xa đưa đến, bí mật đưa bộ đội qua sông Trường Định. Các mẹ, các chị lo việc tiếp tế, các em thiếu nhi dẫn đường, dân quân du kích cảnh giới, canh gác, nhân dân rải ra đứng theo hành lang lui quân, vừa làm lộ tiêu chỉ đường, vừa tiếp tế cơm nước cho bộ đội. Nhân dân toàn huyện nổi trống mõ, thanh la, vừa phô trương thanh thế, vừa đánh lạc hướng địch. Các đội du kích Hòa Vang nổ súng vào các đồn bốt xung quanh, kiềm chế địch.
   
                 Trên 1.800 cán bộ, chiến sĩ, 28 cáng thương binh, cùng hàng chục tù binh địch đã lui quân thắng lợi, vượt khỏi vòng vây của địch. Mờ sáng hôm sau (28-1-1949) nhân dân còn lùa trâu, bò ra đường, xóa hết dấu vết để kẻ địch không thể biết đường lui quân của bộ đội ta.
   
                 Tháng 8 năm 1950, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 quyết định mở chiến dịch thu đông ở Quảng Nam - Đà Nẵng mang tên chiến dịch Hoàng Diệu nhằm bảo vệ mùa lúa tháng 8 (trọng điểm là Điện Bàn), phá âm mưu bình định dồn dân, bắt lính của địch, diệt một số cứ điểm, hỗ trợ nhân dân chống địch chiêu an, đưa phong trào du kích chiến tranh vượt qua khó khăn, giữ vững phong trào kháng chiến ở vùng bị tạm chiếm.
   
                 Chiến dịch chia làm 2 đợt: đợt 1 do Tiểu đoàn 29 của tỉnh và lực lượng vũ trang các huyện đảm nhiệm. Giữa tháng 10 năm 1950, Trung đoàn 108 chủ lực của Quân khu (chỉ có Tiểu đoàn 19 và Tiểu đoàn 79, còn Tiểu đoàn 50 vẫn ở lại dẹp loạn ở Sơn Hà - Quảng Ngãi) tham gia đợt hai, cũng do đồng chí Nguyễn Bá Phát và tôi chỉ huy.
   
                 Chiến dịch kết thúc, lực lượng chủ lực Quân khu đã phối hợp với địa phương chống càn, chống chiêu an, bình định, bảo vệ được mùa màng cho nhân dân, góp phần củng cố một bước chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích vùng sau lưng địch. Nhưng do ta không dự kiến đúng âm mưu thủ đoạn của địch, nên ngày 4 tháng 11 năm 1950, ta ở vào thế bị bao vây ở xã Điện Hòa. Lực lượng địch cậy đông, bằng 5 lần của ta, gồm 1.500 quân cơ động cộng với các cứ điểm Bình Long, Phong Thử, Ngũ Giáp, Quá Giáng, lại có máy bay, đại bác yểm trợ, đã ào ạt tràn lên bao vây chính diện và hai cạnh sườn đội hình của ta.
   
                 Anh Phan Hoan, huyện đội trưởng Điện Bàn (sau này là Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 5) đã lo lắng Và liên tưởng “Chiến dịch Biên Giới, ta bao vây đánh tan 2 binh đoàn cơ động mạnh và bắt sống 2 viên chỉ huy binh đoàn sừng sỏ của quân Pháp là Lơ Pa-gi-ơ và Sác-tông, chẳng lẽ ở đây, Trung đoàn 108 và Ban chỉ huy Trung đoàn lại để cho địch đánh bại và bắt sống ban chỉ huy thì coi bằng hòa”.
   
                 Tiểu đoàn 19 và Tiểu đoàn 79 phân tán thành từng tiểu đội, trung đội phối hợp cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích bám từng bờ tre, mương nước, gò mả chiến đấu chặn địch. Nhiều cán bộ, chiến sĩ ta đã nêu cao tấm gương tuyệt vời của lòng ủng hộ giúp đỡ bộ đội và dân quân du kích, không ngần ngại gian khổ hy sinh, dẫn đường cho bộ đội, tiếp tế cơm nước, di chuyển và chăm sóc thương binh, liệt sĩ, tổ chức đốt khói nghi binh đánh lạc hướng cho bộ đội chiến đấu và rút lui an toàn.
   
                 Mỗi lần nhớ lại trận đánh ở đèo Hải Vân ngày 24 tháng 1 năm 1949, trận Điện Hòa (4-11-1950), cũng như nhiều trận khác trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng, lòng tôi không khỏi bồi hồi xúc động, càng thấy rõ lòng dân mạnh hơn máy bay, đại bác của địch. Chiến tranh nhân dân thực sự là vô địch. Trong hoàn cảnh địch khủng bố ác liệt, đời sống nhân dân vô cùng cơ cực nhưng dưới sự lãnh đạo của các Đảng bộ địa phương, nhân dân đã không ngại hiểm nguy, gian khổ, tự lực sản xuất nuôi quân và cùng tham gia với bộ đội đánh giặc, giờ đây nhân dân lại giúp cho bộ đội rút lui thắng lợi.
   
                 Đúng như lời Hồ Chủ tịch đã dạy: “Phải dựa vào dân, có dân là có tất cả”.

                                 
N.Q


(1). Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch HĐNN, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Nguyên Chính ủy Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng.




Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 10 Tháng Hai, 2017, 08:28:25 PM
NGUYÊN BÁ PHÁT DŨNG CẢM, MƯU TRÍ, TÁO BẠO
Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh(1)

                 Thị xã Quy Nhơn, tỉnh lỵ Bình Định, sau ngày giành chính quyền thắng lợi tháng 8 năm 1945 vẫn còn 50 lính Nhật đóng tại Ngân hàng Pháp, đặt dưới sự chỉ huy của cái gọi là “đồng minh” quân Anh ở Nha Trang.

                  Ngày 15 tháng 10 năm 1945, một tàu chiến Nhật tiến vào đảo Cù Lao Xanh với âm mưu giải vây cho binh lính Nhật đang bị ta bao vây ở thị xã Quy Nhơn và phối hợp cùng bọn này làm đầu cầu dọn đường cho thực dân Pháp trở lại chiếm đóng tỉnh Bình Định.
   
                  Bọn chỉ huy Nhật trên tàu viết thư xin chính quyền cách mạng tỉnh Bình Định cho phép chúng được lên bờ để liên hệ số lính Nhật đang đóng trên thị xã Quy Nhơn. Hiểu rõ ý đồ của giặc, lãnh đạo tỉnh Bình Định chỉ cho một viên Sĩ quan và 3 lính được phép lên bờ nhưng không ai được mang vũ khí. Mặt khác chỉ đạo lực lượng vũ trang tỉnh xóa bỏ cái “gai” này sớm ngày nào hay ngày ấy. Lực lượng tham gia đánh trận này gồm có Chi đội Mai Xuân Thưởng chúng tôi và Chi đội Phan Đình Phùng do Vi Dân làm Chi đội trưởng, Nguyễn Chính Cầu làm Chính ủy, Nguyễn Bá Phát làm Chi đội phó đảm nhiệm chủ công của trận đánh này.
   
                  50 lính Nhật có đầy đủ vũ khí, lại ở trong ngôi nhà kiên cố. Quân ta ngoài một số vũ khí cầm tay chỉ có 1 khẩu pháo 75 ly vừa lấy được của Nhật nhưng không có kim tỏa. Trước khi bắt đầu trận đánh đã thảo luận khá lâu trong cuộc bàn cách đánh tưởng chừng bế tắc, thì đồng chí Nguyễn Bá Phát nêu sáng kiến: dùng đinh chữ T và búa thay cho kim hỏa. Thoạt nghe thấy “ngồ ngộ thế nào ấy!”. Qua thảo luận thấy có lý và được mọi người chấp nhận và cử người chuẩn bị thao tác và đưa pháo 75 ly vào cách địch 200 mét ngắm bắn trực tiếp. Trận đánh triển khai trong đêm 12 tháng 12 năm 1945, chiến sĩ Từ Công Khế được huấn luyện kỹ năng đã cầm đinh chữ T đặt đúng hạt nổ, dùng búa đập mạnh vào, quả đạn 75 ly đã nổ trúng bức tường phá một mảng lớn, địch chỉ bắn lẻ tẻ và im tiếng súng.
   
                  Thấy thành công, chiến sĩ Từ Công Khế cho nổ quả đạn thứ 2, 3 và thứ 4, địch chống cự yếu dần. Ta lệnh bộ đội ta xung phong vào mục tiêu, quân địch kéo cờ trắng đầu hàng. Trận đánh kết thúc nhanh, ta diệt và bắt sống 50 tên địch, thu toàn bộ vũ khí và trang bị. Về quân sự, tháng 12 năm 1946, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lập Ủy ban Quân sự để thống nhất chỉ huy lực lượng quân dân chính do:
   
                  - Đàm Quang Trung, chỉ huy trưởng.
                  - Nguyễn Bá Phát, chỉ huy phó.
                  - Huỳnh Ngọc Huệ, chính trị viên.
   
                  Về bộ đội gồm có 2 Trung đoàn 93 và 96 (sau thành Trung đoàn 210 - Trung đoàn 108).
   
                  Đồng chí Nguyễn Bá Phát có sáng kiến mở đợt hoạt động “Tổng phá tề” trong Đông Xuân 1948-1949; ngày 5 tháng 11 năm 1949, bắt tỉnh trưởng bù nhìn Hồ Ngận.
   
                  Ngày 24 tháng 1 năm 1949, đồng chí Nguyễn Bá Phát tổ chức Trung đoàn 108 và đánh giao thông trên đèo Hải Vân diệt 1 đoàn tàu lửa quân sự và 16 xe ô tô.
   
                  Ngày 31 tháng 3 năm 1949, Trung đoàn 108 đánh vận động phục kích diệt 1 đại đội Pháp chiếm đóng bình định vùng Gò Cà. Hè 1949, Trung đoàn 108 và dân quân du kích diệt cứ điểm Thu Bồn, Cẩm Lệ, Núi Lở, đột nhập thành phố Đà Nẵng, đốt kho Xăng Liên Chiểu.
   
                  Sáng kiến táo bạo nổi bật của đồng chí Phát trong hoạt động đầu năm 1949 là tổ chức lui quân bằng vận động nhân dân dùng thuyền nhỏ chở bộ đội vượt sông Trường Định tập kết ở miền tây tỉnh Quảng Nam.
   
                  Trong các năm 1950-1951, được Mỹ cung cấp nhiều tiền bạc, vũ khí, quân Pháp ở Đông Dương tăng nhanh. Ở Nam Trung Bộ, địch đánh phá ác liệt nhất so với trước, cả vùng tự do và vùng bị chiếm, nhất là vào lúc nhân dân ta bị thiên tai, mất mùa lớn, thêm vào đó là hậu quả nặng nề do những sai lầm trong chỉ đạo như tổng động viên quỹ chuyển mạnh sang tổng phản công; quan liêu mệnh lệnh trong thực hiện chính sách dân tộc, lệch lạc trong công tác xây dựng Đảng. Nhưng với tinh thần trách nhiệm đầy đủ với dân, với Đảng của cán bộ các cấp mà tiêu biểu và dẫn đầu trong cán bộ là đồng chí Nguyễn Bá Phát đã tự phê bình nghiêm túc, quyết tâm khắc phục khuyết điểm và khó khăn, phát huy tinh thần tự lực, tự cường và quyền làm chủ của nhân dân nên vùng tự do sớm được củng cố, lực lượng vũ trang được tăng cường một bước rõ rệt, phong trào vùng địch chiếm cũng được chuyển lên. Toàn Liên khu bắt đầu từng bước giành thế chủ động.
   
                  Đầu tháng 8 năm 1951, ta mở đợt hoạt động ở bắc Kon Tum nhằm phá âm mưu địch củng cố Tây Nguyên, và qua chiến đấu thử nghiệm chiến thuật đánh đồn kiên cố; kiểm tra kết quả rèn cán chỉnh quân, thực hiện chủ trương lấy vũ khí địch bồi dưỡng ta.
   
                  Trong trận đánh cụm cứ điểm Konplong tháng 8 năm 1950, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã có sáng kiến khắc phục việc thiếu vũ khí đánh công sự kiên cố là đã khiêng từ miền xuôi lên những tấm sắt để làm công sự (giống xe xích lô) áp sát tường đồn Konplong dùng bộc phá đánh sập tường, mở cửa đột phá để bộ đội ta xung phong vào trận nội từ 4 giờ 30 phút ngày 6 tháng 8 năm 1950 đến 12 giờ 45 phút cùng ngày; diệt tên đồn trưởng và 90 lính, bắt 195 tên, thu 200 súng, 20 tấn đạn. Ngày 15 tháng 8 năm 1950, ta tiêu diệt tiếp đồn Konplong, quân địch ở đồn Konklơn, Konmơha tháo chạy. Cùng lúc, lực lượng địa phương và nhân dân Đakley, Đaktô, An Khê và nhiều nơi khác phối hợp diệt địch, phá nhiều khu dồn dân.
   
                  Chiến thắng Konplong có ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị và quân sự Khu 5. Chiến thắng Konplong đánh dấu bước tiến bộ đáng kể và chiến thuật, chấm dứt tình trạng gần như khủng hoảng về chiến thuật, kỹ thuật của bộ đội chủ lực Khu 5 trước đó, mở đầu khả năng đánh tiêu diệt địch trong công sự vững chắc và từ năm 1952 trở đi đã lần lượt tiêu diệt nhiều chi khu quận lỵ, cụm cứ điểm, tiêu diệt nhiều tiểu đoàn, binh đoàn cơ động địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn như toàn tỉnh Kon Tum đầu năm 1954 là công sức của đồng chí Nguyễn Bá Phát.

                                 
N.N.K



(1). Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.




Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 10 Tháng Hai, 2017, 08:33:06 PM
THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT, MỘT VỊ TƯỚNG CÓ TÀI CỦA QUÂN ĐỘI TA
Trung tướng Lê Hữu Đức(1)

                 Trong dịp gặp lại nhau để viết “Lịch sử Trung đoàn 108 - Liên khu 5” (1999), chúng tôi những cán bộ trung sơ cấp, vốn là cấp dưới của anh đều nhất trí: anh Phát là Trung đoàn trưởng có nhiều kinh nghiệm phong phú, vận dụng sáng tạo nghệ thuật chỉ đạo các chiến dịch vừa và nhỏ, đặc biệt là về chiến thuật. Anh luôn luôn nghiên cứu nghiêm túc và ra sức vận dụng sáng tạo các huấn lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tổng chỉ huy, điển hình là các huấn lệnh, “tích cực chuyển mệnh lệnh lên du kích vận động chiến” vào đầu năm 1947. Anh cũng miệt mài học tập một số kinh nghiệm của bộ đội chủ lực trực thuộc Bộ trên chiến trường Bắc Bộ qua thông báo của cấp trên; mặt khác được sự chỉ đạo và sự chỉ huy của Thường vụ, Bộ Tư lệnh Quân khu nên anh đã góp công đầu giải quyết kịp thời, đúng đắn và có hiệu suất chiến đấu cao cả hai chiến thuật cơ bản là công kiên và vận động chiến cho lực lượng vũ trang Quân khu. Cả hai chiến thuật trên đây, nhiều trận do anh trực tiếp chuẩn bị và chỉ huy không chỉ giành thắng lợi trên chiến trường miền núi, kín đáo, hiểm hóc, “quan hà bách nhị” mà trên chiến trường đồng bằng trống trải, giữa vòng vây hệ thống đồn bót và tề điệp của địch. Có những trận bọn địch rất lo lắng, khiếp sợ, hết lời ca ngợi người chỉ huy đối đầu với chúng.

                Nổi bật về đánh địch đang vận chuyển và càn quét có các trận: Hải Vân 2 (25-5-1947), hai trận ở Hương An - Mông Nghệ (7-1947), trận Hải Vân 3 (24-1-1949), Gò Cà (31-3-1949) và trận Thanh Quýt (2-2-1950). Về đánh công kiên thì nổi bật là trận Konplong, tiêu diệt hoàn toàn địch, làm chủ trận địa, diệt và bắt 200 tên sau 8 giờ chiến đấu, thu 200 súng và trên 200 tấn đạn ĐAM, thứ đạn mà lúc bấy giờ còn rất khan hiếm, ta lại chưa sản xuất được.
   
                Tôi nhớ một buổi sáng đầu tháng 4 năm 1947, anh từ Tiểu đoàn 18 ở vùng Tùng Sơn - Đa Phước (tây bắc Đà Nẵng chừng 15 ki-lô-mét) sang Tiểu đoàn 17 đang chặn địch trên quốc lộ 14B ở nam Túy Loan và bắc thị trấn Ái Nghĩa (cách tây nam Đà Nẵng chừng 15 ki-lô-mét). Lúc này anh Võ Quang Hồ, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 18, vì sức khỏe giảm sút được điều về nhận nhiệm vụ Trưởng ban Quân huấn Quân khu, anh Lê Kích - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 17 thay anh Hồ, và tôi được thay vị trí anh Kích. Anh phổ biến cho chúng tôi huấn luyện “du kích vận động chiến” của Bộ Tổng tham mưu (đầu tháng 2 năm 1947) đặc biệt huấn lệnh của Bộ Tổng chỉ huy về sự cần thiết chuyển sang du kích vận động chiến ngày 6 tháng 6 năm 1947: “Tổng Chỉ huy đã phê phán nghiêm khắc những lệch lạc, thiếu sót của các mặt trận và nhấn mạnh: Phải dùng ngay chiến thuật du kích một cách bạo dạn; phải tập trung bộ đội, củng cố tinh thần bộ đội, dùng cách hành binh rất nhanh, rất bí mật mà đánh vào chỗ địch tương đối yếu hay mới chiếm đóng mà chưa củng cố vị trí; tập trung bộ đội đánh những trận lớn, tổ chức những đội quân chiến xa...”(2). Anh giải thích và nhấn mạnh: “Đây là bó đuốc soi đường cho quân đội ta tiến dần lên đánh vận động. Hay quá các đồng chí ạ! Chỉ thị của đồng chí Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đã rõ, nhưng chỉ thị của đồng chí Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp còn rõ ràng hơn, cụ thể hơn. Tôi tâm đắc lắm, bấy lâu nay loay hoay mãi nay có ánh sáng rồi, mừng hết sức. Vấn đề lúc này là ở Quân khu 5 mà sát sườn hơn là Trung đoàn 96 chúng ta vận dụng thế nào cho phù hợp và sát đúng nhất. Chúng ta không thể tập trung cả Trung đoàn vì như vậy lấy ai sẽ thay chúng ta giữ vững trận địa trên hướng chủ yếu từ tây sông Cẩm Lệ, tức giáp ranh giữa Trung đoàn ta với Trung đoàn bạn 93 đến đèo Hải Vân. Hoàn toàn không được. Mặt khác còn phải nghiên cứu nắm thật chắc quy luật vận động của địch nhất là những thủ đoạn đối phó của chúng. Nên trước mắt tôi đã bàn kỹ với Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 Giáp Văn Cương phải gấp rút tổ chức tiểu đoàn, sao cho đủ quân số và trang bị, phải tập trung cán bộ và chiến sĩ có tinh thần chiến đấu tốt và có kinh nghiệm, phải tập trung vũ khí tốt nhất cho tiểu đoàn. Trung đoàn sẽ bổ sung quân số và điều thêm cho một ít vũ khí. Ở Tiểu đoàn 18, tôi cũng bàn kỹ với anh Lê Kích chuẩn bị 1 đại đội đầy đủ quân số, vũ khí, tập trung cán bộ và vũ khí tốt nhất cho đại đội. Còn các anh ở Tiểu đoàn 17, nhiệm vụ vẫn vậy, không được phép rút hẹp trận địa dù chỉ 1 mét, và vẫn phải chuẩn bị một đại đội đầy đủ như Tiểu đoàn 18. Phải chuẩn bị gấp, để chậm sẽ không kịp. Sau khi chuẩn bị trên đường về, Trung đoàn sẽ có kế hoạch sử dụng cả Tiểu đoàn 19 cùng 1 đại đội của Tiểu đoàn 18 và 1 đại đội của Tiểu đoàn 17, cố gắng đánh một trận thật giòn giã, nhanh gọn, bắt tù binh, thu vũ khí mà ta thì ít thương vong nhất. Đặc biệt không để lại tử sĩ và thương binh”.
   
                Đúng như kế hoạch của anh, ngày 22 tháng 5 năm 1947, Tiểu đoàn 19 cũng 1 đại đội của Tiểu đoàn 18 tiêu diệt hoàn toàn một đoàn xe chở tên đại tá Roger, chỉ huy quân Pháp ở Đà Nẵng cùng toàn bộ tham mưu của y, diệt trên 100 tên lính Âu Phi tinh nhuệ. “Trận đánh này gây chấn động mạnh trong binh lính địch ở Đà Nẵng, nhiều lính Âu Phi tự thương để tránh đi càn”(3). Đơn vị và người chỉ huy trực tiếp được khen thưởng rất cao. Tiếu đoàn 19 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Giáp Văn Cương: Huân chương Quân công hạng Nhì. Thưởng tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp, toàn quân chỉ có 4 đồng chí được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì là các đồng chí Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và đồng chí Nguyễn Chánh: Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5, Bí thư Liên khu ủy. Nhắc lại để thấy Bộ đánh giá rất cao trận đánh tiêu diệt gọn 1 đại đội Âu Phi và nhiều Sĩ quan trung cao cấp toàn trung đoàn, chúng tôi hỏi anh sao không trực tiếp chỉ huy mà lại giao cho anh Cương?. “Căn cứ tình hình địch thường chỉ có một đại đội, địa hình thì rất thuận lợi nên tôi giao cho anh Cương sau khi cùng đoàn cán bộ tiểu đoàn nghiên cứu địa hình, bàn kỹ cách đánh. Tôi còn có nhiệm vụ với cả trung đoàn nữa chứ!”. Riêng tôi thầm nghĩ: “Với trình độ của anh Cương thì anh mới mạnh bạo giao; còn với anh Kích, một du kích Ba Tơ chiến đấu rất dũng cảm nhưng trình độ kế hoạch thì còn có chỗ chưa thật kín kẽ. Còn với tôi là một bạch diện thư sinh, vốn là học sinh cấp 3, còn kém hai anh một bậc. Chắn chắn là khó được sự tin cậy đấy”. Nhưng tất cả chúng tôi đều nhất trí công đầu của trận đánh thuộc về anh Phát, từ chuẩn bị chiến trường, tổ chức lực lượng đến kế hoạch tác chiến đều do anh Phát chủ trì, vạch ra rất cụ thể, tỉ mỉ, chặt chẽ và toàn diện.
   
                Nếu như các trận phục kích trên đèo Hải Vân đều diễn ra ở miền núi rất có thuận lợi cho ta thì hai trận vận động chống càn ở Hương An - Mông Nghệ (huyện Duy Xuyên) ở vùng tự do nhưng sát với vùng địch kiểm soát ở bắc sông Bà Rén - Thu Bồn, đều diễn ra trên địa hình trống trải, qua nhiều bãi cát. Trận thứ nhất vào ngày 14 tháng 4 năm 1948 và trận thứ 2 vào tháng 6 năm 1948 tức gần 3 tháng sau. Tài cầm quân nổi bật là nắm chắc tình hình địch, kết hợp nghi binh khéo léo, đặc biệt có kế hoạch dẫn dắt địch đưa chúng vào khu vực ta chuẩn bị mà chúng không hề hay biết, hoàn toàn bị bất ngờ, đúng như Tôn Ngô binh pháp: “Người giỏi đánh giặc là biết bắt địch tới mà không bị địch bắt tới”, nên trận đầu ta nhanh chóng đánh thiệt hại 1 tiểu đoàn địch, bắt địch phải bỏ lại 180 xác. Cái hay của trận thứ 2 là từ vận động phục kích đã kiên quyết linh hoạt, dũng cảm chuyển qua đánh vận động trên các bãi cát trắng trống, dưới hỏa lực của phi pháo địch, trải qua hai ngày đêm chiến đấu ta đã đánh bại 3 tiểu đoàn địch, thu nhiều vũ khí. Chiến thắng 2 trận Hương An - Mông Nghệ tăng thêm tin tưởng cho nhân dân vùng giáp ranh vì “từ đấy địch không còn dám tấn công, càn quét ra Vùng tự do và cố thủ ở cứ điểm Bà Rén cho đến ngày kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp”(4). Trận đầu do Tiểu đoàn 39 của tỉnh còn được Quân khu tăng thêm 2 tiểu đoàn chủ lực: 19 và 79. Cả hai trận đều do Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát chỉ huy



Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 10 Tháng Hai, 2017, 08:40:02 PM
                 Tiếp đến trận Hải Vân 3 (24-1-1948). Rút kinh nghiệm các trận Hải Vân 1, 2, nắm chắc quy luật hoạt động của địch trên đường xe hơi, xe lửa nên trận này anh Phát đã dũng cảm, mưu trí, táo bạo đánh địch trên cả hai đường cùng một thời gian. Kết quả ta phá hủy 1 đầu máy, 15 xe cơ giới, diệt gần 300 tên phần lớn là bọn Âu Phi tinh nhuệ. Nếu kế hoạch không chặt chẽ, không toàn diện thì tiểu đoàn ta đánh địch trên đường xe lửa khó vượt qua đường xe hơi để rút lui an toàn; càng khó qua sông Trường Định khi địch đã tập trung 8 tiểu đoàn chủ lực muốn khóa chặt phía hữu ngạn sông từ đèo Eo Ngựa xuống Khe Sô đến Mũi Trâu (tây bắc Đà Nẵng 20 ki-lô-mét) vì chúng biết mỗi lần đánh trên đèo Hải Vân thì toàn lực lượng của ta đều qua sông ở khu vực này để về khu căn cứ tự do. Đặc biệt, nếu người chỉ huy không được cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương tín nhiệm thì không thể huy động nổi trên 30 thuyền chở gọn 1.800 cán bộ chiến sĩ cùng 28 thương binh qua sông an toàn mặc dù địch giăng bẫy và đánh chìm mọi thuyền bè và cấm nhân dân không được qua lại. Anh Phát sinh ra ở thôn Trung Sơn, xã Hòa Liên - huyện Hòa Vang, mọi người đều hưởng ứng yêu cầu giúp đỡ cho Trung đoàn 96, đơn vị do anh chỉ huy. Ngoài ra, nhân dân còn nổi trống mõ thị uy để nghi binh đánh lạc hướng cho bộ đội. Công lao to lớn của nhân dân Hòa Vang là mò cua, bắt cá bán lấy tiền mua lương thực, len lỏi vào vùng chiếm đóng sát ngoại ô Đà Nẵng mua thuốc men đủ cho đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường gần 1 tháng liền và đủ 7 tấn gạo chuyển lên tận chân đèo cho trận đánh. Có thể nói trận Hải Vân 3 là công lao xương máu của nhân dân Hòa Vang cùng tinh thần chiến đấu của nhân dân, bộ đội hòa chung tầm chỉ huy sáng tạo, quả cảm của một Trung đoàn trưởng giỏi: đồng chí Nguyễn Bá Phát.

                 Chỉ một thời gian ngắn, sau trận Hải Vân 3, Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát sử dụng Tiểu đoàn 79 và 1 đại đội của Tiểu đoàn 19 thực hiện trận đánh vận động Gò Cà trên đường 14A đoạn giữa Túy Loan - Ái Nghĩa (tây nam Đà Nẵng 25 ki-lô-mét) ngày 31 tháng 3 năm 1949. Đây là hành lang khá mạnh của giặc Pháp bảo vệ căn cứ quân sự tổng hợp Đà Nẵng, nơi có cơ quan chỉ huy các lực lượng chiếm đóng Pháp ở Trung Đông Dương gồm Nam Trung Bộ - Tây Nguyên và Trung Hạ Lào. Ta diệt gọn rất nhanh 1 đại đội Âu Phi. Sau trận đánh tên thiếu tá chỉ huy tiểu khu Ái Nghĩa tới thị sát trận đánh đã phải thốt lên: “Đối phương thông minh táo bạo, thao lược, biết nắm địch một cách vững chắc mới dám đánh như thế này”(5). Hồi đó những cán bộ trẻ như chúng tôi hiểu biết còn quá mờ mịt về những nhân tố cơ bản của nghệ thuật quân sự của Đảng và của ông cha ta như: thế, thời và lực nhưng anh Phát lại nắm khá chắc. Nên anh không chủ trương đánh địch xuất phát từ Đà Nẵng lúc chúng còn cảnh giác, mà đánh lúc chúng về, vừa càn quét xong, mệt mỏi lại có phần chủ quan. Đó là thời, còn thế thì anh không bố trí phần lớn lực lượng ở phía tây đường có nhiều sườn núi của dãy Mông Gà chạy sát gần đường, khá kín đáo, hướng mà địch luôn đề phòng. Anh chỉ bố trí ở hướng tây một bộ phận nhỏ, chặn đầu khóa đuôi, còn đại bộ phận lực lượng bố trí ở hướng đông nhưng không dựa vào một số nhà dân rải rác gần đường (trên dưới 200 mét), mà “độn thổ” nằm sát đường khoảng trên dưới 50 mét. Chính nhờ vậy, mà khi ta nổ súng thì gần như toàn bộ lực lượng địch trên xe nhảy xuống quay lưng về phía đông lo đối phó phía tây nên chúng hoàn toàn bất ngờ và bị ta tiêu diệt nhanh. Trận Gò Cà cho tôi một bài học rất sâu về vận dụng thời, thế và lực khi tôi chuẩn bị chiến trường đánh trận vận động phục kích trên đường 104, đoạn Bà Rén - Cầu Chìm ngày 17 tháng 5 năm 1953.
   
                 Cuối năm 1949 đầu năm 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đang trên đà phát triển. Thành tích nổi bật là biến hậu phương địch thành tiền phương của ta và giữ vững 3 khu cách mạng lớn: Việt Bắc, ba tỉnh rưỡi Liên khu 4, ba tỉnh rưỡi Liên khu 5. Toàn quân đang ra sức thực hiện nghị quyết Trung ương 6 (1-1949): “Quyết đẩy mạnh vận động chiến tiến tới”. Lưc lượng vũ trang ta bắt đầu mở những chiến dịch nhỏ, quy mô 3-5 tiểu đoàn cùng lực lượng tại chỗ như các chiến dịch sông Thao (5-1949), Sông Lô (5-1949), Lê Lợi (Hòa Bình) và Lê Hồng Phong I (đầu 1950), Mỹ Tho (11-1949), Cầu Kè (12-1949), Lê Lai: Quảng Trị (11-1949). Hòa cùng thắng lợi chung, ở Liên khu 5 thành lập trung đoàn cơ động đầu tiên: Trung đoàn 210 sau đổi thành Trung đoàn 108, vào đúng ngày sinh nhật lần thứ 59 của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Thường vụ và Bộ Tư lệnh Quân khu chủ trương mở 2 chiến dịch nhỏ ở Quảng Nam - Đà Nẵng và bắc Khánh Hòa vào mùa xuân 1950. Ở Quảng Nam lấy tên là Võ Nguyên Giáp, ở bắc Khánh Hòa lấy tên là Trường Chinh, trong đó Quảng Nam là hướng chính tập trung cả 2 trung đoàn: Trung đoàn 210 của khu và Trung đoàn 108 của tỉnh. Ban chỉ huy chiến dịch gồm đồng chí Đàm Quang Trung - Tư lệnh phó Liên khu kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 210 là chỉ huy trưởng, đồng chí Phan Hàm - Tham mưu trưởng Quân khu, đồng chí Nguyễn Bá Phát - Trung đoàn trưởng tỉnh là chỉ huy phó. Các anh Nguyễn Đôn là Chính ủy và Nguyễn Quyết - Phó Chính ủy. Kế hoạch lúc đầu là dùng Trung đoàn 210 đánh địch trên đèo Hải Vân cả trên đường xe hơi và đường xe lửa, còn Trung đoàn 108 thọc sâu vào huyện Điện Bàn đánh địch vận chuyển và càn quét. Nhưng vì quá trình chuẩn bị chiến trường kế hoạch bị lộ nên Trung đoàn 210 chuyển qua huyện Hòa Vang.
   
                 Tối 2 tháng 2 năm 1950, Trung đoàn 108 từ căn cứ Đồng Xanh - Đồng Nghệ - Phú Túc, bí mật hành quân xuống Điện Tiến - Điện Bàn bám sát đường quốc lộ 1A khu vực Thanh Quýt. Cuộc hành quân này không gian khổ như các trận trên đèo Hải Vân vì không phải qua đèo cao, dốc hiểm mà khó khăn chính là làm sao giữ vững được an toàn hệ thống đồn bót và mạng lưới gián điệp của địch. Kết quả ta diệt gọn 1 đại đội Âu Phi, phá hủy 14 xe, bắt 50 tên, thu trên 100 súng, chỉ cách Đà Nẵng gần 20 ki-lô-mét, địch rất hoảng sợ. Có thế nói đây là lần đầu tiên một chiến dịch nhỏ bước đầu mang dấu ấn của một chiến dịch tổng hợp sau này vì đi đôi với kế hoạch quân sự, phải có kế hoạch phối hợp với lực lượng địa phương, dân quân du kích, và đặc biệt phối hợp với nhân dân từ chở quân qua sông an toàn, đưa đường, ém quân trong nhà dân. Có thể nói bộ đội đầy ắp nhà dân mà địch không hay biết, thậm chí có bộ phận trinh sát vào tận sân nhà dân mà vẫn mù tịt, ăn uống và sinh hoạt của bộ đội đều do dân ta bảo đảm nhất là sau trận Thanh Quýt, tiếp đến trận chống càn. Trận này cũng do anh Phát và anh Quyết chỉ huy. Tâm sự với chúng tôi sau trận đánh, anh bộc lộ: “Lo nhất là bí mật, chỉ một sơ suất nhỏ của nhân dân không tránh khỏi cặp mắt cú vọ của bọn thám báo, nên hàng ngày nhân dân vẫn ra làm ruộng như thường, vừa xóa dấu vết, vừa theo dõi địch vì vậy mỗi hành động và bước đi của địch đều không qua được con mắt của nhân dân. Qua trận đánh càng thấy nhân dân ta dù ở đâu, vùng tự do hay vùng địch tạm chiếm vẫn trung thành với cách mạng, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ, hễ thấy bộ đội chủ lực tới như mở cờ trong bụng, sẳn sàng chịu mọi gian khổ hy sinh, quyết cùng bộ đội diệt địch để cho quê hương sớm được giải phóng. Thật là vĩ đại, có gần dân, sát với dân, càng chiến đấu hết mình đáp lại tấm lòng cao cả ấy, nhất là quê hương nơi mà mình sinh ra và nuôi dưỡng mình đến khôn lớn”. Vừa nói, anh vừa liên tục quệt nước mắt bằng hai ống tay áo bà ba.
   
                 Còn cách đánh địch trong công sự vững chắc, trước trận Konplong ở Quảng Nam - Đà Nẵng ta đã có một số trận tiêu diệt gọn, làm chủ chiến trường, thu vũ khí, bắt tù binh. Nhưng đó là những trận ta vận dụng hình thức chiến thuật kỳ tập, nghĩa là cơ sở nội ứng phối hợp. “Sáng 18 tháng 8 năm 1949, được cơ sở nội ứng hàng ngày dẫn vào làm trong đồn, một trung đội trinh sát do trung đội trưởng Hoàng Đại Hải chỉ huy lọt được vào đồn, phối hợp với 1 đại đội của Tiểu đoàn 39 chủ lực tỉnh, lợi dụng lúc dân lần lượt đi về, ta nổ súng đánh đồn Thu Bồn nhanh gọn, diệt 1 đại đội Âu Phi, thu toàn bộ vũ khí”(6). Hoặc “19 tháng 8 năm 1950, được cơ sở binh vận làm nội ứng, 1 đại đội bộ đội địa phương cùng dân quân du kích tấn công đồn Ngũ Giáp giữa ban ngày, diệt gọn 2 trung đội địch, thu hết vũ khí”(7). Riêng đánh địch bằng sức mạnh trong công sự vững chắc theo hình thức chiến thuật công kiên chưa có kinh nghiệm và chưa đủ sức. Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến ở bắc Khánh Hòa, ta dùng 2 trung đoàn do Trung đoàn trưởng Hữu Thành chỉ huy tấn công cùng một lúc 3 cứ điểm: Vạn Giã, Hiền Lương và Đồn Điền. Kết quả chỉ phá hủy được gần 2/3 đồn Vạn Giã, đánh thiệt hại các đồn Hiền Lương và Đồn Điền, diệt và làm bị thương gần 150 tên, ta thương vong khá nặng không làm chủ được chiến trường. Còn trận Thủy Tú, bắc An Khê thuộc tỉnh Gia Lai (14-3-1947) “do kế hoạch bị lộ nên Trung đoàn trưởng Vi Dân cùng một số lớn cán bộ hy sinh... trận thất bại nghiêm trọng này làm trung đoàn mất hẳn sức chiến đấu, phải về củng cố”(8.). Rõ ràng mấy trận trên đây để lại cho ta rất ít kinh nghiệm về đánh công kiên. Xa Trung ương Đảng, xa Bộ Tổng tư lệnh, quân dân Liên khu 5 vẫn được Trung ương, Bác Hồ, Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo chặt chẽ, phải tự lực giải quyết nhiều vấn đề. Trước hết là tăng gia sản xuất đủ lương thực cho 2 triệu dân đến quần áo, thuốc men, vũ khí thô sơ, v.v... Về quân sự, cụ thể cách đánh địch trong công sự vững chắc còn là một vấn đề rất khó khăn: kinh nghiệm của giải phóng quân Trung Quốc, của các đại đoàn chủ lực của Bộ về đánh công kiên như: Tứ tổ nhất đội, thang mê thiết giáp, bộc phá, súng ĐKZ còn rất xa lạ. Về vũ khí diệt công sự địch, ở Liên khu 5 hồi đó mới có 3 mìn càng, súng ĐKZ và súng phóng bom. Súng phóng bom do quân giới Liên khu 5 tự sản xuất theo tài liệu hướng dẫn của Cục Quân giới Bộ Quốc phòng.



Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 10 Tháng Hai, 2017, 08:45:41 PM
                 Trong điều kiện khó khăn ấy, Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát đã dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước sự trưởng thành rất bức xúc lực lượng của Quân khu 5. Anh đã nghĩ ra cách dùng bao cát lăn dần từ ngoài vào sát hàng rào địch để xây dựng các ụ súng cho các hỏa lực trung, đại liên và trọng liên 12,7 ly. Anh đã cùng quân giới Liên khu 5 chế ra loại xe thiết giáp dày 20 cm, trên xe thiết giáp đặt súng SKZ. Xe thiết giáp nặng từ 3-4 tấn, được tháo lắp vận chuyển theo bộ đội hành quân từ đồng bằng đến sát vị trí địch mới lắp ráp lại. Thực tế trong trận Konplong 2 chiến thuật “lăn bao cát” và “xe thiết giáp” không có điều kiện áp dụng, nhưng quá trình tập luyện đã gieo tư tưởng chắc thắng cho cán bộ và chiến sĩ. Trận Konplong thành công được Thường vụ - Bộ Tư lệnh Liên khu 5 đánh giá rất cao: “Trận đánh mở ra bước ngoặt về đánh địch trong công sự vững chắc của lực lượng vũ trang Quân khu 5”(9).

                 Sau Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân khu 5 (11-19 tháng 2 năm 1951), Bộ Tư lệnh Liên khu 5 có sự điều chỉnh. Anh Nguyễn Đôn vừa trúng Ủy viên dự khuyết Liên khu ủy, nguyên Chính ủy Trung đoàn 84 được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Liên khu thay đồng chí Phan Hàm đi nhận nhiệm vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 83. Như vậy cả Thường vụ và Quân khu đều là những đồng chí xuất thân từ cán bộ chính trị nắm vững đường lối tư tưởng quân sự, nghệ thuật chính trị, nhưng trực tiếp cầm quân chiến đấu từ cơ sở trưởng thành lên thì có phần hạn chế, cụ thể là mặt chiến thuật và chiến đấu. Trong điều kiện đó, anh Phát đã được điều về làm Tham mưu phó Liên khu. Sự bổ sung đúng đắn ấy đã được chứng minh ngay trong Đông Xuân 1951-1952, Liên khu tập trung cả 2 trung đoàn chủ lực: 108 và 83 mở chiến dịch vào khu vực bắc và đông bắc An Khê trên đường 19. Tôi nhớ hôm anh Lư Giang (từ Trung đoàn 83 chuyển qua Trung đoàn 108) cùng tôi là Tham mưu trưởng Trung đoàn lên nhận nhiệm vụ. Anh Phát hướng dẫn và nói rõ: “Lần này Trung đoàn 108 đánh Cửu An có phần dễ hơn vì đã qua kinh nghiệm trận Konplong, mặt khác địa hình và cấu trúc quân sự địch ở đây cũng giảm đơn hơn. Riêng trận đánh vận động trên đường Hoàng Hoa Thám (đường nhỏ nối từ đường 19) thì đề nghị các anh nên để địch vào gần Cửu An hãy bắt đầu nổ súng vì lúc này địch bắt đầu chủ quan hơn”. Tôi đã nghĩ đến thời, thế và lực mà anh Phát nắm chắc vận dụng vào điều kiện cụ thể của trận phục kích này. Đúng như phán đoán của anh, trận công kiên diệt gọn đồn Cửu An chỉ diễn ra trong 2 giờ đồng hồ, ta thu toàn bộ vũ khí có 1 khẩu đại bác 88 ly. Trận vận động phục kích cũng diễn ra thuận lợi, địch hoàn toàn bị bất ngờ.
   
                 Tiếp đến Đông Xuân 1953-1954, chiến trường Quân khu 5 là hướng thứ 4 theo bàn tay xoè ra của Bác Hồ khi phe duyệt kế hoạch tác chiến chiến lược của Tổng Quân ủy - Bộ Tổng tư lệnh: “Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh. Không sợ. Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh ấy không còn”(10). Trong Đông Xuân 1953 - 1954, lần đầu tiên quân dân Liên khu 5 giành thắng lợi to lớn trọn vẹn trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đó là nhờ sự chỉ đạo đúng đắn sáng suốt, tài tình của Bộ Chính trị, của Bác Hồ và Quân ủy Trung ương; sự nỗ lực của Thường vụ và Bộ Tư lệnh Liên khu cùng sự hy sinh vô bờ bến của nhân dân, cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang Liên khu 5, một lòng một dạ tin tưởng tuyệt đối Vào sự lãnh đạo của Đảng; riêng anh Phát có công trong việc chuẩn bị chiến trường nhất là những trận then chốt của đợt đầu chiến dịch: Mang Đen, Mang Bút, Kông Brai và các trận đánh trên đường 19.
   
                 Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát không chỉ giỏi về chiến thuật mà còn nhiều kinh nghiệm về tổ chức huấn luyện bộ đội, nổi bật trong cuộc thi đua luyện quân bắt đầu từ 15 tháng 2 năm 1948. Đi đôi với những lớp bổ túc chính trị và quân sự cho cán bộ các cấp, thì bộ đội tập trung rèn luyện kỹ 3 kỹ thuật chính: bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn và những kỹ thuật cơ bản phục vụ cho 2 cách đánh địch đang vận động và đánh địch trong công sự vững chắc. Lúc này anh Phát được điều từ mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng nhận nhiệm vụ Trung đoàn phó Trung đoàn 126 có nhiệm vụ bảo vệ tỉnh Quảng Ngãi trong vùng tự do Liên khu 5. Ban chỉ huy trung đoàn có anh Phạm Kiệt là Trung đoàn trưởng và anh Đoàn Khuê là Chính trị ủy viên. Trước đó một tuần, anh Khuê bàn giao Tiểu đoàn 77 chủ công của Trung đoàn 126 cho chúng tôi: Lê Hữu Đức và Trần Ren mới lên nhận nhiệm vụ ở trung đoàn. Anh Phát không chỉ thông thuộc và giỏi về 3 kỹ thuật lớn mà còn khả năng tổ chức và kiểm tra giúp cán bộ các cấp nắm chắc tình hình huấn luyện. Ngày đêm nắng cũng như mưa, anh lăn lộn khắp các thao trường, anh còn sáng kiến sát hạch kỹ từng khoa mục. Qua sự hướng dẫn của anh, chúng tôi đều có bước trưởng thành về tổ chức và huấn luyện cho bộ đội, mà trước đó sự hiểu biết chưa hoàn thiện, chưa hệ thống.
   
                 Anh Nguyễn Bá Phát là một trung đoàn trưởng toàn diện không chỉ có trình độ kế hoạch tác chiến tỉ mỉ, cụ thể, toàn diện mà luôn dự kiến những tình huống khó khăn nhất nên rất chủ động, anh còn nhiều kinh nghiệm tổ chức huấn luyện. Đặc biệt anh luôn chăm lo, bồi dưỡng cho cấp dưới, luôn tìm cách truyền đạt kịp thời những kinh nghiệm sốt dẻo của các đơn vị trong Liên khu cũng như các kinh nghiệm của Bộ phổ biến, nên trình độ hiểu biết của chúng tôi về tác chiến và huấn luyện được nâng lên một bước khá rõ. Tính tình của anh là một nông dân chất phác, trung thực, chan hòa, dễ gần, dễ mến, có gì đều tâm sự hết, ít khi “để bụng”, nên anh em cấp dưới không chỉ cán bộ trung cấp mà cán bộ sơ cấp và đông đảo chiến sĩ đều mến anh, quý anh và kính trọng anh. Tất cả chúng tôi đều coi anh như một người anh thực sự, đồng cam cộng khổ, sẻ ngọt chia bùi, một lòng một dạ, chung lưng đấu cật, đoàn kết thực sự, cùng chung một nguyện vọng là làm sao cho trung đoàn giành nhiều thắng lợi, nhiều trận có hiệu suất cao mà thương vong của ta ở mức thấp nhất. Không chỉ có chúng tôi mà cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân Ở những vùng anh đã chiến đấu đều quý anh, thật lòng cộng tác, cùng nhau vượt muôn vàn khó khăn gian khổ, chung sức chung lòng, hiệp đồng chặt chẽ, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân cùng lực lượng vũ trang giành thắng lợi to nhất. Ở đâu, nhân dân cũng nhắc đến anh một lòng yêu thương. Tập kết ra miền Bắc, anh được điều về Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu nhận nhiệm vụ Trưởng ban Nghiên cứu Thủy quân, có nhiệm vụ nghiên cứu và xây dựng quân chủng còn rất non trẻ (1-1955). Ngày 7 tháng 5 năm 1955, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Cục phòng thủ bờ biển có nhiệm vụ: “Giúp Bộ Tổng Tư lệnh chỉ huy bộ đội phòng cứu bờ biển và trực tiếp đào tạo cán bộ, nhân viên thủy thủ, trực tiếp sản xuất phương tiện dụng cụ thủy và xây dựng các thủy đội phòng thủ bờ biển rồi giao cho các liên khu”(11). Từ đó ngày 7 tháng 5 năm 1955 trở thành ngày truyền thống Hải quân nhân dân Việt Nam.
   
                 Dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Đảng, quân đội ta đã từng bước triển khai kế hoạch xây dựng dài hạn cơ bản trong đó có lực lượng Hải quân, thời kỳ xây dựng và phát triển nhanh nhất. “Ngày 24 tháng 1 năm 1959, Bộ Quốc phòng ra Nghị quyết 52 thành lập Cục Hải quân thay cho Cục phòng thủ bờ biển, quy định rõ nhiệm vụ của Cục và bổ nhiệm Đại tá Tạ Xuân Thu làm Cục trưởng kiêm chính ủy, Đại tá Nguyễn Bá Phát làm Phó Cục trưởng”. Qua một thời gian xây dựng, huấn luyện và trưởng thành, “ngày 3 tháng 1 năm 1964, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Hải quân có nhiệm vụ: chỉ huy, lãnh đạo, xây dựng Quân chủng Hải quân, từ đảm nhiệm vụ chiến đấu trên không phận, hải phận bờ biến miền Bắc. Thiếu tướng Tạ Xuân Thu được chỉ định làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng, Đại tá Nguyễn Bá Phát là Phó Tư lệnh”(12)
   
                 Bước qua năm 1964, nhân dân ta trên cả hai miền giành được nhiều thắng lợi, miền Bắc tiến một bước khá dài trong lịch sử, sản xuất phục hồi, sản lượng lương thực thực phẩm, cây công nghiệp đều vượt năm 1939 là năm kinh tế nông nghiệp phồn vinh nhất nước ta trước thời kỳ chiến tranh, nền nông nghiệp cũng giành được thắng lợi khá lớn. Từ 54 nhà máy nhỏ lẻ tiếp quản năm 1954 đến nay đã có trên một nghìn nhà máy trong đó có một phần tư là vừa và khá lớn, hệ thống giao thông cũng được phát triển nhanh. Còn ở miền Nam có những bước tiến mạnh mẽ, liên tiếp đánh bại và làm phá sản kế hoạch chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Trước nguy cơ ấy, Giôn-xơn quyết định đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam, chuẩn bị cho ra đời chiến lược “chiến tranh cục bộ” và tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc.
   
                 Cả dân tộc từ Bắc đến Nam đã sẵn sàng cho cuộc đọ sức mới. Cả miền Bắc, đặc biệt lực lượng Hải quân được lệnh chuyển qua thời chiến: “Phải nhanh chóng chuyển mọi sinh hoạt nền nếp qua thời chiến”.



Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 10 Tháng Hai, 2017, 09:02:15 PM
                  Để lấy cớ đánh ra miền Bắc, ngày 2 tháng 8 năm 1964, Mỹ dựng lên vụ tàu khu trục Ma-đốc vu cho Hải quân ta đánh chúng trong hải phận quốc tế. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ huy động lực lượng của Hạm đội 7 đánh phá tất cả các bờ biển miền Bắc từ Quảng Bình đến Quảng Ninh. Hầu hết các căn cứ, khu đậu và lực lượng Hải quân ta đều bị đánh phá. Mỹ ỷ vào trang vũ khí hiện đại và lợi dụng yếu tố bất ngờ hòng tiêu diệt lực lượng Hải quân ta chỉ trong vòng 1 ngày. Nhưng thật trớ trêu chính Mỹ lại là kẻ thất bại thảm hại trước Hải quân ta gần 10 năm xây dựng dũng cảm chiến đấu, hiệp đồng chặt chẽ, được sự giúp đỡ của nhân dân, các lực lượng vũ trang nhân dân trong mạng lưới phòng không của thế trận nhân dân đất đối không.
   
                  Trong trận đọ sức này Mỹ bị thất bại đau đớn: 3 máy bay bị bắn rơi, nhiều chiếc khác bị thương, nhiều phi công chết, 1 phi công bị bắt làm tù binh. Ngày 7 tháng 8 năm 1964, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng tổ chức trọng thể lễ tuyên dương công trạng các đơn vị Phòng không - Không quân và Hải quân đã lập công xuất sắc trong các trận chiến đấu ngày 2 và ngày 5 tháng 8 năm 1964. Bác Hồ đã dành riêng cho hàng vạn cán bộ và chiến sĩ của hai Quân chủng Phòng không - Không quân và Hải quân một tặng phẩm vô giá là cùng chụp ảnh chung với hai đồng chí Tư lệnh Phòng không - Không quân: Đại tá Phùng Thế Tài và Tư lệnh Hải quân: Đại tá Nguyễn Bá Phát.
   
                  Ngày 5 tháng 8 trở thành ngày truyền thống trận thắng đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam, cũng là ngày đánh thắng trận đầu của quân và dân toàn miền Bắc.
   
                  Tiếp đó, lực lượng Hải quân đã cùng toàn dân và toàn quân ta đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và lần thứ hai của đế quốc Mỹ. Đánh bại các bước leo thang trong chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ trên sông biển ở miền Bắc; thực hiện tuyến vận tải chiến lược đường biển, chi viện vũ khí cho các chiến trường miền Nam; xây dựng lực lượng và nghiên cứu cách đánh địch trên chiến trường sông biển; cuối cùng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân toàn thắng năm 1975.
   
                  Đầu năm 1974, anh Nguyễn Bá Phát được đề bạt Thiếu tướng cùng đồng chí Hoàng Trà, Chính ủy Quân chủng. Trong chiến thắng vĩ đại toàn vẹn mùa xuân 1975, Quân chủng Hải quân tham gia chiến dịch chiến lược Huế - Đà Nẵng. Mở đầu cuộc tấn công giải phóng Huế - Đà Nẵng, Bộ Tổng Tư lệnh điều phần lớn cơ quan Tham mưu và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân chủng vào cùng lực lượng tại chỗ giải phóng Huế - Đà Nẵng.
   
                  Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát được chỉ định vào Bộ Tư lệnh và Đảng ủy mặt trận: “Bộ Tư lệnh mặt trận gồm các đồng chí Lê Trọng Tấn - Tư lệnh, Chu Huy Mân - Chính ủy, các phó Tư lệnh: Giáp Văn Cương và Nguyễn Bá Phát (có thêm 1 đồng chí Phó Tư lệnh do các anh đề nghị) Phó Chính ủy là đồng chí Phước. Đảng ủy mặt trận gồm các đồng chí: Chu Huy Mân - Bí thư, Tấn và Phước - Phó Bí thư, Cương và Phát - Ủy viên. Ký tên: Văn(13). Sau đó tiếp quản tổ chức căn cứ Hải quân Đà Nẵng để vừa vận chuyển các lực lượng và khí tài cần thiết cho cuộc tấn công giải phóng Sài Gòn - Gia Định vừa chuẩn bị tấn công giải phóng các đảo, đặc biệt đảo Trường Sa.
   
                  Được sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của thường trực Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh về nhận định địch, thời cơ chiến lược và phương châm hành động: “Các đơn vị phải hết sức sẵn sàng, có thời cơ là đánh được ngay, bảo đảm chắc thắng đánh phải đúng lúc...”, “... vùng này có tàu chiến của Hạm đội 7 của Mỹ và Hải quân các nước khác hoạt động. Do đó nghệ thuật tác chiến phải kiên quyết, táo bạo, đồng thời phải hết sức mưu trí, sáng tạo bất ngờ.”(14).
   
                  Được Thường vụ Đảng ủy và Quân ủy Liên khu 5 tạo mọi điều kiện thuận lợi, Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát đã cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Hải quân Sử dụng các tàu của Đoàn 125, bộ phận đặc công nước của Đoàn 126 cùng Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 38 Sư đoàn 2 và một bộ phận hỏa lực của Quân khu 5 để thực hiện nhiệm vụ. Tất cả lực lượng trên đây do đồng chí Mai Năng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ Quân chủng Hải quân trực tiếp chỉ huy. Chỉ trong vòng 18 ngày kể cả ngày vận chuyển trên biển, nếu tính từ ngày chính thức nổ súng thì chỉ 15 ngày (14-29 tháng 4 năm 1975) Hải quân ta đã hoàn toàn làm chủ quần đảo Trường Sa, kết thúc thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu đặc biệt quan trọng do Thường trực Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh giao. Trong ngày 28 tháng 4, lực lượng ta trên các tàu đã nhận được điện khen ngợi của Thường trực Quân ủy: “Quân ủy Trung ương rất phấn khởi được tin quân ta đã chiếm đảo Trường Sa, nhiệt liệt khen ngợi các đơn vị đã hoàn thành có ý nghĩa chiến lược”.
   
                  Tiếp đó, lực lượng Hải quân phối hợp với Quân khu 6. Xuất phát từ căn cứ Cam Ranh giải phóng hoàn toàn Cù Lao Thu. Lực lượng tham gia có tàu 143 đoàn 15, một bộ phận đặc công của Hải quân và một bộ phận đặc công nước của Tiểu đoàn 407, 1 đại đội bộ binh của Trung đoàn 95 Sư đoàn 3, một tàu đánh cá của dân ở Nha Trang, 1 thuyền gỗ ở Ninh Thuận. Chỉ huy chung là cán bộ của Hải quân. Chỉ gần một giờ tấn công, ta hoàn toàn làm chủ đảo, bắt 382 tên, thu trên 900 súng các loại.
   
                  Sau ngày đất nước thống nhất, do yêu cầu của nhiệm vụ mới, Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát được điều sang Bộ Hải sản với cương vị là Thứ trưởng thường trực. Đồng chí có nhiều công lao đóng góp cho ngành thủy sản thời kỳ non trẻ.
   
                  Do công lao của đồng chí nhất là 9 năm chiến đấu ở Quân khu 5 trong kháng chiến chống Pháp, tập thể cán bộ Trung đoàn 108 hoàn toàn nhất trí đề nghị tổ chức nghiên cứu truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Bá Phát.

                                 
L.H.Đ




(1). Nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu.
(2). Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Nxb QĐND, H.1991, tr. 152-153
(3). Quân khu 5, ba mươi năm chiến tranh giải phóng, Tập 1, Nxb QĐND, H. 1986, tr.2
(4). Quảng Nam - Đà Nẵng 30 năm chiến đấu và chiến thắng, Tập 1, 1985, tr. 117.
(5). Lịch sử Trung đoàn 108 của Liên khu 5, Nxb QĐND, H.1999, tr.23
(6). Quảng Nam - Đà Nẵng, 30 năm chiến đấu và chiến thắng. Tập 1, 1985, tr. 198.
(7). Quảng Nam - Đà Nẵng, 30 năm chiến đấu và chiến thắng. Tập 1, 1985, tr. 150.
(8). Quân khu 5, ba mươi năm chiến tranh giải phóng. Tập 1, tr.96.
(9). Quân khu 5, ba mươi năm chiến tranh giải phóng. Tập 1, tr.187.
(10). 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb CTQG, H.2004, tr.53.
(11). Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, H.1985 tr.36.
(12). Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, H.1985 tr.83.
(13). Điện số 910 TK ngày 26-3-1975 của Thường trực Quân ủy Trung ương gửi anh Hai Mạnh (Chu Huy Mân) và anh Năm Công (Võ Chí Công).
(14). Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, tr.295-299.




Tiêu đề: Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ
Gửi bởi: loiho000 trong 10 Tháng Hai, 2017, 09:14:47 PM
NGUYỄN BÁ PHÁT – VỊ TƯỚNG TÀI TRÊN BỘ DƯỚI NƯỚC
Nguyễn Bá Thanh(1)

                  Tôi là lớp hậu sinh nên không biết nhiều về đồng chí Nguyễn Bá Phát. Tuy nhiên, cũng như bao người dân Hòa Vang khác, tôi biết về ông như một vị tướng tài, đánh giặc giỏi cả trên bộ và dưới nước. Ngoài một người đồng hương, ông còn là một người bà con xa với gia đình tôi, hơn nữa, cả 4 anh em của ông, là Nguyễn Bá Trinh, Nguyễn Bá Phát, Nguyễn Bá Phước và Nguyễn Bá Ninh (đều là sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam) rất thân thiết với cha tôi - ông Nguyễn Bá Tùng, trong thời kỳ 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp tại Đà Nẵng. Đồng chí Nguyễn Bá Phát sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Trung Sơn, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Xưa kia Vùng tây bắc Hòa Vang là nơi dừng chân hoạt động của các phong trào đấu tranh yêu nước trước khi có Đảng, như phong trào Nghĩa hội Quảng Nam, khởi nghĩa Thái Phiên - Trần Cao Vân... nên người dân nơi đây rất có truyền thống “đuổi giặc Tây, cứu giống nòi”. Lớn lên trong một vùng đất như vậy, nên Nguyễn Bá Phát ảnh hưởng dũng khí kiên cường của cha ông và tư tưởng “bài Tây” có hầu hết trong lớp thanh niên tại Hòa Vang thời ấy. Vì lẽ đó, từ tháng 7 năm 1945, ông đã tình nguyện đứng vào hàng ngũ “Tự vệ bí mật” do Việt Minh lãnh đạo, để chuẩn bị cho công cuộc vận động giành chính quyền trên quê hương mình.

                   Sau Cách mạng tháng Tám thành công, ông được bầu làm Ủy viên Ủy ban Nhân dân lâm thời xã Trung Sơn. Từ tháng 9 năm 1945, nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông gia nhập quân đội và lần lượt giữ các chức vụ: Đội trưởng Thủy đội Bạch Đằng, Chi đội phó Chi đội Phan Đình Phùng, Chỉ huy trưởng Mặt trận Buôn Ma Thuột và đường 14, Phó chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Trung đoàn trưởng đoàn 96. Tuy nhiên, người dân Đà Nẵng nói chung và Hòa Vang nói riêng nhớ nhiều đến ông là vì những chiến công lẫy lừng của lực lượng bộ đội do chính ông chỉ huy trên mảnh đất quê hương mình.
   
                   Đáng chú ý là trận đánh trên đường đèo Hải Vân ngày 25-5-1947, quân ta gần như tiêu diệt hoàn toàn đoàn xe địch chở đầy lính lê dương, trong đó có tên đại tá Roger, một chỉ huy quan trọng của địch ở miền Trung Đông Dương, gây tiếng vang lớn trên toàn quốc. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bá Phát và nhiều đồng chí khác, mặt trận Đà Nẵng đã chặn đứng ý đồ “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp, được đồng chí Phạm Văn Đồng thay mặt Trung ương Đảng tặng lá cờ thêu 2 chữ “Giữ vững”. Trung đoàn 96 do Nguyễn Bá Phát chỉ huy - một đơn vị ghi nhiều chiến công nhất được vinh dự giữ lá cờ đó.
   
                   Nhắc đến tài cầm quân của Nguyễn Bá Phát, cho đến nay, người dân quê tôi vẫn nhớ như in “trận rút quân thần kỳ của ông Phát” vào dịp Tết năm 1949. Số là, sáng 24 tháng 1 năm 1949, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bá Phát, bộ đội ta phục kích chặn đánh một đoàn xe lửa và một đoàn xe quân sự Pháp gồm 18 chiếc, có một chiếc thiết giáp dẫn đầu và máy bay yểm trợ trên đường đèo Hải Vân. Đến 12 giờ trưa cùng ngày, ta chặn đánh một đoàn xe khác gồm 12 chiếc từ Huế chạy vào. Sau một ngày chiến đấu quyết liệt ta tiêu diệt trên 200 tên địch, phá hủy 15 xe quân sự và thu nhiều súng trung liên, đại liên và súng trường. Biết quân ta chưa kịp rút lui, quân Pháp huy động 8 tiểu đoàn kéo lên ngả ba Khe Sô, rải quân từ Eo Ngựa và đèo Mũi Trâu đến dọc hữu ngạn sông Trường Định, hòng bao vây tiêu diệt quân chủ lực của ta. Thâm độc hơn, địch còn cho thu hoặc phá hỏng tất cả ghe thuyền của nhân dân tây bắc Hòa Vang và ban lệnh thiết quân luật trên toàn vùng. Đồng thời chúng phong tỏa hết các ngả đường. Trước tình hình đó, Nguyễn Bá Phát đã đưa ra một quyết định cực kỳ sáng suốt, ông bàn với Huyện ủy Hòa Vang thực hiện một phương án rất táo bạo là: đưa quân chủ lực vượt sông Trường Định về ở lẫn trong dân vùng địch tạm chiến.
   
                   Đêm 27 tháng 1 năm 1949, gần như toàn thể đồng bào tây bắc Hòa Vang được huy động vào cuộc rút quân có một không hai này. Để phối hợp với cuộc lui quân, nhằm đánh lạc hướng quân địch, đêm đó các đội du kích Hòa Vang và Hòa Liên nổ súng vào các đồn bót chung quanh kiềm chế địch. Nhân dân các xã cánh bắc huyện Hòa Vang còn đánh mõ, phèng la phô trương thanh thế nhằm đánh lạc hướng địch. Các mẹ, các chị lo tiếp tế; các em thiếu nhi canh gác, dẫn đường; thanh niên, dân quân đi lấy thuyền. Hơn 30 chiến thuyền được khiêng qua bãi cát dài 3 ki-lô-mét chuyển về sông Trường Định đưa bộ đội bí mật qua sông. Đồng bào hai bên đường đón bộ đội đi qua, tiếp tế lương thực, tặng nhiều quà bánh, thuốc lá, bánh tét. Kết quả, ta đã đưa gần 1.800 bộ đội, du kích, 28 thương binh vượt qua sông an toàn ngay trước vòng vây dày đặc của kẻ thù.
   
                   Sáng hôm sau, bọn Pháp vẫn tưởng quân ta còn trong vòng vây, nên tiến hành khép chặt, sau khi biết chắc ta đã rút lui an toàn, chúng phải thừa nhận “Việt minh tài thật”. Chiến công trên có một ý nghĩa vô cùng to lớn, nó thể hiện tài thao lược của Nguyễn Bá Phát và tình thương yêu của nhân dân tây bắc Hòa Vang dành cho ông và bộ đội ta.
   
                   Từ năm 1950, ông lần lượt giữ các chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108, Tham mưu trưởng mặt trận bắc Tây Nguyên, Chỉ huy trưởng Sư đoàn 305, Tham mưu phó, rồi Tham mưu trưởng Liên khu 5. Ở bất cứ cương vị nào, bất kỳ chiến trường nào, Nguyễn Bá Phát luôn nhận được sự kính trọng của cấp dưới và nhân dân nơi lực lượng ông đứng chân hoạt động. Tháng 10 năm 1954, ông tập kết ra Bắc, được giữ chức vụ Sư đoàn phó Sư đoàn 305, sau đó được điều về Ban nghiên cứu Thủy quân, giữ chức Trưởng ban.
   
                   Năm 1955, ông giữ chức Cục phó Cục phòng thủ bờ biển (sau này là Cục Hải quân) vừa mới thành lập, được phong quân hàm Đại tá. Sau khi Quân chủng Hải quân được thành lập, tháng 1 năm 1964, ông giữ chức Phó Tư lệnh Quân chủng. Tháng 12 năm đó, ông là Tư lệnh Quân chủng Hải quân kiêm Tư lệnh Quân khu Đông Bắc (sau khi sáp nhập). Nhiều người từng làm việc với ông nói với tôi rằng: tướng Phát là con người của công việc, ông rất nguyên tắc song là người cương trực, quyết đoán, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ông luôn hoàn thành tốt công việc được cấp trên giao phó.
   
                   Được biết, dù ông không phải là dân sông nước, Song khi Bác Hồ giao nhiệm vụ Cục phó Cục phòng thủ bờ biển với một huấn lệnh duy nhất: “Vì chú là gốc lính thủy Pháp nên có nhiều kinh nghiệm đi biển.”. Rồi sau này, khi được nhận chức Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân Việt Nam, Bác Hồ lại dặn ông: “Chú đã có công quật ngã thằng Pháp ở dưới biển thì bây giờ chú phải quật ngã thằng Mỹ xâm lược này nữa, có phải không chú Phát?”. Ai cũng biết sự kiện tàu Khu trục Ma-đốc của đế quốc Mỹ gây hấn ở vịnh Bắc Bộ tháng 7 năm 1964 và sự kiện Hải quân nhân dân Việt Nam (dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bá Phát) và Phòng không - Không quân của ta bắn rơi 8 chiếc máy bay phản lực, bắt giặc lái Mỹ và đuổi tàu Mỹ chạy dài vào ngày 5 tháng 8 năm 1964 gây chấn động dư luận trong và ngoài nước.
   
                   Từ chiến thắng trên, Nguyễn Bá Phát được Bác Hồ tặng một chiếc đồng hồ đeo tay có khắc tên của Người bằng chữ Hán. Nguyễn Bá Phát cũng là một trong những người có công thiết lập “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển” và chỉ huy chi viện đắc lực cho chiến trường miền Nam từ năm 1960 đến 1975. Ngoài ra, ông còn cùng với các đồng nghiệp nghiên cứu phá thành công thủy lôi từ tính của đế quốc Mỹ.
   
                   Từ tháng 2 đến tháng 5 năm 1975, Nguyễn Bá Phát là Tư lệnh Hải quân tiền phương trong chiến dịch tổng tiến công giải phóng miền Nam năm 1975. Tháng 4 năm 1975, ông được phong quân hàm Thiếu tướng, Tư lệnh Hải quân nhân dân; Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; Ủy viên Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng.
   
                   Tuy nhiên, từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, quê hương Đà Nẵng - Hòa Vang còn biết đến ông nhiều hơn khi ông chuyển ngành sang làm Thứ trưởng Bộ Hải sản cho đến khi nghỉ hưu.
   
                   Từ năm 1975 đến năm 1985, tình hình vượt biên, vượt biển, xâm nhập quấy phá nền trị an ta của thế lực thù địch bên ngoài tại Đà Nẵng diễn ra rất quyết liệt và cam go.
   
                   Chính trong bối cảnh đó, tướng Phát đã có lý khi chủ trương cho các ngư dân vùng duyên hải miền Trung nói chung và Đà Nẵng nói riêng thực hiện phong trào “tay lưới, tay súng” (nghĩa là vừa đánh bắt thủy hải sản, vừa thực hiện tuần tra, canh gác, bảo vệ vùng trời, vùng biển của Tổ quốc). Hàng chục Hải đội tự vệ của ngư dân Quảng Nam - Đà Nẵng ra đời và đem lại nhiều chiến công lớn. Tình trạng vượt biên, vượt biển từng bước bị chặn đứng. Năng lực đánh bắt thủy hải sản xuất khẩu của tỉnh tăng mạnh, trở thành một trong những địa phương điển hình cả nước.
   
                   Thời gian này, đồng chí Nguyễn Bá Phát với tư cách Thứ trưởng Bộ Hải sản thường xuyên có mặt tại Đà Nẵng và cùng với cấp ủy địa phương thực hiện khá thành công chủ trương “Quốc phòng toàn dân của Đảng” trên quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ những đóng góp trên, nhất là những đóng góp của ông về khoa học quân sự, Nguyễn Bá Phát đã được trao tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” về Khoa học Quân sự (đợt đầu tiên) năm 1978.
   
                   Khi về hưu, đồng chí Nguyễn Bá Phát về ở hẳn tại Đà Nẵng cho đến khi qua đời. Ông mất tại Đà Nẵng năm 1993. Với chúng tôi, ông luôn là người đồng chí đáng kính và rất đáng tự hào mỗi khi nhắc đến. Để tưởng nhớ ông, sau khi thiết kế quy hoạch khu đô thị phía tây bắc của Đà Nẵng, thành phố đã thống nhất đặt tên cho con đường từ đường Nguyễn Lương Bằng (tức quốc lộ 1A cũ) vào khu dân cư đến giáp xã Hòa Liên (quê hương của ông) là đường Nguyễn Bá Phát.

                                 
N.B.T


(1). Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng.





Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 09:44:25 PM
NGƯỜI CHỈ HUY MƯU TRÍ, DŨNG CẢM, SÂU SÁT, ĐỒNG CAM CỘNG KHỔ
Thiếu tướng Võ Quang Hồ(1)

                 Hồ Chủ tịch ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, cho Pháp đưa 15.000 quân ra miền Bắc, đẩy 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch ra khỏi đất nước ta. Trung đoàn 96 vào thành phố cảng Đà Nẵng ngày 15 tháng 3 năm 1946, cùng 1.000 quân Pháp, làm tiếp phòng quân thay Tưởng rút đi. Quân Pháp đóng ở hai nơi: Khu vực cảng và sân bay. Cán bộ, chiến sĩ đa số biết tiếng Pháp, từ các đơn vị quân giải phóng Nam tiến, từng đánh Pháp ở mặt trận Nha Trang rút ra Phú Yên củng cố. Trung đoàn 96 lúc đầu có 2 Tiểu đoàn: Tiểu đoàn 17 do anh Lê Kích chiến sĩ Ba Tơ làm Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 18 thiếu một đại đội do Võ Quang Hồ (Thanh niên Tiền tuyến Huế) làm Tiểu đoàn trưởng. Lúc toàn quốc kháng chiến sắp bùng nổ, Trung đoàn 96 được tăng cường Tiểu đoàn 19 Ba Tơ do anh Giáp Văn Cương làm Tiểu đoàn trưởng. Anh Nguyễn Bá Phát được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 ngày 21 tháng 12 năm 1946. Trung đoàn trưởng đầu tiên là anh Nam Long (2-1946) rồi đến anh Nguyễn Thế Lâm (3-1946), anh Đàm Quang Trung (4-1946), anh Trần Thùy (5-12-1946). Chiến trường gồm thành phố cảng Đà Nẵng do anh Trần Đình Tri một nhà trí thức làm Chủ tịch, anh Vũ Khương Ninh làm Bí thư. Tỉnh Quảng Nam do đồng chí Nguyễn Thúy làm Chủ tịch, đồng chí Trương Quang Giao làm Bí thư. Trung đoàn 96 phụ trách , thành phố Đà Nẵng và vùng phụ cận, Trung đoàn 93 phụ trách tỉnh Quảng Nam. Ban chỉ huy quân sự mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng do anh Đàm Quang Trung làm chỉ huy trưởng, anh Huỳnh Ngọc Huệ làm chính trị viên. Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng trực thuộc Khu 5 do anh Cao Văn Khánh làm Khu trưởng, anh Nguyễn Chánh là Chính trị ủy viên.

                 Anh Nguyễn Bá Phát, từ một lính thủy 6 năm trong hải quân Pháp, lênh đênh qua nhiều đại dương, đứng trên nhiều tàu chiến, đã sớm giác ngộ cách mạng giải phóng dân tộc, sớm trưởng thành trên các mặt trận Buôn Ma Thuột, đường 14, đường 19 kéo dài; được giao các chức vụ Chỉ huy trưởng, Chỉ huy phó mặt trận, Chi đội trưởng, Chi đội phó, Tham mưu trưởng Đại đoàn 23. Đồng chí Phạm Văn Đồng đại diện Trung ương Đảng, Chính phủ ở miền Nam Trung Bộ chính thức báo anh Phát, được điều về quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng chiến đấu, làm Chỉ huy phó mặt trận; Bộ chỉ huy Khu 5 chính thức giao nhiệm vụ.
   
                 Với trách nhiệm Chỉ huy phó mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, anh Phát kiểm tra nhiệm vụ giữ đèo Hải Vân có giá trị chiến lược của Tiểu đoàn 19, kiểm tra Tiểu đoàn 17 và Tiếu đoàn 18 đang sẵn sàng chiến đấu ở trung tâm thành phố. Tình hình cuối năm 1946 rất khẩn trương. Địch đã gây ra vụ thảm sát ở Hải Phòng, và chắc ở Đà Nẵng, chúng không để ta yên. Cuộc chiến nhất định sẽ nổ ra. Địch mới tăng quân ở Đà Nẵng. So sánh lực lượng, về chủ lực thì địch mạnh hơn ta 4-5 lần, nhưng ta có dân quân tự vệ, có nhân dân, ta đánh địch trên đất ta. Thế ta mạnh hơn địch. Chúng tôi ráo riết hoàn chỉnh kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng chờ lệnh và tránh bị địch khiêu khích; bổ sung kế hoạch chủ động đánh địch của cấp trên.
   
                 Anh Phát đến Tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 18 ở 18 phố Ga (nay là trụ sở Hội Nông dân tỉnh). Anh rất cởi mở, gần gũi. Tôi báo cáo kế hoạch chủ động nổ súng khi có lệnh: trinh sát bám sát ban đêm, ém sẵn canh các kho đạn, kho xăng ở cảng. Một đại đội tiềm nhập nằm im sát tường bao đồn khố đỏ (nay là Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh), lợi dụng sơ hở bất ngờ diệt lính gác, đại bộ phận đánh thẳng vào đồn, xả súng, ném lựu đạn. Với so sánh lực lượng địch, ta lúc bấy giờ, nếu chủ động nổ súng cũng chỉ phá hủy được một số kho, tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, cầm chân chúng trong một thời gian trong trung tâm thành phố và ngoại vi, để cho nhân dân kịp tản cư, và để phía sau tranh thủ thời gian tổ chức kháng chiến. Tôi báo cáo việc giao nhiệm vụ mấy đường phố cho một số trung đội chiến đấu. Anh Phát liền hướng dẫn cho dân quân tự vệ đục tường nhà này sang nhà khác để tiện cơ động an toàn; chuẩn bị sẵn lỗ châu mai để kiểm soát con đường. Tôi tranh thủ báo cáo luôn: vừa qua các đại đội của Tiểu đoàn có giúp huấn luyện dân quân các xã. Tiểu đoàn có cử một tổ do đồng chí Vĩnh Hiếu, cán bộ đại đội, tìm đường mòn vượt qua dãy núi Phước Tường - Nghị An và đi lên Phú Túc tìm hiểu đường sá, tình hình đồng bào các dân tộc. Anh chăm chú nghe, ít nói, chỗ nào đồng tình thì gật đầu. Thời gian làm việc không nhiều, nhưng cảm. giác tiếp xúc đầu tiên, tôi rất mến anh Phát, anh có tác phong gần gũi, có kinh nghiệm chiến đấu, và rất khiêm tốn.
   
                 Ngày 19 tháng 12 năm 1946, toàn quốc kháng chiến bùng nổ; lúc 14 giờ, lãnh đạo tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng sáp nhập với tỉnh Quảng Nam) mở cuộc họp khẩn cấp ở 18 phố Ga, sở chỉ huy phía trước của Tiểu đoàn 18, để thống nhất kế hoạch hành động theo lệnh của Thường vụ Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng. Nhân dân Đà Nẵng từng bước bí mật ra khỏi thành phố. Trung đoàn bộ Trung đoàn 96 từ vùng chợ Mới Hòa Vang dời về khu doanh trại Nhật cũ ở ngã tư Yên Khê, có sở chỉ huy hậu phương của Tiểu đoàn 18 đã ở đó. Ban chỉ huy Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng mới được thành lập, cũng về đứng bên cạnh Trung đoàn bộ Trung đoàn 96, để sử dụng chung điện đài cơ yếu mật mã.
   
                 Đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, tôi triển khai lực lượng bố trí sát nách địch để thực hiện kế hoạch chủ động nổ súng và chờ hiệu lệnh. Dân quân du kích hiệp đồng chặt cây, làm chướng ngại vật trên suốt con đường từ thành phố ra ngã tư Yên Khê. Hiệu lệnh chủ động tiến công là tiếng súng nổ ở sân bay, tiếng bom nổ ở nhà máy điện. Đồng chí Trần Thùy, Trung đoàn trưởng được lệnh đến ngay sân bay truyền đạt lệnh nổ súng, làm hiệu lệnh chung cho cả thành phố. Thời gian trôi nhanh: 2 giờ, rồi 4 giờ vẫn im lặng, 5 giờ sắp sáng, theo kế hoạch một đại đội của Tiểu đoàn 18 áp sát tường bao đồn khố đỏ, bí mật rút lui về giữ trận địa ở cầu Vồng cách đồn khố đỏ hơn 500 mét. Hiệu lệnh nổ súng không được Trung đoàn trưởng phát ra. Ta không chủ động tiến công địch được, mặc dầu việc chuẩn bị đã khá chu đáo. Việc tập kích đồn khố đó, phá hủy kho tàng khu cảng, không thực hiện được
   
                 Đúng 6 giờ sáng ngày 20 tháng 12 năm 1946, một đơn vị của Pháp ra khỏi doanh trại; Đại đội 3 của Tiểu đoàn 17 nổ súng vào đơn vị này. Lập tức toàn thành phố nổ súng nhất là khu vực sân bay. Tiếng bom nổ ở nhà máy điện, công binh nổ mìn phá sập cầu Thủy Tú ở phía bắc. Đồng thời cũng đánh sập cầu Phong Lệ, Cẩm Lệ ở phía nam. Tiểu đội Nguyễn Đỏ bảo vệ trụ sở Ủy ban hành chính thành phố đã chiến đấu đến người cuối cùng. Tới ngày 21 tháng 12, hết đạn, Tiểu đội trưởng Nguyễn Đỏ từ trên lầu cao nhảy xuống hy sinh, không để cho địch bắt. Về sau tôi được biết Trung đoàn trưởng Trần Thùy đã bỏ vị trí chỉ huy, về quê thu xếp cho vợ đi sơ tán. Trung đoàn bộ và các phương tiện thông tin liên lạc đã dời chỗ mà không thông báo cho Ban chỉ huy Mặt trận. Anh Nguyễn Bá Phát từng nhận xét: “Tội lỗi nghiêm trọng của anh Thùy, khuyết điểm của Ban chỉ huy Trung đoàn 96 nói chung, khuyết điểm của Ban chỉ huy Mặt trận không thể nào bào chữa được trước lịch sử”. Anh Thùy bị cách chức, anh Nguyễn Bá Phát được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96. Anh Phát đặt cơ quan chỉ huy tiền phương của Trung đoàn tại ngã tư Yên Khê để dễ dàng chỉ huy các Tiểu đoàn 18, Tiểu đoàn 19. Chỉ huy sở của Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng chuyển về Miếu Bông, phía nam cầu Cẩm Lệ. Các đồng chí Đàm Quang Trung và Huỳnh Ngọc Huệ chỉ huy toàn mặt trận. Trung đoàn 93, tạm thời trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 17. Anh Phát ra lệnh: “Kiên quyết giữ vững trận địa, kềm chân quân địch để cho đồng bào kịp tản cư”. Anh có ý kiến: người chỉ huy phải ở với đơn vị có nhiệm vụ quan trọng nhất, nơi đánh nhau quyết liệt nhất. Anh cùng tôi xuống tận Đại đội 4, Đại đội 5 đang quần nhau với địch ở sân ga và đường về chợ Cồn. Sự xuất hiện của chỉ huy cấp trên đã làm cho chiến sĩ phấn chấn, tin tưởng.
   
                 Địch khởi đầu cuộc tiến công trong thế bị động, đánh các ổ đề kháng: Ủy ban hành chính thành phố, bưu điện, Nha Thuế quan, Nha Thông tin tuyên truyền, trụ sở Mặt trận Việt Minh, tấn công các trận địa phòng thủ của ta, giải tỏa cho quân Pháp bị vây ở khu vực sân bay, cố mở đường lên ngã tư Yên Khê, đánh thông đường tiến ra đèo Hải Vân, liên lạc với quân Pháp ở Huế. Phải mất 5 ngày chúng mới chiếm được sân bay và ngã tư Yên Khê. Chúng ta đã tạo ra một thế bao vây ngăn chặn mới từ Phong Lệ qua Nghi An Phước Tường lên Hòa Mỹ Đa Phước. Thực chất đó là cuộc đọ sức giữa vũ khí tối tân của quân đội đế quốc Pháp với tinh thần cách mạng và ý chí chiến đấu không hề sợ kẻ thù hung bạo của bộ đội và nhân dân ta. Ta không chỉ đơn thuần dùng chiến thuật trận địa chiến mà còn biết dùng chiến thuật du kích. Ban đêm các tiểu đoàn phái từng tổ, phân đội vòng ra phía sau lưng địch, tiến công vào những bót gác, quấy rối, phá hoại, cắt dây điện thoại. Chúng ta đã áp dụng chiến thuật của Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát, gọi nôm na là chiến thuật “cao su đoàn ba tuyến”: tuyến phụ cận thành phố, tuyến trung gian và tuyến chân núi. Tư tưởng chiến thuật là địch có ưu thế về binh hỏa lực, đánh nống ra, ta dùng phòng ngự di động, linh hoạt chặn đánh từng bước rất kiên quyết nhưng không quyết chiến giữ đất đai. Hễ địch hết hơi dừng lại, thì ta lại quay vào sau lưng chúng, phối hợp với dân quân tự vệ, với đồng bào, đánh du kích, phục kích, tập kích tiêu hao địch cả tinh thần và vật chất. Trận tuyến ngăn chặn ở Nghi An, Phước Tường, Yên Khê ngoại vi thành phố, ta giằng co với địch nửa tháng.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 09:50:10 PM
                 Sau khi có viện binh từ Pháp sang, ngày 7 tháng 1 năm 1947, địch mở cuộc tấn công quy mô lớn, nhằm bao vây tiêu diệt lực lượng chủ yếu của Trung đoàn 96 (Tiểu đoàn 18 và Tiểu đoàn 19). Từ chính diện ngã tư Yên Khê, một cánh quân địch chia ba mũi tiến công đột phá mạnh vào trận địa của ta, theo đường ô tô, đường xe lửa, đường ven bãi biển; một cánh quân đổ bộ lên bãi biển Phú Lộc, chiếm đồi Đa Phước, theo chân núi, đánh chiếm đèo Đại La bọc sau lưng bộ đội ta. Một cánh khác đánh chiếm các cao điểm Nghi An, Phước Tường, khống chế sân bay. Trước tình hình khó khăn nghiêm trọng đó, Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát đã sát cánh cùng Ban chỉ huy Tiếu đoàn 18 và Tiểu đoàn 19, kiên quyết đánh bại chiến thuật thâm độc bao vây tiêu diệt của giặc: “Giữ vững trận địa đến tối, không lùi bước, bảo đảm rút lui an toàn, bảo toàn lực lượng tiếp tục đánh lâu dài”. Đúng như dự kiến, trời ngã về chiều, địch dừng các cuộc tiến công. Vào đêm, cả Trung đoàn rút qua núi theo đường mòn đèo Đồng Môn. Lúc lên đỉnh đèo, Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát đi ở đoạn sau đội hình, anh bàn với tôi cho cối 60 ly bắn vào quân Pháp đóng ở đèo Đại La, gây phấn khởi cho đoàn quân lui về bên kia núi, chủ động bố trí lại đội hình bao vây ngăn chặn địch: Thạch Nham, Phú Hạ, Tùng Sơn, Quan Nam, đèo Hải Vân. Ba tiểu đoàn thống nhất dưới sự chỉ huy của Trung đoàn, chỉ huy sở ở Trúc Bàu. Tuy phòng ngự ngăn chặn, nhưng ta vẫn quán triệt tư tưởng tấn công. Tiểu đoàn 17 vận động phản kích tiêu diệt một bộ phận trên đường đèo Đại La đi Phú Hạ. Tiểu đoàn 18 tập kích tiêu diệt quân địch ban đêm cụm lại trên đồi Đa Phước. Tiểu đoàn 19 phục kích một đoàn xe địch trên đèo Hải Vân, diệt tên thiếu tá Henriette. Tự vệ thành Đà Nẵng hoạt động rầm rộ sâu vào địch hậu, vào thành phố, vào sân bay. Tuyến vây chặn này tồn tại cho đến ngày 14 tháng 3 năm 1947 khi địch mở cuộc tấn công lớn ở phía bắc sông Thu Bồn, đánh mạnh vào cả 2 tuyến vây chặn của Trung đoàn 96 và Trung đoàn 93.

                Địch mở rộng phạm vi chiếm đóng, đẩy ta ra xa để bảo vệ căn cứ Đà Nẵng. Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát luôn cùng Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 17, 18, 19 có mặt ở các trận địa ngăn chặn, chiến đấu quyết liệt nhất. Đến ngày 5 tháng 4 năm 1947, địch tiến đến Ái Nghĩa, Hà Tân, tây Đại Lộc, đến bờ bắc Thu Bồn cách Đà Nẵng 40 ki-lô-mét. Tiểu đoàn 17 vận động phục kích tiêu diệt gọn 1 cánh quân địch ở Ba Khe. Các tiểu đoàn rút về tuyến ngăn chặn ở chân núi tây bắc Hòa Vang, tây Đại Lộc. Tiểu đoàn 19 ở căn cứ Thổ Sơn, Tiểu đoàn 18 ở căn cứ Phú Túc, Đồng Xanh, Đồng Nghệ. Tiểu đoàn 17 về Trúc Hà, Chấn Sơn. Trung đoàn bộ tiền phương về Trúc Hà, bảo vệ vùng tây Đại Lộc, giữ con đường liên lạc với Khu 4 và Trung ương. Ta vừa phòng ngự ngăn chặn bước tiến của địch, vừa chủ động tiến công bằng phục kích tập kích bên sườn, sau lưng địch. Không có sự chạy dài vỡ mặt trận. Các anh chỉ huy quân sự, Trung đoàn trưởng, Tiểu đoàn trưởng càng hiểu nhau hơn, đoàn kết chặt chẽ, thực sự tôn trọng nhau, thương yêu nhau như anh em ruột thịt.
   
                Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát căn dặn các tiểu đoàn: ở tuyến ngăn chặn cuối cùng, cần giữ vững các căn cứ, cảnh giác đề phòng địch, bí mật bất ngờ thọc sâu tập kích. Từ căn cứ, ta sẽ tổ chức những trận đánh lớn sâu vào sau lưng địch.
   
                Tháng 5 năm 1947, Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát chỉ thị tôi đưa Đại đội 4 Tiểu đoàn 18 tăng cường cho Tiểu đoàn 19 phục kích ô tô trên đèo Hải Vân ngày 25 tháng 5 năm 1947 tiêu diệt 1 đại đội Lê dương với đoàn xe 10 chiếc, diệt tên đại tá Roger chỉ huy Phân khu Đà Nẵng gây tiếng vang lớn. Đến đây có sự thay đổi trong hàng ngũ chỉ huy cấp Tiểu đoàn. Đồng chí Lê Kích thay đồng chí Võ Quang Hồ làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 18, đồng chí Hồ được điều động về Khu 5 làm Giám đốc trường cán bộ Đại đội quân sự; đồng chí Lê Hữu Đức chỉ huy Tiểu đoàn 17.
   
                Đồng chí Phạm Văn Đồng, đại diện Đảng và Chính phủ ở Nam Trung Bộ đã tặng là cờ “Giữ vững” và tuyên dương: “So với toàn quốc, Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng được liệt vào hàng đánh mạnh nhất, dẻo dai nhất. Anh em đã xứng đáng với Tổ quốc Việt Nam. Tôi xin tỏ lòng biết ơn và khâm phục”. Trong lễ nhận phần thưởng cao quý tổ chức trọng thể tại Trúc Hà (xã Đại Lãnh), Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát nói lên tiếng nói của cả Trung đoàn, tỏ lòng biết ơn Đảng, chính quyền địa phương, nhân dân Đà Nẵng, Hòa Vang, Đại Lộc, sự hợp đồng tác chiến của lực lượng dân quân tự vệ, của đơn vị bạn Trung đoàn 93.
   
                Tháng 9 năm 1947, Trung đoàn 96 được lệnh rút quân về Quảng Ngãi để bồi dưỡng củng cố. Tiểu đoàn 19 hình thành một Tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Khu 5. Tiểu đoàn 17 và Tiểu đoàn 18 được tổ chức lại thành Tiểu đoàn 79 nằm trong Trung đoàn 126 của tỉnh Quảng Ngãi, do đồng chí Phạm Kiệt làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Bá Phát làm Trung đoàn phó, nhưng được Bộ Chỉ huy Khu trực tiếp sử dụng.
   
                Tôi được biết ngày 24 tháng 1 năm 1949, đồng chí Nguyễn Bá Phát, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 địa phương tỉnh, trực tiếp chỉ huy 2 tiểu đoàn chủ lực của Khu đánh thắng trận phục kích lớn nhất trên đèo Hải Vân. Tiểu đoàn 19 diệt đoàn xe ô tô 18 chiếc trên quốc lộ 1. Tiểu đoàn 79 diệt đoàn xe lửa quân sự trên đường sắt đều thu quân lên căn cứ an toàn. Nhưng địch đã nhanh chóng rải một lực lượng lớn dọc theo hữu ngạn sông Trường Định, bịt kín đường về của bộ đội ta, hòng tiêu diệt quân ta vượt sông thượng nguồn hoặc hãm chủ lực ta thiếu lương thực. Trong cảnh hiểm nghèo, đồng chí Phát vững tin ở lòng dân, dựa vào dân, táo bạo cho Trung đoàn vượt Trường Định một đêm (27-1-1949) sát cửa sông, gần đồn Quan Nam, nhờ dân chèo 30 chiếc thuyền nan chở bộ đội, nhờ dân quân tiếp tế, dẫn đường, canh gác, cảnh giới. Các trận phục kích tiêu diệt, phá hủy ô tô, tàu lửa, diệt tên quan năm Roger trên đèo Hải Vân, được Hồ Chủ tịch biểu dương: “Những trận chiến đấu đèo Hải Vân, Đồng Tháp Mười, Sài Gòn, Đà Lạt đã làm cho địch kinh hồn, mất vía”.
   
                Trung đoàn 210 chủ lực đầu tiên của Khu 5 gồm Tiểu đoàn 19, Tiểu đoàn 79, Tiểu đoàn 50 do tôi làm Tiểu đoàn trưởng. Đồng chí Nguyễn Bá Phát phó chỉ huy chiến dịch, đưa cán bộ tiểu đoàn, đại đội ra chân đèo Hải Vân định chuẩn bị chiến trường cho trận phục kích lớn, nhưng bị lộ, không thực hiện được. Sau một thời gian chuẩn bị, nắm vững tình hình địch, anh Nguyễn Bá Phát đề nghị ngày 5 tháng 2 năm 1950 đánh trận vận động phục kích ở Thanh Quýt xã Điện Hòa trên quốc lộ 1, nằm giữa 2 đồn địch, vững tin việc nhân dân giữ bí mật tuyệt đối cho bộ đội. Tiểu đoàn 19 chặn đầu nếu địch từ Đà Nẵng vào. Tiểu đoàn 79 chặn đầu nếu địch từ trong ra. Tiểu đoàn 50 làm dự bị, có một đại đội bố trí phía đông đường cái, vít không cho địch chạy thoát. Đồng chí Nguyễn Bá Phát trực tiếp chỉ huy trận đánh. Cả một trung đoàn ta nằm giữa hai đồn địch, ngay cạnh quốc lộ 1 mà vẫn giữ bí mật tuyệt đối. Sau khi nổ súng, đồng chí Phát lệnh cho tôi điều động đại đội hỏa lực của Tiểu đoàn, dùng súng cối 81 bắn dồn dập vào đồn Quá Giang bảo đảm an toàn cho việc thu dọn chiến trường. Ta tiêu diệt hoàn toàn đoàn xe 14 chiếc. Quân Pháp ở Đà Năng cách đó hơn 10 ki-lô-mét đã phải chịu bó tay. Chiến thắng Thanh Quýt đã vang động vùng tạm chiếm đến vùng tự do về sự tài trí dũng cảm của bộ đội Cụ Hồ, về hình ảnh tuyệt vời của chiến tranh nhân dân. Chúng tôi tin tưởng tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ.
   
                Năm tháng đi qua, nhưng còn đọng mãi trong lòng chúng ta sự biết ơn nhân dân, Đảng bộ các địa phương đã cưu mang, tận tình giúp đỡ tạo điều kiện để Trung đoàn hoàn thành nhiệm vụ trên chiến trường. Chúng ta bùi ngùi nhớ lại anh em đã ngã xuống. Chúng ta tưởng nhớ thương tiếc và biết ơn những đồng chí chỉ huy đã qua đời, Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát, Nguyễn Minh Châu, Tiểu đoàn trưởng Giáp Văn Cương, Lê Kích đã có nhiều cống hiến cho chiến thắng vang dội của Trung đoàn 96. Riêng tôi, được chiến đấu nhiều bên cạnh anh Phát. Tôi mến phục anh là một chỉ huy dũng cảm, mưu trí gương mẫu, sâu sát, đồng cam cộng khổ, giàu tư tưởng tiến công, tin tưởng sâu sắc lòng dân, biết dựa vào dân, lắng nghe ý kiến cán bộ cấp dưới.

                                 
V.Q.H



(1). Nguyên Tiểu đoàn trướng Tiểu đoàn 18 Trung đoàn 96 anh hùng.






Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 09:56:05 PM
NGUYỄN BÁ PHÁT VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU CỦA HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM
Phó Đô đốc Mai Xuân Vĩnh(1)

                 Việc bảo vệ chủ quyền, làm chủ vùng biển có bờ biển trải dài hơn 800 ki-lô-mét từ Móng Cái đến vĩ tuyến 17 (Cửa Tùng) làm một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược cả về chính trị, kinh tế quốc phòng sau ngày miền Bắc được giải phóng. Vì vậy, ngay sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ vừa được ký kết (20-7-1954) theo chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, một vấn đề khẩn trương cấp thiết là phải xây dựng lực lượng phòng thủ bờ biển làm nòng cốt bước đầu bảo vệ và quản lý vùng biển, tạo cơ sở để xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam - lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc sau này.

                   Tháng 1 năm 1955, một bộ phận được thành lập ở Cục Tác chiến chuyên nghiên cứu làm tham mưu cho Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chuẩn bị đề án xây dựng lực lượng bảo vệ vùng biển. Đồng chí Nguyễn Bá Phát nguyên là Tham mưu phó Liên khu 5 trong kháng chiến chống Pháp được Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh giao trực tiếp phụ trách bộ phận nghiên cứu này. Ngay từ buổi đầu, một khối lượng lớn công việc hết sức mới mẻ, rất thiếu thông tin, tư liệu cần phải tiến hành như: nghiên cứu tình hình vùng biển, địa hình ven biển, hải đảo để bố trí lực lượng phòng thủ; nắm lực lượng tàu thuyền ven biển; thăm dò các cơ sở đóng và sửa chữa tàu thuyền để phục vụ cho việc xây dựng lực lượng tàu, thuyền chiến đấu; nghiên cứu nhiệm vụ và tổ chức biên chế lực lượng cũng như cách thức hoạt động của lực lượng phòng thủ bảo vệ vùng biển.

                   Những kết quả, việc làm của bộ phận nghiên cứu nói trên đã góp phần phục vụ đắc lực cho việc ngày7 tháng 5 năm 1955, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Cục phòng thủ bờ biển - tiền thân của Hải quân nhân dân Việt Nam (có hai đơn vị trực thuộc ban đầu là Trường huấn luyện bờ biển và Xưởng sửa chữa tàu thuyền 46) và đồng chí Nguyễn Bá Phát được chỉ định làm Cục trưởng.
   
                   Sau ngày thành lập, trong điều kiện miền Bắc mới được giải phóng, cơ sở vật chất, kỹ thuật còn rất thấp kém, một trong những vấn đề quan trọng và cấp bách của Cục phòng thủ bờ biển là phải có phương tiện tàu thuyền cho các lực lượng của Cục làm nhiệm vụ trên biến lúc bấy giờ để cùng với các lực lượng tham gia giữ gìn trật tự, trị an vùng duyên hải, chống các hoạt động hải phỉ, gián điệp, biệt kích; bảo vệ an toàn sự đi lại và làm ăn trên biển của nhân dân ta. Ngày đầu, Xưởng 46 - lực lượng kỹ thuật tàu thuyền chỉ có 10 đồng chí chủ yếu là công nhân quân giới của Liên khu 5 làm nòng cốt, với một số máy GMC và một số ít phương tiện sản xuất khác phải khẩn trương đi vào sửa chữa tàu hoa tiêu Tơ-rông-blơ và chiếc canô Hòa Bình có thêm trang bị súng trọng liên 12,7 ly thành những con tàu chiến đấu đầu tiên của Cục phòng thủ bờ biển.
   
                   Anh em công nhân còn phải đi sưu tầm, tháo gỡ máy móc, dụng cụ ở các tàu chiến Pháp bị ta đánh chìm ven sông, biển miền Bắc để bổ sung thêm vật tư, máy móc cho việc đóng mới ca-nô, thuyền chiến đấu. Vượt qua mọi khó khăn, đầu tháng 8 năm 1955, Xưởng 46 đã cho ra đời được 29 ca-nô bằng gỗ, có trang bị súng đại liên và trọng liên 12,7 ly. Cũng thời kỳ này, Trường huấn luyện bờ biển mặc dầu còn nhiều khó khăn về trường sở, dụng cụ học tập... đã mở lớp đào tạo được 174 cán bộ thuyền và thủy thủ. Những kết quả này của Xưởng 46 và Trường huấn luyện bờ biển đã đáp ứng yêu cầu của việc thành lập 2 thủy đội Sông Lô, Bạch Đằng.
   
                   Ngày 24 tháng 8 năm 1955, tại lễ thành lập hai thủy đội nói trên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Tổng Quân ủy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chỉ thị: “...hai thủy đội này là những viên gạch đầu tiên, là tiền thân của lực lượng tàu chiến đấu của Hải quân nhân dân Việt Nam sau này.”
   
                   Tuy mới là một lực lượng nhỏ nhưng đây là mốc son đánh dấu sự ra đời từ không đến có ngay buổi ban đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh, việc này cũng thể hiện ý chí kiên cường và tinh thần tự lực, tự cường khắc phục khó khăn của cán bộ chiến sĩ Cục phòng thủ bờ biển mà đồng chí Nguyễn Bá Phát là Cục trưởng.
   
                   Tiếp những năm sau đó không ngừng tích cực phát triển lực lượng theo hướng xây dựng lực lượng Hải quân. Lần lượt ngày 24 tháng 1 năm 1959, thành lập Cục Hải quân thay Cục phòng thủ bờ biển và đến ngày 3 tháng 1 năm 1964, Bộ Tư lệnh Hải quân được thành lập. Thiếu tá Tạ Xuân Thu được chỉ định làm Tư lệnh kiêm Chính ủy và Đại tá Nguyễn Bá Phát làm Phó Tư lệnh. Sau đó không lâu, đồng chí Phát đảm nhận chức Tư lệnh.
   
                   Sau 9 năm xây dựng trong hòa bình, Quân chủng Hải quân đã cùng toàn quân, toàn dân chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ở miền Bắc và tham gia chiến tranh giải phóng miền Nam. Trong 20 năm xây dựng và chiến đấu của Hải quân, đồng chí Nguyễn Bá Phát với cương vị chủ chốt, lãnh đạo chỉ huy đã có nhiều đóng góp xứng đáng trong điều kiện có nhiều khó khăn, thử thách. Thành tích của Hải quân là sự nỗ lực của toàn Đảng bộ, của toàn Quân chủng dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ huy, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Quốc phòng, nhưng trong đó nổi bật lên công đầu của những người lãnh đạo chỉ huy đã tham gia xây dựng Hải quân ngay từ những ngày đầu như Tư lệnh Nguyễn Bá Phát.
   
                   Hải quân là một Quân chủng kỹ thuật, chiến đấu ở môi trường biển đòi hỏi phải có trang bị phương tiện, vũ khí hiện đại, cán bộ chiến sĩ phải có trình độ kỹ thuật cao, đầu tư xây dựng đòi hỏi tốn rất nhiều tiền, trong lúc nền kinh tế đất nước còn kém lại bị chiến tranh tàn phá, không thể nào đáp ứng ngay những yêu cầu đó. Đồng chí Nguyễn Bá Phát luôn trăn trở, suy nghĩ trong nỗi băn khoăn lo lắng chung là Hải quân ta mới thành lập lại phải chiến đấu chống một kẻ địch có trang bị vũ khí kỹ thuật hơn ta nhiều lần.
   
                   Ghi sâu lời Bác Hồ dạy khi Người về thăm Hải quân năm 1961: “Hiện giờ tàu bè, vũ khí của ta chưa nhiều, ta phải từng bước, từng bước xây dựng, trước mắt phải giữ gìn tốt các thứ sẵn có để có thể đánh địch khi cần thiết, phải biết tìm cách đánh địch sao cho phù hợp với điều kiện con người, địa hình bờ biển nước ta và vũ khí trang bị mình có”. Đồng chí Phát với cương vị Phó Tư lệnh, rồi Tư lệnh đã chủ động cùng với Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng lãnh đạo, chỉ huy làm cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn Quân chủng thống nhất nhận thức là: khi đất nước đang bị kẻ thù xâm lược, chúng ta không thể thụ động ngồi chờ mà với tinh thần tự lực, tự cường, ý chí dám đánh, quyết đánh và biết đánh, lấy yếu đánh mạnh, lấy nhỏ thắng lớn; trong lúc chưa có trang bị hiện đại hơn thì đánh địch với vũ khí trang bị hiện có và từ đó sáng tạo ra nhiều phương tiện, vũ khí, cách đánh. Chưa có tàu sắt thì dùng tàu gỗ, thiếu tàu chiến thì lắp vũ khí lên tàu vận tải, tàu đánh cá để đánh địch, thậm chí dùng cả bè, mảng để phục kích đánh tàu biệt kích địch. Những cách làm đó đã đem lại kết quả rất hữu hiệu, Hải quân đã hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ trên giao trong mọi tình huống như đã thể hiện thực tế trong trận đầu thử lửa. Hải quân nhân dân Việt Nam đã chiến đấu dũng cảm kiên cường, cùng quân dân miền Bắc đánh thắng máy bay, tàu chiến Mỹ ngày 2 và 5 tháng 8 năm 1964.
   
                   Mặc khác, cũng không dừng lại ở trình độ đó mà đi đôi với rèn luyện bồi dưỡng ý chí chiến đấu, đồng chí Phát thường xuyên chăm lo từng bước nâng cao trình độ về kỹ, chiến thuật chiến đấu của cán bộ chiến sĩ, chăm lo xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của một Quân chủng chiến đấu, kỹ thuật theo hướng chính quy, hiện đại. Vì vậy, những năm tiếp theo, khi được trang bị phương tiện, vũ khí tiên tiến hơn, cán bộ chiến sĩ đã nhanh chóng tiếp thu sử dụng tốt.
   
                   Với nhiệt tình trách nhiệm, từ năm 1961 khi còn ở Cục Hải quân, đồng chí đã nghĩ đến việc làm sao kế thừa và phát huy truyền thống đánh giặc nơi sông biển của cha ông và của quân, dân ta trong kháng chiến chống Pháp bằng chiến đấu của lực lượng đặc công Hải quân. Từ ý tưởng đó của đồng chí Phát mà Đảng ủy, chỉ huy Cục Hải quân đã đặt vấn đề: đề nghị trên tổ chức lực lượng đặc công nước để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc và chi viện chiến trường miền Nam khi có điều kiện. Ý tưởng đó đã trở thành hiện thực, năm 1963, Đội 1 đặc công Hải quân được thành lập và nhanh chóng đi vào nghiên cứu xác định nhiệm vụ, tổ chức, trang bị, huấn luyện tác chiến ở môi trường sông, biển khắc nghiệt. Từ đó dần dần xây dựng Đặc công Hải quân thành một lực lượng tinh nhuệ thiện chiến.
   
                   Trải qua những năm tháng dày công xây dựng mà trong đó đồng chí Phát là một trong những người rất quan tâm góp phần lãnh đạo, chỉ đạo: từ nghiên cứu môi trường, chiến trường cho đến tình hình hoạt động của địch để tìm ra cách đánh phù hợp của đặc công nước; đến nghiên cứu cải tiến, chế tạo vũ khí, trang bị cho đặc công nước với yêu cầu gọn nhẹ, dễ mang vác cơ động, có uy lực công phá lớn để làm sao đạt được hiệu quả chiến đấu cao. Từ 1964, Đặc công Hải quân đã đi vào làm nhiệm vụ chiến đấu. Đặc công Hải quân đã huấn luyện bổ sung cho chiến trường miền Nam hàng nghìn cán bộ chiến sĩ đặc công nước làm nòng cốt chiến đấu tiêu diệt địch trên chiến trường sông, biển.
   
                   Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Hải quân có Đoàn 126 đặc công nước trong 7 năm tham gia hoạt động chiến đấu ở chiến trường bắc Quảng Trị: Cửa Việt - Đông Hà hết sức gian khổ, ác liệt đã vượt qua nhiều thử thách hy sinh, chiến đấu dũng cảm, táo bạo, mưu trí, sáng tạo lập nên những chiến công xuất sắc đánh chìm, đánh bị thương hàng trăm tàu địch các loại, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch, góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại mọi âm mưu chiến lược của Mỹ, ngụy.


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 09:58:17 PM
                  Ngày 9 tháng 5 năm 1972, khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến dịch phong tỏa sông biển miền Bắc bằng ồ ạt thả thủy lôi, bom từ trường để bịt giao thông đường biển ở miền Bắc với quốc tế và từ miền Bắc vào miền Nam. Với vai trò nòng cốt, Quân chủng Hải quân xác định việc chống phong tỏa thủy lôi là nhiệm vụ trung tâm số 1 của Quân chủng trong lúc này và chủ trương động viên huy động mọi lực lượng có thể được của Quân chủng để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tư lệnh Hải quân đã chủ trì mở các cuộc họp liên tịch với các quân khu, quân binh chủng, các cơ quan kinh tế biển của Nhà nước và các cơ quan Đảng, chính quyền các tỉnh ven biển để bàn biện pháp chống địch phong tỏa, bảo đảm an toàn giao thông đường thủy.

                    Những ngày này đồng chí Phát không những chỉ đạo về kế hoạch mà còn thường xuyên đi sát xuống đơn vị, có lúc ở lại với anh em để chỉ đạo, để động viên, kiểm tra bộ đội thực hiện nhiệm vụ chống phong tỏa thủy lôi của địch, đặc biệt là đối với các bộ phận kỹ thuật đang tìm cách lặn mò, thu hồi, tháo gỡ thủy lôi địch mà trong đó Công binh Hải quân là đơn vị đi đầu nghiên cứu tính năng, cấu tạo các khí tài, dụng cụ rà phá và cách thức biện pháp kỹ thuật rà phá tháo gỡ. Cũng từ kết quả này mở lớp tập huấn phổ biến hướng dẫn cho các lực lượng phá gỡ thủy lôi địch. Trong cuộc chiến đấu đầy khó khăn ác liệt, Hải quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm nòng cốt phối hợp với các lực lượng của ba thứ quân làm thất bại kế hoạch phong tỏa giao thông đường thủy bằng thủy lôi của địch.
   
                    Khi Hải quân được trên giao nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi viện chiến trường miền Nam bằng đường biển, một nhiệm vụ lớn có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, nhiệm vụ nặng nề khó khăn cấp bách, ngoài việc đòi hỏi dũng cảm, mưu trí và một trình độ hàng hải thục luyện, còn có một yêu cầu tuyệt đối bí mật. Không những trách nhiệm là người lãnh đạo chỉ huy mà ở đồng chí Phát còn thể hiện là người con của miền Nam khi nhận nhiệm vụ này như một lẽ tự nhiên, làm tăng thêm trách nhiệm khi nghĩ đến đồng bào miền Nam trong đó có quê hương mình, gia đình mình đang bị kẻ thù dìm trong máu lửa. Đồng chí Nguyễn Bá Phát đã cùng với Chính ủy Quân chủng Hải quân không những chỉ đạo về kế hoạch chung mà trực tiếp đến gặp giao nhiệm vụ, động viên anh em từng chuyến đi từng tàu của Đoàn 125 Hải quân; truyền đạt ý chí quyết tâm và tình cảm của Quân chủng đến từng cán bộ, từng thủy thủ thực hiện bằng được nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi viện chiến trường miền Nam. Trong một chuyến tàu mở đường vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường Khu 5, trước giờ tàu xuất phát làm nhiệm vụ đầy gian khổ, hy sinh, đồng chí trực tiếp đến gặp anh em, nắm chặt tay từng cán bộ, từng thủy thủ và xúc động nói: “Cuộc chiến đấu của chúng ta khó tránh khỏi mất mát, hy sinh nhưng Bộ Tư lệnh Quân chủng giữ niềm tin ở các đồng chí, các đồng chí sẽ thắng lợi và trở về mạnh khỏe”.
   
                    Mười năm làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi viện chiến trường miền Nam của Đoàn 125 Hải quân mà tiền thân của nó là Đoàn 759 đã dũng cảm, táo bạo mưu trí, sáng tạo vượt qua khó khăn, gian khổ, ác liệt, hy sinh lập lên những chiến công đặc biệt xuất Sắc, vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, trang bị chi Viện kịp thời và có hiệu quả cho chiến trường, lập nên một kỳ tích “đường Hồ Chí Minh trên biển”.
   
                    Thực hiện chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển, đồng chí Phát không những quan tầm hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng làm nhiệm Vụ ven biến, trên biển mà còn quan tâm xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển ở các công ty vận tải đường thủy, các xí nghiệp, các hợp tác xã đánh cá. Ngày 17 tháng 4 năm 1967, đồng chí đã quyết định thành lập Phòng dân quân tự vệ biến làm tham mưu cho Bộ Tư lệnh Quân chủng chỉ đạo việc này. Chính lực lượng dân quân tự vệ biển đã phát huy hiệu quả trong phối hợp chiến đấu với các lượng hải quân trong chống biệt kích đường biển và chống phong tỏa giao thông đường thủy bằng thủy lôi của địch. Những năm sau đó, Hải quân còn đề nghị trên thành lập các Phòng Hải quân ở các Quân khu ven biển để tham mưu cho các Bộ Tư lệnh quân khu trong việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển và hiệp đồng giữa các lực lượng Quân khu với lực lượng Hải quân trong chiến đấu bảo vệ vùng biển, đảo.
   
                    Một kỷ niệm nhớ mãi là trong một chuyến đi của cán bộ cơ quan Bộ Tư lệnh Quân chủng do Tư lệnh Nguyễn Bá Phát dẫn đầu từ Hải Phòng vào Vĩnh Linh (Quảng Trị) để kiếm tra, chỉ đạo Đoàn 126 đặc công nước đang hoạt động chiến đấu ở Cửa Việt - Đông Hà (bắc Quảng Trị) năm 1968. Thời gian này địch tăng cường độ chiến tranh phá hoại ở miền Bắc hết sức ác liệt, dã man, tàn ác. Máy bay, kể cả máy bay B52 và tàu chiến Mỹ liên tục ngày đêm đánh phá các tuyến giao thông thủy, bộ bao gồm cả các con đường mòn đi bộ của ta bằng các loại bom đạn, kể cả rải thủy lôi, bom từ trường ở các cửa sông, luồng lạch, bến phà, bến đò mà chúng còn ném bom bắn phá vào các khu dân cư hết sức dã man, nhất là ở địa bàn Quảng Bình - Vĩnh Linh.
   
                    Khi đoàn đến Hà Tĩnh, xe ô tô không thể đi được nữa vì các cầu phà bị đánh hỏng hết phải chuyển qua đi bằng xe đạp theo các đường mòn vòng tránh và đường làng. Tôi đang phụ trách một đơn vị hải quân ở phía nam Quân khu 4 được lệnh đón và đi cùng đoàn từ bắc Quảng Bình vào Vĩnh Linh với nhiệm vụ là dẫn đường và hiểu được tình hình của Đoàn 126 để hiệp đồng chiến đấu khi cần. Lúc này, tôi thấy việc bảo đảm an toàn của đoàn tránh đánh phá của máy địch trên đường đi là quan trọng nhất. Sau khi thống nhất kế hoạch chọn đường đi, đoàn phân ra thành từng tốp nhỏ để hành quân. Tôi đi cùng tốp với đồng chí Phát, đồng chí Đạt bí thư Tư lệnh và đồng chí Thụ chiến sĩ báo vụ mà tôi chọn đi để cùng hỗ trợ Tư lệnh. Dọc đường từ bắc Quảng Bình vào đến huyện Lệ Thủy đoạn đường không dài nhưng chúng tôi phải đi mất 2 ngày bằng xe đạp vòng vèo theo đường mòn và đường làng ghồ ghề, nhất là qua các vùng đồi. Đi qua đường 22 rồi vượt qua sông Gianh, qua dốc Ba Trại là những trọng điểm đánh phá của địch. Gặp lúc máy bay địch vừa dứt đánh phá là phải tranh thủ vượt qua thật nhanh. Ngày thứ hai tôi thấy anh Phát đã thấm mệt, có lúc thấy xe anh đi lảo đảo. Vốn tuổi không còn trẻ và sức vóc không được khỏe, với điều kiện khách quan, ăn uống thất thường, dọc đường chỉ cơm nắm muối vừng nên dễ xuống sức. Lo cho sức khỏe của anh, chúng tôi phải đi chậm lại và tôi hỏi: “Thấy anh mệt rồi, để tôi đưa anh vào nghỉ ở khu sơ tán của cơ quan tỉnh Quảng Bình một hôm cho lại sức rồi sẽ tiếp tục đi”. Anh cười và nói: “Cũng mệt thật, nhưng anh em đi được thì tôi đi được” và anh nói tiếp “Có đi qua những nơi này mới tận mắt thấy hết tính chất ác liệt của chiến tranh phá hoại kẻ địch gây ra và sự tàn khốc dã man của chiến tranh mà đồng bào và chiến sĩ ta phải vượt qua, không cho phép mình dừng bước...”.
   
                    Đến Lệ Thủy, qua sông Kiến Giang phải đi bộ theo đồi cát ven biển để vào Vĩnh Linh nên không thể đi xe đạp được nữa. Phải gửi xe đạp lại ở thôn Quảng Cư xã Xuân Thủy nhờ địa phương giúp đỡ để xe dưới các giao thông hào để tránh bom đạn và đồng chí Thụ ở lại trông coi.
   
                    Mấy ngày sau đoàn quay trở ra đến Quảng Cư mới biết tối hôm gửi xe đạp, máy bay địch đánh phá ác liệt vào đây, xe để dưới giao thông hào mà nhiều chiếc bị bom bi làm thủng vành, thủng lốp. Chiếc áo của đồng chí Thụ treo ở cửa hầm bị bom bi làm thủng nham nhở nhiều lỗ như tấm bia đạn thật. Anh Phát nói vui: “Bom đạn tránh chúng ta, chứ đâu phải chúng ta tránh bom đạn”. Cả đoàn cùng cười và tiếp tục hành quân. Ngày hôm đó cứ như máy bay địch đuổi theo chúng tôi. Dừng lại ăn cơm nắm buổi trưa mà cả ba lần vừa bắt đầu ăn phải thu dọn nhanh để di chuyển vì máy bay địch ném bom vào đoạn đường mình mới đi qua cách chưa đầy 500 mét.
   
                    Ra đến thôn Vạn Xuân, xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh trời sắp tối, chưa kịp tìm hầm trú ẩn nghỉ đêm cho Tư lệnh thì máy bay ập tới thả pháo sáng bắn phá đầu thôn. Chúng tôi lo không an toàn cho anh, nhưng anh vẫn thản nhiên động viên chúng tôi bình tĩnh. Tối hôm đó, tưởng rằng phải nhịn cơm tối nhưng các mẹ ở thôn Vạn Xuân đã không ngại nguy hiểm, khéo léo che ánh lửa tránh máy bay, nấu hộ cơm cho chúng tôi. Sau nhiều ngày đi đường và làm việc căng thẳng ở Đoàn 126, sức khỏe của anh Phát kém đi nhiều nhưng anh vẫn cố đạp xe theo anh em.
   
                    Chiều hôm sau ra đến bờ nam sông Gianh, ban ngày trên bầu trời không ngớt tiếng máy bay Mỹ, chúng tôi hy vọng có đò để qua sông, nhưng mặt sông không một bóng thuyền, nhìn bờ Bắc không có bóng người qua lại, nắng nóng, không khí căng thẳng, ngột ngạt. Sau khi tìm chỗ sơ tán cho Tư lệnh và ngụy trang xe đạp, không hy vọng cách nào khác, tôi báo cáo xin phép anh Phát để tôi bơi sang bờ Bắc tìm đò qua sông. Với một giọng nói vừa nghiêm nghị vừa lo cho tôi: “Sông rộng thế này không thể bơi qua được, không bảo đảm an toàn nên không được bơi, đợi khi có đò hãy qua sông”. Tôi báo cáo lại: “Chỗ này nằm trong khu vực đánh phá của địch, không hy vọng có đò lúc này, nếu ngồi đợi ở đây lâu không lợi, trời tối Xuống càng nguy hiểm, tôi bảo đảm bơi được, anh cứ để tôi bơi”. Sau khi cả tổ bàn bạc cân nhắc, anh đồng ý cho tôi bơi và đồng chí Thụ cũng đề nghị được bơi cùng tôi. Để đề phòng thủy lôi và bom từ trường, trong người chúng tôi không có gì bằng kim loại chỉ mang quần lót sang sông. Qua được bờ Bắc, may mắn gặp được bác Dột, bí thư chi bộ Đảng xóm Đồng xã Quảng Phúc là người rất gan dạ lãnh đạo bà con bám trụ sản xuất ở đây. Chưa nói hết lời, bác Dột không chút chần chừ vác mái chèo ra bến đưa đò cho chúng tôi qua sông an toàn với một tình cảm, một nhiệt tình trách nhiệm làm xúc động chúng tôi rất nhiều. Anh Phát cứ mãi tấm tắc khen người bí thư chi bộ xóm Đồng nhiệt tình, dũng cảm. Tôi biết nhiều năm sau này, anh Phát vẫn gửi quà tặng bác Dột, thầm cảm ơn người đã không ngại nguy hiếm đưa đò cho mình qua sông Gianh. Qua chuyến đi này, càng thấy quyết tâm và nhiệt tình trách nhiệm của anh Phát.
   
                    Tôi đã nghe nhiều người kể về những thành tích xuất sắc của đồng chí Phát trong kháng chiến chống Pháp ở chiến trường Liên khu 5 và giờ đây tôi thấy đồng chí Phát là Tư lệnh Hải quân đầy nhiệt tình trách nhiệm, say mê sáng tạo trong công việc, bình tĩnh, tự tin, quyết đoán trước mọi khó khăn, sâu sát cán bộ, chiến sĩ, sống giản dị. Có thể nói: đồng chí Phát là vị Tư lệnh toàn tâm, toàn ý với sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của Hải quân nhân dân Việt Nam.

                                 
M.X.V



(1). Nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân.





Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 10:00:59 PM
NGƯỜI CHỈ HUY LUÔN QUAN TÂM ĐÊN CẤP DƯỚI
Thiếu tướng Hoàng Kim(1)

                Đồng chí Nguyễn Bá Phát về làm Trung đoàn trưởng (Đà Nẵng - Khu 5), khi Trung đoàn 96 bước vào cuộc chiến đấu mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp toàn quốc tại mặt trận Đà Nẵng (20-121946), lúc đó tôi đang là chính trị viên Đại đội 4, Tiểu đoàn 18, đánh nhau với địch từ Cầu Vồng đến nhà ga Đà Nẵng. Cán bộ đại đội chúng tôi biết tin việc thay đổi người chỉ huy Trung đoàn, chứ chưa có điều kiện để am hiểu người Trung đoàn trưởng mới của mình. Tuy vậy, qua những trận đánh quyết liệt và những chiến công lớn nhỏ khắp mặt trận Đà Nẵng - tây bắc Hòa Vang, chúng tôi vẫn được nghe đến vai trò của đồng chí Nguyễn Bá Phát, Trung đoàn trưởng của chúng tôi.

                Mãi sau này khi về công tác tại Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu 5, có dịp tôi cùng đoàn cán bộ Liên khu ra Quảng Nam dự tổng kết Chiến dịch Võ Nguyên Giáp tôi mới gặp và biết thêm về chiến công của Trung đoàn 108 do đồng chí Nguyễn Bá Phát chỉ huy. Và nhất là trong chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954, tôi là cán bộ của Ban Chính trị mặt trận, đồng chí Nguyễn Bá Phát là tham mưu chiến dịch, dưới sự chỉ huy lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Chánh. Tôi từng được cử đi dự các cuộc giao ban tác chiến, qua đó tôi được gặp và biết nhiều hơn về con người có tài đánh giặc, có tài làm tham mưu ấy, người cộng sự đắc lực của tướng Nguyễn Chánh. Tôi rất phục những kế sách của anh Phát trong việc xử trí tình huống phức tạp giúp đồng chí Nguyễn Chánh, chính vì vậy mà đồng chí Nguyễn Bá Phát nhận được sự tin yêu quý trọng của đồng chí Nguyễn Chánh cũng như cán bộ cấp cao.
   
                Gần đây, trong khi cùng với đồng chí Võ Quang Hồ, Tạ Xuân Linh ở Thành phố Hồ Chí Minh và đồng chí Lê Hữu Đức ở Hà Nội vận động, sưu tầm để xuất bản tập sách về đồng chí Nguyễn Bá Phát, tôi được đọc hầu hết các bài viết về đồng chí Nguyễn Bá Phát ở những cương vị khác nhau, thời gian khác nhau. Nhất là các bài viết về thời kỳ đồng chí Nguyễn Bá Phát ở Hải quân nhân dân Việt Nam, thời kỳ cống hiến dài nhất của đồng chí ở giai đoạn chống Mỹ cứu nước, tôi càng khâm phục và càng đánh giá cao tài đức và công lao của anh. Không những tôi chờ xem bài viết mà do điều kiện thuận lợi, tôi có dịp tiếp xúc tâm sự với một số cựu chiến binh Hải quân như đồng chí Đại tá Nguyễn Sỹ Trinh, đồng chí Đại tá Hoàng Kim, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Những đồng chí này đã một thời từng chiến đấu và công tác dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của đồng chí Nguyễn Bá Phát, tôi càng tâm đắc về tài đức của đồng chí Nguyễn Bá Phát đã đóng góp công lao to lớn cho sự nghiệp cách mạng của ta. Chúng tôi cũng thấy rõ Nhà nước nên cân nhắc để tặng huân chương bậc cao và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Bá Phát. Tôi khái quát về đồng chí Nguyễn Bá Phát:
   
                - Một cán bộ chỉ huy hãng say đánh giặc và đánh giặc giới, mưu trí sáng tạo, kiên quyết, dũng сảm, táo bạo.
   
                - Một cán bộ có năng lực tham mưu, một cán bộ hành động, nói đi đôi với làm và làm dược, một cán bộ thực tế, cụ thế.
   
                - Một cán bộ luôn sâu sát, bám sát chiến trường, bám sát thực địa, bám sát đơn vị và địa phương.
   
                - Một cán bộ ở cấp cao, nhưng luôn quan tâm đến mọi người, đến cấp dưới, sống có tình nghĩa với mọi người.
   
                Về điểm sau này, đồng chí có những kỷ niệm đối Với cá nhân tôi mà tôi còn nhớ mãi:
   
                Sau khi Trung đoàn 96 rời Đà Nẵng về Quảng Ngãi để tổ chức lại, được nghỉ an dưỡng một thời gian, tôi về lại đơn vị, thì đơn vị đã thay đổi biên chế tổ chức. Trung đoàn 126 Quảng Ngãi được thành lập do đồng chí Phạm Kiệt và đồng chí Nguyễn Bá Phát chỉ huy. Tôi vào gặp đồng chí Nguyễn Bá Phát, đồng chí tiếp tôi rất thân mật và báo cho tôi biết là tôi được cử đi học lớp bổ túc chính trị Đại đội của Liên khu 5. Đặc biệt, đồng chí hỏi thăm tôi về vết thương của tôi lúc đánh nhau ở ga Đà Nẵng. Sự quan tâm đó làm tôi rất cảm động.
   
                Năm 1953 - 1954, khi quân ta trên đường tiến quân vào giải phóng Kon Tum, có một vài việc xảy ra trong quan hệ với nhà thờ Komsonlu. Đồng chí Nguyễn Bá Phát chỉ thị cho Ban chính trị mặt trận cử người ra Komsonlu làm công tác dân vận giải quyết việc này. Tôi lên gặp đồng chí Nguyễn Chánh ở Chỉ huy sở để nhận nhiệm vụ. Sau khi đồng chí Nguyễn Chánh giao việc cho tôi, đồng chí Nguyễn Bá Phát lúc đó cũng có mặt, đồng chí liền cử một tổ trinh sát đi cùng và khi tiễn tôi đồng chí Nguyễn Bá Phát dặn đi dặn lại là phải hết sức cẩn thận, đi đêm đường rừng vất vả và còn phải qua sông bằng ghe độc mộc. Ra đó phải cảnh giác với bọn tàn quân. Tôi cảm ơn đồng chí và hứa làm tròn nhiệm vụ.
   
                Năm 1992, tôi có gửi thư ra thăm đồng chí Nguyễn Bá Phát ở Đà Nẵng và nhờ được làm chứng thương cho tôi khi tôi bị thương ở Đà Nẵng (kèm theo bản chứng thương của đồng chí Võ Quang Hồ). Chỉ một tuần sau là tôi nhận được giấy chứng thương của đồng chí Phát kèm theo một bức thư ngắn của đồng chí gửi thăm tôi và gia đình tôi do chính tay đồng chí viết và ký. Đó là những kỷ niệm nhỏ khó quên về tình cảm của đồng chí Nguyễn Bá Phát đối với tôi, lúc đó còn là một cấp dưới.

                                 
H.K


(1).Nguyên Phó Tư lệnh Quân đoàn 4.






Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 10:07:19 PM
ĐỒNG CHÍ NGUYỄN BÁ PHÁT VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ CHIẾN ĐẤU CỦA HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM
Chuẩn Đô đốc Lê Kế Lâm(1)

                 Từ Tham mưu phó Quân khu 5, đồng chí Nguyễn Bá Phát về phụ trách Cục phòng thủ bờ biển trực thuộc Bộ Quốc phòng rồi lên Cục Hải quân rồi Bộ Tư lệnh Hải quân. Thời kỳ đầu của Hải quân đồng chí làm Cục phó, tiếp đó là Phó Tư lệnh rồi lên Tư lệnh Hải quân. Hải quân nhân dân Việt Nam được phát triển nhanh chóng về mọi mặt là nhờ sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ (từ đầu năm 1959 đến tháng 11 năm 1962, Bác đã 3 lần về thăm và căn dặn Hải quân), sự quan tâm to lớn của Quân ủy Trung ương và Sự giúp đỡ tận tình của các đơn vị đàn anh và các tỉnh ven biến miền Bắc. Trong nội bộ Hải quân có sự phấn đấu không mệt mỏi, không ngại hy sinh xương máu, không tiếc công sức, trí tuệ. Song tất cả, nghĩ cho cùng công lao của người đứng đầu là rất quan trọng. Đồng chí Nguyễn Bá Phát là người giữ vị trí quan trọng đó, nhất là trong những năm 1964-1967 rồi từ 1975-1977, những năm vô cùng ác liệt.

                 Tôi thường nghe kể đồng chí luôn trăn trở, luôn tìm cách để xây dựng Cục Hải quân phát triển thành một Quân chủng Hải quân cách mạng, chính quy, hiện đại. Rất ít thời gian đồng chí ngồi ở bàn làm việc, chỉ trừ những lúc phải họp Đảng ủy, họp chỉ huy và cơ quan Cục, còn lại đồng chí dành toàn bộ thời gian xuống đơn vị, cơ sở, đi xem xét địa hình, khảo sát đảo, vịnh, cửa sông, luồng lạch,... Nhiều đồng chí đi theo đều rất sợ năng lực đi bộ, leo núi, lội nước của đồng chí Phát. Đặc biệt những lúc đi ca nô để chuyển tải sang tàu chiến lớn hơn. Tôi đã thấy được đồng chí Phát rất thiện nghệ trong việc chuyển phương tiện thủy. Có lần các đồng chí và đoàn cán bộ từ ca nô sang tàu chiến. Thì thoắt một cái, đồng chí đã lợi dụng tàu dập dềnh theo sóng, khi mũi ca nô nhô lên ngang boong tàu, và ở vị trí tàu đã hạ lan can xuống, đồng chí đã nhảy từ ca nô sang tàu vừa an toàn vừa rất kịp thời. Chỉ riêng hành động đó đã khiến cho cán bộ cấp dưới vừa lo, vừa mừng.
   
                 Ngày 3 tháng 1 năm 1964, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng nâng cấp Cục Hải quân lên Bộ Tư lệnh Hải quân (Quyết định số 01/QĐ). Đồng chí Đại tá Nguyễn Bá Phát được bổ nhiệm là Phó Tư lệnh. (Thiếu tướng Tạ Xuân Thu - Tư lệnh kiêm Chính ủy). Thời kỳ này, Hải quân ta đã có một lực lượng tàu thuyền, các đơn vị bảo đảm và cơ quan tương đối đồng bộ.
   
                 Chỉ trong vòng 9 năm, Hải quân Việt Nam từ 2 bàn tay trắng đã phát triển thành một Quân chủng tương đối đồng bộ, đảm nhiệm một hướng chiến lược quan trọng, hướng biển. Tuy lực lượng chiến đấu tấn công trên biển chưa có gì đáng kể, nhưng lực lượng tuần tra, bảo vệ biển đảo, bảo vệ công việc làm ăn bình thường của nhân dân ven biển đã có nền tảng khá tốt. Là Phó Tư lệnh đặc trách về hoạt động và tác chiến của Hải quân Việt Nam, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã có nhiều cống hiến không nhỏ cho sự phát triển và vững mạnh của Quân chủng. Trong huấn luyện chiến đấu hằng năm, đồng chí Phó Tư lệnh nhấn mạnh, phải thực sự thực tế, chú trọng huấn luyện hoạt động ban đêm, huấn luyện đánh gần. Từ những năm đầu thập kỷ 60, Hải quân Việt Nam đã phát động phong trào nắm vững luồng lạch, thuộc luồng lạch miền Bắc như thuộc các đường chỉ trong lòng bàn tay mình. Từ nhà trường đến các đơn vị tàu, đâu đâu cũng triển khai hoạt động đi biển, huấn luyện tự sục sạo mục tiêu và tấn công mục tiêu trong đêm tối, không có sự hướng dẫn của ra-đa, huấn luyện rời, cập bến, đảo, phao, tàu trong đêm tối; huấn luyện đi trong sông, luồng lạch hẹp ban đêm, thời tiết xấu. Đích thân đồng chí Phó Tư lệnh đi kiểm tra kết quả huấn luyện các đơn vị. Ngoài việc biểu dương đơn vị tốt, người tốt, việc tốt trong huấn luyện và sẵn sang chiến đấu, đồng chí còn rất coi trọng việc bảo quản, “giữ tốt dùng bền” phương tiện tàu, thuyền, xe máy. Không bao giờ đồng chí bỏ qua những sai phạm của sĩ quan và thủy thủ làm va chạm, hư hỏng tàu thuyền, xe pháo, dù chỉ làm cong, gãy một vài cọc lan can trên tàu. Nhờ vậy thời kỳ đồng chí làm Phó Tư lệnh rồi lên Tư lệnh, phong trào “giữ tốt dùng bền” trong Hải quân được phát huy cao độ. Đồng chí Nguyễn Bá Phát không chỉ chăm lo xây dựng và phát triển lực lượng Hải quân hoạt động trên vùng biển miền Bắc. Đồng chí rất quan tâm đến xây dựng và sử dụng lực lượng Hải quân chi viện cho quân, dân miền Nam. Sau khi có chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về xây dựng đội tàu chở vũ khí và cán bộ chi viện chiến trường ven biển từ Liên khu 5 trở vào, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã cùng Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Hải quân tập trung sức người và vật chất để thực hiện nhiệm vụ chiến lược nói trên. Ngày 29 tháng 1 năm 1964, Đoàn vận tải 125 được chuyển từ đơn vị 759 về trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân. Đây là đoàn tàu vận tải làm thành “Đường Hồ Chí Minh trên biển”, con đường huyền thoại và đầy ắp sự tích anh hùng, đơn vị hai lần Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1-12-1967 và 3-6-1976). Đồng chí Phó Tư lệnh Nguyễn Bá Phát đã dẫn nhiều đoàn cán bộ của cơ quan Quân chủng và cơ quan Đoàn 125 đi khảo sát địa hình tìm nơi làm cầu tàu, bến bãi, kho hàng, trạm thông tin dã chiến phục vụ kịp thời và bí mật cho các con tàu “không số” nhận vũ khí, đạn dược và cả những cán bộ cao cấp trong và ngoài Quân đội xuống tàu để rồi thầm lặng trong đêm tối, mưa rét, sóng lớn, gió to vượt biển vào với ven biển Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và Liên khu 5, vào với quân dân miền Nam.
   
                 Những chiến thắng đi vào lịch sử như Ấp Bắc, Đầm Dơi, Cái Nước, Vĩnh Thuận, Bình Giã, Vạn Tường và rất nhiều chiến dịch, trận đánh dành chiến thắng vang dội của quân, dân các tỉnh ven biển Nam Bộ và Nam Trung Bộ đều có sự đóng góp xứng đáng của các cán bộ, thủy thủ Đoàn tàu không số - 125. Có lần, đồng chí nói: “Có thể chuyến đi này của các đồng chí không trở về nữa, chúng tôi sẽ không được gặp các đồng chí. Những chúng tôi hy vọng điều đó không xảy ra. Bộ Tư lệnh Hải quân tin tưởng các đồng chí sẽ hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trở về an toàn”(2). Tàu 401 đã 3 lần xuất phát, 2 lần trở lại và lần cuối đã vào bến Lộ Giao - Hoài Nhơn - Bình Định, chuyển 33 tấn vũ khí cho quân dân Bình Định có vũ khí đánh Mỹ ngụy. Chỉ riêng việc này đủ nói lên đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát rất quan tâm đến việc hoàn thành nhiệm vụ Quân ủy Trung ương giao cho Hải quân, vận tải chi viện cho chiến trường miền Nam.
   
                 Chi viện và tham gia đánh địch trên chiến trường miền Nam ở một hướng khác của Hải quân là tổ chức những đơn vị “đặc công nước” (Bộ đội đặc công Hải quân) vào đánh Mỹ ngụy trên chiến trường sông, biển miền Nam, từ phía nam sông Bến Hải đến giáp Campuchia. Ngày 23 tháng 1 năm 1963, Cục Hải quân ra quyết định thành lập đội 1 đặc công hải quân do đồng chí Mai Năng làm đội trưởng"(3). Đến ngày 3 tháng 6 năm 1964, Bộ Tổng tham mưu ra quyết định thành lập Đoàn 8 đặc công nước gồm đội 1, 2, 3 thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 10:10:16 PM
                 Việc thành lập lực lượng đặc công Hải quân là kế thừa truyền thống đánh giặc trên sông nước của cha ông ta, là đòi hỏi cấp thiết của chiến trường miền Nam lúc bấy giờ. Sáng kiến này là của tập thể Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Hải quân, trong đó theo tôi biết đồng chí Nguyễn Bá Phát giữ một vai trò không nhỏ. Là một chỉ huy cao cấp của Liên khu 5, một người đã từng tham gia và chỉ huy nhiều trận đánh Pháp suốt chiến trường Khu 5 trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Phát rất hăng say đánh giặc, luôn trăn trở tìm cách để Hải quân nhân dân Việt Nam đóng góp công sức, xương máu của mình vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thành lập lực lượng đặc công Hải quân rồi thì lấy vũ khí nào để cho bộ đội đánh tàu chiến, kho tàng, bến cảng của Mỹ ngụy? Cách đánh của bộ đội đặc công Hải quân ra sao? Mật tập? Mật tập trên bộ đã có kinh nghiệm của bộ đội Đặc công thuộc Bộ Quốc phòng, còn mật tập dưới nước, trên sông và ven biển thì sao? Có một số kinh nghiệm của cha ông, nhưng chưa ai viết thành sách, chưa ai đúc kết thành chiến thuật cụ thể. Thập kỷ 60, rồi 70 của thế kỷ 20, đồng chí Nguyễn Bá Phát luôn bám sát bộ đội đặc công trong luyện tập. Khi thì trên biển Cát Hải - Long Châu - Hòn Dấu, lúc thì trên sông Đá Bạc, Bạch Đằng - Ruột Lợn. Đồng chí rất quan tâm đến kỹ thuật bơi đường dài, thả ống, kỹ thuật bắt mục tiêu trên sông, trên biển trong đêm tối... Mỗi đợt tập đêm về đồng chí thường gặp gỡ bộ đội, lắng nghe anh em kể lại quá trình tập luyện, những khó khăn trở ngại trong khi bơi, khi thả ống, khi dùng la bàn (các phân đội kỹ thuật lặn) tiếp cận mục tiêu. Sau những lần tiếp xúc bộ đội, đồng chí thường về bàn bạc với chỉ huy đơn vị, với bộ phận huấn luyện để tìm cách khắc phục trở ngại, tìm sáng kiến để nâng cao kỹ thuật bơi lội, kỹ năng lợi dụng dòng chảy, lợi dụng ánh sao đêm, lợi dụng ánh đèn điện ở bến cảng hay trên tàu thủy để tránh tai nạn, tổn thất, để bắt được mục tiêu. Khi chuẩn bị về con người, các chiến binh đặc công Hải quân đã tương đối nề nếp, chất lượng chính trị và chiến đấu đã được nâng cao, đồng chí Nguyễn Bá Phát lại suy nghĩ, tìm cách để có vũ khí đánh địch, đặc biệt là vũ khí đánh tàu chiến địch. Những vũ khí mà các nước bạn Liên Xô, Trung Quốc viện trợ cho ta đều là những thứ nặng nề, cồng kềnh được lắp đặt trên tàu chiến hoặc máy bay như ngư lôi 45-38 hay 53-38, thủy lôi AMD-2, bom chìm B-1, bom phản lực RGB-1250 có trọng lượng từ 100-1000 kg. Làm thế nào để một tổ đặc công 3 người có thể mang vượt đường xa, rồi xuống nước áp sát vào tàu địch để tiêu diệt chúng. Để biến những thứ vũ khí đó thành cái thật sự của Việt Nam, phục vụ cách đánh của Hải quân Việt Nam, đồng chí đã tập hợp các cán bộ, kỹ sư, công nhân kỹ thuật lành nghề, thành lập Phòng kỹ thuật trực thuộc Cục Hậu cần Hải quân với nhiệm vụ nghiên cứu cải tiến những loại vũ khí đó sao cho gọn, nhẹ, có thể mang vác được, nhưng tính năng kỹ chiến thuật của nó phải giữ nguyên để bộ đội đặc công sử dụng tiêu diệt Mỹ ngụy. Được sự quan tâm của Quân ủy Trung ương, sự giúp đỡ của các cơ quan Bộ Quốc phòng cử các chuyên gia về chất nổ, về kỹ thuật vô tuyến điện... xuống cùng cán bộ kỹ thuật Hải quân do đồng chí Đại úy Nguyễn Công Tộ làm trưởng phòng, đồng chí Lê Xuân Diệu phó phòng. Bọn chúng tôi trong phòng kỹ thuật ngày đêm miệt mài tìm tòi, nghiên cứu cải tiến các vũ khí kể trên ở các nhà lán trên mấy quả đồi thông hồ Khe Giá, xã Tiền An huyện Yên Hưng. Lúc đó, anh em chúng tôi ngầm đùa với nhau là “đồi thông hai mộ” (một tiểu thuyết lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám, lúc đó bị cấm lưu hành). Nhiều lần đồng chí Đại tá Tư lệnh Nguyễn Bá Phát đến kiểm tra và làm việc với phòng kỹ thuật. Tôi không nhớ được ngày tháng đồng chí Phát được bổ nhiệm Tư lệnh Hải quân thay đồng chí Thiếu tướng Tạ Xuân Thu - Tư lệnh kiêm Chính ủy Hải quân. Tôi chỉ nhớ là sau khi đồng chí Tạ Xuân Thu bị bệnh hiểm nghèo sang Liên Xô điều trị rồi mất, một thời gian sau đó đồng chí Nguyễn Bá Phát làm Tư lệnh (khoảng cuối 1964?). Với cương vị Tư lệnh Quân chủng, đồng chí phải quán xuyến mọi mặt hoạt động của Hải quân, đặc biệt là công tác xây dựng lực lượng và tổ chức hoạt động tác chiến.

                Từ tháng 6 năm 1964, Bộ Tổng tham mưu đã báo động toàn quân, chuyển từ trạng thái thời bình sang thời chiến. Ngày 6 tháng 7 năm 1964, Bộ Tư lệnh Hải quân ra lệnh toàn Quân chủng chuyển sang thời chiến. Tuy bộn bề công việc với cương vị là người đứng đầu Quân chủng, nhưng đồng chí dành nhiều thời giờ đến với phòng kỹ thuật. Mỗi lần đến đơn vị, đồng chí trực tiếp kiểm tra từng bánh thuốc nổ TNT được đục từ thủy lôi AMD-2 ra rồi đúc thành bánh 20 kg để cho một người có thể mang sau lưng, hành quân đường dài. Có lần đồng chí trực tiếp kiểm tra năng lực tiếp thu trường vật lý (sóng âm và từ trường tàu) của đầu nổ thủy lôi HAT-2 do ta tách từ thủy lôi AMD-2 ra. Cũng có lần đồng chí kiểm tra kết quả cải tiến bom RGB-1250, là loại bom phản lực định sâu, tầm bắn 1.250 mét để diệt tàu ngầm, phóng bằng bệ 8 quả cố định trên tàu 200 tấn. Nay ta cắt rời ra, dùng bệ đắp bằng đất, ngòi cải tiến từ định sâu thành ngòi chạm nổ tức thì, để phóng vào bến cảng, kho tàng và đồn bót Mỹ ngụy ở chiến trường B5, Quảng Trị. Khi những cải tiến trên đạt kết quả tốt, đồng chí báo cáo lên Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng và tổ chức diễn tập thực binh để các đồng chí cấp trên kiểm tra và cho phép đưa vào chiến trường miền Nam kịp triển khai đánh địch.
   
                Có lần đồng chí tổ chức bắn đạn thật ở sông Đá Bạc, Thủy Nguyên, vừa trình diễn báo cáo với Bộ Tổng tham mưu vừa kiểm tra thực tế kết quả cải tiến, kiểm tra năng lực làm việc của đầu gây nổ tự động của thủy lôi HAT-2 bằng cách bố trí các đầu gây nổ ở lòng sông, khối thuốc nổ đặt trên bờ ở vị trí an toàn, cặp dây dẫn nối từ đầu gây nổ tới kíp nổ điện đặt trong khối thuốc nổ. Có đầu gây nổ khác nối với một bóng đèn đỏ đặt trước hầm chỉ huy để chứng minh là đầu gây nổ làm việc tốt hay không làm việc. Dùng 1 tàu tiễn, đi lại trên khúc sông có đặt các đầu gây nổ thủy lôi HAT-2. Kết quả kiểm tra các đầu gây nổ của thủy lôi HAT-2 làm việc tốt, bảo đảm diệt được tàu địch. Đến nội dung kiểm tra kết quả cải tiến bom phản lực RGB-1250 ký hiệu HBF thì có trục trặc kỹ thuật: quả bom HBF bay lên nhưng không rơi trúng địa điểm dự tính. Có nghĩa là không diệt được mục tiêu. Đồng chí Tư lệnh liền cho ngừng cuộc diễn tập. Tiếp đó là những ngày kiểm điểm, rút kinh nghiệm, tìm cho ra nguyên nhân sự cố. Khi có kết luận về nguyên nhân, đồng chí lệnh cho bộ phận kỹ thuật và bộ phải thử lại, bảo đảm vũ khí đưa vào chiến trường phải đánh trúng mục tiêu.
   
                Để có vũ khí cho các đội đặc công người nhái đánh tàu địch, Hải quân được Bộ Quốc phòng trang bị cho loại mìn nam châm hình con rùa BPM-2. Đặc công Hải quân hay gọi mìn rùa. Mìn nặng khoảng 6 kg, chứa 2 kg thuốc nổ mạnh, bề mặt có gắn các thỏi nam châm hình chữ U để gắn chặt mìn vào thân tàu. Có ngòi nổ hẹn giờ và ngòi nổ chống tháo gỡ. Đây là loại vũ khí gọn, nhẹ có sức công phá khá lớn nhờ đánh trực tiếp vào vỏ tàu. Bộ đội Đặc công Hải quân rất thích loại mìn này vì vừa sức mang theo khi hành quân đường dài, không cồng kềnh, ít lực cản khi bơi và rất an toàn vì có 2 lần bảo hiểm. Nhưng nhược điểm là lượng thuốc nổ ít, khó đánh chìm tàu 2 vỏ và tàu lớn có nhiều khoang kín nước. Lực bám của nam châm cũng hơi yếu, khi tàu chạy với vận tốc cao dễ bị rơi do lực cản của nước. Để khắc phục những yếu điểm trên, cán bộ kỹ thuật Hải quân tìm cách tăng thêm lượng thuốc nổ, tăng thêm nam châm để tăng lực bám, nhưng lại dẫn đến tăng khối lượng và diện tích bề mặt. Như vậy là phải thực nghiệm. Tôi được giao trực tiếp thực nghiệm trên biển loại vũ khí cải tiến này. Một buổi sáng năm 1967, trên con tàu vận tải vận tốc nhanh, chở tôi và nhóm cán bộ kỹ thuật vũ khí cùng với mìn cải tiến, các thiết bị kiểm tra, rời bến Cát Hải ra Long Châu. Tàu đến giữa Long Châu Hòn Dấu (đông nam Đồ Sơn) thì thả trôi. Tôi chuẩn bị nhảy xuống biển cùng với quả mìn cải tiến thì thấy một ca nô chạy rất nhanh đến tàu chúng tôi. Khi ca mô cập mạn tàu, tôi mới biết Tư lệnh Nguyễn Bá Phát trên đó. Một thoáng lúng túng, sau đó tôi báo cáo Tư lệnh về công tác chuẩn bị và xin phép tiến hành thử nghiệm. Đồng chí Tư lệnh cười và nói “cứ làm đi”. Tôi cởi hết quần áo và nhảy xuống biển trong tư thế “A dam”. Tôi bơi đến mạn tàu và đỡ quả mìn do anh em kỹ thuật dòng từ trên boong xuống. Bên cạnh tôi là đồng chí Tư lệnh cũng trong tư thế “A dam”. Hai thầy trò một thoáng nhìn nhau, tôi tìm vị trí để áp quả mìn cải tiến vào tàu (tất nhiên ruột mìn toàn bằng cát, còn mọi thứ là thật) đồng chí Tư lệnh hỏi “xong chưa?” Tôi trả lời: xong rồi ạ. Đồng chí Tư lệnh và tôi bơi cách tàu 5 - 6 mét, đồng chí vẫy tay lên đài chỉ huy và hạ lệnh: "tăng hết tốc độ". Tàu rú ga và phóng đi về hướng biển. Hai thầy trò chúng tôi cứ thả người trên biển chờ quay lại. Độ mươi phút sau tàu quay lại và thả trôi gần chúng tôi. Ở dưới biển đồng chí Tư lệnh hỏi: "đến mấy hải lý/giờ thì nó rơi ra?"
   
                - Báo cáo, đến trên 15 hải lý/giờ thì có đèn đỏ.
   
                - Được rồi, thế là tốt. Các cậu có thể kết thúc thử nghiệm. Đồng chí Tư lệnh nói
   
                Ca nô từ từ tiến sát đồng chí Tư lệnh, đồng chí lên ca nô rồi vẫy tay chúng tôi. Ca nô về sở chỉ huy dã chiến ở Cát Hải.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 10:15:49 PM
                 Tôi lên tàu mặc quần áo rồi ghi chép tóm tắt kết quả thử nghiệm, trao đổi với anh em kỹ thuật trong khi tàu trở về bến xuất phát. Đến lúc này đã gần 12 giờ trưa. Tôi và anh em mang vác đồ đạc lỉnh kinh về doanh trại. Con đường chúng tôi đi, lại ngang qua Sở chỉ huy dã chiến của Tư lệnh. Đồng chí Tư lệnh đang ăn trưa thấy tôi đi ngoài đường liền gọi:

                  - Lâm, vào đây! Tôi vừa sợ, vừa ngại quá. Tôi lúc đó mới trung úy, còn đồng chí là Đại tá Tư lệnh. Tính tôi rất ngại gặp cấp trên vì vừa khó nói chuyện lại dễ bị anh em cho là ton hót, cơ hội. Thấy tôi đang do dự, như hiểu hết tâm trạng của tôi, đồng chí hạ lệnh tiếp.
   
                  - Đưa mọi thứ cho anh em rồi vào đây. Nhanh đi.
   
                  Tôi chấp hành như một cái máy, vào đứng nghiêm trước Tư lệnh mà chẳng nói được gì.
   
                  - Ngồi xuống đi, đồng chí nói.
   
                  Tôi ngồi xuống cái ghế trống mà đồng chí Tư lệnh chỉ. Đồng chí đưa cho tôi cái đùi gà luộc. Tôi chưa dám cầm.
   
                  - Ăn đi! Có biết uống rượu không? Tư lệnh hỏi.
   
                  - Dạ thưa, tôi không biết uống rượu.
   
                  - Thế thì ăn đi. Chắc lúc này cậu đói lắm rồi. Đừng ngại. Tôi đưa cái đùi gà luộc lên miệng và bắt đầu ăn. Trong lúc 2 thầy trò ăn, đồng chí Tư lệnh nói với tôi.
   
                  - Cán bộ là phải dậy (vậy), phải thực sự, thực tế, phải biết xông pha, lăn lộn với công việc. Hôm nay cậu làm rất tốt.
   
                  Đồng chí còn nói nhiều về công tác bảo đảm kỹ thuật Hải quân, về khả năng tác chiến, về trang bị vũ khí hiện có. Tư lệnh lộ vẻ ưu tư khi nói về khả năng đánh tàu chiến Mỹ trên biển, đồng chí nói như tâm sự:
   
                  - Đánh địch trên sông và ven biển miền Nam, Hải quân ta đã ít nhiều có thành tích. Đánh máy bay Mỹ cũng không tồi. Chi viện quân, dân miền Nam cũng đã làm được. Nhưng đánh chìm một chiếc khu trục của Hải quân Mỹ thì chưa làm được. Tớ đang lúng túng tìm một chiến thuật cố gắng đánh chìm một chiếc khu trục của Mỹ.
   
                  Vừa nói tay đồng chí cầm chén rượu nhỏ đưa lên môi, mắt đăm chiêu nhìn ra xa, phía biển Vịnh Bắc Bộ, nơi lũ quỷ hải quân Mỹ đang ngày đêm tung hoành ngang dọc, bắt bớ ngư dân, bắn phá đất liền, chúng bắn vào bất kể mục tiêu nào chúng nghi có hại cho tàu chiến Mỹ. Vì chúng không có đối thủ.
   
                  Lúc đó tôi chỉ ngồi nghe và cũng suy nghĩ những điều mà đồng chí Tư lệnh trăn trở. Nhưng tôi không đưa ra được một chính kiến nào, vì trình độ lúc đó Còn non nớt lắm. Khi tôi ăn xong cái đùi gà luộc, đồng chí bảo:
   
                  - Thôi, Lâm về đi, tớ cũng phải đi nghỉ một chút, Chiều còn nhiều việc lắm.
   
                  Tôi đứng dậy cảm tạ Tư lệnh rồi rút lui.
   
                  Cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1967, tôi được giao nhiệm vụ cùng đồng chí Nhượng thượng úy Đoàn trưởng và 6 cán bộ, chiến sĩ kỹ thuật vũ khí nước, dẫn đoàn ô tô 10 chiếc thuộc C5 vận tải của Cục Hậu cần Hải quân đưa các loại vũ khí cải tiến đã được thử nghiệm và bắn thật đạt kết quả tốt vào Vĩnh Linh. Trên 10 xe Zil-130 và Hồng Hà đầy ắp các loại thủy lôi HAT-2, mìn vành khăn, bom phóng HBF, thủy lôi APS, thủy lôi trôi, thuốc nổ các loại,... Đích thân đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát tổ chức bữa cơm thân mật tại một hang hầm ở cây số 11 (Ngã ba Biểu Nghi - Yên Lập) để tiễn chúng tôi lên đường. Tôi còn nhớ trong bữa ăn, đồng chí Phát căn dặn đại ý:
   
                  - Các đồng chí đưa vũ khí vào chiến trường cho Đoàn 126 Hải quân đánh Mỹ ngụy. Đi đường nguy hiểm và vất vả lắm đó. Trên xe nhiều chất nổ, dọc đường lại lắm nơi bị Mỹ thả bom từ trường, thủy lôi, bom tọa độ. Nhưng không đáng sợ vì có các binh trạm giúp đỡ và mùa này có nhiều ngày đầy mây, mây thấp có thể tranh thủ cả ban ngày mà đi. Vào trong đó, anh em cố gắng bảo đảm kỹ thuật tốt cho đặc công đánh. Tôi ở ngoài này luôn theo dõi thắng lợi của các đồng chí. Tôi có nhiều cách để biết tin thắng trận của các đồng chí trong đó. Nhớ chuyển lời hỏi thăm và động viên của Tư lệnh đến anh em trong đó. Khi chúng tôi ăn tối và nghe lời dặn dò của Tư lệnh thì đoàn xe đã tập kết bên lề đường bên phải, hướng về Đông Triều. Cơm nước xong một đồng chí sĩ quan vào báo cáo Tư lệnh rằng đoàn xe đã đến, trời đang mưa to, đang chờ lệnh đồng chí. Một thoáng suy nghĩ rồi đồng chí nói: chờ một chút, mưa tạnh rồi hãy lên đường. Bây giờ mấy giờ rồi? Đồng chí sĩ quan xem đồng hồ tay rồi nói; báo cáo gần 10 giờ tối ạ. Đồng chí "ừm” một tiếng rồi nói: chờ mưa tạnh, độ mười giờ hơn thì xuất phát. Đồng chí đi bắt tay từng người rồi ra xe ô tô con về sở chỉ huy.
   
                  Cứ thế sau một khoảng một tuần lễ, hàng chúng tôi tới Vĩnh Tú an toàn. Những ngày tiếp theo là công việc kiểm tra thủy lôi, mìn các loại để bảo đảm cho bộ đội đặc công đánh địch. Tôi được phân công kiểm tra chuẩn bị HAT-2, mìn BPM-2 và trực tiếp đi lắp ráp HAT-2 ở bờ sông phục vụ đội Một do đồng chí đại úy Mai Năng chỉ huy đánh ở ngã ba sông Thạch Hãn. Những ngày ở Vĩnh Linh, cùng bộ đội đặc công đánh tàu chiến Mỹ ngụy mà tôi cứ nghĩ về đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát.
   
                  Tết Mậu Thân đã qua hơn một tuần, ngồi trong hầm khi ở Vĩnh Giang, khi Vĩnh Tú, Vĩnh Quang, nghe Đài tiếng nói Việt Nam tôi mới biết có cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân trên toàn miền Nam. Lúc này tôi thầm tự hào là mình được trực tiếp tham gia cuộc tổng tấn công đó. Và tôi lại nghĩ đến Tư lệnh Nguyễn Bá Phát trong buổi tiễn chúng tôi lên đường. Đồng Chí thật chu đáo và tình cảm. Đồng chí rất quan tâm đến công tác bảo đảm kỹ thuật, nhất là kỹ thuật về vũ khí cho bộ đội đánh thắng Mỹ ngụy. Đồng chí chăm lo từ cái chi tiết, cụ thể cho đến cái toàn thể. Không thể nắm hết mọi ngóc ngách của kỹ thuật Hải quân đa ngành, phức tạp đồng chí đã biết dựa vào cán bộ cấp dưới, động viên họ hăng say quên mình vì sự nghiệp của Quân chủng. Không khoa trương, không văn vẻ cũng không quá khắt khe với thuộc cấp, đồng chí ít nói nhưng nội tâm thật trong sáng và vị tha.
   
                  Một hướng hoạt động tác chiến khác, mà thiếu nó thì giảm mất giá trị chân thực của Hải quân Việt Nam. Đó là cuộc chiến chống phong tỏa bằng thủy lôi và bom từ trường của Mỹ. Sau nhiều thất bại chua cay trên chiến trường miền Nam, chính phủ Mỹ tìm cách mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, là cái mốc nhơ bẩn của đế quốc Mỹ, khi chúng cho hàng đàn máy bay các loại đến dội bom và đánh phá các căn cứ Hải quân, các cơ sở hậu cần của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, một nước có chủ quyền và được thế giới công nhận. Ngày đầu tiên của cuộc chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, Hải quân ta đã cùng với các lực lượng vũ trang khác và nhân dân ven biển bắn rơi 8 máy bay, bắt tên trung úy phi công An-va-rét tại vùng biển Hòn Gai - Bãi Cháy. Tiếp đó là những năm tháng chống cuộc tấn công, phong tỏa của không quân và hải quân Mỹ vô cùng khốc liệt.
   
                  Ngày 1 tháng 6 năm 1966, Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho Hải quân chuẩn bị đối phó với chiến dịch phong tỏa của Mỹ. Ngày 20 tháng 4 năm 1966, Tư lệnh Nguyễn Bá Phát chủ trì cuộc họp bàn biện pháp chống phong tỏa đường biển của hải quân Mỹ. Số người tham gia hạn chế, ngoài các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy Hải quân chỉ có một số ít cán bộ kỹ thuật được mời tham dự, trong đó có Trung úy Hoàng Sơn (theo lời kể của đồng chí Hoàng Sơn). Sau hội nghị này bộ phận nghiên cứu chống phong tỏa biển của Hải quân được thành lập gồm một số sĩ quan được học chuyên ngành về thủy lôi và chống thủy lôi ở Liên Xô-Trung Quốc như: Phan Xuân Thái, Nguyễn Sỹ Trinh, Nguyễn Doanh Hải, Lê Văn Dinh, Nguyễn Văn Học,... các kỹ sư về điện tàu, máy tàu như Hoàng Sơn, Dương Đình Lộc...



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 10:18:11 PM
                 Bộ phận nghiên cứu được Bộ Quốc phòng tăng cường cho những cán bộ chuyên sâu về vô tuyến điện, cơ khí, điện công nghiệp... Trong nội bộ Hải quân, đồng chí Tư lệnh huy động lực lượng của các Xưởng 46, Xưởng 48 (sửa chữa tàu thuyền), Xưởng 56 (sửa chữa máy thông tin - ra đa) tích cực tham gia chuẩn bị đề án chống chiến dịch phong tỏa của Mỹ. Ngoài quân đội và Hải quân, đồng chí Phát còn chủ động hợp tác với Cục vận tải biển, đứng đầu là đồng chí Cục trưởng Lê Văn Kỳ, Tổng cục Thủy sản, Bộ Tư lệnh Công binh, Bộ Tư lệnh Công an vũ trang và nhân dân thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh cùng tham gia vào hoạt động chống chiến dịch phong tỏa. Đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát đã quán triệt và thực hiện thành công đường lối chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển của Đảng. Trong đó, lực lượng Hải quân là nòng cốt và đi đầu nghiên cứu đề xuất phương án sử dụng lực lượng, cải tiến sản xuất phương tiện rà phá thủy lôi từ thô sơ đến tương đối hiện đại, phù hợp với khả năng của nền công nghiệp miền Bắc và thực lực Hải quân nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ. Hải quân còn tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao thiết kế, cách chế tạo, lắp đặt và vận hành các phương tiện rà phá thủy lôi, bom từ trường cho đơn vị bạn, trong đó có Cục vận tải biến và quân dân Hải Phòng, Quảng Ninh... Ngày 31 tháng 8 năm 1966, Hải quân đã chủ trì cuộc diễn tập hiệp đồng với quân chủng Phòng không - Không quân, các lực lượng vũ trang và bán vũ trang ở Hải Phòng, Quảng Ninh về hoạt động chống phong tỏa biển toàn diện.

                 Từ đêm 26 tháng 2 năm 1967 cho đến giữa năm 1968, đế quốc Mỹ đã thả xuống các lòng sông, cửa sông, các cảng sông biển và bến phà Bắc Việt Nam gần 75.000 quả thủy lôi và bom từ trường. Mỹ hy vọng sẽ cột chặt tay chân Việt Nam, hàng hóa phục vụ chiến tranh, vũ khí đạn dược... không vào được Bắc Việt Nam và từ Bắc Việt Nam không thể tiếp tế cho miền Nam. Và như vậy miền Nam Việt Nam phải thất bại, phải chịu sự nô dịch của Mỹ. Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược, ngày 1 tháng 11 năm 1968, Mỹ phải đơn phương tuyên bố chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc. Vì Mỹ đã không ngăn được quân dân miền Nam Việt Nam mở cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân (30-1-1968), không ngăn được luồng vũ khí, đạn dược, hàng hóa và phương tiện chiến tranh ngày đêm không ngừng tuôn chảy từ miền Bắc vào miền Nam. Ngay sau khi quả thủy lôi đầu tiên của đế quốc Mỹ thả xuống miền Bắc, chúng ta đã đánh dấu được vị trí, đã có phương án cấm luồng và vòng tránh. Tiếp đó là tìm biện pháp thăm dò, kích nổ, sử dụng các phương tiện rà phá đã nghiên cứu từ cuối 1966 và rất nhiều hình thức khác kể cả cách kéo những vật liệu nhiễm từ qua lại trên vị trí có bom từ trường hoặc thủy lôi để gây nổ. Kết quả là suốt thời gian đế quốc Mỹ hí hửng tưởng đã bịt được đường ra vào của Bắc Việt Nam, thì chúng ta đã phá nổ hơn 6.600 quả thủy lôi và bom từ trường mà Mỹ thả vào các sông, bến phà, bến cảng, cửa vịnh... và phá nổ hoặc tháo gỡ hàng ngàn quả thủy lôi và bom khác trên đất liền. Vì vậy cuối năm 1968, chiến dịch vận tải VT5 đưa hơn 10.000 tấn hàng từ Hải Phòng vào sông Gianh (Quảng Bình) đã diễn ra ngay sau ngày 1 tháng 11 năm 1968. Không một con tàu, phương tiện nào bị chìm do thủy lôi hay bom từ trường Mỹ thả xuống.
   
                 Trong chiến công chung to lớn đó có sự đóng góp rất lớn của cuộc chiến chống phong tỏa mà quân dân miền Bắc đã tiến hành và Hải quân nhân dân đã Xứng đáng với vai trò nòng cốt và đi đầu trong sự nghiệp đó. Với cương vị là Tư lệnh Hải quân, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã nêu một tấm gương sáng cho toàn Quân chủng cũng như các lực lượng phối hợp.
   
                 Đến giữa năm 1972, những tưởng Hiệp định Pari được nhanh chóng ký kết, nhưng Mỹ lật lọng, tăng cường ném bom và bắn phá miền Bắc. Đặc biệt chúng tiến hành chiến dịch phong tỏa biển lần thứ hai rất khốc liệt. Với âm mưu bịt chặt lối ra vào giao thông với thế giới bên ngoài của Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ hi vọng: “Phong tỏa Việt Nam bằng thủy lôi là cách gây khó khăn tối đa cho đối phương, là biện pháp có ý nghĩa quyết định để giành thắng lợi quân sự, tạo ra sức ép mạnh mẽ cho vấn đề thương lượng và để Mỹ có thể rút khỏi Việt Nam trong danh dự”.
   
                 Vì vậy trong lần phong tỏa thứ 2, từ 16 tháng 4 năm 1972 đến ngày 13 tháng 1 năm 1973, Mỹ thả xuống sông biển miền Bắc hơn 17.000 thủy lôi và bom từ trường model mới. Ngày 20 tháng 5 năm 1972, Chính phủ ta quyết định thành lập Ban chống phong tỏa trực thuộc Chính phủ gồm các đồng chí:
   
                 1. Nguyễn Thanh Bình, Ủy viên Trung ương Đảng - Trưởng ban.
   
                 2. Nguyễn Bá Phát, Tư lệnh Hải quân - Phó ban.
   
                 3. Đặng Kinh, Tư lệnh Quân khu Tả ngạn – Phó ban.
   
                 4. Lê Văn Kỳ, Cục trưởng Cục vận tải biển - Ủy viên.
   
                 5. Lê Đức Thịnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng - Ủy viên.
   
                 Ngày 9 tháng 5 năm 1972, Bộ Quốc phòng chỉ thị: “Một số biện pháp chống phong tỏa đường biến” và ủy quyền cho Bộ Tư lệnh Hải quân thành lập ban chỉ đạo chống phong tỏa giúp Chính phủ chỉ đạo các hoạt động chống phong tỏa biển miền Bắc. Chấp hành quyết định của Chính phủ và chỉ thị của Bộ Quốc phòng, giữa năm 1972. Đảng ủy Hải quân họp hội nghị mở rộng để triển khai kế hoạch rà phá thủy lôi, mở luồng bảo đảm dẫn dắt tàu thuyền đi lại trên các tuyến đường thủy Bắc Việt Nam. Đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát đã trình bày kế hoạch hoạt động chống phong tỏa lần 2. Tiếp đó là các cuộc hội nghị hiệp đồng do Tư lệnh chủ trì được tổ chức ở Hải Phòng, Quảng Ninh ngày 21 tháng 5 năm 1972 và ngày 17 tháng 12 năm 1972. Một lần nữa quân và dân miền Bắc lại lao vào cuộc chiến đấu chống chiến dịch phong tỏa biển bằng thủy lôi lần thứ 2 của đế quốc Mỹ.
   
                 Cuối tháng 12 năm 1972 khi quân dân Thủ đô Hà Nội, cùng với quân dân Hải Phòng và các địa phương đồng bằng sông Hồng mở chiến dịch lịch sử: “Điện Biên Phủ trên không” từ 18 đến 30 tháng 12 năm 1972, và giành thắng lợi vang dội, đè bẹp thần tượng pháo đài bay B-52, át chủ bài trong bộ 3 lực lượng chiến lược của quân đội Mỹ, đập nát âm mưu giành thế mạnh trên bàn Hội nghị Pa-ri, buộc Việt Nam chấp nhận điều kiện hòa bình theo kiểu Mỹ, tạo điều kiện để quân Mỹ rút khỏi Việt Nam trong danh dự. Cùng thời gian đó, lực lượng rà phá thủy lôi và bom từ trường do Mỹ phong tỏa miền Bắc của quân dân các tỉnh ven biển, mà trong đó lực lượng nòng cốt, hướng dẫn là Hải quân nhân dân Việt Nam ngày đêm âm thầm, nhẫn nại rà phá thủy lôi trên từng khúc sông, đoạn bờ biển, trên cửa vịnh, dọc các bến cảng... Nhiều thủy lôi đã nổ. Sự hy sinh tổn thất cũng đã xảy ra (2 phương tiện rà phá bị đắm do thủy lôi nổ quá gần, 13 đồng chí bị thương vong. Lực lượng chủ lực rà phá thủy lôi thời kỳ từ tháng 10 năm 1972 đến tháng 2 năm 1973 trên luồng chính cửa Nam Triệu, Hải Phòng và các luồng phụ cận Cát Bà, Cửa Cấm, Đồ Sơn, Long Châu, Hòn Dấu là các tàu quét thủy lôi của Trung đoàn tàu 171, được tăng cường thêm một số tàu của Đoàn 125. Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân còn điều động một số cán bộ từ các đơn vị và giáo viên từ Trường Sĩ quan Hải quân về tăng cường cho Trung đoàn 171. Tôi cũng vinh dự được tham gia đợt rà quét này trên tàu V416 trong đêm đông rét buốt. Cứ thế tàu thực hiện hết các tuyến rà quét theo kế hoạch đã được Ban Tham mưu Lữ đoàn 171 trình lên đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát. Các tuyến quét sau của đêm đó chỉ gây nổ được 1 quả ở phía mũi khoảng 80 mét.
   
                 Phương pháp rà thủy lôi của Hải quân ta khởi xướng thật vô cùng độc đáo. Vì chưa có một nước nào lại dùng cách kích nổ thủy lôi trước mũi và 2 bên mạn tàu. Đây là một việc làm hết sức nguy hiểm, dễ chịu tổn thất nặng nề. Cách của nước ngoài là tàu quét thủy lôi phải được khử hết từ trường hoặc làm giảm nó đến mức thấp nhất và kích nổ thủy lôi phía sau tàu. Song Hải quân nhân dân Việt Nam đã làm ngược lại, vì không có khả năng khử hết từ trường của tàu. Hải quân Việt Nam cũng đã hướng dẫn, giúp đỡ lực lượng rà phá thủy lôi của Cục Vận tải biển, một số lực lượng rà phá của các công ty vận tải biển của Hải Phòng, Quảng Ninh... cũng làm như vậy. Đó là khí phách anh hùng của dân tộc Việt Nam đã có hàng ngàn năm nay và truyền lại cho chúng ta.
   
                 Nhờ có phương pháp rà phá thủy lôi độc đáo đó, nhờ có sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, nên cuộc chiến chống phong tỏa biển của quân-dân miền Bắc lần thứ 2 đã giành thắng lợi rất to lớn. Với số lượng thủy lôi và bom từ trường do Mỹ thả xuống luồng lạch Quảng Ninh - Hải Phòng là 2.877 quả. Nhưng đến ngày 18 tháng 1 năm 1973, ta đảm bảo an toàn cho tàu ra vào các cảng Quảng Ninh và Hải Phòng. Đến sáng ngày 21 tháng 1 năm 1973, dưới sự rà quét bảo đảm dẫn đường của các tàu V416, T152, T203, T205, tàu vận tải biển của nước Cộng hòa Cu Ba anh em đã từ Long Châu vào Sải Cóc an toàn. Sự kiện này đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chiến tranh bằng thủy lôi của đế quốc Mỹ. Ngồi ở Lầu Năm góc và Nhà Trắng tận bên kia quả đất, các nhà lãnh đạ0 Mỹ thời bấy giờ chưa chịu ký Hiệp định Pa-ri, mặc dầu đã chịu thua hoàn toàn sau 12 ngày đêm cuối năm 1972 đánh phá dã man Hà Nội, Hải Phòng bằng B-52. Vì sao? Có lẽ họ còn chờ đợi ở ngón đòn hiểm độc: Thủy lôi! Nhưng ngày 21 tháng 1 năm 1973, chắc rằng họ cũng bị choáng váng gần như ngày 30 tháng 12 năm 1972. Thế rồi, việc sẽ đến phải đến.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 10:25:44 PM
                 Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ buộc phải ký với Chính phủ ta Hiệp định Pa-ri. Chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình trên đất nước Việt Nam. Đúng 1 tuần sau ngày ta chính thức khai thông đường tàu biển vào Hải Phòng.

                  Tôi viết đoạn này để nói lên công lao to lớn của đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát trong cuộc chiến chống phong tỏa bằng thủy lôi của đế quốc Mỹ trên miền Bắc nước ta. Mỗi một phương tiện rà phá ra đời, qua các giai đoạn từ tư duy đến thiết kế rồi chế thử và thực nghiệm, đồng chí Tư lệnh đều trực tiếp động viên, khích lệ và đích thân đồng chí cùng các cán bộ kỹ thuật và bộ đội đi rà phá thực tế (chí ít cũng một lần) trên sông Cấm hay luồng Nam Triệu. Vì đồng chí vừa là Tư lệnh Hải quân vừa là Phó ban chỉ đạo chống phong tỏa của Chính phủ. Đồng chí là người trực tiếp quản lý hàng chục cán bộ kỹ thuật chuyên sâu về vũ khí thủy lôi, bom mìn dưới nước và hàng trăm kỹ sư, cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, đa nghề trong Hải quân và quân đội. Hai lần mở chiến dịch chống phong tỏa miền Bắc bằng thủy lôi của đế quốc Mỹ (1966 - 1968 và 1972 - 1973) đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát là người trực tiếp chỉ huy điều hành. Chiến công là chiến công chung, công sức và xương máu là do tập thể các đơn vị Hải quân và các đơn vị bạn, những người trực tiếp rà phá thủy lôi Mỹ trên sông biển miền Bắc đóng góp. Nhưng người đứng đầu, người tổng chỉ huy giữ một vai trò rất to lớn.
   
                  Một lĩnh vực hoạt động chiến đấu khác của Hải quân trong gần 10 năm (1964 - 1973) chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ là tổ chức các trận đánh diệt tàu chiến Mỹ ngụy. Đối tượng tác chiến của Hải quân Việt Nam non trẻ là Hải quân Hoa Kỳ, một lực lượng hùng mạnh nhất thế giới hoạt động trên khắp các đại dương và biển lớn. Đúng là một cuộc đọ sức quá chênh lệch. Song Hải quân ta không chịu khoanh tay chờ ăn đòn. Đồng chí Nguyễn Bá Phát đã ngày đêm trăn trở tìm nhiều cách đánh độc đáo cho Hải quân Việt Nam.
   
                  Sau trận đầu ngày 2 tháng 8 năm 1964, Hải quân ta có lòng dũng cảm, dám xông thẳng vào tàu khu trục Mỹ, đánh đuổi chúng khi chúng khiêu khích các tỉnh từ Thanh Hóa đến Quảng Bình. Giá như trận đó các đồng chí trực tiếp chiến đấu thực hiện đúng ý đồ của Tư lệnh thì thắng lợi còn vang dội hơn nhiều. Sau ngày đó là những ngày tháng cực kỳ khó khăn, nguy hiểm của lực lượng tàu mặt nước Hải quân ta, vì Mỹ đã cảnh giác và chiến tranh với miền Bắc đã bắt đầu. Máy bay chiến đấu của hạm đội 7 liên tục tuần tra nên Vùng trời Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, các cửa sông và đảo ven bờ khu 3, khu 4. Hễ phát hiện thấy bóng dáng tàu Hải quân hoặc nghi là có tàu Hải quân ẩn nấp là chúng đánh liền. Tiếp đó là từng đoàn máy bay F-4C và các máy bay khác đến phóng rốc-két, bom điều khiển và cả pháo 20 ly vào những nơi chúng vừa phát hiện. Với ước muốn đánh chìm hoặc trọng thương 1 tàu khu trục Mỹ, đồng chí Tư lệnh đã tổ chức mấy trận đánh của tàu phóng ngư lôi cả ban đêm lẫn ban ngày khi thời tiết phù hợp. Song đều bị máy bay Hải quân Mỹ chặn đánh quyết liệt, lực lượng ta tổn thất trước khi tiếp cận được tàu khu trục. Sử dụng lực lượng tàu mặt nước chiến đấu không thành công vì Hải quân Mỹ hoàn toàn làm chủ trên không và trên biển.
   
                  Tư lệnh Phát không chịu bó tay. Đồng chí đã chủ trì nhiều hội nghị kỹ thuật tìm cách đóng bè mảng bằng tôn, trên ngụy trang tre, nứa, ngư cụ giống như chiếc mảng đánh cá trong lộng của ngư dân Thanh Hóa - Nghệ An. Trên mảng trang bị ĐKZ 80, bom phóng HBF, súng 12,7 ly. Bộ đội Hải quân cải trang thành những ngư dân, ngày đêm thả trôi trên vùng biển Thanh Hóa - Hà Tĩnh. Chính bằng phương tiện này mà Hải quân ta đã đánh chìm một chiếc và đánh bị thương một chiếc khác tàu biệt kích Hải quân ngụy tại vùng biển Quỳnh Lưu, Nghệ An tối 17 tháng 8 năm 1968. Nhưng rồi, mọi loại vũ khí mới cùng với chiến thuật sử dụng đều bị bộc lộ sau trận thắng đầu tiên. Vì vậy bè mảng chiến đấu không còn khả năng tiếp cận mục tiêu nữa. Tàu khu trục Mỹ dùng hỏa lực pháo và tên lửa, diệt từ xa những gì chúng nghi ngờ sẽ uy hiếp chúng và đồng bọn.
   
                  Đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát lại tìm cách cải tiến xe xích lội nước (PAP) do Liên Xô viện trợ cho công binh ta thành phương tiện lắp ngư lôi 45-38 để bí mật đánh tàu chiến Mỹ. Sau lần đồng chí cho cơ động vào ven biển Khu 4 thử nghiệm xuất kích, phương tiện này không chịu được sóng cấp 2-3 nên không thành công. Ở một hướng khác, trên vùng biến Quảng Bình - Vĩnh Linh, tàu khu trục và các tàu chiến lớn của Hải quân Mỹ thường xuyên cơ động dọc bờ, dùng pháo từ 107-400 ly bắn phá giao thông, trận địa pháo ta ven biển và tất cả những mục tiêu dọc bờ biển mà máy bay OV-10 phát hiện được. Rút kinh nghiệm thắng lợi của Đoàn 126 đặc công Hải quân dùng thủy lôi HAT-2 đánh chìm nhiều tàu chiến Mỹ ngụy trên sông biển miền Nam, Ban chỉ huy K5 đề xuất dùng thủy lôi AMD-2 nguyên bản để đánh tàu chiến lớn của Mỹ. Đồng chí Nguyễn Bá Phát nhất trí và động viên bộ đội thực hiện. Kết quả đã đánh bị thương nặng một số tàu chiến lớn của Mỹ như tuần dương hạm DDG16, DD843, Niuponiu CA148. Để kiểm tra và động viên lực lượng Hải quân hoạt động ở Quảng Bình - Vĩnh Linh, có lần đồng chí Tư lệnh đã dẫn đầu đoàn cán bộ cơ quan Quân chủng dùng xe đạp đi theo ven biển vào tận Vĩnh Linh.
   
                  Nguyễn Bá Phát - vị Tư lệnh Hải quân thời kỳ mới thành lập, thời kỳ đối đầu với Hải quân Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa miền Bắc nước ta kéo dài gần 10 năm. Đồng chí đã để lại trong lòng cán bộ, chiến sĩ Hải quân ta, trong đó có tôi những kỷ niệm thật tốt đẹp. Là một vị Tư lệnh say mê đánh giặc, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Đảng. Đồng chí ít được khen thưởng và chính đồng chí cũng không đòi hỏi được khen thưởng. Quãng đời làm Tư lệnh Hải quân của đồng chí có những thăng trầm, nhưng việc làm của đồng chí Nguyễn Bá Phát với Hải quân nhân dân Việt Nam thì thật trong sáng.


                                 
L.K.L



(1). Nguyên Giám đốc Học viện Hải quân.
(2). Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-2005), Nxb QĐND, H. 2005, tr. 119.
(3). Lịch sử Đoàn Đặc công Hải quân 126 (1966-2006), Nxb QĐND, tr.26.






Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 10:32:36 PM
NGƯỜI LÍNH CỦA QUÊ HƯƠNG, NHỮNG NGÀY ĐẦU Ở MẶT TRẬN ĐÀ NẴNG
Tạ Xuân Linh

I

                 Tháng 12 năm 1946, là một cán bộ tham mưu tác chiến của Trung đoàn 67, tôi vẽ bản đồ ở sở chỉ huy của Trung đoàn trong một ngôi nhà cổ kính ở góc thành Bình Định. Một anh cán bộ đi ô tô vào làm việc với Ban chỉ huy Trung đoàn. Quay trở ra anh đã đến bên tôi “can” lại một bản đồ mặt trận bắc Tây Nguyên trên giấy bóng một cách thích thú - Anh nói:

                 - Anh vẽ bản đồ khá lắm, học ở đâu đó?
   
                 Với tuổi mười bảy giọng lấc cấc, tôi trả lời:
   
                 - Cũng học chút ít, mà sao hở anh?
   
                 - Anh quê ở đâu?
   
                 - Quảng Ngãi, dân Lê Trung Đình đây?
   
                 - Có ưng ra Đà Nẵng đánh Tây không?
   
                 - Sợ gì, nhưng làm sao Ban chỉ huy Trung đoàn cho tôi đi, ổng nói xin tôi từ Ủy ban kháng chiến miền Nam vào đây.
   
                 - Để tôi nói cho - và anh đi ngay vào gặp người chỉ huy Trung đoàn nổi tiếng là “hắc”. Không đầy năm phút sau, anh Cao Dũng, Trung đoàn trưởng, bước ra bảo tôi:
   
                 - Cho phép anh đi với anh Phát ra Đà Nẵng. Lúc bấy giờ tôi mới biết tên anh là Phát, còn chức vụ gì thì thôi chưa rõ. Cần gì, miễn là đi ra Đà Nẵng đánh Tây là được. Và chỉ thêm mười phút sau đó, khi giao lại bản đồ đang vẽ và một ít dụng cụ cho anh em trong cơ quan Tham mưu, tôi đã có thể lên đường với anh cán bộ mà tôi biết chắc chắn là người Quảng Nam qua tiếng nói của anh. Tôi cũng rất yên tâm vì chẳng thấy anh có gì cả, chỉ có một xắc-cốt và cây súng pa-ra-ben-lom.
   
                 - Anh ra đó làm gì? Tôi hỏi anh khi xe lướt băng qua xứ dừa và những tháp Chàm cứ lùi dần phía sau như từ biệt nhẹ nhàng với chúng tôi trên đường ra trận.
   
                 - Làm chi cũng được, nhưng anh được cử làm phó chỉ huy mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, vừa rồi anh là chỉ huy mặt trận An Khê Bình Định. Tôi im lặng sững sờ. Và không ngờ từ đấy cuộc đời hai người lính chúng tôi lại gắn bó với nhau qua nhiều giai đoạn, qua những mối liên hệ khắng khít khác nhau, cho đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp. Về sau anh đã kể cho tôi nghe và ghi chép lại.
*
*   *
   
                 Vào một đêm trăng sáng vằng vặc, Phát gọi người anh cả của mình ra trước mồ mẹ, cách nhà không xa, nhưng xung quanh có cây cối rậm rạp. Anh nói:
   
                 - Bây giờ bọn Nhật đang truy lùng, bọn trong làng xã thù địch với họ nhà mình sẵn sàng tố cáo để chúng bắt em. Nhưng... - Thiệp rút con dao nhọn ra và nói tiếp - Em sẽ quyết sống chết với chúng nó, không dễ gì chúng nó đụng đến em. Em phải ra đi. Anh ở nhà cùng các chị lo liệu hết thấy.
   
                 Hai anh em cùng khóc trước vong linh người mẹ hết mực đảm đang mọi việc trong gia đình vào thời kỳ sa sút. Người cha là một nhà nho nghèo, có tinh thần yêu nước, dạy chữ Hán có tiếng trong vùng. Ông chỉ biết có chữ thánh hiền, còn gánh nặng gia đình thì đè lên hai vai người vợ tần tảo nuôi bốn người con trai ăn học nên người. Phát tính ngang bướng, nhưng sáng dạ. Năm mười sáu tuổi anh mới rời lưng trâu vì không học chữ Hán, trái với ý cha, anh chỉ ưng học Chữ quốc ngữ. Chỉ qua một năm học và kèm cặp riêng của thầy giáo, anh đã thi đỗ Sơ học yếu lược (tương đương với lớp 3 bây giờ) được vào hàng thứ hai ở hội đồng thi mở tại huyện Đại Lộc. Gia đình ngày càng sa sút, những sào ruộng ít ỏi phải bán dần đi. Anh bị ép phải cưới một người không ưa thích làm vợ. Cuộc tranh giành ngôi tiền hiền giữa họ anh và một họ lớn trong làng, cũng thêm một lý do thúc đẩy anh đăng tên vào thủy quân của Pháp từ năm 1939.
   
                 Sáu năm lênh đênh trên biển cả, từ lính thợ đến lính chiến của hải quân, trên những chiếc tàu vận tải quân nhu đến tàu tuần dương, anh đã đi đến nhiều bến bờ châu Á, châu Phi, qua tận đảo Rê-uy-ni-ông hay Ma-đa-gát-xca. Ở các hòn đảo này anh đã nghe nói đến ông vua và các chiến sĩ yêu nước Việt Nam bị đày ải ở đó. Anh đi đến các tô giới Pháp ở Thượng Hải, Thiên Tân, Quảng Châu. Anh trực tiếp gặp nhiều sĩ quan và lính Pháp, đã có thể phân biệt được ai là những người Pháp lịch sự ở chính quốc, ai là bọn thực dân độc ác ở thuộc địa. Trong các câu lạc bộ thủy thủ anh đã nghe nói đến bao điều, từ cộng sản đến xã hội, từ tự do đến cách mạng. Tàu vớt mìn As-tơ-rô-láp đi tuần tiễu trong Vịnh Bắc Bộ, từ đảo Pa-a-xên (Hoàng Sa) về Đà Nẵng đã bị máy bay Mỹ đánh chìm trên sông Hàn quê hương anh (1954). Anh được chuyển về Sài Gòn để tiếp tục đời làm lính.
   
                 Đảo chính Nhật (9-3-1945), anh trốn về quê, chứng kiến sự phá sản của gia đình từ sau khi cha mẹ qua đời - người em kế anh cũng phải đi lính thủy cho Pháp, lúc bấy giờ cũng phải bỏ trốn như anh, không may đã bị Nhật bắt đưa đi giam giữ tại U Đon, bên Xiêm, cho đến ngày chúng đầu hàng quân Đồng Minh.
   
                 Không chịu nổi cảnh sống ngột ngạt ở quê nhà, đêm hôm ấy từ biệt người anh cả, anh ra đi trên chiếc ghe bầu qua nhiều tỉnh đến tận Sài Gòn. Loanh quanh, luẩn quẩn rồi không biết làm gì nữa, anh lại quay trở về nhà. Lúc ấy làng nhỏ Trung Sơn của anh cùng cả dân tộc vùng lên tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. Đầu tháng 9, khi thành lập Ủy ban Cách mạng của làng anh, gia đình họ Nguyễn Bá có ba người được đề cử tham gia chính quyền: người anh cả Nguyễn Bá Trình làm Phó Chủ tịch, Nguyễn Bá Phát, Ủy viên quân sự, chị Nguyễn Thị Hợi, Ủy viên cứu tế. Nguyễn Bá Phước sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh được thả về, làm trung đội trưởng, người em út Nguyễn Bá Ninh, làm liên lạc cho dân quân tự vệ làng Trung Sơn.
   
                 Nguyễn Bá Phát được học lớp “binh bị tổng trong thời gian được am hiểu nhiều, có thể điều khiển được đoàn vũ trang làng”. Giấy chứng nhận đề ngày 22 tháng 9 năm 1945 do tổng Thái Hòa, huyện Hòa Vang, có đóng dấu “Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh)”. Bằng cấp ấy nay vẫn còn đây.
   
                 Không ai ngờ lớp học quân sự cách mạng đó đã vỡ lòng cho Nguyễn Bá Phát trong sự nghiệp quân sự hơn một phần ba thế kỷ của anh. Cũng không ai ngờ bốn anh trai và những người con gái trong gia đình họ Nguyễn Bá, sau cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc, đến năm 1975, đã có thể có mặt đông đủ tại làng nhỏ Trung Sơn, nay là Hòa Liên, huyện Hòa Vang.
   
                 Bốn người con trai đã sớm tham gia quân đội nhân dân ngay sau tổng khởi nghĩa hay vào lúc toàn quốc kháng chiến chống Pháp (12-1946). Đảng và quân đội đã giáo dục đào tạo họ thành những cán bộ cao cấp của quân đội. Người anh cả, Nguyễn Bá Trình, người em kế, Nguyễn Bá Phước đều là đại tá, người em út, Nguyễn Bá Ninh, trung tá. Cả ba người đã vào Nam chiến đấu từ trước năm 1960. Riêng Nguyễn Bá Phát, phụ trách Sư đoàn trưởng, đã chuyển qua tham gia thành lập Quân chủng Hải quân nhân dân và trở thành người Tư lệnh Hải quân với quân hàm Thiếu tướng, có lúc đã kiêm Tư lệnh Quân khu Đông Bắc.
   
                 Hai người chị Nguyễn Thị Hạt và Nguyễn Thị Hợi, sau khi tham gia cuộc kháng chiến lần thứ nhất đã ở lại trong vùng địch để chống Mỹ. Là cơ sở mật suốt hơn 20 năm trời của cách mạng, các chị đã qua nhiều nhà lao, bị tra tấn khủng khiếp, vẫn giữ được lòng trung thành với dân tộc. Cả hai chị đã được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, được hưởng chính sách đãi ngộ của Nhà nước. Hai chị đều đã trên dưới tám mươi tuổi rồi.
   
                 Thật là thiếu sót nếu không ghi lại ở đây mẫu chuyện về người nữ dân quân đưa đò trên sông Trường Định. Đầu năm 1949, sau trận thắng địch rất lớn trên đèo Hải Vân, cả trung đoàn chủ lực của ta đã bị địch chặn bít tất cả đường về, đường lui. Chỉ còn con đường sống là một rút qua sông Trường Định cắt ngang vùng địch chiếm, lợi dụng sơ hở giữa các bót, tranh thủ sự giúp đỡ của nhân dân. Nhưng làm sao có thuyền chở cả trung đoàn qua sông dưới làn đạn pháo của địch? Trong cơn hiểm nghèo, ngàn cân treo đầu sơi tóc đó, có hai người nữ dân quân đã đến gặp người chi huy nhận “mệnh lệnh” đầy nghĩa, đầy tình. Ngay trong đêm khủng khiếp này họ đã cùng với các cán bộ địa phương khác, huy động đủ ghe thuyền đưa bộ đội qua sông an toàn. Sau đó họ đã dẫn trâu đi dẫm cho nát con đường bộ đội đã đi qua, để che mắt địch. Chiến công cao cả đó của nhân dân hai xã Hòa Liên, Hòa Hiệp, không bao giờ phai mờ trong lòng những người lính Trung đoàn, mà người chỉ huy là Nguyễn Bá Phát. Còn hai cô gái đưa thuyền trên sông Trường Định là Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Thị Tần. Liên là con gái út trong gia đình họ Nguyễn Bá, một gia đình lực lượng vũ trang cách mạng khá điển hình.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 10:35:29 PM
II

                 Quân đội nhân dân anh hùng của chúng ta có nhiều tướng lĩnh tài ba. Trình độ và sự am hiểu hạn hẹp chỉ cho phép tôi nghĩ đến các vị tướng nổi tiếng như Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Hoàng Minh Thảo, Trần Văn Trà, Nguyễn Chánh... và bao nhiêu vị tướng nữa ở Bộ Tổng tham mưu, ở các Quân đoàn và Quân khu. Họ xuất thân từ Các tầng lớp xã hội khác khác nhau, đến với cách mạng và quân đội bằng những con đường thích hợp khác nhau. Có một nét chung là trong những bước đi ban đầu của sự nghiệp quân sự, phần đông họ thường chưa đi qua một trường lớp quân sự chính quy nào. Rất tiếc là đến bây giờ chưa có những công trình khoa học nghiên cứu về sự hình thành nhân cách, bản lĩnh, đức độ và tài năng của các vị tướng đã từng là niềm tự hào của dân tộc, của quân đội chúng ta.

                 Trong lĩnh vực này, cho phép tôi suy nghĩ đôi nét về một vị tướng ở cấp chỉ huy Quân chủng, Quân khu: đồng chí Nguyễn Bá Phát, một người lính của quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng. Được sống bên anh trong một thời gian khá dài đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, thực tiễn sống và chiến đấu của người chiến sĩ này, luôn đặt trong tôi một câu hỏi: vì sao một người nông dân ít học ở làng Trung Sơn, một người lính thủy trong hải quân Pháp (làm bồi bàn là chủ yếu), một người chỉ huy dân quân ở xã ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, lại có năng khiếu, có tài nghệ về quân sự như vậy?
   
                 Rất may mắn, người viết bài này đã có trong tay hầu hết các quyết định viết bằng tay hay đánh máy hoặc in bằng ty-pô, trên mảnh giấy nhỏ đã sử dụng một mặt hay trên bìa cứng... bổ nhiệm anh chỉ trong chưa đầy một năm qua nhiều chức vụ khác nhau: chỉ huy đội thủy quân lục chiến mặt trận bờ biển nam Qui Nhơn. Phòng tác chiến quân sự Khu 5 kiêm Ban chỉ huy Thủy đội Bạch Đằng, Chỉ huy trưởng Mặt trận đông bắc Buôn Ma Thuột, chỉ huy mặt trận toàn tỉnh Bình Định và An Khê. Tham mưu trưởng Đại đoàn 23 rồi Chỉ huy phó mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng.
   
                 Thời ấy, anh chưa qua một trường lớp chính quy nào, nhưng anh đã được Đảng và quân đội đưa vào cuộc thử thách đầy căng thẳng ở khắp các mặt trận từ Nha Trang đến Buôn Ma Thuột. Sự đa dạng về chức vụ đưa lại cho anh sự phong phú về kinh nghiệm chiến đấu, tri thức quân sự, khả năng chỉ huy.
   
                 Người đội viên của thủy đội Bạch Đằng (được thành lập vào tháng 9 năm 1945) đã tham gia cuộc tiến công tiêu diệt quân Nhật cố thủ trong nhà băng Đông Dương ở Qui Nhơn. Vốn sáng mắt, sáng lòng, người lính thủy của quân đội cách mạng đã cùng một số anh em lính thủy khác, cũng xuất thân từ nhân dân lao động, với tinh thần tích cực tiến công tiêu diệt địch, đã đề xuất phương án khá táo bạo. Hồi ấy ta mới vừa lấy được của Pháp một khẩu pháo 75 ly không có hộp kim hỏa, không có máy ngắm, làm thế nào có thể bắn được? Những người bạn và anh Phát đã đề nghị cứ lắp đạn vào pháo, dùng búa đóng đinh vào hột nổ. Không có máy ngắm thì lấy mục tiêu bằng cách nhìn thẳng qua nòng pháo. Sau nhiều lần điều chỉnh, phương pháp này đã đạt kết quả. Phòng Chỉ huy của địch trong nhà băng bị bắn thủng. Cả đơn Vị Nhật đã đầu hàng.
   
                 Các vị lãnh đạo của Khu 5 và mặt trận đã nhanh chóng phát hiện anh như là một nhân tố mới, và đề bạt anh lên thay cho những người đang chỉ huy. Những anh em này đã từng có những chức vị trong hải quân Pháp. Họ đã vui vẻ nhường quyền chỉ huy Thủy đội Bạch Đằng cho anh.
   
                 Nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, xuất hiện trên hầu hết các mặt trận, anh đã được thuộc quyền chỉ huy của nhiều vị lãnh đạo, chỉ huy có tài như Nguyễn Sơn, Cao Văn Khánh, Nguyễn Chánh, Trần Lương. Anh đã được tiếp xúc hay cộng tác với nhiều vị chỉ huy từ nhiều miền của đất nước, thời Nam tiến đã dừng lại ở Khu 5, như các đồng chí Nam Long, Vi Dân, Đàm Quang Trung, Trương Cao Dũng. Các anh đã truyền cho anh Phát không chỉ hơi thở của cuộc chiến đấu mà còn giúp cho anh những tri thức cơ bản về chiến thuật và chiến lược của quân đội cách mạng.
   
                 Khi nhận nhiệm vụ chỉ huy đánh địch ở đông bắc Buôn Ma Thuột, anh đã thấy phần nào âm mưu chính trị và quân sự của địch ở Tây Nguyên. Vào thời điểm đó ngày 5 tháng 6 năm 1946, khi Bác Hồ và phái đoàn ta sang Pháp để tiếp tục đàm phán tìm ra một giải pháp cho vấn đề Việt Nam trên bàn hội nghị, thực dân Pháp với thủ đoạn “việc đã rồi”, đã tập trung quân tiến công theo trục đường 14 và đường 19 kéo dài, chiếm thêm đất đai, âm mưu nắm đồng bào các dân tộc, thực hiện chính sách chia để trị. Vì vậy, anh Phát đã cùng anh Hùng Việt, chỉ huy phó, dựa vào sự hiểu biết kỹ thuật về mìn của một số anh em quân giới và những máy móc của cán bộ và chiến sĩ đang dùng mìn đánh địch, để rút ra những bài học quý về địa lôi chiến kết hợp với bắn tỉa để đánh địch có hiệu quả. Kinh nghiệm của nhân dân miền núi, dùng bẫy thò giết thú rừng cũng được sử dụng. Mặt trận đông bắc Buôn Ma Thuột đã thu được hiệu quả chiến đấu rõ nét, kìm chân địch, tiêu hao được lực lượng, chặn được chiến thuật “tằm ăn lá dâu” của địch. Cấp trên khen ngợi những thắng lợi thu được trên mặt trận do Nguyễn Bá Phát và Hùng Việt phụ trách.
   
                 Có những gì thu được đó, anh đã phải trải qua thất bại. Như khi chưa chuẩn bị, nghiên cứu tình hình địch chưa kỹ, địa hình, đường sá chưa thông thuộc, đã vội đưa cả Tiểu đoàn đi đánh địch mới co cụm lại. Tất nhiên bộ đội đi lạc đường, đến sáng mới tới mục tiêu, lại rơi ngay vào giữa đội hình trú quân của địch, chiến đấu trong điều kiện bất lợi, cán bộ và chiến sĩ ta hy sinh rất nhiều. Bài học ở Plei Trung nhớ đời với anh Phát, mặc dù trận đó do Tiểu đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy.
   
                 Người chỉ huy trẻ tuổi cũng chứng kiến nhiều cảnh tan vỡ mặt trận, bộ đội rút lui chạy dài trước mũi xe tăng, cơ giới địch, nên đã bị thiệt hại nặng nề, tan rã từng đơn vị như ở Nha Trang hay trên đường quốc lộ 21. Đến khi do tương quan lực lượng không có lợi cho ta, mặt trận đông bắc Buôn Ma Thuột bị chọc thủng, Nguyễn Bá Phát đã bình tĩnh nắm đơn vị, cắt rừng và rút lui. Dựa vào sự giúp đỡ của đồng bào các dân tộc, đơn vị đã đưa cả lực lượng cán bộ dân - chính - Đảng của địa phương trong đó có nhiều nhân sĩ nổi tiếng như Y Ngông Niêk Đam, Y Tlam vượt qua hàng trăm cây số. Khi qua sông A Dưng, nước lớn, anh em đã làm bè chuối để đến căn cứ an toàn. Liền sau đó chấp hành mệnh lệnh của Bộ chỉ huy Khu 5 anh đã đưa đơn vị quay ngược lên đánh địch đang tràn từ một hướng khác, Pleiku xuống An Khê theo đường 19...
   
                 Từ người lính của hải quân Pháp, đến người lính thủy của quân đội cách mạng, từ người bồi bàn trên tàu chiến Pháp, đến người chỉ huy cũng chân đồng vai sắt như anh em chiến sĩ, người nông dân Nguyễn Bá Phát mặc nhiên thấy sự đổi đời. Tinh thần anh dũng, năng nổ chiến đấu công tác của anh bắt nguồn từ đấy.
   
                 Lại có người đi trước giáo dục cho anh trên tiền tuyến. Trung đoàn trưởng xuất thân công nhân, Vi Dân đã tuyên truyền cho anh về Đảng. Chính ủy Nguyễn Minh Thống, người đã gặp anh trong lúc đi trốn trước sự truy nã của Nhật, đã từng chỉ cho anh con đường mà anh chưa đi được, lên với những người khởi nghĩa Ba Tơ, Quảng Ngãi. Bây giờ đã kết nạp anh vào Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, tên gọi tổ chức của Đảng ra hoạt động công khai sau khi rút lui vào bí mật để mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất vào khoảng năm 1946 - 1948.
   
                 Tất cả đều giúp cho anh trưởng thành từng bước về mặt chính trị và tư tưởng. Tri thức của anh về chiến thuật, chiến lược được tích lũy dần trong thực tiễn chiến đấu.
   
                 Khi nhận nhiệm vụ Tham mưu trưởng Đại đoàn 23 rồi chủ nhiệm phá hoại của Ủy ban kháng chiến miền Nam Trung Bộ, anh đã có dịp về bố trí kế hoạch chuẩn bị phá hoại ở Quảng Nam và Đà Nẵng. Có một trí thức nghe giới thiệu về anh, không thể nào tin tưởng nổi sự tiến bộ nhanh chóng của anh đã thốt lên: “May lắm Nguyễn Bá Thiệp (tên cúng cơm của Nguyễn Bá Phát) cũng chỉ làm được Tham mưu trưởng Trung đội là cùng”.
   
                 Tháng 12 năm 1946, khi trở về quê hương chiến đấu bảo vệ nơi chôn nhau cắt rốn của mình, anh được cử làm Chỉ huy phó trong Ban chỉ huy mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng do anh Đàm Quang Trung làm chỉ huy trưởng. Đây là một mặt trận lớn có 2 Trung đoàn Vệ quốc đoàn 93 và 96, hàng vạn dân quân tự vệ đang đối đầu với một vạn quân tinh nhuệ Pháp được vũ trang đầy mình. Trên quê hương anh sẽ lớn lên mãi với quân đội và nhân dân.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 10:38:28 PM
III

                 Khác với những lần nhận nhiệm vụ trước đây, lần này Nguyễn Bá Phát được báo phái đến Bộ chỉ huy Khu 5 để gặp các đồng chí Nguyễn Chánh - Chính trị ủy viên, Cao Văn Khánh - Khu trưởng. Thị xã Quảng Ngãi lúc bấy giờ là trung tâm hành chính quân sự của Khu 5 rất đông vui, nhiều bộ đội, nhiều đoàn quân được điều động đi khắp các mặt trận đang sôi động, đều qua lại ở đây.

                  Các đồng chí trong Bộ chỉ huy Khu 5 niềm nở đón tiếp anh. Chính trị ủy viên Nguyễn Chánh đã biểu dương người cán bộ xông xáo, năng động trên khắp các chiến trường và chỉ rõ cho anh thấy nhiệm vụ quan trọng cùng anh Đàm Quang Trung chỉ huy một địa bàn chiến lược vào bậc nhất Khu 5: Quảng Nam - Đà Nẵng. Đồng chí Chính trị ủy viên nói:
   
                  - Anh được về Quảng Nam - Đà Nẵng khác nào như hổ được thả về rừng, tha hồ mà đánh địch, nhưng không nên chủ quan, tình hình gay go đó. Nó vừa mới tăng quân. So sánh lực lượng chủ quan ta và địch, thì chúng mạnh hơn ta gấp 4-5 lần. Nhưng ta có lực lượng dân quân tự vệ, có nhân dân, thế mạnh ta hơn nó.
   
                  Đồng chí Khu trưởng Cao Văn Khánh cũng nhắc nhở người chỉ huy mới trưởng thành vượt bậc không đầy một năm qua. Tưởng anh là thủy quân của Pháp tất biết được nhiều tiếng Pháp, cho nên đã nói với anh một câu rất dài bằng tiếng nước ngoài mà anh chỉ nghe lõm bõm vài chữ, không hiểu được gì nhiều. Nhưng cả ba người đã vui vẻ chấm dứt cuộc trao đổi thân mật, thực ra đối với anh đó là mệnh lệnh chiến đấu mà anh phải chấp hành nghiêm túc.
   
                  Liền sau đó đồng chí Nguyễn Chánh đã đích thân đưa anh qua gặp đồng chí Phạm Văn Đồng mà cách đây không lâu đã từ Việt Bắc vào làm đại diện Chính phủ ở miền Nam Trung Bộ. Sau khi bắt tay anh rất chặt, đồng chí đại diện Chính phủ với giọng Quảng Ngãi sang Sảng đã nói với anh:
   
                  - Tôi đã gửi cho anh một bức thư, anh đã nhận được chưa?
   
                  - Thưa anh chưa - Anh trả lời bồi hồi xúc động vì sự quan tâm của đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Chính phủ ở miền Nam Trung Bộ lúc bấy giờ.
   
                  - Thư sẽ đến, bây giờ chúng ta có dịp nói chuyện trực tiếp với nhau. Vừa qua tôi đã đi kiểm tra tình hình ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Chúng tôi thấy cần bố trí anh về đó, ở đó rất thích hợp với anh, quen đất, quen người.
   
                  Vị đại diện Chính phủ nói rất ít lời đủ làm cho anh hiểu rõ tầm quan trọng của Quảng Nam - Đà Nẵng là một cảng lớn mà địch cố chiếm cho kỳ được để làm đầu cầu mở rộng chiến tranh ra khắp Trung Trung Bộ, sang cả Hạ Lào. Cuộc chiến đấu sẽ rất ác liệt. Đồng chí cũng cho biết địch đã gây ra những vụ thảm sát đẫm máu ở Hải Phòng và Hà Nội. Ngay tại Đà Nẵng chúng không để ta yên. Cuộc kháng chiến của ta sẽ nổ ra trong những ngày sắp đến. Tình hình rất khẩn trương.
   
                  Những cuộc tiếp xúc ngắn ngủi, những lời đưa tiên ân cần và nhất là những chỉ thị rất cô đọng ý nghĩa đó đã thúc giục anh biết chừng nào. Dọc đường anh đã nhanh chóng xem lại việc bố trí phá hoại các cây cầu lớn, việc mà anh đã làm trong chuyến đi công tác mới đây với các anh Nguyễn Ích Cam, Thái Văn Túc, chỉ huy các đơn vị công bình ở địa phương. Anh thấy hài lòng. Cả phía bắc tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng đang sôi sục chuẩn bị kháng chiến, đã cuốn hút anh lao vào công việc.
   
                  Anh gặp ngay các đồng chí Đàm Quang Trung và Trương Quang Giao, Chỉ huy trưởng và Chính trị ủy viên của mặt trận để báo cáo và để nắm tình hình, kế hoạch tác chiến. Đồng chí Trương Quang Giao là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẳng, người chiến sĩ cách mạng tham gia lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Ba Tơ ở Quảng Ngãi, đã để lại cho anh ấn tượng khó quên. Giọng nhỏ nhẹ, từ tốn nhưng nhận định và sự phân tích của người Bí thư rất sâu sắc về truyền thống cách mạng của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng, về tinh thần chiến đấu của họ, nếu được phát huy sẽ là sức mạnh để đánh bại quân thù.
   
                  Nguyễn Bá Phát sang trụ sở Ủy ban hành chính thành phố Đà Nẵng (tại tòa Đốc lý cũ) để thăm anh Trần Đình Tri, Chủ tịch. Anh Tri đã thiết cơm anh. Bát đĩa rất sang trọng do bọn Pháp để lại, nhưng thức ăn thì chỉ có ít cá và canh rau muống. Nhưng bữa ăn đạm bạc đó thật có ý nghĩa và thắm tình quân dân khi chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.
   
                  Ngay hôm sau, anh Đàm Quang Trung đã đưa anh đi kiểm tra tình hình trên thực địa. Bọn Pháp vừa được tăng viện thêm 2 trung đoàn Lê dương. Giữa tháng 12 năm 1946, chúng lại đưa cả cơ quan chỉ huy hành quân do đại tá La-rốt-cơ (Laroque) từ Sài Gòn ra Đà Nẵng. Chúng gây xô xát với quân đội và nhân dân ta ở một số nơi trong thành phố. Tình hình đang đi đến chỗ bùng nổ.
   
                  Ở đèo Hải Vân, hai anh gặp anh Giáp Văn Cương, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 vừa ở Quảng Ngãi ra. Vào trung tâm thành phố các anh đi thăm các Tiểu đoàn 17 và 18, do các anh Lê Kích và Võ Quang Hồ chỉ huy. Làm nhiệm vụ tiếp phòng quân, các anh đều mang quân hàm thiếu tá. Cán bộ và chiến sĩ của hai Tiểu đoàn này phần đông là học sinh, thanh niên thành thị đã Nam tiến chiến đấu ở các mặt trận phía Nam. Đến lúc bấy giờ thì kế hoạch tác chiến của bộ đội, kế hoạch phá hoại, dựng chướng ngại vật của dân quân và đồng bào đã hoàn chỉnh đâu vào đấy.
   
                  Anh Phát chú ý nhất là kế hoạch chủ động đánh địch của ta, đưa các tổ mang theo mìn, chất nổ đêm đêm bí mật vào ém quân sẵn trong các mục tiêu quan trọng, kể cả nơi để máy bay địch ở sân bay Đà Nẵng, để nắm tình hình khi có hiệu lệnh chung, là có thể bất ngờ diệt địch ngay. Tình báo ta cũng đã bố trí người vào làm trong các cơ quan chỉ huy của địch, sẵn sàng trừng trị bọn đầu sỏ.
   
                  Lực lượng dân quân tự vệ do anh Lê Tiền - Thành đội trưởng, chỉ huy đã phối hợp với bộ đội, nhận những nhiệm vụ đánh địch sâu trong các cụm đóng quân ở vùng Trẹm (tên gọi vùng từ bưu điện ra tận bờ biển).
   
                  Người phó chỉ huy mặt trận với kinh nghiệm vốn có không quên góp ý kiến đánh địch ở sân bay. Không nên bao vây bắn vào địch, và bất ngờ cho người vào diệt tên lính gác mở đường cho đơn vị đột nhập vào trong, không cho chúng kịp trở tay. Anh Phát cũng đề nghị với Ban chỉ huy mặt trận nên chọn những chỗ địch sơ khoáng nhiều như sân bay quá rộng. Nên chọn nơi tập trung của Tây “xi-vin” ở gần ngã năm để đánh úp nếu chúng tiến công từng bộ phận các vị trí của ta. Anh đã tỏ rõ một tinh thần năng nổ tiến công tiêu diệt địch.


*
*   *

                 Vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng với quân đội, với sự nghiệp kháng chiến đã được khẳng định ngay từ đầu. Với đường lối chủ trương của Trung ương, của các cấp Khu, tỉnh. Nhưng ở cơ sở lúc bấy giờ tổ chức của Đảng chỉ mới có ở cấp trung đoàn một vài chi bộ, hay lẻ tẻ ở cấp tiểu đoàn. Cho nên vai trò của các Ban chỉ huy, nhất là của thủ trưởng quân sự của đơn vị, hiểu rõ nắm được các quan điểm chỉ đạo của Đảng về chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích, dũng cảm kiên cường, năng nổ sáng tạo trong chiến đấu, rất là quan trọng. Nguyễn Bá Phát bắt đầu có những phẩm chất đó qua các mặt trận Tây Nguyên, Bình Định, An Khê và nay ở chính quê hương mình.
   
                  Nói như vậy không phải là anh không có khuyết điểm, có khi là tác phong anh có lúc nóng nảy, chưa kịp nắm hết những vấn đề của chiến tranh nhân dân như quan hệ với địa phương, xây dựng cơ sở nhân dân trong vùng địch, điều này cũng dễ hiểu thôi trong thời kỳ mới bắt đầu kháng chiến. Nhưng trong thành tích tập thể, phần của anh đóng góp là quan trọng. Nhất là khi anh có điều kiện để phát huy hết khả năng và tính cách của mình, khi tình hình yêu cầu của những người như anh, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 10:41:20 PM
IV

                 Ngày 19 tháng 12 năm 1946 chiến sự bùng nổ. Đến 20 giờ đêm đã có điện của Bộ chỉ huy Khu 5 cho nổ súng. Cả hai anh Nguyễn Chánh và Cao Văn Khánh có mặt ở đầu dây nói. Túc trực ở chỉ huy sở tại ngã tư Yên Khê, trong các doanh trại của Nhật để lại, Các đồng chí trong Ban chỉ huy mặt trận (lúc bấy giờ anh Huỳnh Ngọc Huệ làm chính trị viên), anh Trương Quang Giao - Bí thư Tỉnh ủy. Có cả anh Trần Đình Tri - Chủ tịch và Vũ Khương Ninh - Bí thư Thành ủy Đà Nẵng. Đêm ấy vào mùa đông trời se se lạnh, nhưng ai cũng nóng ran lên khi biết rằng Trung ương Đảng đã có chỉ thị. Đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng Chỉ huy đã cho lệnh đánh. Anh Hà Văn Lâu - Trung đoàn trưởng Trung đoàn Trần Cao Vân, Huế, chốc chốc gọi điện vào hỏi Đà Nẵng đã đánh chưa, Huế đã đánh vào nhà hàng Mo-ranh, nơi đóng quân của Pháp, làm cho mọi người thêm bồn chồn sốt ruột.

                   Giờ nổ súng quy định cho toàn thành phố là 2 giờ ngày 20 tháng 12 năm 1946. Hiệu lệnh là tiếng súng tiến công sân bay của Tiểu đoàn 19 và tiếng bom nổ phá nhà máy điện (Sở Điện lực, đường Phan Đình Phùng hiện nay). Anh Trần Thùy, Trung đoàn trưởng 96 được chỉ thị đến sân bay để tổ chức chiến đấu nhưng lại về Điện Bàn đưa gia đình đi tản cư. Mệnh lệnh chiến đấu không được thi hành, mặc dù toàn thành phố đã lên vị trí chiến đấu, thấy sáng chưa có lệnh nổ súng bộ đội phải rút ra. Nhân dân đã đốn cây phá đường, làm chướng ngại vật. Cuộc tiến công được chuẩn bị sẵn sàng khá chu đáo đã bất thành.
   
                   Anh Trần Thùy bị cách chức, anh Phát, phó chỉ huy được cử kiêm nhiệm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96, anh có điều kiện để thực hiện tốt các chỉ thị, mệnh lệnh của Đảng và quân đội, sống chết với quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng.
   
                   Người chỉ huy có bản lĩnh trong những tình huống khó khăn, phức tạp nhất của cuộc chiến đấu phải bình tĩnh vững vàng trong cương vị của mình, đưa ra những mệnh lệnh đúng đắn, phù hợp với tình hình, vừa có sức mạnh quyền lực, vừa có khả năng thuyết phục mọi người chấp hành.
   
                   Nguyễn Bá Phát - Trung đoàn trưởng mới của Trung đoàn 96, đã có ít nhiều phẩm cách của người chỉ huy đó ngay từ những trận chiến đầu tiên.
   
                   Việc ta bỏ lỡ thời cơ chủ động đánh phủ đầu địch tiêu hao và tiêu diệt một phần sinh lực của chúng, đã làm ảnh hưởng lớn đến tinh thần hăng hái đánh và thắng của bộ đội và nhân dân ta, được chuẩn bị đầy đủ, động viên và tổ chức tốt. Nó làm giảm hẳn lòng tin ở chỉ huy cấp trên. Tai hại nhất là nó đã giúp cho địch xoay được tình thế chuyển sang tiến công ta trên các hướng phía nam và phía tây thành phố, hòng đánh bật ta ra khỏi Đà Nẵng và nhanh chóng ứng cứu cho đồng bọn ở sân bay đang ở trong thế bị bao vây và tiêu diệt. Ban chỉ huy Trung đoàn cũ không nắm trọn quyền chỉ huy, nhưng các đơn vị Tiểu đoàn 17, 18, dân quân tự vệ đã chủ động chiến đấu hết sức ngoan cường, nhiều phân đội nhỏ đã hy sinh để chặn bước tiến của địch, có đơn vị bố trí sát nách địch đã đánh đến viên đạn cuối cùng, như tiểu đội anh Cầy ở Đại đội 3, Tiểu đoàn 17. Có đơn vị giành giật với địch nhiều lần một mục tiêu quan trọng, như Đại đội 4 của hai anh Vị và Duyên thuộc Tiểu đoàn 18 ở ga Đà Nẵng. Nhân dân trên các tuyến đường đã đem cả bàn ghế, giường tủ, chặt đốn cây làm chướng ngại vật, lấy gạch đá làm ụ chiến đấu.
   
                   Nhưng rõ ràng cả Trung đoàn chưa hiệp đồng được chiến đấu trong lúc bị tiến công với một lực lượng tinh nhuệ áp đảo của địch. Nguyễn Bá Phát đã nhận trách nhiệm chỉ huy Trung đoàn 96 trong tình hình khẩn trương đó và trong tay không có phương tiện chỉ huy nào ngoài 2 cán bộ giúp việc, một là người viết bài này và một liên lạc viên.
   
                   Trong lúc Bộ chỉ huy mặt trận và các đồng chí lãnh đạo ở tỉnh đã chuyển vị trí về phía nam sông Cẩm Lệ, anh vẫn ở lại chỉ huy sở cũ để cố tìm cách liên lạc với các đồng chí khác trong Ban chỉ huy và các tiểu đoàn. Cho đến khi thấy đầu máy xe lửa cuối cùng ra khỏi ga Đà Nẵng chạy về hướng cầu Thủy Tú và nghe tiếng bom nổ phá cầu này, anh Phát mới chuyển bộ phận chỉ huy theo anh ra ngay ngã tư Yên Khê để tiện liên lạc với các đơn vị đang đánh nhau với địch trong thành phố.
   
                   Liền sau đó dưới làn đạn đại bác của địch, anh đã xuống ngay Tiểu đoàn 18 gặp Tiểu đoàn trưởng Võ Quang Hồ. Hai người cùng đi với nhau xuống Đại đội đang giành giật với địch ở ga Đà Nẵng. Sự xuất hiện của hai vị chỉ huy đã cổ vũ tinh thần cán bộ và chiến sĩ giữ vững trận địa. Và Trung đoàn trưởng đã đi hết đơn vị này qua đơn vị khác cùng các Tiểu đoàn trưởng tổ chức chiến đấu.
   
                   Đến trưa hôm sau, ngày 21 tháng 12 năm 1946, anh Phát triệu tập hội nghị các Ban chỉ huy Trung đoàn tại Yên Khê, trong lúc tiếng súng đang nổ ran trên các hướng của thành phố. Mệnh lệnh đầu tiên các anh là điều chỉnh lại đội hình của Trung đoàn, phân công lại các Tiểu đoàn cho hợp lý hơn, lên phương án lập tuyến phòng ngự tiếp theo để các đơn vị có thể chủ động lui về làm nhiệm vụ mới, không lúng túng bị động phải chạy dài.
   
                   Mệnh lệnh thứ hai của anh là trong chiến đấu ban chỉ huy, trước hết là cấp trưởng, phải ở ngay với đơn vị có nhiệm vụ chiến đấu quan trọng nhất, ác liệt nhất. Trung đoàn trưởng nói:
   
                   - Muốn đánh được giặc phải thấy mặt thằng giặc, phải cùng chiến sĩ ở vị trí tiền tiêu. Trước mặt các anh tôi xin hứa sẽ làm như vậy.
   
                   Những lời giản dị ấy được nêu lên như một nguyên tắc chiến đấu. Các đồng chí Tiểu đoàn trưởng đã thấy anh trong những ngày sau đó đã hành động như anh nói lúc bấy giờ.
   
                   Sau ba ngày bị địch tiến công quyết liệt nhưng các đơn vị đã đánh trả có kết quả bảo tồn được lực lượng rút về tuyến phòng ngự mới mà Trung đoàn trưởng đã quy định từ Đa Phước, Thanh Khê (Tiểu đoàn 17). Bộ phận chỉ huy tiền phương của Trung đoàn ở Hòa Mỹ ngay sau lưng Tiểu đoàn 19. Suốt nửa tháng ta và địch giằng co trên trận địa hai bên chỉ cách nhau chừng 100 - 150 mét. Ban đêm theo chỉ thị của Trung đoàn trưởng, các tiểu đoàn cho những phân đội nhỏ luồn sau lưng địch để đánh vào ga, chợ Cồn hay Cổ Viện Chàm, sân bay Đà Nẵng.
   
                   Toàn Trung đoàn đứng vững trên tuyến phòng ngự mới và người Trung đoàn trưởng đã bước đầu xác lập được vị trí chỉ huy của mình, sẵn sàng cùng đơn vị đến những thử thách ác liệt hơn. Một sự cổ vũ lớn đối với anh Phát: Khoảng đầu tháng 1 năm 1947, đồng chí Nguyễn Chánh, Chính trị ủy viên Khu 5, đã ra tận Hòa Mỹ kiếm tra Trung đoàn 96. Anh đã uốn nắn tư tưởng phòng ngự nặng về trận địa, thiếu sự cơ động linh hoạt. Anh động viên anh Phát cố gắng phấn đấu để trở thành người đảng viên cộng sản. Anh chỉ thị cho các đảng viên ở Trung đoàn giúp đỡ và kết nạp anh Phát vào Đảng. Anh Phát phấn chấn với lời chỉ giáo động viên ấy.
   
                   Chính trị ủy viên ra về. Ngày 7 tháng 1 năm 1947, địch mở cuộc tiến công lớn đánh theo nhiều hướng, dọc bờ biển Hòa An, theo quốc lộ 1 có xe tăng yểm trợ nhằm đột phá vào Hòa Mỹ và từ sân bay lên Nghi An, Phước Tường nhằm chia cắt Trung đoàn ra nhiều mảnh. Đúng như anh Phát đã lưu ý Tiểu đoàn 18, địch cho một cánh quân lớn từ tàu chiến đổ bộ vào Đa Phước, bí mật men theo chân núi lên chiếm đèo Đại La. Đại đội cảnh giới bờ biển đã sơ suất để cho địch đột nhập vào đất liền từ tờ mờ sáng không hay biết, khiến cho cả Trung đoàn đã trong thế bị bao vây, bị tiến công nhiều mặt, có nguy cơ bị tiêu diệt.
   
                   Trong giờ phút gay go quyết liệt đó, Trung đoàn trưởng ra lệnh cho các Tiểu đoàn quyết tử giữ vững trận địa, không cho chúng tiến lên chiếm ngã ba Hòa Mỹ một địa điểm chiến lược, chia cắt Trung đoàn thành nhiều mảnh để tiêu diệt. Mặt khác, anh dùng một đại đội của Tiểu đoàn 18 làm dự bị đội chặn đánh địch đột phá vào trung tâm. Tiểu đoàn 19 đã quyết tử giữ Hòa Mỹ và đón đánh địch từ đèo Đại La đánh xuống sau lưng đội hình Trung đoàn. Anh em chiến đấu với một tinh thần dũng cảm tuyệt vời, khi hết đạn đánh giáp lá cà với địch bằng lưỡi lê, kiếm và báng súng.
   
                   Người Trung đoàn trưởng luôn có mặt tại nơi sôi động nhất, dựa vào tinh thần quyết tử của chiến sĩ để nêu lên khẩu hiệu động viên kịp thời: “cố gắng giữ vững trận địa đến chiều tối là địch thất bại không thể nào tiêu diệt ta”. Và mọi việc đã diễn biến theo ý chí kiên quyết và sáng suốt của người chỉ huy trung đoàn. Đến 16 giờ, Trung đoàn trưởng sau khi nghiên cứu trên bản đồ, ra lệnh cho một cán bộ đi xoi đường rút lui qua đèo Đồng Môn xuyên núi Khi Hai. Cuộc lui quân đã diễn ra trật tự, kỷ luật theo đội hình định sẵn. Trung đoàn trưởng là người đi sau cùng với đội hậu vệ và cho bắn một loạt súng cối vào địch ở đèo Đại La.
   
                   Vừa về đến nơi tập kết quân vào tờ mờ sáng, Trung đoàn trưởng đã kịp thời họp với các Tiểu đoàn trưởng dựa vào bản đồ và sự am hiểu thực địa, phổ biến kế hoạch phòng ngự đánh địch từ đèo Hải Vân qua Trường Định, Quan Nam (Tiểu đoàn 19) đến An Ngãi, Phú Thượng (Tiểu đoàn 18), từ Phú Hạ đến Thạch Nham, Túy Loan (Tiểu đoàn 17).
   
                   Thời gian này địch luôn sưu sách đánh vào các đơn vị của ta, nhưng không kết quả. Trong khi đó, ta đã tổ chức những đợt hoạt động sâu trong lòng địch. Bộ đội và dân quân mở những đợt quấy rối bắn tỉa địch hay cắt dây diện thoại phá hoại thông tin liên lạc của chúng. Tiểu đoàn 18 đã tiến công địch đóng trên đồi Đa Phước diệt 4 lều trú quân, có 4 tiểu đội địch. Trung đoàn trưởng cũng tham gia phục kích đánh mìn trên quốc lộ 1 ở Xuân Thiều. Ông đã cùng Tiểu đoàn trưởng Võ Quang Hồ nghiên cứu cách bố trí mìn trên đường bằng đầu đạn pháo, cho nổ ngòi nổ bằng điện bình ắc-quy. Kinh nghiệm này được đem áp dụng trong trận phục kích điển hình của Tiểu đoàn 19 ở Hải Vân ngày 28 tháng 2, phá hủy 8 xe địch, diệt khoảng 100 tên địch, thu nhiều súng có trung liên. Trận đánh thắng lớn đầu tiên của cả Trung đoàn.
   
                   Đến lúc này đã xác lập sự chỉ huy tập thể của Ban chỉ huy Trung đoàn (có đồng chí Nguyễn Hữu Thành - Chính trị viên và Bế Kim Doanh - Trung đoàn phó), Trung đoàn trưởng và các Tiếu đoàn trưởng đã mến phục và tin yêu lẫn nhau như anh em trong một gia đình, mà Nguyễn Bá Phát là người anh lớn mặc dù họ thuộc các thành phần xuất thân là công chức, có người xuất thân nông dân, cố nông hay trung nông. Cho đến hàng chục năm sau họ vẫn cùng nhau giữ những kỷ niệm đẹp đẽ trong đời cách mạng khi họ đã trở thành Thứ trưởng Bộ Thủy sản hay Đô đốc Hải quân, Thiếu tướng hay Đại tá ở Học viện Quân sự.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 10:43:03 PM
V

                 Cuộc chiến đấu quyết liệt giữa các Tiểu đoàn của Trung đoàn 96 ở ngã ba Hòa Mỹ và Rừng Cấm ngay gần đó, và quân đội Pháp mới được tăng cường lên đến khoảng 7.000 quân với sự phối hợp của không quân và hải quân. Cuộc chiến đấu ác liệt suốt cả ngày 7 tháng 1 năm 1947, đã đánh dấu một sự nỗ lực và tiến bộ rõ rệt của bộ đội ta. Tiến công chính diện và vu hồi theo 3 mặt nhưng quân Pháp đã bị chặn đứng lại, không tiêu diệt được lực lượng chính của quân ta, chúng cũng không đẩy lùi được Tiểu đoàn 17 trên chiến tuyến giữ các điểm cao Nghi An và Phước Tường.

                  Nguyễn Bá Phát đã luôn có mặt tại chỉ huy sở tiền phương ở Hòa Mỹ để phối hợp chiến đấu giữa Tiểu đoàn 18, Tiểu đoàn 19 và liên lạc với Tiểu đoàn 17. Ý đồ của Trung đoàn trưởng đã xác định rõ:
   
                  Các đơn vị phải quyết tử giữ vững dải phòng ngự của mình, dù phải hy sinh đến mấy cũng không cho quân Pháp đột phá vào trung tâm, chiếm ngã ba Hòa Mỹ. Phải tiêu hao lực lượng địch, kéo dài cuộc chiến đấu đến tối, để tổ chức cuộc rút lui, bảo toàn lực lượng, tiếp tục đánh lâu dài.
   
                  Quyết tâm này đã được các Tiểu đoàn trưởng Giáp Văn Cương và Võ Quang Hồ quán triệt, khi cùng đứng ở đại đội nhiều lần đánh giáp lá cà với địch. Không đủ súng đạn thì dùng lưỡi lê, mã tấu, khi địch tập trung hỏa lực đánh vào tuyến phòng ngự không hơn 1 ki-lô-mét. Đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu dũng cảm ngoan cường. Tiểu đội của Hoàng Khứng ba lần xung phong bằng lưỡi lê, mã tấu, lựu đạn, 3 lần đánh lui quân địch. Yểm hộ cho tiểu đội Hoàng Khứng, tiểu đội của Trương Công Hoành hy sinh đến người cuối cùng. Lần đầu tiên vai trò chiến đấu của Đảng ở tiểu đoàn thể hiện rõ nét. Trong những giờ phút chiến đấu căng thẳng nhất, chi bộ của Tiểu đoàn 19 họp chớp nhoáng. Bí thư là chính trị viên Nguyễn Văn Trình đã kiên quyết động viên đảng viên nêu gương oanh liệt dũng cảm: “Một là đánh lui địch giữ vững trận địa, hai là hy sinh vì Tổ quốc”. Bên phía Tiểu đoàn 17, nhiều chiến sĩ và cán bộ đã nhảy ra khỏi công sự giáp lá cà với địch. Đồng chí Võ Ngân, đại đội phó, một trí thức yêu nước trong giờ phút nguy kịch anh vẫn bình tĩnh chỉ huy, cùng anh em chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh.
   
                  Chính sự có mặt của các chỉ huy Trung đoàn và Tiểu đoàn ở ngay đầu tuyến chiến đấu đã cổ vũ động viên sức chiến đấu của Trung đoàn 96 được nhân lên gấp bội. Sự đoàn kết phối hợp chiến đấu giữa các tiểu đoàn khá chặt chẽ. Địch đã không đột phá vào sâu trận địa ta ở ngã ba Hòa Mỹ, phải dừng lại. Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát sát cánh cùng Tiếu đoàn trưởng Giáp Văn Cương ở ngay Đại đội 2, đã ra mệnh lệnh mới: “Địch dừng lại là để chuẩn bị những đợt công kích mới, dù phải hy sinh cũng không rời trận địa. Nếu kìm được chân địch một lần nữa, đến tối chúng ta sẽ rút lui an toàn. Chúng ta nhất quyết không lùi một bước”. Mệnh lệnh được viết ngay trên trận địa để truyền đi các tiểu đoàn khác. Và đúng như dự kiến, 15 giờ, địch tiếp tục những đợt xung phong mới. Cán bộ và chiến sĩ ta sẵn sàng đón địch bằng giáp lá cà. Từ công sự họ ném những trái lựu đạn cuối cùng rồi xung phong lên với mã tấu, giáo mác. Địch hoảng hốt tháo lui. Đến ngày hôm ấy, cuộc chiến đấu ở ngã tư Yên Khê đã kéo dài được hơn nửa tháng.
   
                  Ở mặt trận Nghi An, Phước Tường cũng vậy, ta chặn được bước tiến của địch, tiêu hao được một bộ phận sinh lực địch địch, bảo tồn được lực lượng của trung đoàn, giúp cho đồng bào ở ngoại vi thành phố tản cư có trật tự, cho các huyện khác của tỉnh có thời giờ tổ chức kháng chiến. Đồng chí Trung đoàn trưởng đã nhận định như vậy với hai đồng chí tiểu đoàn trưởng Giáp Văn Cương và Võ Quang Hồ và ra lệnh rút Trung đoàn về phía sau theo đường qua eo núi Phước Tường. Khi bóng đêm phủ trên khắp chiến trường, hai Tiểu đoàn 18 và 19 theo đội hình quy định sẵn đàng hoàng rút lui theo đường đèo Đồng Môn về phía tây. Một đại đội của Tiểu đoàn 17 do đồng chí Đoàn Phong làm đại đội trưởng từ phía Nghi An cũng được lệnh rút theo hai đơn vị tiểu đoàn bạn.
   
                  Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát cùng các phụ tá đi với đơn vị sau cùng. Khi trăng hạ tuần sáng vằng vặc thì đơn vị đã lên đến đỉnh đèo Đồng Môn. Trung đoàn trưởng ra lệnh cho khẩu đội cối 60 ly bắn vào quân Pháp đang nằm im thin thít ở chân đèo Đại La. Trong khi đó đại bộ phận của Tiểu đoàn 17 ung dung rời bỏ các trận địa trên núi Phước Tường rút về phía Thạch Nham - Túy Loan, phía bắc sông Cẩm Lệ, nối liền với tuyến phòng thủ mới của Trung đoàn chạy dọc theo chân núi Phước Tường ra đến Phú Hòa đường đèo Đại La đổ xuống Phú Hạ.
   
                  Ngay trong đêm, Tiểu đoàn 18 chiếm lĩnh vùng đất từ An Ngãi đến Tùng Sơn chặn đứng con đường tỉnh lộ từ Đà Nẳng lên Bà Nà, núi Chúa, trung tâm nghỉ mát nổi tiếng của Bà Nà bấy giờ vẫn còn nguyên vẹn. Đây cũng là vùng công giáo nổi tiếng đến lúc đó vẫn im lìm trong các khu nhà thờ cổ kính. Tiểu đoàn 19 làm cuộc hành quân xa hơn lên Quan Nam, qua sông Trường Định, Thủy Tú và đèo Hải Vân. Chỉ huy của sở tiền phương của Trung đoàn đóng ở Trúc Bàu. Ban chỉ huy dân quân tự vệ thành phố Đà Nẵng do anh Lê Tiền chỉ huy đóng ở Đông Sơn, An Lợi, thiết lập sự liên lạc chặt chẽ với bộ đội chủ lực.
   
                  Với kinh nghiệm bản thân trải qua trên các chiến trường Tây Nguyên và nhất là tiếp thu được sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Chính trị ủy viên Liên khu 5, Nguyễn Chánh, sau khi bố trí tuyến phòng thủ mới phía tây thành phố Đà Nẵng bên kia dãy núi Phước Tường, Nguyễn Bá Phát và các đồng chí tiểu đoàn trưởng không nằm yên. Trong lúc địch tranh thủ thời gian củng cố vùng mới chiếm được, thiết lập hệ thống cai trị mới, thì Trung đoàn 96, một mặt chống đỡ với các cuộc hành quân củng cố và mở rộng vùng mới chiếm đóng, nhất là ở phía bắc, hai bên bờ sông Trường Định. Mặt khác tiến hành đánh phá vùng sau lưng địch, trước hết là trong thành phố Đà Nẵng mà lực lượng của hai Tiểu đoàn 17 và 18 rất quen thuộc. Ban đêm súng vẫn nổ qua những đợt “tổng nhiễu loạn”. Nhân dân phấn khởi, bọn Việt gian bị trừng trị. Du kích đốt cháy cầu gỗ Thạch Nham, bộ đội tập kích các đồn lẻ ven thành phố, cắt và thu dây điện thoại nối liền các đồn địch. Biệt động thành phố đặt mìn hẹn giờ trên đầu máy xe lửa và cho mìn nổ tung giữa Sân bay. Trong khi bộ đội đặt đại bác 75 ly từ bến Đò Xu bắn vào trung tâm hàng không lớn nhất miền Trung này.
   
                  Đứng trên ngọn đồi ở đầu làng Trúc Bàu, người Trung đoàn trưởng sinh trưởng tại Hòa Vang, ngoại vi thành phố Đà Nẵng, chỉ những đồi núi, làng mạc Chạy mãi lên phía tây tận An Lợi, Bà Nà và nói với các đồng chí khác trong Ban chỉ huy và trong cơ quan tác chiến: “Đây là chiến trường tuyệt vời cho chiến tranh du kích, chúng ta có bàn đạp để tiến công về đến tận Đà Nẵng. Chúng ta lui có nơi trú ẩn”.
   
                  Chính tại Trúc Bàu, Ban chỉ huy Trung đoàn đã cùng các Tiểu đoàn lên phương án đánh địch không cho chúng nghỉ ngơi. Ở đây anh trực tiếp trao những kinh nghiệm đánh địa lôi, phục kích thu được ở bắc Tây Nguyên cho bộ phận công binh của Trung đoàn và anh em Tiểu đoàn 19 để mở ra thắng lợi cho trận phục kích đầu tiên trên đèo Hải Vân ngày 28 tháng 2 năm 1947, ta đã tiêu diệt 1 đại đội địch, phá hủy 2 xe quân sự, thu 2 trung liên Bren, 4 tiểu liên, 10 súng trường. Tên quan hai Hân-ri-ét bỏ mạng. Chiến thắng đầu tiên của ta trên đỉnh đèo lịch sử có tiếng vang lớn.
   
                  Quân Pháp đối phó lại khi có viện binh tập trung 5 tiểu đoàn từ Nam Ô lên Nam Yên bằng đường bộ. Cánh đường thủy theo sông Trường Định lên Nam Yên. Các phân đội của Tiểu đoàn 19 linh hoạt, ngoan cường chống địch trong suốt 8 ngày. Địch phải rút lui sau khi bỏ 50 xác chết. Ta bảo vệ được hậu cứ và làm chủ đường lên đèo Hải Vân để ghi tiếp các chiến công oanh liệt hơn.
   
                  Từ ngày 14 tháng 3, quân Pháp lại tấn công vào các trận địa của các Tiểu đoàn. Nhưng các đơn vị của ta đã linh hoạt vừa chặn đánh địch, vừa vận động thoát ra khỏi vòng vây của chúng kể cả nhảy dù xuống Phò Nam Yên để bao vây ta. Hay dùng xe thiết giáp, xe tăng đột phá như ở Phú Thượng, Tùng Sơn. Sau khi tiêu hao lực lượng địch, các tiểu đoàn ta ung dung, chủ động, rút về các chiến khu đã định sẵn. Riêng Tiểu đoàn 17 của Tiểu đoàn trưởng Lê Kích, 1 đại đội do đồng chí Phạm Ân Sơn chỉ huy chặn đứng địch lại, dùng toàn bộ hỏa lực đánh vào đội hình của chúng. Địch bỏ chạy, ta truy kích từ Phú Hạ lên sát đèo Đại La, ta thu được 1 trung liên, 18 tiểu liên và súng trường, 1 máy vô tuyến điện, địch bỏ lại 10 xác chết.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Hai, 2017, 10:45:22 PM
                 Cuộc tiến quân dài ngày của địch theo quốc lộ đánh vào các trận địa của Trung đoàn 93, mặt khác theo quốc lộ đẩy lùi các đơn vị của Trung đoàn 96. Điểm gặp mặt nhau của 2 cánh quân là thị trấn Ái Nghĩa và chúng sẽ tiến lên Hà Tân rồi Bến Giằng để gặp cánh quân từ Kon Tum xuống, hoàn thành việc chiếm đóng vùng chiến lược bắc tỉnh Quảng Nam tiếp giáp với vùng phía đông tỉnh Kon Tum trên cao nguyên chiến lược. Những trận của Tiểu đoàn 17 và một bộ phận của Tiểu đoàn 18 ở vùng Ba Khe, Động Hà Sống dùng chiến thuật vừa phòng ngự trận địa kết hợp với vận động linh hoạt đã giáng cho quân địch một đòn đau. Địch phải bỏ lại 20 xác chết. Ta thu được 15 súng, có 3 Thompson. Sự xuất hiện và hoạt động mạnh của ta ngay trên đường tiến của địch khiến cho chúng khi lên đến Bến Giằng vẫn không dám ở lại chờ bọn từ Kon Tum xuống. Chúng phải rút lui một mạch trở về Ái Nghĩa. Ta giữ được vùng tự do rộng lớn phía tây Đại Lộc, giữ được con đường liên lạc có ý nghĩa chiến lược với Khu 4 và Trung ương. Đó cũng là con đường khởi đầu cho việc mở đường qua Hạ Lào Sang nước bạn anh em.

                   Địch có mở rộng vùng chiếm đóng ở phía bắc sông Thu Bồn, nhưng lại chịu sơ khoáng lớn ở vùng tạm chiếm. Trận đánh ở đồi Đa Phước, ta diệt được một số quân đóng trong 4 lều vải, ghi chiến công cho Tiểu đoàn 18. Nhiều lần tập kích sân bay bằng hỏa lực, ghi chiến tích cho Tiểu đoàn 17.
   
                   Nhưng có tiếng vang lớn nhất là trận đánh tiêu diệt, đoàn xe địch trên đèo Hải Vân ngày 25 tháng 5 năm 1947, mừng ngày sinh thứ 57 của Hồ Chủ tịch. Trận đánh phối hợp giữa bộ phận lớn của Tiểu đoàn 19 và một bộ phận nhỏ của Tiểu đoàn 18, bắn cháy và phá hủy một đoàn xe 7 chiếc của địch, tịch thu nhiều vũ khí, diệt nhiều địch trong đó có đại tá Roger chỉ huy quân khu Đà Nẵng của Pháp. Chiến thắng Hải Vân lần thứ 2 có tiếng vang trong cả nước ta và gây chấn động mạnh trong hàng ngũ địch. Bộ Quốc phòng và Tổng Chỉ huy đánh giá rất cao chiến công này. Tiểu đoàn trưởng Giáp Văn Cương được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì. Đồng chí Phạm Bỉ, tiểu đội trưởng đã tiêu diệt tên quan năm Roger, được tặng Huân chương Quân công hạng Ba.
   
                   Nhưng đánh đổi lại, Trung đoàn 96 phải chịu đựng những thử thách to lớn không lường trước được. Đó là những cố gắng cuối cùng của quân Pháp để mở rộng và củng cố vùng bị chiếm, gây ra không ít khó khăn gian khổ cho nhân dân và bộ đội ta. Chính sách tàn bạo “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” đã gây ra cho đồng bào ta bao nhiêu khó khăn thảm họa. Sốt rét rừng và các bệnh tật khác trong điều kiện thiếu thốn không thể tưởng tượng nối của đời sống núi rừng bị bao vây, phá hoại. Nhưng nhân dân và bộ đội với tinh thần yêu nước rất cao có sự lãnh đạo của Đảng ta đã anh dũng vượt qua. Có thể nói nhân dân, cán bộ và bộ đội đã cắn răng chịu đựng gian khổ. Nói chung, bộ đội không có người đào ngũ. Nhân dân có nhiều người không chịu đựng gian khổ phải quay về vùng bị chiếm, nhưng vẫn giữ được lòng trung thành với Tổ quốc. Trong khi nhân dân đang ở vùng địch vẫn hướng về các chiến khu, tìm mọi cách tiếp tế cho bộ đội, cán bộ dù phải đổ máu, phải hy sinh.
   
                   Trong khi đó các chiến khu của Trung đoàn 96 của tây bắc Hòa Vang đồng thời cũng là chỗ dựa cho lãnh đạo và lực lượng kháng chiến của tỉnh bạn nam Thừa Thiên. Lá lành đùm lá rách, chúng ta đã chi viện cho bạn hết mình. Bộ đội gốc người Thừa Thiên được điều ra chiến đấu cứu quê hương mình. Cả Đại đội 2 của Tiểu đoàn 19 cũng được ra làm nòng cốt cho lực lượng địa phương đánh địch, lập được chiến công như ở Nước Ngọt ngày 26 tháng 7 năm 1947.
   
                   Khi cả nước ta mở chiến dịch Thu Đông 1947 đánh bại chiến dịch tiến công lên Việt Bắc của thực dân Pháp, vào tháng 9 năm 1947, Trung đoàn nhận được lệnh rút về Quảng Ngãi để củng cố, sau hơn 8 tháng đánh địch liên tục không một ngày nghỉ. Nhân dân hai huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh của tỉnh bạn đã mở rộng tấm lòng đón hơn 1000 cán bộ và chiến sĩ Trung đoàn 96 về nuôi dưỡng và tổ chức lại để đi vào cuộc chiến đấu mới.
   
                   Tiểu đoàn 19 được tăng cường các đơn vị mạnh của tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định để hình thành một Tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Khu 5 về sau là Liên khu 5. Hai Tiểu đoàn 17 và 18 tổ chức lại thành Tiểu đoàn 79. Tiếp theo là cả 2 Tiểu đoàn 19 và 79 đã trở thành lực lượng nòng cốt, hình thành nên Trung đoàn 210 và sau đổi thành Trung đoàn chủ lực 108, trung đoàn chủ lực đầu tiên của Liên khu 5.
   
                   Khi viết bài hồi ký ngắn ngủi này, như một người em cùng đi theo chiến đấu với anh Nguyễn Bá Phát suốt những năm tháng đầu tiên ở mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng với anh, tôi hỏi anh: Anh nhớ gì nhất trong cuộc đời anh. Trả lời: Mình nhớ nhất là trong cuộc mít tinh ở Lâm Viêng, tây nam Hòa Vang đêm 4 tháng 4 năm 1947, thay mặt cho Trung đoàn 96 hứa với đồng bào: “Mãi mãi sống chết bên đồng bào”, trước đó còn có phiên hiệu là Chi đội 2 độc lập, rồi Trung đoàn 7 tiếp phòng quân đã làm đúng như lời đã hứa. Tôi cũng nhớ nhất là lời khen ngợi của đồng chí Phạm Văn Đồng, Đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ tặng cờ “Giữ vững” cho Trung đoàn 96 và khen ngợi vào tháng 5 năm 1947: “So sánh với toàn quốc, mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng được liệt vào hàng đánh mạnh nhất. Thành tích đó do đâu mà có? Do sức chiến đấu của mỗi người trong Trung đoàn, do sự đoàn kết thân ái đi đôi với kỷ luật nghiêm minh, trong đội ngũ, do năng lực lãnh đạo của các cấp chỉ huy quân sự, chính trị, do Sự rèn luyện hàng ngày trong khói lửa. Anh em đã xứng đáng với Tổ quốc Việt Nam. Tôi xin tỏ lòng biết ơn và khâm phục”.
Trong đợt trao tặng cờ được tổ chức tại Trúc Hà, huyện Đại Lộc, người viết bài này đã thấy Nguyễn Bá Phát, người cán bộ khá dày dạn trong chiến đấu từ Tây Nguyên đến Quảng Nam - Đà Nẵng lúc bấy giờ, tay run run nhận lấy ngọn cờ và mắt đẫm lệ. Tôi chưa bao giờ thấy anh xúc động đến như vậy. Ngay lúc đó tôi đã hiểu ra: Vì anh là người cán bộ quân đội, Vì anh là Hội viên nghiên cứu chủ nghĩa Mác mới được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (tên cũ) và anh cũng là người lính chiến đấu ngay trên đất quê nhà anh Quảng Nam - Đà Nẵng.


                                 
T.X.L








Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 12 Tháng Hai, 2017, 10:28:57 PM
TỪ NGƯỜI NÔNG DÂN ĐẾN VỊ TƯ LỆNH QUÂN CHỦNG
Trung tá Nguyễn Bá Ninh(1)

                 Thôn Trung Sơn, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nay thuộc quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, có một gia đình trọng tộc Nguyễn Bá. Ông Nguyễn Bá Hoành và bà Trần Thị Tùng sinh hạ được 9 người con. Hai người chết sớm. Bảy người, gồm 3 gái, 4 nam, có thể kể theo trật tự lớn nhỏ là: Nguyễn Thị Hạt, Nguyễn Thị Hợi, Nguyễn Bá Trình, Nguyễn Bá Thiệp, Nguyễn Bá Phước, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Bá Ninh.

                 Các chị Nguyễn Thị Hạt, Nguyễn Thị Hợi đã qua đời. Nếu còn đến nay người đã 100 tuổi, người 97 tuổi. Người em út đang còn sống với tuổi 82. Cả 2 chị lớn đều ở vùng tạm chiếm và tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Riêng chị Nguyễn Thị Liên tham gia kháng chiến chống Pháp và tập kết ra Bắc. Chị Liên là người có công đáng được chú ý: Người anh của chị là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 chỉ huy T cả Trung đoàn ra đánh thắng lợi lớn ở đèo Hải Vân. Khi trở về bị quân Pháp chặn đường độc đạo lui quân, chị Liên đã tìm cách liên lạc với người anh mình, rồi chị dũng cảm truyền đạt yêu cầu của người trung đoàn trưởng chỉ huy đoàn quân chiến thắng, đến chính quyền xã bí mật huy động thuyền đang được cất giấu khắp nơi dọc theo Trường Định, con sông lớn của quê hương, để lần lượt chở cả đoàn quân gần 2.000 người, kể cả dân quân du kích phục vụ chiến đấu vượt qua vòng vây của địch rút về chiến khu an toàn. Chiến thắng đèo Hải Vân lần thứ 3 được trọn vẹn, có tiếng vang lớn trong cả nước.
   
                 Bốn người con trai của gia đình Nguyễn Bá đều gia nhập lực lượng vũ trang ngay từ đầu kháng chiến chống Pháp, tất cả đã trưởng thành nhanh chóng, thành sĩ quan cao cấp của quân đội qua hai cuộc kháng chiến. Nguyễn Bá Trình và Nguyễn Bá Phước, 2 người con trai lớn nhất và thứ 3 của gia đình là Đại tá. Người con trai út, Nguyễn Bá Ninh là Trung tá. Người con trai thứ hai, chính tên “cúng cơm” Nguyễn Bá Thiệp, sau này là Nguyễn Bá Phát. Cuối cuộc kháng chiến chống Pháp anh được nhận quân hàm Đại tá. Đến giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ là Thiếu tướng, người đã mở đầu cho việc xây dựng Quân chủng Hải quân nhân dân và trở thành người Tư lệnh của lực lượng vũ trang trên biển cả của nhân dân ta. Năm 1977, trải qua 32 năm chinh chiến, Nguyễn Bá Phát được điều động sang xây dựng ngành thủy sản ở nước ta cho đến khi nghỉ hưu và mất năm 1993, thọ 72 tuổi. Mộ anh và cả mộ vợ anh, bà Nguyễn Thị Điểm, một cán bộ phụ nữ có công với dân với nước được an táng ngay chính quê hương anh, nơi mà ngày xưa anh đã nhiều lần đưa quân đi phục kích đánh Pháp thắng lợi, với những địa danh gần gũi thân mật như: đèo Hải Vân, Xuân Thiều, Quan Nam, Gò Cà, Thanh Quýt.
   
                 Thời thơ ấu, Nguyễn Bá Thiệp ở nhà với cha mẹ tại quê hương Trung Sơn. Cái làng quê ấy cho tới cuối hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, chưa ai nghĩ tới nó sẽ nằm sát khu công nghiệp Hòa Khánh, một khu kỹ nghệ lớn của thành phố Đà Nẵng. Cũng chưa ai nghĩ năm bảy năm trở lại đây đã có một con đường tráng nhựa chạy từ quốc lộ 1, qua khu công nghiệp nổi tiếng nói trên, chạy mãi lên đến tận trung tâm làng quê ông, con đường ấy mang tên Nguyễn Bá Phát, rất hãnh diện của người dân tây bắc Hòa Vang thuộc thành phố Đà Nẵng. Bom đạn của hai thời kỳ kháng chiến đã tàn phá ngay chính quê hương ông và cả nhà cha mẹ ông năm xưa. Bây giờ thì mọi người rất sung sướng hàng ngày trông thấy trước ngôi nhà cũ của thầy giáo nho học Nguyễn Bá Hoành đã có một tượng đài ghi công của ông và vợ ông bà Trần Thị Tùng với phần thưởng “Bảng vàng danh dự” và Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, do đã tạo ra một gia đình hiếm có với 7 người con tham gia hai cuộc kháng chiến và có công lớn với nhân dân, với quân đội. Đã có một vị tướng hàng đầu trong quân đội khi về thăm gia đình Nguyễn Bá Phát ở tại Trung Sơn đã có nhận xét: Ở Việt Nam ta, nhất là ở vùng tạm chiến mà có một gia đình có 7 người con, đều tham gia kháng chiến mà nhất là có 4 người con trai tham gia quân đội trở thành tướng lĩnh hay cán bộ cao cấp là điều khá hiếm có và đáng tự hào biết bao!
   
                 Ngay từ khi còn nhỏ, Nguyễn Bá Thiệp phải chăn trâu giúp cha mẹ. Nhưng ngay từ lúc bấy giờ, anh đã tỏ rõ sự thông minh, nhanh nhẹn so với bạn bè cùng lứa tuổi, nhất là anh tỏ rõ sự quyết đoán. Anh và các bạn chăn trâu, chăn bò thường tổ chức đánh trận giả. Có trận anh và các bạn để trâu bò phá hoa màu, bà con xóm làng đến báo với cha mẹ anh. Anh bị đòn khá nặng. Có vết roi vẫn để lại khá to trên đùi. Nhưng anh lại vẫn tiếp tục cùng bạn bè tổ chức đánh trận giả. Phe anh thường thắng trận. Sự ham thích này về sau đã trở thành bản chất vốn có của con người anh Thiệp.
   
                 Cha anh là một nhà Nho, dạy chữ Hán cho người trong vùng, nhưng anh không học chữ nho mà chỉ ham học chữ quốc ngữ. Mãi đến năm 15 tuổi anh mới được đi học lớp năm (tức lớp một bây giờ). Chỉ học đến lớp bốn, cha mẹ anh lại muốn giữ anh ở nhà vì hoàn cảnh nhà sa sút. Nhưng thấy Thiệp học quá giỏi, thầy giáo anh đã tìm mọi cách xin cho anh thi Sơ học yếu lược. Thiệp đỗ cao, cả trường thầy giáo cũng như bạn bè rất tự hào về anh.
   
                 Đầu năm 1941, anh bị Pháp bắt đi lính thợ (còn gọi là lính ONS) tập trung ra Huế rồi sang Mac-xây, một hải cảng lớn của Pháp. Sau hai năm, anh bị điều qua làm lính thủy. Theo chúng tôi biết, anh chỉ là lính trơn, thường làm công việc nấu ăn và lau sàn tàu. Lúc này anh được tiếp xúc với một số người có đầu óc cách mạng và có nhận thức ít nhiều về nước Việt Nam bị Pháp chiếm làm thuộc địa, nhân dân ta bị bóc lột bần cùng.
   
                 Hàng ngày anh cũng nhận ra và bất bình về việc phân biệt đối xử với lính thủy người Pháp và lính thủy người Việt Nam. Bọn Pháp xem rẻ người lính Việt Nam. Anh luôn nghĩ phải bỏ hàng ngũ lính Pháp, nhưng đi đâu về đâu thì chưa tìm ra phương hướng. Mãi đến năm 1945, nghe ở quê hương có Việt Minh làm cách mạng giải phóng dân tộc, anh đã bỏ hàng ngũ lính thủy của Pháp về Đà Nẵng để giành chính quyền về tay nhân dân.
   
                 Một tối tháng 4 năm 1945, anh đã cùng người anh là Nguyễn Bá Trình, và em là Nguyễn Bá Phước ra nỗng cát sau nhà chia tay nhau. Anh nói: Tôi đi làm cách mạng, nếu không thành công thì tôi không trở về. Từ đêm hôm đó anh đi mãi. Trước khi anh đi lính thợ, cha anh đã mất năm 1940. Ba năm sau, năm 1943 khi anh đi lính thủy thì mẹ anh mất. Anh quá đau buồn. Vì mất mẹ mà anh không hay biết, đây cũng là một lý do mà Nguyễn Bá Thiệp không muốn ở nhà nữa mà cương quyết ra đi hoạt động để thay đổi số phận cho mình.

                 Sau khi nhân dân ta giành được chính quyền ở Đà Nẵng, anh tham gia thủy đội Bạch Đằng, gồm hầu hết những người bị bắt đi lính thủy cho Pháp trước đây. Cuộc đời quân ngũ và cách mạng của anh có thể tóm tắt như sau:
   
                 Anh Nguyễn Bá Phát xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, nhưng sau này nhờ sự giáo dục và giác ngộ của Đảng ta, anh đã sớm đi đến với cách mạng. Anh đã sớm tham gia “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác”, tên gọi công khai của Đảng ta sau khi Đảng tuyên bố tự “giải tán” năm 1946. Tháng 6 năm 1947, anh được kết nạp vào Đảng Cộng sản tại chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Anh đã có sự tiến bộ vượt bậc về mọi mặt trong đó có sự nâng cao về mặt tri thức văn hóa.
   
                 Trong kháng chiến chống Mỹ, anh trở thành Tư lệnh Hải quân. Ngoài những thành tích chung về chiến đấu của Hải quân, anh đã góp công không nhỏ trong việc phát hiện và rà phá thủy lôi, bom từ trường của Mỹ. Anh đã góp phần quan trọng trong việc chế tạo vũ khí đánh trả tàu chiến, máy bay Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta. Với thành tích đó, cùng với các đơn vị anh hùng Hải quân, anh đã đứng hàng đầu trong danh sách 11 cá nhân được tặng Giải thưởng “Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật” của nước ta(2).
   
                 Nguyễn Bá Phát là một con người năng động, sáng tạo và rất dũng cảm, ngoan cường, có nhiều sáng tạo trong việc chỉ huy chiến đấu. Từ một đội viên của thủy đội Bạch Đằng, anh đã đóng góp sáng kiến rất có hiệu quả góp phần tiến công vào quân Nhật cố thủ trong nhà băng Đông Dương, thành phố Quy Nhơn, dùng búa đóng vào đạn đại bác không có kim hỏa, do ta lấy được của quân Pháp trước đó. Anh đã được đề bạt từ Chi đội phó Chi đội Phan Đình Phùng của Khu 5, lên đến Tham mưu phó Liên khu 5. Khi chuyển sang Hải quân, anh nhận chức vụ Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam.
   
                 Các cán bộ quân sự của Liên khu 5 còn nhắc đến việc anh vận dụng, sáng tạo ra nhiều chiến thuật, kỹ thuật trong các trận chiến đấu để chống quân thù, thắm đượm tinh thần chiến tranh nhân dân và chiến tranh du kích. Chỉ huy cả một trung đoàn vào địch hậu sát thành phố Đà Nẵng, bí mật ém quân trong nhà dân đế rồi bất ngờ xuất kích tiêu diệt cả đoàn xe 14 chiếc ở Thanh Quýt. Hay chỉ huy 2 tiểu đoàn quân ta, bố trí ngụy trang giữa vùng đất trống, trên quốc lộ 14 ở Gò Cà, huyện Hòa Vang để bất ngờ đứng lên rũ bỏ áo ngụy trang, từ trong các hố đất trũng, xông lên tiêu diệt cả một đoàn quân địch hơn một đại đội. Trong trận tiêu diệt đồn ở Konplong, lúc này ta chưa có đại bác để tiêu diệt địch cố thủ trong công sự kiên cố. Nguyễn Bá Phát đã học tập kinh nghiệm ngày xưa: Đặt ĐKZ lên trên một xe lăn, được che chắn bằng bao cát, có người lái đẩy vào sát công sự địch để tiêu diệt các lô cốt của địch như một “thần thoại”. Khi về Hải quân, ta chưa có phương tiện để đánh các tàu chiến Mỹ xâm nhập miền Bắc nước ta, anh Phát cùng anh em nghĩ ra việc đặt ĐKZ lên các bè mảng, bí mật tiến sát tàu địch để đánh chúng... tuy kết quả còn rất hạn chế, nhưng tất cả đều nói lên ý chí quyết liệt, tìm đủ mọi cách để tiêu diệt được quân thù. Anh đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng các “Đội đặc công nước” để đánh địch bằng các đội quân tinh nhuệ đặc biệt như thời kỳ anh còn ở Liên khu 5.
   
                 Anh Phát được vinh dự chiến đấu trên các chiến trướng của Liên khu 5 thời chống Pháp từ Tây Nguyên đến Đà Nẵng. Anh đã tham dự và chỉ huy chiến đấu trên các sông biển miền Bắc thời kỳ chiến tranh phá hoại của Mỹ. Và vinh dự thay, anh được tham gia chỉ huy cánh phía Đông của chiến dịch Hồ Chí Minh, tham gia chỉ huy giải phóng một số đảo biển phía Nam của đất nước ta và cùng với các đơn vị khác vào tiếp quản thành phố Sài Gòn, trong đó có hang ổ của hải quân ngụy.
   Các đồng chí ở Bộ Hải sản, nơi anh Phát chuyển ngành qua nhận chức vụ Thứ trưởng thứ nhất, còn nhắc lại đến ngày nay, về một người thủ trưởng của mình đã phát huy một cách sinh động truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam trong lĩnh vực công tác mới. Không những anh đi sâu đi sát từ biển cả lên tới tận nhiều nguồn sông suối nước ta, kể cả những vùng bị kẻ thù gài, thả bom mìn để sát hại nhân dân. Anh chăm lo việc giải quyết đời sống đồng bào các dân tộc bằng nghề thủy sản. Anh tham gia chỉ đạo và tổ chức việc đưa “Ao cá Bác Hồ” lên mạn ngược có kết quả, được đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc hoan nghênh. Đã có nhiều nguồn tin cho biết, khi Trung ương điều vị Tư lệnh Hải quân có nhiều thành tích về Bộ Thủy sản là để nhận trọng trách là Bộ trưởng. Nhưng anh không chịu nhận mà giới thiệu một vị Thứ trưởng có văn bằng Tiến sĩ từ nước ngoài về, còn anh với tinh thần trách nhiệm cao chỉ làm Thứ trưởng thứ nhất, kiêm Bí thư Đảng ủy của Bộ. Phẩm chất đạo đức của anh đến mãi tận bây giờ vẫn còn được nhiều người nhất là trong Bộ Thủy sản nhắc đến như là một hành vi đáng kính trọng của một người Tư lệnh Quân chủng, phát huy truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam, một chiến sĩ Hải quân anh hùng.


                                 
N.B.N




(1). Với sự tham gia của bà Nguyễn Thị Dây và nhà báo Công Trình.
(2). Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-2005), Nxb QĐND, H.2006, tr. 367.


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 12 Tháng Hai, 2017, 10:33:34 PM
NGƯỜI TRUNG ĐOÀN TRƯỞNG TRUNG ĐOÀN 96
Đại tá Phan Viên(1)

                 Nhớ lại cách đây 60 năm, sau khi khóa I Võ bị Trần Quốc Tuấn bế giảng, tôi là huấn luyện viên được về phép ở Quảng Nam để thăm nhà thì đêm 19 tháng 12 năm 1946 tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Là một quân nhân, tôi vào ngay Quảng Ngãi, đến Bộ Tư lệnh Khu 5 lúc bấy giờ Khu trưởng là anh Cao Văn Khánh(2) bạn Thanh niên tiên tuyến với tôi để trình diện và xin ra mặt trận chiến đấu. Nhanh chóng hàn huyên tình bạn cũ, anh viết giấy giới thiệu ra Trung đoàn 96 của anh Nguyễn Bá Phát nhận nhiệm vụ.

                 Tôi cấp tốc trở ra Đà Nẵng. Đúng là “Thành Thái Phiên (Đà Nẵng) tắm mình trong khói lửa”. Các đơn vị của các Tiểu đoàn 17-18-19 của Trung đoàn 96 cùng tự vệ thành đang anh dũng chiến đấu với Pháp ở hải cảng, trụ sở Uy ban Thành phố, bưu điện, cổ viện Chàm, ngã năm, chợ Mới, sân bay, cầu Vồng, ga Đà Nẵng, ngã tư Yên Khê, yểm hộ cho nhân dân trong thành phố sơ tán. Tiếng súng trường, súng máy, súng cối... nổ vang, nhiều cột khói nổi lên làm tôi nóng lòng ra chiến đấu.
   
                 Ở ngã tư Yên Khê, tôi gặp một người cao lớn, mắt to và sáng, da ngăm đen, giọng nói hơi rồ, có dáng vẻ quân sự, đó là Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát. Tôi được biết anh là Chỉ huy phó mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng vừa được chỉ định làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 thay ông Trần Thùy, Trung đoàn trưởng cũ đã phạm khuyết điểm trong việc phát lệnh nổ súng tiến công quân Pháp.
   
                 Đầu tiên anh hỏi tôi đã chiến đấu chưa? Tôi báo cáo anh tôi mới học kỹ thuật chiến thuật ở Thanh niên tiên tuyến Huế và Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn chứ chưa chiến đấu. Anh nói không có gì đáng sợ đâu, đầu chưa quen sau sẽ quen, miễn là có tinh thần yêu nước, dám cầm súng chống ngoại xâm. Bây giờ anh sẽ đến chỗ anh Võ Quang Hồ, Tiểu đoàn 18 để thay anh Vỵ là Đại đội trưởng Đại đội 4. Và anh nói thêm Đại đội 4 đang chặn địch ở ngã tư Yên Khê, không cho địch nống ra phía bắc. Ra đấy cậu cứ tổ chức đào chiến hào thành nhiều tuyến để chiến đấu với bộ binh và xe thiết giáp Pháp, tuyến trước thủng thì lui về tuyến sau dần về phía tây, phía bắc ra đỉnh đèo Hải Vân đã có Tiểu đoàn 19. Lần đầu tiên tôi được anh Nguyễn Bá Phát lãnh đạo tư tưởng không sợ địch và bày cho cách đánh lại địch nên tôi rất phấn khởi và yên tâm nhận nhiệm vụ Đại đội trưởng Đại đội 4. Tiểu đoàn 18 tiến hành phòng ngự ở ngã tư Yên Khê và giữ được phòng tuyến gần 10 ngày. Rồi từ đó tôi chiến đấu liên tục, lên Tiểu đoàn phó rồi Tiểu đoàn trưởng của Trung đoàn 96, Trung đoàn 108 Liên khu 5 và chiến đấu trong những trận chiến đấu lớn hay chiến dịch dưới sự chỉ huy của anh Nguyễn Bá Phát. Từ đấy, trong những khi đi chuẩn bị chiến trường cho trận đánh cùng anh, trong lúc huấn luyện bộ đội, khi nghỉ sau các trận đánh... nói chuyện tâm sự với anh, tôi mới hiểu biết được nhiều về anh.
   
                 Đức tính khiêm tốn ở anh biểu lộ rõ. Trước khi về làm Chỉ huy phó mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng anh đã từng chỉ huy nhiều trận ở Buôn Ma Thuột, đường 14, 19 kéo dài, đã từng được giao các chức vụ Chỉ huy trưởng, Chỉ huy phó mặt trận, Chi đội trưởng, Chi đội phó và trước khi về Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Anh là Tham mưu trưởng Đại đoàn 23, nhưng anh tự cho mình trước đây là một anh Matelot (lính thủy) trong Hải quân Pháp, lênh đênh trong sóng ngàn nhiều đại dương, nhiều tàu chiến, nhưng cũng chỉ là anh lính thủy quân, nay được Đảng và Chính phủ giao cho các trọng trách như vậy là quá lắm rồi, anh chỉ ước ao được làm người chiến sĩ chiến đấu trên quê hương mình (anh quê ở Trung Sơn, cách Đà Nẵng 10 ki-lô-mét về phía bắc).
   
                 Anh đã chỉ huy Trung đoàn 96 và Trung đoàn 108 đánh nhiều trận lớn ở Khu 5, có thể nói của miền Nam như trận Hải Vân 2 ngày 25 tháng 5 năm 1947 tiêu diệt một đại đội lê dương trong đó có tên đại tá Roger chỉ huy quân Pháp ở Đà Nẵng và Trung Việt Nam, thu vũ khí, bắt tù binh. Tiếp theo, ngày 24 tháng 1 năm 1948, chỉ huy trận Hải Vân 3 đánh trên cả hai trục đường xe hơi số 1A và đường xe lửa tiêu diệt 2 đại đội địch và một đoàn tàu quân sự, làm tê liệt trục đường giao thông giữa Huế và Đà Nẵng trong một thời gian. Hai chiến công ở đèo Hải Vân “Đệ nhất hùng quan” cùng với thành tích vây chặn quân Pháp hơn 100 ngày đêm trong thành phố Đà Nẵng, bảo vệ được tính mạng và tài sản của nhân dân, Trung đoàn 96 xứng đáng với lá cờ “Giữ vững” do đại diện Chính phủ Phạm Văn Đồng trao tặng. Liền sau trận Hải Vân 3 anh chỉ huy trận Gò Cà ngày 2 tháng 2 năm 1949, một trận đánh đầy mưu mẹo, táo bạo và gan dạ, diệt đại đội Ta-bo của địch trong chiến dịch Võ Nguyên Giáp, chiến thắng của chiến tranh nhân dân phát triển cao ở sau lưng địch trong Đông Xuân 1949-1950, diệt 450 tên, có tên thiếu tá Lơ-tu-léc (Lectulec), làm bị thương gần 300 tên phần lớn là Âu Phi, thu 203 súng các loại. Tiếp đến chiến dịch Hoàng Diệu ngày 3 tháng 11 năm 1950 mục đích bảo vệ mùa lúa đang chín của huyện Điện Bàn, phá âm mưu dồn dân bắt lính trở thành một trận chống càn của 1500 quân địch kết thúc thắng lợi. Địch phải rút 5 Tiểu đoàn Âu Phi vào tăng cường cho mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng thực hiện ý định của cấp trên về phân tán lực lượng địch trên chiến chính Bắc Bộ. Rồi đến trận Konplong ngày 6 tháng 8 năm 1951, lúc này anh là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 chủ lực Khu 5, trận công kiên đầu tiên của Khu 5, diệt 90 tên địch, bắt 195 tên, thu 20 tấn đạn, hơn 200 súng các loại, 2000 lít xăng, bước đầu giải tỏa được vướng mắc về chiến thuật tiến công cứ điểm cỡ đại đội có công sự vững chắc, tạo điều kiện cho chủ lực đánh điểm diệt viện, thu được nhiều chiến lợi phẩm bổ sung cơ sở vật chất để đánh lâu dài. Sang năm 1952, trên cương vị Tham mưu phó Liên khu 5, anh chỉ huy chiến dịch Hè - Thu ở bắc Quảng Nam - Đà Nẵng, tiêu diệt các cứ điểm Xuân Đài, Văn Ly, Túy Loan thu 1 đại bác 94 ly, và một số căn cứ nhỏ, tiêu diệt 1.200 tên, thu nhiều vũ khí quân trang quân dụng, khôi phục, củng cố và mở rộng vùng du kích ở bắc Quảng Nam - Đà Nẵng có thế phát triển mạnh mẽ cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954. Chiến công nối tiếp chiến công, nhưng anh Nguyễn Bá Phát không khi nào nhận đó là công của mình mà cho đó là do tinh thần yêu nước, sự chiến đấu dũng cảm tuyệt vời của anh em cán bộ của Trung đoàn và chiến sĩ làm nên.
   
                 Giản dị không phô trương, cần cù chu đáo, bản chất của người nông dân vẫn còn ở trong anh mặc dù đã 6 năm anh đã sống và làm việc cùng với các thủy thủ trong hải quân Pháp. Trong các cuộc hành quân, anh luôn luôn mặc một cái áo bà ba đen, quần cụt, đầu đội nón lá dân gặp cũng không biết anh là chỉ huy trưởng đơn vị. Đi chiến đấu anh chỉ mang theo một số liên lạc, 3-4 vệ binh, một bí thư làm nhiệm vụ tác chiến và một đài vô tuyến điện để liên lạc với cấp trên, còn để lại hậu phương Trung đoàn cho Tham mưu trưởng và Chủ nhiệm Hậu cần chỉ huy ở phía sau. Trận Hải Vân 3, Tiểu đoàn 19 và Tiểu đoàn 79 hành quân từ Quảng Ngãi ra Quảng Nam qua Đèo Le, Trung Phước, ngược lên Phú Gia bằng thuyền, vượt dốc Giảm Thọ ra tây Đại Lộc lên Trung Man, CK của Trung đoàn, rồi lại xuống Dốc Kiền, Dốc Giong qua Đá Hang lên Dàn Bí thẳng ra đèo Hải Vân trong rừng nguyên sinh, mang mỗi người 10 ngày gạo trong một ruột nghé. Chẳng hiểu sao anh Phát lại am hiểu địa hình rừng núi của Quảng Nam như vậy và đã làm kế hoạch rồi hướng dẫn cho 2 Tiểu đoàn hành quân như vậy. Rồi anh đi với Tiểu đoàn 79, mang theo mỗi ngày 2 vắt cơm nắm như anh em, tối đến cùng trải lá rừng ra ngủ trên mặt đất giá lạnh. Trận này ngoài kết quả tiêu diệt địch, cắt đứt đường giao thông chiến lược Đà Nẵng - Huế, còn làm được một chuyện thần kỳ: rút toàn Trung đoàn khỏi vòng vây ngay trong lòng địch!



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 12 Tháng Hai, 2017, 10:38:34 PM
                 Đánh và giải quyết chiến trường xong và rút ngay lên chỗ trú quân trước khi xuất kích thì được tin quân báo cho biết địch đã rải 1.000 quân trên đường quốc lộ 1A và cho một lực lượng lớn theo hữu ngạn sông Cu Đê (sông Trường Định) từ Quan Nam lên Phò Nam, Khe Sô, Eo Ngựa bịt kín đường về của bộ đội ta. Trong khi gạo ăn của các đơn vị chỉ còn có 2 ngày! Anh Phát bình tĩnh cho bộ đội trú lại 2 ngày và đặt kế hoạch liên lạc với địa phương vượt sông Trường Định đêm 27 tháng 1 về tây bắc Hòa Vang, ở đây đã có gạo ém sẵn. May mắn thay, có chị Nguyễn Thị Liên, em gái út của anh Nguyễn Bá Phát cùng bạn vượt sông xuyên rừng lên gặp anh. Chị được giao nhiệm vụ đem ý đồ của anh mình về báo cáo với các lãnh đạo xã Hòa Liên thực hiện ứng cứu. Thế là trên 30 chiếc ghe bị nhận chìm dưới sông được vớt lên, khiêng đến bãi cát cách 5 - 6 ki-lô-mét để đưa bộ đội qua sông. Một bộ phận du kích quấy rối đồn Nam Ô, du kích Hòa Vang phối hợp quấy rối các đồn bốt khác, nhân dân cả huyện nổi dậy đánh trống gõ mõ, thanh viện nghi binh để không cho địch biết đường lui quân của Trung đoàn. Đêm hôm ấy, lực lượng gồm 1.800 người với 28 cáng thương binh và hàng chục tù binh đã đàng hoàng qua sông về tây bắc Hòa Vang, thoát khỏi vòng vây của địch. Nhân dân đứng hai bên đường tiếp tế cơm nước, chỉ đường cho bộ đội đi trong đêm tối trong khi súng các đồn bắn vu vơ bừa bãi. Đúng là một cuộc rút lui thần kỳ, một cuộc lui quân đi giữa lòng dân vùng tạm chiếm mà địch không thể ngờ được. Sáng hôm sau, khi bộ đội đã đi xa, bà con đổ ra dắt trâu bò đi lại xóa dấu vết, tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp của chiến tranh nhân dân lúc bấy giờ. Bộ chỉ huy Pháp ở Đà Nẵng lồng lộn vì bị một thất bại nặng nề. Địch không hiểu nổi đối phương, một lực lượng lớn từ đâu đến và đi đường nào mà nhanh thế!

                Chiến đấu dưới quyền chỉ huy của anh Nguyễn Bá Phát nếu không hiểu thì cho anh là một chỉ huy không có kế hoạch và thiếu tin vào thắng lợi, nhưng thật ra anh là một người chỉ huy rất có kế hoạch, một kế hoạch hoàn chỉnh, tỉ mỉ, nắm rất chắc địch và phán đoán đầy đủ các tình huống với các cách xử trí, nhưng kế hoạch đó để trong đầu óc, không viết thành văn bản và chỉ phổ biến cho cấp dưới ngay tại thực địa. Chỉ trong các chiến dịch, lực lượng lớn, có đầy đủ Bộ chỉ huy, tham mưu, chính trị, hậu cần và các đơn vị trực thuộc tham gia anh mới làm kế hoạch văn bản đầy đủ.
   
                Trong trận Gò Cà, anh đã đưa cán bộ tiểu đoàn và đại đội của Tiểu đoàn 79 đến một địa điểm đồng bằng trống trải trên đường Túy Loan đi Ái Nghĩa phổ biến kế hoạch phục kích 1 đoàn xe địch, hướng dẫn chúng tôi bố trí trong những mương nước khô cách đường 1,5 mét, lấy cỏ khô phủ lên trên người. Ngày 1 tháng 2 năm 1949, Tiểu đoàn triển khai bố trí theo kế hoạch nhưng do tề điệp phát hiện, địch không đi. Anh cho Tiểu đoàn rút lên Phú Túc. Sáng hôm sau lại xuống bố trí sau khi đoàn xe đã đi qua trận địa đoạn phục kích lên Ái Nghĩa. Đến trưa đoàn xe trở về Đà Nẵng, chủ quan không đề phòng thì bị chúng tôi tiêu diệt. Sau thất bại, tên thiếu tá chỉ huy phân khu Ái Nghĩa ra thị sát và phải thốt lên: “Đối phương thông minh, đầy thao lược, táo bạo, nắm địch một cách vững chắc mới dám đánh như thế này”.
   
                Đến trận Konplong, anh Nguyễn Bá Phát làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108. Yêu cầu của Liên khu là bộ đội chủ lực phải học tập cách đánh công đồn bằng cường tập để thực hiện đánh điểm diệt viện với phương châm vận động chiến. Lúc này Liên khu đã chế tạo được súng SKZ và súng phóng bom. Anh Nguyễn Bá Phát có công lớn nghiên cứu tìm ra những biện pháp thích hợp về kỹ thuật, chiến thuật để đánh bằng được cứ điểm theo hình thức cường tập. Như dùng bao cát lăn gần vào công sự địch, xe sắt trên để SKZ chất bao cát xung quanh đẩy vào gần lô cốt (vì tầm bắn có hiệu quả của SKZ mới chỉ từ 30 - 50 mét) bộ đội gọi “xe tăng SKZ”, có thể tháo lắp được và hành quân với bộ đội. Từ đấy các đơn vị trong Liên khu học tập công đồn bằng lăn bao cát, cắt hàng rào mở đột phá khẩu bằng bộc phá, hỏa lực trọng liên phối hợp với “xe tăng SKZ” diệt các lô cốt. Kết hợp Với kinh nghiệm của chiến dịch Biên giới, bộ đội chủ lực Liên khu đã tiêu diệt một loạt cứ điểm địch ở An Khê, Mang Đen… sau đó.
   
                Liên hệ chặt chẽ với địa phương, với các đoàn thể nhân dân và đồng bào trước trận đánh để nắm tình hình địch và tìm sự giúp đỡ cho trận đánh. Khi ở Trung đoàn 96, anh Nguyễn Bá Phát thường quan hệ chặt chẽ với các huyện Hòa Vang, Điện Bàn, Đại Lộc, do đó mà nhân dân đã mang gạo từ đồng bằng lên chân đèo Hải Vân, lên Trung Man cho bộ đội. Không có trận đánh hay chiến dịch nào bộ đội thiếu gạo ăn, trong những thời gian về nghỉ giữa hai trận đánh hai chiến dịch, anh huy động được đoàn thể phụ nữ “Hội mẹ chị chiến sĩ” giúp đỡ việc ăn ở, tặng quà động viên bộ đội luyện tập. Với tác phong giản dị, thật thà, anh luôn luôn hòa mình vào quần chúng, hay kể chuyện về đời tư của mình trước đây và hay nói chuyện tiếu lâm. Anh kể lại sinh hoạt các thủy thủ trên các tàu của Pháp, các việc chơi bời phá phách của thủy thủ, khi tàu neo lại ở một hải cảng nào đó và thủy thủ được lên bờ. Tôi nói đùa với anh bây giờ anh là “Matelot sans bateau” (lính thủy không có tàu), anh có tiếc sinh hoạt trước đây như thế không? Anh bảo lại tôi là “tiểu tư sâu dỏm” (nghĩa là tư sản) vì lúc đó là 1948 mà tôi chưa được vào Đảng. Những khi bộ đội liên hoan, biểu diễn văn nghệ tổ chức các trò chơi anh cũng lăn vào tham gia chơi với anh em. Đặc biệt anh rất thương yêu cán bộ và chiến sĩ dưới quyền chỉ huy, rất lo việc ăn ở cho anh em. Đi chiến đấu, anh đề nghị Trung đoàn phó và Chủ nhiệm hậu cần ở lại hậu phương lo sản xuất tự túc để cải thiện cho bộ đội. Có lần Trung đoàn 96 về nghỉ ở Đại Mỹ, Trúc Hà, Chấn Sơn để lên Trung Man chiến đấu, anh thấy bộ đội ăn uống khố quá, hàng ngày chỉ cơm với canh rau tàu bay. Anh đã cho lấy bộc phá đánh cá ở sông Hiếu được một thuyền cá về cho bộ đội liên hoan, anh đã tự phê bình như thế là phạm kỷ luật với Liên khu. Nhưng trong tình thế khó khăn này cũng phải làm.
   
                Anh Nguyễn Bá Phát nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 và Trung đoàn 108 Liên khu 5 là như thế đấy. Năm 1998, khi một số cựu chiến binh Trung đoàn 108 viết lịch sử của Trung đoàn có làm đề nghị phong anh hùng cho 2 Trung đoàn 96 và 108 cùng với Trung đoàn trưởng là anh, sau đó thì chỉ 2 Trung đoàn được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Anh em cán bộ và chiến sĩ ở cả 2 Trung đoàn đều ấm ức, băn khoăn nhớ anh mãi.


                                 
P.V



(1). Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 79, Trung đoàn 108, Liên khu 5.
(2). Về sau là Trung tướng, Phó Tổng tham mưu trưởng.


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 12 Tháng Hai, 2017, 10:43:16 PM
TỪ TRẬN CHIẾN THẮNG ĐẦU TIÊN CỦA “THỦY ĐỘI BẠCH ĐẰNG”
Đại tá Cao Hùng

                 Tôi cũng không biết gọi tên của đơn vị chiến thắng đầu tiên này là gì cho thật chính xác. Nhưng họ phần lớn là những người dân mất nước đã vì những lý do khác nhau, đã đi làm lính đánh thuê trên biển (lính thủy) và trên bộ (lính ONS). Trận đánh diễn ra trong thành phố cảng Qui Nhơn. Lực lượng tiến công không có tàu bè gì, tất cả đều đi chân đất. Phân đội lại nằm trong Chi đội giải phóng quân với tên gọi Phan Đình Phùng, do ông Nguyễn Giáo là Chi đội trưởng, ông Nguyễn Chính Cầu làm Chính trị ủy viên. Về sau đơn vị có anh Nguyễn Bá Phát, đại diện cho số những thành phần vừa làm lính đánh thuê giác ngộ quay về với Tổ quốc, tham gia khởi nghĩa và có mặt ngay trong Chi đội giải phóng đầu tiên của tỉnh Bình Định. Những người lính thủy trước đây, thuộc nhiều tỉnh ở Trung Trung Bộ tập trung về đây. Anh Phát có tên cúng cơm là Nguyễn Bá Thiệp, trước ngày vùng lên giành chính quyền của dân tộc, đã tham gia Thanh niên cứu quốc và tự vệ bí mật ở quê anh, xã Trung Sơn, tổng Thái Hòa, huyện Hòa Vang.
Sau này anh Phát tham gia Vệ Quốc đoàn tại Đà Nẵng và tình nguyện vào Thủy đội Bạch Đằng tại hải cảng miền Trung này. Lúc này quân Pháp và Anh đã gây hấn ở miền Nam nước ta. Phong trào Nam tiến đánh giặc cứu nước, xao động non sông. Thủy đội Bạch Đằng cũng lên đường vào Nam kháng chiến, và dừng lại vừa tổ chức, vừa luyện tập ở Qui Nhơn, tự nhiên cũng đứng vào tổ chức của Chi đội giải phóng mới hình thành của địa phương.

                Tại hải cảng này, đang có 50 tên lính Nhật, nói là đầu hàng quân Đồng Minh, nhưng vẫn không chịu khuất phục chính quyền cách mạng. Chúng chiếm giữ tòa nhà nhiều tầng, đồ sộ, kiên cố, có tường cao vây quanh. Giữa tháng 12 năm 1945, nghĩa là sau Nam Bộ kháng chiến (23-9-1945), bọn Pháp và Anh, nhân danh quân Đồng minh vẫn cho một tàu chiến chở 150 quân đổ bộ lên Cù Lao Xanh, đối diện với Qui Nhơn, định tiến vào hải cảng quan trọng này, phối hợp với bọn đang bị bao vây tại chỗ, chiếm vị trí có tầm chiến lược có thể làm đầu cầu tiến lên đánh chiếm cao nguyên miền Tây.
   
                Ngay trong đêm 12 tháng 12, Ban chỉ huy Chi đội Phan Đình Phùng đã ra lệnh cho đơn vị, trong đó Có Thủy đội Bạch Đằng, tiến công quân Nhật ở nhà băng Đông Dương cũ. Chi đội mới hình thành, súng đạn rất thiếu thốn, phần nhiều là vũ khí thô sơ. Đơn vị đã tổ chức bao vây quân địch tại chỗ. Với tất cả sự quyết tâm đánh địch, anh em đã xoay xở tìm mọi cách để tiêu diệt quân địch cho bằng được. Tất nhiên súng trường và súng máy đang có trong tay, cũng như giáo mác không thể tiến công quân địch trong công sự kiên cố. Anh em đã tìm ra một khẩu đại bác 75 ly của bọn Pháp để lại. Nhưng tiếc thay súng lại không kim hỏa. Làm sao bây giờ? Chưa ai nghĩ ra được cách khắc phục, thì Nguyễn Bá Phát xuất hiện. Anh có ý kiến vô cùng quý báu làm ngạc nhiên mọi người.
   
                “Dùng đinh hình chữ T và lấy búa đánh vào hột nổ đuôi đạn thay kim hỏa và trước khi bắn hãy nhìn thông nòng súng, ngắm đúng mục tiêu, để khắc phục cản ngại lớn là không có máy ngắm”. Đông đảo mọi người thở dài nhẹ nhõm. Nhưng có người không tán thành: “Từ thuở cha ông đến giờ có ai làm như thế?”. Riêng anh Từ Công Khế không nói, không rằng chạy đi tìm đinh chữ T và anh là người tán thành ý kiến của anh Phát đầu tiên, cũng là người đã từng làm lính thuê trong hải quân Pháp. Đơn vị đã hì hục kéo pháo đến và nhìn qua nòng súng để xác định mục tiêu. Từ Công Khế trong nhóm Nguyễn Bá Phát đã không nề nguy hiểm cầm đinh chữ T đặt đúng vào đuôi đạn và dùng búa đóng thẳng vào hạt nổ.
   
                Bắn! Ba phát nổ vang trời. Bọn địch hốt hoảng chạy tứ tán. Cái công sự nhà băng Đông Dương của chúng không còn an toàn nữa. Chỉ huy của ta ra lệnh xung phong. Bọn Nhật nhanh chóng kéo cờ trắng đầu hàng. Còn một số địch ở Cù Lao Xanh, nghe tiếng đại bác gầm lên trong đất liền cũng cao chạy xa bay. Phải chăng đây là tiếng đại bác đầu tiên của quân đội cách mạng chúng ta, tiếng pháo gầm lên từ Thủy đội Bạch Đằng và Chi đội giải phóng Phan Đình Phùng, Chi đội mang tên nhà yêu nước Cần Vương khởi nghĩa từ núi Vụ Quang. Mọi người đều ghi công sáng kiến của Nguyễn Bá Phát trong giờ phút khó khăn. Cũng từ trận đánh của Thủy đội Bạch Đằng và Chi đội Phan Đình Phùng, anh đã nhanh chóng đi lên những chức vụ khá cao trong lực lượng vũ trang giải phóng, Vệ Quốc đoàn, đến Quân đội nhân dân Việt Nam. Không qua các cấp bậc Đại đội rồi Tiểu đoàn, anh làm Chi đội phó rồi Chi đội trưởng, Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Đại đoàn 23, khi cuộc chiến tranh giải phóng đất nước diễn ra kết thúc thắng lợi vĩ đại vào năm 1975.

Theo “Lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm”
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Định 1992   
 



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 12 Tháng Hai, 2017, 10:47:07 PM
NGUYỄN BÁ PHÁT VỞI NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
                        
Nguyễn Sỹ Trinh                       
                 Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học - kỹ thuật

                 Tôi được sống và làm việc với đồng chí Nguyễn Bá Phát, qua nhiều giai đoạn chiến tranh, cả những lúc gặp thuận lợi, gặp khó khăn. Qua nhiều bạn bè thôi thúc, tôi muốn viết về anh “Một con người đậm nét công lao, thành tích chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của Quân chủng Hải quân” khi anh đã gần hai mươi năm từ Đại tá Cục trưởng đến Thiếu tướng Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam. Anh sống chan hòa, giản dị với cán bộ, đảng viên nên rất dễ gần, dễ mến, không có phân biệt về tuổi tác, chức vụ. Trong những năm tháng sống với anh, chúng tôi vẫn thân mật gọi là anh có lúc gọi là anh Hai. Viết về anh không phải là sự mong muốn được phát thảo đôi nét nổi bật chân dung tiêu biểu của anh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, mà còn muốn nêu lên từ những con số và sự kiện trải dài trong nhiều năm chiến đấu. Anh luôn luôn quan tâm khám phá và nhiệt tình ủng hộ cái mới, cộng với cái tác phong cởi mở, khiêm tốn nên càng làm cho cán bộ xung quanh có một chỗ dựa và một niềm tin vững vàng đối với người đứng đầu Quân chủng.

                   Trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96, Trung đoàn chủ lực 108 rồi Tham mưu phó Liên khu 5, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã có những đóng góp công lao lớn vào sự nghiệp cách mạng giải phóng quê hương. Năm 1955, rời khỏi chiến trường Liên khu 5 ra Hà Nội theo lệnh điều động của Bộ Quốc phòng.
   
                   Đi trên đường giao liên, giữa tháng 5 nắng nóng oi ả về nhận nhiệm vụ do đồng chí Hoàng Văn Thái Tổng Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp giao, cùng với 7 đồng chí ở từ các đơn vị khác được tuyển chọn trở về đơn vị tập trung tại trụ sở nhà máy bia Hommel trên đường Hoàng Hoa Thám, Hà Nội. Từ 7 đồng chí được gộp lại thành Ban nghiên cứu chuyên trách vùng biển do đồng chí Nguyễn Bá Phát làm Trưởng ban. Tuy ít người, nhưng hẳn không khỏi có những băn khoăn suy nghĩ. Sau khi ổn định về tổ chức, nơi ăn ở, tất cả đều bắt tay ngay vào làm việc theo nhiệm vụ được giao, với một cố gắng bước đầu đang còn nhiều khó khăn bỡ ngỡ. Những tư liệu có được trong tay chỉ là những tấm bản đồ về biển (hải đồ) của Pháp trước đây để lại. Đồng chí trưởng ban vốn là người chỉ huy cầm quân đánh giặc, không quen với tác phong ngồi bàn nghiên cứu sổ sách, phương án chằng chịt trên tấm hải đồ. Nhưng với những cố gắng nhiệt tình, bước đầu Ban chuyên trách có nhiệm vụ theo dõi hoạt động của Hải quân Pháp tại khu vực 300 ngày và tình hình trên biển, chuẩn bị tiếp quản các căn cứ Hải quân Pháp tại Hải Phòng. Đồng chí Trưởng ban đi ngay vào tổ chức phân công giao nhiệm vụ cho từng người, từng bộ phận, cùng với một số đồng chí đi nghiên cứu, khảo sát cơ sở tàu Pháp tại bến phà Đen trên sông Hồng, Hà Nội. Trên cơ sở đó nghiên cứu tổ chức lực lượng, tổ chức công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và lập phương án bố phòng bờ biển. Đây là nhiệm vụ rất nặng nề, vượt qua khả năng trong Ban, nhưng dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Cục Tác chiến Bộ Quốc phòng, anh và các đồng chí trong Ban đã tự tin hơn, mọi người đều bắt tay vào công việc vừa đi khảo sát thực tế vừa nghiên cứu tài liệu, vừa phát thảo đề cương, phương án tổ chức. Tuy phải làm đi, làm lại nhiều lần, nhưng được sự động viên của anh, mọi cố gắng cũng đáp ứng được, hình thành bản phương án trình lên cấp trên, và được Tổng Quân ủy thông qua ngày 13 và 14 tháng 4 năm 1955.
   
                   Trước hết là phương án tổ chức Cục phòng thủ bờ biển, và một số đơn vị trực thuộc. Quân số cũng được điều về nhiều hơn, từ một ban có 7 người lúc này đã lên 140.
   
                   Để triển khai nhanh chóng, ngày 7 tháng 5 năm 1955, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định thành lập Cục phòng thủ bờ biển do đồng chí Nguyễn Bá Phát làm Cục trưởng. Sau khi có quyết định Cục phòng thủ bờ biển, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng xuống truyền đạt nghị quyết Tổng Quân ủy và trực tiếp giao nhiệm vụ. Đồng chí Cục trưởng Nguyễn Bá Phát thay mặt cho Cục phát biểu đáp từ cảm ơn sự quan tâm chu đáo của Bộ Quốc phòng và hứa hẹn quyết tâm khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Một luồng không khí mới đã đến, một lực lượng mới đã ra đời chỉ sau 3 tháng, ngày 24 tháng 8 năm 1955, ngày lễ thành lập 2 Thuỷ đội Sông Lô và ngày Hải Phòng giải phóng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới dự và duyệt đội hình, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Cục trưởng Nguyễn Bá Phát, 2 thủy đội triển khai đội hình thao diễn để báo cáo với Đại tướng, với nhân dân thành phố Cảng. Đó là một ngày thu mát mẻ, trở nên náo nhiệt đông vui để chứng kiến một tương lai tốt đẹp, một niềm tin mới cho sự nghiệp an ninh quốc phòng, là sự khởi đầu đặt nền móng cho quá trình phát triển vững mạnh của Hải quân nhân dân Việt Nam.
   
                   Đại tướng đã nhấn mạnh: “Các đồng chí là những người được lựa chọn trong toàn quân về đây để thành lập Binh chủng mới của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hai thủy đội này là những viên gạch đầu tiên, là tiền thân của lực lượng tàu chiến đấu của Hải quân nhân dân Việt Nam sau này”. Đại tướng nhắc nhở: “Bờ biển nước ta dài, trên bờ có đông dân cư dưới biển có nhiều tài nguyên quý giá, kẻ địch còn len lút phá hoại, các đồng chí từ con em của nhân dân mà ra nên phải ra sức phát huy truyền thống quân đội, hãy dũng cảm khắc phục mọi khó khăn để làm nhiệm vụ bảo vệ bờ biển của Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống lao động hòa bình của nhân dân ta.”. Đại tướng còn nhắc nhở việc giữ gìn bảo vệ con tàu cần phải đi sâu học tập, thực tập thường xuyên để nâng cao trình độ sử dụng thành thạo các loại trang thiết bị máy móc và vũ khí trên tàu.
   
                   Để phát huy thuận lợi bước đầu, toàn Cục đã nhanh chóng phát triển và xây dựng lực lượng đồng bộ, từ bộ máy cơ quan đến các đơn vị trực thuộc với quy mô ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Đầu tháng 8 năm 1955, đồng chí Cục trưởng cho đóng 20 canô có trang bị súng trọng liên 12.7 ly và đại liên. Ngày 30 tháng 10 năm 1956, có thêm 4 tàu sắt tuần tiễu chiến đấu và tiếp theo các năm sau là những đoàn tàu 130, 135, 140, 200... ra đời từ sự chi viện của Hải quân Trung Quốc, Liên Xô. Cũng từ đó lực lượng Hải quân ta đã nhanh chóng phát triển đồng bộ cả phía trước và phía sau. Mới chỉ hơn 3 năm đầu xây dựng mà trong tay người chỉ huy Hải quân đã có 60 con tàu lớn nhỏ, ngoài ra còn có các cơ sở vật chất, kỹ thuật, hậu cần cũng từng bước hoàn chỉnh. Nếu chỉ nhìn từ ngày đầu được thành lập Cục phòng thủ bờ biển và sau gọi là Cục Hải quân, thì nay đã thành lập Bộ Tư lệnh Hải quân. Suốt 10 năm đầu từ 1955 - 1964, Hải quân nhân dân Việt Nam đã vượt mọi khó khăn thiếu thốn, anh dũng trong chiến đấu, cần cù trong lao động xây dựng, chăm chỉ trong luyện tập, cán bộ chiến sĩ một lòng tin tưởng, xây dựng từng bước trưởng thành lên chính quy hiện đại, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ Bộ Quốc phòng giao. Với thành tích và công trạng đó, Hải quân đã được Đảng và Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đặc biệt trong trận chiến đấu đánh tàu khu trục Ma-đốc của Mỹ dựng lên “sự kiện vịnh Bắc Bộ” vu cáo Hải quân Việt Nam cố ý tiến công tàu chiến Mỹ ở vùng biển quốc tế.
   
                   Tôi lại nhớ một câu hát của nhạc sĩ Doãn Nho là “Biển của ta đâu phải ao nhà của chúng”. Cùng lúc đó, đồng chí Tư lệnh Hải quân ra lệnh cho các tàu và các căn cứ hải quân chuẩn bị sẵn sàng đánh trả máy bay Mỹ. Đúng sáng ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ đã cho máy bay tập kích vào 4 căn cứ của Hải quân ta. Phối hợp với các đơn vị pháo phòng không, Hải quân ta đã bắn rơi 8 máy bay và bắn bị thương nhiều chiếc khác, bắt sống tên trung úy giặc lái An-vơ-ret.
   
                   Bộ đội Hải quân được Thủ tướng Phạm Văn Đồng biểu dương. Tại lễ tuyên dương các đơn vị Phòng không và Hải quân, Bác Hồ khen ngợi: “Các chú đã chiến đấu rất dũng cảm, đã bắn rơi tám chiếc máy bay Mỹ và bắn hỏng ba chiếc, vừa rồi lại nghe tin bốn chiếc máy bay Mỹ đến Biên Hòa bị hỏng. Các chú đã bắt sống phi công Mỹ, đánh đuối tàu chiến Mỹ ra khỏi vùng biển nước ta. Như vậy là rất tốt”(1). Ngày 5 tháng 8 năm 1964, mãi mãi là ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam. Thành tích và công lao đó không những có sự đóng góp quan trọng của người chỉ huy biết địch biết ta quyết đánh và quyết thắng mà còn là nhân tố có tính chất quyết định về chiến thuật và chiến lược của người Tư lệnh cầm quân.
   
                   Là người cùng công tác và chiến đấu gần 20 năm với đồng chí Nguyễn Bá Phát từ những ngày đầu Hải quân, cũng như nhiều cán bộ trong Quân chủng, chúng tôi đều có chung nhận xét: Anh Nguyễn Bá Phát từ Đại tá Cục trưởng Cục phòng thủ bờ biển rồi đến Thiếu tướng Tư lệnh Hải quân, là người chỉ huy có tài năng và sáng tạo trong chiến đấu, mẫu mực trong cách sống, giản dị trong tác phong, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư trong đạo đức, gần gũi với mọi người, sâu sắc trong thực tế, tận tụy với công việc, rất quan tâm tới công tác tổ chức thực hiện, khi giao nhiệm vụ cho cấp dưới đều có kiểm tra và tạo điều kiện thuận lợi cho cấp dưới hoàn thành tốt nhiệm vụ. Anh là một người con ưu tú của đất Quảng Nam, suốt cuộc đời binh nghiệp của mình chỉ nghĩ đến hoạt động chiến đấu, không quản ngại gian khổ hy sinh, mang hết bầu nhiệt huyết xông xáo đi khắp chiến trường từ bắc Quảng Trị trở ra trong thời chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đồng chí đã có những cống hiến quan trọng trong 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, đã có những đóng góp tích cực đánh bại chiến tranh xâm lược Mỹ ngụy, giành thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nói về anh là muốn mọi người hiểu biết kỹ về đời binh nghiệp của anh, mà nổi bật nhất trong những năm anh làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 12 Tháng Hai, 2017, 10:55:54 PM
                Từ sau khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (ngày 13 tháng 1 năm 1959) về nhiệm vụ chiến lược cách mạng miền Nam, Tổng Quân ủy đã quán triệt và ra chỉ thị chi viện cho chiến trường miền Nam, mở đường vận tải trên bộ, xuyên dọc Trường Sơn, và mở đường vận tải trên biển, xuyên dọc biển Đông từ Bắc vào Nam.

                 Con đường Trường Sơn có Đoàn vận tải 559 (tháng 5 năm 1959) tiền thân của con đường mang tên Hồ Chí Minh. Còn con đường vận tải miền Bắc lúc đầu là Tập đoàn đánh cá sông Gianh, sau lấy phiên hiệu Đoàn 759 (7-1959) tiền thân của con đường Hồ Chí Minh trên biển. Con đường này chính đồng chí Tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát là người dáng lập, tổ chức và chỉ đạo thực hiện. Tại sông Gianh (Quảng Bình) anh đã lập trạm đóng mới và cải thiện các tàu gỗ giả dạng thành tàu đánh cá. Để giữ bí mật các tàu trước khi xuất phát chở hàng vào miền - Nam còn phải xóa hết số hiệu tàu, kể cả tàu gỗ và tàu sắt, do vậy, anh em quen gọi là Đoàn tàu không số sau này cũng được lưu truyền chính thức trong lịch sử của đoàn vận tải 125. Tàu được ngụy trang giả dạng tàu đánh cá, kết cấu gồm 2 lớp boong (sàn), mặt boong dưới để vũ khí, boong trên là để lưới đánh cá. Chuyến hàng đầu tiên để thử nghiệm là chở 5 tấn vũ khí và thuốc men cho Khu 5 vào cập bến chân đèo Hải Vân, xuất phát đêm 30 tết Canh Tỵ (1960).
   
                 Một đêm chia tay lặng lẽ mà cảm động giữa những người tiễn đưa, với sự có mặt của đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát càng làm cho không khí tiễn đưa thêm thiêng liêng và quan trọng. Mục tiêu của chiếc tàu đầu tiên không những vừa để thử nghiệm trong tình hình thời tiết đang trong mùa sóng lớn, mà còn để trinh sát mọi hoạt động trên biển. Qua đó để tìm các chuyến vận tải tiếp theo, do đó Bộ Chỉ huy và người ra lệnh phải tính đến yếu tố thời cơ và thời tiết trên biển để bảo đảm an toàn cho chuyến đầu tiên. Mặc dù cả bộ máy cơ quan chỉ huy làm việc liên tục cả ngày đêm theo dõi nghe báo cáo thông tin 3 chiều (tại cơ sở bãi nơi đến, tại tàu và Bộ chỉ huy). Sau một ngày ra đi, thật không may tàu đã gặp Sóng to gió lớn, con tàu trôi dạt vào vùng biển Quảng Ngãi, tàu lái hỏng, gãy cột buồm, con tàu trôi dạt ngày càng xa, sợ bị lộ, anh em thủy thủ và thuyền trưởng đã phải hủy số vũ khí trên tàu theo phương án đã định. Tuy chuyến đi này không thành công, nhưng cũng rút ra nhiều kinh nghiệm quý giá. Sau một thời gian chuẩn bị chu đáo, đồng chí Tư lệnh chỉ thị đêm ngày 8 tháng 4 năm 1963, chiếc thuyền Bạc Liêu do đồng chí Bông Văn Đĩa làm thuyền trưởng rời cửa sông Nhật Lệ (Quảng Bình) theo đường biển vào phía Nam. Sau 10 ngày đi nghiên cứu mở đường, tàu Bạc Liêu đã cập vào bến Vàm Lũng (Cà Mau). Con đường biển nối liền Bắc Nam thành hiện thực.
   
                 Vào những năm 1961, 1962 trở đi các tàu vận tải biển hoạt động phải vượt qua nhiều khó khăn trở ngại nhưng chở hàng được nhiều hơn và liên tục hơn. Chỉ tính trong 10 năm đầu Đoàn 125 đã đi được 168 chuyến kể cả tàu gỗ và tàu sắt, vận chuyển vào 19 bến của 9 tỉnh miền Nam, chở được 6.105 tấn vũ khí và hàng ngàn lượt người. Tuy phải vượt qua vòng phong tỏa của Hạm đội 7 Mỹ ngoài khơi và vòng trong của quân ngụy Sài Gòn. Nhưng các tàu đã hoạt động hết sức khôn khéo, bí mật bất ngờ, dũng cảm nắm vững thời cơ, xử lý linh hoạt, bảo đảm hàng hóa an toàn và đưa hàng đến đúng vị trí quy định, tạo được điều kiện thuận lợi cho chiến trường miền Nam chiến đấu giành thắng lợi. Từ đây con đường vận chuyển trên biển đã trở nên “con đường huyền thoại”. Thật tự hào cho trang sử vẻ vang của Hải quân nhân dân Việt Nam, được bắt nguồn từ sự quan tâm và công lao đóng góp to lớn của đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát, cứ mỗi chuyến đi của mỗi con tàu lúc nào anh cũng có mặt ra bến tiễn đưa, dặn dò chu đáo. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích lớn lao cũng không tránh khỏi có những tổn thất hy sinh. Vào đầu năm 1965, công tác thực hiện vận chuyển vũ khí vào chiến trường miền Nam đang phát triển thuận lợi, thì xảy ra sự kiện tàu 143 bị địch phát hiện ở vịnh Vũng Rô (Phú Yên). Trên tàu chở 63 tấn vũ khí. Do bị lộ, cán bộ và chiến sĩ trên tàu đã phối hợp với địa phương và quân dân du kích nhanh chóng bốc dỡ, cất hết số vũ khí lên bờ. Khi tàu quay ra thì cũng là lúc tời neo hỏng, anh em sửa chữa xong thì trời đã sáng, chưa kịp phá hủy tàu để phi tang thì máy bay Mỹ đã phát hiện và bắn phá liên tục làm cho tàu bị chìm nghiêng một nửa tàu. Sau đó Mỹ ngụy tổ chức tháo dỡ một số dụng cụ, máy móc thiết bị trên tàu chở về Sài Gòn triển lãm và quảng cáo rùm beng cái gọi là “chiến dịch thu hồi vũ khí Bắc Việt tiếp tế cho Việt Cộng ở miền Nam bằng đường biển”. Sự kiện tàu 143 ở Vũng Rô (Phú Yên) đã trở thành cái cớ cho Mỹ xúc tiến kế hoạch ngăn chặn chi viện của miền Bắc vào miền Nam, kể cả đường bộ và đường thủy. Chúng lập kế hoạch 34A, sau 2 ngày chúng lập tiếp kế hoạch Desoto đưa Hạm đội 7 vào sâu vùng biển miền Bắc để đánh phá và ngăn chặn việc chi viện vận chuyển đường biển của ta vào chiến trường miền Nam. Chúng đưa tàu có tốc độ cao tuần tra và tập kích vào vùng biển miền Bắc, đánh phá các căn cứ của ta trên đảo. Chúng còn dùng tàu, thuyền ca nô, thả biệt kích vào miền Bắc để liên lạc chỉ điểm mục tiêu cho máy bay Mỹ đánh phá. Từ sự kiện ta đánh tàu Ma-đốc xâm phạm vùng biển miền Bắc Việt Nam, chúng rùm beng về “sự kiện vịnh Bắc Bộ”, và sự kiện tàu 143 chở vũ khí bị lộ ở Vũng Rô. Tất nhiên, tổng thống Mỹ Giôn-xơn còn viện ra nhiều cớ, nào là quân ta tấn công vào doanh trại quân Mỹ ở Pleiku, nào quân ta tiến công vào khu nhà lính Mỹ ở Quy Nhơn (ngày 11 tháng 2 năm 1965). Chúng đưa ra cớ để thực hiện âm mưu leo thang đánh phá miền Bắc, gây cho ta gặp nhiều khó khăn, nhất là việc vận chuyển đường biển từ Bắc vào Nam, nhưng ta đã chủ động cách đối phó nắm vững thời cơ tìm đường vận chuyển, bảo đảm chi viện kịp thời.
   
                 Trong những năm 1965 trở đi Quân chủng Hải quân không những tham gia chiến đấu bắn rơi máy bay Mỹ mà còn thực hiện quyết tâm của Tư lệnh Nguyễn Bá Phát “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, trong chống địch phong tỏa bờ biển. Đây là một trong những nét sáng tạo mà đồng chí Tư lệnh đã sử dụng thành công các tàu chiến của Quân chủng trong vận chuyển vũ khí vào chiến trường miền Nam. Kết hợp song song với việc bảo vệ miền Bắc, nét nổi bật của giai đoạn này là Hải quân đã dùng thuyền thủy lôi phục kích đánh tàu chiến Mỹ của Phân đội 23 trên Vùng biển miền Bắc và kết hợp chặt chẽ với các lực lượng pháo bờ biển, không quân ra-đa và tàu chiến đấu để đánh tàu chiến Mỹ xâm phạm. Kết quả trong 2 năm 1967, 1968 quân và dân ta đánh bị thương 45 lần chiếc tàu chiến Mỹ trong đó có khu trục tên lửa Can-be-ra, tàu tuần dương hạm Niu-po-niu, tàu tên lửa Oa-sinh-tơn, tàu Bớc-cơ-lây... của Mỹ bị trọng thương loại ra ngoài vòng chiến đấu một bước trưởng thành của Hải quân nhân dân Việt Nam. Đặc biệt là Phân đội 23 đã thả thủy lôi xuống ven biến đánh tàu địch hoạt động đi lại vùng biến Quảng Bình, Vĩnh Linh, vùng Cửa Tùng và biển Gio Linh (Quảng Trị), đã được Đảng và Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
   
                 Hải quân thành lập đoàn 126 Đặc công để đánh tàu Mỹ ngụy vận chuyển đi lại trên sông và ven biển. Vốn là người am hiểu về biển, đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát luôn coi biển là quê hương, tàu là nhà. Vì vậy, việc bảo vệ lãnh hải không chỉ là nhiệm vụ cao cả mà còn bảo vệ tình hình chính trị của đất nước gắn liền với tình cảm cao quý của người lính biển. Để thực hiện chủ trương phát triển lực lượng đặc công Hải quân, ngày 13 tháng 4 năm 1966 Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Đoàn 126 trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân. Đoàn 126 là cấp Trung đoàn, dưới có 5 đội: đội 1, đội 2, đội 3, 4, 5, các đội tương đương cấp tiểu đoàn. Sau khi thành lập, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát, Đoàn 126 đã đi ngay vào chương trình huấn luyện. Cuối năm 1966, đoàn lên đường đi chiến đấu tại khu vực Quảng Trị, Đà Nẵng, Quy Nhơn và Nam Bộ.
   
                 Tại khu vực Cửa Việt, Đông Hà thuộc Gio Linh, một con sông từ biển nối liền với cảng Đông Hà, chiều dài khoảng 9 ki-lô-mét. Nơi đây thường xuyên có tới 15 tàu và ca nô hải quân ngụy và một số tàu vận tải chở vũ khí, xe tăng và hàng hậu cần của Mỹ, phía ngoài cửa biển có khoảng 10 - 12 tàu chiến cỡ lớn của hạm đội Mỹ hoạt động.
   
                 Tuyến sông này là cửa ngõ chi viện lớn cho mặt trận Quảng Trị, Đường 9, Khe Sanh và Lao Bảo. Địa hình phía trên đường số 1 là rừng núi hiểm trở, phía dưới là đồng bằng, cát biển. Khu vực này là khu đệm giáp ranh giữa hai miền. Vì vậy Đoàn 126 ngoài nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Hải quân giao, còn có Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 (Mặt trận Trị Thiên) giao cho đoàn nhiệm vụ đánh tàu địch vận chuyến trên sông từ cảng Cửa Việt lên Đông Hà. Trong những năm 1967 - 1972, Đoàn 126 đã dùng các loại vũ khí đánh tàu địch như thủy lôi cảm ứng từ trường, thủy lôi tiếng động âm thanh, được ta cải tiến để tiện dùng sức người mang vác. Đoàn còn dùng loại máy thủy lôi áp suất do Xưởng 48 và Xưởng 28 Hải quân sản xuất chế tạo. Ngoài các loại thủy lôi này, còn có loại mìn rùa nam châm để người nhái bơi trực tiếp gắn vào tàu địch, phá hủy tàu. Mỗi khi có số lượng tàu địch đi lại nhiều, đoàn còn sử dụng cả súng B40, B41, phục kích bắn tàu và ca nô đi lại vận chuyển tuần tra trên sông. Trong những năm đoàn làm nhiệm vụ chiến đấu, đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát thường xuyên sâu Sát kiểm tra, đôn đốc tận khu vực đoàn xuất phát và Có những chỉ thị cụ thể nhiệm vụ cho từng đội trong đoàn. Mỗi lần đồng chí Tư lệnh tới Quảng Bình, Vĩnh Linh, đi đến đâu thì đài địch (BBC) đưa tin ông xuống “đốc chiến”. Hành trang dã chiến của đồng chí Tư lệnh thường là một cái đài National nhỏ xách tay, một chiếc bi đông trên vai, với một cây gậy chống để đi trên vùng cát biển được anh em gọi là “cây kiếm lệnh”. Anh là người rất ưa thực tế, mặc dù máy bay Mỹ thả bom bắn phá, cả những lúc anh đi trong vùng tâm của B52 ném bom ác liệt khu vực Vĩnh Linh, Quảng Bình, anh không hề ngần ngại gian khổ hy sinh mà còn hăng hái dũng cảm quyết tâm đánh thắng địch trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh mỗi khi có thời cơ. Như có lần đội 1 Đoàn 126 đánh tàu Mỹ 15.000 tấn bốc cháy tại phía ngoài cảng Cửa Việt 1ki-lô-mét vào đêm 3 tháng 9 năm 1969, trong lúc toàn quốc được lệnh Chính phủ ta ngừng bắn để tang Bác Hồ, thì anh vẫn xin phép cấp trên cho đánh tàu dầu này vào đúng thời cơ không bỏ lỡ.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 12 Tháng Hai, 2017, 10:57:41 PM
                 Là người được Bộ Tư lệnh cử xuống làm Đội trưởng đội 1 của Đoàn 126, đối với tôi vừa là nhiệm vụ, vừa là vinh dự. Trong 3 năm 1967 - 1969, tôi trực tiếp chỉ huy đưa đội 1 vào đánh tàu tại Cửa Việt, Đông Hà. Lúc này trên mặt trận Trị Thiên, Đường 9, quân Mỹ bị thất bại phải rút khỏi Khe Sanh. Nhưng chúng vẫn ngoan cố tăng quân Mỹ và mở cuộc phản công. Mùa xuân năm 1967 - 1968 tại Quảng Bình, Vĩnh Linh, địch cho máy bay đánh phá ác liệt, máy bay B52 thả hàng vạn tấn bom xuống đất Vĩnh Linh là nơi Đoàn 126 trú quân. Tuy gặp khó khăn, nhưng đồng chí Tư lệnh luôn theo dõi đội từng bước và đã nhiều lần có mặt tại chiến trường ác liệt này. Được đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát xuống động viên dặn dò nhân ngày đội 1 mừng công đánh cháy chiếc tàu dầu 15.000 tấn của Mỹ, là sự cổ vũ mạnh mẽ đối với toàn đội. Theo báo cáo của Đoàn 126, kết quả trong suốt 7 năm nằm vùng chiến đấu chiến trên trường Cửa Việt - Đông Hà, Đoàn 126 đã đánh trên 300 trận (đặc công), đánh chìm đánh hỏng nặng 336 tàu thuyền của Mỹ ngụy, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh góp phần cùng quân và dân Quảng Trị đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Với chiến công xuất sắc, Đoàn 126 đặc công Hải quân đã được 2 lần tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong đó có đội 1, đội 2 và đội 4 được tặng danh hiệu anh hùng, riêng đội 1 là đội được 3 lần tuyên dương anh hùng và 10 cá nhân được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Công lao, thành tích to lớn của Đoàn bắt nguồn từ sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt đường lối quân sự và nghệ thuật chiến tranh nhân dân, theo phương châm “lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh”. Xây dựng một đội ngũ tinh binh, tinh cán, coi trọng chất lượng, xây dựng tư tưởng con người làm sức mạnh quyết định trong chiến đấu và chiến thắng. Đi đầu của sự thành công đó là công sức của một tập thể Đảng ủy Quân chủng Hải quân và tinh thần dũng cảm, say mê đánh giặc của đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát. Vai trò, vị trí của đồng chí Tư lệnh, với kinh nghiệm của mình đã luôn luôn tạo ra được nhiều ý tưởng mới trong moi tình huống chiến đấu trên các chiến trường sông biển.

                Trong những năm chiến tranh phá hoại miền Bắc, máy bay Mỹ đánh phá rất ác liệt, chúng thực hiện âm mưu từng bước leo thang nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc vào miền Nam và giữ ổn định tình hình chính trị ở miền Nam, hòng nhanh chóng cứu sự sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn. Đầu năm 1965, tổng thống Mỹ Giôn-xơn vừa tuyên bố leo thang thì ngày 7 tháng 2 năm 1965, chúng đã cho máy ném bom xuống thị trấn Hồ Xá (Vĩnh Linh) và thị xã Đồng Hới (Quảng Bình). Ngày 13 tháng 2 năm 1965, Mỹ ném bom bắn phá ra tới vĩ tuyến 20 (địa phận Thanh Hóa) trên các trục giao thông đường bộ, đường thủy các tàu phà, bến cảng. Sau 10 ngày bắn phá leo thang, ngày 17 tháng 12 năm 1965, Giôn-xơn ra quyết định thường xuyên ném bom miền Bắc. Ngay sau đó chúng đánh phá ác liệt, ngày cao điểm có hơn 100 máy bay được phóng từ các tàu sân bay ngoài biển và các căn cứ không quân ở Đà Nẵng tiến công vào các mục tiêu ở miền Bắc với quy mô lớn. Theo lời công khai của Nhà Trắng, năm 1965 là 25.000 phi vụ, chúng gọi là chiến dịch “Sấm rền” hòng tạo ra gây sức ép với Chính phủ ta. Tổng thống Mỹ tuyên bố chuyển từ cuộc tấn công trả đũa sang một chiến dịch gây sức ép. Song song với việc tăng cường đánh phá miền Bắc bằng không quân và Hải quân Mỹ, tổng thống Giôn-xơn quyết định đưa thêm quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam lên tổng số 44 tiểu đoàn. Từ ngày 25 tháng 6 năm 1965, Mỹ cho máy bay xâm phạm Hải Phòng, Hà Nội, mức độ đánh phá ngày còn ác liệt và thường xuyên hơn.
   
                Ngày 20 tháng 7 năm 1965, Bác Hồ ra lời kêu gọi: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu, dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”(2). Đáp lời kêu gọi của Bác Hồ cả 2 miền Nam, Bắc dấy lên khí thế giết giặc lập công, nhiều máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc, nhiều trận đánh thắng vang dội, tiêu diệt nhiều sinh lực địch ở miền Nam. Lực lượng ta cả 3 thứ quân đánh còn mạnh. Mặc dù bị thất bại, Mỹ vẫn thực hiện ném bom trả đũa, leo thang thường xuyên và ngày càng ác liệt, năm 1965, gấp rưỡi lượng bom tháng cao điểm sử dụng trong cuộc chiến tranh Triều Tiên.
   
                Theo hồi ký của Mac Na-ma-ra Bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ, năm 1965 là 25.000 vụ, năm 1966 lên 79.000 vụ, năm 1967 lên 108.000 vụ cùng với số lượng bom tăng từ 63.000 tấn lên đến 136.000 tấn và lên tới 226.000 tấn. Cuối năm 1967, số lượng bom còn lớn hơn số lượng bom của Đồng minh thả xuống nước Đức trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Máy bay Mỹ còn ném bom gây tội ác lớn ở hai trung tâm thành phố Hà Nội, Hải Phòng. Hành động của Mỹ không ngoài âm mưu để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc vào miền Nam, làm cho tình hình chính trị ở miền Nam ổn định. Chúng còn gây áp lực đối với chính phủ ta, hòng tìm kiếm một giải pháp trên thế mạnh có lợi cho Mỹ.
   
                Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã phải cử 42 viên tướng từ cấp thiếu tướng đến cấp đại tướng, từ sư đoàn trưởng đến đô đốc hải quân, từ tham mưu trưởng lục quân đến chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân, thậm chí có cả cố vấn tối cao về an ninh của tổng thống, nhà chiến lược số 1 của Hoa Kỳ, ngoài ra còn có Bộ trưởng Bộ quốc phòng Mac Na-mara đã 3 lần sang chiến trường và lập hàng rào điện tử “Mac Na-ma-ra” vào năm 1967 đã được đưa tới miền Nam để trực tiếp thi thố tài năng. Nhưng mỉa mai thay tất cả đều chịu chung số phận thất bại. Theo thông báo chính thức của Lầu năm góc (trên báo chí) trong số này đã có 18 viên tướng và đô đốc bị chết và bị thương, đặc biệt có cả chuẩn đô đốc Rôbixơn cùng toàn bộ ban tham mưu ngồi trên máy bay chỉ huy thả thủy lôi, bom mìn phong tỏa xuống các cửa sông biển miền Bắc Việt Nam, bị bắn rơi chết trên vùng biển Bắc Bộ.
   
                Bất chấp sự phản đối của các nước trên thế giới và nhân dân Mỹ, ngày 26 tháng 2 năm 1967, máy bay Mỹ tăng cường phong tỏa thủy lôi, bom mìn xuống các cửa sông miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở vào, thuộc địa phận 3 tỉnh: sông Mã (Thanh Hoá), Cửa Hội (Hà Tĩnh), sông Gianh và sông Nhật Lệ (Quảng Bình), nhằm ngăn chặn các tàu chiến của Hải quân, các tàu thuyền nước ngoài và các tàu ngư dân đánh cá trên sông biển. Hành động của chúng đã gây ra sự bất đồng và nhiều cuộc tranh cãi kéo dài trong chính phủ Mỹ. Chính viên đại tướng Oét-mô-len trên cương vị tư lệnh các lực lượng Mỹ tại miền Nam Việt Nam bị chỉ trích nhiều nhất vì y đòi tổng thống Giôn-xơn tăng cường đánh phá phong tỏa miền Bắc và đưa thêm quân chiến đấu Mỹ vào chiến trường miền Nam Việt Nam.
   
                Đứng trước tình hình khó khăn, Mỹ ngày còn tăng cường phong tỏa nhiều hơn ở nhiều nơi trên các sông ngòi, các bến phà và cửa sông ven biển miền Bắc, với các thủ đoạn xảo quyệt, gây ra nhiều tội ác dã man. Ngày 27 tháng 3 năm 1967, Bộ Quốc phòng ra quyết định điều chỉnh tổ chức, hợp nhất Bộ Tư lệnh Hải Quân và Quân khu Đông Bắc, lấy tên là Bộ Tư lệnh Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc do đồng chí Nguyễn Bá Phát làm Tư lệnh, đồng chí Đoàn Phụng là Chính ủy. Đầu tháng 6 năm 1967, Trung ương Đảng ra nghị quyết thành lập Ủy ban chống phong tỏa do Bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Thanh Bình làm Trưởng ban. Đồng chí Tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát làm Phó ban và đồng chí Đặng Kinh, Tư lệnh Quân khu 3 làm Phó ban. Bộ Quốc phòng lấy Hải quân làm nòng cốt, tổ chức thực hiện rà phá, tháo gỡ thủy lôi bom mìn do máy bay Mỹ phong tỏa. Tuy vừa là Phó ban chống phong tỏa của Chính phủ lại vừa là Tư lệnh Hải quân nên đồng chí có trọng trách rất lớn trong việc giải phóng các tuyến đường giao thông trên sông và biển.
   
                Đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát đã nhanh chóng triển khai thực hiện với tinh thần tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của Bộ Giao thông và Bộ Quốc phòng. Trước hết các cán bộ kỹ thuật có hiểu biết và được học về binh khí kỹ thuật nói chung và thủy lôi, bom mìn nói riêng, trong đó có tôi, cũng được đồng chí Tư lệnh gọi về và được vinh dự giao phụ trách, lập ra bộ phận nghiên cứu thủy lôi, bom mìn của địch, bộ phận này lấy tên là TN1. Sau một thời gian 3 tháng nghiên cứu học tập và có sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô Makhốp và sự chỉ đạo chặt chẽ, sát sao của đồng chí Tư lệnh, đầu tháng 3 năm 1967, Bộ Tư lệnh Hải quân cử một tổ 3 người do đồng chí Trương Thế Hùng phụ trách vào sông Gianh, Cửa Hội, phối hợp với công binh Quân khu 4 trục vớt, tháo gỡ được 2 quả thủy lôi “MK52 và MK50”.
   
                Tiếp đến, ngày 17 tháng 3 năm 1967, Bộ Tư lệnh cử một tổ 3 người do tôi phụ trách vào sông Mã (Thanh Hóa), khu căn cứ K2 hải quân, sau 10 ngày chúng tôi đã trục vớt, tháo gỡ được 5 quả thủy lôi ký hiệu MK52 tại cửa sông Mã. Cả 5 quả có kích thước và trọng lượng giống nhau, dài 1,8 mét, đường kính 448 ly, trọng lượng nặng 516 kg. Kết quả này là tin vui, được đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát đánh giá cao, coi đây là trận thắng mở đầu trong chiến dịch chống địch phong tỏa bằng thủy lôi xuống sông biến miền Bắc nước ta. Đây còn là một vật phẩm, tư liệu quý giá trong việc nghiên cứu, khám phá ra các thông số bí mật của vũ khí địch, trên cơ sở đó tạo cho ta cách nghiên cứu đối phó hữu hiệu. Theo chỉ thị đồng chí Phát, bộ phận kỹ thuật TN1, đã nhanh chóng thiết kế, chế tạo ra các phương tiện, thiết bị rà phá thủy lôi, bom mìn của địch, làm ra đến đâu đồng chí Tư lệnh trực tiếp kiểm tra đến đấy. Từ khâu xét duyệt thiết kế, đến việc đôn đốc các xưởng thi công. Chính từ tác phong sâu sát, cụ thể và tính thận trọng chu đáo của Tư lệnh đã làm cho anh em trong đội ngũ kỹ thuật an tâm, tin tưởng, mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm phát huy được nhiều sáng kiến hay, nhiều đề tài tốt, kể cả những đề tài lớn, nhỏ. Đồng chí Phát tuy không phải là cán bộ kỹ thuật nhưng đồng chí đã quan tâm làm những việc kỹ thuật mà giá trị còn hơn cả kỹ thuật, giống như một “kiến trúc sư” của chiến tranh. Từ khi mở chiến dịch chống phong tỏa, đồng chí luôn có mặt ở những nơi khó khăn cần giải quyết. Năm 1967, Hải quân ta đã thực hiện đúng phương châm “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, sản xuất được một loại dụng cụ, thiết bị rà phá thủy lôi, bom mìn, để rà phá trên khu vực sông Mã, Cửa Hội, Đồng Hới, sông Gianh, đã mở thông luồng cho tàu thuyền đi lại an toàn.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 12 Tháng Hai, 2017, 11:00:37 PM
                Bị thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam Bắc nước ta, Mỹ buộc phải xuống thang và ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Nhưng bản chất đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố, thua keo này chúng bày keo khác. Ngày 5 tháng 9 năm 1972, Mỹ cho máy bay đánh phá ác liệt, phong tỏa trên 43 khu vực của 10 tỉnh, thành phố ven biển miền Bắc, chúng coi việc phong tỏa thả thủy lôi, bom mìn kết hợp với đánh phá trên khắp miền Bắc là “hành động quyết định”. Chúng ngăn chặn tàu thuyền vận tải trong nước và ngoài nước, đánh phá cửa biển Hải Phòng, Quảng Ninh biến thành hòn đảo cô lập và cắt đứt mọi quan hệ giao thông đường biển, mọi hoạt động tàu thuyền chiến đấu của Hải quân và tàu thuyền đánh cá của ngư dân. Máy bay Mỹ không những thường xuyên bắn phá kéo dài đến cuối năm 1972 mà chúng còn sử dụng loại máy bay chiến lược hạng nặng B52 ném bom vào hai thành phố Hải Phòng và Hà Nội với quy mô rất lớn. Theo chúng công bố vào những ngày cuối năm 1972 lên tới 35.000 tấn và hàng ngàn quả thủy lôi bom mìn thả xuống cửa sông miền Bắc nước ta. Tại Hải Phòng (cửa Nam Triệu) có ngày địch sử dụng 18 máy bay thả thủy lôi. Nhưng chúng không thể dùng sức mạnh quân sự để đe dọa quân và dân ta, mà còn bị thất bại nặng nề. Quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 chiếc B52 và nhiều giặc lái bị bắt sống. Cùng lúc đó, trên mặt trận giao thông đường thủy và đường bộ, ta đã phá hủy rà quét và vô hiệu hóa hàng trăm quả thủy lôi, hàng nghìn quả bom từ trường trong chiến dịch chống phong tỏa. Nổi bật nhất là Hải quân ta đã tập trung phương tiện, tổ chức rà quét thủy lôi trên các khu vực cửa Nam Triệu, Hải Phòng và Quảng Ninh, nhanh chóng giải phóng luồng lạch cho tàu thuyền ra vào cảng an toàn.

               Một hành động của đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát làm tôi rất cảm động, khi tôi đang thực hành đi trên tàu rà quét thủy lôi ở khu vực phao số 0, cửa Nam Triệu thì nghe đồng chí Tư lệnh động viên tôi qua máy bộ đàm hỏi thăm sức khỏe và tình hình diễn biến kết quả, để có chỉ đạo trực tiếp. Tôi biết đồng chí Tư lệnh đang đứng thâu đêm trên bãi cát Hoàng Châu, Cát Hải, nhìn ra giữa trong đêm trăng mùa thu tháng 8 năm 1972, cũng như nhiều đêm khác mà đồng chí Tư lệnh vẫn không ngủ. Trong những năm chống chiến tranh phong tỏa, Hải quân luôn luôn giữ vai trò nòng cốt trong việc rà phá thủy lôi bom mìn trên các cửa sông biển miền Bắc nước ta. Qua tổng kết Quân chủng Hải quân đã rút ra được nhiều kinh nghiệm, không những đảm bảo công tác kỹ thuật, công tác tổ chức lực lượng mà còn biết coi trọng yếu tố con người là nhân tố quan trọng trong mọi tình huống xảy ra. Tục ngữ có câu: “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”.
   
               Đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát là người đã gắn kết chặt chẽ giữa khoa học và thực tiễn, giữa tổ chức con người, “vừa hồng vừa chuyên”, trong chiến tranh chống địch phong tỏa miền Bắc. Đồng chí đã có nhiều cống hiến quan trọng trong xây dựng và chiến đấu với Quân chủng Hải quân trong suốt 20 năm qua. Có những chủ trương đúng đắn kịp thời trong từng giai đoạn, có nhiều công trình chiến đấu nổi bật. Cứ mỗi công trình đều mang theo chiến công, mỗi anh hùng mà giá trị của nó được mãi mãi lưu truyền trong lịch sử truyền thống của Hải quân nhân dân Việt Nam. Xin được lược lại bằng những dòng tóm tắt ngắn sau đây:
   
               - Việc sử dụng tàu phóng ngư lôi đánh tàu khu trục Ma-đốc của Mỹ xâm phạm vùng biển miền Bắc nước ta ngày 2 tháng 8 năm 1964.
   
               - Việc cải tạo vũ khí đưa bom chìm của tàu săn ngầm lên bờ thành bom phóng vào đồn địch ở cồn Tiên, Dốc Miếu, Quảng Trị năm 1967 - 1968.
   
               - Việc đưa tên lửa trên tàu, tên lửa đối không trên bờ, thành tên lửa đối hải để đánh tàu chiến Mỹ xâm phạm vùng biển Việt Nam.
   
               - Việc dùng tàu chiến đấu và tàu gỗ của Phân đội 23 Hải quân thả thủy lôi phục kích đánh tàu Mỹ, ngụy đi lại trên vùng biển miền Bắc và vùng biển Gio Linh (Quảng Trị).
   
               - Việc cải tiến sản xuất các tàu vận tải thành tàu giả dạng đánh cá, gọi là tàu không số của Đoàn 125 Hải quân, để chuyên chở vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam.
   
               - Việc tổ chức đội đặc công Đoàn 126 Hải quân mang vác thủy lôi sau khi được cải tiến sản xuất phù hợp với sức người mang vào thả trên sông Cửa Việt, Đông Hà (Quảng Trị) để đánh tàu Mỹ ngụy đi lại vận chuyển hàng hóa, vũ khí trên sông này.
   
               - Việc sản xuất thiết kế các loại thiết bị rà quét, phá nổ thủy lôi, bom từ trường của địch như: khung dây từ trường dưới nước, trên bờ, thiết bị rà quét phá nổ từ trường và âm thanh: HT5, HT6, T150, PD67, HDL9, T412, 311, 480 và canô phóng từ không người lái (tự động). Ngoài ra còn nhiều dụng cụ thô sơ khác là từ vật liệu đơn giản và vật liệu có sẵn trong Quân chủng để rà quét, phá nổ thủy lôi bom mìn của địch, thông luồng rạch giao thông trên sông và trên biển, bảo đảm cho các tàu trong nước và tàu nước ngoài ra vào cảng an toàn.
   
               Tất cả những công trình đó đều cuốn hút lòng say mê và trách nhiệm của đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát. Kết quả công trình được đánh giá không chỉ là một thành công rất lớn mà còn là một kỳ tích của Quân chủng Hải quân trong những năm chống Mỹ cứu nước. Hải quân nhân dân Việt Nam đã vinh dự được Đảng và Chính phủ tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Được tặng 1 Huân chương Sao Vàng, 1 Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân Chương Độc Lập, 3 Huân chương Lao Động. 49 đơn vị và 31 cán bộ, chiến sĩ được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Bộ đội Hải quân rất vinh dự đã được 3 lần Bác Hồ về thăm vào các năm: 1959, 1961, 1962. Bác đã căn dặn cán bộ chiến sĩ Hải quân “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có trời, có biển, bờ biển ta dài tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.
   
               Thành tích của quân chủng Hải quân trong suốt giai đoạn chiến tranh chống Mỹ, đã gắn liền với công lao đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát. Đồng chí còn là một nhân chứng lịch sử, một nghệ thuật quân sự ở tầm cao chiến đấu và chiến thắng Mỹ của Hải quân nhân dân Việt Nam. Một điều mà chúng tôi noi gương học tập ở đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát chính là tài năng sáng suốt và lòng tự tin khi đảm nhiệm trọng trách được Nhà nước và Bộ Quốc phòng giao. Đồng chí Nguyễn Bá Phát đã xứng đáng được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình khoa học kỹ thuật “Rà phá thủy lôi bom mìn do máy bay Mỹ thả phong tỏa trên sông biển miền Bắc Việt Nam”.
   
               Tuy đã lâu, tôi còn nhớ lại tại nhà khách Bộ Quốc phòng, ngay giữa Thành phố Hồ Chí Minh, Ban tổ chức đã trân trọng công bố Quyết định của Chủ tịch nước. Trung tâm gian phòng có hàng chữ lớn: “Lễ trao giải thưởng Hồ Chí Minh” bên cạnh là tượng Bác Hồ và lẳng hoa nhiều màu sắc. Đồng chí Trung tướng Võ Nhân Huân, Ủy viên Trung ương Đảng thay mặt Bộ Quốc phòng đọc và trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 cho đồng chí Nguyễn Bá Phát. Người nhận thay là con trai đầu Nguyễn Bá Tài. Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật ghi nhận công lao của vị Tư lệnh với Quân chủng Hải quân. Sau đó, đồng chí Võ Nhân Huân đại diện Bộ Quốc phòng mở tiệc chiêu đãi cho những người nhận giải. Nhìn trên mâm có chai sâm banh tôi lại thoáng nghĩ về anh Nguyễn Bá Phát, anh không còn nữa, anh đã mất khi đang nghỉ hưu chữa bệnh tại quê nhà. Trong giờ phút thiêng liêng ấy, Bộ Thủy sản có lập bàn thờ cho các cán bộ trong ngành đến viếng anh tại Hà Nội khi anh chuyển qua làm Thứ trưởng Bộ Hải sản. Còn Hải quân có cử đại diện vào quê viếng anh và chia buồn cùng gia đình. Do điều kiện khó khăn nên không lập bàn thờ để viếng theo sự mong đợi của các cán bộ Hải quân tại Hải Phòng, cũng là mong muốn một vị Tư lệnh là thủ trưởng chính của mình trong 20 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành. Với nghĩa tử là nghĩa tình mà tâm trạng tôi và một số anh em cũng mong sao được vào viếng một người anh có công lao, có tình nghĩa với Hải quân để không được nhìn anh ra đi lần cuối cùng và thắp nén hương trước vong linh người đã mất, mà còn được ghi vào sổ tang gia đình một dòng chữ: “Thương tiếc anh vô hạn, đời đời biết ơn anh”. Anh ra đi để lại trang sử truyền thống vẻ vang cho Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng và đã làm sáng lên cho mọi người noi gương học tập.
   
               Buổi lễ hôm ấy, trong không khí vui chung cũng còn thoang thoảng nét sâu lắng một thời đã được ghi bằng nhiều bức tranh anh không bao giờ quên. Tất cả mười chúng tôi cùng được nhận giải, tôi xin đại diện cho đồng chí Nguyễn Bá Phát xin trọn tấm lòng, cảm ơn Đảng và Nhà nước, cảm ơn Bộ Quốc phòng, cảm ơn Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Hải quân. Tôi cũng xin nặng tình cảm ơn đồng chí Phát đã dìu dắt, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Chúng tôi xin hứa sẽ phát huy hơn nữa thành tích đã đạt được để ngày càng có thêm những công trình khoa học đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của đất nước.


                              
N.S.T



(1). Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H.2002, tr.303.
(2). Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H.2002, tr.470.


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 12 Tháng Hai, 2017, 11:03:27 PM
TƯ DUY QUÂN SỰ CỦA ĐỒNG CHÍ TƯ LỆNH HẢI QUÂN
Đại tá Triều Tiên(1)

                 Quá khứ oanh liệt của các trận thắng lợi vẻ vang trên chiến trường Liên khu 5 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 đã chứng minh sự đóng góp của quân và dân các địa phương dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Chánh. Đồng thời, có sự góp mặt xứng đáng của đồng chí Nguyễn Bá Phát, được đông đảo đồng bào, cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang Liên khu 5 thừa nhận và tôn vinh.

                  Trong hàng ngũ cán bộ chỉ huy tại chiến trường Liên khu 5 từ thời kỳ đầu đánh Pháp, có đông đảo cán bộ của Đội du kích Ba Tơ, của các chiến khu Việt Bắc, của các chi đội Nam Tiến, kể cả một số cán bộ được đào tạo tại các chiến trường của Pháp, Nhật có quân hàm từ cấp úy trở lên. Nhưng thực tiễn chiến trường và quần chúng cách mạng lại xác minh và tôn vinh một người như Nguyễn Bá Phát, học vấn chỉ trình độ sơ học, nghiệp vụ nhà binh chỉ là một pháo thủ của Hải quân Pháp, thành phần gia đình trung nông. Vậy đâu là bệ đỡ cho tài năng tạo nên sự nghiệp vẻ vang như thế của Nguyễn Bá Phát?
   
                  Tôi được biết anh Phát khi cùng tham gia Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác của Trung đoàn 95, tháng 3 năm 1946 tại Bình Định. Lúc đó, anh ở trong đội pháo thủ Hải quân thành phố Quy Nhơn, không ai biết đến, không ai dám giao trách nhiệm, kể cả trận đánh diệt gọn 50 tên ở nhà băng Quy Nhơn vào tháng 12 năm 1945. Lúc ấy được tàu Pháp kéo đến ngoài biển Quy Nhơn, để phối hợp với Nhật trong đất liền, nhưng do ta diệt bọn Nhật trong nhà băng, nên quân Pháp phải rút tàu về Nha Trang.
   
                  Người tài được trọng dụng phải có cơ chế và có người biết dùng người tài. Đồng chí Nguyễn Đức Minh (Tư Tổng), lúc đó là Chính ủy Trung đoàn 95 cùng các đồng chí lãnh đạo khác đã phát hiện và đề xuất với Đảng để anh Phát nhận công tác Tham mưu trưởng Đại đoàn 23. Khi toàn quốc kháng chiến, anh giữ trọng trách Chỉ huy phó trong Bộ Chỉ huy Quân Sự Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, rồi về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108, Tham mưu phó Liên khu 5. Tài năng của anh đã được thử thách. Quần chúng nhớ anh là người trọng tài phán quyết trung thực và khách quan nhất. Vậy những đức tính bản thân nào giúp anh vượt lên và thành công?
   
                  Với chỉ số thông minh vào loại cao, cộng với đầu óc thực tế, tìm tòi sáng tạo, tìm cho ra chân lý, nghe ngóng gần gũi quần chúng, giúp đồng chí, hình thành trong đầu óc một tư duy quân sự rất đặc biệt, nắm bắt được sự vận động của chiến trường, quy luật của chiến thuật, chiến dịch, chiến tranh để vận dụng và điều khiển nó. Sự vật trong tự nhiên cũng như trong xã hội, vận động theo phép biện chứng duy vật, chứ không theo ý muốn chủ quan của con người, tùy ý muốn áp đặt cho nó. Nếu người nào sâu sát, tìm hiểu quan sát được quy luật ấy, nắm được quy luật ấy thì thành công. Nếu giáo điều chủ quan, quan liêu xa rời quần chúng, thì không thể nào hiểu và nắm được để vận dụng. Anh Phát nhờ đức tính sát thực tế, gần gũi quần chúng, quan sát kỹ từ hiện tượng đến bản chất vấn đề nên có tư duy quân sự sáng tạo và chính xác.
   
                  Qua những việc anh làm từ chuẩn bị chiến trường, điều khiển hành trú quân, tổ chức quan sát thực địa, ra mệnh lệnh giao nhiệm vụ cho các cá nhân và đơn vị, cũng như thực hành chiến đấu qua từng giai đoạn, anh có học bài bản, trường lớp nào đâu (chỉ sau này anh mới đi học ở Học viện Hải quân nước bạn). Vậy tri thức ấy do đâu mà có, nếu không phải nhờ hệ số thông minh và tính thực tiễn cao, sự rèn luyện bản lĩnh tư duy chỉ huy, một ý chí và quyết tâm cao trong hành động; bài học quyết tâm anh không học trong sách vở mà trong thực tiễn cuộc sống, phát hiện từ trong bản chất của sự vật nó. Trong khi đó nhiều cán bộ có học vấn cao, có bằng cấp, lúc đi tổ chức các trận chiến đấu không cần quan sát thực địa, không cần giao nhiệm vụ, không biết địch tình và địch phản ứng ra sao, địa hình ảnh hưởng đến các mũi tấn công ra sao! Quy luật của chiến tranh, do tác động của con người từ hai phía nên sự qua loa đại khái, hời hợt, thiếu sâu sát, thì không khi nào nắm và vận dụng được nên dễ chuốc lấy thất bại. Chân lý xuất phát từ thực tiễn chứ không phải chỉ trong sách vở.
   
                  Một điểm nữa cần nghiên cứu là đặc điểm chiến tranh nhân dân và chiến tranh du kích của chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng cũng như ở các nơi khác đã phát triển đến đỉnh cao, phản ứng trong tư duy của người chỉ huy ấy có những sáng kiến và quyết định sáng tạo, đó là một bệ đỡ nữa cho tài năng của đồng chí Phát.
   
                  Chiến tranh nhân dân là chiến tranh của toàn dân tại địa phương dùng mọi vũ khí đánh giặc vừa “du” vừa “kích”. Ta đánh mọi nơi, mọi lúc, bám trụ, một tấc không đi, một li không rời, nắm thắt lưng địch mà đánh, chỉ một số đặc biệt phải sơ tán, tất cả đều ở lại đánh địch, đánh toàn diện, quân sự, chính trị, kinh tế, binh vận, v.v...
   
                  Sau này bắt đầu chiến tranh cục bộ, Trung ương đã tổng kết hai chân ba mũi và ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng, đô thị, từ thực tiễn chiến tranh nhân dân và du kích trong thời kỳ chống Pháp nhất là ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ 1949 - 1954, tại mặt trận Quảng Nam, ta đã mở liên tiếp nhiều chiến dịch, như chiến dịch Võ Nguyên Giáp, chiến dịch Hoàng Diệu, chiến dịch hè Quảng Nam 1952, chiến dịch đường 101 và chiến dịch Xuân 1953 - 1954. Với điều kiện chiến tranh nhân dân phát triển cao độ ở các xã, huyện, toàn tỉnh, toàn dân đánh giặc, ta đã đưa hàng chục tiểu đoàn cơ động, hàng 2 - 3 Trung đoàn vào vùng địch tạm chiếm giữ hệ thống phòng ngự chằng chịt của địch. Ta biến hậu phương địch thành tiền tuyến và chiến trường của ta. Ta đã kết hợp chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích ở địa phương với chiến tranh của các binh đoàn cơ động, kết hợp chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, kết hợp du kích và vận động chiến, kết quả tất yếu buộc địch phải kết thúc chiến tranh, ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ.
   
                  Tính thực tiễn và lòng quyết tâm kiên trì không mệt mỏi, khi đồng chí Phát về làm Tư lệnh Hải quân, đã phát huy hiệu quả, khi anh dám đề nghị lên Bộ Tổng tham mưu thành lập đặc công nước đánh phá hàng trăm chiếc tàu chiến dịch tại Cửa Việt, Hàm Luông, v.v...
   
                  Sau bao lần tàu ta phóng lôi xuất kích, không vượt qua được mà ra-đa và làn pháo bắn chặn của tàu địch, anh nghiên cứu sức người, nghiên cứu cách trang bị, nuôi dưỡng tập luyện để dùng sức người thay vũ khí, thay tàu, Hải quân ta tìm cách tiếp cận đưa bom và mìn vào tàu địch để tiêu diệt chúng. Anh đã nghiên cứu tại thao trường đặc công nước hàng tháng trời để rút kinh nghiệm. Cùng với cách nghiên cứu tỉ mỉ và một quyết tâm cao, anh đã lãnh đạo và chỉ huy đoàn tàu không số tiếp tế vũ khí, đạn dược và vận chuyển cán bộ phục vụ cho các chiến dịch ở chiến trường miền Nam. Thành tích rà phá bom mìn, giải phóng nhanh tàu quốc tế ra vào cảng Hải Phòng làm bạn bè quốc tế, kể cả cấp chỉ huy Hải quân Mỹ cũng phải kinh ngạc, khi sau này họ phải đến bờ biến Hải Phòng “kéo cày” trả nợ để rà phá mìn cho ta, theo quy định của Hiệp định Pa-ri. Nguyễn Bá Phát đã ra đi năm 1993. Cán bộ và chiến sĩ Hải quân cũng như Liên khu 5 thương tiếc một người chỉ huy sâu sát, rất có trách nhiệm, rất mực yêu và thông cảm cấp dưới, gần gũi với mọi người. Dù ở vị trí gần hay xa, cao hay thấp, họ đều thấy lúc nào anh Phát cũng quan tâm lo lắng ch0 mình như người chỉ huy, người đồng chí, người bạn, không có một hàng rào ngăn cách nào.
   
                  Viết mấy dòng làm sao nói hết tầm cao trí tuệ và tâm hồn của anh, nhưng cũng như thắp lên một nén hương để sáng mãi trong lòng, nhớ người cán bộ chỉ huy hiếm có, một người bạn, một người đồng chí trung thực và chung thủy.


                              
Τ.Τ



(1). Nguyên Đội viên Đội du kích Ba Tơ (Quảng Ngãi), sau là cán bộ bộ binh của Liên khu 5, cán bộ Hải quân nhân dân Việt Nam.




Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 13 Tháng Hai, 2017, 11:07:47 PM
TỪ TRẠM PHẪU THUẬT TIỀN PHƯƠNG
Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Viết Định

               Đông Xuân 1948-1949, hướng tiến công chủ yếu của chủ lực Liên khu 5 lúc ấy là tây bắc Hòa Vang. Tiểu đoàn 79 phối hợp với Tiểu đoàn 19, thuộc Trung đoàn 96 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát chỉ huy, có kế hoạch đánh địch vận chuyển trên đường xe hơi và đường xe lửa tại đèo Hải Vân, đó là vào khoảng 9 giờ ngày 21 tháng 1 năm 1949. Tin thắng trận quá vui, chúng tôi băng bó vết thương cho thương binh, làm việc liền tay không nghỉ. Một thương binh bị vết thương đứt mạch máu cánh tay, máu từ động mạch phun ra đầy cả mặt mũi và áo, tôi loay hoay mãi mới kẹp được mạch máu. Mấy phút sau có ba, bốn anh dừng chân, thấy máu me đầy mặt, các anh động viên chúng tôi cố gắng băng bó, cầm máu cẩn thận cho anh em. Anh đeo súng ngắn bảo người đi cùng “cho các cậu một bao thuốc”. Khi các anh đi rồi chúng tôi mới biết tên anh là Nguyễn Bá Phát, chỉ huy mặt trận. Tôi đã từng nghe tên anh nhưng chưa biết mặt, giờ mới gặp, tiếc rẻ một cơ hội. Về chiều, thương binh đã mãn, chúng tôi được lệnh nhổ trạm đi theo đại quân, không được chậm trễ. Nhớ lai hình ảnh người chỉ huy mặt trận, tôi phác họa ông: dáng người tầm thước, chắc nịch, da ngăm đen, tóc húi cua, cặp mắt sâu, lông mày rộng, giỏi trận mạc và có lòng thương yêu chiến sĩ. Tối hôm ấy, trên đỉnh đèo Hải Vân rét lạnh, chúng tôi khui bao thuốc, hút để “chống rét”. Đó là bao thuốc Basto chiến lợi phẩm của người chỉ huy mặt trận tặng cho để động viên cấp dưới làm nhiệm vụ. Hành quân và sống bí mật giữa núi rừng đã hơn 3 tháng trời, thiếu thuốc hút, ai cũng thèm, nhưng lấy đâu ra của hiếm ấy. Rít một hơi cho đã, có người đã say ngã, vì buồng phổi lâu nay hít khí trời trong lành, nay khói thuốc vào sâu trong buồng phổi, theo dòng máu đi vào các tế bào cơ thể nhất là tế bào thần kinh, ai nấy đều lảo đảo. Nhưng thèm thuốc lá thời ấy, là bệnh của chiến sĩ, những nông dân mặc áo lính, ai chẳng ghiền thuốc, mặc dầu nghe nói “hút thuốc có thể có hại cho sức khỏe”. Khói thuốc bay theo chiều gió, lính ta đánh hơi được đi lùng, chẳng may bị phát hiện, không thể giấu được, đành phải tự thú, ai nấy cũng muốn hưởng lộc của người chỉ huy mặt trận ban cho, lúc đầu nửa điếu một người, sau đó mỗi người rít một hơi, cũng không đủ đều khắp cho các con nghiện. Cho đến nay bao thuốc Basto của anh Nguyễn Bá Phát cho ngày ấy vẫn còn giữ nguyên kỷ niệm đẹp trong tôi.
   
                    Cần nói thêm một điều là qua nhiều ngày hành quân cơm vắt, muối mè, kham khổ, thèm ăn, nhưng thắng trận rồi nhân dân địa phương, tiêu biểu các bà mẹ, các chị nấu cho nhiều thúng cơm đầy, khói nghi ngút, thơm phức. Thức ăn thì cả nồi tôm tươi vàng rụm, thế nhưng mỗi người chỉ ăn lưng chén, vài con tôm, đã thấy ngoài bụng chán ăn. Hình như nỗi mừng vui chiến thắng, được sự động viên của cấp chỉ huy mặt trận, niềm vui tinh thần đã lấn át cái thiếu thốn vật chất bình thường hàng ngày, đôi khi khao khát đến nao lòng!
      
                    Chiến dịch kết thúc, Trung đoàn tổ chức hội nghị tổng kết từ cấp đại đội trở lên, tại vùng tự do Liên khu 5, chủ trì Hội nghị là anh Nguyễn Bá Phát và anh Nguyễn Quyết. Hội nghị thảo luận và rút kinh ngiệm về nhiều vấn đề, tôi nhớ lời giải thích hình tượng của anh Nguyễn Bá Phát với Hội nghị về vũ khí mới Ba-zô-ka: “nó dài bê dai, nòng bê lớn, viên đạn bê to, bê cao, bê dai, như dầy”... thành khẩu hiệu Vui giải trí của quân ta động viên nhau khi gặp việc nặng nhọc, khó khăn.
      
                    Tập kết ra Bắc, một số các chị, vợ của cán bộ Liên khu 5 cùng ra Bắc trên những chuyến tàu khác nhau. Một số các chị về công tác tại cơ quan Chi Sở Thuế vụ tỉnh Thanh Hóa. Tình cờ hôm tôi về thăm vợ tôi ở đó, gặp anh Nguyễn Bá Phát cũng về thăm chị Điểm, vợ anh, chỉ cách giường nằm của chúng tôi một miếng cót nan nhìn xuyên thấu trời đất. Tỉnh Thanh Hóa lúc đó, đói lắm, lấy đâu ra chỗ tươm tất cho cán bộ tập kết. Hình như anh đang giữ chức Tư lệnh Hải quân (?). Chị Điểm giới thiệu với anh, tôi là Y sĩ quân đội tập kết. Sau cái bắt tay mặn mà của nhà lính, tôi nhắc lại ông vua giao thông chiến của bắc Liên khu 5, anh tròn xoe đôi mắt nhìn tôi, tay lắc mạnh đôi vai: Thế cậu cũng ở mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng à? Tôi nhắc lại đã gặp anh ba lần, cùng trò chuyện, được anh cho gói thuốc lá Basto. Thời gian thăm vợ không nhiều, chỉ nhắc đôi điều kỷ niệm đã ấm áp lòng nhiều lắm, không nên để mất nhiều thì giờ vàng ngọc của nhau.


                                 
L.V.Đ



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 13 Tháng Hai, 2017, 11:12:10 PM
NHỮNG GÌ TÔI BIẾT ĐƯỢC VỀ NGƯỜI CHỈ HUY CỦA TÔI
Trung tá Lê Đình Kiến

                    Thời trai trẻ

                 Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, đông con: 5 gái 4 trai, ông Phát là người con thứ 6 (con cả gọi là thứ 2). Tên hồi nhỏ của ông là Bảy Thiệp. Chịu ảnh hưởng từ người cha: cụ đồ nho, cũng là thầy địa lý có uy tín trong làng. Nhà đông người nhưng không hề nghe tiếng cãi vã hay đánh mắng mà chỉ có tiếng cười đùa, tiếng nhắc nhở nhè nhẹ của người cha. Ông Phát ban đầu học chữ Nho tại nhà, nhưng thời ấy chữ Nho không còn được coi trọng, nên ông chuyển sang học quốc ngữ ở trường Quan Nam. Thầy giáo Khiết người làng Hương Phước dạy ở đây. Thấy trò Thiệp (Phát) chăm học thông minh tháo vát, lại mạnh dạn hỏi lại thầy những gì thắc mắc khi chưa hiểu, nên thầy Khiết mến thương, quan tâm kèm cặp chỉ vẽ thêm ngoài giờ. Học quốc ngữ Chưa được 6 tháng gặp kỳ thi Sơ học yếu lược, thầy Khiết khuyến khích trò Thiệp nộp hồ sơ xin thi. Kết quả là trò Thiệp (Phát) đỗ Sơ học yếu lược. Thông thường thời bấy giờ học sinh phải học 3 năm qua 3 lớp năm, tư, ba (nay gọi là lớp 1, lớp 2, lớp 3) thì mới đủ trình độ đi thi yếu lược.

              Thời đó muốn học lên nữa, thì phải xuống Đà Nẵng mới có trường, ở quê ra phải ở nhà trọ. Gia cảnh nhà ông Phát không đủ khả năng đài thọ cho con đi học xa, mặc dù cha mẹ bà con rất mong muốn. Nghỉ học lúc này ông Phát đã 15-16 tuổi, vốn ham thích bay nhảy, không muốn bó chân quanh lũy tre làng, nhà lại không nhiều ruộng đất, hơn nữa sau ông có người em trai Nguyễn Bá Phước - sinh năm 1924 (ông Phát sinh năm Nhâm Tuất, 1922) ít được học hành lại ham mê siêng năng trong việc đồng áng có thể thay thế các anh.
   
              Những năm 1938 - 1939 để chuẩn bị đối phó với Đại chiến thế giới lần thứ 2 sắp nổ ra, thực dân Pháp hô hào ráo riết bắt lính. Ông Phát nằm trong đội quân nông dân thất nghiệp được tuyển vào đội quân ONS (lính thợ). Nhưng rồi nước Pháp nhanh chóng thua trận nên kế hoạch điều lính từ Đông Dương không thực hiện được. Ông Phát xuất ngũ trở về quê hương, trải qua những tháng ngày thất nghiệp. Có người anh rể, chồng người chị cả là ông Cai Xoài đang là cai lính thủy đóng ở Sài Gòn, ra dắt dẫn anh làm đơn đăng ký lính thủy. Ông Phát trúng tuyển đầu quân vào chiến hạm La Motờ Pic-kê đóng ở Sài Gòn khoảng 1940 đến tháng 3 năm 1945. Sau khi Nhật hất cẳng Pháp, ông Phát cùng nhiều thủy thủ rời bỏ hạm đội về lại quê hương. Trong những ngày sục sôi cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia dân quân tự vệ, làm Đại đội trưởng dân quân làng Trung Sơn quê hương ông. Nhạy bén trước lời kêu gọi của Chính phủ cụ Hồ Chí Minh chi viện cho chiến trường Nam Bộ đang bị thực dân Pháp đánh chiếm, ông là một trong số thanh niên ở Quảng Nam - Đà Nẵng hăng hái xung phong vào quân giải phóng (sau này là Vệ Quốc đoàn). Vốn thông minh tháo vát lại được tiếp thu ít nhiều kiến thức quân sự thời làm lính Pháp, nên khi nhập ngũ không trải qua làm lính mà được cử ngay làm Chỉ huy phó mặt trận Buôn Ma Thuột.
   
              Toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946, ông được điều về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 7 (tiếp phòng quân) sau đổi là Trung đoàn 96. Trong hơn 6 tháng quần nhau với giặc Pháp ở mặt trận Đà Nẵng, Trung đoàn 96 được đồng chí Phạm Văn Đồng tặng lá cờ danh dự với hai chữ vàng “Giữ vững” (tháng 5 năm 1947)


                Chiến thắng Hải Vân, chiến thắng thần kỳ
                Cầm trong tay Tiểu đoàn 19 và Tiểu đoàn 79 cùng một lực lượng dân công đi cùng, hơn 1800 con người, đi ban ngày với đường mòn xuyên núi cũng không dễ đi nhanh, chỉ cần một người dừng lại một vài phút thì cả đoàn ùn tắc. Khoảng 7 giờ tối, tôi được phía trước truyền lại lệnh: “sẵn sàng cởi quần để lội qua sông” (đoạn dưới thác Cổ Ngựa, trên sông Cu Đê). Lệnh đó cứ trước chuyền cho người sau đến hết đoàn quân. Tôi ở vào 1/3 đoàn quân phía sau. Lệnh truyền có nghĩa phía đầu đoàn quân đã bắt đầu lội qua sông. Thế mà đến hừng sáng hôm sau, chỗ tôi mới tiếp cận đến bờ sông! Thế là có dịp cho lau lách cứa cào rách mông đùi của lính và người Trung đoàn trưởng cũng phải chịu số phận đó.
   Kết quả chiến thắng Hải Vân thì đã có sử sách của Tiểu đoàn 19 - 79, sử Trung đoàn 96, 108 ghi lại rồi. Tôi là lính trận này, tôi chỉ kể những gì mình trải qua. Hành quân ra trận cũng nhiều gian truân, tôi nêu vài hình ảnh trong đêm 22, 23 tháng 1 năm 1949 trên đường ra trận, từ hậu phương Đại Lộc và tây bắc Hòa Vang đi ban ngày.
   Đánh thắng rồi, đường lui quân sao mà nhanh; dễ dàng không phải leo núi, lại được cười nói to, lại còn có bánh tét, bánh in ngày tết. Là lính nên càng phấn khởi gấp bội khi hành quân về ít vất vả, thoải mái chỉ biết hoan hô thủ trưởng!
   Sau đó có dịp ngồi lại, gặp những người trong cuộc, gặp những cụ người địa phương ở Thủy Tú, Kim Liên, Quan Nam, Xuân Thiều, Nam Ô, những người góp công cho chuyến lui quân vượt sông Trường Định hồi ấy tấm lòng tốt của đồng bào tây bắc Hòa Vang dành cho bộ đội cho ông Phát người con của quê hương. Mới thấy hết sự thông minh của người chỉ huy tài ba, táo bạo trong việc lên kế hoạch lui quân ngay giữa lòng dân mà địch phải cho là “xuất quỷ nhập thần”. Khi địch bao vây phong tỏa đường về của ta bằng 8 tiểu đoàn cơ động.


                   Một sự tình cờ may mắn!

                 Toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm 1946, tôi cùng Đại đội tự vệ Hỏa xa Đà Nẵng bổ sung vào Trung đoàn 96. Tôi được biên chế làm lính ở Đại đội 4 Tiểu đoàn 18 trong trận đánh ở làng Đà Sơn về phía tây Đà Nẵng, tôi bị thương. Sau khi khỏi ra viện tôi hỏi đường tìm về đơn vị, thì vào đúng chỗ Sở chỉ huy Trung đoàn 96, lúc này đang đóng tại Hà Tân, Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Tình cờ tôi gặp ông Phát, ông cầm tay giới thiệu: “Đây là chú em con dì ruột tôi tên là Lê Đình Kiến, tự vệ công nhân Hỏa xa bổ sung cho 96, bị thương trong trận địch tấn công đèo Đại La”! Ông xem chỗ bị thương trên mặt tôi, xoa tay vào chỗ sẹo và nói vui: “vẫn còn bảnh trai chán”. Rồi như sực nhớ điều gì, ông nói tiếp: “Anh tí nữa cũng bị địch bắn vào đầu. May nhờ lính chú em cứu nguy mà anh thoát hiểm!” Tôi ngớ người, gượng cười qua quít, nghĩ rằng ông đùa cho vui và an ủi tôi, vì biết tôi còn đau do đạn xuyên gãy răng chứ ông cũng biết tôi chỉ là lính trơn, theo cách gọi bây giờ là anh binh nhì, thì làm gì còn có lính nào dưới quyền tôi mà nói lính tôi cứu người chỉ huy Trung đoàn. Sau này có dịp tìm hiểu mấy anh chỉ huy, thì được biết có một sự kiện như sau: trong một lần đứng quan sát bên một gốc cây ở đồi núi Tùng Sơn, ông Phát dẫm phải ổ kiến bù nhót (loại kiến cắn rất đau). Ông cúi xuống phủi kiến ở chân, thì cũng ngay lúc đó địch bắn liền 2 phát. Đầu đạn cắm vào thân cây ngang tầm đứng của ông Phát. Thật là một sự may mắn ngẫu nhiên! Tôi tên là Kiến tôi bỗng dưng được thơm lây: “công của họ nhà kiến” đã cứu nguy một người chỉ huy, xông xáo luôn luôn tiếp cận, dọc ngang trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng trong những năm kháng chiến chống Pháp. Trong chống Mỹ, ông là Tư lệnh Hải quân cho đến khi ông chuyển qua làm Thứ trưởng thường trực Bộ Hải sản. Xông pha ngang dọc trên đất liền, ngoài biển khơi, kẻ thù không làm gì được ông. Biển giã không làm gì được ông. Ông qua đời vì bệnh tật.

                                 
L.Đ.K





Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 13 Tháng Hai, 2017, 11:16:34 PM
NGƯỜI CHỈ HUY SỐNG ĐẦY TÌNH NGHĨA
Đại tá Đỗ Anh Tịnh(1)

                  Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) ở chiến trường Liên khu 5, trong hàng ngũ cán bộ chỉ huy quân sự cấp trung đoàn, anh Nguyễn Bá Phát thường được ca ngợi là người chỉ huy dũng cảm, đầy mưu trí sáng tạo. Anh được sự tín nhiệm của cấp dưới “có anh Phát chỉ huy là chiến thắng”

                 Trận Konplong mãi mãi lưu tên anh

                 Trong quá trình chiến đấu các đơn vị bộ đội chủ lực Liên khu 5 đã trưởng thành, chiến thắng nhiều trận lớn chiến thuật phục kích, vận động chiến. Bước vào giai đoạn mới yêu cầu có tính chất chiến lược là phải tiêu diệt địch trong công sự kiên cố những nơi địch có lực lượng vật chất (vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men, v.v...).

                  Đối với bộ đội Liên khu 5, việc đánh công kiên tiêu diệt cứ điểm lớn của địch chưa có tiền lệ. Nhiệm vụ mới này được giao cho Trung đoàn 108 do đồng chí Nguyễn Bá Phát làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Lập là Chính ủy đảm nhiệm. Nhận nhiệm vụ, Trung đoàn nhanh chóng triển khai công tác chuẩn bị. Cán bộ từ trung đội trưởng trở lên được tập huấn tiếp nhận tư tưởng chiến thuật mới do Bộ Tổng Tư lệnh chuyển vào. Một loại vũ khí mới có sức công phá mạnh ĐKZ (đại bác không giật) cũng được trang bị.
   
                  Konplong, một căn cứ tiền tiêu của địch nằm phía đông bắc tỉnh Kon Tum (Tây Nguyên) một cứ điểm có đầy đủ các yếu tố theo yêu cầu của trận đánh.
   
                  Sau khi chọn xong điểm quyết chiến, một kế hoạch tác chiến được đưa ra lấy ý kiến dân chủ của đội ngũ cán bộ Trung đoàn. Một số vấn đề khó khăn nhất là chiến đấu trận nội (trong đồn địch) làm sao giải quyết các hỏa điểm mạnh, nhất là “lô cốt mẹ” nếu không đưa được ĐKZ vào. Vấn đề này đã làm Trung đoàn trưởng mất ăn, mất ngủ và cuối cùng một ý nghĩ táo bạo đã xuất hiện trong tư duy của người chỉ huy. Phải làm những “chiếc xe công sự” có bánh di động, trên đặt ĐKZ đấy vào trận nội, các xạ thủ được an toàn đứng trong, đẩy xe đến sát mục tiêu nhả đạn.
   
                  Là một công trình mới mẻ được các xưởng quân giới toàn Liên khu dồn sức nhanh chóng hoàn thành. Trước khi bàn giao cho Trung đoàn, các chiếc xe đã được kiểm tra và thử nghiệm đầy đủ. Xe được một lớp thép dày bọc ngoài có thể chống được đạn trọng liên, ở giữa là những lớp bao cát, bên trong lại một lớp thép. Dưới bệ lắp các bánh xe sắt có vòng bi lăn nhẹ nhàng, phía trước có cần lái, dọc thành xe bên trong là tay vịn để đẩy xe, các giá lắp súng, thùng đạn đã được lắp đặt cố định. Khi những chiếc xe đã hoàn thành được đưa vào tổng diễn tập, trước khi được tháo rời từng bộ phận giao cho dân công hỏa tuyến khiêng vượt đèo, dốc lên chiến trường.
   
                  Qua tổng diễn tập thành công, bộ đội dân công cũng như cán bộ công nhân ở các xưởng quân giới rất vui mừng, phấn khởi, tin tưởng ngợi ca “xe tăng ông Phát”.
   
                  Trận đánh cứ điểm Konplong đã diễn ra đúng như dự kiến. Từ 4 giờ đến 7 giờ sáng, bộ đội ta đã mở được “cửa mở”. Đơn vị trận nội đã vào đánh chiếm một số lô cốt ngoại vi nhưng đã phải chững lại vì hỏa lực của “lô cốt mẹ” bắn ra ác liệt. Một số cán bộ, chiến sĩ đã bị thương vong. Theo lệnh của Trung đoàn trưởng, cán bộ, chiến sĩ ở nguyên vị trí. Giữ vững những nơi đã chiếm được. Lệnh cho xe ĐKZ xuất phát theo đường lớn vào cửa chính tham gia chiến đấu.
   
                  Xe ĐKZ xuất hiện làm tinh thần địch hoảng loạn. Những quả đạn ĐKZ nhằm đúng các lỗ châu mai của “lô cốt” nhanh chóng dập tắt lần lượt các hỏa điểm. 9 giờ, địch kéo cờ trắng đầu hàng. Cùng với chiến thắng Konplong với đoàn “xe tăng ông Phát” trở thành huyền thoại trong bộ đội và nhân dân Liên khu 5.


                 Tình đồng đội

                Sau đại thắng mùa Xuân 1975, tôi đang là một Chủ nhiệm Khoa giáo viên ở Học viện Chính trị (nay là Học viện Chính trị - Quân sự). Trước sự vui mừng của những tháng, ngày thắng lợi, lòng tôi nao nức với một ước vọng là làm sao được về lại Nha Trang - Khánh Hòa nơi tôi đã coi là quê hương thứ hai của mình, ở đó tôi đã được sống một thời niên thiếu ân tình và một thời thanh niên sôi động.
   
                  Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa 23 tháng 10 năm 1945 những ngày lịch sử trọng đại của vùng đất này và cũng là những ngày tôi bắt đầu bước vào cuộc đời cách mạng, cuộc đời chiến đấu.
   
                  Mang theo nguyện vọng này tôi đã gặp nhiều anh trong Bộ Tư lệnh Quân khu 5, trong Cục Chính trị Quân khu để nhờ giúp đỡ. Các anh đều cho biết là không có khả năng, vì cơ quan quân sự các tỉnh vừa mới bố trí xong, còn về cơ quan Quân khu thời ở tận Đà Nẵng.
   
                  Trong lúc tâm trạng đang buồn vì thất vọng, tình cờ trong một cuộc họp ở Hà Nội tôi gặp anh Nguyễn Bá Phát. Trên tình đồng chí, đồng đội thân thương tôi đã kể với anh về ước mong của mình. Nghe xong, sau một thoáng suy nghĩ và như để chia sẻ tâm sự với tôi, anh gợi ý. Cậu cứ cố gắng tiếp tục xin, nếu cần thì làm một bước “đệm” là cứ về Quân khu rồi khi nào có hoàn cảnh thuận lợi xin tiếp về Nha Trang.
   
                  Thấy thái độ của tôi có vẻ không thật vui, anh nói tiếp. Nếu trong quân đội không giải quyết được "” thì cậu xin chuyển ngành về Bộ Hải sản (lúc này anh Phát đã từ Hải quân chuyển ra làm Thứ trưởng Bộ Hải sản). Mình sẽ giúp, ở Nha Trang hiện có Trường đại học Thủy sản đang thiếu một Hiệu phó phụ trách chính trị. Cậu về vị trí ấy cũng thích hợp.
   
                  Tiếp nhận ý kiến anh tôi vui vui, tuy chưa thật đúng với nguyện vọng của mình. Với tình cảm lãng mạn, tôi vẫn nuôi ước vọng “ngày đi là một chiến binh; ngày về cũng là một sĩ quan quân đội”.
   
                  Về công tác ở trường Đại học hiện ở Nha Trang cũng là một giải pháp hợp lý và có nhiều khả năng thành hiện thực.
   
                  Trong thời gian suy tính, tham khảo gia đình, bạn bè tôi bỗng nhận được lá thư anh Phát gửi cho. Trong thư anh biểu tôi xuống gấp Hà Nội, gặp anh Giáp Văn Cương - Thiếu tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng, vừa có quyết định về làm Tư lệnh Hải quân.
   
                  Trong thư anh hẹn cả ngày, giờ đến nhà anh Cương để cùng gặp anh ở đó. Anh Giáp Văn Cương vốn là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19, tôi đã cùng anh chiến đấu ở mặt trận bắc Tây Nguyên rồi Đà Nẵng những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Chúng tôi và cả gia đình tôi và anh ấy đã nhiều năm sống với nhau rất thân tình. Đúng hẹn, tôi đến nhà anh Cương thời đã có anh Phát đến trước chờ và một cuộc trò chuyện như anh em trong gia đình đã diễn ra. Anh Phát chịu trách nhiệm vận động và trình bày với Cục Cán bộ cùng các thủ trưởng Tổng cục Chính trị, để xin cho tôi về Trường sĩ quan Hải quân ở Nha Trang. Còn tôi phải tiếp tục đề đạt nguyện vọng và thuyết phục các đồng chí trong Ban Giám đốc Học viện đồng ý cho tôi đi.
   
                  Mọi chuyện đã được tiến hành nhanh chóng. Nguyện vọng của tôi đã được các anh giúp đỡ tận tình. Sau này tôi biết có nhiều ngày nghỉ lễ, ngày chủ nhật anh Phát, cùng anh Cương đã đi đến nhà riêng các đồng chí thủ trưởng trên Bộ, trên Tổng cục để lo cho việc của tôi.
   
                  Mấy mươi năm qua đi, tôi cũng đã nghỉ hưu hàng chục năm. Anh Cương, anh Phát lần lượt đã đi về cõi vĩnh hằng, nhưng tấm lòng biết ơn của tôi vẫn ghi sâu trọn vẹn và mỗi lần nhớ lại sự việc này tôi như được cùng các anh sống lại, những con người sống đầy “tình đồng đội” thân thương và sâu đậm.


                           
Nha Trang, 5-2007
                              
Đ.A.T



(1). Nguyên Phó Hiệu trưởng về chính trị Trường Sĩ quan CH-KT Hải quân (nay là Học viện Hải quân).



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 13 Tháng Hai, 2017, 11:18:30 PM
SỰ TỈ MỈ, CHU ĐÁO CỦA ĐỒNG CHÍ TRUNG ĐOÀN TRƯỞNG
Trung tá Nguyễn Đức Hiền

                 Cuối năm 1947, chiến trường Đà Nẵng và tây bắc Hòa Vang đang trong thế “cài răng lược”. Phần địch tạm chiếm, thì ta luồn sâu vào đột kích, phục kích, diệt tề trừ gian... gây rối loạn ở phía sau lưng địch. Phần ta làm chủ, thì ngày đêm bố phòng, cảnh giới, sẵn sàng đánh địch hành quân nống ra cướp phá.

                  Đơn vị vũ trang làm chủ trên địa bàn này thuộc Trung đoàn 96 dần dần về sau đã hình thành được các Tổ du kích là dân quân, tự vệ được chọn lên. Bước đầu là tập luyện trong thực tế, được các phân đội của Tiểu đoàn 17, 18 kèm cặp, anh em dân quân thực hiện tuần tra, cảnh giới và cùng đi tập kích, phục kích một số trận nên cũng từng bước tiêu hao được sinh lực chúng, khi chúng nống ra.
   
                  Thời điểm đó, chúng tôi là cấp dưới, có nghe phong thanh vài thông tin là sẽ có một đơn vị mới từ Liên khu ra thay cho Trung đoàn 96 về hậu phương củng cố.
   
                  Gần tháng sau, đồng chí Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát đến làm việc với đồng chí Nguyễn Văn Chương, Chính trị viên Đại đội 5. Sau đó có cuộc họp chi bộ, Ban chỉ huy Đại đội mới rõ. Theo ý kiến đồng chí Trung đoàn trưởng: Tiểu đoàn 18 chọn từ 2 đồng chí cán bộ đại đội hoặc trung đội là đảng viên, đã từng chiến đấu thông thuộc địa bàn, biết rõ các cơ sở chính trị, cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang, v.v... ở lại làm nhiệm vụ bàn giao chiến trường trên địa bàn mà Tiểu đoàn phụ trách lâu nay cho đơn vị bạn. Đó là “Tiểu đoàn xung phong” hay “Tiểu đoàn cảm tử” nào đó, của Trung đoàn 68.
   
                  Tôi ở Đại đội 5, đồng chí Phạm Vân ở Đại đội 4, được Tiểu đoàn chọn ở lại làm nhiệm vụ đó, còn toàn đơn vị hành quân theo lệnh trên vào Quảng Ngãi.
   
                  Liền sau đó, tôi được đồng chí Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát gọi đi cùng với đồng chí, đến các điểm: đồn Phú Hạ, nhà thờ Phú Thượng, đèo Đại La là nơi cắm quân dã ngoại của địch ở Hòa Mỹ, Đa Phước, Nam Ô và các ngã đường địch thường hành quân càn quét, khủng bố, lùng sục, đánh cướp phá ta.
   
                  Đồng chí Nguyễn Bá Phát đến tận nơi, thấy thật rõ tình hình nơi đó. Đồng chí luôn dặn dò tôi; khi đơn vị bạn đến thì phải đưa cán bộ họ đi quan sát, điều nghiên tận nơi tận chỗ, như hôm nay chúng ta đi đây, chú ý truyền đạt rõ những gì mình hiểu biết về chiến trường, để đơn vị bạn nhanh chóng nắm được tình hình, họ cần gì mình cũng phải giúp đỡ nhé.
   
                  Đó là tình hình địch, còn về ta thì phải bàn giao cụ thể cơ quan, cán bộ, dân quân, du kích, cán bộ xóm, thôn, xã, các đài quan sát, cảnh giới, các trạm canh phòng, các kế hoạch, phương án chống càn, đánh địch khi chúng nống ra. Khi lực lượng chúng đông thì xử lý thế nào, khi lực lượng chúng ít thì đối phó ra sao, đồng chí đều hướng dẫn cả. Đối với cán bộ, du kích địa phương thì phải đưa anh em cán bộ đơn vị bạn đến gặp trực tiếp, cụ thể chứ không phải nói miệng hay trên giấy tờ. Đồng chí Phát đã chỉ dẫn và dặn dò cặn kẽ, kể cả những việc rất nhỏ và khi đơn vị bạn nắm được chắc tình hình rồi, có báo cáo phản hồi về cho Trung đoàn trưởng và khi được lệnh thì mới trở về đơn vị.
   
                  Đồng chí Trung đoàn trưởng còn chu đáo cấp cho chúng tôi “giấy thông hành” dùng để đi đường, qua các địa phương từ tây bắc Hòa Vang vào Quảng Ngãi. Nhờ giấy tờ đó mà chúng tôi được đồng bào và các nhà chức trách các địa phương chúng tôi đã qua giúp đỡ ăn, ở, thuốc thang khi sốt rét, đau ốm dọc đường được dễ dàng, an toàn về đúng qui định, lúc đó Trung đoàn đang ở Sơn Tịnh, Quảng Ngãi.


                                 
N.Đ.H


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 13 Tháng Hai, 2017, 11:21:20 PM
CHIẾN THẮNG GÒ CÀ: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa
Đại tá Phan Viên

                Trận Gò Cà xảy ra hồi 11 giờ 30 phút ngày 31 tháng 3 năm 1949 trên đường 14B từ Hòa Cầm (quốc lộ 1A) đi Túy Loan, Ái Nghĩa, Tiểu đoàn 79 do anh Nguyễn Bá Phát chỉ huy đã tiêu diệt một đoàn xe cơ giới chở 1 đại đội “Ta-bo” đi càn quét.

                 Đêm 30 tháng 3 năm 1949, từ căn cứ Phú Túc, Tiểu đoàn 79 và 1 đại đội Tiểu đoàn 19 hành quân xuống trú trong các xóm nhỏ bắc đường 14B. Sáng 31 tháng 3, thấy địch không vận chuyển trên đường, biết là có tề điệp phát hiện bộ đội ta, Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát lệnh cho Tiểu đoàn công khai rút ban ngày về Đồng Xanh - Đồng Nghệ để nghi binh lừa địch và đánh địch vào một thời gian thuận lợi.
   
                 9 giờ sáng, biết bộ đội ta đã rút đi hết, một đoàn xe 10 chiếc có xe thiết giáp (scout-car) dẫn đầu chở 1 đại đội “Ta-bo” chạy lên Túy Loan, đổ quân xuống lùng sục hai bên đường không thấy gì lại lên xe đi thẳng vào Ái Nghĩa.
   
                 Tính toán thời gian địch đã vào đến Ái Nghĩa, Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát ra lệnh cho Tiểu đoàn từ Đồng Xanh, Đồng Nghệ nhanh chóng vận động thẳng xuống nam đường 14B vào vị trí xuất phát tấn công. Bộ đội nằm trong những mương nước đã khô, sau các mô đất và bụi cây nhỏ, lấy cỏ và rác khô phủ lên người, nằm cạnh mép đường từ 1 đến 2 thước, có chỗ với tay lên có thể chạm được xe chạy sát lề đường!
   
                 11 giờ 30 phút, đoàn xe cơ giới địch từ Ái Nghĩa về đến đoạn phục kích của Tiểu đoàn, khi đi lên chúng đã lục soát hai bên đường. Lúc về chúng chủ quan chỉ ngồi trên xe bắn vu vơ ra hai bên đường vào các xóm làng xa. Nắng đầu hè ở Quảng Nam gay gắt, trên xe có nhiều tên địch gác súng vào thành xe và lim dim nhắm mắt!
   
                 Một tiếng nổ ầm của đầu đạn đại bác 155 ly chặn đầu. Địch hoàn toàn bị bắt ngờ hoang mang nhảy hết xuống xe trong khi tiểu liên, súng máy và lựu đạn của ta tới tắp bắn và ném vào địch. Một tiếng hô dõng dạc “xung phong” từ Sở chỉ huy Tiểu đoàn, cả 3 đại đội đồng loạt tung rơm cỏ ngụy trang nhảy lên đánh giáp lá cà với địch ngay trên đường, sau gần một tiếng đồng hồ, ta truy kích tàn binh địch rải rác chạy vào các xóm làng. Ta thu vũ khí bắt tù binh, phá hủy và đốt đoàn xe. Giải quyết thương binh tử sĩ của ta xong, Tiểu đoàn rút nhanh qua cánh đồng trống về Đồng Xanh - Đồng Nghệ. Hơn một giờ sau 1 “bà già” Và 2 máy bay “Hen-cát” (Helh cat) từ Đà Nẵng vào lượn mấy vòng quan sát chỗ địch bị phục kích rồi bay thẳng về Đà Nẵng.
   
                 Nguyễn Bá Phát đã tận dụng được yếu tố thiên thời như Tôn Tử đã dạy trong cách cầm quân, trận đánh nổ ra vào giờ mà quân Pháp không ngờ tới.
   
                 Trận địa trận Gò Cà là một vùng đất rộng bằng phẳng không trồng trọt ở nam đường 14B, cách điểm cao Gò Cà (cao 42m) chừng 500 mét về phía tây nam. Mới nhìn qua khu vực trống trải này không ai dám nghĩ bố trí phục kích ở đây thắng lợi được, chưa nói đến có thể bị tổn thất nặng nề. Cách khu vực này chừng 1ki-lô-mét về phía Đà Nẵng cũng có một vùng làng mạc ra gần ven đường thuận lợi cho việc bố trí xuất quân đánh địch. Nhưng trong đêm đi chuẩn bị chiến trường, Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát không chọn đoạn địa này, ông khêu gợi cho Tiểu đoàn địa đoạn phục kích ở trên khu vực này sau khi đã quan sát và nghiên cứu kỹ. Tiểu đoàn nhận lệnh nhưng không khỏi thắc mắc. Anh Nguyễn Bá Phát giải thích thêm: Đánh địch trên địa hình trống trải này là tạo bất ngờ lớn, làm cho địch mất cảnh giác. nhưng với điều kiện là chiến sĩ phải “chôn mình” trong các mương nước khô ven đường và ngụy trang kỹ, xung phong nhanh, ta sẽ biến địa hình không thuận lợi thành địa hình có lợi cho ta. Và anh lệnh cho cán bộ từ đại đội trở lên nghiên cứu kỹ lại địa đoạn phục kích. Đúng như kế hoạch, nghe tiếng bom nổ chặn đầu, đoàn xe dừng lại, tiếp theo là các loạt tiểu liên súng máy. Địch chưa biết từ đâu, thì đối phương đã nhảy lên xung phong đánh giáp lá cà và sau hơn nửa tiếng đồng hồ 1 đại đội Âu Phi (Ta-bo) đi trên xe cơ giới đã tiêu diệt hoàn toàn. Nguyễn Bá Phát đã biết tận dụng yếu tố địa lợi trong nguyên tắc cầm quân của Tôn Tử.

*
*   *
                Trận Gò Cà diễn ra trên địa bàn xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang. Sau khi quân Pháp chiếm thành phố Đà Nẵng rồi mở rộng vùng tạm chiếm ra nửa tỉnh Quảng Nam đến sông Bà Rén, thị xã Hòa Khương nằm trong vùng địch hậu, nhưng do ta nắm. Hòa Khương đã che giấu cán bộ, cung cấp lúa gạo cho bộ đội. Hòa Khương là đường day liên lạc từ chiến khu Trung Man, Phú Túc cho cán bộ, bộ đội về hoạt động ở ven đô và nội thành. Hòa Khương là đường dây liên lạc ra tây bắc Hòa Vang để hoạt động ở đèo Hải Vân, Nam Đông của Thừa Thiên. Dân quân du kích ở đây đã phối hợp cùng với bộ đội địa phương hoạt động liên tục để củng cố và mở rộng vùng giải phóng, giữ lúa cho đồng bào. Hòa Khương là một vùng đã góp nhiều công sức trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
   
                 Chọn địa bàn xã Hòa Khương để đánh địch, Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát đã nắm vững yếu tố nhân hòa trong cách cầm quân của Tôn Tử.
   
                 Sau trận Gò Cà, tên thiếu tá Pháp chỉ huy phân khu Ái Nghĩa tới thị sát địa hình trận đánh đã thốt lên: “Đối phương rất thông minh, đầy thao lược, táo bạo, nắm địch một cách vững chắc, mới dám đánh thế này”.
   
                 Nguyễn Bá Phát vốn là một ngư dân vùng Thủy Tú cách Đà Nẵng 20 ki-lô-mét về phía bắc, là một thủy thủ trong Hải quân Pháp, 6 năm lênh đênh trên biển cả khắp các đại dương. Sau Cách mạng tháng Tám thành công, anh trở thành người Trung đoàn trưởng đầu tiên của Liên khu 5 biết vận dụng một cách nhuần nhuyễn những nguyên tắc dùng binh của Tôn Tử: “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” trong nhiều trận đánh.
   
                 Trong trận Hải Vân 3 ngày 24 tháng 1 năm 1949, Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát chỉ huy một trung đoàn thiếu (Tiểu đoàn 19 và Tiểu đoàn 79) đánh địch trên cả đường ô tô trên đỉnh đèo và đường xe lửa lúc 5 giờ sáng. Mây và sương mù còn vương vấn trên các mỏm núi của đỉnh đèo, trên một đoạn đường gấp khúc chữ chi trên gần đỉnh đèo mà đầu gấp này không thấy được cuối gấp đầu kia, thuộc xã Hòa Liên dưới chân đèo, để rồi khi địch bao vây chặn hết các đường rút, nhân dân trong xã huy động ghe thuyền đưa một Trung đoàn 1.800 quân với 26 cáng thương binh đàng hoàng vượt qua sông Trường Định trước mũi quân thù để về căn cứ ở tây bắc Hòa Vang.


                                 
P.V


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 13 Tháng Hai, 2017, 11:25:41 PM
NHÌN RÕ ĐỊCH ĐỂ ĐÁNH THẮNG CHÚNG TRÊN BIỂN
Đại tá Võ Xuân Triều(1)

                 Cuộc đời hoạt động cách mạng của Tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát rất dài, qua các thời kỳ chiến tranh, qua nhiều miền của Tổ Quốc, qua bao gian khổ thăng trầm, ở nhiều đơn vị trong nước. Nhiều đồng chí Tướng lĩnh và đồng chí cùng công tác sẽ nói sâu sắc và có hệ thống hơn về ông.

                  Riêng tôi, công tác ở Đại đội trinh sát kỹ thuật Hải quân (1960 - 1976), đơn vị được lưu tâm nhiều, tôi có một ít thời gian tiếp xúc công tác với Tư lệnh. Tôi xin ghi lại vài việc cụ thể để góp phần nhỏ minh họa cái chất, cái lượng về nhu cầu cần biết về địch trong hoạt động lãnh đạo và chỉ huy, chỉ đạo của Tư lệnh mà tôi rất tâm đắc, được học tập và rèn luyện để trưởng thành.
   
                  Chỉ đạo nắm địch có tầm xa.
   
                  Cuối năm 1962, khi giao nhiệm vụ cho Quân báo Hải quân (trọng tâm là trinh sát kỹ thuật) Tư lệnh Nguyễn Bá Phát nêu: “... để phục vụ 2 nhiệm vụ chiến lược trên giao cho Hải quân, Quân báo cần mở rộng phạm vi tìm kiếm, bằng các phương thức có thể nhằm tìm hiểu thu thập các tin tức các đối tượng địch hoạt động trên biển, phục vụ nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Bộ Tư lệnh sẽ ưu tiên cho đơn vị về tổ chức quân số, trang bị, phương tiện. Quân báo lo huấn luyện, đề xuất các phương thức, các phương án và tổ chức thực hiện cụ thể”.
   
                  Với chỉ đạo có tầm xa như vậy đã tạo cho cấp dưới chủ động suy nghĩ các bước phát triển xây dựng lực lượng đảm bảo chất lượng, chủ động đề xuất các phương án mở rộng và kế hoạch đi vào chiều sâu.
   
                  Trong thực tế, đơn vị được tăng cường các sinh viên đại học toán cao cấp, sinh viên ngoại ngữ, được đưa đi phục vụ Bộ Tư lệnh tiền phương ở sông Gianh (7-8/1964), tăng phái đoàn 1A chiến đấu ở Cửa Việt - Đông Hà (1969-1973). Tại đơn vị cơ bản, Bộ Tư lệnh nắm chắc sự phát triển nguồn tin phục vụ hoạt động tàu không số (Đoàn 125), phục vụ sẵn sàng chiến đấu của Hải quân trên vùng miền Bắc, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, phục vụ Bộ Tư lệnh Hải quân Tiền phương trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
   
                  Với sự quan tâm chỉ đạo đó mà đơn vị được tôi luyện trong đấu tranh kỹ thuật với địch, lập được thành tích, được khen thưởng, nhiều lần được Bộ Tư lệnh khen và Nhà nước tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
   
                  Thành công của đơn vị không chỉ dừng lại ở năm 1975 mà còn tiếp tục phát triển dựa trên chất lượng tích lũy, ngày nay đã lớn lên là Trung tâm Trinh sát kỹ thuật 47 Hải quân.
   
                  Thật không phụ lòng đối với sự chỉ đạo có tầm nhìn sâu xa của Tư lệnh Nguyễn Bá Phát.

   
                  Trực đoán chính xác, ra lệnh đúng lúc.
   
                   Tại Sở chỉ huy Tiền phương ở sông Gianh, Tư lệnh Nguyễn Bá Phát đang làm việc với đồng chí Trần Bội, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình, thấy tôi xin phép vào, Tư lệnh ngưng làm việc để nghe tôi báo cáo: “Vùng 1 chiến thuật Đà Nẵng báo động phòng không, đề phòng máy bay Mỹ tấn công”.
   
                  Suy nghĩ một lát, Tư lệnh nói với đồng chí Trần Bội: “...Có lẽ liên quan đến việc ta đánh tàu Ma-đốc ngày 2 tháng 8 năm 1964”, Tư lệnh ra lệnh báo động chiến đấu cấp cao cho các lực lượng ở sông Gianh.
   
                  11 giờ ngày 5 tháng 8 năm 1964, lực lượng chiến đấu ở sông Gianh không bị bất ngờ khi máy bay Mỹ đánh phá, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc.
   
                  Một lệnh chiến đấu kịp thời, đúng lúc, xuất phát từ trực đoán chính xác của Tư lệnh.

   
                  Nghĩ đến hiệu suất chiến đấu.
   
                  Lần đến thăm đơn vị, Tư lệnh Nguyễn Bá Phát đặt vấn đề “... Đoàn 1A đang gặp nhiều tổn thất về người, trinh sát kỹ thuật có cách gì góp sức phục vụ làm giảm bớt thương vong cho đơn vị thì cứ đề xuất”.
   
                  Vậy là trinh sát kỹ thuật Hải quân có thể học tập và vận dụng kỹ thuật của trinh sát kỹ thuật Quân khu 4 và trinh sát kỹ thuật Mặt trận B5, đơn vị xin phái 1 phân đội trực tiếp phục vụ Đoàn A1. Được chấp thuận ngày 27 tháng 7 năm 1969, phân đội trưởng lên đường với phiên hiệu Đội 5 Đoàn A1.
   
                  Đầu tháng 9 năm 1969, Đội 5 có tin tàu Nevo Port New, trọng tải 15.000 tấn đang neo ở vùng biển Mỹ Thủy (Quảng Trị), Đoàn 1A đã triển khai và ngày 6 tháng 9, tổ đặc công nước đã đánh trọng thương con tàu này.
   
                  Đội 5 liên tục phục vụ Đoàn A1 chiến đấu từ 1969 đến 1973.
   
                  Ngay năm đầu, trong báo cáo tổng kết chiến đấu của Đoàn 126 Đặc công Hải quân năm 1969 tại Quảng Yên đã có đoạn nêu: “ Từ khi đội 5 có sự phục vụ thì hiệu suất chiến đấu của Đoàn A1 được đạt hiệu quả cao hơn, đặc biệt là thương vong giảm 80%”.
   
                  Quả là một gợi ý, một cách đặt vấn đề xuất phát từ việc nghĩ đến hiệu suất chiến đấu, nghĩ đến giảm bớt thương vong của cán bộ chiến sĩ. Đây cũng là gợi ý đầy tin tưởng khả năng phục vụ của trinh sát kỹ thuật, một gợi ý có hiệu lực, là một khía cạnh về điểm mạnh của Tư lệnh Nguyễn Bá Phát.

   
                  Khích lệ kịp thời.
   
                  Dù rất căng thẳng hồi hộp theo dõi, suy nghĩ chỉ đạo, chỉ huy một chiều trong 72 giờ đồng hồ khi tin trinh sát kỹ thuật dồn dập báo cáo chi tiết diễn biến việc 2 tàu khu trục Mỹ và 2 tàu khu trục ngụy đang bủa vây 1 tàu không số của Đoàn 125 như tàu địch kêu gọi tàu ta dừng lại để kiểm soát... nhưng khi tàu ta thoát hiếm, toàn đơn vị trinh sát kỹ thuật đang hân hoan vui mừng thì có điện thoại của Tư lệnh trực tiếp nói lời khen ngợi biểu dương nóng hổi, đơn vị càng phấn chấn. Lần khác, trong lễ đón nhận Huân chương Chiến công, Tư lệnh Nguyễn Bá Phát đã phát biểu: “... Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7 là những óc thần, tai thánh của Quân chủng, xứng đáng được khen thưởng.”
   
                  Lời khích lệ đó đã động viên đơn vị, thúc đẩy mạnh mẽ khí thế thi đua lập công trong các nhiệm vụ tiếp theo của đơn vị.

   
                  Tham khảo ý kiến cấp dưới.
   
                  Mồng 2 Tết Giáp Dần (ngày 24 tháng 1 năm 1974), sau cái bắt tay mừng xuân đầy thân ái và nhận lời chúc đầu năm, Tư lệnh Nguyễn Bá Phát cười tươi và hỏi tôi: “Đơn vị Hải quân ở Hải Nam (TQ) mời đại biểu đơn vị Hải quân ta (Đơn vị của Đoàn 125) đi dự lễ mừng chiến thắng giải phóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, ý kiến nhà quân báo ra sao, có đi hay không đi?...”
   
                  Tôi xin phép được phát biểu: “Đi hay không là quyền quyết định của Tư lệnh và nói chung là quyền của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh. Còn ý kiến của quân báo Đại đội tôi thì xin bộc bạch là không đi.”
   
                  Tư lệnh hỏi lại “tại sao?”.
   
                  - Xin thưa, nếu đi là phải vỗ tay, mà vỗ tay là công nhận quần đảo Hoàng Sa là của Trung Quốc, là điều mà lịch sử không bao giờ công nhận, và nếu không đi thì có thể ta phải chuẩn bị chuyển nơi trú quân khỏi đảo Hải Nam. Không biết Tư lệnh hỏi bao nhiêu người nhưng cuối cùng là ta không đi dự lễ. Tôi nghĩ đây là cách tham khảo ý kiến cấp dưới của Tư lệnh vừa vui nhưng rất thật lòng.

   
                  Nhạy bén và quyết tâm cao.
   
                  Tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát đã biết trinh sát kỹ thuật, nắm biết được quân số và vũ khí của từng đảo mà quân ngụy Sài Gòn chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa, nên khi được trên giao nhiệm vụ làm Tư lệnh Hải quân Tiền phương trong chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí Tư lệnh không quên đem theo 1 phân đội trinh sát kỹ thuật Hải quân.
   
                  Thông qua tin trinh sát kỹ thuật (phân đội Tiền phương và đơn vị cơ bản) và nguồn tin khác, Tư lệnh đã nghiên cứu, sử dụng trong chỉ huy, chỉ đạo các cuộc đánh chiếm các đảo được nhanh và với quyết tâm cao, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa song hành với việc giải phóng lần lượt các tỉnh trên đất liền, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc như:
   
                  - Trinh sát kỹ thuật báo cáo: địch trên đảo Song Tử Tây báo cáo về tiểu khu Bà Rịa “trên biển có nhiều tàu lạ xuất hiện xin lực lượng chi viện, bảo vệ”. Ta chớp ngay thời cơ đánh Song Tây Tử trước từ, tối ngày 10 tháng 4 năm 1975. Đến 5 giờ 45 phút ngày 14 tháng 4, ta làm chủ hoàn toàn Song Tử Tây và thiết lập ngay mạng liên lạc giữa đảo với Bộ Tư lệnh Hải quân Tiền phương.
   
                  - 20 giờ 45 phút ngày 26 tháng 4, trinh sát kỹ thuật báo cáo: “Sở chỉ huy địch lệnh cho quân rút khỏi đảo Nam Yết”. Lực lượng của ta được lệnh nhanh chóng tiến đánh và lúc 10 giờ 30 phút ngày 27 tháng 4, ta làm chủ đảo Nam Yết.
   
                  - Trinh sát kỹ thuật báo cáo: Địch ở đảo Sinh Tồn và Sơn Ca hoang mang tột độ, đã rút chạy sáng ngày 27 tháng 4. 10 giờ 30 phút ngày 28 tháng 4 ta đã làm chủ đảo Sơn Ca và Sinh Tồn.
   
                  - Phát huy khí thế tiến công thần tốc, 16 giờ ngày 28 tháng 4 năm 1975 Hải quân ta tiến về đảo Trường Sa, và 9 giờ ngày 29 tháng 4 ta đổ bộ làm chủ đảo Trường Sa.
   
                  Rất nhạy bén và rất quyết tâm, 19 ngày chiến đấu trên biển đảo, Hải quân ta hoàn thành nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa.
   
                  Nắm được tình hình địch một cách cụ thể, kịp thời tổ chức lực lượng chiến đấu đánh chiếm các đảo, Tư lệnh Nguyễn Bá Phát đã góp phần mình trong chiến công lớn lao của quân và dân ta.


                                 
V.X.T


(1). Nguyên Phó chủ nhiệm Quân báo Hải quân.


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 13 Tháng Hai, 2017, 11:31:55 PM
TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA TƯ LỆNH VÀ ĐOÀN TÀU KHÔNG SỐ
Đại tá Trần Phong

                 Trước khi tập kết ra Bắc tôi từng nghe nói về “ông Phát” lừng danh ở chiến trường Liên khu 5. Ra miền Bắc tôi tham gia duyệt binh đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thủ Đô Hà Nội, rồi được chọn đi học bổ túc văn hóa, học Trung văn, được sang Trung Quốc học đào tạo Thuyền trưởng Hải quân. Khi đến “đệ tam hải hiệu” bấy giờ tôi mới biết Đoàn trưởng của chúng tôi là anh Nguyễn Bá Phát, bạn Trung Quốc tuyên đọc là: “Đồng chí Nguyễn Bá Phát - Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam”.

                  Đó là một ngày đầu năm 1956, anh Phát nguyên là Tham mưu phó Liên khu 5, tập kết ra miền Bắc được quân ủy và Bộ Quốc phòng giao trực tiếp phụ trách ban nghiên cứu tổ chức bảo vệ vùng biến. Ngày 7 tháng 5 năm 1955 thành lập cục phòng thủ bờ biến trực thuộc Bộ Quốc phòng. Anh Phát được giao phụ trách Cục phòng thủ bờ biển, tiền thân của Quân Chủng Hải quân và Bộ Tư lệnh Hải quân sau này.
   
                  Đoàn “lưu học sinh” chúng tôi ở Liêu Công một thời gian, thì anh Phát và một số anh cán bộ cao cấp đi học viện Nam Kinh (Học viện cao cấp Hải quân Trung Quốc ở Thành phố Nam Kinh), để đào tạo Tư lệnh và Tham mưu Hải quân. Sau đó một thời gian lớp chúng tôi về Trường Cao chuyên (cao cấp chuyên khoa) Thanh Đảo (Trường Hải quân đặt ở Thành phố Thanh Đảo). Anh Phát và các anh học ở Nam Kinh về nước gắn bó cuộc đời với con tàu chiến của mình. Tháng 1 năm 1959, thành lập Cục Hải quân. Anh Phát là Đại tá Phó Cục trưởng. Tháng 1 năm 1964, thành lập Bộ Tư lệnh Hải quân, anh là Đại tá Phó Tư lệnh Quân chủng, anh Tạ Xuân Thu là chính ủy kiêm Tư lệnh. Tháng 2 năm 1967 Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc, anh là Tư lệnh cả hai lực lượng Hải quân và Quân khu. Tháng 4 năm 1963, tôi đang là thuyền trưởng tàu chiến đấu 79 tấn, tàu của Trung Quốc đóng, hoạt động ở Khu 4, được lệnh điều động về Đoàn 759 - (Đoàn tàu không số), đường Hồ Chí Minh, trên biển. Là thuyền trưởng tàu số 5 sức chở 65 tấn, chúng tôi đã đưa vũ khí vào Bến Tre, Cà Mau.
   
                  Đầu năm 1964, Đoàn 759 từ Hà Nội chuyển về Hải Phòng, trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân. Từ thuyền trưởng, tôi được điều lên cơ quan làm Tham mưu tác chiến “B” của Đoàn 125 Hải quân. Đoàn 759 đổi tên thành Đoàn 125 Hải quân sau này là Lữ đoàn. Với cương vị Tham mưu - tác chiến “B” của Đoàn 125, trực tiếp làm kế hoạch hàng hải, tác chiến từng chuyến đi, phục vụ Thường vụ Đảng ủy và chỉ huy Đoàn thông qua thường vụ Đảng ủy và Tư lệnh Hải quân, đồng thời theo dõi chỉ huy tàu vận chuyển vũ khí từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, tôi có được nhiều cơ hội tiếp xúc với anh Phát trên công việc liên quan và hiểu được anh nhiều hơn. Vì vậy tôi rất thấm thía, có người nói với tôi rằng: Đoạn đời anh Nguyễn Bá Phát với Hải quân giống như sóng của biển cũng có lúc chìm lúc nổi, lúc lênh đênh. Nhưng sóng mãi mãi là của biển. Bá Phát mãi mãi là Bá Phát, là tinh hoa Thủy binh Việt Nam, có thể gọi là danh nhân Đất Quảng anh hùng.
   
                  Nay Cựu chiến binh Sư đoàn 305 vận động đồng đội viết về anh Phát, tôi cũng mạnh dạn đóng góp một số nét mà tôi ấn tượng sâu sắc về anh trong thời gian anh ở đoàn tàu không số, Đường Hồ Chí Minh trên biển. Có thể nói anh Phát đã thể hiện dũng cảm và mưu trí của người chỉ huy lực lượng vận tải đặc biệt tinh nhuệ Hải quân, làm nhiệm vụ bí mật chiến lược chở vũ khí từ miền Bắc vào chi viện cho miền Nam, đánh thắng đế quốc Mỹ trong cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, mà anh Phát từng phụ trách.
   
                  Thứ nhất là người chỉ huy Hải quân, anh Phát quyết định sử dụng Vũng Rô - Phú Yên làm bến tiếp nhận vũ khí “Tàu không số” chở vào tiếp tế cho chiến trường Khu 5.
   
                  Cuối năm 1964, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao cho Hải quân nghiên cứu mở thêm tuyến vận tải biển vào Khu 5, tôi xin được phép mượn lời của nhà văn Nguyên Ngọc viết: “Khu 5 khao khát đòi súng. Nhưng vận chuyển đường biển bí mật cho khu 5 cũng là khó khăn nhất. Thậm chí có thể nói là mối lo trăn trở của người chỉ huy công cuộc này (...). Địa hình biển Khu 5 khác Nam Bộ, ở Nam Bộ, con sông Cửu Long to lớn và mạnh mẽ, đậm đặc phù sa, tạo ra hàng trăm, hàng ngàn cửa biển, vàm lũng lớn nhỏ, chi chít, sền sệt, trơn trợt bùn đất đục ngàu và rậm rạp những rừng mắm, sú vẹt, những rừng đước, thậm chí cả đước cổ thụ và đại ngàn, rất thuận lợi cho tàu vào ra và che giấu tàu, che giấu cả những kho tàng chứa hàng vạn tấn súng đạn và hàng ngàn quân.
   
                  Khu 5 khác hẳn. Các con sông đều ngắn, rất ít phù sa, bốn mùa trong xanh, biển hoàn toàn không có bùn. Các cửa sông trống hơ trống hoác, hai bờ toàn cát, gần như hoàn toàn không có cây, thỉnh thoảng đôi chỗ có một ít sú vẹt, mắm, đước thì cũng cằn cỗi xác xơ. Cũng có những vịnh sâu có núi bao bọc như Sơn Trà, Cam Ranh, Đà Nẵng... nhưng đó chính là căn cứ Hải quân của địch... Vậy tiếp tế cho Khu 5 bằng cách nào? Chỉ còn một cách, vào bãi ngang”.
   
                  Giữa tháng 9 năm 1964, tàu vỏ gỗ mang bí số “401” chở hơn 33 tấn vũ khí đi Khu 5, nhưng trong mùa sóng to gió lớn phải đi đến 3 lần, đến đêm 31 tháng 10 tàu mới đến được bãi ngang Lộ Giao - Bình Định. Vũ khí được dỡ lên vận chuyển, cất giấu an toàn. Tàu phải bí mật đốt hủy, lừa địch. Vấn đề đặt ra là: muốn đáp ứng được yêu cầu cấp bách của chiến trường là phải dùng tàu sắt mới đi được an toàn, chủ động và chở nhiều vũ khí hơn. Và sử dụng tàu sắt tất nhiên là tàu lớn hơn, mức nước sâu hơn kho bãi phải đủ sâu, đủ lớn cho tàu cơ động an toàn. Anh Phát, bao nhiêu ngày đêm trăn trở, nghĩ suy, và đầu óc anh hiện lên “Vũng Rô”. Anh thổ lộ “Vũng Rô là vùng có độ nước sâu, tàu ra vào không phụ thuộc thủy triều, lại nằm kề sát đường sắt và quốc lộ 1, nơi địch rất sơ hở, nên ta biết lợi dụng yếu tố bí mật bất ngờ thì ta sẽ thắng (...)”.
   
                  Bên cạnh những ưu điểm đó, Vũng Rô là nơi dễ bị kẻ địch bao vây, chỉ cần một tàu đứng chặn giữa mũi Điện và Hòn Nứa là tàu ta khó thoát (...). Cuối cùng anh quyết định đi Vũng Rô. Theo đó, cán bộ tàu phải là thuyền trưởng giỏi, suôn sẻ và biết Vũng Rô. Người anh chọn là Hồ Đắc Thạnh, quê Tuy Hòa - Phú Yên. Là thuyền trưởng tàu mang bí số 41, từng đi vào Nam Bộ 4 chuyến đầu thành công. Tàu 41 và thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh được điều động sang hướng vận chuyển đi Khu 5. Hàng mấy tháng trời, thuyền trưởng và cán bộ tàu “cách ly” khỏi Đoàn 125, tập trung nghiên cứu tài liệu bản đồ, tình hình bờ biển Khu 5, trọng điểm là bờ biển Khánh Hòa, Phú Yên và Vũng Rô. Đơn vị quán triệt nhiệm vụ, tập luyện, làm quen Với mọi tình huống có thể xảy ra ở hướng chiến trường biển Khu 5. Đêm 16 tháng 11 năm 1961, sau khi kiểm tra mọi công tác chuẩn bị cuối cùng, tàu 41 xuất phát. Tư lệnh Nguyễn Bá Phát thân chinh xuống tàu tiễn đưa: “Chúc tàu 41 thuận buồm xuôi gió. Bộ Tư lệnh chờ tin thắng lợi các đồng chí báo về”. Và kết quả đúng như anh Phát và Bộ Tư lệnh Hải quân cùng Thủ trưởng Đoàn 125 mong đợi. Đêm 28 rạng 29 tháng 11 năm 1964, tàu 41 chở gần 46 tấn vũ khí vào bến Vũng Rô (vì sóng gió to, “biển động” tàu phải dừng lại ở đảo Hải Nam - Trung Quốc nên thời gian chuyển đi kéo dài thêm 1 tuần). Anh Trần Suyền (Sáu Suyền) Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên - kiêm Ủy viên thường trực Liên tỉnh ủy Khánh Hòa - Cheo Reo (Phú Bổn) thay mặt cho Phú Yên dẫn đầu anh em ra đón tàu. Họ ôm nhau “vui sao nước mắt lại trào”, Hồ Đắc Thạnh cùng với con tàu 41 liên tiếp chuyến thứ hai, thứ ba... vào Vũng Rô. Vũ khí từ đây chuyển tiếp đi phục vụ cho chiến trường các tỉnh nam Khu 5. Trong tổng kết “30 năm chiến tranh và giải phóng của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 có ghi: “... Như vậy, sau một năm nỗ lực lại được chi viện của Trung ương và các chiến trường bạn, Đảng bộ và quân dân Khu 5 đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách vượt qua thiên tai chưa từng có, vượt qua bom đạn ác liệt của quân thù, xoay chuyển cục diện chiến trường, tạo được những điều kiện thuận lợi để đánh thắng địch lớn hơn nữa”.
   
                  Đó là kết quả của Hải quân góp với thắng lợi của chiến trường Khu 5. Dù chỉ thể hiện một nét nào đó của Tư lệnh Nguyễn Bá Phát dám nghĩ, dám chịu trách nhiệm, dám quyết đoán chọn và chọn đúng cái bến cho tàu “không số” đưa vũ khí vào. Tôi lại mượn lời nhà văn Nguyên Ngọc “Thật hết sức mạo hiểm: quá gần một thành phố lớn là Nha Trang, cũng quá gần Cam Ranh là căn cứ Hải quân lớn nhất miền Nam của Mỹ ngụy. Con đường chiến lược số 1 chạy ngay trên đỉnh đèo Cả, chỉ cách vài trăm mét, xe quân sự của địch qua lại suốt ngày đêm như mắc cửi. Lại cũng quá gần Khu du kích Hoà Hiệp phía bắc và chiến khu Hòn Kèo, Hòn Khói phía nam, là vùng địch rất chăm chú theo dõi và thường xuyên càn quét đánh phá. Nhưng trong chiến tranh thường vẫn vậy, nơi nguy hiểm nhất cũng có thể là nơi bất ngờ nhất. Nghệ thuật chiến tranh, đặc biệt con đường trên biển Đông gian nan này, là biết và dám đi vào cái kẽ hở bất ngờ ấy, dám mạo hiểm để giành thắng lợi”.
   
                  Thứ hai là liên tục tổ chức trinh sát và tìm đường để không ngừng vận chuyển vũ khí bằng đường biển vào miền Nam trong tình hình đế quốc Mỹ tăng cường phong tỏa ngăn chặn gắt gao.
   
                  Trong tổng số 8 chuyến trinh sát mở đường, có chuyến đầu tiên hoạt động suốt ven biển từ Bắc vào Mũi Cà Mau và ngược lại để quyết định mở đường Hồ Chí Minh trên biển (10 tháng 4 năm 1962 - 1 tháng 8 năm 1962) là Đoàn A1 của Bộ, còn lại các chuyến từ năm 1969 trở đi là Đoàn A1. Bộ Tư lệnh Hải quân tổ chức chỉ huy. Trong số này có những chuyến đặc biệt có ý nghĩa. Đó là, chuyến tàu 42 đi vào tháng 8 năm 1962, tàu 621 đi 2 lần vào tháng 6 năm 1970 và tháng 2 năm 1971. Tư lệnh Nguyễn Bá Phát trực tiếp hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho tàu và theo dõi, chỉ huy thực hiện.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 13 Tháng Hai, 2017, 11:33:47 PM
                Vào tháng 7 năm 1969, Sở chỉ huy và cơ quan Tham mưu Đoàn 125 sơ tán ở Hang Vua, xã Minh Tân, Thủy Nguyên, Hải Phòng. Bộ Tư lệnh Hải quân ở đường Điện Biên Phủ, Hải Phòng. Tôi được Đoàn giới thiệu sang Bộ Tư lệnh gặp anh Phát, Tư lệnh, anh đưa cho tôi một phong thư và bảo sang gặp anh Kỳ, Cục trưởng Cục vận tải đường biển (lúc bấy giờ là phố Máy Tơ, Hải Phòng) đưa thư này cho anh ấy và dặn tôi đại ý là: Nhờ anh Kỳ cho mượn một số hải đồ vùng biển Trung Quốc (Hải Nam), Đông Nam Á (đến vịnh Thái Lan) phục vụ công tác nghiên cứu, huấn luyện. Trên đường đi, với bệnh nghề nghiệp, tôi đoán là vấn đề này có liên quan Đoàn 125, Đoàn A1, vậy ý thức trước cho mình, phải làm đến nơi đến chốn. Đưa thư cho anh Kỳ, may cho tôi quá, anh gọi anh Tước đến gặp tôi và giao cho anh Tước dẫn tôi vào kho hai để tìm lấy bản đồ cần thiết. Anh Tước trước đây là : cán bộ Hải quân, chuyển ngành ra Bộ Giao thông và về làm bí thư cho Cục trưởng Cục vận tải đường biển. Vì đã từng quen biết nhau khi tôi còn là Thuyền trưởng tàu chiến đấu Hải quân, tin nhau nên anh Tước bảo: “Mày tự tìm, chọn thứ hải đồ nào dùng được thì lấy mà dùng”. Và anh bỏ mặc tôi, may là vậy. Tôi lục lọi, tìm kiếm. May quá, tôi tìm được đầy đủ cả hải đồ loại tỉ lệ lớn, dùng đi biển, loại tỉ lệ nhỏ - tổng đồ dùng cho người nghiên cứu, kế hoạch. Khu vực quần đảo Trường Sa và cả vùng biển các nước Đông Nam Á tiếp giáp với biến Đông, cho đến vịnh Thái Lan... Trở về gặp anh Phát, báo cáo kết quả, anh rất mừng và đến lúc ấy anh mới cho biết ý định tổ chức chuyến đi trinh sát. Ta tìm đường đi vu hồi xa bờ để tránh theo dõi trước khi tàu chuyển hướng vào bờ và có thể sẽ chọn một số nơi nào thích hợp để làm bến giấu hàng cho miền Nam đến lấy có thể cũng tìm được những nơi cho tàu cơ động, lẩn tránh “chờ cơ hội” đột nhập vào bờ miền Nam. Sau đó tôi được giao làm kế hoạch đi biển và trực tiếp đi với vai trò cán bộ tham mưu.

                 Trên biển miền Nam và biển Đông, những năm này để ngăn chặn tàu miền Bắc chở vũ khí đột nhập ven biển miền Nam, địch bố trí lực lượng kín trên 3 hải lý (1 hải lý = 1.852m) trở vào do tàu cao tốc, hải thuyền, máy bay L19 phụ trách, cách bờ 3 đến 15 hải lý do tàu chiến đấu hải quân ngụy phụ trách, cách bờ 15 đến 45 hải lý (khoảng 85 ki-lô-mét) do tàu chiến đấu (Khu trục, quét mìn, cảnh sát biển), máy bay trinh sát của Hải quân Mỹ phụ trách. Ngoài ra còn những chuyến bay trinh sát, thám không bay theo chiều Đông - Tây và “treo” cố định do Mỹ đặc biệt phụ trách. Trên đất có 16 trạm ra đa đặt ở núi, đồi cao ven bờ, quan sát đến bán kính một khu vực 150 ki-lô-mét, chồng nhau phủ kín ven biển. Những nơi nghi ta đặt cơ sở tiếp nhận vũ khí, thì chúng thường xuyên đánh phá, rải chất độc hoá học làm trụi cây lá. Hoạt động của tàu ta vô cùng khó khăn. Nhưng biển dài và rộng, thường xuyên có hàng vạn tàu thuyền các loại, các cở của quốc tế và trong nước đi lại làm ăn, buôn bán, khai thác hải sản, và hoạt động khác... địch không thể phát hiện hết, càng không thể phân biệt hết để ngăn chặn ta. Đó cũng là chỗ sơ hở của địch mà bằng nhiều đường đi, nhiều dạng tàu của nhiều nước và biện pháp thông minh khôn khéo ngụy trang che dấu lừa địch, ta sẽ đột nhập vào bờ được. Trên bờ có vùng giải phóng rộng, xen kẻ vùng địch kiểm soát, bến đón chắc, dân chở che, nhất định vũ khí đến được miền Nam.
   
                 Tàu “42” đi trinh sát với dạng tàu câu biển khơi của Đài Loan, mang biển số “nguyên xương nhất hiệu” bằng chữ Hán và chữ Anh. Thuyền trưởng giỏi, thủy thủ đoàn lão luyện, lành nghề. Đội tàu được cán bộ cấp trên, Tham mưu tác chiến, Quân báo tăng cường giúp đỡ kết hợp làm nhiệm vụ chuyên ngành của họ. Ra đi với niềm tin thắng lợi. Ngày 21 tháng 8 năm 1969, Tư lệnh Nguyễn Bá Phát và Chính ủy Hoàng Trà cùng Thủ trưởng Đoàn 125 và cơ quan kiểm tra mọi công việc, động viên căn dặn. 1 giờ sáng ngày 22 tháng 8 năm 1969, tàu xuất phát từ cầu Đá Bạc, Thủy Nguyên, Hải Phòng. Hành trình qua phía Nam đảo Hải Nam (Trung Quốc), ra đông Hoàng Sa, xuôi theo đường hàng hải quốc tế xuống quần đảo Na-tu-na, bắc hải đăng Mang Kai. Quan sát quần đảo A-nam-bát một đêm một ngày, địch bỏ đi. Tàu rời Lin Côn đi lên phía Đông đảo Hải Nam vào eo Quỳnh Châu (bắc đảo Hải Nam). Tàu về vịnh Hạ Long “thay hình đổi dạng” xong, thì về lại cầu Đá Bạc. Một cuộc hành trình dài đến trên 4.000 hải lý, xuyên khắp biển Đông, đến vịnh Thái Lan. Với thời gian 20 ngày đêm, quan sát 20 đảo và quần đảo, theo dõi và tránh trú tàu chiến, máy bay Hải quân Mỹ suốt quãng đường 1.000 hải lý, với hơn 5 ngày đêm, cung cấp nhiều tình hình, tài liệu có giá trị sử dụng trước mắt và lâu dài.
   
                 Về tình hình liên quan nhiệm vụ vận tải chi viện miền Nam, qua chuyến trinh sát của tàu 42, Bộ Tư lệnh Hải quân nhận định: Trên biển có rất nhiều tàu thuyền đi lại, làm ăn. Tàu khai thác hải sản, đánh cá, có tàu cỡ trung, cỡ nhỏ đi lại, hoạt động số lượng rất đông. Máy bay, tàu chiến Mỹ có theo dõi thường xuyên, khi nghi ngờ là chúng bám sát đến cùng, nhưng chưa thấy có dấu hiệu tấn công vào tàu lạ ngay trên biển khơi.
   
                 Phát huy kết quả chuyến trinh sát, Bộ Tư lệnh Hải quân và Đoàn 125 tổ chức đi vào Nam Bộ tiếp ngay 1 chuyến cuối năm 1969 thành công. Và năm 1970, 4 chuyến thành công. Đặc biệt trong đó có chuyến vũ khí đi vào tháng 10 năm 1970 vào Bến Tre do đồng chí Dương Tấn Kịch làm Thuyền trưởng. Để thực hiện được quyết tâm của Bộ: bằng mọi cách phải đưa được vũ khí vào đến bến vì chiến trường đang quá “khát”. Tư lệnh Nguyễn Bá Phát ngoài việc chỉ đạo làm kế hoạch đi, chọn Đội tàu, giáo dục huấn luyện, Xây dựng quyết tâm, quyết chí còn giao cho Cục Kỹ thuật hiệp đồng với các chuyên gia nguyên cứu, làm khung nhôm ống bọc đỡ xuồng cao su cỡ đại, lắp máy đẩy tốc độ nhanh để chở được vũ khí lao vào bờ giao cho bến tận tay. Kết quả là xuồng cao su cỡ đại, chở đầy hàng, máy đẩy nhanh, vượt trên biển sóng, xuồng không bị vỡ, hàng và người lái rất an toàn. Chuyến đi thành công, Nam Bắc mừng vui. Tàu về tới nơi, anh Phát và Bộ Tư lệnh đến tận tàu đón mừng. Ngay ngày hôm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp cả tàu biểu dương và khen ngợi.
   
                 Vào thời kỳ này kẻ địch đánh giá Hải quân miền Bắc thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chi viện vũ khí cho miền Nam qua bài viết của Phó đô đốc Hải quân ngụy Sài Gòn trên sách Một số quan điểm chiến lược đế bảo vệ duyên hải Việt Nam cộng hoà: “...Trên phương diện quân sự, Bắc Việt đã biết khai thác biển khơi một cách thực tiễn hơn ta (Mỹ - ngụy). Họ có một Trung đoàn viễn dương (Đoàn 125) gồm một số ngư thuyền ngụy trang cho mục đích thâm nhập vào Nam, giá trị của Hải quân Bắc Việt đã nói lên trước dư luận quốc tế...” và “... Trên thực tế, đối phương đã sử dụng biển khơi một cách thành thạo, mà việc di hành vào điểm đến, càng tỏ ra đặc sắc hơn, làm kinh ngạc không ít chuyên viên đi biển.” “... họ có kinh nghiệm đi biển hơn Hải quân Sài Gòn 20 năm.”
   
                 Điểm tiêu biểu, xuất sắc của Hải quân nhân dân, Đoàn 125 thời kỳ này, đúng như kẻ địch đã đánh giá như vậy. Còn ta, người Tư lệnh Hải quân, người cầm quân, xây dựng chỉ huy lực lượng trên biển, chỉ huy Đoàn 125 hẳn đã góp công lớn để làm nên những chiến tích tiêu biểu, xuất sắc đó.
   
                 Với tư tưởng tiến công, cũng trong thời kỳ này, cùng với tàu 605 với vỏ tàu là chở dầu giả dạng, trọng tải 200 tấn đi trinh sát mở đường về Nam theo luồng Palawan nằm giữa Phi-líp-pin và đông quần đảo Trường Sa. Tàu 621 được Tư lệnh Nguyễn Bá Phát chỉ đạo trinh sát, thăm dò, nghiên cứu quần đảo Trường Sa.
   
                 Kết luận được quần đảo Trường Sa là khu vực sử dụng tốt cho ta, hoàn toàn bất ngờ đối với địch. Có một điều rất lạ lúc bấy giờ là, khi tàu 621 trên đường về gặp phải bão, chạy vào đảo Phú Lâm đậu nhờ, bạn Trung Quốc giúp đỡ rất nhiệt tình.
   
                 Phát huy kết quả trinh sát, thời gian sau đó Trường Sa trở thành khu biển và đường quen thuộc của Đoàn 125. Con đường xuyên dọc giữa quần đảo khí tượng, hải văn vô cùng phức tạp, có tên gọi là: “quần đảo bão tố”. Nhưng đi qua đây lại tránh được địch theo dõi, phát hiện, ngăn chặn sớm, tranh thủ được bí mật bất ngờ cao. Nhiều tàu xuyên quần đảo Trường Sa rồi bất ngờ vào Bạc Liêu. Năm 1972, tàu 56 có đồng chí Võ Hán tăng cường, giúp đỡ, trưởng tàu Nguyễn Sơn đã xuyên quần đảo Trường Sa, xuống tiếp các đảo của In-đô-nê-xia (đường đi “H2” trinh sát tháng 8 năm 1969)... đưa vũ khí đến Sa-Mít, Kô Công, Campuchia thắng lợi và an toàn.
   
                 Đặc biệt nhờ kết quả trinh sát từ 1970 - 1971 và hoạt động quen thuộc quần đảo Trường Sa mà mùa xuân 1975 trong chiến dịch Hồ Chí Minh, tàu của đoàn 125 đã chở quân đi giải phóng quần đảo Trường Sa một cách chính xác và an toàn tuyệt đối. Trong vòng 15 ngày từ 4 giờ sáng ngày 14 tháng 4 giải phóng đảo Song Tử, cực Bắc đến 9 giờ sáng ngày 29 tháng 4, giải phóng đảo Trường Sa là đảo cuối cùng và cực Nam quần đảo do quân ngụy Sài Gòn đóng giữ, đã góp phần vào thắng lợi trọn vẹn non sông đất nước Việt Nam. Điều đó rất có ý nghĩa nữa là Xuân 1975, anh Phát ở Bộ Tổng Tham mưu được Bộ điều về Hải quân, phụ trách Tư lệnh, chỉ huy ở Tiền phương. Bây giờ tôi là Tham mưu trưởng Đoàn 125 (tạm quyền), ở sở chỉ huy (Đà Nẵng) bên cạnh đồng chí Hoàng Hữu Thái, Phó Tư lệnh Hải quân để theo dõi chỉ đạo lực lượng tàu Đoàn 125 hoạt động vận tải chiến đấu cách ven bờ biển miền Nam và cánh chở quân giải phóng quần đảo Trường Sa. Từ Tiền phương phía Nam, ở Nha Trang trong hoàn cảnh liên lạc không thường xuyên được với Sở chỉ huy ở Hải Phòng và Đà Nẵng, Tư lệnh Nguyễn Bá Phát chủ động xin ý kiến trực tiếp của chỉ huy Tiền phương Bộ, tổ chức lực lượng tàu và quân của Khánh Hòa, có đồng chí Võ Hán cán bộ Đoàn 125 ở đó tham gia chỉ huy, ra giải phóng quần đảo Trường Sa. Nhưng ở Đà Nẵng đã có lực lượng tàu Đoàn 125 từ Hải Phòng và Hải quân đánh bộ - Lữ đoàn 126, cùng với Đặc công Quân khu 5 cơ động tấn công sớm, đã giải phóng được đảo trước, nên lực lượng của Mặt trận được điều sang tiếp tục cơ động tham gia nhiệm vụ giải phóng tuyến đảo gần bờ.
   
                 Đến đây có thể khẳng định rằng anh Nguyễn Bá Phát là một tướng rất hiểu biển, say sưa đam mê biển, đặc biệt là đối với miền Nam và các quần đảo, hải đảo xa bờ. Trinh sát để sử dụng Trường Sa từ đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20, để một dấu ấn về tầm nhìn chiến lược của người Tư lệnh Hải quân ngay khi cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc đang gặp rất nhiều khó khăn, thách thức và cả khi có được thời cơ ngàn năm chỉ có một không hai.
   
                 Anh Nguyễn Bá Phát xứng đáng là tấm gương sáng cho mọi người dân, quân nhân, thủy thủ, đặc biệt là tướng lĩnh và người chỉ huy Hải quân Việt Nam - một quốc gia biển, “bờ biển dài, với biển rộng, giàu tài nguyên, đứng ở vị trí chiến lược Châu Á và thế giới. Anh là người anh, người thầy, người chiến hữu của “lính xita” (lính Liên khu 5) tập kết, của binh Đoàn “tàu không số” của Hải quân chúng tôi!


                           
TP. Hồ Chí Minh
                               
Xuân Đinh Hợi 2007
                              
T.P




Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 13 Tháng Hai, 2017, 11:37:13 PM
NHỮNG LỜI TÂM SỰ KHI SẮP CHIA TAY
Đại tá Nguyễn Xáng(1)

                Đầu năm 1955, đồng chí Nguyễn Bá Phát được cấp trên điều về Bộ nhận nhiệm vụ cùng một số cán bộ nghiên cứu lập đề án xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam, hình thành Quân chủng mới của Quân đội nhân dân Việt Nam.

                  Ngày 7 tháng 5 năm 1955 Cục Hải Quân ra đời, đồng chí Nguyễn Bá Phát được bổ nhiệm làm Cục phó Cục Hải quân (đồng chí Tạ Xuân Thu là Cục trưởng kiêm Chính ủy). Năm 1964, Cục Hải quân chuyển thành Bộ Tư lệnh Hải quân, đồng chí Nguyễn Bá Phát được giao nhiệm vụ Tư lệnh Hải quân, đồng chí Tạ Xuân Thu, Chính ủy. (Đồng chí Tạ Xuân Thu và đồng chí Nguyễn Bá Phát được thăng quân hàm Đại tá trong đợt đầu của Quân đội theo luật sĩ quan). Năm 1961, đồng chí Tạ Xuân Thu được thăng hàm Thiếu tướng, năm 1974 đồng chí Nguyễn Bá Phát mới được thăng quân hàm Thiếu tướng. Cuối năm 1974 đồng chí Nguyễn Bá Phát được điều về làm ủy viên Hội đồng Khoa học Quân sự Viện Khoa học Quân sự (Đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Viện trưởng).
   
                  Hạ tuần tháng 3 năm 1975, đồng chí Nguyễn Bá Phát được giao nhiệm vụ Phó Tư lệnh mặt trận cánh ; đông (Đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Hòa làm Chính ủy) kéo dài từ Huế - Đà Nẵng - Bà Rịa - Vũng Tàu, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, đồng chí Nguyễn Bá Phát trở lại giữ chức vụ Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam của nước Việt Nam thống nhất. Cuối năm 1977, đồng chí được điều về làm Thứ trưởng Bộ Hải sản.
   
                  Trong thời gian bàn giao công việc, đồng chí Nguyễn Bá Phát tranh thủ giành ít thời gian thăm và chia tay với một số đơn vị, gặp gỡ một số đồng chí đã gắn bó với nhau trong bao năm tháng, thảnh thơi trao đổi những suy nghĩ tâm tình với nhau. Đồng chí tâm sự:
   
                  “Thật ra với kinh nghiệm bao năm ở Hải quân được tích lũy trên nhiều vấn đề, nếu được cùng ở với các đồng chí tiếp tục xây dựng Quân chủng Hải quân thì hay biết mấy, đó cũng là ý muốn riêng của mình, nhưng trên đã điều động, phải chấp nhận vui vẻ, tuy về thủy sản là vô cùng khó khăn và phức tạp, việc mới không dễ làm, rồi mình sẽ có cách khắc phục.
   
                  Đã hơn 20 chục năm, tôi đã dồn hết sức lực, trí tuệ hết lòng phục vụ Quân chủng Hải quân, tôi chưa bao giờ cũng không bao giờ lùi bước trước khó khăn và gian khổ nào. Tôi luôn bám sát và theo dõi từng bước đi của từng đơn vị nhất là lúc mới hình thành, lúc có những khó khăn, khi chuẩn bị chiến đấu... luôn lắng nghe ý kiến của cán bộ cơ sở, cùng thực địa, cùng trao đổi nhiều vấn đề... và tôi rất vui khi anh em hớn hở thoải mái thực hiện các đồng thuận với nhau.
   
                  Bên cạnh đó, cũng có những tổn thất, sự chưa thành công của một số công tác cụ thể, hay trận đánh cụ thể. Là Tư lệnh tôi chịu trách nhiệm không đỗ lỗi cho ai. Tôi muốn cảm ơn tất cả các đồng chí cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị và cơ quan chung sức, chung lòng, gian khổ buồn vui có nhau, cùng chung vai gánh vác, cùng góp sức trong xây dựng hoạt động, chiến đấu của Hải quân những năm qua”.
   
                  Dừng lại để ngẫm nghĩ, đồng chí nói tiếp: “Tôi cũng rất may mắn được làm việc bên các đồng chí Tạ Xuân Thu - Cục trưởng kiêm Chính ủy Cục Hải quân sau là Chính ủy Quân chủng, đồng chí Đoàn Phụng - Chính ủy Bộ Tư lệnh Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc, đồng chí Lương Tuấn Khang - Chính ủy Quân chủng. Tôi cũng học hỏi được nhiều từ các đồng chí ấy. Rất mẫu mực, chân tình đồng chí, biết và thông cảm bản tính cho nhau. Nguyên tắc nhưng rất cởi mở, nhẹ nhàng nhưng có tính thuyết phục, luôn tin cậy và ủng hộ nhau làm việc có hiệu quả cao. Cùng chia sẻ trách nhiệm, ủng hộ sự tìm tòi sáng tạo.”
   
                  Đã nhiều năm công tác cùng đồng chí Nguyễn Bá Phát, hiểu cả sự chân thành và thẳn thắng của đồng chí. Tôi thấy đồng chí cởi mở tấm lòng, với tính cách của người lính, người xứ Quảng: “Chúng ta phải luôn ghi nhớ sự giúp đỡ tận tình, có hiệu quả của các quân khu trong quá trình xây dựng hoạt động, chiến đấu của Quân chủng, Quân khu như là hậu phương trực tiếp của các đơn vị Hải quân đóng trên địa bàn. Các đồng chí Đàm Quang Trung - Tư lệnh Quân khu 4, đồng chí Giáp Văn Cương - Phó Tư lệnh Quân khu 4 (sau này đồng chí Cương về làm Phó Tổng Tham mưu trưởng và Tư lệnh Hải quân), đồng chí Đặng Kinh - Tư lệnh Quân khu 3, có sự gắn bó với Hải quân, hàng năm có nhiều cuộc gặp gỡ trao đổi những việc cần hỗ trợ cho nhau, đưa ra những kế hoạch giúp đỡ cụ thể, thiết thực, kịp thời cả về con người và vật chất. Đối với chiến trường miền Nam là sự quan tâm hàng ngày của tôi, cùng với Thường vụ Đảng ủy Quân chủng, đã cử người đi nghiên cứu chiến trường và kế hoạch của trên giao hàng năm và đột xuất.”
   
                  Về cuộc sống hàng ngày, tôi thấy đồng chí Tư lệnh cũng bình thường như mọi người, không xa hoa, không vụ lợi, không ganh tỵ, không chấp vặt, cởi mở và chân tình. Đối với đồng đội của mình, đồng chí không bao che cũng không định kiến, nghiêm khắc và rộng lượng, có chính kiến rõ ràng, minh bạch, luôn bên vực cho cái đúng và sự thật. Có những lần nặng lời bực tức với một số đồng chí, đồng chí Tư lệnh cũng nhanh chóng thấy mình sai, cho nên sau đó đã xin lỗi. Là người hiểu Tư lệnh đến tận tấm lòng, tôi rất xúc động khi nghe anh nói lời sau cùng trước lúc chia tay:
   
                  “Tôi ân hận là chưa có một kế hoạch, dành thời gian chăm lo sắp xếp được sự ổn định hậu phương của cán bộ Hải quân ta. Sau giải phóng có điều kiện tạo được nơi ăn chốn ở cho cán bộ phía Nam. Còn ở phía Bắc nhất là cán bộ cơ quan Bộ Tư lệnh (Hải Phòng) nhà cửa còn quá chật hẹp, nhiều khó khăn, thiếu thốn. Rồi đây với sự phát triển của đất nước, cuộc sống dần dần thay đổi trong đó có cuộc sống của cán bộ Hải quân ta ngày được cải thiện và tốt đẹp hơn. Tôi mong mỏi ngày đêm như thế!”


                                 
N.X



(1). Nguyên Bí thư Tư lệnh.


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Hai, 2017, 08:57:02 PM
TÔI THEO ANH VÀO HẢI QUÂN
Trung tá Lê Đình Kiến

                Anh Nguyễn Bá Phát rủ tôi sang Hải quân. Trong một dịp lễ về thăm nhà trước khi chuẩn bị vào chiến trường B, tôi đến thăm anh Phát. Nhà tôi và nhà anh cùng trên đường phố Trần Quang Khải, Hải Phòng.

                  Cứ mỗi lần gặp, dù biết tôi không uống được rượu, anh Phát vẫn mang ra chai rượu và hai cái cốc. Cầm chai rượu trong tay anh hỏi: chú biết đây là rượu gì không, rồi anh trả lời luôn: quà tặng của chuyên gia Liên Xô đấy! Uống rồi sẽ biết, không khéo chú uống một cốc rồi muốn thêm cốc nữa! “Nam vô tửu như kỳ vô phong!”.
   
                  Trong không khí vui vẻ tôi tiếp một câu: những người nghiện thuốc lào dám nói: thà bỏ vợ chứ không bỏ thuốc lào! Còn anh thì phạm quy mà chị Điểm đã giao ước với anh là với rượu mạnh chỉ uống được một cốc nhỏ trong bữa ăn thôi. Anh cười.
      
                  Cao hứng anh vỗ vai tôi bảo: “Hay Kiến chuyển qua Hải quân với anh đi! Hải quân có nhiều cái hay lắm, ít ra là giải phóng tầm nhìn của đôi mắt!”. Anh lại cười giòn dã.
   
                  Tôi trở lại Sư Đoàn 338 ngày tập hành quân mang vác nặng. Hơn ba tháng tôi được xếp vào đội hình một Tiểu đoàn thực binh chuẩn bị vào Nam. Một hôm, Chính ủy Lập gọi tôi sau bữa cơm chiều lên và bảo: “Ngày mai xe của Sư đoàn sẽ đưa đồng chí về Bộ nhận nhiệm vụ mới, chú ý nhớ mang theo hết đồ đạc cá nhân! Hôm sau liên lạc đưa tôi vào cơ quan Bộ - Tổng tham mưu. Trước mặt tôi là đồng chí Cục trưởng Cục Tác chiến. Đồng chí cầm cây chỉ lên tấm bản đồ treo trên tường: đây sẽ là địa bàn đơn vị đồng chí sẽ hoạt động ở chiến trường miền Nam, luôn luôn phải ghi nhớ nhiệm vụ này là tuyệt mật! Tuyệt mật! Nếu không có gì phải hỏi thêm cho rõ, đồng chí về nghỉ, mai có xe đưa đi.
   
                  Xuống đến Hải Phòng, chỗ ở tạm cách nhà tôi vài con phố, nhưng cấm trại hoàn toàn do yêu cầu bí mật cuộc đi. Một cán bộ Hải quân đến phổ biến và kiểm tra đồ đạc cá nhân mang theo, những gì mà có thể để lộ là người từ miền Bắc xâm nhập vào Nam thì phải bỏ lại hết. Xe con đưa sang đơn vị X, sau này tôi biết được đó là Đoàn 125 chuyên trách vận tải chỉ viện cho chiến trường miền Nam theo “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”.
   
                  Đi biển vào mùa đông, và những đợt gió mùa , đông bắc là thích hợp cho hành quân bí mật vào Nam, tàu nhỏ sóng to, lần đầu tiên đi biển dài ngày nên để giải phóng tầm mắt trông trời biển bao la và kiểm nghiệm cái hay bên Hải quân, như anh Phát quảng bá. Tôi ít có cơ hội, mà nhiều ngày phải vùi đầu vào tấm khăn để ngăn nôn oẹ, say sóng. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, khoái nhất là lúc đặt chân lên bờ, người lâng lâng như mất trọng lượng.
   
                  Và từ hôm đó vào cuối năm 1964, tôi tự coi mình là chiến sĩ của binh chủng “thủy quân lục chiến”. Và từ đấy làm theo lời anh Phát, tôi đã lập được nhiều thành tích cho cuộc đời tôi cả trên bộ lẫn trên biển.


                              
L.Đ.K


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:01:43 PM
BỎ RƯỢU
Đại tá Nguyễn Xáng

                 Anh Nguyễn Bá Phát có thói quen hay uống rượu và uống nhiều, nhưng lại không mấy khi say. Khi công tác ở các đơn vị Hải quân có các đồng chí cùng chiến trường Khu 5 trong chống Pháp như anh Huỳnh Kim (chỉ huy trưởng căn cứ 1, sau này là Thiếu tướng - Phó Tư lệnh Hải quân) thường đặt một bi đông và một bát sắt cạnh chỗ anh Phát ngồi. Thỉnh thoảng anh rót uống vài ngụm cứ thế suốt cả ngày họp, có một số đồng chí không biết tưởng là uống nước. Hằng ngày anh Phát ăn rất ít, buổi sáng chỉ húp một hai quả trứng gà với một ly sữa, trưa tối mỗi bữa cố gắng lắm mới hết chén cơm, dĩ nhiên phải kèm vài ly rượu, nhưng làm việc cả ngày không bao giờ anh kêu đói. Có bi đông rượu mang theo thì anh có thể chống gậy đi nghiên cứu thực địa sục hết chỗ này tới chỗ khác, nhiều cán bộ theo không kịp, nếu không thúc nhắc thì anh quên dừng nghỉ để đoàn ăn trưa.

                    Một số bạn bè và gia đình muốn luôn khuyên anh bớt uống hoặc bỏ rượu để ăn nhiều có sức khỏe. Anh bảo: “Rượu nấu từ gạo ra, uống rượu cũng là thay cơm thôi”.
   
                   Đầu năm 1973, trong một bữa cơm tối sau một ngày làm việc ở Hà Nội về, vừa ngồi vào mâm cơm  tay cầm cốc rượu đưa lên ngắm nghía, anh nói: “Việc này khó quá, ta phải làm sao đây? Phải bỏ rượu bỏ luôn cả thuốc lá”. Cả nhà cũng đang ngơ ngác, chị Liên (em gái của anh Phát): “Anh mà bỏ được rượu và thuốc lá thì gia đình mừng quá đi chứ, chị, chúng em, các cháu và các anh em ở đây hoan hô ngay, cần gì để phục vụ anh bỏ rượu, bỏ thuốc, vợ chồng em sẵn sàng lo toan chu đáo”.
   
                   Chị Nguyễn Thị Điểm (vợ anh Phát) âu yếm tiếp theo: “Thôi đi, bao lần nói bỏ nhưng có bỏ được đâu, “chỉ” được vài ngày lại uống lại càng uống nhiều hơn”.
   
                   Vừa vân vê xoay ly rượu trên bàn, anh Phát nhỏ nhẹ cho biết: “Hôm nay sau khi làm việc xong, anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) hỏi thăm sức khỏe và khuyên tôi ít uống rượu hay bỏ đi thì tốt cho công việc và sức khỏe. Qua lời nói và ánh mắt của anh Văn mình thấy chứa ẩn một sự chăm sóc ân cần, vừa trìu mến thân thiết, vừa động viên khích lệ lại vừa nghiêm khắc. Coi đây là mệnh lệnh, cả nhà và anh em có mặt ở đây tin tôi và giúp tôi nhất định thực hiện đúng lời hứa”.
   
                   Ngày nghỉ cuối tuần đó gia đình tổ chức bữa cơm có mời mấy đồng chí thân thiết cùng dự. Trên bàn có sẵn hai chai rượu trắng và anh bảo đồng chí cần vu đem tất cả thuốc lá còn lại để lên bàn. Vừa ăn, vừa uống rượu, vừa hút thuốc lá và vui vẻ hàn thuyên như mọi ngày. Trước khi kết thúc bữa cơm trưa có ý nghĩa này, anh Phát đứng dậy, bảo rót rượu đầy lại các ly, cùng nâng cốc cạn chén để từ giã rượu và thuốc lá. Vừa uống xong, anh đập ly và chai đựng rượu xuống đất kêu một tiếng choảng, các mảnh thủy tinh và rượu tung tóe. Vừa ngỡ ngàng, vừa bất ngờ, mọi người cùng vứt ly xuống đất theo sự thúc giục của anh. Mọi người thấy có gì thương thương cho anh, cảm động mà không nói ra được, tay anh hình như vừa run run. Anh bắt tay những người có mặt và nói: “Dứt khoát từ nay trở đi tôi không uống rượu, không hút thuốc nữa”. Anh lấy những bao thuốc còn ở trên bàn đưa cho các đồng chí có mặt, dặn hãy cầm lấy hút hoặc cho anh em khác, xé bỏ thì phí.
   
                   Sau hơn hai tuần có phần vất vả cố vượt qua những cơn thèm nhớ rượu, thuốc lá, có lúc anh Phát như thẫn thờ, đôi mắt lim dim, chép miệng nuốt nước miếng, đứng lên ngồi xuống không yên. Sau khi hết giờ làm việc vào buổi chiều, có lúc anh nấn ná ngồi lại ở phòng làm việc nghiên cứu tài liệu, đọc bản tin hoặc đi quanh cơ quan Bộ Tư lệnh, gặp gỡ trò chuyện với các đồng chí ở các nhà tập thể, có lúc anh ra vườn cùng xới đất tưới rau, làm vệ sinh cùng anh em phục vụ, đôi khi đi dạo quanh ngoại thành đến tối mới về nhà ăn cơm và hay ngủ sớm hơn thường ngày. Mọi việc rồi cũng qua đi, những cơn ho, bệnh viêm họng hay đến với anh trước đó cũng mất dần, những lần làm việc với cơ quan, đơn vị trong những ngày này anh thường kể việc bỏ rượu và thuốc lá của anh... và anh đã thành công.
   
                   Trong một tối cuối tháng 5 năm 1975, ở tại sân nhà số 5 Tôn Đức Thắng ngày nay, sau khi giao xong nhiệm vụ cho tôi ngày hôm sau tổ chức chu đáo đưa vợ chồng và con cái chị Lê Thị Hồng Minh ra Côn Đảo viếng mộ bố mẹ là đồng chí Lê Hồng Phong và đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi tôi: “Kỳ này anh Phát có lúc nào uống rượu không?”. Tôi báo cáo với Đại tướng: “Anh Phát đã bỏ rượu hơn hai năm nay rồi và cả thuốc lá nữa, chỉ khi nào có tiệc tùng, có gì vui đặc biệt uống vài ly nhỏ”. Đại tướng dặn lại tôi: “Đồng chí là người thân cận thường xuyên gần gũi anh ấy, thỉnh thoảng nhắc anh ấy về việc này, khi cần đồng chí cứ nói anh Văn dặn đấy”. Tôi càng nghĩ thêm về lời của Đại tướng đây là bản lĩnh, nghị lực của một vị tướng, ý thức tổ chức, tổ chức kỷ luật của một người lính.


                                 
N.X



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:07:20 PM
NGUYỄN BÁ PHÁT HỒI ỨC VỀ CON NGƯỜI ANH
Đại tá Võ Hành(1)

                Nguyễn Bá Phát, con người rất quen thuộc với anh em ở Khu 5 và nhất là Hải quân. Người tầm thước, nước da ngăm đen, hay chép miệng. Nụ cười luôn mở trên môi, khi gặp anh em đã cùng nhau công tác. Anh rất gần gũi với anh em, thích uống rượu trong những lúc vui.

                 Trước bữa ăn chỉ một ly, sau giờ làm việc căng thẳng, làm một ly, vừa uống vừa chép miệng, ngẫm nghĩ. Trong giờ làm việc không bao giờ uống rượu, chỉ uống nước trà, rượu nồng độ cao càng tốt, cũng chỉ uống một ly. Nồng độ thấp không uống, cho là như uống xi-rô. Trong các buổi liên hoan vui vẻ, có nhiều anh em đến chúc mừng, mỗi người một cốc, sẵn sàng tất, không bao giờ say.
   
                 Làm việc có trách nhiệm, làm liên tục, cho đến khi xong việc mới nghỉ, có khi quên cả ăn ngủ. Đi công tác, thường đi trước anh em, hay đốc thúc anh em cố làm xong việc nhanh rồi về. Sẵn sàng xuống tàu, đi dài ngày trên biến, không say sóng, cần thiết lội xuống nước, không ngại, cùng anh em nghiên cứu địa hình dưới đáy biển xem có đúng như ghi trong hải đồ.
   
                 Ở Hải quân, một số anh em khi đi công tác với anh Phát, thường hay nhớ đến câu “ăn không kịp xỉa” để nói lên tác phong luôn khẩn trương. Rất ghét rề rà, nói nhiều làm ít rất thẳng thắn, không bao giờ úp mở.
   
                 Anh Phát với anh em cấp dưới, luôn luôn là “cậu mình”. Số đông anh em rất thích, mến, sẵn sàng châm chước, tha thứ những khi va vấp. Cũng có một số ít không thích, ít muốn gần do cá tính khác nhau.
   
                 Tôi biết đồng chí Phát khi còn ở Liên khu 5, nhưng không thân quen lắm, vì ở khác đơn vị, chưa cùng nhau cộng tác, nên chưa hiểu nhau. Chỉ gặp anh ở các cuộc họp Bộ Tư lệnh Liên khu. Ít có cuộc tiếp xúc riêng tư.
   
                 Ra Bắc, khi tôi công tác ở cơ quan Tổng Thanh tra Quân đội thì đồng chí Phát là Cục phó Cục phòng thủ bờ biển - hai cơ quan đóng gần nhau, chỉ cách nhau một bức tường cùng đi chung một bậc thềm mỗi khi ra vào, lên, xuống. Tôi công tác ở Đoàn 125 (Đoàn tàu không số) vốn là một đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng. Khi Bộ quyết định giao Đoàn 125 về cho Bộ Tư lệnh Hải quân, thì tôi mới gặp lại anh Phát. Lúc này, anh Phát là Phó Tư lệnh, sau đó mới là Tư lệnh, được phân công đặc trách làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí vào chiến trường miền Nam. Để giữ bí mật cho đơn vị làm nhiệm vụ đặc biệt này, Bộ quy định Hải quân chỉ có 3 người được quan hệ tiếp xúc làm việc với Đoàn 125 là đồng chí Phát - Tư lệnh, đồng chí Hoàng Trà - Chính ủy, đồng chí Kim Sang - Trưởng phòng Quân báo, ngoài ra không một ai được quan hệ, tiếp xúc. Các vấn đề trực thuộc Đoàn 125 do Bộ giải quyết thông qua Bộ Tư lệnh Hải quân báo cáo với Bộ các vấn đề có liên quan. Do đó, tôi và đồng chí Phát hay gặp gỡ, trong những lúc có công việc cần thiết.
   
                 Khi tôi về phụ trách Chính ủy Cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh Hải quân, thì mối quan hệ với đồng chí Phát càng gần gũi, mật thiết hơn, nhất là những vấn đề thuộc về chiến trường miền Nam (công tác B). Ngoài việc giúp đồng chí Phát trong việc chỉ huy việc vận chuyển vũ khí vào miền Nam, do đơn vị cũ của tôi phụ trách, còn giúp trong việc động viên cán bộ kỹ thuật Cục Hậu cần sản xuất các loại vũ khí đặc dụng cho Đặc công Hải quân, do đồng chí Phát suy nghĩ, nghiên cứu đề xuất ra. Cục Hậu cần phụ trách sản xuất, cơ quan Tác chiến thuộc Bộ Tham mưu tổ chức đơn vị mang những loại vũ khí này vào chiến trường B tác chiến, dưới sự chỉ huy của đồng chí Phát, do đó mối quan hệ giữa tôi và đồng chí Phát càng thân quen khăng khít hơn.
   
                 Sau miền Nam giải phóng, tôi về phụ trách Chính ủy Vùng 3 Hải quân, đóng ở Đà Nẵng, thì đồng chí Phát làm Thứ trưởng Bộ Hải sản. Những lúc đồng chí Phát đi công tác ghé qua nhà ở Đà Nẵng, đều báo cho tôi đến nhà chơi, động viên cán bộ Sở Hải sản của Quảng Nam - Đà Nẵng, cử cán bộ đến đơn vị của tôi giúp đỡ tổ chức đánh cá biển, trong công tác Hải quân kết hợp với kinh tế biển. Qua những lần đến chơi, tôi thấy gia đình 2 người chị của đồng chí Phát rất neo đơn, vất vả, khó khăn trong cuộc sống, tôi đã chủ động đề xuất đơn vị làm kinh tế Cửa Tùng, bán cá chịu cho 2 chị đem ra bán ở chợ lấy lời, trả vốn cho đơn vị sau.
   
                 Tôi về hưu sống ở Nha Trang, đồng chí Phát cũng về hưu sống ở Đà Nẵng. Tuy rất xa nhau, nhưng luôn có quan hệ nhờ những đồng chí đang còn công tác, thường đến tôi và đồng chí Phát thông báo tình hình cho nhau nên chúng tôi có tin tức đều đặn.
   
                 Có điều, tôi rất ân hận, khi đồng chí Phát ốm, chữa bệnh ở Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng và mất ở đó, mà không có một ai báo cho tôi biết, để đến viếng anh, lúc anh vĩnh biệt cuộc đời. Khi anh em Đoàn 125, tổ chức cuộc gặp mặt ở Đà Nẵng, có mời chị Điểm, vợ anh Phát, và một số chị có chồng công tác ở đơn vị đề nghị chị Điểm đưa anh em đến mộ anh Phát để thắp hương.
   
                 Khi chị Điểm đưa tôi đến mộ anh Phát để viếng Và thắp hương, lúc cầm nhang chị Điểm mắt đỏ hoe nói một câu làm tôi nhớ mãi: “Ông ơi, anh Hành và các anh ở 125 đến thăm ông, mà sao ông không nói một lời với anh em”. Nói xong chị sụp xuống trước mộ, trong vòng vây của anh em đang cầm nhang, chờ đến lượt mình vào cắm. Anh em đã đến thắp nhang tất cả các mộ của họ nhà anh Phát thì mới biết có người đã là nghĩa quân của Nguyễn Tri Phương chống lại quân thực dân Pháp, lúc chúng đánh chiếm Đà Nẵng.
   
                 Về Thành phố Hồ Chí Minh, chị Điểm đưa tôi đến tận nhà do chị thuê để ở, tôi đến thắp nhang trên bàn thờ anh Phát.
   
                 Khi được tin chị Điểm đau nặng đang điều trị ở Bệnh viện 175, tôi đến thăm, thì thấy chị không còn thần sắc nữa. Tôi cúi gần mặt, động viên chị: “Cố gắng với anh em và các cháu”. Sau đó mấy ngày, bệnh viện báo cho biết, chị đã qua đời, thi hài được đưa ra Đà Nẵng an táng bên cạnh mộ anh Phát.
   
                 Viết những dòng này để nhớ lại mối thân tình giữa tôi và anh Phát, người đồng chí, đồng đội, người anh, đã để lại trong tôi tình nghĩa sâu lắng, khó phai mờ.
   
                 Với cương vị là Tư lệnh Hải quân, anh Nguyễn Bá Phát được phân công chuyên trách về công tác đối với miền Nam một cách an toàn, bí mật như thời kỳ Đoàn còn dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ, giúp cho Khu 8, Khu 9 có đủ vũ khí phát triển lực lượng, liên tục tác chiến thắng lợi.
   
                 Tạo được các điều kiện để Đoàn 125 đưa tàu xuyên qua Vũng Tàu lên đến Lộc An giao vũ khí cho Bộ Tư lệnh Miền và Quân khu 7 mở chiến dịch Bình Giã, tác chiến thắng lợi. Một vấn đề từ trước chưa làm được.
   
                 Tranh thủ được sự giúp đỡ của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5, Đoàn 125 đã mở được 2 bến để đưa vào tiếp tế vũ khí cho Khu 5 là bến Lộ Giao ở Bình Định, Vũng Rô ở Phú Yên, tạo điều kiện cho Khu 5 tác chiến mở rộng vùng giải phóng, khu du kích, ép địch rút chạy, giải phóng 2 huyện Hoài Nhơn, Tam Quan ở ven quốc lộ 1 và huyện An Lão ở miền núi.
   
                 Từ những kinh nghiệm của đặc công bộ binh, anh Phát đã sáng tạo xây dựng lực lượng đặc công Hải quân. Đồng thời anh trực tiếp tổ chức sản xuất các loại vũ khí đặc dụng cho lực lượng này, bơi lặn dưới nước vừa mang vũ khí, vừa tiếp cận tàu địch một cách bí mật, gài mìn nam châm, hẹn giờ gắn vào đáy tàu. Đồng thời Hải quân tổ chức huấn luyện loại binh chủng đặc biệt này, đưa lực lượng này tác chiến thắng lợi, đánh chìm tàu địch ở Cửa Việt. Có thể nói lực lượng này là một binh chủng đặc biệt của Hải quân được Bộ cho phép, tổ chức, xây dựng thành một Trung đoàn với phiên hiệu Đoàn 126 trở thành đơn vị anh hùng trong tác chiến. Cũng từ thành công này, Bộ chỉ thị cho Hải quân tổ chức huấn luyện 2 tiểu đoàn với đầy đủ vũ khí đặc dụng để Bộ điều vào giao các Quân khu miền Nam tác chiến trên sông, trên biển. Trong tổng tiến công nổi dậy 1975, đồng chí Mai Năng đã chỉ huy lực lượng đặc công này, tiếp cận giải phóng đảo Song Tử Tây bên cạnh đảo Song Tử Đông do Philippin chiếm giữ, mở đường giải phóng tất cả các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Từ chiến công này, đồng chí Mai Năng đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
   
                 Đồng chí Nguyễn Bá Phát rất có trách nhiệm đối với nhiệm vụ, công tác, nhất là nhiệm vụ tác chiến. Suy nghĩ, động viên cán bộ cấp dưới cùng suy nghĩ để giải quyết những khó khăn, tạo được thắng lợi trong công tác, cho nên có thể nói anh là một Tư lệnh có tài. Đồng chí có tác phong quần chúng tốt, được đa số anh em mến. Có nhược điểm là nóng tính, khi đã nóng tính dễ phạm sai lầm trong các mối quan hệ. Một số anh em khó tính ít thích, nhưng với ưu điểm của đồng chí Phát, anh em thông cảm dễ bỏ qua, tha thứ, nên luôn luôn giữ được mối quan hệ tốt.
   
                 Viết những dòng này, tôi càng nhớ nhiều đến đồng chí Phát, một đảng viên, một cán bộ, một đồng chí, một đồng đội, một người anh tốt.


                                 
V.H



(1). Nguyên Chính ủy Cục Hậu cần - Quân chủng Hải quân.


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:13:05 PM
GẶP NGƯỜI ĐÀN BÀ CẦN THƠ
Đại tá Nguyễn Xáng

                Sau giải phóng độ vài chục ngày, tại nhà số 1 Bạch Đằng (nay là đường Tôn Đức Thắng, Thành phố Hồ Chí Minh) tôi đang ăn trưa thì anh Hạ - Trưởng phòng Bảo vệ Quân chủng đến tìm gặp tôi để trao đổi công việc. Có vẻ gì quan trọng nên anh Hạ kéo tôi ra ngồi ghế ở sân trước để nói chuyện. Tiếng nói nhỏ vừa đủ nghe: “Có một bà ở Cần Thơ dẫn theo cháu gái độ 20 tuổi, từ qua nay đã vài lần đến nằng nặc xin gặp cho bằng được thủ trưởng Phát của ta. Bà ấy bảo cô gái là con của người có tên là Phát đấy”. Tôi đã báo cáo xin ý kiến và được Chính ủy bảo tôi báo cáo cho Tư lệnh biết và tổ chức cuộc gặp xác minh rõ ràng, làm sáng tỏ vụ việc.

                 Tôi nói ngay với anh Hạ: “Không biết anh nghĩ thế nào về việc này, theo tôi rất đơn giản, chắc bà ta nhầm lẫn gì đó, chứ từ năm 1945 đến ngày 30-4-1975 nay Tư lệnh của ta đều ở Khu 5 rồi ra Bắc, chưa lúc nào đặt chân lên đồng bằng sông Cửu Long. Tôi sẽ báo cáo với Tư lệnh về việc tổ chức cuộc gặp mặt để thỏa lòng của mẹ con bà ấy và để rõ ràng, dứt khoát chấm dứt việc này, để anh khỏi bận tâm. Chắc anh Phát đồng ý với kế hoạch của ta, nếu anh Phát có ý kiến gì khác. Tôi sẽ báo cáo với anh rồi ta làm theo ý Tư lệnh”. Đồng chí Hạ hoàn toàn nhất trí đề xuất của tôi.
   
                Sau khi nghe báo cáo nội dung và tổ chức cuộc gặp mặt xong, trước khi đi công tác xuống Vùng 5 Hải quân, anh Phát cười và nói ở đời cũng lắm chuyện vui nhỉ. Anh đồng ý với kế hoạch và dặn thêm tôi nói với anh Hạ là phải chú ý động viên mẹ con bà ấy, và tiếp đón chu đáo.
   
                Đúng một giờ rưỡi chiều, đồng chí Hạ đưa hai mẹ con vào phòng khách. Anh Phát vào đáp lời chào và mời hai mẹ con ngồi xuống, anh chủ động nói ngay: “Tôi là Nguyễn Bá Phát, hiện là Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam, hai mẹ con chị muốn tìm gặp tôi có việc gì và cần gì thì cứ nói, nếu được tôi và cơ quan sẽ giúp chị và cháu được mãn nguyện”. Cháu gái có vẻ căng thẳng hết nhìn mẹ, lại nhìn anh Phát, vẻ bẽn  lẽn vì sự việc diễn ra không đáp ứng sự mong chờ. Người đàn bà đứng dậy, chắp tay biết lỗi. Anh Phát mời bà cứ ngồi nói chuyện tự nhiên. Bà nói: “Mẹ con tôi xin cảm ơn và xin lỗi ông và các bác ở đây vì đã làm phiền đến các bác. Tôi muốn tìm một anh tên là Phát, bố của cháu này, nghe nói anh ấy vẫn ở bộ đội hay công an vũ trang gì đó. Có người cho tôi biết có ông Phát - Hải quân ở đây nên tôi cũng cố xin tìm gặp, nhưng ông không phải là người mẹ con tôi cần tìm gặp, xin ông và các bác hiểu thấu cho”.
   
                Anh Phát bảo: “Chiến tranh đã để lại bao hậu quả đau thương, bao mất mát, bao phức tạp... trong đó có việc tìm người thân đoàn tụ gia đình. Chị là một trong những trường hợp đó. Sau bao năm chiến tranh tôi cũng mới được gặp lại các anh, các chị của tôi nên tôi rất thông cảm với chị và cháu. Tôi cầu mong chị và cháu sẽ sớm được gặp lại anh ấy. Cần gì chị cứ nói anh Hạ sẽ giúp đỡ. Tôi bận phải đi công tác, anh Hạ sẽ tiếp đón chị”. Anh dặn anh Hạ lo xe đưa hai mẹ con chị về nhà nghỉ, nếu chị và cháu chưa có chỗ nghỉ thì thu xếp chỗ ở chu đáo. Và anh hỏi kỹ xem có cách nào thì giúp chị ta đi tìm cho nhanh.
   
                Ngồi trên xe, anh em chúng tôi đem câu chuyện ra tiếu lâm. Đồng chí lái xe nhanh nhẩu: “Lần này về nhà chúng em có chuyện để trình với bác gái rồi, không biết chúng em sẽ nghe bác gái ca những bài gì? Có cao giọng không? Sẽ vui đây”.
   
                Anh Phát bảo: “Có gì mà các cậu không biết, trong lúc này biết bao nhiêu người khăn gói đi tìm người thân, gặp những trường hợp như vậy, các cậu phải giúp đỡ, chia sẻ sự chờ đợi và hy vọng của người ta, không nên đùa trước sự đau khổ của người khác”. Dừng một chút, anh lại nói tiếp: “Các cậu chưa hiểu biết bà Điểm (vợ của anh Phát) đâu. Bà ấy đã làm công tác phụ nữ trong suốt 9 năm chống Pháp ở miền Nam và tiếp tục nhận các công tác khác đến nay, không phải là người mềm yếu dễ nghe như các cậu tưởng. Vui vẻ, hòa nhã, tận tụy, chu đáo với mọi người. Bà đã gánh vác hết mọi việc gia đình, lo toan tất cả, đảm đang, quan tâm chăm lo chồng con... nên mình mới được nhẹ gánh để làm việc như thế này. Mình cũng có ít thời gian nghĩ đến việc nhà, khi trong nhà có chuyện gì, hoặc có khách khứa mình cũng chỉ hô hào rồi mọi việc bà đều lo liệu đâu vào đấy cả, cần nữa thì có các cậu giúp cho một tay, mọi việc đều xong cả, không chê vào đâu được. Nói việc này thì bà Điểm cho là các cậu bịa chuyện để làm trò cười cho vui thôi, có khi bà lại cười bảo sao các cậu không đưa mẹ con bà ấy ra chơi mấy ngày cho biết”.


                                 
N.X


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:31:57 PM
TƯ LỆNH CỦA CHÚNG TÔI NGƯỜI LÍNH HẢI QUÂN SỐ MỘT
Trung tá Đặng Ngọc Chỉnh

                Mỗi cán bộ chiến sĩ Hải quân đã hoạt động chiến đấu trong thời kỳ đầu mới thành lập, nhất là thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chắc , đều lưu lại trong ký ức một hình ảnh thân thương, kính trọng về người chỉ huy của mình, đó là Tư lệnh Nguyễn Bá Phát.

                  Anh là Tham mưu phó Quân khu 5 trong cuộc kháng chiến chống Pháp, người con của vùng biển Quảng Nam, có am hiểu ít về kỹ thuật tàu thuyền và hoạt động trên biển. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (20-7- 1954), anh tập kết ra Bắc. Trước yêu cầu cấp bách về nhiệm vụ bảo vệ vùng biển miền Bắc vừa được giải phóng. Quân ủy Trung ương triệu tập một tổ cán bộ, nghiên cứu xây dựng lực lượng phòng thủ bờ biển, trong đó có anh và anh được giao nhiệm vụ làm tổ trưởng. Người con của biển lại về với biển, chẳng khác nào nắng hạn gặp mưa rào. Anh hăm hở bắt tay vào công việc, cùng với cả tổ khẩn trương nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực địa khắp nơi. Một đề án sơ bộ đã hình thành và được trên chấp thuận. Trọng tâm của đề án là phải khắc phục mọi khó khăn, xây dựng cho bằng được một lực lượng tàu thuyền chiến đấu trên biển. Nhiệm vụ thì nặng nề cấp bách, nhưng điều kiện cần và đủ để lực lượng đó hình thành là 2 yếu tố: con người và trang bị vũ khí là con số không!
   
                  Để khắc phục trở ngại đó, ngày 26 tháng 4 năm 1955, hai đơn vị tiên phong ra đời, đó là Trường huấn luyện 45 và Xưởng 46. Với tốc độ phi mã, Trường huấn luyện 45 khẩn trương thu thập tài liệu, biên soạn giáo án, vừa chiêu sinh mở các lớp đào tạo thuyền trưởng và các ngành kỹ thuật. Xưởng 45 lo thu gom máy móc, vũ khí, trục vớt tàu thuyền của quân Pháp bỏ lại sau khi rút khỏi miền Bắc nước ta. Đơn vị liên hệ chặt chẽ với các cơ sở sửa chửa thuyền bên ngoài, chế tạo đóng mới 20 canô chiến đấu.
   
                  Ngày 24 tháng 8 năm 1955, Hải đội Sông Lô và Hải đội Bạch Đằng ra đời (mỗi Hải đội 10 canô). Đây là lực lượng chiến đấu đầu tiên của Quân chủng, tuy trang bị còn thô sơ, nhưng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiễu phỉ ở vùng biển Đông Bắc và ngăn chặn làn sóng địch đưa người di cư ồ ạt từ các tỉnh ven biển miền Bắc và Nam. Đây chính là thành tích bước đầu rất lớn của Quân chủng Hải quân, trong đó có một phần công sức không nhỏ của anh Phát.
   
                  Trước yêu cầu phát triển của Quân chủng theo hướng chính quy, hiện đại, giữa năm 1956 anh Phát dẫn đầu đoàn lưu học sinh Hải quân Việt Nam gần 300 người sang Trung Quốc học tập theo sự thỏa thuận của Chính phủ hai nước. Đoàn phân ra nhiều bộ phận, học ở nhiều trường, nhiều chuyên ngành khác nhau: từ thủ trưởng, cơ quan Bộ Tư lệnh, cán bộ chỉ huy tàu, pháo binh bờ biển, các chuyên gia chuyên ngành kỹ thuật và bảo đảm. Thời gian này, anh Phát đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là học viên được đào tạo cấp Tư lệnh, anh say sưa nghiên cứu, nắm vững kỹ thuật Hải quân và kinh nghiệm xây dựng Hải quân của bạn.
   
                  Mặt khác anh còn lãnh đạo, chỉ đạo tất cả các đoàn học sinh ở các trường khắc phục mọi khó khăn học tập đạt thành tích cao nhất, đồng thời xây dựng tốt tình đoàn kết anh em giữa ta và các đồng chí Trung Quốc. Anh còn thường xuyên giữ chặt mối quan hệ, nắm bắt kịp thời tình hình trong nước, đề xuất ý kiến tham mưu cho Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề ra kế hoạch phát triển Hải quân tiếp theo.
   
                  Từ năm 1956 - 1962, các đoàn lần lượt tốt nghiệp và trở về nước, kết hợp với anh em đào tạo trong nước, tạo nên bước ngoặt đột biến về phát triển lực lượng Hải quân. Được sự chi viện chí tình của Hải quân Liên Xô, Trung Quốc, các đoàn tàu tuần tiễu, phóng lôi, săn ngầm, pháo binh bờ biển và các tàu bảo đảm lần lượt ra đời, sức mạnh chiến đấu của Quân chủng được tăng cường vượt bậc. Từ đó trên vùng biển miền Bắc nước ta, suốt từ Mũi Ngọc đến Cửa Tùng, suốt ngày đêm không khi nào vắng bóng tàu thuyền Hải quân hoạt động. Nhân dân ta vô cùng phấn khởi, cuộc sống làm ăn người dân ven biến thật thanh bình. Có thể nói, thời kỳ 1959 - 1964 là thời kỳ Hải quân ta phát triển rực rỡ nhất, đồng bộ nhất, thay đổi cơ bản về chất, cả cơ quan đơn vị, cả lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, cả lực lượng trên bờ và lực lượng trên sông dưới nước. Toàn Quân chủng đoàn kết thống nhất dấy lên cao trào thi đua 3 nhất với khẩu hiệu: “Tàu là nhà, biển là quê hương, mỗi người làm việc bằng hai, vì đồng bào miền Nam ruột thịt”, sẵn sàng nhận và thực hiện bất cứ nhiệm vụ nào mà Đảng và Tổ quốc giao cho.
   
                  Với cương vị là Tư lệnh, anh Phát luôn sâu sát đơn vị, có thể nói ở nơi nào có bộ đội đóng quân, dù ở Hải đảo xa xôi hay những trạm ra-đa, đài quan sát, trên đỉnh núi cao hay trong rừng thẳm đều in dấu chân anh. Anh đem tình thương và trách nhiệm đến với bộ đội, đến đơn vị nào anh cũng cùng cán bộ cơ sở nghiên cứu nắm chắc tình hình, gợi ý giúp đỡ đơn vị xây dựng chương trình công tác, kế hoạch, phương án huấn luyện và chiến đấu phù hợp với thực tế của từng đơn vị. Chính sự giúp đỡ thiết thực của anh đã gắn kết quyết tâm của người chỉ huy với hành động chiến đấu của bộ đội thành một khối thống nhất tạo thành sức mạnh to lớn, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Sức mạnh chiến đấu đó đã được phát huy cao độ ngay từ trận đầu đánh trả tàu chiến Mỹ ngày 2 tháng 8 và ngày 5 tháng 8 năm 1964, Hải quân ta đánh đuổi tàu khu trục Ma-đốc, bắn rơi 8 máy bay, bắt sống giặc lái Mỹ, lập công xuất sắc. Đây là đòn mạnh đánh vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, chứng minh cho thế giới biết rằng: Tàu chiến và máy bay hiện đại của Mỹ chỉ là con ngáo ộp, đụng đến Việt Nam là đâm đầu vào lửa. “Biến của ta đâu phải là ao nhà của chúng”. Chiến thắng trận đầu của Hải quân làm nức lòng nhân dân cả nước và bạn bè khắp năm châu. Cả nước hoan hô Hải quân, cả nước hướng về Hải quân, có hạnh phúc nào hơn những chiến sĩ Hải quân thời bấy giờ.
   
                  Từ đó, Quân chủng Hải quân đã hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang khác và nhân dân, liên tục chiến đấu, lập nhiều chiến công và cũng không tránh khỏi những tổn thất đau thương theo quy luật khắc nghiệt của chiến tranh.
   
                  Bước sang năm 1966, vì sự thất bại nặng nề ở chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ này còn điên cuồng đánh phá ác liệt trên toàn miền Bắc nước ta. Đặc biệt ở Khu 4, chúng tập trung đánh vào tàu thuyền Hải quân trú đậu trên các sông rạch, chúng bắt đầu dùng thủy lôi phong tỏa các cửa sông, gây cho ta rất nhiều khó khăn trong hoạt động chiến đấu. Cuối 1966, theo lệnh của trên, tất cả các tàu thuyền Hải quân phải rút hết khỏi vùng biển Khu 4 về Quảng Ninh. Thế rồi Hải Phòng, Quảng Ninh cũng bị đánh ác liệt có lúc tưởng chừng như không còn đất để lui. Đã có ý kiến đề xuất nên đưa tàu Hải quân ngược sông Hồng vừa tham gia chiến đấu, bảo vệ Thủ đô vừa bảo toàn lực lượng. Tàu ngược sông Hồng ư? Tàu rời biển, đồng nghĩa với người lính phải rời khỏi trận địa!
   
                  Chính anh Phát là người trăn trở nhất, anh bàn bạc nhiều lần với cán bộ lãnh đạo, đồng thời tranh thủ ý kiến cấp dưới, cuối cùng Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đưa ra một quyết định rất sáng suốt là: Dựa hẳn vào địa hình hiểm trở của vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long, tổ chức tốt phòng tránh và đánh địch. Người bám tàu bám biển, một tấc không đi một ly không rời. Quyết định này rất phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của cán bộ chiến sĩ, nên ai cũng phấn khởi đồng tình, thề với nhau sống với biển và chết với biển. Anh Phát xắn quần cùng nhiều đoàn cán bộ lặn lội khắp nơi, qua hàng trăm hòn đảo để tìm ra những luồng lạch mới, những nơi neo đậu tàu bí mật an toàn, những hang hầm, triền núi có thể cải tạo thành nơi cất giấu vũ khí, máy móc, xây dựng triền đà dã chiến sửa chữa tàu thuyền. Hình thành nhiều phương án phòng tránh và đánh địch hiệu quả. Vì thế mà trong cả một thời gian dài, các đơn vị không những bảo toàn được lực lượng mà còn tham gia chiến đấu lập nhiều chiến công. Tuy thế trận và phương thức hoạt động chiến đấu của bộ đội tạm ổn, nhưng chưa bao giờ vừa lòng, anh Phát luôn day dứt theo đuổi một ý nghĩ, thấy mình còn mắc nợ với đồng bào Khu 4, với đồng bào miền Nam. Nhất định bằng mọi giá Hải quân phải có mặt hoạt động chiến đấu trên khắp các chiến trường toàn quốc. Suy nghĩ của anh cũng là suy nghĩ của nhiều cán bộ lãnh đạo trong Quân ủy. Nhiều cuộc họp bàn bạc hiến kế đánh địch, không những ở cấp lãnh đạo mà còn mở rộng ở đến các đơn vị. Chưa bao giờ Hải quân ta gặp khó khăn như lúc này. Nhưng cũng chưa bao giờ, tình đoàn kết nhất trí cao, ý thức trách nhiệm quyết tâm chiến đấu và sức sáng tạo của con người lại được phát huy cao độ như lúc này. Nhiều phương thức hoạt động, phương án đánh địch độc đáo, sáng tạo; nhiều đề xuất cải tiến chế tạo phương tiện, vũ khí mới phù hợp với cách đánh và từng chiến trường đã được hình thành, mở ra một tiền đồ lớn cho Quân chủng Hải quân trưởng thành, phát triển và nhất định sẽ lập nhiều chiến công mới.
   
                  Một lực lượng mới hình thành và phát triển rất nhanh là Đặc công nước 126. Đoàn trực tiếp hoạt động chiến đấu liên tục trên mặt trận Đông Hà, Cửa Việt, đánh chìm hàng trăm tàu địch, lập nhiều chiến công xuất sắc. Đoàn còn huấn luyện xây dựng nhiều đội đặc công độc lập, bổ sung cho các Quân khu miền Nam, hoạt động chiến đấu trên khắp sông, rạch. Đã đánh chìm, đánh bị thương hàng trăm tàu thuyền của Mỹ ngụy, làm cho chúng khiếp đảm kinh hồn. Các đơn vị chiến đấu cải dạng do Xưởng 48 sản xuất, được trang bị bom phóng, vũ khí chống tăng, thủy lôi, trở lại vùng biển Khu 4, lấy bãi Ngang làm căn cứ hoạt động đánh địch. Bằng cách hoạt động khôn khéo, các đơn vị đã đánh chìm đánh bị thương nhiều tàu địch, trong đó đánh bị thương cả tàu khu trục và tuần dương của Mỹ. Đoàn 125 được tăng cường đóng mới nhiều tàu vận tải có tải trọng đến vài trăm tấn, chịu được sóng to gió lớn. Tàu hoạt động dài ngày trên biển, bí mật chuyên chở nhiều vũ khí, đạn dược chi viện cho khắp các chiến trường miền Nam, kể cả vùng xa tận đất mũi Cà Mau, Kiên Giang.
   
                  Sự trưởng thành nhanh chóng của bộ đội, những chiến công dồn dập khắp các chiến trường báo về làm nức lòng mọi người. Tư lệnh Nguyễn Bá Phát vui lắm, đến đâu cũng thấy anh cười rất tươi, và với một cử chỉ rất độc đáo của riêng anh, gặp người lính nào anh cũng dùng ngón tay ấn lên trán chính mình và dặn anh em: “Các đồng chí nhớ phải luôn luôn đóng chặt cái mỏ neo vào chỗ này” một sự nhắc nhở đầy tình yêu và trách nhiệm của người lính Hải quân đối với biển, thật tế nhị và sâu sắc.
   
                  Nhờ Quân ủy Trung ương phát triển lực lượng nhanh, đứng chân hoạt động trên khắp chiến trường toàn quốc, nên năm 1975 khi thời cơ giải phóng miền Nam tới, Hải quân ta đủ sức cùng với toàn quân, toàn dân giải phóng kịp thời toàn bộ vùng biển và hải đảo phía nam Tổ quốc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà.
   
                  Hải quân nhân dân Việt Nam hình thành phát triển ngày càng vững mạnh, lập nhiều chiến công hiển hách, được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Thành tích chiến công là công lao, xương máu chung của bao thế hệ chiến sĩ Hải Quân ta. Nhưng Tư lệnh Nguyễn Bá Phát xứng đáng là người chiến sĩ Hải quân số một, trọn đời hiến dâng trái tim và toàn bộ sức lực cho biển cả và sự nghiệp Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng.


                              
Đ.N.C



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:37:48 PM
NHỚ ANH BẢY PHÁT, MỘT VỊ TƯỚNG TÀI BA
Phạm Minh Tuấn (Phạm Phú Lộ)(1)

                    Tôi là một cán bộ cũ của bộ đội Liên khu 5, miền Nam Trung Bộ, nên biết anh Phát từ lâu. Biết anh ấy là một chỉ huy tài giỏi nổi tiếng từ trận đánh đèo Hải Vân tiêu diệt tên quan năm Pháp Roger; biết anh là một trong những cán bộ đầu tiên được tặng thưởng Huân chương Quân công (Huân chương cao nhất trong quân đội); biết anh từng được giao nhiều trọng trách trong bộ đội Liên khu 5.

                Năm 1959, tôi đang là chính trị viên Tiểu đoàn 40 Trung đoàn 96 Sư đoàn 305, thì được điều động về Cục Hải quân, tiền thân của Quân chủng Hải quân sau này. Anh Phát đã là Cục trưởng ở đấy. Tuy cùng đơn vị nhưng tôi là cán bộ chính trị nên rất ít gặp Cục trưởng. Khi Cục Hải quân được tổ chức thành Quân chủng Hải quân, anh Phát là Tư lệnh Quân chủng Hải quân. Tôi vẫn là cán bộ chính trị, luân chuyển qua nhiều công tác, nhưng cũng rất ít gặp Tư lệnh. Tuy vậy, qua công việc của mình, tôi được biết Tư lệnh là một vị tướng rất được kính trọng về năng lực và đạo đức.
   
                Anh Phát đóng góp một phần rất quan trọng trong việc xây dựng lực lượng Hải quân trưởng thành. Nước ta còn nghèo, lực lượng Hải quân nhỏ bé, không có một chiếc tàu lớn nào làm sao để phát huy tối đa vào công việc chiến đấu vĩ đại của dân tộc: Giải phóng miền Nam, bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Là Cục trưởng hoặc Tư lệnh, lúc nào anh cũng trăn trở suy nghĩ tìm hướng sử dụng lực lượng Hải quân sao cho đạt hiểu quả cao nhất.
   
                Tháng 8 năm 1963, thường trực Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho Hải quân vận chuyển chiến lược trên biển. Phải đưa bằng được vũ khí, hàng hóa thiết yếu vào sâu trong chiến trường Nam Bộ (vận chuyển đường bộ mới được đến Liên khu 5).
   
                Một nhiệm vụ tuyệt mật vô cùng khó khăn nguy hiểm nhưng rất vẻ vang, đã mở hướng cho hải quân. Anh Phát cùng một số cán bộ lao vào nghiên cứu chuẩn bị lực lượng và nắm địch, nhất là công tác bố phòng trên biển. Sau khi đi thử thành công, Hải quân đã xây dựng được một trung đoàn chuyên trách thực hiện nhiệm vụ này (Trung đoàn 125 hai lần được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân).
   
                Mười năm lăn lộn trên biển, trải qua biết bao gian nan nguy hiểm. Có lúc đành phải hy sinh cả tàu thuyền và cán bộ, chiến sĩ để giữ bí mật. Cuối cùng địch phải cay đắng chịu thất bại thảm hại. Ta vượt qua sự bố phòng nghiêm mật, dày đặc tàu thuyền của chúng để chi viện gần 30 vạn tấn vũ khí và hàng hóa thiết yếu, góp một phần quan trọng làm tăng sức mạnh chiến đấu cho bộ đội miền Nam.
   
                Khi đã thực hiện tốt nhiệm vụ chi viện cho miền Nam bằng đường biển, anh Phát lại suy nghĩ cách đánh địch trên biển, trên sông. Một trung đoàn “đặc công nước” của hải quân đã gây kinh hoàng cho địch ra đời từ đó (Trung đoàn 126 hai lần được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân). Ta đánh chìm hàng trăm tàu thuyền các loại, có tàu vận tải 1 vạn rưỡi tấn, đánh bị thương nhiều tàu khác, có tàu tuần dương, tàu khu trục hiện đại như Niu-pô-niu, Oa-sinh-ton, Bri-bon.
   
                Trong cuộc tổng tấn công nổi dậy lịch sử giải phóng miền Nam, Hải quân đã tích cực cùng các mũi tiến công tham gia chiến đấu, rà phá thủy lôi, bom mìn, tiếp quản các căn cứ hải quân địch, giải phóng các đả0 Sinh Tồn, Song Tử Tây, Nam Yết, Sơn Ca, Trường Sa.
   
                Ở miền Bắc, Hải quân kiên quyết anh dũng bảo vệ chủ quyền trên biển tham gia đánh thắng chiến tranh phá hoại của Mỹ. Ngay trận đầu đã đánh đuổi tàu khu trục ra khỏi hải phận, bắn rơi 1 máy bay và bắn bị thương 1 chiếc khác. Trong chiến tranh phá hoại, Hải quân đã bắn rơi 118 máy bay các loại và tháo gỡ hàng ngàn bom mìn, thủy lôi bảo đảm thông suốt luồng lạch.
   
                Hải quân còn tham gia làm kinh tế, đánh bắt hàng vạn tấn cá biển và sản xuất hàng triệu lít nước mắm góp phần giải quyết khó khăn về đời sống.
   
                Lực lượng nhỏ bé nhưng thành tích đạt được rất vẻ vang. Hải quân đã có gần 50 đơn vị và cán bộ (46) được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, có trung đoàn được tuyên dương 2 lần, được tặng thưởng hơn 3000 huân chương các loại, trong đó có 51 Huân chương Quân Công, 1 Huân Chương Độc lập và 1 Huân chương Hồ Chí Minh. Những thành tích vẻ vang ấy không thể không có dấu ấn của Tư lệnh Nguyễn Bá Phát.
   
                Tháng 7 năm 1976, anh Phát được trên điều về làm Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản thay thế đồng chí Tổng cục trưởng cũ (nguyên là Bí thư Thành ủy Hải Phòng). Một số cán bộ ở Bộ thường gọi thân mật là anh Bảy Phát. Lúc bấy giờ tình hình Tổng cục rất bê bối, lãnh đạo mâu thuẫn đấu đá liên miên. Sự bê bối đó lan đến cơ quan và đơn vị dưới. Tổng cục lại được nâng cấp làm Bộ, do đồng chí Võ Chí Công làm Bộ trưởng (sau này đồng chí Võ Chí Công là Chủ tịch nước), anh Phát làm Thứ trưởng thứ nhất.
   
                Năm 1977, tôi cũng được điều về Bộ Hải sản và được bổ nhiệm làm Phó chánh Văn phòng, chuyên trách công tác tổng hợp về Đảng làm Bí thư Đảng bộ văn phòng, Đảng ủy viên Đảng bộ của Bộ. Chính vì công tác chính quyền và Đảng như vậy nên tôi rất gần anh Phát và càng cảm nhận được những đức tính cao quý của anh.
   
                Phải nói rằng về Bộ Hải sản không có chút gì thuận lợi với anh. Công việc không quen, người không quen, lương thấp, không thể “quân lệnh như sơn” như trong quân đội, lại xa gia đình, xa vợ con. Cấp dưới của anh đã lên trung tướng, thượng tướng. Nhiều thứ trưởng không phải là thứ nhất đã lần lượt lên làm Bộ trưởng... còn anh vẫn cứ là Thứ trưởng thứ nhất cho đến khi về nghỉ hưu. Nỗi niềm ấy không biết trong thâm tâm anh có suy nghĩ gì? Nhưng gần anh, tôi chỉ thấy ở anh một tinh thần trách nhiệm rất cao, luôn tận tụy với công việc và đoàn kết với các Bộ trưởng. Đối với Nghị quyết Trung ương, anh luôn trăn trở suy nghĩ để quán triệt vào nghị quyết của Ban cán sự và vào chương trình hành động của Bộ. Đọc báo nghe đài thấy có ý gì mới liên quan, thì dù giữa đêm cũng ghi chép lại để sáng hôm sau làm việc với tôi hoặc thư ký riêng. Anh thường nói vui “nhất dạ sinh bá kê” kia mà!
   
                Đối với một Tư lệnh quân sự phải làm những công việc chính trị như thế thật chẳng dễ dàng và thích thú gì, nhưng anh vẫn siêng năng và cần mẫn như con ong hút mật, mỗi hoa một ít để tạo nên những giọt mật cho đời.
   
                Anh sinh hoạt giản dị, được phân một căn hộ tập thể, anh chủ động nhường cho một cán bộ khác có nhu cầu cấp thiết hơn, còn mình thì ở một phòng nhỏ trong cơ quan.
   
                Tuy tôi có điểm chưa thích cách làm việc của anh. Tôi thiên về cách làm việc có giờ giấc, đến đúng giờ, về đúng giờ. Còn anh Phát, việc chưa xong chưa về. Có việc cần thì làm lu bu, bám riết lấy, gần như quên ăn, quên ngủ, quên nghỉ ngơi, làm bằng xong mới thôi. Có việc đã xong, văn bản đã đem đánh máy, nhưng có ý mới, anh lại yêu cầu bổ sung. Tôi không thích như thế nhưng tôi rất cảm phục cách làm việc quên mình của anh.
   
                Ý kiến riêng của tôi là nếu để anh Phát ở Hải quân chắc anh sẽ cống hiến được nhiều và tốt hơn cho quân đội.
   
                Để tưởng nhớ anh, tôi cố gắng phản ánh một số nét về anh trong thời gian tôi được gần gũi. Tuy nhiên tôi là cán bộ chính trị thời gian ở Hải quân gần như không có quan hệ gì với Tư lệnh. Tuổi cũng đã thuộc loại U80, sức khỏe, sức viết có hạn chắc rằng còn nhiều thiếu sót, chưa khái quát được đầy đủ những nét chính về tầm vóc của anh. Mong sẽ được các bài viết khác bổ sung.


                                 
P.M.T


(1). Nguyên chính trị viên Đại đội 4 Tiểu đoàn 19 Liên khu 5. Phó Chính ủy Đoàn 172.


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:56:31 PM
ĐỒNG CHÍ NGUYỄN BÁ PHÁT VỞI SỰ NGHIỆP THỦY SẢN
Tiến sĩ Tạ Quang Ngọc(1)

                 Đồng chí Nguyễn Bá Phát, bí danh Hồng Hải, sinh ngày 2 tháng 5 năm 1921; quê ở thôn Trung Sơn, xã Hoà Liên, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nay thuộc thành phố Đà Nẵng.

                  Là một Đảng viên ưu tú, kiên cường; một vị tướng chỉ huy quân sự mưu lược dũng cảm; một cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước, đồng chí đã cống hiến trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước, bảo vệ xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
   
                  32 năm hoạt động trong lĩnh vực lực lượng Vũ trang cách mạng, đồng chí đã trải qua nhiều nhiệm vụ, công tác khác nhau. Đồng chí là Thiếu tướng, Tư lệnh Hải quân, Quân chủng gắn bó máu thịt với bà con ngư dân trong mọi hoạt động bám biển sản xuất suốt thời kỳ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ tại miền Bắc, chi viện cho chiến trường miền Nam. Sau chiến thắng năm 1975, miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, Tổng cục Thủy sản trước đây trở thành Bộ Hải sản (6-1976), đồng chí là thế hệ đầu tiên của lãnh đạo Bộ lúc đó. Đồng chí giữ chức vụ Thứ trưởng từ năm 1976 liên tục đến khi nghỉ hưu năm 1987. Trong suốt thời kỳ này, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã có những công lao đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành thủy sản, bắt đầu từ những năm sau giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ngành thủy sản trong giai đoạn này.
   
                  Đồng chí Nguyễn Bá Phát có công lao khởi xướng và để lại những dấu ấn đậm nét đối với tuyến đảo và vùng nước ven bờ, trong cuộc cải tạo, hợp tác hóa nghề cá và xây dựng cấp huyện, trong chỉ đạo nuôi cá và phát triển phong trào: “Ao cá Bác Hồ” rộng khắp trong cả nước. Có thể nói, sự chỉ đạo quyết liệt, sâu sát thực tiễn của một vị tướng trên mặt trận kinh tế đã góp phần tạo nên phong trào “Ao cá Bác Hồ” được triển khai sâu rộng, có sức lôi cuốn lớn trong mọi tầng lớp, mọi ngành sản xuất, đồng thời góp phần tạo ra những vùng nuôi cá tập trung cung cấp nguồn thực phẩm thủy sản tươi sống cho người dân vào thời kỳ bao cấp đầy khó khăn. Với những trọng trách đảm nhận trong ngành, trong đó có những năm làm Thứ trưởng Thường trực, Bí thư Ban Cán sự Đảng Bộ Thủy sản, đồng chí Nguyễn Bá Phát luôn là một trong những nhân tố chủ chốt trong việc duy trì và giữ vững mối quan hệ gắn bó quân dân, sự gần gũi giữa bà con ngư dân, lao động ngành thủy sản với cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang trong sự nghiệp xây dựng ngành thủy sản và tham gia bảo vệ vững chắc chủ quyền, biên giới quốc gia của Tổ Quốc.
   
                  Là cán bộ chỉ huy quân sự lâu năm, tác phong, tư tưởng và hành động của “Bộ đội Cụ Hồ” đã đi theo đồng chí Nguyễn Bá Phát trong suốt cuộc đời tôi, kể cả khi chuyển sang lãnh đạo ngành kinh tế thủy sản. Có thể nói, đồng chí là người cán bộ lãnh đạo quan trọng trong một giai đoạn quan trọng phát triển ngành thủy sản nước ta.
   
                  Toàn thể lao động nghề cá và cán bộ công chức, viên chức ngành thủy sản luôn nhớ tới hình ảnh Nguyễn Bá Phát - một cán bộ lãnh đạo cao cấp có tác phong sâu sát thực tiễn, quyết đoán và kỷ cương, gần gũi với bà con ngư dân, được mọi người yêu mến nể trọng.
   
                  Những cống hiến của đồng chí Nguyễn Bá Phát - mà những người có dịp sống và làm việc cùng đồng chí gọi một cách trìu mến: Anh Bảy với ngành thủy sản là vô cùng to lớn và thật đáng trân trọng. Biết bao công sức, trí tuệ của một người anh lớn đã đóng góp từ những ngày đầu tiên của Bộ Hải sản cho đến khi nghỉ hưu, biết bao câu chuyện và kỷ niệm đẹp về  anh Bảy vẫn còn đọng lại với những người làm nghề cá chúng tôi - những người ở thế hệ sau anh xây dựng ngành thủy sản ngày càng phát triển, cùng với đà lớn mạnh của đất nước trên con đường đối mới.


                              
T.Q.N



(1). Nguyên Bí thư Ban cán sự - Bộ trưởng Bộ Thủy sản.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Hai, 2017, 10:12:44 PM
THEO BƯỚC CHÂN ANH
Nguyễn Văn Lan(1)

                Là kỹ sư nuôi trồng thủy sản, sau ngày tốt nghiệp, tôi tình nguyện nhập ngũ và vào chiến trường miền Đông Nam Bộ chiến đấu cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975). Sau đó tôi được chuyển ngành về công tác tại Bộ Thủy sản. Theo sự phân công của tổ chức và thật may mắn cho tôi, khoảng thời gian từ năm 1978 - 1983 tôi được làm thư ký riêng cho đồng chí Nguyễn Bá Phát, Thứ trưởng thường trực, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Thủy sản (Nguyên là Thiếu tướng, Tư lệnh Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam).

                  Qua quá trình công tác, được gần gũi hàng ngày với đồng chí Nguyễn Bá Phát, tôi thật sự cảm nhận sâu sắc rằng đây là khoảng thời gian có ý nghĩa nhất đối với cuộc đời của tôi. Đặc biệt tôi được đồng chí giúp đỡ, chỉ bảo tận tình chu đáo trong công tác cũng như trong cuộc sống. Đối với tôi đồng chí Nguyễn Bá Phát vừa là người thầy, vừa là đồng chí thân thiết, vừa là tấm gương sáng ngời cho tôi học tập noi theo trong suốt cuộc đời.
   
                  Lãnh đạo Bộ Thủy sản đã có đánh giá những kết quả, thành tích công tác của đồng chí Nguyễn Bá Phát là rất to lớn và góp phần quan trọng trong qua trình phát triển ngành Thủy sản. C đây với tư cách cá nhân, tôi xin nêu một số vấn đề trong ký ức của mình để góp thêm tư liệu và hiểu biết về con người đồng chí Nguyễn Bá Phát.
   
                  Qua tìm hiểu và trực tiếp chứng kiến trong công việc hàng ngày với đồng chí, tôi thấy ấn tượng nhất ở đồng chí là đức tính, phẩm chất cách mạng “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” thường xuyên được tu dưỡng và biểu hiện trong cuộc sống, nhất là trong khi thi hành công vụ. Cụ thể đó là:


                 1. Tinh thần trách nhiệm cao, hăng say quên mình vì công việc.

                 Từ cương vị thiếu tướng, Tư lệnh Hải quân, được Đảng và Nhà nước điều động sang công tác ở một ngành kinh tế kỹ thuật, với chức vụ Thứ trưởng thường trực, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Thủy sản và phụ trách công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nghề cá ở các tỉnh phía Nam, tổ chức lại sản xuất nghề khai thác cá biển (Nghề cá nhân dân), phát triển nuôi trồng thủy sản... là một lĩnh vực mới nhưngđồng chí đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, đi vào thực tiễn cuộc sống, sản xuất của nông - ngư dân, tìm tòi suy nghĩ, tổng kết kinh nghiệm đề xuất những chủ trương, chính sách góp phần đưa ngành Thủy sản phát triển. Điểm nổi bật của con người đồng chí là sức bền bỉ, dẻo dai, không ngại khó khăn gian khổ, toàn tâm toàn ý hết mình vì công việc.
   
                  Gia đình đồng chí Nguyễn Bá Phát sinh sống ở thành phố Hải Phòng, khi được điều về công tác ở Hà Nội, Bộ Thuỷ sản phân cho đồng chí một căn hộ khép kín, nhưng đồng chí không nhận vì có một mình, nên chỉ xin Bộ bố trí một phòng nhỏ ở bên cạnh phòng làm việc, đỡ tốn kém cho Nhà nước. Chính vì vậy mà toàn bộ thời gian ở Hà Nội, dù trong hay ngoài giờ hành chính đồng chí đều dành cho công việc.
   
                  Nhiều buổi tối đồng chí yêu cầu tôi đến làm việc tiếp các phần việc mà ban ngày còn làm dang dở hoặc những việc phải làm gấp cho kịp với yêu cầu. Tôi nhớ nhất những lần chuẩn bị cho các Hội nghị lớn của ngành, đồng chí tập trung suy nghĩ cao độ, dồn sức chỉ đạo các đơn vị như Văn phòng Bộ, Vụ Nuôi trồng thủy sản, Vụ hợp tác xã... xây dựng các văn bản báo cáo rất công phu không kể ngày đêm. Đó là chuẩn bị cho hội nghị phát triển phong trào thi đua xây dựng “Ao cá Bác Hồ” tháng 11 năm 1978; Hội nghị đẩy mạnh công tác cải tạo và phát triển nghề cá tháng 2 năm 1981; Hội nghị phát triển Nuôi trồng thủy sản toàn quốc tháng 6 năm 1982.
   
                  Ngay cả khi bị ốm đau, đồng chí vẫn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tiếp tục hăng say, quên mình vì công việc. Ngày 4 tháng 11 năm 1981, đồng chí bị cảm đột ngột, xuất huyết não, phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô. Trong thời gian nằm viện đồng chí vẫn yêu cầu tôi hàng ngày nắm tình hình và báo cáo để đồng chí giải quyết kịp thời các công việc, tránh làm ảnh hưởng các hoạt động chung của ngành. Sau khi được ra viện, đồng chí lại tích cực chỉ đạo và trực tiếp chuẩn bị cho Hội nghị phát triển Nuôi trồng thủy sản toàn quốc. Mặc dù biết ngày khai mạc Hội nghị (1-6-1982) cũng là ngày đồng chí được Đảng và Nhà nước cho đi chữa bệnh ở Cộng hòa dân chủ Đức, nhưng đồng chí vẫn mang hết tâm sức dồn cho công tác chuẩn bị hội nghị một cách rất chu đáo rồi mới yên tâm đi nước ngoài chữa bệnh. Sau 5 tháng chữa bệnh ở nước ngoài về (từ 1-6 đến 30-101982) đồng chí tiếp tục làm việc hết sức mình cho đến khi nghỉ hưu. Trong suốt quá trình công tác, đồng chí Nguyễn Bá Phát làm việc không biết mệt mỏi và suốt đời vì công việc, vì sự nghiệp cách mạng mà Đảng và Nhà nước đã giao cho đồng chí.


                 2. Tính khoa học và nguyên tắc khi làm việc.

                 Tôi đã học tập được rất nhiều ở đồng chí Nguyễn Bá Phát về tính khoa học và nguyên tắc khi làm việc. Đó là khoa học về thời gian làm việc, về quy trình giải quyết những vấn đề lớn, là nguyên tắc và ý thức tổ chức kỷ luật trong công tác. Đồng chí thường căn dặn tôi làm bất kỳ công việc gì cũng phải biết rõ mục đích, nội dung và có chương trình cụ thể.
   
                  Về thời gian làm việc phải thực hiện theo kế hoạch cho từng tháng, từng tuần và từng ngày. Trong một ngày cũng phải sắp xếp theo thứ tự ưu tiên công việc cụ thể và thực hiện nghiêm chỉnh, không nên tùy tiện phá vỡ kế hoạch. Đồng thời phải tôn trọng làm việc đúng giờ, kết thúc đúng giờ, nếu vấn đề nào chưa xong thì bố trí làm việc tiếp vào buổi khác. Không nên kéo dài quá thời gian quy định để các cuộc làm việc sau đó bị ảnh hưởng. Đối với các chuyến đi công tác về các địa phương, đồng chí yêu cầu phải chuẩn bị chu đáo, phải trao đổi với các địa phương và bố trí thời gian làm việc cho hợp lý, thuận tiện. Khi đã có chương trình kế hoạch chuyến đi rồi thì phải thực hiện đúng để các địa phương không phải chờ đợi, tránh gây phiền hà, lãng phí. Khi đi công tác cùng ngồi trên xe ô tô, đồng chí thường nhắc nhở mọi người phải chú ý quan sát tình hình xã hội, sản xuất và cuộc sống của nhân dân để khi nghe địa phương báo cáo mới có thể so sánh kiểm chứng được và hiểu được sâu sắc, bản chất, thực tiễn sinh động. Đồng thời tranh thủ trao đổi, thảo luận những vấn đề sẽ làm việc địa phương, cơ sở để khi đến làm việc được nhanh chóng và hiệu quả.
   
                  Về quy trình giải quyết những vấn đề lớn, phải tuân thủ theo các bước sau:
   
                  1. Công tác chuẩn bị, nắm tình hình thông qua báo cáo và đi kiểm tra thực tiễn.
   
                  2. Tổng kết rút kinh nghiệm và đề ra phương hướng tiếp theo.
   
                  3. Các biện pháp cụ thể, thiết thực và tổ chức triển khai thực hiện. Muốn vậy phải có đủ thời gian cần thiết đệ thực hiện các bước trên và tùy theo từng vấn đề mà thời gian có khác nhau. Hội nghị phát triển phong trào thi đua xây dựng “Ao cá Bác Hồ” (11-1978) thời gian chuẩn bị gần một năm; Hội nghị đẩy mạnh công tác cải tạo và phát triển nghề cá biển (2- 1981) thời gian chuẩn bị gần 4 năm; Hội nghị phát triển nuôi trồng thủy sản toàn quốc (6-1982) thời gian chuẩn bị là 2 năm.
   
                  Tính nguyên tắc và ý thức tổ chức kỷ luật đã trở thành bản chất của con người đồng chí, đó là “Quân lệnh như sơn”. Với tác phong là Tướng chỉ huy trong quân đội, nay ra công tác ở một ngành kinh tế đồng chí vẫn giữ tác phong quân sự nên lúc đầu có một số ít cán bộ còn bỡ ngỡ, nhưng sau đó họ hiểu ra thì thấy làm như vậy là đúng, là khoa học và phù hợp với tác phong công nghiệp. Đối với đồng chí Bộ trưởng thì đồng chí luôn giữ đúng nguyên tắc “Đi báo cáo, về báo công”. Khi đi công tác các địa phương về đồng chí đều tranh thủ báo cáo Bộ trưởng trước rồi mới làm các công việc khác. Nhiều lần, đồng chí đi công tác ở miền Nam ra, mặc dù là ngày thứ 7 và đã hết giờ làm việc nhưng đồng chí vẫn đợi gặp được Bộ trưởng để báo cáo rồi mới về nhà. Ngay cả ngày đi chữa bệnh ở Cộng hòa dân chủ Đức về (31-10-1982) vào chiều chủ nhật, nhưng đồng chí vẫn về Bộ để sáng thứ hai gặp báo cáo Bộ trưởng rồi mới về nhà ở Hải Phòng để nghỉ ngơi. Bất kỳ giải quyết công việc gì, đồng chí đều tìm hiểu tình hình cụ thể, thu thập các thông tin có liên quan rồi mới đưa ra họp thảo luận, bàn bạc kỹ, sau đó đi đến quyết định và khi đã quyết định rồi thì quyết tâm thực hiện cho bằng được, với tinh thần chỉ tiến không lui, coi đó như là tổ chức một trận đánh giặc. Đồng chí thường nói khi lãnh đạo chưa quyết định thì mọi người tự do bàn luận, nói hết mọi lý lẽ ngược xuôi của vấn đề. Đến khi đã quyết định rồi thì triển khai thực hiện với quyết tâm cao nhất. Khi kết thúc công việc sẽ cùng nhau đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm. Điều quan trọng là phải trên dưới một lòng, đồng tâm hiệp lực thì mọi việc nhất định sẽ thành công.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Hai, 2017, 10:21:00 PM
                   3. Con người hoạt động thực tiễn và sáng tạo.

                 Theo đồng chí thì phải đi vào thực tiễn đời sống của người dân, qua đó mới nghiên cứu, tìm hiểu để phát hiện những vấn đề cần giải quyết, đồng thời vận dụng sáng tạo nhằm thực hiện những nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho. Trong ký ức của tôi, một trong những sự kiện tâm đắc nhất mà đồng chí Nguyễn Bá Phát đề xuất và tổ chức thực hiện là phong trào xây dựng “Ao cá Bác Hồ”.

                  Năm 1977, đất nước mới thống nhất được 2 năm, còn rất nhiều khó khăn. Mục tiêu mà Đảng và Nhà nước giao ngành Thủy sản đến năm 1980 phải đạt sản lượng 1 triệu tấn cá, trong đó khai thác là 80 vạn tấn và nuôi trồng là 20 vạn tấn. Tình hình nuôi trồng thủy sản đang có chiều hướng chậm phát triển. Là người phụ trách lĩnh vực này, đồng chí đã có nhiều trăn trở, nghiên cứu tình hình và tìm hướng đi để phát triển. Đồng chí Nguyễn Bá Phát đã nghe báo cáo của các địa phương, các đơn vị trực thuộc Bộ, sau đó đi khảo sát một số cơ sở. Qua đó thấy nổi lên tình hình, một số vấn đề đáng quan tâm là: Thời gian vừa qua, nhất là 2 năm (1976-1977) đã có 18 cơ sở nhận cá từ ao nhà Bác về nuôi đạt kết quả rất tốt. Đặc biệt là Hợp tác xã Yên Duyên thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội, năm 1976 nhận một số cá giống rô phi từ ao nhà Bác về nuôi đến cuối năm 1977 thu được 200 tấn cá rô phi thịt. Một số Hợp tác xã, đơn vị quân đội, trường học cũng nhận từ ao cá nhà Bác về nuôi đạt năng suất từ 3-4 tấn/héc-ta. Đồng thời, đồng chí vào thăm ao cá nhà Bác thấy đàn cá phát triển tốt, đồng bào khắp các miền của đất nước về tham quan đều phấn khởi khen ngợi và có nguyện vọng xin một số giống cá từ ao nhà Bác về nuôi.
   
                  Đứng trước tình hình và nguyện vọng như trên, 1 đồng chí Phát đã đề xuất và cùng tập thể lãnh đạo Bộ Thủy sản báo cáo, đề nghị Ban Bí thư Trung ương - Đảng cho phát động phong trào học tập nuôi cá theo gương Bác Hồ, lấy tên là phong trào “Ao cá Bác Hồ”. Ngày 21 tháng 10 năm 1978, thay mặt Ban Bí thư Trung ương Đảng, đồng chí Tố Hữu đã có chỉ thị cụ thể phát triển phong trào xây dựng “Ao cá Bác Hồ”.
   
                  Thực hiện chỉ thị trên, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã huy động các đơn vị trực thuộc Bộ tham gia triển khai thực hiện một cách tích cực, cụ thể, đảm bảo nhân đủ cá giống cung cấp cho phong trào, làm báo cáo tổng kết và chuẩn bị tổ chức triển khai phục vụ phong trào. Đồng thời đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng như các Bộ ngành ở Trung ương có liên quan tham gia chuẩn bị cho hội nghị.
   
                  Ngày 15 tháng 11 năm 1978, Hội nghị phát triển phong trào thi đua xây dựng “Ao cá Bác Hồ” được tổ chức tại thủ đô Hà Nội. Hội nghị đã được cấp ủy chính quyền và nhân dân các địa phương trong cả nước nhiệt liệt hoan nghênh, hưởng ứng. Dẫn đầu là thủ đô Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 1978, đã tổ chức lễ phát động phong trào thi đua xây dựng “Ao cá Bác Hồ” trong toàn thành phố và tổ chức đón nhận cá giống từ ao nhà Bác về nuôi. Tiếp theo nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng (3-2), ngày sinh nhật Bác (19-5) toàn bộ các tỉnh, thành phố trong cả nước đều đã liên tiếp tổ chức đón nhận cá giống từ ao nhà Bác về các địa phương để phát triển phong trào xây dựng “Ao cá Bác Hồ”.
   
                  Sau đó được cấp ủy, chính quyền địa phương tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, được các đoàn thể và nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng, nên phong trào ngày càng phát triển mạnh mẽ và được nhân rộng ra hầu khắp các địa phương, các miền trong cả nước, từ biên giới đến hải đảo, từ đồng bằng ven biển đến trung du miền núi. “Ao cá Bác Hồ” đã được xây dựng ở các Nông trường Quốc doanh, Trạm trại, Hợp tác xã, Tập đoàn sản xuất, các đơn vị quân đội, công an, các cơ quan, trường học, bệnh viện... hàng năm từ Trung ương đến địa phương đều tổ chức sơ kết 6 tháng và tổng kết năm để tiếp tục phát triển phong trào xây dựng “Ao cá Bác Hồ”.
   
                  Phong trào xây dựng “Ao cá Bác Hồ” đã thực sự là động lực thúc đẩy nuôi trồng thủy sản phát triển. Phong trào đã huy động được đông đảo các lực lượng, thành phần tham gia tổ chức cải tạo tu bổ ao hồ, được cung cấp giống tốt, giống mới, được hướng dẫn và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong nuôi trồng nên đã đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao và thu được sản lượng nhiều. Kết quả cụ thể: Diện tích nuôi từ 210.000 hécta (năm 1978) tăng lên 232.000 hécta (năm 1982). Sản lượng cá thịt từ 170.000 tấn (năm 1978) tăng lên 188.600 tấn (năm 1982).
   
                  Đồng chí Nguyễn Bá Phát tâm sự: qua kết quả của phong trào đã rút ra được bài học quý báu là phát triển kinh tế cũng như làm cách mạng phải biết vận động quần chúng và huy động mọi lực lượng tham gia, khi nhân dân ủng hộ, hưởng ứng thì nhất định sẽ thành công. Thực tiễn phong trào xây dựng “Ao cá Bác Hồ” đã góp phần quan trọng khơi dậy được tình cảm thiêng liêng của người dân đối với Bác Hồ kính yêu; đã động viên được mọi người học tập nuôi cá theo gương Bác. Sự sáng tạo của phong trào là từ một ao cá nhà Bác đã được nhân ra, sinh sôi nảy nở thành hàng vạn “Ao cá Bác Hồ”, hàng triệu ao cá trong nhân dân và thúc đẩy phong trào nuôi cá trong cả nước. Nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển nuôi trồng thủy sản.
   
                  Phong trào xây dựng “Ao cá Bác Hồ”, cũng với phong trào “Vườn quả nhà Bác” và phong trào Tết trồng cây là tiền đề cho phong trào kinh tế VAC sau này phát triển mạnh mẽ và vững chắc cho đến ngày nay.


                  4. Cuộc sống đồng chí Nguyễn Bá Phát rất khiêm tốn, giản dị và gần gũi với quần chúng. Đó là một cuộc sống hết lòng, hết sức lo cho công việc, lo cho cái chung hàng ngày, còn cuộc sống riêng của đồng chí thì đạm bạc, ăn uống đơn giản như mọi người dân bình thường khác, đồng chí không hề kêu ca phàn nàn hoặc đòi hỏi điều gì với cơ quan.
   
                  Khi đến công tác ở các địa phương, nhất là ở , những vùng bãi ngang ven biển, ngư dân còn nghèo, được các địa phương đón tiếp rất nồng hậu, nhưng khi mời ăn uống đồng chí từ chối. Đồng chí thường căn dặn chúng tôi là không nên ăn ở các xã và Hợp tác xã vì bà con nông dân còn nghèo, một số nơi thường là “khách ba, chủ nhà bảy”, nếu tổ chức ăn uống như vậy rất tốn kém và là ăn vào tiền mồ hôi nước mắt của nông dân. Khi có nơi biếu quà đồng chí lại nói: nếu là nông, ngư dân biếu củ khoai, củ sắn hoặc con các khô thì ta nên nhận và phải nhận vì đó là tình cảm chân tình của dân. Còn nếu nơi nào biếu quà có giá trị và đắt tiền thì không được nhận.
   
                  Khi ăn uống đồng chí thường nói chuyện về Bác Hồ lúc sinh thời thường nhiều lần nhắc nhở cán bộ và mọi người phải tiết kiệm. Vì vậy chúng ta phải luôn ghi nhớ và thực hiện, không ai cấm đoán và hạn chế chúng ta cả, nhưng chúng ta phải tự giác ăn được đến đâu thì gọi món đến đó, đã gọi rồi thì ăn cho hết, không được bỏ lãng phí, đất nước ta còn nghèo và còn nhiều người không đủ cơm ăn, áo mặc. Ta phải nghĩ tới đồng bào còn nghèo khổ thì mới đúng với lương tâm của người cán bộ cách mạng, người đảng viên cộng sản.
   
                  Còn nhiều câu chuyện cảm động về đồng chí Nguyễn Bá Phát với cán bộ nhân viên trong cơ quan Bộ cũng như với nhân dân các địa phương mà tôi đã chứng kiến. Tôi chỉ có thể tóm tắt và nhắc lại rằng đồng chí Nguyễn Bá Phát là một con người giàu lòng nhân ái, có cuộc sống giản dị, gần gũi quần chúng, luôn nêu cao đức tính “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Cuộc đời và Sự nghiệp cách mạng của đồng chí Nguyễn Bá Phát gắn liền với lịch sử kháng chiến chống giặc ngoại xâm và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với tinh thần trách nhiệm cao cả, chiến đấu dũng cảm, sáng tạo, quên mình vì sự nghiệp, đồng chí đã góp phần tích cực xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam và ngành Thủy sản nước ta.
   
                  Tôi luôn luôn tâm niệm suốt đời học tập tấm gương về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí. Đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát mãi mãi là người thầy của tôi.


                                 
N.V.L




(1). Cựu chiến binh. Tổng Giám đốc Công ty dịch vụ kỹ thuật Vacniva.




Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Hai, 2017, 10:32:00 PM
ĐỒNG CHÍ NGUYỄN BÁ PHÁT VỚI CÁN BỘ, NGƯ DÂN NGÀNH THỦY SẢN
Nguyễn Tấn Trịnh(1)
Nguyễn Trọng Bình(2)

                 Từ thời kỳ đầu của cuộc Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng ở nhiều cấp khác nhau trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

                  Hòa bình được lặp lại, đất nước thống nhất, cả nước chuyển sang thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, vị tướng tài năng và can trường ấy sẵn sàng bước vào trận tuyến mới, xây dựng kinh tế kết hợp chặt chẽ với an ninh quốc phòng, đồng chí đã cùng trên hai trăm cán bộ chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, được Bộ Chính trị quyết định tăng cường sang công tác tại ngành Thủy sản. Đồng chí Nguyễn Bá Phát được Trung ương bổ nhiệm làm Thứ trưởng và Ủy viên Ban cán sự Đảng Bộ Hải sản (từ năm 1981 trở đi là Bộ Thủy sản). Đồng chí đã cùng với các đồng chí Bộ trưởng Võ Chí Công, Nguyễn Quang Lâm, Đỗ Chính, Nguyễn Tấn Trịnh gánh vác nhiều trọng trách trong những ngày đầu xây dựng Bộ Hải sản. Có thời gian đồng chí được Ban Bí thư Trung ương Đảng cử làm Bí thư Ban cán sự Đảng và nhiều nhiệm kỳ được phân công làm Thường trực của Bộ.
   
                  Trên cương vị công tác và nhiệm vụ mới, đồng chí được nhân dân tin yêu và tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VI, đồng chí đã đem hết tâm huyết của một vị tướng, một người chỉ huy có năng lực, góp phần vào việc giải quyết những khó khăn ban đầu của thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế đất nước, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cương vị là đại biểu Quốc hội.
   
                  Qua các thời kỳ đồng chí được phân công phụ trách nhiều lĩnh vực công tác quan trọng như: kết hợp kinh tế với quốc phòng, phong trào hợp tác hóa nghề cá, xây dựng cấp huyện, công tác khoa học kỹ thuật ngành, đẩy mạnh phát triển nuôi trồng Thủy sản, cung cấp thực phẩm thủy sản cho bộ đội, chi viện cho bộ đội trên mặt trận biên giới phía Bắc, thành phố Hà Nội và các khu công nghiệp.
   
                  Lúc bấy giờ tình hình an ninh trên biển rất phức tạp, kẻ thù luôn quấy phá sự nghiệp xây dựng của nhân dân ta. Với kinh nghiệm phong phú của mình trên cương vị được phân công, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã kịp thời tổ chức lực lượng tự vệ trên các tàu đánh cá, tổ chức các đơn vị đánh cá quốc doanh những hải đoàn tự vệ chủ lực. Nhờ đó đã cùng lực lượng Hải quân làm chủ biến cả, đảm bảo an toàn sản xuất cho hàng vạn ngư dân. Đồng chí đã đề xuất với Ban cán sự Đảng, với Chính phủ tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các đảo, biến các đảo thành “hạm đội nổi”, làm căn cứ của nghề cá biển xa. Trong việc xây dựng cơ sở vật chất cho nghề cá, đồng chí có nhiều trăn trở làm sao cho các cảng cá, các kho nhiên liệu, phương tiện đánh bắt vừa phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất, vừa phục vụ cho việc sẵn sàng chiến đấu.
   
                  Trong xây dựng phong trào hợp tác hóa nghề cá kết hợp sản xuất với quốc phòng của các địa phương, xây dựng thế trận an ninh và quốc phòng toàn dân trên biển, đồng chí đã có nhiều sáng tạo trong việc tổ chức xây dựng lực lượng.
   
                  Đồng chí Nguyễn Bá Phát đã tham gia tích cực chỉ đạo tổng kết công tác khoa học kỹ thuật lần thứ nhất của toàn ngành vào năm 1978 làm cơ sở cho lãnh đạo bộ đẩy mạnh hoạt động về khoa học kỹ thuật cho thời kỳ tiếp theo. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất như: kỹ thuật đánh bắt bằng lưới rê ba lớp, kỹ thuật sản xuất giống phục vụ nuôi trồng, xúc tiến trang bị công nghệ hiện đại trong bảo quản và chế biến thủy sản... Đồng chí luôn quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của ngành và tạo điều kiện cho họ làm việc và cống hiến tốt hơn cho đất nước.
   
                  Về lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, năm 1978 Chính phủ đã quyết định chuyển Cục nuôi cá nước ngọt từ Bộ Nông nghiệp về Bộ Hải sản nhằm tăng cường quản lý thống nhất nghề cá. Đồng chí đã dày công nghiên cứu và đề xuất đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng cơ sở vật chất cho nuôi trồng, thành lập mới Công ty cá giống Trung ương. Đẩy mạnh việc sản xuất thuốc kích dục cho cá đẻ, do sớm nhận thức được tầm quan trọng của vai trò con giống trong nuôi trồng thủy sản. Đồng chí có câu nói nổi tiếng "Nuôi trồng thủy sản không có giống, sống cũng như chết". Trong những năm tháng hoạt động của mình, đồng chí đặc biệt quan tâm lãnh đạo phong trào nuôi cá ở các tỉnh miền núi và Tây Nguyên, nhằm góp phần cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc.
   
                  Đồng chí đã đích thân tổ chức việc tu sửa ao cá trong Phủ Chủ tịch thành mô hình nuôi cá cho đồng bào cả nước, hằng năm bổ sung nhiều loại cá giống tốt để thả nuôi tại ao nhà Bác. Hồi ấy, Hợp tác xã Tiền Phong, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng 94 con cá rô phi lấy từ ao cá trong vườn Phủ Chủ tịch. Hợp tác xã đã xây dựng thành công “Ao cá Bác Hồ” trở thành vùng nuôi cá điển hình của Hà Nội trên diện tích hàng trăm héc-ta mặt nước với năng suất cao, đạt sản lượng hàng ngàn tấn cá/năm và trở thành hợp tác xã điển hình về nuôi cá trong cả nước. Từ sáng kiến của đồng chí, xây dựng “Ao cá Bác Hồ” đã được Liên Bộ Hải sản, Nông nghiệp, Viện bảo tàng Hồ Chí Minh phát động từ tháng 11 năm 1978, trở thành phong trào chung trong cả nước.
   
                  Từ hai sự kiện đó, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 1979) phong trào “Ao cá Bác Hồ” được tiếp tục nhân rộng trong các thành phần kinh tế, trong lực lượng vũ trang, nhờ đó đã triển khai thắng lợi chủ trương về đẩy mạnh nuôi trồng Thủy sản. Với tư cách là đại biểu Quốc hội, đồng chí đã đề nghị với Nhà nước phát triển phong trào “Ao cá Bác Hồ” thành phong trào lớn trong cả nước và đã được kỳ họp Quốc hội nhất trí thông qua.
   
                  Với kinh nghiệm và thực tiễn cuộc sống của bản thân, đồng chí thấu hiểu những khó khăn gian khổ của người chiến sĩ. Trong phong trào ủng hộ và chi viện cho bộ đội ở tiền tuyến, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã nhiều lần bàn bạc với đồng chí Đàm Quang Trung về việc tổ chức nuôi cá, nhằm giải quyết một phần khó khăn về nguồn thực phẩm tại chỗ cho bộ đội. Đồng chí trực tiếp dẫn đầu đoàn cán bộ của ngành Thủy sản nghiên cứu tại chiến trường về việc vận chuyến thực phẩm thủy sản và cá giống lên cho các Quân khu 1, 2 và Quân khu Đông Bắc để có thêm nguồn thực phẩm. Tại những nơi đoàn và đồng chí đến thăm, mang đến cho bộ đội sự chi viện thiết thực của ngành và tình cảm gắn bó mật thiết giữa hậu phương với tiền tuyến, giữa ngư dân và công nhân viên chức ngành Thủy sản với bộ đội ở tiền phương.
   
                  Phát huy cao độ phẩm chất của người cán bộ đảng viên, của “Bộ đội Cụ Hồ”, khi rời khỏi đời binh nghiệp hào hùng, với cương vị người tướng, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh điều động của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về nhận công tác ở ngành Thủy sản. Đồng chí đã luôn nêu cao phẩm chất chính trị, giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ Ban cán sự Đảng, trong lãnh đạo Bộ và trong cơ quan, nghiêm chỉnh chấp hành sự phân công của lãnh đạo Bộ.
   
                  Đồng chí là một cán bộ đã lớn tuổi nhưng luôn ý thức học tập và thường xuyên đi cơ sở và địa phương nắm bắt tình hình, lắng nghe ý kiến ngư dân, nông dân và cán bộ để không ngừng tự nâng cao trình độ lãnh đạo và quản lý một ngành kinh tế kỹ thuật còn non trẻ, nhằm nhanh chóng đảm đương được nhiệm vụ mới ở cương vị mới.
   
                  Trong công tác cũng như trong đời thường, đồng chí sống chân thành, trung thực, liêm khiết và giản dị khi ở cơ quan cũng như khi về cơ sở, địa phương, đồng chí luôn giáo dục cho cán bộ dưới quyền có ý thức giữ gìn, không làm phiền hà, tốn kém cho cơ sở.
   
                  Từ khi về Bộ công tác, cho đến khi về nghỉ theo chế độ, đồng chí cùng gia đình về sống trong một căn hộ dưới 50 mét vuông tại khu tập thể Bộ Thủy sản bình dị như các gia đình khác.
   
                  Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Nguyễn Bá Phát là gia tài lớn nhất mà đồng chí để lại cho chúng ta. Những ước mong về quê hương, đất nước, về quân đội, về Đảng, về dân tộc suốt cả cuộc đời đồng chí đã hiến dâng mãi mãi sẽ xanh tươi và phát triển.
   
                  Toàn ngành Thủy sản chúng tôi luôn ghi nhớ công lao và những cống hiến to lớn của đồng chí cho sự nghiệp phát triển ngành, cho cách mạng Việt Nam.


                              
N.T.T
                              
N.T.B


(1). Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Thủy sản.
(2). Nguyên Phó Văn phòng, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Thủy sản.



Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát - Vị tướng tài trí
Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Hai, 2017, 10:35:29 PM
Link tải ebook dạng PRC cho ai muốn tải về

https://drive.google.com/open?id=0B8pjhdNvuCbdTEFVXzNRaTBMLU0

P/S: Trong ebook có đính kèm một số ảnh về thiếu tướng Nguyễn Bá Phát