Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2017, 10:24:13 pm



Tiêu đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2017, 10:24:13 pm
Tên sách: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2008
Số hoá: ptlinh, chuongxedap

Ban biên soạn:
      Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Chủ biên)
      Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
      Thượng tá ĐẬU XUÂN LUẬN
      Trung tá TRẦN NGỌC ĐOÀN
      Thượng úy PHAN NGỌC DOÃN
      Trung úy NGUYỄN MINH THỦY

Hoàn chỉnh bản thảo:
      Trung tá TRẦN NGỌC ĐOÀN
      Đại úy NGUYỀN THÚY CÚC


LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một đất nước nằm ở ven biển Thái Bình Dương - cửa ngõ quan trọng của lục địa Đông Nam châu Á. Trải qua bao thế kỷ, bọn xâm lược phong kiến, thực dân và đế quốc nhòm ngó và xâm lăng nhưng dân tộc Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục. Ngay từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã phải bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975...

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một kho tàng kiến thức vô cùng quý giá, xây đắp nên truyền thống quật cường, bất khuất, lòng yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc. Việc tìm hiểu lịch sử dân tộc vừa là nhu cầu, vừa là trách nhiệm trước lịch sử để tỏ lòng biết ơn đối với công lao to lớn của tổ tiên, vừa là đòi hỏi của thời cuộc để mỗi người Việt Nam tự tin hội nhập cùng bạn bè quốc tế với một bản sắc dân tộc mạnh mẽ.

Với ý nghĩa đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức biên soạn và xuất bản "Tủ sách lịch sử Việt Nam". Tủ sách lịch sử Việt Nam gồm nhiều cuốn, mỗi cuốn sách trình bày một cuộc khởi nghĩa cụ thể dưới dạng hỏi đáp ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Hy vọng Tủ sách lịch sử Việt Nam nói chung và cuốn sách Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương nói riêng sẽ là người bạn đồng hành thân thiết của mỗi bạn đọc trong cuộc hành trình tìm về lịch sử nguồn cội.

Mặc dù những người biên soạn đã có nhiều cố gắng nhưng bộ sách khó tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết, chúng tôi rất mong được bạn đọc lượng thứ và đóng góp ý kiến.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 11:32:25 am

Câu hỏi 1: Bối cảnh xã hội nước ta dưới thời vua Tự Đức, trước khi Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858 như thế nào?
Trả lời:


Một điều không ai có thể phủ nhận là hơn nửa thế kỷ (1802-1859) trị vì, vua quan nhà Nguyễn đã để lại cho dân tộc Việt Nam một đất nước suy nhược, một chính quyền phong kiến mục ruỗng, một xã hội đầy rẫy loạn lạc, bạo động và cơ cực lầm than. Chỉ với chừng ấy thời gian mà vua quan nhà Nguyễn đã phải chứng kiến và đàn áp trên dưới 450 cuộc nổi dậy lớn nhỏ.

Dưới triều Gia Long (1802-1819) có tất cả 73 cuộc khởi nghĩa, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Thủ lãnh Trấn ở Thanh Hóa (1805), Cao Văn Dung ở Hải Dương (1805), Cả Tổng và Nguyễn Trọng Phan ở Hải Dương (1807).

Triều Minh Mạng (1820-1840), chỉ trong 20 năm trị vì, Minh Mạng phải đối phó với 234 vụ nổi dậy; lớn nhất là các cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành ở Nam Định (1821), Lý Khai Bá ở Hưng Yên (1823), Lê Duy Lương ở Ninh Bình, Lê Văn Khôi ở Gia Định (1833), Nông Văn Vân ở Tuyên Quang (1836)...

Triều Thiệu Trị (1841-1847) với 7 năm cai trị đã có 5 cuộc nổi dậy, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Đinh Tuân ở Tây Ninh (1841), Nguyễn Vi và Lâm Sum (Xâm) ở Trà Vinh (1841), Nguyễn Văn Nhàn ở Sơn Tây (1844), Nguyễn Hữu Chính ở Ninh Thái (1847).

Triều Tự Đức, chỉ kể từ lúc lên ngôi (1847) đến khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862) cũng đã có gần 100 cuộc nổi dậy, đáng kể nhất là cuộc nổi dậy của Cao Bá Quát, Lê Duy Cự và Nguyễn Văn Thịnh ở Bắc Ninh (1854-1855)...

Đó là chưa kể đến các vụ cướp phá của bọn giặc biển, những cuộc nổi dậy lẻ tẻ mà quan lại địa phương không dám báo cáo sợ triều đình khiển trách.

Hầu hết các cuộc nổi dậy đều bị đàn áp nhưng các cuộc nổi dậy đó chẳng những không ngừng làm cho chế độ phong kiến nhà Nguyễn ngày một suy yếu, đất nước ngày một điêu tàn, kinh tế ngày một sa sút mà còn phản ánh sự mất lòng dân ngày một gia tăng đối với triều đình. Triều đình không hề có chủ trương thay đổi chính sách mà chỉ biết tập trung vũ lực để trấn áp.

Xây dựng theo chế độ phong kiến quan liêu, bảo thủ, lạc hậu, rập khuôn từ khuôn mẫu của Trung Quốc, xã hội Việt Nam dưới triều các vua Nguyễn là một xã hội phong kiến điển hình ở châu Á với các đặc trưng mà trong đó mức độ lầm than cơ cực trong đời sống của tầng lớp bị trị là nét nổi bật nhất.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 11:33:27 am

Vua quan nhà Nguyễn bám chặt vào ý thức hệ phong kiến, dùng nó làm vũ khí bảo vệ địa vị xã hội của mình, đã khước từ, bác bỏ mọi đề án cải cách. Thái độ này đã kìm hãm sức vươn lên của dân tộc, dìm đất nước vào vòng nghèo nàn, lạc hậu.

Kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, tầng lớp nhân dân đại đa số là nông dân nhưng ruộng đất lại tập trung vào tay quan lại, địa chủ. Mặc dù người nông dân đầu tắt mặt tối trên mảnh ruộng thuê nhưng vẫn không đủ cái ăn, cái mặc. Nào sưu, nào thuế, nào phu phen, tạp dịch... nào hạn hán, lụt lội, người nông dân không thể sống nổi, phải bỏ làng mạc phiêu tán xứ khác kiếm ăn.

"Dân tình buồn bực
Nửa sợ nửa lo.
Vay mượn nhà giàu không cho.
Cầm tiền mua thì không bán (...).
Vợ con thôi nheo nhóc.
Chồng lại phải phu phen.
Muốn vạch cả trời lên
Kêu gào cho hả dạ.
Cơm thời nỏ (không) có.
Rau cháo cũng không (...)
Còn bộ xương sống
Vơ vất đi ăn mày.
Rồi xó chợ lùm cây.
Quạ kêu vang bốn phía.
Xác đầy nghĩa địa
Thây thối bên cầu.
Trời ảm đạm u sầu
Cảnh hoang tàn đói rét
Dân nghèo cùng kiệt
Kẻ lưu lạc tha phương
Người chết chợ chết đường.
Trừ bọn lòng lang dạ thú không thương
Ai ai thấy nỏ đau lòng xót dạ
Sẵn bút đây ta tả
Để ghi lại vài câu.
Cho ngàn vạn năm sau.
Biết cảnh tình cơ cực
Là cái đời Tự Đức

(Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giao, Hát dặm Nghệ Tĩnh, tập 2).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 11:34:10 am

Người nông dân là thế. Còn người lính thì lương cũng không đủ ăn, thợ mỏ giỏi nhất cũng chỉ có 3 quan tiền và một phương gạo mỗi tháng. Trong khi đó, "mỗi vua đều có hàng trăm bà vợ, chia làm 9 bậc: bậc nhứt mỗi năm được hưởng 1.000 quan tiền, 300 phương gạo, 60 tấm lụa, 48 bộ quần áo; bậc thấp nhất cũng có 180 quan tiền, 286 phương gạo, 12 tấm lụa. Hoàng thái hậu lương mỗi năm 10.000 quan, 300 phương gạo, 60 tấm lụa, gặp thượng thọ thì tiến cung thêm 5 vạn, thượng thọ vua thì tiến cung thêm 2 vạn. Lương thái tử 1.000 quan, 360 phương gạo, hoàng tử 500 quan, 360 phương gạo, công chúa 360 quan, 360 phương gạo. Tất cả những người trong tôn nhân phủ đều hưởng lương cao. Thỉnh thoảng lại có thưởng riêng" (Đại Nam thực lục chính biên).

Khi đang tại vị, ông vua nào cũng chỉ chăm chăm lo xây cái "hậu sự" cho mình thật nguy nga đồ sộ gọi là "nền nhà muôn thuở" (vạn niên cơ) hao tổn không biết bao nhiêu sức người sức của, gây nên bao nhiêu khổ cực cho trăm họ.

Tự Đức lên ngôi vua năm 1847, thừa hưởng cái "di sản" mục ruỗng do hậu quả của chính sách cai trị của các triều đại trước. Vua quan nhà Nguyễn tìm mọi cách củng cố quyền lực của mình dựa trên nhãn quan về thế giới và đường lối tổ chức chính trị theo kiểu Trung Quốc. Trung Quốc vừa được xem như là một kẻ thù chính nhưng chế độ xã hội Trung Quốc lại được coi là mẫu mực cần tham khảo, đối chiếu. Chính chế độ này với hệ thống tư tưởng, học thuật, quan chế, pháp luật... lỗi thời, lạc hậu đã gặm nhấm tiềm năng, sức sống dân tộc Việt Nam. Mặt khác, chính bản thân Tự Đức cũng góp phần thúc đẩy sự khủng hoảng của triều đại nhà Nguyễn ngày càng trầm trọng hơn không gì cứu vãn được. Ý thức được tình hình bi đát của triều đại mình, Tự Đức đã nhiều lần xuống chiếu "tìm người hiền và cầu lời nói thẳng" nhưng thực tế nhiều đề án cải cách, canh tân đều bị vua quan nhà Nguyễn xếp vào ngăn kéo.

Oằn vai vì "gánh nặng di sản", vua Tự Đức thường lúng túng trong việc đối phó với nhiều vấn đề, trong đó, kinh tế là vấn đề nổi cộm. Nguồn tài chính của triều đình chủ yếu chỉ dựa vào thuế thân và thuế ruộng đất, còn tiểu thủ công và ngoại thương thì không đáng kể. Giao thương với các nước phương Tây thì e ngại vô tình tạo điều kiện cho sự xâm nhập của đạo Gia tô. Có thời kỳ Nam Kỳ bán một số lúa gạo cho Philippin, Malaixia, Campuchia thì nặng về chính trị hơn là thương mại. Chính sách bế quan tỏa cảng cũng góp phần không nhỏ trong việc kìm hãm sự phát triển của các nghề tiểu thủ công. Chính sách "bế quan tỏa cảng" và chính sách "trọng nông ức thương" của triều đình nhà Nguyễn đã làm sức dân ngày một hao mòn, cùng kiệt. Ngay khi Tự Đức lên ngôi, Trương Quốc Dụng đã tâu: "Tài lực của nhân dân không bằng năm, sáu phần mười năm trước". Và mười ba năm sau khi bắt đầu chống lại quân xâm lược Pháp, Nguyễn Tri Phương đã phải than rằng: "Quân và dân ta của đã hết, sức đã yếu".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 11:34:35 am

Rõ ràng là do cố duy trì một cơ chế xã hội đã lỗi thời kìm hãm sức sống của dân tộc trong nghèo nàn lạc hậu, thêm vào đó là thiên tai, là sự xa hoa của triều đình, người dân chỉ còn mỗi con đường là đứng lên chống đối; đất nước vốn đã nghèo lại càng nghèo hơn, triều đình không còn hơi sức chống đỡ khi bị ngoại xâm, nên việc triều đình Tự Đức tỏ ra lúng túng đối phó với thực dân Pháp khi chúng tấn công xâm chiếm Nam Kỳ là lẽ đương nhiên.

Trong quá trình thực hiện chủ trương bành trướng thuộc địa để thỏa mãn yêu cầu phát triển chủ nghĩa tư bản, thực dân Pháp đã chú ý đến vùng Đông Nam Á mà trong đó Việt Nam là một mục tiêu không thể bỏ qua được.

Qua một số cố đạo trong hội truyền giáo hải ngoại, thực dân Pháp ngày càng tập trung nhiều lượng thông tin về Việt Nam làm cơ sở cho họ đi đến quyết định xâm lược nước ta. Hơn thế nữa, một vài cố đạo như Pellerin, Retord và nhất là Legrand de la Liraye (cố Trường) chẳng những cố thuyết phục Pháp hoàng dùng võ lực để thiết lập một vùng nhượng địa ở Việt Nam mà còn trực tiếp can thiệp vào nội tình nước ta bằng cách tài trợ, xúi giục một vài phần tử phản động, phiêu lưu nổi dậy chống lại triều đình.

Trước khi cho quân đi đánh phá Đà Nẵng vào năm 1858, nước Pháp đã là một đế quốc hùng mạnh có nhiều thuộc địa rải rác ở nhiều nơi: ở châu Mỹ có Martinique, Dominique..., ở châu Phi có Senegal, Saint Louis, Tahiti, Algérie..., còn ở châu Á thì chỉ mới lấy được một số thành phố hải cảng và Caledonie.

Sau khi lấy Caledonie vào năm 1853, Pháp thực sự tiến hành cuộc xâm chiếm Việt Nam.

Chính thực trạng xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đã góp phần lý giải nguyên nhân tạo điều kiện cho thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đồng thời cho thấy sức đề kháng của nhân dân ta và lý do thất bại của sự đề kháng đó trước bão táp của chủ nghĩa tư bản Pháp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 01:36:40 pm

Câu hỏi 2: Những đặc điểm của vùng đất Nam Kỳ và chính sách mộ binh đồn điền của nhà Nguyễn như thế nào, đặc biệt là giai đoạn 1853-1859 dưới thời vua Tự Đức?
Trả lời:


Vùng đất Nam Bộ trù phú ngày nay là công sức, mồ hôi, nước mắt, có khi cả xương máu của những người đi "khai cương thác địa". Họ đã gian khổ khắc phục những khó khăn ở vùng đất mới hoang vu đầy rừng rậm, thú dữ:

      Ra đi dao bảy giắt lưng;
      Ngó sông, sông rộng, ngó rừng, rừng cao...
      Chèo ghe sợ sấu cắn chưn.
      Xuống bưng sợ đỉa lên rừng sợ ma.


Biết bao người đi khai hoang, người dân đồn điền đã ngã xuống trong rừng sâu nước độc và bao nhiêu người khác nữa cũng đã vĩnh viễn không trở về vì kiệt sức trong lúc đào kênh khơi nguồn nước ngọt vào đồng ruộng hay đã mất xác vì cá sấu, cọp beo:

      U Minh, Rạch Giá, Thị Quá, Sơn Trường
      Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.


Dân đồn điền là những người tiên phong tiến công vào Đồng Tháp Mười. Họ là người chẳng những có tính cần cù của nông dân mà còn có cái tài của một chiến sĩ. Họ là "tiền hiền", nói theo đồng bào Nam Bộ, nên hình ảnh họ còn mãi trong lòng người dân địa phương.

Bên cạnh thực trạng chung của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, Nam Kỳ còn có những nét riêng. Đó là vùng đất mới khai phá, màu mỡ, thưa dân. Đây vừa là nơi dung thân lý tưởng của đám lưu dân từ miền Bắc, miền Trung vào - khi thấy không thể sống nổi ở quê nhà - vừa là nơi có khả năng cung cấp lúa gạo cho cả nước. Sau hàng loạt các cuộc di dân tự phát, triều đình nhà Nguyễn mới tổ chức những đợt di dân, đưa binh lính, tù phạm tổ chức thành đội ngũ vào với mục đích "giữ giặc, yên dân" nhằm khai phá vùng đất "hoang nhàn" này để giải quyết những mâu thuẫn xã hội.

Xuất phát trên cơ sở đó, chính sách đồn điền ở Nam Kỳ hình thành do động cơ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất đã nhanh chóng biến thành sở hữu lớn của điền chủ và các quan cai quản đồn điền. Từ đó, chế độ tư hữu ruộng đất ở Nam Kỳ có nhiều điểm khác biệt so với miền Trung và miền Bắc. Một bộ phận khá đông lưu dân đến vùng đất mới không đủ sức tự khai phá, họ phải dựa vào thế lực của người giàu có, của sở đồn điền. Do đó, họ nhanh chóng trở thành tá điền. Đành ràng chính sách khẩn hoang thực tế là tăng cường thế lực kinh tế cho tầng lớp điền chủ giàu có, kéo theo đó là nạn bao, chiếm ruộng đất... nhưng về mặt xã hội, đất hoang được khai phá, sản lượng lương thực Nam Kỳ sung túc, đời sống nông dân ở đây có khá hơn miền Trung và miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 01:37:06 pm

Từ những năm cuối thế kỷ XVIII, lúc Nguyễn Ánh còn chiếm giữ Gia Định, việc phát triển nông nghiệp được chú ý bằng chính sách khai hoang, lập ấp và sau có thêm chính sách khai hoang, lập đồn điền.

Có hai loại đồn điền: Một loại đồn điền được nhà nước phong kiến cấp chi phí và phương tiện canh tác cho quân lính đi khai hoang. Một loại đồn điền khác cũng được nhà nước phong kiến trợ cấp các hình thức như thế nhưng dân mộ được tổ chức thành đội ngũ. Cả hai đều thuộc về nhà nước phong kiến, nhưng điểm khác nhau là đồn điền loại một thì nhà nước phong kiến quản lý toàn bộ sản lượng, còn đồn điền loại hai thì người canh tác được chia một phần sản lượng của mình làm ra.

Năm 1802, khi lên ngôi, Gia Long đã chú ý khai thác vùng đất phương Nam, cho lập đồn điền ở Phước Long (Biên Hòa), Tân Bình (Gia Định), Kiến An (Định Tường) và Định Viễn (Vĩnh Long). Bấy giờ không những quân đội lập đồn điền mà tư nhân cũng được phép lập đồn điền. Nhưng nhìn chung, triều Gia Long thích phát triển đồn điền loại một. Còn loại hai, nhà nước phong kiến tuy có đổi mới bằng chủ trương giảm sưu thuế nhưng dần dần bị quân sự hóa, nghĩa là cũng bị ép phải theo loại một.

Triều Minh Mạng tiếp tục chính sách đồn điền của triều Gia Long. Thời kỳ này, đồn điền được quân sự hóa toàn bộ và được phát triển đến tận Côn Đảo, Hà Tiên với mục đích bảo vệ an ninh biên giới. Minh Mạng lại táo bạo hơn vua cha là cho phép sử dụng lực lượng tù phạm để khai phá đất hoang. Nếu trước kia đồn điền được gọi theo tên đơn vị hành chính địa phương thì từ năm 1822 trở về sau được mang tên theo phiên hiệu quân đội:

Đồn điền ở Phước Long mang tên Gia Phước, đồn điền ở Định Viễn mang tên Gia Viễn, đồn điền ở Tân Bình mang tên Gia Bình, đồn điền ở Kiến An mang tên Gia An (Đại Nam thực lục chính biên).

Cuối đời Minh Mạng, năm 1840, để tăng nguồn thuế, triều đình chủ trương lấy đất đồn điền cấp cho nông dân. Lúc mới thành lập đồn điền, có nhiều trường hợp xâm phạm địa giới đất đai tư nhân, đến khi giải thể sẽ có những "nông dân" lợi dụng quyền thế chiếm hữu những mảnh đất màu mỡ mà không tốn công sức. Việc xáo trộn đất đai này sinh nhiều bất công, uất ức nên đã là một trong những nguyên nhân khiến một vài nơi nổi loạn.

Năm 1841, Thiệu Trị lên ngôi, thấy tình hình diễn biến càng ngày càng khó khăn nên cho giải tán toàn bộ đồn điền ở Nam Kỳ. Từ đó, triều đình chỉ cho phép nông dân khai hoang, lập ấp theo hình thức dân sự.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 01:38:34 pm

Tháng Giêng năm Canh Tuất (1850), Nguyễn Tri Phương được cử làm Kinh lược sứ Nam Kỳ thì sáu tháng sau, ông đã dâng sớ trình bày 13 việc, việc đầu tiên là "họp dân lập đồn điền để giúp sinh kế". Tháng 11, ông lại xin sửa sang hai việc ở Lục tỉnh, trong đó có việc "họp dân nghèo túng lại lập đồn điền để giúp kế sinh sống" (Đại Nam thực lục chính biên). Ngoài ra, Nguyễn Tri Phương còn đề nghị nhiều biện pháp táo bạo để khuyến khích người mộ và ứng mộ. Trong ý kiến đề nghị của Nguyễn Tri Phương tuy không nói cụ thể nhưng rõ ràng đây là ý kiến đồn điền loại hai. Triều thần Tự Đức có đem ra bàn bạc nhưng có lẽ chưa hiểu hết ý đồ của Nguyễn Tri Phương và cũng có lẽ ngần ngại hao tốn tiền của mà chỉ đạt ý đồ "yên dân" nên kết luận "việc họp dân chúng làm đồn điền có điều bất tiện" (Quốc triều chính biên).

Chính sách đồn điền bị quên lãng ba năm. Nhờ Kinh lược phó sứ Phan Thanh Giản đồng tình với Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương, thấy mục đích "yên dân" không đủ sức thuyết phục nên đã bổ sung thêm mục đích "giữ giặc" nữa. Kết quả hai mục đích này đã thuyết phục được triều thần, nhất là bản thân vua Tự Đức, nên đầu năm Quý Sửu (1853), đề nghị của Nguyễn Tri Phương được chấp thuận. "Đất Nam Kỳ liền với Cao Miên, dân xiêu tán nhiều, nay mượn điều chiêu mộ để dụ dân về, đôn đốc việc khai khẩn, nuôi dân ăn, thiệt là một cách quan yếu để giữ giặc và yên dân" (Quốc triều chính biên). Nguyễn Tri Phương lĩnh nhiệm vụ thực hiện chương trình của mình đề ra.

So với các triều đại trước, triều Tự Đức không chủ trương trực tiếp đứng ra mộ dân mà giao cho những người tình nguyện. Những người tình nguyện đứng ra chiêu mộ hoặc tình nguyện ứng mộ có thể là người ở Nam Kỳ, người miền Trung, kể cả người Thanh, người Minh Hương, người Khơ Me. Đầu tiên, đồn điền được khôi phục ở An Giang, Hà Tiên..., ưu tiên cho vùng biên giới. Nhưng sau đó, có lẽ Nguyễn Tri Phương tiên đoán bọn tư bản Tây phương sẽ thôn tính Nam Bộ nên đề nghị được phép mở rộng ra khắp 6 tỉnh Nam Kỳ.

Sau một năm vất vả, Nguyễn Tri Phương đạt được kết quả: mộ được 32 ấp ở Gia Định, 60 ấp ở Vĩnh Long, 23 ấp ở An Giang, 9 ấp ở Định Tường, tổng cộng 124 ấp. Ngoài ra Nguyễn Tri Phương còn mộ dân lập được 7 cơ đồn điền ở Vĩnh Long mang phiên hiệu Long Hùng, Long Dũng, Long Tự, Long Hựu, Long Minh, Long Vinh, Long Nghĩa. Lập 2 cơ ở An Giang, phiên hiệu An Vũ, An Dũng. Lập 2 cơ ở Hà Tiên, phiên hiệu Hà Kiên, Hà Nghĩa. Lập 1 cơ ở Biên Hòa là Biên Dũng. Lập 6 cơ ở Gia Định, phiên hiệu Gia Trung, Gia Thuận, Gia Hùng, Gia Nhuệ, Gia Tráng, Gia Tiệp. Lập 3 cơ ở Định Tường là Tường Kiên, Tường Nhuệ, Tường Uy. Tổng cộng 21 cơ.

Riêng những ấp đã khai hoang có hiệu quả ở vùng biên giới, nay vì mục đích bảo vệ an ninh, trong năm 1854 phải dồn lại thành lập 2 cơ đồn điền mang tên Ninh Biên nhất và nhị. Năm sau tiếp tục dồn lại lập cơ tam và cơ tứ (Đại Nam thực lục chính biên).

Đó là những con số do Nguyễn Tri Phương báo cáo khoảng giữa năm 1854. Trong thực tế, những con số này thường xuyên biến động. George Durwell trong Bulletin de la Société des études Indochinoises số 36 năm 1898 cho biết lúc Pháp mới xâm chiếm thì ở Nam Kỳ có 24 cơ đồn điền, chia ra như sau: Vĩnh Long có 5 cơ, An Giang có 2 cơ, Biên Hòa 4 cơ, Gia Định 7 cơ và Định Tường 6 cơ.

Nếu so sánh hai bản thống kê chúng ta thấy ở những vùng xa xôi như Vĩnh Long, Hà Tiên có tình trạng đồn điền bị dồn lại vì dân phiêu tán. Trái lại, ở vùng đất hẹp người đông như Biên Hòa, Gia Định, Định Tường dễ chiêu mộ nên số lượng đồn điền càng ngày càng phát triển. Đồng thời, thực hiện triệt để mục đích "giữ giặc", "yên dân" nên với bất cứ giá nào nhà Nguyễn cũng duy trì đồn điền ở biên giới.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 01:40:02 pm

Để đạt được kết quả kể trên, nhìn chung chính sách đồn điền của triều đình Tự Đức có nhiều điểm khá rộng rãi:

Thứ nhất, là việc sử dụng nhân sự. Theo quy chế khai hoang lập ấp thì chỉ cần có 10 dân đinh bảo đảm số sưu thuế khoán. Tất nhiên với lực lượng lao động như thế không thể nào tấn công vào thiên nhiên được mà phải dung nạp thêm một số dân lậu. Triều đình quy định như thế tức là chấp nhận dân lậu, khuyến khích những người giàu có đi khai hoang cũng là nhằm mục đích để họ phải bỏ tiền ra đóng thay số thuế cho những người dân lậu.

Quy chế mộ dân lập đồn điền còn linh động hơn nữa. Ngoài việc chấp nhận dân lậu, triều đình còn cho phép sử dụng cả lực lượng tù phạm, nếu tội phạm nào có khả năng chiêu mộ, được hương lý và thân thích bảo lãnh thì tạm tha cho đi mộ. Mộ đủ thì tha tội (Đại Nam thực lục chính biên, có chép: Dân An Giang có tên Bùi Văn Chiếu khổ vì khó tìm cách sinh sống, bèn trình lý trưởng rồi họp bọn với Bùi Văn Uyển và 4 tên nữa để đi ăn trộm hai lần. Chiếu đến cửa cổng thú tội. Tỉnh thần bàn nên phạt Chiếu 100 trượng, còn các tên khác 80 trượng và bắt chúng nhập vào đồn điền để khai thác). Trong khi chỉ đạo thực hiện, dù Nguyễn Tri Phương có nhiều cố gắng nhưng không sao tránh khỏi những bất công, áp bức, nhất là nạn cho vay nặng lãi. Năm 1850, ngay khi nhận chức Kinh lược sứ, Nguyễn Tri Phương đã nhận thấy điều đó nên nhắc lại quy định của triều đình, chỉ cho vay một vốn một lời, mỗi tháng không quá 3 phần. Địa chủ phải giảm tô cho tá điền vào những năm mất mùa. Nhưng chắc chắn những lời kêu gọi suông của Nguyễn Tri Phương không đạt kết quả vì những người đi khai hoang đợt này vốn đã nghèo khổ mà không được chính quyền giúp đỡ, họ chỉ biết trông dựa vào những người giàu có gần gũi họ thôi.

Việc sử dụng dân không căn cước, sử dụng lực lượng tù phạm mà không có biện pháp tích cực giúp họ về tinh thần cũng như vật chất nên khi bị quẫn bách, họ chỉ có hai con đường: hoặc trở lại con đường cũ hoặc bỏ trốn mà sinh ra tình trạng xáo trộn hộ khẩu.

Thứ hai, trong giai đoạn đầu khai hoang lập đồn điền, lập ấp, triều đình chấp nhận khai man diện tích đất đai và giảm thuế khóa để thu hút dân chiêu mộ.

Buổi đầu, Nguyễn Tri Phương đề nghị để người ứng mộ đồn điền tự do khai khẩn đất hoang. Ba năm, công việc thành khoảnh mới khai báo để tiến hành lập bộ sổ. Nông dân khai hoang lập ấp cũng được ân huệ đó. Sau 3 năm mới đóng thuế tượng trưng và sau 10 năm mới đóng thuế theo ngạch ruộng tư. Những quy định này giúp nông dân nhận thấy nếu lỡ thất bại có thể còn lối xoay xở nên dễ bị thu hút vào.

Về biểu thuế, năm 1854, Nguyễn Tri Phương đề nghị mỗi người dân đồn điền đồng niên nộp sưu 2 hộc, người dân lập ấp nộp 3 hộc. Nhưng Tự Đức thấy biểu thuế như thế sợ quá cao nên chỉ cho áp dụng thí điểm một vài nơi, sau ba, bốn năm sẽ quyết định. Cuối cùng, sau ba năm, quyết định mỗi mẫu đồng niên nộp 1,5 hộc mà mỗi người chỉ được khai khẩn tối đa 4 mẫu (Đại Nam thực lục chính biên). Ở Nam Kỳ thời bấy giờ, bất kỳ ruộng công hay tư đồng niên, mỗi mẫu ruộng tốt (thảo điền) nộp 26 thăng và 3 tiền, mỗi mẫu ruộng gò (sơn điền) nộp 23 thăng và 3 tiền (Đại Nam hội điển). Nếu tính theo đơn vị đo lường nhà Nguyễn, mỗi hộc bằng 26 thăng, chúng ta thấy hai biểu thuế tương đương. Tuy thế nông dân vẫn bị việc khai hoang thu hút vào. Bởi thực tế nông dân thời đó bị một cổ hai tròng, ở những vùng đông dân đất hẹp, nông dân phải đóng tô cho địa chủ rất nặng nên lúc nào họ cũng có khuynh hướng tìm đất mới. Biểu thuế như thế vừa lợi ngân quỹ, vừa thu hút nông dân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 01:40:25 pm

Một điểm đáng lưu ý là Tự Đức đã thấy những phức tạp sắp xảy ra nên chỉ cho mỗi người khai khẩn tối đa 4 mẫu. Quy định này nhằm hạn chế những kẻ có thế lực chiếm cứ nhiều ruộng đất, làm trung gian trục lợi mà không thực tâm khai phá. Nhưng chắc chắn quy định này không được thực thi triệt để vì trong thực tế có những người quyền thế đã chiếm hữu khá nhiều ruộng đất, ví dụ ở Mộc Bài (Hậu Mỹ, Cái Bè, Tiền Giang) có lãnh binh Trần Đăng Trạch chiếm hữu rất nhiều ruộng đất (không rõ số lượng cụ thể, chỉ biết ông đã chia cho cháu nội là Trần Văn Tâm tu tại chùa Minh Sư ở Cai Lậy - Tiền Giang 100 mẫu).

Bên cạnh đó, triều đình đã nghiên cứu và đưa ra "quy chế thi đua" thật cụ thể. Người mộ được một đội đồn điền được bổ nhiệm chánh đội hưởng suất đội (chánh thất phẩm), người mộ được một cơ được bổ nhiệm cai cơ thí sai phó quản cơ (chánh lục phẩm). Khi khai hoang, cày cấy có kết quả thì cơ chế đồn điền được chuyển sang cơ chế hành chính. Đội được chuyển thành ấp, cơ chuyển thành tổng. Các viên suất đội, phó quản cơ được chuyển qua làm ấp trưởng, tổng trưởng; ở hình thức khai hoang, lập ấp cũng quy định khen thưởng rõ ràng như thế. Người đứng ra chiêu mộ không được các chức tước mà chỉ được các chức hàm dân sự, thấp hơn hai bậc. Người mộ được 30 người thì được tha thuế thân và tha sai dịch suốt đời. Mộ được 50 người thì được thưởng hàm chánh cửu phẩm bá hộ, được 100 người thì được thưởng hàm chánh bát phẩm bá hộ và vẫn được bổ nhiệm các chức vụ tổng lý (cai tổng, lý trưởng).

Hình thức mộ dân khai hoang lập ấp hoàn toàn giao khoán cho tư nhân. Chắc chắn ít khi họ thất bại vì trước khi bỏ vốn ra, họ phải suy tính kỹ lưỡng. Mà dù có thất bại thì cũng chỉ thiệt thòi cá nhân, không ảnh hưởng đến triều đình. Nên ở lĩnh vực này, triều đình chỉ cần khen thưởng, không cần răn phạt. Trái lại, ở hình thức mộ dân lập đồn điền, việc răn phạt đi đối với khen thưởng. Nếu người ứng mộ đã cày cấy được 2 mẫu trở lên (tức được phân nửa quy định) thì người chiêu mộ mới được khen thưởng. Nếu cày cấy chưa được 2 mẫu thì gia hạn cho một năm. Hết gia hạn mà vẫn chưa được 7/10 quy định thì chủ mộ sẽ bị răn phạt (Đại Nam thực lục chính biên). Điều này chứng tỏ triều đình đặt hình thức mộ dân lập đồn điền lên hàng đầu nên có nhiều biện pháp cứng rắn hơn.

Song, nhằm mục đích thúc đẩy các địa phương thi đua thiết lập đồn điền, năm Tự Đức thứ 7 (1854), triều đình cũng quy định khen thưởng và răn phạt các quan lại địa phương. Chương trình thành lập đồn điền dự tính trong ba năm. Năm 1854 là năm đầu các địa phương phải đôn đốc mộ dân khai khẩn 4/10 kế hoạch, năm 1855 và 1856 mỗi năm thực hiện 3/10. Địa phương nào trong năm đầu đôn đốc mộ dân, khẩn ruộng, làm nhà hoàn thành kế hoạch năm ấy thì theo thứ hạng được khen thưởng:

Hạng nhất, quan địa phương được gia 1 cấp; hạng nhì, quan địa phương được thưởng kỷ lục 2 thứ; hạng ba, quan địa phương được thưởng kỷ lục 1 thứ; hạng tư, quan địa phương được thưởng 3 tháng tiền lương.

Nếu trong 4/10 kế hoạch toàn bộ mà năm đầu: Thiếu 1/10 thì quan địa phương bị phạt 6 tháng lương; thiếu 2/10 thì bị giáng một cấp nhưng được lưu nhiệm.

Quy định khen thưởng hai năm sau giống như năm đầu. Tự Đức giao cho tỉnh theo dõi (Đại Nam thực lục chính biên).

Tuy thời gian khôi phục và thực hiện chỉ có bảy năm (1853-1859), nhưng nhờ có Nguyễn Tri Phương tích cực và được Tự Đức ủng hộ nên chính sách đồn điền thời bấy giờ đem lại kết quả khả quan: Khai hoang, mở rộng diện tích canh tác, nhất là diện tích ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước phong kiến. Nhà nước phong kiến thu được một số sản lượng nông nghiệp, giảm được lượng tiền cấp cho quân đội và tù phạm. Cuối cùng, chính sách đồn điền đã góp phần bảo đảm trị an, bảo vệ được vùng biên giới, sau này trở thành một trong những cơ sở cung cấp sức người, sức của cho các cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Kỳ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 01:41:25 pm

Câu hỏi 3: Cho biết quê quán và xuất thân của Võ Duy Dương?
Trả lời:


Do điều kiện tài liệu nên hầu hết các tác phẩm viết về Võ Duy Dương chưa trình bày cụ thể về thân thế và quê quán của ông. Về vấn đề này, có thể chia các tác phẩm trước đây ra 4 khuynh hướng khác nhau:

- Không đề cập tới lai lịch và dòng dõi của Võ Duy Dương là các quyển: Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức (Nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn, 1970); Lịch sử Việt Nam (1858 - cuối thế kỷ XIX), quyển 3, tập 1, phần 1 (Nhà xuất bản Giáo dục, 1979); Lịch sử Việt Nam, tập 2, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (Nhà xuất bản Khoa học xã hội Việt Nam).

- Xác định là không rõ quê quán và năm sinh của Võ Duy Dương là các tác phẩm: Việt sử Tân Biên (Việt Nam kháng Pháp sử của Phạm Văn Sơn, quyển 5, tập Thượng - Sài Gòn, 1962); Đồng Tháp Mười và cuộc kháng chiến của Thiên hộ Dương của Võ Bá Hài (Tạp chí Phổ thông, số 63, năm 1960, trang 10 - 16); Bốn vị anh hùng kháng chiến miền Nam của Thái Bạch (Sông Mới, Sài Gòn, 1957).

- Cho rằng Võ Duy Dương là người miền Nam, là các bài viết về Thiên hộ Dương của Nguyễn Văn Hầu (Bản chép tay của Trần Văn Thông - cháu ngoại của thủ khoa Huân, gọi vợ của Võ Duy Dương bằng cô ruột).

- Cho rằng Võ Duy Dương sinh ra ở Nghĩa Hành, Quảng Ngãi là cuốn Anh hùng Võ Duy Dương chống Pháp ở Đồng Tháp Mười (Người con của Quảng Ngãi trên đất Tháp Mười, Nhà xuất bản Thanh niên, 2005).

Xác định cụ thể quê quán của Võ Duy Dương ở Bình Định duy nhất là bài Định Tường - Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân – Tiểu truyện (Văn hóa nguyệt san, số 50, 52, Sài Gòn, 1960).

Trong chuyến đi thực địa từ ngày 10 đến ngày 14 tháng 11 năm 1989 tại Bình Định với sự kết hợp của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Bình Định, Tổ nghiên cứu lịch sử dân tộc, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp đã xác định được quê quán của Võ Duy Dương. Đó là thôn Cù Lâm Nam, nay là thôn Nam Tượng, xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn (Bình Định). Hiện nay, Nam Tượng là một thôn nhỏ chỉ khoảng mươi nóc nhà nằm dưới chân núi Thơm (bên tay phải đường 19 từ Quy Nhơn đi lên) cách sông Côn 4km về phía nam, cách làng Kiên Mỹ (quê hương Nguyễn Huệ) 12km.

Theo bản đồ Hồng Đức (năm Hồng Đức thứ 21, 1490) thì Bình Định lúc bấy giờ mang tên phủ Hoài Nhơn gồm ba huyện: Bồng Sơn, Phù Ly (Phù Cát) và Tuy Viễn (Tuy Phước). Năm 1602, Nguyễn Hoàng đổi thành phủ Quy Nhơn. Trong những năm 1771-1799, Quy Nhơn là cái nôi của phong trào nông dân Tây Sơn với người anh hùng dân tộc kiệt xuất Nguyễn Huệ - Quang Trung. Năm 1799, Nguyễn Ánh chiếm được thành Hoàng Đế đổi Quy Nhơn ra Bình Định.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 01:41:48 pm

Trước năm 1945, Bình Định có bốn phủ: Hoài Nhơn, An Nhơn, Tuy Phước, Phù Mỹ và ba huyện: Phù Cát, Hoài An và thành phố Quy Nhơn. Năm 1947 lập thêm ba huyện miền núi: An Lão, Vĩnh Thạnh và Vân Canh.

Địa hình tự nhiên Bình Định rất đa dạng, có đủ rừng núi, đồng bằng và ven biển. Đồi núi chiếm 4/5 diện tích, núi không cao nhưng hiểm trở. Đồng bằng tuy nhỏ hẹp (chỉ chiếm 17,5% diện tích) song là cánh đồng lớn ở Trung Bộ sau Thanh Hóa và Nghệ An. Bờ biển dài gần 140km với nhiều cửa sông, đầm sâu, cảng lớn.

Bình Định nằm ở một vị trí địa lý quan trọng, có tầm chiến lược, là tụ điểm của nhiều đường giao thông thủy, bộ. Đường thiên lý Bắc Nam, đường giao nhau từ biển lên Tây Nguyên qua Đông Bắc Campuchia - Hạ Lào. Do vậy, Bình Định đã từng là nơi diễn ra những cuộc đụng đầu lịch sử: Việt Nam - Chămpa với Nguyên Mông, Tây Sơn với Nguyễn Ánh...

Bình Định là địa bàn cư ngụ của các dân bản địa lâu đời: Ba Na, Chămpa... đó là các dân tộc tha thiết với cuộc sống tự do, bản chất kiên cường, chân thật. Còn lớp người Kinh (Việt) định cư đầu tiên ở đây vốn là lưu dân, dân mộ, tội đồ, tù phạm, tù binh... tức là những lớp người dưới đáy của xã hội phong kiến. Tổ tiên anh em của Nguyễn Huệ vốn là "tù binh” của chúa Nguyễn trong những trận đánh nhau với chúa Trịnh (1653-1658). Những lớp người mất tự do và khốn cùng đó, cả Kinh lẫn Thượng sớm biết đoàn kết lại, không tiếc mồ hôi, xương máu biến vùng đất hoang dã ở vùng phiên trấn (từ năm 1470 đến 1611, dãy núi Cù Mông là biên giới giữa Đại Việt và Chămpa) thành những làng xóm đông đúc, trù phú.

Để có sức mạnh đương đầu với cuộc sống hằng ngày của vùng phiên trấn, người Bình Định phải thường xuyên trau dồi võ thuật, từ đó Bình Định trở thành một vùng đất nổi tiếng thượng võ, nhất là dòng võ Tây Sơn độc đáo. Võ thuật đã trở thành phong trào quần chúng rộng rãi, cha truyền con nối. Hai câu ca dao: "Ai về Bình Định mà coi; con gái Bình Định cầm roi, đi quyền" đã nói lên tính phổ biến của loại hình sinh hoạt này trong dân gian. Suốt một thời gian dài trên 200 năm (1667-1884) ở Bình Định đều có tổ chức các kỳ thi võ thu hút sĩ tử cả một vùng từ Nam Ngãi đến Phú Khánh.

Chính những điều kiện kinh tế - xã hội và hoàn cảnh lịch sử đã tạo cho cư dân Bình Định vừa có những phẩm chất cao quý chung của người Việt (cần cù, sáng tạo, nhân ái, kiên cường) vừa có bản sắc riêng, đó là tính khẳng khái, hào hiệp, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 01:42:13 pm

Võ Duy Dương sinh ra và lớn lên ở một thôn nhỏ, được bao quanh bởi những dãy đồi núi chập chùng, sau lưng là núi Thơm, trước mặt là núi Hòn Giang, bên trái là núi An Tượng, bên phải là sông Côn, xa xa về phía trước mặt là núi chàng Lía.

Tổ sáu đời của Võ Duy Dương là Võ Hữu Man (họ Võ có gia phả nhưng đã bị thiêu hủy vào năm 1972) từ miền Bắc vào Cù Lâm Nam (Nam Tượng, xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn) lập nghiệp, đến nay con cháu vẫn còn nhiều người cư ngụ tại thôn này. Các thế hệ tiếp theo sau là Võ Văn Thạnh, Võ Văn Tín, Võ Hữu Sự và Võ Hữu Đức. Võ Hữu Đức có tất cả là bảy người con nhưng còn sống đến khi trưởng thành có 5 người, ba trai, hai gái: Võ Hứa Biểu, Võ Duy Tân, Võ Duy Dương, Võ Thị Viết và Võ Thị Bảy. Đến đời Võ Hữu Đức, gia đình họ Võ vẫn chuyên nghề làm ruộng, dù không mấy khá giả nhưng ông vẫn cố gắng cho các con học một ít chữ Nho với thầy đồ ở trong thôn. Võ Duy Dương lúc nhỏ đã có tiếng là khỏe mạnh và ăn nhiều. Sau khi cha mất, bà mẹ tảo tần hôm sớm nhưng không sao lo đủ cái ăn cho Dương. Bà rất thương con nhưng buộc lòng phải cho Dương đi chăn trâu mướn cho một bá hộ ở trong làng, không lấy tiền công, chỉ nhận đủ gạo để Dương sống qua ngày.

Dương thường tụ họp các bạn để vật lộn, đánh trận giả làm trò chơi. Một hôm, Dương lỡ mạnh tay làm chết một người bạn. Được tin có án mạng, quan phủ sở tại cho lính áp giải Dương về phủ đường xét hỏi. Hai người lính bắt Dương trói lại. Dương liền vung tay một cái, hai người té ngửa, bỏ chạy về. Quan phủ giận lắm, sai thêm hai người nữa nhưng cũng không bắt được. Sau cùng, quan phủ đích thân đến nhà, Dương không trốn tránh mà còn bình tĩnh trình bày sự việc. Quan phủ hỏi bà mẹ về Dương, bà cho biết từ nhỏ đến giờ, con mình cũng bình thường như bao đứa trẻ khác và cũng không học võ nghệ.

Quan phủ hết sức kinh ngạc, bảo bà mẹ sẽ không bắt tội Dương mà còn lo việc bồi thường cho gia đình nạn nhân với điều kiện là bà phải để cho Dương về làm con nuôi của quan phủ. Không còn cách nào khác, bà đành phải bằng lòng.

Thế là Dương về ở với quan tri phủ. Quan lo cho ông học văn, còn võ nghệ thì chưa có thầy thích hợp. Dù vậy, khi đi đâu, quan cũng cho Dương đi theo làm hộ vệ. Một hôm, Dương theo quan phủ về kinh đô hầu vua. Trong khi quan bận việc ở trong thành nội, Dương tản bộ ngắm cảnh núi Ngự, sông Hương, bỗng nghe tiếng trống quân thúc dữ dội và tiếng la hét vang rền ở phía bờ sông, Dương nhanh chân tiến về phía đó. Lúc bấy giờ là mùa nước lên, một bè gỗ quý của vua đứt dây trôi phăng phăng giữa sông. Gần mấy chục lính lực lưỡng xúm nhau kéo lại nhưng bè cứ trôi. Người đi đường đứng lại vừa coi vừa bàn tán, Võ Duy Dương cũng bàn góp:

- Tới cả chục người kéo, bè không dừng lại thì làm sao mà neo nó lại được?

Không ngờ, một viên chánh suất đội đứng cạnh đó nghe được, quay lại sừng sộ:

- À, chú bé này giỏi thật! Mi có ngon thì kéo lại một mình cho ta coi, nếu không thì đừng trách ta!

Dương bằng lòng, xắn tay áo lên, nắm lấy dây, xuống tấn. Bè gỗ từ từ dừng lại, rồi chầm chậm tiến ngược dòng nước, đến một gốc cây cổ thụ, Dương neo bè lại giữa tiếng cổ vũ của lính tráng và người đi đường.

Tan chầu, nghe ồn ào, vua và các quan ngự ra xem. Viên suất đội tâu qua mọi việc. Vua cho đòi Võ Duy Dương tới. Thấy vậy, quan phủ lật đật quỳ xuống tâu với vua về sức mạnh của Dương. Vua lấy làm lạ chưa tin lắm, ra lệnh cho Dương tới diễn ở võ trường để thử sức. Tại đây, Võ Duy Dương cử một cái đỉnh đồng nặng mấy trăm kilôgam đi mười bước rồi để xuống, mặt không hề biến sắc. Sau đó, Dương cử năm trái linh, mỗi trái nặng sáu mươi kilôgam. Hai nách hai trái, hai tay hai trái, miệng ngậm một trái. Vua và các quan hết lòng khen ngợi. Thấy Dương còn nhỏ, vua giữ lại kinh đô để ăn học và luyện tập võ nghệ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 08:35:17 pm

Câu hỏi 4: Thời gian nào Võ Duy Dương vào Nam? Đến lúc được sung chức Chánh quản đạo, ông đã có những hoạt động gì? Hàm Chánh bát phẩm Thiên hộ của Võ Duy Dương được phong vào năm nào?
Trả lời:


Năm Võ Duy Dương vào Nam là một trong những vấn đề then chốt trong toàn bộ tiểu sử của ông. Vì bản thân vấn đề này có liên quan đến một số vấn đề quan trọng khác.

Xác minh được niên đại này, chúng ta thấy được động cơ nào thúc đẩy ông vào Nam, nếu ông vào trước tháng 2 năm 1859 (lúc thực dân Pháp tấn công thành Gia Định) thì thời gian trước khi tham gia công cuộc chống giặc ngoại xâm ông đã có những hoạt động gì, vì sao ông được mệnh danh Thiên hộ? Và từ lúc nào? Rất tiếc là đến nay, chưa có tư liệu nào làm rõ vấn đề này.

Có lẽ điều mà Đại Nam thực lục chính biên chép: "Khoảng tháng 4 năm Tân Dậu (tức tháng 5-1861), Khâm phái Quân vụ Đỗ Thúc Tịnh đem theo các tùy phái Trương Minh Lượng, Phan Chánh (Phan Trung), Chánh bát phẩm Thiên hộ Võ Duy Dương... vào Nam mộ nghĩa quân ở các tỉnh Long, Tường, An, Hà" là tư liệu sớm nhất về thời điểm vào Nam của Võ Duy Dương. Ngoài ra không có tư liệu nào khác.

Tuy vậy, hiện nay cũng đã phát hiện ra nhiều yếu tố khác giúp ta suy nghĩ rằng ông có thể vào Nam sớm hơn.

Một trong hai tờ tấu trình mà ông gửi vua Tự Đức có lẽ bọn Pháp đã tịch thu được trong khi chúng tấn công vào Đồng Tháp Mười tháng 4 năm 1866 (Gustave Janneau, Deux rapports Militaires du Général Võ Duy Dương, Revue Indochinoise, số 2, 1914), có đoạn ghi: "Năm Tự Đức thứ 14 tháng 4, Võ Duy Dương tuân lệnh nhà vua theo Khâm phái Đỗ Thúc Tịnh di chuyển về Vĩnh Long, An Giang, Định Tường và Hà Tiên để nhận nhiệm vụ. Tháng 8 năm ấy, Khâm phái trao cho Dương bằng quản cơ chỉ huy võ sanh, võ sĩ".

Điều làm chúng ta thắc mắc: Nếu Võ Duy Dương chỉ có mặt ở Định Tường từ tháng 4 năm Tự Đức thứ 14 (tức tháng 5-1861) đến tháng 8 (tức là tháng 9-1861). Như vậy, chỉ trong vòng hơn ba tháng kể từ ngày Võ Duy Dương đặt chân lên đất Định Tường mà ông đã mộ được 1.000 nghĩa dũng để được phong bằng quản cơ (Theo quy chế quy định mức thưởng dành cho người mộ nghĩa dũng chống Pháp (3-1861), bằng quản cơ dành cho ai mộ được khoảng 1.000 người). Điều này ít có cơ sở thuyết phục, có thể Võ Duy Dương đã có mặt trong một thời gian nào trước đó nên ông mới có đủ điều kiện về uy tín và thời gian giúp công việc chiêu mộ đạt kết quả như vậy.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2017, 08:36:11 pm

Mặt khác, có nhiều tác giả: Trần Văn Thông (Định Tường - Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân - Tiểu truyện), Ca Văn Thỉnh (Nguyễn Hữu Huân, thân thế và sự nghiệp, Kỷ yếu khoa học, Ban Văn học - Viện Khoa học xã hội miền Nam, số 4 năm 1976)... đều cho rằng Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân cùng được cử: một người làm chánh quản đạo và một người làm phó quản đạo, nhưng không nói rõ là vào lúc nào. Trong khi đó, các tác giả Phạm Thiều, Cao Tự Thanh và Lê Minh Đức trong quyển Nguyễn Hữu Huân - Nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ bất khuất (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1986, trang 14 - 17) lập luận rằng: Nguyễn Hữu Huân được sung chức Phó quản đạo vào cuối tháng 5 năm 1859. Như vậy, có nghĩa là Võ Duy Dương cũng được phong Chánh quản đạo (Theo quy chế triều Nguyễn thì hai chức phó quản đạo (trật chánh ngũ phẩm) và chánh quản đạo (trật tòng tứ phẩm) đều thuộc hệ văn giai) vào thời điểm tháng 5 năm 1859.

Nếu thực tế lịch sử khẳng định điều này thì thời điểm vào Nam của Võ Duy Dương lùi lại sớm hơn nữa.

Hiện nay, nhiều bô lão ở Đồng Tháp Mười còn kể rằng: ông cố, ông nội mình gốc người Quảng Nam, Bình Định theo Võ Duy Dương vào Nam khai hoang lập ấp rồi sau đó tham gia chống thực dân Pháp dưới cờ nghĩa của ông Thiên hộ.

Ở Ấp Bắc Chang I, xã Tuyên Thạnh (Mộc Hóa, Long An) có nhánh họ Võ, tổ là Võ Văn Lộn, người Bình Định vào Nam ngụ ở xã Vĩnh Công (Châu Thành, Long An) đến đời con là Võ Văn Lên, Võ Văn Sanh bỏ Vĩnh Công vào Đồng Tháp Mười khai hoang, rồi gia nhập nghĩa quân Thiên hộ Dương. Ở đây còn có nhánh họ Nguyễn, tổ là Nguyễn Văn Long, người miền Nam khai hoang lập nghiệp ở Mộc Hóa, sau gia nhập nghĩa quân Thiên hộ Dương phụ trách việc đào kinh Cái Cỏ, phục vụ tiếp tế, mất năm 1865.

Ở vùng Xoài Tư (khu vực đồn điền cũ có chùa Trường Tháp), nay thuộc các xã Hậu Mỹ Bắc, Hậu Mỹ Trinh (huyện Cái Bè); Mỹ Thành Nam, Mỹ Thành Bắc (huyện Cai Lậy, Tiền Giang) có các nhánh họ Lê, họ Võ, họ Nguyễn, họ Phạm, họ Trần, họ Huỳnh. Tổ các họ này là người Quảng Nam và Bình Định vào lập nghiệp ở đất Ba Giồng (Tiền Giang): họ Trần ở Bưng Môn (Tân Phú, Cai Lậy), họ Phạm ở Tân Hội (Cái Bè), họ Nguyễn, họ Huỳnh ở Nhị Quý (Cai Lậy). Sau đó lại theo Võ Duy Dương vào vùng Xoài Tư khai hoang lập ấp, được ông truyền dạy võ nghệ, khi Pháp tấn công Gia Định, mọi người đều theo Võ Duy Dương chống giặc.

Theo nguồn tư liệu dân gian này thì Võ Duy Dương vào Nam trước khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định (2-1859). Điều này trùng hợp với tư liệu do gia đình Võ Duy Dương cung cấp. Theo cụ Võ Quế cho biết, Võ Duy Dương vào Nam độ vài tháng thì bà Phạm Thị Liệu (vợ lớn) sinh người con thứ hai (tên là Võ Duy Phụng). Bà Phạm Thị Liệu có hai người con là Võ Duy Cung và Võ Duy Phụng. Võ Duy Cung sinh năm 1855. Còn Võ Duy Phụng mất lúc 10 tuổi, nên không ai nhớ ông sinh vào lúc nào.

Cứ theo lời cụ Võ Quế (cụ Võ Quế, 85 tuổi (1989) - cháu nội của Võ Duy Dương) thì năm sinh của Võ Duy Phụng cũng là năm Võ Duy Dương lên đường vào Nam. Theo lẽ thường mà suy thì Võ Duy Phụng có thể sinh vào một trong các năm 1856, 1857 và 1858.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 06:28:12 pm

Như vậy, có khả năng Võ Duy Dương vào Nam trong khoảng từ 1857 đến 1858. Từ thời điểm này đến lúc được sung chức Chánh quản đạo vì đã chiêu mộ được nhiều nghĩa dũng chống thực dân Pháp, Võ Duy Dương có những hoạt động gì? Đó là vấn đề cần nghiên cứu để qua đó góp phần làm sáng tỏ thêm về con người và những hoạt động của Võ Duy Dương.

Sinh ra và lớn lên trên một vùng quê hương có truyền thống đấu tranh của các phong trào nông dân vào cuối thế kỷ trước với các địa danh, di tích ấp Tây Sơn, hòn Ông Bình, bến Trường Trầu (Tây Sơn), thành Hoàng Đế (An Nhơn), tân phủ Càn Dương (Phù Cát)... ít nhiều Võ Duy Dương cũng chịu ảnh hưởng truyền thống bất khuất của quê hương. Núi chàng Lía sừng sững trước mặt thôn Cù Lâm Nam (Nam Tượng) như nhắc nhở tấm gương đấu tranh chống bất công, áp bức.

Sau khi đàn áp được phong trào Tây Sơn, nhà Nguyễn tìm mọi cách xóa vết tích của anh em Tây Sơn, triệt hạ ấp Tây Sơn, san bằng thành Hoàng Đế, gán cho các địa danh lịch sử đó những cái tên mới có tính chất phỉ báng (Bình Định, An Tây, An Khê rồi Nam An, Bắc Thuận). Bọn địa chủ quan lại nhân cơ hội đó cướp đoạt ruộng đất của nông dân. Năm 1838, ruộng đất công ở Bình Định chỉ còn 6.000 mẫu trong khi đó ruộng tư lên đến trên 10.000 mẫu, phần lớn tập trung vào tay địa chủ. Năm 1839, triều đình thi hành chính sách quân điền bằng cách tịch thu phân nửa số ruộng tư làm thành ruộng đất công để chia cho nông dân (Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1971). Nhưng sau 13 năm thi hành chính sách quân điền, năm 1852, Hiệp biện Đặng Văn Thiêm sau khi đi kinh lý vùng Bình Định đã tâu với vua Tự Đức: "Trước kia, trong việc quân cấp cứ 10 mẫu ruộng thì một nửa chia làm công điền, một nửa làm tư điền. Nhưng về ruộng công chỗ nào màu mỡ thì cường hào giành hết, còn thì bọn hương lý bao chiếm. Dân nghèo chỉ được những chỗ xương xẩu". Kết quả của hành động cướp ruộng đất, bóc lột nghiệt ngã của bọn cường hào phong kiến đã gây ra những biến động sâu sắc, để lại nhiều hậu quả về tư tưởng, tình cảm và tâm lý qua nhiều thế hệ cư dân ở Bình Định.

Phản kháng thụ động là trạng thái phổ biến trong nhân dân. Nhiều vùng ở Bình Định, cư dân rời quê hương phiêu bạt kiếm sống. Từ năm 1822, ấp Chánh Thuận (nay thuộc Cát Hanh) và 2 ấp khác đã có nhiều đợt dân phiêu tán. Những năm 1824, 1860, 1863... nhiều làng dân bỏ đi nơi khác kiếm sống (Đại Nam thực lục chính biên). Đó là những cuộc phiêu tán lớn, không kể những chuyến đi lẻ tẻ.

Có lẽ Võ Duy Dương, con một nông dân nghèo ở đất An Nhơn (Bình Định) cũng lên đường phiêu tán trong hoàn cảnh này. Nhưng không như những lưu dân khác chỉ lo giải quyết cuộc sống của riêng mình, Võ Duy Dương đứng ra chiêu mộ người đồng cảnh ngộ hưởng ứng chính sách khai hoang lập ấp do Nguyễn Tri Phương đề ra và đã được vua Tự Đức chấp thuận (Nguyễn Thế Anh, Kinh tế và cơ hội Việt Nam dưới các triều vua Nguyễn, Sài Gòn, 1971).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 06:28:44 pm

Công cuộc khai hoang thời này chủ yếu là vùng An Giang, Hà Tiên, cụ thể là vùng Vĩnh Tế, Tịnh Biên, Ba Xuyên nhằm mục đích ổn định tình hình an ninh biên giới. Tuy vậy, nhiều vùng hoang hóa khác trên địa bàn Nam Kỳ cũng xuất hiện nhiều khu đồn điền mới như Gia Thuận (phủ Tân An) của Trương Định, đặc biệt vùng Mãng Trạch (tức Đồng Tháp Mười), ven vùng đất Ba Giồng (Định Tường) cũng hấp dẫn một lượng khá lớn lưu dân.

Song do tính chất đất đai, địa thế trũng thấp, đường đi lại khó khăn nên đến năm 1850, ở Định Tường (cả vùng Đồng Tháp Mười) có tới 87 xã bị "điêu hóa" - nguyên trước báo là đã khai khẩn nhưng sau lại bỏ hoang và số ruộng mà chính quyền buộc phải miễn thuế lên đến 14.843 mẫu. Võ Duy Dương đã tìm đến đất Ba Giồng trong hoàn cảnh đó.

Ông tiến hành chiêu mộ lưu dân để khai hoang dưới hình thức nào, quy dân lập ấp, lập làng hay lập đồn điền (lúc bấy giờ ở Định Tường có các đội đồn điền: Tường Kiên, Tường Nhuệ, Tường Uy, Tường Võ. Tường Võ ở khu vực Cao Lãnh ngày nay) ở đâu và được bao nhiêu người, hiện nay không thấy tài liệu nào nói đến và chức danh chánh bát phẩm thiên hộ là vấn đề vẫn cần phải làm sáng tỏ.

Một điều chắc chắn rằng, số lưu dân mà Võ Duy Dương chiêu mộ được không nhiều bằng Trương Định. Vì Trương Định có nhiều ưu thế hơn: chẳng những là con quan (cha Trương Định là Trương Cầm, lãnh binh tỉnh Gia Định, có nơi chép là Thủy vệ úy tỉnh Gia Định), đương nhiên có thế lực, gia sản và sau đó lại có bà vợ hai là Trần Thị Sanh, bà Sanh là con gái Phạm Thị Phụng (cô ruột của Thái hậu Từ Dũ - mẹ Tự Đức) nên thế lực Trương Định vốn đã có lại được nâng lên. Hơn nữa Trương Định đã bắt tay vào cuộc chiêu dân lập đồn điền từ năm 1854, tức là ngay sau khi chính sách đồn điền được ban hành và có lẽ ông đã mộ được khoảng 500 người nên đã được phong chức phó quản cơ.

Cần nói thêm, khi mới lập đồn điền, Trương Định chỉ giữ chức phó quản cơ. Đến giữa năm 1861, Trương Định mới được thăng chức quản cơ. Điều này đã được ghi trong Đại Nam thực lục chính biên: "Tháng 8 âm lịch (1861) do Phó quản cơ Trương Định có công chiêu mộ những thổ dũng, có nhiều người đi theo, thường cùng quân Tây Dương chống đánh nhau đắc lực nên Thự tuần phủ Đỗ Quang đem việc tâu lên, vua cất nhắc cho làm Quản cơ, rồi lãnh chức Phó lãnh binh”.

Ở đây ta cần phân biệt rõ chức phó quản cơ và quản cơ của Trương Định được chi phối bởi hai văn bản khác nhau. Chức phó quản cơ quy định bởi quy chế đồn điền 1853, còn chức quản cơ của Trương Định là theo quy định của mức thưởng dành cho những người mộ nghĩa dũng chống Pháp (3-1861).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 06:29:14 pm

Quy chế đồn điền năm 1853 quy định: Mộ được 50 người thì tổ chức thành một đội, người đứng mộ được quyền chỉ huy, gọi là suất đội. Khi canh tác có kết quả thì khu vực ấy trở thành một ấp, viên suất đội sẽ là ấp trưởng, theo quy chế dân sự.

Mộ được 500 người, tổ chức thành một cơ (10 đội), người đứng mộ lãnh chức vụ chánh đội thí sai phó quản cơ. Khi đất sinh huê lợi, phó quản cơ mặc nhiên là cai tổng, theo quy chế dân sự (Đại Nam thực lục chính biên).

Quy chế quy định mức thưởng cho người mộ quân chống Pháp (3-1861) quy định: Mộ đủ 50 người thưởng thụ suất đội trật tòng ngũ phẩm; mộ đủ 500 người thưởng thụ quản cơ trật chánh tứ phẩm. Trường hợp số quân mộ được 2, 3 cơ (tức 1.000 hay 1.500 người) thì đợi chỉ của vua cất lên bậc cao.

Ngoài ra, quy chế này còn quy định nếu đem 10 người thân thuộc trong gia đình gia nhập quân đội sẽ được cấp bằng cửu phẩm bá hộ, 20 người trở lên sẽ được cấp bằng tòng bát phẩm bá hộ, 30 người trở lên sẽ được cấp bằng đội trưởng tòng thất phẩm bá hộ (Đại Nam thực lục chính biên).

Đối chiếu hai quy chế trên, ta thấy trường hợp của Trương Định khá rõ: Trong khi lập đồn điền, Trương Định mộ được khoảng 500 người nên được cấp bằng phó quản cơ (hệ dân sự). Đến khi Pháp tấn công thành Gia Định, mang quân đồn điền ra chống giặc được cất nhắc lên quản cơ (hệ quân sự).

Còn trường hợp của Võ Duy Dương, chức danh phẩm hàm "chánh bát phẩm thiên hộ" của ông gợi cho chúng ta ít nhiều thắc mắc, vì trong quy chế đồn điền chỉ ghi: "Người đứng lập ấp mà mộ đủ 30 người thì tha thuế thân, sai dịch suốt đời; mộ được 50 người thì thưởng thụ chánh cửu phẩm bá hộ; được 100 người, thưởng thụ chánh bát phẩm bá hộ vẫn lãnh làm tổng lý (3 năm thì làm sổ, chiếu lệ đồn điền thi hành). Còn ruộng đất đã được khai khẩn và thuế thân của nhân đinh đều khoảng hạn (10 năm) mới bắt đầu thu để tỏ sự khuyến khích" chứ không có khoảng nào quy định được thưởng thụ chánh bát phẩm thiên hộ. Cũng như vậy, trong quy định mức thưởng dành cho người mộ nghĩa chống Pháp cũng không có ấn định phẩm hàm này.

Tuy nhiên, trong quy chế đồn điền (1853) có điều đáng lưu ý "mộ được 100 người, thưởng thụ chánh bát phẩm bá bộ, vẫn lãnh làm tổng lý (3 năm thì làm sổ, chiếu lệ đồn điền thi hành). Điều này giúp ta suy luận rằng: Võ Duy Dương lúc vào Nam chiêu mộ lưu dân không sung vào các đội đồn điền mà đứng ra lập làng, lập ấp. Số người mà ông quy mộ đã vượt quá con số 100 (có lẽ gần 1.000) nên ông được thưởng thụ hàm chánh bát phẩm (trật cao nhất theo quy định cho người đứng lập ấp) còn chức danh không phải là bách (bá) hộ mà là thiên hộ (vì đã mộ được gần 1.000 người). Lẽ ra, theo quy định, ông phải đợi đến 3 năm sau, triều đình mới chiếu theo lệ đồn điền thưởng thụ cho ông. Nhưng điều đó không xảy ra vì tháng 2 năm 1859 Pháp đã chiếm thành Gia Định, rồi sau đó hạ đồn Chí Hòa (2-1861), chiếm Định Tường (4-1861) và chính sách đồn điền dừng không thực hiện nữa.

Có lẽ dựa vào lập luận tương tự như trên nên đã có nhiều tác giả cho rằng chức danh thiên hộ của Võ Duy Dương xuất phát từ hoạt động chiêu dân lập ấp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 06:29:32 pm

Song cũng có tác giả khác lại cho rằng sở dĩ Võ Duy Dương mang chức danh thiên hộ vì ông là người giàu có (ở trong Nam, những điền chủ giàu có thường mua chức hàm bá hộ hay thiên hộ) và cũng có tác giả cho rằng vì ông đã mộ được 1.000 nghĩa dũng tham gia chống Pháp nên được phong chức thiên hộ.

Nhưng theo quan chế triều đình nhà Nguyễn thì chức thiên hộ là một chức quan võ (hệ võ giai) nằm trong trật tòng thất chánh phẩm, dưới chức này là chánh bát phẩm bá hộ (Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Tân Việt - Sài Gòn, 1975, trang 431). Như vậy, chức danh chánh bát phẩm thiên hộ của Võ Duy Dương là chức danh đặc cách, nghĩa là thiên hộ nhưng vẫn phải hưởng lương theo trật chánh bát phẩm (là 20 quan tiền, 18 phương gạo, 5 quan tiền xuân phục) chứ chưa được ăn lương theo trật tòng thất phẩm (25 quan tiền, 20 phương gạo, 5 quan tiền xuân phục) đúng với chức danh. Có lẽ Võ Duy Dương là một võ quan cấp thấp chức bá hộ (trật chánh bát phẩm) song có công trạng nên được đặc cách mang chức thiên hộ nhưng vẫn còn hưởng lương theo trật cũ (chánh bát phẩm) nên từ đó có chức danh thiên hộ.

Đến nay, không rõ Võ Duy Dương được thưởng thụ chánh bát phẩm thiên hộ vào lúc nào mà chỉ thấy chức danh và phẩm hàm Chánh bát phẩm Thiên hộ Võ Duy Dương xuất hiện trong Đại Nam thực lục chính biên là vào tháng 8 năm Tự Đức thứ 14 (tức tháng 9-1861), sau đó ông lại được nhận bằng quản cơ do Khâm phái Đỗ Thúc Tịnh trao. Như vậy ông được nhận bằng quản cơ một lúc với Trương Định. Cũng như trường hợp Trương Định, bằng quản cơ của Võ Duy Dương được phong theo định lệ mức thưởng cho người mộ nghĩa dũng chống Pháp chứ không theo quy chế đồn điền.

Theo các bô lão ở Cái Bè, Cai Lậy (đất Ba Giồng) - nơi Võ Duy Dương hoạt động chiêu dân lập ấp trước đây thì sau khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định (2-1859), ông cùng một số thuộc hạ thân tín vượt biên ra kinh đô Huế hiến kế đánh giặc với triều đình. Song lúc bấy giờ (1859-1860) ở Quảng Ngãi có giặc biển hoành hành, quan quân địa phương không trị nổi, triều đình ủy thác cho Võ Duy Dương đánh dẹp, ông hoàn thành nhiệm vụ được vua khen ngợi và ban cho chức thiên hộ.

Sự kiện này hoàn toàn khớp với điều ghi chép trong Đại Nam thực lục chính biên: "Nguyên phái đi bắt giặc ở Quảng Ngãi là Chánh bát phẩm Thiên hộ Võ Duy Dương, khi ấy (5-1861) cũng ở trong bọn tùy phái”.

Như vậy, có khả năng Võ Duy Dương được phong Chánh bát phẩm Thiên hộ trong năm 1860.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 06:39:57 pm

Câu hỏi 5: Cho biết địa thế Ba Giồng và hoạt động kháng Pháp của Võ Duy Dương giai đoạn từ năm 1861 đến tháng 8 năm 1864?
Trả lời:


Trước đây có nhiều ý kiến cho rằng cuộc khởi nghĩa của Võ Duy Dương chủ yếu chỉ gắn chặt trên địa bàn Đồng Tháp Mười. Tuy nhiên với tư liệu mới phát hiện gần đây cho thấy, trước khi lấy Đồng Tháp Mười làm tổng hành dinh, Võ Duy Dương đã có một thời gian dài cùng với Nguyễn Hữu Huân vận động nhân dân tổ chức tác chiến đánh thực dân Pháp trên khu vực đất Ba Giồng ở phía tây tỉnh Định Tường.

Địa danh "Ba Giồng" chỉ một vạt đất đai đầy gò nổng chạy dài từ nam sông Vàm Cỏ Tây, dọc theo kinh Bảo Định rồi cập theo sông Tiền đến tận Cái Bè, Cái Thia, gồm một hệ thống với ba cụm giồng:

Cụm 1: Gò Cánh Én, gò Trâm Bầu, gò Trao Trảo (Qua Qua), giồng Dứa, giồng Trấn Định (Tân Hiệp) theo hướng bắc nam.

Cụm 2: Gò Lũy, giồng Cai Lữ, giồng Thuộc Nhiêu (gò ông Hoài) ở Nhị Bình, Điềm Hy; gò Trà Luộc - Điềm Hy; Hữu Đạo - Nhị Quý (thuộc Cai Lậy) theo hướng đông bắc - tây nam.

Cụm 3: Gò Mồ Côi, gò Lâm vồ (xã Tân Hội); giồng Cai Lậy, giồng Bà Trà (thị trấn Cai Lậy); gò Bù Lu (xã Nhị Mỹ); giồng Tre, gò Sung (xã Bình Chú); gò Triệu (xã An Cư, huyện Cái Bè) chạy song song với cụm 2.

Đây là địa giới của bờ biển cũ bao quanh mặt đông nam của Đồng Tháp Mười. Vùng Ba Giồng có vị trí chiến lược quan trọng, là cửa ngõ xâm nhập vào Định Tường, một tỉnh đông dân và trù phú nhất Nam Kỳ và cũng là cửa ngõ tây nam của miệt lục tỉnh. Trong Đại Nam nhất thống chí mô tả: Gò Tam Phụ (Ba Giồng) tục danh là Ba Đổng nằm bên địa phận hai huyện Kiến Đăng và Kiến Hưng, gồm các gò: gò Yến, gò Kỳ Lân, gò Qua Qua. Gò Ba Giồng rộng lớn, cây cối xum xuê, chỗ nhô lên, chỗ phục xuống, tiếp tục nối liền, trước có đại giang (sông Tiền) ngăn trở, sau tựa vào chằm Mãng Trạch (vùng Đồng Tháp Mười) là nơi tụ nghĩa của Đỗ Thành Nhân (Đại Nam nhất thống chí - Lục tỉnh Nam Việt, Bản dịch của Tu trai Nguyễn Tạo, trang 9).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 06:40:35 pm

Đất này, khi xưa nguyên là của Vương quốc Phù Nam. Từ thế kỷ XVI, XVII đã có một bộ phận lưu dân người Việt vào cư ngụ. Năm 1623, chúa Nguyễn lập ra hai đồn thu thuế của Prei - Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Đến năm 1698, được lệnh chúa Nguyễn, Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam làm kinh lược, lấy đất Nông Nại lập ra Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Côn (Sài Gòn) làm huyện Tân Bình, dựng thành Phiên Trấn.

Song hai huyện Phước Long và Tân Bình không đủ sức quản lý hết các vùng chung quanh nên vùng đất sau này là Định Tường được lập sổ sách biệt lập với 9 khổ trường: Quy An, Quy Hóa, Cảnh Dương, Thiên Mụ, Gian Thảo, Hoàng Lạp, Tam Lịch, Bả Canh, Tân Thạnh cho dân khai khẩn lập ấp làm ăn. Đến năm 1772, lập đạo Trường Đồn trên đất này; năm 1779 lập huyện Kiến Khương, lỵ sở đóng tại gò Kiến Định - Tân Hiệp (Châu Thành, Tiền Giang). Qua năm 1781, cải thành dinh Trấn Định. Năm Gia Long thứ 5, huyện Kiến Khương đổi thành Kiến An (1806). Hai năm sau (1808), dinh Trấn Định cải thành trấn Định Tường trực thuộc Gia Định thành và huyện Kiến An nâng lên thành phủ và 3 tổng: Kiến Hưng, Kiến Hòa và Kiến Đăng trở thành 3 huyện. Đến 1831, trấn Định Tường lại đổi thành tỉnh Định Tường, chia đất Kiến Hòa thành hai huyện Tân Hòa và Kiến Hòa. Từ năm 1841, tỉnh Định Tường có 2 phủ: Kiến An, Kiến Tường với 4 huyện: Kiến Hòa, Kiến Hưng, Kiến Phong và Kiến Đăng, huyện Tân Hòa thuộc về tỉnh Gia Định.

Do địa thế cao ráo với nhiều gò cát cao nên đường thiên lý đoạn chạy qua tỉnh Định Tường đều nằm trên dải đất Ba Giồng.

... Quan lộ phía hữu, gặp chỗ nào cong queo, giăng dây để uốn thẳng lại bắt đầu từ Tân Thuận qua chùa Kim Chương ở phố Sài Gòn đến cầu Bình An qua gò Tuyên Tự đến bến Thủ Đoàn (Thủ Thừa ngày nay) qua sông Hưng Hòa (tức sông Vàm Cỏ Tây, đoạn chảy qua thị xã Tân An ngày nay) trải qua gò Trấn Định (thị trấn Tân Hiệp ngày nay) rồi đến gò Triệu (thuộc huyện Cái Bè), con đường rộng 5 tầm, hai bên trồng cây mù u, cây mít là thứ cây thổ nghi. Cầu cống, thuyền đò thường xuyên gia tăng tu bổ. Đường rộng thẳng như tấm đá mài, gọi đó là đường Thiên Lý của miền Nam (Gia Định thành thông chí, tập hạ, mục Thành (trì) chí, trang 75).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 06:40:52 pm

Vùng Ba Giồng được giới hạn về phía đông bởi rạch Bảo Định, về phía nam là sông Tiền. Rạch Bảo Định nối liền sông Tiền với sông Vàm Cỏ Tây. Địa hình Ba Giồng bị một số con rạch chia cắt. Hệ thống sông rạch ở Ba Giồng có hai hướng đều có tác dụng thoát nước cho Đồng Tháp Mười. Hướng tây bắc - đông nam đổ vào rạch Bảo Định có các rạch Tân Hương, rạch Trấn Định (Tân Hiệp) và rạch Chùa. Hầu hết các rạch này đều chảy qua các gò: Cánh Én, Trâm Bầu, Trao Trảo, gò Dứa, Trấn Định. Hướng bắc - nam, từ tây sang đông có: Rạch Cái Thia chảy qua hai tổng Phong Phú và Phong Hòa (Cái Bè) chia làm ba nhánh: Rạch Cái Cối dài 21km, rạch Cái Thia dài 12km, rạch Mỹ Thiện dài trên 10km; rạch Trà Lọt dài khoảng 18km cũng chảy qua tổng Phong Hòa. Rạch Cái Bè chia ra hai chi lưu: nhánh phía tây vẫn còn chảy trong địa phận tổng Phong Hòa, nhánh phía đông chảy qua tổng Lợi Thuận. Hai nhánh này gặp nhau tại chợ Cái Bè (làng An Bình Đông) tạo thành một vàm sông lớn trước khi đổ vào sông Tiền. Một nhánh nhỏ là rạch Cái Gáo (Cây Gáo) chảy vào tận Giai Mỹ, Xoài Tư. Rạch Ba Rài dài 22km chảy qua địa phận hai tổng Lợi Trinh và Lợi Thuận (Cai Lậy). Rạch Trà Tân chảy qua tổng Lợi Mỹ gồm cả rạch Trà Luộc chảy qua các tổng Lợi Trinh, Lợi Trường và Lợi Mỹ. Rạch Gầm chảy qua hai tổng Thuận Bình và Lợi Trường, dài 11km. Rạch Kỳ Hôn chảy qua tổng Hòa Hảo.

Ngoài ra, còn có một con kinh đào được khởi công dưới triều Minh Mạng, đó là kinh Tranh Giàng hay còn gọi là kinh Thương Mại (trong một số bản đồ cổ của người Pháp ghi nhầm là Đằng Giang) được kéo dài đến tận sông lớn bởi rạch Bà Bèo và rạch Cái Bè. Nó làm cho lưu vực của sông Tiền thông thương với Vàm Cỏ Tây xuyên qua mạn đông nam của Đồng Tháp Mười.

Hệ thống sông rạch ở Ba Giồng đã phân chia các gò nổng trong vùng thành ba hệ thống như đã nói ở trên.

Nếu Định Tường là tỉnh giàu có nhất Nam Kỳ thì Ba Giồng chẳng những là vùng trù phú trong tỉnh về mặt kinh tế mà còn có một vị trí chiến lược rất quan trọng về mặt quân sự. Nó kết hợp với Đồng Tháp Mười để tạo nên thế liên hoàn giữa thế công và thế thủ. Đây có thể là điều khiến Võ Duy Dương quyết định chọn Ba Giồng và Đồng Tháp Mười làm địa bàn hoạt động.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 06:41:17 pm

Sau khi chiếm được thành Mỹ Tho (4-1861), thực dân Pháp kéo đại quân về Sài Gòn, để lại 400 quân do trung tá Desvaux chỉ huy cố giữ phần đất vừa chiếm được. Pháp rải quân ra trú đóng ở các vị trí xung yếu trên địa bàn Định Tường. Trên bộ có các đồn chủ yếu: đồn Rạch Gầm, đồn Bourdais, đồn Trấn Định, đồn Trung Lương, đồn Cai Lậy (do Chasseriau đóng); đồn Cái Bè (do Bottet và Gonon đóng); đồn Kỳ Hôn (do Thouroude đóng); đồn Chợ Cũ Mỹ Tho, đồn Gia Thạnh (do Robinet và Pineau đóng); đồn Gò Công (do D'arieuille đóng), đồn Tân Hòa, đồn Chợ Gạo hòng bóp chết tại chỗ các cuộc nổi dậy và bảo vệ thành Mỹ Tho. Trên sông rạch để bảo đảm lưu thông liền mạch với Sài Gòn, chúng cho vét kinh Bảo Định nối liền Mỹ Tho - Tân An, tàu tuần tra liên tục trên các sông rạch như những pháo đài lưu động. Chiếc Solevad án ngữ ở Rạch Gầm, pháo thuyền Gougelard kiểm tra vàm Cái Thia, Cái Cối, chiếc Shamriver canh phòng Cửa Tiểu, Mỹ Tho.

Trên địa bàn tỉnh Gia Định, song song với mặt bố phòng về quân sự, chúng tập hợp một số Việt gian để hình thành bộ máy tay sai ở cấp xã, cấp tổng, tiến hành các công việc hành chính, thuế vụ nhưng nhân dân Định Tường và Gia Định nhất định không để chúng tự do hành động mặc dù quan quân của triều đình đã rút lui.

Về phía quan quân triều đình, sau khi rút chạy không tìm được kế sách gì để giành lại phần đất chịu trách nhiệm cai quản đã mất mà chỉ ngồi chờ triều đình trị tội và đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Nguyễn Hữu Thành (lãnh tuần phủ) chạy đến trạm Biên Long, dâng tờ sớ đợi tội nói kèm việc lãnh tổng đốc Nguyễn Công Nhàn thừa cơ trốn trước. Nguyễn Công Nhàn sau khi đến huyện Kiến Đăng (Cai Lậy) cũng làm tờ tấu xin nhận tội, nói việc Hữu Thành không cùng nhau bàn tính công việc. Bọn Nguyễn Duy Quang, Tôn Thất Tuấn là án sát và lãnh binh do Tổng đốc Long Tường Trương Văn Uyển phái sang thấy không giữ được thành nên đã đem bản bộ về Vĩnh Long (Đại Nam thực lục chính biên).

Còn triều đình Huế, từ khi mất Gia Định đến lúc ấy, bản thân vua Tự Đức và đình thần cũng chưa tìm ra một sách lược cụ thể giữa đánh và hòa. Quan mỗi người mỗi ý, vua thì chưa biết quyết thế nào.

Một mặt nhà vua sai Nguyễn Bá Nghi viết thư tiếp tục quan hệ với Pháp để xem họ trả lời như thế nào; một mặt ra lệnh cho ba tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa và Bình Định mỗi tỉnh xuất 500 quân kéo đến Biên Hòa hiệp cùng quân sĩ ở đây chống giặc. Đốc thần Trương Văn Uyển (Vĩnh Long) và đốc thần Phan Khắc Thận (An Giang) hiệp nhau hỗ trợ cho Định Tường, còn các quan bại trận ở Định Tường phải về nhiệm sở cũ đoái công, chuộc tội.

Cùng lúc ấy, Đỗ Thúc Tịnh (đang là biên lý bộ binh), Nguyễn Túc Trưng (đang là thủ phủ Thừa Thiên) tự nguyện xin vào Nam đánh giặc nên được sung chức khâm phái quân vụ được lệnh vào Nam chiêu mộ dân sung làm quân chiến tâm cùng nhau chống giặc cứu nước. Đoàn khâm phái quân vụ còn được bổ sung thêm nhiều nhân vật yêu nước nữa như Trương Minh Lượng, Nguyễn Nhã, Phan Trung (Chánh), Chánh bát phẩm Thiên hộ Võ Duy Dương... (Đại Nam thực lục chính biên).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 06:41:40 pm

Theo Đại Nam thực lục chính biên thì lúc bấy giờ Võ Duy Dương đang thi hành nhiệm vụ dẹp giặc ở Quảng Ngãi cũng được sung vào phái đoàn khâm phái quân vụ của Đỗ Thúc Tịnh lên đường vào Long, Tường, An - Hà (Định Tường, Vĩnh Long, An Giang - Hà Tiên).

Trên đất Ba Giồng, cũng như khắp nơi trong 2 tỉnh vừa bị Pháp chiếm đóng, dân chúng đều sôi sục khí thế đầu quân chống giặc. Võ Duy Dương trở lại địa bàn cũ, nơi ông đã có nhiều quan hệ thân hữu gắn bó trong thời kỳ mộ dân khẩn hoang. Cũng chính nơi đây ông đã được phong chánh quản đạo cùng với người bạn chiến đấu thân thiết là Nguyễn Hữu Huân vốn là giáo thụ phủ Kiến An được phong phó quản đạo.

Do những yếu tố thuận lợi đó nên chỉ một thời gian ngắn vận động dân dũng đầu quân chống giặc, ông đã quy tụ cả ngàn người, đủ mọi thành phần trong xã hội.

Những người ông quy tụ được chẳng những là dân đồn điền, nông dân yêu nước mà có cả khoa bảng, phú hào, điền chủ giàu có. Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân với tư cách là phó quản đạo đã trở thành một trợ lý đắc lực của ông. Tháng 9 năm 1861, ông nhận được chức quản cơ cùng lúc với Trương Định, đặc trách chỉ huy võ sinh và võ sĩ.

Xác định được thế mạnh của ông ở đất Ba Giồng, các viên khâm phái cho ông lập căn cứ ở Bình Cách, thuộc tổng Thạnh Quơn (Quan), huyện Kiến Hòa (nay thuộc ấp Bình Cách, xã Tân Bình Thạnh, Chợ Gạo, Tiền Giang). Địa bàn hoạt động của nghĩa quân dưới quyền rất rộng, lan ra khắp đất Ba Giồng. Trên danh nghĩa là ông hoạt động dưới sự chi phối và điều động của Án sát và Thương biện Quân vụ Định Tường là Nguyễn Nhã và Trương Minh Lượng nhưng thực tế do uy tín đối với địa phương và tài thao lược nên ông và Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân hầu như nắm vai trò chủ động trong mọi việc từ chiêu mộ nghĩa dũng, điều động, bố trí binh lực đến đề bạt, khen thưởng những người có công trong công cuộc kháng chiến.

Ngay trong buổi đầu kháng chiến ông đã có mối quan hệ chặt chẽ với Trương Định ở Tân Hòa (Gò Công), với Trần Xuân Hòa (tức phủ Cậu ở Thuộc Nhiêu, Cai Lậy), Bùi Quang Diệu (tức quản Là ở Cần Giuộc) và các thủ lãnh nghĩa quân khác để tương trợ nhau và hợp đồng chiến đấu. Đồng thời ông cũng tranh thủ được sự ủng hộ của các điền chủ, bá hộ giàu có, trong đó có bá hộ Trần Văn Học (tự Minh) ở Bình Cách.

Vừa xây dựng lực lượng nghĩa quân, vừa đánh để tiêu hao binh lực địch và ngăn chặn chúng mở rộng vùng chiếm đóng, đồng thời cũng thỏa mãn yêu cầu diệt giặc sôi nổi của đồng bào lúc bấy giờ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:44:48 pm

Ngày 4 tháng 9 năm 1861, Võ Duy Dương cho nghĩa quân tập kích đồn Bourdais (đây vốn là đồn thứ 5 của ta trên tuyến phòng thủ rạch Bảo Định mà chúng đã chiếm được vào ngày 10 tháng 4 năm 1861, nhưng ta đã giết được tên trung tá Bourdais. Chúng lấy tên viên trung tá đặt tên cho đồn). Đồn nằm trên rạch Bảo Định, cách Mỹ Tho 3 dặm nhằm bảo đảm sự liên lạc đường thủy của Pháp giữa Mỹ Tho và Tân An. Chúng phải đưa tên trung tá hải quân Mac Dermot đến tăng viện.

Trong khi đó Trần Xuân Hòa hoạt động mạnh ở vùng Thuộc Nhiêu, Mỹ Quý, Cai Lậy thu hút sự chú ý của bọn Pháp. Từ ngày 29 tháng 8 đến ngày 15 tháng 9, Trần Xuân Hòa liên tiếp tấn công Cai Lậy (lỵ sở cũ của huyện Kiến Đăng) làm trở ngại công cuộc bình định của chúng ở khu vực này. Viên chỉ huy quân sự Pháp ở Định Tường, trung tá Desvaux phải tăng cường hỗ trợ cho Chasseriau (chỉ huy đồn Cai Lậy) bằng cách đích thân hắn ta trực tiếp hành quân ở "khu bốn công sự" (khu vực nằm giữa Cai Lậy và Mỹ Tho), đưa thêm chiếc Norsagaray vào trợ chiến. Ngày 23 tháng 9, chúng phá hủy các cản hàn trên Rạch Gầm mở đường tấn công Thuộc Nhiêu. Ngày 25 tháng 9, chúng tấn công Mỹ Quý, không tiêu diệt được Trần Xuân Hòa, chúng trả thù bằng cách bắn chết thân mẫu ông.

Để làm nhẹ bớt áp lực của giặc đối với Trần Xuân Hòa, đồng thời xây dựng một địa bàn làm đầu cầu liên lạc nhận tiếp tế lương thực, vũ khí từ Vĩnh Long, ngày 14 tháng 10 năm 1861, Võ Duy Dương cùng án sát Định Tường tổ chức đánh một trận lớn ở khu Cái Thia, Cái Bè. Tại Cái Bè, bọn Pháp đã tuyển người theo đạo Thiên chúa lập những đội lính mã tà, đóng đồn và dùng 2 tàu chiến cùng với pháo thuyền Gougelard tuần tiễu trên sông Tiến. Ngày 5 tháng 9, chúng đã tịch thu một ghe mành chở đầy súng của ta. Kết quả ta đã đánh chìm 2 tàu của bọn mã tà, giết chết 50 tên gồm lính Pháp và mã tà, đồng thời tấn công pháo thuyền Gougelard.

Chiến thắng có tầm cỡ chiến lược này đã cổ vũ phong trào nhân dân nổi dậy giết giặc, cứu nước. Ngày 15 tháng 10, nghĩa quân tấn công mạnh vào đồn Cai Lậy, chợ và một số doanh trại giặc Pháp. Pháp trả đũa bằng cách đốt một số nhà thường dân. Ngày 22 tháng 10, nghĩa quân tấn công đồn Kỳ Hôn. Ngày 30 và ngày 31 tháng 10, nghĩa quân liên tiếp tấn công đồn Rạch Gầm làm số lính tập bị thương lên đến 36 tên. Phát huy thế mạnh của mình, nghĩa quân tiếp tục đánh phá, quấy rối giặc khắp nơi, chặn đường phục kích giết bọn Pháp, ngày 17 tháng 10, đã ám sát một viên đội ở đồn Cai Lậy.

Mỹ Quý, một vị trí xung yếu trên địa bàn Ba Giồng, nối liền với Thuộc Nhiêu trở thành tuyến phòng thủ ngăn chặn giặc xâm nhập vào địa phận huyện Kiến Đăng (Cai Lậy), đồng thời nó còn có vai trò chia cắt và cô lập đồn tiền tiêu của giặc đóng ở Cai Lậy (lỵ sở cũ của huyện Kiến Đăng).

Trên một nền đồn cũ (nay thuộc ấp Quý Thành, xã Nhị Quý), chung quanh có sẵn lũy tre dày bao bọc, Võ Duy Dương cho huy động nhân dân và nghĩa quân gấp rút xây dựng một đồn mới với đầy đủ các công trình phục vụ chiến đấu: nhà kho, bến vựa, ao nước... Là một đồn mới xây dựng sau thành Chí Hòa nên được đồng bào gọi là Tân thành Mỹ Quý (đến nay vết tích Tân thành Mỹ Quý còn lại là cột phường, nền vựa kho lúa, nền vựa kho tiền, ao, hào thành; cách thành 500m có lũy tre bao bọc).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:45:11 pm

Bên cạnh các hoạt động quân sự, Võ Duy Dương còn động viên và ra lệnh dân chúng phong tỏa, bao vây kinh tế địch. Đồng thời Võ Duy Dương ra lệnh trừng trị những người ra cộng tác làm tay sai cho giặc, nhận chức tước của thực dân Pháp. Chỉ nội trong các ngày 22, 23, 27 tháng 11, nghĩa quân đã ám sát trưởng các xã Mỹ Quý, Trung Lương, Tân Lý và cai tổng Lệ (ở xã Mỹ An) do thực dân Pháp mới bổ nhiệm. Điều này làm cho bọn Việt gian hết sức hoang mang, hoảng sợ phải xin từ chức.

Ngày 30 tháng 11 năm 1861, Bonard đến Sài Gòn thay thế cho Charner. Liền ngay sau khi đến, phó đô đốc Bonard nhận định phải gấp rút chiếm ngay Biên Hòa nhưng việc chuẩn bị của Pháp tiến hành chậm, phải đến 15 tháng 12 mới khởi sự.

Nắm được ý đồ của giặc, nghĩa quân như có hiệp đồng tác chiến, đồng loạt nổi dậy đánh địch khắp nơi buộc chúng phải rải quân ra đối phó, chật vật chống đỡ và cố giữ phần đất đã chiếm.

Sau khi chiếm được Biên Hòa, thực dân Pháp cho rằng đã giải tỏa được áp lực của nghĩa quân ở phía đông nên phải tập trung quân bình định phía tây.

"Chiếm được Biên Hòa, tức là đã đoạt được chỗ dựa của bọn nghĩa ứng. Khi ấy chỉ còn Vĩnh Long, các cuộc phá phách đều tập trung về phía tây, mạnh nhất là Mỹ Tho. Ngày 4 tháng 1 năm 1862, tất cả các đồn ở phía tây đều bị bao vây, ta phải giải vây nó" (Đinh Xuân Lâm, Anh hùng Trương Định, Nhà xuất bản Giáo dục, 1976).

Lúc này, trên địa bàn Ba Giồng, thực dân Pháp phải đối phó với hai lực lượng nghĩa quân lớn: Võ Duy Dương và Trần Xuân Hòa.

Trần Xuân Hòa lập căn cứ Thuộc Nhiêu, Võ Duy Dương đồn trú ở Mỹ Quý, chiếm một vị trí nằm giữa thành Mỹ Tho và đồn tiền tiêu Cai Lậy của Pháp. Đây là một khu có nhiều gò cát cao nằm trong hệ thống giồng thứ hai của đất Ba Giồng. Từ đây Võ Duy Dương hiệp đồng với Trần Xuân Hòa tung nghĩa quân đánh phá Cai Lậy, Cái Bè, Rạch Gầm, Kỳ Hôn... Thực dân Pháp phải nhiều lần tập trung quân do chính tên trung tá Desvaux - chỉ huy quân sự Pháp ở Định Tường lúc bấy giờ - chỉ huy đàn áp, nhưng không đạt được kết quả. Thuộc Nhiêu, Mỹ Quý trở thành cái gai trước mắt giặc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:45:59 pm

Ngày 6 tháng 1 năm 1862, tên đại úy hải quân Rieuner bất thần mang quân bao vây vùng nằm giữa Cai Lậy và Cái Bè. Trần Xuân Hòa chỉ huy nghĩa quân chống cự quyết liệt, chẳng may bị bắt. Thực dân Pháp giải ông về Mỹ Tho tra tấn hết sức dã man. Ông cắn lưỡi chết để bảo toàn khí tiết (7-1-1862). Giặc Pháp điên cuồng chém và bêu đầu ông cùng với sáu nghĩa quân giữa chợ hòng uy hiếp tinh thần nghĩa quân và nhân dân. Nhưng vô ích, chúng phải công nhận rằng "cái gương đáng khiếp sợ đã không ngăn nổi phong trào khởi nghĩa" (Đinh Xuân Lâm, Anh hùng Trương Định, Nhà xuất bản Giáo dục, 1976).

Chỉ hai ngày sau, nghĩa quân đã bao vây đồn Gia Thạnh và mang 10 chiến thuyền tấn công đồn Rạch Gầm, khiến viên trung úy Rolz de Couzalaz - chỉ huy đồn Rạch Gầm - phải chống trả đến viên đạn cuối cùng.

Liền sau đó, với tư cách là chánh quản đạo, Võ Duy Dương phân công Phó quản đạo Nguyễn Hữu Huân đến Thuộc Nhiêu để ổn định tinh thần nghĩa quân, đồng thời chiêu mộ nghĩa dũng bảo vệ căn cứ Thuộc Nhiêu.

Từ đây, dù chiến đấu dưới sự chỉ huy chung của Trương Định nhưng Võ Duy Dương đã chỉ huy nghĩa quân dưới quyền hoạt động trên một địa bàn rộng lớn có tầm quan trọng nhất định về chiến lược. Võ Duy Dương đã thống nhất lực lượng nghĩa quân trên đất Ba Giồng từ Bình Cách qua Thuộc Nhiêu, Mỹ Quý đến Cái Bè, Cái Thia. Ba Giồng thật sự là một trung tâm kháng chiến ở phía tây bắc tỉnh Định Tường kết hợp với trung tâm Tân Hòa (Gò Công) của Trương Định đã đưa quân xâm lược Pháp vào tình trạng lúng túng về chiến lược giữa tập trung và phân tán binh lực.

Võ Duy Dương và Trương Định thường xuyên hợp đồng tác chiến, liên tục tập kích tấn công địch trên một tuyến dài từ Gò Công qua Gia Thạnh đến Bình Cách, Thuộc Nhiêu, Mỹ Quý, Cai Lậy, Cái Bè. Ngày 22 tháng 1, nghĩa quân đốt phá khu vực đồn rạch Kỳ Hôn; ngày 23 tấn công đồn Rạch Gầm; đến ngày 28, tiến đánh một lúc 4 đồn: Cái Bè, Cai Lậy, Thuộc Nhiêu, Rạch Gầm và mưu toan đốt chiếc Shamriver... Càng lúc công cuộc bình định của thực dân Pháp càng trở nên khó khăn.

Từ đầu năm 1862, Võ Duy Dương đương nhiên trở thành lãnh tụ nghĩa quân cao nhất ở Ba Giồng. Có lẽ, sau gần một năm quần nhau với giặc trên địa bàn này, các vị khâm phái và Võ Duy Dương đã thấy được tầm quan trọng của vị trí Mỹ Quý đối với cả vùng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:46:23 pm

Do tầm quan trọng của vị trí Mỹ Quý nên phía nghĩa quân cố giữ cho kỳ được, còn giặc Pháp cũng quyết lấy cho được. Vào tháng 4, tức là sau khi đồn xây dựng chưa được bao lâu, bọn Pháp tập trung quân tấn công. Nghĩa quân kiên cường chống giữ trong 57 ngày đêm nhưng cuối cùng thành vỡ, Đỗ Thúc Tịnh hy sinh, Võ Duy Dương và Thủ khoa Huân rút về Bình Cách.

Sở dĩ vào thời điểm này, bọn Pháp tập trung quân cả thủy lẫn bộ, cả Pháp lẫn Tây Ban Nha do hai sĩ quan cấp trung tá một của Pháp, một của Tây Ban Nha chỉ huy đánh chiếm cho kỳ được Mỹ Quý và Thuộc Nhiêu là nhằm mục đích bảo vệ Mỹ Tho. Bởi lúc ấy tình hình của chúng rất bi đát.

"Bệnh hoạn, chết chóc bất ngờ thường xuyên đe dọa mạng sống của lính viễn chinh Pháp làm cho tinh thần chiến đấu của chúng ngày một suy sụp, nhiều lính Tagals (người Philippin), lính ngụy và cả lính Pháp đào ngũ chạy sang phía nghĩa quân, bán nhiều súng đạn cho ta" (Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự, Lịch sử cận đại Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục II, 1960).

Trước tình thế ngày càng bất lợi đó, quân Pháp không còn cách nào khác hơn là phải rút bớt các đồn lẻ xa căn cứ lớn để bảo toàn lực lượng:

"Ngày 1 tháng 3 năm 1862, thiếu tướng hải quân Bonard, truyền cho các đồn Gò Công, Chợ Gạo, Gia Thạnh, Cái Bè rút đi hết và rút các sĩ quan cai trị các huyện Cần Giuộc (Phước Lợi), Tân An, Tân Hòa... Cùng với việc di chuyển khỏi trung tâm này, dưới mắt dân chúng, chúng ta cũng hết luôn quyền hành và pháp luật cũng như trên thực tế” (P.Vial, Les premières années de la Cochinchine, quyển 1, Paris, 1874, trang 141).

Điều cần lưu ý là cuộc lui quân này của thực dân Pháp không hề bao hàm ý nghĩa từ bỏ cuộc xâm lược Nam Kỳ mà đây chỉ là cuộc rút lui chiến lược nhằm đối phó với tình hình khó khăn trước mắt. Các cuộc chiến tranh ở Syri, Mêhicô và Trung Quốc đã ngốn của chúng một lực lượng quân sự quan trọng, đưa nền kinh tế, tài chính Pháp vào chỗ khủng hoảng, thâm thủng nghiêm trọng.

Mặt khác, sau năm năm tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta, thực dân Pháp ngày càng hiểu biết thêm một số đặc điểm về nội tình của Việt Nam: đánh nhau với quân đội của triều đình, Pháp sẽ thu thắng lợi dễ dàng nhưng đương đầu với lực lượng kháng chiến thì chúng khó lòng tiêu diệt được. Do đó, thực dân Pháp tìm cách triệt để khai thác những nhược điểm của triều đình Huế để thủ thắng trong giải pháp chính trị một khi biện pháp quân sự không đạt được kết quả. Việc thực dân Pháp cố gắng chiếm thành Vĩnh Long vào cuối tháng 3 năm 1862, sau cuộc rút chạy, là chúng cố nhằm chiếm lấy một vật bảo đảm cho giải pháp chính trị sau này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:46:53 pm

Lúc bấy giờ triều đình Tự Đức đang đứng trước muôn vàn khó khăn. Giặc cướp, nông dân nổi lên khởi nghĩa có đến hàng trăm vụ; nạn đói do lụt, hạn hán, sâu bọ; đường giao thông từ Nam ra Bắc bị chiến tranh làm gián đoạn. Ở Nam Kỳ có đến bốn tỉnh thành lọt vào tay giặc. Ở Bắc Kỳ trong mấy tháng đầu năm 1862, Tạ Văn Phụng làm chúa tể gần trọn cả miền Đông Bắc (Tạ Văn Phụng tự xưng là hậu duệ nhà Lê, nguồn gốc không rõ nhưng đã được rửa tội và nuôi dưỡng ở trụ sở Giáo hội tại Pinang, năm 1854, hô hào cuộc nổi dậy ở Quảng Yên, dưới cái tên là Lê Duy Phụng).

Nội bộ triều đình lại không thống nhất về kế sách đương đầu với thực dân Pháp. Trong triều đình không có người am hiểu tình hình quốc tế nói chung, tình hình nước Pháp nói riêng. Xuất phát từ quan điểm lạc hậu về thế giới, triều đình nhà Nguyễn chỉ coi Trung Quốc là mẫu mực dưới dạng vừa là "bậc thầy" về nhiều mặt, cần tham khảo đối chiếu lại vừa là kẻ thù đáng sợ.

Nay phải đương đầu với kẻ thù hoàn toàn xa lạ, hung hãn về vũ lực; xảo quyệt, già dặn trong ngoại giao nên triều đình Tự Đức sa vào tình trạng lúng túng phải ký hòa ước Sài Gòn năm 1862 (Hòa ước Nhâm Tuất), tạm nhường ba tỉnh miền Đông cho thực dân Pháp để rảnh tay đối phó với cuộc nổi dậy của Tạ Văn Phụng nguy hiểm hơn là lẽ đương nhiên.

Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862 đối với thực dân Pháp là một thắng lợi lớn lao vượt quá dự định của chúng. Hiệp ước gồm 12 điều khoản với nội dung chủ yếu như sau: Triều đình Huế giao cho Pháp ba tỉnh miền Đông (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường) và đảo Côn Lôn; Pháp, Tây Ban Nha được tự do truyền giáo ở Việt Nam và buôn bán ở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên; các thương thuyền và chiến thuyền của Pháp được tự do hoạt động từ sông Cửu Long tới Campuchia; triều đình Huế phải trả chiến phí (288 vạn lạng bạc tương đương 4 triệu đô la Mỹ) cho Pháp và Tây Ban Nha; Pháp sẽ phải trả tỉnh Vĩnh Long nếu triều đình Huế chấm dứt các cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở tỉnh Gia Định và Định Tường.

Tuy nhiên, Tự Đức không hài lòng về văn kiện mà mình phải chịu nhiều thiệt thòi này nên đã gay gắt kết tội Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp: "Hai người không chỉ tội nhân của bản triều mà còn là tội nhân của muôn đời nữa" (Phan Khoang, Việt - Pháp bang giao sử, trang 148 - 149). Vẫn rất quyết tâm lấy lại ba tỉnh đã mất bằng cách nhờ vào người mà nhà vua coi là thuyết khách giỏi nhất của mình nên Tự Đức cử Phan Thanh Giản làm tổng đốc Vĩnh Long để tiện giao thiệp với Pháp; sau đó (21-6-1863) lại cử ông cầm đầu phái đoàn sang Pháp xin chuộc lại các tỉnh đã mất.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:47:23 pm

Đối với lực lượng kháng chiến đang mặt đối mặt với kẻ thù thì Hòa ước Nhâm Tuất là một hàng ước, một văn tự bán nước, một hành động phản bội không thể tha thứ được. Làn sóng căm phẫn nổi dậy khắp nơi. Thực dân Pháp ở Nam Kỳ bị tấn công đều khắp như một cuộc tấn công khởi nghĩa. Chính bọn thực dân đã thừa nhận:

"Trừ Khơ Me tương đối yên và trừ ngoại ô trực tiếp Sài Gòn thì đây là cuộc tổng khởi nghĩa lan tràn khắp Nam Kỳ" (Thomazi, La Conquête de l’Indochine, Paris, 1934).

Những vị trí quân Pháp rút chạy hồi tháng 3 đã được nghĩa quân bố trí phòng thủ để đương đầu với sự trở lại của chúng.

Nhưng Hòa ước 1862 đã tạo cho quân Pháp một cơ sở pháp lý vững chắc. Để thi hành hòa ước, trước mắt Tự Đức hạ lệnh bãi binh trên ba tỉnh miền Đông, triệu Nguyễn Túc Trưng về kinh. Nguyễn Túc Trưng vâng lệnh triều đình vừa thăng chức lãnh binh cho Trương Định vừa bắt Trương Định giải tán nghĩa quân rồi đi An Giang nhận chức. Trước khi về kinh, Nguyễn Túc Trưng đã lệnh cho Võ Duy Dương tập hợp nghĩa quân về Kiến Hòa (vùng Bình Cách - Chợ Gạo) chờ cho đến khi có lệnh mới. Lực lượng kháng chiến sẽ lâm vào tình trạng khó khăn và có nguy cơ bị triều đình bỏ rơi nếu không tuân lệnh giải giáp. Lúc này, trên đất Nam Kỳ còn lại hai lực lượng nghĩa quân đối đầu với thực dân Pháp: Trương Định ở khu vực Tân Hòa (Gò Công), Võ Duy Dương trấn giữ khu vực Ba Giồng.

Thực dân Pháp xảo quyệt lợi dụng lúc dân tình và nghĩa quân trong 3 tỉnh được quyền chiếm đóng đang hoang mang dao động vì việc nhường đất, nhất là lực lượng nghĩa quân yếu hẳn đi khi binh lính triều đình đã rút lui, chúng "hối hả đem tin hòa ước được ký kết đến các nơi bị nguy cấp nhất để chấm dứt ngay cuộc chiến đấu".

Nhưng tiếng loa báo tin của chúng được đáp lại bằng tiếng súng và máy bắn đá của nghĩa quân: "Khi đến phạm vi Tân Hòa, nơi Trương Định đóng quân người ta vẫn dùng súng và máy bắn đá bắn vào những người Pháp đến báo tin đình chỉ chiến sự" (P.Vial, Les premières années de la Cochinchine, quyển 1, Paris, 1874, trang 162).

Thực dân Pháp nghĩ đơn giản là khi quân của triều đình rút lui thì lực lượng nghĩa quân sẽ nhanh chóng tan rã. Nhưng chúng đã lầm, chúng vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của nhân dân và quân ứng nghĩa mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Dân chúng khắp nơi, kể cả quan binh của triều đình không chịu rút lui, yêu cầu các thủ lĩnh nghĩa quân ở lại tiếp tục chiến đấu, họ sẵn sàng gia nhập hàng ngũ nghĩa quân và tiếp tế lương thực.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:47:52 pm

Trong khí thế sôi sục của nhân dân chống giặc, Võ Duy Dương cũng tỉnh táo nhận định tình hình lúc này đã khác trước: giặc đang đứng trên một thế mới, nghĩa quân chiến đấu đơn độc (thiếu sự chi viện của triều đình), chủ yếu là dựa vào sức dân, trước mắt phải tăng cường bổ sung lực lượng mới có thể chiến đấu lâu dài được. Do đó, vào tháng 7, ông phát lời kêu gọi hiệu triệu nhân dân trong tỉnh Định Tường nổi lên cùng nhau chống giặc.

Cùng lúc ấy, ông nhận được thư của Trương Định gửi từ Gia Định đề nghị hai bên thống nhất lực lượng vì chiến đấu riêng lẻ sẽ gặp nhiều bất lợi. Ông tán thành đề nghị này và cử Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân - trợ thủ đắc lực của ông đi Tân Hòa để hội kiến với Trương Định.

Tại đây, Nguyễn Hữu Huân gặp thị vệ Nguyễn Thi, thay mặt triều đình mang Thánh chỉ phong Trương Định chức Bình Tây Tướng quân, Võ Duy Dương chức Chánh đề đốc, Nguyễn Hữu Huân chức Phó đề đốc (theo quan chế triều Nguyễn, chức chánh đề đốc là chức võ quan trật chánh nhị phẩm, phó đề đốc trật tòng nhị phẩm - Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn, 1964). Với chức Bình Tây Tướng quân, Trương Định chỉ huy toàn bộ lực lượng ứng nghĩa trong 3 tỉnh.

Võ Duy Dương vẫn đóng tổng hành dinh tại căn cứ cũ ở thôn Bình Cách thuộc tổng Thạch Quơn, huyện Kiến Hòa. Từ đây, ông chỉ huy nghĩa quân, huy động nhân dân thiết lập hệ thống đồn lũy trên khu vực đất Ba Giồng (từ Bình Cách qua Mỹ Quý, Thuộc Nhiêu đến Cai Lậy, Cái Bè). Các gò cao, các cửa sông trọng yếu đều xây đồn, đắp cản. Gò Cát (nay là gò lũy Nhị Bình, Châu Thành, Tiên Giang), Giồng Phèn (nay thuộc xã Điềm Hy, Châu Thành, Tiền Giang), vàm Cái Thia (thuộc huyện Cái Bè), Bưng Môn (thuộc xã Tân Phú, Cai Lậy), kinh Cây Gáo (giáp ranh hai huyện Cái Bè và Cai Lậy)... là các vị trí quan trọng đều có nghĩa quân đóng đồn cố thủ.

Tham gia nghĩa quân Võ Duy Dương có đủ mọi thành phần trong xã hội từ nông dân đến điền chủ, từ trí thức đến cựu quan, cựu binh của triều đình, ngoài người Kinh còn có người Khơ Me, người Hoa. Đặc biệt là trong hàng ngũ nghĩa quân Võ Duy Dương còn có những lính Pháp đào ngũ, lính người Tagals. Điều này không thấy ở các lực lượng nghĩa quân khác, chứng tỏ Võ Duy Dương đã chú ý đến công tác địch vận, cảm hóa được người đi lính cho Pháp đào ngũ gia nhập vào hàng ngũ nghĩa quân.

Võ Duy Dương đã hình thành trong khu vực hoạt động bên cạnh tổ chức quân sự còn có bộ máy chính quyền kháng chiến, những người tham gia hay được chiêu mộ, tùy theo năng lực, văn bằng, công trạng đều được ông phong chức tước, phẩm hàm và ấn triện.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:48:20 pm

Để có nguồn cung cấp vũ khí, Võ Duy Dương tổ chức vận động quyên góp tiền bạc trong các tỉnh Định Tường, An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long, rồi cử người đến Cà Mau, Rạch Giá (Hà Tiên) để mua súng. Đến giữa năm 1863, ông giao trọng trách này cho Nguyễn Hữu Huân.

Đáng tiếc, hiện nay chúng ta không có tài liệu chính xác về tổ chức lực lượng quân sự và chính quyền kháng chiến trong tỉnh Định Tường của Võ Duy Dương. Còn trong báo cáo của Phạm Tiến (viết sau trận Tân Hòa ngày 24 tháng 2 năm 1863) chỉ đề cập đến lực lượng vũ trang và hệ thống chính quyền kháng chiến trong tỉnh Gia Định nên chúng ta không rõ được về hai mặt tổ chức này ở Định Tường. Tuy vậy, đoạn cuối báo cáo của Phạm Tiến có ghi: “... Còn bao nhiêu dân hạt bị chết trong lúc trận mạc thì Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Phan Chánh đều ghi ở trong cuốn nhật ký" (Tập san Sử địa, số 3, 1966, trang 148, Sài Gòn). Có lẽ Nguyễn Hữu Huân ghi chép phần của tỉnh Định Tường.

Nửa năm sau khi ký Hiệp ước 1862, lực lượng nghĩa quân không những không rút lui, tan rã như thực dân Pháp dự đoán, trái lại còn được gia tăng, củng cố gấp bội. Căn cứ Tân Hòa và Ba Giồng là hai gọng kìm liên hệ, phối hợp với nhau chặt chẽ, sẵn sàng bóp nghẹt lực lượng của Pháp trong tỉnh Định Tường.

Ngay từ khi chiếm được Định Tường, thực dân Pháp cho rằng vị trí Mỹ Quý - Thuộc Nhiêu (nằm giữa thành Mỹ Tho và Cai Lậy) là vị trí có thế chiến lược quan trọng nên đã nhiều lần tấn công nghĩa quân để giành lấy. Tháng 11 năm 1862, chúng kéo quân tập kích căn cứ Bình Cách. Đích thân Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân nhanh chóng phản kích, buộc chúng phải tháo chạy. Nghĩa quân đuổi theo truy kích, 28 lính tập và mã tà bị bắt và bị giết.

Ngay sau đó, để chuẩn bị cho cuộc tập kích địch có sự phối hợp đồng bộ của nghĩa quân trên 3 tỉnh, Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân kéo quân đến Giồng Cát thuộc tổng Nhị Bình, phủ Kiến An (nay là gò Lũy, xã Nhị Bình huyện Châu Thành), hai ông cho nghĩa quân xây đồn lũy và trú lại. Vị trí này cách Thuộc Nhiêu khoảng 10km thuận lợi cho việc uy hiếp giặc ở Thuộc Nhiêu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:48:48 pm

Đúng vào đêm 17 rạng 18 tháng 12 năm 1862 là thời điểm hiệp đồng chiến đấu. Quân và dân khắp 3 tỉnh đồng loạt nổi dậy đánh địch khiến chúng hết sức hoang mang, có cảm giác đây là một cuộc tổng khởi nghĩa: "Kẻ cướp và quân khởi nghĩa ngày càng dạn dĩ, càng tấn công. Bao nhiêu việc xảy ra chứng tỏ rằng cuộc khởi nghĩa sắp nổ, người Pháp dè chừng, người ta hiểu mang máng rằng người Pháp bị bao vây trong một cái lưới âm mưu, trong đó các giai cấp trong nhân dân đều tham dự chống lại chúng ta" (P.Vial, Les premières années de la Cochinchine, quyển 1, Paris, 1874, trang 191).

Nghĩa quân đồng loạt tấn công địch khắp nơi:

- Đánh đồn Rạch Tra (hay sông Tra): nằm trên đường bộ Sài Gòn - Tây Ninh, cách Sài Gòn 15km do 74 lính thủy đánh bộ và đại úy Thouronde trấn giữ. Gần sáng ngày 18 tháng 12 năm 1862, 600 nghĩa quân bí mật leo vào thành giết lính canh chiếm đồn. Thouronde tử trận.

- Đánh đồn Long Thành: đêm 17 rạng ngày 18 tháng 12 năm 1862, 1.200 nghĩa quân Biên Hòa tấn công chiếm được đồn. Bonard vội vàng huy động lực lượng kéo đến phản công.

- Tập kích thuyền giặc ở Bến Lức, vây đồn Phước Hòa. Cùng ngày nghĩa quân dưới quyền Nguyễn Trung Trực tấn công 2 lorcha (chiến thuyền nhỏ) đậu tại Bến Lức và bao vây đồn Phước Hòa, lính Pháp chống cự không lại, phải nhờ lính Tây Ban Nha đến cứu.

- Tập kích pháo thuyền Alarme: cùng đêm 17 rạng ngày 18 tháng 12 năm 1862, nghĩa quân Gò Công tập kích pháo thuyền Alarme và tấn công trận địa pháo của giặc trên bờ rạch Gò Công. Cùng lúc đó, 400 nghĩa quân tấn công các vị trí quan sát của giặc phía trước căn cứ Tân Hòa.

- Đánh đồn Rạch Kiến: ngày 18 tháng 12 năm 1862, 2.000 nghĩa quân có trang bị 12 súng đại bác bắn đá tấn công đồn gây cho giặc thiệt hại nặng.

- Tấn công đồn Thuộc Nhiêu do đại úy Taboulé với 50 quân trấn giữ. Võ Duy Dương tường thuật trận đánh sơ lược như sau:

"Ngày 27 trong tháng (tức 17-12-1862) quân Pháp mang quân tập kích các ông. Quân Pháp lại bại trận và tháo chạy bị quân các ông đuổi theo đến đồn Thuộc Nhiêu, cướp đồn và đốt cháy. Bọn Pháp trong đồn xông ra xáp trận. Thình lình một đám mưa to ập đến và đến tối, tất cả đều rút lui mỗi bên về một hướng".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:49:09 pm

Kết quả của cuộc nổi dậy đồng loạt này là ngày 18 tháng 12 năm 1862, Bonard viết một báo cáo dài gửi về Pháp, trong đó có đoạn:

"Thật là đau đớn khi nghĩ đến bao nhiêu cố gắng mà tôi đã thực hiện từ 15 tháng nay! Các cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi và đồng loạt. Tôi bị đẩy vào thế tự vệ, không có phương tiện để tổ chức một quân đội, dù chỉ 200 người. Nếu tăng viện đến ngay, tôi hy vọng làm chủ được tình hình, nếu không đành bất lực" (Kho lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, Kỷ yếu, tập 28, Cao Huy Thuần sưu tầm).

Những ngày tiếp theo đó, tình hình của chúng càng bi đát thêm. Ảnh hưởng của các cuộc tấn công trên làm cho bộ máy hành chính tay sai của chúng vừa mới thành lập rệu rã nhanh chóng, bọn tay sai rút vào công sở hoặc vào các đồn bót hay xuống tàu nằm, không dám đi đâu. Còn số khác sẵn sàng bắt tay với nghĩa quân âm thầm bí mật chống lại Pháp. Tình trạng thiếu hụt quân số ngày một trầm trọng: "Quân Pháp bị xé lẻ đến mức vô cùng trầm trọng. Ngay cả bọn xạ thủ cũng bị phân tán mỗi người một đồn, nhiều đồn không có pháo binh, chỉ có vài người chống giữ” (Poyen, Notice sur l’artillerie de la marine en Cochinchine, Paris, 1893).

Trong tình hình nguy khốn đó, Bonard cứu vãn bằng cách "quyết định yêu cầu sự trợ giúp gần nhất của người cầm đầu trạm hải quân của chúng ta tại Trung Quốc". Đáp lời kêu cứu này, phó đô đốc Jaurès từ Thượng Hải đến với tiểu đoàn khinh binh châu Phi, đem theo 2 tàu chiến Semiramis và Renommée, qua Manila (Philippin) đón một đại đội của lữ đoàn thứ 5 lính Tagals dưới quyền chỉ huy của trung tá Moscoso.

Có thêm được số quân đáng kể, Bonard tiến hành một cuộc bình định mới vào đầu tháng 2 năm 1863. Nắm được sự nhu nhược của triều đình Tự Đức và nhất là biết triều đình đang bận tâm tập trung binh lực đánh dẹp cuộc nổi loạn của Tạ Văn Phụng ở Bắc Kỳ, Bonard thúc ép triều đình gấp rút phê chuẩn Hiệp ước 1862 và cấm dân chúng nổi dậy chống Pháp hòng đẩy nghĩa quân vào thế bất lợi.

Chúng biết tổng chỉ huy quân kháng chiến Trương Định đang đồn trú ở căn cứ Tân Hòa. Từ ngày 13 tháng 2 đến ngày 24 tháng 2 năm 1863, chúng tập trung binh lực chiếm được căn cứ, nhưng với thiệt hại không nhỏ mà vẫn không tiêu diệt được nghĩa quân.

Sau khi tấn công Thuộc Nhiêu, Võ Duy Dương kéo quân về Giồng Cát, ở lại đó đến ngày 27 tháng 12 năm 1862 thì rút về Bình Cách.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:49:41 pm

Ngày 5 tháng 1 năm 1863, bọn Pháp ở Mỹ Tho gom góp trong số quân thiếu hụt của chúng tấn công cái gai trước mắt chúng là căn cứ Bình Cách. Nghĩa quân ráo riết chống trả, chúng rút lui, nghĩa quân đuổi theo pháo kích. Tuy nhiên, do thiếu hụt đạn dược nên sau trận này nghĩa quân của Võ Duy Dương không tiếp tục phát huy chiến thắng được, ông phải cho người liên lạc với Trương Định để xin chi viện đạn dược.

Từ Tân Thạnh (Gia Định), ngày 11 tháng 1 năm 1863, Võ Duy Dương đưa quân về đóng ở Giồng Cát (nay là Gò Lũy, xã Nhị Bình, Cai Lậy). Bọn thực dân ở Mỹ Tho nghi ngờ ông sẽ tấn công Thuộc Nhiêu nên ngày 13 tháng 1, chúng điều quân đến tấn công, cuộc kịch chiến kéo dài từ 3 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Pháp đưa quân đến tăng viện, ông phải rút lui về cách đó 4 cây số (chưa rõ địa điểm nào, có lẽ là vị trí Ấp Bắc ngày nay, phần đất tận cùng của xã Nhị Bình - Châu Thành giáp Tân Phú - Cai Lậy).

Ngày hôm sau, chúng kéo đến vị trí mới của nghĩa quân tiếp tục công kích, lần này chúng bị đánh bật ra và phải rút lui. Nhưng với ý đồ chia cắt lực lượng nghĩa quân, không cho lực lượng Võ Duy Dương và Trương Định liên hệ được để ứng cứu cho nhau, chúng không lui quân về Mỹ Tho mà đóng đồn tại Giồng Phèn (cũng trong địa phận xã Điềm Hy, Châu Thành) để kìm chế nghĩa quân.

Cách một ngày sau (tức ngày 16-1-1863) chúng trở lại tâp kích vào vị trí nghĩa quân lần nữa. Nghĩa quân chống trả quyết liệt từ 3 giờ sáng đến 7 giờ sáng, bọn chúng bị đẩy lùi phải rút về Giồng Cát nhưng đến 3 giờ chiều lại quay trở lại tiếp tục tấn công. Võ Duy Dương lại phải chiến đấu trong tình trạng bị tấn công liên tục và vũ khí đạn dược ngày một ít đi nên đành bỏ vị trí rút về Bưng Môn (nay thuộc xã Tân Phú, Cai Lậy). Đây là một vùng bưng biền sình lầy, cây cỏ rập rạp, Võ Duy Dương cho đắp chiến lũy và trú đóng lại.

Lúc này bọn thực dân Pháp có thêm viện binh và đang chuẩn bị tấn công quy mô vào căn cứ Tân Hòa của Trương Định nên chúng càng quyết tâm phong tỏa lực lượng của Võ Duy Dương. Ngày 20 tháng 1, chúng tập trung một lực lượng lớn gồm một pháo thuyền với nhiều ghe chài và ghe nhỏ bằng nhiều ngả tiến vào bao vây đầm lầy Bưng Môn. Để bảo toàn lực lượng, Võ Duy Dương ra lệnh nhổ đồn bí mật lui quân trong đêm tối và kéo về huyện Kiến Đăng.

Xét thấy vùng Giai Mỹ nằm trên bờ kinh Cây Gáo có vị trí quan trọng có thể rút vào Đồng Tháp Mười, ông cho nghĩa quân dừng lại xây đồn, đắp lũy ở Xoài Tư (nay thuộc vùng Mỹ Thành Nam, Mỹ Thành Bắc - Cai Lậy, giáp Hậu Mỹ Bắc, Hậu Mỹ Trinh thuộc huyện Cái Bè).

Tình hình nghĩa quân Võ Duy Dương ngày một xấu đi, luôn ở trong tình trạng bị cô lập, mọi sự tiếp tế lương thực, vũ khí hết sức khó khăn, nhưng với quyết tâm chống giặc giữ nước, nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của ông và Nguyễn Hữu Huân không hề có biểu hiện dao động.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:50:42 pm

Sau khi đánh dẹp được căn cứ Tân Hòa của Trương Định, trong vòng không đầy một tháng từ ngày 30 tháng 3 đến 20 tháng 4 năm 1863, bọn thực dân ở Mỹ Tho đã ba lần tập trung quân quyết ý bình định khu vực Xoài Tư.

Tình trạng bất lợi ngày một gia tăng. Quân Pháp đã cắt đứt các đường giao thông thủy, bộ. Mọi sự tiếp tế càng ngày càng trở thành vấn đề cấp bách, nhất là lương thực, một mặt do nông dân bị mất mùa năm 1863 do hạn hán, một mặt bị phong tỏa và bọn tay sai đã bắt đầu hoạt động lại, thêm vào đó bọn thực dân Pháp sâu hiểm tung tiền cho nông dân vay không lấy lãi để làm mùa tới hòng mua chuộc họ. Để cô lập phong trào kháng chiến của nhân dân ta, vào tháng 4 năm 1863, Pháp cử đại diện sang Oudong gặp vua Cao Miên - Norodom I, đặt quan hệ ngoại giao với nước này nhằm thu hẹp địa bàn hoạt động và cô lập phong trào kháng chiến của nhân dân ta.

Xuất phát từ tình hình khó khăn đó, Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân có một kế hoạch nhằm bảo toàn lực lượng để chiến đấu lâu dài. Về mặt quân số, ông chia nghĩa quân làm từng toán nhỏ rút về làng riêng của họ, như vậy vừa bảo đảm được quân số vừa giải quyết được một phần lương thực. Về mặt hậu cần, ông cử người tiến hành một cuộc lạc quyên tiền đúc bằng bạc trên khắp các tỉnh Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Về mặt cung cấp vũ khí, ông cử người đi Rạch Giá, Cà Mau (thuộc Hà Tiên) liên lạc với Hoa kiều để mua súng đạn.

Ông cử Phó đề đốc Nguyễn Hữu Huân cùng với 20 người bí mật sang Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên vừa làm công việc lạc quyên vừa mua súng đạn. Riêng phần ông chỉ giữ lại 100 nghĩa quân. Với quân số này ông tiến hành các cuộc hành quân lưu động, gọn nhẹ qua các làng mạc có nghĩa quân sơ tán để củng cố tổ chức, duy trì tinh thần chiến đấu, bổ sung quân số và vận động nhân dân tham gia ủng hộ kháng chiến.

Kế hoạch trên được thực hiện vào tháng 6 năm 1863, nghĩa là cùng lúc với Sứ bộ Phan Thanh Giản đi Pháp để chuộc 3 tỉnh miền Đông. Võ Duy Dương không những di chuyển trong tỉnh Định Tường mà còn sang các tỉnh An Giang, Vĩnh Long và Hà Tiên, ông hoạt động nay nơi này, mai nơi khác. Thực dân Pháp tiến hành nhiều cuộc lục soát nhưng không bắt được ông.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:51:10 pm

Về phần Nguyễn Hữu Huân, sau gần một năm hoạt động, kết quả tương đối khả quan. Do có sự hưởng ứng nồng nhiệt của nhân dân 3 tỉnh miền Tây nên ông quyên được nhiều tiền bạc, mua được một số vũ khí đem về tàng trữ ở Châu Đốc. Ngoài ra Nguyễn Hữu Huân còn liên lạc được với Achaxoa (Thạch Bướm) người Khơ Me yêu nước cũng đang chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp, hai bên đã thỏa thuận liên kết với nhau cùng chống kẻ thù chung.

Nhưng do một số quan lại trung quân một cách mù quáng, chấp hành việc thi hành Hiệp ước 1862 theo lệnh Tự Đức một cách máy móc, thiếu sáng suốt nên đã bắt giam Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân ở Châu Đốc.

Được tin Nguyễn Hữu Huân bị giam ở Châu Đốc, tháng 7 năm 1864, De Lagrandière (sang thay cho Bonard từ ngày 23-4-1863) phái ngay Doudart de Tagrée đem 500 quân và đại bác từ Oudong (Cao Miên) xuống Châu Đốc buộc tỉnh thần địa phương phải nộp Nguyễn Hữu Huân cho chúng trong vòng hai giờ, nếu không chúng sẽ triệt hạ thành Châu Đốc.

Trước áp lực quân sự của thực dân Pháp, Tổng đốc An Giang Phan Khắc Thận không còn cách nào khác đành giao Nguyễn Hữu Huân cho giặc.

Trong tình trạng đó, Kinh phái Nguyễn Tánh thay mặt triều đình đến hội kiến với Võ Duy Dương và theo Thánh chỉ của Tự Đức, Nguyễn Tánh khuyên ông nên hội quân với Trương Định để giải giáp nhưng Võ Duy Dương kiên quyết không nghe.

Sau đó, tháng 8 năm 1864, Võ Duy Dương cùng 30 nghĩa quân lên đường trở lại Xoài Tư, Rạch Ruộng (khu vực giáp ranh hai huyện Cái Bè, Cai Lậy hiện nay) với quyết tâm xây dựng lại lực lượng nghĩa quân để bắt đầu giai đoạn mới cho cuộc chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:52:49 pm

Câu hỏi 6: Sau khi Trương Định hy sinh, Võ Duy Dương rút quân về Đồng Tháp Mười, ông đã xây dựng Đồng Tháp Mười thành một căn cứ địa lợi hại, cho biết đôi nét về vùng đất Đồng Tháp Mười?
Trả lời:


Về tên gọi Đồng Tháp Mười có nhiều giả thuyết khác nhau. Hiện nay các nhà nghiên cứu đều ghi nhận vùng này có ngôi tháp thứ 10 trong số ước chừng 102 tháp bằng đá do Vua Jayavarman VII (1181-1218) xây cất trên khắp lãnh thổ Chân Lạp để thờ vị thần Bà La Môn Lockecvara là vị thần chuyên trị bệnh cho nhân thế.

Như vậy, tên gọi Đồng Tháp Mười đã có từ trước nhưng khi Thiên hộ Dương về đây lập căn cứ đánh Pháp và đặt đại bản doanh tại Gò Tháp thì tên gọi đó mới trở thành phổ biến.

Đồng Tháp Mười đồng nghĩa với vùng "đất bưng", từng được gọi là "tràng", "trạch" hay "pha trạch" thuộc địa phận Định Tường. Đồng Tháp Mười, theo các nhà địa lý học, trải rộng từ tả ngạn sông Tiền đến hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông. Phía bắc lên tới Preyveng (Campuchia), phía nam giới hạn bởi quốc lộ 1 (quốc lộ 4 cũ) diện tích gần 1 triệu hécta.

Nếu tính theo phương diện thủy học và phạm vi hoạt động thực tế của nghĩa quân Thiên hộ Dương thì Đồng Tháp Mười lùi lại ở hữu ngạn sông Vàm Cỏ Tây.

Xưa kia, Đồng Tháp Mười là một vịnh biển, sau những đợt vận động tân kiến tạo vào kỷ đệ tứ đáy biển được đội lên cao biến thành một vũng nông được phù sa sông Cửu Long và sông Vàm Cỏ bồi đắp dần, tạo thành một đầm lầy như cái lòng chảo khổng lồ đầy xác thực vật, động vật trầm tích, đất nhiễm phèn nặng (có nơi độ Ph = 2) thích hợp cho các loại thực vật như: tràm, cà dâm, sen, súng, năn lác, bàng, đế, sậy, lau vôi, cỏ mồm, lúa trời... mọc bạt ngàn. Đây cũng là nơi cư trú của hàng trăm loài động vật khác nhau: trăn, rắn, rùa, cá, chim, chuột, ong, muỗi, đỉa, vắt... Trong Đồng Tháp Mười nổi lên những gò, giồng là thềm phù sa cổ kéo dài hoặc là những cồn cát ven bờ hình thành do những dòng nước cuộn trước kia như: giồng Sa Rài; giồng Găng, gò Cỏ Ông, gò Lau Vôi, gò Cà Dâm, gò Thốt Nốt; Giồng Cát (Động Cát), Giồng Tháp (Gò Tháp) ở tỉnh Đồng Tháp; gò Thành, gò Gòn, gò Bắc Chiêng, gò Trấp Ky, gò Ông Hạp, gò Giồng Dung, gò Bãi Liếp ở tỉnh Long An; gò Đế (chùa Trương Tháp - Cai Lậy, Tiền Giang), v.v...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:53:11 pm

Hàng năm cứ đến mùa mưa (tháng 6 âm lịch) là cả một vùng bao la bị chìm trong biển nước. Các con lung, bưng, trấp vẽ nên những đường nước ngoằn ngoèo như những mạch máu. Cuối tháng 10 âm lịch, nước rút dần, cây cỏ mục ủng làm nước thối đen. Chỉ còn những chiếc giếng khơi trên các gò, giồng là tạm uống được.

Mùa khô, cuối mùa nắng mà còn những chỗ sình sụp lún từ đầu gối đến ngực. Tại Tràm Sình (Sình Lớn và Sình Nhỏ) chu vi của nó rộng cả chục mẫu (chưa kể viền chung quanh), người, trâu đi qua không được. Nhiều cá sấu ẩn nấp ở đây. Muốn đi bộ phải len lỏi theo các vệt lau sậy, hoặc băng qua rừng tràm hàng chục cây số. Trên thì ong, muỗi, bù mắt vần vũ, dưới thì đỉa vắt, lại thêm rắn độc khắp nơi... Nắng như thiêu, như đốt, mùi sình bùn, cỏ ải xông lên nồng nặc, hôi thối, không khí oi bức đến nghẹt thở. Người không quen sẽ bải hoải, kiệt sức ngay.

Một cánh đồng hoang dã, rậm rạp, nắng cả mưa nhiều, bùn lầy nước đọng quanh năm và có nhiều thú dữ... Trong ký ức các cụ già 70-80 tuổi sống trong Đồng Tháp Mười còn nhớ những mẩu chuyện kể về ông bà mình là lớp người đầu tiên vào đây chiến đấu với voi, hổ, heo rừng, cá sấu, muỗi mòng, đỉa, vắt, rắn độc, trăn, khỉ...

Từ phía sông Tiền bọc qua Vàm Cỏ Tây dày đặc sông rạch lớn nhỏ là một hệ thống thoát nước cho Đồng Tháp Mười cũng là những thủy đạo tự nhiên. Đó là rạch Đốc Vàng Thượng, Đốc Vàng Hạ, Phong Mỹ, Cần Lố, Rạch Ruộng, Cái Thia, Trà Lọt, Cái Bè, Ba Rài, Rạch Chanh, Cá Rô, Bắc Chang. Các con sông này có nhiều nhánh luồn sâu vào nội địa chừng 10 cây số, ngọn nhỏ dần rồi trở thành những con lung tự nhiên chi chít khắp Đồng Tháp Mười và lượn quanh sườn các gò đất.

Nếu lấy Gò Tháp (Gò Tháp hiện nay thuộc ấp 4, xã Tân Kiền, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp) làm trung tâm thì: phía đông nam có Bưng Sen, lung Chuối Nước, lung Bông, trấp Bồn Bồn, trấp Cá Bông nối tiếp từ Hàm Vồ đến Phụng Thớt... cặp sát mé sườn Gò Tháp; phía tây nam: sông Cần Lố, Doi Me vào Đô Sơn, ngọn Ba Sao, Láng Cò, lung Kiến Vàng, Sình Tranh (Bàu Tiên - Động Cát), Sình Dỗ, Sình Dứt (Gò Tháp). Ngoài ra còn có trấp 20, Bưng Rồng, Sình Tranh, Sình Mướp...; phía tây bắc có lung Bông và bưng Sấu Hì bắt đầu từ Sình Dực, Sình Dỗ ở Gò Tháp nối liền lên Trấp Suông, Sình Tròn, Sình Lớn, Rộc Năn, láng Tả Mơn ra Tân Thành, Cái Cái... Một nhánh khác từ Tràm Sình (Sình Lớn - Sình Nhỏ) lên lung Bông, gò Cỏ Ống, Tràm Chim, Giồng Găng, Sa Rài...; phía đông bắc có lung Bàu Chứa, trấp Rùng Rình, Láng Sen, Rộc Tượng kéo dài đến Gò Tháp.

Nghĩa quân dựa vào các lung, trấp trên đây để vận chuyển vũ khí, lương thực bằng ghe xuồng, lĩa trâu, cộ trâu vào tận căn cứ hoặc ban đêm tập kích các đồn bốt giặc (Lĩa trâu: xuồng hoặc ghe, trước mũi được cặp thêm 2 cây tre nối lên ách trâu, kéo theo đường lung hoặc chỗ nước sâu. Cộ trâu: cũng như lĩa trâu nhưng chiếc xuồng được thay bằng chiếc cộ tre, 2 cây đà dưới bình cong để trâu kéo lướt trên đồng cạn hoặc chỗ khô ráo).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:53:41 pm

Ba con đường chính còn gọi là "đường gạo" từ ngoài vào đại bản doanh Gò Tháp là: đường Cái Nứa (hướng đông nam) chạy từ ngã năm Phú Nhuận (xã Mỹ Thành Nam - Cai Lậy) theo rạch Cây Gáo đến Xoài Tư (xã Mỹ Thành Bắc) hướng Quan Cư (xã Hậu Mỹ - Cái Bè) lên Gò Tháp. Đường Cần Lố (hướng tây nam) thì dấu vết không còn nữa, nhưng tên gọi Đường Thét còn gợi lên một con đường thẳng nối ngọn Trà Bông (đường gỗ) đến Bàu Tiên - Động Cát. Từ đây vào Gò Tháp các con lung còn hiện rõ.

Ở khoảng giữa Giồng Dung - Gò Tháp, cách Gò Tháp 4km, tại xã Hậu Thạnh Đông (Tân Thạnh, Long An) có một con rộc mang tên rộc Đìa Gừa hay rộc Đìa Gạo rộng chừng 20m một đầu hướng về Giồng Dung - Mộc Hóa, đầu kia hướng về Gò Tháp và tiếp giáp các lung, trấp khác về phía Cai Lậy. Tận Vĩnh Hưng còn những địa danh đường Tượng, đường Gạo, gò Thành, gò Gạch, Vàm Đồn...

Cách thị trấn Kiến Bình 2km về phía nam (tức phía Cai Lậy) có một vệt đường Gạo (rộng chừng 2m, sâu 4 - 5 tấc) hướng về Gò Tháp. Nếu tính chỗ ngọn Bắc Đông (cắt kinh 12) tới Gò Tháp chừng 30km.

Có những con đường tự nhiên chạy ngoằn ngoèo, bất tiện nghĩa quân đã nhắm hướng đi tắt, hoặc mở thêm đường mới khi bị Pháp đóng đồn ngăn chặn như chỗ Vàm Bà Bầy. Ngoài ra còn có đường Gỗ (rạch Trà Bông - Cao Lãnh) dùng vận chuyển gỗ.

Như vậy, từ trung tâm Đồng Tháp Mười, nghĩa quân có thể đi lại dễ dàng giữa các đồn chính và các đồn phụ, có thể tiếp xúc với các cửa ngõ: Mộc Hóa, Long An, Cai Lậy, Cái Bè, Cao Lãnh, Hồng Ngự, và liên lạc xa hơn nữa với các miền An Giang, Hà Tiên, Rạch Giá, Preyveng... Ngược lại kẻ lạ không tài nào thông thuộc hết các đường ngang, nẻo dọc này.

Chọn Đồng Tháp Mười làm căn cứ không phải do ngẫu nhiên để đối phó tình hình vô cùng bất lợi cho nghĩa quân trong những tháng 6, 7, 8 năm 1864 mà việc chọn Đồng Tháp Mười làm tổng hành dinh để chống thực dân Pháp xâm lược của Võ Duy Dương là một việc làm có cân nhắc, tính toán cẩn thận. Ngay khi còn hoạt động ở đất Ba Giồng, Võ Duy Dương cũng đã sử dụng một phần lợi thế của Đồng Tháp Mười. Xưa kia, trong cuộc tranh chấp Tây Sơn - Nguyễn Ánh, Đỗ Thành Nhơn cũng đã sử dụng cái thế "phên dậu" của Đồng Tháp Mười - Ba Giồng làm thế tiến thủ. Rõ ràng, trong thời kỳ mộ dân khai hoang ở vùng ven đất Ba Giồng và nhất là trong thời gian hành quân lưu động (tháng 4-1863 đến tháng 5-1864), nhất định Võ Duy Dương đã nắm bắt được thế đất và lòng người của vùng này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Giêng, 2017, 10:53:58 pm

Một Đồng Tháp Mười trũng thấp, mênh mông với tràm đưng, lau sậy, đỉa, muỗi... đường đi lại không có, cư dân ít ỏi; gối đầu với một Ba Giồng được khai phá lâu đời đã trở thành một vùng đất trù phú, đông dân nhất nhì tỉnh Định Tường. Quả thật đây là một vị trí chiến lược lý tưởng trong cuộc chiến tranh giữ nước. Ba Giồng cung cấp sức người, sức của cho lực lượng nghĩa quân ở Đồng Tháp Mười. Đồng Tháp Mười vừa là bàn đạp tiến quân tiêu hao sinh lực đối phương, vừa là vật che chắn bảo vệ nghĩa quân. Từ Đồng Tháp Mười có thể tiến lên miền Đông, quay xuống miền Tây hoặc rẽ sang Campuchia, ra biển đều thuận lợi... Chọn Đồng Tháp Mười làm căn cứ, quả thật Võ Duy Dương là một nhà quân sự có tài.

Ngoài ra, còn một yếu tố khác hết sức thuận lợi cho việc chọn Đồng Tháp Mười làm căn cứ. Đó là ở vùng Cao Lãnh, ven Đồng Tháp Mười ở phía tây nam, nhất là các xã Mỹ Ngãi, Mỹ Trà, Mỹ Thọ... lúc bấy giờ có hai lực lượng nghĩa quân hoạt động: một do Nguyễn Văn Linh (Thống Linh), một do Nguyễn Tấn Kiều (Đốc binh Kiều) chỉ huy.

Nguyễn Văn Linh, người ở xã Mỹ Ngãi, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường (nay thuộc phường 1 thị xã Cao Lãnh), khi triều đình Huế ký hòa ước nhường 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, ông đã tự động đứng lên chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp ở Cao Lãnh.

Nguyễn Tấn Kiều (có tài liệu ghi là Lê Tấn Kiều hay Lê Công Kiều) mộ nghĩa quân chống Pháp ở vùng Mỹ Thọ, Rạch Ruộng (huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường).

Hai lực lượng này chính là những nhân tố đầu tiên tạo cơ sở cho căn cứ Đồng Tháp Mười phát triển sau này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Giêng, 2017, 09:28:17 am

Câu hỏi 7: Từ đầu năm 1865, sau khi trở thành lãnh tụ của phong trào khởi nghĩa chống Pháp ở ba tỉnh miền Tây, Võ Duy Dương đã xây dựng hệ thống đồn lũy tại Đồng Tháp Mười như thế nào?
Trả lời:


Võ Duy Dương đóng đại bản doanh tại Gò Tháp. Trên 3 con đường gạo, mỗi hướng có một đồn chính: Đồn Tiền (hướng Cái Nứa), đồn Tả (hướng gò Bắc Chiêng), đồn Hữu (hướng Cần Lố). Đồn nào cũng có lũy đất ở chung quanh, cao gần 2,5m, trong và ngoài lũy là hàng cừ bằng gỗ sao, lũy có đục cửa và có nhiều lỗ để nhắm bắn ra ngoài.

Mỗi đồn chứa từ 200 đến 300 nghĩa binh, 10 khẩu súng và 4 - 5 chục khẩu súng bắn đá, vài khẩu đại bác (Nguyễn Hiến Lê – Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười).

Đồn Trung (dân gian còn gọi là đồn ổ Bịp, ổ Bịp có lẽ do đồn đóng ở một nơi hiểm yếu, kín đáo như một ổ chim bìm bịp) nằm ngay giữa Gò Tháp (ngày nay thuộc ấp 4, xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp), cách thị trấn Mỹ An 107km về phía bắc. Đồn có hình tứ giác không đều, chu vi 675m ở trên độ cao 2,54m so với mực nước biển. Đồn được Lê Kim (Trần Trọng Khiêm) thiết kế và xây dựng theo kiểu đồn Suter ở California (Hoa Kỳ).

Mặt tiền đồn hiện còn rất phẳng, các bờ thành đã được san bằng nhưng dấu vết còn rất rõ. Chẳng hạn, bờ thành phía đông là một gò đất nhô lên rộng chừng 5m, cắt ngang mặt gò từ nam sang bắc, nằm giữa hai đường trũng của hào ngoài và hào trong. Hào ngoài sâu 3m, hào trong sâu gấp đôi là nơi lấy đất đắp bờ thành và nền đồn.

Như vậy, để tránh sụt lở, mỗi bên trừ hao 0,5m thì chân bờ thành ít nhất cũng 4m. Để đạt chiều cao trên 2m theo các tài liệu trước đây ghi chép thì đỉnh bờ thành rộng chừng 1,5m.

Phía ngoài và phía trong chân bờ thành được kè gỗ chắc chắn để chịu đựng được sức công phá của đại bác giặc. Ngoài các cổng chính, phụ vào đồn, nghĩa quân còn bắc nhiều cầu ngang từ bên trong qua bờ thành, nơi có nhiều công sự và lỗ châu mai hướng ra bên ngoài. Theo lời kể của các bậc kỳ lão trong vùng thì nghĩa quân còn lợi dụng độ cao của mặt thành chất gỗ sẵn chờ lúc giặc tấn công sẽ "bứt dây lăn gỗ". Người dân sống trên Gò Tháp đào mương, vét giếng thỉnh thoảng còn gặp nhiều khúc gỗ nằm sắp lớp. Chung quanh nền đồn còn có nhiều bụi tre mỡ, tre gai vốn là lũy cũ còn lại.

Gò Tháp là một gò đất pha cát do bàn tay con người bồi đắp dựa trên sự thành tạo ban đầu của tự nhiên, nằm theo hướng dòng chảy sông Tiền theo hướng đông bắc - tây nam. Đỉnh gò dài trên 500m, rộng 300m, nhưng chân gò chạy thoai thoải mở rộng ra hướng tây nam, diện tích lên gần một cây số vuông.

Với địa thế này, nghĩa quân dễ dàng bố trí nhiều trạm canh ở chung quanh, nhất là hai đầu cực bắc và cực nam. Trên đỉnh gò Tháp Mười (chỗ nền tháp mười tầng) có độ cao 5,047m là nơi nghĩa quân dùng làm đài quan sát từ xa (có tư liệu nói đài quan sát hình vuông, bằng gạch, xếp nhiều bậc nhỏ dần từ dưới chân lên đỉnh, cao 12m).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Giêng, 2017, 09:28:47 am

Nếu như các đồn chính khác là đồn Tả, đồn Hữu nằm trên những gò cao như gò Giồng Dung, gò Động Cát thì đồn Tiền lại nằm giữa cánh đồng sình lầy gần vùng gò Bãi Liếp (nên nhân dân còn gọi là đồn Bãi Liếp).

Đồn Tiền ở về phía đông nam đồn Trung 6km, nằm ven con đường gạo từ Cái Nứa vào Gò Tháp, cách kinh 3 (xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười) 100m bên bờ sông. Trong những ngày đầu, đây là đồn tiền tiêu, án ngữ và ngăn chặn những đợt tấn công của Pháp.

Năm 1979, chỉ còn lại nền đồn cao hơn mặt ruộng chừng 0,5m, hào chung quanh đã lấp để trồng lúa.

Đồn hình thang cân, đáy dài hướng về phía Mỹ Tho, Cai Lậy, có lũy đất nối dài ra đến 75m, đáy ngắn hướng Gò Tháp dài 15m, chiều cao 25m. Ở phía đáy ngắn đồn cao hẳn lên, đó là nơi đặt chòi canh và đặt súng. Xung quanh đồn có hào, lũy. Một con đường nổi từ đồn ra đường gạo cũng được đắp cao. Súng thần công sử dụng trong đồn này có 3 loại: to, vừa và nhỏ, bắn đạn gang tròn cỡ trái cam và trái chanh.

Trên bờ thành còn chi chít những dấu đạn chì của súng trường, có lẽ quân Pháp đã bắn vào khi tấn công đồn Tiền.

Từ năm 1945 đến nay, tại đồn Tiền, nhân dân trong vùng đã nhặt được các loại súng: 3 khẩu súng thần công loại lớn (dài 1,85m, đường kính trong 11cm, đường kính ngoài 25cm), 1 súng gang còn gọi là súng trường cửu (dài 0,8m, đường kính ngoài 6cm, đường kính trong 3,5cm).

Đồn Tả nằm trên gò Giồng Dung hay Bắc Dung (hiện thuộc xã Hậu Thanh Tây, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An) nằm cạnh rộc Đìa Gừa, con đường gạo từ Bắc Chiêng về Gò Tháp, cách đồn Trung 7km về hướng tây bắc. Đồn này tương đương với đồn Tiền, hiện không còn dấu vết gì ngoài mấy bụi tre. Bề mặt gò đã bị bới tung xuống tới độ sâu hơn 1m bởi những người đào vàng.

Đồn Hữu nằm trên gò Động Cát (Giồng Cát) thuộc xã Mỹ Quý, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, cách đồn Trung chừng 6km về phía tây nam. Phạm vi và cao độ gò này cũng tương đương với gò Giồng Dung. Gò nằm trơ trọi giữa cánh đồng, không còn dấu vết đồn lũy gì.

Bên cạnh 3 đồn chính giữ thế chân vạc cho đại bản doanh Gò Tháp, còn nhiều đồn nhỏ, trạm canh như đồn Cái Thia, Cái Nứa, Thủ Ngữ, Đất Sét, Mỹ Thạnh (Thạnh Phú), Ấp Lý, Quản Oai, Đồn Tre, Sa Tiền, Rạch Ruộng...

Mỗi đồn nhỏ có chừng 150 nghĩa quân, vài chục khẩu súng bắn đá, còn lại là gươm đao. Mỗi trạm canh chừng 10 nghĩa quân đóng giữ. Họ có nhiệm vụ nắm tình hình và canh phòng người lạ mặt đột nhập căn cứ, đồng thời tiếp nhận tân binh và làm nơi dừng chân của các đoàn vận lương, tiếp tế cho căn cứ.

Các đồn, trạm này tạo thành tuyến bảo vệ vòng ngoài ở những nơi trọng yếu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Giêng, 2017, 09:29:14 am

Phía đông nam là một cánh cung chặn đường Cai Lậy - Cái Bè gồm có: đồn Ấp Lý trên đường Tân Hương vào; đồn Mỹ Thạnh ở chỗ ngã năm Phú Nhuận bây giờ, chặn đường Cai Lậy; đồn Cái Nứa ở chỗ chợ Cái Nứa (xã Hậu Thanh, huyện Cái Bè, Tiền Giang). Đồn nằm trên ngã ba sông Cái Nứa và rạch Bà Xẩm.

Cách chợ Cái Nứa chừng 1km vào chợ Thiên Hộ (theo lô 28) là đồn Thủ Ngữ. Trước khi Pháp đến, tại đây có một ngôi chùa lớn. Trong lúc hai bên giành giật nhau từng thước đất ở chợ Cái Nứa, nghĩa quân đã đắp lũy tại Thủ Ngữ, kìm chân Pháp không cho tiến vào Đồng Tháp Mười. Đồn Cái Nứa và Thủ Ngữ kiểm soát ngả Cái Bè và Trà Lọt vào Hầm Vồ, Phụng Thớt.

Tại ngã ba Mỹ Đông, chỗ con sông Cái Thia (xã Mỹ Đức Đông, huyện Cái Bè, Tiền Giang) chia làm 2 ngả: một ngả về Mỹ Đức Tây, một ngả về Mỹ Thiện, nghĩa quân có xây đồn lũy và cản đất.

Dọc bờ sông Mỹ Thiện, là lũy đất dài khoảng 100m, dày 8m, cao 8m, trên bố trí 4 - 5 khẩu súng thần công. Bên bờ Mỹ Đức Tây, cách ngã ba 400m, nghĩa quân cũng có đóng đồn. Buổi đầu vào đây lập nghiệp nhân dân còn thấy đồn hình chữ nhật dài 25m, rộng 12m, cao 7m. Phía sau đồn có một cái hầm lớn. Ngay mõm doi chỗ đình Mỹ Đông bây giờ là đồn chỉ huy.

Cách ngã ba 200m về phía sông Tiền có 1 cản đắp bằng tràm, dừa chặn tàu từ mặt vàm sông Cái Cối vào. Nhiều lần tàu Pháp vào đây dùng xích sắt kéo cản dừa, nghĩa quân kết bè, phủ rơm phóng hỏa thả trôi theo dòng nước để đốt tàu, nã thần công làm tàu giặc phải tháo chạy.

Phía bắc kinh 28 (100m) và phía tây rạch Đất Sét (400m) thuộc ấp Hòa Điền (xã Hòa Khánh, Cái Bè, Tiền Giang) có một địa danh gò Đồn. Phạm vi gò khoảng 0,5ha, cao hơn mặt ruộng 5 tấc (cách đây 60 năm gò rộng 1ha, cao 1m). Gò thuộc đất làng dùng để chôn cất người chết nên hình dạng tương đối còn rõ. Đồn nhỏ dần có hình chữ nhật. Phần trong lõm xuống có kích thước như sau: 25m (bờ nam - bắc), 30m (bờ đông - tây). Rộc Bưng từ rạch Đất Sét (phía đông) chạy dọc bờ thành phía nam, rồi vòng qua phía tây hướng gò Châu Báu cách đó 100m rồi đổ ra sông Cái Nứa. Năm 1960, nhân dân đào mương phát hiện nhiều đồng tiền điếu, ghè ống và miếng chén kiểu tại khu vực gò Đồn.

Một nơi đáng lưu ý nữa là gò Trường Tháp thuộc ấp 3, xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Cai Lậy. Gò hình chữ nhật, rộng 1ha có đường qua trước giếng chùa rồi đổ ra rạch Cây Gáo cách đó 400m. Phía trong gò Trường Tháp 100m là gò Đế rộng nửa hécta ở độ cao 0,8 - 1m so với mặt ruộng.

Đây là nền cũ của quân đồn điền, nghĩa quân đã dựa vào cao điểm này để đồn trú, chặn giặc từ hướng Cai Lậy - Bà Tồn vào.

Hướng tây bắc đồn Tả có đồn Tuyên Oai nằm trên gò Bắc Chiêng (thị trấn Mộc Hóa), một khu vực khá cao ráo, nổi lên giữa vùng đất còn lầy lội hoang hóa, nằm trên hữu gạn sông Vàm Cỏ Tây. Đây chính là một cửa ngõ giao thông có tầm chiến lược của nghĩa quân, nối liền trung tâm căn cứ kháng chiến với phần đông bắc Đồng Tháp Mười. Mộc Hóa là một vùng hậu cần quan trọng của cuộc kháng chiến. Đây là đầu mối liên lạc với Tây Ninh và nhiều nơi khác ở miền Đông Nam Bộ.

Đồn Tuyên Oai khi ấy thuộc loại vững mạnh vùng ngoại vi có chừng 120 nghĩa quân đóng giữ được trang bị 15 súng bắn đá. Năm 1945 - 1946, nhân dân còn phát hiện một số khẩu súng loại này tại đây.

Trong vùng còn những địa danh liên quan đến thời nghĩa quân như Lò Gạch, gò Thiềng (tức gò Thành), Vàm Đồn, đồn Tre, Cây Gáo...

Phía tây nam, con sông Cần Lố là đường thủy quan trọng của Đồng Tháp Mười. Sông rộng, sâu, quanh năm đều có thể đi lại được. Hầu hết lương thực, vũ khí, đạn dược từ An Giang, Hà Tiên, Rạch Giá tiếp tế cho căn cứ đều qua con sông này. Con sông uốn lượn, ẩn hiện giữa hai hàng cây rậm rạp, nhiều lau lách, sậy đế, có nhiều nhánh nhỏ giao với các con sông khác, khi gặp trở ngại dễ len lách mà đi.

Ngoài đồn Doi cạnh sông Tiền và đồn Sa Tiền chỗ ngã ba Trà Bông, nghĩa quân còn đặt nhiều trạm canh tàu giặc. Cũng như các tiền đồn khác, đồn Doi và đồn Sa Tiển có từ 100 đến 150 nghĩa quân, còn các tháp canh thì khoảng 10 nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Giêng, 2017, 09:30:04 am

Câu hỏi 8: Việc xây dựng lực lượng, chuẩn bị hậu cần của nghĩa quân Đồng Tháp Mười được Võ Duy Dương tổ chức như thế nào?
Trả lời:


Khi vào lập căn cứ Đồng Tháp Mười, Võ Duy Dương đẩy mạnh công cuộc tuyên truyền, vận động, kêu gọi nhân dân tham gia kháng chiến, kể cả việc tranh thủ sự giúp đỡ của quân triều đình ở 3 tỉnh miền Tây. Nhờ vậy, trong hàng ngũ của ông có nhiều thành phần tham gia: Nho sĩ, điền chủ, nông dân... gồm người Việt, người Hoa, người Khơ Me, ngay cả lính Pháp, lính Tagal cũng bỏ hàng ngũ theo về. Cuộc chiến đấu ở Đồng Tháp Mười rõ ràng là sự hợp tác giữa những người yêu công lý, chuộng tự do, không phân biệt tầng lớp, màu da, sắc tộc.

Nghĩa quân ở đại bản doanh Gò Tháp, 3 đồn chính và trên 10 đồn phụ có hơn 2.000 người (3 đồn chính mỗi đồn 300 người. Trên 10 đồn phụ, mỗi đồn trung bình 100 người. Tổng cộng có trên 2.000 người. Nếu tính luôn dân binh còn vượt hơn con số này). Lực lượng chính là quân đồn điền tại chỗ, lúc bình thường thì theo việc đồng áng, lúc rỗi thì luyện tập võ nghệ, khi có giặc thì cầm súng chiến đấu trên mảnh đất quen thuộc của mình hoặc được điều ra trận.

Những trung tâm chính là đất Ba Giồng, Xoài Tư, Rạch Ruộng, Cần Lố... Trại ruộng của hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương do ông Đạo Ngoạn khai mở tại vùng Trà Bông cũng cung cấp không nhỏ về quân lính và lương thực cho nghĩa quân. Phía đồn Tả thì có vùng Mộc Hóa, từ gò Bắc Chiêng lên Bắc Giang, Long Khất, Cái Cỏ, Thông Bình...

Lực lượng nghĩa quân của Trương Định ở Gò Công sau khi chủ tướng hy sinh cũng được thu hút vào Đồng Tháp Mười tiếp tục chiến đấu.

Bên cạnh Chủ tướng Võ Duy Dương có Phó tướng Nguyễn Tấn Kiều (Đốc binh Kiều), Lê Kim (Trần Trọng Khiêm) và nhiều thuộc tướng khác, cả văn lẫn võ như lãnh binh Dương, Bùi Quang Diệu, Trần Kỳ Phong, Nguyễn Văn Cẩn, Lê Văn Ông, Võ Văn Khả, Trương Tấn Minh (Miêng), Võ Cẩm Tấn, Huấn Hiệu, Thống Linh, Thống Bình, Thống Chiếu, Thống Lãnh, Thống Cử... Huỳnh Lục, Huỳnh Thất, Phòng Biểu, Phòng Chơn, Hộ vệ Tân, Đội Nghị, Nhiêu Bá, Nhiêu Chấn, Thông Phụng, Bổn Lê, Tham Đa, Quản võ, Quản văn... có cả các lương y và thầy thuốc rắn: Lệ Huy Nhạc, Thủ Chiếu, Năm Hơn...

Bên cạnh hệ thống quân sự còn có bộ máy chính quyền kháng chiến. Những người tham gia hay được chiêu mộ, tùy theo năng lực, văn bằng, công trạng đều được Võ Duy Dương phong ấn tước, phẩm hàm.

Đồng Tháp Mười thật sự trở thành trung tâm kháng chiến thu hút hầu hết các lực lượng nghĩa quân ở Nam Kỳ trong thời kỳ 1864-1866.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Giêng, 2017, 09:30:27 am

Ngoài việc xây cất các đồn lũy, tháp canh chiến đấu, nghĩa quân chia nhau đi đốn tre, tràm, sậy, đưng về dựng lán trại trên các gò, giồng hoặc trên các nền đất đắp ven các con đường gạo. Che tum nghỉ mát trong các vệt tràm để canh tác hoặc đi giăng câu, đặt lọp, đặt lờ bắt cá, bẫy chim, đào chuột, bắt trăn, rắn, rùa, đập lúa trời, móc củ co, hái sen, nhổ bông súng... Tại các khu vực đồn Trung, Tiền, Tả, Hữu đều có rẫy trồng khoai lang, khoai mì, đậu phộng, mè... đào giếng lấy nước uống và tưới rẫy. Cá ăn không hết thì làm khô, làm mắm để dành. Lương thực từ vùng ngoài tiếp tế vào chủ yếu là dự trữ.

Mỗi nghĩa quân thật sự là một nông dân dầm mưa dãi nắng, giỏi bơi lội, chống xuồng trên đồng nước. Phương tiện đi lại chủ yếu là xuồng, ghe, phổ biến là xuồng cui, xuồng ba lá, xuồng lìm kìm mũi nhọn 2 đầu để lướt nhanh trên đồng cỏ và xoay trở tùy ý. Nghĩa quân còn sáng tạo ra chiếc sào nang để chống qua bưng dày đặc sen súng, lục bình, cỏ mồm... vì những nơi đó nước sâu, đất sình chống sào thường sẽ bị lún sâu, hụt hẫng, khó nhổ sào lên để chống tiếp.

Ngoài những thứ do gia đình, nhân dân tiếp tế, nghĩa quân còn biết giã bàng đan đệm, làm nóp để ngủ, kết quần để mặc trong sinh hoạt hàng ngày và những lúc khó khăn. Thực tế thì loại đồng phục quân đồn điền không nhiều lắm và không phải ai cũng có, vả lại phải để dành khi hội quân, tập kích.

Hàng ngày, nghĩa quân còn luyện tập võ nghệ, sử dụng giáo mác dưới sự hướng dẫn của người thủ lĩnh tại chỗ. Tại các đồn chính, nhất là tại đại bản doanh có mở những đợt huấn luyện quy củ về bắn súng, đấu gươm, các thao tác quân sự chính quy do Linguet và các chiến sĩ Bắc Phi đảm nhận. Vốn là những tù binh của Pháp ở Maroc, Algerie, Tunisie... tuy ngôn ngữ bất đồng nhưng cùng cảnh ngộ với đất nước ta. Họ đã nhận ra sự phi nghĩa khi phải cầm súng bắn giết nhân dân Việt Nam. Do đó, họ đã bỏ hàng ngũ để đứng về phía nghĩa quân. Sự chịu đựng gian khổ, lòng nhiệt tình, dũng cảm của họ đã kích thích tinh thần hăng say luyện tập và chiến đấu của nghĩa quân.

Mỗi người vừa là nông dân vừa là nghĩa binh "tay cày tay súng". Nhờ vậy, mọi hoạt động xâm nhập của giặc, nghĩa quân có thể phát hiện và ngăn chặn từ xa. Suốt thời gian dài hệ thống đồn lũy và đại bản doanh vẫn là dấu hỏi lớn đối với Pháp.

Đồng Tháp Mười bao la, bát ngát, chốn hoang dã thâm u tự bao đời đang giấu kín trong lòng nó một sự rộn ràng kể từ khi nghĩa quân vào lập căn cứ. Đồng Tháp Mười, nơi tụ nghĩa thứ hai sau Gò Công, trở thành trung tâm kháng chiến mới của cả Nam Kỳ. Ngày nào Pháp chưa đánh dẹp xong căn cứ này thì không thể lấn chiếm 3 tỉnh miền Tây.

Với tầm vóc đó, nghĩa quân ráo riết vận động nhân dân quanh vùng từ Mộc Hóa, Tân An, Cai Lậy, Cái Bè, Sa Đéc, Cao Lãnh, Hồng Ngự... đóng góp sức người, sức của chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu mới. Ban đêm, nghĩa quân ra chợ quyên góp tiền, gạo muối của các nhà giàu, nhà nào cũng quyên góp, không nhiều thì ít.

Tháng 5 năm 1864, Nguyễn Hữu Huân bị bắt ở Châu Đốc, tiền bạc quyên góp mua sắm vũ khí, đạn dược bị tịch thu nhưng sự ủng hộ của nhân dân với nghĩa quân Võ Duy Dương không vì thế mà lụi tắt. Nhiều đoàn thuyền đã bí mật vượt sông Hậu, sông Tiền chở khí giới và thuốc đạn tiến vào căn cứ. Các ngả Trà Cú Thượng, Trà Cú Hạ, kinh Phước Tuy, vàm Xoài Hột... qua đường gạo Mộc Hóa, Cái Nứa cũng thường xuyên vận chuyển. Nhưng tấp nập nhất vẫn là con đường gạo Cần Lố. Tại các tiền trạm, nghĩa quân túc trực đón nhận và vận chuyển tiếp. Mùa nước thì xuồng ghe đi theo các con lung tự nhiên vào đại bản doanh, mùa khô thì phân tán nhỏ cho cộ trâu, lĩa trâu kéo vào.

Việc tiếp tế cho nghĩa quân rất gian nan, khổ cực, nhiều người đã âm thầm đổ máu, nhất là từ đầu năm 1865, Pháp đóng tại đồn Mỹ Trà - Cần Lố. Nghĩa quân Thị Bầy đã hy sinh trong lúc mở con đường tắt từ Cần Lố qua Ba Sao và tên tuổi bà đã để lại với con rạch này: "Vàm Bà Bầy”.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2017, 08:37:01 am

Câu hỏi 9: Một trong những thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Đồng Tháp Mười là Đốc binh Kiều, cho biết đôi nét về cuộc đời và những hoạt động của ông?
Trả lời:


Rất tiếc đến nay, chúng ta chưa biết họ và quê quán cụ thể của Đốc binh Kiều. Dân gian thường gọi ông là Lê Công Kiều, Trần Phú Kiều hoặc Nguyễn Tấn Kiều nhưng phổ biến nhất là quan lớn Thượng.

Tương truyền, ông gốc người miền Trung vào Nam sinh sống ở huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường. Khi thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông về Gia Định đầu quân chống giặc, nhờ có võ nghệ và biết tổ chức nên ông được giao quyền chỉ huy một đội dân dũng. Khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ, ông không theo quân triều đình rút về Biên Hòa mà đưa đội nghĩa dũng của mình về đóng ở Sầm Giang, Long Hưng thuộc huyện Kiến Đăng với ý định lập căn cứ chiến đấu lâu dài.

Đến khi Trương Định lập căn cứ Tân Hòa (Gò Công), Võ Duy Dương lập căn cứ ở Bình Cách, Mỹ Quý (Ba Giồng, thuộc huyện Kiến Đăng), ông mang quân về Ba Giồng hợp tác với Thiên hộ Dương. Ông được phong chức đốc binh và trở thành một tham mưu đắc lực của Thiên hộ.

Trong suốt thời kỳ chiến đấu ở Ba Giồng, chẳng những ông lập được nhiều chiến công mà còn dốc sức trong việc tổ chức và tuyển mộ, huy động binh lương nên ông được cất nhắc. Khi bị giặc đánh bật ra khỏi Bình Cách, nghĩa quân rút về Xoài Tư, cửa ngõ vào Đồng Tháp Mười, Võ Duy Dương phân công: Thủ khoa Huân đi các tỉnh miền Tây vận động tiền bạc để mua vũ khí. Thiên hộ Dương với 100 quân, hành quân lưu động hô hào kích động lòng yêu nước căm thù giặc, chiêu mộ nghĩa quân, còn ông giữ trọng trách vào Đồng Tháp Mười tìm nơi lập căn cứ chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài.

Tháng 6 năm Giáp Tý (1864), Thủ khoa Huân bị bắt ở An Giang, đến tháng 7 Trương Định hy sinh ở Gò Công, nghĩa quân rơi vào tình trạng cực kỳ khó khăn, Võ Duy Dương quyết định rút vào Đồng Tháp Mười và đặt tổng hành dinh tại Gò Tháp. Đốc binh Kiều được giao nhiệm vụ xây dựng căn cứ. Ông huy động dân binh, nghĩa quân đào hào đắp lũy... xây dựng đại đồn Tháp Mười suốt mấy tháng liền. Chung quanh căn cứ là hào sâu, dưới cắm chông tre, kề bên là lũy cao trên trồng tre gai, đặt lỗ châu mai, có chòi canh trên ngọn cây để canh gác... Trong đồn có nhà ở, nhà ăn, giếng nước, nhà kho lương thực, kho vũ khí, nhà tham mưu, nơi bàn việc cơ mật... tất cả đều được bố trí canh phòng nghiêm ngặt.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2017, 08:37:31 am

Để bảo vệ đại đồn ở vòng ngoài có đồn Tả, đồn Hữu, đồn Tiền nằm án ngữ trên các đường mòn dẫn vào. Sau đó, theo sự phân công của Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều chỉ huy đồn Tả, chịu trách nhiệm ngăn giặc mặt Xáng Xéo, Rạch Ruộng, đề phòng giặc từ Cai Lậy, Cái Bè tiến công vào. Ông chủ động kéo quân ra đánh Cai Lậy và nhiều nơi khác, không chờ giặc tới đánh mới chống đỡ. Ông vẫn dùng chiến thuật du kích kết hợp với kinh nghiệm dân gian sáng tạo các cách đánh giặc độc đáo như đốt đồng, dùng ong, dùng trâu, hầm chông... làm cho giặc Pháp và tay sai vô cùng khiếp sợ. Cả một tuyến dài từ Cái Bè đến Cai Lậy, ông luôn giữ được thế chủ động. Chúng rất căm tức nhưng không sao tiêu diệt được nghĩa quân do ông chỉ huy.

Lợi dụng địa thế sình lầy, đầy lau sậy, tràm đưng với vô số muỗi, đỉa của Đồng Tháp Mười, nghĩa quân Tháp Mười nghĩ ra nhiều cách đánh giặc hết sức phong phú đa dạng. Bắt ong, rắn để vào một chỗ, khi giặc vào thả chúng ra, gặp hơi người chúng đuổi theo đốt cắn...

Cầu khỉ bắc ngang rạch, được cưa đi một phần làm sao để cầu chỉ còn chịu nổi sức nặng của một người đi qua. Khi giặc qua một lúc nhiều tên làm cho cầu gãy, chúng rơi xuống rạch cắm sẵn đầy chông, nghĩa quân phục kích trên bờ bắn xuống. Vào mùa khô, các lung, bào, trấp, sình... vẫn còn chứa nước khá sâu nhưng trên mặt, cỏ mọc lâu ngày thành một lớp dầy, thoạt nhìn tưởng như đất bằng, ai lỡ sa chân vào sẽ bị lún sâu xuống, càng cố ngoi lên càng bị lún sâu thêm... Nghĩa quân chỉ cần bố trí nghi binh thế nào để giặc đi vào đó. Do vậy, khi bị bắt phải hành quân ở Đồng Tháp Mười bọn lính giặc vô cùng lo sợ, không biết sẽ rơi vào cái bẫy nào.

Riêng Đốc binh Kiều lại đề ra một cách đánh giặc rất độc đáo. Ông đóng quân ở gò Bảy Liếp, chịu trách nhiệm vùng Xáng Xéo, Rạch Ruộng. Hàng năm vào khoảng tháng Giêng, dân ở các vùng Cái Nứa, Cái Thia, Cái Bè, Cao Lãnh... thường vào phát hoang đốt đồng để đến tháng 4, tháng 5 âm lịch, khi trời mưa sẽ sạ lúa. Dưới sức nóng như thiêu, như đốt, lớp cỏ, lau sậy trên mặt đất khô rụi chỉ chờ có lửa là bắt cháy. Lửa bốc cao có lúc đến bốn năm thước, cực kỳ hung hãn. Có lửa, có gió, mà có gió thì lửa cháy càng dữ càng bốc cao và lan đi nhanh chóng. Chỗ nào có cỏ là có lửa, mọi sinh vật đều bị nướng chín nếu không nhanh chân chạy thoát. Đốt đồng ở Đồng Tháp Mười là một cảnh tượng hùng vĩ nhưng cũng rất khủng khiếp đã gợi cho Đốc binh Kiều tổ chức một trận hỏa công.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2017, 08:37:51 am

Ông cho nghĩa quân bố trí trận địa, theo dõi sự thay đổi hướng gió của những tháng mùa khô, đào mương để chủ động đàn áp ngọn lửa. Xong đâu đấy, ông ra lệnh cấm đốt đồng ba năm trong khu vực bố trí trận địa cho cỏ mọc thật dầy, được dân chúng hưởng ứng. Năm ấy, giặc tập trung quân tiến công vào Gò Tháp, hướng từ Cái Nứa vào ấp Đại Điền. Giặc phải băng qua nhiều cánh đồng trống dưới trời nắng chang chang, mùi sình, mùi cỏ thối xông lên nồng nặc, ngột ngạt. Mồ hôi vã ra như tắm, tên nào tên nấy đều uể oải, mệt mỏi. Thấy phía trước là một dãy rừng tràm, chúng bảo nhau nhanh chân chạy đến tránh nắng và nghỉ mệt. Vừa đến nơi, bỗng lửa cháy sau lưng, lửa cháy trước mặt, chạy tới chạy lui phía nào cũng gặp lửa. Cả bọn bị bao vây trong biển lửa. Càng lúc lửa cháy càng dữ dội, tiếng lửa réo ào ào, tiếng lau sậy nổ lụp bụp hòa với tiếng kêu la tuyệt vọng của giặc tạo thành một thứ âm thanh hỗn độn khủng khiếp... làm bọn chúng vốn đã hoảng sợ lại càng hoảng sợ hơn.

Tên nào tên nấy áo quần bị cháy sém, mặt mày bê bết tro than bùn đất, nhiều tên sa xuống bãi lầy, ngọ nguậy kêu cứu nhưng mạnh tên nào tên nấy chạy, tự cứu lấy mình, súng đạn, giày nón vứt vương vãi... cái chết cầm chắc trong tay. Đang nắng gay gắt, trời bỗng nhiên tối sầm lại, rồi mưa như trút nước. Ngọn lửa bị dập tắt. Bọn giặc thoát chết, vội vã lui quân trong hoang mang hãi hùng. Trong trận này, chúng chết bao nhiêu không biết, chỉ biết nơi này dân gian gọi là "Cánh đồng sọ Tây".

Trong cuộc tấn công Đồng Tháp Mười vào tháng 4 năm 1866, giặc Pháp đã dùng một lực lượng lớn để áp đảo, quyết hạ cho được đồn Tả để tiến vào Đồng Tháp Mười. Giặc do tên tay sai khét tiếng Trần Bá Lộc thạo đường chỉ huy tấn công rất hung hãn. Đốc binh Kiều điều động nghĩa quân chống trả quyết liệt đã đẩy lùi nhiều đợt tiến công của giặc, đến chiều bọn chúng phải rút lui. Ông lên đài quan sát theo dõi cuộc thoái binh của giặc, chẳng may ông bị thương. Ông được đưa về gò Giồng Dung điều trị. Mấy ngày sau, được tin đại đồn thất thủ, ông uất lên mà chết. Để ghi nhớ công lao chiến đấu chống giặc giữ nước gian khổ của ông, nhân dân xây cất đền thờ tưởng niệm ông chung với Thiên hộ Võ Duy Dương tại Gò Tháp.

Hiện nay trong dân gian còn lưu truyền bài thơ ca ngợi ông:

Vì nước quên mình bởi chữ trung,
Thương dân chi sá chốn sình bùn.
Mấy năm Đồng Tháp danh vang dội,
Cọp rống ngoài truông, cáo hãi hùng.
Hai thước im lìm nơi thạch động,
Đồng bào tưởng nhớ đứng thờ chung.
Nỗi lòng nghĩ đến nhiều năm trước,
Hương lửa đều không cảnh lạnh lùng.



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2017, 08:39:04 am

Câu hỏi 10: Nêu diễn biến cuộc khởi nghĩa Đồng Tháp Mười của Võ Duy Dương và một số trận đánh chính của nghĩa quân từ năm 1865 đến tháng 4 năm 1866?
Trả lời:


Quân Pháp biết rất rõ rằng ở Đồng Tháp Mười còn một bộ phận lớn nghĩa quân đang hoạt động dưới sự lãnh đạo của Thiên hộ Võ Duy Dương, nhưng chúng chưa nắm được sự bố phòng cụ thể của căn cứ. Chúng xoay qua dùng biện pháp ngoại giao, gây sức ép, buộc triều đình Huế ra chỉ dụ cho nghĩa quân Đồng Tháp Mười buông vũ khí đầu hàng. Mặt khác, chúng ráo riết thiết lập các đồn binh, trạm canh bao quanh địa bàn hoạt động của nghĩa quân. Đồng thời, mạng lưới tình báo tung người dò tìm ngày đêm tin tức về hệ thống đồn lũy, xác định rõ vị trí từng nơi, nhất là đại bản doanh. Tăng cường lực lượng bao vây, không chế buộc nghĩa quân phải xuất đầu lộ diện cho chúng tiêu diệt.

Để khủng bố và đe dọa những người yêu nước, Pháp còn cho dời huyện lỵ Kiến Phong từ Mỹ Trà về vàm Cần Lố, bố trí quân ở đây, thường được gọi là "Trường án Cần Lố”, điểm tiền tiêu của con đường gạo phía tây nam. Hằng ngày, quân Pháp theo rạch Cần Lố đi tảo thanh, hễ bắt được nghĩa quân hoặc tình nghi ai có quan hệ với nghĩa quân là đem về trường án trảm quyết và bêu đầu làm gương.

Sau gần một năm dùng kế "giấu cờ im trống" để lo xây dựng căn cứ, tích trữ quân lương, Võ Duy Dương nhận thấy nghĩa quân đã được thao luyện đầy đủ và tinh thần chiến đấu đang lên cao, không thể khoanh tay ngồi im chờ giặc đến mà phải dấy binh đánh đuổi quân xâm lược.

Với mục đích lãnh đạo dân binh kháng chiến đến kỳ cùng để giành lại chủ quyền và đất đai đã mất, Võ Duy Dương đã thật sự đưa cuộc chiến đấu mới của mình tại Đồng Tháp Mười mang ý nghĩa "dân chúng tự vệ", mặc dù lá cờ hiệu triệu lúc này là "Cần Vương cứu quốc" cho thích hợp với nhận thức của đa số đồng bào và sĩ phu. Địa bàn phát huy tác dụng nhất của chiến thuật này là những vùng tiếp giáp ngoại vi. Đó là vành đai trên dưới 10km bao bọc chung quanh Đồng Tháp Mười từ Bắc Chang, Bắc Chiêng cặp theo sông Vàm Cỏ Tây xuống Thủ Thừa qua Tân An, Cai Lậy, Cái Bè, Rạch Ruộng, Cần Lố, Cao Lãnh, Đốc Vàng, Hồng Ngự...

Đặc điểm chung của vùng này là sông rạch quanh co, chằng chịt, cây cối rậm rạp, dân cư tương đối đông đúc, là nơi tranh chấp thường xuyên giữa hai thế lực. Thực dân Pháp mới đến còn đang bỡ ngỡ, ra sức xây dựng bộ máy tay sai, tìm cách chiêu dụ, mua chuộc nhân dân. Nghĩa quân quyết tâm đánh bật chúng ra khỏi địa bàn. Ít nhất cũng phải cô lập các đồn binh, ngăn chặn những vết dầu loang. Khi được tin có giặc ruồng bố, dân chúng ở đó tức tốc tản cư bỏ nhà không, vườn trống...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2017, 08:39:39 am

Hầu hết các cửa sông lớn, trước các đồn lũy, tàu địch đi lại dễ dàng, nghĩa quân đều phát động dân binh đắp cản bằng vật liệu tại chỗ như tre, tràm, dừa... Quy mô nhất là hệ thống cản trên sông Vàm Cỏ Tây từ trên phía Bắc Chiêng đổ xuống cho tới vùng sông Xoài, Bến Kè...

Đây là loại hình phòng thủ rất hiệu quả, Pháp không thể phát huy hết thế mạnh của mình là thủy quân, khi các thủy đạo quan trọng xâm nhập vào Đồng Tháp Mười đã bị đóng kín. Pháp đã huy động nhân dân phá cản, đem tàu tới cột xích sắt kéo cho bung ra. Mỗi cản khai thông phải mất vài ngày. Xong cản này lại gặp cản khác...

Chiếc cầu khỉ, hầm chông, ong vò vẽ, ong lỗ, một trận đốt đồng... từ Quản Oai, Hầm Vồ, Bằng Lăng, Mỹ Thạnh, Động Cát, Mộc Hóa đều có thể trở thành tai vạ đối với Pháp. Đi lẻ thì bị bắn tỉa, tập trung đông quân thì bị tập kích, ở trong nhà, đình, chùa bị phóng hỏa. Đỉa, muỗi, rắn, rết, sình lầy, nắng gió,... dường như cũng tiếp sức với nghĩa quân làm tiêu hao sinh lực Pháp.

Nghĩa quân đã dùng nhiều cách đánh phù hợp với địa hình Đồng Tháp Mười như phục kích trên đường mòn bất thần nổ súng, nếu Pháp nhảy sang một bên chống trả, thì lại vấp phải trấp (trên cỏ dưới sình), càng vùng vẫy càng lún sâu, nghĩa quân từ dưới trấp đội lục bình lên đánh hoặc nhử chúng vào sâu bên trong rồi đồng loạt đốt đồng nổ súng. Lửa cháy ngùn ngụt, khói bay mù mịt bốn phía, phút chốc bị rơi vào biển lửa mênh mông, Pháp hoảng sợ vứt bỏ súng ống mà chạy (ngày nay, đi khắp trong Đồng Tháp Mười, từ Cái Bè, Cai Lậy đến Gò Tháp, Mộc Hóa... đâu đâu chúng ta cũng được nghe các bậc kỳ lão kể chuyện Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều "Cấm cỏ 3 năm" đốt đồng đánh giặc).

Võ Duy Dương đã tận dụng được những khả năng của nhân lực, vật lực Đồng Tháp Mười để chống Pháp và đã đạt được những kết quả bất ngờ, để lại cho đời sau một bài học về lối đánh du kích xuất quỷ nhập thần.

Paulin Vial tiết lộ: "Người An Nam với vũ khí thô sơ chống với súng carbine, họ cứ việc nhào vô và đánh với một nghị lực mù quáng, chứng tỏ rằng họ can đảm và quyết tâm một cách phi thường..." (P.Vial, Les premières années de la Cochinchine, quyển 1, Paris, 1874, trang 189 - 201).

Trong một báo cáo gởi về Pháp ngày 14 tháng 1 năm 1863, Bonard đã nhận xét: "Cuộc khởi nghĩa là thường trực, nơi nào nó củng bị chặn lại nhưng không nơi nào khởi nghĩa bị đánh tan, vì ta không đủ phương tiện".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2017, 08:39:55 am

Võ Duy Dương còn khai thác đúng mức khả năng chiến đấu của những người lính Tagals, lính Pháp đang ở trong hàng ngũ mình. Vốn sẵn tinh thần yêu chuộng tự do, hòa bình chính nghĩa, lại được Võ Duy Dương cùng các thuộc tướng đối xử rất khoan dung, tin cẩn, các chiến sĩ Tây phương và Bắc Phi này đã trở thành những viên tham mưu đắc lực trong việc tổ chức lực lượng, luyện tập quân sự và sử dụng binh khí. Ngoài ra, họ còn xung phong đi đầu trong những cuộc đánh nghi trang. Các chiến sĩ Tây phương này đã giả dạng làm sĩ quan Pháp dẫn theo một số nghĩa quân ăn mặc như lính tập đi tuần để xuất kỳ bất ý đột nhập vào đồn bót bắt sống lính, đoạt hết vũ khí, lương thực. Xong đặt chất nổ sẵn chờ tốp khác tới giật sập đồn.

Có nơi, các chiến sĩ để lại truyền đơn hoặc ghi chữ trên vách bằng tiếng Pháp kêu gọi lính Pháp không nên phục vụ cho những kẻ xâm lược, phải sớm bỏ hàng ngũ về với chiến khu hoặc bỏ trốn qua Cao Miên, qua Xiêm tìm đường về Pháp.

Do đó, Võ Duy Dương đã lôi kéo được nhiều lính Pháp và Tagal về với ông, kể cả những người Việt trước kia lầm đường theo giặc.

Lối đánh du kích và đánh nghi trang dù tinh vi mấy cũng chỉ hiệu quả khi phòng ngự và đánh lẻ tẻ mà thôi. Mục tiêu chính của nghĩa quân là phải nhổ hết các đồn bót của Pháp vây quanh Đồng Tháp Mười, đánh cho chúng từ bỏ ý chí xâm lược, trả lại 3 tỉnh miền Đông, xóa đi hiệp ước nhục nhã năm Nhâm Tuất (1862).

Đầu năm 1865, khí thế đánh du kích mở rộng đều khắp, nghĩa quân bắt đầu dồn lực lượng đánh kỳ tập. Đáng nói nhất là những trận tấn công Mỹ Trà, rồi Cái Bè, Mỹ Quý, Thủ Thừa...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2017, 08:40:24 am

NHỮNG ĐỢT TẤN CÔNG MỸ TRÀ CỦA NGHĨA QUÂN ĐỒNG THÁP MƯỜI

Nếu như Cái Bè là vị trí quan trọng, tiền đồn của tỉnh Định Tường, đối đầu với Vĩnh Long thì Mỹ Trà là cửa ngõ phía tây của Đồng Tháp Mười.

Bên kia con sông Cao Lãnh rộng chừng 100 thước, đối diện với làng Mỹ Trà là làng Hòa An, tổng An Tịnh, tỉnh An Giang thuộc Nam triều. Có thể nói Mỹ Trà, cù lao Hổ, vịnh Tòng Sơn, cù lao Giêng và các cồn nhỏ rải rác là nhịp cầu nối 3 tỉnh miền Tây với 3 tỉnh miền Đông.

Nghĩa quân thường xuyên ra ngoài chợ Cao Lãnh khuyến khích dân làng ứng nghĩa và quyên góp tiền bạc, lương thảo để mua sắm khí giới và nuôi quân. Nổi bật nhất là hoạt động của Thống Linh, Thống Bình, Thống Chiếu...

Đầu năm 1865, mặc dù đã dời huyện lỵ Kiến Phong về Cần Lố, Pháp vẫn quyết định đóng đồn ở Mỹ Trà, ráo riết bắt dân chúng phục dịch. Đồn hình vuông có 4 chòi canh ở 4 góc, công sự bằng gạch, dựng nhiều hàng rào tre chung quanh.

Đầu trên và đầu dưới đồn có 2 con rạch tự nhiên án ngữ. Con sông Cái Sao Thượng (Đình Trung) làm giới hạn phía bắc; phía nam, con sông Cao Lãnh và nhiều rạch lớn chạy qua các vùng Bình Trung, Bình Trị đi thẳng ra sông Tiền.

Ngoài lợi thế quân sự, vùng này cũng rất trù mật, dân cư đông đúc. Từ thời chúa Nguyễn, đây là một trong chín khố trường biệt lập khai khẩn đất đai làm ruộng mang tên Bả Canh. Giao thông đường thủy thuận lợi, Pháp dễ dàng kiểm soát đường sông Cửu Long từ Cao Miên, Hồng Ngự xuống, từ An Giang qua, làm bàn đạp bình định các làng lân cận: Mỹ Ngãi, Mỹ Thọ, Mỹ Xương, Ba Sao, v.v... và từ đó tấn công Đồng Tháp Mười.

Để nối lại nhịp cầu đông - tây, khai thông con đường gạo Cần Lố, nghĩa quân không thể không đánh đồn Mỹ Trà.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2017, 08:40:59 am

1. Trận đánh úp đồn Mỹ Trà (22-7-1865)

Đóng đồn đã lâu mà không bị nghĩa quân tiến công, quân Pháp đâm ra khinh thường, lân la vào các tiệm quán và làm quen với các nhà dân gần chợ. Người được chúng tin cẩn nhất là một ông lang người Hoa. Những người bà con bên vợ (người Việt) của ông thường được giới thiệu vào xây cất trong đồn. Họ sớm trở nên gần gũi, thân thiện với lính tráng.

Sau thời gian theo dõi tình hình Pháp đóng đồn Mỹ Trà, Võ Duy Dương cùng bộ tham mưu bàn bạc kế hoạch đánh úp đồn này.

Một cô gái tuổi ngoài 20, xinh đẹp, duyên dáng và hoạt bát được phân công tiếp cận ông thầy lang người Hoa bằng cách giả dạng bệnh nhân tới điều trị và ở ngay trong nhà. Dưới bề ngoài có vẻ hữu hảo giữa ông lang và lính Pháp nhưng thực sự ông chẳng ưa gì chúng. Hiểu rõ điều đó, cô khéo gây thiện cảm và dần dần đưa ông về phía nghĩa quân.

Buổi chiều, ngày 22 tháng 7 năm 1865, sau khi ăn tiệc xong ở nhà ông, lính Pháp chếnh choáng men rượu, đeo súng nghênh ngang trở về đồn. Còn cách hàng rào một khoảng ngắn thì bất thần lính Pháp bị đội cảm tử phục kích 2 bên đường nổ súng và xông ra đánh phủ đầu.

Cùng lúc ấy, những người thợ làm trong đồn giết chết lính canh, đoạt súng bắn những tên có mặt tại doanh trại. Trở tay không kịp, tên chỉ huy chết tại chỗ, số sống sót nhanh chân chạy qua hàng rào thoát thân. Nghĩa quân ở các mũi áp sát vòng ngoài khai hỏa thần công trợ chiến và được dân phu dẫn đường tức tốc ùa vào đồn.

Trận đánh kéo dài mấy tiếng đồng hồ, thủy quân Pháp đổ vào tiếp ứng, từ phía bờ sông nã đạn tới tấp để giải vây. Nghĩa quân rút ra ngoài đồn và dựa vào những bờ mương làm phòng tuyến.

Đêm ấy, mưa như trút nước, quân Pháp không tiến thêm được, chúng báo tin khẩn cấp về Sài Gòn.

Chiều ngày sau 23 tháng 7 năm 1865, viện binh từ Sài Gòn do Roze chỉ huy xuống tới nơi chỉ còn cách gom góp tàn quân và thu nhặt xác chết.

Sau khi đoạt nhiều chiến lợi phẩm, nghĩa quân rút êm, đồng bào cũng tản cư hết.

Để trả thù, Roze hạ lệnh càn quét làng Mỹ Trà và các vùng phụ cận. Chúng hung hãn đốt nhà, bắt heo, gà. Sáng hôm sau, quân Pháp và lính mã tà của Huyện Lộc, Quản Khanh tiến sang vùng Mỹ Ngãi vấp phải sự đánh trả của nghĩa quân. Hai bên dàn thành mặt trận, quần nhau gần nửa ngày. Cuối cùng Roze phải cho quân rút về Mỹ Trà.

Qua trận đánh úp đồn Mỹ Trà, quân Pháp thiệt hại nặng nề về người và của, nhiều súng ống, đạn dược bị tịch thu và 1 tàu liên lạc bị thiêu hủy.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2017, 08:41:29 am

2. Trận tấn công Mỹ Trà cuối năm 1865

Cuối năm 1865, trên 100 nghĩa quân trang bị 2 súng đồng cửu phân, 2 thùng thuốc, 2 củi đạn và 5 - 6 súng kép, còn lại là gươm, giáo, siêu, đao... dưới sự chỉ huy của Thượng biện Dương và Thống quản Long tiến công Mỹ Trà lần thứ hai.

Nghĩa quân chia làm 3 đạo tiến vào công sở Mỹ Trà quyết bắt sống Phạm Văn Khanh (một tên Việt gian nguy hiểm).

Đạo thứ nhất, 30 người, từ trong Tháp ra ngọn Ba Sao để xuống Cầu Mống. Đạo thứ hai, 50 người, kéo ra ngọn Cần Lố tràn lên theo đường Đồn (xóm Bún bây giờ). Đạo thứ ba, 30 người đi trên 3 ghe xuôi theo ngọn Mương Khai.

Được tin cấp báo, Quản Khanh chia tráng đinh ra làm 2 cánh. Đội Mến chỉ huy một cánh. Đích thân Quản Khanh kéo đội quân tinh nhuệ phục kích tại đường quẹo "Cây Đa" (nay là Bệnh viện đa khoa Cao Lãnh).

Hai bên xáp chiến, dân làng hoảng sợ, phố xá, nhà cửa 2 bên chợ đóng kín mít. Đến giờ nổ súng, đạo thủy quân vẫn còn loay hoay bên ngoài. Vì đêm tối, đạo quân thứ hai bị lạc đường không đúng hẹn làm cho đạo quân thứ nhất lúng túng.

Nguyễn Công Mẫn, một mưu sĩ của Khanh, nhanh chân chạy xuống Chùa Phật, cách chợ chừng 1.000m, thúc tăng lữ nổi trống sấm và thổi ốc lên hòa cùng tiếng trống quân dồn dập.

Tráng đinh của Quản Khanh hăng lên, vừa đánh vừa đồng thanh la lớn: "Có tàu lân lên" (tàu lân: là một chiếc tàu tuần của Pháp, trên mui có để một con kỳ lân bằng sành mỗi khi lên đến thì trong chùa đánh trống sấm để báo tin cho Quản Khanh biết mà đi tiếp đón, nghĩa là có tàu Pháp trợ chiến).

Trận chiến kéo dài đến rạng sáng. Vì hiệp đồng không khớp giữa 3 đạo quân, nghĩa quân buộc phải rút lui bỏ lại 1 xác chết, 1 súng đồng, 2 thùng thuốc và 2 củi đạn. Bên Quản Khanh chết 1, bị thương 2, phố Chợ cháy 4 căn nhà và 1 chiếc ghe.

Sau trận đánh, Thượng biện Dương và Thống quản Long về đại bản doanh tự nhận lỗi điều binh vụng về của mình với Võ Duy Dương. Hai ông chỉ huy mà không phối hợp chặt chẽ với các đạo quân để xảy ra những tổn thất đáng tiếc, thể hiện sự khinh địch. Võ Duy Dương thấy hai thuộc tướng của mình thành khẩn như vậy nên vỗ về và đốc suất các ông chuộc lỗi bằng những cuộc tập kích sắp tới.

Sau đó, nghĩa quân Đồng Tháp Mười còn tấn công chợ Cao Lãnh vài lần nữa và tìm cách ám sát Quản Khanh nhưng không có kết quả đáng kể.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Giêng, 2017, 08:41:57 am

Võ Duy Dương mở một mặt trận thứ hai, tấn công Cái Bè, Mỹ Quý, chọc thủng phòng tuyến của Pháp đóng ở vùng này. 50 quân Pháp và gần 100 lính mã tà bị nghĩa quân tiêu diệt và bắt sống.

Về phần Nam triều, hay tin Võ Duy Dương gây nhiều tổn thất cho quân đội Pháp, vua Tự Đức liền xuống chiếu cho Tổng đốc Trương Văn Uyển ở Vĩnh Long bí mật cử người vào Đồng Tháp Mười sắc phong cho Võ Duy Dương làm lãnh binh.

Cuộc khởi nghĩa của Võ Duy Dương vốn đã in sâu trong lòng quảng đại quần chúng, nay lại được sự nhìn nhận của triều đình nên càng có điều kiện phát triển. Các tỉnh miền Tây mạnh dạn hơn trong việc giúp thêm lương thực, khí giới các đạo nghĩa quân khác cũng thường xuyên liên lạc với ông để hợp đồng tác chiến, cùng một lúc đánh Pháp ở nhiều nơi khiến chúng phải phân tán lực lượng đối phó, kín chỗ này hở chỗ kia. Bộ máy cai trị làng xã ở nhiều nơi bị giải tán luôn, hương chức hội tề mất ăn, mất ngủ.

Đầu năm 1866, thủy sư đô đốc De Lagrandière quay trở lại Việt Nam với một quyết tâm lớn là tiêu diệt căn cứ kháng chiến Đồng Tháp Mười và chiếm luôn các tỉnh miền Tây Nam Kỳ.

Trong tháng 3, Pháp bắt đầu mở những cuộc hành quân với ý đồ thăm dò phản ứng của nghĩa quân.

Từ Cái Bè, Pháp kéo vào vây đồn Cái Nứa. 200 nghĩa quân giao chiến với chúng suốt mấy ngày liền. Trước hỏa lực mạnh của Pháp, nghĩa quân phải tạm bỏ đồn Cái Nứa rút về Thủ Ngữ, Đất Sét. Pháp để lại một phân đội đóng tại chỗ.

Đêm đến, nghĩa quân tập kích chợ Cái Nứa nhưng bị Pháp đánh bật ra. Nghĩa quân lại tiếp tục tập kích lần thứ hai và tái chiếm chợ Cái Nứa.

Pháp tháo chạy, chờ viện binh từ Cái Bè rồi tổ chức tấn công một lần nữa. Hai bên giành giật nhau từng thước đất chợ Cái Nứa. Cuối cùng nghĩa quân phải lui về Thủ Ngữ và gấp rút đắp phòng tuyến. Lần này, Pháp đóng luôn một đồn kiên cố tại chợ Cái Nứa.

Tại Ấp Lý, Pháp huy động 250 lính thủy và lính mã tà tấn công. Nghĩa quân trong đồn chỉ có 150 người và vài chục khẩu súng phải chịu đựng sức công phá dồn dập của vũ khí tối tân từ các tàu chiến hỗ trợ cho bộ binh. Đồn Ấp Lý bị vỡ, nghĩa quân phải rút về phía sau để bảo toàn lực lượng.

Ngày 1 tháng 4 năm 1866, Pháp lại tấn công 1 đồn nữa và bắt được 2 nghĩa quân.

Trong khi đó, tàu chiến Pháp ngược sông Vàm Cỏ Tây tiến lên Mộc Hóa. Chúng đổ quân đóng tại Giồng Dừa, Kinh Ngang. Các trạm canh ven sông cố làm chậm bước tiến quân Pháp nhưng rồi Pháp cũng áp sát được tới tận gò Bắc Chiêng.

Lực lượng thủy, bộ Pháp tập trung gây áp lực lên phía tây bắc, vùng hậu của căn cứ Đồng Tháp Mười chờ ngày đồng loạt tấn công vào đại bản doanh.

Chính vì vậy, Võ Duy Dương giao mặt Hòa Khánh, Thông Lưu cho các thuộc tướng để về đồn Tiền và đồn Trung bàn luận với bộ tham mưu. Sau khi cân nhắc tình thế, đích thân ông sang chỉ huy đồn Tả, Phó tướng Nguyễn Tấn Kiều và Tướng Nguyễn Văn Cẩn thay thế ông coi giữ trung quân tại đại bản doanh và tăng viện đồn Tiền, đồn Hữu.

Mấy đợt lấn chiếm các nơi, một số nghĩa quân sa vào tay giặc và có người bị lung lạc. Sau khi khai thác tin tức tình báo, Pháp thấy có thể lên sơ đồ và xúc tiến kế hoạch tấn công căn cứ Đồng Tháp Mười ngay trong mùa khô. Mục tiêu chính cần phải triệt hạ là đại bản doanh Gò Tháp.

Mặt khác để tác động tâm lý, Pháp tung tin rằng: Triều đình đã đồng ý đổi Đồng Tháp Mười lấy Vĩnh Long. Lê Văn Ông đóng quân tại Rạch Ruộng và Võ Văn Khả đồn trú vùng Hồng Ngự cả tin, vội bãi binh lui về Sa Đéc.

Việc này đã gây hoang mang, dao động lớn trong hàng ngũ nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Hai, 2017, 08:25:17 pm

Câu hỏi 11: Tháng 4 năm 1866, Pháp mở cuộc tấn công lớn vào căn cứ Đồng Tháp Mười, diễn biến của trận đánh này như thế nào?
Trả lời:


Quyết tâm tiêu diệt nghĩa quân Đồng Tháp Mười, Pháp đã huy động gần 1.000 quân thủy, bộ với nhiều tàu chiến và đại bác được tập trung mở cuộc hành quân.

Bộ binh gồm 100 lính Pháp, 250 lính mã tà. Thiếu tá Dérôme và các đại úy: Boubée, Bollardière, Gally Passebose cùng Quản Tấn, Huyện Lộc chỉ huy.

Ngày 14 tháng 4 năm 1886, toàn bộ lực lượng này chia làm 3 mũi đồng loạt tấn công Đồng Tháp Mười. Mũi 1: Từ Cái Nứa đi vào. Mũi 2: Từ Cần Lố đi qua. Mũi 3: Từ Bắc Chiêng đi xuống.

Thủy binh thì theo tàu chạy dọc theo các con sông để phong tỏa nghĩa quân. Trên sông Vàm Cỏ Tây, tàu giặc ra sức phá các bè cản ngang sông để tiến đến Bến Kè, sông Soài và Đá Biên rồi thẳng lên Nồi Gọ. Vấp phải cản dọc sông, thủy binh phải chạy vào sông Vàm Cỏ Đông tiến vào kinh Bình Hòa để xuyên qua Trà Cú.

Phía sông Tiền (Cao Lãnh), thủy quân tiến vào vàm sông Phong Mỹ, thẳng vào Ba Sao, Cái Bè...

Lúc đó, nghĩa quân tại đại bản doanh Gò Tháp được điều phần lớn ra tăng cường cho các đồn chính: đồn Tiền, đồn Tả, đồn Hữu.

Riêng hướng Cái Nứa, đối đầu với sào huyệt Pháp ở Cái Bè, Cai Lậy, Mỹ Tho, quân Pháp thường xuyên hành quân vào đây và hai bên đã nhiều lần chạm trán nên nghĩa quân đã chủ động rải lực lượng đóng ở khắp khu vực Bằng Lăng, Mỹ Thạnh chạy dài đến Bang Dày và xóm Than buộc bộ binh Pháp theo các ngả Cai Lậy và Cái Bè phải chia làm nhiều toán tiến vào Quản Oai, Hàm Vồ, Uy Trung và Mỹ Quý...

Ngày 15 tháng 4 năm 1866, toán quân của đại úy Boubée từ Cần Lố tấn công đồn Sa Tiền. Địa hình vùng này có nhiều sông rạch chằng chịt, tàu chiến lưu thông dễ dàng, tăng cường hỏa lực cho bộ binh rất hữu hiệu. Tuy vậy, 150 nghĩa quân trong đồn chống lại mạnh mẽ, làm cho trung úy Vigny bị thương, nhưng trước hỏa lực áp đảo của giặc, nghĩa quân cũng phải vùi khí giới dưới bùn rồi rút lui vào phía trong.

Dérôme chiếm được một đồn nhỏ trên đường từ Cái Nứa đến đồn Tiền. Quân Pháp tiến vào xóm Than, Bằng Lăng, Mỹ Thạnh. Hai bên kịch chiến, quân Pháp dùng đại bác mở đường. Nghĩa quân nấp trong các khu vực rừng tràm bắn tỉa ra. Quân Pháp bị thiệt hại khá đông, phải chững lại. Nghĩa quân rút lui về hướng khác.

Hướng Bắc Chiêng, quân Pháp từ phía Giồng Gừa, Kinh Ngang nhích dần lên. Tàu Pháp ngược xuôi trên ông Vàm Cỏ Tây tìm cách gỡ các trạm canh hai bên bờ. Lối bắn tỉa của nghĩa quân không phát huy được tác dụng. Cuối cùng Pháp đến trước đồn Tuyên Oai đóng trên gò Bắc Chiêng.

Một trăm hai mươi nghĩa quân với mười lăm súng bắn đá và gươm giáo sẵn sàng chiến đấu. Hai bên dồn mọi cố gắng cho trận quyết chiến đầu tiên ở mặt này. Trước sức công phá dữ dội của thủy binh Pháp, nghĩa quân tạm bỏ đồn Tuyên Oai.

Đại úy Gally Passebose chiếm được đồn này. Tuy lính Pháp bị thương và chết không nhiều nhưng tất cả đều kiệt sức và uể oải tinh thần. Gally Passebose phải xin thêm 25 viện binh.

Tất cả những nơi trú ẩn và 5 đồn nhỏ của nghĩa quân dài theo con đường mòn bị tan vỡ trong ngày 15. Các đồn chính: đồn Tiền, đồn Tả, đồn Hữu trở thành 3 đồn tiền tiêu và nghĩa quân đang bị dồn vào thế thủ từ 3 mặt. Quân Pháp còn cách đại bản doanh mỗi phía khoảng trên dưới 6km.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Hai, 2017, 08:25:56 pm

Ngày 16 tháng 4 năm 1866, toán quân của Dérôme tiến tới đồn Tiền, lính mã tà đi trước dẫn đường. Nghĩa quân chờ sẵn ở công sự với vũ khí cầm chắc trong tay. Những trận dụng độ ở Ấp Lý, Cái Nứa giằng co ít hôm rồi Pháp cũng tiến thẳng một mạch đến đây. Pháp có ý xem thường, lính mã tà càng kiêu căng.

Không có một sự kháng cự từ xa, đồn Tiền như là bỏ ngỏ, Huỳnh Công Tấn hăng hái đi đầu dẫn quân men theo con đường đắp từ phía đường gạo và bỏ tốp lính Pháp lại phía sau khá xa... Bất thần nghĩa quân phục kích vòng ngoài đồng loạt nổ súng, 1/3 số lính ngã gục. Quản Tấn hấp tấp rút lui. Lính Pháp cũng dừng quân bắn giải vây cho lính Việt.

Sau khi bổ sung quân số từ tàu Fusée, theo sơ đồ, Gally Passebose điều động đội quân của mình nhắm hướng đồn Tả, còn gọi là đồn Chánh, nơi có 350 nghĩa quân chống giữ và 40 khẩu đại bác, cộng thêm số nghĩa quân từ Tuyên Oai rút về. Đặc biệt phải tính đến người lính Pháp Linguet luôn cận kề bên Võ Duy Dương, hơn một tuần nay trực tiếp đốc suất việc bố phòng và xuất kích tại đồn Tả.

Giữa tháng 4, những cơn mưa rào đã đến, thời tiết gây bất lợi cho việc đánh hỏa công. Từ trên các cao điểm (ngọn cây cao, đài quan sát) có thể nhìn thấy đội hình quân Pháp như những mũi dùi luồn sâu vào cánh đồng năn, lác. Thám báo của nghĩa quân từng chập phát tín hiệu theo kiểu liên hoàn, đưa tin khẩn cấp về đồn Tả.

Đội tiền quân sở trường đánh "đội trấp" của ta bị lúng túng vì tốp lính thủy quân lục chiến Pháp đã được tập luyện thích nghi với lối đánh sông nước, đồng bằng. Hơn nữa, số lính mã tà người Việt còn bày cho lính Pháp vận dụng cách di chuyển của nghĩa quân, đi trên cộ trâu, lĩa trâu và xuồng ghe theo các con lung tự nhiên. Sau vài đợt đánh cầm chừng, nghĩa quân phải rút vào trong đồn cố thủ.

Buổi trưa, Pháp nổ súng công đồn. Nghĩa quân trong đồn được sự chỉ huy của Võ Duy Dương quyết tử chiến. Hai bên giao tranh ác liệt. Đến buổi chiều, đạn dược của nghĩa quân hết sạch, quân Pháp từ 3 phía ồ ạt xung phong, nghĩa quân buộc lòng phải rút theo ngả sau, bỏ lại 3 khẩu đại bác và 17 súng bắn đá cùng 27 chiếc ghe, xuồng. Trận này lính Pháp chết 2 và bị thương 17.

Thừa thắng, Gally Passebose truy kích những nghĩa quân rút lui về hướng Tháp Mười mà y đã thấy. Quân Pháp bị sụp hầm chông chết và bị thương khá nhiều mới vào được đại bản doanh.

Biết được sức giặc và trù tính không thể dựa vào thành cao hào sâu cố thủ, Võ Duy Dương chủ động bỏ đồn Trung. Trong đồn có vài chục nóc nhà cất bằng tràm lợp dừa, kho chứa đạn dược và lương thực. Quân Pháp nổi lửa đốt, ngọn khói bốc lên đen kịt cả một góc trời.

Ở hướng đồn Hữu, nghĩa quân chiến đấu rất dũng cảm cầm cự với Pháp suốt 3 ngày đêm (15, 16, 17) trong hoàn cảnh vũ khí và lương thực thiếu thốn. Trong khi đó quân Pháp lại được tăng viện dồi dào.

Đồn Hữu là một đồn chính giữ con đường gạo huyết mạch Cần Lố. Nó đóng vai trò trung chuyển giữa đồn Doi, Sa Tiền với đại bản doanh. Mỗi khi có chuyến tiếp tế từ ngoài vào là thân nhân, vợ con của nghĩa binh cũng theo vào. Đây là cơ hội cho bọn do thám của giặc trà trộn vào để thám thính. Trước sự cảnh giác của dân binh nhiều kẻ gian đã bị bắt nộp cho nghĩa quân.

Khi Thống Linh hy sinh, Huỳnh Lục, Huỳnh Thất cầm chân Pháp tại đồn Doi thêm một thời gian. Tiếp theo, hai lần Pháp lấn chiếm đồn Doi và Sa Tiền và tiến sâu vào tận Động Cát (đồn Hữu). Người chỉ huy đồn Hữu lúc đó là Huấn Hiệu cùng hộ vệ Tân, Thủ Chiếu (thầy thuốc rắn) trợ lực cho Huỳnh Thất, Huỳnh Lục đánh bật quân Pháp đến tận Cần Lố và đóng tại đồn Sa Tiền, đồn Doi.

Mãi đến tháng 6 năm 1865, Pháp dời huyện lỵ Kiến Phong về Cần Lố (trước đặt tại Mỹ Trà) nghĩa quân mới rút hẳn về đồn Sa Tiền.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Hai, 2017, 08:26:23 pm

Ngày 17 tháng 4 năm 1866, Dérôme lại tấn công đồn Tiền lần nữa. Trước đây quân Pháp mở nhiều cuộc tấn công vào đồn Tiền theo hướng Cái Bè, Cái Nứa hòng phá vỡ bức tường án ngữ này để vào đồn Trung nhưng mấy lần đó đều thất bại. Về sau Pháp cho tên Quản Cao lén lút xâm nhập vào hàng ngũ nghĩa quân, bên cạnh còn Phạm Văn Khanh bỏ căn cứ theo Pháp. Nhờ các tên này báo cáo tình hình, Pháp biết rõ sơ đồ đồn lũy của nghĩa quân nên chúng mở thêm hai hướng tấn công mới từ Cao Lãnh và Mộc Hóa tạo thành thế áp đảo 3 mặt.

Trong cuộc tấn công này, Pháp đã dồn lực lượng về phía gò Bắc Chiêng đánh bọc hậu để tạo thế bất ngờ vừa ngăn chặn đường rút lui của nghĩa quân vừa đẩy nghĩa quân ra khỏi vùng đầm lầy để các cánh quân khác tiêu diệt.

Nghĩa quân bị truy kích mang theo tin đồn Tả thất thủ chiều ngày 16 đã làm tinh thần chiến đấu của nghĩa quân trong các đồn còn lại sa sút hẳn. Đại bản doanh Gò Tháp lại âm thầm phân tán lực lượng kéo theo sự sụp đổ nhanh chóng của đồn Hữu và đồn Tiền.

Trước tình hình nguy ngập này, Nguyễn Tấn Kiều (Đốc binh Kiều) và Nguyễn Văn Cẩn (Lãnh binh Cẩn) quyết tâm dùng kế phục binh để Võ Duy Dương tìm hướng thoát thân và bảo toàn lực lượng.

Trong một trận đánh giáp lá cà, Nguvễn Tấn Kiều đã anh dũng hy sinh bên cạnh những xác chết ngổn ngang của lính Pháp.

Còn lại một mình, Lãnh binh Cẩn mở đường máu rút về hướng tây, lên Hồng Ngự, Lăng Xăng, ngã ba Thông Bình. Tới Hồng Ngự, chưa kịp nghỉ quân, một lần nữa ông lại bị Trần Bá Lộc truy kích.

Chiến trận vừa tan, Phòng Biểu đã cùng nghĩa quân mang xác chủ tướng mình là Nguyền Tấn Kiều về chôn cất tại nền đồn Trung (đại bản doanh Gò Tháp). Ngoài ra, Phòng Biểu còn làm nhiều ngôi mộ giả để nghi trang.

Ngày 18 tháng 4 năm 1866, có thể coi như toàn bộ căn cứ của nghĩa quân đã thất thủ, tuy đây đó còn vang lên vài tiếng súng rời rạc.

Ngày 19 tháng 4 năm 1866, quân Pháp vội vã rút lui không dám chiếm giữ căn cứ của nghĩa quân. Suốt trong tuần lễ từ ngày 14 đến ngày 21 tháng 4 năm 1866, thủy quân do tàu chở chạy dọc theo các sông để phong tỏa đường ra của nghĩa quân.

Tính tổng cộng trong trận Tháp Mười, bên Pháp vừa chết và bị thương gần 100 người. Pháp tịch thu được nhiều vũ khí và quân trang quân dụng nhưng chỉ bắt được 2 hoặc 3 tù binh.

Cũng trong thời gian ấy, cánh nghĩa quân rút về phía đông do Võ Duy Dương chỉ huy bị Pháp chặn đánh, trận đánh lớn giữa 2 bên diễn ra tại vùng Cái Thia thuộc quận Cái Bè.

Trận đánh diễn ra liên tiếp mấy ngày, nghĩa quân đánh rất hăng. Hai bên đều thiệt hại nặng. Quân Pháp bắt được 2 người lính Tagals, 1 người Pháp tên là Linguet và 12 nghĩa quân, nhưng phải ngược lại chúng có 2 sĩ quan cấp úy và một số lính Pháp chết và bị thương.

Sau trận Tháp Mười này, Pháp lập thêm nhiều đồn bốt để bao vây căn cứ địa Tháp Mười, ngăn chặn các cuộc nổi dậy và đánh phá của nghĩa quân. Tuy nhiên, điều lo lắng nhất đối với chúng là Võ Duy Dương, linh hồn của cuộc khởi nghĩa, đối thủ lợi hại của Pháp vẫn còn tồn tại...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Hai, 2017, 08:27:31 pm

Câu hỏi 12: Sau khi căn cứ Gò Tháp thất thủ, Võ Duy Dương và nghĩa quân rút sang Cao Lãnh tiếp tục duy trì cuộc kháng chiến và liên minh với các cuộc khởi nghĩa khác, cho biết về những hoạt động của nghĩa quân trong thời gian này?
Trả lời:


Sau trận Pháp đại tấn công, căn cứ Tháp Mười coi như bị phá vỡ. Nghĩa quân tổn thất không nhiều nhưng tản mát. Tốp rã ngũ tìm nơi trốn tránh, lo làm ăn, tốp chạy sang An Giang gia nhập vào hàng ngũ của Achaxoa. Có người giả dạng tu hành chờ thời cơ.

Võ Duy Dương và các bộ tướng không vì thế mà ngã lòng, ông thay đổi cách đánh, từ chỗ dựa vào đồn lũy chuyển sang cách đánh cơ động. Lúc đầu ông đóng quân ở Mỹ Tho, Cai Lậy, rồi rút quân sang Cao Lãnh, tiến lên Ba Thằng Minh, gò Bắc Chiêng. Tại đây, cánh quân rút về phía đông (đến Cái Thia) do Võ Duy Dương chỉ huy, cánh quân rút về phía tây (lên Hồng Ngự - Lăng Xăng - Thông Bình) do Nguyễn Văn Cẩn chỉ huy và một vài toán nhỏ lẻ khác của Trương Tấn Minh, Phòng Biểu... đã gặp nhau.

Củng cố xong lực lượng, Võ Duy Dương phối hợp ngay với các thủ lĩnh khác để tiếp tục chiến đấu. Sự phối hợp này thật ra là bố trí lại lực lượng trên toàn khu vực, chọn những cách đánh linh hoạt hơn. Bởi vì sự liên minh chiến đấu đã có ngay trong trận Tháp Mười và trước đó nữa...

Căn cứ Đồng Tháp Mười tan vỡ là sự tổn thất riêng của Võ Duy Dương, đồng thời là tổn thất chung của các lực lượng chống Pháp của người Việt cũng như người Khơ Me tại Nam Kỳ và vùng biên giới.

Đến lượt trung tâm kháng chiến chuyển về khu tổng Cầu An Hạ ở Bắc Đức Hòa, một tổng liền với Trảng Bàng (tỉnh Tây Ninh), Võ Duy Dương đã tìm gặp Trương Quyền, người thủ lĩnh phong trào tại đây. Qua Trương Quyền, Võ Duy Dương liên minh với Poucombo.

Liên quân Việt - Khơ Me gồm đủ các chủng tộc: người Việt, người Khơ Me, người Chăm, người Xtiêng và các bộ lạc khác... ở đây còn có những người lính Pháp, lính Tagals phản chiến.

Mở màn cuộc liên minh này là chiến thắng Tây Ninh (7-6-1866). Liên quân Việt - Khơ Me trên 300 người do Poucombo lãnh đạo tấn công đồn Tây Ninh, hạ tại trận 12 lính Pháp, trong đó có chủ tỉnh Tây Ninh Larclauze và viên thiếu úy Le Sage.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Hai, 2017, 08:28:02 pm

Được tin thất trận ở Tây Ninh, thủy sư đô đốc De Lagrandière đưa quân lên tiếp viện. Ngày 14 tháng 6 năm 1866, Marchaise, trung tá thủy quân lục chiến Pháp, chỉ huy 150 lính và 2 cỗ đại bác tìm diệt nghĩa quân. Trong lúc lội qua rạch Dinh, đội hình Pháp rơi vào ổ phục kích của nghĩa quân. Bằng cung nỏ, gươm giáo và một ít súng trường, nghĩa quân đã dũng cảm đánh giáp lá cà giết chết tên Marchaise và nhiều lính Pháp. Số còn lại bỏ chạy tán loạn.

Chiến thắng rạch Dinh và Tây Ninh trước đó là một tiếng vang lớn làm nức lòng nghĩa quân cũng như dân chúng Việt - Khơ Me. Nhưng đó là nỗi kinh hoàng và lo sợ của Pháp. Paulin Vial trong cuốn Histoire de la Cochinchine viết: "Trong khi Pháp lo những cuộc hành binh khác, tin trận rạch Dinh và tin số quân bị thiệt hại của ta (Pháp) làm tràn ra ngoài dân chúng như một làn lửa thuốc súng. Các lãnh tụ khởi nghĩa phái người đi cổ vũ khắp nơi, đến cả trong hàng ngũ chúng ta (Pháp), đến cả trong phố Sài Gòn và họ tìm cách tấn công ta tại thủ phủ của ta".

Ngày 24 tháng 6 năm 1866, nghĩa quân lại tấn công đồn Thuận Kiều và Trảng Bàng.

Biết rõ căn cứ của nghĩa quân đóng tại tổng cầu An Hạ, ở giữa bưng Tầm Lạc và Vàm Cỏ Đông, khu vực chạy dọc theo đường Sài Gòn - Tây Ninh, ngày 27 tháng 6 năm 1866, Pháp điều lực lượng quanh vùng Chợ Lớn, Phú Lâm, Cầu Ông Lãnh gồm 200 lính Pháp, 100 lính mã tà và một pháo thuyền do thiếu tá Rosse chỉ huy đến bao vây, tập kích vào căn cứ.

Nghĩa quân chủ động đánh mở ra 3 mặt. Trương Quyền dẫn một cánh quân đông nhất đánh lên phía Trảng Bàng. Cánh thứ nhì đánh về phía sông Bến Nghé. Cánh thứ ba đánh xuống phía nam, băng qua đầm lầy, trú quân tại Bình Điền. Cai tổng Phước hay tin kéo lính đến vây.

Cũng như căn cứ Tân Hòa (Gò Công), căn cứ Gò Tháp (Đồng Tháp Mười), trung tâm kháng chiến cầu An Hạ bị san bằng vì tương quan lực lượng và vũ khí chênh lệch, nghĩa quân kháng cự quyết liệt nhưng cuối cùng đành chịu thiệt hại nặng ở ấp Bình Thủy, Ba Hầm và Bình Điền. Nguyễn Văn Tài, một trong những người chỉ huy nghĩa quân đã bị giặc bắt. Khi rút quân lên đến Tây Ninh, Trương Quyền cùng hoạt động chung với Poucombo.

Từ ngày 2 đến ngày 11 tháng 7 năm 1866 liên quân Việt - Khơ Me còn chạm trán với Pháp trong các trận: Trà Vang (Tây Ninh), Củ Chi, Hóc Môn, Trảng Bàng, Long Trì (Tân An), Bình Thối.

Người Pháp nhận xét: "Trong thời kỳ chiến tranh này, điều đáng chú ý là ở những kẻ thù của chúng ta (nghĩa quân Việt - Khơ Me) có một sự hoạt động, một sự cương quyết và một sự khéo léo vô cùng, dùng các loại súng mà đến nay chưa hề thấy trong người bản xứ. Mỗi một người du kích đến quấy phá những vị trí tiền tiêu của ta hay quấy rối xóm giềng làng xã, họ núp ở những đường nho nhỏ, mà chờ toán quân đi qua để nhắm bắn các vị lãnh đạo của các toán quân đó. Những lính đào ngũ có mặt trong hàng ngũ của kẻ địch và lòng tin tưởng của người Khơ Me đối với Poucombo, điều ấy tạo ra một tình thế rất nguy hiểm cho quyền thống trị của chúng ta" (P. Vial, Histoire de la Cochinchine, quyển 2, trang 70).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Hai, 2017, 08:28:27 pm

Pháp cho rằng nghĩa quân hoạt động mạnh là do triều đình làm ngơ, thậm chí còn cố ý trợ giúp, mà cụ thể là ở 3 tỉnh miền Tây. Trong thư gửi cho thống đốc Nam Kỳ De Lagrandière ngày 18 tháng 11 năm 1866, August Ansart - trung tá hải quân, tư lệnh tỉnh Mỹ Tho có kể lại cuộc nói chuyện giữa y và Phan Thanh Giản trước đây như sau:

"Tôi nhắc lại với ông, tất cả các sự phiến động trong tỉnh của chúng ta, do những người mật sứ chắc chắn đã được lệnh, vì nếu không, họ đã không thể nào tìm được sự giúp đỡ của dân chúng. Tôi nhắc lại cho ông những toan tính của con trai Quản Định, của Thiên hộ (tức Trương Quyền, còn gọi là Trương Tuệ và Thiên hộ Dương) là hai nhà lãnh tụ được họ ngầm giúp đỡ, chứa chấp và che chở, các đoàn quân của những người này ngày nay vẫn về bè với Poucombo...".

Pháp phản đối quyết liệt, Tự Đức bất đắc dĩ phải ra chỉ dụ ngày 7 tháng 6 năm Tự Đức thứ 19 (1866) tầm nã Achaxoa và Võ Duy Dương... nhưng sự thật bên trong lại khác.

Tuần phủ Thuận Khánh là Hoàng Văn Uyển tâu nói: Gần đây nghe nói Võ Duy Dương và bọn Trương Tuệ (Tuệ là con Trương Định) ngầm đến thượng du hội với bọn còn sót lại của tên Bướm mưu đồ khởi nghịch. Vua bảo cơ mật viện rằng: lũ tên Dương lòng hắn như thế nào chưa biết rõ nhưng cũng là do lòng căm phẫn mà ra, có thể mới ràng buộc lòng người, để dùng về sau, cho đi tuần bắt cũng chẳng qua cho vui lòng nước Pháp mà thôi, giết đi cũng đáng tiếc, người không biết bảo là phụ ân. Trước đã bất đắc dĩ để mất một Phan Huân (Nguyễn Hữu Huân) lòng trẫm vẫn áy náy, chưa biết quan kinh lược và quan tỉnh cũng đã biết rõ ý làm cho thỏa đáng hay không. Nếu nhận là việc thật thì thất sách lắm. Bọn chúng quen đánh không sợ, tuy sức ít không làm nên việc nhưng khí khái đáng khen, huống chi lũ tên Dương nếu được địa lợi, đủ quân lương, biết đem dùng hắn thì người đã quen, tường cũng được việc, nếu với hắn nên xử trí cho khéo, ngõ hầu lưỡng toàn" (Đại Nam thực lục chính biên).

Trong khi Pháp ép Nam triều ở tại An Giang phải bắt cho được Achaxoa giao cho chúng thì có một kẻ phản bội bắn ông trọng thương.

Pháp tưởng rằng khi mất chủ tướng, phong trào chống Pháp của nhân dân Khơ Me tại Tà Keo - Châu Đốc tan rã, nào ngờ nghĩa quân của Achaxoa lại về theo Poucombo. Hai lực lượng kháng chiến vùng Đông Bắc và vùng Đông Nam Campuchia phối hợp chặt chẽ hơn, phạm vi mở rộng hơn. Ngoài lực lượng kháng chiến của Võ Duy Dương và Trương Quyền, dân chúng hai tỉnh An Giang và Hà Tiên cũng ủng hộ Poucombo. Sau đó, lực lượng của Poucombo chuyển hướng tấn công Oudong và Nam Vang và lập căn cứ tại đất nước mình.

Ở Nam Kỳ, nghĩa quân của Võ Duy Dương và Trương Quyền tích cực hoạt động tại miền Đồng Tháp Mười, An Giang và Hà Tiên.

Trong một bức thư gửi cho Phan Huy Vịnh, Pháp báo: "Bọn phỉ Dương, súng đạn phần nhiều ở Hà Tiên và người của Vĩnh Long thì theo bọn nghịch và trợ chiến cho bọn đó. Lại việc nữa: nghịch Dương và 8 tên từng quản ẩn náu ở An Giang và được quan tỉnh đó che chở" (Dụ của vua Tự Đức ngày 7 tháng 6 năm Tự Đức thứ 19 - 1866).

Và theo Phan Huy Vịnh thì: "Tây súy lấy làm lạ về việc đó và đã đem sự việc đó báo về độc biên. Nếu không nã bắt giải giao mà để cho nghịch Dương trốn biệt đến bất cứ địa phương nào thì 3 tỉnh đó đều bị sự quy kết và Tây súy sẽ tùy nghi chiếu biện, v.v... " (Dụ của vua Tự Đức ngày 7 tháng 6 năm Tự Đức thứ 19 - 1866).

Trước sự bất bình và cương quyết của Pháp đe dọa đến 3 tỉnh miền Tây, triều đình cử Nguyễn Hữu Cơ vào Nam Kỳ tìm gặp và trao đổi riêng với Võ Duy Dương cho "lưỡng toàn".

Vừa đến Gia Định, Nguyễn Hữu Cơ đã tiết lộ với Pháp: "Bè lũ Võ Duy Dương nên cho ra thú đồn khi khai khẩn, khi đến Vĩnh Long đem việc ấy nói kín với Phan Thanh Giản, bèn tự cho các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên và các tỉnh Bình Thuận trở ra Bắc, phàm bè lũ Dương đều cho ra thú đi khẩn hoang. Lại xin cho tuần phủ Bình Thuận, Khánh Hòa, hễ thấy tên Dương, tên Tuệ thì đem đổi tên cấp cho ngựa trạm về kinh, phái đi nơi khác cho hết điều tai tiếng" (Đại Nam thực lục chính biên). Có thể đây là ý của triều đình mà đứng đầu là vua Tự Đức.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Hai, 2017, 08:33:10 pm

Câu hỏi 13: Từ khi chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp cho đến lúc hy sinh, Võ Duy Dương vẫn có mỗi liên hệ với triều đình Huế, mối liên hệ này được thể hiện như thế nào?
Trả lời:


Căn cứ vào các tài liệu tham khảo, ta có thể thấy ngay từ năm 1859 (Kỷ Mùi, năm Tự Đức thứ 12), do đứng ra mộ nghĩa dũng chống Pháp nên Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân được phong chức chánh quản đạo và phó quản đạo.

Đầu năm 1859, Võ Duy Dương cùng một số thuộc hạ thân tín vượt biển ra kinh thành Huế để dâng kế diệt giặc. Được phái đi dẹp cướp biển và giặc mọi Đá Vách ở Quảng Ngãi. Thắng trận được phong chức thiên hộ (chánh bát phẩm).

Tháng 5 năm 1861 (Tân Dậu, năm Tự Đức thứ 14), triều đình cử Đỗ Thúc Tịnh làm khâm phái quân vụ vào Nam Kỳ mộ nghĩa dũng các tỉnh Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên chống Pháp. Nguyễn Văn Nhã, Võ Duy Dương, Phan Trung... cùng theo Đỗ Thúc Tịnh vào Nam.

Do mộ được gần 1.000 nghĩa dũng nên Khâm phái Đỗ Thúc Tịnh trao bằng quản cơ cho Thiên hộ Dương. Ông chỉ huy nghĩa quân cùng Nguyễn Hữu Huân xây dựng căn cứ Bình Cách (Định Tường). Lúc này, lực lượng nghĩa quân Võ Duy Dương dưới quyền điều động của án sát Nguyễn Nhã và Thương biện (quân vụ) của tỉnh Định Tường. Sau đó Võ Duy Dương được điều đến Mỹ Quý, xây đồn lũy theo lối đánh chính quy (đồng bào quen gọi là Tân thành Mỹ Quý).

Tháng 4 năm 1862 (Nhâm Tuất, năm Tự Đức thứ 15) Pháp tấn công Mỹ Quý, sau 57 ngày đêm cố thủ vào cuối tháng 4 Tân thành Mỹ Quý thất thủ, Đỗ Thúc Tịnh hy sinh. Theo lệnh của Khâm phái Nguyễn Túc Trưng, Võ Duy Dương tập hợp các đội ứng nghĩa rút về vùng Bình Cách - Chợ Gạo (huyện Kiến Hòa) chờ lệnh mới.

Tháng 6 năm 1862, sứ bộ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp thay mặt Tự Đức ký hòa ước với Bonard (đại diện Pháp) và Guittierez (đại diện Tây Ban Nha) nhường 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn cho Pháp để chúng trả lại Vĩnh Long. Để thi hành hòa ước, triều đình ra lệnh quan quân kể cả nghĩa dũng rút lui khỏi 3 tỉnh, trao đất lại cho Pháp, phong Trương Định làm lãnh binh ở An Giang. Nhân dân phẫn uất bất chấp lệnh triều đình đứng lên chống Pháp, Trương Định không đi An Giang nhận chức, ở lại tiếp tục chiến đấu.

Võ Duy Dương phát lời kêu gọi nhân dân tỉnh Định Tường tiếp tục nổi dậy chống Pháp. Hưởng ứng lời kêu gọi hợp nhất lực lượng kháng chiến của Trương Định, Võ Duy Dương cử Nguyễn Hữu Huân đi Tân Hòa (Gò Công) để hội kiến với Trương Định. Tại đây Nguyễn Hữu Huân gặp thị vệ Nguyễn Thi mang Thánh chỉ phong Trương Định làm Bình Tây Tướng quân lĩnh chỉ huy các toán quân dân dũng trong 3 tỉnh. Đồng thời Võ Duy Dương và Thủ khoa Huân cũng được phong chánh đề đốc và phó đề đốc, tiếp tục cố thủ căn cứ Bình Cách.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Hai, 2017, 08:36:13 pm

Sau đó, do triều đình Tự Đức bị áp lực từ Pháp nên không công khai liên hệ với Võ Duy Dương. Tuy nhiên, triều đình vẫn ngấm ngầm ủng hộ cuộc kháng chiến. Điều này được thể hiện rõ trong hai bản mật tấu của Võ Duy Dương gửi vua Tự Đức. Rất tiếc, hiện nay hai bản tấu này đã thất lạc, nhưng chúng ta vẫn có thể tìm hiểu về chúng thông qua một tài liệu của Pháp:

NHỮNG PHÂN TÍCH CỦA GUSTAVE JANNEAU VỀ 2 BẢN TẤU TRÌNH CỦA VÕ DUY DƯƠNG DÂNG VUA TỰ ĐỨC

Tài liệu này đã được Gustave Janneau dịch và phân tích, được Jean Ricquebourg giới thiệu đăng trên Revue Indochinoise, số 2 (1914).

Qua nội dung, biết được hai bản tấu trình này của Võ Duy Dương gửi cho vua Tự Đức qua ba sứ giả: Phó quản cơ Nguyễn Xuân Phong, Tú tài Phạm Nguyên Lợi và Bát phẩm Nguyễn Tương, có thể 2 bức thư này Võ Duy Dương viết trước khi đại đồn Tháp Mười thất thủ và quân Pháp tịch thu được trong trận tấn công vào đồn này (4-1866).

Gustave Janneau, không biết vô tình hay cố ý, đã có lầm lẫn trong việc xếp thứ tự trước sau của hai tờ tấu. Bản mà Gustave Janneau đặt tên: "Bài phân tích bức thư của Thiên hộ Dương" thì nội dung Thiên hộ Dương nói nhiều sự việc khi đã vào Đồng Tháp Mười. Còn bản mà Gustave Janneau đặt tên: "Bản báo cáo thứ hai" thì nội dung lại là quá trình hoạt động của Võ Duy Dương từ khi theo phái đoàn Đỗ Thúc Tịnh vào Nam (5-1861) đến khi rút vào Đồng Tháp Mười (8-1864). Hơn nữa, dù Gustave Janneau đặt tên hai tờ tấu như đã nói, nhưng cuối bài lại ghi "Bản dịch của Gustave Janneau" nên không rõ được phần nào Gustave Janneau phân tích, phần nào ông ta dịch.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 01:06:33 pm

Còn một vấn đề đáng lưu ý nữa, có thể do Gustave Janneau chưa am tường việc đối chiếu ngày tháng âm lịch sang dương lịch nên đã cho rằng "Ngày tháng trong báo cáo này không có một sự chính xác nào". Nhưng khi đối chiếu các ngày, tháng và sự việc mà Võ Duy Dương báo cáo tương đối chính xác, ăn khớp với tài liệu của Quốc sử quán và một số tài liệu khác của Pháp. Cũng do sự chưa am tường đó nên phần lớn các chú thích của Gustave Janneau đều không đúng. Dưới đây là nguyên văn hai bài phân tích của Gustave Janneau về bản tấu trình của Võ Duy Dương. Do bản gốc 2 bản tấu không còn, nên đây là tài liệu duy nhất giúp chúng ta tìm hiểu về sự liên hệ giữa Võ Duy Dương với triều đình Tự Đức:

* Bài phân tích bức thư của Thiên hộ Dương

"Gửi dâng lên vua An Nam qua 3 vị sứ giả: Phó quản cơ Nguyễn Xuân Phong, Tú tài Phạm Nguyên Lợi, Bát phẩm Nguyễn Tương.

Ông Thiên hộ Dương tâu với vua là ông đã mộ được khoảng 1.000 người đáng được chú ý về nhiệm vụ mà họ gánh vác trước kia hoặc vì sự thế gia sản của họ, các vị được bổ nhiệm các ngạch trật hoặc được nâng các phẩm hàm.

Ba tỉnh Gia Định, Biên Hòa và Định Tường đã cung cấp một đội quân gồm có người An Nam, người Trung Quốc, người Cao Miên và tổng số tăng lên hơn 100.000 người. Những đội ngũ được tổ chức lại, những cấp bậc của các ngạch trật trong hệ thống quân sự được phân phối xong, những đội quân đã được điều đi tùy theo nhu cầu của các đồn lũy.

Ông Thiên hộ Dương đề nghị với nhà vua cho phép dùng mưu kế thu hồi lại 3 tỉnh nói trên, ông nghĩ rằng phải hành động hết sức nhanh chóng đề phòng gặp phải những khó khăn trong công việc.

Ông Thiên hộ Dương nêu lên ở đây tiểu sử tóm tắt của Quản Định (tức là Trương Định), nhắc lại cấp bậc mà nhà vua đã lần lượt phong chức, v.v...

Ông còn nhận được bức Thánh chỉ đề tháng 6 (có lẽ là tháng 7 năm 1865, vì đến tháng 8 năm 1864, Võ Duy Dương mới rút vào Đồng Tháp Mười lập căn cứ) truyền lệnh cho ông phải mời quan Tổng đốc Gia Định Bùi Quang Diệu và Tham tán Bùi Tân. Các quan chức này đã đến Tháp Mười chỉ mang theo 80 người vào tháng 11, họ quay trở lại Gia Định để nhận vài chỉ định mới.

Trong tháng 2, mặt đất ở đây khô ráo do thời tiết nóng bức. Quân Pháp tổ chức một cuộc tấn công vào Tháp Mười với 600 bộ binh. Họ đánh nhau một trận tại huyện Kiến Đăng, chịu những thiệt hại to lớn và bị thua trận.

Ngày 11 tháng 2, quân Pháp lại vào Tháp Mười với số lượng hơn 1.000 quân gồm các lính tập và mã tà. Các toán quân của Thiên hộ Dương chống cự quyết liệt, một quan Pháp ở cấp chỉ huy bị giết. Những người Pháp khác hoảng sợ chạy trốn để lại ở trận địa vũ khí và quân dụng.

Dù sao cũng phải nhìn nhận rằng vị trí của Tháp Mười ít thuận lợi, là một nơi hoang vu và tiếp tế lương thực rất khó khăn. Người Pháp không thể không trở lại đây, nghĩa quân có thể bị tàn sát bởi quân số của chúng, nếu chúng không quyết định rút khỏi nơi đây.

Người Pháp theo dõi Thiên hộ Dương để gài Thiên hộ Dương vào cuộc chiến đấu mới. Quân đội của Thiên hộ Dương đã kéo đến Chinh Hầm, chiếm một điểm cao, nã nhiều quả pháo tiêu diệt một số rất lớn quan Pháp, xác lính Pháp rải rác khắp trận địa, số tử vong vượt quá 150, Thiên hộ Dương bắt tù binh 3 người Pháp, 7 người Ma Ní chịu đầu hàng và bằng lòng theo nghĩa quân. Họ đã có sẵn vũ khí và quân trang. Họ rất ghét bọn Pháp và muốn ra trận để trả thù bọn chúng.

Ông Thiên hộ Dương tường thuật một trận khác mà ông chắc chắn có thuận lợi hơn nữa (có lẽ đây là trận Cái Nứa, nghĩa quân tấn công vào tháng 3-1866).

Ông giải thích cho nhà vua một cách khá rõ ràng, tình thế mà trong đó ông gặp phải, để sao cho nhà vua có thể tính đến khả năng thu hồi 3 tỉnh trên.

Tiếp theo đó một tuyên bố dài dòng tố cáo tình hình hiện tại của 3 tỉnh này đã bị quân Pháp chiếm đóng. Gia đình tan nát, mồ mả bị xúc phạm, v.v...

Dân chúng ở Tân Bình (tức Sài Gòn) sẽ bị cám dỗ do bọn Pháp thống trị nếu nhà vua không cho phép ông Thiên hộ giáng trả một đòn quyết định.

Ông Thiên hộ có vô số đồng đảng. Nếu nhà vua ra lệnh thì ông có thể tiêu diệt hết binh lính Pháp ở các kinh rạch nhỏ hẹp, nơi mà bọn chúng không có khả năng sử dụng các trọng pháo, loại này chỉ thật sự có tác dụng cho những hoạt động tầm xa".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 01:07:59 pm

* Bản báo cáo thứ hai

"Tướng Võ Duy Dương chỉ huy các toán quân đánh nhau với người Pháp đang đóng giữ trong tỉnh Định Tường đã dâng lên nhà vua một văn bản bí mật về những hoạt động trước kia và hiện trạng tâm lý trong các khu vực.

Ông Dương hoạt động một cách đơn độc, ông đã hết phương kế và cũng không làm gì được, vì không nhận được Thánh chỉ của nhà vua, ông thú thật sức lực của ông cũng chỉ đến thế thôi, ông bảo đảm nhà vua sẽ luôn luôn theo sát công việc của ông.

Tháng 4 năm Tự Đức thứ 14 (5-1861), Võ Duy Dương tuân lệnh nhà vua theo Khâm phái Đỗ Thúc Tịnh di chuyển về Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên nhận nhiệm vụ.

Tháng 8 năm ấy, Khâm phái trao cho Dương bằng quản cơ chỉ huy võ sinh và võ sĩ.

Tháng 11, Dương ở dưới quyền quan án Nguyễn Nhã và Thượng biện (quan vụ) Trương Minh Lượng trong tỉnh Định Tường.

Ông được điều đi Mỹ Quý để xây dựng một đồn lũy (đồn này được dân chúng quen gọi là Tân thành Mỹ Quý, được xây trên một gò cát cao, kết hợp với Thuộc Nhiêu trở thành vị trí xung yếu ở Định Tường, nằm giữa thành Mỹ Tho và đồn tiền tiêu Cai Lậy của Pháp).

Tháng 2 năm Tự Đức thứ 15 (2-1862), Thượng biện tỉnh Định Tường nhận nhiệm vụ Khâm phái, ông Đốc Binh thấy có thể mất đồn Thuộc Nhiêu. Trước đây là căn cứ của phủ Cậu Trần Xuân Hòa, sau khi ông hy sinh (7-1-1862) Võ Duy Dương điều Nguyễn Hữu Huân đến thay thế. Kết hợp với Mỹ Quý là khu vực mà De Grammont gọi là "khu bốn công sự" nằm giữa Mỹ Tho và Cai Lậy, thực dân Pháp phải đánh nhiều lần mới chiếm được - ông Dương lại ở tại Mỹ Quý, ông báo cáo việc này với quan thượng biện và ngài ra lệnh giải tán các đội quân và cất giấu vũ khí.

Tháng 5, Khâm phái Nguyễn Thúc Trơn (tức Nguyễn Túc Trưng) lại ra lệnh cho ông Dương ra kêu gọi các đội quân tập hợp về Kiến Hòa (nay là ấp Bình Cách, xã Tân Bình Thành, huyện Chợ Gạo, Tiền Giang) đến khi có lệnh mới.

Tháng 6, những tên man rợ (chỉ người Pháp) ra thông báo trong đó tuyên bố rằng 3 tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa phải được xem như trực thuộc họ. Những quan binh và những nhà phú hộ van nài ông Dương đừng xa rời mà tiếp tục chống giặc, họ sẽ lập một đơn vị quân sự, hứa giúp đỡ và tiếp tế.

Tháng 7, Dương phát lời kêu gọi nhân dân ở Định Tường nổi lên từng toán và chiến đấu lại.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 01:08:36 pm

Trong lúc Phó lãnh binh Trương Định đang ở tại tỉnh Gia Định viết thư cho ông Dương để trình bày là ông sẽ gặp nguy hiểm khi hoạt động riêng lẻ, mời ông về đây thống nhất lực lượng hai bên, ông còn nêu địa điểm hội kiến tại huyện Tân Hòa.

Để thỏa thuận giao ước này ông Dương đã phái giáo thụ Nguyễn Hữu Huân đến Tân Hòa gặp thị vệ Nguyễn Thi. Ông này mang về cho Quản Định một Thánh chỉ phong cho ông chức Bình Tây Tướng quân thống lĩnh chỉ huy toán quân trong 3 tỉnh.

Giáo thụ Huân sau đó quay trở lại tỉnh Định Tường ngay. Ông Dương nhận cấp bậc Chánh đề đốc và ông Huân là Phó đế đốc. Cả hai ông đều nhận ấn, triện phẩm hàm.

Ông Dương và ông Huân lưu lại Kiến Hòa, chịu trách nhiệm xây dựng đồn lũy tại cuộc chiến.

Tháng 10, những toán lính Pháp tập kích đồn Bình Cách, ông Dương và ông Huân đánh bạt chúng ra ngay, bọn Pháp phải tẩu thoát. Quân của hai ông truy kích chúng, 28 lính tập hoặc mã tà bị bắt làm tù binh và bị chặt đầu.

Sau đó ông Dương và ông Huân kéo quân đến giồng Cát, tổng Nhị Bình, phủ Kiến An (nay là gò Lũy, làng Nhị Bình), nơi đây ông xây tạm một đồn lũy và trú tại đó.

Ngày 27 trong tháng 10, quân Pháp lại đến tập kích. Quân Pháp bại trận và tháo chạy, bị quân ông Dương đuổi theo đến đồn Thuộc Nhiêu cướp đồn và đốt cháy. Bọn Pháp đóng ở đây xông ra và sáp trận. Thình lình một đám mưa to ập đến tối, tất cả đều phải lui quân mỗi bên một hướng. Ông Dương dẫn quân về giồng Cát và ở lại đó.

Ngày 16 tháng 11, quân Pháp lại đến tấn công. Ông Dương xông ra sáp trận từ 3 giờ đến 7 giờ sáng. Quân Pháp bị đẩy lùi và rút khỏi đó vài cây số. Ông Dương truy kích bọn địch từ trưa đến chiều tối. Tối đến ông đưa quân về đồn.

Cuộc pháo kích nổ ra suốt ngày. Ông Dương kiểm tra xem còn bao nhiêu súng đạn, thấy chỉ còn rất ít, không thể chống trả một cuộc tấn công mới. Vì thế ông kéo binh lính về đồn Tân Thạnh trong tỉnh Gia Định. Nơi đây ông viết thư cho Quản Định xin thêm đạn dược.

Ngày 22, ông Dương lại đưa quân về Giồng Cát thuộc phủ Kiến An.

Ngày 24, quân Pháp lại tấn công, cuộc chiến kéo dài từ 3 giờ đến 5 giờ chiều. Bọn Pháp nhận được viện binh ông Dương phải tháo chạy và rút lui cách đó 4 cây số.

Sáng ngày 25, quân Pháp trở lại công kích. Dương chống trả từ 3 giờ đến 10 giờ sáng. Sau đó chúng rút lui. Chúng trở về giồng Phèn trong làng Nhị Bạch (nay thuộc xã Nhị Bình, huyện Cai Lậy), ở đây chúng dựng một đồn lũy.

Ngày 27, quân Pháp trở lại công kích. Ông Dương chống trả từ 3 giờ đến 7 giờ sáng. Quân Pháp bị đẩy lùi và rút về Giồng Cát. Đến 3 giờ chiều họ trở lại tấn công lần nữa. Ông Dương lại nghinh chiến nhưng thấy rằng mình không đủ lực lượng, đành tuyên bố không giữ được cứ điểm đó rồi rút về Bưng Môn thuộc tổng Tân Phú (nay thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy) - một vùng đầm lầy rậm rạp và cho đắp một lũy.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 01:09:13 pm

Ngày 2 tháng 2 năm 1863, một pháo hạm với nhiều ghe chài và tàu buôn khác đi vào kinh rạch tiến tới bao vây đầm lầy, ông Dương chỉ còn phải nhổ đồn, rút lui trong đêm và tới sáng ông đưa người của mình về Kiến Đăng, trong tổng Đại Mỹ trên kinh Cây Gâu (tức kinh Cây Gáo làng Giai Mỹ, nay thuộc hai xã Mỹ Thành Nam và Mỹ Thành Bắc, huyện Cai Lậy, Tiền Giang). Vị trí này khá quan trọng, ông liền đóng quân.

Năm Tự Đức thứ 16 ngày 12 tháng 2, hai tàu buôn Pháp xuất hiện ở kinh Cây Gâu. Đến trước mặt đồn, bọn Pháp tìm cách đoạt lấy. Những người bị vây chống trả quyết liệt buộc quân Pháp phải rút lui.

Ngày 20 trong tháng, quân Pháp lại xuất hiện, họ bị đẩy lùi lần thứ hai.

Ngày 23 trong tháng, quân Pháp lại tấn công lần thứ ba, ông Dương thấy mình không thể chống cự lâu hơn, ra lệnh cho các trung đoàn và các lính đồn trú bỏ vị trí này và rút vào bưng biền.

Ngày 12 tháng 3, các ngả đường giao thông bị ngăn chặn và đường bộ bị Pháp cắt đứt, lương thực cũng bị thiếu hụt. Dương ra lệnh cho người của ông rút về các làng riêng biệt của họ, ông chỉ giữ lại khoảng 100 người vừa quan vừa lính. Với lực lượng này, ông tiến hành một cuộc sống lưu động khi ẩn nơi này khi đánh nơi khác.

Tháng 5, ông Võ Duy Dương nhận thấy những khu rừng không thể cung cấp lương thực cho ông và ông được tin có người bán súng đạn ở Cà Mau, Rạch Giá thuộc tỉnh Hà Tiên. Dương phái Phó đề đốc (tức Nguyễn Hữu Huân) bí mật đưa 20 người qua Vĩnh Long, An Giang và An Hòa. Ông cùng các đồng chí mình nhận những tiền đúc bằng bạc quyên góp trong tỉnh Định Tường. Trong khi những người trước đã làm như thế tại Vĩnh Long, An Giang và An Hòa. Dương chờ tin từ Cà Mau và Rạch Giá và kết quả của cuộc lạc quyên.

Năm Tự Đức thứ 17 (tức năm 1864) tháng 4, ông phó đề đốc bị bắt làm tù binh ở An Giang (đúng ra là Nguyễn Hữu Huân bị các quan ở An Giang triệt để thi hành Hòa ước 1862 bắt giam; sau đó trước áp lực quân sự của Pháp mới giao ông cho kẻ thù. Nhưng trong dân gian có nguồn tư liệu cho rằng chính bạn học của ông là Nguyễn Thanh Trung đang là đốc học An Giang vô tình tiết lộ với Pháp rằng ông đang hoạt động ở Châu Đốc nên chúng mang quân đến buộc các tỉnh thần An Giang phải bắt ông nộp cho chúng), bao nhiêu súng đạn, tiền bạc quyên góp lọt vào tay kẻ thù. Võ Duy Dương trình bày cho Quản Định để ông này khẩn cấp báo cáo tình hình trên cho nhà vua.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 01:11:55 pm

Tháng 5, vị kinh phái (sứ giả thường lệ của kinh đô thuộc hàng chủ sự) tên Nguyễn Tánh và một thị vệ đến hội kiến với ông Dương báo rằng theo Thánh chỉ của Hoàng đế việc giải giáp các toán quân xảy ra và lúc nào ông thấy có thể hợp nhất với Quản Định. Võ Duy Dương nhấn mạnh việc ông phó đề đốc sẽ bị chặt đầu làm kinh hoàng những người theo ông và bản thân ông là đối tượng của bao nhiêu cuộc lục soát trong tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Trong những điều kiện như thế, ông bày tỏ với sứ giả của nhà vua là ông sẽ rút lui về Tháp Mười ẩn náu chờ đợi thời cơ để quật trả một trận mới và nhắn rằng ông luôn luôn sẵn sàng đáp ứng lời kêu gọi của nhân dân. Các sứ giả đều rút lui.

Tháng 6, ông Dương lại lên đường với hơn 30 người.

Tháng 7, ông đến Đại điền ấp, huyện Kiến Đăng, trong vùng gọi là xứ Xoài Tư (Đại điền ấp tức Rạch Ruộng khu vực đồn điền cũ; nay còn lại chùa Trường Tháp. Vùng này nay thuộc địa phận 4, xã Mỹ Thành Nam, Mỹ Thành Bắc thuộc huyện Cai Lậy và Hậu Mỹ Trinh, Hậu Mỹ Bắc thuộc huyện Cái Bè, Tiền Giang). Bọn Pháp hay tin ông có mặt tại đó liền đến bao vây. Ông Dương chạy thoát được và đi thẳng về Tháp Mười rồi dừng lại đó. Từ đó, ông ra một thông báo cho các làng xã kêu gọi nhóm Tháp Mười của ông trở lại, sau đó ông xây cất những lán trại và đồn lũy.

Ngày 10 tháng 9, quân Pháp xuất hiện trước đồn lũy của ông với những toán chinh quân và mã tà.

Ông Dương xông ra và tiếp đánh rất ác liệt làm cho chúng phải hoảng sợ rút lui.

Để có thể đối phó và đẩy lùi một cách dễ dàng các cuộc tấn công sau này, ông Dương sai xây thành Bảo An (có lẽ là đồn Tả, nằm trên gò Bắc Dung, còn gọi là giồng Dung hay gò Bắc Bung, nay thuộc huyện Mộc Hóa (Long An), chu vi 104 trượng, bề dày thành 1 trượng (khoảng 2m), cao 8 thước (khoảng 3m). Ngày 9 tháng 10, quân Pháp lại tiến công đồn này"1.

Qua tư liệu trên có thể thấy rõ mặc dù ngoài mặt chiều theo áp lực của thực dân Pháp đòi giải giáp nghĩa quân nhưng bên trong triều đình Huế vẫn âm thầm liên lạc với các toán quân nghĩa dũng. Điều này càng thể hiện rõ tính chất nhu nhược, cầm chừng của triều đình Tự Đức khi không dám chủ hòa hay chủ chiến nhưng vẫn hy vọng nghĩa quân có thể giúp triều đình lấy lại đất đai đã mất hoặc ít nhất thì cũng quấy phá công cuộc bình định của Pháp.
_____________________________________________
1. Võ Duy Dương với Đồng Tháp Mười, Nxb Trẻ, 2005, tr. 176-182.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 01:13:36 pm

Câu hỏi 14: Cuối năm 1866, Võ Duy Dương hy sinh. Cái chết của ông là một câu chuyện đầy bí ẩn, có những giả thuyết nào xung quanh cái chết của ông?
Trả lời:


Cuối năm 1866, sau khi triều đình Huế dưới áp lực của thực dân Pháp công khai ra lệnh truy nã Võ Duy Dương và Trương Quyền (con trai Trương Định), nghĩa quân bị cô lập. Bị tổn thất qua nhiều trận đánh, vũ khí, đạn dược thiếu thốn, Võ Duy Dương dùng thuyền theo đường biển ra Bình Thuận để cầu viện sự giúp đỡ của triều đình và liên lạc với nghĩa sĩ miền Trung nhằm gây dựng lại lực lượng. Tuy nhiên, ông không ra được đến Huế, khi đến cửa biển Cần Giờ, ông và các thuộc hạ tâm phúc đều bị cướp biển sát hại.

Cái chết của ông có rất nhiều giai thoại, nhưng tựu trung lại có hai giả thuyết:

Một là ông ốm và mất tại Đồng Tháp Mười, được nghĩa quân chôn ngay tại Gò Tháp. Thuyết này cho rằng sau một thời gian cầm cự ở căn cứ Đồng Tháp Mười, biết không thể giữ được, Võ Duy Dương đã về An Giang và liên lạc với các thủ lĩnh chống Pháp khác để hoạt động. Ở An Giang, ông liên hệ với Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân để bàn tính hợp đồng tác chiến, song bọn quan lại ở đây đã lừa bắt Nguyễn Hữu Huân nộp cho Pháp. Ngũ linh Thiên hộ Dương phẫn uất thổ huyết và mất vào tháng 10 năm 1866. Đến giờ trong dân gian vẫn truyền tụng câu ca:

      Ai về Đồng Tháp mà coi,
      Mồ ông Thiên hộ, trăng soi lạnh lùng.
      Bà con đùm đậu quanh vùng,
      Tháng Giêng ngày giỗ xin đừng có quên


Một tài liệu của mật thám Pháp cũng khẳng định Võ Duy Dương bị ốm chết. Nguyên văn của tài liệu này như sau (bản dịch):

Báo cáo ngày 21 tháng 2 năm 1881

Ông chánh sở mật thám!

Tôi có vinh dự để cho ông những tin tức: Người ta nói với tôi là tên Hội chức Thiên hộ - cựu lãnh tụ các đảng ở Tháp Mười, hắn đã chết vì bệnh từ 10 hoặc 12 năm nay, tử thi của hắn được chôn tại làng Tân Lập gần Cần Giuộc của Chợ Lớn; những người cầm đầu trong đoàn tùy tùng đã đi ra Huế. Cậu Hai, con trai của Quản Định, người ta không biết đi đâu, Thái chức Thống Quản, hắn đã bị ông Lãnh Huấn bắt, người ta đã kết án tử hình hắn. Trần Kỳ Phùng chức huyện, hắn chết vì bệnh, Huấn chức lãnh binh, hắn cũng chết như vậy và Cẩn chức đốc binh, hắn biến mất người ta không biết hắn đi đâu.


Tuy nhiên, phần lớn các tài liệu đều khẳng định Võ Duy Dương hy sinh trên đường vượt biển ra Bình Thuận, có thể do bị cướp biển giết chết. Nhiều nhà nghiên cứu sử học đã đồng thuận rằng Võ Duy Dương đã bị cướp biển giết ở mũi Thị Khiết (Thần Mẫu) thuộc vùng biển Cần Giờ khoảng tháng 10 năm 1866, lúc ông mới 39 tuổi. Bởi căn cứ vào các nguồn:

Trong báo cáo của Nguyễn Đức Hạnh gửi cho chánh sở mật thám Pháp: "Người này tên là Dương đã bỏ trốn sau khi Tháp Mười bị chiếm. Ông ta lên chiếc ghe bầu để đi Bình Thuận. Trước khi đến xứ này, ông đã bị tên Lý Sen cầm đầu một đám cướp biển tấn công. Lý Sen đi trên một chiếc thuyền mành mà người ta gọi là thiền du đã cho liệng xuống biển tất cả những người An Nam đi trên chiếc ghe đó. Lý Sen lục lọi trong một chiếc rương lớn lấy tất cả áo quần, các cấp bằng và mũ miện của Thiên hộ Nguyên soái tên Võ Duy Dương".

Nguyễn Đức Hạnh còn cho biết thêm, sau đó tên Sen bị bắt vì Hai Sĩ tố cáo y đã cướp bóc nhiều ghe biển và tên Sen đã cắn lưỡi chết trong ngục.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 01:14:21 pm

Tác giả Schreiner trong quyển Đại Nam quốc sử (Nguyễn Văn Nhàn dịch, Sài Gòn, 1905, trang 490) cũng đã tái xác nhận nguồn tin này: "Người ta nghe tin ông Võ Duy Dương mới chết chìm tại phía mũi Đinh, là nơi ông đánh với ba chiếc ghe tàu ô của đảng ăn cướp, quân ấy hạ hết người trên hai ghe".

Trong dân gian ở xã Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp còn lưu truyền câu chuyện "sau khi thất thủ ở Đồng Tháp Mười, Võ Duy Dương rút qua An Giang, Rạch Giá và bị cướp biển chặn đánh và chết ở cửa biển Rạch Giá" (địa điểm chết khác với 2 tài liệu trên).

Ngoài ra còn có 2 tư liệu cũng cho rằng ông Dương mất ngoài biển cả nhưng nguyên do tại vì bão tố làm cho đắm thuyền:

Đại Nam thực lục chính biên có đoạn chép: "Thiên hộ Dương ủy người về dâng sớ kín. Vua sai Vũ Trọng Bình hỏi kín, cốt phải hỏi đến chỗ cùng bàn cho ổn thỏa. Rồi được quan Thuận Khánh báo rằng Võ Duy Dương đi thuyền về tỉnh Bình Thuận đầu thú gặp gió nên bị đắm ở phận biển Thần Mẫu, sai đi tìm xác, đồ vật đem chôn, cấp cho mẹ hắn mỗi tháng 5 quan tiền, 1 phương gạo".

Nam Kỳ phong tục nhân vật diễn ca (Nhà xuất bản Phát Toàn, Sài Gòn, 1909, trang 67) của Nguyễn Liên Phong viết:

      Thoát thân về với ghe bầu,
      Khỏi nơi Cần Hải tiền xu đoán thoàn.
      Giấc nồng đêm dậy nhảy khan,
      Hồn chôn bụng cá ưng oan chẳng cần.


Như vậy, có thể gần như chắc chắn Võ Duy Dương đã bị một tên cướp biển có tên là Lý Sen sát hại. Nhưng hình ảnh một Ngũ linh Thiên hộ Võ Duy Dương trí dũng có thừa đã từng thoát hiểm biết bao lần giữa trùng vây của quân Pháp với đầy đủ khí giới, lại bị Lý Sen, một tên cướp bắt ném xuống biển Cần Giờ làm cho chúng ta đau xót suy nghĩ. Phải chăng tên cướp Lý Sen cũng là tay sai của thực dân Pháp hay cụ thể hơn là tay sai của tên Việt gian khét tiếng gian ác quỉ quyệt nhất ở Nam Kỳ lúc bấy giờ là Trần Bá Lộc. Trần Bá Lộc muốn qua bàn tay của Lý Sen để vừa có thể hạ sát được Võ Duy Dương - vừa hạ được uy danh của người anh hùng họ Võ đang được nhân dân Nam Kỳ mến mộ và hết lòng ủng hộ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 01:15:36 pm

Câu hỏi 15: Để khích lệ người anh hùng có chí lớn, dù biết Võ Duy Dương đã có vợ con, bá hộ Trần Văn Học vẫn cho cô con gái duy nhất là Trần Thị Vàng về làm thiếp. Cho biết về người thiếp này của Võ Duy Dương?
Trả lời:


Võ Duy Dương khi còn ở quê nhà Bình Định đã lấy bà Phạm Thị Liệu, người thôn Tráng Long cùng huyện (nay cũng thuộc xã Nhơn Tân) và đến năm 1855, bà Liệu hạ sinh người con trai đầu là Võ Duy Cung. Vài năm sau đó, bà sinh người con trai thứ hai Võ Duy Phụng trong lúc ông lên đường vào Nam. Võ Duy Phụng mất lúc 10 tuổi nên nay không ai nhớ ông sinh vào năm nào.

Khi mới vào Nam, Võ Duy Dương mộ dân lập đồn điền tại Ba Giồng. Tại đây ông đã qua lại với bá hộ Trần Văn Học (thông gia với Thủ khoa Huân) ở Bình Cách. Mến nghĩa, mộ tài của Ngũ linh Dương, vị bá hộ giàu có này đã đem cô con gái yêu duy nhất Trần Thị Vàng gả cho Võ Duy Dương làm thiếp.

Bá hộ Trần Văn Học rất giàu có, có 447 mẫu đất tốt, hàng năm hoa lợi thu gần 7.000 giạ lúa, lại cũng rất nhiệt tình yêu nước. Đại Nam thực lục chính biên, chép: "Dân hạt Định Tường (Trần Văn Ngọ, Nguyễn Văn Cẩm, Trần Văn Học, Từ Thi Đế...) tự nguyện đem quyên sắt sống (8.000 cân), tiền (2.700 quan), gạo (200 phương) để giúp quân nhu. Quan tỉnh đem việc ấy tâu lên, vua ban khen thưởng cho biển ngạch, áo lụa màu, ngân tiền có thứ bậc khác nhau". Ngoài ra, ông còn là thông gia với Thủ khoa Huân - người bạn chiến đấu của Võ Duy Dương - con trai Trần Văn Học là Trần Văn Thạnh cưới con gái Thủ khoa Huân là Nguyễn Thị Vạn. Có lẽ chính vì vậy mà Võ Duy Dương sau khi cưới Trần Thị Vàng làm thiếp đã được gia đình bên vợ ủng hộ lập đồn điền và sau này tiếp tục ủng hộ kháng chiến. Chính bá hộ Học bán ruộng đất mua súng đạn giúp nghĩa quân và dùng nhà mình làm bản doanh khởi nghĩa.

Hiện nay trong dân gian vùng Bình Cách còn lưu truyền câu chuyện "Ông Năm linh - bà Bảy Vàng”. Chuyện kể rằng: Ông Năm linh (tức ông Ngũ linh) người miền Trung, võ nghệ cao cường, tánh tình cương trực, hay làm việc nghĩa, giao du rộng... vào Nam lập nghiệp. Lúc Tây xâm lược Nam Kỳ, ông đứng ra chiêu mộ nghĩa dũng, quyên góp lúa gạo mua súng đạn đánh Tây, được nhiều người hưởng ứng. Bá hộ Học là điền chủ giàu có nhất nhì trong vùng chẳng những ủng hộ lúa gạo mà còn bán ruộng lấy tiền bạc mua súng đạn ủng hộ nghĩa quân. Để khích lệ người anh hùng có chí lớn, bá hộ Học đem "đứa con gái duy nhất là bà Bảy Vàng gả cho ông Năm linh". Từ khi về với ông Năm linh, dù là gái "đưa" chứ không phải là vợ chính thức có cưới hỏi nhưng bà Bảy Vàng chẳng những một lòng chung thủy thờ chồng mà còn giúp chồng nhiều việc trong công cuộc quốc sự. Khi ông Năm linh cùng nghĩa quân rút vào Đồng Tháp Mười, bà cũng theo chồng để lo việc tiếp tế lương thực nuôi quân. Đến khi đại đồn Tháp Mười thất thủ, ông Năm linh theo ghe bầu về Huế cầu viện, bà ở lại nuôi con chờ chồng. Khi ông Năm linh bị chết ngoài biển, bà buồn rầu mà mất.

Trần Thị Vàng đã có một con gái với Võ Duy Dương. Tại Trung tâm Lưu trữ II Thành phố Hồ Chí Minh có một tư liệu rất quan trọng (ký hiệu SL.4522) có nhiều điểm liên quan đến tiểu sử của Võ Duy Dương. Trong tập tư liệu này có một số giấy tờ liên quan đến người vợ thứ của Võ Duy Dương:

- Tờ bẩm của Trần Văn Học với nội dung viết bằng chữ Quốc ngữ (không đề ngày).

- Bản dịch ra tiếng Pháp tờ bẩm bằng chữ Quốc ngữ của Trần Văn Học (24-9-1869).

- Điện của giám đốc nội vụ (Đổng lý dinh Thượng thơ) gởi Tham biện Mỹ Tho số 9626 (26-9-1869).

- Điện tín của Tham biện Mỹ Tho gởi giám đốc nội vụ Sài Gòn (Đổng lý dinh Thượng thơ) số 5024 ngày 26 tháng 9 năm 1869 lúc 10 giờ 40 sáng.

- Tờ bẩm của Trần Văn Học xin cho con gái của Trần Thị Vàng, vợ thứ của Võ Duy Dương, ra đầu thú (bằng chữ Hán) ngày 10 tháng 10 năm Kỷ Tỵ (tức 14-11-1869).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 01:16:04 pm

Xin trích ra đây nguyên văn tờ bẩm bằng chữ Quốc ngữ như sau:

"Bẩm lạy,

Quan lớn Lại bộ Thượng thơ xin thứ tội cho con gái chúng tôi. Tôi tên là Trần Văn Học ở làng Bình Cách, tổng Thạnh Quận, huyện Kiến Hòa, bây giờ thuộc về sở tham biện Mỹ Tho. Năm trước Thiên hộ Dương làm ngụy thì có bắt hiếp con gái tôi là Thị Vàng làm vợ lẽ có đẻ ra một đứa con gái, rồi Thiên hộ Dương trốn chết đi, thì con gái tôi cũng sợ mà trốn biệt đi. Đến hôm nay tôi ra đầu thú với quan tham biện mà về an nghiệp, rồi thì tôi mới kiếm được con gái tôi và nó ở với Thiên hộ Dương có sinh một đứa con gái thì tôi sợ có tội, nên tôi phải ra thú thật với quan lớn rộng dung cho phép mẹ con chúng nó được về an nghiệp thì tôi mới dám nuôi mẹ con chúng nó sum hiệp một nhà, chúng tôi sẽ cám ơn quan lớn khôn cùng.

Nay bẩm
Trần Văn Học".


Một chi tiết đáng lưu ý trong tờ bẩm của Trần Văn Học là: "Thiên hộ Dương làm ngụy có bắt hiếp con gái tôi là Thị Vàng...", sự thật như thế nào?

Có thể suy luận như sau: Đây là tờ bẩm xin cho con gái ra quy thuận, dĩ nhiên Trần Văn Học phải trình bày việc con gái ông (Trần Thị Vàng) trở thành vợ thứ của Võ Duy Dương là do sự ép buộc của Võ Duy Dương chứ không do sự ưng thuận của Trần Thị Vàng và ông. Nhưng một người giàu có như bá hộ Trần Văn Học, lại nhiệt tình yêu nước, quyết chống giặc ngoại xâm, rồi lại hết lòng ủng hộ khởi nghĩa của Võ Duy Dương mà không đồng ý cho con gái mình se duyên với người cầm đầu của phong trào hay sao?

Điều này giúp cho ta thấy được thực chất của việc Trần Thị Vàng, con gái của Trần Văn Học trở thành vợ thứ của Võ Duy Dương.

Theo lời kể của cụ Võ Quế (cụ Võ Quế, 85 tuổi (1989) cháu nội của Võ Duy Dương), trong thời gian ở Nam Kỳ Võ Duy Dương có lấy vợ hai và đã sinh được hai người con trai tên là Võ Châu và Võ Phong. Nhưng tên tuổi và quê quán bà này chưa xác nhận được. Sau khi Võ Duy Dương qua đời, có một người đàn bà ở trong Nam ra Huế tâu với triều đình về hoạt động chống Pháp và gia đình của Võ Duy Dương ở trong Nam. Sau đó bà tìm đến gia đình của Võ Duy Dương ở Nhơn Tân (An Nhơn, Bình Định) rồi sống chung với gia đình một thời gian và qua đời tại đây. Hiện nay mộ của bà này nằm chung trong khu mộ gia đình họ Võ dưới chân núi Thơm. Ngôi mộ này được gọi là mộ của bà Đồng Nai (vì bà này ở xứ Đồng Nai, tức miền Nam).

Như vậy, ở trong Nam Võ Duy Dương có tới hai vợ thứ: Bà thứ nhất là mẹ của Võ Châu và Võ Phong. Bà thứ hai là Trần Thị Vàng.

Nhưng cũng có khả năng hai bà này chỉ là một. Trần Văn Học khai Trần Thị Vàng có một đứa con gái với Võ Duy Dương phải chăng để đánh lừa thực dân Pháp cốt để đảm bảo sự an toàn cho Võ Châu và Võ Phong?


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:43:42 pm

Câu hỏi 16: Bên cạnh những nét chung của những cuộc kháng Pháp ở Nam Kỳ, cuộc kháng Pháp của Võ Duy Dương có mấy điểm đáng lưu ý, những điểm đáng lưu ý đó như thế nào?
Trả lời:


Võ Duy Dương là người có tài có đức, biết tập hợp quần chúng quanh mình để xây dựng lực lượng, tạo nên uy tín.

Xuất thân là một nông dân nghèo, ít học, ở quê hương có truyền thống trọng võ, Võ Duy Dương lưu lạc vào Nam tìm kế mưu sinh, tham gia công cuộc chiêu dân khai hoang. Khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định, ông liền cùng người bạn chí thân là Nguyễn Hữu Huân quy tập lưu dân, dân mộ kéo về Gia Định ứng cứu.

So với các thủ lĩnh nghĩa quân cùng thời, Võ Duy Dương thiếu những điều kiện thuận lợi cơ bản khi bắt tay vào cuộc kháng chiến. Chúng ta đều biết rằng, dưới thời đại phong kiến, một người muốn ra hiệu triệu nhân dân làm một công việc gì lớn phải là người từng đỗ đạt hay ít ra phải là quan chức của triều đình hoặc thấp lắm cũng phải có điền sản. Trương Định vốn là con nhà quan, có điền sản, có đồn điền nhà với 500 dân mộ lại được phong chức phó quản cơ nên rất dễ dàng gây dựng một lực lượng để chống Pháp. Nguyễn Hữu Huân, con một lái buôn, lại đỗ thủ khoa thi hương có tiếng tăm nên rất thuận lợi khi hô hào nhân dân tham gia kháng chiến. Sau này, ở miền Trung, Phan Đình Phùng vốn là một gián quan cũ của triều đình, đã từng đỗ đình nguyên danh tiếng lẫy lừng nên rất dễ dàng cổ động một phong trào Cần Vương rộng lớn. Ở miền Bắc, Nguyễn Thiện Thuật cũng là người có chức phẩm khá cao trong triều, có danh vọng lớn trong nhân dân. Lịch sử cho thấy phần lớn những người cầm đầu phong trào đều là quan chức của triều đình hoặc văn hoặc võ nếu không thì cũng đã từng đỗ đạt mới có đủ tư cách để dân chúng nghe theo.

Khi bước vào công cuộc vận động quần chúng đứng lên đánh giặc Pháp, Võ Duy Dương thiếu các điều kiện cơ bản đó, lại phát động cuộc chiêu mộ nghĩa dũng không phải trên quê quán của mình, ông chỉ có mỗi một lợi thế là giỏi võ nghệ, ấy vậy mà ông đã quy tụ được hàng ngàn nghĩa dũng, ngoài ra còn liên kết với các nhà khoa bảng, quan chức của triều đình và các điền chủ, bá hộ giàu có, liên hệ với nhà vua qua các sứ giả, đã quần thảo với giặc suốt 7 năm trời từ Ba Giồng đến Đồng Tháp Mười và nhiều nơi khác trên đất Nam Kỳ.

Bước vào cuộc kháng Pháp, Võ Duy Dương đã thấy và nhanh chóng khắc phục mặt yếu của mình. Ông đã liên kết với Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, một khoa bảng tiếng tăm ở Ba Giồng, đang là giáo thụ phủ Kiến An (Định Tường) tạo ra tư cách nhất định đứng ra hiệu triệu nhân dân.

Với tư cách là một đầu mục nghĩa dũng, ông táo bạo vượt biển về kinh, hiến kế chống giặc ngoại xâm, được triều đình giữ lại dẹp giặc biển và giặc Đá Vách ở Quảng Ngãi. Dẹp được giặc, ông được phong Chánh bát phẩm Thiên hộ. Ông lại quay vào Nam với tư cách này: "Dù là một võ quan cấp thấp nhưng vẫn có thể hơn một anh nhà nghèo tha phương cầu thực". Lúc đầu, Võ Duy Dương dựa vào uy tín văn thân của Nguyễn Hữu Huân nhưng từng bước Võ Duy Dương đã tạo ra được cho mình cái uy thế quan triều đình, một điều kiện hết sức cần thiết để hiệu triệu dân chúng dưới xã hội phong kiến.

Đánh giặc cần phải có người, có của. Muốn có người, có của phải dựa vào dân. Hai hạng người mà Võ Duy Dương dựa vào là nông dân và điền chủ.

Vốn là một lưu dân đi khẩn hoang nên Võ Duy Dương rất gần gũi, gắn bó với nông dân, dân đồn điền. Tình cảm tâm tư của những người này đối với ruộng vườn, đất nước cũng là tình cảm tâm tư của Võ Duy Dương. Khắp nơi từ Ba Giồng đến Đồng Tháp Mười, có lẽ trong thời kỳ đi khẩn hoang Võ Duy Dương đều có lui tới. Bản thân Võ Duy Dương cũng có những khổ cực nhọc nhằn, lo toan như bao lưu dân khác. Trên cơ sở đó, trong quá trình chiêu mộ nghĩa dũng, dù Võ Duy Dương không có cái thế của Trương Định, không có cái thế của Phan Đình Phùng sau này nhưng ông đã nhanh chóng quy tụ được hàng ngàn người. Võ Duy Dương quả thật là một lãnh tụ nông dân khoác áo quan triều đình trong kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ.

Nhưng đại bộ phận nông dân đồn điền đều nghèo khổ, đóng góp của họ cho kháng chiến chủ yếu là sức người, xương máu. Đóng góp lúa gạo làm quân lương, tiền bạc mua vũ khí phải trông cậy vào đám phú hào, điền chủ. Điền chủ ở Nam Kỳ lúc bấy giờ có tới hàng ngàn mẫu ruộng là chuyện thường. Đời sống của họ gắn chặt với ruộng đất và tá điền để thu tô. Thực dân Pháp xâm lược sẽ cướp đất đai của họ, nên họ sẵn sàng bỏ lúa gạo ra nuôi quân, tung tiền bạc ra mua súng đạn. Võ Duy Dương đã triệt để khai thác tình hình này, với tư cách là quan Thiên hộ, Võ Duy Dương quan hệ, liên kết với nhiều điền chủ, chủ ruộng (ở Nam Kỳ có sự phân biệt rõ: điền chủ là chủ đất, không gọi là địa chủ. Còn chủ ruộng không phải là chủ đất mà là người đứng ra thuê ruộng của điền chủ rồi mướn người làm để thu hoa lợi) giàu có để có một nguồn tài lực nuôi quân. Một trong những điền chủ có quan hệ mật thiết với ông là bá hộ Trần Văn Học ở thôn Bình Cách, huyện Kiến Hòa (Định Tường), nơi Võ Duy Dương lập căn cứ. Ông này có tất cả là 447 mẫu ruộng (theo di chúc của Trần Văn Học lập năm 1876), hàng năm thu trên dưới 7.000 giạ lúa ruộng. Trần Văn Học đã từng ủng hộ lúa gạo nuôi quân hoặc bán lấy tiền mua súng đạn cho nghĩa quân, sau lại gả người con gái là Trần Thị Vàng cho Võ Duy Dương.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:44:46 pm

So với các lãnh tụ nghĩa quân khác, trong suốt quá trình kháng chiến, Võ Duy Dương có mối liên hệ khá chặt chẽ với vua Tự Đức.

Trước khi ký Hòa ước Sài Gòn (1862), Tự Đức đã lần lượt phong chức chánh quản đạo rồi quản cơ cho Võ Duy Dương. Sau đó, Tự Đức còn phong cho Võ Duy Dương làm chánh đề đốc. Qua hai bản tấu trình của Võ Duy Dương gửi cho Tự Đức, chúng ta thấy nhiều lần Tự Đức cử các đoàn kinh phái đến liên hệ với Võ Duy Dương, ngay cả khi Võ Duy Dương sắp vào lập căn cứ ở Đồng Tháp Mười, Tự Đức đã cử một kinh phái và một thị vệ đến tiếp xúc với ông.

Qua mối quan hệ này, chúng ta thấy rõ chính sách hai mặt của triều đình, muốn dùng lực lượng kháng chiến để khôi phục 3 tỉnh miền Đông nhưng lại e ngại thực dân Pháp. Thái độ nhu nhược, thiếu cả quyết của Tự Đức cộng với tư tưởng chủ bại, cầu hòa của một số quan lại đã biến chủ trương nhân nhượng với Pháp lúc đầu dần dần trở thành chủ trương đầu hàng nhục nhã.

Xuất thân là một lưu dân, có chút ít công lao với triều đình và được ân thưởng hàm chánh bát phẩm thiên hộ. Võ Duy Dương vẫn không hề bị cái hàm ân đó lôi cuốn, không để nghĩa quân thần chi phối hoạt động của mình mà ông chiến đấu vì lợi ích của nhân dân. Trong cuộc hội kiến với Kinh phái Nguyễn Tánh vào tháng 6 năm 1864, ông đã nói: "Tôi bày tỏ với sứ giả của nhà vua là tôi sẽ rút lui vào Tháp Mười ẩn náu đợi thời cơ để quật trả một trận mới và nhắn rằng tôi luôn sẵn sàng đáp ứng lời kêu gọi của nhân dân".

Qua mỗi quan hệ này chúng ta càng thấy rõ cuộc chiến đấu của Võ Duy Dương nhằm đạt mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc và sự vẹn toàn lãnh thổ. Mục tiêu này càng lộ rõ khi ông chọn Đồng Tháp Mười làm căn cứ, mặc dù trong thâm tâm ông chưa hề có dấu hiệu phản kháng đối với ý thức hệ phong kiến.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:45:09 pm

Võ Duy Dương là một lãnh tụ nghĩa quân có tầm nhìn chiến lược, là một nhà quân sự có tài.

Chọn Đồng Tháp Mười làm căn cứ là một quyết định sáng suốt và có tầm nhìn chiến lược của Võ Duy Dương. Trong thời kỳ đầu chống Pháp có hai căn cứ làm thực dân Pháp lo sợ nhất là Tân Hòa (Gò Công) và Tháp Mười. Tân Hòa có ưu thế là vùng đất trù phú, đông dân cư, tiếp tế dễ dàng nhưng địa hình trống trải không thuận lợi cho cuộc chiến tranh du kích. Lập căn cứ ở Tháp Mười là Võ Duy Dương đã tìm ra được một căn cứ khắc phục nhược điểm của Tân Hòa về mặt địa hình.

Đồng Tháp Mười rộng mênh mông, dày đặc tràm, lau sậy với muỗi, đỉa, rắn, rết, đường giao thông hầu như không có - một địa bàn lý tưởng cho loại hình du kích chiến, cho một lực lượng nhỏ yếu đương đầu với một lực lượng lớn mạnh. Do địa hình, nghĩa quân sáng tạo nhiều lối đánh phong phú, đa dạng. Với địa hình này, nghĩa quân ở thế công hay thế thủ đều thuận lợi. Từ đây nghĩa quân tập kích địch ở vùng tạm chiếm, rút về an toàn nhờ địa hình che giấu bảo vệ. Nếu bị tấn công, nghĩa quân lúc ẩn lúc hiện tiêu hao lực lượng địch, làm địch mệt mỏi phải rút lui. Mạng lưới sông rạch chằng chịt ở vùng ven Đồng Tháp Mười còn cho phép nghĩa quân tổ chức những trận đánh du kích linh hoạt với kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ và sáng tạo thêm, tạo điều kiện cho họ giành ưu thế trước quân thù trên các trấp, các bưng đầy lau sậy, muỗi đỉa, rắn độc. Nên không lạ gì dù chiếm ưu thế về binh khí kỹ thuật và phương tiện chiến tranh nhưng chúng không sao kiểm soát được Đồng Tháp Mười. P. Vial đã cay cú: "Đồng Tháp Mười ở tây bắc Mỹ Tho, nơi trú ẩn của quân phiến loạn An Nam, dùng như là căn cứ bất khả xâm phạm mà từ đó kẻ thù có thể tiến hành hàng ngày nhiều cuộc tấn công vào các làng mạc của chúng ta mà ta không thể trừng trị được (P. Vial, Les premières années de la Cochinchine, quyển 1, trang 39).

Đồng Tháp Mười còn có lợi thế nữa vì nó là đầu cầu để liên lạc giữa miền Đông và miền Tây Nam Kỳ, giữa Campuchia và vùng Đông Nam Kỳ. Nhưng ngược lại, Đồng Tháp Mười cũng có một hạn chế rất lớn là không thể tự túc sản xuất lương thực, còn khâu tiếp tế từ bên ngoài cũng hết sức khó khăn vì không có đường giao thông. Võ Duy Dương đã thấy rõ điều này. Muốn cho căn cứ Tháp Mười phát huy tác dụng, khâu quan trọng phải giải quyết là nguồn tiếp tế. Khi còn hoạt động ở Ba Giồng, Võ Duy Dương nhận ra thế "phên dậu" nương tựa nhau giữa Ba Giồng và Tháp Mười. Ba Giồng là vùng đất khai thác lâu đời, trù phú, đông dân ở Định Tường sau đất Gò Công, sức người sức của dồi dào, nên trong các con đường tiếp tế (đường gạo) được hình thành từ căn cứ Tháp Mười đã có tới ba đường hướng ra Ba Giồng: Cái Nứa, Cai Lậy, Trấn Định (Tân Hiệp). Ngoài ra, để nhận sự tiếp tế từ các tỉnh miền Tây con đường gạo từ Cần Lố vào Tháp Mười cũng được hình thành. Trên các con đường gạo, các đội vận lương với phương tiện xuồng ghe, cộ trâu, lĩa trâu đã mang về cho nghĩa quân mọi vật dụng cần thiết cho sinh hoạt và chiến đấu từ sự đóng góp nhiệt tình của nhân dân khắp nơi ở Nam Kỳ.

Hơn thế nữa, từ năm 1864-1865 trở đi, khi căn cứ Giao Loan và Tân Hòa thất thủ, Đồng Tháp Mười là chiến khu lớn nhất đóng vai trò trung tâm của phong trào kháng chiến chống Pháp ở Nam Kỳ lúc bấy giờ. Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ và liên lạc của Đồng Tháp Mười cùng sự liên kết chặt chẽ giữa Võ Duy Dương và các lãnh tụ nghĩa quân khác trên vùng đất tạm chiếm là những yếu tố tạo ra sự quy tụ ấy. Trần Kỳ Phong - một thuộc tướng của Phan Trung, năm 1865 đã kéo quân từ Giao Loan về Đồng Tháp Mười. Đầu năm 1866, Bùi Quang Diệu (quản Là) thủ lĩnh nghĩa quân quan trọng nhất của vùng Cần Đước, Cần Giuộc cũng đã liên kết chặt chẽ với Võ Duy Dương.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:46:18 pm

Một nét độc đáo nữa trong cuộc kháng chiến chống Pháp của Võ Duy Dương mà ít thấy ở các cuộc kháng chiến khác, đó là sự hiện diện trong hàng ngũ nghĩa quân những người lính Tagals và lính Pháp.

Sự hiện diện này là kết quả của chính sách tuyên truyền giáo dục cảm hóa được những người lính trong hàng ngũ đối phương. Không phải dễ dàng gì làm cho những người lính này thấy được công cuộc chiến đấu của ta là chính nghĩa và họ đến đây xâm lược xứ sở ta là phi nghĩa, đồng thời lôi cuốn họ đứng vào hàng ngũ nghĩa quân đánh trả lại thực dân Pháp. Võ Duy Dương làm được điều này chứng tỏ ông đã triệt để khai thác những mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù để đẩy mạnh "công tác địch vận" có kết quả.

Trong báo cáo gửi vua Tự Đức của Võ Duy Dương có ghi rõ: "Quân đội của chúng tôi kéo đến Chinh Hầm, đang chiếm một điểm cao, từ địa thế này chúng tôi nã nhiều quả pháo tiêu diệt một số lớn quân Pháp, xác chúng rải rác trên trận địa, số tử vong vượt quá 150, chúng ta bắt được tù binh 3 người Pháp, 7 người Ma Ní, họ chịu đầu hàng và bằng lòng theo chúng tôi. Họ có sẵn súng và quân trang. Họ lại ghét bọn kia và muốn ra trận để trả thù".

Còn trong cuốn Lịch sử cận đại Việt Nam (Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự, tập 1, Nxb Giáo dục II, 1960) cũng có ghi: "Bệnh hoạn, chết chóc bất ngờ thường xuyên đe dọa mạng sống của lính viễn chinh Pháp làm cho tinh thần chiến đấu của chúng ngày một suy sụp, nhiều lính Tagals (người Philippin), lính ngụy và cả lính Pháp đào ngũ chạy sang phía nghĩa quân, bán nhiều súng đạn cho ta".


Còn một điểm nữa cũng khá nổi bật trong cuộc kháng chiến của Võ Duy Dương, đó là sự liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp của hai dân tộc Việt Nam và Campuchia

Trong thời gian 1863-1864, khi Nguyễn Hữu Huân quyên góp tiến bạc ở vùng An Giang, Võ Duy Dương hành quân lưu động, ông đã liên kết với Achaxoa, một thủ lãnh nghĩa quân người Khơ Me.

Về sau Võ Duy Dương còn cùng Trương Quyền liên minh với một thủ lãnh nghĩa quân Khơ Me khác là Poucombo. Sự liên minh chiến đấu này trước mắt chỉ là sự đoàn kết nương tựa vào nhau của hai lực lượng yếu nhằm chống lại một kẻ thù chung mạnh hơn. Nhưng thực ra, nó còn bao hàm ý nghĩa sự liên minh giữa hai dân tộc, từ lâu đã có truyền thống giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tồn tại; sự thịnh suy, còn mất của nước này, dân tộc này nhất định sẽ ảnh hưởng đến dân tộc kia, nước kia.

Các đặc trưng nêu trên cho thấy rõ ràng Võ Duy Dương chẳng những là một thủ lĩnh nghĩa quân có quyết tâm chống giặc cao độ, có tài năng quân sự mà còn là một lãnh tụ kháng chiến có năng khiếu về tổ chức và chính trị, có tầm nhìn chiến lược sâu rộng và đặc biệt rất nhạy bén trước mọi thay đổi của tình thế.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:51:09 pm

PHỤ LỤC
1. NHỮNG GIAI THOẠI, TRUYỀN THUYẾT VỀ VÕ DUY DƯƠNG

THIÊN HỘ DƯƠNG DÀN XẾP MỐI BẤT HÒA NỘI BỘ

Thuộc bộ tham mưu của ngài Thiên hộ có các ông Thủ Chiếu, Phòng Biểu, Nhiêu Chấn, Nhiêu Bá và Thông Phụng. Đây là những ông nếu không là bậc túc trí thâm nho thì cũng là tay võ nghệ cao cường, có ông đã từng là quan lại của triều đình trước đây.

Khi cuộc kháng chiến bắt đầu, các ông lần hồi quy tụ về cộng tác với ngài Thiên hộ để mưu đồ đại nghĩa. Tuy cùng là bậc khoa cử xuất thân nhưng tài có cao có thấp, trong đó có ông Thông Phụng là kém hơn hết.

Song cái hơn bù cái kém, ông Thông Phụng rất giỏi võ nghệ, lại cộng tác đắc lực nên được ngài Thiên hộ yêu mến kính nể. Những việc cơ mật về quân sự Thiên hộ thường bàn riêng với Thông Phụng. Vì thế ông Phòng Biểu và Nhiêu Bá ganh tỵ, thường tỏ thái độ bất mãn cho ông Nhiêu Chấn và Thủ Chiêu biết.

Việc này thấu đến tai ngài Thiên hộ, ngài quyết định đánh tan mỗi bất hòa. Nhân hôm đánh lui được giặc Pháp ra khỏi Động Cát, ngài mở tiệc khao quân long trọng. Ngài cho mời cả năm ông đến phòng riêng đàm đạo.

Rượu nửa tuần, ngài hỏi ông Thông Phụng:

- Nghe nói quan cơ mật biết đàn và đàn hay lắm phải không?

Tình thật, ông Thông Phụng thưa:

- Thưa ngài, tôi có biết nhưng chỉ chuyên một bản thôi.

- Bản gì?

- Thưa bản Trường tương tư.

Ông Nhiêu Bá bèn xen vào mỉa mai:

- Bản đàn đó thuộc về loại Trịnh vệ chi phong thứ bản dâm dật.

Câu nói cố ý của ông Nhiêu Bá làm ông Thông Phụng đỏ mặt.

Tình trạng đến lúc gay cấn, ngài Thiên hộ liền rót hai ly rượu trao cho ông Phụng và ông Bá mỗi người một ly rồi nói:

- Hôm nay nhân ngày vui thắng giặc, tôi xin kể một chuyện cổ tích Tàu để quý quan nghe chơi cho vui. Chuyện như thế này:

Ở thời Đông Chu liệt quốc, thất quốc tranh hùng, nước Tần mạnh nhất. Nghe tin nước Triệu có viên ngọc bích quý lắm, Tần Vương đưa thư xin đổi 15 thành. Triệu Vương được thư, liền nhóm đại thần là thượng tướng Liêm Pha bàn nghị nhưng e bị Tần lừa, ngọc mất mà thành không được, khước từ thì lại sợ Tần giận, gây việc binh đao. Các đại thần bàn luận lăng xăng, phân vân bất nhất.

Sau cùng, quan đại phu là Lạn Tương Như đứng ra xin mang ngọc sang Tần, tâu rằng: Nếu Triệu được thành thì tôi để ngọc bích lại Tần, bằng không, tôi xin giữ hoàn toàn được viên ngọc đem về Triệu.

Qua đến nơi, Tương Như trình ngọc cho Tần xem. Lòng tham vua Tần dấy động, muốn chiếm lấy ngọc mà không chịu mất thành.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:51:45 pm

Biết được dã tâm của Tần Vương, Lạn Tương Như sinh một kế, đến trước mặt vua tâu: "Viên ngọc ấy có tì vết, tôi xin chỉ cho Đại Vương xem".

Vua sai tả hữu đem ngọc bích giao cho Tương Như. Lấy được viên ngọc rồi, Tương Như lùi ra mấy bước, đứng tựa vào cột điện, quát hỏi Tần Vương:

- Đại Vương thư cho chúa tôi đem ngọc bích qua đây đổi lấy thành, sao Đại Vương định cướp luôn? Nếu Đại Vương muốn bắt tôi mà cướp ngọc thì cái đầu tôi đây xin cùng ngọc bích đập nát vào cây cột, thà chết chớ không để Tần đoạt ngọc vậy.

Tần Vương tiếc ngọc chịu đổi thành, chấp nhận điều kiện của Tương Như là trai giới năm ngày để nhận ngọc.

Tương Như biết vua Tần dối trá, đêm ấy sai kẻ tâm phúc mang ngọc về Triệu, sáng ra thì sự đã rồi.

Chừng Tương Như về nước, Triệu Vương ban thưởng rất hậu. Lần sau Tương Như bảo vệ Triệu Vương hội kiến với Tần Vương được an toàn và trọn gìn quốc thể. Triệu Vương càng kính trọng, phong Tương Như làm Thượng đại phu, trên Liêm Pha một bực. Vì thế mà Liêm Pha oán ghét, dọa rằng nếu gặp Tương Như tất phải giết chết. Tương Như nghe vậy, mỗi khi gặp buổi công triều liền cáo bệnh không đi, tránh cùng Liêm Pha gặp mặt.

Một hôm hai người cùng có việc ra ngoài, Tương Như trông thấy toán lính tiền đạo của Liêm Pha vội sai tên phu xe đánh xe tránh vào trong ngõ, đợi cho Liêm Pha qua rồi mới ra. Bọn xá nhân chê Tương Như hèn nhát, toan bỏ đi.

Tương Như nhóm tất cả lại, hỏi:

- Các người xem Tần mạnh hay Lục quốc mạnh.

- Tần mạnh.

Tương Như lại hỏi:

- Liêm tướng quân mạnh hay Tần mạnh?

- Liêm Pha sao sánh với Tần được!

Tương Như bèn giải thích:

- Ta đã không sợ Tần thì đâu có sợ một Liêm tướng quân! Sở dĩ Tần không dám đánh Triệu là e có hai người chúng ta. Nay hai con hổ cùng đánh nhau, thề không cùng sống, Tần tất thừa cơ đánh Triệu. Nên ta coi việc nước làm trọng mà việc nhà làm khinh vậy!

Một ít lâu sau, bọn xá nhân của Lạn Tương Như đi ra quán xá lại gặp bọn xá nhân của Liêm Pha và cùng nói cho nhau nghe duyên cớ tránh mặt của Lạn Tương Như rồi bảo nhau noi gương chủ tướng. Bọn xá nhân Liêm Pha về thuật lại câu chuyện ấy cho chủ tướng rõ.

Sau khi biết được chủ tâm cao thượng của Lạn Tương Như vì nước mà phải tránh mặt mình, không sợ thiên hạ cười chê là hèn nhát, Liêm Pha hối hận khôn cùng liền chạy đến tướng phủ họ Lạn ôm lấy Tương Như òa khóc mà tạ lỗi khiến Tương Như cảm động quá cũng ôm lấy Liêm Pha mà khóc.

Từ đó hai ông coi nhau như anh em ruột thịt, dốc lòng chung lo việc nước. Nước Tần thấy thế không dám đánh Triệu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:52:54 pm

Nghe xong, ông Nhiêu Bá hối hận và thẹn thầm. Thiên hộ đoán được tâm trạng của người nghe, ngài bèn nói:

- Đêm nay trời trong trăng tỏ, thôi các ông hãy ra đề tài làm mấy bài thơ thưởng nguyệt.

Đoạn ngài giao cho ông Phòng Biểu ra đề. Biết hai ông Phụng và Bá có xích mích nhau, ông Phòng Biểu lấy sự tích Quách Tử Nghi đời Hán làm đầu đề.

Nguyên vua Đại Tôn gả con gái cho con Quách Tử Nghi là Quách Ái. Ỷ mình là con vua, cô dâu không chịu làm tròn bổn phận tứ đức tam tòng trong gia đình nên bị Quách Ái đuổi về và mắng:

- Mày đừng ỷ cha mày là vua, chớ cha tao khinh ngôi vua không thèm làm!

Câu chuyện gia đình xảy ra như vậy, chừng Quách Tử Nghi hay đặng, đến xin lỗi vua Đại Tôn.

Đề ra đã xong, ngài Thiên hộ bảo ông Nhiêu Bá làm trước, rồi ông Thông Phụng họa lại. Được lệnh, ông Nhiêu Bá cất bút đề:

      Ngai vàng cất mão dám tâu qua
      Lỗi ở con làm tội đến cha?
      Trẻ dại chẳng kiêng bề lớn bé,
      Già cam chịu lỗi phận sui gia.
      Cháy da chưa đủ đền ơn nước,
      Dại miệng khôn kiêng lỗi việc nhà.
      Cái nghĩa quân thần là đạo trọng.
      Muôn ơn rộng lượng giết cùng tha.


Ông Nhiêu Bá làm xong đọc lên, mọi người đều vỗ tay khen là tuyệt bút.

Đến phiên ông Thông Phụng, ông liền cầm bút họa:

      Thần vương nghĩ lại chuyện hôm qua,
      Lỗi ở con làm há trách cha!
      Dại miệng khoe khoang tài chú rể,
      Nghiêng tai giả điếc phận ông già.
      Người khôn ngõ đặng đền giềng nước,
      Đứa dại xui cho rối đạo nhà.
      Khó nhọc dễ quên công mấy thuở,
      Quân thần đạo trọng trẫm ban tha!


Cử tọa cũng khen bài thơ của ông Thông Phụng thật hay, tỏ rõ sự tha thứ về sự tranh chấp của hai ông từ trước tới giờ hiểu lầm nhau.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:53:34 pm

CON TRÂU RA TRẬN

Thời kỳ Thiên hộ Dương cứ hiểm Đồng Tháp Mười, miệt mài kháng chiến chống Pháp giành độc lập dân tộc, ngày ngày đều ôn văn, luyện võ. Ngoài ra, ông còn có một đường roi song đôi rất tài tình, đã có lần ông thao dượt cho các bậc tướng hạ kề cận xem, ai cũng thán phục.

Một hôm, sau bữa tiệc văn thơ, ông mời các tướng hạ cùng ông ra sân diễn võ (võ trường) để xem ông thao diễn võ nghệ.

Võ trường là một sân lớn, tràm và chưng bầu (trâm bầu) che kín chung quanh, ông Thiên hộ cởi áo ra, mấy ông kia cũng cởi theo, đoạn ông lấy cái roi bằng khúc mây lớn hơn cườm tay múa lên. Lúc đầu còn thấy bóng người, sau chỉ nghe tiếng vù vù khúc mây cong oặt oà như khúc cao su, bao bọc lấy thân ông trong nửa tiếng đồng hồ. Ông tới lui giáp vòng cái sân, đoạn tiến vào giữa sân, hai chân ông xê dịch chỉ một chỗ không sai chút nào, tiếng gió phát ra từ đường roi nghe vi vút ghê mình. Thật là một thế yếm bách mười phần lợi hại.

Ông thường nói thế đó khi nào bị bao vây giữa vòng thì thượng bảo kỳ thân, hạ bảo kỳ mã (tức là trên giữ mình, dưới che cho ngựa).

Cuối cùng ông ngừng roi thì một tiếng vút từ ngọn roi đập xuống đất, lẹ như chớp, ông đã lao mình nhảy lên đứng trên cái gò gần đó, cao chừng cả thước.

Những người đứng coi không nháy mắt, thỉnh thoảng lắc đầu lè lưỡi. Khi thấy ông nhảy lên cái gò cao, một tay chống nạnh, một tay cầm cây mây đứng oai vệ như vị thần, mọi người vỗ tay lấy làm khâm phục.

Khi ông nhảy xuống, ông Phòng Biểu đề nghị:

- Đường roi song đôi của ngài có thể cho chúng tôi thí nghiệm hôm nay được không?

- Nếu muốn biết sự lợi hại của đường song đôi, mấy ông hãy dắt một con trâu ra đây.

Ai nấy chưa hiểu thế nào nhưng một ông đã nhanh chân chạy ra phía sau, dắt ra một con trâu già, cặp sừng nhọn hoắt, mập khỏe mạnh.

Ông liền nói:

- Bây giờ tôi ra ngoài bờ kinh gần đây, tôi cưỡi trâu này ở dưới kinh leo lên bờ, mấy ông cứ đứng trên, tôi sẽ đội roi đi lên cho các ông coi.

Giao hẹn xong, ông Thủ Chiếu, Nhiêu Chấn và Thông Phụng lựa khí giới rồi cùng nhau ra bờ kinh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:53:55 pm

Anh trăng soi mờ mờ, Thiên hộ Dương ngồi trên mình trâu cao nghều nghệu, tay cầm roi, oai phong lẫm liệt. Ra đến bờ kinh, ông thúc trâu nhảy đùng xuống nước, đoạn nắm vàm trâu thúc trâu quay đầu nhắm bờ kinh tiến lên.

Trên bờ, các ông Chiếu, Chấn, Phụng hờm sẵn khí giới khi trâu vừa vào gần mé kinh, ba ông nhất tề tấn công, tiếng binh khí va chạm nhau nghe rôm rốp.

Thiên hộ lui trâu lại, kẹp hai dây vàm trâu quấn vào hai ngón chân cái, rồi thúc trâu tiến lên bờ. Đêm đang yên lặng bỗng có kinh động, tiếng nước tung toé ào ào pha lẫn tiếng binh khí chạm rôm rốp làm cho toàn dinh binh sĩ ai nấy giật mình thức dậy.

Họ lấy khí giới cầm tay, rồi đổ xô chạy xuống phía bờ kinh, thấy hai ông Phòng Biểu, Nhiêu Bá đứng coi, còn ba ông Chấn, Chiếu, Phụng đánh với Thiên hộ Dương một trận ác liệt, oai hùng.

Đang lúc phân vân chưa hiểu tại sao thì thấy ông Chiếu đánh xuống một roi liên tiếp ba đòn làm Thiên hộ Dương thúc trâu lui lại và khen:

- Đòn đó khá lắm!

Ông vừa khen vừa cười, đoạn thúc trâu tiến lên nữa. Có lẽ lúc đầu, ông cho đối thủ đang lúc hăng sức dùng hết thần lực một hồi. Khi đoán chừng ba ông kia có vẻ hơi mệt, ông dùng tuyệt kỷ thế roi song đôi điều khiển cây roi nghe vùn vụt, hai chân thúc mạnh vào hông trâu cho tiến lên mãnh liệt. Thấy ông quyết đội roi tiến lên, ông Chấn, ông Phụng kêu ông Chiếu, phân công ông này nhắm đánh vào giò trâu cho ngã. Những đường roi của Thiên hộ Dương càng lúc càng biến ảo, linh động lạ thường. Ông vừa ngăn hai ngọn roi của ông Phụng và ông Chấn vừa đâm đót roi dùng thế hồi thử dọa đánh qua ông Chiếu, làm ông Chiếu thu roi trở lại, không dám đánh vào giò trâu, rồi lẹ như chớp nhoáng, Thiên hộ Dương thừa lúc ông Chiếu thu roi về còn lỡ bộ, ông tiếp theo một đường làm cho cây roi của ông Chiếu văng xa hơn mười thước, đoạn ông chuyển roi để đón hai đòn của ông Chấn và ông Phụng đánh tới, đồng thời thúc mạnh cho trâu vọt lên bờ.

Thấy Thiên hộ Dương thúc trâu lên bờ được rồi, ông Chấn và ông Phụng thu roi trở lại, nhảy lui lắc đầu nói: "Ngài quả thật là bậc kỳ tài trong thiên hạ".

Những người đứng coi chung quanh đều vỗ tay vang rền, tiếng khen nức nở. Dưới ánh trăng người ta thấy Thiên hộ Dương ở trần, ngực nổi nở tròn, hai tay gân guốc, cặp cây roi trên lưng trâu nhảy xuống, thật là một viên kiện tướng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:54:23 pm

THIÊN HỘ DƯƠNG ĐẤU GƯƠM VỚI ĐÔ ĐỐC BẠC MÁ (TỨC DE LAGRANDIÈRE)

Sau khi quân Pháp triệt hạ được đại đồn Tháp Mười nhưng không bắt được Thiên hộ Dương, nên hoạt động của nghĩa quân còn làm chúng ăn ngủ không yên.

Đô đốc De Lagrandière (mà dân chúng thường gọi là thằng Tây Bạc Má) lùng sục khắp nơi quyết bắt cho được Thiên hộ Dương, linh hồn của nghĩa quân Đồng Tháp Mười. Y cho lính kín, mật thám, tay sai rình rập giăng đón khắp ngả. Một ngày nọ, Bạc Má được lính kín báo là Thiên hộ Dương và người hộ vệ đang ở trong nhà một người dân tại chợ Ba Sao. Lập tức Bạc Má cho quân tới bao vây.

Vây xong, y cho thông ngôn vào nhà mời Thiên hộ Dương ra đấu gươm với y, lấy danh dự một sĩ quan Pháp hứa không bắn một viên đạn nào hoặc ra lệnh cho lính bắn.

Không biết Thiên hộ Dương có tin lời hứa của Bạc Má hay không nhưng vẫn thấy ông bình tĩnh hiên ngang cùng người hộ vệ từ trong nhà phóng ra đấu gươm với Bạc Má. Lính được lệnh chỉ đứng từ xa mà xem. Sau hơn nửa giờ so tài bất phân thắng bại, Thiên hộ Dương thấy càng đấu lâu càng bất tiện, vì gươm của ông ngắn hơn gươm của Bạc Má, hơn nữa chúng đang khép kín vòng vây nên ông ngầm ra lệnh cho người hộ vệ rút lui, rồi lần đến một hàng rào cao, hét lên một tiếng chém mạnh một nhát cho đối phương lùi lại... rồi phóng trái khỏi hàng rào, ra sức chạy mất. Bạc Má giữ lời hứa không cho lính đuổi theo.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:55:46 pm

LAI LỊCH NGÀY GIỖ ÔNG THIÊN HỘ

Trong kho tàng ca dao Đồng Tháp có một số câu nói về ông Thiên hộ:

            Ai về Đồng Tháp xa xôi,
      Dừng chân tôi gởi đôi lời nhớ nhung.
            Ai về ngã sáu ấp Trung,
      Cho tôi gởi nhớ về trong Tháp Mười.
            Ai về Đồng Tháp mà coi,
      Mồ ông Thiên hộ trăng soi lạnh lùng.
            Bà con đùm đậu quanh vùng,
      Tháng Giêng ngày giỗ xin đừng có quên.


Qua mấy câu ca dao này ta đừng vội cho rằng, đã là người dân Đồng Tháp, nơi có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, sao lại để phần mộ của người anh hùng Đồng Tháp đã xả thân vì độc lập dân tộc lại hoang lạnh như vậy. Thực ra, sau khi giặc Pháp bình định được Nam Kỳ, để tiêu diệt ý chí quật cường, tinh thần dân tộc của dân ta, chúng cấm ngặt không cho nhắc nhở, thờ phụng các vị anh hùng lãnh đạo nhân dân chống lại chúng. Do đó mới có cảnh: Mồ ông Thiên hộ trăng soi lạnh lùng.

Còn về ngày giỗ, hiện nay là ngày mùng 3 tháng Giêng âm lịch. Đây không phải là ngày ông từ trần. Ngày đó là ngày dân chúng trong vùng đặt ra để tưởng niệm người anh hùng đó thôi. Vì người ta chỉ biết là sau khi đại đồn Tháp Mười thất thủ, ông Thiên hộ ra miền Trung, rồi mất lúc nào không rõ.

Ngày giỗ hiện nay xuất phát từ một giai thoại sau:

Ngày xưa do Pháp cấm ngặt, dường như không ai dám làm giỗ ông Thiên hộ. Có một năm nọ, dân chúng trong vùng Gò Tháp được ăn một cái Tết thanh bình vì trúng mùa, có cá kho dưa giá, có bánh tét ngon lành.

Giữa đêm mùng 3 Tết, sau khi bánh tét trong trã đã chín, một anh nọ vớt ra, mang bánh đi biếu người cha trong xóm. Khi đi qua mộ ông Thiên hộ (Thật ra ngôi mộ ở Gò Tháp là ngôi mộ Đốc binh Kiều nhưng lúc bấy giờ nhiều người lầm tưởng là mộ Thiên hộ Dương.), trong ánh đuốc chập chờn, anh thấy một người đứng tuổi, đầu bịt khăn be, mang giày ống như các võ quan ngày xưa, từ chỗ ngôi mộ đi vào miếu thì biến mất.

Anh kể cho mọi người nghe. Họ cho rằng, đó là anh linh của ngài Thiên hộ Dương về. Với tấm lòng biết ơn một người đã dày công chống xâm lăng đi đối với niềm tôn kính, dân chúng lấy ngày mùng 3 tháng Giêng làm ngày giỗ ông. Nhưng có lẽ khi biết được ngôi mộ ở Gò Tháp không phải là mộ Thiên hộ Dương nên ngày nay người ta không còn giỗ ông vào ngày mùng 3 tháng Giêng nữa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:57:06 pm

RẮN THẦN TRỢ LỰC THIÊN HỘ DƯƠNG

Tổng hành dinh của nghĩa quân Đồng Tháp dưới quyền chỉ huy của Thiên hộ Võ Duy Dương đặt tại Gò Tháp, từ ngoài vào chỉ có ba con đường mòn: một từ gò Bắc Chiêng (Mộc Hoá) đi xuống, một từ Cái Nứa (Cái Bè) đi tới và một từ rạch Cần Lố đi vào.

Tại vàm Cần Lố có một cái doi nằm chắn ngang hai ngả nước sông Cửu Long; một đổ vào sông Con chảy về Cao Lãnh, một chảy vào rạch Miễu. Nơi đây nghĩa quân Đồng Tháp xây một cái đồn khá kiên cố gọi là đồn Doi, án ngữ giặc Pháp tiến quân từ mặt sông Tiền.

Địa thế đồn này rất hiểm: cây cối um tùm với nhiều cây me cổ thụ (vì thế doi này còn gọi là doi Me), ba mặt là sông nước. Tại đây bố trí một khẩu đại bác mà dân chúng thường gọi là ông Cà Lăm. Nhờ thế mà sau 3 năm tử thủ, hai bộ tướng của Thiên hộ Dương là Huỳnh Lục, Huỳnh Thất đã cầm được quân giặc và bảo đảm con đường áp tải quan trọng nhất trong ba con đường vào tổng hành dinh mà tục gọi là đường gạo từ vàm Cần Lố đến Gò Tháp.

Việc áp tải có khi sử dụng bằng ghe từ rạch Trà Cú Thượng đến rạch Trà Cú Hạ, qua kinh Phước, tức vào vàm Xoài Hột, đêm nào cũng có đoàn ghe áp tải về tổng hành dinh. Từ các sông rạch này đêm đêm vang lên câu hát, tiếng hò đậm tình yêu nước:

      Non nước tan tành ngủ mãi sao?
      Vội vã dân làng thà dẹp cuốc
      Trong lòng đã rộn ánh binh đao.


Hoặc là:
      Đã nghe sắc lửa âm thầm dậy
      Tiếng gọi từ xa thúc giục hoài
      Há chịu làm thân trâu ngựa mãi
      Chim lồng sao hót tiếng bi ai?


Bằng đường bộ thì dùng xe trâu đi trên ba con đường mòn nói trên. Đồng Tháp Mười hồi đó toàn là rừng đế, tràm, sậy, cỏ, năn, lác, ngoài mấy cái nhà làm trạm nghỉ chân của các đoàn áp tải, không có một bóng nhà của dân chúng, tất cả đều tập trung trong Gò Tháp, chung quanh tổng hành dinh của Thiên hộ Dương.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:57:42 pm

Thường thường hàng tuần, có ba chuyến vận tải về bằng ba ngả nhưng phần lớn lương thực, súng ống, đạn dược từ đồn Doi tiếp tế nhiều hơn. Mỗi lần đoàn tiếp tế đi thì vợ con và người thân của nghĩa quân tháp tùng theo để mua sắm.

Từ đồn Doi vào đến tổng hành dinh theo đường mòn đến một giồng gọi là giồng Cát, còn gọi là động Cát, nơi đó có một trạm dừng chân cho đoàn áp tải nghỉ ngơi và cũng làm trạm gác.

Một ngày kia, dân chúng ở vùng ngoài vô cất vài cái nhà bên cạnh trạm để ở. Trong đó có hai nhà sống sung túc có vẻ khác thường.

Thình lình, một đêm nọ, hai gia đình ấy, cùng một nghĩa quân của trạm với số người trong đoàn áp tải, sau bữa cơm chiều, ngủ qua một đêm tới sáng đều chết hết. Mãi tới khi xác gần sình mới có người báo cho Thiên hộ hay. Ông liền phái ông Thủ Chiếu là lương y về thuốc rắn đến điều tra.

Khám nghiệm các tử thi, ông chẳng tìm được nguyên do nào cả. Ông chỉ ước đoán họ chết vì thuốc độc. Bí mật của vụ án chưa được khám phá thì có tin mật báo từ đồn Doi cho Thiên hộ biết rằng đoàn áp tải đã nhiều lần trao tin tức cho người mang đến cho tay sai của Pháp ở Cao Lãnh là Phạm Văn Khanh về tình hình của nghĩa quân. Cùng lúc đó cũng có tin cho hay rằng hai gia đình cất nhà gần trạm gác ở động Cát là người của bọn Pháp tổ chức để nắm tình hình của nghĩa quân.

Thiên hộ Dương đích thân đến động Cát để quan sát và đã tìm ra được một cái hang rắn, miệng lớn bằng cái lu. Ông bèn ra lệnh cho ông hộ vệ Tân cũng là thầy rắn đại tài bắt đàn rắn ấy.

Ông tới xem qua hang rắn, trình rằng dưới hang có con rắn chúa sáu khoan, trước kia lớn lắm, nay còn bằng cây đũa ăn, dài trên một thước tây, ban đêm chỉ ló ra ngoài năm khoan để hứng hơi sương, chứ không bao giờ bò ra ngoài. Rắn không cắn ai nhưng ai quyết hại nó thì nó cắn, khi bị nó cắn thì không có thuốc gì cứu được.

Hang rắn được Thiên hộ để yên.

Sau đó ít lâu, vào một buổi chiều, đồn Doi bị giặc Pháp tấn công, quân ta chống trả quyết liệt, nhưng cuối cùng vì quân giặc quá mạnh, quân ta phải rút lui về động Cát, rồi về Gò Tháp.

Quân Pháp đuổi đến động Cát thì trời đã tối, bèn hạ trại nghỉ ngơi, định sáng sẽ tiến vào. Không ngờ đêm đó quân Pháp chết hơn chục mạng. Gặp phải sự chết chóc lạ thường mà chúng không hiểu lý do nên chúng đành rút trở ra, không dám tiến quân vào Gò Tháp. Trong lúc đó dân chúng có tin đồn rằng Thiên hộ Dương dùng đạo quân rắn thần để đẩy lùi quân giặc ra khỏi động Cát. Bọn Pháp nghe vậy lại càng hoang mang lo sợ nên bỏ luôn đồn Doi Me rút về Cao Lãnh.

Quân ta trở lại đây xây dựng đồn Doi lại như cũ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:58:00 pm

Ít lâu sau, chúng lại tấn công đồn lần nữa, ta rút lui, chúng đuổi theo và cũng đến động Cát thì dừng chân lại để nghỉ đêm. Đêm ấy trong đám quân giặc, nhiều tên đang ngủ bỗng la lên rồi chết, chúng không dám ngủ phải thức canh gác suốt đêm. Đến sáng chúng phát giác ra được cái hang rắn. Tên chỉ huy ra lệnh đổ dầu đốt hang.

Trong lúc khói lửa mịt mù, bỗng có tiếng ào ào như giông gió nổi lên, từ phía rừng một con rắn hổ mây bề ngang tròn bằng miệng thúng tiến tới như vũ bão, lăn xả vào lửa há họng nhe răng, đập đuôi làm dữ.

Quân giặc hoảng hồn, bỏ chạy tán loạn, tên chỉ huy không can đảm gì hơn, vắt giò lên cổ mà chạy, càn bừa trong rừng lau sậy.

Trong lúc chúng tranh nhau chạy, Thiên hộ Dương ra lệnh ông Huấn Hiệu mang quân đến tấn công bất ngờ. Quân giặc không còn lòng dạ nào chiến đấu, lớp bị giết, lớp bị thương, lớp bị bắt. Nghĩa quân toàn thắng, thu được nhiều chiến lợi phẩm và cũng giết được tên chỉ huy. Bọn còn sống sót, càn rừng lướt bụi, chạy về đến đồn Doi, bị dân chúng nổi dậy bắt đem nộp cho ông Huấn Hiệu.

Sau trận đó thế lực nghĩa quân Đồng Tháp mạnh hẳn lên và trở lại chiếm đồn Doi như cũ.

Thế là đạo binh rắn đã giúp Thiên hộ Dương ba lần đánh lui được giặc Pháp. Nhưng biết đâu, đó chẳng phải là mưu lược của vị tướng lĩnh kháng chiến tài ba để tăng uy tín và thế lực cho nghĩa quân chiến đấu vì độc lập dân tộc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 06:59:28 pm

ĐẠO BINH TRÂU

Một ngày kia, Thiên hộ Dương cùng bộ tham mưu đang bàn việc đánh Tây, bỗng nghĩa quân vào báo: Có một người đàn ông dẫn một bầy trâu đến trước tổng hành dinh xin ra mắt ngài Thiên hộ. Thấy lạ, Thiên hộ Dương cho vào.

Trước mắt ông là một người đàn ông đứng tuổi, cao lớn, da ngăm đen, vai mang mõ, tay chống gậy.

Người ấy nói:

- Thưa ngài Thiên hộ, tôi là dân Đồng Tháp Mười đã ba đời làm nghề nuôi trâu cho mướn. Trâu rừng ở Đồng Tháp ta còn rất nhiều, tôi cứ việc vô bắt đem về dạy dỗ cho thuần rồi cho mướn. Trâu của tôi dùng vào việc gì cũng được: kéo cày, kéo xe, kéo cộ, kéo ghe, móc tràm lụt. Tôi có tới hàng trăm con. Nay tôi đến đây xin hiến kế cùng ngài để dùng trâu đánh Tây.

- Đánh bằng cách nào?

- Trâu của tôi không điều khiển bằng roi, bằng la hét, mà điều khiển bằng mõ. Tiện đây xin mời ngài ra phía trước tôi sẽ điều khiển để ngài xem.

Mọi người theo ông, tất cả đều ngạc nhiên. Trên một bãi cát rộng, hàng trăm con trâu đang nằm phủ phục, đầu hướng về tổng hành dinh. Người ấy không nói gì, lấy mõ ra gõ:

- Cốc! Bầy trâu đồng loạt đứng dậy.

- Cốc, cốc! Trâu quỳ xuống kêu nghé ngọ. Ông nói: Trâu chào các ngài đó!

- Cốc! Bầy trâu đứng lên.

- Cốc, cốc, cốc! Bầy trâu hùng hổ tiến về phía mọi người như nước vỡ bờ.

- Cốc! Bầy trâu dừng lại.

- Cốc cốc cốc! Cốc, cốc, cốc! Bầy trâu quay đầu lại và chạy thật nhanh, ngược chiều với lúc ban đầu.

- Cốc! Cốc cốc cốc! Bầy trâu đứng lại rồi rẽ phải, cứ như thế theo hiệu lệnh tiếng mõ, bầy trâu lúc rẽ trái, lúc tiến lên, lùi lại trước sự thán phục của Thiên hộ Dương và bộ tham mưu.

- Cốc, cốc, cốc! Cốc, cốc, cốc! Bầy trâu quay về chỗ cũ phủ phục như trước.

Mọi người vỗ tay khen ngợi.

Ông nói:

- Nay tôi hiến bầy trâu này cho ngài để góp sức vào việc đánh đuổi bọn Tây. Bầy trâu được thuần như vậy là do tôi khổ luyện bấy lâu nay. Xin ngài hãy nhận dùng vào việc lớn.

Thiên hộ Dương mừng rỡ và cảm kích. Ông mời người hiến trâu ở lại để bàn việc đánh Tây.

Mùa khô năm sau, giặc Pháp lại kéo vào tấn công. Ông được cử đi tiên phong để ngăn giặc cũng là làm kế nghi binh.

Ông điều đoàn trâu xung trận như thả trâu đi ăn thường ngày. Đầu đội nón lá, vai đeo mõ, tay cầm gậy; không vũ khí gì hết, ngất ngưởng trên lưng con trâu đầu đàn.

Bọn giặc thấy đàn trâu đông quá, sinh nghi, ông vẫn bình tĩnh chờ giặc đến gần.

Bỗng một tiếng cốc vang lên, rồi ba tiếng nữa tiếp theo. Bầy trâu như một bức tường ào ạt xông vào đội hình bọn giặc, chúng trở tay không kịp. Số bị trâu đạp, số bị chém, bọn còn lại chạy tạt sang hai bên.

Theo hiệu lệnh tiếng mõ, bầy trâu chia làm hai, xua giặc rơi vào ổ phục kích của nghĩa quân. Ông lúc ngồi trên mình trâu để quan sát trận địa, lúc chạy dưới đất để tránh đạn.

Khi bọn giặc sa vào trận địa mai phục, ông thu quân lại. Bọn giặc lớp sụp hầm chông, lớp rơi vào bãi địa lôi, lớp bị bắn tan tác tìm đường thoát lui.

Đợi đến lúc này, ông cho trâu rượt nà một lần nữa, bọn sống sót chạy bán sống bán chết không dám quay trở lại.

Trận này nghĩa quân thắng lớn, ông được Thiên hộ Dương phong là Ngưu quân Thượng tướng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 07:02:06 pm

2. GIAI THOẠI VỀ CÁC THỦ LĨNH NGHĨA QUÂN ĐỒNG THÁP MƯỜI

ÔNG THỐNG LINH

Ông là người quê ở thôn Mỹ Ngãi, huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường trước đây, nay thuộc phường 1, thị xã Cao Lãnh, sinh ra trong một gia đình nông dân, lễ giáo.

Ngay từ nhỏ, ông đã tỏ rõ khí phách anh hùng. Trong những cuộc giao du, đàm luận với bạn bè, ông thường biểu lộ tính kiên cường, chính trực, hay bênh vực kẻ yếu, thế cô. Ông thường nói với bạn hữu: "Thà chết vinh còn hơn sống nhục". Năm 22 tuổi, ông lập gia đình, cuộc sống ấm êm nhưng không làm ông sao lãng việc trau dồi văn chương võ nghệ, chờ có cơ hội giúp dân giúp nước.

Sau khi triều đình ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862) nhường 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho thực dân Pháp, chúng kéo quân đến vùng Cao Lãnh tiến hành công việc bình định chiếm đóng. Lập tức, ông đứng ra quy tụ thanh niên trai tráng trong vùng luyện tập võ nghệ trang bị vũ khí tự tạo... hình thành đội nghĩa dũng bí mật ngày đêm rình rập theo dõi hành tung của giặc, hễ có cơ hội là diệt chúng, làm cho giặc hoang mang ngay từ buổi đầu mới chiếm đóng. Nhưng với lực lượng nhỏ, vũ khí lại thô sơ, kết quả mang lại không như ông mong muốn.

Giữa năm 1863, Thiên hộ Võ Duy Dương từ Ba Giồng (Cai Lậy) mang nghĩa quân vào Đồng Tháp Mười xây dựng đồn lũy, lập căn cứ, truyền hịch chiêu mộ nghĩa sĩ, ông liền đem lực lượng của mình đặt dưới quyền chỉ huy của Thiên hộ và hiến nhiều kế sách cho việc xây dựng, phát triển lực lượng nghĩa quân. Trong giai đoạn xây dựng căn cứ, ông và Đốc binh Kiều là hai bộ tướng phụ tá đắc lực của Thiên hộ Dương trong việc chiêu mộ nghĩa quân và vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến. Vùng hoạt động của nghĩa quân Đồng Tháp Mười ngày một mở rộng, nghĩa quân chủ động tiến công giặc nhiều nơi. Nguyễn Văn Linh được giao thống lĩnh một đạo nghĩa quân phụ trách hoạt động vùng Cao Lãnh nên trong quân cũng như ngoài dân thường gọi ông là Thống Linh. Hoạt động của ông làm cho giặc Pháp trong vùng mất ăn mất ngủ nhưng chúng không sao đàn áp nổi. Để đối phó, chúng phải sử dụng hai tên tay sai khét tiếng: cai Lộc (tức Trần Bá Lộc, sau thăng lên tổng đốc) và nhất là quản Khanh (tức Phạm Văn Khanh), vốn là người làng Mỹ Trà có quen biết với Thống Linh trước đây và có thời gian y tham gia lực lượng nghĩa quân. Bọn này thường xuyên rình rập theo dõi hoạt động của ông.

Một hôm trên đường lo việc quân cơ, tiện đường ghé qua thăm gia đình, bị chúng theo dõi, phục kích ông và hai người bạn chiến đấu là Thống Bình và Thống Chiếu bị bắt tại thôn Phong Mỹ, đem về chợ Ông Chánh (tức chợ Mỹ Ngãi sau này) giam giữ với thâm ý dùng tình cảm gia đình để lung lạc lòng yêu nước của ông. Suốt ngày đêm, bọn Lộc - Khanh hết dụ dỗ đến hăm dọa nhưng không lay chuyển được ý chí sắt đá của người anh hùng. Cuối cùng, chúng ra tay hành quyết ông cùng với Thống Bình, Thống Chiếu tại chợ Mỹ Ngãi. Trước khi đầu lìa khỏi cổ, ông vẫn bình tĩnh ngâm hai câu thơ:

      "Rất tiếc thù chung chưa trả đặng,
      Sụt sùi chín suối dễ nào nguôi".


Khi đầu rời khỏi cổ, mắt ông vẫn trừng trừng nhìn bọn giặc làm nhiều tên khiếp vía.

Để tưởng nhớ công lao và khí phách của những anh hùng vì nước hy sinh, dân làng lập miếu thờ 3 ông, nhưng để che mắt giặc, ngôi miếu được ngụy tạo dưới hình thức một ngôi chùa thờ Quan đế Thánh quân và nhân dân vẫn quen gọi là chùa Ba Ông. Hậu thế có bài thơ truyền tụng:

      Lịch sử nêu gương cụ Thống Linh,
      Trung can vì nước đã quên mình.
      Giận người sống mất suy ra nhục,
      Thương kẻ thác còn nghĩ lại vinh,
      Bao tiếng ngọt ngon lòng chẳng núng.
      Lắm lần hăm dọa chí không kinh,
      Ngâm câu ly, hận cười người phản,
      Quốc vận từ đây phú hậu sinh.


Về ngày mất của ông, theo các tài liệu trước đây là ngày 7 tháng 7 năm 1862. Điều này e ra chưa chính xác. Vì ngày 7 tháng 7 là ngày giỗ, tức là theo âm lịch; còn năm là năm dương lịch (1862) thì lúc ấy, thực dân Pháp chưa chiếm đóng vùng Cao Lãnh. Đến năm 1863, thực dân Pháp mới chính thức đưa quân đến Cao Lãnh và bằng nghị định ngày 3 tháng 6 năm 1865, chúng mới quyết định thành lập khu thanh tra Cần Lố. Do đó, thời điểm Hy sinh của Nguyễn Văn Linh chỉ có thể xảy ra trong khoảng từ 1863 đến 1865. Năm hy sinh của Nguyễn Văn Linh có thể là năm 1865 (theo âm lịch là năm Ất Sửu), vì lúc bấy giờ chúng mới thiết lập bộ máy bình định, đàn áp nghĩa quân. Lấy ngày giỗ ông theo âm lịch (7-7 năm Ất Sửu) thì ngày hy sinh của ông theo dương lịch là ngày 28 tháng 8 năm 1865.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Hai, 2017, 07:02:56 pm

LÃNH BINH MIÊN

Ông Trương Tấn Minh, tên tục là Miên, sinh tại làng An Bình (nay thuộc huyện Cao Lãnh) trong một gia đình khá giả, học thức rộng. Lúc trưởng thành, lập gia đình riêng, được cha mẹ hỗ trợ tiền bạc, chia cấp ruộng đất; ông chí thú làm ăn buôn bán, trở thành một trong những người giàu có trong làng, đời sống vợ con sung túc.

Lúc bấy giờ, thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ, binh đội triều đình chống không nổi, phải ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862) nhường 3 tỉnh miền Đông: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho chúng. Năm đó, ông tròn 30 tuổi, thấy không thể tiếp tục sống yên vui khi giặc ngoại xâm giày xéo quê hương, ông cùng một người bạn chí thân đứng lên chiêu mộ nghĩa dũng, lấy của nhà ra nuôi quân, sắm sửa vũ khí, hoạt động chống Pháp ở vùng Cao Lãnh gây nhiều khó khăn cho giặc trong công cuộc bình định của chúng. Về sau do có sự chia rẽ trong nội bộ, ông rút lực lượng của mình vào Đồng Tháp Mười hợp tác chiến đấu với nghĩa quân Thiên hộ Võ Duy Dương. Được biết ông là người địa phương, lại là người có nhiều mưu lược, can đảm, khéo léo trong việc điều binh nên Thiên hộ Dương giao cho ông nhiều trọng trách. Nhiệm vụ nào ông cũng hoàn thành nên ông được phong chức lãnh binh. Từ đó, nghĩa quân thường gọi ông là Lãnh binh Miên.

Tháng 4 năm 1866, thực dân Pháp mang đại quân triệt hạ căn cứ Tháp Mười. Khi nghĩa quân rút sang Cao Miên, trên đường đến Tây Ninh hợp tác với nghĩa quân Trương Quyền, ông được lệnh ở lại xây dựng cơ sở cho công cuộc chiến đấu sau này. Lực lượng của ông thường xuyên bị giặc bao vây, truy lùng ráo riết; song do am tường địa hình nên ông đã khéo léo chỉ huy nghĩa quân thoát vòng vây, rút sang Cao Miên ẩn náu chờ đợi thời cơ.

Tình hình càng lúc càng không thuận lợi cho nghĩa quân. Khi hay tin Thiên hộ Dương tử nạn ở Cần Giờ, nghĩa quân ngày một suy yếu... rồi tan rã, ông trở về nước, sống ẩn dật trong chùa Thanh Lương cổ tự ở quê nhà cho đến lúc qua đời. Thi hài ông được an táng vội vã, đơn sơ gần chùa để tránh sự theo dõi của giặc (nay thuộc ấp An Lạc, xã An Bình, huyện Cao Lãnh).

Trải bao năm tháng, đến nay mộ ông vẫn là một nấm đất thấp, thường bị cỏ, lúa che khuất.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:41:20 pm

ÔNG TIỀN HIỀN Ở LÀNG HÒA AN

Ông tên là Trần Trọng Khiêm (1821-1866), người làng Xuân Lũng, huyện Sơn Vi, tỉnh Phú Thọ. Lúc nhỏ nổi tiếng thông minh hay chữ nhưng ông không chọn con đường khoa cử vì anh ruột cũng do khoa cử mà rơi vào cảnh tù đày. Năm hai mươi tuổi, ông lấy vợ và theo nghề buôn gỗ, có điều kiện giao dịch với thương nhân Hoa kiều ở Bạch Hạc (Việt Trì), Phố Hiến (Hưng Yên). Năm 1843, vợ ông bị tên cai tổng thủ tiêu vì y không lấy được bà. Ông giết tên cai tổng để trả thù cho vợ rồi trốn xuống Hưng Yên làm ăn.

Tại đây, ông vào làm thủy thủ cho một tàu buôn nước ngoài nên có dịp đi Hương Cảng (Trung Quốc), Hà Lan, Anh... Cuối cùng khoảng năm 1850, ông đến Hoa Kỳ. Ông bỏ nghề thủy thủ, gia nhập vào đoàn người đi tìm vàng ở miền Viễn Tây - Hoa Kỳ. Chán ngán cuộc sống hỗn độn, trụy lạc, cướp bóc của bọn người tìm vàng, ông trở về California làm nhân viên cho tòa soạn báo Daily Evening (Thời báo buổi chiều). Năm 1854, lại chán cảnh vô chính phủ ở California, nhân có chuyến tàu ông quay về Hương Cảng nhập quốc tịch Trung Quốc.

Năm 1855, ông về nước và cư trú ở miền Nam. Vào thuở ấy, miền Nam, nhất là đồng bằng sông Cửu Long, dù đã được khai phá nhưng nhiều nơi vẫn còn hoang vu, ông cùng vài người bạn đứng ra khai hoang góp phần lập nên làng Hòa An thuộc tổng An Tịnh, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang, giáp ranh với làng Mỹ Trà (thuộc huyện Kiến Phong, phủ Kiến Tường, tỉnh Định Tường).

Năm 1862, trước áp lực quân sự của thực dân Pháp, triếu đình Tự Đức nhường 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường cho chúng. Năm 1863, ông cùng Thiên hộ Võ Duy Dương xây dựng căn cứ ở Gò Tháp nằm trong Đồng Tháp Mười. Ông là người thiết kế các công sự chiến đấu mô phỏng theo kiểu của các đồn canh ở Mỹ do một đại úy (sau được chính phủ Hoa Kỳ phong đại tướng) tên Suter xây dựng ở California, gọi là đồn Suter. Sau đó, ông được Thiên hộ Dương giao chỉ huy một đội nghĩa quân, đánh thắng Pháp nhiều trận ở Mỹ Trà, Cao Lãnh, Cai Lậy...

Tháng 4 năm 1866, Pháp mang đại quân tấn công đại đồn Tháp Mười, ông chiến đấu quyết liệt và tử trận lúc 45 tuổi. Trước khi nhắm mắt, ông khuyên nghĩa quân hãy chiến đấu đến cùng và dặn vợ nuôi con, đừng hợp tác với giặc. Thi hài ông được nghĩa quân chôn cất tại Gò Tháp và có câu truy niệm:

"Hỡi ơi! Lòng trời không tựa, tấm gương tiết liệt vì nước quyên sinh; chí khí nêu cao, tinh thần Nùng Nhị còn lưu truyền hậu thế".

Sau khi ông qua đời, nhớ công lao góp phần khai phá lập làng Hòa An nên dân sở tại tôn ông là Tiền hiền của làng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:42:11 pm

CHUYỆN ÔNG CẢ HUY

Đến nay chưa có tư liệu nào để biết rõ về dòng dõi và quê quán của cụ Huỳnh Công Huy. Có dư luận cho rằng cụ thuộc dòng dõi họ Bùi và tên là Bùi Quang Huy, có quan hệ thân tộc với Bùi Quang Diệu tức quản Là hay Đốc binh Là tức Thống binh Là. Có thể cụ thay đổi họ lúc nghĩa quân tan rã.

Tháp Mười vào năm 1864 là trung tâm kháng chiến của Nam Kỳ, bên cạnh việc xây dựng lực lượng quân sự để tiêu diệt kẻ thù, Thiên hộ Dương còn hình thành bộ máy chính quyền kháng chiến, ông phong cho Bùi Quang Diệu làm tổng đốc tỉnh Gia Định và cụ Huy phụ trách quản đốc quân lương.

Với chức vụ mới đầy trọng trách, lo sao có đầy đủ lương thực cho trên dưới 1.000 nghĩa quân, cụ Huy đã cùng với các quan trong bộ phận quân lương ngày đêm xuôi ngược khắp hai miền Đông, Tây Nam Kỳ để tuyên truyền vận động thu mua lúa gạo. Từ căn cứ Tháp Mười, theo các con đường gạo chính: Một là con đường ra Cái Nứa theo hướng trổ ra Quan Cư (nay là xã Hậu Mỹ, Cái Bè) đến Xoài Tư (nay thuộc xã Mỹ Thành Nam, Cai Lậy). Con đường thứ hai từ Tháp Mười theo hướng tây bắc lên Mộc Hóa, xuyên qua rộc Đìa Gừa (rộc Đìa Gạo) qua làng Hậu Thạnh Đông (nay là xã Tân Thạnh, Long An). Cuối cùng là con đường huyết mạch hơn hết, đó là con đường từ Tháp Mười theo hướng tây nam ăn ra rạch Cần Lố; nay còn lại tên đường Thét, gợi cho hậu thế hình ảnh một con đường thẳng từ ngọn Trà Bông (đường Gỗ) đến Bàu Tiên - Động Cát; từ đây vào Tháp Mười có các con lung, nay còn hiện rõ...

Dưới sự chỉ huy điều động của cụ Huy, đội quân lương đã vượt qua mọi khó khăn bất trắc từ khâu tuyên truyền vận động thu mua, vận chuyển, tiếp tế ra mặt trận, đến các đồn lũy xa xôi; vượt qua sự ngăn chặn, rình rập, phục kích của giặc để mang lương thực đến tận chiến trường phục vụ chiếu đấu nên cụ rất được chủ tướng Thiên hộ Dương và anh em nghĩa quân hết lòng tin tưởng.

Đến tháng 4 năm 1866, thực dân Pháp tập trung đại quân tấn công căn cứ Tháp Mười. Cụ Huy cùng đội quân lương vừa chiến đấu, vừa tiếp tế, vừa bảo vệ lương thực. Đến khi Thiên hộ Dương quyết định bỏ căn cứ Tháp Mười, rút lui về để bảo toàn lực lượng cụ được lệnh phải gấp rút mang một số lương thực tối đa có thể mang được, rút đi trước lên vùng biên giới.

Khi nghĩa quân tan rã, cụ Huy không về xứ, vẫn ở lại Sa Rày; cụ ra lệnh giải tán đội quân lương, khuyên nghĩa quân nên về quê quán làm ăn, không cộng tác với giặc, giữ vững lòng trung thành với Tổ quốc, chờ đợi thời cơ. Có một số nghĩa quân không về làng cũ mà tình nguyện ở lại với cụ. Trong số nghĩa quân đó có các ông Hồ Cường, Phan Hổ, ông Bua (không nhớ họ)... Sau khi thành lập làng Tân Thành, ông Hồ Cường được cử giữ chức câu đương (lo việc tố tụng, tranh chấp nhỏ trong làng) nên được gọi là Câu Cường; ông Bua và Phan Hổ giữ chức hương tham nên được gọi là Tham Bua, Tham Hổ. Riêng Tham Bua, có lẽ ông là người có công trong việc khai phá thành lập nên ấp Thi Sơn ngày nay nên tên của ông đã biến thành địa danh (ấp Tham Bua), tên một số ấp của làng Tân Thành ngày trước.

Để có lúa gạo bảo đảm cuộc sống lâu dài cho số nghĩa quân tình nguyện ở lại, cụ Huy hô hào họ phá hoang rừng bụi hai bên rạch Thông Bình để làm ruộng, về sau chiêu mộ thêm lưu dân từ các nơi khác đến. Lúc bấy giờ vùng này còn hoang vu, dân cư thưa thớt, phần lớn chỉ tập trung chung quanh Thông Bình.

Làng Tân Thành chính thức ra đời vào khoảng năm 1870 thuộc tổng An Phước, quận Hồng Ngự, tỉnh Châu Đốc; dân làng cử cụ Huy làm hương cả. Khi mới thành lập, làng Tân Thành rất rộng bao gồm cả huyện Tân Hồng ngày nay (chỉ trừ xã Bình Thạnh).

Sự ra đời của làng Tân Thành là công lao của toàn dân làng, trong đó phải kể đến công lao to lớn của cụ Huỳnh Công Huy. Theo truyền thống thì tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ; ở đây, cụ Huỳnh Công Huy vừa khai khẩn lại vừa khai cơ nên sau khi qua đời, cụ chẳng những được dân làng thờ với tư cách là Tiền hiền trong chánh điện của đình làng mà còn lập miếu thờ riêng gọi là miếu Tiền hiền. Trải qua bao năm tháng chiến tranh, đạn bom tàn phá, đình và miếu thờ cụ vẫn được trùng tu, ngày đêm khói hương không dứt.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:43:19 pm

NGƯỜI PHỤ NỮ ĐỒNG THÁP (HAY SỰ TÍCH VÀM BÀ BẦY)

Khi xưa, sông Cần Lố đổ nước vào sông Tiền tại vàm Doi Me. Cách đây hơn một trăm năm, trước khi đổ nước vào sông Tiền, sông Cần Lố đổ vào rạch Cái Sao Thượng ở tại vàm Bà Bầy.

Tên gọi vàm Bà Bầy được bắt nguồn từ một sự tích sau đây:

... Thiên hộ Dương chẳng những có tài thao lược mà còn có tài chiêu tập tuyển mộ nghĩa quân. Trong hàng ngũ nghĩa quân Tháp Mười, ngoài người Việt còn có người Hoa, lính đào ngũ người Tagals, người Pháp, đặc biệt còn có đội nữ binh chuyên lo việc thông tin liên lạc và tiếp tế.

Để đàn áp công cuộc kháng chiến của nghĩa quân Đồng Tháp Mười, bước đầu giặc Pháp đánh chiếm đồn Doi, thiết lập khu tham biện Cần Lố (thường gọi là Trường án Cần Lố) đóng trụ sở tại vàm Doi Me. Tại đây chúng kiểm soát, chế ngự mọi hoạt động của nghĩa quân và sự đi lại của nhân dân giữa Cao Lãnh và Đồng Tháp Mười. Từ Đồng Tháp Mười ra Cao Lãnh chỉ có con đường qua vàm Cần Lố nhưng không vì thế mà nghĩa quân chùn bước. Phải có con đường khác bằng bất cứ giá nào. Sông Cần Lố, chỗ vàm Bà Bầy bây giờ chỉ cách rạch Cái Sao Thượng bởi mấy con mương trong vườn cau của bà Bầy. Như biết được tầm quan trọng của mấy con mương trong vườn nhà mình đối với con đường giao thông huyết mạch này, nên bà Bầy cho nghĩa quân sử dụng nó để làm con đường nối liền giữa sông Cần Lố và Cái Sao Thượng. Mỗi khi ghe xuồng nghĩa quân đi qua rồi, bà tìm cách xóa dấu vết. Do xuồng ghe qua lại nhiều lần, con mương lở rộng và ngày một sâu thêm bởi nước sông Cần Lố đổ mạnh vào.

Chẳng bao lâu, con mương trong vườn cau bà Bầy trở thành một phần của sông Cần Lố và nhà bà là một trạm liên lạc.

Khi giặc Pháp phát hiện ra đoạn sông mới này, chúng thường xuyên mang quân phục kích. Một hôm, chúng được tay sai mật báo sẽ có một toán nghĩa quân dùng xuồng di chuyển qua đây. Nhưng khi chúng đến nơi thì chỉ còn kịp thấy thấp thoáng vài bóng người ẩn hiện dưới tán cây.

Chúng đuổi theo bắt nhưng họ nhanh chân trốn thoát. Chúng liên bắt bà Bầy đánh đập, tra khảo tàn nhẫn hòng tìm ra tung tích nghĩa quân. Nhưng bà Bầy cắn răng chịu đau đớn không hé nửa lời. Sau một hồi tra tấn không kết quả, chúng thay nhau hãm hiếp, rồi mang bà về Trương án Cần Lố chém bêu đầu.

Khúc sông mới ngày một rộng dần. Để ghi nhớ câu chuyện thương tâm về tấm lòng kiên trung bất khuất của người phụ nữ Đồng Tháp Mười, dân chúng lấy tên bà đặt cho ngã ba sông này. Tên vàm Bà Bầy bắt đầu từ đó.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:44:01 pm

BÀ BƯỚM

Ngày xưa, ở thôn Hòa An (phủ Tân Thành, An Giang) có một bá hộ, ông ăn ở rất nhân hậu. Gia đình hiếm con, chỉ có một người con gái. Nàng duyên dáng mặn mà, đã đến tuổi cập kê nhưng không chịu lấy chồng.

Nàng giống tính cha, dù là con gái bá hộ, song nàng sống chan hòa thân ái với bà con tá điền và thường hay giúp đỡ những người nghèo khó. Nàng rất yêu thích hoa, cây kiểng, hễ có giờ rảnh là nàng thơ thẩn trong vườn hoa trước nhà, vì vậy bà con thường gọi nàng là Bướm.

Một hôm, có một đoàn thương lái lỡ đường, ghé nhà xin một bữa cơm. Trong đó, có một thanh niên diện mạo khôi ngô, vạm vỡ, cốt cách oai phong như một vị tướng. Thấy đây không phải là đám lái buôn bình thường, ông bá hộ cho mời vào nhà hậu đãi cơm rượu tử tế và gọi nàng Bướm ra hầu rượu.

Cơm nước xong, chàng thanh niên ấy đứng lên cảm ơn và xin được hoàn lại tiền cơm. Ông bá hộ ngăn lại, đoạn bảo nàng Bướm lấy ra một túi bạc và nói:

- Theo chỗ lão xét đoán thì ngài không phải là lái buôn mà là tráng sĩ đang lo việc dân việc nước. Tráng sĩ đã dám hy sinh đời mình cho đại cuộc, há lại không cho lão góp phần mình vào việc chung hay sao. Nhân đây xin cho lão được góp phần nhỏ mọn - vừa nói ông vừa để túi bạc lên bàn - và còn một điều...

Sau một thoáng ngạc nhiên, người lái buôn trả lời:

- Quả thật cụ có đôi mắt tinh đời. Chúng tôi là nghĩa quân của ngài Thiên hộ... Tôi xin thay mặt nghĩa quân nhận số bạc và hết sức cảm ơn nghĩa cử hào hiệp của cụ.

- Chẳng hay quý danh tráng sĩ là chi?

- Tên tôi là Kiều, họ Nguyễn.

- Té ra tráng sĩ là ngài Đốc binh Kiều. Thật là vạn hạnh cho lão. Nghe tiếng tráng sĩ đã lâu, hôm nay lão mới được diện kiến. Bây giờ lão xin nói tiếp ý của lão. Số là lão chỉ có mỗi một mụn con gái đây, nhiều thanh niên trong vùng ngấp nghé nhưng nó chưa ưng đám nào. Xin tráng sĩ nhận làm thê thiếp, cho nó có dịp nâng khăn sửa túi bậc anh hùng.

- Thưa lão gia, tôi xin cảm ơn lòng tốt của lão gia một lần nữa. Còn về việc đó, cho tôi xin thất lễ vì tôi đã có hiền nội ở nhà. Hơn nữa, chốn lửa đạn có nữ nhi kề bên e bất tiện.

- Lão không nề hà con gái lão là vợ chánh hay vợ thứ, miễn sao nó được theo hầu hạ kẻ anh hùng là được. Còn chừng nào làm lễ thành thân, tùy tráng sĩ định liệu. Hôm nay coi như ngày đính ước, xin tất cả các vị có mặt ở đây vui lòng chứng giám cho.

Thấy không thể từ chối được, Đốc binh Kiều nhận lời rồi từ biệt lên đường.

Từ đó, nàng Bướm tự coi mình là gái đã có chồng. Ít lâu sau, được tin Đốc binh Kiều tử trận ở Gò Tháp, nàng không vật nài kêu khóc mà lặng lẽ chít khăn, lập bàn thờ chồng. Mãn tang dù tuổi còn đang độ thanh xuân nhưng nàng từ chối bước một bước nữa mà ở vậy thủ tiết với chồng cho đến lúc qua đời.

Tấm lòng nhân hậu và trung trinh tiết liệt của nàng được bà con ca ngợi, làm gương ở đời và con rạch chảy qua vườn nhà nàng được gọi là rạch Bà Bướm từ thuở đó.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:45:00 pm

KẺ PHẢN BỘI

Quản Khanh tên thật là Phạm Văn Khanh, con ông Phạm Văn Giai, người thôn Mỹ Trà, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường. Thuở nhỏ chuộng học võ nghệ hơn văn chương chữ nghĩa. Khi trưởng thành, Khanh nhập ngũ, nhờ giỏi võ nên chẳng bao lâu Khanh được phong chức ban biện suất đội, nắm đội 1 của cơ đồn điền Tường Võ, một trong 6 đồn điền của Định Tường hồi ấy.

Sau khi giặc Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, chúng giải tán các đồn điền của triều đình. Hầu hết các lính đồn điền đều gia nhập lực lượng nghĩa quân. Phạm Văn Khanh dẫn lính đồn điền của mình gia nhập vào lực lượng nghĩa quân Đốc binh Kiều. Đến khi Thiên hộ Dương và Đốc binh Kiều hợp nhau xây dựng căn cứ Gò Tháp, thấy Phạm Văn Khanh là người địa phương am tường đường đi nước bước, quen biết nhiều nên Thiên hộ Dương giao nhiệm vụ vận lương, tiếp tế cho nghĩa quân. Lúc đầu, Khanh hết lòng phục vụ nghĩa quân. Lương thực vũ khí quyên góp được tập trung tại đồn Doi (vàm Cần Lố), rồi theo ngả sông Cần Lố, qua đường Gỗ, Trà Bông, đường Thét tới Ba Sao, Bàu Tiên, Động Cát... Khanh đưa vào đồn Ổ Bịp đến Gò Tháp.

Khanh được Thiên hộ Dương và Đốc binh Kiều rất tin cậy. Do thường xuyên ra vào vùng giặc đóng, Khanh bị giặc dụ dỗ mua chuộc, y đưa cả đội vận lương ra đầu hàng giặc nhưng phần lớn đều tìm cách trốn thoát về với nghĩa quân. Lúc đầu, giặc chưa tin y lắm. Sau nhờ có Ba Tường (Tôn Thọ Tường) nên Khanh được giặc cho chỉ huy đám lính làng ở thôn Mỹ Trà. Để được giặc tin cậy, y tập hợp một số tay sai khác như đội Mên, bá hộ Cư (Đinh Văn Cư) ra sức lùng sục, bắt bớ những người ủng hộ tiếp tế cho nghĩa quân. Thiên hộ Dương đã nhiều lần cho người ra khuyến cáo nhưng không có kết quả, đành hạ lệnh thủ tiêu y để giảm bớt thiệt hại cho nghĩa quân.

Qua theo dõi, nghĩa quân biết được Khanh có người vợ nhỏ ở tại chợ Câu Lãnh và y thường ngủ đêm tại đây. Vào một đêm trời hơi lạnh, Khanh khoác thêm cái áo bành tô trắng đến nhà vợ nhỏ. Đến khuya, nghĩa quân lẻn vào, nhằm người mặc áo trắng mà giết. Nhưng may mắn cho y là khi vào nhà, y cởi áo khoác ra mắc lên giá, một lúc sau y ra về mà nghĩa quân không hay. Khi đi ngủ, vợ nhỏ y lấy cái áo đó mặc vào nên bị nghĩa quân giết lầm. Từ đó y càng căm thù nghĩa quân và càng ra sức chống phá hoạt động của nghĩa quân.

Tháng 6 năm Ất Sửu (1865), Thiên hộ Dương cho nghĩa quân tấn công đồn Mỹ Trà. Khanh chỉ huy đám tay sai và bọn lính làng chống trả kịch liệt. Y bị nghĩa quân tóm được nhưng y gặp may nhờ đồng bọn cứu thoát. Sau trận này, y được giặc phong chức quản bộ đạo và được ân thưởng một mề đay bằng vàng có khắc mấy chữ quản bộ đạo Phạm Văn Khanh. Khanh lấy đó làm tự hào.

Tháng 10 năm đó, y vâng lệnh quan thầy, chỉ huy một cánh quân dẫn đường tấn công vào căn cứ Gò Tháp. Khanh ra lệnh sung công ghe cộ của dân chúng ở các làng Mỹ Trà, An Bình, Mỹ Thọ... rồi cột lòi tói (xích sắt) vào trâu bắt trâu kéo chở lính hành quân. Nhưng đến Động Cát nước quá cạn, trâu kéo không nổi phải trú quân lại. Giữa cảnh nắng cháy da, trên muỗi, dưới đỉa, lại bị nghĩa quân bắn tỉa nên chúng đành phải lui quân. Ghe cộ của dân mà chúng vứt bỏ tứ tung, không trả, chiếc mòn đáy, chiếc sạt be, gãy cong... không dùng được nữa.

Tháng 3 năm 1866, tên thủy sư đô đốc Bạc Má (tức De Lagrandière) từ Pháp sang Việt Nam, quyết tâm tiêu diệt căn cứ Tháp Mười. Giặc tập trung quân tấn công bằng 3 mũi. Biết Khanh am tường đường đi vào Đồng Tháp Mười, giặc cho y hướng dẫn cánh quân từ Cần Lố vào. Qua sự chỉ huy của Khanh, giặc lần lượt chiếm được đồn Sa Tiền, đồn Tiền, đồn Ổ Bịp rồi tổng hành dinh Gò Tháp sau khi nghĩa quân rút lui...

Do những thành tích đó, Phạm Văn Khanh chẳng những được chủ Tây thưởng mề đay mà còn được tặng một ngàn quan. Nhưng trời bất dung gian, mấy năm sau đó, Khanh bị quan phòng vệ của Thiên hộ Dương là Nguyễn Văn Biểu (tức Phòng Biểu) bắt chém tại đình Tân Yên (Tân An), Cao Lãnh. Mộ y được xây uy nghi giữa chợ Cao Lãnh, có cả bia công đức nhưng đến tháng 8 năm 1945, bia công đức bị dân chúng đục bỏ và ngôi mộ bị phóng uế...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:46:04 pm

THÀ CHẾT CHỨ KHÔNG LÀM NÔ LỆ

Lúc Thiên hộ Dương về Tháp Mười lập căn cứ chống giặc Tây xâm lược, ông truyền lệnh khắp nơi, kêu gọi sĩ phu ra giúp nước.

Ông Đà và ông Dật lúc nhỏ cùng học một trường, hai nhà gần nhau, lớn lên cùng học một thầy và cùng đậu tú tài như nhau.

Thế mà ông Đà lại theo giặc, còn ông Dật lại gia nhập vào hàng ngũ nghĩa quân chống giặc dưới trướng ngài Thiên hộ Dương ở Đồng Tháp Mười.

Ông Dật được ngài Thiên hộ Dương phái ra Cao Lãnh chiêu mộ nghĩa dũng và nhân tiện do thám tình hình hoạt động của giặc do tên đội Coursy điều khiển. Ra vùng giặc chiếm, ông Dật dùng sự hiểu biết của mình giao thiệp cùng các nhà ái quốc và nhờ người giới thiệu cho ông những sĩ tử ẩn dật trong vùng, công việc đang tiến hành thì ông bị bắt.

Hay tin ông Dật bị bắt, ông Đà đến nói với tên Coursy cho ông đến khuyên dụ ông Dật quy hàng. Với đường lối mua chuộc hơn khủng bố, tên Coursy cho ông Đà trọn quyền hành động để có thể khuyến dụ ông Dật.

Chỗ giam ông Dật là một nơi đặc biệt tại nhà ông Thông Tri, có người phục dịch cơm nước, rượu trà. Ông Đà đến nơi giả vờ hối tiếc rằng ông không hay để cho ông Dật bị những ngày lao lung, buồn khổ.

Ông Dật mỉm cười đáp: Đã là chiến sĩ thì lao lung, gian khổ là sự thường, là phần thưởng danh dự, đâu phải là đáng buồn.

Vì chưa biết ông Đà theo giặc nên ông Dật hỏi ông Đà ở đây làm gì, ông Đà liền ngâm bài thơ vịnh cuộc đời mình:

      Lỡ làng chưa trọn phận làm trai,
      Tạm sống cho qua đoạn tháng ngày.
      Trái mắt cũng thôi đành ngậm miệng,
      Đau lòng chịu vậy đã nghiêng tai.
      Về Tào chi xá thân hèn mọn,
      Ở Hán còn bao kẻ trí tài.
      Này nước này nhà hai gánh nặng,
      Xốn xang lòng tớ có ai hay.



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:47:46 pm

Nghe ông Đà ngâm bài thơ, ông Dật hiểu mọi lẽ, bèn ngâm đáp lại:

      Tai ngơ sao được phận làm trai,
      Mấy thuở gây nên được những ngày.
      Thục nữ còn ra giành trách nhiệm,
      Tu mi sao để chịu nghiêng tai.
      Biết Tào nên chẳng ra phò trợ,
      Gặp Hán sao không quyết trổ tài?
      Sóng gió rồi đây trời bể lặng,
      Gìn lòng đâu phải gọi rằng hay.


Bài thơ của ông Dật làm cho ông Đà hơi hổ thẹn. Nhưng một bài thơ đâu đủ làm cho ông ta thức tỉnh.

Ngày tháng dần trôi qua, nhiều phen ông Đà khuyên ông Dật nên theo Tây để được no thân ấm cật nhưng cũng đã bị ông Dật mắng nhiều trận nên thân. Ông Đà căm tức gửi cho ông Dật bài thơ Vịnh con tôm:

      Ỷ mình lớn mắt với râu dài,
      Gan ruột nhà va nõ có đâu;
      Chim chít khoe khoang tài mũi nhọn,
      Sụt sùi núp lén chốn dòng sâu.
      Đánh hơi thấy xác mùi ra miệng,
      Nghe tiếng chài te cứt lộn đầu,
      Còn giọng múa men cơn gặp nước,
      Cực vì ăn chạ mắc xa câu.


Ý của ông Đà chê ông Dật núp lén đánh du kích theo ngài Thiên hộ Dương ở trong bưng sình, muỗi, đỉa, sao bằng ông Đà đàng hoàng đứng bên cạnh chủ Tây, không trốn chui, không sợ sệt.

Xem bài thơ ông Đà, ông Dật buồn cười cho rằng hạng người mãi quốc cầu vinh, quên dòng mất gốc. Ông liền cầm bút họa lại một bài:

      Loài ở lộn bùn cũng mộ râu (?)
      Ngo ngoe nó biết mốc chi đâu!
      Cong lưng cứ ỷ tài đâm bắn,
      Lố mắt không dò ngách cạn sâu.
      Ngoài ủ lom xom càng múa gọng,
      Trong thoi sùi sụt đít co đầu.
      Giỡn rồng xin chớ đừng quen thói,
      Một ngãi là xong mấy tát câu.


Viết xong, ông dặn viên tùy phái của ông Đà: Người đem thơ này về cho chủ của ngươi và nhớ nói ta không muốn chủ ngươi nghĩ đến ta, tốt hơn là nghĩ cách giúp lũ xâm lăng cho mau thăng chức, lên lương mà thôi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:48:49 pm

ÔNG PHÒNG BIỂU - NGƯỜI HỘ VỆ THIÊN HỘ DƯƠNG

Ông Nguyễn Văn Biểu gốc người làng Tân Phú, tổng Kiến Phong, huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường (nay thuộc huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp), là con thứ tám của một gia đình nông dân. Lúc nhỏ có theo học võ nghệ và chữ Nho.

Tương truyền ông có vóc người cao lớn khỏe mạnh, da đen, môi chì, tướng tá bậm trợn, trông rất dữ dằn, ăn rất khỏe, một lúc ăn bằng bốn, năm người bình thường.

Gặp lúc gia đình sa sút, ông phải sinh sống bằng cách làm mướn cho bà con trong làng, khi thì phát cỏ, móc củi tràm lụt; lúc thì chèo ghe, tát đìa, gánh cá...

Đến khi trưởng thành, ông cùng người anh thứ bảy là Nguyễn Văn Phuông theo người cậu về làng Mỹ Thọ (thuộc huyện Cao Lãnh) để kiếm việc làm.

Lúc ban đầu, ở làng Mỹ Thọ, ít có người biết rõ sức khỏe và sức ăn của ông. Một hôm, có người thuê ông và hai người nữa vào Đồng Tháp Mười phát cỏ 5 ngày.

Thấy người chủ mang theo gạo và thức ăn dành cho khoảng thời gian làm, ông bảo phần nào của ông cứ nấu cho ông ăn tại chỗ, khỏi mang theo. Thấy lạ, chủ nhà cũng chiều theo. Nấu nướng xong, ông điềm nhiên ngồi ăn một mạch hết phần ăn 5 ngày của mình rồi xuống xuồng bơi đi. Lẽ ra phải phát cỏ 5 ngày mới xong, đằng này có ông, nên chỉ 3 ngày là xong hết. Có một lần ông đi tát đìa, cá chở bằng xe trâu, vì trời sắp tối mọi người đều mệt mỏi nên tất cả đều ngồi trên xe chứ không đi bộ. Xe nặng bị sụp hố, gãy cốt. Nếu chờ sửa xe xong, cá sẽ sình hết nên mọi người chia nhau gánh cá, riêng mình ông gánh tới 5 giạ. Một lần khác, trên đường đi làm đồng về, gặp hai con trâu lộn nhau. Con yếu thua chạy, con khỏe đuổi theo con kia, thương tích máu me đầy mình. Mấy đứa trẻ sợ con trâu yếu sẽ chết nhưng không biết làm sao, chỉ có nước kêu la om sòm. Thấy vậy, ông liền phóng qua một con rạch nhỏ rộng chừng 5 thước, đuổi theo con trâu khỏe, nắm đuôi kéo lại, con vật đứng chết trân, không nhúc nhích được, chờ con trâu kia chạy xa, ông mới buông.

Người cậu của ông làm nghề đóng cối xay bán dạo. Trong một chuyến đi bán ở Mỹ Tho (Định Tường), do đường xa và thường hay bị nạn cướp bóc nên muốn ông theo vừa chèo ghe vừa bảo vệ tiền bạc. Lúc tới nơi trời đã xế chiều, hai người cho ghe ghé vào một cái ụ có lau sậy chung quanh kín gió để nấu cơm. Ông nghe đâu đây hình như có tiếng binh khí va chạm vào nhau và có tiếng la hét. Hỏi người cậu, mới biết được gần đây có một trường võ bị tập luyện cho số lính mới tuyển của tỉnh. Nghe vậy, ông liền xin phép cậu đến xem cho biết. Người cậu biết ông khỏe lại giỏi võ nghệ, sợ ông ỷ sức gây rắc rối lôi thôi nên dặn chỉ đến xem một chút rồi về nấu cơm.

Ông vâng lời đi một lát rồi trở về, người cậu hỏi:

- Mày đến đó, thấy người ta dạy võ ra làm sao?

- Thưa cậu, họ dạy đủ cả thập bát ban võ nghệ. Không biết các ông quản cơ, lãnh binh thì sao chứ mấy tay đội suất, cai cơ vung đao múa gươm chỉ để đuổi gà, đánh chó chớ làm gì được ai.

- Ấy chết, sao mày lại nói vậy, ở đây gần trường lắm, rủi có người nghe được thì sao?

Không ngờ lúc ấy có một viên đội suất, sau giờ dạy lính luyện tập, ra bờ sông chui vào đám lau tiểu tiện nghe được mấy lời trên, về báo lại các võ quan chỉ huy trường. Lập tức ông bị một viên đội suất và ba người lính xuống tận ghe điệu về trường, làm người cậu sợ điếng hồn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:49:21 pm

Tại trường, các võ quan thấy ông có tướng tá cao lớn đường bệ nên không dám quát nạt, hỏi tại sao ông nói như vậy, ông bình tĩnh trả lời:

- Thưa, tôi thấy sao nói vậy với cậu tôi chớ có thêm bớt chi đâu!

- Thế nhà ngươi có tài nghệ gì mà dám khen chê như vậy?

- Thưa, lúc nhỏ, tôi có học võ vẽ vài ba đường côn đường quyền thôi.

- Thôi được, ta sẽ thử tài nhà ngươi.

Viên đội suất giỏi môn đánh quyền nhất trường được gọi ra. Ông rất bình tĩnh, mặc cho viên đội tấn công tới tấp, ông vừa tránh đòn vừa lùi dần, lùi dần, khi đến một con mương rộng, nhanh như chớp ông chộp lấy thắt lưng của viên đội ném anh ta xuống nước. Khi viên đội vừa chạm nước, ông đã phóng mình qua mương và chộp lấy viên đội như lúc nãy, ném qua bờ bên kia cùng với ông. Viên đội ngơ ngác, cứ tưởng mình sẽ bị nhận chìm xuống nước không ngờ mình mẩy khô ran. Tiếng vỗ tay vang lên như sấm.

Tiếp theo đó, một viên võ quan khác bước ra, tay cầm trường côn, ông cũng được cấp một cây. Viên võ quan này đã xem ông đánh quyền, biết được sức và tài của ông nên để thủ thắng ngay từ lúc đầu, ông ta múa côn ào ào tạo thành một bức tường che kín người và tấn công ông như vũ bão. Ông cũng tránh đòn và không chống trả, đợi đến lúc đối thủ thấm mệt và có sơ hở, ông đập mạnh một côn vào côn đối phương, làm côn gãy bắn ra mấy trượng, hai bàn tay của viên võ quan bị tét, máu tuôn dầm dề. Mọi người vỗ tay không tiếc lời khen ngợi.

Các quan không bắt tội mà còn mời ông ở lại trường để huấn luyện binh sĩ nhưng ông từ chối.

Thấy ông khỏe mạnh, làm lụng siêng năng, tính tình nhân hậu nên một gia đình khá giả có nhiều ruộng đất ở rạch Miễu cũng thuộc làng Mỹ Thọ kêu gả con gái cho. Từ đó, ông thôi đi làm mướn vì phải trông nom ruộng đất cho nhà vợ.

Tới mùa cấy, nhà vợ ông thường cấy một lần 5, 7 chục công cấy nên công việc rải mạ phải cần tới 4, 5 người mới kịp. Vào mùa cấy năm nọ, có một người bạn cờ tướng tâm đắc đến thăm ông mà ông thì có tật mê cờ. Vậy thì sao có thể vừa làm việc vừa hầu cờ với bạn? Ông liền kéo một chiếc ghe có sức chứa 100 giạ lúa vào ruộng, rồi đi đánh cờ, trong khi đó nhạc gia ông cùng mấy anh em vợ chất mạ cho đầy ghe. Sau đó, ông liền nghỉ đánh cờ một chút để kéo ghe mạ đi qua đi lại trong ruộng cho những người kia đứng trên ghe rải mạ cho ông cấy. Chỉ một loáng là hết một ghe mạ. Ông lại tiếp tục đánh cờ... cứ như thế cho đến lúc cấy xong.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:50:15 pm

Khi được tin Thiên hộ Dương kéo quân về lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ để chống Pháp, ông liền từ giã vợ con lên đường gia nhập hàng ngũ nghĩa quân. Nhờ khỏe mạnh, giỏi võ, gan dạ và một lòng với nghĩa quân nên buổi đầu, ông được Thiên hộ Dương chọn làm chỉ huy đội phòng vệ. Vì thế mọi người lúc bấy giờ thường gọi ông là Phòng Biểu hay Phòng Tám (vì ông là người con thứ tám trong gia đình). Từ đó, tiếng tăm ông vang dội khắp vùng Cao Lãnh.

Trong suốt thời gian theo nghĩa quân, ông được Thiên hộ Dương trọng dụng, luôn luôn có mặt bên cạnh chủ tướng. Trải qua bao trận đụng độ đẫm máu với giặc, lúc nào ông cũng tỏ ra là một vị tướng có tài, dốc lòng hy sinh cho đại cuộc.

Qua chiến đấu, tài nghệ ông ngày một được tôi luyện, nhất là tài sử dụng cây thước sắt. Có một lần, trên đường công tác, nhân dân địa phương thỉnh ông dự đám giỗ. Tiệc xong, mọi người yêu cầu ông biểu diễn tài nghệ sử dụng cây thước sắt. Ông bảo đem lại cho ông 30 cây mía lao đường thật to, chắc và thẳng. Ông dùng dây bó gộp lại thật chặt, cột làm 3 đoạn như một khúc cây nguyên, quăng lên, rớt xuống nhiều lần không rơi ra được. Ông tìm chỗ dựng bó mía cho vững, đoạn ông lấy thước sắt ra. Đây là vũ khí ông thường dùng để đánh giặc, nó dài độ một thước rưỡi, bề bản độ bốn phân, bề dày chừng một phân. Ông cầm cây thước trên tay xuống tấn, lấy bộ, rồi huơ cây thước đánh một cái, cạnh bén của cây thước chặt đứt bó mía chẳng khác gì dùng con dao bén mà chặt từng cây một.

Một lần khác trên đường đi công cán, ông vào nhà ông Ba Keo ở làng Mỹ Trà xin một bụng cơm. Thấy ông Ba Kẹo đang xách nước đổ vào 4 cái lu mái đầm (loại lu lớn), ông nói:

- Ông làm ơn vô nhà lo cơm nước cho 5 người ăn, còn nước để tôi xách cho.

Ông Ba Kẹo vào nhà, bảo người nhà làm cơm. Một lát sau, ông Ba trở xuống sông định xách nước tiếp với ông cho kịp nước ròng. Ba Kẹo vô cùng ngạc nhiên thấy ông Phòng Biểu bưng nguyên cái lu nước xuống sông nhận đầy nước rồi bưng lên để y chỗ cũ.

Đến lúc ăn cơm, chỉ thấy có một mình ông chứ không phải năm người, nhưng ông ăn hết nồi cơm lớn dành cho năm người ăn. Đoán được sự ngạc nhiên của Ba Kẹo ông nói:

- Bình thường, tôi cũng ăn như mọi người, nhưng gặp lúc có công việc khẩn cấp phải đi ba bốn ngày, tôi thường ăn trừ hao trước để khỏi mang theo đồ ăn và đỡ phải nấu nướng mất công. Cơm thì có nói gì, chè đậu là thứ ăn dễ ngán bằng trời mà tôi còn ăn được tới... ba chục chén.

Ông Ba Kẹo nói:

- Từ trước đến nay, tôi thường nghe danh ông, hôm nay mới thấy tận mắt, quả là thiên hạ đồn không sai, sức khỏe và sức ăn của ông không kém gì Tiết Nhơn Quý đời Đường bên Tàu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:51:01 pm

Với sức mạnh phi thường và lòng dũng cảm vô biên, lại thêm ý chí can trường quyết tâm kháng chiến cứu quốc, ông Phòng vệ Nguyễn Văn Biểu là một võ tướng lừng danh. Trong các trận đương đầu với địch, ông luôn xông lên phía trước. Ngón thước sắt của ông vung đến đâu bọn giặc Pháp tan đến đó, khiến chúng phải khiếp sợ.

Năm Bính Dần (1866) sau khi Pháp tấn công vào đại đồn Tháp Mười, Thiên hộ Dương giao binh quyền cho Đốc binh Kiều, còn ông thì đi khắp nơi vận động hầu phát triển lực lượng.

Trong thời gian này, ông Phòng Biểu là cánh tay đắc lực của Đốc binh Kiều trong việc xây dựng lại căn cứ và phát triển lực lượng nghĩa quân ở Đồng Tháp Mười. Qua năm sau, thực dân Pháp tấn công vào Đồng Tháp Mười một lần nữa, Đốc binh Kiều bị thương và mất sau đó.

Sau khi chôn cất Đốc binh Kiều xong, ông rút quân qua Sình Lớn về cố thủ ở ngã ba Thông Bình (Tân Thành). Mặc dù với quân số ít, vũ khí thô sơ, hơn nữa lúc bấy giờ thực dân Pháp tập trung càn quét liên miên, nghĩa quân dưới quyền ông đã chiến đấu cầm cự kéo dài suốt bốn năm. Trong thời gian này, đích thân ông đã trừng trị tên tay sai Phạm Văn Khanh để trả thù cho Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều và nhân dân Đồng Tháp Mười.

Sau vụ này, bọn Pháp và Việt gian truy lùng tìm bắt ông ráo riết nhưng không kết quả. Chúng quay sang bắt con cháu ông. Túng thế, ông phải cải họ người con trai duy nhất của ông từ họ Nguyễn sang họ Võ và giao cho bà Nguyễn Thị Chung là cháu gái của ông (lúc bấy giờ đã theo chồng về ở rạch Cái Da xã Nhị Mỹ) trông nom giúp.

Bọn Pháp truy quét ngày một gay gắt. Lực lượng nghĩa quân ngày một hao mòn. Thấy không thể tiếp tục chiến đấu được nữa nên ông ra lệnh cho nghĩa quân giải tán về quê quán làm ăn. Riêng ông phiêu bạt rày đây mai đó thỉnh thoảng có về quê nhà. Trong lòng lúc nào cũng mang mỗi hờn vong quốc.

Bọn Pháp ra sức bình định, thiết lập bộ máy kìm kẹp. Một hôm chúng đi kinh lý trong Đồng Tháp Mười bằng ghe, nước cạn không thể chèo chống được nên chúng huy động dân địa phương kéo ghe cho chúng đi. Trong số dân bị bắt đi kéo ghe có ông Phòng Biểu. Nhờ có sức mạnh phi thường nên ông kéo ghe đi rất mau, bọn chúng thích chí bắc ghế trước mũi ghe ngồi vắt chân chữ ngũ mặt vênh váo ngắm cảnh nhìn trời. Bất ngờ ông kéo mạnh một cái ghe chao đảo hất bọn chúng xuống sông. Còn ông nhanh chân phóng mất.

Từ đó về sau, ông sống ẩn dật. Ông mất năm 1914, thọ 84 tuổi. Phần mộ của ông hiện ở xóm Giồng, rạch Cao Miên thuộc xã An Bình, huyện Cao Lãnh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:52:11 pm

ÔNG PHÒNG BIỂU TRỊ PHẠM VAN KHANH

Sau khi giặc Pháp chiếm đại đồn Tháp Mười, Phòng Biểu vâng lệnh Đốc binh Kiều, rút một toán nghĩa quân qua Sình Lớn về Tà Buốt, Tà Bét, Lăng Xăng (biên giới Việt Nam - Campuchia) rồi đóng quân ở ngã ba Thông Bình (Tân Thành) với ý đồ bảo toàn lực lượng và liên kết với các nhóm nghĩa quân Campuchia.

Song trước hết, Phòng Biểu thấy cần trị tội Phạm Văn Khanh, một tên Việt gian đã từng gây tội ác để trả thù cho nhân dân và cho Thiên hộ Dương nên ông bí mật về Cao Lãnh chờ dịp ra tay.

Ông được nhân dân cho biết Phạm Văn Khanh đang ráo riết lùng sục tông tích của nghĩa quân. Biết ông còn sống, dù rất lo sợ, hắn cũng ráo riết tìm giết ông để hòng lập công với giặc. Khanh thường nói với đám tay sai: "Hễ có Khanh thì không thể có Biểu được".

Phòng Biểu liền nghĩ ra một kế. Ông viết thư cho người thân tín mang về rạch Cái Bắc, thôn Mỹ Hội (nay thuộc xã Bình Hàng Trung) quê vợ ông. Trong thư dặn rằng: Phao tin ông đã chết, rồi làm đám tang, sau đó làm tuần làm thất, hàng năm làm đám giỗ...

Vài năm sau, Khanh yên trí là Phòng Biểu đã mất không còn phải lo sợ nữa. Khanh đi lại ít dè dặt hơn, bòn rút, vơ vét của nhân dân bạo tay hơn. Một hôm, Phạm Văn Khanh ngồi ghe hầu với 5 tên lính vào vùng Ba Sao, Cái Dừng (Nhị Mỹ) để đốc thuế, 2 tên chèo trước, 2 tên chèo sau, 1 tên cầm lái, Phạm Văn Khanh nằm trong mui đóng kín cửa hút á phiện.

Bỗng từ đâu Phòng Biểu nhảy xuống ghe, ông nghiêng mình lắc mạnh vài cái làm cho mấy tên lính lọt tuốt xuống sông, không dám kêu lên một tiếng. Phạm Văn Khanh nằm trong mui ngồi dậy nói to:

- Đứa nào làm cái gì vậy? Mâm đèn bình nước của tao đổ hết rồi! Ta ra là bây rụng đầu xuống sông!

Nói xong Khanh kéo cửa bước ra. Trước mặt y, Phòng Biểu tay cầm thước bảng đứng oai phong như một vị thần. Khanh run sợ, chỉ còn nước quỳ xuống xin tha tội chết.

Sau một hồi kể tội y, Phòng Biểu định đập y một thước bảng cho chết, nhưng ông chợt nghĩ: hiện thời nghĩa quân ở ngã ba Thông Bình đang sống trong tình cảnh thiếu thốn nên ông nói:

- Thôi được ta sẽ tha tội chết cho nhà ngươi với hai điều kiện. Một là nhà ngươi phải ăn năn hối cải, không làm điều gì thiệt hại cho nghĩa quân, không hạch sách bà con lối xóm nữa. Hai là nhà ngươi viết thư về nhà bảo cha mẹ nhà ngươi phải đích thân đem vàng tới chuộc mạng, số vàng nặng bằng sức nặng của nhà ngươi.

Chờ Phạm Văn Khanh viết thư trao cho mấy tên lính xong, ông cặp nách Khanh phóng lên bờ biến mất.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:53:28 pm

Cha mẹ Khanh được thư, liền góp tiền bạc mà bấy lâu nay y vơ vét của dân chúng cho đủ. Đến ngày quy định, hai ông bà cùng gia nhân khiêng túi vàng tới điểm hẹn. Không lâu, Phòng Biểu xuất hiện, ông nói:

- Trước hết, ta có lời xin lỗi hai ông bà, đường sá xa xôi vì tuân hành lệnh ta mà lặn lội tới đây. Ta muốn gặp ông bà để giao tận tay đứa con phản nghịch để đem về răn dạy. Nếu từ rày về sau hắn còn theo bọn Tây Dương hại dân hại nước, ta quyết không dung tha. Còn số vàng này là của bà con lối xóm do con của ông bà vơ vét. Nay ta lấy lại, dùng vào việc đại nghĩa, âu cũng là hợp lẽ vậy.

Nghe vậy, hai ông bà liền lạy tạ ơn, Phòng Biểu sai nghĩa quân mang Khanh ra. Ông đến cụm tràm gần đó lựa cây thiệt lớn dùng thước bảng chặt một cái đứt tiện, rồi ông chặt lấy khúc gốc dài hơn một sải, xong bứt một sợi dây trói tay Khanh lại như trói heo để cân. Ông lấy đoạn tràm lúc nãy: một đầu máng túi vàng, một đầu máng Phạm Văn Khanh vào. Rồi dùng tay cầm ngay khoảng giữa đoạn tràm nâng lên để cân nhưng đoạn tràm không song bằng, đầu mang Phạm Văn Khanh hơi trễ xuống một chút. Ông để xuống nói:

- Vàng còn thiếu độ vài cân, nhưng thôi, vậy cũng được. Có điều là hai ông bà phải nhớ lời ta dặn.

Chờ cho gia đình Phạm Văn Khanh đi rồi, ông cùng với nghĩa quân khiêng túi vàng đi khuất.

Bẵng đi một dạo khá lâu, Phạm Văn Khanh co đầu rụt cổ, nhưng về sau vẫn chứng nào tật ấy nên Phòng Biểu không thể nào tha thứ được nữa.

Năm ấy, đáo lệ kỳ yên, đình làng Tân Yên (sau này là Tân An) cúng thần rất lớn, có hát bội. Chức việc làng Tân Yên có mời nhiều quan trên, trong đó có cả quan Tây và quan quản bộ đạo Phạm Văn Khanh. Để lấy lòng quan quản bộ đạo, hương cả làng Tân Yên mời Phạm Văn Khanh ở lại cầm chầu đêm hát cúng thần đầu tiên.

Được nhân dân báo rõ mọi điều, Phòng Biểu bí mật đến ẩn mình trong một ngôi nhà sát bên đình làng. Tối đến, sau khi buổi hát xây chầu được một lúc, đột nhiên trên sân khấu xuất hiện một kép hát lạ thường: người cao lớn vạm vỡ, oai phong như một vị tướng, nhưng lại mặc thường phục, đầu chít khăn rìu, tay cầm thiết bảng, nói sang sảng:

- Ta là quan Phòng vệ Nguyễn Văn Biểu, tới đây là để trị tội tên phản dân hại nước Phạm Văn Khanh. Xin bà con đi coi hát hãy yên lòng.

Phạm Văn Khanh rụng rời, buông dùi trống, luống cuống định tìm đường tẩu thoát nhưng Phòng Biểu đã nhanh tay bắt lấy y cắt đầu.

Xác Phạm Văn Khanh bêu tại cây dương trước đình. Trước khi rút lui. Phòng Biểu còn dặn dân chúng: đúng ba ngày mới cho gia đình Phạm Văn Khanh lấy xác về chôn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:54:16 pm

DÙ THÁC NHƯNG CHÍ THÙ CHƯA NGUÔI

Vào một mùa nước trước năm Ất Dậu (1945), một người đi gom củi gốc tràm lụt ở Tháp Mười tình cờ gặp một tượng Phật bằng cây mù u cao gần hai thước.

Được tin trên, Giám đốc Bảo tàng Sài Gòn lúc bấy giờ là Malleret, một người rất mê đồ cổ, liền đích thân xuống nhận về. Ông ta đi ghe vào Gò Tháp. Tại đây, ông ta thấy rất nhiều cổ vật nào linga, nào yoni, nào linh phù, rồi tượng Phật và nhiều thứ khác... Gò Tháp quả là một di tích khảo cổ không thể bỏ qua được. Sau đó, ông ta đến viếng mộ Đốc binh Kiều.

Ỷ mình là người Pháp, không mê tín, hơn nữa đang là chủ nhân của đất nước này, dù người chết là ông gì đi nữa cũng là đám dân bị trị nên trong lúc khảo sát ngôi mộ, ông ta không dùng thước mà đo bằng bước chân đi trên nền mộ. Mới đếm đến bước thứ ba, bỗng trật chân té ngã gãy xương khiến công việc đành bỏ dở, phải về Sài Gòn điều trị 3, 4 tháng mới lành.

Sau đó, ông ta trở lại tiếp tục công việc. Lần này trước khi tiến hành công việc, ông ta đến trước bàn thờ ngài Đốc binh Kiều kính cẩn thắp nhang, xá ba xá. Xong việc, an toàn trở về.

Lần khác, một người Pháp đi ngựa vào viếng thăm Gò Tháp. Sau khi tham quan mọi nơi, cuối cùng đến khu miếu thờ và mộ Đốc binh Kiều, y vẫn chễm chệ trên mình ngựa, tới lui mọi nơi để quan sát. Bỗng con ngựa lồng lộn lên hất y té nhào xuống đất. Trong lúc luống cuống, y chống đỡ thế nào không biết, đến lúc hoàn hồn đã gãy một tay...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Hai, 2017, 05:55:39 pm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Võ Duy Dương với Đồng Tháp Mười, Nxb Trẻ, 2005.
2. Người con của Quảng Ngãi trên đất Tháp Mười, Nxb Thanh niên, 2005.
3. Văn hiến Quảng Ngãi - truyền thống và hiện đại, Nxb Văn hóa dân tộc, 2006.
4. Quân sử III, Quân dân Việt Nam chống Tây xâm lược, Sài Gòn, 1969.


Hết