Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 06:08:11 pm



Tiêu đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 06:08:11 pm

Tên sách: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2008
Số hoá: ptlinh, chuongxedap



Ban biên soạn:
    Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Chủ biên)
    Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
    Thượng tá ĐẬU XUÂN LUẬN
    Thượng úy PHAN NGỌC DOÃN
    Trung úy NGUYỄN MINH THỦY

Hoàn chỉnh bản thảo:
    Trung úy NGUYỄN MINH THỦY


LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một đất nước nằm ở ven biển Thái Bình Dương - cửa ngõ quan trọng của lục địa Đông Nam châu Á. Trải qua bao thế kỷ, bọn phong kiến, thực dân và đế quốc nhòm ngó và xâm lăng nhưng dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục. Ngay từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã phải bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975...

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một kho tàng kiến thức vô cùng quý giá, xây đắp nên truyền thống quật cường, bất khuất, lòng yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc. Việc tìm hiểu lịch sử dân tộc vừa là nhu cầu, vừa là trách nhiệm trước lịch sử để tỏ lòng biết ơn đối với công lao to lớn của tổ tiên, vừa là đòi hỏi của thời cuộc để mỗi người dân Việt Nam tự tin hội nhập cùng bạn bè quốc tế với một bản sắc dân tộc mạnh mẽ.

Với ý nghĩa đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức biên soạn và xuất bản "Tủ sách lịch sử Việt Nam". Tủ sách lịch sử Việt Nam gồm nhiều cuốn, mỗi cuốn sách trình bày một cuộc khởi nghĩa cụ thể, theo dạng hỏi đáp, ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Hy vọng "Tủ sách lịch sử Việt Nam” nói chung và cuốn sách "Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích” nói riêng sẽ là người bạn đồng hành thân thiết của mỗi bạn đọc trong cuộc hành trình tìm về lịch sử dân tộc.

Mặc dù những người biên soạn đã có nhiều cố gắng, nhưng bộ sách khó tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong được bạn đọc lượng thứ và đóng góp ý kiến.

Trân trọng giới thiệu!

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 06:11:07 pm

Câu hỏi 1: Cho biết đôi nét về thân thế và cuộc đời của Nguyễn Quang Bích?
Trả lời:


Nguyễn Quang Bích tự Hàm Huy, hiệu Ngư Phong, người làng Trình Phố, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Ông sinh ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Thìn (tức ngày 7 tháng 5 năm 1832). Sách Quốc triều đăng khoa lục viết ông sinh năm Canh Dần (1830). Căn cứ theo gia phả của dòng họ, ông sinh năm Nhâm Thìn (1832).

Ông học rất chăm chỉ. Năm 26 tuổi, năm Mậu Ngọ (1858), ông đậu tú tài. Năm Tân Dậu (1861), ông đỗ cử nhân. Năm 29 tuổi, ông được bổ làm Giáo thụ phủ Trường Khánh (Ninh Bình). Được hơn một năm, cụ thân sinh mất, ông cáo quan về nhà cư tang, mở trường dạy học. Về quê, tận mắt chứng kiến cảnh nhân dân địa phương thường bị nạn ngập lụt, đời sống rất khó khăn, ông đi xem xét địa thế rồi đứng ra quyên tiền mua của làng Vũ Lăng bên cạnh hơn mười mẫu ruộng đắp bờ dẫn nước, giải quyết nạn úng thủy trong vùng.

Năm Kỷ Tỵ đời Tự Đức thứ 22 (năm 1869), nhân có ân khoa, ông thi đậu Đình nguyên Hoàng giáp tiến sĩ, lúc đó ông 37 tuổi. Vinh quy xong, ông được bổ làm Tri phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, sau đó lần lượt làm Án sát Sơn Tây, Tế tửu Quốc Tử Giám tại kinh đô Huế, Án sát Bình Định. Trong thời gian làm Tế tửu, mùa xuân năm Ất Hợi (năm 1875), ông được vua giao cho việc duyệt pho sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Hai năm sau, triều đình lập Ban doanh điền ở Hưng Hóa, Tự Đức lại cử ông làm Chánh sứ sơn phòng và năm sau, tức năm Bính Tý (năm 1876), ông kiêm luôn chức Tuần phủ Hưng Hóa.

Có sách đã viết những câu chuyện về cụ Hoàng (Ngư Phong tướng công) như sau: Cụ Hoàng lúc thiếu thời nhà nghèo nhưng học hành chăm chỉ; các học trò khác đêm chỉ học một đĩa dầu rồi đi ngủ, riêng cụ đã học tới ba đĩa; chuyện chiếc cột nhà cụ ngồi dựa học lâu ngày trở nên nhẵn bóng... đến những chuyện chiến đấu trong rừng sâu, đặc biệt là đạo đức thanh liêm của cụ. Cụ làm đến chức Tuần phủ, Thượng thư mà vẫn nhà tranh vách đất. Ngôi từ đường thờ cụ - hiện nay được công nhận Di tích lịch sử văn hoá quốc gia - là do con gái của cụ lấy chồng ở Bắc Ninh mang tiền về xây thờ cha vào khoảng năm 1930. Sau khi cụ mất ở chiến khu Tôn Sơn - Yên Lập, con trai là Ngô Quang Đoan lại lên chiến khu cùng Đề Kiều, Đốc Ngữ, Lãnh Hoan... tiếp tục Cần Vương chống Pháp rồi hoạt động Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục và Việt Nam Quang phục hội. Khi đã tuổi lão, Ngô Quang Đoan vẫn nuôi giấu những người cộng sản trong nhóm bảy đồng chí của Xứ ủy Bắc Kỳ. Có lẽ ít có một nhân vật lịch sử nào mà liên tiếp trong suốt đời mình đã sáu lần mưu đại sự thất bại mà vẫn bền gan tráng chí. Lúc đã ngót bảy mươi tuổi vẫn muốn "Đôi phen dời xong núi, dù mái tóc sương pha!" (Thơ Ngô Quang Đoan). Phải chăng cái ý chí ấy không thể có được nếu như không có người cha như cụ Hoàng giáp Ngư Phong.

Ở con ngươi cụ Hoàng đã hội tụ đầy đủ những phẩm chất của đạo lý triết học Khổng Tử, cùng với những phẩm chất đạo đức truyền thống. Cuộc chiến đấu bi tráng của cụ đã trở thành thiên anh hùng ca bất tử. Ở đây không còn là sự "lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh" mà là cuộc đụng độ giữa hai nền chính trị: Một bên là phong kiến già cỗi, lạc hậu phương Đông chọi với tư bản phương Tây mới trỗi dậy có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến; giữa súng kíp, hoả mai địch với tàu chiến, đại bác của địch. Cái lớn lao và vĩ đại của cụ là vì đại nghĩa mà đứng lên chống giặc, bởi đó là nhiệm vụ thiêng liêng với dân tộc! Bức thư cụ trả lời Pháp có lẽ là một trong những áng hùng văn kim cổ. Nhà sử học Đinh Xuân Lâm đã viết: "Có thể khẳng định rằng, trong sự phát triển liên tục và mạnh mẽ của phong trào yêu nước cách mạng của nước ta dẫn tới sự thành lập chính Đảng vô sản đầu năm 1930 mở ra một thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam, đã có sự đóng góp tích cực không thể thiếu được của thế hệ sĩ phu văn thân yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX, trong đó có Ngô Quang Bích là một trong những người tiêu biểu nhất, là một trong những bộ mặt đẹp đẽ nhất".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 06:12:07 pm

Về tiểu sử cụ Hoàng, xưa kia ông Ngô Quang Đoan có viết một tiểu truyện. Có lẽ đây là một cơ sở khoa học, một chỗ dựa về tư liệu cho các nhà nghiên cứu. Nhưng do cụ viết trong khuôn khổ của việc chép gia phả nên chỉ tóm lược và còn thiếu rất nhiều mẩu chuyện về cụ Hoàng.

Giáo sư Phạm Thiều nhận định về ba con người tiêu biểu cho ba vùng Tổ quốc: Thủ khoa Huân, Phan Đình Phùng và cụ Hoàng; ba con người tiêu biểu cho ý chí bất khuất của dân tộc! Nếu dựng tượng đài về cuộc khởi nghĩa của cụ, ta phải lấy chủ đề bất khuất, nếu chọn hình tượng điển hình ta phải lấy câu của Tiến sĩ Tống Duy Tân - người cùng thời và là người kế tục sự nghiệp cụ:

      Vọng trọng kình khôn trụ nhất can.

nghĩa là:
      Một trụ chống trời danh vọng lớn.

và cụ cũng đã có những câu hoạ lại thơ Tôn Thất Thuyết:
      Ba trung chỉ trụ ngật cuồng lưu.

nghĩa là:
      Cột cao giữa sóng chặn dòng sâu.

Suy cho cùng, tất cả các giai đoạn bi hùng của đất nước đều xuất hiện những "Cột chống trời". Thời Nam Hán xâm lược có Ngô Quyền, thời Tống xâm lược có Lý Thường Kiệt, khi quân Nguyên tràn sang có Trần Hưng Đạo, đến giặc Minh ta có Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Thời Pháp xâm lược, cụ Hoàng là một trong những "Cột chống trời". Chỉ có điều đáng tiếc cụ sinh vào thời đại phong kiến suy tàn, không có được bậc minh quân như các thời đại trước đó, lại gặp một đối thủ khác hẳn là thực dân tư bản nên cụ chỉ còn biết mang tấm thân đền nợ nước.

Về niên biểu Nguyễn Quang Bích cũng rõ ràng như hệ phả chi họ Nguyễn Ngô của ông ở Trình Phố. Ông học hành chăm chỉ, nuôi chí hướng của một nho sinh. Khi tiếng súng đại bác đầu tiên của thực dân Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng thì ông đã 25 tuổi. Sau khi đỗ tú tài năm 1858 rồi đỗ cử nhân khoa Tân Dậu - 1861, Nguyễn Quang Bích nhận chức Giáo thụ phủ Trường Khánh. Giữ chức này mới hơn một năm thì thân phụ mất, ông cáo quan về cư tang. Mấy năm lui về quê, vừa dạy học, ông vừa giúp dân đào kênh xây cống.

Khi dự kỳ thi khoa Kỷ Tỵ (năm Tự Đức thứ 22 - 1869), ông đậu Đình nguyên Hoàng giáp, thì ba tỉnh miền Đông và ba tỉnh miền Tây đã mất vào tay thực dân Pháp. Và cũng từ đây, ông bước vào con đường đầy gian nan thử thách: làm Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa) rồi Án sát Sơn Tây; Tế tửu Quốc Tử Giám, rồi Án sát Bình Định. Năm 1875, vua giao ông duyệt sách, rồi sai làm Chánh sứ sơn phòng ở Hưng Hóa. Năm sau (năm 1876), ông kiêm luôn chức Tuần phủ. Một lần nữa, do tấm lòng thực sự vì dân, ông được nhân dân địa phương tôn xưng là "Phật sống".

Sáu năm sau, thực dân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai. Ngày 25 tháng 4 năm 1882, thành Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu tuẫn tiết. Ngày 19 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức mất thì triều đình Huế cũng ký hàng ước xác định quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Năm sau, tại thành Hưng Hóa do ông làm Tuần phủ kiêm Trấn thủ, ông và Tam Tuyên đề đốc Lưu Vĩnh Phúc cùng hơn 1.000 quân kiên quyết giữ thành. Cuối cùng, thành Hưng Hóa cũng bị Pháp đánh chiếm vào ngày 12 tháng 4 năm 1884. Sau đó, vào ngày 11 tháng 5, Pháp buộc triều đình nhà Thanh ký Hòa ước Thiên Tân nhường Việt Nam cho Pháp; ngày 6 tháng 6, Pháp lại buộc triều đình Huế ký hàng ước đặt cơ sở cho nền đô hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam.

Với mưu đồ gấp rút giải quyết vấn đề Việt Nam, ngày 27 tháng 6 năm 1885, tướng Đờ Cuốc-xy đem quân vào Huế. Muốn giành thế chủ động, đêm 4 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh tấn công vào căn cứ giặc, nhưng thất bại. Kinh thành Huế rơi vào tay Pháp. Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra sơn phòng Quảng Trị và hạ chiếu Cần Vương vào ngày 13 tháng 7 năm 1885.

Từ đây, với danh nghĩa là Lễ bộ thượng thư sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, tước Thuần trung do vua Hàm Nghi phong, Nguyễn Quang Bích vừa chịu trách nhiệm về quân sự ở Bắc Kỳ vừa trở thành nhà chính trị, nhà ngoại giao, đóng góp tích cực cho phong trào chống Pháp của nhân dân ta những năm sau đó.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 06:12:32 pm

Hơn một tháng, sau khi có chiếu Cần Vương, ngày 19 tháng 8 năm 1885, Nguyễn Quang Bích vâng mệnh triều đình cầm quốc thư sang nhà Thanh. Năm 1886, trong dịp Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn sang Trung Quốc cầu viện, vua Hàm Nghi lại cử Nguyễn Quang Bích đi Vân Nam, nhưng cả hai lần đều không đạt được kết quả.

Tuy vậy, trong hai chuyến đi ấy, ông đã gây được cảm tình của một số quan lại Trung Quốc. Bằng sự giúp đỡ thiết thực, Tổng đốc Vân Quý là Sầm Dục Anh đã gửi vũ khí, đạn dược và vật phẩm sang giúp để khích lệ tinh thần kháng chiến của quân dân ta.

Từ giữa năm 1886 đến cuối năm 1889, nghĩa quân và các tướng lĩnh của Nguyễn Quang Bích đã chiến đấu trong những điều kiện vô cùng khó khăn, luôn luôn ở thế bị giặc tiến công. Tháng 4 và tháng 9 năm 1886, khi Nguyễn Quang Bích đi vắng, hai lần Pháp đưa quân tiến đánh căn cứ. Cuối năm 1886, đầu năm 1887, Pháp càn quét gắt gao hai huyện Văn Bàn và Văn Chấn. Tháng 9 năm 1887, một hôm giặc bất ngờ ập tới đánh úp đại bản doanh. Vài ngày sau, giặc bị đánh lui, nhưng người đồng chí tài đức của Nguyễn Quang Bích là Hiệp đốc Nguyễn Văn Giáp đã bị bệnh chết.

Tháng 4 năm 1888, Pháp tiến công đồn Đèo Ách, căn cứ của ta, rồi rút. Sau đó nghĩa quân do Đề Cương chỉ huy thắng trận ở Dụ Phong.

Tuy vậy, tháng 5 năm 1888, quân thứ của ta vẫn phải rút lui về Sơn Động, tháng 8 lại chuyển đến Sơn Lương và tháng 9, Pháp mới dám vào chiếm đóng Nghĩa Lộ.

Tháng 10 năm 1889, Nguyễn Quang Bích tổ chức họp các tướng lĩnh. Giặc kéo quân tới định đánh úp, nhưng chúng đã bị nghĩa quân mai phục bắn chết khá nhiều.

Tháng 11, ông lệnh cho các tướng lĩnh chuẩn bị đầy đủ cho cuộc tấn công lớn vào năm sau. Không ngờ, ngày 15 tháng Chạp năm Kỷ Sửu (ngày 5 tháng 1 năm 1890); ông lâm bệnh nặng, mất tại đại bản doanh nghĩa quân ở núi Tôn Sơn.

Có sách viết: năm 1884, triều đình Kiến Phúc ký hiệp ước đầu hàng Pháp, rồi cho sứ giả mang chiếu chỉ ra Bắc Kỳ triệu hồi các viên quan đầu tỉnh về kinh nhậm chức khác hoặc triệt binh thì phần lớn quan lại răm rắp thi hành lệnh vua. Riêng cụ Tuần phủ Hưng Hoá cho người nộp trả ấn tín. Nghĩa cử ấy của một quan đầu tỉnh, lại là một ông Đình nguyên Hoàng giáp làm trái "đạo quân thần" của Nho giáo thì thật không đơn giản chút nào. Cụ nghe lệnh đã ngất lịm. Ngày hôm sau, cụ mặc áo đại trào, trước mặt viên sứ giả, cụ giơ tay khóc trời rồi sai người nộp trả ấn tín... Viên sứ giả vừa ra khỏi thành thì giặc Pháp bốn mặt tấn công... Cái giây phút quyết định của ngày 11 tháng 4 năm 1884 đã đi vào lịch sử để rồi làm nên một "Ngư Phong tướng công" dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp.

Suốt thời gian làm quan, ông được nhân dân các địa phương rất yêu mến, thường gọi ông là "hoạt Phật" (Phật sống). Đó là lòng ái mộ chân thành của nhân dân đối với một người suốt đời chăm lo đến đời sống của quần chúng. Nay từ đường thờ ông còn lưu đôi câu đối nhân dân Sơn Tây, Hưng Hóa ca ngợi ông. Và cuộc đời làm quan trong sạch ân đức đó đã báo trước những hành động cao đẹp sau này của ông khi nước nhà bị quân thù xâm lược.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Hai, 2017, 05:23:20 pm

Câu hỏi 2: Nguyễn Quang Bích trong thời gian giữ chức Tuần phủ Hưng Hóa đã có những hành động gì để đáp trả lại sự xâm lăng của giặc Pháp?
Trả lời:


Trong thời gian giữ chức Tuần phủ Hưng Hóa, khi Hà Nội thất thủ lần thứ hai (ngày 25 tháng 4 năm 1882), Nguyễn Quang Bích đã kịp thời báo cáo về triều đình dư luận nhân dân Bắc Kỳ xôn xao lo ngại trước việc quân Thanh kéo sang ngày một đông. Nhưng Tự Đức ngoan cố không thấy lời báo cáo đó xuất phát từ một sự quan tâm chính đáng đến sinh hoạt và nguyện vọng của quần chúng và từ một tinh thần cảnh giác chính trị sắc bén. Nhà vua lại còn quở trách ông là: "Đem lòng tiểu nhân để đo lòng quân tử, lẽ nào người Thanh lại làm cái cử động vô nghĩa ấy".

Sau khi buộc triều đình Huế ký hàng ước ngày 25 tháng 8 năm 1883 xác định quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam, bọn thực dân kéo ra Bắc đánh chiếm nhiều nơi hòng hoàn thành gấp công cuộc xâm lược trong phạm vi cả nước. Tính đến tháng 3 năm 1884, hầu hết Bắc Kỳ đã lọt vào tay giặc. Trong số các căn cứ quan trọng chỉ còn lại thành Hưng Hóa. Hưng Hóa án ngữ trên con đường sông Thao, đã trở thành tỉnh lỵ của Tam Tuyên (Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang) sau ngày Sơn Tây thất thủ. Ở đây có quân đội của Hoàng Tá Viêm, của Lưu Vĩnh Phúc và có cả quân Thanh thuộc đội quân Vân Nam và Quý Châu đóng giữ.

Tuần phủ kiêm Trấn thủ Hưng Hóa lúc đó chính là Nguyễn Quang Bích. Quân của ông xuất phát từ Sơn Tây, gặp quân Pháp chia làm hai đạo, vượt qua sông Đà, dọc đường bị quân ta chặn đánh ở Hạ Bì, La Thượng, nhưng vẫn tập trung được lực lượng tiến đánh Hưng Hóa. Tổng đốc Vân Quý của nhà Thanh là Sầm Dục Anh cho rằng không thể giữ được Hưng Hóa nên đã ra lệnh lui trước tiền quân về Yên Bái. Hoàng Tá Viêm cũng rút quân vào trong Thục Luyện (Đồn Vàng). Chỉ còn Tam Tuyên đề đốc Lưu Vĩnh Phúc và hơn 1.000 quân ở lại cùng Nguyễn Quang Bích cương quyết giữ thành.

Nắm chắc quân của Hoàng Tá Viêm và quân Thanh đã rút khỏi Hưng Hóa, quân Pháp càng ráo riết tấn công, bốn mặt cùng tiến đánh. Quân ít, thế nguy, Nguyễn Quang Bích trèo lên Kính Thiên đài, ý muốn chết với thành, nhưng các tướng lĩnh bên cạnh đã kịp thời vực ông lên ngựa, phá vòng vây chạy đến huyện Tam Nông (Phú Thọ), đóng ở đình làng Tứ Mỹ. Sau khi chiếm thành Hưng Hóa (ngày 12 tháng 4 năm 1884), giặc Pháp bèn đem chiến thuyền từ bên này sông bắn súng vào đình, hành lang đình đều đổ vỡ mà ông vẫn không chịu lui. Sau đó, ông thu thập quân binh dời về huyện Cẩm Khê, trước đóng quân ở làng Sơn Bình, sau dời về làng Áp Lộc, và cuối cùng về làng Tiên Động. Nơi đây, dựa vào địa thế hiểm trở, lại xa sông lớn, quân Pháp không thể dùng chiến thuyền đến uy hiếp được. Được quân Thanh hỗ trợ, Nguyễn Quang Bích định tính cách cố thủ lâu dài.

Khi ấy nghĩa quân tản mát các nơi đều lục tục tìm đến, các vệ binh cũ cũng lũ lượt kéo về. Lại có nguyên Bố chánh Sơn Tây là Nguyễn Văn Giáp bấy lâu cầm đầu nghĩa quân chống Pháp tại lưu vực sông Thao, mà trung tâm là phủ Lâm Thao (Phú Thọ), nay cũng kéo quân về hiệp lực. Thân hào nghĩa sĩ các tỉnh đều đua nhau đến hưởng ứng như Đinh Công Tráng, Đinh Gia Quế, Đinh Hân (Nam Định), Quách Tất Ngân (Ninh Bình), Trần Văn Sang (Hưng Yên), Hà Văn Mao (Thanh Hóa). Quân thế nhờ đó ngày càng phấn chấn. Quân Pháp đem binh đến đánh trong một tháng có đến mười lăm lần, nhưng không dám đi gần trận địa, chỉ đứng xa bắn súng vào, nghĩa quân nấp sau những địa hình hiểm yếu bắn trả lại, đôi bên cầm cự không phân thắng bại.

Như ngày 13 tháng 12 năm Giáp Thân (tức ngày 28 tháng 1 năm 1885), giặc Pháp và tay sai đóng ở Gia Dụ (xã Gia Dụ, huyện Tam Nông) kéo đến đánh huyện Cẩm Khê; ngày 18 tháng đó (tức ngày 2 tháng 2 năm 1885), bọn giặc ở Hưng Hóa đến đánh xã Sơn Vi thuộc phủ Lâm Thao; cả hai lần Nguyễn Quang Bích đã cùng Lãnh binh Trương Văn Kính phối hợp với tổng binh quân Thanh là Đàm Tu Cương đánh lui chúng, buộc chúng sau đó phải bỏ đồn Gia Dụ rút về Hưng Hóa, hay như hồi tháng 3 năm 1885, ông đã mật báo cho quân Thanh kịp thời đánh tan toán giặc Pháp âm mưu tập kích sau lưng Yên Bình.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Hai, 2017, 05:26:40 pm

Câu hỏi 3: Nguyễn Quang Bích được vua Hàm Nghi ủy cho việc cầm quốc thư sang triều Thanh cầu viện lần thứ nhất, cho biết thông tin về chuyến đi này?
Trả lời:


Đặc biệt đối với Nguyễn Quang Bích, vua Hàm Nghi sai sứ gia phong Lễ bộ thượng thư sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, tước Thuần trung, cho phép quan văn từ tham tán, quan võ từ đề đốc trở xuống được quyền "liệu nghi lục dụng". Đồng thời, ông được ủy cho việc cầm quốc thư sang triều Thanh cầu viện. Nguyên Bố chánh Sơn Tây là Nguyễn Văn Giáp cũng được bổ chức Tuần phủ Sơn Tây kiêm Tham tán hiệp đốc Bắc Kỳ quân vụ. Nhận lệnh vua ngày 10 tháng 7 năm Ất Dậu (ngày 19 tháng 8 năm 1885), ông liền giao quyền chỉ huy cho Nguyễn hiệp đốc rồi đi ngay qua Vân Nam chuyển quốc thư cho Tổng đốc Sầm Dục Anh. Sau đây là một đoạn trích trong Tấu tập của Vân Quý Tổng đốc Sầm Dục Anh nói về chuyến đi này:

"Triều đình Việt Nam cho sứ thần Lễ bộ thượng thư sung Hiệp thống Bắc Kỳ Nguyễn Quang Bích sang vùng Tân Giai biên giới Điền (Vân Nam) đệ trình quốc thư. Theo Nguyễn Quang Bích, quan của Việt Nam, trình bày thì vua nước Việt là Nguyễn Phúc Thời1 đã ốm chết từ năm Quang Tự thứ 9 trước đây, người trong nước đã lập em ông là Nguyễn Phúc Thắng2 nhưng Phúc Thắng lại nhường cho con nối của Phúc Thời là Phúc Hạo3. Năm Quang Tự thứ 10, Phúc Hạo bệnh chết, trối lại rằng phải lập con thứ của Phúc Thời là Phúc Minh4 lên thay. Từ tháng 12 năm thứ 10, Phúc Minh lên ngôi lo việc nước, vào lúc các tỉnh Bắc Kỳ bị Pháp chiếm giữ, các cảng khẩu ven biển cũng bị Pháp phong tỏa, đường sá không thông thương được. Từ ngày đại binh thiên triều tham chiến, tiễu trừ bọn hung tàn, quân và dân các nơi đều nhiệt liệt hưởng ứng, làm khuấy động khắp nơi. Không ngờ sau khi đại binh rút về, người Pháp áp bức uy hiếp càng dữ hơn trước, bắt bớ dân chúng, hung tàn bạo ngược, gieo tai họa rất nhiều. Nguyễn Phúc Minh thề cùng với thần liêu quyết giáp chiến với bọn Pháp thu được thắng lợi. Hiện nay đã dời ra Quảng Trị, chiếm giữ chỗ hiểm yếu để mưu việc lớn sau này. Nhưng muốn làm việc tất phải có chính danh. Nguyễn Phúc Minh là con nối nhưng chưa được thụ phong, lại nhân vì quốc ấn bị Pháp tiêu hủy, khó mà tỏ rõ ý chí với mọi người. Vì vậy phải cho sứ sang đệ trình hai bức thư lên tuần phủ Quảng Tây xin cứ xét tình hình tâu lên thay hộ, cầu khẩn ban cho thiên ấn, phê chuẩn thụ phong cho"5.

Trong bức quốc thư gửi cho Tổng đốc Vân Quý đứng tên vua Hàm Nghi có những lời tố cáo tội ác giặc Pháp và yêu cầu viện trợ thống thiết.

Tổ quốc lâm nguy, nhà vua ủy thác trọng trách, Nguyễn Quang Bích đã không quản ngại muôn vàn gian khổ, quyết tâm làm trọn nhiệm vụ của mình.

Đi sứ về, ông được vua Hàm Nghi ban khen và Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết cũng có làm thơ kỷ niệm. Trong chuyến đi này, ông đã ký thác tấm lòng son sắt của mình đối với vua, với nước.
___________________________________________
1. Nguyễn Phúc Thời, tức Tự Đức.
2. Nguyễn Phúc Thắng, tức Hiệp Hòa.
3. Phúc Hạo, tức Kiến Phúc.
4. Phúc Minh, tức Hàm Nghi.
5. Trích dịch trong Tấu tập của Vân Quý Tổng đốc Sầm Dục Anh ở Trung Pháp chiến tranh tư liệu, Quyển 7, Trung Quốc sử học hội xuất bản.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Hai, 2017, 05:29:17 pm

Câu hỏi 4: Chuyến đi cầu viện nhà Thanh lần thứ nhất đã không mang lại nhiều kết quả, vua Hàm Nghi lại cử Nguyễn Quang Bích sang cầu viện lần thứ hai. Cho biết thêm về chuyến đi cầu viện lần này và kết quả của nó?
Trả lời:


Lúc này, sau khi đã đè bẹp được cánh kháng chiến trong triều và nắm chặt được bè lũ phong kiến bán nước và bù nhìn, giặc Pháp tìm cách đẩy mạnh hoạt động trên chiến trường Bắc Kỳ. Chúng tiến quân lên chiếm Than Mai, Tuần Quán, Lào Cai rồi Phong Thổ, Lai Châu, Điện Biên Phủ, Sơn La, cố gấp rút kiểm soát vùng biên giới để cắt đứt mọi liên lạc giữa nghĩa quân với Trung Quốc. Vào hai ngày 27 và 28 tháng 12 năm Hàm Nghi thứ nhất (tức ngày 31 tháng 1 và ngày 1 tháng 2 năm 1886), hơn một nghìn lính Pháp kéo đến đánh xã Cát Trù, Hiệp đốc Nguyễn Văn Giáp đem quân chiếm lại không nổi, phải lui về xã Tuy Lộc hiệp quân với Nguyễn Quang Bích vào đóng giữ ở miền Tam Mãnh1.

Tháng 1 năm Hàm Nghi thứ hai (tức tháng 2 năm 1886), nhân Tổng đốc Vân Quý là Sầm Dục Anh phái người đến huyện Cẩm Khê để điều tra cụ thể tình hình Việt Nam, Nguyễn Quang Bích trong cuộc tiếp xúc đó đã nhờ phái viên nhà Thanh chuyển tờ bẩm do Sơn Hưng Tuyên tổng đốc Nguyễn Đình Nhuận đứng tên. Lời lẽ trong thư nói lên lòng căm thù sâu sắc, đồng thời cũng nói rõ quyết tâm kháng chiến đến cùng của giới thân hào kháng chiến ngoài Bắc, cũng như của toàn dân lúc đó đối với quân cướp nước và bè lũ tay sai bán nước.

Cũng năm đó (năm 1886), nhân dịp Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn sang Trung Quốc cầu viện, vua Hàm Nghi lại cử Nguyễn Quang Bích một lần nữa đi Vân Nam. Lúc đó vào tháng 4, mùa hạ, nhân Nguyễn Quang Bích đi qua Thượng Bằng La, thuộc địa phận châu Văn Chấn, Tôn Thất Thuyết có gửi thư mời ông cùng đi. Chuyến này đi với ông còn có hai người đáng chú ý.

Người thứ nhất tên là Chu Lăng Thục, tự Thiết Nhai, hiệu Ngọa Hổ, người tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Thiết Nhai được bổ dụng làm chức phiên phó sứ của triều đình Trung Quốc, nhưng cũng giống như một số quan lại miền Nam Trung Quốc hồi đó, ông rất bất mãn với chính sách nhu nhược của triều Thanh và rất có cảm tình với phong trào kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Ông là bạn đồng tâm của Nguyễn Quang Bích và đã tích cực giúp đỡ về mặt liên lạc với Trung Quốc để xin viện trợ. Mỗi lần ông lên đường, Nguyễn Quang Bích đều có thơ tiễn đưa thắm thiết, tỏ ý kỳ vọng lớn lao: "Lần đi này của tiên sinh không phải có phần quan hệ đến tính mạng của tôi sống hay chết, mà nước của chúng tôi bị tai họa hay được hạnh phúc, còn hay mất, đều ở trong tay tiên sinh".
_________________________________________
1. Căn cứ vào Tấu tập của Văn Quý Tổng đốc Sầm Dục Anh (ngày 13 tháng 3 năm Quang Tự thứ 11, tức năm 1885 dương lịch) thì đất Tam Mãnh thập châu phía bắc giáp các huyện Mông Tự, Kiến Thủy và phủ Lâm An của tỉnh Vân Nam, chạy dọc sang phía tây bắc đến tận Nguyên Giang (tức thượng lưu sông Hồng), phía tây nam tiếp giáp Thượng Lào; là một nơi hiểm yếu của nước Việt Nam, đồng thời là cửa ngõ vào đất Vân Nam.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Hai, 2017, 05:36:51 pm

Chuyến này cùng đi với Nguyễn Quang Bích cũng là chuyến đi cuối cùng của Thiết Nhai. Dọc đường công cán, Thiết Nhai chết ở phủ Khai Hóa trên đất Trung Quốc, mọi việc tang ma đều nhờ vào đồng bào địa phương. Nguyễn Quang Bích có làm thơ điếu. Nội dung bài điếu như sau:

            ĐIẾU THIẾT NHAI

                  I
      Bão phụ kinh luân tự bất phàm
      Tương quan thanh khí1 bạc nhai nham.
      Thuần dao kỷ độ đàm tâm xứ,
      Thệ bả phi miêu tận lực sam2.


                  II
      Thùy tri khứ lộ khước du du,
      Nhất biệt hoàn di bách cảm lưu
      Lữ xá tha hương như thử nhật,
      Vị quân hàm hận độc thiên thu.


Dịch nghĩa:

            VIẾNG ÔNG CHU THIẾT NHAI

                  I
      Ôm tài kinh luân, ông vốn không phải hạng tầm thường,
      Thanh khí đôi ta bàng bạc khắp núi non.
      Đã bao lần nhắp chén rượu tri âm tỏ bày tâm sự,
      Thề ra sức nhổ sạch loài cỏ dại.


                  II
      Ai ngờ con đường đi trở thành xa bặt,
      Một lần từ biệt, để lại trăm mối thương cảm.
      Ngày hôm nay ở chốn tha hương nơi quán trọ,
      Vì ông mà riêng mang mối hận nghìn năm.


Dịch thơ:

                  I
      Ôm ấp kinh luân chí khác đời,
      Cảm thông thanh khí ngút cao vời.
      Mấy phen nghiêng dốc bầu tâm sự,
      Thề diệt cho tan giống hại nòi.

                  II
      Một đi, đi mãi có ngờ đâu,
      Để lại cho nhau vạn cảm sầu.
      Quán khách quê người trong buổi ấy,
      Vì ông nuốt hận đến ngàn thâu.
                                                 (Nguyễn Văn Bách dịch)

Người thứ hai cùng đi với Nguyễn Quang Bích sang Vân Nam cầu viện chuyến ấy là Tán tương Nguyễn Khê Ông - người Khê Thượng, Bất Bạt, Sơn Tây, lĩnh chức Án sát tỉnh Sơn Tây sung Tán tương quân vụ. Nhưng đi đến xứ Chiêu Tấn, đường nghẽn không đi được, Nguyễn Khê Ông ở lại địa phận Quế Sơn là vùng biên giới, chỉ mình Nguyễn Quang Bích tiếp tục ra đi.
______________________________________
1. Đồng thanh tương ứng (cùng tiếng hưởng ứng nhau), ví như tiếng chim kêu gọi bạn; đồng khí tương cầu (cùng khí tìm gặp nhau), ví như nam châm hút sắt.
2. Đời Hán Văn Đế, Lưu Chương có bài ca "Canh điền" rằng:
      Thâm canh dị nậu,
      Lập miêu dục hy.
      Phi kỳ loại giả,
      Sừ nhi khử chi.

nghĩa là:
      Cày sâu cuốc bẫm,
      Cấy lúa hàng thưa.
      Những cây khác loại,
      Phải nhổ phải bừa.
Đây ý nói giặc Pháp đến xâm lược nước ta không khác gì loài cỏ xấu bám vào cây lúa cần diệt trừ đi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Hai, 2017, 05:38:12 pm

Tháng 7 năm đó, trên đường về đến trại Bắc Tần (thuộc Lai Châu), được tin Nguyễn Khê Ông đã mất, ông vô cùng thương tiếc người đồng sự. Trong bài văn tế ngày 7 tháng 8 năm Hàm Nghi thứ 2 (1886), một lần nữa ông ca tụng khí tiết anh hùng của Nguyễn Khê Ông, đồng thời cũng nghiêm khắc lên án quân xâm lược cùng bọn xu nịnh bán nước cầu vinh. Bài tế tạm dịch nội dung như sau:

VĂN TẾ TÁN TƯƠNG NGUYỄN KHÊ ÔNG

Than ôi! Người ở trên đời, ai là không chết, chết như anh, khiến người ta ai cũng than khóc mà sụt sùi.

Nhớ anh xưa, con dòng vũ tướng, thông thái tính trời, thuở bé theo đời nghiên bút, văn chương nổi tiếng ở trong làng, trong hạt, đến lúc thi hương đỗ cử nhân, chưa được bao lâu thời cơn binh hỏa đã đến.

Hiện nay ở trên đời, biết bao nhiêu người tham lam đắm đuối, chạy vạy luồn cúi dưới lũ hôi tanh để kiếm cơm áo; lại có người ở bên ngoài thời giả cách lùi bước, ẩn mình mà bên trong thời bí mật cùng quân giặc giao thông để kiếm cho đầy túi. Hạng người ấy cũng không phải là ít. Hễ thấy ai có lòng khảng khái, không chịu phục tòng, không để cho giặc làm dơ bẩn, thời lại cho là không biết thời thế, cho là cầu may lấy tiếng hão huyền, nó không sằng sặc cười chê thời cũng kéo bè nhau mà chửi rủa lảm nhảm. Than ôi! Than ôi! Nay thử hỏi xem, lũ Tây dương có phải là giặc không? Chính lũ ấy thật là giặc. Vậy sao thói đời, lòng người lại đến nỗi như thế, thật là đáng thương quá!

Anh là một người thư sinh, một chức nhàn tản, đối với bên trên thời vua chưa biết đến họ tên, đối với bên dưới thời chức vụ còn kém thua những anh em đồng sự, thế mà phấn khởi một cách bạo dạn, mộ những người nghĩa dũng ra tòng quân, tuy bị thua nhiều lần, mà không hề nản chí; làm việc như thế, nếu bảo là không có sự gia đình giảng tập, không có sự học vấn cao siêu, thời làm sao được như thế.

Ngày tháng 6, anh gửi thư cho tôi có nói rằng: "Xem tình thế gần đây đã có cơ hội làm được, thêm phần phấn khích". Anh lại nói rằng: "Kẻ sĩ vì người tri kỷ của mình mà ra sức đua tài, dẫu gian khổ bao nhiêu cũng không từ chối".

Than ôi! Than ôi! Anh làm sao mà đến thế này!

Hiện nay, những người đồng sự với chúng ta được mấy người, đồng sự mà đồng tâm được mấy người, đồng tâm mà đem mình ta chỉ huy quân sĩ, xông pha tên đạn lại được mấy người.

Anh mà đến nỗi này, thật là sự không may cho anh, mà cũng thật là sự không may cho tôi và cho ông Tham đài nữa.

Tháng trước tôi về đến trại Bắc Tần thuộc hạt Lai Châu, nghe tin buồn của anh, tôi khóc nghẹn nên không nói được. Nay đến Lai Châu, tôi thăm viếng phần mộ của anh, nay xin lấy xôi bò và các phẩm vật, rót chén rượu nhạt để tỏ lòng thành, hồn thiêng dưới suối vàng có hay? Kính xin giám hưởng!

May ra giang sơn phù hộ, sau khi việc nước đã yên, tôi sẽ tâu lên thiên tử, đề đạt với tướng thần, bao phong phẩm vật cho anh, lục dụng con cháu của anh, cho xứng đáng với công lao của anh. Ấy là lòng tôi khẩn khoản như vậy.


Lần này cũng như lần trước, việc cầu viện không mang lại kết quả gì. Triều đình nhà Thanh sau Quy ước Thiên Tân lại liên tiếp ký các hiệp ước đình chiến (ngày 1 tháng 4 năm 1885) và cuối cùng là Điều ước Thiên Tân (ngày 9 tháng 6 năm 1885) hoàn toàn nhượng bộ trước tư sản Pháp, công nhận nền đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước Việt Nam. Chính bản thân Tổng đốc Vân Quý là Sầm Dục Anh nói với Nguyễn Quang Bích rằng: "Vua tôi cùng người Pháp mới ký hiệp ước, có lẽ việc của ngài không xong. Tôi cùng các bạn đồng tiêu cảm lòng trung nghĩa của ngài, tình nguyện giúp riêng súng đạn. Ngài về nước chiêu tập nghĩa binh các tỉnh khởi sự, nếu việc có khởi sắc, chúng tôi xin tư giúp nữa"1.

Dù sao kết quả cuối cùng của hai lần sang cầu viện là đã tranh thủ được sự giúp đỡ của một số quan lại miền Nam Trung Quốc. Thêm vào đó, sau này còn có sự vận động của Tôn Thất Thuyết ở Nam Ninh, cho nên sự giúp đỡ này tuy chẳng phải quy mô rộng lớn gì, nhưng không phải không có tác dụng. Phải đến tận năm 1894 là năm chiến tranh Trung - Nhật bùng nổ, triều đình Mãn Thanh phải dồn lực lượng về phía đông bắc nên đã cộng tác thêm mật thiết với Pháp ở phía nam, cùng nhau định rõ biên giới, đặt một tấm lưới ngày càng dày, nguồn tiếp tế vũ khí độc nhất này mới cạn dần và chấm dứt.
___________________________________
1. Ngư Phong tướng công hành trạng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 08:12:10 am

Câu hỏi 5: Từ năm 1886 đến khi Nguyễn Quang Bích qua đời (năm 1890) là thời gian cuộc khởi nghĩa diễn ra mạnh mẽ nhất. Tình hình địch, ta trong thế đan cài. Nghĩa quân mặc dù vũ khí thô sơ, quân ít, không có lực lượng tập trung nhưng đã làm cho kẻ thù kinh sợ và khâm phục về ý chí chiến đấu. Hãy cho biết thêm về giai đoạn này?
Trả lời:


Trong thời gian Nguyễn Quang Bích đang đi sứ, Bố chánh Nguyễn Văn Giáp thường đưa quân từ căn cứ Tiên Động về đánh đồn Cẩm Khê và các đồn lẻ dọc sông của địch. Thấy vậy, tháng 6 năm 1886, rồi tháng 11 năm 1886, giặc Pháp hai lần liên tục tấn công căn cứ nghĩa quân nhưng không kết quả. Trong khi đó, các huyện Văn Bàn, Văn Chấn và cả hữu ngạn sông Thao đều thuộc về ta.

Giữa lúc đó, Nguyễn Quang Bích từ Trung Quốc về nước, đóng ở hạt Thiên Chấn. Không bao lâu nhận được đợt viện trợ đầu tiên do Tổng đốc Vân Quý là Sầm Dục Anh gửi sang gồm sáu trăm khẩu súng, sáu mươi hòm đạn và hai nghìn cân thuốc phiện để bán lấy tiền chi phí việc quân binh, ông bèn tập hợp các đạo nghĩa quân phát súng, đạn luyện tập đêm ngày chờ thời cơ giết giặc cứu nước. Hiệp đốc quân vụ Nguyễn Văn Giáp cũng đem nghĩa dũng tập hợp. Đại bản doanh của nghĩa quân do Nguyễn Quang Bích cầm đầu bấy giờ đóng tại Nghĩa Lộ, thuộc địa hạt châu Văn Chấn.

Chỗ ấy hình thế vô cùng hiểm trở, vì nằm giữa cánh đồng ba tổng bằng phẳng rộng chừng vài ngàn mẫu, có hai con ngòi chảy bọc xung quanh, đất đai màu mỡ, thóc lúa tràn đầy, đủ cung cấp lương thực cho quân lính. Lại thêm có suối nước nóng bốn mùa không cạn, dân cư trù mật. Bốn bề núi cao như thành, ra vào bằng ba đường rất hiểm trở, có thể thông sang châu khác. Đường núi phía hữu - tục gọi Đèo Ách - do Chánh đề đốc Kiều đóng giữ; đường núi phía tả - tục gọi Đèo Pha - do Phó đề đốc Mạc đóng giữ; còn đường mặt sau gọi là Ngòi Vụ do Lãnh binh Vương Văn Doãn đóng giữ.

Các châu huyện xung quanh tranh nhau đem lương thực về giúp, lập kho dự trữ, đồng bào Thái - Mường - Mèo - Dao đều rất vui theo. Gần thì có Đề Kiều (Hoàng Văn Thúy) và Đốc Ngữ (Nguyễn Đình Ngữ) ở Hưng Hóa, Phú Thọ, Hòa Bình; xa hơn thì có Đề Cương, Đề Cơ, Đề Anh ở Sơn Tây; Đề Vân, Đề Vịnh ở Bắc Ninh; Đề Vũ ở Nam Định; Đề Hoan, Đề Nhượng, Đề Quảng ở Thái Bình..., tất cả đều chịu sự chỉ huy của Nguyễn Quang Bích. Đặc biệt, những lang đạo vùng thiểu số đều nhiệt tình tham gia phong trào như Đèo Văn Trì, Đèo Văn Toa ở Lai Châu, Tri phủ Điện Biên là Đèo Văn Sanh, Tri châu Chiêu Tấn là Nguyễn Văn Quang cùng các thổ tù Cầm Văn Thanh, Cầm Văn Hoan vùng Mai Sơn, Mường La (Sơn La). Hơn thế nữa, các trung tâm khác của phong trào Cần Vương trong toàn quốc như Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh), Tống Duy Tân, Hà Văn Mao (Thanh Hóa), Nguyễn Thiện Thuật (Hưng Yên), Đàm Chí Trạch (Nam Định), Nguyễn Tử Ngôn (Ninh Bình), Tán tương Nguyễn Khê Ông (Sơn Tây) đều có liên lạc, "các đạo báo tư đi về như mắc cửi"1. Thanh thế nhờ đó ngày một tăng, quân Pháp mấy lần kéo quân lên đánh phá đều vô hiệu. Đầu tháng 12 năm 1886, binh đoàn của tướng Brít-xô càn quét hai huyện Văn Bàn, Văn Chấn và đi sâu vào Đại Lịch (ngày 3 tháng 1 năm 1887), trên đường hành quân, đã bị nghĩa quân của Nguyễn Văn Giáp phục kích dữ dội và bị thiệt hại nặng.

Sau đó có lần quân Pháp liều lĩnh theo đường Lai Châu đi xuyên qua động Mèo đến đánh tập hậu nghĩa quân. Lãnh binh Vương được tin, bố trí quân mai phục. Sau một ngày một đêm chiến đấu ác liệt, giặc Pháp bị thương và chết rất nhiều, cuối cùng đành phải rút lui thảm hại. Quân ta vì ít không dám truy kích, chỉ thu lượm súng ống, khí giới của giặc vứt lại. Được tin nghĩa quân thắng lợi, đồng bào các dân tộc Mèo, Dao kịp thời tập hợp lực lượng đón đánh quân Pháp trên đường tháo chạy, giết thêm một số quân địch, cướp được khá nhiều súng ống, đạn dược đem đến đại đồn nộp cho nghĩa quân. Nguyễn Quang Bích tùy công lao khen thưởng, vàng năm mươi nén, bạc năm trăm đồng, đồng bào Mèo, Dao reo mừng cảm tạ.
_____________________________________
1. Trình Phố Ngư Phong Nguyễn tướng công truyện ký.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 08:12:49 am

Giặc Pháp một mặt dùng quân đội đàn áp, mặt khác phái bọn tay sai là ngụy bố chánh Hưng Hóa Bùi Quang Tín, ngụy tri phủ Lâm Thao Nguyễn Khắc Hợp đến dụ dỗ, hòng đưa miếng mồi quan tước bổng lộc ra mua chuộc. Nguyễn Quang Bích kiên quyết cự tuyệt, thề chết không hàng. Bức thư ông trả lời bọn Pháp lời lẽ ôn hòa mà đanh thép, lý luận từ tốn mà hùng tráng, đã nói lên ý chí bất khuất của dân tộc Việt Nam bất chấp sức mạnh của quân xâm lược.

Nhưng đến tháng 10 năm Đinh Hợi (tháng 11 năm 1887), quân Pháp bất thần ập đến, ông cùng Hiệp đốc Nguyễn Văn Giáp phải chia tay nhau lánh vào nhà đồng bào Mèo quanh vùng. Vài ngày sau, quân giặc bị đánh lui, ông trở về đồn thì Nguyễn Văn Giáp đã bị bệnh chết. Tại quân thứ, trước số đông đề đốc, lãnh binh, tán tương, thương biện, ông đọc bài văn tế lời lẽ vô cùng thống thiết ca tụng khí tiết hào hùng của người đồng sự, đồng tâm sớm quá cố.

Tháng 3 năm Mậu Tý (tháng 4 năm 1888), quân Pháp lần thứ hai dùng lối dương đông kích tây, một mặt cho bốn, năm chục quân kéo đến đánh đồn bên tả; mặt khác bắt người địa phương dẫn đại binh ngầm đi xuyên đèo Lạo Khê, Nha Sơn tấn công từ sau lưng đồn Đèo Ách. Đồn này có địa thế hiểm trở, trước nay chưa từng bị quân giặc đến đánh nên phòng bị có phần chủ quan. Bị tấn công bất ngờ, quân tướng trở tay không kịp, đến khi đồn tả và đồn hậu kéo binh đến tiếp viện thì đồn đã lọt vào tay giặc. Ông tránh vào các động Mèo rồi rút lui về thủ hiểm ở châu Phù An (tức huyện Phù Ninh). Sau hai ngày, được tin báo quân địch đã rút lui hết, ông quay về đồn cũ. Vài ngày sau có tin thắng trận lớn ở Dụ Phong, nghĩa quân do Đề Cương (Hoàng Đình Cương) chỉ huy chém được mười ba đầu lính Tây đưa về, lính Pháp và ngụy vừa bị thương vừa bị chết đến năm, sáu trăm người, quân trang quân dụng thu được rất nhiều.

Mặc dù thắng lợi mới, nhưng nói chung tình hình nghĩa quân càng ngày càng khốn đốn, vòng vây của giặc ngày thêm siết chặt, lương ăn là một trong những vấn đề nan giải. Nguyễn Quang Bích đã nói cùng tướng sĩ: "Quân giặc sợ ta phản công nên tạm thời tháo lui đó thôi. Đường xa hư thực chúng đã biết hết rồi, ta không thể ở đây lâu được".

Tình hình khó khăn đó của nghĩa quân cũng đã được ghi lại trong một số bài thơ như: Quân lương khuyết phạp, Quân trung sách mễ...

Quân thứ vì vậy phải dời chỗ luôn, hết rút về đóng ở Sơn Động tháng 4 năm Mậu Tý (tức tháng 5 năm 1888), lại đến Sơn Lương tháng 7 năm đó (tức tháng 8 năm 1888), và cuối cùng phải rút quân về đóng tại xã Quế Sơn, châu Yên Lập. Đến tháng 9 năm 1888, quân Pháp mới dám vào chiếm đóng Nghĩa Lộ, nhưng chúng bị đồng bào Mèo do Đào Triển Lộc và đồng bào Dao do Đổng Phúc Thịnh cầm đầu bao vây ở Tú Lệ và Nghĩa Lộ. Tình hình địch rất nguy ngập, mọi cánh quân kéo tới giải vây đều bị đánh tan; phối hợp với mặt trận chính, các toán nghĩa quân ở rải rác khắp nơi đã phục kích đánh giặc và chống càn thắng lợi. Trong hơn một năm, các quân thứ nghĩa binh báo tin thắng trận luôn, quân thế có chừng phấn chấn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 08:15:19 am

Tháng 9 năm Kỷ Sửu (tức tháng 10 năm 1889), ông đưa giấy tập hợp các tướng. Quân Pháp được tin thừa cơ kéo đại binh tới đánh úp để mong giành thế chủ động trên chiến trường. Nhưng ông đã kịp thời phái các tướng là Đề Kiều, Đề Mạc, Đề Dị, Đề Thành đem quân bày trận, mai phục sẵn ở cách đại đồn chừng sáu dặm. Chờ cho quân giặc đi sâu vào trận địa, nghĩa quân mới nổ súng. Quân ta từ trên cao bắn xuống rất trúng đích, quân giặc vừa bị thương vừa bị chết gần hết, nghĩa quân thu được rất nhiều đạn dược, súng ống.

Tuy thắng lợi lớn như vậy, nhưng do giặc có ưu thế về vũ khí nên đã ra sức khủng bố nhân dân ta và chia rẽ dân tộc, nghĩa quân cuối cùng phải dời sang đóng ở khe núi Tôn Sơn, xã Mộ Xuân, cũng trong địa hạt châu Yên Lập.

Trong thời gian này, có lần Đề Vương đã từ Cẩm Khê đem ba mươi vệ binh ban đêm xuôi thuyền lẻn về đánh úp đồn giám binh tỉnh Hưng Hóa, tước được bốn mươi súng và hai hòm đạn.

Tháng 10 âm lịch (tức tháng 11 năm 1889), ông truyền lệnh cho khắp các tướng sĩ cùng các quân thứ phải chuẩn bị đầy đủ cho cuộc tấn công lớn năm sau (năm 1890). Không ngờ, đến ngày 15 tháng Chạp năm đó (tức ngày 5 tháng 1 năm 1890), ông đột nhiên chuyển bệnh nặng, rồi mất tại đại bản doanh nghĩa quân ở núi Tôn Sơn, châu Yên Lập. Thi hài ông được quân sĩ chôn cất trên ngọn núi Tôn Sơn, với ý biểu dương ý chí bất khuất của một văn thân yêu nước và cũng của cả một dân tộc anh hùng. Sĩ phu nơi nơi nghe tin ông mất đều tỏ lòng thương tiếc vô cùng.

Tin ông mất lúc đầu thực dân Pháp chưa tin, cho là mưu kế của nghĩa quân, chúng đê hèn hạ lệnh bắt toàn gia ông, cả bà cụ thân mẫu của ông tuổi đã bảy mươi cũng bị bắt giam. Chúng còn bắt giam cả các hào dịch xã Trình Phố là nơi quê hương ông, tịch thu tài sản của họ, cốt buộc họ bắt nộp ông cho chúng. "Một người tận trung, cả làng bị giày xéo. Cái nọc độc văn minh quá lắm thay!", đó là lời kết án thực dân Pháp nghiêm khắc của nhà yêu nước Phan Bội Châu trong tác phẩm "Việt Nam, vong quốc sử"1 sau này.

Tháng 8 năm Kỷ Sửu (tháng 9 năm 1889), trước khi từ trần mấy tháng, ông đã căn dặn lại con cháu những lời sắt đá: "Ta đã đem thân hứa quốc, không cần người đi lại thăm nom vô ích; sau này, nếu có nhớ đến ta, cứ lấy ngày thành Hưng Hóa thất hãm làm ngày giỗ ta".

Ba năm sau ngày mãn tang, người con trai đưa hài cốt ông về quê. Trên đường về, mỗi khi qua một địa hạt nào, đồng bào được tin đều ra đón lạy khôn xiết cảm mộ, chứng tỏ lúc sinh thời ân đức ông tràn khắp, nên mặc dù trước sự khủng bố tàn bạo của bè lũ cướp nước và tay sai mà lòng người vẫn không bỏ. Linh giá ông đưa về đến Cát Trù, Đề Kiều ra đầu làng đón tiếp, rồi chôn tạm ngay tại quê Đề Kiều là xã Lộc Cương. Hai năm sau, người nhà Nguyễn Quang Bích mới tới kết bè rước hài cốt về an táng nơi quê nhà.

Sau khi ông mất, quân tướng tản mát nhiều nơi. Duy các tướng sĩ như Đề Kiều, Đốc Ngữ, Đề Dị, Đề Thành vẫn anh dũng tiếp tục sự nghiệp rạng rỡ của ông, làm cho thực dân Pháp và bè lũ tay sai thất điên bát đảo trong nhiều năm trường2.
__________________________________________
1. Phan Bội Châu, Việt Nam vong quốc sử, Bản dịch của Chu Thiên và Chương Thâu, Nhà xuất bản Văn - Sử - Địa, Hà Nội, 1957.
2. Một số bậc già lão ở Hà Tây và Phú Thọ ngày nay cho biết: Trước kia, vì ngưỡng mộ công đức của Nguyễn Quang Bích nên nhân dân trong vùng đã lập sinh từ ông ở Sơn Tây và tại làng Cao Dụ (Phú Thọ), cũng như tại hai làng Cổ Đô (Sơn Tây) và làng Trình Xá (Phú Thọ), ở hai bên bờ sông Hồng đều có đền thờ sau khi ông mất.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 08:17:23 am

Câu hỏi 6: Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Quang Bích được coi là ngọn cờ quy tụ lực lượng yêu nước chống Pháp vùng Tây Bắc cuối thế kỷ XIX, hãy cho biết rõ hơn về điều này?
Trả lời:


Nguyễn Quang Bích là một trong những người kiên quyết chống lại đường lối thỏa hiệp của triều đình. Ông sang "chính giới" khá sớm. Ngay từ những năm cuối thập niên sáu mươi, đầu thập niên bảy mươi của thế kỷ XIX, khi tình hình Bắc Kỳ rối ren, với sự có mặt của giặc biển Tàu Ô, "giặc khách" ở biên giới Việt - Trung, được sự điều động của triều đình Huế, Nguyễn Quang Bích cùng một số quan văn võ như Tôn Thất Thuyết, Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Tri Phương, Ông Ích Khiêm, Lê Tuấn, Bùi Viêm... ra Bắc tiễu trừ các lực lượng chống đối, quấy phá. Với những công trạng tiễu trừ "giặc khách", Nguyễn Quang Bích mở đầu và chính thức bước vào sự nghiệp cứu nước. Tuy nhiên, phải tới khi quân Pháp đánh thành Hưng Hóa và ngày thành Hưng Hóa mất (ngày 12 tháng 4 năm 1884), ông phải rút lên vùng Tây Bắc lập căn cứ chống Pháp lâu dài, thì từ đấy, ông mới thực sự trở thành ngọn cờ quy tụ lực lượng yêu nước chống Pháp không chỉ ở vùng Tây Bắc mà còn lan rộng ra cả Bắc Kỳ.

Không phải ngẫu nhiên mà trước khi từ trần mấy tháng, Nguyễn Quang Bích đã dặn lại con cháu: "Ta đã đem thân hứa quốc, không cần người đi lại thăm nom vô ích; sau này, nếu có nhớ đến ta, cứ lấy ngày thành Hưng Hóa thất hãm làm ngày giỗ ta". Lời dặn dò ấy khẳng định sự gắn bó máu thịt của Nguyễn Quang Bích với Hưng Hóa - mảnh đất mà trong tám năm ông đã từng lặn lội với đầy ắp kỷ niệm. Khi thành Hưng Hóa còn, ông trèo lên Kính Thiên đài, ý muốn noi gương các bậc nghĩa liệt, sống chết với thành. Khi thành mất, ông bước vào giai đoạn "nếu mà thắng, mà sống thì là nghĩa sĩ của triều đình, nhưng chẳng may mà thua mà chết, thì cũng làm quỷ thiêng giết giặc"1.

Ngay sau khi thành Hưng Hóa thất thủ, Nguyễn Quang Bích chủ động cử người đi liên kết lực lượng ở các nơi. Số nghĩa quân tản mát khi biết Nguyễn Quang Bích đang tổ chức lại lực lượng chiến đấu lâu dài, lần lượt tìm về ngày một đông. Nguyễn Văn Giáp, nguyên Bố chánh Sơn Tây, bấy lâu cầm đầu nghĩa quân chống Pháp ở vùng lưu vực sông Thao (Phú Thọ), nay cũng kéo quân về hợp lực. Trước đó, Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Văn Giáp đã từng phối hợp chiến đấu nay thực sự họ đã liên kết trong một đội hình chung do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo.

Nguyễn Quang Bích chủ động mở rộng địa bàn hoạt động, suốt một dải từ Tây Bắc, vùng sông Đà, sông Hồng, sông Chảy, từ Sơn Tây, Hưng Hóa lên tới vùng biên giới phía Bắc. Với địa bàn đó, ông có điều kiện chiêu mộ và tăng cường lực lượng, liên lạc, phối hợp với các thủ lĩnh nghĩa quân khác trong vùng và ở cả các tỉnh xa như Đinh Công Tráng, Đinh Gia Quế, Đinh Hân (Nam Định), Quách Tân Ngân (Ninh Bình), Trần Văn Sang (Hưng Yên), Hà Văn Mao (Thanh Hóa)...

Cùng với các tướng lĩnh có tên tuổi, các thân hào, nghĩa sĩ khắp nơi đã tụ họp dưới ngọn cờ yêu nước kháng Pháp của Nguyễn Quang Bích. Chỉ trong một thời gian ngắn, Nguyễn Quang Bích đã tập hợp được xung quanh mình một lực lượng đông đảo, rộng khắp, dù không có khả năng ngăn chặn mọi đợt tấn công của kẻ địch. Hiệp ước Giáp Thân (ngày 6 tháng 6 năm 1884), đánh dấu sự đầu hàng toàn diện của triều đình nhà Nguyễn trước thực dân Pháp. Đó là một vết nhơ trong lịch sử dân tộc. Song cũng chính từ sau hàng ước này, lịch sử tiếp tục ghi nhận tiếng nói chân chính của thời đại, tiếng nói chiến đấu của nhiều sĩ phu văn thân kiên quyết chống lại đường lối thỏa hiệp, không chịu hạ khí giới đầu hàng.
_______________________________________
1. Thơ văn Nguyễn Quang Bích, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1973. tr. 23.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 08:17:56 am

Hai tháng trước khi Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra phía Bắc và xuống chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân và nhân dân cả nước nổi dậy đánh giặc cứu nước, ngày 13 tháng 5 năm 1885, Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Văn Giáp đã làm tờ trát sức gửi tới toàn quyền Chánh lãnh binh tỉnh Bắc Ninh để thi hành. Trát sức không đầy năm trăm chữ, cho ta biết những điều cơ bản sau đây:

- Thế giặc đang cùng quẫn.

Lực lượng tập trung ở đại bản doanh Nguyễn Quang Bích càng nhiều và vẫn đang tiếp tục tập trung về đây.

- Địa bàn hoạt động khắp vùng Tây Bắc đến Sơn Tây, Hòa Bình và Thanh Hóa.

- Phương châm: ngầm liên kết dũng sĩ các nơi; tùy cơ đánh địch; lại lấy nghĩa cùng lòng, cùng sức để tập hợp quần chúng nhân dân, tạo nên bức thành dài vững chắc.

- Thời cơ giết giặc để lưu lại tiếng thơm là lúc này. Mong toàn quyền Chánh lãnh binh Bắc Ninh cố gắng chỉnh đốn lực lượng, tùy cơ mà đánh giặc.

Rõ ràng, tư tưởng bao trùm, xuyên suốt của tờ trát sức là tính chủ động tổ chức tập hợp lực lượng, phối hợp tác chiến tiêu diệt địch. Lòng yêu nước, chống Pháp của Nguyễn Quang Bích thể hiện đậm nét qua ý đồ mở rộng địa bàn, chiêu tập binh sĩ.

Đêm mùng 4, rạng ngày mùng 5 tháng 7 năm 1885, kinh thành Huế lọt vào tay giặc. Tôn Thất Thuyết cùng vua Hàm Nghi chạy ra phía Bắc. Tại sơn phòng Quảng Trị (thành Tân Sở), cùng với việc hạ chiếu Cần Vương kêu gọi nhân dân ứng nghĩa (ngày 13 tháng 7 năm 1885), Tôn Thất Thuyết còn thừa mệnh vua xuống dụ khai phục nguyên hàm và thăng chức cho các văn thân võ tướng ngoài Bắc. Đối với Nguyễn Quang Bích, vua Hàm Nghi sai sứ ra phong Lễ bộ thượng thư sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, tước Thuần trung; cho phép quan văn từ tham tán, quan võ từ đề đốc trở xuống được quyền "liệu nghi lục dụng". Đây là điều kiện thuận lợi mới để Nguyễn Quang Bích tiếp tục sự nghiệp cao cả cứu nước, cứu dân mà mình theo đuổi suốt mười lăm năm.

Ngày 19 tháng 8 năm 1885, Nguyễn Quang Bích nhận lệnh vua sang Vân Nam chuyển quốc thư cho Tổng đốc Sầm Dục Anh. Chuyến đi sứ của Nguyễn Quang Bích được vua Hàm Nghi và Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết ban khen, vì ông đã đưa tới Tổng đốc Vân Quý "những lời tố cáo giặc Pháp và yêu cầu viện trợ thống thiết".

Từ mùa thu năm 1885, với cương vị của mình, trên thực tế Nguyễn Quang Bích đã trực tiếp chỉ huy phong trào chống Pháp ở Tây Bắc. Ông tìm mọi cách liên hệ với những người lãnh đạo các phong trào chống Pháp ở các địa bàn khác như Nguyễn Thiện Thuật, Đèo Văn Trì, Cầm Văn Hoan, Cầm Văn Thanh, Đề Kiều, Đề Mục, Đề Cương, Đề Cơ, Đề Anh, Đốc Ngữ... Hơn thế nữa, các trung tâm kháng Pháp khác của phong trào Cần Vương trong toàn quốc như Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh), Tống Duy Tân, Hà Văn Mao (Thanh Hóa), Nguyễn Tử Ngôn (Ninh Bình), Tán tương Nguyễn Khê Ông (Sơn Tây)... đều có liên lạc với Nguyễn Quang Bích.

Trong tất cả các lực lượng dưới quyền Nguyễn Quang Bích hoặc phối hợp chiến đấu với ông, bên cạnh "cánh sĩ phu kháng chiến", còn có đông đảo đồng bào các dân tộc thiểu số. Nghĩa quân của Nguyễn Quang Bích bao gồm người Kinh và khá nhiều đồng bào các dân tộc Mường, Thái. Sự đóng góp sức người, sức của của đồng bào các dân tộc thiểu số là hết sức to lớn và có hiệu quả. Các châu, huyện xung quanh đại bản doanh của nghĩa quân đóng tại Nghĩa Lộ (thuộc địa hạt châu Văn Chấn) tranh nhau đem lương thực về giúp, lập kho dự trữ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 08:18:25 am

Sau chuyến đi sứ lần thứ hai trở về không mang lại kết quả, Nguyễn Quang Bích quyết tâm tập hợp các đạo quân, phát súng đạn, luyện tập đêm ngày, chuẩn bị mọi mặt, chờ thời cơ diệt giặc cứu nước. Về phía thực dân Pháp, sau một số thất bại ban đầu, chúng đề ra kế hoạch hành động trong hai năm 1886 và năm 1887, trong đó mục tiêu đối với Bắc Kỳ là đàn áp phong trào kháng chiến ở lưu vực sông Thao của nghĩa quân Nguyễn Văn Giáp (tức Bố Giáp); mở rộng việc đánh chiếm các khu vực phụ cận Lào Cai, nhất là vùng phía tây...

Trong hoàn cảnh đó, muốn thắng lợi và giữ vững được căn cứ kháng chiến, bất cứ người chỉ huy có tâm huyết nào cũng không thể tách rời nhân dân, chiến đấu đơn độc. Bằng tài trí và uy tín cá nhân, dựa vào dân và địa hình rừng núi, Nguyễn Quang Bích đã tổ chức được nhiều trận mai phục, tập kích phối hợp với nhiều lực lượng trên nhiều địa bàn. Sự phối hợp chia lửa, nghi binh, đánh lạc hướng quân địch trong đợt phản công tháng 2 năm 1886 giữa các lực lượng của Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Văn Giáp, Đèo Văn Trì (tại châu Lai Châu) trên một địa bàn rộng lớn từ căn cứ Than Quang (Yên Bái), qua Cầm Khê (Sơn Tây), Văn Chấn (Nghĩa Lộ) tới Lào Cai, Phong Thổ... khẳng định khả năng liên kết, tổ chức, tập hợp lực lượng của Nguyễn Quang Bích. Chính thực dân Pháp phải thú nhận: "Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Văn Giáp đóng quân ở đại bản doanh chung quanh có các tướng đóng giữ các đường vào căn cứ. Đường núi về phía hữu, tục gọi là Đèo Ách do Đề Kiều đóng. Phía tả, tục gọi Đèo Pha do Phó đề đốc Mạc đóng giữ. Mặt sau tục gọi Ngòi Vụ có Lãnh binh Vương Văn Doãn đóng".

Năm 1887, địa bàn hoạt động của nghĩa quân vượt ra ngoài vùng Tây Bắc và Bắc Kỳ, vào tận Nghệ An để mở rộng phong trào chống Pháp ở vùng dân tộc thiểu số. Cuối năm 1886, đầu năm 1887 là thời gian có những trận phối hợp tác chiến tuyệt đẹp của các lực lượng Nguyễn Văn Giáp, Lãnh binh Vương, các động Mèo, Dao...

Có thể nói, trong giai đoạn thứ nhất của phong trào Cần Vương, trên địa bàn Sơn - Tuyên - Hưng, thực dân pháp ngại nhất là Bố Giáp, Nguyễn Quang Bích và các dũng tướng của ông.

Cuối năm 1887, Nguyễn Văn Giáp từ trần. Đó là một tổn thất lớn cho nghĩa quân. Từ đây, Nguyễn Quang Bích và lực lượng của ông bước vào một giai đoạn hoạt động khó khăn. Tuy nhiên, với tư tưởng "thà chịu tội với nhất thời, quyết không chịu tội với vạn thế". Nguyễn Quang Bích không hề nhụt chí. Trái lại, những hoạt động chống Pháp của ông không ngừng tăng lên. Đặc biệt, trong đội hình chiến đấu của Nguyễn Quang Bích, ngoài những sĩ phu trung kiên một lòng một dạ phục vụ sự nghiệp giết giặc, cứu nước, nhân dân các dân tộc Mường, Mán, Dao... vẫn tiếp tục về tụ họp dưới ngọn cờ nghĩa của ông. Tại địa bàn Tú Lệ, nghĩa quân của Đổng Phúc Thịnh, Đào Triển Lộc đã phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Quang Bích đánh Pháp quyết liệt.

Lực lượng này liên kết chống càn, truy kích quân địch ở căn cứ Tú Lệ, phong tỏa Nghĩa Lộ và xây dựng các phòng tuyến chiến đấu xung quanh Nghĩa Lộ. Song tình hình ngày càng khó khăn. Một mặt, do kẻ địch quyết truy kích nghĩa quân đến cùng. Mặt khác, qua chiến đấu dài ngày, lực lượng nghĩa quân ngày càng mỏng dần. Nguyễn Quang Bích phải chuyển căn cứ kháng chiến liên tục. Cuối năm 1889, đầu năm 1890, Nguyễn Quang Bích và nghĩa quân trụ ở xã Mộ Xuân, châu Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, tổ chức những trận chiến đấu cuối cùng. Kế hoạch của Nguyễn Quang Bích là "truyền lệnh cho khắp các tướng sĩ cùng các quân thứ phải chuẩn bị đầy đủ cho cuộc tấn công lớn năm 1890". Nhưng sau đó ông bị bệnh, nghĩa quân lại gặp khó khăn về lương thực và vũ khí. Ông mất tại núi Tôn Sơn, căn cứ mới của nghĩa quân thuộc xã Mộ Xuân, huyện Yên Lập, vào tuổi năm chín.

Cái chết của Nguyễn Quang Bích là một mất mát lớn lao cho đất nước, nhân dân và dân tộc. Nguyễn Quang Bích tiêu biểu cho một lớp nhà nho yêu nước, gặp lúc đất nước nguy nan, vẫn giữ được khí tiết trọn đời. Lúc còn sống, ông không chịu tuân theo lệnh bãi binh của triều đình, ở lại lập căn cứ, nhận trách nhiệm trước nhân dân, tổ chức chiến đấu, một phen sống mái với quân thù. Ông là con người của nhân dân, thương yêu và được dân tin yêu, mến phục.

Vì vậy, sau khi qua đời, ngọn cờ cứu nước của ông vẫn được giương cao. Ông đã để lại cho phong trào yêu nước Việt Nam một đội ngũ tướng tài, binh giỏi, những đội nghĩa quân có khả năng chiến đấu độc lập như đội của Đề Kiều, Đốc Ngữ, Đề Dị, Đề Thành... Phong trào chống Pháp sau năm 1891 trên chiến trường Tây Bắc, dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh do Nguyễn Quang Bích đào luyện là sự phản ánh và là hệ quả tất yếu của phong trào yêu nước chống Pháp giai đoạn trước đó mà Nguyễn Quang Bích là ngọn cờ đầu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 08:19:42 am

Câu hỏi 7: Dưới sự chỉ huy, đào tạo của Nguyễn Quang Bích, Đốc Ngữ nổi lên là một tướng tài, ông đã trưởng thành và trở thành lực lượng chiến đấu độc lập. Cho biết thêm về Đốc Ngữ và cuộc khởi nghĩa của ông?
Trả lời:


Hơn một trăm năm đã qua kể từ ngày Đốc Ngữ hy sinh, nhưng tên tuổi và những chiến công của ông vẫn ngời sáng vùng hạ lưu sông Đà. Cùng với Nguyễn Quang Bích và Đề Kiều, ông là một trong những thủ lĩnh xuất sắc của phong trào chống thực dân Pháp ở nửa sau thế kỷ XIX.

Đốc Ngữ tên thật là Nguyễn Đình Ngữ, sinh quán tại xã Xuân Phú, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Thủ đô Hà Nội). Khi mất (năm 1892), ông khoảng bốn mươi tám tuổi.

Nguyễn Đình Ngữ xuất thân từ nông dân nghèo, ông đã từng chở đò thuê để kiếm sống. Khi giặc Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất (năm 1873), Nguyễn Đình Ngữ đã có mặt trong cuộc đấu tranh chống Pháp, trong đội ngũ lính tập của triều đình Huế đóng ở Sơn Tây. Trải qua nhiều trận chiến đấu, ông lập nhiều công và được thăng chức đốc binh, nên được gọi Đốc Ngữ. Nguyễn Đình Ngữ cũng đã góp phần làm nên chiến thắng oanh liệt trong trận Cầu Giấy lần thứ hai (năm 1882).

Tháng 12 năm 1883, mặc dù thành Sơn Tây đã bị giặc chiếm, nhưng Đốc Ngữ cương quyết chống lại lệnh bãi binh đầu hàng của triều đình Huế, dứt khoát ở lại bám dân, bám đất, kiên trì kháng chiến.

Nghĩa quân Nguyễn Đình Ngữ lúc đầu chiến đấu dưới sự chỉ huy của Tuần phủ Hưng Hóa là Nguyễn Quang Bích và của Bố chánh Sơn Tây là Nguyễn Văn Giáp, đến năm 1889 vẫn còn chiến đấu trực tiếp trong hàng ngũ nghĩa quân Đề Kiều. Từ năm 1890, nghĩa quân Đốc Ngữ trưởng thành lớn mạnh và trở thành lực lượng chiến đấu độc lập, hoạt động trên một địa bàn rộng lớn dọc theo hai bên bờ sông Hồng và sông Đà bao gồm các tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa, Hòa Bình...

Ảnh hưởng của Đốc Ngữ ngày càng lan rộng, lực lượng nghĩa quân có khi lên tới hàng ngàn người, vũ khí chủ yếu là súng trường mua từ Trung Quốc. Bấy giờ, các phong trào chống Pháp hoạt động trong hoàn cảnh khó khăn, nhất là từ sau khi vua Hàm Nghi bị bắt (tháng 11 năm 1888), nhưng nghĩa quân Đốc Ngữ vẫn giành được nhiều thắng lợi và có quan hệ mật thiết với các lực lượng nghĩa quân khác như Đề Kiều ở Hưng Hóa, Tống Duy Tân ở Thanh Hóa...

Nguyễn Đình Ngữ trở thành Đốc Ngữ rồi Phó tướng đạo Hà Ninh chính nhờ tài chỉ huy chiến đấu của ông. Sau những trận đánh ở Hưng Hóa (năm 1888), ở Quảng Nạp (năm 1890), ở Bằng Y (năm 1891)... cái tên Đốc Ngữ trở nên quen thuộc và ông trở thành vị "cứu tinh" của dân chúng.

Khi trở thành người đứng đầu một lực lượng độc lập thì Đốc Ngữ chứ không phải ai khác đã được Phan Đình Phùng với danh nghĩa vua Hàm Nghi chọn là Phó tướng đạo Hà Ninh vào năm 1891.

Cuộc đời chiến đấu của Đốc Ngữ là cuộc đời đấu tranh đầy mưu trí, gan dạ, bất khuất. Tinh thần quả cảm, trí thông minh cùng tài quân sự của ông khiến kẻ thù cũng phải thừa nhận và nể phục.

Trong những năm chiến đấu chống thực dân Pháp, Đốc Ngữ cùng nghĩa quân của mình tiến hành nhiều trận đánh. Mỗi lần ra trận, ông sử dụng những cách đánh khác nhau khiến kẻ địch không sao lường trước được. Điểm nổi bật trong cách đánh của nghĩa quân là khai thác triệt để yếu tố bất ngờ và thường sử dụng mưu trí kết hợp với tinh thần táo bạo cùng sự chuẩn bị chu đáo và được sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 08:20:07 am

Từ năm 1889 đến năm 1892, Đốc Ngữ cùng lực lượng nghĩa quân sông Đà lập được nhiều chiến công oanh liệt như: Bằng Y, Quảng Nạp, Cẩm Đài, Chợ Bờ, Trạch Quán, phá nhà tù Sơn Tây, diệt đồn Yên Lãng... Nổi bật hơn cả là trận phục kích đánh chặn quân Pháp ở Niên Kỷ.

Chiến thắng Niên Kỷ (còn gọi là Mường Kỷ), ngày 18 tháng 5 năm 1892, là một trong những trận đánh tài tình của nghĩa quân Đốc Ngữ, là chiến công to lớn của liên quân sông Đà - Hùng Lĩnh.

Nửa sau những năm tám mươi của thế kỷ XIX, sau khi đã cơ bản bình định vùng đồng bằng, thực dân Pháp tập trung lực lượng quân sự đánh lên miền trung du và núi rừng Bắc Kỳ hòng ngăn chặn hoạt động của các lực lượng nghĩa quân trên địa bàn này. Tại vùng hạ lưu sông Đà, những trận thắng của nghĩa quân Đốc Ngữ làm cho thực dân Pháp lo ngại trước sự phát triển của phong trào ở đây.

Sau trận đánh ác liệt diễn ra tháng 3 năm 1891, thực dân Pháp đã xây dựng đồn Yên Lãng trên bờ sông Đà nhằm ngăn chặn và uy hiếp lực lượng nghĩa quân. Đồn này án ngữ trên con đường Gò Lao - Tu Vũ và đèo Kẽm Hem. Xây dựng đồn Yên Lãng, quân Pháp hy vọng tách lực lượng nghĩa quân ra khỏi vùng đông dân cư Thanh Sơn, gây cho nghĩa quân nhiều khó khăn về lương thực.

Tối ngày 6 rạng ngày 7 tháng 2 năm 1892, bằng lối đánh tập kích, bất ngờ, táo bạo, nghĩa quân đã diệt đồn Yên Lãng một cách nhanh gọn. Toàn bộ binh lính cùng viên đồn trưởng bị tiêu diệt, thu năm mươi súng và khoảng ba mươi lăm nghìn viên đạn. Sau trận này, phong trào nghĩa quân càng lan rộng, uy thế càng lớn, khiến thực dân Pháp lo ngại. Vì thế, Pháp đã tạm ngừng cuộc tiến công quy mô vào Yên Thế để tập trung lực lượng tấn công nghĩa quân sông Đà. Chúng cho xây dựng đồn Yên Lãng, điều quân từ thượng du sông Hồng về Hưng Hóa và từ Yên Thế sang để mở tiếp một chiến dịch mới nhằm tiêu tiêu diệt nghĩa quân. Đại tá Pen-nơ-canh, chỉ huy trưởng quân sự thứ tư được cử làm chỉ huy lực lượng cuộc hành quân này. Chúng còn cử tên phó sứ là Vác-cơ-lơ đặc trách việc mưu sát Đốc Ngữ.

Sau trận Yên Lãng (tháng 2 năm 1892) là một giai đoạn chiến đấu gay go ác liệt giữa nghĩa quân Đốc Ngữ và quân Pháp. Pháp dùng lực lượng quân sự lớn tổ chức bao vây, truy kích nghĩa quân và bằng mọi cách mua chuộc một số lang đạo cùng một vài tướng lĩnh, gây sự chia rẽ giữa người Mường và người Kinh trong lực lượng nghĩa quân. Trước sự tấn công, truy quét của giặc, nghĩa quân kiên quyết chiến đấu với một chiến thuật linh hoạt: vừa tổ chức đánh du kích, vừa tránh những mũi tiến công của địch để bảo toàn lực lượng. Tuy vậy, nghĩa quân vẫn bị bao vây chặt ở hữu ngạn sông Đà. Trước tình hình đó, Đốc Ngữ đã chủ trương rút vào Thanh Hóa, vừa để bảo toàn lực lượng, vừa để liên kết với phong trào chống Pháp của Tống Duy Tân.

Tháng 3 năm 1892, cuộc hành quân vào Thanh Hóa bắt đầu. Biết tin, mặc dù đang gặp khó khăn, thủ lĩnh nghĩa quân Hùng Lĩnh là Tống Duy Tân đã cho một bộ phận nghĩa quân đi đón.

Tin Đốc Ngữ kéo quân vào phía Nam khiến bọn Pháp bất ngờ và lo ngại, chúng huy động lực lượng đối phó và ngăn chặn. Đoán trước ý đồ của giặc, Đốc Ngữ chia lực lượng thành hai bộ phận. Đại bộ phận nghĩa quân do ông chỉ huy bí mật vượt sông hành quân trước. Bộ phận nhỏ còn lại dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Đình Nhuận thường gọi là Quan Chú, một tướng của nghĩa quân và là em ruột Đốc Ngữ, sau đó sẽ vượt sông thực hiện kế nghi binh, thu hút sự chú ý của địch, bảo đảm sự an toàn cho đạo quân Đốc Ngữ.

Sau những ngày truy tìm lực lượng nghĩa quân, đạo quân của Pen-nơ-canh (người chỉ huy đội quân đuổi theo nghĩa quân của Đốc Ngữ) từ một đội quân hùng hổ, quyết bắt được đối thủ đã trở nên chán nản, mỏi mệt, còn dấu vết của nghĩa quân thì mất hút. Giữa lúc ấy, Pen-nơ-canh được tin Đốc Ngữ đang hoạt động ở Thanh Hóa. Viên công sứ Thanh Hóa điều thêm quân phối hợp với đội quân của Pen-nơ-canh cùng truy kích và ngăn không cho nghĩa quân sông Đà và nghĩa quân Hùng Lĩnh hội quân.

Biết quân Pháp đang săn đuổi, liên quân sông Đà - Hùng Lĩnh chủ động bố trí phục kích giặc ở Niên Kỷ (một làng miền núi, có hang sâu thuộc tổng Thiết Ống, châu Quan Hóa, nay là xã Thiết Ống, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa). Đây đã là căn cứ hoạt động của một số toán nghĩa quân như Trần Xuân Soạn, Hà Văn Mao và Tống Duy Tân sau này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 05:13:57 pm

Câu hỏi 8: Cho biết những nét chính về nhân cách và khí tiết của Nguyễn Quang Bích?
Trả lời:


Những yếu tố góp phần hình thành nhân cách Nguyễn Quang Bích trước hết phải nói đến dòng dõi gia đình. Tổ tiên của Ngô Quang Bích (sau đổi thành Nguyễn Quang Bích) là Ngô Kinh, Ngô Từ, vốn là gia nô của Lê Khoáng, Lê Lợi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Ngô Từ trông giữ Lam Kinh, đã từng tiến cử nhiều mưu thần, võ tướng tài giỏi cho Lê Lợi. Sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, họ Ngô đứng vào hàng ngũ quý tộc. Qua nhiều triều vua Lê (khoảng trên 200 năm, theo thống kê của gia phả), họ Ngô đã có một hoàng hậu, bốn vị tước vương, mười một quốc công, năm mươi hai quận công, trên sáu mươi tước hầu, mười lăm tước bá, mười tám người được phong phúc thần, đỗ giám sinh (cử nhân) trên bốn mươi người, tiến sĩ ba mươi tư người. Như vậy, họ Ngô từ thế kỷ XV xuất xứ từ Đồng Phang đã trở thành một họ lớn sản sinh nhiều văn thần, võ tướng có tiếng.

Thân phụ Ngô Quang Bích là Ngô Quang Lưu vốn có sức khỏe, chăm chỉ làm ăn, tiết kiệm, đã trở thành một trung nông khá giả của làng Trình Phố xưa. Ông đã nêu gương cho con cái về đức tính lao động cần cù, sinh hoạt giản dị, ăn ở nhân đức với bà con xóm giềng, bảo ban con cái làm điều hay, lẽ phải. Thân mẫu ông là một người phụ nữ hết lòng thương chồng, săn sóc con cái. Hai cụ sinh hạ được năm con trai đều được ăn học đến nơi đến chốn.

Góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách để tạo nên sự nghiệp của năm anh em họ Ngô, nhất là Ngô Quang Bích, là kết quả dạy dỗ từ các thầy học của các ông. Người khai tâm cho Ngô Quang Bích là cụ tú tài Nguyễn Ôn Hòa, một nho sĩ có tiếng người làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Sớm lập chí từ nhỏ, tư chất thông minh, hiếu học, được thầy học ân cần dạy bảo nên Ngô Quang Bích có cố gắng hơn lớp đồng môn bấy giờ. Có một chuyện về tinh thần ham học của Nguyễn Quang Bích còn được lưu truyền rằng, buổi tối bạn bè chỉ học hết một đĩa dầu đầy đã đi ngủ, còn ông học gấp đôi thời gian ấy và sáng dậy còn học thêm. Chiếc cột lim ông thường tựa lưng ngồi học ban đêm đã trở nên nhẵn bóng.

Thuở Ngô Quang Bích đang là học trò, không khí tranh đua nơi trường ốc trong vùng cũng đã khá sôi nổi. Các cụm trường có nhiều danh sư, danh sĩ như Động Trung, gia đình Nguyễn Mậu Kiến đã mời được tú tài Phạm Diệu, thân phụ Tiến sĩ Phạm Thế Hiển mà đương thời suy tôn là Văn Xương Đế Quân; các ông hoàng giáp Phạm Xuân Nghị, Tiến sĩ Ngô Thế Vinh thường lui tới ở trường đại tập này. Cụm Nam Đường (nay là xã Nam Cao, Kiến Xương, Thái Bình), Ngoại Lãng, Đồng Thanh (Vũ Thư, Thái Bình), Hành Thiện (Xuân Thủy, Nam Định) cũng tác động ít nhiều đến tư tưởng, tinh thần học tập và chí tiến thủ của Ngô Quang Bích.

Học lên cao, Ngô Quang Bích đã tìm được một thầy học có tiếng tăm về đức độ, văn tài, đó là Tiến sĩ Đốc học Doãn Khuê, người xã Song Lãng, huyện Vũ Thư. Doãn Khuê thuở nhỏ học cụ Tú Cả, người bác họ, sau đó cùng với anh họ là Doãn Uộn lên phường Hoàng Mai, Hà Nội học Hoàng giáp Bùi Huy Bích. Bùi Huy Bích là học trò và là trưởng tràng của Bảng nhãn Lê Quý Đôn. Có thể nói cái học phong của dòng học Lê Quý Đôn mang dấu ấn khá rõ nét ở thầy học của Ngô Quang Bích. Đó là tinh thần học tập, nghiên cứu nghiêm túc, coi trọng việc tiếp thu những tinh hoa của kho tàng văn hóa dân tộc và văn hóa phương Đông. Phương châm răn dạy của Doãn Khuê với Ngô Quang Bích là:

      Canh độc lưỡng đồ, độc khả vinh thân, canh khả phú;
      Kiệm cần nhị tự, cần năng sáng nghiệp, kiệm năng doanh.


Nghĩa là:
      Hai con đường làm ruộng và học tập, học để vẻ vang thân mình, làm ruộng để giàu có.
      Thực hiện hai điều cần, kiệm, cần có thể dựng nghiệp, kiệm có thể đầy đủ.



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 05:14:35 pm

Ngay khi thực dân Pháp đặt chân vào bán đảo Sơn Trà, Doãn Khuê đã cùng các sĩ phu Thái Bình - Nam Định chuẩn bị chống Pháp. Khi Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất (năm 1873), ông đã tổ chức và chỉ huy nghĩa quân chống Pháp ở Đông Vinh (Vũ Tiên) phối hợp cùng ba cha con Nguyễn Mậu Kiến, kháng chiến ở Động Trung (Kiến Xương), cùng Hoàng giáp Phạm Văn Nghị, Đỗ Phát đánh Pháp ở hữu ngạn sông Hồng. Một thầy học mẫu mực như vậy đã ảnh hưởng sâu sắc đến Ngô Quang Bích về tinh thần yêu nước, về đạo đức trong sáng mang tính truyền thống của dân tộc.

Ngày nay, đọc lại Văn sách thi đình của Ngô Quang Bích thì thấy ông đã hình thành nhân cách con người trí thức của mình trước khi bước vào con đường tấn thân. Ông đã xác lập quan điểm chính trị tiến bộ, vận dụng vào chế sách của vua Tự Đức bấy giờ.

Chúng ta đều biết, khoa thi Đình năm Kỷ Tỵ (1869) niên hiệu Tự Đức thứ 22, tình hình đất nước bê bối nghiêm trọng. Thực dân Pháp đã chiếm lục tỉnh Nam Kỳ, nội bộ triều đình phân hóa giữa hai xu hướng đánh và hòa. Bọn quan lại tham nhũng lợi dụng thời cơ đục nước béo cò, thẳng tay vơ vét của cải của dân chúng. Ngoài Bắc, quân Thanh và dư đảng Thái Bình thiên quốc là bọn Cờ Vàng Hoàng Sùng Anh, Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, Cờ Trắng Bàn Văn Nhị vượt biên giới sang quấy rối kiếm ăn. Nạn lũ lụt vỡ đê, dịch lệ cướp bóc ở Bắc Hà luôn luôn là mối đe dọa của dân chúng và thực sự đã gây ra nhiều thảm họa. Xuất phát từ tình hình đất nước bấy giờ mà Ngô Quang Bích đề ra hai vấn đề lớn của đạo trị nước là yên dân và chọn dùng người.

Sự trăn trở của Nguyễn Quang Bích cách đây trên 100 năm vẫn còn nguyên tính thời sự, càng rõ nhân cách trượng phu, nhân cách đế vương sư của ông là dám vạch trần sự thật và đề ra biện pháp cứu vãn.

Sau đó, những năm tháng kháng chiến ở Tây Bắc với tư cách thủ lĩnh nghĩa quân, Nguyễn Quang Bích đã chứng minh sự nhất quán giữa học và hành, giữa tư tưởng và hành động của ông. Những năm tháng này cũng là những năm tháng để có Ngư Phong thi tập, để có một Nguyễn Quang Bích thi sĩ. Đó là giai đoạn hoàn thiện nhân cách, trí tuệ của Nguyễn Quang Bích. Ông đã đạt đến độ viên mãn trong tất cả các mối quan hệ ứng xử cần có của một con người trí tuệ: thành ý, chính tâm, "vô vi nhi vô bất vi" của Đạo học phương Đông và đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam. Người ta nhắc nhiều đến nhân cách Nguyễn Quang Bích mà phần nổi bật là tinh thần tư tưởng của ông toát lên trong bức thư ông trả lời quân Pháp: "Rồi, nếu mà thắng, mà sống, thì là nghĩa sĩ của triều đình, nhưng chẳng may mà thua mà chết, thì cũng làm quỷ thiêng giết giặc".

Nhân cách của Nguyễn Quang Bích còn biểu hiện ở chỗ trên chính trường ông là "thanh quan", với nhân dân ông là "hoạt Phật"; với bạn bè cộng sự ông là người khiêm tốn thủy chung; phận con cái ông là người chí hiếu. Nguyễn Quang Bích đã để lại một di sản tinh thần đáng quý cho hôm nay mà phần nổi bật là một nhân cách đẹp gắn liền với sự nghiệp đánh giặc cứu nước của ông.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 05:15:29 pm

Câu hỏi 9: Câu chuyện về sự khảng khái, dũng cảm của Nguyễn Cao - một tướng tài, một người bạn thân thiết của Nguyễn Quang Bích trước mọi sự tra khảo, dụ dỗ thực sự làm cho kẻ thù khiếp đảm đã trở thành một bản hùng ca về tinh thần kiên trung với dân tộc của người dân Việt Nam. Hãy cho biết thêm về câu chuyện này?
Trả lời:


Để thực hiện việc đón vua Hàm Nghi ra Bắc, quan Hiệp thống Nguyễn Quang Bích thấy cần tập trung lực lượng mạnh. Ông bèn lệnh cho các lực lượng của Đề Kiều, Đề Mạc, Đề Thành, Đốc Dị và Bố Giáp cùng kéo quân lên Nghĩa Lộ. Riêng Đốc Ngữ đảm nhiệm mặt trận Thao - Đà và làm cầu nối cho Thanh - Nghệ thì vẫn chốt lại ở Khả Cửu. Nơi đây còn được tính làm phương án dự phòng để có thể đón đức vua về đấy.

Cánh đồng tam tổng Nghĩa Lộ được gọi là Mường Lò. Nơi đây còn là một vựa lúa. Về chiến lược sẽ thuận lợi cho triều đình Hàm Nghi có thể chỉ đạo cuộc kháng chiến toàn quốc, lại cũng tiện cho việc bang giao với Trung Quốc; khi chiến đấu có thể đưa các đội quân lan toả ra khắp Bắc Kỳ, khi thế thủ có thể trụ tại rừng sâu núi hiểm, một bộ phận có thể sang Trung Quốc.

Lúc này, nghĩa quân đã xây dựng gần hoàn chỉnh khu căn cứ kháng chiến. Quả nhiên đúng hẹn, Sầm Dục Anh từ Trung Quốc cũng gửi sáu trăm khẩu súng, sáu mươi hòm đạn, hai ngàn cân thuốc phiện; kèm theo hành lý của đoàn sứ bộ đã bị mất trộm mấy tháng trước, nay được gửi trả. Quan Hiệp thống Nguyễn Quang Bích thu nhận viện trợ và hành lý đã mất, rồi phân phát súng đạn cho nghĩa quân vùng lân cận. Các mặt trận vùng duyên hải và Thanh - Nghệ cũng được nhận một phần nguồn viện trợ này. Sau đó ông cho lập đại đồn làm kế chống giặc lâu dài.

Địa thế ở đây có nhiều thuận lợi cho việc đóng quân. Ở giữa có một thung lũng rộng khoảng trăm mẫu, lại có hai suối bao bọc xung quanh. Nhân dân ba tổng quây quần, ruộng đất màu mỡ, thóc gạo dư thừa. Phía bắc có suối nước nóng quanh năm, đến mùa đông lại càng nóng hơn. Phía nam có động đá, bên trong có đường đi bốn phía. Lại có nhiều thạch bàn rộng có thể nằm ngồi được. Bốn mặt núi cao bao bọc như bức trường thành. Chỉ có ba con đường hiểm làm lối ra các châu khác. Nguyễn Quang Bích cho lập một doanh trại ở giũa. Đường hiểm về phía bên phải là Đèo Ách do Đề Kiều đem quân đóng giữ. Đường hiểm trở bên trái gọi là Đèo Pha do Đề Mạc đem quân đóng giữ. Một đường phía sau gọi là Ngòi Vụ do Lãnh binh Vương Văn Doãn đem vệ binh và quân Thanh mới quy phục đóng giữ. Các châu và huyện cùng nhau đem nộp lương thực. Thóc lúa ngô đều nhập vào kho dự trữ. Các dân tộc ít người như Thổ, Mường, Mèo, Mán đều phục tùng mệnh lệnh.

Bấy giờ, các đoàn quân khởi nghĩa ở miền Trung với các võ tướng như Đề Cương, Đề Cồ ở Sơn Tây; Đề Vân, Đề Vinh ở Bắc Ninh; Đề Tính, Đề Nho ở Bãi Sậy (Hưng Yên); Đề Vũ ở Nam Định; Đề Ngữ ở Thanh Hoá; Đề Nhưỡng, Để Quảng ở Nam Định đều do quan Khâm sai Nguyễn Quang Bích vâng mệnh vua Hàm Nghi cấp phát văn bằng và điều khiển. Văn thần như Chu Lăng Thục ở Hồ Nam, Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, Tống Duy Tân ở Thanh Hoá, Nguyễn Tử Ngôn ở Ninh Bình, Nguyễn Thiện Thuật ở Hải Dương, Nguyễn Tán Lý ở Phù Khê, Nguyễn Tán Dương ở Bất Bạt, Đàm Chí Trạch ở Nam Định... đều vượt suối băng ngàn đến bàn tính việc phục quốc. Công văn đi lại liên tục như mắc cửi.

Năm Đinh Hợi (1887), quân Pháp đi lẻn theo đường hẻm, từ Lai Châu đến đánh úp phía sau đồn. Lãnh binh Vương Văn Doãn được tin báo liền điều động vệ binh và quân lính người Thanh chia đường phục sẵn. Khi giặc Pháp tiến vào, phục binh ta liền đổ ra bắn giết, hai bên bắn nhau dữ dội suốt một ngày đêm. Quân Pháp chết và bị thương rất nhiều phải rút lui. Phía ta, quân ít nên không truy đuổi, ta thu được vài chục khẩu súng đem nộp đại bản doanh. Giặc Pháp chở xác chết cáng thương binh theo đường cũ rút ra. Đồng bào Mèo, Dao biết giặc Pháp thua to liền đốc dân các động ra chặn đường diệt giặc, thu được súng đạn rất nhiều, hôm sau đem nộp ở doanh trại. Nguyễn Quang Bích truyền lệnh đem tiền bạc ban thưởng cho dân. Đồng bào Mèo, Dao reo mừng cảm tạ.

Lúc này doanh trại đã tạm ổn định, quan Hiệp thống Nguyễn Quang Bích đã tính đến chuyện chiến lược. Ông cử Nguyễn Quang Hoan đóng giả lái buôn cùng hai võ sĩ về Kim Giang đón Nguyễn Cao cùng đi, Nguyễn Quang Hoan về đến Trôi cho người sang Hà Đông liên lạc thì hay tin Nguyễn Cao đã bị bắt.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 05:18:27 pm

Nguyễn Cao bị sa vào tay giặc là do tình cờ thực dân Pháp bắt được một tờ thư của Tán lý quân vụ Bãi Sậy Ngô Quang Huy thừa lệnh quan Hiệp thống gửi cho trạm đường thuỷ xã Trúc Lâm, Quảng Bình, hẹn ngày Nguyễn Cao vào đón đức vua ra Bắc. Thế là giặc liền bắt Nguyễn Cao, đồng thời cho phong toả đường biển, càn quét mạnh vùng ven biển từ Quảng Bình đổ ra. Lỡ việc, Quang Hoan lại phải quay về Nghĩa Lộ.

Giặc Pháp giam Nguyễn Cao vào ngục tối, cho bọn tay sai đến dụ ông khai báo kế hoạch đón Hàm Nghi ra Bắc. Viên án sát Hà Nội tự thân vào trại giam dụ dỗ rồi lại tra tấn. Tra tấn không được lại dụ dỗ. Có sách viết về cuộc gặp giữa Nguyễn Cao và viên án sát tỉnh Hà Nội như sau:

Viên án sát Hà Nội nói với Nguyễn Cao: Các hạ là người có học, phải biết thời thế. Vua Đồng Khánh luôn mở lượng hải hà, chiêu dụ những người lầm đường lạc lối. Vừa qua Ngài đã có chỉ dụ cho các vị từ tú tài, cử nhân đều được bổ dụng. Đã đỗ Giải nguyên như ngài mà quy thuận thì chức án sát, tuần phủ đến tay ngay, tội gì mà đi làm ông đồ quèn ở làng Kim Giang.

Nguyễn Cao quắc mắt quát lớn: "Thằng quan hèn như mày mới đi thờ thằng cẩu vương bán nước cho Tây. Trời chỉ có một mặt trời, nước chỉ có một vua! Ta chỉ thờ đức vua Hàm Nghi mà thôi!".

Nói rồi, Nguyễn Cao khảng khái, mặt đỏ rựng, đứng phắt dậy cầm thanh nứa tự rạch bụng mình, rồi lấy tay moi rốn rút ruột giơ lên, miệng quát lớn: Tên cẩu tặc! Ngươi hãy nhìn lòng dạ ta đây, xem có đoạn nào là đoạn bất trung?

Cả bọn kinh hoàng lùi cả lại. Viên án sát mặt cắt không còn hột máu. Hắn từng đọc sách thánh hiền, sách Đông Tây kim cổ chưa gặp tráng sĩ nào lẫm liệt đến như vậy. Quan Công xưa ngồi đánh cờ cho người ta rạch thịt cạo xương đã là một hình tượng anh hùng. Vậy mà Nguyễn Cao tự rút ruột mình và chửi vào mặt hắn là cẩu tặc. Hắn thấy nhục! Hắn đang là người xét xử tội phạm thì giờ hắn cảm thấy như mình là tội đồ. Hắn hô hoán tay chân băng bó vết thương cho vị Giải nguyên. Cao không chịu cho băng, luôn miệng chửi rủa cho đến lúc ngất đi. Bọn tay chân nhét ruột Nguyễn Cao vào rồi khâu lại.

Viên án sát kinh hoàng bỏ cả cơm chiều, chạy lên bẩm với Tuần phủ Hoàng Cao Khải. Khải thất kinh chạy sang báo cáo viên công sứ Pháp. Công sứ Pháp ra lệnh: "Mang chém!". Thế là sáng sớm hôm sau, giặc mang Nguyễn Cao ra pháp trường ở cạnh Hồ Gươm trông sang đền Ngọc Sơn xử chém. Trước lúc chết, ông vẫn ngẩng cao đầu đọc câu thơ của Tướng công Ngư Phong mà ông còn nhớ trong lễ tế cờ khởi nghĩa Tiên Động:

      Việt quốc thiên thu nguyên bất dịch
      Lạc Hồng tiên chủng phục hoàn tô!


nghĩa là:
      Nước Việt ngàn năm sẽ chẳng đổi
      Nòi giống Lạc Hồng sẽ khôi phục thắm tươi!


Đêm khuya cuối mùa hạ, quan Hiệp thống đang trong quân doanh Nghĩa Lộ đọc binh thư. Trời mưa liên miên đã mấy ngày rồi. Gió núi mưa rừng rả rích. Tiếng suối réo bên thềm, vắt đêm bò lên giường phên nứa hút máu người. Sáng dậy chủ tướng đầm đìa máu nơi ống quần, tay áo; rịt lá gì cũng khó cầm máu. Muỗi có thể vốc tay bắt được. Trong lòng ông đang buồn bực thì chợt thấy Lãnh Hoan trở về. Ông biết cơ sự đổ vỡ. Lãnh Hoan vội bẩm báo mọi việc. Tướng công nghe, hai hàng nước mắt chạy vòng quanh. Thế là liên tiếp mấy tháng nay ông mất liền hai người bạn tâm huyết.

Ông khóc không thành tiếng, kéo vạt áo lau nước mắt rồi lấy nghiên bút ra viết. Bầu máu nóng của ông lúc này như được trút cả vào ngọn bút viết bài thơ Khóc Nguyễn Cao:

      Nguy nan xử trí vẫn thung dung
      Chê kẻ tham sinh giọng nói hùng
      Mắng giặc người xưa tròn phận chết
      Moi lòng ông sẵn tỏ gan trung
      Biết bao thanh giá ngoài khoa bảng
      Còn mãi tinh thần khoảng núi sông
      Quân giặc đứng trông đều hoảng sợ
      Mai rày nước sẽ biểu dương ông.


Đến tháng 3 năm Mậu Tý (1888), có tin khoảng bốn, năm mươi quân Pháp đến khiêu chiến ở đồn bên tả. Tướng sĩ ta đều coi thường bảo nhau rằng: "Bằng ấy quân chẳng đáng lo ngại". Không ngờ giặc dùng mẹo "dương đông kích tây", đem đại binh lẻn theo đường Lạo Khê, tắt đường rừng thẳng đến sau lưng đồn Đèo Ách. Đồn này do Đề Kiều đóng giữ, cậy thế hiểm trở, trước nay chưa từng bị giặc đến đánh nên chủ quan, phòng bị có phần sơ sài. Đột nhiên, quân giặc đông ập đến bất ngờ, tướng sĩ ta trở tay không kịp, phải phân tán chạy đi bốn phía vào rừng. Giặc Pháp ồ ạt kéo vào. Các đồn bên trái và phía sau nghe tin có giặc, kéo quân đến cứu viện thì đồn lớn ở giữa đã bị giặc chiếm. Quan Hiệp thống Nguyễn Quang Bích phải tạm lánh vào động người Mèo rồi rút về thủ hiểm ở châu Phù An. Sau hai ngày được tin báo quân địch rút lui, ông quay về đồn cũ lại nghe tin thắng trận ở Dụ Phong. Nghĩa quân do Hoàng Đình Cương chỉ huy thắng to. Lính Pháp và lính ngụy vừa chết vừa bị thương hơn năm trăm tên. Quân trang, quân dụng thu được rất nhiều. Hoàng Đình Cương sai chém lấy mười ba thủ cấp rồi buộc dải điều đầu ngựa phi về đại bản doanh tiệp báo.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 05:20:51 pm

Câu hỏi 10: Đất nước lúc này lâm vào cảnh cực kỳ khó khăn. Cuộc khởi nghĩa Ba Đình bị dập tắt, khởi nghĩa Bãi Sậy bị đàn áp. Các thủ lĩnh nghĩa quân Phạm Bành, Đinh Công Tráng hy sinh. Hà Văn Mao bị xử tử tại Thanh Hoá... Nguyễn Quang Bích đã có những chính sách gì để cuộc khởi nghĩa vẫn thu hút được đông đảo dân chúng tham gia? Và câu chuyện về việc dụ dỗ không thành của kẻ thù đối với ông diễn ra như thế nào?
Trả lời:


Đức vua Hàm Nghi bị bắt đi đày. Ngoài Bắc thì Nguyễn Cao, Vũ Lợi bị giết, nhưng phong trào kháng chiến chống giặc đô hộ vẫn tiếp tục nổi lên. Người này ngã xuống có người khác đứng dậy. Cha hy sinh thì con lại tiếp tục sự nghiệp chống Pháp. Tổng thống Pháp cho quân đội viễn chinh đi xâm lược nhiều nơi trên thế giới, nhưng hắn nhận ra một điều là không có mảnh đất nào cứng đầu cứng cổ như cái xứ An Nam này. Có lẽ đó là bản lĩnh văn hoá một dân tộc phương Đông có nền văn minh sớm của nhân loại.

Viên toàn quyền Công-xtăng nhậm chức ngày 16 tháng 11 năm 1877, nhưng chưa đầy sáu tháng sau đã bị gọi về nước. Ri-sô được cử sang thay thế liền ra lệnh cho các binh đoàn phải mau bình định Bắc Kỳ trong sáu tháng. Ri-sô nhận được báo cáo từ viên tướng Gia-me rằng: "Vụ đánh dẹp khu căn cứ Tây Bắc rất khó khăn, vì họ rút kinh nghiệm Ba Đình, Bãi Sậy, Thanh Mai nên không lập đồn cố định, mà chiến thuật của họ phần lớn là đánh theo kiểu "du binh". Ta đánh chỗ nọ họ lan chỗ kia để rồi họ lại thọc vào sườn ta. Lúc họ là dân, lúc lại là lính” 1. Còn viên tướng Mu-ni-ê chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Kỳ thì viết trong bản báo cáo đề ngày 30 tháng 1 năm 1887 và ngày 6 tháng 10 năm 1887 đều đã hai lần nhận định: "Viên cựu Tuần phủ này có một ảnh hưởng cực kỳ to lớn trong địa hạt cũ của ông ta và là một trong những kẻ thù quyết liệt nhất của chúng ta"2.

Lúc bấy giờ quan Hiệp thống Nguyễn Quang Bích đề ra chính sách Thập Châu rất được lòng người. Đồng bào dân tộc theo ông rất đông, trong đó có các đội quân của Đèo Cam Khang, Đèo Văn Trì, Đèo Văn Toa, Cầm Hoan, Đào Triển Lộc, Quách Tất Ngân, Hà Văn Sang, Đổng Phúc Thịnh... Suốt một dải biên giới từ Lai Châu, Nghĩa Lộ, Sơn La, Tuyên Quang nhân dân đều nổi dậy, nên Pháp đánh dẹp không dễ. Có sách viết về câu chuyện toàn quyền Ri-sô dụ hàng Nguyễn Quang Bích như sau:

Toàn quyền Ri-sô bèn nghĩ đến kế cho người dụ hàng. Y cho gọi tướng Bi-sô đến bàn. Bi-sô nói: Tỉnh Hưng Hoá luôn là một tỉnh rối loạn nhất từ lâu nay, nạn giặc giã (tức nghĩa quân) nơi đây ngày càng tỏ ra quyết liệt và nguy hiểm hơn ở chiều hướng có mang tính chính trị. Việc dụ hàng thủ lĩnh này không dễ chút nào. Viên toàn quyền nói: Tôi biết ông ta rất được lòng dân chúng ở xứ Bắc Kỳ và các quan văn từ tham tán, quan võ từ đề đốc, ông ta được Hàm Nghi giao quyền "liệu nghi lục dụng". Nếu ta khuất phục được thì tất cả các cánh nghĩa quân Bắc Kỳ không phải đánh cũng sẽ tan.

Tướng Bi-sô nói: Nghe nói ông ta đỗ Đình nguyên Hoàng giáp, uy tín rất lớn trong hàng ngũ sĩ phu, nên xin ngài hãy hứa cho ông ta nhiều bổng lộc. Tôi sẽ thử cho người đến gặp xem sao.
____________________________________
1-2. Tư liệu lưu trữ của Pháp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 05:22:17 pm

Viên toàn quyền trực tiếp thảo văn bản rồi sai viên thông ngôn dịch ra. Văn bản được phong lại rồi giao Bi-sô mang từ Hà Nội lên Hưng Hoá. Bi-sô cho gọi viên quan lại địa phương là Bố chánh Hưng Hoá Bùi Quang Tín lại. Bi-sô hất hàm nói với Tín: Quan toàn quyền giao cho ông việc hệ trọng. Ông hãy đến gặp viên cựu Tuần phủ Hưng Hoá là Quang Bích, hiện đang ở vùng núi Sơn Động mà quân ta đánh dẹp nhiều năm không xong. Lần trước ta sai Tri phủ Lâm Thao Nguyễn Khắc Hợp đến dụ hàng không được. Lần này ta giao cho ông, việc ắt phải xong.

Bùi Quang Tín1 run rẩy giơ tay đỡ phong thư, cúi rạp mình như con gián rồi đi thụt lùi trở ra.

Hai hôm sau, Bi-sô cho hai cánh quân như hai gọng kìm tiến đánh khu căn cứ. Rút kinh nghiệm mấy lần thất bại trước núi rừng hiểm trở và tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân Nam, lần này Bi-sô ngừng bắn hàng tuần trong trận càn để tỏ thiện chí.

Đã mấy ngày bị giặc đánh dữ, tự nhiên hôm nay thấy yên tiếng súng, quan Hiệp thống đang buồn phiền vì thiếu quân lương, đạn dược, bỗng thấy giặc có vẻ nới vòng vây liền nghĩ ngay tới cách cho quân lẻn ra điều viện binh giải vây. Ông lấy cuốn Ngư Phong thi tập chép thêm mấy vần thơ "lưng ngựa" vừa nghĩ trong đầu:

      Bạo tàn thế giặc ó diều bay
      Quân mệt lương khan, kiếm suốt ngày
      Cây giăng khắp núi chim kêu rộn
      Mưa giội tràn khe khí lạnh đầy...


Tín được vào gặp Nguyễn Quang Bích và rất ngạc nhiên khi thấy quan Hiệp thống tỏ ra rất vui vẻ lịch thiệp, đường hoàng ngồi trên một cái sàn nứa, trong một túp lều nhỏ như một đạo sĩ. Qua năm năm, nay gặp lại thấy quan Tuần vẫn giữ dáng điệu thung dung thanh thản như xưa. Chỉ khác bộ râu tóc ngài đã dần bạc trắng, người xanh gầy nhưng đôi mắt sáng quắc như có hào quang, vẫn vẻ mặt nhân từ, ông nhìn Tín rồi hỏi: "Thế nào? Giặc Tây cử quan Bố chánh lại đến dụ dỗ ta ư?".

Tín nín lặng, nhìn xuống nhà người Mán đang dựng bên nguồn suối, ngô lúa còn vứt quanh nhà; trong nhà có mấy người dân áo chàm, nai nịt gọn ghẽ, trong tay lăm lăm súng. Lãnh Hoan mắt sắc như dao, đôi tay dài quá gối đứng hầu quan Tuần. Tín bỗng lo ngại. Quân theo hầu Tín đều bị giữ ở trạm gác vòng ngoài. Bây giờ Tín tiến thoái lưỡng nan. Nhưng rồi Tín đánh bạo thưa: "Bẩm, ân đức quan Tuần tràn ngập khắp xứ sở Thập Châu, không ai là không biết. Tôi cũng muốn ôm tráp theo hầu quan lớn, nhưng chỉ hiềm vì nỗi còn mẹ già nên chưa theo hầu ngài được lúc này, xin cho khất".

Y vừa nói vừa để mắt dò la ý tứ, không thấy quan Tuần nói gì, y tiếp: "Bẩm tôi chỉ mới được bổ làm Bố chánh Hưng Hoá, còn cái chức Tam Tuyên Tổng đốc triều đình đã bổ ngài Yên Đổ, nhưng ngài cáo ốm không nhận. Xin quan Tuần thể tình vì chỗ xưa tôi đã theo hầu ngài, nay nếu ngài quy thuận về nhậm chức lớn thì tiểu nhân đây lại được cắp tráp theo hầu. Như vậy hai người đều may mắn, mà ngài không phải nhọc lòng nơi thâm sơn cùng cốc này!".
_______________________________________
1. Có tài liệu chép Bùi Quang Thích.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 05:23:00 pm

Quan Hiệp thống cười nhạt, rót chén rượu mời y. Tín nhấp chén rượu rồi thưa: "Chắc Tướng công đã biết ông Thống đốc quân vụ họ Hoàng về Huế được người Pháp và vua Đồng Khánh trọng vọng, tiệc lớn tiệc nhỏ cứ như Tào Tháo đãi Quan Công. Còn tướng công nay giữ chức Hiệp thống quân vụ tài trí cao hơn mà chịu lặn lội cháo rau, quả rừng nước suối thế này! Con chim còn biết chọn cành đậu, con thú còn biết chọn chỗ nằm".

Quang Bích cắt ngang lời Tín: "Bởi thế loài cầm thú mới không thành người!". Bùi Quang Tín mặt đỏ dừ. Y xấu hổ về lời mắng khéo của quan Tuần xưa. Quang Bích tiếp: "Nhưng thôi, ông vẫn ở dưới xuôi thịt ngọn cá béo, rượu nếp cái hoa vàng. Còn lên đây thì uống tạm rượu ngô với mấy quả cây rừng âu cũng là cái thú".

Quan Tuần cựu rót rượu cho viên Tri huyện của mình xưa. Tín đành miễn cưỡng nâng chén nhắm với quả mận vừa chua vừa chát. Tín muốn lấy tình quen biết để thuyết phục quan Tuần nhưng không xong, bèn nói: "Bẩm quan Tuần, kẻ học trò đã lấy tình xưa mà đề đạt việc nay nhưng không được, chắc ngài cho rằng lời nói của kẻ tiểu nhân là lời nói suông ư? Đây! Học trò xin trình...".

Quang Bích ngắt ngang lời Tín: "Ông cũng là người đọc sách thánh hiền chắc ông còn nhớ câu của Đức Khổng Phu Tử rằng: Thiên hạ dù có loạn thì nhà phải giữ cho "đoan ", nhà có loạn thì thân phải giữ cho "chính". Sao ta lại có thể nghe ông mà "xuất xử" tùy tiện được...".

Tín vờ như không nghe thấy lời quan Tuần vừa nói. Hắn cho tay vào túi áo ngực bên trong móc ra bức thư rồi hai tay dâng lên. Y tin vào cái bảo bối cuối cùng này: "Thưa đây ạ! Có thư của quan toàn quyền gửi ngài". (Với quan niệm của Tín, toàn quyền Pháp lúc này còn hơn cả vua Nam). Quan Tuần nâng chén rượu, vuốt chòm râu quai nón, hất ngược ra phía sau, rồi nói: Ông cử Hoan mở đọc ta nghe.

Lãnh Hoan vâng mệnh xé thư đọc. Thư bằng tiếng Pháp, có kèm bản dịch nôm:

Kính gửi ngài Hiệp thống

Chúng tôi sang kinh lý nước An Nam chỉ nhằm hoà hiếu và mang văn minh khai hoá cho dân nước ngài. Đức vua Đồng Khánh nước An Nam cũng đã ký hiệp ước công nhận nền bảo hộ của đại Pháp, vậy mà sao các ngài vẫn còn kết đảng làm càn. Tội rất đáng phải nghiêm trị, đáng phải diệt trừ... Nhưng nếu ngài đưa quân ra đầu thú thì đức vua nước ngài sẽ vẫn trọng dụng. Còn tôi nay lấy danh dự đại diện cho nước đại Pháp, kêu gọi ngài hãy hạ khí giới, giải giáp nghĩa binh, thì ngài vẫn được nguyên chức tước, hoặc muốn hồi hương cũng sẽ được hưởng lương bổng hậu đãi. Bằng không ngài sẽ phải chịu chung số phận của những kẻ tội lỗi. Vì lòng tốt với ngài mà tôi xin có lời khuyên nhủ. Ra đầu thú thì sống, không ra tất chết!

Toàn quyền An Nam xứ H. Richaud


Nghe thư xong, quan Hiệp thống quắc mắt nói: Lại vẫn cái giọng của Bi-sô hôm vừa rồi do Tri phủ Lâm Thao Nguyễn Khắc Hợp lấy cớ chỗ quen biết cũ đến dùng lời lẽ ngọn ngọt dụ ta, ta không thèm trả lời. Nhưng nay đích thân quan toàn quyền gửi thư thì ta phúc đáp cho phải lễ. Ông Cử hãy vào mang nghiên bút ra đây.

Vừa lúc đó có tiếng súng từ xa vọng đến. Quan Hiệp thống biết địch đã kết thúc tuần "hưu chiến" để đàm thuyết, trở lại tấn công. Khi chờ không thấy Bùi Quang Tín trở ra, địch cho các mũi tiến sâu vào căn cứ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 05:24:13 pm

Lãnh binh Vương Văn Doãn cùng mấy nghĩa quân đến trước mặt Tín: "Ông cho thất lỗi, việc binh phải thế! Súng của các ông đã nổ để tấn công chúng tôi, lẽ ra ông phải đền mạng. Nhưng lệnh quan Hiệp thống tha cho, vì ông nói ở nhà còn mẹ già. Vậy tôi trói ông lại, để ông ngồi đây đợi "quan Tây" của ông đến đón".

Bùi Quang Tín bị trói giật cánh khuỷu vào gốc cây bứa bên bờ suối.

Trong lúc đó, Quang Bích đến trước ban thờ, làm bằng tre nứa treo vách đá dây leo chằng chịt; trên ban thờ đặt bát hương làm bằng ống vầu, tỏa khói lung linh huyền ảo tưởng như nơi đây thần sông, thần núi hội về chứng kiến giây phút uy nghiêm và bi hùng của đất nước, chứng kiến cuộc chiến đấu một mất một còn của nghĩa quân Cần Vương với giặc phương Tây.

Mực đã mài, bút trên ống. Quan Hiệp thống xúc động, trang nghiêm. Hình ảnh đức vua Hàm Nghi, hình ảnh ông Tham đài Tôn Thất Thuyết ở nơi xa, hình ảnh những chiến hữu của ông đã ngã xuống như Hoàng Diệu, Tri Phương, Nguyễn Hội, Chu Thiết Nhai, Nguyễn Cao, Vũ Hữu Lợi, Hà Văn Mao, Đinh Công Tráng... như hiện lên tất cả. Ánh hào quang từ mặt trời chiếu xuống dòng suối rồi hắt lên vách đá. Trời đất đây, non sông đây, anh linh của những người đồng chí của ông đây hãy phù hộ cho ông. Ông thành kính cảm thấy hồn thiêng và sức mạnh của thần sông, thần núi dồn lên cánh tay ông, trút vào ngòi bút của ông. Mặc cho ngoài rừng tiếng súng giặc đã nổ, ông viết liền một mạch:

"Nay tiếp lời quý quốc cho biết rõ: Chúng tôi kết đảng làm càn, tội đáng phải nghiêm trị, đáng phải diệt trừ, cho nên phải mang thân ra đầu thú để khỏi tội. Chúng tôi biết quý quốc thật có lòng tốt nên mới có những lời khuyên nhủ như vậy.

Chúng tôi cũng nghĩ: Quý quốc sang kinh lý nước chúng tôi, nào kỹ giỏi, thuật khéo, binh tinh, cho nên người nước Nam chúng tôi đã bỏ chỗ sáng đi theo quý quốc rõ ràng đã quá nửa, và cái nước ngàn vạn y quan lễ nhạc này hầu như đã thành của Pháp rồi, thế mà chúng tôi không tự lượng sức, cứ lấy hơn trăm thân sĩ cùng với mấy nghìn quân đã mệt mỏi để chống lại quý quốc thì chúng tôi há chẳng phải là nguy lắm ư? Nhưng chúng tôi lại nghĩ đến cái nghĩa vua tôi đứng trong trời đất mà không quản cái phận hoa di đã rõ ràng như sông Kinh, sông Vị mà không dám quên phận của mình, ấy chính cũng chỉ quyết giữ trọn cái nghĩa ấy thôi.

Khi quý quốc sang đây, một rằng hòa hiếu, hai rằng bảo hộ, để rồi chiếm thành trì chúng tôi, đuổi vua đuổi tướng chúng tôi, để rồi lại còn tự quyền lập vua Đồng Khánh, chẳng qua đó chỉ là cái kế "bịt tai ăn trộm chuông" mà thôi. Lợi quyền chính trị đều về tay quý quốc nắm cả. Văn thần võ tướng đều bị quý quốc câu thúc trói buộc tôi còn lòng nào nữa? Gọi là hòa hiếu, gọi là bảo hộ mà lại có như thế ư? Chúng tôi dấy đảng "làm càn", còn quý quốc làm vậy, thử hỏi ai là kẻ đúng sai? Giả sử có một nước lớn khác đến kinh lý quý quốc cũng như quý quốc đã làm ở nước chúng tôi, thì quý quốc cũng cứ phục tùng theo họ ư? Hay là cũng nghĩa kích ở lòng, căm giận lộ ra mặt, rồi quý quốc cũng làm như chúng tôi đang làm? Mong rằng quý quốc nén bụng bình tâm nghĩ lại, rồi đem trăm họ, đem thành trì mà trả lại cho vua chúng tôi, đặt lại vua Hàm Nghi lên ngôi, khiến cho vua với dân chúng tôi được yên vui hòa hiệp trong đất nước của mình, còn quý quốc vẫn lại thông thương như cũ. Điều đó há chẳng phải là việc nghĩa to lớn lắm sao?

Bằng không, quý quốc cứ cậy về cái hay cái giỏi của mình thì chúng tôi cũng không chịu bỏ cái thua, cái kém của chúng tôi. Rồi, nếu mà thắng, mà sống, thì là nghĩa sĩ của triều đình, nhưng chẳng may mà thua mà chết, thì cũng làm quỷ thiêng giết giặc. Thà "chịu tội'' với quý quốc, quyết không chịu tội với vua nhà; thà "chịu tội" với nhất thời, quyết không chịu tội với vạn thế! Một chữ "thú" từ nay xin quý quốc đừng có nhắc lại nữa, xin đừng có khuyên bừa! Chúng tôi xin cam lòng chịu chết vì nghĩa vua tôi!

Quý quốc tự lo liệu lấy!1.

________________________________
1. Bản dịch của Giáo sư Trần Văn Giàu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Hai, 2017, 05:25:09 pm

Khi quan Hiệp thống đang viết, nghĩa quân được phái đến để phò tá ngài di chuyển. Thấy cảnh tượng đó, mọi người đứng xếp thành hàng bên dòng suối róc rách, bồng súng chờ đợi. Quang Hoan ra lệnh: Không được kinh động! Tướng công đang thảo hịch!

Chờ cho chủ tướng viết xong, viên Tư vụ Nguyễn Xuân Thiều mang dấu triện của quan Hiệp thống đã được Hàm Nghi ban phong đến. Tự tay quan Hiệp thống đóng dấu lên chữ ký của mình rồi giao Quang Hoan niêm phong thư đưa cho Bùi Quang Tín. Hoan nói: "Tướng công tôi gửi phúc thư, Ngài vui lòng chuyển hộ cho viên toàn quyền của Ngài", rồi ông ra lệnh cho binh sĩ đốt lều trại. Đồng bào Dao tự nguyện châm mồi lửa, đốt nhà của họ để theo nghĩa quân. Ngô lúa họ đã cho vợ con gùi trên lưng mang theo.

Tiếng súng nổ càng gần. Đạn pháo địch đã có quả rơi vào bản doanh. Nhưng nghĩa quân đã cùng chủ tướng lẩn vào rừng sâu. Ngọn lửa cháy sáng rực trời, chỉ còn lại một mình Bùi Quang Tín bị trói giật cánh khuỷu bên dòng suối có tiếng thác đổ ào ào hoà cùng tiếng hú hoảng loạn của thú rừng...

Biết việc kêu gọi đầu thú không thành, giặc Pháp cùng bọn tay sai cho quân về làng Trình Phố, nơi quê hương quan Hiệp thống bắt cụ Hoàng bà và hào lý, chức dịch địa phương giam ngục hòng lung lạc ý chí ông. Chúng hy vọng vì tình gia tộc, nghĩa xóm làng mà ông ra hàng.

Giặc Pháp còn cho lệnh triệt hạ cả làng Trình Phố.

Nơi chiến khu, ông nuốt nước mắt vào tim, lặn lội rừng sâu tiếp tục đánh giặc. Bao đêm ông thức trắng trong khe núi, có người từ quê, đường xa đến thăm báo tin nhà, ông viết những dòng thơ đẫm lệ:

      Mưu toan tạo hóa biết cho cùng?
      U tịch lều tranh ở giữa thung.
      Tranh vẽ cây luồn mây vách núi,
      Ngọc khua nước dội đá khe rừng.
      Chước hay xin giúp trừ quân giặc,
      Đường hiểm tìm thăm, cảm nghĩa ông!
      Họ mạc vợ con đâu nghĩ tới,
      Lòng Vua đang rối chuyện non sông.

                                            (Giáp mặt bạn nói chuyện, bản dịch)


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Hai, 2017, 09:14:05 pm

Câu hỏi 11: Nguyễn Quang Bích và cuộc khởi nghĩa của ông có một vai trò to lớn trong phong trào Cần Vương nhưng tại sao mãi đến sau Cách mạng tháng Tám, việc nghiên cứu và giới thiệu về Nguyễn Quang Bích mới được tiến hành sâu rộng?
Trả lời:


Trong số các lãnh tụ của phong trào văn thân chống Pháp ở nửa sau thế kỷ XIX, Nguyễn Quang Bích được biết đến khá muộn màng. Nếu như Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Phạm Bành, Nguyễn Thiện Thuật và các cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896), Hùng Lĩnh (1886-1892), Ba Đình (1886-1887), Bãy Sậy (1885- 1892)... ngay từ đầu thế kỷ đã được nói đến nhiều và sớm được định vị trong phong trào Cần Vương, thì Nguyễn Quang Bích và cuộc khởi nghĩa ở miền Tây Bắc Bắc Kỳ (1884-1892), phải đến sau Cách mạng tháng Tám, các nhà nghiên cứu lịch sử và văn học sử mới biết đến, gần như là một sự phát hiện mới. Hậu thế biết đến ông muộn, dĩ nhiên là sự thiệt thòi. Thời gian càng lùi xa, càng khó khăn hơn trong việc sưu tầm tài liệu và cũng sẽ khó tránh khỏi những khiếm khuyết trong nghiên cứu, giới thiệu về ông.

Việc nghiên cứu, giới thiệu Nguyễn Quang Bích có một điều may mắn với Nguyễn Quang Bích và với chúng ta là con cháu ông đã nối được chí lớn cứu nước của ông và cũng là những người, có lẽ đã sưu tầm tài liệu, viết về ông sớm hơn cả. Đó là nhà yêu nước, nhà thơ Ngô Quang Đoan - con trai của Nguyễn Quang Bích, khi được tin cha hy sinh, ông đã từ quê hương Thái Bình lên tận căn cứ để chịu tang, rồi tham gia hoạt động chống Pháp. Ngô Quang Đoan cũng là tác giả của Ngư Phong tướng công truyện ký, một tiểu truyện cho đến nay vẫn là tài liệu quan trọng nhất, đầy đủ hơn cả nói về tiểu sử và sự nghiệp cứu nước của Nguyễn Quang Bích. Mục đích của Ngô Quang Đoan rất khiêm tốn, như ông đã viết trong đoạn kết thúc như sau:

"Than ôi! Chép truyện là để truyền lại sự thực, như đức hạnh văn chương của cha ông tôi lúc còn sống mọi người đều biết. Bầu chính khí thiêng liêng sau khi mất hãy còn linh anh trong khoảng trời đất này, chẳng cần phải lộ ra nơi ngòi bút.

Nhưng vì phong hội ngày một kém, đời xa người vắng, Tịch Đàm thì quên tổ1, mà dã sự thi sai ngoa, vì vậy nên từ xưa các danh gia đều có sử ký và liệt truyện. Đó chẳng phải là để truyền lại sự thực hay sao? Nay tôi đã già, con cháu thường đến hỏi về tiểu sử của cha tôi và xin nên viết thành truyện ký. Cho nên tôi có lược thuật ghi chép để người sau có văn bản khảo cứu".


Sách Ngư Phong tướng công truyện ký2, bản lưu ở Viện nghiên cứu Hán Nôm gồm 126 trang, khổ 28×16, chữ viết tay, tổng số chữ Hán trên 2 vạn. Theo lời dẫn thì sách này do Ngô Quang Đoan soạn xong vào tháng 8 năm Nhâm Ngọ. Một dòng lạc khoản cho biết bản sách này của Chuyết Khế Trình Giang Ngô Đức Dung tặng ông Long Điền năm 1949. Cấu tạo sách gồm 2 phần: Ngư Phong tướng công truyện ký; Ngư Phong tướng công thi văn tập.
__________________________________
1. Tịch Đàm người nước Tấn đời Xuân Thu, khi vào chầu Chu Vương bị hỏi về lịch sử nước Tần thì không trả lời được. Sau thường dùng điển này để chê những người "mất gốc", quên cả tổ tiên mình.
2. Ngư Phong tướng công truyện ký từ đây xin gọi tắt là Ngư Phong truyện ký.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Hai, 2017, 09:15:21 pm

Trên cơ sở vốn tư liệu đầu tiên là Ngư Phong truyện kýNgư Phong thi tập mà người có được sớm hơn cả có lẽ là Long Điền Nguyễn Văn Minh. Nhờ có nguồn tài liệu này do Long Điền cung cấp, nhà sử học Trần Huy Liệu đã khai thác, giới thiệu thơ văn Nguyễn Quang Bích trong loạt bài Phong trào cách mạng Việt Nam qua thơ văn đăng trên Tập san Văn - Sử - Địa số 31 (tháng 7 năm 1957). Cũng vào năm 1957, Giáo sư Trần Văn Giàu được gia đình Nguyễn Quang Bích cung cấp cho bản chữ Hán hai tập sách kể trên. Giáo sư đã nhờ ông Chu Thiên dịch tập truyện ký, ông Kiều Hữu Hỷ dịch tập thơ, văn ra quốc ngữ để làm tài liệu cho khoa sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhờ đó mà các công trình nghiên cứu, giới thiệu Nguyễn Quang Bích đã lần lượt được công bố như cuốn Chống xâm lăng của Trần Văn Giàu, Lịch sử cận đại Việt Nam do Trần Văn Giàu - Đinh Xuân Lâm - Nguyễn Văn Sự - Đặng Huy Vận biên soạn. Cũng từ bản dịch Ngư Phong truyện kýNgư Phong thi tập, các ông Đinh Xuân Lâm, Kiều Hữu Hỷ, Lã Xuân Mai... đã biên soạn cuốn Thơ văn Nguyễn Quang Bích. Cuốn này được tái bản, bổ sung, sửa chữa in lại năm 1973. Cho đến nay, cuốn sách này vẫn là tài liệu căn bản, phổ cập nhất giới thiệu thân thế và sự nghiệp Nguyễn Quang Bích. Năm 1964, trong cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX do Viện Văn học xuất bản, Nguyễn Quang Bích được trình bày trong một chương riêng, thành một tác giả lớn của dòng văn học yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX bên cạnh những tên tuổi như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn... Đồng thời trong lịch sử giáo dục nhà trường ở bậc đại học, lần đầu tiên thân thế và sự nghiệp Nguyễn Quang Bích cũng được đưa vào giáo trình giảng dạy cho sinh viên khoa Văn và khoa Sử.

Có thể nói, trong lịch sử nghiên cứu, giới thiệu Nguyễn Quang Bích, chỉ sau khi có được Ngư Phong truyện kýNgư Phong thi tập do con cháu ông và các nhà nghiên cứu văn học, sử học sưu tầm tài liệu, biên soạn, công bố, thì Nguyễn Quang Bích và phong trào khởi nghĩa rộng lớn ở Tây Bắc mới được chú ý và ngày càng thấy rõ hơn vai trò của ông và phong trào do ông khởi xướng, lãnh đạo. Như Giáo sư Trần Văn Giàu, trong cuốn Chống xâm lăng đã nhận xét: "Trong thời gian kháng Pháp từ 1885-1890, nên kể đến công trạng của cụ Ngô Quang Bích, người đã ít hay nhiều thống nhất chỉ đạo phong trào Cần Vương ở miền Bắc". Hay như trong Từ điển văn học, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã cho rằng: "Với Ngư Phong thi tập và các bài văn xuôi khác, Nguyễn Quang Bích là một trong những cây bút đặc sắc của dòng văn học yêu nước Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX".

Trước đấy, các sách viết bằng Hán văn như Quốc triều đăng khoa lục, Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam nhất thống chí, Thái Bình tỉnh thống chí, đều có chép về tiểu sử Nguyễn Quang Bích như quê quán, ngày sinh, ngày mất và hành trạng của ông. Nhưng nói chung còn rất sơ lược và hầu như còn biết rất ít về sự nghiệp cầm quân, đi sứ, làm thơ của ông. Dựa trên cơ sở các nguồn tài liệu ấy nên Phan Khoang trong tác phẩm Việt Pháp bang giao sử lược đã viết một đoạn ngắn về Nguyễn Quang Bích, mà sau này Nguyễn Huyền Anh khi biên soạn Từ điển danh nhân Việt Nam1 đã dựa theo và tóm tắt như sau: ''Nguyễn Quang Bích, nghĩa sĩ đời Nguyễn. Giữ chức Tuần phủ Hưng Hóa dưới triều vua Tự Đức. Khi Pháp lấy mất thành (ngày 12 tháng 4 năm 1884), ông nạp trả ấn cho triều đinh rồi bỏ đi, sau mất ở miền rừng núi Bắc Việt".

Những thành tựu nghiên cứu, giới thiệu Nguyễn Quang Bích trong những năm gần đây, mặc dầu đã có sự nỗ lực đẩy mạnh công tác sưu tầm, dịch thuật tài liệu và tổ chức hội thảo khoa học, biên soạn tài liệu về Nguyễn Quang Bích ở một số cơ quan nghiên cứu, xuất bản ở Trung ương và ở hai địa phương Thái Bình (quê hương) và Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ) - địa bàn hoạt động, nhưng vẫn cần phải đẩy mạnh thêm.
______________________________________
1. Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1972.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Hai, 2017, 09:16:44 pm

Câu hỏi 12: Quê hương Tiền Hải - Thái Bình với truyền thống lịch sử lâu năm đã có những ảnh hưởng gì đến sự nghiệp và nhân cách của danh nhân Nguyễn Quang Bích?
Trả lời:


Lịch sử hình thành đất đai và cư dân Thái Bình là lịch sử trị thủy, lấn biển, là lịch sử của quá trình chuyển cư, định cư, hợp cư của các luồng cư dân từ các vùng phía bắc tràn xuống, từ Thanh - Nghệ - Tĩnh dời ra. Vùng phía bắc tỉnh như các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Vũ Thư hình thành sớm hơn, nhiều làng xã có độ tuổi trên dưới hai nghìn năm. Những làng thuộc vùng nam Kiến Xương, bắc Tiền Hải có lịch sử trên dưới một nghìn năm. Nhiều làng ven biển Tiền Hải và Thái Ninh được coi là những làng mới, được lập trên dưới một trăm năm. Và dù là làng cũ hay làng mới, dù là làng nội đồng hay làng ven biển thì việc đào sông đắp đê và các biện pháp khắc phục thiên tai vẫn là công việc thường trực, thường xuyên của cư dân Thái Bình. Chẳng hạn như làng Trình Phố quê hương của Nguyễn Quang Bích được hình thành từ giữa thế kỷ XVII nhưng đến giữa thế kỷ XIX, Nguyễn Quang Bích vẫn phải tổ chức lạc quyên đầu tư cho việc khơi sông, mở cống để thau chua rửa mặn cho đồng làng.

Cư dân Thái Bình có gốc gác từ nhiều luồng, nhiều nguồn. Xứ Đông, xứ Đoài, xứ Nam, xứ Bắc đều có người tìm đến Thái Bình để khai cơ lập ấp. Tìm hiểu gia phả của một số dòng họ ở Thái Bình có thể thấy một điều đáng lưu ý là phần lớn gốc gác cư dân ở đây đều xuất phát từ dòng dõi thế gia lệnh tộc. Tổ tiên của những dòng họ này đều là những người đường phong, điền trang, thái ấp ở Thái Bình. Khi đưa gia đình, dòng họ về kéo theo cả những gia nhân thuộc lớp người nghèo khó. Có thể, một phần vì lẽ này mà cái "phông" văn hóa, văn hiến Thái Bình có bề dày phong phú. Trước hết, dễ nhận ra là học phong ở Thái Bình dưới thời phong kiến thường xuyên nổi trội hơn so với một số địa phương khác. Ngay từ những khoa thi đầu tiên thời Lý, Thái Bình đã có người học giỏi, đỗ cao. Từ Lê sơ về sau, việc học hành, khoa cử ở Thái Bình ngày càng thịnh đạt. Không mấy khoa thi không có người Thái Bình đỗ đạt. Có những khoa đặc biệt như khoa thi năm Nhâm Thân, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13 đời Lê Hiển Tông (1752) cả nước lấy đỗ 6 người thì 4 người quê Thái Bình.

Hơn một trăm ông trạng, ông nghè ở Thái Bình đã "mai cốt bất mai danh". Họ đã đóng góp cho quốc gia dân tộc bằng tài trí, phẩm hạnh của mình trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Riêng về lĩnh vực văn chương họ đã tạo thành mệnh mạch thịnh đạt, khả quan. Có thể kể đến sự tiếp nối của các thi nhân có quê ở Thái Bình bắt đầu từ Phạm Nhữ Dực thời Trần - Hồ, Nguyễn Bảo, Phạm Như Huệ thời Lê sơ; Nguyễn Tông Quai, Đoàn Nguyễn Thục, Lê Quý Đôn, Đoàn Nguyễn Tuấn thời Lê trung hưng; tiếp đến Nguyễn Quang Bích thời Nguyễn và tiếp theo Nguyễn Quang Bích là Kỳ Đồng - Nguyễn Văn Cẩm. Trong mệnh mạch này, thơ Nguyễn Quang Bích có vị trí xứng đáng cả về số lượng và giá trị nghệ thuật.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Hai, 2017, 09:17:08 pm

Đã nhắc đến các truyền thống văn hóa, văn chương ở Thái Bình gắn với sự nghiệp và hành trang Nguyễn Quang Bích cũng nên lược qua đôi chút về truyền thống thượng võ của người Thái Bình. Đây là truyền thống của những cư dân từng ăn sóng nằm gió chống chọi với bão tố của biển khơi và hải tặc, tự hun đúc cho mình tính cách không chịu khuất phục mọi áp bức cường quyền. Trên những chặng đường chống ngoại xâm của dân tộc từ thuở Hai Bà Trưng dựng nước đến các cuộc kháng chiến chống Tống, Nguyên, Minh, Thanh, người Thái Bình, đất Thái Bình đã có những đóng góp lớn lao mà không ít trang sử của Đại Việt đã nhắc đến. Ngay những ngày đầu Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ, Thái Bình đã có tiến sĩ Phạm Thế Hiển quyết tử chiếm giữ thành Gia Định, tiếp đó đến người thầy dạy Nguyễn Quang Bích là tiến sĩ Doãn Khuê với toàn bộ gia đình, cháu con, anh em, ông cháu nối bước nhau đánh Pháp. Những tấm gương cứu nước của tiền nhân trên quê hương và trực tiếp là của người thầy Doãn Khuê chắc chắn đã ảnh hưởng nhiều đến chí hướng và nhân cách của Nguyễn Quang Bích.

Nếu điểm lại toàn bộ hành trạng, cuộc đời của Nguyễn Quang Bích thì sự nghiệp của ông lại không phải chủ yếu là ở Thái Bình. Mặc dù Nguyễn Quang Bích đã gắn bó với quê hương gần 40 năm, từ thuở ấu thơ đến khi thi đỗ Đình nguyên Hoàng giáp năm 37 tuổi. Thế nhưng, ảnh hưởng của Nguyễn Quang Bích với quê hương lúc đương thời cũng như hậu thế khá sâu sắc về nhiều phương diện. Việc dân làng Trình Phố dành một số ruộng đất để cúng tế cụ Hoàng là tưởng nhớ nhân cách và công ơn của ông. Có lẽ trước hết vì ông đã tổ chức lạc quyên mua hơn mười mẫu ruộng của hai làng Vũ Lăng, Đại Hoàng và xây dựng cống hàng huyện để dẫn nước ngọt thau chua rửa mặn cho ruộng đồng của cả làng.

Ảnh hưởng của Nguyễn Quang Bích với quê hương dễ nhận thấy là tài năng, phẩm hạnh của ông đã tác động trực tiếp đến thế hệ học trò ở đây với những gương mặt tiêu biểu như cử nhân Trần Ngọc Dư, phó bảng Trần Xuân Sắc... những vị tướng - nhà thơ đã không phụ lòng thầy trong sự nghiệp lập danh - lập ngôn vì quê hương, đất nước.

Khi Nguyễn Quang Bích qua đời, phong trào cách mạng tạm lắng xuống rồi tan rã, nhiều nghĩa quân của ông cùng quê hương Thái Bình đã về quê ẩn náu và nhen nhóm hoạt động, sau này một số trở thành những yếu nhân trong phong trào Đông Du và Đông Kinh nghĩa thục ở Thái Bình. Tại làng Trình Phố, con cháu ông đã kiên trì kháng Pháp dưới nhiều hình thức để rồi Trình Phố trở thành nơi sinh thành của một trong hai chi bộ cộng sản đầu tiên của Thái Bình.

Sinh thời, Nguyễn Quang Bích đã từng có những năm tháng chăm lo đến hệ thống thủy nông của làng để đẩy mạnh thâm canh, cải tạo đồng ruộng, cả cuộc đời Nguyễn Quang Bích gần như lúc nào trong ông cũng thường trực một nỗi lo toan sao cho dân giàu, nước mạnh, sao cho dân đỡ lầm than. Chí hướng ấy được các thế hệ con cháu ông ở làng Trình Phố, các thế hệ cư dân ở Thái Bình - Tiền Hải đã và đang tiếp tục thực hiện.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Hai, 2017, 09:18:42 pm

Câu hỏi 13: Nguyễn Quang Bích đã có những đóng góp gì trong việc xây dựng làng Trình Phố - nơi ông sinh ra và lớn lên?
Trả lời:


Sinh ra và lớn lên ở làng Trình Phố nên Nguyễn Quang Bích rất hiểu mảnh đất và con người ở đây. Dân chúng chăm học, chăm làm nhưng đói khổ quanh năm vì ruộng đồng úng lụt, vì mất mùa liên miên. Phụ nữ trong làng phải đội phân ra đồng trong vụ tháng năm, tháng sáu. Nhiều khi, dân làng này và dân làng khác đánh nhau đổ máu chỉ vì dồn nước từ đồng mình sang đồng người. Những cảnh đau lòng ấy khiến ông khi còn là cậu học trò đã phải nghĩ suy, trăn trở... Có lẽ chính vì vậy mà sau khi đỗ cử nhân, về nhà chịu tang cha (mùa hè năm Ất Sửu 1865) Nguyễn Quang Bích đã thực hiện được nguyện vọng của mình: xây Văn Chỉ cho làng, mở trường dạy học, vận động thân hào trong xã đóng góp, bỏ tiền ra mua hơn mười mẫu ruộng ở hai xã Vũ Lăng và Đại Hoàng, xe sông xây cống. Sông lấy tên là sông Sứ (tên chữ là Liêm Giang). Cống gọi là công Tam Đồng (vì nằm trên đất làng Tam Đồng).

Sông Sứ dài khoảng 5 kilômét chạy từ miếu Long Nhãn đến đê sông Trà. Cống Tam Đồng được xây bằng gạch, dài 25 mét, rộng 4 mét, dày 2 mét.

Có sông, có cống tiêu nước chua, dẫn nước ngọt điều hòa hai vụ hè, đông nên đồng ruộng tốt tươi, dân làng vô cùng biết ơn Nguyễn Quang Bích. Khi ông mất, làng dành ba mẫu ruộng để thu hoa lợi dùng vào việc cúng tế ông.

Ở thế kỷ XIX và cho đến những năm đầu của thế kỷ XX, trường học hàng tỉnh, hàng huyện còn quá ít. Riêng huyện Chân Định (tức Trực Định, phủ Kiến Xương sau này) chỉ có một trường đặt ở làng Động Trung và được thành lập năm Gia Long thứ 7 (năm 1808). Vì thế, các trường làng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo, giáo dục nhân tài. Chính những mái trường, thầy giáo ở khắp xóm thôn ấy là những đốm lửa nhen nhóm khai tâm, mở trí cho nhiều nhân vật lớn lao mà Doãn Khuê, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Mậu Kiến, Trần Xuân Sắc, v.v... là những người tiêu biểu. Những năm Nguyễn Quang Bích mở trường dạy học ở làng, học trò theo học khá đông và cũng có người đỗ đạt.

Hai năm chịu tang cha, Nguyễn Quang Bích thực sự đã để lại ở Trình Phố không ít ân nghĩa. Chính đức, tài của ông, cách ứng xử nhân nghĩa đã thành truyền thống của dòng họ ông, đã bắt rễ vào đất làng Trình, thấm vào lòng người dân ở đây. Có thấy được điều này, chúng ta mới hiểu được vì sao dân làng đã theo ông lên tận miền Hưng Hóa xa xôi giết giặc. Khi ông mất, làng Trình Phố cùng gánh chịu với gia đình ông một tổn thất lớn lao và cả sự trả thù của chính quyền thực dân Pháp.

Ngôi từ đường nhỏ của dòng họ ông ở Trình Phố vẫn là niềm tự hào xưa nay của dân làng. Nguyễn Quang Bích xứng đáng với những lời ngợi ca đẹp đẽ:

      Chỉ trụ thiên thu tiêu Việt quốc,
      Danh môn bách thế biểu Trình Giang1


Dịch:
      Cột trụ ngàn năm nêu nước Việt
      Danh thơm muôn thuở rạng làng Trình.
_________________________________________
1. Câu đối trong từ đường Nguyễn Quang Bích.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Hai, 2017, 09:34:44 am

Câu hỏi 14: Hãy cho biết nguyên do đổi từ họ Ngô sang họ Nguyễn của Nguyễn Quang Bích và đôi nét về dòng họ này?
Trả lời:


Về việc đổi tên họ Ngô sang họ Nguyễn được ghi chép ở một số sách như sau: "Cụ Ngô Đắc Khản với cụ Ngô Đình Thụ sinh đôi, năm còn thơ ấu được nuôi nấng ở bên ngoại là họ Nguyễn, nhân đó mới đổi sang họ Nguyễn".

Ngư Phong Nguyễn Quang Bích sau này có làm đôi câu đối chữ Hán nói đến việc này như sau:

      "Ngã liệt tiên bản tính Ngô, tương thừa duy canh độc thị mưu, phát ư tiền hữu lưỡng khoa đăng giám;
      Tằng tổ công liệt vị Nguyễn, tự ấu vu ngọa gia thác dưỡng, hệ chi tịch kinh tam thế ngật kim".


Tạm dịch:
      "Tổ tiên ta vốn họ Ngô, nối đời chuyên nghiệp nho nông, đỗ trước có cụ lưỡng khoa đăng giáp;
      Tằng tổ đổi là họ Nguyễn, từ nhỏ nương nhờ bên ngoại, văn chương đã ba đời đến nay”.


Về truyền thống hiếu học của chi họ Nguyễn Ngô ở Trình Phố thì tính từ đời thứ ba - cụ Ngô Nhã Trực hai lần đỗ giám sinh, làm Đồng tri phủ Lý Nhân, sau lại làm Tri huyện Kim Bảng. Thân sinh Nguyễn Quang Bích là Nguyễn Quang Mỹ, tự Quang Lưu ở đời thứ sáu, gia phả ghi cụ làm Thị giảng học sĩ và cụ bà là Trần Thị Sở được phong Tứ phẩm cung nhân. Nguyễn Quang Bích có năm anh em trai và một người em gái. Người anh cả là Nguyễn Đức Trạc, tự Đoài Hiên, đỗ cử nhân khoa Ất Mão (1855), làm Hàn lâm thị độc sung chức Thương biện Hải Dương - Hải Phòng. Người em sinh đôi với Nguyễn Quang Bích là Nguyễn Quang Chiều, tự Tiềm Phu, đỗ tú tài khoa Ất Mão (1855) đời Tự Đức. Người thứ tư là Nguyễn Quang Súy đỗ nhị trường. Người thứ năm là Nguyễn Thanh Doãn đỗ nhất trường rồi mất sớm.

Con cả Nguyễn Quang Bích là Ngô Quang Đoan. Ông sinh năm Nhâm Thân (1872), mất năm Ất Dậu (1945). Năm 18 tuổi, khi đang theo học cụ Phó bảng Đông Thành, được tin cha mất ở chiến khu Tôn Sơn, ông bèn lên đó cùng Đề Kiều, Đốc Ngữ, Đề Vân, Lãnh Giao,... tham gia kháng chiến cho đến khi phong trào hoàn toàn tan rã. Một thời gian sau, ông tiếp tục tham gia phong trào Đông Du, cùng Phan Bội Châu sang Nhật Bản và Trung Quốc. Phong trào này thất bại, ông lẩn trốn ở vùng trung du Bắc Kỳ. Năm 1945, người Nhật phát hiện ông ngấm ngầm giúp đỡ cách mạng, đã đến đốt nhà, ông phải chạy về Trình Phố và lâm bệnh mất tại quê.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Hai, 2017, 09:36:17 am

Câu hỏi 15: Có thể nói Nguyễn Quang Bích là đại diện cho tầng lớp trí thức yêu nước thời bấy giờ. Quá trình để Nguyễn Quang Bích từ một ông quan Tuần phủ Hưng Hóa trở thành một lãnh tụ của phong trào Cần Vương là một quá trình đấu tranh lâu dài, nhiều giằng co, hãy cho biết về điều này?
Trả lời:


Trên dòng truyền thống của Việt Nam, mỗi khúc ngoặt lịch sử là một thử thách đối với người trí thức. Trước thử thách đó những người trí thức chân chính chỉ có một lựa chọn: lấy danh dự của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân và phẩm giá của con người làm lẽ sống.

Họ biết rõ rằng sự lựa chọn ấy thường đem lại cho họ ưu tư nhiều hơn là hạnh lạc. "Cổ lai thức tự đa ưu hoạn", nghĩa là: Xưa nay người trí thức thường lắm ưu tư và hoạn nạn. Tô Đông Pha từng nói như vậy. Nguyễn Trãi cũng từng nói như vậy.

Ưu hoạn là số phận của người trí thức. Người trí thức chân chính thà chấp nhận số phận ấy chứ không đi chệch lẽ sống của mình.

Nguyễn Quang Bích từ nhỏ đã kiên trì học tập để trở thành người trí thức. Nhưng con đường khoa cử không phải dễ dàng. Trải bao công sức, năm 26 tuổi ông mới đậu tú tài, năm 29 tuổi mới đỗ cử nhân, và năm 37 tuổi mới trải qua thi hội và được vào thi đình.

Trong dịp đình thíđối sách trước nhà vua, ông đã trình bày quan điểm của mình trong việc xây dựng và giữ gìn đất nước. Điều quan trọng nhất, theo ông, là yên lòng dân và sử dụng người tài. Được vua Tự Đức đánh giá cao, ông đã đỗ Hoàng giáp. Từ đó (năm 1869), ông dần dần được thăng đến Tuần phủ Hưng Hóa (năm 1876).

Năm 1885, vua Hàm Nghi sau thất bại ở kinh thành Huế, chạy ra phía Bắc và hạ chiếu Cần Vương. Nguyễn Quang Bích được phong làm Lễ bộ thượng thư sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ, được quyền sắp đặt các quan chức từ tham tán, đề đốc trở xuống.

Được nhà vua giao trọng trách, ông không quản ngại gian khổ, tổ chức và chỉ huy cuộc kháng chiến, lấy vùng Tây Bắc làm căn cứ.

Lúc bấy giờ, đế quốc Pháp đã chiếm gần hết đất nước và hoàn toàn chi phối triều đình Việt Nam. Nhân dân nơi này nơi khác vẫn chiến đấu kiên cường bên cạnh những trí thức yêu nước.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Hai, 2017, 09:37:36 am

Trước sự phân liệt của tầng lớp trí thức đương thời, Nguyễn Quang Bích kiên trì một thái độ mà ông đã xác định từ trước: không thể thỏa hiệp và đầu hàng, chỉ có con đường là chiến đấu đến cùng để cứu nước.

Với khí phách của người trí thức chân chính, Nguyễn Quang Bích đã từ lâu khẳng định ý chí son sắt của mình như đã trình bày với nhà vua trong dịp đình thí đối sách: "Thần nghe rằng: giữa trời và người không xa xôi lắm, cho nên việc làm của ông Vua thường có sự cảm ứng với trời đất. Sao vậy? Là vì Trời là Lý vậy. Lý tan hòa trong muôn vàn sự vật. Dẫu trời không thể làm, người sẽ làm thay... Thánh hiền sinh ra ở đời nay, quý là ở chỗ có khả năng đổi suy nên thịnh, đổi sai nên đúng, đổi nguy nên yên, đổi loạn nên trị, lấy lý mà chế ngự; chứ không nhất thiết phó mặc khí số, đã không phó mặc khí số thì cũng trở lại tìm ở nhân sự mà thôi.

Thái độ trên ấy từ lâu đã được củng cố trước bao tấm gương kiên cường của những người trí thức chân chính. Năm Nguyễn Bá Nghi chủ trương nhường Gia Định, Định Tường cũng là năm Trương Định mộ quân chống Pháp (năm 1861). Năm Phan Thanh Giản ký hòa ước nhường ba tỉnh Nam Kỳ cũng là năm Thủ khoa Huân giương cờ khởi nghĩa (năm 1862).

Nguyễn Quang Bích đã thấy con đường cứu nước lôi cuốn đông đảo những người trí thức lỗi lạc như: Phạm Văn Nghị Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Đặng Huy Trứ...

Việc Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết, Lưu Vĩnh Phúc đánh trận cầu Giấy giết chết Phrăng-xi Gac-ni-e năm 1873 và Hăng-ri Ri-vi-e năm 1883 càng tiếp thêm cho ông niềm tin và nghị lực.

Kính phục những người trí thức chân chính, ông càng khinh ghét những kẻ mang danh trí thức vì lợi ích nhỏ bé của cá nhân mà chà đạp lên chân lý và chính nghĩa. Những kẻ ấy trong triều đình thì không dám nói lên lẽ phải, mà còn biện hộ thêm cho sai lầm của nhà vua. Trước quân giặc thì họ sợ sệt đầu hàng. Ông lên án bọn họ là "tham lam đắm đuối, chạy vạy, luồn cúi dưới lũ hôi tanh để kiếm cơm ăn". Ông vạch mặt "những kẻ bên ngoài thì giả cách lùi bước, ẩn mình mà bên trong thì bí mật cùng quân giặc giao thông để kiếm cho đầy túi". Ông bực mình nhất là bọn chúng thấy "những ai không chịu phục tùng, không để cho giặc làm nhơ bẩn thì lại chê là không biết thời thế".

Giữa hai loại trí thức nói trên, có cái tương phản như nước với lửa, không thể dung hòa. Ông đứng hẳn về phía cái đúng để chống lại cái sai. Ông làm cái thiện và xa cái ác. Ông nắm lấy cái vinh và tránh cái nhục. Ông đã sống những năm tháng tràn đầy khí phách như vậy.

Trong bài thơ Sơn lộ hành tự ủy của Ngư Phong thi tập, Nguyễn Quang Bích viết:

      Trung hiếu trên đầu trời chiếu rọi,
      Gập ghềnh nào sợ bước gian nan!


Bài thơ này có thể coi như mở đầu cho quãng đời đẹp nhất của ông, quãng đời vừa chiến đấu, vừa làm thơ. Chiến đấu đem lại hào khí cho thơ. Thơ rọi sáng thêm cho con đường chiến đấu.

Ông có một tình cảm sâu sắc và nhất quán đối với gia đình, Tổ quốc, nhân dân, đối với nghĩa vua tôi, cha con, chồng vợ. Tất cả những tình cảm trên đều quy về một điểm là đạo đức của con người lấy điều nhân làm cốt lõi. Điều nhân ở Nguyễn Quang Bích thể hiện sâu sắc và cao đẹp trong mọi ứng xử hàng ngày.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Hai, 2017, 09:38:44 am

Trong cuộc chiến đấu sống còn với kẻ địch, tấm lòng của ông trước hết hướng về những người chiến hữu đang theo đuổi việc Cần Vương:

      Lam chướng rừng xanh thấu cốt tủy,
      Sâu vắt hút máu áo đỏ hoen
      Đêm ngày chỗ ở không nhất định,
      Chỉ có lều tranh cùng cửa phên.

                                               (Vũ trụ đại khí số)

Mỗi lần giỗ bố mẹ, ông lại nhìn về đám mây trắng xa xa, ân hận đã chẳng làm được gì để báo hiếu. Đối với nhân dân lao động, ông xót xa trước sưu cao thuế nặng, nhà cửa xác xơ, mồ mả hoang tàn, miếu đền xiêu đổ.

Nổi lên nhất trong thời gian ở Tây Bắc là sự gắn bó rất chân thành và sâu sắc giữa ông với nhân dân địa phương: người Mèo, người Nùng, người Dao, những người ông vốn quý như ruột thịt, những người vẫn coi ông như Phật sống.

Ông cùng quân sĩ và nhân dân kiên trì chống Pháp và tình cảm mãnh liệt nhất của ông gắn liền với mọi thành công cũng như mọi tổn thất của nghĩa quân. Nhiều bài thơ ông viết đã ghi lại những cuộc chiến đấu thiêng liêng ấy.

Khí phách anh hùng của ông dâng cao qua ý chí kháng chiến chống Pháp. Nó rực rỡ như ánh sáng thanh gươm Long Tuyền bắn thẳng lên sao Đẩu, sao Ngưu. Bất chấp gian khổ, ông vẫn đầy tin tưởng "nghĩ đến cơ trời xoay chuyển lại". Ông hào hứng làm thơ mỗi lần "tin về thắng trận ngựa như bay”. Cho đến lúc già yếu, ông vẫn kiên định: "Gập ghềnh nào sợ bước gian nan, cứu nước thân già dạ sắt son".

Trong những năm cuối đời, Nguyễn Quang Bích gặp những điều không thuận lợi. Trong lúc này, toàn bộ đất nước đã nằm trong tay giặc. Cuộc kháng chiến ngày một khó khăn. Việc đi xin viện trợ của Trung Quốc đã không thành công. Tin tức của chủ tướng Tôn Thất Thuyết cũng chưa đem lại được những điều đáng phấn khởi.

Trước cái chết của các bạn mình, ông cũng xác định cái chết của mình trong thư trả lời quân Pháp: "Rồi, nêu mà thắng, mà sống, thì là nghĩa sĩ của triều đình, nhưng chẳng may mà thua, mà chết, thì cũng làm quỷ thiêng giết giặc...; thà "chịu tội” với nhất thời, quyết không chịu tội với vạn thế!”.

Không ngờ câu nói trên lại chính là lời tuyệt mệnh của ông. Hai năm sau, ông từ trần trước nỗi đau thương vô hạn của các chiến hữu, của quân và dân địa phương, nhất là tầng lớp trí thức yêu nước thời bấy giờ.

Cuộc đời của Nguyễn Quang Bích tiêu biểu cho những phẩm chất đẹp nhất của người trí thức Việt Nam. Ông đã nêu cao vai trò và khí phách của người trí thức trước nhiệm vụ của lịch sử và trước mọi thử thách của cuộc đời.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Hai, 2017, 04:56:02 pm

Câu hỏi 16: Nguyễn Quang Bích và mẫu hình nhà nho nửa cuối thế kỷ XIX?
Trả lời:


Ngay sau khi thực dân Pháp đánh vào cửa biển Đà Nẵng, vấn đề "chiến" và "hòa" đã khiến cho biết bao sĩ phu phải trăn trở luận bàn. Trước một kẻ thù hoàn toàn khác lạ về ý thức hệ, lại vừa mạnh vừa hiện đại hơn, từ phương Tây xa lạ kéo đến, một số ít các nhà nho có đầu óc hoặc tri thức mới mẻ như Nguyễn Trường Tộ, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch... chủ trương canh tân đất nước. Vua Tự Đức cũng thấy "chiến" không bằng "hòa", muốn bằng ngoại giao để thoát họa mất nước. Và tới năm 1867, Phan Thanh Giản đã mơ cổng thành cho Pháp với tâm lý không muốn chuốc lấy thảm bại một cách vô ích. Ngược lại, nhiều văn thân sĩ phu lại đứng ở thế ứng xử khác, họ kiên quyết "chủ chiến", tức là dùng biện pháp quân sự với ý thức không đội trời chung với quân xâm lược. Nguyễn Quang Bích ngay từ đầu đã đứng về phía "chủ chiến". Có thể nói ông và nhiều nhà nho đã nhận thức về trách nhiệm đối với xã tắc như một việc nghĩa nhất thiết phải làm. Một Hồ Huân Nghiệp trước giờ phút lâm hình còn nói với đời về việc nghĩa, về lòng trung hiếu:

      Kiến nghĩa ninh cam bất dũng vi
      Toàn bằng trung hiếu tác nam nhi.


Nghĩa là:
      Thấy việc nghĩa lẽ nào không dũng cảm ra làm,
      Phải giữ tròn điều trung hiếu để xứng đáng là trang nam nhi.


Hay một Nguyễn Quang Bích coi giặc Pháp là loài "quỷ ác" mà mình có nghĩa vụ phải diệt trừ:

      Quỷ ác toàn tu tận lực trừ

Nghĩa là:
      Quỷ ác lo toan hết sức trừ
                          (Tiễn Ninh Bình Nguyễn Tán tương hồi Nam)

Như vậy chứng tỏ ý thức trách nhiệm luôn luôn thường trực trong tâm tưởng những nhà nho này, và ở họ, việc đạo (hệ tư tưởng) và việc đời (vai trò công dân) đã hòa làm một.

Nhưng có lẽ cũng chưa có thời kỳ nào người anh hùng ái quốc lại xuất hiện trong cái nghịch lý trớ trêu như thời kỳ này; biết bao lãnh tụ kháng chiến không đủ sức đương đầu với sức mạnh bạo lực của kẻ thù đã hy sinh oanh liệt để bảo toàn lý tưởng; song chính cái lý tưởng mà họ ôm ấp và tự nguyện xả thân cũng không mở ra cho dân tộc một lối thoát nào tốt đẹp hơn. Không chỉ một Hoàng Diệu, một Nguyễn Tri Phương, một Nguyễn Cao tuẫn tiết, hay một Nguyễn Trung Trực, một Nguyễn Hữu Huân bị chém đầu, ngay đến một Trương Công Định, một Nguyễn Quang Bích, một Phan Đình Phùng, một Hoàng Hoa Thám... kiên trì chiến đấu trong nhiều năm nhưng cuối cùng đều thất bại.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Hai, 2017, 04:57:06 pm

Trước một tình thế đất nước đã đổi khác, những nhà nho trung nghĩa ấy vẫn giữ một nhân cách cao cả, một tinh thần yêu nước truyền thống "trung quân ái quốc". Mô típ "trung nghĩa", "cương thường" luôn trở đi trở lại trong những vần thơ vừa hào hùng vừa bi thương của những con người này. Vận nước đang lâm nguy, Nguyễn Quang Bích cảm nhận sâu sắc nỗi đau ấy khi nhìn cảnh sắc giang sơn vẫn còn như cũ mà mưa gió "rợ Tây dương" đang có nguy cơ phủ trùm lên tất cả:

      Giang sơn cử mục hồn như tạc,
      Phong vu thương tâm chỉ sự sầu.

                                     (Di trú Văn Chấn Thượng Bằng La)

Nghĩa là:
      Đưa mắt nhìn núi sông, thấy cảnh sắc vẫn còn như cũ,
      Nhưng đau lòng khi mưa gió bên trời, nghĩ vận nước càng thêm buồn tủi.


Ông càng tin vào lời dạy của cổ nhân về một đất nước "thiên thư định phận" bao nhiêu thì ông càng thấy có trách nhiệm đối với giang sơn xã tắc, càng căm thù bọn giặc cướp nước bấy nhiêu. Ông thề quyết tâm giết giặc như diệt trừ loài cỏ xấu. Cái căm giận không đội trời chung với quân xâm lược, sẵn sàng "xả thân thủ nghĩa", là một quyết tâm đến cùng của Nguyễn Quang Bích. Niềm căm giận đó cũng chính là niềm căm giận đã theo cùng người nghĩa binh nông dân xuống đến tuyền đài trong thơ của Nguyễn Đình Chiểu: "Sống đánh giặc, thác cùng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh" (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc).

Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Quang Bích dặn người thân: "Ta đã đem thân hứa quốc, không cần người đi lại thăm nom vô ích, sau này, nếu có nhớ đến ta, cứ lấy ngày thành Hưng Hóa thất hãm làm ngày giỗ ta". Coi ngày thành Hưng Hóa thất thủ là ngày giỗ mình cũng có nghĩa là ông coi như mình đã chết đi cùng với thành trong cái ngày lịch sử đau thương đó. Phải chăng ông đã ý thức đầy đủ về một sự mất mát không cưỡng nổi của cả một thế giới tinh thần tượng trưng bằng thành trì, văn vật... trong đó có gói ghém số phận của chính mình? Nguyễn Quang Bích quả đã nói lên được tâm lý chung của cả một thời đại, một thời đại mà mỗi cá nhân đều “phi ngã", chỉ có hình ảnh ngôi vua hiện lên lộng lẫy giữa một "thành bão" phong kiến mới tiêu biểu cho sự bền vững của cộng đồng.

Hành vi lịch sử "xả thân thủ nghĩa" đã trở thành hành vi đặc trưng cho cả một giai đoạn lịch sử. Những nhà nho trung nghĩa đã rất quyết liệt trong việc lựa chọn cái sống và cái chết. Trong triết lý sống và trong cách lựa chọn đó vừa có vẻ đẹp của một phạm trù thẩm mỹ cao cả vừa ẩn giấu cái không tưởng và vô vọng của một bi kịch. Bi kịch ở chỗ bản thân cái đẹp mà chủ thể muốn vươn tới lại cũng tất yếu là sự chuyển hóa thành cái chết, tức là một cách xác nhận tính phi hiện thực lý tưởng của mình. Nguyễn Quang Bích dứt khoát trả lời thực dân Pháp: "Chúng tôi cam lòng chịu chết vì nghĩa vua tôi". Vấn đề không còn là niềm tin nâng đỡ mỗi con người để họ tự nguyện hy sinh mà chỉ còn là một thế ứng xử có tính chất đạo lý. Nhưng một thế ứng xử tưởng chừng đầy tuyệt vọng như vậy, nhìn ở một bình diện khác, bỗng trở nên cao cả, vì rằng "nghĩa vua tôi" đã mang trong nó thực chất nghĩa vụ đối với xã tắc, non sông. Bởi vậy, Nguyễn Quang Bích coi đó là thế ứng xử tuyệt đối cần thiết, nhờ đó chính ông có thể bình thản đón nhận mọi khó khăn. Ông nói đến cái lẽ tự nhiên ở đời ai không sợ gian khổ cũng chính là để sau đó khẳng định lòng trung mà mình sẽ giữ đến cùng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Hai, 2017, 04:57:32 pm

Và sự chuyển đổi từ trung quân sang trung nghĩa có ý nghĩa phổ quát hơn và càng trở nên rõ nét khi chiến cuộc diễn ra phức tạp, tình thế buộc triều đình nhà Nguyễn "sẻ nghé tan đàn", không còn ai đóng được vai trò một thần tượng thiêng liêng để trăm họ nhìn vào đấy nữa.

Nguyễn Quang Bích có thể coi là trường hợp tương đối đặc biệt so với những văn thân chống Pháp khác. Ông là người đánh giặc theo chiếu chỉ của vua Hàm Nghi (lúc đã xuất bôn) và được chính vua Hàm Nghi phong chức Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần. Lòng trung của Nguyễn Quang Bích có thể được coi là ý thức trách nhiệm của kẻ bề tôi trước trọng trách mà nhà vua giao cho. Đối với ông một nhà nho chỉ quen với bút nghiên và sách vở thánh hiền thì việc ra trận dù tự nguyện và chân thành đến đâu cũng chỉ là một việc bất đắc dĩ. Bởi ông là người năng về suy tư và tâm cảm hơn là làm một người lính chiến; ông chiến đấu hết mình vì nghĩa lớn, không băn khoăn về thắng thua, nhưng cũng hơn ai hết ông tha thiết mong muốn đất nước yên hàn để ông được trở lại với nếp sống thanh bạch của nhà nho mà ông tâm đắc.

Chỉ khi đặt Nguyễn Quang Bích trong một hoàn cảnh rất cụ thể: với một tấm lòng trung nghĩa, cùng một đám cô quân đêm ngày lặn lội giữa núi cao rừng sâu, đói ăn thiếu ngủ, với mưa rừng cùng những trận chiến thất bại, ta mới thấy hết được những dằn vặt, trăn trở lo âu có thể đến với ông như với một con người bình thường. Song với từng ấy khó khăn, Nguyễn Quang Bích vẫn kiên trì chiến đấu, điều đó cho thấy sức mạnh của lòng yêu nước, ý chí diệt thù đã thấm sâu trong tâm thức ông thế nào.

Nhưng Nguyễn Quang Bích có khác so với các nhà nho trung nghĩa đương thời: ông không hóa thân hoàn toàn vào "cái chung" đến mức con người mình chỉ đơn thuần là một khối cương thường "đỏ như son". Trái lại, ông đã sống và chiến đấu hết mình với tất cả mọi vui buồn âu lo có thực của một con người - một trí thức có tâm hồn nghệ sĩ trong hoàn cảnh đau thương của lịch sử dân tộc. Dự cảm về một cuộc chiến không tránh khỏi thất bại, Nguyễn Quang Bích không khỏi có mặc cảm u sầu, tâm trạng đó bàng bạc trong thơ ông. Một cánh buồm thuận gió trôi theo dòng nước, một đêm trung thu không trăng, một lần tiễn biệt người bạn chiến đấu, một tiếng trẻ khóc... đều gợi trong ông những suy tư, làm trĩu nặng hơn cái ý thức về sự bất lực của chính mình. Cho đến lúc nhắm mắt, ông đã đau xót kiểm điểm lại đời mình và cảm thấy vô nghĩa, vì mình chưa làm được gì cả. Đó chính là tâm sự nặng nề u uất của ông, một nhà nho trung nghĩa, sẵn sàng xả thân vì nghĩa nhưng cũng cảm thấy mình đã không còn làm chủ được mình nữa trước một kẻ thù quá mạnh.

Dù cuối cùng phải thất bại, nhưng suốt cuộc đời Nguyễn Quang Bích vẫn canh cánh một lòng báo quốc, một ý chí diệt thù như bao nhà nho khác, ở ông có mâu thuẫn không tránh khỏi của cả một thế hệ sĩ phu muốn đem đạo nghĩa để thắng bạo lực của kẻ thù, có hình ảnh bi hùng của những trung thần nghĩa sĩ cuối thế kỷ XIX. Nhưng trên hết, bản lĩnh người chiến sĩ của ông còn được ghi tạc mãi mãi trong lòng dân tộc.

Trước khi bước sang một giai đoạn mới với những Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà, văn học Việt Nam đã có gần nửa thế kỷ hầu như chỉ khuôn trong đề tài trung quân ái quốc và nghĩa vụ của kẻ nam nhi đối với xã tắc sơn hà. Nguyễn Quang Bích và phần đông lớp sĩ phu cùng thế hệ ông - những nhà nho tự nguyện "đầu bút tòng nhung" cứu nước hoặc trong tư tưởng cũng đứng về phía phong trào kháng chiến, đã viết về đề tài này một cách trang nghiêm và với tất cả xúc cảm chân thành.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Hai, 2017, 07:12:31 am

Câu hỏi 17: Nguyễn Quang Bích đã trở thành một lãnh tụ xuất sắc của phong trào Cần Vương như thế nào?
Trả lời:


Kể từ ngày Nguyễn Quang Bích bước chân vào hoạn lộ với một giáo chức bình thường (Giáo thụ phủ Trường Khánh, tỉnh Ninh Bình) đến khi đứng đầu tỉnh Hưng Hóa, trị nhậm hết ngoài Bắc đến trong Trung, Nguyễn Quang Bích đã tỏ rõ là một vị quan thanh liêm, có đức độ, nên được nhân dân các địa phương chân thành ái mộ, thường gọi là "hoạt Phật" (Phật sống).

Cũng trong thời gian ấy, tình hình Bắc Kỳ rối ren cực độ. Hết "giặc khách" tràn sang cướp phá vùng biên giới Việt - Trung lại đến "giặc Tàu ô” hoành hành miền duyên hải suốt năm này qua năm khác. Đó là chưa nói tới các cuộc nổi dậy ngày càng rộng lớn của nông dân các địa phương chống lại các chính sách cướp đoạt ruộng đất, sưu cao thuế nặng, đàn áp quân sự của triều Nguyễn ngày càng khốc liệt. Trong khi đó, thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị mọi mặt cho những hành động quân sự mới.

Hưng Hóa là một vị trí trọng yếu trên sông Thao, án ngữ các mạch giao thông chính về đường thủy, như sông Lô đi Tuyên Quang, sông Đà đi Sơn La - Lai Châu. Vì vậy Hưng Hóa cũng là một mục tiêu quan trọng trong kế hoạch hành quân trên đất Bắc của quân Pháp lần này. Đối với người Pháp thì Hưng Hóa là cửa ngõ bằng bất cứ giá nào cũng phải mở cửa để tiến lên chiếm đóng miền núi, tranh chấp thế lực với nhà Thanh đầy tham vọng lúc này đã lợi dụng cơ hội đục nước béo cò để cho quân tràn sang đóng dọc sông theo chiều dài biên giới.

Tuần phủ Hưng Hóa lúc này chính là Nguyễn Quang Bích. Sau khi giặc Pháp chiếm Hà Nội lần thứ hai (ngày 25 tháng 4 năm 1882), trước việc quân Thanh ồ ạt kéo sang với danh nghĩa chống Pháp, ông đã thấy rõ dã tâm của bọn chúng nên đã kịp thời báo cáo về triều đình tỏ ý lo ngại, nhưng vua Tự Đức lại lớn tiếng quở trách là "đem lòng tiểu nhân để đo bụng người quân tử, lẽ nào người Thanh lại làm cái cử động vô nghĩa đó"1.
____________________________________
1. Quốc triều chính biên toát yếu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Hai, 2017, 07:13:22 am

Thái độ tin tưởng mù quáng của Tự Đức đã mang lại những hậu quả tai hại cho công cuộc kháng chiến bấy giờ của nhân dân ta. Sau khi buộc triều đình Huế phải ký Hiệp ước Quý Mùi (ngày 25 tháng 8 năm 1883) xác định quyền bảo hộ của chúng ở Việt Nam, thực dân Pháp hùng hổ kéo quân ra Bắc đánh chiếm nhiều nơi hòng hoàn thành gấp rút công cuộc xâm lược trên phạm vi cả nước. Thành Sơn Tây thất thủ (ngày 16 tháng 12 năm 1883). Hưng Hóa đã trở thành tỉnh lỵ chung cho ba tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang. Chiếm xong nhiều nơi khác, giờ đây quân Pháp có thể tập trung bao vây tấn công Hưng Hóa. Trước đó, các đạo quân Thanh, cũng như các đội quân chính quy của triều đình do Hoàng Tá Viêm chỉ huy đã rút khỏi Hưng Hóa để tránh đụng độ với quân Pháp, chỉ còn đội quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc ở lại phối hợp với quân địa phương của Nguyễn Quang Bích cương quyết chống giữ.

Quân ít, thế nguy, ông định liều chết với thành, nhưng các tướng lĩnh bên cạnh đã kịp thời vực ông lên ngựa, phá vòng vây chạy về Tam Nông (Phú Thọ ngày nay), sau đó lại dời về Cẩm Khê thu thập quân binh tính chuyện cố thủ lâu dài, bất chấp lệnh gọi về kinh của triều đình. Nghĩa quân tản mát các nơi nghe tin đều tìm đến. Bố chánh Sơn Tây là Nguyễn Văn Giáp từ khi thành mất đã rút về Lâm Thao nay cũng kéo quân về hợp lực. Lại thêm thân hào nghĩa sĩ các tỉnh đều nô nức hưởng ứng: Nam Định có Đinh Công Tráng, Ninh Bình có Quách Tất Ngân, Hưng Yên có Trần Văn Sang, Thanh Hóa có Hà Văn Mao, v.v... Thanh thế nghĩa quân nhờ vậy ngày càng thêm mạnh, liên tiếp đánh lui mấy trận giặc Pháp từ thành Hưng Hóa nống ra, như trận Gia Dụ ở huyện Tam Nông (ngày 28 tháng 1 năm 1885), trận Sơn Vi ở phủ Lâm Thao (ngày 2 tháng 2 năm 1885)...

Như vậy là tới đầu năm 1885, trong hoàn cảnh quân đội chính quy của triều đình tan rã, hầu như toàn bộ Bắc Kỳ đã lọt vào tay giặc Pháp, bằng hành động thực tế chống xâm lược của mình và trái với ý định của triều đình Huế đang trượt dài trên con đường khuất phục Pháp, Nguyễn Quang Bích đã mặc nhiên trở thành ngọn cờ tập hợp các lực lượng yêu nước chống Pháp trên chiến trường miền Bắc. Nhưng cũng chính vào lúc đó, thực dân Pháp trên đà thắng thế về quân sự đã gây áp lực buộc triều Thanh ký Quy ước Thiên Tân (ngày 11 tháng 5 năm 1884), hoàn toàn nhượng bộ chúng trong vấn đề Việt Nam, cam kết rút hết quân lính về nước - kể cả đội quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc - và tôn trọng mọi hiệp ước đã và sẽ ký kết giữa Pháp với triều đình Huế. Đồng thời Pháp buộc triều đình Huế ký thêm Hiệp ước Giáp Thân (ngày 6 tháng 6 năm 1884) đặt cơ sở lâu dài và chủ yếu cho nền đô hộ của Pháp trên đất nước Việt Nam. Với những thắng lợi to lớn và dồn dập đó, chúng rắp tâm dốc toàn lực vào việc giải quyết gấp vấn đề Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Hai, 2017, 07:13:51 am

Nhận rõ âm mưu của giặc, và để giành thế chủ động, đêm mồng 4 tháng 7 năm 1885, lực lượng yêu nước trong triều đình Huế do Tôn Thất Thuyết cầm đầu đã nổ súng tấn công vào các căn cứ của Pháp. Nhưng do tương quan lực lượng có lợi cho địch, chúng chiếm ưu thế tuyệt đối về vũ khí hiện đại trong khi sự chuẩn bị các mặt của quân ta lại chưa được đầy đủ, giặc Pháp đã phản công trở lại, rồi thừa thắng chiếm luôn kinh thành Huế vào sáng hôm sau. Tôn Thất Thuyết cùng những người đồng tâm, đồng chí hướng phải đưa vua Hàm Nghi chạy ra phía Bắc. Từ sơn phòng tỉnh Quảng Trị (Tân Sở), chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân cả nước đứng dậy chống Pháp cứu nước được phát ra rộng rãi trong cả nước (ngày 13 tháng 7 năm 1885). Cùng lúc có dụ khai phục và thăng chức cho các quan văn võ ngoài Bắc.

Đặc biệt, Nguyễn Quang Bích được phong vượt cấp: Thượng thư bộ lễ sung Hiệp thống quân vụ Bắc Kỳ, có toàn quyền chọn dùng văn võ các cấp. Ông được giao nhiêm vụ cầm quốc thư sang Trung Quốc cầu viện. Quyết định có tính cấp bách và kịp thời đó chứng tỏ người thủ lĩnh tối cao của phong trào kháng chiến cả nước lúc đó là Tôn Thất Thuyết từ lâu đã để tâm theo dõi sát sao phong trào ngoài Bắc và đã xác nhận một thực tế hiển nhiên về vai trò to lớn, đứng đầu của Nguyễn Quang Bích trong phong trào hồi đó. Từ nay, Nguyễn Quang Bích đã có vai trò đại diện ở ngoài Bắc cho vua Hàm Nghi đang còn bôn ba trên các nẻo đường kháng chiến của núi rừng miền Tây các tỉnh Nghệ - Tĩnh - Bình. Với tư cách Thượng thư bộ lễ của triều đình kháng chiến - theo quan chế hồi đó, bộ lễ phụ trách cả công tác ngoại giao, đối ngoại - Nguyễn Quang Bích trong thực tế đã thay mặt triều đình Hàm Nghi trong mọi việc giao thiệp với nhà Thanh.

Nhận lệnh vua, Nguyễn Quang Bích giao quyền chỉ huy cho phó tướng Nguyễn Văn Giáp, rồi tức tốc lên đường (ngày 19 tháng 8 năm 1885). Tới Vân Nam (Trung Quốc), ông chuyển quốc thư đứng tên vua Hàm Nghi cho Tổng đốc hai tỉnh Vân Nam - Quý Châu là Sầm Dục Anh, nội dung quốc thư trình bày tình hình Việt Nam sau khi kinh đô Huế bị giặc Pháp chiếm, và xin triều Thanh cho được thụ phong, rồi giúp đỡ về quân sự. Theo các nguồn tài liệu lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp thì chuyến đi này của Nguyễn Quang Bích còn có mục đích bí mật yêu cầu Lưu Vĩnh Phúc đưa đội quân Cờ Đen xuôi sông Hồng xuống sát vùng trung châu đón vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết từ miền Trung ra để phối hợp chiến đấu, cùng một lúc nhân dân Trung và Bắc Kỳ đồng loạt nổi dậy.

Nhiệm vụ ngoại giao hoàn thành, ông về nước được vua Hàm Nghi ban khen, Tôn Thất Thuyết có thơ úy lạo, có ý tin tưởng và trông chờ kết quả chuyến đi sứ vừa qua. Đáng buồn là lúc này từ vua Hàm Nghi đến Tôn Thất Thuyết, cả Nguyễn Quang Bích nữa, đều tuyệt nhiên không hay biết gì về việc nhà Thanh trước đó mới ký thêm với Pháp Điều ước Thiên Tân (ngày 9 tháng 6 năm 1885) hoàn toàn nhượng bộ tư bản Pháp, công nhận nền đô hộ của Pháp trên đất nước Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Hai, 2017, 07:14:25 am

Chờ mãi mà chẳng có tin tức gì từ phía Trung Quốc, tháng 5 năm 1886, Tôn Thất Thuyết phải đích thân lên đường sang cầu viện, có Đề đốc Trần Xuân Soạn cùng đi, Nguyễn Quang Bích cũng tham gia phái đoàn. Chuyến đi gian khổ, hai bạn đồng tâm, đồng chí của ông là Chu Lăng Thục (tự Thiết Nhai) - một viên quan của triều đình Trung Quốc - có cảm tình với phong trào kháng chiến của nhân dân Việt Nam và đã tích cực giúp đỡ nghĩa quân Nguyễn Quang Bích trong việc liên lạc với nhà Thanh để xin viện trợ - và Nguyễn Hội (tự Khê Ông) lĩnh chức Án sát sứ tỉnh Sơn Tây sung Tán tương quân vụ, đã chết trên đường đi.

Chuyến đi này cuối cùng cũng không mang lại kết quả gì đáng kể, ngoài một số súng đạn ít ỏi và vài lời hứa hão của Sầm Dục Anh. Thất vọng và liệu thế trở về nước có nhiều nguy hiểm vì thực dân Pháp đã bắt đầu khóa chặt biên giới hai nước, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn đành ở lại đất người, chỉ một mình Nguyễn Quang Bích luồn rừng vượt suối trở về căn cứ để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến.

Trong thời gian chủ tướng đi vắng, nghĩa quân ở nhà vẫn không ngừng hoạt động. Nguyễn Văn Giáp nhiều lần chủ động tấn công các đồn lẻ của địch trong vùng, hay bám trụ vững chắc đánh lui nhiều lần địch đột nhập căn cứ. Có một số trận lớn như Thanh Mai (tháng 6 năm 1885), Tuần Quán (đầu năm 1886), Tiên Động (tháng 6 năm 1886), v.v...

Nguyễn Quang Bích từ Trung Quốc về nước chọn đặt đại bản doanh tại núi Nghĩa Lộ (châu Văn Chấn) nơi đây địa thế hiểm trở, có núi cao suối sâu bao bọc, dân cư trù mật, các đường dẫn vào đều có quân đóng giữ. Thanh thế nghĩa quân lúc này lên cao, các thủ lĩnh xa gần như Đề Kiều, Đốc Ngữ (Nguyễn Đình Ngữ) ở Hưng Hóa - Phú Thọ - Hòa Bình; Đề Cương (Hoàng Đình Cương), Đề Cơ, Đề Anh ở Sơn Tây; Đề Vận, Đề Vịnh ở Bắc Ninh; Đề Vũ ở Nam Định; Lãnh Hoan (Vũ Văn Hoan), Đốc Nhưỡng (Đinh Quang Nhưỡng), Đốc Đen, Bùi Như Quảng ở Thái Bình... đều tự nguyện đặt dưới sự chỉ huy của ông.

Các lang đạo vùng các dân tộc ít người như Đèo Văn Trì, Đèo Văn Toa ở Lai Châu; Đèo Văn Sanh ở Điện Biên; Nguyễn Văn Quang, Cầm Văn Thanh, Cầm Văn Hoan ở Sơn La cũng hưởng ứng phong trào. Hơn thế nữa, các trung tâm khác của phong trào Cần Vương trong cả nước như Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh), Tống Duy Tân, Hà Văn Mao (Thanh Hóa), Nguyễn Thiện Thuật (Hưng Yên), v.v... đều có đặt mối liên lạc chặt chẽ.

Lực lượng hậu cần của nghĩa quân lúc này cũng được tích lũy dồi dào hơn, nhân dân các châu huyện xung quanh nô nức gánh lương thực về nộp, lập kho dự trữ, tích cực bảo đảm cho cuộc chiến đấu lâu dài. Đồng bào các dân tộc ít người (Thái, Mường, Mèo, Dao) đều nhiệt liệt đi theo. Thanh thế nghĩa quân nhờ đó ngày càng lên cao, quân Pháp mấy lần kéo quân lên càn quét hai huyện Văn Bàn và Văn Chấn (đầu tháng 12 năm 1886), đánh thọc sâu vào Đại Lịch (tháng 1 năm 1887), đều bị nghĩa quân phục kích dữ dội trên đường hành quân, chúng thiệt hại nặng phải rút lui.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Hai, 2017, 07:15:02 am

Thất bại về quân sự, giặc Pháp xoay ra dùng thủ đoạn chính trị. Chúng một mặt dùng quân đội đàn áp, một mặt cho tay sai là Bố chánh ngụy tỉnh Hưng Hóa và Tri phủ Lâm Thao đến dụ dỗ, mua chuộc. Nhưng trước sau Nguyễn Quang Bích đều cương quyết cự tuyệt. Tháng 11 năm 1887, giặc Pháp tấn công vào đại bản doanh nghĩa quân tại Nghĩa Lộ. Lần này, chúng cũng bị đánh lui, nhưng vài ngày sau đó một tổn thất lớn đã đến với nghĩa quân: Phó tướng Nguyễn Văn Giáp bị bệnh nặng mất. Bước sang năm 1888, tình hình Tây Bắc ngày thêm khó khăn. Mở rộng phạm vi đánh chiếm, giặc Pháp sau khi lần lượt chiếm Yên Bái (tháng 3 năm 1886), Lào Cai (tháng 5 năm 1886), Phong Thổ (đầu năm 1887), kéo quân đến Lai Châu để tới Điện Biên Phủ, rồi tiến xuống Sơn La (đầu năm 1888), đầu tháng 7 năm 1888, chúng bất ngờ tấn công lần thứ hai vào Nghĩa Lộ. Lần này cũng như lần trước, chúng bị quân ta phục kích tiêu diệt nặng nên chỉ hai ngày sau đã phải rút quân. Nguyễn Quang Bích trước đó đã tạm lánh vào châu Phù Yên (huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, tức Vĩnh Phúc ngày nay), đợi giặc rút hết, ông lại trở về căn cứ chuẩn bị những đợt chiến đấu mới. Và chỉ mấy ngày sau, nghĩa quân đã thắng to ở Dụ Phong (thuộc Vĩnh Phúc ngày nay), chém được mười ba đầu lính Tây đưa về; lính Pháp và lính ngụy vừa bị thương vừa bị chết tại trận đến năm, sáu trăm tên, nghĩa quân đã thu được nhiều quân trang, quân dụng và vũ khí của địch.

Mặc dù giành được thắng lợi mới nhưng tình hình nghĩa quân ngày càng gặp nhiều khó khăn. Giặc Pháp đã xiết chặt thêm vòng vây, việc giải quyết tiếp tế lương thực cho nghĩa quân gặp muôn vàn trở ngại. Biết rằng trước sau thế nào quân giặc cũng sẽ đánh đòn quyết định, Nguyễn Quang Bích đã nói cùng tướng sĩ dưới quyền rằng: chúng từng đột nhập và đánh quân trong căn cứ nên đã thông thạo địa hình, đường đi lối lại đã tỏ tường, nên trong tương quan lực lượng đôi bên bây giờ nghĩa quân không thể bám trụ ở Nghĩa Lộ được. Quân thứ vì vậy phải di chuyển luôn, hết Sơn Động (tháng 5 năm 1888), lại Sơn Lương (tháng 8 năm 1888) và cuối cùng về Quế Sơn, cả ba địa điểm trên đều thuộc châu Yên Lập (tức Vĩnh Phúc ngày nay).

Đến tháng 9 năm 1888 thì quân Pháp tấn công vào Nghĩa Lộ, nhưng quân ta đã kịp thời chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng, rồi sau đó bao vây dồn chúng vào thế vô cùng nguy ngập, mọi cánh quân kéo tới giải vây đều bị đánh tan; đồng thời đẩy mạnh các hoạt động phối hợp với mặt trận chính, các toán nghĩa quân rải rác ở các địa phương đều phục kích đánh giặc trên đường chúng hành quân, hay tiến hành chống càn thắng lợi.

Tháng 9 năm 1889, Nguyễn Quang Bích tập hợp các tướng sĩ bố trí một trận phục kích lớn, chờ quân giặc liều lĩnh đi sâu vào trận địa thì nổ súng. Trận này nghĩa quân thắng to, giặc vừa bị thương vừa bị chết khá đông, nghĩa quân thu được nhiều đạn dược cùng súng ống của địch. Nhưng mặc dù vậy, trước khí thế ngày càng mạnh của giặc vốn đã có ưu thế về vũ khí, lại ngày càng thực hiện triệt để chiến thuật bao vây khoanh vùng để cô lập nghĩa quân, triệt đường tiếp tế, kết hợp chặt chẽ với thủ đoạn khủng bố nhân dân và chia rẽ các dân tộc trong vùng, cuối cùng nghĩa quân phải dời đại bản doanh về đóng ở khe núi Tôn Sơn, xã Mộ Xuân, cũng thuộc châu Yên Lập.

Đã thế, trong thời gian này, chủ tướng Nguyễn Quang Bích lại đau ốm liên miên. Lượng sức mình khó lòng qua khỏi, ông đã căn dặn người nhà và những người thân cận: "Ta đã đem thân hứa quốc, không cần người đi lại thăm nom vô ích, sau này, nếu có nhớ đến ta, cứ lấy ngày thành Hưng Hóa thất hãm làm ngày giỗ”.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Hai, 2017, 07:16:04 am

Cuối năm 1889, trong một cố gắng cuối cùng, ông ra lệnh cho các tướng sĩ cùng các quân thứ chuẩn bị chu đáo cho cuộc tấn công lớn năm sau. Không ngờ đến ngày 5 tháng 1 năm 1890 (tức ngày 15 tháng Chạp năm Kỷ Dậu), ông đột nhiên chuyển bệnh nặng, rồi mất tại đại bản doanh ở núi Tôn Sơn. Thi hài ông được quân sĩ trân trọng chôn cất trên ngọn núi Tôn Sơn.

Tin ông mất từ căn cứ truyền ra, sĩ phu văn thân cũng như nhân dân các địa phương đều tỏ lòng thương tiếc. Nhưng hơn một năm rưỡi sau thực dân Pháp mới biết, qua báo cáo của Kinh lược sứ Bắc Kỳ gửi cho Thông sứ Bắc Kỳ (báo cáo ngày 17 tháng 8 năm 1891). Lúc đầu bọn chúng chưa tin, nghi là mưu kế của nghĩa quân, nên bắt giam cả nhà ông, kể cả bà cụ thân mẫu ông; các hào lý làng Trình Phố quê hương của ông cũng bị bắt giam và tịch thu tài sản, cốt buộc họ phải bắt ông nộp cho chúng. "Một người tận trung, cả làng bị giày xéo. Cái nọc độc văn minh quá lắm thay!", đó là lời kết án nghiêm khắc của nhà yêu nước Phan Bội Châu khi viết Việt Nam vong quốc sử (1905).

Nguyễn Quang Bích mất đi, đó là một tổn thất nặng nề cho nghĩa quân Tây Bắc nói riêng, cho phong trào yêu nước chống Pháp xâm lược trong cả nước nói chung. Nhưng cuộc kháng chiến của nhân dân Tây Bắc vẫn tiếp tục phát triển dưới quyền thống lĩnh của Đề Kiều và Đốc Ngữ, cả hai ông đều đặt dưới sự chỉ huy chung của Tống Duy Tân. Tống Duy Tân đã được phong tước Tổng đốc quân vu đại thần có toàn quyển chỉ đạo phong trào chống Pháp ngoài Bắc.

Đốc Ngữ lúc này giữ chức Phó tướng đạo Hà Ninh (Hà Nội - Ninh Bình) đến ngày 7 tháng 8 năm 1892, ông bị giặc Pháp và tay sai mưu sát, các toán quân của ông trên đường tan rã, có nhiều toán đã sáp nhập vào lực lượng của Đề Kiều. Nhưng chỉ mấy tháng sau lại đến lượt Đề Kiều lúc đó giữ chức Phó tướng đạo Tam Tuyên (Sơn Tây - Hưng Hóa - Tuyên Quang) ra hàng giặc Pháp (ngày 19 tháng 7 năm 1892)1. Phong trào Cần Vương ngoài Bắc đến đây có thể xem như đã chấm dứt.
__________________________________
1. Vua Hàm Nghi đã bị bắt và đưa đi đày từ năm 1888, nhưng những người chịu trách nhiệm đối với phong trào bấy giờ vẫn lấy danh nghĩa nhà vua để ra tờ chiếu ngày mồng 10 tháng 5 năm Hàm Nghi thứ 7 (đối chiếu dương lịch là ngày 16 tháng 6 năm 1891) để phong cho Tống Duy Tân, Đốc Ngữ và Đề Kiều các chức trên.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Hai, 2017, 07:16:25 am

Trong khi đó thì phong trào ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh vẫn được duy trì và tiếp tục phát triển bất chấp các thủ đoạn đàn áp khủng bố ác liệt của kẻ thù. Trong hoàn cảnh đó, Tống Duy Tân đã chủ động bắt liên lạc với nghĩa quân Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh) trong miền Trung và với nghĩa quân Hoàng Hoa Thám (Bắc Giang) ngoài Bắc để cùng nhau phối hợp chiến đấu. Nhưng lần lượt Tống Duy Tân rồi Phan Đình Phùng, người sa vào tay giặc, người hy sinh trong chiến đấu. Và đến những năm 1895-1896 của thế kỷ XIX thì phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân ta chống đế quốc Pháp xâm lược và phong kiến trong cả nước đã bị dập tắt. Còn lại cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế (Bắc Giang) tuy kéo dài đến năm 1913, nhưng cũng chỉ là những đợt sóng cuối cùng đổ vào bờ trước khi im tiếng.

Phong trào đấu tranh vũ trang cuối thế kỷ XIX của nhân dân ta chống lại sự xâm lược của đế quốc Pháp - mà đỉnh cao là phong trào Cần Vương sôi động và hùng tráng trong những năm 1885-1896, cuối cùng đã thất bại. Những văn thân, sĩ phu yêu nước chống xâm lược cuối thế kỷ XIX bị hạn chế bởi các điều kiện giai cấp và thời đại nên không thể giải quyết đúng đắn được yêu cầu giải phóng dân tộc và dân chủ của lịch sử Việt Nam lúc đó.

Chế độ phong kiến độc lập mà họ muốn khôi phục lại sau khi đánh đuổi xâm lược Pháp không còn thích hợp với sự phát triển của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX nữa. Phong trào do họ phụ trách vì vậy chỉ phát triển rầm rộ trong buổi đầu vì được quần chúng yêu nước - chủ yếu là nông dân - nhiệt tình hưởng ứng. Nhưng chỉ sau một thời gian thì rời rạc dần và cuối cùng tan rã trước sức tiến công dồn dập và ác liệt của kẻ thù, mà ít có điều kiện tiến triển thành một phong trào cách mạng sâu rộng khả dĩ giải quyết cùng lúc cả hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam hồi đó.

Mặc dù vậy, cuộc chiến đấu hy sinh ngoan cường của các chiến sĩ Cần Vương, trong đó nổi bật lên những Nguyễn Quang Bích, Tống Duy Tân, Phan Đình Phùng,... đã để lại cho các thế hệ sau những tấm gương rực rỡ về sự hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, về khí phách hiên ngang, bất khuất, về hành động xả thân cho việc nước của người trí thức dân tộc chân chính trước kẻ thù.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Hai, 2017, 11:06:13 pm

Câu hỏi 18: Vai trò lãnh đạo quân sự của vị thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích đối với cuộc khởi nghĩa?
Trả lời:


Nguyễn Quang Bích là một trí thức phong kiến, một nhà thơ, một nhà quân sự, nhà chính trị - ngoại giao giỏi. Những tri thức mà ông có được trong cuộc sống là tiền đề để ông có tầm nhìn chiến lược sâu rộng trong lĩnh vực quân sự. Trải qua những bước thăng trầm của cuộc đời, với thực tế cuộc sống và chiến đấu, ông đã trở thành người chỉ huy cao nhất của trung tâm kháng chiến ngoài Bắc cuối thế kỷ XIX.

Trong hoàn cảnh phức tạp của xã hội Việt Nam lúc đó, khi mà triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp xâm lược, những viên tướng như Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản có một thời đại diện cho quần chúng nhân dân và đứng về phe chủ chiến, nay lại lo sợ trước hoàn cảnh thực tại mà đánh rơi mất báu vật là lòng yêu nước, lòng tin của nhân dân, thì Nguyễn Quang Bích cùng những chiến hữu trung thành của mình như Đề Kiều, Đốc Ngữ, Nguyễn Văn Giáp... đã đứng ra gánh vác việc lớn. Họ hành động thật kiên quyết, triệt để, phất cờ tập hợp nghĩa quân đứng lên khởi nghĩa chống Pháp. Sự nổi dậy của quần chúng nhân dân dưới ngọn cờ của ông đã khẳng định một điều: lòng yêu nước, căm thù bọn xâm lược là ngọn cờ có hiệu lực nhất trong việc tập hợp đông đảo nhân dân chống Pháp.

Người lãnh tụ nghĩa quân Nguyễn Quang Bích là hiện thân của lòng yêu nước, yêu dân. Đặc biệt, tư tưởng của ông đã vượt ra khỏi khuôn mẫu của tư tưởng Nho giáo lúc đó. Việc khước từ địa vị ở triều đình để cùng nghĩa quân xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài ở một vùng rừng núi hẻo lánh - nơi phần đông là đồng bào thiểu số, vô cùng thiếu thốn, gian khổ là một bằng chứng sâu sắc về bản lĩnh của Nguyễn Quang Bích. Ông xứng đáng được nhân dân ủng hộ và kính phục,

Từ năm 1876, Nguyễn Quang Bích với tư cách là Tuần phủ Hưng Hóa đã tích cực góp phần vào sự nghiệp trị an và bảo vệ Tổ quốc ngay trên dải đất hiểm trở gần biên giới phía Bắc. Ông cũng đã nhận thấy triều đình nhà Thanh sẽ câu kết với Pháp. Ông đã trình lên vua ý kiến của mình về việc quân Thanh tràn sang Việt Nam ngày một đông vào lúc quân Pháp đang mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đó là dấu hiệu của sự bất bình thường về chính trị, quân sự đang đe dọa nền độc lập dân tộc. Việc làm đó cho thấy Nguyễn Quang Bích không chỉ có những áng thơ đầy cảm hứng và lắng đọng, mà còn có tri thức quân sự thật đặc biệt. Đó là lời tư duy mang tính dự báo rất cao.

Việc chọn căn cứ kháng chiến lâu dài chống Pháp cũng thể hiện Nguyễn Quang Bích là người có tầm nhìn chiến lược trong quân sự. Trước tình thế khó có thể giữ được thành Hưng Hóa vì tương quan lực lượng quá chênh lệch, Nguyễn Quang Bích và Lưu Vĩnh Phúc chỉ tổ chức đánh phòng ngự và sau đó rút dần về phía Bắc: từ Hưng Hóa rút về Thục Luyện (Đồn Vàng) đến Cẩm Khê, từ làng Sơn Bình về làng Áp Lộc và về cố thủ ở Tiên Động. Đây là một địa bàn hiểm trở. Ông định xây dựng nơi đây thành một trung tâm kháng chiến chống Pháp. Về đây, Nguyễn Quang Bích nhận được sự ủng hộ của nhiều nhóm nghĩa quân các nơi khác, đặc biệt ông đã gặp được một thủ lĩnh xuất sắc là Nguyễn Văn Giáp - người bạn tri kỷ của ông trong nhiều năm kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Hai, 2017, 11:06:39 pm

Cuối năm 1886, có thể coi đây là cái mốc đánh dấu sự chuyển biến về chất của cuộc kháng chiến ở Bắc Kỳ, Nguyễn Quang Bích đã quyết định chọn một địa bàn có vị trí quân sự, chính trị và kinh tế vững chắc hơn để xây dựng căn cứ. Đó là Văn Chấn (Nghĩa Lộ). Địa bàn này là chỗ đứng chân "lý tưởng" cho nghĩa quân trong việc tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp. Chọn chỗ đứng chân có địa thế hiểm trở, vững chắc, có dân, có lương thực để kháng chiến lâu dài và từ đó có thể đánh rộng ra để mở rộng địa bàn phát triển cuộc kháng chiến đó là nguyên tắc của việc chọn căn cứ địa. Việc đó đòi hỏi tầm nhìn sâu rộng của người cầm quân.

Trong quân sự thì vai trò của người chỉ huy đặc biệt quan trọng. Người tướng giỏi là phải biết dùng quân, dùng người, dũng cảm, tài trí. Cái gốc của người tướng là lòng nhân ái, thương yêu quân sĩ, đồng cam cộng khổ với họ. Muốn tiến hành một cuộc kháng chiến lâu dài và giành được thắng lợi, điều cốt lõi là phải biết dựa vào nhân dân, được dân tin yêu, che chở và đùm bọc. Nguyễn Quang Bích là hiện thân của những đức tính đó. Do vậy, mặc dù ông là người miền xuôi đưa quân lên vùng Tây Bắc, cùng với dồng bào thiểu số xây dựng căn cứ kháng chiến, nhưng ông đã chiếm được lòng tin của đồng bào các dân tộc. Cuộc kháng chiến do ông tổ chức và lãnh đạo đã tồn tại được một thời gian khá dài trước tương quan lực lượng khá chênh lệch, trước hoàn cảnh thực tế rất khó khăn cho nghĩa quân.

Trong xây dựng căn cứ địa, một yêu cầu cao là không được biến nơi đó thành căn cứ "tĩnh" mà phải xây dựng thành căn cứ "động", có nghĩa là phải làm cho khu căn cứ ngày càng được mở rộng, và phát triển bằng những hoạt động quân sự rất chủ động, linh hoạt, sáng tạo. Sau khi đã chọn được một căn cứ địa chiến lược vững chắc như vậy, ông cùng Nguyễn Văn Giáp rất tích cực và luôn tranh thủ thời cơ thuận lợi tổ chức những trận phục kích, tập kích, đánh úp, đánh nhỏ để tiêu diệt lực lượng quân Pháp, mở rộng địa bàn hoạt động và bảo vệ căn cứ. Điều đó chứng tỏ ông và các thủ lĩnh nghĩa quân đã nắm vững tư tưởng tiến công trong hoạt động quân sự. Do đó, căn cứ không những chỉ tồn tại mà ngày càng được phát triển.

Uy tín của cuộc kháng chiến do Nguyễn Quang Bích và người trợ thủ đắc lực của ông là Nguyễn Văn Giáp đã đặc biệt thu hút sự chú ý và ủng hộ của các đội nghĩa quân khác. Sự liên kết của trung tâm cuộc kháng chiến với các thủ lĩnh đương thời trong phong trào Cần Vương như Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh), Tống Duy Tân, Hà Văn Mao (Thanh Hóa), Nguyễn Thiện Thuật (Hưng Yên), Đàm Chí Trạch (Nam Định), Nguyễn Tử Ngôn (Ninh Bình) đã làm cho căn cứ càng được cũng cố vững chắc và đã nhiều lần chống trả thắng lợi các cuộc tấn công của thực dân Pháp. Sau này, khi cuộc kháng chiến ở vào giai đoạn gay go nhất, Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Văn Giáp phải tạm thời bỏ căn cứ lánh vào gia đình đồng bào người Mèo, họ đã nhận được sự che chở hết sức chu đáo của nhân dân và sau đó an toàn trở về căn cứ của mình, tiếp tục cuộc kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Hai, 2017, 11:06:57 pm

Chúng ta còn tìm thấy ở Nguyễn Quang Bích những sách lược quân sự chính trị và ngoại giao tài giỏi. Trong những ngày tháng gay go của cuộc kháng chiến, ông đã tích cực cùng triều đình tranh thủ sự giúp đỡ của nhà Thanh. Mặc dù không coi đó là chỗ dựa chủ yếu, nhưng với tài ngoại giao của mình, ông đã tranh thủ được sự giúp đỡ nhất định và có lợi của Sầm Dục Anh đối với cuộc kháng chiến mà ông đang tiến hành.

Việc sử dụng những nhân tài quân sự lúc đó như Nguyễn Văn Giáp, Đề Kiều, Đốc Ngữ cùng một số thủ lĩnh khác đã chứng tỏ tài dùng người của Nguyễn Quang Bích. Vì thế, trong thời gian ông hai lần đi sứ, Nguyễn Văn Giáp vẫn đủ bản lĩnh thay ông duy trì cuộc kháng chiến thu được nhiều thắng lợi.

Về phương diện chiến thuật, cũng như nhiều cuộc khởi nghĩa khác, ở cuộc khởi nghĩa này, lối đánh sở trường của nghĩa quân, lối đánh phù hợp và có hiệu quả nhất vẫn là đánh du kích, đánh úp, đánh lẻ, dùng thế bất ngờ, dựa vào sự thông thạo địa hình, phát huy thế hiểm của thiên nhiên vốn có để đối chọi với một đội quân đế quốc có trang bị hiện đại, có số lượng đông hơn nhiều lần.

Trong quá trình tiến hành cuộc khởi nghĩa chống Pháp, Nguyễn Quang Bích đã vận dụng rất khôn khéo, linh hoạt kết hợp các hình thức tác chiến: phòng ngự, phản công, tiến công. Cuộc rút lui ở Hưng Hóa, những trận đánh nhỏ để cản giặc trên đường rút quân và cuối cùng là quan niệm "động" trong việc xây dựng căn cứ kháng chiến ở Nghĩa Lộ, Văn Chấn đã chứng tỏ tầm nhìn chiến lược, chiến thuật của Nguyễn Quang Bích.

Thời kỳ cận đại là thời kỳ đấu tranh vũ trang sôi động. Vì thế, cuộc kháng chiến của nhân dân vùng Tây Bắc do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo cùng với phong trào đấu tranh vũ trang trong cả nước đã làm cho thực dân Pháp gặp nhiều khó khăn, cản trở lớn đến việc chúng tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, đặt ách thống trị và tiến hành khai thác thuộc địa. Nó thể hiện sinh động truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Tuy thất bại nhưng truyền thống yêu nước quật cường bất khuất của dân tộc vẫn truyền nối từ đời này sang đời khác. Nó là tiền đề vật chất và ý thức cho những phong trào đấu tranh cách mạng mới với những hình thức đấu tranh cao hơn và đạt được những kết quả triệt để hơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Hai, 2017, 11:08:42 pm

Câu hỏi 19: Hãy cho biết nguyên nhân thất bại của phong trào khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích?
Trả lời:


Hưng Hóa là một trong số hai tỉnh cuối cùng ở Bắc Kỳ bị thực dân Pháp chiếm đóng trước khi Hiệp ước ngày 6 tháng 6 năm 1884 được ký kết (Hưng Hóa thất thủ ngày 12 tháng 4 năm 1884, và Tuyên Quang thất thủ ngày 31 tháng 5 năm 1884).

Theo Đại Nam thực lục1 thì sau khi Hưng Hóa thất thủ, Tuần phủ Nguyễn Quang Bích đã rút về Hưng Yên, rồi từ đó ông ủy quyền nộp ấn lại cho triều đình và lên vùng thượng du chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp. Cùng với Nguyễn Quang Bích còn có một số quan lại các tỉnh khác như Nguyễn Văn Giáp (nguyên Bố chánh Sơn Tây), Nguyễn Thiện Thuật (nguyên Tán tương quân thứ Sơn Tây)... Sau khi Sơn Tây thất thủ ngày 17 tháng 12 năm 1883, Nguyễn Văn Giáp và Nguyễn Thiện Thuật cũng đã chống lệnh triệt binh của triều đình Huế để mộ quân phát động phong trào chống giặc cứu nước.

Trong bối cảnh đó, chiếu Cần Vương của Hàm Nghi ra tới Bắc Kỳ đã gặp ngay được một môi trường thuận lợi để phát triển, chứ không chỉ "đưa đến (cho Bắc Kỳ) một hơi thở mới và hỗ trợ cho việc liên kết các nhóm vũ trang" - như tiến sĩ Sac-lơ Phua-ni-ô đã nhận định trong cuốn Trung - Bắc Kỳ trong những năm 1885-1896 xuất bản tại Pari năm 1898, trang 84.

Đó là tác động qua lại giữa phong trào chống Pháp của nhân dân Bắc Kỳ với phong trào Cần Vương do Hàm Nghi phát động kể từ sau tháng 7 năm 1885 - một vấn đề mà giới sử học cần đi sâu nghiên cứu để thấy được đặc điểm của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược và triều đình bạc nhược của nhân dân hai miền Trung - Bắc Kỳ.

Về nguyên nhân thất bại của phong trào Nguyễn Quang Bích nói riêng và phong trào Cần Vương ở Bắc Kỳ nói chung đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị. Song, ở đây xin đề xuất thêm về hai vấn để mà trước đây ít được quan tâm đi sâu.

- Về chính sách "chia để trị", chỉ xin đề cập đến khía cạnh phân chia khu vực địa giới hành chính của chính sách này mà thôi.
_____________________________________
1. Đại Nam thực lục, tập 36, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 104.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Hai, 2017, 11:10:42 pm

Như chúng ta đều biết, trước năm 1880, nhà Nguyễn chia toàn bộ địa bàn Bắc Kỳ thành 13 tỉnh1. Trong quá trình "bình định" - và chỉ tính tới năm 1895 khi phong trào Cần Vương về cơ bản bị dập tắt trên toàn Trung Kỳ, Bắc Kỳ - thực dân Pháp đã thực hiện thủ đoạn thu hẹp địa bàn một số tỉnh cũ lại để chia lập thành bốn tỉnh mới và bốn đạo quan binh - một đơn vị tương đương với cấp tỉnh nhưng đặt dưới sự cai trị của giới cầm quyền quân sự.

Riêng đối với Hưng Hóa - một tỉnh lớn, trải dọc theo hướng tây bắc, nằm trong vùng trung du và thượng du - là địa bàn hoạt động chính của Nguyễn Quang Bích thì   thực dân Pháp đã có một đối sách rất đặc biệt: Hưng Hóa bị cắt một phần đất để lập nên tỉnh Hòa Bình (ngày 18 tháng 3 năm 1891), cắt địa bàn Yên Bái, Lào Cai, để đưa vào đạo quan binh III, cắt địa bàn Sơn La để đưa vào địa bàn đạo quan binh IV (ngày 20 tháng 8 năm 1891). Như vậy, thực sự tỉnh Hưng Hóa cũ chỉ còn lại địa bàn Phú Thọ, đặt dưới sự cai trị của giới cầm quyền dân sự.

Với chính sách "chia để trị", thực dân Pháp đã khống chế dần dần phong trào kháng chiến của nhân dân Bắc Kỳ nói chung và của phong trào Nguyễn Quang Bích nói riêng. Bộ máy cai trị và đàn áp bao gồm cả thực dân và ngụy quyền tay sai đã được chúng thiết lập ngày càng dày đặc ở các cấp trên khắp Bắc Kỳ.

Cũng cần phải nói thêm rằng, việc tổ chức các đạo quan binh là một hình thức cai trị đặc biệt của bộ máy thống trị của thực dân Pháp ở Việt Nam, và chỉ riêng ở Bắc Kỳ mới có. Về tổ chức các đạo quan binh rất phức tạp. Một điều nổi bật cần được nêu lên, đó là: nơi nào phong trào kháng chiến mạnh gây nên mối lo sợ cho nền thống trị thực dân thì nơi đó lập tức bị giới cầm quyền thực dân đưa vào đạo quan binh để đặt dưới sự thống trị và đàn áp trực tiếp của giới cầm quyền quân sự. Trái lại, nơi nào phong trào kháng chiến tạm lắng xuống thì chính quyền thực dân lại chuyển trả giới cầm quyền dân sự của các tỉnh giáp ranh. Do đó, địa bàn đạo quan binh và đạo lỵ của chúng luôn luôn thay đổi.

Bởi vậy, tới đầu thế kỷ XX, trong bản báo cáo trước Hội đồng tối cao Đông Dương họp vào tháng 2 năm 1902, Toàn quyền Đông Dương Pôn Đu-me đã phát biểu về chính sách "chia để trị" này - tức việc thu hẹp địa bàn hoạt động để đàn áp và thống trị cho có hiệu quả - như sau: Địa bàn không nên quá rộng thì quan cai trị mới nắm bắt được mọi lợi ích cũng như mới giải quyết được mọi công việc của địa hạt mình cai quản.

- Về những đạo quan binh thì chúng đã lập thành "một vùng biên giới rộng lớn như một vành đai biên cương bọc lấy Bắc Kỳ". Điều đó cũng có nghĩa là các đạo quan binh sẽ vô hiệu hóa được ý đồ muốn dựa vào lực lượng bên ngoài để kháng Pháp của các nhà lãnh đạo nghĩa quân hồi cuối thế kỷ XIX.

- Về chính sách chia rẽ dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam: Do địa bàn hoạt động của phong trào Nguyễn Quang Bích trải rộng suốt miền trung du và thượng du Bắc Kỳ theo hướng tây bắc là nơi có nhiều thành phần dân tộc thiểu số cư trú và tham gia tích cực trong lực lượng nghĩa quân nên giới cầm quyền thực dân hết sức chú ý đến đặc điểm này.
____________________________________
1. 13 tỉnh đó là: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Nam Định (Một số trong những tỉnh này thường được gọi ghép là: Lạng – Bằng - Ninh - Thái; Hải - Yên, Sơn - Hưng - Tuyên (hay Tam Tuyên); Hà - Ninh, hoặc Hà - Yên - Ninh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Hai, 2017, 11:11:03 pm

Sau khi lập thêm tỉnh mới và các đạo quan binh mà chủ yếu là rút từ phần đất của Hưng Hóa, Toàn quyền Đông Dương Đờ La-nét-xăng đã ra thông tư ký ngày 3 tháng 9 năm 1891 gửi cho các viên thực dân cao cấp để chỉ đạo việc tổ chức bộ máy cai trị ngụy quyền tại các vùng đồng bằng có các dân tộc thiểu số. Nội dung chủ yếu của thông tư là: dùng người dân tộc để tổ chức cai trị người dân tộc, tuyệt đối không được dùng người Việt để cai trị người các dân tộc khác và ngược lại. Kế đó, ngày 5 tháng 9 năm 1891, Đờ La-nét-xăng lại ra nghị định thiết lập lại và chính quy hóa lực lượng hiện có ở Bắc Kỳ. Và để thực hiện triệt để thông tư ngày 3 tháng 9 năm 1891 thực dân Pháp dần dần thành lập các đội lính cơ người dân tộc để thay thế cho lính cơ người Kinh tại các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số ở. Kẻ thực hiện tích cực chỉ thị này là trung tướng Pen-nơ-canh, sĩ quan chỉ huy trực tiếp đạo quan binh IV Sơn La mà lúc đó đã mở rộng tới cả khu vực Chợ Bờ, sông Đà - nơi hoạt động mạnh của Đề Kiều, Đốc Ngữ - những tướng lĩnh giỏi của Nguyễn Quang Bích.

Đấy là những văn bản mở đầu cho chính sách của thực dân Pháp đối với các dân tộc ở Việt Nam: chính sách dùng người Việt cai trị người Việt, dùng người Mường cai trị người Mường, v.v... nghĩa là người dân tộc nào thì cai trị dân tộc đó, song đều phải đặt dưới quyền giám sát và kiểm soát chặt chẽ của thực dân Pháp - dưới chiêu bài "tôn trọng" Hiệp ước bảo hộ ngày 6 tháng 6 năm 1884. Đây cũng là mở đầu cho việc thi hành chế độ “thổ quan" và bãi bỏ chế độ "lưu quan" của triều Nguyễn trước đấy. Thực chất đây là chính sách chia rẽ dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam của thực dân Pháp lúc bấy giờ.

Do triều đình Huế đã trở thành công cụ thống trị của thực dân Pháp, và do trình độ dân trí lúc đó còn rất hạn chế nên chính sách chia rẽ dân tộc này của thực dân pháp đã có một số kết quả nhất định trong việc bình định các phong trào kháng chiến của nhân dân ta ở vào những năm cuối thế kỷ XIX. Chính sách thâm độc này đã dẫn tới một tổn thất lớn, đó là thủ lĩnh nghĩa quân Đốc Ngữ, một tướng giỏi của Nguyễn Quang Bích, đã bị nội phản ám hại ngay tại khu căn cứ Kha Cựu thuộc huyện Thanh Sơn, Hưng Hóa vào ngày 7 tháng 8 năm 1892. Cái chết của Đốc Ngữ đã làm nhụt ý chí chiến đấu của Đề Kiều - bạn chiến đấu của Đốc Ngữ và là người "nắm quyền chỉ huy tối cao các cánh quân" sau khi Nguyễn Quang Bích mất - khiến Đề Kiều phải quyết định cho giải thể nghĩa quân vào ngày 3 tháng 12 năm 1892.

Tuy chính sách chia rẽ dân tộc của thực dân Pháp đã đạt được một số kết quả, nhưng cuối cùng bản chất thâm độc của nó cũng sớm bộc lộ nguyên hình. Trong biên niên sử đã có không ít những sự kiện ghi lại tình đoàn kết giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam nhằm chống lại kẻ thù chung, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, và không chỉ diễn ra trên địa bàn Bắc Kỳ.

Trong các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của các dân tộc thiểu số, đáng chú ý là cuộc khởi nghĩa của đồng bào Mường ở Hòa Bình do Nguyễn Văn Kiêm - nguyên là cựu nghĩa binh của Đốc Ngữ - lãnh đạo. Nghĩa quân đã diệt lính địch, phá đồn bốt, phá trại giam để giải phóng tù nhân. Cuộc khởi nghĩa này đã kéo dài suốt 5 tháng, từ ngày 2 tháng 8 năm 1909 đến ngày 30 tháng 12 năm 1909.

Nguyên nhân phong trào kháng chiến của Nguyễn Quang Bích thất bại trên địa bàn Tây Bắc nói riêng, hay phong trào Cần Vương cả ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ nói chung, suy cho cùng, đều nằm trong vấn đề: nước Việt Nam bị rơi vào tay thực dân Pháp hồi cuối thế kỷ XIX là "tất yếu" hay "không tất yếu". Và đó là một trong những vấn đề lớn mà giới sử học đang quan tâm tìm cách lý giải một cách khoa học. Nó không chỉ đòi hỏi tìm hiểu nguyên nhân bên trong, mà còn phải tìm hiểu cả nguyên nhân bên ngoài, trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, đòi hỏi một cách nhìn vừa lịch đại, vừa đồng đại.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Hai, 2017, 03:28:25 pm

Câu hỏi 20: Cuốn "Lịch sử Đông Dương" của phía Pháp đã ghi lại một phần về hoạt động đánh Pháp của Nguyễn Quang Bích, hãy cho biết thêm về nguồn tài liệu này?
Trả lời:


Nhìn chung, đối với những hoạt động quân sự của các cuộc khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chúng ta phần lớn phải trông cậy vào nguồn tài liệu của Pháp để lại. Người làm sử ngày nay chỉ có thể sưu tầm các nguồn tư liệu Việt Nam qua câu chuyện được truyền miệng, những gia phả nào đó hoặc những tài liệu viết khác rất hiếm có ở dạng bản thảo. Những tài liệu đó nói chung lại tản mát, chỉ nêu được từng mặt, từng khía cạnh các hoạt động của nghĩa quân và nhiều câu chuyện lại được tô đậm thêm khiến cho các tài liệu kém tính xác thực. Người Pháp, trái lại có đầy đủ điều kiện để viết và đem in, đem phổ biến rộng rãi các tài liệu có liên quan đến các hoạt động quân sự của họ. Trong số các tài liệu quân sự được họ để lại, cuốn Lịch sử Đông Dương với lối kể ngắn gọn theo từng năm, từng khu vực đã giúp chúng ta tìm hiểu được tương đối đầy đủ, có hệ thống những cuộc chiến đấu chống Pháp của các nghĩa quân nói chung và căn cứ nghĩa quân Nguyễn Quang Bích nói riêng.

Qua sự miêu tả các hoạt động quân sự của Pháp trên vùng trung lưu sông Hồng từ Hưng Hóa đến quá Yên Bái từ tháng 4 năm 1884 đánh thành Hưng Hóa, nhiệm sở của Tuần phủ Nguyễn Quang Bích tới cuối năm 1889, thời điểm ông qua đời, ta có thể hình dung lại được một cách khá đầy đủ và tương đối có hệ thống tình hình hoạt động của nghĩa quân, sự gắn bó của nghĩa quân với nhân dân, cách bài binh, bố trận cũng như đường lối quân sự của nghĩa quân, các trận đánh của nghĩa quân làm cho quân Pháp thiệt hại và cản trở việc bình định của chúng. Nhất là các bản đồ quân sự kèm theo của cuốn sách đã cho phép chúng ta có thể miêu tả lại bằng bản vẽ tương đối rõ ràng các hoạt động của nghĩa quân.

Có sách đã viết: trong trận Pháp đánh chiếm Hưng Hóa tháng 9 năm 1884, Nguyễn Quang Bích sau khi đã gây cho địch một số thiệt hại rồi mới rút lui. Qua tài liệu này, sự thật có thể không đúng như vậy. Vì bốn tháng sau khi đánh thành Sơn Tây, Pháp mới tập trung trên 10 tiểu đoàn gồm cả thủy quân lục chiến chia làm hai mũi đánh Hưng Hóa. Trong trận này chúng còn dùng cả khinh khí cầu để theo dõi quân ta. Quân địch mạnh như vậy mà thành Hưng Hóa nhỏ bé thì ở ngay sát bờ sông, dễ bị pháo hạm Pháp bắn phá, lại có địa hình, địa vật xung quanh thuận lợi. Quân giữ thành lúc đó ngoài quân của Hoàng Tá Viêm còn có quân Cờ Đen đều chưa đánh đã rút đi hết. Nguyễn Quang Bích là Tuần phủ hẳn chỉ còn lại một số quân nhỏ, trong tình trạng đó sao mà có thể ở lại chống cự? Vì thế, người Pháp mới ghi lại là họ chiếm thành Hưng Hóa không phải nổ một phát súng nào.

Điều đáng lưu ý thứ hai là cuốn sách này đã nêu những nhận định khiến cho chúng ta biết rõ hơn không những tình hình chung của từng thời kỳ mà còn biết cụ thể mức độ hoạt động của nghĩa quân những thời kỳ đó và còn biết rõ vai trò cụ thể của Nguyễn Quang Bích. Ví dụ, về tình hình năm 1885, sách viết: Những vùng châu thổ đã được đánh chiếm nhưng chưa được bình định. Vùng thượng du chỉ mới thuộc chúng ta về danh nghĩa. Còn cần phải đánh chiếm và bình định vùng đó.

Đoạn này cho thấy năm 1885, Nguyễn Quang Bích vẫn làm chủ được vùng thượng lưu sông Hồng. Pháp mới chỉ quanh quẩn ở vùng Hưng Hóa mà thôi.

Về tình hình vùng Nghĩa Lộ và xung quanh: Sau những trận càn quét lớn đầu năm 1886, cuối năm 1886 đầu năm 1887, cuối năm 1887, tháng 4 năm 1888 ở cấp trung đoàn cho đến cuối năm 1889, Pháp còn phải công nhận: "Đứng trước sự nổi dậy thực sự này, một hành động quyết liệt bắt buộc phải đề ra". Hơn nữa, Pháp còn công nhận: "Đó là những cuộc nổi dậy có tính chất thuần túy địa phương do những sự bạo hành của các quan An Nam gây ra trong đó có quan huyện Văn Chấn và quan Tuần phủ Hưng Hóa".

Như vậy, chúng ta biết là sau bốn năm đương đầu với Pháp, nghĩa quân do Tuần phủ Hưng Hóa Nguyễn Quang Bích lãnh đạo vẫn làm cho chúng mất ăn, mất ngủ.

Còn về tình hình vùng Lâm Thao, Hưng Hóa trở lên theo hai bờ sông Hồng thì Pháp công nhận là "sự rối loạn đầu tiên có tính chất địa phương đã đi tới chỗ lan ra rất rộng".

Những trang tiếp theo cuốn sách viết về mối liên hệ giữa Nguyễn Quang Bích và Tôn Thất Thuyết.

Bằng những tài liệu trên của Pháp chúng ta có thêm cơ sở đánh giá đúng vị trí của Nguyễn Quang Bích trong phong trào kháng Pháp ở Bắc Kỳ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Hai, 2017, 03:47:06 pm

Câu hỏi 21: Vị trí của thành Hưng Hóa trong cuộc kháng chiến chống Pháp do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo?
Trả lời:


Lỵ sở Hưng Hóa xưa, nơi có thành Hưng Hóa nổi tiếng nay là thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Từ Trung Hà là nơi hợp lưu của sông Thao và sông Đà, theo quốc lộ 11A, ven bờ đê sông Thao, đi lên phía bắc chừng 6 kilômét, là vị trí thành Hưng Hóa cũ và cũng là tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hóa kể từ nửa đầu thế kỷ XIX. Nằm giữa một vùng trung du, nơi có mật độ cư dân khá đông, lại là nơi án ngữ của con đường giao thông thủy bộ quan trọng (Ngã ba sông Thao và sông Đà, con đường từ Trung Hà đi Phú Thọ, cửa ngõ để tiến vào vùng rừng núi điệp trùng Tây Bắc), lỵ sở Hưng Hóa đã xuất hiện trong sử sách là một vị trí quan trọng.

Nhưng phải đến thời Lê, thế kỷ XV, Hưng Hóa mới thật sự trở nên sầm uất. Nguyễn Trãi trong Dư địa chí cho biết: "Các người ngoại quốc không được tự tiện vào trong nội trấn"1. Tất cả đều phải ở Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh), Cần Hải (Cửa Cờn, Nghệ An), Hội Thống (Cửa Hội, cửa sông Cả), Hội Triều (Cửa Triều, sông Mã), Thống Lĩnh (sông Kỳ Cùng, Lạng Sơn), Phú Lương (sông Cầu, Thái Nguyên), Tam Kỳ (Tuyên Quang), Trúc Hoa (Hưng Hóa)2.

Trong thời gian từ Lê Thánh Tông đến Lê trung hưng vị trí chính trị của Hưng Hóa đã tăng cường. Ở trấn Hưng Hóa (sau Lê trung hưng) lỵ sở tam lỵ đóng ở xã Cổ Pháp, sau bãi hai ty Thừa chính và Hiến sát. Năm Bảo Thái thứ 2 triều Lê Dụ Tông (năm 1721) bãi bỏ hai ty này còn ty Trấn thủ thì dời đến đóng lỵ sở ở xã Bắc Lẫm, huyện Trấn Yên, rồi lại dời đến đóng nhờ ở xã Trúc Phô (Hưng Hóa) huyện Tam Nông tỉnh Sơn Tây3. Có thể nói, sát trước thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII, vai trò trung tâm kinh tế, trung tâm chính trị toàn xứ của Hưng Hóa đã được cũng cố và phát triển.
____________________________________
1. Nội trấn, tức 4 kinh lộ thời Lê sơ: Hải Dương, Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam.
2. Nguyễn Trãi toàn tập, Dư địa chí, Nxb Khoa hoc xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 244.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 4, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr. 306.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Hai, 2017, 03:48:41 pm

Bước sang thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 12 (năm 1831) chia cả nước thành hai mươi chín tỉnh, tỉnh Hưng Hóa (gồm toàn bộ vùng rừng núi Tây Bắc giữa sông Thao và sông Đà ngày nay) được thành lập, tỉnh lỵ vẫn đặt tại Hưng Hóa.

Hưng Hóa, dưới triều đại này được bổ sung bằng một công trình quân sự: thành lũy. Tòa thành Hưng Hóa đã bị phá đầu những năm kháng chiến chống Pháp, trong kế hoạch tiêu thổ kháng chiến của ta. Ngày nay, về Hưng Hóa ta còn được nghe chính những người tham gia phá hủy kể về một tòa thành đá ong khá kiên cố với một cột cờ đồ sộ, mà vết tích còn lại là những chân bờ thành chạy dọc ven phố Tân Hưng và phần chân bệ cột cờ nằm trong khu vực doanh trại quân đội ở giữa thị trấn.

Tòa thành này chính là tỉnh thành Hưng Hóa, hoặc Trúc Thành được ghi chép trong sử sách. Thành Hưng Hóa xây dựng theo kiểu thành Vô-băng (Voband)1 với một đồ án hình vuông, nằm hơi chếch theo hướng tây bắc - đông nam, mỗi cạnh chừng 360 mét. Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết như sau: "Tỉnh thành Hưng Hóa chu vi hơn 360 trượng (1440 mét), cao 1 trượng 2 thước 1 tấc (gần 5 mét), hào rộng 2 trượng 2 thước (gần 9 mét), sâu 6 thước 9 tấc (2,8 mét) mở 4 cửa, đời Gia Long đắp thành đất, năm Minh Mệnh thứ 3 (năm 1822) xây bằng đá ong"2. Một tấm bia nhỏ còn lại ở chân cột cờ cho biết cột cờ Hưng Hóa được xây năm Thiệu Trị thứ 3 (năm 1842), sau cột cờ Hà Nội và cột cờ Sơn Tây.

Thành Hưng Hóa nói riêng và tỉnh Hưng Hóa nói chung trong khoảng 15 năm từ năm 1875 đến năm 1890 gắn liền với cuộc đời làm quan và những hoạt động chống Pháp của Nguyễn Quang Bích.

Năm Ất Hợi đời Tự Đức thứ 28 (năm 1875), khi triều đình mở ban doanh điền Hưng Hóa, vua Tự Đức cử Nguyễn Quang Bích làm Chánh sứ sơn phòng. Năm sau, Bính Tý (năm 1876) ông kiêm luôn cả chức Tuần phủ Hưng Hóa.

Sau khi Hà Nội bị thất thủ lần thứ hai (ngày 25 tháng 4 năm 1882) và nhất là khi buộc triều đình Huế ký hàng ước ngày 25 tháng 8 năm 1883 xác định quyền bảo hộ của pháp ở Việt Nam, thực dân kéo ra Bắc đánh chiếm nhiều nơi nhằm hoàn thành gấp công cuộc xâm lược trong phạm vi cả nước. Tính đến tháng 3 năm 1884, hầu hết Bắc Kỳ đã lọt vào tay giặc, trong số các căn cứ quan trọng chỉ còn lại thành Hưng Hóa. Sau khi thành Sơn Tây thất thủ, Hưng Hóa với vị trí án ngữ con đường sông đã trở thành tỉnh lỵ của Tam Tuyên (Sơn Tây - Hưng Hóa - Tuyên Quang). Lúc này, ở thành Hưng Hóa đã có quân đội của Hoàng Tá Viêm, của Lưu Vĩnh Phúc và có cả quân Thanh thuộc đội quân Vân Nam và Quý Châu đóng giữ.

Nhận rõ vị trí quân sự rất lợi hại của thành Hưng Hóa, thực dân Pháp quyết đánh chiếm, hòng đè bẹp ý chí kháng chiến và các hành động chống trả của ta, nhất là, nhằm tiêu diệt số sĩ phu yêu nước chủ trương chống Pháp tới cùng mà một trong số những người ấy là Nguyễn Quang Bích.
______________________________________
1. Voband (1663-1707): Là một kỹ sư quân sự, đã từng mang cấp bậc nguyên soái của nước Pháp, sáng chế ra một kiểu thành mang tên ông.
2. Quốc sử quán triều Nguvễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 4, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr.288.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Hai, 2017, 03:49:07 pm

- Thành Hưng Hóa giữ vị trí như một tiền đồn của ca vùng rừng núi Tây Bắc.

Nếu nhìn dưới con mắt quân sự cổ điển phương Đông, và kỹ thuật xây cất thành phong kiến thì có thể nói, thành Hưng Hóa được tạo dựng tại một địa điểm khá thông minh. Tác giả của công trình kiến trúc này đã lợi dụng tối ưu địa thế tự nhiên ở đây. Thành được xây trên một quả đồi bằng phẳng, khá rộng rãi, phía sau của thành là cả một dãy đồi cao, đồi thấp bao bọc, phía trước sông Thao chảy sát ngay chân tường nên được lợi dụng làm hào tự nhiên bảo vệ thành. Thành được xây tương đối cao, vững chắc bằng đá ong, lại có hào tự nhiên che chắn như vậy nếu đối phương chỉ sử dụng vũ khí thô sơ để tấn công, thì cũng khó mà phá nổi. Song, như đã thấy, thành Hưng Hóa đã bộc lộ rõ chỗ yếu của nó khi gặp sức tấn công bằng tàu đồng, đại pháo.

Sự thất thủ nhanh chóng của thành Hưng Hóa đã giúp cho các lãnh tụ nghĩa quân, nhất là Nguyễn Quang Bích một bài học là không nên dựa vào thành lũy, và không nên đóng giữ tại một nơi nào cố định, cần hết sức linh hoạt. Trong suốt quá trình hoạt động sau này, Nguyễn Quang Bích đã thực hiện như vậy. Do vậy, thành Hưng Hóa cho dù thất thủ nhưng ngược lại, nó lại giúp cho các lãnh tụ phong trào Cần Vương một bài học tích cực. Phải chăng thành Hưng Hóa giữ một vị trí như một tiền đồn của cả vùng rừng núi Tây Bắc hiểm trở, cho nên sau khi không thể bảo vệ được, Nguyễn Quang Bích đã hướng các hoạt động của mình về vùng đất rộng lớn phía sau Hưng Hóa, nơi mà do chức trách ông rất quen thủy thổ.

- Thành Hưng Hóa án ngữ hai con đường thủy quan trọng là sông Thao và sông Đà.

Thực dân Pháp gấp rút đánh chiếm nhanh thành Hưng Hóa, một phần quan trọng vì nó nằm án ngữ hai con đường thủy là sông Thao và sông Đà. Theo đường sông Đà chúng có thể tiến đánh vào vùng Hòa Bình, vùng rừng núi Tây Bắc; theo đường sông Thao, chúng dễ dàng tiến đánh các tỉnh biên giới nước ta để nhòm ngó Trung Quốc. Điều này chính Nguyễn Quang Bích đã nhận thức rất rõ. Cho nên khi thành Hưng Hóa thất thủ, và kể cả sau này, ông luôn luôn cho quân hoạt động để uy hiếp và khống chế vùng đất xung quanh thành Hưng Hóa. Thực dân Pháp tuy chiếm được thành Hưng Hóa, nhưng không phải đã hoàn toàn làm chủ được hai con đường thủy nói trên, cũng như chúng không thể chủ động dựa vào thành để tấn công đại bản doanh của nghĩa quân, suốt trong vòng năm, sáu năm trời là do bị sự không chế của quân ta.

- Chọn vùng đất xung quanh thành Hưng Hóa và tỉnh Hưng Hóa để hoạt động, Nguyễn Quang Bích có thể dễ dàng lấy lương thực tại chỗ để thủ hiểm.

Thực ra, việc chọn vùng Hưng Hóa - Đà Giang để thủ hiểm dễ dàng chống lại hoặc né tránh mũi tiến đánh từ miền xuôi lên, không phải là mới mẻ gì trong lịch sử nước ta. Từ xa xưa, các lực lượng cát cứ của các tù trưởng thiểu số đã từng chiếm mảnh đất này nhằm chống lại triều đình trung ương. Điển hình như trường hợp Trịnh Gia Mật thời Trần và Đèo Cát Hãn thời Lê.

Hưng Hóa - Đà Giang là một vùng lòng chảo, bằng địa và hơi trũng, có thể nói là một "vựa thóc nhỏ" của tỉnh. Ở giữa cánh đồng ba tổng bằng phẳng, rộng chừng vài ngàn mẫu, có hai con ngòi lớn chảy dọc xung quanh, đất đai màu mỡ, thóc lúa nhiều, đủ cung cấp cho quân lính. Lại thêm có suối nước nóng bốn mùa không cạn, dân cư trù mật, bốn bề núi cao như thành, ra vào ba đường rất hiểm trở, có thể thông sang các châu khác.

Chính vì đã lợi dụng được địa thế thiên nhiên như trình bày ở trên nên phong trào kháng Pháp do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo đã tồn tại được tương đối lâu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Hai, 2017, 03:50:05 pm

Câu hỏi22: Hãy cho biết thông tin về căn cứ Tiên Động - một trung tâm chiến đấu chống Pháp của phong trào Cần Vương do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo?
Trả lời:


Sau khi thành Hưng Hóa thất thủ, Nguyễn Quang Bích cùng quân sĩ rút về vùng sông Thao và lần lượt đóng ở các địa điểm: Tứ Mỹ, Sơn Tình, Tuy Lộc rồi cuối cùng rút về Tiên Động. Tại Tiên Động, với vốn tri thức quân sự khá phong phú và đã dày dạn kinh nghiệm, lại biết tận dụng địa thế hiểm trở của vùng đồi núi xen lẫn với đầm lầy, Nguyễn Quang Bích đã cho xây dựng một hệ thống phòng thủ khá hợp lý và biến nơi đây thành một căn cứ địa vững chắc.

Tiên Động nay thuộc xã Tiên Lương, cách thị trấn Cam Khê 17 kilômét về phía bắc. Toàn bộ khu vực này rộng khoảng 10 kilômét vuông là một cánh đồng chiêm trũng sình lầy. Phía đông là sông Hồng, phía nam là đầm lầy, phía tây là dãy núi Lưỡi Hái chắn dài như bức tường thành, phía tây bắc là cả một vòng cung dài đồi núi lô xô xen lẫn những ngòi độc. Ở giữa vùng đồng lầy có một con ngòi khá to chảy ra sông Hồng gọi là ngòi Dành. Vào Tiên Động chỉ có hai con đường: đường thủy thì theo ngòi Dành, đường bộ thì từ Minh Côi đi vào theo vòng cung đồi núi.

Chuyển về Tiên Động, Nguyễn Quang Bích đã cho quân sĩ xây dựng một hệ thống đồn bốt như sau:

- Trong cùng là đại bản doanh, đóng trên một gò cao mà nay nhân dân còn gọi là gò Quan Đại (tức là gò quan đại thần đóng). Đây là một quả đồi cao khoảng 150 mét so với mặt bằng khu vực, giáp với núi Lưỡi Hái. Đỉnh đồi khá bằng phẳng và lồi mặt gương lên ba mỏm: Mỏm giữa nay còn gọi là đồi Tướng Quân - tức nơi Nguyễn Quang Bích đóng đại bản doanh; bên hữu xế phía sau là mỏm Hổ Gia án ngữ một con đường độc đạo xuyên qua núi Lưỡi Hái thông sang Yên Lập (về sau Pháp đánh, Nguyễn Quang Bích rút bằng con đường này); mỏm bên tả chếch trước mặt là gò Công Đồn. Theo chúng tôi thì đây là đồn vệ binh đóng để bảo vệ đại bản doanh. Mỗi mỏm đồi này cách nhau khoảng 300 mét, thỉnh thoảng lại có những bãi đá phiến rất bằng phẳng, phía gần chân đồi hiện nay còn vết tích của giếng nước và nơi buộc ngựa của nghĩa quân xưa kia.

- Từ gò Quan Đại đi ra khoảng 500 mét theo đường chim bay (đường bộ chừng 3 cây số) thì đến gò Cây Si, còn gọi là gò Đồn và gò Múc, hai gò này cách nhau một tràn độc. Gọi là gò Đồn vì ở đây có nhiều đồn binh đóng. Năm 1979, tại chân gò Đồn, một nhà dân đã đào được một cái phạng khá to và đẹp trong có đựng một bộ ấm chén. Một số cụ già bảo đó là đồ dùng để phục vụ đồn Quan Đại (tức Nguyễn Quang Bích).

- Từ gò Múc đi ra khoảng 2 cây số thì đến gò Hàm Rồng, ở đây không có vết tích và truyền thuyết về việc đóng đồn của nghĩa quân, nhưng cạnh đó là gò Mai mà nhân dân còn truyền tụng về một trận đánh rất lớn giữa nghĩa quân và giặc Pháp. Và đến đây thì hệ thống đồn được chia làm hai ngả:

Ngả thứ nhất, qua cầu Tây (cầu do giặc Pháp bắc để đánh úp nghĩa quân nên gọi là cầu Tây) sang đồn gò Cỏ Rác. Đồn gò Cỏ Rác tương đối lớn, phía bên kia đồn (tức phía bắc) là tràn độc của xã Minh Côi, phía chân bên này là đầm Đào thuộc Tiên Động, phong cảnh đẹp và hiểm trở.

Từ gò Cỏ Rác đi khoảng 2 cây số qua cầu đầm Đào thì đến đồn gò Dọc là đồn ngoài cùng, đồn tiền tiêu của hệ thống cứ điểm Tiên Động, đi hết gò này là ra đến đê và vùng châu thổ sông Hồng thuộc xã Minh Côi.

Ngả thứ hai, là từ gò Hàm Rồng đi ra, rẽ tay phải khoảng 300 mét thì đến làng Mỹ Lương. Làng Mỹ Lương nằm trên một khu đất đẹp hình mâm xôi, ba bề là đầm nước và sình lầy bao bọc. Mùa mưa, Mỹ Lương như một bán đảo. Nguyễn Quang Bích đã cho xây dựng ở đây một cứ điểm khá mạnh để phong tỏa toàn bộ mặt đồng bằng, án ngữ đường thủy là ngòi Dành và yểm trợ cho đồn tiền tiêu là đồn gò Dọc và xế bên trong là đồn gò Cỏ Rác.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Hai, 2017, 03:50:23 pm

Cứ điểm này rất lợi hại nên được xây dựng khá kiên cố và lực lượng khá mạnh. Hiện nay vẫn còn chỗ đặt ụ pháo (kiểu như lô cốt) và tìm được nhiều đạn cũng như vỏ đạn, rồi chỗ đóng đồn, chỗ buộc ngựa của quân báo, v.v... Chính nhờ cứ điểm Mỹ Lương này mà giặc Pháp dù đã nhiều lần tổ chức tấn công căn cứ Tiên Động nhưng vẫn không vào được, lại còn bị thiệt hại nặng nề. Trong Ngư Phong tướng công hành trạng có viết: giặc Pháp tấn công Tiên Động bình quân mỗi tháng mười ba lượt, nhưng chúng chỉ ở bờ đê bắn vào... sở dĩ chúng không vào được là do bị hỏa lực của ta ở cứ điểm Mỹ Lương phối hợp với đồn gò Dọc đánh trả rất mạnh.

Dùng quân sự đánh Tiên Động không được, giặc Pháp tìm cách mua chuộc. Chúng đã cho hai tên tay sai là Bố chánh Hưng Hóa Bùi Quang Thích và Tri phủ Lâm Thao Nguyễn Khắc Hợp nhiều lần đến dụ dỗ Nguyễn Quang Bích: nếu giải tán quân, ra làm quan cho chúng thì sẽ được hậu thưởng. Nhưng Nguyễn Quang Bích đã khảng khái từ chối.

Dụ dỗ Nguyễn Quang Bích không xong, giặc Pháp xoay kế tình báo, mua chuộc người làng Minh Côi dẫn đường, bí mật đi từ Minh Côi men theo gò Dọc qua gò Cỏ Rác đến hang Hùm rồi bắc cầu sang gò Hàm Rồng (tức cầu Tây). Hiện nay, cầu không còn nhưng còn rõ mố cầu là một khối đất rất lớn. Từ gò Hàm Rồng, giặc Pháp hành quân đánh tập hậu cứ điểm Mỹ Lương. Bị đánh bất ngờ quân ta trở tay không kịp nên cứ điểm mạnh nhất này đã nhanh chóng về tay địch. Mất Mỹ Lương, toàn bộ hệ thống đồn trại còn lại của căn cứ Tiên Động bị uy hiếp. Và sau mấy trận giáp chiến lớn như ở gò Cây Mai, gò Đồn... biết là không thể giữ được, Nguyễn Quang Bích đã cho quân rút theo đường Hổ Gia qua Yên Lập và sang Nghĩa Lộ.

Như vậy, Tiên Động không chỉ tuyệt đẹp như tên gọi của nó mà còn là một khu di tích lịch sử để giúp cho những ai muốn tìm hiểu về nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Cần Vương và lãnh tụ Nguyễn Quang Bích. Đây là nơi tập hợp lực lượng và là nơi gặp gỡ của Nguyễn Quang Bích với các ông đề, ông đốc khác ở Bắc Kỳ. Và chính nơi đây, hơn 100 năm về trước, ông Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần đã thay mặt nhân dân Việt Nam yêu nước viết thư trả lời thực dân Pháp, đó chính là bản cáo trạng tố cáo tội ác, âm mưu quỷ quyệt của chúng.

Căn cứ Tiên Động vì thế là một khu di tích quý về phong trào Cần Vương và về nhà yêu nước Nguyễn Quang Bích.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Hai, 2017, 05:00:56 pm

Câu hỏi 23: Chiến khu Tôn Sơn là nơi ấp ủ những kế hoạch chiến lược mới của Nguyễn Quang Bích, hãy cho biết về chiến khu này?
Trả lời:


Năm 1886, sau khi Pháp đánh phá căn cứ Tiên Động, Nguyễn Quang Bích cho quân rút qua Yên Lập về Thượng Bằng La thuộc châu Văn Chấn, tỉnh Nghĩa Lộ. Tại đây, ông đã xây dựng thành một chiến khu, một căn cứ địa khá mạnh, cầm cự với giặc Pháp hơn hai năm trời.

Về sau, Pháp cũng lại dùng kế nghi binh đánh úp doanh trại của nghĩa quân. Nguyễn Quang Bích thấy Pháp đã thông thạo địa hình ở Nghĩa Lộ, mà lực lượng của ta lúc này còn rất mỏng manh, việc gìn giữ bố phòng cho căn cứ này rất khó khăn nên tháng 5 năm 1888, ông lại phải cho quân rút về Yên Lập. Về Yên Lập lần này lúc đầu Nguyễn Quang Bích cho quân đóng ở Sơn Động (nay là núi Đồng thuộc xã Mỹ Lung); tháng 7 năm ấy lại chuyển sang Sơn Lương (nay là Mỹ Lương); rồi sau rút về Quế Sơn (nay là Lương Sơn) và đến tháng 10 năm 1889 ông cho quân về đóng ở khe núi Tôn Sơn, xã Mộ Xuân (nay thuộc xã Xuân An) huyện Yên Lập.

Sở dĩ phải di chuyển nhiều lần như thế bởi vì địa điểm mới phải phù hợp với tình hình và nhiệm vụ của một thời kỳ mới: thời kỳ chuẩn bị lại lực lượng, chờ những thời cơ mới đánh Pháp... Thực chất, Tôn Sơn của nghĩa quân Cần Vương là một chiến khu an toàn hơn là một cứ điểm quân sự.

Theo nhân dân ở đây thì Tôn là dịch từ tiếng Cháu trong ngôn ngữ Mường. Cháu có nghĩa là cây sặt. Núi Cháu là núi mọc đầy cây sặt, nhưng lại được ghi Hán Việt là "Tôn Sơn". Núi Tôn Sơn thuộc dãy núi Đù, đỉnh là ngọn Đọi Đèn cao 815 mét. Về đây, Nguyễn Quang Bích không cho đóng quân ở trên cao, mà ông cho quân đóng ở sườn núi bên khe suối Tôn Sơn - đó là một thung lũng rộng lớn. Các tỳ thuộc, tướng lĩnh người địa phương gần đấy ông đều cho về quê cũ để tuyển mộ binh lương, còn phần lớn đều cùng ông đóng doanh trại tại đây.

Hiện nay, ở đây còn nhiều vết tích mà dân địa phương vẫn gọi là khu vực dinh Quan Đại, đó là hàng dãy dài những cấp nền bằng phẳng, vết tích của những dãy nhà dài - doanh trại của nghĩa quân thuở trước. Ra vào thung lũng này chỉ có duy nhất một con đường nhỏ dài, ngoằn ngoèo và nhiều dốc. Chỗ dốc nhất gọi là Đèo Vàng vì trước đó giặc Cờ Vàng bị đánh thua nặng ở đèo này. Phía xa dưới chân Đèo Vàng có một cánh đồng tục gọi đồng Hon... Cho quân đóng ở đây một mặt để luyện tập quân sự, song mặt khác quan trọng là Nguyễn Quang Bích lo chuẩn bị lương thảo phục vụ cho kế hoạch đánh Pháp vào đầu năm 1890. Kế hoạch mới ấy được đúc rút từ một quá trình chiến đấu và được chuẩn bị khá chu đáo ở chiến khu Tôn Sơn, nhưng chưa kịp thực hiện thì không may Nguyễn Quang Bích đột ngột qua đời.

Ngày nay, nếu ai có dịp tìm về chiến khu Tôn Sơn, đi bộ khoảng 5 đến 6 cây số, trèo dốc Đèo Vàng sẽ thấy đường mòn lối cũ vẫn đây, bạt ngàn thung lũng còn đó, một khu nền đất và một ngôi mộ xếp bằng những phiến đá xanh - táng theo phong tục người Dao (dân bản địa), tương truyền là mộ quan đại thần Nguyễn Quang Bích được lập lại sau khi cải táng. Trước cảnh ấy hẳn ai cũng không khỏi bùi ngùi. Dường như hình ảnh tướng công còn ở đâu đây, gương mặt quắc thước, râu dài, trầm ngâm như đang trăn trở tính suy, đang ngồi cầm bút làm thơ hay đang ân cần chuyện trò cùng tướng sĩ. Và, rì rầm đâu đây mỗi gốc cây, cành lá ngày ngày vẫn kể câu chuyện về nghĩa quân và quan đại thần đức độ, thanh liêm, tâm hồn cao thượng... Hình ảnh Nguyễn Quang Bích còn sống mãi trong lòng nhân dân và núi rừng miền thượng du và Tây Bắc - Bắc Kỳ như khe suối Tôn Sơn chảy không bao giờ cạn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Hai, 2017, 05:03:47 pm

Câu hỏi 24: Nguyễn Quang Bích qua hai lần đi sứ nhà Thanh đã có nhiều thay đổi trong tư tưởng và hành động, hãy cho biết về điều đó?
Trả lời:


Ngày 17 tháng 8 năm 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn ra chiếu Cần Vương, rồi xuống dụ thăng chức cho một số văn thần, võ tướng. Trong dịp này, Nguyễn Quang Bích được phong Lễ bộ thượng thư sung Hiệp thống quân vụ Bắc Kỳ, tước Thuần trung hầu và được ủy nhiệm mang thư của vua Hàm Nghi sang Trung Quốc. Hai ngày sau, ngày 19 tháng 3, Nguyễn Quang Bích lên đường đi Vân Nam. Ông đi sứ trong bối cảnh triều đình Huế đã bán nước và bán luôn cả quyền ngoại giao cho Pháp trước đó hai năm bằng Hiệp ước Hác-măng tháng 7 năm 1883 và được bổ sung tiếp bằng Hiệp ước Pa-tơ-nốt tháng 6 năm 1884. Pháp thay mặt cho triều đình Huế trong mọi quan hệ đối ngoại.

Trước đó một năm (tháng 5 năm 1884) tại Thiên Tân Trung Quốc, triều đình Mãn Thanh đã ký một quy ước với Pháp mang tên "Quy ước sơ bộ về tình hữu nghị và hòa hảo liên bang giữa Pháp và Trung Hoa". Trong đó triều đình Mãn Thanh phải rút quân ra khỏi Bắc Kỳ và tôn trọng mọi hiệp ước Pháp đã và sẽ ký kết với triều đình Huế. Và trước thời điểm ông đi sứ ba tháng thì thì Hiệp ước Thiên Tân đã chính thức được phê chuẩn trong đó có nội dung Trung Hoa thừa nhận quyền thống trị của Pháp ở Việt Nam, Pháp nhường cho Trung Hoa một số vùng đất của Việt Nam ở biên giới để sáp nhập vào các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông của Trung Quốc.

Hơn thế nữa, vua Hàm Nghi - người ủy nhiệm cho Nguyễn Quang Bích mang quốc thư làm nhiệm vụ sứ thần thì lại chưa được triều đình Mãn Thanh phong vương. Trong quốc thư, Hàm Nghi cũng viết: "Chưa được sắc phong, danh chưa chính thì việc khó thành". Ngay quốc thư cũng không có dấu mà phải "áp ký bằng tay" bởi quốc ấn (mà triều đình Mãn Thanh ban cho) đã bị thực dân Pháp đem nấu chảy từ tháng 8 năm 1883.

Dù sao Nguyễn Quang Bích cũng thấu hiểu những khó khăn của bối cảnh lịch sử ấy nên trước khi ra đi ông đã làm một bài thơ để tự an ủi và "quyết mang cuộc đời tàn cứu nước, thề với tấm lòng son" để làm trọn nhiệm vụ sứ thần mà vua Hàm Nghi đã ủy thác.

Nguyễn Quang Bích đi sứ trong một hoàn cảnh không chỉ bế tắc trong con đường đối ngoại mà đất nước đang ở trong "tình thế nguy nan, cơ đồ đổ nát". Nhiệm vụ đi sứ của ông là cầu phong, cầu viện nhưng không vì thế mà để mất đi chủ quyền độc lập dân tộc. Quan điểm tư tưởng này không chỉ được hình thành từ khi ông nhận nhiệm vụ đi sứ mà ngay khi ông còn giữ chức Tuần phủ Hưng Hóa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Hai, 2017, 05:04:49 pm

Tháng 11 năm 1882, Hà Nội thất thủ lần thứ hai. Tự Đức cho người sang Thiên Tân cầu viện triều đình Mãn Thanh. Lợi dụng quân triều đình nhà Nguyễn cùng quân Cờ Đen tiêu diệt được tên Hăng-ri Ri-vi-e (giữa năm 1883), nhà Thanh ồ ạt kéo quân đến biên giới gây áp lực với Pháp và nếu tình hình có biến thì xâu xé nước ta. Nguyễn Quang Bích tỏ ý lo ngại tâu về triều đình Huế thì lại bị quở trách "đem lòng tiểu nhân đo bụng người quân tử, lẽ nào nhà Thanh lại làm cái cử động vô nghĩa ấy". Nhưng thực tế lịch sử đã minh chứng điều ông lo ngại là đúng. Bởi vậy, ông chấp nhận Lưu Vinh Phúc và đội quân Cờ Đen cùng ông đánh Pháp, chứ không chấp nhận việc quân đội nhà Thanh lúc ấy ồ ạt tràn qua biên giới, vi phạm chủ quyền của dân tộc.

Trong một bài thơ họa lại bài tặng của Tôn Thất Thuyết sau lần đi sứ về, Nguyễn Quang Bích có nói tới sẽ có sự viện giúp của nhà Thanh, nhưng ngay mở đầu bài thơ, ông đã khẳng định: Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền, là một dân tộc có nhiều chiến công oanh liệt trong lịch sử giữ nước.

      Nam thiên định phận đế vương châu,
      Tiền sử chiêu chiêu vũ liệt ưu


Nghĩa là:
      Trời Nam đã được phân định là đất đế vương
      Vũ công oanh liệt ngời sáng những trang sử trước.


Thời gian sau, khi nhận được thư của Tôn Thất Thuyết gửi về, ý nói sẽ có sự viện giúp của nhà Thanh, lúc chia tay Tán tương quân vụ Nguyễn Tử Ngôn về Nam Định, Ninh Bình, để tổ chức lực lượng, sẵn sàng ứng nghĩa, ông làm một bài thơ tiễn và có ý dặn rằng: nếu gặp những người bạn đồng tâm, nhấp chén rượu chuyện trò, cũng nên nhắc nhở nhau rằng đất nước Việt Nam "sách trời đã định từ thuở Lạc Hồng".

      Nhược ngộ đồng tâm thoại bôi tửu,
      Ngã Nam thiển định Lạc Hồng sơ.


Tư tưởng độc lập và lòng tự hào dân tộc trong Nguyễn Quang Bích còn được thể hiện trong công việc thường ngày suốt thời gian đi sứ.

Trong chuyến đi sứ lần thứ hai, khi người ở công quán, bị kẻ gian lấy cắp tư trang hành lý, trước khi về nước, một số quan văn võ nhà Thanh biết tin đến tiễn và tặng quà, ông đều không nhận. Những người cùng đoàn khuyên nên nhận, ông đã trả lời: "Chuyến đi này một thân ta tuy nhỏ, nhưng hệ trọng tới việc nước, nếu nhận quà biếu sợ mất quốc thể. Bọn ta còn được chút ít quần áo khi cần bán đi cũng có thể tạm đủ”.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Hai, 2017, 05:06:15 pm

Tư tưởng độc lập dân tộc còn thấm đượm trong cảm xúc tâm tư của ông. Trên đường sang sứ, đứng trước đồn biên thùy nhìn thấy nhà viên quan thổ ty họ Long có đề bốn chữ: "Nam biên uy trấn"1 ông cũng chạnh lòng nghĩ tới Tổ quốc quê hương đang bị kẻ thù xâm lược.

Nguyễn Quang Bích đi sứ trong khi chiếc cầu ngoại giao đã được rút ván bằng chính những hiệp ước Pháp - Thanh, Pháp - triều đình Huế đã ký kết.

Một số ý kiến cho rằng, trước khi đi sứ, Nguyễn Quang Bích không hề biết gì về Hiệp ước Thiên Tân, ông đinh ninh Trung Quốc một lòng một dạ giúp ta đánh Pháp. Nhưng không phải thế, bởi ngay từ những năm 1882-1883, Nguyễn Quang Bích đã phản đối việc quân đội nhà Thanh ồ ạt kéo sang biên giới, chắc hẳn không phải ông đã đọc được tờ tấu của viên tổng đốc Lưỡng Quảng Trung Thụy Thanh tâu về triều đình: "Nhân thế lực nước Nam đang suy yếu, ta nên mượn tiếng sang đánh Pháp mà chiếm lấy các tỉnh ở thượng du, đợi khi có biến thì chiếm lấy các tỉnh ở phía bắc sông Hồng" mà là sự nhạy cảm chính trị nhờ thực tiễn hoạt động đã chứng kiến trên chiến trường.

Sau khi Hà Nội thất thủ, quân Thanh vẫn án binh bất động không phối hợp với quân triều đình Huế đánh Pháp, thậm chí Pháp đánh tới đâu quân Thanh lui tới đó. Khi Pháp đánh lên Hưng Hóa, quân Thanh lui về Yên Bái và chính ông đã phải kiên quyết giữ thành Hưng Hóa với lực lượng ít ỏi của mình.

Thực tế ấy đã giúp cho Nguyễn Quang Bích nhìn rõ bản chất việc viện giúp của triều đình Mãn Thanh và chắc hẳn với nhiệm vụ sứ thần, ông sẽ rất cẩn trọng khi bước qua cổng dinh của viên quan Tổng đốc Vân Quý Sầm Dục Anh - người mà trước đó đã bỏ rơi ông nơi thành Hưng Hóa.

Trên đường đi sứ lần thứ nhất (tháng 9 năm 1885), khi đi qua đồn phòng của Tam Tuyên đề đốc Lưu Vĩnh Phúc đóng quân trước kia, ông làm bài Cảm tác khi quần Lưu quân. Ngay câu đầu của bài thơ, ông tự vấn một điều "Hà sự Nam lai hựu Bắc quy" (Vì cớ gì mà Lưu quân sang Nam rồi lại về Bắc). Điều tự vấn này cũng chính là điều lý giải: một khi triều đình Mãn Thanh đã rút quân về nước, ép cả Lưu Vĩnh Phúc phải về, mặc dù Lưu Vĩnh Phúc đã được triều đình Huế phong chức tước như các vị quan chức Việt Nam, và thực tiễn Lưu Vĩnh Phúc "dùng dằng không dứt" chưa muốn về thì việc đi sứ cầu viện có thành hay không cũng chỉ là may rủi.

Nếu như khi đi sứ Nguyễn Quang Bích đã thiếu tin tưởng vào việc viện giúp của triều đình Mãn Thanh, nhưng còn một niềm hy vọng là gặp lại Lưu Vĩnh Phúc (như lời Lưu Vĩnh Phúc hẹn cùng ông) thì khi về niềm hy vọng ấy không còn nữa. "Cái cung tốt nhất đã đưa đi nơi nào rồi" gieo vào lòng ông một nỗi buồn khi ông lại đi qua đồn phòng của Lưu Vĩnh Phúc chỉ còn một "Pháo đài trợ để gió thu bay".
____________________________________
1. Ngư Phong thi họa III, Thư mục số 17.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Hai, 2017, 05:06:36 pm

Có thể nói, ngay từ đầu, Nguyễn Quang Bích không hề lầm tưởng về bản chất của triều đình Mãn Thanh. Và bản chất ấy càng được bộc lộ rõ, trong lần tiếp xúc với Sầm Dục Anh đã nói thật với ông: Vua nước tôi cùng người Pháp vừa ký một hiệp ước, có lẽ việc của ngài không xong.

Nguyễn Quang Bích đã tự đánh giá: Một mình mang sứ mệnh ứng phó ở bốn phương là một điều rất khó. Nhưng ông đã thực hiện một sách lược ngoại giao riêng của mình. Bằng uy tín cá nhân, ông vận động Sầm Dục Anh và một số quan chức triều đình Mãn Thanh có cảm tình với công cuộc kháng Pháp của Việt Nam, ủng hộ và giúp sức. Nhờ vậy, nghĩa quân của Nguyễn Quang Bích đã nhận được một ít viện trợ từ Trung Quốc, gồm sáu trăm khẩu súng, sáu mươi hòm đạn, hai nghìn cân thuốc phiện. Và theo một số tài liệu thì sự viện giúp lẻ tẻ này còn kéo dài tới năm 1894, khi hiệp ước biên giới Pháp - Thanh ký kết mới chấm dứt.

Nguyễn Quang Bích cũng như nhiều sĩ phu phong kiến yêu nước bấy giờ đặt nhiều hy vọng vào việc cầu viện triều đình Mãn Thanh và qua hai lần đi sứ ông tiếp tục ngóng chờ sự viện giúp, ngóng chờ những tin tức của Tôn Thất Thuyết đang công cán ở Nam Ninh (Trung Quốc).

Mỗi lần nhận được thư của Tôn Thất Thuyết từ Trung Quốc báo về là "lòng ông hân hoan khôn xiết". Nhưng sự vui mừng ấy cũng chỉ là tạm thời, mỏng manh như "một sợi tơ nhện dăng nghiêng đung đưa bên cửa sổ nhỏ" mà ông tâm sự trong bài Lưới nhện bên song.

Nhưng rồi niềm tin vào sự viện giúp của triều đình Mãn Thanh trong ông dần dần phai nhạt; nghĩa quân của ông nhiều lúc ở vào thế "cô quân", “lương thiếu", “vũ khí thiếu", mà sự viện giúp ấy chỉ là vô vọng.

Nguyễn Quang Bích là người lãnh đạo lực lượng kháng chiến chống Pháp ở Bắc Kỳ lúc đó và là lãnh tụ trực tiếp của phong trào kháng chiến vùng Tây Bắc, trước tình hình đó ông đã đoàn kết mọi lực lượng gồm các thủ lĩnh và đồng bào các dân tộc thiểu số như Mèo, Dao; bên cạnh các thủ lĩnh nghĩa quân người Kinh cùng đồng lòng chống Pháp.

Sự mong ngóng và niềm tin mong manh, nỗi thất vọng của ông vào sự viện giúp của triều đình nhà Thanh cùng với thực tế qua hai lần đi sứ và thực tiễn trong việc tổ chức lực lượng kháng chiến đã góp phần thay đổi nhận thức tư tưởng của ông.

Cuối thế kỷ XIX, giới văn thân sĩ phu yêu nước kiên quyết chống Pháp đến cùng để giành độc lập dân tộc, nhưng họ chưa có niềm tin vào lực lượng kháng chiến là nhân dân, mà luôn tìm sự viện giúp của bên ngoài, trong khi đó Nguyễn Quang Bích đã phần nào vượt qua sự hạn chế về nhận thức tư tưởng của thời đại mình. Ông đã đặt niềm tin vào nhân dân và ý thức được con đường giải phóng dân tộc là phải tự chủ, phải đoàn kết mọi lực lượng kháng chiến. Đó quả là một nhận thức tân tiến.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Hai, 2017, 05:07:17 pm

Câu hỏi 25: Hãy nêu vài nét cơ bản về một số tướng lĩnh cận vệ của phong trào Cần Vương Nguyễn Quang Bích?
Trả lời:


Trong phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX, những tướng lĩnh trực tiếp dưới sự điều khiển của Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần Nguyễn Quang Bích đã có nhiều tài liệu, sử sách nói đến như Đề Kiều, Đốc Ngữ, Nguyễn Văn Giáp, v.v... Nhưng còn nhiều tướng lĩnh khác do điều kiện thông tin ngày đó hạn chế, lại là cuộc chiến đấu trong những thung lũng, rừng sâu, đặc biệt là vào giai đoạn kết thúc của phong trào Cần Vương, phong trào bị thực dân ra sức bưng bít xóa nhòa, nên một số tướng lĩnh chưa ai rõ hành trạng, đó là Đề Thành, Đề Dị, Lãnh Vân, Lãnh Hoan, Nguyễn Khê Ông, Chu Thiết Nhai, Vương Văn Doãn, Trần Ngọc Dư, Hoàng Đình Cương, v.v...

Sau đây là một số chân dung những tướng lĩnh phong trào khởi nghĩa của Nguyễn Quang Bích mà sử sách chưa nói hoặc ít nói đến:

1. Lãnh Hoan:

Tức Nguyễn Quang Hoan, đỗ thủ khoa võ triều Nguyễn, người làng Quân Bác, phủ Kiến Xương, Thái Bình. Xuất thân từ một nông dân nghèo nhưng có sức khỏe, chịu khổ luyện nên các môn siêu đao, côn quyền ông đều đỗ đầu bảng, đặc biệt là môn cử đỉnh. Các thí sinh khác chỉ nhấc nổi đỉnh đi một hai vòng, riêng ông nhấc bổng đi chín vòng quanh sân rồng mà mặt không biến sắc.

Năm 1873, Pháp tiến đánh Nam Định, ông cùng Nguyễn Hữu Bổn mang quân giữ thành. Khi thành mất, Nguyễn Hữu Bổn hy sinh, ông đã cùng một số nghĩa binh tìm đường lên Hưng Hóa theo Nguyễn Quang Bích và được phong chức Lãnh binh, được giao trọng trách huấn luyện quân sĩ cùng nhiệm vụ bảo vệ đại bản doanh. Trong chuyến đi Vân Nam mùa hè năm 1886, ông được giao làm cận vệ cho Nguyễn Quang Bích. Đến khi Nguyễn Quang Bích qua đời, ông đã ở lại chiến khu trông coi phần mộ.

Ngư Phong tướng công hành trạng có chép: "Sau khi tế xong, tướng sĩ lại phân tán, tôi (tức Tượng Phong) nằm ở nhà tạm đầu non hơn 10 ngày, rồi giao cho người vẫn theo hầu cha tôi là Thủ khoa Hoan cùng với bốn, năm người giả làm đồng bào thiểu số ở cạnh suối để trông nom phần mộ".

Trong thời gian ở lại Tôn Sơn, Lãnh Hoan đã tham gia cùng Lãnh Vân, Đề Kiều chống Pháp. Có lần ông cùng Lãnh Vân mạo hiểm chèo thuyền xuôi tận chợ Bờ tập kích đồn giặc. Đến 1896, Lãnh Hoan cùng Tượng Phong đóng bè đưa hài cốt Nguyễn Quang Bích về quê. Sau đó ông tham gia hoạt động trong các phong trào yêu nước chống Pháp ở Thái Bình. Khi đang làm nhiệm vụ thì ông bị bắt. Bọn giặc nhốt ông vào cũi sắt. Ban đêm ông phá cũi trốn thoát. Chúng cho quân bao vây các ngả bắt được. Lần này chúng đưa ông xuống thuyền ra khơi rồi đẩy xuống biển. Nhưng ông đã bơi mấy ngày đêm để vào đất liền. Sau đó ông trốn sang Hưng Yên hoạt động. Nhưng không may, ông lại bị sa vào tay giặc lần thứ ba. Chúng đày ông ra Côn Đảo với cái án 30 năm tù. Ở đây, ông đã chịu nhiều cực hình tra tấn, song tinh thần không hề nao núng.

Ngày tháng trôi qua, bọn thực dân yên tâm rằng ông sẽ chết già trên hòn đảo nhỏ. Không ngờ, quá nửa hạn tù, ông già ngoài sáu mươi tuổi ấy lại vượt ngục và đóng bè vượt Côn Đảo trở về quê. Ngay đêm đầu tiên trở về, ông đã mài dao định đi lấy đầu viên tri phủ. Cả nhà can ngăn mãi mới thôi. Sáng hôm sau, ông sang làng Trình Phố (nay là xã An Ninh) đến từ đường Nguyễn Quang Bích thắp hương, lạy tạ hương hồn chủ tướng và đập đầu vào bàn thờ khóc nức nở.

Những ngày còn lại ông sống cuộc đời của một người anh hùng chưa toại chí, giữ khí tiết cao thượng, khảng khái.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Hai, 2017, 05:07:41 pm

2. Vương Văn Doãn:

Sách Ngư Phong tướng công hành trạng chép: "Bấy giờ thân tuy là lãnh binh, Vương Văn Doãn nhiều lần xin đem quân đánh các đồn lẻ ở dọc sông để giảm bớt thế giặc. Nhưng cụ (chỉ Nguyễn Quang Bích) không chuẩn y, và cho rằng phải chuẩn bị lực lượng đợi khi cần sẽ dùng đến. Vương Văn Doãn không dám nhắc tới việc ấy nữa. Được mấy hôm, Doãn lại đến thưa rằng: "Các xã ven sông thuộc huyện Cẩm Khê thường có trộm cướp lén lút mượn thế nhiễu dân, xin đem vài chục quân đi tuần tiễu". Cụ liền cấp giấy cho đi và hẹn trong ba ngày trở về. Được lệnh, Vương Văn Doãn lén kén chọn ba mươi vệ binh đến đóng tạm ở xã Tăng Xá huyện Cẩm Khê và ngầm gọi đốc binh là Lê Duy Tiến đến dặn kín rằng: "Tôi vốn dò được đồn giám binh của Pháp ở Hưng Hóa phòng thủ sơ hở. Được cơ hội tốt này nếu nói rõ là xin đi đánh, tướng công không cho phép. Nên tôi nói vờ là đi tuần phòng, rồi nhân ban đêm đánh úp đồn Hưng Hóa, chắc sẽ thu được thắng lợi. Tôi chia quân làm hai toán, ông lĩnh một nửa để coi việc tuần phòng ở địa phương. Nhưng phải đợi tôi về, hãy cùng đem quân về đại bản doanh để báo cáo". Dặn dò xong, Vương Văn Doãn liền lấy hai thuyền và chọn tám người chân sào, đem theo bốn khẩu súng, và dẫn mười lăm quân lính chờ lúc sắp tối mới xuống thuyền, theo giữa dòng sông tiến thẳng.

Nước chảy xiết, thuyền đi nhanh, nửa đêm đã đến bến đò Hưng Hóa. Bấy giờ có mưa phùn, đêm tối như mực, có đứng gần nhau cũng không trông rõ mặt. Vương Văn Doãn liền giao cho những người chân sào ở lại coi thuyền và đợi ở bến. Rồi ông dẫn quân đổ bộ lên bờ nhằm hướng trại giám binh của giặc mà tiến. Khi đến cổng trại, tên lính gác không biết gì, Doãn liền rút dao đâm nhưng tên lính gác không chết ngay, y kêu rống lên chạy vào doanh trại. Giặc Pháp đương ngủ say, giật mình tỉnh giấc, chạy tán loạn, đèn điện bật sáng như ban ngày. Bên ta với bốn súng trường và mười hai thủ pháo nấp ở ngoài bắn vào. Doãn là bậc danh tướng bắn giỏi, bắn phát nào trúng phát ấy nên đã giết chết được vài chục tên giặc, trong đó có tên quan ba giám binh Pháp. Bọn còn sống sót chạy tán loạn. Doãn hô quân xông vào đồn giặc tước được bốn mươi khẩu súng, hai hòm đạn rồi mau chóng rút ra bến sông xuống thuyền sang bên hữu ngạn, là địa phận huyện Lâm Thao, rồi bỏ thuyền lại, lên bờ đi tắt theo đường mòn trong núi mà rút quân. Ngày nghỉ đêm đi đến ngày thứ năm mới tới Cẩm Khê.

Nói về Tướng công Nguyễn Quang Bích ở doanh trại đợi đến ngày thứ tư đã qua hạn mà không thấy Vương Văn Doãn về, liền sai vệ binh tản đi các nơi dò hỏi tin tức. Sau giờ Ngọ ngày thứ năm, vệ binh về báo vẫn chưa thấy tin gì về Vương Văn Doãn, Tướng công than rằng: "Ôi, Vương Doãn theo ta vất vả hoặc giả tìm đường đầu thú mưu đồ phú quý chăng? Chư quân hãy nên thận trọng".

Đêm vừa trống canh một thì chợt vệ binh vào báo Doãn đã về. Tướng công vừa mừng, vừa giận cho gọi Doãn vào. Vương Văn Doãn nộp súng đạn vừa thu được và xin chịu tội rồi thuật lại việc đánh úp đồn Hưng Hóa. Tướng công mắng: "Sao dám coi thường như thế, cầu may mà được thành công là điều binh pháp rất kiêng. Từ nay về sau nếu có trái quân lệnh sẽ bị trị tội không tha!". Khi Doãn đã ra, cụ liền sai người thảo văn bằng thăng chức cho Doãn là Hành dinh phó đề đốc và sai Doãn đem vệ binh đóng gần doanh trại để tiện điều động.

Từ đó Phó đề đốc họ Vương trở thành tướng cận vệ ở sát bên cụ cho đến khi cụ qua đời.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Hai, 2017, 10:04:52 am

3. Đề Vân:

Trong cuốn tiểu sử và thơ văn Tượng Phong do ông Ngô Đức Tĩnh chép bổ sung gia phả có viết về Đề Vân như sau:

Đề Vân người làng Mè, Phú Thọ, là thân binh gần cụ Hoàng, ông rất mạo hiểm, lập nhiều chiến công và là người trung thành nên được cấp bằng lãnh binh. Một lần ông xin cụ trá hàng Pháp để lấy vũ khí chống Pháp. Ông hứa 50 ngày sẽ quay lại.

Ông cùng hai nghĩa quân ra hàng được Pháp tin dùng, rất hậu đãi, phong cho nguyên chức, lại còn giao cho 50 lính đóng đồn. Quả nhiên 50 ngày sau ông đem toàn bộ số lính (đã thuyết phục được) và vũ khí quay về chiến khu. Khi cụ Hoàng mất, ông vẫn tiếp tục chiến đấu dọc vùng Thao - Đà. Một lần ông đã cùng Lãnh Hoan và Tượng Phong mang nghĩa quân về tập kích đồn Chợ Bờ (Hòa Bình), một trong những đồn khá kiên cố, không đánh đêm được. Nhân gặp dịp trời mưa, lại vào đúng phiên chợ bèn bố trí cho quân lính khoác áo tơi, giấu súng ngắn nòng kéo nhau vào chợ giả làm dân mua bán. Nghĩa quân lại bố trí một người nhỏ nhất cải trang là phụ nữ mang thúng bánh đến cổng đồn thăm dò tình hình. Những tên lính gác thấy "chị bán bánh" xinh xắn thì bỡn cợt. Còn toán nghĩa quân khác vào chợ, giả vờ đánh nhau chảy máu đầu, rồi mang buồng cau, hũ rượu kéo vào đồn để kiện. Khi quan đồn đang ngồi ngất ngưởng xử kiện thì ngoài cổng "chị bán bánh" ngồi vô ý hở lông chân. Biết bị lộ, "chị bán bánh" rút súng ngắn bắn luôn. Trong đồn nghe tiếng súng nổ; một anh vác hũ rượu đập ngay vào đầu tên đồn trưởng rồi túm vào trói nghiến. Bọn lính trở tay không kịp phải đầu hàng. Nghĩa quân mở kho lấy súng đạn - số súng lấy không hết thì tháo quy lát, mang đi đường hoàng giữa ban ngày.

... Sau Pháp bắt được ông và đày đi Côn Đảo 15 năm. Khi được tha về ông tìm xuống gia đình bấy giờ ở Đạo Hoàng, Tam Dương, Vĩnh Yên để gặp ông Tượng phong. Ông khóc nói: Tôi ước ao được về thăm từ đường và phần mộ để tế thầy, nhưng già yếu, túng thiếu không đi được, liền bày hương án cúng vọng tại núi Đanh - Tam Đảo.

Gần đây, nhà nghiên cứu dân gian Nguyễn Khắc Xương đã phát hiện ra dòng họ, gặp được con cháu của Lãnh Vân và được biết một chi tiết: chính Lãnh Vân thuộc dòng họ Ma, cùng nhân dân làng Mè, Phú Thọ đã lập đền thờ Nguyễn Quang Bích ngay tại quê mình.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Hai, 2017, 10:06:24 am

4. Nguyễn Khê Ông:

Có thể nói, hưởng ứng chiếu Cần Vương, các văn thân về với Nguyễn Quang Bích rất đông, có những người đã trở thành tướng lĩnh thân tín dưới quyền ông. Trong số đó có một người mà nhiều tài liệu đã nói đến với cái tên Nguyễn Khê Ông. Căn cứ vào tộc phả và phả hệ họ Nguyễn của nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ở Kim Lũ (Thanh Trì, Hà Đông cũ) và tài liệu gia đình ở làng Khê Thượng, Bất Bạt thì Nguyễn Khê Ông là tên hiệu (vì ở làng Khê).

Ông tên thật là Hội, còn tên hồi nhỏ là Quyến. Ông đỗ cử nhân và được bổ làm Giáo thụ rồi chiêu mộ nghĩa binh kháng Pháp. Ông Hội là anh chi trên của thân phụ nhà thơ Tản Đà - cử nhân Nguyễn Danh Kế - Án sát Ninh Bình; là cháu đời thứ tư của Đốc đồng Cao Bằng Nguyễn Huy Tú - người được Lê Chiêu Thống ủy thác đưa Lê Thái hậu sang Trung Quốc cầu cứu nhà Thanh. Nhà Nguyễn Gia Long lên, ông Tú về làng Khê mở ra họ Nguyễn gốc Kim Lũ ở đây. Trong Văn tế Nguyễn Khê Ông, Nguyễn Quang Bích có nhắc đến nguồn gốc của ông Hội: "Nhớ anh xưa, con dòng võ tướng" cũng là thế.

Ông Hội sinh được ba trai là tú tài Khiêm, Đầu xứ Hổ Trừu và Đề lại Huyến. Theo lời kể của các con ông Hổ Trừu thì Nguyễn Khê Ông được vua Hàm Nghi phong làm Án sát Sơn Tây, Tán tương quân vụ. Sau khi thành Sơn Tây thất thủ, ông chiêu mộ dân binh chủ yếu ở các làng Tòng Thái, Tòng Bạt, Khê Thượng, Đan Thê, trong đó có những học trò của mình. Bị giặc Pháp đánh thua nhiều lần, ông chạy về Ba Trại và Thủ Pháp, vùng cư trú của đồng bào Mường (nay là xã Minh Quang, huyện Ba Vì) dựa vào đồng bào mà tiếp tục kháng Pháp. Ở Ba Trại, ông có một học trò là Lang đạo hết lòng giúp đỡ. Do đó, trong quân của ông có cả một số người Mường vùng chân núi Tản. Khi ông mang quân về theo Nguyễn Quang Bích thì nghĩa binh Mường không muốn xa bản, xa quê nên ông trao số quân đó cho Đốc Ngữ tác chiến ở Bất Bạt và vận động đồng bào Mường, Dao ở chân núi Tản theo nghĩa quân Cần Vương.

Về với Nguyễn Quang Bích, Khê Ông Nguyễn Hội vừa là phó tướng, vừa là tham mưu của quan Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, lại cũng là bạn nhà nho, được quan Hiệp thống coi là tri kỷ và thường cùng xướng họa. Khê Ông có lần nói với Nguyễn Quang Bích: "kẻ sĩ vì người tri kỷ mà ra sức đua tài, dẫu gian khổ bao nhiêu cũng không từ chối". Lần sang Trung Quốc thứ nhất để cầu viện nhà Thanh, Khê Ông đi cùng Nguyễn Quang Bích nhưng tới Chiêu Tấn (nay là huyện Sìn Hồ, Lai Châu) thì bị ốm rồi mất. Nguyễn Quang Bích chôn cất ông chu đáo và làm văn tế ca ngợi ông: Anh là một người thư sinh, một chức nhàn tản, đối với bên trên thời vua chưa biết đến họ tên, đối với bên dưới thời chức vụ còn kém xa những anh em đồng sự, thế mà phấn khởi một cách bạo dạn, mộ những người nghĩa dũng ra tòng quân, tuy bị thua nhiều lần mà không hề nản chí.

Đôi câu đối viếng Khê Ông của Nguyễn Quang Bích cũng đã thâu tóm sâu sắc tấm lòng vì đại nghĩa cứu nước cứu dân của Khê Ông, tạm dịch như sau:

      Phận nghĩa phải làm, giữ vững lòng son trời chiếu rõ,
      Nát tan chẳng sợ, kể chi sương tuyết đất đây nhiều1.

______________________________________
1. Trần Huy Liệu dịch. Xem Tập san Văn - Sử - Địa, số 31-1957.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Hai, 2017, 10:07:28 am

5. Nguyễn Văn Giáp:

Một tướng khác đã cộng tác lâu dài với Nguyễn Quang Bích là Bố chánh Sơn Tây Nguyễn Văn Giáp.

Sau khi thành Hưng Hóa thất thủ ngày 12 tháng 4 năm 1884, Nguyễn Quang Bích rút dần về đóng ở làng Tiên Động, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ và ở đó cho tới năm 1886. Ông Giáp cũng về Tiên Động với Nguyễn Quang Bích họp với Đề Kiều cùng chống giặc. Nguyễn Quang Bích đã tâu xin vua Hàm Nghi ban phong cho ông Giáp làm Tuần phủ Sơn Tây, Tham tán hiệp đốc Bắc Kỳ quân vụ, và với chức ấy ông Giáp có thể toàn quyền chỉ huy trong thời gian chủ tướng họ Nguyễn đi sứ Trung Quốc. Có lẽ vì vậy mà các tài liệu của Pháp về Đốc Ngữ và Đề Kiều đều viết là họ "chịu sự chỉ huy của Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Văn Giáp". Đặng Huy Vận trong một tài liệu nghiên cứu về Đốc Ngữ viết: "Khi triều đình đầu hàng ký Điều ước 1883, ông không chịu bãi binh, theo Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Văn Giáp chống Pháp”1, hay nói về các nhóm khởi nghĩa ở Tây Bắc: "Nghĩa quân ở đây trong những năm 1883-1889 tập hợp dưới lá cờ của Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Văn Giáp".

Cùng theo về với Nguyễn Quang Bích còn có Sơn phòng chánh sứ Phạm Văn Địch và Cử nhân Phùng Khắc Nhuận, đều người Sơn Tây. Cả hai ông đều tham gia chỉ đạo hoạt động của nghĩa quân: ông Địch về Cẩm Khê với Đề Kiều, còn ông Nhuận theo sát Đốc Ngữ hoạt động bên sông Đà.

Không chỉ các văn thân yêu nước đi theo sự nghiệp đánh giặc cứu nước của Nguyễn Quang Bích mà đông đảo các thổ hào và nông dân do lòng yêu nước sâu sắc cũng nổi lên hướng về ngọn cờ đại nghĩa của người chủ tướng họ Nguyễn. Chỉ hai năm 1883-1884, các hào mục và nông dân ở địa phận sông Thao, sông Đà đều theo về với nghĩa quân rất đông.

Ở làng Phú Thọ (nay là thị xã Phú Thọ) có Ma Văn Long và em thứ ba là Ma Văn Vân theo về với nghĩa quân. Trước khi theo Cần Vương, Long tự xưng là Đốc Long và làm tướng cướp, còn Vân thường được gọi là Ba Vân thì thu mua lá hồ thuê. Đốc Long thất trận bị quân Pháp bắn chết, bộ hạ tôn Ba Vân làm đầu lĩnh, từ đó gọi là Lãnh Vân. Lãnh Vân tính điềm đạm, người thấp bé, trắng trẻo, khác hẳn với Đốc Long người cao lớn da đen, nét mặt dữ dằn. Khi Nguyễn Quang Bích sắp mất ở Tôn Sơn (Yên Lập) có cho gọi Lãnh Vân tiếp tục chiến đấu bên cạnh Nguyễn Quang Đoan, con cả Nguyễn Quang Bích, về sau, ông bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo 15 năm, khi được tha về thì đã già yếu, râu tóc bạc phơ. Được tha ít lâu, ông về làng Đạo Hoàng dưới chân núi Đanh (nay thuộc Tam Đảo) tìm gặp ông Đoan để làm lễ tế Nguyễn Quang Bích rồi lại về Phú Thọ. Dân gian có lời truyền rằng đền Kính Thiên ở Phú Thọ (là nơi các quan đầu tỉnh tế trời đất, mỗi năm chỉ mở một lần) đã được Lãnh Vân bí mật thờ Nguyễn Quang Bích, phải chăng dân gian cũng muốn khẳng định tấm lòng trung nghĩa và niềm kính trọng của các tướng đối với chủ tướng của mình.
_______________________________________
1. Xem Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 96-1967, tr. 45-46.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Hai, 2017, 10:07:51 am

6. Lãnh Cồ:

Dân gian cũng nhắc nhiều đến Lãnh Cồ, hay Quận Cồ tên thật là Phùng Văn Minh, người làng Liên Chiểu (hay Sen Chiểu, huyện Phúc Thọ, Sơn Tây) là một thủ lĩnh kiệt xuất vùng sông Đà. Khi dấy binh khởi nghĩa, Lãnh Cồ cho truyền hịch khắp nơi, cho xây dựng căn cứ ở Bằng Y, Bằng Tạ, Cẩm Lĩnh, đánh bại Pháp ở các trận Cố Đô, Vân Mộng, Tòng Lệnh, bị Pháp bắt tới ba lần đều vượt ngục trốn thoát. Ông chiến đấu trong 7 năm rồi hy sinh ở trận Vật Lại. Lãnh Cồ là bộ hạ Nguyễn Văn Giáp, hoạt động vẫn nằm trong ảnh hưởng của Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Văn Giáp.



7. Nguyễn Đình Ngữ (tức Đốc Ngữ):

Một tướng khác của Nguyễn Quang Bích là Nguyễn Đình Ngữ, một nông dân nghèo làm nghề lái đò. Sau khi Pháp hạ thành Sơn Tây, ông theo Nguyễn Quang Bích. Ông chiếm rừng Dàng hay non Dẫy (chạy từ Khê Thượng đến hết địa phận (Đan Thế), lấy mé trong huyện lỵ Bất Bạt làm căn cứ, sau về châu Thanh Sơn (Phú Thọ) lập đại trại ở xã Khả Cửu. Ông đánh Pháp nhiều trận nổi tiếng như: đánh chiếm huyện lỵ Bất Bạt (năm 1884), trận Bằng Y (năm 1888), trận Quảng Nạp và Thanh Khoán, phá nhà tù Sơn Tây (năm 1890), trận Chợ Bờ và ngục Thám (1891), trận Yên Lãng (1892). Đốc Ngữ còn tham gia trận đánh Cầu Giấy cùng với Lưu Vĩnh Phúc. Nguyễn Quang Bích trao cho ông trực tiếp chỉ huy phong trào kháng Pháp ở hạ lưu sông Đà (Hòa Bình, Sơn Tây và châu Thanh Sơn). Vua Hàm Nghi cũng phong cho ông chức Chưởng vệ, Phó tướng đạo Hà Ninh (Hà Nội - Ninh Bình). Đốc Ngữ bị bọn gian sát hại tại căn cứ Khả Cửu ngày 8 tháng 8 năm 1892.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Hai, 2017, 10:08:42 am

8. Đề Kiều:

Một tướng đặc biệt quan trọng của Nguyễn Quang Bích là Đề Kiều. Khi Pháp đánh thành Hưng Hóa, Đề Kiều cũng có mặt tại đó. Thành Hưng Hóa thất thủ, Nguyễn Quang Bích lên Kính Thiên đài định tuẫn tiết, chính Đề Kiều và các tướng đã khuyên Nguyễn Quang Bích ra khỏi thành để chiến đấu lâu dài, cũng chính Đề Kiều đưa chủ tướng và các tướng về đất Cẩm Khê là lãnh địa của mình.

Đề Kiều người xã Cát Trù (huyện Cẩm Khê, Phú Thọ), một xã trù phú trên bến dưới thuyền, phía sau có núi và đầm lớn, có đường vào châu Yên Lập, vùng cư trú của đồng bào Mường. Đề Kiều chính họ tên là Hoàng Văn Thúy, trước khi theo Nguyễn Quang Bích làm Chánh tổng tổng Điền Lương (trong đó có Cát Trù). Ông là một thủ hào có thế lực lớn, có ruộng đất và thủ hạ ở cả Cẩm Khê và châu Yên Lập. Về tên Kiều của ông có hai thuyết khác nhau. Một thuyết cho rằng đó là tên người con nuôi. Ông có nhiều vợ con và nhiều con trai, trong đó có con trai cả tên là Huy, các con trai khác là Tập, Hồ, Sát. Theo phong tục địa phương thì phải gọi theo tên con là Đề Huy mới đúng. Một thuyết khác nói tên ông là Thúy, ông lại mê "nôm Thúy Kiều" vì thế nhân tên Thúy mới lấy tên là Kiều để gọi. Ông cũng là người rất mê Tam quốc, người ta nói Kiều hay dùng chiến thuật phục kích là học theo cách đánh trong pho sách chương hồi này. Đề Kiều được phong Chánh đề đốc. Sau khi thất thủ Hưng Hóa thì Nguyễn Quang Bích hầu như chỉ còn chiến đấu ở Cẩm Khê, Yên Lập là vùng thống thủ của Đề Kiều. Trước khi mất, Nguyễn Quang Bích cử Đề Kiều thay mình lãnh đạo cuộc kháng Pháp, về sau Đề Kiều có mở nhiều cuộc giao tranh với Pháp, trong đó có trận đánh lớn tiêu diệt nhiều sinh lực địch như trận Đội Đèn, Rừng Gài, Đồng Lốc giáp ranh châu Yên Lập. Các trận trên Đề Kiều đều dùng phục binh, đặt bẫy đá, bắn tên độc.

Phong trào Cần Vương tan rã, Đốc Ngữ cũng mất, Đề Kiều lên cố thủ ở hai xã Cát Trù và Hiền Đa. Lê Hoan, Tuần phủ Hưng Hóa cho quân vây đánh. Quân Lê Hoan rất trọng Đề Kiều, vây tới bốn tháng không hạ được căn cứ. Biết Đề Kiều là người hiếu thuận và mê tín, Lê Hoan bắt mẹ Kiều, lại dọa sẽ nã pháo triệt hạ cả làng. Lê Hoan còn cho thầy bói vào gặp Đề Kiều nói: "Ông không có tướng làm vua" và khuyên ông ra đầu thú. Một số cụ già sợ làng bị triệt hạ cũng khuyên Đề Kiều ra đầu thú để cứu dân. Phong trào Cần Vương tan rã, chủ tướng Nguyễn Quang Bích đã mất, lại lo mẹ, lo dân, Đề Kiều đành ra đầu thú. Như vậy, sau khi Nguyễn Quang Bích mất, Đề Kiều còn chiến đấu được bốn năm nữa.

Một Nguyễn Văn Giáp, một Khê Ông Nguyễn Hội, một Đề Kiều, Đốc Ngữ mỗi người một số phận nhưng đều vì người "tri kỷ" Nguyễn Quang Bích mà "ra sức đua tài", tri kỷ là ở chỗ dám quên mình vì sự tồn vong của giống nòi, cùng nhau chia sẻ những gian nan vất vả và những thành bại trong chiến trận. Nguyễn Quang Bích chính là người đã hiểu được sức mạnh bên trong ấy của họ và biết quy tập lại thành một sức mạnh chung, một nỗi niềm chung:

      Phận nghĩa phải làm, giữ vững lòng son trời chiếu rõ,
      Nát tan chẳng sợ, kể chi sương tuyết đất đây nhiều.


Và đó chính là tầm vóc lớn lao của Nguyễn Quang Bích.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Hai, 2017, 10:35:30 pm

Câu hỏi 26: Tác phẩm Ngư Phong thi tập đã toát lên truyền thống và cách tân trong thơ Nguyễn Quang Bích, hãy cho biết về điều này?
Trả lời:


Nguyễn Quang Bích xuất hiện với tư cách một nhà cách mạng tiêu biểu, một nhà thơ, hơn thế nữa còn là một nhà thơ yêu nước. Hơn một phần tư thế kỷ trước, với công sức của nhiều người cùng hợp tác nghiên cứu và phiên dịch Ngư Phong thi tập, thế hệ sau đã biết trong con người Nguyễn Quang Bích có hai hình ảnh song trùng, giống như hai vầng sáng ánh xạ lẫn nhau, làm cho diện mạo thật của một Nguyễn Quang Bích rõ nét hơn và cũng gợi cảm hơn nhiều.

Đó là một Nguyễn Quang Bích lãnh tụ nghĩa quân lặn lội chống Pháp tại núi rừng Tây Bắc cho đến lúc ngã xuống như một chiến sĩ, và một Nguyễn Quang Bích thú hai ngày ngày cầm bút khắc họa khung cảnh nên thơ của chính địa bàn mà mình đã trường kỳ chiến đấu với tinh thần quyết tử. Cho nên, cũng là điều rất tự nhiên khi trong dòng thơ yêu nước xuất hiện sôi nổi nửa cuối thế kỷ XIX mà sách vở thường nhắc đến, không thể bỏ qua Nguyễn Quang Bích như một đại biểu quan trọng, một tiếng nói riêng, nhằm khẳng định quyền chính đáng của một nghệ sĩ hiện diện trước lịch sử.

Điều kiện và môi trường sáng tác của Nguyễn Quang Bích không giống với một ai cùng thời với ông. Nguyễn Quang Bích đã chọn con đường "xả thân thủ nghĩa", nên có một cảnh ngộ dấn thân đặc biệt, và có lẽ không cảnh ngộ nào lại có phần ngẫu nhiên lạ lùng và quyết liệt như Nguyễn Quang Bích, nó khiến cho nhà thơ phải lìa bỏ cả môi trường sáng tác tự nhiên quen thuộc của mình...

Nguyễn Quang Bích là người quê ở làng Trình Phố, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định cũ, nay thuộc phần đất tỉnh Thái Bình, ông Hoàng giáp ấy thật ra là người con của một vùng đất biển. Sự hiểu biết của ông, ngoài sách vở thánh hiền, chắc chắn có một phần khá lớn là những tri thức thực tế về đất nước, làng xã và con người ven biển mà vốn sống tích lũy nhiều đời từ mảnh đất quê hương đem lại. Ngọn lửa chiến tranh cướp nước của thực dân đã nhanh chóng lan từ Nam ra Bắc, đã xô đẩy Nguyễn Quang Bích tới cái địa vị ông không bao giờ ngờ tới: phải cầm quân không phải trên mảnh đất vùng biển Thái Bình thân thuộc mà tại một nơi hoàn toàn xa lạ - đó là miền cực Bắc của đất nước, nơi không còn bóng dáng của đồng bằng mà chỉ có rừng núi hiểm trở; nơi hầu như rất ít lũy tre, mái rạ của người Kinh mà chỉ lơ thơ thấp thoáng các làng bản của người Dao, người Thái, người Mèo...

Không chỉ có thế, Nguyễn Quang Bích còn đảm nhận chức vụ Lễ bộ thượng thư của vương triều kháng chiến Hàm Nghi để hai lần khoác áo sứ giả xuyên rừng vượt núi sang tận Vân Nam cầu viện, và làm đường dây liên lạc nối các lực lượng kháng chiến ở trong nước với người chỉ huy tối cao là Tôn Thất Thuyết lúc ấy đã rút ra nước ngoài. Tưởng không cần nói cũng rõ, cái bối cảnh sinh hoạt quá đỗi mới mẻ và khó khăn này đối với sức vóc một nhà Nho không quen dày dạn đã đưa lại một sự đổi thay sâu sắc trong con người và cảm xúc của Nguyễn Quang Bích như thế nào.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Hai, 2017, 10:35:53 pm

Đọc kỹ lại những bản ghi chép xưa nay về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Quang Bích và các bài thơ bài văn của ông, ta có một cảm tưởng rằng, ông thật ra không phải là một vị tướng biết chủ động cầm quân với tài năng thiên bẩm. Trong ông không có cái tài thao lược của một Trương Định, cũng không sẵn có con mắt "có mưu", "trù hoạch" của một Phan Đình Phùng, ông trước sau chỉ là một vị quan văn, một vị đại diện có uy vọng của triều đình Hàm Nghi, và nhất là một con người có tấm lòng nhân hậu - một vị "hoạt Phật" như cách nói của nhân dân vùng Hưng Hóa.

Mới đầu, khi giặc kéo đến vây hãm Hưng Hóa, Nguyễn Quang Bích đã toan liều chết theo thành như một Hoàng Diệu để giữ trọn tiết nghĩa. Việc đó nếu thành, chắc sẽ làm cho lý tưởng trung quân có thêm một biểu tượng, còn với lịch sử thì tuyệt nhiên không có một ý nghĩa mới mẻ gì. Nhưng rồi quân sĩ dưới trướng đã kịp thời kéo Nguyễn Quang Bích xuống khỏi Kính Thiên đài, vực ông lên ngựa, thoát khỏi vòng vây. Và thế là từ đó ông trở thành linh hồn chống Pháp của cả Bắc Kỳ rộng lớn, với các chức vụ không phải ngẫu nhiên được Tôn Thất Thuyết phong tặng: Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần.

Đã có một cuộc đấu tranh diễn ra bên trong con người vị lãnh tụ nghĩa quân họ Nguyễn, và từ đó làm xuất hiện nhà thơ yêu nước Ngư Phong. Những nhà thơ yêu nước cùng thời khác hẳn không phải trải qua một cuộc đấu tranh thầm lặng mà đầy bão tố như thế. Nhưng hoàn cảnh bạo liệt đã đưa Nguyễn Quang Bích vào cuộc đấu tranh đó, khiến cho ông không lùi được nữa; những phần cầu an trong ông không còn chỗ bám víu và những phần sáng đẹp nhất bỗng chốc sáng bừng lên. Như trong một giấc mơ dữ dội, Nguyễn Quang Bích lòng đầy rung cảm, hiên ngang đi tới cái đích cuối cùng, cái đích "xả thân" đúng với nghĩa đen của danh từ đó. Nguyễn Quang Bích thậm chí cũng không được như nhiều vị thủ lĩnh khác cùng thời trước lúc lao vào sống mái với giặc được trở về quê thăm viếng phần mộ tổ tiên và từ biệt cha mẹ, vợ con cùng làng bản quê hương, một nghĩa cử hết sức trọng đại của thời xưa, vừa biểu hiện sự trọn vẹn nghĩa tình với nơi chôn nhau cắt rốn, vừa long trọng đánh dấu bước ngoặt lớn của đời mình.

Nhà thơ họ Nguyễn chắc không thể ngờ rằng đối với ông, ngày lên đường trị nhậm Hưng Hóa cũng chính là ngày ông vĩnh quyết với quê hương và thân bằng cố hữu. Nhưng những dòng thơ trong Ngư Phong thi tập vẫn hiện lên thấp thoáng đó đây những nỗi niềm khắc khoải của nhà thơ mỗi khi gặp ngày giỗ cha, giỗ mẹ... Rõ ràng, từ góc độ của môi trường sáng tác khách quan mà xét, Nguyễn Quang Bích là nhà thơ có cái may đứng trước một đối tượng sáng tác hiển nhiên mới lạ, làm gợi lên trong ông bao nhiêu cảm xúc ngổn ngang, và buộc con người thơ trong ông phải tìm cách chiếm lĩnh. Khỏi phải nói, đó chính là hai mặt có quan hệ tương tác với nhau, làm nên sức hấp dẫn riêng của tác phẩm Ngư Phong thi tập.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Hai, 2017, 10:36:20 pm

Đọc Ngư Phong thi tập ai cũng công nhận đó là những vần thơ hay. Thơ của Nguyễn Quang Bích xúc động đến đáy lòng ta, và bắt ta không thể đọc lướt cho nhanh mà cứ luôn luôn phải quay vào đối diện với chính mình, thông qua những điều nhà thơ tìm kiếm và trăn trở. Câu thơ Ngư Phong vẫn nhẹ nhàng trầm mặc, như âm vận muôn thuở của hình thức thơ luật cổ điển, có nơi còn phảng phất phong vị thơ Đường, nhưng thực ra đã chứa đựng một nét mới so với thơ ca cổ truyền của thế kỷ XIX.

Cái mới dễ nhìn thấy trước nhất là bức tranh sinh hoạt của núi rừng Tây Bắc được vẽ lại thật sắc nét trong thơ. Từ mấy chục năm trước, giáo sư Đinh Xuân Lâm đã nói đến đặc điểm đó của Ngư Phong thi tập. Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã lần lượt nói về cái nhìn tinh tế và chân thực của Nguyễn Quang Bích, cái chỗ đáng gọi là nhân tài của một hồn thơ khi biết cách làm sống dậy sự sống ẩn náu lâu đời trong một vùng rừng núi, bằng những nét phác họa về phong tục, tập quán, con người, cảnh vật ở đây. Chỉ riêng với mảng đề tài độc đáo này, Nguyễn Quang Bích đã có vinh dự đưa vào thi ca của thế kỷ XIX một mảng sống thật khác thường.

Bức tranh Tây Bắc đi vào thơ Nguyễn Quang Bích, không còn là một Tây Bắc như nó có mà là một Tây Bắc đã được tái tạo lại, thông qua lăng kính đang có sự biến đổi của nhà thơ Ngư Phong. Muốn hiểu được giá trị của những sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Quang Bích trong bức tranh về núi rừng Tây Bắc của ông, chỉ xem xét bút pháp "kỷ sự" của ông chưa đủ, mà còn phải đặt chúng trong mối tương quan mật thiết với cái "tôi" của nhà thơ. Dường như ở đây, bằng vài nét chấm phá đơn sơ (chứ không đi vào tỉa tót tỉ mỉ), tác giả đã làm hiện lên trước mắt người xem một thế giới Tây Bắc chỉ riêng ông nhìn ra nó, một thế giới Tây Bắc như ánh xạ qua tâm hồn một con người đang đi vào cuộc chiến đấu trọng đại, đang phấn đấu từng bước để nhận thức ra sứ mệnh lịch sử của mình, cũng tức là nhận thức ra cái sức mạnh nội tại gắn bó con người và đất nước, Tây Bắc với chính mình.

Cái "tôi" trữ tình của tác giả thấp thoáng và được vận dụng như một biện pháp nghệ thuật thống nhất tạo ra những nét vẽ khác nhau của Ngư Phong thi tập: xù xì, gai góc, đơn sơ, hùng vĩ, lạc quan, bi quan đều kết hợp lại. Và thiên nhiên Tây Bắc không còn hiện ra như một bức tranh suông, một cái đẹp tự nhiên nữa.

Cùng với thiên nhiên, con người Tây Bắc cũng không hiện ra như chỉ có riêng họ. Cái hồn hậu, mộc mạc của họ trở nên đẹp hơn nhiều lắm, vì đó chính là tấm gương soi chiếu trái tim nhạy cảm của tác giả. Có thể nói, vai trò của cái "tôi" trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Bích làm cho thơ của ông tăng thêm sức nặng, như có một sự vấn vương gì đó làm thức dậy cái đẹp, cái tiếng nói chân thực trong tâm hồn sâu thẳm của chúng ta. Đọc Ngư Phong thi tập, ta không thể có thái độ tiếp nhận lý trí mà tình cảm hững hờ. Ta gần như phải đọc thành hai bước: đọc những lời hiện ra bằng lời thơ giản dị, rồi sau đấy lại phải độc thoại bằng những lời ở ngoài lời. Đó chính là lượng thông báo thứ hai ít thấy ở nghệ thuật thơ ca thiên nhiên truyền thống, nhất là loại thơ "kỷ sự" thế kỷ XVIII.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Hai, 2017, 10:36:38 pm

Với bút pháp độc thoại nội tâm không kém phần sâu sắc, Nguyễn Quang Bích đã sáng tạo nên một nhân vật trữ tình tiêu biểu, con người hiện thân tinh thần chống Pháp của quần chúng và sĩ phu Bắc Bộ, trong cái bối cảnh cuộc kháng chiến đặc biệt gay go gian khổ của núi rừng Tây Bắc vào những ngày đang ngả sang tàn cuộc của phong trào Cần Vương. Chính bối cảnh có ý nghĩa đặc trưng nói trên làm cho hình tượng nhân vật cũng được điển hình hóa bằng những chi tiết đặc trưng nhất, và luôn luôn được tái hiện lại dưới nhiều dạng vẻ: quanh năm suốt tháng là những chuyến lội suối trèo đèo không ngừng không nghỉ; nhưng trong cuộc hành trình muôn phần nhọc mệt và ngỡ như bất tận ấy, con người đó sẽ từng bước vượt lên mình, để hiểu ra vẻ đẹp của núi non, làng bản, dân chúng, và bền lòng tin vào lý do tồn tại của chính mình. Nhìn trong thế cân bằng của một cuộc chiến tranh tự vệ của cả dân tộc giữa vùng núi và vùng xuôi, cực Nam và cực Bắc, những đóng góp này của Nguyễn Quang Bích là một thành tựu không thể phai mờ, góp phần hoàn chỉnh bức tranh Cần Vương chống Pháp lẫm liệt và bi tráng của lịch sử và văn chương Việt Nam cách đây hơn một thế kỷ.

Con người trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Bích không chỉ có như vậy, con người đó cũng mang trong mình cả tâm lý thất bại mà nói cho đúng hơn, thất bại là một yếu tố nổi đậm. Đọc lại văn thơ Nguyễn Quang Bích trong cái nhìn cởi mở hôm nay, ta nhận ra tỷ lệ giữa cái buồn, cái bi được nói đến trong thơ ông dường như quá bé nhỏ so với tình cảnh muôn phần bi đát mà ông đã phải gánh chịu trong thực tế! Tâm hồn ông dễ phải cứng cỏi lắm mới không để cho cái buồn lúc này là một hiện thực lấn át, nó chỉ là hệ quả của tấn bi kịch không cưỡng nổi của vai trò tầng lớp sĩ phu yêu nước đã bị lịch sử phủ định mà thôi. Phạm trù thẩm mỹ "cái bi" trong thơ Nguyễn Quang Bích phản ánh mối xung đột có thực giữa lý tưởng và hiện thực trong thời đại nhà thơ mà phương hướng giải quyết chưa phải là một khả năng cập nhật của lịch sử.

Nguyễn Quang Bích chưa xây dựng được một hình tượng đột khởi như Nguyễn Khuyến, nhưng nhân vật trữ tình trong thơ ông cũng được phát triển theo hướng đó. Ông không tìm cách che giấu nỗi buồn, tâm trạng bế tắc có thực của mình, sự chán nản, mỏi mệt của mình, mặc dầu ông vẫn đương đầu với giặc. Chính vì thế thơ ông là tiếng nói chân thật gợi cảm và hầu như rất ít điển cố. Thơ ông là tiếng lòng chứ không phải sáo ngữ. Và đấy chính là điều kiện đầu tiên cần phải có của một thi tài. Sự phân rẽ không tránh được giữa thơ Nguyễn Quang Bích cùng nhiều nhà thơ yêu nước thời ấy với dòng thơ kinh viện của thế kỷ XIX là ở đây. Lăn mình trong thực tiễn chiến đấu, những con người này đã sáng tạo nên sự sống và hướng tới cái "chân", trong khi các nhà thơ kia thì vẫn chỉ ngừng lại trong phạm vi của lời và chữ. Và tất nhiên thơ của những chân lý sống thực thì không thể che giấu những phần khiếm khuyết có thực của thời đại họ. Nhưng ngay cả ở đấy nữa, họ cũng sẽ góp phần khắc tạc nên những con người có thực - với vẻ đẹp có thực và cả những mặt chưa đẹp có thực, với sức mạnh có thực và cả những mặt yếu đuối có thực - của một thời kỳ lịch sử: Nguyễn Quang Bích với tất cả những mặt mạnh mặt yếu của ông được chúng ta yêu quý chính là vì lẽ đó.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Hai, 2017, 10:37:26 pm

Câu hỏi 27: Hãy cho biết về cái buồn trong thơ Nguyễn Quang Bích?
Trả lời:


Thơ Nguyễn Quang Bích đã được đánh giá rất cao. "Một ý thức cứu nước mãnh liệt", "một tình yêu thiên nhiên đất nước thắm thiết", "một tình thương yêu đồng chí nồng nàn và một lòng căm thù giặc sâu sắc", "một sự gắn bó chân thành với nhân dân lao động", "một sự kết hợp đẹp đẽ giữa hai yếu tố hiện thực và trữ tình" - bấy nhiêu đề mục khái quát trong một bài giới thiệu công phu về sáng tác của Ngư Phong do một nhà nghiên cứu thực hiện đã nói lên lòng cảm phục, mến mộ của người đọc hôm nay đối với di sản thơ văn của nhà chí sĩ yêu nước lỗi lạc của dân tộc nửa cuối thế kỷ XIX.

Xét đến cái buồn trong thơ văn trước hết cần phân biệt cái buồn như một hiện tượng của thế giới quan và như một hiện tượng thẩm mỹ có tính chất phổ quát. Tất nhiên, giữa thế giới quan và phạm trù thẩm mỹ trong nghệ thuật có quan hệ với nhau. Nguyễn Quang Bích chưa có cái buồn của người mà lý tưởng đời sống bị lung lay tận gốc như sau này Nguyễn Khuyến đã thể nghiệm. Ông cùng một dòng tư tưởng giết giặc cứu nước mãnh liệt như Nguyễn Đình Chiểu, lấy sự bình an yên vui của dân chúng làm trách nhiệm của mình. Đọc thơ ông, trước hết dễ thấy thơ ông có nhiều niềm vui của người biết tu dưỡng, trọng đạo lý, tự hào về phẩm chất cao đẹp của mình. Có thể nói đó là niềm vui kín đáo của người biết tu dưỡng, giữ mình, đi theo đường chính đạo của người quân tử. Cả cuộc đời trong sáng của Nguyễn Quang Bích minh chứng cho phẩm chất cao đẹp của ông.

Tuy vậy, trong thơ ông, nỗi buồn thấm đượm vào tất cả. Điều này chí ít có hai lý do. Một là, Nguyễn Quang Bích là người rất đỗi thành thực, thành thực với mình và với hậu thế. Trong bài thơ Trẻ khóc, ông trình bày một ý nghĩa thể hiện cách hiểu con người của ông:

      Người đời đã mấy ai đến được bậc quên tình,
      Vì không quên được tình nên mối sầu càng gấp bội.


Ông khác các vị "thái thượng" tu luyện tới mức quên tình, ông vẫn cứ là vị "hoạt Phật" sống giữa vô vàn mối dây tình cảm nên không dễ gì đền đáp. Vì vậy, mọi tình cảm của ông đều được bộc lộ tự do. Một lý do nữa đáng chú ý là khác với nhà thơ Nam Bộ, làm thơ vẫn tham gia vào cuộc tranh luận tư tưởng lớn của thời đại hòa hay chiến, trung hay không trung, trực tiếp ngợi ca các cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân, Nguyễn Quang Bích làm thơ chỉ cốt để giãi bày nỗi lòng với đất trời và hậu thế để mong được thông cảm. Các bài văn tế và thơ khóc của ông cũng thắm thiết tình bạn, tình người tri kỷ, chủ yếu thuộc thể tài đời tư.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Hai, 2017, 10:38:43 pm

Một điều nữa trong cái buồn của thơ Nguyễn Quang Bích là chữ sầu không phải lúc nào cũng có nghĩa là "buồn rầu", "sầu muộn", "bi ai", sầu trước hết có nghĩa là lo lắng, suy nghĩ, chứ không phải buồn. Uống rượu giải sầu là để khuây niềm lo nghĩ - hiểu như vậy sẽ thấy Nguyễn Quang Bích nói nhiều đến sầu là để giãi bày cho mọi người thấy trái tim đầy lo nghĩ của ông trước thời cuộc.

Cái buồn trong thơ Nguyễn Quang Bích không phải do thoái chí, chán nản, bạc nhược, mà do tình thế bi kịch khách quan tạo nên, vì thế không nên gọi là tiêu cực.

Ở đây khí chất nhà nho lấn át tính cách của vị tướng quân thao lược, nhưng không hề có ý bỏ chiến đấu về nhà bởi vì sự mong về gắn với ước mơ một thuở thái bình đã mất. Và hẳn tác giả cũng thấy ngay ước mơ này không thể thực hiện được trong thực tế như "chín việc trong lòng" đã không thành. Một nỗi buồn tình thế tràn ngập các bài thơ.

Nguyễn Quang Bích có biết bao "việc trong lòng" mà không có cách gì thực hiện được. Báo đền ơn nước, thực hiện nhiệm vụ làm con, chăm lo cuộc sống an bình no đủ cho dân, ngưỡng mộ cuộc sống thanh cao, ước mơ một sự nghiệp tang bồng của đấng nam nhi, sống gắn bó với quê nhà. Các lý tưởng ngàn xưa vẫn sống mạnh mẽ trong tâm tưởng của ông với đầy đủ giá trị, chưa hề mảy may suy suyển. Chí dời non lấp biển chưa nguôi (Dựng núi non bộ bằng gỗ), tin vào cơ hội trùng hưng (Vũ trụ đại khí số), ước ao được kiếm quý Phong Thành (Tiết trùng cửu ở nhà sàn trên núi, Thơ họa của Ngư Phong (VI), Dời chỗ ở đến Thượng Bằng La, châu Văn Chấn), đêm trung thu không trăng vẫn ước ao "gió xuân quét sạch mây mù" (Trọ ở Lai Châu, đêm trung thu gặp mưa không có trăng). Phải hiểu thế giới quan tin vào điều lạ của Nguyễn Quang Bích mới hiểu tình cảm ông bền bỉ, mạnh mẽ đến nhường nào. Chính vì vậy nhà thơ mới buồn.

Những tình thế đã làm cho ước mơ ngày càng không thể thực hiện được trong thực tế, cái buồn làm cho ý thức về sự bất lực càng thêm đậm nét, làm cho lý tưởng và các giá trị không thực hiện được trở thành day dứt, nuối tiếc, đớn đau trong tâm hồn. Trong thơ cổ, cái "sầu" là hình thức sống còn của các giá trị và ước mơ chưa, hoặc đã không thể thực hiện.

Hiểu cái buồn của Ngư Phong là hiểu cái chí chưa thành nhưng không bao giờ chết của thơ ông. Cũng là hiểu cái hữu hạn của con người trong lịch sử.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 08:53:17 am

Câu hỏi 28: Nêu những nét chủ yếu về tư tưởng yêu nước - tư tưởng chủ đạo trong Ngư Phong thi tập của Nguyễn Quang Bích?
Trả lời:


Nhân dân ta từ Nam chí Bắc, trước dã tâm xâm lược của bọn thực dân cường bạo, đã biểu thị một thái độ dứt khoát: kháng chiến giữ nước đến cùng. Tiếng nói chân chính của thời đại bấy giờ là tiếng nói chiến đấu kêu gọi nhân dân đứng lên giết giặc cứu nước. Cuộc đời chiến đấu của Nguyễn Quang Bích gắn liền với cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dân, tiếng nói của ông vì vậy cũng là tiếng nói chân chính của thời đại. Đó là tiếng nói của lòng thiết tha yêu quý non sông đất nước đang bị giặc ngoại xâm giày xéo, lòng mong mỏi quét sạch bè lũ giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi, tâm trạng băn khoăn làm sao đóng góp phần xứng đáng vào công cuộc giết giặc cứu nước.

Qua văn thơ Nguyễn Quang Bích, chúng ta thấy rõ tư tưởng và tình cảm của ông bắt nguồn sâu từ trong truyền thống vĩ đại không có gì quý hơn độc lập, tự do của dân tộc ta trong lịch sử. Một lòng tự hào chính đáng về đất nước về ông cha đã toát ra từ nhiều câu trong tập thơ, như:

      Nam thiên định phận đế vương châu,
      Tiền sử chiêu chiêu vũ liệt ưu.

                                     (Ngư Phong họa thi, I)

Dịch:
      Non sông trời định cõi Nam bang
      Võ liệt ghi truyền vẫn vẻ vang.

                                     (Thơ họa của Ngư Phong, I)

Chính vì vậy mà tư tưởng và tình cảm của ông luôn luôn gắn chặt với vận mệnh đất nước, với tiền đồ Tổ quốc. Trên đường lánh giặc, ông thường băn khoăn buồn bực nhưng khi nhận được tin thắng trận của nghĩa quân thì nỗi buồn bực, mối băn khoăn đó phút giây tan biến, mà thay vào đó là sự lạc quan phấn khởi dào dạt:

      Gia Nguyên tiệp hỉ liên thời đáo
      Thập giải phiên đầu mã tự phi.

                                     (Văn Dụ Phong tiệp báo)

Dịch:
      Gia Nguyên thắng trận tin đồn đến
      Mười giải phiên đầu, phóng ngựa bay.

                                    (Nghe tin thắng trận ở Dụ Phong)


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 08:54:12 am

Xây dựng lực lượng bên trong, tập hợp nghĩa quân tiến hành đấu tranh vũ trang là niềm quan tâm lớn nhất, nhưng Nguyễn Quang Bích - cũng như tất cả văn thân yêu nước chống Pháp hồi đó đều muốn tranh thủ sự giúp đỡ của bên ngoài. Ông đặt nhiều hy vọng vào việc cầu viện Trung Hoa, vì vậy cứ mỗi khi nhận được thư của Tôn Thất Thuyết gửi về là mỗi lần ông lại thấy lòng đầy mừng vui, tin tưởng. Ông phấn khởi, vui sướng biết bao khi có được người giúp đỡ trong công cuộc giết giặc cứu nước. Nỗi niềm đó còn lẩn quất cả trong giấc ngủ, trong cơn chiêm bao của vị nho tướng, khi thấy mình lăn lộn phất cờ cứu nước trong "nhân hòa” và "địa lợi" của một mùa xuân cây cỏ đâm chồi nảy lộc, với một tấm lòng nghĩa phẫn đương sôi nổi thiết tha.

Vui mừng trước thành tích, phấn khởi trước thuận lợi đối với người chỉ huy chịu trách nhiệm trước phong trào là điều tất nhiên, nhưng những khó khăn gian khổ của kháng chiến cũng làm cho ông bao phen băn khoăn lo lắng:

      Lịch hiểm bất kham phù sấu cốt,
      Đa tư dung dị bạch nhân đầu.

                                               (Lữ dạ)

Dịch:
      Nhiều phen gian hiểm nên gầy vóc,
      Lắm nỗi ưu tư dễ bạc đầu.

                                               (Đêm lữ thứ)

Còn biết bao gian khổ, khó khăn chồng chất trên con đường giết giặc cứu nước. Nào ''muốn dặm chướng lam đầy", "mưa gió bên rừng", "gập ghềnh bước gian nan"... và nhất là nỗi buồn vì đã mỏi mắt chờ trông mà đạo quân cứu viện vẫn biệt vô âm tín. Trong tình cảnh ấy mà ông vẫn bền bỉ cùng quân sĩ quyết chí diệt giặc cứu nước đến cùng, điều đó đòi hỏi phải có một tinh thần yêu nước mạnh mẽ, một lòng căm thù giặc sâu sắc mà Nguyễn Quang Bích cùng toán cô quân mới có đủ nghị lực và kiên cường để khắc phục mọi khó khăn, gian khổ.

Tấm lòng yêu nước của ông vô cùng mạnh mẽ, nhưng cũng vô cùng tế nhị. Chỉ cần một hình ảnh nhỏ của quê hương xứ sở thoáng qua cũng đủ làm cho ông bồi hồi xúc động. Cảnh núi cao sừng sững in bóng bên sông như khêu gợi mối sầu cứu nước chưa nguôi. Dòng nước sông Hồng cuồn cuộn cũng vang động trong tâm hồn ông cái buồn xâu xé của một người dân yêu nước nhớ tới non sông đang rên xiết dưới nanh vuốt quân thù.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 08:55:46 am

Những đêm thù trằn trọc nơi quán trọ bên đường, những buổi nghe chim đa đa khắc khoải trong rừng, cả những khi ngồi một mình uống rượu hay những khi được đồng bào thiểu số chân thành đón tiếp... bất cứ lúc nào, ở đâu, việc gì cũng đều khơi dậy lòng yêu nước, thù giặc của nhà văn thân khảng khái. Có thể nói rằng ý thức về nghĩa vụ giết giặc cứu nước đã chi phối suốt cả cuộc đời nhà nho tướng thi nhân. Bất chấp mọi khó khăn gian khổ, trước sau ông vẫn trung thành với ý chí chiến đấu tới cùng, vẫn không một phút giây bỏ rơi ngọn cờ cứu quốc:

      Khởi bất đạn gian khổ?
      Phi tâm tố sở tăng
      Sĩ phu trọng cương thường,
      Hoàng thiên phú tri năng.

                                    (Vũ trụ đại khí số)

Dịch:
      Gian khổ ai mà không sợ hãi?
      Chỉ vì lương tâm không thể trái.
      Sĩ phu ở đời trọng cương thường,
      Trời đã cho ta tính trung nghĩa.

                                    (Khí số lớn của trời đất)

Và chính vì có một ý thức rõ ràng về nghĩa vụ của mình, về giá trị cao quý của những chiến sĩ giết giặc cứu nước, nên ngay từ khi mới dấn thân vào cuộc đời chiến đấu, ông đã có thái độ dứt khoát trước cái sống và cái chết: "Rồi, nếu mà thắng, mà sống, thì là nghĩa sĩ của triều đình, nhưng chẳng may mà thua, mà chết, thì cũng là quỷ thiêng giết giặc. Thà chịu tội với nhất thời, quyết không chịu tội với vạn thế”1.

Ý thức nghĩa vụ đó thật là mạnh mẽ và đó là biểu hiện cao quý nhất, rực rỡ nhất của một tấm lòng yêu nước son sắt, ý thức nghĩa vụ đó gắn bó với vị nho tướng mãi mãi trong suốt cuộc đời chiến đấu cho đến tận hơi thở cuối cùng.
____________________________________
1. Thư trả lời quân Pháp của Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần Thuần trung tướng Nguyễn Quang Bích.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 08:59:41 am

PHỤ LỤC

THƯ TRẢ LỜI QUÂN PHÁP CỦA HIỆP THỐNG BẮC KỲ QUÂN VỤ ĐẠI THẦN THUẦN TRUNG TƯỚNG NGUYỄN QUANG BÍCH1

Nay tiếp lời quý quốc cho biết rõ: Chúng tôi kết đảng làm càn, tội đáng phải nghiêm trị, đáng phải diệt trừ, cho nên phải mang thân ra đầu thú để khỏi tội. Chúng tôi biết quý quốc thật có lòng tốt nên mới có những lời khuyên nhủ như vậy.

Chúng tôi cũng nghĩ: Quý quốc sang kinh lý nước chúng tôi, nào kỹ giỏi, thuật khéo, binh tinh, cho nên người nước Nam chúng tôi đã bỏ chỗ sáng đi theo quý quốc rõ ràng đã quá nửa, và cái nước ngàn vạn y quan lễ nhạc2 này hầu như đã thành của Pháp rồi, thế mà chúng tôi không tự lượng sức, cứ lấy hơn trăm thân sĩ cùng với mấy nghìn quân đã mệt mỏi để chống lại quý quốc thì chúng tôi há chẳng phải là nguy lắm ư? Nhưng chúng tôi lại nghĩ đến cái nghĩa vua tôi đứng trong trời đất mà không quản cái phận hoa di3 đã rõ ràng như sông Kinh, sông Vị4 mà không dám quên phận của mình, ấy chính cũng chỉ quyết giữ trọn cái nghĩa ấy thôi.

Khi quý quốc sang đây, một rằng hòa hiếu, hai rằng bảo hộ, để rồi chiếm thành trì chúng tôi, đuổi vua đuổi tướng chúng tôi, để rồi lại còn tự quyền lập vua Đồng Khánh5, chẳng qua đó chỉ là cái kế "bịt tai ăn trộm chuông" mà thôi. Lợi quyền chính trị đều về tay quý quốc nắm cả. Văn thần võ tướng đều bị quý quốc câu thúc trói buộc tôi còn lòng nào nữa? Gọi là hòa hiếu, gọi là bảo hộ mà lại có như thế ư? Chúng tôi dấy đảng "làm càn", còn quý quốc làm vậy, thử hỏi ai là kẻ đúng sai? Giả sử có một nước lớn khác đến kinh lý quý quốc cũng như quý quốc đã làm ở nước chúng tôi, thì quý quốc cũng cứ phục tùng theo họ ư? Hay là cũng nghĩa kích ở lòng, căm giận lộ ra mặt, rồi quý quốc cũng làm như chúng tôi đang làm? Mong rằng quý quốc nén bụng bình tâm nghĩ lại, rồi đem trăm họ, đem thành trì mà trả lại cho vua chúng tôi, đặt lại vua Hàm Nghi lên ngôi, khiến cho vua với dân chúng tôi được yên vui hòa hiệp trong đất nước của mình, còn quý quốc vẫn lại thông thương như cũ. Điều đó há chẳng phải là việc nghĩa to lớn lắm sao?

Bằng không, quý quốc cứ cậy về cái hay cái giỏi của mình, thì chúng tôi cũng không chịu bỏ cái thua, cái kém của chúng tôi. Rồi, nếu mà thắng, mà sống, thì là nghĩa sĩ của triều đình, nhưng chẳng may mà thua, mà chết, thì    cũng làm quỷ thiêng giết giặc. Thà "chịu tội" với quý quốc, quyết không chịu tội với vua nhà; thà "chịu tội" với nhất    thời, quyết không chịu tội với vạn thế! Một chữ "thú" từ nay xin quý quốc đừng có nhắc lại nữa,    xin đừng có khuyên bừa! Chúng tôi xin cam lòng chịu chết vì nghĩa vua tôi!

Quý quốc tự lo liệu lấy!6
____________________________________
1. Bản dịch rút trong sách “Phong trào Cần Vương” của giáo sư Trần Văn Giàu, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội, 1957.
2. Y quan lễ nhạc: áo mũ lễ nhạc, ý nói một nước có văn hiến.
3. Hoa là đẹp đẽ, văn sức; di là mọi rợ. Bọn phong kiến thống trị Trung Quốc trước kia nặng đầu óc khinh khi các dân tộc nhỏ bé, tự cho mình là văn minh, còn lại đều là man di mọi rợ.
4. Kinh và Vị là con sông của tỉnh Thiểm Tây. Sông Kinh dòng nước trong, sông Vị dòng nước đục. Cho nên trong văn thơ cổ thường dùng hình ảnh này để chỉ sự cách biệt, sự đối lập. Còn có thuyết khác cho rằng: Sông Kinh dòng nước đục, sông Vị dòng nước trong hơn. Nếu như không có sông Vị thì người ta không thấy sông Kinh là dục. Còn có ý cho rằng lấy điển tích trong Kinh Thi "Kinh dĩ vi trọc ".
5. Đồng Khánh, tên vua bù nhìn do Pháp đặt lên ngôi từ ngày 19 tháng 9 năm 1885. Mất ngày 28 tháng 1 năm 1889.
6. Nguyên bản Hán văn - Ký hiệu VHv 2072 - Thư viện Hán Nôm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:02:43 am

VĂN SÁCH THI ĐÌNH CỦA ĐÌNH NGUYÊN HOÀNG GIÁP NGUYỄN QUANG BÍCH
(Khoa Kỷ Tỵ đời Tự Đức -1869)1
                                + Đề thi: Dực Anh Tông Hoàng đế
                                + Văn sách


1. ĐỀ THI CỦA VUA TỰ ĐỨC
Khoa Kỷ Tỵ (1869) niên hiệu Tự Đức thứ 22

Chế rằng: Từ xưa tới nay, vận hội thịnh suy, tung tích sai đúng, rành rành có thể tra khảo, không thể kể hết, nhưng cũng không ngoài mấy điều "tính mệnh chính giáo", rằng tính, rằng tình, rằng tâm, rằng mệnh, rằng đạo, rằng đức, rằng nhân, rằng thứ, trong đó không phải là không có chỗ đồng, chỗ dị, chỗ nên, chỗ không. Tính và đạo đều tự trời mà ra, sao tính thì đều thiện mà đạo thì có khác. Có người bảo: "Quân và tướng không thể nói mệnh" cùng với việc Khổng Tử ít nói mệnh, hơi giống nhau, thế mà Khổng Tử lại nói: "Không biết mệnh, không lấy gì làm người quân tử", và trong sách Kinh Thi, Kinh Thư, chỗ nói về "mệnh" cũng không phải là ít, thế thì, quả không thể nói đến "mệnh" hay sao? Nói về "mệnh" thì có hưng, có vong, có chính, có tà, chính cố nhiên là phải hưng, mà tà cũng có khi hưng. Sinh đức thì có thánh, có gian, có cùng, có đạt, thánh vị tất đều đạt cả mà gian đâu phải không có lúc đạt. Đến như đạo khi được thi hành, khi bị ruồng bỏ, là điều do mệnh, mà thành công thì là do trời. Thế thì thuyết "làm người" và thuyết "trời định" nói ngang hàng với nhau, quả có lẽ như vậy không? Trời làm theo điều của người muốn. Điều người muốn không gì bằng muốn lý thế mà tai nạn thủy hạn, tật dịch cũng chưa khỏi hết. Đạo của trời xa xôi, đạo của người gần gũi, thế thì những thuật "vọng khí", "chiêm tinh" quả là đều không ứng nghiệm hay sao? Việc gì trời giúp là việc thuận, thế mà ở Yến Thành, Giáp Hà đều có trận gió giúp sức, nên chi không thể lấy tình thường mà lường được. Hiện tượng các điềm tốt đều nhóm họp cùng với hiện tượng một ngày có mười điềm tốt, cũng là giống nhau, sao về mặt long thịnh lại không sánh với nhau được? Các điềm tốt không gì bằng điềm "được mùa" mà sách chép "rất được mùa" từng có mấy lúc được? Việc này so Khai Nguyên với Vĩnh Bình thì đời nào hơn? Phương chi kìa như triều Lương, triều Đường có đức gì mà đến được như thế? Mà ở đời chín năm lụt, bảy năm hạn, không hề nghe nói, cũng là điều không thể hiểu. Nếu nói về chính, giáo, thì chính tốt và giáo tốt có khác gì nhau, vô vi là vạn cơ lại trái ngược nhau. Bốn người hung ác bị bốn tội, hình phạt cũng chưa bỏ không, sao mà điều sở tôn, sở thượng lại không giống nhau? Có đức như các vua Võ, Thang, Văn, Võ, còn bảo đó là đời "Tiểu Khang" vậy thì gọi là "Đại đồng" lại thuộc về triều đại nào? Có triều đại nhà ở không phải đóng ngõ, người đi đường không phải đem lương, có nhiều điều phù hợp với danh hiệu đó có quả là xứng đáng với tên gọi "đại đồng" không? Lại có tên gọi "Nghiêu Thuấn nhỏ" vậy là vượt cả đời Tam đại hay sao? Đức vua rộng khắp, còn có việc đánh rợ Hữu Miêu mà không thắng, thế mà cảnh "Hồ Việt nhất gia" sao lại thấy ở triều đại có nhiều đức xấu?

Nghi thì hỏi, nghe thì thông, trẫm rất kém cỏi, mơ hồ chưa thể thấu suốt, không sao hiểu hết sự lý, các ngươi nghe nhiều thấy xa, tất nhiên có điều để mở mang lòng trẫm, hãy viết rõ vào trong bài, chớ phụ lời hỏi của trẫm.
______________________________________
1. Nguyên bản tại Thư viện Hán Nôm - ký hiệu VHV.318/1-2.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:05:53 am

2. VĂN SÁCH
(Của Đình nguyên Hoàng giáp Nguyễn Quang Bích.
Khoa Kỷ Tỵ (1869) năm 22 niên hiệu Tự Đức)

Thần xin thưa, thần nghe rằng: giữa trời và người không xa xôi lắm, cho nên việc làm của ông Vua thường có sự cảm ứng với trời đất. Sao vậy? Là vì Trời là Lý vậy. Lý tan hòa trong muôn vàn sự vật. Dẫu trời không thể làm, người sẽ làm thay. Trời lại là Số vậy. Sự vận động của Số có khi xuất hiện trong đột biến. Dù là đời thịnh không thể không có hiện tượng ấy. Thánh hiền sinh ra ở đời nay, quý là ở chỗ có khả năng đổi suy nên thịnh, đổi sai nên đúng, đổi nguy nên yên, đổi loạn nên trị, lấy Lý mà chế ngự, chứ không nhất thiết phó mặc khí số, đã không phó mặc khí số thì cũng trở lại tìm ở nhân sự mà thôi.

Kính duy hoàng đế bệ hạ: Thông minh làm phép tắc, giản dị làm giếng mối, từ khi lâm ngự tới nay, chăm chăm lo trị, trăm việc phấn chấn, tấm lòng kính trời thương dân, chưa một ngày nào lơi lỏng, thành tâm nhận lỗi sợ trời soi tới vậy, sắc các thần cầu mưa, xin phúc, hễ những điều gì làm để cầu được mệnh trời lâu dài, đặt nước nhà trên một cơ đồ muôn vạn năm, đều đã không việc gì không làm hết sức. Hơn nữa, trong cái dụng của bậc đại trí, đầy lòng khiêm tốn, trong lúc muôn việc hơi rảnh, gọi chúng thần vào sân, tha thiết hỏi cái lý "thiên nhân", tính chất khác nhau của những sự kiện thành công, thất bại, lẽ trị loạn xưa nay. Ở đây chúng thần được thấy tấm lòng ưa hỏi, ưa xét của bệ hạ, cũng tức là tấm lòng luôn luôn tìm điều thiện như đức của Đại Thuấn vậy. Thần đây vụng dại, quê mùa, ngay đối với việc nhân sự còn chưa nghiên cứu tường tận huống chi là cái lý cực kỳ tinh vi, đâu có đủ để làm bẩn tai của Thánh thượng. Nhưng khi bắt đầu thưa trình dám đâu không đem hết kiến thức để dâng hiến chút sở đắc nhỏ mọn hay sao?

Thần cúi đọc chế sách, có đoạn nói: từ xưa tới nay, vận hội thịnh suy, sửa sai chỉnh đúng, rành rành có thể khảo xét, đại để không ngoài những điều: "tính mệnh, chính giáo". Nhân đó hiểu rõ về sự khác nhau giữa "tính, tình, tâm, mệnh, đạo, đức, nhân, thứ" cùng với tính chất dị đồng giữa "tà, chính", "hưng, suy", "thịnh, giáng", "thánh, phàm", "cùng, đạt". Thật đủ để thấy đức Hoàng thượng ta minh triết tinh diệu, xét lý rất rõ và muốn cho sự thảo luận được rất mực chu tất vậy.

Thần nghe rằng, từ xưa, bậc vua chúa cai trị thiên hạ không ai không bắt nguồn từ tính trời, rồi noi theo đạo của tính ấy mà mở mang giáo hóa. Làm đúng điều đó là trị bình, làm sai điều đó là loạn lạc. Sự phân chia ra trị hay loạn là xem nơi lòng mình cư xử như thế nào và công việc của mình thi hành như thế nào mà thôi. Đức tốt rỡ ràng là vua Nghiêu, huyền đức vang dội là vua Thuấn. Thuận theo cái tình của TÍNH MỆNH để dẫn dắt muôn dân vào cõi nhân thọ. Cho nên việc trị thủy giao cho ông Vũ, việc trồng cấy giao cho ông Tắc làm. Chính sách yên dân không thể không chu toàn. Sai ông Tiết làm chức tư đồ, năm giáo ban khắp. Những điều giáo hóa cho dân không nơi nào không hoàn bị. Vua Thang tới bậc thánh kính, trời sai cai trị 9 châu. Vua Văn, vua Võ ban bố đức sáng, trời sai chịu mệnh muôn nước, mà chính sự hiện ra ở chỗ không cương, không nhu; rỡ ràng thừa kế, làm bất cứ điều gì là nhằm đưa nhân dân vào cõi hòa bình, giàu có. Sự giáo hóa được biểu hiện ra ở chỗ riềng mối được sửa sang, coi trọng 5 giáo cốt là khép nhân dân vào phong tục nhân nhường, hiếu đễ. Trong khoảng trên dưới vài nghìn năm, đời được hòa bình, thịnh vượng, có chỗ đời sau không theo kịp được, chính là nhờ về điều đó vậy. Vua Kiệt nói: "Có mệnh ở Trời"1 mà cứ càn rỡ làm điều tàn bạo. Vua Trụ không biết có trời, xa rời mệnh lớn, mà chuyên làm việc vơ vét hà khắc, dựng nên cung Quỳnh, đài Giao, ao rượu, rừng thịt. Những điều họ làm đều là chính sự hại dân, tàn vật. Việc quan lữ ở Minh Điều, Mục Giã2 vì thế mà nổi lên chăng? Từ các đời Hán, Đường về sau, hoặc lấy sự ham muốn riêng tư xen vào, hoặc đức không chân thực. Vì tôn sùng Hoàng Lão mà đời Hậu Nguyên3 tuy nước giàu, dân đông cũng không thể nổi lên phong tục lễ nhượng, nghĩa lý phần nhiều trái ngược. Đời Trinh Quán4 có nhiều điều sai ngoa, khinh bạc nên không làm sao có được hành động của bậc quân tử. Nuôi dưỡng nhân dân, nêu cao chính học, chính giáo của đời Tống tương tự như vậy. Sự chưa sáng tỏ về vương đạo cũng có, sự giảng cứu học thuật về đạo trị bình chưa đến nơi đến chốn cũng có. Tìm cái gọi là cùng lý, tận tính của đạo tu thân, trị dân là chưa hề nghe. Vậy thì sao có thể trông mong tiến tới cảnh hưng thịnh như đời cổ đại? Xét về duyên cớ thịnh, suy, được, mất thì thấy rằng cái lý Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín gọi là Tính. Tính là cái con người có được khi sinh ra, phát ra xót thương, xấu thẹn, từ nhượng, phải trái thì gọi là Tình. Tình là trạng thái động của Tính vậy. Tâm thì thống lĩnh Tính Tình, không tình huống nào là không cụ thể. Mệnh thì Âm dương và Ngũ hành5 bẩm thụ vào vật. Từ cái mà người ta đều phải noi theo thì gọi là Đạo. Từ chỗ hành đạo mà trong lòng có sở đắc thì gọi là Đức. Gọi rằng Nhân là vì có lòng ôn tồn, từ ái. Gọi rằng Thứ là vì có nghĩa suy lòng mình thích ứng với sự vật. Tựu trung là Tính và Đạo vốn đều xuất phát ở Trời vậy, mà Lý thì một, Khí thì không thể không có chỗ khác nhau. Cái thiện của Tính vốn cùng với cái lý bản nhiên của nó. Cái đặc thù của Đạo là ở sự bẩm thụ chưa phát ra, có sáng tối, thuần tạp khác nhau. Đến như điều "mệnh không ngang nhau" thì không thể nói chung một cách nhất luật được mà vua với tướng là người tạo mệnh, cho nên không thể nói đến mệnh.
_________________________________
1. Theo Mạnh Tử thì vua Kiệt thường nói: Ta sinh ra không có ở mệnh trời.
2. Minh Điều là chỗ vua Thang đánh bại quân của vua Kiệt, Mục Giã nơi vua Võ đánh bại quân vua Trụ.
3. Hậu Nguyên: Niên hiệu của Hán Vũ đế.
4. Trinh Quán: Niên hiệu của Đường Thái Tông.
5. Nhị khí: Âm dương. Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:08:00 am

Kinh Dịch nói: "Nhà vua bồi dưỡng vun đắp nên đạo trời đất, giúp rập sự thích nghi của trời đất để nuôi dưỡng dân". Sách Trung Dung nói: "Trời đất chính vị là ở sự trung hòa, muôn vật sinh dục ở đấy”. Nếu việc gì cũng phó mặc số mệnh thì công lao tham tán trời đất như Kinh Dịch và sách Trung Dung nói đó, thì chẳng cần gì phải làm nữa. Khổng Tử ít nói đến Mệnh là sợ con người cứ ruổi theo lẽ huyền diệu, nhưng cái lý vì sao lại như thế thì người quân tử không thể không biết đến. Cho nên, Người lại nói: "Không biết Mệnh thì lấy gì để làm người quân tử". Tìm ở trong kinh truyện thì như Kinh Thi có câu: "Sánh với mệnh trời dài lâu", rằng: "Mệnh ấy luôn mới". Kinh Thư có câu: "Chỉ có mệnh trời là không thường", rằng "nối theo trời để sáng mệnh". Tóm lại, từ người dưới mà nói thì kẻ sơ học không nên vội nghe về chữ mệnh mà người muốn cùng lý thì phải nghiên cứu cho sâu. Đúng như sách nói, phải cùng hết "tính" để đến "mệnh" vậy. Còn từ người trên mà nói thì "mệnh" có chỗ khiếm khuyết bậc thánh nhân bổ cứu vào; "mệnh" có sai lầm, bậc thánh nhân bồi đáp cho. Đúng như sách nói: Trời đất đặt vị, thánh nhân hoàn thành được năng lực vậy. Nhìn nhận một cách tổng quát trong mối quan hệ đan xen giữa các sự vật thì ý nghĩa tương hỗ của chúng có thể thấy rõ vậy. Phải chăng, quả thật là điều không thể tới sao! Mệnh không ngang nhau như thế, cho nên có chính có tà, có bậc thánh, có kẻ gian. Người chân chính nhất định nổi lên, bậc thánh nhân hẳn sẽ thành đạt. Đó là lẽ thường của số vậy. Cũng có lúc không được lẽ thường ấy mà kẻ tà cũng nổi lên, kẻ gian có lúc thành đạt. Đó là lẽ biến của số vậy. Thế thì từ khí số mà nói về mệnh không phải là không có sự bĩ thái, thịnh suy khác nhau. Khổng Tử nói rằng: "Đạo sắp được thi hành ư? Mệnh vậy! Đạo sắp bị ruồng bỏ ư? Mệnh vậy!" chính là để chỉ rõ rằng: tên Bá Liêu không thể dèm vậy1. Lấy lý thế mà nói về trời không phải là không có sự lớn nhỏ, mạnh hèn khác nhau. Mạnh Tử nói rằng: "Người quân tử sáng nghiệp truyền đời để người sau có thể kế thừa được, đến như sự thành công là do trời vậy". Chỉ là để nói rằng nước Đằng không có thể làm gì được. Nhưng sau khi nói với người nước Đằng rồi, ông lại nói tiếp: "Cố gắng làm điều thiện mà thôi"2. Thế thì đối với thuyết "người làm và trời định" thánh hiền cũng chưa từng nhất nhất noi theo cả.

Thần cúi đọc chế sách, thấy có đoạn nói: "Trời theo điều người muốn" thì điều họ muốn, không gì bằng muốn sống. Thế mà những tai nạn thủy hạn, tật dịch còn chưa thể tránh khỏi, "đạo trời" thì xa mà "đạo người" thì gần. Vậy cái thuyết "vọng khí chiêm tinh" ấy, quả đều là chẳng ứng nghiệm gì. Mà sự ứng nghiệm với các hiện tượng tai dị hay cát tường thì đời nào cũng có. Thần đủ thấy rằng hoàng thượng tha thiết lo cho dân, thành tâm yêu mến dân, để ý rất mực đến mối quan hệ giữa trời và người. Thần nghe rằng: Trời nhìn nhận cũng như dân nhìn nhận. Trời nghe cũng như tự dân ta nghe3. Trời và người chỉ là một lý, cho nên lòng dân ở đâu tức là ý trời ở đó. Kinh Thư có câu: "Điều dân muốn, trời ắt theo". Câu này tuy để chỉ rõ cái lý "dấy quân nhất định thắng trận", nhưng cũng có thể thấy rằng lòng trời không ngày nào không ở nơi dân vậy. Là vì có cái tai nạn, thủy hạn, tật dịch, há rằng không có cái thuyết ấy chăng? Đổng Trọng Thư đời Hán có câu: "Tai dị là điều lòng trời thương yêu nhà vua". Vì rằng hễ ông vua nào thất đạo thì việc làm của ông ta nhất định trái với ý muốn của dân, làm thương tổn đến sinh mệnh của họ. Cho nên trời rủ tai dị để răn đe, hình như muốn nói với các vị vua ấy rằng: Nhất thiết phải thay đổi điều mình làm thì sau dân mới yên, nhất thiết dân có yên thì biến cố mới có thể dẹp. Thế thì điều mà trời làm cho vua chúa phải lo lắng sợ hãi rồi sửa sang đạo đức, thay đổi việc làm, tức không điều gì không muốn cho dân được sinh tồn, làm cho họ được an toàn sinh dưỡng vậy. Xem như đời xưa, có ông vua thốt ra lời nói phải đạo mà ngôi sao lùi đi một độ xa. Có ông vua xét đến tù nhân bị giam lâu ngày mà trời mưa lớn. Thế thì lòng trời há phải ở ngoài lòng vua đâu? Đã không ở ngoài lòng vua thì há lại ở ngoài lòng dân hay sao? Từ chỗ xa gần mà nói, đạo trời và đạo người không thể không có chỗ phân biệt. Đúng như lời nói ở sách Tả truyện, mà cái lẽ "tương thông" của nó thì chỉ là một. Cho nên ở người có việc ấy thì ở trời có "tượng" ấy. Xem mây trên núi Mang Đường, người thông hiểu biết rằng Hán Cao Tổ thế nào cũng nổi lên. Thấy 5 sao quần tụ ở vùng sao Khuê, người trông thấy có thể đoán biết tiên triệu của nền văn học đời Tống.
___________________________________
1. Đoạn này ở Luận ngữ.
2. Đoạn này ở Mạnh Tử.
3. Câu này trích trong Thiên Thái thệ - Kinh Thư.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:10:13 am

Đó đều là những câu chuyện mà lý của nó nhất định không sai vậy. Nếu cho là không ứng nghiệm thì việc người xem mây trời (thiên văn - N.D) xét tai tường ấy cũng đều chỉ là chuyện hão hay sao? Quẻ Đại hữu ở Kinh Dịch có câu: "Tự trời giúp cho, tốt thì không gì không lợi". Bởi vì người ta bất theo điều tín, nghĩ điều thuận, quý chuộng kẻ hiền tài, thì trời tất phù hộ cho, điều tốt lợi sẽ ứng và thu lượm được - Xem lời giải thích của Hệ từ1 mà tìm thì cái lý trời giúp điều thuận là rành rành vậy. Kìa như ở Yên Định và Giáp Hà cũng đều có trận gió giúp công2. Chiếu theo Kinh Dịch hình như không đúng như thế, chưa có thể lấy thường tình mà lường vậy. Đến như vua Nghiêu là người có đức chí thánh, lại đang gặp vận "trung thiên". Công bình trị của ông, đời sau vốn không thể theo kịp. Đâu có thể vì điềm lành vừa kể trên hơi giống mà vội cho là sánh được với cảnh thịnh vượng của đời Nghiêu hay sao! Vả như sao tốt, mây lành, cỏ thơm nước ngọt, xét về điềm lành mà trời dùng để đền đáp cho nhà vua, không phải chỉ có một. Tựu trung điềm cực tốt không gì bằng được mùa. Xét trong sử sách, lời chép "rất được mùa" vốn không thấy nhiều. Đời Hán Vĩnh Bình3 nối tiếp sau khi trung hưng, đức vua anh minh, chính sự trong sáng. Đời Đường Khai Nguyên4 có họ Diêu, họ Tống giúp đỡ, hình phạt đơn giản, thuế khóa công bằng, khoan nới đã có căn bản để làm cho mùa màng thay đổi, đến được cảnh tượng "được mùa” thực là phải. Nhưng Đường Huyền Tông đức không giữ vững để đến cuối đời xa giá phải bôn đào, sánh sao kịp Hán Minh đế mà công nghiệp trị bình nổi tiếng ở Đông Đô. Đức kính thuận của vua Nghiêu sánh ngang với trời. Đức thành kính của vua Thang thấu rõ đến trời. Trong các thời đại ấy, há không có điềm được mùa ứng hiện? Sở dĩ không nghe nói là vì sách sử đời xưa lược bỏ không chép mà thôi. Đời Nghiêu bị lụt lội 9 năm mà còn có thể làm cho dân có cơm ăn. Đời Thang bị hạn hán 7 năm mà còn có thể làm cho triệu dân sinh dục thuận lợi. Nếu không phải là trước đó có được mùa thì làm sao có thể dành dụm được nhiều mà phòng bị trước được đầy đủ như thế? Còn như đời Lương Vũ Đế và đời Đường Trang Tông được mùa, thì đó chỉ là sự ứng hiện ngẫu nhiên, vốn không đủ để bàn đến.

Thần cúi đọc chế sách có đoạn nói: Đến như chính giáo thì thiện chính cùng với thiện giáo có gì khác nhau, vô vi với vạn cơ trái ngược nhau, bốn người hung ác bị 4 tội, hình luật cũng chưa rõ ràng, sao mà điều sở tôn, sở thượng lại không giống nhau? Rồi, lại hỏi đến đời đại đồng, tiểu khang cùng với dấu vết xưa nay sai đúng?
______________________________________
1. Theo người xưa lời Quái từ của Văn Vương viết trong Kinh Dịch gọi là Hệ từ. Hệ từ truyện do Khổng Tử soạn cũng gọi là Hệ từ.
2. Đoạn này ý nói trong các trận đánh ở Yên Định, Giáp Hà phía nghịch mà vẫn có gió giúp công.
3. Vĩnh Bình: Niên hiệu của Hán Minh đế.
4. Khai Nguyên: Niên hiệu của Đưòng Huyền Tông.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:18:00 am

Thần, ngửa thấy đức hoàng thượng ta lo trị ân cần, cầu trị gấp rút, toan soi gương đời trước mà đem ra thi hành vậy. Thần nghe rằng: Chính sự để chính dân, giáo là để dạy dân, đều là việc không thể thiếu trong đạo bình trị. Từ chỗ dùng pháp chế cấm lệnh để được của dân, khuyên thưởng dỗ dành để được lòng dân, thì thiện chính là khởi thủy của vương đạo mà thiện giáo là tập đại thành của vương đạo chăng? Một thân của ông vua là căn bản của chính sự, từ chỗ không lấn át chức vụ của mọi người thì gọi là vô vi mà trị. Từ chỗ làm thay việc trời thì gọi là một ngày vạn cơ. Tóm lại mà nói thì việc hữu vi một cách tường tận, chính là để thu lấy công hiệu vô vi chăng? Trăm họ hòa hiệp, hữu tư cũng không cần động phạm đến, trị 4 tội mà thiên hạ đều phục, hình phạt chỉ thi hành đối với 4 điều hung ác mà thôi. Xem như ông Cao Dao coi việc hình phạt mà Kinh Thư có câu: "Cố gắng lập đức"1 chẳng phải là bỏ buông việc hình phạt là gì? Trước sau kế thừa chỉ noi theo một đạo, tôn mệnh và tôn thần khác nhau là vì thời thế biến đổi khác nhau mà thôi. Xem như Lễ ký có câu: "Nói về lễ thời, là điều lớn" đâu có thể nhìn vào hình tích mà xem ngang hàng được? Thiên Lễ vận ghi việc Khổng Tử xem cảnh long thịnh của Lễ, "lạp"2 có nói về các đời đại đồng và tiểu khang. Đối với đời tiểu khang, Người nói: "Các vua Võ, Thang, Văn, Võ, do đó mà định". Thế thì, gọi là đời đại đồng chỉ có hai triều Đường, Ngu mới đáng nói. Xem câu: "Thiên hạ là của chung"3 thì đủ rõ vậy. Xét về đời sau như Đường Thái Tông ra sức làm việc nhân nghĩa, công hiệu đưa đến việc "một đấu gạo trị giá 3 tiền, cửa ngoài không cần đóng" so với cảnh đời xưa "nhà nhà không cần đóng cửa, người đi đường không phải mang theo lương thực" tên gọi hình như giống nhau. Song đời Đường cũng không thể tránh khỏi việc "trăm họ ta thán vì một hạt thóc không thu hoạch". Thế thì sao đủ xứng đáng với cảnh tượng đại đồng? Kìa Chu Thế Tông có tên gọi là "Nghiêu Thuấn nhỏ" chỉ là vì đời cuối, trước khi ông ta kế nhiệm, đất nước loạn lạc tơi bời. Ông ta ngẫu nhiên có chút chính sự khả quan, nên người ta bất giác quá khen mà thôi, làm gì có thể vượt xa đời Tam đại được? Người xưa khen cảnh thịnh trị không đời nào thịnh hơn Đường Ngu. Bàn về đức vua, không vua nào thịnh hơn Nghiêu Thuấn. Kinh Thư có câu: "Đức của nhà vua rạng rỡ dưới trời, đến những thương sinh ở nơi góc biển, dân ở muôn nước đều là bề tôi của vua". Thế là, lúc bấy giờ đã không còn người nào không được giáo hóa. Rợ Hữu Miêu chưa đầu hàng là do lúc đầu họ chưa thoát khỏi bó buộc. Nhưng khi đã lui quân về, vua Võ càng tuyên dương ân đức rộng khắp, nên các bộ lạc đánh dẹp không xong ấy liền tới hầu, sau khi múa can vũ 7 tuần4. Nếu như tam cương không chính, Đường Thái Tông vốn không có cái học thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, cho dù có oai võ thắng trận bốn phương, tạm có thể khoa khoang là "Hồ Việt một nhà" nhưng do ở chỗ đạo đức của ông ta có nhiều điều đáng hổ thẹn, đã không có căn bản làm cho người ta tín phục. Vô luận việc cho mọi rợ ở dưới cửa khuyết, đã không hiểu gì sự phân biệt trong với ngoài mà chỉ biết một chiều về oai vũ trong trận đánh Liêu Tả5, rốt cuộc chẳng có thể cho đó là thành công được. Há có thể đem việc ấy mà bàn chung với chuyện đánh Hữu Miêu ở đời Ngũ Đế!

Thần cúi đọc chế sách, đoạn cuối có nói: Ngờ thì hỏi, nghe thì thông, trẫm rất kém cỏi, mơ hồ chưa có khả năng thấu suốt, không sao hiểu hết sự lý mà trông mong ở chúng thần viết rõ trong bài không phụ lời trẫm hỏi.
____________________________________
1. Câu này trong Tả truyện nói về ông Cao Dao.
2. Lạp: Lễ tế bách thần vào cuối năm ở thời cổ đại.
3. Thiên lễ vận có câu: "Đạo lớn thi hành, thiên hạ làm của chung". Đây dẫn câu ấy.
4. Bắc sử chép: Hạ Võ lui quân về, múa can vũ ở hai thềm bảy tuần mà rợ Hữu Miêu tới hàng.
5. Trận đánh ở Liêu Tả, tức trận đánh giữa quân Đường Thái Tông và quân nước Cao Ly. Quân Đường thua.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:24:24 am

Thần thực thấy rằng lòng của hoàng thượng đã biết còn muốn biết thêm, đã hay còn muốn hay thêm. Vốn như Thương Cao Tông đêm ngày suy nghĩ gửi gắm ở sự giúp đỡ của vị tướng giỏi Phó Nham1. Đó không phải là điều có thể trông đợi ở ngu thần này. Nhưng thần trộm nghĩ rằng, đạo trị nước không ngoài hai điều yên dân và biết dùng người mà thôi. Thiên Lập chính Kinh Thư có nói: "Kìa người đời xưa... làm được đạo ấy chỉ có nước Hữu Hạ, đang lúc cường thịnh, cầu hiền tài và tôn thượng đế". Thiên Thiệu cáo cũng lấy việc hòa hợp tiểu dân làm nguồn gốc cho sự cầu xin mệnh trời lâu dài. Từ xưa, vua thánh, tướng hiền cùng nhau lo toan, chính sự khoan dung, sửa sang phép trị, chưa bao giờ không làm trước từ hai điều ấy. Ngước thấy hai ba năm nay luôn có tai dị, nhân dân đói khát. Năm trước, thần vâng đọc dụ. Dụ có nói rằng: "Từ xưa tới nay chưa bao giờ có nhiều việc như ngày nay, chưa bao giờ tai vạ như ngày nay". Lớn lao thay lời nói của đức hoàng thượng ta! Trên thể ý trời, dưới lo dân sinh thật là rất mực. Cho nên đối với thuế khóa thì tha bớt, đối hình phạt thì giảm nhẹ, bọn quan lại hiền lương thì được nêu khen, bọn quan lại gian tham thì phải khiển trách, nghiêm trị. Hễ đem ra thi hành một chính lệnh nào cũng đều là xây dựng tính mệnh cho nhân dân.

Thế mà dưới cảnh đau khổ lâu ngày, thần không dám nói là đã khá vậy. Và đối với thói tham nhũng kia, thần không dám nói là đã thay đổi vậy. Nhân dân là con cái của bệ hạ, là gốc rễ của nước nhà. Con cái mà không được bảo dưỡng làm sao mà có thể lớn mạnh. Gốc rễ mà không được vun trồng làm sao có thể vững bền. Phương chi họ lại còn bị nhiễm hại, bóc lột không phải là ít. Xin bệ hạ lo làm sao mà bảo dưỡng, vun trồng cho họ để họ được sống còn thoải mái thì dân được yên ổn vậy. Muốn cho dân được yên ổn, cốt ở chỗ chọn người mà dùng, mà chỗ quan trọng của việc dùng người thì lại bắt đầu từ bộ thuyên tuyển. Cúi xin bệ hạ phải làm thế nào cho trong sạch từ gốc nguồn, đoan chính từ cội rễ mà phép khảo thí phải cho nghiêm nhặt, thì những người được chọn dùng không ai không phải là người tốt vậy. Người xưa từng nói: "Được một viên huyện lệnh tốt như được mười vạn tinh binh, được một viên thái thú tốt như được trăm vạn tinh binh". Quả như thủ lệnh đều là người giỏi thì dân không nơi nào không yên. Dân đã yên thì dẫn tới khí hòa, dập tắt biến cố, của cải không lo gì không dồi dào, quân lính không lo gì không cường tráng, để dẹp yên trộm cướp, ổn định biên thùy, chắc không ngoài điều đó vậy. Đời xưa ông Cao Dao trình bày bài Mô2 ở trước vua Thuấn cũng lấy hai điều đó làm quan trọng mà bắt đầu bằng việc tin làm theo đức. Thần dám xin lấy bài Mô ấy để làm vật dâng lên hôm nay.

Thần là kẻ mạt học ở nơi thảo dã, không hiểu húy kỵ, can phạm uy nghiêm, khôn xiết run rẩy.

Thần kính thưa.
Bản dịch của cụ Nguyễn Đức Vân (1965)
Nguyễn Tiến Đoàn chỉnh lý (1995)
_______________________________
1. Bài sử chép: Thương Cao Tông nằm chiêm bao thấy trời cho một viên quan giỏi. Sau tìm được một người ở Phó Nham tên là Duyệt, lập làm tể tướng. Đây dùng điển ấy.
2. Mô: nói chung về mưu chưóc. Đây chỉ bài Cao Dao mô ỏ Kinh Thư.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 09:25:36 am

DANH MỤC SÁCH THAM KHẢO

1. Trần Văn Giàu, "Chống xâm lăng”, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
2. "Thơ văn Nguyễn Quang Bích", Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1973.
3. "Ngư Phong và Tượng Phong thi văn tập", Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1998.
4. "Nguyễn Quang Bích - Nhà yêu nước, nhà thơ", Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.
Và các tài liệu khác.

Hết