Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 06:11:45 PM



Tiêu đề: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 06:11:45 PM
        
        - Tên sách: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh
        - Tác giả: Thiếu tướng Hoàng Đan
        - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
        - Năm xuất bản: 2005
        - Số hoá: ptlinh, chuongxedap

       Nói tới một vị tướng nhất là vị tướng ấy trưởng thành từ người lính, ta thường hình dung ra những chiến công lừng lẫy, tiêu diệt hàng loạt kẻ thù, phá hủy vô số phương tiện chiến tranh của chúng. Nhưng với tướng Hoàng Đan, cho đến lúc là tư lệnh quân đoàn, rồi đến khi về già, nhắm mắt xuôi tay, ông chưa bao giờ tự tay giết một kẻ địch! Vậy cái gì tạo nên chất tướng trong người lính Hoàng Đan?

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/Nhung%20dieu%20dong%20lai%202_zps9v97u12z.jpg)


LỜI NHÀ XUẤT BẢN

        Là một cán bộ chỉ huy chiến đấu, cuộc đời của Thiếu tướng Hoàng Đan luôn gắn với chiến trường. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ông đã đảm đương nhiều chức vụ trong quân đội: cán bộ trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, phó tư lệnh quân đoàn. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, ông là tư lệnh quân đoàn.

        Ông cũng là một nhà giáo quân sự, một người làm công tác quản lý khoa học. Một mảng đời quan trọng của ông gắn bó với nhà trường quân sự. Ông là giáo viên, phó khoa, trưởng khoa, phó giám đốc Học viện quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Ông còn là cục phó, rồi cục trưởng Cục Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng.

        Cuộc đời ông như một vòng tuần hoàn khép kín: chiến trường - nhà trường - chiến trường - nhà trường... chỉ huy chiến đấu - rút kinh nghiệm, tổng kết để rồi lại chỉ huy chiến đấu...

        Và ông lặng lẽ viết “Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh”1 là nội dung chính qua những trang viết của ông.

        Từ rất nhiều trang di cảo của Thiếu tướng Hoàng Đan do gia đình đưa đến, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã sửa chữa, hoàn chỉnh, hiệu đính và sắp xếp lại thành hai phần:

        Phần thứ nhất: Về người chỉ huy, chỉ huy tác chiến, một số bài học kinh nghiệm và nghệ thuật tác chiến.

        Phần thứ hai: Những trang hồi ức về cuộc đời, về chiến tranh và những người đồng đội.


        Những trang viết của ông gồ ghề, thô ráp như những chiến trường mà ông đã chỉ huy chiến đấu. Nhưng cũng chính từ những trang viết này, người đọc thấy ở ông một con người có ý thức trách nhiệm cao trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, những tình cảm chân thực, xúc động về cuộc đời, về cuộc chiến tranh và những người đồng chí, đồng đội ... Thấp thoáng đâu đây, dáng ông ngồi lặng lẽ trầm ngâm ngẫm nghĩ về những điều còn đọng lại sau chiến tranh. Và cũng từ đó, ta dễ liên tưởng đến những điều nghe đuợc, đọc đuợc ở đâu đó, những giai thoại về ông trong chiến đấu, một cán bộ chỉ huy nhân hậu với người lính, dí dỏm trong cuộc sống hàng ngày.

        Xin trân trọng giới thiệu cuốn Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh của Thiếu tướng Hoàng Đan cùng bạn đọc.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN       

---------------
        1. Tên sách do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đặt.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 06:57:10 PM
         
PHẦN THỨ NHẤT

VỀ NGƯỜI CHỈ HUY VÀ CHỈ HUY TÁC CHIẾN, MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN


NGƯỜI CHỈ HUY VÀ CHỈ HUY TÁC CHIẾN

        Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, trải qua hai cuộc chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thống nhất ở biên giới Tây Nam và phía Bắc, tôi đã qua chỉ huy ở nhiều cấp từ trung đội đến quân đoàn. Qua thực tế công tác và chiến đấu của bản thân cũng như qua những gì tôi trao đổi qua bạn bè, cấp trên, cấp dưới đã làm trong xây dựng và chỉ huy tác chiến, tôi thấy cần thiết viết lại những gì mình tự cho là những kinh nghiệm có ích cho cán bộ của lực lượng vũ trang nhân dân. Tài liệu tôi viết gồm hai phần: Phần một nói về công tác đào tạo người chỉ huy, phần hai nói về những việc mà người chỉ huy cần làm để giành thắng lợi trong tác chiến. Đây không phải là một công trình khoa học, chỉ là ý kiến của một cá nhân, tất nhiên có nhiều hạn chế, thậm chí có nhiều ý kiến còn phải tranh luận lại. Tôi chỉ mong những gì viết ra có thể giúp ích một phần cho việc cùng nhau trao đổi để làm phong phú thêm kiến thức về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nghệ thuật quân sự.

Hà Nội, năm mở đầu thiên niên kỷ mới.        
TÁC GIẢ                              


Phần một

NGƯỜI CHỈ HUY

        I. CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGƯỜI CHỈ HUY

        Để có một đội ngũ cán bộ chỉ huy nắm vững đường lối quân sự của Đảng, nắm vững nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn trong chỉ huy tác chiến, Đảng đã tiến hành một loạt biện pháp:

        - Đào tạo người chỉ huy tại các nhà trường.

        - Rèn luyện người chỉ huy tại chiến trường.

        - Động viên, tạo điều kiện cho cán bộ tự học.

        1. Đào tạo người chỉ huy tại các nhà trường.

        - Đào tạo người chỉ huy tại các trường trong nước.

        Ngay từ thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng ta đã mở nhiều lớp huấn luyện ngắn ngày. Sau khi giành được chính quyền năm 1945, Đảng đã mở nhiều trường để đào tạo cán bộ quân sự. Bộ Quốc phòng có trường đào tạo sĩ quan (cán bộ chỉ huy trung đội và đại đội). Các chi đội (trung đoàn), các quân khu đều có trường đào tạo hạ sĩ quan (cán bộ chỉ huy tiểu đội). Đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng vũ trang ta đã có một hệ thống nhà trường để đào tạo cán bộ chỉ huy ở tất cả các cấp của các quân binh chủng.

        Nội dung huấn luyện người chỉ huy bộ binh (bộ đội binh chủng hợp thành) ngày càng được hoàn chỉnh. Trong phạm vi bài này, tôi xin nêu lên một số nội dung tâm đắc:

           + Học tập về chính trị.

        Điều tôi muốn nhấn mạnh trước hết là các nhà trường đều dành thời gian thích đáng để học tập về chính trị. Về chính trị, các nhà trường đều dạy về triết học, về lịch sử Đảng, về công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang. Ba bộ môn chủ yếu trên đều cần thiết. Ở đây tôi muốn nói đến sự cần thiết của học triết học. Nhờ học sâu về triết học, cán bộ chỉ huy có được tư duy biện chứng trong mọi công tác nói chung và công tác chỉ huy nói riêng.

        Người chỉ huy các trận đánh, các chiến dịch, trước hết phải đánh giá đúng tình hình địch, tình hình ta. Đánh giá địch không chính xác là một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại trong trận đánh. Chỉ thấy địch yếu, dễ dẫn đến chủ quan. Chỉ thấy địch mạnh, dễ dẫn đến do dự thiếu quyết tâm tiến công. Có tư duy biện chứng khi đánh giá địch, thấy hết, thấy đúng mặt mạnh, mặt yếu của chúng mới tìm được biện pháp phù hợp để hạn chế mặt mạnh, khoét sâu mặt yếu, xác định quyết tâm có cơ sở khoa học để đánh thắng địch và xử lý đúng các tình huống khác nhau khi có sự biến đổi đột xuất. Đánh giá đúng tình hình địch có khó khăn,nhưng đánh giá đúng tình hình ta cũng không đơn giản. Bộ đội ta rất dũng cảm trong chiến đấu. Phải phân tích sâu tình hình tư tưởng bộ đội. Tư tưởng bộ đội có thể thay đổi sau mỗi trận đánh. Khi đánh thắng dễ dàng, có thể phát sinh tư tưởng chủ quan. Sau một trận đánh thất bại, thương vong nhiều, có thể phát sinh tư tưởng dao động. Trước mỗi trận đánh cần đánh giá sâu sắc tình hình tư tưởng của các chiến binh từ cán bộ đến đội viên. Cán bộ ta có trường hợp không dám nói hết suy nghĩ của mình khi nhận nhiệm vụ chiến đấu. Biết trận đánh có nhiều khó khăn, thậm chí có lúc thấy rõ nếu đánh sẽ thất bại, nhưng sợ nêu nhiều khó khăn, cấp trên sẽ đánh giá quyết tâm mình thấp. Cần rèn luyện cho cán bộ, vì nhiệm vụ chiến đấu và trách nhiệm trước xương máu của bộ đội, phải nói hết suy nghĩ của mình khi nhận nhiệm vụ, có khó khăn phải nói khó khăn, nếu xét thấy khó thắng, phải nói rõ tại sao khó đánh thắng.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 07:02:59 PM

        Sau đánh giá tình hình là bước hạ quyết tâm tác chiến. Trong quá trình hạ quyết tâm, nhờ nắm phương pháp tư duy biện chứng, chúng tôi thường có thời gian soi xét lại quyết tâm đã hạ, tự mình tìm ra những sai sót của mình.

        Chúng ta đều biết rằng không có quyết tâm hay nhất. Người chỉ huy càng giỏi quyết tâm càng hay. Vì vậy soi xét kỹ quyết tâm đã hạ một cách toàn diện có thể thấy những chỗ chưa phù hợp, cần bổ sung.

        Năm 1972, trong chiến dịch Trị - Thiên, Sư đoàn 304 có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch đánh chiếm khu vực phòng ngự của 2 trung đoàn địch (trung đoàn 56 và lữ đoàn lính thủy đánh bộ 147). Quyết tâm đầu tiên của chúng tôi là chiếm 2 cứ điểm vòng ngoài, sau đó củng cố khu vực đã chiếm để đánh địch phản kích, diệt địch ngoài công sự, tiếp theo mới đánh vào căn cứ trung đoàn của chúng. Sau khi nghiên cứu kỹ khả năng đối phó của địch, chúng tôi thấy chúng ít khả năng phản kích, chủ yếu chúng sẽ tăng cường lực lượng để giữ các cứ điểm còn lại. Lý do chính là chiến dịch này ta đánh lớn. Ngay từ đầu ta đã dùng 7 trung đoàn pháo binh, chế áp hầu hết các căn cứ hỏa lực, các sở chỉ huy của địch. Vì vậy, đánh xong các cứ điểm vòng ngoài, ta không đợi địch phản kích, mà phải lập tức tiến công vào các căn cứ vòng trong. Quyết tâm lần thứ hai (có bổ sung) hợp lý hơn quyết tâm lúc đầu.

        Suy nghĩ tiếp, chúng tôi lại thấy, ta đánh mạnh như vậy, có thể sau khi diệt các tiểu đoàn vòng ngoài, địch ở căn cứ phía trong có thể rút chạy. Như vậy, ta chỉ chiếm được đất, không diệt gọn được sinh lực địch. Xuất phát từ suy nghĩ trên, chúng tôi đã dùng Trung đoàn 24 lúc đầu được sử dụng làm thê đội 2) để cùng một lúc tiến công các cứ điểm vòng ngoài lập tức thọc sâu vào bao vây căn cứ vòng trong, không cho địch rút chạy. Nhờ sự bổ sung quyết tâm như trên, căn cứ trung đoàn 56 ở vòng trong, do bị bao vây chặt, không có khả năng rút chạy đã phải đầu hàng. Đáng tiếc, do không đủ lực lượng để bao vây 2 căn cứ cùng một lúc, lữ đoàn lính thủy đánh bộ 147 chỉ bị diệt 2 tiểu đoàn vòng ngoài, sở chỉ huy lữ đoàn cùng 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ và 1 tiểu đoàn pháo binh đã rút chạy.

        Rõ ràng với tư duy biện chứng, chúng tôi đã tìm được quyết tâm hay hơn quyết tâm lúc đầu. Có lẽ nếu suy nghĩ thêm, hoặc có người chỉ huy giỏi hơn, ta có thể còn diệt được cả lực lượng còn lại của lữ đoàn 147, diệt gọn 2 trung đoàn chứ không phải chỉ diệt gọn 1 trung đoàn.

        Xuất phát từ thực tế, ta thấy phép biện chứng là một nội dung không thể thiếu trong đào tạo người chỉ huy. Mong rằng, ngày nay có thời gian hơn trước đây, ta nên dạy sâu về triết học ngay cả cho các sĩ quan sơ cấp.

           + Học tập về sử dụng các binh chủng kỹ thuật.

        Sĩ quan chỉ huy, nhất là sĩ quan trung cấp, cao cấp rất cần học để nắm vững các binh chủng kỹ thuật có trong biên chế (trung đoàn, sư đoàn) và được cấp trên tăng cường trong quá trình tác chiến. Học về binh chủng kỹ thuật, không chỉ học về tính năng chiến thuật mà còn về tính năng kỹ thuật của các loại vũ khí trang bị. Càng nắm vững tính năng kỹ thuật, người chỉ huy bộ đội binh chủng hợp thành càng có điều kiện phát huy hết khả năng chiến đấu của các binh chủng kỹ thuật.

        Học về xe tăng, chúng tôi không chỉ học để biết các tính năng chiến thuật như tốc độ cơ động, các loại súng có trên xe, phạm vi diệt các loại mục tiêu của chúng, phương pháp hiệp đồng tác chiến với bộ binh... Chúng tôi còn được học về cấu tạo của xe, học lái xe, học bắn súng... Khi được học về các tính năng kỹ thuật nói trên, chúng tôi nghĩ là không cần thiết. Lúc sử dụng xe tăng trong chiến đấu, chúng tôi mới thấy càng hiểu sâu về tính năng kỹ thuật càng sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật có hiệu quả cao.

        Trong cuộc tiến công vào thành phố Đà Nẵng năm 1975, Sư đoàn 325 được tăng cường 1 đại đội xe tăng lội nước. Trên đường tiếp cận địch ở đèo Hải Vân, chúng tôi gặp một chiếc cầu đã bị phá hoại. Lúc nhận lệnh cho xe tăng vượt sông, đồng chí đại đội trưởng xe tăng báo cáo: “Do xe để lâu ngày nên nước lọt vào xe khi vượt sông”. Tôi hỏi kỹ về lượng nước lọt vào xe trong một phút là bao nhiêu? Tốc độ bơm ra của máy bơm trang bị trong xe là bao nhiêu? Tính toán kỹ, sông chỉ rộng 50m nên có thể cho xe lội qua được, không sợ chìm. Đồng chí đại đội trưởng cho vượt thử một xe, kết quả xe qua sông an toàn. Người chỉ huy, trong trường hợp trên nếu không nắm vững cơ cấu kỹ thuật xe tăng, có thể không dám cho xe tăng vượt qua sông kịp thời hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu.

        Trong chiến đấu, để bảo đảm thông tin liên lạc nhanh và vững chắc phải dựa vào thông tin vô tuyến điện sóng cực ngắn. Đáng tiếc, các trường đào tạo sĩ quan chỉ huy sơ cấp không dạy cho học viên tiểu đoàn, trung đoàn sử dụng thông tin vô tuyến điện, thường chủ yếu dựa vào phương tiện thông tin hữu tuyến điện, loại phương tiện thông tin này dễ bị bom đạn làm hỏng, mà dựa vào thông tin vận động thì loại thông tin này thường bị chậm (thông tin vận động của ta trong chiến tranh chủ yếu là dựa vào đôi chân của chiến sĩ liên lạc).

        Bài học kinh nghiệm rút ra qua chiến đấu là người chỉ huy binh chủng hợp thành càng hiểu biết sâu về các binh chủng kỹ thuật, càng phát huy cao tác dụng của chúng, nâng cao hiệu suất chiến đấu của từng trận đánh, chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 07:41:22 PM

           + Học tập về lịch sử quân sự.

        Trải qua, mấy nghìn năm lịch sử, hàng trăm, hàng nghìn cuộc chiến tranh, hàng nghìn, hàng vạn trận chiến đấu diễn ra. Tuy lịch sử không lặp lại hoàn toàn nhưng sự đối kháng trí tuệ và vũ lực có những quy luật nhất định. Các tình huống diễn ra trong các cuộc chiến tranh, các trận chiến đấu không tránh khỏi nhiều lần lặp lại, có những chi tiết trùng hợp nhau. Nếu người chỉ huy am hiểu lịch sử các cuộc chiến tranh, các chiến dịch, trận chiến đấu, nắm vững tình hình diễn ra trong các cuộc chiến tranh, các trận chiến đấu đã qua thì không những nắm vững được các quy luật chung của chiến tranh, của các trận chiến đấu mà những tri thức lịch sử quân sự được tích lũy sẽ nâng cao bản lĩnh, kỹ năng, kỹ xảo trong chỉ huy tác chiến; có thêm kinh nghiệm trong đánh giá tình hình, xác định quyết tâm xử trí các tình huống. Vì vậy, các nhà trường đều có môn dạy về lịch sử quân sự. Đáng tiếc, các trường đào tạo sĩ quan trung cấp và cao cấp của ta trong kháng chiến dành quá ít thời gian cho môn học này và một số học viên đầu tư cho môn học này không nhiều. Những cán bộ học tập quân sự ở các nhà trường (học viện) do tự học, nhờ hiểu sâu về lịch sử quân sự nên đã có những sáng tạo trong vận dụng các kinh nghiệm lịch sử, xử trí tốt các tình huống diễn ra trong hai cuộc kháng chiến.

        Từ năm 1946 đến năm 1950, là thời gian nhân dân và quân đội ta chiến đấu trong vòng vây, trang bị của lực lượng vũ trang ta rất thô sơ, trong lúc quân địch có trang bị hiện đại. Tuy vậy, ta đã có cách đánh phù hợp để thắng địch. Cụ thể, ta thường vận dụng hai hình thức chiến thuật chính là phục kích và tập kích, kể cả tập kích quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc. Tư tưởng, phương châm chiến đấu như trên đã được Nguyễn Trãi nêu lên trong cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn: “Lấy yếu đánh mạnh - thường đánh bất ngờ, lấy ít địch nhiều - thường dùng mai phục”. Các phương pháp ta đã vận dụng để lừa địch như dương đông kích tây, điệu hổ ly sơn, mạnh làm như yếu, yếu làm như mạnh, thật làm như giả, giả làm như thật, ... cũng là những phương pháp được người xưa vận dụng nhiều lần.

        Trong chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4 năm 1975, Quân đoàn 2 nhận nhiệm vụ đánh địch với chiều sâu 70km. Phòng ngự của địch ngoài mạnh, trong yếu. Quân đoàn đã quyết tâm dùng các sư đoàn bộ binh đánh địch vòng ngoài, dùng binh đoàn cơ động thọc sâu, với nòng cốt là lữ đoàn xe tăng, xe bọc thép, nên đã nhanh chóng vượt qua chặng đường 40km vào đánh chiếm hang ổ cuối cùng của chính quyền Sài Gòn là dinh “Độc Lập”. Việc hạ quyết tâm sử dụng binh đoàn cơ động thọc sâu như trên một phần cũng là dựa vào kinh nghiệm của Hồng quân Liên Xô trong đại chiến thế giới lần thứ hai. Quân đội Liên Xô trong các chiến dịch có chiều sâu lớn, đều dùng các tập đoàn quân bộ binh đánh vòng ngoài, sau dùng tập đoàn quân xe tăng thọc nhanh để diệt địch vòng trong.

        Qua hai cuộc kháng chiến, chúng ta thấy rõ, người chỉ huy càng biết nhiều về lịch sử chiến tranh, càng có nhiều khả năng để hạ quyết tâm nhanh và chính xác, xử trí các tình huống linh hoạt, phù hợp thực tế chiến trường.

        - Học tập tại các trường quân sự nước ngoài.

        Trước khi có chính quyền, Đảng ta đã cử một số cán bộ học tập quân sự ở nước ngoài. Từ trước khi thành lập Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã cử một số thanh niên vào học tập ở trường võ bị Hoàng Phố, một trường quân sự Trung Quốc mở ra ở thời kỳ “quốc - cộng hợp tác”. Một số cán bộ của ta học tại trường Hoàng Phố sau này đã trở thành tư lệnh quân khu như đồng chí Lê Thiết Hùng, đồng chí Nguyễn Sơn. Trong thời kỳ công tác tại Liên Xô, Hồ Chí Minh cũng đã cử một số cán bộ vào học tập tại trường quân sự của Hồng quân. Năm 1941, ngay lúc mới về nước, lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng đã cử một số cán bộ sang học tập quân sự ở trường Liễu Châu (Trung Quốc). Nhiều đồng chí học tập tại đây, sau này đã giữ các trọng trách trong lực lượng vũ trang thời kỳ kháng chiến như các đồng chí Hoàng Văn Thái, Hoàng Minh Thảo và nhiều đồng chí khác.

        Sau khi giành được chính quyền, suốt 30 năm tiến hành kháng chiến, Đảng ta đã cử rất nhiều cán bộ sang học tập ở các trường quân sự của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác. Học tập ở các trường quân sự nước ngoài là một yêu cầu cần thiết. Thực tế nhiều nước có nhiều điều kiện thuận lợi hơn ta trong dạy quân sự: trường, lớp, giáo viên, tài liệu, cơ sở vật chất để thực hành ... tạo điều kiện nâng cao chất lượng dạy học. Tinh hoa của nghệ thuật quân sự ta có, các nước cũng có, Đảng ta đặt vấn đề phải học tập một cách có chọn lọc kinh nghiệm của quân đội nước ngoài. Nếu chúng ta không nắm chắc được nhiều kinh nghiệm của quân đội nước ngoài thì làm sao có thể chọn lọc được. Tuy nhiên, cũng có đồng chí học quân sự ở nước ngoài dễ phạm phải giáo điều, hoặc kém phần sáng tạo để phù hợp với thực tế trong nước.

        Để không giáo điều, để thống nhất tư tưởng quân sự, thống nhất về nghệ thuật quân sự, Bộ Tổng tư lệnh đã tổ chức ra cơ quan khoa học quân sự mạnh, do đích thân đồng chí Tổng tư lệnh, Đại tưởng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo để tổng hợp kinh nghiệm của tổ tiên ta, của quân đội nước ngoài, kinh nghiệm của lực lượng vũ trang ta trong kháng chiến, kết hợp với thực tiễn, biên soạn ra các sách quân sự dùng cho trước mắt. Tất cả các cán bộ học tập ở trong nước hay ở nước ngoài đều lấy các sách quân sự do cơ quan khoa học quân sự biên soạn làm căn cứ để thống nhất tư tưởng, hành động trong tác chiến.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 07:43:49 PM

        2. Đào tạo người chỉ huy trong tác chiến

        - Rèn luyện người chỉ huy qua các trận chiến đấu, các chiến dịch.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Lý luận không qua thực tiễn là lý luận suông. Thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng”. Thực tế công tác đào tạo người chỉ huy cho ta thấy rõ, phải kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và rèn luyện qua thực tiễn chỉ huy tác chiến thì mới có đội ngũ cán bộ chỉ huy có bản lĩnh chỉ huy bộ đội đánh thắng.

        Có thể nói, hầu hết cán bộ trong lực lượng vũ trang ta đều qua trực tiếp chỉ huy tác chiến. Nhiều cán bộ cấp chiến dịch đã từng trực tiếp chỉ huy các trận đánh, từ cấp trung đội đến cấp sư đoàn. Một số cán bộ do hoàn cảnh đặc biệt, ngay từ khi bước vào quân đội đã là cán bộ cấp chiến lược. Các đồng chí đó, theo cương vị công tác có thể yêu cầu phải trực tiếp chỉ huy các trận đánh. Nhưng qua hai cuộc kháng chiến, các đồng chí đó đều trực tiếp ra chiến trường, trực tiếp chỉ huy các trận đánh, các chiến dịch. Nêu gương cho cán bộ toàn quân về việc kết hợp lý luận với thực tiễn phải nói đến các đồng chí như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Hoàng Văn Thái và nhiều đồng chí khác.

        Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cương vị là Tổng tư lệnh, chức trách chủ yếu là chỉ huy toàn quân trên tất cả các chiến trường, nhưng đồng chí đã nhiều lần trực tiếp chỉ huy các chiến dịch. Đồng chí đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về tác chiến quy mô chiến dịch và cả chiến thuật. Việc chuyển từ quyết tâm “đánh nhanh giải quyết nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc” để tiêu diệt gọn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tạo nên thắng lợi vang dội cả trong nước và trên trường quốc tế, cho thấy đồng chí đã đánh giá đúng thực lực địch, ta trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm, trong đó có kinh nghiệm trận tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản (Tây Bắc, năm 1952).

        Đại tướng Hoàng Văn Thái với cương vị là Tổng tham mưu trưởng nhưng trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí đã làm tham mưu trưởng nhiều chiến dịch. Trong chiến dịch Biên Giới (1950), đồng chí còn trực tiếp chỉ huy trận đánh Đông Khê. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tuy đã xuất hiện bệnh tim, nhưng đồng chí đã ra chiến trường một thời gian dài, qua cương vị Tư lệnh Quân khu 5 và Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

        Qua các trận chiến đấu, các chiến dịch, người chỉ huy mới tích lũy được nhiều kinh nghiệm, mới có đủ điều kiện phát triển tài năng trong chỉ huy các trận đánh, các chiến dịch về sau. Tôi rất tâm đắc về sự cần thiết của việc tích lũy kinh nghiệm qua các trận chiến đấu. Từ năm 1946 đến hết năm 1949, tôi chiến đấu tại chiến trường Bình - Trị - Thiên. Do trang bị của bộ đội Bình - Trị - Thiên còn thô sơ, thiếu các loại súng diệt các lô cốt, các ụ súng, nên chúng tôi chỉ tập trung đánh địch ngoài công sự. Đánh địch trong công sự vững chắc, chủ yếu tập kích, bất ngờ lọt vào đồn địch. Đầu năm 1950, tôi được lệnh ra Đại đoàn 304, làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 418 Trung đoàn 57. Tiểu đoàn 418 là tiểu đoàn chủ công của trung đoàn nên được dùng để đánh địch phòng ngự trong công sự vững chắc. Ba năm chiến đấu ở Bình - Trị - Thiên, tôi đã tích lũy được một số kinh nghiệm chiến đấu nhưng đều là kinh nghiệm đánh địch ngoài công sự chưa có kinh nghiệm tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc, nên ba trận đầu đánh cứ điểm địch, tôi đều đánh không đạt kết quả hoặc đạt kết quả thấp. Trận đánh cứ điểm Yên Mô Thượng trong chiến dịch Quang Trung (1950), tiểu đoàn chiếm được cứ điểm, nhưng vì thời gian mở cửa quá dài nên khi vào cứ điểm, địch đã đủ thời gian rút chạy hết. Ba ngày sau, tiểu đoàn chuyển sang tiến công cứ điểm Cầu Bút. Trận đánh không thành công. Các mũi đột phá đều bị địch chặn ngay ở lô cốt đầu cầu. Trận đánh cứ điểm Đồi Mồi trong chiến dịch Hòa Bình (1951), tiểu đoàn chỉ chiếm được mỏm thấp, không chiếm được mỏm cao của cứ điểm. Sau ba trận đánh, tích lũy được kinh nghiệm nên tiểu đoàn đã đánh thắng liên tiếp 5 cứ điểm trong năm 1952. Đầu năm 1952, diệt gọn 2 cứ điểm Lạc Quần và Vọc ở Nam Định. Cuối năm diệt gọn cứ điểm Tuy Lộc, Bến Xanh, Văn Lai ở Ninh Bình.

        Qua các trận đánh, các chiến dịch, người chỉ huy còn được những “ông thầy” dạy cho nhiều bài học có giá trị, đó là những chỉ huy của đối phương. Chiến tranh là sự đối đầu giữa hai lực lượng, hai bộ chỉ huy. Bên nào cũng tìm mọi cách để giành chiến thắng. Chỉ huy của ta khôn, chỉ huy của địch cũng không phải là những người dại. Ta lừa địch cũng nhiều, nhưng cũng có trường hợp bị địch lừa. Người chỉ huy ra trận không được coi thường chỉ huy địch. Na-pô-lê-ông, một danh tướng Pháp đã nói: Quân địch thua vì chúng xem tài năng của Na-pô-lê-ông cũng như chỉ huy của họ. Na-pô-lê-ông thắng địch vì lúc nào Na-pô-lê-ông cũng nghĩ chỉ huy của địch đều là những Na-pô-lê-ông. Câu nói trên cũng hàm ý: khi ra trận phải đánh giá chỉ huy của đối phương không phải là những kẻ kém cỏi. Chỉ huy đối phương cũng có nhiều người khôn ngoan.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 07:44:33 PM
        Bài học không được xem thường địch đã được thực tế tác chiến dạy một cách sâu sắc nhất. Khi hạ quyết tâm tác chiến, chúng tôi đều xem xét kỹ địch sẽ có những biện pháp gì để đối phó với ta. Ví dụ: để đánh thắng địch trong trận phục kích, ta phải dành nhiều công sức, nhiều thời gian để nắm vững những hoạt động của địch khi hành quân như: sục sạo hai bên đường đến chiều sâu nào? Tổ chức các điểm chốt để bảo vệ hành quân những nơi nào? Lực lượng bảo vệ đi trong các đoàn xe vận tải là bao nhiêu? Không quân, pháo binh địch có những khả năng nào để chi viện cho chúng khi bị ta đánh? Các khả năng đối phó của lực lượng hành quân, v.v...

        - Rèn luyện người chỉ huy qua tổng kết các trận đánh, các chiến dịch.

        Qua mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch, người chỉ huy nào cũng rút ra được kinh nghiệm cho bản thân mình. Lực lượng vũ trang ta có truyền thống coi trọng công tác tổng kết sau mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch. Tổng kết tác chiến là một sinh hoạt thực sự dân chủ trong tất cả các đơn vị. Trong tổng kết, người chỉ huy trận đánh, chỉ huy chiến dịch thường triệu tập cán bộ dưới 1-2 cấp. Các chiến dịch do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy khi tổng kết thường triệu tập dưới 2 cấp: chỉ huy sư đoàn và chỉ huy trung đoàn. Trong tổng kết, mọi người đều được phát biểu ý kiến của mình, tìm ra cả mặt làm tốt và mặt làm chưa tốt, từ đó rút ra những kinh nghiệm thực tế, những bài học để tiến hành tốt hơn trong các trận đánh, các chiến dịch tiếp sau. Tất cả cán bộ tham gia hội nghị tổng kết đều nhận thấy đây là một lớp huấn luyện ngắn ngày, rất thiết thực bổ ích, nó thực sự nâng cao trình độ, năng lực chỉ huy của cán bộ thêm một bước.

        3. Động viên, tạo điều kiện cho cán bộ tự học

        Cuộc đời quân ngũ của cán bộ quân sự có thể kéo dài 40-50 năm. Trong thời gian đó, người được đến trường để học tập thường không quá 10 năm. Như vậy thời gian công tác ở cơ quan, đơn vị khoảng 30-40 năm. Thực tế chứng minh, việc nâng cao trình độ, năng lực về nghệ thuật quân sự phụ thuộc rất nhiều vào việc tự học của từng cán bộ.

        Kiến thức về khoa học quân sự rất rộng lớn, có tính tổng hợp cao, bao gồm nhiều mặt như nghệ thuật quân sự kỹ thuật, hậu cần, lịch sử, địa lý quân sự, công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang... Người chỉ huy quân sự không chỉ thông thạo về khoa học quân sự mà còn rất cần biết thêm các ngành khoa học khác có liên quan như triết học, toán học...

        Các nhà trường chỉ đủ thời gian dạy cho cán bộ chỉ huy những nội dung cơ bản của khoa học quân sự. Muốn biết sâu, hiểu rộng, cần tự học. Ví dụ: về học lịch sử quân sự, nhà trường chỉ đủ thời gian dạy một số ít cuộc chiến tranh, một ít chiến dịch. Cái chính là nhằm trang bị cho học viên kiến thức về phương pháp học lịch sử chiến dịch, về phương pháp học lịch sử quân sự. Mỗi người chỉ huy phải tự mình tìm đọc càng nhiều càng tốt các sách, tài liệu về quân sự hiện đã phát hành trong nước. Các nhà xuất bản, các cơ quan thông tin xuất bản ra những cuốn sách, những tài liệu về khoa học quân sự là nhằm để cán bộ quân sự đọc, tự học không tìm đọc những sách, tài liệu về khoa học quân sự, người cán bộ quân sự đã bỏ sót nhiều điều cần biết.

        Sách lý luận quân sự của người xưa để lại cho chúng ta cũng không ít, ví như hai cuốn “Binh thư yếu lược” của Trần Hưng Đạo và “Hổ trướng khu cơ” của Đào Duy Từ thì cán bộ nào cũng cần phải đọc.

        Nước ta cũng đã xuất bản một số sách có giá trị của các nhà lý luận quân sự trên thế giới qua các thời đại (chủ yếu là sách của Trung Quốc và Liên Xô cũ). Những cuốn sách đó cung cấp cho ta nhiều kiến thức thiết thực, giúp cho ta phương pháp luận đúng, trong vận dụng có chọn lọc, sáng tạo trong các lĩnh vực công tác quân sự. Đáng tiếc là chúng ta chưa xuất bản được nhiều sách của các nhà lý luận quân sự phương Tây cũng không kém phần phong phú. Chỉ riêng cuốn “Bàn về chiến tranh” của Clau-dơ-vít (người Phổ) cũng rất đáng được tìm đọc.

        Đặc biệt: sách về lý luận quân sự của các đồng chí lãnh đạo Đảng và quân đội viết trong thời kỳ tiến hành hai cuộc kháng chiến là những tác phẩm có giá trị lớn về lý luận và thực tiễn quân sự, nhất là trong công tác xây dựng, lãnh đạo và điều hành kháng chiến. Những bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuốn “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Trinh, cuốn “Chiến tranh nhân dân Việt Nam” của đồng chí Lê Duẩn, “Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều cuốn khác của Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại tướng Hoàng Văn Thái, Đại tướng Lê Trọng Tấn... đều xứng đáng là sách “gối đầu giường” của cán bộ quân sự.

        Cùng với các sách về lý luận, chúng ta có rất nhiều sách viết về lịch sử quân sự thế giới, Việt Nam; về tổng kết các cuộc chiến tranh, các chiến dịch, các trận chiến đấu trong nước và nước ngoài.

        Nhắc đến một số sách quân sự như trên, tôi muốn nói việc đọc sách là rất cần thiết, nếu chúng ta muốn làm giàu vốn tri thức quân sự của mình bằng cách khai thác, tích lũy tinh hoa quân sự Việt Nam và thế giới. Tôi cũng muốn nhấn mạnh, nếu không tranh thủ thời gian tự học thì không nhà trường nào có thể cung cấp đầy đủ kiến thức cho chúng ta.

        Trải qua hai cuộc kháng chiến, cùng với các hệ thống nhà trường, Đảng ta đã luôn động viên và tạo điều kiện để cán bộ quân đội tự học, nhờ thế, đã đào tạo được một số lượng lớn cán bộ chỉ huy đủ tài năng để đánh thắng những đội quân có số lượng đông, có trang bị mạnh hơn ta nhiều lần. Cán bộ chỉ huy của lực lượng vũ trang ta không chỉ quyết đánh mà còn biết đánh, biết thắng.



Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 07:46:15 PM

        II. NĂNG KHIẾU QUÂN SỰ

        Trước khi nói về đường lối, chính sách cán bộ, tôi muốn nêu một vấn đề ít được đề cập là có năng khiếu quân sự không?

        Trong hoạt động ở tất cả các lĩnh vực nghệ thuật đều đòi hỏi năng khiếu. Quân sự cũng là một lĩnh vực nghệ thuật, một nghệ thuật có tính tổng hợp cao. Trong lĩnh vực này cũng đòi hỏi người có năng khiếu quân sự. Đứng về thực tiễn, một số tướng tài trong lịch sử, xuất hiện sớm, phát triển nhanh, tất nhiên phải có năng khiếu quân sự. Nguyễn Huệ từ một nông dân mặc áo vải, không qua một trường quân sự nào, nhưng đánh thắng ngay trận đầu, đánh thắng liên tiếp, đánh thắng một lực lượng quân sự hùng mạnh của nhà Thanh. Nguyễn Huệ là một người có năng khiếu quân sự. Na-pô-lê-ông, một danh tướng của Pháp, trở thành một thiên tài quân sự từ khi còn rất trẻ, tất nhiên cũng phải là một người có năng khiếu quân sự.

        Ở các ngành nghệ thuật khác như âm nhạc, thể thao, muốn có nhân tài người ta thường tìm những người có năng khiếu để đào tạo. Cứ để tự nhiên phát triển, chỉ một số ít người có năng khiếu phát triển được tài năng của mình. Nhiều người có năng khiếu nhưng không được đào tạo, không có sự hỗ trợ khách quan, không có điều kiện khó có thể phát triển được tài năng của mình. Tôi nghĩ, nếu chúng ta nghiên cứu biết được năng khiếu quân sự là gì, chúng ta sẽ có thuận lợi để phát triển, đào tạo được nhiều cán bộ quân sự giỏi.

        Đây là một vấn đề lớn, phải trải qua điều tra xã hội học công phu mới mong có cơ sở nói về năng khiếu quân sự. Đáng tiếc là từ trước tới nay chưa ai bàn về vấn đề này.

        Nếu đặt vấn đề và nghiên cứu thành công, chúng ta sẽ đóng góp được lợi ích thiết thực cho việc đào tạo cán bộ chỉ huy.

        Tôi dựa vào cơ sở nào để nói về vấn đề rất lớn này? Vì không phải là một công trình khoa học, trong bài viết này, tôi chỉ xin nêu một số ý kiến qua nghiên cứu đặc điểm một số tướng lĩnh, theo tôi, đã phát triển tài năng sớm và phát triển nhanh.

        Người chỉ huy tác chiến trước hết phải là người dũng cảm, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh. Lòng dũng cảm tất nhiên không phải thừa kế ở một gien nào cả, không phải do trời sinh ra. Lòng dũng cảm xuất phát từ giác ngộ chính trị, thấy được trách nhiệm của bản thân đối với Đảng, với dân tộc, Tổ quốc, nhân dân, đối với đồng đội. Tại sao khi nói đến năng khiếu quân sự, lại nói đến tinh thần dũng cảm trong tác chiến? Vấn đề đơn giản là, không có tinh thần dũng cảm trong tác chiến thì không có tài năng quân sự nào phát triển được. Thực tiễn khẳng định một điều: “không có chỗ đứng cho những người hèn nhát trong đội ngũ người chỉ huy tác chiến”. Tất cả những người chỉ huy tài ba đều là những người dũng cảm.

        Sau một số trận chiến đấu, ta sẽ thấy ai là người dũng cảm, ai không dũng cảm. Vấn đề cần bàn là làm sao có thể thấy được người sĩ quan tương lai sẽ dũng cảm khi họ chưa bước chân vào hàng ngũ quân đội, vào các trường sĩ quan?

        Hầu hết những người tình nguyện ra chiến trường đều được giáo dục tinh thần trách nhiệm đối với Tổ quốc, nhưng trước trận chiến đấu ác liệt, xông vào diệt địch có thể dễ dàng hy sinh thì có người dám làm, có người không dám làm. Khi xông vào nơi nguy hiểm nhất, trước hết chúng tôi nghĩ đến trách nhiệm đối với tính mạng của những cán bộ, chiến sĩ dưới quyền mình. Nếu không đi đến nơi diễn ra chiến đấu ác liệt, không đến nơi mình cần đến, có thể thương vong của bộ đội sẽ tăng thêm. Nghĩ đến đồng đội mình đương gặp khó khăn, có thể hy sinh, chúng tôi không ngần ngại đến ngay nơi mình cần đến, dẫu có phải hy sinh bản thân. Tôi thấy những người chỉ huy dũng cảm đều là những người thấy rõ trách nhiệm đối với đồng đội, với những người cấp dưới của mình. Những người chỉ huy dũng cảm thường nghĩ đến những người khác trước khi nghĩ đến bản thân mình. Tuy bản chất rất cứng rắn, nhưng trước sự hy sinh của đồng đội, nhiều người chỉ huy chảy nước mắt, có khi khóc thảm thiết như mất người thân nhất của mình. Đại tướng Lê Trọng Tấn, một người chỉ huy tài ba, luôn nhắc nhở chúng tôi: “Các đồng chí không bao giờ được nói thương vong không đáng kể. Một nghìn người ra trận, thương vong 5-10 người được xem là thương vong nhẹ. Nhưng đối với người con mất cha, người vợ mất chồng thì mất mát đó là mất mát lớn nhất, không gì bù đắp được. Trong chiến đấu phải tìm cách giảm thương vong đến từng người”. Khi nghe báo cáo, nói đến số người bị thương trong trận đánh, tôi thấy Đại tướng thực sự xúc động, yêu cầu chúng tôi tạm ngừng báo cáo để nuốt nước mắt vào lòng.

        Cùng với lòng dũng cảm, những người có tài về quân sự thường là những người thông minh. Trong tác chiến, tình huống, diễn biến rất nhanh, phức tạp. Tình huống có lợi xuất hiện rất nhanh, mất đi cũng rất nhanh. Tình huống bất lợi xuất hiện, nếu không kịp thời giải quyết thì càng bất lợi thêm. Không kịp thời nắm bắt và xử trí các tình huống một cách đúng đắn thì khó giành được thắng lợi. Từ đó ta thấy, trí thông minh là một trong những năng khiếu quân sự. Ta chưa có số liệu điều tra để biết những người chỉ huy tài ba. Được làm việc với đồng chí Lê Trọng Tấn, tôi thấy đây thực sự là một người rất thông minh. Tôi đã được dự một số cuộc họp của Hội đồng khoa học Bộ Quốc phòng, trong các cuộc họp có nhiều vấn đề đưa ra tranh luận sôi nổi. Số người ủng hộ các ý kiến trái ngược nhau không chênh lệch nhiều. Tôi đề nghị đồng chí Lê Trọng Tấn, người thay mặt đồng chí Võ Nguyên Giáp điều khiển hội nghị nên gác vấn đề này lại, sau này nghiên cứu thêm, chưa nên kết luận ngay, nhưng trong nhiều trường hợp, đồng chí đã cho tranh luận thêm và kết luận. Đặc biệt, sau 1-2 năm, tôi thấy những kết luận của đồng chí được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn.

        Tôi cho rằng, để tuyển sinh quân sự cho các trường đào tạo sĩ quan, nên đi vào các trường phổ thông trung học, tìm những học sinh thông minh, học giỏi, để tuyển chọn vào trường đào tạo sĩ quan. Cũng giống như các huấn luyện viên bóng đá, thường quan sát số thiếu niên bóng đá trên đường phố để tìm những em có năng khiếu. Ngày nay, nhiều thanh niên thích vào học sĩ quan. Các trường có điều kiện chọn các em có điểm cao khi thi vào trường để đào tạo. Lẽ tất nhiên thông minh chỉ là một yêu cầu. Chúng ta còn phải chú ý đến các yêu cầu khác về phẩm chất chính trị, trong đó có lòng dũng cảm.

        Vấn đề năng khiếu quân sự tất nhiên có. Có lẽ cơ quan cán bộ nên điều tra và tổ chức thảo luận vấn đề này. Đó là một vấn đề cần thiết của đường lối, chính sách cán bộ, nhất là trong thời bình.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 07:55:22 PM

        III. BẢN LĨNH NGƯỜI CHỈ HUY

        Vấn đề then chốt trong xác định và thực thi đường lối, chính sách cán bộ cần có quan điểm đúng và thống nhất về đánh giá phẩm chất, tài năng của cán bộ. Phẩm chất, tài năng của một người thể hiện tập trung ở bản lĩnh của người đó, tức khả năng và ý chí kiên định trước mọi hoàn cảnh. Người chỉ huy quân sự đặc biệt cần có bản lĩnh; không những dám nghĩ, dám hành động, mà còn biết suy nghĩ và hành động sáng tạo, phù hợp từng hoàn cảnh cụ thể, luôn hướng tới việc hoàn thành tối ưu nhiệm vụ được giao, đặt lợi ích của tập thể, của đồng đội trên lợi ích của mình, đến mức dám hy sinh cả tính mạng.

        Bàn về người tướng, các nhà lý luận quân sự cổ đại Trung Quốc như Tôn Tử, Ngô Khởi, Khổng Minh tuy có các diễn đạt khác nhau, nhưng đều thống nhất ở các nội dung chính: “Dũng, trí, nhân, tín, trung”. Trong năm nội dung trên, họ đều thống nhất để “dũng” lên hàng đầu. Thực tế cũng cho thấy, trong các cuộc chiến đấu một mất một còn, phải có dũng mới phát huy được các tố chất khác. “Dũng” cũng là xây dựng ý chí quyết đánh, mới tìm ra cách đánh tốt, biết đánh.

        Bàn về người tướng, Trần Hưng Đạo cũng nêu lên phẩm chất: “Dũng, trí, nhân, tín, trung”. Đáng chú ý là trong di chúc cũng như trong binh thư yếu lược, phẩm chất “trí” được nhấn mạnh và phân tích trên nhiều mặt. Tướng “dũng” có thể giúp được việc đánh thành hãm trận, nhưng liệu tính việc địch, chia đặt quân kỳ, làm cơ ứng biến, nếu không có tướng “trí” thì không được.

        Bàn về người tướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu 6 phẩm chất: “Trí, dũng, tín, nhân, liêm, trung”. Bác đề ra tiêu chuẩn đối với cán bộ lãnh đạo, đó là:

           + Những người tỏ ra trung thành, hăng hái trong công việc trong lúc đấu tranh.

           + Những người liên lạc mật thiết với quần chúng, hiểu biết quần chúng, hiểu biết lợi ích của dân chúng.

           + Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn.

           + Những người luôn giữ đúng kỷ luật.

        Những tiêu chuẩn Bác đã nêu đối với cán bộ lãnh đạo nói chung, cũng là tiêu chuẩn đối với cán bộ lực lượng vũ trang, những người chỉ huy quân sự.

        Tư tưởng của Bác là sự kế thừa, phát triển, bổ sung tư tưởng người xưa trong điều kiện mới của Việt Nam. Qua kiểm nghiệm thực tế gần 50 năm quân ngũ, gần 40 năm trực tiếp chiến đấu trên chiến trường, bản thân tôi tâm đắc: những người chỉ huy tài ba trong lực lượng vũ trang ta thường thể hiện các phẩm chất sau đây mà ta gọi là bản lĩnh của người chỉ huy.

        - Được bộ đội tin yêu.

        Những người chỉ huy giỏi, trước hết là những người chỉ huy được bộ đội tin yêu. Muốn được bộ đội tin, tất nhiên người chỉ huy phải giỏi trong tác chiến. Quá trình tác chiến, khó tránh khỏi những trận thất bại, nhưng người chỉ huy giỏi thường đánh thắng, kể cả khi gặp những trận có nhiều khó khăn. Những trận không thắng chỉ là cá biệt. Người chỉ huy đánh thắng trong những trận có nhiều khó khăn, là người đã thực hiện được tiêu chuẩn người cán bộ lãnh đạo do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra: “Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn”.

        Người chỉ huy được bộ đội yêu mến là những người chỉ huy luôn biết tôn trọng quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, chăm lo cho quần chúng cả đời sống tinh thần và vật chất. Chúng tôi thực sự cảm động khi cấp trên hỏi đến tình hình gia đình, vợ con, khi cấp trên tìm hiểu những khó khăn không phải của riêng mình mà còn cả gia đình. Các đồng chí đó hỏi không phải để biết mà hỏi để giải quyết cụ thể khó khăn trong điều kiện cho phép. Những người chỉ huy được bộ đội yêu mến là những người đã thực hiện tốt tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo do Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra: “Những người liên lạc mật thiết với quần chúng, hiểu biết quần chúng, hiểu biết lợi ích của quần chúng”.

        Tác chiến là sự nỗ lực toàn diện của cả một tập thể từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Có những trận trên hạ quyết tâm đúng, nhưng dưới hành động sai cũng có thể dẫn đến thất bại. Người chỉ huy được bộ đội vừa tin vừa yêu thường phát huy được nỗ lực của tất cả các cán bộ, chiến sĩ, của tất cả các đơn vị thuộc quyền. Được chiến đấu dưới quyền chỉ huy của một cán bộ mà mình tin yêu, bao giờ mình cũng rất yên tâm khi nhận nhiệm vụ, luôn tìm cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ không để phụ lòng cấp trên, dù trong những kiện khó khăn nhất, kể cả lúc hiểm nguy.

        Trải qua những năm tháng kháng chiến, nhiều đồng chí chỉ huy thuộc thế hệ chúng tôi đều tâm đắc, yêu cầu đầu tiên của người chỉ huy là được bộ đội tin yêu. Chúng tôi đều nỗ lực để đạt được tiêu chuẩn cơ bản nhất đó. Thực tế cho thấy muốn được bộ đội tin, người chỉ huy phải kiên trì miệt mài nỗ lực nâng cao trình độ chỉ huy, nghệ thuật quân sự của mình, tức phải đánh giỏi. Tin tưởng đi đôi với yêu mến, nhưng không nhất thiết đã tin là yêu. Tin thường thuộc phạm trù tài năng, yêu thường thuộc phạm trù đạo đức. Đạo đức là một vấn đề rộng lớn, nhưng bộ đội quan tâm nhiều nhất đến người chỉ huy cấp trên là sự tôn trọng quần chúng, thương yêu cấp dưới, chăm lo mọi mặt tinh thần và vật chất của cấp dưới. Đó là biểu hiện sâu sắc, rõ nhất sự “liên lạc mật thiết với quần chúng” như Bác Hồ đã nói.

        - Có tác phong dân chủ nhưng dám quyết đoán.

        Có lẽ mọi cán bộ, những học trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đều tâm đắc tác phong dân chủ là một yêu cầu đối với tất cả cán bộ. Tại sao có một số cán bộ về lý luận đều thừa nhận, nhưng trong thực tế lại không thực hiện dân chủ trong công tác? Nguyên nhân có nhiều, nhưng đối với người chỉ huy thường tập trung vào các nguyên nhân chính sau:

           + Một số cán bộ tỏ ra khó chịu khi người khác có ý kiến khác mình, nhất là ý kiến trái ngược với ý kiến mình. Vì vậy, tuy có tổ chức những cuộc họp lấy ý kiến cấp dưới, nhưng cấp dưới không mạnh dạn đề xuất ý kiến, nhất là những vấn đề khác với ý kiến của mình.

           + Một số cán bộ trình độ có hạn, không chịu học hỏi, thiếu khả năng quyết đoán, sợ mở rộng dân chủ, mỗi người có một ý khác nhau, dẫn đến không biết kết luận như thế nào.

        Trái với những điều nói trên, người cán bộ có bản lĩnh, trong công tác chỉ huy thường tìm cách mở rộng dân chủ, phát động mọi người tham gia ý kiến, tôn trọng mọi ý kiến của người khác. Đặc biệt cán bộ có bản lĩnh cao thường thích nghe những ý kiến trái ngược ý kiến mình. Có những ý kiến.trái ngược nhau mới có điều kiện tìm ra ý kiến hay, tìm ra chân lý.

        Dân chủ phải đi đôi với quyết đoán. Trong tác chiến, nhiều trường hợp, không thể có thời gian để tiếp tục nghiên cứu các ý kiến khác nhau. Người chỉ huy cần nghe các ý kiến khác nhau, nhưng đến thời điểm phải hạ quyết tâm. Địch không chờ chúng ta thảo luận xong mới bắt đầu hành động. Chúng hành động theo kế hoạch của chúng, chúng ta phải hạ quyết tâm ngay để đối phó. Bản lĩnh của người chỉ huy còn thể hiện trong trường hợp: vì nhiều lý do khác nhau, có thể đa số ý kiến đều theo hướng không đúng. Người chỉ huy phải căn cứ yêu cầu nhiệm vụ được giao và tình hình cụ thể mọi mặt để quyết đoán khi cần thiết.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 07:57:28 PM

        - Dám chịu trách nhiệm.

        Một yêu cầu rất quan trọng nữa đối với bản lĩnh người chỉ huy là dám chịu trách nhiệm. Trong trường hợp cần thiết, đặc biệt có thể dám chịu trách nhiệm để hành động khác với mệnh lệnh cấp trên. Chúng ta thường nói; “Kỷ luật quân sự là kỷ luật sắt”, “Quân lệnh như sơn...”. Nhưng mặt khác, các nhà lý luận quân sự từ thời cổ đại đã nói: “Người tướng ngoài mặt trận có thể không nghe lệnh vua”. Hồ Chủ tịch khi giao nhiệm vụ cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước lúc lên Điện Biên Phủ cũng đã nói: “Tướng quân tại ngoại”. Như vậy, căn cứ vào thực tiễn của chiến tranh, đã có sự chấp nhận là người tướng ngoài mặt trận một mặt phải triệt để thi hành mệnh lệnh cấp trên, nhưng trong trường hợp thấy mệnh lệnh đó không phù hợp, hoặc không còn phù hợp có thể dám chịu trách nhiệm với cấp trên, với đồng đội, thực thi nhiệm vụ theo điều kiện cụ thể của tình huống cụ thể.

        Trong thực tiễn chiến đấu, đây là một vấn đề cực kỳ khó khăn. Người chỉ huy phải trên cơ sở am hiểu tình hình, khả năng địch, ta và diễn biến chiến đấu ... dám chịu trách nhiệm, tự thay đổi cách đánh để đánh thắng và thắng với hiệu suất cao. Cái chính ở đây là cuối cùng đánh thắng.

        Năm 1975, trong chiến dịch giải phóng Trị - Thiên. Bộ Tổng tư lệnh sau khi nhận xét địch ở Huế hoang mang cực độ, bắt đầu rút chạy, đã lệnh cho Sư đoàn 324 (lúc ấy ở gần núi Bông, núi Nghệ), không đánh địch ở khu vực núi Bông, núi Nghệ mà vòng qua để nhanh chóng tiến vào đánh chiếm thành phố Huế. Núi Bông, núi Nghệ là một dãy núi điểm cao án ngữ đường 14 chạy xuống đường số 1 để ra Huế. Từ núi Bông, núi Nghệ xuống đường số 1 khoảng 10km. Như vậy, Sư đoàn 324 còn cách Huế 35km. Nếu không đánh chiếm núi Bông, núi Nghệ không đưa xe tăng xuống đường số 1 được. Không có xe tăng, tốc độ tiến công sẽ rất chậm. Sư đoàn đã không theo mệnh lệnh cấp trên là vòng qua mà quyết tâm đánh chiếm núi Bông, núi Nghệ để đưa xe tăng xuống đường số 1 cùng bộ binh tiến công chiếm căn cứ Phú Bài và tiến vào Huế. Từ 6 giờ sáng ngày 25 tháng 3, sư đoàn bắt đầu tiến công núi Bông, núi Nghệ. Sau hai giờ, sư đoàn chiếm được mục tiêu. Xe tăng và bộ binh ta đã nhanh chóng tiến xuống đường số 1, tiến công đánh chiếm căn cứ Phú Bài 17 giờ cùng ngày, Trung đoàn 3 của Sư đoàn 324 đã đánh chiếm mục tiêu quan trọng nhất trong thành phố Huế là căn cứ Mang Cá, nơi đặt sở chỉ huy tiền phương của quân khu 1 của địch.

        Đánh cách khác, không theo mệnh lệnh cấp trên, nhưng thấy chắc thắng thì còn dễ dàng chịu trách nhiệm. Trường hợp đặc biệt khó khăn là lúc cấp trên ra lệnh đánh, nhưng thấy đánh không thắng, có dám chịu trách nhiệm, đề nghị không đánh được không? Có trường hợp không đánh, chỉ bao vây kiềm chế địch là đúng, nhưng có trường hợp không kiên quyết tiến công lại là sai. Cấp dưới thường không nắm được toàn cục. Có khi một hướng nào đó, đánh không thắng vẫn phải đánh. Đánh để thu hút địch vào hướng đó, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn cục.

        Từ những gì đã gặp trong cuộc đời chiến đấu, tôi thấy người chỉ huy ngoài chiến trường với trách nhiệm cao, có trường hợp có thể làm khác mệnh lệnh cấp trên. Nhưng nếu mình không nắm được tình hình toàn cục thì nhất thiết cứ phải làm theo mệnh lệnh trên, mặc dù có thể đánh không thành công và chịu tổn thất lớn.

        Năm 1972, trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị, các ngày 6 và 7 tháng 3, địch rút chạy khỏi khu vực phòng thủ phía bắc, co cụm về Đông Hà - Ái Tử. Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 308 lập tức tiến công Đông Hà - Ái Tử; lệnh cho các sư đoàn 304 và 324, mỗi sư đoàn tổ chức một tiểu đoàn thọc ngay ra đường số 1 để chặn địch rút chạy. Thực chất địch tổ chức củng cố phòng thủ Đông Hà - Ái Tử nên Sư đoàn 308 tiến công không thành công. Hai tiểu đoàn của các sư đoàn 304 và 324 cũng bị tổn thất nặng trên đường số 1. Sau đó ta tiến công Đông Hà - Ái Tử, địch ở đây bị đánh tan và rút chạy về phía sông Mỹ Chánh. Bộ tư lệnh lập tức ra lệnh cho Sư đoàn 324 lại thọc ngay ra đường số 1 chặn địch. Do lần trước bị tổn thất, Sư đoàn 324 đề nghị cho nghiên cứu thêm. Vì vậy, sư đoàn đã hành động chậm, một số quân địch đã rút được về phía sau. Bộ chỉ huy Sư đoàn 324 bị khiển trách vì không nắm được toàn cục không thực hiện ngay mệnh lệnh chặn địch.

        Chiến dịch tiến công Trị - Thiên năm 1975, Quân đoàn 2 nhận lệnh mở đầu chiến dịch vào ngày 5 tháng 3. Do trời mưa lớn, đường sá lầy lội, không có khả năng triển khai xong các trung đoàn pháo binh trong ngày 3 tháng 3, nên quân đoàn đề nghị cho mở đầu chiến dịch sau ba ngày. Đồng chí Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn phê bình gay gắt Bộ chỉ huy Quân đoàn và đề nghị đồng chí Võ Nguyên Giáp cho phép quân đoàn trước hết chuẩn bị một sư đoàn tiến công đúng ngày quy định. Sau này chúng tôi mới biết ngày 8 tháng 3 là ngày ta tiến công Buôn Ma Thuộc. Các hướng phối hợp phải tiến công trước để vừa nghi binh vừa cầm chân địch. Hướng Trị - Thiên nếu lùi lại ba ngày là hoàn toàn không được phép.


        Có thể nói bản lĩnh người chỉ huy thể hiện rõ ở phẩm chất: được bộ đội tin yêu, tức là có tài năng và đạo đức; có tác phong vừa dân chủ vừa quyết đoán; vừa có ý thức kỷ luật cao, vừa dám chịu trách nhiệm trong những trường hợp cần thiết.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:01:11 PM
       
       IV. SỬ DỤNG CÁN BỘ

        Trên cơ sở quy hoạch và tích cực đào tạo một cách toàn diện, ta hoàn toàn có khả năng xây dựng được một đội ngũ cán bộ vừa có đức vừa có tài. Vấn đề quyết định cuối cùng trong chính sách của cán bộ là đánh giá đúng phẩm chất, tài năng, sở trường, mặt mạnh, mặt yếu của từng cán bộ để giao nhiệm vụ phù hợp.

        Theo tôi, trước hết, để đánh giá đúng cán bộ cần quán triệt những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy. Bác đã nói: Điều quan trọng trước tiên là phải hiểu biết đúng cán bộ. Muốn vậy phải chí công vô tư trong việc xem xét cán bộ. Biết người cố nhiên là khó, tự biết mình cũng không phải là dễ. Đã không tự biết mình thì khó mà biết người. Vì vậy, muốn biết đúng sự phải trái ở người ta thì phải biết đúng sự phải trái của mình. Nếu không biết sự phải trái của mình thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu. Người lãnh đạo cần phải tránh bốn bệnh khi xem xét cán bộ: tự cao tự đại, ưa nịnh hót, yêu ghét rập khuôn, cứng nhắc. Người lãnh đạo nếu mắc một trong bốn bệnh ấy cũng như một người mang kính có màu, không bao giờ thấy được màu sắc thật của sự vật. Người lãnh đạo phải bỏ kính màu, sửa chữa những bệnh ấy, mới có thể hiểu biết đúng cán bộ.

        Từ kinh nghiệm bản thân, tôi thấy, hai bệnh thuộc phẩm chất người lãnh đạo: tự cao tự đại, ưa nịnh hót, không phải không có trong lực lượng vũ trang nhân dân, nhưng không nhiều. Phần lớn trường hợp đánh giá cán bộ không đúng do hai khuyết điểm là cảm tính và rập khuôn, cứng nhắc. Sự đánh giá rập khuôn, cứng nhắc đó đã dẫn đến những khiếm khuyết trong sử dụng cán bộ.

        Một số cán bộ đã từng nắm vững cấp dưới khi bản thân mình là cán bộ trung đoàn, sư đoàn, cấp dưới là cán bộ đại đội, tiểu đoàn. Sau mười năm hoặc hơn, bản thân mình đã là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ trước thuộc quyền của mình trải qua thời gian cũng có nhiều thay đổi nhưng vẫn đánh giá họ một cách cảm tính, rập khuôn, cứng nhắc như mình đã nghĩ về họ trước đây.

        Trong việc đề bạt, sử dụng các anh hùng trong lực lượng vũ trang cũng có trường hợp chưa chính xác. Ví dụ, có cán bộ trở thành anh hùng lúc còn là chiến sĩ, trở thành anh hùng chủ yếu ở tinh thần dũng cảm trong chiến đấu. Với phẩm chất đặc biệt quan trọng của người cán bộ trong lực lượng vũ trang là anh dũng, nhưng muốn chỉ huy đơn vị lớn hơn như trung đoàn, sư đoàn lại cần có trình độ về nghệ thuật quân sự, cần tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong thực tế chiến đấu. Những anh hùng được sắp xếp học tập tốt, được rèn luyện trong chiến đấu, qua lần lượt từng cấp đều trở thành những cán bộ giỏi của lực lượng vũ trang. Mặt khác, sử dụng cán bộ cần chú trọng tính chất nhiệm vụ sẽ giao cho họ. Ở Sư đoàn 304, một đồng chí anh hùng khi còn là chiến sĩ là trung đội trưởng khi kết thúc kháng chiến chống Pháp. Mười năm trong hòa bình, đồng chí được cử đi học quân sự hai lần ở Trường sĩ quan Lục quân và ở Học viện quân sự. Bước vào kháng chiến chống Mỹ, đồng chí là một tiểu đoàn trưởng vững vàng. Tổng cục Chính trị có ý định đề bạt đồng chí đó lên thẳng trung đoàn trưởng. Tôi trình bày rõ với trên: trong kháng chiến chống Pháp, các tiểu đoàn trưởng giỏi, đưa thẳng lên làm trung đoàn trưởng đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, vì trong kháng chiến chống Pháp, ta đánh nhiều trận ở cấp tiểu đoàn nên tiểu đoàn trưởng đã có kinh nghiệm tổ chức, chỉ huy một trận đánh. Đã chỉ huy tiểu đoàn tốt có thể chỉ huy trung đoàn, sự thay đổi ở đây chủ yếu là về lượng. Nhưng trong kháng chiến chống Mỹ, ở các sư đoàn cơ động chiến lược trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh, thường đánh tập trung cấp trung đoàn; cấp tiểu đoàn chỉ làm nhiệm vụ đột phá trên một trận đánh như đánh giá toàn diện về địch, chọn các hướng tiến công, tổ chức chế áp hỏa lực tại chỗ và xung quanh, đánh viện binh... đều là việc của trung đoàn đảm nhiệm. Chỉ huy tiểu đoàn và chỉ huy trung đoàn có yêu cầu thay đổi trình độ về chất. Tốt nhất nên đề bạt đồng chí tiểu đoàn trưởng là anh hùng lên trung đoàn phó một thời gian để tích lũy kinh nghiệm chỉ huy trong đánh tập trung sau đó mới đưa lên làm trung đoàn trưởng. Cấp trên đã đồng ý với đề nghị của sư đoàn. Sau một thời gian làm trung đoàn phó, đồng chí đó đã trở thành một trung đoàn trưởng vững vàng trong kháng chiến chống Mỹ. Trải qua rèn luyện chiến đấu trên chiến trường Tây Nam trước lúc về hưu, đồng chí đã là Phó tư lệnh quân đoàn.

        Cũng cần đánh giá năng lực cán bộ một cách toàn diện để giao nhiệm vụ ... Không ít trường hợp do “duy ý chí” cho là có tinh thần dũng cảm thì có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Vì vậy, có trường hợp đã đề bạt nhanh, đề bạt vượt cấp một số anh hùng; do chưa tích lũy được kiến thức và kinh nghiệm nên một số đồng chí được đề bạt vượt cấp đã không hoàn thành nhiệm vụ lúc chỉ huy trung đoàn, sư đoàn.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:01:37 PM

        Ngoài việc đánh giá cán bộ “cứng nhắc”, cũng không ít trường hợp đánh giá cán bộ không chính xác do khuyết điểm “yêu ghét rập khuôn”. Một số cán bộ xuất thân từ thành phần cơ bản ngại sử dụng cán bộ thuộc thành phần trung gian, nhất là thuộc thành phần lớp trên dù đã trải qua thử thách trong công tác, chiến đấu. Thực tế không ít cán bộ thuộc thành phần lớp trên đã phấn đấu rèn luyện trở thành những cán bộ giỏi của lực lượng vũ trang ta.

        Một số cán bộ có nhiều văn bằng, chứng chỉ lại có định kiến trong đánh giá những cán bộ thuộc thành phần cơ bản, ít được học tập chính quy. Tất nhiên, để có khả năng chỉ huy các đơn vị lớn phải có tri thức tương đối toàn diện. Nhưng điều tích lũy được từ các trường lớp cũng chỉ là một nguồn tri thức, chưa phải là tất cả. Lãnh đạo chỉ huy quân đội phải nắm vững nghệ thuật quân sự nhưng đồng thời phải dũng cảm và tích lũy được nhiều kinh nghiệm.

        Một số cán bộ chiến đấu dũng cảm, thường gạt ngay không sử dụng những cán bộ lần đầu có biểu hiện thiếu dũng cảm. Phải thấy rằng, dũng cảm trong chiến đấu không phải tự nhiên mà có. Dũng cảm trong chiến đấu trước tiên do giác ngộ lý tưởng cách mạng do phẩm chất chính trị, nhưng cũng còn phụ thuộc vào tư chất từng người và sự rèn luyện qua thực tế chiến đấu. Đối với những cán bộ có biểu hiện thiếu dũng cảm ban đầu, cần được giáo dục sâu về chính trị, thấy rõ muốn dân ta được tự do, đất nước được độc lập tất nhiên phải có sự hy sinh, chết vinh còn hơn sống nhục. Nhưng mặt khác, cũng cần tạo điều kiện đưa họ rèn luyện từng bước tại chiến trường. Thực tế cho thấy một số cán bộ lúc đầu rất ngại chiến đấu trong điều kiện ác liệt, nhưng qua một số trận, dần dần được rèn luyện đã trở thành cán bộ vững vàng trước bom đạn, vì nhiệm vụ, đồng đội, bình tĩnh, sáng tạo và quên thân mình để chỉ huy trận đánh thành công.

        Trong sử dụng cán bộ, có quan điểm đúng đắn đánh giá cán bộ chưa đủ, cần nắm chắc được mạnh, yếu của từng cán bộ. Đây cũng không phải là chuyện đơn giản. Đồng chí Nguyễn Trọng Hợp khi là quyền Chính ủy Sư đoàn 304 (sau này là Cục trưởng Cục Cán bộ Bộ Quốc phòng) đã đề xuất một phương pháp để đánh giá cán bộ được tương đối toàn diện chính xác, là trực tiếp hỏi ý kiến các cán bộ khác thuộc quyền. Để đánh giá đức, tài của một đồng chí trung đoàn trưởng, đồng chí yêu cầu cơ quan và trong nhiều trường hợp tự mình nghe ý kiến của các đồng chí phó trung đoàn trưởng, thủ trưởng ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, ba đồng chí tiểu đoàn trưởng thuộc quyền. Nếu có phương thức để các đồng chí trên phát biểu đúng ý nghĩa của họ, ta sẽ nắm được hầu hết khả năng, mạnh, yếu của trung đoàn trưởng. Qua thực tiễn chúng tôi thấy rõ, khó có ai nắm vững người chỉ huy trực tiếp hơn các cán bộ thuộc quyền. Như ta thường nói: “trăm dâu đổ đầu tằm”, người chỉ huy trực tiếp mạnh chỗ nào thì cấp dưới trực tiếp được hưởng cái đó. Người chỉ huy trực tiếp yếu chỗ nào thì cấp dưới gặp bất lợi ở chỗ đó. Sau này, trong công tác cán bộ, khi đánh giá một cán bộ, chúng tôi yêu cầu cơ quan báo cáo cho biết ý kiến của cấp dưới trực tiếp đánh giá đồng chí đó như thế nào.

        Trong lực lượng vũ trang ta, do yêu cầu cao nhất là chiến thắng quân thù, nên đã thành một truyền thống là đánh giá cán bộ trên cơ sở kết quả việc làm của cán bộ đó. Trong thời chiến, tiểu đoàn cần bổ sung một tiểu đoàn phó, bao giờ trung đoàn cũng chọn trong hơn mười đại đội trưởng trong trung đoàn, người nào đánh giỏi nhất để đề bạt lên làm tiểu đoàn phó.

        Cách đánh giá và sử dụng cán bộ qua kết quả công việc của cán bộ đó thường ít có sai sót. Ta thường nói cần đồng chí đó làm chứ không cần đồng chí nói. Cần nắm được mặt mạnh, mặt yếu của từng cán bộ để có biện pháp giáo dục, giúp đỡ đồng chí đó phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt yếu, tạo điều kiện cho đồng chí đó hoàn thành nhiệm vụ ngày càng tốt hơn. Khi cất nhắc đề bạt thì đơn giản hơn, chủ yếu phải căn cứ vào việc hoàn thành nhiệm vụ được giao.

        Lực lượng vũ trang nhân dân ta được Đảng giáo dục và đào tạo nên đã có một đội ngũ cán bộ đủ đức tài. Trong công tác cán bộ còn có khuyết điểm này khuyết điểm khác, nơi này, nơi khác, nhưng thường nhìn mặt ưu điểm, mặt đúng là cơ bản. Chính nhờ vậy mà hơn nửa thế kỷ qua, thời bình cũng như thời chiến, quân đội ta luôn xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập và tự do của Tổ quốc ... Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:05:05 PM
       
Phần hai

CHỈ HUY TÁC CHIẾN

        I. NUÔI QUÂN, LUYỆN QUÂN

        Muốn tác chiến thắng lợi, việc đầu tiên là phải giỏi nuôi quân, luyện quân. Trực tiếp diệt địch, bắt địch làm tù binh đều là công việc của người cầm súng. Nhân đây tôi xin tiết lộ là suốt bốn mươi năm chinh chiến, tôi chưa trực tiếp diệt một tên địch nào. Lúc cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra (12-1946), tôi đã là đại đội trưởng, tự trang bị cho mình một cây kiếm. Sau trận tập kích cứ điểm An Lộc, tôi tự trang bị một khẩu súng ngắn. Từ đấy về sau khi ra trận, tôi cũng chỉ mang theo khẩu súng ngắn, vì vậy không bắn chết tên địch nào.

        1. Nuôi quân

        Nói nghĩa rộng, nuôi quân là chăm lo cả tinh thần và vật chất cho cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền.

        Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn là một tướng tài đã chỉ huy đánh thắng quân Nguyên - Mông được nhân dân ta tôn là bậc “Thánh”, trong di chúc của mình đã nói: “Phải đạt được quân đội đồng lòng như cha con một nhà, mới có thể dùng được (thủ đắc phụ tử chi binh, thủ khả dụng dã). “Binh thư yếu lược” có đoạn viết: “Trong đoàn có người ốm, tướng phải thân hành đem thuốc điều trị. Quân có người chết, tướng phải khóc thương, quan đi xa thì sai vợ con đến nhà thăm hỏi. Phàm có khao thưởng thì chia đều cho quan và quân...”.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã căn dặn cán bộ: “Khi bộ đội chưa được ăn, cán bộ không được kêu mình đói. Khi bộ đội còn chưa đủ mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Khi bộ đội chưa có chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”.

        Học tập người xưa, theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, phần đông cán bộ trong lực lượng vũ trang ta rất chú trọng săn sóc cả vật chất và tinh thần của cán bộ thuộc quyền. Không cán bộ nào hiểu nuôi quân chỉ là cấp cho cấp dưới những gì cấp trên phát.

        Về vật chất phải lo cho chiến sĩ từ ăn, mặc đến chữa bệnh được tốt nhất trong điều kiện cho phép. Ngay tại chiến trường cũng động viên mọi người và tự mình tích cực tăng gia sản xuất để thêm một ít rau xanh, một ít thịt tươi. Trong kháng chiến chống Mỹ, trước khi vượt tuyến vào Nam (đi B) chúng tôi đều kiểm tra quân trang của chiến sĩ, ai thiếu, cấp thêm cho đủ không để anh em thiếu. Nguyên nhân, mặc dầu đã phát đủ, nhưng khi về phép anh em muốn để lại một cái gì làm kỷ niệm cho bố, mẹ, vợ, con... Anh em chả có gì cả, nên trước khi đi xa đành để lại cho người thân cái quần, cái áo hoặc cái bi đông, cái tăng, hoặc võng. Thông cảm với chiến sĩ, chúng tôi xin trên một số quân trang để phát bổ sung trước khi bước dần qua giới tuyến. Về chăm lo bệnh tật, tôi biết rõ có một cán bộ đi công tác cùng đồng chí công vụ, lúc đồng chí công vụ bị sưng chân đi lại khó khăn, đến chỗ nghỉ đồng chí cán bộ đã nấu nước nóng, tìm các loại lá, tự mình bóp chân cho đồng chí công vụ.

        Về tinh thần, cán bộ đều tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của chiến sĩ, thông cảm các khó khăn của anh em để giúp đỡ theo khả năng. Trong chiến tranh việc giúp đỡ cụ thể có nhiều hạn chế. Cái chính là cán bộ biết tôn trọng cấp dưới, tôn trọng chiến sĩ. Khi làm việc thì theo nguyên tắc quy định, nhưng lúc sinh hoạt ngoài giờ làm việc thì bình đẳng, cán bộ chiến sĩ như anh em không phân biệt chức vụ cấp bậc. Một việc có ảnh hưởng lớn đến tình cảm cấp dưới là trong đơn vị lấy việc giúp đỡ nhau tiến bộ là chính. Khi có đồng chí có khuyết điểm cũng tìm rõ nguyên nhân, khuyên răn chu đáo. Khi buộc lòng phải thi hành kỷ luật cũng “giơ cao đánh khẽ”, giải thích rõ ràng để người bị kỷ luật cũng vui vẻ. Sư đoàn 304, trong gần mười năm ở chiến trường, kỷ luật cảnh cáo và cách chức không quá mười người.

        Nuôi quân, nói cụ thể là chăm lo đời sống tinh thần, vật chất cho cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền đã trở thành một truyền thống của quân đội ta. Từ đó chúng ta đã thực hiện được cán bộ, chiến sĩ như anh em, như con một nhà, thương yêu nhau hết mực.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:07:37 PM

        2. Luyện quân

        Trong thời kỳ phong kiến, đã có những người cầm quân chủ trương: quân quý hồ tinh, bất quý hồ đa. Trong kháng chiến chống Pháp, dân số nước ta chỉ có 25 triệu, nền kinh tế lạc hậu, lấy nông nghiệp làm chính, trong lao động cơ bản là dùng tay chân nên không có khả năng xây dựng được một đội quân đông người. Muốn thắng lợi phải dựa vào chất lượng của quân đội là chính. Muốn có chất lượng, việc quan trọng nhất là phải luyện quân giỏi.

        Trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có ý kiến cho các đơn vị xây dựng miền Bắc, lúc vào chiến trường, thường bỡ ngỡ mất một thời gian, chiến đấu kém hiệu quả. Phải kinh qua một, hai mùa chiến đấu mới chiến đấu giỏi được. Thực tế không phải như vậy nếu huấn luyện tốt, vào chiến trường có thể đánh giỏi ngay. Sư đoàn 303b được xây dựng chỉ hai năm là vào Nam chiến đấu. Sư đoàn đã đánh thắng ngay trận đầu và đánh thắng liên tiếp. Nhận lệnh tiến công mở đầu chiến dịch, đêm ngày 20 tháng 1 năm 1968 Trung đoàn 66 của sư đoàn tiêu diệt một quận lỵ (quận lỵ Hướng Hóa). Ba ngày sau (ngày 23 tháng 1), Trung đoàn 24 tiêu diệt toàn bộ cụm quân ngụy Lào ở Tà Mây. Ngày 7 tháng 2 toàn sư đoàn được tăng cường một tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 325, tiểu đoàn xe tăng (2 đại đội) đã diệt cụm cứ điểm Làng Vây bắt hơn 300 tù binh. Tiếp theo, sư đoàn vào vây lấn căn cứ Tà Cơn, buộc Mỹ phải đưa sư đoàn kỵ binh bay lên giải vây. Sau khi ta đánh bại sư đoàn kỵ binh bay, Tà Cơn tiếp tục bị bao vây. Bộ tư lệnh lính thủy đánh bộ lại phải đưa quân trực tiếp lên giải vây. Hiệp đồng tác chiến cùng Sư đoàn 308, Sư đoàn 304 đánh bại cuộc hành quân của lính thủy đánh bộ, buộc địch ở Tà Cơn phải rút chạy khi quân Mỹ và quân của các nước phụ thuộc còn gần 70 vạn (không kể quân Sài Gòn). Lần đầu tiên trong kháng chiến chống Mỹ, ta đã giải phóng hoàn toàn một huyện - huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị.

        Đạt được thành tích trên chủ yếu là làm tốt việc luyện quân. Trong diễn tập quân sự, sư đoàn đã theo dõi, nắm được những kinh nghiệm của các đơn vị đã chiến đấu ở chiến trường để thực hiện huấn luyện những gì chiến trường đòi hỏi, huấn luyện sát với thực tế chiến đấu. Trong huấn luyện, đặc biệt chú trọng khâu thực hành. Đi đôi với lý luận, sư đoàn đã chú trọng diễn tập thực binh, diễn tập người chỉ huy và cơ quan. Qua nhiều lần diễn tập, các đơn vị, các binh chủng trong sư đoàn đã biết phát huy sức mạnh tập thể, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ. Trong những trường hợp thời gian chuẩn bị tác chiến ngắn, các đơn vị đều hiểu rõ mình phải làm gì, hiệp đồng với đơn vị bạn như thế nào.

        Trong luyện quân, ngoài huấn luyện về nghệ thuật quân sự chúng tôi còn chú trọng xây dựng tác phong. Tác phong được xây dựng tốt, khi hoàn cảnh khó khăn từng đơn vị đều tự mình tìm cách khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.

        Năm 1966, trong quá trình xây dựng ở hậu phương, một đồng chí tiểu đoàn trưởng công binh có đề nghị với tôi cho đào một quả bom địch thả xuống không nổ để lấy thuốc. Sau hai ngày đào không lấy được bom, tiểu đoàn trưởng đề nghị cho chấm dứt việc đào quả bom câm. Tôi nói: “Đã không chủ trương đào thì thôi, nhưng đã chủ trương đào thì phải đào cho kỳ được”. Kết quả cuối cùng là đã tìm thấy quả bom. Một việc tuy nhỏ, nhưng từ đó về sau, kể cả trong chiến đấu, tiểu đoàn công binh của sư đoàn bao giờ cũng hoàn thành cho kỳ được nhiệm vụ được giao.

        Trong chiến tranh ta thường lấy ít địch nhiều. Nhưng chúng ta đã đánh bại những đội quân không chỉ hơn ta về trang bị kỹ thuật mà còn có số lượng đông hơn. Trong những nguyên nhân tạo nên thành công, việc nuôi quân tốt luyện quân giỏi cũng góp một phần quan trọng.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:10:23 PM
        II. BIẾT ĐỊCH BIẾT TA

        Tôn Tử nói: “Biết địch biết ta, trăm trận không nguy”. Điều đó nói lên muốn chỉ huy tác chiến có hiệu quả phải nắm vững tình hình địch, tình hình ta.

        1. Nắm tình hình địch.

        Trong các trận chiến đấu, chiến dịch phải vừa nắm địch đã có trên địa bàn tác chiến vừa nắm địch có liên quan sẽ xuất hiện trong quá trình tác chiến.

        Nắm chắc địch đã có trên địa bàn tác chiến không khó, chỉ đòi hỏi phải đến tận nơi trực tiếp nghiên cứu.

        - Khi tiến công vào cứ điểm, cụm cứ điểm, khu vực phòng thủ của địch chúng tôi thường trực tiếp ra thực địa để nắm được tình hình. Ban ngày đặt đài quan sát để nắm chúng, ban đêm bò vào sát cứ điểm để nắm cụ thể. Người chỉ huy đánh một cứ điểm hoặc một cụm cứ điểm phải đến sát để nghiên cứu trên các hướng khác nhau. Người chỉ huy từng mũi đột phá thường cùng trinh sát bò qua các bãi vật cản để nắm chắc số lượng các hàng rào, chiều sâu bãi vật cản. Người chỉ huy sư đoàn khi đảm nhiệm tiến công 2 - 3 cứ điểm hoặc cụm cứ điểm, cần đi với cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn để nghiên cứu kỹ cứ điểm, cụm cứ điểm trên hướng tiến công chủ yếu. Nếu có thời gian có thể đi nghiên cứu cụ thể các cứ điểm, cụm cứ điểm khác. Đối với khu vực phòng thủ của địch phải nghiên cứu các cứ điểm, cụm cứ điểm vòng ngoài và cụm cứ điểm hoặc căn cứ vòng trong. Địch phòng ngự theo khu vực, các cứ điểm, cụm cứ điểm thường có giãn cách nhất định nên ban đêm có điều kiện luồn qua giữa hai cứ điểm vòng ngoài để vào nghiên cứu địch ở vòng trong.

        Ngoài việc trực tiếp đi nghiên cứu tại thực địa, cần khai thác thêm tình hình do địa phương cung cấp, do trên thông báo. Việc khai thác tin tức qua hỏi cung tù binh, hàng binh thường cho ta nắm được tình hình cụ thể và chính xác. Một nhược điểm của ta là khả năng bắt tù binh kém nên không khai thác được tin qua tù binh. Một số trận nắm được tình hình qua nhân mối của ta trong lực lượng địch. Có trận nắm được tình hình qua hàng binh.

        - Khi tiến công quân địch tạm dừng ở dã ngoại, cần chú ý, do chưa có công sự vững chắc nên chúng có thể di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác. Ban ngày dừng lại tại một địa điểm nào đó, sau khi trời tối bí mật di chuyển sang một địa điểm khác, để lại tại điểm đóng quân ban ngày một lực lượng nhỏ để nghi binh. Do chưa có kinh nghiệm, có lần chúng tôi đã tiến công vào khu địch đóng, khu vực chỉ có lực lượng nghi binh nên trận đánh vừa không thu được kết quả vừa bị thương vong nhiều.

        Sau rút được kinh nghiệm, chúng tôi đã có biện pháp để không bị địch lừa, để nắm chắc địch. Ban ngày tại đài quan sát thấy địch dừng lại một địa điểm nào đó, chúng tôi lập tức tổ chức 3-4 tổ trinh sát để bám địch trên cả 3-4 hướng khác nhau. Các tổ trinh sát có phương tiện thông tin để thông báo cho nhau và thông báo cho người chỉ huy. Ban đêm khi địch di chuyển về hướng nào thì tổ trinh sát ở hướng đó phát hiện được ngay, xác định chúng dừng lại địa điểm nào thông báo ngay cho người chỉ huy và các tổ khác biết. Người chỉ huy sẽ lệnh cho các tổ khác bám theo địch đến địa điểm mới.

        Để bảo đảm chắc chắn đánh vào đội hình chính của địch, chúng tôi thường tiến hành trinh sát võ trang (dùng một lực lượng và hỏa lực nhất định tiến công thăm dò vào khu vực định tiến công). Qua trinh sát võ trang dễ dàng phân biệt được địa điểm đó là lực lượng nghi binh hay lực lượng chính của địch.

        - Khi phục kích nếu không nắm chắc địch, thường là nắm chắc thất bại. Thành công của phục kích chủ yếu dựa vào bất ngờ. Nếu địch phát hiện ta phục kích, chúng có thể thay đổi đường cơ động, ta sẽ không đánh được chúng. Nguy hiểm hơn là chúng dùng cả hỏa lực và xung lực đánh ngay vào khu vực ta triển khai lực lượng để phục kích.

        Để nắm chắc địch trong phục kích, người chỉ huy thường phải ra thực địa một thời gian nhất định để nắm quy luật hành quân của địch, chủ yếu nắm chắc các hoạt động của địch để phục kích. Cần nắm vững trước và trong quá trình hành quân địch đánh phá vào những khu vực vào, sục sạo sâu vào phá ta đến đâu, đóng chốt để bảo vệ hành quân ở những địa điểm nào.

        Để tránh bị động, sau khi đã triển khai lực lượng, nhất thiết phải tổ chức đài quan sát để nắm địch từ nơi chúng xuất phát. Nếu địch không hành quân theo phán đoán của ta mà thay đổi đường hành quân, hoặc tăng cường lực lượng bảo vệ hành quân, hoặc tổ chức lực lượng để tiến công vào khu vực ta triển khai lực lượng phục kích... ta sẽ có đủ thời gian để chủ động đối phó với chúng.
     
        Nắm địch ngoài khu vực tác chiến, tiến hành tăng viện, ứng cứu, có nhiều khó khăn và chủ yếu dựa vào phán đoán. Để phán đoán tương đối chính xác cần:

        - Nắm vững lực lượng cơ động của địch ở phía sau. Trong các chiến dịch còn cần nắm cả lực lượng dự bị chiến lược của địch. Trong nhiều chiến dịch để ứng cứu giải tỏa hoặc tổ chức co cụm lớn, địch đã điều cả lực lượng ở các chiến trường khác, cả lực lượng dự bị chiến lược.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:10:41 PM
     
        - Nắm quy luật đối phó của địch, cần tránh máy móc, cần thấy được sự phát triển của tình hình. Trong giai đoạn “chiến lược tìm diệt” của Mỹ (1965-1968) ta nắm quy luật là phát hiện chủ lực ta xuất hiện, địch lập tức điều động lực lượng cơ động của chúng đến đối phó.

        Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh có mục đích kéo lực lượng cơ động của địch lên rừng núi để tạo thuận lợi cho cuộc tiến công và nổi dậy ở các đô thị trong Tết Mậu Thân, vì vậy chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh mở màn 10 ngày trước tết. Từ ngày 20 đến 31 tháng 1 năm 1968 (tức ngày 30 Tết) ta đã đánh tiêu diệt quận lỵ Hướng Hóa, tiểu đoàn ngụy Lào ở Huội San (bên kia biên giới Việt - Lào) nhưng địch vẫn chưa đưa quân lên Khe Sanh. Lý do chính là trước đây ta chỉ tiến công quy mô sư đoàn với các hỏa lực trợ chiến mang vác nên chúng ra ngay. Trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh ta sử dụng lực lượng tương đương quân đoàn với nhiều trung đoàn pháo cỡ lớn, nhiều trung đoàn pháo phòng không, muốn đưa quân lên địch phải tính toán kỹ về lực lượng, về phương pháp tác chiến, vì vậy mặc dầu đánh trước 10 ngày địch vẫn chưa đưa quân đến Khe Sanh.

        Nắm địch không chỉ nắm về số lượng mà còn cần nắm khả năng chiến đấu từng đơn vị, đặc điểm của người chỉ huy của chúng. Ta thường nắm vững các đơn vị địch cùng ta tác chiến thường xuyên trên một chiến trường. Đối với các đơn vị từ các chiến trường khác đến phải dựa vào thông báo của cấp chiến lược. Cục Quân báo của ta có trách nhiệm nắm khả năng chiến đấu của từng đơn vị địch trên toàn chiến trường Đông Dương, thậm chí còn nắm được lai lịch của chúng trước khi sang chiến trường Đông Dương. Cần nắm khả năng chiến đấu từng đơn vị và cùng một tiểu đoàn, một trung đoàn nhưng sức chiến đấu rất khác nhau. Sư đoàn 1 của quân đội Sài Gòn có ba trung đoàn 1, 3 và 54, trong đó trung đoàn bộ binh của chúng ở núi Cô Tiên (Quảng Trị) chỉ bằng lực lượng của 1 tiểu đoàn bộ binh tăng cường. Sư đoàn 3 của địch có ba trung đoàn 2, 56, 57, trong đó trung đoàn 56 là yếu nhất. Khi đánh trung đoàn 56 ở căn cứ 241, chúng tôi đã buộc chúng phải đầu hàng. Nếu đó là trung đoàn 2 phòng ngự căn cứ 241 như trước, chắc chúng có khả năng rút chạy.

        Một vấn đề cũng rất quan trọng trong đánh giá địch là đánh giá vai trò, tác dụng của các binh chủng kỹ thuật. Sau khi tướng Đờ Lát sang Đông Dương, để yểm trợ cho một cứ điểm vòng ngoài nơi dễ bị ta tiến công, Đờ Lát thường triển khai 2-3 tiểu đoàn pháo binh để chi viện. Không đánh giá hết sức mạnh của pháo binh dưới thời chỉ huy của tướng Đờ Lát, khi đánh địch trong chiến dịch Trung Du (1951) cũng như trong chiến dịch Hòa Bình (cuối 1951 đầu 1952), một số trận không thành công chủ yếu do hỏa lực pháo binh gây nên. Trong chiến dịch Trị - Thiên (1972), lúc không quân Mỹ chưa trở lại chiến trường, 3 sư đoàn của ta đã đánh bại hoàn toàn lực lượng tương đương 3 sư đoàn của địch và giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị trong tháng 4. Ta không đánh giá đúng tương quan lực lượng địch, ta. Khi địch đưa lực lượng lớn không quân và hải quân trở lại Việt Nam từ đầu tháng 5, mà tháng 5 ta vẫn chủ trương tiếp tục dùng 3 sư đoàn để tiến công vào Thừa Thiên. Đầu tháng 7 địch dùng 2 sư đoàn tiến công ra Quảng Trị, chủ trương dùng phản công để đánh trả. Cuộc tiến công vào Thừa Thiên và cuộc phản công lúc địch tiến công ra Quảng Trị, ta đều không thu được thắng lợi. Địch gây cho ta thiệt hại nặng và ta không thu được thắng lợi trong tiến công và phản công chủ yếu do không quân địch chứ không phải do bộ binh địch gây nên. Nếu đánh giá đúng tình hình, không tiến công vào mà chuyển vào phòng ngự để giữ vững vùng giải phóng Quảng Trị, tổn thất của ta sẽ đỡ hơn nhiều và có khả năng giữ vững được vùng giải phóng.

        2. Nắm tình hình ta

        Đúng là nắm tình hình ta có thuận lợi hơn nắm tình hình địch, nhưng nói dễ thì cũng là không đúng, là chủ quan. Nắm các đơn vị thuộc quyền dễ hơn nắm các đơn vị tăng cường, các đơn vị cùng hiệp đồng tác chiến, nhưng cũng không ít lần ta đã nắm không vững, đánh giá không đúng. Tinh thần chiến đấu của lực lượng vũ trang ta nói chung là rất cao. Nhưng sau một trận đánh không thành công, nếu không nắm chắc tình hình, không dành thời gian giáo dục tư tưởng để giải quyết những biểu hiện sa sút ý chí, có thể sẽ chiến đấu không thành công. Cần đi sâu nắm chắc mặt mạnh từng đơn vị, từng cán bộ mới giao nhiệm vụ phù hợp.

        Nắm tình hình các đơn vị tăng cường, các đơn vị hiệp đồng tác chiến có khó hơn. Một số lần ta chủ trương phát động quần chúng nổi dậy cùng phối hợp với tiến công, nhưng thực tế quần chúng không nổi dậy được. Trong cuộc tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân, trên hướng Sài Gòn ta hy vọng quần chúng sẽ nổi dậy mạnh mẽ, sẽ hình thành một cuộc khởi nghĩa ngay tại thủ đô của chính quyền Sài Gòn. Thực tế, những cuộc nổi dậy không nhiều, chưa hình thành một cuộc khởi nghĩa. Nguyên nhân có nhiều, nhưng một nguyên nhân quan trọng là đánh giá tình hình ta không đúng.

        Để nắm chắc tình hình đơn vị tăng cường hoặc phối hợp tác chiến cần nghiên cứu kỹ, cần xem xét quá trình xây dựng và tác chiến, quá trình chuẩn bị vào tác chiến của họ. Có điều kiện, có thể tham quan các cuộc diễn tập thực binh của các đơn vị tăng cường.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:17:30 PM
         
        III. CÁCH ĐÁNH (PHƯƠNG PHÁP TÁC CHIẾN)

        Cách đánh đúng, cách đánh hay là yếu tố quyết định thắng lợi của trận chiến đấu, của chiến dịch. Dẫu ta làm tốt các khâu luyện quân, chuẩn bị chiến đấu, dẫu bộ đội chiến đấu rất anh dũng, nhưng cách đánh sai nhất định trận chiến đấu cũng như chiến dịch sẽ thất bại. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, các đồng chí dày dạn kinh nghiệm trận mạc như các đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ (Đại đoàn 308), Lê Trọng Tấn (đại đoàn 312) đều có ý kiến nếu không thay đổi cách đánh, cứ đánh như cách đánh cũ là đánh nhanh giải quyết nhanh, tiêu diệt tập đoàn cứ điểm trong 2 ngày 3 đêm thì nhất định sẽ thất bại. Đồng chí Lê Trọng Tấn nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Hội nghị tổng kết chiến dịch: “Nếu không thay đổi cách đánh chắc hôm nay tôi cũng không có mặt để gặp anh”.

        Nói cách đánh đúng lại còn nói cách đánh hay vì tuy trong một số cách đánh đúng, nhưng cách này có thể hay hơn cách kia. Người chỉ huy càng giỏi cách đánh càng hay. Đứng trước một kẻ thù có quân đội vừa đông vừa có trang bị kỹ thuật hiện đại, cách đánh của ta là kết hợp cả hai yếu tố là mưu cao và lực mạnh, nói một cách khác là đánh địch cả bằng mưu và bằng lực.

        1. Đánh địch bằng mưu.

        Nói đến mưu, không ai kể hết các loại mưu, nhưng qua các trận chiến đấu các chiến dịch ta thường tập trung vào việc tạo ra thời và thế có lợi. Nguyễn Trái đã từng nói: “được thời, có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời, không thế thì mạnh hóa ra yếu, yếu là thành nguy, sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay” (trích từ “Quân trung từ mệnh tập”).

        Để tạo ra thời và thế có lợi ta thường nghĩ ra nhiều cách để lừa địch. Trong chống Pháp và chống Mỹ, nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch ta đã lừa được địch nên đã tiêu diệt gọn quân chúng, ta ít thương vong. Xin kể một số trận chiến đấu, chiến dịch ta đã lừa được địch.

        Trận Phai Khắt (1944), trong trận này ta giả địch. Đồn Nà Ngần là một đồn của quân chính quy (lính khố đỏ) nên ta lừa địch bằng cách bắt được “cộng sản” cần đưa vào đồn. Kết quả ta lừa được địch, đột nhập vào đồn để vừa tiêu diệt những tên ngoan cố chống cự, vừa bắt hàng các tên khác.

        Chiến dịch Trị - Thiên (1972). Năm 1972 địch biết ta sẽ tiến công, nhưng chúng cần xác định đâu là chiến trường chính. Chúng đặc biệt theo dõi các sư đoàn dự bị chiến lược, và các sư đoàn này được điều vào chiến trường nào thì đấy là chiến trường chính. Mục đích nghi binh chiến lược là làm cho địch lầm tưởng Tây Nguyên là chiến trường chính trong lúc ta chọn Trị - Thiên là chiến trường chính. Ta để Sư đoàn 308 án binh bất động ở miền Bắc, chỉ được vào chiến trường sau, lại nổ súng mở đầu chiến dịch. Đồng thời ta cho các điện đài của Sư đoàn 304 đương làm việc thường xuyên ở Quảng Bình, theo đường mòn Hồ Chí Minh hành quân vào Tây Nguyên làm cho chúng lầm tưởng Sư đoàn 304 đã đi vào Tây Nguyên. Như vậy tại Trị - Thiên địch cho rằng ta chỉ có Sư đoàn 324 là sư đoàn thuộc Quân khu Trị - Thiên. Từ đó, chúng cho năm 1972 chiến trường Trị - Thiên chỉ là chiến trường phụ.

        Mục đích nghi binh chiến dịch là làm cho địch tưởng lầm ta sẽ lấy hướng bắc làm hướng chủ yếu trong khi ta chọn hướng tây làm chủ yếu. Để lừa địch ta có nhiều biện pháp giữ bí mật trong việc chuẩn bị chiến trường và triển khai lực lượng ở hướng tây, đồng thời cho một số đơn vị vào chuẩn bị ở hướng bắc (giữ bí mật ở mức địch có thể phát hiện được). Nếu lộ liễu quá địch có thể cho đây là nghi binh. Trước ngày tiến công địch vội vã điều trung đoàn 2 là trung đoàn mạnh của sư đoàn 3 sang hướng bắc, điều trung đoàn 56 là trung đoàn yếu sang hướng tây. Kết quả trong ba ngày ta đã vừa diệt vừa bức hàng toàn bộ trung đoàn 56, đánh thiệt hại nặng (diệt gọn 1 tiểu đoàn) lữ lính thủy đánh bộ, là 2 trung đoàn phòng ngự phía tây tạo thắng lợi cho đợt một, tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành đợt hai.

        Chiến dịch Tây Nguyên (1975). Trong chiến dịch Tây Nguyên, ta chọn Buôn Ma Thuộc là khu vực tiến công chủ yếu nhưng làm cho địch lầm tưởng ta chọn PPlây Cu là khu vực tiến công chủ yếu. Để đạt mục đích trên ta đã huy động Sư đoàn 968 (điều ở Lào về) cùng các lực lượng bộ đội địa phương và nhân dân hai tỉnh Plây Cu và Kon Tum tiến hành tích cực chuẩn bị chiến trường ở hai tỉnh trên. Trong lúc đó, các sư đoàn 320 và 10 tiến vào chuẩn bị và triển khai lực lượng ở khu vực Buôn Ma Thuộc nhưng vẫn để các điện đài của mình ở lại Plây Cu. Khi mở đầu chiến dịch tiến công vào Buôn Ma Thuộc, lực lượng chính của địch vẫn tập trung ở Plây Cu. Sau hai ngày ta đã chiếm được Buôn Ma Thuộc, địch vội vã điều quân ở Plây Cu về cứu viện cho Buôn Ma Thuộc nhưng đã muộn. Kết quả ta đã giải phóng được Tây Nguyên và tiến về đồng bằng giải phóng thêm một số tỉnh.

        Ở đây chỉ nêu một ví dụ để nói lên sự quan trọng của công tác lừa địch trong tác chiến. Năm 2000 cuốn sách “Nghệ thuật lừa” của tôi đã được xuất bản.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:19:10 PM

        Nhờ nắm vững các biện pháp nắm ta của địch, ta vẫn có đủ biện pháp đối phó để giữ bí mật. Lấy một trường hợp cụ thể để nói về các biện pháp để giữ bí mật khi ta đưa lực lượng lớn vào triển khai để tiến công bất ngờ.

        Trong chiến dịch Trị - Thiên (1972) Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tiến công chủ yếu vào hướng tây của địch với lực lượng Sư đoàn 304 được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 trung đoàn pháo mặt đất, 1 trung đoàn pháo phòng không. Để giữ bí mật thời gian tiến công và hướng tiến công chủ yếu, dưới sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy chiến dịch ta đã tiến hành một số biện pháp sau:

        - Sư đoàn đang đóng quân ở nam Quảng Bình đã bí mật hành quân ra bắc Quảng Bình đóng quân, án binh bất động trong rừng sâu, sau một thời gian mới theo đường rừng hành quân vào vị trí tập kết chiến dịch. Các điện đài vô tuyến điện đang dùng thường xuyên, hành quân vào Tây Nguyên, tại sư đoàn không dùng vô tuyến điện để liên lạc. Nhờ vậy, bằng điệp viên (có thể có) và bằng trinh sát kỹ thuật địch kết luận Sư đoàn 304 đã hành quân vào Tây Nguyên.

        - Các đoàn chuẩn bị chiến trường của sư đoàn lấy phiên hiệu một tiểu đoàn ở miền Bắc và tăng cường cho Quảng Trị hoạt động nhỏ ở khu vực tây đường số 9. Cán bộ sư đoàn lấy danh nghĩa cán bộ tiểu đoàn, cán bộ trung đoàn lấy danh nghĩa cán bộ đại đội. Làm như vậy để giữ bí mật ngay với nhân dân, với cán bộ cơ sở của ta. Trong thời gian trinh sát thực địa tuyệt đối không dùng vô tuyến điện, chỉ liên lạc với phía sau, với trên bằng điện thoại và bằng thông tin vận động.

        - Lực lượng trinh sát của sư đoàn phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến hành cảnh giới, tuần tiễu để ngăn chặn, tiêu diệt trinh sát thám báo của địch xâm nhập vào khu vực triển khai, khu vực tập kết của sư đoàn, tiến hành sục sạo để vô hiệu hóa các phương tiện thu tiếng động của địch ở trên trục hành quân, nơi tập kết lực lượng.

        - Tổ chức ban chỉ huy hành quân do sư đoàn phó phụ trách, cùng một số cán bộ tác chiến, trinh sát, công binh để chỉ huy sư đoàn hành quân từ sông Bến Hải đến khu vực triển khai chiến đấu nhằm bảo đảm thực hiện đúng các quy định về kỷ luật hành quân:

           + Xuất phát đúng thứ tự và thời gian, tránh ùn tắc.

           + Chỉ hành quân vào ban đêm, tất cả các loại xe không được dùng đèn, kể cả đèn gầm.

           + Ban ngày ngụy trang triệt để cả trục đường hành quân và khu vực tập kết triển khai.

           + Khu vực tập kết đều ở trong rừng, hạn chế tối đa tiếng động như người xưa nói “người ngậm tăm, ngựa khóa miệng”, tuyệt đối không để xuất hiện khói lửa.

        Tuy có nhiều phương tiện trinh sát nhưng trước lúc ta nổ súng mở đầu chiến dịch, địch vẫn chỉ phát hiện một số đơn vị vào chuẩn bị hoạt động ở khu vực phía bắc (theo kế hoạch nghi binh của ta). Tại phía tây chúng cho rằng chỉ có lực lượng một số tiểu đoàn bộ đội địa phương hoạt động thường xuyên ở đây. Đúng 10 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1972, khi ta mở đầu chiến dịch, địch hoàn toàn bị bất ngờ. Đợt một chiến dịch chỉ diễn ra 3 ngày, nhưng ta đã đánh chiếm được khu vực phòng thủ của 4 trung đoàn, diệt gọn 1 trung đoàn, đánh thiệt hại nặng 1 trung đoàn khác.


        Một nội dung quan trọng của đánh địch bằng mưu là lập thế trận ta, phá thế trận địch. Lập thế trận ta, phá thế trận địch là một thể thống nhất. Lập được thế trận của ta có lợi sẽ phá được thế trận của địch, phá được thế trận của địch sẽ tạo được thế trận của ta có lợi.

        Trong hai cuộc kháng chiến, ta thường dùng các biện pháp sau đây trong lập thế trận của ta, phá thế trận của địch.

        - Dùng lực lượng đã triển khai sẵn của ta đánh vào quân địch đang hành quân.

        - Kéo địch đến khu vực ta đã chuẩn bị sẵn để tiêu diệt chúng.

        - Đột phá vào nơi địch tương đối yếu để nhanh chóng đưa lực lượng vào trong, chia cắt đội hình địch, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu, nhất là đánh chiếm sở chỉ huy.

        - Khi địch chủ động tiến công, dùng lực lượng tại chỗ đánh phủ đầu địch ngay từ đầu, tạo điều kiện để lực lượng cơ động nắm thời cơ, địa điểm đánh tiêu diệt từng đơn vị địch.

        - Khi phòng ngự, tổ chức đánh địch ngay trên đường hành quân, dựa vào trận địa được xây dựng kiên cố, phát huy hỏa lực diệt địch đang vận động trên mặt đất, chủ động tiến công vào đội hình tiến công của địch.

        Trong các trận chiến đấu, các chiến dịch ta đều suy nghĩ để phá thế trận địch, tạo thế trận của ta có lợi, dùng sức ít nhưng giành được thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:23:45 PM

        2. Đánh địch bằng lực.

        Do lực lượng địch không những hơn ta về trang bị kỹ thuật mà còn hơn ta về số lượng, vì vậy trong phần lớn các chiến dịch ta không tạo được lực lượng (chỉ nói riêng số lượng) ưu thế hơn địch. Có chiến dịch lực lượng ta ít hơn địch, có chiến dịch lực lượng ta ngang địch, có một số chiến dịch ta tạo được lực lượng gấp hai lần địch. Rất ít chiến dịch ta có được ưu thế tuyệt đối (hơn địch 3-4 lần).

        Để giành thắng lợi về chiến dịch, ta thường tập trung ưu thế lực lượng trên hướng chủ yếu, trong từng trận đánh, nhất là trong những trận đánh mở đầu, những trận then chốt. Đứng về lý luận thì bất kỳ cán bộ nào cũng biết phải tập trung binh hỏa lực trong các trường hợp trên. Vấn đề cần bàn là tại sao không thực hiện được tập trung ưu thế trong trường hợp cần thiết. Nguyên nhân có nhiều, nhưng thường do các nguyên nhân sau đây:

        - Người chỉ huy nào ra chiến trường cũng muốn giành thắng lợi lớn, nên thường muốn đánh cụm lớn của địch. Từ đó phần lớn lực lượng chia ra nhiều mục tiêu, lực lượng dự bị ít. Vì vậy khi cần tập trung lực lượng, không còn để tập trung.

        - Đánh giá ta cao, đánh giá địch thấp nên chủ quan, cho rằng không nhất thiết phải tập trung tuyệt đối ưu thế.

        - Nguyên nhân phổ biến và quan trọng hơn là do không thấy được thắng lợi trong các trận quan trọng sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến thắng lợi các trận khác. Vì vậy thường tính toán lực lượng chia đều cho nhiều trận, nhất là chia đều hỏa lực, sợ tập trung vào một nơi, nơi khác sẽ không đủ sức để thắng địch.

        Trong chiến dịch Trị - Thiên (1972), Sư đoàn 304 được giao nhiệm vụ tiêu diệt 2 trung (lữ) đoàn thiếu của địch (tiểu đoàn của trung đoàn 56 địch do trung đoàn 24 phụ trách). Như vậy Sư đoàn 304 phải tiêu diệt 4 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo binh, 2 sở chỉ huy trung (lữ) đoàn. Các lực lượng trên phòng ngự trên 4 cứ điểm và 2 căn cứ trung đoàn với tổng diện tích không dưới 30ha. Với khoảng 3.000 viên đạn pháo, cối từ 100mm trở lên, nếu chia đều mỗi héc-ta (mẫu) ta chỉ sử dụng không quá 100 viên đạn. Đó là mật độ không cao. Bàn đi, tính lại chúng tôi chủ trương: tập trung hỏa lực pháo binh vào cứ điểm Động Toàn ở vòng ngoài và căn cứ 241. Các cứ điểm, căn cứ khác chỉ dùng ĐKZ, B40, B41 để diệt ụ súng lô cốt trên cửa mở, dùng cối 82mm của trung đoàn, tiểu đoàn để chế áp hỏa lực địch. Quyết tâm như vậy là dựa trên cơ sở quân ngụy rất sợ pháo. Nếu chúng ta có số lượng lớn đạn pháo bắn ác liệt vào một mục tiêu như vậy chúng sẽ không có khả năng chống đỡ. Vì vậy 3 cứ điểm còn lại ở vòng ngoài, tuy chỉ có ĐKZ và súng cối 82mm nhưng nơi địch bỏ chạy, nơi bị diệt nhanh. Căn cứ trung đoàn 56 bị bắn rất ác liệt, đồng thời bị bao vây chặt nên đã đầu hàng. Căn cứ lữ đoàn 147 thấy ít khả năng đứng vững nên đã tìm đường rút chạy. Đây là một ví dụ tập trung lực lượng tuyệt đối ưu thế trong trận quan trọng và giành thắng lợi nhanh, sẽ tạo thuận lợi để đánh các trận khác.

        Xuất phát từ các thực tế, các kinh nghiệm trên ta thấy, để đánh thắng cần kết hợp mưu cao và lực mạnh. Về lực phải biết tập trung trên hướng chủ yếu, vào các trận đánh then chốt.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:26:52 PM

        IV. GIÀNH VÀ GIỮ CHỦ ĐỘNG TRONG TÁC CHIẾN (Chủ yếu ở quy mô chiến đấu)

        Có lực lượng mạnh, có cách đánh hay mới chỉ có cơ sở để thắng địch, khâu cuối cùng quyết định thắng là cuộc đọ sức trên chiến trường.

        Muốn chiến thắng, điều quan trọng nhất là phải giành và giữ chủ động trong quá trình tác chiến. Kinh nghiệm qua hai cuộc kháng chiến chỉ ra rằng có giành và giữ được chủ động mới giành được chiến thắng.

        Muốn giành và giữ chủ động phải:

        - Đánh bại các biện pháp của địch.

        - Đánh thắng các trận then chốt.

        - Kết thúc chiến dịch đúng thời cơ.

        1. Đánh bại các biện pháp đối phó của địch.

        Đánh bại các biện pháp đối phó của địch trong tiến công, phản công.

           + Đánh quân địch tăng viện ứng cứu, giải tỏa:

        Địch có thể tăng quân vào trong địa bàn chiến dịch để ngăn chặn ta tiến công, như trong các chiến dịch Tây Bắc (1952), Điện Biên Phủ (1954), Tây Nguyên (1975). Chúng ta có thể vừa tăng quân vào trong, vừa đánh từ ngoài vào như chiến dịch Trung Du (1951), chiến dịch Nguyễn Huệ (miền Đông Nam Bộ, năm 1972). Có chiến dịch chỉ tiến công từ ngoài vào như chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968).

        Để đánh bại quân địch tăng viện, ứng cứu, giải tỏa, ta thường tập trung lực lượng có trọng điểm. Có thể tập trung diệt quân địch vòng trong, ngăn chặn quân địch từ ngoài vào như chiến dịch Trung Du (1951), chiến dịch Nguyễn Huệ (1972). Có chiến dịch ta tập trung trước hết diệt quân tiến công từ ngoài vào như chiến dịch Biên Giới (1950), chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968). Đánh bại được quân tiến công từ ngoài vào sẽ tạo điều kiện đánh bại quân địch ở vòng trong.

        Ta có thể sử dụng một bộ phận lực lượng tiến công trên thê đội một hoặc sử dụng lực lượng dự bị để đánh quân tăng viện ứng cứu, giải tỏa.

        Nếu chỉ sử dụng lực lượng tiến công trên thê đội một, ta thường gặp khó khăn, khó giành được chủ động như chiến dịch Trung Du (1951). Trong nhiều chiến dịch, để giữ chủ động ta thường tổ chức một bộ phận chuyên trách, sẵn sàng đánh quân địch tăng viện ứng cứu, giải tỏa. Chiến dịch Biên Giới (1950) ta dùng cả một đại đoàn (Đại đoàn 308) để sẵn sàng đánh quân địch đến ứng cứu. Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, lúc đầu ta sử dụng Trung đoàn 24 của Sư đoàn 304, sau tăng thêm Sư đoàn 308. Cả hai chiến dịch trên ta đều đánh bại hành quân ứng cứu giải tỏa của địch nên đã diệt gọn quân địch hoặc buộc địch phải rút chạy.

           + Đánh quân địch co cụm:

        Trong nhiều chiến dịch, khi không đủ khả năng đẩy lùi tiến công của ta, quân địch thường tiến hành co cụm nhằm tránh bị tiêu diệt và giữ vững các khu vực chưa bị ta đánh chiếm. Chúng vừa sử dụng lực lượng tại chỗ, vừa tăng lực lượng từ phía sau lên để co cụm.

        Trong một số chiến dịch như chiến dịch Tây Bắc (1952), chiến dịch Thượng Lào (1953), chiến dịch Trung Lào (1954), địch còn đưa lực lượng lớn từ phía sau lên cùng lực lượng tại chỗ co cụm lại và tổ chức thành tập đoàn cứ điểm.

        Ta có thể điều động lực lượng đánh ngay lúc địch đứng chân chưa vững, có thể chuẩn bị một thời gian mới bắt đầu tiến công, cũng có thể không tiến công vào bộ phận co cụm mà tiến công mở rộng chiến quả trên các hướng khác. Phải căn cứ vào tình hình cụ thể địch, ta để có biện pháp đánh địch có hiệu quả.

        Ta đã không tiến công địch co cụm thành tập đoàn cứ điểm mà tiến hành tiến công trên các hướng khác để mở rộng vùng giải phóng trong các chiến dịch Thượng Lào (1953), Trung Lào (1954).

        Ta đã chuẩn bị chu đáo rồi mới tiến công quân địch co cụm trong chiến dịch Trị - Thiên (1972). Sau khi bị ta tiêu diệt lực lượng và đánh chiếm khu vực phòng ngự ở phía tây, địch vừa rút 2 trung đoàn phòng ngự phía bắc cùng với điều động thêm lực lượng từ phía sau, tổ chức co cụm tại Đông Hà và Ái Tử. Ta tiến hành chuẩn bị 16 ngày, từ ngày 10 tháng 4 đến ngày 26 tháng 4, với lực lượng hai sư đoàn bộ binh cùng toàn bộ lực lượng pháo binh và xe tăng nên đã diệt được địch giải phóng Đông Hà, Ái Tử, tiến lên giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị.

        Một số chiến dịch do chuẩn bị không chu đáo hoặc không đánh giá đúng tương quan lực lượng nên đã tiến công không thành công.

        Ta đã tiến công không thành công vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản trong chiến dịch Tây Bắc (1952), nguyên nhân lúc đó ta chưa thấy hết chỗ mạnh của địch là phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm, chỗ yếu của ta là chưa nghiên cứu cách đánh đối với kiểu phòng ngự mới của địch, lực lượng lại đã bị tiêu hao trong 2 đợt đầu của chiến dịch, đạn dược mang theo có hạn.

        Ta đã không tiến công thành công khi quân địch co cụm ở An Lộc (Bình Long) trong chiến dịch Nguyễn Huệ (1972). Nguyên nhân là do ta chưa tập trung đủ lực lượng ưu thế và chưa chuẩn bị chu đáo, nhất là chưa tổ chức hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh, xe tăng, pháo binh.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:27:26 PM

           + Đánh quân địch rút chạy:

        Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã diễn ra một số cuộc rút chạy quy mô lớn, như rút chạy trong các chiến dịch Thượng Lào (1953), Tây Nguyên và Trị - Thiên (1975), rút chạy từ Ba-na-phào về Thà Khẹt trong chiến dịch Trung Lào (1954) ...

        Trong chiến dịch Thượng Lào, do không có điều kiện vượt lên chặn đầu, nhưng nhờ tích cực truy kích liên tục ngày đêm nên ta đã đuổi kịp và diệt phần lớn lực lượng địch rút chạy khỏi Sầm Nưa.

        Trong chiến dịch Tây Bắc cuối năm 1953, Đại đoàn 316 đã dùng đại bộ phận lực lượng để chặn đầu nên đã diệt được một số lớn quân địch.

        Trong chiến dịch Tây Nguyên (1975), nhờ phán đoán kịp thời ý định địch rút chạy của cấp chiến lược và chiến dịch, nhờ quyết tâm hành quân nhanh, liên tục ngày đêm để chặn đầu, nên Sư đoàn 320 cùng các lực lượng khác đã diệt, bắt làm tan rã hầu hết quân địch, khi chúng rút khỏi Tây Nguyên.

        Từ các chiến dịch trên, ta thấy rõ muốn diệt được quân địch rút chạy cần: phát hiện sớm ý đồ địch rút chạy, truy kích kiên quyết liên tục ngày đêm, không ngại mệt nhọc, không ngại đói rét, tìm cách vượt lên chặn đầu khi có điều kiện.

        Đánh bại các biện pháp tác chiến của địch trong phòng ngự: Để đánh bại các biện pháp tác chiến của địch trong phòng ngự cần:

           + Tiến hành đánh địch ngay từ nơi chúng xuất phát cũng như quá trình chúng tiếp cận, triển khai chuẩn bị tiến công. Đợt hoạt động phòng ngự trên đường 13 cũng như đợt hoạt động phòng ngự ở Thượng Đức, các sư đoàn đều phái một phần lực lượng, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh địch từ nơi chúng xuất phát cho đến lúc chúng tiếp cận trận địa phòng ngự của ta.

        Trong chiến dịch phòng ngự ở Thượng Đức, ta dùng từng đại đội công binh xây dựng trận địa cho từng đại đội phòng ngự ở tuyến 1, đồng thời huấn luyện bổ sung cách đánh cho bộ đội nên đã giữ vững được trận địa. Quân địch bị thương vong nhiều nhưng chỉ chiếm được 1-2 trận địa phòng ngự cấp trung đội của ta.

        Trong chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Lào), ta còn xây dựng được đường hầm ở khu phòng ngự then chốt. Địch không thể chiếm được các khu vực có đường hầm.

           + Chủ động tiến công địch cả trước mặt, bên sườn, sau lưng và ngay giữa đội hình tiến công của địch.

        Trong đợt hoạt động phòng ngự ở đường 13, Sư đoàn 7 đã dùng 50% lực lượng đứng ngoài trận địa phòng ngự để chủ động tiến công địch, làm cho chúng lo đối phó với tiến công của ta, không tập trung được lực lượng để đánh vào các trận địa phòng ngự.

        Trong đợt hoạt động phòng ngự ở Thượng Đức, Sư đoàn 304 đã dùng đặc công, công binh để đánh vào sau lưng địch. Sư đoàn còn dùng ngay lực lượng phòng ngự, ban đêm tập kích vào quân địch đang chuẩn bị tiến công.

           + Kiên quyết phản kích, phản đột kích để tiêu diệt địch đột nhập, giữ vững trận địa của ta.

        Trong chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Lào), ta đã chuẩn bị chu đáo tập trung lực lượng nên đã phản đột kích thành công.

        Trong chiến dịch phòng ngự Quảng Trị, Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 đã phản kích ngay lại địch vượt sông, tiêu diệt gần hết một tiểu đoàn của chúng, giữ vững trận địa của ta. Cùng trong chiến dịch này, lúc địch đưa một lữ đoàn tăng cường ra chiếm Cửa Việt trên hướng phòng ngự của Sư đoàn 320, Bộ tư lệnh chiến dịch đã sử dụng toàn bộ lực lượng Sư đoàn 320, đồng thời tăng thêm một trung đoàn của Sư đoàn 304 cùng 1 đại đội xe tăng, kiên quyết phản đột kích nên đã diệt gọn lữ đoàn địch, khôi phục lại khu vực cảng

           + Tổ chức lực lượng dự bị mạnh để đối phó với địch mở thêm hướng đột kích mới, thay đổi hướng đột kích chủ yếu.

        Trong chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum, khi địch thay đổi hướng đột kích chủ yếu từ hướng đông nam sang hướng tây nam và mở thêm hướng tiến công mới ở hướng đông, ta đã chủ động đối phó có hiệu quả nhờ có lực lượng cơ động mạnh. Lực lượng phòng ngự có hai trung đoàn 174 và 886. Lực lượng cơ động cũng gồm hai trung đoàn 148 và 335, cuối chiến dịch còn tăng thêm Trung đoàn 88.

        Trong chiến dịch phòng ngự Quảng Trị (1972) lực lượng dự bị cũng được tổ chức mạnh, lúc đầu có 2 trung đoàn của Sư đoàn 325. Sau khi toàn bộ Sư đoàn 312 vào chiến đấu, chiến dịch đã rút một trung đoàn của Sư đoàn 304, toàn bộ Sư đoàn 308 ra làm lực lượng dự bị. Nhờ vậy ta đã tập trung kịp thời lực lượng để phản đột kích trên hướng Cửa Việt.

        Trong đợt hoạt động phòng ngự ở Thượng Đức, Quân đoàn 2 đã kịp thời điều thêm cho Sư đoàn 304 một trung đoàn (Trung đoàn 24). Từ đó sư đoàn có hẳn 1 trung đoàn làm dự bị. Vì vậy khi địch thay đổi hướng đột kích chủ yếu từ hướng đông nam sang hướng đông bắc, đánh chiếm điểm cao 1062, sư đoàn đã có lực lượng phản kích đánh bật địch ra khỏi điểm cao 1062, giành lại thế chủ động chiến dịch.

        Trong phòng ngự, mặc dù địch chủ động tiến công, nhưng với nhiều thủ đoạn tác chiến khác nhau, ta vẫn từng bước giành và giữ được chủ động.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:29:18 PM
       
       2. Đánh thắng các trận then chốt

        Tất cả các chiến dịch đều diễn ra rất nhiều các trận lớn nhỏ, nhưng muốn giành được thắng lợi triệt để phải tạo ra và đánh thắng các trận then chốt. Nghệ thuật điều hành cả chiến dịch tiến công, phản công, phòng ngự đều yêu cầu và đánh thắng các trận then chốt.

        Muốn tạo ra và đánh thắng các trận then chốt cần:

        - Dự kiến các trận then chốt trong lập kế hoạch chiến dịch:

        Trong các chiến dịch tiến công, các trận then chốt có thể là trận mở màn chiến dịch, nếu trận đánh đó tạo được tình huống thuận lợi để phát triển chiến dịch. Các trận mở đầu quan trọng như trận diệt cụm cứ điểm Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới (1950), trận diệt các cụm cứ điểm phía tây của trung đoàn 56 và lữ đoàn lính thủy đánh bộ của địch trong chiến dịch Quảng Trị (1972), trận đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuộc trong chiến dịch Tây Nguyên (1975) đều là những trận then chốt đã được xác định trong lập kế hoạch chiến dịch.

        Trong quá trình phát triển chiến dịch, các trận then chốt thường được dự kiến là các trận diệt viện binh lớn, diệt quân địch co cụm lớn. Các trận đánh địch lên chiếm lại Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới (1950), đánh địch từ Plây Cu xuống chiếm lại Buôn Ma Thuộc trong chiến dịch Tây Nguyên đều là các trận then chốt được dự kiến trong kế hoạch chiến dịch. Trận đánh quân địch co cụm lớn ở Đông Hà - Ái Tử trong chiến dịch Trị - Thiên (1972) cũng là một trận then chốt được dự kiến trước.

        Trong chiến dịch phản công, trận then chốt được dự kiến trước là trận đánh cánh quân hành quân trong hướng chủ yếu. Trận đánh cánh quân địch hành quân ở bắc đường 9 trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là một trận đánh then chốt có trong kế hoạch phản công Đường 9 - Nam Lào.

        Trong chiến dịch phòng ngự, trận then chốt thường được dự kiến là trận phản đột kích, diệt quân địch chiếm khu vực phòng ngự quan trọng của ta.

        - Tiến hành các trận đánh rộng rãi, xử trí các tình huống, chuyển hóa các đợt chiến dịch để tạo ra trận then chốt.

        Mỗi trận trong chiến dịch, mỗi chủ trương xử lý các tình huống, chủ trương chuyển hóa các đợt, đều nhằm tạo ra trận then chốt.

        Các trận đánh diệt các cứ điểm ngoại vi và bao vây đánh lấn căn cứ trung đoàn Mỹ ở Tà Cơn nhằm tạo ra trận then chốt đánh bại sư đoàn kỵ binh hành quân giải tỏa cho quân của chúng bị bao vây ở Tà Cơn, trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh.

        Các trận đánh ngoại vi thị xã An Lộc (Bình Long, năm 1972) trong chiến dịch Nguyễn Huệ nhằm tạo ra trận then chốt đánh chiếm thị xã. Đáng tiếc trận này ta đã tiến công không thành công.

        Các trận đánh bao vây địch ở vòng trong, chặn địch vòng ngoài vào chi viện cho quân của chúng, nhằm tạo ra trận then chốt diệt lữ đoàn đặc nhiệm của địch tại Cửa Việt trong chiến dịch phòng ngự Quảng Trị.

        Xác định cách đánh đúng, tập trung đủ lực lượng, chỉ đạo chặt chẽ để đánh thắng các trận then chốt.

        Trên cơ sở tạo trận then chốt, chiến dịch phải xác định cách đánh, tập trung đủ lực lượng chỉ đạo chặt chẽ để đánh thắng.

        Chiến dịch Biên Giới (1950), lúc đầu ta định dùng phục kích để diệt viện binh. Lúc địch lên, Sư đoàn 308 không thực hiện được phục kích, cấp chiến dịch đã chỉ thị chuyển ngay sang vận động tiến công, đồng thời tăng thêm lực lượng cho sư đoàn, nên đã thực hiện được thắng lợi trận then chốt, đồng thời là trận then chốt quyết định của chiến dịch, diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ.

        Chiến dịch cũng đã xác định cách đánh đúng, đồng thời tập trung hầu hết lực lượng để tiêu diệt quân địch cọ cụm ở Đông Hà - Ái Tử, đánh bại phương thức phòng ngự mới của chúng dùng đại bộ phận lực lượng, lấy xe tăng xe bọc thép làm nòng cốt, cơ động ngoài căn cứ để đánh hỏa lực pháo binh mạnh của ta, tạo nên trận then chốt quyết định của chiến dịch, tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị (1972).

        Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị năm 1972 giành được thắng lợi trong trận then chốt, tiêu diệt lữ đoàn đặc nhiệm của địch, ta chiếm Cửa Việt cũng nhờ xác định cách đánh đúng và tập trung lực lượng ưu thế.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:31:25 PM

        3. Kết thúc chiến dịch đúng thời cơ.

        Hầu hết các chiến dịch phản công và phòng ngự trong hai cuộc kháng chiến ta đều kết thúc chiến dịch, sau khi đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công của địch.

        Trong các chiến dịch tiến công, tình hình phức tạp hơn, phải cân nhắc kỹ tình huống cụ thể mới kết thúc chiến dịch được đúng thời cơ.

        Nhiều chiến dịch, sau lúc hoàn thành nhiệm vụ là thời cơ kết thúc chiến dịch. Cũng có nhiều trường hợp cần kết thúc sớm.

        Chiến dịch Đường số 18 (1951), sau khi thấy rõ địch chỉ dùng hỏa lực đánh trả, không đưa lực lượng đến tăng viện giải tỏa, mặc dầu đã diệt nhiều cứ điểm ở ngoại vi, ta đã chủ động kết thúc chiến dịch. Việc kết thúc chiến dịch sớm trong trường hợp trên là hợp lý.

        Chiến dịch Tây Bắc (1952), sau khi ta đã giành thắng lợi lớn, giải phóng phần lớn vùng Tây Bắc, địch vừa tăng thêm lực lượng từ phía sau lên, vừa rút các lực lượng còn lại ở Tây Bắc về, hình thành một tập đoàn cứ điểm, nhưng cả ba trận Pú Hồng, Nà Si, Bản Vạy đều không thành công. Hợp lý hơn trong trường hợp trên là kết thúc chiến dịch sau đợt hai, không tổ chức đợt ba tiến công tập đoàn cứ điểm.

        Rút kinh nghiệm chiến dịch Tây Bắc, trong chiến dịch Thượng Lào (1953), sau khi ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Sầm Nưa, tỉnh Xiêng Khoảng, địch cũng tổ chức một tập đoàn cứ điểm ở Cánh Đồng Chum, ta kết thúc chiến dịch, chỉ để lại một lực lượng nhỏ củng cố vùng mới giải phóng.

        Có một số chiến dịch, sau khi hoàn thành nhiệm vụ và kế hoạch đặt ra, nắm vững thời cơ có lợi, ta đã tiếp tục tiến công để giành thắng lợi lớn hơn. 

        Điển hình nhất trong các chiến dịch tiếp tục tiến công sau khi hoàn thành nhiệm vụ là chiến dịch Tây Nguyên (1975). Sau khi giải phóng Tây Nguyên, mặc dù đã có lệnh của Bộ Tổng tư lệnh kết thúc chiến dịch để chuyển lực lượng vào Nam Bộ, nhưng thấy thời cơ thuận lợi, Bộ tư lệnh chiến dịch đã đề nghị tiếp tục chiến dịch Huế và chiến dịch Đà Nẵng.

        Từ tình hình thực tế trên, ta thấy việc kết thúc chiến dịch là một nghệ thuật tác chiến.

        Bình thường, ta thường kết thúc chiến dịch sau khi hoàn thành nhiệm vụ được giao và hoàn thành kế hoạch đã đề ra. Nhưng cũng có chiến dịch cần kết thúc sớm, khi thấy rõ ràng nếu tiếp tục tiến công sẽ không có lợi; cũng có chiến dịch cần tiếp tục tiến công để giành thêm thắng lợi lớn hơn.

        Ta đã kết thúc chiến dịch đúng thời cơ trong phần lớn các chiến dịch, nhưng cũng có chiến dịch ta kết thúc quá muộn hoặc quá sớm.

        KẾT LUẬN

        Trong công tác xây dựng lực lượng vũ trang và có lẽ trong nhiều lĩnh vực khác, muốn thành công trước hết phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ vừa có đức vừa có tài sẵn sàng vượt qua gian khổ, không ngại hy sinh, nắm vững đường lối quân sự của Đảng, nắm vững nghệ thuật quân sự.

        Những gì người chỉ huy của lực lượng vũ trang ta đã làm trên chiến trường để đánh thắng các đội quân xâm lược lớn mạnh, là những vấn đề chúng ta cần tìm hiểu, không phải là một lần mà nhiều lần, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Một vấn đề thấy rõ là những kiến thức quân sự trong hai cuộc kháng chiến đã kế thừa và nâng lên một trình độ cao hơn các kiến thức quân sự tổ tiên ta qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Tập trung nghiên cứu những vấn đề trên, trước hết tôi muốn thắp một nén hương để tưởng niệm những người đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, đồng thời cũng là trách nhiệm của tôi đối với đội ngũ cán bộ kế tiếp.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:37:40 PM

CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - KHE SANH,
MỘT BÀI HỌC KINH NGHIỆM

        Về chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã có bản tổng kết năm 1986. Năm 1975, quyển “Lịch sử nghệ thuật chiến dịch” một lần nữa lại đề cập đến chiến dịch này. Để nói thêm một số kinh nghiệm, tôi chỉ đề cập đến một số chủ trương và diễn biến chính.

        Mùa xuân năm 1968, ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, lấy đòn tiến công vào các thành phố, thị xã làm đòn tiến công chính. Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh là một trong các đòn tiến công nhằm thu hút quân cơ động Mỹ, tiêu diệt một bộ phận, vây hãm và giam chân, tiêu hao chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tiến công vào các thành phố, thị xã phát triển thuận lợi. Chiến dịch bắt đầu ngày 20 tháng 11 năm 1968, trước tết 10 ngày, nhằm làm cho địch lầm tưởng mùa khô này ta vẫn tiến công địch ở rừng núi là chính.

        Lực lượng chiến dịch, lúc đầu có 3 sư đoàn bộ binh, một số trung đoàn bộ binh của Mặt trận B51. Đến tháng 5 năm 1968 có thêm Sư đoàn 308 vào tham gia. Các binh chủng kỹ thuật có 5 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn pháo phòng không, 4 đại đội xe tăng. Toàn bộ lực lượng được chia ra tác chiến trên hai khu vực: Khu vực Khe Sanh có 2 sư đoàn, khu vực đông đường 9 có 1 sư đoàn và các trung đoàn của B5.

        Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị

        Trên khu vực Khe Sanh, khu vực tác chiến chủ yếu, ta chủ trương tiêu diệt một số cứ điểm ngoại vi để kéo địch lên giải toả, tập trung lực lượng đánh quân giải toả. Sau 20 ngày, từ lúc đánh trận đầu tiên, tiêu diệt chi khu Hướng Hoá vẫn không có viện binh địch. Ngày 10 tháng 2 ta bắt đầu tiến hành vừa vây hãm vừa đánh lấn căn cứ Mỹ ở Tà Cơn. Cuộc bao vây đánh lấn kéo dài 50 ngày, khi địch ở căn cứ Tà Cơn bị tổn thất lớn, có nguy cơ bị ta tiến công tiêu diệt (khi các mũi đánh lấn của ta chỉ cách địch 40-50m), địch mới điều lực lượng giải vây căn cứ Tà Cơn. Đầu tháng 5, bộ chỉ huy lính thuỷ đánh bộ phải vét các lực lượng dự bị lên giải toả. Lính thuỷ đánh bộ bị đánh thiệt hại nặng cũng vẫn không giải toả được cho bọn địch bị vây hãm ở Tà Cơn, cuối tháng 7 năm 1968 chúng buộc phải rút Khe Sanh.

        Khu vực phía đông do địa hình trống trải, địch có nhiều cứ điểm liên hoàn hỗ trợ cho nhau nên kết quả tác chiến của ta bị hạn chế. Ta tiến công cứ điểm Cam Lộ không thành công và suốt quá trình chiến dịch cũng chỉ tiêu diệt những đơn vị nhỏ của địch ngoài công sự.

        Từ chủ trương của ta và diễn biến của chiến dịch, ta có thể rút ra một số kinh nghiệm:

        - Bài học kinh nghiệm thứ nhất: Chọn chiến trường tác chiến.

        Trong kháng chiến chống Pháp cũng như trong đánh Mỹ, lúc quân địch có trang bị kỹ thuật hơn ta nhiều lần, bộ đội chủ lực muốn đánh lớn thường phải chọn vùng rừng núi làm chiến trường chính. Chiến trường rừng núi, trước hết hạn chế việc phát huy sức mạnh của các binh chủng kỹ thuật của địch. Vùng rừng núi cho phép ta có thuận lợi trong việc bí mật trú quân và cơ động, đồng thời cũng cho phép ta thuận lợi trong việc làm công sự để tránh phi pháo địch. “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” là như vậy.

        Rõ ràng trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, lực lượng ở Khe Sanh và ở khu đông đường 9, không chênh lệch nhau nhiều. Nhưng ở Khe Sanh ta liên tiếp giành được thắng lợi, trái lại khu đông kết quả các trận chiến đấu rất hạn chế. Nói như vậy không có nghĩa quân ta chỉ giỏi tác chiến ở rừng núi. Khi lực lượng ta lớn mạnh, tất nhiên phải tiến công cả đồng bằng, đô thị để giải phóng từng vùng rộng lớn đi đến giành thắng lợi cuối cùng, như ta đã tiến công địch năm 1972 và sau đó là năm 1975.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:38:17 PM

        - Bài học kinh nghiệm thứ hai: Phán đoán tình hình địch một cách toàn diện.

        Nhiệm vụ của chiến dịch Khe Sanh là kéo địch lên rừng núi, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tiến công vào các đô thị. Bộ tư lệnh chiến dịch căn cứ vào hành động của địch hai mùa khô trước, với chiến lược “tìm diệt”, hễ phát hiện chủ lực ta mở chiến dịch trước tết mười ngày là đủ thời gian để điều động lực lượng địch lên rừng núi ở Khe Sanh.

        Tại sao sau mười ngày địch vẫn không tiến hành hành quân giải toả. Các chiến dịch trước ở miền Nam như ở Plây Me, ở Đắc Tô... ta chỉ sử dụng quy mô sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường với hoả lực pháo binh mang vác. Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, ta xuất hiện từ đầu 3 sư đoàn bộ binh, 3-4 trung đoàn pháo lớn, địch phải tính đến việc phải huy động bao nhiêu lực lượng mới có khả năng đối phó với tiến công của ta. Như vậy mười ngày chỉ đủ thời gian cho chúng nắm tình hình, hạ quyết tâm, chuẩn bị điều động lực lượng. Sau mười ngày, kể từ khi bắt đầu chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, ta tiến công đồng loạt vào các đô thị. Tất nhiên chúng phải tạm thời bỏ ý định lên Khe Sanh, dành lực lượng để đối phó với công cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của ta ở các thành phố, thị xã.

        Từ thực tiễn trên ta thấy rõ khi phán đoán hành động của địch, không chỉ căn cứ vào kinh nghiệm đã qua, phải phân tích tình hình một cách toàn diện, nhất là phải phân tích sự phát triển của tình hình.

        - Bài học kinh nghiệm thứ ba: Vận dụng các hình thức chiến thuật trong đánh Mỹ.

        Tương quan lực lượng giữa ta và địch trong “chiến tranh cục bộ”, lúc địch đã đưa vào Việt Nam hơn 50 vạn quân, cũng như tương quan lực lượng địch, ta thời kỳ đầu đánh Pháp, chúng có binh chủng kỹ thuật mạnh hơn ta nhiều lần. Trước tình hình trên ta chủ trương đánh địch ngoài công sự là chính. Vì vậy ta thường vận dụng ba chiến thuật chính: phục kích, tập kích và vận động tiến công. Nhưng trong chiến dịch lớn như chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, ta phải tiến hành tiến công diệt địch phòng ngự trong công sự vững chắc. Có tiêu diệt địch trong công sự vững chắc mới bắt buộc địch phải đưa quân đến giải toả, tạo điều kiện cho ta đánh địch ngoài công sự.

        - Bài học kinh nghiệm thứ tư: Đánh bại các biện pháp tác chiến của địch để giành thắng lợi quyết định.

        Trong nhiều cuộc chiến tranh phải tiêu diệt cơ bản lực lượng đối phương mới giành được thắng lợi. Kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Pháp nói lên rằng: chỉ cần đánh bại các biện pháp tác chiến của đối phương, cũng buộc chúng phải chịu thua trong chiến tranh. Khi Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ là lúc Pháp có lực lượng đông nhất. Trong đánh Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Để “đánh cho Mỹ cút” ta cũng chủ trương đánh bại các biện pháp tác chiến của Mỹ. Chiến lược của Mỹ là lập phòng tuyến đông - tây từ Cửa Việt sang đất Lào để ngăn chặn lực lượng miền Bắc thâm nhập, cơ động lực lượng để tiêu diệt, chủ yếu là lực lượng chủ lực của ta ở miền Nam, tiến hành bình định vùng chúng chiếm đóng để tiêu diệt lực lượng tại chỗ cả về quân sự lẫn chính trị.

        Cuộc tiến công đồng loạt vào các đô thị nói lên, tuy chúng đã tiến hành nhiều biện pháp bình định khác nhau, nhưng không những không tiêu diệt lực lượng tại chỗ, mà còn bị lực lượng tại chỗ đánh mạnh. Tại Khe Sanh, quân địch chẳng phải đi tìm, quân giải phóng đã đứng vững ở đây 6 tháng đánh bại các cuộc hành quân của chúng và buộc chúng phải bỏ chạy khỏi Khe Sanh. Như vậy tại Khe Sanh ta vừa đánh bại chiến lược “tìm diệt” của Mỹ và đánh bại cả việc chúng lập phòng tuyến để ngăn chặn ta đưa lực lượng vào miền Nam. Phóng viên Anh An-tô-ni-goóc Thêu nói: “Cứ nhìn vào bản đồ Khe Sanh chỉ là một vị trí nhỏ, nhưng vì tính chất chiến lược quan trọng của nó, nên hai tiếng Khe Sanh có thể có nghĩa là sự đổ nhào của tổng thống Giôn-xơn hay tướng Oét-mô-len, hay của cả hai”. Hãng tin Mỹ AP ngày 27 tháng 6 năm 1968 cũng đã nói: “Việc quân Mỹ rút khỏi Khe Sanh là một thất bại đối với Mỹ. Các quan chức cao cấp của Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn đã từng nói phải bảo vệ căn cứ này bằng bất cứ giá nào, thậm chí nhiều người phát ngôn của lính thuỷ đánh bộ nói: Nếu chúng ta rút Khe Sanh thì liệu chúng ta sẽ dừng lại ở đâu? Trên biển Nam Hải chắc?”.

        Rõ ràng lúc Mỹ có lực lượng đông nhất ở Việt Nam, nhưng với hai đợt đánh vào các đô thị và đánh bại địch ở Khe Sanh, chúng ta đã đánh bại các biện pháp tác chiến của chúng, buộc chúng phải từng bước rút quân. Tất nhiên để buộc chúng phải thua hoàn toàn còn phải có trận chiến 12 ngày đêm đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược, đánh bại biện pháp tác chiến cuối cùng của Mỹ.

        Các bản tổng kết trước đây của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã nói lên nhiều bài học kinh nghiệm của chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Trong bài này tôi chỉ nói thêm một số kinh nghiệm mà các tài liệu chưa đề cập tới.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:45:19 PM

MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG ĐÒN TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC TRÊN CHIẾN TRƯỜNG TRỊ - THIÊN NĂM 1972.

        I. QUYẾT TÂM VÀ DIỄN BIẾN TÁC CHIẾN

        Đòn tiến công chiến lược trên chiến trường Trị - Thiên năm 1972 đã được Viện Lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn và xuất bản năm 1987. Tôi chủ yếu nói thêm một số kinh nghiệm, vì vậy phần quyết tâm về diễn biến chỉ tóm tắt những nội dung chính.

        Tháng 7 năm 1971, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn trên toàn miền Nam. Từ đầu năm 1972, lúc đầu định chọn miền Đông Nam Bộ làm hướng chủ yếu. Về sau do việc tập trung bộ đội và chuẩn bị cơ sở vật chất gặp nhiều khó khăn nên hướng tiến công chiến lược chủ yếu chuyển về Trị - Thiên.

        Trên chiến trường Trị - Thiên tập trung một lực lượng lớn bộ đội chủ lực bao gồm: 3 sư đoàn bộ binh 304, 308, 324 (về sau tăng thêm các sư đoàn 320, 325, 312), 4 trung đoàn bộ binh độc lập; Trung đoàn xe tăng 203, Trung đoàn bộ binh thiết giáp 202; bốn tiểu đoàn đặc công (không kể đặc công và Sư đoàn phòng không 367 trong đội hình chiến dịch), hai sư đoàn phòng không 365, 377 bảo vệ hậu phương, 2 trung đoàn tên lửa 275, 236; một số đơn vị bảo đảm như công binh, phòng hoá, thông tin vận tải...

        Quyết tâm tác chiến:

        Tiến công giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị, sau đó tiếp tục phát triển vào hướng Thừa Thiên (lúc đầu cũng không dự kiến khi không có điều kiện tiếp tục tiến công thì sẽ giữ vững giải phóng như thế nào?).

        Hướng tiến công chủ yếu được chọn là hướng tây: Trong đợt tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị (lúc đầu chưa có kế hoạch tác chiến phát triển vào Thừa Thiên nên cũng chưa có quyết tâm khi phát triển vào Thừa Thiên hướng chủ yếu sẽ theo hướng đường 1 từ phía bắc đánh vào hay hướng đường 12 từ phía tây đánh xuống).

        Diễn biến: 11 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1972, ta bắt đầu mở màn chiến dịch. Bốn trung đoàn pháo binh của mặt trận và 3 trung đoàn pháo binh của 3 sư đoàn tập trung chủ yếu đánh vào các trận địa pháo và chỉ huy sở của địch. Nhờ có pháo binh mạnh bất ngờ tiến công, bắn chính xác nên hầu như suốt cả đợt một pháo địch không phát huy được hiệu lực. Trong 5 ngày ta đã tiêu diệt trung đoàn 56 sư đoàn 3 và đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 147 lính thuỷ đánh bộ.

        Để đối phó với tiến công của ta, địch vội vã rút trung đoàn 2 và trung đoàn 57 ở phía bắc, đồng thời nhanh chóng điều động thêm 2 liên đội biệt động quân cùng 2 thiết đoàn ra tổ chức phòng thủ Đông Hà - Ái Tử. Tại khu vực Đông Hà, địch có lực lượng trung đoàn 57, hai liên đoàn biệt động quân, 2 thiết đoàn. Tại khu vực Ái Tử địch có lực lượng lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ, trung đoàn 2 sư đoàn 3 và 1 thiết đoàn. Rút kinh nghiệm thất bại ở vòng ngoài, ở đây chúng chỉ để lại một ít lực lượng trong căn cứ. Đại bộ phận lực lượng tổ chức phòng ngự giả chiến đấu ở ngoài căn cứ, lấy các chi đoàn xe tăng xe bọc thép làm nòng cốt.

        Khi địch rút căn cứ phía bắc như Cồn Tiên, Dốc Miếu, Miếu Bái Sơn, Quán Ngang, Bộ tư lệnh cánh Bắc ra lệnh cho Sư đoàn 308 và trung đoàn bộ binh thiết giáp truy kích với ý định đánh chiếm thị xã Đông Hà trong hành tiến. Bộ tư lệnh chiến dịch cũng lệnh cho Sư đoàn 304 và Sư đoàn 324 mỗi sư đoàn dùng một tiểu đoàn ra ngay đường số 1 để chặn cụm địch ở Đông Hà - Ái Tử rút chạy. 5 giờ sáng ngày 9 tháng 4 Sư đoàn 308 và bộ binh thiết giáp bắt đầu cơ động lực lượng tiến công Đông Hà. Quân địch “trì hoãn chiến” chứ không phải rút chạy, nên ta tiến công Đông Hà không thành công. Hai tiểu đoàn của các sư đoàn 304 và 324 ra đường 1 cũng bị thiệt hại nặng. Để đánh bại địch ở khu vực Đông Hà - Ái Tử, ta chủ trương chuẩn bị lại thật chu đáo. Ngày 27 tháng 4 hai sư đoàn 308 và 304 cùng đồng loạt tiến công. Đến hết ngày 2 tháng 5 ta chiếm được cả 3 căn cứ Đông Hà - Ái Tử. Thị xã Quảng Trị, truy kích địch đến bờ bắc sông Mỹ Chánh, giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị.

        Sau khi mất Quảng Trị, địch vội vàng điều toàn bộ sư đoàn dù, sư đoàn lính thuỷ đánh bộ ra tổ chức tuyến ngăn chặn ở nam sông Mỹ Chánh và chuẩn bị phản công để chiếm lại Quảng Trị. Lúc này Mỹ đã cho không quân, hải quân trở lại Việt Nam với số lượng lớn, đánh phá cả hai miền Nam, Bắc. Trong tháng 5 và đầu tháng 6 ta vừa điều động lực lượng vừa chuẩn bị vật chất, đồng thời mở một số cuộc tiến công thăm dò để chuẩn bị tiến công vào Thừa Thiên. Ngày 20 tháng 6 ta bắt đầu mở cuộc tiến công vào Thừa Thiên. Do bị không quân và hải quân địch đánh phá mạnh, lực lượng vật chất của ta đưa lên gặp nhiều khó khăn, lực lượng chiến đấu bị thương vong nhiều, nhất là lực lượng phòng không và lực lượng pháo binh. Cuộc tiến công vào Thừa Thiên không thành công. Ngày 28 tháng 6 địch bắt đầu phản công. Ta ngừng tiến công vào Thừa Thiên để đánh địch tiến công ra Quảng Trị.

        Từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 15 tháng 9 ta dùng Trung đoàn 48 phòng ngự ở thị xã Quảng Trị (sau tăng thêm Trung đoàn 95 Sư đoàn 325), sử dụng cả 3 sư đoàn 308, 304, 320 mở 6 đợt phản công. Các đợt phản công kết quả hạn chế và ngày 15 tháng 9 địch chiếm được thị xã bao gồm cả thành phố.

        Sau khi mất thị xã, ta chuyển toàn bộ lực lượng vào thế phòng ngự. Tôi nói thế phòng ngự là vì không tiến công được buộc phải phòng ngự, chứ lúc đó không ai đề cập đó là chiến dịch phòng ngự. Trong thời gian từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 28 tháng 1 năm 1973 phòng ngự của ta cơ bản chặn được địch, giữ vững vùng giải phóng còn lại (trừ 2 điểm cao Động Ông Do và 36 bị địch chiếm). Đến thời điểm này, hai bên bắt đầu thực hiện đàm phán ở Pa-ri, địch tiến hành một số cuộc tiến công hòng mở rộng vùng kiểm soát, nhưng đều bị ta đánh bại. Mặt trận tương đối ổn định cho đến năm 1975.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:49:57 PM

        II. NÓI THÊM MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

        Bản tổng kết của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản năm 1987 đã nêu lên 8 bài học kinh nghiệm. Tôi chỉ nêu thêm một số vấn đề tài liệu chưa đề cập.

        1. Tiến công chiến lược trên hướng Trị - Thiên năm 1972, trên thực tế đã diễn ra 3 chiến dịch kế tiếp:

        - Chiến dịch thứ nhất từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 27 tháng 6: Tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị và tiến công không thành công vào Thừa Thiên.

        - Chiến dịch thứ hai từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 15 tháng 9: Phản công không thành công (mất huyện Hải Lăng, thị xã Quảng Trị và một phần huyện Triệu Phong).

        - Chiến dịch thứ ba từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 28 tháng 1 năm 1973: Phòng ngự giữ vững vùng giải phóng còn lại.

        Ở đây có vấn đề tranh luận là từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 15 tháng 9 ta tiến hành hình thái tác chiến gì. Nhiều đồng chí không thấy hoặc không muốn nói đó là chiến dịch phản công. Nếu thừa nhận đó là chiến dịch phản công thì phải thừa nhận đó là chiến dịch không thành công hoặc nói đúng hơn là thất bại. Sự việc xảy ra như thế nào thì phải nhận đúng thực tế của sự việc.Trong thời gian hai tháng rưỡi ta dùng lực lượng chủ yếu để phản công, lúc đầu chỉ có 1 trung đoàn, sau thêm 1 trung đoàn tiến hành phòng ngự. Lực lượng chính tiến hành phản công đã mở tất cả 6 đợt phản công trong thời gian hai tháng rưỡi. Không có cách gọi khác, phải thừa nhận đó là một chiến dịch và là chiến dịch phản công.

        2. Trước đây do lực lượng ta có hạn nên trên mỗi hướng tiến công chiến lược ta chỉ có khả năng tiến hành một chiến dịch. Chiến dịch nào có tác động lớn đến chiến lược ta gọi đó là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Chiến dịch có ý nghĩa chiến lược cũng chỉ là một chiến dịch.

        Từ năm 1972 và sau này năm 1975, trên mỗi hướng tiến công chiến lược ta tiến hành một số chiến dịch đồng thời hoặc kế tiếp. Như vậy quy mô tác chiến ở đây không phải là chiến dịch. Ở đây nảy sinh một quy mô tác chiến cao hơn chiến dịch. Liên Xô gọi là chiến dịch chiến lược. Chiến dịch chiến lược được định nghĩa là: Tổng thể các chiến dịch và các hoạt động tác chiến khác do tập đoàn lực lượng chiến lược tiến hành theo một ý định và kế hoạch tác chiến chiến lược thống nhất trên một hướng chiến lược hoặc một chiến trường, do Bộ Tổng tư lệnh hoặc Bộ tư lệnh chiến trường tổ chức chỉ huy, nhằm thực hiện những nhiệm vụ chiến lược quan trọng.

        Như vậy có thể gọi tác chiến trên chiến trường Trị - Thiên năm 1972 là một chiến dịch chiến lược. Ta chưa quen dùng khái niệm này. Trong một số văn kiện cũng đã dùng khái niệm “đòn tiến công chiến lược”. Theo tôi vấn đề cơ bản là ta đã tiến hành tác chiến vượt ra ngoài quy mô chiến dịch. Vì vậy gọi chiến dịch chiến lược cũng được hoặc gọi đòn tiến công chiến lược cũng được.

        3. Bộ tư lệnh chiến dịch và Bộ tư lệnh lên cánh Bắc ra lệnh cho Sư đoàn 308 và trung đoàn bộ binh thiết giáp truy kích và tiến công ngay vào Đông Hà khi địch mất cụm phòng ngự phía tây và rút cụm phòng ngự phía bắc về sau đúng hay sai? Khi tổng kết có đồng chí nêu ý kiến quyết tâm đó là sai vì không phù hợp với thực tế. Nhìn lại các cuộc chiến tranh ở ta cũng như ở nhiều nước khác khi địch rút chạy về sau (có thể là chạy, có thể là co cụm), nhất thiết phải truy kích ngay và gặp địch phải tiến công ngay là phù hợp. Chỉ dừng lại sau khi địch ngăn chặn được tiến công của ta. Lúc thấy địch rút lui mà không truy kích ngay, không tiến công ngay rất dễ bị mất thời cơ có lợi. Phải truy kích ngay, tiến công ngay, chỉ dừng lại khi không còn khả năng tiến công. Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 308 và trung đoàn bộ binh thiết giáp truy kích và tiến công Đông Hà ngay. Sau khi tiến công bị địch chặn lại, ra lệnh cho bộ đội đình chỉ tiến công để tiếp tục chuẩn bị tiến công đợt khác là phù hợp. Nếu sau ngày 9 tháng 4 tiến công không thành công mà còn ra lệnh tiếp tục tiến công không ngừng lại mới là sai. Chủ trương tác chiến trên theo tôi cũng là một bài học kinh nghiệm xử trí tình huống. Bất kỳ trong chiến thuật, chiến dịch hay chiến lược, địch rút lui là phải truy kích ngay, tiến công ngay. Đồng thời phải dừng lại khi điều kiện không cho phép tiếp tục tiến công.

        4. Tiến công cụm địch ở Đông Hà và Ái Tử trong các ngày từ 27 tháng 4 đến ngày 2 tháng 5 ta đã vận dụng hình thức chiến thuật gì? Ở đây, theo tôi không thể gọi là tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc. Hầu hết lực lượng phòng ngự dã chiến ở ngoài (mỗi nơi có lực lượng gần 2-3 trung đoàn bộ binh, 1-2 trung đoàn thiết giáp). Bộ binh ở trong hố cá nhân là chính, xe tăng xe thiết giáp trong các hầm nửa chìm nửa nổi, vật cản chỉ có 1-2 lớp, có những đoạn không có vật cản. Ở đây cũng không thể gọi là tập kích, vì ta đánh liên tục hai ngày. Hình thức chiến thuật vận dụng ở đây là hình thức vận động tiến công.

        5. So sánh lực lượng địch, ta khi ta tiến công vào Trị - Thiên và khi ta phản công địch tiến công ra Quảng Trị. Nhiều đồng chí thắc mắc khi giải phóng tỉnh Quảng Trị, ta có lực lượng tương đương địch (2 sư đoàn) lại không thành công. Ở đây khi xét tương quan lực lượng ta không nên chỉ nhìn vào lực lượng bộ binh của hai bên mà còn nhìn thấy tương quan về hoả lực hai bên. Trong đánh du kích, đánh vận động quy mô nhỏ, địch có hoả lực mạnh, ta vẫn thắng. Trái lại tiến công quy mô lớn, không thể không thấy tác dụng của hoả lực. Bắt đầu từ tháng 5 năm 1972 quân Mỹ ồ ạt dùng không quân và hải quân chi viện bộ binh quân đội Sài Gòn chiến đấu, lúc đó tương quan lực lượng hai bên có một thay đổi lớn. Địch dùng không quân, kể cả B52 lúc đầu tập trung đánh các đơn vị phòng không của ta. Sau khi lực lượng phòng không ta bị tê liệt (trung đoàn pháo phòng không phối thuộc cho Sư đoàn 304 không còn khẩu nào), chúng tập trung đánh pháo mặt đất. Trung đoàn pháo binh 38 phối thuộc cho Sư đoàn 304 không còn khẩu nào. Trung đoàn pháo binh Sư đoàn 304 còn 4 khẩu. Trung đoàn pháo binh Sư đoàn 308 còn có 8 khẩu. Với lực lượng phòng không và pháo binh như vậy, ta không có khả năng tiến công quy mô lớn, tiến công liên tục ngày đêm được.

        Chúng ta không “vũ khí luận” nhưng khi tiến công lớn nhằm diệt từng trung đoàn địch thì hoả lực giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định. Tuy bộ binh ta không ít hơn địch, nhưng hoả lực kém địch nhiều lần thì không thể tiến công quy mô lớn được.

        Cuộc chiến đấu ở Trị - Thiên năm 1972 kéo dài gần một năm. Hai bên đều sử dụng lực lượng lớn. Vì vậy chúng ta cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm hay. Chúng ta không chỉ tổng kết một lần mà cần tổng kết nhiều lần. Đi sâu tìm hiểu thêm nhiều kinh nghiệm khác nhau cũng thể hiện tinh thần tôn trọng những gì chúng ta đã làm, tôn trọng xương máu của đồng đội đã đổ ra trên chiến trường.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 08:58:48 PM

NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN TRONG CHIẾN DỊCH TIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG TRỊ - THIÊN - HUẾ NĂM 1975

        Nhiệm vụ, kế hoạch tác chiến, diễn biến quá trình tác chiến đã có nhiều tài liệu, nhiều đồng chí trình bày tương đối rõ ràng cụ thể chính xác. Trong bài này tôi muốn đi sâu vào nghệ thuật tác chiến, một trong những nguyên nhân bảo đảm cho chiến thắng, giảm bớt thương vong.

        Trước khi nói về nghệ thuật tác chiến, tôi muốn nêu lên hai đặc điểm trong tổ chức và nhiệm vụ có ảnh hưởng nhất định đến nghệ thuật tác chiến.

        Đặc điểm thứ nhất của chiến dịch tiến công Trị - Thiên là có Đảng ủy chiến dịch bao gồm các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy Quân khu Trị - Thiên và Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn 2 do đồng chí Lê Tự Đồng, Bí thư Đảng ủy Quân khu Trị - Thiên là bí thư Đảng ủy chiến dịch, nhưng lại không có Bộ tư lệnh chiến dịch chung. Hai lực lượng tác chiến của Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 quan hệ với nhau bằng hiệp đồng tác chiến. Việc này đòi hỏi hai lực lượng phải có tinh thần chủ động hiệp đồng giúp đỡ lẫn nhau.

        Đặc điểm thứ hai là nhiệm vụ được giao hai bước khác nhau. Cuối năm 1974 Bộ Tổng chỉ huy giao nhiệm vụ cho Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 là hiệp đồng mở chiến dịch với nhiệm vụ chủ yếu là kìm giữ không cho địch điều lực lượng ở quân khu 1 bao gồm cả hai sư đoàn dự bị chiến lược là sư đoàn dù và sư đoàn lính thuỷ đánh bộ chi viện cho chiến trường tiến công chủ yếu của ta ở Tây Nguyên trong mùa xuân năm 1975.

        Sau khi hoàn thành kế hoạch tác chiến và báo cáo trực tiếp với đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí chỉ thị thêm: “Nếu chiến dịch Tây Nguyên thắng lớn có thể tạo ra thời cơ thuận lợi, Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 chuyển ngay sang tiến công giải phóng Trị - Thiên - Huế ngay trong chiến dịch đầu. Cũng không loại trừ khả năng sau khi giải phóng Trị - Thiên - Huế có thể tiến công ngay vào Đà Nẵng”. Với nhiệm vụ được bổ sung, Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 giải quyết một loạt vấn đề:

        - Phải xây dựng thế trận thế nào để khi có thời cơ phát triển tiến công được nhanh và thuận lợi.

        - Bố trí thế nào để các lực lượng chưa tham gia chiến dịch đầu khi có thời cơ bước vào chiến đấu được thuận lợi. Trong chiến dịch đầu, Quân đoàn 2 chỉ sử dụng 2 sư đoàn thiếu (Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 325 đang làm nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do tỉnh Quảng Trị) cùng 2 tiểu đoàn pháo binh thuộc lữ đoàn pháo binh, 1 trung đoàn pháo phòng không thuộc Sư đoàn phòng không 673. Toàn bộ lực lượng xe tăng chưa tham gia chiến dịch đầu. Quân đoàn đã chỉ thị cho Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 và Trung đoàn 95 Sư đoàn 325 sẵn sàng chiến đấu để điều động ngay khi cần, chỉ thị cho Sư đoàn 304 không rút lực lượng về sau, củng cố tại chỗ để sẵn sàng làm nhiệm vụ trong mùa xuân năm 1975. Đối với các binh chủng cũng chỉ thị nhích đội hình lên sát các sư đoàn phía trước để khi cần là bước vào chiến đấu ngay. Riêng 2 tiểu đoàn pháo binh của lữ đoàn pháo binh thì đưa lên triển khai sẵn ở đèo Mũi Trâu để có thể tại chỗ bắn đến cửa Thuận An của Thừa Thiên và bán đảo Sơn Trà của Đà Nẵng.

        Đến đây tôi xin dừng lại nói thêm: Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương có bất ngờ ta có thể giải phóng hoàn toàn miền Nam trong mùa xuân năm 1975 hay không? Tôi có thể trả lời ngay là Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã tính trước việc tổng tiến công của ta có thể phát triển nhanh, không phải là 2 năm mà có thể giải phóng miền Nam trong năm 1975, thậm chí sớm hơn. Lý do rõ ràng là khi giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên đã nói rõ như trên, cần chuẩn bị khi thời cơ thuận lợi giải phóng Trị - Thiên - Huế ngay trong chiến dịch đầu.

        Không chỉ các đồng chí trong Bộ chỉ huy tối cao mà ngay cán bộ cấp quân đoàn cũng nhận thấy ta có thể thắng nhanh. Đó là dựa vào quy luật chiến tranh và tình hình thực tế trên chiến trường Việt Nam. Quy luật đó là khi quân cách mạng có lực lượng tương đương quân phản cách mạng thì có thể tiến công nhanh. Đó là vì khi lực lượng ngang nhau, bên nào có nghệ thuật tác chiến hơn và nhất là có tinh thần chiến đấu cao, bên đó sẽ thắng. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Liên Xô chống lại quân xâm lược của nước Đức phát xít, đến giữa năm 1943 trước chiến dịch Cuốc-xcơ lực lượng hai bên tương đương nhau nên Quân đội Liên Xô đã có thể giải phóng hầu hết vùng Đức chiếm đóng ngay trong những tháng cuối năm 1943 và đầu năm 1944. Cũng như vậy cuối năm 1948 lực lượng của Quân giải phóng Trung Quốc tương đương với lực lượng của Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch, Quân giải phóng đã giải phóng toàn bộ Trung Quốc (trừ Đài Loan) trong năm 1949. Thực tiễn trên chiến trường Việt Nam, năm 1974 lực lượng ta và lực lượng của chính quyền Sài Gòn không chênh lệch nhau nhiều. Ngay trong những tháng cuối năm 1974, với lực lượng không lớn, ta đã nhanh chóng giải phóng Nông Sơn, Thượng Đức, sau đó đánh bại hoàn toàn cuộc phản công của quân Sài Gòn muốn chiếm lại Thượng Đức.

        Nghệ thuật tác chiến đầu tiên trong chiến dịch này là chọn hướng tấn công chủ yếu. Lúc đầu Quân đoàn 2 thực tế đã triển khai chuẩn bị tiến công theo hướng đường 12, tức tiến công từ phía tây Huế. Lý do đơn giản là ở đây đường sá tốt và cũng không xa Huế bao nhiêu. Sau khi trao đổi nhiều lần, thấy rõ đánh vào phía hướng tây là nơi địch phòng ngự mạnh và đặc biệt nếu ta tiến công thắng lợi thì địch có thể dễ dàng rút lực lượng về tập trung ở Đà Nẵng, từ đó ta đã chuyển hướng tấn công chủ yếu về phía tây nam. Tiến công vào đây có thể nhanh chóng cắt đường số 1 giữa Huế - Đà Nẵng. Nếu cắt đường số 1 buộc địch ở Quân khu 1 phải dùng lực lượng mạnh để chiếm lại, như vậy chúng không có lực lượng để cơ động sang chiến trường khác. Đồng thời chiếm được đường số 1 sẽ tạo điều kiện tác chiến tấn công diệt gọn quân địch ở Trị - Thiên, không cho chúng rút về Đà Nẵng...


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 09:07:47 PM

TÁC CHIẾN CHIẾN LƯỢC QUA HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ

        Chiến tranh ngày nay là cuộc đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao... Vì vậy khái niệm về chiến lược quân sự không chỉ nói tới tác chiến trên chiến trường của các lực lượng vũ trang đối địch. Chiến lược quân sự hiểu theo nghĩa rộng là chiến lược tiến hành chiến tranh với sức mạnh cả về quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, hiểu theo nghĩa hẹp là nói về đấu tranh vũ trang.

        Bộ Chính trị đã chỉ đạo và hoàn thành việc tổng kết hai cuộc kháng chiến ở quy mô chiến lược quốc gia (nghĩa rộng của chiến lược quân sự). Bộ Quốc phòng chủ trương tiến hành tổng kết thêm về tác chiến chiến lược (nghĩa hẹp của chiến lược quân sự) để đi sâu thêm một bước, rút ra các kinh nghiệm cụ thể về mặt chỉ đạo và tiến hành tác chiến.

        Những cán bộ trực tiếp vạch kế hoạch và điều hành tác chiến như các thành viên Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu, Cục Tác chiến ngày nay không còn nhiều. Vì vậy để tổng kết có kết quả tốt, cần có sự tham gia của những cán bộ đã trải qua hai cuộc kháng chiến, trực tiếp chỉ huy các đơn vị trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh như chỉ huy các quân khu, quân đoàn, sư đoàn. Với cương vị một cán bộ đã trải qua suốt hai cuộc kháng chiến, đã chỉ huy sư đoàn, quân đoàn, tôi xin góp một số ý kiến về tác chiến chiến lược qua hai cuộc kháng chiến.

        I. CHỦ TRƯƠNG VÀ KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN

        Nói đến tác chiến trước hết phải nói và cần thiết nói đến chủ trương và kế hoạch tác chiến.

        Qua hai cuộc kháng chiến, chúng ta phải đối đầu với các nước đế quốc có quân đội nhà nghề, được trang bị kỹ thuật hiện đại, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh, vì vậy ta không thể đánh thắng địch trong một thời gian ngắn. Căn cứ vào thực tế trên, cách đánh trong hai cuộc kháng chiến trước hết là phải đánh bại lần lượt từng chiến lược của địch qua từng giai đoạn kháng chiến. Để đánh bại từng chiến lược của địch qua từng giai đoạn kháng chiến, chúng ta không chỉ đề ra chủ trương tác chiến, tức xác định mục đích, xác định loại hình tác chiến cho cả một giai đoạn, mà còn xây dựng kế hoạch tác chiến cho từng năm, từng mùa.

        Như vậy thấy rõ cách đánh chiến lược của ta được thể hiện ở chủ trương tác chiến theo từng giai đoạn và kế hoạch tác chiến từng năm, từng mùa để đạt mục đích, đánh bại từng chiến lược của địch.

        A. CHỦ TRUƠNG TÁC CHIẾN THEO TỪNG GIAI ĐOẠN KHÁNG CHIẾN ĐỂ ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC CỦA ĐỊCH TRONG GIAI ĐOẠN ĐÓ.

        1. Chủ trương tác chiến theo từng giai đoạn trong kháng chiến chống thực dân Pháp

        a) Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết năm 1947.

        - Chiến lược của địch trong giai đoạn này là tiến công chiến lược nhằm mục đích giành thắng lợi quyết định trong một thời gian ngắn.

        - Mục đích tác chiến của ta giai đoạn này là tiêu hao rộng rãi quân địch làm chúng suy yếu dần, hạn chế vùng chúng chiếm đóng, giữ vững và phát triển lực lượng vũ trang ta, bảo vệ cơ quan lãnh đạo kháng chiến của ta trên địa bàn cả nước và ở từng địa phương.

        - Loại hình tác chiến chiến lược của ta trong giai đoạn này trước đây được xác định là phòng ngự. Hiện nay có ý kiến cho rằng không phải là phòng ngự vì chỉ có một số trận phòng ngự ở quy mô nhỏ, hầu hết các trận đánh đều là trận đánh tiến công; chỉ có một chiến dịch, đó lại là chiến dịch phản công (Việt Bắc thu đông năm 1947). Theo tôi không thể lấy cách đánh của các cuộc chiến tranh quy ước (chủ lực của hai bên dàn trận đánh nhau) để gán vào cách đánh của ta. Không chỉ phòng ngự mà ngay cách đánh tiến công, phản công của ta cũng khác với các cuộc chiến tranh quy ước. Trong giai đoạn 1945-1947 ta đề ra phòng ngự và thực tế ta đã giành được thắng lợi. Vì vậy vẫn nên thừa nhận lúc đó nói phòng ngự là đúng. Địch tiến công ta đỡ, ta giữ, hoàn toàn có thể nói là phòng ngự. Nhưng phòng ngự của ta phòng ngự thế công như trong tài liệu “Cách đánh du kích” mà Hồ Chủ tịch đã nói. Hiện nay trong các tài liệu do các học viện quân sự biên soạn thì nói là cách đánh phòng thủ. Nói phòng thủ cũng được, nhưng thực ra phòng thủ là khái niệm nói về nhiệm vụ tác chiến: phòng thủ khu vực, phòng thủ quốc gia. Để phòng thủ có thể phòng ngự mà cũng có thể phản công tiến công, tuỳ theo tương quan lực lượng.

        b) Giai đoạn từ năm 1948 đền năm 1950.

        - Giai đoạn này địch chuyển từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh lâu dài, thực hiện “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, thành lập ngụy quyền, xây dựng ngụy quân, cùng với quân đội viễn chinh do chính Pháp tổ chức để đánh bại ta. Cụ thể chúng tiến hành xây dựng các đồn bốt, xây dựng chính quyền cơ sở, càn quét để củng cố vùng tạm chiếm, tiến hành một số cuộc tiến công có hạn để mở rộng thêm vùng chiếm đóng.

        - Tác chiến của ta nhằm mục đích ở nội tuyến (vùng địch lấn chiếm), là biến hậu phương địch thành tiền phương ta ở ngoại tuyến (vùng tự do), là tiến hành tiến công (chủ yếu ở quy mô nhỏ) để vừa ngăn chặn địch mở rộng vùng chiếm đóng vừa thu hẹp vùng địch tạm chiếm, xây dựng lực lượng ta ngày càng lớn mạnh về số lượng, về trang bị và về nghệ thuật tác chiến để tiến lên tiến công phản công ở giai đoạn sau.

        - Giai đoạn này ta xác định là giai đoạn cầm cự. Cầm cự là trạng thái trên chiến trường, không phải là cách đánh. Loại hình tác chiến giai đoạn này thực chất là kết hợp phòng ngự với tiến công phản công.

        c) Giai đoạn từ năm 1951 đến năm 1954.

        - Bắt đầu từ giai đoạn này địch thấy rõ không thể thắng ta bằng quân sự đơn thuần. Chúng chủ trương một mặt tiếp tục giữ vững khu vực đã chiếm, mặt khác xây dựng lực lượng nhằm kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp có lợi cho chúng.

        - Mục đích tác chiến của ta là tiến công tiêu diệt lớn quân địch, làm chủ vùng núi, giải phóng từng vùng rộng lớn, tạo ra đột biến để kết thúc chiến tranh.

        - Loại hình tác chiến là tiến công và phản công. Do đặc điểm tương quan lực lượng địch ta, tuy phải phòng ngự là chính, nhưng địch cũng cố gắng tiến công để giành chủ động. Vì vậy giai đoạn này ta chủ động tiến công là chính nhưng cũng phải chuẩn bị phản công để đánh bại tiến công của địch.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 09:09:16 PM

        2. Chủ trương tác chiến theo từng giai đoạn trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1960-1975)

        a) Giai đoạn thứ nhất, từ năm 1960 đến giữa năm 1965.

        - Chiến lược của địch: Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Mỹ chủ trương phá hoại hiệp định, tiêu diệt lực lượng cách mạng của ta để độc chiếm miền Nam. Sau khi nhân dân tiến hành khởi nghĩa ở từng địa phương tiến lên đồng khởi (bắt đầu từ năm 1959), Mỹ thi hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, cuộc chiến tranh được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn, với tiền của, vũ khí và sự chỉ huy của Mỹ, định đè bẹp và tiêu diệt cách mạng miền Nam.

        - Ta chủ trương từ khởi nghĩa từng phần tiến lên chiến tranh cách mạng để đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và tay sai. Cách đánh là kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị song song, đánh địch bằng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, từ tiêu hao rộng rãi, tiến lên tiêu diệt lớn, đánh bại xương sống của “chiến tranh đặc biệt” là quân đội Sài Gòn. Cuộc chiến tranh ở miền Nam là một cuộc chiến tranh giải phóng (chính quyền địch đã có sẵn ở tất cả mọi địa phương), khác với chiến tranh chống thực dân Pháp mang nhiều tính chất của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (địch từ ngoài đánh vào trong khi ta đã có chính quyền trên cả nước). Vì vậy giai đoạn đầu của kháng chiến không có loại hình tác chiến phòng ngự mà bắt đầu bằng chủ động tiến công, tiến công nhỏ tiến lên tiến công lớn, không phải phân chia chiến trường thành nội tuyến và ngoại tuyến (vùng địch tạm chiếm và vùng tự do) nên không có phương châm biến hậu phương địch thành tiền phương ta mà thực hiện phương châm ba vùng chiến lược (vùng rừng núi, vùng nông thôn đồng bằng, vùng đô thị).

        b) Giai đoạn thứ hai, từ giữa năm 1965 đền hết năm 1968.

        Sau khi “chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, đế quốc Mỹ tiến hành “chiến tranh cục bộ”, đưa quân viễn chinh Mỹ vào tham chiến trên quy mô lớn ở miền Nam, đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ở miền Bắc.

        - Ta phát triển chiến tranh nhân dân lên trình độ cao trên cả hai miền, tiêu diệt lớn quân địch trên cả hai miền để đánh thắng chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, tạo bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

        - Loại hình tác chiến chiến lược được thực hiện là kết hợp tiến công và phản công.

        c) Giai đoạn thứ ba, từ năm 1969 đền hết tháng 1 năm 1973.

        - Đế quốc Mỹ thi hành chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, xuống thang chiến tranh rút dần quân Mỹ về nước, nhưng kéo dài cuộc chiến tranh và mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia.

        - Ta phối hợp với hai nước Lào và Cam-pu-chia đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, đánh bại lần thứ hai cuộc chiến tranh phá hoại mà đỉnh cao là cuộc tập kích đường không chiến lược tháng 12 năm 1972, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta.

        - Loại hình tác chiến được thực hiện là tiến công và phản công.

        d) Giai đoạn thứ tư, từ sau Hiệp đinh Pa-ri đến tháng 4 năm 1975.

        - Sau Hiệp định Pa-ri, Mỹ tiếp tục chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, chỉ huy ngụy quân, ngụy quyền tiến hành cuộc chiến tranh “lấn chiếm và bình định” với mục đích biến miền Nam Việt Nam thành một quốc gia thân Mỹ.

        - Ta tạo lực, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        - Loại hình tác chiến giai đoạn này là tiến công chiến lược.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 09:16:56 PM

        B. KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN CỦA TỪNG GIAI ĐOẠN CHIẾN LUỢC.

        Phần trên đã làm rõ, do tương quan lực lượng trong cuộc chiến tranh, ta chỉ đề ra đường lối kháng chiến để giành thắng lợi, ta cũng chưa có điều kiện, khả năng làm kế hoạch tác chiến cho từng giai đoạn kháng chiến mà chỉ đề ra chủ trương với nội dung chủ yếu là xác định mục đích, vận dụng phương châm tác chiến, vận dụng loại hình tác chiến. Kế hoạch tác chiến được xây dựng hằng năm, hằng mùa. Trải qua hai cuộc kháng chiến ta có nhiều kế hoạch tác chiến khác nhau:

        1. Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ và chỉ đạo tác chiến với từng chiến trường, chưa tổ chức được đòn tiến công hoặc phản công chiến lược trên chiến trường lựa chọn.

        Muốn tổ chức một đòn tiến công hoặc phản công chiến lược thường phải có thời gian chuẩn bị. Vì vậy thường giữa các đòn tiến công hoặc phản công chiến lược, để giữ tác chiến liên tục Bộ Tổng tư lệnh thường giao nhiệm vụ và chỉ đạo các chiến trường tác chiến.

        - Giai đoạn một cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đòn tiến công vào các thành phố và trước chiến dịch phản công Việt Bắc (Thu Đông năm 1947), cụ thể là Hè Thu năm 1947 Bộ Tổng tư lệnh đã làm kế hoạch tác chiến bằng giao nhiệm vụ và chỉ đạo cho các chiến trường, không có đòn tiến công chiến lược.

        - Giai đoạn đầu trong kháng chiến chống Mỹ đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Bộ Tổng tư lệnh chủ yếu cũng chỉ thực hiện việc giao nhiệm vụ và chỉ đạo các chiến trường tác chiến.

        2. Bộ Tổng tư lệnh tổ chức và trực tiếp chỉ huy đòn tiến công phản công chiến lược trên chiến trường chính và giao nhiệm vụ chỉ đạo các chiến trường khác tác chiến phối hợp với chiến trường chính.

        - Giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Bộ Tổng tư lệnh đã trực tiếp tổ chức chỉ huy đòn tiến công chiến lược ở Hà Nội bằng một đợt tác chiến (chưa hình thành chiến dịch) và tổ chức đòn phản công chiến lược khi địch tiến công lên Việt Bắc.

        - Giai đoạn hai có đòn tiến công chiến lược giải phóng Biên Giới (1950).

        - Giai đoạn ba có một loạt các đòn tiến công chiến lược: ba đòn liên tiếp ở trung du - đường 18, Hà Nam Ninh (1951), giải phóng Thượng Lào (1953).

        - Giai đoạn đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” trong kháng chiến chống Mỹ có: đòn phản công chiến lược đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty ở miền Đông Nam Bộ; đòn tiến công chiến lược Tết Mậu Thân năm 1968 vào một loạt đô thị.

        - Giai đoạn đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” có: đòn phản công chiến lược đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn - 719” ở Đường 9 - Nam Lào, đòn tiến công chiến lược trên chiến trường Trị - Thiên. Các đòn tiến công và phản công chiến lược trên chỉ thực hiện bằng một chiến dịch. Các chiến dịch đó được gọi là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược.

        3. Bộ Tổng tư lệnh tổ chức nhiều đòn tiến công chiến lược đồng thời trên nhiều chiến trường khác nhau, các đòn tiến công đó liên kết chặt chẽ với nhau, hình thành một chiến lược.

        - Cuối năm 1951 và đầu năm 1952 Bộ Tổng tư lệnh đã chỉ huy đồng thời hai đòn tiến công chiến lược: đòn tiến công đánh bại địch hành quân lên Hoà Bình và đòn tiến công vào đồng bằng Bắc Bộ. Hai đòn tiến công đó đã liên kết chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau nên bước đầu hoàn thành chiến cục.

        - Đông Xuân 1953-1954 Bộ Tổng tư lệnh mở một loạt các đòn tiến công chiến lược trên các chiến trường khác nhau, liên kết chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau, đặc biệt tạo điều kiện để đánh thắng địch trong chiến dịch quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Đông Xuân 1953-1954 đã hoàn thành đầy đủ một chiến lược.

        - Mùa Xuân năm 1975 ta mở liên tiếp 3 đòn tiến công chiến lược, liên kết chặt chẽ với nhau, đòn trước tạo điều kiện trực tiếp cho đòn sau. Đây cũng là một chiến cục với đầy đủ yếu tố của nó.

        4. Đòn tiến công chiến lược có thể thực hiện bằng một chiến dịch như trên đã nói. Trong mùa Xuân năm 1975 các đòn tiến công chiến lược đều thực hiện bằng 2-3 chiến dịch đồng thời hoặc kế tiếp. Đòn tiến công chiến lược giải phóng địa bàn quân khu 2 của địch được thực hiện bằng hai chiến dịch, chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch giải phóng ba tỉnh đồng bằng Khu 5. Đòn tiến công chiến lược giải phóng Trị - Thiên và chiến dịch giải phóng Quảng Ngãi và Quảng Tín (Quảng Nam ngày nay) chiến dịch kế tiếp, chiến dịch giải phóng Đà Nẵng. Đòn tiến công chiến lược giải phóng quân khu 3 và đặc khu Sài Gòn gồm hai chiến dịch đồng thời, chiến dịch giải phóng Xuân Lộc và chiến dịch giải phóng các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, chiến dịch kế tiếp giải phóng miền Đông Nam Bộ bao gồm cả đặc khu Sài Gòn.

        Đòn tiến công chiến lược được thực hiện bằng một số chiến dịch đồng thời hoặc kế tiếp được gọi là chiến dịch chiến lược (phân biệt với chiến dịch có ý nghĩa chiến lược đã nói ở trên).


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 09:19:14 PM

        II. CÔNG TÁC CHUẨN BỊ

        Để các chiến lược thành công, công tác chuẩn bị nổi lên hai nội dung chính: chuẩn bị lực lượng và chuẩn bị thế trận.

        A. CHUẨN BỊ LỰC LƯỢNG

        Đường lối quân sự của ta là đường lối toàn dân đánh giặc dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong, vì vậy lực lượng chung cho cuộc chiến tranh và riêng cho từng trận quyết chiến chiến lược là lực lượng của đông đảo quần chúng nhân dân và lực lượng vũ trang ba thứ quân.

        Chuẩn bị để có đông đảo nhân dân tham gia tác chiến.

        Trong chiến tranh nói chung và trong tác chiến nói riêng, nhân dân ngoài việc cung cấp những người con ưu tú của mình cho lực lượng vũ trang còn vừa phục vụ tác chiến vừa trực tiếp đấu tranh với địch.

        Trong tác chiến, đông đảo nhân dân đã tích cực chủ động tham gia hầu hết các công tác phục vụ tác chiến như đảm bảo “làm sạch” địa bàn tác chiến, cung cấp các loại vật chất, đảm bảo giao thông, tiến hành công tác thương binh, tử sĩ và nhiều công tác phục vụ khác. Nhân dân không chỉ phục vụ tác chiến mà còn trực tiếp đấu tranh với địch. Trong hầu hết các chiến dịch đều có lực lượng nhân dân tham gia làm công tác binh địch vận, phá tề trừ gian. Trong một số chiến dịch nhân dân còn tham gia trực tiếp đấu tranh với địch để ngăn chặn chúng giết người, cướp của, ngăn chặn chúng hành quân và đỉnh cao là nổi dậy cướp chính quyền ở cơ sở.

        Nhận rõ vai trò của đông đảo nhân dân trong chiến tranh nói chung và trong tác chiến nói riêng, Đảng ta, chính quyền ta và lực lượng vũ trang ta luôn luôn quan tâm đến công tác xây dựng phát huy sức mạnh của nhân dân trong kháng chiến.

        Với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, tinh thần quyết hy sinh hết thảy để giữ cho được nền độc lập vừa giành được đã dâng cao hơn bao giờ hết. Nhưng bước vào kháng chiến, do sự tàn bạo của địch đối với nhân dân (giết sạch, cướp sạch, tàn phá sạch) và cũng do một số tổn thất trong đánh địch của ta ở thời điểm nhất định trên một số địa phương nhất định, do một số đảng viên, cán bộ thoát ly khỏi quần chúng, tìm nơi yên thân để tránh địch, nên ở một số địa phương nhân dân hoang mang lo sợ, không biết làm gì để tham gia kháng chiến, tham gia đánh địch. Trước tình hình trên, đảng bộ các cấp (huyện, tỉnh, khu) đã đề ra chủ trương đưa đảng viên, cán bộ, lực lượng vũ trang bám dân. Đây là kinh nghiệm lớn nhất của ta trong việc xây dựng lực lượng quần chúng, tạo điều kiện để nhân dân đứng dậy trực tiếp tham gia kháng chiến. Tất nhiên, đi vào quần chúng để nắm quần chúng còn kết hợp với nhiều chủ trương chính sách cụ thể như chủ trương phá tề trừ gian, thực hiện tốt chính sách đối với các tầng lớp nhân dân như đối với đồng bào công giáo, đối với đồng bào các dân tộc ít người, chủ trương phát động tăng gia sản xuất để tự cấp, tự túc trong từng vùng, chủ trương đánh địch để bảo vệ dân, bảo vệ mùa màng...

        Nhờ có các chủ trương đúng đắn cùng với sự chịu đựng gian khổ, chịu đựng hy sinh của hàng vạn đảng viên, cán bộ, lực lượng vũ trang, chúng ta đã đưa được phong trào kháng chiến toàn dân, toàn diện ngày càng cao cả ở vùng sau lưng địch, trong các đô thị bị tạm chiếm.

        Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân.

        * Xây dựng dân quân tự vệ: Sau Cách mạng tháng Tám, Đảng bộ và chính quyền các cấp đều xây dựng lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) rộng khắp ở tất cả các thôn, bản, khu phố. Bắt đầu kháng chiến, DQTV đã cùng bộ đội chiến đấu dũng cảm, góp thành tích lớn trong việc đánh bại chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của địch.

        Tuy nhiên, do địch tàn sát đẫm máu nhằm chủ yếu vào đảng viên và DQTV nên ở một số địa phương lực lượng DQTV gặp nhiều khó khăn. Đảng ta đã tiến hành nhiều biện pháp để củng cố lực lượng DQTV, từng bước phát triển cả về số lượng cả về trình độ tác chiến. Một trong những biện pháp đặc biệt quan trọng là phân tán thành từng đại đội bộ đội chủ lực thâm nhập vào vùng sau lưng địch để cùng DQTV chiến đấu, giúp họ phát triển cả về số lượng và chất lượng. Trong năm 1948 và một phần năm 1949, phần lớn các trung đoàn bộ đội chủ lực chỉ để lại một tiểu đoàn tập trung, hai tiểu đoàn khác đưa từng đại đội vào từng vùng địch tạm chiếm (thông thường một huyện) vừa để chiến đấu vừa xây dựng lực lượng DQTV trưởng thành.

        * Xây dựng lực lượng địa phương: Từ đầu kháng chiến cho hết năm 1948 ta chưa tổ chức bộ đội địa phương. Nhưng các huyện ủy, tỉnh ủy đều thấy cần phải có lực lượng cơ động của huyện, tỉnh, đồng thời cần có lực lượng để thường xuyên giúp đỡ xây dựng DQTV, nên đã tổ chức các đơn vị DQTV thường trực, thoát ly sản xuất trực thuộc tỉnh, huyện. Các đội DQTV thường trực thuộc huyện, tỉnh, Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh thấy cần có thêm một tổ chức vũ trang bên cạnh bộ đội chủ lực và DQTV. Vì vậy, Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh tổ chức lực lượng vũ trang địa phương ở cấp huyện một đại đội, ở cấp tỉnh một tiểu đoàn bộ đội địa phương. Trong kháng chiến chống Mỹ, có huyện có tiểu đoàn bộ đội địa phương, có tỉnh có trung đoàn bộ đội địa phương. Bộ đội địa phương trực tiếp cùng DQTV và nhân dân chiến đấu, tạo điều kiện thuận lợi để bộ đội chủ lực tập trung, cơ động, chuẩn bị và thực hành các chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 09:22:53 PM

        * Bộ đội chủ lực: Một trong những bài học nổi lên là xây dựng bộ đội chủ lực phải phù hợp với khả năng và yêu cầu tác chiến. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, phần lớn các tỉnh đã xây dựng một chi đội (về sau chuyển thành trung đoàn). Ở Nam Bộ có tổ chức sư đoàn, nhưng đúng là hình thức này không thể duy trì để tác chiến được, một thời gian ngắn phải giải thể. Năm 1948 Bộ Tổng tư lệnh cũng đã có chủ trương thành lập đại đoàn, nhưng cũng chưa thực hiện vì trình độ của người chỉ huy, cùng với trang bị còn chưa đáp ứng yêu cầu. Trong giai đoạn từ đầu kháng chiến đến hết năm 1949, ta chỉ có thể chiến đấu ở quy mô tiểu đoàn đến trung đoàn. Năm 1948 tác chiến của ta chủ yếu là ở quy mô tiểu đoàn nên phần lớn các trung đoàn cũng chỉ duy trì một tiểu đoàn tập trung, các tiểu đoàn khác phân tán thành từng đại đội độc lập trực tiếp cùng dân quân tự vệ chiến đấu.

        Từ cuối năm 1949 đến hết kháng chiến chống Pháp, ta cũng chỉ tổ chức 5 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công pháo (1 trung đoàn công binh và 2 trung đoàn pháo binh). Ở chiến trường chính, chiến trường miền Bắc (từ Trị - Thiên trở ra), tại Trung Trung Bộ (Khu 5) ta cũng chỉ tổ chức bộ đội chủ lực đến cấp trung đoàn. Riêng ở chiến trường Nam Bộ, ta chỉ tổ chức bộ đội chủ lực đến cấp tiểu đoàn.

        Như vậy, trong kháng chiến chống Pháp, từ giai đoạn đầu do chưa có kinh nghiệm nên ta muốn tổ chức đơn vị lớn (Đại đoàn) để đánh lớn, về sau ta đã tổ chức lực lượng trên từng chiến trường phù hợp với khả năng của đất nước (người và vật chất, vũ khí trang bị) và khả năng sử dụng lực lượng của cán bộ chỉ huy.

        Sau hoà bình (1954) và trong kháng chiến chống Mỹ, chúng ta cũng đã có trường hợp tổ chức chưa phù hợp nhưng đã được sửa chữa kịp thời.

        Ở miền Bắc, ta đã xây dựng nhiều sư đoàn bộ binh, một số trung đoàn binh chủng kỹ thuật đồng thời tổ chức xây dựng hai quân chủng mới là Phòng không - Không quân và Hải quân.

        Ở miền Nam, lúc đầu có ý kiến là có thể đánh du kích, đánh nhỏ, cũng có thể giành được thắng lợi như đã diễn ra ở An-giê-ri. Quan điểm này dẫn đến chậm tổ chức đơn vị chủ lực lớn. Sau một thời gian ngắn, quan niệm này đã được khắc phục, ta bắt đầu xây dựng các trung đoàn và các sư đoàn ở chiến trường miền Nam.

        Đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, có chiến dịch ta đã sử dụng đến 5-6 sư đoàn, nhưng nếu ta vẫn giữ tổ chức sư đoàn là không phù hợp. Qua kinh nghiệm chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, ta đã kịp thời tổ chức quân đoàn. Các quân đoàn của ta đã tạo điều kiện thuận lợi đánh lớn trong mùa Xuân năm 1975. Riêng chiến dịch Hồ Chí Minh ta đã sử dụng cùng một lúc 4 quân đoàn (1, 2, 3, 4) và một đơn vị tương đương quân đoàn (Đoàn 232).

        Về tổ chức các trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn của các binh chủng kỹ thuật cũng cho ta một bài học lớn. Lúc đầu ta cho rằng địch mạnh hơn ta về binh chủng kỹ thuật, nhất là về không quân, ta có thể tổ chức lực lượng của nhiều binh chủng kỹ thuật ở quy mô hay không? Thực tế chiến tranh đã chứng minh hạn chế chính để không tổ chức được các đơn vị lớn của các binh chủng kỹ thuật là do khả năng về trang bị chứ không phải là khả năng về sử dụng.

        Lúc đầu ta suy nghĩ không biết có sử dụng hiệu quả được không quân hay không. Không quân muốn hoạt động nhất thiết phải dựa vào sân bay. Địch có nhiều khả năng vừa phá hoại sân bay vừa diệt máy bay ta đậu trên sân bay. Thực tế, ta đã sử dụng, không phải một trung đoàn không quân mà nhiều trung đoàn không quân. Về tên lửa, ta cũng đã xây dựng hơn mười trung đoàn và thấy nếu có nhiều hơn càng tốt. Về xe tăng và pháo binh, nếu nhiều phương tiện, lực lượng hơn ta vẫn có khả năng sử dụng tốt.

        Trong xây dựng lực lượng vũ trang về số lượng, điều kiện chủ yếu hạn chế của ta là khả năng trang bị và khả năng nuôi dưỡng, không phải do khả năng sử dụng trong tác chiến.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 09:23:23 PM

        Xây dựng lực lượng vũ trang về tinh thần chiến đấu và nghệ thuật tác chiến.

        Để chiến thắng cần có số quân đủ lớn với trang bị càng hiện đại càng tốt, nhưng điều quan trọng hơn trong xây dựng lực lượng vũ trang là xây dựng về tinh thần chiến đấu và nghệ thuật tác chiến. Ta thắng địch chủ yếu không phải vì ta có lực lượng lớn mà cái chính là quân ta có tinh thần chiến đấu cao và nghệ thuật tác chiến ưu việt.

        Nhân dân ta vốn có truyền thống yêu nước, được sự giác ngộ, lãnh đạo của Đảng nên sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc. Nhân dân đã cử những người con ưu tú của mình vào lực lượng vũ trang, vì vậy các chiến binh ta từ chiến sĩ đến cán bộ đều mang trong mình tinh thần sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc. Không chỉ dựa vào những gì đã có sẵn, Đảng ta đặc biệt chú trọng giáo dục rèn luyện từng chiến binh để tinh thần chiến đấu của họ ngày càng cao, chịu được quá trình tác chiến kéo dài vô cùng gian khổ, ác liệt và không ít thương vong.

        Chủ trương Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện lực lượng vũ trang, với chế độ chính ủy, chính trị viên, cùng các cơ quan chính trị được xây dựng mạnh ở tất cả các cấp là yếu tố cơ bản xây dựng cho lực lượng vũ trang ta vượt hẳn kẻ thù về mặt giác ngộ nhiệm vụ chính trị và tinh thần chiến đấu.

        Để xây dựng lực lượng vũ trang về nghệ thuật tác chiến, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh đã tiến hành hàng loạt biện pháp khác nhau:

        * Tổ chức cho cán bộ học tập tại các trường cả trong nước và ngoài nước. Phần lớn cán bộ trung cấp, cao cấp đều được cử đi học ở nước ngoài hoặc các trường quân sự trong nước.

        Dân tộc ta, lực lượng vũ trang ta qua nhiều thế hệ đã chiến thắng nhiều kẻ thù mạnh. Chúng ta đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm hết sức quý báu. Việc tổ chức cho tất cả cán bộ được học tập tại trường trong nước là cần thiết. Nhưng ta cũng phải thấy trong lịch sử các dân tộc đã diễn ra hàng nghìn vạn cuộc chiến tranh ở nhiều nước. Từng nước có kinh nghiệm riêng của họ, sự tích lũy tổng kết lý luận - thực tiễn chiến tranh nên nghệ thuật quân sự của nhiều nước cũng rất đa dạng, phong phú. Việc tìm hiểu nền nghệ thuật quân sự của nước ngoài sẽ làm cho nghệ thuật quân sự của ta càng phong phú thêm. Ta thường nói cần học tập kinh nghiệm nước ngoài một cách có chọn lọc. Muốn chọn lọc phải biết nước ngoài có gì. Không biết người ta có gì làm sao chọn lọc được. Xuất phát từ nhận thức như trên nên Bộ Tổng tư lệnh đã cử nhiều cán bộ ra nước ngoài học tập. Bản thân đồng chí Tổng tư lệnh và các đồng chí thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu cũng đều đã ra nước ngoài học tập. Việc đi nước ngoài học tập thực sự nâng cao thêm trình độ về nghệ thuật quân sự của các thế hệ cán bộ ta.

        * Để biến lý luận thành thực tiễn, ta đặc biệt chú trọng rèn luyện cán bộ ngoài chiến trường và kịp thời tổng kết các hoạt động tác chiến. Có thể nói tất cả cán bộ ở ta đều phải qua thực tiễn chiến đấu. Các cán bộ của Bộ Tổng tư lệnh, của các cơ quan quân khu cũng thay phiên nhau ra chiến trường trực tiếp chiến đấu. Đồng chí Tổng tư lệnh và thủ trưởng cơ quan của Bộ Tổng tư lệnh đều đã ra chiến trường trực tiếp chỉ huy tác chiến.

        Kết hợp học tập tại trường và rèn luyện trực tiếp trong tác chiến là biện pháp quan trọng đã giúp cho trình độ tác chiến của cán bộ trong lực lượng vũ trang ta ngày càng được nâng cao, được hoàn thiện.

        Để giành thắng lợi trong tác chiến, việc chuẩn bị lực lượng ngày càng mạnh là một khâu then chốt ở tầm vĩ mô, ở quy mô chiến lược của ta. Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân mạnh để làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc là một trong các nội dung cơ bản trong đường lối quân sự của Đảng ta


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 09:24:18 PM
   
        B. CHUẨN BỊ THẾ TRẬN

        Trong tác chiến, lực và thế đều là hai yếu tố quyết định thắng lợi. Trong hai cuộc kháng chiến, về lực, đối phương có nhiều mặt mạnh hơn ta như quân số đông, có trang bị mạnh; nhưng về thế thì ta luôn luôn mạnh hơn địch. Ta thường nói “thế ta là thế đứng trên đầu thù”.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một ví dụ rất hay nói lên sự quan trọng của thế. Người nói: “Quả cân chỉ nặng một ki-lô-gam, nhưng ở vào thế có lợi có sức mạnh làm bổng vật nặng hàng trăm ki-lô-gam”.

        Nguyễn Trãi cũng đã nói về sức mạnh của thời và thế: “Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hoá ra lớn, mất thời không thế thì mạnh hoá ra yếu, lại thành nguy, sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay”.

        Nhận thức được sự quan trọng của thế, trong lúc tạo lực mạnh, ta luôn tìm mọi biện pháp để phát huy thế mạnh của ta.

        1. Trên cơ sở đường lối toàn dân đánh giặc, thế quan trọng nhất mà ta đã tạo ra là thế “chiến tranh cài răng lược”. Thực vậy, nếu dàn thành trận tuyến quân đội hai bên đối địch nhau thì ta không thể đánh thắng địch. Thế “chiến tranh cài răng lược” được từng bước phát triển qua quá trình kháng chiến.

        Từ đầu cuộc kháng chiến, ta đã chủ trương để một bộ phận quan trọng lực lượng ở lại sau lưng địch khi chúng vượt qua để tiếp tục chiến đấu, đánh vào cạnh sườn sau lưng chúng. Nhờ vậy thế “cài răng lược” đã hình thành ngay từ đầu cuộc kháng chiến.

        Trên cơ sở có lực lượng ở lại vùng địch tạm chiếm, tiếp tục chiến đấu ngay trong quá trình kháng chiến chống Pháp, ta đã chủ trương biến hậu phương địch thành tiền phương ta. Thực hiện chủ trương trên ta từng bước đẩy mạnh cuộc chiến đấu ở nơi địch coi là hậu phương.

        - Để duy trì lực lượng chiến đấu của nhân dân, của lực lượng bán vũ trang, Trung ương Đảng cũng như các khu ủy, tỉnh ủy đề ra khẩu hiệu “Quân bám dân”. Thực hiện khẩu hiệu trên, hàng ngàn đảng viên, cán bộ đã không ngại hy sinh, bám sát địa bàn, tổ chức lại lực lượng để đẩy mạnh tác chiến. Bộ Tổng tư lệnh với chủ trương thực hiện đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung ở nhiều trung đoàn, đã đưa các đại đội bộ đội chủ lực vào vùng sau lưng địch để xây dựng và chiến đấu cùng dân quân tự vệ, tạo điều kiện để nhân dân và dân quân tác chiến ngày càng kết quả.

        - Không chỉ đẩy mạnh chiến tranh du kích để biến hậu phương địch thành tiền phương ta, Bộ Tổng tư lệnh còn đưa từng trung đoàn, đại đoàn vào vùng sau lưng địch chiến đấu. Từ đó chiến trường đã hình thành rõ rệt hai mặt trận, mặt trận ngoại tuyến và mặt trận nội tuyến phối hợp cùng nhau tác chiến.

        Bước sang cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ta đã phát triển thế chiến tranh cài răng lược với chủ trương biến hậu phương địch thành tiền phương ta ở vùng nông thôn đồng bằng, vùng đô thị. Thực hiện phương châm ba vùng chiến lược, ta đã làm cho chiến trường không đâu là tiền phương, không đâu là hậu phương của địch. Hầu hết địa bàn đều hình thành mặt trận đánh địch. Thế cài răng lược như cán bộ của chúng ta đã nói: “Cài răng lược đến đầu giường của địch”

        Thế cài răng lược ngày càng phát triển buộc địch phải rải quân để giữ khắp nơi, làm cho quân của chúng đông hoá ít. Suốt hai cuộc chiến tranh, chủ lực địch luôn đông hơn chủ lực ta, nhưng lực lượng cơ động chiến lược của ta lại luôn đông hơn địch.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 09:24:47 PM

        2. Sau thế trận tác chiến, ta còn xây dựng thế trận hậu phương của ta, xây dựng căn cứ địa kháng chiến ở các quy mô khác nhau.

        Hậu phương vững chắc là một yếu tố không thể thiếu trong thế trận. Một hậu phương vững chắc, an toàn là đặc biệt cần thiết để đẩy mạnh tác chiến của tiền phương. Hậu phương là nơi đặt các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy tác chiến. Hậu phương là nơi các binh đoàn tác chiến được xây dựng, được huấn luyện để chuẩn bị tiến ra chiến trường. Hậu phương là nơi cung cấp sức người, sức của cho tiền phương.

        Việc phá được hậu phương của địch, xây dựng vững chắc hậu phương của ta là một nguyên nhân quan trọng đưa cuộc kháng chiến của ta đi đến thắng lợi.

        Trong kháng chiến chống Pháp ta có 3 vùng hậu phương vừa rộng lớn vừa vững chắc. Đó là căn cứ địa Việt Bắc, vùng tự do gồm 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh của Liên khu 4, vùng tự do gồm 3 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên của Liên khu 5. Ngoài 3 căn cứ trên, từng liên khu, từng tỉnh đều có căn cứ hậu phương riêng của mình. Quân địch muốn xóa bỏ căn cứ nổi tiếng cả nước như Dương Minh Châu của Khu 7, Đồng Tháp của Khu 8, U Minh của Khu 9, nhưng chúng đều thất bại.

        Trong kháng chiến chống Mỹ, ta có hẳn một hậu phương rộng lớn là miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Có thể nói hậu phương miền Bắc có vai trò quyết định thắng lợi trong cuộc kháng chiến ở miền Nam. Đế quốc Mỹ đã huy động một lực lượng không quân, hải quân rất lớn để đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá để cô lập miền Nam, nhưng chúng hoàn toàn thất bại.

        Thành công của việc xây dựng thế trận hậu phương là một cuộc chiến đấu vô cùng gian khó và anh dũng, không kém gì cuộc chiến đấu ở tiền phương. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương của các khu ủy tỉnh ủy, nhân dân cùng lực lượng vũ trang đã vừa lao động hết sức mình, vừa chiến đấu quyết liệt với kẻ thù mới giữ vững được hậu phương.

        3. Chúng ta thường nói thiên thời, địa lợi, nhân hoà là ba yếu tố quan trọng tạo nên thắng lợi. Để có địa lợi trong chiến tranh không phải chỉ nhận rõ được tác dụng của từng loại địa hình đối với quá trình tác chiến mà còn phải đầu tư để xây dựng thế chiến lược của từng loại địa hình, xây dựng thế trận về địa hình.

        Hai phần ba địa hình nước ta là rừng núi. Địa hình rừng núi tạo thuận lợi để quân đội ta trang bị kém đánh thắng một quân đội có trang bị kỹ thuật hiện đại “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.

        Rừng núi đất nước ta từ Việt Bắc, xuyên qua chiều dài đất nước, kéo dài đến tận miền Đông Nam Bộ. Làm chủ được vùng rừng núi thì vừa có các căn cứ hậu phương vững chắc, vừa có thể uy hiếp vùng đồng bằng đô thị. Vùng rừng núi cho phép ta “Lùi khả dĩ thủ, tiến khả dĩ công”. Vì vậy, trong thế trận địa hình ta đã đặc biệt chú trọng làm chủ vùng rừng núi. Để làm chủ vùng rừng núi ta có hàng loạt chủ trương, biện pháp cụ thể:

        - Để chiến đấu lâu dài với địch, các cấp từ Trung ương đến địa phương đều chọn vùng rừng núi để xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương. Bắt đầu toàn quốc kháng chiến (ngày 19 tháng 12 năm 1946), trong khi tranh thủ chủ động tiến công địch ở các đô thị, ta đồng thời tổ chức di chuyển tài sản, cơ sở vật chất lên vùng rừng núi, cử cán bộ làm công tác chuẩn bị cần thiết để di chuyển cơ quan lãnh đạo, cơ quan chỉ huy lên vùng rừng núi.

        - Vùng rừng núi là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số anh em. Vì vậy chúng ta đã đề ra các chính sách dân tộc phù hợp để vừa bồi dưỡng sức dân vừa phát động đồng bào các dân tộc đoàn kết đứng dậy chống kẻ thù chung.

        - Có kế hoạch tác chiến cụ thể đánh trả địch tiến công lên vùng rừng núi. Ta đã thành công trong đánh địch tiến công lên Việt Bắc và vào các chiến khu khác ở khắp Trung, Nam, Bắc trong kháng chiến chống Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ, ta đã đánh bại hai cuộc hành quân lớn của Mỹ - ngụy để làm chủ rừng núi, là cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty ở miền Đông Nam Bộ (1967) và cuộc hành quân “Lam Sơn - 719” ở Đường 9 - Nam Lào (1971). Cả hai cuộc hành quân địch đều sử dụng quy mô nhiều sư đoàn với số lượng lớn pháo binh, xe tăng, máy bay các loại.

        - Những nơi địch tạm thời chiếm đóng ta đều mở các chiến dịch lớn để tiêu diệt và quét địch khỏi vùng rừng núi, nơi nổi lên là chiến dịch tiến công Tây Bắc (1952) và một loạt chiến dịch trong Đông Xuân (1953-1954) trong kháng chiến chống Pháp, chiến dịch Tây Nguyên (1975) trong kháng chiến chống Mỹ.

        - Ta đã xây dựng một con đường chạy suốt từ vùng núi Bắc Bộ, xuyên suốt dãy Trường Sơn vào đến miền Đông Nam Bộ không chỉ để làm chủ rừng núi mà cái chính là dựa vào rừng núi để cơ động lực lượng, thiết lập các hệ thống kho tàng chiến lược để chi viện cho các chiến trường.

        Làm chủ vùng rừng núi là thế trận trong hai cuộc kháng chiến và có lẽ đó cũng là thế trận của tương lai nếu chiến tranh xảy ra.

        Để tiến hành tác chiến chiến lược bao gồm hàng loạt công việc khác nhau, nhưng tạo lực mạnh, tạo thế có lợi là hai công việc hàng đầu. Ta đã tập trung nỗ lực cao nên đã tạo được lực mạnh và thế có lợi để đánh thắng địch.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 09:29:50 PM

        III. ĐIỀU HÀNH TÁC CHIẾN

        1. Giao nhiệm vụ cho các chiến trường binh đoàn cơ động trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh

        Công việc đầu tiên trong điều hành tác chiến là giao nhiệm vụ cho chiến trường, các binh đoàn cơ động trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Kế hoạch tác chiến chiến lược thường được xây dựng hằng mùa, hằng năm. Do thời gian dài nên tình huống có thể diễn biến phức tạp trong quá trình tác chiến. Để vừa nắm được chủ trương tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh, vừa quán triệt được nhiệm vụ tác chiến của đơn vị trong các tình huống khác nhau, trong đó có tình huống mới là dữ kiện, vì vậy Bộ Tổng tư lệnh thường giao nhiệm vụ trực tiếp trong hội nghị quân sự. Đối với chiến trường xa như Khu 5, Nam Bộ, có trường hợp cử phái viên vào phổ biến nhiệm vụ. Trường hợp giao nhiệm vụ qua điện đài, để giữ bí mật, chỉ giao nhiệm vụ trước mắt, quá trình tác chiến sẽ giao nhiệm vụ bổ sung.

        Trong hội nghị quân sự, trước khi giao nhiệm vụ thường tiến hành tổng kết các hoạt động tác chiến trước đó, sau khi giao nhiệm vụ thường hướng dẫn phương pháp tác chiến cả về chiến thuật, chiến dịch và chiến lược.

        Kế hoạch từng năm, từng mùa có khi đề ra được cụ thể các bước, các đợt tác chiến, có khi mới dừng lại ở ý định tác chiến, còn kế hoạch tác chiến cụ thể mới chỉ là dự kiến. Vì vậy nhiệm vụ của các chiến trường có khi đề ra cụ thể, có khi chỉ đề ra yêu cầu. Các chiến trường căn cứ vào yêu cầu mà chủ động đề ra kế hoạch tác chiến của mình. Đông Xuân 1953-1954 Khu 5 được giao nhiệm vụ cụ thể mở chiến dịch tiến công vào Tây Nguyên. Xuân Hè năm 1972, Tây Nguyên được giao nhiệm vụ mở chiến dịch tiến công vào Bắc Tây Nguyên. Nam Bộ được giao nhiệm vụ mở chiến dịch tiến công ở miền Đông Nam Bộ. Trái lại một số mùa khác, năm khác, các chiến trường chỉ được giao nhiệm vụ đẩy mạnh tác chiến để phối hợp chiến trường, giam chân địch, không cho chúng điều tra chi viện cho chiến trường chính, đẩy mạnh chiến tranh du kích ... Các chiến trường căn cứ vào khả năng của mình để đặt kế hoạch tác chiến. Các binh đoàn cơ động chiến lược có thể được giao nhiệm vụ cụ thể, thường là tham gia hoạt động ở đâu, trong chiến dịch nào. Tuy nhiên căn cứ vào tình hình, nếu Bộ tư lệnh đã xác định từ đầu các đòn tấn công chiến lược thì các binh đoàn cơ động chiến lược được giao nhiệm vụ cụ thể từ đầu. Cũng có mùa, có năm Bộ Tổng tư lệnh mở đầu tác chiến để thăm dò phản ứng của địch, sau đó căn cứ vào phản ứng của địch mới xác định được nhiệm vụ cụ thể sử dụng các binh đoàn vào chiến trường nào. Đông Xuân 1953-1954, lúc đầu Bộ Tổng tư lệnh chưa xác định nhiệm vụ cụ thể cho 3 đại đoàn chủ lực là 304, 308, 312. Với phương châm tác chiến: “Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”, với chủ trương phân tán lực lượng cơ động của địch, Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ cụ thể cho Khu 5 và các đại đoàn 325, 316. Sau khi địch đánh chiếm Điện Biên Phủ với lực lượng lớn, Bộ Tổng tư lệnh mới quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ và giao nhiệm vụ cho các đại đoàn 304, 308, 312, 316, Đại đoàn công - pháo 351 tham gia chiến dịch này.

        Kế hoạch tác chiến chiến lược thường được phổ biến trong hội nghị quân sự, khi cần có thể cử phái viên đến đơn vị trực tiếp phổ biến, rất ít khi truyền bằng điện đài.

        2. Mở đầu tác chiến

        Kết quả của mở đầu tác chiến ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tác chiến. Vì vậy trong điều hành tác chiến, cấp chiến lược rất xem trọng việc chỉ đạo mở đầu tác chiến. Trong hai cuộc kháng chiến đã có các tình huống mở đầu khác nhau:

        a) Tất cả các chiến trường mở đầu cùng một thời gian.

        Trường hợp này diễn ra khi thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược phụ thuộc nhiều vào yếu tố bất ngờ. Trong hai cuộc chiến đã có hai lần yêu cầu tất cả các chiến trường cùng tiến công vào một giờ, một ngày. Đó là cuộc tiến công mở đầu toàn quốc kháng chiến (19-12- 1946) trong đánh Pháp và cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968) trong đánh Mỹ.

        Cuộc tiến công mở đầu toàn quốc kháng chiến, nhiều chiến trường bắt đầu tác chiến chậm hơn chiến trường chính, chiến trường Hà Nội. Việc này có thể hiểu được vì thời gian đó tư lệnh các chiến trường chưa có kinh nghiệm về tổ chức và chuẩn bị tác chiến, phương tiện thông tin từ Bộ xuống các chiến trường còn nhiều hạn chế.

        Cuộc tiến công Tết Mậu Thân lại diễn ra tình trạng chiến trường đánh trước, chiến trường đánh sau. Khu 5 bao gồm cả Tây Nguyên đánh vào đêm trước. Trị - Thiên và Nam Bộ đánh vào đêm sau. Việc không đánh vào cùng một đêm, gây khó khăn lớn cho các chiến trường đánh vào đêm sau, vì địch đã có đề phòng nhất định. Khuyết điểm này cần làm rõ, đó là trách nhiệm của Bộ Tổng tham mưu, trực tiếp là cơ quan tham mưu tác chiến chiến lược. Tết Mậu Thân, cơ quan làm lịch của ta xác định rằng Tết Việt Nam diễn ra trước tết truyền thống (dựa theo lịch Trung Quốc), Khu 5 theo lịch mới của ta, đánh trước một ngày. Trị - Thiên và Nam Bộ theo lịch truyền thống của các năm trước, nên đánh sau một ngày. Tôi cho rằng cơ quan tham mưu tác chiến chiến lược không thể không biết chủ trương thay đổi lịch, nhưng đã không có biện pháp để xử lý tình huống trên.

        b) Các chiến trường phối hợp mở đầu trước, chiến trường chính mở đầu sau.

        Các chiến trường phối hợp mở đầu trước nhằm mục đích:

        - Làm cho địch phán đoán đâu là chiến trường chính, đâu là chiến trường phối hợp.

        - Các chiến trường phối hợp đánh trước để có thời gian đẩy tác chiến lên trình độ cao nhằm kìm giữ địch tại chỗ, không cho chúng điều lực lượng để chi viện cho chiến trường chính.

        Phần lớn các cuộc tiến công chiến lược ta đều chủ trương để chiến trường phối hợp đánh trước, chiến trường chính đánh sau. Tết Mậu Thân, để bất ngờ tiến công vào các đô thị, ta cho chiến trường rừng núi đánh trước, trong đó trọng điểm là Đường 9 - Khe Sanh. Đáng tiếc chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh chỉ đánh trước 10 ngày, chưa đủ thời gian để điều được lực lượng của địch lên chiến trường này thì cuộc tiến công vào các đô thị đã bắt đầu. Tóm lại, mở đầu tác chiến sao cho có lợi là sự tính toán trên nhiều mặt. Thực hiện đúng thời gian mở đầu tác chiến của từng chiến trường theo quy định là một việc không đơn giản, trong điều kiện trình độ tác chiến và chuẩn bị tác chiến của cán bộ ta còn có hạn chế nhất định, nhất là khi phải tổ chức và chuẩn bị tác chiến trong thời gian ngắn. Một ảnh hưởng rất quan trọng nữa là bộ đội ta từ du kích từng bước tiến lên chính quy nên còn mang theo nhiều tác phong du kích. Xây dựng tác phong chính quy, xây dựng tính kỷ luật cao là một yêu cầu để các chiến trường thực hiện đúng thời gian mở đầu chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 09:30:42 PM

        3. Điều hành quá trình tác chiến

        a) Phán đoán hành động của địch.

        Khi tác chiến chiến lược đã bắt đầu, cấp chiến lược cần nắm vững tình hình diễn ra trên các chiến trường khác nhau để có những quyết sách phù hợp.

        Cấp chiến lược trước hết phải dự kiến được các biện pháp đối phó của địch để chủ động tiến hành các chủ trương các biện pháp đánh bại địch. Ta có thể dự đoán hai, ba khả năng đối phó của địch nhưng cần xác định khả năng nào nhiều nhất mới có điều kiện tập trung sự chỉ đạo, tập trung lực lượng, vạch kế hoạch tác chiến sát với tình hình để đánh bại địch.

        Dự đoán đúng tình huống chưa diễn ra là một điều khó. Do nắm chắc lực lượng địch, nắm được đặc điểm của người chỉ huy của chúng, nhất là nắm được các quy luật đối phó của chúng, ta thường phán đoán đúng, nhưng cũng không ít lần phán đoán không đúng.

        Đòn tiến công chiến lược vào chiến trường Biên Giới Thu Đông năm 1950, ta phán đoán nếu đánh Đông Khê, địch phải đưa viện binh từ Thất Khê lên chiếm lại Đông Khê nếu muốn duy trì việc chiếm đóng biên giới. Nếu rút bỏ biên giới cũng phải đưa quân lên Đông Khê để đón quân ở Cao Bằng rút về. Tình huống đã diễn ra như ta phán đoán, nhưng ta không dự kiến được địch không những chỉ bỏ khu vực biên giới từ Cao Bằng đến Lạng Sơn mà còn bỏ cả Lạng Sơn và Đình Lập chạy về Tiên Yên.

        Năm 1951, trong chiến dịch Đường 18, ta dự đoán địch sẽ đưa viện binh lên giải toả nhưng thực tế địch không lên, nên ta buộc phải kết thúc chiến dịch sớm. Đông Xuân 1953-1954, ta phán đoán đúng: nếu ta mở một số cuộc tiến công vào một số chiến trường khác nhau, ta sẽ phân tán được khối chủ lực cơ động của địch, tạo điều kiện thuận lợi để bao vây tiến công tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ.

        Qua một số tình huống đã diễn ra, ta thấy có thể phán đoán được hành động đối phó của địch khi bị ta tiến công. Nhưng không phải lúc nào cũng có thể phán đoán đúng. Vì vậy, đây là một công tác đòi hỏi phải nghiên cứu tình hình địch trên nhiều mặt, đào sâu suy nghĩ, nghiên cứu nhiều lần mới có thể phán đoán đúng các hành động của địch sắp diễn ra.

        b) Chỉ đạo chỉ huy các chiến trưởng trong quá trình tác chiến.

        Chỉ đạo chỉ huy các chiến trường trong quá trình tác chiến đã diễn ra hai tình huống khác nhau với các yêu cầu khác nhau.

        - Trong tác chiến chiến lược, nếu đòn tiến công chiến lược chỉ tiến hành trên một chiến trường, thường là trên chiến trường chính, các chiến trường khác tiến hành tác chiến theo khả năng để cải thiện tình hình trên chiến trường mình và phối hợp tác chiến tạo điều kiện thuận lợi cho chiến trường chính.

        Trong trường hợp này, cấp chiến lược thường trực chỉ huy đòn tiến công chiến lược trên chiến trường chính. Có thể do đồng chí Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy hoặc ủy quyền cho thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu chỉ huy. Đối với các chiến trường khác, chủ yếu theo dõi tình hình diễn biến và có những chỉ thị cần thiết khi cần.

        - Trường hợp tác chiến chiến lược được thực hiện bằng nhiều đòn tấn công chiến lược khác nhau, trên các chiến trường khác nhau, thành một chiến cuộc.

        Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 được tiến hành bằng ba đòn tấn công chiến lược: đòn tấn công chiến lược ở Tây Nguyên, đòn tấn công ở Trung Hạ Lào, đòn tấn công chiến lược ở Tây Bắc và Thượng Lào.

        Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chiến cuộc mùa Xuân năm 1975 cũng gồm ba đòn tiến công chiến lược: đòn tiến công giải phóng địa bàn quân khu 2 của địch, đòn tiến công giải phóng địa bàn quân khu 1, đòn tiến công giải phóng địa bàn quân khu 3 và đặc khu Sài Gòn. Điểm nổi bật trong chiến cuộc mùa Xuân năm 1975 là các đòn tiến công chiến lược đều thực hiện bằng 2-3 chiến dịch đồng thời và kế tiếp.

        Trong trường hợp tác chiến chiến lược được thực hiện bằng nhiều đòn tiến công chiến lược, hình thành một chiến cuộc, đòi hỏi Bộ Tổng tư lệnh phải chỉ huy cụ thể quá trình tác chiến trên từng chiến trường với các quy định cụ thể: lực lượng sử dụng, thời gian bắt đầu tác chiến, cách đánh và yêu cầu đạt được từng đợt của chiến dịch, từng chiến dịch trong đòn tấn công chiến lược, thời cơ kết thúc tác chiến ...

        Trong chiến cuộc mùa Xuân năm 1975, khi chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi lớn, Bộ Tổng tư lệnh đã lệnh cho chiến trường Trị - Thiên chuyển sang kế hoạch thời cơ, tiến công giải phóng toàn bộ Trị - Thiên. Khi chiến trường Trị - Thiên thắng lợi trọn vẹn, Bộ Tổng tư lệnh đã lệnh cho Quân khu 5 và Quân đoàn 2 tiến công giải phóng Đà Nẵng, đồng thời nhanh chóng cơ động lực lượng để tiến hành chiến dịch Hồ Chí Minh đánh vào cơ quan đầu não của địch để giải phóng hoàn toàn miền Nam.

        c) Chỉ đạo kết thúc tác chiến.

        Bộ Tổng tư lệnh căn cứ vào tình hình diễn ra trên các chiến trường khác nhau để chỉ đạo kết thúc tác chiến ho từng chiến trường.

        Một công tác lớn sau lúc kết thúc tác chiến là củng cố thắng lợi đã giành được để chuẩn bị tác chiến chiến lược cho mùa tiếp theo. Nói chung chúng ta đã tiến hành kịp thời các công tác củng cố thắng lợi nên đã tạo điều kiện thuận lợi để tác chiến chiến lược từng bước tiến lên. Nhưng khi thắng lợi diễn ra quá nhanh trong mùa Xuân năm 1975, ta không có kế hoạch cụ thể để quản lý vùng mới giải phóng, quản lý các thành phố lớn, vì vậy đã gây nhiều tổn thất về vật chất và về cả tinh thần.

        Tác chiến chiến lược muốn giành thắng lợi phải có chủ trương đúng và tổ chức chuẩn bị chu đáo. Nhưng việc điều hành tác chiến đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Chỉ có giành được thắng lợi trong tác chiến mới biến được chủ trương thành hiện thực, mới giành được thắng lợi về mặt chiến lược từng bước, để giành thắng lợi hoàn toàn, đánh bại kẻ địch.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 09:45:06 PM
       
PHẦN THỨ HAI

NHỮNG TRANG HỒL ỨC VỀ CUỘC ĐỜI.
VỀ CHIẾN TRANH
VÀ NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI 50 NĂM TRONG QUÂN NGŨ


ĐÔI LỜI TÂM HUYẾT

        Trong lúc còn đi học, tôi có mong muốn lúc trưởng thành sẽ làm một nghề tự do nào đấy: sản xuất, buôn bán, thầy thuốc ... Tôi nghĩ mình là dân xứ Nghệ, lại sinh trưởng trong một dòng họ có nhiều người chống đối chính quyền thực dân phong kiến, khó thành đạt trên con đường công chức nhà nước.

        Cuộc đời không theo ý muốn ban đầu của nhiều người, trong đó có tôi. Tôi đã ở trong quân ngũ suốt 50 năm, ở trong một tổ chức chặt chẽ nhất, kỷ luật cao nhất so với tất cả tổ chức khác của một nhà nước.

        Bây giờ tuổi đã cao, sức đã yếu, tôi muốn ghi lại cuộc đời mình. Trước hết để con cháu biết cha, ông đã sống như thế nào. Sau nữa, nếu có thể sẽ giúp ai đó muốn biết thêm trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân đội ta đã chiến đấu từ nhỏ đến lớn, từ ít kinh nghiệm ban đầu cho đến lúc dày dạn trận mạc, đọc những trang hồi ức này, tôi cũng thấy vui.

        Tôi mong con và cháu của tôi giữ lại những trang hồi ức này như một kỷ vật của gia đình. Tôi thành thật cảm ơn bất kỳ ai đọc những trang hồi ức của tôi, vì như vậy dẫu sao lao động của tôi cũng có ích.

        Tôi cũng rất mong được lượng thứ, vì tuổi đã cao, trí nhớ đã giảm, nên một số tên người trong những trang hồi ức được viết có thể không chính xác.


CON ĐƯỜNG VÀO QUÂN NGŨ

        I. THỜI THƠ ẤU VÀ ĐỜI HỌC SINH (1928-1943)

        Theo gia phả họ Hoàng ở Nghệ An, tôi là hậu duệ đời thứ 21 của Hoàng Tá Thốn, tục truyền là một danh tướng đời Trần, một chuyên gia về bơi lặn (như đặc công nước ngày nay) đã làm chìm thuyền chiến của địch... Do công lao góp phần quan trọng đánh bại thủy quân địch trên sông Bạch Đằng, ông được phong danh hiệu Sát Hải Đại Vương. Cũng không rõ đây là danh hiệu vua phong, hay là sự suy tôn của nhân dân. Hiện nay có đền thờ Sát Hải Đại Vương ở huyện Yên Thành.

        Có lẽ dòng họ, từ Sát Hải Đại Vương, có địa vị trong xã hội, nên các con cháu sau này được học hành nhiều và cũng có một số người thành đạt. Qua nho học, người nào đỗ đạt ra làm quan, ai không thi đậu, hoặc chỉ là cử nhân, tú tài, thường làm thầy thuốc, ít người làm thầy đồ. Ông tổ, sáu đời trên tôi, tức đời thứ hai từ Quỳnh Lưu vào định cư ở Nghi Lộc làm thầy thuốc đến ngự y (thầy thuốc của nhà vua). Các con cháu cụ nhiều người là thầy thuốc giỏi, trong đó có ông nội và bác ruột tôi.

        Ông tôi là thầy thuốc giỏi nên gia đình có điều kiện vật chất để các con được học hành. Bác tôi đi thi đã vào được tam trường nhưng đến phúc hạch thì bị hỏng, trở về làm thầy thuốc. Bố tôi trước cũng theo nho học. Sau đó nhà nước bỏ thi Hán văn, bố tôi quay sang học quốc ngữ. Ông cũng có hai bằng: thí sinh và khoá sinh. Tôi đã được xem hai bằng này. Có lẽ thi sinh tương đương bằng sơ học yếu lược và khoá sinh tương đương bằng tiểu học sau này. Tôi cũng không hỏi bố tôi và cũng không nghiên cứu các văn bằng đó, chỉ biết bố tôi, toán, thành thạo về phân số và chia học đại số.

        Bố tôi tên là Hoàng Văn Hệ, lấy vợ là Đặng Thị Ngung, cũng con nhà giàu (các cụ thời xưa lấy môn đăng hộ đối làm tiêu chuẩn hàng đầu để dựng vợ gả chồng). Bố mẹ tôi thừa kế cả nội ngoại được hai mẫu ruộng (mẫu Trung Bộ). Bố tôi do được học hành nên ông không làm ruộng mà đi kinh doanh đủ nghề: mở cửa hàng ăn ở Vinh, đi làm thầu khoán, mở trang trại... Đến khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 bố tôi trở về quê làm ăn. Ông cho rằng mình không gặp thời vận, nhưng ngày nay tôi hiểu là do ít vốn nên bị những người trường vốn đè bẹp. Cũng may, lúc cần vốn, ông tự lo liệu không bán ruộng làm vốn. Thời đó có nhiều người bán ruộng làm vốn kinh doanh, kinh doanh thất bại rơi vào cảnh cùng cực đói rét.

        Mẹ tôi, với hai mẫu ruộng cày cấy đủ nuôi các con và nuôi chồng lúc thất nghiệp. Một điều đặc biệt, mẹ tôi là một nông dân thuần tuý. Nông dân thường có tính tư lợi (cũng do hoàn cảnh, làm cho đủ ăn đã khó) nhưng mẹ tôi rất rộng rãi, từ việc tiếp đón bà con, khách khứa, cho đến đối xử với người làm công. Năm 1945 mẹ tôi đã giúp đỡ cho những người làm thuê thiếu thốn. Năm đó làng tôi chết đói 200 người, nhưng những người làm thuê cho gia đình tôi nhờ sự giúp đỡ của mẹ tôi mà vượt qua được. Các chị em tôi thường nói: nhờ bố mẹ ăn ở phúc đức nên để lại may mắn cho con cháu. Các con trải qua chiến tranh ác liệt, luôn có mặt ở chiến trường nhưng đều an toàn. Ngày nay con cháu đều làm ăn phát đạt. Tôi không xác định suy nghĩ đó đúng hay không. Nhưng có điều đúng là do kế thừa cách sống của bố mẹ nên các anh chị em tôi người nào cũng rộng rãi, đối xử tốt với mọi người, giúp đỡ nhau trong họ hàng cũng như giúp đỡ người ngoài một cách vô tư.

        Cha mẹ tôi sinh được bảy người con, hai trai năm gái. Trước Cách mạng chỉ một mình tôi được học từ trường xã lên trường tỉnh. Anh tôi học chữ Hán để kế nghiệp bác tôi làm thầy thuốc, nhưng từ năm 1941 anh tôi bị đi tù, sau khôi phục làm cán bộ địa phương rồi vào bộ đội nên bỏ luôn nghề thuốc. Hai chị gái tôi đều không được học hành gì, ở nhà cùng làm ruộng cho đến khi đi lấy chồng. Hai em gái cũng đều được đi học sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.

        Tôi đi học từ bé, ba năm trường xã, ba năm trường huyện và sau đó lên thành phố tiếp tục học cao đẳng tiểu học (ngày nay gọi là trung học cơ sở). Tôi học chăm chỉ và thuộc loại giỏi trong lớp, các kỳ thi đều đậu, thi tốt nghiệp cũng như thi vào học ở hệ trên. Sau khi học hết tiểu học, tất cả bạn bè tôi cùng làng đều bỏ học. Thời đó lên thành phố học rất tốn kém, tầng lớp trung nông như gia đình tôi không đủ khả năng cho con học tiếp. Tôi có bác ruột, làm thuốc, thường chữa bệnh cho nhiều người giàu có nên bác tôi tìm được một gia đình cần gia sư và giới thiệu đến đó ở, vừa đi học vừa dạy kèm con chủ nhà học. Gia sư, danh nghĩa chỉ dạy kèm con chủ nhà học, nhưng thực tế phải làm đủ việc như một bảo mẫu: đưa con người ta đi chơi, tắm rửa cho chúng, trông chừng chúng không chơi nghịch, v.v ... Tôi lên thành phố học, nhưng phải học trường tư, trường Lễ Văn của ông Nguyễn Đức Bình. Sau khi tốt nghiệp tiểu học, gia đình chưa có quyết tâm cho tôi lên thành phố học nên tôi không thi vào trường công. Đến khi tìm nơi ở làm gia sư thì kỳ thi vào trường cũng đã qua. Tôi đành phải học trường tư. Trường tư trình độ giáo viên cũng như học viên đều yếu hơn trường công. Khi đó thi tỷ lệ đậu cũng thấp hơn nhiều. Tuy vậy hết năm thứ nhất, thầy giáo Ước nói, những trò nào tiếng Pháp đạt điểm 12/20 và được xếp loại 10 trở lên thì có nhiều khả năng thi đậu. Tôi yên tâm học trường tư và quyết học giỏi để thi đậu. Đáng tiếc là tháng 11 năm 1943, Mỹ ném bom phá huỷ hoàn toàn nhà máy xe lửa Trường Thi, đánh phá nhiều nơi trong thành phố, nhà trường phải di chuyển ra khỏi thành phố, xa nơi tôi ở, nên tôi đành phải thôi học ở năm thứ ba.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2017, 09:49:28 PM

        II. THAM GIA CÁCH MẠNG (1945-1946)

        Gia đình tôi, cả họ Hoàng của ông tôi và họ Trần của bà tôi đều có nhiều người tham gia cách mạng từ năm 1930. Chú họ tôi là Hoàng Văn Tâm, bí thư đầu tiên của huyện ủy huyện Nghi Lộc, bị địch bắn chết năm 1931. Trong thời gian hoạt động, chú tôi lấy nhà thờ họ Hoàng làm trụ sở bí mật của huyện ủy, nên hiện nay nhà thờ họ Hoàng được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá. Chú ruột tôi, ông Hoàng Văn Mỹ bị bắt năm 1930, đày đi Kon Tum, đến khi phong trào bình dân lên cầm quyền ở Pháp mới được tha về. Bác ruột tôi, anh ruột tôi cũng đều ở tù. Bên họ Trần của bà tôi cũng có ba người ở cạnh nhà tôi tham gia Xô - viết Nghệ Tĩnh, một người bị bắn ở quê, hai người bị đày đi Kon Tum nên hy sinh ở đấy.

        Năm 1930, tôi mới hai tuổi, chưa biết gì. Sau khi chú tôi ở tù về, anh tôi bắt đầu tham gia cách mạng. Những năm đó, tôi còn nhỏ, đang tuổi đi học, nên chỉ được đọc sách về cách mạng, chưa tham gia hoạt động gì. Từ năm 1940-1944 hầu hết những người tham gia cách mạng đều bị ở tù. Phong trào lắng xuống nên tôi cũng chỉ tiếp tục đi học.

        Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, một số tù chính trị được thả ra, tiếp tục gây dựng lại tổ chức cách mạng ở địa phương. Cuối tháng 3, qua giới thiệu của chú tôi và anh tôi, đồng chí Hợp đến gặp tôi, đề nghị tôi tham gia vào Mặt trận Việt Minh. Tôi đồng ý ngay. Những người bị áp bức bóc lột thường sớm giác ngộ đi theo cách mạng, ở trường hợp tôi thì không phải, mà chính là do truyền thống của gia đình. Mọi người tham gia cách mạng thì tôi cũng tham gia cách mạng. Theo triệu tập của đồng chí Hợp, tôi dự cuộc họp với các cán bộ Việt Minh huyện Nghi Lộc. Hội nghị nhằm mục đích bầu ra ban chấp hành lâm thời của Mặt trận Việt Minh huyện. Tôi và đồng chí Hoàng Niệm (sau này là tư lệnh bộ đội thông tin) là hai thành viên mới tham gia hoạt động, nhưng cũng được bầu làm ủy viên ủy ban chấp hành huyện. Theo giải thích của các đồng chí khác, Mặt trận Việt Minh sẽ thành lập các tổ chức quần chúng nên phải có người trong ban chấp hành đảm đương từng tổ chức một. Tôi sẽ lo vận động thanh niên, chủ yếu trong số học sinh, để tổ chức Đoàn thanh niên cứu quốc. Đồng chí Hoàng Niệm hoạt động trong công nhân về tổ chức cho Hội công nhân cứu quốc.

        Tháng 5 năm 1945, ông Phan Anh trong chính quyền Trần Trọng Kim lập ra đoàn thanh niên. Chúng ta chủ trương lợi dụng tổ chức của chúng làm nơi hoạt động công khai để tuyên truyền những người tâm huyết vào mặt trận Việt Minh. Bởi vậy tôi phải đưa người của Việt Minh vào trực tiếp nắm các vị trí chủ chốt trong tổ chức của chúng. Đồng chí Nguyễn Trường Bờn (sau này đi bộ đội lấy tên là Lữ Giang) cũng là ủy viên ban chấp hành Việt Minh huyện làm lãnh tụ thanh niên huyện của tổ chức thanh niên Phan Anh, các lãnh tụ thanh niên (đơn vị dưới huyện gồm các xã) cũng đều là cán bộ Việt Minh, trong đó có anh rể tôi là Nguyễn Đình Phượng làm lãnh tụ thanh niên tổng Đăng Xá. Anh Nguyễn Đình Phượng được giác ngộ, tham gia cách mạng từ trước tháng 8 năm 1945 nên tuy thành phần thuộc lớp trên, vẫn được cử làm công an huyện Nghi Lộc, về sau làm phó giám đốc công an tỉnh Nghệ An. Thời kỳ này hoạt động của tôi chủ yếu là dựa vào tổ chức thanh niên của chính quyềnTrần Trọng Kim để tuyên truyền họ vào Mặt trận Việt Minh. Cho đến trước khởi nghĩa, huyện Nghi Lộc chưa tổ chức được các đoàn thể riêng. Ngay Mặt trận Việt Minh ở tổng, ở xã cũng chưa có ban chấp hành. Cả tổng mới có năm tổ, ở một số ít xã có tổ Việt Minh.

        Khoảng tháng 6, các đồng chí tham gia cách mạng từ trước ở các nhà tù về đông nên cấp trên chỉ đạo bầu lại ban chấp hành Việt Minh ở một số địa phương. Tôi vì tuổi còn ít (17 tuổi), trình độ có hạn nên được cử về tổng Vân Trình phụ trách tổ Việt Minh của tổng và lo việc tổ chức các tổ Việt Minh ở các xã. Tháng 7 chúng tôi bắt đầu đi tuyên truyền về chính sách của Mặt trận Việt Minh, công việc tiến hành hầu như công khai. Chính quyền Pháp đã bị Nhật đảo chính, Nhật đang trong quá trình thua trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, chúng chỉ lo vơ vét vật tư để cung cấp cho nhu cầu chiến tranh. Chính quyền cấp huyện, cấp xã, những tên chống đối bị trừng trị, ngay cả tri huyện cũng bị giết, nên chúng chủ trương làm ngơ. Tháng 8, sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh để chuẩn bị cho việc cướp chính quyền, tại các tổng đều tổ chức các cuộc mít tinh với đông đảo quần chúng tham gia. Tại tổng Vân Trình, chúng tôi cũng tổ chức một cuộc mít tinh với mấy nghìn người tham gia, kêu gọi quần chúng đứng lên khởi nghĩa và kêu gọi các tổng lý đi theo cách mạng, đóng góp tiền của cho Việt Minh. Ngày 21 tháng 8, ngày chính thức cướp chính quyền ở huyện, ban chấp hành Việt Minh huyện một mặt vào trụ sở của huyện để cướp trụ sở, tịch thu tất cả tài liệu của chúng, sau đó cho chúng được tự do trở về quê, mặt khác tổ chức một cuộc mít tinh lớn ở núi Bửa (nay thuộc xã Nghi Hoa) để ra mắt chính quyền cách mạng, do đồng chí Lê Đình Vỹ làm chủ tịch. Tôi dẫn đầu đoàn quần chúng ở tổng Vân Trình về dự mít tinh. Sau khi có chính quyền ở huyện, ta bắt đầu tổ chức chính quyền ở các xã.

        Tháng 11 năm 1945, tôi được triệu tập về ban tuyên truyền của Tỉnh bộ Việt Minh để bổ sung vào đoàn tuyên truyền lưu động. Sau một tuần học tập, tổ của tôi gồm ba đồng chí được phân công đi tuyên truyền ở huyện Thanh Chương. Nhiệm vụ chính là tuyên truyền việc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được tổ chức vào ngày 6 tháng 1 năm 1946. Suốt tháng 12, chúng tôi lần lượt đi qua nhiều xã của huyện Thanh Chương để làm nhiệm vụ. Đợt công tác này, chúng tôi không được cấp một đồng kinh phí nào. Đi xe miễn phí với giấy giới thiệu của chính quyền cách mạng tỉnh. Ăn uống do chính quyền xã lo. Chính quyền địa phương thường giới thiệu chúng tôi đến các gia đình có chỗ ở rộng rãi. Sau khi trở về ban tuyên truyền Việt Minh tỉnh, tôi được cấp trên thông báo cho về nghỉ ít ngày để sau Tết đi học trường quân sự quân khu mới mở ở Nhượng Bạn thuộc tỉnh Hà Tĩnh.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2017, 04:18:52 PM

        III. Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU

        Gia nhập quân đội với giấy giới thiệu của cơ quan quân sự tỉnh Nghệ An, tôi và nhiều đồng chí khác đến trường quân sự quân khu. Đây là nơi nghỉ mát của thực dân Pháp trước đây. Trường do đồng chí Hồ Tùng Mậu là hiệu trưởng, giáo viên có hai đồng chí là giải phóng quân cũ, dạy về chiến thuật. Trong hai đồng chí tôi nhớ rõ có một đồng chí là Bế Kim Doanh, người Cao Bằng. Sau này làm tư lệnh phó Quân khu 1, tôi có ý hỏi thăm anh em ở Cao Bằng về gia đình đồng chí Bế Kim Doanh, được biết đồng chí chưa lập gia đình và sau này hy sinh ở Nam Bộ với chức vụ trung đoàn trưởng (quãng năm 1948 - 1949). Giảng viên kỹ thuật có một đồng chí người Đức và hai sĩ quan người Nhật. Thời gian học là ba tháng. Những năm đó, chúng tôi chỉ được học một tháng là phải rời nhà trường để ra đơn vị. Do nhu cầu thành lập đơn vị mới, trường quân sự có hai đối tượng. Một số là tiểu đội trưởng ở đơn vị, nay đi học để trở thành trung đội trưởng. Số này có trình độ quân sự nhất định vì đã được học tập đào tạo tiểu đội trưởng ở các trường quân sự của chi đội (chi đội sau này đổi thành trung đoàn). Số còn lại là cán bộ của Mặt trận Việt Minh, đều tham gia cách mạng trước tháng 4, tháng 5. Có trình độ chính trị nhất định nhưng về quân sự thì đây là lần đầu tiên họ cầm khẩu súng. Sau một tháng học tập, chúng tôi mới được học ba kỹ thuật lớn: bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn và chiến thuật cá nhân: ẩn nấp, di chuyển, phát huy hoả lực xung phong. Đội ngũ và canh gác chỉ học ngoại khoá. Đội ngũ học vào giờ thể dục buổi sáng, canh gác học vào buổi tối, thời gian trong một tháng, nhưng với sự ham học của học viên, chúng tôi nắm vững các môn học. Ngày học với thầy hai buổi. Tự luyện vào buổi trưa và buổi tối.

        Sau khi ra trường, tôi và 17 anh em khác về nhận công tác ở tiểu đoàn tiếp phòng quân Đông Hà (thuộc tỉnh Quảng Trị). Trong chúng tôi nhiều người được phân công làm trung đội trưởng và trung đội phó. Cán bộ tiểu đoàn và đại đội đều là hạ sĩ quan cũ của quân đội Pháp. Tiểu đội trưởng thì chọn trong số chiến sĩ, những người tương đối khỏe mạnh và có trình độ văn hoá nhất định. Theo hiệp định ta ký với Pháp, phía ta có 10 nghìn, phía Pháp có 15 nghìn người làm nhiệm vụ tiếp phòng. Tiểu đoàn tiếp phòng quân Đông Hà thuộc trung đoàn tiếp phòng quân đóng ở ba tỉnh Bình - Trị - Thiên, do đồng chí Quốc Chủng làm trung đoàn trưởng. Trung đoàn thuộc Đại đoàn 2 quân tiếp phòng do đồng chí Hoàng Điền làm đại đoàn trưởng. Gọi là quân tiếp phòng, nhưng ở Quảng Trị không có quân Nhật, quân Pháp cũng không. Vì vậy ngoài hai bộ đồng phục ka-ki, chúng tôi cũng không khác gì các đơn vị quân sự khác, hàng ngày chỉ chăm lo tập luyện. Thời gian này Trung ương và Tổng chính ủy đặc biệt chăm lo củng cố bộ đội về mặt chính trị. Sau thời gian ngắn lên Đông Hà, đồng chí Đoàn La, tỉnh ủy viên tỉnh Quảng Trị được cử đến làm chính trị viên tiểu đoàn. Đồng chí Đoàn La triệu tập tôi và đồng chí Hùng đến thông báo: Theo giới thiệu của đồng chí Trần Văn Quang (lúc này là chủ nhiệm chính trị quân tiếp phòng), tiểu đoàn tiếp phòng quân Đông Hà có hai đảng viên là tôi và đồng chí Hoàng. Chúng tôi báo cáo rõ: chúng tôi đều là cán bộ Việt Minh, nhưng chưa phải là đảng viên. Đồng chí Đoàn La nói nếu thế đồng chí sẽ đề nghị với Tỉnh ủy kết nạp hai chúng tôi vào Đảng. Sau một tuần, đồng chí cho biết Tỉnh ủy Quảng Trị đồng ý kết nạp hai chúng tôi và người giới thiệu vào Đảng cho cả hai người là đồng chí Đoàn La. Thời kỳ đó công tác tổ chức của Đảng còn lỏng lẻo và nhiều khi không đúng nguyên tắc cũng là chuyện thường tình. Chúng tôi vào Đảng, không phải làm đơn xin gia nhập Đảng, chỉ có một người giới thiệu. Cũng không tổ chức lễ kết nạp, không có lễ tuyên thệ trước cờ Đảng. Sau này, viết lý lịch tôi ghi người giới thiệu có tên đồng chí Đoàn La và đồng chí Trần Văn Quang vì thực tế đồng chí Trần Văn Quang đã viết giấy giới thiệu... Sau khi hai chúng tôi được kết nạp vào Đảng, đồng chí Đoàn La nói, chúng ta ba người là một chi bộ và thực hiện cuộc họp chi bộ đầu tiên. Cuộc họp phân công tôi phát triển đảng ở đại đội 1, đồng chí Hùng ở đại đội 3 và đồng chí Đoàn La phụ trách đại đội 2. Lại một lần sai nguyên tắc nữa. Chi bộ chỉ có một đảng viên chính thức, điều kiện để thành lập chi bộ chưa đủ, nhưng cũng làm nhiệm vụ kết nạp đảng viên. Hai chúng tôi là đảng viên dự bị cũng làm nhiệm vụ giới thiệu người vào Đảng!

        Đến tháng 10, khi chúng tôi được công nhận là đảng viên chính thức, đại đội đã phát triển thêm được ba, bốn đảng viên nên mỗi đại đội đều thành lập một chi bộ. Tôi và đồng chí Hùng nghiễm nhiên là liên chi ủy viên tiểu đoàn, trực tiếp làm bí thư chi bộ. Theo quyết định của trên, tôi đồng thời được chỉ định làm chính trị viên đại đội 2

        Về huấn luyện quân sự, huấn luyện kỹ thuật và cá nhân chiến đấu. Chiến thuật từ cấp tiểu đội trở lên không có kết quả thiết thực trong chiến tranh. Như trên tôi đã nói, cán bộ tiểu đoàn và đại đội là hạ sĩ quan quân đội Pháp. Họ huấn luyện chiến thuật theo những gì đã học được ở quân đội Pháp. Nhưng biên chế tổ chức, trang bị vũ khí kỹ thuật của ta không chính quy như của quân đội Pháp. Bộ đội ta lúc đó làm gì một tiểu đội có một súng máy. Trong đại đội tôi, tiểu đội chỉ có bốn - năm súng trường, toàn đại đội chỉ có một trung liên và toàn tiểu đoàn chỉ có một đại liên


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2017, 04:33:44 PM

THAM GIA KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

        I. NHỮNG TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN.

        Trong tháng 12 năm l946, tiểu đoàn tôi vẫn tiếp tục huấn luyện. Những thông tin về kháng chiến toàn quốc chúng tôi biết rất chậm. Ở Đông Hà cũng như ở Quảng Trị không có quân đội Pháp. Chúng tôi được biết tiểu đoàn 13 có nhiệm vụ đánh địch từ Lao Bảo về Cam Lộ, tiểu đoàn 14 đánh địch từ Huế ra thị xã Quảng Trị. Riêng tiểu đoàn tôi có nhiệm vụ đánh địch từ Đông Hà ra đến Vĩnh Linh. Nhiệm vụ trước mắt của tiểu đoàn là đào công sự phòng thủ Đông Hà và triệt phá thị xã Đông Hà. Tiểu đoàn phân công đại đội 2 phòng thủ đường 9 phía tây thị xã, đại đội 3 phòng thủ đường 1 phía nam thị xã, đại đội 1 và khẩu đại liên là lực lượng dự bị đóng ngay trong thị xã. Cùng thời gian này tiểu đoàn từ trung đoàn quân tiếp phòng chuyển thuộc Trung đoàn 95, lấy tên mới là tiểu đoàn 15. Đồng chí Thìa, một đảng viên của tỉnh Quảng Trị được điều động vào quân đội, đến làm chính trị viên đại đội 2 thay tôi. Tôi trở lại làm trung đội trưởng. Trên ban chỉ huy trung đoàn cũng có sự thay đổi. Đồng chí Hoàng Việt, một cán bộ cũ của giải phóng quân về làm trung đoàn trưởng thay đồng chí Tùng ra quân khu nhận công tác mới. Chính trị ủy viên là đồng chí Lê Chưởng.

        Cuối tháng 12 năm 1946 và đầu tháng 1 năm 1947 Quảng Trị vẫn chưa bước vào chiến đấu. Giữa tháng 1 năm 1947 địch bắt đầu từ Lào đánh theo đường số 9 để tiến về chiếm Đông Hà và một cánh quân nữa từ Huế theo đường số 1 tiến ra đánh chiếm thị xã Quảng Trị. Đến đây tôi xin đi trước thời gian một ít. Chủ trương tác chiến của Trung đoàn 95 thời kỳ đầu chiến tranh rất đúng đắn.

        Đánh giá tình hình ta, địch đầu năm 1947, trung đoàn chủ trương sau khi địch vượt qua đại đội nào, tiểu đoàn nào thì đại đội đó, tiểu đoàn đó rút ra bên sườn lập căn cứ, lập chiến khu để tiến công liên tục vào cạnh sườn sau lưng địch, lấy đánh du kích làm chính. Khi có điều kiện chắc thắng có thể đánh vận động ở quy mô đại đội tiểu đoàn để diệt gọn một đơn vị nhất định. Nhờ chủ trương đúng đắn đó, nên bộ đội Quảng Trị ít bị tổn thất. Lúc địch chiếm được Quảng Trị, ngay từ đầu ta đã xây dựng được các chiến khu làm căn cứ để duy trì hoạt động lâu dài trong vùng địch chiếm. Tiểu đoàn 13 vẫn đứng vững trên đường số 9 làm chủ hoàn toàn vùng rừng núi hai bên đường, địch chỉ có một số cứ điểm trên đường. Tiểu đoàn 14 lập căn cứ ở vùng đồng bằng Triệu Phong - Hải Lăng với chiến khu Chợ Cạn nổi tiếng. Tiểu đoàn 15 có Chiến khu Thủy Ba. Trung đoàn có chiến khu chính ở Ba Lòng và một chiến khu khác là chiến khu Hoà Linh. Mỗi tiểu đoàn để hai đại đội ở hai tuyến cùng dân quân du kích giữ vững phong trào, liên tục đánh địch. Tiểu đoàn chuẩn bị nắm một đại đội tập trung, thường là đóng ở chiến khu để làm sở chỉ huy và căn cứ hậu cần tiểu đoàn. Tiểu đoàn 13 có một đại đội làm nhiệm vụ độc lập ở Hướng Hoá, một đại đội ở Cam Lộ. Tiểu đoàn 14 có một đại đội độc lập ở Hải Lăng, lực lượng chính của tiểu đoàn ở chiến khu Chợ Cạn. Đại đội 2 tiểu đoàn 15 của ta hoạt động độc lập ở huyện Vĩnh Linh. Đến năm 1948 Bộ Tổng tư lệnh chủ trương đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung, thì trên thực tế ở Quảng Trị đã có đại đội độc lập từ trước.

        Tôi xin quay lại với những ngày chiến tranh. Sau khi địch chiếm được huyện lỵ Cam Lộ, tiểu đoàn chúng tôi bắt đầu ra quân. Để thấy hết sự ấu trĩ ban đầu của quân đội ta, tôi xin kể lại một số trận đầu tiên tôi trực tiếp tham gia.

        Trận đánh quân địch từ Cam Lộ tiến về Đông Hà.

        Được tin địch từ Cam Lộ tiến về Đông Hà, đại đội tôi có nhiệm vụ tiến đánh cánh quân này. Chúng tôi vận động từ đường 9. Khi trông thấy địch, đại đội trưởng lệnh cho trung đội 1 (trung đội của tôi) triển khai bên phải, trung đội 2 triển khai bên trái, trung liên ở giữa chi viện cho cả hai trung đội, trung đội 3 ở phía sau. Tôi cho toàn trung đội triển khai thành đội hình chiến đấu hàng ngang, các tiểu đội lần lượt chi viện cho nhau tiến lên phía trước. Khi chúng tôi bắt đầu nổ súng, thấy địch rút lui, chúng tôi không đuổi theo. Thực chất bọn địch mà chúng tôi gặp là bộ phận tiền vệ. Phát hiện chúng tôi đội hình cơ bản của chúng triển khai lực lượng chính tiến công. Chúng cho xe bọc thép triển khai ở giữa, bộ binh triển khai hai bên tiến đánh. Chúng bắn rất mạnh, trung đội tôi có ba đồng chí bị thương (may mà không ai hy sinh). Anh em tự động rút lui. Ngoảnh lại, thấy bộ phận phía sau và đại đội trưởng cũng chạy lui cả, tôi vội vàng cùng trung đội chạy ra đường 9. Địch không đuổi theo chúng tôi, chỉ theo đường cái tiến về Đông Hà, nên chúng tôi rút lui được an toàn về tập trung ở thị xã Đông Hà.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2017, 04:34:38 PM

        Trận đánh ngăn chặn địch tại Gio Linh.

        Sau trận tiến công không thành, đại đội tôi có nhiệm vụ chặn đánh địch ở hai phòng tuyến: Phòng tuyến thứ nhất dựa vào điểm cao phía nam huyện lỵ Gio Linh. Phòng tuyến thứ hai dựa vào sông Bến Hải. Tại mỗi phòng tuyến dân quân và nhân dân ta đào chiến hào và giao thông hào. Chúng tôi chỉ sửa lại các hố cá nhân và đào hầm ẩn nấp cho tổ ba người. Thời kỳ này ta chưa biết làm hầm chữ A, hầm may lắm chống được đạn cối, không chống được đạn đại bác. Khi địch tiến công, thường 1-2 lần đầu chúng tôi đánh bại chúng. Sau đó chúng dùng xe bọc thép, súng cối, đại bác bắn phá trận địa ta, làm ta thương vong, một số hầm hào bị bắn sập. Chúng tôi lại chủ động bỏ phòng tuyến để lui về phòng tuyến sau. Sau khi địch vượt qua phòng tuyến cuối, cấp trên chỉ thị cho chúng tôi rút lên căn cứ ở mép rừng và trụ lại đó để tổ chức chiến đấu lâu dài tại vùng sau lưng địch.

        Trận phục kích đánh tàu địch trên sông Đông Hà.

        Trong thời gian chờ địch ở phòng tuyến Gio Linh, trung đội tôi được lệnh trực tiếp của trung đoàn lên phục kích đánh tàu địch (tàu loại nhỏ chở một trung đội) hướng đi từ Cam Lộ về Đông Hà. Vũ khí chính là một khẩu súng thần công, sản xuất đầu đời nhà Nguyễn mà hiện nay chúng ta vẫn thấy rải rác ở các thành như Hà Nội, Đà Nẵng. Để bắn, chúng tôi nạp thuốc nổ phía sau thân súng, phía trước nạp khoảng 40-50 viên sắt lấy từ bù-loong đường tàu hoả. Khi phát hoả, châm ngòi nổ qua cái lỗ trên thân súng, thuốc súng cháy sẽ đẩy các viên sắt ra xa khoảng 100-1.500m. Chúng tôi cũng chỉ được giới thiệu cách sử dụng chứ không được bắn thử. Toàn trung đội khiêng khẩu súng đến đặt trên bờ đê, đoạn được chọn làm khu vực phục kích cách Đông Hà độ 4km. Súng để ở giữa, bộ binh bố trí hai bên. Chúng tôi không phải chờ lâu. Ngay sáng hôm sau một đoàn tàu địch từ Cam Lộ về. Tàu đến cách nơi phục kích khoảng 100m, tôi ra lệnh phát hoả. Đạn bay vút ra, chỉ đi xa được 60-70m nên không trúng tàu địch. Chúng cho tàu áp vào bờ và lên để đánh vào đội hình chúng tôi. Chúng tôi bỏ súng rút chạy một mạch về phòng tuyến ở Gio Linh. Sau trận đánh, Trung đoàn trưởng Hùng Việt, lệnh cho chúng tôi phải lấy lại súng, nếu không “trung đội trưởng mất đầu”. Đêm sau chúng tôi lên, thấy khẩu súng vẫn nằm ở ven đê. Thực tế địch cũng không mất công khiêng loại súng này về làm gì. Chúng tôi lại tổ chức khiêng súng về trả cấp trên.

        Xin dừng lại để nói ít lời về đồng chí trung đoàn trưởng của chúng tôi. Tôi được giới thiệu đồng chí là quân giải phóng thời kỳ trước cách mạng ở Chiến khu Việt Bắc. Không rõ đồng chí có là chiến sĩ của trung đội giải phóng quân đầu tiên hay không? Được học tập quân sự ở đâu? Về trình độ quân sự, qua chỉ huy chiến đấu tôi nhận thấy đồng chí là người có nhiều hiểu biết và có kinh nghiệm nhất định. Đồng chí chính là tác giả của kế hoạch tác chiến thời kỳ đầu ở Quảng Trị mà tôi đã nói ở trên. Đồng chí có tác phong rất sâu sát. Đồng chí đến nhiều đại đội, ở đâu đồng chí cũng hướng dẫn cách đánh, cách sử dụng các loại bom, mìn, v.v... Tính tình đồng chí vui vẻ ôn hoà, tuy thỉnh thoảng cũng nói bỏ tù người này, lấy đầu người kia. Thực tế ở Trung đoàn 95, đồng chí chưa kỷ luật một người nào, kể cả hình thức nhẹ nhất là cảnh cáo. Rất tiếc đồng chí hy sinh quá sớm, ngay khi chúng tôi còn đánh địch ở bờ sông Bến Hải, từ lúc địch chưa chiếm hết tỉnh Quảng Trị. Sau khi đồng chí Hùng Việt hy sinh, đồng chí Trần Sâm được chỉ định làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 95.

        Đại đội 2 chúng tôi sau khi mất phòng tuyến sông Bến Hải, rút lên lập căn cứ ở Chiến khu Thủy Ba, thực tế cũng chỉ cách huyện lỵ Vĩnh Linh và đường số 1 ba ki-lô-mét. Suốt năm 1947 chúng tôi chủ yếu đánh du kích, như bắn tỉa, đặt bom mìn trên quốc lộ, quấy rối các căn cứ địch, diệt tề trừ gian... Chúng tôi có tổ chức đánh hai trận, lúc đó cũng gọi là đánh lớn. Một trận do đại đội tổ chức, trận thứ hai do tiểu đoàn điều động vào Gio Linh để đánh trong đội hình tiểu đoàn.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2017, 04:38:10 PM

        Trận phục kích và chống càn ở nam Vĩnh Linh.

        Nắm được bọn địch đóng ở Cẩm Phố (một xã ở gần biển phía tận cùng huyện Vĩnh Linh tiếp giáp với huyện Gio Linh) hàng tuần phái một trung đội đi từ đường phía nam sông Bến Hải lên căn cứ địch ở cầu Hiền Lương để nhận tiếp tế, chúng tôi đưa toàn đại đội về phục kích chúng ở thôn Hùng Ban. Ban đêm chúng tôi hành quân về phía trước Kim Đác, ở trong làng, gần đường đi của địch. Nơi chúng tôi phục kích tuy ở trong vùng địch, nhưng nhiều thôn xã, ta làm chủ, có thể đưa quân đi bí mật được. Sáng ra địch vẫn hành quân như các lần trước. Toàn đại đội xuất kích, chặn đầu khoá đuôi diệt gọn gần trung đội địch, gồm hơn chục tên chết tại trận, bắt sáu tù binh và thu hơn chục khẩu súng. Đúng ra đêm đó phải rút quân về chiến khu ngay, nhưng đồng chí đại đội trưởng chủ trương ở lại thêm một ngày, chặn đánh địch đi càn để diệt thêm một số. Đồng chí cho rằng bọn địch ở Cẩm Phố chỉ còn hai trung đội, bọn địch ở cầu Hiền Lương về nhiều lắm là một đại đội, ta dựa vào lũy tre, làng mạc đánh thì chúng cũng không làm gì được ta. Đồng chí phân công trung đội tôi bố trí phía đông làng, đánh bọn địch ở Cẩm Phố lên. Lực lượng chính của đại đội do đồng chí trực tiếp chỉ huy, bố trí ở phía tây làng, đánh địch ở cầu Hiền Lương về.

        Sáng hôm sau một tiểu đoàn địch ở cầu Hiền Lương về. Đại đội nổ súng. Trận đánh diễn ra từ sáng đến hai giờ chiều thì địch chọc thủng trận địa của đại đội, lọt vào làng và tiến đến sau lưng trung đội tôi. Tôi cho trung đội nhanh chóng rút chạy sang làng bên cạnh. Trên đường rút chạy, tôi cùng một tiểu đội đang ở trong đoạn đường hẹp giữa làng thì gặp địch. Hai tên đi đầu đưa súng lên nhắm thẳng vào tôi, người chạy đầu. May mà tôi trông thấy địch. Ngay cạnh đó là một ngõ vào nhà, tôi tạt ngay vào ngõ đó bằng cửa sau nhà, nhảy qua bờ rào vượt sang nhà khác. Toàn tiểu đội phía sau cùng tạt ngang sang dãy nhà gần đó chạy thoát. Sau này, qua nhiều lần tiếp xúc với cái chết, tôi cho sống chết là có số cả! Lần đó nếu tôi gặp địch phía trước ngõ vào nhà một ít hoặc phía sau một ít, thì chắc chắn tôi đã bị bắn chết, vì hai bên đường là lũy tre, không chạy thoát đi đâu được. Trong trận này, đại đội hy sinh gần hai chục người, trong đó có cả đại đội trưởng Khởi và chính trị viên Thừa. Đồng chí Thừa tôi đã nói ở trên, còn đồng chí Khởi đến thay đồng chí Khai thời gian chúng tôi ở Vĩnh Linh. Sau lúc đồng chí Khởi hy sinh, tôi được chỉ định làm đại đội trưởng đại đội 2, chỉ huy đại đội tiến công quận lỵ

        Trận đánh quận lỵ Gio Linh.

        Quận lỵ Gio Linh là nơi làm việc của chính quyền ngụy, đồng thời là một căn cứ quân sự lớn. Trong căn cứ có một đại đội Âu - Phi và một đại đội quân ngụy, đóng cạnh nhau chỉ ngăn cách một bờ tường. Xung quanh căn cứ được bao bọc bởi bức tường xây. Bên ngoài có một hàng rào tre và hai hàng rào dây thép gai. Cơ quan địch vận của ta tổ chức được một đội trong quân ngụy nổ súng giúp ta đánh đồn, sau đó sẽ lên chiến khu đi theo cách mạng. Theo kế hoạch tác chiến, ban đêm vào thời điểm tiểu đội này ra ngoài tuần tiễu, ta sẽ vào đánh chiếm ngay khu vực quân ngụy, sau đó vượt qua bờ tường để đánh đại đội Âu - Phi. Tiểu đội ngụy quân theo ta, sau khi đi tuần về, lên ám hiệu xong, lập tức tiến công diệt lính gác và chiếm ngay bốt giặc. Đại đội 1 có nhiệm vụ đánh quân ngụy, đại đội 2 vượt tường sang đánh đại đội Âu - Phi.

        Diễn biến chiến đấu bước đầu thuận lợi. Tiểu đội đi tuần về đã diệt ngay lính gác, chiếm gọn bốt gác. Toàn đại đội chúng tôi chia nhau đánh từng khu vực. Khi nghe tiếng súng nổ bên khu vực quân ngụy, bọn Pháp cho là có binh biến nên chúng đặt các loại súng lên bờ tường bắn mạnh vào chúng tôi. Thấy đã mất yếu tố bất ngờ, đại đội tôi diệt một số địch rồi rút ra. Đại đội 1 thấy chúng tôi vọt ra nên cũng không vào, theo lệnh tiểu đoàn rút về sau. Trận này đại đội hy sinh bốn người, bị thương hơn chục người. Diệt được bao nhiêu địch cũng không rõ và chúng cũng không thu được khẩu súng nào, ngoài tiểu đội quân ngụy theo ta mang được vũ khí về.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2017, 04:41:47 PM

        II. ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG ĐẠI ĐỘI ĐỘC LẬP

        Đầu năm 1948, thực hiện chủ trương đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, đại đội tôi được điều vào Chiến khu Hoà Linh để xuống đồng bằng Triệu Phong làm nhiệm vụ đại đội độc lập thay tiểu đoàn 14 rút về làm nhiệm vụ tiểu đoàn tập trung. Các ban chỉ huy tiểu đoàn 13 và 15 giải thể, chỉ còn sáu đại đội của hai tiểu đoàn. Đại đội tôi chưa xuống đồng bằng ngay vì đại đội 1 bộ đội địa phương đang còn hoạt động dưới đó. Theo kế hoạch, sau khi nắm vững địa hình và tình hình, huấn luyện phương thức hoạt động, đại đội tôi sẽ về Triệu Phong thay đại đội 1 rút về làm lực lượng cơ động cho tỉnh đội. Trong lúc chuẩn bị xuống đồng bằng, đại đội tôi theo lệnh của Phân khu Bình - Trị - Thiên ra Đông Hà. Từ cuối năm 1947 Bộ Tổng tư lệnh thành lập Bộ tư lệnh Phân khu Bình - Trị - Thiên trực thuộc Quân khu 4. Lúc này là đồng chí Trần Văn Quang, nguyên Chính ủy quân khu vào làm Tư lệnh kiêm Chính ủy phân khu, đồng chí Hà Văn Lâu làm phó tư lệnh.

        Trận tiến công thị xã Đông Hà do đồng chí Hà Văn Lâu làm chỉ huy trưởng; đồng chí Lê Nam Thắng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 làm chỉ huy phó. Đông Hà là căn cứ quân sự lớn với lực lượng 1 tiểu đoàn Âu - Phi, 1 đại đội xe cơ giới, trong đó có 4 xe bọc thép AM được trang bị đại bác 37mm. Mục đích trận đánh đề ra rất lớn, nhưng kết quả rất hạn chế. Kế hoạch tác chiến được vạch ra như sau:

        Lực lượng tiến công gồm tiểu đoàn tập trung của Trung đoàn 95 do đồng chí Ngô Đặc Hành làm tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 310 của phân khu ở Bắc vào chưa lâu do đồng chí Nguyễn Yên Phú làm tiểu đoàn trưởng, đại đội 150 của chúng tôi (sau khi vào Triệu Phong làm nhiệm vụ đại đội độc lập, đại đội 2 chúng tôi đổi tên là đại đội 150), 1 trung đội com-măng-đô là những lính lê dương của quân đội Pháp bỏ ngũ của chúng theo ta, đa phần là người Đức. Số người Đức này không những không phục chỉ huy người Pháp mà còn xem thường trình độ tác chiến của Pháp. Họ thường nói trung đội com-măng-đô này nếu giáp chiến thực sự sẽ đánh bại một đại đội Pháp.

        Tiểu đoàn 14 của Trung đoàn 95 cùng trung đội com-măng-đô tiến công từ đường 9 vào, có nhiệm vụ nhanh chóng đánh chiếm khu vực phía bắc, đặc biệt phải chiếm được đại đội xe bọc thép, nhất là chiếm 4 chiếc xe AM. Sau khi chiếm được xe, dùng xe bọc thép chi viện cho đại đội 150 và tiểu đoàn 310 chiếm khu vực phía nam thị xã. Đại đội 150 tiến công từ phía tây và tiểu đoàn 310 tiến công từ phía nam đánh chiếm khu vực phía nam thị xã.

        Sau khi làm chủ thị xã Đông Hà, tiểu đoàn 14 và 2 xe AM cùng một số xe bọc thép khác sẽ tiến công dọc đường 1 ra đến sông Nhật Lệ và dựa vào sông Nhật Lệ chặn đánh bọn địch ở Đồng Hới vào. Tiểu đoàn 310 đánh dọc đường 9 lên đến Lao Bảo (biên giới Lào - Việt) và triển khai ở đây ngăn chặn quân địch từ Lào đánh sang. Đại đội 150 cùng một số xe bọc thép theo đường 1 và bắc thị xã Quảng Trị, triển khai ở đông Thạch Hãn, chặn địch từ thị xã Quảng Trị đánh ra. Theo kế hoạch này, nếu thành công thì ta đã giải phóng được 2/3 tỉnh Quảng Trị và tỉnh Quảng Bình.

        Diễn biến chiến đấu thuận lợi. Trung đội com-măng-đô công khai đi theo hướng cổng chính ở đường số 9. Đến bót gác trong ngoài, nói chuyện bằng tiếng Pháp, trung đội com-măng-đô nhanh chóng hất ngay ba-ri-e ở cổng, bắn chết lính gác và vào căn cứ. Sau 30-40 phút chiến đấu ta đã làm chủ khu vực bắc thị xã. Kiểm soát trận địa, ta được biết chỉ có một nửa đại đội xe bọc thép còn ở Đông Hà. Số còn lại đã được điều đi Cam Lộ mấy hôm trước, trong đó có 2 xe AM. Quan niệm phải có xe bọc thép, nhất là xe AM được trang bị đại bác mới đủ sức chiến đấu, người chỉ huy ra lệnh dùng trung đội com-măng-đô, tiểu đoàn 14 không tiến công khu vực phía nam mà quay lên tiến công địch ở Cam Lộ. Có lẽ địch biết đoàn xe của ta theo đường 9 đi lên Cam Lộ, nên chúng đã ra lệnh cho bọn địch ở Cam Lộ đưa xe bọc thép ra chặn đoàn quân ta. Sau một lúc giao chiến, một số xe bọc thép bị bắn hỏng, một số thương vong, người chỉ huy lệnh cho cánh quân này bỏ xe lại và rút về khu vực xuất phát, nơi cách đường 9 chừng 4-5km, cách thị xã Đông Hà 7-8km. Đại đội tôi cùng tiểu đoàn 310 không được lệnh gì của cấp trên. Gần sáng, địch từ Quảng Trị ra chi viện, đánh vào sau lưng tiểu đoàn 310 nên chúng tôi cũng buộc phải rút lui về khu vực xuất phát. Đến đây chúng tôi mới nắm được diễn biến trận đánh. Kết quả thật quá khiêm tốn. Chỉ đánh được 1 đại đội Âu - Phi và một số xe bọc thép. Ngày nay nghĩ lại, nếu ta dùng xe bọc thép cùng bộ binh tiến công khu nam thì có thể làm chủ được thị xã Đông Hà trong đêm.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2017, 02:20:26 PM

        Sau trận đánh trên, đại đội chúng tôi trở lại Triệu Phong. Tại Triệu Phong, khi quân địch đến tiểu đoàn 14 đã rút khỏi Chiến khu Chợ Cạn. Tại đây chỉ còn đại đội 1 của Tỉnh đội Quảng Trị, nên chúng tập trung lực lượng quyết tiêu diệt đại đội 1 và đóng một cứ điểm ở Chợ Cạn để phá tan chiến khu đồng bằng của ta. Đại đội bị thương vong nặng nên phải rút lên chiến khu. Đại đội 150 nhận lệnh xuống đồng bằng hoạt động thay thế đại đội 1.

        Đầu năm 1948 đồng chí Lê Nam Thắng vào thay đồng chí Trần Sâm làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 95.

        Đồng chí Lê Nam Thắng đã nghiên cứu kỹ chỉ thị về đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung của Bộ Tổng tư lệnh nên có nhiều hướng dẫn cụ thể về phương pháp hoạt động cho chúng tôi. Phương thức hoạt động chủ yếu phải kết hợp với dân quân du kích, với chính quyền địa phương, dựa vào nhân dân xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng quân sự tại chỗ. Trước hết phải làm sao để lực lượng của ta bám sát địa bàn, không bị địch đánh bật ra.

        Chúng tôi phân tán mỗi tiểu đội hoạt động ở mỗi xã, cùng dân quân đánh theo kiểu du kích, khi có điều kiện tập trung, tổ chức đánh một trận, sau đó lại phân tán ngay. Hàng ngày các tiểu đội bám sát đồn địch, nếu chúng ra lẻ tẻ thì tìm cách diệt, nên chúng phải co lại trong đồn. Thỉnh thoảng chúng điều quân từ thị xã mở một cuộc càn lớn thì lại không thấy bóng dáng bộ đội ta ở đâu. Ta cử một tổ ba người đào một hầm bí mật. Hầm của tổ nào tổ đó biết. Không những tổ khác không biết mà ngay trung đội trưởng, đại đội trưởng cũng không biết. Tôi cùng một đồng chí liên lạc, một đồng chí của ta thành một tổ cùng đào một hầm bí mật. Hầm của chúng tôi đào ngay trong nhà dân, dưới một cái tra đựng thóc gạo. Khi chúng tôi xuống hầm rồi, bà chủ nhà xuống dùng bao thóc để che chắn cửa hầm. Để đề phòng địch tìm ra hầm bí mật, chúng tôi đào một đường hầm dài khoảng 50-70m ra sát bờ sông. Nếu địch phát hiện, đào hầm bí mật, chúng tôi sẽ theo đường hầm ra bờ sông lặn sang bên kia sông để thoát. Tôi đặc biệt khâm phục tinh thần của nhân dân địa phương. Mặc dầu địch đốt nhà, tra tấn dã man và cả bắn giết, suốt gần một năm ở trong lòng địch, không hề xảy ra một trường hợp nào địch tìm ra hầm bí mật của bộ đội cũng như của dân quân và cán bộ địa phương. Trường hợp địch tập trung lực lượng lớn càn quét, chỉ có dân đối đầu với địch. Họ trực tiếp đấu tranh chống đốt nhà cướp của, bắn giết bừa bãi. Hỏi bộ đội ở đâu họ đều khai ban đêm bộ đội về, cũng có khi cả ban ngày, nhưng khi các ông hành quân họ rút hết đi nơi khác, chúng tôi không rõ họ đi đâu. Trừ mấy thôn công giáo, có dân vệ lập đồn bốt để chống ta, còn tất cả các thôn khác, hội tề đều là người của ta. Họ cũng khai bộ đội có súng, họ không làm gì được. Các ông về họ đều chạy đi nơi khác cả, hình như trong quân đội các ông có người của họ, nên lần nào các ông hành quân lớn họ đều biết trước.

        Trong gần một năm chúng tôi chủ yếu hoạt động du kích. Nhưng về sau, cơ sở đã mạnh, du kích các xã trưởng thành, có thể độc lập chiến đấu, chúng tôi cũng vài ba lần tập trung đại đội để đánh những trận tiêu diệt. Ngoài hai trận phục kích diệt trung đội địch, chúng tôi đã tổ chức được một trận diệt địch trong đồn. Tại vùng đồng bằng Triệu Phong, ngoài các đồn Tây, địch tổ chức được bốn đồn của lực lượng hương vệ. Mỗi đồn có lực lượng 20-30 tên, được trang bị súng trường và lựu đạn. Chúng dựa vào nhà thờ làm công sự đề kháng, xung quanh có bờ rào tre. Chúng tôi đặt kế hoạch đánh chiếm các đồn này, vì đánh được đồn ngoài việc thu súng còn thu đạn. Đạn thời kỳ này đối với chúng tôi còn quan trọng hơn súng. Mỗi khẩu súng của đại đội tôi cũng như các đại đội khác chỉ có 15-20 viên đạn. Tôi cũng không hiểu vì sao trong hai năm 1947-1948, trung đoàn không nhận được gì từ Khu 4 chuyển vào, mặc dầu Khu 4 có ba tỉnh là vùng tự do. Tại chiến khu Ba Lòng; trung đoàn có một xưởng quân giới nhỏ. Xưởng sản xuất được lựu đạn và mìn, đạn cho súng trường súng máy, chỉ có thể nhồi thuốc nếu có vỏ đạn. Các đơn vị nạp bao nhiêu vỏ đạn thì được nhận bấy nhiêu viên đạn. Vì vậy đạn của chúng tôi càng ngày cũng cạn dần. Đánh phục kích có thể cướp được súng, còn đạn không thu được bao nhiêu Đáng tiếc thời gian này ta chưa có kỹ thuật đặc công. Các trận kỳ tập của trung đoàn chủ yếu đưa vào nhân mối trong đồn địch. Rút kinh nghiệm trận Đông Hà, chúng tôi cho rằng có thể dùng com-măng-đô để đánh. Chúng tôi đề nghị và được trung đoàn đồng ý tăng cường cho một tiểu đội com-măng-đô 10 người. Qua điều tra, chúng tôi biết các đồn Tây thỉnh thoảng cũng có kiểm tra đột xuất các đồn hương vệ, hoặc cùng chúng đi tuần tiễu. Để tạo bất ngờ, chúng tôi đặt kế hoạch trong một đêm phải diệt mấy đơn vị. Nếu không diệt được các đồn trong một đêm, hôm sau sẽ không dùng com-măng-đô lừa chúng được nữa.

        Chúng tôi chủ trương đồn thứ nhất sẽ đến gọi chúng đi tuần và tước khí giới. Bắt đầu đồn thứ hai sẽ đánh chiếm để thu súng thu đạn. Nếu còn giữ được bí mật sẽ đánh tiếp đồn sau.

        Chúng tôi tổ chức lực lượng gọn nhẹ. Đi đầu là tiểu đội com-măng-đô công khai đến bắt chúng mở cửa để vào đồn, theo sau là một trung đội cũng mặc trang phục ngụy binh (số quần áo này chúng tôi lột được của địch trong hai trận phục kích trước). Khi cách đồn địch 400-500m, chúng tôi dùng đèn pin thỉnh thoảng bật lên để bọn trong đồn biết là quân của đồn Tây bên cạnh. Đến nơi, tiểu đội com-măng-đô gọi mở cửa. Sau một lúc quan sát, chúng biết chắc là quân đội Pháp nên mở cửa. Vào đồn xong hỏi qua loa tình hình, chúng tôi lệnh cho chúng cử một tiểu đội cùng đi tuần tiễu. Ra cách đồn chừng 1km, nơi đã hẹn trước với du kích địa phương, chúng tôi tước khí giới và bắt bọn lính hương vệ làm tù binh cho du kích, tiếp tục đi sang đồn thứ hai.

        Vẫn phương pháp như trên, chúng tôi vào đồn dễ dàng. Vừa vào hết trong đồn, chúng tôi gọi tên chỉ huy: “Có tin đồn này bán súng cho Việt Minh, đồn trưởng cho tập trung súng lại để kiểm tra”. Chúng tôi chưa biết súng sẽ thiếu, ngoài một số tên ngủ ở trong nhà mang súng về. Kiểm tra số súng, 26 khẩu nhưng chỉ có 20 khẩu. Chúng tôi nói: “Không phát súng đồn này nữa. Tất cả khiêng súng lên đồn Tây”. Chúng buộc lòng phải khiêng đi. Ngoài 20 khẩu súng, chúng tôi thu được gần một vạn viên đạn súng trường. Ra tới điểm hẹn chúng tôi thu súng đạn và bắt tất cả làm tù binh.

        Tiếp tục đi sang đồn thứ ba. Chưa đến nơi chúng tôi nghe nhà thờ kéo chuông báo động ầm ĩ. Biết đã lộ bí mật, chúng tôi cho tiểu đội com-măng-đô trước sáng vượt đường số 1 về căn cứ, bộ đội phân tán về các xã như ngày thường. Sau này chúng tôi được biết, trong lúc dân quân dẫn tù binh về căn cứ một tên chạy thoát, quay về nhà thờ kéo chuông báo động. Nếu việc đó không xảy ra thì chúng tôi ít nhất sẽ chiếm được một đồn nữa và lượm đủ 50 khẩu súng như kế hoạch đề ra.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2017, 03:29:06 PM

        III. MỐI TÌNH ĐẦU

        Khi thôi làm nhiệm vụ đại đội độc lập, tôi được Tỉnh ủy Quảng Trị chỉ định tham gia huyện ủy. Các anh trong huyện ủy cũng quý tôi, do đại đội làm hoàn thành tốt nhiệm vụ, giữ vững phong trào, xây dựng được lực lượng dân quân mạnh, thỉnh thoảng đánh thắng một trận tiêu diệt gọn. Bọn địch phải co lại trong đồn, chỉ đi càn quét khi tập trung được lực lượng lớn. Đại đội được nhân dân mến. Đi đâu họ cũng gọi bộ đội ông Đan, mặc dầu lúc này tôi mới hai mươi tuổi. Gọi ông là để tôn trọng, không căn cứ vào tuổi tác.

        Các anh ở huyện gợi ý, muốn giới thiệu cho tôi một cô gái ở Triệu Phong. Tôi nói đồng ý, có người yêu cuộc sống cũng ấm áp hơn, nhưng trước hết cho tôi tìm hiểu đã. Các anh giới thiệu cho tôi cô Kiệm, bí thư phụ nữ xã, có bố là chủ tịch Mặt trận Liên Việt xã. Tôi đến nhà cô Kiệm với danh nghĩa người chỉ huy bộ đội đến thăm cán bộ địa phương, vừa là bộ đội đến thăm người dân. Các anh ở huyện ủy cũng đã nói cho gia đình biết trước. Sau một vài lần đến chơi, cô Kiệm và gia đình mến tôi, còn tôi cũng bị tiếng gọi của tình yêu khiến trái tim thổn thức. Tôi chính thức đặt vấn đề với cô Kiệm, cô đồng ý. Tôi cùng đồng chí Cấp, bí thư huyện đến thưa chuyện với gia đình. Gia đình vui vẻ nhận lời. Từ đó tôi thường đến nhà chơi, với tư cách là con rể tương lai. Bố cô Kiệm là giáo viên, nhưng lại là một địa chủ loại khá lớn, vì ông nội Kiệm trước đây là tri phủ. Cụ ông mất nhưng bà cụ vẫn còn ... Việc một số lớn địa chủ không chỉ ở vùng tự do mà ngay vùng địch hậu cũng tham gia kháng chiến, nói lên sự thành công của chính sách đại đoàn kết của Đảng ta. Tuy cũng vì lợi ích của gia đình, nhưng phải thừa nhận dòng máu dân tộc cũng ít nhiều chảy trong người. Họ cũng thực sự mong cho nước nhà được độc lập. Tuy gia đình, nhất là bà cụ còn phong kiến nhưng đối với tôi cũng thông cảm. Mỗi lúc đến nhà, sau khi hỏi thăm sức khỏe của cụ bà, chào bố mẹ cô Kiệm, tôi được tự do vào gặp riêng cô Kiệm nói chuyện. Nam nữ thời đó khác hẳn nam nữ bây giờ. Tuy chúng tôi đã thực sự yêu nhau, nhưng cũng chỉ cầm tay nhau để nói chuyện. Việc gần gũi nhất là nụ hôn khi đến và khi về. Chúng tôi cùng thống nhất với nhau chỉ chung sống sau khi đất nước đã có hoà bình. Cuối năm 1949 tôi được lệnh điều động về quân khu để nhận công tác mới. Buổi chia tay cô hơi buồn, nhưng cùng hứa sẽ chờ đợi và thường xuyên viết thư cho nhau. Từ quân khu về nhận công tác ở Trung đoàn 57 Nghệ An, chúng tôi thường xuyên thư từ cho nhau. Nhưng từ khi Trung đoàn 57 nằm trong đội hình Đại đoàn 304, đi hết chiến trường này sang chiến trường khác thì chúng tôi rất ít khi nhận được thư từ của nhau. Đồng chí Nhị, nguyên là trung đội trưởng của đại đội tôi ở Quảng Trị, viết thư cho tôi biết: Cô Kiệm nói đời con gái có thì, anh Đan ra ngoài đó, biết bao giờ gặp nhau, hơn nữa thanh niên xa người yêu lâu, ít hy vọng gặp nhau, biết đâu anh chẳng có người yêu khác. Tuy nói vậy nhưng cô cũng không dám đi lấy chồng. Dẫu sao gia đình và địa phương đã thừa nhận cô là vợ chưa cưới của tôi. Vì vậy nếu xét không trở lại được Trị - Thiên thì anh nên viết thư nói thế nào đó, để cô Kiệm được tự do.

        Ra ngoài này được học tập, tôi biết cuộc kháng chiến còn lâu dài. Tuy vẫn thương yêu cô, nhưng tôi cũng nhận thấy đời con gái có thì, không thể chờ nhau, không biết bao giờ gặp nhau được. Vì vậy tôi đã viết thư để cô có thể đi lấy chồng. Nhận được thư tôi, cô có lý do để nói tôi không kiên trì chờ đợi nên cô buộc phải đi lấy chồng. Mãi đến năm 1965, tức 15 năm sau chúng tôi mới gặp lại nhau khi cô sơ tán ra Nghệ An với các con. Chồng cô là trưởng ty giáo dục khu Vĩnh Linh nên phải ở lại bám trụ công tác.

        Sau khi hỏi thăm tình hình gia đình của nhau, câu chuyện đầu tiên cô đề cập là vì sao yêu nhau mà không chờ đợi. Lý lẽ của cô đều có lý. Nhưng thực ra cô không hiểu hoàn cảnh của tôi, cô cho chỉ tại tôi, tại sao tôi lại rời khỏi chiến trường Trị - Thiên để ra Bắc? Tại sao ra rồi không trở lại? Cô nói ở đâu không có quân đội, ở đâu không có đất để chiến đấu. Một điều cô không rõ là người lính không thể hành động theo ý mình; quân lệnh như sơn, người lính bắt buộc phải hành động theo mệnh lệnh cấp trên. Chúng tôi coi nhau như anh em. Nhiều người cho rằng chuyển tình yêu sang tình anh em không đơn giản. Riêng chúng tôi đã giữ được tình anh em hoàn toàn trong sáng. Vợ tôi cũng đã vào thăm gia đình cô, con trai đầu của tôi gửi học ở gia đình cô hai năm. Các con cô đều gọi tôi bằng cậu (miền Trung, anh mẹ hay em mẹ đều được gọi là cậu). Con gái đầu của cô, thời gian học đại học ở Hà Nội, chủ nhật về nghỉ ở gia đình tôi và thực sự coi gia đình tôi như gia đình của người họ hàng.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2017, 03:36:17 PM

        IV. Ở TIỂU ĐOÀN 310

        Giữa năm 1949 đại đội tôi thôi làm nhiệm vụ độc lập, trở về đội hình của tiểu đoàn 310. Tôi được chỉ định làm quyền tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 310 thay đồng chí Nguyễn Yên Phú đau yếu, phải đi chữa bệnh dài hạn... Sau một thời gian củng cố, chúng tôi được tham gia một trận đánh vào loại lớn không chỉ ở Trị - Thiên mà cả ở toàn quốc thời đó. Lực lượng chiến đấu gồm ba tiểu đoàn, do đồng chí Lê Bá Vận, Trung đoàn phó Trung đoàn 95 trực tiếp chỉ huy. Ngoài tiểu đoàn 310 của chúng tôi (lúc này nằm trong đội hình Trung đoàn 95) và tiểu đoàn 27 Trung đoàn 101 còn có tiểu đoàn 14. Chủ trương tác chiến: Dùng tiểu đoàn 310 đánh cứ điểm Lưu Diễm, hai tiểu đoàn 14 và 27 đánh viện binh địch. Cứ điểm có 1 đại đội ngụy, nằm cách căn cứ lớn của địch ở Mỹ Chánh 6-7km. Thời đó trang bị của trung đoàn chưa có các loại súng để diệt công sự địch nên chúng tôi phải tìm cách khác để diệt đồn. Đây có thể gọi là sáng kiến cũng được. Cái chính là biết suy nghĩ để tìm cách diệt địch. Chúng tôi chủ trương dùng mấy trăm bó rơm, dầm nước (mỗi bó đường kính 0,5m và chiều dài 1m), xếp thành một bức tường dày 2m, cao 2m, rộng hơn 20m. Bộ đội đứng phía sau tường cứ vất các bó rơm lên phía trước để đẩy bức tường vào sát địch, vượt qua cả các vật cản của chúng. Suốt đêm, bức tường di chuyển lên 20m, còn cách địch 40-50m. Nếu cách địch 20m thì chúng tôi có thể dựa vào tường rơm để ném lựu đạn và bắn súng vào đồn (tường xung quanh đồn địch chỉ cao 1,5m).

        Cuối trận đánh, theo lệnh của trung đoàn, chúng tôi để lại 1 đại đội tiếp tục vây đồn, dùng hai đại đội còn lại làm nhiệm vụ chặn đầu quân địch. Trận đánh chuyển từ công đồn diệt viện sang vây đồn diệt viện. Mấy ngày sau địch bắt đầu mở cuộc hành quân lớn với một tiểu đoàn Âu - Phi do thiếu tá Đờ Poanh-tê trực tiếp chỉ huy, một đại đội pháo 105mm ở căn cứ Mỹ Chánh trực tiếp chi viện. Sau này Đờ Poanh-tê bị bắt, y cho biết cấp trên thông báo, lực lượng đối phương ở đây chỉ có 1 tiểu đoàn là tiểu đoàn 310. Chúng không biết tiểu đoàn 14 ở Bắc Quảng Trị được điều vào và tiểu đoàn 27 ở Thừa Thiên được điều ra. Hơn nữa thời đó chúng cũng cho rằng ta chỉ dám đưa cỡ tiểu đoàn chứ chưa thể đưa một trung đoàn đầy đủ về đồng bằng.

        Tiểu đoàn địch vượt khỏi khu vực phục kích của các tiểu đoàn 27 và 14 an toàn. Gặp tiểu đoàn 310, Đờ Poanh-tê cho một đại đội chặn đầu và một đại đội đánh vào cạnh sườn. Đờ Poanh-tê chỉ để một trung đội kiềm chế ta ở chính diện, còn tập trung phần lớn ở tiểu đoàn, bằng hai gọng kìm, từ hai phía bao vây tiêu diệt đại đội của ta đang vận động ra. Trong khi hai bên đang giao chiến, tiểu đoàn 27 và tiểu đoàn 14 đồng loạt xuất kích, kết hợp tiến công cạnh sườn và khoá dưới. Bị đánh tứ phía, địch rối loạn đội hình, xô nhau chạy. Đờ Poanh-tê và một số sĩ quan, binh lính khác bị bắt làm tù binh, một số bị chết ngay tại trận, số còn lại bằng các đường và mọi cách khác nhau chạy thoát được về Mỹ Chánh. Kết quả ta diệt và bắt hơn 200 tên, diệt 2 xe bọc thép và một số xe ô tô, thu được nhiều súng đạn.

        Đêm đó chúng tôi rút lên núi, các tiểu đoàn hành quân về căn cứ của mình, kết thúc một trận thắng lớn.

        Đến đây tôi muốn nói một đôi lời về đồng chí Lê Bá Vận, người chỉ huy trận đánh. Đồng chí Lê Bá Vận xuất thân là hạ sĩ quan quân Pháp. Ở đồng chí nổi trội về tinh thần dũng cảm chiến đấu và luôn tìm cách diệt địch. Từ một cán bộ tiểu đoàn, ngay trong kháng chiến chống Pháp đồng chí đã được bổ nhiệm đến tư lệnh phó Phân khu Bình - Trị - Thiên. Dù cương vị nào, hễ có đơn vị thuộc quyền đi chiến đấu là đồng chí cùng đi. Khi tôi làm đại đội trưởng, đồng chí là trung đoàn phó, nhưng hầu hết các trận đánh tập trung đại đội đồng chí đều có mặt. Có đồng chí nói Lê Bá Vận hay đánh ẩu. Đó là những người ở xa hoặc ghen tuông với tiếng tăm của đồng chí. Chúng tôi là cấp dưới trực tiếp, chúng tôi chỉ sợ cấp trên cứ ra lệnh đánh nhưng bản thân mình không trực tiếp, còn trường hợp cấp trên đi cùng với đơn vị, thì không có chuyện đánh ẩu. Nếu đánh ẩu, bộ đội hy sinh, bản thân đồng chí đó trong đội hình chiến đấu, cùng rất dễ hy sinh. Đồng chí luôn luôn tìm cách diệt địch. Ngồi với đồng chí, nói chuyện gì thì nói, nhưng câu chuyện cuối cùng là chuyện đồng chí nói sắp tới đánh giặc ở đâu. Đồng chí quan niệm có khẩu súng và cái xẻng trong tay, thì kẻ địch nào ta cũng tìm cách đánh được, không đánh to thì đánh nhỏ, không đánh ban ngày thì đánh ban đêm. Một vài trận do đồng chí chỉ huy tôi kể trên cũng đã phần nào nói lên tinh thần đó. Năm 1947 đồng chí đã dám tập trung tiểu đoàn để đánh trận Gio Linh, năm 1949 đã tập trung đầy đủ một trung đội về đồng bằng đánh lưu đêm ở Mỹ Chánh.

        Tôi xin kể thêm một trận đánh nhỏ nữa để chứng minh đồng chí luôn nghĩ cách để đánh địch. Lúc ở Triệu Phong, bọn địch ở các cứ điểm trên đường 1 ban đêm hay ra tuần tiễu dọc sông Thạch Hãn để chặn đánh bộ đội và cán bộ, lợi dụng đêm tối để vượt sông và vượt đường số 1. Đồng chí lệnh cho tôi đưa đại đội đi phục kích bọn địch. Hai, ba đêm tôi đều vồ hụt. Chúng tôi phục kích đường này chúng lại đi đường khác. Sau khi nghe tôi báo cáo, đồng chí cười và nói: “Đêm nay mình sẽ đi với các cậu và nhất định gặp địch”. Đồng chí chủ trương trên ba trục đường địch có thể đi, ta tập kết đại đội ở giữa, rải trinh sát theo dõi địch trên cả ba trục. Phát hiện địch đi trục nào thì vận động đến đánh địch theo trục đó. Đêm đó chúng tôi đã đánh được địch. Đánh theo cách này, tức không phục kích sát đường khó diệt gọn. Nhưng đồng chí nói đánh cho chúng không dám đi phục kích đêm, để ta đi lại được dễ dàng. Với mục đích như vậy, chúng tôi đã đạt được kết quả.

        Rất tiếc đồng chí đã hy sinh sớm. Lúc đi nghiên cứu để đánh địch ở Nam Đông, mặc dầu là tư lệnh phó phân khu, đồng chí cũng đi trinh sát nắm địch như một cán bộ đại đội. Đồng chí đã vướng mìn địch và hy sinh.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2017, 03:39:55 PM

        V. 45 NĂM SAU NHÌN LẠI NHỮNG NĂM ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN Ở CHIẾN TRƯỜNG BÌNH - TRỊ - THIÊN

        Từ ngày đó và sau này nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp cũng như các nhà văn thường dùng cụm từ Bình - Trị - Thiên gian khổ và anh dũng. Cụm từ đó nói lên Bình - Trị - Thiên là một trong những chiến trường bị địch đàn áp dữ dội nhất, nhưng quân dân Bình - Trị - Thiên đã chiến đấu đặc biệt anh dũng, diệt địch cầm chân địch để phối hợp với chiến trường toàn quốc, giữ vững phong trào suốt cả cuộc chiến tranh. Nói gian khổ, tôi không biết có đâu gian khổ hơn. Nghe nói ba tỉnh Cực Nam Trung Bộ cũng gian khổ như vậy. Bình - Trị - Thiên vốn dĩ là ba tỉnh nghèo, lại chiến tranh liên miên. Vì vậy gian khổ đầu tiên là ăn, mặc và chữa bệnh. Trong hai năm 1947-1948, quân dân Bình - Trị - Thiên phải hoàn toàn tự lực cánh sinh, tất nhiên còn do sự chỉ đạo của quân khu. Tôi nghĩ thời gian đó quân khu và khu ủy hoàn toàn có khả năng mở con đường mòn ở phía tây để chi viện cho Bình - Trị - Thiên, như sau này ta có đường mòn Hồ Chí Minh. Nhưng việc đó đã không có, vì vậy quân dân Bình - Trị - Thiên thiếu thốn đủ thứ. Quân đội ăn mặc hoàn toàn dựa vào dân. Dân thiếu ăn, thiếu mặc nên quân đội cũng thiếu ăn, thiếu mặc. Thời đó, lúc nào một ngày có một lon gạo (250g) là đã được gọi là no. Để đề phòng địch đốt nên thóc gạo đều chôn xuống đất. Khi nào đưa lên làm thành gạo thành cơm để ăn, cứ ngửi thấy mùi thum thủm. Đồng bào Bình - Trị - Thiên cũng có tập quán trồng sắn, nhưng bị địch tàn phá liên miên, nên sắn cũng không có nhiều. Tóm lại, hai năm 1947-1948 chúng tôi đối đầu với nạn đói quanh năm. Về mặc càng tệ hại, hai năm vẫn hai bộ quần áo ấy. Vải ở đâu để may, tiền ở đâu để mua vải. Do quần áo rách vá, giặt lại không xà phòng nên cũng là một tai hoạ. Có lúc bộ đội hầu hết bị lở và sâu quảng (một loại lở loét ở thân mình, chủ yếu ở chân to bằng đồng xu, rất khó chữa). Thuốc men hầu như không có gì ngoài các loại thuốc cấp cứu thương. Sốt rét khắp mặt không từ một ai, nhưng thuốc sốt rét kí-ninh rất hiếm. Chúng tôi phải hoà kí-ninh với nước lạnh để uống. Lúc bị thương mới thật nguy nan. Trung đoàn ở Ba Lòng cũng có một ban quân y với một bác sĩ, nhưng bị thương nặng khiêng lên trung đoàn mất năm, bảy ngày, thật khó sống sót, bị thương nhẹ thì cũng không tiện đưa lên trung đoàn vì mất quá nhiều sức. Vì vậy ở những địa bàn xa như Vĩnh Linh (tôi ở đó một năm), thương nặng hay thương nhẹ đều do y tá đại đội giải quyết. Bị thương phần mềm thì băng cầm máu, sau đó quấn cao Thầy Đẹo. Thầy Đẹo tôi quen từ hồi ở Đông Hà, làm thuốc đông y, nổi tiếng là cao sản (dùng cho phụ nữ khi sinh). Ban đầu kháng chiến tản cư ra Vĩnh Linh, sau này hình như thầy ra Thanh - Nghệ - Tĩnh, tôi không còn được tin. Bị thương vào sọ não, phổi, đứt ruột thì cầm chắc cái chết. Gãy chân, gãy tay thì trước hết bó nẹp bằng tre bọc xôi và xương gà. Nếu phải cưa thì không có thuốc mê. Nghe nói trên trung đoàn cũng không có thuốc mê. Nhân dân thiếu thuốc men như bộ đội, lại còn bị địch khủng bố. Hầu như ngày nào địch không khủng bố nơi này thì nơi khác. Địch bắn giết, đốt nhà, đốt lương thực, hãm hiếp, phá hoại mùa màng. Tôi thực sự khó xử, khi một bà mẹ đưa con gái yêu cầu cho con gái theo bộ đội lên căn cứ. Tôi giải thích bộ đội toàn là con trai, trong đại đội có con gái không tiện chút nào cả. Bà mẹ nói, có gì bộ đội lo còn hơn bị Tây hãm hiếp. Tôi phải an ủi bà mẹ và nói sẽ liên hệ với hội phụ nữ xem họ có nhận không. Sau này tôi không gặp lại hai mẹ con, không biết số phận họ ra sao.

        Tuy thực sự gian khổ, nhưng quân và dân Bình - Trị - Thiên đã chiến đấu cực kỳ anh dũng ngay từ những ngày đầu kháng chiến. Muốn đánh địch phải quyết đánh và phải biết đánh. Chủ yếu là dựa vào tinh thần quyết đánh, còn biết đánh là chuyện về sau. Lúc đầu chỉ là chuyện địch đánh ta thì ta đánh địch. Ngày nay nhìn lại tôi cũng tìm hiểu để biết sâu hơn và cũng có lý lẽ để giải thích cho con cháu, cho lớp đàn em sau này... Tôi cho tinh thần chiến đấu là tinh thần dân tộc quyết không chịu làm nô lệ, được hun đúc từ nghìn năm lịch sử và Đảng ta nâng cao thêm một bước trong thời đại Hồ Chí Minh. Trước khởi nghĩa tháng Tám, Bình - Trị - Thiên cũng như Nghệ An chúng tôi, số đảng viên không nhiều. Nhân dân cũng chưa có điều kiện giác ngộ dân tộc. Họ biết khổ là do Tây, nay cần đuổi Tây để tự do và hạnh phúc. Thực tế các quân nhân, cũng như một số người dân đều được biết địa chủ Việt Nam bóc lột, nhưng cũng do có thằng Tây đứng đằng sau. Nếu không có thằng Tây, thì quan lại địa chủ đừng hòng đàn áp họ.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2017, 03:44:35 PM
        Qua các cuộc khởi nghĩa của phong trào của các văn thân, sĩ phu và đặc biệt qua Xô -viết Nghệ Tĩnh, mọi người hiểu rằng nếu không có Tây thì họ lật đổ thiểu số quan lại địa chủ chẳng khó khăn gì. Với tinh thần yêu nước, họ đã vùng lên khởi nghĩa giành độc lập. Nay độc lập rồi, thằng Tây quay lại, bắn giết đàn áp họ, như nhiều lần trước đây, nên họ quyết diệt Tây. Thời kỳ đó ta chưa đưa ra khẩu hiệu “người cày có ruộng”, đánh đổ giai cấp địa chủ, nhưng tinh thần chiến đấu thì không kém thời kỳ nào. Có đồng chí nói như năm 1953 ta bắt đầu thực hiện cải cách ruộng đất, nên tinh thần bộ đội lên cao mới có một Điện Biên chấn động địa cầu. Điều đó đúng cũng phải nói rằng, tinh thần chiến đấu của quân dân ta ở Bình - Trị - Thiên những năm đầu kháng chiến không kém bất kỳ thời kỳ nào, kể cả thời kỳ ở Điện Biên Phủ. Hồ Chủ tịch đã nói: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Không có gì quý hơn độc lập tự do chính là năng lượng chủ yếu làm bùng lên tinh thần chiến đấu của quan dân ta trong bất kể thời kỳ nào.

        Chống áp bức bóc lột của giai cấp địa chủ, tư sản mại bản cũng là tinh thần chiến đấu. Nhưng những năm đầu chiến đấu và sau này nữa, người nào cũng nghĩ, hy sinh đây là hy sinh cho độc lập dân tộc. Ngay những đảng viên cũng phải hy sinh để đánh đổ giai cấp bóc lột. Đây là tinh thần Việt Nam.

        Nói quyết đánh cũng không thể không nói đến biết đánh. Đó là khi địch mạnh ta yếu, phải lấy đánh địch làm chính. Đánh vận động thì lấy phục kích làm chủ yếu. Đánh thành là hạ sách. Xây dựng căn cứ, xây dựng chiến khu ngay trong lòng địch, sau lưng địch.

        Cùng quân dân Bình - Trị - Thiên, những ngày đầu kháng chiến, sau này chống Mỹ tôi cũng chủ yếu chiến đấu ở Bình - Trị - Thiên, vì vậy tôi luôn coi Bình - Trị - Thiên là quê hương thứ hai của mình. Lòng tôi, ngay cả ngày nay, vẫn luôn hướng về Bình - Trị - Thiên, mừng cùng mừng với họ, lo cùng lo với họ. Xin mãi chúc cho nhân dân Bình - Trị - Thiên nhanh chóng phát triển kinh tế mạnh giàu để không phụ lòng những người đã mất, đã đổ máu để có độc lập tự do ngày nay.

        VI. NHỮNG TRẬN CHIẾN ĐẤU Ở BINH ĐOÀN CHỦ LỰC

        Cuối năm 1949 tôi được lệnh quân khu về công tác ở Trung đoàn 57. Sở dĩ có lệnh điều động này là do đồng chí Trần Văn Quang, Chính trị ủy viên quân khu chủ trương đưa một số cán bộ đã qua chiến đấu ở Bình - Trị - Thiên về bổ sung cho các trung đoàn ở Thanh - Nghệ - Tĩnh. Khi Đại đoàn 304 thành lập, trung đoàn thuộc biên chế của Đại đoàn 304, đại đoàn chủ lực thứ hai của quân đội ta. Tôi được chỉ định làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 418, tiểu đoàn chủ công của trung đoàn. Tiểu đoàn chủ công được sử dụng để đánh công sự vững chắc (công kiên). Tôi tuy đã được chiến đấu nhiều, nhưng chủ yếu là đánh vận động, lần đầu tiên làm nhiệm vụ đánh trận địa nên gặp rất nhiều bỡ ngỡ. Trải qua một số trận chưa thành công, sau đó mà thành thạo đánh công kiên, đánh trận nào thắng trận đó.

        Đợt hoạt động đầu tiên của Đại đoàn 304 là đợt hoạt động ở bắc Thanh Hoá để phối hợp với chiến dịch Biên Giới năm 1950. Đợt này Trung đoàn 57 chưa tham chiến, nhưng Trung đoàn 66 chủ công của đại đoàn đánh một cứ điểm ở Nga Sơn không thành công. Tiếp đó chúng tôi hành quân ra Việt Bắc, lên biên giới, trang bị lại vũ khí của sư đoàn do Trung Quốc viện trợ. Sau khi nhận vũ khí mới, sư đoàn lại hành quân về mở đợt hoạt động ở Vĩnh Linh để phối hợp với chiến dịch Đường 18. Đợt này đại đoàn không đánh được trận nào có kết quả. Sau khi hành quân về Thanh Hoá đại đoàn tiếp nhận đoàn cố vấn của Trung Quốc. Cố vấn được bố trí từ sư đoàn xuống trung đoàn. Trung đoàn 57 có đồng chí Lưu trực tiếp làm cố vấn.

        Ở Thanh Hoá huấn luyện một thời gian, trong đó trọng tâm học chiến thuật và phương pháp đánh công kiên do cố vấn Trung Quốc làm giảng viên. Suốt thời gian có cố vấn, tôi chưa thấy các đồng chí giảng về vận động tập kích ... Hoàn thiện xong, sư đoàn tham gia chiến dịch Hà Nam Ninh, là chiến dịch do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy. Trong chiến dịch này, Bộ sử dụng ba đại đoàn: Đại đoàn 308 đánh địch xung quanh thị xã Ninh Bình, Đại đoàn 304 đánh địch vùng Yên Mô phía nam thị xã, Đại đoàn 320 đánh địch ở thị xã thuộc một phần địa phận tỉnh Hà Nam ... Tiểu đoàn tôi được trung đoàn sử dụng đánh liền ba trận công kiên.

        Trận đánh thứ nhất vị trí Yên Mô Thượng. Tuy được huấn luyện về mở cửa qua vật cản bằng liên tục đánh bộc phá, nhưng lực lượng ta do chưa có kinh nghiệm nên gần một tiếng đồng hồ mới mở xong cửa mở. Khi truy kích qua cửa mở đột nhập vào đồn, đại bộ phận quân địch đều chạy thoát ra ngoài. Tuy chiếm được đồn nhưng chỉ diệt được 15-20 tên. Dẫu sao cũng chiếm được đồn, nên trận đánh xem như thắng nhưng ở mức thấp và không thực hiện được đánh tiêu diệt.

        Trận thứ hai, chúng tôi đánh đồn Cầu Bát. Trận này xem như thất bại, chúng tôi chỉ chiếm được một lô cốt đầu cầu. Sau đó trung đoàn lại hạ lệnh đánh lại Cầu Bát. Lần này có khá hơn, chiếm được một góc đồn, nhưng thiếu kinh nghiệm đánh trận địa nên bị địch ở lô cốt giữa đồn (lô cốt mẹ có hai tầng) ngăn chặn không phát triển lên được, bị thương vong nhiều nên buộc phải rút ra. Lúc đó trung đoàn, đại đoàn đều chưa được trang bị ĐKZ. Đại đội pháo 75mm được Bộ tăng cường chỉ đánh được công sự ngoại vi. Kết thúc chiến dịch Hà Nam Ninh, tiểu đoàn tôi thực sự chưa đánh được trận nào tốt. Nhưng dẫu sao cũng được thử thách và có kinh nghiệm. Chúng tôi tự an ủi, chiến dịch sau nhất định sẽ công đồn tốt hơn


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2017, 02:36:16 PM

        VII. CHIẾN DỊCH HOÀ BÌNH

        Đại đoàn rút về hậu phương huấn luyện chưa được bao lâu thì địch đánh ra chiếm thị xã Hoà Bình. Đại đoàn lại được điều ra tham gia chiến dịch Hoà Bình, cũng là chiến dịch do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy. Tham gia chiến dịch có 3 đại đoàn. Đại đoàn 308 đánh địch xung quanh thị xã Hoà Bình và toàn bộ tả ngạn sông Đà. Đại đoàn 312 đánh địch ở hữu ngạn sông Đà đến bắc đường số 6. Đại đoàn 304 đánh địch đoạn phía đông đường số 6 và dọc đường 21. Lợi dụng lúc địch tập trung quân ở Hoà Bình, Đại đoàn 320 thọc sâu vào vùng địch hậu hai tỉnh Nam Định và Thái Bình, diệt nhiều địch mở rộng vùng giải phóng ở địch hậu. Diễn biến chiến dịch Hoà Bình, các sách báo đã nói nhiều. Tôi xin đi sâu vào các trận đánh của tiểu đoàn. Chủ trương của Bộ Tổng tư lệnh là trước hết diệt nhiều địch bằng phục kích trên đường giao thông và diệt một số cứ điểm. Tiểu đoàn tôi thuộc trung đoàn và đại đoàn giao tiêu diệt cứ điểm Đồi Mồi trên đường 21. Trước lúc đi vào trận đánh, tôi muốn nói các cứ điểm ở Hoà Bình khác các cứ điểm từ trước tới nay ở đồng bằng.

        - Các cứ điểm ở đồng bằng chủ yếu dựa vào các lô cốt xây bằng gạch đá hoặc bê tông. Diệt được các lô cốt này bằng hoả lực phải bắn thẳng, nếu bắn trúng việc diệt cứ điểm xem như hoàn toàn thắng lợi. Trái lại, các cứ điểm ở Hoà Bình, địch dựa vào đồi núi xây dựng chiến hào nhiều tầng. Quân địch, có cả trung liên và đại liên dựa vào công sự có nắp chống trả quyết liệt. Mỗi cứ điểm đại đội có 15-25 ụ súng có nắp, bố trí xung quanh cứ điểm nhiều tầng. Nếu ta đưa sẵn pháo 75mm hoặc SKZ vào sát cứ điểm thì phải bắn góc tà dương lớn, rất khó trúng. Trái lại để ở điểm cao đối diện thì trận địa lại quá xa, ban đêm cũng không dễ gì bắn trúng.

        - Tướng Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi chủ trương xây dựng các binh đoàn cơ động (GM), đồng thời xây dựng nhiều tiểu đoàn pháo. Mỗi cứ điểm ở Hoà Bình đều được chi viện bởi 2-3 tiểu đoàn pháo binh. Vì địch dùng pháo chi viện nên lúc đó có khái niệm “pháo bầy”. Diệt được các cứ điểm này rất khó.

        Nhiều trận đánh cứ điểm trong chiến dịch này không thành công như Pheo, Đầm Huống, Sim, Đồi Mồi... cũng do hai khó khăn trên.

        Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi cùng ba đồng chí đại đội trưởng đi trinh sát và kết luận, với khả năng thực lực tiểu đoàn được tăng cường 2 SKZ của trung đoàn, không thể diệt được loại cứ điểm này. Không phải chỉ ban chỉ huy trung đoàn mà cả Chính ủy đại đoàn Lê Chưởng đi cùng trung đoàn đều yêu cầu pháo đánh. Tôi nói rõ là đánh không có pháo thì sẽ không thành công và bị thương vong lớn. Nếu các đồng chí cho tôi bày tỏ quyết định của mình thì tôi không xin chỉ huy trận đánh này, vì sẽ thất bại. Còn nếu đã là mệnh lệnh, là cán bộ, tôi xin chấp hành. Ý kiến của tôi được đồng chí Bùi Đình Kế, chính trị viên tiểu đoàn - đảng ủy viên trung đoàn báo cáo trong cuộc họp đảng ủy trung đoàn. Đảng ủy chỉ định đồng chí Hoàng Khải Tiến, Trung đoàn phó trực tiếp chỉ huy trận đánh. Khi quyết định được phổ biến, cả ba đại đội trưởng của tiểu đoàn tôi đều báo cáo không tình nguyện tham gia trận đánh, trừ trường hợp bắt buộc làm theo mệnh lệnh của cấp trên. Đảng ủy trung đoàn họp lần thứ hai (vẫn có đồng chí Lê Chưởng, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn tham gia chỉ đạo) kết luận, giao cho đồng chí Bùi Đình Kế thuyết phục tôi tự nguyện chỉ huy trận đánh. Trước tình hình cấp trên quyết định đánh bằng được, không có cách nào khác, tôi chấp hành nghị quyết trực tiếp chỉ huy trận đánh. Các đồng chí đại đội trưởng cùng tôi tổ chức trận đánh. Dẫu sao giữa tôi và các đại đội trưởng đã hiểu nhau nhiều, quen cung cách chỉ huy của nhau.

        Đến đây tôi lại xin nói thêm về các cán bộ đại đội trong tiểu đoàn tôi. Cũng như những đơn vị chủ công khác, các cán bộ ở các đơn vị này thường được cấp trên lựa chọn vào những nhiệm vụ khó khăn. Tất cả đều là những người đặc biệt gan dạ. Đồng chí Đượm đại đội trưởng đại đội 6, đại đội chủ công, người Anh Sơn, Nghệ An. Sau trận này, đồng chí luôn là người chỉ huy đại đội chủ công, đánh thắng nhiều trận. Trong Điện Biên Phủ, đồng chí là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 418 thay tôi. Sau Điện Biên Phủ đồng chí làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 57. Sau hoà bình và trong đánh Mỹ, đồng chí làm lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 271 phòng thủ giới tuyến. Kết thúc chiến tranh đồng chí chuyển ngành, làm chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Nghệ An cho đến lúc từ trần năm 1995. Đồng chí Tặng, đại đội trưởng người Quảng Bình, rất gan dạ có trình độ tổ chức trận đánh vượt trội. Rất tiếc đồng chí hy sinh ngay trong trận này. Chính trị viên đại đội 60 là đồng chí Vĩnh. Chính trị viên đại đội 59 là đồng chí Sẵn. Cả hai đồng chí đều là những cán bộ Việt Minh trước khởi nghĩa và đều hy sinh trong trận Đồi Mồi.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2017, 02:39:52 PM

        Cũng như các trận đánh khác, chập tối chúng tôi hành quân, 10 giờ triển khai xong đội hình bắt đầu làm công sự. Vì đất ở vùng núi là đất sỏi, đá nên sau hai giờ mỗi người chỉ đào được một hố cá nhân sâu khoảng nửa mét đến một mét, không đào được giao thông hào. 12 giờ trận đánh bắt đầu. Mặc dầu hoả lực trong đồn bắn ra mãnh liệt và pháo địch ở các căn cứ gần đó bắn dồn dập, hai đại đội 59, 60 đều mở được cửa và xông vào cứ điểm. Sau 2 giờ chiến đấu, hai đại đội từ hai phía đã gặp nhau và làm chủ điểm cao. Cứ điểm còn lại một điểm cao ở phía nam, cao hơn điểm cao chúng tôi chiếm được khoảng 50m. Vì hai đại đội thương vong quá lớn, bốn cán bộ đại đội hy sinh, đồng chí Đượm bị thương nên không đủ sức đánh lên điểm cao. Tôi lệnh cho đồng chí Liêm, đại đội trưởng đại đội 54, đơn vị ở phía nam, điều đại đội vòng về phía đại đội 60 để vượt qua đội hình đại đội 60 tiến công lên điểm cao. Trên đường cơ động, bị pháo binh bắn sát hàng rào, đại đội thương vong lớn, vỡ đội hình. Đồng chí Liêm đến gặp tôi báo cáo đại đội không đủ mười người. Nhận thấy không có khả năng tiếp tục đánh dứt điểm, tôi bàn với đồng chí Kế cho lui quân. Trận này chúng tôi chiếm được 2/3 đồn, nhưng thương vong quá lớn, 250 đồng chí, trong đó có năm cán bộ đại đội hy sinh. Tiểu đoàn thời đó quân số khoảng 400, nay chỉ còn lại 150. Đặc biệt là hai đại đội đột phá, mỗi đại đội chỉ còn 20 đồng chí. Thông thường những trận đánh thương vong nặng như vậy, xốc đơn vị lên rất khó. Cũng may, chỉ còn 150 người, tiểu đoàn vẫn cơ động lên đường số 6 và đánh một trận phục kích thắng lợi lớn. Nhờ thắng lợi này mà chúng tôi vực được tiểu đoàn lên trong một thời gian ngắn.

        Trên đường số 6 địch vẫn thường cơ động lực lượng cả đi và về. Hai bên đường là rừng rậm. Trong hành quân địch cắm chốt canh gác, sục sạo nhưng cũng chỉ vào cách đường 50-70m. Vấn đề bố trí quân để phục kích không khó, cái chính là làm sao đánh thật nhanh, rút thật nhanh vì cứ điểm địch có đại đội, tiểu đoàn chỉ cách nhau 5-10km. Chúng tôi chọn đoạn cầu Cụt Tai là đoạn hai cứ điểm cách nhau gần 10km. Đoạn phục kích của ta từ đầu đến cuối dài khoảng 2km, như vậy mỗi hướng cũng còn cách đồn địch 3-4km. Về phục kích, tôi có nhiều kinh nghiệm. Chúng tôi bố trí đại đội 60 làm nhiệm vụ chặn đầu; đại đội 54 quân số đông nhất (khoảng 50 đồng chí) là lực lượng tiến công trên hướng chính kiêm việc khoá đuôi; đại đội 59 trên hướng đối diện, bố trí ở bắc đường số 6. Điều chính là biết đặt đài quan sát, nắm chắc đội hình hành quân của địch để xuất kích kịp thời và đánh được vào đội hình chính của chúng. Sáng sớm, địch xuất phát từ hướng Hoà Bình đi về hướng Hà Nội với lực lượng một tiểu đoàn, có 2 xe bọc thép loại AM, tức loại xe có đại bác 37mm. Chúng tôi quyết tâm đánh hai đại đội đi sau. Nếu bỏ hai đại đội đi sau, chúng rất dễ tiến lên để cứu viện. Trái lại, bỏ đại đội đi đầu do địa hình hiểm trở, chúng ít có khả năng quay lại cứu viện. Đúng lúc đại đội đi đầu của địch gần vượt đoạn chặn đầu, các đại đội nhận lệnh xuất kích. Khoảng 5 phút họ đã ra sát đường cái bắt đầu bắn mạnh vào địch, có bộ phận đã bắt đầu ném lựu đạn. Kèn tây của tiểu đoàn bắt đầu thổi mạnh, vừa để phát hiệu lệnh xung phong chung, vừa để thông báo cho bộ phận đối diện biết để vận động ra phối hợp. Thời đó, cấp tiểu đoàn không có vô tuyến điện, nếu dùng điện thoại, để giữ bí mật chúng tôi không mắc qua đường. Đại đội 59 chỉ hiệp đồng theo tiếng súng và hiệu lệnh của tiếng kèn tây Khi tôi ra bên đường thì thấy đại đội 59 cũng ra đường. Họ xuất kích chậm hơn hướng chủ yếu một ít, nhưng lại diệt được nhiều địch, vì khi hướng chủ yếu xung phong, một số địch bị diệt ngay trên đường, số còn lại lui về phía bắc để đánh trả, nên đại đội 59 thúc vào lưng chúng diệt gọn. Hai chiếc AM, chiếc đầu đi thoát, không dám quay lại chi viện, chỉ bắn vu vơ, chiếc sau bị đồng chí Viếng nhảy lên ném lựu đạn vào xe (theo cách đánh của đồng chí Cù Chính Lan trước đó) diệt địch và phá xe. Như vậy chỉ khoảng 20 phút, chúng tôi diệt gọn hai đại đội, bắt hơn hai chục tù binh trong đó có tên quan hai, đại đội trưởng, phá nhiều xe ô tô và một xe AM. Trận thắng này, như trên tôi đã nói, có tác dụng chủ yếu là làm cho toàn tiểu đoàn phấn khởi lên, khắc phục được tình trạng bi quan, có người dao động sau trận Đồi Mồi, mở đường cho tiểu đoàn tiến lên giành nhiều thắng lợi sau này.

        Cuối tháng, do sợ bị thiệt hại nặng, không nối được hành lang đông tây, bị ta đánh mạnh ở đồng bằng, Đờ Lát buộc phải rút quân khỏi Hoà Bình. Chúng tổ chức rút quân khá bài bản. Trong ngày rút quân, các cứ điểm trên trục đường đều đưa quân ra chiếm giữ các điểm cao. Bộ phận xa nhất (quân ở thị xã) rút trước. Sau đó lần lượt theo kiểu cuốn chiếu. Sau khi bảo đảm cho bộ phận phía sau rút hết, các đơn vị đóng chốt mới lần lượt rời khỏi điểm cao để rút quân. Địch rút quân có bài bản, ta lại chủ trương đánh đuổi, nên hầu hết lực lượng, cùng một lúc thọc mạnh ra đường, làm rối loạn đội hình của chúng và thu được thắng lợi lớn. Tuy vậy, chỉ trong một ngày, địch thực hiện được việc rút hết lực lượng từ Hoà Bình đến Xuân Mai.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2017, 02:45:06 PM

        VIII. VÀO ĐỊCH HẬU

        Kết thúc Chiến dịch Hoà Bình, toàn trung đoàn rút quân về vùng Nho Quan củng cố. Riêng tiểu đoàn tôi được lệnh về đồng bằng Nam Định, ở các huyện Nghĩa Hưng, Nam Trực, Hải Hậu là vùng vừa được giải phóng trong khi diễn ra chiến dịch Hoà Bình. Trước khi xuống đồng bằng, tiểu đoàn được bổ sung quân số. Đồng chí Kình về làm chính trị viên tiểu đoàn thay đồng chí Bùi Đình Kế. Đồng chí Trần Hậu Tưởng, một giáo viên ở Trường sĩ quan Lục quân về làm tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn ra quân phấn khởi. Lâu ngày ở rừng núi ăn uống kham khổ, nay về đồng bằng được hưởng gió biển trong lành, được nhân dân nuôi dưỡng đầy đủ, sức khỏe bộ đội hồi phục nhanh.

        Bộ đội về đồng bằng đâu phải để an dưỡng mà là để đánh giặc. Lúc này địch đang củng cố lực lượng sau thất bại lớn ở cả hai hướng, rừng núi và đồng bằng, nên chúng còn co lại, chưa có cuộc hành quân nào lớn. Chúng tôi chỉ còn cách là chủ động tiến công chúng. Như vậy lại phải công đồn. Sau khi nghiên cứu sơ bộ về địch, chúng tôi thấy tiến công đồn Lạc Quần là thuận lợi nhất, vì đồn Lạc Quần nằm đột xuất trong khu vực giải phóng của ta. Đồn Lạc Quần công sự khá vững chắc, nhưng lực lượng chỉ có một đại đội quân ngụy, vừa sức của tiểu đoàn.

        Kế hoạch cũng bài bản như các trận trước. Đại đội 60 của đồng chí Đượm tiến công hướng chủ yếu. Đại đội 54 của đồng chí Lũy tiến công hướng quan trọng (đồng chí Lũy về thay đồng chí Tặng hy sinh ngay sau trận Đồi Mồi). Đại đội 54 của đồng chí Liêm cùng một trung đội làm nhiệm vụ dương công, còn lại làm lực lượng dự bị tiểu đoàn. Đại đội 92 (đại đội trợ chiến) có hai súng cối 82mm và hai khẩu đại liên tập trung chi viện cho hướng chủ yếu. Trong quá trình chiếm lĩnh trận địa, địch bắn vu vơ, nhưng đồng chí Đượm trúng đạn súng cối, bị thương khá nặng. Sau khi băng bó xong, đồng chí vẫn xin tiếp tục chỉ huy. Trận đánh diễn ra thuận lợi. Chỉ sau một giờ, chúng tôi làm chủ trận địa. Địch không chạy thoát tên nào vì như trên đã nói, nằm đột xuất trong vùng giải phóng. Đây là trận công kiên đầu tiên thắng lợi hoàn toàn của tiểu đoàn và của cả đối với tôi.

        Sau trận thắng Lạc Quần, chờ mấy hôm theo dõi sự phản ứng của địch, chúng tôi nhận xét, chúng chưa sẵn sàng mở cuộc càn lớn. Vì vậy chúng tôi chuẩn bị đánh tiếp một đồn khác. Mục tiêu chọn là đồn Vọc ở Nam Trực, một vị trí đột xuất trong vùng giải phóng của ta. Kế hoạch định đêm sẽ đánh, nhưng buổi sáng một tiểu đoàn địch ra chiếm lại huyện lỵ Nam Trực. Tiền phương trung đoàn nhận định địch đã bắt đầu cuộc càn, lệnh cho chúng tôi chuẩn bị chống càn và rút hai khẩu sơn pháo tăng cường cho tiểu đoàn về phía sau. Sau trận Lạc Quần, trung đoàn cử đồng chí Hoàng Khắc Tiến, Trung đoàn phó cùng một số cán bộ tham mưu vào Nam Định để vừa chỉ huy tiểu đoàn tôi, vừa chuẩn bị để đưa thêm một tiểu đoàn khác vào địch hậu. Chúng tôi đặt kế hoạch chống càn và theo dõi sát tình hình địch ở Nam Trực.

        Khoảng 5 giờ chiều quân địch ở Nam Trực rút về phía sau. Đêm nay có đánh Vọc không. Cần trao đổi cẩn thận, vì hai khẩu pháo, vũ khí chính để diệt lô cốt địch trung đoàn đã rút đi. Sau một hồi cân nhắc, cả hai đại đội trưởng làm nhiệm vụ đột phá đều trả lời, không cần sơn pháo cũng đánh được. Các đồng chí cho rằng đồn Vọc chỉ có 3 lớp hàng rào với chiều dày 30m, bộ đội ta đã quen dùng đại liên, trung liên để kiềm chế hoả điểm địch bảo đảm cho mở cửa xung phong. Chúng tôi hạ quyết tâm không có sơn pháo cũng đánh. Trận đánh diễn ra khá thuận lợi. Chưa đầy 1 giờ chúng tôi đã chiếm được đồn, thương vong cũng ít.

        Trong trận này, tôi lại may mắn thoát chết. Các trận trước, khi đi theo đơn vị vào tiếp tục phát triển tôi mới vào đồn. Trước đó tôi vẫn ở tại vị trí chỉ huy ngoài đồn. Nói vị trí chỉ huy nhưng cũng chỉ là cái hố đứng quan sát trận đánh, có đồng chí điện thoại viên cùng máy bên cạnh. Trong trận này không hiểu vì sao, tôi lại xông vào đồn cùng đồng chí đại đội trưởng đại đội 60, đi sau trung đội xung kích đầu tiên. Sau khi trận đánh kết thúc, tôi ra lại vị trí chỉ huy, gọi đồng chí điện thoại viên, không thấy thưa. Dùng đèn pin soi xuống hầm và xung quanh, tôi phát hiện một quả pháo nổ ngay cạnh vị trí chỉ huy của tôi và đã cắt đứt đầu đồng chí điện thoại viên. Đồng chí vẫn có thói quen, dứt máy ngay để cùng tôi đứng quan sát. Nếu tôi không vào đồn sớm, ở lại chỗ cũ thì chắc tôi cũng hy sinh như đồng chí điện thoại viên.

        Bị mất thêm đồn Vọc, địch buộc phải tập trung lực lượng về Nam Định để càn quét đẩy ta ra xa. Vọc chỉ cách thành phố Nam Định khoảng 10km. Kế hoạch chống càn thường chọn trong các cánh quân địch, cánh nào ta phán đoán là yếu hơn thì tập trung lực lượng tiêu diệt. Khi địch phát hiện ta, chúng dồn quân lại bao vây để cất vó, trong đêm ta rút ra vòng ngoài, làm cho chúng cất vó hụt.

        Đánh càn lần này, chúng tôi bố trí tiểu đoàn thành hai bộ phận ở hai khu vực cách xa nhau khoảng 4-5km, đề phòng đơn vị này bị vây, đơn vị ở ngoài hỗ trợ. Tiểu đoàn (thiếu 1 đại đội) do tôi chỉ huy bố trí ở thôn Ngọc Giã, một đại đội khác do đồng chí Trần Hậu Tưởng, tiểu đoàn phó chỉ huy.

        Chúng tôi đã không đánh giá hết lực lượng địch. Ngay từ sáng cả GM 19 (binh đoàn cơ động 19) từ ba phía tiến thẳng đến bao vây và tiến công thẳng vào Ngọc Giã. Có thể chúng nắm được nơi đóng quân của ta. Với lực lượng thiếu, chúng tôi không có khả năng để diệt bất cứ cánh quân nào, vì mỗi cánh quân là một tiểu đoàn địch. Chúng tôi đánh theo lối cố thủ trong làng. Làng Ngọc Giã khá rộng, bề dài đến 1km, bề ngang khoảng 500m. Theo kinh nghiệm trước đây nhiều lần đụng độ với địch ở đồng bằng Quảng Trị, tôi cho rằng với hố cá nhân, dựa vào lũy tre, với tất cả hoả lực có trong tay, chúng ta đủ sức ngăn chặn địch trong một ngày. Diễn biến cũng đã xảy ra như vậy. Cả ba tiểu đoàn địch suốt ngày không vào được làng. Tất nhiên chúng cũng làm chúng tôi thương vong một số, nhưng chúng bị thiệt hại lớn hơn. Chúng chủ trương chia quân bao vây để ngày mai đánh tiếp. Khoảng 8 giờ tối, qua nắm tình hình chúng tôi biết rõ, chúng co vào ba cụm lớn, giữa các cụm rải chốt cỡ trung đội để ngăn chúng tôi vượt ra ngoài. Chúng tôi nghiên cứu đường rút cả ba hướng để hướng nào thuận lợi hơn thì rút theo hướng ấy. Khoảng 10 giờ đêm, đồng chí Tưởng dùng đại đội của mình ở vòng ngoài tiến công địch từ hướng tây. Lợi dụng lúc địch tập trung lực lượng đối phó với đồng chí Tưởng, chúng tôi bí mật rút về hướng nam, tức hướng có hậu phương rộng của ta. Cuộc rút lui an toàn. Chúng tôi mang được hết thương binh ra ngoài. Sáng hôm sau địch vào làng, không thấy bóng dáng bộ đội ta. Vồ hụt chúng tôi, chúng kết thúc luôn cuộc hành quân.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2017, 03:10:30 PM

        IX. THU ĐÔNG NĂM 1952

        Chiến đấu liên tục từ chiến dịch Hoà Bình, tiểu đoàn tôi chưa có thời gian huấn luyện, trung đoàn cho tiểu đoàn về Nho Quan củng cố, đưa tiểu đoàn 346 vào thay. Trước mắt là mùa mưa, nhưng chúng tôi biết thu đông sắp tới chắc sẽ lạnh lắm. Nhưng việc quan trọng là tranh thủ thời gian huấn luyện cán bộ và huấn luyện tân binh.

        Thu đông năm 1952, Bộ mở chiến dịch lớn ở Tây Bắc. Đại đoàn 304 vẫn ở lại Ninh Bình đánh dịch ở vòng ngoài, phối hợp với Đại đoàn 320 đánh địch ở vòng trong. Đại đoàn phân công Trung đoàn 66 đánh địch dọc đường 10, nam thị xã Ninh Bình, Trung đoàn 57 đánh địch từ Yên Mô đến Phát Diệm. Trận đầu tiên đại đoàn quyết định diệt hai đồn: Trung đoàn 66 diệt đồn Chùa Cao, Trung đoàn 57 diệt Tuy Lộc để mở ra khả năng đánh viện lớn. Trung đoàn 57 cho tiểu đoàn tôi đánh Tuy Lộc. Trong hội nghị cán bộ toàn đại đoàn (cấp tiểu đoàn trở lên) đồng chí Đại đoàn trưởng Hoàng Minh Thảo tổ chức cho hai tiểu đoàn đánh trận đầu thi đua với nhau. Chùa Cao, Trung đoàn 66 cũng phân công cho tiểu đoàn chủ công của trung đoàn là tiểu đoàn Lê Lợi. Chỉ tiêu thi đua là diệt gọn, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, ta ít thương vong. Sau trận đánh hai tiểu đoàn đều diệt gọn, bắt toàn bộ tù binh, thu toàn bộ vũ khí (đều của một đại đội địch). Theo chỉ tiêu ban đầu, tiểu đoàn tôi phải trội hơn vì chúng tôi không ai hy sinh, chỉ có ba đồng chí bị thương nhẹ, không phải đi bệnh viện. Nhưng đồng chí Lê Chưởng, Chính ủy đại đoàn kết luận thưởng cho tiểu đoàn Lê Lợi, vì theo đồng chí nói, đồn Chùa Cao quan trọng hơn, chiến dịch trước Trung đoàn 66 về, sau đó Trung đoàn 88 đánh nhưng đều không thành công. Chỉ tiêu này không thấy nêu ra trước trận đánh. Chúng tôi cũng đều vui vẻ cả, vì cái chính là mình đã thắng trận, bộ đội không thương vong.

        Đây là một trận chỉ có một lần trong đời tôi, là trận đánh duy nhất của sư đoàn tôi suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, trận công đồn, tiểu đoàn diệt một đại đội địch mà không ai thương vong. Vì vậy tôi trình bày lại trận đánh cụ thể hơn để rút kinh nghiệm phần nào cho cán bộ sau này. Đồn Tuy Lộc cũng giống hầu hết các đồn thời đó ở đồng bằng, ngoài có 5-7 hàng rào dây thép gai với chiều sâu khoảng 80-100m, xung quanh ở các góc có các lô cốt xây vững chắc, trong đó đặt 2-3 súng máy bắn ra các hướng. Nối liền các lô cốt là tường hộp vừa là nơi chiến đấu vừa là nơi ngủ của lính. Ở giữa có một lô cốt mẹ, thường là 2-3 tầng để cố thủ. Hoả lực lúc bắn ra ngoài ở cự ly xa. Riêng đồn Tuy Lộc hai lô cốt là bức tường phía nam, nằm trên bờ đê, dùng hoả lực ở lô cốt, được xây dựng nhô ra phía ngoài để kiểm soát dọc đê theo mép bờ sông. Khi bàn cách đánh, chúng tôi cũng chỉ nghĩ làm cách nào đó giảm bớt thương vong, chứ không ai dám nghĩ không thương vong. Chúng tôi chủ trương mở cửa ở mép đê phía ngoài, vì nếu diệt được hai lô cốt trên đê thì địch không còn kiểm soát được mép ngoài của đê. Để diệt hai lô cốt này, chúng tôi lúc đặt hai khẩu sơn pháo ở bờ đê bên hữu ngạn cách lô cốt 70m (địch đóng ở bờ đê tả ngạn, sông chỉ rộng 50-60m). Với cự ly 70m, bắn thẳng, việc diệt lô cốt không có gì khó khăn với anh em pháo binh. Sau khi chiếm được lô cốt đầu cầu, ta đưa ngay hai khẩu SKZ bắn trực tiếp vào lô cốt mẹ, ở cự ly 50m, phá hủy và chiếm ngay lô cốt mẹ, để từ đó đánh toả ra các tường hộp, tức từ trong đánh ra. Đi nhanh chóng diệt địch trong tường hộp, trước hết dùng bộc phá khối lớn, cắt ngang tường hộp ra mấy đoạn. Từ các đoạn cắt đó, dùng lựu đạn ném vào cửa sau của tường hộp để diệt địch. Việc kiềm chế pháo địch ở Phát Diệm chi viện đã có đại đoàn lo. Việc diệt viện binh ở Phát Diệm lên trung đoàn đảm nhiệm.

        Sau ba đêm trinh sát nhiều lần, các đại đội đều vào chiếm lĩnh trận địa đúng vị trí quy định. Sau này khi làm giảng viên, học viên có hỏi tôi, trong đánh công kiên, lúc chiếm lĩnh trận địa, tiểu đoàn trưởng làm gì? Tôi đã trả lời thật mà như đùa: tiểu đoàn trưởng ngủ. Sự thật là trong trận này, lúc bộ đội chiếm lĩnh trận địa và đào công sự, tôi ngủ. Lý do: ba đêm đi trinh sát liền, hoàn toàn không được ngủ. Ban ngày phải họp cán bộ, kiểm tra các đơn vị nên cũng không được ngủ. Thèm ngủ là tất nhiên. Nhưng không phải như vậy. Cái chính là tôi tin tưởng ở ba đồng chí đại đội trưởng. Họ đã cùng tôi đánh thắng Lạc Quần, đánh thắng Vọc. Tôi biết họ đủ sức đưa đại đội mình vào đúng vị trí và triển khai lực lượng bí mật, an toàn. Việc kiểm tra trận địa hoả lực đã có đồng chí tiểu đoàn phó Trần Hậu Tưởng.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Một, 2017, 09:45:08 PM

        Tôi xin nói mấy lời về đồng chí Tưởng. Đồng chí là công chức thời Pháp thuộc, nên được học hết cấp 2 (thời đó cũng được gọi là trí thức). Đồng chí học lục quân khoá 1, sau đó ở lại làm giáo viên nhiều năm. Kinh nghiệm chiến đấu lúc mới về tiểu đoàn có hạn, nhưng trình độ tổ chức chiến đấu thì ít cán bộ vượt được đồng chí. Ví dụ, chuẩn bị chiến đấu, đặc biệt phải kiểm tra kỹ việc chuẩn bị bộc phá của các trung đội làm nhiệm vụ mở cửa. Đồng chí đã kiểm tra thì trăm quả nổ cả trăm. Tôi đứng xem đồng chí kiểm tra mà lòng đầy khâm phục, tin tưởng. Đồng chí ra lệnh rải vải và đặt thuốc nổ lên. Kiểm tra đặt đúng vị trí và liều lượng, đồng chí cho lệnh gói. Gói xong kiểm tra từng gói một. Đến lượt cắt dây cháy chậm, đồng chí kiểm tra kỹ xem cắt đúng chưa và cho ghép vào kíp nổ từng dây một. Sau đó kiểm tra nụ xoè và cho ghép nụ xoè. Ghép xong cho đặt kíp nổ vào gói thuốc, cột chặt, ốp kỹ ni-lông che mưa.

        Quay lại trận đánh. Sau khi hoàn thành mọi công việc chuẩn bị, điện thoại thông với các đại đội và trận địa hoả lực, đồng chí tiểu đoàn phó gọi tôi dậy, thống nhất giờ nổ súng (12 giờ đêm). Sau đó tôi nói đồng chí Tưởng ở lại vị trí chỉ huy tiểu đoàn để chỉ huy chung, còn tôi đi lên ngồi cạnh đồng chí Đượm, đại đội trưởng đại đội chủ công, ở cùng trung đội mở cửa, cách hàng rào địch 20m. Sau mấy loạt đạn đại bác mở đầu trận đánh, hai lô cốt trên đê bị huỷ diệt hoàn toàn. Muốn bắn vào đội hình của ta, chỉ còn trông cậy vào hai khẩu súng cối 81mm. Nhưng hai khẩu cối 81mm của địch làm sao chịu nổi sức chế áp của hai súng cối 82mm của tiểu đoàn và sáu súng cối 60mm của ba đại đội. Việc mở cửa hoàn thành nhanh chóng. Xung kích dẫn đầu là tổ ba người: Hồ, Hùng, Sơn xông vào chiếm ngay lô cốt đầu cầu. Tôi và đồng chí Đượm đại đội trưởng cũng vào ngay. Sau mấy loạt đạn SKZ, lô cốt mẹ bị phá hủy. Vẫn dẫn đầu là tổ: Hồ, Hùng, Sơn vào chiếm lô cốt mẹ. Từ lô cốt đầu cầu và lô cốt mẹ, các tiểu đội toả ra đánh chiếm các tường hộp làm chủ hoàn toàn đồn địch, bắt tù binh, thu vũ khí. Đặc biệt không ai hy sinh. Ba đồng chí bị thương nhẹ khi lui quân do pháo địch bắn. Trận này, tổ ba người: Hồ, Hùng, Sơn nổi bật là đã chiếm hai lô cốt chính về một đoạn tường. Với thành tích đặc biệt xuất sắc trong trận này và nhiều trận sau này nữa, đồng chí Đặng Đình Hồ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng quân đội. Việc đồng chí Hồ được phong tặng anh hùng rất xứng đáng, được toàn thể cán bộ noi gương và học tập. Đến cuối thời kỳ đánh Mỹ, đồng chí Hồ trở thành sư đoàn trưởng Sư đoàn 304. Từ khi thành lập đại đoàn là chiến sĩ, hết hai cuộc chiến tranh là sư đoàn trưởng, cùng ở một sư đoàn.

        Cũng cần nói thêm, các đồng chí được phong anh hùng trong chiến tranh đều có thành tích xuất sắc, đều xứng đáng. Nhưng chúng ta hay gán ghép thêm nhiều thành tích mà các đồng chí không có, làm cho các đồng chí đó tưởng như mình là những người xuất chúng, không ai làm được. Sự tô vẽ thêm đó có mấy cái hại:

        - Những đồng chí cùng chiến đấu với các đồng chí anh hùng, biết rõ từng trận đánh của các đồng chí đó, nay đọc lại liệu thấy có chỗ nói không thật, tỏ ra nghi ngờ đồng chí và các cơ quan truyền thông.

        - Làm cho một số ít anh hùng tưởng rằng không ai bằng mình, sinh ra kiêu căng. Từ đó xa quần chúng.

        Tôi nói thế là vì ngay trong thành tích đồng chí Hồ, không cần thêm bớt gì cũng là lớn, cũng là xứng đáng anh hùng. Nhưng không biết vì sao một số nhà văn, nhà tuyên huấn lại cứ thêm thắt cho đồng chí Hồ những thành tích không phải của đồng chí. Có tài liệu viết là đồng chí Hồ có sáng kiến đánh tường hộp. Tôi khẳng định trong cuộc họp quân sự dân chủ bàn về cách đánh do tôi chủ trì, không có mặt đồng chí Hồ. Hội nghị chỉ triệu tập từ tiểu đội trưởng trở lên, lúc đó đồng chí Hồ còn là chiến sĩ. Hội nghị đã đề xuất nhiều ý kiến như tôi đã trình bày ở trên, trong đó có ý kiến và cách đánh tường hộp. Đồng chí Hồ là người thực hiện tốt cách đánh, không phải người đề xuất ra cách đánh.

        Sau hai trận đầu của đại đoàn, địch vẫn không hành quân giải toả, nên các đơn vị đánh viện vẫn chưa có cơ hội lập công. Lý do đơn giản là lúc này ta đánh lớn, thắng lớn trên chiến trường chính. Các binh đoàn cơ động của địch phải chuẩn bị để chi viện cho Tây Bắc. Thực tế, sau này chúng đã phải cho nhảy xuống Nà Sản, lập tập đoàn cứ điểm ở đây. Không có các binh đoàn cơ động đến tăng cường, địch ở Phát Diệm phải đối mặt với một đại đoàn của ta, nên phải giữ thế thủ, không dám phản công. Không nằm chờ địch viện và cũng nhận định địch ít khả năng viện, đại đoàn chủ trương đánh các đồn tiếp theo. Tiểu đoàn tôi được giao đánh đồn Bến Xanh do một đại đội Âu - Phi chiếm giữ, chỉ cách Phát Diệm 4-5km.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Một, 2017, 09:57:28 PM

        Sau một số lần trinh sát, chúng ta thấy đồn Bến Xanh về tổ chức phòng ngự cũng không khác gì Tuy Lộc. Lính Âu - Phi đóng trong đồn, chúng tôi cho rằng cũng không khác gì quân ngụy. Cũng chỉ dựa vào công sự để bắn. Sau khi đã đánh thắng gọn ba đồn: Lạc Quần, Vọc, Tuy Lộc, chúng tôi thấy có đủ khả năng diệt một đại đội Âu - Phi trong công sự. Trận đánh diễn ra thuận lợi. Chúng tôi làm chủ đồn sau gần hai giờ chiến đấu. Trận này nổi bật thành tích của đồng chí Lê Công Phê, trung đội trưởng trung đội bộc phá của đại đội 59. Đại đội 59 thường phải chiến đấu ở hướng quan trọng, là hướng có khó khăn hơn. Hướng thuận lợi bao giờ cũng dành cho hướng chủ yếu. Đại đội 59 phải mở cửa qua một dãy ao, phải lội dưới nước để đánh bộc phá. Bộc phá dưới nước không thể phá gọn vật cản như trên khô. Cửa mở hẹp vừa không sạch, vừa khó quan sát. Đồng chí Phê phải dẫn từng chiến sĩ lên đánh bộc phá và tự đồng chí đánh hai quả... Đồng chí Lê Công Phê cũng trưởng thành từ một chiến sĩ lên đến sư đoàn trưởng, nhưng khi thành lập đại đoàn, đồng chí đã là trung đội trưởng. Cũng như đồng chí Hồ, đồng chí Phê là một cán bộ đặc biệt dũng cảm, trong chiến đấu thường xuyên lên phía trước, cùng cấp dưới kịp thời giải quyết khó khăn. Đồng chí ở trung đoàn tôi suốt thời kỳ đánh Pháp. Ở Điện Biên đồng chí là đại đội trưởng. Sau hoà bình, đồng chí học ở Học viện Phờ-run-de cùng tôi. Về nước cùng về Học viện Quân sự cấp cao, tôi là trưởng khoa, đồng chí là giáo viên. Năm 1965 lại cùng nhau về Sư đoàn 304, xây dựng và chiến đấu trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Năm 1973 tôi lên làm tư lệnh phó Quân đoàn 1, đồng chí làm sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 thay tôi. Anh em tưởng xa nhau. Nhưng đầu năm 1974 tôi lại vào làm tư lệnh phó Quân đoàn 2, trong đó có Sư đoàn 304 của đồng chí Phê. Chúng tôi cùng chiến đấu cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng. Sau này đồng chí về làm chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hoá, quê hương đồng chí. Hiện nay đồng chí là chủ tịch Hội cựu chiến binh tỉnh.

        Sau trận Bến Xanh, tôi được cử đi học chính trị ở Việt Bắc. Đồng chí Trần Hậu Tưởng thay tôi chỉ huy tiểu đoàn. Tiểu đoàn đánh thêm một trận nữa, diệt gọn một đại đội Âu - Phi ở Văn Lai. Như vậy trong năm 1952, tiểu đoàn tôi diệt gọn 5 đồn, gồm 5 đại đội, trong đó có hai đại đội Âu – Phi.

        X. CHIẾN DỊCH THƯỢNG LÀO

        Tôi ra Việt Bắc chuẩn bị vào học chính trị khoá 7. Chưa bước vào học thì có lệnh về ngay đại đoàn đang đóng quân ở Thanh Hoá. Về đến đại đoàn, tôi mới biết mình được điều động về làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Lê Lợi, thay đồng chí Minh Vân vừa được bổ nhiệm trung đoàn phó để đi chiến dịch Thượng Lào. Chiến dịch Thượng Lào, không riêng Đại đoàn 304, tất cả các đại đoàn đều làm một cuộc truy kích lớn, giải phóng giúp bạn Lào một vùng rộng lớn, nhưng diệt không được bao nhiêu địch. Tiểu đoàn tôi cùng tiểu đoàn của bạn đánh đồn Noọng Hét. Theo trinh sát, trong đồn có một tiểu đoàn ngụy Lào. Khi chúng tôi đột phá vào, chúng đã rút ra phía sau gần hết, chỉ để lại trong đồn khoảng 1 trungđội. Chúng tôi làm chủ đồn. Sáng ra, bọn địch trên các núi cao quanh đồn dùng các loại súng bắn xuống khu vực có bộ đội ta. Cũng may bọn này không có tinh thần chiến đấu. Chúng tôi từ dưới thấp dùng súng cối bắn lên núi, chúng rút chạy hết. Sau khi địch rút hết về thành lập tập đoàn cứ điểm ở Cánh Đồng Chum, bộ đội một số đơn vị được giao bao vây Cánh Đồng Chum. Sau khi, giúp bạn Lào củng cố vùng mới giải phóng bao gồm toàn bộ tỉnh Sầm Nưa và hầu hết tỉnh Xiêng Khoảng, bộ đội ta lần lượt rút về, chỉ để lại một bộ phận nhỏ giúp bạn Lào.

        XI. CHỈNH QUÂN CHÍNH TRỊ

        Trước khi Trung đoàn 66 rút về, tôi được lệnh lên Việt Bắc để kịp học chính trị khóa 8. Thời gian học chính trị là ba tháng. Lớp học này cũng như lớp trước, nằm trong đợt chỉnh quân chính trị. Nội dung của nó: phần lý thuyết học về cách mạng ruộng đất (chống phong kiến) là chính. Phần chống thực dân đế quốc, chỉ nói qua, xem như mọi người đã rõ. Phần kiểm điểm quan điểm chính trị phải làm rõ lý lịch cá nhân mới là phần chính. Nằm trong thành phần cơ bản (bần nông, công nhân) hoặc thành phần trung gian, nhưng là nông dân, việc kiểm điểm cũng nhẹ nhàng. Số thuộc thành phần bóc lột phú nông, địa chủ, tư sản thì thật gian nan. Các thành phần trung gian khác như là cựu binh sĩ hoặc công chức đã làm cho chế độ cũ, cũng khá vất vả. Tuy vậy, từ khoá 8 về trước cũng chưa có đấu tố nặng nề, chỉ có kiểm điểm trong tổ là chính. Khoá 8 có hai đồng chí phải báo cáo điển hình về những quan điểm và hành động của mình trái với lập trường giai cấp trước toàn trường. Chi bộ tôi gồm cán bộ Quân khu 4 và Đại đoàn 304 không ai phải báo cáo điển hình trước toàn trường. Ngày nay nghĩ lại các lớp học đó (tôi muốn nói khoá 8 về trước), tôi vẫn thấy thành công là chủ yếu. Những sai lầm tả khuynh không tránh khỏi, nhưng không nhiều. Tôi nghe nói các lớp sau này, kể cả các lớp của cấp quân khu, sư đoàn cùng thời gian với toàn miền Bắc mở rộng cải cách ruộng đất có nhiều sai lầm, những sai lầm đó cũng là những sai lầm trong cải cách ruộng đất phản ánh vào trong quân đội. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Tổng Quân ủy cùng với sự chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Chí Thanh... tổ chức quân đội vẫn được ổn định từ cơ sở lên trên. Một số đồng chí (không nhiều) bị gán ghép là phản động hay có nợ máu với nông dân sau này cũng được minh oan. Tôi lấy ví dụ: đồng chí tiểu đoàn trưởng Ngô Đại Hành, người cùng chúng tôi đánh trận Đông Hà năm 1948. Đồng chí phải kiểm điểm điển hình ở khoá 8 chúng tôi; đồng chí bị đình chỉ công tác và đi cải tạo một thời gian. Sau này đồng chí cũng được minh oan, chuyển ngành về Bộ Ngoại thương, trước khi về hưu là tổng cục trưởng một tổng cục trực thuộc Bộ.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Một, 2017, 10:02:08 PM
      
       XII. CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

        Sau chỉnh quân chính trị tôi về sư đoàn và được bổ nhiệm làm trung đoàn phó Trung đoàn 57. Đồng chí Đượm thay tôi làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 418. Đồng chí Trần Hậu Tưởng sang làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 346.

        Trước khi bước vào Đông Xuân 1953-1954, Bộ tổ chức tổng kết chiến dịch Tây Bắc và tập huấn chiến thuật để đánh địch sắp tới. Cuộc họp được Hồ Chủ tịch đến thăm. Đây là lần đầu tiên tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm Đại đoàn 304 ra Việt Bắc nhận vũ khí, Bác Hồ có đến thăm đại đoàn. Nhưng lúc đó tôi còn là cán bộ tiểu đoàn nên không được gặp Bác. Cả đời tôi cũng chỉ được nghe Bác Hồ nói chuyện hai lần. Sau này đọc lại tác phẩm của Bác, bao gồm các bài nói chuyện, thư Bác viết cho các địa phương, các cơ quan, tôi thấy bài nào cũng ngắn gọn nhưng rõ ràng súc tích. Tại sao các cán bộ cao cấp chúng ta không học tập Bác. Nói cũng như viết đều dài. Ít người kiên tâm và tỉnh táo để nghe hết buổi nói chuyện. Cho đến những năm tháng tuổi già này, tôi vẫn phân vân. Ai cũng nói: “Sống, chiến đấu, học tập và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại”, chỉ riêng học nói ngắn, viết ngắn tuy có những người thực hiện được nhưng còn quá ít.

        Sau lớp học về, chúng tôi là cán bộ cấp trung đoàn, cũng không được phổ biến phương châm tác chiến trong Đông Xuân. Chỉ sau này nghiên cứu mới thấy hết cái hay của phương châm cũng như kế hoạch Đông Xuân 1953-1954. Kế hoạch ban đầu chủ trương lấy vùng rừng núi làm trọng điểm, kẻ địch lên vùng núi thuận lợi cho ta diệt chúng: Khu 5 đánh Tây Nguyên, Đại đoàn 325 và một trung đoàn của Đại đoàn 304 đánh Trung Lào, Đại đoàn 316 đánh Lai Châu. Đại đoàn 304 cùng Đại đoàn 312 phục kích chờ địch ở Phú Thọ (do dự kiến khi ta đánh Lai Châu, địch có thể tiến lên Phú Thọ). Đại đoàn 308 đứng cơ động ở giữa Tây Bắc và Trung Du. Đại đoàn 320 vẫn ở đồng bằng. Kế hoạch như vậy phù hợp với tình hình, thể hiện rất rõ phương châm: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt.

        Theo kế hoạch trên, Đại đoàn 304 hành quân từ Thanh Hoá, bí mật ra giấu quân ở Phú Thọ, dọc đường số 2. Để giữ bí mật cuộc hành quân, chúng tôi không theo đường gần nhất ra Phú Thọ. Chúng tôi phải hành quân theo đường số 6 ngược lên Mộc Châu, sau đó mới vòng về Phú Thọ.

        Bắt đầu Thu Đông, khi ta đánh Lai Châu, địch lại nhảy dù lên chiếm đóng Điện Biên Phủ. Bộ ra quyết tâm, chiến trường chính là Điện Biên Phủ, quyết diệt địch ở Điện Biên Phủ. Thế là các đại đoàn chủ lực 316, 308, 312, 304 (thiếu Trung đoàn 66 đi Trung Lào) nối tiếp nhau kéo về Điện Biên. Theo kế hoạch, phương châm lúc đầu là đánh nhanh giải quyết nhanh, sau là đánh chắc tiến chắc, Trung đoàn 57 chúng tôi đều được giao nhiệm vụ chiến đấu với địch ở Phân khu Nam tức Phân khu Hồng Cúm. Địch ở đây có một trung đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, một đại đội xe tăng và một sân bay. Đây là căn cứ đóng vòng ngoài để đánh vào sau lưng bộ đội ta, khi ta đánh vào trung tâm Điện Biên Phủ. Trung đoàn 9, Đại đoàn 304 ở lại Sơn La bảo đảm an toàn cho hậu phương trực tiếp của chiến dịch. Như vậy Đại đoàn 304 hoàn toàn bị phân tán và Bộ tư lệnh đại đoàn cũng buộc phải phân tán: Đồng chí Hoàng Sâm, Đại đoàn trưởng đại đoàn đi Trung Lào cùng Trung đoàn 66; đồng chí Lâm Kính, Đại đoàn phó đi cùng Trung đoàn 9 ở Sơn La; đồng chí Lê Chưởng, Chính ủy đại đoàn và đồng chí Nam Long, Tham mưu trưởng đi cùng Trung đoàn 57.

        Nhiệm vụ Trung đoàn 57, thời kỳ đầu là ngăn chặn không cho bộ binh và xe tăng địch cơ động lên chi viện cho khu Trung tâm, đồng thời chế áp pháo binh địch, hạn chế hoả lực địch đánh vào đội hình các đại đoàn tiến công, đặc biệt đánh vào Đại đoàn 316 là đại đoàn tiến công A1, tương đối gần Hồng Cúm. Chúng tôi chưa hề đánh phòng ngự, cũng như chưa hề làm nhiệm vụ kiềm chế các căn cứ pháo binh. Tất cả đều do tự nghiên cứu, đánh cách này chưa tốt tìm cách đánh khác cho tốt. Trung đoàn giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn 346 bao vây ngăn chặn ở hướng đông bắc, tiểu đoàn 418 làm dự bị và chuẩn bị tiến công căn cứ địch khi có lệnh. Mục tiêu trước mắt là cứ điểm ở phía đông sông Nậm Rốm.

        Để đánh địch tiến công lên hướng bắc, các tiểu đoàn đều đào ba chiến hào liên tiếp. Bố trí hai đại đội ở chiến hào 1 và 2, đại đội dự bị bố trí ở chiến hào 3, chiến hào các đại đội đều nối liền nhau. Chiến hào hai tiểu đoàn cũng nối nhau ở bờ sông Nậm Rốm... Mấy lần địch đánh ra, có khi chúng chiếm được một vài đoạn chiến hào ở hướng tiểu đoàn 265 tức hướng có đường cái, cuối cùng chúng đều bị đánh bại. Lúc đầu xe tăng địch cũng gây cho ta khó khăn. Về sau trung đoàn được trang bị hai khẩu ĐKZ 75, đồng thời chúng tôi đưa pháo 75 xuống bắn trực tiếp, nên xe tăng địch không dám lên xuống như trước đây. Sang đợt 2 chiến dịch, địch co lại, chúng tôi cho các tiểu đoàn đào trận địa tiến lên phía trước rất gần đồn địch để chuẩn bị tiến công. Đầu đợt 3, tức đợt cuối cùng, tiểu đoàn 418 dựa vào trận địa đã đào sẵn của tiểu đoàn 265 đánh chiếm cứ điểm C của căn cứ Hồng Cúm. Ta và địch giằng co nhau mấy ngày ở cứ điểm C.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Một, 2017, 03:38:17 PM

        Để kiềm chế pháo binh địch, chúng tôi dùng một đại đội lựu pháo 105mm và một đại đội sơn pháo 75 của mặt trận tăng cường cùng với đại đội cối 82 của trung đoàn bốn khẩu. Với số lượng trên, nếu đủ đạn thì có đủ khả năng kiềm chế được pháo binh địch. Vấn đề khó là đạn ta ít, các đơn vị, nhất là Đại đoàn 316 lại yêu cầu kiềm chế liên tục. Có khi các đại đoàn còn gọi chúng tôi la hét: làm ăn thế nào mà địch ở Hồng Cúm bắn được nhiều thế. Chúng tôi nghĩ ra cách, cho người chui vào trong hàng rào địch, quan sát và nghe ngóng. Hễ thấy chúng ra trận địa hô chuẩn bị bắn thì báo tín hiệu ra ngoài. Đúng lúc đó chúng tôi cho cả pháo và cối đánh chúng. Bị bắn trúng trận địa, chúng lại bỏ chạy vào hầm ẩn nấp. Sau này tù binh địch hỏi: “Làm sao các anh biết chúng tôi chuẩn bị bắn, để bắn trước?”, chúng tôi chỉ cười. Vì đạn ít nên đợt 1 các đơn vị phía trên kêu nhiều, văng tục cũng có. Về sau chúng tôi nắm chắc địch hơn. Hơn nữa chúng cũng thương vong một số và một số pháo bị bắn hỏng không thay thế được, nên kiềm chế kết quả hơn, nhấc điện thoại lên đã có thể cười được với nhau.

        Trưa ngày 7 tháng 5 năm 1954, tin ta tiến công thắng lợi dồn dập bay về. Đến chiều, khi chúng tôi được tin bọn địch ở khu Trung tâm ra hàng, cũng là lúc địch thọc ra mấy mũi để định chạy về phía Lào. Được một tiểu đoàn của Trung đoàn 9 xuống phối hợp (đợt 3, Trung đoàn 9 được điều vào Điện Biên để cùng Đại đoàn 316 diệt các mỏm ở khu C), chúng tôi đã đẩy lùi hầu hết địch quay lại căn cứ của chúng. Lúc này trời đã tối, cũng không được rõ có đơn vị nào của địch chạy thoát không. Trên trục đường chính sang Lào, trước đó chúng tôi đã cho một đại đội lên chốt chặn trước. Vì vậy không sợ chúng chạy. Trung đoàn lệnh cho đại đội 265 truy kích theo con đường mòn sang Lào cách đường cái chính khoảng 2-3km. Tôi đi cùng đại đội này. Địch cũng biết ta có trận địa chốt sẵn trên đường trục chính, nên chúng chạy theo con đường mòn này. Sau này qua tù binh, chúng tôi mới biết toán chạy thoát ra khỏi Hồng Cúm có số lượng khoảng một trăm tên do mấy tên lính người Thái thông thạo địa hình dẫn đường. Bị chúng tôi thúc mạnh theo trục đường, bọn địch tự động tản ra hai bên đường và tìm đường núi sang Lào. Theo kinh nghiệm một số lần truy kích trước đây, mặc chúng leo đâu thì leo, chúng tôi cứ theo đường mòn chọc thẳng sang Lào. Sáng ra tìm một địa điểm thuận lợi dừng lại rải quân ra chặn bắt bọn địch vượt núi sang. Khoảng 8 giờ sáng, lúc chúng tôi đương nghỉ ngơi, bất ngờ xuất hiện mấy tên địch. Trông thấy chúng tôi chặn, chúng xả súng bắn liền, chúng tôi hy sinh một chiến sĩ. Vì chúng tôi có cả một đại đội, chúng chỉ từng lớp năm, ba tên nên đều bị chúng tôi bắn uy hiếp, kêu gọi đầu hàng và bắt gọn. Sang ngày thứ hai, tức là ngày 9 tháng 5, chờ suốt ngày không thấy có tên nào xuất hiện, chúng tôi quyết định sáng ngày 10 tháng 5 thu quân trở về Điện Biên. Sau này chúng tôi được biết, tất cả địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chỉ có ba tên Pháp do một tên người Lào dẫn đường chạy về được Luông Pha-băng. Đại tướng Võ nguyên Giáp nói, đây là một trận đánh tiêu diệt gọn tập đoàn cứ điểm trong lịch sử chiến tranh. Chúng tôi từ hào đã góp một phần công lao nhỏ bé.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Một, 2017, 03:38:41 PM
         
        XIII. CƯỚI VỢ

        Kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng tôi ra Bộ dự tổng kết. Khi tổng kết gần kết thúc, cũng là lúc kết thúc Hội nghị Giơ-ne-vơ về lập lại hoà bình ở Đông Dương. Trong những ngày cuối của hội nghị, tất cả cán bộ hồi hộp lo bị Bộ “bắt lính”. Danh từ “bắt lính” chỉ việc ngày nào Cục Cán bộ cũng đến đọc danh sách những đồng chí không trở về đơn vị, mà ở lại Bộ để đi làm các công việc của bộ phận liên hiệp đình chiến. Đến ngày bế mạc hội nghị, tôi vẫn nằm trong số được trở về đơn vị. Lúc này tôi mới xin đồng chí Nam Long cho lên Lạng Sơn cưới vợ. Việc chúng tôi yêu nhau, chờ lúc thuận lợi sẽ cưới, trung đoàn, đại đoàn đều biết, nên đồng chí Nam Long viết giấy tay giới thiệu tôi lên Lạng Sơn cưới vợ. Hai chúng tôi chính thức đặt vấn đề với nhau làm vợ chồng từ năm 1953. Lúc tôi còn ở Ninh Bình, bố tôi qua thư đồng chí Nhĩ ở Quảng Trị gửi ra (vì cơ động luôn, tôi dặn đồng chí Nhĩ gửi thơ cho tôi qua địa chỉ gia đình), được biết cô Kiệm đã đi lấy chồng, nên đặt vấn đề tìm vợ cho tôi. Chị gái đầu của tôi giới thiệu cô Vinh, con ông chú ruột của chồng chị. Lý lẽ của chị xem ra cũng có lý nên cả nhà đồng ý. Bố mẹ cô Vinh đều là con cái nhà địa chủ lớn. Như vậy cô Vinh là dòng dõi nhà địa chủ. Bố cô là con út gia đình, bố ông mất lúc ông còn ít tuổi. Tuy cũng được chia ruộng, nhà, nhưng ông rượu chè, cờ bạc bán hết. Khi ông chết, gia đình cũng không còn gì, nên mẹ cô Vinh trở thành dân nghèo buôn bán lặt vặt nuôi ba người con. Mẹ cô Vinh phải cho cô sang ở làm con sen cho gia đình ông bác, tức bố mẹ của chồng chị tôi. Hoàn cảnh cô Vinh như vậy. Nếu cách mạng thành công, tôi quay về làm ăn thì cô Vinh cũng lao động tốt. Tuy chưa hỏi ý kiến tôi, nhưng gia đình tôi đã trao đổi với mẹ cô Vinh và cô Vinh, hỏi cô làm vợ cho tôi. Mẹ cô và cô đều đồng ý. Sau này tôi hay đùa vợ tôi là người ta chưa đi hỏi đã đồng ý. Bố tôi viết thư cho tôi, lúc nào có thời gian thì về để đặt vấn đề chính thức giữa hai gia đình và hai bên cô - cậu. Trước đây tôi hay đến nhà chị tôi chơi, đã nhiều lần gặp cô Vinh. Về hình thức, cô cũng vào loại trên trung bình. Vì vậy bố tôi cho rằng chắc tôi cũng đồng ý. Khi hành quân đi chiến dịch Thượng Lào, dừng lại Đô Lương, tôi tạt về nhà được hai giờ. Đã được báo trước nên hai gia đình đều có mặt ở nhà chị tôi. Mười một giờ đêm, tôi mới về đến nhà, một giờ sáng lại phải đi ngay để kịp ngày mai hành quân tiếp. Qua lần gặp đó, hai bên đều ngầm hiểu mọi việc thế là đã xong. Trong thời gian hai giờ, mọi người lo bữa ăn đêm và hỏi thăm tình hình của nhau, nên tôi không thấy hai gia đình trao đổi gì trước mặt chúng tôi cả. Hai chúng tôi cũng hỏi thăm nhau vài ba câu, chưa hề nói một câu nào gọi là thổ lộ tình yêu. Giữa đám đông người chúng tôi cũng chỉ nhìn nhau, chứ không được nắm tay nhau. Lễ ăn hỏi như ngày nay người ta thường gọi được coi như là xong. Ăn thì có ăn cháo gà. Hỏi thì không ai hỏi gì cả. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, khi rút quân về Thanh Hoá, trước khi đi dự tổng kết, tôi tranh thủ về nhà. Được biết cô Vinh đã ra Việt Bắc học chuyên môn. Cô Vinh trước cách mạng cũng đã mười hai, mười ba tuổi nhưng chưa được đi học ngày nào. Sau cách mạng, chị tôi đã là chủ gia đình, đồng thời cũng muốn giữ cô Vinh cho em mình nên cho đi học. Cô Vinh học hết tiểu học. Trên đường đến hội nghị, tôi tạt vào thị xã Thái Nguyên hỏi thăm, được biết cô Vinh học ngành thuế vụ của Bộ Tài chính, sau tốt nghiệp đã lên tỉnh Lạng Sơn nhận công tác. Sau tổng kết, tôi xin phép đi Lạng Sơn. Hơn một ngày đi xe đạp, tôi tìm được đến cơ quan thuế của thị xã. Ở đây cô Vinh cũng đã báo cáo cho cơ quan biết, cô có người yêu ở bộ đội, nên tôi được tiếp đón thân mật. Khi đặt vấn đề tổ chức cưới, các anh chị ở cơ quan nhiệt tình ủng hộ. Thời đó bộ đội chưa có lương, cán bộ cơ quan cũng chỉ có tiền ăn và một ít tiền tiêu vặt. Như vậy, tôi không có tiền, cô Vinh không có tiền, tổ chức đám cưới thế nào. Chị Cúc, bí thư chi bộ cơ quan đưa ra ý kiến: bữa ăn, sẽ lấy tiêu chuẩn của các anh chị em ngày quốc khánh 2-9 gấp đôi ngày thường. Áo quần quỹ phụ nữ cho đủ mua hai thước vải. Quần là quần đen, ban đêm quần mới cũng như quần cũ, nên không cần may. Giường ghép hai giường cá nhân lại là xong. Chăn chiếu, mùng màn, xin cô cậu dùng chung cái sẵn có của cô dâu. Thế là cũng xong một đám cưới. Vẫn trang trọng. Sau này vợ tôi thường nói, anh cưới vợ không một bát nước lã.

        XIV. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐẠI ĐOÀN 304 THỜI CHỐNG PHÁP

        Có một số dư luận trong quân đội, Đại đoàn 304 tuy thành lập sau Đại đoàn 308, nhưng thành tích không có gì xuất sắc. Trong cuộc hội nghị để bàn việc viết lịch sử sư đoàn, có đồng chí cũng nêu như trên, cho rằng thành tích không có gì nổi bật, rất khó viết hay. Đồng chí Lê Chưởng, Chính ủy đại đoàn nói: “Thế nào là thành tích? Trừ hai đợt hoạt động ngắn lúc mới thành lập, có chiến dịch nào đại đoàn không hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nổi bật về thành tích của một đơn vị là hoàn thành tốt nhiệm vụ.

        Sở dĩ đại đoàn không nổi tiếng, cơ bản vì đại đoàn thường được giao nhiệm vụ tác chiến ở chiến trường phối hợp. Khi được tác chiến ở hướng chính lại thường ở hướng thứ yếu. Những đơn vị làm nhiệm vụ trên chiến trường phối hợp hay hướng thứ yếu, tuy tác chiến khó khăn vất vả hơn, nhưng ít nổi tiếng. Đồng chí Hoàng Minh Thảo đã dùng hình tượng: Đơn vị hướng thứ yếu, giống như người yếu nhưng phải ôm vòi voi, để cho đơn vị trên hướng chủ yếu, giống như người khoẻ cắt đuôi voi. Thực tế là như vậy. Các đơn vị trên hướng chủ yếu, thường được cấp trên tăng cường lực lượng, nhất là hoả lúc được đánh ở hướng thuận lợi nhất. Nguyên tắc chọn hướng chủ yếu thường chọn nơi địch yếu, ta có điều kiện thuận lợi để triển khai binh hoả lực, v.v... Đơn vị hoạt động trên hướng thứ yếu hướng ít được tăng cường lực lượng, có nhiệm vụ kìm giữ lực lượng địch ở nơi mạnh, bảo đảm cho hướng chủ yếu hoàn thành nhiệm vụ. Đến khi kết thúc một chiến cục hay một chiến dịch, người ta thường nói nhiều đến khó khăn về thành tích các đơn vị trên hướng chủ yếu.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Một, 2017, 03:42:36 PM
        
NHỮNG NĂM THÁNG HOÀ BÌNH

        I. LÀM GIÁO VIÊN QUÂN SỰ

        Sau khi kết thúc chiến tranh, trở về đơn vị, tôi được chỉ định làm trưởng ban tác chiến sư đoàn. Sau khi làm kế hoạch cho hai trung đoàn vào thành phố. Trung đoàn 57 vào Hà Nội cùng Đại đoàn 308, Trung đoàn 9 vào Hà Đông, công việc chính của cơ quan tác chiến là tìm địa điểm ổn định nơi ở của toàn đại đoàn. Cho đến hết năm 1954, nhiệm vụ của đại đoàn là xây dựng doanh trại, sân vận động, bãi tập... Bước sang năm 1955, năm đầu huấn luyện trong quân đội trong thời bình, tôi được lệnh về Trường trung cao quân sự (sau này là Học viện quân sự) làm giáo viên. Đại đa số được điều động về trường đều chưa từng làm giáo viên. Chủ trương của Bộ là điều về nhà trường những đồng chí có nhiều kinh nghiệm chiến đấu.

        Để học hết phần chiến thuật đối với cán bộ trung cấp và cao cấp, nhà trường tổ chức ba khoá: khoá đầu học trung đoàn tiến công, khoá thứ hai học trung đoàn phòng ngự, khoá thứ ba học cả sư đoàn tiến công và sư đoàn phòng ngự. Tài liệu học được dịch từ tài liệu Trung Quốc, thực chất là tài liệu của quân đội Liên Xô, vì Trung Quốc thời kỳ này cũng học theo đúng các tài liệu của quân đội Liên Xô. Bài tập hai khoá đầu do cố vấn Trung Quốc viết. Sang khoá 3, bài tập sư đoàn tiến công do đồng chí Hồ Tâm làm chủ biên và tài liệu sư đoàn phòng ngự do tôi chủ biên có sự giúp đỡ của cố vấn Trung Quốc. Để nắm được nội dung giảng dạy, chúng tôi được tập trung bồi dưỡng ba tháng với một nội dung: trung đoàn tiến công. Đối tượng học viên, chủ yếu là cán bộ trung đoàn. Cũng có một số cán bộ sư đoàn đến học tập các khoá này. Phần đông cán bộ sư đoàn và cán bộ các ngành chuyên môn như công binh, thông tin được cử sang học trực tiếp ở Trung Quốc và Liên Xô. Mỗi khoá mở liên tục ba lớp để hầu hết cán bộ trung đoàn được thay nhau đến học. Ba khoá học kéo dài trong 4 năm từ năm 1956 đến hết năm 1959.

        Từ những năm đó, và sau đó trong dạy và học, chúng tôi thường tranh luận: Tại sao quân đội ta đã đánh thắng đế quốc Pháp, có nghệ thuật tác chiến phù hợp với hoàn cảnh đất nước, hoàn cảnh quân đội, ta không tổng kết lại để học, lại đi học thứ tài liệu của quân đội Liên Xô một quân đội được trang bị hiện đại, phương pháp tác chiến khác rất nhiều. Theo giải thích thời đó: Quân đội Liên Xô có nền nghệ thuật quân sự hiện đại ưu việt. Ta cứ học, có học mới hiểu sâu, mới có khả năng tiếp thu được những tinh hoa có nền nghệ thuật quân sự Xô - viết. Ngày nay nhìn lại, theo ý tôi: Một số binh chủng được trang bị hiện đại, trước đây trong tác chiến ta chưa có tất nhiên lớp cán bộ đầu tiên, cần phải ra học ở nước ngoài. Việc vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam sẽ giải quyết sau. Đối với cán bộ chỉ huy bộ đội binh chủng hợp thành, trong đó bộ binh là binh chủng chủ yếu, chỉ nên cử một số cán bộ nhất định sang học nước bạn để hiểu sâu nghệ thuật quân sự của họ. Trên cơ sở đó chọn lọc được các tinh hoa của nghệ thuật quân sự nước ngoài để làm phong phú thêm cho nền nghệ thuật quân sự Việt Nam. Nên kịp thời tổng kết toàn diện cuộc kháng chiến chống pháp, làm cơ sở chính để biên soạn tài liệu giảng dạy cho số đông cán bộ. Dẫu sao những nội dung mà số đông cán bộ được học tập trong các năm 1955-1959 cũng đều có ích cho sau này. Cái chính là cán bộ chúng ta đã kinh qua tác chiến, họ ít giáo điều. Thực tế chiến trường dạy cho họ rất nhanh. Không phải chỉ lý luận quân sự nước ngoài, ngay những lý luận quân sự của ta, do các trường giảng dạy, nếu không phù hợp với chiến trường, họ cũng không tiếp thu và không thể áp dụng.

        Cuối năm 1959, có chỉ thị chính thức của trên đánh giá việc học tập như các năm trước là phạm khuyết điểm giáo điều. Nhà trường tạm nghỉ chiêu sinh một thời gian, để biên soạn tài liệu Việt Nam, học tập tài liệu của ta biên soạn. Học viện quân sự phối hợp với Trường sĩ quan Lục quân, các cơ quan của Bộ, đồng thời điều thêm một số cán bộ chỉ huy ở các đơn vị cơ sở về, có trách nhiệm biên soạn toàn bộ tài liệu chiến thuật. Đây có lẽ cũng là đợt tập trung cán bộ để biên soạn tài liệu quy mô lớn đầu tiên. Để giúp điều hành công tác biên soạn, đồng thời tổ chức một số cuộc diễn tập thực nghiệm, học viện tổ chức ra phòng khoa học quân sự. Tôi được chỉ định làm quyền trưởng phòng. Tôi làm quyền trưởng phòng mãi cho đến lúc đi học ở Liên Xô, cũng không có trưởng phòng đến. Ngoài tôi, phòng khoa học quân sự còn hai phó phòng là đồng chí Kim Hùng và đồng chí Dũng Mã, đều là những cán bộ lăn lộn ở chiến trường từ đầu cuộc chiến tranh và về làm giáo viên từ khi hoà bình lập lại. Thành phần của ban biên soạn như trên, nên các cuộc họp chung, thông qua đề cương cũng như thông qua tài liệu đã được dự thảo thật sôi nổi. Lý thuyết cũng như thực tế kinh nghiệm, từ cổ kim Âu - Á đều được dẫn ra hết. Để diễn đạt hết ý của tài liệu nước ngoài, nhiều đồng chí còn dùng văn bằng tiếng nước ngoài, Nga có, Pháp có, Anh có, Trung Quốc có. Những lúc như vậy, hồi tưởng lại trỗi dậy một số không hiểu đồng chí đang thuyết minh nói gì. Tuy từ năm 1960, dạy thử tài liệu của ta biên soạn, nhà trường vẫn có chuyên gia nước ngoài. Cuối năm 1954, các cố vấn Trung Quốc về hết. Năm 1961 ta lại mời chuyên gia Liên Xô. Việc có chuyên gia nước anh em, không phải chỉ để tăng thêm tình hữu nghị giữa hai nước anh em, hai quân đội anh em. Thực tế các chuyên gia của Trung Quốc lúc đầu và của Liên Xô về sau, cũng giúp chúng tôi nhiều ý kiến hay cả về nghệ thuật quân sự và phương pháp quản lý, giảng dạy ở nhà trường. Việc xây dựng quân đội ta, do ta làm là chính, nhưng hoàn toàn không nên và không thể phủ nhận sự giúp đỡ của nhân dân, nhà nước, quân đội của các nước bạn.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Một, 2017, 02:19:56 PM

        II. ĐI HỌC Ở LIÊN XÔ

        Tháng 3 năm 1960, Bộ tiếp tục gửi học viên sang học quân sự ở cả Liên Xô và Trung Quốc, cả hai hệ trung cấp và cao cấp. Trường cử tôi đi học lớp trung cấp ở Liên Xô, tức học viện quân sự Phờ-run-de cùng 11 đồng chí khác. Tháng 5 năm 1960 chúng tôi được tập trung lên trường văn hoá quân đội ở Lạng Sơn để học tiếng Nga. Thời gian học chỉ 3 tháng, vì đầu tháng 8, chúng tôi được về nghỉ phép để cuối tháng 8 sang Liên Xô học. Các lớp học của quân đội Liên Xô đều bắt đầu từ tháng 9 năm trước đến hết tháng 5 năm sau (10 tháng). Học tiếng Nga ba tháng, trình độ ngoại ngữ có hạn, tuy vậy cũng giúp chúng tôi đi đường và những ngày đầu ở Liên Xô có thể giao tiếp một ít trong sinh hoạt.

        Sang Liên Xô, năm đầu tiên là năm học tiếng Nga. Giáo viên tất cả đều là nữ. Họ đều tốt nghiệp đại học, một số ít có bằng phó tiến sĩ. Họ đã chuyên dạy người ngoại quốc học tiếng Nga, nên có nhiều kinh nghiệm. Lớp chúng tôi dẫu sao cũng đã học tiếng Nga ba tháng ở nhà, một số lại có trình độ tiếng Pháp (nhà trường có từ điển Pháp - Nga) nên việc học trực tiếp với giáo viên người Nga, hoàn toàn không biết tiếng Việt cũng không gặp khó khăn. Khác các lớp trước ta chỉ chọn số xuất thân thành phần công nông, không gặp nhau, không ai biết tiếng ai, nên học có khó khăn hơn. Thầy phải nói mà làm mẫu, mà chỉ trỏ. Thấy người trong lớp chỉ ra bầu trời, học viên bảo là cái cửa sổ. Mười hai học viên Việt Nam được chia thành hai tổ học tập. Tổ 1 gồm bảy đồng chí Việt Nam do đồng chí Hồ Quang Hoá làm tổ trưởng. Tổ 2 có năm đồng chí Việt Nam và ba đồng chí Bun-ga-ri do tôi làm tổ trưởng. Chỗ ở tuy gồm tất cả học sinh ngoại quốc, nhưng lớp cho ở từng buồng riêng, từng nước một. Mỗi buồng hai, ba đồng chí. Vì vậy ngoài giờ học tập, chúng tôi chủ yếu nói tiếng Việt với nhau. Các trường học đại học ở ngoài nhà trường trong lớp một buồng hai, ba người của hai, ba nước khác nhau. Vì vậy trình độ tiếng Nga, nhất là trình độ giao thiệp trong sinh hoạt, anh em sinh viên ở ngoài nhà trường hơn chúng tôi nhiều. Có thể nói học viên Việt Nam là những học viên chăm chỉ nhất. Tuy tiếng Việt so với tiếng Âu châu khác nhau nhiều, nhưng cuối năm thi tốt nghiệp tiếng Nga chúng tôi cũng không kém học viên các nước Âu châu như Bun-ga-ri, Ba Lan, Đức... Buổi sáng học 6 tiết (5 tiếng 30 phút) với giáo viên, chiều tự học. Chúng tôi thường tự học 6 tiếng. Có khi một ngày chúng tôi học thêm 12 đến 14 tiếng. Buổi sáng 7 giờ dậy, ăn uống xong độ 8 giờ vào học. Trước chúng tôi chỉ phải một tiếng học từ 13 giờ 30 phút đến 14 giờ 30 phút. Bắt đầu 14 giờ 30 phút lại tự học cho đến 12 giờ đêm. Bây giờ nghĩ lại, tại sao lúc đó chúng tôi có sức học như vậy, kéo dài bốn năm. Khi về nước làm giáo viên và về sau làm lãnh đạo học viện, tôi chưa bao giờ động viên được học viên trong nước học tập như vậy. Nguyên nhân có thể là do trước hết chúng tôi đều tuổi thanh niên, ăn uống đầy đủ hơn trong nước. Nhưng cái chính là tinh thần tự tôn dân tộc. Mang chuông đi đánh đất người, chúng tôi quyết không kém học viên bất kỳ nước nào, kể cả học viên Liên Xô. Họ học bằng tiếng mẹ đẻ, lại có quá trình học tập trước đó theo nội dung nghệ thuật và kỹ thuật của họ. Nói thế nhưng học viên Liên Xô, học cũng khiếp lắm. Tuy không tự học 12-14 tiếng như chúng tôi, nhưng họ cũng học mỗi ngày ít nhất 10 tiếng. Cách động viên của họ thật đơn giản nhưng cũng có hiệu lực lớn. Thời đó người Liên Xô được phục vụ trong quân đội là một vinh dự. Thu nhập cũng cao hơn ngoài nhiều. Học xong phổ thông, mới vào học đại học, ra trường lương là 80 rúp. Trái lại sĩ quan ra trường (thiếu úy) là 150 rúp. Cách động viên học tập của học trò là, tốt nghiệp loại ưu có huy chương vàng được đề bạt sớm một năm và được chọn nơi phục vụ. Tốt nghiệp loại ưu được đề bạt sớm một năm. Tốt nghiệp đạt loại khá (4/5 điểm) được đề bạt đúng niên hạn. Trái lại nếu đạt loại thường (3/5 điểm) thì đề bạt chậm một năm. Sĩ quan của họ chỉ đề bạt chậm một lần. Nếu bị đề bạt chậm lần thứ hai sẽ quá tuổi phục vụ sĩ quan, phải giải ngũ hoặc chuyển ra ngoài.

        Chương trình học tập về chiến thuật, năm thứ nhất học chiến thuật cấp trung đoàn, năm thứ hai học cấp sư đoàn và năm thứ ba học chiến dịch tập đoàn quân. Về công tác chỉ huy tham mưu học khá kỹ. Về xe tăng biết bắn, biết lái xe. Về thông tin sử dụng thành thạo các trang bị thông tin ở cấp trung đoàn và sư đoàn. Sử dụng các loại pháo cối đã học ở trường sĩ quan. Tên lửa thì ta không có, pháo binh thường thì lại không học. Tuy nói rằng chiến thuật ta và bạn không giống nhau, không phải học gì cũng dùng được, nhưng khối lượng tri thức học trong ba năm của họ hơn hẳn của chúng ta cùng thời gian. Sau này về công tác tại nhà trường, khoa chiến thuật của tôi cũng cố gắng vận dụng chiến thuật của họ, nhưng không làm sao nhét được khối lượng tri thức như vậy cho học viên của ta. Số lượng cũng rất cần thiết, nhưng trước hết là chất lượng. Theo tôi kinh tế ta hạn hẹp, chỉ nên học tương đối rộng cho cấp 1 và cấp 2 (tiểu học và trung học cơ sở). Còn từ cấp 3 (trung học phổ thông) và đại học nếu không có điều kiện mở rộng về số lượng thì trước hết hãy đi sâu vào chất lượng. Có số lượng đông cũng cần nhưng chất lượng thấp thì kết quả sẽ rất hạn chế. Chúng ta thấy thời Pháp, sinh viên về mỹ thuật, về nhạc ta có rất ít nhưng phần đông đều có cống hiến đáng kể. Ngày nay thì tốt nghiệp đại học về mỹ thuật, về nhạc hàng vạn, nhưng được bao nhiêu phần trăm tác phẩm có giá trị. Ba năm học của chúng tôi là lớp cuối cùng tốt nghiệp. Bắt đầu từ niên khoá 1964-1965 ta không tiếp tục gửi học viên sang Liên Xô.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Một, 2017, 02:25:20 PM

CHIẾN TRƯỜNG KHE SANH NĂM 1968

        Sư đoàn 304 tham gia chiến đấu trên chiến trường Khe Sanh từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc chiến dịch. Cuộc chiến đấu kéo dài liên tục 6 tháng. Trước lúc nói đến các trận chiến đấu vô cùng ác liệt và thắng lợi vẻ vang trên chiến trường, tôi muốn dành ít dòng nói về sự ra đời của sư đoàn.

        Năm 1965, sau khi Sư đoàn 304a lên đường vào Nam chiến đấu, Bộ Tổng tư lệnh quyết định xây dựng một Sư đoàn 304 khác, Sư đoàn 304b. Để ưu tiên cho chiến trường, Bộ quyết định chỉ rút một số lượng rất ít cán bộ Sư đoàn 304a, chỉ tiếp nhận 20 cán bộ từ Sư đoàn 304a. Như vậy, thực tế Sư đoàn 304b xây dựng và huấn luyện là một sư đoàn mới. Tuy vậy khi vào chiến trường, sư đoàn đã đánh thắng ngay trận đầu và đánh thắng liên tiếp. Điều đó nói lên rằng nếu có sự nỗ lực cao của cấp trên và của bản thân sư đoàn, một sư đoàn xây dựng mới vẫn có thể chiến đấu tốt ngay từ đầu. Từ thành công của Sư đoàn 304b trên chiến trường Khe Sanh, chúng ta đã xóa được quan niệm, đơn vị từ miền Bắc vào phải sau 6 tháng mới chiến đấu tốt được.

        Đầu tháng 11 năm 1967, sư đoàn được lệnh hành quân vào chiến trường. Một số cán bộ, chủ yếu là chỉ huy trưởng từ cấp tiểu đoàn trở lên, cùng một số trinh sát đi ô tô vào trước để nhận nhiệm vụ chiến đấu và chuẩn bị chiến trường. Sau khi gặp tư lệnh chiến dịch, sư đoàn được giao nhiệm vụ cùng Sư đoàn 325 tác chiến tại khu vực Khe Sanh. Sư đoàn 304 chiến đấu dọc đường 9 và khu vực phía nam. Sư đoàn 325 chiến đấu khu vực bắc đường 9. Lúc này, sư đoàn chỉ biết ngoài lực lượng chiến đấu ở khu vực Khe Sanh, còn một lực lượng khác chiến đấu ở phía đông đường 9, trên địa bàn các huyện Gio Linh, Cam Lộ. Tất cả chúng tôi hoàn toàn không biết gì về việc ta chủ trương, trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968 sẽ đồng loạt tiến công vào các thành phố, thị xã trên toàn miền Nam. Nhiệm vụ cụ thể của sư đoàn là tiêu diệt chi khu Hướng Hoá, 2 tiểu đoàn quân ngụy Lào ở khu vực Tà Mây (trên đất Lào), bao vây cụm cứ điểm Làng Vây, kéo viện binh địch ra để tiêu diệt chúng.

        Căn cứ tình hình cụ thể địch ta, sư đoàn giao nhiệm vụ Trung đoàn 66 do đồng chí Nguyên Ân làm trung đoàn trưởng, đồng chí Trần Trác làm chính ủy có nhiệm vụ tiêu diệt chi khu Hướng Hoá, sau đó cùng Trung đoàn 9 do đồng chí Nguyễn Hoá làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nghiêm Kình làm chính ủy đánh viện binh trên đoạn đường từ Tà Cơn đến Làng Vây. Trung đoàn 24 do đồng chí Lê Công Phê làm trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Tâm làm chính ủy có nhiệm vụ tiêu diệt cụm quân ngụy Lào ở khu vực Tà Mây, sau đó tiến vào bao vây cụm địch ở Làng Vây.

        17 giờ ngày 20 tháng 1 năm 1968 Trung đoàn 66 bắt đầu hành quân từ vị trí tập kết chiến đấu vào tiến công chi khu Hướng Hoá, dự định tiêu diệt chi khu ngay trong đêm. Trên đường hành quân, trung đoàn bị B52 đánh vào đội hình. Vừa khắc phục hậu quả do B52 gây nên, vừa mở đường hành quân, 4 giờ sáng ngày 21 tháng 1 trung đoàn quyết định triển khai lực lượng và tiến công ngay để thực hiện đúng thời gian chiến đấu do cấp trên giao. Một mặt vì phải triển khai lực lượng gấp, mặt khác vì trời bắt đầu sáng, sau khi chiếm được một lô cốt và một dãy nhà, tiến công của trung đoàn bị địch chặn lại, không tiến lên được. Trung đoàn lập tức củng cố lại lực lượng tiến công, triển khai thêm hoả lực để tiếp tục tiến công vào đêm ngày 21 tháng 1. Rạng sáng ngày 22 tháng 1 trung đoàn đã làm chủ chi khu Hướng Hoá, hoàn thành nhiệm vụ trên giao, bố trí lại đội hình chiến đấu để đánh viện binh địch. Các ngày 23 và 24 tháng 1, Trung đoàn 24 được một đại đội xe tăng chi viện đã diệt xong cụm quân địch ở khu vực Tà Mây. Toàn bộ lực lượng sư đoàn triển khai sẵn sàng đánh địch hành quân giải toả.

        Sau 10 ngày kể từ khi ta tiến công chi khu Hướng Hoá, vẫn không thấy địch hành quân giải toả. Lúc nhận nhiệm vụ, đồng chí Thái Dũng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 có xin ý kiến đồng chí Trần Quý Hai, Tư lệnh chiến dịch: Nếu địch không hành quân giải toả thì nhiệm vụ tiếp theo của sư đoàn là gì? Đồng chí Trần Quý Hai, qua kinh nghiệm đánh Mỹ trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, khẳng định địch sẽ hành quân, ngay khi chủ lực ta xuất hiện. Đồng chí đã trả lời đồng chí Thái Dũng: Không sợ địch không lên, chỉ lo các anh không đủ sức đánh dài ngày để cầm chân chúng. Lần này chúng ta xuất hiện lực lượng lớn, có cả sự tham gia của các loại pháo binh cỡ lớn. Với mười ngày địch chỉ đủ thời gian nắm tình hình đặt kế hoạch tác chiến, điều quân và chuẩn bị hành quân giải toả. Đúng mười ngày sau, ta tiến công đồng loạt vào nhiều thành phố, thị xã, tất nhiên địch phải giải toả các thành phố, thị xã, không còn lực lượng để hành quân lên vùng rừng núi. Chỉ sau khi cuộc tiến công vào các thành phố, thị xã diễn ra, chúng tôi mới được phổ biến, nhiệm vụ của chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh là kéo địch lên, giam địch nhiều ngày ở vùng rừng núi để tạo điều kiện thuận lợi cho đòn tiến công chủ yếu của ta, đánh vào các thành phố, thị xã.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Một, 2017, 02:28:35 PM

        Từ tình hình ta đã tiến công đồng loạt vào các thành phố, thị xã, Bộ tư lệnh chiến dịch thấy rõ các trận đánh vừa qua chưa đủ mạnh để bắt địch phải hành quân giải toả. Để tăng thêm sức ép với địch, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho sư đoàn tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Làng Vây. Được tăng cường 1 tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 325, hai đại đội đặc công của Mặt trận B51, hai đại đội xe tăng, được cụm pháo binh chiến dịch trực tiếp chi viện, trong đêm ngày 7 và sáng ngày 8 tháng 1 năm 1968 Sư đoàn 304 đã tiêu diệt gọn cụm cứ điểm Làng Vây bắt gần 400 tù binh.

        Mười ngày nữa trôi qua, cuộc tiến công tại một số thành phố, thị xã đang gặp khó khăn, mặt trận Đường 9 - Khe Sanh vẫn không kéo được địch ra. Lúc này, chúng ta thấy rõ, chỉ có gây sức ép trực tiếp vào cụm quân Mỹ ở Tà Cơn, gây cho chúng cảm thấy nếu không giải toả sẽ mất Tà Cơn, mới có thể kéo được địch lên Khe Sanh.

        Cuộc vây hãm và sau chuyển sang vây lấn Tà Cơn bắt đầu. Sư đoàn 325 sử dụng 1 trung đoàn vây lấn từ phía tây, Sư đoàn 304 sử dụng Trung đoàn 9 vây lấn từ phía nam, lực lượng còn lại sẵn sàng đánh địch ở chiến trường Khe Sanh chỉ còn lại Sư đoàn 304. Sư đoàn đưa 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 66 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 24 vào vây lấn phía tây thay cho lực lượng Sư đoàn 325 rút đi. Lực lượng cơ động đánh địch giải toả lúc này chỉ còn 2 trung đoàn thiếu.

        Cuộc bao vây, đánh lấn Tà Cơn kéo dài 50 ngày, từ ngày 10 tháng 2 đến ngày 31 tháng 3 ... Ta triển khai ngay các loại hoả lực, đánh mạnh vào căn cứ để vừa phá hoại công sự, vừa tiêu diệt sinh lực, vừa ngăn chặn các loại phi cơ tiếp tế cho căn cứ và di tản bọn bị thương ra ngoài. Đồng thời ta liên tục đào công sự tiến dần vào căn cứ chúng, để một mặt uy hiếp mạnh tinh thần bọn trong căn cứ, mặt khác đưa hoả lực từng bước triển khai gần địch hơn để đánh phá có hiệu quả hơn. Quân địch do phải đối phó với tiến công của ta ở các thành phố và đô thị nên chúng dùng hoả lực tối đa để ngăn ta tiến công vào Tà Cơn...

        Cách căn cứ Tà Cơn 800m có điểm cao 471. Đặt hoả lực ở đây có thể bắn loại bất kỳ tên địch nào cơ động trên mặt đất, có thể bắn trúng bất kỳ loại phi cơ nào cất hạ cánh ở sân bay. Quân địch xem đây là một cái gai phải nhổ cho kỳ được. Ngày này qua ngày khác, chúng đã trút xuống đây hàng trăm tấn bom đạn, làm sụt lở mấy mét trên đỉnh điểm cao. Anh em đã gọi đùa, nên gọi đây là cao điểm 469 chứ không còn là cao điểm 471 nữa, vì đã sụt lở mất 2m (một cách tương đối). Tất nhiên chúng ta cũng chịu tổn thất nhiều, cả súng máy phòng không 12,7mm cũng chuẩn bị lên thay cho đơn vị bạn mất sức chiến đấu. Anh em cười nói với tôi: Thủ trưởng còn gì cứ cho anh em thêm. Lần này anh em lên điểm cao 471 chắc không trở về. Hành động, suy nghĩ của họ biểu lộ tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Nói cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh chưa nói lên hết hành động và suy nghĩ của họ.

        Để ngăn chặn ta đào công sự lấn vào căn cứ, địch đã huy động các loại phi cơ để đánh phá. Hàng ngày chúng cho phi cơ ném các loại bom phá để phá huỷ giao thông hào và hầm ẩn nấp. Sau đó chúng thả bom na-pan và bom bi để giết nốt những người lính của ta. Đứng trên đài quan sát nhìn xuống, ta có cảm giác như không còn một sinh vật nào có thể sống sót. Quân ta vẫn kiên trì bám trụ. Sau một đợt bom, họ lại tiếp tục khắc phục hậu quả tiếp tục đào công sự lấn vào căn cứ, tiếp tục dùng các loại hoả lực đánh phá căn cứ.

        Về phía địch, tình hình như thế nào? Chúng ta hãy nghe chính những lời nói của phía bên kia:

        Báo Anh tin hàng ngày, ra ngày 11 tháng 2 viết: “Quân Mỹ đã xơi no đòn, kinh hoàng và mất hết tinh thần, luôn lo ngại rằng đối phương có thể đánh bất kỳ lúc nào. Một trung sĩ Mỹ nói: Ôi thượng đế! Chúng con còn phải chịu đựng tình trạng này bao lâu nữa”.

        Hãng tin Mỹ AP đưa tin ngày 26 tháng 2 viết: “Đối với khoảng năm nghìn lính thủy đánh bộ còn đợi trong các hầm hố xây bằng bao cát ở Khe Sanh thì chẳng có gì để cảm ơn. Họ là những mục tiêu bị giam dưới đất vì những khẩu đại bác giết người. Không biết phát sắp tới sẽ rơi khi nào, xuống đâu, không biết liệu phát đó có nhằm vào họ hay không?”.

---------------------
        1. Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Một, 2017, 05:12:03 PM

        Cũng hãng tin AP đưa tin: “Trong hơn 2 giờ, 23 lính thủy đánh bộ chờ đợi, chen chúc trong các boong-ke ẩm ướt và tối đen ở dọc đường băng. Họ là những người sắp hết hạn ở Việt Nam. Họ chờ đợi để về nước. Nhưng ra khỏi Khe Sanh cũng khó khăn như ở lại đó. Trong khi họ chờ đợi, một máy bay lên thẳng CH53 bay tới đậu xuống một nơi gần đó. Ba lính thủy đánh bộ bị thương nằm trên cáng cần được chở đi. Trong vòng mấy giây, đạn súng cối và rốc-két rít trên đầu và nổ trên đường băng cách máy bay lên thẳng mấy bước. Người lái đẩy tay lái ra phía trước và chiếc máy bay lên thẳng bay vội đi ngay, bỏ lại những người thương binh thất vọng, chửi rủa om sòm...”. Đến lúc này, bộ chỉ huy quân Mỹ không thể không đưa lực lượng lên giải toả. Bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 toàn bộ sư đoàn kỵ binh bay, cùng một lữ đoàn quân dù của quân đội Sài Gòn được điều lên giải toả cho lực lượng lính thủy đánh bộ bị vây hãm và có nguy cơ bị đối phương tiến công tiêu diệt.

        Trước lúc đó quân chúng dùng hoả lực cả pháo binh và không quân hòng đẩy ta ra xa. Quân ta vẫn ẩn nấp trong các hầm ngay dưới chân các điểm cao chúng đổ quân, dùng súng cối, súng máy diệt địch cả trên trời và dưới đất. Ban đêm bộ binh và đặc công lại tiếp tục tập kích vào bọn địch xuống được các điểm cao để lập các căn cứ hành quân. Ban ngày khi chúng hành quân để giải toả, chúng ta lại xuất kích để diệt bọn địch đang cơ động hoặc triển khai tiến công. Trải qua 25 ngày từ ngày 1 đến ngày 25 tháng 4, kỵ binh bay bị đánh cho tả tơi phải rút chạy trong lúc lính thủy đánh bộ vẫn bị vây hãm.

        Để đối phó với tình hình quân Mỹ ở căn cứ Tà Cơn vẫn bị vây hãm, bộ chỉ huy lính thủy đánh bộ ở quân khu 1 phải vét hết lực lượng dự bị của chúng để mở tiếp cuộc hành quân giải toả vào đầu tháng 5. Sư đoàn 308 với lực lượng sung sức bước vào chiến đấu, tập trung đánh bọn lính thủy đánh bộ vừa đổ xuống chiến trường Khe Sanh. Lính thủy đánh bộ cũng không làm được gì hơn kỵ binh bay, trái lại bị thương vong nặng nề hơn.

        Đến nước này, bộ chỉ huy quân Mỹ phải chọn ở một trong ba mươi sáu chước: tẩu vị thượng sách. Bắt đầu từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 15 tháng 7 Mỹ rút hết lực lượng chiếm đóng, bỏ Khe Sanh lại cho đối phương. Bộ chỉ huy Mỹ biết rõ bỏ Khe Sanh tức là mở đường cho các lực lượng đối phương từ miền Bắc tiến vào miền Nam được dễ dàng. Chúng ta hãy nghe các hãng tin phương Tây nói gì?

        Đài phát thanh Anh BBC ngày 30 tháng 6 nói: “Việc rút lui Khe Sanh không phải đơn giản bỏ rơi một yếu điểm, mà là bỏ rơi một ảo tưởng và một chính sách mà tất cả nỗ lực của Hoa Kỳ đã dựng nên, đã tan rã ra tro như những pháo đài xi măng cốt thép ở Khe Sanh”.

        Hãng tin Mỹ AP ngày 27 tháng 6 viết: “Việc quân Mỹ rút khỏi Khe Sanh là một thất bại đối với Mỹ. Các quan chức cao cấp của Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn đã từng nói, phải bảo vệ căn cứ này bằng bất cứ giá nào. Thậm chí nhiều người phát ngôn của lính thủy đánh bộ còn nói: Nếu chúng ta rút khỏi Khe Sanh thì liệu chúng ta dừng lại ở đâu? Trên biển Nam Hải chắc?”.

        Có thể kết luận, cùng với chiến công đánh đồng loạt nhiều thành phố và thị xã, chiến công đánh bại địch ở Khe Sanh đã làm phá sản hoàn toàn chiến lược “tìm diệt” của đế quốc Mỹ. Ở Khe Sanh, quân Mỹ không phải đi tìm lực lượng đối phương. Đối phương không chỉ có các đơn vị nhỏ, mà là mấy vạn quân, đủ các binh chủng bộ binh, xe tăng, pháo binh... đứng vững ở Khe Sanh 6 tháng. Cuối cùng quân Mỹ rút đi, đối phương làm chủ Khe Sanh. Thực sự chúng ta đã đảo ngược thế cờ. Trước đây Mỹ tìm diệt ta. Ở Khe Sanh cũng như tại các thành phố, thị xã, ta lại tìm diệt chúng.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Một, 2017, 05:21:11 PM
     
THƯỢNG ĐỨC

        Quân đoàn thành lập mới hơn một tháng, bao nhiêu việc cần phải làm: ổn định tổ chức, ổn định địa điểm đóng quân, bổ sung các trang thiết bị và đặc biệt phải tập trung huấn luyện. Quân đoàn tuy bao gồm hầu hết các đơn vị cùng chiến đấu trên một chiến trường, nhưng mỗi đơn vị đều có truyền thống riêng, trưởng thành trong hoàn cảnh khác nhau, hoàn cảnh chiến đấu cũng khác nhau. Sức mạnh quân đoàn không phải chỉ là sức mạnh của ba sư đoàn cộng lại, mà phải là sức mạnh của một tập thể lớn, được rèn luyện thống nhất trên nhiều mặt từ trên xuống dưới. Muốn thực hiện được sự thống nhất đó thì vấn đề số một là phải huấn luyện toàn diện cả quân sự và chính trị. Đảng ủy Quân đoàn, Bộ tư lệnh Quân đoàn đều thống nhất nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là huấn luyện.

        Đồng chí tư lệnh quân đoàn, xuất thân là cán bộ chính trị, đã từng là chính ủy trung đoàn, rồi chính ủy sư đoàn, đã xa chiến trường thời gian dài nên ngoài kinh nghiệm về mặt tác chiến (chủ yếu là ở khâu chiến dịch), về huấn luyện cụ thể cho bộ đội về chiến thuật các cấp, đồng chí có hạn chế nhất định. Vì vậy riêng về huấn luyện quân sự, đồng chí tin tưởng và ủy thác cho tôi, một cán bộ đã chỉ huy chiến đấu từ cấp trung đội đến sư đoàn, đã được học tập cơ bản ở học viện quân sự tại Liên Xô đã là giáo viên và sau đó là trưởng khoa chiến thuật ở học viện quân sự.

        Đang tập trung huấn luyện, quân đoàn nhận được lệnh phái Sư đoàn 304 vào phối thuộc cho Quân khu 5 trong chiến dịch Hè Thu ở Nông Sơn - Thượng Đức. Vừa huấn luyện vừa chiến đấu là hoàn toàn rất bình thường trong quân đội ta, nếu không muốn nói đó là hoàn cảnh có lợi nhất để đơn vị trưởng thành nhanh: lấy huấn luyện để nâng cao trình độ tác chiến và lấy kinh nghiệm tác chiến để nâng cao trình độ huấn luyện.

        Sư đoàn 304 trực tiếp phối thuộc cho Quân khu 5, mọi hoạt động tác chiến của sư đoàn đều do Bộ tư lệnh Quân khu 5 trực tiếp chỉ huy. Nhưng đây là trận đấu của một đơn vị trong quân đoàn từ khi quân đoàn thành lập. Để xây dựng quân đoàn, nhất thiết lần ra quân đầu, trận đầu phải thắng. Vì vậy quân đoàn đặt vấn đề phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sư đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Một trong những việc thiết thực nhất là tăng cường chỉ huy cho sư đoàn. Sư đoàn 304 là đơn vị tôi ở đấy từ khi thành lập và là người chỉ huy sư đoàn trong tám năm qua, vì vậy Bộ tư lệnh Quân đoàn bàn và quyết định cử tôi vào để tăng cường chỉ huy cho sư đoàn vào từng đợt theo nhu cầu công việc, không đi cùng sư đoàn suốt cả thời gian chiến dịch. Tôi vào sư đoàn ba đợt: đợt tổ chức và chuẩn bị tác chiến, đợt đánh quận lỵ Thượng Đức lần thứ hai và đợt đánh quân địch phản kích.

        Tất cả những hoạt động của Sư đoàn 304 trong chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức, Lịch sử Sư đoàn 304 cũng như Lịch sử Quân đoàn 2 đã viết khá đầy đủ. Tôi đặc biệt đi sâu vào ba đợt mà tôi có điều kiện tham gia.

        Vào Thượng Đức lần thứ nhất tổ chức và chuẩn bị tác chiến:

        Nhiệm vụ của Sư đoàn 304 (lúc đầu có 2 trung đoàn), là tiêu diệt quận lỵ và chi khu quân sự Thượng Đức, đánh viện từ Đà Nẵng lên.

        Quận lỵ và chi khu quân sự bao gồm một đồn chính do tiểu đoàn biệt động quân đóng giữ, bên cạnh có quận lỵ hành chính do 2 đại đội bảo an bảo vệ, vòng ngoài có các đồn nhỏ hình thành một cụm cứ điểm được tổ chức khá chặt chẽ với công sự khá kiên cố. Tuy nhiên Sư đoàn 304 năm 1968 trong trận đầu đã diệt quận lỵ Hướng Hoá và năm 1972 trong một đợt tác chiến đã diệt 2 trung đoàn địch đóng trong công sự kiên cố (trung đoàn 56 sư đoàn 3 và lữ 147 sư đoàn lính thủy đánh bộ) nên nhiệm vụ được giao là trong tầm tay của sư đoàn. Từ cán bộ sơ cấp đến chỉ huy sư đoàn đều tin tưởng sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

        Vấn đề đặt ra trong công tác tổ chức và chuẩn bị tác chiến là làm thế nào diệt địch được nhanh gọn và ít thương vong. Nói chung người chỉ huy nào và trong bất kỳ giai đoạn chiến tranh thời kỳ sau Hiệp định Pa-ri, cũng có cảm giác đã đi gần hết đoạn đường tới thắng lợi hoàn toàn. Tự nhiên đến lúc này, chúng tôi nghĩ nhiều đến những người lính của đơn vị, trải qua những giai đoạn ác liệt nhất và còn sống đến ngày nay. Chúng tôi không muốn để hy sinh thêm một người nào nữa. Tất nhiên đó chỉ là mơ ước vì còn chiến tranh thì còn thương vong. Nhưng hơn thời kỳ nào hết, lúc này chúng tôi phải suy nghĩ thật kỹ để thương vong ít nhất.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Một, 2017, 05:22:19 PM

        Sức mạnh trong phòng ngự của địch lệ thuộc vào sức sống của các hoả điểm. Diệt được các hoả điểm là có thể đánh chiếm được trận địa địch. Khả năng phản kích của địch khi ta đã đột nhập được vào trận địa rất hạn chế. Đánh trong trận địa tức là đánh giáp lá cà, lúc này ai tinh thần cao người đó sẽ thắng. Tất nhiên về mặt tinh thần chiến đấu thì lính địch không thể so sánh với bộ đội của ta được. Vì vậy, trong kế hoạch tác chiến, vấn đề đặt ra để diệt địch nhanh gọn và ta ít thương vong là phải tiêu diệt được nhiều hoả điểm của địch, muốn diệt được nhiều hoả điểm trước lúc mở cửa, trước lúc xung phong thì vấn đề hàng đầu là đưa được nhiều pháo lớn vào bắn thẳng. Với pháo lớn đưa vào bắn thẳng, với một, hai phát đạn là đã có thể diệt được một hoả điểm. Như vậy, vấn đề nổi lên trong kế hoạch lần này là đưa pháo lớn vào bắn thẳng. Muốn vậy, vấn đề hàng đầu là làm đường để đưa pháo vào. Lúc đầu cũng có đồng chí có do dự, thời gian có hạn mà phải làm mới gần 40km đường thì không phải đơn giản. Công binh sư đoàn chỉ có 1 tiểu đoàn, nếu lấy thêm 2 đại đội công binh của 2 trung đoàn thì cũng không được là bao. Theo ý kiến của đồng chí Nuôi, Chủ nhiệm công binh sư đoàn, một cán bộ có tinh thần trách nhiệm, có trình độ kỹ thuật (đồng chí Nuôi đã tốt nghiệp đại học giao thông khoa cầu đường, đã kinh qua 5 năm ở chiến trường) thì muốn hoàn thành con đường trong 20 ngày, phải được sự giúp đỡ của địa phương, huy động nhân dân lên mặt đường, với lực lượng 1 tiểu đoàn công binh và 2 tiểu đoàn bộ binh của sư đoàn. Sư đoàn đã hoàn thành con đường cho xe kéo pháo đúng thời gian.

        Xe kéo pháo chỉ đến bờ sông Vu Gia. Từ đấy vào trận địa đưa pháo vào không khó lắm. Nhưng còn một vấn đề nữa là kéo pháo lên đồi cao để bắn được theo góc tà âm. Kéo pháo thì ở Điện Biên Phủ ta đã kéo mấy chục khẩu. Nhưng lúc đó là kéo pháo vào trận địa bắn gián tiếp cách địch 4-5km, có thể vừa hò vừa kéo và tập trung 40-50 người để kéo một khẩu. Ở đây trận địa pháo bắn ngắm trực tiếp chỉ để cách địch 800m, tối đa không được quá 1.000m. Phải nghĩ ra cách dùng ít người mà nhẹ nhàng đưa các khẩu pháo từ dưới lòng sông lên đồi cao. Một sáng kiến được đề ra, đến nay ai là tác giả sáng kiến đó, tôi cũng không còn nhớ. Sau này đánh giá lại sáng kiến đó, chúng tôi cho là một sáng kiến có giá trị nghệ thuật lớn. Nhờ sáng kiến đó mà giai đoạn đánh địch phản kích chúng tôi đã kéo pháo lên tận điểm cao 1062. Tiếp theo là đợt hoạt động tây nam Thừa Thiên mùa thu năm 1974, tiếp nữa là mùa Xuân năm 1975, các sư đoàn đều theo sáng kiến đó mà kéo hàng chục khẩu pháo lên động Truồi, động Kim Sắc để bắn thẳng. Sáng kiến cũng đơn giản: tháo nòng pháo ra, kéo nòng riêng, kéo chân riêng. Chỉ cần lấy hai chiếc lốp ô tô bọc hai đầu nòng, sử dụng 12 người kéo nòng, như vậy không hò reo gì mà kéo đi nhẹ nhàng. Để kéo chân pháo chỉ cần làm một con đường lượn theo sườn núi nhiều lần để độ dốc dưới 30 độ, rộng hơn khoảng cách 2 bánh pháo một chút (khoảng 1m2) với 15 người có thể kéo đi dễ dàng.

        Sau khi đã thống nhất với sư đoàn quyết tâm đưa pháo lớn vào bắn thẳng, chúng tôi nghĩ việc diệt chi khu Thượng Đức không còn có khó khăn gì lớn. Tôi tin tưởng hai đồng chí sư trưởng và sư phó có thể giải quyết được mọi vấn đề. Đồng chí Lê Công Phê, sư trưởng, là một cán bộ kỳ cựu của sư đoàn. Đồng chí từ người chiến sĩ của sư đoàn lên đến sư đoàn trưởng. Trước khi thành lập sư đoàn, đồng chí là chiến sĩ rồi tiểu đội trưởng, trung đội trưởng ở Trung đoàn 57. Sau khi Trung đoàn 57 được điều động về để thành lập Sư đoàn 304, tôi được điều từ Trị - Thiên ra làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 418 Trung đoàn 57, tôi gặp đồng chí Phê làm trung đội trưởng ở tiểu đoàn này. Từ đó hai chúng tôi cùng chiến đấu cạnh nhau cho đến hết thời kỳ chống Pháp. Trong hoà bình cùng nhau sang học ở Học viện quân sự Liên Xô cùng về làm giáo viên chiến thuật ở Học viện quân sự của ta, cuối cùng lại cùng nhau về Sư đoàn 304b để chiến đấu cho đến ngày nay. Những gì tôi biết về tác chiến cấp tiểu đoàn, trung đoàn thì đồng chí Phê cũng đều biết. Đồng chí còn là một cán bộ gan dạ, cán bộ mà tôi liệt vào loại chỉ lo hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất, còn cá nhân mình sống chết đã có trời lo. Tôi hay nói đùa anh em: chết có số. Nếu số anh chết thì có chui xuống đất sâu bom đạn nó cũng theo xuống. Đồng chí Nguyễn Ân, Sư đoàn phó cũng là một cán bộ trưởng thành từ dưới lên, kinh qua tất cả các cấp, chiến đấu qua các loại hình, cũng được học cơ bản ở Học viện quân sự Trung Quốc, về làm giáo viên ở Học viện quân sự Việt Nam với tôi và cùng ra Sư đoàn 304b từ ngày bắt đầu thành lập với chức vụ trung đoàn trưởng Trung đoàn 66. Đồng chí là người trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 66 diệt quận lỵ và chi khu quân sự Hướng Hoá năm 1968. Sau khi thống nhất kế hoạch tác chiến với thủ trưởng sư đoàn trên bản đồ trong đó nội dung cơ bản là dùng Trung đoàn 66 diệt căn cứ chính Thượng Đức, dùng Trung đoàn 3 cùng 1 tiểu đoàn địa phương diệt các cứ điểm ngoại vi và đánh viện, tôi trở về quân đoàn.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Một, 2017, 12:29:04 AM

       Vào Thượng Đức lần thứ hai.

        Tôi đang điều hành việc tập huấn chiến thuật cho cán bộ thì quân đoàn nhận được điện cùng một lúc của cả Sư đoàn 304, Quân khu 5 và Bộ, cho biết Trung đoàn 66 tiến công căn cứ Thượng Đức không thành công. Tôi thực sự bị bất ngờ vì tôi tin nhất định Sư đoàn 304 sẽ san bằng Thượng Đức trong 1-2 ngày. Theo ý kiến chung của Bộ tư lệnh Quân đoàn, tôi vào lại Thượng Đức ngay, vì mọi việc chỉ có thể giải quyết ngay tại chỗ. Ngồi ở quân đoàn cũng không biết nói gì với sư đoàn.

        Nghe qua báo cáo của sư đoàn, chúng tôi nhanh chóng thống nhất nguyên nhân chủ yếu là do chủ quan, thể hiện ở tất cả các cấp. Trường hợp nhiệm vụ không nặng, nhưng do chủ quan mà không hoàn thành, thì không phải cán bộ chúng ta mới gặp một lần. Chúng ta đã thề, thắng không kiêu, bại không nản mà sao nó cứ lặp lại mãi. Tôi nhớ lại sau mỗi chiến thắng lớn, Bác Hồ trong lúc biểu dương thành tích cũng đều nhắc khi thắng lợi phải đề phòng chủ quan khinh địch. Thì ra đó cũng là một quy luật khách quan, trách nhau mà làm gì. Hãy cùng nhau bắt tay vào việc: Khuyết điểm ở đâu, khắc phục như thế nào?

        Như trên đã nói, muốn đánh thắng địch trong công sự vững chắc trước hết phải diệt các hoả điểm. Sư đoàn đưa vào 8 khẩu pháo 85mm bắn thẳng, 4 bảng gồm 8 bệ hoả tiễn, cùng với ĐKZ của trung đoàn và các tiểu đoàn. Như vậy, hoả lực của ta đủ sức diệt hầu hết hoả điểm của địch trên 4 cửa mở cho 2 tiểu đoàn. Sư đoàn đưa vào 1 tiểu đoàn pháo 105mm và 1 đại đội cối 120mm cộng với súng cối 82mm của trung đoàn, tiểu đoàn cũng đủ sức kiềm chế pháo cối của địch. Nếu tập trung pháo bắn thẳng vào diệt các hoả điểm trên cửa mở và tập trung pháo bắn gián tiếp chế áp pháo địch vào thời gian bộ đội tiếp cận địch và mở cửa thì hoàn toàn có thể bảo đảm cho hai tiểu đoàn đột phá trận địa địch. Nhưng do chủ quan, cho là với số lượng pháo cối trên có thể đè bẹp hoàn toàn địch, đồng chí trung đoàn trưởng pháo binh tuyên bố với anh em: phen này sẽ cạo trọc cứ điểm Thượng Đức. Không phải chỉ nói cho vui mà đồng chí còn nghĩ và làm đúng như vậy. Thực tế sau này mới rõ, các đồng chí pháo binh không biết cửa mở bộ binh ở đâu nên bắn khắp cứ điểm. Như vậy hoả điểm cần diệt lại không diệt, hoả điểm không cần diệt thì lại diệt. Các đồng chí pháo binh cũng không biết quá trình vận động của bộ binh để tập trung chế áp pháo cối địch vào thời điểm cần thiết. Lúc bộ binh còn cơ động hoặc mới đến vị trí xuất phát, chưa đào được công sự là lúc cần làm tê liệt hoạt động của pháo cối địch. Trái lại bắn rải rác suốt thời gian, nên hiệu lực chế áp thấp, bộ binh bị thương vong nhiều. Cũng cần nói rõ là ta chỉ có khả năng chế áp pháo cối địch trong thời gian nhất định. Không thể dùng pháo bắn gián tiếp để diệt phần lớn pháo cối địch.

        Vấn đề thể hiện chủ quan của bộ binh là đáng lẽ sau lúc diệt xong hai cứ điểm ngoại vi, cần có một kế hoạch chỉ đạo chặt chẽ để 2 tiểu đoàn bộ binh vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công. Ngược lại sau khi diệt hai cứ điểm ngoại vi, các tiểu đoàn cứ thế xông vào địch, tiến công ngay trong hành tiến. Không nghiên cứu kỹ khu vực xuất phát tiến công, chưa đưa phương tiện mở cửa vào đầy đủ và nhất là không tập trung chế áp pháo cối địch vào thời điểm này nên bộ đội bị thương vong ngay ở cửa mở và kết quả là cả hai tiểu đoàn đều bị thương vong nhiều, không đột nhập được vào trận địa địch.

        Tất cả những khuyết điểm chúng tôi rút ra ở trên đã được thực tế chứng minh. Sau khi khắc phục các khuyết điểm trên, Trung đoàn 66 đã bị thương vong một số, đánh lại lần thứ hai mới diệt gọn cứ điểm Thượng Đức. Để chỉ huy chặt chẽ trong từng bước tác chiến, bảo đảm chắc thắng, chúng tôi thống nhất tăng cường chỉ huy ở tất cả các khâu: đồng chí Long, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 xuống tăng cường cho tiểu đoàn 7, đồng chí Ân, Sư đoàn phó xuống tăng cường Trung đoàn 66, tôi ngồi cạnh đồng chí Phê suốt thời gian đột phá, đồng chí Phan Hàm, Cục phó Cục Tác chiến, nguyên cán bộ pháo binh ngồi cạnh đồng chí Phúc, Chủ nhiệm pháo binh sư đoàn để giúp điều hành bắn pháo.

        Sau khi hoàn thành nhiệm vụ diệt toàn bộ chi khu quân sự Thượng Đức, sư đoàn chuyển sang nhiệm vụ trung tâm là đánh địch phản kích. Lúc này chúng ta cũng chưa thực sự dự kiến được khả năng phản kích của địch đến đâu vì từ đầu năm đến nay địch bị mất nhiều khu vực chứ không riêng Thượng Đức. Nhiệm vụ xây dựng quân đoàn lại đòi hỏi tôi phải trở về quân đoàn, tiếp theo là nhiệm vụ tăng cường chỉ huy cho Sư đoàn 324 tiến công địch ở tây nam Thừa Thiên nên tôi không có điều kiện theo dõi tình hình đánh phản kích của Sư đoàn 304 ở Thượng Đức.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Một, 2017, 12:33:22 AM

        Vào Thượng Đức lần thứ ba.

        Quân lính Sài Gòn suốt cả Xuân Hè bị thất bại liên tiếp trên hầu hết các chiến trường. Để lấy lại lòng tin cho các lực lượng chính trị cũng như quân sự, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu quyết tâm mở một cuộc phản kích lớn, giành lại một vùng trọng điểm bị mất trong Xuân Hè. Hướng chúng lựa chọn là Thượng Đức. Chúng đã tập trung ở đây 2 sư đoàn: sư đoàn 3 và sư đoàn dù cùng một số lượng lớn pháo binh, không quân với hy vọng lấy lại Thượng Đức trong thời gian ngắn.

        Để đánh địch tiến công tái chiếm Thượng Đức, Sư đoàn 304 chủ trương phòng ngự trận địa. Cũng có ý kiến dùng phản công để đánh lại địch tiến công. Cho đến bây giờ tôi cho sư đoàn chủ trương phòng ngự là đúng. Địch dùng 2 sư đoàn tiến công có số lượng lớn pháo binh và không quân chi viện, muốn tiến nhanh đến Thượng Đức. Lực lượng thuộc Quân khu 5 đã rút về để củng cố. Kinh nghiệm cho thấy muốn tiến công quân địch đi tiến công phải tạo được ưu thế nhất định. Lực lượng hiện có của Sư đoàn 304 lúc đó, với nhiệm vụ không cho địch tác chiến Thượng Đức thì phòng ngự là hợp lý.

        Quân đội ta không những ít kinh nghiệm phòng ngự mà ngay học tập phòng ngự cũng rất ít. Chỉ có một số cán bộ được đào tạo ở các học viện là có học phòng ngự, bộ đội thì hầu như không đơn vị nào học phòng ngự. Sư đoàn 304 cũng đã tiến hành phòng ngự ở Quảng Trị năm 1972, nhưng kinh nghiệm lúc đó là kinh nghiệm không thành công.

        Quân địch tiến công vào sư đoàn cũng bài bản như tiến công ở Quảng Trị. Chúng cho lực lượng bộ binh bám sát điểm tựa phòng ngự của ta rồi dùng không quân và pháo binh bắn phá trận địa ta chi viện cho bộ binh xung phong. Nếu một lần xung phong không thành công, chúng lại cho bộ binh lui ra trận địa xuất phát tiếp tục bắn phá để xung phong lại lần thứ hai, thứ ba... Đáng tiếc là ta cũng phòng ngự như hồi ở Quảng Trị, nên tuy mất chậm, nhưng ta cũng mất dần trận địa. Chúng đã chiếm được khu vực phòng ngự của 2 tiểu đoàn và đặc biệt chúng đã chiếm được điểm cao 1062. Từ đấy chúng đã quan sát được quận lỵ Thượng Đức, vì vậy chúng tuyên bố việc chiếm lại Thượng Đức đã trong tầm tay.

        Trước tình hình mất dần trận địa và mất điểm cao 1062, Quân khu 5 và Bộ đều quy trách nhiệm cho sư đoàn mà trước hết là cho Bộ tư lệnh sư đoàn, cho sư đoàn trưởng. Bộ yêu cầu quân đoàn thay chỉ huy sư đoàn. Chúng tôi, tập thể Bộ tư lệnh Quân đoàn, chứ không phải riêng cá nhân tôi, rất biết đồng chí Phê. Vấn đề là các đồng chí gặp nhiều khó khăn, mùa mưa đến bộ đội đánh dài ngày mệt mỏi, đạn dược thiếu, lại chỉ có một mình, các đơn vị bạn đã rút về sau củng cố.

        Bộ tư lệnh quân đoàn họp, đề nghị Bộ, chỉ tăng cường chỉ huy chứ không thay chỉ huy và được Bộ đồng ý. Lẽ tất nhiên tôi lại phải rời quân đoàn để vào sư đoàn. Trước khi đi, tôi báo cáo Bộ tư lệnh Quân đoàn là tôi vào một mình thì cũng không làm được gì nhiều hơn đồng chí Phê. Tất nhiên hai người thì có hơn một người, nhưng nếu không có lực lượng tăng cường thì cũng khó xoay chuyển được tình hình. Lúc này lệnh của Bộ là quân đoàn phải chịu trách nhiệm trước Bộ, không được để mất Thượng Đức. Với chủ trương như vậy, quân đoàn cũng dễ xoay xở. Theo tôi phải tăng thêm lực lượng chiến đấu để bộ đội có thể vừa đánh vừa nghỉ ngơi, tăng thêm lực lượng công binh vào làm công sự, tăng thêm các loại đạn pháo và cối. Cuối cùng chúng tôi nhất trí đưa thêm Trung đoàn 24, như vậy sư đoàn có đủ 3 trung đoàn, đưa thêm 2 tiểu đoàn công binh và 4.000 viên đạn pháo cối. Ở đây tôi xin đi trước thời gian một ít. Sau khi đánh bại quân dù, có đồng chí nói đúng: “Anh Hoàng Đan vào mà không có Trung đoàn 24, không có 2 tiểu đoàn công binh và 4. 000 viên đạn thì địch cũng vào được Thượng Đức”.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Một, 2017, 12:34:44 AM

        Vào đến sư đoàn nắm lại tình hình, việc đầu tiên tôi đề xuất với Bộ chỉ huy sư đoàn là phải tiến hành tập huấn về phòng ngự ngay cho cán bộ từ tiểu đội đến tiểu đoàn. Chỉ có cán bộ sư đoàn đã học tập và biết chỉ huy phòng ngự, nhưng người chỉ huy phân đội chịu trách nhiệm trực tiếp đánh địch lại không biết nghệ thuật phòng ngự thì cũng không thể phòng ngự thành công. Chỉ huy sư đoàn cũng đồng ý là phải tập huấn, nhưng ngại rút cán bộ về học có thể làm mất nhanh trận địa. Chúng tôi bàn mở hai lớp, mỗi lớp ba ngày, như vậy cần sáu ngày. Trước khi rút một nửa cán bộ về học, cần triển khai thêm các hoả lực bắn thẳng bao gồm cả pháo cao xạ 37mm quay nòng bắn bộ binh, pháo 85mm và cả hoả tiễn Trung Quốc 12 nòng. Trong sáu ngày đó hễ bộ binh địch nhúc nhích là phải dùng một số đạn nhất định bắn ngay vào chúng, không cho chúng kịp xung phong. Cũng may là đạn cao xạ 37mm ta có rất nhiều, và cao xạ 37mm đưa bắn thẳng vào bộ binh thì hiệu lực rất lớn, chẳng khác gì nắm từng chùm lựu đạn vãi vào đội hình địch. Nhờ tăng cường hoả lực mạnh trong thời gian nhất định nên trong sáu ngày đó chúng tôi không mất trận địa nào. Lớp tập huấn tuy chỉ ba ngày, nhưng nhờ xây dựng hoàn chỉnh một trận địa làm mẫu, nội dung huấn luyện sát với những thực tế đòi hỏi, đánh được địch, ta ít thương vong, giữ được trận địa lâu dài, nên đạt kết quả cao. Tất cả cán bộ biết cách xây dựng trận địa, biết cách đánh và tin tưởng ở cách đánh.

        Nghệ thuật tác chiến, hay nói một cách khác là cách đánh, đóng vai trò quyết định chính. Nhưng đã nói phòng ngự thì công sự cũng là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi. Ngoài giới thiệu trận địa mẫu, với hai tiểu đoàn công binh quân đoàn tăng cường, chúng tôi cho mỗi đại đội công binh xây dựng trận địa cho một đại đội bộ binh, số còn lại khai thác vật liệu từ phía sau đưa lên. Nhờ vậy trong một thời gian ngắn các đại đội tuyến 1 đều có công sự đạt yêu cầu.

        Nhờ công sự vững chắc, hoả lực mạnh, bộ đội nắm được cách đánh, lực lượng được tự thay phiên chiến đấu nên trải qua hai tháng, địch tuy cố gắng cũng không chiếm thêm được điểm tựa nào, lại bị thương vong nhiều nên sư đoàn dù đành bỏ cuộc rút về phía sau, không những không lấy lại được Thượng Đức mà còn bị Sư đoàn 304 bám sát gót truy kích và giải phóng luôn vùng B Đại Lộc. Đến đây cuộc chiến kết thúc, sư đoàn dành được một thời gian củng cố để rồi tháng 3 năm 1975 tham gia tiến công giải phóng Đà Nẵng. Ý nghĩa thắng lợi của bộ đội ta trên mặt trận Thượng Đức, các cuốn lịch sử đơn vị cũng như hồi ký của đồng chí Hoàng Văn Thái đã nói rõ. Tôi chỉ có một số nhận xét thêm: Quân địch bị huy động lực lượng dự bị chiến lược (sư đoàn dù) với sự chi viện tối đa không quân và pháo binh vào một điểm duy nhất trong thời điểm đó là Thượng Đức, nhưng bị thất bại hoàn toàn. Điều đó chứng tỏ không có quân Mỹ, sức chiến đấu của quân ngụy sa sút nghiêm trọng. Thực tế nhiều cuộc chiến tranh cũng đã nói, khi lực lượng cách mạng đã tương đương với lực lượng phản cách mạng, thì đó là thời kỳ quân cách mạng có thể chuyển sang tổng phản công. Như chúng ta đều biết, hai lực lượng ngang nhau về số lượng người và trang bị vũ khí thì lực lượng nào tinh thần cao hơn sẽ chiến thắng. Chúng ta chẳng những hơn hẳn địch về tinh thần chiến đấu mà còn hơn hẳn về nghệ thuật tác chiến. Ở Thượng Đức ta luôn luôn thay đổi cách đánh cho có hiệu quả hơn, trái lại quân ngụy vẫn một bài bản như trước. Chúng thua là lẽ đương nhiên.

        Dẫu sao chiến thắng Thượng Đức cũng đã mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn chuyển sang tiến công chiến lược để giành thắng lợi hoàn toàn…


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Một, 2017, 08:21:55 PM
         
TỪ SÔNG BẾN HẢI ĐẾN DINH “ĐỘC LẬP”

        I. GIẢI PHÓNG HUẾ - ĐÀ NẴNG

        Cuối tháng 1 năm 1975, cũng như nhiều chiến dịch trước đây, sau khi nhận được mệnh lệnh chiến đấu của Bộ: Quân đoàn 2 (trừ Sư đoàn 304 đang làm nhiệm vụ ở Thượng Đức - Quảng Nam) cùng với Quân khu Trị - Thiên mở chiến dịch tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giam chân các lực lượng quan trọng, nhất là sư đoàn dù và sư đoàn lính thủy đánh bộ trên địa bàn bắc quân khu 1 phối hợp với chiến trường chính chiếm một số địa bàn quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch kế tiếp. Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 gồm Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Linh, Chính ủy; tôi, Phó tư lệnh; Đại tá Công Trang, Phó chính ủy; Thượng tá Bùi Công Ái, Tham mưu trưởng; Thượng tá Lê Khả Phiêu, Chủ nhiệm chính trị; Thượng tá Nguyễn Ngọc Thực, Chủ nhiệm hậu cần đã họp bàn triển khai kế hoạch tác chiến. Để có một phương án chọn hướng tấn công đáp ứng được những vấn đề cụ thể đặt ra, các thành viên trong Bộ tư lệnh đã tốn khá nhiều trí lực để chọn hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch. Lúc đầu một số ý kiến chọn hướng tiến công chủ yếu là tây Huế. Đánh theo hướng này, mặc dù Huế đang cuối mùa mưa, nhưng đường 12 khá tốt, ta vẫn triển khai được binh khí kỹ thuật hiện đại, tập trung được những mũi nhọn đột phá mạnh vào những chốt điểm quan trọng của địch. Nếu các chốt điểm này bị tiến công và bị uy hiếp nhất định, bọn chỉ huy tiền phương quân khu 1 đóng tại thành phố Huế sẽ phải tập trung lực lượng ra ngăn chặn và như vậy ta sẽ đạt được mục đích tiêu hao, tiêu diệt, giam chân một bộ phận sinh lực địch. Nhưng sau đó khá nhiều ý kiến cho rằng hiện nay cơ hội tiến công địch trên toàn miền đã xuất hiện. Đặc biệt sau chiến thắng Phước Long (6-1-1975) ở miền Đông Nam Bộ, tinh thần binh sĩ quân đội Sài Gòn đã sa sút nghiêm trọng, hàng mảng lớn các vị trí có ý nghĩa chiến thuật, chiến lược bị phá vỡ. Trong khi đó lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta phát triển mạnh, các quân đoàn chủ lực cơ động lần lượt ra đời. Do vậy quân đoàn nên chọn hướng tiến công chủ yếu có quy mô tầm vóc xa rộng hơn, vừa có ý nghĩa chiến dịch vừa có ý nghĩa chiến lược để khi thời cơ đến ta có đủ điều kiện tiến công làm chủ nhiều vùng rộng lớn tạo bản lề cho cuộc tổng tiến công chiến lược sau này. Từ những cân nhắc tính toán cẩn trọng, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn quyết định chọn hướng tiến công chủ yếu là tây nam Huế (khu vực đường 14), tiến công dọc tả, hữu sông Truồi ra đường số 1. Chọn hướng tiến công này ta có lợi thế triển khai binh hoả lực, tập trung vào đối tượng chủ yếu là trung đoàn 54 của địch bố trí trên khu vực điểm cao núi Bông, núi Nghệ, 224, 173, vùng Mỏ Tàu... là hướng hiểm yếu và bất ngờ với địch, khi thời cơ lớn xuất hiện ta có thể nhanh chóng chiếm đường số 1 chia cắt Huế - Đà Nẵng, hình thành thế bao vây cô lập địch ở Trị - Thiên - Huế.

        Đầu tháng 2 năm 1975, giữa lúc các đơn vị trong Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên đang ráo riết chuẩn bị mạng lưới hậu cần, đường sá cho chiến dịch, tôi (đại diện cho Bộ tư lệnh Quân đoàn 2) và Đại tá Thanh Quảng, Phó chính ủy Quân khu Trị - Thiên được lệnh ra Bộ Tổng tham mưu báo cáo kế hoạch tác chiến ở Trị - Thiên - Huế. Sau khi nghe chúng tôi báo cáo kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết trên các hướng tiến công Trị - Thiên trong hai tháng 3 và 4 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng đã cơ bản nhất trí. Chỉ riêng mốc thời gian quân đoàn và quân khu ấn định đến ngày 10 tháng 3 năm 1975 mới có thể nổ súng thì hai đồng chí không chấp nhận. Mặc dù chúng tôi trình bày lý do mạng đường thi công dài qua nhiều đèo cao vực thẳm trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt lại phải hết sức giữ bí mật, đồng chí Lê Trọng Tấn vẫn nói nghiêm khắc, một sự nghiêm khắc hiếm thấy ở anh: “Mọi việc cho chiến dịch phải được xong trước 24 giờ ngày 4 tháng 3 năm 1975. Tôi biết các đồng chí gặp nhiều khó khăn, nhưng các đồng chí phải biết chiến dịch Trị - Thiên - Huế là nằm trong chiến dịch chung của toàn quốc, thời gian phải hết sức chặt chẽ, không thể ai muốn bắt đầu tiến công ngày nào cũng được. Các đồng chí đã tham gia nhiều chiến dịch lớn, phải hiểu rõ vấn đề này!”. Sau đó đồng chí quay sang Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Đề nghị anh cho phép các lực lượng Quân khu Trị - Thiên và pháo binh Quân đoàn 2 nổ súng đúng thời gian quy định từ ngày 5 tháng 3, còn phần lớn lực lượng Quân đoàn 2 nổ súng sau ba ngày”.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Một, 2017, 08:23:19 PM

        Sau này tôi mới biết ngày 8 tháng 3 là ngày nổ súng của chiến trường chính - chiến trường Tây Nguyên. Chúng tôi chỉ được phép nổ súng trước hoặc đồng thời. Nếu ngày 9 tháng 3 chúng tôi mới chuẩn bị xong và ngày 10 tháng 3 mới có thể nổ súng (chậm hơn chiến trường chính hai ngày) thì rõ ràng là không được rồi. Đồng chí Võ Nguyên Giáp tuy gật đầu đồng ý với đề nghị của đồng chí Lê Trọng Tấn, nhưng với sự nhạy cảm của người chỉ huy, tôi biết đồng chí chưa thật yên tâm với việc chúng tôi chưa quán triệt sâu sắc những yêu cầu mới của chiến dịch này; nên sáng hôm sau Đại tướng cho thư ký gọi chúng tôi lại dặn dò thêm: “Nhớ rằng chiến dịch này không như chiến dịch khác. Các đồng chí có thể phát huy sáng kiến để đánh thật hay, hoàn thành vượt mức kế hoạch. Nhưng các đồng chí cũng cần nhớ những việc Bộ đã quy định thì không được linh hoạt, phải chấp hành thật nghiêm”. Chúng tôi chỉ biết hứa với đồng chí là đem mọi khả năng của cá nhân và tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của Bộ giao cho.

        Sau khi làm việc xong, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho chúng tôi sang báo cáo với Thường trực Bộ Chính trị mà cụ thể là với đồng chí Lê Đức Thọ. Vốn là người có tác phong sâu sát tỉ mỉ, sau khi hỏi thăm sức khoẻ từng người trong Bộ tư lệnh Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2, tình hình sinh hoạt vật chất tinh thần của bộ đội và nói vài chuyện vui, đồng chí mới bắt đầu làm việc. Chúng tôi bắt đầu lần lượt báo cáo kế hoạch, quyết tâm và các mặt bảo đảm trên từng hướng, dự báo khả năng tiêu diệt địch mở vùng giải phóng trên từng khu vực. Đồng thời chúng tôi cũng nhấn mạnh kế hoạch thời cơ giải phóng toàn bộ chiến trường Trị - Thiên - Huế. Đồng chí Lê Đức Thọ chăm chú nghe chúng tôi báo cáo và xen vào hỏi những điều chúng tôi chưa nghĩ tới: “Các đồng chí có nghĩ đến việc giải phóng Đà Nẵng không? Các đồng chí có thể hoàn thành kế hoạch giải phóng Trị - Thiên - Huế thì các đồng chí Liên khu 5 cũng có thể hoàn thành vượt mức kế hoạch giải phóng Quảng Ngãi và Quảng Tín. Khi đó địch ở Đà Nẵng hoàn toàn bị cô lập, ta có thể tiến công và giải phóng Đà Nẵng được đấy” Cuối cùng đồng chí chỉ thị cụ thể: “Để có thể sẵn sàng khi có thời cơ tiến công Đà Nẵng, các đơn vị của Quân đoàn 2 không tham gia chiến dịch này nên bố trí sẵn xung quanh Đà Nẵng. Cụ thể Sư đoàn 304 ở vùng Thượng Đức (tây Đà Nẵng), lữ tăng và lữ pháo cho vào tập kết ở xung quanh đèo Mũi Trâu (tây bắc Đà Nẵng)” ... Đến đây tôi xin đi trước thời gian một ít. Sau khi giải phóng miền Nam (và cả thời gian sau này), nhiều đồng chí hỏi tôi: “Các đồng chí quân sự cũng bị bất ngờ về việc ta giải phóng Sài Gòn mùa Xuân năm 1975 phải không?”. Tôi thành thật trả lời rằng: Đúng, cán bộ cỡ chúng tôi hồi đó thì chưa nghĩ đến, nhưng các đồng chí trong Bộ Chính trị thì đã nghĩ đến. Hơn thế nữa, các đồng chí đã có cả kế hoạch thời cơ. Nếu không có kế hoạch đó (nghĩa là không nắm chắc địch, không có những bước dự kiến xa hơn, không chỉnh lý những phương án tác chiến cho phù hợp với tình hình chung của toàn Miền) thì chiến dịch đầu chúng tôi đánh vào hướng tây Huế (không có lực lượng lớn chia cắt đường 1), khi địch rối loạn rút chạy, chúng sẽ dễ dàng co về Đà Nẵng phòng thủ chống trả. Đặc biệt khi có lệnh tiến công giải phóng Đà Nẵng, nếu Sư đoàn 304 và các lữ tăng, pháo không ém sẵn ở các vị trí thuận lợi thì ta cũng không tiến công giải phóng Đà Nẵng ngay được và như vậy việc tiến về giải phóng Sài Gòn cũng không dễ dàng gì.

        Sáng ngày 5 tháng 3 năm 1975, theo kế hoạch của Bộ, các lực lượng vũ trang khu vực Trị - Thiên được lệnh tiến công quân địch phối hợp với chiến trường chính. Mở màn chiến dịch, các lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên đã đồng loạt tiến công hầu khắp vùng đồng bằng, cả những nơi hậu cứ của chúng. Địch đã có dự kiến có cuộc tiến công này và đã có kế hoạch đánh trả, nhưng về quy mô không gian và lực lượng thì chúng hoàn toàn bị bất ngờ. Trước sau như một chúng vẫn cho ta chỉ có thể đánh từ hướng tây xuống. Do đó qua ngày đầu bị ta tiến công, bộ chỉ huy tiền phương quân khu 1 sa vào thế bị động, vội vã điều lực lượng từ phía tây xuống phía đông. Nhưng cuộc điều binh còn đang dang dở thì ngày 6 tháng 3, ba trung đoàn (4, 5, 6) bộ đội chủ lực Quân khu Trị - Thiên đã nổ súng tiến công quân địch dọc trục đường 12. Chúng đành phải để lực lượng lại tây Huế chống trả và điều lực lượng từ hướng tây nam Huế ra giải toả khu vực đồng bằng. Giữa lúc địch đang sa vào thế, chưa đoán định được hướng nào là hướng tiến công trọng yếu của ta thì ngày 8 tháng 3, Sư đoàn 324 ém quân ở tây nam Huế bất ngờ tiến công vào núi Bông, núi Nghệ, Mỏ Tàu, điểm cao 303 - nơi chúng vừa điều lực lượng đi giải toả. Để đối phó với mũi tiến công của Sư đoàn 324, bọn chỉ huy địch lại phải cho lực lượng vừa điều xuống đồng bằng quay trở lại. Cùng lúc chúng điều thêm một phần lực lượng ở phía nam (Lương Điền, Mũi Né), nơi Sư đoàn 325 chuẩn bị tiến công, ra ứng cứu.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Một, 2017, 08:27:08 PM

        Ngày 12 tháng 3, do bị mất điểm cao 224 và khu vực đường 14, địch thấy rõ nguy cơ bị chia cắt giữa Huế và Đà Nẵng. Sân bay Phú Bài sẽ bị uy hiếp và tiến tới Trị - Thiên - Huế sẽ bị cô lập. Bộ tư lệnh quân đoàn 1 vội vã điều động thêm lực lượng tăng cường phòng thủ khu vực này. Trong một ngày chúng điều 4 tiểu đoàn (tiểu đoàn biệt động quân 61 ra Núi Bông, tiểu đoàn biệt động quân 96 và tiểu đoàn 94 có chi đoàn thiết giáp 27 yểm trợ ra điểm cao 31 và tiểu đoàn bộ binh 2 sư đoàn 1) chuẩn bị chiếm lại các điểm đã mất. Cuộc chiến đấu ở khu vực Sư đoàn 324 ngày đêm diễn ra hết sức quyết liệt. Trung bình mỗi ngày địch dùng 5.000 quả pháo, 60 lần chiếc máy bay các loại đánh phá các vị trí quân ta đang chiếm giữ, đặc biệt khu vực điểm cao 224 ta và địch giành giật nhau trong vòng bảy ngày.

        Sáng ngày 20 tháng 3, trong lúc bọn địch đang hí hửng tưởng chừng đã chặn được bước phát triển của Sư đoàn 324 (tức là đã chặn được mũi tiến công chủ yếu của ta), bất thần Sư đoàn 325 tiến công mãnh liệt khu vực nam sông Truồi gồm các điểm cao 494, 520 đồi Yên Ngựa, dãy Kim Sắc... Qua hai ngày chiến đấu, Sư đoàn 325 đã chiếm được đoạn đường số 1 dài hơn 20km, cắt đứt hẳn đường ô tô duy nhất của chúng về Đà Nẵng. Như vậy trong nửa tháng tiến công vào hướng nam Thừa Thiên - Huế, mặc dù địch phần nào đã biết ta sẽ tiến công lớn đầu năm 1975 và đã cho bố phòng chu đáo, nhưng bằng nghệ thuật điêu luyện về chọn hướng và tạo thế bất ngờ, ta đã từng bước điều khiển địch từ phía tây xuống phía đông, từ phía nam lên phía bắc để cuối cùng tập trung đòn đột kích mạnh vào nơi hiểm yếu của địch, chiếm giữ các điểm then chốt, tạo thế chia cắt chiến dịch làm cho địch hoàn toàn lâm vào thế bị động.

        Bị thất bại lớn trên chiến trường Tây Nguyên và nhiều chiến trường khác, trong những ngày hạ tuần tháng 3 năm 1975, tổng thống Việt Nam cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu đành ủy thác cho trung tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh vùng 1 chiến thuật “tuỳ cơ ứng biến” ở địa bàn bắc quân khu 1, nghĩa là rút bỏ Trị - Thiên - Huế về bảo vệ Đà Nẵng. Nắm chắc diễn biến tình hình trên chiến trường, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 và Bộ tư lệnh Quân khu Trị - Thiên đều nhận định quân địch sẽ rút chạy theo đường biển qua cửa Thuận An nên đã thống nhất chủ trương cho lực lượng bịt chặt cửa biển này. Trước hết Bộ tư lệnh Quân khu Trị - Thiên và Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 cho các trận địa pháo cơ giới di chuyển trận địa lên phía trước sao cho đủ tầm bắn phá cửa Thuận An, cửa Tư Hiền và một số mục tiêu ven biển lân cận. Sau đó Bộ tư lệnh cho Sư đoàn 324 (quân đoàn 2) tiến ra phía nam, các trung đoàn 1, 2 (Quân khu Trị - Thiên) vòng lên phía bắc bịt chặt cửa Thuận An. Để ngăn chặn địch có thể dùng lực lượng từ Đà Nẵng ra giải vây, Quân đoàn 2 lệnh cho Sư đoàn 325 tiếp tục tiến công giải phóng đường 1 tới chân đèo Hải Vân. Nếu xem xét toàn việc điều động binh lực truy chặn địch, ta thấy Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đã dùng phần lớn lực lượng để bao vây ngăn chặn chúng từ hai hướng, chỉ dùng lực lượng nhỏ tiến công từ hướng chính diện vào chiếm Huế. Thực ra đây cũng không phải mưu kế gì mới, mà chỉ là kinh nghiệm của nhiều cuộc chiến tranh, kể cả những kinh nghiệm các chiến dịch lớn của chúng ta trong chống Pháp, chống Mỹ đều chỉ rõ: lúc địch rút chạy nên dùng lực lượng vòng lên chặn địch lại để tiêu diệt, không nên dùng lực lượng lớn tiến công chính diện, làm như vậy khác nào mở đường cho chúng chạy thoát.

        Trên đường tiến quân ra nam cửa Thuận An, Sư đoàn 324 đã bắt được hơn 5.000 tên địch, nhưng một bộ phận khá lớn vẫn tìm mọi cách chạy về phía nam. Biết quân địch chỉ rút một bộ phận nhỏ (chủ yếu là các lữ đoàn lính thủy đánh bộ) theo cửa Thuận An, còn đại bộ phận rút theo ven biển qua cửa Tư Hiền để đi bộ về Đà Nẵng, chúng tôi lập tức lệnh cho Sư đoàn 325 cho một trung đoàn vòng ra nam cửa Tư Hiền chặn địch. Nhưng khi các chiến sĩ Sư đoàn 325 đến nơi thì hầu hết bọn địch ở đây đã bị các tiểu đoàn địa phương tỉnh Thừa Thiên đón bắt. Các đồng chí đề nghị Sư đoàn 325 tập trung lực lượng ngăn chặn địch từ Đà Nẵng ra giải vây. Tuy nhiên trên thực tế không có đơn vị nào của địch dám mò ra, vì lúc này Bộ tư lệnh Quân khu 5 đã giải phóng các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Tín. Sư đoàn 325 lợi dụng thời cơ đó cho lực lượng tiến công chiếm cầu Lăng Cô (chân đèo Hải Vân), tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến công thành phố Đà Nẵng sau này. Nhờ chặn đầu được quân địch và bao vây chặt các ngả đường, nên chúng tôi đã tiêu diệt và làm ta rã tại chỗ hầu hết quân địch ở Trị - Thiên - Huế. Một bộ phận nhỏ tàn binh chạy được vào Đà Nẵng không có vũ khí, không thành đơn vị, tâm lý chiến bại không những không tăng cường được gì về sức mạnh mà trái lại càng làm cho thành phố này thêm rối loạn.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Một, 2017, 08:20:08 PM

        Đêm ngày 24 tháng 3 năm 1975, phát huy thắng lợi to lớn của các đơn vị đánh trận, trên hướng chính diện thành phố Huế, chúng tôi quyết định sử dụng Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) nhanh chóng đánh chiếm Phú Bài mở đường cho quân đoàn tiến vào giải phóng Huế. Trung đoàn trưởng Hồ Hữu Lạn đã thực hiện đúng phương án chúng tôi đề ra: dùng một tiểu đoàn vu hồi đánh chiếm quận lỵ Hương Thuỷ; còn đại bộ phận trung đoàn dưới sự yểm trợ hoả lực của đại đội 4 xe tăng, theo đường số 1 tiến công chính diện căn cứ Phú Bài.

        Tảng sáng ngày 25 tháng 3, tiểu đoàn 3 nổ súng đánh chiếm quận lỵ Hương Thủy. Cùng lúc Trung đoàn 101 đánh vào Phú Bài. Địch bị bất ngờ tháo chạy tán loạn, bỏ lại toàn bộ vũ khí trang bị kỹ thuật, trong đó có một đoàn xe cơ giới đang nổ máy. Bộ đội ta thu được ba chiếc xe tăng M48, ba xe bọc thép M113 để tăng cường lực lượng cho mình.

        Sau khi giải phóng Phú Bài và Hương Thủy, Trung đoàn 101, tiếp theo là Trung đoàn bộ binh 3 (sư đoàn 324) có xe tăng đi cùng, được nhân dân địa phương giúp thêm phương tiện (xe lam, xe tải) vận chuyển tiến rất nhanh vào nội đô Huế. Đúng 13 giờ ngày 25 tháng 3 tiểu đội phó trinh sát Nguyễn Văn Phương đã cắm lá cờ chiến thắng lên Phú Văn Lâu. Một bộ phận của Trung đoàn 3 cùng xe tăng, 14 giờ chiều cùng ngày đã chiếm lĩnh sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy ở Mang Cá và tới giải phóng cho hơn 2.000 tù binh chính trị ở nhà lao Thừa Phủ. Ở hướng bắc, các lực lượng của Quân khu Trị - Thiên cũng tràn vào đánh chiếm các mục tiêu trong thành phố. 16 giờ chiều ngày 25 tháng 3 cờ giải phóng đã tung bay khắp thành phố Huế.

        Ngày 27 tháng 3 năm 1975, căn cứ tình hình phát triển hết sức có lợi trên chiến trường Trị - Thiên - Huế và chiến trường Quân khu 5, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã hạ quyết tâm mở chiến dịch giải phóng Đà Nẵng, thành phố quân sự lớn nhất miền Trung Trung Bộ của Mỹ - ngụy. Bộ chỉ huy chiến dịch gồm các anh Lê Trọng Tấn, Chu Huy Mân, Lê Quang Hoà, Giáp Văn Cương. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm toàn bộ Quân đoàn 2, Sư đoàn 2 Quân khu 5 và các lực lượng vũ trang địa phương Quảng Nam - Đà Nẵng. Thời gian ấn định vào ngày 3 tháng 4 năm 1975. Quán triệt ý định và nhiệm vụ trên giao, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đã hạ quyết tâm và sử dụng lực lượng trên từng hướng. Hướng chủ yếu do Sư đoàn 324 và phần lớn Lữ đoàn xe tăng 203 hành tiến theo trục đường 14B vào tây bắc Đà Nẵng. Sư đoàn 304 đảm nhiệm hướng thứ yếu một tiến vào tây Đà Nẵng qua ngả Đại Lộc. Sư đoàn 325 phụ trách hướng thứ yếu hai tiến theo đường 1 qua đèo Hải Vân vào trung tâm thành phố.

        Tận dụng thời gian còn vài ba ngày mới mở chiến dịch, ngày 28 tháng 3 tôi cùng đồng chí Duy Sơn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 324 xin phép Bộ tư lệnh Quân đoàn vào thăm và kiểm tra một vài đơn vị của quân đoàn đang đóng quân trong thành phố Huế vừa được giải phóng. Điểm đầu tiên chúng tôi đến là đồn Mang Cá thủ phủ của Bộ tư lệnh tiền phương Quân đoàn 2 ngụy. Nơi đây gần 100 năm trước quan thượng thư bộ binh Tôn Thất Thuyết đã dấy binh tiến công quân Pháp ở thành phố Huế. Sự nghiệp không thành, ông và một số sĩ phu yêu nước phò vua Hàm Nghi cần vương chống giặc. Dọc đường từ ngõ Thượng Tứ vào đồn Mang Cá chúng tôi như còn nghe đâu đây tiếng thét căm hờn của hàng nghìn quân sĩ yêu nước quyết một phen sống mái với quân thù. Đồng thời, chúng tôi cũng nghe đâu đây văng vẳng rất gần tiếng hô xung phong tiến lên diệt giặc Mỹ của đồng bào và chiến sĩ thành Phú Xuân (đặc biệt là 11 cô gái sông Hương) trong Tết Mậu Thân năm 1968. Sau khi xem Mang Cá, chúng tôi ngược lên chùa Thiên Mụ. Ở đây chúng tôi gặp đồng chí Tâm, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 325 đang nghiên cứu địa hình ở khu vực chùa. Cũng như đồng chí Tâm, chúng tôi không phải là những người sùng đạo thư giãn đi vãn cảnh chùa, mặc dù đây là khu văn hoá lịch sử rất có giá trị. Điều chính khiến chúng tôi lên đây là vì khu này có vị trí khá cao trong thành phố. Đứng ở đây có thể quan sát được toàn cảnh vùng ngoại ô tả, hữu sông Hương, phóng tầm mắt xa tít xuống tận cầu Mới, cầu Tràng Tiền, chợ Đông Ba, Đập Đá, cả Núi Ngự, đền Nam Giao. Địa thế ở đây có vị trí chiến thuật khá lợi hại... Chúng tôi đang mải mê nghe đồng chí cán bộ dân chính địa phương giới thiệu địa hình thì nhận được thư khẩn cấp của đồng chí Nguyễn Hữu An, Tư lệnh quân đoàn. Trong thư đồng chí An cho biết theo lệnh mới của Bộ, quân đoàn không phải chờ đến ngày 3 tháng 4 mới mở chiến dịch mà phải chớp thời cơ địch đang hoang mang rối loạn tấn công ngay. Do thời gian rất gấp đồng chí An báo cho tôi không phải trở về sở chỉ huy nữa mà đi thẳng xuống Sư đoàn 325 để chỉ đạo đơn vị tiến công theo đường 1. Đồng chí cũng cho biết tất cả các trận địa pháo ở đèo Mũi Trâu đã ở tư thế chuẩn bị bắn phá chi viện cho các hướng tiến công vào Đà Nẵng.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Một, 2017, 08:23:15 PM

        Chia tay với đồng chí Duy Sơn, tôi lên xe cùng với đồng chí Tâm vừa đi vừa bàn công việc cho bộ đội tiến công vào ngày mai (29-3). Do lực lượng Sư đoàn 325 còn đứng chân rải rác ở nhiều điểm khác nhau, nên chúng tôi quyết định cho Trung đoàn 18 hiện ở bắc đèo Hải Vân tiến công trước. Tôi và đồng chí Huy, Sư đoàn phó Sư đoàn 325 sẽ đi trực tiếp chỉ đạo trung đoàn này. Hai đồng chí Tâm và Dương (sư đoàn trưởng và chính ủy sư đoàn) khẩn trương tập hợp Trung đoàn 101 đang ở Huế bám theo sau. Để tạo thêm sức mạnh cho Trung đoàn 18 đột phá trong hành tiến, chúng tôi tăng cường thêm 2 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo 130mm của quân đoàn.

        Khi đến ban chỉ huy sư đoàn, tôi và đồng chí Huy khẩn trương tập hợp 2 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo 130 và một số phương tiện chỉ huy đi lên phía trước. Rủi thay vào đến Phù Lưu thì cầu đã bị hỏng do máy bay địch đánh phá. Tôi đành phải để đồng chí Huy vượt trước vào chuẩn bị cho Trung đoàn 18 tiến công vào sáng ngày 29. Còn tôi ở lại chỉ huy các lực lượng sửa cầu thông đường. Chắc các đồng chí sẽ hỏi tại sao tư lệnh phó quân đoàn không đi vào chỉ huy trung đoàn mà lại ở lại sửa cầu. Sự việc cũng đơn giản thôi. Nếu không sửa được cầu, không đưa được tăng và pháo qua thì tôi có đi trước cũng chẳng làm được việc gì. Chỉ huy một trung đoàn chỉ có bộ binh thì chỉ một mình sư đoàn phó là được rồi.

        Sau khi xem xét hiện trường khu vực cầu, đồng chí chủ nhiệm công binh sư đoàn báo cáo nếu tập trung toàn bộ lực lượng và phương tiện kỹ thuật thì có thể sửa chữa xong cầu trước 24 giờ đêm. Tôi khấp khởi mừng thầm, động viên anh em thi công thật khẩn trương. Nhưng đến 4 giờ sáng khi kiểm tra lại cụ thể thì thấy tiến độ thi công đã bị đảo lộn, nhanh nhất cũng phải đến 12 giờ trưa mới thông được cầu. Thật là gay go, tôi nghĩ. Nếu chỉ có đội hình bộ binh hành tiến thì việc vượt qua đèo Hải Vân cũng đã khó khăn, chứ đừng nói đến đánh vào Đà Nẵng. Theo tin trinh sát của Trung đoàn 18 và của Bộ, trên đèo Hải Vân hiện có một lữ đoàn lính thủy đánh bộ đang phòng giữ. Để xử lý tình huống phức tạp này, tôi đành phải để lại đại đội xe tăng T54 và 2 đại đội pháo xe kéo chờ thông cầu vượt sau. Còn tôi cùng đại đội xe tăng lội nước vượt sông tiến vào phía trong.

        Năm giờ sáng ngày 29 tháng 3 tôi gặp đồng chí Huy ở chân đèo Hải Vân rồi cùng nhau bàn cách bố trí đội hình hành tiến chiến đấu. Do thời gian đòi hỏi gấp, với lực lượng hoả lực hiện có, chúng tôi bố trí 7 xe tăng lội nước chở thêm bộ binh đi đầu vừa trinh sát vừa chiến đấu. Chiếc xe còn lại chở tôi và ban chỉ huy Trung đoàn 18. Sư đoàn phó Huy chỉ huy các tiểu đoàn bộ binh bám theo sau. 7 giờ 30 phút chúng tôi tiến gần tới đỉnh đèo Hải Vân thì bắt đầu gặp địch. Chúng dùng súng máy 12,7mm và đại liên bắn chặn quân ta. Như phương án vạch sẵn, xe tăng ta triển khai đội hình chiến đấu. Bộ binh xuống bám theo dãy đồi bên phải trục đường tiến lên phía trước bắn hỗ trợ. Đồng thời tôi điện cho pháo binh Trung đoàn 84 bắn phá vào khu vực phòng ngự của lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ ở các mỏm trên đỉnh đèo. Trước những loạt đạn bắn phá chính xác của hoả lực pháo và xe tăng ta, bọn địch rối loạn hò nhau rút chạy. Lợi dụng tình thế thuận lợi, chúng tôi cho bộ đội vượt lên đỉnh đèo truy kích địch. Nhưng xe pháo của địch vứt ngổn ngang bừa bãi trên đường phía nam đèo đã cản trở đội hình hành tiến. Đang loay hoay tìm cách thông đường thì đồng chí Huy dẫn hai đại đội bộ binh có 4 xe tăng đi kèm đã đuổi kịp chúng tôi. Anh Huy cho biết khi qua căn cứ Lăng Cô, quân ta phát hiện được 4 xe tăng địch còn dùng được, nhưng khốn nỗi không ai biết lái. Không còn cách nào khác anh bèn gọi đám tàn binh đang đi thất thểu trên đường lại dò hỏi, lập tức có ngay bốn tên xung phong lái xe cho ta.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Một, 2017, 08:24:57 PM

        Gặp được đồng chí Huy, lực lượng đột phá của chúng tôi tăng lên đáng kể, có hẳn một tiểu đoàn bộ binh và 12 xe tăng. Với lực lượng có trong tay, một mặt chúng tôi điện về phía sau thúc giục các trung đoàn của Sư đoàn 325 phát triển lên thật nhanh, mặt khác hạ quyết tâm tiếp tục tiến vào thành phố. Tuy địch không chốt chặn cản đường gì lớn, chỉ có một vài toán chốt lẻ tẻ nhưng nhiều đoạn bộ đội phải dừng lại tháo đẩy vật cản nên tốc độ phát triển chậm. Đến 10 giờ 30 phút, chúng tôi mới tới được cầu Nam Ô (chân đèo Hải Vân bắc Đà Nẵng). Đứng trước biển báo cầu chỉ chịu được trọng tải 8 tấn, đại đội trưởng xe tăng tần ngần đề nghị tôi cho công binh mở bến vượt. Nghĩ ngợi giây lát tôi quyết định cho đại đội xe tăng vượt qua cầu từng chiếc một. Lúc đội hình xe qua được hết cầu, đại đội trưởng xe tăng nhìn tôi nói: “Chẳng qua anh lại gặp may như sáng nay thôi”. Tôi không bực mình vì câu nói thành thật của anh bạn trẻ, mà còn từ tốn giải thích lại: Khi thông báo sức tải của một cây cầu, để bảo đảm tuyệt đối an toàn và giữ cầu lâu bền, người ta chỉ đề sức tải bằng 1/3 sức chịu đựng thực tế. Xe tăng của ta 18 tấn qua cầu từng chiếc một sẽ không việc gì. Tất nhiên trong chiến đấu đôi khi phải mạo hiểm. Còn trường hợp sáng nay lại khác, tôi tuy chưa nắm chắc tính năng kỹ, chiến thuật của xe tăng, nhưng cũng biết sơ bộ rằng, khi xe xuống nước, nước rò rỉ vào bao nhiêu (vì xe cũ), xe có máy bơm bơm ra bấy nhiêu. Nếu sáng nay, xe đầu tiên lội nước bị trục trặc thì ta phải tìm cách khác mà vượt, chẳng lẽ đành bó tay sao?

        Khi xe và bộ binh ta vượt qua cầu Nam Ô tiến thẳng vào ngã ba đường 1, nhân dân hai bên đường và ra đón chào bộ đội rất đông. Mọi người vứt lên xe đủ thứ, nào thuốc lá, kẹo, bánh, nước giải khát và rất nhiều hoa quả. Đội hình phát triển trên đoạn đường bắc thành phố khá thuận lợi. Đúng 11 giờ 30 phút chúng tôi gặp Trungđoàn 66 Sư đoàn 304 vừa mới đến. Qua báo cáo của cán bộ Trung đoàn 66, tôi biết thêm Trung đoàn 9 Sư đoàn 304 đã chiếm được sở chỉ huy sư đoàn 3 ngụy.

        Dựa vào kinh nghiệm các chiến dịch trước, nhất là chiến dịch giải phóng Trị - Thiên - Huế, để chặn được bọn địch rút chạy phải nhanh chóng bịt chặt cửa biển nơi rút lui duy nhất còn lại của địch. Sau khi hội ý với các cán bộ có mặt ở khu vực sân bay, chúng tôi quyết tâm đưa một số đơn vị của Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325) và Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) phát triển ra bán đảo Sơn Trà. Số còn lại chốt giữ các vị trí vừa chiếm được. Được các chiến sĩ tự vệ thành dẫn đường, chúng tôi tiến theo đường gần nhất ra bán đảo. Đến cầu Trịnh Minh Thế, chúng tôi gặp cánh quân Sư đoàn 2 Quân khu 5 từ phía nam phát triển lên. Các đồng chí cho biết trên cầu địch đã bỏ chạy, chúng tôi lập tức cho xe và bộ binh vượt cầu sang bán đảo.

        Đúng 13 giờ 30 phút, cánh quân do tôi phụ trách đã vào đến căn cứ lính thủy đánh bộ của địch. Tại đây diễn ra cảnh hỗn độn khủng khiếp chưa từng có. Hàng vạn người (đa số là các sắc lính) đang chen chúc, quát nạt, la khóc ầm ĩ cả trên bến bãi lẫn các tàu thuyền đang hòng thoát ra biển. Để kìm chân chúng, tôi cho các xạ thủ đại liên trên xe bắn uy hiếp nới rộng từ giữa sông vào bờ. Nghe tiếng súng bắn chặn, hàng trăm lính trên các tàu thuyền xô nhau chạy lên bờ, số trên bãi hò hét nhau chạy lên núi Sơn Trà. Trong chốc lát mũi xe tăng tiên phong của ta chiếm lĩnh điểm cao cuối cùng trên bán đảo khống chế toàn bộ số tàu chở đầy lính địch định chạy thoát ra biển. Cùng lúc tôi điện cho Trung đoàn 9 Sư đoàn 304 phát triển vào bên trong, đánh chiếm dọc bờ sông bên chân núi Sơn Trà. Đến 15 giờ, một trung đoàn của Sư đoàn 2 (Quân khu 5) phát triển ra đông bán đảo (Mỹ Khê) bắc sân bay Nước Mặn chốt giữ. Khoảng 19 giờ ngày 29 tháng 3 năm 1975, quân ta đã hoàn toàn làm chủ thành phố Đà Nẵng.

        Buổi tối, sau khi kiểm tra việc bố trí lực lượng, việc canh gác tuần tra và nhất là việc trực chiến bảo đảm không cho tàu thuyền địch lẻn rút chạy ra khơi, tôi định chợp mắt một lúc cho lại sức, vì đã mấy ngày đêm không được nghỉ ngơi. Nhưng thật lạ! Mặc dù thời tiết cuối tháng ba ở đây rất mát, mặt trận cũng đã yên tĩnh, nhưng dù cố gắng thế nào tôi cũng không sao ngủ được. Trong lòng cứ dậy lên bao cảm xúc khác nhau. Mới cách đây vài tháng còn lặn lội giành giật với sư đoàn dù từng thước đất, mỏm đồi trên dãy điểm cao 1062 đông Thượng Đức mà bây giờ đã làm chủ cả một khu căn cứ quân sự lớn nhất miền Trung. Mới trưa hôm qua còn vãn cảnh chùa Thiên Mụ bên dòng sông Hương mà hôm nay đã ngồi ngắm cảnh sông Hàn. Thật đấy mà như mơ...

        Nhờ nắm bắt đúng tình hình địch, ta và nhiệm vụ trên giao, đồng thời chọn đúng hướng tiến công chủ yếu, chọn đúng đối tượng và mục tiêu quan trọng, khi thời cơ xuất hiện, chúng ta đã tiến công nhanh làm cho 10 vạn quân địch dồn về Đà Nẵng không kịp rút chạy. Sau này qua cung tù binh chúng tôi mới biết rằng, ngày 28 tháng 3 khi Bộ Tổng tham mưu ta ra lệnh cho các hướng bắt đầu tiến công vào Đà Nẵng thì Ngô Quang Trưởng, tư lệnh vùng 1 cũng vội vã cho cấp dưới chuẩn bị rút chạy. Chúng tính toán nhanh nhất cũng bốn năm ngày nữa chúng ta mới có khả năng bắt đầu tiến công Đà Nẵng. Với thời gian ấy, chúng đủ sức rút đại bộ phận lực lượng vào phía trong, trước khi ta tiến công, vì mỗi ngày theo đường không và đường thủy chúng di chuyển được một vạn tên. Nhưng tình hình lúc đó đã khác, chúng ta đã khẩn trương, táo bạo xông tới, làm địch hoàn toàn bất ngờ và đã giành được thắng lợi lớn nhất.

        Sáng ngày 31 tháng 3, giữa lúc chúng tôi đang giúp chính quyền và nhân dân địa phương nhanh chóng ổn định tình hình trong thành phố vừa được giải phóng thì nhận được lệnh của Bộ giao các khu vực lại cho các lực lượng vũ trang địa phương chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Ngày 1 tháng 4 năm 1975, trên các vị trí đứng chân ở ngoại vi phía tây thành phố Đà Nẵng, cả quân đoàn được thắng lợi to lớn ở Huế - Đà Nẵng - Tây Nguyên cổ vũ tràn đầy sức xuân, lại háo hức chờ lệnh lên đường chiến đấu tiếp ...


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Một, 2017, 08:20:40 AM

        II. GIẢI PHÓNG CÁC TỈNH CỰC NAM TRUNG BỘ

        Ngày 3 tháng 4 năm 1975, sau khi Quân đoàn 2 chúng tôi ra vị trí mới chờ lệnh chiến đấu tiếp, Bộ tư lệnh chiến dịch Đà Nẵng đã họp phiên đầu tiên, cũng là phiên cuối cùng để tổng kết chiến dịch. Cho đến nay, tôi cứ nghĩ: Nói phiên họp đầu tiên và là phiên cuối cùng để tổng kết một chiến dịch lớn tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn một quân khu với đủ các màu sắc lính kể cũng lạ. Nhưng sự thật thì hoàn toàn như vậy. Ngày 25 tháng 3 Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Bộ tư lệnh chiến dịch, nhưng do tình hình chiến sự lúc bấy giờ chuyển biến hết sức mau lẹ, các đơn vị lại đánh theo mệnh lệnh, đánh theo yêu cầu với thời gian hết sức gấp gáp, nên có Bộ tư lệnh chiến dịch đấy, mà tư lệnh ở một nơi, chính ủy ở một nẻo, chỉ thống nhất chỉ huy qua máy bộ đàm. Nay chiến dịch đã toàn thắng, các vị mới có dịp gặp nhau mở hội nghị tổng kết chiến dịch.

        Những nội dung tổng kết chiến dịch, chúng tôi sẽ trình bày vào một dịp khác. Cái chính sau cuộc họp của Bộ tư lệnh chiến dịch có một không hai này, chúng tôi muốn bàn đến là cuộc gặp gỡ của Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 với anh Lê Trọng Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng để đề đạt một nguyện vọng đề nghị Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cho cả quân đoàn (chứ không phải chỉ có Sư đoàn 325 và Lữ đoàn thiết giáp 203 mà Bộ giao cách đây hai ngày) được tiến về phía Nam tham gia các chiến dịch kế tiếp. Vì hiện nay địch đã củng cố tuyến phòng thủ mạnh từ Phan Rang, Phan Thiết trở vào, Quân đoàn 4 đang gặp khó khăn chưa dứt điểm được Xuân Lộc, Quân đoàn 2 có khả năng cơ động cao, tại sao không đưa toàn bộ Quân đoàn 2 tiến theo đường 1 đánh phá sự phòng thủ của địch ở miền duyên hải “chia lửa” cho Quân đoàn 4 và nếu phá vỡ sự phòng thủ của địch ở phía duyên hải, địch sẽ cơ bản mất khả năng “tử thủ Sài Gòn” ... Nghe chúng tôi báo về đề đạt nguyện vọng, anh Tấn tươi cười đáp: “Ý kiến của các cậu rất đúng. Mình cũng nghĩ thế. Được, mình sẽ ra ngay Hà Nội làm việc. Chiều ngày 5 tháng 4 anh và đồng chí Lê Quang Hoà đã vào lại quân đoàn thay mặt Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ chính thức cho Quân đoàn 2. Hai anh cho biết Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh và Quân đoàn 2 được vào tham gia chiến dịch, tiến quân theo đường số 1, chỉ để lại một sư đoàn ở Trị - Thiên làm dự bị. Hai anh Lê Trọng Tấn và Lê Quang Hoà đều được trên bổ nhiệm Phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ huy cánh Đông (tức cánh đường 1).

        Sau khi được Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ chiến đấu mới, nhất là được trực tiếp tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, cán bộ, chiến sĩ toàn quân đoàn phấn chấn hẳn lên, lao ngay vào công việc chuẩn bị cho các trận đánh cuối cùng vào sào huyệt giặc, với tinh thần “một ngày làm việc bằng 10 năm, 20 năm”, “Tất cả cho chiến đấu, chiến thắng”. Suốt đêm 5 rạng ngày 6 tháng 4, cả Bộ tư lệnh Quân đoàn hầu như không ngủ, vừa lập kế hoạch tiến quân vừa phân công nhau kiểm tra đôn đốc các đơn vị chuẩn bị cho hành quân. Vấn đề nổi cộm nhất trong việc xác lập kế hoạch hành tiến thần tốc lần này là làm sao ngay bây giờ quân đoàn có đủ 1.000 xe vận tải để chuyên chở hàng chục nghìn quân với đầy đủ vật chất trang bị. Đồng thời làm sao trong vòng một đến hai ngày phải khắc phục được 4 đến 5 chiếc cầu lớn trên đường số 1 đã bị địch phá hỏng để phương tiện qua lại. Về xe cộ, sau khi kiểm tra các đơn vị và làm việc với cấp ủy đảng địa phương, quân đoàn đã nắm chắc 600 xe (200 xe thuộc biên chế, 200 xe vừa lấy được của địch, 200 xe còn lại do Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng huy động trong dân). Thấy đơn vị vẫn còn khó khăn về phương tiện cơ động Bộ đã tăng cường cho Quân đoàn 2 một sư đoàn ô tô gần 500 chiếc của Đoàn 559. Với số xe của Bộ tăng cường, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đã yên tâm về phương tiện chuyên chở. Tuy nhiên, khi triển khai đội hình, một số xe ô tô của dân quá bé, vận chuyển không được bao nhiêu. Do vậy, gần một nửa Sư đoàn 304 lại phải dùng tàu của Bộ tư lệnh Hải quân chuyên chở theo đường biển.

        Về đảm bảo đường cơ động cũng khá phức tạp. Sau khi kiểm tra sơ bộ hơn 100km đường số 1 thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, chúng tôi phát hiện được 4 chiếc cầu lớn đã bị địch đánh phá hư hỏng nặng. Trong khi đó trong tay quân đoàn chỉ có một tiểu đoàn cầu phà, đủ bảo đảm được 4 phà và 100m cầu. Với một đội quân trang bị hùng hậu như hiện có, rõ ràng phương tiện cầu phà của quân đoàn không thể đảm bảo được. Để giải quyết vấn đề hóc búa này, Bộ tư lệnh Quân đoàn lại phải dựa vào ba giải pháp: Phương tiện của bản thân, của trên tăng cường và huy động địa phương (kể cả nguồn phương tiện lấy trong kho chiến lợi phẩm). Về phương tiện của Quân đoàn như đã nói ở trên. Riêng trung đoàn cầu phà của Quân khu 4 trên tăng cường cho quân đoàn thì hiện giờ vẫn ở bắc sông Gianh, khó vào kịp để giải quyết công việc kịp thời.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Một, 2017, 08:23:13 AM

        Giữa lúc chúng tôi đang tìm cách khắc phục khó khăn thì may mắn gặp được Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Binh đoàn 559 vào thăm quân đoàn. Qua nghe chúng tôi trình bày và đề đạt nguyện vọng, anh Nguyên tỏ ý thông cảm và nói: “Việc khắc phục cầu phà đường 1 không chỉ trực tiếp giúp Quân đoàn 2 kịp thời tiến vào tham gia chiến dịch lớn, mà cần đảm bảo giao thông giữa hai miền Nam - Bắc” ... Với quyền hạn Tư lệnh binh đoàn vận tải chiến lược và với tác phong làm việc vừa cụ thể vừa cương quyết, trưa ngày 6 tháng 4, sau khi nhẩm tính một hồi, đồng chí hỏi tôi: “Trong căn cứ sư đoàn 3 địch có cầu Be-lây không?”. Tôi trả lời “Có”. Sau đó tôi sốt sắng đề nghị anh chiều nay cho người đến lấy “Không được?” Anh Nguyên cắt ngang lời tôi: “Bây giờ. Nếu tối về cho người đến lấy thì sẽ kéo dài thời gian ngay. Ông còn lạ gì cung cách làm việc của mình. Muốn vào quân đoàn phải qua bốt gác trình giấy tờ. Gặp được trực ban có thể được giải quyết hoặc phải chờ trên. Vào được Bộ tư lệnh có thể gặp ông, cũng có thể gặp người khác, nhanh nhất cuối ngày cũng mới lấy được lệnh xuất kho giao cho mình. Sau đó mình và ông vào kho xem có bao nhiêu nhịp cầu và lệnh luôn cho thủ kho và người khác đúng 15 giờ cho xe Đoàn 559 vào lấy cầu. Đêm nay bọn mình thi công để bảo đảm sáng mai các ông qua sông Thu Bồn bằng cầu ...”.

        Hai vấn đề khó khăn trong hành quân đã được giải quyết. Sáng ngày 7 tháng 4 đơn vị đi đầu của quân đoàn xuất phát. Tôi và anh Nguyễn Công Trang, Phó chính ủy quân đoàn phụ trách bộ phận đi đầu với nhiệm vụ: trong vùng giải phóng liên hệ với địa phương và các đơn vị bạn bổ sung lương thực, đạn dược, xăng dầu; trên khu vực có địch thì tổ chức đánh mở đường. Còn nhớ lúc đến thành phố Quy Nhơn, lượng dự trữ xăng dầu giảm, không đảm bảo cho chặng đường hành tiến tiếp, tôi vào gặp đồng chí Bí thư Tỉnh ủy xin bổ sung. Đồng chí hỏi: “Các đồng chí cần bao nhiêu tất cả?”. Tôi nói: “Chúng tôi có 1.500 xe kể cả xe vận tải, xe chiến đấu và xe công tác, đồng chí cho chúng tôi mỗi xe 200 lít, tất cả là 300 tấn”. Đồng chí Bí thư quyết luôn: “Cứ xuất hết cho các đồng chí bộ đội, địa phương mình dù sao cũng đã giải phóng rồi, cần tạo điều kiện cho các đồng chí ấy làm nhiệm vụ giải phóng những nơi còn lại ...”.

        Với tinh thần thần tốc, thời gian là sức mạnh, với sự giúp đỡ tận tình của địa phương, chúng tôi đến Nha Trang ngày 11 tháng 4 không những với đầy đủ sức mạnh ban đầu mà lại được tăng cường thêm. Không một đồng chí nào, một xe nào chịu nằm lại phía sau. Có nhiều xe hỏng hóc dọc đường nhưng bộ đội vẫn tìm cách sửa chữa để đi. Có một chiếc xe tăng khi chiến đấu ở Trị - Thiên đã bị bắn thủng nòng pháo, các đồng chí trong kíp xe lấy giẻ nút lại chỗ thủng và cho xe đi chiến đấu. Khi phát hiện, tôi cười nói với kíp xe: “Chữa nòng pháo theo kiểu này thì không bắn được đâu”. Kíp trưởng thưa: “Thủ trưởng nói đúng. Nhưng thủ trưởng biết đấy, xe tăng đâu chỉ đánh địch bằng pháo mà còn có cả súng máy, xích xe và lựu đạn. Chúng tôi hành quân vào không chỉ để có mặt mà tham gia chiến đấu thực sự”…

        Sáng ngày 12 tháng 4, chúng tôi được lệnh đến gặp đồng chí Lê Trọng Tấn và đồng chí Lê Quang Hoà - Tư lệnh và Chính ủy cánh Đông (tức cánh tiến quân theo đường 1) để nhận nhiệm vụ chiến đấu. Đồng chí HoàngMinh Thảo, đại diện Bộ tư lệnh Quân khu 5 cũng có mặt ở đây. Sau khi phổ biến nhiệm vụ của Sư đoàn 3 (Quân khu 5) đảm nhiệm tiến công chính vào Phan Rang chiều ngày 13 tháng 4, Bộ tư lệnh cánh Đông đã giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 2: Trên đường tiến quân về phía nam, nếu tốc độ tiến công của Sư đoàn 3 chậm, quân đoàn sẽ tổ chức một mũi tiến công theo đường 1 đánh chiếm Phan Rang - bảo đảm kế hoạch chung của toàn chiến dịch.

        Trải qua hai đêm một ngày chiến đấu, sáng ngày 15 tháng 4 Sư đoàn 3 mới giải quyết được quận lỵ Du Long và phát triển đến cách thị xã Phan Rang 10km. Nếu so với trước đây, tốc độ phát triển chiến đấu như vậy là khá cao, nhưng nay yêu cầu mở đường gấp đúng theo bước phát triển toàn cục thì không thể chấp nhận được. Đồng chí Lê Trọng Tấn và đồng chí Lê Quang Hoà sau khi thống nhất với đồng chí Hoàng Minh Thảo đã lệnh cho chúng tôi dùng Sư đoàn 325 và 1 tiểu đoàn tăng thực hành tiến công theo trục đường 1, kết hợp với Sư đoàn 3 tiếp tục tiến công từ hướng tây và tây bắc.

        Sau khi nhận nhiệm vụ, Tư lệnh Lê Trọng Tấn giới thiệu đồng chí Nam Long, phái viên của Bộ sẽ đi cùng chúng tôi để giúp đỡ chỉ huy. Đồng chí Nam Long đã cùng tôi chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Lúc đó anh là Đại đoàn phó Đại đoàn 304 đi tăng cường chỉ đạo cho Trung đoàn 57 mà tôi là trung đoàn phó. Nay tôi là tư lệnh phó quân đoàn, anh là tư lệnh phó quân khu kiêm đặc phái viên của Bộ lại một lần nữa “năng tương ngộ”. Hai chiến dịch kết thúc hai cuộc chiến tranh, hai chúng tôi cũng gặp nhau trong chặng đường chiến đấu. Sự đời có cái trùng lặp ngẫu nhiên khá thú vị.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Một, 2017, 08:25:34 AM

        Tôi và anh Nam Long cùng bộ phận sở chỉ huy tiền phương quân đoàn đến Sư đoàn 325 vào lúc 17 giờ ngày 15 tháng 4. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh Sư đoàn đang cùng cán bộ các trung đoàn bộ binh, pháo binh, cao xạ và tiểu đoàn xe tăng thảo luận và thống nhất hiệp đồng tác chiến lần cuối. Tôi hỏi đồng chí Tâm, Tư lệnh sư đoàn về giờ G (giờ bắt đầu tiến công). Đồng chí Tâm báo cáo: Chúng tôi ấn định giờ G là 4 giờ 30 phút sáng 16 tháng 4. Lý do? Theo chúng tôi, khi cơ động trên đường trời phải tối để hạn chế phi cơ địch đánh chặn. Ngược lại khi đánh trong thành phố lại phải trời sáng rõ để xe tăng cơ động và phát dương hoả lực, tránh được các loại súng chống tăng loại nhẹ. Hiện nay theo trinh sát báo cáo, Sư đoàn 3 Quân khu 5 còn cách trung tâm thành phố 3km. Dự kiến 4 giờ 30 phút bắt đầu tiến công tiêu diệt tiểu đoàn án ngữ vòng ngoài 1 giờ, 5 giờ 30 phút tiến hành thọc vào thành phố và tử 6 giờ chiến đấu trong thành phố là vừa. Chúng tôi cơ bản đồng ý với kế hoạch của sư đoàn, chỉ điều chỉnh giờ xuất phát đầu tiên (trạm điều chỉnh giao thông 1) là 3 giờ vì từ đây vào tuyến chiến đấu còn 30km.

        Tranh thủ chợp mắt cho lại sức, đúng 2 giờ 30 phút tôi và đồng chí Tâm ra trạm điều chỉnh giao thông để giám sát thời gian và thứ tự hành quân của các khối. Đi đầu là đại đội trinh sát cơ giới ngồi trên xe K63, tiếp theo là ban chỉ huy Trung đoàn 101 và các tiểu đoàn bộ binh, xe tăng và pháo binh. Sở chỉ huy tiền phương quân đoàn, sở chỉ huy cơ bản sư đoàn đi sau 3 tiểu đoàn này. Khóa đuôi đội hình hành quân là 2 tiểu đoàn bộ binh đi xen kẽ với 2 trung đoàn pháo binh và pháo cao xạ.

        Đúng 4 giờ 30 phút thê đội một bắt đầu tiến công vào tiểu đoàn dù án ngữ vòng ngoài. Chúng tôi dừng xe bên đường số 1 để theo dõi diễn biến và chỉ huy cuộc tiến công. Trận đánh phát triển thuận lợi, đúng 5 giờ 30 phút ta đã đánh tan tiểu đoàn dù. Để ngăn chặn cuộc tiến công của quân giải phóng vào thị xã, tảng sáng 16 tháng 4, trên bầu trời không một gợn mây của Phan Rang, từng tốp máy bay từ sân bay Thành Sơn bắt đầu cất cánh đánh vào đội hình hành quân của ta. Sở chỉ huy của sư đoàn và quân đoàn đi giữa đội hình, trong vòng 15 phút bị máy bay địch đánh phá hai lần. Chúng tôi phải cho bộ đội sơ tán sang hai bên đường để tránh bom đạn và điều động tiểu đoàn pháo cao xạ từ phía sau lên đánh trả.

        Ngớt tiếng máy bay đánh phá, tôi quan sát bầu trời phía thị xã bỗng thấy hiện tượng lạ. Hàng mấy chục chiếc máy bay đủ loại: vận tải có, máy bay chiến đấu và cả trực thăng nữa cùng lúc cất cánh bay thấp cao không theo đội hình. Tất cả bay về phía Nam. “Đúng là chúng nó chuồn rồi!”. Tôi nghĩ như vậy và lệnh cho bộ đội lên xe nhanh tiến vào thị xã. Đến gần sân bay gặp đồng chí Tài, Lữ trưởng xe tăng báo cáo tôi mới rõ, khi máy bay địch bay ra đánh vào đội hình phía sau, đồng chí không sơ tán mà vẫn tiếp tục cho bộ đội hành tiến. Vào trung tâm thị xã thấy máy bay địch ở sân bay Thành Sơn nằm phía tây thành phố đang bay ra đánh phá, đồng chí Tài lập tức cho tiểu đoàn tăng quặt phải tiến về sân bay. Đang mải mê chỉ huy quân lính đi đánh phá, bọn lính canh và bọn giặc lái bỗng thấy hàng chục chiếc xe tăng thiết giáp của ta gầm rú vội vàng nhảy lên máy bay giành nhau cất cánh chuồn về phía Nam. Nhưng hầu hết số máy bay còn lại ở sân bay bị hoả lực xe tăng ta kiềm chế đã không cất cánh nổi chịu bắt làm tù binh. Sau khi Sư đoàn 325 và Sư đoàn 3 Quân khu 5 làm chủ thị xã, tôi đã lệnh cho hai tiểu đoàn có 10 xe tăng yểm trợ truy kích bọn địch chạy ra bờ biển Cà Ná. Khoảng 13 giờ chiều, đồng chí Lê Quang Hoà, Chính ủy cánh quân phía Đông ở đường 1 cũng đã vào thị xã khi đây đó còn những vụ chạm súng lẻ tẻ.

        17 tháng 4, giữa lúc chúng tôi đang làm việc với Tỉnh ủy Phan Rang thì được tin anh em Sư đoàn 3 của ta đã bắt được trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh tiền phương quân khu 3 và chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Sang, tư lệnh sư đoàn không quân 6. Sau này có đồng chí hỏi tôi, bọn Vĩnh Nghi có nhiều trực thăng như vậy sao chúng lại không chạy thoát. Tôi đã trả lời đúng như Nghi và Sang đã khai: “Khi các ông tấn công theo đường 1, chúng tôi đã cho máy bay ra đánh phá. Bọn phi công của chúng tôi thấy các ông tản ra ẩn nấp, tưởng là đã đánh tan đội hình. Và chúng tôi cũng tin như vậy. Đến lúc thấy xe tăng của các ông xuất hiện, tôi và chuẩn tướng Sang chạy ra máy bay, nhưng tất cả đều đã muộn, bọn lính lái máy bay của chúng tôi đã chạy hết. Không còn cách nào khác, tôi và Sang phải cải dạng chạy ra biển Cà Ná tìm thuyền vượt. Nhưng bộ đội giải phóng cũng đã tràn ngập ở đây. Thế là chúng tôi hết lối thoát…”.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Một, 2017, 03:48:10 PM

        Sau khi giải phóng hoàn toàn tỉnh Phan Rang, chúng tôi tiếp tục được lệnh tiến về Phan Thiết. Trưa ngày 18 tháng 4, qua phái viên của Bộ tư lệnh Quân khu 5, ban chỉ huy Trung đoàn 812 đến gặp chúng tôi báo cáo lại toàn bộ tình hình ta, địch và địa hình Phan Thiết. Cân nhắc toàn bộ các mặt, chúng tôi quyết định tiến công Phan Thiết vào ban đêm để tránh không quân địch ở Sài Gòn bay ra đánh chặn. Lần này Trung đoàn 18 thay Trung đoàn 101 đảm nhiệm thê đội một, có một tiểu đoàn xe tăng và một tiểu đoàn pháo binh hỗ trợ.

        19 giờ đội hình tiến công xuất quân. Khi Trung đoàn 18 đến gần địch, cơ quan chỉ huy chúng tôi dừng lại và triển khai ngay cạnh đường để chỉ huy. Đúng 20 giờ, sau một đợt pháo bắn dồn dập, xe tăng và bộ binh ta vượt qua cầu đánh chiếm bờ nam. Sau đó một tiểu đoàn bộ binh ở lại đánh để mở rộng đầu cầu, lực lượng còn lại xông thẳng vào thị xã.

        Ở đây tôi cũng cần nói rõ là bắt đầu từ Phan Rang đến Sài Gòn, bộ binh chúng tôi tuy ngồi trên xe ô tô, nhưng cách chiến đấu giống như ngồi trên xe bọc thép, như bộ binh cơ giới. Thông thường bộ binh nếu có xe bọc thép thì ngồi trên xe chiến đấu, chỉ xuống đất khi địch chống cự mạnh, còn ô tô chỉ chở bộ binh đến khu tạm dừng, sau đó đi bộ để tiến vào khu triển khai chiến đấu. Ô tô chỉ là xe vận tải người, không phải là xe chiến đấu. Nhưng ở đây địch yếu nên chúng tôi dùng ô tô đi cùng xe tăng để tiến công, chỉ khi gặp địch chống cự mới xuống xe.

        Khoảng 21 giờ tại cơ quan sở chỉ huy, chúng tôi đã nghe rõ nhiều loạt đạn pháo xe tăng và các loại súng máy bắn nhiều trong thị xã. Đúng 22 giờ nhiều loạt đạn pháo hiệu xanh đỏ được bắn lên, báo hiệu ta đã cơ bản chiếm xong thị xã. Chúng ta lập tức lệnh cho một tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đội tăng tiến ra chiếm cảng Ninh Chữ để chặn đường chạy của địch, các lực lượng khác triển khai chiếm giữ căn cứ và cảnh giới đề phòng địch tập kích, không tiến hành truy quét địch trong đêm. Chỉ huy sở của chúng tôi cũng ở lại tại chỗ không vào thị xã trong đêm.

        Sáng ra, sở chỉ huy tiền phương quân đoàn cùng sở chỉ huy Sư đoàn 325 di chuyển vào trung tâm thị xã. Trên đường đi gặp một số tù nhân của chế độ cũ được ta giải phóng. Một số anh em tù chính trị là cán bộ, quen biết các đồng chí đại diện của Quân khu 6 đi cùng quân đoàn. Anh em đó đề nghị chỉ nên giải phóng tù chính trị, còn giữ tù kinh tế lại để xét và thả sau. Nhưng chúng tôi đã thả hết. Sau này ta quản lý vùng giải phóng mới thấy rõ các đồng chí đề nghị đúng. Trong số tù kinh tế có một số là cướp và lưu manh chuyên nghiệp. Chúng được ta cho ra, nhưng một số lại tiếp tục hành nghề như cũ và đặc biệt đó là đất cho các loại gián điệp nước ngoài lợi dụng. Thậm chí trong số tù kinh tế đó một số là tay sai của bọn cai ngục, chuyên giúp bọn chúng đàn áp anh em chúng ta.

        Nghỉ lại Phan Thiết một ngày đêm, chiều ngày 21 chúng tôi lên đường đi vào rừng Lá phía bắc Xuân Lộc và tập kết ở đây để chờ lệnh mới. Ngày 22, đang nghỉ ngơi và cho người đi tìm đồng chí Lê Trọng Tấn thì đồng chí tham mưu trưởng Quân khu 6 đến gặp chúng tôi, mang theo thư của đồng chí Lê Trọng Tấn. Trong thư đồng chí Lê Trọng Tấn ra lệnh cho Quân đoàn 2 cho một lực lượng đánh Hàm Tân, tỉnh lỵ tỉnh Bình Tuy để hoàn thành việc giải phóng toàn bộ Quân khu 6.

        Khi nhận lệnh, lực lượng cơ bản của quân đoàn đã vượt qua ngã ba đường 1 đi Hàm Tân và vào tập kết ở rừng Lá. Chúng tôi giao nhiệm vụ cho đơn vị đi sau cùng đội hình quân đoàn là Trung đoàn 66 Sư đoàn 304. Đồng chí Bùi Công Ái, Tham mưu trưởng quân đoàn được giao nhiệm vụ tăng cường chỉ huy cho Bộ tư lệnh Sư đoàn 304 để trực tiếp chỉ đạo tác chiến. Các tiểu đoàn tăng đã đi quá đường rẽ xuống Hàm Tân, nếu cho quay lại thì sẽ tốn thêm giờ nổ máy, ảnh hưởng đến chiến dịch lớn về sau, nên chúng tôi chỉ sử dụng 1 tiểu đoàn thiết giáp còn đi phía sau để tăng cường cho Trung đoàn 66. Trước lúc đi, đồng chí Ái phân vân là thiết giáp ta chỉ có súng 12,7mm không đủ sức uy hiếp mạnh quân địch để giải quyết nhanh Hàm Tân. Tôi bàn với đồng chí Ái, tiến công Hàm Tân vào ban đêm, nên chúng ta cũng có thể kèm theo 1 xe thiết giáp 1 khẩu pháo 85. Khi gặp địch xe thiết giáp dừng lại, cho triển khai pháo 85 cạnh thiết giáp để bắn ngắm trực tiếp, như vậy vừa tăng thêm sức mạnh của thiết giáp khi cần phá huỷ các công sự kiên cố đồng thời uy hiếp tinh thần địch.

        Trong việc đánh Hàm Tân có chuyện buồn cười, là Việt Nam thông tấn xã lại “chiếm” trước chúng tôi. Nguyên nhân là trong đêm ngày 21, khi đoàn quân lớn của chúng tôi từ Phan Thiết tiến vào, bọn địch ở Hàm Tân hốt hoảng bỏ chạy. Sau không thấy bộ đội ta vào, ngày 23 chúng lại quay lại Hàm Tân. Sáng ngày 22, khi các đài phương Tây đưa tin địch mất Hàm Tân, đài ta cũng phát lại tin đó, thì Hàm Tân vẫn chưa được giải phóng.

        Đêm ngày 23 tháng 4 ta tiến công Hàm Tân. Lúc bộ đội ta tiếp cận sát thị xã cũng là lúc bọn chỉ huy địch ở Hàm Tân đang liên hoan mừng “chiến thắng”. Nguyên do có “chiến thắng” này là đêm ngày 21 lúc chúng bỏ chạy, chúng báo cáo bị ta tiến công mạnh, chúng phải trì hoãn chiến rút dần về Bà Rịa, tỉnh lỵ Phước Tuy và ngày 22 thấy ta không vào Hàm Tân chúng lại quay lại, và báo cáo, chúng đã phản kích chiếm lại được Hàm Tân. Với “thành tích” đó, một số tên được thưởng huân chương và một số tên được đề bạt lên cấp.

        Trong lúc bọn địch đang hoan hỉ với nhau, thì bọn trinh sát nghe thấy tiếng xe xích của ta, vội vàng vào báo cáo là có “địch” tiếp cận tiến công. Tên chủ nhiệm trinh sát chạy ra ngoài nghe và báo cáo lại là không phải tiếng xe tăng mà chỉ là tiếng xe thiết giáp thôi. Kể ra tên này cũng khá, đến lúc đó vẫn phân biệt được loại xe đang đến gần chúng. Nhưng người nào đấy trong bọn hốt hoảng quá kêu lên: “Đúng là xe tăng rồi, gần lắm rồi”, thế là không ai bảo ai, từ ngài đại tá tỉnh trưởng đến đại tá trung đoàn trưởng không thảo luận, không quyết tâm và không có mệnh lệnh chiến đấu cho ai hết, ba chân bốn cẳng chạy ra xe và phóng một mạch về Bà Rịa.

        Chủ tướng đã chạy, thì tất nhiên quân cũng không dại gì mà đánh nhau. Lúc pháo ta bắn và xe thiết giáp xông lên thì chúng bỏ chạy cả. Đồng chí Ái cũng không kịp áp dụng chiến thuật dùng xe thiết giáp với pháo 85 thay cho xe tăng. Quân ta nhanh chóng làm chủ thị xã.

        Giai đoạn vừa hành quân vừa chiến đấu của chúng tôi từ Đà Nẵng vào đến đây đã kết thúc. Thành phố Sài Gòn đã trước mắt và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đang đón chờ chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Một, 2017, 04:41:31 PM

        III. THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

        Chín giờ sáng ngày 22 tháng 4, sau khi giao nhiệm vụ cho đồng chí Ái đi đánh Hàm Tân, chúng tôi lên đường vào sở chỉ huy cánh Đông để gặp đồng chí Lê Trọng Tấn và đồng chí Lê Quang Hoà. Đến nơi, ngoài đồng chí Tấn và đồng chí Hoà, chúng tôi đã thấy đông đủ các đồng chí Bộ tư lệnh Quân đoàn 4, các đồng chí đại diện các quân binh chủng và đồng chí Hai Nhã, phái viên của Bộ chỉ huy chiến dịch. Toàn là những đồng chí quen biết cũ, lâu ngày gặp nhau, nên phải mất một thời gian nói chuyện thăm hỏi rồi mới bắt tay vào công việc.

        Đồng chí Hai Nhã, phái viên của Bộ chỉ huy chiến dịch phổ biến cho chúng tôi ý định chung của chiến dịch mang tên Bác và nhiệm vụ của cánh Đông. Lực lượng chiến dịch rất lớn gồm 5 quân đoàn (các quân đoàn 1, 2, 3, 4 và Đoàn 232 – tương đương một quân đoàn) và đơn vị địa phương của Quân khu 7. Trong lúc theo dõi việc phổ biến ý định chiến dịch, tôi đặc biệt quan tâm về thời gian bắt đầu chiến dịch. Các đơn vị bạn đã tề tựu xung quanh Sài Gòn nhiều ngày trước, riêng Quân đoàn 2 chúng tôi thì đang quá trình tập kết lực lượng. Tôi hơi yên tâm là chiến dịch sẽ bắt đầu vào đêm ngày 26. Như vậy từ nay đến đó chúng tôi còn bốn ngày đêm. Bốn ngày đêm thì gấp thật, nhưng trong hoàn cảnh hiện nay cũng là quý hoá lắm rồi. Về nhiệm vụ, cánh Đông có vinh dự được phân công chiếm quận 1 trong đó có dinh Độc Lập và hầu hết các cơ quan chính quyền của chúng như nghị viện, bộ quốc phòng, v.v...

        Sau khi đồng chí Hai Nhã phổ biến xong, đồng chí Tấn mời đồng chí Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4, người đã ở lâu và quen thuộc mọi mặt ở đây, phát biểu ý kiến đầu tiên về quyết tâm tác chiến của cánh Đông. Đồng chí Hoàng Cầm đã mang theo cả một kế hoạch hoàn chỉnh của cánh Đông kèm theo cả bản đồ quyết tâm. Liếc nhìn bản đồ, chúng tôi hiểu ngay đồng chí làm kế hoạch theo tình hình mấy ngày trước, tức cánh Đông chỉ có quân đoàn của đồng chí là chủ yếu, còn lực lượng đang tiến quân trên đường 1 thì chỉ có nhiệm vụ đánh chiếm Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi báo cáo, đồng chí Hoàng Cầm vẫn báo cáo theo kế hoạch đã vạch sẵn của đồng chí. Chỉ khác là sau khi biết cánh quân đường 1 có đủ 3 sư đoàn, đồng chí đề nghị dùng 1 sư đoàn đánh Bà Rịa - Vũng Tàu, 1 sư đoàn tăng cường cho quân đoàn đồng chí làm dự bị, còn 1 sư đoàn làm dự bị chung cho chiến dịch. Chúng tôi trong Bộ tư lệnh Quân đoàn tuy không ai nói với ai, nhưng đều thấy không ổn. Nếu như đồng chí Hoàng Cầm đề nghị, thì không còn danh nghĩa Quân đoàn 2 nữa, các sư đoàn đều xẻ ra dùng vào các nhiệm vụ khác nhau. Chúng ta đều biết sức mạnh quân đoàn không phải chỉ ở ba sư đoàn bộ binh mà còn các binh chủng chiến đấu và nhất là còn Bộ tư lệnh Quân đoàn với các phương tiện chỉ huy và bảo đảm của nó.

        Sau khi đồng chí Hoàng Cầm trình bày xong, đồng chí Lê Trọng Tấn và đồng chí Lê Quang Hoà đều thấy cần phải bàn thêm nhiều, nên đã chủ động cho nghỉ và chỉ thị cơ quan cũng như các đồng chí trong hai Bộ tư lệnh suy nghĩ thêm rồi chiều thảo luận. Cả buổi trưa chúng tôi phải tranh thủ làm hai việc. Một là thảo luận để thống nhất trong Bộ tư lệnh Quân đoàn phương án tác chiến và tranh thủ sự đồng tình của các đồng chí trong cơ quan của Bộ tư lệnh cánh Đông.

        Đúng 15 giờ chúng tôi họp lại. Đồng chí Nguyễn Hữu An thay mặt Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 trình bày phương án của quân đoàn. Chúng tôi đề nghị sử dụng cả hai quân đoàn ở thê đội 1. Quân đoàn 4 đột phá cánh phải vào Biên Hoà dọc theo đường 1 vào thẳng dinh Độc Lập. Quân đoàn 2 đột phá cánh trái vào Nước Trong, Long Bình theo xa lộ Biên Hoà - Sài Gòn vào khu vực bộ tư lệnh hải quân và cảng Sài Gòn. Quân đoàn tách 1 sư đoàn đánh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đánh theo cách này sẽ tạo ra sức mạnh đột phá ban đầu và sau đó hai mũi song song đột kích sẽ hỗ trợ cho nhau thuận lợi trong quá trình phát triển tiến công.

        Sau khi chúng tôi trình bày phương án, các đồng chí cơ quan chiến dịch đều ủng hộ. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 cũng đồng ý với chúng tôi. Đồng chí Hoàng Cầm cười nói: “Vì phương án đã chuẩn bị sẵn, các sư đoàn cũng đã chuẩn bị theo phương án đó. Hơn nữa cũng không rõ tình hình Quân đoàn 2 và nhất là Quân đoàn 2 mới vào chưa chuẩn bị kịp. Nay được biết Quân đoàn 2 có đủ 3 sư đoàn, các đơn vị pháo, tăng, vào đầy đủ, bản thân Bộ tư lệnh Quân đoàn thấy chuẩn bị kịp thì Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 cũng hoàn toàn ủng hộ phương án, dùng cả 2 quân đoàn ở thê đội một, song song đột kích”. Đồng chí Tấn và đồng chí Hoà trao đổi với nhau và nhanh chóng thông qua phương án tác chiến, dùng hai quân đoàn cùng đột kích một lúc.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Một, 2017, 04:44:07 PM

        Bước sang phần tổ chức hiệp đồng, có một việc tế nhị là Quân đoàn 4 được phân công đánh chiếm dinh Độc Lập, nhưng quân số và trang bị của Quân đoàn 4 đều ít hơn Quân đoàn 2, hơn nữa Quân đoàn 2 đã có nhiều kinh nghiệm đột phá nhanh trong hành tiến qua các trận Đà Nẵng, Phan Rang, Phan Thiết; vì vậy, có nhiều khả năng Quân đoàn 2 sẽ vào trước. Lẽ dĩ nhiên Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 không nêu vấn đề này ra, vì lúc này ai cũng muốn đơn vị mình lập được nhiều thành tích lớn nhất. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 cùng cảm thấy khả năng Quân đoàn 2 vào trước có thể xảy ra, nhưng đơn vị nào cũng thấy bản thân mình phải phát huy nỗ lực cao nhất, nên cũng không nêu ra trường hợp Quân đoàn 2 vào trước thì có vào dinh Độc Lập không. Cuối cùng đồng chí Ngô Hùng, phụ trách cơ quan tham mưu của cánh Đông nêu lên vấn đề: Nếu Quân đoàn 4 tiến chậm thì Quân đoàn 2 vẫn tiến thẳng hay đánh vòng sang phải để chi viện cho Quân đoàn 4 tiến lên nhanh. Đồng chí Lê Trọng Tấn trả lời là, trong song song đột kích, cách chi viện cho nhau tốt nhất là cứ thọc sâu vào phía trong, không đánh quặt sang phải sang trái. Lý lẽ như vậy thì không ai có thể tranh cãi được rồi. Vì vậy vấn đề được thông qua. Sau hội nghị, đồng chí Ngô Hùng có nói riêng với đồng chí Lê Trọng Tấn, nếu từng đơn vị cứ thọc nhanh vào trong, thì Quân đoàn 2 sẽ vào trước. Đồng chí Tấn nói, ai vào cũng được, đơn vị nào cũng đều là Quân đội nhân dân Việt Nam cả, vấn đề là phải vào thật nhanh, phải đánh chiếm dinh Độc Lập càng sớm càng tốt, sớm được giờ phút nào thì đỡ xương máu cho bộ đội, đỡ tàn phá cho thành phố.

        Sau khi kết luận những điểm chính về hiệp đồng và chỉ thị thêm những điểm cần thiết về tổ chức bảo đảm, đồng chí Lê Trọng Tấn thông báo theo quyết định của Bộ chỉ huy chiến dịch trực tiếp nắm các quân đoàn. Đồng chí Lê Quang Hoà đi trong đội hình Bộ chỉ huy chiến dịch, còn đồng chí Lê Trọng Tấn và một số cán bộ vẫn ở lại hướng Đông để đôn đốc và tổ chức hiệp đồng tác chiến giữa Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4.

        19 giờ ngày 22 chúng tôi về đến cơ quan quân đoàn. Tính toán thời gian thì nhất thiết sáng ngày 23 phải họp với các sư đoàn, lữ đoàn phải giao nhiệm vụ và tổ chức hiệp đồng, bảo đảm cho các sư đoàn chiều ngày 23 về đến đơn vị. Như vậy bảo đảm cho họ có 2 ngày đêm để tổ chức chiến đấu từ sư đoàn đến đại đội, vì đêm ngày 25 tất cả các đơn vị đều phải vào vị trí chiến đấu để bảo đảm bắt đầu tiến công vào 18 giờ ngày 26 theo kế hoạch của Bộ chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Ái đi vắng, tôi phải làm công tác của tham mưu trưởng. Cùng với cơ quan tác chiến, chúng tôi vạch ngay thời gian công tác thật chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc để bảo đảm 7 giờ sáng ngày 23 hoàn thành mọi công tác tổ chức tác chiến của cấp quân đoàn. Cơ quan tham mưu phải hoàn thành dự kiến quyết tâm trước 23 giờ. Từ 23 giờ ngày 22 đến 1 giờ ngày 23 họp Đảng ủy và từ sau họp Đảng ủy cho đến lúc trời sáng chúng tôi phải hoàn chỉnh lại quyết tâm, làm kế hoạch tác chiến, làm các kế hoạch và chỉ thị về công tác bảo đảm.

        Quyết tâm tác chiến của Quân đoàn 2 gồm các nội dung chính sau đây:

        - Hướng tiến công chủ yếu của quân đoàn là hướng Nước Trong, Long Bình, sau đó theo xa lộ Biên Hoà - Sài Gòn vào thẳng quận 1. Hướng thứ yếu là hướng Long Thành, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ và vượt sông sang quận 9. Sư đoàn 3 được tăng cường 1 đại đội tăng, 1 tiểu đoàn pháo nòng dài đảm nhiệm đánh Bà Rịa - Vũng Tàu, thành một hướng riêng, mang tính chất độc lập chiến đấu, nên không đưa vào kế hoạch tiến công của quân đoàn trên hướng Sài Gòn.

        - Nhiệm vụ trước mắt đánh chiếm toàn bộ căn cứ địch ở tả ngạn sông Đồng Nai, nhiệm vụ tiếp sau thọc nhanh vào Sài Gòn đánh chiếm một phần quận 1, quận 9 và quận 4. Trong quá trình chiến đấu triển khai pháo ở Nhơn Trạch để bắn sân bay Tân Sơn Nhất vào sáng ngày 29 tháng 4 và chiếm được các cầu xa lộ bảo đảm không bị địch phá trong đêm ngày 28.

        - Nhiệm vụ các đơn vị: Sư đoàn 304 tiến công trên hướng chủ yếu; Sư đoàn 325 tiến công trên hướng thứ yếu; lữ đoàn tăng 203 được tăng cường 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn cao xạ, 1 tiểu đoàn vượt sông, làm nhiệm vụ cơ động thọc sâu, tiến vào chiến đấu từ cầu Biên Hoà trên xa lộ. Trung đoàn đặc công phải chiếm được 2 cầu chính trên xa lộ và giữ vững các cầu đó để bảo đảm cho binh đoàn thọc sâu tiến công qua cầu (nếu cầu bị phá phải qua phà thì rõ ràng sẽ chậm hơn tất cả các hướng); lữ đoàn pháo binh ngoài việc tổ chức thành cụm pháo quân đoàn, phải chuẩn bị sẵn 1 tiểu đoàn đi theo sau ngay trung đoàn thê đội 1 của Sư đoàn 325 để chiếm lĩnh trận địa Nhơn Trạch, bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Hai, 2017, 09:54:19 AM

        Trong việc hiệp đồng, khó khăn nhất là hiệp đồng với trung đoàn đặc công. Trung đoàn đặc công với chúng tôi không có phương tiện thông tin để chỉ huy chặt chẽ từng giờ từng ngày. Chúng tôi cũng chưa tính toán được dứt khoát sẽ vượt các cầu trên xa lộ vào ngày nào, có thể là đêm ngày 28 hoặc ngày 29 và cũng có trường hợp đến đêm ngày 30. Trung đoàn đặc công yêu cầu cho biết trước, chiếm cầu vào đêm nào. Nếu chiếm sớm quá thì đặc công không đủ sức giữ lâu. Cuối cùng chúng tôi thống nhất chiếm cầu vào đêm ngày 28 vì anh em đặc công, tuy chưa phòng ngự bao giờ, nhưng đây là chiến dịch cuối cùng, nên anh em hạ quyết tâm nếu cần sẽ chiến đấu bảo vệ cầu trong một ngày đêm, chứ không phải mấy tiếng đồng hồ như trước đây. Cuối cùng còn vấn đề nhận nhau giữa xe tăng và đặc công. Khi tiến đến bắc cầu làm sao biết bờ nam là ta hay địch, trong lúc đứng về mặt chiến đấu, trước khi vượt qua cầu lại phải dùng toàn bộ hoả lực bắn thật mạnh vào bờ đối diện để tiêu diệt và chế áp quân địch đến mức tối đa bảo đảm an toàn cho bộ đội vượt qua cầu. Nếu không nhận rõ bờ nam đặc công đã chiếm hay chưa thì sẽ xảy ra tình trạng hoặc chế áp pháo binh vào đội hình của đặc công, hoặc sẽ bị địch còn ở bờ nam bắn vào xe tăng. Chúng tôi chủ trương khi đến bờ bắc trước lúc dùng pháo chế áp, xe tăng sẽ dùng súng máy phòng không 12,7mm bắn qua cầu, nếu có địch chúng sẽ bắn sang bờ bắc hoặc chúng im lặng để chờ ta ra giữa cầu mới bắn, như vậy trường hợp có súng bắn sang hoặc im lặng là không có đặc công ở bờ nam, ta cứ cho pháo binh chế áp để chi viện cho xe tăng vượt cầu. Nếu đặc công đã chiếm bờ nam thì họ sẽ bắn pháo hiệu và dùng tiểu liên bắn đạn vạch đường về hướng Sài Gòn chứ không phải bắn ra bờ bắc. Với quy ước như vậy, chắc chắn sẽ không bắn nhầm nhau. Tôi còn lo sau khi họp xong các đồng chí chỉ huy đặc công có truyền đạt được cụ thể những vấn đề hiệp đồng đến các đại đội chiến đấu không. Thực tế sau này chứng minh là những dự tính của chúng tôi đều phù hợp, đặc công chiếm cầu đêm ngày 28 và họ đã khống chế cầu suốt ngày 29 đến đêm ngày 29 chúng tôi qua cầu và cũng không xảy ra trường hợp nào bắn nhầm nhau.

        Sáng ngày 23 tất cả cán bộ sư đoàn, các lữ đoàn, trung đoàn trực thuộc đều có mặt để nghe phổ biến quyết tâm của quân đoàn và nhận nhiệm vụ. Hội nghị giao nhiệm vụ kết thúc ngay buổi sáng. Tất cả cán bộ cũng chỉ biết nhiệm vụ giao như vậy, hiệp đồng như vậy, chứ họ cũng không có thời gian để phát biểu thắc mắc này, yêu cầu nọ như các chiến dịch trước. Họ nóng lòng trở về đơn vị, vì mọi việc tổ chức chiến đấu trên bản đồ của 2 cấp sư đoàn và trung đoàn phải xong trong ngày 24, bảo đảm cho các cán bộ từ sư đoàn đến đại đội, đi trinh sát thực địa trong ngày 25 để đêm ngày 25 đưa bộ đội vào vị trí xuất phát tiến công. Nhiệm vụ của cấp tiểu đoàn và đại đội được giao tại thực địa trong quá trình trinh sát.

        Khó khăn của tất cả các đơn vị trong quân đoàn là chưa biết một tí gì về địa hình. Quân khu 7 phái đồng chí Út Liêm, cùng một số cán bộ tham mưu đến quân đoàn và sau hội nghị được phái trực tiếp xuống các sư đoàn để cùng các sư đoàn đi trinh sát. Các đồng chí vừa dẫn đường cho các trung đoàn đến ngay khu vực tác chiến vừa giới thiệu tình hình địch và địa hình. Với tác phong khẩn trương và kiên quyết, cứ đi thẳng đến chỗ có địch và nắm địch, nắm địa hình, vạch kế hoạch triển khai lực lượng và đột phá. Các sư đoàn đều báo cáo đã giao nhiệm vụ được cho các tiểu đoàn, đại đội tại thực địa và đêm ngày 25, các đơn vị đều tiến vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công của mình. Quân đoàn đã hoàn thành bước tổ chức và chuẩn bị chiến dịch đúng thời gian quy định.

        Trong lúc ngồi tại sở chỉ huy quân đoàn, trong rừng cao su bên cạnh đường Xuân Lộc - Bà Rịa, theo dõi việc triển khai lực lượng của các đơn vị, nắm lại toàn bộ lực lượng và cơ sở vật chất, nhất là số lượng xe pháo và đạn dược, bản thân tôi cũng không khỏi ngạc nhiên là tuy phải hành quân xa, phải vừa đi vừa chiến đấu, nhưng đến lúc này lực lượng chúng tôi lại mạnh hơn bao giờ hết. Các sư đoàn bộ binh cũng như các lữ đoàn tăng, lữ đoàn pháo đều có trang bị mạnh hơn lúc tiến công Huế hay tiến công Đà Nẵng. Tất nhiên trước hết chúng tôi lấy được nhiều xe nhiều pháo, nhiều đạn dược của địch để trang bị thêm cho mình, nhưng điều đặc biệt là không một ai chịu rời lại phía sau, kể cả người bị thương người đau ốm. Không ai muốn bỏ lại một khẩu pháo, một chiếc xe nào dù xe pháo đó đã bị hư hỏng ít nhiều. Trước chúng ta thường nêu khẩu hiệu càng đánh càng mạnh. Khẩu hiệu đó nói cho toàn bộ cuộc chiến tranh thì đúng, nhưng nói trong chiến dịch thì thấy không rõ. Trong một chiến dịch chúng tôi chỉ thấy càng đánh, người và trang bị đều hao hụt dần, càng đánh càng thấy yếu đi. Đây là lần đầu tiên trong một chiến dịch, trong 2-3 chiến dịch kế tiếp liên tục không có thời gian nghỉ, không có điều kiện bổ sung người cũng như trang bị, nhưng rõ ràng ở đây thì đúng là càng đánh càng mạnh.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Hai, 2017, 09:56:44 AM

        Hướng đông bắt đầu tiến công vào chiều ngày 26 tháng 4, tức tiến công sớm hơn các hướng khác hai ngày, nhằm mục đích kéo địch sang hướng này tạo điều kiệu cho hướng bắc, hướng chủ yếu của chiến dịch đột phá nhanh chóng vào trung tâm thành phố, đồng thời chiếm các căn cứ trên tả ngạn sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, ngăn chặn địch rút ra biển. Bộ chỉ huy chiến dịch dự kiến hướng rút chính của chúng là theo đường sông ra biển. Khả năng rút chạy về miền Tây cũng khó vì lúc này quân ta đã chiếm lộ 4. Rút bằng đường không thì phương tiện của chúng hạn chế và chúng ta cũng có nhiều khả năng phá huỷ sân bay, cắt đường không.

        Đêm 26 cả hai sư đoàn đều tiến công có kết quả. Sư đoàn 304 chiếm được căn cứ Nước Trong (trường huấn luyện thiết giáp của địch), Sư đoàn 325 chiếm được quận lỵ Long Thành. Bốn giờ sáng ngày 27, sở chỉ huy cơ bản chúng tôi di chuyển từ khu vực cạnh đường Xuân Lộc - Bà Rịa, lên căn cứ Nước Trong thì đồng chí Ân, quyền Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 ra đón và yêu cầu chúng tôi lùi lại phía sau một ít, vì tại đây đã có chỉ huy sở sư đoàn và tại sườn nam căn cứ cách đây 400m ta và địch đang giao chiến. Chúng tôi cho xe lùi lại 500m và triển khai tạm trong rừng cao su. Tám giờ địch còn cho phi cơ ra oanh tạc vào đội hình Sư đoàn 304 và sở chỉ huy quân đoàn. Chúng tôi nhảy xuống một số đường hào xung quanh rừng cao su nên chỉ bị thương mấy đồng chí, không ai hy sinh. Nhờ có phi cơ địch thúc giục nên chỉ sau một giờ chúng tôi đã có hào ẩn nấp và các đồng chí công binh đẵn cây tại chỗ làm thêm được 3-4 hầm kèo.

        Trong ngày 27, sau khi nắm rõ diễn biến chiến đấu ở cả 3 sư đoàn, kết hợp với việc liên lạc nắm tình hình Quân đoàn 4 tiến công trên quốc lộ 1 về hướng Trảng Bom, thị xã Biên Hoà, chúng tôi được biết, do ta mới tiến công ở hướng đông nên địch chống trả quyết liệt, cố ngăn chặn ta tiến vào trung tâm thành phố. Trên hướng Quân đoàn 2 cũng như Quân đoàn 4 tốc độ tiến công đều bị chậm lại, có sư đoàn gần như giậm chân tại chỗ. Sau này khi kết thúc chiến tranh, nhiều đồng chí nghĩ rằng ta đánh vào thành phố Sài Gòn như đánh vào chỗ không người, địch không có chống cự gì. Tôi cần nói rõ là những đồng chí đó không nắm được tình hình cụ thể diễn ra trên chiến trường. Trong suốt quá trình tiến công, nơi nào ta chưa tập trung đủ lực lượng tuyệt đối ưu thế, đánh địch trên nhiều hướng cùng một lúc thì vẫn gặp sự chống trả mạnh của địch.

        Chiến sự diễn ra rất gay go, ta phải giành đi giật lại ở nhiều nơi: Quân đoàn 2 đột phá để cắt đường số 1 bắc đèo Hải Vân, Sư đoàn 3 tiến công Phan Rang, Quân đoàn 4 tiến công Xuân Lộc và lúc này đây, ở ngay trước cửa ngõ Sài Gòn.

        Trong đêm ngày 27 tháng 4 cũng đã có đồng chí nêu ý kiến cho binh đoàn thọc sâu, tức Lữ đoàn 203 tăng thiết giáp vào đánh ngay để mở đường thọc vào trung tâm Sài Gòn. Phân tích tình hình chúng tôi thấy trong hai ngày 27 và 28, lúc các hướng chưa đồng loạt tiến công nếu đưa thêm 1 lữ đoàn thì cũng chỉ tiêu hao thêm lực lượng và nhất là khi thời cơ đến không còn lực lượng mạnh để thọc sâu. Vì vậy chúng tôi chỉ lệnh cho Sư đoàn 304 tiếp tục đột phá chính diện và Trung đoàn 24 đánh vu hồi địch ở Nước Trong để bao vây chúng, mở đường cho chủ lực tránh Nước Trong đi thẳng lên Long Bình để tiếp cận xa lộ, lệnh cho Sư đoàn 325 đưa một lực lượng bảo vệ đường để cho pháo binh nhanh chóng lên chiếm trận địa ở Nhơn Trạch, bảo đảm bắn được vào Sài Gòn và sân bay Tân Sơn Nhất trong ngày 29 tháng 4 theo như mệnh lệnh và kế hoạch trên giao.

        Suốt ngày 28, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ở khu Nước Trong và Nhơn Trạch, nhưng cho đến đêm thì cơ bản ta làm chủ được Nước Trong, Nhơn Trạch, bảo đảm cho Sư đoàn 304 ngày 29 tiến đánh Long Bình và Sư đoàn 325 đưa pháo binh lên Nhơn Trạch.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2017, 01:04:25 AM

        Sáng ngày 29, ngày tổng tiến công của tất cả các hướng. Tôi từ chỉ huy sở cơ bản quân đoàn đi lên phía Sư đoàn 325, chủ yếu để kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của tiểu đoàn pháo nòng dài, tiểu đoàn có nhiệm vụ bắn sân bay Tân Sơn Nhất. Đến nơi, tôi thấy tiểu đoàn đã bắt đầu bắn vào sân bay, hoàn thành nhiệm vụ triệt hẳn việc sử dụng sân bay của địch, sau khi không quân ta đã đánh phá ngày 28 tháng 4. Trên trời trực thăng bay liên tục để di tản bọn Mỹ - ngụy ra các tàu biển. Chúng bay từ trung tâm thành phố theo hướng đông nam để ra biển nên tránh được hoả lực các loại của Sư đoàn 325. Thật đáng tiếc, một số tên gây tội ác lớn nhất đã có thể chạy thoát. Bọn địch cũng biết chỉ có trực thăng thì không chở được bao nhiêu, nên chúng tổ chức thêm một đường rút khác là đường theo sông Đồng Nai và sông Sài Gòn ra sông Lòng Tàu để ra biển. Bộ đội ta đã ở trên bờ sông, nhưng các loại pháo của ta còn ở phía sau. Chúng tôi chỉ có 1 tiểu đoàn pháo nòng dài ở Nhơn Trạch nhưng lại thiếu thiết bị để bắn vào sân bay nên không bắn xuống sông được. Nếu cho các đại đội pháo này di chuyển ra bờ sông thì vừa có thể không kịp vừa có thể không hoàn thành nhiệm vụ khống chế sân bay. Biện pháp cuối cùng đã được áp dụng, chuyển cao xạ 37mm ra bờ sông và chúc nòng bắn xuống sông, việc bảo vệ pháo mặt đất trong ngày 29 thực ra cũng không cần thiết. Đoàn tàu địch hơn 60 chiếc bắt đầu đến. Pháo cao xạ bắn, súng máy bắn, ĐKZ bắn và tiểu liên ta cũng bắn rất nhiều. Tôi hỏi một chiến sĩ “tiểu liên bắn thì ăn thua gì?” đồng chí đó trả lời “bắn cho khí thế”. Tôi cũng không hiểu khí thế là gì. Thực ra súng bắn nhiều quá chúng tôi không làm sao chuyển lệnh cho các khẩu cao xạ 37mm và ĐKZ là những loại súng có hiệu lực, có thể bắn chìm loại tàu nhẹ của địch được, vì vậy pháo ta bắn không thật tập trung vào các chiếc đi đầu để đánh chìm nó và bắt các chiếc sau quay lại. Hơn mười chiếc chạy thoát, mấy chiếc hỏng máy nằm lại tại chỗ, một số bắt đầu chìm, số còn lại buộc phải quay lại Sài Gòn. Nhiệm vụ chặn địch trên sông hoàn thành không thật xuất sắc. Từ 16 giờ ngày 29 tháng 4 không còn chiếc nào liều mạng tháo chạy ra biển nữa.

        Sau khi đánh chiếm thành Tuy Hạ, Sư đoàn 325 tổ chức vượt sông. Tôi và đồng chí Tâm, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 325 cho xe vượt lên và đến bờ sông Sài Gòn khoảng 1 giờ ngày 30 tháng 4. Không một chiếc thuyền nào bên bờ ta. Sông rộng mênh mông. Chỉ có cách duy nhất là điều tiểu đoàn cầu phà lên để ghép phà. Tôi nói với đồng chí Tâm: Có lẽ sau ba giờ nữa tức gần sáng các cậu mới vượt được. Khả năng vào trung tâm thành phố trước các đơn vị khác không còn, nhưng cố gắng trong ngày 30 chiếm xong khu vực Nhà Bè và quận 9 theo như phân công. Nếu sớm hơn thì vào chiếm khu vực Cảng Sài Gòn, căn cứ thủy quân, xưởng Ba Son. Sau khi thảo luận xong việc vượt sông với đồng chí Tâm, tự thấy việc đôn đốc pháo bắn vào Tân Sơn Nhất, đôn đốc việc chặn địch rút theo hướng đường sông đã hoàn thành, tôi trở lại sở chỉ huy quân đoàn. Đồng chí Lê Linh và đồng chí Nam Long nắm được tình hình các sư đoàn và các quân đoàn bạn. Qua hai đồng chí tôi được biết: Trong phạm vi quân đoàn, Sư đoàn 304 đã hoàn thành chiếm căn cứ Long Bình và binh đoàn cơ động thọc sâu đang chuẩn bị để nổ súng vượt sông Đồng Nai. Cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai vẫn còn. Trên hướng Vũng Tàu cầu bị phá, nhưng sư đoàn đã dùng thuyền vượt qua sông trên nhiều đoạn. Sư đoàn hiện đang đi bộ để tiếp cận thị xã Vũng Tàu. Các quân đoàn bạn, Quân đoàn 4 đã vào thị xã Biên Hoà, nghe nói cầu đường 1 qua sông Đồng Nai bị gãy, không biết Quân đoàn 4 xử trí như thế nào ...

        Điều cần chú ý là Quân đoàn 3 đã đến cách sân bay Tân Sơn Nhất 3km và như vậy chỉ cách dinh Độc Lập 9-10km, trong lúc đó Quân đoàn 2 còn cách hơn 30km. Sau này chúng tôi được biết, không riêng chúng tôi mà cả 5 mũi tiến công, ai cũng muốn hoàn thành sớm nhiệm vụ của mình theo sự phân công và sau đó ai cũng muốn đưa đơn vị mình vào dinh Độc Lập trước.

        Sáu giờ ngày 30 tháng 4. Tiếng súng lại rộ lên ở tất cả các hướng. Trực thăng địch không nhiều, nhưng vẫn còn một số tiếp tục bốc người ra biển. Làm việc gì ở sở chỉ huy cơ bản bây giờ. Tiếp nhận báo cáo sư đoàn để báo cáo lên trên và thông báo cho các sư đoàn tình hình các đơn vị bạn, ngoài ra không biết làm gì hơn. Tình hình chuyển biến mau lẹ quá. Một số việc do các sư đoàn ở phía trước tự lo liệu giải quyết. Mọi mệnh lệnh từ phía sau lên đều trở nên lạc hậu. Trên hướng chủ yếu, hướng đường xa lộ đồng chí An và đồng chí Trang, tiền phương quân đoàn, cùng binh đoàn thọc sâu đã vượt qua sông Đồng Nai. Thấy không có việc ở sở chỉ huy giữa lúc quân đoàn đang tranh chấp từng giờ từng phút để vào nhanh trung tâm sào huyệt địch, tôi bàn với đồng chí Lê Linh, đồng chí ở nhà cùng đồng chí Ái tham mưu trưởng là đủ, để tôi và đồng chí Nam Long lên gặp đồng chí An. Tám giờ chúng tôi đến Thủ Đức và gặp đồng chí An.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2017, 01:08:00 AM

        Sau khi nói chuyện với đồng chí An và đồng chí Thái Cán, Tham mưu phó, chỉ huy cơ quan tham mưu tiền phương, chúng tôi được biết, xung quanh Thủ Đức bọn địch ở trường bộ binh đã bỏ chạy, nhưng bọn địch ở trường cảnh sát đang chống cự. Một tiểu đoàn bộ binh cùng một đại đội tăng đang thanh toán địch trong khu vực này. Binh đoàn thọc sâu do đồng chí Tài, lữ trưởng, đồng chí Tùng, chính uỷ lữ đoàn chỉ huy vẫn theo xa lộ tiến về phía sông Sài Gòn. Đồng chí An nói tôi lên giúp ban chỉ huy lực lượng thọc sâu tiến thật nhanh, qua sông Sài Gòn, khi đường còn cầu. Như trên đã nói, binh đoàn thọc sâu lấy nòng cốt là Lữ đoàn tăng thiết giáp 203, được tăng cường 1 tiểu đoàn bộ binh, cao xạ, công binh quân đoàn. Sư đoàn 304 sau khi chiếm tả ngạn sông Đồng Nai, bảo đảm cho binh đoàn thọc sâu vượt lên, chỉ để lại 1 trung đoàn chiếm lĩnh căn cứ Long Bình, lực lượng còn lại cũng vận động lên phía trước theo ngay sau binh đoàn thọc sâu để tiếp tục giải quyết bọn địch còn lại hai bên đường và chi viện cho binh đoàn thọc sâu lúc gặp khó khăn. Trên đường tiến vào nội đô, đến đầu cầu Xa Lộ trên sông Sài Gòn, Lữ đoàn 203 gặp địch bên kia sông và hai tàu chiến dưới sông bắn trả. Chúng bắn cháy 1 xe tăng ta trong đó có đồng chí tiểu đoàn trưởng xe tăng. Đại đội xe tăng đi đầu phải dàn hàng ngang bắn vào quân địch chống cự, yểm hộ cho các đại đội sau vượt lên. Sau khi bắn mấy loạt, quân địch bỏ chạy, đại đội 4 lên đầu đội hình tiếp tục tiến. Tiểu đoàn tăng có tiểu đoàn bộ binh ngồi trên xe vượt qua cầu, tiếp theo là chỉ huy sở lữ đoàn ngồi trên xe bọc thép. Tôi và đồng chí Nam Long lúc đầu ngồi cùng xe bọc thép với đồng chí Tùng, chính ủy, nhưng sau thấy ngồi trên xe bọc thép quá ồn ào và chạy lên chạy xuống khó, nên chúng tôi lại lên xe con đi sau xe bọc thép của sở chỉ huy lữ đoàn.

        Sau khi vượt qua cầu Sài Gòn, cơ bản không còn địch chống cự và cũng như ở Đà Nẵng, nhân dân ra đầy hai bên đường để hoan hô bộ đội, để xem bộ đội. Chúng tôi không có ai là người Sài Gòn, chưa ai biết gì các đường phố trong Sài Gòn. Với kinh nghiệm đã vào nhiều thành phố, thị xã, việc vào đánh dinh Độc Lập cũng không khó khăn gì. Với vài người dân nhiệt tình dẫn đường đi bằng mô tô phía trước, cứ thế chúng tôi đã đi thẳng đến dinh Độc Lập.

        Sau khi cho xe tăng và bộ binh bao vây ngôi nhà chính của dinh Độc Lập và án ngữ các hướng vào dinh, đồng chí Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 cùng một số cán bộ và chiến sĩ lên tầng hai vào căn phòng rộng nhất, nơi toàn bộ các thành viên của cái gọi là nội các Dương Văn Minh đang hội họp. Chúng cũng định làm ra vẻ một chính phủ đường hoàng để bàn giao. Đồng chí Thệ nói: Các anh đã bị bắt. Mọi người ngồi yên tại chỗ và làm theo lệnh chúng tôi. Sau đó, đồng chí Thệ và đồng chí Tùng gọi Dương Văn Minh ra đài phát thanh tuyên bố việc đầu hàng không điều kiện. Đồng chí Tùng thay mặt quân giải phóng tiếp nhận sự đầu hàng, kêu gọi các lực lượng còn lại hạ khí giới. Chúng tôi có nghĩ đến chuyện Quân đoàn 2 có khả năng vào dinh Độc Lập trước. Trước lúc xuất quân, tôi đã nói đùa với đồng chí Lê Trọng Tấn là kỳ này chúng tôi sẽ vào quét dinh Độc Lập cho sạch và ngủ một giấc ở đây cho bõ những ngày mỏi nhọc. Thực ra chưa có chuẩn bị gì về các mặt công tác cũng như thủ tục khi chiếm được dinh Độc Lập. Lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện của Dương Văn Minh do đồng chí Thệ đọc cho Dương Văn Minh ghi và lời tuyên bố của đồng chí Tùng thay mặt quân giải phóng, đều do các đồng chí ứng khẩu cả. Tất cả nội dung của nó mọi người đều rõ. Đáng mừng là trình độ chính trị của cán bộ ta rất vững vàng. Những nội dung đều đạt yêu cầu. Khi nghe các lời tuyên bố đó qua đài thu thanh, một đồng chí trong bộ chỉ huy chiến dịch khen: cán bộ ta nói vậy là tốt, nếu có sửa thì chỉ cần sửa một chữ: nói người nào hạ khí giới đầu hàng sẽ được đối đãi tử tế, người nào ngoan cố chống cự sẽ bị nghiêm trị. Cần sửa lại kẻ nào chống cự sẽ bị nghiêm trị. Đã dùng chữ người ở vế thứ nhất, không nên dùng chữ người ở vế thứ hai.

        Khi tôi vào, Dương Văn Minh đã đi ra đài phát thanh. Chuẩn tướng Hạnh trông thấy tôi đoán là người chỉ huy, nên đến báo cáo về tình hình trong dinh trước lúc quân giải phóng đến, giới thiệu những nhân vật chính có mặt. Tôi nói với chuẩn tướng Hạnh, ở đây còn liên lạc được với đơn vị nào, anh cho họ biết các anh đã đầu hàng không điều kiện vào báo cáo đơn vị đó nhanh chóng đầu hàng. Chuẩn tướng Hạnh kể ra cũng được việc, đã liên lạc và truyền lệnh được cho nhiều đơn vị khác nhau.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2017, 10:45:36 PM

        Vũ Văn Mẫu, thủ tướng xin phép để được gặp đại diện mặt trận với ý định bàn giao về nhà sớm. Tôi nói với Mẫu chúng tôi là quân nhân, vì vậy các anh cứ ở đây ngay trong gian phòng này. Ngày mai sẽ có đại diện mặt trận đến. Các anh cứ ngồi chơi thoải mái, hôm nay ăn thử một bữa cơm Việt cộng cho vui. Trông bọn chúng cũng có vẻ yên tâm, nói cười vui vẻ với nhau. Khoảng 13 giờ, chúng tôi đang ngồi chuẩn bị bản thông cáo số 1 của quân giải phóng cho nhân dân Sài Gòn thì hai loạt súng cối 82 bắn ngay vào trước cửa ngôi nhà chính và nổ súng ra khắp xung quanh. Sau này mới rõ là một đơn vị từ phía Tân Sơn Nhất sau khi chiếm xong khu vực phân công cũng tìm cách tiến nhanh đến dinh Độc Lập một cách máy móc là trước khi tiến vào mục tiêu phải bắn chế áp trước. Cũng may các đồng chí bắn có hai loạt. Khi nghe tiếng súng, các đồng chí xe tăng cũng không hiểu súng ở đâu bắn đến, lại máy móc dùng súng đại liên bắn ra xung quanh, tất nhiên là bắn chỉ thiên. Thật ra hai bên bắn nhau, nhưng cũng hơi ngờ là không còn địch chống cự, vì dân đứng đầy đường phố. Chúng tôi phải dẹp hơn một tiếng đồng hồ mới yên tiếng súng. Phải cho người gọi từng xe để ra lệnh ngừng bắn.

        Khoảng 14 giờ lại xảy ra một chuyện nữa. Bây giờ kể lại thì có đồng chí ngạc nhiên, nhưng lúc đó thì tôi nghĩ cũng không phải có gì lạ lắm. Chúng tôi đang ngồi đầy ở các bậc lên nhà, thì thấy một tiểu đội từ ngoài vào. Đồng chí đi đầu nhanh chóng đặt gói bộc phá vào chân ngôi nhà, định giật nụ xoè cho bộc phá nổ. Đồng chí Ân lập tức chạy đến xô đồng chí này ra và hỏi: “Ta đã chiếm rồi sao đồng chí lại còn đặt bộc phá?”.Đồng chí này ngớ người ra một lúc. Có lẽ lúc này đồng chí đó mới thấy hành động của mình là vô lý. Đồng chí nói: “Chúng em được lệnh đi đầu, tiến vào đánh chiếm dinh Độc Lập, vì vậy nên đến nơi chúng em đánh bộc phá liền”.

        Chúng tôi có ý định nhất thiết không cho ai vào. Nhưng rất nhiều đơn vị tiến đến sào huyệt cuối cùng của địch, khẩn khoản xin vào xem một tý. Chúng tôi cũng phải nhượng bộ để các đồng chí vào xem. Tất nhiên chỉ cho phép đứng xung quanh, không cho vào trong.

        Sau lúc tiếp tục thảo xong thông cáo số 1, khoảng 17 giờ các đồng chí đại diện Quân đoàn 4 vào. Các đồng chí nói, các đồng chí có nhiệm vụ chiếm dinh Độc Lập nhưng vào chậm, nay cho xin bàn giao lại. Chúng tôi vui vẻ bàn giao ngay. Thật ra chúng tôi cũng muốn bàn giao nhanh để ra ngoài, nắm lại tình hình các đơn vị và trước mắt nghỉ ngơi một ít. Đã bốn, năm ngày đêm không hề chợp mắt. Trên đường xe cộ, người chen chúc nhau. Chúng tôi phải hết sức vất vả và mãi 24 giờ mới về đến Thủ Đức, nơi chúng tôi dự định đặt chỉ huy sở quân đoàn sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí Lê Linh và cơ quan quân đoàn cũng đã di chuyển lên đây từ chiều.

        Lúc về định nghỉ, nhưng thực ra không ai nghỉ được. Việc nắm tình hình thì cũng không khó lắm, đã có một số đồng chí cơ quan làm. Sở dĩ không ngủ được vì tình hình diễn ra nhanh quá. Chuyện nhiều quá, kể cho nhau nghe không hết được. Có lẽ cũng không phải chuyện nhiều, mà cái chính là người nào cũng có cảm giác là lạ, có lẽ là cảm giác vui mừng. Nhưng lúc đó cũng không hiểu cảm giác gì. Ngồi nghĩ hết chuyện này sang chuyện khác. Nghĩ không biết bây giờ anh em đang làm gì. Có canh gác cẩn thận hay lại lơ là mất cảnh giác. Nghĩ Hà Nội bây giờ ra sao, vợ con mình nghĩ gì lúc này, khi chiến tranh đã kết thúc. Nghĩ thương các đồng chí hy sinh trước giờ chiến thắng, v.v... Nghĩ rất nhiều, hết chuyện này sang chuyện khác. Ngồi nghĩ, nói chuyện với nhau, ra một vài mệnh lệnh cần thiết, cứ thế chúng tôi thức đến sáng.

        Con đường đến dinh Độc Lập thật là xa. Từ sông Bến Hải? Không phải, từ Khe Sanh. Cũng không phải từ Khe Sanh mà từ những ngày đầu chống Mỹ, từ những ngày đầu chống Pháp thì đúng hơn. Rồi đây tất nhiên còn nhiều việc để làm. Trước mắt dầu sao cũng đã hoàn thành được nhiệm vụ cao cả nhất: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2017, 10:50:23 PM

NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG THỂ NÀO QUÊN QUA NHỮNG NĂM THÁNG ĐƯỢC LÀM VIỆC VỚI ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN, TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

        Đồng chí Lê Trọng Tấn để lại trong cán bộ chỉ huy nhiều bài học sâu sắc về nghệ thuật chỉ huy tác chiến qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, qua hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam Tổ quốc. Riêng tôi có thời gian làm việc lâu dài, khi dưới quyền chỉ huy, khi bên cạnh đồng chí, nên ngoài những hiểu biết về tài chỉ huy, đồng chí còn để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc về một người chỉ huy có cuộc sống đầy tình nghĩa và tác phong làm việc đầy sáng tạo.

        Năm 1970 đồng chí Lê Trọng Tấn với cương vị Phó tổng tham mưu trưởng đến dự cuộc họp tổng kết đợt hoạt động tác chiến của Sư đoàn 304 trên chiến trường Trị - Thiên năm 1970. Năm đó tôi là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, lần đầu tiên được làm việc trực tiếp với đồng chí Lê Trọng Tấn. Năm 1970, Sư đoàn 304 theo lệnh của Bộ Tổng tư lệnh lần lượt đưa các trung đoàn vào chiến trường Trị - Thiên với nhiệm vụ đánh bại các cuộc hành quân của địch ra vùng ta kiểm soát, giữ vững bàn đạp để triển khai tấn công địch vào các năm sau.

        Trong việc đánh địch tiến công ra vùng giáp ranh, sư đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ, có nhiều trận tiêu diệt từng tiểu đoàn địch: Trận đồi Cô Tiên, sư đoàn diệt 1 tiểu đoàn cùng sở chỉ huy trung đoàn 54, thuộc sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn; trận Mai Lộc sư đoàn phối hợp với tiểu đoàn 33 đặc công Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn biệt kích trong căn cứ có công sự vững chắc.

        Bên cạnh những thành tích đạt được, sư đoàn bị thất bại trong trận đưa 1 tiểu đoàn xuống hoạt động ở đồng bằng. Hai năm 1969-1970 địch kiểm soát được vùng đồng bằng tỉnh Quảng Trị. Cán bộ cơ sở của ta, số bị địch giết hại, số bị bật lên rừng. Việc vượt qua đường và ở lại đồng bằng để xây dựng lại cơ sở có nhiều khó khăn. Đoàn 7 (đoàn phụ trách hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng, trực thuộc Khu ủy Trị - Thiên) đề nghị sư đoàn đưa 1 tiểu đoàn xuống đồng bằng, trụ lại đánh địch hai ngày để tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ của Đoàn 7 xuống đồng bằng xây dựng lại cơ sở. Từ kinh nghiệm qua nhiều lần đánh địch, nếu dựa vào làng mạc việc trụ lại hai ngày không cho địch vào làng, không phải là khó khăn không làm được. Nhiệm vụ được giao cho tiểu đoàn 3 Trung đoàn 9, có đồng chí trung đoàn phó cùng đi để trực tiếp chỉ huy.

        Tiểu đoàn vượt qua đường số 1 xuống triển khai xong lực lượng vào khoảng 3 giờ sáng, bắt đầu vừa đào công sự vừa quán triệt nhiệm vụ và cách đánh cho từng trung đội đại đội. Tám giờ địch từ nhiều hướng đồng thời tiến công, 15 giờ địch chọc thủng trận địa ta, chia cắt đội hình phòng ngự, tiểu đoàn bị tan vỡ. Từng người, từng tiểu đội tự tìm cách vượt qua đường 1 để trở lại khu vực xuất phát. Tiểu đoàn bị thương vong nhiều, một số bị địch bắt. Tôi trình bày nguyên nhân thất bại là do đánh giá tình hình và khả năng chiến đấu tiểu đoàn không chính xác. Các trận quy mô tiểu đoàn đánh trả 1-2 trung đoàn địch ở đồng bằng, để biến các làng mạc thành trận địa đánh địch, cán bộ chiến sĩ đều thông thuộc địa hình. Trường hợp tiểu đoàn 3 xuống đồng bằng trong đêm chỉ có thời gian xây dựng trận địa 2-3 giờ là đã phải bắt đầu trực tiếp đánh địch, trong lúc cán bộ chỉ huy các cấp đều chưa thông thạo địa hình. Tiểu đoàn 3 thuộc Sư đoàn 304 chỉ quen đánh tập trung ở vùng rừng núi, khác với tiểu đoàn tôi chỉ huy trước đây trong kháng chiến chống Pháp là tiểu đoàn quen đánh độc lập ở đồng bằng. Quen chiến đấu ở một hoàn cảnh nhất định là một sức mạnh cần tính đến. Năm 1951-1952, cùng nhiệm vụ vào đồng bằng chiến đấu để phối hợp với chiến dịch Hoà Bình, nhưng Đại đoàn 320 được mệnh danh là Đại đoàn Đồng Bằng đã chiến đấu đạt thành tích cao, trái lại Đại đoàn 316 quen chiến đấu ở rừng núi, lúc vào chiến đấu ở đồng bằng đạt kết quả thấp, bị thương vong nhiều. Nguyên nhân thất bại trách nhiệm chỉ thuộc về tôi. Cán bộ tiểu đoàn 3 cũng như đồng chí trung đoàn phó khó làm được gì hơn trong hoàn cảnh đó.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2017, 05:55:46 PM

        Nghe các đồng chí tham dự hội nghị phát biểu xong, đồng chí Lê Trọng Tấn nói: “Báo cáo của đồng chí Hoàng Đan như vậy đã rõ cả về nguyên nhân và trách nhiệm. Đồng chí không đổ trách nhiệm cho tập thể và cho cấp dưới”. Kiểm điểm như vậy là được, giúp chúng ta rút được một số kinh nghiệm. Trong tác chiến không ai tránh được có trận thất bại. Thất bại thì nghiêm túc kiểm điểm rút ra kinh nghiệm để lần sau đánh tốt hơn. Trong cuộc đời chỉ huy của tôi chưa thi hành kỷ luật một đồng chí nào có trận đánh thất bại. Trong quân đội ta đã có một số lần thi hành kỷ luật với một số cán bộ chỉ huy, nhưng trong trường hợp khi địch tiến công, đơn vị bị thương vong nhiều, trong lúc đó người chỉ huy lại vắng mặt không có lý do xác đáng, hoặc trường hợp do ngại thương vong không ai đi sát để chỉ huy đơn vị, để đơn vị chiến đấu không thành công... Tôi biết đồng chí Sư đoàn trưởng là một cán bộ chỉ huy dũng cảm, có trách nhiệm cao với việc hoàn thành nhiệm vụ do trên giao nên kiểm điểm như trên là được. Qua phát biểu của đồng chí, tôi không chỉ thấy đồng chí là một cán bộ dày dạn trận mạc, hiểu rõ nhiều tình huống tác chiến khác nhau mà còn là một cán bộ hiểu sâu sắc từng cán bộ, tạo điều kiện để cán bộ có điều kiện cống hiến được nhiều hơn cho quân đội cho Tổ quốc.

        Năm 1972, trong một tháng, các đơn vị thuộc quyền chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn đã đánh bại địch giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, với thương vong không nhiều so với các chiến dịch khác. Trong lúc báo cáo các trận đánh của Sư đoàn 304, tôi đã nói một câu: “Trong các trận đánh vừa qua sư đoàn tôi đã có một số trận diệt gọn địch mà thương vong không đáng kể, như trận tiêu diệt và bức hàng trung đoàn 56 của địch ở căn cứ 241”. Nghe xong đồng chí nói: Sư đoàn diệt 1 trung đoàn địch với thương vong dưới 100 cán bộ và chiến sĩ là thuộc thương vong nhẹ, nhưng không bao giờ được nói là thương vong không đáng kể. Người vợ mất chồng, người con mất cha là một tổn thất không có gì lớn hơn, không sao kể xiết. Chúng ta đau xót trước mọi mất mát đó. Thương vong nào cũng là đáng kể, không có thương vong nào không đáng kể. Suy nghĩ như vậy để chúng ta có trách nhiệm cao, trong từng trận đánh làm sao bớt thương vong”.

        Đồng chí Lê Trọng Tấn không chỉ góp ý kiến với chúng tôi mà đặc biệt trong quá trình tác chiến, trong các báo cáo khi nói đến số thương vong dẫu nhiều hay ít, đồng chí đều đặc biệt xúc động. Đồng chí luôn bàn bạc với chúng tôi làm sao chiến đấu mà số thương vong ít nhất. Những trận đánh thương vong ít thường được đồng chí nêu gương để các đơn vị học tập. Những trận đánh thương vong nhiều đồng chí thường đi sâu tìm hiểu nguyên nhân để tìm cách khắc phục cho các trận đánh sau.

        Năm 1973, sau chiến thắng của quân và dân ta ở hai miền Tổ quốc đánh bại một bước chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ, tôi được điều về làm phó tư lệnh Quân đoàn 1, do đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Quân đoàn. Công việc của một Phó tổng tham mưu trưởng thu hút phần lớn thời gian làm việc của đồng chí, nhưng đồng chí vẫn giải quyết được những vấn đề cơ bản nhất để xây dựng một trung đoàn cơ động chiến lược của Bộ Tổng tư lệnh. Trong những lần làm việc với đồng chí, tôi học được một bài học lớn là làm sao rút ngắn thời gian hội họp để bàn được những chủ trương, biện pháp cụ thể. Các cuộc hội nghị đảng ủy cấp sư đoàn mà tôi thường xuyên tham dự thường kéo dài một hai ngày. Trái lại cuộc họp Đảng ủy Quân đoàn do đồng chí trực tiếp chỉ đạo, trừ cuộc họp đầu tiên mất một ngày, các cuộc họp sau chỉ mất một buổi nhưng vẫn đạt chất lượng cao. Đề cương nội dung các cuộc họp đảng ủy thường đã được các đồng chí trong thường vụ trao đổi một bước, vì vậy trong cuộc hội nghị đồng chí đề nghị dành thời gian phát biểu cho đảng ủy viên không ở trong thường vụ. Sau khi phát biểu xong, đồng chí rút ra một số vấn đề cần thảo luận để kết luận. Như vậy các ủy viên không trong thường vụ phát biểu mất khoảng 1 giờ, thời gian thảo luận tuỳ theo tình hình mất khoảng 1-2 giờ, thảo luận mất 20-30 phút. Hội nghị như vậy chỉ kéo dài không quá 4 tiếng, nhưng vẫn đạt được chất lượng cao. Một số sáng kiến nhỏ nhưng đạt yêu cầu cao, giảm được thời gian. Cũng với cách làm việc khác, thời gian đồng chí ở quân đoàn đã nêu ra một tấm gương là hội họp ngắn để thời gian xuống đơn vị được nhiều.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2017, 05:57:16 PM

        Năm 1976, sau khi đánh cho ngụy nhào kết thúc chiến tranh, tôi lại được điều về làm phó giám đốc Học viện Quân sự cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng) do đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng kiêm giám đốc học viện. Theo quy định của Bộ Quốc phòng, thời gian chuẩn bị để mở lớp là 6 tháng. Thời gian ngắn, công việc nhiều nhưng đồng chí đã chỉ đạo tốt để hoàn thành công tác chuẩn bị.

        Cán bộ giáo viên của học viện đang quá trình điều động từ đơn vị về. Ngay Ban giám đốc mới có đồng chí Lê Trọng Tấn và tôi, trong đó đồng chí Lê Trọng Tấn với cương vị Phó tổng tham mưu trưởng, khó dành được nhiều thời gian để làm việc cho học viện. Qua 6 tháng chuẩn bị và qua 1 năm học, nội dung của lớp bổ túc đầu tiên phong phú, trình độ lý luận cao trên nhiều mặt cả chính trị và khoa học quân sự. Cách làm việc vừa nhiệt tình vừa sáng tạo, uy tín lớn trong lực lượng vũ trang của đồng chí đã được thể hiện rõ trong công tác chuẩn bị để mở lớp đầu tiên.

        Trước hết, đồng chí tính cụ thể, thời gian để làm việc với học viện. Văn phòng Bộ Tổng tham mưu tính toán các công việc đồng chí phải làm ở Bộ. Đồng chí chỉ có thể dành mỗi tuần một buổi, nhiều nhất là hai buổi tối để làm việc với tôi. Không cần hẹn trước, khi cần làm việc tôi cứ đến gặp đồng chí. Nếu thấy đồng chí đang bận thì tự rút lui, nếu đồng chí không bận thì cùng nhau làm việc. Cách làm như vậy của đồng chí đã giải quyết được hầu hết công việc của học viện. Ngoài việc chỉ đạo công tác, đồng chí còn phải trực tiếp giảng dạy một bài quan trọng cho lớp học là bài “Tác chiến chiến lược trong chiến tranh tương lai”.

        Do giáo viên và học viên cùng trình độ, đồng chí chủ trương dùng toàn quân để dạy một người. Một người dù trình độ cao như thế nào cũng không bằng trình độ của toàn quân, cụ thể, việc viết giáo trình và chuẩn bị giáo viên được tiến hành như sau:

        Giáo viên các khoa binh chủng như xe tăng, pháo binh, phòng không, thông tin... cùng với cơ quan các binh chủng hợp lực biên soạn giáo trình. Khoá đầu có mời các tư lệnh binh chủng đến trực tiếp đứng lớp.

        Giáo viên học viện phối hợp với Cục Tác chiến, Cục Quân báo, Cục Quân huấn, Cục Dân quân tự vệ... tiến hành biên soạn các tài liệu về chiến lược, chiến dịch. Đồng chí Văn Tiến Dũng lên lớp bài “Xây dựng lực lượng võ trang”; đồng chí Lê Trọng Tấn lên lớp bài “Tác chiến chiến lược trong chiến tranh tương lai”. Tôi chỉ lên lớp một bài là “Nghệ thuật chiến dịch”. Đồng chí Nguyễn Năng, Trưởng khoa chiến dịch lên lớp bài “Chiến dịch tiến công”; đồng chí Khiếu Anh Lân, Phó khoa chiến dịch lên lớp bài “Chiến dịch phòng ngự”.

        Với cách giải quyết như trên, việc giảng dạy đều đạt được kết quả tốt. Đồng chí Lê Trọng Tấn còn chỉ đạo cho tất cả giáo viên ngoài việc khai thác tất cả kinh nghiệm và tri thức của các cơ quan Bộ Quốc phòng, các quân binh chủng, trong quá trình giảng dạy còn phải học tập kinh nghiệm và tri thức của học viên để tự nâng cao trình độ của mình, bảo đảm lớp sau giáo viên nhà trường tự lên lớp là chính.

        Sau thời gian công tác ở học viện tôi còn có thời gian làm việc dưới quyền chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn. Trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, tôi là Tư lệnh quân đoàn, đồng chí là Tổng tham mưu trưởng. Trong tác chiến ở Vị Xuyên, tôi là Phó tư lệnh mặt trận, đồng chí vẫn là Tổng tham mưu trưởng.

        Trải qua gần hai mươi năm được làm việc với đồng chí Lê Trọng Tấn, tôi hiểu sâu sắc là uy tín của đồng chí không phải chỉ ở tài năng chỉ huy mà còn ở cuộc sống đầy tình nghĩa và tác phong làm việc đầy sáng tạo. Sự trưởng thành của tôi không tách khỏi sự giúp đỡ của đồng chí.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Hai, 2017, 05:24:41 PM

        II. HƯỚNG CHIẾN LƯỢC TRỊ - THIÊN NĂM 1972

        Trên hướng chiến lược Trị - Thiên năm 1972 đã diễn ra ba chiến dịch:

        - Chiến dịch tiến công từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 27 tháng 6.

        - Chiến dịch phản công từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 15 tháng 9.

        - Chiến dịch phòng ngự từ ngày 16 tháng 9 năm 1972 đến ngày 28 tháng 1 năm 1973.

        Quyết tâm mở các hướng tiến công chiến lược năm 1972 của Bộ tư lệnh cũng có quá trình thay đổi. Tháng 7 năm 1971 Bộ tư lệnh quyết định mở cuộc tiến công chiến lược trên ba hướng. Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Trị - Thiên lấy miền Đông Nam Bộ làm hướng chủ yếu, hướng Trị - Thiên là hướng thứ yếu quan trọng. Về sau căn cứ kết quả chuẩn bị, đến đầu năm 1972 Bộ tư lệnh mới quyết định lấy hướng Trị - Thiên làm hướng chủ yếu. Việc thay đổi quyết tâm có ảnh hưởng nhiều đến việc chuẩn bị của hướng Trị - Thiên. Với thời gian ba tháng còn lại, ta không thể làm được gì nhiều để chuẩn bị chiến trường lúc đầu là hướng thứ yếu chuyển sang hướng chủ yếu. Với cương vị là Phó tổng tham mưu trưởng, tất nhiên đồng chí Lê Trọng Tấn cũng tham gia xây dựng kế hoạch tác chiến và chỉ đạo công tác chuẩn bị cho cả ba hướng, nhưng chỉ sau khi được chỉ định làm Tư lệnh Mặt trận Trị - Thiên, đồng chí mới có mặt ở Trị - Thiên và trực tiếp xây dựng quyết tâm, xây dựng kế hoạch tác chiến và chỉ đạo toàn diện các mặt chuẩn bị.

        Giữa tháng 1 năm 1972, tôi được triệu tập đến cơ quan mặt trận để dự hội nghị thảo luận về quyết tâm chiến lược của chiến dịch đầu, chiến dịch tiến công. Đồng chí Lê Trọng Tấn phổ biến nhiệm vụ do Bộ tư lệnh giao; đồng chí Cao Văn Khánh, Tư lệnh phó mặt trận phổ biến phương án quyết tâm sơ bộ và đề ra một số nội dung cần thảo luận, trong đó nổi lên hai nội dung quan trọng là: chọn hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch và làm sao giữ được bí mật trong chuẩn bị và triển khai lực lượng để tiến công bất ngờ.

        Về hướng tiến công chủ yếu có ba ý kiến khác nhau.

        Một số đồng chí cho rằng nên tiến công chủ yếu từ phía bắc. Chiến dịch này ta sử dụng nhiều trung đoàn pháo mặt đất và pháo phòng không cỡ lớn dùng xe kéo, hai trung đoàn xe tăng, hướng bắc có sẵn nhiều đường bảo đảm việc triển khai được thuận lợi. Việc giữ bí mật trong việc đưa lực lượng lớn vào sát địch, hướng bắc có nhiều thuận lợi hơn các hướng khác.

        Một số đồng chí muốn tiến công chủ yếu từ hướng nam. Hướng này địch phòng ngự yếu và từ hướng này đánh được ngay vào thị xã Quảng Trị, nơi đặt sở chỉ huy sư đoàn 3 và cơ quan hành chính tỉnh của địch. Chọn hướng nam phù hợp với lý luận chọn hướng chủ yếu (hướng chủ yếu nên chọn nơi địch yếu, gần nơi hiểm yếu).

        Một số đồng chí đề nghị nên tiến công chủ yếu từ phía tây. Hướng tây thuận lợi hơn hướng nam là có hai trục đường, trong dó có trục đường số 9, thông từ phía tây đến hết chiều sâu phòng ngự của địch.

        Hướng tây là hướng đánh vào cạnh sườn quân địch, nơi đây phòng ngự của địch không vững chắc bằng hướng bắc.

        Đồng chí Lê Trọng Tấn sau khi cân nhắc các mặt, quyết định lấy hướng tây làm hướng tiến công chủ yếu. Sau này qua nhiều lần tổng kết chiến dịch, mọi người đều thấy với tình hình lúc đó, chọn hướng tây làm hướng chủ yếu là phù hợp. Tất nhiên nếu tiến công chủ yếu từ hướng nam thắng lợi sẽ lớn hơn. Nhưng hướng nam chỉ có một trục đường. Trục đường đó lại còn cách địch 10km, vì vậy không thể triển khai lực lượng lớn các binh chủng kỹ thuật và không có điều kiện để đưa các binh chủng kỹ thuật tiến vào chiều sâu phòng ngự của địch trong quá trình phát triển chiến dịch.

        Việc giữ bí mật trong quá trình chuẩn bị chiến trường và triển khai lực lượng cũng đạt được thành công mĩ mãn. Địch hoàn toàn bị bất ngờ về hướng tiến công và thời gian tiến công. Mười giờ ngày 30 tháng 3 năm 1972, lúc ta dùng 7 tiểu đoàn pháo binh chế áp vào các sở chỉ huy và trận địa pháo các cứ điểm chính của địch là lúc chúng đang đưa trung đoàn 56 từ phía bắc sang thay quân cho trung đoàn 2 ở phía tây. Do đang thay quân nên có cứ điểm như cứ điểm 544, bọn địch trong cứ điểm đang trong quá trình kéo ra, bọn ngoài đang trong quá trình kéo vào thay phiên, nên cả hai bọn đều bỏ chạy về sau, lúc pháo ta bắn mạnh vào cứ điểm. Việc tạo được tiến công bất ngờ tất nhiên có sự chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh, có sự tham gia ý kiến của nhiều cán bộ, nhưng nổi lên là nhờ kinh nghiệm dày dạn của đồng chí Tư lệnh mặt trận. Đồng chí đã thông qua một kế hoạch hết sức cụ thể, vừa nghi binh đánh lừa địch vừa giữ bí mật hành động của ta.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Hai, 2017, 11:02:35 PM

        Nội dung lừa địch là làm cho địch lầm tưởng Xuân Hè năm 1972, chiến trường chính của ta là Tây Nguyên, Trị - Thiên chỉ là chiến trường phối hợp. Tại chiến trường Trị - Thiên ta cũng làm cho địch phán đoán hướng tiến công chủ yếu là hướng bắc chứ không phải hướng tây. Để địch lầm tưởng hướng Trị - Thiên là hướng phụ, ta đã tiến hành nghi binh bằng hoạt động của điện đài. Lâu nay ta biết địch vẫn tin là bằng trinh sát điện tử, chúng biết rõ từng sư đoàn hiện ở đâu và cơ động vào đâu. Chúng ta cũng biết địch theo dõi rất chặt chẽ việc cơ động của các sư đoàn chủ lực trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Chúng cho rằng các sư đoàn chủ lực vào đâu thì đó là chiến trường chính. Sau chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Sư đoàn 320 đã vào Tây Nguyên, trên miền Bắc chỉ còn hai Sư đoàn 304 và 308 (địch cũng nắm được hướng hoạt động của các sư đoàn 316 và 312 là ở Lào). Ta đã cho các điện đài đang làm việc thường xuyên của Sư đoàn 304, nhập trạm giao liên và hành quân vào Tây Nguyên. Kết quả, địch nhận định Tây Nguyên là chiến trường chính vì hai sư đoàn chủ lực của Bộ là 320 và 304 đã vào đây. Trên miền Bắc chỉ còn Sư đoàn 308 có thể vào Trị - Thiên, như vậy Trị - Thiên chỉ là chiến trường phụ.

        Tại Trị - Thiên, ta đã lừa địch làm cho chúng lầm tưởng hướng bắc là hướng tiến công chủ yếu bằng giữ bí mật tuyệt đối mọi hoạt động của các lực lượng trên hướng tây, đồng thời nửa kín, nửa hở để địch biết có một số trung đoàn và Sư đoàn 308 đang chuẩn bị tiến công các cứ điểm phía bắc nhằm vào các cứ điểm Dốc Miếu, Cồn Tiên, Miếu Bái Sơn.

        Để tiến công chủ yếu vào hướng tây, ta đã đưa vào triển khai ở đây toàn bộ Sư đoàn 304, Trung đoàn 1 của Sư đoàn 324, Trung đoàn 27 của B5, ba trung đoàn pháo, 3 trung đoàn pháo phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng. Đồng chí Lê Trọng Tấn nêu ý kiến cần nắm vững các lực lượng và phương tiện trinh sát địch dùng để nắm ta và có biện pháp có hiệu quả để làm cho chúng mất hiệu lực.

        Tôi có nêu ý kiến là đối với các điệp báo địch cài vào ta thì có thể yên tâm vì từ mấy năm nay chưa có hiện tượng nào địch nắm ta từ nguồn điệp báo. Đồng thời chỉ thị cụ thể: “Sư đoàn 304 đang từ nam Quảng Bình phải bí mật hành quân ra bắc Quảng Bình và vào trú quân trong rừng, tuyệt đối nằm im như người xưa nói “ngựa tháo nhạc, người ngậm tăm”, việc vào ra khu trú quân, bắt buộc phải tiến hành vào ban đêm. Sư đoàn sẽ từ bắc Quảng Bình hành quân thẳng vào chiến trường, không trở lại nơi đóng quân cũ. Toàn bộ cán bộ đi chuẩn bị chiến trường, trang bị một tiểu đoàn chiến đấu và lấy danh nghĩa một tiểu đoàn địa phương Quảng Bình vào tăng cường cho Quảng Trị để hoạt động thường xuyên tại vùng tây Quảng Trị tức khu vực sư đoàn sẽ triển khai chiến đấu.

        Trong chiến dịch tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị, đợt một Sư đoàn 304 tiêu diệt và bắt hàng trung đoàn 56 của sư đoàn 3 địch (trừ một tiểu đoàn do Trung đoàn 27 diệt), diệt một tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng cơ quan chỉ huy và một tiểu đoàn khác của lữ đoàn lính thủy đánh bộ 147. Một sư đoàn đủ sức tiến công thắng lợi vào 2 trung đoàn thiếu (một tiểu đoàn của lữ đoàn 147 do Trung đoàn 1 Sư đoàn 324 tiến công). Ngoài lợi thế của đánh bất ngờ, một nguyên nhân quan trọng khác là theo chỉ thị của đồng chí Lê Trọng Tấn, sư đoàn sau khi đi trinh sát về đã chọn một khu vực có địa hình gần giống như khu vực sư đoàn sẽ tiến công, để diễn tập thực binh toàn sư đoàn theo kế hoạch tác chiến đợt 1 của sư đoàn. Vì nắm chắc địch, bộ đội được diễn tập theo địa hình và nhiệm vụ sắp tới, nên chỉ huy sư đoàn cũng như chỉ huy các trung đoàn tin tưởng tuyệt đối sẽ chiến thắng. Với lòng tin như vậy, sư đoàn đã may sẵn 5 lá cờ để giao cho các đơn vị cắm lên cứ điểm. Các lá cờ được thêu các dòng chữ: Chiến thắng Động Toàn, chiến thắng Đầu Mầu.

        Sau hai đợt, trong vòng một tháng ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Thắng lợi trên là công lao tập thể, nhưng tài ba chỉ huy của người tư lệnh có một vai trò không nhỏ.

        Sau 15 ngày mở màn chiến dịch, Mỹ cho không quân, hải quân trở lại chiến trường Việt Nam đánh phá ác liệt trên cả hai miền Nam, Bắc tập trung trọng điểm vào chiến trường Trị - Thiên nhằm ngăn chặn ta phát triển vào Thừa Thiên và chi viện cho quân ngụy phản công lấy lại tỉnh Quảng Trị. Cuối tháng 6 năm 1972 cho đến ngày 31 tháng 1 năm 1973, ngày Hiệp định Pa-ri có hiệu lực các đơn vị trên mặt trận Trị - Thiên dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Lê Trọng Tấn đã khắc phục mọi khó khăn,dưới bom đạn ác liệt của quân Mỹ, đã kiên cường chiến đấu giữ vững hầu hết vùng đất Quảng Trị vừa được giải phóng.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Hai, 2017, 11:03:46 PM

        III. QUÂN ĐOÀN 1

        Sau Hiệp định Pa-ri, Đảng ta dự kiến hai khả năng: hoặc là hòa bình được duy trì, hiệp định được thực hiện từng bước, phong trào cách mạng miền Nam có điều kiện phát triển những bước mới; hoặc là chiến tranh sẽ tiếp tục.

        Một số lần được làm việc với đồng chí Lê Trọng Tấn, đồng chí đều nói với tôi: “Với tính chất phản động, ngoan cố của Mỹ và ngụy, khả năng nhiều là chúng ta sẽ phải tiến hành một trận chiến đấu nữa, mới có thể giải phóng hoàn toàn miền Nam để thống nhất Tổ quốc”.

        Để chuẩn bị thiết thực cho khả năng thứ hai, Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Quân đoàn 1 trên miền Bắc. Quân đoàn gồm các sư đoàn bộ binh 308, 312, 320, Sư đoàn phòng không 367 và nhiều trung đoàn binh chủng chiến đấu, bảo đảm. Tôi được bổ nhiệm Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng quân đoàn. Đồng chí Lê Trọng Tấn làm tư lệnh.

        Lần đầu tiên được làm nhiệm vụ với đồng chí Lê Trọng Tấn trong một bộ tư lệnh, một đảng ủy, vì vậy tôi được hiểu sâu sắc thêm về tài năng, tác phong, đức độ của đồng chí. Những gì đồng chí nói về việc xây dựng một binh đoàn cơ động trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh là kim chỉ nam để làm cho quân đoàn lớn mạnh hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Chỉ ở Quân đoàn 1 không đầy một năm, tôi được điều động vào Trị - Thiên làm phó tư lệnh Quân đoàn 2. Những gì học tập được ở đồng chí Lê Trọng Tấn tại Quân đoàn 1, tôi đều cùng các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 thực hiện. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đều đã là chỉ huy các sư đoàn chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên, dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn trong hai chiến dịch lớn: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 và chiến dịch Trị - Thiên năm 1972. Vì vậy khi tôi trình bày các ý kiến của đồng chí Lê Trọng Tấn trong việc xây dựng một binh đoàn lớn, các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đều hết sức trân trọng và tích cực thực hiện.

        Trong việc xây dựng các đơn vị dự bị chiến lược, đồng chí Lê Trọng Tấn trước hết nhấn mạnh phải làm cho cán bộ có trình độ tổ chức chiến đấu chu đáo trong thời gian ngắn. Dựa vào ý kiến của đồng chí, các sư đoàn bộ binh, các binh chủng kỹ thuật của Quân đoàn 1 cũng như Quân đoàn 2 đều diễn tập. Nhờ các cán bộ trong quân đoàn đều thành thạo cách đánh với thời gian chuẩn bị gấp nên trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 quân đoàn đều hoàn thành tốt nhiệm vụ trong các trận chiến đấu rất ít thời gian chuẩn bị. Tiến công vào Đà Nẵng, quân đoàn được giao nhiệm vụ chính thức sáng ngày 26 tháng 3 và các sư đoàn của quân đoàn phải tiến công đồng loạt vào sáng ngày 29 tháng 3. Tiến công vào Phan Rang, Sư đoàn 325 nhận nhiệm vụ do quân đoàn giao lúc 20 giờ ngày 15 tháng 4, bắt đầu cơ động lực lượng lúc 3 giờ ngày 16 tháng 4, triển khai lực lượng tiến công vào lúc 5 giờ. Đến 10 giờ sư đoàn đã làm chủ thị xã Phan Rang cùng sân bay Thành Sơn. Tiến công vào Sài Gòn, quân đoàn được giao nhiệm vụ 16 giờ ngày 23 tháng 4, các đơn vị của quân đoàn bước vào chiến đấu ngay chiều ngày 26 tháng 4.

        Là một cán bộ quân sự nhưng đồng chí Lê Trọng Tấn rất quan tâm đến xây dựng các đơn vị mạnh về chính trị. Để bộ đội có chất lượng chính trị mạnh, ai cũng biết là phải xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh, giáo dục chính trị cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt nhiệm vụ đối với Tổ quốc ... Riêng đồng chí Lê Trọng Tấn, thường nói với chúng tôi, trong xây dựng đơn vị mạnh về chính trị, tất nhiên phải làm toàn diện, nhưng việc đoàn kết nội bộ, tôn trọng lẫn nhau, hết lòng vì cấp dưới, với người chiến sĩ là đặc biệt quan trọng. Bộ đội có lòng tin yêu người chỉ huy thực sự đã là một sức mạnh. Người chỉ huy giỏi thường được bộ đội tin, nhưng được bộ đội yêu phải hết sức chăm lo mọi mặt cho cấp dưới, cho chiến sĩ. Đồng chí Lê Trọng Tấn đúng là người đã thực hiện được lời nói của Hồ Chủ tịch: dạy cho cán bộ quân đội ta: “Khi bộ đội còn chưa được ăn, cán bộ không được kêu mình đói. Khi bộ đội còn chưa đủ mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Khi bộ đội chưa có chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”.

        Khi gặp cán bộ thuộc quyền đồng chí thường hỏi thăm tình hình gia đình, hỏi cán bộ có gì lo âu... và cuối cùng đồng chí đi sâu tìm hiểu tình hình đơn vị, từ việc ăn mặc, ở, sức khỏe... Trong chiến đấu, mỗi trận đánh tuy thắng nhưng thương vong nhiều là đồng chí mất vui. Đồng chí thường đánh giá một trận hi sinh 5-10 người là nhỏ, nhưng đối với cha mẹ, vợ con của 5-10 người đó thì là một tổn thất cực kỳ lớn, không có gì bù đắp được. Nói thương vong không đáng kể là chưa hiểu biết hết tâm tư của người cha mất con, người vợ mất chồng.

        Trong quân đoàn, đồng chí Lê Trọng Tấn cũng là người coi trọng tác phong làm việc có hiệu quả. Một việc làm tưởng như nhỏ của đồng chí, nhưng nêu một tấm gương tốt về tác phong cho cán bộ trong quân đoàn: Hội nghị Đảng ủy Quân đoàn, phiên đầu họp một ngày. Các phiên sau chỉ họp một buổi nhưng vẫn có chất lượng. Trong hội nghị Đảng ủy (Đảng ủy lúc đó có 7 ủy viên thường vụ), 4 đồng chí ủy viên còn lại phát biểu nêu những vấn đề cần sửa đổi hoặc bổ sung vào đề án. Sau đó đồng chí Bí thư nêu ra những vấn đề cần thảo luận. Tất cả 7 đồng chí đều có thể phát biểu, thảo luận, tranh luận để đi đến thống nhất. Cách làm như trên vừa rút ngắn được thời gian, vừa đạt được chất lượng tốt. Các hội nghị do đồng chí điều khiển thường diễn ra thời gian ngắn. Nhờ vậy cán bộ có thời gian để đi xuống đơn vị, bám sát đơn vị, chỉ đạo được sát.

        Thời gian cùng làm việc với đồng chí ở Quân đoàn 1 không dài, nhưng tôi học tập được ở đồng chí trên nhiều mặt. Từ đó tôi hiểu vì sao đồng chí đã chỉ huy nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch giành thắng lợi xuất sắc. Trong lễ tưởng niệm 10 năm đồng chí Lê Trọng Tấn mất, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã nói: “Trong hai cuộc chiến tranh, đồng chí Lê Trọng Tấn đã chỉ huy các đơn vị thuộc quyền của mình đánh chiếm sở chỉ huy của địch. Trong kháng chiến chống Pháp, đơn vị thuộc quyền đồng chí chỉ huy đã bắt tướng Đờ Cát làm tù binh, trong kháng chiến chống Mỹ, đơn vị thuộc quyền đồng chí đã đánh chiếm dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các Dương Văn Minh đầu hàng”.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 03:46:32 PM

        IV. MÙA XUÂN NĂM 1975

        Sau khi giải phóng Tây Nguyên và Trị - Thiên, đồng chí Lê Trọng Tấn được giao nhiệm vụ chỉ huy Quân đoàn 2 và lực lượng vũ trang phía bắc Quân khu 5 tiến công giải phóng Đà Nẵng, căn cứ quân sự lớn thứ hai của ngụy quyền Sài Gòn. Do bị thất bại lớn ở nam và bắc Đà Nẵng, địch chủ trương rút chạy khỏi Đà Nẵng nên đồng chí Lê Trọng Tấn chưa có dịp phát huy tài năng chỉ huy của mình.

        Sau khi giải phóng Đà Nẵng, Bộ Tổng tư lệnh lệnh cho Quân đoàn 2 làm nhiệm vụ cùng địa phương tiếp quản và bảo vệ vùng mới giải phóng, chỉ đưa Sư đoàn 325 cùng lữ đoàn xe tăng tăng cường cho Quân đoàn 1 để vào tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn (Quân đoàn 1 phải để Sư đoàn 308 ở lại bảo vệ miền Bắc).

        Trong cuộc họp ngày 3 tháng 4 tại Đà Nẵng để tổng kết chiến dịch giải phóng Đà Nẵng, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đề nghị với đồng chí Lê Trọng Tấn cho quân đoàn theo đường số 1 tiến vào Sài Gòn. Nếu vào kịp thì chiến dịch lớn nhất, chiến dịch quyết chiến chiến lược được tăng thêm lực lượng. Nếu không vào kịp thì đấy là cuộc hành quân để tạo điều kiện củng cố vùng giải phóng suốt miền Trung.

        Đồng chí Lê Trọng Tấn, với nhạy cảm về tình hình, đã đồng ý với ý kiến của Bộ tư lệnh Quân đoàn 2. Ngày 4 tháng 4 đồng chí bay ra Hà Nội để trình bày và thuyết phục Bộ Tổng tư lệnh chấp nhận đề nghị của Quân đoàn 2.

        Ngày 5 tháng 4 đồng chí đã vào Đà Nẵng và thông báo Bộ Tổng tư lệnh đồng ý Quân đoàn 2 với toàn bộ lực lượng (trừ Sư đoàn 324 ở lại Trị - Thiên và Đà Nẵng) hành quân theo đường số 1 để vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, mở đường mà đi, đánh địch mà tiến. Đồng chí được phân công cùng đồng chí Lê Quang Hòa chỉ huy đánh địch cánh quân Duyên hải.

        Đồng chí thông báo cho chúng tôi, địch đã sáp nhập phần còn lại của quân khu 2 của chúng vào quân khu 3 và tổ chức tuyến ngăn chặn ở Phan Rang, Phan Thiết để bảo vệ Sài Gòn. Đồng chí cũng biết đoạn đường từ Đà Nẵng vào Phan Rang bị phá hoại nặng nề, nhiều cầu lớn bị địch đánh sập.

        Với tài năng trong chiến trận, đồng chí tự mình đi đầu đoàn quân để chỉ huy, nhằm khắc phục cầu đường đảm bảo cho quân đoàn tiếp cận Phan Rang sớm và bản thân đồng chí cũng cần có mặt sớm trước tuyến phòng thủ của địch để có thời gian nắm được tình hình và hạ quyết tâm.

        Đồng chí Lê Trọng Tấn, khi thì đi cùng Bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn, khi gặp đoạn đường không bị phá hoại thì vượt lên trước để kịp nắm được tình hình. Ngày 13 tháng 3 quân đoàn vào đến Cam Ranh thì được biết đồng chí Lê Trọng Tấn đã có mặt ở đấy đang cùng đồng chí Hoàng Minh Thảo chỉ huy Sư đoàn 3 tiến công Phan Rang. Sáng ngày 14 tháng 4 đồng chí triệu tập Bộ tư lệnh Quân đoàn đến và giao nhiệm vụ: “Nếu Sư đoàn 3 tiến công chậm thì quân đoàn tiến vào chiến đấu theo trục đường số 1 để hiệp sức với Sư đoàn 3 đánh chiếm nhanh thị xã Phan Rang và sân bay Thành Sơn”.

        Đồng chí cũng biết Sư đoàn 3 chỉ có bộ binh, tất nhiên không thể tiến hành nhanh được vì lúc này Sư đoàn 3 đang cách trung tâm thị xã Phan Rang trên 20 km và đang phải đánh chiếm một số quận lỵ ở bên ngoài thị xã. Vì vậy lúc chia tay chúng tôi, đồng chí dặn thêm: “Về chuẩn bị ngay một sư đoàn bộ binh cùng lữ đoàn xe tăng sẵn sàng bước vào chiến đấu, có thể vào sáng ngày 16 tháng 4”. Sáng ngày 15 tháng 4 Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 lại được lệnh đến gặp đồng chí với mệnh lệnh bắt đầu chiến đấu vào sáng ngày 16 tháng 4, quân đoàn tiến theo đường số 1 từ hướng bắc, Sư đoàn 3 tập trung lực lượng từ hướng tây, tiến công theo trục đường 19.

        Đến hết ngày 16 tháng 4 chúng tôi cùng Sư đoàn 3 hoàn toàn làm chủ cả tỉnh Ninh Thuận trong đó có thị xã Phan Rang và sân bay Thành Sơn, bắt nhiều tù binh, thu nhiều trang bị, vũ khí, máy bay. Sáng ngày 17 tháng 4 Tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận gặp mặt đồng chí Lê Trọng Tấn và đồng chí Hoàng Minh Thảo, hai đồng chí chỉ huy chiến dịch cùng Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 và Bộ tư lệnh Sư đoàn 3. Sau cuộc gặp mặt, đồng chí Lê Trọng Tấn lệnh cho Quân đoàn 2 tiếp tục đánh chiếm tỉnh Bình Thuận và vào Rừng Lá gặp đồng chí sẵn sàng nhận lệnh. Để kịp thời chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh, với cương vị Phó tư lệnh chiến dịch, đồng chí Lê Trọng Tấn đi vòng phía tây Bình Thuận vào trước ở bắc Xuân Lộc.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 03:49:37 PM

        Sau khi đánh chiếm toàn bộ tỉnh Bình Thuận, ngày 22 tháng 4 Quân đoàn 2 vào tập kết ở Rừng Lá. Vừa triển khai xong toàn bộ quân đoàn, chúng tôi nhận được thư của đồng chí Lê Trọng Tấn với hai nội dung: Một là cử một sư đoàn cùng lực lượng của Quân khu 5 đánh chiếm Hàm Tân (tỉnh lỵ tỉnh Bình Tuy của ngụy quyền), hai là sáng ngày 23 tháng 4 vào gặp đồng chí, tại một địa điểm bắc Xuân Lộc để nhận lệnh tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.

        Sau khi giao nhiệm vụ cho đồng chí Bùi Công Ái, Tham mưu trưởng quân đoàn cùng Sư đoàn 304 (đơn vị hành quân sau cùng của quân đoàn) tiến công Hàm Tân trong đêm 23 tháng 4, toàn bộ Bộ tư lệnh Quân đoàn có mặt tại sở chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó tư lệnh chiến dịch. Đồng chí được phân công chỉ huy cánh quân phía Đông gồm Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4.

        Tuy các quân đoàn chiến đấu ở các chiến trường khác nhau, nhưng chỉ huy quân đoàn đều là những đồng chí đã từng nhiều lần chiến đấu chung một chiến trường, dự chung nhiều hội nghị, nên đều quen biết nhau, tay bắt mặt mừng, hàn huyên mất nửa giờ, sau đó mới bắt đầu bước vào cuộc họp.

        Ngoài hai đồng chí Lê Trọng Tấn, Lê Quang Hòa phụ trách cánh Đông (về sau đồng chí Lê Quang Hòa trở về Bộ tư lệnh chiến dịch, cánh Đông chỉ còn lại đồng chí Lê Trọng Tấn), có mặt hai bộ tư lệnh quân đoàn. Quân đoàn 4 do đồng chí Hoàng Cầm làm tư lệnh, đồng chí Hoàng Thế Thiện làm chính ủy (đồng chí Hoàng Thế Thiện nguyên Chính ủy Sư đoàn 304 cùng với tôi chỉ huy sư đoàn năm 1969).

        Bắt đầu cuộc họp, đồng chí đại diện Bộ chỉ huy chiến dịch giới thiệu quyết tâm của chiến dịch Hồ Chí Minh và nhiệm vụ của cánh Đông. Cánh Đông gồm lực lượng hai quân đoàn và sư đoàn đặc công của Miền (có 2 trung đoàn), có nhiệm vụ trước mắt tiêu diệt địch, đánh chiếm toàn bộ khu vực tả ngạn sông Đồng Nai bao gồm cả thị xã Bà Rịa (tỉnh lỵ tỉnh Phước Tuy). Nhiệm vụ tiếp sau tiến vào nội đô, đánh chiếm quận 1 trong đó có dinh Độc Lập, quận 9 và thành phố Vũng Tàu. Hai trung đoàn đặc công có nhiệm vụ đánh chiếm và chốt giữ các cầu trên các trục đường, không cho địch phá, bảo đảm cho 2 quân đoàn tiến vào nội đô. Hướng đông bắt đầu tiến công quân địch vào chiều ngày 26 tháng 4, tiến vào nội đô dự kiến vào sáng ngày 29 tháng 4.

        Sau khi tìm hiểu rõ nhiệm vụ của cánh Đông, đồng chí Lê Trọng Tấn đề nghị đồng chí Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4, người nhiều năm hoạt động ở Nam Bộ, đề xuất ý kiến về quyết tâm và kế hoạch tác chiến của cánh Đông. Đồng chí Hoàng Cầm đề nghị Quân đoàn 2 dùng một sư đoàn đánh chiếm Bà Rịa, Vũng Tàu, một sư đoàn tăng cường cho Quân đoàn 4, một sư đoàn làm dự bị cho hướng đông (Quân đoàn 2 được tăng cường Sư đoàn 3 nên có đủ 3 sư đoàn).

        Sau khi đồng chí Hoàng Cầm trình bày xong, đồng chí Lê Trọng Tấn điều hành cuộc thảo luận về quyết tâm và kế hoạch tác chiến: Nghe các ý kiến khác nhau, sau khi trao đổi với đồng chí Lê Quang Hòa, đồng chí chính thức hạ quyết tâm và giao nhiệm vụ cho các đơn vị, tổ chức hiệp đồng tác chiến.

        Tài năng của vị Tư lệnh dày dạn trận mạc, chỉ huy thành công nhiều chiến dịch, thể hiện trong quyết tâm tác chiến của cánh Đông.

        - Quân đoàn 2 chỉ tách riêng một sư đoàn tiến công đánh chiếm Bà Rịa, Vũng Tàu, toàn bộ quân đoàn cùng Quân đoàn 4 song song đột kích vào Sài Gòn. Quân đoàn 4, trước mắt vào nội đô. Quân đoàn 2 trước mắt đánh chiếm Nước Trong, Long Thành, Long Bình, sau đó theo đường xa lộ và vượt sông đoạn Nhà Bè để tiến vào nội đô. Đồng chí giải thích rõ, hai quân đoàn trên thê đội 1 tuy cũng chỉ có 4 sư đoàn, nhưng sức mạnh khác xa với 1 quân đoàn có 4 sư đoàn. Quân đoàn ngoài các sư đoàn bộ binh còn có sức mạnh của Bộ tư lệnh và cơ quan quân đoàn, các đơn vị bảo đảm và đặc biệt có các binh chủng kỹ thuật mạnh như xe tăng, pháo binh, phòng không.

        - Do Quân đoàn 2 có số lượng xe tăng, pháo binh, pháo phòng không nhiều hơn Quân đoàn 4, đạn dược cũng nhiều hơn do thu được của địch, đặc biệt quân đoàn có nhiều kinh nghiệm tiến công trong hành tiến qua các trận đánh vào Huế, Đà Nẵng, Phan Rang, Phan Thiết, vì vậy các đồng chí Quân đoàn 2 nhiều khả năng tiến công nhanh hơn Quân đoàn 4. Để bảo đảm cho Quân đoàn 4 kịp thời vào dinh Độc Lập sớm, một đồng chí đề nghị nếu Quân đoàn 2 tiến nhanh nên đánh quặt sang đường 1 để chi viện cho Quân đoàn 4. Đồng chí Lê Trọng Tấn bác bỏ ý kiến Quân đoàn 2 đánh quặt sang hướng Quân đoàn 4. Đồng chí giải thích, cách chi viện cho nhau tốt nhất là cứ thọc sâu vào lòng địch.

        - Chiếm được tả ngạn sông Đồng Nai-Cần Giờ là có thể chặn được địch rút chạy theo đường sông. Nhưng chúng còn một con đường rút chạy khác là đường không. Vì vậy Quân đoàn 2 phải nhanh chóng đưa một tiểu đoàn pháo binh nòng dài vào Nhơn Trạch để chế áp sân bay Tân Sơn Nhất càng sớm càng tốt.

        Kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh, qua các lần hội nghị tổng kết, mọi người đều thấy quyết tâm của đồng chí Tư lệnh cánh Đông có nhiều sáng tạo và hoàn toàn chính xác.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 03:53:49 PM
        
        V. HỌC VIỆN QUÂN SỰ CAO CẤP (NAY LÀ HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG)

        Sau giải phóng miền Nam, được Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm làm Phó giám đốc Học viện Quân sự cao cấp, tôi rời quân đoàn và ngày 10 tháng 4 năm 1976 đã có mặt tại phòng làm việc của đồng chí Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội. Tại đây, tôi được biết đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng kiêm Giám đốc Học viện Quân sự cao cấp.

        Nhiệm vụ trước mắt của học viện là chuẩn bị để đầu năm 1977 mở lớp bổ túc đầu tiên cho cán bộ cao cấp, cấp chiến dịch, chiến lược. Địa điểm của học viện là địa điểm cũ của Học viện Trung cao. Tại đây, mới xây dựng xong một số nhà ở cho học viên và cơ quan. Phòng học, hội trường và các công trình khác phục vụ cho việc giảng dạy, chưa kịp xây dựng thì chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ diễn ra nên phải tạm dừng. Vậy, để có thể mở lớp bổ túc sau 6 tháng chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn.

        - Khó khăn đầu tiên là công việc phải chuẩn bị thì nhiều, nhưng thời gian ngắn quá.

        - Cán bộ giáo viên của học viện đang quá trình điều động từ các đơn vị về. Ngay ban giám đốc mới có đồng chí Lê Trọng Tấn và tôi, trong đó đồng chí Lê Trọng Tấn với cương vị Phó tổng tham mưu trưởng, khó dành được nhiều thời gian để làm việc cho học viện.

        - Phải chuẩn bị mới toàn bộ giáo trình, bồi dưỡng giáo viên để huấn luyện, trong khi giáo viên của học viện và học viên đều cùng cấp (thượng, đại tá), cùng chức (cán bộ chỉ huy sư đoàn, quân đoàn, quân khu, quân binh chủng).

        - Phải xây dựng toàn bộ nhà cửa bàn ghế, các trang bị đủ để ăn ở và giảng dạy, học tập.

        Tuy khó khăn nhưng tôi cũng tin tưởng có thể chuẩn bị kịp để giảng dạy tốt, vì đứng đầu học viện là một vị tướng tài năng, có uy tín lớn trong lực lượng vũ trang.

        Qua sáu tháng chuẩn bị và qua một năm học tập của lớp bổ túc đầu tiên, học viện đều thừa nhận giảng dạy tốt học tập tốt. Thành tích đạt được như vậy trước hết là do có sự chỉ đạo sát sao của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, sự cố gắng của các giáo viên, cán bộ, học viên, sự giúp đỡ của các đơn vị trong toàn quân. Nhưng đồng chí Giám đốc Lê Trọng Tấn đã đóng góp một phần rất lớn cho thành công.

        Kinh nghiệm tác chiến phong phú, trình độ lý luận sâu sắc trên nhiều mặt cả chính trị và khoa học quân sự, cách làm việc vừa nhiệt tình vừa sáng tạo, uy tín lớn trong lực lượng vũ trang, đã được thể hiện rõ trong tất cả công việc chuẩn bị của học viên cho lớp bổ túc đầu tiên.

        - Trước hết đồng chí tính cụ thể thời gian phải dành để làm việc với học viện. Văn phòng Bộ Tổng tham mưu tính toán các công việc đồng chí phải làm ở Bộ, kết luận,. đồng chí có thể dành mỗi tuần một buổi, nhiều nhất là hai buổi để làm việc với học viện. Đồng chí nói với tôi thời gian chính thức trong các ngày không thể có hơn, nhưng đồng chí sẽ dành phần lớn buổi tối để làm việc với tôi Không cần hẹn trước, khi cần làm việc với đồng chí, 7 giờ tối tôi cứ đến nhà riêng, thấy đồng chí đang bận làm thì tôi tự rút lui, nếu đồng chí không bận thì cùng nhau làm việc. Nhiều tối chúng tôi phải làm việc đến 10 giờ đêm. Với cách làm như vậy, đồng chí đã giải quyết được hầu hết công việc cần làm với học viện. Ngoài việc chỉ đạo công tác, đồng chí còn phải trực tiếp giảng một bài quan trọng cho lớp học là bài: “Tác chiến chiến lược trong chiến tranh tương lai”.

        - Do giáo viên là học viên cùng trình độ, đồng chí chủ trương dùng toàn quân để dạy một người. Một người có trình độ cao như thế nào cũng không bằng trình độ của toàn quân. Cụ thể việc viết giáo trình và chuẩn bị giáo viên đã tiến hành như sau:

           + Giáo viên các khoa binh chủng như xe tăng, pháo binh, phòng không, không quân, thông tin... cùng với cơ quan các binh chủng hợp lực viết giáo trình. Khóa đầu sẽ mời các tư lệnh binh chủng đến trực tiếp lên lớp. Các đồng chí tư lệnh binh chủng như đồng chí Lê Văn Tri, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân; đồng chí Doãn Tuế, Tư lệnh Binh chủng Pháo binh; đồng chí Hoàng Niệm, Tư lệnh Binh chủng Thông tin cùng nhiều đồng chí tư lệnh khác đều đến lên lớp tại học viện khóa đầu tiên.

           + Giáo viên học viện phối hợp với Cục Tác chiến, Cục Quân báo, Cục Quân lực, Cục Quân huấn, Cục Dân quân tự vệ... tiến hành biên soạn các tài liệu về chiến lược và chiến dịch. Đồng chí Văn Tiến Dũng lên lớp bài “Xây dựng lực lượng vũ trang”, đồng chí Lê Trọng Tấn lên lớp bài “Tác chiến chiến lược trong chiến tranh tương lai”. Tôi chỉ lên lớp một bài là “Nghệ thuật chiến dịch”. Đồng chí Nguyễn Năng, Trưởng khoa chiến dịch lên lớp bài “Chiến dịch tiến công”; đồng chí Khiếu Anh Lân, Phó khoa chiến dịch lên lớp bài “Chiến dịch phòng ngự”.

           + Các tài liệu về chính trị, hậu cần, kỹ thuật, giáo viên các khoa của nhà trường đều cùng các tổng cục, các học viện Chính trị, Hậu cần tiến hành biên soạn.

        Với cách giải quyết như trên, việc giảng dạy đạt kết quả tốt. Đồng chí Giám đốc còn chỉ đạo cho tất cả giáo viên, ngoài khai thác tất cả kinh nghiệm và tri thức của các cơ quan Bộ Quốc phòng, các binh quân chủng, trong quá trình giảng dạy còn phải học tập kinh nghiệm và tri thức của học viên để tự nâng cao trình độ của mình, bảo đảm lớp sau giáo viên nhà trường sẽ tự lên lớp là chính.

        - Về việc xây dựng các phòng học và hội trường, đồng chí Lê Trọng Tấn đề nghị với Bộ và được Bộ chấp nhận, cử đồng chí Vũ Xuân Chiêm, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng lo toàn bộ, theo yêu cầu học viện đề ra. Đồng chí Vũ Xuân Chiêm đã dành nhiều thời gian trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng nên trước ngày khai giảng một tháng đã hoàn thành toàn bộ công việc.

        Với uy tín của mình, đồng chí Lê Trọng Tấn đã viết thư đến các cơ sở của Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, các quân khu, quân đoàn đề nghị giúp đỡ. Trong một thời gian ngắn, mọi trang thiết bị để giảng dạy học tập, mọi trang bị nội thất để ăn, ở cũng được hoàn tất.

        Có thể nói, nếu không có uy tín, tài năng cộng với nhiệt tình trong việc bồi dưỡng tri thức khoa học quân sự cho cán bộ của đồng chí Giám đốc, chúng tôi khó hoàn thành chuẩn bị mọi mặt được tốt để mở lớp sau 6 tháng. Giáo viên, cán bộ, học viên luôn nhớ đến công lao của đồng chí, người đã đặt nền móng cho một trường học cấp cao của lực lượng vũ trang.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 03:59:57 PM

        VI. CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC

        Kết thúc khóa 1 ở Học viện Quân sự cao cấp, đồng chí Lê Trọng Tấn trở về với cương vị Phó tổng tham mưu trưởng và sau một thời gian được bổ nhiệm làm Tổng tham mưu trưởng.

        Năm 1978, xảy ra chiến tranh ở biên giới Tây Nam, đồng chí Lê Trọng Tấn được Quân ủy Trung ương cử vào chỉ huy trực tiếp cuộc chiến đấu ở đây. Đồng chí đã cộng tác chặt chẽ với Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang nước bạn, phát huy khả năng chiến đấu của hai quân khu 7 và 9 cùng hai quân đoàn 3 và 4, lúc đầu là đánh bại các hoạt động của địch đánh phá vùng biên giới của ta, về sau đánh bại hoàn toàn chính quyền và lực lượng vũ trang của Khơ-me đỏ, giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi nạn diệt chủng.

        Trong thời gian đầu của chiến tranh ở biên giới Tây Nam, được sự đồng ý của đồng chí Hoàng Minh Thảo, lúc này là Giám đốc học viện, đồng chí Lê Trọng Tấn gọi tôi vào chiến trường Tây Nam để giúp đồng chí nghiên cứu cách đánh. Cách đánh thời gian này mới là ngăn chặn địch dùng hỏa lực hoặc cho quân đánh phá vùng biên giới của ta.

        Sau khi nghiên cứu một thời gian ngắn, tôi đề xuất ý kiến và được đồng chí đồng ý cho triển khai. Cụ thể là:

        - Để ngăn chặn pháo binh địch bắn qua biên giới, ta kết hợp trinh sát mặt đất và trinh sát đường không kịp thời phát hiện địch, triển khai pháo binh ra gần biên giới. Trên từng hướng ra biển triển khai một tiểu đoàn pháo binh và một phi đội máy bay lên thẳng vũ trang, sẵn sàng đánh pháo binh địch ngay lúc chúng vừa triển khai hoặc vừa bắt đầu bắn.

        - Đối với địch tiến công theo đường bộ, dọc theo chiều dài biên giới, ta triển khai một số tiểu đoàn hoặc trung đoàn ở các hướng trọng điểm, những vùng đông dân cư, cùng với việc tăng cường lực lượng trực chiến đấu được trang bị mạnh của dân quân các xã biên giới. Phía sau trận địa của các tiểu đoàn, của dân quân tự vệ, ta chuẩn bị một số đơn vị có khả năng cơ động nhanh để chi viện cho các đơn vị phía trước khi có địch thâm nhập vào nội địa ta.

        Cách làm như trên hạn chế được một phần, nhưng không ngăn chặn được hoàn toàn địch đánh phá vùng biên giới. Có lần chúng đã dùng pháo binh bắn vào thị xã Tây Ninh gây cho ta một số thiệt hại đáng kể.

        Trước tình hình trên, đồng chí Lê Trọng Tấn đã đề nghị với Bộ Chính trị, với Quân ủy Trung ương, phải đưa quân triển khai sâu vào đất Cam-pu-chia khoảng 5-10 km mới ngăn chặn được địch đánh vào vùng biên giới của ta. Sau khi trao đổi với bạn, Bộ Chính trị đồng ý với đề nghị của đồng chí Lê Trọng Tấn. Từ đấy nhân dân vùng biên giới của ta mới được yên ổn để sinh sống, làm ăn.

        Cuối năm 1978, những ngày đầu năm 1979, khi tôi đã trở về học viện, tôi được biết đồng chí đã cùng lực lượng vũ trang bạn trong một thời gian ngắn, đánh tan lực lượng của bọn diệt chủng Khơ-me đỏ, làm chủ hầu hết thị trấn, thị xã của đất nước Cam-pu-chia. Chính quyền cách mạng của nước Cam-pu-chia trở về để lo xây dựng đất nước và từng bước đánh tan hoàn toàn quân Khơ-me đỏ.

        Thành công của việc đánh bại địch trong một thời gian ngắn, nói lên tài năng của người chỉ huy, của đồng chí Lê Trọng Tấn.

        Tôi không nhớ đồng chí Lê Trọng Tấn rời chiến trường Cam-pu-chia lúc nào, nhưng ngày 21 tháng 2 năm 1979, sau chiến tranh biên giới ở phía Bắc xảy ra bốn ngày, tôi đang ở Học viện quân sự cao cấp thì được gọi lên Bộ để nhận nhiệm vụ mới. Đúng 2 giờ chiều ngày 21 tháng 2 tôi có mặt ở phòng làm việc của Bộ, gặp đồng chí Văn Tiến Dũng, lúc này đã là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và đồng chí Lê Trọng Tấn, lúc này là Tổng tham mưu trưởng. Hai đồng chí giao nhiệm vụ cho tôi, ngày 22 tháng 2 có mặt ở Lạng Sơn với cương vị Tư lệnh Quân đoàn 5 kiêm Tư lệnh mặt trận Lạng Sơn. Bộ tư lệnh mặt trận Lạng Sơn gồm tôi làm tư lệnh, đồng chí Hoàng Trường Minh, Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn làm chính ủy. Phó tư lệnh về quân sự có đồng chí Bế Chu Lang, Chủ tịch tỉnh Lạng Sơn; đồng chí Sơn, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự địa phương. Phó chính ủy có đồng chí Phí Triệu Hàm, Chính ủy Quân đoàn 5. Một lần nữa tôi lại làm việc trực tiếp dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn.

        Cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc chấm dứt. Đầu năm 1984, tôi về cơ quan Bộ để làm công tác khoa học, rồi lại lên biên giới. Gặp tôi, đồng chí Lê Trọng Tấn bắt tay và nói: “Năm 1975 đồng chí hứa với tôi sẽ chiếm dinh Độc Lập trong thời gian sớm nhất, đồng chí đã làm được. Nay tại mặt trận này, tôi tin đồng chí sẽ cùng Bộ tư lệnh Quân khu 2 hoàn thành nhiệm vụ do Bộ giao.

        Trong quá trình chiến đấu ở biên giới phía Bắc, anh em thấy tôi xông xáo khắp nơi, đi đến những nơi cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt nhất. Không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, trước hết là vì Tổ quốc, vì quân đội, nhưng một phần cũng quan trọng là vì lòng tin của người chỉ huy, người thương yêu mình, tin tưởng mình, giao nhiệm vụ trực tiếp cho mình. Tôi có ý nghĩ, nếu đồng chí Lê Trọng Tấn giao cho tôi nhảy vào lửa, tôi cũng nhảy.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 04:02:48 PM

        VII. CỤC KHOA HỌC QUÂN SỰ

        Từ năm 1983 tôi là Cục phó, rồi Cục trưởng Cục Khoa học Quân sự, trực thuộc Bộ Tổng tham mưu. Đồng chí Lê Trọng Tấn là Tổng tham mưu trưởng. Một lần nữa tôi được làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê Trọng Tấn.

        Từ năm 1983 cho đến năm 1991, lúc đồng chí qua đời đồng chí đã làm được rất nhiều việc để xây dựng nền khoa học quân sự Việt Nam trong thời kỳ mới. Là Tổng tham mưu trưởng nhưng đồng chí đã dành nhiều thời gian để chỉ đạo công tác khoa học quân sự.

        Những nội dung mà các cơ quan khoa học đã làm được dưới sự chỉ đạo của đồng chí Tổng tham mưu trưởng, nổi lên các nội dung chính sau đây:

        - Dự thảo để Trung ương ra nghị quyết (nghị quyết 24/TW) về đường lối quân sự trong thời gian mới.

        - Hệ thống điều lệnh của quân đội.

        - Hệ thống giáo trình về chiến thuật, chiến dịch, chiến lược của lực lượng vũ trang.

        - Hệ thống điều lệ công tác tham mưu, chính trị, hậu cần kỹ thuật.

        - Hệ thống công tác quân sự địa phương.

        Thực ra, bản thân đồng chí Tổng tham mưu trưởng, tuy nắm vững nhiều nội dung về khoa học quân sự, nhưng không ai có thể nắm hết được. Sự chỉ đạo có hiệu lực của đồng chí Tổng tham mưu ở tất cả nội dung là do tác phong làm việc của đồng chí. Tác phong có thể hiện ở việc đồng chí biết sử dụng nhân tài, tôn trọng ý kiến của các chuyên gia trên từng lĩnh vực, dành nhiều thời gian để nghe rồi mới kết luận.

        Trong những năm hoạt động khoa học dưới sự chỉ đạo của đồng chí Lê Trọng Tấn, tôi thấy đồng chí vẫn giữ nếp nghe hết ý kiến của chuyên gia. Hội nghị thông qua các đề tài khoa học thường được dành thời gian hàng tuần lễ. Để tập trung vào việc thông qua đề tài khoa học, đồng chí thường rời nhiệm sở ở Bộ Tổng tham mưu, đi đến một địa điểm ở xa thành phố Hà Nội, thường là ra Đồ Sơn. Trong các cuộc hội thảo do đồng chí chủ trì, không như một số cuộc hội thảo sau này tôi thấy “hội” mà không “thảo”, đồng chí thường để những đồng chí có những ý kiến khác nhau tranh luận, phát biểu hết ý kiến của mình. Cụ thể, bất kỳ đề tài nào, sau lúc dự thảo xong, những người sẽ dự hội thảo được dành thời gian đọc kỹ, không dưới một tháng. Đến hội nghị mỗi người đều được phát biểu ý kiến của mình. Đồng chí Tổng tham mưu trưởng chủ trì hội nghị, nêu ra những vấn đề cần thảo luận để tìm ra chân lý. “Khi thảo luận từng người không phải chỉ phát biểu một lần, mà nói lại cho hết ý kiến của mình”. Vì vậy các cuộc hội thảo thường kéo dài 5-7 ngày. Trong quá trình đó đồng chí nghe nhiều hơn nói. Cuối cùng đồng chí kết luận. Kết luận xong ai có ý kiến gì không đồng ý với kết luận, đồng chí cho bảo lưu và được tranh luận vào một dịp khác.

        Cách làm việc như trên bảo đảm cho các đề tài có chất lượng cao. Rất tiếc đồng chí qua đời lúc tài năng đang dồi dào. Đồng chí mất đi là một tổn thất lớn cho quân đội.

        Không biết duyên nợ thế nào, nhưng từ năm 1971 (từ chiến dịch Đường 9 - Nam Lào) cho đến năm 1991, lúc đồng chí từ trần, 15 năm tròn, tôi được làm việc với đồng chí, khi thì cùng trong một bộ tư lệnh, một ban giám đốc khi thì ở đơn vị, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của đồng chí. Lúc nào tôi cũng cảm phục đồng chí về cả tài năng và đức độ, lấy làm hạnh phúc cho đời mình khi được làm việc dưới quyền đồng chí Lê Trọng Tấn. Tôi bao giờ cũng cảm nhận đồng chí là người thầy, người anh đặc biệt thân thiết.

        Nay đồng chí không còn nữa, tôi viết những dòng trên thay cho một nén hương để nói lên lòng kính mến, nỗi nhớ thương của một cán bộ đã được đồng chí dìu dắt tận tình.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 04:06:44 PM

ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI VIẾT VỀ THIẾU TƯỚNG HOÀNG ĐAN


THƯƠNG TIẾC ANH HOÀNG ĐAN MỘT TƯỚNG TÀI, MỘT NHÀ LÝ LUẬN XUẤT SẮC

Thượng tướng, Giáo sư,                     
Nhà giáo nhân dân HOÀNG MINH THẢO         

        Tướng Hoàng Đan là một tướng chiến trận. Nơi nào có cuộc chiến ác liệt nhất là có mặt tướng Hoàng Đan. Ông chiến đấu dũng cảm và chỉ huy có mưu trí. Ông đã tham gia chỉ huy các trận đánh nổi tiếng.

        Trong kháng chiến chống Pháp, năm 1951, ở trận Bến Xanh, bên bờ sông Đáy thuộc địa phận Ninh Bình, ông đã chỉ huy một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 57 đánh một trận công kiên vào một đơn vị Âu Phi chiếm giữ. Cách đánh lúc đó còn rất mới đối với quân đội ta. Trận đánh đã giành được thắng lợi, mở ra một trình độ tác chiến mới của quân đội ta.

        Năm 1952 trong chiến dịch Trung Lào, ông đã cùng trung đoàn chỉ huy giải phóng thị xã Cánh Đồng Chum.

        Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông đã chỉ huy Trung đoàn 57, bao vây cụm phía nam của chiến dịch là Hồng Cúm, chia cắt Hồng Cúm với khu trung tâm Mường Thanh, chia cắt hai khu vực, hạn chế lực lượng phản kích của địch đối với các trận đánh của các đại đoàn 312, 308, 316... và cuối cùng tiêu diệt trận địa Hồng Cúm, cùng các đơn vị khác giải phóng Điện Biên.

        Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông là người chỉ huy các đơn vị của Sư đoàn 304, tác chiến hiệp đồng binh chủng, giải phóng Làng Vây. Đây là một cuộc tiến công đầu tiên tác chiến hiệp đồng binh chủng, đánh vào một vị trí công sự vững chắc dưới sự chỉ huy của quân đội Mỹ. Chiến thắng này đã mở ra một triển vọng mới tác chiến hiệp đồng binh chủng trong chiến đấu với quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn.

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, ông đã cùng với các chỉ huy của Quân đoàn 2, phối hợp với ba thứ quân của Quân khu Trị - Thiên, giải phóng thành phố Huế và hiệp đồng với Sư đoàn 2 Quân khu 5, cùng bộ đội biệt động thành và đặc công thành với ba thứ quân của Quân khu 5, giải phóng thị xã Đà Nẵng. Sau đó, tận dụng thời cơ quân ta thắng lớn, cùng các quân đoàn bạn, cùng bộ đội ba thứ quân, bộ đội biệt động, đặc công Quân khu 7 và Sài Gòn, Quân đoàn 2 đã tổ chức một lực lượng cơ động thọc sâu binh chủng hợp thành do ông trực tiếp chỉ huy nhanh chóng đánh chiếm dinh Độc Lập, giải phóng Sài Gòn.

        Không những là một tướng chiến trận, chỉ huy những trận đánh lớn nổi tiếng, ông còn là người chỉ huy biết nắm chắc tình hình địch ta, rất mưu trí, dũng cảm, rất nhạy cảm, biết xử trí các tình huống chiến đấu, biết nắm chắc thời cơ để đánh những đòn then chốt quyết định trong các trận đánh lớn có nhiều khó khăn và giành thắng lợi lớn.

        Về tính cách, ông là một người giản dị, có tác phong quần chúng, cởi mở, ai cũng quý mến, gần gũi. Ông có tinh thần đấu tranh bảo vệ chân lý. Ông không chỉ là một nhà chỉ huy tài giỏi, mà còn là một nhà lý luận quân sự xuất sắc. Ông kết hợp thực tiễn với lý luận, do đó mà có tính học thuật cao. Các cuộc tổng kết về nghệ thuật chiến dịch và chiến lược quân sự, ông thường phụ trách các phần chủ chốt của công trình. Ông mất đi là một tổn thất cho nền quân sự Việt Nam, còn để dang dở các phần về lý luận quân sự và học thuật quân sự Việt Nam. Những gì ông để lại cho đời sau là rất quý báu, rất có giá trị.

        Thương tiếc ông, một tướng tài, một nhà lý luận xuất sắc. Chúng tôi sẽ tiếp tục cố gắng noi gương ông, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng hùng mạnh để bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng được nguyện vọng của ông, để ông được yên tâm an nghỉ nơi suối vàng.

Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2005         
Người bạn thân thiết của ông             


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 04:09:22 PM

NGƯỜI CHỈ HUY TRÍ DŨNG

Trung tướng NGUYỄN ÂN         

        Anh Hoàng Đan và tôi cùng ở Trường trung cao cấp (bây giờ là Học viện Lục quân) năm 1964. Năm 1966 là năm chiến tranh chống Mỹ đến thời kỳ cao điểm, tôi và anh được điều ra Sư đoàn 304. Anh là Sư đoàn phó Sư đoàn 304, tôi là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 Sư đoàn 304. Khi anh làm Sư đoàn trưởng thì tôi là Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng sư đoàn. Khi anh làm Phó tư lệnh Quân đoàn 2 thì tôi làm quyền Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304. Chúng tôi kề vai sát cánh bên nhau từ chiến dịch Khe Sanh Tết Mậu Thân năm 1968, tiếp sau đó là các chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, chiến dịch Quảng Trị, chiến dịch Thượng Đức, chiến dịch Trị - Thiên - Huế, chiến dịch Đà Nẵng cho đến tiến quân vào Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân, cuối cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng mùa Xuân năm 1975, tiến thẳng vào hang ổ cuối cùng và bắt toàn bộ chính quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

        Như vậy tôi và anh Hoàng Đan từ năm 1964 đến năm 1975 đã trải qua hơn mười năm cùng công tác bên nhau. Anh và tôi rất hiểu nhau và đoàn kết thân thiết với nhau trong tình đồng chí, đồng đội.

        Trong hơn mười năm ấy, tôi thấy anh Hoàng Đan có mấy nét nổi bật. Anh là một người chỉ huy có trình độ lý luận và thực tiễn, con người mưu trí và năng động, không chịu bó tay trước khó khăn, dám nghĩ, dám nói, dám đề đạt hẳn ý kiến của mình với cấp trên và có trách nhiệm với việc làm của mình. Anh là người luôn coi trọng kết hợp giữa huấn luyện và chiến đấu, giữa xây dựng chính trị tư tưởng và tác chiến. Cứ sau mỗi chiến dịch kết thúc là anh đặt vấn đề với Đảng ủy Sư đoàn làm tổng kết rút kinh nghiệm về cách đánh, về kỹ thuật chiến đấu, về công tác chính trị, về những vẫn đề làm được, vấn đề gì chưa làm được, khó khăn vướng mắc chỗ nào, mà khâu quan trọng cán bộ để nhằm mục đích đưa ra được kết luận đúng bổ sung trong huấn luyện và xây dựng đơn vị, cho những trận chiến sau, chiến dịch sau thắng lợi mà thương vong ít nhất. Lấy một vài thí dụ: Sau chiến dịch Khe Sanh Tết Mậu Thân năm 1968, anh đề xuất ra vấn đề chiến thuật vận động tiến công kết hợp với chốt, vấn đề bao vây Tà Cơn. Hay cách đánh trong phòng ngự ở Thượng Đức. Rồi đến chiến dịch Hồ Chí Minh, vấn đề đột phá mở cửa kết hợp với đưa binh đoàn thọc sâu nhanh chóng...

        Trong chiến đấu, anh luôn tìm tòi những điều xuất hiện mới và luôn sâu sát cấp dưới, chỗ nào có khó khăn anh xuống giải quyết tại chỗ. Cho nên mỗi khi xuất quân ra trận, bộ đội và cấp dưới tin tưởng và mến phục; một người chỉ huy mà được cấp dưới tin tưởng và mến phục là thắng lợi. Anh là người chỉ huy rất chăm lo đến đời sống bộ đội. Thời gian anh còn là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, anh rất quan tâm đến công tác hậu cần. Ở chiến trường, anh và Bộ tư lệnh Sư đoàn tích cực chỉ đạo công tác tăng gia sản xuất, anh luôn luôn đề ra yêu cầu chỉ tiêu cho mọi đại đội đến sư đoàn bộ, đơn vị nào cũng phải có lợn, gà và phải có vườn rau - vì rau ở chiến trường rất quý hiếm. Riêng trên sư đoàn nuôi hàng trăm con trâu, bò. Năm 1973 các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, một số tỉnh miền Bắc và khách quốc tế vào thăm chiến trường miền Nam. Về Đảng và Nhà nước, có đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp; khách quốc tế có đồng chí Phi-đen Cát-xtơ-rô, v.v... Đến thăm sư đoàn, các đồng chí đều khen sư đoàn đánh giặc giỏi và tăng gia sản xuất cũng giỏi.

        Đến khi đã nghỉ hưu, anh là người vận động chúng tôi cùng tham gia với Viện Lịch sử quân sự Việt Nam của Bộ Quốc phòng tổng kết chiến thuật và chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Anh cùng anh Hoàng Minh Thảo là những nòng cốt tạo nên sự thành công của công trình tổng kết đó. Anh nói với chúng tôi: “Bọn mình bây giờ tuổi đã cao, cũng phải để lại cái gì cho lớp người kế tục bọn mình, rất mong họ là những người trưởng thành hơn mình, đó là nguyện vọng của những người như chúng ta”. Anh Hoàng Đan là người chỉ huy được cả Trí và Dũng.


Tiêu đề: Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 04:14:51 PM

MỘT TƯỚNG TÀI, MỘT NGƯỜI BẠN CHÍ CỐT

Thiếu tướng NGUYỄN DŨNG CHI         

        Hồi anh Đan còn sống, anh nói: “Ta có nhiều tướng, tướng tài: ông Giáp, ông Dũng, ông Thái, ông Tấn, ông An…”1.

        Nay, anh mất rồi. Tôi nói: “Anh cũng là một tướng tài. Anh mất hơi sớm, bỏ lại ngổn ngang công việc các tướng trước giao cho: tổng kết chiến dịch, tổng kết chiến lược giúp cho anh Quang, anh Thảo”2.

        Tôi nói tướng tài, có cái lý của nó. Cỡ anh, không mấy người bì kịp. Sư đoàn 304 mở toang cửa phía tây để vào Đông Hà, Quảng Trị. Quân đoàn 2 chọc xuống Đà Nẵng, anh là người chỉ huy đầu tiên vào thành phố quân cảng liên hiệp. Quân đoàn 2 với bộ binh - xe tăng thọc thẳng vào dinh Độc Lập năm 1975, anh cũng là người chỉ huy quân đoàn đầu tiên vào Sài Gòn...

        Rồi anh nắm Quân đoàn 5 trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở phía Bắc. Cũng đã có thời, anh cho thực hiện đào hào qua thung lũng Vị Xuyên như hồi Điện Biên Phủ để giữ vững biên giới Hà Giang. Thì sao không gọi được là tướng tài?

        Anh từng bảo: “Họ nhà tớ, sống thọ lắm!”.

        Thế, đột ngột, anh ra đi!

        Tôi chảy nước mắt, vì anh Đan và tôi duyên nợ nhiều trong đời lính. Hồi chống Pháp, anh làm tiểu đoàn trưởng ở Trung đoàn 57, tôi làm tiểu đoàn phó Trung đoàn 9 cùng Đại đoàn 304. Tôi cứ chê Trung đoàn 57 không có trận nào nổi đình nổi đám, vì Trung đoàn 9 có dịp đánh nhiều hơn... Nhưng, thời đánh Mỹ, thì tôi thua anh. Gặp nhau lại ở Sư đoàn 304b mới thành lập, tôi và anh mới sát cánh nhau thực thụ ở cấp sư đoàn.

        Đúng là một con người xông xáo, lắm sáng kiến. Từ những đơn vị tân binh tứ xứ của đồng bằng Bắc Bộ, cán bộ phân đội đa số là tái ngũ, anh buộc họ phải rèn, phải diễn tập nhiều... đến mệt. Để rồi, khi gặp thời, đổi hướng chiến dịch từ đông sang tây đường 9, gặp phải hướng “hóc”, khó “nhằn” (Khe Sanh), Sư đoàn 304b đã... chịu trận giỏi. Tôi nói “chịu trận”, vì sau khi thắng Khe Sanh, diệt vòng vây, sư đoàn đã “lì” hơn 70 ngày đêm, chịu các loại hỏa lực ghê gớm nhất của Mỹ, của sư đoàn kỵ binh bay và lữ đoàn lính thủy đánh bộ số 3, “gánh bớt” cho Huế (Mậu Thân). Anh Đan và tôi đã từng nằm hào với những tiểu đội đầu tiên của “chốt” vây Tà Cơn của Trung đoàn 9 tận hàng rào cuối cùng, cách Mỹ chỉ còn 80-100 mét. Anh bảo: “Tớ với cậu nằm đây cho anh em họ thấy “sư sãi” cùng ở với họ”.

        Một điều tôi không ngờ và cũng không tán thành ở anh Đan. Hóa ra, con người khá lì lợm đó lại quá “dễ” tính.

        Năm 1969, lại cùng nhau ở nam Khe Sanh - Đắc Nông sau Mậu Thân, sư đoàn cố giữ hoạt động phía tây Trị - Thiên, “dứ” mãi, Mỹ vẫn không chịu đến, đành đi sâu tìm mà đánh. Đành đánh vào Đá Bàn, một bộ phận lữ đoàn 5 cơ giới Mỹ. Tiểu đoàn trưởng của Trung đoàn 24 hy sinh. Cần gấp người thay. Tôi bàn với anh Đan: “Cho cậu T. xuống đi”. anh bảo: “Ông ác” quá, T. nó đã “kiêng” bom đạn, thì thôi, tội nó”.

        Rập rình mãi không được trận nào, may thay lữ đoàn 5 cơ giới Mỹ thọc ra đường 9 tràn xuống phía nam, và xảy ra trận đồi 340. Trung đoàn trưởng báo cáo “diệt” 1 tiểu đoàn Mỹ, trong khi chủ nhiệm trinh sát sư đoàn theo dõi địch cho hay vẫn đủ 4 đại đội. Tôi bảo: Lôi 2 cậu T., và X. về “trần” cho một trận về tội báo cáo “láo”. Anh Đan xí xóa: “Bí quá, “nó” mới báo cáo thế. Hôm nào về, sẽ bảo: cứ tập hợp đủ 800 tên Mỹ lại, cho các cậu “chém”, liệu trong nửa giờ, các cậu có chém hết không?”.

        Hóa ra con người lắm mưu mẹo, lì lợm mà quá “dễ” với người. Giữa tôi và anh Đan, chỉ khác nhau chỗ đó. Anh dễ với người quá, và có lẽ, cũng dễ, cũng giản đơn với mình.

        Nói về anh Đan mà chỉ gọn vài trang giấy, quả không đủ. Thành tích chiến đấu, chỉ huy của anh nhiều vô cùng. Anh mất rồi, nhưng kể những trận chiến đấu lớn trong các chiến dịch lớn hồi chống Mỹ không thể không nhắc đến tên anh.

        Anh về hưu cùng tôi một ngày, với quân hàm Thiếu tướng được phong từ năm 1977. Tôi chuyển sang nghề dịch thuật tiếng nước ngoài nhờ vốn văn hóa cũ, anh thì tiếp tục cộng tác với Viện Lịch sử quân sự, lo giúp tổng kết cho các tướng lĩnh cũ, mong để lại cho các tướng sau này điều gì đó.

        Và đột ngột, anh ra đi, không kịp viết cho hết kinh nghiệm đời binh nghiệp của mình. Tiếc thay!

--------------------
        1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại tướng Hoàng Văn Thái, Đại tướng Lê Trọng Tấn, Thượng tướng Nguyễn Hữu An.

        2. Thượng tướng Trần Văn Quang, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.

HẾT