Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 04:44:34 am



Tiêu đề: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 04:44:34 am
        - Tên sách: Tướng lĩnh QĐND Việt Nam qua hai cuộc chiến tranh
        - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân.
        - Năm xuất bản: 2007
        - Số hoá: linhdo

        Chỉ đạo nội dung:

        - Đại tá Phạm Quang Định;
        - Đại tá Phạm Bá Toàn;
        - Đại tá Nguyễn Đức Hùng.

        Tổ chức thực hiện:

        - Đại tá Kiều Bách Tuấn;
        - Trung uý Bùi Thu Hương.


(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/95135834_644355239627693_4127398562831007744_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=zfjyWM9GWecAX-tkrgO&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=8c9a99731cce6b517f06c7d5b93cff8b&oe=5ED1D8AD)



LỜI NÓI ĐẦU

        Dân tộc Việt Nam trải qua 30 năm chiến tranh giải phóng ác liệt và hào hùng, bao thế hệ " lớp cha trước, lớp con sau" đã tiếp bước nahu lên đường đánh giặc. Và trong những cuộc đối đầu không cân sức đó, hàng triệu triệu người con đất Việt đã hiến dâng xương máu, sức lực, của cải cho một Việt nam độc lập - tự do hôm nay. Thắng lợi vĩ đại của hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là kết quả tất yếu của những nhân tố đã tạo thành sức mạnh thần kỳ của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới, đó là sự kết tinh sức mạnh truyền thống yêu nước, bất khuất của cha ông để lại trong mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, là sự lãnh đạo tài giỏi của Đảng và Bác Hồ với đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là sự kế thừa và vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự độc đáo Việt Nam đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quân sự tiên tiến trên thế giới.

        Từ thực tiễn chiến trường đã tôi luyện nên nhiều tướng lĩnh Quân đội tài ba thao lược, thông minh, sáng suốt, biết đánh bằng mưu kế-thắng thế thời, tài năng và đức độ của họ có sức quy tụ sức mạnh vĩ đại của quân và dân ta. Đó là những vị tướng dù là đảm nhận nhiệm vụ nơi trận tiền mà tên tuổi đã gắn với những chiến trường nóng bỏng như Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ rồi Khe Sanh, Trị Thiên, Tây Nguyên, Đường 9 Nam Lào, miền Đông Nam Bộ...hay những vị tướng tham mưu, chính trị, hậu cần- kỹ thuật lão luyện... tất cả họ, với vai trò cá nhân trong lịch sử đã đóng góp trí tuệ, công sức cùng bao đồng chí, đồng bào viết nên những khúc khải hoà ca vang dội non sông, tô thắm thêm bao trang sử vàng oanh liệt.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:01:29 am
         
1. ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN QUYẾT (NGUYỄN TIẾN VĂN)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Nguyen%20Quyet_zpsxrhgfg76.jpg)


        - Đại tướng Nguyễn Quyết sinh năm 1922, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (1987-1991), năm 1992 là Phó chủ tịch Hội đồng nhà nước.

        Quê quán: xã Chính Nghĩa, huyện Kim Đông, tỉnh Hưng Yên. Đồng chí tham gia cách mạng từ năm 1939, nhập ngũ tháng 8 năm 1945, được phong hàm Đại tướng năm 1990, là đảng viên Đảng CSVN từ năm 1940. Năm 1942 là uỷ viên Ban cán sự Đảng tỉnh Hưng Yên. Năm 1943 đến 1945 là uỷ viên Ban cán sự Đảng, uỷ viên chính trị Uỷ ban quân sự Hà Nội, chính trị viên Chi đội 2  Vệ quốc quân.

        Trong kháng chiến chống Pháp:

        Năm 1946 là Chính trị viên Chi đội 1 (chi đội chủ lực của Uỷ ban kháng chiến miền Nam); Trưởng phòng chính trị, Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Đại đoàn 31.

        Năm 1947 đến 1952 là Chính uỷ Mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng, uỷ viên quân sự trong Uỷ ban kháng chiến liên tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng; Chính uỷ các trung đoàn: 108 và 803.

        Năm 1953 đến 1955 là chủ nhiệm chính trị liên khu 5; Phó chhính uỷ, Chính uỷ Đại đoàn 305.

        Trong kháng chiến chống Mỹ:

        Năm 1955 đến 1963 là quyền chính uỷ, Chính uỷ Quân khu Tả Ngạn.

        Năm 1964 đến 1968 là Phó chính uỷ, Chính uỷ Quân khu 3; Chính uỷ Quân khu Tả Ngạn; Phó chính uỷ Quân khu Trị-Thiên, kiêm Chính uỷ Mặt trận B8 (Quân khu Trị-Thiên).

        Năm 1969 đến 1976 là Chính uỷ: Quân khu Tả Ngạn, Học viện Quân sự, Quân khu 3.

        Năm 1977 đến 1980 là chính uỷ, kiêm Tư lệnh Quân khu 3.

        Năm 1981 đến 1986 là Tư lệnh, Bí thư Đảng uỷ Quân khu 3.

        Tháng 4 năm 1986 đến 1987 là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

        Năm 1987 đến 1991 là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương.

        Năm 1992 là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Đồng chí là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN từ khoá IV đến khoá VI ( Uỷ viên Ban Bí thư khoá VI). Là Đại biểu Quốc hôi các khoá IV, VII, VIII; được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân Chương Quân Công hạng nhất, Huân chương chiến công hạng nhất, Huân chương chiến thắng hạng nhất.

        Trong gần trọn cuộc đời hoạt động cách mạng, trải qua nhiều cương vị, nhiều nhiệm vụ, nhiều địa phương, dù phải trải qua nhiều gian khổ hy sinh, đồng chí Nguyễn Quyết luân phấn đầu cùng đơn vị, địa phương làm tròn nhiệm vụ Đảng giao cho. Cũng trải qua 55 năm hoạt động, qua khởi nghĩa, chiến tranh cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng chí Nguyễn Quyết luôn đúc rút được những bài họ quý báu và phong phú từ thực tiễn, trong đó có những năm tháng trên chiến trường Liên khu 5.

        Khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù ta đã có chính quyền, có quân đội nhưng tất cả đều còn non trẻ, gặp muôn vàn khó khăn. Đảng ta chủ trương xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng ba thứ quân, thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tự lực cánh sinh kháng chiến lâu dài để giành thắng lợi quyết định.

        Kiên định và sáng tạo trên nguyên tắc đường lối chủ trương của Đảng, đồng chí đã cùng Đảng bộ, chính quyền và quân dân Liên khu 5 tập trung xây dựng lực lượng chủ lực, lực lượng vũ trang mạnh ngay từ đầu, quyết tâm thắng địch, giữ vững vùng tự do rộng lớn làm căn cứ và hậu phương vững chắc không những cho bản thân chiến trường Liên khu 5 mà cả các chiến trường Nam Đông Dương; thực hiện lấy súng địch đánh địch, sản xuất để tự túc, giải quyết hậu cần tại chỗ đảm bảo chiến đấu lâu dài; tập trung vào trọng điểm, bước đầu thực hiện ba chức năng của quân đôi, xây dựng chủ lực mạnh để tự giải quyết chiến trường góp phần quan trọng với chiến trường toàn quốc.

        Riêng ở Quảng Nam-Đà Nẵng, chiến trường chính của Liên khu 5, nơi đồng chí Nguyễn Quyết trực tiếp phụ trách từ 1964-1950, mặc dù địch có ưu thế hơn ta về lực lượng và binh khí kỹ thuật nhưng ta đã thắng ngay từ thời kỳ địch tiến công ồ ạt, giữ vững vùng tự do, phá tan âm mưu đánh chiếm đến vĩ tuyến 16, chia cắt chiến trường Nam Đông Dương với chiến trường chính Bắc Bộ. Suốt chín năm kháng chiến, Quảng Nam-Đà Nẵng là nơi có phong trào chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích mạnh. Điều đó đã tạo điều kiện cho chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng vừa tác chiến, vừa trưởng thành, vừa tác chiến vừa xây dựng lực lượng góp phần xứng đáng cả về lực lượng, kinh nghiệm xây dựng, chiến đấu với chiến trường Liên khu 5.

        Những điều tâm đắc nhất, sâu sắc nhất của đồng chí Nguyễn Quyết trong những ngày tháng ở chiến trường Liên khu 5 là cơ sở vững chắc xuyên suốt con đường cách mạng mà đồng chí đã chọn.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:04:58 am

NHỮNG NĂM THÁNG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP Ở "KHU NĂM DẰNG DẶC KHÚC RUỘT MIỀN TRUNG" TỪ 11/1945 ĐẾN 1/1955

        Cách mạng tháng Tám thành công, nước ta trở thành một nước độc lập. Đó là thắng lợi rất vĩ đại, một kỳ tịch trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam, đồng thời mở ra cho cao trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ, giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa của thế kỷ XX. Chính quyền cách mạng non trẻ của nhân dân đứng ra đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Nhưng Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định " đây chỉ là thắng lợi buốc đầu". Với âm mưu và tham vọng của bè lũ đế quốc, trực tiếp là đế quốc Pháp, Đảng và nhân dân ta còn phải tiếp tục chiến đấu gay go và phức tạp để hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

        Đúng như Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định, ngày 23 tháng 9 năm 1945, được quân Anh và tàn quân Nhật tiếp sức, thực dân Pháp mở cuộc tiến công Sài Gòn, tiến hành cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Sau chưa đầy một tháng giành được chính quyền từ tay phát xít Nhật, nhân dân Sài Gòn lại buộc phải cầm súng chống kẻ thù xâm lược.

        Khác với thời kỳ vận động Cách mạng tháng Tám, bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần này, tuy giữa muôn vàn khó khăn, chính quyền cách mạng còn non trẻ, nền kinh tế kiệt quệ, lực lượng vũ trang còn quá nhỏ bé, nhưng chúng ta có thuận lợi rất cơ bản là đã có chính quyền, có lực lượng toàn dân đoàn kết, làm chủ đất nước, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được. Đảng ta đã có kinh nghiệm trong lãnh đạo Cách mạng tháng Tam, từ tay không giành lấy chính quyền, thấy được âm mưu, thủ đoạn của địch, dự kiến đường lối và những điều kiện cơ bản cho cuộc kháng chiến để páht huy thế mạnh tuyệt đối về tinh thần, kiên quyết bảo vệ nên độc lập, tự do của đất nươc vừa giành được.

        Thường vụ Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh hạ quyết tâm vừa kháng chiến vừa kiến quốc, kêu gọi nhân dân cả nước chi viện sức người, sức của, đưa những đội quân tinh nhuệ, cử nhiều cán bộ ưu tú tăng cường cho miền Nam, đồng thời tranh thủ xây dựng, củng cố lực lượng về mọi mặt để chuẩn bị kháng chiến.

        Mặc dù đời sống nhân dân miền Bắc gặp vô vàn khó khăn trong những ngày đầu mới giành được độc lập, song hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng về Nam Bộ, đồng bào miền Bắc đã dấy lên một phong trào chi viện sức người, sức của hết sức sôi nổi, mạnh mẽ.

        Phát huy khí thế hừng hực của những ngày khởi nghĩa, lớp lớp thanh niên miền Bắc trong đó có thành niên Hà Nội hăm hở tình nguyện lên đường vào Nam sát cánh cùng đồng bào Nam Bộ chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược.

        Những ngày đó ở Hà Nội cũng như các địa phương khác, sục sôi một không khí hào hùng vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Những đoàn quân Nam tiến rầm rập lên đường vào Nam chiến đấu trở thành hình ảnh của " cả nước ra trận", " Nam-Bắc một nhà". Danh sách những người tình nguyện vào lực lượng vũ trang và đội quân Nam tiến vượt xa yêu cầu của trên đề ra, gồm đủ thành phần, tấng lớp, tồn giáo, dân tộc. Rất nhiều thanh niên, phụ nữ, thiếu niên, bao gồm các tầng lớp công nhân, nông dân, thợ thủ công, sinh viên, học sinh, trí thức, công chức, kiều bào vừa về nước và cả một số nhà tu hành cũng ghi tên tình nguyện. Tất cả đều quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

        Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, từ kinh nghiệm trong xây dựng và tổ chức chỉ huy lực lượng vũ trang trước và trong khởi nghĩa, Thường vụ Trung ương và Xứ uỷ phân công tôi tiếp tục phụ trách quân sự ở Hà Nội, đồng thời về các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, hà Nam, Nam Định, Ninh Bình tổ chức xây dựng lực lượng chủ lực ở các địa phương ấy. Lúc đầu, tôi phụ trách cả quân sự và chính trị, đến cuối tháng 9 năm 1945, anh Vương Thừa Vũ được Trung ương điều về phụ trách quân sự, tôi làm chính trị viên.

        Cuối tháng 11 năm 1945, sau khỉ tổ chức chấn chỉnh lực lượng tự vệ và củng cố năm tiểu đoàn chủ lực ở Hà Nội và hai chi đội ở các tỉnh nói trên, với nhiệt tình tuổi trẻ, tôi đề nghị Trung ương được vào Nam chiến đấu. Nguyện vọng đó được cấp trên chấp nhận và giao cho tôi nhiệm vụ về Ninh Bình tổ chức một Chi đội mới chuẩn bị Nam tiến. Chi đội mang tên Chi đội 1, gồm một tiểu đoàn giải phóng quân từ Chiến khu Việt Bắc về, một bộ phận của Chi đội Hà Nam Ninh và một bộ phận của Chi đội Hải Phòng-Quảng Yên được Bộ Quốc Phòng điều lên.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:06:31 am

        Không khí nô nức lên đường vào Nam chiến đấu tràn ngập khắp nông thôn, thành phố. Đầu tháng 12 năm 1945, Chi đội đã lên đường (Chi đội do anh Thịnh làm Chi đội trưởng, tôi làm Chính trị viên). Khác với Chi đội đi trước, chỉ đi người không, còn vũ khí phải chuyên chở bằng đường biển, lần này, do Chính phủ ta khéo léo thương thượng với bọn Tưởng nên Chi đội 1 được mang theo một số lượng đáng kể vũ khí.

        Chi đội xuất phát từ ga Ghềnh (Ninh Bình). Qua các ga đều có nhân dân đứng vẫy cháo tiễn đưa với băng cờ, khẩu hiệu hoan nghênh nhiệt liệt. Ở các ga lớn, tàu dừng lâu hơn, có đại diện quân-dân-chính-đảng địa phương ra đón tiếp. Đặc biệt rất đông các mẹ, chị em phụ nữ, các chấu thiếu nhi đến thăm hỏi, tặng quà, tiễn đưa lưu luyến. Anh em ai nấy đều rất xúc động.

        Đơn vị vào đến Quảng Ngãi thì được lệnh dừng lại gặp Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Sơn làm Chủ tịch để nhận nhiệm vụ. Lúc bấy giờ, quân Pháp đã phá được vòng vây Nha Trang, mở rộng phạm vi chiếm đóng ra các vùng xung quanh và tiến công lên Tây Nguyên.

        Sau một thời gian được huấn luyện cấp tốc về chính trị, quân sự, Chi đội được chia làm hai bộ phận: Một bộ phận tham gia chiến đấu ở Vạn Giã (bắc Khánh Hoà), một bộ phận lên chiến đấu ở An Khê (Gia Lai).

        Chi đội 1 cũng như các đơn vị Nam tiến khác, tuy lực lượng không lớn, nhưng rất quan trọng, là đội quân chủ lực đi đầu trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến đấu dũng cảm, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, góp sức cùng nhân dân miền Nam chiến đấu làm chậm bước tiến của quân xâm lược Pháp và đã chiến thắng địch ngay từ đầu, thể hiện tinh thầnh cả nước đồng lòng cùng nhau chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, tạo sức mạnh to lớn của đại đoàn kết dân tộc, của sự đoàn kết Bắc-Nam. Nhân dân hết sức tin tưởng, yêu quý và khâm phục bộ đội Nam tiến. Điều đó cũng chứng tỏ Đảng ta đã có chủ trương sáng suốt, quyết tâm cao, huy động lực lượng toàn dân vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, kịp thời điều động quân chủ lực (các đơn vị Nam tiến) đánh tan cuộc "dạo mát quân sự", làm đảo lộn chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" đến vĩ tuyến 16 của Pháp, giữ vững vùng tự do làm hậu phương lớn, tạo điều kiến cho cacs tỉnh phía sau có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

        Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm theo dõi cuộc chiến đấu của quân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành những tình cảm thắm thiết nhất, luôn để miền Nam trong trái tim mình. Tháng 12 năm 1945, đồng chí Lê Văn Hiến được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử làm đặc phái viên của Chính phủ vào Nam Trung Bộ để chuyển thư thăm hỏi của Người tới quân dân Man Bộ và Nam Trung Bộ. Trong thư Bác viết:

        " Từ ba tháng nay, các anh chị em đã đem xương máu ra để giữ từng tấc đất của Tổ quốc.

        Tôi và tất cả đồng bào ở Bắc Bộ và phía Bắc Trung Bộ, đã bao nhiêu lần tức giận khi nghe bọn thực dân Pháp đạp lên mảnh đất của ông cha ta, giết hại nòi giống ta...đã bao nhiêu lần hồi hộp, cảm động trước những gương hy sinh vô cùng anh dũng của những người con yêu của Tổ quốc. Do đó, tôi càng tin chắc rằng: với một nước đã có những người con như thế, anh hùng như thế, đã có một khối đoàn kết toàn dân như thế, nước ta nhất định không bị mất một lần nữa.

        Để bảo vệ Tổ quốc, chúng ta còn phải chiến đấu nhiều. Chỉ có chiến đấu mới vượt qua được trở lực, khó khăn, chỉ có chiến đấu mới đưa lại vẻ vang cho Tổ quốc. Các bạn ở tiền tuyến không bao giờ cô độc, vì đã có cả một khối toàn dân đoàn kết làm hậu thuẫn cho mình. Thắng lợi nhất định thuộc về ta".

        Sự quan tâm, khích lệ, cổ vũ đó của lãnh tụ tối cao của dân tộc là một nguồn lực để quân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ có thêm sức mạnh kiên quyết chiến đáu bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám.

        Ở Nam Trung Bộ, từ giữa năm 1946, sau khi chiếm được một số thị xã, đường giao thông ở các tỉnh cực Nam và Tây Nguyên, địch không thể lấn chiếm được nữa, tuyệt đại đa số vùng nông thôn các tỉnh đồng bằng ven biển và Tây Nguyên vẫn do ta kiểm soát.

        Trong thời gian này, Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam chủ tương tranh thủ củng cố, sắp xếp lại lực lượng, mở trường lớp bồi dưỡng về chính trị, quân sự cho cán bộ, chiến sỹ. Số cán bộ Nam tiến một phần trở về miền Bắc, còn phần lớn ở lại tiếp tục chiến đấu ở các mắt trận Nam Trung Bộ. Tôi là một trong những cán bộ được giữ lại ở Liên khu 5.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:08:16 am

        Theo chủ trương của Trung ương, Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam cải tổ các Chi đội vệ quốc quân và phiên chế lại thành 11 trung đoàn và một tiểu đoàn độc lập; giải thể các chiến khu 5, 6 (đã được thành lập từ tháng 10 năm 1945) và tổ chức thành ba Đại đoàn: Đại đoàn 23, Đại đoàn 27 và Đại đoàn 31.

        Tôi đươc phân công làm chính trị viên Đại đoàn 31 gồm các trung đoàn 68, 69, 93, 96, cơ quan Đại đoàn đóng ở Tam Kỳ (Quảng Nam). Đại đoàn có nhiệm vụ tác chiến ở tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi.

        Nắm được âm mưu địch, để tăng cường sự lãnh đạo của DẢng ở một hướng chiến lược quan trọng, tháng 11 năm 1946, Trung ương Đảng và Chính phủ cử đồng chí Phạm Văn Đồng làm đại diện vào trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến ở Nam Trung Bộ, với nhiệm vụ chính trị hàng đầu là phải kiên cường chặn đánh các cuộc tiến công lớn của địch, giữ vững vùng tự do, góp phần cùng cả nước đánh bại kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh: của thực dân Pháp. Thro chủ trương của Trung ương, giải thể Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam và các Đại đoàn, tái lập Khu 5, Khu 6; thành lập Uỷ an Quân sự để chỉ đạo trực tiếp cuộc chiến đấu ở các tỉnh Nam Trung Bộ.

        Tôi được điều về Bộ Tư lệnh Khu 5, tham gia Đảng uỷ quân sự khu. Bộ Tư lệnh Khu 5 phân công tôi làm phái viên ở mắt trận Quảng Nam-Đà Nẵng, tham gia phân quân khu uỷ. Phân quân khu uỷ có ba người do anh Huỳnh Ngọc Huệ làm bí thu, tôi và anh Đàm Quang Trung là uỷ viên. Vài tháng sau, tôi được cử làm bí thư thay anh Huỳnh Ngọc Huệ đi nhận công tác khác. Từ đó, tôi liên tục gắn bó với chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng cho tới cuối năm 1950.

        Với tham vọng trở lại thống trị nhân dân ta một lần nữa, thực dân Pháp bất chấp thái độ thiện chí của Đảng, Chnhs phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ta càng nhân nhượng, chúng càng lấn tới.

        Không còn con đường nào khác, với tinh thần: " Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", ngày 19 tháng 12 năm 1946, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

        Mục tiêu trước mắt của quân Pháp vẫn là các thành phố, trọng điểm là thủ đô Hà Nội ở miền Bắc và thành phố Đà Nẵng ở miền Trung.

        Đà Nẵng là hải cảng lơn, là cửa ngõ của miền Trung Tổ quốc. Theo Hiệp định sơ bộ ngày 06 tháng 3 năm 1946, quân Pháp được đưa vào Đà Nẵng 225 tên thay cho quân Tưởng Giới Thạch. Sau nhiều lần tăng quân trái phép, đến tháng 12 năm 1946, quân Pháp ở Đà Nẵng đã lên tới gần bảy ngàn tên, với những vũ khí và trang bị chiến tranh hiện đại như xe tăng, xe bọc thép, pháo bình và nhiều vũ khí bộ binh tối tân.

        Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Phạm Văn Đồng và Khu uỷ, Bộ Tư lệnh Khu 5, lực lượng chiến đấu ở Quảng Nam-Đà Nẵng gồm có Trung đoàn 93 chịu trách nhiệm ở vòng ngoài và Trung đoàn 96- Trung đoàn chủ lực của Khu (do cán bộ và chiến sỹ Nam tiến làm nòng cốt)- chịu trách nhiệm chiến đấu ở nội thành.

        Mục đích của ta là giam chân địch trong thành phố, còn địch thì muốn mở rộng chiếm đóng ra các vùng nông thôn rộng lớn. Sự đối chọi mục đích ấy dẫn đến cuộc chiến đấu ở đây đã diễn ra quyết liệt ngay từ ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Lực lượng vũ trang của ta tuy còn non trẻ, nhưng bộ đội chủ lực đến dân quân tự vệ, từ nội thành đến ngoại thành, đều chiến đấu với tinh thầnh rất dũng cảm, dám xả thân để bảo vệ từng căn nhà, đoạn đường, góc phố của thành phố. Sau nhiều ngày đêm chiến đấu liên tục, đạn, lựu đạn đã hết, nhiều đơn vị phải dùng lưỡi lê, báng súng đánh giáp lá cà để đánh bật địch ra khỏi chiến hào, có tiểu đội anh em dũng cảm chiến đấu đến người cuối cùng. Nhân dân Quảng Nam-Đà Nẵng đã sát cánh với lực lượng vũ trang thực hiện " vườn không nhà trống", bất hợp tác với địch, đào hào, đắp ụ, xây dựng công sự, phá hoại cầu, đường, vận chuyển chăm sóc thương binh, phục vụ chiến đấu.

        Sau hơn một tháng chiến đấu kiên cường, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và sự chỉ huy của Uỷ ban Quân sự, quân dân Quảng Nam-Đà Nẵng đã thực hiện đúng đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta. Trên địa bàn thành phố, lực lượng vũ trang ta do vệ quốc quân làm nòng cốt, đã anh dũng chiến đấu ngăn chặn, bao vây, ghìm chân, tiêu hao nhiều sinh lực địch và bảo toàn lực lượng ta để kháng chiến lâu dài. Cuộc vây hãm địch ở Đà Nẵng đã góp phần tạo điều kiện cho quân, dân cả nước mà trực tiếp là các tỉnh đồng bằng Khu 5 có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến lâu dài, làm thất bại bước đầu kế hoạch lần thứ hai " đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:11:16 am

        Trong lễ Tuyên dương thành tích chiến đấu của quân dân Quảng Nam-Đà Nẵng, đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói: "So sánh với toàn quốc, mặt trận Thái Phiên(tên gọi của thành phố Đà Nẵng sau khởi nghĩa tháng 8/1945) liệt vào hạng đánh mạnh nhất và dẻo dai nhất". Đồng chí tặng quân dân Đà Nẵng lá cờ " Giữ vững". Trung đoàn 96 là đơn vị lập công xuất sắc nhất được vinh dự thay mặt quân, dân Quảng Nam-Đà Nẵng nhận phần thưởng cao quý này.

        Chấp hành chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" của Thường vụ Trung ương Đảng và qua kinh nghiệm chiến đấu tháng đầu, Tỉnh uỷ và Uỷ ban Quân sự chủ trương:

        - Kiên quyết năng chặn không cho địch nhanh chóng mở rộng vùng kiểm soát về phía Nam.

        -Bán đánh địch nhất là trên đường huyết mạch đèo Hải Vân.

        - Phát động chiến tranh du kích tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận địch, khi chúng mở rộng phạm vi kiểm soát.

        - Triệt để thực hiện "vườn không nhà trống".

        Thực hiện chủ trương trên, các đơn vị chủ lực nhanh chóng bố trí lại đội hình, phối hợp với dân quân du kích, tự vệ liên tục hoạt động quấy rối, tiêu hao, tiêu diệt ở cả nội thành và vùng xung quanh, gây cho địch nhiều tổn thất; trong đó tiêu biểu là trận đánh phục kích giao thông đầu tiên trên đường đèo Hải Vân ngày 28 tháng 2 năm 1947, tiêu diệt một Đội địch, thu 2 trung liên, 4 tiểu liên, 10 súng trường, diệt một tên trung uý. Cùng với việc vây hãm địch hơn một tháng trong thành phố, các hoạt động trên đây đã nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật của lực lượng vũ trang, củng cố và nâng cao lòng tin tưởng của cán bộ và nhân dân vào đường lối quân sự- chính trị của Đảng.

        Thực hiện âm mưu mở rộng vành đai an toàn cho căn cứ quân sự và hậu cần của chúng ở miền Trung Đông Dương, khai thông đường 14 từ Đà Nẵng lên Kon Tum, nối liền các tỉnh ven biển với Tây Nguyên, qua Hạ Lào, cắt đứt hành lang Bắc-Nam và đường qua Hạ Lào, chia cắt chiến lược chiến trường Đông Dương ngang vĩ tuyến 16, vơ vét nhân tài, vật lực ở miền Nam làm bàn đạp tiến công ra miền Bắc-chiến trường chính, ngày 15 tháng 3 năm 1947, sau khi củng cố lực lượng và được tăng viện từ chính quốc sang, quân Pháp mở cuộc tiến công đánh ra phía nam sông Cẩm Lệ.

        Trong đợt tiến công này, mặc dù lực lượng vũ trang và nhân dân ta chống trả quyết liệt, gây cho địch nhiều thiệt hại, nhưng vì lực lương tương quan giữa ta và địch lúc đầu còn quá chênh lệc nên địch đã chiếm được vùng đồng bằng phía bắc sông Thu Bồn từ Hội An đến Ái Nghĩa.

        Ngày 5 tháng 3 năm 1947, Chủ tich Hồ Chí Minh gửi thư động viên đồng bào cả nước: " Trong cuộc kháng chiến lâu dài, tạm thời thắng hay bại là việc thường, cốt là " thắng lợi cuối cùng". Chúng ta không hoang mang, chúng ta phải nhẫn nại, cương quyết. Thắng lợi cuối cùng nhất định về tay ta".

        Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở quán triệt các quan điểm kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa tìm cách tiêu diệt địch vừa bảo vệ dân, phát triển sản xuất, quan tâm đến đời sống của nhân dân, cuối tháng 3 năm 1947, Tỉnh uỷ và Uỷ ban Quân sự chủ trương:

        - Vận động đồng bào hồi cư, các huyện, thị tổ chức đội công tác bám dân trở về vùng bị chiếm hoạt động, tổ chức sản xuất, ổn định đời sống, phát triển du kích đánh địch đi càn, bảo vệ dân.

        - Đánh phá kế hoạch tập trung dân để lập tề, bình định vùng tạm chiếm của Pháp; tổ chức cơ sở mật, chuẩn bị hoạt động trong vùng địch.

        - Xây dựng bố phòng vùng tự do, củng cố tuyến phòng thủ nam sông Thu Bồn.

        - Củng cố bộ máy đảng, chính quyền, đoàn thể gây uy tín cách mạng trong nhân dân vùng bị chiếm.

        Đây là những quyết định rất quan trong có ý nghĩa lịch sử đối với việc lãnh đạo chiến tranh ở Quảng Nam-Đà Nẵng, sự phối hợp rất nhịp nhàng giữa chiến đầu và xây dựng cơ sở, giữa kháng chiến và kiến quốc, giữa đấu trnah chính trị và đấu tranh vũ trang, giữa việc chiến đấu ở vùng bị chiếm với việc bảo vệ và xây dựng vùng tự do.

        Từ đó đến cuối năm 1947, cơ sở chính trị vùng tạm bị địch chiếm được khôi phục và phát triển; dân quân tự vệ được tổ chức, nhiều nơi đã đánh địch đi càn, diệt tề trừ gian, đánh địa lôi đường giao thông, quấy rối đồn bốt.... Các huyện, thị bắt đầu tổ chức trung đội biệt động để phối hợp với chủ lực hoặc độc lập tác chiến, thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh ở địa phương.

        Sau nhiều lần thất bại, địch vẫn không từ bỏ tham vọng điên cuồng, mở rộng phạm vi chiếm đóng về phía Nam. Rút kinh nghiệm lần trước, các cơ quan, chính quyền, đoàn thể, du kích bám theo dân tản cư, một bộ phận ở lại bám xóm làng, bảo vệ tài sản nhân dân. Sau khi địch rút, đồng bào hồi cư. Cán bộ, du kích lại bám đồng bào về tổ chức cơ sở chính trị, cơ sở vũ trang, thúc đẩy cac hoạt động trong vùng tạm chiếm.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:14:07 am

        Trung đoàn 96 và Trung đoàn 93 đã cùng du kích vừa chặn đánh địch quyết liệt ở phía trước, vừa thọc sâu và sau lưng địch đành vào căn cứ, đường giao thông của chúng, nổi bật là trận đánh đèo Hải Vân lần thứ hai, ngày 25 tháng 5 năm 1947, tiêu diệt hoàn toàn hai đoàn xe từ Đà Nẵng ra và từ Huế vào, bắn cháy và phá huỷ bảy xe địch, diệt tên Đại tá Roger chỉ huy phân khu Đà Nẵng và toàn ban tham mưu của hắn cùng với trên 100 lính Âu-Phi tinh nhuệ. Trận đánh gây chấn động mạnh trong binh lính địch ở Đà Nẵng. Nhiều lính Âu-Phi hoảng sợ phải chiến đấu với quân ta đã có hành động tự thương để trốn tránh đi càn.

        Chiến thắng Hải Vân lần thứ hai là chiến công lớn nhất của Liên khu 5 trong năm 1947, cũng là chiến công vẻ vang của cả nước trong thời gian đó, được nhân dân Quảng Nam-Đà Nẵng và Liên khu 5 hồ hởi, ca ngợi, vui mừng; Bộ Quốc phòng và Tổng Tư lệnh đánh giá cao, một lần nữa phản ảnh chiến tranh nhân dân tiếp tục phát triển trong nửa năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc.

        Có thể nói, sau hơn sáu tháng ngoan cường chiến đấu, ta vừa đánh vừa xây dựng lực lượng, vừa đánh vừa trưởng thành về mọi mặt. Giặc Pháp nhiều lần tập trung lực lượng tiến công nhằm phá vỡ vòng vây tiến về phía Nam, nhưng trước sức chiến đấu quyết liệt của quân và dân ta ở phía trước kết hợp với quấy rối, tiêu hao, tiêu diệt ở phía sau, cho đến cuối tháng 6 năm 1947, mặc dù quân số ở Đà Nẵng, đã tăng hơn hai lần xấp xỉ 15.000tên) với đầy đủ hải, lục, không quân hiện đại, thiện chiến, nhưng quân Pháp buộc phải dừng lại ở hai bờ nam, bắc sông Thu Bồn, chấm dứt thời kỳ tiến công ồ ạt để lấn chiếm vùng tự do, quay về đối phó với chiến tranh du kích để bình định vùng tạm chiếm. Từ đó, mãi cho đến hết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên địa bàn Quảng Nam-Đà Nẵng chia làm hai vùng rõ rệt: vùng bị chiếm từ nam sông Thu Bồn trở ra đến đèo Hải Vân, vùng tự do từ nam sông Thu Bồn trở vào nối liền với các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và gần hết tỉnh Phú Yên, hình thành một vùng căn cứ rộng lớn quan trọng quyết định cho cuộc kháng chiến không những ở Liên khu 5 mà cả miền Nam Đông Dương. Đây là thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược thể hiện quyết tâm cao ngay từ đầu cuộc kháng chiến của Trung ương Đảng và Đảng bộ Liên khu 5 mà trực tiếp là của Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Nam-Đà Nẵng, phá tan âm mưu của địch đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5 đến vĩ tuyến 16. Tròng cuộc chiến đấu không cân sức này, Đảng bộ địa phương đã phối hợp chặt chẽ cùng với Đảng bộ trong quân đội lãnh đạo lực lượng vũ trang và nhân dân lấy tinh thần chọi với sắt thep, lấy vũ khí thô sơ chống lại vũ khí hiện đại và kết quả là đã giành được chiến thắng vẻ vang ngày từ ngày tháng đầu của cuộc kháng chiến. Trong lúc địch dựa vào thế mạnh tuyệt đối về quân sự, tiến công ồ ạt nhằm nhanh chóng thôn tính nước ta nói chung va Quảng Nam-Đà Nẵng nói riêng, công tác chính trị, tư tưởng đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, tinh thần sẵn sàng xả thân hy sinh để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc là điều kiện tiên quyết để chiến thắng quân thù, xua tan những tư tưởng cầu an, dao động, sợ địch, củng cố và nâng cao lòng tin vào đường lối của Đảng, vào sức mạnh vô địch của nhân dân.

        Từ cuối mùa hè năm 1947, hoạt động của quân Pháp trên chiến trường Khu 5 nói chung và Quảng Nam-Đà Nẵng nói riêng tạm thời lắng xuống. Tranh thủ cơ hội đó, ta vừa đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích trong vùng bị tạm chiếm, đặc biệt là trong nội thành Đà Nẵng và thị xã Hội An, vừa đẩy mạnh sản xuất, vừa xây dựng lực lượng các mặt, vừa bố phòng bảo vệ và xây dựng vùng tự do làm hậu phương vững chắc và trực tiếp cho cuộc kháng chiến của tỉnh.

        Nếu trong giai đoạn đầu từ tháng 12 năm 1946 đến cuối tháng 6 năm 1947 ta dùng lực lượng vũ trang do bộ đội chủ lực làm nòng cốt được sự hỗ trợ đắc lực của nhân dân để chiến đấu; thì trong giai đoạn này, ta phải kết hợp cả hai phương thức đấu tranh quân sự của lực lượng vũ trang và đấu tranh chính trị của quần chúng để chống lại âm mưu bình định của kẻ thù.

        Trung đoàn 96,sau hơn tám tháng hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc được Bộ Tư lệnh khu rút về củng cố và điều Trung đoàn 68 ở Quảng Ngãi ra thay.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:14:52 am

        Uỷ ban Quân sự phối hợp với địa phương đưa bộ đội cùng cán bộ, đảng viên du kích về những nơi phong trào còn yếu để xây dựng cơ sở rồi từng bước phát động quân chúng đấu tranh. Ở những nơi phòng trào đấu tranh mạnh như Điện Tiến, Điện Nam, Hoà Tiến, Đại Hoà, Duy Phương…nhân dân cùng dân quân du kích tổ chức bố phòng, năm tình hình địch, đào hầm bí mật, bước đầu xây dựng làng chiến đấu; dân quân du kích dùng nhiều hình thức quấy rối, bắn tỉa, tiêu hao sinh lực địch, chống địch đi lùng sục…

        Ngay trong thành phố Đà Nẵng, các hoạt động nội thành được duy trì. Đêm 13 tháng 7 năm 1947, tự vệ thành ném lựu đạn, tung truyền đơn vào sỹ quan, binh lính Pháp trong lúc chúng đang tập hợp làm lễ kỷ niệm quốc khánh cộng hoà Pháp. Tự vệ còn treo cờ đỏ sao vàng lên đỉnh tháp cao nhất thành phố Đà Nẵng nhân kỷ niệm hai năm Cách mạng tháng Tám của ta. Ở thị xã Hội An, biệt động phối hợp với du kích đột nhập vào thị xã đánh địch, diệt và làm bị thương hơn ba chục tên.

        Ở các huyện Điện Bàn, Hoà Vang, Đại Lộc, bộ đội và du kích phối hợp chống càn, chống địch cướp lúa, bảo vệ mùa màng, tài sản của nhân dân, trừng trị bọn tề gian ác, bắt và đưa đi giáo dục cải tạo một số làm cho kế hoạch lập tề của địch bị gián đoạn. Bộ đội và du kích còn đột nhập vào thị trấn Vĩnh Điện diệt và làm bị thương nhiều tên.

        Rõ ràng, tuy chiếm được đất, lập được một số đồn bốt, nhưng giặc Pháp không thể nào dập tắt được ngọn lửa chiến tranh nhân dân trong vùng tạm bị chiếm đang bùng lên mạnh mẽ.

        Trong năm 1947, việc xây dựng lực lượng vũ trang trong tỉnh được các cấp uỷ Đảng coi trong. Các cơ quan quân sự từ tỉnh đến xã, phường được củng cố và tăng cường. Các xã, phường đều có đội du kích tập trung; huyện, thị có trung đội biệt động, riêng thành phố Đà Nẵng có ba trung đội. Công an, công an xung phong cũng được thành lập phối hợp với bộ đội và dân quân du kích diệt tề trừ gian có hiệu quả.

        Phát huy kinh nghiệm trong Cách mạng tháng Tám, từ tay không giành chính quyền, Đảng ta luôn luôn đặt công tác chính trị tư tưởng lên hàng đầu. Với tinh thần đó, trong điều kiện tương quan lực lượng về binh khí, kỹ thuật quá chênh lệch và phải chiến đấu độc lập, phân tán, từ tháng 3 năm 1947, sau hội nghị chính trị viên trung đoàn toàn quốc (lúc này đơn vị chủ lực lớn nhất của quân đội ta mới đến cấp trung đoàn), các trung đoàn chủ lực của Liên khu 5 đã thành lập được chi bộ đảng ở cấp đại đội, hệ thống cán bộ chính trị và chiến sỹ chính trị ở trung đội và tiểu đội. Cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang ở địa phương, Đảng bộ được chú ý kiện toàn, mỗi xã đều có chi bộ; chính quyền và các đoàn thể được củng cố, uy tín cách mạng được nâng cao cả ở vùng tự do và vùng tạm bị địch chiếm. Với tinh thần nhiệm vụ quân sự là trên hết, ở các chi bộ xã đều có từ một đến hai người phụ trách quân sự, đông chí bí thư chi bộ làm chính trị viên dân quân du kích xã.

        Qua năm đầu kháng chiến, hoà cùng chiến thắng của quân và dân ta trên khắp chiến trường, nhất là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược làm thất bại cuộc tiến công lên Việt Bắc của thực dân Pháp trong Thu Đông năm 1947. Kết thúc một thời kỳ đầy thử thách và vô cùng khó khăn của cuộc kháng chiến. Lực lượng chủ lực của Khu 5 trên chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng, tuy ban đầu còn nhiều khó khăn thiếu thốn về hoả lực và kinh nghiệm chiến đấu, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Khu uỷ, Quân khu uỷ, đã sát cánh cùng quân dân Quảng Nam-Đà Nẵng kiên cường chiến đấu, phát triển phong trào toàn dân đánh giặc, ngăn chặn, bao vây, tiêu hao, tiêu diệt địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo toàn lực lượng, cùng quân và dân Quảng Nam-Đà Nẵng đứng vững và phát triển, giữ vững vùng tự do rộng lớn, góp phần cùng cả nước đánh bại chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp, nhanh chóng chuyển hướng vào nhiệm vụ chống âm mưu bình định vùng chiếm đóng của địch.

        Bị thất lớn trong chiến dịch tiến công lên Việt Bắc hàng tiêu diệt bộ não kháng chiến của ta, thực dân Pháp buộc phải chuyển hướng chiến lược, từ “đánh nhanh thắng nhanh” mở rộng vùng chiếm đóng sang đánh kéo dài, từ dùng quân sự là chủ yếu sang dùng chiến tranh tổng lực, thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Trên chiến trường miền Nam nói chung và Liên khu 5 nói riêng, chúng thay thế những cuộc hành quân lớn bằng những cuộc hành quân nhỏ, không nhằm trực tiếp tiêu diệt chủ lực ta mà nhằm phá hoại cơ sở chính trị, kinh tế.  Chúng coi miền Nam là nơi cung cấp lực lượng dự trữ chủ yếu cho cuộc chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:15:47 am

        Hội nghị Trung ương Đảng ngày 15 tháng 1 năm 1948 nhận định: “ So sánh lực lượng giữa ta và địch đã chuyển biến. Địch không thể tung quân đi chiếm đất như thời kỳ dầu toàn quốc kháng chiến,, nhưng địch có thể cố gắng vơ vét sức người, sức của và cầu cứu viện trợ quốc tế, dồn sức bình định ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, sau đó tập trung lực lượng ra Bắc, đưa Bảo Đại lên lập chính quyền trung ương, củng cố chính quyền địa phương…chia rẽ dân tộc, tôn giáo, kết hợp triệt phá về kinh tế… Về phía ta, chiến thắng lớn ở Việt Bắc và sự phát triển của cuộc chiến đấu ở miềm Nam tạo đà phấn khởi tin tưởng trong nhân dân ở tiền đồ kháng chiến. Tuy nhiên, lực lượng vũ trang ta còn non yếu, sức chiến đấu chưa cao, trang bị vũ khí còn rất thiếu thốn, kinh tế kém phát triển, ta còn ở thế bị bao vây, chưa tranh thủ được sự giúp đỡ bên ngoài”.

        Hội nghị đề ra nhiệm vụ: “Động viên toàn dân, toàn quân đẩy mạnh kháng chiến trên tất cả các chiến trương, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta. Hướng về mục tiêu chiến lược trong thời kỳ này là làm cho ta mạnh lên, làm cho địch yếu đi… từ chỗ ngăn chặn địch tiến lên đẩy lùi và thu hẹp phạm vi chiếm đóng của chúng”.

        Dưới sự lãnh đạo của Khu uỷ, lực lượng vũ trang khu cùng các tỉnh thộc Khu 5 một mặt phát triển  chiến tranh nhân dân ở mọi nơi, nhất là vùng địch kiểm soát, đồng thời diệt những đồn lẻ, thu hẹp địa bàn chiếm đóng của địch, tổ chức tập kích, quấy rối trong các đô thị, xúc tiến luyện quân lập công, khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân.

        Quán triệt Nghị quyết Trung ương Đảng và Khu uỷ Khu 5, đầu năm 1948, hội nghị đại biểu Đảng bộ Quảng Nam-Đà Nẵng đánh giá tình hình và xác định Quảng Nam-Đà Nẵng phải cùng một lúc làm hai nhiệm vụ lớn trong suốt thời gian dài của cuộc kháng chiến: Một là, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng bị chiếm, đánh bại kế hoạch bình định, dồn dân, lập tề của địch. Hai là giữ vừng vùng tự do, củng cố xây dựng thành hậu phương trực tiếp của cuộc kháng chiến.

        Để thống nhất lãnh đạo, chỉ huy tác chiến, thực hiện chủ trương của Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Khu 5, tôi được chỉ định tham gia vào Tỉnh uỷ và Uỷ ban Kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng.

        Thi hành chỉ thị “Chấn chỉnh tổ chức, tăng cường chỉ đạo đối với lực lượng vũ trang”, từ tháng 4 năm 1948, các đơn vị vệ quốc đoàn trong Khu 5 lần lượt biên chế lại thành bảy trung đoàn và một tiểu đoàn độc lập. Mỗi trung đoàn có nhiệm vụ dìu dắt dân quân du kích, phối hợp cùng dân quân du kích gây cơ sở, phát động chiến tranh du kích, tác chiến tiêu hao tiêu diệt địch trên một địa bàn. Ở Quảng Nam-Đà Nẵng, Bộ Tư lệnh Khu 5 quyết định sáp nhập Trung đoàn 93 và Trung đoàn 68 thành Trung đoàn 108 do đồng chí Đàm Quang Trung làm Trung đoàn trưởng, tôi làm Chính uỷ. Tháng 10 năm 1948, Trung ương sáp nhập ba khu 5,6,15 thành Liên khu 5.

        Để thực hiện chiến lược mới, địch thực hiện từ mở rộng sang bình định, củng cố vùng chiếm đóng, xây dựng hệ thống cứ điểm nhỏ và đội ứng chiến nhỏ là biện pháp cơ bản để thực hiện kế hoạch bình định trong thời kỳ này.

        Ở Quảng Nam-Đà Nẵng, quân Pháp phân tán một phần lực lượng rải ra đóng đồn bốt các trục giao thông xung quanh thành phố Đà Nẵng và các địa bàn chiến lược quan trọng. Hệ thống đồn bốt này vừa để bảo vệ các vùng trọng yếu ngăn chặn lực lượng ta từ xa, vừa là chỗ dựa cho bọn tề, điệp hoạt động lùng sục, đánh phá cơ sở kháng chiến, cướp bóc tài sản nhân dân, đồng thời chúng tổ chức các đội ứng chiến nhỏ và vừa để càn quét thực hiện chính sách “ tam quang” nhằm làm nhụt ý chí của đồng bào ta, tạo điều kiện thành lập nguỵ quyền, bắt thanh niên đi lính để bổ sung quân số hao hụt của chúng. Mặt khác, chúng dùng chiến tranh gián điệp và phi pháo đánh phá vùng tự do, vùng căn cứ kháng chiến nhất là ở huyện Hoà Vang và huyện Điện Bàn, nơi chúng chọn làm thí điểm. đi đôi với tàn sát khủng bố, chúng còn dùng thủ đoạn mị dân, lừa bịp. Do địch có ưu thế về quân sự và thủ đoạn đánh phá nham hiểm, đầu năm 1948, chúng gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất nhất định, nhưng chúng vẫn không thể nào xoay chuyển được tình thế.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:16:24 am

        Để đối phó với âm mưu mới của địch, theo chủ trương của Bộ Quốc phòng, Liên khu 5 thành lập một số đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh phát triển. Thực hiện phương châm “du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ trợ”, ở chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 tăng cường bốn đại đội độc lập (7,8,9 và 10) và hai tiểu đoàn tập trung (39 và 41). Các đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung hoạt động theo phương châm vừa tác chiến vừa xây dựng, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, phân tán, tập trung linh hoạt nhằm dìu dắt dân quân du kích tiến tới thành lập bộ đội địa phương,. Sau thời gian vừa củng cố tổ chức, vừa đẩy mạnh công tác chính trị, tư tưởng, học tập phương châm, phương thức hoạt động vùng sau lưng địch, hưởng ứng phong trào thi đua ái quốc do Trung ương   phát động, ngày 15 tháng 2 năm 1948, Trung đoàn 108 và Tỉnh đội Quảng Nam-Đà Nẵng phát động phong trào “ luyện quân lập công”. Từ giữa năm 1948, các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung cùng hàng trăm cán bộ địa phương tiến vào vùng địch, vừa tác chiến vừa xây dựng phát động chiến tranh du kích, xây dựng cơ sở chính trị, vũ trang, củng cố các đoàn thể quần chúng trong vùng tạm bị chiếm, kể cả thành phố Đà Nẵng và thị xã Hội An, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, xây dựng làng chiến đấu, triệt phá giao thông đưa du kích vùng địch hậu, vừa rèn luyện trong thực tế chiến đấu.

        Lực lượng dân quân du kích  được các đại đội hỗ trợ, tuy mới xây dựng lại, nhiều mặt còn yếu kém và gặp muôn vàn khó khăn nhưng vẫn cố gắng vươn lên, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của phong trào toàn dân đánh giặc ở địa phương.

        Đội Biệt động Điện Bàn được xây dựng sớm, trưởng thành nhanh đã phối hợp với Đại đội 8 độc lập trụ bám chống càn quét, đột nhập đồn Hương Vũ, hỗ trợ cho các xã xây dựng làng chiến đấu. Đặc biệt nhân dân và du kích xã Chương Dương và xã Hoàng Diệu (Gò Nổi) đã chủ động đào giao thông hào, đắp công sự, làm hầm bí mật, rào lang, thường xuyên bao vây, bắn tỉa địch trong các đồn bốt, tổ chức tuần tra, cảnh giới các con đường địch có thể đi qua. Địch thường xuyên dùng lực lượng từ một đến hai tiểu đoàn càn quét, đánh phá nhiều lần. Tháng 11 năm 1948, chúng dùng 1.000 quân đánh phá suốt ngày vẫn không khuất phục được nhân dân ở đây. Chúng phải dùng không quân ném bom xuống chợ Chương Dương làm chết 300 đồng bào ta, nhưng địch cũng không thực hiện được chủ trương dồn dân lập tề, bình định.

        Được đội biệt động huyện hỗ trợ, du kích hai xã tổ chức bao vây các đồn Vân Ly, Bến Đền, Phong Thử, Bình Long và phục kích bẻ gãy các cuộc càn quét của địch. Có lúc, địch đã hoang mang, bị động buộc phải rút chạy khỏi đồn Vân Ly, Bến Đền.

        Chương Dương, Hoàng Diệu trở thành ngọn cờ đầu của phong trào xây dựng làng chiến đấu, thể hiện đặc sắc phong trào chiến tranh nhân dân của Quảng Nam-Đà Nẵng trong năm 1948. Từ Chương Dương, Hoàng Diệu dần dần phát triển nhềiu làng xã khác như: Điện Nam, Điện Tiến, Điện Ngọc (Điện Bàn), Hoà Tiến (Hoà Vang), Đại Hoà (Đại Lộc), Duy Phương (Duy Xuyên), Quế Xuân (Quế Sơn) cũng có phong trào làng chiến đấu.

        Xã Điện Tiến (huyện Điện Bàn) gồm 7 thôn, giữa xã có núi Đất Sơn (Bồ Bồ), tây nam có núi Chư Bái (Sùng Công) nằm cách Đà Nẵng 16 ki-lô-mét về phía tây nam. Sau khi buộc phải dừng lại ở nam, bắc sông Thu Bồn, quân Pháp tăng cường củng cố vùng chiếm đóng, xây dựng nhiều căn cứ chốt điểm trong đó có đồn Chư Bái ở tây nam và đồn Lệ Sơn ở phía bắc của xã.

        Thực hiện chủ trương hồi cư của Tỉnh uỷ, chi bộ xã Điện Tiến quyết định đưa cán bộ, đảng viên về bám dân, bám đất, vận động nhân dân trở về làng cũ làm ăn, tổ chức xây dựng lại các đoàn thể cứu quốc, củng cố lực lượng dân quân du kích, xây dựng làng, xã chiến đấu, phát động phong trào toàn dân đánh giăc. Trong 6.000 dân trở về trụ bám có 200 tham gia dân quân, du kích trong đó có 50 được biên chế vào đội du kích tập trung. Các đoàn thể cứu quốc được củng cố, sinh hoạt đều đặn, tích cực tham gia công tác, sản xuất để tự túc và đóng góp cho kháng chiến. Ban chỉ huy xã đội được kiện toàn.

        Trong quá trình vừa xây dựng, vừa chiến đấu, quân dân xã Điện Tiến đã bao vây và thường xuyên bắn tỉa địch ở đồn Chư Bái, kết hợp đấu tranh các mặt của quần chúng với xây dựng làng chiến đấu, buộc địch phải rút bỏ đồn Chư Bái vào cuói năm 1948.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:18:58 am

        Sau thắng lợi này, dân quân du kích cùng nhân dân xã càng ra ssức củng ccố làng chiến đấu, thực hiện rào làng để chủ động đánh địch tiến công vào xã. Các hàng rào bằng cọc tre vót nhọn cắm dày ba lớp kết hợp với rào tre đã có ven làng tạo thành vật chướng ngại ngăn chặn địch. Bên trong hàng rào có giao thông hào và nhiều ổ chiến đấu. Hầm chông được bố trí ở trên đường làng, nơi địch có thể đi qua. Dân quân du kích và nhân dân đều đào hầm bí mật để che giấu lực lương, bất ngờ chiến đấu tiến công địch và bảo vệ cán bộ trụ bám phong trào.

        Tháng 12 năm 1948, Quân dân du kích và nhân dân xã Điện Tiến phối hợp với biệt động huyện Điện Bàn chống địch càn ở Tứ Sơn thắng lợi. Sau đó, Điện Tiến đánh độc lập giành thắng lợi nhiều trận, diệt 64 tên địch. Ngoài đánh giắc giữ làng, xã còn thi đua đẩy mạnh các mặt công tác khác, đẩy mạnh sản xuất đóng góp cho kháng chiến.

        Điện Tiến đã trở thành một căn cứ du kích mạnh ngay giữa vùng bị địch chiếm, được Liên khu 5 tuyên dương là xã xuất sắc toàn diện trong năm 1948-1949.

        Noi gương Điện Tiến, các căn cứ du kích ở Quảng Nam-Đà Nẵng xuất hiện ngày càng nhiều vào những năm 1950-1952, hình thành vùng du kích rộng lớn, biến hậu phương địch không chỉ từ nam sông Thu Bồn trở vào mà còn bao gồm các vùng căn cứ du kích rộng lớn ngày trong vùng địch kiểm soát.

        Ở Hoà Văng, nhờ hoạt động của Đại đội 10 phối hợp với biệt động và du kích phá kế hoạch lập tề của địch, bảo về được chỗ đứng chân của cơ quan lánh đạo huyện Hoà Vang và Đà Nẵng để tiến vào thành phố. Không những ở Điện Bàn, Hoà Vang mà cả ở Đại Lôc, thành phố Đà Nẵng và thị xã Hội An đều có những hoạt động tập kích, treo cờ, rải truyền đơn, gọi loa vào đồn địch kêu gọi binh lính; đánh mìn, bao vây, quấy rối nơi địch đóng quân.

        Không chỉ bội đội, dân quân, du kích đánh giặc mà nhân dân từ cụ già đến thiếu niên, chị em phụ nữ cũng đều tham gia đánh giặc rất mưu trí, dũng cảm.

        Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, Quảng Nam-Đà Nẵng đã chống phá kế hoạch bình định vùng chiếm đóng, lấn chiếm vùng tự do của địch. Tháng 4 và tháng 6 năm 1948, bộ đối phối hợp với dân quân du kích và nhân dân liên tiếp đánh bại hai cuộc hành quân quy mô tiểu đoàn của địch ở Hương An (Quế Sơn), diệt 200 tên. Đây là đợt tiến công cuối cùng của địch lấn chiếm vùng tự do nhưng đã bị thất bại.

        Vừa đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu hao sinh lực địch, vừa thực hiện chủ trương tổng phá tề của Trung ương, các đại đội độc lập đã phối hợp chặt chẽ với biệt động, công an, dân quân, du kích bám dân, bám đất quét sạch tề trên nhiều vùng nhắm lập lại chính quyền cách mạng. Đặc biệt ở Hội An, lực lượng của ta, đêm 4 tháng 1 năm  1949, đã tiến công vào cơ quan nguỵ quyền tỉnh, đột nhập vào nhà tên tỉnh trưởng Hồ Ngận, đọc lệnh của chính quyền cách mạng bắt hắn và một tên tay chân của hắn. Trước hành động “xuất quỷ, nhập thần” này của ta, bọn nguỵ quyền Quảng Nam-Đà Nẵng vô cùng hoang mang lo sợ.

        Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tháng 10 năm 1948, Thường vụ Trung ương Đảng ra Nghị quyết lập chế độ chính trị uỷ viên đại diện Đảng phụ trách quân đội.

        Tháng 2 năm 1949, hội nghị chính trị viên của lực lượng vũ trang Liên khu 5 nhận định: “ Tình hình Nam Trung Bộ lúc này tuy vẫn còn một số khó khăn hạn chế nhưng cũng đã đạt được thành tích khả quan, đánh bại một bước âm mưu “bình định” vùng địch tạm chiếm; chiến tranh du kích vùng sau lưng địch được phát động, vùng tự do được xây dựng và củng cố về mọi mặt, bước đầu đáp ứng những nhu cầu kháng chiến của chiến trường”. Hội nghị cũng tập trung phân tích những khuyết nhược điểm tồn tại trong đó có chiến tranh du kích chưa chú trọng đúng mức nên phát triển chưa sâu rộng, đều khắp, chất lượng một số đơn vị chưa cao, công tác đảng, công tác chính trị ở những đơn vị phân tán chưa đi vào nề nếp.

        Nói chuyện với hội nghị, sau khi phân tích sâu sắc tình hình chung cả nước và tình hình liên khu, đồng chí Phạm Văn Đồng nêu rõ nhiệm vụ quân sự của Liên khu 5 trong năm 1949 là: “ Phát động chiến tranh du kích rộng rãi, đánh sâu vào vùng địch tạm chiếm…dồn hẹp phạm vi an toàn và chiếm đóng của địch, ra sức phá hoại kinh tế, chính trị của chúng, đẩy mạnh công tác vận động nguỵ binh; giữ vững vùng tự do, xây dựng lực lượng mạnh. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, cần phải giải thích sâu rộng nhiệm vụ, phương châm chiến lược, chiến thuật cho cán bộ, chiến sỹ, thúc đẩy cán bộ tiến về chiến thuật, chiến sỹ tiến về kỹ thuật, phải xây dựng công tác đảng, công tác chính trị…”.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:20:38 am

        Sau hội nghị, các cơ quan phụ trách công tác chính trị, công tác đảng (tuyên huấn, tổ chức) được kiện toàn, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác phát triển Đảng đi vào nề nếp. Các tư tưởng như quân sự đơn thuần, bản vị, cục bộ, không bám dân, bám đất, hoang mang, dao động, không giữ nghiêm kỷ luật….đều được đấu tranh phê bình để khắc phục. Các đại đội đều có chi bộ, trung đội có tổ đảng, đa số tiểu đội có đảng viên. Việc xây dựng chi bộ tự động công tác được tiến hành đều đặn, có sự giám sát chặt chẽ của cấp trên. Thực hiện chế độ Đảng lãnh đạo trực tiếp và toàn diện trong lực lượng vũ trang, mỗi xã cử hai đồng chí trực tiếp tham gia ban chỉ huy xã đội, đồng chí bí thư chi bộ làm chính trị viên, đồng chí chi uỷ phụ trách xã đội trưởng hay xã đội phó, phân công một số đảng viên tham gia du kích, sinh hoạt trong dân quân. Tuy thực hiện chế độ Chính uỷ tối hậu quyết định nhưng mọi việc quan trọng đều có sự bàn bạc trong tập thể Đảng uỷ, chi uỷ và chỉ huy các cấp.

        Qua một năm thực hiện phương châm “du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ trợ, nhưng cần đẩy vận động chiến tiến tới”, các đơn vị chủ lực đã phối hợp với dân quân du kích Quảng Nam-Đà Nẵng thực hiện việc chấn chỉnh lực lượng, kết hợp luyện quân với lập công, bám đất bám dân tiến sâu vào vùng bị địch tạm chiếm phát động chiến tranh du kích đạt kết quả.

        Vào Đông Xuân năm 1948-1949, Liên khu uỷ và Bộ Tư lệnh Liên khu 5 chủ trương mở đợt hoạt động mạnh trên toàn chiến trường liên khu nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, đẩy mạnh hơn nữa phong trào chiến tranh du kích.

        Ở Quảng Nam-Đà Nẵng, Trung đoàn 108 được tăng cường Tiểu đoàn 19 và Tiểu đoàn 79 của quân khu, phối hợp cùng với bộ đội địa phương và dân quân du kích Quảng Nam-Đà Nẵng mở một đợt hoạt động trên toàn tỉnh. Đồng chí Nguyễn Bá Phát-Trung đoàn trưởng và tôi-Chính uỷ trung đoàn phụ trách đợt hoạt động này.

        Hướng đánh địch đầu tiên là đường đèo Hải Vân. dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Huyện uỷ Hoà Vang, đồng bào tây bắc Hoà Vang đã vượt qua khó khăn chuẩn bị chiến trường rất công phu đầy cảm động, đảm bảo đủ 15 tấn gạo, trong đó có 7 tấn đưa đến đèo Hải Vân. Du kích và bộ đội địa phương huyện đã bám đánh địch suốt một tháng để đẩy lùi hai tiểu đoàn địch ra khỏi địa bàn dự bị tập kết của bộ đội đánh địch ở đèo Hải Vân. Du kích các huyện, thị, thành phố: Đại Lộc, Điện Bàn, Suy Xuyên, Hội An, Đà Nẵng liên tục quấy rối tiêu hao để đánh lạc hướng địch.

        Sáng ngày 24 tháng 1 năm 1949, quân ta phục kích cả đường ôtô và đường xe lửa, diệt một đoàn tàu quân sự và một đoàn xe 18 chiếc của địch từ Đà Nẵng chạy ra Huế, phá huỷ một đầu máy, 12 toa xe lửa, 15 xe cơ giới, giết và làm bị thương trên 300 tên địch. Tiếp đó, một đoàn xe 12 chiếc chạy từ Huế vào tiếp viện, đến cầu Roger (cầu này ta đặt tên để ghi chiến công ngày 25/5/1947,ngày ta diệt tên đại tá Roger), 200 tên Pháp nhảy xuống, 40 tên đã bị quân ta tiêu diệt tại chỗ. Đến xế chiều, ta rút quân, trên đèo chỉ còn lại hàng trăm xác giặc.

        Đây là trận thắng lớn thứ ba của quân ta trên đèo Hải Vân kể từ đầu năm 1947.

        Cay cú vì trận thất bại quá lớn, tên chỉ huy Pháp ở Đà nẵng cho rằng với địa hình hiểm trở này, quân ta chưa rút được. Chúng liền huy động tám tiểu đoàn cơ động đổ quân chặn kín các ngả đường núi và suốt hữu ngạn sông Trường Định, tịch thu phá huỷ hết ghe thuyền, ra lệnh thiết quân luật, hòng bao vây tiêu diệt lực lượng ta. Đêm 27 tháng 1 năm 1949, giữa lúc du kích và biệt động huyện bí mật bơi qua sông tập kích cứ điểm Nam Ô để nghi binh thu hút địch, hàng vạn nhân dân huyện Hoà Vang huy động thuyền từ xa đến, bí mất đưa 1.800 cán bộ, chiến sỹ, thương binh và hàng chục tù binh qua sông Trường Định an toàn. Dân quân, du kích canh gác cảnh giới, nhân dân trong vùng đứng dọc suốt theo hành lang lui quân vừa làm hoa tiêu chỉ đường, vừa tiếp tế cơm nước cho bộ đội. Nhân dân toàn huyện nổi thanh la, trống mõ, vừa phô trương thanh thế vừa đánh lạc hướng địch. Vậy là, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, nhân dân đã chuẩn bị cho bộ đội đánh thắng, giờ đây nhân dân lại giúp bộ đội lui quân an toàn.

        Chiến thắng Hải Vân lần thứ ba là thắng lợi của sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương Quảng Nam-Đà Nẵng, là một điển hình tiêu biểu của chiến tranh nhân dân vùng sau lưng địch, thể hiện sinh động phong trào toàn dân đánh giặc trong các quá trình chuẩn bị chiến trường, thực hành chiến đấu và bảo tồn lực lượng lúc lui quân.

        Sau trận đèo Hải Vân, theo lệnh của Bộ Quốc phòng, Tiểu đoàn 19 ra phối hợp chiến đấu với lực lượng của Khu 4 ở nam Thừa Thiên. Tiểu đoàn đã đánh thắng một trận vận động phục kích lớn tiêu diệt hoàn toàn đại đội Ta-bo (Âu-Phi) phá huỷ và đốt cháy 14 xe cơ giới của địch tại Gò Cà, trên đường từ Ái Nghĩa đi Tuý Loan (Hoà Vang).

        Trận đèo Hải Vân và trận Gò Cà là hai hoạt động tập trung có những yếu tố của một chiến dịch lần đầu xuất hiện ở chiến trường Nam Trung Bộ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:21:52 am

        Sau hai trận thắng lớn Hải Vân và trân Gò Cà , nguỵ quân, nguỵ quyền cơ sở hoang mang, ta liền phát động một đợt hoạt động du kích: diệt tề trừ gian, đánh mìn, phục kích đường giao thông, tổng phá hoại đường sá cầu cống, đào hầm bí mật, rào làng chiến đấu, đếm đêm dùng trống mõ, thanh la uy hiếp địch, gọi loa, rải truyền đơn vào đồn kêu gọi binh lính địch trở về với kháng chiến, không tàn sát cướp bóc đồng bào.

        Đợt hoạt động quân sự trên chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng đã góp phần thực hiện mục đích của liên khu đề ra vừa tiêu diệt một phần sinh lực địch, vừa thúc đẩy phong trào nhân dân du kích chiến tranh vùng sau lưng địch phát triển một bước. Lực lượng bộ đội địa phương huyện tuy mới được thành lập nhưng đã trưởng thành vượt bậc, tiêu biểu là trận đánh độc lập phục kích độn thổ giữa ban ngày, ngày 6 tháng 3 năm 1949, của đại đội bộ đội địa phương Điện Bàn, diệt hai tiểu đội địch và trận tiêu diệt đồn Núi Lở, san bằng một lô cốt, diệt gọn một trung đội địch của bộ đội và đội du kích huyện Đại Lộc. Đây là trận đánh có cơ sở nội ứng của binh vận và giành thắng lợi đầu tiên ở chiến trường Quảng Nam-Đà nẵng.

        Tháng 3 năm 1949, Đại hội Đảng bộ Liên khu 5 kiểm điểm các mặt hoạt động toàn liên khu từ tiền khởi nghĩa đến đầu năm 1949, đi sâu đánh giá phong trào và từng vùng chiến lược, từng tỉnh trong Liên khu. Đại hội đã quyết định tặng cờ "Vững tiến" cho tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng.

        Từ kinh nghiệm của đợt hoạt động mạnh trong Đông Xuân năm 1948-1949, sau đại hội, Liên khu uỷ quyết định mở chiến dịch Hè Thu năm 1949 tại chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng mang tên chiến dịch Phạm Văn Đồng.

        Lực lượng tham gia gồm có Trung đoàn 108 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích trong tỉnh.

        Chiến dịch nhằm mục đích phối hợp với chiến trường toàn quốc, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, phá âm mưu chiếm vùng tự do phía tây huyện Đại Lộc nối liền từ Đà Nẵng đi Kon Tum của địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích, phá giao thông trên đường Đà Nẵng-Huế, tạo thế chiến trường cho hoạt động Đông Xuân năm 1949-1950.

        Trung đoàn 108 cùng lực lượng địa phương vừa đẩy mạnh đánh phá giao thông, bao vây đồn bốt, phục kích các toán quân tuần tiễu, vừa tập trung lực lượng đánh tiêu diệt từng đơn vị địch trong đó hướng tiến công chính là tuyến phòng thủ phía nam sông Thu Bồn. Mục tiêu chủ yếu trước mắt là cứ điểm Thu Bồn.

        Thu Bồn là cứ điểm then chốt của địch trên tuyến phòng thủ phía nam. Địch bố phòng ở cứ điểm này một đại đội, có nhiệm vụ chiếm giữ, ngăn chặn ta tiến công, đồng thời làm chỗ dựa cho nguỵ quân, nguỵ quyền kìm kẹp, đàn áp nhân dân vùng xung quanh. Vì vậy công tác chuẩn bị chiến trường phải làm rất tỉ mỉ, công phu.

        Đúng 16 giờ ngày 18 tháng 8 năm 1949, được sự giúp đỡ của cơ sở trong bộ máy chính quyền xã và nhân dân địa phương, một đại đội của Tiểu đoàn 39 phối hợp với Đại đội 7 Duy Xuyên và một trung đội trinh sát cải trang thường dân nổ súng tiêu diệt cứ điểm Thu Bồn giữa ban ngày, đồng thời uy hiếp cả hệ thống cứ điểm địch ở Kiểm Lâm, La Tháp, Giao Thuỷ, Phú Thuận, Phú Mỹ, An Khương...

        Đây là trận đánh đồn đầu tiên giành thắng lợi do kết hợp được chặt chẽ giữa nội ứng bên trong với lực lượng tiến công từ ngoài vào, giữa quân sự và binh vận. Trận đánh diễn ra nhanh đến nỗi bọn địch còn sống sót bàng hoàng trước mọi diễn biến. Kết quả, ta tiêu diệt và bắt sống một đại đội Âu-Phi, thu toàn bộ vũ khí. Sau đó ta phối hợp với cơ sở binh vận tiêu diệt các đồn Cẩm Lệ, Núi Lở.

        Để đối phó lại sự tiến công của ta, địch tập trung lực lượng càn quét liên tục ở vùng nam bắn sông Thu Bồn. Đảng uỷ, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định sử dụng lực lượng đánh vào cơ quan đầu não của địch ở thành phố Đà Nẵng để buộc chúng phải rút quân về bảo vệ thành phố.

        Đêm 14 tháng 3 năm 1949, quân ta mở một đợt hoạt động trong toàn tỉnh. Riêng tại thành phố Đà Nẵng, Tiểu đoàn 39 và Tiểu đoàn 49 của Trung đoàn 108 đã cùng biệt động, công an xung phong...được dân quân du kích và nhân dân hỗ trợ, đột nhập đánh địch suốt ba giờ; giết, làm bị thương và bắt sống gần 150 lính địch và gần 200 tay sai; tổ chức nhiều cuộc mít tinh nhân dân tuyên truyền chiến thắng, chính sách của mặt trận dân tộc thống nhất. Bộ máy nguỵ quyền cơ sở của địch trong toàn tỉnh cơ bản bị phá rã, gây ảnh hưởng rộng lớn. Nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào sức mạnh của kháng chiến. Còn kẻ địch thì hoang mang, lo sợ. Tiếp đó, du kích mật Đà Nẵng lại đột nhập đốt cháy 1,5 triệu lít xăng ở kho Liên Chiêu. Bộ đội địa phương và dân quân du kích các huyện, thị xã Hội An Liên tục quấy rối, nghi binh, đánh giao thông, tập kích, phục kích, chống càn quét làm cho địch lúng túng đối phó khắp nơi.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:23:32 am

        Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 1.200 tên địch, đánh phá 34 cơ quan nguỵ quyền, giải tán 17 ban tề, bắt cải tạo 487 tên tay sai. Địch bị diệt và buộc phải rút bỏ 18 đồn bốt. Ta giải phóng các xã ở tây nam Đại Lộc và tây Duy Xuyên, vùng tự do được mở rộng.

        Tuy chiến dịch hoạt động trong thời gian ngắn, quân số ít, nhưng đạt hiệu quả chiến đấu cao, giành thế chủ động chiến trường. Thắng lợi của chiến dịch đã ảnh hưởng đáng kể đến phong trào du kích chiến tranh ở Liên khu 5. Nó thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích , công an và nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh; bước đầu kết hợp quân sự, chính trị, binh vận, tạo thành sức mạnh của chiến tranh nhân dân vùng sau lưng địch, đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang địa phương.

        Trước sự trưởng thành nhanh chóng của lực lượng vũ trang ta trên cả nước, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ rất lo ngại, tập trung mọi nỗ lực để củng cố lực lượng và thực hiện chính sách “bình định” vùng tạm kiểm soát, đồng thời mở rông ra vùng du kích và vùng tự do của ta.

        Tháng 8 năm 1949, Thường vụ Trung ương Đảng chỉ thị xây dựng bộ đội địa phương làm nòng cốt cho việc phát triển dân quân du kích, sẵn sàng thay thế bộ đội chủ lực để bộ đội chủ lực cơ đông trên địa bàn rộng, thực hiện quả đám mạnh, tiêu diệt lớn quân địch.

        Căn cứ vào thực tiễn và yêu cầu của chiến trường, thánh 5 năm 1949, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 thành lập Trung đoàn 210 gồm ba tiểu đoàn: 19, 50, 79 là những tiểu đoàn cơ động của liên khu.

        Tại Quảng Nam-Đà Nẵng, địch rút bỏ các cứ điểm vòng ngoài để tăng cường bảo vệ thành phố Đà Nẵng, đường giao thông chiến lược, đồng thời có lực lượng cơ động để mở những cuộc càn quét đánh phá vùng bàn đạp của ta tại Hoà Vang, tây Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc nhằm phá kế hoạch Đông Xuân của ta.

        Mặc dù có sự phản ứng của địch sau Hè Thu, Liên khu uỷ 5 vẫn nhận định Quảng Nam-Đà Nẵng có nhiều thuận lợi vì phong trào chiến tranh nhân dân phát triển cao có thể phối hợp với chủ lực tiến hành chiến dịch. Liên khu uỷ quyết định mở chiến dịch Đông Xuân năm 1949-1950 tại Quảng Nam-Đà Nẵng và Khánh Hoà, trong đó chiến trường bắc Quảng Nam-Đà Nẵng là chiến trường chính nhằm chủ động chống phá âm mưu đánh chiếm miền tây Quảng Ngãi của địch; tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, củng cố và phát triển phong tào du kích chiến tranh. Chiến dịch lấy tên là chiến dịch Võ Nguyên Giáp. Lực lượng tham gia chiến dịch có Trung đoàn 210, Trung đoàn 108 của quân khu và lực lượng vũ trang của tỉnh.

        Ngày 19 tháng 1 năm 1950, được cơ sở binh vận làm nội ứng, Đại đội 3, Tiểu đoàn 39 chủ lực cùng dân quân du kích địa phương được nhân dân hỗ trợ đắc lực, đã tổ chức tiến công đồn Ngũ Giáp giữa ban ngày, diệt và bắt gọn hai trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí chỉ trong vòng 15 phút. Tiếp đó, ta đánh trận phcụ kích trên quốc lộ 1 (đoạn Đà Nẵng-Vĩnh Điện) diệt và bắt sống hai trung đội. Địch phải điều quân cơ động ứng chiến đến đối phó.

        Tối ngày 2 tháng 2 năm 1950, Trung đoàn 210, từ chiến khu Phú Túc bí mật hành quân xuống xã Điện Hoà (Điện Bàn) để đánh vận động phục kích trên đường số 1. Cả Trung đoàn được bố trí trong nhà dân với sự che chở tận tình của nhân dân địa phương. Mọi nhu cầu về ăn, ở, vận chuyển, đảm bảo tuyệt đối ví mật đều được các gia đình thực hiện chu đáo, mặc dù đây là “làng tề” bị địch chiếm sâu, gần quốc lộ 1, có đồn Ngũ Giáp, gần căn cứ lớn của địch ở Vĩnh Điện, cách sân bat Đà Nẵng khoảng 10 ki-lô-met.

        Đúng 16 giờ 30 phút ngày 6 tháng 2 năm 1950, môt6j đoàn xe 10 chiếc có một đại đội lính Âu-Phi hộ tống từ Đà Nẵng chạy vào đến Thanh Quýt thì lọt vào trận phục kích của quân ta, một đại đội lê dương bị diệt gọn,50 tên bị  bắt sống, ta thu hơn 100 súng, phá huỷ 14 xe. Nhân dân xông ra thu chiến lợi phẩm, thu dọn chiến trường, chèo đò chở bộ đội qua sông đồng thời dùng rơm rạ hun khói mù mịt che mắt địch, tạo điều kiện cho bộ đội lui quân an toàn.

        Sau trận Thanh Quýt, ban chỉ huy chiến dịch chủ trương đẩy mạnh các hoạt đông trong toàn tỉnh, bộ đội địa phương, dân quân, du kích cùng nhân dân phá hoại đường giao thông, phục kích diệt bọn đi lùng, quấy rối đồn bốt, diệt tề trừ gian, đốt chợ địch, nổi trống, mõ, thanh la… uy hiếp tinh thần địch; bộ đội đột nhập vào trung tâm thành phố Đà Nẵng vũ trang tuyên truyền, binh vận gây náo động trong thành phố, tiến công đồn Hòn Bằng (Duy Xuyên), tập kích, phục kích vào Nam Ô, gò Ông Tự, Liên Chiểu, Tùng Sơn, Hướng Phước, kỳ tập diệt đồn Cẩm Lệ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:25:48 am

        Trong chiến dịch này, vai trò của quân-dân-chính-đảng ở địa phương phối hợp với chủ lực để chuẩn bị chiến trường cũng như giải quyết hậu quả sau chiến đấu là rất to lớn, đầy xúc động. Thắng lợi của phong trào chiến tranh nhân dân phát triển ngày càng mạnh mẽ, buộc địch phải thu hẹp phạm vi chiếm đóng.

        Kết quả của chiến dịch, ta triệt hạ được ba cứ điểm, bức rút sáu cứ điểm, giải phóng 600 ki-lô-mét vuông với hơn hai vạn dân, diệt 450 tên trong đó có tên quan tư Lô-tu-lec, bốn tên quan ba, thu 203 súng các loại, phá huỷ 30 xe cơ giới.

        Tuy nhiên, do ta có khuyết điểm về chuẩn bị chiến trường trên đèo Hải Vân, về tinh thần cảnh giác cách mạng và kỷ luật bảo đảm bí mật quân sự, nên đã ảnh hưởng đến hiệu quả của chiến dịch.

        Tháng 6 năm 1950, quân khu lại thành lập trung đoàn chủ lực thứ hai, Trung đoàn 803 gồm Tiểu đoàn 39, Tiểu đoàn 49 và cơ quan trung đoàn bộ phụ trách tác chiến trên địa bàn tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Tiểu đoàn 365 của Khánh Hoà; đổi tên Trung đoàn 210 thành Trung đoàn 108, củng cố các trung đoàn địa phương, điều một số cán bộ có kinh nghiệm chiến đấu và một số vũ khí trang bị về cho các tỉnh nhằm thúc đẩy mạnh việc xây dựng bộ đội địa phương để làm nhiệm vụ chiến đấu ở địa phương và sẵn sàng thay thế, bổ sung cho bộ chủ lực.

        Khó khăn nhất ở chiến trường là khi bộ đôi chủ lực rút đi, bộ đội địa phương không trụ bám được, phong trào bị tổn thất nặng. Để giải quyết mâu thuẫn đó, Trung đoàn 108 đã hết sức giúp đỡ địa phương xây dựng lực lượng đủ sức đảm đương nhiệm vụ.

        Qua gần bốn năm chiến đấu, trên chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng, dân quân du kích được tổ chức rộng khắp, chất lượng hoạt động ngày càng tiến bộ, đã phối hợp với bộ đội chủ lực trong xây dựng và chiến đấu, có kinh nghiệm và trưởng thành rõ rệt. Các đại đội bộ đội địa phương huyện được thành lập sớm từ năm 1949 đã kết hợp luyện quân với lập công, tác chiến với xây dựng, phối hợp tác chiến với chủ lực qua ba chiến dịch, có nhiều đại đội tác chiến độc lập tiêu diệt từng trung đội địch ngoài công sự, bắt tù binh, thu vũ khí, đã thực sự làm nòng cốt cho phong trào chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích trên địa bàn huyện.

        Tháng 4 năm 1950, thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Nam-Đà Nẵng quyết định thành lập Tiểu đoàn 29, tiểu đoàn cơ động tập trung đầu tiên của tỉnh đồng thời cũng là tiểu đoàn bộ đội địa phương đầu tiên của Liên khu . Tiểu đoàn gồm 500 cán bộ, chiến sỹ của bốn đại đội của các huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc và thị xã Hội An; thành lập ba đội đội độc lập (23,24,26) trực thuộc ban chỉ huy tỉnh đội, đồng thời rút du kích tập trung về thành lập lại bộ đội địa phương ở các huyện mà không ảnh hưởng gì đến phong trào du kích chiến tranh ở cơ sở. Khoảng giữa năm 1950, theo chỉ thị của Liên khu uỷ, Tỉnh đội Quảng Nam-Đà Nẵng tổ chức như một trung đoàn bộ đội địa phương lấy phiên hiệu Trung đoàn 93. Các cán bộ, các ban và tiểu ban của tỉnh đội đồng thời cũng là cán bộ, ban và tiểu ban của trung đoàn. Tình hình trên đây đánh dấu bước trưởng thành nhanh chóng và vững chắc của lực lượng vũ trang Quảng Nam-Đà Nẵng.

        Sau hai năm, kể từ khi thành lập (4/1948) với trách nhiệm chiến đấu tại địa bàn Quảng Nam-Đà Nẵng, chiến trường chính của Liên khu, Trung đoàn 108 đã làm tròn nhiệm vụ được giao, dìu dắt bộ đội địa phương và dân quân, du kích; góp phần quan trọng phát phong trào chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân, bảo vệ vững chắc vùng tự do, đưa chiến tranh vào vùng sau lưng địch, không chỉ biến hậu phương địch thành tiền phương ta mà còn biến hậu phương địch thành hậu phương của ta, làm thất bại âm mưu lấn chiếm, bình định của địch. Cũng qua hai năm đó, trung đoàn đã trưởng thành lên một bước, rút được nhiều kinh nghiệm trong tác chiến, lập được nhiều chiến công vang dội được nhân dân tin yêu mến phục, kẻ thù khiếp sợ. Trong nhân dân lưu truyền huyền thoại “tướng Quang Trung có bốn mắt nên đánh đâu thắng đó”.

        Tháng 5 năm 1950, Trung đoàn được lệnh rút về làm nhiệm vụ cơ động của Bộ Tư lệnh Liên khu.

        Đây là thời kỳ địch chuyển sang phòng ngự, đánh kéo dài hòng vơ vét nhân tài, vật lực của ta, chứng tỏ địch đã thất bại về chiến lược. Lực lượng vũ trang của ta vừa đánh, vừa xây dựng vừa trưởng thành. Bộ đội chủ lực rút đi, bộ đội địa phương vẫn độc lập tác chiến được.

        Sau một thời gian ngắn học tập chính trị, quân sự trong phong trào “rèn cán, chỉnh quân”, Trung đoàn 108 được quân khu điều đi tham gia giải quyết tiệp vụ bạo loạn ở Sơn Hà ( miền tây Quảng Ngãi).

        Từ khi trở lại xâm lược nước ta, thực dân Pháp không bao giờ từ bỏ âm mưu đánh chiếm vùng tự do Liên khu . Từ năm 1949, lợi dụng một số sai lầm, khuyết điểm của cán bộ ta trong việc thực hiện chính sách dân tộc và một số cuộc vận động không phù hợp với trình độ, tập quán phong tục của nhân dân miền núi, bọn Pháp ở Kon Tum đã móc nối với bọn tù trưởng phản động kích động quần chúng nổi lên chống lại cán bộ, gây hận thù dân tộc, tổ chức và trang bị cho lực lượng phiến loạn gồm hàng ngàn tên hòng chiếm miền tây Quảng Ngãi làm bàn đạp chiếm đống bằng vùng tự do.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:28:07 am

        Tháng 4 năm 1950, ta đã đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm của quân Pháp xuống Sơn Hà, buộc chúng phải rút về Kon Tum, nhưng bọn phiến loạn và vấn đề ổn định chính trị miền tây Quảng Ngãi ( chủ yếu là Sơn Hà và Ba Tơ) vẫn chưa giải quyết được. Bọn phản động địa phương vẫn ngấm ngầm hoạt động, bí mật nhận súng cảu Pháp đưa về phát cho dân, đánh bật cán bộ ta ra phần lớn huyện Sơn Hà và gây mất ổn định nhiều vùng thuộc miền tây Quảng Ngãi. Đồng bào Rhe, một mặt vẫn thành kiến với những sai lầm của cán bộ ta trong thực hiện chính sách trước đây, cộng thêm những sai lầm mới trong thái độ và hành động của cán bộ và bộ đội ta trong thời kỳ đầu xử lý cuộc nổi loạn, nên vẫn chưa tin vào cách mạng, vào cán bộ và bộ đội. Mặt khác, trong nhân dân, nhiều gia đình có con em tham gia lực lượng phiến loạn, cộng thêm sự chi phối của tù trưởng phản động nên vẫn lén lút tiếp tế, phục vụ và khi bọn này bị tan rã vẫn tiếp tục che giấu.

        Sau khi kiểm điểm lại những sai lầm, thiếu sót, Liên khu uỷ quyết định lấy công tác vận động nhân dân làm căn bản, cán bộ và bộ đội phân tán làm công tác tuyên truyền giải thích chính sách trong cả đồng bào dân tộc và Kinh, chăm lo giải quyết đời sống nhân dân, vận động lớp trên, cô lập bọn cầm đầu phản động ngoan cố nhất.

        Đối với Trung đoàn 108, đây là đợt hoạt động hoàn toàn mới. Do chưa được học tập đầy đủ về quan điểm chiến tranh nhân dân, về bản chất và chức năng của quân đội nhân dân, lại lần đầu tiên làm nhiệm vụ vận động đồng bào có nhiều phong tục tập quán lạc hậu, có mối quan hệ phức tập nên bước đầu không tránh khỏi những thiếu sót, thậm chí sai lầm như nặng về quân sự, mệnh lệnh…, sau khi được uốn nắn đã dần dần sửa chữa, khắc phục. Được cán bộ cơ sở và một số người Rhe tiến bộ cộng tác, giúp đỡ, công tác vận động nhân dân đi đôi với truy lùng và gọi hàng “chí xẻng” “tên gọi bọn chống đối ta chạy theo giặc Pháp) đã bắt đầu thu được kết quả. Sau ba tháng, ta đã tranh thủ được phần lớn nhân dân và một số tù trưởng tiến bộ. Các toán “chí xẻng” bị truy lùng ráo riết, mất dần sự tiếp tế của dân, không còn chỗ đứng an toàn nữa. Một số được người thân thuyết phục trở về đầu thú, số còn lại chạy lên Công Plông (một căn cứ bàn đạp ở Kon Tum để địch tung về đánh vùng tự do Quảng Ngãi) nhập với bọn đã chạy lên trước.

        Công việc xây dựng cơ sở chống bọn phiến loạn đang bắt đầu tiến triển tốt thì giữa tháng 10 năm 1950. Trung đoàn 108 được Bộ Tư lệnh khu điều ra tham gia đợt hai của chiến dịch Hoàng Diệu, Thu Đông 1950, ở Quảng Nam-Đà Nẵng với mục đích bảo vệ mùa lúa đang chín (trọng điểm là Điện Bàn); phá âm mưu bình định, dồn dân, bắt lính của địch, diệt một số cứ điểm, hỗ trợ nhân dân chống địch chiêu an, đưa phong trào du kích chiến tranh vượt qua khó khăn, giữ vững phong trào kháng chiến ở vùng tạm bị chiếm. Từ cán bộ đến chiến sỹ đều nô nức phấn khởi trở lại chiến trường cũ rất đỗi thân yêu.

        Chiến dịch chia làm hai đợt. Đợt một do Tiểu đoàn 29 và lực lượng vũ trang các huyện đảm nhiệm, đánh thắng trận đầu ngày 5 tháng 8 ở đình Bảo An (Điện Quang) và trận phục kích ỉơ tuyến đườn Giao Thuỷ-Tuý La và Ái Nghĩa-Điện Hồng, cùng dân quân, du kích bám sát, bắn tỉa các đơn vị địch, đặt mìn chống địch càn quét cướp lúa; tiến vào vùng xung yếu, khu tập trung diệt tề, trừ gian xây dựng cơ sở, chuẩn bị phá chiêu an, dồn dân trong toàn tỉnh của địch.

        Bước vào đợt hai chiến dịch, Trung đoàn 108 tham gia chiến dịch Hoàng Diệu chỉ có Tiểu đoàn 19 và Tiểu đoàn 79, còn Tiểu đoàn 50 di dẹp loạn ở Ba Tơ (Quảng Ngãi). Tiểu đoàn 19 đã hoạt động phân tán, tiêu hao, kiềm chế địch có kết quả ở La Nghi, Gò Nổi, đánh địch đi tuần tiễu trên đường La Nghi diệt gọn một trung đội địch.

        Sau các đợt hoạt động liên tiếp ở Tứ Hải, ta chuẩn bị sẵn sàng đánh địch vào giữa xã Điện Hoà với ý định chống các cuộc càn quét nhỏ, nhưng tình hình không diễn ra như ta dự kiến.

        Ngày 4 tháng 11 năm 1950, với lực lượng 1.500 quân cơ động ứng chiến, cộng thêm quân các cứ điểm Bình Long, Phong Thử, Ngũ Giáp, Quá Giáng, có 10 máy bay yểm trợ, địch chia làm ba mũi tiến công chính diện và hai bên sườn đội hình ta, bao vây xã Điện Hoà. Lực lượng ta chỉ bằng một phần năm lực lượng địch và đang ở thế bị kẹp giữa đường sắt và quốc lộ 1. Anh Phan Hoan- huyện đội trưởng Điện Bàn (Sau này là Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 5) đã lo lắng và liên tưởng: “Chiến dịch Biên giới ta vây đánh tan hai binh đoàn cơ động mạnh và bắt sống hai viên chỉ huy binh đoàn sừng sỏ của Pháp là Sác-tông và Lơ Pa-giơ, chẳng lẽ ở đây Trung đoàn 108 và ban chỉ huy trung đoàn lại để cho địch đánh bại và bắt sống ban chỉ huy thì coi bằng hoà”.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:29:28 am

        Tiểu đoàn 79, Tiểu đoàn 19 phân tán thành từng tiểu đội, trung đội phối hợp cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích bám từng bờ tre, mương nước, gò mả chiến đấu ngăn chặn địch. Trước sự tiến công dồn dập của địch, nhiều cán bộ, chiến sỹ ta đã nêu gương tuyệt vời của lòng dũng cảm hy sinh, tiêu biểu là chiến sỹ Trần Đức còn lưu truyền mãi trong lòng nhân dân huyện Điện Bàn cũng như trong toàn tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng (ngày 7 tháng 5 năm 1956, đồng chí Trần Đức được Quốc hội và Chính phủ truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Quân công hạng nhì). Trong suốt trận chống càn ở Điện Hoà, nhân dân đã hết lòng ủng hộ, giúp đỡ bộ đội và dân quân du kích, không ngại gian khổ hy sinh dẫn đường cho bộ đội, tiếp tế cơm nước, di chuyển và chăm sóc thương binh, liệt sỹ, tổ chức đốt khói nghi binh, đánh lạc hướng cho bộ đội chiến đấu và rút lui an toàn. Nhớ lại trận đánh ở đèo Hải Vân lần thứ ba, ngày 24 tháng 1 năm 1949, tôi không khỏi bồi hồi xúc động, càng thấy rõ lòng dân mạnh hơn máy bay, đại bác của địch, chiến tranh nhân dân thực sự là vô địch.

        Cuộc càn quét của địch, tuy có gây khó khăn cho ta, nhưng chúng không tiêu diệt được chủ lực, không cướp được lúa và bình định vùng du kích của ta. Chính địch cũng phải thú nhận thất bại: “Cuộc hành quân với 1.500 bình lính, có đủ máy bay, đại bác, cơ giới vào Điện Hoà đã đưa đến kết quả…không đi đến đâu cả”.

        Chiến dịch Hoàng Diệu kết thúc thắng lợi, bộ đội và nhân dân bảo về được mùa lúa ở Điện Bàn, vựa thóc của tỉnh và của Liên khu 5, phối hợp chặt chẽ với chiến dịch Biên Giới, buộc địch phải rút năm tiểu đoàn Âu-Phi ở Bắc Bộ vào tăng cường cho mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng, thực hiện ý định của cấp trên về phân tán lực lượng địch trên chiến trường Bắc Bộ.

        Sau Chiến dịch Hoàng Diệu, Trung đoàn 108 lại trở về Quảng Ngãi tiếp tục vận động quần chúng dẹp loạn ở Sơn Hà, đồng thời chuẩn bị đánh phân tán tiểu khu Công Plông- căn cứ chỉ huy, tiếp tế, nuôi dưỡng bọn phiến loạn, một trong những cứ điểm kiên cố trong tiểu khu Kon Tum của địch cùng các cứ điểm Măng Đen, Măng Bút, Công Rãy hình thành tuyến cứ điểm vững chắc bảo vệ Kon Tum, uy hiếp miền tây Quảng Ngãi. Đây là trận đánh công kiên đầu tiên do Trung đoàn 108 đảm nhận, sau khi tiếp thu được kinh nghiệm trong chiến dịch Biên Giới, đánh dấu một sự chuyển biến mới về chiến lược, chiến thuật của chiến trường toàn quốc nói chung cũng như của Liên khu 5 nói riêng.

        Có thể nói, chiến trường Quảng Nam-Đà nẵng là nơi tôi gắn bó lâu nhất (1946-1950) trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp ở Liên khu 5, để lại cho tôi nhiều kỷ niệm và nhiều bài học sâu sắc.

        Phát huy những kinh nghiệm cơ bản, vô giá của cuộc vận động cách mạng tháng Tam, nhất là những kinh nghiệm hoạt động trong lòng Hà Nội trước tháng tám năm 1945, từ lúc làm Chính trị viên Đại đoàn 31, Chính trị viên Uỷ ban Quân sự đến Chính uỷ Trung đoàn chủ lực 108, có khi là người tối hậu quyết định của mặt trận, tôi dã vượt qua mọi khó khăn thử thách vươn lên làm tròn nhiệm vụ trong thời kỳ mới của cách mạng. Cũng chính từ mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng, thực hiện đường lối, phương châm, phương thức chiến tranh của Trung ương Đảng, Tổng Chính uỷ và Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Phạm Văn Đồng, của Liên khu uỷ và Bộ Tư lệnh Liên khu 5, tôi rút được nhiều bài học mới về chiến lược, chiến thuật, về chỉ huy chiến đấu, nhất là nâng cao trình độ công tác đảng, công tác chính trị, công tác xây dựng cơ sở phát động nhân dân chiến tranh, xây dựng lực lượng chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương… Những bài học đó có giá trị rất lớn khi tôi về làm chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu 5 cũng như cả thời gian sau này trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Quảng Nam-Đà Nẵng là cửa ngõ của miền Trung Đông Dương, là chiến trường chính của Liên khu 5, có địa hình địa thế tiêu biểu của cả nước: vừa có đồng bằng, rừng núi; vừa có đô thị, hải cảng lớn, nhiều tuyến giao thông huyết mạch quan trọng cả đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và đường không; vừa có vùng bị địch tạm chiếm vừa có vùng tự do; là nơi có truyền thống yêu nước chống thực dân Pháp từ ngày chúng nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta (1858) và trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chín năm, là nơi  trung đoàn trưởng thành vượt bậc, vừa có những chiến công vang dội, vừa có phong trào nhân dân, du kích chiến tranh mạnh nhất của Liên khu 5 đã từng làm cho quân thù hoảng sợ. Tên Đờ-bát-tít-ty, chỉ huy mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng của quân Pháp đã phải thú nhận một sự thật cay đắng với chúng trên chiến trường này, một chiến trường không chỉ có bộ đội đánh giặc mà toàn dân đều đánh giặc và phát triển đến mức độ cao: “Ở đây, mỗi người dân là một bức tường, thậm chí đến đứa trẻ cũng là cái mắt lưới đáng sợ”.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:31:14 am

        Chiến tháng Biên Giới (10/1950) có ý nghĩa chiến lược quan trọng đánh dấu bước trưởng thành của quân đội ta, buộc thực dân Pháp đứng trước tình thế “ tiến thoái lưỡng nan. Nhưng với bản chất ngoan cố và tham vọng điên cuồng, dựa vào viện trợ của Mỹ, thực dân Pháp ráo riết thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” đưa Đờ lat Đờ Tát-xi-nhi, Tư lệnh lục quân khối Tây âu sang làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh kiêm cao uỷ Pháp tại Đông Dương hòng xoay chuyển tình thế.

        Để phá kế hoạch của Đờ Tát-xi-nhi, đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi, sau Đại hội Đngr toàn quốc lần thứ II (2/1951), Ban Chấp hành Trung ương Đảng (mở liên tiếp bốn cuộc họp) chủ trương:

        1. Ra sức tiêu diệt nhiều sinh lực địch.

        2. Phá tan kế hoạch “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” của địch.

        3. Bồi dưỡng sức kháng chiến của nhân dân, xây dựng lực lượng, củng cố hậu phương, thực hiện cải cách ruộng đất ngay trong kháng chiến.

        Về quân sự, Trung ương Đảng vạch ra phương châm tác chiến chung là tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta; ở Bắc Bộ nâng vận động chiến lên vị trí chủ yếu đồng thời phát triển công kiên chiến; các chiến trường khác đẩy mạnh du kích chiến, kiềm chế địch và phối hợp với chiến trường chính có hiệu quả hơn, học tapạ đánh vận động trong những điều kiện thuận lơi; phương châm xây dựng là nâng cao chất lượng của bộ đội chủ lực bằng cách tiến hành chỉnh huấn chính trị, thực hiện biên chế, giải quyết tốt vấn đề cung cấp, đẩy mạnh việc xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích, đẩy mạnh công tác vận động binh lính địch; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội.

        Trung ương Đảng đặt công tác chỉnh Đảng và chỉnh quana là công tác trung tâm về xây dựng Đảng và xây dựng lực lượng vũ trang. Yêu cầu chỉnh quân là nâng cáo giác ngộ giai cấp và giác ngộ dân tộc cho cán bộ chiến sỹ, quán triệt quan điểm trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh kết hợp với nâng cao trình độ chiến thuật, kỹ thuật, chăm lo đời sống, bồi dưỡng và mạnh dạn cất nhắc cán bộ công nông, nâng cao hơn nữa chất lượng chiến đấu của bộ đội ta. Yêu cầu của chỉnh Đảng là củng cố lập trường vô sản cho cán bộ, đảng viên, thống nhất tư tưởng hành động trên cơ sở quán triệt quan điểm bồi dưỡng sức dân, chống tư tưởng tiểu tư sản và ảnh hưởng của các tư tưởng phi vô sản khác; chống các biểu hiện “tả khuynh”, “hữu khuynh”, không phân biệt rõ bạn, thù, ỷ lại, ngại đánh lâu dài, kém ý thức tổ chức và kỷ luật, quan liêu, mệnh lệnh, hủ hoá; làm cho Đảng trong sạch vững mạnh, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ của giai đoạn mới.

        Để chuẩn bị triển khai chủ trương trên đây trong toàn Đảng, toàn quân, Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng Chính uỷ tổ chức các lớp thí điểm và bồi dưỡng phương pháp tổ chức thực hiện cho một số cán bộ chủ chốt của cơ quan Trung ương, địa phương, các quân khu, đại đoàn.

        Tháng 6 năm 1951, tôi được Liên khu uỷ và Bộ Tư lệnh Liên khu cử ra Việt Bắc dự lớp chỉnh huấn và tham gia chiến dịch Hoà Bình để rút kinh nghiệm đánh lớn ở chiến trường chính. Tháng 4 năm 1952, tôi trở về liên khu 5 và được Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Liên khu  giao phụ trách côgn tác chỉnh huấn cho cán bộ tiểu đoàn và đại đội; số cán bộ chủ chốt của Bộ Tư lệnh Liên khu và các trung đoàn thì dự các lớp chỉnh Đảng do liên khu uỷ mở. Đợt chỉnh huấn kéo dài từ giữa năm 1952 đến giữa năm 1953 cho toàn thể cán bộ và chiến sỹ trong lực lượng vũ trang liên khu.

        Cùng với kết quả của chỉnh huấn quân sự, việc chỉnh huấn chính trị đối với cán bộ, chiến sỹ trong các đơn vị của Liên khu lần này thực sự đã đem lại kết quả rất tốt cả về quan điể, nhận thức và phương pháp tư tưởng đối với cách mạng dân tộc dân chủ, nhất là đối với vai trò của nông dana và cách mạng ruộng đất, nhận thức rõ hơn về đường lối kháng chiến của Đảng ta nhất là quan điểm trường kỳ kháng chiến, về tư tưởng tự lực cánh sinh... đồng thời cũng được nâng cao một bước về trình độ chiến lược, chiến thuật, về kỹ thuật đánh công kiên, đánh vận động quy mô lớn, đánh trong điều kiện chuẩn bị gấp hoặc không có chuẩn bị và một số vấn đề cơ bản về nghệ thuật chiến dịch cho cán bộ trung cấp... trong điều kiện cụ thể của chiến trường Liên khu 5.

        Qua học tập, tinh thần yêu nước, lòng yêu nhân dân lao động, chí căm thù địch được nâng cao, càng thắt chặt mối quan hệ đoàn kết giữa cán bộ và chiến sỹ, đoàn kết giữa bộ đội với nhân dân, biến thành quyết tâm trong học tập cũng như rèn luyện trên thao trường. Cán bộ, chiến sỹ đều ra sức suy nghĩ, tìm tòi học tập để đảnh chắc thắng trong những điều kiện khó khăn phức tạp và ác liệt hơn trước.

        Với phương châm nghiêm túc, thận trong, lấy giáo dục làm chính, không truy bức tư tưởng kết hợp với kiểm tra điều chỉnh có trọng điểm, các đơn vị lần lượt tiến hành chỉnh đốn về tổ chức. Các cấp uỷ Đảng cũng như bộ máy quân sự các cấp được kiện toàn. Hàng ngàn cán bộ và chiến sỹ xuất thân từ thành phận công, nông trải qua rèn luyện thử thách được kết nạp vào Đảng, được giao những nhiệm vụ quan trọng hơn. Những cán bộ, chiến sỹ xuất thân từ tầng lớp trí thức, tiểu tư sản có thành tích trong chiến đấu cũng được chú ý cất nhắc, không thành phần chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:32:11 am

        Kết quả đó cùng với việc thi hành Nghị Quyết 4 của Trung ương Đảng (1/1953) về thực hiện chính sách ruộng đất ở vùng tự do đã có tác dụng to lớn về chính trị, tư tưởng, về đẩy mạnh các mặt công tác đặc biệt trong nghệ thuật, kỹ thuật chỉ huy chiến đấu trong Đông Xuân 1953-1954. Sau bảy tháng chiến đấu liên tục, quyết liệt, quân ta đã chiến thắng vang dội trên chiến trường Bắc Tây Nguyên, đập tan tham vọng lấn chiếm vùng tự do Liên khu 5 trong chiến dịch Át-lăng mà không phải dừng lại để chỉnh huấn thêm.

        Cuối năm 1952, sau thời gian về phục trách công tác chỉnh huấn của Bộ Tư lệnh Liên khu 5, tôi được Bộ Chính trị quyết định bổ sung vào Liên khu uỷ và được phân công làm trưởng phòng chính trị (nay là chủ nhiệm chính trị) Liên khu 5, tiếp tục tham gia Đảng uỷ quân sự Liên khu. Những kinh nghiệm rút ra từ việc trực tiếp lãnh đạo chỉ huy cuộc chiến đấu ở mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng trong những năm 1946-1950 và qua chỉ đạo công tác chỉnh huấn chính trị trong năm 1952 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang Liên khu 5 thời gian sau đó.

        Sau tám năm liên tiếp bị thất bại, tháng 5 năm 1953, thực dân Pháp cử Na-va sang thay Đờ Lát Tát-xi-nhi làm tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương. Na-va vạch kế hoạch lớn hòng xoay chuyển tình thế, giành thắng lợi có tính chất quyết định, kết thúc chiến tranh trong vòng 18 tháng. Kế hoạch êu rõ là trong Thu đông 1953 và Xuân 1954, giữ vững thế phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, thực hành tiến công chiến lược để bình định miền Nam và miền Trung Đông Dương, xoá bỏ vùng tự do gồm các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên của Nam Trung Bộ.

        Tháng 9 năm 1953, sau khi phân tích cụ thể cục diện chiến tranh ở đông Dương và âm mưu mới của Pháp-Mỹ, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta nhận định: Kế hoạch Na-va tuy có gây cho chúng ta những khó khăn mới, nhưng bản thân nó chứa đựng nhiều mâu thuẫn và có nhiều nhược điểm lớn. Bộ Chính trị chủ trưởng mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 bắng ba đòn tiến công lớn:

        1. Tiêu diệt địch ở Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc, phốihợp vơi quân giải phóng Lào giải phóng Phong-xa-lỳ.

        2. Phối hợp với quân giải phóng Lào và quân giải phóng Cam-pu-chia, mở rộng vùng giải phóng tới sau lưng Sài Gòn, đánh thông đường chiến lược Nam Bắc Đông Dương.

        3. Giành địa bàn chiến lược Tây Nguyên, phá tan âm mưu bình định miền Nam của địch.

        Trong lúc đó, trên các mặt trận phía sau lưng địch, trước mắt đẩy mạnh chiến tranh du kích, củng cố và phát triển các căn cứ du kích và khu du kích, phá tan kế hoạch xây dựng nguỵ quân và dồn dân của địch. Tiếp theo, tuỳ diễn biến của tình hình mà sử dụng một bộ phận chủ lực tiến sâu vào sau lưng địch phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh đấu tranh phá kế hoạch “bình định” của địch, thu hẹp vùng tạm chiếm, phối hợp với cuộc tiến công trên mặt trận chính diện.

        Ở Nam Trung Bộ, từ mùa Hè 1953, Na-va ráo riết tăng cường lực lượng đánh phá các khu du kích của ta hòng ổn định phía sau trước khi tập trung lực lượng đánh ra vùng tự do; ráo riết tiến hành chiến tranh tâm lý gây hoang mang, tung gián điệp, biệt kích xâm nhập, móc nối nhen nhóm lại các tổ chức phản động, xây dựng các tổ chức vũ trang phản động chuẩn bị bạo loạn trong vùng tự do.

        Cuối năm 1953, để chuẩn bị chiến dịch Át-lăng đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5, quân Pháp gấp rút đưa các binh đoàn cơ động từ Pháp sang, từ Nam Triều Tiên về, từ Bình-Trị-Thiên vào, từ Nam Bộ ra cùng với các binh đoàn và tiểu đoàn tại chỗ hợp thành một lực lượng tập trung lên tới 40 tiểu đoàn, một lực lượng lớn chưa từng có ở chiến trường Đông Dương vào thời điểm đó.

        Sau khi phân tích toàn bộ tình hình địch, ta, mối quan hệ giữa chiến trường đồng bằng và Tây Nguyên, mối quan hệ giữa tiến công lên Tây Nguyên và bảo vệ vùng tự do Liên khu 5, Bộ Chính trị đồng ý kế hoạch của Tổng Quân uỷ trong kế hoạch tác chiến đông Xuân 1953-1954 ở chiến trường Liên khu 5 là: “Trong Đông Xuân này, Liên khu 5 cần tập trung lực lượng tiến công lên Tây Nguyên, phát triển lên Tây Nguyên phải coi là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất, nhiệm vụ củng cố vùng tự do là nhiệm vụ quan trọng thứ hai”.

        Do chưa nhận thức được hết ý nghĩa chiến lược của việc tiến công lên Tay Nguyên và trước âm mưu đánh chiếm vùng tự do của địch, trong cán bộ, nhân dân, kể cả một bộ phận cán bộ lãnh đạo phân vân, lo ngại: “Nếu đánh lên Tây Nguyên mà không phá vỡ được thế trận của địch, không giành được một khu vực có giá trị chiến lược, mà lại để mất vùng tự do; hoặc ta chưa kịp đánh lên Tây Nguyên mà địch đã tiến công ra vùng tự do thì tình hình sẽ trở nên phức tạp”. Từ đó có ý kiến cho rằng: cần phải tập trung lực lượng củng cố căn cứ địa, bảo vệ vùng tự do, xem nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do Nam-Ngãi-Bình-Phú là quan trọng hơn cả.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:32:49 am

        Thấm nhuần và nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương của Trung ương, Hội nghị Liên kh uỷ và Bộ Tư lệnh Liên khu 5, đầu tháng 12 năm 1953, quyết định:

        - Tập trung toàn bộ chủ lực cho nhiệm vụ tiến công lên Tây Nguyên. Phải nắm chắc địch, ta, dự kiến mọi tình huống có thể xảy ra, đánh chắc thắng và thắng ngay từ trận đầu, kiên quyết đạt cho được mục tiêu đã đề ra.

        - Giao nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do cho lực lượng địa phương, địch đánh đến địa phương nào địa phương đó tự đối phó, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận địch, kìm chân không cho chúng nhanh chóng mở rộng phạm vi kiểm soát, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do địch gây ra. địa phương nào địch chưa đến, phải tích cực động viên nhân dân phục vụ tiền tuyến.

        - Các chiến trường sau lưng địch tích cực đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh giao thông, bao vây đồn bốt; tổ chức đánh mạnh không cho địch rút lực lượng đi nơi khác, đồng thời ra sức tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng du kích, vùng giải phóng.

        Liên khu uỷ phân công anh Nguyễn Chánh-Bí thư Liên khu uỷ, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Liên khu 5 làm Bí thư Đảng uỷ kiếm Chính uỷ và Tư lệnh chiến dịch trực tiếp chỉ huy mặt trân Tây Nguyên. Tôi và anh Nguyễn Đôn-Tham mưu trưởng quân khu lo thường trực chỉ huy ở Bộ Tư lệnh Liên khu và phụ trách chống chiến dịch Át-lăng của địch ở vùng tự do. Với nhận thức tiến công lên Tây Nguyên và bảo vệ vùng tự do là hai nhiệm vụ song song mật thiết của chiến dịch, tuy điều kiện khẩn trương, phân tán nhưng Bộ Chỉ huy chiến dịch vẫn cố gắng làm việc tập thể. Một thời gian sau, anh Nguyễn Đôn cũng lên Tây Nguyên cùng với anh Nguyễn Chánh.

        Liên khu uỷ điều động 200 cán bộ tỉnh, huyện tăng cường cho bộ máy lãnh đạo dân công phục vụ mặt trận, đồng thời cũng điều động gần 200 cán bộ của Liên khu uỷ và Bộ Tư lệnh Liên khu về các tỉnh tự do cùng cấp uỷ, chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương kiểm tra, đôn đốc việc xây dựng lực lượng, xây dựng làng chiến đấu, bố phòng sẵn sàng đánh trả các cuộc tiến công của địch.

        Trước khi đi vào cuộc chiến đấu, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng trong quân đội cũng như các địa phương, các đơn vị chủ lực đã xác định được vai trò, vị trí của bộ đội chủ lực trong chiến dịch; lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương cũng đã sẵn sàng; các tiểu đoàn của tỉnh và đại đội của các huyện vùng tự do được tăng cường và củng cố, lực lượng dân quân du kích được chuẩn bị thêm cả về tinh thần tư tưởng, kỹ-chiến thuật và kế hoạch đối phó với bộ đội địa phương xây dựng thế trận chiến đấu; nam nữ thanh niên và trung niên tham gia dân công hoả tuyến; số còn lại, kể cả các cụ phụ lão, nông dân lớn tuổi, các mẹ, các chị mỗi người một việc nô nức hối hả chuẩn bị lương thực, thực phẩm cho chiến trường và dự trữ lực lượng cho cuộc chiến đấu ở địa phương. Ai nấy đều hồ hởi, quyết tâm.

        Trong khi thế chiến thắng của quân và dân cả nước trên khắp các chiến trường, để mở màn chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, ngày 1 tháng 1 năm 1954, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Liên khu 5 phát động phong trào thi đua giết giặc lập công, giành cờ thưởng luân lưu “Quyết chiến, quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn lực lượng vũ trang liên khu.

        Theo đúng kế hoạch, từ đầu tháng 1 năm 1954, trên các chiến trường sau lưng địch, quân ta lần lượt nổ súng, hoạt động đều, đánh trúng một số mục tiêu chuẩn bị cho cuộc hành quân lớn của địch, nhưng vẫn chưa đủ sức buộc địch phải tập trung quân đối phó.

        Ngày 20 tháng 1, quân Pháp đưa 22 tiểu đoàn  trong đó có bốn binh đoàn cơ động: số 10, 100, 41, 42 và hai tiểu đoàn dù nguỵ đánh ra Phú Yên.

        Từ đầu tháng 1 năm 1954, Tỉnh uỷ Phú Yên đã chủ động lãnh đạo các ngành, các cấp khẩn trương chuẩn bị, nêu cao quyết tâm chiến đấu đồng thời phát động phong trào thanh niên đi bộ đội, tham gia dân quân du kích, nhân dân thi đua hoàn thành nộp thuế nông nghiệp, góp quỹ nuối du kích, tham gia phá hoại cầu đường, nhà kiên cố trên trục đường lớn, xây dựng làng chiến đấu, dời kho lúa, gạo, muối xa quốc lộ 1, lên miền tây hoặc ra phía bắc của tỉnh.

        Dựa vào làng chiến đấu và thế trận đã chuẩn bị sẵn, quân và dân Phú Yên chủ động đánh địch ngay từ lúc chúng mới đến, liên tục chặn đánh quyết liệt các cuộc tiến công, các đoàn xe vận tải tiếp tế của địch, đánh vào sân bay Tuy Hoà, gây cho chúng nhiều thiệt hại; loại khỏi vòng chiến đấu gần 800 tên địch sau 10 ngày vào trận.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:07:40 pm

        Chia lửa với Phú Yên, quân và dân Khánh Hoà, Đắc Lắc liên tục tập kích, quấy rối đồn bốt, đánh phá các đường giao thông tiếp vận và các đưon vị phía sau cánh quân địch trên đường đến Tuy Hoà, diệt và bắt hàng trăm tên.

        Mặc dù phải chuẩn bị chiến đấu, trong mấy tháng cuối năm 1953, tỉnh Phú Yên vẫn huy động được 5 nghìn dân công và hàng trăm ngựa vận tải phục vụ chiến trường Đắc Lắc, Khánh Hoà.

        Sự phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu nhịp nhàng, chặt chẽ giữa quân và dân các tỉnh Phú Yên, Đắc Lắc, Khánh Hoà đã tạo thế trận liên hoàn, vừa chặn đánh địch ở phía trước, vừa tiến công địch ở phía sau, khiến cho quân Pháp gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Chúng phải mất đúng 26 ngày mới tạm thời kiểm soát được thị xã Tuy Hoà và một số điểm trên đường số 1 thuộc tỉnh Phú Yên.

        Địch vừa tiến công ra Phú Yên được một ngày, thì hôm sau (21/1) Bộ Chỉ huy chiến dịch họp, nhận thấy phận lớn lực lượng cơ động của địch đã tập trung ở đồng bằng Phú Yên, nếu đòn tiến công của ta ở phía tây không đủ mạnh, không có sức uy hiếp lớn dẫn đến sự sụp đổ thế trận của chúng thì không thể buộc chúng phải đưa lực lượng về chống đỡ. Bộ Chỉ huy chiến dịch hạ quyết tâm phải tiêu diệt cả ba cứ điểm Măng Đen, Măng Bút, Công Rãy trong một đêm, đập tan toàn bộ cụm phòng ngự hướng đông bắc Kon Tum của địch trong đó Măng Đen là cứ điểm kiên cố nhất. Đêm 27 tháng 1, chủ lực ta bắt đầu nổ súng đập tan cụm phòng ngự của địch ở Bắc Kon Tum, trong đó trận chiến đấu ở Măng Đen là gay go quyết liệt nhất đến 7 giờ sáng ngày 28 mới kết thúc.

        Đòn tiến công sấm sét mở đầu chiến dịch của ta đã gây chấn động mạnh đối với binh lính địch trong các đồn còn lại. Tiểu khu Kon Tum hối hả xin quân tiếp viện.

        Tranh thủ thời gian địch chưa có viện binh, ta đẩy nhanh tốc độ tiến công. Sau bảy ngày, vừa đánh vừa đuổi sát gót địch, ta đã phá vỡ toàn  bộ thế trận của địch, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm tên, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng bắc Kon Tum.

        Cũng trong thời gian này, lực lượng vũ trang của Lào và quân tình nguyện Việt Nam đã giải phóng toàn bộ cao nguyên Bô-lô-ven nối liền với bắc Kon Tum và vùng tự do Nam-Ngãi. Thế trận phòng thủ Bắc Tây Nguyên và Hạ Lào của địch bị phá vỡ, chiến trường ở Đông Dương có nguy cơ bị chia cắt. địch buộc phải bỏ thị xã Kon Tum đưa quân về phòng thủ Plây Cu, đồng thời tạm dừng cuộc hành quân Át-lăng để đưa phần lớn lực lượng ở Phú Yên lên tăng cường phòng thủ tuyến đường 19 và nam Tây Nguyên.

        Ngày 7 tháng 2 năm 1954, thị xã Kon Tum và tòn tỉnh Kon Tum hoàn toàn được giải phóng.

        Với thắng lợi này, ta đã dồn địch từ thế tranh thủ tiến công để giành chủ động sang thế phải quay về phòng ngự bị động chống đỡ.

        Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh gửi thư nêu rõ: “Thắng lợi Kon Tum là một thắng lợi lớn của ta trên chiến trường miền Nam, nó cũng là một trong những thắng lợi to lớn của ta trong mùa Xuân này trên chiến trường toàn quốc”.

        Giữa tháng 2 năm 1954, Thường vụ Liên khu uỷ và Đảng uỷ chiến dịch họp kiểm điểm tình hình bước đầu của chiến dịch, đã nhận định: Về địch, sau khi buộc phải rút khỏi Kon Tum đã đưa một bộ phận lực lượng ở đồng bằng lên để củng cố và tổ chức lại hệ thống phòng thủ ở Tây Nguyên, hình thành hai thế bố trí vừa tạo cho địch khả năng phòng thủ vững chắc đồng thời có thể nhanh chóng chuyển sang tiến công một khi đã ngăn chặn được cuộc tiến công của ta. Rõ ràng, quân địch vẫn chưa từ bỏ “Kế hoạch Át-lăng”.

        Về ta, tuy đã giành được thắng lợi lớn, nhưng do không tiêu diệt được cánh quân địch tháo chạy từ Kon Tum về Plây Cu, nên vẫn chưa tạo được sự thay đổi só ý nghĩa quan trọng về so sánh lực lượng giữa ta và địch, ta vẫn chưa giành được thế chủ động hoàn toàn về chiến dịch.

        Từ tình hình đó, hội nghị quyết định khẩn trương thực hiện mấy công việc cấp bách:

        - Tổ chức một đợt tiến công ngắn nhưng thật mạnh vào cụm phòng thủ củaquân Pháp ở thị xã Plây Cu và đường 19, kìm không cho địch rút lực lượng ra để tiến công nơi khác.

        - Bổ sung và tổ chức thêm lực lượng mới, tăng lực lượng cơ động tiến công địch.

        - Nhanh chóng ổn định vùng mới giải phòng, sẵn sàng đánh địch lấn chiếm lại. Tăng cường chỉ đạo chiến đấu và chuẩn bị chiến đấu ở vùng tự do.

        Theo kế hoạch đã vạch ra, đêm 16 rạng 17 tháng 2, cùng một lúc, quân ta dồn dập tiến công vào tuyến phòng thủ vòng ngoài đồng thời đánh sâu vào trung tâm thị xã Plây Cu. Đắc Đoa là một cứ điểm kiên cố do hai đại đội của Binh đoàn 100 đóng giữ, chúng có tam khẩu pháo 105 ly yểm trợ, là mục tiêu chủ yếu của đợt tiến công này. Sau tám giờ chiến đấu quyết liệt, đến khoảng 5 giờ sang 17 tháng 2, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm, xóa sổ hai đại đội địch, bắt sống 150 tên lính Âu-Phi. Trong thị xã, bộ đội ta đánh phá kho tàng, cơ quan chỉ huy, diệt hàng trăm tên địch ở nam đồn điền Biển Hồ, đánh chặn các đoàn xe trên đường 19.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:11:19 pm

        Vừa chiến đấu, ta vừa bổ sung lực lượng và xây dựng thêm đơn vị mới. Trong vòng một tháng, Bộ Tư lệnh Liên khu đã tổ chức xây dựng Trung đoàn 96 và Tiểu đoàn chủ lực 375 (độc lập). Đến tháng 3 năm 1954, Bộ Tư lệnh Lieê khu 5 lại được Bộ Quốc phòng tăng cường một tiểu đoàn ĐKZ-57mm. Như vậy là sau hơn một tháng chiến đấu, lực lượng chủ lực ta mạnh hơn khi bắt đầu tiến công lên Tây Nguyên. Các tỉnh vùng tự do (kể cả Phú Yên) mặc dù phải đối phó với chiến dịch Át-lăng, vẫn sẵn sàng đóng góp cho chiến trường chính những đại đội nòng cốt của mình (riêng Quảng Nam-Đà Nẵng đóng góp Tiểu đoàn 29), đồng thời tiếp tục củng cố và xây dựng thêm lực lượng để chiến thắng âm mưu lấn chiếm của địch.

        Vừa chiến đấu, ta vừa tranh thủ làm công tác binh-địch vận; bắt, gọi hàng bọn tề điệp, giải tán các tổ chức vũ trang địa phương của địch, thu vũ khí, thiết lập chính quyền cách mạng từ tỉnh đến cơ sở, tổ chức tiếp tế cho nhân dân, ổn định tình hình vùng giải phóng. Trong khi các đơn vị chủ lực dồn dập tiến công địch trên Tây Nguyên, thì ở dưới đồng bằng, quân và dân Phú Yên vẫn tiếp tục chặn đánh tiêu hao, kìm chân địch. Bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân các huyện Đồng Xuân, Tuy An làm thêm hàng ngàn hầm chông, cạm bẫy, đặt mìn ở khắp thôn xóm và trên mọi ngả đường làm hàng trăm lính địch bị chết, bị thương khi đánh vào thị trấn La Hai. Binh đoàn cơ động số 10 của địch bị bộ đội địa phương và nhân dân diệt trên 300 tên trên đoạn đường từ Tuy Hoà đi Chí Thạnh. Vừa đánh địch tràn đến địa phương, nhân dân Phú Yên còn đưa hàng trăm con em đi bộ đội, thay thế Đại đội 392 được Bộ Tư lệnh Liên khu điều đi thành lập tiểu đoàn 375, đóng góp hàng trăm tấn lương thực và cử hàng ngàn dân công phục vụ cho bộ đội chủ lực đang chiến đấu ở chiến trường Đắc Lắc.

        Tỉnh Quảng Nam, vừa đánh địch ở vùng tạm bị chiếm, vừa bao vệ vùng tự do, xây dựng một tiểu đoàn tập trung khác thay thế cho Tiểu đoàn 29 bổ sung cho Trung đoàn 108 và huy động hàng vạn dân công phục vụ chiến trường Bắc Kon Tm và Hạ Lào.

        Tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định xây dựng thêm mười đại đội độc lập và hai tiểu đoàn tập trung (ngaòi hai đại đội đã bổ sung cho đơn vị khác của Bộ Tư lệnh Liên khu), huy động được 470.000 lượt dân công phục vụ chiến trường Bắc Tây Nguyên.

        Phong trào ủng hộ tiền tuyến và giúp đỡ gia đình bộ đội, gia đình có người đi dân công được phát động rộng rãi và thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Ngoài thuế nông nghiệp, nông dân còn tự nguyện đóng góp hàng ngàn tấn lương thực phụ vụ tiền tuyến và nuôi lực lượng vũ trang địa phương.

        Để phối hợp giữa kế hoạch tiến công lên Tây Nguyên và bảo vệ vùng tự do, Bộ chỉ huy chiến dịch điều Trung đoàn 803 tiến vào khu tam giác Plây-Cu-Cheo Reo-An Khê, đánh mạnh vào sau lưng cụm quân địch trên đường 19, tiêu diệt hệ thống đồn bốt địch vừa mới thiết lập, uy hiếp mạnh cánh quân địch đánh ra Bình Định theo trục đường 1; Trung đoàn 108 và Trung đoàn 96 cùng lực lượng quân đổ bộ Quy Nhơn, không cho hai cánh quân này liên thông với nhau. Trong lúc đó, địch lại chủ quan cho rằng chủ lực của ta trên chiến trường chính Bắc Bộ không có khả năng đánh lớn, cuộc tiến công Đông Xuân 1953-1954 của ta đã kết thúc, nên cuối tháng 2 năm 1954 Na-va ra lệnh đưa binh đoàn cơ động dù, đơn vị dự bị chiến lược tinh nhuệ của chúng từ Hà Nội vào tham gia bước hai của chiến dịch Át-lăng nhằm giành lại thế chủ động chiến trường.

        Ngày 12 tháng 3, tám tiểu đoàn quân Pháp, nòng cốt là binh đoàn cơ động số 10 bắt đầu đổ bộ lên Quy Nhơn, đồng thời binh đoàn cơ động số 41 và bình đoàn cơ động số 42 từ Phú Yên vượt đèo Cù Mông và đường số 6 đánh ra Diêu Trì, các binh đoàn: 11, 21, 100 và binh đoàn dù từ An Khê kéo ra chiếm đầu cầu Thượng An, chuẩn bị đánh xuống Phú Phong (Bình Định).

        Với 18 tàu thuỷ, 13 máy bay, 230 xe cơ giới, 8 tiểu đoàn Pháp vừa mới đổ bộ lên Quy Nhơn, thì ngày hôm sau (13/3) chủ lực ta trên chiến trường chính Bắc Bộ tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau năm ngày chiến đấu quyết liệt, quân ta tiêu diệt hoàn toàn phân khu Bắc. Ngày 16 tháng 3, binh đoàn cơ động dù đang ở An Khê được lệnh hối hả ra Hà Nội.

        Cuộc chiến đấu ở nam Bình Định diễn ra gay go quyết liệt. Ở đây, quân Pháp tập trung những đơn vị tinh nhuệ nhất với sự chi viện hoả lực của không quân, hải quân, pháo binh và cơ giới mạnh.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:13:30 pm

        Dưới sự lãnh đạo kiên quyết của Tỉnh uỷ Bình Định, lại có thêm kinh nghiệm đánh địch ở Phú Yên, quân dân dọc đường số 1 lợi dụng rừng núi hiểm trở, bí mật bám sát đường, đào hầm “độn thổ” liên tục đánh vào sườn và sau lưng địch; quân và dân Quy Nhơn triệt để phá hoại nhà cửa, tổ chức các tổ chiến đấu bí mật, bố trí hầm chông, bãi mìn ở những nơi dự kiến địch sẽ đi qua hoắc dừng lại. Một bộ phận bộ đội đặc công của Bộ Tư lệnh Liên khu đào hầm bí mật, lót sẵn vũ khí, lương thực, chuẩn bị nằm lại trong lòng địch khi chúng đánh tràn qua. Chỉ trong vòng ba ngày (12 đến 14 tháng 3) bộ đội địa phương và dân quân du kích đã chặn đánh quyết liệt, loại khỏi vòng chiến đấu trên 550 tên địch, trong đó có gần 300 tên chết và bị thương vì chông, mìn.

        Bộ chỉ huy chiến dịch điều Tiểu đoàn 30 của Trung đoàn 96 chuyển về chiến đấu ở Quy Nhơn; thành lập bộ chỉ huy mặt trận để thống nhất chỉ huy các lực lượng.

        Chiến sự mỗi ngày một quyết liệt. Dựa vào uy thế của binh lực và hoả lực quân Pháp ào ạt đánh chiếm một loạt vị trí ngoại vi thị xã và tiến công ra đến Phú Tài, Phước Hải... Quân và dân Quy Nhơn, Tuy Phước ngày đên liên tiếp chặn đánh, đập tan các cuộc càn quét của địch vào cầu Sông Ngang, Trường Úc, tập kích tiêu diệt các đơn vị địch ở Lương Nông, Xóm Bảy. Đêm 3 tháng 4, lực lượng đặc công lót sẵn ở Quy Nhơn tập kích vào “Trung Hoa hý viện” diệt hơn 200 tên địch.

        Bị đánh mạnh và bị rút bớt lực lượng quay về đối phó với các chiến trường khác, ngày 4 tháng 4, quân Pháp buộc phải rút bỏ các đồn bốt mới đóng ở phía đông Tuy Phước để quay về cố thủ thị xã Quy Nhơn. Trong lúc đó, cánh quân địch trên đường 19, sau khi chiếm được Thượng An cũng buộc phải dừng lại vì binh đoàn dù đã phải trả về Hà Nội, binh đoàn 100 mất sức chiến đấu, đang lo củng cố. Khả năng nối thông đường 19 của địch không còn nữa. Bộ chỉ huy chiến dịch ta liền ra lệnh cho hai Trung đoàn 108 và 96 đẩy mạnh tiến công, tiêu diệt cứ điểm đầu cầu Thượng An, tiến tới đập nát cánh quân phía tây của địch.

        Ngày 29 tháng 3 vừa đánh tan cánh quân tuần tiễu của địch, tiến công và bắt sống gần hết một đại đội tiếp viện của địch thì đêm 30 tháng 3, Tiểu đoàn 19 tiêu diệt căn cứ địch ở Thượng An trước khi trời sáng. Giữa lúc quânđịch còn lúng túng đối phó, thì hai Trung đoàn 108 và 96 tung hết lực lượng bám sát mặt đường, dồn dập tiến công, đánh tê liệt hoàn toàn con đường vận chuyển huyết mạch của đich. Tuyến phòng thủ đường 19 bị đứt tung, địch buộc phải đưa binh đoàn cơ động 100 vừa mới được củng cố ra tăng cường. Từ giữa tháng 5 năm 1954, ta hoàn toàn làm chủ đường 19, quân Pháp buộc phải dùng máy bay tiếp tế cho An Khê và các đồn lẻ khác.

        Kìm chân cánh quân Quy Nhơn, đập nát cánh quân trên đường 19 của địch, thắng lợi to lớn đó của quân và dân Liên khu 5 đã đẩy quân Pháp trên chiến trường Nam Trung Bộ lùi vào thế phòng ngự bị động. Quyền chủ động trên chiến trường thuộc về ta.

        Ở phía nam đường 19, từ đầu chiến dịch, bộ đội địa phương và dân quân du kích cùng nhân dân liên tục diệt tề, trừ gian, phá vỡ các khu dồn dân và một số vị trí địch đang cắm sâu trong khu du kích, diệt đồn Đắc Pớt, đột nhập thị trấn Cheo Reo, diệt một số địch, phá một số xe cơ giới, phá vỡ một phần lứon bộ máy kìm kẹp của địch, mở rộng vùng du kích đến ven đường số 7. Trung đoàn 803, sau khi vượt qua đường 19, nhanh chóng tiêu diệt cứ điểm Plây Tàu-tiền đồn bảo vệ ngã ba đường số 7 và đường 14, đồng thời bố trí một đại đội cấưm sâu ven đường 1. Biết bộ đội chủ lực của ta đã vào Nam Tây Nguyên, địa bàn xung yếu nhưng đang sơ hở nhất của địch, bộ chỉ huy chiến dịch Át-lăng của địch phải gấp rút điều động binh đoàn 100 về đối phó giữ cứ điểm Plây Ring và đánh vào khu du kích Đắc Pớt, bảo vệ ngã ba đường 7 và 14. Trong vòng 12 ngày, Trung đoàn 803 liên tiếp đánh bốn trận lớnL: Trà Khê (10/4), Buôn Ma Nếp(12/4), Ai Nu (19/4), Cà Ting (21/4), phá vỡ hệ thống phòng ngự từ Cheo Reo đi Bà lá, cắt đứt đường 7, côlập chi khu Cheo Reo. Bộ chỉ huy quân khu Tây Nguyên của địch buộc phải rút binh đoàn 100 về Plây Cu để củng cố và đưa ba tiểu đoàn khác ra tăng cường bảo vệ ngã ba đường 7 và đường 14.

        Phối hợp với chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương bao vây Bà Lá và hoạt động mạnh ở Chư Đrăng, Đlây Ia. Chiến tranh du kích phát triển dọc đường 14 và đường 21. Cơ sở chính trị được mở rộng ở các đồn điền và ngoại vi thị xã Buôn Ma Thuột, phong trào ở Đắc Lắc bắt đầu phát triển.

        Thấy địa bàn chiến lược Nam Tây Nguyên bị ta uy hiếp mạnh, bộ chỉ huy chiến dịch Át-lăng buộc phải rút binh đoàn cơ động số 42 từ Bình định quay về ứng cứu.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:20:11 pm

        Ở Phú Yên, từ ngày địch đánh ra đến lứuc đó vẫn chưa thấy chủ lực ta xuất hiện nên chúng rất sơ hở. Phối hợp với Trung đoàn 803 đang hoạt động ở Nam Tây Nguyên, được sự giúp đỡ tích cực của du kích và nhân dân, sau khi bí mật luồn vào sau cụm quân địch ở La Hai, ngày 6 tháng 3, Tiểu đoàn 375 táo bạo phục kích ngay tến đường 1, diệt gọn một đoàn xe 26 chiếc tại Phong Niên. Tiếp đến ngày 21 tháng 3, Tiểu đoàn 365 trong trận giáp địch trên đường hành quân Suối Cối đã mưu trí linh hoạt đánh phủ đầu lúc chúng chưa kịp triển khai, tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn ngự lâm quân số 1, sau 45 phút chiến đấu.

        Mất hai tiểu đoàn trong vòng nửa tháng, bộ chỉ huy chiến dịch Át-lăng của địch lại hốt hoảng báo động: “Chủ lực Việt Minh đã vào Phú Yên”.

        Thừa thắng xông lên, ngày 10 tháng 4, Tiểu đoàn 365 cùng lực lượng địa phương tập kích cụm quân nguỵ ở đèo Quán Cau (Tuy An) diệt hàng trăm tên. Ngày 21 tháng 4, vẫn là Tiểu đoàn 365 vượt sông Đà Rằng phối hợp với du kích tập kích diệt gọn một tiểu đoàn địch ngay tai Bàn Nham (Tuy Hoà), phát triển tiến công đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn thứ hai của địch tại cầu Bàn Thạch.

        Trước tình thế bị tiến công dồn dập, bộ chỉ huy quana Pháp rút binh đoàn cơ động số 41 từ Diêu Trì (Bình Định) quay về phòng thủ Tuy Hoà, thu hẹp phạm vị đóng quân. Đến đầu tháng 5 năm 1954, quân Pháp ở Phú Yên chỉ còn đóng tại bốn cụm: thị xã Tuy Hoà, La Hai, Chí Thạnh và Sông Cầu.

        Từ ngày địch đánh ra, quân và dân Phú Yên đã tự lực tự cường anh dũng bám đất, bám địch, kiên cường chặn đánh giam chân một phần tư lực lượng cơ động của địch, góp phần thuận lợi cho hướng Tây Nguyên tiến công tiêu diệt địch, giành thắng lợi lớn. Đến đây,  được sự hỗ trợ của chủ lực, chiến tranh du kích ngày càng phát triển mạnh. Bộ đội địa phương, du kích và nhân dân ngày đêm liên tục chặn đánh các toán quân tuần tiễu, các đoàn xe tiếp tế trên các đường 1, đường 6, đường 7. Mảnh đất mà quaâ Pháp đã phải trả giá bằng 3.000 sinh mạng binh sỹ và bị giam chân 10 tiểu đoàn mới tạm kiểm soát được, nay đang sụp đổ.

        Cuối tháng 3 năm 1954, Tỉnh uỷ Phú Yên mở hội nghị rút kinh nghiệm hơn hai tháng chiến đấu và bàn chủ trương đẩy mạnh cuộc chiến đấu ở địa phương, động viên sức người, sức của phục vụ cho chiến trường toàn Liên khu. Thực hiện nghị quyết của Tỉnh uỷ, chỉ riêng tháng 4 năm 1954, Phú Yên đã huy động 50752 dân công, 751 ngựa và nhiều lương thực, thực phẩm phục vụ cho mắt trận Nam Tây Nguyên. Báo cáo sáu tháng đầu năm 1954 của Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh đã ghi: Vụ lúa tháng 3 đạt 11.842 mẫu, bằng vụ tháng 3 năm 1953, lúa tứ quý giao 2.866 mẫu; đến cuối tháng 5 năm 1954, thu 5.595 tấn lúa thuế nông nghiệp vaf 30,7 triệu đồng thuế công thương nghiệp. Từ cuối tháng 3 năm 1954, tình hình mọi mặt ổn định: chợ ta phục hồi, các luồng mậu dịch điều hoà, giá cả ổn định, các đường bưu điện liên tỉnh và các huyện hoạt động đều.

        Giữa lúc 40 tiểu đoàn cơ động của quân Pháp đang bị đánh tơi tả trên đường 19, Quy Nhơn, Tuy Hoà, Nam Tây Nguyên thì quân và dân các tỉnh trong vùng sau lưng địch tranh thủ thời cơ thuận lợi vùng lên tiến công địch quyết liệt, liên tục và đều khắp.

        Ở Quảng Nam, Tỉnh uỷ chủ trương động viên sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến đồng thời tập trung lực lượng mở các đợt hoạt động sâu vào lòng địch, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, mở rộng căn cứ du kích, đưa phong trào vùng tạm bị chiếm và thành phố lên một bước mới. Trong ba tháng đầu năm, kết hợp tiến công quân sự và công tác binh vận, ta đã tiêu diệt và bức rút 48 cứ điểm và tháp canh, san bằng cứ điểm Non Nước, diệt đồng Tân Thái, Cổ Mân, Mỹ Thị, đánh hỏng cầu Đờ Lát ở Đà Nẵng, đánh mình lật nhào ba đoàn xe lửa quân sự, làm tê liệt đường sắt Đà Nẵng- Huế nhiều ngày trong tháng 4. Phong trào đấu tranh chống bắt lính lên mạnh đặc biệt là ở thành phố Đà Nẵng và thị xã Hội An đã giải thoát được hơn 1.000 thanh niên bị địch bắt lính, đồng thời kêu gọi được 1.400 nguỵ binh mang súng chạy sang hàng ngũ ta.

        Ở Khánh Hoà, chỉ trong hai tháng đầu năm 1954, du kích và bộ đội địa phương tiến công dồn dập quét sạch một mảng 44 cứ điểm và tháp canh, diệt 1.800 lính địch. Tháng 4 năm 1954, liên tiếp trong vòng nửa tháng, ta đã tiêu diệt chi khu Cầu Đúc, Lạc Ninh trên đường số 1,. tập kích trại huấn luyện Suối Dầu, tiêu diệt và bức rút bảy đồn ở Diên Khánh. Lính nguỵ ở các đồn Đại Điền tay, Thanh Minh, Ngũ Lũng đào ngũ tập thể. Cuối tháng 5 năm 1954, đặc công ta đột nhập thị trấn Ninh Hoà, phá nhà lao giải thoát 600 cán bộ, chiến sỹ và nhiều người yêu nước bị địch giam giữ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:21:21 pm

        Thực hiện nghị quyết của Ban cán sự Cực Nam, các tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng và Trung đoàn 812 tập trung lực lượng mở chiến dịch tiến công trên khu vực giáp ranh hai tỉnh Bình Thuận-Lâm Đồng và Đông Nam Bộ, tiêu diệt chi khu Tánh Linh, cứ điểm Suối Kiết, giải phóng hoàn toàn huyện Tánh Linh nối liền tây bắc Bình Thuận, Lâm Đồng và miền Đông Nam Bộ với 15.000 dân. Quân và dân Lâm Đồng diệt cứ điểm Lút Xa, Tà Xi mở rộng địa bàn hoạt động ra toàn huyện Di Linh và vùng Tà In, Tà Hoan. Lực lượng địa phương Bình Thuận tiêu diệt chi khu Lương Sơn, cứ điểm Duồng, đánh thiệt hại nặng chi khu Long Hương, phá tan hệ thống cứ điểm án ngữ phía bắc khu căn cứ Lê Hồng Phong.

        Ở Ninh Thuận, bộ đội địa phương và du kích tiêu diệt nhiều cứ điểm, phá vỡ từng mảng hệ thống tháp canh ở Hoài Trung, Hâu Sanh, Hữu Đức, Ninh Chử... đánh tê liệt đường đi Đà Lạt; nhân dân vây bắt tề điệp, mở rộng vùng giải phóng.

        Bộ chỉ huy chiến dịch Át-lăng của Pháp chẳng nhưng không rút được lực lượng ở phía sau đưa đi tiến công vùng tự do mà nhiều lúc phải đưa các đơn vị cơ động đang chiến đấu ở phía trước quay về đối phó với các hoạt động của du kích. Mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung ngày càng thêm gay gắt.

        Bị tiến công mạnh ở chiến trường chính Điện Biên Phủ và khắp nơi, bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp không những không còn quân đưa đến chiến trường nam Trung Bộ mà vuối tháng 4 năm 1954 còn phải rút Binh đoàn 11, Binh đoàn 21 và một số tiểu đoàn khinh quân nguỵ ở Nam Trung Bộ đi cứu nguy các nơi khác, rút bớt đồn bốt, thu hẹp phạm vi chiếm đóng, co về phòng giữ thị xã, thị trấn và các đường giao thông, ở Phú Yên và Bình Định, quân Pháp co về cố thủ ở thị xã Tuy Hoà và Quy Nhơn. Cuộc tiến công chiến lược đầy tham vọng của Na-va trên chiến trường Nam Đông Dương mà điểm trung tâm là cuộc hành quân Át-lăng đến đây đã thất bại.

        Thắng lợi cơ bản của quân và dân Liên khu 5 không chỉ là đánh bại một cuộc hành quân lớn của địch, giữ vững khu căn cứ kháng chiến quan trọng, mà chủ yếu là đã làm phá sản một âm mưu thâm độc của đich, tạo ra sự biến đổi trong so sánh lực lượng giữa ta và địch, dẫn đến biến đổi cụ diện chiến trường hoàn toàn có lợi cho ta. Thế và lực của ta mạnh hẳn lên. Tuy nhiên, ta cũng gặp một số khó khăn.

        Sau ba tháng chiến đấu liên tục, tất cả các đơn vị đều bị tiêu hao, một vài đơn vị quân số thiếu hụt nghiêm trọng. Cán bộ từ trung đội đến tiểu đoàn phần lớn mới được đề bạt, có quyết tâm cao nhưng trình độ tổ chức chỉ huy còn có những mặt chưa theo kịp yêu cầu. Tư tưởng bộ đội phấn khởi trước chiến thắng nhưng đã xuất hiện một số biểu hiện chủ quan coi thường địch, thiếu cảnh giác nên bị thương vong. Hội nghị Giơ-ne-vơ sắp họp, tư tưởng hoà bình, ảo tưởng bắt đầu chớm nở. Chiến trường cho các hướng tác chiến mới của các đơn vị chủ lực chưa được chuẩn bị.

        Cuối tháng 4 năm 1954, Thường vụ Liên khu uỷ và Đảng uỷ chiến dịch họp quyết định:

        - Các đơn vị chủ lực dừng lại củng cố một thời gian ngắn.

        - Tiếp tục động viên sức người, sức của của nhân dân với tinh thần”Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.

        Hội nghị quyết định thực hiện đúng phương châm: “ Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, đánh chắc thắng”, khoét sâu mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán của địch, tiếp tục tập trung lực lượng đánh mạnh vào sau lưng địch đồng thời bao vây, kìm chế các cụm quân địch ở đường 19, Quy Nhơn, Tuy Hoà, sẵn sàng đánh tiêu diệt khi chúng rút chạy.

        Được sự hưởng ứng nhiệt liệt của nhân dân, nhất là sau khi bước đầu thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất, trong vòng một tháng, các đơn vị chủ lực được bổ sung đầy đủ, ngoài ra còn hàng ngàn tân binh khác được tập trung huấn luyện, chuẩn bị cho các đợt bổ sung tiếp. Bộ đội địa phương, du kích được củng có và phát triển, được trang bị thêm vũ khí lấy được của địch. Mọi công việc sinh hoạt tư tưởng, rút kinh nghiệm chiến đấu, tập huấn chiến thuật, huán luyện bổ sung... đều đạt kết quả tốt.

        Tuy chiến tranh lan rộng và quyết liệt nhưng vụ lúa tháng 3 vẫn được mùa. Nhân dân vùng tự do hăng hái đóng góp hàng chục ngàn tấn lương thực, các đoàn dân công lại nườm nượp lên đường tiếp tế cho các chiến trường.

        Ngày 7 tháng 5 năm 1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn bị tiêu diệt. Chiến thắng vĩ đại này đã đẩy nhanh cao trào tiến công trên cả nước. Lúc này trên đường 19 An Khê, quân Pháp chỉ còn Binh đoàn cơ động 100 và một số tiểu đoàn khinh quân chốt giữ. Binh đoàn cơ động 42 phòng thủ ở Plây Cu.

        Trước hiện tượng quân Pháp rút chạy khỏi nhiều địa bàn rộng lớn trên chiến trường toàn quốc cũng như ở Nam Trung Bộ, theo lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, ngày 24 tháng 6 năm 1954, Trung đoàn 96 đã kịp thời đón đánh và tiêu diệt gọn binh đoàn cơ động Âu-Phi và một số tiểu đoàn nguỵ rút chạy khỏi An Khê tại Đắc Pơ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:22:59 pm

        Mặc dù lực lượng ta ít hơn địch (địch 2, ta 1), sau hơn một giờ chiến đấu, quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa trên một đoạn đường dài 3 ki-lô-mét, 700 lính Âu-Phi chết và bị thương, gần 1.200 tên khác trong đó có tên đại tá Ba-ru cùng toàn ban tham mưu binh đoàn 100 bị bắt, 229 xe cơ giới, 20 đại bác à trên 1.000 súng các loại lọt vào tay các chiến sỹ ta. Trận Đắc Pơ tiêu diệt binh đoàn 100 là một trong những trận đánh tiêu diệt gọn quân địch, là một trong những chiến công oanh liệt của quân và dân Liên khu 5 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau chiến thắng Đắc Pơ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen quân dân Liên khu 5.

        Thừa thắng, các lực lượng vũ trang liên khu được nhân dân hết lòng ủng hộ, nhanh chóng phát triển tiến công tiêu diệt một bộ phận của binh đoàn cơ động 42, quét sạch địch trên đường 19, giải phóng toàn huyện An Khê và phần lớn tỉnh Gia Lai, bao vây thị xã Plây Cu. Ở mặt trận sau lưng địch, ngày 1 tháng 6, Trung đoàn 803 tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Tuy Bình, buôn Ai Riêng, buôn Thô trên tuyến giáp ranh giữa tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắc Lắc, diệt một tiểu đoàn, ba đại đội, bắt sống trên 600 tù binh.

        Ở Phú Yên, thừa lúc quân Pháp đang vội vã tháo chạy khỏi Sông Cầu và Chí Thạnh, đêm 21 tháng 6, Trung đoàn 803 được tăng cường Tiểu đoàn 375 và một bộ phận đặc công quân khu cùng lực lượng địa phương đồng loạt tiến công cụm cứ điểm Màng Màng, các cứ điểm Núi Sầm, Núi Hùng, đồng thời thọc sâu tiến công bãi đỗ xe cơ giới, kho đạn, khu chứa xăng dầu và tiểu đoàn khinh quân nguỵ tại trung tâm thị xã Tuy Hoà.

        Chiến sự diễn ra quyết liệt trong một khu vực dài 10 ki-lô-mét, rộng 5 ki-lô-mét. Sau một đêm chiến đấu quyết liệt, các đơn vị tham chiến của ta đã tiêu diệt gần hết tiểu đoàn khinh quân nguỵ 717, đánh thiệt hại nặng ba tiểu đoàn khác, phá huỷ trên 200 xe cơ giới, đốt cháy và phá tung các kho xăng dầu, kho đạn dự trữ của địch tại trung tâm thị xã.

        Bốn ngày sau (25/6) ta lại chặn đánh diệt một đoàn xe 79 chiếc trên đèo Cả, cắt đứt mọi đường tiếp tế trên bộ của địch. Thị xã Tuy Hoà, mảnh đất cuối cùng của quân Pháp còn giữ được ở Phú Yên đã bị bao vây.

        Cuộc tiến công trên các chiến trường khác cũng diễn ra dồn dập, quyết liệt. Từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 5 năm 1954, các lực lượng vũ trang Quảng Nam được nhân dân giúp đỡ đã tiến công liên tục bốn lần vào thị xã Hội An, diệt và làm bị thương hơn 1.00 quân địch. Đêm 30 tháng 4, ta đã phá nhà lao giải thoát 1.000 cán bộ, chiến sỹ và đồng bào đang bị địch giam giữ tại đây, diệt và bắt trên 500 tên địch, thu 7 xe GMC. Bộ đội địa phương và du kích các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Hoà Vang, Đại Lộc phá vỡ từng mảng đồn bốt và tháp canh, giải phóng khu Gò Nổi và một vùng rộng lớn gồm 16 xã giữa sông Thu Bồn và sông Cẩm Lệ; nổi bật là trận đánh đêm 19 tháng 7 trên cao điểm Bồ Bồ diệt 400 tên, bắt 200 lính Âu-Phi, phá huỷ gần hết các khẩu pháo địch ở đây.

        Ở Khánh Hoà, bộ đội địa phương và du kích đánh phá hàng loạt cứ điểm đich, giải phóng khu vực Hòn Khói, mở rộng vùng giải phóng phía bắc suốt từ ven rừng núi đến sát biển, bao vây uy hiếp thị trấn Ninh Hoà, Vạn Giã; 500 công nhân viên chức nguỵ ở Nha Trang tổ chức mít tinh ký kiến nghị ủng hộ Hội nghị Giơ-ne-vơ phản đối đế quốc Mỹ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam, phản đối lệnh tổng động viên của nguỵ quyền.

        Ở Ninh Thuận, Bình Thuận, quân và dân ta tiến công tiêu diệt các cứ điểm Bầu Gia, Lòng Sông, đánh tê liệt giao thông địch trên đường 1, đường 11, đường xe lửa Sài Gòn – Nha Trang. Nhân dân khu căn cứ Lê Hồng Phong nổi dậy cùng lực lượng vũ trang tiếp tục phá vỡ từng mảng hệ thống cứ điểm của địch ở phía Bắc nối liền với khu căn cứ Bình An. Vùng giải phóng mở rộng và nối liền từ khu căn cứ Bác Ái đến đông nam thị xã Phan Rang.

        Vùng du kích phái nam tỉnh Lâm Đồng được mở rộng bao gồm khu căn cứ Mang Yêu-Chi Lai và toàn bộ tổng Kdon, tổng Châu Trung và Bảo Thuận thuộc Di Linh.

        Ở Đắc Lắc, ngày 17 tháng 7, Trung đoàn 96 bắn pháo vào đồn bốt địch trong thị trấn Cheo Reo, Trung đoàn 803 cắt đường 12 tại M’đrắc và mở đường tiến công vè phía nam thị xã Buôn Ma Thuột.

        Ngày 17 tháng 7, quân Pháp bị vây ở thị xã Plây Cu bắt đầu tháo chạy, bị Trung đoàn 108 của ta chặn đánh ở Chư Đrek phá 62 xe, giết 300, bắt 200 tên.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:24:07 pm

        Chiến dịch Xuân Hè 1954 của quân và dân Liên khu 5, một trong những hướng quan trọng của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của toàn quốc, đã hoàn thành vượt mức nhiệm vụ trên giao, là một đòn đánh mạnh góp phần làm thất bại âm mưu địch muốn bình định miền Nam để rảnh tay, tạo thêm và tập trung lực lượng tiêu diệt chủ lực ta ở chiến trường chính Điện Biên Phủ. Đây là chiến thắng lớn nhất trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Nam Trung Bộ, đã diệt 18.000 quân địch, thu trên 7.500 súng, nhiều đại bác và hàng trăm xe, diệt gọn một binh đoàn lính Âu-Phi tinh nhuệ vào bậc nhất của quân viễn chinh Pháp, giải phóng toàn bộ tỉnh Kon Tum, phần lớn tỉnh Gia Lai, nhiều vùng đông dân khác ở Nam Tây Nguyên và các trung tâm bị địch chiếm ở đồng bằng ven biển; đánh bại hoàn toàn chiến dịch Át-lăng, một bộ phận quan trọng trong bước một kế hoạch Na-va, giữ vững vùng tự do Nam-Ngãi-Bình-Phú, tạo ra thế bao vây, chia cắt từng cụm quân địch, hình thành thế trận tiến công rất thuận lợi ở chiến trường phía nam Liên khu và Đông Bắc Cam-pu-chia.

        Chiến thắng Xuân Hè 1953-1954 của Liên khu 5 phối hợp có hiệu quả với chiến trường chnsh Điện Biên Phủ đánh bại kế hoạch Na-va, cố gắng cao nhất và cuối cùng trong cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, lập lại hoà bình ở Đông Dương.

        Đánh giá về chiến trường Liên khu 5, đồng chí Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã nói: “Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, Đảng bộ, đồng bào và chiến sỹ ta ở Liên khu 5 đã làm được một kỳ tích là giữa vòng vây bốn mặt của quân thù vẫn giữ được vùng tự do gồm trọn  bốn tỉnh đồng bằng ven biển liên hoàn, không những đứng vững trước mọi o ép của địch mà còn xây dựng được cả một hệ thống chính quyền cách mạng hoàn chỉnh, có kinh tế tự túc ổn định, văn hoá giáo dục phát triển, trong nhiều năm giữ vững giao thông với cực Nam Trung Bộ, với Nam Bộ, thực sự trở thành một vùng hậu phương vững chắc cho kháng chiến lâu dài.

        Trong vùng tạm bị chiếm thì phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng và chiến tranh du kích phát triển khá và đều khắp.

        Ba thứ quân phát triển nhịp nhàng. Đặc biệt là từ năm 1952, đi đôi phát triển lực lượng du kích và chiến tranh nhân dân, với chủ trương và sự chi viện của Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Liên khu 5 đã chú trọng đúng mức, kiên định và liên tục xây dựng lực lượng chủ lực, biết sử dụng quả đấm chủ lực để thúc đẩy phát triển, vừa tác chiến vừa xây dựng, trưởng thành khá vững và nhanh.

        Chính đây là một trong những nhân tố rất quan trọng khiến Liên khu 5 là một trong những chiến trường giành được thắng lợi rực rỡ nhất trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, phối hợp rất đắc lực với chiến trường chính Điện Biên Phủ. Và với kết quả thật rực rỡ là phá vỡ một mảng phòng ngự lớn của địch ở Bắc Tây Nguyên, giải phóng tỉnh Kon Tum và cả vùng Bắc Tây Nguyên, nhanh chóng phát triển chiến dịch, tiếp tục tiến công xuống phía Nam, đánh địch ở đường 19, tiêu diệt hoàn toàn binh đoàn cơ động số 100-một trong những binh đoàn tinh nhuệ vào bậc nhất của quân viễn chinh Pháp vừa rút ở Triều Tiên về, bao vây Plây Cu, thọc sâu và cao nguyên Đắc Lắc, áp sát Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện nối liền với chiến trường Nam Bộ, đồng thời tiến xuống cùng quân dân địa phương đánh mạnh quân địch ở Phú Yên và uy hiếp cả Nha Trang. Ở các chiến trường địch hậu trong liên khu, thừa thắng, quân ta đã tiêu diệt, bức hàng chục đồn bốt, giải phóng những khu vực rộng lớn với hàng chục vạn dân; phối hơp với quân và dân Nam Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia giải phóng một vùng rộng lớn. Chiến dịch Át-lăng của địch bị thất bại hoàn toàn, vùng tự do đồng bằng Liên khu 5 được giữ vững và mở rộng, thế trận ở Tây nguyên cũng như trên toàn liên khu lúc này thật đẹp, tạo triển vòng giành thắng lợi to lớn hơn nữa”.

        Gắn bó với chiến trường Liên khu 5 trong suốt chín năm kháng chiến chông thực dân Pháp, tôi thấy phấn khởi tự hào đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của khúc ruột miền Trung gian lao mà anh dũng.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:24:48 pm

        Đúng như lời đồng chí Đại tướng, Tổng tư lệnh nhận định, cái nổi bật, cái độc đáo và là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho Liên khu 5 một vùng đất nghèo khổ, xa sự chi viện trực tiếp của Trung ương, suốt trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp- đứng vững trong vòng vây bốn mặt của quân thù. Địch quyết tâm bằng mọi giá, bằng cố gắng cao nhất để chiếm đóng và bình định cho được, nhưng Liên khu 5 vẫn hoàn thành vượt mức nhiệm vụ tác chiến của Trung ương giao. Đó là vì quân và dân Liên khu 5, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã xác định rõ vị trí, kiên quyết bảo vệ vững chắc, xây dựng vùng tự do về mọi mặt thành hậu phương chiến lược không những cho miền Nam Trung Bộ mà cả cho miền Nam Đông Dương. Vùng tự do Liên khu 5 hình thành và đứng vững trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp như một “quốc gia” khá hoàn chỉnh. Ở đây, Đảng bộ trong sạch vững mạnh, chính quyền được nhân dân tin tưởng, chế độ mới được xây dựng khá rõ nét, con ngừoi mới được hình thành, quan hệ giữa người với người tốt đẹp, kinh tế phát triển, cuộc sống của nhân dân mặc dù phải đảm bảo cho nhu cầu chiến tranh ngày càng cao nhưng vẫn ngày được cải thiện, xã hội yên vui, lành mạnh. Cuộc kháng chiến ở đây mang tính chất chung của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trong toàn quốc, nhưng đồng thời lại mang những đặc điểm của cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc – Đó là cuộc chiến đấu bảo vệ vùng tự do. Quana và dân Liên khu 5 đã ba lần đánh bại các cuộc hành quân lớn gồm hải, lục, không quân của Pháp hòng chiếm vùng tự do vào cuối năm 1945 đầu năm 1946, cuối năm 1946 đầu năm 1947 và điển hình là chiến dịch Át-lăng  1953-1954. Đó là chưa kể các cuộc đánh phá thường xuyên từ đường bộ, đường biển và đường không.

        Từ đầu đến cuối cuộc chiến tranh, chưa bao giờ thực dân Pháp chịu từ bỏ âm mưu thôn tính vùng tự do Liên khu 5. Mỗi lần đánh là một lần chúng tập trung lực lượng lớn hơn nhằm tạo thế chiến lược tiến công, tìm cách diệt cách mạng miền Nam để tiến công ra miền Bắc. Nhưng chính từ tham vọng đó, địch cũng tự tạo ra tình thế thất bại đi đến thất bại hoàn toàn. Rõ ràng, Liên khu 5 đã góp phần tạo ra những bước ngoặt lịch sử của cả nước.

        Thành công này, trước hết là do sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh.

        Ngoài đường lối chủ trương chung, Trung ương Đảng còn điều động kịp thời hơn chục chi đội từ miền Bắc vào chi viện cho miền Nam ngay từ khi quân Pháp bắt đầu gây hấn ở Nam Bộ (các chi đội này hầu hết đều tham chiến ở các mặt trận Nam Trung Bộ đến hết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp), chỉ đạo chặt chẽ, sát sao ngay từ khi cuộc kháng chiến nổ ra ở Nha Trang (22/10/1945). Khi nhận thấy tình hình địch có âm mưu chia cắt đất nước, Trung ương đã cử đồng chí Phạm Văn Đồng làm đại diện trực tiếp chỉ đạo Nam Trung Bộ ngay từ khi chuẩn bị toàn quốc kháng chiến, đồng thời luôn luôn theo dõi chỉ đạo suốt quá trình cuộc kháng chiến và đặc biệt có những quyết định đúng đắn, sáng suốt trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 ở Liên khu 5, góp phần cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

        Thắng lợi của Liên khu 5 trong kháng chiến chống thực dân Pháp còn là do Liên khu uỷ và Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Liên khu 5 - Bộ tham mưu lãnh đạo trực tiếp ở địa phương, với một đội ngũ án bộ chính trị, quân sự vững vàng, kiên định có quyết tâm cao, tự lực tự cường, đã nắm vững và nghiêm chỉnh chấp hành đường lói chủ trương của Đảng, quy luật của chiến tranh cách mạng; vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào điều kiện cụ thể của địa phương, xác định đúng nhiệm vụ chiến lược của từng giai đoạn, có chủ trương và biện pháp thích hợp, kiên quyết tập trung lực lượng với tinh thần cách mạng tiến công vào những nhiệm vụ quyết định, vào thời điểm quyết định để giành thắng lợi.

        Để làm được những việc trên, Liên khu uỷ và Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Liên khu 5 đã xây dựng được Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, biết dựa vào dân, tổ chức phát động phong trào toàn dân đánh giặc, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đấu tranh kinh tế; giữa chiến đấu và xây dựng vùng tự do làm căn cứ hậu phương lâu dài cho cuộc kháng chiến; xây dựng lực lượng vũ trang với ba thứ quân, từng bước xây dựng lực lượng chủ lực, giữ mối quan hệ chặt chẽ hỗ trợ giữa tiền tuyến với hậu phương, giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, vừa đánh vừa nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn, tiến tời làm thất bại hoàn toàn âm mưu và kế hoạch xâm lược của địch, giành thắng lợi quyết định ở chiến trường Liên khu 5.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:25:34 pm

        Thắng lợi này bắt nguồn từ truyền thống đấu tranh yêu nước và cách mạng của nhân dân Liên khu 5, là những người đầu tiên dám đứng lên đánh đuổi đội quân nhà nghề của thực dân Pháp khi chúng bắt đầu xâm lược nước ta lần thứ nhất (1858) và dưới sự lãnh đạo của Đảng, họ đã nhanh chóng, đồng loạt đứng lên làm cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, giành chính quyền. Sau khởi nghĩa, mặc dù có nơi chỉ được hưởng thành quả cách mạng có vài tháng, nhưng vì tin tưởng sắt đá vào thắng lựi cuối cùng, thiết tha với độc lập tự do, tin Đảng, kính phục Bác Hồ, họ sẵn sàng hy sinh tất cả. Bất chấp bom đạn và lực lượng hùng hổ dã man của kẻ thù, làn sóng cách mạng của các tấng lớp nhân dân Liên khu 5 từ miền xuôi đến miền ngược, vùng tự do cũng như vùng bị tạm chiếm, nông thôn cũng như đô thị là một trong những nhân tố cơ bản, thường xuyên có tính chất quyết định làm nên những hiến công vang dội giữ vững vùng tự do, thu hẹp phạm vi kiểm soát của địch ở vùng bị chiếm, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cả nước.

        Thắng lợi này cũng là do tinh thần tự nguyện “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của đội ngũ cán bộ, chiến sỹ trong bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; trong đó có lực lượng rất quan trọng của đội quân Nam tiến được Trung ương chi viện trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến. Có thể nói, từ tay không, chưa biết đánh giặc, họ đã trở thành đội quân trưởng thành và chiến thắng. Với lòng trung thành vô hạn với dana, với Đảng, với ý chí quyết chiến, quyết thắng, lực lượng vũ trang Liên khu 5 đã tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, luôn luôn bám đất, bám dân, sẵn sàng làm tròn nhiệm vụ ở vùng tự do cũng như vùng bị tạm chiếm, vừa chiến đấu vừa bảo vệ dân, có quan hệ máu thịt với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng cơ sở chính trị, vũ trang, phát động và phối hợp với nhân dân đánh giặc; vừa tác chiến vừa xây dựng lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, vừa tác chiến vừa nâng cao trình độ từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa bồi dưỡng lực lượng ta, tiến lên tập trung lực lượng tổng hợp giành thắng lợi quyết định mà đỉnh cao là chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Với lòng tin sắt đá vào sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân, với tinh thần “tất cả để chiến thắng”; lấy bộ đội địa phương và dân quân du kích chống chọi với sự tiến công ồ ạt của các binh đoàn chủ lực tinh nhuệ của kẻ thù; bằng trí thông minh và lòng dũng ảm tuyệt vời đã tiến công tiêu diệt đồn địch bằng bộc phá, địa lôi. Chính đây là những nhân tố rất quan trọng khiến Liên khu 5 là một trong những chiến trường giành thắng lợi rực rỡ nhất, phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ đánh bại âm mưu xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ trên chiến trường Đông Dương.

        Là người được giao nhiệm vụ làm công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. lúc đầu là ở mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng và sau này là ở toàn liên khu cho đến kết thúc chiến tranh chống thực dân Pháp, trên cơ sở nắm vững và vận dụng đường lối chủ trương của Đảng, tôi luôn luôn quan tâm đến hai vấn đề mấu chốt: đó là công tác đảng, công tác cán bộ trong quân đội và vấn đề xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở vũ trang ở địa phương.

        Từ kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám, tôi chăm lo xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh nhưng chủ yếu là xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt từ trung đoàn đến đại đội, kiên định vững vàng, có ý chí và nhiệt tình cách mạng, dám hy sinh trong chiến đấu, gương mẫu trong công tác để làm tròn nhiệm vụ của quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Quân đội phải dựa vào dân, bảo vệ dân, bảo vệ sản xuất, vận động giúp đỡ nhân dân, cùng nhân dân chiến đấu và chiến thắng; chống tư tưởng quân sự đơn thuần, cầu an, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật.

        Để làm tròn nhiệm vụ đó, trước hết, tổ chức Đảng trong quân đội phải đặt vấn đề kết hợp chặt chẽ với tổ chức Đảng địa phương, coi Đảng bộ địa phương với Đảng bộ trong quân đội là một, coi công việc của địa phương cũng chính là công việc của quân đội và ngược lại. Đây là điều kiện tiên quyết đồng thời cũng là bài học xương máu để cùng nhau thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của địa phương và cả quân đội.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:26:18 pm

        Ở mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng, lúc đầu khi địch dùng lực lượng ồ ạt tiến công nhằm mở rộng phạm vi kiểm soát, tuy bộ đội chủ lực là lực lượng chiến đấu chính để kìm chân địch, nhưng phải có dân quân tự vệ phục vụ và phối hợp chiến đấu, có nhân dân thực hiện “vườn không nhà trống”. Khi địch không còn đủ sức nống ra, buộc phải quay về củng cố, bình định vùng chiếm đóng thì bộ đội phải phân tán cùng với cán bộ địa phương thaâ nhập vào vùng sau lưng địch bám dân, xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở vũ trang, phát động nhân dân đấu tranh chính trị, kinh tế, xây dựng làng chiến đâu, xây dựng lực lượng vũ trang từ thấp đến cao, đẩy mạnh chiến tranh du kích kết hợp với các trận đánh lớn của chủ lực, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta, phá âm mưu ‘bình định’ của địch ở vùng tạm chiếm, kiên quyết giữ cho được và xây dựng vùng tự do thành hậu phương trực tiếp, lâu dài cho cuộc kháng chiến.

        Năm vững vai trò quyết định của chủ lực ở chiến trương, tổ chức đảng trong quân đội đã tích cực giúp đỡ, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang địa phương trưởng thành đủ sức làm nhiệm vụ độc lập tác chiến ở địa phương, đồng thời ra sức xây dựng lực lượng chủ lực để có thể tập trung làm nhiệm vụ cơ động đánh lớn. Vì vậy, theo đánh giá của Bộ tư lệnh Liên khu, Quảng Nam-Đà Nẵng là nơi có phong trào chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích mạnh , đồng thời cũng là nơi đóng góp bổ sung cho lực lượng chủ lực của Liên khu sớm và nhiều nhất.

        Những kinh nghiệm trong những năm đầu ở chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng - chiến trường chính, chiến trường tiêu biểu của Liên khu 5 trong kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa có vùng tạm bị chiếm, vừa có vùng tự do – đã giúp tôi có thực tế để làm tốt hơn công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang liên khu, nhất là trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, với trách nhiệm vừa tham gia chỉ huy chung của chiến dịch, vừa trực tiếp phụ trách cuộc chiến đấu chống chiến dịch Át-lăng của đich, bảo vệ vùng tự do.

        Cùng với cuộc chỉnh quân, kết quả to lớn của cuộc chỉnh Đảng do Trung ương Đảng đề xướng và lãnh đạo, riêng ở Liên khu 5 đã có tác dụng nâng cao nhận thức và tư tưởng của cán bộ, chiến sỹ trong quân đội cũng như trong cán bộ và nhân dân các địa phương trước khi bước vào trận quyết chiến chiến lược. Vấn đề lớn nhất là phải xây dựng cho được lòng tin sắt đá và tình thần nghiêm chỉnh chấp hành quyết định của Trung ương Đảng, nhất là đối với cán bộ và nhân dân bốn tỉnh vùng tự do; trong lúc toàn bộ lực lượng chủ lực tập trung tiến công lên Tây Nguyên, còn vùng tự do giao cho lực lượng địa phương tự giải quyết, khi mà địch sử dụng một lực lướng lớn chưa từng có nhằm giải quyết dứt điểm vùng tự do. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Liên khu uỷ, sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tư lệnh Liên khu, Bộ chỉ huy chiến dịch với các tỉnh, những tư tưởng, nhận thức trên đây đã được giải quyết. Mọi việc chuẩn bị chiến đấu, chiến đâu cũng như các việc chi viện chiến trường, bổ sung, xây dựng lực lượng đều diễn ra nhịp nhàng, ăn khớp tạo nên sức mạnh tổng hợp đem lại kết quả rực rỡ trên toàn bộ chiến trường Liên khu 5 trong Đông Xuân 1953-1954.

        Được rèn luyện trong chiến đấu gian khổ của cuộc vận động Cách mạng tháng Tám, trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù ở một chiến trường đầy khó khăn phức tạp, lại xa sự chi viện trực tiếp của Trung ương, nhưng với tinh thần vô tư trong sáng, luôn luôn tâm niệm quyết tâm đánh đuổi giặc Pháp xâm lươc, đem lại độc lập tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân, tôi đã cố gắng hết sức mình góp phần xứng đáng vào cuộc chiến đấu hào hùng của quân và dân Liên khu 5. Đồng thời, sự từng trải qua cuộc chiến đấu chín năm đó cũng giúp tôi thêm kinh nghiệm và những bài học bổ ích, trước khi bước vào cuộc chiến đấu mới, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thống nhất đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

        Trích: Đại tướng Nguyễn Quyết, con đường đã chọn, Hồi ức- Đại tá Nguyễn Hữu Đức thể hiện.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:33:51 pm
         
2. ĐẠI TƯỚNG CHU HUY MÂN (CHU VĂN ĐIỀU)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Chi%20Huy%20Man_zpsdh5ijfuh.jpg)

        Đồng chí Chu Huy Mân sinh năm 1913, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân Đội nhân dân Việt Nam (1977-1986), Phó chủ tịch Hội đồng nhà nước (1981-1986).

        Quê quán: Xã Hưng Hoà, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Đồng chí tham gai cách mạng năm 1929 (đôi phó Tự vệ đỏ xã), nhập ngũ năm 1945, Đại tướng năm 1980, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Đồng chí nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam; năm 1940 bị đưa đi an trí ở Đắc Lay, Đắc Tô, Kon Tum. Năm 1943 vượt ngục, tiếp tục hoạt động cách mạng. Trong Cách mạng tháng Tám, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Quảng Nam, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chính trị viên Chi đội Quảng Nam. Trong kháng chiến chống Pháp.

        Năm 1945 đến 1951 là Chủ tịch Ban quân chính Khu C (gồm 4 tỉnh Trung Bộ), Chính trị viên Mặt trận Đường 9, Tham mưu chủ nhiệm Liên khu 4, Trung đoàn trưởng, Chính uỷ Trung đoàn.

        Năm 1951 đến 1954 là Phó chính uỷ rồi Chính uỷ Đại đoàn 316.

        Trong kháng chiến chống Mỹ, 1954 đến 1963 là Đoàn trưởng Đoàn 100 (đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào); Chính uỷ; Quân khu 4, Quân khu Tây Bắc; Tổng cố vấn Việt Nam cho Chính phủ liên hiệp Lào của Thủ tướng Xu-va-na Phu-ma.

        Năm 1964 đến 1965 là Chính uỷ Quân khu 5.

        Năm 1965 đến 1967 là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Mặt trận Tây Nguyên, chỉ huy các chiến dịch: Plây Me (1965), Sa Thầy (1966).

        Cuối năm 1967 đến 1976 là Tư lệnh, Kiêm Chính uỷ (1975) Quân khu 5; Chính uỷ chiến dịch Đà Nẵng (28-29/3/1975).

        Năm 1977 đến 1986 là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương; Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà nước (1981-1986).

        Đồng chí là Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá III-V; Uỷ viên Bộ Chính trị khoá IV, V; Đại biểu Quốc hội khoá II, VI, VII. Đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng nhất, 2 hạng nhì), Huân chương Chiến công (hạng nhất, hạng nhì), Huân chương Chiến thắng hạng nhất...

        Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí Chu Huy Mân đã trực tiếp gắn bó với địa bàn Khu 5-Tây Nguyên, trực tiếp cùng quân dân nơi đây đương đầu với những  khó khăn gian khổ, khắc phục những thiếu thốn đủ bề, xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, xây dựng mối đoàn kết quân dân gắn bó, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược của Đảng giao cho. Đặc biệt, công tác đảng, công tác chính trị đã tập trung xây dựng con người, tổ chức vững mạnh, chiến đấu giỏi, dám đánh, biết đánh và quyết thắng. Điều đó thể hiện rõ trong nghiên cứu sâu về đối tượng tác chiến, sáng tạo trong cách đánh, truyền thụ được tư tưởng quân sự của Đảng tới từng người chiến sỹ, được thể hiện qua hành động cụ thể với phương châm : “Nắm lấy thắt lưng địch mà đánh” được phổ biến trên chiến trường.

        Chính vì vậy, vượt qua mọi cam go khổ cực, đồng chí đã cùng quân dân Khu 5 – Tây Nguyên quyết thắng từ trận đầu khi đối mặt với đối tượng tác chiến mới, với phương tiện chiến tranh hiện đại, từng bước đánh tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch từ nhỏ đến lơn, tạo được bước trưởng thành vững chắc trong từng trận chiến đâu, từng chiến dịch, thực hiện thắng lợi tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng.

        Thực tiễn chiến trường đã khẳng định, đồng chí Chu Huy Mân với bí danh Hai Mạnh đã làm tròn nhiệm vụ được Bác Hồ giao là mạnh về chính trị, mạnh về quân sự. Đồng thời qua thực tiễn chiến trường, đồng chí Chu Huy Mân vừa chiến đấu, vừa công tác, vừa tự học tự rèn, luôn sáng suốt, dũng cảm, quyết đoán, hoàn thành tốt nhiệm vụ và trọng trách mà Đảng, Quân đội và nhân dân tin cậy giao phó.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:55:32 pm

TRỞ LẠI KHU 5 – TÂY NGUYÊN ĐÁNH MỸ

        Sau hơn một năm làm Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Quân khu 4, trên quyết định tôi đi học công tác tham mưu ở Liên Xô. Sau mấy chục năm làm cách mạng không có điều kiện học tập thì đây là dịp tốt nhất để tôi nâng cao trình độ.

        Thời gian này, để giải quyết tốt các vấn đề chiến dịch, chiến thuật của Quân đội ta, nắm được phần nào khoa học và nghệ thuật quân sự của Liên Xô, Trung Quốc, Bộ Tổng tham mưu đề nghị cấp trên đặt vấn đề với các nước bạn giúp bồi dưỡng ngắn hạn cho cán bộ lãnh đạo Quân đội ta. Ở Liên Xô, ta đề nghị mở lớp bồi dưỡng riêng cho cán bộ lãnh đạo Quân đội Việt Nam. Tôi đi đợt 2, được phân công làm đoàn trưởng, bí thư chi bộ. Đoàn chúng tôi gồm có anh Lê Trọng Tấn (học nửa năm sau), anh Quang Trung, anh Lê Ngọc Hiền, anh Vũ Xuân Chiêm, anh Nguyễn Văn Bảo, anh Nguyễn Đường, anh Nam Thắng, anh Nguyễn Thanh, anh Phan Hàm, anh Hoàng Kiện, anh Phạm Hoàng.

        Nội dung đại thể phân bố thời gian như sau: Khoảng 2 tháng học binh khí kỹ thuật, đến từng binh chủng, quân chủng nghe giới thiệu và xem các binh khí kỹ thuật. Riêng Hải quân có đến Hạm đội Ban-tích, đi xem các loại tàu tuần dương hạm, tàu ngầm, tàu phóng lôi, tàu đổ bộ, tàu quét lôi, tên lửa bờ biển, pháo bờ biển, máy bay của hải quân, xem biểu diễn thả thuỷ lôi, quét lôi; xuống tàu tuần dương hạm dự cuộc thao diễn của Hải quan Liên Xô...

        Khoảng bốn tháng học về các hình thức tác chiến cấp sư đoàn trong điều kiện tác chiến thông thường và trong điều kiện sử dụng vũ khí hạt nhân. Học viên phải nghiên cứu bài vở thật nghiệm túc, tham dự thảo luận do giáo viên chủ trì, làm bài tập chu đáo, luyện tập vẽ bản đồ, đọc bản đồ, thảo mệnh lệnh và đóng vai sư đoàn trưởng ra mệnh lệnh cho cấp dưới. Bạn cho rằng sư đoàn là đơn vị chiến thuật cơ bản nên các đồng chí chỉ huy chiến dịch và lãnh đạo quân đội đều phải học thật kỹ để có thể sử dụng tốt các sư đoàn. Đối với nhiều đồng chí của ta, nhất là các đồng chí có trình độ văn hoá thấp thì cách học của Liên Xô đòi hỏi phải chuẩn bị bài vở mất nhiều thời gian, phải động não nhiều, nhớ nhiều và phải biết cách ghi các số liệu kỹ thuật để thường xuyên ôn luyện nên trong những ngày đầu anh em học khá vất vả.

        Sáu tháng còn lại học về chiến dịch, chiến lược, học chỉ huy tập đoàn quân chuẩn bị đất nước cho chiến tranh, đề phòng đòn đột kích đầu tiên, chống quân đổ bộ đường biển, đường không... Môn lịch sử chiến tranh là môn học chính khoá, nội dung giới thiệu một cách có hệ thống lịch sử chiến tranh qua các thời đại, ý nghĩa thành công hay thất bại trong các cuộc chiến tranh lớn trên thế giới. Bạn cũng rất chú ý giữ gìn di tích các chiến trường lịch sử.

        Chúng tôi đi thăm thành phố Xe-va-xtô-pôn, được giới thiệu về tổ chức phòng ngự một thành phố bờ biển. Chúng tôi còn được xem chiến trường Bô-rô-đi-nô, nơi diễn ra trận chiến quyết định giữa quân đội Nga do tướng Cu-tu-dốp chỉ huy và quân đội Pháp do Na-pô-lê-ông chỉ huy (1812).

        Kết thúc lớp học, trao đổi các đồng chí lãnh đạo Quân đội ta, Bộ Tổng tham mưu Liên Xô đã cử một tổ giáo viên sang nghiên cứu chiến trường Việt nam để có thể ra tưởng định làm bãi tập trên chiến trường của ta.

        Sau đợt đi nghiên cứu địa hình Việt Nam, tổ giáo viên Liên Xô có phát biểu với lãnh đạo Quân đội ta: Các đồng chí Việt Nam nhất thiết phải xây dựng và huấn luyện bộ đội tác chiến hiệp đồng binh chủng. Chiến trường Việt Nam hoàn toàn có thể sử dụng xe tăng.

        Vào trung tuần tháng 9 năm 1963, đoàn chúng tôi về đến Hà Nội. Ở lại Hà Nội vài ngày, tôi được điều vào làm Tư lệnh, Chính uỷ-Bí thư Quân khu uỷ Quân khu 4.

        Vào đến Quân khu 4, với nhiệm vụ được giao tôi nắm lại tình hình chung rồi xuống đơn vị tìm hiểu thêm và kết hợp thăm lãnh đạo các tỉnh thuộc địa bàn quân khu.

        Tháng 12 năm 1963, Trung ương triệu tập Hội nghị lần thứ 9. Hội nghị đã nhận định tình hình, dự kiến các khả năng, vạch ra phương hướng cho cách mạng miền Nam trong tình hình mới và nhấn mạnh phải kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang đều đóng vai trò rất cơ bản và quyết định nhưng đấu tranh quân sự giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh tan lực lượng quân sự - chỗ dựa của nền thống trị của địch, làm cho cách mạng thắng lợi. Để thực hiện yêu cầu đó, điều quan trọng nhất, quyết định nhất là trong bất cứ trường hợp nào vẫn phải nỗ lực tăng cường lực lượng ta về mọi mặt, đặc biệt là lực lượng quân sự.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:55:52 pm

        Về nhiệm vụ trước mắt, Hội nghị xác định hai nội dung chủ yếu và cũng là hai mục tiêu chủ yếu phải quyết tâm đạt cho bằng được. Thứ nhất, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, tạo điều kiện làm tan rã hoàn toàn lực lượng quân sự - chỗ dựa của Mỹ và tay sai ở miền Nam... Thứ hai, làm thất bại kế hoạch gom dân lập “ấp chiến lược” của địch, phá phần lớn các ấp chiến lược, giành nhân tài vật lực cho cách mạng, làm chủ vùng rừng núi và phần lớn đồng bằng.

        Tháng 1 năm 1964, Bộ Tổng tham mưu triệu tập Hội nghị Phòng không nhân dân toàn miền Bắc lần thứ nhất. Các cuộc diễn tập báo động phòng không, cứu thương, cứu hoả, tổ chức việc xây dựng hầm trú ẩn, dự kiến các địa điểm sơ tán, di chuyển, bố trí phân tán kho tàng, bến bãi được thực hiện. Bộ đội phòng không nâng cấp trực chiến, tăng cường huấn luyện. Một mạng lưới bắn máy bay tầm thấp được hình thành trên toàn miền Bắc.

        Ngày 27 tháng 3 năm 1964, tại Hà Nội, Bác Hồ triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt. Tại Hội nghị, sau khi điểm lại những sự kiện lớn trong 10 năm qua ở nước ta và trên thế giới, Bác Hồ đã tỏ rõ thái độ của nhân dân ta đối với âm mưu xâm phạm miền Bắc của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Bác nói: ‘Tình hình miền Nam hiện nay chứng tỏ một cách rõ rệt sự thất bại không thể tránh khỏi của đế quốc Mỹ trong cuộc “chiến tranh đặc biệt” này. Cuộc “chiến tranh đặc biệt” mà chúng đang thí nghiệm ở miền Nam Việt Nam đã thất bại, thì chúng cũng sẽ thất bại ở bất cứ nơi nào khác. Đó là ý nghĩa quốc tế của cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam ta đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới”.

        Bác kêu gọi toàn dân, toàn quân nâng cao ý chí chiến đấu, sẵn sàng đập tan mọi hành động khiêu khích và phá hoại của đế quốc Mỹ, mỗi người làm việc bằng hai, hết lòng hết sức ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam. Đó là lệnh động viên của Bác trước tình hình mới, là lời cảnh cáo nghiệm khắc đối với những âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.

        Hôi nghị chính trị đặc biệt do Bác triệu tập đã biểu thị ý chí sắt đá đoàn kết và chiến đấu của nhân dân ta ở miền Bắc, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết cả nước một lòng để bảo vệ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, bảo vệ thành quả cách mạng lao động hoà bình, ra sức chi viện cho đồng bào miền Nam ruột thịt đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

        Đang triển khai công việc ở Quân khu 4 thì trên gọi tôi ra Hà Nội chuẩn bị đi Nam. Lúc đầu tôi được lệnh đi vào B2 ( R ), tức là vào Nam Bộ làm phó cho anh Nguyễn Chí Thanh. Công tác chuẩn bị theo hướng ấy. Nhưng mấy hôm sau lại đổi hướng tôi đi vào Khu 5. Chiến trường nào cũng thế, miễn là được vào với đồng bào, đồng chí và đồng đội đánh Mỹ-Nguỵ, vì độc lập, tự do và thống nhất nước nhà. Mấy ngày liền, cứ mối buổi sáng tôi lại đeo ba lô trong có 8 viên gạch đi bộ lên Hồ Tây để rèn luyện gân bắp. Buổi chiều lại tìm cách nghe tình hình miền Nam và Khu 5, trong đó chú ý lắng nghe lãnh đạo đánh giá chiến trường.

        Lúc ra đi tôi được chỉ định làm đoàn trưởng Đoàn kiểm tra của Quân uỷ Trung ương vào làm việc với Khu uỷ và Quân khu uỷ Khu 5. Đoàn có các anh Võ Bẩm, Trần Thọ, Đỗ Đức Kiên và một số cán bộ khác.

        Xe vào đến Vinh, hôm sau có đến làng Ho (Quảng Bình) thì bắt đầu đi bộ. Trước lúc ra đi, gạo, muối, lương khô cho từng người được quy định chặt chẽ. Trên đường đi chúng tôi quy định trong ngày hành quân nếu gắp rau rừng, rau tàu bay toàn đoàn dừng lại hái, bỏ túi bổ sung cho bữa ăn tối.

        Qua Mường Nòng - đất bạn Lào – thì đoàn chúng tôi đi theo hướng đông. Anh Lương Khải Địch - Trưởng phòng Đặc công Quân khu 5 ra biên giới đón.

        Chiều tối đoàn vượt đường 14, nơi đây rất gần quân địch ở Đắc Nhé. Khi qua đường mỗi người bước qua miếng ni-lông trải trên mặt đường để giữ bí mật, người cuối cùng đi đi qua thì cuốn miếng ni-lông đem theo. Đến chiều, đoàn đến cơ quan Bộ tư lệnh Quân khu 5. Sáng hôm sau bắt đầu làm việc, trước hết là dự giao ban. Anh Ngưu – cán bộ tham mưu quân khu báo cáo kết quả đánh địch, anh nói: “Bộ đội địa phương đánh “tan rã gọn” mấy trung đội dân vệ”. Mọi người trong cuộc họp đều cười.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:56:21 pm

        Sau hai ngày làm việc ở quân khu, ngày thứ ba đoàn chúng tôi sang chào Khu uỷ. Lúc này anh Võ Chí Công vừa về Khu 5 làm Bí thư Khu uỷ. Đoàn chúng tôi đi xuống tây Quảng Ngãi nghiên cứu hai “ấp chiến lược” Phú Khương và Phú Thọ mà quần chúng mới nổi dậy giành quyền làm chủ. Làm việc với mấy đại đội địa phương Quảng Ngãi, khi báo cáo anh em cán bộ đại đội cho rằng họ đã đánh “tám trận công kiên”, diệt 8 trung đội dân vệ trong ấp chiến lược. Tôi nói với anh Đỗ Đức Kiên khoan bình luận. Gặp anh Hường – Chính trị viên Tỉnh đội được biết cán bộ, chiến sỹ ở đây phần đông đã ra Bắc tập kết trở về, tinh thần tốt nhưng cách đánh chưa được bồi dưỡng đúng mức. Trong lúc chúng tôi công tác ở đây thì quân cơ động nguỵ mở cuộc càn quét lớn lên vùng căn cứ khu và quân khu, địch gọi là Độ Xá.

        Địch huy động vào cuộc càn này 12 tiểu đoàn (5.000), 80 máy bay, có cố vấn Mỹ chỉ huy. Chúng đặt tên cuộc càn là “Quyết thắng 202” vào vùng Mang Xin (tây Quảng Ngãi).

        Sau 30 ngày chiến đấu liên tục, quân và dân miền tây Quảng Ngãi có các đơn vị chủ lực tham gia (Tiểu đoàn 40 Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 97 Trung đoàn 2) và lực lượng đặc công của quân khu đã dũng cảm mưu trí phối hợp với các tuyến bố phòng dày đặc của quân dân địa phương, bẻ gãy cuộc càn của địch, diệt 500 tên, bắn rơi 17 máy bay, bắn bị thương nhiều chiếc khác.

        Đoàn Kiểm tra của Quân uỷ Trung ương sau khi nắm tình hình trong khu đều nhất trí với Khu uỷ và Quân khu uỷ về năm vấn đế quan trọng tập trung xây dựng lực lượng vũ trang:

        Một là, Bộ đội chủ lực không thể đánh theo lối phân tán, đánh nhỏ, đánh tiêu hao địch, mà phải tác chiến tập trung với quy mô thích hợp để tiêu diệt từng đơn vị địch, đáp ứng yêu cầu phát triển của chiến tranh.

        Hai là, tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng nhằm bồi dưỡng bản chất giai cấp công nhân cho quân đội nhân dân, nâng cao khí thế cách mạng sôi nổi, phát huy tinh thần dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu, bồi dưỡng chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Trên cơ sở đó mà quán triệt sâu sắc tư tưởng tiến công địch, thấm nhuần nguyên tắc đánh tiêu diệt.

        Ba là, củng cố và tăng cường ý thức tổ chức kỷ luật của bộ đội trong việc chấp hành mệnh lệnh, chấp hành chính sách và kỷ luật chiến trường. Phải nghiêm khắc với hiện tượng đánh xua, đánh đuổi, không thu được vũ khí, trang bị của địch mà còn để mất vũ khí, đạn dược.

        Bốn là, nâng cao khả năng cơ động chiến đấu của bộ đội chủ lực. Tổ chức gọn nhẹ, từng bước nâng dần thành phần chiến đấu, tăng đơn vị chiến đấu giảm bớt đơn vị phục vụ.

        Năm là, Nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, nhất là các đơn vị chủ lực. Nghiên cứu đánh bại các thủ đoạn chiến thuật của địch, trước mắt đánh bại chiến thuật “thiết xa vận” của Mỹ-Nguỵ.

        Sau khi hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra, Bộ Chính trị quyết định tôi ở lại Khu 5 đảm nhiệm chức vụ Phó Bí thu Quân khu uỷ, Chính uỷ Quân khu 5; anh Nguyễn Đôn – Tư lệnh Quân khu. Mấy tuần sau thì Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương gọi anh Nguyễn Đôn ra Bắc để ổn định sức khoẻ. Anh Đoàn Khuê – Phó Chính uỷ, anh Nguyễn Chánh – Phó Tư lệnh lên Tây Nguyên Phụ trách tiền phương của Quân khu.

        Tháng 6 năm 1964, Khu uỷ ra Nghị quyết về nhiệm vụ và những công tác lớn trước mắt của Khu 5. Nghị quyết nhận định tình hình hiện nay trong khu: Về địch, lực lượng ở Khu 5 vẫn còn tương đối đông (60-65 nghìn quân chủ lực, 22-23 nghìn quân bảo an, 6.000-8.000 biệt kích, 14-16 nghìn dân vệ), chúng thành lập năm chiến đoàn ở Quân đoàn 1, chín chiến đoàn ở Quân đoàn 2. Quân số địch tương đối đông, phong trào đấu tranh, diện làm chủ của nhân dân ta chưa mở rộng, đấu tranh chính trị và vũ trang của của ta chưa căng kéo địch trên khắp chiến trường nên địch có điều kiện tập trung quân tương đối lớn để càn quét, điều quân phản ứng ta tương đối nhanh. Xe bọc thép M113 còn phát huy tác dụng. Ngoài các căn cứ lớn, địch có 500 đồn, bốt, ấp chiến lược còn nhiều (gần 2.700 ấp), cả đồng bằng và miền núi, nên địch còn kìm kẹp được đại bộ phận nhân dân đồng bằng.

        Về ta, khó khăn: Lực lượng của địch ở Khu 5 tương đối đông. Phạm vi giành dân của ta, nhất là ở đồng bằng còn quá ít. Kinh tế còn khó khăn lâu dài, cụ thể là lương thực, tài chính, nhân vật lực ho cách mạng. Trong thực hiện phương châm, về tư tưởng và tác phong còn nhiều nhược điểm và khuyết điểm.

        Thuận lợi: Có căn cứ miền núi được giữ vững và củng cố. Phong trào quần chúng nói chung đã chuyển lên một thế mới. Phong trào đồng bằng đã mở ra và giành dân được một mức độ. Lực lượng vũ trang của ta tương đối đông, cán bộ cần cù chịu đựng gian khổ, có trình độ. Công tác chỉ đạo đã có kinh nghiệm hơn trước. Ngoài ra còn có sự chỉ đạo đúng đắn của trên, có sự hỗ trợ chung của phong trào miền Nam.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:57:06 pm

        Về nhiệm vụ chung và những công tác lớn trước mắt, nghị quyết chỉ rõ: Căn cứ vào tình hình thực tế trong khu, để thực hiện nghị quyết của Trung ương Cục, nhiệm vụ của khu từ nay đến giữa năm 1965 là động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên chiến trường tranh thủ thời cơ liên tục tiến công tiêu diệt địch, ra sức phá “ấp chiến lược”, phá kìm kẹp, giành lại nông thôn đồng bằng và rừng núi (nhất là nông thôn đồng bằng), ra sức chống càn quét, chống lấn chiếm, xây dựng căn cứ rừng núi và vùng nông thôn - giải phóng, mở rộng diện tích tiêu hao, nâng cao mức tiêu diệt địch, đẩy mạnh phong trào nhân dân du kích chiến tranh, đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận, phát triển công tác thành phố, xây dựng thực lực chính trị, vũ trang của ta mạnh mẽ, tăng cường công tác kinh tế tài chính, đưa phong trào trong khu chuyển mạnh lên một bước phát triển mới, tạo điều kiện giành thắng lợi ngày càng to lớn. Sẵn sàng tư tưởng, tổ chức, đánh bại những bước leo thang mới của địch.

        Trong những nhiệm vụ trên, có ba mục tiêu chính mà ta phải giải quyết cho được. Một là, phá ấp chiến lược, phá kìm kẹp, giành và làm chủ phần lớn nông thôn đồng bằng, làm chủ rừng núi, xây dựng căn cứ và vùng giải phóng vững mạnh, đảm bảo giành nguồn nhân lực lớn lao cho cách mạng. Hai là, tiêu diệt sinh lực địch, làm tan rã từng bộ phận quân đội địch, tiến lên thực hiện tốt nhiệm vụ của trên, tiêu diệt lớn sinh lực địch. Ba là, củng cố và phát triển mạnh mẽ lực lượng chính trị, vũ trang, tăng cường thực lực kinh tế của ta.

        Ba nhiệm vụ trên có liên quan chặt chẽ với nhau, đảm bảo thắng lợi và hỗ trợ nhau.

        Tháng 7 năm 1964, Đảng uỷ - Bộ tư lệnh Quân khu 5 phát động phong trào đẩy mạnh tác chiến tiêu diệt, tiêu hao thật nhiều sinh lực địch, bồi dưỡng ta. Xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh đi đôi với phong trào phá ấp giành dân. Đảng uỷ - Bộ tư lệnh Quân khu chủ trương mở chiến dịch Thu – Đông năm 1964.

        Tôi xin phép Khu uỷ xuống Tam Kỳ tìm hiểu tình hình phong trào quần chúng và các đơn vị bộ đội, Cùng đi với tôi có một số cán bộ tham mưu, chính trị. đến Dốc Bộng thì chúng tôi được biết anh Nguyễn Duy Minh – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 vừa trúng pháo địch hy sinh trong một một trận phục kích quân địch trên đường Tiên Phước đi Tam Kỳ. Anh Lê Hữu Trữ - Trưởng phòng Tác chiến Quân khu được giao nhiệm vụ làm Trung đoàn trưởng. Đến vùng Dương Yên, tôi gặp anh Mười Chấp - Tỉnh uỷ viên Quảng Nam, Bí thư Huyện uỷ Tam Kỳ, một đồng chí không ra Bắc tập kết ở lại bám trụ kiên cường. Sau khi nắm lại tình hình, tôi bàn với anh Mười Chấp huy động được mấy tấn gạo. Tôi đề nghị với anh Võ Chí Công và anh Nguyễn Đôn cho nốt đại đội đang bảo vệ khu về tiểu đoàn để chuẩn bị cho đợt hoạt động mùa Thu.

        Thực hiện kế hoạch tác chiến Thu – Đông 1964, Tiểu đoàn 90 Trung đoàn 1 được tăng cường, nhận nhiệm vụ đánh địch ở Kỳ Sanh.

        Kỳ Sanh là một xã giải phóng của ta ở tây Tam Kỳ (Quảng Nam). Trong tháng 3 năm 1964, Mỹ - Nguỵ mở chiến dịch lấn chiếm chiếm lại. Sau một thời gian đánh phá, địch đã gom dân vào trong sáu ấp chiến lược. Lực lượng địch ở đây có tiểu đoàn quân cộng hoà bố trí thành 3 cụm ở đối 76 và hai thôn, thôn 7 và thông 8.

        Đánh Kỳ Sanh, bộ đội ta phải vận động trên địa hình trống trải, giữa hệ thống cứ điểm dày đặc, địch có thể phát huy được máy bay, pháo binh, cơ giới.

        Trung đoàn 1 chuẩn bị cho trậnu Kỳ Sanh khá tốt, tinh thần chiến đấu tốt, sức khoẻ bộ đội được cải thiện. Trước khi bộ đội xuất quân, tôi về trung đoàn để động viên anh em:

        - Các đồng chí đánh trận này theo hình thức “đánh điểm, diệt viện”, nhắm kiên quyết tiêu diệt một bộ phận sinh lực quân cộng hoà cơ động, bắn cháy và bắt sống M113, đánh bại bước đầu chiến thuật “thiết xa vận” của địch, bắn rơi máy bay địch bằng súng trường và trung liên, đánh cả ban đêm và ban ngày, nâng cao trình độ và sức chiến đấu của trung đoàn chủ lực.

        Nói xong tôi hỏi anh em:

        - Các đồng chí có gì khó khăn?

        Anh em giơ tay nói:

        - Báo cáo thủ trưởng, trên 600 người đi vào trận đánh mà chỉ có không đầy hai chục xẻng, cuốc, khó đào công sự xong trong đêm.

        Trước giờ xuất quân, đòi hỏi của anh em rất thực tế. Thời gian chỉ còn mấy tiếng đồng hồ. làm thế nào giải bài toán hóc búa này? Tôi nói với anh Thạch và anh Huyền cho anh em tạm nghỉ, các đồng chí cùng suy nghĩ cách giải quyết.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:57:34 pm

        Suy nghĩ một lúc, tôi mượn dao và cùng mấy đồng chí bảo vệ ra rừng tìm một cây gỗ thật cứng, chặt một đoạn vót nhọn.

        Bộ đội được tập hợp trở lại, tôi cầm cây cọc gỗ vót nhọn cắm trước hàng quân và nói:

        - Các đồng chí! Xưa kia Ngô Quyền đã chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng bằng những cây cọc gỗ như thế này, tất nhiên là lớn hơn, dài hơn. Ngày nay, các đồng chí hãy noi gương cha ông, dùng những cọc gỗ để đánh Mỹ - Nguỵ. Gỗ có thể đâm thủng thuyến giặc, thì gỗ cũng có thể để đào công sự chiến đấu.

        Hiểu được ý của tôi, Tiểu đoàn 90 toả vào rừng, mỗi người chặt một đoạn cây vót nhọn để thay cuốc, xẻng. Đêm hôm ấy bộ đội đào công sự cá nhân khá tốt.

        Theo đúng kế hoạch, đếm ngày 9 rạng ngày 10 tháng 8 năm 1964, một bộ phận của Tiểu đoàn 90 tiến công diệt 1 đại đội quân nguỵ ở thôn 8.

        Sáng ngày 10 tháng 8, Chỉ huy tiểu khu Quảng Tín sử dụng 2 đại đội bộ binh có 9 xe bọc thép M113 dẫn đầu từ Hố Giang kéo lên Kỳ Sanh. Để yể trợ cho lực lượng cứu viện, địch cho máy bay và pháo binh bắn phá ác liệt dọn đường. Những công sự đào vội bằng những cọc gỗ vót nhọn chỉ sâu đến thắt lưng, cũng đủ để chiến sỹ ta vững tâm chờ địch.

        9 giờ 35 phút ngày 10 tháng 8, đại bộ phận quân địch đã lọt vào trận địa phục kích của ta. Ngay từ những loạt đạn đầu, các chiến sỹ ta đã bắn cháy 2 xe M113 đi trước. Bảy chiếc đi sau vội vàng dừng lại. Máy bay, pháo binh thi nhau nã đạn vào trận địa Tiểu đoàn 90.

        Bất chấp bom đạn, chiến sỹ ta vừa anh dũng đánh chia cắt bộ binh địch bám theo xe bọc thép, vừa bình tĩnh đón đánh những chiếc xe M113 đang hung hăng ào tới. Sau hơn 30 phút, ta bắn cháy thêm 4 chiếc nữa. Vậy là ta đã diệt 6 trong số 9 chiếc M113. Tấm lá chắn bằng thép đã bị phá vỡ, bộ binh địch hốt hoảng bỏ chạy tán loạn. Quân ta lập tức xông lên truy diệt gần 100 tên địch nữa. ta thương vong 41. Tuy chưa diệt gọn được toàn bộ quân địch nhưng đây là trận đầu tiên Tiểu đoàn bộ binh 90 đã trụ vững ở địa bàn đồng bằng. Chiến thuật “thiết xa vận” - thủ đoạn chủ yếu để thực hiện kế hoạch càn quét gom dân lập ấp chiến lược của địch lần đầu bị đánh bại trên chiến trường Khu 5.

        Giữa năm 1964, trước những thất bại ngày càng nặng nề ở miền Nam Việt Nam, âm mưu của đế quốc Mỹ dùng không quân đánh phá miền Bắc đã trắng trợn hơn, các hoạt động trinh sát trên không, tung biệt kích vào phá hoại nhiều hơn.

        Tháng 3 năm 1964, Giôn-xơn phê chuẩn kế hoạch Đê-sô-tô, dùng tàu khu trục Mỹ tuần tiễu ở vịnh Bắc Bộ để ngăn chặn tiếp tế vào Nam bằng đường biển của ta; đồng thời quấy rối trinh sát vùng ven biển, yểm hộ cho hoạt động của tàu biệt kích nguỵ vây bắt nhân dân ta đánh cá ngoài biển để khai thác tin tức. Trung tuần tháng 4 năm 1964, hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã vạch kế hoạch ném bom miền Bắc, thông qua danh sách 94 mục tiêu sẽ bị đánh phá.

        Ngày 12 tháng 6, biệt kích nguỵ phá cầu Hang (Thanh Hoá). Ngày 30 tháng 6, chúng lại phá nhà máy nước Đồng Hới. Từ ngày 30 tháng 7, tầu chiến Mỹ đã xâm phạm ven biển của ta, bắn phá các đảo Hòn Ngư (Nghệ An) và Hòn Mê (Thanh Hoá). Ngày 31 tháng 7, tàu khu trục Ma-đốc của Mỹ vào khu vực phía nam đảo Cồn Cỏ, bắt đầu do thám và uy hiếp dọc bờ biển của ta. Các ngày 31 tháng 7 và 1 tháng 8, máy bay Mỹ bắn phá đồng biên phòng Nậm Cắn.

        Trước tình hình đó, hải quân ta được lệnh đánh trả và trừng trị bọn cướp biển xâm phạm vùng biển và an ninh của nước ta.

        Trưa chủ nhật ngày 02 tháng 8 năm 1964, chính quyền Giôn-xơn lại dựng lên câu chuyện tàu chiến Mỹ bị hải quân ta tiến công ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ thuộc hải phận quốc tế, lấy cớ ném bom miền Bắc trong ngày 5 tháng 8 năm 1964.

        Với sự kiện vịnh Bắc Bộ, đế quốc Mỹ mong gỡ thế bí, thế sa lầy của chúng ở miềm Nam Việt Nam, nhưng thực tiễn những năm sau đã chứng tỏ cuộc phiêu lưu mới đó đã không cứu vãn được những thất bại ngày càng nặng nề của chúng.

        Đêm 5 tháng 8 năm 1964, tôi, anh Mười Chấp và mấy anh em đi cùng, mắc võng giữa vườn chè Kỳ Thạnh nhưng không sao ngủ được, thỉnh thoảng lại hỏi nhau không biết đêm nay Bác Hồ có ngủ được không? Đêm đã khuya, gió biển thổi vào làm cho những tàu lá dừa lay động xào xạc. Có đồng chí mỗi lần nhắc đến Bác thức hay ngủ lại nức nở khóc. Chúng tôi nói với nhau: điều quan trọng nhất là quân dân cả nước một lòng kháng chiến chống Mỹ - Nguỵ, quân dân miềm Nam và Khu 5 đánh thắng địch để Bác vui lòng.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:58:00 pm

        Ngày 19 tháng 8 năm 1964, báo Quân giải phóng - tờ báo của lực lượng vũ trang Trung Trung Bộ chính thức phát hành phục vụ cán bộ, chiến sỹ và nhân dân. Toà soạn bảo Quân giải phóng được tổ chức do anh Lê Văn Ba là thư ký toà soạn (phụ trách chung), ban biên tập có các nhà văn, nhà thơ, gồm các anh Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Phan Đình Công, Hà Giao... Chỉ sáu đồng chí, vừa làm phóng viên, biên tập, làm ma-két, chữa mo-rát... Trong điều kiện chiến trường đi lại rất khó khăn, để có tin bài kịp thời cổ vũ động viên bộ đội, cán bộ, phóng viên báo Quân giải phóng đã phải thường xuyên bám chiến trường, bám đơn vị. Nhiều phóng viên đã cùng với chiến sỹ chiến đấu trong các trận đánh đồn, phục kích, đánh giao thông, diệt cơ giới, chống càn quét, phá ấp chiến lược.

        Giữa lúc phong trào đang phát triển thì Khu 5 bị một trận lụt khủng khiếp. Tháng 10 năm 1964, những cơn mưa như trút nước liên tục ròng rã nửa tháng trời biến đồng bằng Khu 5 thành biển nước. Hàng nghìn thông ấp bị ngập trong nước. Lũ cuốn trôi nhiều nhà cửa, trâu bò, công cụ sản xuất. Núi sạt lở từng mảng kéo theo một số buôn của đồng bào và một số bệnh xá, cơ quan, đơn vị. Riêng bộ đội đã có 70 cán bộ, chiến sỹ bị đất vùi. Theo các cụ già địa phương cho biết thì đây là trận lụt chưa từng có trong vòng 100 năm ở đây. Trận lụt đã gây ra nạn đói nghiêm trọng, đe doạ khắp vùng ven biển miền Trung, tác động sâu sắc đến nhiều mặt của cuộc kháng chiến.

        Kẻ thù tàn ác, chúng cho rằng trận lụt có giá trị như cuộc phản công của mấy sư đoàn. Giữa lúc nhân dân đang ngập chìm trong nước, hàng vạn người già, trẻ em đang chới với trên những mái nhà tranh, những ngọn cây thì cũng chính là lúc chúng tính kế xúc dân, lập ấp, đánh phá phong trào cách mạng. Từng đàn máy bay địch liên tục ném bom bắn phá các thôn xóm, các gồ đất cao đang chen chúc những người chạy lụt. Xe bọc thép lội nước, xuống máy của chúng lồng lộn rẽ nước chở quân đi càn quét hòng tiêu diệt các đơn vị chủ lực và du kích ta đang bị nước bao vây và xúc dân về các trại tập trung.

        Khó khăn tưởng chừng không khắc phục nổi. Nhưng càng khó khăn gian khổ, Đảng bộ và nhân dân Khu 5 càng bền gan, vững chí, gan góc kiên trì chịu đựng và anh dũng vượt qua. Bộ đội và du kích vừa đánh địch càn quét vừa dùng thuyền, bè chuối lao đi dưới làn bom đạn địch để cứu dân. Bát cơm xẻ nửa, củ sắn chia đôi, mọi người chia nhau từng hạt lúa, củ khoai còn sót lại.

        Trong những ngày khốn khó, Bác Hồ và nhân dân miền Bắc liên tiếp động viên thăm hỏi. Các chiến sỹ Đoàn 559 ngày đêm khẩn trương vận chuyển thuốc chữa bệnh của Bác Hồ và nhân dân Miền Bắc gửi cho đồng bào, chiến sỹ Khu 5. Kẻ thù hy vọng trận lụt sẽ làm giảm sút sức chiến đấu của quân và dân Khu 5 trong một thời gian dài. Nhưng chúng đã lầm. Với truyền thống tự lực, tự cường, quân dân Khu 5 đã nhanh chóng vượt qua mọi khó khăn, đồng thời tạo ra sức mạnh chiến đấu mới.

        Bộ tư lệnh Quân khu chủ trương sử dụng Trung đoàn bộ binh 2, phối hợp với bộ đội địa phương huyện và dân quân, du kích mở đợt tiến công vào chi khu An Lão.

        An Lão là một huyện của Bình Định, cách tỉnh lỵ Bình Định 96 ki-lô-mét về phía tây bắc, là một huyện trung du chạy dài trong một thung lũng rộng 4 ki-lô-mét dài 22 ki-lô-mét. Địch cho đây là vùng an toàn của chúng nên chỉ có lực lượng bảo an, dân vệ bố trí ở quận lỵ, với công sự khá kiên cố, có một điểm cao, hai đồn cùng với 13 trung đội dân vệ trong 18 ấp chiến lược dọc địa bàn của huyện.

        Trong đêm ngày 6 tháng 12, ta diệt gọn địch đóng ở trên điểm cao 193 và hai đồn dân vệ. Nhân dân các ấp nổi dậy bắt ác ôn, phá tan 18 ấp chiến lược, giải tán 13 trung đội dân vệ, nhưng ở quận lỵ ta chỉ tiêu hao được một phần quân địch. Đến sáng ngày 7 tháng 12 ta chuyển sang bao vây sẵn sàng đánh quân tiếp viện.

        Trong hai ngày 7 và 8 tháng 12, ta tiếp tục đánh viện, diệt 6 xe M113 và một số tên địch, giữ vững các nơi đã chiếm được, tuyên truyền chính sách trong nhân dân, gây cơ sở du kích trong vùng giải phóng. Bị thất bại nặng nề, đến ngày 15 tháng 12, địch rút khỏi vùng này.

        Kết quả, ta diệt và bắt 581 tên địch, thu 310 súng các loại (trong đó có 2 khẩu cối 106,7 ly), diệt và phá hỏng 6 xe M113, phá 18 ấp chiến lược, bắn rơi 1 máy bay, thu 12 tấn đạn, giải tán 13 trung đội dân vệ, giải phóng cả một vùng 11.000 dân.

        Qua chiến thắng An Lão, lần đầu tiên ở Khu 5 xuất hiện phương thức tác chiến mới của chủ lực kết hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích dưới hình thức chiến dịch với quy mô trung đoàn. Chiến thắng An Lão đã làm cho quân và dân ta càng thêm phấn khởi và tin tưởng, ra sức khắc phục những khó khăn to lớn do nạn lụt cuối năm 1964 gây ra và tạo nên một khí thế cách mạng mới.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:58:24 pm

        Đợt hoạt động Xuân 1965, trên toàn bộ chiến trường Khu 5 được chuẩn bị khá hơn. Trong đợt này toàn khu có ba trọng điểm có chủ lực hỗ trợ cho phong trào diệt kẹp giành dân. Để căng kéo, chia cắt, tạo ra sức uy hiếp lớn, buộc địch phải lúng túng đối phó, ta đã tập trung 4 trong số 5 trung đoàn chủ lực của đồng bằng và Tây Nguyên, phối hợp với lực lượng địa phương ba tỉnh, tiến công địch trên toàn tuyến. Trong đó, chủ lực tập trung vào 4 khu chính: Trung đoàn 2 ở Phù Mỹ (Bình Định); Trung đoàn 10 ở đông tây đèo Măng Giang trên đường 19; Trung đoàn 320 ở Thanh An – Thanh Bình trên đường 19 kéo dài; Trung đoàn 1 ở Quảng Nam. Trong đợt này quân khu còn sử dụng tất cả lực lượng đặc công, pháo cối đánh vào các sân bay. Trước Tết Nguyên đán, cơ quan tham mưu quân khu tính toán và đề nghị nên nổ súng vào đêm 30 Tết. Sau khi cân nhắc, anh Năm Công và tôi đồng ý cho nổ súng đồng loạt vào tối 30 rạng ngày 1 Tết Nguyên đán.

        Theo đúng kế hoạch, đêm 6 rạng ngày 7 tháng 2 năm 1965 (đêm 0 rạng ngày 1 Tết), chủ lực trên hướng trọng điểm cùng một lúc nổ súng tiến công sân bay Cù Hanh, trại Hô-lô-uê ở Plây Cu và cứ điểm Dương Liễu ở Bình định. Sân bay Cù Hanh là sân bay lớn, quan trọng nhất của Mỹ - Nguỵ ở Tây Nguyên. Trị Hô-lô-uê nằm ở quãng giữa sân bay và sở chỉ huy Quân đoàn 2 của Nguỵ. Trong trại có khoảng 1.000 cố vấn Mỹ.

        2 giờ ngày 7 tháng 2, sau khi đã vượt qua tất cả hệ thống bố phòng, các chiến sỹ đặc công Tiểu đoàn 40 đã nằm sẵn dưới cánh máy bay địch. Được lệnh, hầu như cùng một lúc, hàng chục tiếng bộc phá nổ vang rền. Từng cột khói, lửa bốc lên. Cùng lúc đó, các chiến sỹ đại đội súng cối 60 ly Trung đoàn 320 tới tấp dội đạn xuống trại Hô-lô-uê.

        Sau 30 phút chiến đấu, các chiến sỹ ta đã phá huỷ và phá hỏng 42 máy bay các loại, diệt và làm bị thương 350 tên (Trong hồi ký, Giôn-xơn thú nhận 20 máy bay lên thẳng bị phá huỷ và phá hỏng, 8 tên Mỹ chết và hơn 100 tên khác bị thương).

        Cùng lúc với trận tiến công sân bay Cù Hanh và trại Hô-lô-uê, Trung đoàn bộ binh 2 do Trung đoàn trưởng Đỗ Phú Đáp và Chính uỷ Nguyễn Văn Ngật chỉ huy cũng nổ súng tiến công cứ điểm Dương Liễu, diệt gọn 1 đại đội cộng hoà và 3 trung đội dân vệ, cắt đứt đường số 1 từ Phù Mỹ đi Bồng Sơn (Bình Định). Tiểu đoàn đặc công 499 (thiếu) tiêu diệt cứ điểm Gia Hựu (Hoài Nhơn), diệt gọn 1 đại đội cộng hoà và 1 trung đội pháo 105 ly.

        Ngày 8 tháng 2, địch cho 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 chi đoàn bọc thép của Sư đoàn 22 Nguỵ theo đường số 1 tiến ra Dương Liễu. Theo kế hoạch đã vạch sẵn, các đơn vị của ta bố trí ở những khu vực địch đã lục soát và bí mật vận động tiếp cận. 13 giờ 30 phút, khi quân địch phát hiện đường dây điện thoại của trận địa chặn đầu cũng là lúc toàn bộ đội hình của chúng đã lọt vào trận địa của ta. Hàng loạt đạn súng cối trùm lên các điểm cao, trên đó có hàng chục tên địch. Các mũi xung kích bất ngờ từ các sườn núi lao ra. Bị đánh mạnh và bị bao vây cả bốn phía, bọn chỉ huy quân Nguỵ liên tiếp kêu cứu. Hàng ngũ địch bắt đầu rối loạn tan rã. Một số tên lái xe bọc thép M113 cũng hốt hoảng bỏ xe chạy thoát thân.

        “Bắt sống xe bọc thép” – Trung đội trưởng Bùi Xuân Bình vừa ra lệnh cho đơn vị vừa nhảy lên chiếc xe bọc thép còn đang nổ máy, quay nòng trọng liên bắn yểm hộ cho đồng đội.

        15 giờ 30 phát, quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Trong trận này ta diệt, bắn bị thương và bắt sống 50 tên bắn cháy 8 chiếc và bắt sống 2 xe bọc thép M113.

        Trong lúc đó phía tây bắc thị xã Quảng Tín, Trung đoàn 1 tiêu diệt địch trong cụm cứ điểm Việt An, đồng thời đón đánh diệt quân cơ động Nguỵ. Sau khi Việt an được giải phóng, ngay hôm ấy địch cho 1 tiểu đoàn biệt động lên cứu viện. Tiểu đoàn này đi qua chợ Vinh Huy thì lọt vào trận địa phục kích của ta. Bộ đội đồng loạt xung phong, quân địch bị bất ngờ, nhốn nháo, một đồng chí tiểu đội trưởng hô vang khẩu lệnh: “Bám lấy thắt lưng địch mà đánh”. Cán bộ, chiến sỹ ta xung phong tiêu diệt và bắt sống toàn bộ tiêu đoàn biệt động Nguỵ.

        Ngày 7 tháng 2 năm 1965, lấy cớ đánh trả đũa ta tiến công vào doanh trại quân Mỹ ở Plây Cu, Giôn-xơn ra lệnh cho không quân Mỹ mở chiến dịch “Mũi lao lửa” ném bom bắn phá thị xã Đồng Hới. Tiếp đó, ngày 8 tháng 2, chúng ném bom bắn phá khu vực Chấp Lễ ở phía bắc Đồng Hới. Ngày 11 tháng 2 năm 1965, lại lấy cớ đánh trả đũa vụ ta tiến công vào khu nhà lính Mỹ ở Quy Nhơn, Mỹ tiếp tục ném bom các doanh trại Quân đội ta ở Chánh Hoà, Chấp Lễ. ngày 13 tháng 2, Giôn-xơn quyết định mở rộng các hoạt động đánh phá miền Bắc thành cuộc chiến tranh phá hoại.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:58:53 pm

        Để chống lại cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân miền Bắc đã tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân dựa trên sức mạnh toàn diện của chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt. Nhiều đơn vị phòng không được xây dựng gấp. Các loại pháo cao xạ và không quân, tên lửa phòng không hiện đại, các tổ, đội bắn máy bay tầm thấp của dân quân tự vệ triển khai rộng khắp, với quyết tâm địch đến là diệt, đánh thật mưu trí và đánh thắng ngay từ trận đầu.

        Đầu năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt’ của đế quốc Mỹ phát triển đến đỉnh cao nhất với nửa triệu quân nguỵ và hơn 23 nghìn cố vấn Mỹ, được trang bị vũ khí và phương tiện hiện đại, nhưng chiến lược chiến tranh đó đã bị quân và dân ta đánh bại.

        Để cứu chế độ Nguỵ quyền khỏi sụp đổ, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu vào miền Nam Việt Nam. Ngày 8 tháng 3 năm 1965, hai tiểu đoàn thuộc Lữ 4 Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ số 3 của Mỹ từ Ô-ki-na-oa (Nhật) đổ bộ lên Đà Nẵng. Sau đó chúng lần lượt đưa quân Mỹ và chư hầu với vũ khí, trang bị hiện đại nhất vào miền Nam Việt Nam, chuyển từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” với cuồng vọng là bằng sức mạnh siêu cường tập trung đánh bật lực lượng kháng chiến của nhân dân miền Nam lên núi và về bên kia giới tuyến 17.

        Trước tình hình đó, từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 3 năm 1965, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 11 ra nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt. Hội nghị nhận định, với những âm mưu và hoạt động mới của đế quốc Mỹ, tình hình một nửa nước có chiến tranh một nửa nước có hoà bình đã biến thành tình hình cả nước có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi miền. Trong cuộc chiến tranh cách mạng yêu nước, nhân dân cả nước chống đế quốc Mỹ, miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miến Bắc vẫn là hậu phương lớn, nhưng nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam.

        Nghị quyết xác định: “ Nhiệm vụ cơ bản của ta là tích cực kiềm chế và thắng địch trong cuộc “chiến tranh đặc biệt” ở mức độ cao nhất ở miền Nam, ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng của cả nước giành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương đối ngắn; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam nếu địch gây ra, tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại và phong toả bằng không quân và hải quân của địch, chuẩn bị sẵn sàng để đánh bại địch trong trường hợp chúng đưa cuộc chiến tranh phá hoại hiện nay đến một trình độ ác liệt gấp bội hoặc chuyển nó thành một cuộc chiến tranh cục bộ cả ở miền Nam lẫn miền Bắc, ra sức động viên lực lượng của miền Bắc chi viện cho miền Nam; ra sức giúp đỡ cách mạng Lào, đem toàn lực tiến công địch ở miền Nam, bảo vệ miền Bắc hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc trong cả nước”.

        Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 của Trung ương đảng có những quyết định rất quan trọng: Vừa quyết tâm kiềm chế và thắng địch trong cuộc chiến tranh đặc biệt vừa chuẩn bị cho đất nước bước vào một cuộc chiến tranh quy mô lớn với quân đội viễn chinh Mỹ, vạch ra nhiệm vụ cơ bản và nhiệm vụ cụ thể của cả nước và riêng từng miền, giữ vững thế chủ động cho quân và dân cả nước ta, sẵn sàng đánh và thắng địch khi chúng chuyển cuộc chiến tranh xâm lược thành chiến tranh cục bộ ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại trên miền Bắc.

        Cuối tháng 3 năm 1965, Thường vụ Khu uỷ và Bộ tư lệnh Quân khu 5 mở hội nghị cán bộ trung cao cấp trong toàn quân khu đề ra chủ trương: Tranh thủ thời cơ tiến công tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực cơ động nguỵ, tiếp tục diệt kẹp giành dân và làm tan rã đại bộ phận quân nguỵ, dẫn chúng lún sâu hơn nữa vào thế phòng ngự bị động làm cho quân Mỹ lâm vào thế lúng túng, hạn chế khả năng bình định của Mỹ - Nguỵ. Ra sức xây dựng củng cố thế trận chiến tranh nhân dân địa phương, xây dựng “vành đai diệt Mỹ” bao quanh các căn cứ quân sự Mỹ, khẩn trương chuẩn bị tổ chức đánh những trận phủ đầu quân Mỹ. Nhanh chóng xây dựng, phát triển lực lượng ba thứ quân. Phát huy phong trào thi đua thực hiện “ba bám” (bám đât, bám dân, bám địch) quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược trong toàn quân khu.

        Tiếp đến, Quân khu uỷ tổ chức hội nghị “du kích chiến tranh” bàn kế hoạch xây dựng củng cố dân quân du kích, xây dựng làng xã chiến đấu và kế hoạch xây dựng “cành đại diệt Mỹ”, phát động phong trào thi đua giành danh hiệu “Thiện xạ diệt Mỹ” (Tháng 5 năm 1965 đổi tên là “Dũng sỹ diệt Mỹ”).


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 08:59:10 pm

        Sau các hội nghị trên đây, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo mở đợt sinh hoạt cính trị trong toàn quân khu nhằm xác định tư tưởng, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ, phát động tinh thần yêu nước, chí căm thù giặc Mỹ xâm lược và tay sai bán nước, biến nhận thức tư tưởng thành hành động cách mạng.

        Cơ quan lãnh đạo chỉ đạo của quân khu cử nhiều cán bộ xuống các tỉnh và các huyện chung quanh các vành đai, trước hết là Đà Nẵng giúp các địa phương tổ chức lực lượng xây dựng thế trận vành đai diệt Mỹ. Khu uỷ và Đảng uỷ - Bộ tư lệnh Quân khu khẩn trương củng cố các tổ chức đảng và các tổ chức quần chúng từ khu đến cơ sở ở cả thành thị và nông thôn, đặc biệt là xây dựng các chi bộ trên các vành đai vững mạnh đủ sức lãnh đạo quân, dân vành đai tiến hành các hoạt động tác chiến và đấu tranh chống địch càn quét, bắn phá vào làng xóm, tàn phá ruộng nương. Các chi bộ vành đai, hầu hết đảng viên đều trực tiếp đánh giặc, nhiều đồng chí đã bám trụ ngay từ đầu để vận động quần chúng đánh Mỹ. Ở đây, chi bộ đảng thực sự là bộ tham mưu trực tiếp tổ chức, động viê, chỉ đạo chiến tranh nhân dân ở xã thuộc tuyến vành đai.

        Việc xây dựng thế trận vành đai liên hoàn, vững chắc, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang đánh thắng giặc Mỹ, bảo vệ được nhân dân là nhân tố trực tiếp quyế định sự tồn tại và chiến thắng của vành đai diệt Mỹ. Quân và dân Khu 5 triệt để tận dụng nhân tố “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” vào việc xây dựng thế trận vành đai diệt Mỹ. Các lực lượng vũ trang và nhâ dân đã đóng góp nhân tài vật lực để xây dựng làng xã, trận địa chiến đấu, hình thành từng tuyến vững chắc. Thế trận xen kẽ, có các căn cứ lõm bên trong, các tuyến chiến đấu ngăn chặn giam chân địch, phía sau có các trận địa hoả lực chi viện cho phía trước. Các căn cứ lõm, các bàn đạp trận địa làng xã chiến đấu đều liên hoàn với nhau bằng mạng lưới đường dây liên lạc từ trong ra ngoài và ngược lại, cả hợp pháp, bất hợp pháp. Hệ thống công sự và địa đạo được xây dựng thành nhiều tuyến nối liền từ thôn này sang thôn khác, xã này sang xã khác, có nơi nối từ huyện này sang huyện khác. Xã chiến đấu Điện Hoà (điện Bàn, Quảng Nam) đã xây dựng được 29 ki-lô-mét rào, 33 ki-lô-mét giao thông hào, 5.200 hầm trú ẩn, trên 2.000 hầm bí mật, hầm cất giấu tài sản, trâu bò, 3.000 cọc chống xe M113, hàng nghìn hầm chông, hố chông, cạm bẫy và 16 ki-lô-met địa đạo... Hệ thống địa đạo trên vành đai diệt Mỹ phía nam Chu Lai của các huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) dài 70 ki-lô-mét. Hệ thống công sự hầm bí mật ở vùng ven Đà Nẵng phát triển nhiều và bảo đảm an toàn có thể giấu từ một đại đội đến một tiểu đoàn. Thế trận vành đai như vậy đã hạn chế được ưu thế về vũ khí, trang bị, phương tiện chiến tranh hiện đại của quân Mỹ. Quân Mỹ và chư hầu bị vây hãm trong thế trận vành đai - thế trận chiến tranh nhân dân. Hầu hết các cuộc càn nống lấn, thăm dò, các cuộc tiến công để nới rộng phạm vi an toàn của địch đều bị các lực lượng vũ trang trên vành đai đánh bại.

        Mặc dù được chuẩn bị tinh thần, tư tưởng, tổ chức quyết tâm đánh Mỹ sớm, nhưng quân và dân Khu 5 chưa hình dung được cách đánh cụ thể. Khi bàn cách tổ chức đánh phủ đầu quân chiến đấu Mỹ, Khu uỷ - Bộ tư lệnh Quân khu xác định dân quân và du kích là lực lượng nòng cốt, trực tiếp tại chỗ của phong trào toàn dân đánh giặc trên vành đai, nên lúc đầu đặt tên là”vành đai du kích diệt Mỹ”, lực lượng gồm du kích xã vành đai, bộ đội huyện, bộ đội tỉnh và các đại đội đặc công, pháo cối của quân khu tăng cường. Nhưng chúng tôi cho rằng như thế là hẹp nên đổi thành “vành đai diệt Mỹ”. Bộ đội địa phương tác chiến trên vành đai có quy mô tổ chức biên chế gọn nhẹ, cơ động nhanh, thực hiện phương châm lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ đánh lớn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của vành đai diệt Mỹ. Bộ đội địa phương và dân quân du kích xây dựng nhiều đơn vị mũi nhọn sẵn sàng cơ động tác chiến trên vành đai và chiến đấu trên khắp địa bàn, khiến quân Mỹ - Nguỵ đi đến đâu cũng sa vào mạng lưới thiên la địa võng của du kích. Những tiên lính Mỹ và chư hầu được huấn luyện cho một cuộc chiến tranh quy ước, hoàn toàn bị bất ngờ, bị động trước cuộc chiến tranh du kích. Riêng du kích trên vành đai diệt Mỹ ở Chu Lai trong hai tháng ( tháng 5 và tháng 6 năm 1965) đã diệt và làm bị thương 685 tên lính thuỷ đánh bộ Mỹ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2016, 11:04:14 pm

        Từ kết quả diệt Mỹ trên các mặt trận vành đai, Đảng uỷ - Bộ tư lệnh Quân khu 5 đi đến khẳng định: Du kích đã diệt được Mỹ thì bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực càng có khả năng đánh Mỹ, thắng Mỹ. Thực tế đã chứng minh: Trận Núi Thành (26/5/1965), Đại đội 2 Tiểu đoàn 70 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam được tăng cường một trung đội đặc công, sau 30 phút chiến đấu các chiến sỹ ta đã tiêu diệt gần hết 1 đại đội lính thuỷ đánh bộ Mỹ. Trận Vạn Tường, Trung đoàn 1, Đại đội 21 bộ địa phương tỉnh Quảng Ngãi và du kích địa phương sau một ngày chiến đấu đã loại khỏi vòng chiến đấu 900 tên Mỹ, phá huỷ 22 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 13 máy bay.

        Chiến thắng oanh liệt của các trận đánh trên góp phần quan trọng vào ciệc xác định được cách đánh, xây dựng được lòng tin, quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ của quân và dân ta, cổ vũ khí thế thi đua diệt Mỹ trên toàn chiến trường.

        Hội nghị Khu uỷ diễn ra vào đầu tháng 5 năm 1965, chủ trương đẩy mạnh đấu tranh chính trị, vũ trang và vận động binh sỹ địch đầu hàng nhằm tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân chủ lực nguỵ, làm cho chúng rối loạn cao độ về chiến lươc, suy sụp hoàn toàn về chính trị...; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng địch trong “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam. Về tác chiến, hội nghị chủ trương tập trung chủ lực mở hoạt động Hè trên ba hướng: Nam Tây Nguyên, tây Gia Lai - bắc Kon Tum, bắc Quảng Ngãi.

        Bắc Quảng Ngãi - hướng trọng điểm của hoạt động ở đồng bằng bao gồm ba huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa và thị xã Quảng Ngãi. Địa bàn tác chiến chủ yếu của chủ lực là tây Sơn Tịnh. Vùng đất nằm kẹp giữa 4 chi khu quân sự Sơn Tịnh 4 ki-lô-mét là thị xã Quảng Ngãi. Xa hơn 20 ki-lô-mét về phía bắc là căn cứ Chu Lai, nơi quân Mỹ vừa mới đổ vào ngày 7 tháng 5 năm 1965. Lực lượng địch, ngoài bảo an, dân vệ vòn có Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 51 độc lập đóng tại cứ điểm Gò Cao (còn có tên gọi là Ba Gia). Sở chỉ huy Trung đoàn 51 và các Tiểu đoàn 2, 3 ở thị xã Quảng Ngãi. Địa bàn hẹp, lực lượng động, cứ điểm dày đặc. Kể từ mùa Thu năm 1964, chủ lực ta chưa hoạt động ở đây. Do đó địch khá chủ quan sơ hở.

        Lực lượng ta trong chiến dịch này có Trung đoàn 1 bộ binh, do anh Lê Hữu Trữ làm Trung đoàn trưởng và anh Nguyễn Đình Trọng – Chính uỷ chỉ huy được tăng cường Tiểu đoàn 45 từ miền Bắc vào, cùng với lực lượng vũ trang địa phương. Tôi trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ chiến dịch.

        Cách đánh chiến dịch được xác định là: đánh điểm, diệt viện, đánh địch ngoài công sự là chính. Vùng tây Sơn Tịnh được xác định là địa bàn chiến dịch.

        Ngày 20 tháng 5 năm 1965, Trung đoàn 1 được lệnh hành quân rời Quảng Nam vào Quảng Ngãi. Trong buổi lễ xuất quân, toàn trung đoàn tỏ chức lễ phát động thi đua”Quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”, đã làm bừng lên khí thế sôi nổi, hào hùng trong cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 1. Khi thảo luận phương án, anh Lê Hữu Trữ nói: “Trung đoàn 1 chúng tôi đang sung sức, nên mở đầu chiến dịch bằng tiêu diệt Ba Gia trước”.

        Nhưng qua thảo luận, phân tích, thấy phương án diệt Ba Gia là không phù hợp, phải có cách đánh chắc chắn hơn, tìm cách khơi ngòi, lôi địch ra ngoài công sự để tiều diệt. Quyết tâm chiến đấu của Trung đoàn 1 được quyết định như sau: Sử dụng một lực lượng nhỏ đánh vào một đơn vị dân vệ, kéo quân viện của địch ra tiêu diệt từ nhỏ đến lớn, tạo ra sự bùng nổ dây chuyền, buộc quân địch ngày càng lao sâu vào chỗ chết.

        4 giờ 25 phút ngày 29 tháng 5 năm 1965, một trung đội bộ đội địa phương huyện Sơn Tịnh, cùng một trung đội trinh sát đặc công của Trung đoàn 1 đánh vào vị trí đóng quân của trung đội dân vệ ở thôn Lộc Thọ.

        Đúng như ta dự đoán, sau khi bộ đội địa phương Sơn Tịnh nổ súng, bọn dân vệ liền kêu cứu. Địch cho pháo binh ở Ba Gia bắn vào Lộc Thọ và ra lệnh cho đại đội đóng quân dã ngoại ở Núi Tròn kéo xuống ứng cứu.

        Thực hiện ý định chiến đấu, các chiến sỹ ta không dùng súng trung liên và súng cối, mà chỉ dùng súng trường diệt địch. Chiến sỹ ta dựa vào công sự địch lên gần tỉa từng tên khiến cả đại đội nguỵ phải dừng lại. Bọn chỉ huy địch điều ngay 2 đại đội còn lại đi trên 8 xe GMC và 1 xe Jeep do hai cố vấn Mỹ chỉ huy kéo xuống giải toả.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2016, 11:06:54 pm

        Như vậy, ta đã kéo 1 đại đội nguỵ vào khu chiến, rồi tiếp tục giữ đại đội này trong thế tiến thoái lưỡng nan, để kéo cả Tiểu đoàn 1 ( Trung đoàn 51) nguỵ ra khỏi đồn để tổ chức tiêu diệt. Đội hình của Tiểu đoàn 1 địch đến gần cầu Gãy thì dừng lại. Lúc này, Tiểu đoàn 90 dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Chơn từ xóm An Thanh, thôn Minh Thành đang bí mật vận động hình thành thế bao vây. 9 giờ 30 phút ngày 29 tháng 5, đội hình tiến công chủ yếu của Tiểu đoàn 90 đã ở ngay sát bên sườn và phía sau quân địch. Được lệnh nổ súng, các mũi xung phong đánh chia cắt quân địch ra từng cụm nhỏ để tiêu diệt. Hai có vấn Mỹ bị tiêu diệt ngày từ đầu. Cả ba mặt đều có lực lượng ta tiến công, đôi hình chúng rối loạn không kịp chống cự. Số còn sống sót liều chết chạy ra cánh đồng hòng vượt sông Trà Khúc thoát thân. Tiểu đoàn 90 được lệnh truy kích. Các chiến sỹ nuôi quân, thông tin, vận tải, quân y tham gia bắt tù binh. Cả tiểu đoàn Nguỵ hoàn toàn bị tiêu diệt. Ta bắt 217 tên, có cả tên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1.

        Bị thua đau và hết sức bất ngờ, ngay chiều 29 tháng 5, địch điều động Tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ 3 đang càn quét ở Đức Phổ và Tiểu đoàn Biệt động quân 39 đang ở bắc Đà Nẵng tập trung về thị xã Quảng Ngãi. Một chiến đoàn hỗn hợp gồm Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 51, Tiểu đoàn Biệt động quân 39 và Tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ 3 được gấp rút tổ chức.

        Về phía ta, sau chiến thắng oanh liệt vừa qua, Trung đoàn khẩn trương cho củng cố để chuẩn bị đánh những trận sau lớn hơn.

        Đúng như dự kiến, mờ sáng ngày 30 tháng 5, từng tốp máy bay phản lực ào tới dội bom xuống khắp các xóm làng và dãy điểm cao hai bên đường số 5 từ Sơn Tịnh đi Hà Thành. Pháo binh địch từ thị xã Quảng Ngãi bắn liên tiếp. Tưng tốp trực thăng phóng rốc-két, bắn đạn 20 ly xuống các điểm cao Mã Tô, Núi Khỉ, Chóp Nón mơ đường cho chiến đoàn địch tiến lên.

        9 giờ 30 phút ngày 30 tháng 5, cả chiến đoàn địch được chở trên 20 xe GMC và 12 xe bọc thép M113 từ thị xã Quảng Ngãi tiến đến ngã ba Lâm Lộc chia làm hai cánh. Tiểu đoàn Biệt động quân số 39 rẽ về phía bắc và băng qua cánh đồng Vĩnh Khánh, tiến lên chiếm điểm cao núi Chóp Nón. Cánh quân chủ yếu gồm các đơn vị còn lại tiếp tục theo đường số 5 đánh lên Phước Lộc, điểm cao Mã Tô, Nhí Khỉ rồi phát triển lên Ba Gia.

        Từ đài quan sát chỉ huy trên đỉnh Núi Khỉ, Trung đoàn liên tục theo dõi, nắm chắc mọi hành động của địch báo cáo và nhận định: So sánh lực lượng tiểu đoàn ta 1 - địch 1, nhưng địch có quân số đông hơn, hoả lực phi pháo binh khí nhiều hơn. Ta không đủ khả năng tập trung tiêu diệt ngày một lúc toàn bộ quân địch. Do đó cách đánh của ta là tìm mọi cách tách quân địch ra từng tiểu đoàn, không cho chúng liên kết, chi viện lẫn nhau để ta có thể diệt chắc từng bộ phận địch.

        Từ nhận định về địch và xác nhận cách đánh, Trung đoàn trưởng Lê Hữu Trữ chỉ thị từng mục tiêu cụ thể cho các tiểu đoàn. Trên các hướng, được sự hỗ trợ của du kích, quân ta nhanh chóng vận động, bí mật hình thành thế bao vây quân địch.

        13 giờ 30 phút ngày 30 tháng 5, Tiểu đoàn 39 đến núi Chóp Nón, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 51 và Tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ 3 đang tiến vào làng Phước Lộc.

        Theo tình huống dự kiến Tiểu đoàn 45 và Đại đội 6 Tiểu đoàn 60 nổ súng đánh vào sau lưng Tiểu đoàn 39 của địch. Nghe tiếng súng nổ, cánh quân chủ yếu của địch ở Phước Lộc triển khai đội hình chiếm đồi Mã Tô và điểm cao 47.

        Lúc này toàn trung đoàn được lệnh xuất kích.

        Tiểu đoàn 40 từ chân Núi Khỉ, hình thành hai mũi đánh chiếm phía tây làng Phước Lộc, phát triển dọc theo bờ bắc sông Trà Khúc, hình thành thế bao vây chặt phía nam quân địch. Tiểu đoàn 60 (thiếu) từ Vĩnh Lộc chia thành hai mũi đánh bật địch ra khỏi điểm cao 47, tiến thẳng vào làng Phước Lộc, cắt đôi đội hình địch, rồi vòng về phía đông, chiếm cầu Bà Mẹo cắt đường rút lui của địch, phối hợp với Tiểu đoàn 40.

        Trận đánh diễn ra mỗi lúc một ác liệt, ta và địch giành giật nhau từng mô đất, từng đoạn chiến hào. Sau 2 giờ chiến đấu quyết liệt, chiến sỹ ta đã diệt phần lớn Tiểu đoàn 39, đánh thiệt hại Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 51), đánh thiệt hại Tiểu đoàn lính thuỷ đanh bộ 3. Trời tối, quân số còn lại của Tiểu đoàn 39 cố thủ ở đồi Chóp Nón,Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 51) co cụm trong một đoạn chiến hào ở rìa làng Phước Lộc, Tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ số 3 co cụm ở điểm cao 47.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:20:59 pm

        Như vậy, bằng nhiều trận đánh liên tiếp, ta đã gom địch lại thành ba cụm cách biệt nhau, buộc chúng phải trú quân lại trong đêm.

        Về phí ta, sau một ngày chiến đấu căng thẳng, nhưng để diệt gọn cả chiến đoàn địch, cán bộ trung đoàn phân công nhau xuống từng đơn vị để động viên bộ đội, tổ chức lại đội hình, nắm địch và quyết định tập kích tiêu diệt cả ba cụm quân địch ngay đêm 30 tháng 5.

        4 giờ 30 phút ngày 31 tháng 5, trận tập kích bắt đầu từ đồi Chóp Nón. Chỉ sau 7 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 45 đã tiêu diệt gọn quân địch, làm chủ trận địa. Ở hướng Mã Tô và điểm cao 47, Tiểu đoàn 60 nổ súng, bọn địch không kịp chống cự mà lợi dụng đêm tối tháo chạy. Tiểu đoàn 60 truy kích, diệt gọn tiểu đoàn này.

        Ở làng Phước Lộc, Tiểu đoàn 40 gặp khó khăn hơn, chưa nắm được địch. Cán bộ tiểu đoàn và đại đội đi trước nắm địch, khi nắm được địch nhanh chóng hình thành phương án, tổ chức chiến đấu và thực hành tiến công ngay. 4 giờ ngày 31 tháng 5, Tiểu đoàn 40 nổ súng. Sau 30 phút chiến đấu, toàn bộ lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 51) Ngụy bị tiêu diệt.

        Như vậy, sau 16 giờ chiến đấu liên tục, Trung đoàn 1 đã tiêu diệt hoàn toàn 1 chiến đoàn quân Ngụy, diệt 916 tên, có 4 cố vấn Mỹ, bắt 65 tên, thu nhiều vũ khí quân trang, quân dụng.

        Chiến thắng Ba Gia là một trận tiêu diệt chiến xuất sắc của chủ lực ta. Lần đầu tiên ta diệt gọn một chiến đoàn quân Ngụy (Tiểu đoàn Biệt động 39, Tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ 3, Các Tiểu đoàn 1 và 2 (Trung đoàn 51) Ngụy) và cũng là lần đầu tiện trong một thời gian ngắn của chiến dịch (trong vòng 42 tiếng đồng hồ) ta diệt gọn 4 tiểu đoàn Ngụy, với lực lượng một chọi một, chứng tỏ địch không còn đủ sức tiến công mà cũng không đủ sức phòng ngự nữa. Qua trận Ba Gia, bộ đội ta đã thể hiện xuất sắc chủ nghĩa anh hùng tập thể, đánh mạnh, xung phong mạnh.

        Về mặt đấu tranh vũ trang thì chiến thắng Ba Gia đánh dấu sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam với lực lượng chiến lược là quân Ngụy do Mỹ tổ chức, trang bị, huấn luyện, chỉ huy và sự phá sản đó lại đánh dấu sự thất bại bước đầu của chính sách thực dân mới và âm mưu ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam và Đông Nam Á của chúng.

        Thắng lợi to lớn về quân sự, sức ép mạnh mẽ về chính trị và binh vận của nhân dân càng làm cho ngụy quân, ngụy quyền nhiều nơi trong tỉnh Quảng Ngãi hoang mang, dao động. Nhân dân toàn tỉnh nổi dậy kết hợp với bộ đội địa phương và du kích tiến công giải phóng nhiều vùng nông thôn ở đông và tây Tư Nghĩa, bắc Nghĩa Hành, đông Mộ Đức, đông Sơn Tịnh, tây Bình Sơn. Nông thôn đồng bằng cơ bản được giải phóng.

        Thị xã Quảng Ngãi lúc này chỉ có lực lượng bảo an. Trong cán bộ lãnh đạo có người cho rằng có thời cơ dùng Trung đoàn 1 tiến nhanh vào diệt địch, giải phóng thị xã. Nhưng Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân khu thấy: Thuỷ quân lục chiến Mỹ đã sẵn sàng ở Chu Lai, ta giải phóng được thị xã Quảng Ngãi nhưng thi xã sẽ bị địch oanh kích nát, Trung đoàn 1 có thể bị thương vong nhiều, nên quyết định cho bộ đội dừng lại nghỉ ít ngày chuẩn bị cho trận đánh thuỷ quân lục chiến Mỹ ở Vạn Tường.

        Sau khi thành lập Mặt trận Tây Nguyên (B3) (01/5/1964), Bộ Tổng tham mưu dự kiến tập trung vào Tây Nguyên mấy sư đoàn mở chiến dịch tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Ngụy, giải phóng bắc Tây Nguyên, trước hết là Kon Tum, cắt đường 19. Vì yêu cầu đó phải tăng cường cho Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên trở thành Bộ chỉ huy chiến dịch.

        Theo thông báo của Bộ Chính trị thì anh Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, tôi làm Chính uỷ Mặt trận Tây Nguyên. Cùng lên Tây Nguyên với tôi có anh Bùi Nam Hà - Tham mưu phó Quân khu, anh Đặng Vũ Hiệp – Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu và một số cán bộ khác.

        Tôi lên Tây Nguyên thì Sư đoàn kỵ binh số 1 Mỹ đã đổ bộ vào quân cảng Quy Nhơn, chiếm đóng An Khê - một vị trí then chốt trên đường 19, án ngữ cửa ngõ Tây Nguyên. Theo tin chúng tôi nắm được về Sư đoàn không vận số 1 (kỵ binh bay) như sau: quân số 15.984 người, 450 máy bay hầu hết là máy bay trực thăng, trong đó có 39 trực thăng vũ trang, 54 pháo 105 ly, khoảng 1.600 xe (trong đó có 20 xe vận tải bọc thép, hơn 2.000 máy vô tuyến điện các loại (trong đó có loại 2W PRC5 hiện đại nhất của Mỹ lúc đó); biên chế 8 tiểu đoàn chiến đấu gồm 3 tiểu đoàn dù và 5 tiểu đoàn bộ binh, mỗi tiểu đoàn 830 người; bán kính hoạt động tối đa của Sư đoàn không vận là 300 ki-lô-mét, trung bình từ 100 đến 200 ki-lô-mét.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:21:37 pm

        Sau khi đoàn cán bộ Quân khu 5 lên Tây Nguyên, trong Bộ tư lệnh Mặt trận phân công như sau: tôi (Chu Huy Mân) – Tư lệnh kiêm Chính uỷ (anh Lê Trọng Tấn không vào Tây Nguyên), anh Huỳnh Đắc Hương – Phó Chính uỷ, anh Nguyễn Chánh và anh Nguyễn Hữu An – Phó Tư lệnh, anh Bùi Nam Hà – Tham mưu trưởng, anh Đặng Vũ Hiệp - Chủ nhiệm chính trị.

        Hoạt động chiến đấu ở đồng bằng Khu 5 một thời gian lại lên Tây Nguyên, trong khi nghiên cứu đánh trận phủ đầu lực lượng sư đoàn kỵ binh bay số 1 của Mỹ, chúng tôi có dịp nghiên cứu trên bản đồ Trung Đông Dương càng dễ dàng nhất trí với Bộ Tổng tham mưu: Chiến trường Khu 5 và Tây Nguyên là một phương hướng có vị trí chiến lược quân sự và chính trị rất quan trọng. đồng bằng ven biển có căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng, Chu Lai và Cam Ranh. Đà Nẵng và địa bàn Quân đoàn 1 địch là điểm tựa sau lưng Huế, Quảng Trị, đối mặt với tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tây Nguyên hay nói Cao Nguyên Trung phần cũng được coi là nóc nhà Trung Đông Dương. Lầu Năm góc cho Sư đoàn kỵ binh bay số 1 chiếm đóng An Khê với mưu tính kiểm soát cả địa bàn Tây Nguyê, mấy tỉnh đồng bằng Liên khu 5, đông bắc Cam-pu-chia và Hạ Lào, uy hiếp con đường vận chuyển chiến lược từ Bắc vào Nam. Cho nên đánh trận phủ đầu sư đoàn này của Mỹ là cực kỳ quan trọng. Đánh thắng trận đầu là cơ sở để hiểu địch, để thắng địch trong những trận tiếp sau. Đánh thắng trận đầu giúp cho đồng bào, chiến sỹ các dân tộc Tây Nguyên, cho đồng bào và lực lượng vũ trang Khu 5 tự kết luận: đánh được Mỹ và hoàn toàn có khả năng đánh thắng Mỹ. Do đó, chiến trường Khu 5 với Tây Nguyên là một. Lãnh đạo và chỉ huy có phân công và có thống nhất.

        Trước tình hình quân chiến đấu Mỹ vào Tây Nguyên, Bộ chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho chiến trường tranh thủ thời cơ đánh đau quân Ngụy, làm suy yếu chỗ dựa về bình định, không để quân Mỹ rảnh tay tìm diệt; đồng thời khẩn trương chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng quân Mỹ ngay từ trận đầu, nỗ lực cao nhất đánh bại chiến lược ‘đánh nhanh giải quyết nhanh” tiến lên đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ.

        Thực hiện chủ trương chiến lược trên, Đảng uỷ và Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch mùa khô 1965 nhằm tiêu diệt một bộ phận quân Ngụy và tạo thời cơ buộc quân Mỹ phải tham chiến để tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, củng cố và mở rộng vùng giải phóng, xây dựng căn cứ địa vững chắc, rèn luyện bộ đội và cơ quan chỉ đạo chiến dịch, nâng cao trình độ tác chiến; đồng thời qua tác chiến tìm hiểu thêm quân Mỹ.

        Vấn đề đặt ra với Mặt trận Tây Nguyên là chọn hướng mở chiến dịch nên ở Cánh Bắc, Cánh Trung hay Cánh Nam Tây Nguyên. Cánh Bắc là tỉnh Kon Tum có rừng rậm, núi cao hiểm trở, với ta thuận lợi cho việc giấu quân, lập kho tàng, hạn chế đến mức cao nhất hiệu lực của máy bay, pháo binh địch. Còn Cánh Trung và Cánh Nam Tây Nguyên thời tiết tháng 10 trở đi bước vào mùa khô, địa hình rừng bằng, đồi núi thấp, xen kẽ nương rẫy. Về cơ bản sông suối không ảnh hưởng đến cơ động của bộ đội. Địa hình thời tiết thời gian này cho phép ta tập trung binh lực tương đối lớn, cơ động được rộng rãi, nhưng với địch chúng cũng phát huy được uy lực không quân trong tác chiến, nhất là việc vận dụng chiến thuật “trực thăng vận”, chúng có thể cơ động nhanh đổ bộ được nhiều nơi. Với những đặc điểm thời tiết như vậy, thì vấn đề tổ chức “đối không” rộng rãi không những làm giảm bớt uy lực không quân địch mà còn là thời cơ để bộ đội bắn rơi máy bay Mỹ, nhất là trực thăng. Mặt khác, nếu ta tổ chức rộng rãi mạng đường quân sự làm gấp không những bảo đảm được sự cơ động nhanh bí mật mà còn tạo điều kiện cho ta tiếp cận phản kích địch trên nhiều hướng. Từ phân tích trên, Đảng uỷ nhất trí chọn Cánh Trung Tây Nguyên mở chiến dịch mùa khô 1965.

        Cuộc họp Đảng uy Mặt trận mở rộng do bí thư chủ trì nghiên cứu, quán triệt nhiệm vụ và xây dựng kế hoạch chiến dịch. Sau khi phân tích trên bình diện toàn chiến trường, tôi nói:

        - Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã thất bại, Ngụy quân, Ngụy quyền Sài Gòn tuy chưa tan rã về tổ chức, nhưng đã suy yếu toàn diện. Về phía ta, lực lượng quân sự, chính trị ở miền Nam phát triển mạnh mẽ, thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc và cách mạng miền Nam đang ở thế tiến công. Như vậy, về chiến lược, Mỹ nhảy vào miền Nam nước ta trong thế bị động.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:24:11 pm

        - Do vị trí chiến lược đặc biệt của Tây Nguyên nên bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn đã tung đơn vị sừng sỏ bậc nhất của chúng lên chiếm đóng ở đây, với tham vọng tiêu diệt chủ lực của ta trong một thời gian ngắn, vực quân Ngụy dậy và từ đó chiếm đóng lâu dài Tây Nguyên, khống chế cả chiến trường Trung Đông Dương. Mặc dù chúng ta đã tập trung nghiên cứu nhưng cũng chỉ hiểu Mỹ trên lĩnh vực tư tưởng, tâm lý và chiến thuật “nhảy cóc” còn cách đánh với Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 ở chiến trường rừng núi ra sao thì chưa có tiền đề. So sánh lực lượng ta ít hơn địch cả về quân số và trang bị. Quân Mỹ có nhiều máy bay và pháo binh, còn chúng ta không có. Khi Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 bước vào tham chiến thì cường độ ác liệt do pháo binh và hoả lực từ máy bay sẽ gia tăng gấp bội. Do vậy, để bảo đảm chắc thắng, Đảng uỷ cần tập trung giải quyết một số vấn đề chủ yếu, đặc biệt coi trọng việc xây dựng tư tưởng quyết đánh và quyết thắng quân Mỹ cho bộ đội.

        Quân uỷ  Trung  ương đặt niềm tin rất lớn vào quân và dân Tây Nguyên. Ta thắng Mỹ trong chiến dịch này sẽ có ý nghĩa lớn, không những về mặt quân sự mà cả về chính trị, tâm lý, sẽ tạo ra thế mới, lực mới đối với lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên nói riêng và toàn miền Nam nói chung. Chính vì lẽ đó chúng ta phải làm cho cán bộ, chiến sỹ tham gia chiến dịch có ý chí quyết tâm đánh, trước hết phải dám đánh Mỹ, cứ đánh thắng khắc tìm ra cách đánh. Với phương châm: vừa học, vừa làm, vừa chiến đấu và rèn luyện.

        Cuộc họp Đảng uỷ Mặt trận Tây Nguyên biểu thị quyết tâm “trước hết phải dám đánh Mỹ, cứ đánh thắng khắc tìm ra cách đánh” và quyết tâm này được thấu triệt đến cán bộ chiến sỹ toàn mặt trận.

        Một buổi tối cuối tháng 9, tôi mời anh Đặng Vũ Hiệp đến chỗ tôi. Anh Hiệp còn rất trẻ (36, 37 tuổi gì đó), thông minh, có trí nhớ tốt, nhạy bén sắc sảo trong nhận định đánh giá tình hình, có quan điểm tốt, là người coi trọng giữ gìn sự nhất trí đoàn kết nội bộ. Mời anh Hiệp uống nước, tôi nói:

        - Mấy hôm nay, Đảng uỷ đã bàn nhiều về nhiệm vụ chiến dịch tới. Với lực lượng của ta hiện có, lại tác chiến với đối tượng sừng sỏ bậc nhất của quân đội Mỹ, yêu cầu nhiệm vụ của Quân uỷ Trung ương giao cho rất cao, theo anh vấn đề quan trong để giành thắng lợi ở chiến dịch này là gì?

        Suy nghĩ một lát, anh Đặng Vũ Hiệp nói:

        - Thưa anh, lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc mình luôn phải đương đầu với những kẻ thù hung bạo và lớn mạnh hơn mình nhiều lần. Tuy vậy, dân tộc ta chưa bao giờ chịu khuất phục trước một kể thù nào, kể cả chúng là quốc gia mạnh nhất thời đó, một khi ta khơi dậy được lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc và chí căm thù giác cho quân và dân cả nước.

        - Nhưng đây là đối tượng tác chiến mới, có nhiều máy bay, đại bác, xe tăng.

        - Đối tượng tác chiến của quân và dân Tây Nguyên là Sư đoàn kỵ binh không vận số 1. Cái mạnh của nó là sức cơ động, là hoả lực phi pháo, nhưng nó cũng có hạn chế nhất định ở ngay trong cái mạnh đó. Do được trang bị mạnh nên quân Mỹ thường ỷ vào hoả lực, một khi ta hạn chế hoặc vô hiệu hoá chỗ dựa đó thì tinh thần và ý chí của chúng chắc chắn sẽ bị suy giảm. Với ta, ưu thế đồng thời cũng là sức mạnh ở chính trị tinh thần và sở trường đánh vận động trên địa bàn rừng núi bằng vũ khí mang vác. Nếu ta phát huy được ưu thế này thì nhất định ta sẽ đánh thắng chúng.

        - Đúng! Đúng! Vấn đề là chỗ đó – Tôi xác nhận.

        Anh Đặng Vũ Hiệp mở cuốn sổ công tác, nói tiếp:

        - Hiện nay cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 33, Trung đoàn 320 và cả Trung đoàn 66 đang trên đường hành quân vào chiến trường. Theo chúng tôi nắm được, các trung đoàn này quân số trực tiếp chiến đấu trên 2.600 người, đảng viên 420, đoàn viên 1.720 người. Cán bộ trung đội đã qua chiến đấu 32%, cán bộ đại đội đã qua chiến đấu 80%, cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn 100% đã qua chiến đấu. điều quan trọng nhất là sau ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc, theo yêu cầu mới, những người vào quân đội phải có tiêu chuẩn nhất định về chính trị, tư tưởng, có sức khoẻ có văn hóa và tự nguyện, thời gian huấn luyện cơ bản của những chiến sỹ này dài hơn. Nội dung huấn luyện bao gồm cả kỹ thuật, chiến thuật đều đạt trình độ thuần thục, các yếu lĩnh động tác cơ bản, sử dụng thành thạo các loại vũ khí trang bị, đặc biệt khả năng bắn súng bộ binh đạt tỷ lệ khá giỏi rất cao. Việc rèn luyện thể lực để nâng cao sức chịu đựng bền bỉ, dẻo dai được tiến hành thường xuyên thông qua các cuộc hành quân xa, mang vác nặng, ăn ở dã ngoại dài ngày trước khi vào chiến trường.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:25:27 pm

        - Ưu thế chính trị, tinh thần như anh vừa nói đã sẵn có trong mỗi cán bộ, chiến sỹ ta. Vấn đề còn lại là làm thế nào phát huy được ưu thế ấy. Chính vì lẽ đó tôi mời anh qua để chúng ta cùng bàn.

        Chợt nhớ ra, tôi hỏi anh Hiệp:

        - Anh Hiệp này, anh còn nhớ trận Vinh Huy gần thị xã Tam Kỳ tháng 4 năm 1964 không?

        - Tôi còn nhớ.

        - Trong trận ấy có tiểu đội trưởng của Trung đoàn 1 quân khu, khi truy kích địch có một khẩu lệnh rất hay: “Nắm lấy thắt lưng địch mà đánh”. Khi nghe việc trên, tôi điện báo cáo với anh Nguyễn Chí Thanh. Nghe xong, anh Thanh reo lên: “Hay quá anh Mân ơi! Đây không còn là phương châm của một trung đoàn, một quân khu, nó là của toàn miền, toàn quân rồi”. Tôi được biết sau đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã chỉ thị các chiến trường toàn miền lấy câu: “Bám lấy thắt lưng địch mà đánh” làm phương châm khi giao chiến với quân Mỹ.

        Tối hôm đó, tôi với anh Hiệp làm việc với nhau đến gần 1 giờ sáng. Tôi đã trao đổi với cơ quan chính trị mặt trận nhiều vấn đề về xây dựng quyết tâm cho bộ đội, vai trò tiền phong của cán bộ, đảng viên trong chiến đấu, xây dựng lòng tin vào quần chúng, phải thực hành quân sự dân chủ để phát huy trí tuệ, tinh thần và tính sáng tạo của tập thể.

        Những ngày sau đó, Bộ tư lệnh Mặt trận dành nhiều thời gian bàn tính xây dựng kế hoạch chiến dịch, nhiều lần phải thức thâu đêm để giải quyết những vấn đề do nhiệm vụ chiến dịch đặt ra. Trong đó mọi người thống nhất khá cao về kế hoạch tác chiến do Bô tư lệnh Mặt trận đề ra là: Thực hành vây điểm diệt viện, lấy đánh ngoài công sự là chủ yếu, sử dụng bộ đội địa phương và dân quân du kích hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum đánh phá căn cứ hậu phương và hệ thống cầu đường của địch. Khi thảo luận chọn điểm vây, mọi người thống nhất về nguyên tắc: điểm vây là nơi có tác dụng buộc địch phải viện, không viện không được, viện chậm cũng không được; đồng thời, điểm vây phải thuận lợi cho ta tổ chức trận địa đánh viện đường bộ và đánh đổ bộ đường không.

        Từ vấn đề trên, chúng tôi đưa ba vị trí để chọn điểm vây, đó là Tân Lạc, Đức Cơ và Plây Me. Cả ba vị trí này đều quan trọng đối với địch, do đó nếu vị trí nào bị đánh thì sớm hay muộn địch cũng phải ứng cứu. Song Tân Lạc nằm gần hậu cứ địch, địa hình trống trải, ta khó triển khai lực lượng lớn. Vì vậy, đánh vị trí này không lợi. Đức Cơ nằm sát biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia, đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam đi gần, nếu đánh ở đay trong thời gian này sẽ ảnh hưởng lớn cho việc bảo vệ hậu phương tại chỗ của ta. Còn Plây Me là tiền đồn phía tây nam Plây Cu, quân số lúc cao nhất lên tới 500 tên, là lực lượng đặc biệt do Mỹ chỉ huy và đa số là người Thượng. Do vậy, nếu Plây Me bị mất thì các căn cứ địch nằm trong dải phòng ngự phía tây nam Plây Cu bị uy hiếp, vùng đất ấy sẽ bị cắt rời và trở thành bàn đạp tiến công của quân ta. Như vậy, về cơ bản mọi người thống nhất cách đánh chiến dịch là “vây điểm, diệt viện”, đánh Ngụy trước, diệt Mỹ sau, kéo quân Mỹ ra xa căn cứ vào sâu trong rừng núi hiểm trở để diệt chúng.

        Tôi còn nhớ, khi thảo luận về chỉ tiêu diệt địch, có nhiều ý kiến khác nhau,. Có người nói rằng, trước đây trong cuộc “kháng Mỹ viện Triều”, quân chí nguyện Trung Quốc đã có tổng kết chưa có trận nào tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn quân Mỹ. Có người lại cho rằng trận Núi Thành ta chỉ có một tiểu đoàn thiếu mà diệt gần hết đại đội Mỹ thì sao? Xem ra cuộc tranh luận khó đi vào hồi kết, tôi đứng dậy nói:

        - Thôi xếp lại tranh luận, chỉ tiêu trong chiến dịch này diệt chiến đoàn quân ngụy và diệt gọn hai đại đội đến tiểu đoàn Mỹ, nếu có thời cơ thì chủ động giành thắng lơi cao hơn nữa. Chỉ tiêu đặt ra là vậy, nhưng các đồng chí cần suy nghĩ việc xây dựng quyết tâm đánh Mỹ cho bộ đội. Việc quán triệt nhiệm vụ chiến dịch phải được tiến hành khẩn trương, cụ thể đến từng chi bộ, từng cán bộ chiến sỹ. Đồng thời các đồng chí suy nghĩ về bố trí thế trận đánh Mỹ, đặc biệt là đối phó với chiến thuật “nhảy cóc” của địch. Cơ quan tham mưu mặt trận trong chỉ đạo phải làm cho bộ đội có ý thức xây dựng công sự chắc chắn, giấu quân kín đáo, xuất kích nhanh, khi xung phong giữ vững đội hình, tiếp cận đánh gần, thọc sâu kết hợp đánh bộ binh, đánh cơ giới và bắn máy bay địch.

        Tôi điện báo lên Bộ về kế hoạch và quyết tâm chiến đấu của bộ đội Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:27:46 pm

        Đầu tháng 10 năm 1965, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên nhận được điện của Bộ Tổng tư lệnh như sau: “Về nhiệm vụ của đợt hoạt động sắp tới, chúng tôi đồng ý những nhiệm vụ mà các đồng chí đã đề ra. Nhưng cần nắm vững hai nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn hiện nay là tiêu diệt một bộ phận lực lượng cơ động Mỹ: tiếp tục làm tan rã một bộ phận chủ lực Ngụy, đánh bại kế hoạch tiến công mùa khô của chúng; đồng thời mở rộng vùng đứng chân của ta, làm chủ đại bộ phận rừng núi và nông thôn, nhất là vùng rừng núi có ý nghĩa chiến lược... Chiến trường tiêu diệt quân Mỹ tốt nhất là ở Tây Nguyên, đường 19 và đường số 7. Phải đặt ra cả hai trường hợp: Chủ động tiến công quân Ngụy trước, câu viện quân Mỹ và trường hợp quân Mỹ chủ động tiến công ta”.

        Đảng uỷ Mặt trận họp nghiên cứu những ý kiến của trên chỉ đạo, bổ sung kế hoạch chiến dịch. Cuộc họp kết thúc, tôi dẫn đầu một đoàn cán bộ đi quan sát địa hình chiến trường tại khu vực đồn Plây Me và thế bố phòng của địch để quyết định phương thức tiến hành vây điểm; đồng thời quan sát khu vực dự kiến đánh viện binh địch giải toả đồn Plây Me khi bị ta vây ép.

        Sau khi đi trinh sát chiến trường về, Bộ tư lệnh Mặt trận đã quyết định bổ sung phương án tác chiến chiến dịch. Với lực lượng hiện có phải giải quyết được hai vấn đề cơ bản nhất là đánh thiệt hại nặng lực lượng cơ động quân Ngụy làm suy yếu chỗ dựa bình định của Mỹ; đồng thời khẩn trương chuẩn bị đánh phủ đầu quân Mỹ, góp phần đánh bại biện pháp chiến lược đánh nhanh thắng nhanh giải quyết nhanh tiến lên đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ.

        Về sử dụng lực lượng: dùng Trung đoàn 33 tiêu diệt căn cứ Chư Ho và thực hành vây ép đồn Plây Me. Dùng Trung đoàn 320 bố trí sẵn ven đường 21 – con đường bộ duy nhất nối Plây Cu với Plây Me. Trung đoàn này phải xây dựng trận địa phục kích trên quãng đường 3 ki-lô-mét, đoạn đường 21 chạy trên các điểm cao 600, 607, Pơ Lu, đồi Độc Lập. Để phối hợp với hai trung đoàn chủ lực trên hướng chủ yếu của chiến dịch, Tiểu đoàn pháo binh 200, Tiểu đoàn đặc công 952 và lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai tổ chức đánh địch vào những mục tiêu và thời điểm cần thiết để phân tán lực lượng của địch.

        Một vấn đề mất nhiều công sức đối với Bộ tư lệnh và cơ quan Mặt trận Tây Nguyên là xác định khu quyết chiến và thời cơ diễn ra trận then chốt tiêu diệt quân Mỹ. Suy đi tính lại, Bộ tư lệnh quyết định chọn thung lũng Ia Đrăng dưới chân núi Chư Prông là nơi diễn ra trận quyết chiến với quân Mỹ. Ở đây ta sẽ bố trí Trung đoàn 66, lực lượng chủ yếu tiêu diệt quân Mỹ.

        Bộ tư lệnh Mặt trận Tây nguyên cử anh Nguyễn Chánh, anh Huỳnh Đắc Hương, anh Bùi Nam Hà và một số cán bộ của ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần lập sở chỉ huy tiền phương mặt trận chỉ huy vây ép đồn Plây Me và đánh viện binh Ngụy trên đường 21.

        Đêm 19 tháng 10 năm 1965, Trung đoàn 33 nổ súng bao vây đồn Plây Me. Bị đánh bất ngờ, một số lô cốt và nhà lính bị sập. Địch dùng máy bay đánh trả lại ta mỗi ngày từ 120 đến 140 lần chiếc. Bộ binh trong đồn mở các đợt phản kích đánh vào các mũi bao vây. Tuy mới tham gia trận đầu, nhưng chiến sỹ vẫn kiên quyết siết chặt vòng vây. Có mũi đứt liên lạc không tiếp tế được cơm nước vẫn bám trụ kiên cường không rời trận địa.

        Ngày 23 tháng 10 năm 1965, sau nhiều lần tổ chức nghi binh và thăm dò vẫn không phát hiện gì đáng nghi ngờ, biệt khu 24 quyết định tổ chức giải vây cho Plây Me. lực lượng hành quân gồm thiết đoàn thiết giáp hỗn hợp (3 chi đoàn), 2 Tiểu đoàn biệt động quân số 21. số 22 và Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 42. Đến 16 giờ 30 phút ngày 23 tháng 10 năm 1965, toàn bộ cánh quân trên lọt vào trận địa phục kích của Trung đoàn 320. Quân ta dồn dập nổ súng tiến công. Trận chiến đấu giữa bộ binh ta với xe tăng và thiết giáp địch diễn ra quyết liệt. Tinh thần chiến đấu của bộ đội ta đã cắt nát đội hình hành quân cơ giới kéo dài 3 ki-lô-mét của địch. Đến 18 giờ, ta làm chủ trận địa, tiêu diệt gần hết chiến đoàn địch. Kết quả trận này ta tiêu diệt 1 thiết đoàn thiết giáp, 1 tiểu đoàn và 1 đại đội bộ binh địch.

        Đến đây, xét thấy đã gây cho địch phản ứng dây chuyền, ngày 20 tháng 10, ta quyết định “mở vây” căn cứ Plây Me, chuyển toàn bộ hai Trung đoàn 33 và 320 về bố trí ở Quynh Kla, Ba Bỉ phía đông Ia Đrăng, Plây Bon Ga, là nơi tiện cơ động trên hai hướng Plây Me và Tân Lực để sẵn sàng đánh quân Mỹ đổ bộ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:28:51 pm

        Ngày 26 tháng 10, Oét-mo-len – Tư lệnh lực lượng quân Mỹ ở miền nam bay lên sở chỉ huy tiền phương Lữ 1 Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 ở Plây Đê Mốt xem xét tình hình. Tại đây, ông ta đã quyết định đình chỉ cuộc càn quét của Lữ đoàn 3 quân Mỹ ở Bồng Sơn (Bình Định) để tập trung lực lượng của sư đoàn này lên Tây Nguyên. Tiếp đó, chúng đưa 1 Trung đoàn Nam Hàn, 2 chiến đoàn quân dù Ngụy, 2 trung đoàn trực thăng vận tải Mỹ lên Plây Cu tham chiến. bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài gòn định mở cuộc hành quân đánh sâu vào hậu phương ta, hòng gỡ thế thất bại cho quân Ngụy.

        Sau khi kết thúc giai đoạn một, hoạt động cơ bản của ta là di chuyển quân, bố trí theo kế hoạch mới. Trong khi đó địch sử dụng Lữ đoàn 1 Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 tăng cường đổ bộ và tập kích nhiều nơi trên trục đường hành quân của Trung đoàn 33 làm cho việc chỉ huy của trung đoàn bị gián đoạn. Tình hình trên dẫn đến một thực tế là địch đang từ thế bị động chuyển sang thế chủ động về chiến thuật trong thế bị động về chiến dịch.

        Điều dễ nhận thấy là trong suốt quá trình đổ bộ trực thăng theo kiểu “cóc nhảy” của Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 như nói ở trên, chúng sử dụng máy bay phản lực, trực thăng vũ trang với mật độ rất cao hoạt động suốt ngày khống chế khu vực đổ quân. Thủ đoạn chủ yếu của địch là tập kích vào trục đường vận động các đoàn vận tải của ta, bắt cóc các phân đôi đi lẻ, trạm quân y, phát hiện vị trí trú quân của ta để dùng máy bay oanh tạc.

        Hành động của Mỹ và những trận đánh của bộ đội ta vừa qua cho thấy những dự đoán về địch và quyết tâm chiến dịch của ta là chính xác.

        Ngày 8 tháng 11 năm 1965, Đảng uỷ Mặt trận Tây Nguyên mở rộng. Hội nghị đánh giá kết quả giai đoạn một của chiến dịch thống nhất cho rằng: Nhiệm vụ cơ bản đặt cho đợt một là làm thất bại ý định giải toả nhanh bằng không quân buộc địch phải điều quân Ngụy viện binh đường bộ để ta tiêu diệt đã hoàn thành.

        Quân Ngụy bị đánh đau, quân Mỹ phải nhảy vào cứu quân Ngụy. Như vậy, ta đã thu hút được lực lượng tổng dự bị quân Ngụy và quân Mỹ ở chiến trường khác về hướng Plây Me. Đảng ủy đánh giá cáo tinh thần chiến đấu và phục vụ chiến đấu của các đơn vị và cơ quan. Đặc biệt là các phân đội nhỏ thực hành bao vây Plây Me đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bao vây chặt, đánh tiêu hao tiêu diệt từng bộ phận quân địch, cắt nguồn nước, đánh chiếm và khống chế Chư Ho, khống chế và cắt đứt sự hoạt động của sân bay dã chiến, đẩy địch ở Plây Me lâm vào tình trạng cùng quẫn.

        Một lần nữa Đảng uỷ khẳng định cách đánh chiến dịch “vây điểm, diệt viện” trong hoàn cảnh cụ thể của Plây Me là đúng. Với cách đánh này ta đã tiết kiệm được sinh lực. Chỉ cần dùng một lực lượng nhỏ bao vây vẫn dụ được viện binh địch theo ý muốn, vẫn giữ được binh lực cơ động mạnh bảo đảm thế tiến công liên tục dài ngày trong điều kiện lực lượng ta chỉ có hai trung đoàn và tránh được sự tiêu hao lớn bằng công kiên ngay từ đầu chiến dịch. Cần nói thêm rằng, nếu ta công kiên được đồn Plây Me, địch chưa viện ngay thì ta vẫn phải tổ chức lực lượng chiếm giữ. Như vậy địch có thể dùng phi pháo gây cho ta tổn thất lớn. Hơn thế nữa, trong điều kiện lực này ta lấy việc tiêu diệt sinh lực địch làm chính, chưa đặt vấn đề giải phóng đất đai khu vực Plây Me.

        Khi bàn về âm mưu và thủ đoạn sắp tới của địch, Đảng uỷ cho rằng lực lượng của chúng trên chiến trường Tây Nguyên lúc đó gồm có Sư đoàn kỵ binh không vận số 1, một Trung đoàn quân Nam Hàn, 1 Trung đoàn trực thăng vận tải, 2 Tiểu đoàn pháo binh quân đội Mỹ. Ngoài ra, chúng thường xuyên có 2 Trung đoàn không vận của Mỹ và Ngụy sẵn sàng cất cánh chi viện khi chúng mở những cuộc tiến công. Theo tin chúng ta nắm được, Mỹ còn có ý định sử dụng cả máy bay chiến lược B52 ở chiến trường này. Do phát hiện được khu tây, trạm phẫu thuật nên địch sẽ mở cuộc tiến công lớn vào hậu phương ta hòng vớt vát một thắng lợi về quân sự lấy lại tinh thần cho quân Ngụy sau thất bại nặng nề ở Plây Me - đường 21.

        Về phía ta, tính đến thời điểm này, bộ đội chủ lực Tây Nguyên ngoài hai Trung đoàn 33 và 320, có thêm Trung đoàn 66, một đơn vị có truyền thống chiến đấu vẻ vang của Quân đội ta.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:30:09 pm

        Từ tình hình trên, đảng uỷ cũng xác định mục đích đợt chiến đấu tới như sau: Tiêu diệt một bộ phận sinh lực, diệt chiến đoàn Ngụy (cả bộ binh, thiết giáp), 1 tiểu đoàn Mỹ hoặc hơn nữa, bắn rơi 20 đến 25 máy bay các loại, phá huỷ 40 đến 50 xe cơ giới các loại, đánh bại một bước chiến thuật “trực thăng vận” và “nhảy cóc” của Mỹ, thu hút một bộ phận lực lượng quân Mỹ và lực lượng tổng dự bị quân Ngụy về Tây Nguyên nhằm mục căng địch ra mà đánh, tạo điều kiện cho sự phát triển thuận lợi của các chiến trường, đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của địch.

        Về tư tưởng chỉ đạo, Đảng uỷ xác định quyết tâm diệt cả đơn vị nhỏ, đơn vị vừa và đơn vị lớn quân Mỹ, tiêu diệt bọn đổ bộ xuống trước, tiêu diệt tiếp bọn xuống lấy xác, lấy thương binh và tăng viện, đánh cả bọn nhảy vào sau lưng ta, đánh cả vào căn cứ pháo binh và căn cứ hành quân của chúng; tích cực bắn rơi máy bay địch, đặc biệt là máy bay trực thăng để tiêu hao phương tiện cơ động chủ yếu của sư đoàn không vận. Chúng hành quân bộ cũng đánh, chúng đổ bộ trực thăng cũng đánh, có Mỹ và Ngụy cùng tham chiến thì nhằm vào Mỹ đánh trước, dùng lối đánh phục kích và tập kích đánh quân đổ bộ trực thăng, đánh nhảy có là chủ yếu. Ngoài ra cần phải tổ chức các phân đội pháo độc lập và các đội đặc công đột nhập vào hậu phương địch pháo kích, tập kích sân bay, sát thương phi công, phá huỷ máy bay, kho tàng dã ngoại của chúng.

        Đảng uỷ lưu ý cơ quan tham mưu mặt trận bố trí lực lượng phải có chiều sâu theo hình bậc thang. Địch nhảy có, ta bậc thang, mật độ trú quân không quá dày để tránh phi pháo, song phải đảm bảo đội hình chiến đấu trong thế hiệp đồng chặt chẽ, có chỗ dựa vào nhau vững chắc, dễ cơ động có thể đánh địch trong trường hợp chúng đổ bộ trực tiếp vào khu vực trú quân. Với khả năng cơ động nhanh, tập kích nhanh và rút nhanh của Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ, nên đội hình các trung đoàn và mặt trận đều nằm trong phạm vi bị địch uy hiếp và có thể bị chúng tập kích bất ngờ. Do vậy, việc bảo đảm hậu cần phải nằm ngay trong đội hình các trung đoàn và tiểu đoàn, thực hiện kho di động tức là tất cả trên vai người chiến sỹ vận tải và người lính chiến đấu. Phải quy định lượng, liều đạn cho từng loại súng trong từng trận đánh; đồng thời tích cực lấy vũ khí địch để đánh địch.

        Một vấn đề được Đảng uỷ hết sức coi trọng, đó là việc quán triệt cho bộ đội khi giao chiến với Sư đoàn không vận số 1 Mỹ phải đánh mạnh vào chỗ dựa hoả lực phi pháo của chúng, nhất là hoả lực từ trên máy bay trực thăng vũ trang. Trong điều kiện súng phòng không của ta chỉ có súng 12,7 ly với số lượng không nhiều, do vậy phải phát huy toàn bộ các loại súng bộ binh bắn máy bay địch, tổ chức nhiều tổ bắn máy bay bằng súng trường, súng tiểu liên khắp mọi nơi trong cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích.

        Hội nghị Đảng uỷ kết thúc trong không khí đoàn kết thống nhất cao. Quan sát mọi người, tôi thấy ai cũng náo nức lạc quan, dù biết rằng cuộc chiến đấu tới sẽ vô cùng ác liệt. Tất cả chúng tôi đều vui vẻ, sẵn sàng chấp hành nhiệm vụ dù có phải hy sinh đến tính mạng của mình để giành thắng lợi.

        Để chỉ huy trận đánh Mỹ tới, chúng tôi quyết định lập sở chỉ huy tiền phương mặt trận do anh Nguyễn Hữu An – Phó Tư lệnh làm Tư lệnh, anh Đặng Vũ Hiệp - Chủ nhiệm chính trị làm Chính uỷ. Trước khi anh An và anh Hiệp ra trận , tôi mời đến, nói:

        - Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 là đơn vị mạnh nhất của quân Mỹ. Nếu ta đánh thắng nó trong trận này không những chỉ là vấn đề tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch mà nó còn có ý nghĩa to lớn trên nhiều mặt. điều quan trọng nhất là cổ vũ và lòng tin đánh thắng Mỹ của quân và dân Tây Nguyên nói riêng, quân và dân cả nước nói chung. Và như vậy, vấn đề về chỉ đạo chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, kỹ thuật cũng sẽ được giải quyết và kết luận một bước cơ bản sau trận này. Cuộc chiến đấu tới sẽ diễn ra hết sức ác liệt, đó là cuộc đụng đầu giữa lực lượng không lớn quân chính quy của ta với quân viễn chinh nhà nghề của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:31:42 pm

        Ngừng một lát, tôi nói tiếp:

        - Tôi vừa nhận được chỉ thị của Quân uỷ Trung ương giao cho lực lượng vũ trang Tây Nguyên chúng ta phải tạo mọi cơ hội tiêu diệt bằng được một hoặc hai tiểu đoàn Mỹ trong chiến dịch này. Như vậy, nhiệm vụ tiêu diệt gọn đơn vị cỡ tiểu đoàn quân Mỹ là nhiệm vụ lịch sử mà Đảng ta, Quân đội ta, nhân dân ta giao cho quân và dân Tây Nguyên. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, các anh phải bắt tay vào việc triển khai ngay nghị quyết Đảng uỷ Mặt trận, làm cho cán bộ, chiến sỹ tham gia trận chiến đấu tới thấy rõ tính quyết liệt của nhiệm vụ lịch sử, để họ nâng cao tinh thần cách mạng, dũng cảm ngoan cường tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt. Phải kiên quyết chống tư tưởng hữu khuynh tiêu cực, biểu hiện chủ yếu là ngại ác liệt, khó khăn, sợ hy sinh, chần chừ thoái thác nhiệm vụ. Đặc biệt, tác phong chỉ huy và lãnh đạo của cán bộ, nhất là cán bộ chính trị phải sâu sát bộ đội, làm chỗ dựa tinh thần cho bộ đội trong những tình huống ác liệt khó khăn.

        Khi chia tay anh An và anh Hiệp, tôi nắm chặt tay các anh, nói:

        - Máu và sinh mạng của chiến sỹ là vô giá nhưng khi cần thiết vẫn phải hy sinh để giành thắng lợi. Trong trận này dù phải một đổi một cũng kiên quyết đánh thắng. Phải diệt gọn tiểu đoàn Mỹ, các anh hiểu ý tôi chứ? Tôi nhắc lại, dù phải một đổi một cũng phải đánh thắng, nhưng chỉ được phép trong trận này thôi nhé.

        Anh Đặng Vũ Hiệp trả lời:

        - Thưa anh, chúng tôi hiểu, chúng tôi hứa sẽ thực hiện tốt nhất nhiệm vụ anh giao.

        Ngày 10 tháng 11, Lữ đoàn 3 Sư đoàn không vận số 1 trở lại tập kết ở Bầu Cạn. Ngay trong đêm, các chiến sỹ Tiểu đoàn 952 và bộ phận trinh sát mặt trận bí mật tiếp cận và bất ngờ nổ súng tiến công sở chỉ huy hành quân Lữ đoàn 3 và sân bay lên thẳng ở Bầu Cạn, diệt và làm bị thương hàng chục tên địch, phá huỷ phá hỏng một số máy bay trực thăng.

        Bằng chiến thuật “trực thăng vận”, ngày 4 tháng 11 năm 1965, Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn kỵ binh không vận số 3 nhảy xuống khu vực bắc Chư Prông 3 ki-lô-mét. Đồng thời, chúng đổ xuống tây nam Quynh Kla và đông nam Ia Đrăng  trận địa pháo để chi viện cho Tiểu đoàn 1. Quân Mỹ đổ xuống Chư Prông vừa đúng lúc Trung đoàn 6 đến chiến trường. Tiều đoàn bộ Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 đang củng cố nơi đóng quân thì quân Mỹ tập kích bất ngờ vào đơn vị. Các chiến sỹ trinh sát, thông tin, anh nuôi, y tá liền tổ chức đánh trả quân Mỹ. Đại đội 13 nghe súng nổ, vận động đến phối hợp chiến đấu. Trận chạm súng đầu tiên diễn ra khá ác liệt. Cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 9 chiến đấu ngoan cường, tiêu diệt 1 đại đội, đánh thiệt hại nặng 1 đại đội khác, buộc chúng phải rút chạy.

        Ngày 15, sở chỉ huy tiền phương mặt trận ra lệnh cho Trung đoàn 66 nhân đà quân Mỹ rối loạn dùng Tiểu đoàn 7 vận dụng tốt chiến thuật đánh vận động, liên tục công kích tiêu diệt gọn 1 đại đội Mỹ thuộc Tiểu đoàn 1. Bọn còn lại hốt hoảng phải chạy vòng quanh trên bãi cỏ rậm rạp dưới chân núi Chư Prông.

        Trước tình thế đó, chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn phải ra lệnh cho không quân dùng 100 lần chiếc máy bay chiến lược B52 ném bom xuống thung lũng Ia Đrăng. Đây là lần đầu tiên Mỹ dùng máy bay chiến lược yểm trợ chiến thuật cho bộ binh ở Tây Nguyên. Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 tổ chức tiến công vào tiểu đoàn Mỹ không cho chúng hoàn hồn phản kích lại. Khẩu hiệu “gặp Mỹ là đánh, tìm Mỹ là diệt” được cán bộ chiến sỹ ta triệt để chấp hành. Bộ đội ta tìm đánh trúng vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch, diệt điện đài và sở chỉ huy. Quá trình phát triển tiến công, mọi người đều nhằm hướng súng nổ lao tới. Bị đánh tả tơi và bị truy kích sát nút, quân Mỹ đang đêm phải bỏ chạy khỏi thung lũng Ia Đrăng không đợi trực thăng đến bốc.

        Sáng ngày 17 tháng 11 năm 1965, Tiểu đoàn 8 từ hướng Ba Bỉ được lệnh cấp tốc hành quân về đội hình Trung đoàn 66. Trên đường hành quân đến đông bắc Chư Prông thì Tiểu đoàn 8 gặp Mỹ. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Lê Xuân Phôi bình tĩnh chỉ huy đơn vị tiến công vào giữa đội hình Mỹ làm chúng rối loạn và bị cắt rời. Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33 đang lùng sục ở một hướng khác nghe súng nổ liền đến phối hợp. Quân Mỹ bị Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33 vây chặt giữa thung lũng Ia Đrăng. Lần đầu tiên chiến sỹ ta giáp mặt với quân Mỹ, những trận chiến đấu giáp lá cà đã diễn ra quyết liệt.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:33:38 pm

        Cuộc chiến đấu của hai tiểu đoàn ta với lính Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 kéo dài đến 20 giờ ngày 17 tháng thì kết thúc. Ta đã diệt 400 tên của Tiểu đoàn 1 và 1 đại đội hành quân của Tiểu đoàn 2. Trong trận chiến đấu này, các chiến sỹ của chúng ta đã nêu lên những tấm gương dũng cảm vô song, khí phách anh hùng và lòng quả cảm. Kết thúc trận đánh, ta đã đánh thiệt hại nặng Lữ dù 3, tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 1.

        Ngày 19 tháng 11 năm 1965, Lữ dù 3 rút chạy khỏi khu chiến. Lần đầu tiên quân Mỹ bước vào chiến đấu ở Tây Nguyên và cũng là lần đầu tiên chúng phải rút chạy về chiến dịch.

        Sau khi ta làm chủ chiến trường, chúng tôi đi kiểm tra trận địa. Địa hình hàng chục ki-lô-mét vuông bị đảo lộn, cây gãy đổ ngổn ngang không còn đường lối. Địch chết thành đống, có chỗ năm ba tên, xen lẫn vào đó là thi thể chiến sỹ ta. Nhiều đồng chí nằm đè lên xác lính Mỹ, lưỡi lê còn cắm vào ngực tên Mỹ. Có đồng chí hy sinh tay vẫn nắm chặt quả lựu đạn bên sườn. Có tổ ba người hy sinh phía trước và phía sau anh em có hàng chục xác quân Mỹ.

        Chiến thắng Plây Me là trận đánh phủ đầu quân Mỹ ở Tây Nguyên. Lần đầu tiên trên chiến trường ta tiêu diệt 1 chiến đoàn quân Ngụy và Tiểu đoàn quân Mỹ. Thắng lợi tiêu diệt tiểu đoàn quân Mỹ là cái mốc lịch sử của quân và dân Tây Nguyên. Trong chiến dịch này ta đã buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta. Bài học lớn nhất của Plây Me – Ia Đrăng là bài học dám đánh và quyết tâm thắng Mỹ.

        Với chiến công xuất sắc đó, chiến dịch Plây Me được Quân uy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng 2 Huân chương Quân công hạng nhất. Trong bức điện Quân uỷ Miền gửi Bộ tư lệnh Tây Nguyên, anh Nguyễn Chí Thanh giải thích: Quân đội ta không có huân chương nào cao hơn Huân chương Quân Công hạng nhất, nhưng để xứng đáng với chiến thắng Plây Me, nên tặng chiến thắng này hai Huân chương Quân công hạng nhất.

        Sau chiến thắng Plây Me, lãnh đạo và chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên đứng trước những khó khăn lớn buộc phải tìm cách giải quyết một các kiên trì và chủ động. Các đơn vị từ miền Bắc chuyển vào cùng với lực lượng tại chỗ đưa tổng quân số lên đến 32 nghìn người, lương thực (gạo) chỉ có 40 tấn. Chúng tôi phải xuống Đắc Lắc bàn với Tỉnh uỷ huy động được gần 20 tấn gạo để đưa Trung đoàn 320 xuống đó hoạt động. Có chuyện thế này: Chủ nhiệm Uỷ ban Thống nhất Trung ương khi nhận báo cáo của Bộ chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí báo cáo lên Bộ Chính trị: “Gạo đã chở vào đầy đủ nhưng Bộ tư lệnh không chịu cấp phát cho bộ đội”. điều dễ hiểu, 40 tấn gạo chia cho 32 nghìn quân, phải chăng đó là đầy đủ? Sự việc này làm tôi suy nghĩ mãi. Nhận được điện của đồng chí ấy, tôi phải trả lời chi tiết. Qua báo cáo xác thực của Bộ Tư lệnh Tây Nguyên, Tư lệnh Quân khu 5 có chỉ thị: Giải thể Mặt trận Tây Nguyên, 3 trung đoàn bộ binh chuyển cho các tỉnh Quảng Đà, Quảng Ngãi, Bình Định, cán bộ cơ quan của mặt trận điều về quân khu một số, bộ phận còn lại vào Trung ương Cục, hoặc ra Hà Nội, cán bộ chỉ huy mặt trận do Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương điều động.

        Sau khi nghiên cứu điện của quân khu, Thường vụ Đảng uỷ Mặt trận họp thảo luận và báo cáo lên Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân khu 5: Chiến trường Tây Nguyên có khả năng đánh tiêu diệt lớn quân địch, nhưng phải qua một thời gian chủ động đánh địch sáng tạo chiến trường. Trước khó khăn tạm thời, nếu giải thể Mặt trận Tây Nguyên, quân Mỹ có thể thực hiện được ý định giữ vững Cao Nguyên Trung Phần, uy hiếp và ngăn chặn con đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam, chia cắt Đông Dương. Giải pháp tích cực nhất chúng tôi đề nghị; Trong khoảng 6 tháng trước mắt cho phép bộ đội Tây Nguyên vừa chiến đấu, vừa sản xuất, xây dựng căn cứ hậu phương trực tiếp, sau đó chuyển sang chiến đấu là chủ yếu; đồng thời tiếp tục sản xuất. Đề xuất này được Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Quân khu đồng ý. Sau 6 tháng bộ đội đã trồng trên 30 triệu gốc sắn, vườn rau, chăn nuôi phát triển ở hầu hết đơn vị và cơ quan mặt trận.

        Vào mùa đông năm 1966, các đơn vị tại chỗ cũng như lực lượng hành quân từ ngoài Bắc qua căn cứ Tây Nguyên, tuy gạo còn thiều nhưng sắn thì đủ no. Các đơn vị hành quân nghiêm chỉnh thực hiện yêu cầu nhổ một gốc sắn phải trồng vào đó một gốc.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:34:47 pm

        Sau khi có căn cứ hậu phương vững trực tiếp, bộ đội cùng nhân dân bắt đầu mở những con đường hành lang C01 chuyển hàng chi viện cho căn cứ kháng chiến các tỉnh Bình Định, Phú Yên. Với sự hình thành đường hành lang bắc – nam, đông – tây các xã huyện vùng giải phóng ba tỉnh Tây Nguyên được nối liền thành căn cứ hậu phương tại chỗ, bảo đảm chỗ đứng chân xây dựng và tác chiến của lực lượng vũ trang nhân dân.

        Nhưng cũng sau chiến thắng Plây Me - Ia Đrăng, do hành quân dài ngày đến nơi là chiến đấu ngay, liên tục và ác liệt, thương vong của ta tương đối cao, mỗi đại đội chỉ còn hơn nửa quân số. Ăn uống kham khổ thiếu thốn. Muỗi rừng hành hạ gây bệnh sốt rét, có cả sốt rét ác tính. Trong các bệnh xá trung đoàn, bệnh binh nhiều gấp mấy lần thương binh. Hầu hết các đơn vị đều nảy sinh hiện tượng sinh hoạt rời rạc, kỷ luật nội bộ không nghiêm, kỷ luật dân vận sút kém, thậm chí có những hành động xấu. Có một số ít cán bộ cho tình hình này là nghiêm trọng.

        Quân viễn chinh Mỹ biết chừng nào đó tình hình đối phương, chúng tưởng đây là cơ hội làm giảm sút sức chiến đấu của bộ đội Tây Nguyên. Chúng ra sức dùng thủ đoạn chiêu hồi bằng máy bay L19, OV10, thả truyền đơn, chúng tuyên truyền kêu gọi ra rả suốt ngày. Qua việc này chứng tỏ chính quyền và quân viễn chinh Mỹ không hiểu dân tộc Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam. Tính chủ quan kiêu căng sẵn có của họ sẽ khiến họ nhận lấy hậu quả khó lường.

        Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng nói trên là do một số cán bộ dù đã qua chiến đấu ác liệt, chiến thắng vẻ vang nhưng đây mới là bước thử thách cao độ lần đầu. Lập trường chính trị, ý chí chiến đấu chưa được rèn luyện vững chắc, buông lỏng lãnh đạo tư tưởng, quản lý sinh hoạt cán bộ cấp dưới và chiến sỹ. Trong lúc khó khăn, thái độ của cán bộ đối với chiến sỹ thiếu ân cần chăm sóc mà lại quát mắng làm cho cấp dưới và chiến sỹ càng chây lười, nên mệnh lệnh không có hiệu lực. Nội bộ một số đơn vị mất đoàn kết dẫn đến quan hệ quân dân có những biểu hiện xấu. Những thiếu sót này nếu không kịp thời chấn chỉnh sẽ dẫn đến mất sức chiến đấu nghiêm trọng.

        Tôi còn nhớ 7 tháng 12 năm 1965, cơ quan chính trị mặt trận tổ chức buổi gặp mặt một số dũng sỹ diệt Mỹ xuất sắc của Trung đoàn 66. Anh em về nơi tập trung thì trời tối, cán bộ tuyên huấn cho anh em tắm giặt, ăn cơm rồi nghỉ để hôm sau làm việc. Sáng hôm sau các dũng sỹ kể lại tinh thần và  kinh nghiệm đánh Mỹ. Tôi và anh Đặng Vũ Hiệp cùng ngồi nghe, thấy chiến sỹ ta rất vui vẻ. Bữa cơm chiều “chiêu đãi” anh em có gạo nương do đồng bào địa phương tặng, có sắn, thịt gà và canh rau. Sáng hôm sau, anh Đặng Vũ Hiệp cho biết: Dũng sỹ C đã không về đơn vị. Ít ngày sau cán bộ đi tìm, thấy C bên bờ sông Nậm Bạc. Được cán bộ động viên, chiến sỹ C vui vẻ về đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ. Qua việc này nhiều người nhận thấy: một chiến sỹ cách mạng kiên cường, bền bỉ vẫn phải được giáo dục thường xuyên để sẵn sàng đón nhận nhiều thử thách, nhiều gian nan ác liệt.

        Trước tình hình trên, Đảng uỷ Mặt trận chủ trương tiến hành củng cố bộ đội toàn diện. Trước hết tập trung nâng cao ý chí chiến đấu, phẩm chất đạo đức cách mạng, chủ yếu cho đội ngũ cán bộ. Trên cơ sở đó nâng cao trách nhiệm chính trị, xây dựng quyết tâm bền bỉ, đánh quân xâm lược Mỹ đến toàn thắng.

        Tiếp sau là học tập chính trị, xây dựng tư tưởng cho đơn vị chiến đấu và cơ quan. Sau đợt chỉnh huấn chính trị đến tập huấn quân sự bằng tổng kết về địch và về ta.

        Thực hiện chủ trương trên, từ ngày 25 tháng 12 năm 1965 đến ngày 5 tháng 1 năm 1966, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên tổ chức lớp chỉnh huấn chính trị đầu tiên cho 166 cán bộ trung cao cấp trong toàn mặt trận, trong đó có 13 cán bộ trung đoàn 29 cán bộ tiểu đoàn, 124 cán bộ thuộc các cơ quan trung đoàn và mặt trận.

        Nội dung đợt chỉnh huấn chính trị lần này chúng tôi tập trung quán triệt tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam nói chung và tình hình chiến trường Tây Nguyên nói riêng. Nội dung thứ hai, học tập truyền thống và bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Qua đó, mỗi người tự liên hệ kiểm điểm. Trong quá trình học tập, cán bộ còn được nghe bài viết của đồng chí Trường Sơn (bút danh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh). Ngoài ra, cán bộ còn được nghe bác sỹ phòng dịch nói về cách phòng và chống bệnh sốt rét....


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:35:31 pm

        Chúng tôi chủ trương phát động tư tưởng cho cán bộ nói hết tâm tư vướng mắc của mình, qua đó trao đổi cùng nhau giải quyết. Đối với cán bộ trung cao cấp phải tự giác đề cao tự phê bình và phê bình, mỗi người làm hai bản kiểm điểm một bản nêu rõ ưu điểm và một bản nêu rõ những suy nghĩ và hành động trái với truyền thống và bản chất cách mạng của Đảng và Quân đội ta.

        Đây là đợt học tập tập trung đầu tiên đối với cán bộ trung cao cấp toàn mặt trận. Một cuộc sinh hoạt chính trị nghiêm túc và sâu sắc, một cuộc đấu tranh không khoan nhượng trên lĩnh vực tư tưởng giữa một bên là tư tưởng cách mạng tiến công, quyết tâm đánh Mỹ đến thắng lợi cuối cùng với một bên là tư tưởng ngại gian khổ hy sinh, dao động, giảm sút ý chí chiến đấu. Những cuộc trao đổi thảo luận, cả những cuộc tranh luận gay gắt trong cán bộ, lãnh đạo chỉ huy các đơn vị để phân biệt đúng sai và có tác dụng thiết thực, làm chuyển biến nhận thức theo chiều hướng tích cực. Từ đó dần dần thống nhất được nhận thức về mối quan hệ giữa đánh lâu dài và tranh thủ thời cơ, thống nhất được nhiệm vụ của lực lượng vũ trang trên chiến trường. Càng về cuối đợt học tập tinh thần phấn khởi, lạc quan càng được nâng lên.

        Hôm kết thúc chỉnh huấn chính trị, tôi cầm hai tập giấy khá dày nói:

        - Đây là bản kiểm điểm của các đồng chí. Phần ưu điểm các đồng chí giữ lấy, để phát huy trong hoạt động chiến đấu lâu dài, còn đây là những bản trình bày khuyết điểm, tôi đọc và thấy các đồng chí đã tự phê bình một cách nghiêm túc trách nhiệm chính trị của mình trước Đảng và nhận rõ mỗi người đều có phương hướng phấn đấu cụ thể, thiết thực nên không cần phải giữ lại nó nữa. Tôi tuyên bố đốt tất cả những bản về khuyết điểm.

        Đợi cho những tờ giấy cuối cùng cháy thành tro, tôi mời chính uỷ các trung đoàn 66, 33, 320 lên rồi trao cho mỗi đồng chí một sợi dây thừng để trói tù binh Mỹ trong tiếng vỗ tay vang dậy cả một cánh rừng.

        Suốt cuộc chỉnh huấn, ngành hậu cần của mặt trận đã cố gắng lớn. Gạo không đủ, thêm sắn, khoai, thịt trâu hầm chuối xanh, có bữa thêm  thịt lợn và các loại rau rừng. Bữa ăn của cán bộ đủ no, có chút cải thiện. Trong bữa cơm chiều, trước khi về đơn vị mỗi cán bộ với lòng tin và niềm vui ai cũng háo hức về củng cố và nâng cao sức chiến đấu của đơn vị mình, sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ mới, thực hiện tốt kế hoạch của trên.

        Thường vụ Đảng uỷ Mặt trận họp và đánh giá kết quả chỉnh huấn: Qua chiến đấu ác liệt với chiến công có ý nghĩa lớn lại nảy sinh hiện tượng tư tưởng hữu khuynh tiêu cực khá nghiêm trọng. Trong cuộc chỉnh huấn cán bộ đã tự giác thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc. Ý chí chiến đấu chống giặc Mỹ xâm lược và nghị lực được nâng cao. Thực tế đã rèn luyện anh em có bước trưởng thành vững chắc. Bộ đội chủ lực không những trụ vững ở chiến trường mà còn đủ khả năng phát triển. Khả năng chiến trường Tây Nguyên đánh lớn sẽ đến trong tương lai không xa...

        Trích: Đại tướng Chu Huy Mân, Thời sôi động, đại tá Lê Hải Triều thể hiện.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:45:10 pm

3. ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI: (HOÀNG VĂN XIÊM)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Hoang%20Van%20Thai_zpsdmuqy0yn.jpg)

       
        Đồng chí Đại tướng Hoàng Văn Thái, sinh năm 1915 trong một gia đình nông dân yêu nước, tại xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình - một vùng quê giàu truyền thống cách mạng.

        Năm 18 tuổi, đồng chí rời quê hương đi làm công nhân ở mỏ than Hòn Gai và sau đó là mỏ thiếc Tĩnh Túc, Cao Bằng. Sớm giác ngộ cách mạng, năm 1936, đồng chí trở về Tiền Hải hoạt động trong phong trào Mặt trận bình dân, tổ chức các hội Tương tế, Ái hữu, tham gia chống thuế, chống bắt phu, bắt lính,  tuyên truyền và tổ chức xây dựng cơ sở cách mạng trong nhân dân.

        Tháng 5 năm 1938, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí tích cực góp phần xây dựng tổ chức Đảng ở các xã Tiền Hoàn, Đại Hữu, An Khang thuộc huyện Tiền Hải, Thái Bình. Tháng 9 năm 1940, đồng chí bị địch bắt; không tìm được chứng cứ, địch buộc phải thả.

        Tháng 10 năm 1940, đồng chí được Đảng đưa về hoạt động bí mật ở căn cứ Lạng Giang, Hiệp Hoà tỉnh Hà Bắc, tham gia xây dựng và làm Đội trưởng Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn.

        Tháng 9 năm 1941, đồng chí được Đảng cử đi học quân sự ở nước ngoài. Tháng 10 năm 1944 về nước, đồng chí được giao nhiệm vụ quan trọng là tham gia tổ chức Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, phụ trách công tác tình báo và tác chiến.

        Tháng 4 năm 1945 phụ trách Trường Quân chính kháng Nhật.

        Tháng 9 năm 1945, đồng chí được cử giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Uỷ viên Quân uỷ hội, Uỷ viên Ban quân sự Trung ương.

        Năm 1948 được phong hàm Thiếu tướng.

        Tháng 9 năm 1958 là Trung tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục thể thao Trung ương.

        Tháng 2 năm 1966, đồng chí nhận nhiệm vụ vào truyền đạt Nghị quyết 12 của Trung ương Đảng cho các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy miền Nam.

        Tháng 7 năm 1966 nhận nhiệm vụ ở lại làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu 5, quyền Bí thư Khu uỷ Khu 5.

        Tháng 10 năm 1967, làm Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, Phó Bí thư Trung ương Cục kiêm Phó Bí thư Quân uỷ Miền.

        Năm 1974, đồng chí được phong quân hàm Thượng tướng.

        Năm 1980, được thăng quân hàm Đại tướng.

        Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, đồng chí giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương; được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khoá III, IV, V và đại biểu Quốc hội khoá VII.

        Với những cống hiến xuất sắc và phẩm chất trong sáng, đồng chí Hoàng Văn Thái đã được Đảng, Quốc hội, Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công (hạng nhất, hạng nhì). Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất; ba Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

        Là vị tướng trận mạc đã trải qua thực tiễn hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; với kiến thức và tài năng quân sự hiếm có, Hoàng Văn Thái đã trở thành một nhà chỉ huy quân sự xuất sắc. Đồng chí là người tổ chức và chỉ huy đầu tiên của Bộ Tổng tham mưu – cơ quan chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam; là “người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh” (lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Đồng chí Hoàng Văn Thái được các tướng lĩnh cáo cấp trong Quân đội ta đánh giá: “Là một nhà chỉ đạo, chỉ huy toàn diện, rất coi trọng nhân tố chính trị, yếu tố nhân dân và là một nhà tham mưu lão luyện”, “ là một vị tướng có đức độ và tài năng”, “không những có kinh nghiệm về công tác tham mưu mà còn là một vị tướng chỉ huy có tài năng”.

        Cũng từ những năm tháng bám sát thực tiễn, hết sức gắn bó với các chiến trường, gần gũi chiến sỹ, kết hợp nhuần nhuyễn quân sự và chính trị, tác chiến của bộ đội chủ lực và chiến tranh du kích, lại được đào tạo qua trường quân sự, đồng chí Hoàng Văn Thái đã trở thành một trong những người giỏi về lý luận, khoa học quân sự của Quân đội ta.

        Từ những trải nghiệm trên chiến trường và trên nhiều cương vị công tác, trong suốt cuộc đời mình, Đại tướng Hoàng Văn Thái có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác nghiên cứu khoa học quân sự, tổng kết chiến tranh và xây dựng ngành lịch sử quân sự Việt Nam. đồng chí đã viết hơn mười tác phẩm hồi ký và luận văn quân sự cùng hàng trăm bài viết đăng trên các báo, tạp chí. Khối lượng lớn các tác phẩm, công trình nghiên cứu khoa học mà Đại tướng Hoàng Văn Thái để lại mãi mãi là tài sản tinh thần vô giá cho Đảng, Quân đội và nhân dân ta.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:52:18 pm

TẤT CẢ CHO CHIẾN TRƯỜNG TRỌNG ĐIỂM

        (Giới thiệu về những kỷ niệm sâu sắc về chỉ đạo công tác tham mưu trong chiến dịch mang tên Bác Hồ của Đại tướng Hoàn Văn Thái).

        Sau cuộc họp của Bộ Chính trị ngày 31 tháng 3, cơ quan Tổng hành dinh bước vào những ngày đầu tháng Tư với một không khí sôi động và nhịp độ khẩn trương lạ thường, hơn cả những ngày tháng Ba lịch sử. Tất cả cho chiến trường trọng điểm, quyết góp phần xứng đáng nhất giành toàn thắng trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn vào những ngày tháng Tư này, thực hiện trọn vẹn quyết tâm chiến lược của Bộ Thống soái.

        Chúng tôi xác định nhiệm vụ của Bộ Tổng tham mưu lúc này là phải tập trung cao độ vào mấy việc quan trọng có quan hệ trực tiếp tới trận quyết chiến chiến lược cuối cùng:

        Một là, theo dõi và giúp trên chỉ đạo các chiến trường tác chiến, tạo thế cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn, nhất là chỉ đạo cánh quân ven biển đang đánh địch trong hành tiến đến khu vực tập kết đúng thời gian quy định.

        Hai là, đôn đốc và theo dõi việc điều động những lực lượng chiến lược và trang bị kỹ thuật lớn vào mặt trận trọng điểm Sài Gòn càng nhanh càng tốt.

        Ba là, nghiên cứu để đề đạt cách đánh chiến lược, chiến dịch trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

        Trong hai nhiệm vụ thứ nhất và thứ hai, Bộ Tổng tham mưu phải đồng thời đáp ứng hai yêu cầu chiến lược dường như mâu thuẫn nhau đối với cánh quân đang tiến trên ven biển miền Trung.

        Một mặt, địch đang trong quá trình co cụm chiến lược, ta phải nhanh chóng tiêu diệt, làm suy yếu chúng, làm thất bại ý đồ chiến lược của chúng ngay trong quá trình co cụm, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến trường trọng điểm Sài Gòn. Làm như vậy cũng tức là tranh thủ mở rộng vùng giải phóng, nhanh chóng làm chủ các địa bàn chiến lược quan trọng ven biển miền Trung từ Nha Trang trở vào, trong đó có quân cảng quan trọng bậc nhất là Cam Ranh, không để cho địch kịp phá hoại các trang bị kỹ thuật của cảng, không để chúng kịp bốc dân các tỉnh Cực Nam Trung Bộ theo chúng. Đó là nhiệm vụ trước mắt của cánh quân ven biển, ra đời từ đầu tháng 4 năm 1975.

        Nhưng mặt khác, yêu cầu rất gay gắt đối với cánh quân này là phải nâng tốc độ hành quân hơn nữa, để đến khu vực tập kết kịp thời gian tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Quá trình hành quân của cánh này không chỉ là đánh địch mà đi, mở rộng đường mà tiến, mà còn là quá trình bổ sung và sáp nhập các đơn vị lớn ngay trên dọc đường, hình thành ngay đội hình chiến đấu; tiếp tục giải quyết hậu cần, trang bị phương tiện vận chuyển để bảo đảm tốc độ hành quân. Đó cũng là một nhiệm vụ cấp bách của cánh quân rất quan trọng này trên đường tiến quân vào chiến trường trọng điểm.

        Trong việc điều động và sử dụng lực lượng một cách linh hoạt để các đơn vị hoàn thành cả hai nhiệm vụ tranh thủ tiêu diệt địch, giải phóng đất đai và đến nhanh vị trí tập kết kịp tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn, có một trong trường hợp nổi lên cần nói đến là trường hợp sử dụng Sư đoàn 10 (thuộc Quân đoàn 3, Tây Nguyên. Quân đoàn 3 thành lập ngày 27 tháng 3 năm 1975, do đồng chí Vũ Lăng làm Tư lệnh và đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Chính uỷ). Cuối tháng 3, sư đoàn này ở gần Nha Trang nhất và có điều kiện phát triển theo ven đường biển nhanh nhất.

        Trước khi hình thành cánh quân ven biển, sư đoàn đang làm nhiệm vụ đánh địch trên đường 21. Theo chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị (nhanh chóng đưa lực lượng B3 vào chiến trường trọng điểm) hồi cuối tháng , anh Dũng và Bộ tư lệnh Tây Nguyên đã cho Sư đoàn 10 ( cũng như các đơn vị phía trước, sau khi bàn giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 25 đánh trên đường 21, sẽ rút theo, để hành quân cấp tốc vào B2).

        Trên đường vào Nam, ngày 1 tháng 4, anh Sáu Thọ (Sau cuộc họp ngày 25 tháng 3, theo sự phân công của Bộ Chính trị, ngày 28 anh Lê Đức Thọ vào chiến trường B2, cùng các anh Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng thay mặt cho Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo chiến dịch giải phóng Sài Gòn) cũng điện ra cho anh Ba và anh Văn đề nghị không nên cho Sư đoàn 10 tiếp tục phát triển xuống Cam Ranh rồi sau đó tiến theo dọc đường biển vào B2, mà nên từ Tây Nguyên vào gấp chiến trường trọng điểm. Anh Thọ cho rằng lực lượng Khu 5 cộng với một bộ phận lực lượng Tây Nguyên cũng đủ sức giải phóng Quy Nhơn – Bình Định, rồi phát triển xuống Phú Yên, Khánh Hoà, Cam Ranh và cả Phan Rang, Phan Thiết. Các đồng chí lãnh đạo Khu 5 có kinh nghiệm vận dụng kết hợp ba thứ quân, kết hợp tiến công và nổi dậy.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:52:39 pm

        Nhưng hai ngày trước đó, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã căn cứ vào tình hình thực tế mà thay đổi chủ trương sử dụng sư đoàn này. Ngày 30 tháng 3, khi nghe Bộ Tổng tham mưu báo cáo tình hình, Quân uỷ nhận thấy sau khi địch thất bại ở Đà Nẵng, đang diễn ra tình hình mới ở Cực Nam Trung Bộ, nhất là sau khi ta giải phóng Quy Nhơn, địch đang rút chạy khỏi Tuy Hoà, bắt đầu chuyển các cơ quan lãnh sự Mỹ và bộ máy Ngụy ở Nha Trang và Cam Ranh về Sài Gòn, dự kiến địch có thể bỏ cả Cam Ranh. Trước tình hình đó, sau buổi giao ban, Bộ Chính trị và Thường trực Quân uỷ nhất trí cho rằng, ta cần có chủ trương thật linh hoạt để lợi dụng thời cơ cụ thể này, nên đã quyết định sử dụng Sư đoàn 10 nhanh chóng tiêu diệt quân dù và quân địch còn lại trên đường 21, tiến xuống đánh chiếm Nha Trang và Cam Ranh, rồi theo hướng ven biển mà tiến về phía nam. Như vậy vừa tiêu diệt được địch trong lúc chúng đang rút chạy, kịp giải phóng mà không để địch phá một quân cảng quan trọng bậc nhất, đồng thời phát triển thế liên tục tiến công thắng lợi, mở thêm một con đường để tiến về phía đông Sài Gòn mà không ảnh hưởng lớn đến thời gian.

        Quyết định trên được chuyển ngay vào chiến trường Tây Nguyên ngày 30 tháng 3 (điện số 940).

        Chủ trương đó hoàn toàn phù hợp với suy nghĩ của anh Dũng và Bộ tư lệnh Tây Nguyên.

        Đêm ngày 30 tháng 3 (khi còn chưa nhận được điện số 940 của Quân uỷ), anh Dũng cùng Bộ tư lệnh Tây Nguyên cũng ban việc sử dụng Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 phát triển xuống đánh chiếm Nha Trang, Cam Ranh, sau đó sư đoàn này theo đường 11 lên đường 20 vào miền Đông Nam Bộ. Như vậy, tranh thủ diệt nốt được lực lượng còn lại của Quân đoàn 2 Ngụy, giải phóng thêm một vùng chiến lược quan trọng mà sư đoàn vẫn đủ thời gian hành quân vào chiến trường trọng điểm. Quyết định rồi nhưng các anh còn băn khoăn vì sử dụng sư đoàn này như vậy có trái với chủ trương trước ngày 30 tháng 3 của Bộ Chính trị và Quân uỷ là nhanh chóng đưa lực lượng B3 vào miền Đông không?

        Giữa lúc anh Dũng và các anh ở B3 đang triển khai quyết tâm đã thống nhất đêm 30 tháng 3 với ý định là “chịu trách nhiệm rồi báo vế Quân uỷ Trung ương và Bộ Chính trị”, thì nhận được điện 940. Anh Dũng vội điện ra. Điện có đoạn viết:

        “Tôi mừng quá vì thật là tâm đầu ý hợp giữa lãnh đạo và người ở chiến trường”.

        Hôm sau, ngày 31 tháng 3, trả lời điện của anh Thọ, anh Vă cho biết Sư đoàn 10 đang đánh quân dù, sẽ tiến đánh Nha Trang, Cam Ranh và tiếp tục phát triển tiến công theo hướng ven biển, vừa tiêu diệt được địch, giải phóng cảng lớn, vừa đánh lạc hướng địch.

        Sau khi Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã quyết định hướng phát triển của Sư đoàn 10, ngày 1 tháng 4, Bộ Tổng tham mưu thông báo tình hình địch cho sư đoàn và đôn đốc tranh thủ từng giờ, từng phút phát triển thật nhanh vào hướng Nha Trang, Cam Ranh. Điện nói rõ: Nếu cần thì cho đơn vị nhỏ thâm nhập trước để không cho địch có thời gian phá hoại cơ sở kỹ thuật và bốc dân. Cùng lúc, chúng tôi lại nhận được tin Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 và Lữ dù 3 Ngụy đang hoảng loạn chạy theo đường bộ về hướng Sài Gòn và đêm ngày 1 tháng 4, dừng lại ở Phan Rang. Cùng với điện gửi sư đoàn, Bộ Tổng tham mưu thông báo ngay cho Khu 5 để kịp thời huy động lực lượng, kể cả Trung đoàn 25 ở đường 1, Trung đoàn 95B ở đường 7 cùng với lực lượng tại chỗ phối hợp đánh địch rút chạy trên hướng Tuy Hoà, Nha Trang, Cam Ranh; đồng thời điện cho Khu 6 dùng các lực lượng tại chỗ dọc đường 1 phối hợp với sư đoàn này ngăn chặn và tiêu diệt địch. Ngày hôm sau, qua tin kỹ thuật, chúng tôi được biết cụ thể thêm: Địch đang dùng chừng 3 nghìn xe chở quân rút chạy từ Cam Ranh vào Sài Gòn. Sáng ngày 2 tháng 4 đoàn xe đã đến địa phận Bình Thuận. Chúng cho rằng đường 1 bị cắt ở gần Xuân Lộc nên chỉ có thể rút chạy theo đường ven biển qua Hàm Tân, Bà Rịa ra Vũng Tàu. Bộ Tổng tham mưu điện cho Quân khu 6 và Quân khu 7 sử dụng ngay lực lượng vũ trang ở Bình Tuy, Phước Tuy, tìm mọi cách ngăn chặn địch, kể cả phá đường, đánh nhỏ, làm chậm bước rút chạy của chúng. Hai quân khu cũng được thông báo: Sư đoàn 10 của Tây Nguyên đang tiến công giải phóng Nha Trang, Cam Ranh và sẽ phối hợp với địa phương truy kích tiêu diệt địch chạy qua Phan Rang, Phan Thiết vào phía Nam. Quân khu 6 và Quân khu 7 cần phối hợp ngay với Sư đoàn 10 đánh địch; giải phóng đến đâu, dùng bộ đội địa phương tiếp quản đến đấy để sư đoàn có thể tiếp tục tiến nhanh vào miền Đông Nam Bộ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:55:40 pm

        Riêng với anh Thọ, vẫn đang trên đường vào Bộ tư lệnh Miền, anh Văn điện tiếp để anh biết tình hình các binh đoàn đang trên đường vào B2, trong đó có Sư đoàn 10 đã tiêu diệt Lữ đoàn dù địch và đang tiến về phía nam. Để anh yên tâm, bức điện nói rõ: “Về thời gian, theo anh Dũng cho biết thì cúng không muộn hơn là quay trở lại đi theo hướng đường cũ. Chúng tôi thấy như thế có lợi, anh Ba cũng đồng ý”.

        Hôm sau, ngày 3 tháng 4, Bộ Tổng tham mưu nhận được điện anh Thọ gửi anh Ba, anh Văn, đồng thời gửi anh Dũng, nhất trí với cách xử trí của Bộ Chính trị và Quân uỷ. Điện viết: “...Nếu Sư đoàn 10 đã tiến sâu như vậy thì có thể giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 10 và thêm một sư đoàn của Khu 5, phát triển giải phóng Phan Rang, Phan Thiết và tiến xuống giải phóng Bà Rịa, Ô Cấp. Hiện nay nhiệm vụ Khu 5 đã xong, có thể rút đi một sư đoàn để thêm sức với Sư đoàn 10 mà đánh. Tiến như vậy rất bất ngờ, có thể nhanh chóng tiến sát, bao vây Sài Gòn về hướng đông. Đường tiếp tế tuy có kéo dài ra, nhưng ta lợi dụng được đường  và phương tiện vận chuyển trong dân vùng mới giải phóng thì có thể vận chuyển tiếp tế tương đối nhanh và thuận lợi hơn là hướng từ miền Đông xuống...”.

        Như vậy là từ ngày 31 tháng 3, trong lúc sư đoàn khẩn trương phát triển từ đường 21 xuống phía Nha Trang, Cam Ranh thì các bức điện trao đổi đã dẫn đến sự nhất trí về việc sử dụng sư đoàn này cũng như toàn cánh quân ven biển – cánh quân hướng Đông.

        Tình hình phát triển khẩn trương và những mục tiêu còn lại ở ven biển Cực Nam Trung Bộ đặt ra yêu cầu cấp bách về mặt chỉ đạo chiến lược là tăng thêm lực lượng cho cánh quân này, cũng tức là tăng thêm lực lượng cho hướng đông và đông nam của chiến trường trọng điểm. Qua các bức điện trao đổi, anh Thọ, các anh ở B2 và Khu 5 đều nhất trí như vậy. Ngày 4 tháng 4 anh Ba cùng Thường trực Quân uỷ đã quyết định tăng thêm  sư đoàn: Sư đoàn 3 (đang ở Bình Định), Sư đoàn 325 và Sư đoàn 304 (đang ở Đà Nẵng), cùng các đơn vị pháo binh, cao xạ, xe tăng, công binh vào đội hình cánh quân hướng Đông. Nhiệm vụ của cánh quân này là tiêu diệt quân địch trong hành tiến, nhanh chóng đánh chiếm Bà Rịa, Ô Cấp, khoá chặt sông Lòng Tàu và phát triển về hướng Sài Gòn từ phía đông nam.

        Để tăng cường chỉ đạo chỉ huy cánh quân hướng Đông (gồm Quân đoàn 2 do anh Nguyễn Hữu An, Tư lệnh; anh Lê Linh, Chính uỷ; Sư đoàn 3 và các đơn vị phối thuộc), ngày 5 tháng 4 các anh Lê Trọng Tấn, Lê Quang Hoà và Nam Long đã vào đến Đà Nẵng. Anh Tấn được giao nhiệm vụ Tư lệnh cánh quân hướng Đông. Đồng thời Thường trực Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Ban cán sự lâm thời của cánh quân này do anh Lê Quang Hoà làm Bí thư. Khi vào đến miền Đông Nam Bộ, cánh quân này sẽ thuộc quyền lãnh đạo và chỉ huy của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Mặt trận Sài Gòn.

        Trở lại “sự kiện” sử dụng Sư đoàn 10. Sau khi giải phóng Nha Trang và Cam Ranh, được sự giúp đỡ của quân và dân Khu 6, Sư đoàn 10 đã từ Ba Ngòi xuyên qua căn cứ Bác Ái đến Tân Mỹ (đường 11) để lên Tuyên Đức rồi theo đường 20 hành quân về vị trí tập kết của Quân đoàn 3 trên hướng tây bắc Sài Gòn. Hàng ngàn quân dân huyện Bá Ái, quê hương của Anh hùng Bi Năng Tắc, đã hăng hái lao động suốt ngày đêm, sửa lại con đường Ba Ngòi – Tân Mỹ để bộ đội hành quân nhanh chóng.

        Trong những ngày này, Bộ Tổng tham mưu nhận được tin địch đã điều sở chỉ huy tiền phương của Quân đoàn 3 ra Xuân Lộc, đưa Lữ dù 2 ra Phan Rang và tăng cường phòng thủ thị xã này, thực hiện chủ trương phòng thủ từ xa; đồng thời nhận được tin anh Tấn và anh Hoà sáng 10 tháng 4 đã từ Quy Nhơn đi Nha Trang, có thể đến nơi trong ngày và tin Sư đoàn 325 xuất phát từ Đà Nẵng ngày 9, Sư đoàn 304 sẽ đi tiếp theo.

        Ngày 13 tháng 4, Bộ Tổng tham mưu nhận được điện anh Tấn cho biết tình hình hậu cần cho Quân đoàn 2 chưa gặp khó khăn gì lắm. Đơn vị đã được cấp một tháng lương thực và thực phẩm. Dọc đường hành quân của quân đoàn, ở Cam Ranh có hơn 2.000 tấn gạo, ở Quy Nhơn có 245 tấn xăng, 175 tấn ma dút, ở Nha Trang có 4.000 tấn xăng và 1.000 tấn ma dút, v.v... Nghe báo cáo, Thường trực Quân uỷ yên tâm về khả năng bảo đảm vật chất kỹ thuật cho cánh quân hướng Đông, nhưng phải làm sao đưa lực lượng này vào chiến trường trọng điểm nhanh hơn. Nhiệm vụ và hướng phát triển của Quân đoàn 2 và Sư đoàn 3 đã được Thường trực Quân uỷ Trung ương nhất trí. Cụ thể là: Sau khi giải quyết xong Phan Rang, sẽ phát triển đánh chiếm thị xã Bà Rịa và căn cứ Vũng Tàu, cắt đứt đường bộ từ Biên Hoà đi Vũng Tàu, khống chế hoàn toàn sông Lòng Tàu. Nếu địch co về phòng thủ Biên Hoà thì sẽ căn cứ vào tình hình cụ thể lúc đó mà cho lực lượng tiến về phía đông và đông nam Sài Gòn, vượt sông đột phá vào trọng điểm khu vực này.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:56:55 pm

        Đến ngày 11 tháng 4, có tin địch có thể tăng cường củng cố thêm Phan Rang để ngăn chặn đường tiến của quân ta. Sư đoàn 968 của ta chưa quen đánh cứ điểm lớn có tổ chức phòng thủ vững chắc. Chúng tôi điện để anh Tấn nghiên cứu xem, nếu đánh Phan Rang mất thời gian và để kịp tiến nhanh về miền Đông thì có thể nghiên cứu cách nào vòng qua, còn ở Phan Rang chỉ để một đơn vị bao vây buộc địch phải phân tán đối phó. Nếu đi đường vòng, cố nhiên phải khắc phục khó khăn về hậu cần và đường cơ động cho binh khí kỹ thuật.

        Mấy ngày sau, Bộ Tổng tham mưu nhận được báo cáo: một bộ phận của cánh quân ven biển do anh Tấn chỉ huy, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang địa phương Quân khu 6 (Gồm các tỉnh Cực Nam Trung Bộ), đã đánh chiếm sân bay Thành Sơn và thị xã Phan Rang. Du kích Bác Ái Đông từ lâu đã bám sát vành đai sân bay Thành Sơn, tạo thế rất thuận lợi cho bộ đội chủ lực tiến công địch. Đêm ngày 7 tháng 4, bộ đội đặc công cùng với bộ đội địa phương Ninh Thuận thọc sâu đánh chiếm thị trấn Tháp Chàm, sau đó bám trụ trong thị xã Phan Rang. Bộ phận này đã đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, sau đó góp phần quan trọng cùng với bộ đội chủ lực giải phóng thị xã Phan Rang, mở đường cho cánh quân hướng Đông phát triển thuận lợi. Ở Bình Thuận, cũng từ ngày 7 tháng 4, Trung đoàn 812 (chủ lực của Quân khu 6) từ Tuyên Đức xuống Bình Thuận, ngày hôm sau tiến công tiêu diệt chi khu quận lỵ Thiện Giáo (Ma Lâm), tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang địa phương diệt các vị trí địch còn lại.

        Trung đoàn 812 bám trụ Phú Long (cửa ngõ vào thị xã Phan Thiết) trong suốt năm ngày, từ 14 đến 18 tháng 4, dưới hoả lực phi pháo ác liệt của địch, đánh lui nhiều đợt phản kích của chúng cùng với đơn vị của Quân đoàn 2 tiến vào giải phóng Phan Thiết.

        Thế là, tiếp theo việc giải phóng hoàn toàn các tỉnh Lâm Đông (ngày 30 tháng 3), Tuyên Đức (ngày 3 tháng 4), gần như toàn bộ địa bàn Khu 6 đã được giải phóng, ý đồ phòng ngự từ xa của địch hoàn toàn bị phá sản. Nhìn vào bản đồ chiến sự, đến hạ tuần tháng 4, dễ dàng nhận thấy một thế chiến lược vô cùng thuận lợi của ta đã được tạo ra trước khi mở màn chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Một vùng giải phóng rộng lớn kéo dài suốt từ Cực Nam Trung Bộ, qua Khu 5, Tây nguyên đến Trị - Thiên, nối liền với hậu phương miền Bắc. Như vậy là cả nước đã tiến quân trên mảnh đất Thành Đồng, đã tiếp cận thành phố Sài Gòn – Gia Định và đang hướng mọi hành động vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng trên chiến trường trọng điểm: Sài Gòn.

        Trong những tin chiến thắng dồn dập bay về Tổng hành dinh mấy tuần đầu tháng 4, chúng tôi đặc biệt chú ý tin ngày 8 tháng 4, phi công Nguyễn Thành Trung lái một máy bay F5E của không quân Ngụy ném bom “dinh Độc Lập” rồi bay ra vùng giải phóng hạ cánh xuống sân bay Phước Long và tin bộ đội hải quân phối hợp với lực lượng vũ trang Khu 5 bắt đầu giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, đầu tiên là đảo Song Tử Tây.

        Riêng trên hướng đông bắc Sài Gòn, theo chủ trương trước đó của Trung ương Cục, Quân đoàn 4 đã bắt đầu trận Xuân Lộc từ đêm ngày 9 tháng 4.

        Chúng tôi được tin địch đưa thêm quân tăng cường ra hướng đó và vì ta chuẩn bị chưa thật đầy đủ nên đã gặp khó khăn, chưa thực hiện được trận thối động mạnh. Từ ngày 12, cùng với việc chuẩn bị thêm, ta đã chuyển sang bao vây và diệt viện ở bên ngoài, đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 18 và Lữ dù Ngụy, đánh chiếm Dầu Giây, làm chủ ngã ba đường 1 và đường 20, chia cắt Xuân Lộc về phía tây, uy hiếp tuyến phòng thủ Biên Hoà – Hố Nai. Trước tình hình đó và sau trận Phan Rang, sức ép của ta trên hướng đông ngày càng mạnh, buộc địch phải rút chạy khỏi Xuân Lộc (đêm ngày 20 tháng 4). Tuyến phòng thủ phía đông Sài Gòn của địch bị chọc thủng, bàn đạp tiến công của ta trên hướng này được mở rộng. Ta có thêm điều kiện thuận lợi mới trước khi bước vào chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

        Cùng với việc theo sát và giúp trên chỉ đạo tác chiến của cánh quân ven biển Cực Nam Trung Bộ, Bộ Tổng tham mưu quan tâm theo dõi tình hình chuẩn bị lực lượng chính trị của ta ở Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long, nhằm chuẩn bị phối hợp với đòn tiến công của chủ lực trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

        Trong các buổi giao ban, tuy tin tức nhận được về công tác chuẩn bị cho quần chúng nổi dậy không nhiều, chúng tôi vẫn đặt thành nhiệm vụ cho Cục tác chiến và nhất là Cục Dân quân thường xuyên báo cáo những bước chuẩn bị nổi dậy của quần chúng trên chiến trường trọng điểm,nhất là sau khi phát hiện những nhân tố mới về phương thức này trong chiến dịch giải phóng Đà Nẵng.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:59:15 pm

        Ngày 17 tháng 4, Bộ Tổng Tham mưu điện hỏi cơ quan tham mưu B2 về tình hình chuẩn bị lực lượng quần chúng ở nội đô và vùng xung quanh Sài Gòn, ở đồng bằng sông Cửu Long. Được biết ngày 12 tháng 4, Thường vụ Thành uỷ Sài Gòn ra nghị quyết về các tổ chức chính trị và vũ trang nội thành và vùng ven để chuẩn bị khẩn trương cho quần chúng nổi dậy phối hợp với chủ lực khi chiến dịch giải phóng Sài Gòn mở màn. Khoảng 700 cán bộ nội thành và 1.000 cán bộ vùng ven đã được chuẩn bị sẵn sàng đón thời cơ phát động quần chúng nổi dậy. Gần 40 tổ chức “biến tướng” được củng cố và trở thành cơ sở của ta ở vùng ven và nội thành. Ta đã làm chủ với mức độ khác nhau 40 lõm chính trị, đã xây dựng được 233 tự vệ mật trong thành phố và hơn 3.000 du kích vùng ven. Đây là một lực lượng chưa phải lớn, nhưng rất quan trọng để thực hiện kết hợp tiến công và nổi dậy trong trận quyết chiến cuối cùng sắp tới. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Cục (tức là nghị quyết ngày 29 tháng 3 năm 1975 về địa phương chuẩn bị tự giải phóng bằng lực lượng của chính mình khi có thời cơ), các địa phương trong Khu 9 đã tuyển hàng nghìn chiến sỹ mới, bổ sung cho lực lượng vũ trang tỉnh và huyện. Các tỉnh đã nâng số tiểu đoàn địa phương từ 15 lên 24, đưa số đại đội ở huyện lên thành tiểu đoàn và tổ chức thêm được 60 đại đội khác. Dân quân du kích toàn Khu 9 đã nhanh chóng nâng từ 32.900 (tháng 3 năm 1975) lên 54.900 (tháng 4 năm 1975). Ở Khu 8, do kết quả tuyển quân và đưa 2.440 du kích lên, cộng với việc rút 1.200 du kích trong vùng sâu ra, toàn khu đã thành lập thêm được 7 tiểu đoàn, 36 đại đội và 150 trung đội bộ đội địa phương. Riêng tỉnh Bến Tre đã phát triển bộ đội địa phương từ 3 lên 5 tiểu đoàn đủ; mỗi huyện có từ 1 đến 2 đại đội, mỗi xã có từ 1 đến 2 trung đội du kích và dự kiến số quần chúng đưa vào thị xã (khi có lệnh khởi nghĩa) lên tới khoảng một vạn người được tổ chức thành đại đội, tiểu đoàn, có chỉ huy chặt chẽ; cùng với hàng ngàn gia đình binh sỹ Ngụy tham gia công tác binh vận. Tỉnh Mỹ Tho tuyển gần 1.000 chiễn sỹ mới, đưa hàng nghìn du kích lên bộ đội địa phương, nên đã bổ sung cho tỉnh 3 tiểu đoàn, xây dựng thêm 28 đại đội huyện và phát triển thêm 1.500 du kích xã ấp, trong đó có khoảng 100 du kích mật của thi xã; đã huy động chừng 40 nghìn lượt người đi vận chuyển vũ khí cho bộ đội và 4.000 lượt người đêm đêm ra phá lộ 4, đắp vật chướng ngại trên kênh Chợ Gạo. Các tỉnh Long An, Kiến Tường, Sa Đéc... cũng rất cố gắng phát triển lực lượng vũ trang – chính trị nên đã có lực lượng cần thiết để sẵn sàng thực hành nổi dậy kết hợp với tiến công khi có thời cơ.

        Vào khoảng trung tuần tháng 4, khi Bộ Tổng tham mưu báo cáo tổng hợp tình hình phát triển lực lượng chính trị và vũ trang vùng ven Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đều rất vui khi nhận thấy khả năng quần chúng nổi dậy trên chiến trường B2 có thể phát triển sâu rộng hơn so với những gì đã diễn ra trong trận tiến công Đà Nẵng. Mô hình tiến công và nổi dậy mà Bộ Chính trị nhấn mạnh trong cuộc họp ngày 25 tháng 3 đã có cơ sở để biến thành hiện thực.

        Cùng với việc theo dõi và chỉ đạo hoạt động tác chiến tạo thế cho cuộc đọ sức cuối cùng trên chiến trường trọng điểm, Bộ Tổng tham mưu tập trung vào việc chỉ đạo điều động binh lực và vật chất kỹ thuật vào chiến trường B2 với tinh thần “thần tốc, thần tốc hơn nữa” mà Bộ Chính trị đã đề ra trong các cuộc họp cuối tháng 3.

        Vấn đề chuẩn bị và điều động lực lượng cho Mặt trận Sài Gòn được đề ra khá sớm, từ những ngày chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng đang diễn biến khẩn trương. Cuối tháng 3, đặc biệt là sau cuộc họp ngày 31 của Bộ Chính trị, vấn đề lo lắng của cơ quan Tổng hành dinh cũng như của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy trên đường 559 và các chiến trường phía Nam là bất luận trong tình hình nào cũng không được vì điều động lực lượng mà để lỡ thời cơ chiến lược.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:59:41 pm

        Một đoàn cán bộ tham mưu và hậu cần được cử đi giúp đồng chí Phùng Thế Tài, Phó Tổng tham mưu trưởng, chuyên trách việc đôn đốc hành quân trên trục đường 559. Quán triệt phương châm “thần tốc, thần tốc hơn nữa”, hoạt động của guồng máy chi viện chiến lược được đẩy lên với tốc độ ngày càng cao. Ở cơ  quan tham mưu hậu cần, trên đường 559 cũng như ở B2, các cán bộ lãnh đạo đều tập trung theo dõi hành trình của Quân đoàn 1 xuất phát từ phía nam đồng bằng Bắc Bộ; của các lực lượng B, xuất phát từ nhiều hướng trên chiến trường Tây Nguyên; của Sư đoàn 320b xuất phát từ Trị - Thiên; của Sư đoàn  từ Bình Định, các Sư đoàn 325 và 304 từ Đà Nẵng, v.v... Hai cơ quan tham mưu và hậu cần chiến lược đặc biệt quan tâm theo dõi việc vận chuyển đạn lớn, nhất là đạn cho xe tăng. Điện hỏi và điện trả lời liên tục. Động viên, đôn đốc, thúc giục để cùng nhau chạy đua với thời gian, với thời tiết, với quân thù. Làm sao giành được thắng lợi trọn vẹn trước khi những cơn mưa đầu mùa đổ xuống. Từ tháng 3 Bộ Chính trị đã từng khẳng định: Lỡ thời cơ chiến lược là có tội. Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng là mệnh lệnh chiến đấu, là khẩu hiệu hành động để biến quyết tâm đó thành thắng lợi. Mà bất ngờ và chắc thắng lúc này chủ yếu là khâu thời gian. Phải làm sao cho thời gian, vốn đã ủng hộ chúng ta, sẽ ngày càng ủng hộ chúng ta nhiều hơn nữa.

        Việc gấp rút tập trung lực lượng để hình thành thế bao vây và chia cắt quân địch trên chiến trường trọng điểm đã được Bộ Chính trị đề ra từ các cuộc họp cuối tháng 3. Chủ trương đó đã được phổ biến tới các cấp lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ.

        Quân đoàn 1. do anh Nguyễn Hoà làm Tư lệnh, anh Hoàng Minh Thi làm Chính uỷ, từ cuối tháng 3 đã được lệnh hành quân cấp tốc với hai sư đoàn và các đơn vị binh khí kỹ thuật. Riêng Sư đoàn 308 được chọn ở lại bảo vệ hậu phương lớn. Yêu cầu đặt ra với quân đoàn là phải hết sức khẩn trương để khoảng ngày 10 tháng 4, đơn vị đầu tiên đã đến khu vực Đồng Xoài. Bộ Tổng tham mưu đã phải gấp rút bổ sung quân trước ngày quân đoàn lên đường vì trong những tháng cuối năm 1974, đầu năm 1975, một số khá đông lực lượng của quân đoàn đã được rút đi để tăng cường theo yêu cầu khẩn trương của chiến trường lúc đó. Chúng tôi chuyển điện của anh Văn cho anh Thọ biết tin về hành trình của Quân đoàn 1 vì dọc đường vào B2, anh Thọ điện ra cho anh Ba và anh Văn yêu cầu cho Quân đoàn 1 lên đường sớm.

        Riêng cánh quân ven biển do anh Tấn chỉ huy, mặc dù phải nâng tốc độ tiến công trong hành tiến vào những ngày giữa tháng 4, sau chiến thắng Phan Rang, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương cũng như các anh ở B2 luôn điện hỏi bao giờ những đơn vị đầu tiên của đơn vị này đến Bà Rịa. Các anh chờ đợi việc áp sát tuyến phòng thủ Biên Hoà - Hố Nai, cắt đường 15 và sông Lòng Tàu, để cùng với việc giải phóng Xuân Lộc, hình thành thế bao vây Sài Gòn trên hướng đông và đông nam. Những ngày từ 16 đến 20 tháng 4 luôn có những bức điện đôn đốc cánh quân ven biển nâng tốc độ hành quân hơn nữa và những bức điện hỏi nhu cầu vật chất cần giải quyết để bảo đảm hành quân thần tốc.

        Không những Đoàn 559 (Sở chỉ huy của đồng chí Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Đoàn 559, lúc này đã vào Quy Nhơn) mà bộ tư lệnh Khu 5 cũng được chỉ thị giúp đỡ về mọi mặt, nhất là về lương thực, phương tiện vận chuyển và xăng dầu để cánh quân hướng Đông sớm tới chiến trường trọng điểm.

        Tháng Tư, toàn quân hướng về chiến trường trọng điểm mà xốc tới. Những binh đoàn từ miền Bắc, Trị - Thiên đến Tây Nguyên và Khu 5 nườm nượp lên đường. Từng binh đoàn, xuất phát từ nhiều địa bàn khác nhau và những thời điểm không giống nhau, đi trên nhiều trục đường khác nhau và bằng những phương tiện cũng không giống nhau, nhưng đều hành quân với tinh thần “thần tốc, thần tốc hơn nữa”. Có đơn vị vừa đi vừa đánh địch để mở đường, có đơn vị vượt cung, tăng trạm. Theo sát và nắm vững hành trình của các binh đoàn đang thi đua lao nhanh về phía chiến trường trọng điểm, đối với cơ quan tham mưu lúc này là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Hai trục đường vận chuyển chiến lược Đông và Tây Trường Sơn đã mở rộng, vươn dài. Lại có thêm tuyến đường 14 và đường 1. Rõ ràng so với trước, ta có thêm rất nhiều thuận lợi trong việc cơ động bộ đội từ các hướng đổ cả về hướng trọng điểm. Nhưng một khó khăn không nhỏ là xe cơ giới không đủ để đáp ứng yêu cầu, mặc dù Bộ Quốc phòng đã được phép huy động mọi phương tiện có thể huy động được ở hậu phương, đã tận thu xe địch, huy động cả xe của dân trong những vùng mới giải phóng. Ngoài lực lượng bộ đội quá lớn cần hành quan gấp, còn có hàng ngàn, hàng vạn cán bộ Đảng và chính quyền, mặt trận được cử vào cũng với tinh thần “thần tốc”, để nhanh chóng tham gia củng cố vùng mới giải phóng vừa mới mở ra quá rộng, vượt mọi dự kiến của các ngành, các cấp.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:00:38 am

        Trong các buổi giao ban vào những ngày giữa tháng Tư này, điều mà Bộ Tổng tham mưu quan tâm hàng đầu là từng chặng đường đến vị trí tập kết xung quanh chiến trường trọng điểm của từng đơn vị. Các đồng chí trực ban tác chiến luôn sẵn sàng trả lời: Vì sao Đơn vị A đi chậm? Đơn vị B đã đến đâu? Đơn vị C đến X bao giờ? v.v...

        Trong những ngày cực kỳ sôi động của chiến tranh cách mạng và dồn dập tin chiến thắng này, không chỉ trong cơ quan Tổng hành dinh mà trong từng làng bản phố phường, từng nhà, từng người ở hậu phương lớn miền Bắc, hầu như ai ai cũng theo dõi bước chân người chiến sỹ trên đường vào Nam, tiến về Sài Gòn. Cả nước ra trận và cả nước cùng hướng theo bước chân của các đoàn quân ra trận, đoàn quân chiến thắng, đoàn quân giải phóng. Nhiều chiến sỹ trước khi lên đường, đã từng hứa với gia đình, với người thân là sẽ biên thư về nhà ngay sau khi đặt chân vào thành phố Sài Gòn giải phóng. Ước mơ của người chiến sỹ rất chính đáng và cũng giản dị vậy thôi. Thế nhưng, tôi xin phép dừng một chút ở đây để nói về một chi tiết cần nói.

        Trong số hàng chục vạn bộ đội đang hối hả hành quân lao lên phía trước, lại có những người đã được dừng lại dọc đường. Vùng giải phóng đã mở ra quá rộng, mà mở đến đâu phải củng cố vững chắc đến đó. Thế là có những chiến sỹ, những cán bộ không được cùng đồng đội tiếp tục chặng đường vào Nam, tiến về Sài Gòn. Có những chiến sỹ dừng chân trên dải đất mặn ven biển miền Trung, với cồn cát và sóng biển; lại có những chiến sỹ ở lại vùng Nam, Bắc Tây Nguyên với núi cao và rừng sâu.

        Cảnh vật, khí hậu, tiếng nói... từng vùng có khác nhau, nhưng tình nghĩa quân dân đâu đâu cũng là tình cá nước. Sống trong tình thương yêu đùm bọc của đồng bào trên mảnh đất vừa giành lại từ tay quân thù, các chiến sỹ của chúng ta làm quen dần với nhiệm vụ vận động, tổ chức quấn chúng, củng cố thành quả cách mạng, một nhiệm vụ rất mới mẻ đối với người chiến sỹ trẻ. Phải quen phong tục tập quán, phải học tiếng nói của nhân dân địa phương để cùng cán bộ các ngành, cùng đồng bào xây dựng và ổn định cuộc sống mới: dựng lại trường học, bệnh xá, mở mang đường giao thông, phát triển sản xuất, củng cố các đoàn thể quần chúng, v.v... công việc thật đa dạng và phức tạp, lại phải tiến hành rất tích cực khẩn trương để nhanh chóng củng cố vững chắc vùng giải phóng thành hậu phương trực tiếp của chiến trường trọng điểm.

        Dựa vào dân, được sự giúp đỡ hết lòng của nhân dân sớm gắn bó thiết tha với cách mạng, với chế độ mới, anh “Bộ đội Cụ Hồ” đã vượt qua tất cả và đã làm được tất cả, trước hết là việc vận động nhân dân lùng quét bọn tàn quân Phun-rô. Những nhóm tàn quân này bị bọn cầm đầu lừa gạt và khống chế, chưa chịu hạ súng trở về mà vẫn lén lút phá hoại cuộc sống mới của chính quê hương, buôn làng mình vừa mới giải phóng.

        Cuộc chiến đấu truy quét bọn tàn quân Phun-rô khác hẳn với những trận đánh mặt đối mặt với quân Mỹ - Ngụy mà người chiến sỹ trẻ đã từng trải qua. Có trận chiến đấu đòi hỏi đấu trí nhiều hơn đấu súng. Vận động nhân dân, cùng nhân dân tiêu diệt, làm tan rã gọi hàng bọn Phun-rô, đối với anh em chiến sỹ quả là một nhiệm vụ đòi hỏi lòng kiên nhẫn, trí thông minh, tinh thần dũng cảm. Anh cũng hiểu rằng nhiệm vụ này không thể hoàn thành một sớm, một chiều, và anh đã tự nguyện gắn mình với nhiệm vụ ấy với bản chất cao quý của người chiến sỹ cách mạng mà Bác Hồ đã dạy “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

        Sau mỗi chiến công, dù không vang dội nhưng lại rất quan trọng đối với việc bảo vệ và củng cố vùng mới giải phóng, kịp thời huy động sức người, sức của cho trận quyết chiến cuối cùng, anh lại thấy như chính mình đang cùng những bước chân rầm rập của những binh đoàn hùng mạnh tiến nhanh về phía nam, tiến về Sài Gòn.

        Cùng với việc theo dõi hành trình của các binh đoàn đang dồn dập tiến về Nam, một vấn đề khác mà Bộ Tổng tham mưu quan tâm trong những ngày giữa tháng Tư này là vấn đề đạn cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn, nhất là đạn pháo xe tăng.

        Ngày 22, từ chiến trường miền Đông Nam Bộ, anh Dũng điện ra cho biết: Mấy ngày nay, đạn ở Đoàn 559 bắt đầu đến nơi. Anh cho kiểm tra lại thì thấy đạn xe tăng quá ít, mới chỉ được một cơ số, còn các loại đạn pháo khác tuy không nhiều nhưng đã có khoảng 3 cơ số, tạm đủ. Anh yêu cầu dùng máy bay đưa gấp vào Buôn Ma Thuột chừng một vạn viên đạn 100 ly cho xe tăng. Hậu cần Miền sẽ tổ chức đón nhận đưa tiếp cho B2.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:01:18 am

        Hôm sau, trong điện báo cáo Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương về dự kiến kế hoạch nổ súng trên các hướng, anh Dũng lại cho biết đang tập trung giải quyết khó khăn về đạn pháo, đạn cho xe tăng và xe cơ động cho các mũi đột kích để kịp thời gian mở màn chiến dịch.

        Thực ra ngoài này chúng tôi chưa nắm được thật chắc hành trình của từng đoàn xe chở từng loại hàng đưa vào chiến trường, nhất là xe đang phải đi với yêu cầu nhanh nhất, đến sớm nhất.

        Ngày 19 tháng 4, Bộ Tổng tham mưu điện vào chiến trường báo đề các anh trong đó biết: đã cho 240 xe của Đoàn 559 chở 1,3 vạn viên đạn pháo 130 ly xuất phát ngày 17 tháng 4, cùng với 40 xe chở phụ tùng xe tăng và 150 xe khác của Tổng cục Hậu cần. Đạn cối 160 ly đã được huy động từ tất cả các kho ở miền Bắc để đưa vào và cũng đang trên đường đi.

        Trong điện đó, chúng tôi cũng đề nghị anh Dũng cho biết nhu cầu cụ thể theo thứ tự ưu tiên cần đưa vào, vì hiện nay phương tiện vận chuyển rất thiếu, trong khi khối lượng bộ đội hành quân và binh khí kỹ thuật rất lớn. Nếu thứ tự ưu tiên không xác định cụ thể để kịp thời điều chỉnh phương tiện vận chuyển, sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch tác chiến.

        Ngày 22 tháng 4, sau khi nhận được điện của anh Dũng nói về đạn cho xe tăng, Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Hậu cần cho kiểm tra lại và trả lời ngay để các anh yên tâm: 8.300 viên được chở bằng ô tô, 2.300 viên sẽ tới Đồng Xoài ngày 26 tháng 4, số 6.000 viên còn lại tới ngày 28 tháng 4; 2.944 viên đưa bằng đường biển đến Quy Nhơn và Nha Trang trong hai ngày 23 và 24. Đoàn 559 đã chỉ thị chở tiếp vào B2. Dự kiến sẽ có thêm 2 vạn viên đến Nha Trang vào ngày 1 tháng 5. Các đoàn tàu và xe chở đạn cho xe tăng đã nhận chỉ thị đi gấp vào chiến trường càng sớm càng tốt.

        Hai cơ quan tham mưu và hậu cần đã cùng tính toán lại, thấy dùng máy bay chở được rất ít, trên thực tế cũng không nhanh hơn. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cho máy bay chở trước một số đạn xe tăng vào Buôn Ma Thuột, vì cơ quan hậu cần Miền đã cho xe ra đón.

        Riêng ở hướng đông, được biết anh Tấn còn thiếu cả đạn 130 ly, đạn 100 ly cho xe tăng, đạn Đ74 và đạn 85 ly, mỗi loại chừng 4.000 viên. Bộ Tổng tham mưu báo cho anh Tấn biết: Số đạn đó ngày 24 tháng 4 đã có ở Quy Nhơn và Nha Trang. Anh Đồng Sĩ Nguyên đã được chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh cho chuyển ngay vào giao cho cánh quân hướng Đông.

        Trên hướng tiến công của cánh quân này, Thành Tuy Hạ là một kho đạn lớn của địch. Chúng để ở đó nhiều đạn pháo 105 và 155 ly. Đặc công và pháo binh đã nhận được chỉ thị: Chỉ phá những kho thật cần thiết theo yêu cầu tác chiến, để khi đánh chiếm, quân ta có thể tận dụng đạn chiến lợi phẩm sử dụng ngay trong quá trình chiến đấu. Bộ Tổng tham mưu đã thông báo tình hình trên đây để anh Tấn nghiên cứu khi tổ chức trận địa pháo ở Nhơn Trạch khống chế sân bay Tân Sơn Nhất, cũng như trong quá trình phát triển, bắn vào các mục tiêu đã định trong nội thành.

        Càng về cuối tháng Tư, việc theo dõi và đôn đốc các chuyến hàng vào mặt trận Sài gòn càng sát sao, khẩn trương. Anh Đồng sĩ Nguyên, anh Phùng Thế Tài luôn luôn kiểm tra và nhắc nhở để các trạm điều chỉnh giao thông trên đường vận chuyển chiến lược nắm được nhu cầu của chiến trường. Hàng vận chuyển được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên: Đạn lớn 130, 100, Đ74, ĐKZ75, ĐKZ82, đạn cối 120, đạn pháo 85, 122, xăng dầu - trước hết là dầu mỡ phụ.

        Số vũ khí ở Tây Nguyên (kể cả số chiến lợi phẩm) đã được đưa vào hơn 1,5 vạn tấn. Các đồng chí lãnh đạo các quân khu từ Trị - Thiên đến Khu 5, Khu 6 đều quan tâm đôn đốc việc đưa gấp đạn lớn vào chiến trường trọng điểm. Các phương tiện vận chuyển có thể huy động được đều tập trung để chuyển nhanh số đạn ở Cam Lộ (Trị - Thiên) vào. Các trục đường chính, đường 1, 19, 14 và đường biển đều được tiện dụng để nhanh chóng đưa hàng vào Quy Nhơn, Nha Trang.

        Tất cả guồng máy vận tải chuyển động liên tiếp, dồn dập, từ Bắc đến Nam, trên các trục đường, đi về một hướng: chiến trường trọng điểm Sài Gòn.

        Lọt thỏm trong đội hình khổng lồ của hàng vạn chiếc xe rải ra trên hàng ngàn ki-lô-mét là hai chiếc xe chở bản đồ, xuất phát từ Hà Nội ngày 10 tháng 4. Một sự kiện từ hồi Điện Biên Phủ lại tái diễn: Bản đồ “hành quân” cấp tốc ra chiến trường cho kịp ngày mở màn chiến dịch. Bộ Tổng tham mưu điện báo để cơ quan tham mưu mặt trận theo dõi hành trình của hai chiếc xe đặc biệt này. Thực ra ngày 14 tháng 4, khi điện cho anh Lê Ngọc Hiền, chúng tôi cũng chưa nắm vững hai chiếc xe đó đã đi đến đâu. Khi ra đi, chỉ dặn anh em đến đâu, nhờ đài tại chỗ báo vào để các anh trong đó nắm được. Ngày 20 tháng 4, xe chở bản đồ phải đến Đồng Xoài.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:02:51 am

        Một vấn đề quan trọng khác mà Bộ Tổng tham mưu đang tập trung nghiên cứu để đề đạt với Quân uỷ Trung ương là cách đánh trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

        Ngày 12 tháng 4, sau khi được bổ sung một số cán bộ, Tổ trung tâm ( Tổ được thành lập từ tháng 3 năm 1974 để giúp Quân uỷ Trung ương nghiên cứu kế hoạch tác chiến chiến lược. Nay bổ sung một số cán bộ thuộc các cục Tác chiến Tình báo, Quân lực, Tham mưu Hậu cần, Viện Khoa học quân sự, một số binh chủng, quân chủng... để giúp nghiên cứu và đề đạt về cách đánh trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Tổ do anh Cao Văn Khánh, Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách) họp để triển khai công tác. Hai anh Nguyễn Văn Xuyến, Phó Tư lệnh B2, Trần Hải Phụng, Tư lệnh Mặt trận Sài Gòn trước đây, hiện đang nghỉ ở ngoài Bắc đã góp phần tích cực vào việc nghiên cứu của tổ. Là những người hoạt động lâu trong đó, các anh đã giúp nhiều ý kiến cụ thể, xác đáng.

        Lúc này trận Xuân Lộc đang tiếp diễn. Nhiệm vụ đề ra cho tổ là căn cứ tình hình cụ thể về địch, về ta, nghiên cứu và đề đạt phương án tác chiến theo hai tình huống: 1) Chiến dịch giải phóng Sài Gòn diễn ra nhanh. 2) Chiến dịch phải kéo dài sang cả mùa mưa.

        Ngày 13 tháng 4, tổ nghe báo cáo về tình hình địch ở Sài gòn và vùng ven, do anh Phụng trình bày. Anh biết khá tường tận về cái sào huyệt cuối cùng này của Ngụy. Bản báo cáo này giúp cho tổ và cho cả chúng tôi những hiểu biết cụ thể về địch, từ lực lượng, cách bố phòng đến cấu trúc của những công sự quan trọng sẽ là mục tiêu tiến công chủ yếu của ta trên từng hướng.

        Tiếp đó Tổ trung tâm trao đổi cụ thể kế hoạch tác chiến và thảo luận sôi nổi xung quanh mấy ý kiến đã được gợi ra, về các vấn đề:

        - Quyết tâm nhanh chóng hình thành thế bao vây, chia cắt địch cả về chiến lược và chiến dịch.

        - Khả năng tiêu diệt địch ở vòng ngoài, không cho chúng co cụm vào nội đô.

        - Trận then chốt, tiêu diệt lực lượng cơ động của địch.

        - Khống chế sông Lòng Tàu và kênh Chợ Gạo, các sân bay Biên Hoà, Tân Sơn Nhất.

        - Sử dụng máy bay địch đánh các mục tiêu trong đất liền và chặn đường rút chạy của chúng hướng ra biển, ra đảo.

        Ngày 16 tháng 4, sau khi tổng hợp ý kiến thảo luận, anh Khánh báo cáo với Thường trực Quân uỷ Trung ương một số ý kiến được đặt ra để anh em nghiên cứu tiếp:

        - Khả năng tan rã của địch; Trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng này có diễn ra như từ Tây Nguyên đến Đà Nắng không?

        - Biện pháp đối phó của địch khi phát hiện lực lượng ta xung quanh Sài gòn, nhất là trên hướng đông? Và khả năng hoạt động cảu không quân địch khi Biên Hoà và Tân Sơn Nhất bị khống chế mạnh?

        - Chớp thời cơ thế nào khi Mỹ bỏ cuộc hoặc thay Thiệu?

        - Cách giải quyết tuyến phòng thủ vòng ngoài, áp sát nội đô, dồn địch vào thế rã nhanh, hàng nhanh?

        - Phương án tác chiến trong mùa mưa, nếu không dứt điểm được nhanh?

        Thêm nhiều tin tức giúp cho việc nghiên cứu và rút ra kết luận thuận lợi hơn: lời tuyên bố của Pho cho thấy Mỹ sẽ phải bỏ cuộc; lực lượng dự bị chiến lược của Thiệu đã tung ra hết. Không quân địch còn 3 sư đoàn, nhưng khả năng hoạt động sẽ rất hạn chế nếu các sân bay Biên Hoà và Tân Sơn Nhất bị khống chế mạnh, v.v... Ngày 17 tháng 4, tôi cùng anh Khánh dự thảo luận luận với các anh em. Đây là buổi thảo luận cuối cùng của tổ. Tấm bản đồ Nam Bộ treo trên tường đã được ghi những tin tức mới nhất. Nhìn trên bản đồ, anh em trong tổ nhanh chóng nhất trí đi đến kết luận về thế bố trí của địch trên từng hướng. Hướng đông và tây – tây bắc là những hướng địch mạnh. Hướng tây và tây nam yếu hơn. Vòng ngoài địch mạnh, trong nội đô yếu hơn. Vùng 4 địch sơ hở, vì chủ lực đã bị điều về giữ Cần Thơ và rải ra giữ các thị xã lớn và đường 4; vùng nông thôn chỉ còn bảo an, đây là thời cơ quần chúng bung ra, tự lực giải phóng bằng kết hợp tiến công và nổi dậy.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:04:08 am

        Cuối buổi thảo luận, chúng tôi đi đến nhất trí rút ra mấy kết luận về kết quả nghiên cứu của tổ, để báo cáo và đề đạt lên Thường trực Quân uỷ Trung ương:

        1. Về thế bố trí của địch: Đặc điểm nổi lên trong cách phòng thủ của quân Ngụy là ngoài mạnh, trong rỗng. Chúng dồn cả chủ lực ra vành ngoài, hòng đối phó với các binh đoàn chủ lực của ta. Song, bên ngoài, địch đã bị áp sát và bao vây trên các hướng. Bên trong, cách phòng thủ của địch là gắn ven đô với nội đô. Nhưng nội đô đã nằm trong tầm pháo của ta, ta lại đã có lực lượng ngầm sẵn sàng hành động. Địch ở vào thế bị ta có thể phối hợp trong ngoài cùng đánh. Nếu bên ngoài, chủ lực địch bị diệt và tan ra, bên trong bị quần chúng nổi dậy ở cơ sở thì địch sẽ hoảng loạn như đã từng diễn ra ở Đà Năng. Mỹ sẽ rút chạy, bỏ rơi Ngụy. Ta có khả năng nhanh chóng làm chủ thành phố.

        2. Về xác định hướng tiến công: Hướng đông bắc là hướng chủ yếu; hướng bắc (Bình Dương) và hướng tây là các hướng rất quan trọng; hướng đông nam là hướng thọc sâu bất ngờ; hướng nam là hướng rất hiểm yếu.

        3. Về cách đánh: Kết hợp tiến công và nổi dậy, đánh từ ngoài bằng lực lượng đột kích mạnh, phối hợp với lực lượng bên trong; kết hợp nhiều mũi, có trọng điểm; trước hết phải bao vây, chia cắt, tiêu diệt và làm tan rã các cụm phòng thủ bên ngoài của địch, không cho chúng co cụm về ven đô và nội đô. Nếu tuyến ngoài đánh không tốt, tác chiến ở ven đô và nội đô sẽ khó khăn, kéo dài.

        4. Một số vấn đề cụ thể cần giải quyết để thực hiện cách đánh trên đây:

        - Đôn đốc các cánh quân vào vị trí tập kết (cố gắng trong khoảng từ ngày 20 đến 23 tháng 4 đến đủ), để kịp mở màn chiến dịch nhất là ở hướng bắc, tây bắc và tây nam.

        - Cánh quân hướng đông đánh chiếm Bà Rịa phát triển xuống Vũng Tàu, chiếm Long Thành phát triển xuống Nhơn Trạch, đặt trận địa pháo ở đây bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất.

        - Quân đoàn 4 sẵn sàng đánh địch rút khỏi Xuân Lộc, tiêu diệt và làm tan rã Sư đoàn 18 Ngụy.

        - Đoàn 232 tiếp tục cắt đường 4 trên các đoạn trọng điểm theo kế hoạch.

        - Các hướng nhanh chóng áp sát các mục tiêu, dùng pháo bắn vào sân bay Biên Hoà, Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu Ngụy; hướng Khu 9 phối hợp khống chế sân bay Cần thơ, không cho địch dùng để chi viện cho Sài Gòn.

        - Chuẩn bị chu đáo, hình thành thế bao vây chia cắt, tạo điều kiện thuận lợi tiêu diệt và làm tan rã chủ lực địch ở tuyến ngoài và tuyến trung gian, làm cho địch không kịp co cụm. Trong vùng trung tuyến (Củ Chi, Trảng Bàng, Bến Cát, Lái Thiêu) khi bộ đội chủ lực tiến công, kịp thời phát động quần chúng nổi dậy không quá sớm.

        - Trong quá trình tiến công của bộ đội chủ lực, lực lượng đặc công phải chiếm cầu và giữ cầu, tạo điều kiện cho các hướng thọc nhanh vào nội đô. Đặc biệt chú trọng đánh chiếm và chốt giữ cầu Mới, cầu Ghềnh, cầu xa lộ sông Đồng Nai, cầu Rạch Chiếc, cầu xa lộ sông Sài Gòn, cầu Bình Phước, Bình Lợi, Bình Triệu ở hướng đông bắc và bắc, cầu Bông, cầu Xáng trên hướng bắc và tây bắc.

        - Các mũi đột kích tên các hướng có bộ binh cơ giới, tận dụng sơ hở của đich, nhanh chóng thọc sâu vào nội đô. Các đơn vị vũ trang ngầm bên trong dùng các tổ nhỏ đẩy mạnh hoạt động phá rối phía sau địch, kết hợp với hoạt động binh vận của các gia đình binh sỹ, gây tâm lý hoang mang, làm tan rã lớn hàng ngũ địch.

        5. Nếu chiến dịch kéo dài sang mùa mưa, ta vẫn duy trì đà tiếp tục tiến công; cần chuẩn bị tốt mấy mặt công tác sau đây:

        - Đẩy mạnh công tác chính trị tư tưởng, động viên giữ vững quyết tâm chiến đấu liên tục.

        - Chuẩn bị lực lượng bổ sung, thay thế trong đó chú trọng phương tiện tác chiến mùa mưa trong điều kiện địa hình vùng Sài Gòn và miền Tây Nam Bộ.

        - Bảo vệ các tuyến đường vận chuyển chiến lược, chiến dịch, phòng chống địch phá hoại và khắc phục thời tiết mùa mưa.

        - Tăng cường lực lượng đẩy mạnh tiến công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long, phối hợp thường xuyên và có hiệu quả với hướng chính Sài Gòn.

        - Nghiên cứu những vấn đề cụ thể về cách đánh trong mùa mưa, về quy mô lực lượng trên từng hướng v.v...

        Sau khi anh em bổ sung, chỉnh lý, đến ngày 18 tháng 4, Bộ Tổng tham mưu đã xây dựng xong bản đề án để bảo cáo đồng chí Tổng tư lệnh. Được anh Văn đồng ý, anh Khánh cử người vào trao đổi với cơ quan tham mưu tác chiến của mặt trận. Tôi nhắc anh em: Đây chỉ là những ý kiến bước đầu để các anh trong đó tham khảo vận dụng; có thể điều này phù hợp, điều khác không phù hợp; có gì cần thiết, cơ quan tham mưu trong đó đề xuất thêm để cùng nhau nghiên cứu tiếp.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:06:14 am

        Ngoài việc nghiên cứu thêm về khả năng và phương thức nổi dậy, chúng tôi lưu ý anh em trong tổ theo dõi chặt chẽ các biện pháp đối phó của ngụy và động tĩnh của bọn Mỹ để kịp thời thông báo cho chiến trường. Chiến tranh là một hiện tượng quân sự - chính trị - xã hội cực kỳ phức tạp, không ngừng biến động và luôn luôn đứng trước nhiều khả năng, từ lúc khởi đầu đến khi kết thúc.

        Cơ quan tham mưu chiến lược bao giờ cũng phải tính toán mọi mặt, dự phòng mọi tình huống kể cả tình huống thuận lợi nhất cũng như tình huống khó khăn nhất, để bất luận trong tỉnh hình nào cũng luôn luôn chủ động.

        Sau khi ta chuyển hướng về cách đánh ở Xuân Lộc, Bộ Tổng tham mưu nhận được tin địch điều chỉnh bố trí đội hình, co cụm để đối phó với ta. Chúng cố giữ đường 4 của ta tiến về Bà Rịa – Vũng Tàu thì chúng sẽ phải tăng thêm lực lượng để bảo vệ đường rút quân của chúng trên hướng này. Vì vậy cánh Đông càng cần đẩy nhanh tốc độ hơn nữa.

        Mới hai lần ta dùng pháo 130 ly đánh vào sân bay Biên Hoà đã khiến cho địch rất lúng túng. Rõ ràng, nếu sân bay Biên Hoà, Tân Sơn Nhất và Cần thơ đều bị khống chế mạnh và tê liệt hoàn toàn thì địch sẽ lâm vào tình thế rất khó khăn, tình hình sẽ diễn biến rất nhanh, tinh thần và khả năng chiến đấu của địch càng giảm sút nhanh hơn nữa.

        Tin tức nhận được cho thấy khả năng Mỹ và các sứ quán nước ngoài chuẩn bị chạy khỏi Sài Gòn vào khoảng từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 4 năm 1975. Chúng tôi dự kiến lúc đó Sài Gòn sẽ rất lộn xộn, thậm chí hỗn loạn. song cần theo dõi ý đồ của Mỹ, Pho và Kit-xinh-giơ có khả năng mượn cớ di tản để đề nghị quốc hội Mỹ viện trợ quân sự cho ngụy núp dưới danh nghĩa “viện trợ nhân đạo” không?

        Nhưng tình cảnh của Ngụy đã rất nguy kịch. Ngay ở Sài Gòn, lực lượng cơ động của chúng không còn đáng kể, chỉ còn 2 lữ dù xộc xệch. Nhiều máy bay đã phải đưa từ Biên Hoà về Tân Sơn Nhất và Cần Thơ. Sự điều động binh lực của ngụy rất lúng túng. Trong khi đó, từ ngày 15, Mỹ rục rịch di tản khỏi Phnôm Pênh sau khi quyết định bỏ rơi bọn ngụy Lon Non, Cam-pu-chia.

        Thực tế đó cho phép suy nghĩ đến những biến động chính trị có thể xảy ra ngay trong trung tâm Sài Gòn. Thực tế đó cũng đòi hỏi ta phải hoàn chỉnh công tác chuẩn bị với nhịp độ khẩn trương hơn, sẵn sàng hành động ngay khi thời cơ mới xuất hiện.

        Ngày 20 tháng 4, tin người Mỹ bắt đầu di tản khỏi Sài Gòn đã được xác minh. Đêm đó, địch rút chạy khỏi Xuân Lộc. Hôm sau, ngày 21 tháng 4, Thiệu từ chức; dân Biên Hoà bắt đầu sơ tán.

        Thêm những bức điện đôn đốc các hướng đẩy nhanh hơn nữ tốc độ tiến quân, nhất là hướng đông. Chúng tôi chờ đợi tin cánh quân hướng Đông đánh chiếm Bà Rịa – Vũng Tàu, cắt đường rút của địch, dùng pháo khống chế sông Lòng Tàu và chuẩn bị đánh Biên Hoà theo kế hoạch chung. Sau cuộc hội ý của Bộ Chính trị sáng ngày 22 tháng 4, một bức điện của Bộ Chính trị do anh Ba ký được chuyển gấp vào cho các anh trong chiến trường. Bức điện nhắc lại việc địch bỏ Xuân Lộc, việc Thiệu từ chức, rồi khẳng định: Tình hình nói trên đang gây rối loạn lớn trong nội bộ ngụy. Phong trào nhân dân có thể có bước phát triển mới: Mỹ - Ngụy đang tìm cách trì hoãn cuộc tiến công của ta vào Sài gòn, lập ra chính phủ mới và đưa ra đề nghị với ta (qua Chính phủ Lào) về ngừng bắn với hy vọng đi đến một giải pháp chính trị hòng cứu vớt tình thế nguy khốn, tránh bị thất bại hoàn toàn. Thời cơ quân sự và chính trị để mở màn cuộc tổng tiến công vào Sài gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày, từng giờ kịp thời phát động tiến công địch trên các hướng, không để chậm. Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn.

        Bộ Chính trị nhấn mạnh:

        “Các anh ra chỉ thị ngay cho các hướng hành động kịp thời, chú trọng kết hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng. Sự hiệp đồng giữa các hướng cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động, v.v..”.

        Cùng ngày 22 tháng 4, tiếp theo điện của Bộ Chính trị là điện của Quân uỷ Trung ương, nói rõ thêm mấy điểm đã bàn trong Thường trực Quân uỷ và trong cuộc họp vừa qua của Bộ Chính trị.

        Sau khi nêu lên những phán đoán về âm mưu địch phòng thủ trên hai địa bàn chiến lược còn lại là Sài Gòn – Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long, bức điện khẳng định thời cơ chiến lược đã đến, phải kịp thời thực hiện chủ trương tổng tiến công và nổi dậy, tranh thủ từng ngày, từng giờ giành thắng lợi liên tiếp.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:08:17 am

        Quân uỷ Trung ương cũng nêu một số ý kiến về đặc điểm tình hình địch, ta, nhiệm vụ và yêu cầu hành động của từng hướng. Tinh thần chung là hết sức phát huy tính chủ động, tranh thủ thời gian tiêu diệt địch, áp sát mục tiêu và sẵn sàng phát triển tiến công vào nội đô trên hướng sơ hở nhất của địch, có lợi nhất cho ta. Các lực lượng đặc công và biệt động của ta ở nội đô phải kịp thời tiêu diệt các mục tiêu quan trọng và hiểm yếu đã được xác định. Phải nắm chắc tình hình chính trị và quân sự, kịp thời chỉ đạo quần chúng nổi dậy đúng lúc. Riêng ở hướng tây nam và đường 4, cần có kế hoạch chỉ đạo cụ thể giúp các đơn vị khắc phục khó khăn thực hiện cho được mấy nhiệm vụ cụ thể:

        - Các đơn vị có nhiệm vụ tiến công vào nội đô phải nắm chắc tình hình, tích cực tạo mọi điều kiện, sẵn sàng tiến công vào nội đô.

        - Tập trung lực lượng, chọn một đoạn tương đối thuận lợi trên đường từ phía Tân An đến Cai Lậy để bộ đội ta tiêu diệt một số vị trí của đich, thực hiện cho được chia cắt chiến lược, khống chế vững chắc, buộc địch phải đối phó; đồng thời sẵn sàng ngăn chặn, tiêu diệt địch khi chúng rút quân từ Sài Gòn về Cần Thơ.

        Bộ Tổng tham mưu tiếp tục theo dõi và nghiên cứu các biện pháp đối phó của địch để đề đạt ý kiến bổ sung về cách đánh.

        Lời khai của viên Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị bắt ngày 16 tháng 4 ở Phan Rang, đáng cho chúng ta chú ý. Cục Tình báo đã khai thác được những tin tức khá quan trọng. Chúng tôi điện những nội dung chủ yếu lời khai của Nguyễn Vĩnh Nghi có liên quan đến cách đánh sắp tới của ta, đồng thời cho người mang gấp băng ghi âm lời khai vào chiến trường để các anh trong đó tham khảo.

        Nguyễn Vĩnh Nghi không rõ toàn bộ lực lượng trên các hướng của ta mà chỉ biết lực lượng B2. Theo y thì Bộ Tổng tham mưu Ngụy phán đoán  ta có thể đánh vào Sài Gòn trên hai hướng: Theo đường 1 từ phía bắc xuống, từ phía đông sang và theo đường 13 từ phía bắc, đông bắc xuống.

        Địch giữ Sài Gòn bằng cách phòng thủ từ xa, theo vòng cung từ Gò Dầu Hạ, Lai Khê, Biên Hoà, Xuân Lộc. Mỗi hướng một sư đoàn. Trường hợp Sài Gòn bị tiến công địch sẽ rút 3 sư đoàn của Vùng 4 chiến thuật về Cần Thơ: 1 sư đoàn lấy việc giữ sân bay làm trọng điểm, trong vòng bán kính 12 ki-lô-mét, 1 sư đoàn án ngữ dọc đường 4 từ Vĩnh Long đến Cai Lậy; 1 sư đoàn từ Cai Lậy đến Tân An. Địch cho rằng có giữ được đoạn đường này mới bảo đảm giữ được Sài Gòn và ngược lại, có giữ được Sài Gòn mới giữ được Vùng 4.

        Theo Nguyễn Vĩnh Nghi thì chưa bao giờ địch có ý định bỏ Sài Gòn rút về Vùng 4, vì vùng này chưa được chuẩn bị cơ sở tiếp tế và hậu cần.

        Nghi khai rằng trong nội đô Sài Gòn, lực lượng chủ yếu của địch là cảnh sát và phòng vệ dân sự. Trừ các trọng điểm, trong thành phố không có tổ chức phòng thủ. Hắn cho rằng ta không nên trực tiếp đánh vào Sài Gòn mà chỉ cần chiếm các sân bay và tiêu diệt các lực lượng phòng thủ vòng ngoài thì địch trong thành phố sẽ rã. Nếu có đánh vào trong thì chủ yếu là đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu và quân dù ở trại Hoàng Hoa Thám.

        Hướng hiểm yếu nhất, theo Nguyễn Vĩnh Nghi, là tiến công từ phía Gò Dầu Hạ - Trảng Bàng. Trên hướng đông, địch có khả năng phá các cầu quan trọng để ngăn chặn ta.

        Về kho tàng, Nghi cho rằng các kho chủ yếu là Nhà Bè và Cát Lái. Cát Lái là kho đạn chính của địch hiện nay. Long Bình chỉ là kho tiếp liệu, có đánh cũng ít tác dụng.

        Hiện nay địch chủ yếu vào lực lượng không quân, vì lực lượng phòng thủ bị căng mỏng, lực lượng dự bị còn ít. Do đó, sự tồn tại của 3 sân bay Biên Hoà, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ là hết sức quan trọng đối với chúng, trong đó sân bay Biên Hoà đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Đay là nơi sửa chữa các loại máy bay F 5 và A3. Các sân bay Tân Sơn Nhất và Cần Thơ không có thiết bị kỹ thuật để sửa chữ hai loại máy bay này. Vừa qua, địch phải sơ tán một số, song về cơ bản địch vẫn phải để F5 và A37 trong các hầm ở sân bay Biên Hoà.

        Nguyễn Vĩnh Nghi đã nói lên những hiểu biết và suy nghĩ của y. Nhưng do y không thể nào hiểu nổi bản chất và nghệ thuật quân sự của quân đội cách mạng chúng ta, cho nên rõ ràng những ý kiến của y không thể phù hợp với cách đánh của ta.

        Mấy ngày cuối tháng Tư, cơ quan tham mưu đang tổng hợp tình hinh, chuẩn bị cho cuộc họp ngày 26 của Bộ Chính trị thì nhận được điện đề ngày 25 tháng 4 của anh Thọ gửi anh Ba. Bức điện dài 10 trang đánh máy mang đầy đủ tình hình mọi mặt của chiến trường B2 trong cả mấy tuần qua. Bức điện cho chúng tôi hiểu rõ hơn, đúng tình hình cả về ta và về địch từ những ngày đầu đánh Xuân Lộc đến lúc bấy giờ, trước ngày mở màn trận quyết chiến cuối cùng.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:09:41 am

        Anh Thọ nhất trí với nhận định của Bộ Chính trị trong cuộc họp ngày 22 tháng 4 nói rằng thời cơ đã chín muồi, ta phải tranh thủ từng giờ để mở cuộc tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch. Để lâu, không những tình hình chính trị ngoại giao càng thêm phức tạp mà những trận mưa đầu mùa đã sắp đến. Nhưng anh cho biết tình hình tại chỗ có những khó khăn cụ thể, khiến ta có muốn làm ngay cũng không thể được.

        Trước hết là tình hình hành quân tập kết của các binh đoàn: đến khoảng 24 tháng 4 hầu hết 10 sư đoàn đưa vào chiến trường mới vừa đến nơi, đang ổn định tổ chức, nơi ăn ở và nghiên cứu chiến trường, một chiến trường (nhất là nội đô) chưa quen thuộc với nhiều cán bộ chỉ huy. Đơn vị nào cũng thấy rất thiếu thời gian.

        Các binh đoàn cơ động chiến lược, với gần 10 sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng kỹ thuật, đã từ miền Bắc vào miền Trung chạy đua với thời gian, hành quân “thần tốc” vào chiến trường. Cánh quân hướng Đông đã vượt qua mọi khó khăn, đánh địch mà đi, mở đường mà tiến và đã cùng các binh đoàn trên các hướng khác kịp thời vào vị trí tập kết đúng thời gian quy định, hình thành những quả đấm với sức mạnh áp đảo từng hướng trước ngày mở màn chiến dịch.

        Hậu cần chiến lược và hậu cần Miền, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của anh Đinh Đức Thiện và anh Bùi Phùng, đã sắp xếp tổ chức, điều chỉnh lực lượng, hình thành 5 đoàn đảm nhiệm phục vụ chiến đấu trên 5 hướng. Các tuyến đường vận chuyển chiến dịch với chiều dài gần 1.800 ki-lô-mét đã được củng cố và mở rộng, hướng về vị trí tập kết của các cánh quân. Mọi phương tiện vận tải đã được huy động, cùng với trên 6,3 vạn dân công hoả tuyến trực tiếp vận chuyển vật chất hậu cần và phục vụ việc cơ động lực lượng chiến đấu. Đến ngày quy định (ngày 25 tháng 4 năm 1975) mọi công tác chuẩn bị bảo đảm vật chất kỹ thuật cho chiến dịch đã hoàn thành. Với 10 vạn tấn hàng các loại mới đưa từ hậu phương lớn vào, và trên 6 vạn tấn dự trữ từ trước, khối lượng vật chất chất chuẩn bị đã vượt yêu cầu của kế hoạch chiến dịch, kể cả một phần chuẩn bị cho trường hợp kéo dài sang mùa mưa.

        Thế là đến lúc này, sáng ngày 26 tháng 4, mọi công tác chuẩn bị trên chiến trường trọng điểm đã hoàn thành. Cánh quân hướng Đông được bắt đầu nổ súng trước. Các binh đoàn trên tất cả các hướng đều đã sẵn sàng bước vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, của cả  30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, với sức mạnh lớn nhất và khí thế hào hùng nhất.

        Về hậu cần, vì số đơn vị tăng vọt, chiến trường lại xa, đường dài, phương tiện vận chuyển thiếu, nên dù đã cố gắng rất lớn, hậu cần của Trung ương cũng như của chiến trường vẫn đứng trước nhiều khó khăn, nhất là về đạn dược.

        Mặc dù đã cùng nhau xác định không được cầu toàn, vừa đánh vừa bổ sung, nhưng cũng phải bảo đảm những điều kiện tối thiểu để mở màn chiến dịch, đánh thắng giòn giã.

        Hiện nay địch chưa phán đoán được cách đánh của ta, ta sẽ dùng lối vây ép, tiêu diệt chúng ở vòng ngoài, lấn dần rồi mới đột kích hay dùng lối đánh thẳng ngay vào bên trong?

        Cách bố trí hiện nay của địch là nhằm ngăn chặn ta từ xa, nhất là ở hướng bắc và tây bắc. Địch đã có kế hoạch phá cầu nếu chúng thấy không giữ nổi. Môt trong những nỗi lo ngại nhất của bộ đội ta bây giờ là nếu địch phá được cầu thì trở ngại lớn cho việc tiến quân của các binh chủng kỹ thuật. Ta đã có kế hoạch đánh chiếm cầu, giữ cầu và có cả kế hoạch làm cầu khác hoặc đánh trong điều kiện không có xe tăng và pháo binh vì không vượt được sông.

        Anh Lê Đức Thọ cũng nói về kế hoạch kết hợp tiến công và nổi dậy và đã chuẩn bị những gì để thực hiện được sự kết hợp đó. Các anh đã kiểm tra và góp ý vào kế hoạch của các khu và tỉnh. Anh Võ Văn Kiệt đã xuống vùng đồng bằng để đôn đốc việc này. Các anh trong đó cũng tin rằng khi ta tiến công vào trọng điểm Sài Gòn, địch bị thất bại thì lực lượng của chúng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ tan rã và các địa phương sẽ có điều kiện nổi dậy. Ở mặt trận trọng điểm Sài gòn, các anh trong đó dự kiến có thể địch co cụm về hướng bắc và tây bắc, về sát Sài Gòn hơn nữa và đã thảo luận với các quân đoàn đánh địch như thế nào khi chúng co cụm.

        Bức điện của anh Thọ còn cho biết vì sao vừa qua bộ đội Miền không thực hiện được tốt chủ trương của Trung ương Cục là tranh thủ thời cơ thuận lợi cuối tháng 3, không đợi chủ lực ở ngoài vào, chủ động mở ra ba hướng hoạt động ở Xuân Lộc, đường 4 và ở hướng tây nam sát Sài Gòn. Nguyên nhân hoặc là do tổ chức đánh và cách đánh chưa tốt, hoặc do lực lượng không đủ, hậu cần khó khăn vì quá xa, v.v...

        Trở lại tình hình chuẩn bị diễn ra hết sức khẩn trương cho chiến trường trọng điểm Sài Gòn, điện của anh Thọ khẳng định:

        “Các anh yên tâm, chúng tôi hết sức tranh thủ từng ngày, từng giờ và chỉ trong vài hôm nữa, một số nhược điểm trên cơ bản được khắc phục, thì bắt đầu tiến hành (mở màn chiến dịch) ngay như đã định”.

        Bức điện đã được đọc trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 26 tháng 4. Hội nghị nhất trí với nhận định và chủ trương của các đồng chí lãnh đạo ở chiến trường. Phân tích tình hình chính trị hiện nay  ở Sài Gòn, Bộ Chính trị dự kiến Mỹ có thể đưa Dương Văn Minh lên, nên đã quyết định ra lời tuyên bố của Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam để giành chủ động về chính trị. Sau cuộc họp, Bộ Chính trị điện ngay vào chiến trường, nhấn mạnh: “Bộ Chính trị nhận thấy chúng ta cần hành động hết sức mạnh bạo, hết sức khẩn trương và kịp thời, nhất là trong tình hình hiện nay”.

        Dựa vào tin tức mới nhất nhận được sau bức điện của anh Thọ, Bộ Tổng tham mưu soát xét lại toàn bộ công tác chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Chỉ trong một thời gian ngắn, cả nước đã dốc sức chuẩn bị cho chiến trường trọng điểm với tinh thần “thần tốc, thần tốc hơn nữa”.

        Trên chiến trường, trong tác chiến tạo thế cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn, quân ta đã đánh thiệt hại nặng một bộ phận lực lượng chủ chốt địch, đã mở ra địa bàn Xuân Lộc và Long Khánh, kéo thêm lực lượng Quân đoàn 3 Ngụy về hướng đông, tạo thêm sơ hở ở hướng bắc và tây bắc. Ở hướng tây nam, ta đã áp sát đường 4 và đưa lực lượng xuống đứng vững ở nam Long An, hình thành một hướng lợi hại từ phía Nam thọc lên Sài gòn. Các lực lượng vùng ven đã bám trụ vững chắc trên địa bàn. Chiến trường đồng bằng sông Cửu Long đã chuyển lên thế mới, kìm giữ lực lượng địch, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho hướng chính – Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:12:45 am

TRẬN QUYẾT CHIẾN CUỐI CÙNG

        Sau buổi họp giao ban sàng ngày 27 tháng , chúng tôi tổ chức cuộc hội nghị cán bộ trong phòng họp của Cục Tác chiến. Ngoài số cán bộ tham mưu có trách nhiệm giúp Quân uỷ Trung ương theo dõi chiến dịch, chúng tôi nghĩ rằng hôm đó là ngày chủ nhật. Nét mặt hân hoan của mọi người cho thấy nỗi lo lắng trong những ngày chuẩn bị chiến dịch đã qua. Bộ đội trên các hướng đã sẵn sàng. Chiều hôm trước, cánh quân hướng Đông đã nổ súng. Đương tiếp cận nội đô từ hướng xa hơn các hướng khác, Quân uỷ đã chấp nhận đề nghị của anh Tấn và Bộ tư lệnh chiến dịch, cho bộ đội hướng này nổ súng trước.

        Sau khi bàn, anh Khánh và tôi thấy cần có cuộc họp chung hôm nay để phổ biến những vấn đề liên quan đến chiến dịch mà anh em cần nắm vững để theo dõi và giúp trên chỉ đạo.

        Mở đầu cuộc họp, anh Khánh chính thức thông báo: Ngày 13 tháng 4, Bộ tư lệnh chiến dịch thể theo nguyện vọng của cán bộ, chiến sỹ trên chiến trường nhất trí gửi điện đề nghị Bộ Chính trị cho được đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Hôm sau, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã thay mặt Bộ Chính trị điện trả lời, chấp nhận đề nghị của chiến trường. Anh Khánh vừa dứt lời, anh em vỗ tay hoan hô. Nét mặt mọi người rạng rỡ hẳn lên.

        Hơn 60 năm trước, Sài gòn là nơi Bác Hồ tạm biệt quê hương, bôn ba đi tìm đường cứu dân, cứu nước. Sài Gòn cũng đã từng được vinh dự mang tên thành phố Hồ Chí Minh từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Sài Gòn và cả miền Nam đã đi trước, về sau, trong suốt 30 năm kháng chiến lâu dài. Giờ đây, tên Bác gắn với một sự kiện lịch sử trọng đại sắp diễn ra, cho thấy tầm vóc to lớn của chiến dịch, tính triệt để và tất thắng của nó. Các chiến sỹ cháu con của Bác, vinh dự có mặt trong chiến dịch lịch sử mang tên Người, sẽ dũng mãnh xốc tới, đập tan sào huyệt cuối cùng của địch, giành thắng lợi lớn nhất, nhanh nhất. Tiếng vỗ tay vừa biểu thị lòng tin tất thắng, vừa chia sẻ vinh dự với các chiến sỹ ở phía trước.

        Cục Tình báo báo cáo những tin mới nhất về địch.

        Thái độ phải ngậm đắng nuốt cay ra đi của Mỹ đã rõ rệt. Nếu tuần trước, cả Tổng thống Pho và Ngoại trưởng Kit-xinh-giơ còn gây sức ép, đòi Quốc hội viện trợ bổ sung gấp cho Thiệu thì vừa qua, trước nguy cơ sụp đổ của Ngụy quyền Sài Gòn, họ đều buộc phải “lảng ra”. Sau lệnh di tản của Pho (ngày 18 tháng 4) là lời tuyên bố của Kit-xinh-giơ trong cuộc họp báo hôm sau, nói rằng: “Tình hình chính trị ở Nam Việt Nam phát triển như thế nào là tuỳ thuộc vào bản thân người Nam Việt Nam; Mỹ sẵn sàng chấp nhận bất kỳ giải pháp nào do họ thông qua”. Cùng ngày, trong bức thư gửi cho Thiệu, Đại sứ Ma-tin nói: Không thể làm gì hơn là kéo dài sự tồn tại của Sài Gòn trong 1 – 2 tuần. Thành phố có thể rơi vào tay Bắc Việt và Việt cộng trong vòng mấy tuần nữa.

        Cùng với việc ra lệnh rút chạy khỏi Xuân Lộc là việc Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch di tản. Ba tàu sân bay Mỹ đến vùng biển Nam Việt Nam để thực hiện kế hoạch này.

        Được Mỹ bật đèn xanh, các tướng lĩnh Ngụy và các nhóm đối lập tăng sức ép, buộc Thiệu từ chức, trao quyền cho Trần Văn Hương. Nhưng chỉ hai ngày sau, nội các Nguyễn Bá Cần đệ đơn từ chức, khi lời tuyên bố của Tổng thống Pho bay tới Sài Gòn. Ngày 23, đọc diễn văn tại trường đại học ở Ô-li-ân, Pho nói: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc đối với Mỹ. Không thể giúp người Việt Nam (Ngụy Sài Gòn) được nữa. Họ phải đương đầu với bất cứ số phận nào đang chờ đợi họ...”.

        Từ ngày 24, nhiều sứ quán phương Tây ở Sài Gòn đóng cửa. Các công ty hàng không quốc tế ở Tân Sơn Nhất ngừng hoạt động. Ngày 26, Trần Văn Hương yêu cầu “Quốc hội” trao quyền cho tướng Dương Văn Minh, gọi là để “thương lượng với Mặt trận”(!). Cùng ngày, Thiệu chuồn ra nước ngoài.

        Cuộc di tản người Mỹ và bọn tay sai “có chọn lọc” đang diễn ra khẩn trương.

        Có nhiều triệu chứng cho thấy Pháp muốn đứng ra “dàn xếp”, nhằm đạt tới một cuộc ngừng bắn và thương thuyết để chấm dứt chiến tranh. Pa-ri đã cử người đến Nam Việt Nam tìm cách liên lạc với Chính phủ cách mạng lâm thời ...


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:14:48 am

        Sau khi nghe báo cáo của Cục Tình báo và dựa vào những nhận định cơ bản của Bộ Chính trị, tôi tóm tắt, rút ra mấy kết luận:

        1. Tiếp theo sự kiện ngày 17 tháng 4 ở Phnôm Pênh, thái độ Mỹ bỏ rơi bọn ngụy Sài Gòn là điều khẳng định.

        2. Cuộc khủng hoảng chính trị ở Sài Gòn đã sâu sắc đến cực độ, đây là tình hình mà Bộ Chính trị đã từng dự kiến.

        3. Cần theo dõi sát ý đồ của Pháp và nhất là của Trung Quốc trong những ngày chiến dịch diễn biến.

        Dựa vào hình thái địch, ta đã được ghi trên tấm bản đồ chiến sự treo trên tường, anh Cao Văn Khánh trình bày tình hình mọi mặt của Mặt trận Sài Gòn trước khi chiến dịch mở màn.

        Sau khi buộc phải rút khỏi Xuân Lộc, địch củng cố lực lượng, hình thành ba tuyến phòng thủ Sài Gòn.

        1. Ở tuyến ngoài, 5 sư đoàn ngụy giữ từ Long An đến Tây Ninh xuống Biên Hoà, Long Bình.

        2. Ở ngoại vi Sài Gòn, 2 Lữ dù và  liên đoàn biệt động quân bố trí trên bốn khu vực: Khu bắc, từ Hóc Môn, Cầu Bông vào đến Tân Sơn Nhất; khu tây, từ Vĩnh Lộc, Châu Hiệp, Bà Hom, Bình Chánh trở vào; khu đông, từ Gò Vấp đến Quận 9; khu nam, từ Nhà Bè trở vào.

        3. Nội đô được tổ chức thành 5 liên khu, lực lượng chủ yếu là cảnh sát và phòng vệ dân sự.

        Đặc điểm bố trí phòng thủ của địch ở Sài Gòn và vùng chung quanh là ngoài mạnh, trong yếu. Chúng dồn các sư đoàn mạnh và binh khí kỹ thuật ra vòng ngoài hòng ngăn chặn và đẩy lui các mũi tiến công của ta. Lực lượng dù và biệt động quân ở tuyến ngoại vi Sài Gòn còn yếu vì đã bị tổn thất nặng, tổ chức xộc xệch, binh lực phân tán để đối phó trên nhiều hướng, dễ bị cô lập, bao vây, chia cắt. Nhìn vào thế chung, địch đang trong quá trình bị thiệt hại nặng, tan rã lớn, tinh thần và sức chiến đấu đã bị sa sút nghiêm trọng. Nhưng trên chiến trường Nam Bộ và riêng trên Mặt trận Sài Gòn – Gia Định, hai Quân đoàn 3 và 4 Ngụy chưa bị đánh đau nên chưa bị hỗn loạn, tan rã. Cần dự kiến chúng còn có khả năng ngoan cố chống cự hòng kéo dài đến mùa mưa.

        Về phía ta, trước hết anh Khánh giới thiệu tóm tắt đội hình các binh đoàn chủ lực đã triển khai trên các hướng.

        Trên hướng tây bắc, hướng tiến công chủ yếu, từ ngày 25, Quân đoàn 3 đã chuyển các sư đoàn và binh khí kỹ thuật sang phía tây sông Sài Gòn. Trên hướng bắc, Quân đoàn 1 đã triển khai xong lực lượng ở nam Sông Bé. Trên hướng đông từ trưa ngày 26, Quân đoàn 2 đã hoàn thành chiếm lĩnh trận địa. Quân đoàn 4, sau khi giải phóng Xuân Lộc, đã khẩn trương triển khai đội hình chiến đấu ở nam, bắc đường số 1. Ở hướng tây và tây nam, mặc dù gặp khó khăn trong việc đưa lực lượng vào vị trí tập kết, Đoàn 232 (được tăng cường Sư đoàn 9, Trung đoàn độc lập 16 của Miền và được Sư đoàn  của Quân khu 7 phối thuộc), đã đưa các đơn vị vào khu vực tập kết.

        Tiếp đó, anh Khánh đi sâu giới thiệu các đơn vị chủ lực tại chỗ tham gia chiến dịch.

        Trong thế chung của cuộc tiến công chiến lược, từ đầu tháng 4, Bộ tư lệnh B2 đã điều chỉnh, bố trí theo yêu cầu tác chiến tạo thế trước mắt và theo phương án tiến công vào Sài Gòn. Về tác chiến tạo thế ở phía nam và tây nam, chủ lực của Miền và của Quân khu 8 đã áp sát đường  và các huyện ven đô; ở phía bắc và tây bắc, ta đã áp sát Tân Uyên, Gò Dầu, Củ Chi; ở phía đông, áp sát Trảng Bom, Hố Nai và căn cứ Nước Trong.

        Các lực lượng đặc công, biệt động và lực lượng thành đội Sài Gòn đã đứng sẵn ở ven đô, áp sát các mục tiêu được phân công. Đó là 6 đoàn đặc công (tương đương 6 trung đoàn), từ trước vẫn bám vững địa bàn vùng ven và liên tục hoạt động trong vùng sau lưng địch là 4 tiểu đoàn và nhiều đội biệt động ở ngoại thành, 60 tổ hoạt động ở nội thành: ngoài ra còn khoảng 330 quần chúng vũ trang và lực lượng quần chúng đông đảo do các biệt động tổ chức và chỉ huy; là các đại đội, tiểu đoàn tập trung của Thành đội và hai Trung đoàn 1 và 2 Gia Định, bố trí ở tây và tây bắc thành phố, là các đơn vị lực lượng vũ trang các tỉnh miền Đông Nam Bộ đang bám sát và tiến công, bao vây địch trên các địa bàn chung quanh Sài Gòn, sẵn sàng phối hợp với chủ lực để giải phóng địa phương mình.

        Hàng trăm cán bộ, kể cả cán bộ quận, thành và hàng trăm đội viên vũ trang đã vào đứng chân ở các lõm chính trị để cùng với các tổ chức Đảng chỉ đạo hướng dẫn đoàn thành niên và các đoàn thể khác, chuẩn bị cho quần chúng vùng ven và nội đô nổi dậy phối hợp khi chủ lực tiến công.

        Thế đứng của lực lượng vũ trang tại chỗ của ta ở Sài Gòn vùng chung quanh là thế bao vây, cô lập Sài Gòn, chia cắt lực lượng địch ở bên trong với bên ngoài, sẵn sàng cùng với các binh đoàn cơ động thọc vào nội đô. Thế đứng đó có được là do thế chung của cuộc tổng tiến công chiến lược tạo nên. Thế đứng đó của lực lượng vũ trang cũng chính là chỗ dựa cho quần chúng sẵn sàng nổi dậy.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:15:39 am

        Tóm lại, lực lượng ta ở vào thế áp đảo địch. Ta vừa có các quân đoàn chủ lực mạnh, sung sức (so sánh: địch 1, ta 3), vừa có lực lượng tại chỗ dồi dào, đều khắp, bố trí áp sát địch từ nội đô ra tuyến ngoài. Lực lượng lãnh đạo ở cơ sở và lực lượng chính trị quần chúng đều đã sẵn sàng.

        Bộ tư lệnh chiến dịch đã cân nhắc và chọn 5 mục tiêu quan trọng nhất mà ta phải nhanh chóng đánh chiếm bằng được: sân bay Tân Sơn Nhất là căn cứ không quân lớn nhất cuối cùng của Ngụy, là đầu mối giao thông đường không cuối cùng giữa Sài Gòn với bên ngoài; bốn mục tiêu khác trong thành phố (Bộ Tổng tham mưu Ngụy, dinh Tổng thống, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát) đều là những cơ quan đầu não quan trọng nhất của bộ máy chiến tranh, là những cái “huyệt” hiểm yếu nhất trong cơ thể đã suy nhược cao độ của chế độ tay sai ở Sài Gòn. mất 5 vị trí đó quân Ngụy sẽ như rắn mất đầu, toàn bộ hệ thống phòng ngự và bộ máy kìm kẹp của chúng sẽ tan rã. Quần chúng sẽ nổi dậy phối hợp với chủ lực. Chiến dịch sẽ kết thúc nhanh chóng với thắng lợi trọn vẹn.

        Về cách đánh, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương: Trước hết hình thành thế bao vây, cô lập triệt để bọn địch trong thành phố Sài Gòn và vùng chung quanh, cả về đường bộ, đường không và đường thuỷ. Sau đó, trên từng hướng, sử dụng lực lượng thích hợp, đủ sức bao vây, chia cắt, tiêu diệt địch bên ngoài, đồng thời sử dụng một bộ phận quan trọng lực lượng hình thành những mũi đột kích mạnh của binh chủng hợp thành, thọc sâu, đánh thẳng vào trung tâm thành phố, đánh chiếm ngay mục tiêu đã được xác định. Từ đó toả ra phối hợp với các đơn vị đặc công, biệt động, các lực lượng an ninh chính trị, tự vệ thành phố và quần chúng nổi dậy, đánh chiếm tất cả các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế trong thành phố. Phối hợp với các mũi đột kích của chủ lực, bộ đội đặc công, biệt động và vũ trang tại chỗ sẽ đánh chiếm và làm chủ các cầu, tham gia khống chế sân bay và các trận địa pháo địch, cùng quần chúng nổi dậy đánh chiếm các mục tiêu đã được phân công, giữ vững các lõm chính trị trên đường tiến quân của chủ lực.

        Bị ta phối hợp trong ngoài cùng đánh, cả bằng tiến công và nổi dậy, địch sẽ không thể ngăn chặn và làm chậm bước tiến cảu ta ở vòng ngoài, không kịp phá các cầu lớn trên sông Đồng Nai và sông Sài Gòn trên hướng đông và các hướng khác. Chúng cũng không thể co cụm về giữ các mục tiêu, các nhà cao tầng và các khu phố đông dân để cùng lực lượng của chúng trong thành phố kéo dài chống cự với ta. Chiến dịch sẽ kết thúc nhanh và ta sẽ hạn chế đến mực thấp nhất những tổn thất về tính mạng và tài sản của nhân dân trong thành phố.

        Buổi chiều, hội nghị nghe đồng chí đại biểu Tổng cục Chính trị trình bày kế hoạch công tác chính trị trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

        Trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng này, công tác chính trị có vai trò quan trọng đặc biệt. Lân đầu tiên, nửa triệu quân ta tham gia chiến dịch, tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, tiến công vào một thành phố lớn nhất ở miền Nam, sào huyệt cuối cùng của địch. Công tác chính trị phải làm cho toàn quân quán triệt sau sắc quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị là tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, trên cơ sở đó mà xây dựng cho toàn quân một ý chí quyết chiến quyết thắng, một tinh thần đoàn kết nhất trí cao độ.

        Bộ tư lệnh chiến dịch đã ra bản chỉ thị về công tác chính trị. Bản chỉ thị đã được phổ biến xuống từng cánh quân, nói rõ ý nghĩa chiến dịch quyết chiến chiến lược cuối cùng, những nhân tố thắng lợi của chiến dịch mang tên Bác, nhằm động viên trách nhiệm và lòng tin tưởng của cán bộ và bộ đội, xây dựng quyết tâm thi đua giành thắng lợi lớn nhất, nhanh nhất, giáo dục tinh thần đoàn kết hiệp đồng giữa các đơn vị, các quân chủng, binh chủng, giữa chủ lực và địa phương, giữa các lực lượng vũ trang với Đảng bộ và chính quyền địa phương, giữa bộ đôi và nhân dân. Bản chỉ thị nêu rõ yêu cầu khắc phục mọi biểu hiện do dự, chần chừ, ỷ lại hoả lực, ỷ lại vào đơn vị ban cũng như biểu hiện cục bộ địa phương, thiếu khiêm tốn, tranh công đổ lỗi. Chỉ thị cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm chấp hành tốt kỷ luật chiến trường và các chính sách, nhất là chính sách chiến lợi phẩm, chính sách thương binh, tử sỹ, chính sách tù hàng binh.

        Cuối cùng, đồng chí đại biểu Tổng cục Chính trị đọc lời động viên của Quân uỷ Miền đối với bộ đội, ghi ở cuối bản chỉ thị công tác chính trị:

        “Chúng ta phải mang lá cờ quyết chiến quyết thắng của Bác cắm lên thành phố quang vinh mang tên Bác, lấy thành tích chào mừng kỷ niệm lần thứ 85 ngày sinh của Người”.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:16:38 am

        Được biết, kèm theo bản chỉ thị công tác chính trị, cơ quan tuyên huấn mặt trận còn cho phát hành rộng rãi “7 lời dạy của Bác Hồ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968” (Ý chí phải kiên quyết; Kế hoạch phải thật tỉ mỉ; Kiểm tra phải thật kỹ càng; Phối hợp phải thật ăn khớp; Chấp hành phải thật chu đáo; Cán bộ phải thật gương mẫu; Bí mật phải giữ triệt để) và lời dạy của Người năm 1954 khi bộ đôi vào tiếp quản các thành phố ở miền Bắc.

        Tiếp đến là báo cáo về công tác chuẩn bị bảo đảm vật chất kỹ thuật cho chiến dịch. Các đồng chí đại biểu Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật cho biết: điểm nổi lên là ngay trong quá trình chuẩn bị chiến dịch, ta đã phát huy sức mạnh của cả ba nguồn bảo đảm: chi viện của hậu phương lớn miền Bắc, hậu cần tại chỗ và tận dụng chiến lợi phẩm.

        Với hai trục đường vận chuyển chiến lược Đông và Tây Trường Sơn được củng cố và mở rộng, bảo đảm vận chuyển bằng xe cơ giới với tốc độ nhanh, với đường ống dẫn dầu đã kéo dài thêm về phía nam, việc khôi phục và sử dụng các đường 14 và đường 1, với lực lượng và phương tiện vận tải tăng cường cho các binh đoàn xe thuộc Bộ tư lệnh 559, với việc tận dụng đường biển và đường không... chỉ trong một thời gian ngắn, 10 vạn tấn hàng đã từ hậu phương lớn được đưa cấp tốc vào chiến trường.

        Hậu cần Miền, sau khi được tăng cường về lực lượng, tổ chức và phương tiện, đã mở thêm hành lang về các hướng (hướng đông: Long Khánh, Bà Rịa; hướng tây: Bến Cầu, Kiến Tường, bắc lộ 4). Quá trình tiếp nhận chi viện của hậu phương lớn và huy động lực lượng tại chỗ cũng là quá trình hình thành hệ thống kho tàng trên các hướng cơ động. Cán bộ và chiến sỹ hậu cần Miền đã mưu trí “lót ổ hàng ngàn tấn lương thực, đạn dược, rải ra trong các lõm du kích trên các địa bàn cơ động theo hướng tiến vào Sài Gòn. Thuốc nổ, súng đạn đã được cất giấu ở các vùng ven đô, sát các sân bay, bến cảng, kho tàng của địch và cả ở ngay nội thành, gần các mục tiêu quan trọng, sẵn sàng bảo đảm cho các lực lượng biệt động, đặc công hoạt động.

        Ở đồng bằng sông Cửu Long, ở miền Đông Nam Bộ và cả vùng chung quanh Sài Gòn, từ vùng giải phóng đến vùng còn do địch kiểm soát, nhân dân đã góp sức người, sức của chi viện cho bộ đội. Gần 10 ngàn tấn lương thực, thực phẩm được huy động tại chỗ đã bảo đảm nửa nhu cầu của các cánh quân tham gia chiến dịch. Trên những địa hình ruộng lầy hoặc có nhiều sông rạch bao quanh, từ phía tây đến phía nam và đông nam Sài Gòn, hàng vạn dân công và hàng trăm ghe, thuyền, ca nô đã được huy động phục vụ chiến dịch.

        Số chiến lợi phẩm thu được của địch trên chiến trường Nam Bộ trong mùa mưa cũng như các trang bị kỹ thuật thu được ở Tây Nguyên à các tỉnh ven biển miền Trung được khẩn trương đưa vào làm tăng thêm sức mạnh về trang bị của các binh đoàn chủ lực và các quân chủng, binh chủng kỹ thuật tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

        Kết thúc báo cáo, đồng chí đại biểu Tổng cục Hậu cần vui vẻ nói:

        - Xin báo cáo thêm với các anh, nỗi băn khoăn của chúng ta về đạn lớn đến nay được giải quyết. Đạn thu được trong tháng qua rất nhiều, trước mắt đã đủ cho trận quyết chiến. Đó là chưa kể số đạn ta sẽ thu được trong quá trình diễn biến chiến dịch, cũng chưa kể số đang được tiếp tục đưa vào bằng cả đường biển và đường bộ để bảo đảm liên tục chiến đấu nếu chiến dịch kéo dài.

        Hội nghị trao đổi ý kiến về cách hiệp đồng giữa Bộ Tổng tham mưu và các tổng cục để cùng nhau theo dõi và giúp trên chỉ đạo trong quá trình diễn biến chiến dịch.

        Do có ý kiến hỏi và tôi thấy cũng nhân cuộc họp đông đủ này mà thông báo để anh em nắm vững được tình hình Đoàn cán bộ của Bộ Tổng tư lệnh cử vào chiến trường và về việc sử dụng không quân trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

        Ngoài số cán bộ đi với Đoàn A.75 đã cùng anh Dũng từ Tây Nguyên vào B2 từ đầu tháng 1, mới đây, để giúp Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo công tác chuẩn bị chiến đấu, thêm một đoàn cán bộ được Bộ cử vào chiến trường. Ngoài số cán bộ đầu ngành hoặc có kinh nghiệm công tác của Bộ Tổng tham mưu và các tổng cục, trong đoàn còn có nhiều cán bộ chỉ huy các quân chủng, binh chủng. Đó là các anh Doãn Tuế, Tư lệnh Pháo binh,; Lê Xuân Kiện, Phó Tư lệnh Thiết giáp; Nguyễn Chí Điềm, Tư lệnh Đặc công; Trần Quang Hùng, Phó Tư lệnh Phòng không – Không quân; Hoàng Niệm. Phó Tư lệnh Thông tin; Phan Khắc Hy, Phó Tư lệnh Đoàn 559.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:18:06 am

        Nhớ lại hôm gặp và trao nhiệm vụ cho đoàn, anh Văn đã thay mặt Quân uỷ Trung ương nói rõ quy mô to lớn của chiến dịch và những nội dung cần nghiên cứu để thiết thực giúp đỡ Bộ tư lệnh chiến dịch trên các mặt tổ chức chỉ huy, công tác chính trị, hậu cần kỹ thuật. Chiến dịch quy mô 4 – 5 quân đoàn với nhiều binh khí kỹ thuật, tiến công địch trong một thành phố lớn, yêu cầu hiệp đồng rất cao, trên một không gian rất rộng, rất nhiều vấn đề mới được đặt ra và phải được giải quyết trong một thời gian ngắn để không lỡ thời cơ chiến lược, chiến dịch. Từ việc cơ động binh khí, khí tài, cơ động bộ đội trên địa hình nhiều sông ngòi, kênh rạch, việc chi viện hoả lực của pháo binh trên nhiều hướng, đến việc tiếp quản một thành phố mấy triệu dân đã trải qua nhiều năm dưới chế độ Mỹ - Ngụy..., tất cả những vấn đề đó yêu cầu phải nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, nắm vững khoa học kỹ thuật quân sự và vận dụng trong từng tình huống cụ thể của từng binh chủng, quân chủng để giúp Bộ tư lệnh chiến dịch trong chỉ đạo chuẩn bị và thực hành chiến dịch.

        Đến nay, trước khi mở màn chiến dịch, qua tin tức chúng tôi nhận được, đoàn cán bộ của Bộ đã “miệng nói tay làm” cùng các đồng chí cán bộ các ngành của B2 vượt lên mọi khó khăn, góp phần vào công tác chuẩn bị để bộ đội sẵn sàng nổ súng.

        Việc dùng máy bay chiến đấu trước và trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn là vấn đề được chúng tôi ở cơ quan Bộ trao đổi ý kiến nhiều lần với các anh ở B2 để cùng nhau thực hiện. Vừa qua, Hải quân đã cùng bộ đội Khu 5 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng một số đảo trên quần đảo Trường Sa. Còn không quân nên sử dụng thế nào, đó là vấn đề được đặt ra để suy nghĩ.

        Với một lực lượng không quân không lớn, những năm vừa qua, máy bay chiến đấu của ta tập trung chủ yếu vào việc đánh trả máy bay địch để bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc. Nhưng đến nay, tình hình đã khác.

        Ngày 7 tháng 4, anh Lê Ngọc Hiền điện ra cho biết: Ở Nha Trang, Cam Ranh, ta thu được một số máy bay chiến đấu. Anh đề nghị cho người vào tiếp thu và nghiên cứu sử dụng. Hôm sau, có tin trung uý phi công Nguyễn Thành Trung, một đảng viên của ta hoạt động bí mật trong không quân Ngụy, lái máy bay F5E của địch, ném bom dinh tổng thống Ngụy rồi hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long.

        Chúng tôi trong Bộ Tổng tham mưu trao đổi ý kiến và nhất trí đề đạt với Quân uỷ: Ta đã giải phóng được nhiều sân bay, thu được nhiều máy bay địch, đã có những sỹ quan không quân ra hàng ta, như trường hợp viên trung tá ở Đà Nẵng. Cần nghiên cứu sử dụng số phi công này vào việc huấn luyện các sỹ quan lái của ta cũng như việc bảo quản máy bay, quản lý sân bay và dùng máy bay địch tham gia chiến dịch sắp tới. Chúng tôi nghĩ nhân lúc địch đang rối loạn này mà ta dùng máy bay của chúng đánh vào một số mục tiêu ở Sài Gòn, nhất là đánh căn cứ Tân Sơn Nhất sẽ tác động lớn đến tinh thần quân địch.

        Anh Thọ và anh Dũng cũng đề cập vấn đề này. Các anh đề nghị giao cho Nguyễn Thành Trung chỉ huy số phi công Ngụy đã sang hàng ngũ ta hướng dẫn các chiến sỹ lái của ta dùng máy bay A37 và F5E của địch đánh địch.

        Sau khi báo cáo và được sự đồng ý của Quân uỷ, anh Khánh chỉ thị cho Bộ tư lệnh Phòng không – Không quân cho chiến sỹ lái và kiểm tra kỹ thuật vào Đà Nẵng. Chỉ trong mấy ngày, ta đã huấn luyện được 8 chiến sỹ lái và kiểm tra kỹ thuật được 4 máy bay A37. ngày 26 tháng 4, Bộ Tổng tham mưu cho một tổ chỉ huy do anh Lê Văn Tri, Tư lệnh Phòng không – Không quân dẫn đầu vào sân bay Thành Sơn để chuẩn bị cho một phi đội A37 xuất kích trong vài ngày tới.

        Trong khi đó, ở Đà Nẵng, ta tiếp tục huấn luyện các phi đội cường kích A37 và tiêm kích F5E, tiếp tục kiểm tra kỹ thuật số máy bay còn lại để sớm đưa vào sử dụng.

        Việc chọn thời có và chọn mục tiêu cho máy bay sẽ do anh Dũng và các anh trong đó chỉ thị trực tiếp cho anh Tri và bộ phận tiền phương của Phòng không – Không quân ở Thành Sơn. Bộ Tổng tham mưu đã cho đưa đài vô tuyến điện và một tổ cơ yếu để anh Tri liên lạc với Bộ tư lệnh chiến dịch.

        Thế là đến hôm nay, ngày 27 tháng 4, một chủ trương mới, khá táo bạo đã được hình thành, với sự nhất trí giữa các anh trong Bộ tư lệnh chiến dịch và Bộ Tổng tham mưu. Với trí thông minh và trình độ kỹ thuật vốn có, các chiến sỹ lái của ta đã nhanh chóng nắm được ký thuật máy bay địch và chắc chắn sẽ tạo nên một bất ngờ đối với quân ngụy, cũng như đã từng làm cho giặc lái Mỹ bị bất ngờ khi chúng lao ra miền Bắc mấy năm trước.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:18:52 am

        Trong cuộc họp hôm nay, khi nói về chủ trương dùng máy bay địch đánh địch, tôi nhắc Cục Tác chiến thông báo cho bộ đội ở phía trước, nhất là những đơn vị phòng không ven biển và cánh quân hướng Đông, chú ý phân biệt máy bay của ta bay từ Phan Rang vào; nhắc Cục Cơ yếu và Thông tin bảo đảm việc liên lạc với đài của cơ quan chỉ huy tiền phương Phòng không – Không quân.

        Cuộc họp bế mạc, tôi mời anh Nguyễn Duy Phê, Cục trưởng Cơ yếu ở lại báo cáo tóm tắt công việc của cục và riêng tổ cơ yếu thường trực trong Khu A. Cục mới họp kiểm điểm đợt hoạt động trong hai tháng. Tôi muốn gặp anh chị em hai tổ cơ yếu và thông tin thường trực trước khi chiến dịch mở màn.

        Từ tháng 3, Văn phòng bố trí cho tổ làm việc ngay trong phòng của đồng chí Tổng tham mưu trưởng, gần phòng họp của Quân uỷ Trung ương. Anh Dũng đang ở trong chiến trường. Phòng làm việc của anh vẫn bài trí như trước đây. Vấn chiếc bàn to, trên có tấm bản đồ Đông Dương trải rộng. Vẫn mấy hàng ghế và hai tấm bản đồ thế giới và Đông Nam Á treo trên tường.

        Trời đã về chiều, một buổi chiều chủ nhật. Trừ các phòng trực ban còn mở cửa, trong khu “nhà con rồng” đã vắng bóng người.

        Khi tôi và anh Phê đến, một số cán bộ và chiến sỹ cơ yếu, thông tin đã có mặt đông đủ. Tổ cơ yếu thường trực có năm người thì hai là nữ, Đặng Thị Muôn và Vũ Thị Trọng. Cô Trọng đã có một cháu nhỏ.

        Anh chị em cho biết: Công việc hết sức khẩn trương, từ khi chiến dịch Tây Nguyên bắt đầu. Những bức điện luôn kèm theo những chữ “dịch ngay”, “hoả tốc”, “ưu tiên 1”... Cái ký hiệu “Tk” (thượng khẩn) (Có lẽ tác giả nhầm vì điện "Thượng khẩn" ký hiệu là TgK, còn TK là "Tối khẩn" mức độ khẩn cao hơn thượng khẩn) đã bị đẩy lùi. Không còn ngày nào làm việc 10 giờ mà 14 giờ, 18 giờ và trực 24/24. Tổ mang cơm về ăn tại chỗ để tranh thủ thời gian làm việc. Trả lời câu hỏi của tôi, các đồng chí nói chân thật:

        - Báo cáo thủ trưởng, mệt thì mệt thật, nhưng rất vui. Tin chiến thắng dồn dập, càng dịch điện càng phấn khởi, quên cả mệt.

        Tôi thầm nghĩ: đối với người lính, chiến đấu cho mục đích cao cả - vì độc lập tự do của Tổ quốc – thì tin chiến thắng luôn là một nguồn động viên vô giá.

        Phòng làm việc của tổ ở cùng dãy với phòng họp của Quân uỷ. Trong những ngày qua, như đã thành lệ, cứ buổi sáng anh chị em lại thấy những chiếc xe qua cổng A, thấy các đồng chí lãnh đạo của Đảng, của quân đội đi vào căn phòng giữa. Và cũng đã thành lệ, cứ sau cuộc họp thường có những bức điện gửi vào chiến trường, bức điện chứa đựng trí tuệ tập thể Bộ Thống soái tối cao - Bộ Chính trị. Đã có sự phân công chuẩn bị sẵn trong tổ cơ yếu, có sự phối hợp giữa hai tổ thông tin và cơ yếu thường trực, làm sao có điện là dịch được ngay và thông tin chuyển được ngay. Phân đoạn thế nào, xử lý kỹ thuật thế nào để đảm bảo bí mật, nhất là khi gặp những bức điện đài, có khi 15-20 trang.

        Có lúc đang dịch, anh chị em nghe tiếng bước chậm rãi, đi đi lại lại ngoài hành lang. Rồi đồng chí Tổng tư lệnh bước vào. đồng chí chữ một chữ, thêm một đoạn vào bức điện đang dịch. Tôi ngồi nghe anh chị em nói về tâm tư và công việc của minh một cách rất tự nhiên, thoải mái. Một đồng chí kể lại câu chuyện mới xảy ra cách đây ít ngày mà tổ cơ yếu ở cánh quân hướng Đông vừa biên thư về cho biết.

        Bữa đó, một bức điện của đài “VF73” (đài chỗ anh Dũng) vừa chuyển đến. Cơ yếu dịch xong mang sang anh Tấn mà không biết rằng đó chính là bức điện mà Bộ chỉ huy cánh Đông đang chờ đợi. Đọc xong bức điện, anh Tấn reo lên: “Hay lắm, rất tốt, rất kịp thời”. Rồi anh bảo đồng chí Vũ Văn Cảnh, người vừa trao bức điện:

        - Cậu đưa sổ đây tớ ghi mấy chữ.

        Cảnh giở trang cuối cuốn sổ chuyển điện. Anh Tấn viết: “Hoan nghênh các đồng chí cơ yếu, thông tin. Rất kịp thời. – Ký tên: Tấn”

        Tôi hỏi:

        - Thế sắp tới, các đồng chí mong được dịch bức điện mang nội dung gì?

        Hầu như mọi người đều trả lời thống nhất:

        - Báo cáo, điện nói quân ta cắm cờ trên “dinh Độc lập” ở Sài Gòn.

        Một sự mong đợi như sự mong đợi của tất cả mọi người, thật là chính đáng, tôi thầm nghĩ.

        Tôi nói tóm tắt về hoạt động của Bộ Tổng tham mưu đã góp phần vào thắng lợi chung của cả nước, về thành tích của các tổ cơ yếu hoạt động độc lập phục vụ phái đoàn quân sự bốn bên và các đoàn của anh Dũng, anh Thọ, anh Tấn và của các tổ cơ yếu và thông tin thường trực trong Khu A, về yêu cầu phục vụ chỉ đạo chỉ huy trong chiến dịch sắp tới. Phải làm sao để Bộ Chính trị và Quân uỷ kịp thời nắm từng bước phát triển của các cánh quân, của từng mũi tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:24:28 am

        Cuộc gặp gỡ thân mật, ngắn gọn kết thúc. Bắt tay anh chị em, tôi vui vẻ nhắc lại:

        - Bức điện mà tất cả chúng ta đang chờ, nhất định sẽ đến. Nhất đinh chúng ta sẽ toàn thắng.

        Đèn điện trong Khu A bật sáng. Tôi đi qua phòng trực ban tác chiến. Anh em đã tổng hợp xong tình hình nhận được trong ngày. Anh Khánh đang dùng điện thoại báo cáo tóm tắt tình hình với các anh trong Bộ Chính trị và Thường trực Quân uỷ. Từ 17 giờ ngày 26, cánh quân anh Tấn bắt đầu nổ súng tiến công khu căn cứ Nước Trong, các chi khu Long Thạnh và thị xã Bà Rịa.

        Hướng tây bắc, anh Vũ Lăng đang cho dùng pháo cối diệt các trận địa pháo địch và cho Sư đoàn 316 chốt chặn ở Phú Mỹ, ở đông Trảng Bàng và cắt một số đoạn trên đường 22. Hướng tây nam, anh Lê Đức Anh đã cho quân áp sát đường 10, chuẩn bị tiến công địch trên đường 4, chia cắt Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long và mở đầu cầu qua sông Vàm Cỏ Đông, đưa các lực lượng đột kích thọc sâu vào chiếm lĩnh vùng ven. Trên hướng bắc, Sư đoàn 312 Quân đoàn 1 đang chuẩn bị tiến công địch ở Bình Cơ, Bình Mỹ, tạo thế cho toàn quân đoàn đánh chiếm Lai Khê - Bến Cát và đưa lực lượng đột kích vào triển khai ở vùng ven. Dự kiến sáng ngày 29, tất cả các hướng sẽ tiến công đồng loạt vào nội thành Sài Gòn.

        Anh Khánh chuyển điện của đồng chí Bí thư Quân uỷ Trung ương cho cánh quân hướng Đông:

        1. Thường xuyên báo cáo diễn biến tình hình hàng ngày để báo cáo với Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương.

        2. Trước mắt, cho biết mấy vấn đề sau: đánh giá thắng lợi bước đầu; dự kiến thời cơ phát triển vào nội đô, cả trường hợp hiệp đồng chung với các hướng và trường hợp đến mục tiêu trước mắt sớm hơn thời gian quy định và khi có thời cơ cụ thể thuận lợi, bảo đảm chắc thắng thì tranh thủ phát triển vào, không nên chờ các cánh khác.

        3. Nếu trận địa pháo 130 đặt ở Nhơn Trạch và bắn được vào Tân Sơn Nhất thì Sài Gòn sẽ rung động lớn.
         
        Tình hình ngày 27 cho thấy hướng đông có nhiều thuận lợi. Hướng bắc và tây bắc có thể chậm hơn một chút, nhưng hướng tây nam có thể phát triển kịp với các hướng khác. Mấy hôm nay, quân ta hoạt động trên đường 4 (Tân An) có kết quả. Nếu hướng tây nam phát triển nhanh và mạnh sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho hướng bắc và tây bắc.

        Trong buổi họp giao ban sáng hôm sau, ngày 8 tháng 4, anh Khánh và trực ban tác chiến cho biết chưa nắm được tình hình các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Chiến sự vùng chung quanh Sài Gòn đã được thể hiện trên bản đồ.

        - Trên hướng đông, ta đã đột phá được tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, làm chủ được đường 22 và phần lớn đường 15, áp sát Bà Rịa, chia cắt Bà Rịa với Vũng Tàu, giải phóng gần hết tỉnh PhướcTuy và phần lớn tỉnh Biên Hoà, nhưng chưa chiếm được Biên Hoà, Nhơn Trạch theo kế hoạch, do đó cũng chưa đặt được pháo tầm xa ở Nhơn Trạch để bắn vào Tân Sơn Nhất và khoá sông Lòng Tàu.

        - Trên hướng bắc, Sư đoàn 312 đã chiếm lĩnh xong trận địa; một bộ phận của Sư đoàn 320b, đã vượt sông sang phía tây đường 16, chuẩn bị bàn đạp cho sư đoàn thọc sâu. lực lượng vũ trang và quần chúng tỉnh Bình Dương đã nổi dậy phối hợp với chủ lực. Công tác binh vận được đẩy mạnh.

        - Trên hướng tây bắc, Sư đoàn 316 cùng lực lượng vũ trang Tây Ninh đã tổ chức chốt chặn ở Phú Mỹ và đông Trảng Bàng, cắt nhiều đoạn trên đường 22. Quaâ ta đã liên tục đánh địch phản kích, giữ vững thế bao vây chia cắt từng cụm quân địch trên đường 22 và đường 1. Phối hợp với Quân khu 8, lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân Trảng Bàng, Hiếu Thiện, Kiêm Hạnh, Phước Ninh đã bao vây, bức hàng, bức rút nhiều đồn bốt, giải phóng nhiều xã ấp vùng nông thôn Tây Ninh. Lực lượng vũ trang vùng ven đã giải phóng một số ấp trên đường 7 (bắc Củ Chi). Lực lượng đặc công bám sát cầu Bình Phước trên sông Sài Gòn và các mục tiêu từ cầu Bình Phước đến Quán Tre, đồng thời đã có lực lượng chuẩn bị thọc sâu vào bắc sân bay Tân Sơn Nhất.

        - Trên hướng tây và tây nam, quân ta đang khắc phục khó khăn để đưa binh khí kỹ thuật vượt sông  Vàm Cỏ Đông vào chiếm lĩnh tuyến xuất phát tiến công. Hai trung đoàn thuộc Quân khu 8, trên hướng nam, đã đứng chân ở bắc Cần Giuộc, chiếm lĩnh tỉnh đường 5, sẵn sàng thọc sâu vào Quận 8 và Nhà Bè.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:25:15 am

        Buổi chiều, qua đài phương Tây, chúng tôi nhận được tin: Hồi 16 giờ 40 phút, 5 chiếc A37 của ta đã ném bom sân bay Tân Sơn Nhất. Tin cho biết nhiều máy bay bị phá huỷ, kể cả máy bay Mỹ túc trực để thực hiện kế hoạch “di tản”. Sài gòn náo động vì bị đòn bất ngờ này.

        Bộ Tổng tham mưu nhận được tin này gần như đồng thời với tin Trần Văn Hương trao ghế Tổng thống cho Dương Văn Minh, một việc mà Bộ Chính trị đã từng dự kiến. Viên tổng thống mới kêu gọi quân đội Ngụy “bảo vệ những vùng đất còn lại và muốn hoàn thành nhiệm vụ đó, mọi người phải giữ vững vị trí”(!).

        Buổi tối, Bộ Tổng tham mưu tổng hợp tình hình, báo cáo Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương sau hai ngày chiến dịch mở màn.

        Bộ đội trên các hướng đã cơ bản thực hiện được kế hoach bao vây cô lập Sài Gòn, chia cắt địch giữa tuyến ngoài và nội đô. Quân ta cắt đường 15 từ Sài Gòn đi Vũng Tàu và đường 4 từ Sài Gòn về đồng bằng sông Cửu Long. Trên hướng đông, mặc dù địch ra sức chống đỡ, Quân đoàn 4 (anh Hoàng Cầm, Tư lệnh; anh Hoàng Thế Thiện, Chính uỷ) và Quân đoàn 2 (anh Nguyễn Hữu An, Tư lệnh; anh Lê Linh, Chính uỷ) đã chiếm được một số mục tiêu quan trọng như Trảng Bom, Long Thành, Đức Thạnh, thị xã  Bà Rịa và về cơ bản đã làm chủ căn cứ Nước Trong. Lực lượng của ta trên hướng bắc và tây bắc đã triển khai, hình thành thế bao vây, chia cắt địch ở vòng ngoài, đã làm các sân bay Biên Hoà và Tân Sơn Nhất bị tê liệt. Sài Gòn bị bao vây và hoàn toàn bị cô lập cả về đường bộ, đường không và đường thủy. Phối hợp với chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương và nhân vòng ngoài và vùng ven đô đã kịp thời tiến công và nổi dậy, giải phóng được nhiều vùng nông thôn rộng lớn bao quanh các chi khu quận lỵ, các tiểu khu và các căn cứ lớn chung quanh Sài Gòn.

        Điều đáng quan tâm lúc này là chỉ đạo các đơn vị đặc công đánh chiếm và giữ các cầu, nhất là trên hướng đông, dể đảm bảo tốc độ tiến quân của các quân đoàn và việc đưa binh khí kỹ thuật của Đoàn 232 sang sông để kịp phối hợp với các hướng khác tiến công vào nội đô.

        Trên hướng đồng bằng sông Cửu Long, tin tức đầu tiên cho biết lực lượng vũ trang của hai Quân khu 8 và 9 đã áp sát các thị xã Cần Thơ, Mỹ Tho, kìm chân các sư đoàn của Quân đoàn 4 Ngụy, khống chế sân bay Bình Thuỷ. Lực lượng chính trị và vũ trang các tỉnh, huyện đã áp sát các chi khu quận lỵ, thị xã, thị trấn. Việc đánh và cắt đường 4 được xúc tiến khẩn trương.

        Chỉ mới sau hai ngày tiến công của ta, hệ thống chỉ huy của địch từ Bộ Tổng tham mưu đến bộ chỉ huy Quân đoàn 3, đều đã rối loạn. Nhiều tên cầm đầu ngụy quân, ngụy quyền tiếp tục di tản theo Mỹ. Việc Dương Văn Minh thay Trần Văn Hương nói lên thế chính trị của Ngụy đã sắp sụp đổ, nhưng chúng vẫn hy vọng con bài cuối cùng có thể đứng ra dàn xếp với ta nhằm đạt tới “ngừng bắn”.

        Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Tổng tư lệnh đã thay mặt Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương gửi điện động viên toàn thể cán bộ và chiến sỹ, đảng viên và đoàn viên anh dũng tiến lên giành toàn thắng cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại”.

        Tiếp đó, bức điện viết:

        1. Chiến dịch đã bắt đầu với những thắng lợi giòn giã. Chúng tôi tất cả đều rất phấn khởi, gửi lời chúc các anh khoẻ và giành được toàn thắng.

        2. Các anh nhắc cơ quan tham mưu và chính trị:

        a) Đi đôi với mệnh lệnh tác chiến cần có chỉ thị cụ thể về nhiệm vụ, phạm vị quản lý thành phố của từng đơn vị.

        b) Xúc tiến kế hoạch phát triển thắng lợi, tiêu diệt và làm tan rã quân địch ở đồng bằng sông Cửu Long.

        c) Có dự kiến về việc điều chỉnh lực lượng sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nhất là những việc điều chỉnh cần làm trước mùa mưa.

        3. Nhận được điện, các anh trả lời để chúng tôi hướng dẫn cơ quan nghiên cứu.

        Từ sáng sớm ngày 29, những chiếc xe con lần lượt vào Khu A. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp bàn những việc lớn cần phải làm ngay sau ngày toàn thắng.

        Trong phòng trực ban tác chiến, anh Khánh và một số cán bộ Cục Tác chiến, Cục Tình báo danh hầu hết thời gian bám sát diễn biến từng giờ của Mặt trận Sài Gòn. Mỗi khi nhận được tin mới, anh Khánh lại sang phòng họp của Quân uỷ để báo cáo. Một cán bộ tác chiến thường đi theo để tác nghiệp những bước tiến của từng cánh quân trên tấm bản đồ Sài Gòn trải rộng trên chiếc bàn lớn trong phòng họp.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:26:11 am

        Khoảng 9 giờ, anh Ba cho gọi một cán bộ Cục Tình báo sang. Anh muốn nghe những tin tức mới nhất về địch.

        Qua đài phương Tây, được biết có thêm nhiều tên tay sai ở Sài Gòn bỏ chạy ra nước ngoài, trong đó có 60 nghị sỹ, Tổng Tham mưu trưởng Sài Gòn Cao Văn Viên, Thủ tướng Nguyễn Bá Cần mới từ chức... Tại trung tâm Sài Gòn, cuộc di tản đang diễn ra trong cảnh hỗn loạn, hốt hoảng. Sau khi sân bay Tân Sơn Nhất bị ném bom, một số máy bay Mỹ đang làm nhiệm vụ di tản bị phá huỷ, Mỹ phải tổ chức chiến dịch di tản bằng máy bay trực thăng trên sân thượng một số nhà cao tầng ngay tại trung tâm thành phố, làm cho quang cảnh nội đô càng thêm hỗn loạn. Các đài Anh, đài Úc, đài Nhật đều nói nhiều đến không khí náo động trong thành phố Sài Gòn, nhất là từ chiều ngày 28. Dương Văn Minh gặp một số sỹ quan cao cấp còn ở lại Sài Gòn. Quá nửa số tướng Ngụy được mời đến chủ trương ngừng bắn. Viên Tổng thống mới cố vớt vát bằng cách cử “đại diện chính phủ” đến Tân Sơn Nhất xin gặp phái đoàn ta, hòng “thương lượng cho một cuộc ngừng bắn”. Hắn rất hy vọng cuộc gặp gỡ sẽ đạt kết quả mong muốn vì “Hà Nội chưa chắc đã có một bộ máy hành chính đủ để quản lý toàn quốc, vì vậy rất có thể họ sẽ sẵn sàng chấp nhận một chế độ quá độ....” Có tin lệnh ngừng bắn đã được Ngụy ban ra.

        Sau khi trao đổi ý kiến với các anh có mặt trong phòng họp, anh Ba đọc một bức điện để chuyển gấp vào chiến trường: “Gửi các anh Sáu, anh Bảy, anh Tuấn, anh Tư, đồng điện anh Tấn (tức các đồng chí Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn).

        Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đang họp thì được tin Dương Văn Minh ra lệnh ngừng bắn. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ thị:

        1. Các anh ra lệnh cho quân ta tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch: tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng.

        2. Công bố đặt thành phố Sài Gòn – Gia Định dưới quyền của Uỷ ban quân quản do tướng Trần Văn Trà làm Chủ tịch.

        3. Sẽ có điện tiếp, nhận được điện trả lời ngay. Ba”.

        Điện viết lúc 10 giờ sáng ngày 29 tháng Tư.

        Tối hôm ấy, trong buổi giao ban của tham mưu, có anh Văn dự, chúng tôi nghe anh Lê Hữu Đức, Cục trưởng Cục Tác chiến báo cáo tình hình tổng hợp sau ba ngày đêm liên tục chiến đấu. Riêng trong ngày 29, tình hình diễn ra đúng như kế hoạch. Các sư đoàn, quân đoàn đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu và kế hoạch hiệp đồng. Mọi khó khăn, trở ngại đã được khắc phục với tinh thần nỗ lực, khẩn trương, linh hoạt và sáng tạo. Mặc dù tốc độ phát triển khác nhau, nhưng các mũi, các hướng đều đã đánh chiếm được các mục tiêu quy định. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân địch ở vòng ngoài, mở được cửa thọc sâu trên các hướng. Trên hướng tây bắc, tây và tây nam, lực lượng thọc sâu đã vào tới địa bàn quy định. Trên hướng đông, địch ngoan cố chống cự, Quân đoàn 4 phát triển chậm, nhưng Quân đoàn 2 phát triển thuận lợi hơn, lực lượng thọc sâu đã vòng qua căn cứ Long  Bình và đang phát triển trên xa lộ. Các lực lượng ven đô đã phối hợp đắc lực với các cánh quân, kịp thời đánh chiếm và giữ các cầu quan trọng và các mục tiêu được phân công, chuẩn bị tốt các địa bàn vùng ven trên hướng tiến của các binh đoàn, đồng thời chặn đánh, diệt và bắt tàn quân địch từ ngoài chạy vào Sài Gòn. Lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nổi dậy trên các hướng tiến công của chủ lực đã kịp thời phối hợp chặt chẽ, tích cực tiến công địch. Lực lượng ba mũi trong vùng sâu đã chủ động nổi dậy tự giải phóng địa phương mình, tạo nên một thế chung là chủ lực phát triển đến đâu thì diện giải phóng đều mở rộng đến đó.

        Trong ba ngày qua, nhất là ngày 29, sự đối phó của địch chỉ có mức độ. Hiện tượng chung là mau chóng tan rã, rút chạy hoặc đầu hàng. Thực tế cho thấy hệ thống chỉ huy của địch đã bị rối loạn, không còn phát huy được tác dụng. Bộ máy Ngụy quyền, nhất là ở cơ sở đã sụp đổ. Cuộc di tản của Mỹ và bọn tay sai đang xúc tiến với tốc độ khẩn trương nhất và sắp đến lúc kết thúc.

        Các cánh quân trên các hướng đã nhận lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch chuyển sang tổng công kích vào nội đô, hiệp đồng đánh thẳng vào trung tâm thành phố, chiếm các mục tiêu đã định.

        Chúng tôi đang nghe báo cáo thì một nhân viên cơ yếu gõ cửa xin vào mang theo bức điện mới nhận.

        Anh Tấn báo cáo: Đã ra lệnh cho quân đoàn đánh vào nội đô 16 giờ hôm nay. Nếu có khó khăn sẽ đánh vào 4 giờ sáng mai, ngày 30 tháng 4.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:27:07 am

        Anh Văn cầm điện thoại trao đổi với anh Ba. Sau đó, anh đọc bức điện gửi ngay cho anh Dũng:

        “ Anh Ba và chúng tôi thấy tình hình các hướng đang phát triển thuận lợi. Hướng anh và anh Tấn hành động càng nhanh càng tốt...”.

        Và một bức điện gửi anh Tấn:

        “Anh căn cứ chỉ thị về thời gian của anh Tuấn mà hành động. Nếu anh Tuấn không có chỉ thị thì hành động với thời gian nhanh nhất. Giờ cụ thể, anh căn cứ vào tình hình mà quyết định”.

        Những bức điện ra khỏi phòng trực ban tác chiến lúc 22 giờ 15 phút ngày 29 tháng 4.

        Đêm hôm đó, anh Cáo Văn Khánh nghỉ lại trong phòng trực ban tác chiến. Chừng quá nửa đêm, nghe Cục Tình báo báo cáo xong, anh gọi điện thoại cho tôi. Sau khi trao đổi ý kiến, anh điện thông báo cho các anh trong chiến trường: Có tin lúc 01  giờ ngày 30 tháng 4, địch ra lệnh cho các tàu hải quân ở Cần Thơ, Đồng Tâm và Phú Quốc tập trung ở một địa điểm (chưa rõ ở đâu) và một số tàu (tin đầu tiên có 8 chiếc) chuẩn bị chuyển qua đảo Guy-am. Trước đó có tin 78 máy bay của Ngụy đã chuyển qua U-ta-pao. Chưa rõ đây là tổng số máy bay địch chuyển đi hay mới là đợt đầu tiên... “Báo cáo các anh rõ và ra lệnh cho đơn vị theo dõi xem tàu hải quân có chở bộ binh theo không và có kế hoạch đánh cho kịp”.

        Sáng ngày 30 tháng 4, anh Ba, anh Trường Chinh và anh Đồng vào khu “Nhà con rồng” từ sớm. Anh Văn cũng đã có mặt. Các anh khác trong Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương tiếp tục đến sau.

        Sau khi nghe anh Khánh báo cáo, các anh trao đổi ý kiến đánh giá tình hình. Khoảng 8 giờ, một bức điện của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương viết xong và cho dịch (tác giả có thể nhầm là cho mã hoá) gửi đi:

        “Nhiệt liệt khen ngợi toàn thể các đơn vị đã lập được chiến công lớn trong những ngày qua, đập tan tập đoàn phòng ngự và các cứ điểm phòng ngự phía đông, bắc, tây bắc và tây nam, cắt đứt đường 4, tiến công các sân bay lớn của địch, hoạt động tốt ở ven Sài Gòn và nội thành Sài Gòn.

        Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương kêu gọi toàn thể cán bộ và chiến sỹ, đảng viên và đoàn viên, với quyết tâm lớn nhất, hãy nhanh chóng đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch với khí thế hùng mạnh nhất của một quân đội trăm trận trăm thắng, đập tan mọi sự đề kháng của địch, kết hợp tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn – Gia Định. Phải giữ kỷ luật thật nghiêm, triệt để chấp hành mọi chỉ thị, mệnh lệnh; bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; nêu cao truyền thống và bản chất cách mạng của Quân đội ta, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc giành thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại...”.

        Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nhắc Quân uỷ và Bộ tư lệnh miền về việc quản lý thành phố; tiếp tục phát triển thắng lợi, tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn các lực lượng địch còn lai ở các khu vực khác, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long, các đảo Côn Sơn và Phú Quốc; động viên tinh thần cách mạng triệt để và chiến đấu liên tục cho đến thắng lợi hoàn toàn, khắc phục mọi hiện tượng thoả mãn dừng lại. Để tiếp tục phát triển thắng lợi ngay sau khi giải phóng Sài Gòn, Quân uỷ Trung ương nhắc việc chuẩn bị sân bay Tân Sơn Nhất để sử dụng không quân vào kế hoạch mới. Bộ tư lệnh Phòng không – Không quân đã được lệnh chuẩn bị hai đại đội chiến sỹ lái A37 ở Phan Rang. Các phi đội Mích cũng được lệnh chuẩn bị sẵn sàng cất cánh khi có lệnh.

        Cuộc họp của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương vẫn tiếp tục.

        10 giờ, đồng chí Nguyễn Thanh, Trưởng phòng 70 (thuộc Cục Tình báo, chuyên theo dõi tin địch bằng phương tiện kỹ thuật) chạy vào báo cáo: Đài phát thanh của Nhật loan tin quân giải phóng, có xe tăng dẫn đầu, đang tiến vào Sài Gòn.

        Tôi đề nghị hội nghị tạm dừng ít phút để nghe tình hình. Anh Khánh được mời lên báo cáo. Cả đêm qua, hầu như anh không ngủ.

        Anh trình bày: Các anh trong Bộ tư lệnh chiến dịch đã trao thêm nhiệm vụ cho Quân đoàn 3: Khi đánh vào Tân Sơn Nhất thì cho một cánh phát triển vào hướng Bổ Tổng tham mưu ngụy, phối hợp với Quân đoàn 1. Từ nửa đêm, các binh đoàn thọc sâu đã khẩn trương thi hành lệnh tiến gấp, chọc thẳng vào mục tiêu được giao, bỏ qua những mục tiêu khác trên dọc đường để nâng tốc độ tiến quân.

        Cuộc di tản của người Mỹ diễn ra dồn dập từ chiều ngày 29, đã kết thúc mờ sáng nay với chuyến bay của Đại sứ Mỹ Ma-tin, rời Sài Gòn lúc 4 giờ 45 phút.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:28:00 am

        Theo tin mới nhận được sáng nay, Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) đang tiến vào ngã tư Bảy Hiền; các cánh quân của Quân đoàn 1 đánh vào căn cứ Lai Khê, Phú Lợi, Lái Thiêu, đang phát triển về Gò Vấp. Một cánh khác đang đánh địch từ cầu Bình Phước đến cầu Bình Triệu. Sau khi đánh tan quân địch chống cự ở Hố Nai, Tam Hiệp, Quân đoàn 4 đang tiến công Sở chỉ huy Quân đoàn 3 Ngụy, chuẩn bị thọc sâu vào Sài Gòn. Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 đang vượt cầu xa lộ trên sông Đồng Nai. Đã diệt ổ đề kháng của địch ở Thủ Đức, phía bắc cầu Rạch Chiếc. Trên hướng nam và tây nam, các đơn vị phía trước, cả Đoàn 232 đang tiến về hướng Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát Ngụy. Trên đường, ta đã đánh chiếm Chi khu Thủ Thừa, giải phóng thị xã Tân An.

        Để chuẩn bị cho các mũi thọc sâu của chủ lực tiến quân vào nội đô từ 27 đến ngày 29 tháng 4, các đơn vị đặc công và biệt động đã kịp thời đánh chiếm các cầu lớn, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch và giữ vững cầu. Có những cầu ta phải giành giật với địch 2 - 3 lần như cầu Rạch Chiếc, cầu Bình Phước. 

        Trước đó, từ cuối trung tuần tháng , các Trung đoàn 1 và 2 Gia Định đã đẩy mạnh hoạt động: tiến công trạm ra đa Phú Lâm; đưa lực lượng vào áp sát phía bắc sân bay Tân Sơn Nhất; mở hành lang tiến công cho chủ lực vào ngã tư Bảy Hiền; phối hợp với đặc công đánh chiếm và giữ cầu Rạch Chiếc, cầu xa lộ Biên Hoà; đưa quân vào tiếp cận các mục tiêu theo kế hoạch hiệp đồng trên các cánh, các hướng. Lực lượng vũ trang Biên Hoà, sau khi phối hợp với chủ lực giải phóng các đường 25, 19, các khu Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ, đã tiến xuống giải phóng  và tiếp quản các mục tiêu ở huyện Duyên Hải, một huyện hẻo lánh sát biển.

        Khi các đơn vị đầu tiên của cánh quân hướng Đông tiến từ cầu Tân Cảng vào Sài Gòn, đông đảo nhân dân đổ ra hai bên đường tiến quân, hoan hô bộ đội. Nhiều nhà báo trong và ngoài nước đón đường quay phim, chụp ảnh bộ đội tiến vào nội đô. Trên hướng bắc, lực lượng vũ trang địa phương đã giải phóng các chi khu quận lỵ Châu Thành, Dĩ An, bức hàng bọn địch trong căn cứ Sóng Thần. Nhân dân các xã ấp được lực lượng vũ trang hỗ trợ đã nổi dậy, xóa chính quyền địch, xây dựng chính quyền tự quản.

        Trong vùng ven đô và nội đô, khi quân ta sắp tiến quân vào, nhân dân nhiều nơi, được sự chỉ đạo của cơ sở cách mạng và lực lượng biệt động đã kịp thời nổi dậy phối hợp. Ngay trong đêm ngày 29, ở nhiều phường, quận, quần chúng đã chiếm bốt địch, chiếm trụ sở cướp chính quyền ở phường, xóm. Có nơi như ở phường Tây Nhì (nay là phường 12) quận Phú Nhuận, ở sát Bộ Tổng tham mưu Ngụy, cờ cách mạng được treo ở trụ sở phường từ trưa ngày 29, tự vệ và quần chúng phường Bình Thới, quận 11, đã chiếm trụ sở khóm 5 và 6 từ đêm hôm đó, trong khi quần chúng ở phường Khánh Hội nổi dậy chiếm chi khu cảnh sát và làm chủ phường....

        Trên hướng đồng bằng sông Cửu Long, Bộ Tổng tham mưu vừa nhận được tin tức mới nhất của một số tỉnh.

        Từ chiều ngày 29, các lực lượng vũ trang Trà Vinh đã tập kết chung quanh thị xã 1 ki-lô -mét và ém sẵn quân gần các mục tiêu sâu như sân bay, trận địa pháo địch. Ở Bạc Liêu, ta đã vận động và cuối cùng đưa tối hậu thư buộc tỉnh trưởng đầu hàng. Hắn vẫn chần chừ do dự, viện cớ chờ lệnh trên.

        Các ban khởi nghĩa của các huyện đã bí mật đưa lực lượng vào thị xã và đang hoạt động tích cực chuẩn bị cho quần chúng nổi dậy. Ở Sóc Trăng, lực lượng vũ trang đã tiến vào thị xã và sân bay, bức hàng Chi khu Khánh Hưng.

        Sau khi bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nghe báo cáo và trao đổi ý kiến về tình hình và những công việc cấp thiết trước mắt, anh Văn đã thay mặt Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương gửi điện vào chiến trường, nói về “một số ý kiến đã nhất trí để các anh thi hành”:

        1. Uỷ ban quân quản công bố ngay trên đài phát thanh mệnh lệnh đầu tiên. Nôi dung đại thể : a) Quân giải phóng tiến vào giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định, hoàn thành công cuộc giải phóng miền Nam; b) Quân đội Ngụy quyền Sài Gòn phải lập tức hạ vũ khí đầu hàng; c) Tuyên bố giải tán chính quyền các cấp; d) Kêu gọi đồng bào  đứng dậy cùng Quân giải phóng đập tan mọi sự chống cự của địch, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, hoàn thành công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam thân yêu.

        2. Đã kiểm tra lại công tác chuẩn bị của không quân. Các đơn vị Mích 17, Mích 21 đã sẵn sàng. Sẽ tuỳ tình hình, nếu thật cần thiết thì sẽ quyết định sử dụng kế hoạch dự kiến...

        Bức điện vừa gửi đi được nửa giờ thì Cục Tình báo báo cáo: Đài phương Tây đưa tin quân ta đã vào dinh Tổng thống Ngụy.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:29:25 am

        Thêm một bức điện gửi gấp vào Nam nói rõ ý kiến của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương: “Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí nhưng không phải với tư cách tổng thống mà chỉ với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân”.

        Bức điện nhắc lại tin quân ta đã cắm cờ trên “dinh Độc Lập” và kết thúc bằng câu: “Các anh Bộ Chính trị rất vui, rất vui...”

        Cầm bức điện, chưa kịp dịch để gửi đi, mấy anh chị em trong tổ cơ yếu thường trực hỏi nhau:

        - Các “cụ” nhận được tin ở đâu mà nhanh thế nhỉ?

        Thắc mắc là đúng, vì tin này do đài anh Tấn ở hướng đông trực tiếp báo về, cơ yếu của cục dịch và anh Phê đích thân mang lên báo cáo gần như đồng thời với Cục Tình báo thu được của đài phương Tây.

        Gặp tôi ở sân “Nhà con rồng”, anh Phê phấn khởi ôm lấy tôi, xúc động nói:

        - Toàn thắng rồi, toàn thắng rồi, anh ạ! Quân ta cắm cờ trên “dinh Độc lập” rồi!

        Tôi bảo anh vào báo cáo với các anh trong phòng họp. Ngay sau đó, hành lang phòng họp của Quân uỷ bỗng trở nên chật hẹp hẳn lại. Không biết từ lúc nào, các anh trong Bộ Chính trị và chúng tôi đã từ phòng họp ra cả hành lang. Anh Khánh, một số cán bộ các cục và Văn phòng, trực ban tác chiến, tổ cơ yếu thường trực, mấy chiến sỹ công vụ, vệ binh... tất cả chỉ trong chốc lát bỗng nhiên hình thành một cuộc mít tinh. Già, trẻ, thường phục, quân phục, cấp trên, cấp dưới..., mọi người đều hân hoan xúc động. Các anh trong Bộ Chính trị cười nói rất vui.

        Đồng chí trực ban tác chiến được phép thông báo tin chiến thắng đến các tổng cục, các cục. Trước đó, ít nhiều cán bộ, chiến sỹ trong cơ quan Bổ Tổng tham mưu đã biết. Vậy mà khi tiếng loa chính thức báo tin vừa dứt, nơi nơi vang lên tiếng vỗ tay reo hò. Đâu đó có tiếng pháo nổ vang. Một không khí phấn khởi, náo nhiệt bao trùm cơ quan Tổng hành dinh.

        Tin chiến thắng cũng được thông báo cho Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam và cho cơ quan thông tin Hà Nội.

        Một đồng chí cán bộ vừa đi từ Bờ Hồ qua ngã tư Cửa Nam về, kể lại: Tiếng loa trên các đường phố vang lên báo “tin đặc biệt”. Dòng người, dòng xe đạp đang chuyển động trên các ngả đường bỗng chậm hẳn lại. Người người lắng nghe và cuối cùng, tiếng hò vang lên. Một sự kiện bao năm chờ đợi, nay đã đến. Từ các nhà, các dãy phố, người ta đổ ra đường. Quanh Bờ Hồ, dưới các loa phóng thanh, người chật ních. Ai cũng muốn nghe tiếng phát thanh viên đọc đi, đọc lại tin chiến thắng mới nhận được. Nét mặt mọi người hân hoan, rạng rỡ. Chặng đường dài chiến đấu liên tục 30 – 40 năm đã đến đích cuối cùng. Lời tiên tri của Bác năm 1960 đã thành hiện thực: “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”.

        Mặt trời đã đứng bóng. Nhiều anh trong Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương lên xe ra về. Niềm vui còn thể hiện rõ trên nét mặt các anh. Hơn hai mươi năm qua, các anh đã bao lần trải qua những giây phút tâm tư, với trách nhiệm nặng nề, nhiệm vụ to lớn đè trĩu lên vai. Thắng lợi không đột ngột nhưng quá nhanh, khiến tâm tư, tình cảm tràn ngập một niềm xúc động mạnh.

        Anh Văn chưa về, dù đã 12 giờ trưa. Anh cho gọi tổ cơ yếu thường trực sang phòng họp. Trên bàn đã bày sẵn mấy chai bia Trúc Bạch, kẹo Hà Nội, thuốc lá Điện Biên. Anh muốn chia vui và thưởng riêng cho anh chị em cơ yếu thường trực sau những ngày làm việc hết sức khẩn trương, căng thẳng, phục vụ đắc lực cho việc chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương.

        Mới hơn 13 giờ, đã thấy những chiếc xe con trở lại Khu A. Buổi trưa nay, ngày 30 tháng 4, hình như nhiều anh trong bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương không nghỉ. Các anh vào phòng họp, vẫn vẻ mặt hân hoan, xúc động. Buổi họp chiều chưa bắt đầu thì đồng chí Trưởng phòng 70 đã chạy và phòng họp, mang theo bản tin mới thu được của đài Sài Gòn.

        Bản tin nói về lời chấp nhận đầu hàng của viên Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn. “Tôi là Dương Văn Minh, Tổng thống Chính quyền Sài Gòn. Tôi kêu gọi bỏ vũ khí đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng, giải tán cơ cấu chính quyền từ trung ương đến địa phương và giao quyền cho Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam”.

        Tiếp đến là lời đại biểu Quân giải phóng:

        “Tôi đại diện Quân giải phóng, chấp nhận sự đầu hàng của ...” Anh không ghi tiếp nữa. Anh xúc động quá, bỏ máy chạy ngay lên phòng họp của Quân uỷ.

        Trong phòng mới có anh Ba, anh Đồng, anh Văn, một số anh trong Thường trực Quân uỷ và tôi. Nghe xong, anh Ba hỏi lại:

        - Có đúng nó tuyên bố đầu hàng vô điều kiện không? Phải bắt nó tuyên bố như vậy.

        Đồng chí Trưởng phòng 70 đọc lại. Đúng là nó đầu hàng vô điều kiện.

        Các anh cùng cười, vui, rất vui.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:30:19 am

        Nửa giờ sau, anh Trân Lâm ở Đài phát thanh vào và cũng mang theo tin nói trên. Các anh dặn anh Lâm về phương hướng tuyên truyền trong những ngày sắp tới. Cần nói nhiều hơn, rõ hơn về chiến dịch Hồ Chí Minh, về các trận chiến đấu,  về phong trào nổi dậy và tin đồng bào nhiệt liệt hoan nghênh Quân giải phóng, nhất là ở Sài Gòn, về việc đầu hàng vô điều kiện của tổng thống Ngụy. Cần đưa nhiều tin về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và công việc của Uỷ ban quân quản. Chú trọng động viên nhân dân giúp đỡ lực lượng vũ trang truy quét tàn binh địch và góp sức vào việc xây dựng chính quyền mới, kêu gọi quân đội và cảnh sát địch còn lại nhanh chóng đầu hàng...

        Cuộc họp buổi chiều bắt đầu muộn. Các anh vừa trao đổi ý kiến về những công việc lớn trước mắt, nừa có ý đợi báo cáo chính thức của chiến trường.

        Khoảng 16 giờ, hai bức điện đến cùng một lúc, một của anh Lê Đức Thọ, một của anh Phạm Hùng và anh Văn Tiến Dũng, được viết hồi 13 giờ 30 ngày 30 tháng 4. Các anh nói về lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh, về lệnh cho các cánh quân tiếp tục phát triển tiến công thật nhanh vào các khu vực và mục tiêu đã quy định; về lời kêu gọi quân địch còn lại đầu hàng, nộp toàn bộ vũ khí; về chỉ thị bắt giữ và tập trung các sỹ quan địch từ cấp tá trở lên, nếu nơi nào địch chống cự thì lập tức tiến công tiêu diệt ngay. Các anh cũng đã chỉ thị cho đồng bằng sông Cửu Long chớp thời cơ nổi dậy, đánh đổ toàn bộ chính quyền địch, lập chính quyền cách mạng, lập uỷ ban quân quản ở địa phương...

        Sau khi nghe điện báo cáo của các anh trong chiến trường, anh Ba tóm tắt những vấn đề đã được trao đổi ý kiến hôm nay và nhắc lại một số việc dự kiến bàn trong cuộc họp chính thức của Bộ Chính trị vào ngày 3 tháng 5, để chuẩn bị Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương sắp tới. Anh chỉ thị Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị báo cáo tổng hợp diễn biến của chiến trường từ trưa ngày 30 tháng 4, cả ở Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long, để báo cáo trong cuộc họp của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương cần họp trước, bàn về một số công tác trước mắt mà đồng chí Bí thư Quân uỷ đã nêu lên: Vấn đề chỉ đạo tác chiến, hoàn thành giải phóng toàn bộ lãnh thổ (kể cả các đảo); vấn đề quản lý vùng giải phóng; kế hoạch (sơ bộ) bố phòng đất nước, làm cơ sở để kiện toàn và điều chỉnh lực lượng, vấn đề thu hồi toàn bộ vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh, cơ sở vật chất và kỹ thuật của một đội quân trên một triệu tên địch vừa bị tiêu diệt và tan rã hoàn toàn. Đây là một nhiệm vụ rất lớn, ta đã làm một bước, nay phải có kế hoạch toàn diện, trong phạm vi toàn chiến trường miền Nam và cả nước. Cần bàn cả công thức ra tuyên bố về giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa,  các đảo Côn Sơn, Phú Quốc, Cù Lao Thu... Một vấn đề cụ thể cần làm sớm là tổ chức lễ mừng chiến thắng, vào khoảng từ 10 đến 12 tháng 5, không nên để chậm. Ngoài công tác ngoại giao, Hội nghị Bộ chính trị sắp tới sẽ tập trung bàn phương hướng tiến lên của cách mạng nước ta sau ngày toàn thắng. Đảng là một, dân tộc là một, quân đội là một. Đương nhiên phải có chuẩn bị nhưng tình hình đã chín muồi để thực hiện thống nhất đất nước. Chúng ta sẽ có nhiều điều kiện cơ bản để đưa cách mạng tiến lên mạnh mẽ, xây dựng đất nước giàu mạnh. Phải làm sớm vấn đề cơ bản này mới có cơ sở để giải quyết các vấn đề cụ thể khác.

        Trước khi ra về, anh Ba còn nhắc tôi:

        - Dặn anh em chú ý tin tức về tiến công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long. Thông tin chỉ huy của tham mưu nặng về tiến công của chủ lực, nhẹ về nổi dậy của quần chúng đấy!

        Có tiếng cười vui.

        Thật ra thì vừa qua, Bộ Tổng tham mưu nhận được tin tức phong trào nổi dậy. Đã có lần báo cáo chúng tôi xin phải “khất”.

        Chúng tôi trong Thường trực Quân uỷ ngồi nán lại. Đồng chí Bí thư nhắc chúng tôi những nôi dung cần chuẩn bị cho cuộc họp của Thường trực Quân uỷ, dự định vào ngày 2 tháng 5. Ngoài những việc anh Ba vừa gợi ý, anh Văn nhắc thêm một số công tác quân sự trước mắt.

        Một là, trong việc quản lý các vùng mới giải phóng nhất là các thành phố lớn, phải chỉ đạo các uỷ ban quân quản phối hợp với các ngành, các đoàn thể, vừa xây dựng chính quyền cách mạng, vừa thực hiện các nhiệm vụ cấp thiết như truy quét bọn tàn binh, bắt giữ bọn đầu sỏ phản động, giữ vững trật tự trị an, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân và tài sản công cộng, ổn định đời sống của nhân dân. Phải làm cho mỗi cán bộ và chiến sỹ của các đơn vị có nhiệm vụ quản lý thành phố trở thành một cán bộ biết vận động nhân dân, phát động quần chúng làm chủ địa bàn mới giải phóng.

        Hai là, nghiên cứu kế hoạch giải quyết bọn địch còn lại ở đồng bằng sông Cửu Long và các đảo Côn Sơn, Phú Quốc. Trong việc giải quyết các đảo, anh nhắc lại chủ trương trước đây của Bộ Chính trị về việc giải phóng và đưa các anh chị em tù chính trị của ta ở ngoài đó trở về.

        Ba là, nghiên cứ kế hoạch xây dựng và điều chỉnh lực lượng trong điều kiện đất nước thống nhất và ta mới thu hồi được một số lớn trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của địch.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:31:27 am

        Tôi xuống phòng trực ban tác chiến. Đã khá muộn, nhưng cả anh Khánh và anh Đức còn ở đó. Các anh đang nắm lại tình hình. Tôi nói lại ý định của Bộ Chính trị và Quân uỷ về nội dung các hội nghị sắp tới và những việc Bộ Tổng tham mưu cần làm. Riêng về báo cáo chiến sự, chúng tôi trao đổi ý kiến và nhất trí rằng trong những ngày này, các anh trong kia còn rất bận, mọi công việc sau chiến trắng rất bề bộn, chờ điện báo cáo tổng hợp thì chậm, nhất là tình hình diễn biến ở đồng bằng sông Cửu Long. Phải dùng cả điện thoại và vô tuyến điện và dựa vào sự giúp đỡ của các phái viên của Bộ Tổng tham mưu ở trong đó, nắm lại diễn biến chiến sự từ ngày 30 tháng 4, trong đó chú ý phong trào tiến công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long. Cơ quan tham mưu nắm vấn đề này chưa vững, chưa kịp thời, vì vừa qua chúng ta tập trung nhiều vào việc theo dõi Mặt trận Sài Gòn. Cần có báo cáo kịp thời để Bộ Cính trị và Quân uỷ chỉ đạo giải phóng tiếp các địa bàn còn lại.

        Đường Hoàng Diệu đã sáng đèn. Có tiếng loa phóng thanh từ xa vẳng đến. Phát thanh viên đang đọc tin chiến thắng trong bản tin buổi tối. Một ngày đã trôi qua, ngày 30 tháng 4, với những sự kiện liên tiếp diễn ra. Nhưng sự kiện lịch sử của ngày 30 tháng 4 sẽ được ghi đậm nét trên chặng đường 30 năm giải phóng dân tộc.

        Hôm sau, ngày 1 tháng 5. Những người lao động bốn biển, năm châu chia vui với dân tộc Việt Nam đúng vào một ngày lịch sử quốc tế. Tự hào biết bao đối với Đảng ta, dân tộc, ta, Quân đội ta, đã giành thắng lợi trọn vẹn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc đúng vào ngày kỷ niệm trọng đại của giai cấp cần lao thế giới.

        Tại cơ quan Bộ Tổng tham mưu chiều hôm đó, tất cả cán bộ cao cấp, trung cấp đều có mặt ở hội trường để mừng ngày lịch sử đấu tranh của giai cấp công nhân và mừng chiến thắng mà quân và dân cả nước mới giành được.

        Thay mặt Thủ trưởng Bộ, phát biểu ý kiến trong cuộc mít tinh trọng thể này, tôi trình bày vắn tắt một số vấn đề về quá trình hình thành và phát triển quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị từ sau Hiệp định Pa-ri đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vừa qua; khái quát quá trình diễn biến của ba chiến dịch - chiến lược trong hai tháng 3 và 4 năm 1975; ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi trong đó đi sâu phân tích sự lãnh đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương.

        Trong ngày lịch sử huy hoàng này, tôi đặc biệt nhấn mạnh đến sự lãnh đạo tài tình của Đảng trong 20 năm chống Mỹ, cứu nước, nhất là trong 3 năm cuối của cuộc chiến tranh. Từ những dự kiến đầu sau hiệp định, đến từng bước phát triển của cục diện chiến trường, Đảng ta đã kiên trì tạo thế mới, lực mới và trong hai tháng qua đã nhạy bén chớp thời cơ chiến lược, hạ quyết tâm liên tiếp đánh những đòn quyết định, giành thắng lợi trọn vẹn. Trong thắng lợi chung đó, mỗi người, mỗi bộ phận trong cơ quan tham mưu chiến lược, từ các đồng chí phái viên ở phía trước, các cán bộ trực tiếp giúp việc chỉ đạo, chỉ huy ở phía sau, đến các chiến sỹ công vụ, vệ binh, lái xe, nấu ăn... tất cả đều làm tròn nhiệm vụ của mình, góp phần cùng toàn quân, toàn dân hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam thân yêu.

        Sau khi nêu lên yêu cầu nhận thức đúng về tình hình mới và nhiệm vụ mới của cơ quan tham mưu chiến lược, thay mặt Thủ trưởng Bộ; tôi kêu gọi anh em tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm và bản chất của người cán bộ cách mạng, người sỹ quan tham mưu trong điều kiện mới. Với thắng lợi vĩ đại và trọn vẹn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thống nhất xã hội chủ nghĩa. Trong giờ phút đáng ghi nhớ của mùa Xuân đại thắng này, để tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của Bộ Tổng tham mưu trong giai đoạn mới, chúng ta càng ghi sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bất kỳ hoà bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chủ động trước...”

        Cuộc mít tinh kết thúc, sau khi bài hát Giải phóng miền Nam và bài Quốc tế ca vang lên, trang nghiêm hùng tráng. Niềm vui dạt dào thể hiện trên nét mặt hân hoan của mọi người.

        Ngay sau buổi lễ chào mừng chiến thắng, chúng tôi thông qua bản báo cáo diễn biến chiến sự trong ngày chót của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Thực ra, đến lúc này, Cục Tác chiến chỉ mới nắm được những điểm chính, nhất là trên các hướng tiến quân của các binh đoàn chủ lực. Sau ngày Sài Gòn giải phóng các phái viên được cử vào làm việc với cơ quan tham mưu chiến dịch và thành đội Sài Gòn. Bộ Tổng tham mưu mới xây dựng được bản báo cáo đầy đủ hơn về diễn biến của Mặt trận Sài Gòn cũng như cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân đồng bằng sông Cửu Long, đệ trình lên Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương. Kèm theo bản báo cáo lần này là tấm bản đồ thành phố Sài Gòn khổ rộng, trên đã ghi diễn biến ngày 30 tháng 4 của cuộc tiến công và nổi dậy từ vùng ven vào nội đô.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:32:15 am

        Chúng tôi nhất trí nên báo cáo diễn biến của các cánh quân trên từng hướng, đánh vào các mục tiêu chủ yếu ở nội đô; vấn đề nổi dậy nói riêng ở Mặt trận Sài Gòn rồi đến đồng bằng sông Cửu Long; tập trung vào diễn biến ngày 30 tháng 4 như Bộ Chính trị đã chỉ thị, vì tình hình những ngày trước đó, các anh đã nắm được.

        Tại mặt trận Sài Gòn, ngày 30 tháng 4, trên cả 5 hướng các cánh quân đồng loạt tiến vào đánh chiếm các mục tiêu trong thành phố:

        Trên hướng đông:

        Từ 5 giờ sáng, binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2, được một phân đội đặc công phối hợp và dẫn đường, bắt đầu vượt cầu xa lộ sông Đồng Nai, tiến về Sài Gòn. Sau khi tiêu diệt địch ở Trường huấn luyện Thủ Đức, bộ phận đi đầu liên lạc được với Tiểu đoàn Biệt động 81 (đang giữ cầu Rạch Chiếc) rồi tiến về cầu xa lộ Sài Gòn (cầu Tân Cảng do biệt động đánh chiếm và giữ từ ngày 29 tháng 4). Sau khi tiêu diệt địch ở cầu Thị Nghè, binh đoàn thọc sâu đã mở được đường tiến về hướng “dinh Độc Lập”. Tổ đặc công đã dẫn đường cho xe tăng tiến vào cơ quan đầu não của chính quyền địch. Dương Văn Minh đầu hàng, cờ cách mạng được treo lên lúc 11 giờ 30 phút. Trong khi đó, các cánh quân khác của binh đoàn thọc sâu nhanh chóng toả ra chiếm đài phát thanh, nhà ngân hàng, trụ sở Bộ quốc phòng, Bộ tư lệnh Hải quân và Quận 4.

        Lực lượng còn lại của Quân đoàn 2 ở bên ngoài tiếp tục truy quét địch ở khu Long Bình, chiếm và làm chủ thị xã Vũng Tàu, sau đó phát triển ra giải phóng đảo Cần Giờ.

        8 giờ sáng, sau khi tiêu diệt địch ở tuyến phòng thủ tây Hố Nai, Sư đoàn 7, đơn vị thọc sâu của Quân đoàn 4, theo đường 1 phát triển vào Biên Hoà. Cầu Mới qua sông Đồng Nai bị địch phá sập, cầu Ghềnh quá yếu, xe tăng không qua được, quân ta phải quay lại cầu xa lộ sông Đồng Nai để tiến vào thành phố Sài Gòn. 13 giờ, bộ phận đi đầu tới “dinh Độc Lập” của Quân đoàn 2. Lữ đoàn 52 tiến sau đội hình Sư đoàn 7, cũng đánh chiếm Bộ tư lệnh Biệt động quân.

        Các đơn vị còn lại của Quân đoàn 4 tiếp tục phát triển tiến công khu quân sự Biên Hoà; Sư đoàn 6 đánh chiếm sở chỉ huy Quân khu 3, Bộ tư lệnh Sư đoàn 3 ngụy và sân bay Biên Hoà, Sư đoàn 341 đánh chiếm căn cứ Hóc Bà Thức và các thị xã Biên Hoà, Thủ Đức, sau đó phát triển vào nội đô.

        Trên hướng bắc:

        Sáng 30 tháng 4, Sư đoàn 320b thuộc Quân đoàn 1 được lệnh tăng tốc độ tiến quân. đến Lái Thiêu, sư đoàn theo đường 13 tiến thẳng về cầu Bình Triệu, bắt cả Lữ đoàn kỵ binh 3 và thiết đoàn 6 Ngụy đầu hàng (bọn này đang rút chạy về Sài Gòn), thu 140 xe tăng, thiết giáp. Trung đoàn 48 dùng 8 xe địch, bắt tù binh lái dẫn đường qua cầu Bình Triệu, theo đường Bạch Đằng – Chi Lăng tiến thẳng về Bộ Tổng tham mưu ngụy, bắt liên lạc với Đội biệt động Z.28. Anh em biệt động cho biết: Từ sáng, nhiều tướng tá ngụy đã bỏ chạy nhưng biệt kích dù vẫn ngoan cố giữ các cổng và chống cự quyết liệt. Từ 9 giờ sáng, một tổ biệt động 17 người cải trang làm lính ngụy bất ngờ đánh chiếm cổng số 3 rồi thọc thẳng vào khu làm việc trong Bộ Tổng tham mưu. Một tổ khác của Z.28 diệt khu trung tâm điện toán, bắt viên đại tá phụ trách trung tâm này cùng 30 sỹ quan, hạ sỹ quan và giao nhiệm vụ cho họ phải bảo vệ phương tiện khí tài để bàn giao cho quân đội giải phóng. Một tổ thứ ba của Z.28 , sau khi tiến công vào cổng số 2 không thành công, chuyển sang cổng số 3 thì gặp Trung đoàn 48 Trung đoàn trưởng cho tổ biệt động lên xe dẫn các mũi đánh thẳng vào bên trong Bộ Tổng tham mưu. 11 giờ 30, Trung đoàn 48 và biệt động đã làm chủ các cơ quan thuộc bộ Tổng tham mưu ngụy (trừ khu vực do Trung đoàn 28 Sư đoàn 10 đã chiếm giữ), với đầy đủ hồ sơ tài liệu, máy móc và phương tiện làm việc.

        Ở bên ngoài, Trung đoàn 27, Sư đoàn 320b, phối hợp với lực lượng vũ trang Bình Dương, đánh chiếm trung tâm huấn luyện Sư đoàn  ngụy và Chi khu quận lỵ Lái Thiêu; đánh quân địch từ Thủ Dầu Một chạy về, bắt tù binh dẫn đường tiến về cầu Bình Phước (do đặc công chiếm lại lần thứ hai lúc 7 giờ 30 phút). Sau khi qua cầu, quân ta đánh chiếm khu Bộ tư lệnh các quân chủng ngụy và Chi khu quận lỵ Gò Vấp, đồng thời cho một bộ phận tiến về “dinh Độc Lập”.

        Trong khi đó, Sư đoàn 312 tiến công tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận Sư đoàn 5 ngụy, tiến công căn cứ Phú Lợi, diệt lực lượng chính của địch ở Tiểu khu Bình Dương và lực lượng còn lại của Sư đoàn 5 ngụy. Bọn này gồm 1.200 tên cùng 36 xe đang rút từ Lại Khê, Bến Cát về An Lợi. Sau đó, Sư đoàn 312 phát triển lên đánh chiếm Chi khu quận lỵ Bến Cát, bắt toàn bộ hệ thống kìm kẹp của địch.

        Từ sáng, nhất là sau khi Dương Văn Minh kêu gọi ngừng bắn, cán bộ chính trị địa phương và lực lượng biệt động đã kịp thời phát động quần chúng nổi dậy, kết hợp với lực lượng vũ trang từ ngoài tiến công vào, nhanh chóng làm chủ thi xã Thủ Dầu Một.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:33:26 am

        Trên hướng tây bắc:

        Từ 6 giờ sáng, một phân đội thuộc Sư đoàn 10 Quân đoàn 3 tiến công tiểu đoàn dù 8 của địch và làm chủ ngã tư Bảy Hiền. Pháo binh cấp tập vào sân bay Tân Sơn Nhất khi phân đội này phát triển vào lăng Cha Cả rồi đánh chiếm cổng số 5 của sân bay. Nhưng cả ba lần tiến công, xe tăng đều bị hoả lực địch chặn lại. Quân ta phải tổ chức lại đội hình tiến công và đưa pháo 85 lên ngắm bắn trực tiếp, diệt hoả điểm chống tăng của địch. Vượt quan cửa số 5, phân đội đánh thẳng vào chiếm Bộ tư lệnh Sư đoàn 5 không quân và khu truyền tin trong sân bay. Trong khi đó, một phân đội khác của Sư đoàn 10 đánh chiếm Bộ tư lệnh quân dù và liên lạc với phái đoàn quân sự của ta ở “Trại Đa-vít”. đến 11 giờ, phân đội thứ ba tiến công Bộ tư lệnh không quân. đến 14 giờ, các Tiểu đoàn 4, 5, 6 Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 10 đã hoàn toàn làm chủ sân bay Tân Sơn Nhất.

        Trong khi Trung đoàn 24 tiến công sân bay, Trung đoàn 28 Sư đoàn 10 được lệnh đánh thẳng vào Bộ tổng tham mưu ngụy, phối hợp với Trung đoàn 48 Sư đoàn 20b. Dọc đường tiến quân, Trung đoàn 28 liên tiếp diệt quân dù ngoan cố chống cự,11giờ, Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn đến cổng số 1 của Bộ Tổng tham mưu diệt một lô cốt và bắn cháy hai xe thiết giáp. Bọn Biệt kích dù giữ cổng bỏ chạy. Quân ta nhanh chóng đánh thẳng vào trong và cùng Trung đoàn 48 và lực lượng biệt động làm chủ cơ quan Bộ Tổng tham mưu ngụy.

        Cũng trong thời gian trên, theo lệnh của quân đoàn, Trung đoàn 64 cho một tiểu đoàn bộ binh, có xe tăng dẫn đầu, tiến về “dinh Độc Lập”.

        Trên hướng tây:

        Từ 4 giờ 30 sáng, Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 Đoàn 232 đánh chiếm ngã ba Bà Quẹo rồi phát triển về ngã tư Bảy Hiên, ngay sau đội hình thọc sâu của Quân đoàn 3. Mặc dù máy bay địch ném bom dọc đường tiến quân, trung đoàn vẫn khẩn trương vượt lên theo đường Lê Văn Duyệt tiến về Bộ tư lệnh Biệt khu thủ đô. Nhân dân đổ ra đường hoan hô bộ đội. Đến cổng biệt khu, thấy địch bỏ chạy, trung đoàn chỉ dùng một tiểu đoàn đánh vào mục tiêu, bắt tướng ngụy Lâm Văn Phát, Tư lệnh Biệt khu, hai tiểu đoàn còn lại được lệnh tiến về “dinh Độc Lập”.

        Trong khi đó, Trung đoàn 2 của Sư đoàn 9 nhanh chóng vượt qua ngã tư Bảy Hiền rồi theo đường Phan Thanh Giản tiến về “dinh Độc Lập”. Thấy đơn vị bạn đã đánh chiếm và làm chủ mục tiêu, trung đoàn này quay về Biệt khu thủ đô và toả ra chiếm các khu vực thuộc hai quận 2 và 10.

        Trung đoàn 3, sau khi giải phóng toàn bộ khu Bà Hom, Tân Tạo, diệt bọn địch từ Đức Hoà chạy về Sài Gòn, sau đó phát triển về hướng trường đua Phú Thọ, bức địch hàng, thu 18 khẩu pháo và hai kho súng trên 2.000 khẩu.

        Trên hướng nam:

        Từ 5 giờ sáng, Trung đoàn 24 (Quân khu 8) và Trung đoàn đặc công 429 phối hợp tiến công tiêu diệt địch ở ngã ba Bình Hưng Đông, đánh chiếm bốt cảnh sát quận 8 và cầu Nhị Thiên Đường rồi phát triển lên cầu chữ Y. 10 giờ 30 phút quân ta tiến vào chiếm Tổng nha cảnh sát, thu toàn bộ hồ sơ, tài liệu của địch. Sau đó, một bộ phận của Trung đoàn 24 tiến về “dinh Độc Lập”.

        Cùng lúc đó, sau khi vượt qua cầu Ông Thìn và ngã ba An Phú chiếm lĩnh tuyến đường 5, Trung đoàn 88 (Quân khu 8) chia thành hai mũi đánh chiếm Bộ tư lệnh Hải quân, Cảng Bạch Đằng và Chi khu quận lỵ Nhà Bè.

        Trên hướng đường 4, Sư đoàn 5 Đoàn 232 diệt và bức hàng toàn bộ Sư đoàn 22 ngụy, Liên đoàn Biệt động quân 6 và một liên đoàn bảo an, đánh chiếm các thị xã Tân An, Thủ Thừa. Quân địch ở Tân An chống trả quyết liệt. Trận đánh kéo dài từ 10 giờ đến 12 giờ kết thúc. Quân ta thu 9 khẩu pháo và 3 xe M113. Sau đó, Sư đoàn 5 nhanh chóng tiến công tiêu diệt Sư đoàn 22 ngụy trên đường 22, thu 10 xe M113.

        Như vậy là ngay trong buổi sáng ngày 30 tháng 4, các binh đoàn đột kích thọc sâu đã từ các hướng đồng loạt tiến công vào nội đô và đến trưa đã chiếm xong 5 mục tiêu chủ yếu đã được xác định là “dinh Độc Lập”, Bộ Tổng tham mưu, Biệt khu thủ đô, Tổng nha cảnh sát và sân bay Tân Sơn Nhất, sau đó đã nhanh chóng toả ra đánh chiếm các mục tiêu và khu vực khác trong thành phố. Một số điểm nổi lên trong sự hiệp đồng giữa các hướng là sau khi đánh chiếm mục tiêu chủ yếu được giao, các mũi đột kích đều cho một bộ phận tiến về “dinh Độc Lập” để hỗ trợ cho đơn vị bạn có trách nhiệm đánh chiếm mục tiêu quan trọng hàng đầu này.

        Đến buổi chiều, ta đã hoàn toàn làm chủ thành phố Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:33:48 am

        Về phong trào nổi dậy của quần chúng vùng ven đô và nhất là nội đô, qua báo cáo của thành đội, sau này Bộ Tổng tham mưu mới nắm được tình hình cụ thể hơn,. Dưới sự chỉ đạo của các cơ sở cách mạng, của cán bộ chính trị do Thành uỷ phái vào và của các lực lượng biệt động thành, nhân dân ở nhiều nơi đã kịp thời nổi dậy phối hợp với cuộc tiến công của bộ đội trên các hướng, tạo nên một khí thế cách mạng rầm rộ, sôi nổi, áp đảo quân địch ngay từ đêm ngày 29 tháng 4.

        Hoạt động phối hợp và hỗ trợ của quần chúng trong quá trình bộ đội tiến công vào nội đô, diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú: tổ chức đón và dẫn đường cho bộ đội; sử dụng các loại xe chở bộ đội nhanh chóng tiếp cận và đánh chiếm các mục tiêu; dùng loa kêu gọi, giải thích, hù doạ, buộc địch đầu hàng; hướng dẫn bộ đội bắt bọn cảnh sát ác ôn và sỹ quan ngụy ngoan cố chạy trốn; cao hơn cả là xoá bỏ chính quyền địch, lập chính quyền tự quản ở phường, khóm. đường phố được giải phóng đến đâu, rừng cờ cách mạng lan nhanh đến đó, nhiều nhất là ở Hạnh Thông, Bình Hoà, Phú Nhuận, Bàn Cờ, Vườn Chuối, đường Trần Quốc Toản, cư xá Lữ Gia, ngã tư Bảy Hiền, Tân Phú, Phú Lâm....

        Hoạt động nổi bật của quần chúng nội thành đêm ngày 29 và sáng ngày 30 tháng 4 là có nơi như ở nhà máy sợi Khánh Hội, nhân dân nổi dậy phá kho lấy súng của địch trang bị cho tự vệ phường; bao vây trụ sở phường, kêu gọi địch đầu hàng, tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch, như ở phường Bình Tây, Quận 6 (Chợ Lớn), phường Trần Quang Khải, Quận 1, phường Bến Thành, Quận 2, phường Trương Minh Giảng, Bàn Cờ, Quận 3... Anh chị em tù chính trị ở nhà lao Chí Hoà, Quận 10, nổi dậy phá ngục tự giải phóng, bung ra phát động nhân dân phường Chí Hoà đứng lên giành chính quyền. Khi Sư đoàn 9 tiến vào, lực lượng tự vệ Chí Hoà đã cùng anh em tù chính trị và quần chúng phối hợp đánh chiếm trại quân cụ, viện Quân y 115, trại Trần Nguyên Hãn. Ở nhiều phường khác, khi bộ tiến vào thành phố, hoạt động phổ biến của nhân dân là nổi dậy chiếm trụ sở phường, khóm, thu vũ khí của cảnh sát và phòng vệ dân sự, tiêu diệt bọn tề điệp, giải tán chính quyền địch.

        Công nhân, viên chức đã chấp hành chỉ thị của Thành uỷ và Uỷ ban khởi nghĩa nhanh chóng chiếm và làm chủ nhà máy, xí nghiệp, công sở của ngụy quyền trung ương và thành phố, không cho địch và những phần tử xấu phá hoại, lấy cắp hoặc tẩu tán máy móc, vật liệu sản xuất, kho tàng, hồ sơ tài liệu. Đặc biệt là các nhà máy điện và nhà máy nước Thủ Đức, ngay trong ngày 30 tháng 4 vẫn cung cấp đầy đủ điện nước cho thành phố (nguồn điện chỉ bị gián đoạn từ hai giờ). Tại hầu hết các nhà máy dệt, thực phẩm, cơ khí, công nhân đã bảo vệ an toàn máy móc, nguyên vật liệu, kho tàng. Hồ sơ, tài liệu và phương tiện làm việc của các công sở ngụy quyền đều được bảo vệ để bàn giao uỷ ban quân quản.

        Nhìn chung lại, trong hai ngày 29 và 30 tháng 4, trong tổng số 160 phường, đã có khoảng 60 phường nội thành nổi dậy giành chính quyền trước và trong khi chủ lực từ các hướng tiến công vào. Sau khi bộ đội đã vào thành phố, chính quyền địch trong 100 phường, khóm còn lại đều tan rã hết. Kết quả của các đòn tiến công quân sự trong quá trình của cuộc tổng tiến công đã tạo nên một thế hết sức thuận lợi cho phong trào quần chúng nổi dậy. Sự phối hợp kịp thời của lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và quần chúng từ vùng ven vào nội đô, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cánh quân chủ lực tiến công nhanh chóng, đã tiêu diệt lớn lực lượng địch, thúc đẩy nhanh đà tan rã, sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền, thực hiện được việc đánh chiếm và làm chủ thành phố còn nguyên vẹn nhanh, gọn, tạo điều kiện để đời sống nhân dân trong thành phố sớm trở lại bình thường.

        Về tình hình đồng bằng sông Cửu Long, báo cáo của các Quân khu 8 và 9 cho thấy: trong những ngày chiến dịch Hồ Chí Minh đang diễn biến thuận lợ thì phong trào chuẩn bị tiến công và nổi dậy của lực lượng vũ trang và nhân dân hết sức khẩn trương. Quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã phối hợp kịp thời và đắc lực với chiến trường trọng điểm Sài Gòn, thực hiện xuất sắc chủ trương đón thời cơ của Trung ương Cục là từng địa phương tự giải phóng với lực lượng chính mình.

        Từ sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Cục đến khi mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh, ở đồng bằng sông Cửu Long, ta đã phát triển được 36 ngàn dân quân tự vệ, du kích, đã tuyển thêm được gần 14 ngàn tân binh, đã đưa du kích lên phát triển được thêm 30 tiểu đoàn bộ đôi địa phương. Lực lượng chính trị cũng phát triển mạnh. Quần chúng được động viên, tổ chức thành đội ngũ mạnh mẽ. Tất cả đã sẵn sàng chuyển lên cao trào tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng địa phương.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:34:23 am

        Đường 4, con đường huyết mạch cuối cùng của địch nối liền Sài Gòn với miền Tây đã bị cắt đứt hoàn toàn. Bọn địch ở đồng bằng sông Cửu Long không những không chi viện được cho đồng bọn ở Sài Gòn mà còn bất lực trước khi hình thức nổi dậy tự giải phóng của nhân dân trên toàn địa bàn chiến lược quan trọng đông người, nhiều của này.

        Khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, trong lúc chủ lực Quân khu 8 cắt đường 4 và có một bộ phận phối thuộc cho Đoàn 232 tiến vào Sài Gòn từ hướng nam, chủ lực Quân khu 9 vừa tham gia cắt đường 4 vừa tiến công địch ở Cần Thơ, thì lực lượng vũ trang các tỉnh, huyện, xã cùng quần chúng thực hành tổng tiến công và nổi dậy đều khắp.

        Quân khu 4 Ngụy bị cô lập với Sài gòn, tiếp đến là việc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, bọn địch ở đồng bằng sông Cửu Long hoang mang, dao động cao độ, không còn ý chí đề kháng. Các cấp lãnh đạo địa phương đã nhạy bén chớp thời cơ, phát động quần chúng nổi dậy, xoá bỏ chính quyền địch, giành quyền làm chủ ở từng địa phương. Với kinh nghiệm sẵn có về vận dụng chiến lược tổng hợp, kết hợp chặt chẽ hai chân, ba mũi, cấp uỷ các khu, tỉnh, huyện, xã đã động viên hàng chục vạn quần chúng xuống đường biểu dương khí thế cách mạng, bao vây đồn bốt, quận lỵ, chi khu để làm áp lực, đẩy mạnh hoạt động binh vận của hàng ngàn, hàng vạn gia đình binh sỹ, kêu gọi con em trong hàng ngũ địch hạ vũ khí đầu hàng cách mạng. Cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân đồng bằng sông Cửu Long diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú. Bước đầu, do tài liệu chưa thật đầy đủ, chúng tôi tạm thời khái quát thành ba hình thức dưới đây:

        Trước hết là hình thức tiến công của lực lượng quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng tại chỗ như ở Trà Vinh, Sóc Trăng, Vị Thanh... Lực lượng vũ trang đánh chiếm các mục tiêu trong thị xã thì quần chúng nổi dậy bao vây bức hàng, bức rút hàng loạt đồn bốt. Gia đình quân ngụy xuống đường kêu gọi con em, tranh thủ cô lập bọn sỹ quan, tạo thế cho tiến công quân sự. Khi bọn địch ở Sài Gòn đầu hàng thì quần chúng tràn vào toà hành chính, buộc tỉnh trưởng đầu hàng. Ba mũi giáp công áp đảo buộc các đơn vị bảo an địch phải hạ vũ khí. Khi bọn địch ở sân bay Sóc Trăng phản kích, lực lượng vũ trang đánh lui địch, bao vây bức hàng thì quần chúng nổi dậy chiếm thị xã. Cũng có nơi như ở Vị Thanh, khi địch ở Sài Gòn đã đầu hàng nhưng quân địch ở đây vẫn chống cự quyết liệt, lực lượng vũ trang bắn pháo vào hậu cứ địch, đoạt xe M113 tiến công vào dinh tỉnh trưởng, cuối cùng làm chủ thị xã.

        Một hình thức khác là khi lực lượng vũ trang tiến công áp sát các mục tiêu ở ngoại vi, quần chúng nắm thời cơ nổi dậy giành chính quyền như Cần Thơ, Mỹ Tho, Rạch Giá, Vĩnh Long, Bến Tre, Gò Công. Ở Cần Thơ khi nghe tin địch ở Sài Gòn đã đầu hàng, Thành uỷ lãnh đạo quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở các phường, mở khám giải phóng tù chính trị và thanh niên bị bắt. Quần chúng xuống đường chiếm đài phát thanh gây áp lực, làm tan rã bọn địch ở sân bay Trà Nóc, trong khi đó bộ đội từ các hướng tiến công vào thị xã. Ở Vĩnh Long, sau khi đã cắt đường 4, ta gọi địch đầu hàng, chúng ngoan cố chống cự, lực lượng vũ trang tiến công các vị trí trong thị xã, quần chúng nổi dậy bao vây dinh tỉnh trưởng buộc phải đầu hàng. Nhân dân làm chủ thị xã sáng ngày 1 tháng 5. Ở Gò Công, ta không có lực lượng tiến công địch từ ngoài vào mà huy động quần chúng tập trung các loại xe nhanh chóng tiến vào thị xã bằng nhiều hướng, cùng nhân dân tại chỗ bức địch đầu hàng. Ta làm chủ thị xã đồng thời với các huyện.

        Hình thức thứ ba là công tác binh vận đi trước một bước, kết hợp với quần chúng nổi dậy buộc địch hàng trước khi lực lượng vũ trang tiến công địch như ở Bác Liêu, Châu Đốc. Do ta cử người gặp trước, buộc tỉnh trưởng (hoặc phó tỉnh trưởng) phải đầu hàng, ta lấy xe cắm cờ Mặt trận đưa quần chúng kéo vào dinh tỉnh trưởng, nơi đã có hàng vạn quần chúng tại chỗ tập trung từ trước. Tỉnh trưởng tuyên bố đầu hàng cách mạng. Ta tiếp nhận bàn giao chính quyền, 6 tiểu đoàn của ta ở Bạc Liêu không phải ra quân chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:34:49 am

        Như vậy là, trừ một số nơi địch ngoan cố chống lại, còn nhìn cùng, chỉ trong hai ngày 30 tháng 4 và 1 tháng 5, cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân các tỉnh, huyện, xã ở khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long đã giành thắng lợi nhanh chóng, trọn vẹn và ít tổn thất. Bằng tiến công đồng loạt, nổi dậy đồng loạt, ta đã làm chủ toàn bộ các thành phố, thị xã, thị trấn, đã chiếm các căn cứ quân sự lớn, các chi khu quận lỵ, các sân bay, đã tiêu diệt, bức hàng và làm tan rã toàn bộ lực lượng Quân đoàn 4 ngụy, đánh đổ toàn bộ chính quyền địch từ tỉnh, huyện đến cơ sở, giải phóng hoàn toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long và các đảo Công Sơn, Phú Quốc, kết thúc thắng lợi trọn vẹn sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam. Sau khi được bổ sung và chỉnh lý bước đầu, bản báo cáo được trình bày trong cuộc họp ngày 2 tháng 5 của Thường trực Quân uỷ. Các anh góp nhiều ý kiến quan trọng, nhất là những kết luận rút ra về chỉ đạo vận dụng các phương châm, phương thức trong quá trình chuẩn bị và thực hành đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng.

        Trong hội nghị lần này, Thường trực Quân uỷ tập trung thảo luận một số vấn đề quân sự trước mắt đã được Bộ Chính trị nêu lên trong cuộc họp ngày 30 tháng 4.

        Trong việc củng cố vùng mới giải phóng, nhất là quân quản các thành phố lớn, phải phát động nhân dân giúp quân đội và các lực lượng an ninh kiên quyết truy quét bọn tàn quân còn lẩn trốn, nhất là bọn chỉ huy, bọn cầm đầu ác ôn ngoan cố không chịu ra trình diện, trốn tránh cải tạo. Phải nhanh chóng ổn định tình hình chính trị, trật tự xã hội, để nhân dân sớm trở lại cuộc sống bình thường. Riêng đối với bọn Phun-rô đang lén lút hoạt động phá hoại vùng Tây Nguyên, phải chỉ đạo địa phương tiếp tục giúp đỡ bộ đội tiêu diệt bọn cầm đầu và kêu gọi những người còn lầm đường theo chúng mau tỉnh ngộ trở lại với gia đình, với buôn làng đã giải phóng. Đây là một công việc khó khăn, phức tạp, phải có kế hoạch phối hợp giữa các ngành, các cấp, để cùng nhân dân địa phương tiến hành kiên trì, vì nó có quan hệ đến các mặt quân sự, chính trị, xã hội và đoàn kết dân tộc.

        Việc thu hồi các phương tiện chiến tranh của địch là một công tác lớn. Bộ Tổng tham mưu và các tổng cục cần có kế hoạch kiểm tra lại các kho tàng và khối lượng rất lớn chiến lợi phẩm còn rải rác khắp nơi, để thống kê, bàn giao, bảo quản chu đáo và có kế hoạch điều chỉnh sử dụng đối với từng loại ở từng địa phương, đơn vị.

        Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu kế hoạch điều chỉnh bước đầu các đơn vị chủ lực của Bộ. Không nên để nhiều lực lượng trong thành phố, mà nên lui ra ngoài theo một kế hoạch sơ bộ về bố phòng trên cả hai miền, cả ở đô thị và nông thôn, biên giới và hải đảo. Cần điều chỉnh một bước, sau sẽ căn cứ vào kế hoạch phòng thủ chung mà bố trí lại cho phù hợp. Dù ở nông thôn hay thành phố, cần chỉ đạo các đơn vị tăng cường giáo dục bộ đôi chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật và chính sách vùng mới giải phóng, giữ gìn bản chất tốt đẹp của quân đội cách mạng.

        Đối với những nhân viên Ngụy quân, Ngụy quyền, nhất là các sỹ quan và viên chức cao cấp, phải tổ chức tốt việc giáo dục, cải tạo, để họ có thể trở thành những công dân tốt của chế độ xã hội mới.

        Ngoài ra, Thường trực Quân uỷ cũng đề cập đến một số công việc cụ thể như tổ chức lễ mừng chiến thắng trên cả hai miền, việc chuẩn bị tổng kết kinh nghiệm chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và trước mắt là kinh nghiệm chỉ đạo chuẩn bị và thực hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy vừa qua. Thắng lợi to lớn của 20 năm chống Mỹ, cứu nước và riêng hơn hai mươi năm cuối chiến tranh, đã cho chúng ta những bài học vô cùng quý báu về lãnh đạo chiến tranh, về chỉ đạo, chỉ huy các chiến dịch, về công tác tham mưu chiến lược. Cần nhanh chóng tổng kết, rút ra những kết luận chính xác, để vận dụng trong chỉ đao chiến lược trong giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn xây dựng và bảo vệ đất nước trong điều kiện Tổ quốc đã hoàn toàn độc lập và thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tế cuộc sống và chiến đấu mấy chục năm qua cho thấy âm mưu và thủ đoạn của bọn đế quốc và các thế lực phản động vòn vô cùng thâm độc: Mặc dù phải chịu những thất bại cay đắng, nhưng bản chất phản động không cho chúng có khả năng tiếp thu những bài học của lịch sử. Chủ động đi trước một bước trong việc tổng kết kinh nghiệm, làm cơ sở để nghiên cứu phương hướng xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong điều kiện mới là một yêu cầu vừa rất cơ bản vừa rất cấp bách, để trong bất kỳ tình huống nào, quân và dân ta cũng luôn chủ động trước âm mưu của mọi kẻ thù xâm lược”...


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:44:36 am

4. THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN HỮU AN

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/TT_Nguyn_Hu_An_zps1chglq8u.jpg)


       
        Thượng tướng Nguyễn Hữu An sinh tháng 10 năm 1926 trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở xã Trường Yên huyện Gia Viễn (nay là Hoa Lư) tỉnh Ninh Bình. Đồng chí tham gia quân đội tháng Tám năm 1945 và từ đó liên tục chiến đấu trên các chiến trường, góp phần vào hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

        Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí Nguyễn Hữu An trưởng thành từ chiến sỹ đến Trung đoàn trưởng. Tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 do Nguyễn Hữu An chỉ huy được giao đảm nhiệm đánh chiếm đồi A1 – lá chắn phía Đông tập đoàn cứ điểm và là một vị trí trọng yếu bảo vệ chỉ huy sở của tướng Đờ Cát. Trận đánh kéo dài, đòi hỏi ở người chỉ huy bản lĩnh vững vàng, ý chí và trí tuệ kiên cường, sắc sảo: tập trung được sức mạnh ý chí của toàn đơn vị quyết giành thắng lợi. Sau gần 2 tháng giằng co quyết liệt giữa ta và địch, sáng ngày 7 tháng 5 Trung đoàn 174 đã đập tan hoàn toàn sức kháng cự cuối cùng của địch, làm chủ A1, mở toang cánh cửa sắt cho quân ta tiến vào hầm chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

        Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí Nguyễn Hữu An được giao đảm nhiệm:

        - Năm 1955 – 1964: Tham mưu phó Sư đoàn 16, Tham mưu phó Quân khu Tây Bắc.

        - 1964 – 1967: Phó Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, Sư trưởng các Sư đoàn 6 và 1.

        - Từ 1968 – 1974 là Tham mưu trưởng Quân Khu Hữu Ngạn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308, Phó Tư lệnh các Mặt trận: 31, Đường 9 và Quân khu Trị - Thiên.

        Năm 1975 là Tư lệnh Quân đoàn 2 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

        Trải qua nhiều cương vị công tác, sống gắn bó với cán bộ, chiến sỹ trên nhiều chiến trường gian khổ và ác liệt, đồng chí Nguyễn Hữu An đã tỏ rõ bản lĩnh của “nhà chỉ huy quân sự quyết đoán và mưu lược”. Đồng chí đã cùng bao đồng đội và nhân dân viết nên những bản anh hùng ca tuyệt đẹp - những chiến thắng còn vang vọng trong lịch sử như: Plây Me, Tu Mơ Rông, Ia Đrăng (Tây Nguyên), Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, Chiến dịch Cánh Đồng Chum.

        Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh xuân 1975, lực lượng Quân đoàn 2 do Nguyễn Hữu An chỉ huy nằm trong cánh quân phía Đông thần tốc hành tiến dọc miền Duyên Hải, giải phóng Huế, Đà Nẵng, Phan Rang, Phan Thiết... và cắm lá cờ giải phóng trên nóc dinh Độc lập trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975.

        Đất nước thống nhất, đồng chí Nguyễn Hữu An tiếp tục đảm nhiệm: Phó Tổng thanh tra quân đội (1981-1984); Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, Quyền Tư lệnh Quân khu 2 (1984-1987). Từ năm 1988 đến 1991 là Giám đốc Học viện Lục Quân, sau đó là Giám đốc Học viện Quốc Phòng (1991-1995).

        Thượng tướng Nguyến Hữu An vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng nhất, ba Huân chương Quân công (hai hạng nhất, một hạng ba), ba Huân chương Chiến công (hạng nhất, nhì, ba).


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:45:59 am

CHỚP LẤY THỜI CƠ MỚI

        “ Tháng 5 năm 1974 tôi nhận lệnh rời chiến trường Trị - Thiên ra Hà Nội chuẩn bị đi học ở Liên Xô. Các bạn tôi, gia đình tôi và nhất là tôi rất vui mừng với chuyến du học ngoại quốc có một không hai này.Từ trước tới giờ tôi chưa được đi học trường lớp hẳn hoi, nên chuyến đi học này đối với tôi đáng giá biết bao. Tôi tin rằng, lần này chắc chắn sẽ không có chuyện hụt hẫng như lần trước.

        Nghỉ vài ngày, thân thể chưa sạch bụi chiến trường đã có người của Cục Cán bộ tới báo: “Thôi không đi học ở Liên Xô, anh cứ nghỉ chờ nhận nhiệm vụ mới”.

        Hôm ấy tôi nhận được vài giấy mới xem trận đấu bóng ở sân Hàng Đẫy.

        Trung tướng Lê Trọng Tấn thấy tôi đang bước vào khán đài A, anh ra vui mừng vời tôi vào ngồi bên. Anh Tấn hỏi tôi:

        - Nghe tin anh ra để đi Liên Xô học phải không?

        - Vâng, nhưng lại có lệnh thôi rồi.

        Anh Tấn đỏ tai lên, nói gằn giọng:

        - Quái lạ thật ... thằng nào chiến đấu thì cứ chiến đấu miết. Tôi phải nói việc này mới được.

        Có lẽ nhờ anh Tấn nói với ai đó, tôi vẫn được sang Liên Xô học. Những năm tháng chiến đấu hiệp đồng tương đối hiện đại, với đối phương là quân đội Mỹ đã giúp tôi dễ dàng tiếp thu nguyên tắc, lý luận  quân sự học ở trường. Trong thời gian học, các thầy đã giúp tôi hiểu ra nhiều điều mới mẻ, có tính nguyên lý ngay trong những trận đánh tôi đã trải qua. Tôi biết ơn Đại tướng - Viện trưởng Sa-vơ- rốp, Thượng tướng Ma-za-ép đã tận tình giúp đỡ và nhiều cán bộ của học viện đã tỏ sự ưu ái đặc biệt đối với những học viên Việt Nam chúng tôi.

        Trở về nước (1-1975) vào dịp giáp Tết, tới sân ga Hàng Cỏ đã có người của Cục Cán bộ ra đón, tôi rất xúc động trước cử chỉ ấy của tổ chức. Bước lên xe, một trợ lý của Cục Cán bộ nói nhỏ với tôi: “Sáng ngày mai anh vào ngay Văn Phòng Bộ Tổng tư lệnh họp”.

        Tôi ăn mặc chỉnh tề vào cuộc họp. Các cử toạ trong cuộc họp đông đủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, Trung tướng Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn, Thiếu tướng Lê Tự Đồng, Thiếu tướng Lê Linh, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, và vài cán bộ của Cục Tác chiến.

        Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ trì cuộc họp công bố quyết định tôi về thay Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Quân đoàn trưởng Quân đoàn 2. Tiếp đó là cuộc thảo luận về chọn hướng chiến dịch. Nghe đâu trước đó Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu đã quyết định chọn hướng chiến dịch hướng đường 12 và khu vực bắc đường 12 (tây bắc Huế).

        Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 nghiên cứu trao đổi thấy rằng: hướng đường 12 địch hết sức đề phòng, và tăng cường lực lượng phòng thủ. Nếu ta đánh ở hướng này phải đột phá nhiều, đường sá chưa thông, cơ động khó khăn, và nếu có thời cơ thì không phát triển nhanh được.

        Cuộc họp (đầu tháng 2-1975) này đã tập trung thảo luận vào ý kiến đề đạt của Quân đoàn 2: chọn hướng tập trung chủ yếu của chiến dịch vào khu vực tây nam Thừa Thiên (khu vực đường số 14) tiến công dọc tả hữu sông Truồi ra đường số 1. Qua hai ngày thảo luận, mọi người đã nhất trí với ý kiến trên của Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên. Chọn hướng này là hướng có lợi thế để triển khai binh hoả lực của quân đoàn, tập trung vào đối tượng chủ yếu là Trung đoàn 54 của địch bố trí trên khu vực điểm cao Núi Bông, Núi Nghệ, 224, 273, 308, vùng mỏ Tàu... là hướng hiểm yếu và bất ngờ với địch, khi thời cơ lớn xuất hiện ta có thể nhanh chóng chiếm đường số 1 chia cắt Huế, Đà Nẵng, hình thành thế bao vây cô lập địch ở Trị - Thiên - Huế.

        Cuối cuộc họp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc nhở Quân khu và Quân đoàn phải chuẩn bị hai kế hoạch, kế hoạch thường lệ và kế hoạch đón thời cơ. Thời cơ đó có thể ở chiến trường khác tác động, hoặc có thể ngay ở Trị - Thiên tạo nên.

        Từ hôm đó tôi không còn thời giờ để chuyện trò tâm sự với vợ con. Một chồng tài liệu mật của Cục Tác chiến cho mượn, buộc tôi ngốn ngấu đọc để nắm được tình hình chung và tình hình chiến trường Trị - Thiên, qua đó tôi thấy nhiều sự phát triển mới mẻ và to lớn trong thời gian tôi xa đất nước.

        Tháng 10 năm 1974, Bộ Chính trị đã dự kiến thời cơ chiến lược cụ thể có thể xuất hiện sớm. Do đó, ngoài kế hoạch cơ bản hai năm 1975 -1976, còn chuẩn bị một kế hoạch để sẵn sàng đón thời cơ, giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.

        Chiến thắng Phước Long (6/1/1975) là chiến thắng đầu tiên trên chiến trường miền Nam, và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh ở gần Sài Gòn. Đây là một thắng lợi rất có ý nghĩa trong việc thăm dò khả năng chiến tranh của đế quốc Mỹ, góp phần củng cố vững chắc thêm quyết tâm chiến lược, đã được Bộ Chính trị xác định.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:46:31 am

        Từ tình hình chung về chiến lược như vây, tôi thấy ý kiến của anh Lê Trọng Tấn nhắc “Phải thật nhanh, thật nhanh lên không thì không kịp thời gian” là rất xác đáng.

        Nghiên cứu tài liệu và chuẩn bị cá nhân hai  ba ngày, tôi lại tạm biệt vợ con để ra trận. Thế là cái Tết sum họp gia đình mà tôi chắc mẩm từ khi rời Liên Xô về đành gác lại. Xe lăn bánh theo quốc lộ 1, tới đường 9 không gặp trắc trở gì. Quang cảnh đường 9 độ này đã xóa đi nhiều dáng dấp chiến trận ác liệt trước đây. Đông Hà đã có vẻ một thị trấn, trên bến dưới thuyền tấp nập, quán cà phê, quán ăn, quán bán tạp phẩm... đã có nhiều khách dừng lại mua bán. Từng đoạn dọc đường 9 nếu giạt về phía bắc khoảng trên dưới một cây số ta sẽ gặp những cụm nhà lợp tôn, hoặc lợp tranh còn mới, gọn ghẽ xinh xắn. Đây là khu vực thủ phủ của Chính phủ cộng hoà miền Nam Việt Nam; là bản doanh của Sư đoàn 325 Quân đoàn 2; đây là doanh trại của một binh trạm lập chân hàng...

        Nếu ta đi ngược về phía tây giáp chân đường Trường Sơn, sẽ thấy có một con đường đất đỏ ngoằn ngoèo chạy về phía nam, những đoạn nối đuôi nhau và những làn bụi đỏ cũng nối đuôi nhau bay lơ lửng trên sườn núi. Đó là con đường chiến lược đông Trường Sơn. Hơn ba vạn người gồm bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân kỹ thuật được điều động tới đây mở đường...

        Không khí của khu vực này có cái gì đó sôi sục khẩn trương thôi thúc lòng người. Tôi có cảm giác mình đang đến với một công việc lớn lao, trang nghiêm hơi muộn màng, phải gấp lên mới kịp.

        Đến nơi chúng tôi tổ chức ngay cuộc họp Đảng uỷ bất thường. Anh Bùi Công Ái – Tham mưu trưởng Quân đoàn truyền đạt lại quyết tâm, đã được Bộ thông qua và những chỉ thị của Quân uỷ Trung ương. Trên cơ sở đó Bộ tư lệnh sơ bộ hạ quyết tâm và có kế hoạch triển khai phân công nhau xuống truyền đạt và đôn đốc các đơn vị.

        Bộ tư lệnh Quân đoàn lúc này gồm: Tôi là Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Linh – Chính uỷ, Đại tá Hoàng Đan – Phó tư lệnh, Đại tá Công Trang – Phó Chính uỷ, Thượng tá Bùi Công Ái – Tham mưu trưởng, Thượng tá Lê Khả Phiêu - Chủ nhiệm chính trị, thượng tá Nguyễn Ngọc Thực - Chủ nhiệm hậu cần. Chúng tôi đã từng quan hệ công tác với nhau, hiểu biết nhau nên khi lắp ghép vào một cơ quan, không phải mất thời gian rà trơn mà guồng máy vẫn chạy đều.

        Đại tá, Phó tư lệnh Hoàng Đan đang ở A Lưới với Sư đoàn 324. Tham mưu trưởng Ái truyền đạt lại quyết tâm của Đảng uỷ và chỉ thị của Quân uỷ Trung ương, đồng thời các anh Đan và Ái giúp sư đoàn xây dựng phương án tác chiến.

        Kế hoạch chuẩn bị chiến trường chuyển động rất gấp gáp, trinh sát chiến trường, mở đường, vận chuyển lương thực đạn dược vào “lót ổ”, và chuyển quân vào khu vực tập kết hầu như cùng làm một lúc.

        Chỉ còn mươi ngày nữa là Tết Nguyên đán. Chúng tôi tổ chức cho anh em ăn tết sớm để vào trận, tuy vậy có nhiều anh em cán bộ chiến sỹ không có thời gian để vui một bữa tết. Đoàn cán bộ cơ quan quân đoàn và cán bộ Sư đoàn 324, 325 đi chuẩn bị chiến trường đã đón giao thừa trên đỉnh động Truồi.

        Ba ngày trinh sát thực địa xong, Đại tá Hoàng Đan và Thượng tá Bùi Công Ái đã hướng dẫn và thống nhất với các đơn vị triển khai phương án tác chiến ngay tại thực địa, đồng thời ra lệnh tiến hành việc làm đường (102) từ Vũng Tròn vào khe Truồi, bảo đảm đường cơ động pháo của Sư đoàn 325.

        Trung tuần tháng 2 Sư đoàn 324 rời khỏi hậu cứ A Lưới, hành quân vào vị trí tập kết chiến dịch ở khu vực Vũng Tròn. Cùng thời gian đó Sư đoàn 325 bàn giao khu vực phòng ngự, vùng giải phóng Quảng Trị cho các lực lượng Quân khu Trị - Thiên, khẩn trương kéo quân về phía tây nam Thừa Thiên. Theo lệnh của Bộ: lực lượng xe tăng, pháo tầm xa chưa tham gia đợt đầu, nhưng chúng tôi cũng cho di chuyển vào A Lưới để kịp thời cơ chiến đấu. Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) đứng ở vùng giải phóng Quảng Trị, được lệnh sẵn sàng cơ động ra phía trước.

        Vẫn là chuyện đường sá. Tôi không bao giờ quên đợt 3 của chiến dịch Cánh Đồng Chum – Loong Chẹng. Bộ binh yêu cầu pháo bắn chi viện nhưng pháo bắn hụt tầm, bởi vì không có đường vận chuyển. Các đơn vị phía trước không đủ gạo, đạn tiếp tục chiến đấu, cũng vì không có đường vận chuyển. Kết thúc chiến dịch không gọn cũng vì không có đường vận chuyển. Bài học nhớ đời đó, hồi còn là Phó Tư lệnh B5 tôi đã bàn với các anh Cao Văn Khánh, Lê Tự Đồng, Hoàng Văn Thái, Thanh Quảng, được các anh thống nhất dùng một trung đoàn công binh mở con đường Nam Đông- Khe Tre. Đang làm dở dang, tỉnh đội Trị - Thiên gặp khó khăn về hậu cần, xin chuyển sang làm đường xe thồ. Đến chiến dịch này lại khai thác tuyến đường ấy. Quân khu Trị - Thiên đã huy động tối đa lực lượng bộ đội, thanh niên xung phong thay nhau ngày đêm lao động mở đường. Đến đầu tháng 3 năm 1975 đã hoàn thành con đường đất cho cơ giới qua lại nối với đường 14, làm mới 10 ki-lô-mét đường nhánh chạy qua các ngọn đồi xung quanh động Truồi, mở đường cái hai bên tả, hữu ngạn sông Truồi dọc theo dãy núi Kim Sắc, bảo đảm cho Sư đoàn 325 vào tập kết, chiến đấu và sẵn sàng cơ động ra đường 1 khi có thời cơ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:47:20 am

        Đầu tháng 3 năm 1975 Sư đoàn 324 đã vào chiếm lĩnh trận địa, sẵn sàng nổ súng mở màn chiến dịch, cũng là lúc hậu cần quân đoàn đưa cơ bản đủ cơ số dự trữ lượng thực đạn dược... vào Nam Đông, Khe Tre, động Truồi bảo đảm giai đoạn đầu chiến dịch cho Sư đoàn 324.

        Các bạn thử tưởng tượng xem đường đất mới, mưa cuối mùa dầm dề; trên đường lúc nào cũng có người đi, xe đi nườm nượp sẽ xảy ra chuyện gì? Vâng! Lội và lội bì bõm trong sình lầy, lúc nào người đi bùn đất cũng ngập quá mắt cá chân; xe đi như rùa bò đôi lúc quay bánh tại chỗ, phải xúm nhau lại “hò dô” đùn đẩy. Pháo 105 đưa vào trận địa Lưỡi  Cái ở độ cao 847 mét phải vượt dốc 20 đến 40 độ dưới trời mưa, Lữ 164 pháo được bộ binh, công binh giúp sức mới kéo được pháo vào trận địa. Gian khổ khó khăn chắng kém gì kéo pháo vào Điện Biên Phủ. Pháo cao xạ đưa vào đèo Mụ Khâm cũng vất vả tương tự. Các đơn vị hậu cần, các binh chủng tiềm nhập trận địa, nhiều việc tưởng như bó tay, nhưng cuối cùng đã vượt qua.

        Khoảng trung tuần tháng 2 năm 1975, ở giữa những ngày chót của công tác chuẩn bị, Đảng uỷ Quân đoàn họp mở rộng để thông qua quyết tâm và phương án tác chiến lần cuối. Vấn đề được tập trung thảo luận là: làm thế nào kịp thời gian nổ súng, để phối hợp với các chiến trường bạn, chủ yếu phối hợp với Buôn Ma Thuột (trên quy định Trị - Thiên nổ súng ngày 5 tháng 3). Thứ hai là: sử dụng lực lượng và cách đánh như thế nào (lúc này chỉ có 5 trung đoàn _ Sư 304 (thiếu Trung đoàn 9) và 1 trung đoàn của Sư đoàn 324 đang ở Thượng Đức.

        Khác các chiến dịch trước đây, quân chủ lực cùng với địa phương lập ra bộ chỉ huy chiến dịch, lần này quân đoàn do Bộ trực tiếp. Nhưng để phối hợp chặt chẽ, ngày 21 tháng 2 tôi và anh Lê Linh đã tới dự cuộc họp của Đảng uỷ Mặt trận Trị - Thiên để bàn kế hoạch hiệp đồng.

        Theo ý chỉ đạo của Bộ, Trị - Thiên - Huế trong năm 1975 sẽ mở liên tiếp hai chiến dịch tổng hợp (ngoài ra phải dự kiến kế hoạch thời cơ). Chiến dịch Xuân Hè (mật danh 175) từ tháng 3 đến tháng 5.

        Chiến dịch Thu dự kiến khoảng tháng 7, tháng 8.

        Quyết tâm chung của mặt trận; Tập trung toàn bộ lực lượng của Quân đoàn và Quân khu Trị - Thiên đẩy mạnh tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đánh bại về cơ bản “kế hoạch bình định” của chúng ở Trị - Thiên, giành 350.000 dân ở nông thôn đồng bằng, phát động cao trào đấu tranh chính trị ở thành phố, đánh mạnh vào kho tàng, hậu cứ, triệt phá giao thông; tích cực tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn (kể cả giải phóng Huế).

        Riêng chiến dịch “K175” thực hiện các yêu cầu:

        - Ở đồng bằng từ phá lỏng đến làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch, giành từ 7 tới 10 vạn dân, phát triển lực lượng vũ trang và chính trị địa phương, đưa cơ quan chỉ huy xuống vùng sâu.

        - Ở giáp ranh, tiêu diệt từ năm đến bảy tiểu đoàn địch ( trong đó có 1 trung đoàn bị tiêu diệt gọn), phá vỡ thế phân tuyến, mở rộng hành lang xuống đồng bằng, chiếm lĩnh một số địa bàn có lợi nhất, nhất là khu vực đường 14, làm chủ khu vực điểm cao 303 - Mỏ Tàu, cắt đứt từng phần, tiến tới cắt đứt hoàn toàn giao thông vận chuyển chiến lược của địch giữa hai thành phố Huế và Đà Nẵng; đồng thời tích cực thu hút, kiềm chế lực lượng cơ động chiến lược địch, phối hợp với mặt trận chính Tây Nguyên và các chiến trường khác trên toàn Miền.

        - Khi có thời cơ, tung hết lực lượng ra tiến công giải phóng toàn bộ nông thôn, thực hiện chia cắt chiến lược, bao vây uy hiếp thành phố Huế. Nếu có điều kiện, kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế trong chiến dịch “K175” hoặc chiến dịch tiếp sau.

        Quân đoàn 2 tập trung lực lượng đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch từ đường 14 (Điểm cao 303 -  Mỏ Tàu) vào tới tây nam Phú Lộc.

        Quân khu Trị - Thiên đảm nhiệm hướng phối hợp quan trọng ở đường 12 (khu vực Chúc Mao, Sơn Na, Bình Điền, Hòn Vượn) và các hướng khác ở đồng bằng. Hướng Quảng Trị vừa là hướng phối hợp, vừa là hướng nghi binh chiến dịch.

        Căn cứ vào kế hoạch chiến dịch, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 quyết định sử dụng lực lượng:

        Sư đoàn 324 (thiếu 1 trung đoàn) đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu của quân đoàn ở khu vực Mỏ Tàu - điểm cao 303.

        Sư đoàn 325 (thiếu 1 trung đoàn) đảm nhiệm cánh phải của quân đoàn tiến công địch chiếm các điểm cao 560, 520, 494, dãy Kim Sắc, là bàn đạp cắt đứt đường 1 từ nam Lương Điền vào đến bắc Phú Lộc.

        Trung đoàn 9 (thuộc Sư đoàn 304) và Trung đoàn 3 (thuộc Sư đoàn 324) là lực lượng dự bị của quân đoàn trong chiến dịch (Trung đoàn 3 (324) đang ở Thượng Đức, Quân đoàn đã đề nghị với Bộ điều ra tây nam Huế trong giai đoạn 1 của chiến dịch).


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:47:57 am

        Tư tưởng chỉ đạo của chiến dịch là : “Bí mật, bất ngờ, táo bạo, chắc thắng, cơ động, linh hoạt: lấy tiêu diệt sinh lực địch làm chính, kết hợp giữa tiêu diệt gọn từng đơn vị địch với làm tan rã lực lượng địch, vừa đánh vừa tích cực chuẩn bị thêm, vừa chuẩn bị thêm vừa đánh; đánh từ nhỏ đến lớn, đánh dài hơi, càng đánh càng mạnh; khi có thời cơ thì mạnh bạo phát triển tiến công cùng các lực lượng của Quân khu giành thắng lợi lớn”.

        Chiến dịch này chúng tôi có nhiều thuận lợi: từ tư lệnh quân đoàn đến các phân đội đều quen thuộc địa hình, biết rõ đối tượng tác chiến mình sắp gặp là kẻ nào. Địa hình vùng giáp ranh phía tây bắc Thừa Thiên đồi núi thoai thoải trống trải có thể sử dụng cơ giới, nhưng khó giữ gìn bí mật, vào sâu một chút có nhiều điểm cao khống chế, nếu chiếm được những điểm cao đó ta sẽ có bàn đạp vững để tiến về đồng bằng. Hôm đi trinh sát tôi đứng trên đỉnh động Truồi, ở đây tầm mắt có thể bao quát cả một vùng rộng lớn. Đường số 1 đen thẫm sóng đôi với đường sắt cùng uốn lượn về phía nam, nằm giữa cánh đồng lúa xanh trỉa rộng tới ven biển. Điểm vào bức tranh đó là vịnh Cầu Hai, phá Tam Giang, đầm Thuỷ Tú loáng bạc trong nắng. Xa hơn nữa là biển Đông tím ngắt. Tôi nghĩ: vào một thời điểm nào đó chúng tôi sẽ tiến tới vùng đồng bằng ven biển và vào thành phố Huế. Chúng tôi sẽ phải đối mặt và phải loại trừ những sắc lính sừng sỏ như: Lữ dù 2, Lữ thuỷ quân lục chiến, Lữ biệt động quân 915, hai Liên đoàn bảo an 913, 914, Sư đoàn 1 bộ binh (Anh cả đỏ), 9 tiểu đoàn bảo an, 180 pháo, 40 xe tăng thiết giáp trên đường tiến quân của mình, và phải đối phó với lực lượng của toàn Quân khu 1 của chúng.

        Cái khó khăn buộc chúng tôi lưu tâm nhiều là thời gian gấp, từ lúc nhận lệnh đến giờ nổ súng gói gọn trong ba mươi ngày. Với chừng ấy thời gian mà công tác chuẩn bị chiến dịch gần như từ đầu. Tất cả công tác hậu cần trước đây dồn vào hướng đường 12, bây giờ lại bốc dỡ từ đường 12 lên vai người lính vận tải trèo qua hàng chục con dốc ngập ngụa bùn lầy để đưa tới đường 14. Các cán bộ trên quân đoàn được tung xuống để giúp đỡ cấp dưới chuẩn bị. Tôi lo lắng theo dõi chặt chẽ hàng ngày, hàng giờ từng công việc, từng bước đi của từng đơn vị cấp dưới mình. Cuối cùng, đúng ngày N các đơn vị đã chiếm lĩnh trận địa xong.

        Thời gian là một thử thách khắc nghiệt đối với người chỉ huy; thời gian là lực lượng vô hình thật lớn lao, chỉ có ai ý thức rõ về nó mới nắm bắt được. Các cấp chỉ huy cho tới người lính của quân đoàn đã đồng tâm hiệp lực và hết sức cố gắng để chạy tới địch trong công tác chuẩn bị đúng thời gian. Người tiêu biểu cho tinh thần ấy là Nguyễn Ngọc Thực - Chủ nhiệm hậu cần quân đoàn. Qua việc này và cả trong chiến dịch, với anh Thực không thể có cách đánh giá khác, đó là một tài năng tổ chức chỉ huy về công tác hậu cần, đó là tinh thần trách nhiệm rất cao, đã đáp ứng kịp thời cho nhiệm vụ chiến đấu trong hoàn cảnh nhiều biến động lớn.

        Đúng 5 giờ 45 phút ngày 8 tháng 3 năm 1975, Quân đoàn phát lệnh nổ súng. Trung đoàn pháo binh 78 đã bắn hai mươi phút cấp tập dữ dội vào các điểm cao 303, 5, 76, 223, Mỏ Tàu... rồi chuyển làn bắn vào các trận địa pháo địch ở Mũi Né, La Sơn, ấp 5.

        Sau khi pháo chuyển làn, các hướng của Sư đoàn 324 đã lợi dụng sương mù còn dày đặc thực hành tiến công.

        Trên hướng chủ yếu Trung đoàn bộ binh do Thiếu tá Nguyễn Văn Mai chỉ huy, tổ chức chuẩn bị chưa tốt, hiệp đồng thiếu chặt chẽ, khi chiếm lĩnh trận địa có bộ phận đi lạc, có bộ phận tới chậm nên gặp khó khăn ngay từ đầu. Buổi sáng ngày 8 tháng  3 Trung đoàn 2 xung phong nhiều đợt đều bị hoả lực địch chặn lại. Tiểu đoàn 6 bị thương vong nặng.

        Trên hướng thứ yếu của Sư đoàn 324, đại uý Trương Văn Núp – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 chỉ huy trực tiếp Tiểu đoàn 1 và 3 đánh vào các điểm cao 75, 76. Trung đoàn trưởng và các tiểu đoàn trưởng đã sử dụng rất tốt hoả lực của mình. Lần lượt tiêu diệt các hoả điểm địch ở ngoại vi xong. Đại đội 16 đã hạ góc bắn 12 ly 7 để bắn chế áp bộ binh địch tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 1 xung phong, tiến công thẳng vào tung thâm căn cứ 75. Cùng thời gian đó, Tiểu đoàn 3 tiến công căn cứ 76. Không đầy 30 phút Tiểu đoàn 1 và 2 đã đánh chiếm được hai căn cứ 75, 76 và một số điểm cao ven đường 14. Đến 10 giờ địch cho 10 xe GMC chở Tiểu đoàn 61 bảo an từ La Sơn lên phản kích. Đoàn xe địch đến Đồ Tăng vấp mình của công binh, ùn lại. Bốn khẩu 12 ly 7 của Đại đội 16 phục kích sẵn đã bắn mãnh liệt vào sườn bọn địch đang chạy tới, chạy lui hoảng hốt. Ngay sau đó, Đại đội 10 bộ binh đã xung phong tiêu diệt nốt những tên còn lại.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:48:29 am

        Tôi vẫn ở sở chỉ huy của Sư đoàn 324, theo dõi rất chặt diễn biến chiến đấu tới từng đại đội của Trung đoàn 2 và Trung đoàn 1. Tôi trao đổi với anh Duy Sơn, Sư đoàn trưởng; tại sao đợt đầu Trung đoàn 2 đánh không thắng? Bởi vì tham mục tiêu. Việc này khi thông qua phương án đã phát hiện, nhưng thiếu thái độ dứt khoát. Điểm nữa, do thiếu nhạy cảm, khi thấy địch đã thay đổi chiến thuật thì người chỉ huy lúng túng vẫn giữ cách đánh cũ. Thứ nữa, đơn vị này chưa thạo lối đánh tấn công bóc vỏ cứng, đã dùng lối tập kích nhỏ giọt... Chúng tôi quyết định tạm dừng lại củng cố tổ chức chỉ huy và lệnh cho Sư đoàn 325 triển khai ngay trận địa pháo bắn kiềm chế pháo địch ở các cứ điểm Lương Điền, Mũi Né, La Khê.

        Địch dùng lực lượng ở căn cứ 224 ra phản kích, ngày 9 tháng 3 chúng chiếm lại mỏm 6.

        Sư đoàn 324 chỉ thị cho Trung đoàn 2 bố trí lại lực lượng, điều Tiểu đoàn 4 vào cùng với Tiểu đoàn 5 đánh chiếm lại mỏm  và chuẩn bị một lần nữa đánh chiếm căn cứ 224. Tiểu đoàn 3 được tăng cường một đại đội đánh chiếm Đồi Cối; Đại đội 7 (Tiểu đoàn 8 ) mới từ Thượng Đức ra có nhiệm vụ đánh chiếm điểm cao 273. Sau khi củng cố bố trí lực lượng xong, ngày 10 tháng 3 các đơn vị được phân công, đã nổ súng tấn công đúng vào giờ địch ăn cơm tối. Cuộc tiến công dũng mãnh khiến bọn địch không chống đỡ nổi. Trung đoàn 2 đã chiếm được căn cứ 224 loại Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 1 ) ngụy ra khỏi vòng chiến. Đại đội 7 (Tiểu đoàn 8 ) trận đầu đánh thắng giòn giã, chiếm được điểm cao 273.

        Cùng thời điểm trên, sư đoàn dùng bộ phận nhỏ do Đại đội phó trinh sát Nguyễn Văn Lộc chỉ huy luồn sâu tập kích diệt cụm xe tăng địch ở Núi Nghệ. Triệu Tiến Din người dân tộc Tày (Lạng Sơn), chiến sỹ Đại đội 19 tên lửa chống tăng, trong trận này đã bắn 4 phát diệt 4 mục tiêu, trong đó có 3 xe tăng M48.

        Bị mất điểm cao 223 và khu vực đường 14, địch thấy rõ nguy cơ bị chia cắt giữa Huế và Đà Nẵng, sân bay Phú Bài sẽ bị uy hiếp và tiến tới rất nhanh Trị-Thiên-Huế sẽ bị cô lập. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 địch vội vã điều động lực lượng tăng cường phòng thủ khu vực này. Tiểu đoàn 61 biệt động ra Núi Bông. Tiểu đoàn 96 biệt động, Tiểu đoàn 94 và Chi đoàn thiết giáp 27 ra chiếm giữ điểm cao 31 và vùng xung quanh. Chi đoàn thiết giáp 37 cùng một đại đội bộ binh Trung đoàn 154 giữ khu vực điểm cao 52. Tiểu đoàn 2 bộ binh của Sư đoàn 1 ra chuẩn bị phản kích chiếm lại điểm cao 244 (224?).

        Cuộc chiến ở khu vực Sư đoàn 324 ngày thêm căng thẳng quyết liệt. Bộ binh địch liên tục phản kích. Lượng đạn pháo địch dội về phía ta trung bình mỗi ngày 4.600 quả. Mỗi ngày 60 lần chiếc máy bay tới ném bom. Điểm cao 224, trong vòng bảy ngày ta, địch giành đi giật lại, cuối cùng mỗi bên chiếm một phần.

        Cán bộ, chiến sỹ của Sư đoàn 324 đã thể hiện tinh thần chiến đấu rất ngoan cường dũng cảm, nảy nở nhiều tấm gương về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tiêu biểu là Thượng uý Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Thới. Đợt tấn công giành giật điểm cao 224 lần thứ năm, chiến sỹ giữ súng máy hy sinh, Thới lao tới xách trung lên kẹp vào nách vừa chỉ huy vừa bắn, dẫn đầu đội hình xung phong. Đúng vào lúc cùng đồng đội chiếm được đỉnh đồi, anh bị trúng đạn. Thới hy sinh, nhưng tấm gương chói lọi của anh vẫn dẫn dắt đồng đội tiếp tục tiến lên phía trước.

        Nhìn chung toàn bộ chiến trường Trị - Thiên qua tám ngày chiến đấu: Tại khu vực trọng điểm chiến dịch, Sư đoàn 324 đã phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch ở khu vực đường số 14, tiêu diệt và bắt sống gần 1.000 tên, diệt gọn một tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn khác. Tuy kết quả cụ thể chưa lớn, nhưng Sư đoàn 324 đã đánh một đòn vào chỗ hiểm của địch, làm cho quân địch lo sợ phải vội vã điều động lực lượng. Chủ lực của địch bị thu hút vào đây. Chúng bâu lấy Sư đoàn 324. Sư đoàn 324 gặp rất nhiều khó khăn ở khu vực Núi Bông, Núi Nghệ, nhưng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng của Quân khu Trị - Thiên hoạt động có hiệu quả.

        Suốt dải đồng bằng từ nam sông Thạch Hãn (Quảng Trị) vào tới vịnh Lăng Cô – nam Thừa Thiên, các lực lượng địa phương liên tục tiêu hao tiêu diệt địch và làm công tác vũ trang tuyên truyền, gây niềm tin trong quần chúng, khiến cho hậu phương địch ăn không ngon ngủ không yên.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:49:27 am

        Lực lượng địa phương hoạt động trên hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng đã tiêu diệt Chi khu Mai Lĩnh, đánh vào 12 phân chi khu, diệt gọn ba Phân chi khu Hải Lâm, Hải Vĩnh, Hải Nhi.

        Ở ba huyện phía bắc tỉnh Thừa Thiên, lực lượng địa phương đánh vào 9 phân chi khu, đã diệt gọn các Phân chi khu Phong Chương, Phong Bình, Phong Hoà, Phong Nhiêu, Quảng Phú.

        Ở vùng đồng bằng nam Thừa Thiên, lực lượng địa phương đánh vào 9 phân chi khu đã tiêu diệt gọn Phân chi khu Vĩnh Thái, Vĩnh Hoàn, Phú Hồ và tập kích bằng hoả lực vào quận lỵ Vĩnh Lộc, Cầu Hai.

        Ở khu vực đường số 12 trong ba ngày (từ 13 đến 15/3) các Trung đoàn 3, 6, 271 của Quân khu đã mở cuộc tiến công thắng lợi, tiêu diệt cứ điểm Chúc Mao và cao điểm 300, dùng hoả lực đánh vào Sơn Na tạo thêm một áp lực uy hiếp địch từ hướng tây bắc Huế.

        Kết quả lớn nhất đạt được của đợt này là: Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên đã nổ súng đúng thời gian, phối hợp được với Buôn Ma Thuột và các chiến trường toàn miền. Quân đoàn và Quân khu phối hợp chặt chẽ gây cho địch bối rối sơ hở và đã chiếm được những địa bàn quan trọng có giá tri chiến thuật để bước vào đợt 2.

        Vào thời điểm này (15-3-1975) chúng tôi đã mở cuộc họp Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh tại Sở chỉ huy cơ bản ở động Truồi. Cuộc họp đã đánh giá đúng thắng lợi vừa thu được và cũng thật nghiêm khắc chỉ ra những thiếu sót cần khắc phục kịp thời như: chuẩn bị và tổ chức chỉ huy chiến đấu chưa tốt; sử dụng lực lượng đánh vào các điểm cao 303 và 224 chưa thích hợp; chỉ huy các cấp nắm bộ đội không chắc, một số cán bộ chấp hành mệnh lệnh không nghiêm, tổ chức hiệp đồng giữa bộ binh với phái binh chưa chặt chẽ: pháo bắn chưa chính xác, chưa kịp thời; hiệu suất chiến đấu của quân đoàn đợt này còn thấp; tốc độ tiến công chậm; tư tưởng của một số cán bộ, chiến sỹ Sư đoàn 324 từ chủ quan khinh thường địch, khi gặp khó khăn đã tỏ ra bị quan giảm lòng tin ở thắng lợi.

        Khi bàn tới chủ trương tác chiến tiếp theo, cũng có nhiều ý kiến khác nhau về thời gian Quân đoàn bước vào đợt 2 chiến dịch và thời cơ sử dụng Sư đoàn 325. Có ý kiến: Sư đoàn 324 đang gặp khó khăn nên tung Sư đoàn 325 vào ngay để chia lửa. Ý kiến khác: nên cho Sư đoàn 325 tiếp tục chuẩn bị theo đúng kế hoạch để tạo thế bất ngờ, bảo đảm chắc thắng cho đợt này.

        Bàn đi tính lại cái lợi, cái hại của từng cách giải quyết, chúng tôi đã đi tới quyết định tăng cường chi viện hoả lực để giảm bớt khó khăn cho Sư đoàn 324, đồng thời phổ biến kinh nghiệm và chuẩn bị tốt cho Sư đoàn 325. Thời gian bước vào đợt 2 chiến dịch vào ngày 20 tháng  năm 1975, sớm hơn kế hoạch cũ một ngày.

        Đối với Sư đoàn 325, thời gian chuẩn bị chiến đấu tuy có rút ngắn nhưng chất lượng chuẩn bị phải đạt ở mức cao nhất...(sau cuộc họp xét đề nghị của 325 chúng tôi đã đồng ý cho lùi thời gian nổ súng một ngày).

        Sau cuộc họp Thường vụ Đảng uỷ, chúng tôi chia nhau xuống các đơn vị để triển khai nghị quyết. Các anh Bùi Cộng Ái và Lê Khả Phiêu dẫn đầu đoàn cán bộ cơ quan xuống Sư đoàn 324. Tôi và các anh Hoàng Đan, Công Trang cùng một số cán bộ cơ quan xuống Sư đoàn 325. Ngoài việc phổ biến nhận định đánh giá tình hình tác chiến đợt 1, kế hoạch tác chiến đợt 2, chúng tôi sẽ cùng các đơn vị bàn bạc dân chủ biện pháp tiến hành công tác chuẩn bị và xây dựng kế hoạch tác chiến.

        Khoảng thời gian này cúng tôi vẫn nhận được nhiều tin của mấy đơn vị đang ở xa quân đoàn và các mặt trận khác.

        Sư đoàn 304 phối thuộc với Quân khu 5, hơn bốn tháng chiến đấu liên tục ác liệt đã giải phóng quận lỵ Thượng Đức, đánh bại Sư đoàn dù - dự bị chiến lược của ngụy và kìm chân chúng ở đây; tiếp đó sư đoàn cùng lực lượng địa phương mở cuộc tiến công giải phóng toàn bộ vùng B Đại Lộc.

        Ở mặt trận Tây Nguyên nổ súng ngày 10 tháng 3 tiến công vào Buôn Ma Thuột, ta đã giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột vào hồi 11 giờ ngày 11 tháng 3, tiêu diệt toàn bộ địch ở đây, chặt đứt một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ Tây Nguyên của địch. Sau đó bộ đội ta đã liên tiếp đập tan nhiều đợt phản kích của địch, tiêu diệt hai trung đoàn, đánh quỵ Sư đoàn 23 Ngụy.

        Địch từ chỗ chủ quan, sau khi thất bại ở Buôn Ma Thuột trở nên hoảng hốt rối loạn. Địch vội vã bỏ Plây Cu, Kon Tum rút chạy. Quân ta nắm vững thời cơ nhanh chóng chuyển sang truy kích địch và đang liên tục bao vây chặn đánh làm tan rã và tiêu diệt các cánh quân địch rút chạy.

        Trung đoàn 95 Sư đoàn 325 tham gia trận đánh Buôn Ma Thuột do Trung đoàn trưởng Đăng Tụ và Chính uỷ Vũ Quang Thọ chỉ huy lập công xuất sắc, đã được Bộ tư lệnh chiến dịch gửi điện khen: Trung đoàn 95 tiến công vào Buôn Ma Thuột đã anh dũng, ngoan cường, mau lẹ thọc sâu vào tuyến phòng thủ của thị xã, làm rối loạn hệ thống bố phòng của địch, cùng đơn vị bạn tiêu diệt quân địch, chiếm mục tiêu trong thời gian tương đối ngắn...


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:51:27 am

        Thắng lợi lớn ở Tây nguyên đã dẫn tới bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược có lợi cho ta. Ngày 17 tháng 3 Quân uỷ Trung ương họp, chuẩn bị cho một phương hướng hành động mới nhằm triệt để phát huy thời cơ thuận lợi đã giành được. Ngày 18 và ngày 25 tháng 3, bộ Chính trị họp hạ quyết tâm: hoàn thành giải phóng Sài gòn và miền Nam trước mùa mưa (tháng 5 năm 1975).

        Phương hướng chiến lược chủ yếu là tập trung lực lượng của cả nước giải phóng Sài Gòn – Gia Định.. Nhiệm vụ chiến lược trước mắt là tiến hành trận quyết chiến chiến lược đánh chiếm Huế - Đà Nẵng, tiêu diệt Quân đoàn 1 của địch, không cho chúng co về giữ Sài Gòn, nhanh chóng giải phóng các tỉnh miền Trung và Nam Trung Bộ, đồng thời đẩy mạnh công tác chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn...

        Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên chớp thời cơ lúc địch đang thay quân và tỏ ra hoang mang, đã chỉ thị cho các lực lượng ở hướng bắc chuyển sang tiến công địch trên toàn tuyến.

        Chiều 19 tháng 3, được tin địch đang rút khỏi Quảng Trị, Đại đội 7 xe tăng Lữ đoàn 203 phối thuộc cho Bộ tư lệnh Trị - Thiên đang chốt ở Cửa Việt đã chủ động xin nhận nhiệm vụ. Được trên chuẩn y, đêm 19 tháng 3 Đại đội 7 xe tăng đã bí mật men theo ven biển, luồn qua tuyến phòng thủ, bãi mìn của địch tiến vào tập kết ở Phương Lang Đông. Ngày 23 tháng 3 Đại đội 7 xe tăng đã cùng Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Quảng Trị nổ súng đánh vào Tường Vân, Tài Lương, Đạc Dầu, Thanh Hội, Gia Đẳng tiến vào giải phóng quận lỵ Mai Lĩnh.

        Cùng thời gian trên, Tiểu đoàn 14, Tiểu đoàn 8 Quảng Trị và Đại đội Lê Hồng Phong chia làm thành nhiều mũi tiến đánh điểm cao 15, Bến Đá, Phước Môn, Long Hưng, La Vang, Thành Cổ...

        Tiểu đoàn 812, Tiểu đoàn 10 đánh Dốc Đầu, điểm cao 367 rồi phát triển xuống đường 1.

        Liên đoàn biệt động quân 14 và Liên đoàn bảo an 913 của địch bị đánh bất ngờ, bỏ trận địa hoảng hốt tháo chạy về nam sông Mỹ Chánh.

        Tỉnh Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng vào ngày 19 tháng 3 năm 1975.

        Ngày 18 tháng 3 chúng tôi nhận được bức điện do Trung tướng – Phó Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn ký: “ ... Địch rút khỏi Kon Tum, Plây Cu. Yêu cầu phải táo bạo khẩn trương...”.

        ... “Quân đoàn 2 phải nhanh chóng tiêu diệt quận lỵ Phú Lộc, cắt đứt đường số 1. Tập trung sử dụng cả hai Sư đoàn (324, 325). Phải gấp rút chuẩn bị hoả lực đánh Đà Nẵng...”.

        Ngày 20 tháng 3, Bộ Quốc phòng gửi tiếp một bức điện nhắc Trị - Thiên không được dừng ở sông Mỹ Chánh và cho biết tin địch dự định rút khỏi Thừa Thiên – Huế. Bộ nhắc: phải theo dõi chặt chẽ tình hình chung, hành động táo bạo, kịp thời.

        Thực hiện chỉ thị của Bộ, kế hoạch tác chiến (đại cương) của Mặt trận Trị - Thiên sẽ phát triển như sau: Trên hướng bắc tổ chức làm hai mũi, mũi tiến công thứ nhất gồm hai tiểu đoàn địa phương Quảng Trị đánh chiếm quận Hướng Điền rồi phát triển vào cửa Thuận An và ngã ba Sình. Mũi thứ hai gồm Trung đoàn 4 bộ binh được tăng cường một tiểu đoàn địa phương Quảng Trị, Trung đoàn 46 làm dự bị; tiến đánh trận địa phòng ngự của Lữ đoàn 147 lính thuỷ đánh bộ rồi phát triển vào cửa An Hoà, ngã ba Sình.

        Trên hướng đường 12, các Trung đoàn 6 và 271 bộ binh của Quân khu có nhiệm vụ đánh chiếm khu vực Đình Môn, Kim Ngọc, vượt sông Hương rồi chia thành hai mũi, một mũi đánh vào thành phố Hế, một mũi đánh vào nam Huế để chia cắt Huế với Phú Bài.

        Trên hướng Quân đoàn 2; Tập trung lực lượng Sư đoàn 325 (thiếu Trung đoàn 95) nhanh chóng phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch ở dãy điểm cao 560, 520, 494, dãy Kim Sắc, tiến xuống đánh cắt đường giao thông huyết mạch giữa Hướng Điền và Phú Lộc, Tiếp đó, triển khai ngay lực lượng sẵn sàng đánh bại mọi cuộc phản kích của địch trên cả hai hướng Huế và Đà Nẵng, giữ vững khu vực đã chiếm. Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) đang từ Quảng Trị vào sẽ là lực lượng dự bị của Quân đoàn.

        Sư đoàn 324 (đủ) nhanh chóng diệt điểm cao 303 - Mỏ Tàu. Tiếp đó, hình thành hai mũi, một mũi đánh La Sơn, Phú Bài và theo đường số 1 đánh thẳng vào thành phố Huế; một mũi bí mật vu hồi xuống đồng bằng, đánh chiếm cảng Tân Mỹ, bịt chặt cửa Thuận An.

        Bộ tư lệnh Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 còn quyết định: Khẩn trương tổ chức các trận địa pháo binh tầm xa bắn phá mãnh liệt, khống chế cửa biển Thuận An, Tư Hiền, Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 1 của địch ở Mang Cá (Huế)...

        Kế hoạch đó đã được Đại tướng Tổng tư lênh Võ Nguyên Giáp phê chuẩn, và chỉ thị thêm: “Ngày 21 tháng  năm 1975 phải cắt bằng được đường số 1 giữa Huế và Đà Nẵng”.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:51:56 am

        Mấy hôm nay cá buổi tối, vào giờ đài phát thanh của ta và của địch đưa tin chiến sự tôi không rời khỏi cái đài thu thanh bán dẫn, dù chỉ là một phút. Cái đài bán dẫn nhỏ xíu ấy trở thành phương tiện “trinh sát kỹ thuật” khá bổ ích đối với tôi: có đôi khi tình hình ta, tình hình địch ở các chiến trường bạn trên chưa kịp thông báo hoặc thông báo chưa đầy đủ, tôi đã được nghe hoặc được bổ sung thông qua nó. Các bản tin quân sự độ này luôn luôn đầy ắp những tin mới, những tin làm cho cả thế giới phải sửng sốt.

        ... Đến 17 giờ 30 ngày 10 tháng 3 bộ đội ta đã chiếm được hầu hết các mục tiêu trong thị xã Buôn Ma Thuột...

        Từ ngày 11 tháng 3 các lực lượng của ta có pháo binh, xe tăng yểm trợ đã thực hiện truy quét, tiêu diệt các vị trí còn sót lại trong thị xã Buôn Ma Thuột.

        Ngày 12 tháng 3, sau khi cho hơn 100 lần máy bay ném bom dọn bãi, địch huy động 145 máy bay lên thẳng đổ Trung đoàn 45 bộ binh và Pháo đội 232 xuống đông bắc Buôn Ma Thuột. Trong ngày (12-2) ta đang bao vây đánh chiếm căn cứ của Trung đoàn 53 ngụy, địch lại đổ thêm Trung đoàn 44 (thiếu) và Sư đoàn bộ  Sư đoàn 23 xuống khu vực Nông Trại, An Phước.

        Địch vừa đổ quân xuống với ý đồ phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột, nhưng chưa kịp hành động gì đã bị ta đánh liên tục, cho tới sáng ngày 16 tháng 3 Trung đoàn 45 ngụy bị tiêu diệt. Quân địch ở Quận lỵ Phước An bỏ cả vũ khí chạy trốn, ta làm chủ ngã ba Nông Trại.

        Ngày 14 tháng  Ngụy quyền Sài Gòn quyết định bỏ Tây Nguyên rút quân nhanh và bất ngờ theo đường số 7 về miền duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng. Tổng thống bù nhìn Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: “Bỏ Kon Tum, Plây Cu để bảo toàn lực lượng, còn Đà Nẵng, các Quân khu 3, 4 giữ đến cùng”.

        Ngày 19 tháng 3,  tỉnh Quảng Trị hoàn toàn giải phóng, Ngô Quang Trưởng Tư lệnh Quân đoàn 1 vội vã bay ra Hướng Điền cùng với các sỹ quan thuộc hạ bàn kế hoạch lập phòng tuyến Mỹ Chánh – Sông Bồ bảo vệ Huế. Ngay sau đó y tuyên bố: “Tôi sẽ chết trên đường phố Huế. Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vào được cố đô này”.

        Tình hình phát triển nhanh tới chóng mặt. Thời gian lúc này như lửa đốt sau lưng, thôi thúc chúng tôi chuẩn bị thật gấp cho Sư đoàn 325 bước vào chiến đấu đợt 2. Trung đoàn 101 vẫn còn đang trên đường từ Quản Trị vào, không có cách gì nhanh hơn được, làm sao thực hiện được lệnh của Tổng tư lệnh “ngày 21 tháng 3 phải cắt bằng được đường số 1 giữa Huế và Đà Nẵng

        Việc cắt đường số 1, bộ binh không đủ thời gian tới đó được, tôi đốc anh Phạm Minh Tâm – Tư lệnh Sư đoàn 325 đưa thật gấp một số đơn vị pháo tới sườn dãy núi Lưỡi Cái, làm trận địa ngắm bắn trực tiếp xuống đường số 1. Kết quả ngày 20 tháng 3 Trung đoàn 84 đã đưa tới đó được 12 khẩu pháo lớn và hàng chục dàn hoả tiễn ĐKB. Trận địa pháo của ta trên dãy núi Lưỡi Cái rất lợi hại, đã ngăn chặn có hiệu quả các loại xe cơ giới qua lại trên đường số 1.

        Để Sư đoàn 325 chuẩn bị tiến công tốt hơn, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đã quyết định lui thời gian tiến công lại một ngày (so với kế hoạch).

        Đúng 5 giờ 40 phút ngày 21 tháng 3 năm 1975 toàn Quân đoàn 2 đã nổ súng tiến công đợt 2. Sau 40 phút chiến đấu, Trung đoàn 2 Sư đoàn 324 đã chiếm được điểm cao 224, thừa thắng phát triển sang điểm cao 303. Địch dựa vào hệ thống công sự ngoan cố chống cự, làm cho trận đánh giành giật quyết liệt, mãi tới chiều ta mới làm chủ được một nửa căn cứ 303.

        Phía Trung đoàn 1 Sư đoàn 324 đánh Núi Bông, sáng ngày 21 tháng 3 đã chiếm được, đến trưa địch phản kích chiếm lại. Cuộc giành giật lại Núi Bông giữa ta và địch diễn ra hơn mười lần. Hồi 15 giờ địch điều thêm Lữ đoàn 258 thuỷ quân lục chiến và Liên đoàn 15 biệt động quân từ Hướng Điền lên chi viện, cùng bọn địch ở Núi Nghệ có xe tăng yểm hộ phản kích sang Núi Bông. Trung đoàn 1 bị thương vong nhiều những vẫn kiên cường trụ vững và liên tục phá tan nhiều đợt phản kích của địch.

        Tôi và anh Công Trang, Phó Chính uỷ quân đoàn đi xuống Sở chỉ huy Sư đoàn 325. Tới giờ nổ súng rồi mà sương mù vẫn xám xịt. Nhìn xung quanh như đang đêm. Kế hoạch tác chiến: dùng pháo ngắm bắn trực tiếp để chi viện cho bộ binh xung phong. Chỉ huy pháo báo cáo sương mù, không nhìn rõ mục tiêu. Lúc này Trung đoàn 18 và 101 đã bí mật áp sát hàng rào của đồn địch. Các anh Phạm Minh Tâm – Tư lệnh sư đoàn, Lê Văn Dương – Chính uỷ 325 đề nghị cho lui giờ tấn công lại mười phút. Tôi đồng ý. Nếu chờ mười phút nữa sương mù vẫn thế, đành phải đánh theo phương án hai, nghĩa là tấn công không có pháo chi viện. Mọi người trong sở chỉ huy căng thẳng chờ đợi, không ai nói với ai nửa lời. Ở đây thật tĩnh lặng, chỉ có tiếng nổ lờ mờ từ Núi Bông, Núi Nghệ vọng tới. Mắt mọi người mở to nhìn xoáy vào màn sương, nhu cầu mong nó tan nhanh.

        Chưa đầy mười phút; đài quan sát báo cáo đã nhìn rõ mục tiêu. Sư đoàn trưởng Phạm Minh Tâm lập tức nhấc tổ hợp máy điện thoại hạ lệnh: “Pháo...bắn”.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:52:33 am

        Từng loạt, từng loạt... đạn pháo nổ. Tiếng đầu nòng và tiếng đạn chạm nổ gần như trùng nhau, thi nhau nổ đinh tai nhức óc. Bị hoả lực tấn công mãnh liệt bất ngờ, địch chỉ còn cách chui vào công sự chịu trận. Đến 6 giờ 40 phút pháo chuyển làn xuống Lương Điền, Mũi Né, Phú lộc, Phước Tượng và săn xe diệt địch ở đường số 1, săn tàu địch ở vụng (vịnh?) Cầu Hai.

        Trung đoàn 18 ở hướng chủ yếu dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Phạm Hồng Lẫm và Chính uỷ Hồ Sĩ Khuyên sau giờ đầu nổ súng đã chiếm được điểm cao 494, 520 và đồi Yên Ngựa. Riêng Tiểu đoàn 9 đánh chiếm điểm cao 560, nơi có Sở chỉ huy Tiểu đoàn 61 biệt động quân ngụy mới chiếm được mỏm 1. Địch dựa vào công sự và những mỏm còn lại ngăn chặn quyết liệt. Tiểu đoàn 9 xung phong nhiều đợt , thương vong nhiều nhưng buổi sáng 21 vẫn chưa dứt điểm.

        Cùng thời gian, ở hướng thứ yếu Trung đoàn 101 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Giang và Chính uỷ Lê Văn Đam đánh chiếm các điểm cao 310 và 312. Phát triển tuy chậm vì có vài thiếu sót về bố trí hướng xung phong bị lệch và kỷ luật hiệp đồng không chặt ở vài phân đội, nhưng tới trưa ngày 21 Trung đoàn 101 đã đánh chiếm được dãy Kim Sắc.

        Hướng chủ yếu vẫn chưa dứt điểm điểm cao 560. Bộ tư lệnh Sư đoàn 325 cử các anh An Gang – Phó Chính uỷ và Hoá – Tham mưu phó Trung đoàn 18 chỉ huy lực lượng dự bị của sư đoàn (Tiểu đoàn 8 ) cùng một bộ phận của Tiểu đoàn 7 chi viện cho Tiểu đoàn 9 đánh chiếm nốt những mỏm còn lại.

        Để phối hợp với hướng chủ yếu, tôi nhắc Sư đoàn 325 lệnh cho Trung đoàn 101 giao cho Tiểu đoàn 2 đánh điểm cao 329 để hỗ trợ cho Trung đoàn 18 dứt điểm điểm cao 560.

        Các đơn vị tiến đánh 560 đang vận động, bị bom pháo địch ngăn chặn, ta thương vong khoảng gần hai chục người nhưng đội hình tiến công vẫn giữ vững. Trong quá trình phát triển đã nảy nở nhiều tấm gương mưu trí dũng cảm như Đại đội trưởng Thiều Chí Đinh và Chính trị viên Đậu Văn Bạch, đã khôn khéo chỉ huy Đại đội 7 bí mật vu hồi thọc trúng Sở chỉ huy căn cứ địch rồi cùng các đơn vị bạn phát triển. Đúng 15 giờ ngày 21 tháng 3 ta đã tiêu diệt hoàn toàn Tiểu đoàn biệt động quân và làm chủ căn cứ 560.

        Cùng khoảng thời gian trên, hướng Trung đoàn 101 đã tiêu diệt và buộc địch rút khỏi các điểm cao 329, 310 và 312. Hệ thống phòng thủ cứng nhất án ngữ phía tây đường số 1 của địch đã hoàn toàn bị vỡ.

        Vừa lúc đó tôi nhận được chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua Trung tướng Lê Trọng Tấn chuyển bằng điện thoại, đại ý: Địch bắt đầu rút khỏi Thừa Thiên - Huế, Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên phải khẩn trương chặn đường không cho địch rút; chia cắt, tiêu diệt cho được toàn bộ Sư đoàn 1 của địch và các lực lượng khác, thu hồi toàn bộ trang bị của chúng, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế và chiếm lĩnh toàn bộ đèo Hải Vân. Phải cắt đứt ngay giao thông đường số 1 của địch từ Huế vào Đà Nẵng. Dùng Tiểu đoàn 5 hải quân rải mìn và đưa lực lượng xuống bịt cửa Thuận An. Phải bao vây đánh mạnh trên tất cả các hướng không để cho địch kịp rút chạy. Về lực lượng, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 và Bộ tư lệnh Quân khu Trị - Thiên được phép sử dụng lực lượng của mình để tiêu diệt địch, kể cả pháo và tăng. Trong hai, ba ngày tới Bộ sẽ tăng thêm lực lượng phía sau cho mặt trận.

        Sở chỉ huy tiền phương quân đoàn có tôi và các anh Công Trang, Hoàng Đan trao đổi ngắn để thực hiện chỉ thị của Tổng tư lệnh. Tiếp đó tôi thông báo cho anh Lê Linh đang thường trực ở sở chỉ huy cơ bản của quân đoàn biết, tình hình đang khẩn trương diễn ra ở phía trước. Chiều và đêm nay mưa lớn. Những giọt mưa rừng thi nhau gõ lên mái tăng bằng ni-lông, lộp bộp.. lộp bộp thôi thúc như trống ngũ liên. Trong đầu tôi lúc này lớp lớp công việc đòi hỏi được giải quyết ngay. Tôi nhắc lại lệnh sáng ngày 21 đã phát: trận địa pháo trên dãy núi Lưỡi Cái phải khống chế không cho xe địch lọt qua. Sư đoàn 325 tiến nhanh xuống đường số 1, lấy đường số 1 làm điểm hiệp đồng, một mặt cho Trung đoàn 101 thọc xuống La Sơn để giảm áp lực của địch với Sư đoàn 324 ở Núi Bông, Núi Nghệ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:58:01 am

        Sư đoàn 325 với khẩu hiệu “Vị trí chỉ huy của sư đoàn, các trung đoàn và toàn đơn vị là ở đường số 1”, “Hãy tiến ngay xuống đường số 1, lấy mặt đường làm điểm hiệp đồng”. Các anh Phạm Minh Tâm, Lê Văn Dương, Bùi Đức Ngoan.. trong Bộ tư lệnh Sư đoàn 325 tỏ ra hết sức năng động linh hoạt, tổ chức chỉ huy hợp lý. Ngay buổi chiều và tối hôm ấy những đơn vị trong sư đoàn nhận nhiệm vụ đánh xuống đường số 1 đã xuất phát ngay vừa đi vừa tổ chức trinh sát, né tránh giao chiến dọc đường., Mặc dù đêm tối, mưa trơn, mang nặng, anh em phải xé rừng, băng suối suốt đêm không nghỉ. Tảng sáng ngày 22 tôi nhận được báo cáo của Sư đoàn 325 cho biết, Tiểu đoàn 7 và 8 tới sát đường số 1; gặp địch án ngữ ở Bạch Thạch, điểm cao 200 và Dàn Bò chỉ tác chiến với bộ phận địch gây cản trở nhất rồi nhanh chóng chiếm mặt đường. Đến 10 giờ 30 phút sáng 22 tháng 3 bộ đội ta đã làm chủ đoạn đường 1 từ Bạch Thạch đến Dàn Bò. Hàng nghìn xe từ Huế rút chạy về Đà Nẵng bị ùn tắc phải quay trở lại Huế.

        Hệ thống phòng thủ Tây Nguyên hoàn toàn tan vỡ, như tiếng sét kinh hoàng, cộng với sự tiến công mãnh liệt của quân và dân Trị - Thiên trong chiến dịch “K175” làm cho toàn bộ hệ thống phòng thủ của Quân khu 1 ngụy rạn nứt, vỡ từng mảng và đang trên đà tan vỡ hoàn toàn. Thời cơ đến, Quân đoàn  chúng tôi đã “nhảy vọt”, vượt qua các bước, các mục tiêu cơ bản của kế hoạch tác chiến chiến dịch, mà vẫn cảm thấy mình còn chậm trễ. Giá như trên Bộ đồng ý với đề nghị của Bộ tư lệnh Quân đoàn, ngay từ đầu chiến dịch, cho một tiểu đoàn xe tăng và một tiểu đoàn pháo tầm xa vào sát đội hình của quân đoàn, bây giờ chúng trở thành thứ bảo bối vô giá. Mãi về sau tôi vẫn suy nghĩ vấn đề này: ở thời điểm ấy, Bộ nên giao quyền rộng rãi sử dụng lực lượng cho quân đoàn, khi thời cơ đến chúng tôi dễ bề xoay sở, và chắc chắn tốc độ tiến công sẽ nhanh hơn.

        Dù sao chúng tôi cũng đã đánh chiếm được đoạn đường số 1 dài 4 ki-lô-mét, cắt đứt tuyệt đối giao thông của địch trên tuyến đường này, đúng như yêu cầu của Tổng tư lệnh. Hàng nghìn xe cơ giới các loại của địch và người di tản từ Huế vào Đà Nẵng bị ùn lại. Phần đông người di tản là gia đình sỹ quan, binh sỹ ngụy; họ khiếp sợ tột độ.

        Người di tản như dòng nước quẩn lại chen chúc nhau trở lại Huế. Họ đã trở thành chất xúc tác mạnh làm cho quân ngụy vốn đã hoảng hốt, đến lúc này trở thành sợ hãi không có gì kiềm chế nổi. tinh thần “tử thủ thành Huế” của Trung tướng ngụy Ngô Quang Trưởng đang tan như bèo bọt.

        Ở Sở chỉ huy của Quân đoàn 2 đóng tại Bàn Môn Hạ, chúng tôi đang hội ý, một chị cán bộ địa phương vào báo cáo xen ngang:

        - Địch tan rã chạy về làng bên nhiều quá, các anh cho em lực lượng để thu gom.

        Tôi nói:

        - Cho một tiểu đội đi với chị ấy thu vũ khí, giải thích chính sách rồi phóng thích.

        Tình hình chiến sự phát triển rất nhanh. Qua đài quan sát và các đơn vị báo cáo về, tôi thấy đội hình địch có hiện tượng rối loạn, mất chỉ huy, trên sóng vô tuyến chúng không còn dùng mật ngữ, chúng kêu cứu, chửi bới tục tĩu...

        Ở Sở chỉ huy tiền phương quân đoàn, chúng tôi thấy khả năng tiêu diệt Sư đoàn 1 và một số liên đoàn biệt động quân nằm trong tầm tay của quân đoàn; giải phóng thành phố Huế chỉ còn là ngày một, ngày hai; phải chuyển tốc độ tiến công nhanh hơn nữa.

        Trong ngày 2 địch tung Lữ đoàn 258 lính thuỷ đánh bộ, Liên đoàn biệt động 15 mở hàng chục đợt phản kích, cố đẩy ta ra khỏi đoạn đường Dàn Bò - Bạch Thạch. Các Tiểu đoàn 7 và 8 của Trung đoàn 101 (325) ngoan cường chiến đấu, liên tiếp bẻ gãy các đợt phản kích của địch: không những thế anh em còn mở rộng khu vực đã chiếm ra hai hướng Mũi Né và Lương Điền kéo dài gần mười ki-lô-mét. Bọn địch thấy không làm gì nổi, chúng quay đầu trở về Huế.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:58:41 am

        Nếu quân ta giữ vững đoạn đường số 1 này? Nếu địch thấy không còn khả năng giữ nổi Huế mà muốn co cụm về Đã Nẵng chỉ còn lối thoát ra biển qua cửa Thuận An và cửa Tư Hiền? Từ sự phán đoán đó chúng tôi xác định quyết tâm phối hợp với Quân khu Trị - Thiên giải phóng thành phố Huế và giao nhiệm vụ tác chiến tiếp theo cho các đơn vị:

        Sư đoàn 325 dùng một trung đoàn nhanh chóng phát triển tiến công tiêu diệt căn cứ Lương Điền, hợp cùng Sư đoàn 324 theo đường số 1 đánh lên Phú Bài và Huế. Một trung đoàn đánh vào phía nam diệt Chi khu Phú Lộc, chiếm đèo Mũi Né, Phước Tượng, đưa lực lượng bịt cửa Tư Hiền và sẵn sàng bẻ gãy các lực lượng địch từ Đà Nẵng tiến ra giải toả đường số 1.

        Sư đoàn 324 bỏ Núi Bông, Núi Nghệ, 303 - Mỏ Tàu, nhanh chóng cho Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 tìm đường vòng cơ động thọc sâu xuống đồng bằng ven biển,  hình thành thế bảo vây chiến dịch từ phía đông và phía đông nam, không cho địch chạy ra cửa Thuận An và cửa Tư Hiên. Trung đoàn 3 được tăng cường một đại đội xe tăng của Lữ 203 nhanh chóng tiến xuống diệt căn cứ La Sơn và phát triển về phía bắc phối hợp với các đơn vị bạn tiêu diệt địch giải phóng Huế.

        Sư đoàn pháo binh 164 nhanh chóng di chuyển ít nhất được hai khẩu pháo 130 ly về chiếm lĩnh điểm cao 75 – 76 bắn xuống cửa biển Thuận An, Tư Hiền.

        Trung đoàn cao xạ 284 thuộc Sư đoàn phòng không 673 khẩn trương di chuyển trận địa lên phía trước bảo vệ đội hình chiến đấu của quân đoàn tiến công giải phóng Huế.

        Lữ đoàn công binh 219 đưa một tiểu đoàn lên phía trước bảo đảm cơ động cho xe tăng và chuẩn bị cầu phà vượt sông Truồi, An Nông, Phú Bài.

        Đến lúc này Bộ mới cho phép Quân đoàn 2 sử dụng binh khí kỹ thuật, nhưng các đơn vị pháo tầm xa và xe tăng mới vào tới A Lưới, A Sầu, còn cách xa đơn vị phía trước vài ngày đường. Nhưng cũng rất may là chúng tôi đã bàn nhau chuyển một tiểu đoàn 130 ly và một tiểu đoàn xe tăng vào cách mặt trận có một ngày đường, nên điều động nhanh không mất thời cơ.

        Những trận mưa rào kéo dài cả ngày đêm, làm cho con đường đất của ta mới làm ở miền rừng núi phía tây Thừa Thiên thành vũng lầy nhão nhoét. Nhiều đoạn đường xe cơ giới không qua nổi. Công tác hậu cần trở thành vấn đề nhức nhối. Lấy quân đâu để gùi thồ gạo, đạn từ trên rừng xuống đồng bằng?

        Một vài phân đội đã báo động nguy cơ thiếu gạo, đạn, nhưng các cánh quân vẫn như mũi lao lao thẳng xuống đồng bằng ven biển. Tài năng trí tuệ và tinh thần trách nhiệm cao của Cục Hậu cần đứng đầu là Chủ nhiệm Nguyễn Ngọc Thực đã tìm ra lời giải đáp thích đáng: súng đạn thì lấy của địch, còn cái ăn dựa vào dân và các kho tàng địch bỏ lại. Khi Sở chỉ huy tiền phương quân đoàn tới đóng ở thôn Bàn Môn Hạ, chủ nhiệm hậu cần quân đoàn đã đưa tới một lực lượng hậu cần cơ động gồm một đại đội kho, một đội điều trị, một trạm sửa chữa xe, pháo do anh Phan Ba – Phó phòng tham mưu Hậu cần quân đoàn phụ trách. Bộ phận “hậu cần cơ động; này hoạt động rất có hiệu quả, lấp được lỗ hổng của vấn đề nhức nhối nói trên.

        Cuộc chiến đấu hành tiến thần tốc. Sau một đêm Sư đoàn 324 rời ra vùng núi (23-3), mũi thọc sâu của quân đoàn là Trung đoàn 1 và 2 đã có mặt ở đồng bằng Phú Lộc và tiếp tục tiến về phía cửa Thuận An. Số quân còn lại của Sư đoàn 324 (Trung đoàn 3) bao vây Núi Bông, Núi Nghệ, 303; chiều ngày 23 tháng 3 được Đại đội xe tăng từ A Lưới vào chi viện cho Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 3) tiến công chiếm Núi Bông, Núi Nghệ và căn cứ 303. Tiếp đó Trung đoàn 3 Đại đội 4 xe tăng lao thẳng xuống đường số 1.

        Trong đêm 22 tháng 3, theo nhiệm vụ của quân đoàn giao cho Sư đoàn 325 quyết định sử dụng Trung đoàn 101 diệt căn cứ Lương Điền, sau đó phát triển về Huế theo trục đường số 1, Trung đoàn 18 đánh vào phía sau diệt Chi khu Phú Lộc, chiếm Mũi Né, Phước Tượng, đưa lực lượng tới bịt cửa Tư Hiền và sẵn sàng đánh địch giải toả đường số 1.

        Rạng ngày 23 Trung đoàn 101 đã phá vỡ căn cứ Lượng Điền, mở được cửa phía nam về Huế, đồng thời hỗ trợ cho Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 ở 303, Núi Bông, Núi Nghệ, Mỏ Tàu. Sau khi dứt tiếng súng ở Lương Điền, Trung đoàn 101 và Tiểu đoàn 7 bộ binh tiếp tục đánh thẳng ra Phú Bài - Huế.

        Trung đoàn 18 tiến công vào căn cứ Mũi Né, sau sáu giờ chiến đấu quyết liệt đã tiêu diệt và bắt phần lớn số địch đóng trong căn cứ, số còn lại chạy thục mạng về Chi khu Phú Lộc.

        Nắm thời cơ địch đang hoảng hốt, Trung đoàn trưởng Phạm Hồng Lẫm cho Tiểu đoàn 3 truy theo và đánh thẳng vào Chi khu Phú Lộc. Tới 19 giờ ngày 23, Trung đoàn 18 diệt xong chi khu và đánh tan Tiểu đoàn 128 bảo an, rồi đưa tiếp Đại đội 7 phối hợp với Tiểu đoàn 21 bộ đội địa phương chiếm cửa Tư Hiền.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 12:59:03 am

        Địch thấy không còn khả năng rút chạy vào Đà Nẵng bằng đường số 1, chỉ huy Quân đoàn 1 ngụy quyết định chạy bằng đường biển. Một bộ phận qua cửa Thuận An, một bộ phận qua cửa Tư Hiền. Nhưng chúng chưa kịp thực hiện, chiều ngày 23 tháng 3 Trung đoàn 1 và 2 (Sư đoàn 324) đã chiếm cửa Thuận An, Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325) cùng bộ đội địa phương đã áp sát cửa Tư Hiền. Thành phố Huế nằm trong gọng kìm lớn của Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên.

        Phía bắc Huế, từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 3 bộ đội địa phương Quảng Trị có Đại đội 7 xe tăng (Lữ đoàn 203) yểm hộ đã quét một loạt căn cứ, quận lỵ như Thanh Hương, Đại Lộc, Hướng Điền rồi vượt qua sông Mỹ Chánh tiến công Phò Trạch, Lương Mai; tiếp đó hình thành hai mũi, một mũi đánh chiếm Bao Vinh, một mũi chiếm bờ bắc cửa Thuận An.

        Trung đoàn 4 chủ lực của Quân khu Trị - Thiên ở hướng tây chọc thẳng xuống Lai Bằng, phá vỡ phòng tuyến Bắc Bình và truy kích diệt địch ở bắc sông Hương, tiếp đó trung đoàn chia thành ba mũi cùng lực lượng địa phương Quảng Trị chặn địch ở bắc cửa Thuận An và áp sát vào bắc Huế.

        Phía nam Huế, đêm 24 rạng ngày 25 tháng 3, các Tiểu đoàn 1 và 4 Trung đoàn 164 pháo binh đã khắc phục khó khăn đưa pháo 130 ly vào chiếm lĩnh trận địa, cùng pháo của các sư đoàn nã đạn vào Sở chỉ huy tiền phương Vùng 1 của địch ở Mang Cá và các cửa biển Thuận An, Tư Hiền.

        Tiểu đoàn 5 hải quân đã rải mìn phong toả các cửa biển nói trên.

        Trên đường về Huế và ra cửa Thuận An luôn đông nghịt dân, lính chen chúc hỗn loạn; binh lính sỹ quan mất hết sức chỉ huy, mạnh ai nấy chạy.

        Thời cơ giải phóng Huế đã xuất hiện. Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 quyết định sử dụng Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) nhanh chóng đánh chiếm Phú Bài mở đường cho quân đoàn tiến vào giải phóng Huế.

        Trung đoàn trưởng Hồ Hữu Lạn đã thực hiện đúng phương án chúng tôi vạch ra: dùng một tiểu đoàn đánh vu hồi đánh chiếm quận lỵ Hương Thuỷ, đại bộ phận trung đoàn dưới sự yểm trợ hoả lực của Đại đội 4 xe tăng theo đường số 1 tiến công chính diện căn cứ Phú Bài.

        Tảng sáng ngày 25 tháng 3 Tiểu đoàn 3 nổ súng đánh chiếm quận lỵ Hương Thuỷ, cùng lúc Trung đoàn 101 đánh vào Phú Bài. Địch bị bất ngờ tháo chạy hỗn độn, bỏ lại toàn bộ vũ khí trang bị kỹ thuật, trong đó có một đoàn xe cơ giới đang nổ máy. Đại đội 4 xe tăng của ta đã thu dụng ba chiếc xe tăng M48, hai xe bọc thép M113 để tăng cường lực lượng của mình.

        Sau khi giải phóng Phú Bài và Hương Thuỷ, Trung đoàn 101, tiếp theo là Trung đoàn 3 bộ binh có xe tăng đi cùng, được nhân dân địa phương giúp phương tiện (xe lam, xe tải và cả xe hon đa) vận chuyển tiến rất nhanh vào nội đô Huế. Đúng 13 giờ ngày 25 tháng 3 Tiểu đội phó Tiểu đội trinh sát Nguyễn Văn Phương đã cắm cờ chiến thắng trên Phú Văn Lâu.

        Một bộ phận của Trung đoàn 3 (Sư đoàn 324) cùng xe tăng, chiều ngày 25 tháng 3 đã tiến vào Sở chỉ huy Quân đoàn 1 ngụy ở Mang Cá và tới giải phóng cho hơn 2.000 tù chính trị ở nhà lao Thừa Phủ...

        Cùng thời gian đó các lực lượng của Quân khu Trị - Thiên từ hướng bắc cũng tràn vào đánh chiếm các mục tiêu trong thành phố.

        Chiều 25 tháng 3 Sở chỉ huy tiền phương chúng tôi vào Mang Cá. Các cán bộ của Sư đoàn 325 và Trung đoàn 6 Trị - Thiên cũng có mặt ở đây. Một lát sau tôi gặp Tổng tham mưu phó Giáp Văn Cương và Tư lệnh phó Trị - Thiên Dương Bá Nuôi. Chúng tôi vui mừng chào nhau bằng cái bắt tay siết chặt. Ai ai cũng tỏ ra vui mừng hồ hởi. Mới xa cách nhau một vài tháng, một vài tháng chiến trận căng thẳng, mà cứ tưởng xa cách ngàn trùng. Anh Cương, anh Nuôi cùng chúng tôi trao đổi tình hình và cách xử trí tiếp theo khoảng một giờ. Chúng tôi dễ dàng thống nhất nhận định tình hình và cách giải quyết. Địch ở Trị - Thiên - Huế đã bị tiêu diệt và tan rã không còn khả năng cứu vãn (binh sỹ địch bị bắt và ra trình diện: 58.772, trong đó có 3.781 sỹ quan. Theo tin của địch hồi đó: Sư đoàn bộ binh 1 ngụy chạy về Vũng Tàu còn 200 tên). Ở đây Quân đoàn 2 chỉ cần để một bộ phận cùng địa phương Trị - Thiên làm nhiệm vụ truy quét.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 09:47:25 pm

        Giao nhiệm vụ xong chúng tôi đi ra ngay cảng Thuận An kiểm tra tình hình. Địch đã đốt nhiều xe tăng, bọc thép và ô tô rồi tháo chạy.

        Tôi và anh Cương trở lại Huế ngủ lại ở Sở chỉ huy của Trung tướng Ngô Quang Trưởng, đến sớm hôm sau mới về sở chỉ huy cơ bản.

        Địch ở Đà Nẵng đang hoang mang nhộn nhạo chuẩn bị rút chạy. Đại bộ phận Quân đoàn 2 phải khẩn trương phát triển vào Đà Nẵng. Tôi phân công trong Bộ tư lệnh: anh Bùi Công Ái tới trực tiếp giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 18 phát triển thẳng xuống dãy núi Vĩnh Phong tiêu diệt lữ thuỷ quân lục chiến không cho chúng rút. Nhiệm vụ tiếp sau sẽ tham gia giải phóng Đà Nẵng. Anh Hoàng Đan cùng sở chỉ huy nhẹ quân đoàn tới giao nhiệm vụ và trực tiếp đi với Sư đoàn 325 xuống chiếm Lăng Cô. Tôi xuống trực tiếp tổ chức hướng dẫn phương án tác chiến tổ chức hiệp đồng cho Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) và một tiểu đoàn xe tăng và xe bọc thép ta thu được, tôi giao cho Đại uý Nghìn cán bộ kỹ thuật xe tăng tập hợp số lính lái xe tăng, thiết giáp. Đại uý Nghìn tổ chức được 50 tay lái và qua họ đã thu được 80 chiếc xe tăng , thiết giáp còn tốt.

        Ngày 26 tôi nhận được điện do Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh ký, phần đầu của bức điện nhắc lùng sục tù binh và thu vũ khí phương tiện kỹ thuật, phần sau chỉ thị: “Lực lượng B5 (Quân đoàn 2) sau khi đã tiêu diệt hết các bộ phận địch còn chống cự lại, phải nhanh chóng thu quân chuẩn bị sẵn sàng chuyển vào đánh hướng Đà Nẵng. Kế hoạch tiến công sẽ có chỉ thị của anh Lê Trọng Tấn. B5 cần tăng cường thêm pháo ở khu vực Mũi Trâu cho đủ một tiểu đoàn với đầy đủ đạn, để khi có lệnh, đánh được ngay vào sân bay Đà Nẵng. Cần khắc phục địa hình làm sao đưa được pháo lên phía trước để bắn tới cảng Đà Nẵng.

        Cho chiếm ngay điểm cao Thuỷ Tú để bảo vệ pháo và làm bàn đạp đánh Đà Nẵng...

        Sáng hôm sau, trên chiếc xe Com-măng-ca, tôi và Thiếu tướng Giáp Văn Cương về sở chỉ huy cơ bản của quân đoàn (ở Truồi). Đến La Sơn chúng tôi tạm dừng lại. Gặp sư đoàn trưởng Phạm Minh Tâm, anh than phiền:

        - Hàng vạn tên tù binh tập trung ở đây, không có gì để nuôi chúng. Ý của tôi là phóng thích. Đề nghị anh cho ý kiến.

        - Thế đã thả chúng chưa?

        - Thả rồi.

        - Thả rồi còn nói làm gì – Tôi mỉm cười nói tiếp – Tôi thấy chỉ còn một cách giao lại cho địa phương giáo dục chúng rồi đến phải thả chúng thôi.

        Sau vài câu chuyện vụn vặt tôi nhắc lại nhiệm vụ Sư đoàn 325 phải nhanh chóng chiếm đèo Hải Vân làm bàn đạp vào Đà Nẵng. Việc này anh Đan – Quân đoàn phó đã tới trực tiếp chỉ đạo Trung đoàn 101 và nhắc Tâm việc thu xe, pháo để sử dụng nhiệm vụ chiến đấu sắp tới.

        Đến Sử chỉ huy Quân đoàn, sau cái bắt tay, Thiếu tướng Lê Linh nói ngay vào công việc:

        - Ngoài Bộ vừa điện vào về việc thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch để giải phóng Đà Nẵng. Bộ chỉ huy chiến dịch gồm các anh Lê Trọng Tấn, Chu Huy Mân, Lê Quang Hoà. Bộ dự kiến hai khả năng: nếu địch co lại “tử thủ” Đà Nẵng tương đối vững chắc thì ta sẽ hiệp đồng lớn có chuẩn bị, lực lượng gồm Quân đoàn 2, Quân khu 5 và Quân đoàn 1 sẽ vào tiếp. Nếu địch bị tan vỡ, bị tiêu diệt nặng và Đà Nẵng bị cô lập thì lực lượng tại chỗ nắm thời cơ nhanh chóng đánh chiếm.

        - Qua kẻ địch bị tiêu diệt, tan vỡ ở Trị - Thiên - Huế và những tin tức các chiến trường khác chúng tôi thu lượm được, thấy khả năng thứ hai đã rõ. Và những gì chúng tôi đã làm là đúng hướng, chỉ cần tổ chức đôn đốc khẩn trương hơn.

        Bộ tư lệnh Quân đoàn hội ý khoảng một giờ, mục đích phân công và bàn giao lại một số việc cho địa phương. Tôi cùng Công Trang – Phó Chính uỷ và Tham mưu trưởng quân đoàn Bùi Công Ái trực tiếp chỉ huy cánh quân đường 14, gồm Sư đoàn 324, Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) và tiểu đoàn xe tăng, đánh vào Phước Tượng, nơi có Sở chỉ huy Sư đoàn 3 ngụy rồi phát triển xuống Đà Nẵng.   

        Phó tư lệnh Hoàng Đan trực tiếp chỉ huy cánh quân theo đường số 1 gồm Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325) và lực lượng tại chỗ của Quân khu 5 đánh chiếm đèo Hải Vân và Đà Nẵng.

        Tôi điện cho Sư đoàn 304 từ Thượng Đức đánh xuống tây nam Đà Nẵng; giao cho cơ quan tham mưu làm kế hoạch hiệp đồng nội bộ quân đoàn và hiệp đồng với Quân khu 5; giao cho hậu cần nhanh chóng thu hồi các cơ sở hậu cần của địch để kịp phục vụ cho các hướng tiến công của quân đoàn.

        Cách đánh chung cho các hướng: tiến công trong hành tiến.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 09:52:05 pm

        Tôi rất tự hào về đội ngũ cán bộ quân đoàn. Mỗi khi quyết tâm chung được xác định, hoặc một mệnh lệnh của tư lệnh phát ra là guồng máy cơ quan đồng cấp, trên dưới ăn ý nhau chuyển động nhịp nhàng.

        Khi có lệnh chuyển hướng tiến công về phía Đà Nẵng là ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của quân đoàn hướng ngay công việc vào  phục vụ cho các cánh quân. Mấy hôm trước hậu cần còn vận chuyển gạo, đạn... về phía bắc để giải phóng Huế, thì hôm nay chuyển vào phía nam. Chủ nhiệm hậu cần Nguyễn Ngọc Thực đã điều hành rất tốt cơ quan dưới quyền mình. Khi lực lượng hậu cần từ hậu phương vị tắc nghẽn ở đường 14, đường 10 và 74... hậu cần linh hoạt tập trung vào khai thác triệt để chiến lợi phẩm để kịp thời phục vụ cho nhiệm vụ mới.

        Lữ đoàn công binh 219 khẩn trương sửa đường, bắc lại cầu Truồi để lực lượng cơ giới cơ động.

        Trung đoàn thông tin 463 nhanh chóng xây dựng mạng thông tin vô tuyến kịp thời cho tổ chức thông tin chỉ huy...

        Ở hướng đường số 1, Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325) dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Hồng Lẫm và Quân đoàn phó Hoàng Đan hết sức chủ động linh hoạt. Ngày 3 tiêu diệt Chi khu Phú Lộc xong lập tức phát triển, ngày 24 tháng 3 đã chiếm căn cứ Lữ đoàn 258 lính thuỷ ở đèo Tượng, và ngày 26 trung đoàn tiếp tục diệt cứ điểm Thổ Sơn...

        Thấy nguy cơ Đà Nẵng bị uy hiếp, Bộ chỉ huy Quân đoàn 1 ngụy vội vã lệnh cho Lữ đoàn 258 lính thuỷ đánh bộ và Liên đoàn 914 bảo an phá cầu Thừa Lưu, rút về đèo Phú Gia, Lăng Cô, Hải Vân xây dựng trận địa lâm thời phòng ngự.

        Ngày 27 tháng 3 Trung đoàn 18 tiến đánh đèo Phú Gia.

        Trung đoàn pháo binh 84 vừa mới xuống núi đã linh hoạt sử dụng ngay pháo của địch ở Phú Lộc, Phước Tượng chi viện cho Trung đoàn 18. Đến lúc này mọi người mới thấy tác dụng của việc huấn luyện cho bộ đội biết sử dụng xe pháo và vũ khí của địch là cực kỳ quan trọng.

        Địch ở Phú Gia chống cự quyết liệt. Máy bay, pháo binh của chúng bắn phá dữ dội để chi viện cho bọn lính thuỷ đánh bộ bảo vệ vòng ngoài của Đà Nẵng, nhưng cuối cùng chúng vẫn phải rút chạy. Thừa thắng quân ta tiến lên giải phóng luôn Sơn Hải, An Hải và Loan Lý. Chiều ngày 28, bộ phận đi đầu của trung đoàn đã tới chân đèo Hải Vân.

        Trận đánh ở khu vực Lăng Cô, chân đèo Hải Vân diễn ra căng thẳng giằng co (nhất là khu vực cầu Lăng Cô) gần hết một ngày, mãi tới 20 giờ ta mới hoàn toàn làm chủ. Và cũng từ giờ phút đó cửa vào Đà Nẵng đã mở xong.

        Trên hướng đường 14, khoảng cách từ điểm xuất phát tới vị trí tập kết khoảng 70 cây số, vừa đi vừa phải gỡ mìn, vừa phải xua bọn địch ở ven đường, nên mãi tới tối 28 Trung đoàn 9 và các đơn vị phối thuộc mới tới khu tập kết. Các đơn vị đang chuẩn bị đánh Đá Đen, chưa kịp đánh địch đã rút chạy.

        Cùng ngày 28 có nhiều sự kiện quan trọng. Theo chỉ thị của Bộ, tôi hạ lệnh cho

        Lữ đoàn pháo 164 cho trận địa pháo tầm xa đặt ở Mũi Trâu, cùng các trận địa pháo của toàn mặt trận bắn vào Quân cảng, Sở chỉ huy Quân đoàn 1 ngụy và sân bay Đà Nẵng.

        Sau vài giờ pháo binh của ta phát hoả, tôi nhận được nhiều tin. Tình hình thành phố Đà Nẵng trở nên rối loạn. Từng toán binh lính ngụy xông vào nhà dân cướp bóc, hãm hiếp. Sân bay bị tê liệt. Từng đoàn xe, đoàn người chầu trực chuẩn bị di tản, lại rồng rắn trở về thành phố. Khu trung tâm thông tin ở Đà Nẵng bị phá huỷ; liên lạc Đà Nẵng – Sài Gòn bị cắt đứt. Trên các làn sóng vô tuyến luôn chen chúc tiếng kêu cứu, tiếng chửi rủa của bọn lính ngụy...

        7 giờ sáng 25 tháng 3 Quảng Ngãi đã hoàn toàn giải phóng. Chúng tôi thấy thời cơ tổng công kích vào Đà Nẵng đã tới, tôi hạ lệnh cho các đơn vị ở các hướng khẩn cấp tiến lên. Đơn vị nào có điều kiện tiến nhanh hơn thì vào sớm không phải chờ đợi.

        Ở hướng đường số 1, ngay trong đêm 28 anh Hoàng Đan đã điều động Đại đội xe tăng PT85 tăng cường cho Sư đoàn 325. Trung đoàn 84 pháo binh vừa hành quân tới đã nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa pháo 105 và 155 ly của địch ở Lăng Cô và Phú Gia; chuẩn bị ngay phần tử bắn sẵn sàng chi viện cho bộ binh chiếm đèo Hải Vân.

        5 giờ ngày 29, Phó tư lệnh Quân đoàn Hoàng Đan phát lệnh tiến công. Đạn pháo của Trung đoàn 84 đồng loạt nổ liên hồi trong khu vực phòng ngự của Lữ đoàn 258 lính thuỷ đánh bộ. Sư đoàn 325 cùng các đơn vị binh chủng phối thuộc ào ào chuyển động theo đường số 1. Pháo binh vừa chuyển làn, bộ binh, xe tăng của sư đoàn đã có mặt ngay trước trận địa địch. Địch bị bất ngờ, hoảng hốt chạy tan tác vào rừng. Khi ta tới đỉnh đèo, từng toán địch lẻ tẻ ra ngăn chặn. Được pháo binh và xe tăng yểm trợ đắc lực, các đơn vị đi đầu của sư đoàn vẫn giữ nguyên cách đánh trong hành tiến. Đại đội 6 dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Nguyễn Tiến Lai, liên tiếp tiêu diệt các toán địch chốt chặn, mở đường cho sư đoàn tiến quân. Tới 8 giờ, khi quân ta xuống gần chân đèo phía nam, gặp một cánh quân địch hành quân bằng cơ giới có xe tăng đi cùng. Một trận đụng độ quyết liệt diễn ra trong vài chục phút, cánh quân địch hoàn toàn bị tiêu diệt và tan rã.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 09:56:09 pm

        9 giờ 30 phút, Sư đoàn 325 cùng các đơn vị binh chủng phối thuộc vào tới cầu Nam Ô. Đồng bào ào ra chào đón, đứng chật hai bên đường.

        10 giờ 30 Sư đoàn 325 đã vào trung tâm thành phố chiếm cảng Đà Nẵng và tiến đánh bán đảo Sơn Trà, cắt đứt hoàn toàn đường rút chạy của địch.

        Trên hướng đường số 14, tối 28 tháng 3 nhận lệnh cấp tốc hành quân tiến công vào Sở chỉ huy Sư đoàn 3 của địch ở Phước Tượng. Đến 2 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3 Trung đoàn 9 cùng các đơn vị phối thuộc đã đánh chiếm Phước Tượng, Hoà Khánh, Sở chỉ huy Sư đoàn 3. Tiếp sau đó tiến xuống phối thuộc Trung đoàn 1 (Sư đoàn 325) đánh chiếm Đà Nẵng. Tôi đi theo Tiểu đoàn xe tăng ra chiếm bán đảo Sơn Trà. Tới đây tôi gặp Quân đoàn phó Hoàng Đan, anh đang tổ chức cho pháo bắn theo tàu chiến của địch. Có tin Trung tướng ngụy Ngô Quang Trưởng đã không chờ “Việt cộng bước qua xác” mà đang ở trong một con tàu nào đó chạy ra khơi.

        Trên hướng tây nam, Sư đoàn 304 (trừ Trung đoàn 9) đã đánh tan lực lượng địch ngăn chặn ở Ái Nghĩa và truy theo bọn tàn quân của Lữ đoàn 369 lính thuỷ đánh bộ suốt dọc đường dài hơn 30 ki-lô-mét, rồi cúng các lực lượng của Quân khu 5 đánh chiếm sân bay, khu hành chính thành phố và nhiều mục tiêu quan trọng khác.

        Trải qua 26 ngày đêm, Quân đoàn 2 phối hợp chặt chẽ cùng với Quân khu Trị - Thiên và Quân khu 5 chiến đấu liên tục, đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ Quân đoàn 1, Quân khu 1 và Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ của địch, thu toàn bộ cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh của chúng, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế và Quảng Nam – Đà Nẵng.

        Trải qua chiến dịch này, chúng tôi rút ra được nhiều bài học quý giá, Quân đoàn đã hiểu đúng tình hình địch, ta và nhiệm vụ được trên giao, qua đó chọn đúng hướng tiến công chủ yếu, chọn đúng đối tượng và mục tiêu chủ yếu. Khi thời cơ xuất hiện đã kịp thời nắm bắt tận dụng thời cơ; kiên quyết liên tục, nâng cao tốc độ tiến công tạo thêm thời cơ mới. Chủ động linh hoạt sử dụng cách đánh thích hợp, từ cách đánh tiến công có chuẩn bị chuyển sang tiến công trong hành tiến đã làm cho quân địch không kịp trở tay...

        Ngay sau khi quân ta quét sạch sự chống đối của địch ở Đà Nẵng, Quân đoàn 2 nhanh chóng bố trí lại đội hình, củng cố tổ chức, thu hồi triệt để chiến lợi phẩm, chuẩn bị nhân nhiệm vụ mới.

        Sư đoàn 324 đứng chân ở Huế. Sư đoàn 325, 304 cùng với Sư đoàn 2 (Quân khu 5) đứng ở Đà Nẵng.

        Chúng tôi chủ trương thay một số xe pháo. Lấy pháo 105, 155 ly của địch thay cho pháo 122 ly và Đ74 của ta, bởi các loại đạn pháo đó ta thu được rất nhiều; lấy GMC thay xe xích ATS của ta, vì GMC bánh lốp có tốc độ cơ động nhanh hơn. Các sư đoàn thu toàn bộ xe tải của địch và xếp lên xe lương thực, đồ hộp, đạn dược... chuẩn bị cơ sở vật chất sẵn sàng cho một tháng chiến đấu liên tục.

        Ngày 4 tháng 4 cả Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 tập trung ở Phước Tượng Sở chỉ huy Sư đoàn 3 ngụy. Các anh Lê Trọng Tấn và Lê Quang Hoà cũng vừa mới tới đây. Chúng tôi nhận được thông báo cuộc họp Bộ Chính trị (31/3 – 1/4/1975) đã hạ quyết tâm: “... nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo bất ngờ, chắc thắng thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4 năm 1975, không thể để chậm”.

        Mệnh lệnh của Bộ ngày 1 tháng 4 năm 1975: Quân đoàn 2 chuẩn bị cho Sư đoàn 325 và Lữ đoàn 203 thiết giáp, một trung đoàn phòng không sẵn sàng cơ động vào Nam Bộ tăng cường cho Quân đoàn 1, làm cho cán bộ chiến sỹ trong quân đoàn xôn xao kém phấn khởi. Ngay trong Bộ tư lệnh chúng tôi cũng có nhiều thắc mắc. Địch củng cố tuyến phòng thủ mạnh từ Phan Rang, Phan Thiết trở vào, Quân đoàn 4 đang gặp khó khăn chưa dứt điểm được Xuân Lộc, Quân đoàn 2 có khả năng cơ động cao, tại sao không đưa toàn bộ Quân đoàn 2 tiến theo đường 1 đánh phá sự phòng thủ của địch ở miền duyên hải “chia lửa” cho Quân đoàn 4 và nếu phá vỡ sự phòng thủ của địch ở phía duyên hải, địch sẽ cơ bản mất khả năng “tử thủ” Sài Gòn”.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 09:58:54 pm

        Tối hôm ấy tôi và các anh Lê Linh, Công Trang, Hoàng Đan, Lê Khả Phiêu, Bùi Công Ái trao đổi với nhau về vấn đề đó, rồi kéo nhau đến gặp anh Lê Trọng Tấn.

        Anh Tấn đang ngồi trầm tư, tay điếu thuốc cháy dở, mắt đăm đăm nhìn ra cửa. Thấy chúng tôi lục tục kéo đến, anh mỉm cười:

        - Có chuyện gì thế... mời ngồi.

        Tôi thay mặt anh em trong Bộ tư lệnh Quân đoàn phát biểu:

        - Về việc trên điều động Sư đoàn 325, Lữ đoàn 203 xe tăng, trung đoàn phòng không của quân đoàn tôi cho Quân đoàn 1. Nếu chúng tôi đề đạt phương án khác sợ làm đảo lộn ý định của cấp trên. Tôi nghĩ chiến tranh khó tránh khỏi có sự đảo lộn...

        - Cứ mạnh dạn trình bày đi.

        Được anh Tấn khuyến khích, tôi nói một mạch những suy nghĩ chúng tôi đã chuẩn bị và nhấn mạnh vào sức cơ động của quân đoàn, có cơ giới, có tàu thuỷ, đường giao thông thuận lợi, có khả năng chiến đấu trong hành tiến.

        Anh Tấn tươi cười đáp:

        - Ý kiến của các cậu rất đúng. Mình cũng nghĩ thế. Được, tớ sẽ ra Hà Nội báo cáo với anh Văn. Nếu anh Văn đồng ý mình sẽ điện ngay.

        Một mặt chờ điện của anh Tấn, một mặt chúng tôi vẫn tích cực xúc tiến việc chấp hành lệnh tách một số đơn vị tăng cường cho Quân đoàn 1 và tính toán công việc khi ở lại.

        Chiều ngày 5 tháng 4 tôi nhận được một bức điện ngắn:

        “Quân uỷ Trung ương đồng ý.

        Ký tên

        Tấn”

        Bức điện nhanh chóng trở thành luồng gió ấm truyền khắp cơ thể của quân đoàn. Toàn quân đoàn phấn khởi sôi nổi chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng, trận đánh hoàn toàn giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Bộ tham mưu quân đoàn quên ăn quên ngủ nghiên cứu tình hình ta, tình hình địch, địa hình, đường sá, kế hoạch hành quân, phương án tác chiến... Cục Chính trị lo động viên bộ đội, chuẩn bị nội dung hướng dẫn công tác chính trị trong hành quân chiến đấu đường dài, công tác chính trị trong vùng mới giải phóng... Cục Hậu cần lo việc bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật cho quá trình chiến đấu dài ngày.

        Tuy chúng tôi đã ý thức được việc di chuyển đội hình lớn đi xa sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhưng vẫn chưa lường hết khó khăn cụ thể như thế nào. Tới khi chính thức chuẩn bị lên đường vẫn còn gần nửa số xe, pháo của Sư đoàn phóng không 673 và Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn xe tăng 203 bị tắc nghẽn trên các đường số 14, 73, 74. Phần lớn lực lượng của Trung đoàn cao xạ 245 và Tiểu đoàn 3 Lữ đoàn pháo binh 164 còn nằm ở Khe Sanh, Quảng Trị. Các đơn vị pháo vào chi viện cho Sư đoàn 304 chiến đấu ở Thượng Đức, phải hành quân ngược ra phía bắc, để đi theo đường 72 ra Huế. Phải tốn khá nhiều công sức và thời gian mới chuyển được những đơn vị ấy ra tới đường số 1.

        Khi xốc lại số phương tiện vận chuyển, kể cả số xe ô tô của Sư đoàn 511 vừa được tăng cường mới chỉ đủ chở được hơn hai phần ba quân số. Trên đường quân đoàn phải qua 569 cầu, trong đó có 14 cầu bắc qua sông lớn; ta mới biết địch đánh sập các cầu Câu Lâu, Kế Xuyên, Bà Bầu, An Tân, nhưng lực lượng công binh cầu phà của quân đoàn quá nhỏ nhoi, chỉ đủ ghép bốn phà 50 tấn...

        Những khó khăn bề bộn tưởng chừng khó lòng khắc phục nổi đã được toàn quân từ tư lệnh tới người lính cùng ghé vai góp sức tích cực, và được cấp trên quan tâm, được nhân dân giúp đỡ nên đã lần lượt vượt qua.

        Chỉ trong vài ngày Lữ đoàn 203 đã thu hồi của địch bổ sung vào biên chế của mình hàng chục xe M113 và M48. Bộ đội pháo binh thu nhiều xe, pháo, đạn đồng bộ của địch để thay thế trang bị của mình. Tỷ lệ số pháo lên tới hơn một phần ba số pháo biên chế của đơn vị. Trung đoàn 68 pháo binh (Sư đoàn 304), Trung đoàn 48 pháo binh (Sư đoàn 325) đã tổ chức thêm bốn đại đội pháo 105 ly. Lữ đoàn 164 pháo binh tổ chức thêm một tiểu đoàn pháo 155 ly. Các đơn vị còn thu và sử dụng hệ thống thông tin gắn trên xe địch, có công suất lớn rất thuận tiện cho tổ chức chỉ huy.

        Các đơn vị bộ binh cũng chuyển đổi sử dụng nhiều loại vũ khí, kỹ thuật của địch. Hầu hết các đại đội, tiểu đoàn dùng máy vô tuyến PRC25 của Mỹ. Riêng Sư đoàn 325 mỗi tiểu đội được trang bị thêm một hai khẩu phóng lựu M79.

        Thời gian này Cục Hậu cần làm được nhiều việc có ý nghĩa lớn lao trong việc bảo đảm cơ sở vật chất của quân đoàn. Căn cứ vào bản đồ kho tàng của địch để lại, Cục Hậu cần đã tổ chức thu hàng nghìn tấn lương thực, đạn dược, xăng dầu, quân trang quân dụng, kết hợp gấp rút điều động hàng của ta từ Quảng Trị vào bảo đảm cho quân đoàn đủ dùng một tháng; vận động dân cho mượn xe. Cho tới trước ngày xuất quân, dân đã cho mượn hơn 100 ô tô vận tải cùng người lái. Các anh em lái và thợ sửa chữa tích cực thu hồi xe địch, tìm kiếm phụ tùng thay thế và tranh thủ sửa chữa để tăng thêm đầu xe, số xe thu của địch sử dụng được lên tới 487 chiếc. Quân đoàn đã mạnh dạn sử dụng số lính ngụy biết lái xe tăng, xe bọc thép, ô tô và thợ sửa chữa phục vụ cho cuộc hành quân.

        Cục Hậu cần được sự giúp đỡ của Quân khu 5 phái một tổ đi trước tới thị xã Quy Nhơn, Tuy Hoà, Nha Trang và Cam Ranh tìm nguồn xăng, xét nghiệm xăng dầu và thu hồi.

        Tại Đà Nẵng, mỗi xe đã được cấp phát hai cơ số xăng mang theo xe. đối với xe tăng, có 14 xe chở dầu đi theo, bảo đảm đủ cơ số thứ hai. Mỗi đoàn xe còn bố trí một số xe téc đi theo.

        Về phương tiện vận chuyển, trên Bộ đã tăng cường cho quân đoàn và Sư đoàn 571 ô tô vận tải, Trung đoàn 83 công binh cầu phà, và tàu biển của hải quân chở Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) từ Đà Nẵng vào Quy Nhơn.

        Sau khi kiểm tra công tác chuẩn bị của toàn quân đoàn, tôi thở một hơi dài nhẹ nhõm: thế là cơ sở vật chất đã tạm đủ để tiến về Sài Gòn”...


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 11:48:51 pm

5. THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG CẦM (ĐỖ VĂN CẨM)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Hoang%20Cam-%20tuong_zps04sceamq.jpg)


        Thượng tướng Hoàng Cầm, sinh năm 1920, quê ở xã Sơn Công huyện Ứng Hoà tỉnh Hà Tây. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đồng chí gia nhập quân đội. Tham gia kháng chiến chống Pháp, đồng chí Hoàng Cầm trưởng thành từ chiến sỹ đến trung đoàn trưởng.

        Từ tháng 9 năm 1953 đến năm 1963, đồng chí làm Tham mưu trưởng , Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312.

        Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí được cử vào chiến trường miền Nam công tác. Gắn bó với chiến trường miền Đông “gian lao mà anh dũng”.

        Từ năm 1964 đến năm 1970, đồng chí Hoàng Cầm được giao đảm nhiệm các chức vụ: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9, Tham mưu phó Quân Giải phóng miền Nam, làm Phó tư lệnh và Tư lệnh một số chiến dịch ở miền Đông Nam Bộ.

        Năm 1970 – 1974 đồng chí làm Tham mưu trưởng Quân Quân Giải phóng miền Nam kiêm Tư lệnh Đoàn 301.

        Năm 1975 là Tư lệnh Quân đoàn 4 nằm trong cánh quân phía Đông tiến vào trung tâm sào huyệt địch ở Sài Gòn, giành toàn thắng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

        Năm 1981, đồng chí Hoàng Cầm là Phó tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Cam-pu- chia.

        Từ tháng 4-1982 đến 1986 là Tư lệnh Quân khu 4; được phong hàm Thượng tướng năm 1984. Năm 1987-1992 là Tổng Thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Đồng chí Hoàng Cầm là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khoá IV đến khoá VI. Đại biểu Quốc hội khoá VII. Đồng chí được Đảng, Nhà nước trao tặng những phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, hạng ba, Huân chương Chiến công hạng nhì.

        Những năm đầu ở miền Đông Nam Vộ, đồng chí Hoàng Cầm đã cùng quân dân trên chiến trường này đánh bại các chiến dịch “mùa khô” của đối tượng tác chiến mới trong lúc chúng đang ở thế ra quân “tiêu diệt”. Đây là những lực lượng được đánh giá là tinh nhuệ nhất của các Sư đoàn bộ binh Mỹ. Song quân và dân ta đã xác định quyết tâm, tập trung lực lượng đánh những trận then chốt, những trậ tập kích táo bạo tạo được thế chủ động ngay từ đầu, giành thắng lợi nhanh gọn, giòn giã.

        Đặc biệt, trên chiến trường này, ta đã đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty là cuộc hành quân lớn nhất của quân chiến đấu Mỹ nhằm “tiêu diệt” cơ quan đầu não kháng chiến và Sư đoàn 9 bộ đội chủ lực Miền, trong điều kiện địch có lực lượng gấp ba lần ta, có hoả lực pháo binh hơn hẳn, lại có thiết giáp và không quân yểm trợ. Để phản công đánh trả cuộc hành quân quy mô lớn này, ta đã khéo vận dụng nghệ thuật chiến tranh nhân dân rộng khắp để phân tán căng kéo địch, đồng thời sử dụng chủ lực tác chiến ở vòng ngoài tạo những quả đấm mạnh, tập trung bên sườn và phía sau lưng địch, tiêu diệt và làm thiệt hại nặng cho quân chiến đấu Mỹ. Chiến thắng này là nét đặc sắc về nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng chiến dịch phản công của ta, là dấu ấn sâu sắc đối với đồng chí Hoàng Cầm trên chiến trường miền Đông Nam Bộ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 11:49:59 pm

TẦM NHÌN QUA CÁC MÙA KHÔ

        “...Đầu tháng 12 năm 1965 khi chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng kết thúc, Bộ chỉ huy Miền giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 9: Phát huy chiến thắng đợt một, cần gấp rút chuẩn bị củng cố đơn vị theo hướng đánh lớn, buộc địch co lại giảm bớt sục sạo vùng sâu của ta.

        Thay mặt Bộ tư lệnh Sư đoàn, tôi đề nghị Miền xin được chuyển địa bàn để có điều kiện đánh địch góp phần giữ vững vùng sâu, bảo vệ thế trận có lợi cho ta.

        - Ở đâu?- Bộ chỉ huy Miền hỏi.

        - Đông đường 13 – Tôi trả lời.

        - Đồng ý - Bộ chỉ huy Miền chuẩn y và nhấn mạnh - Trước mắt sư đoàn về đứng chân ở khu vực suối Nhung để tranh thủ củng cố đơn vị, sẵn sàng đánh địch trên đường 13, 16 nếu địch nống ra khu vực này.

        Trong khoảnh khắc yên tĩnh ngắn ngủi, gần như chưa có trận đụng độ nào giữa các đơn vị chủ lực Miền với quân viễn chinh Mỹ, nhưng bầu trời và mặt đất Đông Nam Bộ đặc quánh những âm thanh nặng nề của chiến tranh. Thường xuyên chúng tôi được cơ quan tham mưu Miền thông báo máy bay B52, cường kích, pháo bầy đánh phá liên tục, ác liệt các căn cứ Dương Văn Minh, Bời Lời, Long Nguyên, Củ Chi, Chiến khu Đ, Xuyên Môc, Hát Dịch... và những nơi chúng nghi có chủ lực ta trú quân. Tình hình đang thực sự trở nên khẩn trương. Đối mặt với Sư đoàn 5, Sư đoàn 9 chúng tôi là các đơn vị sừng sỏ của Mỹ vừa đặt chân đến chiến trường miền Đông  đang hối hả chuẩn bị cho cuộc hành quân lớn. Cuộc “chiến tranh cục bộ” trên quy mô lớn đã và đang trở thành hiện thực (Sư đoàn bộ binh số 1 mang tên “Anh cả đỏ” thành lập năm 1917, quân số 17.530 tên, biên chế ba lữ đoàn, năm tiểu đoàn pháo binh 105 và 155 ly, một tiểu đoàn và hai đại đội không quân (cơ động đường không) đến Biên Hoà ngày 2 tháng 10 năm 1965. Sư đoàn bộ binh cơ giới số 25 mang “Tia chớp nhiệt đới” thành lập năm 1941, tham gia chiến tranh thế giới lần hai ở chiến trường Châu Á – Thái Bình Dương và chiến tranh Triều Tiên. Đây là sư đoàn được biên chế mạnh, gồm 12 tiểu đoàn bộ binh cơ giới, ba tiểu đoàn thiết giáp, sáu tiểu đoàn pháo 105 và 155 ly, một tiểu đoàn không quân và nhiều đơn vị bảo đảm khác. Quân số 17.666 người. Lữ đoàn 173 không vận (cơ động bằng máy bay lên thẳng) biên chế 4 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo 105 ly, Quân số 4.313 người, đến Biên Hoà ngày 5 tháng 5 năm 1965).

        Ba ngày sau, khi sư đoàn đã tạo dựng được cơ ngơi ăn ở ổn định, bắt tay vào việc chấn chỉnh tổ chức, củng cố đơn vị, tôi được điện của Bộ chỉ huy Miền gọi về báo cáo kết quả chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng và nhận nhiệm vụ mới.

        Cuộc họp có mặt đầy đủ các anh trong Bộ chỉ huy Miền, diễn ra trong không khí phấn khởi vì chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng kết thúc thắng lợi.

        Theo gợi ý các anh trong Bộ chỉ huy Miền, tôi báo cáo ngắn gọn, tổng hợp diễn biến, kết quả và chủ yếu là rút ra những bài học về chỉ đạo chiến dịch, chỉ huy chiến đấu...

        Nghe xong, các anh trong Bộ chỉ huy Miền đều nhất trí với đánh giá thắng lợi của sư đoàn và chỉ thị sư đoàn cần tổng hợp gấp nhưng đầy đủ những kinh nghiệm đánh Mỹ trong chiến dịch này, phối hợp với tác huấn Miền biên soạn thành tài liệu bài bản hoàn chỉnh để phổ biến nhanh xuống các lực lượng vũ trang ba thứ quân trước khi bước vào đợt hoạt động mới.

        Tiếp theo anh Trà thay mặt Bộ chỉ huy Miền phổ biến nhiệm vụ.

        Trên cơ sở quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 11, 12, Nghị quyết Bộ Chính trị, Nghị quyết Quân uỷ Trung ương và kế hoạch  tác chiến của Bộ Tổng tham mưu, được Trung ương Cục, Quân uỷ Miền phê chuẩn, Bộ chỉ huy Miền thông qua kế hoạch hoạt động quân sự đợt II cho toàn chiến trường B2, trọng tâm là chiến trường Đông Nam Bộ, nhàm phát huy thế chủ động, tiếp tục tấn công các cuộc phản công của quân Mỹ trong âm mưu “bẻ gãy xương sống Việt Cộng” của tướng Oét-mo-len trong mùa khô này.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 11:50:32 pm

        Để thực hiện yêu cầu trên, Bộ chỉ huy Miền quyết định:

        - Ở hướng bắc, tây bắc sẽ do các đơn vị chủ lực tại chỗ, bộ đội địa phương và dân quân du kích đảm nhiệm, đặc biệt chú ý các trọng điểm Củ Chi, Hố Bò, Bến Cát...

        Ở hướng bắc, đông bắc sẽ do Sư đoàn 9 đảm nhiệm gồm các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Bình Dương, Chiến khu Đ; Sư đoàn 5 làm nhiệm vụ đánh địch từ đông bắc đến đông nam Sài Gòn gồm các tỉnh Long Khánh, Biên Hoà, Bà Rịa. Dồn chủ lực về hướng này vì ở đây có khả năng đánh lớn khi quân Mỹ mở các cuộc hành quân “tìm diệt” chủ lực ta, đánh phá các căn cứ trong đó có các mục tiêu chủ yếu là Chiến khu Đ và mở rộng vùng kiểm soát trên hai trục đường 13 và 15, uy hiếp hành lang Phước Long – nơi đoạn cuối của đường mòn Hồ Chí Minh đã được nối thông, đang phát huy tác dụng; ở đó chúng ta đã tiếp nhận hàng vạn cán bộ, chiến sỹ, hàng nghìn tấn vũ khí đạn dược từ miền Bắc chi viện cho chiến trường Đông Nam Bộ. Với đặc điểm rừng núi ở hướng này hiểm trở, liên hoàn có chiều sâu, một thế tự nhiên thuận tiện để thực hiện buộc địch phải theo cách đánh của ta.

        - Ở hướng Trung và Tây Nam Bộ, theo kế hoạch của Bô chỉ huy Miền, các trung đoàn chủ lực Quân khu 8 và 9 dồn về đứng chân ở U Minh, Đồng Tháp vừa làm nhiệm vụ giữ căn cứ giải phóng, phối hợp với cá lực lượng vũ trang địa phương đánh phá bình định ở đồng bằng, vừa thọc sâu tiến công địch trên đường số 4, buộc địch phải phân tán lực lượng, tạo điều kiện cho Đông Nam Bộ là chiến trường chính chiến đấu có hiệu quả các cuộc phản công mùa khô của địch. Quanh các căn cứ của Mỹ như Bắc Hà (Củ Chi), Lái Thiêu, Bến Cát, chúng ta đang có kế hoạch củng cố các tổ đội du kích bám căn cứ, đánh tiêu hao, quấy rối địch và từng bước hình thành nên những vành đai diệt Mỹ.

        Với cách bố trí trên đây, chúng ta hình thành thế trận đánh địch tại chỗ, đánh chính diện bên sườn và cả sau lưng địch, buộc Mỹ phải bị động, phân tán, không phát huy được thế mạnh quân đông, vũ khí nhiều và hiện đại.

        Với vẻ lạc quan, tự tin, giọng nói sôi nổi quen thuộc mà tôi bắt gặp lần đầu ở chiến dịch Biên giới (Thu Đông 1950), anh Thanh thay mặt Quân uỷ Miền nói tiếp: Mặc dầu vừa bị thua đau ở Đất Cuốc, Bàu Bàng, Căm Se nhưng Mỹ đang còn rất sung sức, chúng đang còn rất chủ quan ngạo mạn về sức mạnh trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại, nhất là mục tiêu “tìm diệt” Sư 9 chưa thực hiện được nên quân Mỹ còn hung hăng. Các trận phản công sắp tới của chúng chắc chắn có quy mô lớn cả về không gian và thời gian, với nhiều thủ đoạn chiến thuật, biện pháp kỹ thuật hiểm hóc, tinh vi. Vì vây, chúng ta phải có tinh thần chiến đấu cao, dũng cảm phi thường, phải có chí khí anh hùng và quyết tâm dời non lấp biển, đạp bằng bất cứ trở lực nào, hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào, đánh bại bất cứ kẻ thù nào (Nghị quyết Trung ương 12).

        Cuối cùng anh chỉ thị: Để thực hiện tốt đợt hoạt động này, ngoài quyết tâm cao, Sư đoàn 9 cần gấp rút xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể, nhưng không nên tham, mà phải tuỳ theo sức mình, “bảo đảm sao cho tiến công địch mạnh và tự vệ mình tốt” (thư Bộ Chính trị). Anh vừa nghiêm túc giao nhiệm vụ vừa thân mật động viên Sư 9 kiên trì ở hướng đó, vừa khẩn trương triển khai lực lượng sẵn sàng đánh địch, vừa chuẩn bị cho đơn vị ăn Tết ở đấy.

        Cuộc họp tuy nhiều nội dung nhưng chỉ làm gọn trong vòng hai giờ.

        Tôi trở lại sư đoàn ngay sau đó, vào lúc mặt trời lặn, chỉ còn hắt lên chân trời phía tây một ráng đỏ đậm rồi tắt nhanh, báo hiệu ngày mai nắng càng gắt, như đổ lửa xuống mảnh đất nơi chúng tôi đang trú quân dã ngoại.

        Các anh trong Bộ tư lệnh Sư đoàn phấp phỏng chờ tin. Vì vậy, khi tôi về đến nơi là cuộc họp được bắt đầu. Tôi báo cáo toàn bộ kế hoạch của Bô chỉ huy Miền về đợt hoạt động quân sự mới, trong đó có nhiệm vụ cụ thể của Sư; nói cả tinh thần thư của Bộ Chính trị đề ngày 6 tháng 4 năm 1965 gửi Trung ương Cục và Khu uỷ 5 mà tôi được phổ biến trong cuộc họp: Khi Mỹ thêm nhiều lực lượng và phương tiện vận chuyển cơ động, chắc chắn chúng sẽ mở nhiều cuộc tiến công vào chiến trường rừng núi, với quân Mỹ là chính, có kèm theo quân ngụy và quân chư hầu để cố giành chủ động, cố đạt một số thắng lợi để gây ảnh hưởng về chính trị, hòng đẩy ta vào thế bị động... Do đó nếu ta không dùng hình thức phản công chiến lược, phản công chiến đấu để tiêu diệt quân Mỹ và quân ngụy , thì ta sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội và có thể lầm vào bị động...

        Chủ động và khẩn trương phải đi liền với nhau, từ nhận thức đó chúng tôi đã thống nhất một số việc cần làm ngay trong đêm: điều đơn vị trinh sát rời suối Nhung đi về phía tây nam đến tả ngạn sông Bé thuộc địa phận huyện Tân Uyên, nơi đang có một số đơn vị Mỹ thuộc Sư 1 nống ra cách đây bốn ngày để nắm ý đồ và hình thái đóng quân của chúng; đồng thời toàn sư đoàn cũng chuẩn bị chuyển dịch đội hình ở hướng này.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 11:52:05 pm

        Đúng như nhận định của trên, từ đầu tháng 2 năm 1966, địch chuyển trọng tâm hoạt động sang mũi tên thứ hai - bắc, đông bắc Sài Gòn, thuộc địa bàn đứng chân của Sư đoàn 9.

        Từ đây chúng tôi mới thực sự bước vào thực hiện kế hoạch quân sự của Bộ chỉ huy Miền chống lại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất với mục đích “tìm diệt” mà tướng Oét-mo-len, tư lệnh quân đội viễn chính Mỹ ở Nam Việt Nam cho rằng bây giờ là thời điểm thực hiện ( các biện pháp chiến lược của Mỹ đã thực hiện trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam: Biện pháp chiến lược “tìm diệt” áp dụng từ khởi đầu chiến lược “chiến tranh cục bộ” đến hết mùa khô lần thứ nhất, biện pháp chiến lược “hai gọng kìm” được áp dụng từ cuộc phản công chiến lược “quét và giữ” được Abram thay Oét-mo-len đề xướng áp dụng từ Xuân 1968. Các biện pháp chiến lược quân sự của Mỹ nhằm hai mục tiêu cơ bản: tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng và giành dân, chiếm đất).

        Mở đầu mũi tên thứ hai bắn sang hướng bắc, đông bắc là cuộc hành quân mang tên “Đá lăn” vào giữa tháng 2 năm 1966.

        Đây là cuộc hành quân nằm trong kế hoạch chung của cuộc phản công chiến lược, là mũi trọng yếu trong hai mũi tên ở miền Đông Nam Bộ, nhằm mở rộng kiểm soát đường 7, chia cắt Khu Đ, “bình định” khu vực Bông Trang – Nhà Đỏ, Bình Mỹ, giải toả áp lực của ta ở bắc Sài Gòn. Từ mục đích có ý nghĩa chiến dịch này, tướng Oét-mo-len phải điều Lữ 1 (Sư đoàn bộ binh số 1), hai chi đoàn thiết giáp, một tiểu đoàn Úc vào cuộc hành quân. Ngoài ra địch còn đưa một tiểu đoàn công binh đi trước làm đường tỉnh lộ 2 Bình Dương - Phước Vĩnh, nhàm mở rộng vùng kiểm soát, uy hiếp các vùng giải phóng của ta. Ngày 22 tháng 2, địch bắt đầu đổ quân xuống khu vực Bình Cơ, Bà Đá, Ván Hương đánh vào Chiến khu Đ.

        Bộ tư lệnh Sư đoàn 9 không bất ngờ trước hành động của địch. Chúng tôi càng thấy tính nghiêm túc của nhiệm vụ được giao.

        Chiến khu Đ với trung tâm lúc đầu là vùng Đất Cuốc ngày càng được mở rộng bao gồm phần đất ở đông quốc lộ 13, bắc quốc lộ 20 (sau đó được gọi là Khu A), có độ cao trung bình 100 mét. Chiến khu Đ ở vào vị trí lưng dựa vào cuối cùng của tất cả các chiến khu miền Đông và là chiếc cầu nối B2 với đường mòn Hồ Chí Minh, rất thuận lợi cho ta mở hành lang chiến lược, bố trí kho tàng, tập trung cơ động lực lượng. Nơi đây vừa có thể đứng tự nhiêm vững chắc, vừa có thể đánh thẳng vào đầu não địch. “Chiến khu Đ còn, Sài Gòn mất”, đó là điều kẻ thù lo sợ nhưng không sao tránh nổi.

        Phải đánh bại âm mưu địch! Đó là điều khẳng định. Cái khó nêu ra chỉ để suy nghĩ, tìm biện pháp khắc phục. Đó là điều chúng tôi thống nhất trong buổi họp ban đầu, khi cuộc hành quân của địch bắt đầu trở thành hiện thực.

        Kẻ địch đang còn sung sức, kèm theo cả cay cú khi bị thua trong đợt phóng mũi tên thứ nhất vào hướng tây, tây bắc Sài Gòn, nên càng hung hăng. Chúng có đầu óc thực tế, chịu rút kinh nghiệm sau thất bại trận Bàu Bàng, sau cuộc hành quân “Cái bẫy” (Ngày 8 tháng 1 năm 1966, tướng Oét-mo-len huy động trên một vạn quân thuộc Sư đoàn 1 “Anh cả đỏ”, Sư đoàn bộ binh số 25 “Tia chớp nhiệt đới” cùng với 200 máy bay, 600 xe quân sự, 100 khẩu pháo yểm trợ mở cuộc hành quân “Cái bẫy” đánh vào bắc huyện Củ Chi, Hố Bò (Bến Cát) nằm trong khuôn khổ mũi tên thứ hai đánh ra hướng tây, tây bắc Sài Gòn). Lực lượng dồn vào cuộc hành quân “Đá lăn” gồm 13 tiểu đoàn (ít hơn 5 tiểu đoàn so với cuộc hành quân “Cái bẫy) nhưng thủ đoạn thì xảo quyệt hơn nhiều. điều này thấy rõ trong quá trình chuẩn bị, hình thành thế bố trí.

        Ngày 15 tháng 2 lực lượng địch nống ra đóng quân dã ngoại ở sở cao su Nhà Đỏ trong khu tam giác Lai Khê - Phước Vĩnh – Tân Uyên kẹp đầu mút đường 16 nối với tỉnh lộ số 2 (Thủ Dầu Một - Đồng Xoài).

        Địch ra xa căn cứ đóng dã ngoại dễ đánh! Nhưng đánh vào đâu và kế hoạch cụ thể thì chưa có câu trả lời dù chỉ là chung chung, vì địch ngày hoạt động nống ra càn quét, đêm co về không cố định ở đâu.

        Để trả lời câu hỏi trên, sau khi thống nhất công việc trong Bộ tư lệnh Sư đoàn, tôi và anh Thế Bôn đến tận nơi khảo sát, mất hàng tuần vẫn chưa phát hiện được địa điểm cố định đóng quân của địch là đâu. Phải chăng sự kiện Bàu Bàng được lặp lại tại đây. Nhưng ngày ấy – như trên đã trình bày cùng bạn đọc - chỉ qua một đêm là chúng tôi phát hiện ra chúng. Còn ở đây cũng thế, ngày địch càn quét đánh phá khu vực xung quanh như Cống Xanh, Bình Mỹ, đồng thời yểm trợ cho hai tiểu đoàn công binh làm đường, đêm rút về đóng dã ngoại bên dòng suối Bông Trang, cụ thể điểm nào thì chưa rõ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 11:52:46 pm

        Không có phép thuật nào, nhưng quả là địch xảo quyệt. Chúng tôi không nản, bằng nhiều cách tổ chức bám sát theo dõi, cũng phải mất 15 ngày mới tìm được mục tiêu. Đêm địch co cụm vẫn trong khu vực Nhà Đỏ - Bông Trang, nằm ở đầu đường 16 nối với tỉnh lộ số 2. điểm đóng quân dã ngoại của địch được chia thành cụm hình vòng, liên kết với nhau được sự chi viện hoả lực của pháo binh và không quân nếu bị đối phương tiến công. Mỗi cụm lấy cơ giới làm nòng cốt, tuyến ngoài có bộ binh làm nhiệm vụ cảnh giới, tuyến trong là các cụm nhỏ kết hợp với bộ binh và cơ giới. Nếu tuyến bộ binh bên ngoài bị chọc thủng, bộ binh tuyến trong sẽ dựa vào cơ giới và phát huy hoả lực của cơ giới chống lại đối phương. Ban ngày chúng phòng ngự tương đối rộng, đêm đến thu hẹp đội hình để giữ bí mật, bất ngờ, bảo vệ cho nhau khi bị ta tiến công.

        Khác với Bàu Bàng, ở Nhà Đỏ - Bông Trang địch đóng dã ngoại có thời gian chuẩn bị (trên dưới một tuần), địa hình nơi đây bằng phẳng nhưng phức tạp, có nhiều bụi tre gai dày. địch dựa vào đó đặt tăng, thiết giáp, kèm theo rào kẽm gai tạo thành vật cản chống lực lượng xung kích của ta. Tuy không thật kiên cố, vững chắc nhưng không thể coi thường, mà cần phải có biện pháp khắc phục, vì đó chính là thủ đoạn chiến thuật cụm dã ngoại của địch được áp dụng trong điều kiện địa hình cụ thể.

        Ngày hôm sau Bộ tư lệnh Sư đoàn họp thông qua quyết tâm chiến đấu, và trước khi thực hiện phải báo cáo Bộ chỉ huy Miền xin được tiến công.

        - Biện pháp đánh địch đóng quân dã ngoại có chuẩn bị như thế nào? - Bộ chỉ huy Miền hỏi.

        - Đánh phục kích – Tôi trả lời.

        - Tại sao? – Bộ chỉ huy Miền hỏi tiếp.

        - Điều địch ra ngoài công sự để đánh... Tôi trình bày Bộ chỉ huy Miền chuẩn y nhưng nhấn mạnh - Phải khẩn trương, tổ chức tiến công sớm, không cho địch có thời gian chuẩn bị tăng viện cho Lữ 173 ở Phước Vĩnh đánh vào Chiến khu Đ.

        Giống như trận Bàu Bàng, dùng đội hình toàn sư đoàn tiến công, nhưng phương châm có khác. - Tập kích kết hợp với phục kích. Trước hết phải dụ địch ra ngoài công sự theo kế hoạch của bộ phận tác chiến sư đoàn chuẩn bị được chúng tôi nhất trí thông qua. Cử một đồng chí trung đội trưởng trinh sát thâm nhập sát hàng rào kẽm gai, có mang theo sơ đồ dựng sẵn vị trí các cụm quân, vị trí tăng, pháo, các mũi tiến công của ta... khi trở ra bỏ lại túi đựng tài liệu (trong đó có bản đồ) quai bị đứt để địch tin là ta vào trinh sát trận địa chuẩn bị tiến công, sẽ phải thay đổi vị trí đóng quân dã ngoại.

        Song song với việc làm trên, chúng tôi cho di chuyển đội hình sư đoàn nhích gần về hướng địch. Các đơn vị triển khai theo nhiệm vụ cơ bản được phân công: Trung đoàn 1 làm nhiệm vụ chủ yếu từ đông bắc đánh lên; Trung đoàn 2 làm lực lượng dự bị chặn đường Phước Vĩnh, đề phòng Lữ 173 phản kích. Sẽ được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình khi địch buộc phải xê dịch đội hình khi kế hoạch nghi binh – “điệu hổ ly sơn” của ta đạt kết quả tốt.

        Chúng tôi đang hồi hộp theo dõi, thì được tin đồng chí trung đội trưởng trinh sát của ta khi trở ra chẳng may bị vướng mìn hy sinh! Vừa thương tiếc vừa lo lắng. Rất có thể trận đánh không thành, cuộc hành quân “Đá lăn” của địch được thực hiện.

        Trong lúc chúng tôi đã nghĩ tới “thua keo này bày keo khác”, thì được tin: túi đựng bản đồ “sơ đồ trận đánh” vẫn còn. Địch viết thư kèm theo thi thể đồng chí trung đội trưởng được chúng đưa ra đường 16 trao trả ta. Như vậy là thế nào? Chắc chắn kế hoạch nghi binh không bị lộ, nhưng sao địch lại trao trả cho ta. Theo phép “lịch sự” hay có ý gì đây! Dù thế nào ta cũng cần có phương án đối phó với tình thế bất trắc này. Tôi nhắc anh em trong cơ quan sư đoàn phải bình tĩnh. Giưa lúc ấy tin trinh sát báo về: có triệu chứng địch bí mật giãn quân ra phía tây sở cao su Nhà Đỏ, đề phòng tiến công, nhưng lại gần nơi ta lót ổ sẵn, một thuận lợi ngoài dự kiến - Kế hoạch nghi binh “điệu hổ ly sơn” của ta có hiệu quả.

        Các đơn vị khẩn trương điều chỉnh đội hình, kịp đêm 23 rạng 24 tháng 2 năm 1966 đồng loạt tiến công. Mở đầu là đạn cối, ĐKZ 75 bắn dồn dập vào các cụm quân địch, tiếp sau là các mũi bộ binh xung phong. Địch dựa vào hoả lực cơ giới chống trả quyết liệt. Trung đoàn 1 đánh phủ đầu, địch co cụm lại ở các bụi tre gai, ta tiếp tục tiến công dùng hình thức tập kích đêm, vận động truy kích địch ban ngày. Các Trung đoàn 3, Trung đoàn 1 phải tổ chức lại đội hình, tiếp tục tiến công, chia cắt đội hình địch thành từng cụm nhỏ để diệt chúng. đạn ta trúng cả Sở chỉ huy nhẹ Lữ đoàn 1 (Sư đoàn 1), đội hình địch bị rối loạn, lúng túng trước cảnh đánh gần không phân tuyến của ta, sự chi viện phi pháo của địch bị hạn chế.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 11:53:38 pm

        Trận đánh ác liệt kéo dài từ 22 giờ cho đến 5 giờ sáng không dứt điểm được, địch bị thiệt hại nặng. Số còn lại chúng dồn thành hai cụm chống trả quyết liệt khi được phi pháo yểm trợ.

        Thời điểm kết thúc đã đến, chúng tôi lệnh cho các đơn vị nhanh chóng rút ra, về tập kết ở địa điểm đã có kế hoạch trước (bên bờ suối Bông Trang).

        Như vậy là thủ đoạn chiến thuật cụm trú quân “vành đai thép” của Mỹ được hoàn chỉnh sau thất bại ở Bàu Bàng tháng 12 năm 1965 đã chứng tỏ kém hiệu lực.

        Về phía ta, sau những tháng này thấp thỏm chờ đợi, sau thời gian chuẩn bị căng thẳng, công phu và sau nhiều buổi dân chủ bàn bạc sôi nổi mà xây dựng cuối cùng chúng tôi tìm được hướng đi, bằng trận đánh then chốt ở Nhà Đỏ - Bông Trang, Sư đoàn 9 đã góp phần trực tiếp đánh bại cuộc hành quân “Đá lăn” trên hướng phản công mà Oét-mo-len cho là trọng yếu ở hướng bắc Sài Gòn. Âm mưu đánh phá Chiến khu Đ của Mỹ bị một đòn đau phủ đầu quan trọng, ảnh hưởng xấu đến các cuộc hành quân tiếp theo sau trong khuôn khổ mũi tên thứ hai phóng ra phía bắc Sài Gòn.

        Ngày 7 tháng 3 năm 1966, tướng Oét-mo-len – Tư lệnh quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam lại huy động Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn bộ binh số 1, Tiểu đoàn Úc ném vào cuộc hành quân “Thành phố bạc” tiếp tục âm mưu đánh phá Chiến Khu Đ.

        Cuộc hành quân đầy tham vọng của địch được tiến hành sau khi chúng ta đã thành lập Bộ chỉ huy tiền phương thống nhất (Theo chỉ thị của Trung ương Cục, tháng 2 năm 1966, Bộ chỉ huy tiền phương thống nhất được thành lập: Hoàng Cầm - Chỉ huy trưởng, Lê Văn Tưởng – Chính uỷ, Hoàn Thế Thiện – Phó Chính uỷ, Hồng Lâm (Quân khu 7) - Chỉ huy phó; chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang (Sư đoàn 9, lực lượng vũ trang tập trung và du kích cơ quan Bộ tư lệnh Quân khu miền Đông, Tiểu đoàn Phú Lợi) chiến đấu ở hướng bắc Sài Gòn, bảo vệ Chiến khu Đ), đã có kế hoạch chiến đấu phối hợp cơ bản ba thứ quân bảo vệ Chiến khu Đ nếu địch đánh vào vùng đất thánh này.

        Cuộc hành quân diễn ra đúng như phán đoán của ta, và ta đã có phương án chủ động phối hợp chiến đấu bảo vệ căn cứ. Sư đoàn 9 cơ động đánh địch ở vòng ngoài theo phương án phân công. Nhưng đánh địch vào đâu để diệt được địch, gây rung động chung đến cuộc hành quân, đó là những vấn đề chúng tôi suy nghĩ tìm biện pháp cụ thể. Từ những dự kiến đã có, từ nguồn thực hành trinh sát thực địa, Bộ tư lệnh Sư đoàn quyết định tập kích quân địch ở sở cao su Phú Lương, ở dốc Bà Thức trên đường 16, và ở khu vực Bầu Sắn nơi địch cụm lại ngày 16 tháng 3. Các trận tập kích vào những vị trí trong điểm ở vòng ngoài đã đánh thiệt hại một tiểu đoàn Mỹ, một tiểu đoàn quân Úc, bắn rơi năm máy bay lên thẳng; đồng thời hỗ trợ lực lượng vũ trang địa phương đánh địch từ vòng trong đánh ra, đạt hiệu quả, như tại căn cứ quân y, các lực lượng bảo vệ khu loại khỏi vòng chiến đấu 60 tên Mỹ...

        Cuộc hành quân “Thành phố bạc” của Mỹ không đạt được mục tiêu. Đây là một trong những thử nghiệm lớn đầu tiên về khả năng bảo vệ căn cứ của ta trước cuộc hành quân lớn của quân viễn chính Mỹ.

        Trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất, trên chiến trường Đông Nam Bộ, Mỹ phóng ra hai mũi tên “tìm diệt” thực hiện không đồng thời. Sau khi mũi tên một đánh ra tây bắc Sài Gòn bị thất bại, Mỹ dồn lực lượng chuyển sang mũi tên hai đánh ra bắc Sài Gòn, nơi đây có các chiến khu lâu đời của Đông Nam Bộ, nơi có Sư đoàn 9, Sư đoàn 5 đang đứng chân theo ý đồ dàn thế, cài thế của Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ chỉ huy Miền, sẵn sàng đánh địch khi chúng liều lĩnh phản công.

        Quán triệt tư tưởng chỉ đạo có tính toán chiều sâu và có tầm nhìn đi trước của các cấp trên, Sư đoàn 9 đã chuyển quân theo trù tính trước, dừng lại ở những điểm chắc chắn sẽ xảy ra những trận đụng độ lớn, không rải mành mành, không chạy theo các đơn vị của địch, mà tập trung vào những nơi có giá trị chiến lược, chiến dịch, nhằm vào những đơn vị mạnh nhưng lại ở thế yếu, có sơ hở để thực hành tiến công.

        Suốt tháng 1 đến hết tháng 3 năm 1966, chúng tối triển khai đánh năm trận tiến công, trong đó biết tập trung vào đánh thắng trận then chốt Nhà Đỏ - Bông Trang, phá thủ đoạn chiến thuật nham hiểm của địch, cụm trú quân “vành đai thép”, góp phần đánh bại một bước quan trọng cuộc hành quân trên khu vực mà Mỹ gọi là trọng yếu ở hướng bắc Sài Gòn; đồng thời tham gia thử khu vực mà Mỹ gọi là trọng yếu ở hướng bắc Sài Gòn; đồng thời tham gia thử nghiệm có hiệu quả về khả năng bảo vệ căn cứ của ta trước cuộc hành quân “Thành phố bạc” của địch với tham vọng diệt cơ quan đầu não miền Đông (Cơ quan Khu uỷ và Bộ tư lệnh Quân khu 7 đóng ở khu vực Cù Đình thuộc địa bàn Chiến khu Đ), phá nát vùng trung tâm Chiến khu Đ.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 11:54:08 pm

        Trước hết do chúng tôi quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ chỉ huy Miền, có những tìm tòi trong vận dụng. Trong chiến đấu đã phát huy được tinh thần dũng cảm và mưu trí, biết phối hợp với các  lực lượng vũ trang địa phương, nhờ đó mà tập trung được lực lượng, thực hiện đánh lớn. Việc Sư đoàn 5 đứng chân ở hướng đông và đông nam Sài Gòn với những hoạt động xuất sắc gây nhiều thiệt hại cho địch, làm phá sản kế hoạch giải toả đường 15, sông Lòng Tàu, hút một số lực lượng quan trọng của địch vào hướng này, tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn 9 đứng ở hướng bắc hoàn thành nhiệm vụ, được “Trung ương Cục, quân uỷ Miền  đánh giá cao thành tích đóng góp của công trường 9 (tức Sư đoàn –NG). Cán bộ và chiến sỹ của công trường phải thấy hết giá trị của sự thành công này để quyết tâm, tin tưởng cao hơn trong nhiệm vụ sắp tới” (Đánh giá của Trung ương Cục và Quân uỷ Miền về hoạt động của Sư đoàn 9 trong mùa khô 1965 – 1966- Tài liệu lưu trữ tại Sư đoàn 9).

        Thời tiết và những cuộc hành quân có mối quan hệ mật thiết.

        Trong kháng chiến chín năm (1945 – 1954), các cuộc hành quân càn quét lớn của quân đội thực dân Pháp và những mùa hoạt động quân sự lớn của quân đội ta đều chủ yếu diễn ra trong thời gian từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau; chẳng hạn các binh đoàn chủ lực của ta trên chiến trường Bắc Bộ hồi đó đã liên tục mở các chiến dịch lớn như chiến dịch Thu Đông (1947), chiến dịch Sông Thao, Sông Lô (1949), chiến dịch Biên Giới (1950), chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Hoà Bình Lý Thường Kiệt (1951), chiến dịch Tây Bắc (1952), chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)... Các cụm từ: Hoạt động quân sự Thu Đông, chiến dịch Thu Đông đã trở thành thuật ngữ quân sự quen thuộc để chỉ các chiến dịch quân sự lớn diễn ra vào lúc mùa mưa kết thúc, mùa khô bắt đầu, thời tiết khô hanh, các sông suối nước cạn dần, dễ qua lại.

        Ở chiến trường đông Nam Bộ, vào giai đoạn đánh Mỹ cũng diễn ra như thế. Quân đội viễn chinh Mỹ càng được trang bị phương tiện chiến tranh hiện đại càng rất coi trọng yếu tố thời tiết – cụm từ: “phản công chiến lược mùa khô” xuất hiện cũng bởi lẽ phải tận dụng tối đa yếu tố thiên thời, không có mưa bão, đường sá khô ráo, sông suối cạn kiệt, bầu trời quang mây.

        Với ta cũng thế, tuy trang bị không nhiều, không hiện đại bằng quân độ Mỹ, sức cơ động và phương tiện vận chuyển vẫn chủ yếu dựa vào đôi chân và đôi vai của con người, nhưng vẫn rất cần đến mùa khô, mùa lý tưởng cho các hoạt động quân sự.

        Tháng 5 đã đến, những cơn mưa đầu mùa ập đến, cảnh sắc Đông Nam Bộ thay đổi theo chu kỳ. Không phải con người thấy dễ chịu, mà cả mặt đất, cây cối cũng thay đổi, vụt sống lại, vươn nhanh. Nhưng đối với hoạt động quân sự thì mưa lại là những trở ngại. Mưa làm sập hầm hào, mưa cản kế hoạch vượt sông, gây khó khăn cho vận chuyển, tiếp tế, mưa gây ẩm ướt, phát sinh bệnh tật, sức khoẻ giảm sút, quân số thiếu hụt và biết bao nhiêu khó khăn khác nảy sinh.

        Sau thời gian lui về khu vực suối Bông Trang nghỉ ngơi củng cố, rút kinh nghiệm, sư đoàn được lệnh của Bộ chỉ huy Miền: chuẩn bị nhận kế hoạch hoạt động quân sự mùa mưa! Chúng tôi không ngạc nhiên khi nhận điện của Miền, bởi sư đoàn nhiều lần tự nhủ - Không thể có chiến tranh theo mùa.

        Cũng vào một ngày mưa, chúng tôi đón anh Trần Văn Trà thay mặt Bộ chỉ huy Miền xuống làm việc với sư đoàn.

        Sau ít phút thăm hỏi, anh Trà vào việc ngay. Tất cả chúng tôi đều như hăm hở đón chờ. Còn anh - mở đầu không phải là truyền đạt mệnh lệnh, kế hoạch tác chiến chính thức, mà là ý kiến trao đổi thăm dò, khiến chúng tôi ngỡ ngàng, khó hiểu?

        Anh nói – “Dự kiến của Bộ chỉ huy Miền định tranh thủ thời cơ, tiếp tục mở đợt hoạt động ngắn tiến công vào mục tiêu gọn – Căn cứ Phước Vĩnh...”.

        Mới chỉ đến đây mà mọi người thở phào xua đi cái chờ đợi nhường chỗ cho niềm vui đến nhanh. Vì sự trùng hợp giữa ý định của trên với nguyện vọng của dưới. Bởi Phước Vĩnh là căn cứ nằm trên địa bàn hoạt động của Sư đoàn 9, chính nó đã gây cho chúng tôi nhiều khó khăn, có lúc tưởng như nhiệm vụ phải bỏ dở.

        Như tháng 6 năm 1965, khi căn cứ Đồng Xoài bị Sư đoàn 9 tiến công, thì từ Phước Vĩnh, Lữ đoàn 173 đã mò lên chi viện, nhưng bị ta chặn đánh, chúng phải rút trở lại; như trong trận tiến công cụm dã ngoại quân Mỹ ở Nhà Đỏ - Bông Trang vừa rồi, cũng phải dành lực lượng chặn viện từ căn cứ Phước Vĩnh.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 11:54:33 pm

        Nhưng địch vẫn chưa từ bỏ ý định, chúng tiếp tục củng cố Phước Vĩnh từ một căn cứ dã chiến lúc đầu thành một căn cứ thuộc loại lớn, có công sự vững chắc để uy hiếp Chiến khu Đ, bảo vệ sườn phía đông đường 13 đoạn từ Hớn Quảng đi Lộc Ninh, làm bàn đạp mở rộng vùng kiểm soát lên tận Đồng Xoài, Phước Long, lấn chiếm vùng sâu của ta.

        Vì vậy chủ trương tiến công căn cứ Phước Vĩnh của Bộ chỉ huy Miền là rất phù hợp với yêu cầu thực tế. Chúng tôi muốn biết thời gian thực hiện càng sớm càng tốt?

        Như có gì khó nói, vừa hoà vào cái không khí vui vẻ, sôi nổi của buổi trao đổi, vừa như đắn đo, thăm dò, phút im lặng trôi nhanh, anh Trà mới chậm rãi nói - Hiềm một nỗi là lương thực ở đây đã cạn, vì địch chặn ta ở biên giới phía bắc không chuyển xuống được.

        Mối quan hệ giữa chiến đấu và bảo đảm hậu cần lại được thể hiện rõ nét, bằng xương bằng thịt. Không thể nói hậu cần là phía sau, là yếu tố bảo đảm sau các yếu tố khác. Ông cha ta nói: “thực túc binh cường”, là rút từ thực tiễn của nhiệm vụ giữ nước trải qua mấy nghìn năm.

        Để giải toả không khí im lặng, anh Trà nói:

        - Tình hình như vậy, anh Năm muốn mang bộ đội đi đâu mà đánh được giặc thì cứ đi.

        - Ra Bắc có được không? – Tôi hỏi vui.

        - Được chứ sao – Anh Trà cười, lại tiếp – Nhưng ngoài đó cần lực lượng phòng không, cần máy bay, tên lửa, đâu có cần bộ binh – Coi chừng ra đó bị ế đấy!

        Không khí bỗng vui hẳn lên, cái yên lặng tan nhanh, cuộc trao đổi lại trở về tinh thần nghiêm túc và thực tế. Lại anh Trà nói trước - Chuyện vui như vậy đủ rồi, bây giờ ta vào việc. Như vậy là kế hoạch tiến công Phước Vĩnh với mục đích tiêu diệt sinh lực địch, phá thế phản công, thu hút và phân tán không cho chúng tập trung lực lượng đánh lên Lộc Ninh, phá cơ sở kho tàng của ta trên đó phải chuyển hướng:

        - Lực lượng vũ trang địa phương vẫn tổ chức bám trụ quanh căn cứ Phước Vĩnh, tiến công địch bằng nhiều hình thức thích hợp nhằm tiêu hao, gây cho chúng bất ổn định, chỉ lo việc phòng giữ nhà.

        - Sư đoàn 5 trụ đánh địch ở phía đông, đông nam Sài Gòn, chủ yếu trên địa bàn Long Khánh – Bà Rịa.

        Sư đoàn 9 có thêm Trung đoàn 16 (vừa từ miền Bắc vào tăng cường) ngược lên phía bắc làm nhiệm vụ chủ yếu trên hướng Lộc Ninh, phá thế bao vây của địch, bảo vệ kho tàng. Để thực hiện nhiệm vụ, cần áp dụng biện pháp tiến công bằng sức mạnh (có cả cối 120 ly) diệt trại biệt kích Lộc Ninh, cầu viện đường

        bộ, đường không, diệt sinh lực địch, tạo khu quyết chiến Lộc Ninh – Bình Long.

        Quán triệt ý định của Bộ chỉ huy Miền qua anh Trà truyền đạt, Sư đoàn 9 khẩn trương lên đường. Cuôc hành quân khá vất vả. Đất đỏ miền Đông chẳng có mùa nào ưu ái đối với người lính. Nắng thì bụi lầm, mưa có cái khó của mưa. Đường trơn, bết dính tưởng như mặt đất có gì vừa đẩy vừa níu giữ con người lại, đói mệt vì thế đến nhanh với mọi người.

        Chúng tôi đến khu vực Lộc Ninh vào một buổi chiều đẹp trời, đợt mưa tầm tã chấm dứt. Ngay đêm đó Bộ tư lệnh Sư đoàn đã họp bàn kế hoạch chuẩn bị chiến đấu. Trên cơ sở tình hình nắm được, quán triệt nhiệm vụ của Bộ chỉ huy Miền, sư đoàn đã có một kế hoạch tổng thể bước đầu, làm định hướng cho các đơn vị triển khai chuẩn bị cụ thể. Dùng sức mạnh của cả xung lực và hoả lực tiến công vào mục tiêu chủ yếu là trại biệt kích bắc Lộc Ninh; đồng thời bố trí một lực lượng mạnh khác sẵn sàng đánh viện đường bộ và đường không, chủ yếu là đường bộ.

        Kế hoạch nêu ra được các đồng chí trong Bộ tư lệnh sư đoàn thảo luận, nhất trí thông qua. Chưa triển khai cụ thể nhưng trong chúng tôi đều thấy có cái gì suôn sẻ, đánh điểm, diệt viện nhất định sẽ diễn ra. Các kho tàng của ta sẽ được bảo vệ cả trước và sau chiến dịch. Cho dù có diễn biến phức tạp, chiến dịch có thể phải kéo dài thì với điều kiện cụ thể ở Lộc Ninh lúc đó, chúng tôi vẫn có khả năng đánh dài hơi, vì thế của ta vững, có một vùng rừng núi liên hoàn, kéo dài đến Phước Long, đều là cơ sở của ta, địch khó thực hiện thủ đoạn chiến thuật bao vây, vu hồi chia cắt. Khả năng tạo ra khu quyết chiến điểm Lộc Ninh – Bình Long sẽ trở thành hiện thực, góp phần phá thế phòng ngự của địch ở khu vực Lộc Ninh - Hớn Quản.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 11:54:59 pm

        Cái ngày N đang xích gần thì tình hình lại có dấu hiệu rẽ ngoặt. địch phát hiện Sư đoàn 9 hiện đứng chân ở Lộc Ninh sau khi đã đụng đầu với chúng ở trận Nhà Đỏ - Bông Trang, Cù Đinh, Dốc Bà Nghĩa. Tướng hai sao Đơ-puy, Tư lệnh Sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ” đã triển khai cuộc hành quân “En Pa-xô” đưa Lữ 3 lên Lộc Ninh mang theo cả công sự làm sẵn để lập tuyến phòng thủ, thực hiện chiến thuật “dự phòng” phá cuộc tiến công Lộc Ninh của ta.

        Bầu trời, mặt đất vùng Lộc Ninh bỗng sôi lên trong không khí ác liệt của chiến tranh. Đủ loại máy bay, pháo bầy oanh tạc, bắn phá huỷ diệt các cánh rừng nghi ta trú quân, các ngả đường, kể cả đường mòn nghi ta lợi dụng tiến quân.

        Lúc này không phải lúc để tâm tìm nguyên nhân vì sao lộ mà là lo sao đối phó tức thì trước tình huống gây cấn này. Tiếp tục thực hiện như kế hoạch đã vạch? Không được, vì địch đã tăng cường lực lượng bố trí lại thế phòng ngự, tổ chức thành cụm hành quân lớ, sẵn sàng phản kích, phá cuộc tiến công của ta.

        Một cuộc họp Bộ tư lệnh sư đoàn được triệu tập ngay sau khi Bộ chỉ huy Miền thông báo chính thức là ta bị lộ, địch đã tăng cường lực lượng lên Bình Long, Lộc Ninh đề phòng. Thỉnh thoảng nơi chúng tôi ngồi họp lại rung lên như động đất, báo hiệu máy bay B52 đang trải thảm rất gần. Rồi trời lại đổ mưa, những trận mưa thoắt đến thoắt tan ào ào trút nước, không tăng bạt, lán trại nào chịu nổi, quần áo mọi người mọi người lúc nào cũng sũng nước.

        Theo sự phân công, tôi trình bày những suy nghĩ của mình. Như vậy là kế hoạch chiến dịch ta đang triển khai phải huỷ bỏ, vì nếu tiếp tục chẳng khác nào ta húc vào đá! Theo tôi, mục đích chiến dịch không thay đổi nhưng phải thay đổi toàn bộ biện pháp, coi như làm lại từ đầu, từ khu vực tác chiến, hình thức chiến thuật, tổ chức chỉ huy, bảo đảm chiến đấu. Từ tập kích đánh địch trong công sự, chúng ta chuyển sang phục kích đánh địch trên đường giao thông, đánh địch ngoài công sự.

        - Rút khỏi Lộc Ninh? – Có ý kiến chen vào.

        - Đúng, chúng ta sẽ rút khỏi Lộc Ninh, chuyển đội hình sư đoàn về đứng chân ở khu vực quốc lộ 13. Vì muốn phá ý định tiến công của ta, địch phải tăng viện đưa pháo lớn và tăng thiết giáp lên Lộc Ninh, kèm theo là khối lượng lớn đạn dược và lương thực. Tốn kém mấy chúng cũng làm, vì quân công tử Mỹ không thể đánh trận theo kiểu con nhà nghèo. Tất nhiên địch phải dựa vào trục đường giao thông để thực hiện yêu cầu này, đó là quốc lộ 13. Theo tin mới nhận, địch đã ra lệnh báo động đối với trung đoàn thiết giáp, có phương án sẵn sàng đưa trung đoàn này lên tăng cường khi Lộc Ninh, Hớn Quản bị tiến công.

        Vì vậy, giải pháp thích hợp với chúng ta lúc này là chuyển sang đánh giao thông, là chuyển từ bị động sang chủ động trên hướng khác. Về mặt chủ quan ta đã được trang bị B40 từ miền Bắc chuyển vào. Tuy còn ít nhưng biết cách tổ chức vẫn phát huy được hiệu quả tối đa của loại vũ khí chống tăng gọn nhẹ mà lợi hại này.

        Các anh trong Bộ tư lệnh sư đoàn đều nhất trí với những vấn đề tôi trình bày trên và thống nhất một số việc cần làm ngay.

        - Khu vực trận địa đánh giao thông địch là đoạn quốc lộ 13 từ nam ngã ba Đồng Tâm đến bắc Chơn Thành.

        Nghiên cứu trên bản đồ để quyết định những điểm có khả năng xảy ra trận đánh; đồng thời tổ chức đi trinh sát thực địa để xác định trận địa phục kích cụ thể và dự kiến các nơi địch dừng lại đóng quân dã ngoại để có kế hoạch chủ động tập kích khi tình huống xuất hiện.

        - Biện pháp chiến thuật là phục kích đánh giao thông, tập kích khi địch đóng dã ngoại, pháo kích tiêu hao nhàm làm tê liệt giao thông, phá âm mưu địch lấy Lộc Ninh làm bàn đạp đánh phá căn cứ, kho tàng của ta ở đông bắc thị trấn biên giới Cam-pu-chia.

        - Để thực hiện lừa địch, ta vừa tung tin vừa tiếp tục một số động tác giả để địch tin rằng ta vẫn tiếp tục triển khai lực lượng đánh Lộc Ninh, buộc địch phải đưa cơ giới lên tăng viện, ta có điều kiện diệt chúng ở những trận địa bày sẵn; đồng thời tổ chức tiến công địch ở mức độ vừa phải, tiêu hao địch, gây áp lực về tâm lý, buộc chúng phải tăng cường phòng thủ, từ bỏ ý định đánh nống ra ngoại vi.

        - Phân chia lực lượng: Trung đoàn 1 vừa nghi binh vừa chuẩn bị sẵn sàng khi có thời cơ tiến công, chủ yếu là trại biệt kích; Trung đoàn 2 làm nhiệm vụ chủ yếu đánh phục kích trên đường 13, vì trung đoàn này qua trận phục kích đánh thắng đoàn xe cơ giới Mỹ ở Căm Se (20-1-1965) đã kịp thời rút kinh nghiệm, trình độ tổ chức chỉ huy, trình độ chiến thuật vận động phục kích đánh xe cơ giới của cán bộ, chiến sỹ đã được nâng lên cả về nhận thức và thực hành; Trung đoàn 3 làm lực lượng dự bị.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 11:58:34 pm

        Tôi muốn dừng lại kể cùng bạn đọc về nỗi vất vả và tinh thần vượt khó của Trung đoàn 2. Trong giai đoạn chuẩn bị chiến đấu, với nhiều thay đổi, trung đoàn vẫn có mặt ở địa điểm quy định trước thời gian. Ngày 17 tháng 5 từ Sóc Con Trăng chuyển sang phía bắc thực hiện phương án đánh Lộc Ninh, thì trung đoàn được lệnh chống càn. Ngày 21 tháng 5 kế hoạch chống càn vừa xây dựng xong thì ngày 22 tháng 5 được lệnh chuyển hướng hoạt động sang đường 13 làm nhiệm vụ đánh giao thông địch. Ngày 23 tháng 5  toàn trung đoàn hành quân đến địa điểm tập kết ở suối Bông Xôm cách đường 13 năm ki-lô-mét, liền bắt tay vào xây dựng trận địa phục kích theo phương án tác chiến mới của sư đoàn.

        Giữa tháng 5 sau khi đi trinh sát thực địa trên hai đoạn đường Lộc Ninh - Hớn Quản, Hớn Quản - Lộc Ninh, bộ tư lệnh sư đoàn họp trao đổi, quyết định chọn trận địa phục kích là đoạn đường từ ngã ba Cây Đa đến bắc cầu Cần Đâm (dài 3,5 ki-lô-mét) thuộc xã Tân Khai.

        Như vậy là điểm tác chiến nằm kẹp giữa hai căn cứ quân sự mạnh của địch là Tiểu khu Hớn Quản và Chi khu quân sự Chơn Thành. Nếu trận đánh xảy ra thì khả năng chi viện bằng không quân, nhất là bằng bộ binh và pháo binh, xe tăng thiết giáp của địch sẽ xảy ra với lực lượng mạnh và nhanh. Nhưng chúng tôi vẫn chọn vì mặt đường ở đây hẹp, giữa đoạn phục kích có hai đầu cầu bị hư hại, địch có sửa nhưng không bảo đảm, lại có hai suối Tàu Ô, Cần Đâm cắt ngang đầy nước vì đang là mùa mưa, khi qua đó tốc độ xe phải giảm, dễ bị ta chặn đầu, khoá đuôi, đội hình bị ùn tắc. Đây là điểm yếu cơ bản địch không thể khắc phục được, còn ta thì có điều kiện lợi dụng để lập trận địa hiểm thực hành tiến công tiêu diệt sinh lực.

        Để hạn chế sức đột kích mạnh, sức cơ động cao, khả năng chi viện nhiều và nhanh của địch, chúng tôi nhấn mạnh với Trung đoàn 2 là, cần cơ động nhanh, đánh quân viện và quân thoát ly ngoài công sự là chính.

        Nếu các trận Bàu Bàng, Nhà Đỏ - Bông Trang tổ chức tiến công theo đội hình sư đoàn, nhằm tạo ưu thế lực lượng vào một trận then chốt để dứt điểm nhanh, thì trong đợt hoạt động này chúng tôi lại chủ trương lấy cấp trung đoàn làm đơn vị tiến công theo kế hoạch chung của sư đoàn, nhằm cùng một thời gian tạo thế đánh địch trên nhiều hướng, nhiều mục tiêu, nhiều yêu cầu cụ thể phục vụ nhiệm vụ chung của chiến dịch.Từ kinh nghiệm trận đánh xe cơ giới Mỹ ở Căm Se, trên khu vực phục kích dài gần  ki-lô-mét, sư đoàn chỉ đạo Trung đoàn 2 đưa toàn bộ lực lượng ra phía trước, hình thành thế chặn đầu, khoá đuôi, đột phá khúc giữa, chỉ để một đại đội làm lực lượng dự bị. Sở dĩ phải dàn mỏng lực lượng, nhưng có trọng điểm như vậy còn do cường độ phản kích của Mỹ mạnh hơn nhiều lần cường độ phản kích của Pháp trong thời kỳ kháng chiến chín năm. Ngay trên đoạn đường này đã có tiền lệ mỗi khi muốn tăng viện cho Hớn Quản, Lộc Ninh, Mỹ phải tổ chức từng đoàn xe lớn, trước khi xuất phát, chúng dùng không quân, pháo binh bắn phá như đổ đạn hai bên đường (từ mép đường ra 200 – 300 mét) sau đó lực lượng tuần đường triển khai bố trí chốt sẵn ở các khu vực hộ tống cho xe qua.

        Ngày 25 tháng 5, Trung đoàn 2 hoàn tất toàn bộ công việc chuẩn bị chiến đấu, kể cả làm đường xuất kích ra vị trí xuất phát xung phong cách đường từ 200 – 500 mét, nhưng phải chờ 15 ngày sau mới có “việc làm”. Thật ra thì không riêng cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 2 bồn chồn, mong đợi, đã xuất hiện cả nôn nóng, thiếu tin tưởng, mà cả Bộ tư lệnh sư đoàn chúng tôi cũng có chung tâm trạng nao nao, lo lắng: hay là lại bị lộ, địch đề phòng? Nếu vậy thì xử lý thế nào? Sư đoàn cho kiểm tra chưa thấy có hiện tượng lộ từ phía chủ quan trung đoàn.

        Hai mười mốt ngày ém quân chờ giặc, phải chịu đựng gian khổ, chỉ có cơm vắt với nhúm muối trắng, anh em vẫn kiên trì. Mặt khác, anh em vẫn tha thiết đề nghị trên chuyển hướng khác, sợ nằm mãi đây lỡ “thất nghiệp”; ngay trong cán bộ chỉ huy cũng có người tính chuyện như vậy. Trận đánh chưa xảy ra mà việc theo dõi, lãnh đạo tư tưởng cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn  không kém phần vất vả, căng thẳng! Ngay cả trong lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn đã xuất hiện sự nản chí, muốn xoay hướng như sợ mình chọn điểm lầm, tính toán, phán đoán địch có cái gì chưa sát?


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 11:58:54 pm

        Kẻ địch thật xảo quyệt. Trước khi khởi sự chúng thăm dò nhằm đánh lạc hướng phán đoán của ta về thời điểm hành quân cụ thể tạo bất ngờ đến phút chót, khi ta biết thì đã muộn. Tám giờ ngày 8 tháng 6, địch xuất hiện ở cầu Tân Khai để sửa cầu. 12 giờ 40 phút, theo tin kỹ thuật, có đoàn xe địch từ Hớn Quản xuống, ta vận động ra chỉ có ba xe Jeep nên không nổ súng. Sau đó, lúc 15 giờ nhận được tin kỹ thuật báo có đoàn xe địch xuất phát từ Chơn Thành đi Hớn Quản, toàn bộ đội hình trung đoàn nhanh chóng vận động ra vị trí xuất phát tiến công công, tất cả đều sẵn sàng. Nhưng mãi xế chiều, “quân của Đại đội A, Tiểu đoàn , Trung đoàn kỵ binh số 4 cùng xe tăng và xe bọc thép di chuyển ồ ạt trên đường 13. Khi đoàn xe di chuyển qua Tàu Ô tiến về Hớn Quản thì bị Trung đoàn 272 (tức Trung đoàn 2) phục kích. Xe tăng dẫn đầu Đại đội A bị súng không giật bắn trúng. Còn đoàn quân phía sau bị tê liệt... Việt cộng (tức Quân giải phóng) tiến công các xe mắc kẹt ở giữa. Trận ác chiến diễn ra trong 4 giờ. Đại đội A bị loại khỏi vòng chiến...” (Từ đây những đoạn trong ngoặc kép đều rút từ cuốn sách: Sự thăng trầm của đạo quân đánh bô Hoa Kỳ ở Việt Nam của Xten-tơn do Minh Đạo lược dịch đăng trong Tạp chí Lịch sử quân sự số 19, 20, 21 năm 1987).

        Trên đây là một đoạn tường thuật tóm tắt của tác giả Mỹ Xten-tơn về trận Cần Đâm. Còn thực tế thì gay go hơn nhiều. Những ngày chờ địch đã căng, khi địch đến, bên cạnh cái mừng địch đã trúng kế, cái lo lại ập đến! Trước hết làm sao kéo căng đội hình hành quân của địch lọt vào trận địa phục kích của ta, không cho chúng “xổng chuồng” khi ta nổ súng. Sau này khi chiến dịch kết thúc, về tổng kết rút kinh nghiệm, nghe các đồng chí chỉ huy Trung đoàn 2 báo cáo diễn biến mới thấy hết được tính phức tạp của trận đụng độ... Khi sư đoàn thông báo – lúc ấy là 15 giờ 20 phút đoàn xe địch xuất phát từ Chơn Thành lên Hớn Quản, Mười phút sau đó nghe rõ tiếng động cơ, cán bộ, chiến sỹ của trung đoàn mới thực sự phấn khởi. Mợi người thở phào nhẹ nhõm. Đi đầu là chiếc M41 đen trũi như con bọ hung, tiếp đến là M113, cách nhau mỗi xe 50 mét, tốc độ chậm, tỏ ra thận trọng.

        Theo đúng kế hoạch, ki đoàn xe đến cầu Tàu ô, công binh cho nổ mìn ĐH10, xe địch tăng tốc, như để tránh nguy hiểm. Khi chiếc xe thứ 17 lọt vào trận địa, Đại đội 1 (Tiểu đoàn 4) nổ súng, phút đầu diệt một M41, 20 phút sau diệt thêm 4 chiếc nữa, cả đoàn xe phải dừng lại. Nhiệm vụ chặn đầu của Tiểu đoàn 4 đã hoàn thành. Hơn một giờ sau trên hướng Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 5 đều hoàn thành nhiệm vụ. Cũng tại đây một tiểu đội của ta phục đánh bất ngờ, bắt được một xe M113, địch bỏ chạy, nhưng máy vẫn nổ. Biết xe còn tốt, mọi người nhìn nhau thất vọng vì không ai làm nghề lái xe (sau chiến chiến dịch đánh giao thông này, Bộ chỉ huy Miền điện ra Bộ Tổng tham mưu xin bổ sung lực lượng biết lái xe vận tải quân sự và cả xe tăng, thiết giáp để có người xử lý khi có chiến lợi phẩm thuộc loại cao cấp này).

        Nhưng tình hình bỗng chốc trở nên phức tạp. Địch từ phía sau (Chơn Thành) tổ chức thành hai cụm lên phản kích ở khu vực Tàu Ô. Trung đoàn phải đưa lực lượng dự bị (Tiểu đoàn 6) vào chiến đấu ở nam, bắc Tàu Ô. 17 giờ, bảy xe M41, M113 từ Chơn Thành lên, thọc thẳng vào trận địa ta ở khu vực ngã ba Cây Đa, ta diệt 4 xe, còn 3 xe quần nhau với bộ binh ta, chúng chạy thẳng về Tàu Ô hợp điểm với đồng bọn từ Tân Khai đánh xuống. Trận ác chiến diễn ra trong 4 giờ liền, như địch thừa nhận (từ 15 giờ đến 18 giờ mới kết thúc).

        Thắng nhưng không trọn vẹn, lực lượng khoá đuôi mỏng, lại thiếu lực lượng dự bị mạnh, khi địch tăng viện ta xử lý lúng túng, không kịp thời, nổ súng không đồng loạt, một số xe địch có điều kiện quay lại cụm thành hình vòng đối phó. Phi pháo địch bắn dữ dội, ta tổ chức rút chưa nhanh nên bị thương vong.

        Nhưng trận thắng trong chiến dịch đánh giao thông địch trên đường 13 gây cho Mỹ nhiều lúng túng trong âm mưu mở cuộc hành quân “dự phòng” nhằm phá cuộc tiến công của ta, tạo đà cho những trận thắng tiếp sau của sư đoàn trong đợt hoạt động mùa mưa, lại xảy ra ở địa điểm khác.

        Đó là trận phục kích địch trên khu vực cầu Cần Lê mà địch gọi là “trận Srok Dong – là một trận đánh cổ điển trong chiến tranh Việt Nam”.

        Cần Lê cũng là khu vực nằm trong kế hoạch tổng thể đánh giao thông địch trong đợt hoạt động mùa mưa của sư đoàn. Nhưng khi xảy ra lại là trận phục kích hai chiều, không phải chỉ đánh địch từ Hớn Quản lên mà còn từ Lộc Ninh rút về.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 11:59:45 pm

        Chiều ngày 27 tháng 6, sư đoàn được tin trinh sát kỹ thuật của Miền: một đoàn xe cơ giới địch đang chuẩn bị xuất phát từ Hớn Quản lên đón quân Mỹ rút từ Lộc Ninh về theo đường 13. Như vậy theo phán đoán của sư đoàn, cuộc hành quân dự phòng “En Pa-xô” của địch đã bị phá sản, âm mưu phá cuộc tiến công của ta đã thất bại, chúng thấy không thể trụ lại vì đường 13 đang tắc nghẽn ở đoạn vừa xảy ra trận đánh của Trung đoàn 2 - cầu Cần Đâm. Việc vận chuyển vũ khí, đạn dược, nhu cầu hậu cần cho lính Mỹ gặp nhiều trở ngại.

        Bộ tư lệnh Sư đoàn hội ý quyết định: Đây là trận đánh do sư đoàn trực tiếp chỉ huy, sở chỉ huy đặt ở điểm cao 124; lực lượng sử dụng:

        - Lệnh cho Trung đoàn 1 tạm ngừng kế hoạch tiến công Lộc Ninh, chuyển sang đánh phục kích đoàn xe cơ giới địch từ Hớn Quản lên.

        - Trung đoàn 2 đánh địch phản kích phía sau.

        - Trung đoàn 3 đánh địch đổ bộ đường không (rút kinh nghiệm trận Cần Đầm, sư đoàn nhận định - Thế nào địch cũng sử dụng sở trường của đội quân công tử - sẽ đổ bộ đường không khi bị đánh để cứu nguy cho bộ binh).

        - Phương châm tác chiến, đánh nhỏ đồng thời chuẩn bị đánh lớn, chặn diệt bộ binh, cơ giới đồng thời đánh địch đổ bộ trực thăng.

        Trong quá trình trao đổi kế hoạch tác chiến, một vấn đề nổi lên là bố trí thế nào? Ở đây chỉ cách Chi khu quân sự Lộc Ninh có 7 ki-lô-mét, không có địa hình trung bình như Cần Đâm, rừng thưa, đồng trống, phần lớn là cây dừa nước mọc xen với cỏ le. Từ vị trí tập kết đến khu chiếm lĩnh phải vượt qua ba con suối, khó khăn trong cả cơ động và giấu quân. Vì vậy phải bố trí thế trận vận động phục kích.

        Ý kiến khác (chủ yếu của phái quân sự) thì ngược lại. Làm như vậy khi tiếp cận địch bị trống trải, không an toàn, rất phiêu lưu.

        Đây là vấn đề tư tưởng chiến thuật, có ảnh hưởng trực tiếp đến trận đánh nếu không được giải quyết.

        Sau khi trao đổi thống nhất ý kiến, Bộ tư lệnh sư đoàn phân công tôi thực hiện. Trước hết cần gặp các đồng chí cán bộ chủ chốt cấp trung đoàn để trao đổi thông suốt, kết hợp với bàn công việc chuẩn bị cụ thể vừa tranh thủ được thời gian vừa giải quyết vấn đề có chiều sâu, gắn với thực tế.

        Trận phục kích gần hay xa không theo ý muốn chủ quan, càng không thể cứng nhắc với điều đã học. Nó phụ thuộc trước hết vào nhiệm vụ chiến dịch, vào yếu tố địa hình, vào đối tượng địch cụ thể mà ta có nhiệm vụ xóa sổ. Chúng ta chọn Cần Lê làm trận địa phục kích đánh quân địch từ Hớn Quản lên đón quân từ Lộc Ninh về, nhằm thực hiện một trong những nhiệm vụ cơ bản của chiến dịch đánh giao thông địch. Nếu thừa nhận chỉ có Cần Lê mới là trận phục kích thứ hai thì phải chấp nhận biện pháp chiến thuật vận động phục kích, vì đặc điểm địa hình nơi đây quyết định. Tiến công hay phòng ngự, tập kích hay phục kích đều có chung một yêu cầu là tạo thế bất ngờ. Ở Cần Lê, tạo yếu tố bất ngờ chính là phải bố trí trận địa phục kích từ xa, thực hiện biện pháp chiến thuật vận động phục kích (đây không phải là điều mới, nó đã được áp dụng trong thời kỳ kháng chiến chín năm trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ). Tất nhiên là việc cơ động và giấu quân khó, nhưng nếu chúng ta có biện pháp ngụy trang khéo, xây dựng công sự tốt, xuất kích đúng lúc, ta sẽ ở vào thế bất ngờ, trên tầm cao tiến công địch ở tầm thấp, phơi lưng trên trảng trống dài hơn 3 ki-lô-mét để ta tiêu diệt...

        Lúc nêu vấn đề tranh luận thì găng, tưởng như không có lối thoát. Nhưng khi trao đổi có lý có tình, kết hợp cả thực tiễn những trận đánh trước đó, thì tư tưởng thông suốt, công việc chạy đều.

        Xin trở lại trận Cần Lê. Sau khi bàn bạc nhất trí, các đồng chí Trung đoàn 1 đã khẩn trương bắt tay vào thiết bị chiến trường, xây dựng hầm hào công sự, theo yêu cầu vận động phục kích; làm đến đâu tiến hành ngụy trang đến đó, thực hiện nghiêm kỷ luật giữ bí mật. Nhận lệnh chiều 27 tháng 6, Trung đoàn 1 vừa hành quân, vừa làm công tác chuẩn bị; đến đêm 29 tháng 6 hoàn thành vào chiếm lĩnh trận địa, tất cả đều sẵn sàng chiến đấu và sáng hôm sau 30 tháng 6 đã bước vào chiến đấu, khi một đoàn xe địch từ Hớn Quản tiến lên hướng Lộc Ninh; khác với Trung đoàn 2, thời gian chờ đợi quá lâu.

        Phải dùng hình thức vận động phục kích, nhưng do có biện pháp bảo đảm tốt, Trung đoàn 1 ngay từ đầu đã đánh địch trên thế bố trí thích hợp, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Khi trận chiến đấu xảy ra, đội hình bị địch (chỗ này viết là “địch bị” thì đúng hơn?) chặn đầu khoá đuôi như rắn bị quằn, khúc oằn ra, đoạn co lại, là lúc từ vị trí xuất phát xung phong các đơn vị Trung đoàn 1 vận động ra, B40 cách 50 mét, ĐKZ cách 100 mét là cự ly thích hợp diệt địch.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:00:06 am

        Việc chặn đầu khoá đuôi, chặn địch từ Hớn Quản lên diễn ra ăn khớp, đội hình hành quân của địch bị ùn, tạo thuận lợi cho ta tiến công tiêu diệt chúng. Sự chống trả có nhưng khác với Cần Đâm, chỉ là lực lượng tại chỗ, số còn sống sót cụm lại, dự vào vỏ thép hoả lực chống trả yếu ớt, tuyệt vọng, chỉ có thể trông chờ vào quân đổ bộ đường không.

        Chỉ huy sư đoàn chúng tôi vừa trao đổi nhận định như thế, thì sự thật đã xảy ra đúng như dự định. Gần giữa trưa bầu trời trong, quang mây, từ phía Hớn Quản có tiến ầm ì vọng đến mỗi lúc mỗi gần, liền đó nhiều máy bay lên thẳng xuất hiện. Chúng đổ quân xuống tây nam trảng Bà Nghi, thực hành phản kích nhằm đẩy lùi áp lực của ta ra xa. Cuộc chiến đấu trở nên gay go, phức tạp. Mãi 19 giờ khi mặt trời gần tắt, trận đánh mới kết thúc. Trung đoàn 1 vừa đánh địch tại chỗ vừa phải chống đỡ với quân tăng viện đổ bộ đường không, tuy thắng lợi nhưng cũng bị thiệt hại.

        Mặc dầu rất thông cảm với cấp dưới, nhưng tôi vẫn gọi điện xuống nghiêm khắc: Trung đoàn 3 xuất kích chậm vì sở chỉ huy không ra sát mặt đường, mất thời cơ đánh địch, nên trận đánh không kết thúc nhanh gọn, kéo dài, gây thêm khó khăn cho các trung đoàn bạn...

        Các  đồng chí trong Ban chỉ huy Trung đoàn 3 chẳng những không phản ứng, trái lại thấy rõ khuyết điểm của mình gây ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung nên đã nghiêm khắc kiểm điểm rút kinh nghiệm, tích cực sửa chữa, không để cho khuyết điểm này tái diễn. Có đồng chí khóc vì ân hận.

        Mặc dù địch bị đòn đau, với gần 80 xe tăng, bọc thép, hơn 600 lính Mỹ thuộc Sư đoàn 1 bị chết và bị thương sau hai trận đụng độ với ta ở Cần Đâm, Cần Lê, nhưng chúng chưa chịu từ bỏ con đường 13, vì đây là đường tiếp tế chính cho Bình Long, Lộc Ninh. Chúng vẫn phải đưa thêm lực lượng và phương tiện chiến tranh lên để củng cố các căn cứ Hớn Quản – Chơn Thành, Minh Hoà nhằm bảo vệ tuyến phòng thủ bắc Sài Gòn.

        Để tránh bị ta phục kích, địch tăng cường tuần tra, nghi binh đánh lạc hướng; dùng bom pháo dọn đường, đồng thời chúng còn tìm thêm đường khác, thường xuyên thay đổi quy luật hành quân. Ngoài đường 13, địch còn sử dụng đường đá đỏ nối liền Hớn Quản - Minh Hoà. Đây là con đường độc đạo nằm giữa đường 13 và sông Sài Gòn nên việc che giấu lực lượng và vận động phục kích của ta gặp nhiều khó khăn.

        Thấy những triệu chứng chúng đang chuyển đội hình hành quân sang đường này, Bộ tư lệnh sư đoàn trao đổi và đi tới thống nhất quyết định khắc phục mọi khó khăn, khẩn trương hình thành thế trận phục kích, sẵn sàng đánh địch khi chúng mở cuộc hành quân, với lực lượng phân công như sau:

        - Trung đoàn 2 được tăng cường một tiểu đoàn của Trung đoàn 16 làm nhiệm vụ chủ yếu.

        - Trung đoàn 1, Trung đoàn 3 làm nhiệm vụ chặn viện phía sau.

        Ngày 28 tháng 6 Trung đoàn 2 hoàn thành công tác chuẩn bị, bộ đội tiến vào vị trí xuất phát tiến công. Nhưng mãi mười ngày sau (8 tháng 7) trận đánh mới xảy ra. Phải chờ lâu nhưng Trung đoàn 2 đã có kinh nghiệm chờ dài ngày trong trận Cần Đâm, anh em nhanh chóng thông suốt, không xuất hiện tư tưởng nôn nóng.

        Mặc dầu đã có nhiều việc làm đánh lạc hướng đối phương, mặt khác rút kinh nghiệm thất bại ở Cần Đâm, Cần Lê mới đây, nên khi khởi sự địch vẫn rất thận trọng đưa bộ binh chốt giữ, dùng tối đa hoả lực pháo binh, không quân dọn đường. ngày 9 tháng 7, sau ba tiếng bắn phá huỷ diệt các vạt rừng hai bên đường, đoàn xe mới vượt qua cầu Xa Cát.

        Đây là trận địch chuẩn bị hoả lực kéo dài chưa từng có trước đó. Ngồi ở sở chỉ huy chúng tôi thấy như có lửa đốt trong lòng, nghe âm thanh bom đạn liên tục từ phía Trung đoàn 2 dội về mà đứng ngồi không yên! Mặc dầu tin tức từ trung đoàn vẫn đều đặn báo cáo về sư đoàn qua mạng lưới thông tin. Kiên trì đã được đền đáp vì địch bắt đầu dẫn xác đến. Điều chủ yếu mà chúng tôi nhắc Trung đoàn 2 lúc này - Cần theo dõi đội hình hành quân của địch để thực hiện chặn đầu, khoá đuôi đúng lúc. Từ kinh nghiệm Cần Đâm, tôi nhấn mạnh - quyết chia cắt không cho địch co cụm.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:00:38 am

        Trận chiến đấu lúc đầu diễn ra thật gay go. Nhưng ta ở thế chủ động nên thắng lợi thu được nhanh gọn. Đội hình hành quân của địch lọt vào trận địa phục kích của ta cơ bản bị tiêu diệt. Chúng phải đưa viện binh từ Minh Hoà ra cùng với máy bay lên thẳng đổ quân xuống nam cầu Xa Cát, bị Trung đoàn 3 chặn đánh. Tiểu đoàn thuộcTrung đoàn 16 mới từ miền Bắc vào, tất cả đều mới lạ, nhưng trong trận đánh lần đầu đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, diệt hai phần ba lực lượng địch ở Xa Cát. Tiểu đội do Tiểu đội trưởng Thắng phụ trách bắn cháy 9 xe, được giao báo cáo thành tích trực tiếp qua điện thoại về Tư lệnh sư đoàn:

        - Báo cáo có 9 xe “chạy”!

        - Mới nghe mừng, sau thắc mắc – Cháy hay chạy? Nếu để địch chạy thì thắng lợi cái gì?

        - Báo cáo lại – Nói chậm mới nghe rõ.

        - Báo cáo có 9 xe “chạy”.

        - Sao lại chạy – đánh vần chữ chạy.

        - Báo cáo ch...áy.

        - Cháy phải không?

        - Dạ đúng.

        Tôi reo lên, thế chứ, cả tiểu đội Thắng bắn cháy 9 xe.

        Một trục trặc thật vui. Sau hỏi ra mới biết Thắng quê ở Nghi Lộc, nới có nổi tiếng phát âm khó nghe nhất tỉnh Nghệ An, vì Trung đoàn 16 từ Khu 4 mới bổ sung vào.

        Trận đánh trở nên phức tạp không phải do lực lượng cơ giới đi trên đường mà là viện binh từ phía Minh Hoà tiến ra và máy bay lên thẳng địch đổ quân xuống phía nam cầu Xa Cát. Trung đoàn 3 lần này tích cực sửa chữa khuyết điểm mắc trong trận Cần Lê, cùng các chiến sỹ thông tin, hậu cần sư đoàn, kể cả các chiến sỹ của Trung đoàn 2 bị thương nhẹ đều tình nguyện tham gia chiến đấu. Trận đánh vì thế phải kéo dài đến ngày 11 tháng 7 mới kết thúc.

        Những trận mưa xối xả đã bớt dần, tiết trời bước vào trung tuần tháng 7. Sau trận Xa Cát – Minh Hoà cũng là thời điểm kết thúc cuộc hành quân không theo quy luật thời tiết.

        Nhưng chặng đường hành quân ấy đã ghi thêm nét đậm trong sổ vàng của Sư đoàn 9 trên những chiến công mới. Sự việc bắt đầu từ chủ trương mở cuộc tiến công vào căn cứ Phước Vĩnh, nhưng không có lương thực phải chuyển hướng lên Lộc Ninh. Rồi bị lộ, địch mở cuộc hành quân “dự phòng” tăng cường lực lượng bảo vệ Lộc Ninh, buộc chúng tôi phải chuyển hướng từ phía bắc, đội hình sư đoàn quay ngược xuống nam, đánh viện binh địch trên đường 13.

        Từ chủ động đến bị động rồi lại chủ động, nhưng chủ động sau hay hơn, thông minh hơn. Chúng tôi phải chủ trương mặt trận mới – đánh địch trên đường giao thông, kéo địch ra khỏi công sự mà đánh.

        Kế hoạch tạo thế của chúng tôi thành công, buộc quân Mỹ phải lên chi viện cho Lộc Ninh và phải đi qua những trận địa bày sẵn ở Cần Đâm – Tàu Ô, ở Cần Lê – Ba Nghi, ở Xa Cát – Minh Hoà để chuộc lấy thất bại. Kết quả là viện binh địch phải bỏ Lộc Ninh co về Hớn Quản, Lộc Ninh, bị vô hiệu hoá. Các kho tàng ở bắc Lộc Ninh của ta vẫn được an toàn.

        Thắng lợi của chiến dịch đánh phá giao thông địch trên đường 13 đã rõ ràng, nhưng đâu phải suôn sẻ. Vẫn còn có ý kiến cho rằng hoạt động quân sự của ta vừa qua đánh vào chỗ mạnh của địch là không đúng với nguyên tắc tránh mạnh đánh yếu. Tuy có diệt được cơ giới, diệt được tăng, thiết giáp của địch nhưng ta cũng bị tiêu hao.

        Anh Thanh lại đến với chúng tôi trong những ngày tổng kết đợt hoạt động. Anh nghe chúng tôi trao đổi và hỏi cặn kẽ diễn biến các trận “điệu hổ ly sơn”.

        - Mình có duyên nợ với Sư đoàn 9 các cậu – Anh hồ hởi nói ngay giây phút đầu tới sư đoàn.

        - Chúng tôi mong hoài, lo anh không đến! – Tôi vẫn bị động khi anh nắm tay tôi – nói tiếp - nếu anh dù bận không đến thì chúng tôi vẫn buồn, vẫn tiếc!

        Anh lắng nghe, anh hỏi đặc điểm khác nhau giữa tổ chức chiến đấu phục kích đánh quân Mỹ có khác gì với đánh quân đội thực dân Pháp... Mỗi người một ý, tuỳ theo cảm thụ của mình mà trả lời những câu hỏi trên đây của anh.

        Cuối cùng anh phát biểu tuy ngắn nhưng với tinh thần khen chê thẳng thắn, giúp chúng tôi nhận thức ra nhiều điều bổ ích. Anh nói Sư đoàn 9 một lần nữa chứng tỏ là một đơn vị chủ lực tin cậy của Miền. Phát huy tinh thần trách nhiệm chính trị cao, chủ động tổ chức đợt hoạt động quân sự đánh giao thông địch trên đường 13 đạt hiệu quả rõ rệt, góp phần trực tiếp là thất bại âm mưu “bẻ gãy xương sống Việt cộng” của Mỹ, diệt lực lượng chi viện cho Lộc Ninh trong khuôn khổ hành quân truy quét tuyến biên giới, đánh phá căn cứ, hậu cần của ta...


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:01:16 am

        Đây là một thắng lợi có ý nghĩa chiến dịch - chiến lược, cần được biểu dương khen thưởng, cần đươc rút kinh nghiệm phổ biến kịp thời đến các đơn vị bạn nghiên cứu vận dụng. Vây điểm đánh viện mà Sư đoàn 9 áp dụng trong đợt hoạt động này được xem như một thuật ngữ mới (thuật ngữ thường dùng là đánh điểm diệt viện). Viện đây là các đoàn cơ giới. Ở đây không đánh tăng, thiết giáp thì sẽ không có chỗ đứng chân, không ở yên với địch. Không diệt tăng thiết giáp thì không thể gọi là đánh Mỹ. có thể nói thời điểm cáo chung của chiến thuật “thiết xa vận” được bắt đầu từ đây, buộc địch phải chuyển sang chiến thuật “trực thăng vận”. Đường 13 bị chúng ta bước đầu vô hiệu hoá.

        Cuối cùng anh kết luận: Như vậy là trúng rồi đấy! Các đồng chí rút kinh nghiệm để hoàn chỉnh biện pháp tổ chức thực hiện, vì kẻ địch rất thực tế và ngoan cố, không cam chịu bó tay. Nhiệm vụ sắp tới đang còn rất nặng nề nhưng cũng nhiều triển vọng đang mở ra trước mắt chúng ta. Đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực vươn lên. Chúc các đồng chí khoẻ và thu nhiều thắng lợi trong nhiệm vụ mới.

        Chúng tôi tiễn anh đầy lưu luyến, biết ơn trong tình đồng chí, tình anh em và riêng tôi còn có cả tình cảm thầy trò. Bởi mỗi lần anh có mặt lại mang đến cho chúng tôi những nhận thức mới, giải toả cho chúng tôi những băn khoăn vướng mắc, tiếp sức cho chúng tôi lòng tự hào, tự tin mới để tiến về phía trước.

        Kết thúc đợt hoạt động quân sự mùa mưa năm 1966, Sư đoàn 9 được lệnh của Bộ chỉ huy Miền chuyển đội hình sang mặt trận phía tây.

        Thế là chúng tôi tạm biệt một chiến trường gắn bó, trở nên thân quen kể từ tháng 4 năm 1965 qua các trận Phước Bình, Phước Long, Đồng Xoài, Đất Cuốc, Bàu Bàng, Căm Se, Dầu Tiếng, Nhà Đỏ - Bông Trang, Cù Đinh, Cần Đâm, Cần Lê, v.v. Lại lật cánh sang hướng tây Sài Gòn, vì đây là lần thứ hai chuyển hướng hoạt động. Lần thứ nhất đầu tháng 5 năm 1966, chúng tôi đã phối hợp ăn ý với lực lượng vũ trang địa phương, tổ chức tập kích đánh thiệt hại nặng chiến đoàn Mỹ ở Bầu Sắn (Tây Ninh), buộc chúng phải chấm dứt cuộc hành quân Bớc-minh-ham được xem là cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ vào chiến khu Dương Minh Châu trong cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất.

        Lần này trở lại - với định hướng là để củng cố lực lượng, chuẩn bị đón nhận nhiệm vụ mùa khô lần thứ hai.

        Thời gian yên tĩnh giữa hai trận đánh sao mà hiếm đến thế. Một mặt lo tổ chức học tập nâng cao nhận thức tình hình nhiệm vụ mới, củng cố quyết tâm đánh Mỹ; tiếp nhận và bổ sung quân số, trang bị vũ khí được đưa từ miền Bắc vào (Trung ương tăng cường cho B2 gồm 3 trung đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn súng máy cao xạ, 1 trung đoàn ĐKB, 1 tiểu đoàn súng cối 120 ly; lên đường đầu năm 1966, tháng 5 đến chiến trường trong đó Sư đoàn 9 được bổ sung Trung đoàn 16,  một tiểu đoàn súng máy cao xạ 12,8 ly, mỗi đại đội bộ binh của sư đoàn được trang bị 9 B40, mỗi trung đoàn được trang bị 18 khẩu B41); tổ chức rút kinh nghiệm một năm đánh Mỹ; mở các lớp tập huấn bồi dưỡng kỹ thuật, chiến thuật, nhất là các kỹ thuật bắn súng, ném lựu đạn, đâm lê, đánh bộc phá... Mặt khác chỉ huy sư đoàn chúng tôi phân công theo chức trách được giao đi tiếp nhận các chủ trương chỉ đạo của cấp trên.

        Vấn đề có ý nghĩa bao trùm xuyên suốt trong thời gian này là lo tổ chức học tập nâng cao nhận thức tình hình, nhiệm vụ, củng cố quyết tâm đánh Mỹ. Sư đoàn  đã cùng với các lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân Đông Nam Bộ đánh thắng hiệp đầu chiến lược chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Đây là một thắng lợi có tầm quan trọng rất lớn về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu.

        Nhiều kinh nghiệm được đúc kết kịp thời đưa vào ứng dụng nhằm vượt qua những khó khăn ác liệt mới mà kẻ thù đã gây ra.

        Trong cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966, để giành lại thế chủ động trên chiến trường, “tìm diệt” chủ lực ta, Mỹ đã huy động lực lượng lớn, phát huy đến mức cao nhất thế mạnh về kỹ thuật, chiến thuật và sức cơ động của chúng. Trong nhiều cuộc hành quân, địch tổ chức mũi thọc sâu trên hướng chính bằng bộ binh cơ giới đánh thẳng vào căn cứ của ta, đồng thời tổ chức mũi vu hồi bằng cơ giới hoặc đổ quân bằng máy bay lên thẳng xuống phía sau làm cho ta gặp khó khăn khi di chuyển hoặc khi cần phải rút lui để bảo toàn lực lượng. Pháo diện địa của địch thường 48 – 60 nòng pháo 105 đến 155 ly, 175 “vua chiến trường” được sử dụng trong một cuộc hành quân) bắn phá ác liệt các khu vực chúng nghi ta tập kết lực lượng. Hoả lực không quân, đặc biệt là máy bay B52 liên tục đánh phá các căn và chi viện cho các cuộc hành quân.

        Trong các trận đánh, địch nhanh chóng tăng cường lực lượng chi viện và dùng hoả lực chặn phía sau đội hình ta; dịch còn dùng phi pháo huỷ diệt cả căn cứ trận địa khi bị ta đánh chiếm để vừa sát thương vừa không cho thu vũ khí.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:01:50 am

        Với sự thay đổi thủ đoạn tác chiến khi trong tay có đầy đủ vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại, Mỹ đã làm cho nhiều trận đánh của ta không gọn, không bắt được tù binh, không thu được vũ khí. Tổn thất về người và vũ khí của một số đơn vị khá cao. Các bước của một trận đánh không triển khai được. Bộ đội phải cơ động liên tục để tránh thưong vong vì bom pháo. Mỗi khi trú quân đều phải đào hầm, công sự chiến đấu... sinh hoạt vật chất tinh thần của bộ đội thiếu lớn và không ổn định. Những biểu hiện ngại bom pháo địch, ngại ác liệt đã xuất hiện trong một số cán bộ, chiến sỹ ảnh hưởng đến ý chí và quyết tâm chiến đấu, đòi hỏi giải quyết nó không thể một chiều áp đặt, mà phải tiến hành từ nhiều chiều, bằng nhiều biện pháp.

        Qua các cuộc họp nghe phổ biến tình hình nhiệm vụ và các lần giao ban định kỳ do Quân uỷ và Bộ chỉ huy Miền triệu tập, chúng tôi tiếp nhận được nhiều thông tin có tầm nhìn xa rộng từ Hà Nội truyền vào...

        Ngay từ đầu năm 1966, trong khi Sư đoàn 9 đang căng thẳng dàn thế trận đánh bại cuộc hành quân “Đá lăn” của Sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ ở Nhà Đỏ - Bông Trang, thì Trung ương, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã liên tục họp bàn, nhận định: “Mặc dầu bị thất bại liên tiếp, đế quốc Mỹ đang ra sức tăng quân và phương tiện chiến tranh, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược hòng giải quyết vấn đề Việt Nam trong những năm 1967 – 1968” (Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 10 năm 1966) với một lực lượng trên một triệu quân, trong đó quân Mỹ có thể lên tới trên dưới 40 vạn (Mùa khô lần thứ nhất (1965 – 1966) lực lượng Mỹ gồm khoảng 20 vạn quân, 2.200 máy bay, 1.400 xe tăng - thiết giáp, 1.200 khẩu pháo, 500 tàu chiến. Mùa khô lần thứ hai (1966- 1967) lực lượng Mỹ trên 44 vạn, 4.300 máy bay, 3.300 xe tăng - thiết giáp, 2.300 tàu chiến các loại).

        Trong thế trận toàn miền Nam, Đông Nam Bộ gồm cả Sài Gòn – Gia Định có ý nghĩa chiến lược quan trong đặc biệt cả về quân sự và chính trị. Một yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định của chiến trường Đông Nam Bộ, là tầm vóc, vị trí của thành phố Sài Gòn (tức thành phố Hồ Chí Minh) nơi Ngụy quyền đặt “thủ đô” và Mỹ đặt “Lầu Năm góc phương Đông” để điều khiển cuộc chiến tranh xâm lược ba nước Đông Dương.

        Oét-mo-len đặt cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai trong khuôn khổ kế hoạch tác chiến toàn miền Nam. Ông ta bố trí lực lượng khá chu đáo, ít ra là trên văn bản, trên sơ đồ nhằm chặn các cửa ngõ của quân ta tiến xuống các vùng đồng bằng và phụ cận thành phố, thi xã quan trọng, trong khi Mỹ tập trung lực lượng đánh Đông Nam Bộ.

        Trong khi phân tích, đoán định sự phát triển phức tạp và đa dạng của tình hình, bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tham mưu đã đề ra chủ trương tổng thể trên phạm vi toàn quốc, giao nhiệm vụ cho các chiến trường khác phải có kế hoạch hướng sự nỗ lực của mình vào chiến trường chính, “ra sức đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của bọn xâm lược Mỹ, làm thất bại các mục tiêu lớn của chúng, giữ vững thế chủ động, bảo tồn và phát triển lực lượng của ta, tạo điều kiện và thời cơ các hoạt động lớn tiếp theo...” (Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 10 năm 1966); đồng thời đẩy mạnh chiến tranh nhân dân đất đối không ở miền Bắc, kiên quyết “đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tăng cường lực lượng kinh tế và quốc phòng, ra sức giữ vững và mở rộng các con đường hành lang, bảo đảm tăng cường chi viện cho miền Nam” (Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 10 năm 1966).

        Rõ ràng do vị trí đặc biệt, ở Đông Nam Bộ sẽ diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch trong mùa khô 1966 – 1967. Tháng 4 năm 1966, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Khu uỷ và Quân khu Trị - Thiên - Huế, tách khỏi Khu 5. Tháng 6, Quân uỷ Trung ương quyết định lập Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, mở ra một hướng tiến công mới, buộc địch phải phân tán lực lượng, tạo thuận lợi cho các chiến trường khác trong đó có Đông Nam Bộ hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu cảu mình, trước mắt là mùa khô này.

        Tiếp đó Bộ Chính trị chính thức thông qua sáu phương thức tác chiến (Nội dung tóm tắt sáu phương thức tác chiến:

        - Đẩy mạnh tác chiến của bộ đội tập trung, mở những chiến dịch tiến công hoặc phản công vừa và lớn, tiến tới đánh những trận có tác động chiến lược nhằm tranh thủ ưu thế quân sự trên một hướng...

        - Đẩy mạnh chiến tranh du kích đến trình độ cao, tiêu hao rộng rãi quân địch.

        - đánh các căn cứ hậu cần, kho tàng, sân bay, hải cảng, cơ quan đầu não của địch.

        - Triệt phá đường giao thông thuỷ, bộ quan trọng, tạo thế chia cắt, bao vây địch, làm giảm khả năng chi viện của chúng.

        - Đẩy mạnh hoạt động quân sự ở các đô thị, từ hình thức tác chiến nhỏ kết hợp với đấu tranh chính trị đến tác chiến lớn kết hợp với tiến công và khởi nghĩa.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:02:29 am

        - Tác chiến kết hợp với binh biến, đẩy mạnh công tác binh vận, ngụy vận, tạo điều kiện làm tan ra, ly khai, gây binh biến.) do Quân uỷ Trung ương trình bày sau nhiều lần thử nghiệm trong thực tiễn. Những phương thức tác chiến được phổ biến vào chiến trường miền Nam ngay sau đó, đã cung cấp cho chúng tôi, những cán bộ chỉ huy quân sự cao cấp một khối lượng kiến thức quân sự được đúc kết thành những nguyên tắc có sức khái quát cao, dễ nhớ, vừa chứa đựng chiều sâu lý luận sáng tạo mang tính đặc thù Việt Nam vừa mang tính tổ chỉ đạo thực tiễn, mở ra nhiều định hướng giải quyết các vấn đề chỉ đạo chiến dịch, chỉ huy chiến đấu. Trước mắt, chúng tôi xác định đưa vào nội dung chủ yếu tập huấn cán bộ, nhằm nâng cao kiến thức, đồng thời lấy đó làm căn cứ tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm các đợt chiến đấu vừa qua, phục vụ thiết thực cuộc chiến đấu sắp tới.

        Thượng tuần tháng 7 năm 1966, Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ chỉ huy Miền họp thảo luận thông qua quyết tâm và kế hoạch hoạt động quân sự mùa khô lần thứ hai. Các anh Nguyễn Văn Linh, Phan Văn Đáng, Trần Văn Trà, Lê Đức Anh đều có mặt.

        Cuộc họp này tập trung bàn kế hoạch đối phó với cuộc phản công mùa khô lần thứ hai của Mỹ vào chiến trường Đông Nam Bộ, mà chủ yếu là khu vực căn cứ Dương Minh Châu. Về các vấn đề chung, từ tháng 6, Trung ương Cục và Quân uỷ Miền đã có chủ trương chỉ đạo các tỉnh thuộc B2 và Quân khu 6, gấp rút có kế hoạch đẩy mạnh hoạt động quân sự và chính trị, tiêu hao tiêu diệt sinh lực tại chỗ kết hợp chống phá bình định, nhằm thực hiện chủ trương mở chiến dịch Hè Thu phối hợp với Đường  đánh bại kế hoạch mùa mưa của địch; đồng thời có kế hoạch sẵn sàng phối hợp tác chiến quân sự đánh địch ở vòng ngoài, nếu địch mở cuộc phản công vào vùng căn cứ của ta.

        Cũng từ tháng 6 năm 1966, được các thông tin về chỉ đạo từ Hà Nội gửi vào, từ nguồn thông tin tình báo chiến lược cung cấp, các tin kỹ thuật thu qua sóng điện, lãnh đạo và chỉ huy Miền đã đoán được chính xác âm mưu thủ đoạn của địch trong cuộc phản công mùa khô lần thứ hai, đã có phương hướng chỉ đạo ban đầu gấp rút củng cố lại việc phòng thủ căn cứ, xây dựng mạng lưới chiến tranh nhân dân trong vùng căn cứ ít dân. Vì vậy cuộc họp này các anh bàn những vấn đề cụ thế.

        Các anh Nguyễn Văn Linh, Phan Văn Đáng phát biểu ngắn gọn, nhấn mạnh những điểm có tính định hướng nhưng sát sườn cho việc xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể:

        - Đây là cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ - Ngụy, là hướng chủ yếu của gọng kìm thứ nhất của địch nhằm đánh phá căn cứ, tìm diệt cơ quan lãnh đạo Miền và Sư đoàn 9, giành thắng lợi quân sự có ý nghĩa quyết định cho cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai, tạo ra bước ngoặt chuyển biến cục diện có lợi cho Mỹ trên bàn đàm phán.

        - Đánh bại cuộc hành quân này có ý nghĩa lớn làm thất bại gọng kìm thứ nhất của địch trên chiến trường Đông Nam Bộ, sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến gọng kìm “bình định” của địch, tạo điều kiện giành thắng lợi cả năm 1967; bảo vệ được căn cứ, bảo vệ được cơ quan, kho tàng sẽ ảnh hưởng lớn về mặt quân sự, chính trị.

        - Quyết tâm của Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ chỉ huy Miền là động viên mọi lực lượng, lập thế trận chiến tranh nhân dân hợp lý thực hiện phòng thủ căn cứ theo phương châm bám trụ chiến đấu tại chỗ, kiên quyết đánh bại cuộc phản công của địch, khó mấy cũng phải làm.

        Lúc này tôi được Trung ương Cục, Quân uỷ Miền quyết định giữ chức Phó Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Miền, đồng thời giao luôn cả công việc dự thảo kế hoạch tác chiến trình ra hội nghị để các anh xem xét.

        Tôi rất lo, nhưng là mệnh lệnh, là chỉ thị phải chấp hành, tự nhủ cứ làm hết khả năng của mình, mạnh dạn nêu ra những suy nghĩ của mình để các anh lãnh đạo cho ý kiến.

        Đúng là lúc này chỉ có hai cách lựa chọn. Hoặc đối mặt với kẻ thù đánh bại ý đồ thâm độc của địch, giữ vững căn cứ, hoặc rút lên tận biên giới Cam-pu-chia, tạo cơ hội khác tiến công chúng!?

        Nhưng chúng ta đã chọn cách thứ nhất, vì vai trò vị trí của chiến trường Đông Nam Bộ trong thời điểm đó, đặc biệt là khu vực Chiến khu C.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:03:04 am

        Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của các anh lãnh đạo Miền, mà trực tiếp là anh Trần Văn Trà Tư lệnh trưởng, thay mặt  bộ phận được phân công chuẩn bị kế hoạch tác chiến, tôi trình bày những vấn đề cụ thể, tập trung vào một số nội dung chủ yếu.

        - Một là, thực hiện vũ trang hoá cơ quan thành lực lượng chiến đấu, tiến hành xây dựng công sự hầm hào để thực hiện bám trụ đánh địch tại chỗ; tiến công địch trên các hướng trước mặt, bên sườn, luồn sâu vu hồi phía sau lưng địch, không để địch phân tuyến, bắt chúng phải đánh theo cách đánh của ta.

        - Hai là, khẩn trương hình thành thế trận phòng thủ bằng lưới mìn, bằng lực lượng dân quân tự vệ, bằng lực lượng chủ lực phối hợp hỗ trợ tiến công địch ngay từ trận đầu và đánh liên tục.

        - Ba là, ta bí mật bao vây chia cắt, thực hành tập kích, phục kích và vận động phục kích, quấy rối, đánh nhỏ tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, bảo vệ bệnh viện, kho tàng, đồng thời sẵn sàng đánh những trận then chốt, diệt từng bộ phận quân địch, ...

        Bằng phẩm chất kiên nghị, bằng sự lịch lãm được tích luỹ qua năm tháng chiến đấu ở một chiến trường đầy sôi động các anh lãnh đạo Miền sau khi nhận xét, trao đổi những vấn đề của bộ phận chuẩn bị trình ra, đã chính thức thông qua kế hoạch tổ chức và chiến đấu đánh địch, bảo vệ căn cứ như sau:

        1. Nhằm thực hiện thống nhất chỉ huy các lực lượng tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân, lãnh đạo Miền quyết định các ngành dân – chính - đảng đóng ở đông, tây đường 22 đến giáp sông Vàm Cỏ được tổ chức thành sáu huyện căn cứ (Huyện Rùm Đuôn – Sóc Mới: Cơ quan bảo vệ Trung ương Cục đảm nhiệm; Huyện Suối Mây: Cơ quan văn phòng Trung ương Cục; Huyện Bảy Dài: Cơ quan tổ chức Trung ương Cục; Huyện Xa Mát – Tà Xia: Cơ quan an ninh Trung ương Cục; Huyện Xóm Giữa - Đồi Thị: Cơ quan dân y Trung ương Cục). Số 2.000 cán bộ, công nhân viên cơ quan này tổ chức sáu đại đội cơ động của huyện làm nhiệm vụ bộ đội địa phương; 1.200 du kích cơ quan làm nhiệm vụ chiến đấu tại chỗ. Các cơ quan, bệnh viện công xưởng, kho tàng trực thuộc Bộ chỉ huy Miền đóng từ đông đường số 4  đến giáp sông Sài Gòn chia thành bảy khu vực được tổ chức thành bảy huyện căn cứ (Huyện Lò Gò - Bến Ba: Cơ quan tuyên huấn Trung ương Cục; Huyện Châu Thành: Trung đoàn bộ binh 170 đảm nhiệm; Huyện Tà Keng: Cục Tham mưu Miền; Huyện Cà Tum: Cục Chính trị Miền; Huyện Sóc Kỳ: Phòng công binh Miền; Huyện Bà Chiêm: Đoàn pháo binh 69; Huyện Bà Hảo: Cục Hậu cần Miền; Huyện Tà Đạt: Phòng Thông tin Miền). Số 3.000 cán bộ, chiến sỹ, nhân viên thuộc Bộ chỉ huy Miền được tổ chức thành bảy đại đội cơ động làm nhiệm vụ bộ đội địa phương huyện; số 2.000 cán bộ, chiến sỹ còn lại tổ chức thành lực lượng du kích cơ quan chiến đấu tại chỗ.

        Trong mỗi “huyện” phân chia thành nhiều “xã”. Thủ trưởng cơ quan giữ chức “Huyện đội trưởng”, “Xã đội trưởng”. Nhân viên các cơ quan, chiến sỹ các đơn vị tập hợp thành các đơn vị du kích, được trang bị vũ khí, kể cả súng chống tăng B40, mỗi cơ quan đơn vị được dự trữ ba tháng lương thực.

        2. Nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não Miền và Sư đoàn 9, đánh phá căn cứ, kho tàng, địch sẽ tổ chức phản công ồ ạt, trước hết chúng đổ quân chặn biên giới, đóng chốt các điểm Mi Mốt, Cà Tum, Trảng Ba Vũng; đồng thời đổ bộ trực thăng kết hợp với bộ binh cơ giới từ phía nam thọc sâu theo hai đường số 22 và đường số 4, từ đó phân thành nhiều mũi thực hành bao vây chia cắt, vu hồi phía sau, đánh xuyên qua từng khu vực nhằm chụp tắt cơ quan lãnh đạo, bao vây tiêu diệt các đơn vị chủ lực, triệt phá kho tàng.

        3. Hướng tác chiến chủ yếu của ta nhằm vào  các khu vực:

        - Thực hành phản công trong căn cứ là các điểm: trên lộ 4, đoạn từ Bàu Cỏ - Cà Tum; trên lộ Kiểm, đoạn từ Chà Dơ - Bổ Túc; trên lộ Đá Đỏ, đoạn từ Sóc Con Trăng - Suối Ngô.

        - Các khu vực chọn sẵn để đánh các trận then chốt: trên lộ 4 gồm các điểm Bàu Cỏ - Đồng Pan, Cà Tum; trên lộ Kiểm gồm các điểm Chà Dơ, Đồng Rùm, Bổ Túc; trên lộ Đá Đỏ gồm các điểm Sóc Con Trăng, Bà Chiêm, Suối Ngô.

        4. Hướng phòng thủ chủ yếu trong căn cứ; Khu vực Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền.

        5. Hướng tác chiến bên ngoài căn cứ: đường 13 đoạn từ Chơn Thành – Bàu Bàng; khu vực Sài Gòn – Gia Định, Tây Ninh và Bình Dương.

        6. Hướng nghi binh thu hút địch: huyện Tà Đạt.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:03:39 am

        7. Nhiệm vụ chiến đấu của các đơn vị:

        - Lực lượng du kích cơ quan, phân đội bảo vệ kiên quyết bám trụ căn cứ, bám sát kìm chế tiêu hao địch, thực hành tiêu diệt nhỏ, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực tập trung tiêu diệt từng bộ phận quân địch. Lực lượng bộ đội địa phương trong căn cứ bám sát, liên tục tiêu hao và tiêu diệt nhỏ, phối hợp với chủ lực trong các trận đánh then chốt trên địa bàn phụ trách.

        - Lực lượng chủ lực hỗ trợ các hoạt động của các đơn vị du kích cơ quan, sẵn sàng đánh một số trận thối động, đồng thời tích cực kìm chế cầm chân địch, tiêu hao rộng rãi và tiêu diệt nhỏ nhằm bảo vệ cơ quan. Cụ thể Sư đoàn 9 vừa làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Trung ương Cục vừa tổ chức đánh địch bảo vệ căn cứ; Sư đoàn 5 vẫn đứng chân ở khu vực Bà Rịa – Long Khánh, đánh phối hợp vòng ngoài, phân tán lực lượng địch, hỗ trợ chính diện khu vực căn cứ.

        - Lực lượng các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Bình Dương đẩy mạnh hoạt động phối hợp chiến trường, nhằm lúc địch tập trung lực lượng đi càn quét để lộ nhiều sơ hở, tiêu diệt bọn bình định và đánh phá hậu cứ, thị xã trong vùng chúng kiểm soát.

        Ý đồ của các anh lãnh đạo và chỉ huy Miền là trong thời gian đầu của cuộc hành quân, tìm mọi cách bao vây, chia cắt, tiêu hao tiêu diệt quân địch, cầm chân chúng; vừa đánh vừa chuẩn bị tốt hơn nữa thế trận, vừa củng cố lực lượng để đánh lâu dài với chúng, không cho chúng vô hiệu hoá căn cứ, tiêu diệt chủ lực ta, làm cho địch nản chí, cuối cùng buộc phải rút trong khi quân còn đông, vũ khí phương tiện chiến tranh còn nhiều nhưng vì không chịu nổi các đánh của ta mà phải bỏ cuộc.

        Sau cuộc họp, thể theo nguyện vọng cá nhân, các anh lãnh đạo Miền cho tôi được tạm hoãn thực thi chức trách Phó tham mưu trưởng Miền, về lại Sư đoàn 9 tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ.

        Vừa thấy tôi, anh Lê Văn Tưởng, Chính uỷ thân mật nắm tay tôi nhưng cũng dứt khoát như để lãnh đạo tư tưởng tôi.

        - Vậy là Năm Thạch lại về! – Anh quay ra nói với mọi người như khẳng định – Không tăng cường, không đốc chiến gì hết mà trở về với sư đoàn, thuộc quân số sư đoàn...

        Tôi nắm chặt tay anh, lắc mạnh đáp lại tình cảm gắn bó giữa hai người và chia vui với anh:

        - Báo cáo Chính uỷ! Tôi được lệnh cấp trên điều về đây giữ chức Sư trưởng, xin chính uỷ phân công.

        Các anh trong Bộ tư lệnh Sư đoàn và các cán bộ, chiến sỹ trong cơ quan sư đoàn ùa đến bắt tay, chúc sức khoẻ tôi. Nhiều câu hỏi chờ đợi được dịp bung ra.

        - Nhiệm vụ cụ thể của sư đoàn ở hướng nào?

        - Có thêm lực lượng ngoài Bắc vào không

        - Sư đoàn ta có được bổ sung quân số, vũ khí?

        - Chỉ có Sư đoàn 9 chúng ta – Tôi trả lời.

        Không khí hồ hởi như chùng xuống. Tôi đưa mắt lướt nhanh một lượt. Những người xung quanh như có gì khó hiểu, kèm theo cả thất vọng.

        Vẫn biết thời gian đang rất khẩn trương, cũng không nên để anh em chứa đựng kéo dài cái khó hiểu nơi tâm tư mình. Tôi nói tiếp: Các đồng chí ạ! Trận chiến cũng như cờ tướng. Bên thắng không phải lúc nào cũng nhiều quân, nhiều lúc chỉ một tốt vượt hà là làm nên chuyện. Bên thua không phải hết quân mà là nhiều quân, tượng xe còn cả. Vấn đề là thế trận. Nếu có thế tốt, lực ít hoá nhiều. Ngược lại lực nhiều mà thế bất lợi, lực khó phát huy được sức mạnh.

        Đúng như Bác Hồ đã dạy:

                                  Lạc nước, hai xe đành bỏ phí
                                   Gặp thời một tốt cũng thành công.


        Một cuộc họp Bộ tư lệnh mở rộng được triệu tập để nghe tôi thông báo sơ bộ về chủ trương, kế hoạch chiến đấu bảo vệ căn cứ đã được lãnh đạo Miền thông qua, làm cơ sở để chỉ đạo các đơn vị triển khai công tác chuẩn bị, sẵn sàng thích ứng với tình huống phức tạp và khẩn trương đang diễn ra.

        Sau khi trình bày quyết tâm chung của Miền, tôi nói tiếp nhiệm vụ của Sư đoàn 9 là vừa làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Trung ương Cục, vừa tổ chức chiến đấu tiêu diệt địch. Hai yêu cầu này có quan hệ nhân quả với nhau cần được quán triệt từ nhận thức thông suốt đến các biện pháp thực hiện cụ thể.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:04:05 am

        Không có câu hỏi nào nêu ra trao đổi. Tôi trình bày tiếp về tư tưởng chỉ đạo của lãnh đạo Miền.

        Đúng là lực lượng chủ yếu làm nhiệm vụ đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của Mỹ ở Đông Nam Bộ mà chủ yếu tập trung vào mục tiêu chiến khu Dương Minh Châu chỉ có Sư đoàn 9 chúng ta. Lúc đầu chính tôi cũng phân vân về lực lượng đảm nhiệm quá ít, e có khó khăn. Cũng định nêu vấn đề này với anh Trần Văn Trà. Nhưng chưa kịp đặt ra thì quá trình dự họp được trao đổi cùng các anh lãnh đạo và chỉ huy Miền, vấn đề đã được sáng tỏ, tự mình tiêu luôn cái phân vân một cách êm ả, nhưng (như?)chẳng có nó trong đầu. Chỉ một Sư đoàn 9 được tăng cường Trung đoàn 16 nhưng chúng ta chiến đấu trong thế trận chiến tranh nhân dân, một thế trận vừa huyền thoại vừa hiện thực, có đủ thành phần ba thứ quân.

        - Lấy đâu ra ba thứ quân? – Có ý kiến hỏi.

        Đúng là căn cứ Dương Minh châu hiện chỉ còn 800 dân theo đúng nghĩa đen của nó, nhưng lại sống phân tán. Trước tình hình đó, lãnh đạo Miền đã quyết định tất cả gần 5.000 cán bộ, chiến sỹ, nhân viên thuộc các cơ quan Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền sẽ được trang bị vũ khí, phân chia thành các lực lượng bộ đôi địa phương và du kích cơ quan “huyện”, ‘xã” là những khu vực cơ quan, đơn vị bộ đội đóng trụ sở.

        Với gần 5.000 bộ đội địa phương, du kích cơ quan đều là những cán bộ, nhân viên, chiến sỹ có nhận thức cao về trách nhiệm chiến đấu vì sự nghiệp độc lập, thống nhất Tổ quốc, được thử thách thực sự trong khói lửa chiến đấu, thạo địa hình, lại được trang bị vũ khí, được phân công phân nhiệm rõ ràng, được chuẩn bị sữa trận địa, thiết bị chiến đấu, đó là một lực mạnh và tinh. Tất cả đều được bố trí vừa rộng về diện, vừa hiểm về thế cài răng lược, không cho địch phân tuyến, sẽ đủ sức bám trụ chiến đấu tại chỗ có hiệu quả; đồng thời sẽ phối hợp và hỗ trợ tốt cho Sư đoàn  chúng ta có điều kiện rảnh tay, tập trung lực lượng vào những trận đánh then chốt khi có thời có.

        Tất nhiên còn phải chờ thực tế trả lời. Nhưng ngay từ lúc này, trên bình diện chủ trương và biện pháp tổ chức thực hiện, tôi thấy đây là một sáng tạo của chúng ta trong việc vận dụng quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng vào điều kiện cụ thể của tình hình cũng rất cụ thể. Không thể có cách nào hơn để tạo lực, tạo thế đánh địch trong lúc thật hiểm nghèo này, nếu chúng ta chấp nhận sự đối mặt với chúng...

        Tiếp theo, các anh trong Bộ tư lệnh tham gia ý kiến. Sau đó anh Lê Văn Tưởng, Chính uỷ Sư đoàn kết luận:

        - Về biện pháp thực hiện cụ thể thì phong phú, có thể còn nhiều hiến kế bổ sung, nhưng về tư tưởng chỉ có một yêu cầu tất cả chúng ta đồng tâm nhất trí, xác định đầy đủ tinh thần trách nhiệm, dũng cảm, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, thực hiện thắng lợi quyết tâm chiến đấu của Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ chỉ huy Miền.

        - Trước mắt chúng ta cần hoàn thành tốt chương trình rút kinh nghiệm và tập huấn các yêu cầu về chiến thuật, kỹ thuật chiến đấu cá nhân.

        - Đồng thời chúng ta cần hoàn thành tốt chương trình rút kinh nghiệm và tập huấn các yêu cầu về chiến thuật, kỹ thuật chiến đấu cá nhân.

        - Đồng thời triển khai công tác chuẩn bị chiến đấu. Tổ chức trao đổi và quán triệt nhiệm vụ của sư đoàn trong tiến công đánh bại cuộc phản công, cần làm rõ mối quan hệ vừa làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Trung ương Cục, vừa tổ chức đánh địch bảo vệ căn cứ.

        Mùa mưa vừa chấm dứt, lợi dụng yếu tố bất ngờ về thời tiết ở Nam Bộ đang chuyển sang mùa khô, tướng Oét-mo-len, Tư lệnh quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam nay từ trung tuần tháng 10 năm 1966, đã ráo riết chuẩn bị cho cuộc phản công mùa khô lần thứ hai. Mở đầu Mỹ tổ chức một số cuộc càn quét nhằm củng cố  tuyến phòng thủ xung quanh Sài Gòn, chuẩn bị bàn đạp nhằm đánh đòn bất ngờ vào lực lượng ta ở bắc Tây Ninh.

        Nhưng như trên đã trình bày, chúng ta hoàn toàn chủ động trên mọi bình diện chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và chỉ huy chiến đấu được hình thành từ rất sớm, ngay từ mùa khô lần thứ nhất chưa kết thúc. Sự hiện diện của Sư đoàn  đang còn dở dang nhiệm vụ ở hướng bắc Sài Gòn đã nhanh chóng lật cánh sang hướng tây, tây bắc Sài gòn theo lệnh của Bộ chỉ huy Miền là một minh chứng là chúng ta đã đi trước kẻ địch trong việc tranh thủ yếu tố thời tiết.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:04:28 am

        Ngày 2 tháng 11 năm 1966, khi ta hoàn thành xong bước chuẩn bị, các đơn vị đã vào vị trí tập kết và ngày N của trận đánh mở đầu đang tới gần, thì ngày 3 tháng 11 một bộ phận lực lượng của Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 của Mỹ đổ quân bằng máy bay lên thẳng xuống trảng trống Bầu Gòn, cách Sở chỉ huy Sư đoàn 9 khoảng 500 mét. Cán bộ, chiến sỹ cơ quan sư đoàn bộ, nòng cốt là trung đội vệ binh và trinh sát triển khai chiếm lĩnh ngay bìa trảng, đánh lui đợt tiến công của mũi đi đầu, bắn rơi một máy bay lên thẳng, kèm theo “vài chục lính Mỹ bị thương nặng, mất hẳn liên lạc và cây cối gây trở ngại không ai đến cứu được”.

        Ngay sau đó ít phút, Thường vụ Bộ tư lệnh sự đoàn hội ý nhận định: Mỹ đổ quân xuống khu vực ta đã chuẩn bị, là cơ hội để tiếp cận địch, thực hành tiêu diệt chúng, và thống nhất xử lý.

        - Thông báo ngay tin đánh thắng trận đầu của trung đội bảo vệ, trinh sát sư đoàn đến các đơn vị trong sư đoàn để động viên khí thế.

        - Nhắc các đơn vị giữ vững quyết tâm, không được chủ quan, sẵn sàng đánh địch theo kế hoạch chung.

        - Lệnh bổ sung: Trung đoàn 16 chuyển sang đánh địch bảo vệ căn cứ, cụ thể Tiểu đoàn 9 hành quân gấp về khu vực Bầu Gòn, tăng thêm lực lượng đánh địch đổ bộ đường không; hai Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8 hình thành thế trận đánh địch tiến quân theo đường bộ trên đoạn đường từ Lộc Ninh – Võ Tùng (tỉnh lộ 13 thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh).

        Trên thế chủ động, do phán đoán chính xác diễn biến và kịp thời điều chỉnh lực lượng, phân công nhiệm vụ, trong hai ngày 4 và 5 tháng 11, Lữ đoàn 196 liên tiếp đổ quân xuống Bầu Gòn, lọt vào trận địa bày sẵn của Tiểu đoàn 9, bị tiểu đoàn này đồng loạt tiến công, đánh lui 9 đợt tiến công của địch. “Thiếu tá Me-loi, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 27 bị thương...Trung tá Ba-rốt chỉ huy Tiểu đoàn 2 bị chết khi đi cứu viện. Cả một tiểu đoàn của ông ta bị Việt cộng ( tức Quân giải phóng) loại khỏi vòng chiến đấu. Khi máy bay đáp tới phòng tuyến thì trời tối, đã bật đèn soi bãi đáp nên bị súng cối Việt cộng nã vào. Qua nửa đêm, quân địa phương Suối Cao bị Trung đoàn 272 (tức Trung đoàn 2) Việt cộng tiến công Sở chỉ huy của Lữ đoàn 196 cũng bị nã súng cối...”

        Chiều ngày 5 tháng 11, quân Mỹ rút lực lượng còn lại về hậu cứ để củng cố lực lượng, kết thúc giai đoạn đầu của cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ, có tính chất chuẩn bị chiến trường, chưa có đụng độ lớn. Nhưng Lữ đoàn 196 đã bị thiệt hại đáng kể, buộc Mỹ phải chuyển hướng mở rộng quy mô cuộc hành quân.

        Trên hướng đông nam Sài Gòn, Bộ tư lệnh quân độ Mỹ ra lệnh ngừng các cuộc hành quân càn quét đánh vào Nhơn Trạch (Biên Hoà), Võ Đắc, Tánh Linh (Long Khánh), Nha Mát – Long Nguyên (Thủ Dầu Một), đưa toàn bộ Sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ”, Lữ đoàn bộ bình 196, Lữ dù 173, Trung đoàn thiết giáp số 11 và một số đơn vị thuộc Sư đoàn bộ binh cơ giới 25 “Tia chớp nhiệt đới”, Sư đoàn bộ binh số 4 nâng tổng số quân tham chiến lên tới 30.000 tên, 300 xe tăng thiết giáp, 100 khẩu pháo và nhiều lần chiếc máy bay lên đối phó với ta.

        Đây là cuộc hành quân lớn đầu tiên của Mỹ ở Đông Nam Bộ và cả chiến trường miền Nam nói chung trên một diện rộng từ Trảng Bàng đến Gò Dầu trên đường số 1 và Trại Đèn bên quốc lộ 13 với mục đích cao hơn giai đoạn đầu, không phải chỉ nhằm chuẩn bị chiến trường, mà là thăm dò, tạo bàn đạp tiến sâu vào tung thâm căn cứ, “tìm diệt” cơ quan lãnh đạo đầu não và chủ lực của ta.

        Mặc dầu có khí thế của đánh thắng trận đầu, nhưng chúng tôi vẫn chưa thật yên tâm trước diễn biến mới thật mau lẹ trong giai đoạn hai của cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ đánh vào căn cứ Dương Minh Châu. Quán triệt mệnh chiến đấu bổ sung của Bộ chỉ huy Miền điện xuống, chúng tôi chuyển toàn bộ đội hình sư đoàn sang phối hợp với quân dân căn cứ Dương Minh Châu và du kích cơ quan Khu B, chiến đấu bẻ gãy cuộc hành quân. Một thế trận chiến đấu phối hợp ba thứ quân đã diễn ra liên tục có hiệu quả trên toàn mặt trận. Sư đoàn 9 đã hỗ trợ tạo điều kiện cho các đơn vị du kích cơ quan Trung ương Cục, hậu cần Miền, cơ quan B5, cơ quan thông tin huyện Tà Đạt, Tiểu đoàn 70 bảo vệ mở những trận tiến công nhỏ lẻ, tiêu diệt gần 300 Mỹ, bắn rơi 5 máy bay, bắn cháy 19 xe tăng, thiết giáp. Ngược lại từ những trận tiến công nhỏ lẻ tiêu hao đều khắp của du kích cơ quan kể trên, Sư đoàn 9 có điều kiện bứt ra tổ chức lực lượng bám trụ đánh địch trên đường liên tỉnh 4; cử một bộ phận đánh vào phía sau, phối hợp với quân dân Tây Ninh đánh địch ở vòng ngoài. Trong những ngày đầu chống cuộc hành quân At-tơn-bo-rơ mở rộng, Trung đoàn 1 với tinh thần chủ động, phát huy cách đánh bằng lực lượng nhỏ tổ chức được nhiều trận phục kích, đánh địch càn quét, phá huỷ 8 xe M113... Ngày 18 tháng 11, quân Mỹ buộc phải co lại, điều chỉnh kế hoạch hành quân.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:04:58 am

        Ngay lúc đó Bộ chỉ huy Miền điện xuống cho sư đoàn cần có kế hoạch bám đánh địch trên đường chúng rút. Chúng tôi triển khai thực hiện mệnh lệnh của Bộ chỉ huy Miền không mấy khó khăn, vì ngay từ đầu sư đoàn đã xác định phải bám đường 4 vì địch tiến quân hay lui quân thường phải dựa vào con đường này.

        Liên tiếp trong ba ngày 21, 22 và 25 tháng 11 các Trung đoàn 1, 16 và Trung đoàn 2 tổ chức tiến công Mỹ ở Tà Đạt, Suối Đá, Dầu Tiếng, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, phá huỷ khẩu pháo 105 ly, 5 máy bay lên thẳng.

        Ngày 26 tháng 11, tướng Oét-mo-len buộc phải kết thúc cuộc hành quân, “Bắt đầu chỉ là Lữ 196 nống ra có tính chất thăm dò, chuẩn bị chiến trường, sau đó hút cả Sư đoàn bộ số 1, ba lữ đoàn không vận, kỵ binh thiết giáp khác với yêu cầu cao hơn đánh thẳng vào căn cứ Dương Minh Châu nhưng đã thất bại. Vào những ngày kết thúc hành quân, MACV buộc phải kết luận, Lữ đoàn 196 đã sứt mẻ nặng, buộc tướng một sao Đờ-xớt-xuya chuyển sang lực lượng pháo binh dã chiến, giao cho tướng một sao Nâu chỉ huy lữ đoàn này. Lục quân Mỹ phải đẩy thêm nhiều quân Mỹ vào Việt Nam, cho thấy dấu hiệu ở chiến trường ngày thêm căng thẳng”

        Rút kinh nghiệm đánh bại cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ, Bộ chỉ huy Miền khẳng định mạnh mẽ hơn nữa phương châm chỉ đạo bám trụ đánh địch tại chỗ là hoàn toàn có cơ sở và họ quyết tâm: động viên mọi lực lượng cơ quan, đơn vị trong căn cứ bám trụ chiến đấu tại chỗ, phối hợp với một bộ phận chủ lực mở chiến dịch phản công kiên quyết đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn của địch, bảo vệ căn cứ, bẻ gãy gọng kìm “tìm diệt” để hỗ trợ phá vỡ gọng kìm “bình định”, tạo điều kiện giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định trong năm 1967.

        Sư đoàn 9 sau đợt chiến đấu góp phần đánh bại cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ của Mỹ, được bổ sung quân số, vũ khí từ miền Bắc vào theo đường Trường Sơn. Toàn sư đoàn được đổi mới trang bị, bằng hệ vũ khí CKC, AK, B40... được tăng cường một tiểu đoàn súng cối 120 mang vác, một tiểu đoàn súng trọng liên 12,7 ly (Quân số tăng: mỗi tiểu đoàn có từ 350 – 400 quân, mỗi trung đoàn có từ 1.800 – 2.000 quân, toàn sư đoàn có 9.368 quân) và triển khai thế trận mới: Trung đoàn 1 đứng chân tây đường 22, Trung đoàn 2 đứng chân tại Chà Dơ, Trung đoàn 16 ở Suối Dây, Trung đoàn 3 sang Phước Sang đường 13.

        Tuy nhiên Mỹ vẫn chưa từ bỏ ý định mở các cuộc hành quân thăm dò, nghi binh thu hút làm lạc hướng phán đoán của ta, nhằm đảm bảo chắc ăn cho một cuộc triển khai lực lượng lớn đánh vào Chiến khu C. Đó là cuộc hành quân tiếp theo mang mật danh Xê-đa-phôn tiến hành từ ngày 8 tháng 1 đến 26 tháng 1 năm 1967 với lực lượng cỡ quân đoàn (lực lượng địch huy động: Sư đoàn 1, Sư đoàn 25, Lữ đoàn 196, Lữ đoàn dù 173, Trung đoàn kỵ binh thiết giáp số 11 và một số đơn vị quân ngụy Sài Gòn) đánh vào vùng tam giác sắt (Là khu vực An Điềm – An Tây, sau này Mỹ khoanh thành một vùng gọi là “tam giác sắt” rộng chừng 170 ki-lô-mét vuông. Trên bản đồ đó là một hình tam giác mà các đỉnh của nó là thị trấn Bến Súc, thị trấn Bến Cát và giao điểm của sông Sài Gòn với sông Thị Tính. Trong nhiều tài liệu “Tam giác sắt” thường được hiểu bao gồm phần đất Trảng Bàng, Củ Chi, Bến Cát - Dầu Tiếng. Gọi là “tam giác sắt” vì nơi đây đã xảy ra nhiều cuộc đụng độ, địch đổ xuống đây hàng chục ngàn tấn bom đạn nhưng vẫn không đè bẹp được ý chí gang thép của quân và dân ta, không xoá được một vùng vững vàng là căn cứ cách mạng) với mục đích củng cố và nới rộng vành đai an ninh phía bắc Sài Gòn, diệt, đẩy chủ lực ta ra xa, “tìm diệt” cơ quan lãnh đạo kháng chiến của thành phố Sài Gòn – Gia Định, chuẩn bị bàn đạp đánh vào căn cứ Dương Minh Châu.

        Cũng cần nói thêm, bản thân cuộc hành quân cấp quân đoàn này đã không có sự nhất trí của những người cầm đầu quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam lúc đó. Trước hết, Bộ tư lệnh dã chiến Mỹ đóng ở Biên Hoà không chấp nhận mở cuộc hành quân, để tập trung lực lượng xâm nhập vào chiến khu Dương Minh Châu. Nhưng tướng Oét-mo-len là Tư lệnh chỉ huy chung có tham vọng lớn hơn, muốn cùng một khoảng thời gian mở cuộc hành quân Xê-đa-phôn nhằm bứng “Việt cộng” ra khỏi nơi đây với kế hoạch dùng Sư đoàn 25 và Lữ đoàn 196 ngược sông Sài Gòn làm cái đe. Sau đó dùng Sư đoàn 1, Lữ đoàn 173 và Trung đoàn 11 thiết giáp từ phía đông đánh thẳng vào khu “tam giác sắt”, cắt nó ra làm đôi rồi đặt đối phương lên đe mà nện. Như vậy, sẽ có một bàn đạp đánh vào Dương Minh Châu. Nhưng ta, bằng phương thức phối hợp tiến công rộng khắp của lực lượng vũ trang địa phương với tác chiến của một bộ phận đơn vị chủ lực đánh vào các mục tiêu chủ yếu, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, buộc tướng Oét-mo-len phải kết thúc cuộc hành quân, sau khi chỉ dồn được 15.000 dân về thị xã Thủ Dầu Một.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:05:36 am

        Đặc biệt từ ngày 2 tháng  đến 21 tháng 2 năm 1967 (trước cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty 20 ngày) địch liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét cấp sư đoàn. Không kể cuộc hành quân Bíp-sprinh của Sư đoàn 1 và Lữ đoàn 173 ngày 1 tháng 2 đến 16 tháng 2 vào khu vực Sình Bà Đá thuộc Chiến khu Đ, riêng ở khu vực Dương Minh Châu đã có hai cuộc hành quân nhằm tiêu hao lực lượng ta, tạo thế cho các bước hoạt động quân sự sau đó.

        Đó là cuộc hành quân Gat-xđen từ ngày 2 tháng 2 đến ngày 21 tháng 2 của Sư đoàn 25 đánh vào tây đường 22 đến sát biên giới Cam-pu-chia, chốt lại các điểm Lò Gò, Cần Đăng, Tà Xia; cuộc hành quân Túc Sơn từ ngày 14 tháng 2 đến ngày 18 tháng 2 do Lữ đoàn 1, Sư đoàn 1, một bộ phận Lữ đoàn 3, Sư đoàn 4 thực hiện đánh vào Ván Tám, Thị Tính – đông sông Sài Gòn thuộc khu vực Long Nguyên, nhằm tạo địa bàn cho lực lượng hành quân từ quốc lộ 13 đánh vào khu vực căn cứ.

        Ngay sau khi cuộc hành quân Xê-đa-phôn kết thúc, lãnh đạo và chỉ huy Miền nhận định: Địch sẽ dốc toàn lực mở cuộc tiến công lớn đánh sau vào căn cứ của ta, nhằm diệt cơ quan đầu não và lực lượng chủ lực của ta, cố giành thắng lợi có tính quyết định. Các anh cần có chủ trương động viên mọi lực lượng cơ quan, đơn vị có mặt trong chiến khu bám trụ, chiến đấu phối hợp với bộ đội chủ lực kiên quyết phản công và tiến công, quyết đánh bại cuộc hành quân đầy tham vọng của địch, giữ vững căn cứ. Đến đây, công tác chuẩn bị có được định hướng rõ ràng, đã triển khai với nhịp độ tích cực, khẩn trương hơn.

        Cùng với các lực lượng dân, chính, đảng, Sư đoàn 9 đã hoàn thành mọi mặt công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ không chỉ bằng mồ hôi, công sức mà cả bằng máu xương đổ xuống qua đụng độ với kẻ thù trong cuộc hành quân chuẩn bị nhằm nghi binh, thăm dò, tạo thế của địch (Trận thắng Bầu Gòn ngày 4 và 5 tháng 11 năm 1966, quân Mỹ loại khỏi vòng chiến đấu 600 tên, Sư đoàn 9 có 21 cán bộ, chiến sỹ hy sinh, 46 đồng chí bị thương). Nhưng lúc này đây sau khi nghe ý kiến nhắc nhở động viên của cấp trên qua điện thoại - Quyết đánh và quyết thắng cuộc hành quân lớn của địch, giữ vững căn cứ kháng chiến sao mà thiêng liêng đến thế!

        Mảnh đất mà chúng tôi đang đứng, có nhiệm vụ xả thân để bảo vệ là mảnh đất mang cái tên thân thương trìu mến vô cùng! – Căn cứ Khu B (địch gọi là Chiến khu C) thuộc địa phận bắc huyện Dương Minh Châu (sau này tách ra lập huyện Tân Biên) tỉnh Tây Ninh, nằm giữa hai sông Vàm Cỏ ở phía tây và sông Sài Gòn ở phía đông. Trong kháng chiến chín năm, nơi đây là một trong những căn cứ địa của miền Đông và là chỗ đứng chân của Xứ uỷ Nam Bộ, của Phân khu uỷ và Bộ tư lệnh miền Đông cho đến ngày lực lượng vũ trang ta tập kết ra Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Trong kháng chiến chống Mỹ, từ năm 1958 Xứ uỷ Nam Bộ đã có chủ trương xây dựng nơi đây thành căn cứ tây bắc làm chỗ dựa cho Xứ uỷ và là nơi thành lập lực lượng vũ trang đầu tiên của miền Đông. Ở đây cũng đã diễn ra các trận Minh Thạnh (10-1958), Tua Hai (1-1960), mở đầu cho phong trào đồng khởi của Đông Nam Bộ. Sau đồng khởi, Khu B trở thành căn cứ chủ yếu của Xứ uỷ nam Bộ, sau đó là Trung ương Cục, Uỷ ban Trung ương Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam, Bộ chỉ huy quân sự Miền, đài phát thanh giải phóng...

        Trong giai đoạn “chiến tranh đặc biệt”, quân đội ngụy Sài Gòn đã mở nhiều cuộc hành quân đánh vào căn cứ, nhưng cũng chỉ đến vùng ven. Từ năm 1965, khi quân Mỹ nhảy vào trực tiếp tham chiến, trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất, trên hướng bắc, tây bắc địch đã mở liên tiếp 13 cuộc hành quân cấp lữ đoàn, sư đoàn tăng cường, cũng chỉ đánh vào các khu căn cứ lõm của ta nhằm đẩy chủ lực ta ra xa vành đai bảo vệ thành phố Sài Gòn và các đô thị vùng ven.

        Giờ đây căn cứ Khu B nổi lên như một khu căn cứ đầu não lãnh đạo cách mạng toàn Miền, được coi như là vùng bất khả xâm phạm, đã được tướng bốn sao Oét-mo-len, Tư lệnh quân đội viễn chính Mỹ ở miền Nam Việt Nam đưa vào mục tiêu chủ yếu phải đánh phá của cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai trong khuôn khổ của chiến lược “tìm diệt”.

        Hầu như mỗi chúng tôi, những cán bộ chỉ huy quân sự và các đồng chí lãnh đạo chủ chốt các tỉnh, thành phố thuộc chiến trường B2 đều ít nhất có một lần đặt chân lên mảnh đất có diện tích khoảng 1.500 ki-lô-mét vuông này. Ấy là những ngày báo cáo, nhận chỉ thị của Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ chỉ huy Miền về tổ chức các hoạt động quân sự, về các chủ trương xây dựng cơ sở, phát động quân chúng đấu tranh thực hiện phương châm hai chân, ba mũi (Hai chân là đấu tranh chính trị, quân sự song song; ba mũi giáp công là tiến công quân sự, chính trị, binh vận) đánh bại âm mưu xâm lược của kẻ thù, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc... Những ngày như thế chúng tôi cảm thấy như mình được sống trên mảnh đất của chính mình, mảnh đất có chủ quyền, được hít thở không khí tự do, được sưởi ấm tình cảm đồng đội, đồng chí, được hàn huyên, tâm sự, được tĩnh tâm và thư giãn.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:06:07 am

        Quá khứ sáng chói, tự hào, lại giữ vị trí then chốt trong hiện tại, mảnh đất đang thực sự là nguồn, là gốc của một điểm tựa, một thế trận vững chắc về chính trị, tinh thần và cả vật chất; nó là nơi để ta tạo lực, tạo thế, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn cho cuộc chiến đấu.

        Rõ ràng để kẻ thù đánh phá, vô hiệu hoá mảnh “đất thánh” này là một xúc phạm không thể chấp nhận!

        Tuy biểu hiện có khác nhau, nhưng các cán bộ chỉ huy sư đoàn chúng tôi đều có một suy nghĩ, một tâm tư chung như vậy trước khi vào trận.

        Trong tháng 1 năm 1967, sau khi được bổ sung quân số, vũ khí, tiến hành học tập Nghị quyết Bộ Chính trị, Nghị quyết 4, Trung ương Cục củng cố quyết tâm chiến đấu, rút kinh nghiệm đánh bại cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ, phân công cán bộ sư đoàn, trung đoàn đi nghiên cứu thực địa, chuẩn bị phương án chiến đấu trên các điểm chọn sẵn theo quyết tâm chiến dịch của Bộ tư lệnh Miền. Thực hiện hướng dẫn bổ sung của cơ quan tác chiến cấp trên, hình thành thế đánh của bộ đội chủ lực, chúng tôi điều chỉnh cho các đơn vị vào các trọng điểm dự kiến địch sẽ đổ quân cụm lại hoặc hành quân qua.

        Trung đoàn 1 đang tham gia chống cuộc hành quân Gát-xđen ở tây đường 12 chuyển về đứng chân tại khu vực đường 4 phối hợp với du kích cơ quan, bộ đội địa phương đánh nhỏ lẻ ở tây đường 4 phối hợp với Trung đoàn 2, Trung đoàn 16 đánh một số trận tập kích tiêu diệt các cụm quân địch dọc đường 4 trên các khu vực Bàu Cỏ, Đồng Pan, Bổ Túc. Sau về làm lực lượng dự bị sư đoàn, đứng ở bắc Bổ Túc.

        Trung đoàn 2 đứng chân ở khu vực Chà Dơ, phối hợp với du kích cơ quan, bộ đội địa phương đánh nhỏ lẻ trên các khu vực Võ Tùng, Bà Chiêm, Chà Dơ; sẵn sàng phối hợp với Trung đoàn 16 đánh các trận tập kích tiêu diệt các cụm địch ở Chà Dơ, Đồng Rùm trên lộ Kiểm – Chà Dơ - Bổ Túc, trên đường Đá Đỏ - Bổ Túc – Sóc Con Trăng.

        Trung đoàn 16 về đứng chân đông đường 4, khu vực Suối Mây, bến Ông Ngọt phối hợp với du kích cơ quan, bộ đội địa phương đánh nhỏ lẻ trên khu vực đông đường 4, sẵn sàng phối hợp với Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 đánh các trận tiêu diệt địch trên đường 4, lộ Kiểm, Chà Dơ đi Bổ Túc.

        Trung đoàn 3 lật cánh sang Phước San – An Tịnh (đông quốc lộ 13) thực hiện nghi binh, kéo dãn đội hình địch, đồng thời tổ chức đánh địch trên đoạn nam, bắc Chơn Thành, sẵn sàng thọc xuống hoạt động sau lưng địch ở khu vực Bàu Bàng, Bến Cát.

        Ở đây cũng cần nói thêm, trong quá trình họp bàn kế hoạch tác chiến, có hai loại ý kiến nêu lên: tình hình thay đổi, không như Bàu Bàng trước đây, lần này địch tập trung ưu thế tuyệt đối cả binh lực và hoả lực, ra quân ồ ạt, ta chỉ có thể phân tán đánh nhỏ; ý kiến khác cho rằng không nên cứng nhắc mà phải có nhiều cách đánh, nhỏ, vừa và lớn.

        Đây là một tồn tại thuộc tư tưởng, chứ không đơn thuần là nhận thức, cần được giải quyết thông suốt trước khi bước vào chiến đấu. Nhưng giải quyết nó lại không đơn giản, nếu chỉ đơn thuần áp đặt hoặc phê phán một cách võ đoán. Bởi loại ý kiến thứ nhất xuất phát từ thực tế, vì trước đó Trung đoàn 2 đã chạm trán với Lữ 196 trong cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ bị địch chống trả quyết liệt bằng phi pháo, gây thương vong cho ta, một số ít nảy sinh bi quan, dao động.

        Sau khi thống nhất trong Bộ tư lệnh sư đoàn, tôi trao đổi lại với các đồng chí chỉ huy trung đoàn và các đơn vị trực thuộc, làm cơ sở tiến hành giải thích cho mọi người thông suốt. Nguyên nhân gây thương vong phụ thuộc vào nhiều yếu tố, không phải chỉ do kẻ địch có nhiều phi pháo, không phải do tập trung đánh lớn... Trong thực tế chiến đấu không phải phân tán đánh nhỏ là ít thương vong hoặc không có thương vong. Ngược lại không phải bao giờ cũng tập trung đánh lớn cũng đồng nghĩa với thương vong nhiều. Vấn đề ở nghệ thuật chỉ huy, ở trình độ chiến thuật và kỹ thuật chiến đấu cá nhân của mỗi người có thuần thục hay không. Chính vì chúng ta kịp thời rút kinh nghiệm sau chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng, sau đợt hoạt động mùa mưa 1966 đánh địch trên quốc lộ 13; chínH vì chúng ta đánh giá địch đúng trong cuộc hành quân này, nên Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ tư lệnh Miền đã đề ra trong bước mở đầu của đợt hoạt động sẽ đánh nhỏ, đánh vừa với quy mô tiểu đoàn, trung đoàn là chính, chỉ đánh lớn khi chắc thắng...


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:08:03 am

        Về cuộc hành quân Gian-xơ Xi-ty.

        Đây là cuộc hành quân trên bộ lớn nhất trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ cả về quy mô lực lượng lẫn mục tiêu nêu ra.

        Như bạn đọc đã biết, bộ tư lệnh quân đội viễn chinh Mỹ ở Nam Việt Nam cho rằng sở dĩ họ thất bại trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất là do diện phản công rộng, hướng tiến công nhiều (Cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (1965 – 1966) của Mỹ với kế hoạch ra quân ồ ạt, đánh cùng một thời gian trên hai chiến trường Khu 5 và Đông Nam Bộ với 5 hướng (còn gọi là 5 mũi tên):

        + Tây bắc Sài Gòn gồm Củ Chi, Bến Cát, Chiến khu Đ.

        + Đông Sài Gòn gồm từ sông Đồng Nai đến Bà Rịa.

        + Nam tỉnh Phú Yên (Tuy Hoà).

        + Bắc Bình Định.

        + Nam Quảng Ngãi.), dẫn tới lực lượng phân tán, nên cuộc phản công mùa khô lần thứ hai này chúng tập trung ưu thế binh hoả lực vào một chiến trường trọng điểm là Đông Nam Bộ, vào một mục tiêu chủ yếu là chiến khu Dương Minh Châu.

        Để giành thắng lợi chắc chắn, ngoài 5 cuộc hành quân thăm dò, nghi binh tạo thế ( Năm cuộc hành quân, nghi binh, tạo thế:

        + Cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ từ 3/11 – 26/11/1966 vào khu vực Bầu Gòn – Chà Dơ.

        + Cuộc hành quân Xê-đa-phôn từ 18/1 – 1/1967 vào vùng “tam giác sắt” Bến Súc - Củ Chi - Bến Cát ( phần này do lỗi của sách, nếu đúng thì cuộc hành quân này từ ngày 8/1 đến 26/1/1967).

        + Cuộc hành quân Bip-spring từ 01/2 – 16/2/1967 vào khu vực Sình Bà Đá.

        + Cuộc hành quân Túc Sơn từ 14/2 – 18/2/1967 vào khu vực Ván Tám, Thị Tính, Long Nguyên.

        + Cuộc hành quân Gát-xđen từ 02/2 – 21/2 vào tây đường 22.), địch còn có cả một kế hoạch chuẩn bị với nhiều nội dung rất công phu.

        Từ ngày 25 tháng 9 năm 1966 đến 20 tháng 2 năm 1967, địch tiến hành một chiến dịch khai quang dồn dập với trên 60 phu vụ máy bay C47, C123 thả chất độc hoá học dọc theo đường biên giới từ Cà Tum đến Tà Nôi. Chú trọng các trục giao thông và những nơi có cơ quan, nơi đóng quân của đối phương; tiến hành mở rộng sân bay Trảng Lớn, Suối Đá, Dầu Tiếng, Minh Thạnh, Quản Lợi, sửa gấp các đường 19, 22, 26, xây dựng các kho tàng dự trữ ở Trảng Lớn, Dầu Tiếng, Hớn Quản, tăng cường công sự cho các khu dự kiến triển khai chỉ huy sở hành quân.

        Cũng từ tháng 12 năm 1966, địch vận chuyển 3.000 chuyến đưa 10.000 tấn hàng các loại gồm xi-măng, bao cát, kẽm gai, gỗ đá, ống cống, cốt sắt, máy phát điện, tủ ướp lạnh, xe ủi đất, cầu dã chiến... từ Sài Gòn lên Tây Ninh. Ngoài ra mỗi ngày địch còn dùng từ 10 – 15 lần/chiếc máy bay C123, C130 chuyển hàng từ hậu cứ Biên Hoà lên Dầu Tiếng, Trảng Lớn, Suối Đá, Minh Thạnh, Quản Lợi.

        Từ 1 tháng 2 đến 21 tháng 2 địch dùng trên 30 phi vụ L19, RB57, C47 bay quan sát, chụp ảnh địa hình, thả máy thu tiếng động, dò hướng VTĐ theo các tuyến đường sông, ven biên giới, trong khu vực căn cứ; tung thám báo, biệt kích vào khu căn cứ để nghe trộm điện thoại, phát hiện mục tiêu, điều tra theo dõi dấu vết ta dọc theo các lộ Kiểm, lộ Ửi.

        Càng gần đến ngày N, địch tăng cường chuẩn bị hoả lực sát thương ta trước khi bộ binh nhảy vào. Từ ngày 1 tháng 2 đến ngày 21 tháng 2 (một ngày trước khi mở cuộc tiến công) địch dùng 16 phi vụ B52 (45-50 lần/chiếc) và 30 phi vụ phản lực (90 lần/chiếc) oanh tạc các mục tiêu Bàu Cỏ, Trảng Chiến, Chà Dơ, Đất Đỏ, Sóc Mới, suối Nước Đục; dùng 60 phi vụ C123, C47 rải chất độc hoá học xuống các khu rừng còn sót trên sông Sài Gòn, Tha La, thảm bom cháy đốt các trảng trống dự định đổ quân đóng chốt.

        Đêm 21 tháng 2 năm 1967, máy bay B52 oanh tạc 9 lần, mỗi lần từ 3 – 9 lần/chiếc ném bom rải thảm xuống khu vực Dương Minh Châu. Xen kẽ giữa các đợt hoạt động của máy bay B52 và cả ngày 22 là 234 lần xuất kích của máy bay cường kích chiến thuật.

        Có thể nói trong suốt thời gian chuẩn bị, chờ đợi, tuy chưa trực tiếp đối mặt với quân thù, nhưng âm vang của chiến tranh làm rung chuyển mặt đất nơi chúng tôi đứng, khói bụi của chiến tranh bay khắp không gian, nhiều lúc không sao chợp mắt vì những tiến nổ chát chúa rất gần dội vào tai, vào óc, nghe nhức nhối khó chịu.

        Sau nhiều tháng hối hả chuẩn bị, bộ chỉ huy quân đội viễn chinh Mỹ đã tung vào cuộc phản công chủ yếu này 45.000 quân, gồm 26 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn tăng - thiết giáp (2.300 xe), 17 tiểu đoàn pháo binh (250 khẩu) (Số đầu đơn vị tham gia cuộc hành quân: hai Sư đoàn bộ binh số 1 “anh cả đỏ”, Sư đoàn bộ binh cơ giới số 25 “tia chớp nhiệt đới”, bốn lữ đoàn: Lữ đoàn không vận 173, Lữ bộ binh nhẹ , 15 phi đoàn máy bay 96, Lữ 3 Sư đoàn bộ binh số 4, Lữ 1 Sư đoàn bộ binh số 9, Trung đoàn kỵ binh thiết giáp số 11) phản lực, máy bay vận tải, hàng trăm lần/chiếc máy bay chiến lược B52. Quân ngụy tham gia cuộc hành quân này có một chiến đoàn thuỷ quân lục chiến (2 tiểu đoàn), một tiểu đoàn biệt động quân va 12 đại đội biệt kích.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:08:41 am

        Bằng lực lượng gần gấp hai lần cuộc hành quân Xê-đa-phôn, địch mở cuộc hành quân quy mô lớn với thủ đoạn bao vây kết hợp dùng lực lượng đột kích mạnh thọc sâu chia cắt; dùng đổ bộ đường không thẳng đứng, nhảy dù, bất ngờ tạo thế bao vây chặt bằng một “vành móng ngựa khổng lồ” (chữ U lộn ngược) khoá chặt biên giới Cam-pu-chia và hai bên sườn; đồng thời dùng lực lượng hỗn hợp bộ binh và cơ giới làm mũi tên tiến công chủ yếu thọc vào trung tâm căn cứ nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và lực lượng chủ lực của ta.

        Trung tuần tháng 2, các Sư đoàn bộ binh số 1, Bộ binh cơ giới số 25 đã chuyển vào vị trí hai phía đông và tây dọc biên giới Cam-pu-chia.

        Ngày 22 tháng 2 năm 1967 khi cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty chính thức bắt đầu thì cả vùng phía bắc đã bị địch đóng chốt vít chặt.

        Cuộc hành quân do tướng ba sao Xi-mân, Tư lệnh lực lượng dã chiến II của Mỹ đóng nhiệm sở ở Biên Hoà chỉ huy dự định tiếp theo ngay sau cuộc hành quân Xe-đa-phôn, đã bị chậm lại một tháng để có thời gian sửa chữ sai lầm của các cuộc hành quân trước đó.

        Về diễn biến chung nhiều tài liệu đã phản ánh đầy đủ ở đây xin kể thêm một số chi tiết quan sách báo địch mà chúng tôi thu thập sau này càng nổi rõ thủ đoạn lắt léo và phức tạp mà địch đã thực thi.

        Ngày N (tức ngày 22 tháng 2), mở đầu cuộc hành quân đã diễn ra một trong những cuộc cất cánh trực thăng đông đảo nhất (trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Nam Việt Nam), đổ 9 tiểu đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn bộ binh số 1, Lữ 196, 173 xuống Sóc Mới, Rùm Đuôn, Ang Khắc. Một tiểu đoàn còn lại của Lữ đoàn 173 gồm 845 quân do 16 máy bay C130 từ Biên Hoà chở đến nhảy dù xuống Cà Tam để hoàn thành cánh quân phía bắc của chiếc móng ngựa và do Lữ 1 của Sư đoàn 25 từ đường 22 đánh sang hướng đông bắc.

        Ngày N+1 (tức ngày 23/2), Lữ 2 của Sư đoàn 25 cùng với Trung đoàn kỵ binh thiết giáp số 11 (thiếu một tiểu đoàn) từ phía năm theo đường 4 đánh lên đóng chốt ở Bàu Cỏ, Đồng Pan, Sóc Kỳ nối liền với Cà Tum, lấy huyện Tà Đạt làm hợp điểm hiệp đồng bao vây bốn mặt toàn bộ khu vực căn cứ.

        Như vậy là bằng phương tiện cơ động nhiều và hiện đại cao, ngay ngày đầu của cuộc hành quân, tướng Oét-mo-len đã đưa toàn bộ đội hình chiến dịch cùng hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, pháo cối vào các mục tiêu tiến công, bao vây, án ngữ toàn bộ khu căn cứ trên các hướng, bằng nhiều lớp bộ binh và hoả lực...

        Đúng là nếu nhìn trên bản đồ hình thái chiến dịch, ta thấy thế trận hành quân của địch vừa kín lại vừa hiểm, tưởng chừng đối phương khó có thể lọt qua vòng phong toả bằng bộ binh, xe tăng, thiết giáp và hệ thống hoả lực ken dày của địch.

        Nhân đây tôi xin được kể một chi tiết ngoài lề:

        Tháng 7 năm 1967, tôi được phép của Bộ tư lệnh Miền đi trong đoàn anh Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Trung ương Cục ra Hà Nội nhận kế hoạch tiến công nổi dậy Xuân 1968.

        Được tin này bạn bè chiến đấu cũ đến thăm, hỏi đủ mọi chuyện đi đường, chuyện cảnh vật, nhân tình ở trong đó và rôm rả nhất vẫn là chuyện chiến đấu, chuyện về cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty. Chả là trong số bạn bè, có một số muốn hỏi sâu những kinh nghiệm vì các anh đã nhận lệnh chuẩn bị đi B.

        Mặc dầu người vẫn đang mệt, nhưng đụng đến một vấn đề tâm đắc còn nóng hổi, tôi say sưa kể lại những điều mình chứng kiến quá trình đối mặt với kẻ thù trong một tình thế cực kỳ hiểm nghèo. Không khí buổi gặp mặt thân mật mà trầm lắng, tất cả đều chăm chú dõi theo tôi kể, với gương mặt rạng rỡ như để chia vui với người trong cuộc.

        Bỗng có một anh bạn cắt ngang, chậm rãi xen vào một ý kiến thật lòng:

        - Theo dõi những ngày đầu của cuộc hành quân, mình nghĩ chỉ cần quân ta ra khỏi vòng vây của địch một cách an toàn đã là thắng lợi rồi.

        - Thoát đấy chứ! – Ra đến tận Hà Nội – Tôi nói vui.

        - Ra hẳn chứ - Bạn hỏi tiếp.

        - Ra nhận nhiệm vụ mới, để lại vào – Tôi trả lời...


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:09:14 am

        Xin được trở lại câu chuyện đang kể.

        Như trên đã trình bày, chúng ta đánh địch không bằng kiểu dàn trận, phân tuyến, mà bằng thế trận chiến tranh nhân dân với ba thứ quân rất đặc biệt, nếu không nói là độc đáo. Khi 45.000 quân địch với hàng ngàn xe, pháo hình thành vòng vây tiến vào căn cứ, có các mũi đổ bộ bất ngờ bằng máy bay lên thẳng, thọc sâu bằng bộ binh kết hợp với xe tăng, xe bọc thép vu hồi vào phía sau, đánh qua các khu vực, đến tận toạ độ đặt cơ quan Trung ương Cục mà các phương tiện trinh sát của chúng đã ghi sẵn.

        Nhưng trước mắt quân Mỹ chỉ là những căn lán nhỏ không người, quanh đó là hầm hào và những bãi mìn, là những đơn vị du kích cơ quan bí mật ém sẵn, nếu quân Mỹ vượt quá giới hạn cho phép là nhận lĩnh nguy hiểm.

        Ngay từ phút đầu đặt chân đến các mục tiêu được giao, quân Mỹ vốn chủ quan ngạo mạn đã hoang mang sợ hãi, bởi đâu cũng có trận địa của đối phương đánh chặn.

        Quân ta tác chiến không theo đội hình sư đoàn mà thực hiện chủ động, linh hoạt chiến đấu theo đơn vị tiểu đoàn, trung đoàn trên các hướng được phân công.

        Thực hiện nguyên tắc này, ngày 23 tháng 2, khi Lữ đoàn 2 Sư đoàn 25 và Trung đoàn kỵ binh thiết giáp số 11 tiến lên phía bắc thực hiện hợp vây, thì Trung đoàn 16 luồn xuống phía nam tiến vào đội hình quân địch đang di chuyển. Trung đội đi đầu bị cắt đứt, Đại đội 13 thuộc Trung đoàn 1, Trung đoàn 16 địch đã lọt vào trận phục sẵn của ta, hàng chục lính Mỹ chết. Vào khoảng nửa đêm, sau 54 đợt ném bom yểm trợ chúng mới cứu thoát số tàn quân rút về phía sau. Ngay đêm đó, trung đoàn còn tổ chức pháo kích căn cứ hậu cần của địch ở Suối Đá gây nhiều thiệt hại.

        Trong khi du kích Cà Tum nổ súng bắn rơi 12 máy bay lên thẳng; du kích cơ quan Trung ương Cục ở Rùm Đuôn, Ang Khắc, bộ đội địa phương Tà Đạt chiến đấu bắn rơi thêm 9 máy bay lên thẳng, thì chúng tôi lệnh cho các đơn vị thực hiện đánh nhỏ hai bên sườn và sau lưng đội hình hành quân của chúng: ngày 6 tháng 2, Trung đoàn 2 vận động tập kích Mỹ ở Trảng A Lầu, một bộ phận khác phối hợp với du kích cơ quan đánh địch ở Tà Xia, ngày và đêm 28 tháng 2, Trung đoàn 16 triển khai phục kích địch ở đông nam Giếng Thí, tập kích cụm cơ giới Mỹ ở gần cầu suối Ông Hùng, bắn rơi ba máy bay lên thẳng. Các phân đội pháo của sư đoàn, trung đoàn liên tục pháo kích chỉ huy sở quân địch ở Dầu Tiếng, căn cứ hậu cần địch ở Suối Đá...

        Hành quân và chiến đấu trong điều kiện thời tiết nóng nực, ban ngày bị chặn đánh, ban đêm bị du kích cơ quan quấy rối, sức khỏe và tinh thần chiến đấu của lính Mỹ giảm sút rõ rệt, số quân ốm đau lên tới 16%. Từ ngày 1 đến ngày 13 tháng 3, địch buộc phải co lực lượng về giữ chốt và bảo vệ hành lang tiếp viện theo các trục đường 22, đường 4, tìm cách đánh mới.

        Sở chỉ huy sư đoàn liên tục nhận được điện của các đơn vị gọi về, đều có chung một nhận xét: tình hình bớt căng, cường độ nống lấn của địch có giảm, không rõ vì nguyên nhân gì?

        Tôi điện trả lời: Trước hết sư đoàn biểu dương ý thức báo cáo thỉnh thị kịp thời của các đơn vị. Đúng là địch có triệu chứng co lại, là do ta tích cực chống trả. Các đơn vị cần tổ chức theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến, tuyệt đối không được chủ quan, khẩn trương xốc lại đội hình, sẵn sàng đánh trả, có khả năng địch thay đổi thủ đoạn hành quân.

        Cùng lúc sư đoàn cũng nhận được điện của Bộ Tư lệnh Miền: Địch tiến vào khu căn cứ rộng mà không nắm được mục tiêu đánh chiếm cụ thể, lại bị ta liên tiếp đánh đòn phủ đầu, chúng bắt đầu dao động.

        Từ nhận định trên, Bộ tư lệnh Miền quyết định cần tập trung chủ lực đánh những đòn tiêu diệt lớn, đánh mạnh vào tinh thần quân Mỹ, làm thất bại cuôc hành quân của chúng.

        Quyết định trên có tính định hướng, chúng tôi coi đây là mệnh lệnh phải chấp hành. Trên giao quyền cho dưới chủ động sáng tạo trong biện pháp, miễn sao tiêu diệt được sinh lực địch. Dễ mà khó, vì yêu cầu của thế trận chung lúc này chưa cho phép tập trung lực lượng bằng cách kéo các đơn vị về tổ chức chiến đấu theo đội hình sư đoàn, vì các trung đoàn vẫn phải đứng chân ở địa bàn quy định, tác chiến phối hợp theo thế ba thứ quân.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:10:00 am

        Trong khi đó, từ ngày 1 đến 5 tháng 3, lợi dụng địch co cụm, du kích cơ quan các “xã”, bộ đội địa phương các “huyện” được dịp bung ra tiến công vào các cụm quân địch ở Bàu Bàng, Ang Khắc, Lùng Tùng, Cà Tum, ... đánh địch vận chuyển trên các đường giao thông, phá huỷ, đánh hỏng 85 xe tăng, xe bọc thép. Tin vui mà chúng tôi đứng ngồi không yên, vì lo sao phải kịp thời phối hợp chiến đấu, chậm là lỡ thời cơ.

        Suy nghĩ và trao đổi, nhưng không được kéo dài, vì diễn biến tình hình đang rất mau lẹ. Chúng tôi quyết định đưa toàn bộ lực lượng Trung đoàn 2 vận động tập kích diệt cụm quân Mỹ ở Đồng Pan, ngày N tiến công là ngày 10 tháng 3, vì trước đó trung đoàn này tuy có đụng độ với địch một vài trận nhưng thường nhỏ, lẻ, lực lượng cỡ tiểu đoàn, đang còn sung sức, lại đứng chân ở vị trí thuận tiện cơ động tiếp cận mục tiêu.

        Chúng tôi coi đây là trận đánh then chốt, nhưng không thành, do chuẩn bị triển khai chiến đấu chậm (một phần có khó khăn khách quan), quyết tâm của cán bộ chưa cao, đồng chí Trần Xoa trung đoàn trưởng phụ trách hướng chủ yếu hy sinh trong khi đi chuẩn bị chiến trường.

        Đành rằng đây là khuyết điểm của cấp dưới, nhưng là người chỉ huy chung, tôi thấy mình có phần trách nhiệm. Bài học rút ra là tình thế càng khẩn trương càng đòi hỏi người chỉ huy phải sâu sát hơn nữa; sau mệnh lệnh chiến đấu, cần phải quan tâm đúng mức khâu hướng dẫn và kiểm tra đôn đốc cấp dưới triển khai, thực hiện, được coi như một quy trình của người chỉ huy trong chỉ huy chiến đấu.

        Với tôi đây thực sự là một kỷ niệm không vui!

        Nhưng nhiệm vụ trước mắt đòi hỏi phải vươn lên, xốc tới. Tôi lại cùng các anh trong Bộ tư lệnh Sư đoàn lao vào công việc. Hỏng việc này bày việc khác mà làm. Lúc này không trách móc, phê phán. Theo kế hoạch vừa được bổ sung, ngay đêm 10 tháng 3 (chỉ sau vài giờ trận đánh Đồng Pan không thành), một tiểu đoàn của Trung đoàn 2, sau một đợt pháo kích kéo dài 30 phút bằng súng cối và ĐKZ đã tiến công tiểu đoàn cơ giới địch. Trời đêm đỏ rực vì pháo sáng liên tục và bom nổ, trực thăng lao vào tiếp tế đạn dược và đưa thương binh ra. Vào năm giờ sáng hôm sau trận đánh mới kết thúc. Đặc biệt, Trung đoàn 16 do tổ chức chiến đấu tốt, đã liên tiếp pháo kích, tập kích cụm quân địch ở Bầu Cỏ (10/3), Trảng Bầu, Trảng A Lầu (11/3), ở Tà Xia, Bến Ra... phá huỷ, phá hỏng 72 xe tăng, xe bọc thép.

        Những trận tiến công trên của Sư đoàn 9 cùng với các trận đánh có hiệu quả trong cùng thời gian của lực lượng du kích cơ quan binh vận Trung ương Cục ở Suối Mây, du kích công binh “huyện” Sóc Kỳ, du kích xưởng thông tin S3 “huyện Tà Đạt... đã góp phần làm cho tinh thần chiến đấu của quân Mỹ càng thêm sa sút.

        Ngày 13 tháng 3 năm 196, Mỹ cho máy bay lên thẳng bốc quân rút khỏi Cà Tum, Bổ Túc và một số cụm ở tây bắc tỉnh Tây Ninh, địch chỉ còn chốt lại ở Đồng Pan, Bầu Cỏ trên trục đường 4, kết thúc đợt 1 cuộc hành quân. Ngày 15 tháng 3, Lữ đoàn 173 và Trung đoàn kỵ binh thiết giáp số 11 chấm dứt hoạt động, coi như đã kết thúc cuôc hành quân nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của ta. Thực tế là Mỹ đang ráo riết chuẩn bị cho giai đoạn hai của cuộc phản công.

        Cùng thời gian, Trung đoàn 3 từ quốc lộ 13 báo cáo về sư đoàn: có nhiều dấu hiệu địch tăng quân ngược lên phía Hớn Quản. Đồng thời Bộ chỉ huy Miền cũng điện gấp xuống sư đoàn: Địch đã thua đau nhưng chưa từ bỏ tham vong, chúng tiếp tục cuộc hành quân nhưng lật cánh sang hướng đông, và giao nhiệm vụ cho các lực lượng vũ trang nói chung, Sư đoàn 9 nói riêng cần phải làm để đối phó thắng lợi với âm mưu mới của địch.

        Công việc chuẩn bị thật bộn bề, mà thời gian chỉ có năm ngày! Không đợi đến lúc cấp trên nhắc nhở, uốn nắn, chúng tôi tự thấy phải làm gì. Trong đợt một, Sư đoàn 9 tuy có mở được một số trận tiến công nhưng do chưa quán triệt quyết tâm và phương châm chỉ đạo tác chiến của Miền, đã bỏ lỡ nhiều cơ hội, chưa thực hiện dược trận đánh thối động nào. Đây là vấn đề mấu chốt, nổi cộm cần phải giải quyết trong giai đoạn chuẩn bị trước khi bước vào chiến đấu chống lại bước hai cuộc phản công của địch.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:10:24 am

        Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Sư đoàn hội ý trao đổi để rút kinh nghiệm việc đã qua, bàn công việc cần làm ngay. Một thách thức, nhưng phải đặt ra tức khắc là đánh hay không đánh!? Nếu còn lưỡng lự trong nhận thức tư tưởng thì không thể bàn các vấn đề khác. Một lần nữa tôi càng hiểu câu nói sâu sắc của anh Thanh: “Dám đánh Mỹ sẽ tìm ra cách đánh Mỹ”. Nó như một nguyên lý của công tác chính trị tư tưởng lúc này. Với tinh thần thực sự cầu thị, không vòng vo lý sự, không né tránh, từ nhận thức ấy chúng tôi tìm được nguyên nhân dẫn đến khuyết điểm chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao trong đợt một của chiến dịch là do tư tưởng ngại hoả lực phi pháo, xe tăng địch, muốn phân tán đánh nhỏ như hoạt động của các lực lượng du kích cơ quan. Từ đó sư đoàn nêu ra yêu cầu lãnh đạo tư tưởng lúc này cần phải thể hiện tính chiến đấu cao. Nói cho hết những khí phách anh hùng, những thành tích có giá trị trong đợt chiến đấu vừa qua. Đồng thời phê phán có lý có tình những biểu hiện bi quan đánh giá địch quá cao, không thấy hết mặt mạnh của ta, củng cố và xây dựng tư tưởng đánh lớn là chức năng của các đơn vị bộ đội chủ lực. Từ đó các đơn vị tiến hành sinh hoạt chính trị nhẹ nhàng mà nghiêm túc, nhằm thống nhất nhận thức tư tưởng “dám đánh”, động viên cổ vũ mọi người phát huy truyền thống đoàn kết, dũng cảm, mưu trí, vượt khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ.

        Rõ ràng tư tưởng dẫn đầu nếu được hiểu đúng, có biện pháp lãnh đạo đồng bộ, phù hợp với thực tế, đấu phải là duy ý chí, mà trái lại, nó là một nguyên nhân tạo nên các kết quả khác.

        Nắm chắc quả đấm chủ lực, đánh cho được một đến hai trận lớn, diệt tiểu đoàn, chiến đoàn địch, đó là phương hướng lãnh đạo tư tưởng của sư đoàn, đồng thời cũng là mệnh lệnh chiến đấu đối với toàn sư đoàn. Trong đợt hai này lãnh đạo Miền vẫn kiên trì chủ trương đánh địch bằng thế trận chiến tranh nhân dân, bằng sức mạnh tổng hợp của ba thứ quân, mà quả đấm chủ lực vẫn là Sư đoàn 9. Không tăng thêm và không thể tăng thêm, vì đưa nhiều lực lượng chủ lực vào chiến dịch lúc này là không có, vì Sư đoàn 5 vẫn cần thiết đứng chân ở hướng Bà Rịa đánh địch ở vòng ngoài. Nếu có cũng không cần thiết phải đưa vào, như vậy sẽ gây ùn, dễ bị địch sát thương.

        Để tạo điều kiện cho Sư đoàn 9 có cơ hội đánh tập trung, lãnh đạo Miền có kế hoạch tăng thêm trang bị vũ khí cho du kích cơ quan và bộ đội địa phương “huyện”, tổ chức thêm nhiều đội săn cơ giới, triển khai thêm nhiều bãi mìn ở các trảng, các đường... tiếp tục tiêu hao tiêu diệt nhỏ, đặc biệt tăng cường diệt xe tăng, máy bay lên thẳng vừa giữ gìn căn cứ vừa chặn giao thông địch.

        Một số cán bộ cơ sở từ phân vân lúc đầu, nay khi nhận ra vấn đề lại thấy tự tin, tự hào, mặc dầu phía trước còn gặp không ít thử thách. Số anh em này tự nhận biết, tự thông suốt, tất cả như các nhà tham mưu cỡ nhỏ mà biết tính toán cỡ chiến dịch, đều thấy bối cảnh lúc này địch dồn ưu thế binh hoả lực sang hướng  đông trên diện tích hẹp (Đợt một địch đánh vào toàn bộ khu căn cứ có diện tích 1.500 ki-lô-mét vuông, đợt hai địch đánh sang khu đông căn cứ có diện tích 60 ki-lô-mét vuông), nếu ta đưa thêm lực lượng đội hình dễ ùn, mật độ bố trí day, dẫn đến thương vong cao.

        Tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng tạo và đầy bản lĩnh của Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ chỉ huy Miền, Sư đoàn 9 đón nhận quả đấm chủ lực trong một tương quan không cân sức với tinh thần tự tin và nghiêm túc. Nhưng đánh lớn là thế nào, vào đâu là then chốt có sức thối động trong khi do yêu cầu dàn thế, lực lượng bố trí lại phân tán hơn trong đợt một. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của lãnh đạo Miền, sư đoàn điều Trung đoàn 1 từ tây đường 22 ngược lên phía bắc, đứng chân ở bắc Bổ Túc làm lực lượng dự bị, sẵn sàng đón thời cơ, đánh địch tập trung, diệt các cụm hành quân của địch trên lộ Đá Đỏ ở khu vực Bổ Túc, Sóc Con Trăng hoặc Trảng Ba Vũng; Trung đoàn 3 tiếp tục bám quốc lộ 13 đánh địch vòng ngoài. Lực lượng đánh lớn chỉ còn Trung đoàn 2 và Trung đoàn 6, trong khi về nguyên tắc đòi hỏi phải có ưu thế binh lực, đánh đội hình sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường...


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:10:44 am

        Trên đây là những vấn đề đặt ra cho chúng tôi phải giải quyết trong cuộc hội ý bàn biện pháp thực hiện. Đã qua một đợt chiến đấu đầy ác liệt, căng thẳng, sự mệt mỏi hiện rõ trên khuôn mặt hốc hác của mọi người. Luồng suy nghĩ có khác nhau, nhưng khi trao đổi đều hội tụ ở bàn vào: quyết đánh; có đồng chí còn cao giọng: quyết rửa hận! Khẩu khí không được chỉnh lắm nhưng không ai tham gia, góp ý, cứ thả sức cho tinh thần hăng say được thể hiện. Cuối cùng sư đoàn quyết định: lấy trục tỉnh lộ 4 là nới tổ chức trận đánh tiêu diệt lớn, vì tiến hay rút bộ binh địch nhất thiết phải dựa vào trục đường này để thực hành thọc sâu, chia cắt, tìm diệt đối phương. Lấy Đồng Pan, Đồng Rùm, Chà Dơ  là nơi tổ chức các trận đánh then chốt, vì đây đều là các trảng địch sẽ chọn làm điểm tạm dừng hoặc đóng chốt. Trung đoàn 2 và Trung đoàn 16 đảm nhận nhiệm vụ phản công trên tỉnh lộ 4, cụ thể: Trung đoàn 2 đứng chân ở Chà Dơ, Trung đoàn 16 lùi về Suối Dây, ngã ba Sóc Xoài tạo thế đánh trận phủ đầu, đón thời cơ đánh trận then chốt, tiêu diệt lớn sinh lực địch. Sự điều chỉnh thế bố trí chỉ là xê dịch, không có khó khăn gì đáng kể, vì cả hai trung đoàn đều có mặt ở khu vực này cho đến lúc địch kết thúc đợt một cuộc hành quân. Đây là thế đứng thích hợp, có thể sẵn sàng đánh địch ở Đồng Pan, Đồng Rùm, Bầu Cỏ. Khi giao nhiệm vụ, sư đoàn nhấn mạnh, các trung đoàn vẫn phải giấu quân ở địa điểm thích hợp, không được gần đường quá, dễ bị địch phát hiện sát thương trước khi hai bên trực tiếp đụng độ. Cần tổ chức khảo sát các điểm chờ sẵn, để thiết bị chiến trường, có phương án trên thực địa trước, làm kỹ, nhưng khẩn trương, tuyệt đối giữ bí mật. Sẵn sàng có hai phương án phục kích nếu địch hành quân và tập kích nếu địch tạm dừng đóng cụm dã ngoại.

        Ngày 18 tháng 3 năm 1967, địch triển khai đợt hai cuộc hành quân với lực lượng 8 lữ đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn thiết giáp, một tiểu đoàn quân đội ngụy Sài Gòn trên một khu vực chủ yếu từ đông tỉnh lộ 4 đến tây sông Sài Gòn, từ biên giới đến bắc đường 13. Trọng điểm là vùng Đồng Rùm - Đồng Kền, Bầu Châm - Bầu Cột, Sóc Con Trăng - Suối Ngô.

        Ý đồ của tướng Oét-mo-len trong đợt hai là triển khai kế hoạch bao vây khu vực đông bắc căn cứ khu B bằng hai cánh quân từ Hớn Quản đánh sang phối hợp với lực lượng cơ giới từ phía nam phát triển lên, hình thành thế bao vây, kết hợp máy bay lên thẳng đổ quân chốt chặn và cơ giới đột phá cất vó cơ quan lãnh đạo, chỉ huy Miền, các lực lượng và cơ sở của Quân giải phóng. Để giữ yếu tố bất ngờ, địch không cho chuẩn bị hoả lực trước, mà chỉ dựa vào máy bay trinh sát dẫn đường, dùng bộ binh cơ giới thọc sâu tiến chắc từng bước.

        Lực lượng bộ binh cơ giới do Sư đoàn 25 từ hai hướng tây nam theo lộ 4, lộ Kiểm, lộ Trắng đánh lên, từ hướng đông Sư đoàn 1 theo lộ Đá Đỏ đánh sang hướng tây, kết hợp với lực lượng đổ bộ đường không hình thành thế bao vây căn cứ đông bắc khu B. Rút kinh nghiệm đợt một, quân Mỹ tập trung thành cụm lớn có cả  bộ binh, xe tăng, pháo binh từ đó đánh toả ra xung quanh; vừa thăm dò vừa phá, vừa thọc sâu vào căn cứ của ta, vừa chú trọng giữ vị trí bàn đạp nhưng dè dặt, thận trọng. Ngoài ra địch tìm mọi cách nghi binh, đánh lạc hướng cùng với việc hối hả chuẩn bị, chỉ trong năm ngày sau khi kết thúc đợt một, địch đã triển khai cuộc hành quân. Với nhiều thủ đoạn xảo quyệt, lại rút kinh nghiệm thất bại đợt một, tướng Oét-mo-len tin trước là sẽ “tìm diệt” được đối phương.

        Những phán đoán của Bộ chỉ huy Miên, những bố trí lực lượng và dự kiến các trận đánh của Sư đoàn 9 gần như trùng hợp với những gì xảy ra ngay những giờ đầu, ngày đầu của cuộc hành quân của Mỹ đánh vào Chiến khu C từ hướng đông. Chúng ta đúng vì chúng ta biết mình biết người, có bề dầy thực tiễn chiến đấu ngay trên đất nước mình, lại nắm vững quy luật chiến tranh, nghệ thuật quân sự cũng được tổng kết rút ra từ chính cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, bảo vệ Tổ quốc diễn ra trong nhiều thập kỷ. Còn tướng tá Mỹ không phải nghèo về trình độ học vấn, về nghiệp vụ tham mưu, mà cơ bản, hình như đội quân xâm lược nào cũng không tránh khỏi, đó là đầu óc chứa đầy những suy tính chủ quan ngạo mạn, chỉ biết mình mà không biết người.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:11:13 am

        Ngay từ lúc địch mới ra quân, chỉ huy sư đoàn chúng tôi theo dõi chặt chẽ diễn biến để kịp thời xử lý, nhất là trên hướng dự kiến có đánh lớn, không thể lặp lại khuyết điểm chuẩn bị triển khai chiến đấu chậm như trận Đồng Pan. Trước ngày 187 tháng 3, địch tung các đại đội biệt kích thám báo hoạt động thăm dò theo tỉnh lộ 13, phía đông sông Tha La và khu vực Đồng Rùm. Đến ngày 18, ở khu vực phía bắc, địch ra quân ồ ạt, nhưng riêng Đồng Rùm vẫn tương đối yên tĩnh, chỉ có phi pháo địch thay nhau oanh tạc bắn phá mang tính chất dọn bãi, dấu hiệu địch sắp đổ quân...

        Tôi điện gấp xuống hai trung đoàn nhắc nhở: có khả năng ngày mai 19 tháng 3 địch đổ quân xuống Đồng Rùm, các đơn vị phải sẵn sàng, tổ chức theo dõi chặt diễn biến 24/24 giờ nhưng vẫn tuyệt đối giữ bí mật và động viên: gắng lên, đừng để hổ phá cũi nhé!

        Cả đêm 18 rạng ngày 19, ở sở chỉ huy tiền phương sư đoàn, chúng tôi thật sự hồi hộp, chờ đợi đến căng óc về những khả năng và diễn biến khi trời sáng!?   

        Ngày 19 tháng 3, sau khi nhận điện thông báo của Bộ chỉ huy Miền, cả khu vực Đồng Rùm rung lên vì bom đạn Mỹ trút xuống, từng đụn khói bốc cao, toả rộng như một đám mây màu chì che phủ cả một vùng trời. Rồi từng tốp máy bay lên thẳng ập đến thi nhau đổ quân. Mọi việc diễn ra khẩn trương, bài bản, ăn khớp. 17 giờ cùng ngày trận địa pháo địch bắt đầu hoạt động; 20 giờ bộ binh địch căng bạt, đào công sự rào kẽm gai, gài mìn.

        Tự tin được củng cố, phấn khởi được nhân lên. Tin từ Trung đoàn 3 báo về: cùng ngày trung đoàn đã tập kích cụm cơ giới Lữ đoàn 1 Sư đoàn 9 Mỹ ở Bàu Bàng, phá huỷ 92 xe (có 65 xe tăng), 9 khẩu pháo. Niềm vui đến nhanh, không có điều kiện để ngấm vì trước mắt chúng tôi là sự kiện Đồng Rùm.

        Chúng tôi nhận định, đây là thời cơ để sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ. Thực ra Đồng Rùm không phải là địa danh xa lạ đối với Sư đoàn 9, mà trái lại. Trong giai đoạn chuẩn bị theo kế hoạch chung của Miền, chúng tôi đã tổ chức đi khảo sát cơ bản trên thực địa, biết nơi đây là một trảng lớn (Trảng Đồng Rùm dài 1.200 mét, rộng 500 mét, xung quanh là những vạt rừng le và rừng dầu thưa xen kẽ, có nhiều trảng nhỏ bao quanh như: Trảng Dài, Tri Giết, Sóc Xoài, Chà Dơ... Phía tây trảng là Suối Dây và sông Tha La, phía nam là đường liên tỉnh 13; phía đông là lộ Kiểm Chà Dơ - Bổ Túc; phía bắc có lộ kiểm từ trảng Sóc Xoài đến bờ sông Tha La. Tuy bị chất độc hoá học làm rụng lá cây, nhưng rừng còn trú ém được quân, bìa trảng vào sâu 500 mét có nhiều hầm hào, căn cứ trú quân tốt), giữ một vị trí quan trọng phía nam đánh vào căn cứ. Tin từ quân báo cấp trên và từ Hà Nội thông báo vào, lực lượng địch đổ xuống Đồng Rùm gồm Lữ đoàn 3, Sư đoàn bộ binh số 4, một tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn không vận 173, một tiểu đoàn pháo hỗn hợp 105 và 156,7 ly, một tiểu đoàn xe tăng, xe bọc thép, lực lượng khoảng 3.000 tên. Sau khi đổ quân cùng với lô cốt đúc sẵn thả xuống, địch hối hả tổ chức thành hai tuyến phòng thủ phía bắc trảng và phía năm trảng, giữ là sở chỉ huy, trận địa pháo và khu thông tin. Trước giờ nổ súng, sư đoàn còn tổ chức đợt trinh sát cuối cùng, trong và sau chiến đấu được biết thâm: khu vực địch đóng thành cụm nằm gọn giữa trảng theo hình bầu dục dài 700 mét theo chiều bắc nam, rộng hơn 400 mét theo chiều đông tây; hình thành hai khu vực: khu bắc có bộ binh, tăng, thiết giáp xen kẽ; khu nam chia thành hai tuyến gồm sở chỉ huy nhẹ Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 4, khu thông tin và trận địa pháo có bộ binh cơ giới bố trí vòng ngoài. Gần sở chỉ huy có lực lượng bộ binh cơ giới làm nhiệm vụ dự bị. Cách tuyến một từ 15 đến 20 mét chúng thả kẽm gai bùng nhùng, đoạn có, đoạn không. Xung quanh đều có mìn chiếu sáng, lựu đạn gài và mìn định hướng...

        Từ thực tế trên cho thấy phạm vi tiến công rộng, lực lượng địch đông, hệ thống bố phòng tuy dã chiến nhưng đã hình thành lớp lang phòng thủ, hoả lực ken dày. Tình hình địch luôn biến động, thủ đoạn địch luôn luôn thay đổi. Trong khu vực giữa trảng rất khó nắm (có những điều ta chỉ biết được trong và sau trận đánh), nên khó tránh khỏi lúng túng trong xử lý khi bước vào chiến đấu.

        Một khó khăn nữa, cũng phải tính đến. Mặc dầu sư đoàn đã được bố trí thế đánh mục tiêu chọn sẵn, đã đưa lực lượng vào trước ém sẵn, song không thể tiến công khi địch chưa kịp tổ chức đổ quân hoặc chúng vừa chạm đất, mà phải bố trí từ xa, thực hành vận động tập kích. Vì trước khi đổ quân, địch tung biệt kích thám báo thăm dò; dùng các phương tiện trinh sát hiện đại phát hiện đối phương; dùng phi pháo bắn phá, thả bom trải thảm dọn bãi, sát thương đối phương, sau đó mới đổ quân. Đây là một đặc điểm khác với đánh quân Pháp đóng quân dã ngoại hồi kháng chiến chín năm. Ở đây, trong trận Đồng Rùm, khi Mỹ đổ quân, Trung đoàn 2 đang ở Chà Dơ, cách Đồng Rùm 5 ki-lô-met về phía đông nam, Trung đoàn 16 đứng cách Đồng Rùm 7 ki-lô-mét về phía bắc, một khoảng cách hoàn toàn bất lợi cho bên tiến công, song không còn cách nào khác vẫn phải chấp nhận vì những lý do như đã kể trên.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:11:33 am

        Do yêu cầu phối hợp tác chiến đồng bộ của chiến dịch, nếu kế hoạch triển khai chiến đấu chậm, sẽ lại như trận đánh Đồng Pan! Hơn thế nữa, ở đây vào thời điểm này còn lặp lại sai lầm như thế, thì tình hình càng trở nên phức tạp. Địch có điều kiện củng cố khu vực chiếm đóng vững chắc, biến nơi đây thành căn cứ trung tâm hành quân dã chiến, đánh toả ra các khu vực tây đường 4, đông lộ Trắng, phối hợp với cánh quân phía bắc từ Hớn Quản đánh qua, tiến vào trung tâm căn cứ B.

        Vì vậy, ngày 19 tháng 3, khi địch chưa chấm dứt đợt đổ quân, tôi và các anh Nguyễn Văn Quảng, Phó Chính uỷ Sư đoàn, Bùi Thanh Vân, Phó Tham mưu trưởng có mặt tại sở chỉ huy tiền phương sư đoàn đã có dự kiến về kế hoạch tác chiến. Đến sáng 20 tháng 3, khi mặt trời vừa rạng, một cuộc hội ý Thường vụ Đảng uỷ Sư đoàn diễn ra nhanh gọn, có một quyết tâm chiến đấu chính thức: Dùng lực lượng sư đoàn thiếu tập kích cụm quân Mỹ ở Đồng Rùm trong đêm 20 rạng sáng 21 tháng 3. Trung đoàn 2 đột phá hướng chủ yếu từ phía nam lên; Trung đoàn 16 đột phá hướng thứ yếu từ bắc xuống; tổ chức một tiểu đoàn phục kích chặn không cho địch từ Đồng Rùm tháo chạy ra bến Tha La qua cầu Bầu Cỏ để lực lượng lớn vận động đến tiêu diệt.

        Riêng hướng chủ yếu chúng tôi có trao đi đổi lại, cuối cùng mới thống nhất chọn phía nam vì ở đây có sở chỉ huy, khu thông tin nhưng địch chủ quan, bố phòng ít cẩn mật vì chúng coi như hậu phương phía sau của toàn cụm, trong khi ở phía bắc địch tăng cường đề phòng, hình thành phòng ngự ba tuyến.

        Sau cuộc hội ý, tôi lệnh cho các đơn vị khẩn trương chuẩn bị, triển khai thực hiện theo nhiệm vụ được giao. Đồng thời cơ quan chỉ huy tiền phương của sư đoàn từ Suối Dây rời về nam Đồng Rùm, cạnh Trung đoàn 2, tiện theo dõi, chỉ huy xử lý kịp thời các phát sinh trên hướng chủ yếu.

        10 giờ, trinh sát Trung đoàn 2 báo cáo: địch vẫn ở khu Đồng Rùm.

        Thế là chắc ăn rồi! Tôi tự nhủ mình như vậy và nhẹ nhõm thở phào, như trút được gánh nặng của lo âu. Vì đã có nhiều bài học ở Bàu Bàng, Dầu Tiếng, kẻ địch xảo quyệt, luôn luôn di chuyển đội hình, làm động tác giả để lừa ta.

        Mọi việc đã dự tính từ trước, vậy mà khi vào cuộc vẫn cứ bộn bề, tất cả đều thiếu thời gian. Mới chỉ là vận động đến vị trí xuất phát tiến công mà như đi vào trận chiến đấu thật, một cuộc chiến đấu đơn phương sôi động mà âm thầm đối phó với những hành động dự phòng của đội quân con nhà giàu – đánh trận kiểu nhiều tiền, nhiều súng đạn hiện đại. Đến giờ phút này mọi việc hình thành trận địa phòng thủ của địch coi như tạm ổn, thì cũng là thời gian hoạt động của các loại hoả lực dự phòng. Các trận địa pháo cối của địch bắn liên tục, không tiếc đạn, cùng lúc trên bầu trời là  các loại máy bay thay nhau quần đảo, bom trút xuống, thả đèn dù chiếu sáng cả khu vực rộng lớn nhằm sát thương, phá mọi ý định tiến công của ta từ xa. Đây là một nguyên tắc chiến thuật chung nhất, bất cứ bên phòng ngự nào cũng phải làm. Khác chăng với quân đội Mỹ được trang bị đến tận răng đủ loại vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân, hiện đại, thì cái nguyên tắc dự phòng từ xa lại được thả sức, thực hiện một cách triệt để, ác liệt. Đó là lý do, là nguyên nhân làm cho công việc của chúng tôi ngày càng thêm chồng chất, dồn thời gian vào cuộc chuyển quân, dồn tâm trí vào xử lý tình huống bất trắc trên đường vận động tiếp cận mục tiêu. Trung đoàn 16 do Võ Văn Dần làm Trung đoàn trưởng trên đường vận động từ vị trí tập kết vào vị trí xuất phát tiến công, dài 7 ki-lô-mét phải mất ba giờ, là tốc độ con rùa. Nhưng không có cách nào khác nhanh hơn, vì bị cối 120 ly, 106,7 ly địch bắn xối xả, liên tục, không còn thì giờ họp thường vụ đảng uỷ trung đoàn để xác định quyết tâm lần cuối, sau khi đi trinh sát thực địa trở về. Sau này khi chiến tranh, trở lại rút kinh nghiệm trận đánh, Võ Văn Dần (sau này là thiếu tướng, Tư lệnh trưởng Quân đoàn 4) đã kể lại với tâm trạng của mình trong tình huống thật khó xử: Anh tâm sự: lúc đó rối như tơ vò! Tình hình địch còn lơ mơ, bộ đội đang hành quân vào vị trí chiến đấu với quyết tâm trường hợp nào cũng đánh, không có bước chuẩn bị, không họp được thường vụ. Biết là sai nguyên tắc, mà họp thì mất thời cơ. Tôi nghĩ, họp thì không đánh, mà đánh thì không họp. Tôi quyết định lựa chọn cách hai – đánh đã, khuyết điểm phải chịu! Cách chức cũng đành, biết làm sao? Vấn đề lúc này là đánh Mỹ và phải thắng chúng, đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty. Tôi tự nhủ - chỉ huy phải dũng cảm sống chết cùng chiến sỹ. Nhưng dũng cảm của người chỉ huy còn thể hiện ở tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm trong những tình huống gay cấn. Nhưng trinh sát nắm địch thì vội mấy cũng phải thực hiện. Thế là tôi và một số cán bộ bứt khỏi đội hình trung đoàn, vượt lên trước để nắm địch, đơn vị đi sau sẽ gặp ở điểm hẹn có quy ước tín hiệu để vào vị trí chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:12:15 am

        Nhưng thật là kỳ diệu, mọi việc đều diễn ra suôn sẻ. Thường vụ Đảng uỷ vẫn họp trước giờ nổ súng, không mất thời gian mà nhất trí nhanh.

        - Tại sao? – Có cử toạ hỏi.

        Nét mặt tự tin, Võ Văn Dần chậm rãi trả lời ngay, nhưng không khẳng định - Mọi việc đã diễn ra rồi. Sự đúng đắn của nó là đơn vị đã đến được vị trí xuất phát tiến công trước giờ G quy định.

        Bỗng Võ Văn Dần quay mặt về phía tôi, hỏi:

        - Tại sao anh Năm ra lệnh đánh Đồng Rùm trong khu (khi) Trung đoàn 16 chưa được chuẩn bị.

        Tôi trả lời: chuẩn bị là một nguyên tắc của công tác tổ chức chiến đấu. Nhưng không phải bao giờ cũng có đầy đủ thời gian, điều này phụ thuộc vào các yếu tố khách quan. Ở điều kiện cụ thể của Đồng Rùm, nếu chờ có thời gian chuẩn bị thì không thể có trận Đồng Rùm lịch sử. Là cán bộ chỉ huy, trong chiến đấu luôn luôn phải đặt ra, luôn luôn phải suy nghĩ về các tình huống khó khăn để thích ứng, đánh địch trong mọi điều kiện, trong đó có cả tình huống rất ít thời gian chuẩn bị.

        Xin được trở lại chuyện kể.

        Bốn giờ 15 phút ngày 21 tháng 3, thời gian đang chuyển về ban ngày, sao mà hồi hộp đến thế! Chỉ còn 10 phút nữa là đến giờ G mà Trung đoàn 2 vẫn đang còn chiếm lĩnh trận địa, Trung đoàn 16 chưa qua bước trinh sát thực địa, vẫn còn cách vị trí xuất phát tiến công 2 ki-lô-mét.

        Thấy không còn cách nào khác, tôi lệnh kéo dài giờ nổ súng thêm 40 phút, tức 5 giờ 40 phút. Như vậy trận đánh chuyển sang ngày với bao vấn đề phức tạp phải đương đầu, pháo binh, không quân và cả viện binh đổ xuống bằng máy bay lên thẳng.

        Giờ G đã đến! Cả sở chỉ huy tiền phương sư đoàn nhộn nhịp và tất bật hẳn lên. Chuông điện thoại và cả máy bộ đàm (lúc này mới được lệnh) làm việc liên tục.

        Súng nổ dữ dội ở trong trảng. Trung đoàn 2 báo cáo đã đột phá xong tiền duyên đang phát triển vào tung thâm thuận lợi. Nhưng tôi lại lo, vì chưa nhận được tin từ phía bắc, nơi Trung đoàn 16 đang phải đương đầu với vỏ phòng thủ cứng của địch! Song tôi lại tự nhủ, Trung đoàn 16 phần lớn cán bộ, chiến sỹ là con em của nhân dân Khu 4, một trong những cái nôi của cách mạng Việt Nam. Trung đoàn được huấn luyện quân sự có bài bản chính quy, được giáo dục tốt về chính trị, đã qua chiến đấu ở Tây Nguyên trước khi được bổ sung vào Đông Nam Bộ, lập thành tích cụ thể trong đợt một cuộc phản công của địch. Với bề dày chiến đấu ấy tôi tin rằng trung đoàn có đủ bản lĩnh, đủ trình độ xử lý các tình huống chiến đấu gay go, phức tạp; việc mất liên lạc với sư đoàn và sư đoàn với trung đoàn kéo dài gần như suốt cả quá trình xảy ra trận đánh là do khó khăn cụ thế, chứ không thể có lý do về phía bản thân trung đoàn.

        Mãi sau khi chiến dịch kết thúc chúng tôi mới thấy rõ nguyên nhân. Sau giờ G ít phút, Trung đoàn 16 đang vào vị trí chiếm lĩnh. Nghe thấy tiếng súng nổ từ hướng nam vọng lại, lập tức chỉ huy trung đoàn cho đơn vị vận động hướng về phía có tiếng súng, cùng Trung đoàn 2 tiến công theo kế hoạch hiệp đồng, tạo thuận lợi cho trung đoàn bạn phát triển vào sâu đánh chiếm sở chỉ huy, gần hết cụm quân Mỹ ở phía nam trảng. Mãi sáu giờ, trời sáng rõ Trung đoàn 16 mới chiếm xong tuyến một, đang phát triển sang tuyến hai thì gặp địch phản kích. Máy bay trinh sát L19 bay thấp chỉnh cho pháo địch từ Lộc Ninh, Bầu Cỏ bắn vào đội hình, nhiều tốp máy bay phản lực, máy bay lên thẳng vũ trang rà thấp các vạt rừng quanh trảng, ném bom ngăn quân ta phát triển.Cùng lúc cụm địch ở phía tây kết hợp với bọn còn lại ở cụm phía bắc chống trả ta quyết liệt. Cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 16 chiến đấu như đã học (Đánh như là học. Đó là lời khen của đồng chí chỉ huy đơn vị bạn đi qua sau khi kết thúc chiến trận đánh.

        Như đã nói, Trung đoàn 16 nguyên là Trung đoàn 101 Sư đoàn 325 thuộc Quân khu 4, đã qua chương trình huấn luyện chính quy trước khi vào Nam chiến đấu), thắng to, anh em phấn khởi tự tin khi tận mắt chứng kiến cảnh Mỹ tháo chạy.

        Nhưng có một số cán bộ đơn vị bạn đi ngang hỏi:

        - Đánh trận này để làm gì, sao thiệt hại nhiều thế?

        - Khi cần thiết dù phải hy sinh lớn cũng sẵn sàng chấp nhận - Một đồng chí cán bộ của Trung đoàn 16 trả lời.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 10:42:06 pm

        Là người chịu trách nhiệm chính trong trận đánh, sau khi nghe những người trong cuộc tường thuật lại mẩu đối thoại trên, tôi thấy cả hai câu hỏi và trả lời đều có lý. Đứng trước sự thiệt hại lớn, có đơn vị quá lớn (Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 chỉ còn chín cán bộ, chiến sỹ) thì sự đau thương, ân hận và cả sự tra xét là một phản ứng tất nhiên của tình cảm chúng ta. Nó nhắc nhở chúng ta, những cán bộ chỉ huy mỗi khi suy nghĩ hạ quyết tâm chiến đấu, cần phải cân nhắc, phải tính toán; trận đánh phải thắng; thắng to nhưng lại ít tổn thất. Đó là một yêu cầu có tính nguyên tắc cũng là thể hiện tinh thần trách nhiệm, lòng yêu thương, quý trọng của người cán bộ chỉ huy đối với đồng đội, đồng chí.

        Nhưng sứ mệnh chiến đấu vì độc lập, tự do, vì thống nhất Tổ quốc là cao cả. Nếu cần thiết thì phải vui vẻ, sẵn sàng nhận lệnh xả thân, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” như Bác Hồ dạy.

        Sự quyết tử của chúng ta cho trận thắng Đồng Rùm là đúng. Vì đây là trận phủ đầu bẻ gãy cánh quân ở phía nam trảng đánh lên trong đợt hai cuộc phản công đánh phá căn cứ ta, với mục đích “tìm diệt” cơ quan đầu não Miền, “tìm diệt” chủ lực Sư đoàn 9. Đây là trận đánh tiêu diệt lớn nhất của Sư đoàn 9, có sức thối động lớn, góp phần chuyển biến có lợi cho ta trong những ngày sau đó. Trước hết là ý định địch dàn thế bao vây, chia cắt ta ở hướng đông đã trở nên rối, có chiều hướng buộc chúng phải phản kích bộ phận để bảo vệ vị trí đóng quân. Ngay tối 27 tháng 3, tôi mở đài BBC đưa tin nhận xét của hãng thông tấn Pháp AFP: “Mỹ đánh vào Chiến khu C như người ta đám vào một quả bóng”.

        Ngày 1 tháng 4 quân địch còn lại ở Đồng Rùm rút sau khi bị Trung đoàn 16 bồi thêm trận tập kích tiêu diệt một bộ phận của chúng ở bầu Tri Giếc. Vai trò của căn cứ dã chiến Đồng Rùm trong đợt hai cuộc hành quân đến đây coi như chấm dứt, mặt trận bắt đầu chuyển về bắc, đông bắc.

        Dựa vào định hướng chỉ đạo chung của Bộ chỉ huy Miền, căn cứ vào sự thay đổi hình thái sau trận Đồng Rùm, chúng tôi, những người được phân công ở sở chỉ huy tiền phương sư đoàn trao đổi, thấy cần thiết phải đổi thế bố trí, đưa Trung đoàn 16 từ phía nam (khu vực Đồng Rùm) lên phía bắc hợp cùng với Trung đoàn 1 đã đứng chân ở đây vừa tạo ưu thế tương đối về lực lượng vừa tạo thời cơ và đón thời cơ, sẵn sàng đánh tập trung theo quy mô sư đoàn thiếu, tiêu diệt vừa và lớn quân địch. Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 vẫn bố trí phân tán, tác chiến theo đội hình trung đoàn sẵn sàng đánh địch rút lui.

        Khi sở chỉ huy tiền phương sư đoàn cùng với Trung đoàn 16 hành quân ngược lên phía đông bắc tối khu vực Sóc Con Trăng, thì gặp một tiểu đoàn Mỹ đóng chốt ở Sóc Trâu đang bị du kích cơ quan bao vây, kìm chế.

        Nhận thấy đây là thời cơ thuận lợi, tôi quyết định dùng cả hai Trung đoàn 16 và Trung đoàn 2 tiến hành tập kích tiêu diệt. Nhưng chưa kịp triển khai thì địch dùng máy bay lên thẳng bốc tiểu đoàn này và đổ thêm hai tiểu đoàn nữa xuống trảng Ba Vũng (tây bắc cầu Suối Ngô).

        Theo kế hoạch của sư đoàn, ngày 31 tháng 3, Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 16 vận động tập kích cụm quân địch ở nam trảng, đánh thiệt hại nặng hai đại đội địch, đánh lùi ba đợt phản kích của chúng; đồng thời pháo kích cụm quân địch ở Sóc Con Trăng. Đây là một trong những căn cứ chi viện hoả lực lớn nhất của cuộc hành quân đã bị ta tiến công, càng có tác dụng thối động đến tinh thần chiến đấu của quân Mỹ trên khu vực.

        Cùng với các trận đánh phục kích, tập kích, tiêu hao, tiêu diệt nhỏ quân địch của các lực lượng du kích cơ quan, các trận đánh tập trung của Sư đoàn 9 vào các cụm quân Mỹ ở Bàu Bàng, Đồng Rùm, trảng Ba Vũng là những đòn đánh mạnh vào tinh thần quân đội Mỹ. Chúng không còn đủ sức co cụm, buộc phải rút tiếp Đồng Kèn (6/4), trảng Ba Vũng (10/4), Bầu Cật, làm nao núng các cánh quân địch khác trên toàn khu vực chiến dịch. đến ngày 13 tháng 4, bộ phận cuối cùng của quân Mỹ rút khỏi Sóc Con Trăng, cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty coi như kết thúc trên thực tế. Nhưng phải hai ngày sau, 15 tháng , tướng Oét-mo-len mới chính thức tuyên bố chấm dứt cuộc hành quân này.

        Thất bại của cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty là một thực tế hiển nhiên, bắt đầu sự cáo chung của chiến lược “chiến tranh cục bộ”, nói như những quan chức Mỹ - giai đoạn “Mỹ hoá cuộc chiến tranh” đã thất bại, từ đây bắt đầu một chiến lược khác được thực thi – “Việt Nam hoá chiến tranh”.....

        Trích: Thượng tướng Hoàng Cầm, Chặng đường mười nghìn ngày, (Hồi ức - Nhật Tiến ghi)


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 10:56:12 pm

6. TRUNG TƯỚNG NGUYỄN ĐỆ (BA TRUNG)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/0%20trung%20tng%20nguyn_zps7sieai2p.jpg)

       
        Trung tướng Nguyễn Đệ sinh năm 1928, quê ở xã Bàn Thạch, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Tham gia chiến đấu trên chiến trường miền Nam trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí Nguyễn Đệ đã trưởng thành từ Đội trưởng cảm tử Bà Rịa đến Chỉ huy trưởng Mặt trận Trà Vinh, trực tiếp chỉ huy hơn 600 chiến dịch và trận đánh trên cương vị từ Đại đội trưởng đến Tư lệnh tiền phương quân khu. Với tinh thần mưu trí, dũng cảm, đồng chí Nguyễn Đệ luôn bám sát chiến trường, nắm chắc đơn vị, chỉ huy đánh địch có hiệu quả.

        Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 306, Phó chỉ huy Mặt trận Trà Vinh, đồng chí Nguyễn Đệ đã chỉ huy lực lượng đánh chiếm và làm chủ thị xã Vĩnh Long.

        Những năm 1970 – 1975, trên chiến trường Trà Vinh, địch tập trung đánh phá ác liệt, Nguyễn Đệ chỉ huy Trung đoàn 3 phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương vừa đánh địch vừa xây dựng lực lượng, mở rộng vùng giải phóng, tạo đà cho lực lượng quân khu tiến công địch.

        Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đồng chí Nguyễn Đệ làm Sư đoàn trưởng rồi Tư lệnh Mặt trận 797, chỉ huy các lực lượng chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp bạn Cam-pu-chia xây dựng lực lượng.

        Đồng chí Nguyễn Đệ được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhất, bốn Huân chương Quân công (hai hạng nhất, một hạng nhì, một hạng ba), chín Huân chương Chiến công (sáu hạng nhất, một hạng nhì, hai hạng ba), hai Huân chương Kháng chiến (hạng nhất) cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

        Để giúp bạn đọc có thể hình dung phân nào cuộc đời binh nghiệp của một vị tướng gắn liền với cuộc chiến đấu hào hùng của quân dân Nam Bộ thành đồng, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã xuất bản tập hồi ức “Niềm tin và lẽ sống” của Trung tướng Nguyễn Đệ (xuất bản lần thứ nhất năm 1994, tái bản năm 2005).

        “Chọn “Niềm tin và lẽ sống” đặt tên cho tập hồi ức, Trung tướng Nguyễn Đệ gói gọn hết thảy những gì máu thịt nhất của mình trong suốt chặng đường theo Đảng và cách mạng. Chính Niềm tin vào Đảng anh minh, vào một sự đổi đời đã tăng lực cho tác giả vượt phá những chuỗi ngày tôi đòi, nô lệ, tìm ra Lẽ sống chiến đấu và chiến thắng.

        Những hồi niệm của tác giả “Niềm tin và lẽ sống” còn đưa chúng ta đến với những con người chân chất, hiền hoà mà quả cảm, những miệt vườn cây trái, những dòng kênh, chuyến đò... của Bà Rịa – Vũng Tàu, Cà Mau - Đất Mũi... một thời đánh giặc rất đỗi hào hùng nhưng cũng lắm cam go”. (Trích Lời nhà xuất bản viết cho lần in thứ hai).


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 10:58:07 pm

VĨNH TRÀ - CHIẾN TRƯỜNG SÔI  ĐỘNG

        “... Khu uỷ miền Tây đánh giá cao kết quả chiến thắng Ba Quân – Ngã Cạy. Bởi vậy ngay lúc đó Khu uỷ chủ trương đưa Tiểu đoàn 306 lên hoạt động tại tỉnh Vĩnh – Trà, một vùng phía sau trọng yếu của địch để hỗ trợ địa phương phá ấp chiến lược, mở lõm, giải phóng vùng. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, Bộ tư lệnh quân khu chỉ định tôi làm Trung đoàn phó Trung đoàn 1 trực tiếp làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 306, một tiểu đoàn chủ lực của Khu hồi này đang mạnh nhất vùng. Nhận nhiệm vụ trên giao, tôi chủ động nghiên cứu lại chiến trường mới này. Thực ra hồi còn đảm đương nhiệm vụ Tham mưu trưởng Quân khu (1961) tôi đã biết địa bàn này rất khó khăn đối với ta, song cũng mới biết chung chung qua các báo cáo, qua các lần tiếp xúc với các anh ở Thường vụ Tỉnh uỷ lên Khu họp. Muốn chỉ huy một đơn vị, tôi phải tìm hiểu thật kỹ tình hình mọi mặt nơi đây.

        Về phía cách mạng, Vĩnh – Trà là tên đầu của hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh hợp nhất lại từ những năm 1951 – 1954 mà thành. Nhìn vào bản đồ, Vĩnh – Trà là một cù lao dài trên 150 cây số, rộng 40 cây số với bờ biển Trà Vinh dài tới 65 cây số. Vĩnh – Trà nằm lọt vào giữa sông Tiền và sông Hậu, hai con sông lớn của đồng bằng sông Cửu Long chẳng khác nào hai cánh tay khổng lồ ôm gọn vào lòng cả vùng đất rộng lớn này. Vĩnh – Trà có ba thị xã: Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh và 18 huyện. Về đường bộ, Vĩnh – Trà có lộ 4 chạy qua (nay là quốc lộ 1) nối thành phố Cần Thơ với Sài gòn. Cùng với đường bộ, Vình – Trà có con sông Măng Thít nối liền với sông Tiền và sông Hậu chảy qua phần giữa của hai tỉnh là tuyến đường sông ngắn nhất vô cùng quan trọng nối miền Tây với Sài Gòn khiến thuyền bè không phải chạy vòng ra biển rất xa. Với vị trí xung yếu như vậy, bằng tầm nhìn chiến lược, bọn Mỹ đã đầu tư rất tích cực cho Vĩnh – Trà. Chúng bố trí ở Sư đoàn 9 ngụy với ba Trung đoàn: 14, 15 và 16; thiết đoàn 2 thiết giáp, 50 xe M113 và M118, ba giang đoàn tàu. Trung đoàn không quân đóng ở sân bay Vĩnh Long với trên 70 máy bay trực thăng và trinh sát L19. Sở chỉ huy pháo binh chỉ huy hai tiểu đoàn pháo gồm 30 khẩu 105 và 155 ly, trên 10 tiểu đoàn bảo an và Tiểu đoàn 43 biệt động quân bảo vệ ở vòng ngoài. Thêm vào đó là hệ thống đồn bốt với trên 1.000 đồn chi chít, cứ cách một đến hai cây số có một đòn cùng bộ máy tề ngụy và ấp chiến lược kìm kẹp nhân dân vô cùng ác liệt. Để bảo vệ đầu não Cần Thơ và Sài Gòn, coi Vĩnh – Trà là hậu phương an toàn của chúng, Mỹ - ngụy ra sức thí nghiệm chính sách bình định, phát quang cây cối, triệt phá địa hình, không cho lực lượng cách mạng trú ẩn; đồng thời chúng tiến hành cai trị bằng đạo giáo phản động và tổ chức Phượng Hoàng - Thiên Nga gồm những tên gián điệp ngầm tung vào nội bộ ta để dò la tin tức và mua chuộc cán bộ nhằm ‘tát nước bắt cá”. Qua đó địa bàn Vĩnh – Trà nổi lên hai đặc điểm lớn:

        Bộ máy kìm kẹp quần chúng và đồn bốt địch rất dày đặc.

        Địa hình rất trống trải. Tuy Vĩnh – Trà là đồng bằng song không có những rừng tràm, rừng đước và những vườn cây ăn trái dày, rộng, um tùm che khuất như U Minh.

        Hai đặc điểm lớn trên chi phối hoạt động của ta. Bộ đội chủ lực muốn hoạt động được phải có hai yếu tố quan trọng; cơ sở quần chúng che chở và phải có thế địa hình. Về địa hình Vĩnh – Trà rất hạn chế, tuy có vườn cây, nhưng địch ráo riết phát quang, triệt phá. Chúng bắt dân phải đốn hết các gốc cây to, nhỏ, chỉ cho chừa lại vài gốc dừa con, lưa thưa nhưng lại phải quét vôi trắng ở dưới để chúng dễ phát hiện ta di chuyển.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 10:58:44 pm

        Bởi thế một tiểu đoàn chủ lực hoạt động được ở Vĩnh – trà gặp rất nhiều khó khăn, không thể giống như các tỉnh Sóc Trăng, Rạch Giá hoặc Cà Mau được. Từ trước đến lúc này tại Vĩnh – Trà chỉ có hoạt động lẻ tẻ của bộ đội địa phương tỉnh, huyện và các đội du kích nhỏ song vẫn bị hạn chế nhiều. Muốn đưa phong trào cách mạng của địa phương lên, trước hết Tiểu đoàn 306 phải cùng Vĩnh – Trà xây dựng được cơ sở chính trị quần chúng và thế địa hình. Cấp trên tin tưởng giao cho tôi lãnh trách nhiệm đó. Rất may là vừa dịp quân khu cử anh Ba Quang về làm chính trị viên Tiểu đoàn 306 để cùng với tôi chỉ huy đơn vị. Gặp gỡ anh Ba Quang tôi rất mừng. Qua trao đổi với anh, tôi biết anh Ba được Phòng Chính trị quân khu cử về nằm vùng ở Vĩnh – Trà từ mấy năm trước để giúp tỉnh xây dựng phong trào cách mạng ở địa phương. Anh Ba Quang là cán bộ tập kết từ miền Bắc trở về. Quê anh ở Mỹ Tho song quen hoạt động ở Vĩnh – Trà từ những năm kháng chiến chống Pháp. Càng về sau, cùng chiến đấu với nhau nhiều trận tôi càng thêm mến phục anh Ba Quang bởi ý chí kiên cường, bất khuất, lòng dũng cảm và tính tình cương trực thẳng thắn của anh. Tuy là một cán bộ chính trị nhưng tác phong của anh mang đậm nét cán bộ quân sự, đối với anh đã bàn đánh là chỉ có đánh mà thôi, không hề nghe anh bàn lùi lời nào vì những khó khăn. Nắm vững từng địa hình rất mỏng, rất hẹp, đưa tấm bản đồ Vĩnh – Trà, trong đó anh đánh dấu các đòn bốt địch đóng dày đặc như bát úp, thoạt trong tưởng một tiểu đội chủ lực cũng không thể đứng chân được. Anh Ba Quang cười hiền hoà nói lại với tôi:

        - Coi địa hình đối với bộ đội chủ lực thì gian nan vậy đó, thực ra lòng dân Vĩnh – Trà lại rất tốt, có truyền thống cách mạng lâu đời, một lòng theo Đảng từ những năm 1940. Mấy năm vừa qua tối dựa vào dân mà sống. Cơ quan của Tỉnh uỷ ở cách địch chỉ trên dưới một cây số, hai đầu là hai đồn địch, mình đóng giữa vẫn tồn tại được. Nhờ nhân dân bảo vệ thôi. Rồi nay mai anh sẽ thấy điều tôi nói đúng có không?

        Rất hứng khởi nắm chặt tay anh Ba Quang tôi vui vẻ đáp:

        - Được! Anh cùng các anh trong ban chỉ huy tiểu đoàn ở nhà, làm tốt công tác chuẩn bị, quán triệt cho đơn vị thông suốt nhiệm vụ chiến trường mới, tôi sang Vĩnh – Trà trước nắm tình hình. Các anh tổ chức bộ đội xong sẽ sang sau.

        Trung tuần tháng 12 năm 1965, cùng một bộ phận cán bộ tiểu đoàn, tôi dẫn sáu đại đội trưởng và phân đôi trinh sát đi trước; bộ phận cán bộ tiểu đoàn, tôi dẫn tới 40 – 50 cán bộ, chiến sỹ, hơn một trung đội. Sở dĩ nhiều như vậy là do anh em trinh sát đông. Quân số Tiểu đoàn 306 hồi này lên tới trên 800, tương đương một trung đoàn. Trong chiến đấu, tôi thường điều theo bộ phận trinh sát kỹ thuật được trang bị nhiều máy vô tuyến điện, vừa nắm địch vừa nắm chắc ta, nên tuy xa đơn vị nhưng tôi vẫn liên lạc nắm tình hình ở nhà rất chặt.

        Từ Sóc Trăng chúng tôi lên đến huyện Cái Sách (Cần Thơ) rồi nhờ đường giao liên tổ chức đưa qua sông Hậu, con sông mà anh em thường lắc đầu gọi là “sông bạc đầu”, “sông giảm kỷ”, vì mỗi lần vượt qua đó, cán bộ, giao liên đều lo lắng, cảm thấy như giảm thọ mất chục tuổi. Quả vậy, chính lúc trông thấy cảnh tàu thuyền, bo bo địch phong toả sông Hậu rộng lớn, tôi càng cảm nhận thấy nỗi lo hiểm nguy bất chợt ập đến với mình giữa lúc đang qua sông. Tàu chiến, tàu tuần tiễu đêm ngày san sát bịt kín và bịt chặt lối ta sẽ vượt qua. Đêm đến đèn pha rọi khắp nơi sáng như ban ngày, một cụm lục bình nhỏ cũng sớm bị phát hiện. Cứ năm phút một, từng tốp bo bo (loại thuyền bay tuần tiễu) chạy lướt trên mặt nước đuổi từng chiếc ghe đánh cá của dân, tốc độ của chúng lên tới 30 – 40 hải lý. Dưới sông tàu thuyền tuần tiễu giăng đầy. Trên bờ cơ man nào là phòng vệ dân sự, tề, điệp ngầm cùng hệ thống ấp chiến lược dày đặc mà địch bắt dân sắm mõ báo động mỗi khi phát hiện có người lạ đến. Thu mình lại bên bờ nam sông Hậu chúng tôi quan sát bố phòng của địch ngăn chặn ta. Quả vượt qua sông thật khó khăn, đầy gian nan, nguy hiểm. Cùng với việc Mỹ - ngụy “bịt” sông khá kín thì lòng sông Hậu lúc nước lớn nhiều chỗ rộng từ hai đến ba cây số trông hun hút, xa lơ xa lắc. Khi trời nổi gió từng đợt sóng dâng cao cùng những con xoáy sâu và rộng như muốn lôi tuột những chiếc ghe nhỏ xuống tận đáy sông. Đứng trước dòng sông bao la, hung hãn lúc này tôi càng cảm thấy đối với sức mạnh của thiên nhiên, thì con người mới nhỏ bé làm sao. Cộng với súng đạn của địch đang rình rập quanh mình thì những sợi tóc trên đầu sao chẳng chớm bạc. Muốn đặt chân lên đất liền của Vĩnh – Trà chúng tôi không chỉ qua sông Hậu mà còn phải vượt qua sông Tân Quy và nhánh của nó nữa, tức là qua liền ba dòng sông đầy nguy hiểm như nhau.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 10:59:40 pm

        Nhờ sự giúp đỡ tận tình của giao liên và du kích các thôn ấp, chúng tôi liên lạc được với cơ sở cách mạng ở cù lao Tân Quy nằm trên bờ bắc sông Hậu, do đó nắm được chỗ yếu của địch. Thực tế bề ngoài dân tuy bị địch gom hết vô ấp chiến lược nhưng lòng dân luôn hướng về cách mạng, hướng về Đảng, ngày đêm ngóng chờ bộ đội đến giải thoát cho mình; phòng vệ dân sự, một tổ chức bán vũ trang địa phương của địch “bảo vệ” xóm ấp, được trang bị súng đạn; về đêm đa số anh em này lại trở thành đội viên du kích của ta.

        Thức ba đêm liền căng thẳng theo dõi địch, nửa đêm thứ tư chúng tôi nhận thấy phía bờ bên kia chợt có ánh đèn pin tắt rồi loé lên mấy lần. Đó là ám hiệu. Lập tức chúng tôi xuống xuồng; đèn pha của địch vừa tăt, cán bộ, chiến sỹ mỗi người cầm một bơi chèo hối hả quật nước cho xuồng vun vút vượt sông. Lúc lên đến bờ, du kích và cơ sở ùa ra đón mừng vui, nghẹn ngào nói: “Các anh đã về!”.

        Ngày hôm ấy tôi được gặp gỡ, trò chuyện thân mật với nhiều bà con vốn khao khát độc lập, tự do, mấy năm liền nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ, du kích nằm hầm bí mật đào dưới nền nhà hoặc ngoài vườn cây của minh. Hai đêm sau đoàn tiền trạm vượt hai con sông và hai cù lao nữa, thay đổi ba lần xuồng. Sáng sớm ngày thứ ba chúng tôi an toàn đặt chân lên đất liền huyện Cầu Kè địa bàn của Trà Vinh. Tại đây anh Nguyễn Văn Đáng (Năm Trung, Bí Thư Tỉnh uỷ) và anh Sáu Hoàng (Tỉnh đội trưởng Vĩnh – Trà) nhận được điện của quân khu đã chờ đón chúng tôi ở nhà má Sáu, một cơ sở trung kiên cách đồn địch chưa đầy hai cây số. Chúng tôi ôm lấy nhau tay bắt mặt mừng như anh em ruột thịt trải qua thời kỳ gian lao, biền biệt xa nhau lâu mới có dịp gặp lại. Hai anh vồn vã dẫn tôi về căn cứ Tỉnh uỷ đầu Giồng Cát ấp Bà Mi cách đồn địch khoảng hai cây số và cách chi khu Cầu Kè khoảng bốn cây số, giới thiệu hoạt động của địch, phong trào chiến đấu của quân và dân Trà Vinh giúp tôi sƠ bộ hiểu được tình hình.

        Càng tiếp xúc với bà con, với du kích Vĩnh – Trà, kể cả bà con bị địch nhốt chặt trong các ấp chiến lược như nhốt trong các nhà tù, tôi càng thấy những điều anh Ba Quang, Chính trị viên tiểu đoàn khẳng định với tôi rằng bà con rất tốt, rất gắn bó, tha thiết với cách mạng là hoàn toàn chính xác.

        Năm 1930, Vĩnh – Trà sớm có chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên, đã nhanh chóng tập hợp lực lượng, lãnh đạo hàng nghìn quần chúng mít tinh, biểu tình đòi thực dân Pháp thực hiện dân sinh, dân chủ. Bước sang năm 1940, nhiệt liệt hưởng ứng Nam Kỳ khởi nghĩa, nhân dân các huyện Vũng Liêm, Càng Long, Tam Bình, Cái Ngang, Cầu Kè, Trà Ôn... đã anh dũng nổi dậy tiến công quân thù, đặc biệt nhân dân Vũng Liêm giành đựoc chính quyền ở quận lỵ và tất cả các xã; trong kháng chiến chống Pháp, quân và dân Vĩnh – Trà liên tiếp mở hàng loạt chiến dịch như Cầu Kè, Cầu Ngang, Trà Vinh; năm 1949 – 1950, đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Có những trận đánh nổi tiếng như trận La Bang, Phong Phú (Cầu Kè), Long Hồ, Ba Càng, bắt hàng trăm tên Âu – Phi, đánh hỏng nhiều tàu.

        Với truyền thống đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo, đoàn kết giữa Đảng với dân, giữa quân với dân, lịch sử đã để lại cho Vĩnh – Trà một đội ngũ nhân dân được cách mạng triệt để, thiết tha với độc lập, tự do, có kinh nghiệm đấu tranh với quân thù và một đội ngũ đảng viên được thử thách trong đấu tranh chính trị và vũ trang với địch. Truyền thống vẻ vang và thành tích chiến đấu đó rất xứng đáng với tám chữ vàng: “Vĩnh – Trà anh dũng, đoàn kết lập công” được Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam khen tặng.

        Suốt nửa tháng hăm hở chuẩn bị chiến trường, trực tiếp sống với bà con, cô bác, những em bé rải khắp các xã, các huyện của Vĩnh – Trà lòng tôi cảm thấy tràn ngập niềm tin, niềm cảm phục những con người bình thường, chân chất, hiền như củ khoai, hạt lúa song sục sôi lòng yêu nước. Nếu không được nhân dân tận tình nuôi dưỡng và bảo vệ thì căn cứ của Tỉnh uỷ ở sát nách địch và các tổ du kích Vĩnh – Trà đã không thể tồn tại được, mặc dù đã có hầm bí mật. Chiến tranh nhân dân thần thánh, kỳ diệu làm sao!

        Sau khi đã chuẩn bị xong chiến trường, tôi quyết tâm cho tiểu đoàn vượt sông sang Vĩnh – Trà và quyết đánh thắng trận đầu. Toàn tiểu đoàn trên 800 đồng chí với trên 200 chiếc xuồng và mượn thêm của dân 100 chiếc nữa, mỗi xuồng ba đến bốn người lướt sóng qua sông dưới ánh đèn pha tàu địch tuần tiễu, chỉ trong một đêm toàn Tiểu đoàn 306 với sáu đại đội đã vượt qua ba cù lao và ba con sông rộng an toàn, hoàn toàn bí mật. Đây là thắng lợi lớn ban đầu đối với đơn vị. Lòng nhẹ nhõm, tràn đầy tin tưởng.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:01:17 pm

        Giữ được thế bất ngờ đối với địch, tôi quyết tâm đánh thắng trận đầu để bộ đội và nhân dân tin tưởng, còn địch thì buộc phải thua đau. Kế hoạch diệt đồn đánh sập cầu Mai Tức kéo địch giải toả, ta diệt viện được Đảng uỷ, ban chỉ huy Tiểu đoàn 306 và Tỉnh đội Vĩnh – Trà đều nhất trí.

        Đêm 18 tháng 1 năm 1967, tôi sử dụng Đại đội 57 và bộ phận đặc công của tiểu đoàn diệt đồn Đập Ấu và đánh sập cầu Mai Tức dài 50 mét nằm trên lộ 7 từ Trà Vinh chạy về thị xã Vĩnh Long, mặt lộ rộng tráng nhựa. Giao thông nối liền hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh bị cắt. Bao nhiêu xe đò, xe quân sự bị ùn tắc, hai thị xã náo động. Ngay sáng hôm sau, địch đưa Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 14 cùng với lực lượng bảo an từ Trà Vinh lên vừa để chiếm lại đồn vừa bảo vệ cho công binh bắc lại cầu, đúng như dự kiến của ta.

        Tối ngày 20 tháng 1 năm 1967, tiểu đoàn bí mật hình thành thế bao vây nổ súng tập kích địch. Sau hai giờ chiến đấu, đơn vị tiêu diệt trên 300 tên địch, thu trên 100 súng. Cùng lúc, tiểu đoàn tập kích bằng hoả lực vào chi khu Càng Long làm cháy hai khẩu pháo 105 ly và làm sập nhà trại của lính, giết chết hàng chục tên. Về phía ta chỉ bị thương nhẹ vài đồng chí. Trận đánh mở màn giành được thắng lợi, quân và dân Vĩnh – Trà vô cùng phấn khởi. Lần đầu tiên một tiểu đoàn chủ lực địch bị thiệt hại nặng trên đất Vĩnh – Trà mà hơn 10 năm nay Mỹ - ngụy cho là vùng hậu cứ an toàn, nơi mà chúng thường huênh hoang với bà con rằng đã quét sạch “Việt cộng”. sau trận đánh thắng này, Tiểu đoàn 306 lại được Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba.

        Phối hợp với hoạt động của chủ lực Khu, hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh đẩy mạnh ba mũi giáp công nổi dậy phá ấp chiến lược, diệt và bức hàng trên 10 đồn bốt địch, tuyến An Trương – Tân An được giải phóng. Trông thấy bộ đội chủ lực sau một thời gian dài vắng bóng nay về đông, súng đạn nhiều, trận đầu đã đánh địch thua đau, bà con Vĩnh – Trà rất hể hả. Lúc này đã vào Tết âm lịch, nhà nhà náo nức chuẩn bị đón Tết, lớp tiếp tế nấu cơm, mang quà bánh tiếp tế bộ đội, lớp vây đồn, phá ấp chiến lược, tiếng cười, tiếng nói râm ran, không khí xóm ấp sôi động hẳn lên.

        Bất ngờ bị thất bại nặng, địch lồng lộn điên cuồng. Chúng điều động Trung đoàn 14 Sư đoàn 9 trả đũa, mở cuộc phản kích vào An Trương hòng tiêu diệt lực lượng ta đang cùng nhân dân mừng xuân. Nhằm phá kế hoạch càn quét của địch, tôi bàn với Đảng uỷ Tiểu đoàn 306 và Tỉnh đội Trà Vinh chỉ nên để lại một trung đội để hỗ trợ địa phương và du kích đánh địch, bảo vệ tính mạng và tài sản của dân. Địa hình ở vùng này trống trải, lực lượng địch đông gấp ba, gấp bốn lần, ta đánh vỗ mặt chúng có thể thắng nhưng không gọn, chỉ tiêu hao thôi. Bởi vậy lực lượng lớn của tiểu đoàn nên chuyển về phía sau đánh thẳng vào căn cứ Bãi Sang, giành thế chủ động đối với địch. Tập thể nhất trí kế hoạch đó. Căn cứ Bãi Sang là một hệ thống đồn bốt và ấp chiến lược bảo vệ khu công giáo nằm sát sông Tiền và bảo vệ thị xã Trà Vinh về phía tây. Từ hồi nào tới giờ chưa có lần nào ta vào được. Cho nên địch dương dương tự đắc tin rằng Bãi Sang là vùng bất khả xâm phạm, là sân sau an toàn nhất của chúng.

        Tôi đề nghị cùng lúc Tiểu đoàn 306 đánh vào căn cứ Bãi Sang thì bộ đội tỉnh và đặc công tiểu đoàn tập kích vào thị xã Trà Vinh.

        Ba ngày sau, đêm 30 tháng 1 năm 1967, tiểu đoàn tiến công diệt hai đồn và năm lô cốt của căn cứ Bãi Sang, diệt hai đại đội bảo an, hàng trăm dân vệ, phá banh hệ thống ấp chiến lược. Cùng lúc hoả lực tiểu đoàn tập kích chi khu Càng Long phá bốn khẩu pháo 105, sở chỉ huy hành quân địch bị thiệt hại nặng, trên 40 tên thiệt mạng. bị thua đau, Trung đoàn 14 phải bỏ cuộc càn hốt hoảng rút về bảo vệ thị xã Trà Vinh và tái chiếm Bãi Sang. Vô cùng phẩn khởi, nhân dân Trà Vinh nhiệt liệt hoan hô, chúc mừng bộ đội đã đánh bại cuộc càn của địch, hỗ trợ đắc lực cho đồng bào đẩy mạnh ba mũi đấu tranh phá ấp chiến lược trở về ruộng vườn cũ, nhân đó Trà Vinh gỡ trên 50 đồn bốt. Thời gian ấy phía Vĩnh Long cũng hoạt động mạnh. Trong vòng một tháng vừa bước chân lên đất Vĩnh – Trà, Tiểu đoàn 306 đã đánh thắng hai trận lớn. Từ khi vượt sông Hậu, Sông Tiền, tiểu đoàn đã hoàn toàn giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ nên địch tuy bị giáng trả đau song vẫn chưa biết có chủ lực Khu đã đứng vững chân tại hậu cứ an toàn của chúng. Còn bà con Trà Vinh thì biết rất rõ sức mạnh của Tiểu đoàn 306, song để giữ bí mật đơn vị vẫn giấu phiên hiệu không gọi Tiểu đoàn 306, mà là Tiểu đoàn 501 của tỉnh, nhưng đồng bào thì biết rõ và thân thương gọi tiểu đoàn bằng tên riêng do mình đặt ra. “Bác Sáu”. “Bác Sáu đã về”. Mỗi khi gặp cán bộ tiểu đoàn, bà con tươi cười chào: “Chú Sáu ơi, mừng quá, vui quá hà!”. Còn gặp binh sỹ ngụy đi lẻ thì các cụ, các má lại hù doạ: “Đừng có làm ác nghe. Làm ác, bà con kêu bác Sáu về bỏ mạng đó!”.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:02:13 pm

        Đánh thắng địch một số trận mở đầu ở Trà Vinh, xong chúng tôi vẫn xác định mục tiêu chính của Tiểu đoàn 306 mà quân khu giao cho là hoạt động ở Vĩnh Long.

        Vĩnh Long so với Trà Vinh có nhiều khó khăn, địa hình vừa trống vừa mỏng, có quốc lộ 4 và sông Măng Thít nối liền sông Tiền, sông Hậu. Địch bình định đánh phá ác liệt, đóng đồn dày đặc. Ta không có căn cứ, lực lượng vũ trang và cán bộ tỉnh, huyện phải hoạt động bán hợp pháp, ban ngày bám cơ sở sống trong vách đôi hoặc dưới hầm bí mật, ban đêm ngoi lên hoạt động gây dựng cơ sở, gần sáng lại phải xuống hầm bí mật; mọi sinh hoạt đều ở dưới hầm được cơ sở bảo vệ, cứ như thế sống hết ngày nọ đến tháng kia. Có đồng chí hàng năm mới có kịp vô căn cứ báo cáo tình hình cho Tỉnh uỷ năm, mười ngày rồi lại phải trở lại cơ sở, ghẻ lác đầy minh, mặt mày xanh xao, người ốm yếu tong teo trông rất thương hại. Mặc dầu vậy, Đảng bộ Vĩnh Long từ Tỉnh uỷ đến cơ sở luôn lạc quan, tin tưởng dựa vào dân bám trụ địa bàn tồn tại và chiến đấu, một tấc không đi một ly không rời. Được tin Tiểu đoàn 306 sẽ lên Vĩnh Long hoạt động, từ tỉnh đến huyện đều vui mừng, tin tưởng, nhất là đồng chí Nguyễn Ký Ức (Sáu Ức) – Bí thư Tỉnh uỷ và đồng chí Hai Thành Công - Tỉnh đội trưởng, gặp tôi đều nói lên tình cảm và sự tin tưởng của Thường vụ Tỉnh uỷ, Tỉnh đội trước sự quan tâm của Khu uỷ, quân khu cho bộ phận chủ lực Khu qua Vĩnh – Trà lên hỗ trợ Vĩnh Long. Hai đồng chí cho biệt tình hình Vĩnh Long tạm thời có khó khăn nhưng nhân dân rất tốt, một lòng tin cách mạng, hướng về Bác Hồ. Được nhân dân đùm bọc, che chở, lực lượng vũ trang và cán bộ Vĩnh Long vẫn tồn tại trong lòng địch. Toàn Đảng bộ sẽ làm hết sức mình, tạo mọi điều kiện để tiểu đoàn đứng vững và hoạt động tốt. Càng tai nghe mắt thấy tôi càng thấu hiểu những mất mát, hy sinh chịu đựng của Đảng bộ Vĩnh Long. Tôi phổ biến, truyền đạt lại cho đơn vị, hầu hết cán bộ, chiến sỹ tiểu đoàn đồng lòng, nhất trí, quyết tâm khắc phục khó khăn cùng Vĩnh Long diệt địch, bảo vệ đồng bào.

        Địch đã đánh hơi có chủ lực ta sang hoạt động ở Vĩnh – Trà; để ngăn chặn bảo vệ Vĩnh Long, giữa tháng 3 năm 1967, Sư đoàn 9 ngụy đưa quân lên cắm chốt bình định tuyến sông Măng Thít.

        Cuối tháng 3 năm 1967, tôi và đồng chí Ba Quang – Chính trị viên, chuẩn bị đưa tiểu đoàn lên hoạt động ở Vĩnh Long, vừa đến xã Hoà Bình, đông nam Tam Bình tám cây số thì phát hiện địch vào chốt đầu vàm Mương Khai để bình định tuyến sông Măng Thít. Tình huống ngoài dự kiến. Tôi hội ý với đồng chí Ba Quang: “Đây là thời cơ, nếu để êm, địch đóng đồn bình định, chúng sẽ ngăn sông ta khó tiến lên Vĩnh Long. Ta khắc phục khó khăn, tập trung tiểu đoàn tập kích địch, vừa diệt được sinh lực địch vừa đánh bại kế hoạch bình định, ý đồng chí thế nào?”. Đồng chí Ba Quang lạc quan đáp: “Tôi hoàn toàn nhất trí với anh Ba, đây là cơ hội có lẽ trời khiến số phận địch đến nộp mạng cho tiểu đoàn lập công bước lên địa bàn Vĩnh Long, đề nghị anh hạ quyết tâm, tôi ủng hộ và đông viên bộ đội sẽ sẵn sang”. Tôi báo cáo xin ý kiến đồng chí Hoài Pho (Ba Mai) – Tư lệnh tiền phương quân khu được anh chấp thuận. Hôm ấy là 20 tháng 3, tôi vừa ra lệnh, đồng chí Năm Còi và đồng chí Ba Thu - Tiểu đoàn phó điều động tiểu đoàn còn đóng quân ở xã Nhĩ Long, bắc Càng Long nhanh chóng về Hoà Bình. Địch vào chốt Mương Khai là Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 16 Sư đoàn 9 và Giang đoàn tàu gồm 10 chiếc PCF. Chúng đóng quân về phía nam sông Măng Thít hai bên vàm Mương Khai công sự mới đổ đất. Mới cắm quân được một tuần, nhưng địch rất hung hăng, hàng ngày lớp tàu, lớp bộ binh bung ra càn quét đánh phá cơ sở, hãm hiếp phụ nữ, cướp giật tài sản nhân dân. Xuồng ghe của dân đi lại bị chúng chặn xét giật đồ đạc gây khó dễ.

        Nắm được quy luật bố phòng, ngày 23 tháng 3, tiểu đoàn vừa bắc Càng Long về đến Hoà Bình, tôi khẩn trương làm công tác tổ chức, động viên bộ đội. Đây là thời cơ chúng ta quyết đánh thắng, tiêu diệt gọn cả bộ binh và tàu địch như đã giành thắng lợi trận đầu Mai Tức (20 tháng 1) để lập thành tích mở màn đưa tiểu đoàn lên hoạt động ở Vĩnh Long. Tuy chuẩn bị rất khẩn trương, mệt nhọc, nhưng cán bộ, chiến sỹ tin tưởng phấn khởi nhất trí cao, hứa quyết tâm lập công đầu bắn chìm tàu sắt địch.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:02:47 pm

        Đêm 24 tháng 3, tiểu đoàn với trên 200 chiếc xuồng ngụy trang kín đáo đã áp sát địch; từng chiến sỹ rời khỏi xuồng theo kế hoạch tiềm nhập trận địa, đội hình đã hình thành bao vây sẵn sàng nổ súng. Dưới sông, tàu sắt địch vẫn nổ máy; từ vọng gác địch rọi đền pin quét ngang dọc, dò từng bụi cây, nhưng chúng không ngờ quanh chúng gần 1.000 chiến sỹ ta đang xiết chặt vòng vây. Tôi kiểm tra Đại đội 59 nhiệm vụ thọc sâu chia cắt địch, đồng chí Chín Tròn - Đại đội trưởng báo cáo: “ngon lắm anh Ba ơi, anh em đã áp sát tiến duyên địch, hoả khí đã phát hiện cụm tàu dưới mé sông rất rõ, đề nghị anh cho nổ súng”.

        Đúng 1 giờ 30 sáng, tự tin và bình tĩnh, tôi ra lệnh nổ súng. Nhất loạt mìn định hướng, súng cối ĐKZ và các loại hoả lực cấp tập bắn vào đội hình địch ầm ầm rền vang toàn trận địa. Địch tán loạn không kịp đối phó. Đồng chí Chính Tròn báo cáo ba tàu PCF bốc cháy và chìm. Đại đội 59 đã áp sát mé sông, đội hình địch đã bị chia cắt, đại đội phát triển thuận lợi. Tôi biểu dương Đại đội 59 và ra lệnh tiểu đoàn theo kế hoạch dũng mãnh tiến công nhanh chóng bao vây chia cắt địch. Anh em chiến đấu rất dũng cảm, lớp diệt bộ binh, lớp bắn chìm tàu địch. Sau ba giờ nổ súng ta làm chủ trận địa, diệt trên 250 tên, bắn chìm tám tàu, thu trên 100 súng, cơ bản tiêu diệt Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 16 và giang đoàn tàu địch. Gần sáng đơn vị lui về xã Hoà Bình phòng ngự đánh địch phản kích.

        Bị thua đau, địch như con thú dữ bị trọng thương. Tiểu đoàn vừa đến xã Hoà Bình, dựa vào trận địa và công sức cũ, cán bộ, chiến sỹ khẩn trương bổ sung công sự, tăng cường ngụy trang, bộ đội chưa kịp ăn sáng thì 7 giờ sáng ngày 26 tháng 3 đoàn trực thăng vũ trang và L19 hung hăng bay tới bắn phá. Cùng lúc bốn trận địa pháo địch: Cầu Mới, Ba Kè, Tam Bình, Mai Phốp cấp tập bắn vào trận địa ta mãnh liệt, tiếp theo là hàng chục phi vụ phản lực, khu trục luân phiên ném bom phá và bom na-pan nhằm huỷ diệt trận địa ta để yểm trợ cho bộ binh đổ quân bao vây tiêu diệt. Cuộc chiến đấu ngay từ sáng sớm diễn ra vô cùng ác liệt. Sau hai giờ pháo binh, phi cơ điên cuồng oanh tạc, địch cho 30 trực thăng cùng phi cơ yểm trợ liên tục đổ Trung đoàn 15 và Trung đoàn 16 còn lại xuống trận địa hòng bao vây tiêu diệt tiểu đoàn.

        Tôi vừa chỉ huy tiểu đoàn lợi dụng công sự cũ tăng cường củng cố ngụy trang xây dựng trận địa nhiều tầng vững chắc, vừa tổ chức hoả lực bắn trực thăng địch; vừa sẵn sàng đánh bại địch đổ quân, vừa tranh thủ họp Đảng uỷ chớp nhoáng để nhất trí nhận định tình hình, giữ vững quyết tâm và lãnh đạo động viên bộ đội thề quyết tử giữ vững trận địa, đánh bại phản kích địch. Bom đạn ác liệt, nhưng cán bộ, chiến sỹ ta chiến đấu vô cùng dũng cảm. Từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều, tiểu đoàn đã đánh bại sáu đợt đổ quân, đánh lui tám đợt xung phong của địch, giữ vững trận địa, ba lần xuất kích diệt địch giữa đồng, bắn rơi tại chỗ 12 trực thăng, bắn bị thương một số chiếc khác, diệt trên 600 tên địch, đánh thiệt hại ba tiểu đoàn. Đây là trận đánh vô cùng ác liệt từ khi bước sang Vĩnh – Trà. Ta đã giành được thắng lợi to lớn, địch bị bất ngờ thiệt hại nặng nề. Từ phản kích chúng phải chuyển sang thu dọn hậu quả, huy động hàng chục trực thăng cần cẩu đến trận địa tải xác chết, trục tàu chìm và móc trực thăng về Vĩnh Long, kết thúc cuộc càn, huỷ bỏ kế hoạch bình định sông Măng Thít. Nhân dân vô cùng phẩn khởi, công khai đưa tin quốc gia thua, Việt cộng thắng, hàng trăm gia đình binh sỹ địch để tang kêu khóc đòi đền mạng chồng, con, em bị chết, lớp kêu chồng con em đi lính trở về. Thị xã Vĩnh Long và vùng địch tạm chiếm lâu nay bị kìm kẹp sôi động hẳn lên. Hàng nghìn người xuống đường đấu tranh chống khủng bố, chống bom đạn làm cho Mỹ - ngụy vô cùng hoang mang.

        Được sự giúp đỡ của nhân dân và Đảng bộ địa phương, Tiểu đoàn 306 chôn cất các đồng chí hy sinh và chăm sóc anh em thương binh, tập trung bổ sung quân số, củng cố đơn vị và bàn nhiệm vụ, kế hoạch, phương thức hoạt động mới để chuyển tiểu đoàn lên hoạt động ở Vĩnh Long, phát huy thắng lợi, hỗ trợ địa phương diệt địch, trừ gian, phá ấp chiến lược, chuyển vùng, hoàn thành nhiệm vụ quân khu giao.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:03:15 pm

        Ban chỉ huy Tiểu đoàn 306 chúng tôi nhất trí đánh giá sau ba tháng bước chân lên địa bàn Vĩnh – Trà, đơn vị đã giành thắng lợi bước đầu, được nhân dân và Đảng bộ địa phương tin tưởng, hết lòng quý mến, giúp đỡ. Tuy đứng chân ở Trà Vinh, so với Vĩnh Long có nhiều thuận lợi hơn; từ kinh nghiệm hoạt động ban đầu ở Trà Vinh thì tiểu đoàn có thể đứng chân trên đất Vĩnh Long được. Song vì Vĩnh Long không có căn cứ nên không cho phép tiểu đoàn tập trung mà phải hoạt động bí mật, phân tán dựa vào dân, gắn với địa phương, trước mắt lấy đánh nhỏ diệt ác, phá kìm gây dựng cơ sở mở lõm chuyển vùng là chủ yếu, phải tạo cơ sở khi có điều kiện mới nâng dần đánh tập trung thích hợp. Được Đảng uỷ tiểu đoàn nhất trí, tôi tập trung cán bộ và chiến sỹ toàn tiểu đoàn phổ biến tình hình nhiệm vụ và phương châm, phương thức hoạt động cho anh em thảo luận góp ý kiến. Cuối cùng anh em nhất trí và hạ quyết tâm: trước đây tiểu đoàn ở Cà Mau, Cần Thơ nghe nói Vĩnh – Trà khó, ai cũng lo lắng, nhưng nay qua Trà Vinh mấy tháng cũng quen, lên Vĩnh Long cũng thế, miễn là cán bộ, chiến sỹ quyết tâm đoàn kết thì khó mấy cũng vượt qua.

        Cuối tháng 4 năm 1967, tiểu đoàn phân tán từng đại đội trên ba hướng: Đại đội 58 do đồng chí Danh - Đại đội trưởng lên hoạt động ở các huyện Bình Minh, Châu Thành bắc lộ 4; Đại đội 59 do đồng chí Chín Tròn - Đại đội trưởng hoạt động hướng Cái Nhum, đông thị xã Vĩnh Long đến sông Tiền; tiểu đoàn còn lại tập trung hoạt động ở Tam Bình, sông Măng Thít đến lộ 4.

        Được nhân dân đùm bọc nuôi dưỡng, được địa phương giúp đỡ hiệp đồng gắn bó trên từng hướng, lúc đầu bộ đội hoạt động có khó khăn, dần dần với tinh thần trách nhiệm và thực tế chiến trường, tiểu đoàn đã hoạt động tốt, nhất là hướng Cái Nhum. Ở hướng này, Đại đội 59 và địa phương qua 14 tháng hoạt động đã diệt ác phá kìm diệt trên 500 tên địch, diệt bức hàng 45 đồn, phá hàng chục ấp chiến lược, mở lõm chuyển vùng được năm xã. Từ đại độ phân tán, tổ, tiểu đội ém quân hầm bí mật, dân nuôi đánh địch, tiến lên ở Cái Nhum có căn cứ lõm sát thị xã Vĩnh Long, bảo đảm đại đội có chỗ trú quân hoạt động tập trung diệt gọn từng trung đội, đại đội địch và địa phương tiến lên làm chủ địa bàn.

        Hướng Bình Minh, bắc lộ 4, Đại đội 58 và lực lượng tỉnh hiệp đồng tốt gỡ 30 đồn, diệt 7 đại đội, diệt và làm tan rã gần 1.000 tên địch, gây dựng cơ sở tốt, phá 20 ấp chiến lược, chuyển được vùng chữ V làm bàn đạp tiến lên tiến công sân bay Vĩnh Long, Bình Minh, Lấp Vò và Sa Đéc.

        Hướng Tam Bình, Tiểu đoàn 306 (thiếu) tập trung, phân tán đều, linh hoạt đã đánh trên 50 trận, diệt 1 tiểu đoàn, 15 đại đội, diệt 1.500 tên, gỡ 50 đồn, phá ấp chiến lược sát thị xã Vĩnh Long mở thông hành lang nam - bắc sông Măng Thít đến lộ 4, bảo vệ hỗ trợ tỉnh mở vùng xây dựng tuyến sông Cái Ngang – Ngã Tư thành căn cứ vững chắc của tỉnh.

        Sau bốn tháng hoạt động, Đại đội 8 và Đại đội 9 được tặng thưởng hai Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, Tiểu đoàn 306 được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng hai. Năm 1967, sau gần một năm hoạt động ở Vĩnh – Trà, tiểu đoàn gắn bó với địa phương đã diệt gần 10.000 tên địch, tiêu diệt, đánh thiệt hại bảy tiểu đoàn, một giang đoàn, 20 đại đội, gỡ trên 100 đồn bốt, bắn rơi 25 trực thăng, bắn chìm 15 tàu, phá 15 pháo 105, thu hàng nghìn súng, hiệp đồng hỗ trợ hai tỉnh đẩy mạnh ba mũi tiến công, chuyển thế mở vùng, từ bị kìm sang làm chủ ra sát vùng ven thị xã, đánh bại kế hoạch bình định sông Măng Thít của địch, xây dựng làm chủ bước đầu địa bàn then chốt vùng trung tâm Vĩnh – Trà gồm sáu huyện nam - bắc sông Măng Thít, nối thông hành lang hai tỉnh. Thời kỳ khó khăn, gian khổ nhất của Vĩnh Long và Trà Vinh đã qua. Quân ngụy không còn làm mưa, làm gió trên dãy đất đầy đau thương này. Vĩnh – Trà đối với chúng đã trở thành “bất trị”, “đi dễ khó về”.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:06:45 pm

THỊ XÃ VĨNH LONG XUÂN MẬU THÂN 1968

        Đến cuối năm 1967, tình hình Vĩnh – Trà khác trước nhiều. vùng nông thôn, nhiều nơi được giải phóng. Địch thủ thế co vào các thị xã, thị trấn và các trục giao thông quan trọng. Từ im lặng đã nhiều năm, sân sau an toàn của Mỹ - ngụy đột nhiên trở thành chiến trường sôi động hẳn lên. Song lực lượng của địch còn khá đông. Trên thế đó, các tiểu đoàn chủ lực Khu 9 được lệnh tích cực hoạt động hơn nhằm tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh hiện đại nhiều hơn nữa, chuẩn bị đón thời cơ mới xuất hiện. Hưởng ứng phong trào thi đua giết giặc lập công do quân khu phát động, Tiểu đoàn 306 và các lực lượng tỉnh Vĩnh – Trà càng tích cực tiến công địch, diệt đồn, đánh viện.

        Đêm 16 tháng 1 năm 1968, một bộ phận tiêu đoàn kết hợp vùng địa phương bao vây, tiến công căn cứ Nhà Đài thuộc chi khu Vũng Liêm (Trà Vinh), kéo địch ở Vĩnh Long ra chi viện. Chắc mẩm phen này sẽ hốt gọn lực lượng chủ lực của ta, địch vội vã điều động Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 16, Sư đoàn 9 ngụy ứng cứu cho Nhà Đài. Giải toả xong, ngày 18 tháng 1 năm 1968, đoàn xe 30 chiếc lủi thủi chở hàng chục xác chết và những tên bị thương do du kích Vũng Liêm trừng trị trở về Vĩnh Long. Địch đi đúng kế hoạch ta. Cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 306 có kinh nghiệm đánh vận động phục kích bình tĩnh ẩn mình trong các ấp chiến lược, được bà con hết lòng che chở, bảo vệ nên hoàn toàn giữ được bí mật. Địch thấy mọi hoạt động của người dân từ chợ búa, làm đồng, đi lại đều bình thường như các ngày khác nên không đề phòng. Đoàn xe 30 chiếc lọt vào trận địa ta. Lúc này là 5 giờ chiều, các mũi của tiểu đoàn bí mật vận động khép địch vào giữa đội hình, tôi ra lệnh nổ súng. Mìn, ĐKZ, đại liên, B40, súng cối của ta nổ rền vang, chia cắt đoàn xe địch. Đồng thời đồng bào trong vùng cũng đồng loạt nổi trống, mõ, thùng thiếc. Tiếng súng, tiếng trống mõ, xoong nồi, tiếng reo hò cổ vũ náo động cả khu vực rộng lớn chưa lần nào chúng nghe thấy làm binh lính địch kinh hoàng, khiếp đảm.

        Sau hai giờ chiến đấu, ta diệt gọn đoàn xe địch, diệt và bắt 300 tên, trong đó có ban chỉ huy Trung đoàn 16, thu trên 100 súng, đốt cháy 30 xe quân sự. Bà con trong ấp chiến lược Long Hồ và Vĩnh Long ca ngợi Quân giải phóng tài giỏi, giữa ban ngày, ngay trong vùng địch sát thị xã thế mà đoàn xe dài hàng mấy chục chiếc chở đầy quân chủ lực, có cả cố vấn Mỹ ngồi bên còn bị diệt gọn, địch không làm gì được. Càng tin tưởng lực lượng cách mạng, đồng bào càng ra sức kêu chồng, con em đi lính cho quốc gia bỏ về với gia đình làm cho địch càng hoang mang.

        Phát huy thắng lợi, tôi liền cho Tiểu đoàn 306 chuyển qua lộ 4, tiếp tục phục kích đoạn từ thành phố Cần Thơ đi Vĩnh Long, nơi mà trinh sát của ta nắm được là hàng ngày thường có một đoàn xe quân sự chở hàng (quân tiếp vụ) chạy qua. Đến tận nơi kiểm tra, tôi thấy trên đoạn đường này từ Ba Càng đi Lạc Hoà dài gần cây số rất trống trải, vườn cây và nhà dân không có, chỉ là một cánh đồng rộng, lúa tốt đang trổ, ruộng nào ruộng nấy còn ngập nước. Muốn giấu quân chỉ còn có cách ngụy trang bằng thân cây lúa và ngồi trên mặt nước mà thôi. Tiểu đoàn đã từng chiến đấu giữa mùa nước nổi của đồng bằng sông Cửu Long nên khó khăn đã có cách khắc phục. Sau khi nhận lệnh chuẩn bị, mỗi cán bộ, chiến sỹ đều sắm cho mình ba chiếc cọc, mỗi chiếc to gần bằng cổ tay và một đoạn dây. Hành quân đến địa điểm, anh em lấy dây cột chặt ba chiếc cọc đó làm thành chiếc nạng, ba chân chìa ra ba phía cắm xuống ruộng rồi ngồi trên mặt nước. Cũng khá chắc. Ai có võng thì lấy kê cho khỏi đau không có thì chịu đau, miễn đánh được địch. Bộ đội ngụy trang kín người bằng cây lúa rồi ngồi trên nạng, thòng hai chân xuống nước. Song cánh đồng này đỉa nhiều vô kể. Biết trước, mỗi người đem theo một gói thuốc lào, ít vôi bột và xà phòng rải xuống nước quanh chỗ mình ngồi. Những thứ đó hoà với nước lúc đầu làm đỉa dạt đi. Nhưng vài giờ sau, vôi, thuốc hết mùi thì từng đàn đỉa to, nhỏ đủ loại nhung nhúc bâu đen bám đầy chân. Thời tiết mùa đông sáng sớm trời rét, chân ngâm nước lâu cóng buốt, ai nấy miệng run lập cập. đến trưa trời lại nắng nóng, đỉa cắn bắt không xuể, máu chảy hoà với nước. Thế nhưng bộ đội vẫn cắn răng chịu đựng, nhắc nhủ nhau kiên trì chờ địch. Mãi đến 15 giờ, đoàn xe mới từ Cần Thơ chạy về Vĩnh Long. Mũi chặn đầu và mũi khoá đuôi bí mật vận động ra sát lộ 4 chặn địch. Bị đánh bất ngờ, đoàn xe bị động ngay từ lúc đầu. Tiểu đoàn nhanh chóng làm chủ trận địa, diệt 250 tên địch, đốt cháy 25 xe quân sự chở đầy quân dụng và thuốc lá. Ta thu trên 100 súng và hàng quân nhu đem về tiếp tế cho bộ đôi và du kích vừa đúng dịp Tết. Đánh thắng, chúng tôi rút về trú quân ở Cái Ngang – Long Công cách trận địa phục kích khoảng tám cây số theo đường chim bay. Chỉ trong vòng một tuần lễ hai tiểu đoàn chủ lực địch liên tiếp bị tiêu diệt, Trung đoàn 16 mất sức chiến đấu. Chỉ huy Sư đoàn 9 nổi khùng, tung ngay Trung đoàn 15 và Thiết đoàn 2 thiết giáp được phi pháo yểm trợ phản kích vào Cái Ngang.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:07:22 pm

        Về ta, hưởng ứng lời kêu gọi của mặt trận, tiểu đoàn cho bộ đôi nghỉ ăn Tết Âm lịch, nhưng địch ngoan cố, ta phải chuyển sang đánh địch phản kích quyết liệt từ 26 đến 28 tháng 1. Kết quả Tiểu đoàn 306 diệt trên 100 tên, bắn cháy năm xe M113 và bắn rơi ba trực thăng.

        Từ trên máy bay chiến đấu, chiều ngày 28 tháng 1 năm 1968, địch phát hiện dưới cây dừa có công sự đắp nổi của ta. Lập tức bốn trực thăng vũ trang bâu lại thay phiên nhau bắn phá vô cùng dữ dội. Miệng hầm của tôi đã bị sập. Hầm vừa đào xong chỉ đủ chứa một đến hai người là cùng, mà chúng tôi có những ba: hải - bảo vệ, đồng chí Thu - Tiểu đoàn phó và tôi nên rất chật, không thể tránh địch được nữa. Đồng chí Hải chỉ kịp nói: “Chú Ba, địch đã phát hiện hầm ta. Cháu ra ngoài hút máy bay”.

        Chúng tôi chưa kịp ngăn lại thì Hải đã nhảy phốc ra khỏi hầm, thoắt ẩn thoắt hiện sau gốc dừa dùng súng AK bắn mãnh liệt vào bầy trực thăng bay rất thấp. Phía trước, tổ bộ binh trong liếp dừa trông thấy cũng bắn chi viện. Một chiếc “bù nóc” trúng đạn loạng choạng bay tiếp được một quãng rồi rơi sầm xuống đất bốc cháy. Ba chiếc trực thăng còn lại đổ xô đến phóng rốc-két liên tiếp xuống chỗ Hải nấp. Đồng chí Thu và tôi cùng nhảy lên khỏi hầm. Đồng chí Thu cầm súng bắn đuổi trực thăng, còn tôi chạy đến gốc dừa nơi mà Hải vừa trúng đạn ngã xuống, tay vẫn cầm chắc khẩu AK bắn đã hết đạn. Hải nhìn tôi đôi mắt dại đi, môi mấp máy như muốn trăng trối điều gì song không nói được thành lời. Vết thương quá nặng, tôi vội cõng Hải vào liếp dừa cạnh mé sông. Lát sau Nguyễn Văn Hải hy sinh đúng vào lúc mới 18 tuổi, tuổi đẹp nhất của cuộc đời.

        Tôi đau đớn đặt Hải lên trên chiếc ván mỏng, tháo chiếc võng của tôi mang theo tiếc thương vô hạn. Kẻ thù tàn bạo đã giết chết một trong những đồng chí thân thiết trong đời tôi. Những kỷ niệm gần năm năm hai chú cháu cùng sống và cùng chiến đấu, đạn bom vui khổ bên nhau, dồn dập hiện lên trong trí tôi.

        Nguyễn Văn Hải quê ở Quảng Ngãi, hoàn cảnh gia đình rất giống tôi, mồ côi cha từ hồi còn nhỏ, nhà lai nghèo, hai mẹ con bỏ quê lần vào tận đất mũi Cà Mau kiếm sống. Lúc mới về nhận nhiệm vụ tiểu đoàn trưởng, thấy Hải lanh lẹ, tôi lấy em lên làm liên lạc của tiểu đoàn bộ. Trải qua một số trận chiến đấu, Hải luôn biểu hiện dũng cảm, tháo vát và trung thực. Ban chỉ huy tiểu đoàn U Minh chọn Hải làm chiến sỹ bảo vệ cho tôi. Từ đấy hai chú cháu chúng tôi coi nhau như ruột thịt, cùng chịu đựng biết bao gian khó, ngọt bùi, no đói có nhau. Trận đánh nào Hải cũng luôn ở bên cạnh tôi. Hễ nghe tiểu đoàn trưởng hạ lệnh xuất kích lập tức Nguyễn Văn Hải thay mặt chỉ huy, cầm lá cờ xéo màu đỏ tươi vừa phất vừa tiến lên phía trước. Chỉ huy các mũi thấy màu cờ quen thuộc biết là lệnh của tôi liền cho bộ đội xung phong giết giặc. Vừa chiến đấu, Nguyễn Văn Hải vừa đào công sự cho tôi tránh bom, đạn, có trận phải đào ba, bốn hầm cả cho tôi và cho đồng chí như trận ở xã Hoà Bình (Trà Vinh) bốn lần công sự của tôi bị sập, Hải đào lại cho tôi bốn công sự khác và còn đào cho mình mấy chiếc hầm cá nhân nữa.

        Điển hình là trận Ba Quân – Ngã Cạy. Cuộc chiến đấu ác liệt quá, nhiều công sự bị bom đạn phá sập, địch đã chiếm được một khúc của sở chỉ huy tiểu đoàn. Tình hình đơn vị như ngàn cân treo sợi tóc. Thấy tôi vừa ra lệnh: “Tất cả tiến lên đánh bật địch” thì Nguyễn Văn Hải đã cầm cờ đỏ chỉ huy lao vút ra đầu tiên bất chấp đạn địch đang xối xả. Hình ảnh Nguyễn Văn Hải hiên ngang, kiên cường, quên mọi hiểm nguy cứu đơn vị đã thôi thúc, cổ vũ mọi người học tập. Sau những lần đáng ghi nhớ đó, anh em đơn vị thân mến gọi Hải là “Dũng sỹ cầm cờ”. Riêng tôi tỏ lời khen ngợi thì Hải khiêm tốn trả lời: “Trong chiến đấu chú đi tới đâu, chỗ nào khó khăn con theo chú, bảo vệ chú tới đó”.

        Tôi đang đau đớn, tiếc thương, thay quần áo và tắm rửa cho Hải, thì được lệnh tiền phương quân khu mời lên họp khẩn cấp, nhận nhiệm vụ đặc biệt. Tôi giao tiểu đoàn lại cho hai đồng chí Năm Còi và Ba Thu – hai tiểu đoàn phó chấn chỉnh đơn vị sẵn sàng đánh trả địch và mai táng Nguyễn Văn Hải nếu tôi không về kịp.

        Ba giờ sáng ngày 29 tháng 1 năm 1968, cùng tổ trinh sát, tôi bơi xuồng đến ngã tư Bình Minh, căn cứ của Ban chỉ đạo Khu uỷ và tiền phương Quân khu 9. Đêm đã khuya, anh Hoài Pho – Tư lệnh tiền phương Quân khu thân mật tiếp tôi, nghe qua tình hình Tiểu đoàn 306 đánh địch nhưng ngày qua, rồi anh thân mật: “Cậu hãy tranh thủ nghỉ vài giờ cho lại sức để sáng tiếp tục làm việc sớm”.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:07:45 pm

        Sáng 29 tháng 1, toàn thể phân ban chỉ đạo Khu uỷ và tiền phương quân khu họp, có cả đồng chí Thường vụ Tỉnh uỷ Vĩnh Long và tôi cùng dự. Các anh phổ biến mệnh lệnh tối mật của Bộ chỉ huy Miền: “ Mệnh lệnh của Đảng thời cơ lịch sử Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, giành thắng lợi quyết định; lực lượng Khu và Vĩnh Long đánh chiếm thị xã Vĩnh Long. Tiểu đoàn 306 đảm nhiệm tiến công hướng chủ yếu từ phía nam, đêm 30 Tết bí mật thọc vào đánh chiếm thị xã, lực lượng tỉnh đánh chiếm sân bay Vĩnh Long, bến phà Mỹ Thuận. Tiểu đoàn 308 (mới thành lập) bao vây phía bắc, vượt sông, hợp đồng với Tiểu đoàn 306 đánh chiếm dinh tỉnh trưởng làm chủ thị xã. Hướng Trà Vinh do lực lượng tỉnh Trà Vinh đảm nhiệm là chính, đánh chiếm thị xã Trà Vinh. Mọi công tác chuẩn bị phải hết sức bí mật, khẩn trương, đêm 31 tháng 1 năm 1968 tức 30 Tết Mậu Thân nổ súng hiệp đồng toàn Miền. Sài Gòn, các thành phố và thị xã khắp miền Nam cùng tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định”.

        Được phổ biến và giao nhiệm vụ, không khí cuộc họp bỗng phấn khởi, tưng bừng hẳn lên. Các đồng chí xung quanh và bản thân tôi vui mừng, tin tưởng, rạo rực lạ thường. Chao, lịch sử nghìn năm có một, phải nắm bắt ngay lấy. Tin ở Đảng, ai nấy đều nhấp nhổm, muốn hành động ngay.

        Lúc này Tiểu đoàn 306 đảm trách hướng chủ yếu đánh chiếm thị xã Vĩnh Long, tuy chưa nắm được đầy đủ tình hình địch trong thị xã, song khi được Khu uỷ, tiền phương quân khu phổ biến, giao nhiệm vụ thì tôi tuyệt đối tin tưởng, sẵn sàng thực hiện. Bởi tiếng nói của cấp trên đại diện cho Đảng nhìn xa trông rộng. Đảng đã bảo đánh là đánh, mà đã đánh là thắng, chắc như dao chém đá, dứt khoát thế. Với niềm tin ấy, đại diện cho đơn vị tôi xin hứa trước Khu uỷ và quân khu: Quyết tâm lãnh đạo Tiểu đoàn 306 cùng các đơn vị bạn đánh chiếm thị xã Vĩnh Long, hoàn thành nhiệm vụ Đảng giao”.

        Hội nghị quyết định thành lập Ban chỉ huy trọng điểm Vĩnh Long. Đồng chí Hoài Pho – Khu uỷ viên, Phó Tư lệnh quân khu làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Bảy Máy - Thường vụ Khu uỷ làm Chính uỷ. Tôi (Ba Trung) làm Chỉ huy Phó – Tham mưu trưởng kiêm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 306, đồng chí Tám Xuân – Phó Chính uỷ, đồng chí Nguyễn Ký Ức – Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Long, đồng chí Năm Trung – Bí thư Tỉnh uỷ Trà Vinh là Uỷ viên. Do tình hình khẩn trương, các đơn vị không kịp cử người về dự được, nên sau cuộc họp, Ban chỉ huy phân công đồng chí Bảy Máy – Chính uỷ trọng điểm trực tiếp xuống Trà Vinh truyền đạt, giao nhiệm vụ cho tỉnh Trà Vinh, đồng chí Sáu Ức – Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Long về phổ biến cho lực lượng tỉnh mình, đồng chí Tám Xuân qua phổ biến và giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 308 phụ trách hướng Cái Nhum về phía bắc.

        Sau cuộc họp tôi vội vã về đơn vị triệu tập Đảng uỷ và ban chỉ huy tiểu đoàn phổ biến, quán triệt nhiệm vụ, hạ quyết tâm và tổ chức ngay trong đêm, tập trung lãnh đạo cán bộ từ trung đội trở lên nhận rõ thời cơ xây dựng niềm tin tất thắng. Trước tập thể, tôi khẳng định: “Đây là thời cơ lịch sử, chúng ta thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

        Suốt ngày 30 và đêm 31 tháng 1, cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 306 hối hả, phấn khởi, tin tưởng chuẩn bị, không ai chợp mắt được. Súng đạn lau chùi sạch bóng, ngụy trang tươi xanh chỉ chờ giờ xuất quân hoàn thành nhiệm vụ trọng đại. Thương nhớ Nguyễn Văn Hải vô ngần, trước giờ lên đường tôi tranh thủ ra nghĩa trang thăm mộ Hải. Trong khi tôi đi vắng các anh trong ban chỉ huy tiểu đoàn cùng đơn vị đã tổ chức mai táng chu đáo liệt sỹ Nguyễn Văn Hải. Cầm nén nhang cắm lên mộ, tôi gạt nước mắt chào vĩnh biệt Hải và thầm hứa sẽ cùng đơn vị trả thù cho Hải để thực hiện lời mà cháu thường tâm sự với tôi: “Chú đi tới đâu cháu theo chú tới đó”.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:08:25 pm

        Chiều 31 tháng 1 năm 1968, tức 30 Tết âm lịch, trên 400 ghe xuồng ngụy trang kín đáo theo kênh rạch tiến vào thị xã Vĩnh Long. Trên trời , hai máy bay trinh sát đầm già (L19) quần đảo liên tục song không phát hiện được quân ta. Đêm 30 Tết trời tối như mực. Đó đây tiếng pháo giao thừa nổ râm ran. Tiểu đoàn 306 được tăng cường hai đại đội địa phương Trà Ôn và Tam Bình trên 1.000 quân đã bí mật đột nhập vào phía nam thị xã Vĩnh Long, địch vẫn không biết. Dùng bộ đàm, tôi liên lạc được với tiểu đoàn tỉnh ở phía tây đã lọt được vào sân bay Vĩnh Long, phía bắc Tiểu đoàn 308 cũng đã tiến quân đến mé sông, áp sát thị xã. Thế là từ cả ba hướng, quân ta đã hình thành thế bao vây thị xã Vĩnh Long. Nằm trên trục đường 4, nối sông Tiền và sông Hậu đi Sài Gòn và thành phố Cần Thơ, thị xã Vĩnh Long là một trong hai trọng điểm tổng tiến công của Quân khu 9 (thành phố Cần Thơ là trọng điểm thứ nhất). Để bảo vệ thị xã trung tâm đồng bằng sông Cửu Long này, địch bố trí ở đây một lực lượng chủ lực đông tới 10.000 tên, 100 cố vấn Mỹ, không kể 5.000 cảnh sát, phòng vệ dân sự và tề ngụy. Về phía ta, lực lượng chủ lực Khu lúc tiến công vào Vĩnh Long chỉ có hai tiểu đoàn chủ lực và hai tiểu đoàn địa phương mới xây dựng, quân số tất cả vào khoảng trên dưới 2.000. So sánh đơn thuần theo tỷ lệ số quân thì địch 5, ta 1, tương quan lực lượng quá chênh lệch. Hơn nữa nông thôn chưa từng tiếp xúc với đường phố. Tất cả những khó khăn, phức tạp đó chúng tôi đâu có tính đến. Mỗi cán bộ, chiến sỹ chỉ tâm niệm: Đảng đã bảo đánh là đánh tới cùng. Riêng tôi lại nghĩ: Lòng tin quyết định thắng lợi. Trong các trận chiến đấu đã qua, khó khăn, ác liệt đều xuất hiện bất thần. Song có lòng tin sắt đá, bộ đội đều biết cách khắc phục để giành thắng lợi. Sẵn có niềm tin thì lực yếu chuyển thành mạnh, mạnh gấp chục lần làm tương quan lực lượng thay đổi hẳn có lợi cho ta. Thêm vào đó ta lại triệt để lợi dụng yếu tố bất ngờ, nhiều thành phố, thị xã trong toàn miền Nam cùng đồng loạt tấn công, chủ động tiến công, trói chặt chân tay kẻ địch lại. Suy ngẫm về những điều đó chúng tôi đi vào nội ô thị xã Vĩnh Long lòng vui  phơi phới. Nhiều gia đình sáng đèn thức đón xuân mới Mậu Thân. đến Phước Hậu vùng ven thị xã chúng tôi gặp anh Ba Thu, Tiểu đoàn phó đi trước chuẩn bị chiến trường ra đón. Có cả một số cơ sở cùng ra như chị Hai Thanh – Phó Bí thư thành uỷ Vĩnh Long mới sanh được bảy ngày đã gởi con để đi dẫn đường cho bộ đội. Chị Sáu Xây, anh Hai Thân và cô Mười Xương - Thường vụ Thành uỷ, mấy năm nay sống hợp pháp trong lòng địch, anh Bảy Nguyễn, Thành đội trưởng cũng cùng có mặt và nhiều cơ sở cách mạng khác. Trong đêm tối chúng tôi hể hả, vui mừng nắm chặt tay nhau thì thào chào hỏi: “Đồng chí!”. Như vậy cơ sở chính trị của cách mạng trong lòng thị xã Vĩnh Long xây dựng bấy lâu nay khá tốt. Các anh, các chị đều cho biết trong số hàng nghìn học sinh có mấy chục cơ sở trung kiên, sẵn sàng đi đầu trong cuộc nổi dậy tới. Khoảng ba bốn tháng trước, ta đã đưa được mấy chục đảng viên vào sống hợp pháp trong thị xã, làm đủ nghề để che mắt địch như buôn bán, chạy xe lôi, hớt tóc, thợ nề, thợ mộc, sửa chữa đồng hồ, sửa xe gắn máy... Để nắm tình hình bố trí của địch cụ thể hơn, cấp trên đã cử anh Quốc Trung, Phó phòng quân báo quân khu vào thị xã Vĩnh Long vẽ bản đồ. Anh Quốc Trung quê miền Bắc, to khoẻ vào Nam Bộ lâu nên giọng gần giống Nam Bộ. Nhờ cơ sở trong thị xã nuôi giấu, anh Quốc Trung vẽ được bản đồ quân sự thị xã khá tỉ mỉ và chính xác gởi ra ngoài. Bởi thế, về mặt quân sự, tuy mắt chưa trông thấy, tay chưa sờ được vị trí địch – yêu cầu cần thiết đối với người chỉ huy trước trận đánh, bản thân tôi chưa làm được, song anh Quốc Trung đã làm thay. Nhờ bản đồ này, chúng tôi nắm được địch, dẫn tiểu đoàn lọt qua hệ thống đồn bốt dày đặc và qua hàng rào ấp chiến lược chi chít bao quanh vùng ven mà đi thẳng vào trung tâm thị xã khá thuận lợi.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:10:40 pm

        Đúng 1 giờ sáng mồng 1 Tết Mậu Thân, từ hướng nam Tiểu đoàn 306 tiến vào nội ô thị xã, qua khỏi miếu Bảy Bà chợt gặp một đại đội bộ binh địch tuần tiễu có cả xe M113 đi kèm. Ta nổ súng, bị đánh bất ngờ, địch tháo chạy tán loạn. Ta đánh chiếm căn cứ bảo an, ty cảnh sát, khu Hoa Lư, Trung tâm thông tin ngụy. Cùng lúc Tiểu đoàn 1 của tỉnh đột nhập vào sân bay Vĩnh Long, dùng bộc phá phá huỷ trên 60 trực thăng, chiếm đại bộ phận sân bay. Tiểu đoàn 308 vượt sông gặp khó khăn, chỉ bộ phận đi đầu gồm 50 đồng chí đột nhập vào thị xã, bị địch bao vây, cô lập nên thương vong  lớn. Đến 5 giờ sáng mùng 1 Tết Tiểu đoàn 306 đã chiếm được một phần ba thị xã Vĩnh Long và địch cũng củng cố được đội hình, tổ chức đánh lại. Trung đoàn 16 bộ binh và Trung đoàn 2 thiết giáp địch phản kích từ phía tây, Tiểu đoàn 43 biệt động quân từ phía đông phản kích vào sở chỉ huy Tiểu đoàn 306 và tiền phương quân khu. Cùng lúc pháo ở quận Mới, căn cứ Long Hồ bắn cấp tập vào đội hình ta. Trên trời, từng tốp trực thăng vũ trang bắn phá mãnh liệt. Thấy tình hình xoay chuyển theo chiều hướng khác hẳn với dự kiến ban đầu tôi mở đài bán dẫn theo dõi tin tức các địa phương khác. Đài Hà Nội và đài Giải phóng đều đưa tin ta tiến công thành phố Huế, mấy tỉnh Tây Nguyên, các nơi khác chưa nghe nói đến. Như vậy ta vẫn chưa làm chủ được Sài Gòn, thị xã Mỹ Tho, kể cả thành phố Cần Thơ kế cận.

        Tình hình phức tạp rồi! Anh Hoài Pho - Chỉ huy trưởng trọng điểm trực tiếp đến Sở chỉ huy Tiểu đoàn 306 hỏi ý kiến, tôi thiết tha đề nghị anh lui ra Phước Hậu, xã vùng ven cách trung tâm thị xã Vĩnh Long khoảng năm cây số, nơi đặt Sở chỉ huy tiền phương quân khu, nắm tình hình chỉ đạo chung và huy động lực lượng phía sau chi viện cho các tiểu đoàn. Việc đánh chiếm thị xã ở trong này tôi chịu trách nhiệm chung, hiệp đồng với lực lượng tỉnh và Tiểu đoàn 308 đánh tiếp. Gặp khó khăn tôi sẽ xin ý kiến quân khu. Anh Hoài Pho đồng ý, uỷ quyền cho tôi chỉ huy chung các lực lượng đánh vào thị xã. Sở chỉ huy tiền phương quân khu dời ra Phước Hậu.

        Bảy giờ sáng mùng 1 Tết, địch tăng cường phản kích. Để có thêm sức mạnh và niềm tin thuyết phục, là Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn, tôi triệu tập họp Đảng uỷ chớp nhoáng, nhận định tình hình: - Địch đang tổ chức phản kích, khó khăn xuất hiện nhưng tiểu đoàn đã đánh chiếm được một phần ba thị xã, các đơn vị bạn như tiểu đoàn tỉnh và Tiểu đoàn 308 tuy cũng gặp khó khăn nhưng vẫn hiệp đồng chặt với ta. Quyết tâm của Tiểu đoàn 306 là vẫn kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ.

        Tiếp đó tôi đề xuất phương án đánh địch và nêu khẩu hiệu: “Thời cơ lịch sử! Đảng uỷ tiểu đoàn kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sỹ, thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Chưa đánh chiếm được thị xã Vĩnh Long, Tiểu đoàn 306 quyết không về!”. Được tập thể nhất trí, tôi phân công các đồng chí Đảng uỷ viên xuống từng đại đội phổ biến, động viên bộ đội tăng cường công sự, lợi dụng địa hình, phòng ngự vững chắc, đánh bại địch phản kích. Đồng thời, tôi tổ chức tiểu đoàn bộ và hoả lực của tiểu đoàn đánh bại mũi phản kích từ phía sau rất hiểm của Tiểu đoàn 43 biệt động quân. Anh em chiến đấu dũng cảm diệt trên 100 tên, truy kích bọn bỏ chạy, giữ vững trận địa, bảo vệ được sở chỉ huy. Tiếp đó, tôi tổ chức tiểu đoàn tập trung đánh bại mũi phản kích của Trung đoàn 16 ngụy, diệt 300 tên, phá huỷ 12 xe M113. Đêm và ngày mùng 1 Tết, Tiểu đoàn 306 tiếp tục đánh bại hàng chục đợt phản kích của địch, diệt hàng trăm tên, bắn cháy 32 xe M113, bắn rơi 10 trực thăng, Tiểu đoàn 306 làm chủ hai phần ba thị xã. Hầu hết ty, sở, toà hành chính tỉnh và ngã ba Cần Thơ (ngã ba lớn nhất) đã lọt vào tay Quân giải phóng. Tên tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp chạy xuống tàu, lủi ra sông cầu cứu viện binh. Vừa đánh địch, bộ đội vừa cứu chữa hàng trăm bà con bị bom đạn sát hại, phát động quần chúng nổi dậy sát cánh cùng bộ đội đào đắp công sự, tải thương, nấu nước tiếp tế.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:12:29 pm

        Sang ngày thứ tư, tức mùng 4 Tết, địch đưa nhiều xe thiết giáp M113, M118 và trực thăng phun lửa vừa phản kích vừa đốt phá và huỷ diệt các khu phố đã  bị ta chiếm hòng đẩy lực lượng ta ra khỏi thị xã. Lửa và khói ngùn ngụt buốc cao, bao trùm cả thị xã. Tôi vẫn bình tĩnh cùng ban chỉ huy tiểu đoàn động viên bộ đội, chỉ huy tiểu đoàn bám công sự đánh bại các đợt phản kích dữ dội của địch, tổ chức hoả lực bắn trực thăng và thiết giáp, vừa dập tắt lửa vừa bảo vệ tài sản và cứu chữa bà con. Con số thương vong của các tiểu đoàn và đồng bào trong thị xã báo cáo về làm tôi ngậm ngùi đau xót vô cùng. Riêng Tiểu đoàn 306 đã có trên 100 cán bộ, chiến sỹ hy sinh. Theo dõi tình hình qua đài bán dẫn cùng những tin truyền miệng, chúng tôi được biết Sài Gòn, thành phố Cần Thơ, thị xã Mỹ Tho đêm 30 Tết ta có đột nhập song chỉ có làm chủ được một phần trong đêm, sang ngày mùng 1 Tết đều lui ra vùng ven bao vây đánh địch phản kích, chỉ có thành phố Huế ta đánh và làm chủ dài ngày. Lúc này tôi chợt nghĩ: Sở dĩ ta chưa dứt điểm đồng loạt các thành phố, thị xã trong toàn miền Nam như kế hoạch ban đầu, một phần do âm lịch giữa miền Bắc và miền Nam không thống nhất, chênh lệch nhau một ngày. Bởi vì chiều 30 Tiểu đoàn 306 đang hành quân thì miền Trung đã là mồng 1 Tết và đã nổ súng đánh chiếm thành phố Huế và các nơi, Nam Bộ thì chưa. Địch cảnh giác ra lệnh cấm trại, chúng đề phòng rồi, ngay sau đó tổ chức đánh phản kích lại những nơi đã bị Quân giải phóng đánh chiếm. Hơn nữa ở vòng ngoài đã có quân Mỹ chi viện. Ta mất yếu tố bất ngờ. Dẫu sao Vĩnh Long đã đứng vững được sáu ngày đêm.

        Trước nguy cơ thị xã Vĩnh Long thất thủ, chiều ngày thứ sáu, tức ngày mùng 6 Tết âm lịch (6/2/1968), Mỹ ào ạt giải toả cho quân ngụy đang hấp hối trong một phần ba thị xã còn lại. Dinh tỉnh trưởng và khám lớn chưa bị Quân giải phóng làm chủ. 15 giờ, Mỹ dùng pháo, lớp từ hạm đội đậu ở giữa sông Tiền, lớp pháo bầy mặt đất trút hàng nghìn hàng vạn quả ầm ầm như B52. Tai tôi ù đặc. Khói bụi ngất trời. Nhà cửa thay nhau đổ sập, cây cối bị tiện đứt. Cơn bão lửa khủng khiếp đang xảy ra. Cả thị xã Vĩnh Long rung chuyển dữ dội. Tiếng pháo vừa tạm ngớt lại đến tiếng bom nổ. Khoảng trên nửa giờ sau, địch đổ quân ở phía sau Tiểu đoàn 306. Đứng trên lầu cao của Sở chỉ huy đặt ở miếu Bảy Bà, tôi quan sát khá rõ. Khoảng 40 trực thăng như bầy chuồn chuồn bằng sắt thay nhau hạ cánh. Chúng đổ quân làm bốn đợt, mỗi chiếc chở 10 – 12 tên. Tất cả mấy tiểu đoàn Mỹ. Bọn này chắc chắn là quân của Sư đoàn 9 Mỹ đóng tại căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho) đến. Lính Mỹ đầu đội mũ sắt, quần áo rằn ri màu xanh lá cây, dây lưng giắt đầy đạn M79 (cối cá nhân) chẳng khác nào trái ổi. Đã mấy lần chống càn đụng với bọn Mỹ, tôi thấy Mỹ đổ quân cũng y hệt bọn ngụy. Chỉ có khác hơn là trước mỗi đợt đổ quân Mỹ dùng bom, pháo dọn bãi ác liệt ghê gớm gấp nhiều lần. Hoả lực thay cho người. Song động tác chiến đấu của lính Mỹ lại không linh hoạt và tinh khôn bằng bọn ngụy. Xuống đất rồi lính Mỹ đứa nào cũng quỳ một gối, tay lăm lăm dúng chĩa về  hướng nội ô hình thành hai mũi bao vây chúng tôi. Còn bọn ngụy ư, chúng không khéo lợi dụng địa hình che khuất ngay để giấu mình như những con báo rình mồi. Quan sát thấy thế tôi chợt nghĩ: “Về bộ binh thì Mỹ không hơn gì ngụy. Nếu công sự của bộ đôi ta chắc, anh em bám thắt lưng Mỹ, không cho chúng kịp phân tán thành tuyến thì sẽ hạn chế được thương vong do bom đạn Mỹ gây ra”.

        Cân nhắc tình hình, tôi hội ý ban chỉ huy tiểu đoàn nên chuyển đơn vị sang đánh bại bọn Mỹ phản kích, động viên toàn bộ cán bộ, chiến sỹ: “Các đồng chí giữ vững tinh thần chiến đấu, củng cố công sự, giữ vững trận địa, sẵn sàng nhận lệnh mới”. Đồng thời, tôi báo cáo xin ý kiến tiền phương quân khu. Trước tình hình tiểu đoàn đã sáu ngày đêm chiến đấu, thương vong khá cao, nay Mỹ trực tiếp can thiệp đổ quân phía sau giải toả cho ngụy. Thấy tiếp tục chiếm giữ thị xã không lợi nữa, đồng chí Hoài Pho – Tư lệnh tiền phương quân khu đồng ý cho tiểu đoàn chuyển sang đánh bại quân Mỹ phản kích và đến tối lui ra vùng ven làm chủ, bao vây thị xã, gài thế diệt viện, giải phóng nông thôn.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:14:33 pm

        Được quân khu chấp thuận kế hoạch trên, tôi chuyển tiểu đoàn sang tập trung đánh Mỹ phản kích. Võn mang truyền thống đấu tranh kiên cường, tin tưởng cấp chỉ huy, bộ đội răm rắp thi hành. Mười bảy giờ ngày 16 (06) tháng 2 năm 1968, đội hình tiểu đoàn đã chuyển sang phản kích đánh chặn hai cánh quân Mỹ ở lộ Mậu Thân, anh em chiến đấu anh dũng bám công sự diệt Mỹ và xuất kích, liên tiếp chặn đứng hai mũi tiến quân của Mỹ tiến vào nội ô, diệt hơn 100 tên, buộc chúng phải cụm lại ở ngã ba và nam cầu Cá Trê. đến khuya, tiểu đoàn chấn chỉnh đội hình. Một giờ sáng ngày 7 tháng 2 năm 1968, tôi tổ chức hai đại đội tập kích cụm quân Mỹ ở nam cầu Cá Trê diệt một đại đội gồm hơn 100 tên, mở đường đưa hết thương binh và toàn tiểu đoàn cơ động ra Phước Hậu, cách thị xã Vĩnh Long năm cây số về phía nam. Từ đấy Tiểu đoàn 306 làm chủ vùng ven, bao vây uy hiếp thị xã Vĩnh Long, cắt đứt lộ 4 và lộ 7 dài ngày, thu hút địch tạo điều kiện cho hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh đẩy mạnh ba mũi tiến công và nổi dậy diệt đồn, giải phóng nông thôn.

        Trong sáu ngày đêm đầu của Tết Mậu Thân đánh chiếm và làm chủ thị xã Vĩnh Long, Tiểu đoàn 306 cùng hai tiểu đoàn tỉnh và Tiểu đoàn 308 loại khỏi vòng chiến đấu 5.000 địch, trong đó có hàng trăm tên Mỹ, diệt và đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 16, Trung đoàn 2 thiết giáp, 4 tiểu đoàn bảo an và biệt động quân, phá huỷ 60 trực thăng tại sân bay, bắn rơi 12 trực thăng khác, bắn cháy 35 xe M113, bắn chìm 12 tàu, phá huỷ trên 50 xe quân sự, thu hàng ngàn súng các loại. Ngoài ra ta còn phá rã trên 3.000 cảnh sát, phòng vệ dân sự và hàng trăm tề ngụy ác ôn.

        Ở đồng bằng sông Cửu Long, trong Tết Mậu Thân, lực lượng ta tiến công và làm chủ dài ngày tại thị xã Vĩnh Long, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh đã có tiếng vang lớn, gây tác động mạnh mẽ đối với địch và cổ vũ quân dân Vĩnh – Trà tin tưởng, tiến lên giành thắng lợi. Sau cuộc tiến công vào thị xã, lực lượng ta rút ra làm chủ vùng ven, tiếp tục bao vây, uy hiếp thị xã Vĩnh Long, cắt đứt giao thông quốc lộ 4, tỉnh lộ 7, làm cho Viĩn Long, Cần Thơ, Trà Vinh bị cô lập hàng tháng. Từ đấy cuộc chiến tranh giữa ta và địch diễn ra ngày càng thêm khốc liệt. Địch phải dùng trực thăng tiếp tế và sử dụng hàng chục phi vụ B52 ném bom rải thảm ở vùng ven Phước Hậu – Cái Nhum sát thị xã.

        Cuộc tiến công và nổi dậy đợt một Mậu Thân 1968 trên toàn miền Nam của quân và dân ta trong đêm 30 và ngày mùng 1 Tết đã bất ngờ tập kích chiến lược vào các thị xã, thành phố, nhưng chỉ có thành phố Huế là đánh chiếm và giữ được dài ngày, kế đến thị xã Vĩnh Long làm chủ sáu ngày đêm. Còn hầu hết các thành phố và thị xã khác, kể cả Sài Gòn, Mỹ Tho và Cần Thơ ta chỉ đánh chiếm được một số mục tiêu trong đêm, qua ngày sau phải rút ra bám trụ vùng ven và chuyển sang đánh địch phản kích. Do đó Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, đợt 1 ta giành thắng lợi lớn, nhưng so với yêu cầu dứt điểm thì chưa đạt.

        Sau mười ngày tiến công cao điểm đợt 1, tình hình chung và căn cứ vào diễn biến cụ thể giữa ta và địch ở Vĩnh – Trà như sau: Ngày 10 tháng 2 năm 1968, Ban chỉ huy trọng điểm Vĩnh Trà (Đồng chí Hoài Pho - Chỉ huy trưởng; đồng chí Bảy Máy - Thường vụ Khu uỷ, Chính uỷ; Nguyễn Đệ (Ba Trung) - Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng; đồng chí Tám Xuân – Phó Chính uỷ; đồng chí Ký Ức, Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Long; đồng chí Năm Trung – Bí thư Tỉnh uỷ Trà Vinh) họp, đánh giá tình hình và nhất trí chủ trương “Tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp đẩy mạnh cuộc Tổng tiến công và nổi dậy quyết giành thắng lợi lớn nhất”. Ban chỉ huy thống nhất những chủ trương cụ thể:

        - Tiếp tục duy trì lực lượng chủ lực làm nòng cốt cùng địa phương vận dụng ba mũi bao vây tiến công thị xã, làm chủ vùng ven, gài thế đánh viện diệt nhiều sinh lực địch, gỡ đồn bốt, phá ấp chiến lược, giải phóng nông thôn.

        - Tỉnh, huyện, xã phát huy sức mạnh tổng hợp, đẩy mạnh Tổng tiến công và nổi dậy, hiệp đồng với thị xã bằng ba mũi bao vây, tiến công dứt điểm đồn bốt, phá ấp chiến lược, giải phóng nông thôn.

        - Vừa tiến công quân sự, vừa đẩy mạnh tiến công chính trị, binh vận làm tan rã đich, vừa tích cực phá lộ, đánh sập cầu, cắt đứt giao thông, trọng điểm là quốc lộ 4 từ phà Mỹ Thuận đến Cần Thơ, lộ 7 từ Vĩnh Long đi Trà Vinh và bịt chặt sông Măng Thít... Thực hiện tiến công địch với phương châm: “Cột đầu, chặt chân, lột da, móc ruột, giải phóng nông thôn” (cột đầu là bao vây tiến công kìm địch ở thị xã, chặt chân là cắt giao thông, lột da là gỡ đồn bốt, móc ruột là phá ấp chiến lược, giải phóng nông thôn).


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:15:31 pm

        - Vừa tiến công địch, vừa tích cực xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, chính trị, binh vận các cấp vững mạnh, chủ lực Khu phát triển đến trung đoàn, mỗi tỉnh có từ hai đến ba tiểu đoàn; huyện, thị xã có hai đến ba đại đội, xã có một trung đội đến một đại đội du kích, ấp có trung đội du kích và phát triển dân quân rộng rãi, khả năng trang bị và nuôi dưỡng được tới đâu phát triển tới đó, không hạn chế.

        - Tích cực chuẩn bị mở đợt tiến công cao điểm 2, trọng điểm là hướng thị xã Sa Đéc, sử dụng Tiểu đoàn 312, Tiểu đoàn 396 (thiếu), Tiểu đoàn 1 tỉnh Vĩnh Long và các huyện, tập trung đánh thị xã Sa Đéc, diệt Trung đoàn 15 và hậu cứ Sư đoàn 9 ngụy, chiếm các huyện thuộc hệ thống tiểu khu Sa Đéc, căng kìm địch, tạo thế thuận lợi cho Vĩnh Long và Trà Vinh tiếp tục bằng ba mũi diệt đồn, giải phóng nông thôn.

        Chủ trương và phương châm tiến công địch trên được nhất trí rất cao. Từ cán bộ, chiến sỹ đến các địa phương đều phấn khởi, tin tưởng, quyết tâm xốc tới.

        Ngày 20 tháng 2 năm 1968, vào cao điểm, các đơn vị ở hướng Sa Đéc hiệp đồng tốt, đánh chiếm được một phần ba thị xã, làm chủ hai ngày đêm, đánh viện, diệt trên 50 tên địch, diệt hai tiểu đoàn bảo an và Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 15. Tiếp đó, ta rút ra làm chủ vùng ven bao vây pháo kích thị xã, diệt đồn, phá ấp chiến lược, đánh viện. Mười lăm ngày đêm tiến công hướng Sa Đéc, ta diệt 1.500 tên địch, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 15, diệt bức hàng trên 100 đồn bốt, mở rộng vùng ven thị xã Sa Đéc nối liền với ba huyện Châu Thành, Lấp Vò, Bình Minh thành vùng giải phóng liên hoàn với vùng chữ V bắc lộ 4. Đây là thắng lợi lớn đối với hướng này, từ trước tới giờ chưa bao giờ có.

        Hướng thị xã Vĩnh Long, Tiểu đoàn 306 còn lại, Tiểu đoàn 2 của tỉnh và Tiểu đoàn 308 phối hợp với lực lượng thị xã làm chủ vùng ven, liên tục bao vây, tiến công, pháo kích thị xã, cắt lộ 4 và lộ 7 gần một tháng, gài thế đánh viện, tiêu hao, tiêu diệt trên 1.000 tên ngụy và Mỹ. Trong lúc đó ở các huyện bằng ba mũi giáp công đã bao vây, dứt điểm trên 200 đồn bốt, cơ bản giải phóng nông thôn tỉnh Vĩnh Long đến sát thị xã và các Chi khu.

        Hướng Trà Vinh, lực lượng tỉnh hiệp đồng tốt. Hai tiểu đoàn của tỉnh cùng lực lượng thị xã liên tục bao vây tiến công thị xã Trà Vinh gây cho địch nhiều thiệt hại nặng, nhất là Trung đoàn 14. Tỉnh huy động hàng vạn đồng bào, trong đó có hàng trăm sư sãi người Khơ Me xuống đường tham gia cùng bộ đội bao vây đồn bốt, kêu gọi chồng, con, em đi lính trở về với gia đình, có hàng nghìn người vác súng trở về quê. Các huyện đẩy mạnh cao trao nổi dậy, bao vây gọi hàng, dứt điểm trên 300 đồn bốt, giải phóng 356 xã với hàng trăm ấp. Như vậy vùng nông thôn tỉnh Vĩnh Trà cơ bản được giải phóng.

        Đợt 1 Mậu Thân, Vĩnh – Trà Tổng tiến công và nổi dậy sôi nổi đã giành được thắng lợi to lớn chưa từng có nên tích cực chuẩn bị cho đợt 2 tổng tiến công theo chỉ thị của Bộ chỉ huy Miền. tháng 3 năm 1968, Vĩnh – Trà đưa về Miền Tiểu đoàn 308 trên 400 quân, xây dựng lại Tiểu đoàn 308 mới và thành lập Trung đoàn 3 gồm bốn tiểu đoàn (d306, d312 và d316). Ban chỉ huy  Trung đoàn 3, tôi - Nguyễn Đệ là Trung đoàn trưởng, đồng chí Sáu Hoài – Chính uỷ và đồng chí Tư Thiện – Trung đoàn phó. Để tạo khí thế ngay khi trung đoàn mới thành lập, giữa tháng 4 năm 1968, chúng tôi bàn đánh địch càn quét, bình định căn cứ hậu phương của ta. Chúng hành quân bằng tàu dọc theo sông Măng Thít. Đoàn tàu 12 chiếc chở đầy lính thuỷ quân lục chiến. Bọn này rất ác ôn, càn quét tới đâu chúng đốt sạch, phá sạch tới đó. Dựa vào trận địa pháo Trà Ôn và Tam Bình, trên tàu địch bắn vào nhà dân nằm hai  bên bờ sông. Tôi quyết tâm đưa trung đoàn phục kích trên sông Măng Thít để đánh bại kế hoạch của địch. Được nhân dân bảo vệ, trung đoàn giữ được bí mật để đoàn tàu lọt vào trận địa, bắn chìm cả 12 chiếc PCF, tiêu diệt gọn tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến. Trung đoàn lui về phía sau trú quân thì được lệnh của Bộ chỉ huy Miền và Quân khu cùng lực lượng Vĩnh Long hiệp đồng với Miền đánh chiếm thị xã Vĩnh Long đợt 2.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 11:16:07 pm

        Thấy rằng lúc này địch đã tăng cường phòng ngự thị xã Vĩnh Long, yếu tố bất ngờ không còn nữa; đánh chiếm thị xã Vĩnh Long như đợt 1 sẽ khó khăn hơn nhiều, tôi đề nghị Miền và Quân khu cho Vĩnh Long và Trung đoàn 3 sử dụng đặc công và hoả lực đánh thiệt hại nặng thị xã Vĩnh Long rồi chuyển sang bao vây, làm chủ vùng ven, gài thế đánh viện, tiêu diệt sinh lực địch, gỡ đồn, tiếp tục giải phóng nông thôn. Đề nghị của tôi được quân khu chấp thuận.

        Đêm “N” đầu tháng 4 năm 1968, đợt 2, phối hợp với Miền và quân khu, đặc công, pháo binh của Trung đoàn 3 kết hợp với biệt động thị xã Vĩnh Long bất ngờ đánh huỷ diệt căn cứ thiết giáp, sân bay, trận địa pháo binh, khu phố Mới, dinh tỉnh trưởng, Trung tâm thông tin Hoa Lư, căn cứ bảo an, căn cứ Trung đoàn 43 biệt động quân, diệt trên 200 tên địch, phá, đốt cháy 15 xe M113 và 15 trực thăng, năm khẩu pháo 105 ly và hàng chục tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh. Sau đó bộ phận Trung đoàn 3 và lực lượng thị xã chuyển sang bao vây pháo kích liên tục vào thị xã làm cho binh lính địch hoang mang, mất ăn mất ngủ. Chủ lực trung đoàn cùng địa phương phát động quần chúng gỡ đồn bốt, phá ấp chiến lược và gài thế đánh viện.

        Cuối tháng 4 và đầu tháng 5 năm 1968, trung đoàn bám trụ Phước Hậu ven thị xã Vĩnh Long gài thế đánh viện liên tục trên 10 trận, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng năm tiểu đoàn, diệt trên 1.500 tên địch, bắn cháy 25 xe M113, bắn rơi tám trực thăng, căng kèm địch tạo điều kiện thuận lợi cho hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh tiếp tục đẩy mạnh ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) tiến công và nổi dậy, giải phóng nông thôn.

        Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, thị xã Vĩnh Long và chiến trường Vĩnh – Trà qua đợt 1 và đợt 2 (tháng 2 đến tháng 5 năm 1968) đã giành được thắng lợi to lớn. Đợt 1, ta đã tiến công vào ba thị xã: Vĩnh Long, Trà Vinh và Sa Đéc, làm chủ thị xã Vĩnh Long nửa ngày đêm, địch chết, bị thương và bị bắt trên 15.000 tên, đánh tan rã hàng chục nghìn tên khác, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng bốn Trung đoàn ( Trung đoàn 16, 15, 16 Sư đoàn 9 ngụy và Trung đoàn 2 thiết giáp, tiêu diệt bảy tiểu đoàn bảo an và biệt động quân, hai tiểu đoàn pháo binh, hai giang đoàn, phá huỷ và bắn rơi 82 máy bay trực thăng và L19, bắn cháy 55 xe M113, bắn chìm 25 tàu PCF, phá huỷ 35 pháo 105 – 155 ly, chiếm và phá huỷ gần 100 xe quân sự khác, diệt, bức hàng trên 600 đồn bốt, giải phóng 45 xã, trên 100 ấp, cơ bản giải phóng vùng nông thôn Vĩnh – Trà, chỉ còn thị xã và các chi khu, thu trên 5.000 khẩu súng và hàng trăm tấn đạn dược, phương tiện chiến tranh làm cho địch bị thiệt hại nặng.

        Sau đợt 1 Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, vĩnh – Trà đã kịp thời đánh giá tình hình, chuyển phương châm, phương thức tiến công một cách thích hợp nên vừa diệt được nhiều địch, giải phóng nông thôn rộng lớn, vừa bảo tồn và xây dựng lực lượng ta lớn mạnh gấp hai – ba lần so với trước Tổng tiến công. Giành được thắng lợi trên,  quân và dân Vĩnh – Trà vinh dự được mặt trận giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam tặng thưởng Huân chương Thành đồng hạng nhất, Tiểu đoàn 306 được vinh dự tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhất.

        Thời gian qua nhanh, từ Tết Mậu Thân đến nay đã ngót 30 năm, bao nhiêu sự kiện đã diễn ra trong quãng thời gian ấy, tôi vẫn khắc sâu hình ảnh biết bao đồng chí, đồng đội Tiểu đoàn 306 và nhân dân tỉnh Vĩnh – Trà đã chiến đấu quả cảm và anh dũng ngã xuống, góp phần xứng đáng cùng quân và dân cả nước làm nên “ Tết” gây kinh hoàng Mỹ - ngụy, chấn động mạnh mẽ đến nội tình nước Mỹ. Đặc biệt tôi không quên hình ảnh của Nguyễn Văn Hải, chiến sỹ bảo vệ rất kiên cường, rất tận tuỵ đã quên mình cứu tôi sống. Mãi tận bây giờ tôi vẫn day dứt, ân hận là chưa tìm gặp được bà mẹ già kính yêu của Hải ở Cà Mau. Bởi vì trước đó tôi đã sơ ý không ghi địa chỉ cụ thể của bà để đến tận nơi thăm hỏi và báo cáo cho bà mẹ anh hùng nơi yên nghỉ của Nguyễn Văn Hải để đền đáp công ơn bà đã sinh dưỡng đứa con anh hùng, dũng cảm hy sinh vì Tổ quốc, nghĩa nặng đối với tôi”...

        Trích: Trung tướng Nguyễn Đệ, Niềm tin và lẽ sống, (hồi ức – Phan Huỳnh thể hiện), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội – 2005, tr. 276 – 316.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Giêng, 2017, 11:28:14 pm
       
7. THIẾU TƯỚNG HUỲNH CÔNG THÂN (HUỲNH CÔNG MẾN).

        Thiếu tướng Huỳnh Công Thân sinh năm 1923, quê ở xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An. Tham gia hoạt động cách mạng từ sớm, gắn bó với chiến trường Long An nói riêng và Nam Bộ nói chung, đồng chí được giao đảm nhiệm các chức vụ:

        - Năm 1946 là Uỷ viên Thường vụ Huyện uỷ Cần Giuộc.

        - Năm 1948 là Bí thư, Chính trị viên đại đội căn cứ Vườn Thơm.

        - Năm 1954 là cán bộ quân sự cốt cán, Thường vụ Huyện uỷ Đức Hoà.

        - Những năm 1955 – 1957, đồng chí tham gia tổ chức và chỉ huy lực lượng vũ trang tỉnh trong phong trào Đồng Khởi (1960). Đồng chí Huỳnh Công Thân là người chỉ huy trận đánh vào căn cứ biệt kích Mỹ ở Hiệp Hoà (23/11/1963), diệt và làm bị thương 500 tên địch, thu trên 500 súng các loại. Trận đánh giành thắng lợi có ý nghĩa quan trọng trong nhiệm vụ phá quốc sách “ấp chiến lược” của Mỹ - ngụy.

        Trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, đồng chí là Tư lệnh Phân khu 3, chỉ huy 9 tiểu đoàn đánh vào các căn cứ địch ở Quận 6, 7 và 8, mở đường đánh vào Tổng nha cảnh sát chính quyền Sài Gòn. Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Xuân 1975, cánh quân phía Tây Nam do đồng chí Huỳnh Công Thân chỉ huy đã chiến đấu dũng cảm, đập tan các ổ đề kháng cuối cùng của địch.

        Sau khi đất nước thống nhất, đồng chí Huỳnh Công Thân được phong quân hàm Thiếu tướng, đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Long An, tiếp tục chỉ huy lực lượng vũ trang tỉnh chiến đấu bảo vệ tuyến biên giới trong chiến tranh biên giới Tây Nam (1978 – 1979).

        Là một cán bộ lãnh đạo và chỉ huy trên chiến trường Long An - một vùng đất “Trung dũng, kiên cường, toàn dân đánh giặc” trong suốt hai cuộc kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, đồng chí Huỳnh Công Thân đã “xứng đáng là người con của nhân dân Long An anh hùng... với tư tưởng cách mạng tiến công, quyết chiến và quyết thắng, đồng chí đã có những suy nghĩ và hành động khá táo bạo nhưng chín chắn và vững chắc. Cùng với quân dân trong tỉnh, đồng chí đã lập được nhiều chiến công oanh liệt trên chiến trường Long An”. (Trích lời giới thiệu của Thượng tướng Trần Văn Trà in trong tập sách “Ở chiến trường Long An” của Thiếu tướng Huỳnh Chông Thân). Chúng tôi xin giới thiệu những kỷ niệm sâu sắc của Thiếu tướng Huỳnh Công Thân viết về những năm tháng đồng chí tham gia chỉ huy chiến đấu trên chiến trường Long An.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Giêng, 2017, 11:29:56 pm

XOAY CHUYỂN TÌNH THẾ

        "... Từ giữa năm 1961, Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Quân ngụy được xây dựng nhanh với nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại: xe lội nước bọc thép M113, máy bay lên thẳng, pháo binh và tàu thuyền. Quân ngụy còn được Mỹ huấn luyện chiến thuật mới như trực thăng vận, thiết xa vận...

        Chúng tôi được thông báo: ở nhiều nơi chúng đã dùng trực thăng đánh úp vào các căn cứ của ta, gây thiệt hại lớn như trường hợp ở Kiến Tường, Mỹ Tho... Ở chiến trường Long An lúc đó, chúng chưa dùng các loại chiến thuật tân kỳ này.

        Khi nghe Mỹ vạch kế hoạch “bình định” miền Nam Việt Nam trong 18 tháng, chúng tôi chưa hình dung chúng sẽ làm như thế nào và mức độ ác liệt đến đâu? Chúng tôi đoán là chúng cũng đóng đồn bốt và xây dựng thêm các khu trù mật như Ngô Đình Diệm đã làm từ năm 1954.

        Đầu năm 1962, tôi rời khỏi đại đội cơ động và được chỉ định vào Tỉnh uỷ Long An với nhiệm vụ chủ yếu là chuyên trách chỉ đạo lực lượng vũ trang. Tôi bàn với anh Chín Cần, lúc đó là Bí thư Tỉnh uỷ về việc xây dựng thêm lực lượng của tỉnh. Địch đã tăng cường quân số vũ khí và các hoạt động quân sự, ta chỉ có một đại đội sẽ không đủ để làm nhiệm vụ. Chúng tôi nhất trí xây dựng thêm Đại đội 2, nhưng lúc đầu mới chỉ tổ chức một trung đội.

        Lúc ấy cán bộ cấp đại đội của đơn vị cơ động rất dồi dào nhưng chúng tôi không muốn tách ra. Tôi xin đồng chí Danh về phụ trách Đại đội 2. đồng chí Danh là người Bến Tre, thuộc loại “lính chiến” đi tập kết ra Bắc mới trở về. Đồng chí Danh đã được đào tạo quân sự căn bản và có tinh thần chiến đấu rất dũng cảm. Chúng tôi không muốn tách số cán bộ của Đại đội 1 ra vì đó là đội ngũ cán bộ rất đều tay, rất ăn ý và có khả năng hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gì, dù khó khăn đến mấy. Các anh ấy đều là những người dạn dày kinh nghiệm và được tôi luyện, thử thách qua thời kỳ khó khăn ác liệt nhất. Anh Mười Xưởng và Tư Ấp đều là những người tự lập các nhóm vũ trang rất sớm. Đến khi có khu bộ Tân An - Chợ Lớn, hai bộ phận lực lượng ấy ghép lại gọi là Trung đội 10 do anh Mười Xưởng làm Trung đội trưởng, anh Tư Ấp làm Chính trị viên. Từ đó hai anh gắn bó với nhau như hình với bóng. Trung đội 10 sau này đổi phiên hiệu thành Trung đội 29, nằm trong Tiểu đoàn 506 và vẫn giữ nguyên tổ chức trong đơn vị cơ động.

        Anh Tư Chiểu và anh Bảy Triệu là những người đã chỉ huy các nhóm vũ trang ngay từ đầu cũng như trong suốt quá trình từ vũ trang tuyên truyền đến đồng khởi. Các anh có uy tín rất cao đối với đơn vị. Anh em bộ đội luôn yêu mến và tin tưởng các anh trong chỉ huy chiến đấu.

        Trong năm 1962, với lực lượng đó, Long An vẫn tiếp tục tiến công các đồn bốt trên diện rộng của toàn tỉnh, làm cho địch không thực hiện được các chỉ tiêu ‘bình định” chúng đã vạch ra. Lúc đó Long An là một trong tám tỉnh trọng điểm “bình định” của địch ở Nam Bộ. Có lẽ vì thế mà địch phải rải mỏng lực lượng ra, chưa đủ khả năng tiến hành “bình định” ào ạt.

        Gần cuối năm 1962, tôi được triệu tập đi học trường Nguyễn Ái Quốc ở Miền. Từ ngày tham gia cách mạng, đây là lần đầu tiên tôi được đi học một khoá quan trọng như vậy. điều ấy làm tôi phấn khởi và tự hào, nhưng vẫn nghĩ giá mà được đi học một khóa quân sự thì hay hơn.

        Tôi lên Miền vào tháng 10 năm 1962. Lúc ấy tình hình Long An chưa khó khăn lắm. Các vùng giải phóng Bình Hoà, Hoà Khánh, An Ninh, Lộc Giang của ta vẫn tương đối yên tĩnh.

        Lần đầu tiên nghe giảng về chủ nghĩa Mác-Lênin, về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tôi thấy nhiều danh từ mới quá. Tuy hiểu được, nhưng tôi thấy sao nó không gắn gì đến tình hình cách mạng ở miền Nam! Các anh khác chắc cũng như tôi, ngồi ở lớp học mà tâm trí vẫn để ở tỉnh nhà: không biết bọn địch đang làm gì, anh em mình đang chiến đấu ra sao?

        Đầu năm 1963, tôi nhận được thư của anh em ở Long An cho biết bọn địch đang ráo riết gom dân lập “ấp chiến lược”. thư không nói rõ thế nào là “ấp chiến lược”, cũng không nói hết các thủ đoạn gom dân của chúng, nên tôi cứ nghĩ chắc là không có gì ghê gớm lắm, cũng như “khu trù mật” hồi đó thôi. Những lá thư sau, anh em cho biết thêm là địch không hành quân cấp chiến đoàn để gom dân, lập ấp chứ không phải chỉ đưa bọn bảo an về đóng đồn như trước. Kiên cường như dân Mỹ hạnh - Đức Hoà mà cũng bị chúng đưa vào “ấp chiến lược” gần hết.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Giêng, 2017, 11:31:24 pm

        Ngồi học mà nghe những tin như thế thật nóng ruột, chẳng còn tâm trí đầu mà nghĩ đến mấy danh từ chính trị, triết học. Ở các nơi khác, sau chiến thắng Ấp Bắc, tình hình có khá hơn trước. Riêng ở Long An, từ năm 1963 tình hình khó khăn hơn trước rất nhiều. Sau này tôi mới hiểu rõ hơn nguyên nhân của sự trái ngược ấy. Sau thất bại ở Ấp Bắc, Mỹ - Diệm thấy rõ sự bế tắc của chương trình “bình định’ lập “ấp chiến lược”, chúng thu hẹp trọng điểm “bình định” từ tám tỉnh ở Nam Bộ xuống còn bốn tỉnh quanh Sài Gòn, trong đó có Long An. Chúng tập trung lực lượng ở các nơi về nhằm bình định bằng được vành đai bảo vệ thủ đô của chúng.

        Trong những tháng học cuối cùng, thực ra tôi chỉ suy nghĩ khi về sẽ đánh bằng cách nào? Tôi rất mong sớm kết thúc lớp học để về thực hiện những suy nghĩ của mình.

        Tháng 7 năm 1963, lớp học kết thúc. Tôi lên đường về Long An ngay. Trời đã mưa nhiều, thế mà trên con đường từ An Ninh, Lộc Giang về Hoà Khánh, Bình Hoà cảnh tượng xơ xác, nhiều nơi tôi không nhận ra. Mới gần một năm trời mà chúng làm tan hoang cả xóm làng thế này, chứng tỏ chúng thực hiện với quyết tâm cao và lực lượng lớn. Về phía ta, chắc đang gặp nhiều khó khăn.

        Về đến nơi, gặp lại đồng chí, bạn bè, tôi mừng lắm. Các anh ở nhà cũng vậy. Anh Chín Cần nói với tôi: “Ông về phụ với chúng tôi thì đỡ quá, chúng nó đang làm dữ lắm...”. Tôi nóng lòng muốn biết ngay tình hình cụ thể ở nhà thế nào? Lúc ấy anh Tư Vũ đang là Tỉnh đội trưởng, tôi làm Chính trị viên. Anh Tư Vũ là cán bộ của Long An đi tập kết mới về.

        Tình hình Long An lúc này thật khó khăn. Đại đội 1 và 2 hoạt động dưới nam lộ số 4, phải chống càn liên tục, bị thiệt hại nhiều đã rút về phía bắc lộ, nhưng chưa có điều kiện củng cố, bổ sung. Có lúc bộ đôi phải cải trang làm dân đi vác mía kiếm tiền nuôi đơn vị. Trong tình trạng đó, tất nhiên không đánh được trận nào lớn. Trong khi đó quân địch ráo riết dồn dân xây dựng “ấp chiến lược”. Đồn bốt địch mọc lên như nấm. Theo các nơi báo cáo lên, có tới gần 300 “ấp chiến lược” đã làm xong. Nghe anh em lên tỉnh đôi báo cáo lại tỉ mỉ các cuộc hành quân cấp chiến đoàn của địch đến lập “ấp chiến lược” như ở Mỹ Hạnh, thì thấy thiệt khó đối phó. Lực lượng ta chưa đủ sức đánh bại các cuộc càn. Đã vậy, phải xuống phía nam lộ là nơi nhiều khó khăn về mọi mặt nên sức chiến đấu giảm nhanh.

        Thực tế tình hình thời kỳ này càng cho thấy rõ: nếu lực lượng vũ trang không đánh tốt thì phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng không thể lên mạnh được. Tôi nghe anh em kể lại, thời kỳ đầu bọn địch lập “ấp chiến lược”, nhân dân chống lại mạnh lắm. Có người vác dao chém tên lính nào dám dỡ nhà. Có người bị đốt nhà liền cất chòi ngay trên nền nhà cháy để ở, chứ không chịu vào ấp. Thế nhưng khi địch hành quân chiến đoàn, dùng cả máy bay trực thăng, xe tăng, xe ủi đất để lùa dân vào ấp thì nhân dân không đủ sức chống lại. Dân Đức Hoà, Mỹ Hạnh có truyền thống đấu tranh kiên cường thế mà cũng bị chúng gom gần hết vào “ấp chiến lược”.

        Qua một thời gian nắm lại và tìm hiểu tình hình, những suy nghĩ dần sáng tỏ. đúng là tình hình khó khăn thật, nhưng không phải không có lối thoát. Vấn đề chủ yếu là lực lượng chưa tăng cường kịp với yêu cầu nhiệm vụ và đối tượng tác chiến mới. Từ đồng khởi nay chuyển sang chiến tranh thực sự, địch lại tăng cường lực lượng lớn, ta phải tính toán thế nào cho phù hợp. Trong thời gian hoạt động ở nam lộ số 4, Đại đội 1 phải chống càn liên tục, trong đó có hai trận bị thiệt hại nhiều. Qua các buổi họp kiểm điểm, cán bộ và chiến sỹ đều cho rằng cứ nằm tại chỗ mà chống càn thì không có công sự nào chịu nổi bom pháo của địch bắn phá suốt ngày, mà rút lui ban ngày lại càng nguy hiểm vì pháo và trực thăng của địch. Lúc ấy ở Mỹ Tho, vào Khu 8 đang phổ biến chiến thuật chống càn bằng cách đào công sự vòng tròn khép kín để có thể đánh địch ở bất cứ hướng nào. Cách đó có thể giữ vững được trận địa cho đến tối hoặc giữ vững nhiều ngày, nhưng tác dụng tiêu diệt sinh lực địch bị hạn chế. Tôi nghĩ phải tiêu diệt địch mới bẻ gãy được cuộc càn của chúng, chứ không phải giữ một đoạn kênh hay một xóm ấp. Ta chưa thể giữ được địa hình vì tương quan lực lượng lúc đó chưa cho phép, vả lại giữ được địa hình mà không có dân cũng chẳng có tác dụng gì. Trong mỗi trận càn, quân địch bắn phá rất ác liệt, dân bám lại xóm làng sao được! Nhất định phải thay đổi các chống càn bằng vận động đánh càn. Nhưng muốn vận động được, phải có địa hình và công sự để tránh bom pháo. Như thế phải chủ động đánh càn chứ không phải đợi chúng đến mới đánh. Qua trao đổi ý kiến, nhiều người cũng nghĩ như vậy, nên khi chúng tôi đề xuất phát động trong toàn tỉnh phong trào đào công sự trên tuyến địa hình có thế quân sự để đánh càn, liền được sự nhất trí và ủng hộ rộng rãi. Thời đó bộ đội Long An, chưa quen làm công sự có nắp nên tôi cùng anh Tư Vũ, Tư Chiểu phải trực tiếp làm mẫu để hướng dẫn bộ đội. Công sự chúng tôi làm cũng giản đơn, có chiều sâu khoảng một mét, chiều dài hơn một mét, chiều rộng chừng 80 phân, ở giữa có nắp để tránh pháo, tránh bom hoặc đạn từ trực thăng bắn xuống, hai đầu để để hở làm nơi quỳ bắn. Hai chiến sỹ đào một công sự như thế, chỉ mất hơn 30 phút. Vấn đề đánh càn được giải quyết tạm ổn. Vấn đề khó khăn hơn là làm sao đánh được đồn bốt?


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Giêng, 2017, 11:32:19 pm

        Đồn bốt địch thời đó chưa kiên cố và có nhiều sơ hở về canh phòng, bố trí, nhưng lực lượng ta còn thiếu thốn về trang bị vũ khí, đặc biệt loại hoả lực mạnh có sức công phá như ĐKZ chưa có nhiều. Thời kỳ đồng khởi, bộ đội đánh đồn chủ yếu bằng cách cải trang kết hợp với nội ứng. đánh như thế, thời gian chuẩn bị phải lâu. Muốn móc nối được cơ sở tốt ở bên trong hay đưa được người của ta từ bên ngoài vào không phải dễ và tốn nhiều hời gian. Với yêu cầu nhiệm vụ mới, ta phải chủ động hơn trong tiến công nên cũng phải có cách đánh khác. Nếu đánh đơn thuần bằng bộ binh theo kiểu phá hàng rào bằng bộ phá và dùng thang ván thì không được; vì ta không đủ hoả lực cần thiết và không có đủ phương tiện, khí tài để phá hàng rào, chướng ngại vật. Mặt khác, cách đánh ấy bị thương vong nhiều, mà tình hình lúc đó không thể chấp nhận được. Tốt nhất là đánh bằng chiến thuật đặc công, nhưng ta lấy đâu đủ số chiến sỹ đặc công để đánh hàng mấy trăm đồn bốt trên toàn tỉnh? huấn luyện được một chiến sỹ, xây dựng một đơn vị đặc công giải phải tốn bao nhiêu thời gian và công sức. Từ đó tôi suy nghĩ xem có kết hợp đặc công với bộ binh và cả pháo binh vào một trận đánh không? Đối với bộ binh thì khó khăn nhất là giai đoạn phá hàng rào, tạo cửa mở và đánh chiếm đầu cầu. Đối với đặc công thì giai đoạn cắt hàng rào không khó lắm mà giai đoạn đánh vào bên trong khó hơn vì ít người và vũ khí (đặc công chỉ có thủ pháo và lựu đạn, rất ít súng bộ binh và hoả lực). Như vậy đặc công có thể bí mật mở cửa, sau đó đánh chiếm đầu cầu cho bộ binh đánh vào bên trong.Cách đánh này phát huy và kết hợp được hai cái mạnh của hai binh chủng. Cái mạnh của lực lượng này bù cho cái yếu của lực lượng kia. Về hoả lực, có thể kết hợp được nếu hướng bắn và thời điểm bắn không ảnh hưởng đến các lực lượng trên, có thể diệt lô cốt ở một góc xa cửa mở đồng thời với lúc đặc công đánh chiếm đầu cầu.

        Tôi đem những suy nghĩ của mình trao đổi với một số anh. Nhiều người thấy có lý, nhưng có người bảo tôi: Kỳ tập là kỳ tập; cường tập là cường tập, làm sao kết hợp hai nguyên tắc như thế được. Đúng là chưa có thực tế chứng minh cũng khó tranh luận được với mấy ông ấy! Nhưng tôi vẫn kiên trì những suy nghĩ và tính toán về chiến thuật đánh đồn theo kiểu kết hợp nhiều binh chủng, nhiều lực lượng.

        Chiến thuật là một mặt nhưng con người để thực hiện chiến thuật ấy mới là vấn đề quyết định, mà con người thì chúng tôi đã có. Lực lượng bộ binh mà các anh Mười Xưởng, Tư Ấp, Tư Chiểu, Bảy Triệu, Sáu Hoàng... chỉ huy trực tiếp thì hoàn toàn có thể yên tâm. Trinh sát đặc công do các đồng chí Vũ Điệp, Hiểu, Phước, Dầy, trực tiếp nắm thì cũng hoàn toàn có tin tưởng. Đồng chí Hiểu trước là chiến sỹ liên lạc, nhưng giao đi đến bất cứ đâu, trong điều kiện khó khăn đến mấy cũng đến được, làm được. Thấy vậy chúng tôi rút lên cho đi huấn luyện thành người chỉ huy trinh sát giỏi nhất của tỉnh. Có thể nói, không đồn bốt nào ở Long An, Hiểu không vào được hết các lớp rào. Hiểu tiếp cận giỏi đến mức nhiều lần chính đặc công cũng phải nhờ anh dẫn đường, chỉ lối. đồng chí Phước trước là chiến sỹ bộ binh, chiến đấu dũng cảm nên chúng tôi rút về huấn luyện đặc công. Còn đồng chí Dầy vốn là đặc công từ trong kháng chiến chống Pháp nên có kinh nghiệm và có kỹ thuật cao. Lúc chưa đi học trên Miền, có lần tôi cùng đồng chí Dầy đi nghiên cứu, tìm cách đánh một cái tua để rút kinh nghiệm. Dầy đi nghiên cứu mấy đêm liền nhưng vẫn chưa tìm được cách nào để đưa bộc phá vào mục tiêu vì còn mắc hàng rào cuối cùng nằm sát tua. Tôi gợi ý có thể buộc bộc phá vào đầu cây rồi đẩy vào, sau đó lui ra ngoài châm điện. Đêm đó, Dầy làm theo cách đó và đánh được một tua. Đó là những trận đánh đầu tiên của đặc công. Trận đánh tuy nhỏ và đơn giản, nhưng nó chứng tỏ lòng dũng cảm và kỹ thuật tiếp cận khá tốt của Dầy. Lúc ấy chúng tôi đã có súng ĐKZ, có đồng chí Thành là người chỉ huy, bắn giỏi. Tôi hỏi Thành có thể bảo đảm tiêu diệt một lô cốt bằng một đến hai quả đạn không? Thành quả quyết là có thể đưa súng vào trong mấy lớp rào rồi ngắm trực tiếp bằng nòng súng chứ không cần kính ngắm, và chỉ cần một quả đạn thôi...


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Giêng, 2017, 11:32:55 pm

        Ở ban tham mưu tỉnh đội, có các đồng chí như Sáu Châu, Vũ Điệp, đặc biệt là các anh Sáu Châu rất giỏi về công tác tham mưu. Anh chỉ đạo cho các huyện, các xã và cho trinh sát điều tra nghiên cứu trước các mục tiêu quan trọng ở từng vùng và lập hồ sơ rất tỉ mỉ. Khi nào tỉnh mở đợt hoạt động ở đâu, anh lên kế hoạch nhanh chóng và chính xác. Công tác tham mưu đã giúp rất nhiều cho chỉ đạo, chỉ huy khi hạ quyết tâm và định ra chủ trương hoạt động. Với đội ngũ cán bộ giỏi như vậy, chúng tôi có cơ sở để xoay chuyển tình thế.

        Tỉnh uỷ nhất trí phải nhanh chóng xây dựng và tăng cường lực lượng. Lúc ấy cấp tỉnh vẫn chưa được phép thành lập tiểu đoàn nên chúng tôi chủ trương tăng cường biên chế quân số cho Đại đội 1 và Đại đội 2 theo yêu cầu chiến đấu chứ không phụ thuộc vào biên chế quy định. Đại đội 1 có bốn trung đội, mỗi trung đội có bốn tiểu đội với quân số trên 500 người. Đại đội 2 tổ chức ba trung đội, với quân số khoảng 300 người. Ngoài ra sẽ thành lập hai phân đội đặc công, mỗi phân đội từ 70 đến 80 chiến sỹ, một phân đội trinh sát và phân đội hoả lực gồm ĐKZ, cối 60, 82 và súng phòng không 12,7.

        Tỉnh uỷ chỉ đạo cho các huyện tăng cường quân số, không hạn chế số lượng mà tuỳ theo khả năng của từng huyện. Thời kỳ này mỗi huyện có khoảng từ 70 đến 100 quân, các xã đều có tối thiểu một tiểu đội du kích.

        Tháng 9 năm 1963, Tỉnh uỷ triệu tập hội nghị trong thời gian gần mười ngày. Trong hội nghị, tất cả các vấn đề đều được đem ra thảo luận một cách thẳng thắn và đạt được sự thống nhất về đánh giá tình hình. Tất cả đều đồng ý nguyên nhân tình hình khó khăn hiện nay của ta là do xây dựng lực lượng chưa kịp với yêu cầu nhiệm vụ, chưa mạnh dạn đổi mới về chiến thuật nên bộ đội chưa đủ sức đánh vào đối tượng chủ yếu, chỗ dựa chủ yếu của ‘ấp chiến lược” là bọn địch càn quét và bọn chiếm đóng đồn bốt. Do đó, chưa hỗ trợ được cho nhân dân đứng lên phá ấp trở về vườn cũ làm ăn. Thực tế việc phá “ấp chiến lược” không thành công trong năm 1963 cho thấy: nếu ta chỉ nhằm vào thanh niên chiến đấu của địch và phá bờ tường, hàng rào “ấp chiến lược” thì nhân dân chưa dám bung về vườn cũ. Phân tích vấn đề này, anh Chín Cần nói: ta mới phá về hình thức chứ chưa phá nội dung của “ấp chiến lược”. Hội nghị đánh giá cao việc phá ‘ấp chiến lược” ở các địa phương điển hình như Mỹ Hạnh, Đức Hoà...

        Chúng tôi cho rằng phá lỏng sẽ làm cơ sở cho phá banh và phá tan “ấp chiến lược” sau này. Cuối cùng, hội nghị đề ra quyết tâm phá tan toàn bộ hệ thống “ấp chiến lược” của địch trên phạm vi toàn tỉnh với lực lượng ba thứ quân, đánh bại bọn địch đi càn và đóng đồn bốt hỗ trợ cho nhân dân tự đứng lên phá “ấp chiến lược”, hoạt động vũ trang kết hợp chặt chẽ với nổi dậy của quần chúng.

        Hội nghị là cái mốc rất quan trọng, đã nhìn thẳng vào sự thật, nhìn thẳng vào những thiếu sót, từ đó tìm được các biện pháp mới làm cơ sở cho một quyết tâm cao. Đây cũng là một kinh nghiệm về lãnh đạo mà tôi rất thấm thía. Nếu tổ chức hội nghị để nghe ý kiến của Bí thư và Thường vụ mà không có sự trao đổi thẳng thắn, rộng rãi thì làm sao khai thác được trí tuệ của tập thể, làm sau thấy hết được mọi khía cạnh của vấn đề. Hội nghị tháng 9 năm 1963 của Long An là một hội nghị rất thẳng thắn. Hội nghị tìm được những biện pháp đúng đắn. Đó là kết quả của phát huy trí tuệ tập thể.

        Sau hội nghị Tỉnh uỷ, tất cả các mặt công tác, nhất là xây dựng lực lượng được tiến hành khẩn trương. Quân số các đơn vị gần đạt mức dự tính, chúng tôi bắt đầu cho bộ đội hoạt động có tính chất thí điểm để rút kinh nghiệm. Trong đợt này có hai trận đánh chú ý:

        Trận thứ nhất ở Giồng Lớn, bộ đội địa phương Đức Hoà đã phục kích diệt gần hết một đại đội bảo an địch ở ngay sát “ấp chiến lược”. Khi thấy bọn bảo an lớp chết, lớp chạy tan tác, bọn dân vệ và thành niên chiến đấu sợ hãi tự tan rã. Thừa thắng, bà con trong “ấp chiến lược” Giồng Lớn nổi lên phá ấp, trở về vườn cũ của mình. Bọn địch không gom lại được. Kết quả của trận này đã chứng minh phương châm phá ‘ấp chiến lược” mà hội nghị Tỉnh uỷ đề ra là có cơ sở đúng đắn.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Giêng, 2017, 11:33:45 pm

        Trận thứ hai xảy ra ở Hoà Khánh. Đêm hôm đó, lực lượng ta diệt một đồn bảo an cấp trung đội ở ngay sát “ấp chiến lược”. Đánh xong bộ đội rút đi. Sáng hôm sau, bà con trong “ấp chiến lược” chưa kịp hành động thì bị hai tên lính còn sống sót lại trong đồn vác súng vào khống chế, bắt nhân dân phải ra giải quyết hậu quả trận đánh cho chúng. Sau đó bọn lính cứu viện kéo đến, bà con lại phải trở về ấp, không bung ra được.

        Sau kinh nghiệm ở Hoà Khánh, Tỉnh uỷ chỉ đạo ngay cho các huyện và lực lượng vũ trang khi đánh phải có kế hoạch phối hợp chặt chẽ với nhân dân và đứng lại hỗ trợ cho quần chúng phá “ấp chiến lược” xong mới được rút đi.

        Trong thời gian từ cuối tháng 9 đến hết tháng 10 năm 1963, quân dân Long An đã đánh được 10 đồn và phá được gần 20 “ấp chiến lược”. Sự chuyển biến ấy tuy nhỏ nhưng là dấu hiệu đáng mừng vì quân dân Long An đã tìm ra cách đánh, cách giành thắng lợi.

        Cũng vào thời điểm đó, Mỹ - Diệm cho thành lập thêm tỉnh Hậu Nghĩa ở phía tây Sài Gòn. Chúng cắt Đức Hoà, Đức Huệ của Long An ghép với Củ Chi, Trảng Bàng của Tây Ninh để lập tỉnh mới. Cơ quan đầu não của chúng đặt tại Bàu Trại thuộc Đức Hoà. Tỉnh này chỉ có bốn huyện, nhưng vô cùng quan trọng đối với Sài Gòn, vì nó chắn hướng tây bắc, hướng tiếp giáp với vùng rừng núi Tây Ninh và biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia. Cũng chính vì có vị trí quan trọng nên Diệm đã bổ nhiệm tên Mã Sinh Nhơn - một tên tay sai gian ác, xảo quyết, khét tiếng chống cộng làm Tỉnh trưởng. Đây là một khó khăn mới cho Long An, đặc biệt là Đức Hoà. Từ đây quân dân Long An phải thường xuyên đối phó với hai bộ máy chiến tranh cấp tỉnh của địch với lực lượng đông gấp bội.

        Vào cuối năm 1963, tình hình ngụy quyền Sài Gòn có biến động. Mỹ - Diệm lục đục nhau. Cấp trên chỉ đạo cho Long An phải đưa ngay lực lượng xuống hoạt động ở nam lộ số 4. Trong khi đó chúng tôi muốn giữ lực lượng phía bắc để vừa xây dựng củng cố lại cho mạnh, vừa tìm cách mở lại vùng Đức Hoà – Vàm Cỏ Đông làm bàn đạp để mở các vùng khác.

        Mặc dù Long An đã bắt đầu phá được “ấp chiến lược”, nhưng tốc độ còn chậm. Muốn phá nhanh phải có một trận đánh thật lớn, thối động mạnh làm vỡ từng mảng lớn đồn bốt và “ấp chiến lược. Điều ấy là rõ ràng, nhưng vấn đề là làm sao tạo được trận lớn, đánh bằng hình thức chiến thuật gì, ở đâu?

        Tôi đang mải suy nghĩ về điều này thì anh Chín Cần hỏi: Ông thấy Hiệp Hoà thế nào? Long An mình đánh được không? Tôi cũng đã nghe các anh nói đến Hiệp Hoà nhưng vì mới về chưa nắm được tình hình cụ thể, nên chưa dám nói chắc là đánh được hay không! Anh Chín Cần cho biết lúc tôi đi học, Quân khu có cử cán bộ xuống tỉnh nghiên cứu mục tiêu Hiệp Hoà, nhưng do Tiểu đoàn 261 về sát thị xã Mỹ Tho để đón thời cơ, nên chưa nói đến có đánh hay không. Về phía Long An có thuận lợi là cánh binh vận của anh Bảy Thành đã nắm được hai cơ sở bên trong Hiệp Hoà.

        Tôi đề nghị anh Chín Cần cho tôi một tuần lễ đi nghiên cứu tình hình cụ thể rồi trả lời. tôi gặp anh Ba Sơn, Tham mưu phó Khu 8, là người đi nghiên cứu Hiệp Hoà. Anh Sơn nói địa hình Hiệp Hoà phức tạp mà đơn vị 261 lại chưa quen chiến trường này nên chưa quyết định được. Sau đó tôi đi Hiệp Hoà, triệu tập tất cả các bộ phận của tham mưu, trinh sát, đặc công đã nghiên cứu mục tiêu để nắm tình hình cụ thể. Tất cả các anh như Mười Xưởng, Tư Ấp, Vũ Điệp, Phước, Dầy, Hiểu đều nói là nghiên cứu rất kỹ đường ra lối vào của căn cứ, có thể đánh được. Anh Bảy Thành cũng cho biết là nội ứng của ta nắm chắc, rất đáng tin tưởng.

        Nhìn trên sơ đồ, tôi thấy mục tiêu khá lớn và rất phức tạp. Mỗi chiều từ 100 đến 150 mét, ngoài bốn lô cốt chính ở bốn góc, còn có thêm bốn lô cốt phụ ở giữa bốn bức tường. Tất cả đều có đại liên, tổng cộng là 8 khẩu, bên ngoài lại có rất nhiều hào sâu và nhiều hàng rào kẽm gai. Tôi hỏi các anh nếu ta đánh thì đánh bằng cách nào? Các anh trình bày: Nội ứng gác cho đặc công trinh sát cắt rào đưa bộ binh vào chiếm lô cốt đầu cầu rồi phát triển vào bên trong. Tôi thấy cách đó chưa ổn lắm, vì kinh nghiệm cho thấy nếu không diệt được bộ phận chỉ huy và thông tin ngày từ đầu thì rất khó dứt điểm. Tôi đề nghị bộ phận đặc công trinh sát nghiên cứu lại thật chắc chắn xem khả năng có vào được khu vực nhà cố vấn Mỹ và thông tin trước khi bộ binh nổ súng hay không....? Tức là tiếng súng mở đầu phải là ở nhà cố vấn Mỹ và khu thông tin thì mới chắc thắng được. Cánh đặc công trinh sát sau khi đi nghiên cứu lại cả quyết sẽ làm được như yêu cầu.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Giêng, 2017, 11:35:57 pm

        Tôi trở về gặp anh Chín Cần, nói chắc chắn sẽ đánh được căn cứ này. Nghe vậy anh rất mừng, vì biết tính tôi không phải là người nói nhiều. Nhưng anh cũng rất lo. Tôi cũng vậy. Trận đánh quá lớn mà hoả lực ta quá ít. Kinh nghiệm đánh đồn lớn theo kiểu này cũng chưa có. Chúng tôi cho người đi liên hệ mượn thêm ĐKZ của Kiến Tường và súng 12,7 của cánh Y4 (Sài Gòn).

        Từ hạ quyết tâm, đánh Hiệp Hoà, tôi luôn nghĩ về nó. Tôi tưởng tượng ra trận đánh một cách rõ ràng như là nó đã xảy ra. Tôi hình dung rất rõ Phước và Dầy chỉ huy các mũi đặc công cắt rào và ôm bộc phá lao vào khu nhà cố vấn Mỹ như thế nào? Mười Xưởng, Tư Ấp chỉ huy các cánh bộ binh đánh chiếm mục tiêu ra sao? Thành đưa ĐKZ vào hàng rào bắn lô cốt thế nào? Càng tưởng tượng, càng hình dung tôi càng thấy thêm cái khó của trận đánh. Nhưng tôi rất tin tưởng ở những con người, những cán bộ chiến sỹ của đơn vị. Nhất định họ sẽ có cách vượt qua khó khăn để giành thắng lợi.

        Chúng tôi đã ấn định ngày nổ súng và tiến hành huy động hàng nghìn dân công của Đức Hoà, Đức Huệ đến các nơi tập kết. Tuy vậy, tôi vẫn có cảm giác như có cái gì chưa thật ổn. Suy đi tính lại các công việc, cho kiểm tra lại các đơn vị, cũng không có gì thiếu sót, chỉ còn chờ anh Bảy Thành và nội ứng kiểm tra lại xem sao? Cái đêm ta định đánh thì nội ứng lại không đúng phiên gác, nhưng các anh có hứa là sẽ có mặt và tìm cách gác thay tên khác để đón quân ta vào. Nghe vậy tôi thấy hiệp đồng có phần phiêu liêu quá, dễ hỏng việc. tôi đặt giải thiết chiều hôm đó bọn địch điều cơ sở của ta làm công việc nào đó? Vả lại không có phiên gác mà lại xin gác thay có khi bị nghi ngờ và lộ hết. Tôi buộc phải quyết định lùi ngày đánh lại để chờ anh Bảy Thành hiệp đồng lại với nội ứng.

        Quyết định ấy thật không đơn giản chút nào, bởi vì lúc đó chúng tôi đã báo cáo với Khu xin để lực lượng lại, đánh xong trận Hiệp Hoà sẽ đưa xuống nam lộ số 4. Đáng lẽ chúng tôi phải đưa tất cả xuống vào dịp đầu tháng 11, lúc đó đảo chính Diệm ở Sài Gòn. Nhưng cuộc đảo chính ấy không đem lại thời cơ nào cho ta nên việc áp sát Sài Gòn cũng chưa thật cần thiết. Nhưng khi nghe tin đình trận đánh lại, có người đề nghị đưa ngay lực lượng xuống phía Nam, bỏ hẳn trận Hiệp Hoà đi. Thậm chí còn có người cho là tôi sợ không dám đánh nữa. Bên cạnh đó còn một vấn đề hóc búa phải giải quyết là: làm thế nào giữ được bí mật vì hàng nghìn dân công không thể cho về, cũng không thể tập trung một chỗ quá lâu.

        Quyết tâm thực hiện trận đánh, tôi đứng ra chịu trách nhiệm trước Tỉnh uỷ và Quân khu về mọi quyết định của mình, nhất là quyết định hoãn trận đánh. Về bản thân, tôi không lo bị kỷ luật hay mất chức. Cái lo lớn nhất của tôi là sự thành bại của trận đánh liên quan đến sinh mạng của hàng trăm cán bộ, chiến sỹ, vốn quý nhất của sự nghiệp cách mạng và của nhân dân Long An. Vì thế, tôi không cho phép mình sai lầm trong quyết định này.

        Mọi vấn đề rồi cũng được giải quyết tốt đẹp. Anh Bảy Thành đã nắm lại và hiệp đồng rất chắc giờ gác đêm của nội ứng. Ba Tô và Nguyễn Văn Ghe. Việc giữ bí mật cho dân công cũng được giải quyết tốt bằng cách giao cho khối dân vận tổ chức vài cuộc đấu tranh, vài vụ phá lộ, đắp mô trên đường làm cho quân địch không nghi ngờ về sự tập trung của nhân dân.

        Đêm 22 tháng 11 năm 1963, chúng tôi đưa bộ đội vào trận đánh. Tham gia đánh trực tiếp vào căn cứ gồm Đại đội 1 và đơn vị đặc công. Tổng quân số tương đương quân số địch, tức khoảng 500 quân. Ở vòng ngoài có Đại đội 2; lực lượng pháo binh, phòng không cũng khoảng 300 quân nữa. Ngoài ra còn có mấy trăm dân công phục vụ.

        Sở chỉ huy của tỉnh đội đóng ở Rạch Thiêm, cách mục tiêu khoảng hơn một ki-lô-mét. Ở đây có anh Tư Vũ, Tỉnh đội trưởng, tôi – Chính trị viên và anh Tư Chiểu, Sáu Châu là cán bộ tham mưu.

        Bộ đội ta tiếp cận khá tốt nên tình hình xung quanh Hiệp Hoà khá yên tĩnh, nhưng đó là những giờ phút theo dõi, chờ đợi rất căng thẳng ở sở chỉ huy. Tin tức từ bên trong báo ra đều đặn và thuận lợi, nhưng tôi vẫn lo không biết có tình huống gì bất trắc xảy ra không. Đến 12 giờ đêm, bên trong báo ra là bộ đội đã đến con mương cuối cùng, đang bắc thang để chuẩn bị leo lên tường. Tình hình như thế là tiến triển tốt. Nhưng khoảng 10 phút sau, chúng tôi bỗng nghe từng loạt tiểu liên nổ bên trong căn cứ, tiếp theo đó là tiếng súng đại liên trên lô cốt. Tôi lo quá, không lẽ đã bị lộ, phải đánh ngay từ bờ tường thì trận đánh khó khăn thêm. Vừa lúc đó tiếng nổ lớn của bộc phá và ánh lửa rực bốc lên từ giữa căn cứ. Tiếp đó là tiếng nổ liên hồi của đủ loại súng không còn phân biệt được của ta hay của địch. Nhưng chúng tôi biết là đặc công đã hoàn thành nhiệm vụ và bộ binh đang phát triển chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Giêng, 2017, 11:36:35 pm

        Pháo binh địch ở các nơi không thấy bắn về Hiệp Hoà, máy bay cũng chưa thấy lên, như vậy có nghĩa là bọn sỹ quan Mỹ - ngụy và trung tâm thông tin đã bị ta tiêu diệt ngay từ phút đầu.

        Trận đánh kéo dài khoảng 40 phút và diễn ra đúng như phương án. Ta làm chủ hoàn toàn trận địa, dân công vào tận bên trong căn cứ để thu súng đạn. Sau đó chúng tôi mới biết những loạt súng đầu tiên là của đặc công và nội ứng kết hợp nhau xử lý tình huống tiêu diệt một tiểu đội biệt kích đi tuần về để các chiến sỹ bộc phá lao vào đánh mục tiêu chính. Tình huống ấy nằm ngoài dự kiến của chúng tôi, nhưng bộ đội đã xử lý hết sức đúng đắn và sáng suốt. Điều đó có tầm quan trọng rất lớn đối với cả quá trình diễn biến của trận đánh.

        Ta bắt được hàng trăm tù binh, thu hơn 500 súng, hàng tấn đạn dược. Ta hy sinh sáu đồng chí, bị thương mười. Trận đánh đạt thắng lợi, hiệu suất chiến đấu rất cao. Sáng hôm sau, địch càn lớn từ hai hướng đến, nhưng các cánh quân của ta đã rút lui an toàn.

        Tin chiến thắng Hiệp Hoà được truyền đi rất nhanh trong toàn tỉnh. Ai cũng vui mừng phấn khởi, nhưng vui mừng nhất có lẽ là tôi, vì trận đánh này đã thu hút toàn bộ tâm trí của tôi từ bấy lâu nay.

        Theo kế hoạch đã định sẵn để kết hợp và hưởng ứng với Hiệp Hoà, tất cả các nơi của Long An đồng loạt tiến công vào các đồn bốt. Ở phía nam lộ số 4, lực lượng của anh Chín Tài và Sáu Nam ở Cần Đước, Cần Giuộc đã tiến công vào các “ấp chiến lược” và đứng lại luôn tại đó hỗ trợ cho nhân dân vùng lên phá ấp trở về làng cũ. Ở Đức Hoà, bộ đội địa phương và dân quân du kích tiến công bức hàng, bức rút hàng chục đồn bốt. Thừa thắng ở Hiệp Hoà, chúng tôi tổ chức ngay đợt hoạt động trên phạm vi toàn tỉnh, lấy Đức Hoà làm trọng điểm, thời gian từ đầu tháng 12 đến cuối tháng 12 năm 1963.

        Từ đó “ấp chiến lược” của địch vỡ từng mảng lớn. Đến tháng 4 năm 1964, tỉnh đội lại tổ chức đánh một trận lớn tiêu diệt căn cứ huấn luyện dân vệ ở Gò Đen làm địch phải rút bỏ hàng loạt đồn bốt vì thiếu quân bổ sung. Đồn bốt bỏ chạy thì “ấp chiến lược” cũng tan rã theo. Đến đây, Long An đã phá tan hầu hết số “ấp chiến lược” mà Mỹ - Diệm lập trong hai năm 1962 và 1963. Chỉ trong vòng năm tháng (từ tháng 11/1963 đến tháng 4/1964), quân dân Long An đã đạt được một tốc độ rất cao về chống phá “bình định” phá “ấp chiến lược”.

        Đối với Long An, chiến thắng Hiệp Hoà có ý nghĩa rất quan trọng trong nhiệm vụ phá “ấp chiến lược”. Ta đã khôi phục lại vùng giải phóng quan trọng nhất của Long An. Vì Hiệp Hoà là một căn cứ biệt kích nằm ngay trung tâm của tỉnh. Hành lang Đức Hoà, Đức Hệ (Huệ) không chỉ quan trọng đối với Long An mà còn là hành lang của toàn miền, vì Vàm Cỏ Đông là nơi tiếp giáp giữa miền Đông Nam Bộ với miền Tây Nam Bộ và đông nam Cam-pu-chia.

        Với số súng lấy được ở Hiệp Hoà, chúng tôi có thể tăng cường lực lượng lên rất nhiều, và cách đánh ở Hiệp Hoà có thể vận dụng để tiêu diệt các đồn bốt khác. Bộ đội rất tin tưởng ở cách đánh kết hợp này.

        Với chiến thắng Hiệp Hoà, chúng tôi vô cùng phấn khởi nhưng lúc đó chưa đánh giá được hết ý nghĩa và tầm ảnh hưởng của nó. Càng về sau, càng thấy trận Hiệp Hoà thực sự là một trận đánh có tác dụng xoay chuyển tình thế cho Long An. Trước khi đánh Hiệp Hoà, chúng tôi ở thế bị động khó khăn, thậm chí bế tắc về phương thức hoạt động phá “ấp chiến lược”. Nhưng sau Hiêp Hoà, chỉ cần năm tháng liên tục tiến công, chúng tôi đã phá toàn bộ hệ thống “ấp chiến lược” của địch gồm gần 300 ấp.

        Ở Long An, tôi cho là biện pháp đánh tiêu diệt đồn bốt địch giữ vai trò quan trọng nhất trong cao trào phá “ấp chiến lược”. Thường là trong đêm bộ đội tiêu diệt đồn bốt, sáng đứng lại đánh càn hỗ trợ cho nhân dân phá ấp, bung về làng cũ. Có khi ta đánh một đồn quan trọng là vỡ mấy “ấp chiến lược”. Có nơi ta chưa đánh “ấp chiến lược” cũng tự