Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2016, 05:07:00 pm



Tiêu đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2016, 05:07:00 pm

Tên sách: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2008
Số hoá: ptlinh, chuongxedap




Ban biên soạn:
      Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Chủ biên)
      Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
      Thượng tá ĐẬU XUÂN LUẬN
      Trung tá TRẦN NGỌC ĐOÀN
      Thượng úy PHAN NGỌC DOÃN
      Trung úy NGUYỄN MINH THỦY

Hoàn chỉnh bản thảo:
      Trung tá TRẦN NGỌC ĐOÀN
      Đại úy NGUYỄN THÚY CÚC


LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một đất nước nằm ở ven biển Thái Bình Dương - cửa ngõ quan trọng của lục địa Đông Nam châu Á. Trải qua bao thế kỷ, bọn phong kiến, thực dân và đế quốc nhòm ngó và xâm lăng nhưng dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục. Ngay từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã phải bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975...

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một kho tàng kiến thức vô cùng quý giá, xây đắp nên truyền thống quật cường, bất khuất, lòng yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc. Việc tìm hiểu lịch sử dân tộc vừa là nhu cầu, vừa là trách nhiệm trước lịch sử để tỏ lòng biết ơn đối với công lao to lớn của tổ tiên, vừa là đòi hỏi của thời cuộc để mỗi người dân Việt Nam tự tin hội nhập cùng bạn bè quốc tế với một bản sắc dân tộc mạnh mẽ.

Với ý nghĩa đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức biên soạn và xuất bản "Tủ sách lịch sử Việt Nam". Tủ sách lịch sử Việt Nam gồm nhiều cuốn, mỗi cuốn sách trình bày một cuộc khởi nghĩa cụ thể, theo dạng hỏi đáp, ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Hy vọng "Tủ sách lịch sử Việt Nam" nói chung và cuốn sách "Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực" nói riêng sẽ là người bạn đồng hành thân thiết của mỗi bạn đọc trong cuộc hành trình tìm về lịch sử dân tộc.

Mặc dù những người biên soạn đã có nhiều cố gắng, nhưng bộ sách khó tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong được bạn đọc lượng thứ và đóng góp ý kiến.

Trân trọng giới thiệu!


NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2016, 05:09:23 pm

Phần thứ nhất
CUỘC KHỞI NGHĨA NGUYỄN TRUNG TRỰC

Câu hỏi 1: Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Hãy sơ lược tóm tắt lịch sử quan hệ giữa nhà Nguyễn và Pháp đến thời điểm ấy?
Trả lời:


Từ cuối thế kỷ XV, với những phát kiến về hàng hải, người Tây phương đem thuyền bè sang Á Đông, mở rộng sự giao tiếp Đông - Tây thì các nước ở châu Á một khi có biến động lại thấy ngay sự can thiệp của người da trắng. Nước ta thời Đại Việt trong những thế kỷ phân tranh Nam, Bắc, nhờ sự tổ chức chính trị chặt chẽ ở cả hai miền nên đã ngăn chặn được sự quấy rối của các thương nhân Tây phương. Cuộc thử sức giữa thủy quân của Nguyễn Phúc Tần với hạm đội Hà Lan vào cuối năm Quý Mùi (1643) mà kết quả là chiến thắng về tay quân Nguyễn đã làm cho Công ty Đông Ấn Độ - Hà Lan (VOC) - nói rộng ra, các thương nhân Tây phương - chịu bằng lòng đến buôn bán dưới sự kiểm soát của chính quyền phong kiến ở cả hai miền.

Xét lịch sử châu Âu, từ năm 1640, bắt đầu cho một giai đoạn thịnh vượng về kinh tế. Sự tiến triển của hạ tầng cơ sở cứ biến đổi dần, ngấm ngầm mà chắc chắn suốt nửa đầu thế kỷ XVIII. Những người châu Âu ra nước ngoài - buôn bán, truyền đạo, phiêu lưu - chủ yếu nhờ vào những thành quả về tiến bộ kỹ thuật xảy ra trên đất nước họ. Đặc biệt là những phát triển kỹ thuật trong các ngành đóng tàu, dệt, máy hơi nước, chế tạo kim khí,...

Riêng Đông Nam Á, điển hình cho đám người phiêu lưu này ở cuối thế kỷ XVII là Constantin Phaulkon đã làm cho Louis 14 tưởng thực hiện được tham vọng làm chủ một quốc gia: Xiêm La dưới triều Phranarai. Thế kỷ sau, thành công ở Ấn Độ của Dupleix (Pháp), Clive (Anh) về tiền bạc, danh vọng, gây nên sự thèm khát, ganh ghét ở các chính quốc. Vẻ huy hoàng rực rỡ của các triều đình Đông phương vẫn còn làm ngợp những tay phiêu lưu. Công ty Đông Ấn Độ - Pháp suy sụp, đế chính Pháp tan rã, các chức việc, võ quan thất nghiệp đua nhau đem kiến thức phục vụ các ông hoàng Ấn chống người Anh. Trình độ kỹ thuật thu nhận ở quốc gia xuất phát, tinh thần gan dạ kèm với óc tổ chức khiến họ nổi bật lên giữa đám người họ phục vụ. Cho nên, không lấy làm lạ rằng những viên lính thủy đào ngũ của Pháp lại giữ những vai trò điều khiển quan trọng trong thủy quân Nguyễn Ánh sau này.

Hành động song song với đám người phiêu lưu vì tư lợi này còn có những kẻ được gọi là lớp người phiêu lưu của Chúa và của lòng bác ái, tức là các tu sĩ Thiên Chúa giáo. Họ đi truyền giáo với mục đích đem những người ngoại đạo trở về nước Chúa. Ta cũng thấy ở họ tinh thần mạo hiểm không sợ gian nguy. L.M. Laneau can dự vào vụ Phaulkon bị bắt giam ở Ayuthia đến tháng 4 năm 1691 mới được thả. Trong tù, ông viết thư (6-1690) cho Louis 14: Chúng tôi sẽ làm lại như cũ nếu phải bắt đầu làm lại... Nhưng đồng thời, các tu sĩ này cũng không thể nào tách rời quyền lợi đạo giáo với quyền lợi tổ quốc của họ. Viên tư lệnh thành Chandernagor đã nói rõ ràng trong một bức thư gởi cho toàn quyền Pondichéry (12-2-1778): Tôi luôn luôn lấy làm lạ rằng tại sao ông Bộ trưởng không ra lệnh cho các tu sĩ ở các nơi liên lạc thư từ với các người cầm quyền để báo cáo cho họ biết về tình hình chính trị những nơi họ ở, với các chi tiết về buôn bán mà ta có thể gây được ở nơi đó. Điều đó chắc chắn có ích cho quyền lợi chung hơn là vài tên tín đồ mà họ phải chăm sóc. Với lại làm cả hai việc không có gì là mâu thuẫn hết. Trong khi một người là linh mục, họ không nên quên rằng tình trạng tiên khởi của họ là người của vua họ và phải chú trọng đến việc phục vụ cho vua trong mọi việc cần đến họ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2016, 05:11:30 pm

Không phải là chính quyền ép buộc, các tu sĩ cũng công nhận việc phục vụ cho vua họ như một bổn phận thiêng liêng. Laneau trong thư nói trên, không ân hận đã bị bắt, vì điều đó có liên quan quá nhiều đến thanh danh của hoàng thượng. Chính trong cái ý thức tâm lý chung đó của thời đại mà chúng ta thấy các giáo sĩ đều đồng loạt hành động như nhau. Không phục vụ cho vua họ ở chính quốc thì họ phục vụ cho vương quyền nơi họ trú ngụ, nhất là khi đường lối phục vụ này có hy vọng dẫn đến kết quả tốt đẹp cho sự phát triển đạo.

Cụ thể ở Việt Nam, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, năm Ất Dậu (1765), Chúa Vũ Nguyễn Phúc Khoát mất, quyền thần Trương Phúc Loan chuyên quyền thay Chúa đổi ngôi, đưa Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên ngôi Chúa để dễ bề không chế. Từ đó Đàng Trong bắt đầu đi vào con đường suy thoái, sưu cao thuế nặng, khắp nơi đều vang lên tiếng than oán và cuối cùng dẫn đến việc ba anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa năm Quý Tỵ (1773). Lợi dụng lúc Đàng Trong có nội loạn, Chúa Trịnh xua quân qua sông Linh Giang tấn công Phú Xuân (Huế). Phú Xuân thất thủ, chúa tôi họ Nguyễn phải chạy vào Gia Định, chấm dứt sự nghiệp của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Trong số người chạy loạn có Nguyễn Ánh lúc bấy giờ mới 13 tuổi. Nguyễn Ánh là con thứ ba của Nguyễn Phúc Luân và bà Nguyễn Thị Hoàn. Năm Đinh Dậu (1777), Nguyễn Huệ đem quân vào đánh chiếm Gia Định, chúa tôi họ Nguyễn phải bỏ thành kéo tàn quân chạy về Định Tường, Cần Thơ. Quân Tây Sơn truy lùng gắt gao, bắt được và giết Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Ánh bắt đầu một cuộc sống long đong và vất vả.

Vài năm sau, Nguyễn Ánh lấy lại được Sài Côn (Sài Gòn) rồi tiến ra lấy lại Bình Thuận. Năm Canh Tý (1780) Nguyễn Ánh lên ngôi Vương ở Gia Định. Năm Nhâm Dần (1782), thấy thế lực Nguyễn Ánh ngày càng mạnh, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ kéo quân vào đánh, Sài Gòn thất thủ, Nguyễn Ánh lại bôn tẩu về Hà Tiên rồi chạy ra đảo Phú Quốc.

Nguyễn Ánh vốn là con người có chí nên ông bất chấp gian khổ, canh cánh trong lòng một mối thù phục quốc. Chính vì thế nên khi biết được giám mục Pháp Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine), người có uy tín và thế lực tại Pháp thời bấy giờ đang ở Đàng Trong, Nguyễn Ánh không ngần ngại cho mời giám mục tới và nhờ giám mục làm sứ giả trong việc cầu viện Pháp. Nguyễn Ánh đã để cho con trưởng của mình là Nguyễn Phúc Cảnh mới 4 tuổi theo giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp làm con tin.

Trong thư gửi cho Vua Pháp (Louis 16), Nguyễn Ánh xin Pháp giúp 1.500 lính và tàu bè, súng ống, vật dụng. Để đền bù, Pháp được độc quyền buôn bán ở nước Việt Nam, nhường cho nước Pháp đảo Côn Lôn (Côn Đảo) và cảng Đà Nẵng (có tài liệu nói là cảng Hội An). Kết quả là ngày 28 tháng 11 năm 1787, bộ trưởng De Montmorin đại diện cho Pháp và giám mục Bá Đa Lộc đại diện cho Nguyễn Ánh ký bản hiệp ước tương trợ Pháp - Việt tại điện Versailles. Và Bá Đa Lộc được Pháp cử làm "Ủy viên của Hoàng đế Pháp tại xứ Đàng Trong".

Hiệp ước gồm có 10 điều, tóm tắt như sau:

- Pháp sẽ giúp cho Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu chiến, 1.200 người, 200 pháo binh, 250 lính Phi Châu thuộc địa của Pháp và đạn dược đầy đủ, pháo binh tinh nhuệ.

- Khi nước ta loạn lạc, Pháp sẽ giúp đỡ xứng với sự cần dùng mỗi lúc, nhưng không quá số đã định trong hiệp ước này.

- Ta nhường cho Pháp hải cảng Đà Nẵng và đảo Côn Lôn.

- Pháp được tự do đi lại, tự do buôn bán, trả thuế xuất nhập cảng theo giá như người bản xứ. Tàu binh, tàu buôn ngoại quốc muốn đến nước ta phải treo cờ Pháp và có giấy thông hành Pháp cấp.

- Pháp có thể lập trên lục địa nhà cửa, cơ sở mà họ xét cần dùng cho việc tàu bè giao thông, buôn bán, cho việc sửa chữa, làm ra tàu bè. Về việc cảnh sát ở hải cảng sẽ có tờ giao ước riêng định.

- Ta sẽ bảo hộ sự tự do, sự an toàn thân thể và đồ đạc cho người Pháp. Khi có sự tranh tụng, phải xử phán mau lẹ và công bình.

Hiệp ước Versailles này chính là cái cớ để sau này thực dân Pháp xâm lược nước ta năm 1858.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2016, 05:12:35 pm

Cuộc chiến giữa Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn kéo dài đến năm Tân Dậu (1801) Nguyễn Ánh chiếm lại được Phú Xuân và ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802) Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. Lên ngôi xong, vua Gia Long đưa quân tiến ra đất Bắc, quân Tây Sơn tan rã lần hồi. Đến tháng 6 cùng năm thì vua Gia Long đã thống nhất được đất nước, chấm dứt cuộc Trịnh- Nguyễn phân tranh kéo dài gần 300 năm.

Vua Gia Long không theo đạo Thiên Chúa dù rất biết ơn giám mục Bá Đa Lộc và có nhiều thiện cảm với các giáo sĩ, nhưng Hoàng tử Cảnh đã theo đạo khi ở chung với giám mục Bá Đa Lộc. Một lá thư của Cha Lelabousse viết vào tháng 6 năm 1792 cho biết: "Trong buổi lễ được tổ chức vào khoảng cuối tháng 7 năm 1789, Hoàng tử Cảnh nhất định không đến lạy trước bàn thờ tổ tiên đã làm cho Nguyễn Vương đau khổ tủi nhục và tức giận, vứt bỏ phẩm phục, mũ miện, nói rằng ông là một người cha bất hạnh".

Nhưng vua vẫn một lòng kính trọng giám mục, trong một lá thư của giám mục viết cho Hội truyền giáo hải ngoại năm 1795, giám mục kể rằng trong năm đó có mười chín ông quan trong triều đình viết sớ đưa lên cho Nguyễn Ánh xin ngài thận trọng đừng để giám mục lo việc giáo huấn Hoàng tử Cảnh. Nguyễn Vương nổi trận lôi đình, vứt sớ xuống đất và kể những công trạng của giám mục đối với gia đình và sự nghiệp của Vương. Nguyễn Ánh hăm dọa là sẽ phạt thẳng tay những người có ý nghĩ xấu này. Xong Vương vào hậu cung kể lại cho vợ nghe và hai người quyết định là giấu chuyện này không cho giám mục biết. Ngày 19 tháng 12 năm Canh Thìn (3-2-1820), vua Gia Long băng hà thọ 58 tuổi. Vị vua kế tiếp của triều Nguyễn là Minh Mạng.

Vua Minh Mạng tên là Nguyễn Phúc Đảm, sinh năm Tân Hợi (1791) tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định, con thứ tư của vua Gia Long và bà Thuận Thiên Trần Hoàng hậu. Khi Hoàng tử Cảnh mất thì Đảm được lập làm Thái tử, khi vua Gia Long băng hà, theo di chiếu lên nối ngôi, lúc này Phúc Đảm đã 30 tuổi và đổi niên hiệu là Minh Mạng.

Minh Mạng không thích đạo Thiên Chúa nên không cho người ngoại quốc vào giảng đạo ở trong nước, ông có ra dụ (sắc lệnh) nói rằng: "Đạo phương Tây là tà đạo, làm mê hoặc lòng người và hủy hoại phong tục, cho nên phải nghiêm cấm để khiến người ta phải theo chính đạo". Lúc bấy giờ không phải là một mình vua ghét đạo Thiên Chúa mà thôi, phần nhiều những quan lại cũng đều một ý cả, cho nên sự cấm đạo lại càng nghiệt ngã thêm. Nhưng mà dẫu cấm thế nào mặc lòng, vẫn có người đi giảng đạo Thiên Chúa, nhà vua lấy điều đó làm trái phép nên ra dụ lần nữa nói rằng ai bắt được giáo sĩ đem nộp thì được thưởng. Năm ấy ở Huế có một giáo sĩ phải xử giảo, và các nơi cũng rối loạn vì sự bắt đạo và giết đạo.

Cũng vì việc cấm đạo Thiên Chúa cho nên sự buôn bán với người nước ngoài cũng bị cản trở vì triều đình thấy thỉnh thoảng khi có chiếc tàu buôn đến thì lại có một vài giáo sĩ Thiên Chúa giáo trên đó nên càng lạnh nhạt với người nước ngoài. Vua từ chối không tiếp một tàu ngoại quốc nào ngay cả tàu Pháp. Hai ông quan người Pháp (Chaigneau và Vannier) làm trong triều đình từ thời Gia Long thấy vua Minh Mạng có vẻ không thích người ngoại quốc nên cũng xin từ chức rồi đem gia đình trở về Pháp. Sau này vua Pháp có gởi sứ giả sang xin bang giao với Việt Nam nhưng vua Minh Mạng không tiếp, nước ta coi như bế quan tỏa cảng từ đó.

Vua Minh Mạng mất năm Canh Tý (1840), thọ 50 tuổi, trị vì được 21 năm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2016, 05:13:18 pm

Người con trưởng của vua là Hoàng Tử Nguyễn Phúc Tuyền, húy là Miên Tông sinh năm Đinh Mão (1807) được di mệnh nối ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị. Sách nói vua Thiệu Trị là một người hiền hoà, siêng năng, cần mẫn nhưng không có tính hoạt động như vua cha. Mọi việc đều noi theo cũ không có gì đổi mới.

Từ khi vua Thiệu Trị lên ngôi thì việc cấm đạo Thiên Chúa mới nguôi đi được một ít, nhưng triều đình vẫn ghét đạo và những giáo sĩ ngoại quốc vẫn còn bị giam ở Huế. Có người đưa tin ấy cho trung tá Pháp tên là Favin Lévêque coi tàu Hérone, ông này đem tàu vào Đà Nẵng xin cho năm giáo sĩ được tha. Năm Thiệu Trị thứ năm (1845) có người giám mục tên Lefèbvre phải án xử tử. Thiếu tướng hải quân Pháp là Cécile biết, sai quân đem tàu Alcmène vào Đà Nẵng lĩnh giám mục ra.

Năm Ất Tỵ (1847), nước Pháp biết rằng ở Huế không còn giáo sĩ bị giam nữa, mới sai đại tá De Lapierre và trung tá Rigault de Genouilly đem hai chiến thuyền vào Đà Nẵng, xin bỏ những chỉ dụ cấm đạo và để cho người trong nước được tự do theo đạo mới. Lúc hai bên còn đang thương nghị về việc ấy thì thủy binh Pháp thấy thuyền của ta đóng gần tàu của Pháp và ở trên bờ lại thấy có quân ta đắp đồn lũy, mới nghi có sự âm mưu gì chăng bèn phát súng bắn đắm cả những thuyền ấy, rồi nhổ neo kéo buồm ra biển.

Vua Thiệu Trị thấy vậy tức giận vô cùng, lại có dụ (sắc lệnh) cấm người ngoại quốc vào giảng đạo và trị tội những người trong nước đi theo đạo. Vài tháng sau thì vua lâm bệnh nặng rồi mất.

Con thứ hai của Thiệu Trị là Hồng Nhậm lên ngôi lúc 19 tuổi, lấy niên hiệu là Tự Đức. Đời vua Tự Đức có rất nhiều loạn lạc (giặc cờ Đen, cờ Vàng, cờ Trắng, nội loạn, phò Lê diệt Nguyễn, v.v...) và cũng là giai đoạn đầu mà Pháp đánh Việt Nam.

Năm Tự Đức thứ 9, có chiến thuyền "Catinat" vào cửa Đà Nẵng rồi cho người đem thư lên trách triều đình Việt Nam về việc giết đạo Thiên Chúa. Không được trả lời, quân Pháp bắn phá các đồn lũy rồi bỏ đi. Có ông giám mục Pellerin trốn được lên tàu. Giám mục Pellerin về Pháp thuật lại cho triều đình Pháp cảnh các giáo sĩ Thiên Chúa giáo bị đàn áp dã man ở Việt Nam và nói rằng chỉ cần có loạn là các tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ nổi lên đánh giúp, lại có Hoàng hậu Pháp Eugénie rất sùng đạo nên cũng nói giúp ông Pellerin, vì vậy vua Pháp mới quyết định sang đánh nước ta.

Tháng 7 năm Tự Đức thứ 11 (1858), thiếu tướng Pháp là Rigault de Genouilly đem tàu Pháp và tàu Tây Ban Nha tất cả 14 chiếc vào cửa Đà Nẵng bắn phá rồi hạ thành An Hải và thành Tôn Hải. Theo dự trù, thiếu tướng Rigault de Genouilly tính tiến đánh Huế sau khi hạ Đà Nẵng nhưng chờ mãi mà chẳng thấy tín đồ Thiên Chúa giáo nổi loạn trong khi quân nhà Nguyễn đổ xuống ngày càng đông, quân Pháp lại không quen khí hậu nên ngã bệnh cũng nhiều. Thiếu tướng Rigault de Genouilly tranh cãi với giám mục Pellerin và viết thư về Pháp kể tình hình, giám mục Pellerin giận bỏ về Mã Lai. Thấy đánh Huế chưa nổi, viên thiếu tướng Pháp đổi ý, quay qua đánh Gia Định vì đây là nơi quan quân nhà Nguyễn phòng thủ sơ sài và là vùng đất trù phú hơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 08:47:24 am

Câu hỏi 2: Chính sách "bế quan tỏa cảng" và "trọng nông ức thương" của nhà Nguyễn đã có ảnh hưởng gì đến thực trạng của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ?
Trả lời:


Tư bản Pháp đã chọn đúng lúc để nổ súng xâm lược Việt Nam khi chế độ phong kiến Việt Nam đang đi sâu vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng. Chế độ phong kiến Việt Nam đã khủng hoảng nặng từ cuối thế kỉ XVIII. Những mầm mống đầu tiên của chủ nghĩa tư bản trong nước đã xuất hiện và ngày càng mâu thuẫn đối kháng với quan hệ kinh tế phong kiến bảo thủ lạc hậu bao đời thống trị xã hội Việt Nam. Nền kinh tế tiểu nông đang cần được phát triển, nhưng bị chế độ chiếm hữu và bóc lột phong kiến uy hiếp nghiêm trọng. Đây cũng là thời kỳ bùng nổ các cuộc khởi nghĩa nông dân trên một quy mô rộng lớn trong phạm vi cả nước, đòi hỏi đất nước phải sớm thống nhất. Cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn thắng lợi đã mở ra nhiều triển vọng cho sự phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa. Nhưng dựa vào thế lực tư bản Pháp, Nguyễn Ánh đã đánh thắng Tây Sơn. Có thể khẳng định rằng triều Nguyễn thành lập là sự thắng thế của tập đoàn phong kiến tối phản động trong nước có tư bản nước ngoài ủng hộ đối với triều đại Tây Sơn tương đối tiến bộ hơn về nhiều mặt.

Ngay sau khi lên ngôi (1802), Nguyễn Ánh lấy niên hiệu là Gia Long và các vua tiếp theo (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) ngày càng đi sâu vào con đường phản động, vừa ra sức phục hồi và củng cố quan hệ sản xuất cũ, vừa cố tình bóp nghẹt lực lượng sản xuất mới đã manh nha phát triển hồi thế kỷ XVIII. Mọi chính sách chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội triều Nguyễn ban hành đều nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn.

Bộ máy chính trị triều Nguyễn ngay từ đầu đã mang nặng tính chất quan liêu, độc đoán. Đó là một nhà nước quân chủ chuyên chế tuyệt đối, tập trung cao độ với một chế độ chính trị lạc hậu, phản động. Mọi quyền hành đều tập trung trong tay nhà vua. Vua được coi là "con trời", "thay trời" trị dân; quyền hành nhà vua được coi là thần khí thiêng liêng, vô hạn. Nhà vua trong thực tế là đại địa chủ lớn nhất trong nước, có toàn quyền phung phí tài sản quốc gia trên xương máu của nhân dân. Còn quan lại trong triều và ở các địa phương hầu hết là bọn hủ bại; chính trị thì bảo thủ, cầu an, kinh tế thì tham lam và cuồng bạo. Từ vua đến quan đều rất tự cao tự đại với học thuyết Khổng, Mạnh, xem trật tự phong kiến là bất di bất dịch, mãi đến lúc súng giặc nổ ầm bên tai mới bàng hoàng tỉnh giấc.

Trong hoàn cảnh đó, đời sống của người nông dân trong các thôn xã vô cùng cơ cực. Dưới triều Nguyễn, tổ chức thôn xã đã hoàn toàn trở thành một công cụ của bọn cường hào địa chủ nông thôn. Nó trói buộc người nông dân trong những quan hệ địa phương hẹp hòi có lợi cho sự bóc lột của nhà nước phong kiến và cản trở sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 08:48:10 am

Nền kinh tế tư hữu của nông dân bị xâm phạm nghiêm trọng. Ruộng đất phần nhiều tập trung vào tay bọn quan lại, địa chủ. Công điền, công thổ chỗ nào màu mỡ béo tốt đều bị bọn cường hào lũng đoạn, còn lại thì bọn hương lý lại bao chiếm, dân nghèo chỉ được những chỗ xương xẩu mà thôi. Cho nên, nói chung nông dân không có ruộng cày, đời sống vô cùng cực khổ. Hiện tượng nông dân không có ruộng đất cày cấy làm ăn phải bỏ làng đi tha phương cầu thực là nét phổ biến dưới triều Nguyễn. Chỉ từ năm 1802 đến năm 1806, nông dân trên 870 thôn thuộc mấy trấn lớn ngoài Bắc xiêu tán đi nơi khác. Đến năm 1826, có đến 108 xã, thôn thuộc 13 huyện của trấn Hải Dương xiêu tán, cộng thêm vào đó là tô thuế rất nặng nề. Đó là chưa kể tới tình trạng vỡ đê lụt lội, mất mùa đói kém thường xảy ra, hầu như không năm nào không có. Đê Văn Giang ở Hưng Yên vỡ 18 năm liền, biến cả một vùng đồng bằng phì nhiêu ở Khoái Châu thành bãi đất hoang, nhân dân vùng này phải từng đoàn lang thang kéo nhau đi các nơi xin ăn. Tại các vùng ở Bắc Ninh, Sơn Tây lại có nạn châu chấu phá hoại mùa màng, vì vậy, nạn đói xảy ra thường xuyên. Ngay trước khi tư bản Pháp sắp nổ súng đánh vào Đà Nẵng (1858), một trận đói ghê gớm đã xảy ra làm cho hàng chục vạn dân các tỉnh Trung Bắc Kỳ bị chết. Đồng thời, cũng do sự bất lực của bọn phong kiến thống trị hồi đó, nạn dịch đã hoành hành dữ dội, giết hại hàng chục vạn người.

Trước tình hình bi thảm đó, để xoa dịu và ngăn ngừa dân chúng nổi dậy, phong kiến triều Nguyễn đã thi hành một số biện pháp. Minh Mạng ra lệnh cho Nguyễn Công Trứ chiêu dân tiến hành khai hoang miền ven biển lập ra hai huyện Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình) trong hai năm 1828-1829; Tự Đức giao cho Nguyễn Tri Phương lo liệu việc mộ dân lập ấp ở Nam Kỳ từ năm 1853. Nhiều dân bị tù tội đã được đưa vào đây khai khẩn. Nhưng tất cả các biện pháp trên đều không mang lại kết quả đáng kể vì đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị. Người nông dân sau một thời gian đổ mồ hôi sôi nước mắt lại thấy ruộng đất do tay mình làm ra bị bọn phong kiến cướp đoạt. Vì vậy, nạn nông dân lưu tán, nhất là đến đời Tự Đức khi tư bản Pháp sắp nổ súng khởi hấn, lại càng trở nên phổ biến khắp cả nước và ngày càng trầm trọng hơn lên. Đó là một trong những nét tiêu biểu của thời kỳ khủng hoảng suy vong của chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn.

Trong khi nông nghiệp đang lâm vào tình trạng tiêu điều xơ xác như vậy thì công nghiệp nằm trong tay phong kiến triều Nguyễn cũng ngày một bế tắc.

Chính sách của triều Nguyễn về mặt công nghiệp vô cùng phản động. Phong kiến nhà Nguyễn nắm trong tay những ngành kinh doanh lớn. Các công xưởng lớn đúc súng, đóng tàu, đúc tiền; các xưởng nhỏ chuyên chế tạo đồ dùng riêng cho nhà vua, vàng bạc, gấm vóc; các công trường xây dựng cung điện, thành quách, lăng tẩm đều do bộ Công của triều đình quản lý. Chế độ làm việc trong các công xưởng này là chế độ "công tượng" mang nặng tính chất cưỡng bức lao động. Những người thợ giỏi ở các địa phương bị bắt về đây được phiên chế thành đội ngũ, làm việc tập trung, lại chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của quan lại nên rất bất mãn, không phấn khởi với công việc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 08:49:20 am

Triều đình phong kiến còn giữ độc quyền ngành khai mỏ. Số mỏ được khai thác từ năm 1802 đến năm 1858 là 139 mỏ, bao gồm đủ các loại. Nhưng phần lớn các mỏ đều do bọn quan lại triều đình đứng ra khai thác, chỉ một số ít là do chủ mỏ Hoa kiều hay người dân Việt Nam chủ trì. Phương thức sản xuất trong cả ba loại mỏ căn bản vẫn là lối sản xuất thủ công cá thể với những hình thức bóc lột phong kiến mang nặng tính chất nô dịch. Năng suất trong các công trường mỏ vì vậy thường thấp. Đã thế, triều Nguyễn còn đánh thuế sản vật rất nặng vào các mỏ do Hoa kiều hay người dân Việt đứng ra khai thác. Nhiều phép tắc vô lý làm hạn chế sự phát triển của ngành khai mỏ như quy định những khu vực cấm khai mỏ, giữ độc quyền thu mua các kim loại khai thác được theo giá quy định.

Các nghề thủ công trong nhân dân không có điều kiện phát triển. Tại các công xưởng thủ công, mặc dù không có một chế độ phường hội chặt chẽ theo kiểu các nước phong kiến châu Âu, nhưng các mối quan hệ phức tạp giữa chủ và thợ, giữa thợ cả và thợ bạn, giữa các làng chuyên nghiệp với nhau và rất nhiều luật lệ cấm đoán của triều đình đã làm cho sáng kiến, tài năng của người thợ ngày càng bị bóp nghẹt. Các nghề thủ công nhỏ và nghề phụ gia đình ở nông thôn còn bị đình đốn vì nông dân đói khổ, li tán. Thủ công nghiệp hầu như bị tê liệt.

Thương nghiệp dưới triều Nguyễn sút kém một cách rõ rệt. Chính sách "trọng nông ức thương" của triều đình đã kìm hãm thương nghiệp, về nội thương, một mặt triều đình nắm độc quyền buôn bán nguyên liệu công nghiệp (như đồng, thiếc, chì, kẽm, nhất là lưu hoàng, diêm tiêu), vì sợ nhân dân chế vũ khí chống lại. Mặt khác, lại đặt ra nhiều luật lệ chặt chẽ để kiềm chế, như nắm độc quyền buôn bán cả đối với một số lâm sản quý giá cướp đoạt của đồng bào miền núi (quế, gạc hươu, sáp ong, ngà voi, gỗ quý); đánh thuế nặng vào các mặt hàng quan trọng đến đời sống nhân dân như lúa gạo để hạn chế việc chuyên chở trao đổi giữa các vùng trong nước; cấm nhân dân họp chợ. Việc giao lưu giữa các địa phương vì vậy gặp rất nhiều trở ngại, thị trường trong nước không tập trung và thống nhất.

Ngoại thương cũng bị triều đình nắm độc quyền. Thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng, triều đình chỉ mở nhỏ giọt một số cửa biển cho tàu nước ngoài lui tới buôn bán. Chỉ được nhập vào những hàng hóa triều đình cần (như sắt, chì, gang, lưu hoàng để làm súng đạn), còn xuất cảng thì cấm tàu thuyền nước ngoài không được mua tơ lụa, thóc gạo trong nhân dân. Tàu buôn nước ngoài tới buôn bán còn bị khám xét rất kỹ để đánh thuế và định giá hàng, lại còn có thể bị trưng dụng đi phục vụ cho các đợt công tác đột xuất của triều đình (như chở gạo cho quân lính, hay chuyên chở nguyên vật liệu xây dựng lăng tẩm, cung điện). Chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình đã làm cho việc buôn bán với nước ngoài sa sút rõ rệt. Thuế cửa quan, trước có 60 sở, đến năm 1851 chỉ còn 21 sở; một số cảng trước kia buôn bán rất phồn thịnh, nay cũng trở nên tiêu điều vắng vẻ.

Nói tóm lại, nền kinh tế tài chính nước ta trong nửa đầu thế kỷ XIX đã suy đốn trầm trọng về mọi mặt nông, công, thương nghiệp. Do chính sách phản động của triều Nguyễn, các yếu tố tư bản chủ nghĩa mới nảy sinh trong các khu vực kinh tế đang trên đà phát triển tự nhiên và tiến bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội hồi đó, đều bị bóp nghẹt.

Nền kinh tế hàng hóa vì vậy đã bị co hẹp lại. Trên cơ sở đó, nền tài chính quốc gia ngày một kiệt quệ. Đời sống nhân dân ngày càng cực khổ. Mối mâu thuẫn giữa bọn phong kiến thống trị với nhân dân chủ yếu là nông dân đã trở nên vô cùng gay gắt và đã bộc lộ ra ngoài một cách sâu sắc với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân suốt cả mấy đời vua triều Nguyễn. Trước khi tư bản Pháp nổ súng xâm lược, một số cuộc khởi nghĩa lớn đã bùng nổ: Phan Bá Vành ở Nam Định (1821); Lê Duy Lương ở Ninh Bình (1833); Lê Văn Khôi ở Gia Định (1833); Nông Văn Vân ở Tuyên Quang (1833); Cao Bá Quát ở Hà Nội và Bắc Ninh (1854)...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 08:50:31 am

Để duy trì chế độ xã hội nhằm bảo vệ đặc quyền đặc lợi, phong kiến nhà Nguyễn đã ra sức củng cố trật tự bằng mọi cách.

Đối nội, nhà Nguyễn ra sức đàn áp, khủng bố các phong trào của quần chúng, huy động những lực lượng quân sự to lớn vào việc dập tắt các cuộc khởi nghĩa nông dân trong biển máu. Các cuộc hành quân liên miên một mặt đã làm cho chính lực lượng quân sự của triều đình bị suy yếu dần, mặt khác cũng làm hủy hoại khả năng kháng chiến lớn lao của dân tộc, càng tạo thêm điều kiện thuận lợi cho tư bản Pháp thôn tính nước ta. Để biện minh cho thủ đoạn tàn bạo trên, nhà Nguyễn đã ban hành bộ luật Gia Long năm 1815. Bộ luật này được soạn ra phỏng theo bộ luật nhà Thanh (Trung Quốc), dưới ý niệm trấn áp nhân dân và giữ vững trật tự phong kiến tuyệt đối. Chúng còn lợi dụng cả văn học để tuyên truyền cho chế độ thống trị đẫm máu của chúng, như Minh Mạng ra 10 điều Huấn dụ, Tự Đức diễn âm Thập điều diễn ca để truyền bá rộng rãi học thuyết Nho giáo trên cơ sở đó củng cố ý thức hệ phong kiến đã bị rạn nứt.

Đối ngoại, nhà Nguyễn ra sức đẩy mạnh thủ đoạn xâm lược đối với các nước láng giềng như Cao Miên, Lào làm cho quân lực bị tổn thất, tài chính quốc gia và tài lực nhân dân bị khánh kiệt. Còn đối với các nước tư bản phương Tây thì lại thi hành ngày một thêm gắt gao chính sách bế quan tỏa cảng và cấm đạo, giết đạo. Trước âm mưu xâm lược ngày càng ráo riết của bọn tư bản nước ngoài, nhất là của tư bản Pháp - phong kiến nhà Nguyễn tưởng làm như vậy là tránh được nạn lớn. Cả vua lẫn quan không thấy được muốn bảo vệ độc lập dân tộc, muốn giữ gìn đất nước trong những điều kiện quốc gia và quốc tế bấy giờ, biện pháp thích hợp nhất là mở rộng cửa biển giao thương để duy tân xứ sở, đẩy mạnh phát triển nông, công, thương trong nước, trên cơ sở đó nhanh chóng bồi dưỡng sức dân, sức nước để có thể đối phó kịp thời và hiệu quả với những âm mưu xâm lược ngày càng được đẩy mạnh của tư bản nước ngoài. Trái lại, càng đóng chặt cửa và càng cấm đạo, giết đạo, lại càng tạo thêm lý do cho chúng nổ súng xâm lược sớm hơn.

Rõ ràng là với những chính sách phản động nói trên, nước Việt Nam đã suy yếu về mọi mặt và trở thành miếng mồi ngon đối với các nước tư bản phương Tây, đặc biệt đối với tư bản Pháp từ lâu đã có cơ sở bên trong nước ta nhờ sự hoạt động ngấm ngầm và liên tục của bọn gián điệp đội lốt con buôn và giáo sĩ. Lịch sử lúc này đã đi tới một bước ngoặt. Một là, triều Nguyễn bị đánh đổ và thay thế là một triều đại khác tiến theo hướng mới của tư bản chủ nghĩa, có khả năng duy tân đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Hai là, nước Việt Nam bị mất vào tay tư bản Pháp để trở thành một xứ thuộc địa. Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, khi tiếng súng xâm lược của Pháp bùng nổ, giai cấp phong kiến Việt Nam đã phân hóa ra hai phái: chủ chiến và chủ hòa. Phái chủ hòa gồm phần đông bọn đại phong kiến và quan lại lớn với Tự Đức đứng đầu đã nhanh chóng câu kết với bọn cướp nước để làm tay sai cho chúng đàn áp bóc lột nhân dân cả nước. Đó là tội lớn của phong kiến nhà Nguyễn trước dân tộc, trước lịch sử.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 08:54:13 am

Câu hỏi 3: Cho biết thân thế Nguyễn Trung Trực, các giả thuyết về tuổi tác, tên thật và gia đình của ông?
Trả lời:


Ông bà, cha mẹ của Nguyễn Trung Trực vốn người miền Trung. Quê ở xóm Lưới, xã Vĩnh Hội, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, về sau, cha mẹ ông di chuyển vào Nam lập nghiệp, sinh sống tại làng Bình Nhựt, tổng Bình Cách (Năm Minh Mạng thứ 16 (1836), tổng Bình Cách gồm có 3 tổng: Bình Cách, Bình Cách Trung và Bình Cách Thượng. Thôn Bình Nhựt nằm trong tổng Bình Cách Thượng), huyện Thuận An, phủ Tân An, thành Gia Định. Nay là ấp I, xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Cha của Nguyễn Trung Trực là Nguyễn Văn Phụng, có tài liệu ghi là Nguyễn Trung Thăng (hoặc Nguyễn Cao Thăng), mẹ là bà Lê Kim Hồng. Sau khi rời quê hương Bình Định vào Nam sinh sống, ông bà sinh ra 8 người con mà Nguyễn Trung Trực là trưởng tại Tân An (Long An).

Lúc mới sinh, Nguyễn Trung Trực được đặt tên là Nguyễn Văn Nhơn, sau đó đổi thành Lịch. Vì sau khi chiến thắng trận Nhật Tảo, vua Tự Đức sắc phong cho ông chức Quản cơ Bình Thuận nên người ta thường gọi ông là Quản Nhơn hay Quản Lịch. Vả lại trong Quốc sử Quán triều Nguyễn cũng có ghi: "... Vua phong thưởng cho Lịch làm chức Quản cơ Bình Thuận. Nguyễn Văn Quang và Hoàng Khắc Nhượng (có tài liệu ghi là Nguyễn Văn Sang và Huỳnh Khí Nhượng) cùng 20 người nữa làm cai đội đều được cho ngân tiền. Binh lính tham gia được thưởng chung 1.000 quan tiền. Bốn người bị chết đều được cấp tiền tuất gấp hai...".

Đến năm 1867 vua Tự Đức lại sắc phong cho ông chức Thành thủ úy Hà Tiên. Ông đến nơi nhậm chức thì quân Pháp đã chiếm mất Hà Tiên trước đó mấy ngày rồi, ông rút lui về Hòn Chông (cách Hà Tiên 20km) lập căn cứ chống Pháp. Lúc bấy giờ ông đổi tên là Nguyễn Trung Trực cho đến ngày hy sinh.

Có rất nhiều tư liệu nói về tuổi tác của Nguyễn Trung Trực. Có tài liệu nói ông trên 40 tuổi, lại có tài liệu nói trên 50 tuổi, v.v... Nhưng cũng có nhiều cứ liệu xác định tuổi thật của ông một cách khoa học và có cơ sở hơn như:

Ông Nguyễn Văn Đồ là cháu cố của em ruột Nguyễn Trung Trực cho biết: "Năm cố cả tôi (Trực) qua đời đã ngoài 30 tuổi”.

Theo tờ hôn thú của Nguyễn Thành Truyện lập năm 1909. Người đứng chủ hôn là ông Nguyễn Văn Thơ 59 tuổi (Nguyễn Văn Thơ là em út của Nguyễn Trung Trực - theo tông chi Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau). Như vậy Nguyễn Văn Thơ sanh năm 1850. Trong 8 anh em của Nguyễn Trung Trực, nếu lấy trung bình khoảng cách 15 năm, nghĩa là tuổi anh cả hơn người em út 15 tuổi, thì Trung Trực sinh khoảng năm 1835 (?). Do đó có thể lúc Nguyễn Trung Trực hy sinh năm 1868 đã ngoài 30 tuổi (theo cuốn Nguyễn Trung Trực - Thân thế sự nghiệp - Bảo tàng Kiên Giang xuất bản năm 1989 - trang 202).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 08:58:44 am

Không có tài liệu nào xác định rõ nghề nghiệp của Nguyễn Trung Trực, nhưng lại nói rằng ông rất giỏi võ, dùng võ bắt cướp Ba Cụm, dùng võ dạy cho nghĩa quân, dùng võ đánh Pháp... Đó chính là vốn "di truyền" của ông cha gốc người Bình Định, nơi "sáng tạo" ra võ nghệ cao cường nhất nước. Vì thế nên có hai câu thơ:

"Ai về Bình Định mà coi,
Con gái cưỡi ngựa, múa roi, đánh quyền".

Còn nói ông thành thạo về nghề chài lưới cũng đúng. Vì ông sinh ra ở vùng sông rạch Bến Lức (Long An), nơi mà đời sống kinh tế của người dân đều phụ thuộc vào nghề chài lưới và nghề nông. Ông lớn lên từ nơi đó, dù muốn hay không cũng chịu ảnh hưởng bởi những nghề nghiệp này, nhất là nghề chài lưới. Nên sau này người ta cũng thường gọi ông là: "Anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực".

Tra cứu hầu hết các tài liệu thì không thấy nơi nào nói dòng họ của ông có người đỗ đạt từ chương, khoa bảng hay làm một chức quan nhỏ nào trong chính quyền nhà Nguyễn (ngoại trừ ông). Cũng không nghe thấy ông học văn chương với ai và đã từng ngâm thơ vịnh phú với bất kỳ nhân sĩ nào. Thế mà trước khi bị hành quyết, ông ứng khẩu làm một bài thơ thất ngôn tứ cú tuyệt tác như sau:

      Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên,
      Yêu gian đảm khí hữu long tuyền.
      Anh hùng nhược ngộ vô dụng địa,
      Bảo hận thâm cừu bất đái thiên.


Đông Hồ Lâm Tấn phát dịch:
      Theo việc binh nhung thuở trẻ trai,
      Phong trần hăng hái tuốt gươm mài.
      Anh hùng gặp phải hồi không đất,
      Thù hận chang chang chẳng đội trời.

Về điểm này đa số trong chúng ta đều phân vân, nghi ngờ... Nhưng mãi đến bây giờ chưa thấy ai phủ nhận hay tìm ra được nguồn gốc khác.

Cả hai tông chi Bình Nhựt và Tân Thuận đều ghi Nguyễn Trung Trực không có vợ con gì cả. Nhưng căn cứ nhiều tài liệu chính xác đã khẳng định ông có vợ và có một đứa con trai. Trước khi ông hy sinh thì vợ và con ông đều chết.

Về họ và tên vợ có hai ý kiến khác biệt nhau.

- Vợ tên là Điều:

Căn cứ theo một số truyền khẩu nói rằng vợ của Nguyễn Trung Trực tên là Điều. Bà đã từng tham gia trong đội nghĩa quân và cũng theo sát ông trong suốt thời gian chống Pháp ở Kiên Giang. Có lần bà Điều vâng lệnh Nguyễn Trung Trực đi do thám đồn Săn Đá - Kiên Giang bị chúng phát hiện rồi bắt bà. Tên chủ tỉnh định giở trò cưỡng hiếp, Nguyễn Trung Trực kịp đến giải vây cứu được bà. Và lần sau, bà bị bắt cùng một lượt với Quản Câu, xã Lý. Chúng đem nhốt tất cả vào khám lớn. Mãi cho đến khi Nguyễn Trung Trực đánh chiếm được đồn mới giải thoát cho họ.

Nếu vợ ông quả là bà Điều này thì tên họ thật của bà là Thi-ba-đo (theo dân tộc Khơ Me, người nữ thường lấy chữ Thi làm họ). Người ta thường gọi tắt là Ba Đô hay bà Đỏ. Về sau bà Đỏ có vai trò quan trọng trong đội nghĩa quân và cũng là người thân tình của Nguyễn Trung Trực. Do sợ kỵ húy nên người ta gọi bà Điều là bà Đỏ (Màu điều cũng là màu đỏ, nhưng sậm hơn có pha chút màu đen). Như vậy bà Đỏ hay bà Điều cũng chỉ là một người mà thôi (có tài liệu nói rằng bà Điều và bà Đỏ là hai chị em ruột chứ không phải là một người).

- Vợ tên là Định:

Trong suốt quá trình chống Pháp ở đất liền, chưa có tài liệu nào khẳng định Nguyễn Trung Trực có vợ và có con. Nhưng khi ra Phú Quốc lập căn cứ chống Pháp cho đến ngày hy sinh, người ta mới biết ông có một người vợ và một đứa con trai, cả hai đều chết ở Phú Quốc. Hiện nay vẫn còn di tích.

Theo tài liệu của ông Lê Hoàng Nam (Phú Quốc) đã viết: "Một điều đáng chú ý là: Qua xác minh thì ở Cửa Cạn có mộ của vợ con cụ. Hàng năm nhân dân tổ chức cúng vào ngày 19 tháng 8 âm lịch rất lớn... Họ gọi bà là "Bà QUAN LỚN TƯỚNG". Hiện nay trên mộ bia có ghi rõ họ tên là LÊ KIM ĐỊNH". Đây là giả thuyết có cơ sở khoa học đáng tin cậy hơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 08:59:31 am

Về phần tên con của ông cũng có nhiều ý kiến khác nhau như sau:

Có ý kiến nói rằng "công tử" sinh ra được ba, bốn ngày thì chết nên không kịp đặt tên.

Có ý kiến nói rằng "công tử" sinh ra được hơn một tháng mới chết, cũng chưa có tên (theo tài liệu Lê Hoàng Nam - Phú Quốc).

Qua hai ý kiến trên, có thể nhận xét như sau:

- Việc sinh con được ba, bốn ngàv chưa đặt tên mà chết, đó là việc thông thường.

- Việc sinh con được hơn một tháng chết, mà chưa đặt tên, đó là sự cá biệt, rất hiếm có!

Theo thường tình, đôi vợ chồng lần đầu vợ mới mang thai thì chắc chắn hai vợ chồng sẽ trao đổi việc đặt tên con. Nếu con trai thì phải đặt tên gì cho hay, cho hùng... Nếu là gái thì phải đặt tên gì cho đẹp, cho duyên dáng. Đó là tâm lý chung, kể cả những người lao động, ít học. Thế mà Nguyễn Trung Trực là một người có chức tước ngang hàng chánh tứ phẩm của triều đình, chẳng lẽ ông không biết đến sự quan trọng của việc đặt tên cho con để sau này nối dõi tông đường hay sao?

Có một điều mà chúng ta cũng nên lưu ý là trong hai lần trao con: Lần đầu trao con cho người cận vệ nhờ len lỏi đem "công tử" xuống xóm tìm người cho bú hộ và lần sau ông tự bồng con đi vào rừng sâu tìm bọng cây to đặt con vào đó, rồi đi ngay xuống triền đồi để tiếp tục chỉ huy cuộc chiến.

Trong hai lần như vậy chắc hẳn ông cũng phải có chút hy vọng con mình sẽ sống sót để khi khôn lớn nó biết rõ tông tích hay người nhặt được nhìn bút tích biết đó là con của ông mà sẵn lòng đem về nuôi nấng hộ.

Vì vậy có thể khẳng định việc "công tử" sinh hơn một tháng chưa đặt tên là một điều khó thể có. Chỉ tiếc rằng các tài liệu hiện tại chưa đủ để xác định tên của con trai Nguyễn Trung Trực.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2017, 10:20:44 pm

Câu hỏi 4: Khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, hàng loạt cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đã nổ ra, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Trương Định. Nguyễn Trung Trực đã có liên hệ với nghĩa quân Trương Định như thế nào?
Trả lời:


Trong khi triều đình Huế nhường từng bước trước quân Pháp và sau đó là cắt đất cho Pháp, thì phong trào chống Pháp nổi dậy mạnh mẽ trong dân chúng. Có thể liệt kê ra một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như:

- Võ Duy Dương, Thủ khoa Huân và Đốc binh Kiều ở Đồng Tháp Mười.
- Trương Văn Uyển ở Vĩnh Long.
- Quản Hớn ở 18 thôn vườn trầu.
- Trần Văn Thành ở Rạch Giá.
- Nguyễn Xuân Phụng, Đoàn Công Sửu ở Trà Vinh.
- Trịnh Quang Nghị, Đức cố Quảng ở Châu Đốc.
- Phan Tôn, Phan Liêm (con trai Phan Thanh Giản) ở Bến Tre.
- Lê Tấn Kế, Trần Bình ở Ba Động, Trà Vinh.
- Quảng Sư ở Bà Rịa.
- Lê Cẩn, Nguyễn Giao ở Vũng Kiêm (Vĩnh Long).

Và tiêu biểu trong các cuộc khởi nghĩa ấy là cuộc khởi nghĩa của Trương Định (hay còn gọi là Trương Công Định) ở Gò Công.

Trương Định sinh năm 1820 tại thôn Tư Cung, phủ Bình Sơn, trấn Quảng Ngãi (nay là xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi) trong một gia đình quan chức yêu nước. Năm 1844, cha của ông là Trương Cầm vào tỉnh Gia Định nhận chức Lãnh binh. Ông được đi theo và sau đó kết hôn với Lê Thị Thưởng, vốn là con gái của một hào phú ở Gò Công. Năm 1854, nhờ sự trợ giúp của gia đình bên vợ, ông mộ dân lập đồn điền Gia Thuận (Gò Công) để khai hoang vùng đất này. Vì thế, ông được triều đình phong chức Phó quản cơ.

Năm 1859, quân Pháp hạ thành Gia Định. Với lòng yêu nước nồng nàn, ông đã chỉ huy dân quân đồn điền đánh Pháp ở mặt trận Thuận Kiều và lập được nhiều chiến công, tiêu biểu là trận phục kích tiêu diệt tên đại úy thủy quân lục chiến Barbé tại chùa Khải Tường vào đầu tháng 12 năm 1860. Cuối tháng 2 năm 1861, đại đồn Chí Hòa bị quân Pháp chọc thủng; quân triều đình lui về giữ Biên Hòa còn ông rút về Gò Công, thành lập căn cứ kháng chiến Tân Hòa, tiếp tục công cuộc kháng chiến chống bọn thực dân xâm lược. Cũng trong thời gian này, ông kết hôn với Trần Thị Sanh và người vợ thứ hai này đã có sự đóng góp hậu cần rất quan trọng cho cuộc khởi nghĩa. Được biết, bà Trần Thị Sanh là em con cô con cậu với bà Thái hậu Từ Dũ, mẹ của vua Tự Đức.

Trên địa bàn Gò Công, Trương Định chiêu mộ được 6.000 nghĩa sĩ nên được triều đình phong chức Quản cơ rồi thăng lên Phó Lãnh binh tỉnh Gia Định. Tại đây, ông ra sức củng cố căn cứ kháng chiến Tân Hòa. Mô tả căn cứ này, Palanca, viên sĩ quan chỉ huy quân Tây Ban Nha trong liên quân Pháp - Tây Ban Nha, cho biết: "Ở Gò Công, hai chiến lũy quan trọng nhất là rạch Gò Công và rạch Lá gồm các hầm hào tự nhiên, pháo đài và lũy, khắp nơi đều có cầu nối bắc qua hai bờ sông bùn lầy, cây cối rậm rạp".

Trên thực địa, căn cứ Tân Hòa bao gồm một hệ thống đồn lũy và pháo đài liên hoàn với nhau: về phía tây, lên đến giồng Ông Huê (thị trấn Vĩnh Bình, Gò Công Tây ngày nay) nhằm cản đường tiến quân của địch từ Mỹ Tho xuống; về phía tây bắc có lũy Đồng Sơn nằm dọc theo rạch Lá (sông Tra) để kiểm soát con đường thủy từ Sài Gòn xuống qua sông Vàm Cỏ Tây; về phía đông nam, có các đồn lũy nằm dọc theo rạch Vàm Giồng, sông Cửa Tiểu, xóm Trại Cá Tăng Hòa và cù lao Lợi Quan nhằm đề phòng quân Pháp tấn công từ phía biển. Đại bản doanh của Trương Định được đặt tại giồng Sơn Quy. Ở đây, ông cho xây dựng chiến lũy Sơn Quy nằm dọc theo rạch Sơn Quy và chiến lũy Dung Giang nằm dọc theo rạch Gò Công. Ngoài ra, Trương Định còn cho xây dựng đồn trại ở Gia Thuận, vốn là đồn điền do ông lập ra năm 1854. Với việc Trương Định xây dựng căn cứ Tân Hòa, Gò Công đã trở thành trung tâm kháng chiến đầu tiên ở Nam Kỳ, quy tụ hầu hết các phong trào chống thực dân Pháp ở vùng đất này trong những năm 60 của thế kỷ XIX.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2017, 10:22:08 pm

Cuộc khởi nghĩa Trương Định có sự liên kết chặt chẽ với nhiều cuộc khởi nghĩa khác, như khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực ở Tân An, Trần Xuân Hòa, Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân ở Ba Giồng, v.v... Thực tế này được Nguyễn Thông ghi lại như sau: Khi Trương Định đóng giữ Tân Hòa, hội mọi người để bàn định kế hoạch... hào kiệt kéo đến như mây. Lực lượng nghĩa quân rất đông đảo, bao gồm nhiều thành phần khác nhau: ngoài binh lính đồn điền và nông dân ứng nghĩa chiếm số đông, còn có trí thức khoa bảng ở Gò Công và các vùng lân cận, như các vị Cử nhân Bùi Tấn, Cù Khắc Kiệm, Lý Duy Phiên, Hà Mậu Đức, v.v...; các vị Tú tài Nguyễn Văn Trung, Huỳnh Văn Đạt, Bùi Văn Lý, Mai Phương Mỹ, Nguyễn Duy Thận, v.v...; thân sĩ, như Hồ Huân Nghiệp,...; các vị nguyên là quan lại triều đình, như Đỗ Quang, Đỗ Trình Thoại, Lưu Tấn Thiện, Nguyễn Tánh Thiện, Lê Quang Quyền, Đặng Văn Duy, Phạm Tiến, v.v...

Cuộc khởi nghĩa còn có sự tham gia tích cực của nữ giới, như bà Viết, bà Lưu, nhất là bà Trần Thị Sanh - một người thuộc vào hàng Thích lý (bên ngoại) của nhà Nguyễn và là vợ thứ của Trương Định - đã có những đóng góp quan trọng về mặt hậu cần cho cuộc khởi nghĩa. Đặc biệt, Nguyễn Đình Chiểu - nhà trí thức lớn ở Nam Kỳ - đã có sự hợp tác chặt chẽ với Trương Định trong việc bàn bạc cơ mưu đánh giặc. Đó là sự phối hợp tuyệt đẹp giữa những vị anh hùng: người bút, người gươm trong cuộc chiến đấu cứu nước hào hùng của dân tộc. Cuộc khởi nghĩa của Trương Định có lực lượng tham gia đông đảo là vì thế. Quả đúng là:

      Gồm ba tỉnh dựng cờ phấn nghĩa, sĩ phu lắm kẻ vui theo,
      Tom muôn dân gầy sổ mộ quân, luật lệnh nào ai dám nhạy.
      Văn thời Tham biện, Thương biện, giúp các cơ bàn bạc nhung công,
      Võ thời Tổng binh, Đốc binh, coi mấy đạo sửa sang khí giới
(Văn tế Trương Định - Nguyễn Đình Chiểu).

Dưới sự chỉ huy của ông, nghĩa quân đã liên tục tấn công quân địch khiến bọn chúng phải rút khỏi Gò Công vào tháng 3 năm 1862. Đến tháng 6 năm 1862, sau khi ký hòa ước nhường đứt cho thực dân Pháp đảo Côn Lôn và ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Gia Định, Biên Hòa và Định Tường, triều đình nhà Nguyễn phong ông làm Lãnh binh tỉnh An Giang; đồng thời, buộc ông phải giải tán nghĩa quân và chấm dứt cuộc chiến đấu ở Gò Công. Thế nhưng, ông đã cưỡng lại lệnh của nhà vua theo lòng dân, ở lại Gò Công, tự xưng là Bình Tây Đại tướng quân, tiếp tục chỉ huy cuộc kháng chiến:

      "...Bởi lòng chúng chẳng nghe Thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền,
      Theo bụng dân phải chịu Tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại...”.


Từ căn cứ Gò Công, ông đã chỉ huy nghĩa quân tấn công địch ở khắp mọi nơi và thu được những thắng lợi vang dội, nổi bật là cuộc tổng công kích nổ ra rất mãnh liệt trong tháng 12 năm 1862, với các trận đánh vào đoàn tàu chiến của Pháp trên sông Vàm Cỏ (Trảng Bàng, Tây Ninh), các trận công đồn Rạch Tra, cách Sài Gòn 15km, đồn Phước Hòa, đồn Rạch Kiến, đồn Bến Lức (Long An), đồn Long Thành (Đồng Nai), trận đánh pháo thuyền Alarme và khu pháo binh ven rạch Gò Công (Tiền Giang), v.v... Trước tình hình đó, đầu tháng 2 năm 1863, thực dân Pháp đã huy động lực lượng hùng hậu tấn công căn cứ Gò Công. Đích thân đô đốc Bonard - tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Nam Kỳ - xuống Gò Công vạch kế hoạch và trực tiếp chỉ huy cuộc đàn áp. Viên đô đốc này còn hứa thưởng 10.000 phờ-răng cho kẻ nào giết chết được Trương Định. Quyết chiến đấu đến cùng, ông đã bình tĩnh và mưu trí chỉ huy nghĩa quân kiên cường đánh trả các cuộc tấn công của địch, gây cho quân Pháp những thiệt hại nặng nề. Tuy nhiên, do quân đông lại được liên tục bổ sung quân số và vũ khí, nên quân Pháp đã phá được căn cứ của nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2017, 10:23:03 pm

Để tiếp tục cuộc chiến đấu, ông cho rút quân qua Lý Nhơn (nay thuộc huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh), lập căn cứ mới. Tại đây, ông chia nghĩa quân thành nhiều toán nhỏ và rải ra hoạt động ở nhiều nơi nhằm cơ động đánh địch, phá kế hoạch phân tán lực lượng để giữ đất của bọn chúng; đồng thời, giải quyết nạn khó khăn về lương thực cho nghĩa quân; thông qua đó, tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ cuộc kháng chiến cũng như bảo toàn và gây dựng lại lực lượng nghĩa quân.

Nhận thấy hoạt động của nghĩa quân có chiều hướng ngày càng gia tăng, ngày 25 tháng 9 năm 1863, quân Pháp mở cuộc đột kích vào căn cứ Lý Nhơn. Nghĩa quân phá vòng vây, trở về vùng Gò Công và chọn khu vực đám lá tối trời ở hai làng Tân Phước và Kiểng Phước làm nơi ẩn náu, chờ thời cơ mới. Bất ngờ, ngày 20 tháng 8 năm 1864, do có chỉ điểm, tên tay sai đắc lực của thực dân Pháp là Huỳnh Văn Tấn dẫn quân tấn công nơi ở của ông. Sau một trận giáp chiến quyết liệt, ông thoát được ra ngoài; nhưng bị địch bắn theo và hy sinh tại trận, hưởng dương 44 tuổi.

Theo tài liệu của P.Vial - một nhà sử học cho biết: Nguyễn Trung Trực (lúc ấy còn mang tên Nguyễn Văn Lịch) giũ chức đội trong đạo quân đồn điền do Trương Công Định chỉ huy.

Tổ chức đồn điền là tổ chức bán quân sự. Theo quy định cứ 50 người biên chế thành một đội, có một viên chánh đội trưởng suất đội và một ban biện suất đội chỉ huy. Đội được mang số thứ tự từ một đến mười. Mười đội, tức 500 người họp thành một cơ, do một quản cơ, phó quản cơ hiệp quản, điển ty và mười đội trưởng chỉ huy. Cơ đồn điền có phiên hiệu, theo từng tỉnh. Khi khai hoang thành khoảnh thì có thể chuyển từ cơ chế đồn điền sang cơ chế dân sự. Đồn điền trở thành làng, cơ trở thành tổng.

Song song với hình thức khai hoang lập đồn điền còn có hình thức khai hoang lập ấp. Đây là tổ chức dân sự, không bị nhiều câu thúc. Chỉ cần đủ 10 người dân hợp pháp để lập sổ đinh và bảo đảm sổ sưu thuế khoán của đơn vị họ, họ được tự do khai phá, cày cấy. Khi thành khoảnh thì một ấp hoặc vài ba ấp họp lại thành làng. Dân đồn điền sinh hoạt theo nội quy quân đội. Họ phải sống tập trung, Pallu de la Barriègre trong Histoire de Lexpédition de Cochinchine en 1861 đã mô tả khu doanh trại đồn điền như sau: "Ngôi nhà của viên quản đồn điền ở giữa, có một chiếc cổng, một chiếc trống, không có chiến lũy bao quanh... Có chiếc trống hiệu lệnh chứng tỏ rằng thời gian sinh hoạt của dân đồn điền chặt chẽ. Có thể họ ra đồng hoặc xong việc trở về nhà theo trống lệnh. Cũng có thể họ tập hợp để luyện tập võ nghệ, hoặc sinh hoạt khác theo các điệu trống khác nhau.

Ngoài thời gian đồng áng, những lúc rảnh rỗi người dân đồn điền phải luyện tập võ nghệ và canh gác. Điểm canh thường đặt ở các vàm sông rạch, nơi có ghe thuyền qua lại. Theo tài liệu điều tra của Pháp lúc chúng mới đặt chân đến Nam Kỳ thì đầu mỗi năm dân đồn điền phải tập hợp về tỉnh duyệt binh và ba năm có cuộc thi võ nghệ múa gươm và bắn súng để thăng cấp.

Mặc dù số lượng, chất lượng vũ khí cấp cho dân đồn điền không đáng kể lắm nhưng có quy chế bảo quản kỹ lưỡng, mỗi đội có một khẩu đại bác nhỏ. Khoảng 10 người được cấp súng, còn những người khác chỉ có giáo mác... Và chỉ có "viên quản cơ phân phát vũ khí". Nhưng họ được phép thay đổi vũ khí và được mang những súng nếu họ tự cấp được.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2017, 10:23:26 pm

Quân đồn điền được cấp quân phục. Đó là loại áo trung khai (áo xẻ giữa bụng) màu đỏ, viền vàng, Quần cũng màu đỏ viền vàng. Họ đi chân trần, nhưng ông quần quấn xà cạp đến gối. Nón gô kết bằng tre sơn đỏ, trên có chóp thau, giống như chiếc nón lá nhưng nhỏ hơn. Y phục của các viên chỉ huy có khác đôi chút. Pallu de la Barriègre mô tả chân dung một người dân đồn điền như sau: "Họ đội loại nón nhỏ của quân lính An Nam, mặc áo xẻ vạt trước, quần tím hoặc hung đỏ. Những viên chỉ huy đeo một dây băng đen hay tím. Họ đeo huy hiệu trên ngực áo...".

Sự thật đó là loại lễ phục của dân đồn điền. Hằng ngày họ phải lao động và canh gác với hoàn cảnh kinh tế thời đó, họ cũng lam lũ thường dân. Ngay như Pallu de la Barriègre đã miêu tả cũng có điểm chứng tỏ quân đồn điền không được cấp đồng phục. Việc diễn tập quân sự hàng năm là việc làm tốn kém. Thế nên có năm thực hiện, có năm không còn. Việc canh gác và việc luyện tập quân sự hàng ngày là ích lợi thực tế, chắc chắn không bỏ sót được. Nhưng quy định này có ảnh hưởng đến lao động không? Không mấy ai đến Nam Bộ khai hoang lập ấp mà không biết chút ít võ nghệ phòng thân.

Nguyễn Trung Trực là người mưu trí, tinh thông võ nghệ nhờ truyền thống của quê hương Bình Định nên được dân chúng trong vùng cảm mến. Có lẽ vì thế trong đội quân đồn điền của Trương Định ông đã được giữ chức đội, tức là chỉ huy 50 người.

Ngày 25 tháng 2 năm 1861, quân Pháp công phá đại đồn Chí Hòa, gặp sự kháng cự quyết liệt của quân Nguyễn. Lúc này dưới quyền Trương Định, Nguyễn Trung Trực đã tham gia vào công cuộc giữ đại đồn Chí Hòa. Ông giữ chức Quyền sung Quản binh đạo (thế nên người ta còn gọi ông là Quản Lịch). Sau hai ngày chiến sự ác liệt, quân nhà Nguyễn bị tổn thất nặng. Nguyễn Tri Phương bị thương, còn em là Nguyễn Duy thì tử trận. Quân nhà Nguyễn phải bỏ đại đồn Chí Hòa, rút về Biên Hòa. Trương Định rút về Gò Công lập căn cứ Tân Hòa, còn Nguyễn Trung Trực chỉ huy một toán nghĩa quân hoạt động ở Tân An.

Suốt trong quãng thời gian từ 1861 đến 1864 (khi Trương Định hy sinh), nghĩa quân dưới quyền Nguyễn Trung Trực vẫn có liên hệ mật thiết với nghĩa quân Trương Định.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2017, 10:24:36 pm

Câu hỏi 5: "Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa", câu thơ hào hùng này muốn nhắc tới một chiến công lẫy lừng của Nguyễn Trung Trực. Hãy cho biết đôi điều về chiến công đó?
Trả lời:


Quân Pháp xua quân đánh chiếm Gia Định (18-2-1859). Hai năm sau chúng lại đánh đại đồn Chí Hòa (25-2-1861) và thừa thắng chúng đánh lấy Định Tường - Mỹ Tho (12-4-1861). Quân triều đình phải rút lui về Vĩnh Long.

Lúc bấy giờ, quân Pháp có lợi thế về vũ khí như tàu chiến và đại bác hiện đại, lại thêm triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, chúng càng quyết chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ. Trên bộ, nơi nào chiếm được thì lập ngay xã tề và xây dựng đồn bót. Dưới sông, chúng cho tàu thủy lớn nhỏ tuần tra thuyền ghe qua lại. Chúng lấy cớ là ngăn chặn nghĩa quân làm loạn. Nhưng đó là cái cớ để thu gom tiền bạc, lúa thóc của nhân dân.

Đại đồn Chí Hòa thất thủ, Nguyễn Trung Trực rút quân về Tân An tiếp tục chiêu mộ nghĩa dũng, sắm sửa khí giới với mục đích chống Pháp lâu dài. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực trong gần ba năm từ 1860 đến 1862 là vùng Tân An, Định Tường, Biên Hòa.

Trận đánh hỏa công đốt tàu chiến Pháp Espérance trên sông Nhật Tảo khiến đất trời cũng muốn nổ tung: "Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa". Trận Nhật Tảo có 2 ý kiến khác nhau: thứ nhất là Nguyễn Trung Trực cho giả làm thuyền buôn lúa để đánh chìm tàu; thứ hai Nguyễn Trung Trực cho giả làm thuyền đám cưới qua sông, thừa lúc áp sát tàu Espérance rồi đánh úp. Ý kiến sau được nhiều người chấp nhận, trong đó có sự đồng thuận của một số tác giả người Pháp như Paulin Vial, Alfred Schreiner. Tuy nhiên cả hai thuyết này đều có nhắc đến đóng góp của anh em Cai tổng Hồ Văn Minh.

Theo một nguồn sử liệu dân gian thì làng Nhật Tảo nằm trên một vùng đồng ruộng bao la, mới sáng tinh sương đã nhìn thấy ánh mặt trời nên được gọi là Nhật Tảo nghĩa là "mặt trời mọc sớm". Giữa thế kỷ thứ XIX, Nhật Tảo là vùng đất mới được ông Hồ Văn Chương đến khai phá lập nghiệp theo chương trình khai hoang của triều Nguyễn. Nhờ quy tụ được đông dân cư lập thành thôn ấp, ông Hồ Văn Chương được triều đình Nguyễn phong cho chức Suất đội trưởng, con cháu kế truyền làm "chủ chợ qua việc thu thuế chợ lấy tiến làm ngân sách địa phương". Dòng dõi họ Hồ thống lãnh cả vùng và đều là hương chức địa phương. Lúc bấy giờ, ông Hồ Quang Minh làm Cai tổng, tuy hợp tác với chính quyền Pháp ngoài mặt nhưng vẫn căm thù giặc. Cảm khái tấm lòng ái quốc của Nguyễn Trung Trực, gia đình ông Cai tổng đã mạnh dạn hợp tác với nghĩa quân, lập kế đồ đánh phá lực lượng quân Pháp.

Tại ngã ba, đầu sông Nhật Tảo và sông Vàm Cỏ Đông, Pháp đặt một chiếc tiểu hạm tên là Espérance (Hy vọng) nằm án ngữ nơi đó để đón ghe thuyền qua lại tra xét. Tiểu hạm Espérance là một tàu gỗ có chỗ được bọc đồng chạy bằng hơi nước, có thể ra vào những luồng lạch cạn. Đây là một trong những tàu thuộc hàng bậc nhất của hải quân Pháp lúc bấy giờ. Chỉ huy tàu này là trung úy hải quân tên Parfait, còn tên phó là một thiếu úy (không rõ tên). Dưới tàu có trang bị một khẩu đại bác với 25 quân lính Pháp và lê dương đầy đủ súng ống, đạn dược. Trên bờ sông có đóng một cái đồn với 20 lính mã tà canh gác bảo vệ tàu.

Chiến thuyền Espérance được coi như một "căn cứ nổi” rất lợi hại trên nhiều mặt: đóng vai trò một thành lũy bố phòng; một pháo đài để tấn công và yểm trợ; một phương tiện di động để điều động và vận chuyển binh lính, quân nhu, lại được sử dụng như một đơn vị "dưỡng quân" nữa. Chiến thuyền Espérance đã giữ vai trò "chiếm đóng" và "bình định" cả một vùng địa phương rộng lớn. Vì tầm quan trọng về mặt chiến thuật, chiến lược như vậy, cho nên Quản binh Lịch (Lúc bấy giờ ông chưa đổi tên thành Nguyễn Trung Trực, còn đang giữ chức Quyền sung Quản binh đạo, nên gọi tắt là Quản binh) bằng mọi cách quyết tiêu diệt con tàu này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2017, 10:24:58 pm

Giả thuyết thứ nhất về đám ghe buôn:

Qua nhiều ngày điều nghiên tình hình địch khá chính xác, ông liền chuẩn bị kế hoạch thực hiện, ông chia nghĩa quân ra làm 2 toán:

- Toán thứ nhất: 30 người nằm phục kích bao vây đồn mã tà trên bờ. Nếu nghe hiệu lệnh thì tấn công ngay không để chúng ra tiếp viện.

- Toán thứ hai: 59 người bố trí cho 5 ghe và nằm chờ sẵn trong khoang ghe có đầy đủ cúi rơm. Khi nghe tiếng lệnh thì phi nhanh qua tàu, phóng hỏa và tìm địch diệt.

Ngoài ra ông còn vận động một số dân chúng quanh vùng tham gia cuộc chiến, ông trang bị cho họ một số chiêng mõ, tù và để làm thành tiếng động, chọc tức quân pháp bắt buộc chúng phải chia lực lượng dưới tàu ra để nghĩa quân hành động dễ bề thắng lợi.

Đúng giờ Ngọ (12 giờ trưa) ngày 10 tháng 12 năm 1861, Quản binh Lịch cho toán dân chúng đánh chiêng, mõ, thổi tù và làm vang động một góc trời. Tên trung úy dưới tàu nghe tiếng động, tức tối liền xua nửa toán lính dưới tàu xuống ca-nô tiến thẳng vào bờ, vừa đi vừa bắn loạn xạ để thị uy. Tuy vậy, đoàn người vẫn tiếp tục gây tiếng động, làm Parfait càng thêm tức giận xua lính truy đuổi theo mãi, càng lúc càng xa tàu.

Lúc này ngoài sông Vàm Cỏ xuất hiện 5 chiếc ghe buôn bập bềnh chèo trên mặt nước. Lính canh trên tàu thấy liền gọi lại để trình giấy. Năm chiếc ghe cặp sát hông tàu. Chiếc ghe đầu trình giấy. Tên thiếu úy với tay xuống lấy, bất thình lình bị Quản Lịch đâm chết. Sau đó ông phát lệnh tấn công: Sát! ... Sát! Tất cả nghĩa quân nằm trong mui ghe đều bật dậy, phóng nhanh qua tàu tìm địch diệt, đồng thời mang cúi rơm phóng hỏa đốt tàu. Bọn lính thấy tàu phát hỏa thì hoảng kinh hồn vía. Một số bị nghĩa quân giết tại chỗ, một số nhảy xuống sông lội vào bờ chạy thoát thân nhưng cũng bị dân chúng đón bắt giết. Còn tên trung uý Parfait thấy tàu bị đốt cũng kinh hoàng tìm đường trốn thoát.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2017, 10:25:37 pm

Giả thuyết thứ hai về đám cưới giả:

Để lấy lòng tin của quân Pháp, Cai tổng Hồ Quang Minh tỏ sự "cúc cung tận tụy" ra mặt, tích cực cộng tác với Pháp. Được thuyền trưởng là trung úy Parfait tin cẩn, một ngày nọ Cai tổng Hồ Quang Minh cùng Hương lý Nhật Tảo đến "bái kiến" trung úy Parfait và "thăm" chiến thuyền. Ông nêu ý kiến, tàu quá lớn và cao, lại thêm bọc sắt, trời miền Nam quá nóng nực, dễ gây bệnh thời khí, nên làm mái lá dừa che cho mát. "Chúa tàu" khen phải, cho thực hiện công tác ngay. Cai tổng Hồ Quang Minh xin lãnh công việc này và giới thiệu "ông Năm thợ mộc" lên tàu dựng cột, lợp mái. Ông thợ mộc này chính là Nguyễn Trung Trực. Em trai ông Cai tổng là Hồ Quang Chiêu thì hợp tác cùng Nguyễn Trung Trực nghiên cứu kế hoạch và chuẩn bị trận đồ "chiếm và đốt" tàu. Nhờ những ngày đóng vai thợ mộc trên tàu, ông Năm đã am tường tình hình: quân số, vũ khí, cách bố phòng, thói quen của vị thuyền trưởng và các sĩ quan, cũng như giờ giấc đổi "ca" và đi "càn" (tảo thanh) các vùng phụ cận. Bọn quân Pháp rất thích thú với mái nhà lợp bằng lá dừa trên tàu, vừa "ngồ ngộ" lại vừa "khỏe người", ban ngày nắng chang chang khỏi phải xuống hầm tàu.

Giờ lịch sử đã điểm, sáng ngày 11 tháng 12 năm 1861 (tháng 11 năm Tân Dậu), một toán nghĩa quân làm kế nghi binh kéo về Kênh Hóng thuộc xã Bình Lăng, gióng trống, khua chiêng để nhử bọn thủy binh Pháp. Viên sĩ quan chỉ huy hôm đó quả mắc mưu, bèn cắt cử một bộ phận binh lính rời tàu để đi càn quét nghĩa quân gây loạn. Vào lúc gần trưa, lính Pháp trên tàu chỉ còn lại một số nhỏ. Phía nghĩa quân được điều động đi phá tàu dưới quyền chỉ huy của ông Nguyễn Trung Trực, cả nam lẫn nữ đi trên hai chiếc ghe giả danh và ngụy trang là "đám cưới quê đi rước dâu". Hai ghe ghé sát tàu xin pẹc-mi (giấy phép) di chuyển sang bên kia địa phương để rước dâu. Đóng vai chú rể là Nguyễn Trung Trực, trong người thủ sẵn một chiếc búa thầu nặng năm cân ta (khoảng 3kg). Nhân lúc bất ngờ, ông rút búa nện chết tên lính gác tàu mà "chú rể” vừa "múa tay, múa chân" năn nỉ xin giấy đi "cưới vợ". Bọn lính Pháp trở tay không kịp, không thể sử dụng súng để bắn trả nên bị tiêu diệt gần hết. Ông Hồ Quang Chiêu thì đã phục sẵn trên bờ với toán nghĩa quân và dân làng Nhật Tảo, diệt gần trọn bọn lính Pháp đóng trên vàm đối diện với chiến thuyền đậu thả neo.

Vừa chiếm xong tàu, ông Nguyễn Trung Trực hạ lệnh nổi lửa đốt tàu. Có nhiều bà con, gia đình nhà cửa cất gần nơi tàu thả neo đã tháo cả phên, vách lá làm "mồi lửa" đốt tàu cho mau. Hơn nữa, tàu lại có mái lá lợp "ngồ ngộ" do ông "Năm thợ mộc" cất sẵn đó, trời lại nóng bức nên lửa "bắt" rất bén! Chẳng mấy chốc toàn bộ lực lượng Pháp, tàu chiến Espérance đã bị "xóa sổ danh bộ!". Sử sách không cho biết thuyền trưởng Parfait ra sao?

Trận này nghĩa quân toàn thắng, dìm được tiểu hạm Espérance chìm sâu dưới lòng sông Vàm Cỏ, mang theo 17 tên giặc xâm lăng. Sau trận này quân Pháp lập tức mở cuộc càn quét để báo thù. Chúng cho đốt hết nhà cửa và giết sạch trẻ già, trai gái vùng này (hơn 600 người).

Tuy vậy, nghĩa quân vẫn không nao núng, thừa thắng xông lên đánh chiếm đồn Cần Giuộc, sông Tra, Cái Bè, Rạch Gầm... Về phía sông Bến Lức (Long An) và Tây Ninh, nghĩa quân của Quản binh Lịch chặn đánh các tuần tiểu hạm Lorcha, đốt cháy được tiểu hạm số 3 (16-12-1862) và sau đó phá hủy thêm một chiếc nữa.

Ngọn lửa Nhật Tảo nâng cao thanh danh của Quản binh Lịch trong cả nước, làm bừng sáng lòng yêu nước của nhân dân cũng như của những lãnh tụ cách mạng địa phương. Đồng thời cũng là động cơ thúc đẩy sức tiến công chống xâm lăng khắp mọi nơi ở miền Tây Nam Bộ. Sau chiến thắng Nhật Tảo, Nguyễn Trung Trực được triều đình Huế phong chức Quản cơ, năm đó ông mới 23 tuổi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2017, 10:31:06 pm

Câu hỏi 6: Nguyễn Trung Trực được triều đình Huế phong chức Lãnh binh và được cử giữ chức Thành thủ úy Hà Tiên trong hoàn cảnh nào?
Trả lời:


Sau khi chiếm tỉnh Định Tường (Mỹ Tho) ngày 12 tháng 4 năm 1861, Pháp xây dựng các đồn bót ở những nơi hiểm yếu và tổ chức việc cai trị. Chiếm đến đâu, Pháp tổ chức việc cai trị đến đó và bành trướng thế lực đến các tỉnh Biên Hòa và Vĩnh Long. Thế là đến tháng 3 năm 1862, ba tỉnh phía Đông Nam Kỳ đã lọt vào tay Pháp.

Phan Thanh Giản được triều đình Huế phái vào Gia Định để điều đình và ký với Pháp Hòa ước Nhâm Tuất 1862. Hòa ước Nhâm Tuất là một hòa ước rất bất lợi và nhục nhã, nhân dân và nghĩa quân căm phẫn nổi lên đánh phá khắp các vùng Pháp đã chiếm.

Với thực dân Pháp thì Hòa ước Sài Gòn 1862 là một thắng lợi lớn lao vượt quá dự định của chúng. Paulin Vial viết: "Người ta ngạc nhiên về sự dễ dàng của người An Nam trước kia đã từng bác bỏ ý định giảng hòa của chúng ta với bao nhiêu bực tức, đột nhiên lại đến yêu cầu một hiệp ước mà điều kiện hình như đắt giá với họ".

Còn Tự Đức thì không hài lòng về văn kiện mà mình phải chịu nhiều thiệt thòi này, đã gay gắt kết tội Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp: "Hai người không chỉ là tội nhân của bản triều mà còn là tội nhân của muôn đời nữa"1. Và vẫn rất quyết tâm lấy lại ba tỉnh đã mất, bằng cách nhờ vào người mà nhà vua coi là thuyết khách giỏi nhất của mình nên cử Phan Thanh Giản làm tổng đốc Vĩnh Long để tiện giao thiệp với Pháp; để sau đó (ngày 21-6-1863) cử ông cầm đầu phái đoàn sang Pháp xin chuộc lại các tỉnh đã mất.

“Việc nhượng đất bồi tiền như thế là không hợp, nhưng điều ước mới định mà cải nghị ngay vị tất họ chịu, vậy xin hai sứ thần (Phan, Lâm) đến ở gần, từ từ thương chước để chuộc lỗi trước, rồi sau sẽ sai sứ thông vấn, tùy cơ chước nghị”2.

Đối với lực lượng kháng chiến đang mặt đối mặt với kẻ thù thì đây là một hàng ước, một văn tự bán nước, một hành động phản bội không thể tha thứ được. Làn sóng căm phẫn nổi dậy khắp nơi. Thực dân Pháp ở Nam Kỳ bị tấn công đều khắp như một cuộc tấn công khởi nghĩa. Chính bọn thực dân đã thừa nhận:

"Trừ Khơ Me tương đối yên và trừ ngoại ô trực tiếp Sài Gòn thì đây là cuộc Tổng khởi nghĩa lan tràn khắp Nam Kỳ"3.

Những vị trí quân Pháp rút chạy hồi tháng 3 đã được nghĩa quân bố trí phòng thủ để đương đầu với sự trở lại của chúng.
__________________________________
1, 2. Phan Khoang, Việt Pháp bang giao sử, tr. 148, 149.
3. Thomazi (A) Laconquête de l’Indochine Payot Paris. 1934.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2017, 10:34:43 pm

Nhưng Hòa ước 1862 đã tạo cho quân Pháp một cơ sở pháp lý vững chắc. Để thi hành hòa ước, trước mắt Tự Đức hạ lệnh bãi binh trên ba tỉnh miền Đông, triệu Nguyễn Túc Trưng về kinh. Nguyễn Túc Trưng vâng lệnh triều đình vừa thăng chức Lãnh binh cho Trương Định vừa bắt Trương Định giải tán nghĩa quân rồi đi An Giang nhận chức. Lực lượng kháng chiến sẽ lâm vào tình trạng khó khăn và có nguy cơ bị triều đình bỏ rơi nếu không tuân lệnh giải giáp.

Yoshiharu Tsuboi, trong một tác phẩm của mình đã cho rằng Tự Đức quyết tâm lấy lại các tỉnh đã mất bằng chánh sách hai mặt, ông viết:

"Tự Đức đã dốc toàn lực để tìm cách lấy lại đất đã bị chiếm. Vua bí mật khuyến khích các quan trong vùng bị Pháp chiếm nổi dậy và vua tìm cách thương lượng với Pháp để chuộc lại các tỉnh ấy. Với mục đích đó vua cử một sứ bộ sang Pháp để thương lượng trực tiếp với hoàng đế Pháp, và Phan Thanh Giản một lần nữa được cử làm chánh sứ". Tsuboi cũng cho rằng Phan Thanh Giản đã hoàn thành sứ mạng của mình trong việc đi xin chuộc lại 3 tỉnh:

"Sứ mạng này là một thắng lợi ở chính quốc và ngày 15 tháng 7 năm 1864 kết thúc bằng một dự thảo mới về hòa ước, tiên liệu việc trả lại ba tỉnh"1.

Georges Taboulet cũng đã xác nhận sự thành công đó của sứ bộ Phan Thanh Giản.

Sau một thời gian lưu trú ngắn ở Madrid, các sứ thần trở về Sài Gòn ngày 18 tháng 3 năm 1864 và từ đó họ ra Huế ngay, vui mừng báo tin cho nhà vua của họ sự thành công của công cuộc thương lượng tế nhị đã qua2.

Nhưng, vì bọn thực dân chủ trương bành trướng ở hải ngoại (Bonard, Chasseloup Laubat, De Lagrandière...) ráo riết can thiệp vào vấn đề này (Tập san sử địa số 7-8, Sài Gòn 1967), bản dự thảo Hòa ước 1864 không được phê chuẩn. Cho nên thành công của phái bộ Phan Thanh Giản chỉ còn là làm chậm lại việc thi hành Hòa ước 1862 mà thôi.

Về việc Tự Đức ngấm ngầm khuyến khích trợ giúp lực lượng kháng chiến trong vùng Pháp chiếm đóng là một công tác vô cùng phức tạp diễn ra trong âm thầm bí mật, mặt khác bề ngoài triều đình phải chứng tỏ rằng đang thực hiện Hòa ước 1862 để đánh tan sự ngờ vực đương nhiên phải có về phía thực dân Pháp. Qua Phan Thanh Giản, người thay mặt vua Tự Đức cao nhất ở Nam Kỳ, các chiếu chỉ, sắc dụ công khai ra lệnh kêu gọi các lãnh tụ nghĩa quân giải giáp, rút quân rồi sau đó là lệnh tầm nã thậm chí yêu cầu "giặc Pháp bắt giúp"... Trong tình huống phức tạp đó, việc đánh giá thái độ của triều đình đối với lực lượng kháng chiến lúc này thật khó chính xác nếu thiếu thái độ bình tĩnh khách quan, có lý có tình sẽ dễ rơi vào tình trạng úp chụp ngộ nhận đáng tiếc.

Thật vậy, nếu chỉ dựa vào nội dung bức "mật văn" của Phan Thanh Giản gởi cho Bonard ngày 7 tháng 2 năm 1863 (Tập san Sử địa số 22 năm 1971) mà kết luận rằng Phan Thanh Giản là thỏa hiệp với giặc, là phản quốc thì thật là quá vội vàng, vì bình tĩnh xem kỹ lại thì bức mật văn đó thiếu mất chữ ký của Phan Thanh Giản.
________________________________________
1. Yoshiharu Tsuboi – Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Quốc.
2. G. Taboulet, La Geste Française en Indochine, Paris (1955-1956), tập 2, tr. 483.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2017, 10:36:19 pm

Trong văn thơ ngoại giao giữa đại diện nước này gửi cho đại diện một nước khác mà thiếu con dấu và chữ ký của người gửi, thiết tưởng cũng nên xét lại về mặt giá trị pháp lý của nó. Trong văn thư đề ngày 6 tháng 8 năm Tự Đức thứ 15 (tức 30-9-1862) cũng gởi cho Bonard, cuối thư Phan Thanh Giản viết: "Đo tân ấn vị phụng cấp đáo, nhưng dụng cựu quan phòng vi tín" tạm dịch là: do ấn mới chưa kịp mang đến, tạm dụng ấn cũ làm tin. Nhưng bên cạnh đó cũng không thấy đóng con dấu nào hết. Phan Thanh Giản quên hay cố tình không đóng dấu. Như vậy, văn bản đó có giá trị đến mức độ nào? Điều này cũng cho thấy được tư tưởng của Phan Thanh Giản. Theo quan niệm phong kiến, công văn không dấu là thái độ xem thường người đọc.

Chính Nguyễn Phan Quang, tác giả chủ trương chỉ trích gay gắt triều đình Tự Đức và Phan Thanh Giản cũng đã phải viết:

Nếu bảo rằng triều đình có chủ trương hai mặt và lệnh bãi binh cách chức chỉ là bề ngoài, thì thật khó giải thích vai trò và hoạt động của Phan Thanh Giản (chiêu dụ Trương Định quy thuận, thúc giục giặc Pháp tiêu diệt nghĩa quân, gửi mật thư cho tướng giặc yêu cầu bắt Trương Định "đền tội lỗi'’, v.v...). Hay là bản thân Phan Thanh Giản trong khi thực hiện "sách lược hai mặt" của triều đình đã lỡ trớn "đi quá giới hạn cho phép", đây cũng là một chi tiết cần được tìm hiểu thêm.

Còn nếu căn cứ vào tình trạng nghĩa quân bị cô lập trên địa bàn chiếm đóng của giặc sau Hòa ước 1862, vũ khí lương thực thiếu thốn nghiêm trọng, nghĩa quân hoàn toàn phải dựa vào dân để chiến đấu, liên hệ với người Hoa để mua súng đạn... mà cho rằng triều đình bỏ rơi kháng chiến thì e rằng chưa xác đáng lắm. Vì lúc bấy giờ triều đình đang gặp nhiều khó khăn trong việc tập trung lực lượng dẹp cuộc nổi dậy của Tạ Văn Phụng (tự xưng Lê Duy Phụng) ở Bắc Kỳ. Yoshiharu Tsuboi lý giải hành động đó như sau:

"Triều đình muốn có thì giờ để dẹp cuộc nổi loạn Lê Duy Phụng, cuộc nổi loạn này uy hiếp Bắc Kỳ đối với triều đình quan trọng hơn Nam Kỳ nhiều. Triều đình hy vọng sẽ lấy lại ba tỉnh ở Nam Kỳ đã mất một khi giải quyết xong số phận của nhóm nổi loạn ở miền Bắc"1.

Các tư liệu trình bày ở trên cho thấy rằng, sau Hòa ước Sài Gòn (1862), triều đình Huế đã có liên hệ với các nhóm nghĩa quân (trong đó có nghĩa quân Nguyễn Trung Trực), ngấm ngầm ủng hộ nghĩa quân đánh Pháp để giành lại ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường.
______________________________________
1. Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Quốc, tr. 262.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2017, 10:36:48 pm

Tuy nhiên, với bản chất bảo thủ, mềm yếu, thiếu quyết đoán của Tự Đức, lại thêm bản thân nhà vua có năng lực của một nhà thơ hơn là một nhà chính trị; trong khi đó, trong hàng ngũ quần thần lại không có sự nhất trí về một đối sách đối với bọn thực dân Pháp, không có người hiểu biết am tường về kẻ thù mới này, lại có một số quan lại muốn đầu hàng Pháp, nên chánh sách hòa hoãn với Pháp lúc đầu từng bước biến thành hành động đầu hàng nhục nhã... Chính sách hai mặt trong quá trình thực hiện dần dần nghiêng về một phía. Từ đó, dầu muốn dầu không dưới cái nhìn của quần chúng nhân dân, vua Tự Đức và một số quan lại như là những người phản bội.

Sau khi hòa ước được ký, về mặt công khai, để cho thực dân Pháp thấy rằng hòa ước được thi hành, triều đình Tự Đức điều các quan lại, lính chánh quy ra khỏi vùng giặc tạm chiếm, ra lệnh nghĩa quân giải giáp. Tuy nhiên, thực dân Pháp không chịu dừng lại ở đó, chúng còn muốn chiếm nốt ba tỉnh miền Tây trù phú, lại giáp với đất Khơ Me vốn đang là thuộc địa.

Triều đình Huế cũng thấy ý đồ của súy phủ Sài Gòn nên lại bổ nhiệm Phan Thanh Giản làm kinh lược sứ vào tỉnh Long Hồ (Vĩnh Long) để tìm kế giữ ba tỉnh còn lại.

"Sự sáp nhập 3 tỉnh miền Tây được sắp đặt một cách kín đáo. Hơn một năm trước đã được tuyển các nhà hành chính sẽ cai trị các lãnh thổ mới. Nhiều cuộc thám sát thường xuyên khắp mọi nơi đã được thực hiện bởi những nhân viên An-nam-mít trung tính" .

Quả nhiên chỉ trong 5 ngày Pháp thu xong 3 tỉnh phía Tây Nam Kỳ.

- Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp chiếm thành Vĩnh Long.
- Ngày 22 tháng 6 năm 1867, Pháp hạ thành Châu Đốc.
- Ngày 24 tháng 6 năm 1867, Pháp lấy thành Hà Tiên.

Vua Tự Đức truyền hịch kêu gọi toàn dân khởi nghĩa chống Pháp. Nhà vua hứa ban phẩm hàm cho những ai có công chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp hoặc đánh bại quân Pháp. Cuộc kháng chiến được hưởng ứng rất mau lẹ khắp nơi (tất nhiên không vì phẩm tước của triều đình).

Đó là các cuộc khởi nghĩa: của Trương Công Định, Phan Công Tòng, Phan Liêm và Phan Tôn (con của cụ Phan Thanh Giản) ở vùng Bến Tre; của Thiên hộ Dương (tức Võ Duy Dương) ở Đồng Tháp Mười (1866); của Phủ Cận ở Mỹ Tho, Tri huyện Thoại ở Gò Công; của Nguyễn Hữu Huân khởi nghĩa ở Mỹ Tho năm 1864; của Nguyễn Văn Chắt tại Vĩnh Long (1868); của Lê Công Thanh, Phạm Văn Đồng, Lâm Lễ, Âu Dương Lân các vùng Vĩnh Long, Long Xuyên, Cần Thơ; của Đức cố Quản (Trần Văn Thành) ở Bảy Thưa (Châu Đốc).

Năm 1867, Nguyễn Trung Trực được thăng lên chức Lãnh binh tỉnh Gia Định, rồi triều đình Huế phong chức Thành thủ úy Hà Tiên để ông mộ binh chống giặc. Nhưng ông chưa kịp đến nơi thì Hà Tiên đã lọt vào tay quân Pháp ngày 24 tháng 6 năm 1867. Nguyễn Trung Trực rút quân về Sân Chim (ở tả ngạn sông Cái Lớn, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2017, 05:33:10 pm

Câu hỏi 7: Thành Hà Tiên mất, Nguyễn Trung Trực đưa nghĩa quân về Rạch Giá hoạt động. Cho biết "kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần" muốn nhắc đến chiến công nào của ông?
Trả lời:


Từ Sân Chim, Nguyễn Trung Trực lại lui về Hòn Chông (cách Hà Tiên độ 20km) lập căn cứ chống Pháp. Ông liên hệ với các lãnh tụ nghĩa quân địa phương thành lập lực lượng kháng chiến lâu dài. Ở Minh Lương có Xã Lý, ở Phú Quốc có Quản Thứ, Tổng Điền, Xã Ngợi...

Lúc bấy giờ ông đổi tên là Nguyễn Trung Trực. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân do ông lãnh đạo rất rộng lớn từ Cà Mau đến Hà Tiên, Phú Quốc và vùng núi Sập (An Giang). Nghĩa quân có ba căn cứ chính là: Tà Niên (Rạch Giá), Hòn Chông (Hà Tiên) và Sân Chim (Cà Mau). Từ những căn cứ này, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực thường xuyên tiến hành du kích chiến khắp ba tỉnh. Nguyễn Trung Trực cũng thường đi khắp nơi như Cái Nước, Chắc Băng, Thầy Ngươn, Tân Hội, Vĩnh Trạch, v.v... để vận động những người có cùng chí hướng tham gia đánh đuổi quân xâm lăng, giành lại quê hương đất nước. Đến đâu ông cũng rất được nhân dân mến yêu và kính phục.

Còn thực dân Pháp, sau khi đã chiếm xong ba tỉnh miền Tây, chúng tăng cường đàn áp, truy lùng, bắt bớ nghĩa quân hòng tiêu diệt lực lượng của Nguyễn Trung Trực. Chúng thiết lập chính quyền xã tề và xây dựng đồn bót khắp nơi. Mặt biển ở Rạch Giá chúng thiết lập Ty Thương Chánh để thu gom tiền bạc của các thương thuyền ngoại quốc vào đây buôn bán. Trong sông rạch chúng cho pháo thuyền tuần tra ngang dọc đón ghe thuyền xét tra thu thuế và truy tầm tung tích nghĩa quân.

Một lần, Nguyễn Trung Trực theo đường biển đến chợ Rạch Giá, đưa mẹ ở tạm nhà ông Dương Công Thuyên, rồi ông mang thư giới thiệu của ông Dương Công Thuyên vào Tà Niên tìm gặp Lâm Văn Ky. Qua tiếp xúc, Nguyễn Trung Trực nhận thấy ông Lâm Văn Ky là một thanh niên khẳng khái và yêu nước, còn Lâm Văn Ky vô cùng cảm phục vị anh hùng Nhật Tảo mà ông đối diện. Hai tâm hồn đồng điệu yêu nước thương dân đã gặp nhau và cùng nuôi chí lớn đánh Pháp yên dân.

Ông Lâm Văn Ky còn tiến cử bốn người bạn thân thiết của mình cho cụ Nguyễn. Đó là các ông Trịnh Văn Tư, Ngô Văn Búp, Hồng Văn Ngàn và Nguyễn Văn Miên.

Sau khi quan sát xong vùng Tà Niên (nay là xã Hòa Hiệp cách chợ Rạch Giá khoảng 10 cây số đường chim bay), Nguyễn Trung Trực quyết định chọn nơi này làm địa điểm xuất phát trận tấn công thành Kiên Giang.

Nguyễn Trung Trực ở nhà Lâm Văn Ky được năm hôm, ông đã dùng thời gian này để nghiên cứu kỹ địa hình và thực lực quân Pháp ở thành Kiên Giang. Ông còn đích thân cải trang thành dân thường ra tận chợ Rạch Giá để nắm tình hình. Đêm thứ năm, định sáng hôm sau trở về Sân Chim chuyển quân đến Tà Niên thì có chị em cô Điều và cô Đỏ đến thăm.

Bàn về việc tấn công thành Kiên Giang, hai bà nhận việc thuyết phục Quản Cầu chỉ huy đồn lính mã tà làm nội ứng. Nguyễn Trung Trực giao cho bốn vị Trịnh Văn Tư, Ngô Văn Búp, Hồng Văn Ngàn và Nguyễn Văn Miên ở Tà Niên phụ giúp hai bà, tiền bạc tốn kém trong các hoạt động này hai bà đảm nhận cả. Gần đến ngày tấn công, Quản Cầu bằng lòng làm nội ứng cho nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2017, 05:33:59 pm

Sau đó ít lâu, Nguyễn Trung Trực triệu tập các vị chỉ huy lại để bàn kế hoạch đánh đồn Kiên Giang. Nhưng thật đáng tiếc, trong nghĩa quân có những kẻ phản bội như Đội Lượm (Đội Lượm: có tài liệu nói là tên Lượng), Xã Ngươn ở Tân Hội ra đầu Pháp, báo cho tên chủ tỉnh biết. Tên chủ tỉnh liền ra lệnh bắt ngay Quản Cầu, Xã Lý và cô Ba Đỏ nhốt vào khám lớn. Làm như vậy, chúng tin rằng Nguyễn Trung Trực không còn có cơ hội đánh đồn được. Nhưng tương kế tựu kế, Nguyễn Trung Trực vẫn thực hiện. Trước khi tiến công 2 ngày, ông cho lực lượng nghĩa quân ở Hòn Chông kéo về Tà Niên để cùng phối hợp hành động.

Khoảng nửa đêm 16 tháng 6 năm 1868, Nguyễn Trung Trực cùng đoàn dũng sĩ dùng ghe xuất phát từ rạch Tà Niên theo bờ vịnh Rạch Giá đổ bộ lên bở rạch Láng Ông. Nghĩa quân ém quân xung quanh thành Kiên Giang chờ đến 4 giờ sáng thì hành động.

Trời tối đen, bỗng một trận mưa nhỏ trút xuống, không khí mát mẻ để lính trong thành ngủ say.

Đến 4 giờ, nghĩa quân bò sát thành bố trí, hai tên lính canh trốn mưa ngồi co ro trong chòi canh, Nguyễn Trung Trực bò lại gần chỉ loáng một nhát kiếm đầu một tên lìa khỏi cổ, tên thứ hai chưa kịp la lên, đầu đã lăn lốc trên đất.

Sau khẩu lệnh của ông, nghĩa quân bắt đầu công thành, kẻ phá cửa xông vào, người trèo lên thành thi nhau chém giết, quân Pháp không kịp phản ứng, bị giết ngay trên giường ngủ, vài tên tỉnh táo cầm súng bắn trả nhưng không kịp nạp đạn lần thứ hai. Trại lính mã tà do đã nhận làm nội ứng nên im lìm không nổ súng để mặc cho nghĩa quân tung hoành.

Tiếng gào thét, tiếng súng nổ, tiếng gươm giáo, tiếng rượt đuổi vang động trong đêm tối.

Có ba tên lính Pháp chạy thoát nhờ bóng đêm nhưng sáng bị đồng bào phát hiện hai tên trốn dưới đầm sen kéo lên đập chết. Tên thứ ba trốn vào nhà một người Miên, người này thương hại không nỡ đi tố cáo, giấu trong nhà và cho ăn, khi Pháp tái chiếm thành Kiên Giang, người này dẫn tên Pháp tị nạn ra nạp và được trọng thưởng. Tên lính này đúng là tên lính kèn Duplessis mà Benoist ghi trong hồi ký của ông.

Sáng ngày 17 tháng 6 năm 1868, ngọn cờ nghĩa quân bay phấp phới trên thành lính Tây, dân chúng hân hoan kéo đến chào mừng Nguyễn Trung Trực và thết đãi nghĩa quân.

Trận đánh thành Kiên Giang của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã hạ sát được tên Chánh Phèn (trung úy hải quân Pháp làm chánh tỉnh đầu tiên ở Rạch Giá. Hắn ta có bộ râu màu râu bắp nên dân địa phương đặt tên là Chánh Phèn. Trong Nam, màu vàng hoe như màu râu bắp thì gọi là phèn, như chó phèn, cá phèn, đường phèn...) và 5 võ quan, 67 lính Tây và Việt gian, 6 tên bị bắt sống, đoạt trên 100 khẩu súng và một kho đạn.

"Đài chiến sĩ" trước khuôn viên dinh tỉnh trưởng cũ có ghi: "Aux morts de la grande guerre 1914-1918" (tử sĩ trận thế chiến 1914-1918), "et la surprise de 1868" (tử sĩ trận đột kích 1868), thì đủ biết trận đánh thành Kiên Giang thật là ác liệt. Đây là lần đầu tiên lực lượng nghĩa quân đánh đối phương ngay tại trung tâm đầu não của tỉnh. Nhận tin chủ tỉnh Rạch Giá cùng viên trung úy Gamard bị giết ngay tại trận, George Dirwell gọi đây là một sự kiện bi thảm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2017, 05:34:26 pm

Khi đã làm chủ thành Kiên Giang, nghĩa quân bêu đầu những viên sĩ quan và lính Pháp cắm dọc theo kinh Rạch Giá - Long Xuyên để cảnh cáo. Nguyên con kinh này được đào vào năm Gia Long thứ 17 (1818) để các miền trên thông thương với Rạch Giá vừa làm thủy lộ chiến lược để đưa quân đánh Xiêm La.

Đề phòng quân Pháp trở lại tấn công, Nguyễn Trung Trực cho nghĩa quân hợp cùng dân chúng cắm cọc thả chà, đắp đập dọc theo con kinh trên từ Rạch Giá đến núi Sập. Có hai cái cảng lớn: một tại Tà Keo và một tại Lục Dục và bố trí những khẩu đại bác bắn đá tại đây.

Nguyễn Trung Trực giao cho Lâm Quang Ky ở lại giữ thành Kiên Giang còn mình đón quân giặc tại cảng Lục Dục (núi Sập).

Ngày 18 tháng 6 năm 1868, Bộ chỉ huy Pháp ở Mỹ Tho mới được tin thành Kiên Giang đã mất, lập tức cho quân phản công.

Quân Pháp do thiếu tá Ausart chỉ huy từ Vĩnh Long đưa qua Kiên Giang, dưới quyền có đại uý Dismuratin chỉ huy một phân đội lính thủy đánh bộ, trung úy Taradel chỉ huy phân đội lính mã tà và trung úy hải quân Richard đi ca-nô chạy bằng hơi nước, cùng theo có Trần Bá Lộc và tổng đốc Phương.

Qua nhiều trận kịch chiến gian nan, ngày 21 tháng 6 năm 1868 quân Pháp đến Sọc Suông (thuộc xã Tân Hội, huyện Tân Hiệp). Nguyễn Trung Trực rút quân về cố thủ thành Kiên Giang, nhưng trước thế giặc quá mạnh ông cùng nghĩa quân lui về Hòn Chông (Hòn Chông là dãy núi đá vôi, tuy gọi là hòn song núi đá vôi này đã nằm yên trong đất liền từ lâu, gần bờ biển, núi có nhiều hang động, chung quanh núi là rừng và đầm lầy, địa thế hiểm trở), một số nghĩa quân theo không kịp, ở tản mác tại Rạch Giông (cách chợ Rạch Giá khoảng 3 cây số). Còn ông Lâm Quang Ky và một số nghĩa quân chạy về rạch Kim Quy (thuộc xã Vân Khánh Đông, huyện An Biên).

Quân Pháp tái chiếm thành Kiên Giang, một số nghĩa quân hy sinh, một số bị bắt.

Mẹ Nguyễn Trung Trực vẫn ở nhà ông Dương Công Thuyên, nhiều người đến thăm hỏi và biếu lễ vật, sợ bị lộ, bà được nghĩa quân đưa về Hà Tiên.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2017, 05:36:32 pm

Câu hỏi 8: Trước thế giặc mạnh, Nguyễn Trung Trực phải đưa quân về đảo Phú Quốc lập căn cứ. Ở đây đã diễn ra những trận đánh cuối cùng của ông. Hãy cho biết việc Nguyễn Trung Trực bị bắt và những giả thuyết về sự kiện này?
Trả lời:


Quân Pháp chặn các con đường tiếp tế dẫn đến Hòn Chông và siết chặt vòng vây, Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân dùng ghe, xuồng ra đảo Phú Quốc, lập căn cứ kháng chiến cuối cùng.

Khi đến đảo, Nguyễn Trung Trực ra lệnh cho nghĩa quân đánh đắm tất cả số ghe này để ngăn cửa rạch. Nghĩa quân hợp lực cùng dân trên đảo lấy cọc gỗ đóng giữ chặt để làm chiến lũy.

Chiến hạm Goeland do Bouchet Rivière chỉ huy đến đảo, chúng dùng súng đại bác bắn vào chiến lũy này, tốn hao nhiều đạn mới phá vỡ. Khi quân Pháp đổ bộ lên đảo thì một trận kịch chiến diễn ra trên bãi Hàm Ninh gây thiệt hại nặng cho quân Pháp. Sau đó nghĩa quân rút lên núi.

Ngày 19 tháng 9 năm 1868, Bouchet Rivière trở về Hà Tiên chở thêm 125 lính mã tà ở Gò Công và cùng Huỳnh Công Tấn đến Phú Quốc.

Lúc này Nguyễn Trung Trực dùng chiến thuật du kích đánh tỉa quân Pháp. Trong những đêm tối trời nghĩa quân nương theo bóng đêm tấn công và đốt phá trại giặc.

Các cụ già ở Phú Quốc còn thuật lại giai thoại ông dùng kế nghi binh cho nghĩa quân đi loanh quanh trên núi. Quân Pháp trên tàu dùng viễn vọng kính theo dõi, tưởng nghĩa quân còn đông không dám tấn công lên núi.

Pháp phong tỏa đảo Phú Quốc, chặn tất cả các ghe xuồng qua lại vì nghi là tiếp tế gạo cho nghĩa quân. Huỳnh Công Tấn lại bày kế với Pháp bắt tất cả dân trên đảo tập trung vào một nơi phơi mưa nắng và không cho ăn uống, cùng truyền rao: Nếu Nguyễn Trung Trực không ra đầu hàng sẽ hành hạ dân trên đảo đến chết vì họ cố tình tiếp tay và che giấu cho nghĩa quân.

Mặt khác tại chợ Rạch Giá, Pháp treo giải thưởng:

- Ai bày mưu cho Pháp bắt được Nguyễn Trung Trực được thưởng 200 quan tiền.

- Ai bắt sống hay hạ sát được Nguyễn Trung Trực, đem nộp thủ cấp sẽ được thưởng 500 quan tiền.

Lời rao truyền được loan đi khắp nơi trong tỉnh đến tận đảo Phú Quốc. Mấy ngày sau có một tên nghiện thuốc phiện đã lâu ngày thấy tiền thưởng to đến hiến kế cho Pháp.

Tên Việt gian này mách Pháp bắt mẹ Nguyễn Trung Trực ở Hà Tiên và truyền rao rằng nếu ông không chịu ra đầu hàng tất mẹ ông phải thế mạng. Thế nào Nguyễn Trung Trực cũng ra hàng vì ông là người rất có hiếu với mẹ.

Pháp nghe kế làm theo, cho bắt cụ bà và nài nỉ bà viết thơ khuyên dụ Nguyễn Trung Trực ra quy thuận, mẹ con được sum vầy, lại được ân thưởng bạc tiền cùng quyền cao chức trọng. Bà cụ không nghe, chúng bắt bà cụ hạ ngục. Nghe nói về sau khi nghe tin Nguyễn Trung Trực ra hàng, bà cụ tức giận thổ huyết chết trong ngục.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2017, 05:37:10 pm

Bấy giờ tình hình nghĩa quân rất bi đát: lương thực dần dần cạn, súng đạn cũng không còn. Dân chúng toàn đảo cũng bị ảnh hưởng vì chúng bao vây không cho đất liền cung cấp lương thực. Dân chúng phải chịu cảnh đói khát, nghèo khổ cùng cực. Giờ đây mẹ cũng bị chúng bắt giam cầm chốn lao tù!... Tình hình như vậy không thể kéo dài cuộc chiến. Qua nhiều đêm suv nghĩ, đắn đo, ray rứt... cuối cùng Nguyễn Trung Trực quyết định ra "hàng" để giải quyết mọi vấn đề cấp thiết. Trước khi ra hàng, ông viết thư cho Huỳnh Công Tấn biết, nêu muốn ông ra hàng phải chấp thuận 3 điều kiện:

- Một là, bãi bỏ lệnh bao vây phong tỏa toàn đảo.

- Hai là, phải thả hết nghĩa quân đã bị bắt, cho họ được trở về nguyên quán yên ổn và tự do làm ăn sinh sống.

- Ba là, phải thả ngay mẹ ông ra và đưa đến căn cứ để gặp ông.

Dĩ nhiên được tin ông chịu ra hàng, Pháp chấp thuận ngay nhưng chúng chỉ thực hiện hai điều kiện trên. Còn điều kiện thứ ba, chúng nói dối rằng bà đang bị bệnh nặng không thể đưa đến gặp ông được, khi nào ông ra hàng chúng sẽ cho gặp mặt (Có truyền thuyết nói rằng mẹ ông không bị Pháp bắt. Việc Pháp nói bắt bà là do bịa chuyện để buộc ông vì chữ hiếu mà ra hàng chúng. Sự thật khi chúng tấn công vào Hòn Chông tìm bắt Nguyễn Trung Trực thì bà đã đi lánh nạn ở đâu không rõ. Nhưng sau đó bà về Tân Thuận - Cà Mau rồi chết ở đó).

Tương truyền, trước khi ra hàng ông cho gọi tất cả nghĩa quân lại, đại ý khuyên dạy: "Khi tôi ra nộp mình cho quân Pháp, tất chúng sẽ rút khỏi đảo này để đồng bào được yên thân vì giặc chỉ muốn bắt cho được tôi thôi, vả lại nếu tôi không ra hàng thì quân Pháp kéo dài cuộc vây tỏa. Chúng ta sẽ lâm vào thế bế tắc vì cạn lương".

"Anh em trót đã theo tôi, có người từ vùng Nhật Tảo tới, có người từ Rạch Giá tới, nay vận nước đã đến hồi suy vi. Vậy anh em hãy trở về sum họp với gia đình, tìm phương kế làm ăn, chờ đợi thời cơ".

Nguyễn Trung Trực vừa dứt lời tất cả nghĩa quân đều khóc, có người quỳ xuống ôm lấy chân ông xin sống chết có nhau. Nguyễn Trung Trực khuyên mọi người đừng làm ông bịn rịn một khi ông đã quyết tâm. Nguyễn Trung Trực gọi một nghĩa quân đến trói tay mình nhưng không ai đành tâm làm việc này.

Đến ngày hẹn, Nguyễn Trung Trực ăn mặc đàng hoàng như một vị tướng ngoài trận địa: áo thắt lưng, quần chẽn ống, đầu chít khăn đen với dáng dấp hiên ngang, một mình đi ra gặp bọn Pháp (Có tài liệu nói rằng khi ra hàng, ông mượn một người nông dân lấy cọng rau muống biển trói tay giùm, rồi hiên ngang đi ra gặp Pháp). Chúng đón tiếp ông một cách rất kính trọng, rồi vội vàng đưa ông về Kiên Giang. Lãnh binh Tấn thấy Nguyễn Trung Trực ra hàng thì rất đỗi vui mừng, lấy tình cũ bạn xưa đối đãi rất ân cần, tử tế.

Trên con tàu đưa Nguyễn Trung Trực từ Phú Quốc về Hà Tiên, lãnh binh Tấn không ngớt lời khuyên dụ ông quy hàng sẽ được đối đãi trọng hậu. Nguyễn Trung Trực chỉ cười nhạt và nói: "Tôi với anh trước là đồng tâm đồng chí, nay anh theo Pháp còn tôi chống Pháp. Bây giờ tôi là kẻ thất thế, tôi chỉ muốn được chết. Nếu anh còn nghĩ tình xưa cũ xin anh nói bọn Pháp giết tôi càng sớm càng tốt".

Chiến hạm tới Hà Tiên, Pháp cho ghe bầu chở Nguyễn Trung Trực vào chợ Hà Tiên nghỉ lại một đêm, sáng hôm sau đưa ông về Rạch Giá.

Dân trên đảo Phú Quốc thuật việc Nguyễn Trung Trực ra hàng như được kể ở trên. Nhưng có người lại cho rằng Nguyễn Trung Trực chiến đấu đến phút cuối cùng, bị thương và bị giặc bắt.

Thuyết đó có thể nêu cao được khí tiết của Nguyễn Trung Trực nhưng bóp méo sự kiện lịch sử.

Nguyễn Trung Trực ra hàng vì nhân dân trên đảo, vì số nghĩa quân còn lại, vì mẹ già là thứ yếu. Hơn nữa xếp giáp quy hàng cũng có nhiều hoàn cảnh khác nhau. Có người quy hàng vì ham sống sợ chết, có người quy hàng vì muốn vinh thân phì gia, có người trá hàng để mưu đồ về sau... Riêng Nguyễn Trung Trực khi nộp mình, ông kiên quyết từ chối chức trọng quyền cao. Người ta nói "hàng thần lơ láo", nhưng Nguyễn Trung Trực lúc nào cũng hiên ngang. Đến cả tên thực dân Piquet khi lấy khẩu cung cụ Nguyễn Trung Trực cũng đã ghi nhận xét một cách trung thực rằng: "Trực rất tự trọng và đầy khí phách". Trong khi bị giam giữ ở Rạch Giá ông luôn miệng yêu cầu Pháp, sớm kết liễu đời mình.

Như vậy, việc Nguyễn Trung Trực ra hàng không phải là úy tử tham sinh, muốn hưởng bả vinh hoa, mất khí tiết. Cái khí tiết anh hùng là chết vinh hơn sống nhục.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Giêng, 2017, 10:44:31 am

Câu hỏi 9: "Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây" là câu nói lưu danh thiên cổ của Nguyễn Trung Trực. Ông đã nói như vậy ở đâu, trong trường hợp nào?
Trả lời:


Thực dân Pháp thấy Nguyễn Trung Trực là người thủ lĩnh nghĩa quân nổi tiếng, lại càng muốn dụ ông quy thuận để lợi dụng vào công cuộc bình định nên đã cho các ông hương chức ở Rạch Giá khuyên dụ ông theo Pháp sẽ được phong chức phó soái. Nguyễn Trung Trực cả cười mà bảo: Tụi bây kiếm cho tao cái chức gì giết Tây được thì tao làm, còn chức phó soái thì tao không màng.

Biết không thể mua chuộc được ông, Pháp đưa Nguyễn Trung Trực lên Sài Gòn để lấy khẩu cung, viên thống soái Nam Kỳ muốn biết tường tận ông là người như thế nào nên vào khám gặp ông. Trước tiên hắn dùng lời lẽ ngọt ngào khuyến dụ nhưng không được hắn mới xẵng giọng nói: "Ông Trực nè! Dù ông có sống hay chết thì binh lực của Pháp cũng đã tận diệt hết quân phiến loạn của xứ sở này rồi...".

Nguyễn Trung Trực mỉm cười, liền đưa tay chỉ ra ngoài sân cỏ và ôn tồn nói với viên chánh soái rằng: "Thưa Pháp soái: Chúng tôi tin chắc rằng, chừng nào ngài trừ hết cỏ trên mặt đất này thì chừng đó ngài mới mong trừ hết những người ái quốc của xứ sở này mà ngài giận dữ gọi họ là quân phiến loạn". Với ý này có câu ngắn gọn hơn: "Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam, mới hết người Nam đánh Tây".

Trong ngục thất Sài Gòn, ông đã bình thản trả lời khẩu cung của thực dân Pháp. Biên bản hỏi cung được Piquet ghi lại như sau:

Ngục thất trung ương Sài Gòn.

Lời khai của Nguyễn Trung Trực, 30 tuổi, sanh tại phủ Tân An.

Hỏi: Nguyên cớ nào thúc đẩy chú tấn công Rạch Giá?

Đáp: Tôi đã rút về Hòn Chông cùng với gia đình từ khi quân Lang Sa chiếm tỉnh Hà Tiên, nơi tôi nhậm chức Thành thủ úy. Trước khi tấn công Rạch Giá, một vị quan được triều đình Huế phái đến mang cho tôi lệnh nhóm nghĩa quân để dấy động tỉnh Hà Tiên. Tôi đã trả lời với vị quan đó rằng tôi không đủ sức để tấn công và tôi không tiết lộ lệnh đó cho ai biết.

Hỏi: Lệnh đó có đóng triện son của vua không?

Đáp: Không, đó là một bản sao tôi đã đánh mất tại Phú Quốc.

Hỏi: Ai đã quyết định tấn công đồn Rạch Giá?

Đáp: Ít ngày sau khi nhận lệnh do vị quan chuyển giao, tôi có tiếp tại Hòn Chông Xã Lý (xã trưởng Minh Lương, tên một làng Việt Nam ở Rạch Giá), Quản Cầu người cùng làng và người phụ nữ Thị Bà Đỏ. Ba người này nói với tôi rằng họ đã biết lệnh của triều đình Huế và họ tìm tôi để giục thúc tôi tấn công Rạch Giá, họ quả quyết nhiều lính mã tà sẽ theo về phía chúng tôi. Tôi khước từ quyết liệt, cảm thấy mình không đủ sức đối với một việc lớn lao như thế. Ba người bất bình từ biệt tôi, vừa đe dọa tôi là sẽ cho quân Lang Sa bắt tôi nếu tôi không nghe họ. Tại Hòn Chông, Quản Diêu cho tôi biết viên thanh tra Rạch Giá bắt Quản Cầu, Xã Lý và bà Đỏ. Tên Lượng nào đó lôi thôi với Xã Lý về tiền nợ mới tố giác cho viên thanh tra bắt họ. Quản Diêu nói với tôi rằng khi biết tôi ở Hòn Chông, viên thanh tra sẽ cho người bắt tôi và tôi chỉ còn một quyết định là điều khiển tức khắc cuộc công hãm đồn Rạch Giá. Tôi đi từ Hòn Chông đến Rạch Giá Tà Niên bằng ghe và tôi tập hợp dễ dàng khoảng 100 người, bốn mươi tám giờ sau khi tôi đến, tôi đổ bộ tại Rạch Giá lúc nửa đêm.



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Giêng, 2017, 10:49:04 am

Hỏi: Chú có thứ vũ khí gì?
Đáp: Tôi chỉ có giáo.

Hỏi: Chú có biết các sĩ quan Lang Sa được mách báo trước không?
Đáp: Tên Lượng đã mách báo. Dầu vậy, chúng tôi quả quyết rằng tất cả đều ngủ và không làm được một cuộc biểu dương nào. Lúc bấy giờ là 4 giờ sáng và trời tối đen dầy đặc.

Hỏi: Có lính gác Lang Sa nào canh đồn không?
Đáp: Có 2 lính canh ngủ bên cạnh súng của họ và họ bị hạ sát trước tiên.

Hỏi: Viên thanh tra và viên trưởng đồn bị giết cách nào?
Đáp: Tôi không thể cho biết một chi tiết nào rõ ràng về việc đó. Lệnh là phải giết tất cả người Lang Sa và chỉ sáng ra tôi mới biết được số người chết. Hai viên sĩ quan Lang Sa đã chết từ lâu, họ đã ngã gục ngay từ đầu.

Hỏi: Những lính Lang Sa khi lấy lại bình tĩnh, có họp lại tự vệ không?
Đáp: Có, khoảng 10 người tự vệ trong một giờ, nhưng chúng tôi vây bức quá khiến họ không nạp đạn được ba lần.

Hỏi: Làng có được báo tin về cuộc tấn công này không? Và như vậy trợ lực cho chú là lính mã tà?
Đáp: Chỉ vài dân làng biết, còn những lính mã tà theo hầu viên thanh tra thì không biết, tôi chắc về điều đó nếu họ có đạn để sử dụng không chắc tôi chiếm được đồn.

Hỏi: Ông huyện Hiên có hay biết không?
Đáp: Tôi không biết. Các viên chức làng đã cho tôi hay rằng tôi sẽ dễ dàng chiếm đồn và tôi không hỏi thêm điều gì nữa. Buổi sáng khi mọi người hay tôi thắng trận, tất cả dân chúng và huyện Hiên được dẫn đến do những người Cao Miên. Tôi bảo tập hợp tất cả những lính mã tà và tôi buộc họ theo tôi.

Hỏi: Có mấy người lính Lang Sa thoát khỏi đồn?
Đáp: Năm, bị bắt lại trong buổi sáng. Hai người trong nhóm muốn kháng cự, tôi cho hạ sát. Còn ba người kia bị giam tại nhà làng cùng với những viên chức và những viên thông ngôn trong tòa bố và số người Thiên Chúa giáo.

Hỏi: Tại sao chú ra lệnh giết họ?
Đáp: Không phải tôi và không bao giờ tôi muốn làm vậy. Khi tôi hay tin những đoàn lính Lang Sa tới tái chiếm đồn, tôi đi ra cản chỉ huy, tôi để ông Lâm Văn Ky, con của ông Cai tổng ở Rạch Giá thay tôi.
       Trong lúc đi vắng tôi đã không ra lệnh, ông đã chém đầu tất cả những người Thiên Chúa giáo và ba người Lang Sa (Lâm Văn Ky vừa bị bắt và bị bắn sau khi tái chiếm Rạch Giá).
       Khi tôi trở lại Rạch Giá trước sự đuổi theo của lính Lang Sa, cuộc hạ sát đã gần kết thúc và đến lượt viên thông ngôn Chomb. Tôi cho phóng thích và tôi lên ghe đi.
       Tới đây Nguyễn Trung Trực nhìn qua phía Chomb đang có mặt nói với hắn: "Anh có mặt ở đây để xác nhận rằng tôi đã cứu mạng anh, có thể anh có ảnh hưởng do địa vị thông ngôn của anh. Tôi chỉ yêu cầu anh dùng ảnh hưởng ấy để xin cho tôi được chết ngay".

Hỏi: Tại sao chú cho giết chết nhân viên của sở thâu thuế nha phiến?
Đáp: Hắn đã ra tay trước khi người ta chưa muốn tấn công hắn vì hắn đã giết ba hoặc bốn người Việt Nam, tôi không thể tha thứ cho hắn được.

Hỏi: Vì sao mang cấp bực cao chú lại nghe theo lời của những người có hành tích xấu như Quản Cầu, Xã Lý và bà Đỏ. Tôi không cần nhắc hành tích của 3 người đó, nhứt là bà Đỏ?
Đáp: Tôi không biết họ, tôi tưởng rằng họ được phái từ Huế hay Quảng Nam.

Hỏi: Chú còn nói thêm điều gì không?
Đáp: Tôi cho biết rõ rằng tôi đã tự ý quy thuận lãnh binh Tấn. Khi hắn đến đảo, hắn bảo viết thơ yêu cầu tôi quy hàng, vì chúng tôi bị bao vây trong núi không có gì để sống, tôi bảo một người dân trói tôi và dẫn tôi đến Tấn. Nếu tôi muốn tiếp tục chiến đấu, hắn không bắt tôi được dễ dàng như thế. Tôi luôn luôn nhiệt thành phụng sự đất nước tôi, tôi ngỡ quân Lang Sa không mạnh như thực tế. Nếu tôi biết, có lẽ tôi sẽ cống hiến các chiến công của tôi và tôi dám nói rằng tôi có thể trội hơn lãnh binh Tấn về chiến công. Số phận tôi đã đầy đủ, tôi đã không thành công trong việc cứu nguy nước tôi, tôi chỉ xin một điều là người ta kết liễu đời tôi càng sớm càng tốt và mong rằng người ta cho những đứa con của tôi lên Sài Gòn.

Hỏi: Chú ở đâu khi rời Rạch Giá?
Đáp: Ở Phú Quốc, tôi không đi đâu cho đến ngày tôi bị bắt. Tôi nói rằng Cai tổng Diêu (Cai tổng Phú Quốc) không tự ý theo tôi. Chính tôi bắt buộc ông ta theo và trao cho tôi tiền thuế mà ông chuẩn bị mang về Hà Tiên.

Hỏi: Xã Lý và bà Đỏ hiện giờ ra sao?
Đáp: Có khi trở vào núi và chắc họ sẽ chết đói.

Hỏi: Người Tàu nào bị bắt cùng với chú?
Đáp: Tôi không biết rõ, tôi chỉ biết ông ta theo phe của nhóm Quản Thứ và Xã Ngãi (xã trưởng Phú Quốc), nhóm này đã khởi nghĩa trước khi tôi tới.

Hỏi: Hồi năm 1861 người ta gọi chú là gì?
Đáp: Quản Lịch. Chính tôi làm nổ chiếc tàu đậu tại Nhật Tảo. Kế tôi ra Huế nơi tôi được bổ nhiệm chức Quản cơ và vài năm sau, tôi được phái đến Hà Tiên với chức Thành thủ úy. Lúc đó quân Lang Sa đã chiếm Hà Tiên, tôi và gia đình lui về Hòn Chông.



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Giêng, 2017, 10:50:20 am

Lãnh binh Tấn khẩn khoản nài xin người Pháp ân xá Trực, ông tự xem như kẻ thuộc hạ về lòng can đảm cũng như về sự thông minh; ông bảo đảm rằng người đại đởm phản nghịch này sẽ trở nên một trong số người phục vụ hữu ích và tận tâm nhất.

Đô đốc Ohier không thể tha thứ người không kể gì đến quốc tế công pháp đã cướp một trong những đồn của ông và đã cho giết 30 người Lang Sa.

Đô đốc truyền lệnh đưa Nguyễn Trung Trực về Rạch Giá và phán xử theo án quyết, Nguyễn Trung Trực bị kết án tử hình và bị hành quyết công khai ngày 27 tháng 10 năm 1868.

Lời khai trên của Nguyễn Trung Trực chắc chắn nhiều chi tiết ông cố tình nói sai đi để đánh lạc hướng quân Pháp. Còn những chi tiết nêu lên sự yếu mềm do Pháp chủ tâm thêm vào. Thực dân Pháp thêu dệt những chi tiết như vậy để các thế hệ sau lầm rằng người anh hùng như Nguyễn Trung Trực cũng không giữ trọn lòng trung thành, tức là Việt Nam không có anh hùng.

Vì nếu nghiên cứu và phân tích kỹ các lời khai đó ta thấy nó mâu thuẫn một cách rõ rệt, như ở một chỗ: Tôi ngỡ rằng quân Lang Sa không mạnh như thực tế. Nếu tôi biết, có lẽ tôi sẽ cống hiến các chiến công của tôi.

Thật là khó tin vì người như cụ đã từng chạm trán với quân Pháp từ miền Đông sang đến miền Tây mà lại không rõ binh lực của Pháp.

Tại sao có câu: "Nếu tôi biết, có lẽ tôi sẽ công hiến các chiến công của tôi". Thì lần khác Nguyễn Trung Trực lại nói: "Số phận tôi đã đầy đủ, tôi đã không thành công trong việc cứu nguy nước tôi, tôi chỉ xin một điều là người ta kết liễu đời tôi càng sớm càng tốt".

Hoặc lời ông nói với viên thông ngôn Chomb: Anh có mặt ở đây để xác nhận rằng tôi cứu mạng anh, có thể anh có ảnh hưởng do địa vị thông ngôn của anh. Tôi chỉ yêu cầu anh dùng ảnh hưởng ấy để xin cho tôi được chết ngay.

Thật là mâu thuẫn, một người chiến đấu anh dũng như vậy, tận trung ái quốc như vậy, lại có thể tiếc rằng mình không biết trước sức mạnh của Pháp để theo Pháp!

Có người nghĩ rằng có lẽ lúc đó tinh thần của Nguyễn Trung Trực bị dao động, khủng hoảng chăng? Điều này hoàn toàn không đúng vì chính Piquet nhận xét trong lúc lấy khẩu cung Nguyễn Trung Trực: "Trực tỏ ra tự trọng và đầy khí phách". Hay viên thông ngôn cố ý dịch sai chăng?


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Giêng, 2017, 07:01:21 pm

Câu hỏi 10: Dụ dỗ, thuyết phục không được, Pháp đem Nguyễn Trung Trực ra chém tại chợ Rạch Giá. Cái chết oanh liệt của ông có rất nhiều truyền thuyết. Hãy cho biết về những truyền thuyết này?
Trả lời:


Pháp trường là miếng đất trống có cây đa ở giữa. Miếng đất này nay là Bưu điện thành phố Rạch Giá, còn cây đa đã bị người Pháp chặt năm 1947.
Biết tin Pháp xử chém ông, dân chúng từ các nơi trong tỉnh, kẻ đi bộ, người đi xuồng đến xem buổi hành quyết Nguyễn Trung Trực rất đông, cũng là dịp để họ vĩnh biệt vị anh hùng tài đức mà họ vô cùng cảm mến.

Đao phủ là người Khơ Me tên Tưa, dân chúng thường gọi là bòn Tưa nghĩa là anh Tưa, làm nghề đao phủ độ thân, chém mỗi cái đầu được lĩnh một quan tiền.

Trước khi chém, bòn Tưa bỏ gươm xuống đất, quỳ lạy cụ Nguyễn tỏ lời xin lỗi. Cụ Nguyễn nghiêm mặt bảo: "Mày có tội gì mà xin lỗi, mày thi hành theo lệnh của Tây mà, nhưng nhớ chém tao một nhát cho thật tốt nếu không tao vặn họng mày!".

Bòn Tưa khúm núm nhặt gươm đứng lên, cụ Trực quắc mắt nhìn bọn lính Tây bồng súng gác quanh pháp trường khiến chúng nó rợn người. Các vị kỳ lão thuật lại rằng tướng tinh của cụ mạnh lắm và oai dũng lắm, vì vậy các bà có thai không ai dám đi xem.

Tương truyền rằng trước khi hành quyết cụ Nguyễn, Pháp hỏi cụ có cần gì không, cụ chỉ xin uống một trái dừa tươi. Uống xong cụ ngâm sang sảng bài thơ tuyệt mệnh sau đây:

      Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên,
      Yêu gian đảm khí hữu long tuyền,
      Anh hùng nhược ngộ vô dụng địa.
      Bảo hận thâm cừu bất đái thiên.


Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phát dịch:
      Theo việc binh nhung thuở trẻ trai,
      Phong trần hăng hái tuốt gươm mài.
      Anh hùng gặp phải hồi không đất,
      Thù hận chang chang chẳng đội trời.

Hôm đó là ngày 27 tháng 10 năm 1868, dân chúng chứng kiến tất thảy đều rơi nước mắt, nhiêu cụ già quá xúc động ngã quỵ bất tỉnh.

Đất Kiên Giang sau ngày ấy, gió thảm mưa sầu suốt mấy ngày đêm, đất trời tang tóc, dân chúng ngậm ngùi mến tiếc vị tướng oai hùng bất khuất đến lúc chết.

Hay tin Nguyễn Trung Trực bị Pháp hành hình, Đức cố quản Trần Văn Thành đang dấy binh chống Pháp tại Bảy Thưa, Châu Đốc "bùi ngùi vô hạn, cố truyền cho binh sĩ phải lặng lẽ ba ngày để tưởng niệm vị anh hùng vừa quá cố, lại sai người làm riêng một linh vị, khắc tên họ cụ Nguyễn để lên thờ trên án tướng sĩ trận vong mà Cố đã cho đặt ra ở một bên quân doanh" (Đức Cố Quản của Nguyễn Văn Hầu).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Giêng, 2017, 07:02:56 pm

Ông Huỳnh Mẫn Đạt khóc cụ Nguyễn Trung Trực bằng một bài thơ chữ Hán:

      "Thắng phụ nhưng trường bất túc luân,
      Đồi ba để trợ ức ngư dân.
      Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa,
      Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.
      Nhất đán phi thường tiêu tiết nghĩa,
      Lưỡng toàn vô úy bào quân thân.
      Anh hùng cường cảnh phương danh thọ
      Tu sát đê đầu vị tử nhân".


Triệu Dương dịch nghĩa:
      "Thua được ở chiến trường không cần bàn đến,
      Chỉ nhớ người dân chài đã làm cột đá trong lúc sóng lở.
      Lửa đỏ Vàm Nhựt Tảo vang động trời đất,
      Gươm vung lên ở đồn Kiên Giang làm quỷ thần phải khóc.
      Một buổi sáng phi thường nêu cao tiết nghĩa,
      Không sợ báo đền vua và cha mẹ không vẹn toàn.
      Anh hùng cứng cổ tiếng thơm dài lâu.
      Làm cho bọn chưa chết chịu sống cúi đầu thẹn chết được".

Có người nói rằng giờ phút ra pháp trường của cụ Nguyễn Trung Trực còn oanh liệt hơn những chiến công của cụ. Lời phê bình đó có quá đáng không?

Tất nhiên không thể trả lời suông được mà phải bằng những luận chứng.

Trận Nhật Tảo đốt tàu Espérance và trận đột kích thành Rạch Giá ở Kiên Giang là hai chiến công lớn, giết chết nhiều lính Tây và thu nhiều chiến lợi phẩm. Giữa lúc mà các cuộc dấy binh của nghĩa quân khắp nơi bằng chiến thuật du kích chỉ giết lẻ tẻ vài tên xâm lược thì hai chiến công đó quả là lừng danh.

Nhưng hai chiến thắng trên thì đồng bào không mục kích tường tận vì không ai dám ra tận nơi đang lúc đạn lạc tên bay. Song giờ phút Nguyễn Trung Trực ra pháp trường thật là oai dũng, bất khuất, cảnh này đồng bào Kiên Giang có dịp chứng kiến và đã gây một ấn tượng sâu sắc với lòng cảm phục khôn cùng.

Nhiều vị kỳ lão kể lại: "Lúc ra pháp trường cụ Nguyễn Trung Trực vẫn hiên ngang kiêu dũng, tướng tinh của cụ rất mạnh vì vậy các bà có thai không dám đi xem và khi cụ quắc mắt nhìn bọn lính Tây canh gác quanh pháp trường chúng nó phải run người".

Dũng khí của Nguyễn Trung Trực oai hùng đến nỗi bòn Tưa, tên đao phủ chém thuê phải quỳ lạy và xin lỗi cụ vì nghèo hèn phải làm nghề chém thuê. Lịch sử từ cổ chí kim và từ Đông qua Tây chưa bao giờ thấy một đao phủ quỳ lạy một tử tội. Nhưng điều đó đã xảy ra ở Việt Nam với một Nguyễn Trung Trực.

Cảnh tượng đó làm cho dân chúng Kiên Giang không thể nào quên được và truyền miệng với lòng tôn kính và ngưỡng vọng như thần thánh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Giêng, 2017, 07:03:35 pm

Về cái chết của Nguyễn Trung Trực có nhiều truyền thuyết nhưng trong đó nổi bật nhất là truyền thuyết về chữ Thọ trên tấm chiếu Tà Niên.

Làng Vĩnh Hòa Đông nổi tiếng bởi nghề dệt chiếu Tà Niên, nhất là loại chiếu dệt cải hoa thì càng sắc sảo. Trước năm 1880, chưa có kinh ông Hiển từ Rạch Giá đổ ra sông Cái Bé, hai bên rạch là những bãi bùn chạy dài vô tận, mọc đầy dẫy loại lát gon (cói). Rạch Tà Niên nằm bên hữu ngạn con sông Cái Bé nổi tiếng về nghề dệt chiếu. Người Khơ Me gọi Crò-tiêl. Crò-tiêl là chiếu dệt bằng lác (cói). Có phải từ Crò-tiêl người Kinh phát âm chệnh thành Tà Niên? Thời phong kiến triều Nguyễn, có một xóm gồm người Việt cùng người Khơ Me chuyên sống bằng nghề dệt chiếu, làm nổi danh "chiếu Tà Niên".

Tương truyền trước lúc Pháp đến đô hộ, chiếu ở đây chưa có cải hoa, chưa có nhuộm giang thành màu sắc như bây giờ. Chiếu dệt tuy sắc sảo những vẫn chỉ có một màu trắng ngà bởi màu cói khô mà thôi.

Truyền thuyết về chữ "THỌ" màu đỏ trên mặt chiếc chiếu Tà Niên được kể lại như sau: Vào buổi sáng ngày 27 tháng 10 năm 1868, nhân dân Tà Niên và nhiều nơi khác đổ xô ra chợ Rạch Giá. Vì bọn thực dân Pháp đem cụ Nguyễn Trung Trực ra hành quyết. Cụ yêu cầu chúng cởi trói và không bịt mắt để cụ nhìn đồng bào và quê hương trước phút "ra đi". Bô lão làng Tà Niên đến vĩnh biệt cụ, trải xuống đất một chiếc chiếu thật đẹp cho cụ bước đứng giữa. Cụ hiên ngang, dõng dạc trước pháp trường, nhìn bầu trời, nhìn đất nước và từ giã đồng bào. Đầu của cụ rụng xuống, hai tay cụ đưa lên đỡ lấy, người đứng vững như một trụ đồng. Máu từ cổ cụ phun ra thành vòi rơi xuống mặt chiếc chiếu Tà Niên tinh khiết thành hình một chữ THỌ lớn tựa mặt trời giữa áng mây. Dân Tà Niên mang chiếc chiếu kia về thờ và nghề dệt chiếu ở đây bắt đầu nhuộm giang lẫy hoa hình chữ Thọ như chiếu bông Tà Niên ngày nay.

Đã có một thời người ta tìm kiếm mộ Nguyễn Trung Trực và do đó đặt ra nhiều giả thuyết.

Có người bảo rằng sau khi hành quyết, Pháp đem chôn Nguyễn Trung Trực ở ấp Vĩnh Huy. Lúc bấy giờ nơi đây hoang vu, nhiều lau lách rậm rạp. Tối hôm Nguyễn Trung Trực thọ tử, những nghĩa quân trung thành của ông đã liều chết đào mộ, rồi không biết đưa thi hài ông về đâu.

Có người nói sau khi hành quyết, Pháp cho chôn mình Nguyễn Trung Trực sau dinh tỉnh trưởng, còn đầu ông thì đem bêu trước chợ Rạch Giá. Tối đến nghĩa quân đánh cắp thủ cấp rồi không biết đem chôn nơi nào!

Nhưng có một truyền thuyết đáng tin hơn cả: Sau khi hành quyết, Pháp cho khâm liệm tử tế rồi chôn sau dinh tỉnh trưởng nhưng không rõ chỗ nào. Có người còn kể: Pháp cho trồng lên mộ ông một cây đa. Qua nhiều năm tháng cây đa trở thành cổ thụ và nắm xương tàn đã vun bón cho cây nên người ta lập một cái miếu nhỏ dưới gốc cây đa để thờ. Lời thuật này rất sát với nhiều truyền thuyết về sự hiển linh của Nguyễn Trung Trực diễn ra ở đây, như:

Sau khi chôn, đêm nào Nguyễn Trung Trực cũng hiện về kéo binh gia rầm rộ, khua trống, hò hét vang dậy, bắn súng rền trời khiến bọn lính Tây phải báo động và canh phòng suốt đêm.

Hoặc Pháp cho xiềng xích sắt chung quanh mộ Nguyễn Trung Trực nhưng sáng hôm sau bao nhiêu xích sắt quanh mộ đều đứt tung. Cho làm lại thì cũng đứt như hôm trước (Thực ra ngôi mộ xây gạch theo kiểu Pháp có trang hoàng xích sắt chung quanh và cái mỏ neo sơn đen trước mộ là mả của một viên trung úy hải quân Pháp. Ngôi mộ này bị phá vỡ năm 1945, nay vẫn còn vết tích).

Nào là Pháp cho lính kèn đứng trước mộ cụ mà thổi nhưng khi về trại mấy tên lính này đều hộc máu chết hết.

Các truyền thuyết này thể hiện lòng tưởng nhớ của nhân dân với người anh hùng dân tộc và cũng chứng tỏ mộ thật của Nguyễn Trung Trực là ở sau dinh tỉnh trưởng cũ, bây giờ là Câu lạc bộ Thiếu nhi. Năm 1986 chính quyền tỉnh Kiên Giang đã tìm được hài cốt Nguyễn Trung Trực và di táng gần đền thờ ông tại thị xã Rạch Giá.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2017, 06:27:43 pm

Câu hỏi 11: Tuy xuất thân là một dân chài nhưng Nguyễn Trung Trực đã chứng tỏ một tài năng quân sự xuất sắc. Ông đã thể hiện những tài năng ấy như thế nào?
Trả lời:


Trong hoạt động quân sự, Nguyễn Trung Trực sớm tỏ ra là một vị thủ lĩnh xuất sắc trong phong trào nghĩa quân kháng chiến chống Pháp.

Thuở ban đầu trai trẻ, ông thường giúp cha chài lưới ven sông nên người trong vùng thường gọi là chài Lịch. Lại vốn gốc quê Bình Định nên ông có võ nghệ cao cường. Trong quyển "Bốn anh hùng kháng chiến Miền Nam" của Thái Bạch, ở phần kể chuyện "Nguyễn Trung Trực anh hùng dân tộc kháng chiến ở Rạch Giá" có chép lời thuật của ông Cả Nhiêu ở làng Bình Trinh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An) như sau: "Hồi ấy, tôi còn nhỏ, tôi không biết rõ lắm về ông Nguyễn, vả lại ông Nguyễn đóng ở miệt này không lâu. Tuy vậy hồi ông già tôi còn sống, thỉnh thoảng trong khi nói chuyện với con cháu, ông lại nhắc đến ông Nguyễn. Theo tôi thì ông Nguyễn sau khi thất trận về đây có ở lại ấp tôi ít lâu. Ông người cao lớn khỏe mạnh, nước da bánh ít, gương mặt vuông, hai mắt to và sáng, ông giỏi nghề võ lắm. Lúc quân Pháp mới sang, tại làng này có nhiều kẻ bất lương nổi lên làm trộm cướp. Nhưng khi ông tới, bọn chúng đều tan hết. Ông có oai, nên quân sĩ kinh sợ nhiều lắm. Trong những ngày ông bí mật hoạt động ở đây, ông già tôi vì nhà cũng khá giả nên cũng giúp ông rất nhiều về tiền gạo để nuôi quân đánh giặc".

Đến tuổi tráng niên, Nguyễn Trung Trực tham gia vào phong trào mộ quân đồn điền của triều Nguyễn do Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương lãnh đạo và có lẽ do nhờ tài võ nghệ mà được thăng chức đội (Tài liệu của P.Vial - một nhà sử học cho biết: Nguyễn Văn Lịch giữ chức Đội trong đạo quân đồn điền do Trương Công Định chỉ huy). Pháp xâm lược Việt Nam, đem quân đánh đại đồn Chí Hòa, Nguyễn Trung Trực đã hăng hái chiêu mộ được một số nông dân vào lính để gìn giữ đại đồn Chí Hòa, dưới quyền chỉ huy của Trương Định. Chí Hòa thất thủ, ông lui quân về vùng Tân An hoạt động và nơi đây đã ghi dấu chiến công đốt tàu Hy Vọng trên vàm Nhật Tảo.

Dù hai truyền thuyết đánh tàu Espérance được kể lại khác nhau nhưng tựu trung đều nói lên mưu lược của Nguyễn Trung Trực và lòng dũng cảm của nghĩa quân.

Tàu Espérance là một tàu gỗ có chỗ được bọc đồng chạy bằng hơi nước, có thể ra vào những luồng lạch cạn. Dưới tàu có trang bị một khẩu đại bác với 25 quân lính Pháp và lê dương đầy đủ súng ống, đạn dược. Trong khi đó nghĩa quân chỉ có giáo mác, gậy gộc, vì vậy chỉ có thể nhân lúc địch bất ngờ mà tiêu diệt địch, không cho chúng kịp phản ứng. Tàu Espérance lại đậu ngang một cái đồn trên bờ có hơn 20 lính mã tà có thể hỗ trợ cho nhau vì thế phải làm thế nào để cách ly sự phối hợp tiếp ứng trên bờ và dưới nước.

Chiến thuật đột kích thần tốc đòi hỏi:

- Nắm vững tình hình địch, hiếu thực lực của ta (tương quan lực lượng). Để nắm vững về địch, ông đã đóng giả làm thợ mộc giúp chúng dựng mái che nắng nhằm có cơ hội tận mắt nhìn thấy lực lượng cũng như cách bố trí, quy luật hoạt động của chúng. Những điều này đã giúp ông vạch ra kế hoạch dùng con cúi bằng rơm để đốt tàu. Đồng thời Nguyễn Trung Trực đã huy động nhân dân trong vùng chờ đúng 12 giờ trưa (giờ Ngọ) ngày 10 tháng 12 năm 1861, đánh chiêng, mõ, thổi tù và làm vang rền trên bò sông để chọc tức địch. Tên trung úy Parfait, thuyền trưởng tàu Espérance nghe thấy, tức tối liền xua phân nửa số quân dưới tàu xuống ca-nô vào bờ cùng với đám lính mã tà truy đuổi. Đoàn người chiêng, mõ, tù và cứ tiếp tục gây tiếng động càng âm vang hơn và lùi dần sâu vào các kinh rạch. Parfait lại càng thêm nổi giận, cho lính rượt sâu vào nữa. Chỉ chờ có vậy, ngoài sông Vàm Cỏ, Nguyễn Trung Trực chỉ huy cuộc "hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa".

- Phải tạo yếu tố bất ngờ. Trận đánh diễn ra vào đúng 12 giờ trưa là thời gian bọn địch bị cái nóng hun đốt làm cho mệt mỏi, mất cảnh giác nhất. Nghĩa quân lại cải trang giả làm một đám ghe buôn (truyền thuyết thứ nhất) hay một đám rước dâu (truyền thuyết thứ hai) làm lính gác địch tò mò mà thiếu đề phòng. Nguyễn Trung Trực lại dùng kế hỏa công lấy con cúi rơm để đốt tàu địch, tàu chiến vốn là thứ chứa nhiều dầu máy lại lắm thuốc đạn nên gặp lửa thì không cách gì cứu được, dù địch có đem quân về cứu thì cũng không kịp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2017, 06:28:16 pm

Kết quả của trận hỏa công, nghĩa quân hạ sát 17 lính Pháp và hạ 20 lính mã tà chiếm giữ một cái đồn trên bờ sông ngang chỗ tàu Espérance bị đốt cũng bị diệt gọn. Chiến công đốt tàu Espérance tác động mạnh đến tinh thần chiến đấu của nghĩa quân vì từ nay nghĩa quân không còn xem tàu chiến của Pháp là bất khả xâm phạm nữa và tin tưởng tầm vông, mã tấu cũng là vũ khí tinh nhuệ nếu biết kết hợp với mưu lược và nghiên cứu tường tận địa hình địa vật.

Chiến thuật đột kích bất ngờ sau khi đã nghiên cứu kỹ về địch này được Nguyễn Trung Trực áp dụng thành công một lần nữa trong trận đánh thành Kiên Giang.

Có một số sách ghi lại các chi tiết như sau: Việc đánh thành Kiên Giang thật bất ngờ. Bất ngờ vì Pháp không biết trước hoặc biết trước mà không tin nghĩa quân đủ sức tấn công đồn.

- Ngày 17 tháng 6 năm 1868, trong chuyến kinh lý miền Tây, thiếu tướng hải quân Ohier khi đi qua Sóc Trăng hay tin Quản Nhơn nhóm nghĩa quân ở Sân Chim, định tập kích Rạch Giá. Đồn Rạch Giá được báo tin nhưng khốn thay đã trễ. Ngày hôm sau, 18 tháng 6, một điện tín gởi đi từ Vĩnh Long đến Mỹ Tho báo rằng Rạch Giá đã bị chiếm.

- Ông cai tổng người công giáo là Nguyễn Văn Ngươn mách tin cho người Pháp biết đồn Rạch Giá sẽ bị đánh nhưng họ không chú ý đến lời ông ta, ông và gia đình đi trốn trong bãi sậy cho đến khi quân Pháp trở lại.

- Theo ông Gilbert Chiếu Tri phủ danh dự ở Rạch Giá, viên thanh tra cũng đã được báo tin do ông cai tổng người Cao Miên. Ông này được viên thanh tra phái đi Tà Niên xem sự việc xảy ra ở đây nhưng ông ta không trở lại vì bị giết ngày hôm trước cuộc tấn công (theo Abrégé de l’histoire d'annam của Alfred Schreiner).

Nguyễn Trung Trực được bà Điều, bà Đỏ giúp sức ly gián thành lính Tây và đồn lính mã tà, nếu không thì nghĩa quân của ông phải bị phân tán lực lượng do đồn mã tà tiếp ứng cho đồn Rạch Giá.

Trong trận đánh này, nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực chỉ dùng gươm giáo, tuy tương quan lực lượng rất chênh lệch về quân số và vũ khí nhưng nghĩa quân đã thắng nhờ biết tận dụng ưu thế bất ngờ, đây chính là chỗ thể hiện tài năng quân sự xuất sắc của Nguyễn Trung Trực.

Tuy nhiên, nếu việc xem xét tài năng quân sự của ông chỉ dừng lại ở các trận đánh sẽ là thiếu sót, phiến diện...

Những di tích, di vật hiện còn lại trên đất Kiên Giang hiện nay giúp chúng ta nhận ra Nguyễn Trung Trực, một tài năng quân sự xuất sắc, toàn diện trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Một trong những đặc trưng về tài năng quân sự nữa của Nguyễn Trung Trực, trước hết phải kể đến việc chọn lựa căn cứ địa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2017, 06:55:12 pm

Sau khi triều đình Tự Đức mất 3 tỉnh phía đông đất Nam Kỳ, Nguyễn Trung Trực đã sớm đưa nghĩa quân về Rạch Giá lập căn cứ. Việc lựa chọn căn cứ địa trên đất Rạch Giá trong hoàn cảnh lúc bấy giờ cho thấy ông có một cách nhìn xuyên suốt trên cơ sở quán xuyến toàn cục. Đó là một sự lý giải thông minh đầy sáng tạo, bởi lúc này ba tỉnh miền Tây chưa bị Pháp chiếm. Vào thời kỳ này, vùng đất từ bờ Tây sông Hậu còn rất hoang sơ. Cả khu vực này (tính từ biên giới Việt Nam - Campuchia đến tận mũi Cà Mau) còn nằm chung trong một đơn vị hành chính là trấn Hà Tiên, dân số chưa đầy 160.000 người. Mối quan hệ xã hội của con người ở đây còn dựa vào lệ hơn là pháp luật, hiệu lực hành chính quốc gia còn rất đơn sơ.

Riêng về dân cư ở Kiên Giang chỉ mới hình thành 4 cụm chính: Là các cụm Hà Tiên - Hòn Chông, Rạch Giá - Tà Niên, Giồng Riềng - Bến Nhứt và cụm Sóc Ven - Gò Quao. Phía bên kia sông Cái Lớn mới manh nha hình thành cụm Ba Đình - Cái Nứa mà chủ yếu là người của Sóc Ven - Gò Quao lấn sang và một cụm khác từ bờ tây sông Hậu tràn lên. Các cụm dân cư này sống tương đối tách biệt nhau vì thời đó không có đường bộ, hơn nữa vùng này vốn nổi tiếng là khốn khó:

      U Minh khốn khó quá chừng
      Xuống sông sấu bắt, lên rừng cọp tha.


Tóm lại, vùng đất Kiên Giang lúc này thật sự là một căn cứ địa hội đủ các yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là một vùng rừng núi bao la, địa hình hiếm trở rất thuận lợi cho nghĩa quân trong tình hình mà tương quan lực lượng quá thiếu cân xứng. Nơi đây các cụm dân cư vừa mới hình thành, giàu tiềm năng kinh tế, là nhân tố hậu phương quân đội khá ổn định. Chính hậu phương quân đội là điều kiện cần và đủ, có khả năng quyết định vận mạng của cuộc kháng chiến. Nếu xét toàn cục vào thời này, sự lựa chọn lập căn cứ để kháng chiến nơi đây của Nguyễn Trung Trực quả là một sự lựa chọn mang tính tuyệt đối.

Tài năng quân sự của Nguyễn Trung Trực còn bộc lộ qua phương châm tổ chức các cứ điểm trong hệ thống bố phòng. Mô hình các cứ điểm trong hệ thống này đều có chung các yếu tố cơ bản thường xuyên cấu tạo nên nhân tố hậu phương: dân cư, giao thông và địa hình.

Yếu tố dân cư trên tuyến bố phòng này được Nguyễn Trung Trực coi trọng vào bậc nhất. Chính vì vậy mà trong quân đội của ông có nhiều người Hoa, người Khơ Me, đặc biệt là có phụ nữ và quan lại của triều đình. Yếu tố giao thông (đường thủy) tại địa hình nhiều sông rạch ở Kiên Giang lúc này chính là yếu tố quyết định tính cơ động của đội ngũ.

Yếu tố địa hình trên hệ thống bố phòng của Nguyễn Trung Trực tỏ ra là một lợi thế tuyệt đối của nghĩa quân, nhất là trong lúc này người Pháp còn trong tình trạng chân ướt chân ráo. Địa hình ở đây có ý nghĩa là hậu phương của nghĩa quân, nơi binh sĩ vừa tăng gia sản xuất vừa đánh giặc.

Nhìn vào hệ thống bố phòng của Nguyễn Trung Trực, chúng ta dễ dàng nhận ra những điển hình đặc sắc của ông qua mỗi cứ điểm bất kỳ trên vùng đất Kiên Giang này.

Chẳng hạn, tại căn cứ bên bờ sông cửa Cạn ở đảo Phú Quốc, ông đặt một cụm quân ở Ba Trại Ngoài để bám biển, giữ vàm sông. Ba Trại Trong tựa lưng vào dãy núi Hàm Ninh. Đoạn giữa sông cửa Cạn là một xóm làng dân cư sung túc mà họ vốn là người nhà của nghĩa quân.

Ở bất cứ đâu trên đất này, ông cũng quan tâm đến câu thực túc binh cường. Những địa danh Rẫy Mới ở Hòn Chông, Xóm Rẫy ở đảo Phú Quốc, Ba Đình, Hốc Hỏa thuộc địa bàn huyện An Biên và Vĩnh Thuận ngày nay chính là những dấu vết, nơi mà xưa kia nghĩa quân phá rừng thực hành tự túc, tự cấp.

Qua việc khảo sát quan điểm về căn cứ địa, phương châm tổ chức quân đội cũng như việc tổ chức các trận đánh của Nguyễn Trung Trực, rõ ràng ông là một tài năng quân sự xuất sắc, toàn diện. Vì vậy, dù đứng ở góc độ nào để cảm thức lịch sử, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra bản lĩnh của con người Nguyễn Trung Trực.

Thời thế tạo anh hùng, trong trường hợp của Nguyễn Trung Trực, thời thế đã tạo ra ông nhưng tất yếu lịch sử đã đưa ông vào lịch sử ở ngôi vị một tài năng quân sự không gặp thời. Đành rằng con người làm nên lịch sử, song họ không thể cải tạo được tất yếu của nó. Tất yếu trong thời đại của Nguyễn Trung Trực đồng thời là bi kịch lịch sử của ông. Và dĩ nhiên, lịch sử ghi nhận ông như một biểu hiện của lòng trung can nghĩa khí, một tính cách anh hùng, một phẩm chất cao đẹp tỏa sáng cùng năm tháng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2017, 07:00:49 pm

Câu hỏi 12: Có thể nói Nguyễn Trung Trực là một người tài đức vẹn toàn. Hãy cho biết những tố chất nổi bật của ông?
Trả lời:

Có thể nói, Nguyễn Trung Trực là con người của thời đại mang màu sắc lịch sử đậm nét nhất trong thế kỷ XIX của dân tộc. Ông mạnh mẽ mở màn cho công cuộc chống Pháp đầu tiên ở miền Tây Nam Bộ. Thực lực của ông không nhiều, không mạnh mà chiến thắng kẻ thù có đầy đủ vũ khí tối tân, quân đông, thế mạnh. Đó là tính cách đặc biệt của vị anh hùng trẻ tuổi này.

Nguyễn Trung Trực có thân hình vạm vỡ, sức lực cường tráng và khỏe mạnh. Lúc còn nhỏ, ông giỏi lặn hụp, bơi lội dưới sông nước. Ông thường đi vào mương đìa, kinh rạch lặn bắt cá. Lúc nào ông bắt cá cũng hơn mọi người, có khi thừa ăn còn bán để mua gạo. Tài võ nghệ của ông được nhiều người nể phục và có không ít truyền thuyết dân gian về điểm này:

Ông dạy võ cho nghĩa quân để đánh giặc ở các trường võ như Tà Niên, Hòn Chông, Sân Chim... Có một hôm ông đang dạy võ cho nghĩa quân ở Tà Niên, ông thấy đàn quạ đậu bên kia bờ rạch (rạch Tà Niên rộng hơn 10 thước), ông liền biểu diễn cho nghĩa quân xem bằng cách ông dùng roi chống bật người từ bờ rạch bên này sang bờ rạch bên kia, khi rơi xuống đất vẫn đứng vững, hai tay nắm hai con quạ, gương mặt không lộ vẻ gì mệt mỏi cả.

Đêm đánh đồn Kiên Giang, nghĩa quân nằm phục kích bên vách đồn chờ giờ hành động, thì có một con rắn mái gầm to từ xa bò đến, nó ngóc đầu toan mổ nghĩa quân. Từ xa nhìn thấy, ông liền phóng mình tới, một tay nắm đầu một tay nắm mình, ông bứt ra làm đôi rồi quăng đi.

Trong lúc đang tấn công đồn Tây Kiên Giang, có hai tên lính Pháp chĩa súng vào ông định bắn. Nhưng chưa kịp bóp cò thì ông phi thân đến, nắm đầu hai thằng đánh "cốp" vào nhau một cái, sọ chúng vỡ ra, giẫy giụa chết luôn.

Có một truyền thuyết khác nói: Khi ở Phú Quốc, nghĩa quân bị Pháp bao vây toàn đảo, cấm không cho ai giúp đỡ nghĩa quân. Nếu ai giúp đỡ hay liên hệ gì với nghĩa quân sẽ bị tù đày hoặc tử hình, bêu đầu giữa chợ... Lúc bấy giờ nghĩa quân lâm vào cảnh đói khát. Ông liền tổ chức nghĩa quân cùng ông đi ra biển bắt cá về ăn. Trong lúc thuyền đang rẽ sóng trên mặt biển, ông thấy bầy cá mập đang lội, ông liền cầm đao nhảy xuống biển rượt giết được cá quăng lên thuyền.

Lại còn một chuyện nữa cũng không kém phần sinh động, khi nghĩa quân cũng đang lâm vào tình trạng đói khát, ông lo lắng và tìm cách giải quyết thì có một nghĩa quân chạy đến báo với ông rằng hiện giờ có một bầy trâu rừng (Bà Nam Giao là người ở đất liền ra đảo Phú Quốc sinh sống, đem trâu theo nuôi, chúng sinh sản rất nhiều. Trước khi bà chết, bà bảo người nhà thả hết trâu lên rừng. Vì thế mà trở thành bầy trâu rừng) đang ăn cỏ ở sườn đồi. Ông liền cho nghĩa quân tổ chức vây bắt. Đàn trâu bị động chạy tuốt lên rừng chỉ còn hai con lọt xuống đìa, có một con cố vượt lên bờ, ông vội đuổi theo nắm được đuôi nó, nó lôi ông theo. Khi đến gần một cây to, ông liền quay đuôi nó vào thân cây và hai chân ông dang ra ngáng vào gốc cây. Con trâu đang chạy ngon trớn bỗng bị khựng lại, nó quay đầu húc ông. Thừa cơ hội đó, ông nắm hai sừng lôi nó xuống đìa nhận nước. Lúc đó nghĩa quân tràn đến giết được cả hai con trâu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2017, 07:01:39 pm

Nghiên cứu qua nhiều tài liệu, chúng ta không tìm thấy Nguyễn Trung Trực gia nhập vào đội ngũ quân Dinh Điên của Khâm sai Tổng Quân vụ Nguyễn Tri Phương vào năm nào? Nhưng lại biết chắc rằng khi quân Pháp chiếm lấy Gia Định (18-2-1859) thì Nguyễn Trung Trực đã có mặt trong quân ngũ (dưới quyền chỉ huy của Quản cơ Trương Định) và đã giữ chức Quyền sung Quản binh đạo (lúc này ông mới 21 tuổi). Sau đó 2 năm, ông đã tham gia trận đánh đại đồn Chí Hòa (25-2-1861). Quản cơ Trương Định cho ông cai quản một đội nghĩa quân trấn giữ vùng Long An, kiểm soát khu rộng lớn vùng ba biên (Tây Ninh, Bến Lức, Gò Công). Cũng trong năm này ông mở một chiến công oanh liệt là đốt cháy tàu Espérance của Pháp tại vàm sông Nhật Tảo. Qua năm sau (1862), ông được vua Tự Đức sắc phong chức Quản cơ tỉnh Bình Thuận (Có tài liệu nói vua Tự Đức sắc phong cho ông chức Quản cơ Bình Thuận năm 1863 hoặc 1864).

Nhìn ngược lại thời gian để ước định sự nghiệp quân sự của Nguyễn Trung Trực thì ta có thể cho rằng: ông đầu quân sớm nhất cũng là vào lúc 17 hay 18 tuổi. Với số tuổi đó và chỉ có năm, sáu năm binh nghiệp mà thăng tiến rất nhanh, giữ nhiều chức vụ quan trọng để rồi sau này trở thành lãnh tụ kiêu hùng chống Pháp ở miền Nam và đã làm cho kẻ thù vô cùng khiếp sợ. Vậy hẳn ông là người tài ba thao lược lắm thì mới đạt được những thành tích lớn lao ấy. Và rồi điều này còn được minh chứng thêm khi bảy năm sau ông lại tạo nên một thành tích vẻ vang nữa là đánh chiếm đồn Tây Kiên Giang (16-6-1868), đột kích ngay chỗ chúng có binh lực nhiều, phòng vệ nghiêm ngặt, giết chết tên chủ tỉnh Chánh Phèn và một số sĩ quan khác nữa.

Hai chiến tích "Nhật Tảo" và "Kiên Giang" đã làm tên tuổi Nguyễn Trung Trực vang lừng cả nước, chứng tỏ ông là người tuổi trẻ tài cao, am tường chiến thuật, chiến lược để đi đến thành công.

Về chữ TRUNG, chữ HIẾU của Nguyễn Trung Trực có rất nhiều tài liệu đã khẳng định ông là một con người thể hiện trung hiếu vẹn toàn:

Xét qua bối cảnh lịch sử thời Tự Đức, tình hình trong nước cực kỳ rối rắm bởi làn sóng xâm lược từ phương Tây ồ ạt tràn vào phương Đông chinh phục để tìm thuộc địa, nên nước ta bị ảnh hưởng nặng nề sự cai trị của thực dân Pháp.

Nguyễn Trung Trực sinh vào thời đại này. Lớn lên ông đã nhìn thấy cái nhục vong quốc trước mắt, ông không thể ngồi yên, đứng nhìn. Nên dù còn rất trẻ, ông xin mẹ đi đầu quân để góp phần cứu nước. Nhưng chí nguyện không thành bởi thế lực quân thù quá mạnh, phương tiện chiến tranh quá hiện đại nên áp đảo được các lực lượng chống pháp ở địa phương, bên cạnh đó còn do triều đình nhà Nguvễn quá nhu nhược sớm đầu hàng bọn Lang Sa (Lang Sa là cách gọi tắt chỉ chung bọn thực dân Pháp, phiên âm từ chữ France thành Phú Lang Sa), ký nhượng đất đai miền Nam để cho chúng có cơ hội thôn tính luôn toàn cõi đất nước.

Không thành công cũng thành nhân dù Nguyễn Trung Trực bị chúng hành quyết khi còn quá trẻ (30 tuổi). Ông chết nhưng gương trung dũng của ông sáng chói như sao Bắc Đẩu để cho hậu thế soi chung.

Hãy nghe những lời ông nói sau đây với bọn Pháp, đầy trung dũng, nghĩa khí:

Nói với Piquet: "Số mạng tôi đến đây đã đủ rồi, tôi muốn cứu nước tôi mà không thành công, tôi xin truất sự sống của tôi càng sớm càng tốt".

Quân Pháp biết ông có tài, có uy tín với nhân dân, chúng muốn lấy chức tước, tiền bạc để khuyên dụ. Nếu ông chịu làm việc cho Pháp thì chúng sẽ phong cho chức phó soái. Nguyễn Trung Trực cười và khảng khái nói: "Tụi bây kiếm cho tao chức nào mà chức đó tao chặt hết được đầu mấy thằng Tây thì tao mới làm, chứ chức phó soái tao không màng đâu".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2017, 07:03:05 pm

Khi Pháp bắt được ông đem nhốt vào khám lớn Sài Gòn, tên chánh soái Tây muốn biết tường tận ông là người như thế nào nên vào khám gặp ông. Trước tiên hắn dùng lời lẽ ngọt ngào khuyến dụ nhưng không được hắn mới xẵng giọng nói: "Ông Trực nè! Dù ông có sống hay chết thì binh lực của Pháp cũng đã tận diệt hết quân phiến loạn của xứ sở này rồi...".

Nguyễn Trung Trực mỉm cười, liền đưa tay chỉ ra ngoài sân cỏ và ôn tồn nói với viên chánh soái rằng: "Thưa Pháp soái: Chúng tôi tin chắc rằng, chừng nào ngài trừ hết cỏ trên mặt đất này thì chừng đó ngài mới mong trừ hết những người ái quốc của xứ sở này mà ngài giận dữ gọi họ là quân phiến loạn".

Tại pháp trường, chỉ còn vài giây phút nữa là tới giờ hành quyết, viên thanh tra Piquet hỏi:

- Ông Trực! Vào giờ phút cuối cùng, ông có muốn nói lời gì nữa không?

- Tôi muốn các ông xử tử tôi càng sớm càng tốt - Nguyễn Trung Trực khẳng khái trả lời.

Lúc ở Phú Quốc, khi trận chiến đấu đến hồi cực kỳ sôi động thì vợ Nguyễn Trung Trực đến ngày sinh nở. Lúc bà sinh không có ai săn sóc thuốc thang, vì cả trai lẫn gái đều phải ra sức chiến đấu với kẻ thù, nên sau khi sinh được bốn ngày bà kiệt sức rồi chết. Ông hay tin về lo chôn cất bà xong, liền mang con lên rừng tìm bọng cây to đặt con vào đó. Xong xuôi, ông trở ra để lo chỉ huy cuộc chiến. Đội cận vệ thấy ông vội hỏi:

- Thưa Chủ soái! "Công tử" ra sao rồi ạ?

- Mọi việc đã xong rồi. Các người có thương ta và con ta thì hãy đánh giặc cho thật giỏi, giết giặc cho thật nhiều đi... - Ông vội trả lời.

Lúc tình hình hết sức nguy ngập, quân Pháp càng lúc càng siết chặt vòng vây, chúng mong giết hay bắt sống được Nguyễn Trung Trực, ông liên họp nghĩa quân lại mà nói với họ rằng: "Gặp lúc gian nan này ta khó lòng địch nổi với quân xâm lược. Ta tổ chức mọi người đi đánh giặc. Bây giờ ta cho phép mọi người được tự do ra về với gia đình. Còn ta một mình quyết sống chết với quân thù một trận cuối cùng. Ta không thể vì lý do gì mà đầu hàng quân giặc. Ai cùng lòng với ta hãy xách gươm đứng dậy mà đi...

Sau đó ông gom hết lương thực còn lại liệng xuống sông và rút gươm chỉ thẳng lên trời nói lớn: "Ta thề cùng trời đất nếu không thắng trận này xin chết tại trận này. Trời đất hãy chứng giám cho"1.

Đọc qua những lời trích lược trên đây chúng ta đã thấy rõ lý tưởng cao cả của Nguyễn Trung Trực là suốt đời chỉ mong dâng hiến cho Tổ quốc, xả thân vì nước mà không thành công thì lấy cái chết đền bù để thành nhân.
____________________________________
1. Theo tham luận của ông Bùi Văn Thạnh, Giám đốc sở Văn hóa thông tin Kiên Giang, đăng trong Thân thế sự nghiệp Nguyễn Trung Trực, trang 157.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2017, 07:03:33 pm

Có nhiều truyền thuyết nói ông là người con rất chí hiếu. Ông rất thương yêu và kính trọng mẹ. Chúng ta hãy nghe các bậc kỳ lão nói về đức tính hiếu đạo của ông như sau:

Sau khi cha mất, để lại một đàn con thơ dại, bà mẹ phải tảo tần hôm sớm để lo cuộc sống thật là vất vả. Nguyễn Trung Trực thấy mẹ cực nhọc quá mà thương xót, nên mọi việc nặng nhọc ông đều giành làm và giúp đỡ mẹ lo nuôi nấng đàn em. Ở vùng sông rạch Long An, đa số dân chúng sống với nghề nông và nghề chài lưới. Gia đình quá nghèo không thể sắm được phương tiện để bắt cá như chài, nôm, lưới... Ông chỉ dùng tay bắt. Ông bắt cá hàng ngày, còn thừa đem bán để mua gạo ăn. Chỉ mới mười mấy tuổi đầu mà ông biết giúp đỡ mẹ, bao bọc đàn em đến ngày khôn lớn.

Lúc ở Hòn Chông, mẹ bệnh, ông đang săn sóc thuốc men thì có một số lãnh tụ nghĩa quân đến bàn với ông về việc đánh đồn Tây Kiên Giang. Ông một tay vịn đốc kiếm, một tay quạt nồi thuốc, còn miệng luôn bàn việc nước non... Các lãnh tụ nài nỉ ông lên đường về Kiên Giang chỉ huy việc đánh chiếm đồn vì thời cơ rất thuận lợi bởi có Quản Cầu chỉ huy đội mã tà đồn Kiến Giang chịu làm nội ứng, chắc chắn sẽ thành công. Thấy mẹ còn bệnh ông không đành ra đi, nên ông viện lẽ chưa thuận lợi, chưa điều nghiên rõ tình hình địch mà thoái thác. Bà mẹ nằm trên giường nghe được tất cả sự việc bà cũng đã hiểu ý ông, nên bà khẳng khái bắt buộc ông phải đi ngay, nếu không bà sẽ tự tử ngay. Ông sợ quá đành phải sửa soạn hành lý ra đi.

Ở trong quân ngũ ông cũng thường nói với nghĩa quân về chữ hiếu như sau: "Thân ta mà có là do cha mẹ tạo ra. Cha mẹ là trời đất. Nếu làm con mà quên công ơn cha mẹ, bất hiếu với cha mẹ là lỗi đạo, không xứng đáng làm con người nữa". Bởi thế nên nghĩa quân nào đến xin phép về thăm cha bệnh, mẹ đau đều được ông cho về ngay.

Lúc ở Phú Quốc, quân Pháp dùng mọi cách cũng không thể nào bắt hay giết được ông. Cuối cùng chúng dùng kế thâm độc bắt mẹ ông để buộc ông phải ra hàng. Tên Huỳnh Công Tấn lấy chỗ bạn bè xưa kia, viết thư báo tin cho ông biết là mẹ của ông đã bị Pháp bắt rồi, nếu ông chịu ra hàng thì Pháp chẳng những tha mẹ ông ra mà còn ban chức tước cho ông nữa. Nhận được thư này ông quá đỗi đau lòng, tư tưởng có phần chao đảo... Bấy giờ tình hình nghĩa quân rất bi đát: lương thực dần dần cạn, súng đạn dần dần tiêu hao. Dân chúng toàn đảo cũng bị ảnh hưởng vì chúng bao vây không cho đất liền cung cấp lương thực. Dân chúng phải chịu cảnh đói khát, nghèo khổ cùng cực. Giờ đây mẹ cũng bị chúng bắt giam cầm chốn lao tù?... Qua nhiều đêm suy nghĩ, đắn đo, ray rứt..., cuối cùng ông quyết định ra "hàng" để giải quyết mọi vấn đề cấp thiết.

Chúng đón tiếp ông một cách rất kính trọng, rồi vội vàng đưa ông về Kiên Giang, ở dưới tàu ông nóng lòng muốn gặp mẹ. Bọn Pháp viện lý này lẽ nọ không cho gặp. Ông nằng nặc đòi chúng phải đưa mẹ đến cho ông gặp. Cuối cùng chúng đành thú nhận là không có bắt bà và cũng không biết bà ở đâu nữa. Vỡ lẽ, ông biết mình đã lầm quỷ kế, âu cũng là số mệnh?

Nguyễn Trung Trực có "đầu hàng" cũng vì cái chung cao cả hơn. Cái chung ở đây là dân chúng Phú Quốc và lực lượng nghĩa quân đang dần dần suy yếu, hay có thể hiểu là đời sống và điều kiện chiến đấu đang lùi dần vào ngõ cụt. Thử nghĩ cố kéo dài cuộc chiến thì chắc chắn kết quả sẽ thê thảm hơn nhiều... Như vậv, hành động của Nguyễn Trung Trực ra "đầu hàng" cũng chỉ là một mưu lược thông minh để giải quyết những vấn đề trọng đại cấp thiết. Sau khi giải quyết xong rồi, ông trở lại bản chất của một vị anh hùng thà chết chứ không đầu hàng giặc, không làm tay sai cho giặc để bảo tồn khí tiết, bảo tồn truyền thống anh hùng chống giặc ngoại xâm của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Giêng, 2017, 11:11:58 pm

Câu hỏi 13: Nguyễn Trung Trực hy sinh nhưng chí khí của ông khiến cho kẻ thù cũng phải kính phục, triều đình và dân chúng tiếc thương. Hãy cho biết những lời kẻ thù và dân chúng nói về ông?
Trả lời:


Chúng ta hãy nghe một số người Pháp nhận định về Nguyễn Trung Trực như sau:

Piquet: Trong biên bản hỏi cung Nguyễn Trung Trực, phần nhận xét có ghi: "Một con người đã sa vào tay chúng ta rồi mà vẫn tỏ ra nhiều phẩm chất và đầy nghị lực".

Trong một phần khác Piquet viết: "Ông này (Trực) tỏ ra đầy khí phách và cương nghị''.

Paul Vial đã viết: "Nguyễn Trung Trực là người tự trọng, có tư cách đáng quý và đầy nghị lực."

Trong phần nhận xét khác cũng P. Vial viết: "Nguyễn Trung Trực là người chỉ huy trẻ tuổi đầy gan dạ đã tỏ ra có tinh thần dũng cảm, chỉ huy linh hoạt, sáng tạo và mưu trí hơn người. Chống nhau với ta ngót mười năm trời trước khi bị ta bắt".

Những lời nhận xét trên đây đã khắc họa rõ nét khí phách anh hùng của Nguyễn Trung Trực. Ngay cả khi đã sa vào tay giặc ông vẫn thể hiện lòng can đảm quật cường của mình dù ở hoàn cảnh ngặt nghèo như:

Paul Vial kể: "Trong khi đại úy hải quân Piquet, thanh tra bổn quốc sự vụ chất vấn ông Trực, ông Trực tỏ ra rất cương quyết và rất đàng hoàng chính đáng. Các câu trả lời của ông đã cho thấy một cách chính xác phẩm chất của con người đó, người đã đóng một vai trò đáng kể".

Trong lúc bị hỏi cung, ông nói với viên thanh tra Piquet rằng: "Số mạng tôi đến đây đã đủ rồi, tôi muốn cứu nước tôi mà không thành công, tôi xin truất sự sống của tôi càng sớm càng tốt".

Anfred Schreiner cho biết: "Trong suốt thời kỳ bị giam cầm, ông Trực không có lúc nào tỏ ra yếu đuối cả, một cách thẳng thắn và đàng hoàng, ông công nhận các chiến công của ông và cũng nhận là đã khinh thường sức mạnh của Pháp. Ngoài ra, ông chỉ yêu cầu ban cho ông một ân huệ, ấy là được xử tử ông ngay tức khắc”.

Lần khác ông nói với tên Chomb (Chính là viên thông ngôn của Pháp, bị Nguyễn Trung Trực bắt trong trận đánh đồn Kiên Giang và sau đó được ông thả ra) rằng: Anh hãy nói rằng chính tôi đã cứu anh. Anh là người có ảnh hưởng với Lang Sa. Tôi chỉ cần anh dùng ảnh hưởng ấy xin cho tôi được xử tử mau lẹ chừng nào hay chừng ấy.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Giêng, 2017, 11:12:29 pm

Người Pháp khi đánh giá về hai chiến công lẫy lừng của ông cũng phải thừa nhận như sau:

Anferd Schreiner nhận định về trận Nhật Tảo: "Là khúc nhạc mở đầu cho cuộc tổng công kích hầu như toàn bộ vào người Pháp" (theo Albéré de L'histoire d'Annam).

Geord Dwen thì bình luận: "Ấy là một biến cố bi thảm mà hậu quả làm tổn thương đến uy tín của Pháp ở miền Nam" (theo Bunetin de la Société des études Indochinoise de Sài Gòn, année 1900).

Paul Vial thì nói: "Đây là một sự kiện đau đớn làm cho người Annam phấn đấu và gây xúc động trong lòng người Pháp" (theo cuốn Les première années de la Cochinchine, colonie Française, Tom I.P.124).

Paul Vial kể: "Ba chiếc tiểu hạm (Iorcha) đậu trên sông Vaico Đông (tức Vàm Cỏ Đông) nhằm kiểm soát sự lưu thông đường thủy, bị tấn công hết sức dữ dội bởi những nhóm người đông đảo, do họ được cổ vũ bởi trận đốt tàu Espérance. Một trong ba chiếc đó, có chiếc tiểu hạm số 3. Và viên sĩ quan chỉ huy tàu này đã bị thương."

Và George Taboulet đã thú nhận: Cuộc nổi dậy bất ngờ bùng nổ vào ngày 16 tháng 12 năm 1862 (trận sông Tra), và chẳng mấy chốc lan rộng ra. Ba chiếc tuần tra và nhiều đồn bót bị đánh chiếm, như đồn Rạch Tra gần Sài Gòn; trong trận đó, viên đại úy Thouroude đã tử trận...

Và cũng chính nhà vua này đã sắc phong ông làm Thượng đẳng Linh thần, thờ tại làng Vĩnh Thanh Vân, Rạch Giá nơi ông đã hiên ngang thà chịu chết chớ không chịu đầu hàng Pháp. Đã rất nhiều năm qua, dân làng Vĩnh Thanh Vân, nhất là những ngư dân, luôn tôn kính và tự hào về Nguyễn Trung Trực, một người xuất thân từ giới dân chài áo vải, vậy mà đã trở thành một vị anh hùng, đúng với ý nghĩa: "Sống làm Tướng và chết làm Thần!" và "anh khí như hồng", nghĩa là khí tiết của người anh hùng rực rỡ như cầu vồng bảy sắc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Giêng, 2017, 11:13:21 pm

Câu hỏi 14: Có một vị tướng của Nguyễn Trung Trực là Lâm Quang Ky được mệnh danh là Lê Lai của đất Kiên Giang. Hãy cho biết đôi nét về ông?
Trả lời:

Lâm Quang Ky tự Hưng Thái là một phó tướng của Nguyễn Trung Trực. Ông tham gia chống Pháp trong phong trào khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá - Kiên Giang.

Lâm Quang Ky sinh tại rạch Kim Quy, xã Vân Khánh Đông, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, con của Lâm Kim Diệu (gốc người Hoa) và Nguyễn Thị Của, đều là những người nhiệt tình yêu nước.

Theo tài liệu do Ban bảo vệ di tích đình Vĩnh Hòa Hiệp cung cấp: Nguyễn Trung Trực sau khi đốt tàu Espérance liền bị Pháp lùng bắt, nên ông phải lánh xuống vùng Rạch Giá và có lần bí mật đến ở nhà ông Lâm Quang Ky. Do tương đồng chí hướng, Nguyễn Trung Trực nhận ông Ky cùng 4 người bạn của ông (Trịnh Văn Tư, Hồng Văn Ngàn, Ngô Văn Búp và Nguyễn Văn Niên. Ông Tư, ông Búp bị Pháp chém cùng lúc với Lâm Quang Ky. Ông Niên bị Pháp đày ra Côn Đảo 12 năm, sau khi thả về ông bị mù và chết tại làng Vĩnh Hòa Hiệp. Riêng ông Ngàn, tài liệu không cho biết gì) vào đội ngũ kháng Pháp. Ngoài tinh thần chống ngoại xâm cao, Lâm Quang Ky còn khá tinh thông võ nghệ, có uy tín nên ông chiêu mộ được nhiều người tham gia vào đội nghĩa quân, suốt từ vùng An Biên đến Rạch Giá. Do vậy, Lâm Quang Ky được Nguyễn Trung Trực phong làm phó tướng.

Đêm 15 tháng 6 năm 1868, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, trong đó có Lâm Quang Ky, đã tổ chức tấn công chiếm lấy Rạch Giá. Pháp điều quân từ Vĩnh Long đến giải nguy và để chiếm lại thành. Do nghĩa quân thế cô, vũ khí kém, nên thành không giữ được.

Trong tình thế hiểm nghèo, Lâm Quang Ky cùng một số nghĩa quân cảm tử tự nguyện ở lại cầm chân quân Pháp để Nguyễn Trung Trực rút lực lượng chính về Hòn Chông. Lâm Quang Ky mặc chiến bào của Nguyễn Trung Trực, cầm cờ lệnh, cố tình chiến đấu kéo dài thời gian. Cuối cùng, quân Pháp bắt được ông cùng với sáu nghĩa binh khác.

Khi ấy, chỉ huy quân Pháp đinh ninh ông là Nguyễn Trung Trực nên không cho quân truy đuổi nữa. Qua ngày hôm sau, cai đội Lượm vì biết rõ mặt Lâm Quang Ky nên việc bị bại lộ. Rất tức giận, Pháp sai người đem tất cả ra chém chết tại chợ Rạch Giá mà không cần xét xử. Có hai câu chuyện kể về hành động cảm tử của Lâm Quang Ky để cứu chủ tướng Nguyễn Trung Trực.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Giêng, 2017, 11:13:43 pm

Lại có một truyền thuyết khác theo câu chuyện truyền miệng của người dân tại vùng Tà Niên - Rạch Giá:

Bởi cảm thương cho tình cảnh quân Pháp đã bắt mẹ của Nguyễn Trung Trực để uy hiếp ông phải ra hàng, và vì muốn vị chủ tướng phải sống để tiếp tục công cuộc kháng Pháp, nên Lâm Quang Ky đã quyết định hy sinh thân mình. Trước khi ra hàng quân Pháp, Lâm Quang Ky đã làm lễ xin chịu tang trước cho ông bà, cha mẹ và quỳ trước mặt cha là Lâm Kim Diệu, dâng khay trầu rượu với chiếc khăn tang, bày tỏ cùng cha quyết định muốn nạp mình cho giặc để cứu mạng sống bao người vô tội và cứu người anh hùng chủ soái cần sự sống để lo đại sự hơn là mình, xin phụ thân thứ tội vì chưa tròn chữ hiếu. Cụ Lâm Kim Diệu cầm chung rượu lên uống, rồi đặt chung xuống, cười và nói: Có thế mới đáng làm con dân nước Việt và làm con ta.

Khi tới đầu thú, ông tự xưng là Nguyễn Trung Trực. Quân Pháp cả tin, không một chút nghi ngờ. Nhưng hôm đó có tên Lượm, một người lính nghĩa quân đào ngũ đã chuyển sang làm việc cho Pháp và cung cấp thông tin để Pháp bắt được nhiều nghĩa quân, nên được thăng tới chức "đội". Lượm mách nhỏ cho Pháp biết người đầu thú là Lâm Quang Ky, rằng viên thuộc tướng giả danh này cũng cực kỳ nguy hiểm.

Biết rõ chuyện, Pháp rất tức giận, liền ra lệnh đóng gông vào cổ ông cùng 2 cận vệ là Ngô Văn Búp và Trịnh Văn Tư, rồi sai người dẫn tất cả ra chợ Rạch Giá chém chết ngay. Hôm ấy là ngày 12 tháng 5 năm Mậu Thìn (tức ngày 1 tháng 7 năm 1868).

Sau này, khi Nguyễn Trung Trực bị bắt và cũng bị xử chém tại Rạch Giá, người dân làng Vĩnh Thanh Vân đã bí mật thờ hai ông ở đình thờ Cá Ông (Nam Hải đại vương), nay là ngôi đình thờ Nguyễn Trung Trực tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Nơi đình làng Vĩnh Hòa Hiệp, tức làng Tà Niên xưa cũng có bài vị thờ ông. Và tên ông cũng như tên của Nguyễn Trung Trực đều được đặt cho hai đường phố lớn, hai ngôi trường học khang trang và danh tiếng của tỉnh này.

Tại làng Vĩnh Hòa Đông thuộc tổng Kiên Định, huyện Kiên Giang, vốn là làng Vĩnh Hòa Đông xưa, hiện còn mộ phần của ông.

Hiện nay dòng họ Lâm ở Vĩnh Hòa Đông vẫn còn giữ một mảnh vải mà theo lời kể của người giữ đó là vạt áo của Lâm Quang Ky cắt đứt khi người vợ trẻ níu áo van xin ông đừng đi nhận cái chết thay cho chủ tướng. Người dân Nam Bộ tôn vinh sự hy sinh của Lâm Quang Ky là hành động của "Lê Lai cứu chúa".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Giêng, 2017, 11:14:43 pm

Câu hỏi 15: Cả ba tên Việt gian đầu sỏ của thực dân Pháp ở Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX đều đã từng đem quân đi vây bắt Nguyễn Trung Trực. Hãy cho biết những nét cơ bản về chúng?
Trả lời:

Lúc ban đầu đánh chiếm và bình định xứ Nam Kỳ lục tỉnh, thực dân đã may mắn gặp được ba tên tay sai độc ác mà chúng ra sức nuôi dưỡng và dung túng. Phải nhìn nhận rằng chính vì bọn này mà phong trào kháng Pháp bị suy giảm nhiều. Đó là lãnh binh Tấn, tổng đốc Phương, tổng đốc Lộc.

Khi Pháp đánh thành Sài Gòn (1859), cả ba đều còn trẻ: Lộc 20 tuổi, Phương 18 tuổi, Tấn 22 tuổi.

Lãnh binh Huỳnh Công Tấn

Theo truyền thuyết của người địa phương kể lại thì Huỳnh Công Tấn là hậu duệ, thuộc hạ của nhóm di thần nhà Minh, tới vùng Cù Úc, Định Tường vào cuối thế kỷ XVII. Một nguồn tin khác cho rằng, viễn tổ của Huỳnh Công Tấn gốc Đàng Ngoài (tỉnh Quảng Bình) di dân vào Nam thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Hai thuyết có sự khác biệt, nhưng có một điều giống nhau về cá tính: "Tấn dốt nát, hiếu sát, nhiều tham vọng".

Theo hồ sơ, lãnh binh Huỳnh Công Tấn do nhà văn Sơn Nam kể lại thì chính Tấn đã kể lại với Paulin Vial: ngày 31 tháng 7 năm 1859 thì Tấn bị Pháp bắt trong một trận hành quân, và sau đó hắn xin đoái công chuộc tội. Nhưng theo cụ Nguyễn Văn Vực, một người chuyên nghiên cứu chuyện xưa tích cũ ở miền Nam, thì Tấn là người có tật đam mê đàn bà con gái, thường trêu chọc và có những hành vi bất chính với phụ nữ, nên có một lần bị chủ tướng là Trương Công Định tát tai để cảnh cáo.

Tấn thù để bụng và chờ dịp trả thù. Tấn bí mật liên lạc với một người quen cũ là Nguyễn Hữu Nguồn đã đầu thú Pháp để được Nguồn giới thiệu Tấn xin hàng. Nguồn đưa Tấn về Chợ Lớn trình diện với trung uý Francis Garnier, lúc đó làm tham biện tại đây. Lúc bấy giờ, F. Garnier rất quan tâm đến việc vãn hồi trật tự, an ninh trong vùng mới chiếm, nhất là vùng từ Chợ Lớn qua tới Cần Giuộc nằm trong phạm vi trách nhiệm của hắn. Francis Garnier là một người trẻ tuổi, rất hăng hái hoạt động. Mấy năm sau, F. Garnier theo phái đoàn Doudart de Lagrée đi thám hiểm sông Cửu Long.

Xưa nay trong chiến tranh, tiếp nhận kẻ địch về hàng để khai thác là một lợi thế của kẻ làm tướng, ít khi bỏ qua. F. Garnier đối đãi với Tấn lịch sự, niềm nở và dụ Tấn chỉ đường cho Pháp trong những trận ruồng bố các vùng Tân An, Mỹ Tho, Gò Công.

Hoàn toàn không có mặc cảm khi ra phục vụ chủ mới, Tấn dẫn đường cho Pháp tìm diệt nghĩa quân. Thấy Tấn hăng hái lập công, Pháp cho Tấn làm đội trưởng mã tà. Hai năm sau, Tấn được đề bạt chức lãnh binh là quan võ coi việc quân sự trong một tỉnh thời đó. Có chức, có quyền, Tấn vừa tận tuỵ phục vụ chủ mới vừa tìm cách mua điền đất của nhà giàu bỏ chạy để làm của riêng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Giêng, 2017, 11:15:22 pm

Năm 1862, 3 tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường đã mất nhưng Gò Công nhờ địa thế hiểm yếu, rừng rậm âm u, sông rạch chằng chịt, mà Đại tướng Trương Công Định còn cố thủ được thêm 3 năm nữa. Ngoài yếu tố địa thế, tại đây lòng người vẫn còn hướng về triều đình vì có dòng họ ngoại của nhà vua.

Nhiều lần từ Định Tường, Tấn dẫn quân Pháp đánh qua Chợ Gạo, tới Thạnh Nhứt, Gò Bầu và đụng độ với nghĩa quân nhiều trận, không tiến xa hơn được. Mỗi lần như thế, Pháp lại rút về Mỹ Tho củng cố lại lực lượng.

Trương Công Định giữ Gò Công được 3 năm (1862-1864). Pháp quyết tâm triệt hạ Gò Công. Lần đó Huỳnh Công Tấn làm hướng đạo, dẫn đường cho đề đốc Jaurès đem 3 chiến thuyền từ vàm Bao Ngược tiến vào sông Tra, đổ bộ lên xóm Tre (nay là Bình Thành Đông) bắn phá các đồn luỹ của nghĩa quân, nhưng không chọc thủng phòng tuyến được ở mặt trận này.

Vốn thông thạo địa hình, Tấn bày kế cho Pháp đem mấy tàu chiến chạy vòng trở ra biển, vào Cửa Tiểu, tấn công vào phía đông tỉnh thành. Pháp đổ quân ở Bến Chùa, vào Cửa Khâu, đánh bọc lên Giồng Nâu, Tân Quân Trung, rồi chiếm thành Gò Công. Đại nguyên soái Trương Công Định gom tàn quân rút về phía rừng Sác, nằm gần biển, gọi là đám lá tối trời mất dạng.

Thất vọng vì không bắt được Trương Công Định, Tấn tức giận lắm, tìm mọi cách để trả thù. Tấn tung ra một số tiền để mướn những người chỉ điểm, phát giác chỗ lẩn trốn của Trương Công Định. Trong một lần ruồng bố vào Bình Xuân, Tấn bị thương ở bắp chân, được Pháp ưu ái săn sóc, đưa về Sài Gòn điều trị. Lành bệnh, Tấn hung hăng đánh phá không ngừng nghỉ. Về cái chết của Trương Công Định, truyền thuyết của địa phương thường kể lại rằng:

Buổi chiều 17 rạng 18 tháng 7 âm lịch năm 1864, lối 3 giờ chiều, Đại tướng Định cảm thấy trong người bần thần bứt rứt khó chịu. Ông muốn đi Lý Nhơn, nên gọi hai tên hộ vệ bảo sửa soạn ghe thuyền chèo đưa ngài đi. Nhưng có người thuộc tướng tên gọi Xã Tài, năn nỉ cầm ngài ở lại vì anh ta đang làm tiệc rượu sắp dọn ra. Vì thế ngài hoãn chuyến đi Lý Nhơn. Đêm ấy, sau buổi tiệc, Trương Công Định ngủ lại tại nhà Xã Tài cùng mấy mươi binh lính thân tín thì bị Tấn đem binh đến bao vây. Ngài phá vòng vây thoát ra ngoài nhưng bị Tấn bắn một phát quỵ xuống. Tấn lại khuyên Định ra hàng. Ngài tuốt gươm chỉ vào mặt Tấn mắng nhiếc rồi tự đâm vào bụng tự sát. Trước cái chết của người anh hùng lãnh đạo cuộc kháng chiến, dân chúng và nhất là giới sĩ phu hết lòng thương tiếc.

Sau khi Trương Công Định chết rồi, Huỳnh Công Tấn càng ngày càng hống hách. Hắn bắt người tình nghi tra tấn khảo của. Tấn ngang nhiên cướp ruộng đất của các nhà giàu bỏ chạy xuống 3 tỉnh miền Tây tị nạn. Ngoài ra Tấn còn mở sòng bạc lấy xâu. Chỉ trong một thời gian ngắn hơn 10 năm, Tấn trở thành người giàu nhất Gò Công, có hàng ngàn mẫu ruộng. Để cũng cố lòng tin của Pháp, Tấn còn đem quân qua Cần Giuộc để dẹp một cuộc khơi nghĩa do Bùi Duy Nhứt lãnh đạo... sẵn uy quyền Tấn mặc tình sinh sát với mục đích làm tiền. Nghi ngờ ai có cảm tình với nghĩa quân, Tấn cho bắt về tra khảo. Người nhà nóng lòng đem vàng bạc đến xin đút lót cho vợ Tấn để xin tha. Tấn cũng tham gia trận bao vây đảo Phú Quốc để nhìn mặt và bắt Nguyễn Trung Trực. Nói chung thì Tấn không nuôi tham vọng lớn, chỉ có khả năng giới hạn, Pháp dùng Tấn để gìn giữ vùng Gò Công và Bến Tre là nơi Tấn từng lui tới nhiều, am hiểu nhân dân và địa thế.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2017, 10:01:24 pm

Tấn lãnh trách nhiệm do thám, theo dõi những người kháng Pháp, lợi dụng địa vị để bắt bớ người này, tha lỏng người kia, lẽ dĩ nhiên là vì tư lợi. Tấn làm giàu nhờ tổ chức sòng bạc, chiếm đất, bắt dân làm xâu phục vụ cho việc làm ăn riêng tư. Viên quan tham biện người Pháp ở địa phương chán ngán lối làm việc buông tuồng và thất nhân tâm vì Tấn lấn quyền. Thực dân phong cho Tấn chức lãnh binh của lính mã tà, tức là chức vụ quân sự cao nhất trong một tỉnh thời đó. Về sau, thực dân không phong chức này cho ai nữa vì ở thuộc địa, quyền chỉ huy quân sự nằm trong tay người Pháp, chẳng qua là sự khích lệ lúc ban đầu để Tấn hăng hái hoạt động.

Tấn là người thất học, quê mùa nên ngây thơ đến mức dám chê bai, tố cáo đến quan giám đốc nội vụ lề lối cai trị của quan tham biện Pháp ở hạt Bến Tre: bởi quan tham biện chúng tôi xưa là quan coi binh chưa từng biết việc dân cho nên ra việc quan, làm thì làm bậy, nói thì chẳng thông lý sự bằng dường như kẻ ngu si dốt nát. Tấn lại lập công, tố cáo: Chúng tôi nghe bà con hai cậu (con Phan Thanh Giản) những người làm giặc trốn ở trong làng Bảo Thạnh nhiều lắm. Quan giám đốc nội vụ (directeur de linterieur) phẫn nộ, trách mắng và tìm cách đuổi Tấn về miền Đông Nam Kỳ, nhưng Tấn lại được chút tín nhiệm nhờ qua Cần Giuộc bắt Phó Đốc binh Bùi Duy Nhứt đang hoạt động chống Pháp với danh nghĩa tham biện toàn hạt (bắt năm 1869). Thời kỳ bắt giết bừa bãi đã qua, Pháp muốn chiêu an và Tấn lọt vào mê hồn trận. Pháp cho một tay sai khác là huyện Vĩnh tố cáo Tấn về tội lạm quyền, Tấn tự bào chữa bằng cách tố lại sự lạm quyền của huyện Vĩnh.

Sau cùng, vì bệnh nặng, người nhà chở hắn bằng ghe hầu (ghe nhà giàu có mui, có buồng riêng) lên Chợ Lớn, giữa đường hắn trợn tròng rồi tắt thở. Tấn chết năm 37 tuổi. Đó là ngày 26 tháng 11 năm 1877, mười ba năm sau khi hại chủ tướng cũ 1864 và phục vụ đắc lực cho Pháp.

Chỉ có trên mười lăm năm làm Việt gian mà Tấn đã có một sản nghiệp to lớn về ruộng đất để lại cho các con, hai trai ba gái. Một con gái chết nhỏ, hai con gái ghê sợ việc làm của cha nên bỏ đi tu theo Nhà Dòng, con trai lớn Hai Miêng phá gia chi tử bán sạch ruộng đất. Đất thì gần một phần tư khu Nam rạch đã thuộc về y. Ruộng thì y dựa vào thế lực để đăng ký chiếm rất nhiều. Nhưng mươi năm sau chính hắn cũng bán để tiêu xài, và sau con hắn cũng bán nốt. Năm Tân Mùi (1871) ngày 27 tháng 4, Tấn bán cho bà Trần Thị Sanh hai sở ruộng, một sở ruộng 90 mẫu 41 sào 54 thước tại làng Vĩnh Trị và một sở ruộng 32 mẫu 23 sào 84 thước tại làng Vĩnh Thạnh. Lúc bán trên 120 mẫu ruộng đó là mới 9 năm theo Pháp, hắn còn tiếp tục bán trong năm 1874.

Hắn chết, Pháp cho làm tang lễ trọng thể. Tôn Thọ Tường, bạn đồng liêu tân trào có hai câu đối viếng, ghi lại như sau coi như bia miệng đến hồi kết cục:

      "Phú quới thị thảng lai, oanh liệt hùng tâm khinh nhứt trịch,
      Thinh danh ưng bất hủ, ức dương công luận phú thiên thu"


Dịch nghĩa:
      "Giàu sang ấy thoảng qua, lừng lẫy hùng tâm khinh một ném,
      Tiếng tăm đành chẳng mục, chê khen công luận phú ngàn năm".

Pháp và gia đình Tân chắc cũng biết dân Nam ta sẽ hận y nên khi động quan bí mật chôn y vào một trong năm cái huyệt và xây năm mộ giống nhau ở vùng Yên Luông! Vợ y lúc đó dân gọi là bà lớn không giống chồng, hiền thục, muốn cứu rỗi linh hồn y nên lập một cảnh chùa thờ ông Quan Thánh, gọi là chùa Ông, có bàn thờ và bài vị thờ Tấn. Mới hơn 20 năm trước đây (1987) bài vị vẫn còn. Chùa nay là Nhà trẻ Sơn Ca. Pháp cho dựng một đài kỷ niệm ghi ơn lãnh binh Tấn với mấy dòng chữ À la mémoire du Lãnh binh Huynh Cong Tan, chevalier de la Légion d honneur, fidèle servicteur de la France (Tưởng nhớ Huỳnh Công Tấn, người được ân thưởng Bắc đẩu bội tinh công bộc trung thành với Pháp). Năm 1945 nhân đảo chính của Nhật, nhân dân đã phá tan cái tháp này, bài vị thờ Tấn cũng bị bỏ trôi sông.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2017, 10:02:21 pm

Tổng đốc Đỗ Hữu Phương

Sinh quán ở Chợ Đũi. Pháp chiếm Sài Gòn, Phương trốn lánh lên Bà Điểm chờ thời. Khi thành Chí Hòa thất thủ, nhờ cai tổng Phước ở Bình Điền dẫn ra trình diện với Francis Garnier bấy giờ, làm tham biện hạt Chợ Lớn lãnh phận sự do thám và kêu gọi những người khởi nghĩa ra hàng. Về mặt quân sự, Phương rất khôn ngoan, chỉ tham gia vài trận đánh cho Pháp tin cậy: trận đánh Ba Điểm, lúc bấy giờ lọt vào tay cậu Hai Quyền (con Trương Định) vào tháng 7 năm 1866, vài ngày sau, truy nã tới Bến Lức. Tháng 11 năm 1867 cùng Tôn Thọ Tường đi Bến Tre để chiêu dụ hai cậu trai con ông Phan Thanh Giản; tháng 6 năm 1868 xuống Rạch Giá dẹp loạn Nguyễn Trung Trực, tàu mắc cạn, nghĩa quân đóng đồn ở Sóc Suông (gần chợ Rạch Giá) chống cự mãnh liệt, Phương và bọn mã tà gần 200 người đã hết đạn nhưng vẫn cố thủ để chờ viện binh. Tháng 7 năm 1868 được làm đốc phủ sứ ở Vĩnh Long, góp phần truy nã nghĩa quân khi tên phó tổng ác độc ở Vũng Liêm bị giết.

Năm 1878, qua Pháp dự Hội chợ Quốc tế. Năm 1881 gia nhập Pháp tịch và lại qua Pháp chơi, thăm các con đang du học, hai lần vào những năm 1884 và 1889. Là một trong những người đề xướng việc thành lập trường Nữ trung học ở Sài Gòn. Vài chi tiết liên quan đến việc đàn áp của Phương đã chứng minh rằng tuy lọt vào tay Pháp nhưng ở vùng Chợ Lớn, phong trào chống Pháp vẫn mạnh:

* Bắt quản Thiện và quản Việt ở Lò Gốm:

- Năm 1866, có cuộc khởi loạn ở vùng Chợ Lớn (là tỉnh Chợ Lớn), Nguyễn Văn Hoan bị bắt. Năm 1867, xảy ra nhiều vụ ám sát cũng ở Chợ Lớn, Pháp gọi Phương đến để cho thêm tài liệu và điều tra.

- Năm 1871 và 1875, có khởi nghĩa ở Phước Lộc (Cần Giuộc), Phương ra công do thám.

- Năm 1873, Phương trình cho thực dân danh sách một số lãnh tụ kháng Pháp sắp khởi loạn ở các tỉnh miền Tây. Cuộc khởi loạn này do Trần Tuân điều khiển từ Khánh Hòa.

- Năm 1879, tố giác kịp thời âm mưu khởi loạn của nhóm Thiên địa Hội ở Sóc Trăng.

- Năm 1881, cùng với một cha xứ ở Lương Hòa (Tân An) kịp thời tố giác âm mưu khởi loạn ở Long Hưng, Lộc Thành và ở vùng Thất Sơn.

- Năm 1887, điều khiển việc sửa con kinh Nước Mặn, bắt dân ở tổng Lộc Thành Hạ làm xâu, dân vùng này nổi tiếng là cứng đầu.

Nhiệm vụ quan trọng của Phương vẫn là do thám vùng Chợ Lớn, Cần Giuộc và Tân An. Về mặt chánh quyền, trước tiên làm hộ trưởng (bấy giờ, thành phố Chợ Lớn chia ra làm 20 hộ); năm 1868 Phương trình cho thực dân danh sách những người đáng tin cậy có thể làm chức hội tề. Năm 1872, được chỉ định làm hội viên Hội đồng thành phố Chợ Lớn. Năm 1879, làm phụ tá cho Xã Tây Chợ Lớn. Như ta biết, Chợ Lớn là nơi tập trung thương gia Hoa kiều, Phương không bỏ qua cơ hội để làm giàu, giải quyết mọi áp phe giùm cho thương gia, đãi tiệc viên chức Pháp, làm trung gian lo hối lộ. Nhờ vậy mà làm giàu nhanh chóng, uy thế lên cao đến mức quan toàn quyền Paul Doumer khi vào Nam còn ghé nhà Phương ăn uống, có lẽ nhờ dịp này mà được quan toàn quyền cho sở hữu đám đất ruộng lớn đến 2.223 mẫu. Trong lúc do thám, Phương tỏ ra khéo léo, tránh gây thù oán công khai, nhờ đó mà so với lãnh binh Tấn và tổng đốc Lộc, bề ngoài thấy như là Phương hiền lành, cứu người này, bảo lãnh người kia.

Nhưng trời bất dung gian, Phương bị mất tín nhiệm vì đã bảo lãnh, xin chứa chấp để theo dõi Thủ khoa Huân trong nhà. Suốt khoảng 3 năm (sau khi bị đày ở Cayenne rồi được ân xá), Thủ khoa Huân biết lợi dụng hoàn cảnh để liên lạc với những Hoa kiều theo Thiên địa Hội ở Chợ Lớn và tới lui vùng Tân An để cổ súy, tổ chức cuộc kháng Pháp. Chuyện vỡ lở ra, tưởng chừng Phương mang họa. Bấy lâu ngoài Thủ khoa Huân, Phương đã từng bảo lãnh nhiều người mà thực dân Pháp không tin cậy cho lắm. Kẻ thù của Phương là tổng đốc Lộc thừa dịp này làm dữ, đưa điều kiện là giam lỏng Phương trước khi dẹp loạn Thủ khoa Huân. Nhưng rốt cuộc, Phương vẫn ung dung, càng mau giàu thêm và được thăng tổng đốc - nên hiểu là tống đốc hàm - vì theo quy chế quan lại bản xứ do thực dân ở Nam Kỳ bày ra, chỉ đến ngạch đốc phủ sứ là hết.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2017, 10:03:06 pm

Tổng đốc Trần Bá Lộc

Đây là tay sai đắc lực số một, vượt hẳn hai nhân vật trên: Háo thắng, ham địa vị, ưa tàn sát theo lối phong kiến. Khi Pháp chiếm thành Mỹ Tho, Lộc sốt sắng tìm cơ hội, bèn tản cư với chiếc ghe chở đầy tiền kẽm đến trình diện với Cha Marc, bấy giờ cha cố này kiêm luôn chức tham biện.

Năm 1861, ngay sau khi xin việc, Lộc được cấp cho căn nhà lá, gia nhập lính mã tà rồi lập công lên cai, lên đội. Ngoài thời giờ làm lính, Lộc còn lãnh trách nhiệm giữ kho lúa cho nhà nước và được quan tham biện cho ân huệ là đem cơm dư của lính về nhà mà nuôi heo.

Nhờ hăng hái chỉ điểm và bắn giết, năm 1865 làm huyện, ngồi tại Cái Bè để canh chừng vùng Đồng Tháp. Cái Bè là vị trí chiến lược trên Tiền Giang, có thể đi thẳng lên Cao Miên. Bấy giờ một số quan lại cũ của triều Nguyễn tụ về Bình Cách, Thuộc Nhiêu, Cai Lậy, lập đồn để liên lạc với Thiên hộ Dương trong bưng. Lộc đánh bật nghĩa quân ra khỏi Cai Lậy rồi cuộc tấn công đại quy mô của Pháp diễn ra, Lộc đóng vai trò quan trọng, đánh từ Cần Lố để nối với mấy cánh quân khác đánh từ đồn Hữu (phía Bến Lức) và đồn Tiền (phía Cai Lậy).

Năm 1867, thăng làm tri phủ rồi năm sau góp công đánh đuổi và bắt sống Tổng binh Bút khi ông này đánh vào toán quân Pháp trú đóng tại Sa Đéc. Lộc coi huyện Tân Thành (Sa Đéc), sau được gọi về Cái Bè, thăng đốc phủ sứ (15-8-1868). Bấy giờ ở Rạch Giá, Nguyễn Trung Trực khởi nghĩa, tỉnh lỵ này bị tái chiếm, Nguyễn Trung Trực chạy ra đảo Phú Quốc. Pháp kéo binh bao vây đảo. Lộc dùng thủ đoạn cố hữu là bắt giết thân nhân những người trong cuộc. Nguyễn Trung Trực phải ra mặt để cứu sống những người bị bắt làm con tin. Lộc lãnh trách nhiệm điều tra rồi trình cho Pháp danh sách 170 người liên can với Nguyễn Trung Trực.

Từ 1868 tới 1871, Lộc góp phần giải vây đồn Cái Bè, bấy giờ bị bốn ông Long, Thận, Rộng, Đước tấn công (bốn ông này đều bị Lộc giết). Rồi đến vụ tham biện Vĩnh Long là Salicetti bị giết khi đến Vũng Liêm đàn áp cuộc khởi loạn: Lộc đụng với nghĩa quân ở Láng Thé, gồm đa số là người Khơ Me, cuộc chiến khá sôi nổi, nhiều phen tưởng chừng Lộc thua trận nhưng sau nhờ khí giới tốt nên thắng.

Năm 1875, lại nỗ lực dẹp cuộc khởi nghĩa của Thủ khoa Huân, có Phủ Đức tiếp tay để chận phía cửa Tiêu (đề phòng Thủ khoa Huân trốn theo đường biển). Lộc ruồng bố vùng còn lại, Thủ khoa Huân bị bắt gần Chợ Gạo. Trận này Pháp giao trọn quyền bắn giết nên lính của Lộc ruồng bố các lùm bụi, đến mức nai, chồn, cọp chạy tán loạn vào xóm.

Năm 1878, dẹp cuộc khởi loạn của Ong và Khả; hai vị này toan đánh úp chợ Mỹ Tho.

Năm 1883, đàn áp cuộc khởi nghĩa của người Miên ở Trà Béc (Cao Miên).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2017, 10:03:26 pm

Ở miền Trung bấy giờ Mai Xuân Thưởng nổi lên khởi nghĩa, Pháp dẹp không nổi nên nhờ bàn tay gian ác của Lộc. Lộc mộ 1.050 lính mã tà, đem về thành Ô Ma (Sài Gòn) tập dượt rồi đến chiến trường thi hành thủ đoạn bắt thân nhân của Mai Xuân Thưởng và của nhũng người theo quân khởi nghĩa. Lộc tỏ ra hách dịch, làm việc lấn quyền các sĩ quan Pháp ở địa phương. Lúc hành quân, Lộc dùng con dấu Thuận Khánh tổng đốc, tức là tổng đốc của hai tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa. Khi xong việc, về Cái Bè vẫn thích dùng con dấu ấy. Lộc lại đề nghị với Pháp tách hai tỉnh này ra khỏi Trung Kỳ, nhập vào Nam Kỳ vì chính quân sĩ Nam Kỳ (tức là của Lộc) đã ra tay dẹp loạn, nhưng đề nghị này khó thi hành!

Về già, Lộc bị ung thư dạ dày nhưng vẫn hăng hái ra tài kinh bang tế thế. Loạn lạc không còn, Lộc ra tay chỉnh trang vùng Cái Bè. Học được phép đo đạc nên đem áp dụng, phóng mấy con lộ ở chợ này. Lộc lại xin bắt dân xâu để đào kinh trong vùng Đồng Tháp, ban đầu đào thử (kinh bề ngang rộng 3 mét), nhưng lại bắt dân xâu đợt hai nới rộng ra 10 mét, nối liền từ Bà Bèo tới Rạch Ruộng (1897) gọi là kinh tổng đốc Lộc (thực dân cho phép đặt tên). Lộc trở thành người điền chủ lớn nhất của tỉnh Mỹ Tho khi mua lại cù lao Năm Thôn và đất ở cù lao Rồng.

Tóm lại, Lộc đóng vai trò tích cực trong việc đàn áp các phong trào khởi nghĩa của Thiên hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Huân, Mai Xuân Thưởng. Pháp dung túng cho Lộc làm những việc dã man, vô nhân đạo mà chúng không muốn làm, sợ mang tiếng xấu về chúng. Nhưng được chim thì treo ná, thực dân Pháp dần dần tỏ ra lạnh nhạt đối với kẻ đã quá sốt sắng với nhiệm vụ - lỗi thời. Pháp cho người nói xấu công khai rằng chức tổng đốc của Lộc là bất hợp lệ, chỉ dùng ở Trung Kỳ chứ không dùng ở xứ thuộc địa, do đó phải sửa lại là tổng đốc hàm (honoraire). Lại còn chức vụ khâm sai mà Lộc đã tự phong khi in thiệp chúc Tết năm 1888. Lộc cho rằng khâm sai là chức vụ hợp pháp, vì ông ta thừa lệnh quan thống đốc Nam Kỳ ra ngoài Trung Kỳ dẹp giặc, nhưng có người tố cáo rằng Lộc tự xưng khâm sai của triều đình Huế, với dụng ý làm loạn về sau.

Lộc thích đánh giặc với đạo quân riêng, lúc ban đầu gồm hơn 100 người nhưng về già, thực dân chỉ để cho 5 người lính hầu mà thôi.

Một chi tiết đáng chú ý là vào năm 1868, Lộc đã đi bắt quân làm ngụy ở phía Trà Đư đem về Châu Đốc nộp cho quan tham biện. Đây là những người thuộc nhóm Bửu Sơn Kỳ Hương ở Thất Sơn.

Lời phê của các viên quan tham biện Pháp giúp chúng ta hiểu rõ thái độ của thực dân. Đại khái, chúng biết Lộc tàn ác nhưng chúng vẫn sử dụng để nhằm dùng người bản xứ đàn áp người bản xứ: Một viên chức quá kỹ lưỡng, quá tận tâm trong vài trường hợp, không cẩn thận trong việc dùng phương tiện, nhưng lại đạt mục đích chắc chắn. Lộc sinh tật uống rượu, tính tình thay đổi rõ rệt. Ba năm trước khi chết, Lộc được viên tham biện Mỹ Tho phê như sau: "Người ta có thể phàn nàn lão già này về những hành động ác độc lúc trước đã trở thành chuyện huyễn hoặc, khó tin, nhưng tôi cho là trong hàng ngũ viên chức bản xứ hiện nay khó tìm được một người biết kính bề trên, dám tận tụy với chính nghĩa của nước Pháp bằng ông ta".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2017, 10:04:09 pm

Câu hỏi 16: Hãy cho biết một số địa danh có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực?
Trả lời:


Vàm Nhật Tảo

Là nơi giao hội giữa sông Vàm Cỏ Đông và sông Nhật Tảo, vàm Nhật Tảo là một vùng sông nước phẳng lặng hiền hòa thuộc xã An Nhật Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Nhưng vào ngày 10 tháng 12 năm 1861, vàm Nhật Tảo đã dậy sóng căm hờn nhấn chìm tàu Espérance của quân xâm lược Pháp. Người đã làm nên sự kiện mà nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt ca ngợi là "oanh thiên địa" ấy chính là người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực.

Theo một nguồn sử liệu dân gian nhiều người biết khi tả về chiến tích Hỏa Nhật Tảo Thuyền của Nguyễn Trung Trực thì làng Nhật Tảo nằm trên một vùng đồng ruộng bao la, mới sáng tinh sương đã nhìn thấy ánh mặt trời nên được gọi là Nhật Tảo, nghĩa là "mặt trời mọc sớm". Giữa thế kỷ thứ XIX, Nhật Tảo là vùng đất mới được ông Hồ Văn Chương đến khai phá lập nghiệp theo chương trình khai hoang của triều Nguyễn. Nhờ quy tụ được đông dân cư lập thành thôn ấp, ông Hồ Văn Chương được triều đình Nguyễn phong cho chức suất đội trưởng, con cháu kế truyền làm "chủ chợ qua việc thu thuế chợ lấy tiền làm ngân sách địa phương". Dòng dõi họ Hồ thống lãnh cả vùng và đều là hương chức địa phương. Lúc bấy giờ, ông Hồ Quang Minh làm cai tổng, tuy hợp tác với chính quyền Pháp ngoài mặt nhưng vẫn căm thù giặc, cảm khái tấm lòng ái quốc của Nguyễn Trung Trực, gia đình ông cai tổng đã mạnh dạn hợp tác với nghĩa quân, lập kế đồ đánh phá lực lượng quân Pháp. Trận "hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa" của Nguyễn Trung Trực đã góp phần to lớn lưu danh vàm sông thanh bình này vào lịch sử dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc Việt Nam.

Để ghi dấu kỷ niệm "đau thương" này, thực dân Pháp đã cho xây dựng một bia tưởng niệm bên bờ sông Nhật Tảo. Thời gian lặng lẽ trôi, vàm Nhật Tảo vẫn còn đó như gợi lại trong lòng khách vãng lai một niềm hoài cổ. Tàu Espérance sau gần 120 năm nằm yên dưới đáy sông sâu đã được khai quật. Tổng số hiện vật thu được là 89, trong đó có 78 hiện vật gỗ, 8 hiện vật sắt, 2 hiện vật đồng và 1 hiện vật thủy tinh. Qua nghiên cứu các hiện vật gỗ ta còn thấy đầy đủ các bộ phận để hợp thành bộ khung của tàu như cong đà, be, lườn, cột buồm. Tuy đã bị đục để lấy đi phế liệu nhưng tàu Espérance vẫn còn một số mảnh gỗ bọc đồng hiện rõ vết cháy loang lổ. Tất cả những hiện vật nêu trên đã được bảo quản và trưng bày tại Bảo tàng Long An nhằm giới thiệu với khách tham quan trong và ngoài nước những bằng chứng cụ thể về chiến công oanh liệt của người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực cách nay hơn một thế kỷ.

Ngày nay, nếu xuôi dòng Vàm Cỏ Đông đến địa phận xã An Nhật Tân, du khách sẽ được ngắm nhìn vùng sông nước hữu tình vàm Nhật Tảo. Sông nơi đây khá rộng, dòng nước trong xanh, hai bên bờ là những mái nhà xinh xắn nép mình dưới rặng dừa nước và một số loài cây hoang dại như vẹt, bần, đước, mắm. Nói chung dưới sự tác động của thiên nhiên và con người hơn một thế kỷ qua, di tích vàm Nhật Tảo đã có sự thay đổi nhất định so với thời điểm xảy ra trận đánh ngày 10 tháng 12 năm 1861. Tuy nhiên những gì còn hiện hữu ở vàm Nhật Tảo cũng đã minh chứng tài năng quân sự của Nguyễn Trung Trực - người đầu tiên, duy nhất đánh chìm được một tiểu hạm trong cuộc kháng chiến chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX.

135 năm sau ngày Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu Espérance, vàm Nhật Tảo đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích Quốc gia năm 1996 bởi những giá trị, ý nghĩa sâu sắc chứa đựng trong đó. Một dự án tôn tạo di tích quy mô đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An phê duyệt và bước đầu thực hiện. Trong tương lai, đền thờ, tượng đài anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực và những hạng mục công trình khác sẽ được xây dựng bên bờ vàm Nhật Tảo, sẽ làm cho vùng sông nước nên thơ này không những có ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị tham quan du lịch.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2017, 10:04:30 pm

Sân chim Tà Niên - làng Vĩnh Hòa Đông

Vào thế kỷ XVI - XVII, trên vùng đất Tây Nam Bộ hiện nay đã có người Việt cư trú cùng với tộc người Khơ Me. Trước năm 1708, Mạc Cửu đã tập hợp được 7 tụ điểm dân cư mà Gia Định Thành Thông chí ghi là 7 xã, thôn: Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau, riêng Hà Tiên là thủ phủ của Mạc Cửu. Hiện nay chỉ còn 4 địa danh nằm trên đất nước Việt Nam là Phú Quốc, Rạch Giá, Cà Mau và Hà Tiên. Mùa thu, tháng 8 năm Mậu Tý (1708), Mạc Cửu dâng biểu xưng thần đem vùng đất này chính thực sáp nhập vào Việt Nam. Chúa Nguyễn Phúc Chu tiếp nhận, đặt thành một đơn vị hành chánh cấp Trấn và đặt tên là Trấn Hà Tiên. Mãi cho đến năm 1739, Mạc Thiên Tích (con của Mạc Cửu) thành lập thêm 4 huyện Kiên Giang (Rạch Giá), huyện Long Xuyên (Cà Mau), Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (Bạc Liêu) thuộc trấn Hà Tiên. Vua Minh Mạng lên ngôi dần dần thực hiện chế độ trung ương tập quyền. Năm 1825, trấn Hà Tiên còn gồm hai huyện Kiên Giang, Long Xuyên và một số xã thôn trực thuộc thẳng trấn (theo sách Gia Định thành Thông chí của Trịnh Hoài Đức ghi chép - Dẫn theo Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn của Nguyễn Đình Đầu). Làng Vĩnh Hòa Đông thuộc tổng Kiên Định, huyện Kiên Giang vốn là thôn Vĩnh Hòa Đông xưa (ngày nay làng thuộc xã Vĩnh Hòa Hiệp - huyện Châu Thành - Kiên Giang). Làng được xem là nơi ghi dấu ấn lịch sử bi hùng thế kỷ XIX của vùng đất Kiên Giang. Trước đây vùng này dân cư còn thưa thớt, chưa có người khai phá nhiều. Tà Niên ngày xưa là một sân chim, cách thị xã Rạch Giá vào khoảng 10km về hướng tây nam. Sân chim thường là một vùng đất cao, cây cối rậm rạp, chim kéo nhau về làm tổ, đậu, ngủ, nghỉ quanh năm, suốt tháng, rất hôi thúi, dơ bẩn, đầy rắn, rết. Làng là nơi ghi dấu chứng tích của cuộc chiến cuối cùng của Thự quản cơ Nguyễn Hiền Điều, là căn cứ địa của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực năm 1868, có mộ của Lâm Quang Ky - phó tướng của Nguyễn Trung Trực. Làng còn nổi tiếng bởi nghề dệt chiếu Tà Niên.

Sau khi Nguyễn Trung Trực chuyển nghĩa quân về hoạt động tại tỉnh Hà Tiên, ông lấy vùng Tà Niên làm căn cứ chuẩn bị cho việc đánh chiếm thành Rạch Giá. Người dân trong vùng tham gia rất đông. Một năm sau ông đánh chiếm đồn Kiên Giang (ngày 16-6-1868). Sau khi Nguyễn Trung Trực bị bắt và xử chém tại Rạch Giá, người dân Tà Niên bí mật thờ ông ở đình. Sau đó thờ thêm phó tướng của ông là Lâm Quang Ky.

Đình làng Vĩnh Hòa Đông còn lưu giữ một bản sắc phong đề "Tự Đức ngũ niên thập nhất nguyệt nhị chi cửu nhật" (ngày 18 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5); một bản hương ước của làng Vĩnh Hòa Đông viết vào năm 1853 bằng chữ Hán gồm 3 chương được viết trên vải lụa. Đây được xem như báu vật của làng được truyền giữ rất cẩn thận, chỉ có ngày lễ tế thần mới rước về, đọc cho dân chúng đến dự lễ nghe. Làng Vĩnh Hòa Đông không chỉ nổi tiếng bởi lịch sử bi hùng mà còn nổi tiếng bởi nghề dệt chiếu Tà Niên, nhất là loại chiếu dệt lẫy hoa thì càng sắc sảo. Trước năm 1880, chưa có kinh Ông Hiển từ Rạch Giá đổ ra sông Cái Bé, hai bên rạch là những bãi bùn chạy dài vô tận, mọc đầy rẫy loại lát gon (cói). Rạch Tà Niên nằm bên hữu ngạn con sông Cái Bé nổi tiếng về nghề dệt chiếu.

Làng Vĩnh Hòa Đông vẫn yên bình bên bờ rạch Tà Niên với những phố chợ sầm uất, với nghề dệt chiếu Tà Niên truyền thống truyền từ đời này sang đời khác, để rồi đến ngày rằm tháng Giêng hàng năm, dân trong vùng cùng người tứ phương vùng lục tỉnh xưa náo nức kéo nhau về đình làng tế lễ. Các bô lão lại kể cho con cháu nghe lịch sử bi hùng của làng, kể bằng lòng tự hào của làng quê đang từng ngày đổi mới mà nét văn hóa của làng không bao giờ mất đi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2017, 10:04:57 pm

Ba Trại (Hòn Chông - Phú Quốc)

Sự trùng lặp về tên gọi địa danh trên đất nước ta rất hiếm thấy. Nhưng ở Kiên Giang đã có đến ba địa điểm nay đã thành địa danh Ba Trại. Hiện chưa thấy tư liệu nào ghi chép về địa danh Ba Trại. Tuy nhiên, dựa vào các tài liệu có liên quan về cuộc đời hoạt động của Nguyễn Trung Trực, có thể biết được cụm từ Ba Trại xuất hiện ở Kiên Giang vào thời kỳ ông và đội nghĩa quân của mình về đây lập căn cứ chống Pháp vào năm 1868...

Nguyễn Trung Trực kháng Pháp là hiển nhiên. Nhưng ông hành động trong hoàn cảnh, điều kiện lịch sử nào thì hiện chưa có tài liệu đáng tin cậy. Mặt khác, hiện nav cũng có nhiều tư liệu chưa đồng nhất nhau về vấn đề này. Riêng về địa danh Ba Trại ở Kiên Giang là hoàn toàn chính xác, vì ở những nơi đó hiện còn chứng tích và nhiều nguồn cung cấp dân gian đáng tin cậy.

Về cụm từ Ba Trại, có giả thuyết cho rằng chữ Ba là tính từ chỉ về số lượng. Lại có giả thuyết cho rằng chữ Ba có nghĩa là ba quân như cách nói xưa kia chỉ về quân đội: ba quân tướng sĩ.

Trước khi xem xét hai giả thuyết trên, chúng ta tìm hiểu thêm từ Trại. Theo Hán - Việt từ điển của Đào Duy Anh, chữ Trại có 2 nghĩa. Nghĩa thứ nhất là khoảng đất trống ở giữa đồng hoặc núi mà trồng cây xung quanh để phòng giữ gọi là trại. Nghĩa thứ hai là dinh lũy để quân lính ở. Như vậy, theo 2 giả thuyết trên đây, giả thuyết thứ nhất cho rằng Ba Trại có nghĩa là 3 cái trại, giả thuyết thứ hai cho rằng Ba Trại là trại của quân lính (ba quân).

So với những di tích ở Hòn Chông, là nơi có ấp Ba Trại hiện nay, thì theo cách giải thích của giả thuyết thứ nhất là không ổn. Hiện nay tại ấp Ba Trại ở Hòn Chông có đến hơn chục cái nền xưa kia là nền trại của nghĩa quân. Theo ký ức của người dân ở ấp Ba Trại hiện nay, xưa kia Nguyễn Trung Trực về đây xây dựng đến hơn chục cái trại cho quân lính đồn trú, đó là chưa kể số trại của quân lính làm rẫy ở vùng Rẫy Mới bên kia dãy Hòn Chông. Phú Quốc cũng có các di tích mang tên Ba Trại của nghĩa quân

Nguyễn Trung Trực ở hai bờ của con sông Cửa Cạn. Nói chung, các dấu vềt về Ba Trại ở đây không còn rõ lắm, nhưng ký ức của người dân vùng này còn khá thống nhất nhau về số lượng trại. Người ta cho rằng ngay trên con sông Cửa Cạn, có đến hai nơi mà xưa kia gọi là Ba Trại: Ba Trại trong và Ba Trại ngoài. Ba Trại trong xưa kia có nhiều đồn trại, Ba Trại ngoài thì ít hơn, nhưng cũng đã có trên chục trại. Giữa các cụm trại là Trại quan lớn tướng, Trại bà lớn tướng, Trại súng, Trại năm căn, Trại lâm (đóng thuyền), v.v... Như vậy giả thuyết thứ hai cho rằng Ba Trại là trại của quân lính (ba quân) có sức thuyết phục hơn.

Sau thời gian hoạt động ở vùng Long An, Tiền Giang ngày nay, Nguyễn Trung Trực đưa quân về Kiên Giang, xây dựng một vùng căn cứ kháng chiến từ trong đất liền ra tận các hải đảo, trong đó có căn cứ Hòn Chông, bao gồm Ba Trại ngày nay là vùng đông bắc Hòn Chông. Nơi đây nghĩa quân phá rừng làm rẫy gọi là Rẫy Mới cho đến nay. Hòn Chông trước kia là vùng thiên nhiên hoang dã. Ấp Ba Trại ngày nay vốn là doi đất cuối cùng, nơi giáp biển của xã Bình An bây giờ. Nhìn lên bản đồ Kiên Giang, chúng ta thấy trước mặt Ba Trại có cụm tiền đồn thiên nhiên án ngữ, bao gồm dãy núi Hòn Chông và hàng chục núi non hiểm trở khác nằm chen chúc trong khu rừng sác mọc trên đầm lầy.

Khi vừa đứng chân ở Hòn Chông, Nguyễn Trung Trực đã đưa quân tiến sâu vào đất Rạch Giá. Nơi cách tỉnh lỵ Rạch Giá chừng 15 cây số, ông đã đặt một bộ phận nghĩa quân tại đó, một bộ phận khác tạt qua chiếm toàn bộ bờ tây sông Cái Lớn từ Cái Nước, Hốc Hỏa, xuống nhà Ngang, Ba Đình, Đồng Tranh, nói chung là chiều dài này ôm cả tây sông Cái Lớn mà ven sông lúc này là cánh đồng U Minh bạt ngàn. Tại Đồng Tranh xưa cũng có một địa danh Ba Trại như ở Hòn Chông nhưng ít được nhắc đến vì lúc đó dân cư còn quá ít. Có nhiều tài liệu của Pháp để lại cho thấy dân cư tại chợ Rạch Giá thời đó không quá 60 ngàn người.

Sau khi hạ đồn Kiên Giang, Nguyễn Trung Trực nhận thấy tình hình có phần bất lợi nên rút quân về đảo Phú Quốc. Tại đây, ông cho xây dựng căn cứ bên dòng sông Cửa Cạn. Do vậy đã hình thành các trại như đã nói trên. Hiện nay, trên đảo Phú Quốc các di tích này vẫn còn được bảo tồn, nhiều hiện vật được giữ gìn như: thuyền, súng, bát đĩa của nghĩa quân có liên quan đến giai đoạn lịch sử này.

Giờ đây, mỗi lần nhắc đến địa danh Ba Trại, mỗi người Việt Nam chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động, bởi nơi đây vùng đất miền duyên hải này là một chiến tích hùng hồn về tinh thần truyền thống yêu nước - cốt cách con người Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2017, 10:05:44 pm

Câu hỏi 17: Hiện nay ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có hàng chục đền thờ Nguyễn Trung Trực nhưng đền thờ chính - nơi hàng năm tổ chức lễ hội tưởng nhớ người anh hùng áo vải là ở đâu? Hãy cho biết về đền thờ và lễ hội này?
Trả lời:


Trong hầu hết 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có hàng chục ngôi đền thờ ghi rõ chính danh: "Đình thần Nguyễn Trung Trực". Ngoài đền thờ chính còn có rất nhiều đền thờ ghép tức là đình làng nào đó thờ phúc thần hay nhân thần rồi thờ thêm hình Nguyễn Trung Trực. Tuy nhiên, đền thờ lớn nhất được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa là nơi hàng năm tổ chức lễ hội tưởng nhớ Nguyễn Trung Trực nằm ở thành phố Rạch Giá, nơi ngày xưa ông đã anh dũng hy sinh.

Đền thờ Nguyễn Trung Trực nằm ở phía tây của trung tâm thành phố Rạch Giá, trên đường Nguyễn Công Trứ. Mặt đền quay ra cửa biển và cách biển khoảng 100m. Năm 1869, đền chỉ là ngôi nhà nhỏ bằng gỗ, mái lợp lá, do người dân chài dựng lên để thờ thần Nam Hải (cá voi). Mỗi năm đến ngày mất của Nguyễn Trung Trực, nhân dân các nơi tụ tập về đây tổ chức lễ hội tưởng niệm ông. Qua nhiều lần sửa chữa và mở rộng vào các năm 1881, 1964, 1970, ngôi đền đã khang trang hơn. Đến năm 1988, Bộ Văn hóa đã ra quyết định công nhận mộ và đền Nguyễn Trung Trực là di tích lịch sử - văn hóa.

Ngôi đền hiện nay được khởi công xây dựng vào ngày 20 tháng 12 năm 1964, khánh thành ngày 24 tháng 2 năm 1970, do kiến trúc sư Nguyễn Văn Lợi thiết kế, toàn bộ kinh phí xây dựng do nhân dân đóng góp. Đền được xây dựng theo kiểu chữ tam, gồm có chính điện, đông lang và tây lang. Cột kèo bằng bê tông, mái lợp ngói, cổng đền ba cửa (dạng cổng tam quan). Trước cửa chính điện có một lư hương bằng đá, trên nóc mái đền được trang trí cảnh "lưỡng long tranh châu", các góc mái đắp hình lá cúc cách điệu và hình rồng. Tất cả các mảng phù điêu trên được làm bằng xi măng gắn những mảnh gốm nhiều màu rất đẹp. Cửa đình có hai cột đắp nổi hình rồng uốn lượn từ dưới lên quấn quanh cột, biểu tượng cho uy quyền và sức mạnh. Trong đền có 10 cây cột bằng bê tông, mỗi cột có chân hình bát giác, phía trên hình bát giác có đắp nổi hai lớp cánh sen.

Trong chính điện có rất nhiều bài vị thờ. Phía ngoài là bài vị Chánh soái, di ảnh Nguyễn Trung Trực, thờ tiền hiền, những nghĩa quân liệt sĩ. Phía trong có ba ngai thờ chính của đền: chính giữa là ngai thờ Nguyễn Trung Trực bên trái là ngai thờ cụ Phó cơ Nguyễn Hiền Điều, Phó lãnh binh Lâm Quang Ky; bên phải là ngai thờ thần Nam Hải đại tướng quân. Trên nóc đền có bức hoành phi ghi 4 chữ "anh khí như hồng", nghĩa là khí tiết của người anh hùng rực rỡ như cầu vồng bảy sắc.

Nằm ở phía tây đền là mộ Nguyễn Trung Trực. Mộ được xây hình chữ nhật, đặt xuôi theo đền. Phía sau mộ là bức tường hình chữ nhật cao khoảng 2m, rộng hơn 1m, trên tấm bia khắc: Anh hùng Nguyễn Trung Trực (1838- 1868). Ở góc phải mộ có một tảng đá nhỏ ghi lại quá trình xây mộ. Ngày đặt viên đá đầu tiên là ngày 18 tháng 10 năm 1986. Xung quanh mộ Nguyễn Trung Trực, các loại cây lá do nhân dân thành kính dâng hiến bốn mùa xanh tốt.

Vào các ngày 27, 28 và 29 tháng 8 âm lịch hằng năm, tại đền thờ Nguyễn Trung Trực đều tổ chức lễ hội kỷ niệm ngày hy sinh của vị anh hùng dân tộc này.

Trước lễ giỗ chính thức từ 5 tới 7 ngày, hàng trăm người từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã kéo về để làm công quả. Họ chung tay sửa sang đền thờ, dựng trại, đắp lò nấu cơm thành tâm như con cháu lo cúng giỗ cho ông bà vậy, nhiều người tiếp tục nấu cơm, rửa bát đũa, dọn dẹp cho đến hết lễ hội mới quay về nhà.

Trong lễ giỗ, đóng góp là tùy tâm. Các bà, các chị buôn bán ở chợ thì thường từ 5 đến 7 người góp gạo, rau cho đủ một xe đạp, xe lôi rồi gọi một xe nào ở gần, nói là gửi cho đền cụ Nguyễn. Chỉ cần nói vậy là đảm bảo số hàng trên được chuyển đến nơi chu đáo. Nhiều người đạp xe lôi còn không lấy tiền chở đồ đến đền cụ Nguyễn.

Trong và sau lễ giỗ 3 đến 5 ngày, nhân dân tự nguyện lo ở một khu riêng trong đền để nấu cơm chay phục vụ miễn phí cho tất cả khách đến dự lễ. Cơm và thức ăn được dọn lên mâm, ai đói cứ việc ăn, ăn xong lại có người dọn dẹp. Nhà bếp phục vụ bà con từ 3 giờ sáng đến 12 giờ đêm hàng ngày. Gạo và thức ăn do người dân dâng cúng, các lễ vật còn dư sau lễ hội thường được ban quản lý đền đem tặng người nghèo.

Lễ hội hàng năm tưởng nhớ Nguyễn Trung Trực thường gồm phần Lễ và phần Hội: phần Lễ có lễ rước sắc thần, lễ tế Nguyễn Trung Trực, lễ dâng hương theo nghi thức cổ truyền của dân tộc diễn ra tại khu di tích và công viên tượng đài Nguyễn Trung Trực.

Phần hội diễn ra với không gian rộng với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống với các loại hình nghệ thuật hiện đại như: trò diễn lại trận đánh chìm tàu chiến Pháp trên sông Nhật Tảo, bơi thuyền, chơi cờ tướng và nhiều trò vui khác. Đặc biệt, ngoài các hoạt động vốn có, mỗi năm ban tổ chức lại đưa thêm nhiều nội dung mới, không kém phần độc đáo, hấp dẫn, được đánh giá cao. Như chiếc chiếu Tà Niên dài 45m, rộng 1,8m được xác lập kỷ lục chiếc chiếu dài nhất Việt Nam trình diễn trong đêm hội dệt chiếu Tà Niên...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Giêng, 2017, 02:29:48 pm

Phần thứ hai
PHỤ LỤC

I. NHỮNG NIÊN ĐẠI CÓ LIÊN QUAN TRONG CUỘC ĐỜI CỦA NGUYỄN TRUNG TRỰC

1838 (?): Năm sinh của Nguyễn Trung Trực (xem phần thân thế).

18-2-1859: Quân Pháp tiến đánh Sài Gòn - Gia Định và mở nhiều cuộc tấn công vào quân triều đình.

4-9-1859: Quân Pháp tấn công vào chùa Chợ Rẫy. Hai bên đánh nhau dữ dội. Quân ta giết được tên đại úy Bắc-bê và nhiều tên khác. Sau vì yếu thế ta phải rút lui.

25-2-1861: Đồn Chí Hòa thất thủ. Nguyễn Trung Trực được giữ chức Quyền sung quản binh đạo, coi giữ vùng Long An.

12-4-1861: Quân Pháp đánh chiếm Mỹ Tho và Gò Công, thiết lập đồn bót. Quân triều đình rút về Vĩnh Long.

14,15-4-1861: Nghĩa quân tấn công vào các đồn bót quân Pháp ở Gò Công.

22-6-1861: Đỗ Đình Thoại khởi nghĩa ở Gò Công. Nguyễn Trung Trực được phân công kiểm soát vùng ba biên: Tây Ninh - Bến Lức - Gò Công.

22-8-1861: Đô đốc Charner ký lệnh giải tán quân đồn điền của Nguyễn Tri Phương.

30-11-1861: Tướng Bonard sang thay thế Charner liền ra lệnh tấn công Biên Hòa, mở rộng vùng kiểm soát khu tứ giác: Tiền Giang - Gò Công - biển Nam Hải và biên giới Việt - Miên, đồng thời ra lệnh cho tàu tuần tra suốt ngày đêm trong sông rạch.

10-12-1861: Nguyễn Trung Trực tổ chức tấn công đốt cháy tàu Espérance tại vàm sông Nhật Tảo, giết được 17 tên giặc Pháp và sau đó liên tục đánh phá đồn bót giặc ở Tân An, Gò Công, Cần Giuộc, Cái Bè, Rạch Gầm...

1-3-1862: Nguyễn Trung Trực phản công, đánh phá nhiều nơi làm cho quân Pháp phải rút bỏ các đồn như: Gò Công, Chợ Gạo, Gia Thạch, Tân An, Cái Bè, Cần Giuộc, Phước Lộc, v.v...

25-3-1862: Bonard ra lệnh cho quân Pháp chiếm lấy Vĩnh Long.

5-5-1862: Bonard đưa quân tái chiếm các vùng đã bị mất. Bonard sai Le Monde đi thuyền máy đến Thuận An để nghị hòa với Trương Đăng Quế thuộc Cơ mật viện của triều đình (phái thủ hòa). Pháp đòi triều đình phải bồi thường 10 vạn quan tiền chiến phí để làm tin.

5-6-1862: Lập Hòa ước Nhâm Tuất. Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp đại diện triều đình ký với Pháp trên chiến hạm Dupéré đậu trên sông Sài Gòn. Pháp đòi triều đình thực hiện 3 điều kiện:
1. Nhượng 3 tỉnh miền Đông cho Pháp.
2. Nạp 20 vạn quan tiền chiến phí.
3. Mở cửa Đà Nẵng, Quảng Yên cho tàu Pháp ra vô buôn bán tự do. Nếu buôn bán với các nước khác phải thông qua ý kiến của Pháp.



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Giêng, 2017, 02:30:12 pm

16, 17-12-1862: Nghĩa quân tổ chức tấn công các tiểu hạm Lorcha, đốt cháy chiếc số 3 và tiến công đánh chiếm đồn Rạch Tra. Trận này phía Pháp có đại úy Thouronde tử trận. Sau đó quân ta tiến đánh sông Tra, Rạch Gầm.

18-12-1862: Đại úy Taboule chỉ huy tấn công Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho).

1863: Trong năm này Nguyễn Trung Trực nhận được sắc chỉ của vua Tự Đức phong chức Quản cơ trấn thủ Bình Thuận.

2-1863: Viện binh Pháp trở lại đánh chiếm Gò Công, Nguyễn Trung Trực chuyển quân về Long Thành, Phước Lý và Tân Uyên.

1864: Tên phản bội Huỳnh Công Tấn dẫn Pháp tấn công vào Phước Kiến. Trận này Trương Định tử thương. Thủ khoa Huân bị bắt, Pháp đày ông ra đảo Réunion.

20-6-1867: Quân Pháp chiếm Vĩnh Long.

22-6-1867: Quân Pháp chiếm Châu Đốc.

24-6-1867: Quân Pháp chiếm Hà Tiên (trong tháng 6- 1867 Nguyễn Trung Trực được vua Tự Đức sắc phong chức Thành thủ úy trấn nhậm Hà Tiên. Nhưng khi đến nơi quân Pháp đã chiếm mất rồi. Ông lui về Hòn Chông lập căn cứ chống Pháp).

16-6-1868: Đúng 4 giờ sáng, Nguyễn Trung Trực tấn công đồn Kiên Giang giết được tên chủ tỉnh Chánh Phèn, trung úy Sauterne, thiếu úy Gamard và một số binh lính khác. Riêng cai ngục Duplessix ngủ ngoài đồn nên thoát chết. Tên Chomb, thông ngôn của Pháp bị bắt, sau được ông Nguyễn tha.

18-6-1868: Trung tá hải quân Ansart kéo quân từ Vĩnh Long về tiếp cứu đồn Kiên Giang. Trong đoàn này có hai tên bán nước Trần Bá Lộc và Nguyễn Hữu Phương.

21-6-1868: Quân Pháp chiếm lại đồn Kiên Giang.

19-9-1868: Nguyễn Trung Trực ra Phú Quốc lập căn cứ chống Pháp.

9-1868: Thông báo hạm GeolanáL ghé vào Hà Tiên rước Huỳnh Công Tấn với 125 lính mã tà đi ra Phú Quốc tấn công Nguyễn Trung Trực.

10-1868: Nguyễn Trung Trực bị bắt, Pháp đem về giam ông tại khám lớn Sài Gòn. Chúng dụ dỗ không được liền tuyên án tử hình.

21-10-1868: Pháp xử chém Nguyễn Trung Trực tại Kiên Giang.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Giêng, 2017, 02:31:55 pm

II. NHỮNG SỰ KIỆN ĐẶC BIỆT XẢY RA TRƯỚC VÀ SAU CÁI CHẾT CỦA NGUYỄN TRUNG TRỰC

Như chúng ta đã hiểu, Nguyễn Trung Trực là lãnh tụ nghĩa quân kháng Pháp rất quyết liệt. Những thắng lợi của ông làm cho Pháp phải kinh hoàng, vị nể. Chúng rất lo sợ nếu không khuất phục được ông thì công cuộc xâm lăng đất nước này sẽ có nhiều trở ngại. Vì thế đối với ông, chúng áp dụng hai biện pháp. Một là, dùng chức quyền, tiền bạc mua chuộc và khuyên dụ để ông chịu hợp tác với Pháp như bọn Huỳnh Công Tấn, Trần Bá Lộc. Đỗ Hữu Phương... Hai là, nếu dùng biện pháp trên không được thì khẩn cấp loại trừ ông.

Ý đồ của chúng đã thành công. Nguyễn Trung Trực bị bắt và không chịu làm tay sai cho kẻ thù. Ông bị kết án tử hình tại tòa án Sài Gòn, rồi đưa ông về Kiên Giang để thi hành án. Ông hiên ngang chết dưới lưỡi dao bén ngọt của tên đao phủ bòn Tưa (bòn Tưa là tên đao phủ người dân tộc Khơ Me được Pháp mướn. Cứ chặt một cái đầu tử tội thì hắn được hưởng một quan tiền). Cái chết của ông trở thành bất tử. Ông sẽ sống mãi trong lòng dân tộc.

Nhưng ở đây, muốn nói đến những điều đặc biệt đã xảy ra trước và sau cái chết của ông. Cái chết này không đơn giản, bình thường như những cái chết của bao tử tội khác. Dân gian thường nói: "Thắng làm vua, thua làm giặc". Ở đây Nguyễn Trung Trực là kẻ thua thì có thể bị kẻ thắng xử lý bằng mọi hình thức, kể cả việc băm vằm thân thể ra trăm mảnh cho hả cơn tức giận cuồng điên... Nhưng không, kẻ thù (Pháp) đối với ông rất kính trọng và vị nể. Trước giờ hành quyết ông, dân chúng Kiên Giang ùn ùn kéo đến dinh chủ tỉnh xin cho làm lễ tế sống Nguyễn Trung Trực. Chúng liền chấp thuận ngay. Hành vi này cũng có hai mặt: một là do lòng kính trọng đối với ông, con người có nhiều phẩm chất anh hùng cao cả, hai là mong làm giảm bớt lòng căm phẫn của nhân dân. Nếu không đáp ứng, e xảy ra cuộc bạo loạn. Đó cũng là thủ đoạn chính trị của bọn thực dân.

Sau đó, dân chúng liền lập bàn hương án, có đầy đủ hương đăng, hoa quả. Chiếu bông được trải dài từ bục chém cho đến bàn hương án (Có tài liệu nói là trải chiếu dài từ khám lớn cho đến pháp trường). Loại chiếu này ở giữa có in chữ Thọ (chữ Hán), màu sắc đỏ tươi, rực rỡ do dân Tà Niên gấp rút dệt tặng ông. Chữ Thọ này nói lên ý nghĩa rất thâm sâu là dù ông có chết nhưng tên tuổi ông sẽ trường tồn trong lòng mọi người. Kế đến người ta dâng lên ông mâm áo vạt hò (loại áo mà ông thích mặc khi xung trận). Tiếp đến là mâm cơm, bầu rượu, trái dừa tươi... Dân chúng thành khẩn mời ông mặc, ông ăn, ông uống cho được no lòng trước khi đi về cõi thiên thu. Ông vui vẻ mỉm cười hưởng trọn vẹn niềm yêu thương của dân tộc.

Trong những giây phút cuối cùng, ông cũng còn biểu hiện tính khí anh hùng để cho kẻ thù phải khiếp sợ. Đó là khi tên chỉ huy cuộc hành quyết xuống lệnh: "Chém" mà tên đao phủ vẫn chưa chém. Nó đứng chết trân, tay chân run cầm cập. Nó quỳ xuống lạy ông và nói: "Xin ông hãy thông cảm, vì Pháp nó mướn con". Ông nói: Pháp mướn mày chém tao thì mày cứ chém, nhưng chém phải cho ngọt, nếu không tao sẽ vặn cổ mày. Sau đó tên đao phủ mới dám khai đao. Khi lưỡi dao lướt qua làm đầu ông lìa khỏi cổ sắp rơi xuống đất, hai tay ông vội kềm lại, mắt trợn tròng nhìn thẳng xuống hàng ghế của bọn chỉ huy Pháp làm chúng hết hồn ù bỏ chạy tán loạn. Ông nhìn qua tên đao phủ với cặp mắt trừng trừng làm hắn kinh hoàng hét lên một tiếng "á" thật to... Máu từ trong miệng hắn vọt ra và ngã xuống giãy giụa một lúc rồi chết.

Lúc bấy giờ pháp trường vang lên những tiếng thút thít, đó là tiếng khóc của đồng bào đang chứng kiến cảnh xử tử anh hùng Nguyễn Trung Trực. Một cảnh tượng rất đau thương đối với một con người đã hết lòng vì dân vì nước, mà đến khi chết thân thể không còn nguyên vẹn. Người ta nói thêm rằng, sau đó trời đổ cơn mưa dữ dội, sấm sét nổ rền trời, chứng tỏ trời cũng động lòng thương tiếc!... Sau đó chúng vội đem chôn ông sau đồn để tiện bề canh giữ, vì chúng sợ nhân dân sẽ cướp xác ông đi.

Bẵng đi một thời gian, trong một đêm trời khuya thanh tịnh, bỗng dưng nổi lên tiếng binh khí chạm nhau chan chát, tiếng chân chạy tới chạy lui nghe huỳnh huỵch, tiếng la hét râm ran giống như tiếng xung trận của nghĩa quân đánh đồn Kiên Giang lúc trước, làm cho bọn lính trong đồn kinh hồn bạt vía. Nhiều lần như vậy làm cho bọn Pháp mất ngủ, chúng liền lấy dây xích sắt xiềng quanh ngôi mộ và rải vàng mã ở bốn góc đồn, gọi là trừ ma yếm quỷ. Nhưng lạ thay, sáng hôm sau chúng xem lại thì thấy dây xích sắt đều đứt cả. Chúng cho đội lính kèn đứng quanh mộ thổi, vì chúng cho rằng hồn ma rất sợ tiếng kèn. Nhưng không, toán lính kèn thổi vừa xong đều ngã lăn quay xuống đất hộc máu chết. Sau đó chúng trồng một cây đa và lập miếu nhỏ để thờ với lòng thành khẩn vái van xin đừng phá phách nữa.

Tuy thế, dân gian vẫn kể thỉnh thoảng lại thấy Nguyễn Trung Trực và nghĩa quân hiện hồn về phá đồn giặc ở dinh Vĩnh Hòa (chỗ Sở Điện lực hiện nay) hay một mình ông cưỡi ngựa phi trên nóc đồn Kiên Giang và phi ngựa trên biển chạy ra Hòn Tre, giết chết hàng chục tên lính Pháp (Nguyễn Trung Trực - chuyện kể dân gian).

Những sự việc trên đọc qua cảm thấy rất hoang đường, phi lý, dễ bị kích động là dị đoan, mê tín. Nhưng không, đây là truyền thuyết dân gian đậm đà nét dân tộc. Nâng cao sự tôn sùng, kính trọng tuyệt đối của nhân dân đối với nhân vật lịch sử đã làm được những điều kỳ vĩ giúp dân, giúp nước...

Trong Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu có viết: "Sống đánh giặc, chết cũng đánh giặc. Hồn linh theo giúp cơ binh, nguyện trả được thù kia".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Giêng, 2017, 02:37:13 pm

III. LÒNG KÍNH TRỌNG CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI VỊ ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC

Đối với Nguyễn Trung Trực, trong 8 năm chiến đấu chống xâm lược Pháp - thời gian không dài nhưng ông đã tạo được đỉnh cao uy tín và lòng thương mến của nhân dân hơn các quan chức, vua chúa đương thời. Lúc còn sống vua chúa không ban cho ông làm tướng, làm soái. Nhưng nhân dân và nghĩa quân phong cho ông làm tướng, làm soái. Nên người ta thường gọi ông là "ông Tướng, "ông Soái", còn nghĩa quân thì gọi là Chủ tướng hay Chủ soái hoặc là Bình Tây Đại Nguyên soái. Sau khi ông chết, nhân dân phong tặng ông chức Thượng đẳng Đại thần. Thật là xứng đáng!

Trong hầu hết 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long chưa thấy có vua chúa, quan chức hay lãnh tụ nào có công với đất nước mà sau khi chết được xây dựng đền thờ nhiều như Nguyễn Trung Trực. Có hàng chục ngôi đền thờ ghi rõ chính danh: "Đình thần Nguyễn Trung Trực". Ngoài đền thờ chính còn có rất nhiều đền thờ ghép (tức là đình làng nào đó thờ phúc thần hay nhân thần rồi thờ thêm hình Nguyễn Trung Trực, như đền thờ thần ở Bình Thủy (Cần Thơ), v.v... Còn một số nhà treo ảnh thờ riêng như thờ Cửu huyền thất tổ của họ vậy, nhất là các gia đình ở tỉnh Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp...

Hàng năm đến ngày 27, 28 và 29 âm lịch, bà con ở các tỉnh đi về Kiên Giang dự lễ giỗ của ông rất đông. Người khá giả, giàu có thì cúng tiền bạc hoặc vật dụng dùng trong ngày lễ như gạo, muối, nước tương, bầu bí, v.v... Người nghèo thì đến làm công quả hằng mươi bữa, nửa tháng, khi nào xong việc mới về. Họ đến với thiện tâm tự nguyện chứ không đòi hỏi quyền lợi gì cả. Vùng miền Tây có câu thơ nhắc nhở là:

      Dù ai buôn bán gần xa
      Ngày giỗ cụ Nguyễn thì ta nhớ về.


Sau đây là danh sách một số đình chính (đình thần Nguyễn Trung Trực) ở trong và ngoài tỉnh Kiên Giang:

1. Tỉnh Kiên Giang:

- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại thị xã Rạch Giá.
- Đình thần Nguyền Trung Trực tại Mong Thọ (Tân Hiệp).
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại Tân Điền.
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại Mỹ Lâm.
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại Sóc Soài.
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại huyện Hòn Đất.
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại Phú Quốc.
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại Gò Quao.
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại Tà Niên (thờ chung với Lâm Quang Ky).

2. Tỉnh An Giang:
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại Long Giang (huyện Chợ Mới).
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại Vĩnh Trạch (thị xã Long Xuyên).

3. Tỉnh Cần Thơ:
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại huyện Long Mỹ.

4. Tỉnh Sóc Trăng:
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại Long Phú (huyện Kế Sách).
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại An Lạc thôn (huyện Kế Sách).
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại Phú Lộc (huyện Thạnh Trị).

5. Tỉnh Bạc Liêu:
- Đình thần Nguyễn Trung Trực tại An Hòa (huyện Giá Rai).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Giêng, 2017, 05:53:13 pm

IV.

Trong quyển "Le premièrès années de la Cochinchine colonie Française" Paulin Vial thuật việc tấn công tàu Espérance như sau:

"Lúc giữa trưa ngày 10 tháng 12, Trực lợi dụng viên sĩ quan chỉ huy chiếc tiểu hạm Espérance đuổi theo bọn gian phi cách tàu khoảng 2 dặm. Bốn hoặc năm chiếc ghe lớn có mui thả trôi theo hông tàu, đoàn thủy thủ nghỉ ngơi trên sàn tàu không nghi ngờ gì, viên hạ sĩ quan giữ chức vụ phụ tá, thò mình ra cửa sổ vì tưởng rằng người buôn bán muốn xin thị nhận giấy phép lưu thông. Tên vô phước này đã bị giết bằng một mũi giáo vào ngực và đoàn người đột kích phóng mình từ dưới mui những chiếc ghe cặp sát tàu vừa la hét khủng khiếp vài phút đồng hồ, sàn tàu tràn ngập hơn một trăm năm chục người Việt Nam cầm giáo, gươm và đuốc và một cuộc giáp chiến lực lượng không tương xứng diễn ra. Trong vài phút đồng hồ, lửa bắc qua mái rơm của chiếc tiểu hạm và cháy lan mau chóng. Bị lửa táp, những người giao chiến nhảy bổ xuống sông hay chạy thoát vào trong những chiếc ghe. Năm người trong đoàn thủy thủ: 2 người Pháp và 3 người Tagal không khí giới trốn trên một chiếc ghe chèo thục mạng. Từ xa họ thấy chiếc Espérance nổ tung mà những mảnh vỡ văng ra đến tận hai bờ sông chôn vùi xác chết của 17 người Pháp và Tagal bị giết trong tai biến này.

Thuyền trưởng Parfait, sĩ quan trẻ tuổi, hoạt động và can đảm đã được tuyên dương vì chỉ huy xuất sắc trong nhiều trận chiến, được chiếc ghe thoát hiểm báo tin, ông ta đến xin vài người tiếp viện ở tàu Garonne và trở lại chỗ xảy ra thảm kịch cùng ngày. Ông ta gặp 3 tên Tagal bị địch quân bắt, nhờ lúc tàu nổ mà trốn thoát, những tên bất hạnh này trốn sau những bụi rậm và ở yên trong một cái đầm nước sâu tới miệng chờ cứu viện.



V.

Ông Dương Công Thuyên, người Rạch Giá, làm thầy thuốc Bắc, giỏi Hán tự và y dược, có tư tưởng cách mạng và tinh thần yêu nước, ông có sáng tác thơ văn nhưng có lẽ ông là bạn của Nguyễn Trung Trực nên người nhà sợ liên lụy mà thiêu hủy đi chăng.

Trước khi Nguyễn Trung Trực đến chợ Rạch Giá đã cho thuộc hạ đến dò tìm những người yêu nước. Sau đó ông mới tìm đến và gởi mẹ già ở nhà ông Dương Công Thuyên. Nhà ông ở tại chợ Rạch Giá.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Giêng, 2017, 05:54:09 pm

VI.

Bà Điều và bà Đỏ, có người cho là hai chị em ruột, cư ngụ tại làng Minh Lương (người Khơ Me gọi là Cà Lang, có thời gian gọi là xã Minh Hòa do sự sát nhập làng Minh Lương và làng Hoà Thạnh Lợi rồi đổi tên, nay thuộc quận Châu Thành, tỉnh Kiên Giang).

Hai bà thuộc gia đình khá giả, có nhan sắc nhưng quá 30 tuổi vẫn chưa chồng, biết chữ nghĩa, ăn nói lịch thiệp.

Hai bà đã thuyết dụ được ông quản cơ cầm đầu trại lính mộ làm nội ứng. Về sau khi Pháp tái chiếm thành Kiên Giang, phạt không cho người Việt làm đến chức quản trong vòng 50 năm, nghĩa là mãi đến năm 1918 mới có lính mộ làm đến chức quản.

Chiến thắng thành Kiên Giang, hai bà đã góp công lớn. Trong những ngày thất thế, nghe nói hai bà theo cụ Nguyễn Trung Trực ra đảo Phú Quốc rồi không biết sống chết thế nào hay phiêu bạt về đâu?

Trong quyển Les Héros de Rạch Giá, tác giả đã hư cấu rất nhiều và mô tả bà Đỏ là người phụ nữ có thành tích xấu, cho rằng bà là một đứa con lai do một người Pháp khi ở Nam Vang đã lấy một người đàn bà Cao Miên mà sanh ra, vì tóc đỏ hoe là đặc điểm của sự lai đó, do đó mới đặt tên Đỏ. Về sau cô lại bị người cha ruột giở trò loạn luân. Đây là chi tiết hoàn toàn hư cấu vì Pháp chiếm Cao Miên năm 1864 đến năm 1867 thì Pháp chiếm Kiên Giang mà bà Đỏ khi hợp tác với cụ Nguyễn Trung Trực đánh thành Kiên Giang đã ngoài ba mươi tuổi.

Nhưng đó là phần hư cấu của câu chuyện. Thực ra bà Điều và bà Đỏ là hai chị em, người địa phương, cư ngụ làng Minh Lương. Và ở địa phương này vẫn có nhiều phụ nữ mang tên Điều hay Đỏ mà không do lai gì cả.

Trong bản thẩm vấn cụ Nguyễn Trung Trực do Piquet ghi cũng đã viết sai: Thị Bà Đỏ. Sự thực thì đồng bào Khơ Me ở đây nam dùng Danh như là họ, nữ dùng Thị như là họ rồi ghép tên vào, việc này do triều đình nhà Nguyễn đặt ra. Do đó có tên Danh Đông, Danh Sang, Thị Lài, Thị Mỹ chứ không ai gọi là Thị Bà Đỏ bao giờ.



VII.

Rạch Lăng Ông: Thuở xưa cạnh đình thần Nguyễn Trung Trực ở số 8 đường Nguyễn Công Trứ, ngày nay là xóm chài lưới thường gọi là vạn lưới, về sau gọi là xóm Phủ, do chữ Ngư phủ nói tắt. Dân chúng thấy cá Ông lụy (chết) ngoài biển Rạch Giá ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch (không rõ năm nào), kéo xác vào con rạch xóm Phủ, lập miếu thờ. Con rạch này về sau dân địa phương gọi rạch Lăng Ông, sau này đã lấp làm đại lộ Tự Do.

Nghĩa quân không sử dụng kinh Ông Hiển để đến thành Kiên Giang vì có nhiều nhà cửa ở dọc hai bên con kinh này, nếu dùng trong việc chuyển quân sẽ bị lộ, như vậy không còn yếu tố bất ngờ nữa, mà yếu tố bất ngờ là một quyết định quan trọng trong chiến thuật đột kích.

Vì vậy cụ Nguyễn Trung Trực và nghĩa quân đi theo đường biển.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Giêng, 2017, 05:55:22 pm

VIII.

Thành Kiên Giang còn gọi là thành lính Sơn Đá xây dựng cách nay 124 năm, rất kiên cố, nay vẫn còn. Đó là kiến trúc lâu đời nhất còn tồn tại, tường xây bằng đá tảng rất dầy, có nhiều cửa sổ, một số cửa sổ sau này được xây bít lại. Trong thành có sáu cầu thang lên tầng trên. Thành xây trên một khu đất cao chung quanh trống trải, bên sông Kiên, nhưng về sau các công sở xây cất kế tiếp đã che khuất thành này.

Khi Pháp mới chiếm Rạch Giá liền cho xây thành này để một đội lính ở nên mới gọi là thành lính Sơn Đá do chữ Pháp soldat dịch âm ra, cách thành này không xa là trại lính mộ người Việt, dân địa phương quen gọi là lính mã tà.

Về sau khi tình hình đã ổn định, Pháp dùng thành này làm cơ quan hành chánh trong tỉnh gọi là Tòa Bố, nhưng dân chúng quen gọi là nhà hầu.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám nổ ra, dân chúng tràn vào thành này. Tuôn hết giấy tờ công văn xuống đất, mang tấm bảng ghi danh sách các công chánh tham biện Rạch Giá đem ra bùng binh chợ Rạch Giá hỏa thiêu.



IX.

A.Schreiner thuật trận đánh đồn Rạch Giá như sau:

"Đồn Rạch Giá bị tấn công lúc 4 giờ sáng ngày 16 tháng 6 năm 1868. Trung úy hải quân, thanh tra địa phương, người ở đây gọi là Chánh Phèn vì bộ râu vàng hoe, là một trong những người bị giết trước tiên. Trung úy Sauterne chỉ huy đồn lính bị giết chết sau một chập chống trả mãnh liệt, đồn lính này gồm 30 người, ngủ say cạnh những khẩu súng của họ đều bị hạ sát. Khoảng 12 người họp lại mở vòng vây chạy tản mác vào làng, vì lạ người lạ cảnh họ bị giết lần lượt bằng chĩa ba, chỉ trừ tên Duplessis, tên này chạy trốn trong lùm bụi và được một ông lão và một người đàn bà Việt Nam cho ăn. Một viên chủ của sở thâu thuế tự vệ một lúc lâu bằng súng, cuối cùng cũng bị hạ sát với đứa con gái và đứa con trai nhỏ. Mấy tên thông ngôn và viên chức Việt Nam làm việc cho người Pháp bị bắt và bị giết vừa lúc quân Pháp trở lại. Lúc Pháp tái chiếm Rạch Giá, những người Cao Miên quanh vùng dẫn nạp tên Duplessis cho thiếu tá Ausart và bắt đầu lục soát tìm bắt nghĩa quân”.



X.

Đảo Phú Quốc hình thoi, diện tích 66.000 héc-ta, cách xa bờ biển Hà Tiên 70 cây số và Rạch Giá 130 cây số, có nhiều núi rừng và đồi nhỏ.

Thời Mạc Cửu, người Việt ở trên này rất ít, đa số là những chòi được dựng lên để tạm trú bắt đồi mồi, bắt ghẹ, đánh cá, lấy gỗ quý, nhặt vỏ sò, vỏ ốc để hầm vôi ăn trầu.

Về sau có người đàn bà tên Kim Giao đưa người nhà và gia súc từ đất liền ra đảo khẩn hoang và cày cấy tại Cửa Cạn thì dân chúng mỗi ngày thêm đông. Đa số những ngôi nhà lúc bấy giờ cất núp sau những hàng cây cao để tránh những trận dông biển và bão biển.

Khi bà mất, dân chúng địa phương lập miếu thờ và tôn bà là Kim Giao thần nữ.

Trước khi bà mất, bà cho thả hết trâu. Đàn trâu này lên rừng và trở thành trâu hoang. Dân trên đảo vì trọng bà nên không ai dám bắt ăn hay tái sử dụng bầy trâu phóng sanh này.

Khi cụ Nguyễn Trung Trực rút quân lên núi lập căn cứ kháng chiến chống Pháp có giết ăn một số trâu hoang này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Giêng, 2017, 05:56:16 pm

XI.

Ông Lâm Văn Ky (còn gọi Lâm Quang Ky) tự là Hưng Thái, sanh năm 1839 tại Tà Niên, nay là xã Vĩnh Hòa Hiệp, song thân là ông Cai tổng Lâm Kim Diệu và bà Nguyễn Thị Của.

Ông tiến cử cho Nguyễn Trung Trực 4 đồng chí của mình là Trịnh Văn Tư, Ngô Văn Búp, Hồng Văn Ngàn và Nguyễn Văn Miên. Ông có công chiêu tập nghĩa quân, rất có uy tín tại địa phương, nên được thuộc cấp gọi tên là phó tướng và được Nguyễn Trung Trực tín nhiệm giao trọng trách.

Vợ ông là bà Nguyễn Thị Thạnh, ông bà có bốn người con: Lâm Văn Di, Lâm Thị Hôn, Lâm Thị Bưởi và Lâm Văn Bửu.

Khi ở Tà Niên, Nguyễn Trung Trực ở tại nhà ông và nhà ông Lê Văn Quyền thường gọi là ca Quyền (vợ ông ca Quyền là chị ruột của ông Lâm Văn Ky).

Ông Lâm Quang Ky, trước đây người trong vùng quen gọi là Lâm Văn Ky, trong bản thẩm vấn của ông Piquet cũng ghi là Lâm Văn Ky, nhưng sau con cháu lập bia và viết gia phả sửa lại là Lâm Quang Ky.

Ông Lâm Văn Khương là cháu nội của ông Lâm Văn Ky có soạn quyển gia phả họ Lâm. Quyển gia phả trên được giữ tại nhà ông Khương ở ấp Vĩnh Thành, xã Vĩnh Hòa Hiệp. Trong gia phả có dấu sửa Lâm Văn Ky thành Lâm Quang Ky.



XII.

Huỳnh Công Tấn, người tỉnh Gò Công, theo Lãnh binh Trương Công Định kháng chiến chống Pháp. Vì bất bình với Trương Công Định, Tấn xuất thú điểm chỉ Pháp vây bắt Trương Công Định tại Kiến Phước. Cụ Trương bị thương, rút gươm chỉ vào mặt Tấn mắng rồi tự sát. Tấn còn vạch nhiều kế hoạch cho Pháp tiễu trừ nghĩa quân. Có công lớn nên được Pháp phong chức lãnh binh và lót chữ Công - Huỳnh Công Tấn.

Về sau lãnh binh Tấn chết, Pháp sợ dân chúng căm thù bắn xác Tấn nên cho đào 5 cái huyệt cách xa nhau trên một cái gò nhiều mồ mả tại làng Yên Luông Đông, tỉnh Gò Công. Khi đi chôn trong đêm tối chỉ có vài người khiêng quan tài nên không ai biết chính xác mả Tấn ở chỗ nào.

Tấn có một người con trai là cậu Hai Miêng, thích võ nghệ, mê bạc bài, rày đây mai đó nên được phong tặng là "Miễn tử lưu linh”. Vì Tấn lập công to, để đền ơn, sau khi Tấn chết, Pháp ban cho cậu Hai Miêng một đặc ân là đi đến đâu hết tiền thì cứ vào dinh tỉnh trưởng Pháp trình giấy giới thiệu do Pháp cấp rồi sau đó đến kho bạc lĩnh tiền ra mà ăn chơi hoang phí. Việc làm này Pháp muốn khuyến khích một số Việt gian đi theo con đường của Tấn.

Cậu Hai Miêng có tới Rạch Giá hốt me, đá gà và ngồi xuồng đi chơi nhiều nơi trong tỉnh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Giêng, 2017, 10:31:20 pm

XIII.

Ông Huỳnh Mẫn Đạt, người đương thời thường gọi là Tuần phó Đạt, sinh năm 1807 tại làng Tân Hội, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định.

Thuở nhỏ ông có học với cụ Võ Trường Toản, đậu cử nhân năm Minh Mạng thứ 12, tức khoa Tân Mão 1831. Làm quan đến chức Tuần phủ tỉnh Hà Tiên.

Ông sống cùng thời với cụ Phan Thanh Giản, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường.

Ông có tất cả mười người con, ông mất ngày mùng 4 tháng 11 âm lịch (1883).

Từ đường thờ ông hiện ở nhà người cháu nội là Huỳnh Trung ở số 28 đường Hùng Vương, Rạch Giá. Nơi đây còn thờ bút tự của ông Huỳnh Mẫn Đạt. Nét chữ đã mờ, tróc nhiều chỗ vì giấy đã mục rã.

Mộ phần của ông hiện nay ở phường Vĩnh Lạc, thị xã Rạch Giá. Mộ nằm trên một giồng đất cát trông ra biển. Sau này mở con đường Lâm Quang Ky chạy ngang qua trước mộ, mộ của ông sau căn nhà số 61/4. Bên phải ngôi mộ ông là mộ của bà Chánh thất, bên trái là mộ của bà Trắc thất.

Thơ văn của ông còn truyền lại vài bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú, hầu hết bằng chữ nôm, chỉ còn truyền lại một bài thơ chữ Hán là bài ông khóc điếu Nguyễn Trung Trực khi bị Pháp hành quyết tại chợ Rạch Giá.

Có hai câu thơ:
      "Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa.
      Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần".


Hai câu thơ này sau bị sửa lại như sau:
      "Hỏa phần Nhựt Tảo kinh thiên địa
      Kiếm phạt Kiên Giang khấp quỷ thần".


Sự sửa này chắc ngoài ý muốn của ông Huỳnh Mẫn Đạt mà nghĩa lại phản lại...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Giêng, 2017, 10:32:40 pm

XIV.

Ông Le Nestour sanh ngày 13 tháng 1 năm 1854 tại Quimperle (Pháp). Ông làm chánh sở Douant nên người địa phương thường gọi ông chủ Đoan, tương đương với chức trưởng ty quan thuế.

Ông có vợ người Việt Nam tên Nhan Thị Lựu và nhiều bà vợ bé, với tất cả 10 người con đều đặt tên Việt Nam và được người địa phương gọi rất bình dân như Ba Chim (nữ), Tư Chuột (nữ), Năm On (nam), Sáu Ô (nữ)... Con gái của ông hầu hết gả cho người Việt Nam, Trung Hoa hoặc Ấn Độ.

Ông nói tiếng Việt khá rành, ông dịch Le Nestour thành Lê Đức Tu, từng diễn thuyết bằng tiếng Việt cho hội Khai trí Tiến Đức ở Sài Gòn.

Theo người trong tỉnh, ông là người Pháp tiến bộ. Ông Huỳnh Văn Yến nói rằng ông Le Nestour thường chỉ trích việc làm sai quấy của người Pháp. Ông Le Nestour cho dân xóm chài mượn tàu mang cá đỏ của ông ra hòn Sơn Rái đốn cây danh mộc về cất đình Lăng Ông. Ông có xuất bản quyển Ile de Tortue (Hòn Rùa). Nghe nói trong quyển sách này có phần ông đề cập tiểu sử cụ Nguyễn Trung Trực. Tiếc thay nay đã thất lạc.

Ông mất ngày 22 tháng 10 năm 1928 tại Rạch Giá, mộ phần nằm phía sau sở Công an Kiên Giang.



XV.

Gilbert Trần Chánh Chiếu, cha là Trần Cửu Thọ, mẹ là Lại Thị Dẹt, sanh ngày mùng 2 tháng 6 năm Đinh Mão, tức ngày 3 tháng 7 năm 1867 tại làng Vân Tập, tỉnh Rạch Giá (Thiên địa Hội của Sơn Nam trang 99).

Ông học chữ Pháp, có Pháp tịch và theo đạo Thiên Chúa, xuất thân làm xã trưởng làng Vĩnh Thanh Vân, nên người đương thời gọi là Xã Chiếu. Về sau được thăng phủ danh dự nên được gọi là Phủ Chiếu.

Trần Chánh Chiếu làm chủ bút tờ Nông Cổ Mìn Đàm. Sau đó làm chủ bút tờ Lục tỉnh Tân Văn. Ông hoạt động công khai và hăng hái cho cuộc Minh Tân ở miền Nam lúc bấy giờ. Ông mất năm 1919.

Ông viết bài ca ngợi chiến công của cụ Nguyễn Trung Trực, kích động dân chúng noi gương ái quốc của cụ Nguyễn nổi lên chống Pháp. Bài viết của ông đăng trên Lục tỉnh Tân Văn (Sài Gòn) ngày 12 tháng 12 năm 1907 và 13 tháng 1 năm 1908 (theo tài liệu của Sơn Nam).

Ông có yết kiến Kỳ ngoại Hầu Cường Để. Năm 1911, ông bị phát giác ngầm vận động thanh niên trong tỉnh đưa đi du học bên Nhật nên bị bắt đưa về Mỹ Tho.

Về sau ông chết tại Sài Gòn, mồ mả của ông nằm tại phường Chí Hòa.

Tại Rạch Giá có con đường mang tên Trần Chánh Chiếu.

Mồ mả song thân ông tại phường Vĩnh Lạc, Rạch Giá, đã di táng về Sài Gòn năm 1975.

Theo lời Bà Hiếu - gọi ông bằng chú, ông Trần Chánh Chiếu cha là Trần Cáo (người Trung Hoa), mẹ là Nguyễn Thị Dẹt, còn một người con gái tên Trần Thị Xuyến, ngoài 80 tuổi đã lẫn, nhà cửa cũng ở Sài Gòn.

Còn ông Huỳnh Văn Yến cho biết ông Trần Chánh Chiếu có một người con trai tên Trần Chánh Thọ từng làm chef de Sureté (chánh Sở mật thám) tỉnh Mỹ Tho (trước năm 1945).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Giêng, 2017, 10:34:02 pm

XVI.

Trần Văn Thành (1820-1873) còn được gọi là Trần Vạn Thành. Quản cơ Thành (khi được thăng chánh quản cơ), hoặc được tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương gọi tôn là Đức Cố Quản, là một lãnh tụ phong trào kháng Pháp ở Bảy Thưa - Láng Linh vào cuối thế kỷ XIX tại An Giang thuộc Nam Bộ, Việt Nam.

Trần Văn Thành sinh ở ấp Bình Phú (Cồn nhỏ), xã Bình Thạnh Đông, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, trong một gia đình trung nông.

Vợ ông tên Nguyễn Thị Thạnh (1825-1899), quê ở rạch Sa Nhiên, Sa Đéc. Bà là người vợ nhân hậu, đảm đang, văn võ đều khá giỏi. Trong công cuộc kháng Pháp của chồng, bà và người con gái thứ năm tên Trần Thị Nên, đã giúp đắc lực, nhất là về việc hậu cần, an ủi và động viên binh sĩ.

Ông Thành có tất cả 6 người con: 3 trai, 3 gái. Trừ trai út tên Trạng mất năm 7 tuổi, hai trai còn lại đều khá danh tiếng:

Một, tên Trần Văn Nhu (1847-1914), còn gọi là Cậu Hai nhà Láng (người miền Nam gọi con đầu lòng là cậu Hai), người lập ra Bửu Hương tự (tức chùa Láng) và cũng là người kế truyền mối đạo Bửu Sơn Kỳ Hương khi cha mất. Khi cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa bị đánh dẹp, ông bị Pháp truy nã rất gắt nên phải lẩn trốn nhiều nơi. Ông mất tại Trà Bang (Rạch Giá).

Hai, tên Trần Văn Chái (1855-1873), bị bắt khi chiến đấu và tự sát trong ngục Châu Đốc.

Năm 1840, khoảng ngoài 20 tuổi, Trần Văn Thành gia nhập quân ngũ giữa lúc Nặc Ông Đôn, em vua Cao Miên khởi quân chống lại cuộc bảo vệ của Việt Nam.

Nhờ có sức khỏe, giỏi võ nghệ, khá thông thạo chữ nghĩa, nên được làm suất đội, từng đóng quân ở Chân Lạp (Campuchia). Sau khi lập được nhiều công lao, ông được thăng chánh quản cơ (1845), chỉ huy khoảng 500 quân, đóng quân ở Châu Đốc, giữ gìn biên giới phía tây nam.

Năm 1846, Nặc Ông Đôn quy phục Việt Nam, ông Thành được về nhàn dưỡng tại quê nhà. Năm 1862, Pháp lấn chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, Trần Văn Thành nhanh chóng hưởng ứng lời kêu gọi chống giặc của triều đình. Ngày 22 tháng 6 năm 1867, một đoàn tàu chiến Pháp do trung tá hải quân Galey cầm đầu, đến uy hiếp thành Châu Đốc, khiến tổng đốc Phan Khắc Thân phải đầu hàng. Ngày 30 tháng 8 năm 1967, Phan Thanh Giản tuẫn tiết tại Vĩnh Long, sáu tỉnh Nam Kỳ mất hết vào tay Pháp.

Đứng trước tình thế nguy khốn đó, ông tích cực vận động đồng bào, tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương cùng quân lính của mình về Láng Linh - Bảy Thưa gấp rút xây dựng cãn cứ, phất cờ khởi nghĩa lấy hiệu là Binh Gia Nghị.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Giêng, 2017, 10:39:59 pm

Căn cứ chính của Trần Văn Thành đặt tại Hưng Trung (gần Nam Long Tự, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú), xung quanh thiết lập các đồn Hờ ngăn cản đối phương, như: Đồn Cái Môn ở Cái Dầu, đồn Giồng Nghệ ở Mặc Cần Dưng, trạm canh Ông Tà ở Tri Tôn, đồn Hàng Tràm ở Bình Thạnh Đông... Mỗi đồn đều được trang bị súng thần công, súng điểu thương, hỏa hổ với 150 nghĩa quân phụ trách phòng thủ. Nghĩa quân tổ chức thành nhiều đội. Mỗi đội có người chỉ huy, như đội nhất có Nguyễn Văn Năng, Lê Văn Vang; đội nhì có Nhiều (Lượng); đội tư có Đinh Văn Hiệp... Dưới bóng cờ của ông Thành còn có những nghĩa quân tài giỏi khác, như: đội Sang, hiệp quản Tú, thư lại Khuê... Trong Láng Linh có đến 1.200 nghĩa quân, đa số là nông dân yêu nước khắp Nam Kỳ.

Thời bấy giờ, Bảy Thưa là một cánh rừng có nhiều cây bảy thưa, nằm liền kề một vùng đất trũng thấp (láng, còn gọi là nê địa), nhiều phèn rộng bao la, không có kênh, rạch lớn ra vào, suốt năm chỉ gieo gặt một mùa lúa sạ... Phía bắc giáp vùng biên giới núi Sam, phía tây dựa Thất Sơn. Ở đó, hằng năm vào những tháng nước lên (còn gọi là mùa nước nổi từ khoảng tháng 8 cho đến cuối tháng 10 âm lịch) là một biển nước mênh mông (có thể vì thế có tên gọi Láng Linh). Còn vào mùa khô, nước không cạn hẳn mà biến thành những ao đìa, mương rạch, những đầm lầy vô số đỉa, vắt và cùng lau sậy, cỏ dại thi nhau chen chúc, trùm lấp... Hiện nay, cả hai vùng đất này thuộc huyện Châu Thành, Châu Phú và Tri Tôn.

Nhà văn Sơn Nam viết về Trần Văn Thành và mật khu này như sau:

Trần Văn Thành từng tham gia những trận chống quân xâm lược Xiêm, đời Thiệu Trị... Qua đời Tự Đức, thấy sự áp bức của vua quan, ông trở thành tín đồ của Đoàn Minh Huyên, bấy lâu nổi danh với tài trị bệnh, cải cách Phật giáo, bỏ những nghi thức rườm rà, nhằm huy động nông dân chống lại phong kiến...

Với chí lớn không chút bi quan yếm thế, ông rút lui về Láng Linh để xây dựng mật khu. Từ năm 1871 đến đầu năm 1873, mật khu lần hồi thành hình... Nghĩa quân gồm quân sĩ cựu trào, thêm khá đông người yêu nước từ các tỉnh miền Tiền Giang.

Khi căn cứ phát triển, hương chức hội tề địa phương cũng ngầm giúp nghĩa quân.

Do thám báo cáo:

Đã có chiến hào và đồn lũy nhỏ nhằm án ngữ một đồn lớn, phòng tuyến là những bao gạo, bao muối chồng chất, kè cây to, thêm lò đúc súng đạn với gang, sắt từ bên ngoài đưa vào.

Ông phong chức cai đội cho nghĩa quân. Mật khu này xưng danh hiệu là Thiên sơn Trung tự, kiểu chùa chiền; quân đội thì lấy tên Gia Nghị cơ hoặc Giang Nghị cơ, khiến ta liên tưởng đến những đồn điền tổ chức thời Nguyễn Tri Phương, vùng biên giới.



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Giêng, 2017, 10:40:46 pm

Năm 1868, cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực bị dẹp tan, Trần Văn Thành trở thành nhân vật bị Pháp truy nã gắt gao, treo giải thưởng.

Nhà văn Sơn Nam kể:

Tháng 2 năm 1872, Pháp bắt được một nghĩa quân đi mộ lính ở Long Xuyên. Và nhờ cai tổng Mun theo sát những người đặt lọp, giăng câu phía ngọn Mặc Cần Dưng (nay là Bình Hòa, Châu Thành, An Giang) nên đến gần mật khu. Hắn hoảng hốt khi thấy nghĩa quân tích cực củng cố công sự, lò đúc súng đang hoạt động ngày đêm...

Tháng 6 năm 1872, quân Pháp mở cuộc tấn công vào Bảy Thưa. Pháp dừng thuyền nhỏ từ Long Xuyên tiến vào rạch Mặc Cần Dưng (nay thuộc xã Bình Hòa, huyện Châu Thành) đánh đồn Giồng Nghệ và chiếm được đồn này trong nửa tháng, nhưng sau phải rút lui vì không chịu nổi kiểu đánh du kích của nghĩa quân.


Khởi đầu, chủ tỉnh Long Xuyên tên Emile Puech xin cấp trên chi viện thêm 40 lính mã tà từ Cần Thơ để tăng cường cho 60 mã tà dưới quyền, đồng thời thông báo chủ tỉnh Châu Đốc, tùy khả năng mà hiệp đồng. Phó quản Hiếm trước kia từng ở hàng ngũ của Trần Văn Thành rồi đầu hàng, được cầm đầu toán lính nhỏ. Cánh quân mạnh nhất do tri phủ Trần Bá Tường (em ruột Trần Bá Lộc) chỉ huy... Còn chủ tỉnh Emile Puech là chỉ huy trưởng, đại úy Guyon làm trợ lý.

Tháng giêng năm 1873, Pháp sai cộng sự là Tôn Thọ Tường ra lời dụ hàng, nhưng không thuyết phục được Trần Văn Thành, vì vậy Pháp buộc phải đánh tiếp.

Ngày 19 tháng 3 năm 1873, tàu chiến Pháp đậu tại vàm rạch Mặc Cần Dưng, rồi cho quân lính dùng xuồng nhỏ, tuyệt đối im lặng, tiến vào ngọn rạch. Một hai ngày sau, biết được đối phương sắp tấn công, tiếng trống, tiếng kẻng của nghĩa quân bắt đầu khua và liên tục vang rền...

Nhà văn Sơn Nam viết:

"Tuy biết đang bị bao vây tứ phía và người Pháp có võ khí hữu hiệu, nhưng nghĩa quân và Trần Văn Thành vẫn bình tĩnh, cương quyết đối phó, đứng sau phòng tuyến thách thức bọn Pháp. Ông dùng loa chửi rủa thậm tệ, rồi dõi về phía nghĩa quân để động viên tinh thần.

Đến phút quyết liệt, ông mặc áo màu đỏ sậm (màu tấm trần điều mà đạo Lành đang thờ phụng) và cắt từng lọn tóc của mình phân phát cho nghĩa quân (một kiểu giống như phù phép, cốt để thuộc hạ lên tinh thần)".



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Giêng, 2017, 10:43:07 pm

Phạm Văn Sơn ghi chuyện:

Đầu tháng 2 năm 1873, Pháp xua quân vào phá đồn Hờ ở Cái Dầu, uy hiếp đồn Giồng Nghệ rồi kéo dần vào rừng. Họ nã đại bác lên phía trước và bắt dân chúng dọn đường sau. Quân Bảy Thưa tuy tinh thần rất cao, nhưng chống giữ không nổi. Qua 5 ngày chiến đấu, quân Bảy Thưa lui dần. Pháp không dám tiến mau vì ngột nắng và sợ đỉa. Ngày 20 tháng 2, quân Pháp từ Châu Đốc đánh vào đồn Cái Môn, súng quân Việt bắn không được xa, phát nổ phát không nên chẳng bao lâu quân Pháp tràn vào được.

Cùng ngày ấy từ phía Vĩnh Thanh, cờ Pháp tiến vào đuổi quân Việt tới ngọn rạch Hang Tra là nơi Trần Văn Thành chỉ huy chiến cuộc. Con thứ tư của ông Thành là Trần Văn Chái làm tiên phong, đề đốc Văn (tức đội Văn hay đội Chín) giữ hậu tập. Đến gần tối thì Chái bị thương ở đùi. Văn tử trận.


Xong trận, Pháp thu hết các súng nặng, nhẹ; hủy hết cả lò đúc đạn dược, rồi nổi lửa đốt hết doanh trại của nghĩa quân 3 ngày mới tắt. Sau trận đánh, chủ tỉnh Emile Puech nhận xét: "Cai tổng Lý Mun và Trần Bá Tường, từng tham gia đánh nhiều lần, nhưng trong trận này, quả là mất tinh thần. Họ gan lỳ khi bị bao vây, hứng chịu hỏa lực mạnh, chứng tỏ uy tín Trần Vần Thành khá lớn".

Ông Trần Văn Thành hy sinh vào ngày 21 tháng 3 năm 1873 trong trận đồn Hưng Trung. Theo Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế: Sau khi bản doanh Hưng Trung bị tàn phá, thất bại nặng, ông Thành rút lui vào chiến khu và mất ngày 21 tháng 2 âm lịch năm 1873.

Giáo sư Trịnh Vân Thanh ghi: Sau ngày bản doanh bị chiếm, không ai biết Trần Văn Thành đã đi đâu...

Có người phỏng đoán: Ngày 20 tháng 3 năm 1873 (21 tháng 2 âm lịch), quân Pháp tấn công vào đồn Hưng Trung là tổng hành dinh của nghĩa quân do Trần Văn Thành chỉ huy. Ông và các nghĩa quân của mình đã xả thân chiến đấu, nhưng chỉ cầm cự được đến tối thì thất thủ. Giặc Pháp không tìm được thi thể ông, nhưng có lẽ ông đã hy sinh trong trận chiến này.

Nhà văn Sơn Nam không nói Trần Văn Thành chết lúc nào, lý do gì; ông chỉ cho biết: Pháp đem xác Trần Vần Thành trưng bày tại chợ Cái Dầu (Châu Phú, Châu Đốc), thêm xác của đội Văn (Pháp ghi là Vang) để nhằm ngăn chặn những tin đồn thất thiệt cho rằng ông còn sống, đi lánh mặt và tiếp tục kháng chiến.

Tương truyền, năm 1873 có hai người từ Huế theo ghe bầu vào Nam rồi tìm đến tận căn cứ Bảy Thưa. Họ mang theo một đạo sắc phong nói là của vua Tự Đức ân ban cho Quản cơ Thành. Nhưng họ có ngờ đâu chỉ còn trông thấy mấy đống tro tàn cùng tiếng gió rì rào trên những ngọn bảy thưa...

Nhận xét về con người Trần Văn Thành, đối phương viết: Vóc to lớn, mạnh khỏe, gương mặt nghiêm nghị, nhìn thấy là phải kính trọng và ngưỡng mộ. Ông hăng hoạt động, rất thông minh. Ông lập ra một đạo gọi là đạo Lành. Trong hầu hết các tỉnh ở đất Gia Định đều có tín đồ. Tín đồ từ các nơi vì tôn kính ông nên tới mật khu, mang theo nào lúa gạo, sắt (để rèn khí giới)...

Nho sĩ Cao Văn Cảo, người cùng thời, có thơ tưởng niệm ông:

      Non sông Hồng Lạc, giặc xâm lăng
      Thẳng thắng, Trần công cố sức ngăn.
      Trời đất biết cho lòng sốt sắng,
      Kiếp đời ghi mãi chí thù hằn.
      Đền thờ tỏ dấu dân trong nước,
      Thơ vịnh nêu tình khách viết văn.
      Những đứa phản thần qua đến cửa,
      Gục đầu, run mật, cặp mày nhăn.


Ngoài những dinh và đền thờ ở nhiều nơi, như: Bửu Hương Tự, Dinh Hưng Trung, Dinh Sơn Trung... tên ông còn được đặt cho trường học, đường phố trong tỉnh An Giang.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Giêng, 2017, 10:44:00 pm

XVII.

Bảo tàng Kiên Giang vừa phát hiện một di vật độc đáo của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực tại đình Nguyễn Trung Trực ở xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang...

Sử sách ghi lại rằng ngày 16 tháng 6 năm 1868, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đánh đồn Rạch Giá, làm chủ tỉnh lỵ trong vòng 6 ngày. Sau đó giặc Pháp được viện binh đã chiếm lại đồn Rạch Giá vào ngày 21 tháng 6 năm 1868. Do lực lượng so với địch không cân sức, để bảo toàn lực lượng, Nguyễn Trung Trực ra lệnh rút quân từ Rạch Giá về Hòn Chông, sau đó ra quần đảo Hải Tặc rồi ra Phú Quốc phòng thủ.

Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Bê, Phó ban quản trị đình Nguyễn Trung Trực, xã Mỹ Hiệp Sơn: Trên đường rút về Hòn Chông, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực có đồn trú khoảng nửa tháng tại Móp Giăng. Địa danh này thuộc địa phận xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất và một phần thuộc về xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, An Giang ngày nay. Nơi đây có những cánh đồng, rừng tràm, sông nước mênh mông, địa hình hiểm trở, muốn đi lại chỉ có cách di chuyển bằng đường thuỷ. Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã sáng tạo ra loại giáo bằng gỗ. Loại giáo này làm bằng gỗ cứng, cán tròn, lưỡi dẹp, đầu nhọn. Khi di chuyển nó làm chức năng của một cây dầm, nghĩa quân có thể dùng để đi ghe xuồng trên địa hình sông nước. Khi gặp địch nó lập tức trở thành một thứ vũ khí vì có đầu nhọn có thể đâm địch. Giáo có hai mặt lưỡi khi cần có thể thực hiện các động tác chiến đấu như chém, chặt vào quân địch... Khi nghĩa quân Nguyễn Trung Trực chuyển về Hòn Chông đã để lại địa danh Móp Giăng cùng nhiều di vật là các loại vũ khí như súng thần công, cọc tiêu... trong đó có cả cây giáo bằng gỗ mà Bảo tàng tỉnh Kiên Giang vừa phát hiện được tại đình thờ Nguyễn Trung Trực nói trên.

Sau khi anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực hy sinh, để tưởng nhớ và tỏ lòng tôn kính cụ Nguyễn và nghĩa quân của cụ, nhân dân vùng Móp Giăng đã trục vớt những di vật của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực để lại và lập các đình để thờ phụng. Riêng tại đình Nguyễn Trung Trực ở xã Mỹ Hiệp Sơn hiện còn lưu giữ một khẩu súng thần công của nghĩa quân để lại.

Tại xã Vọng Thê huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, cách đình Nguyễn Trung Trực ở xã Mỹ Hiệp Sơn không xa có một ngôi chùa có tên tự là Lộ Khê. Trong chùa cũng thờ những di vật của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực. Trong đó có cây giáo bằng gỗ. Do chiến tranh và lũ lụt tàn phá, chùa Lộ Khê không còn. Trên nền chùa cũ, người ta thấy còn sót lại một số di vật của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực. Năm 1980 ông Bảy Bông (sinh năm 1940) ở ấp Hiệp Thành, xã Mỹ Hiệp Sơn tự khai quật tại khu vực chùa Lộ Khê cũ đã tìm thấy cây giáo bằng gỗ trước kia được thờ trong chùa Lộ Khê. Ông Bảy Bông đem hiến vật này vào thờ tại đình Nguyễn Trung Trực ở Mỹ Hiệp Sơn.

Ông Đặng Văn Phước (sinh năm 1952 thành viên Ban quản trị đình Nguyễn Trung Trực xã Mỹ Hiệp Sơn) kể rằng, cụ cố nội của ông là một trong những người đầu tiên lập nên ngôi đình này bằng cây lá. Đến năm 1972 nhân dân trong xã đã tự nguyện đóng góp công sức tiền của để xây dựng lại đình bằng gạch ngói khang trang như ngày nay.

Như vậy cây giáo bằng gỗ của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực mới được Bảo tàng tỉnh sưu tầm và giới thiệu cùng với khẩu súng thần công tại đình Nguyễn Trung Trực, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất là những di vật hiếm hoi có giá trị lịch sử quý giá còn sót lại trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Đây chính là những bằng chứng lịch sử thể hiện tài trí sáng tạo của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực trong chiến đấu với điều kiện vũ khí còn trang bị thô sơ mà làm nên những chiến công vang dội "hồng Nhật Tảo" và "Kiếm bạt Kiên Giang" khiến cho thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai phải nhiều phen kinh hồn bạt vía, dẫu cho chúng được trang bị súng ống hiện đại vào nửa cuối thế kỷ XIX.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Giêng, 2017, 10:45:55 pm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Trung Trực - Anh hùng kháng chiến chống Pháp, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1991.

2. Nguyễn Trung Trực - Thân thế và sự nghiệp của Vĩnh Xuyên, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau.

3. Hỏi đáp lịch sử Việt Nam, tập 4, Nhà xuất bản Trẻ, 2007.

4. Quân dân Việt Nam chống Tây xâm, Sài Gòn, 1966.

5. Võ Duy Dương với Đồng Tháp Mười, Nhà xuất bản Trẻ, 2005.

6. Các nguồn trên Internet tại các trang vi.wikipedia.org (https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Trung_Tr%E1%BB%B1c) và www.toiyeukiengiang.com,...


Hết