Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:21:29 AM



Tiêu đề: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:21:29 AM

        - Tên sách: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2004
        - Số hoá: ptlinh, 10con3, chienvit, saovang


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/07-03-15-15-23-04_0184_zpsk5j6zrzc.jpg)


LỜI MỞ ĐẦU

        Cuốn sách "Việt Nam Giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu” được biên soạn là việc làm nhỏ góp phần kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước, của quân đội trong hai năm 1994 - 1995.

        Đây là cuốn sách tập hợp nhiều hồi ức và một sôi bài nghiên cứu về thời kỳ đầu của quân đội ta. Tác giả chính của sách là các nhà cách mạng lão thành, các cán bộ, chiến sĩ Việt Nam Giải phóng quân - những người đã tham gia cách mạng từ năm 1944 trở về trước, giờ đây râu tóc đã bạc phơ.

        Khắc phục độ lùi thời gian quá xa và sự hạn chế sức khoẻ vì tuổi tác với tinh thần trân trọng lịch sử, các lão đồng chí đã cố nhớ lại những cuộc chiến đấu mà mình tham gia, nghiên cứu, phân tích, tự mình viết lại hoặc kể lại cho người khác ghi.

        Các hồi ức và bài nghiên cứu được sắp xếp theo ba nội dung lớn và cũng là ba phần chính của sách.

        - Công cuộc xung phong Nam tiến từ năm 1942 với 19 đội xung phong Nam tiến mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Mặt trận Việt Nam, xây dựng, phát triển căn cử địa và lực lượng vũ trang cách mạng, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 (5-1941) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam.

        - Những hoạt động quân sự và công tác chính trị của đội du kích Pác Bó, Cứu quốc quân, đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và đội du kích Ba Tơ.

        - Những trận đánh của Việt Nam Giải phóng quân góp phần giải phóng và bảo vệ Khu giải phóng Việt Bắc và trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

        Ngoài ba phần chính, tập sách còn có một số tư liệu quý có liên quan đền hoạt động của Việt Nam Giải phóng quân trước đây và một sôi thông tin về những lần họp mặt gần đây của các thành viên Việt Nam Giải phóng quân.

        Qua các hồi ức của một số đồng chí cách mạng lão thành và lão chiến binh Việt Nam Giải phóng quân, bạn đọc sẽ hiểu rõ hơn tầm quan trọng của công cuộc vận động tập hợp quần chúng vùng lên đánh đuổi thực dân Pháp và quân phiệt Nhật. Đây thực sự là cả một cuộc cách mạng, là một sự nghiệp lâu dài vô cùng khó khăn gian khổ, ác liệt, đầy máu và nước mắt của dân ta. Nếu công cuộc chuẩn bị này bị đế quốc dập tắt thì chưa thể nói đến sự kiện lịch sử Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 sau này. Bạn đọc có thêm tư liệu để hiểu rõ hơn đường lối quan điểm cơ bản của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta; cuộc cách mạng đó đã được tiên hành theo Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 8, tháng 5 năm 1941 tại Pác Bó, với đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn và khôn khéo của Đảng và Bác Hồ, đoàn kết tất cả các dân tộc xây dựng căn cứ đia và lực lông vũ trang cách mạng, mở đường Nam tiến, thành lập Khu Giải phóng chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, đón thời cơ giành chính quyền về tay nhân dân.

        Bạn đọc sẽ thấy rõ hơn quân đội ta là đội quân "Từ nhân đần mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu" với những khẩu hiệu cơ bản: "Có dân là có tất cả”, “Người trước súng sau”, "Quân và dân như cá với nuộc" đã được thực tế lịch sử chứng minh. Qua một số bài viết về các trận chống càn và đánh đồn của thực dân Pháp và quân phiệt Nhật trong phần II và III, bạn đọc sẽ hiểu rõ hơn lực lượng vũ trang còn non trẻ của chúng ta mưu trí và anh dũng chiên đấu, đánh giặc quyết liệt - một mất một còn để chẳng những tồn tại được mà còn ngày càng lớn mạnh, đủ sức chớp lấy thời cơ một cách nhạy bén và kịp thời cùng toàn dân giành được thắng lợi vẻ vang trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám.

        Toàn bộ các thông tin của cuộn sử liệu "Việt Nam Giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu” góp phần làm sáng tỏ giá trị lịch sử của Cách mạng tháng Tám; từ đó bác bỏ quan điểm của một sô học giả, chính khách, tướng lĩnh nước ngoài cho rằng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám của ta là một sự “ăn may”.

        Do những khó khăn khách quan và chủ quan, sách "Việt Nam Giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu” chưa đề cập được đền các chiến khu khác ở miền Bắc Đông Dương như chiến khu Đông Triều, chiến khu Hòa - Ninh - Thanh, cũng như vấn đề A.T.K (an toàn khu) - một hình thức khá độc đáo của công cuộc xây dựng căn cử địa; chưa đề cập được phong trào khởi nghĩa vũ trang ở Trung Bộ (ngoài cuộc khởi nghĩa Ba Tơ) và Nam Bộ, cũng như phong trào khởi nghĩa vũ trang của quần chúng ở ngay các địa phương miền Bắc như trận đánh đồn Bần Yên Nhân (12-3-1945) và phong trào phá kho thóc Nhật, cứu đói ở A.T.K Bãi Sậy. Sách cũng chưa nói lên được vấn đề binh địch vận của Đảng trong giai đoạn Cách mạng tháng Tám và nhiều mặt tổ chức, hoạt động khác như quân giới, quân y, văn học nghệ thuật, báo chí... của quân đội ta.

        Để xây dựng cuốn sách này, chúng tôi xin trích đăng lại chương "Con đường Nam tiến" trong hồi ký "Những chặng đường lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và sưu tập một số bài đã đăng trong tạp chí Lịch sử quân sự và báo Nhân dân; còn các hồi ức và bài nghiên cứu khác là của các đồng chí cách mạng lão thành và các lão chiên binh Việt Nam Giải phóng quân tự việt hoặc kể cho người khác ghi. Mỗi đồng chí việt hồi ức đều xuất phát từ cương vị mình khi đó, từ thực tiễn hoạt động của mình và suy nghĩ riêng nên không tránh khỏi có ý kiến khác nhau về cùng một sự kiện. Với tính chất một tập sử liệu chúng tôi đều tôn trọng và đăng những ý kiến khác nhau để bạn đọc và nhất là các nhà sử học hiện nay và các thế hệ sau khách quan thẩm định.

        Hơn nữa các sự kiện lịch sử xảy ra cách nay đã nửa thế kỷ. Những người viết đều ở tuổi "cổ lai hy", trí nhớ có phần sút kém.

        Vì vậy bên cạnh cái nền cơ bản trung thực của sự kiện lịch sử không thể tránh khỏi những sai sót nhất định về thời gian, về địa danh và một số chi tiết phụ của sự kiện, về tên các nhân vật dẫn ra trong hồi ức. Đối với những điều chưa chính xác ấy, ban biên soạn đều có chú thích ở dưới bài để mong được bạn đọc xác định giúp. Rất mong các bạn đọc, nhất là các nhà cách mạng lão thành, các lão chiến binh Việt Nam Giải phóng quân nhận xét và bổ khuyết cho những sai sót để bảo đảm tính chính xác của tư liệu lịch sử.

        Xin chân thành cảm ơn các tác giả của những tập hồi ức cá nhân đã được xuất bản, cho phép chúng tôi trích đăng lại một số chương, đoạn trong tập hồi ức của mình. Cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ tái bản cuốn sử liệu "Việt Nam Giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu” nhân những ngày lễ lớn của đất nước ta trong hai năm 2004 - 2005. "Việt Nam Giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu” là tấm lòng của những đồng chí cách mạng lão thành, những "người lính già đầu bạc" gửi đến Quân đội nhân dân Việt Nam thân yêu. Hy vọng nó sưởi ấm thêm tình đồng đội, tình bạn chiên đấu, củng cố thêm lòng tin vào tương lai của quân đội ta, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng nhằm xây dựng một nước Việt Nam giàu đẹp cho chính thế hệ chúng ta và cho muôn đời con cháu mai sau.

BAN TUYẾN CHỌN, BIÊN SOẠN        



Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:22:49 AM

THƯ NGỎ CỦA BAN LIÊN LẠC VIỆT NAM GIẢI PHÓNG QUÂN GỬI BẠN ĐỌC

        Nửa thế kỷ xây dựng và chiến đấu đã trôi qua, Quân đội nhân dân Việt Nam từ một đội vũ trang nhỏ bé - 34 người đã trở thành một đội quân cách mạng hùng mạnh, chính quy, từng bước hiện đại, góp phần cùng toàn dân đánh thắng nhiều thế lực xâm lược hung bạo, giành lại độc lập chủ quyền, thống nhất Tổ quốc.

        Nhân dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước, của quân đội trong hai năm 1994 - 1995, Ban liên lạc Việt Nam Giải phóng quân chỉ đạo và tổ chức tuyển chọn, biên soạn tập sử liệu: "Việt Nam Giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu” với mong muốn cung cấp thêm một số tư liệu đế bạn đọc hiểu rõ hơn về lực lượng vũ trang ta trong buổi đầu trứng nước và giai đoạn Cách mạng tháng Tám - một trong những thời điểm khó khăn nhưng cũng rất huy hoàng của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng.

        Sở dĩ quân đội ta được như ngày nay là do Đảng Cộng sản Việt Nam - đứng đầu là Bác Hồ kính yêu có đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, xây dựng khối đoàn kết dân tộc rộng rãi, vững chắc là Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang, chủ trương dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng của đế quốc và tay sai.

        Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội công nông để tiến hành đấu tranh vũ trang. Từ cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (1930 - 1931) đã xuất hiện các đội Tự vệ Đỏ để bảo vệ lực lượng và chính quyền cách mạng. Đặc biệt từ cao trào vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945, lực lượng vũ trang cách mạng có bước phát triển mạnh. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra (năm 1940), đội du kích Bắc Sơn ra đời, sau phát triển thành các trung đội Cửu quốc quân I, II, III. Sau khi Bác Hồ về nước, Người đích thân tổ chức và rèn luyện đội du kích ở Pác Bó (1941). Ở miền Nam, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, lực lượng vũ trang cách mạng ở Nam Bộ cũng hình thành.

        Cuối năm 1944, Bác Hồ quyệt định hoãn cuộc vũ trang khởi nghĩa của Ban liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng vì "thời kỳ hòa bình phát triển cách mạng đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa đến; song từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự, phải có một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên". Sau đó, Bác Hồ đã chỉ thị thành lập đội quân chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.

        Tên: Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hơn quân sư. Đồng chí Võ Nguyên Giáp sau khi tổ chức và chỉ đạo 19 đội xung phong Nam tiến hoạt động thắng lợi, lại vinh dự được Đảng và Bác Hồ giao nhiệm vụ tổ chức, lãnh đạo và chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân.

        Kết quả công cuộc Nam tiên của 19 đội xung phong là hai căn cứ cách mạng Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai được khai thông những “con đường quần chúng cách mạng" mở rộng liên lạc với các tỉnh miền xuôi và phong trào cứu quốc của Mặt trận Việt Minh đang ngày càng phát triển. Tháng 2 năm 1944, trung đội Cứu quốc quân III được thành lập ở Khuổi Kịch (Tuyên Quang) thúc đẩy mạnh hoạt độn g vũ trang cách mạng ở Đại Từ (Thái Nguyên), Bắc Cạn, Tuyên Quang, Vĩnh Yên...

        Năm 1945, đại chiến thế giới lần thứ hai buộc vào giai đoạn chót. Trên chiến trường Nam Thái Bình Dương, quân phiệt Nhật đang đà đại bại phải lật đổ Pháp, độc chiêm Đông Dương... Cuộc Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, về khách quan đã tạo thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Với phong trào đấu tranh của quần chúng đuốc tổ chức và lực lượng vũ trang đã có, cách mạng Việt Nam có bước phát triển nhảy vọt. Chỉ vài tháng sau đã hình thành Khu giải phóng rộng lớn gồm sáu tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái, thế đứng chân của lực lượng cách mạng ngày càng vững chắc.

        Tháng 4 năm 1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ quyết định thống nhất Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân. Khu giải phóng Tân Trào thành Thủ đó của cách mạng, có Uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng...

        Hội nghị toàn quốc của Đảng do lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì họp ở Tân Trào từ ngày 13 đến 15 tháng 8 năm 1945, một lần nữu quyết định hợp nhất tất cả các lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng vào Việt Nam Giải phóng quân. Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh ban hành Quân lệnh số 1 về tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc.

        Ngay sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, ngày 16 tháng 8 năm 1945, Quốc dân đại hội khai mạc tại Tân Trào, nhất trí chủ trương Tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay Nhật và tay sai trước khi quân Đồng Minh vào Đông Dương, quy định Quốc kỳ, Quốc ca, cử ra Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam mới...

        Hưởng ứng lệnh Tổng khởi nghĩa, cùng với quần chúng cần lao trong cả nước, Việt Nam Giải phóng quân đã nhất tề đứng lên, tạo thành khí thế cách mạng trời long đất lở. Chỉ trong vòng một tuần (19-8 đến 255-8-1945) nước Việt Nam nô lệ gần một thế kỷ đã thực sự trớ thành nước Việt Nam độc lập, tự do.

        Các bạn Việt Nam Giải phóng quân, các bạn cựu chiến binh và bạn đọc thân mến, Ban liên lạc Việt Nam Giải phóng quân hy vọng qua tập sử liệu này các bạn sẽ hiểu thêm một số nét về sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang trong cao trào vận động giải phóng dân tộc, đội du kích Bắc Sơn (1940), đội du kích Pác Bó (1941), đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (1944), đội du kích Ba Tơ và đặc biệt là Việt Nam Giải phóng quân (1945).

        Chúng tôi chân thành biết ơn Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các lão đồng chí Việt Nam Giải phóng quân: Nông Văn Quang, Nông Van Lạc, Mai Trung Lâm, đặc biệt là nhóm tuyển chọn, biên soạn: Hồng Kỳ, Lê Thuỳ, Hoàng Thế Dũng, Kim Sơn đã dành nhiều tâm sức hoàn chỉnh tập sách; cảm ơn Cục Hàng không dân dụng Việt Nam cùng nhiều đơn vị, cá nhân đã hỗ trợ tích cực trong quá trình biên soạn, xuất bản.

        Cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã tạo điều hiện để tập sách kịp đến với bạn đọc, thiết thực kỷ niệm những ngày lễ lớn.

        Mời các bạn hãy đến với "Việt Nam Giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu" như ngược về một nhánh của suối nguồn cách mạng, gạn lọc những kinh nghiệm của các thế hệ đi trước, xác định cho mình ý thức trách nhiệm cao nhất của anh “Bộ đội Cụ Hồ”, cống hiến nhiều nhất cho công cuộc đổi mới đất nước của Đảng, của toàn dân, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao bản lĩnh và hiệu lực của quân đội chính quy, cách mạng, hiện đại, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù nếu chúng liều lĩnh xâm phạm chủ quyền Tổ quốc ta.

        Xin chân thành cảm ơn các bạn!


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:25:54 AM

PHẦN THỨ NHẤT

XUNG PHONG NAM TIẾN
MỞ RỘNG ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆT MINH,
PHÁT TRIỂN CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG,
THÀNH LẬP KHU GIẢI PHÓNG


CON ĐƯỜNG NAM TIẾN

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP                 
Trích Hồi ký "Những chặng đường lịch sử"-
Nxb Văn học, Hà Nội, 1975.       

        Sau một thời gian ở Nguyên Bình, tôi được chỉ thị cùng anh Thiết Hùng chuyển xuống phía Nam gây phong trào tại tổng Kim Mã, một nơi chưa có tổ chức Việt Minh. Bác và liên tỉnh ủy muốn tổ chức cơ sở ở vùng này làm chỗ đứng chân, phát triển phong trào về dưới xuôi, mở đường Nam tiến.

        Chúng tôi giao nhiệm vụ cho các đồng chí ở Gia Bằng bắt mối với số thanh niên hăng hái ở tổng Kim Mã, đưa anh em về Gia Bằng mở lớp huấn luyện. Sau khi anh em đã học tập, chúng tôi cùng anh em thảo luận kế hoạch đưa chúng tôi về địa phương hoạt động. Mấy anh em này đều sốt sắng, hẹn về nhà thu xếp xong một thời gian ngắn, sẽ lên đón chúng tôi. Trong số các anh em đó có đồng chí Lạc.

        Ít ngày sau, đồng chí Lạc trở về Gia Bằng. Đồng chí nói mọi việc ở địa phương đã thu xếp xong. Một đêm, chúng tôi cùng vượt đường cái lớn và bắt đầu trèo núi. Dọc đường đi rất vắng lặng, đồi gianh triền miên nối tiếp nhau. Thỉnh thoảng mới nhìn thấy một bản nhỏ với dăm ba ngôi nhà heo hút trên đầu núi. Đồng chí Lạc cho biết, trên rẻo cao này là vùng của đồng bào Dao Tiền. Đi cả ngày hôm sau, sẩm tối mới tới cánh đồng Kim Mã. Nhìn cánh đồng rộng, lúa rất tốt, cảm thấy như đây đã gần miền xuôi. Chúng tôi vượt qua một quả núi nhỏ sau làng Phai Khắt rồi vào nhà đồng chí Lạc.

        Sáng hôm sau, đồng chí Lạc đưa tôi đi xem địa điểm đã chọn để mở lớp huấn luyện. Tôi nhìn quả đồi chỉ có những cây con lưa thưa, nằm bên một khe suối, thấy chỗ này trống trải quá. Đồng chí Lạc nói: "Ở vùng chúng tôi chưa có cách mạng hoạt động bao giờ, mở lớp tại đây bất ngờ, không ai chú ý đâu”.

        Bảy nam nữ thanh niên được các đồng chí giới thiệu đến dự lớp đầu tiên. Đồng bào tại đây ít người biết tiếng Kinh. Thời gian qua, tôi đã tranh thủ học tiếng Tày, tiếng Dao, dần dần đã nói được, nên việc giảng dạy cũng đỡ khó khăn. Tôi vừa làm công tác huấn luyện vừa tìm hiểu tình hình địa phương. Chúng tôi rút ngắn thời gian học tập để có thể nhanh chóng mở thêm nhiều lớp sau. Việc học tập ở đây không gặp gì trở ngại, duy chỉ có một lần, mấy người dân đi lấy củi tình cờ vào chỗ chúng tôi, họ tỏ vẻ ngạc nhiên, không hiểu tại sao ở quả đồi hoang này lại có người. Để đề phòng, tôi nói với đồng chí Lạc chuyển địa điểm vào sâu trong núi cho những lớp sau.

        Qua lớp huấn luyện, chúng tôi đã nắm được rõ tình hình địa phương. Vùng này ở xa thị trấn, tương đối hẻo lánh, từ lâu đến nay chưa có phong trào, nên bọn đế quốc ít chú ý, và những tên đại gian ác trong hàng ngũ tay sai của chúng cũng chưa lộ mặt. Ở đây, cũng như Hòa An hay Nguyên Bình, đồng bào đều bị bọn đế quốc, phong kiến bòn rút đến xương tuỷ từ bao đời nay. Với cơ sở thực tế rất sâu sắc đó, khi được chỉ dẫn phân tích cần phải đấu tranh đánh đổ kẻ thù để giành lấy một cuộc sống độc lập, tự do, thì đồng bào nhận thức được rất nhanh chóng.

        Các đồng chí đi huấn luyện trở về hoạt động rất hăng hái. Những nhận thức mới của số anh em đầu tiên lan ra trong gia đình, rồi toả tới họ hàng thân thuộc. Mỗi làng chỉ có vài dòng họ lớn, người trong làng đều là bà con thân thích đã ăn ở, chung sống với nhau từ bao đời, nên rất tin nhau. Chẳng bao lâu tư tưởng cách mạng đã tràn lan khắp nơi, thu hút được cảm tình của nhiều người. Các hội cứu quốc phát triển rất nhanh.

        Trong công tác huấn luyện, tôi cũng rút thêm cho mình được một số kinh nghiệm.

        Một lần, trong một lớp học, nhân khi giảng về tình hình thế giới, tôi đã nói cho anh chị em nghe về bốn mâu thuẫn lớn trên thế giới hiện nay. Trước kia hoạt động ở xuôi, mỗi khi làm công tác tuyên truyền, huấn luyện thường quen phát triển, mở rộng vấn đề, lên đây, dựa vào bài giảng soạn rất ngắn gọn, tôi vẫn nghĩ là mình đã nói rất đơn giản. Đến lễ tốt nghiệp, anh chị em hăng hái nói lên kết quả học tập, hứa hẹn ra về sẽ tích cực hoạt động cho hội. Khi tôi tưởng mọi người đã nói xong thì thấy đồng chí Đề Thám giơ tay xin phát biểu.

        - Xin đồng chí cho em ra hội.

        Đồng chí này vốn là một thanh niên tốt, hăng hái. Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

        - Vì sao đồng chí lại xin ra hội?

        - Vào hội thì làm việc gì khó khăn, nguy hiểm đến đâu em cũng làm được, chỉ có mỗi cái học như thế này khó quá, không nhớ được, sợ không làm tròn nghĩa vụ của người hội viên. Em không hiểu bốn mâu thuẫn là gì.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:26:38 AM

        Tôi nhớ đến lời Bác nhận xét về tờ báo của chúng tôi làm tại Tĩnh Tây và những yêu cầu Bác giao cho mỗi khi viết bài đăng báo Việt Lập.

        Sau khi được giải thích: người hội viên cốt nhất là có tinh thần yêu nước, trung thành với hội, trong khi đấu tranh thì không sợ hiểm nghèo, không sợ hy sinh, còn học thế này là để về tuyên truyền, giác ngộ cho bà con, lần này chưa hiểu thì lần khác học tập thêm sẽ hiểu chứ hội không bắt buộc phải hiểu cả, nhớ cả ngay trong một lúc... đồng chí Đề Thám hết sức vui lòng. Đồng chí nói:

        - Tưởng bắt buộc phải nhớ hết thì em chịu.

        Về sau, đồng chí Đề Thám vào bộ đội, được kết nạp vào Đảng, trở thành một cán bộ tốt của quân đội, một chiến sĩ thi đua trong thời kỳ kháng chiến.

        Lần ấy, bản thân tôi đã rút ra được một bài học thấm thía: một điều cơ bản trong công tác vận động quần chúng là muốn đưa quần chúng, đưa phong trào lên, thì phải hiểu rõ trình độ quần chúng, có đi sát với trình độ quần chúng thì mới đưa quần chúng lên được.

        Sau những thời gian huấn luyện, anh Thiết Hùng và tôi lại cùng các đồng chí ở địa phương đi các làng, bản làm công tác vận động quần chúng, tham gia những cuộc sinh hoạt của các giới nông dân, thanh niên, phụ nữ, nhi đồng. Nhiều nơi đã bắt đầu tổ chức những cuộc mít tinh có hàng trăm người tham dự.

        Phong trào tại Kim Mã phát triển tốt. Chẳng bao lâu các hội cứu quốc đã lan ra các xã trong tổng, các ban Việt Minh xã, tổng được thành lập.

        Lúc này, chúng tôi đã nhận thấy, tình hình phong trào hiện nay đang tốt, nhưng Kim Mã ở cạnh đường cái, bọn địch có thể kéo đến rất nhanh; xung quanh đều là núi, trên núi lại là đồng bào dân tộc khác; nếu không tổ chức được cả đồng bào trên rẻo cao, thì khi bị địch khủng bố có thể gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, sau này còn phải mở đường về phía Bắc Cạn, Lạng Sơn, như vậy càng cần phải tổ chức đồng bào trên núi.

        Khi bàn với các đồng chí hội viên, mọi người đều nhận thấy vấn đề tổ chức đồng bào trên rẻo cao cần được tiến hành ngay. Một hội viên trung kiên là đồng chí Trọng Khánh nói mình có người anh em đồng canh, người Dao Tiền ở trên xã Cẩm Lý, xin đi tuyên truyền vào hội. Từ bao nhiêu đời nay bọn phong kiến, đế quốc đã tìm mọi cách chia rẽ các dân tộc, gây nên những mối thù hằn truyền kiếp, nhưng giữa một số người giữa dân tộc này với dân tộc khác vẫn có những mối quan hệ mật thiết với nhau. Chúng tôi đồng ý giao cho đồng chí Trọng Khánh đi làm nhiệm vụ này.

        Sau mấy lần đi tuyên truyền, vận động, đồng chí Khánh về báo cáo, người bạn đồng ý vào hội, mời cán bộ lên để kết nạp, nhưng đòi phải làm lễ ăn thề. Tôi hỏi lại tình hình phong tục và tập quán của đồng bào Dao Tiền, nhận thấy sự chia rẽ lừa lọc của bọn thống trị đã gây nên giữa các dân tộc một sự nghi kỵ sâu sắc, muốn giải quyết được lòng tin tuyệt đối, đồng bào Dao thường dùng cách ăn thề. Tôi nói với đồng chí Khánh:

        - Ăn thề để càng tin nhau, để suốt đời trung thành với hội, thì càng tốt chứ sao!

        Tôi cùng đồng chí Khánh lên Cẩm Lý và gặp người bạn của đồng chí bên bờ một con suối. Tôi trình bày mục đích, tôn chỉ của hội. Người bạn đồng chí Khánh đồng ý xin vào hội. Đồng chí Khánh đánh diêm thắp mấy nén hương và ra bờ suối múc một bát nước, rồi làm lễ ăn thề. Chúng tôi cùng nói: "Chúng tôi tên là... cùng nhau vào hội để cùng đồng bào đấu tranh đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập tự do cho nước nhà, mưu hạnh phúc cho con cháu, dù sau này, trong khi đấu tranh có bị đế quốc khủng bố thế nào thì cũng một lòng trung thành với hội, không phản bội, không bỏ hội... Ai trái lời thề thì sẽ như cây hương này". Chúng tôi cùng nhúng ba nén hương đang cháy vào bát nước.

        Đồng chí người Dao Tiền vào hội đầu tiên tại đây được đặt tên là đồng chí Đồng Minh. Đồng chí Đồng Minh quen biết rất nhiều bà con trên vùng cao. Qua đồng chí Đồng Minh, chúng tôi bắt tay vào phát triển phong trào trên rẻo cao.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:26:46 AM

        Những bản ở trên này thưa thớt, hẻo lánh. Đồng bào Dao Tiền rất chất phác. Cách sống của đồng bào giản dị, còn mang nhiều tập tục, tàn tích của thời kỳ bộ lạc. Kinh tế của đồng bào Dao là kinh tế tự nhiên. Đồng bào tự túc lấy hầu hết mọi nhu cầu sinh hoạt trong gia đình, từ cái ăn đến cái mặc. Bà con tự trồng bông, kéo sợi, dệt vải và thêu thùa lấy những thứ quần áo khá đẹp. Với những công cụ sản xuất còn thô sơ, sự làm ăn sinh sống của đồng bào còn rất nặng nhọc. Sống trong một khung cảnh hoang vắng, bà con phải luôn luôn dựa vào nhau, mối quan hệ từ đời này sang đời khác, giữa những con người thuần phác như vậy, đã tạo nên một mối tình rất khăng khít. Hết mùa làm nương rẫy, đồng bào Dao Tiền thường đi săn bắn hươu, nai và vui chơi với nhau. Đồng bào rất thích hát lượn. Có những người bạn từ các bản xa tìm đến chơi nhà nhau, ở lại hàng tháng trời, thân mật, tự nhiên như người trong một gia đình. Tuy ở những nơi hẻo lánh xa xôi như thế này, nhưng bọn thống trị vẫn để mắt tới. Đi đâu cũng vẫn thấy xuất hiện bóng dáng của những tên tuần tổng, những tên lính dõng. Đồng bào Dao Tiền phải chịu nhiều tầng áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến, của cả dân tộc đông người hơn ở vùng thấp. Mọi thứ sưu thuế đều rất nặng.

        Chúng tôi hơi ngạc nhiên là mặc dầu luôn luôn nhắc nhở vấn đề giữ bí mật, nhưng đi tới bất cứ bản nào, chỉ một lát sau, tất cả người quen, người lạ đều biết mình là cán bộ về hoạt động. Tôi đoán, chính các đồng chí hội viên đã lộ bí mật với các bạn bè. Tôi hỏi các đồng chí đó tại sao không giữ bí mật? Các đồng chí trả lời: "Có việc gì mà phải giấu. Toàn là bà con, họ hàng, cùng ghét Tây, ghét Nhật, một bụng một dạ với nhau cả thôi!".

        Phong trào tại vùng cao này cũng phát triển rất nhanh. Có nơi vào hội cả bản. Chúng tôi cùng đồng bào tổ chức những lễ ăn thề tập thể, khi thắp hương, khi chặt đầu gà, có khi trích máu nhỏ vào rượu cùng uống để ăn thề. Chẳng bao lâu, ở làng bản nào cũng có các tổ chức nông dân, phụ nữ, thanh niên, tự vệ, tự vệ chiến đấu. Hội viên đều được qua một lớp huấn luyện thêm lần thứ hai. Các hội viên, rồi cả các bà con dần dần hiểu chủ nghĩa cộng sản, hiểu Đảng. Trong hàng ngũ trung kiên đã có những người được nhằm bồi dưỡng để kết nạp vào Đảng.

        Một thời gian không lâu, phong trào từ Kim Mã đã lan ra các nơi chung quanh như Cẩm Lý, Khuổi Mán, Nậm Ti và nhiều làng bản ở Ngân Sơn, Chợ Rã.

        Hôm đó, người tôi gây gây rét, đang gượng ngồi lên lớp cho anh chị em ở gần bản Nà Dủ, thì một đồng chí hớt hải đến nói:

        - Tây đưa lính về rất đông để bắt cán bộ người Kinh... Chúng nó nói ai vào hội mà ra thú thì chúng sẽ tha, nếu để phải đi lùng, bắt được sẽ đem đi tù hết.

        Biết là điều chúng tôi dự kiến từ lâu nay đã đến. Đồng bào ở đây mới bị khủng bố lần này là lần đầu. Một lát, có thêm các đồng chí khác đến báo tin, địch từ các phía đang tiến vào rất đông. Nhìn anh chị em hội viên, thấy trên mặt một số người có dấu hiệu xao xuyến. Có đồng chí giục tôi nên lánh ngay khỏi đây để tránh nguy hiểm. Tôi nghĩ lúc này mình không nên đi ngay, mặc dầu địa điểm lớp huấn luyện ở gần làng. Nhìn con suối từ phía làng sang, thấy nước lên to vì trời mưa liền mấy hôm, biết bọn địch chưa thể đến ngay được, tôi nói với anh chị em:

        - Ta cứ bình tĩnh ngồi đây một lúc nữa nghe giảng cho hết bài. Chưa việc gì đâu?

        Tôi nói với các chị phục vụ lớp học, tiếp tục nấu cháo. Nhưng một mặt, tôi cũng thu gọn bài giảng lại, và vừa nói vừa nghĩ cách làm thế nào để chống sự khủng bố của quân địch.

        Trong tất cả các lần huấn luyện, chúng tôi đều đã nói với anh chị em hội viên: "Mình làm cách mạng để đánh đổ đế quốc, phong kiến, thì việc chúng khủng bố để phá phong trào cách mạng là một chuyện tất nhiên". Để đồng bào dễ hiểu và dễ nhớ, chúng tôi thường hay tìm những thí dụ trong công việc làm ăn sinh sống của đồng bào tại địa phương: "Người làm nương, làm rẫy muốn có hạt thóc, hạt ngô, cũng phải đốt rừng, xới đất, gieo hạt, chăm bón, chống thú rừng, phải đổ mồ hôi, phải khó nhọc như vậy mà vẫn có mùa không được ăn. Làm cách mạng để tiêu diệt bọn đế quốc, bọn thống trị là một việc rất to lớn và khó khăn hơn rất nhiều, không thể mau chóng, dễ dàng đi đến thắng lợi. Trên rừng có con lợn, con beo phá hoại mùa màng, bắt giết trâu bò. Muốn giết được thú rừng để bảo vệ trâu bò, bảo vệ mùa màng thì những người đi săn cũng phải hết sức can đảm. Khi đi săn thú, cũng có người không giết được thú mà lại bị thú dữ ăn thịt. Nhưng nếu có tinh thần dũng cảm, không sợ khó khăn nguy hiểm mà trừ được thú dữ thì sẽ được tất cả dân làng biết ơn. Bọn đế quốc, phong kiến còn dữ hơn con lợn, con beo rất nhiều. Ta định tiêu diệt chúng, nhất định chúng sẽ không chịu ngồi yên. Vậy làm cách mạng thì không thể nào tránh khỏi bị địch khủng bố. Nhưng nếu mọi người đều một lòng thương yêu nhau như ruột thịt, không sợ khó khăn, không sợ nguy hiểm, dám đấu tranh đến cùng với kẻ địch, thì thể nào cách mạng cũng sẽ thắng lợi và sẽ giành được độc lập, tự do".


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:27:05 AM

        Tôi nói lại vắn tắt với anh chị em một lần nữa: "Có đấu tranh cách mạng tất nhiên là có sự khủng bố của kẻ địch" và góp ý kiến về cách chống khủng bố để duy trì phong trào chung. Tôi dặn dò thêm một số trung kiên những việc cần làm để giữ vững tinh thần của đồng bào.

        Khi đồng chí Lạc và đồng chí Khánh đưa chúng tôi ra đi thì anh Thiết Hùng và tôi đều lên cơn sốt.

        Tin từ dưới làng đưa lên, bọn địch đang lùng sục ráo nết. Chúng tôi đi về hướng núi. Lúc này càng thấy rõ tầm quan trọng của việc xây dựng cơ sở trên vùng cao.

        Chập tối, đến nhà đồng chí Thượng, một hội viên trung kiên người Dao. Ở đây, đồng bào đã biết tin địch đang khủng bố dưới chân núi. Gia đình đồng chí Thượng tỏ ra rất bình tĩnh. Ông cụ thân sinh ra đồng chí Thượng bảo chúng tôi: "Mặc chúng nó, bà con đều là hội viên một bụng một dạ cả, chúng nó không làm được gì đâu?". Rồi cụ đi giết gà làm cơm vì biết chúng tôi yếu mệt.

        Thấy ở đây gần địch quá, không lợi, hôm sau chúng tôi lại cùng các đồng chí Lạc, Khánh đi vòng sang xã Cẩm Lý. Bà con ở Cẩm Lý biết tin địch đang khủng bố dưới làng, và sắp lùng lên trên này. Một vài gia đình tỏ vẻ sợ hãi. Có người đến nói: "Cùng một bụng với nhau cả thôi, nhưng bây giờ đang lúc "nóng" như thế này, các đồng chí hãy lánh đi nơi khác. Khi nào bớt "nóng", chúng ta sẽ lại tiếp tục việc hội".

        Cùng hôm ấy, đồng chí Quang Hưng ở ngoài vào. Bác đã được tin địch khủng bố to nên phái đồng chí Quang Hưng tới đây để đón anh Thiết Hùng và tôi. Lần này, địch chia quân từ ba mặt Nguyên Bình, Mang Động, Gia Bằng kéo vào bao vây Kim Mã. Mấy đồng chí cùng đi cũng lo nguy hiểm cho chúng tôi, lại khuyên chúng tôi nên tạm lánh ra ngoài. Tôi bàn với anh Thiết Hùng, nhận thấy cơ sở tại vùng này mới xây dựng, đồng bào lại chưa có kinh nghiệm chống khủng bố, nếu cán bộ rút đi thì cơ sở chắc chắn sẽ dễ bị vỡ. Chúng tôi nói với đồng chí Quang Hưng về báo cáo lại với Bác, cho chúng tôi được ở lại để duy trì phong trào.

        Buổi chiều, bỗng thấy mấy đồng chí người Tày ở Kim Mã tìm lên. Các đồng chí tới hỏi ý kiến về cách đối phó với địch. Khi lánh lên đây, chúng tôi không nói với ai. Cẩm Lý nằm cũng khá xa lớp huấn luyện. Tôi hỏi:

        - Tại sao các đồng chí lại biết chúng tôi ở đây mà tìm tới?

        Một đồng chí nói:

        - Khó gì đâu. Chúng tôi đến lớp huấn luyện thấy không còn ai, biết là các đồng chí đi rồi. Chúng tôi bảo nhau cứ dò dấu gậy mà đi theo, thể nào cũng gặp các đồng chí. Thế là chúng tôi đến được đây.

        Tôi thoáng nghĩ: thật là nguy hiểm, nếu kẻ địch từ ngày hôm qua cũng biết tìm chúng tôi theo dấu gậy...

        Nhận thấy không nên ở lại Cẩm Lý, chúng tôi bàn bạc với đồng bào về cách đối phó với địch và nói chúng tôi tạm lánh ra ngoài một thời gian rồi sẽ trở lại.

        Chiều hôm ấy, chúng tôi từ Cẩm Lý đi về phía ngoài. Đi khuất khỏi làng một quãng xa, chúng tôi nói với đồng chí Lạc và đồng chí Khánh dẫn vòng trở lại, quay về rặng núi ở phía bắc cánh đồng.

        Suốt đêm, trời tối đen, mưa tầm tã. Các đồng chí Lạc và Khánh đều không nắm vững đường, chỉ đoán chừng phương hướng, nơi nào rậm rạp thì dùng dao phát mở đường mà đi. Hết núi lại khe, hết khe lại núi. Cơn sốt đêm nay xem chừng nặng hơn. Nhiều quãng anh em phải dìu chúng tôi lên dốc.

        Hết đêm, cảm thấy đi đã được khá xa. Trời sáng, chúng tôi nhận ra đang đi thêm một quả đồi gianh. Bốn chung quanh là biển sương mù dày đặc. Có ánh sáng, đường đi dễ hơn, nhưng anh Thiết Hùng và tôi đều đã mệt lắm. Chúng tôi bàn cùng các đồng chí đi lát nữa tìm được khu rừng kín đáo nào, sẽ nghỉ chân. Đi mãi vẫn là đồi gianh. Sương mù vẫn trắng xóa, chẳng biết đâu là đồi, đâu là rừng Trời mỗi lúc một oi ả. Quá nửa buổi, sương bỗng tan rất nhanh, trời hửng nắng. Chúng tôi nhìn sang bên phải, chợt nhận thấy đang ở lưng chừng một quả đồi trọc nằm ngay giáp làng. Nhìn thấy rõ bọn linh mặc quần áo vàng đang đi lại từng tốp trong làng và trên cánh đồng. Chúng tôi nhìn xuống thấy rõ bọn chúng, trời nắng thế này. Chắc hẳn bọn chúng nhìn lên cũng thấy rõ chúng tôi. Mọi người vội bảo nhau nằm ép mình xuống sườn đồi.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:27:24 AM

        Nhưng chả lẽ cứ nằm mãi đây, nếu bọn địch lùng lên đồi thì sao? Phía trên, khá xa có một khu rừng. Chúng tôi bảo nhau bò dần về phía đó. Sau nhiều ngày mưa, có nắng mới hơi nóng từ dưới đất bốc lên hầm hập. Bò như vậy, khá lâu mới đến được khu rừng.

        Lúc này, ai nấy đều mệt, cơ hồ đứng không vững. Quần áo mọi người rách toạc nhiều chỗ, bết đất và mồ hôi. Đồng chí Lạc tìm ra một nương ngô, bẻ mấy bắp, mỗi người nhai một chút ngô sống cho lại sức, rồi lại tiếp tục đi. Ở gần làng rất nguy hiểm vì có thể kẻ địch lên đồi nhìn ra những vết bò, trườn của chúng tôi. Chúng tôi phải cố gắng đi cho xa.

        Xế chiều, đến một đỉnh núi cao. Anh Thiết Hùng và tôi ngồi nghỉ lại ở một gốc cây cổ thụ. Các đồng chí Lạc, Khánh đi chặt ít cành cây gác lên mặt đất, làm tạm một chiếc sàn nằm cho đỡ lạnh lưng. Buổi chiều đó không có gì ăn. Cơn sốt kéo dài liên miên. Đồng chí Lạc và đồng chí Khánh để chúng tôi nằm nghỉ tại lán, lần mò xuống làng nắm tình hình khủng bố và kiếm ít lương thực. Cơ quan tạm đặt tại đây.

        Phong trào được thử thách. Một số nhỏ dao động chạy ra đầu thú. Phần lớn đồng bào nằm yên, gắng chịu đựng cho qua cơn khủng bố. Các phần tử trung kiên xuất hiện rất nhiều. Đồng chí Lạc và đồng chí Khánh nối lại được nhanh chóng liên lạc với các đồng chí trung kiên ở trong làng. Có những tối, đồng chí Lạc mò về gần làng hẹn gặp một, hai đồng chí, khi tới địa điểm thấy lố nhố một đám đông, tưởng địch phục, hóa ra toàn anh chị em ở trong làng nóng ruột, kéo ra để trực tiếp gặp các đồng chí liên lạc hỏi thăm tin tức các cán bộ. Đồng chí Lạc về nhà, ông cụ nói: "Con cứ đi theo cán bộ mà làm việc hội, con ở nhà chúng nó cũng không để yên, ở đâu thì phải cẩn thận". Gia đình vét gạo, muối, cá khô, đưa cả chảo con, bát ăn để đồng chí Lạc đem lên cơ quan bí mật. Một bữa đồng chí Khánh về nhà, trời sáng một lúc vẫn chưa lên. Chúng tôi đều lo đồng chí bị bắt, vì gia đình đồng chí Khánh ở liền nhà một tên tay sai gian ác của địch. Mọi người đang ngồi chờ rất sốt ruột, chợt nghe phía chân dốc có người thì thầm. Hôm qua, đã hẹn đồng chí Khánh không đưa ai lên địa điểm bí mật, chẳng lẽ đồng chí Khánh dẫn người lên mà lại không hỏi ý kiến cơ quan. Đồng chí Lạc lấy khẩu súng kíp giương cò sẵn, chạy ra hỏi:

        - Ai?

        Tiếng đồng chí Khánh đáp:

        - Còn ai nữa, Trọng Khánh đây.

        - Mấy người?

        - Một thân một mình thôi, lấy đâu ra mà mấy người.

        Đồng chí Khánh đội chiếc nón rách, rẽ lau bước vào, mặt đỏ bầm, mồ hôi nhễ nhại. Chúng tôi đều hỏi, tại sao về muộn và vừa đi lại vừa nói một mình, đồng chí Khánh bực dọc thuật lại:

        - Về gần làng, chờ mãi, canh ba vợ mới ra. Vợ tôi nói từ tối đến giờ chó cứ sủa, bên nhà thằng tổng đoàn Lý có nhiều tiếng động, chắc là nó rình mò nhà mình. Hôm qua, cả bố con chúng nó cùng sang nhà bảo, phải khuyên tôi ra thú không thì nhà tan cửa nát hết. Nó là tổng đoàn, nó sẽ bảo đảm cho. Rồi vợ tôi bảo tôi: "Anh về đầu thú đi, không nghe em thì anh mang con đi theo anh mà nuôi". Tôi bực quá ngồi giải thích một thôi, rồi sợ trời sáng, vác các thứ lên vai, chạy một mạch bây giờ mới tới đây.

        Đồng chí Lạc rót một bát nước đưa đồng chí Khánh. Đồng chí Khánh uống hết bát nước, nằm ngủ luôn.

        Thời gian này, tôi và anh Thiết Hùng đều bị ốm nặng. Thuốc uống chỉ có lá nụ ảo. Nhưng lần này lá nụ ảo đối với chúng tôi đều không có hiệu quả. Anh Thiết Hùng có lẽ bị sốt thương hàn, những lúc mê man cứ luôn mồm chửi Tưởng Giới Thạch. Mấy nữ đồng chí dưới làng lên thăm thấy chúng tôi mỗi ngày mỗi mệt hơn, lo lắng, đòi chúng tôi đưa áo để đem đi bói may ra khỏi bệnh. Lúc đầu, tôi từ chối vì ngại nếu đem áo đi, thầy mo nói bệnh tôi khó cứu chữa thì các đồng chí đó lại thêm lo. Sau các đồng chí cứ nói mãi, tôi đành phải đưa ra một cái áo. Nhưng rồi bệnh cũng không khỏi.

        Một bữa, các đồng chí đi công tác, cơ quan chỉ còn tôi và anh Thiết Hùng. Mấy ngày hôm nay anh Thiết Hùng không ăn gì và không dậy được. Các đồng chí đã kiếm mọi thứ lá sắc cho anh uống nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm. Chúng tôi đoán bệnh anh khó qua khỏi. Phần tôi, hơn hai tháng qua, cơn sốt vẫn kéo dài, lúc này cảm thấy trong người sức cũng đã kiệt. Tôi ngồi một mình, nhìn anh Thiết Hùng nằm mê mệt trong lán, nhớ đến Bác, đến các anh, nhớ tới gia đình, tới bạn bè... Tôi nhận thấy trong thời gian qua, mình cũng đã cố gắng làm tròn nhiệm vụ Đảng giao. Nghĩ vậy, tôi bỗng thấy đầu óc thanh thản trong lòng vui hẳn lên.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:27:50 AM

        Mấy hôm sau, một buổi sớm, các đồng chí đêm qua đi công tác về đã ngủ cả, tôi ngồi gác, chợt nghe nhiều tiếng lao xao trong đám lau ở quả núi trước mặt. Nghe kỹ, đúng là tiếng chân nhiều người đang phá lối đi lại đây. Tôi lập tức đánh thức các đồng chí dậy. Mọi người vội vàng cất giấu các tài liệu, đồ đạc của cơ quan. Các đồng chí Lạc và Khánh thì cầm súng chạy ra phía có tiếng động. Một lát sau, hai đồng chí vui vẻ đưa mấy người vào theo. Hóa ra anh Cáp ở chỗ Bác vào cùng đồng chí Quang. Chúng tôi ôm choàng lấy nhau. Nỗi mừng thật khó tả. Anh Cáp nhìn chúng tôi rất ngạc nhiên. Về sau này nói lại, chúng tôi lúc đó như những con ma. Anh Cáp có đem theo bốn viên ký ninh vàng. Chúng tôi chia nhau mỗi người uống hai viên. Có lẽ trận ốm cũng đã đến thời kỳ thuyên giảm, có thêm thuốc, bệnh chúng tôi đỡ dần.

        Nhận thấy trong đợt thử thách vừa qua, có nhiều đồng chí đã tỏ rõ một tinh thần trung kiên, tận tụy đối với cách mạng. Anh Thiết Hùng và tôi bàn nhau nên tổ chức một số đồng chí vào Đảng, định trong đợt đầu sẽ tổ chức đồng chí Lạc. Một buổi sáng, đồng chí Quang và đồng chí Lạc đi công tác dưới làng về, tôi nói nhỏ cùng đồng chí Quang ra một chỗ khác hội ý về việc định giới thiệu đồng chí Lạc vào Đảng. Khi quay về, thấy đồng chí Lạc ngồi mặt mày ủ rũ. Sau này mới biết, lúc đó, đồng chí Lạc thấy chúng tôi đi nói chuyện riêng, cho là có điều gì không tin ở mình, nên suy nghĩ. Khi chúng tôi nói rõ ý định muốn giới thiệu đồng chí vào Đảng, thì đồng chí Lạc thay đổi hẳn nét mặt. Trong buổi lễ kết nạp giữa khu rừng hoang vắng, ở một gốc cây cổ thụ, nước mắt đồng chí Lạc cứ trào ra. Vừa xong buổi kết nạp, đồng chí Lạc vụt chạy xuống phía dưới, nhặt hai ống nứa, múa tít một hồi như người đang đấu võ.

        Cơn sóng gió ở dưới làng lúc đó cũng đã tạm qua. Thực ra, lần này chỉ là một đợt khủng bố nhỏ. Địch bắt một số đồng bào, nhưng sau chúng lại thả. Chúng chỉ mới dọa dẫm, bắt ép mọi người ra đầu thú. Tôi lại cùng các đồng chí xuống làng tiếp tục tham gia nhưng cuộc sinh hoạt của hội, của các giới, cùng với bà con và anh chị em.

        Phút đầu gặp lại bà con rất cảm động. Mọi người hết sức mừng rỡ. Có người nói: "Cán bộ còn thì cách mạng còn". Mặc dầu đã dặn giữ bí mật, nhưng người nọ thi thào với người kia, chẳng mấy lúc tin đã loang ra khắp nơi. Các hội viên tíu tít kéo đến mang theo quà bánh. Có người vừa câu được con cá cũng đã đem đến cho cán bộ.

        Phong trào dần dần phục hồi lại, qua đợt thử thách này, lại lớn mạnh hơn trước. Các cán bộ, các đội tự vệ, các hội viên được rèn luyện qua đấu tranh trở nên cứng rắn hơn. Biết cuộc khủng bố của kẻ địch mới chỉ là bắt đầu, chúng tôi tiếp tục củng cố và phát triển cơ sở, đặc biệt chú trọng các đồng bào trên vùng cao. Những lớp huấn luyện lại mở. Để tiện việc tuyên truyền, chúng tôi đem chương trình Việt Minh soạn thành văn vần: Việt Minh ngũ tự kinh. Tôi dịch ra tiếng Tày, tiếng Dao Tiền và cùng đồng chí Bình Dương dịch ra tiếng Dao Trắng. Nhờ thế chương trình Việt Minh được truyền đi rất rộng và nhanh. Có bản, đồng bào mới được tổ chức vào hội, khi chúng tôi đến khai hội, đã nghe các chị phụ nữ và các em nhi đồng vừa cán bông, giã gạo, vừa hát Việt Minh ngũ tự kinh. Nhiều bài hát lượn cách mạng bằng tiếng Thổ, tiếng Dao xuất hiện.

        Một lần, trong một lớp học, các đồng chí giới thiệu với tôi, có đồng chí Đoàn Kết làm bài hát lượn rất giỏi. Đồng chí Đoàn Kết trước kia đi làm công cho một tên chánh Dao đã làm một bài hát lượn kể lại cuộc đời khổ cực của mình, hát lên, nhiều người nghe rớt nước mắt. Đồng chí Đoàn Kết nhà rất nghèo, nhưng khi đến lớp lại mang theo nhiều gạo, ngoài phần mình, còn đem thêm để giúp đỡ các anh em khác. Tính tình đồng chí rất tốt, hồn nhiên vui vẻ. Tôi gợi ý đồng chí nên đem nội dung học tập làm thành bài hát. Đồng chí Đoàn Kết lấy ít tàu lá chuối về, cắt ra từng mảnh đặt xuống mặt đất. Anh ngồi rung đùi, tay cầm con dao vạch trên đá, viết những bài hát lượn bằng một thứ chữ giống như chữ nôm. Những bài hát của anh được các hội viên rất thích. Đồng chí Đoàn Kết hồi đó, là nhà thơ Bàn Tài Đoàn ngày nay.

        Khỏi bệnh ít lâu, tôi trở về nơi Bác ở. Mỗi lần đi công tác về cơ quan cảm thấy như đang trở về với gia đình. Chuyến vừa rồi, tôi xa cơ quan tương đối lâu ngày.

        Được ở gần Bác một thời gian, tôi đã nhận thấy qua cái bề ngoài vô cùng giản dị của Bác, con người Bác thật vĩ đại, và chính cách sống giản dị đó cũng là một điều vĩ đại trong con người của Bác.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:28:08 AM

        Từ ngày tôi về nước, cơ quan lại thay đổi địa điểm thêm nhiều lần. Địch càng khủng bố, sinh hoạt của cơ quan càng khó khăn hơn. Khi Bác ở hang, khi ở hốc núi, khi ở trong một bụi rậm. Giường nằm là dăm ba cành cây, đôi lúc chỉ một mớ lá. Sức khoẻ của Bác có phần giảm sút. Bác sốt rét luôn. Thuốc men gần như không có gì ngoài ít lá rừng hái về sắc uống theo cách chữa bệnh của đồng bào địa phương. Cái ăn cũng rất thiếu. Món ăn quý giá anh Lộc dành riêng bồi dưỡng cho Bác hàng ngày là ít nước cơm chắt. Có thời gian, cơ quan chuyển vào vùng núi đá trên khu đồng bào Dao Trắng, gạo cũng không có, Bác cũng như các anh khác phải ăn toàn cháo bẹ hàng tháng ròng.

        Ở bất cứ hoàn cảnh sinh hoạt nào tôi cũng thấy bác thích nghi một cách rất tự nhiên. Chẳng hiểu Bác được rèn luyện từ bao giờ, như thế nào, mà mọi biến cố đều không mảy may lay chuyển được. Tôi nhớ mãi một lần Tĩnh Tây... Hôm ấy, có cuộc hẹn gặp người từ trong nước ra. Bác và chúng tôi đều cải trang thành những người Nùng để đi tới nơi hẹn tại chợ Lộc Tùng. Đồng chí liên lạc vừa tới, trông thấy Bác nói ngay: "Thưa Bác, đồng chí X. bị bắt rồi". Bác điềm nhiên bảo tất cả hãy vào hàng nghỉ ngơi như mọi người trong vùng này đi chợ. Khi ăn phở, ăn bún xong, ngồi uống nước Bác mới nói: "Bây giờ chú báo cáo đầy đủ mọi việc đi. Không nên vội vã". Bác khi nào cũng bình thản, bình thản trước mọi khó khăn. Mỗi lần về họp, cán bộ các nơi báo cáo tình hình, phong trào nơi này lên, nơi kia xuống, có khi nhiều nơi cùng bị khủng bố, Bác vẫn bình thản. Trong sự bình thản của Bác còn toát ra một tinh thần rất lạc quan. Bác đúng là hiện thân của người dân trên đất nước Việt Nam nhỏ bé, đói nghèo vì bị áp bức bóc lột cùng cực bao đời nay, nhưng anh dũng và bất khuất, không chịu lùi bước trước bất cứ sức mạnh nào, và hoàn toàn tin tưởng ở tương lai tốt đẹp của cách mạng, của nhân dân, của dân tộc. Gần Bác, chúng tôi như luôn luôn được nhắc nhở: Cách mạng phải gian khổ, việc cách mạng là việc lâu dài, cách mạng nhất định sẽ thắng.

        Bác thường nói: "Muôn việc lấy Đảng làm gốc, Đảng là gia đình của người cộng sản". Ở bên Bác, bao giờ chúng tôi cũng thấy một không khí đầm ấm, gần gũi, chỉ có được trong một gia đình cách mạng. Thái độ điềm đạm, bình tĩnh và những sự chăm sóc, yêu thương của Bác đã giáo dục, rèn luyện và tiếp sức cho chúng tôi trên con đường dài hoạt động cách mạng. Qua bao biến cố có tính chất quyết định vận mệnh của dân tộc từ đó cho tới ngày nay, tôi thấy Bác vẫn vậy, vẫn như ngày chúng tôi được sống cùng Bác tại chiến khu Cao - Bắc - Lạng.

        Suốt thời gian qua, Bác luôn luôn chú ý chỉ đạo việc phát triển và củng cố phong trào. Bác rất chú trọng công tác tuyên truyền và công tác tổ chức, Bác theo dõi thật tỉ mỉ cán bộ, đảng viên và các phần tử trung kiên. Bác hay nói: "Phong trào cách mạng như nước thuỷ triều khi lên khi xuống, trung kiên cũng như những hàng cọc, cọc đóng có chắc thì mới giữ được phù sa, phòng khi nước xuống”. Gần như thành lệ, mỗi khi nghe báo cáo phong trào, bao giờ Bác cũng hỏi: "Đã được bao nhiêu cán bộ, bao nhiêu phần tử trung kiên, đã chọn được bao nhiêu người tốt để tổ chức vào Đảng?". Mỗi lần Bác nhắc đi, nhắc lại như thế, giúp cho chúng tôi thấy rõ hơn giá trị của các thành phần cốt cán, nhất là các tổ chức chi bộ đối với phong trào. Và mỗi lần Bác đã hỏi hoặc nói lại, thì công việc và vấn đề lại được đề ra với những cách giải quyết mới, không phải cứ theo nếp cũ, mà rất linh hoạt, thích hợp với hoàn cảnh mới. Với những cán bộ ở miền xuôi lên, Bác đặc biệt hay nhắc nhở chú trọng vấn đề đoàn kết dân tộc. Vấn đề to lớn này được Bác nói tới với những việc cụ thể, thiết thực, để mọi người có thể làm được ngay. Bác nói, phải chú ý đến phong tục, tập quán của các dân tộc, phải gắng học các tiếng nói của địa phương.

        Lần này về cơ quan, tôi nhận một quyết định mới.

        Theo chỉ thị của Bác và quyết định của Liên tỉnh ủy Cao - Bắc. - Lạng, công tác Nam tiến được đặt ra một cách rất khẩn trương.

        Ngay từ khi về đến biên giới, Bác đã luôn luôn chú trọng vấn đề liên lạc với Trung ương dưới xuôi. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 quyết định lấy miền rừng núi Việt Bắc để xây dựng căn cứ vũ trang. Sau hội nghị, hai đồng chí Trung ương ở với Bác tại Cao - Bắc - Lạng. Các đồng chí khác trở về miền xuôi để lãnh đạo phong trào. Vấn đề liên lạc giữa Cao Bằng với miền xuôi trở nên đặc biệt quan trọng. Bác thường nói: "Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mệnh, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi".


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:28:41 AM

        Trước tình hình phát triển của phong trào cách mạng trong cả nước, Bác thấy ngoài lối liên lạc thường dùng bằng giao thông bí mật, phải cấp tốc tổ chức những con đường quần chúng từ Cao bằng đi về miền xuôi. Có thế khi địch khủng bố mới giữ được liên lạc, những hoạt động vũ trang của các đội du kích mới có thể tiến hành thuận lợi, và nhất là mới tranh thủ kịp khi thời cơ biến chuyển tốt, cách mạng có thể tiến lên Tổng khởi nghĩa.

        … Trước lời kêu gọi của Đảng và cả Mặt trận Việt Minh, một phong trào xung phong tham gia các đội Nam tiến rầm rộ khắp nơi. Hàng trăm cán bộ, thanh niên nam nữ tình nguyện thoát ly gia đình, vào các đội Nam tiến. Mười chín đội xung phong Nam tiến được tổ chức. Những đồng chí tham gia vào các đội tự mình sắm lấy vũ khí. Với những nơi chưa có phong trào, quần chúng còn e sợ sức mạnh của quân địch, một khẩu súng, một quả lựu đạn đều có tác dụng cổ vũ tinh thần quần chúng. Anh Thiết Hùng và tôi cũng mang vũ khí, anh Thiết Hùng mang một khẩu súng sáu, bắn phát nổ phát không. Tôi có một quả lựu đạn, một quả lựu đạn điếc nhưng đi đâu cũng đeo bên người.

        Mỗi đội xung phong được phân công đi một địa phương. Các tổ xung phong phát triển đi trước, hoạt động theo lối vũ trang tuyên truyền, bắt mối điều tra, tuyên truyền gây cơ sở. Các tổ xung phong củng cố đến tiếp sau, chọn cốt cán trong quần chúng, mở lớp huấn luyện ngắn kỳ, rồi dựa vào cán bộ địa phương mới được đào tạo mà phát triển phong trào. Để có cơ sở quần chúng được rộng rãi, cùng một lúc, chúng tôi mở thông nhiều con đường tiến về phía Nam. Cách phát triển cũng không nhất định phải tiến hành tuần tự từ xã này sang xã khác, khi có điều kiện thì thực hiện phát triển cách quãng. Có những tổ xung phong được phái bí mật vượt qua những chặng đường dài, đến một địa phương quần chúng tương đối tốt gây cơ sở ở đó, rồi dần dần nối liền các cơ sở lại với nhau. Tổ xung phong phát triển do đồng chí Quang, thư ký chi bộ Nam tiến phụ trách, đi xa nhất, xuống tận vùng Chợ Đồn để gây cơ sở. Một số tổ khác có các nữ đồng chí Cầm, Hữu, Tín... cũng hoạt động rất tích cực, có khi đi rất sâu, xuống quá Phủ Thông. Chúng tôi gọi cách phát triển này là lối "nhảy dù”!.

        Theo tình hình tiến triển của phong trào, tôi đi dần từ tổng Kim Mã qua tổng Hoàng Hoa Thám, xuống phía Ngân Sơn để kiểm tra công tác và mở lớp huấn luyện.

        Trên dọc đường, có những khu mới đã thành lập. Đồng bào dân tộc Dao Tiền ở vùng giáp giới hai tỉnh Cao Bằng - Bắc Cạn, đã được tổ chức thành khu Quang Trung. Khi qua vùng này, tôi vào ở tại nhà đồng chí Hoan, người đảng viên đầu tiên của dân tộc Dao Tiền. Gia đình tiếp đón rất niềm nở. Để giữ bí mật cho cán bộ, vợ chồng đồng chí Hoan đã nhường buồng riêng cho chúng tôi. Theo tục lệ lâu đời, đồng bào Dao Tiền rất kiêng, không bao giờ để người lạ ở trong buồng riêng của vợ chồng. Đêm nằm nghe các em ở những nhà bên vừa giã gạo vừa ê a học Việt Minh ngũ tự hình, vui vui, thấy tư tưởng cách mạng đã được truyền đi khá xa, các ban xung phong Nam tiến đã tiến hành công tác khá tốt.

        Đi qua Hà Hiệu, các đồng chí trong đội công tác Nam tiến báo cáo, đường đã chạy xuống tới gần Phủ Thông, nhưng ở vùng giáp Ngân Sơn bị tắc một quãng ở Khai Hạ, thời gian qua đã cố gắng nhiều nhưng vẫn chưa tổ chức được. Hỏi khó khăn vì đâu, anh em nói lại, khi đội xung phong đến vùng này gây cơ sở, có một đồng chí hỏi tên đồng bào rồi ghi vào một tờ giấy để nhớ, từ đó đồng bào không tin ở hội nữa. Bọn tổng đoàn, chánh Mán vốn vẫn thường đến các làng, bản ghi tên mọi người để thu sưu, thu thuế và bắt đi xâu. Đồng bào nói: "Đây là "hội giả" nên mới ghi tên, nhất định không vào, đợi bao giờ "hội thật" đến thì sẽ vào". Qua kinh nghiệm công tác, tôi biết rõ muốn giác ngộ được đồng bào Dao, trước hết phải gây được lòng tin.

        Có lần hẹn đồng bào tới khai hội, sắp đi thì trời nổi mưa to gió lớn, nước lũ đổ về dâng lên ngập suối. Việc cũng chưa gấp, có thể để lui đến ngày hôm sau. Nhưng không muốn lỡ hẹn với đồng bào, tối hôm đó, phải đội mưa, vượt suối lũ lần mò trong rừng, rất khuya mới tới nơi. Một số đồng bào vẫn ngồi đợi, thấy cán bộ đến hết sức mừng rỡ. Chỉ lát sau đồng bào gọi nhau dậy, kéo tới đầy nhà. Qua lần đó, thấy rõ đồng bào tin và quý mến thêm nhiều. Tôi đã rút ra được một điều, đối với đồng bào miền núi chất phác, phải hết sức chú ý giữ sao cho được lòng tin trong bất cứ việc lớn hay việc nhỏ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:28:59 AM

        Sau khi hỏi lại tình hình kỹ lưỡng, tôi nói cùng các đồng chí đưa tôi đến Khai Hạ.

        Nghe nói đường đi rất nhiều vắt, trước khi đi mỗi người chuẩn bị một ống vôi. Từ hồi về công tác tại Cao Bằng, đã làm quen với những nơi nhiều vắt, nhưng chưa bao giờ lại thấy ở đâu vắt nhiều như ở đây. Vắt ở dưới đất, vắt ở trên cây. Đụng tới đâu cũng là vắt. Loại vắt xanh ở trên cây nhỏ hơn vắt đen ở dưới đất, nhưng bám vào người rất chặt. Các đồng chí đi đường gọi vắt đen là Tây và vắt xanh là Nhật. Đi một quãng chúng tôi lại dừng để gỡ vắt. Kéo ống quần lên thì vắt đã bám đen đặc một khoảng, như một cái lá. Phải cầm ống vôi quét cho vắt rơi xuống đường. Ở những chỗ vắt cắn, máu cứ ri rỉ chảy mãi.

        Các đồng chí đưa tôi vào gia đình đã có đồng chí cán bộ "ghi tên" bữa trước. Chủ nhà đi vắng, trời mưa to. Chúng tôi ngồi tại nhà đợi khá lâu, anh mới về. Anh còn trẻ, quần áo ướt sũng. Đồng chí người Dao đi cùng tôi, giới thiệu với anh, tôi là cấp trên ở hội xuống. Thấy anh cứ mặc nguyên quần áo ướt, tôi hỏi tại sao không thay, mặc như vậy ngấm nước mưa, không tốt. Anh nói, những quần áo khác cũng đều ướt cả. Tôi lấy bộ quần áo chàm đem theo trong túi dết, đưa anh mặc tạm, rồi ngồi thăm hỏi tình hình gia đình, nói chuyện làm ăn. Khi nói đến việc hội, anh kể lại chuyện đồng chí cán bộ đã ghi tên mình vào giấy rồi nói:

        - Đã một bụng một dạ với nhau thì còn phải ghi tên làm gì?

        Tôi nói:

        - Vào hội là để đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống thu sưu, thu thuế, đánh Tây, đuổi Nhật, giành lấy độc lập, tự do những người có một lòng một dạ như thế mới được tổ chức vào hội. Biết đồng chí là người tốt, nên bữa trước mới có cán bộ đến đây để tổ chức đồng chí vào hội. Còn việc ghi tên thì không phải ghi tên thật, đã tin nhau thì ghi tên làm gì, đó chỉ là ghi cái tên bí danh, rồi sẽ đem đốt trước mặt nhau để ăn thề. Nếu đồng chí đã rõ, thì lần này chúng ta sẽ tổ chức ăn thề để cùng nhau vào hội.

        Được giải thích một lát, anh đồng ý và yêu cầu viết tên trên giấy bùa cúng ma. Tôi có một chiếc bút chì xanh đỏ, bèn lấy ra, ghi tất cả tên chúng tôi trên một lá bùa, rồi làm lễ ăn thề. Sau đó ít lâu, qua đồng chí mới tổ chức được cả bản này và những bản gần đó cùng vào hội. Con đường thông xuống tận Phía Bioóc.

        Tôi chuyển về một bản gần châu lị Ngân Sơn, chuẩn bị đi tiếp xuống phía Nam. Bản này ở trên đỉnh núi. Từ đó nhìn xuống thấy rõ châu lị với những đồn bốt của quân Pháp. Tình hình công tác phát triển thuận lợi. Đoàn quân chính trị đi tới đâu là phong trào cách mạng ở đó bốc lên. Anh em chúng tôi đều rất phấn khởi. Một hôm, có đồng chí liên lạc ở chỗ anh Đồng tới, đưa một lá thư hoả tốc. Mở thư ra, anh Đồng viết: "Anh về ngay cơ quan có việc cần bàn". Tôi vội vã quay trở lên Cao Bằng.

        Về tới cơ quan, được tin sét đánh. Anh Đồng và anh Vũ Anh cho biết: Bác đi Trung Quốc chuyến vừa rồi bị bọn Quốc dân Đảng bắt giam và đã mất trong ngục. Mọi người đau đớn vô hạn. Chúng tôi biên thư báo cáo về Trung ương, rồi bàn làm lễ truy điệu, phân công anh Đồng chuẩn bị điếu văn. Anh Cáp mang cái va-ly mây của Bác ra, chúng tôi cùng tìm xem còn những thứ gì có thể giữ lại làm kỷ niệm. Tuy nhiên, muốn biết một cách thật chắc chắn, chúng tôi vẫn định phái anh Cáp sang Trung Quốc lần nữa, để nghe lại tin này cho rõ ràng, và cũng để tìm xem phần mộ Bác ở đâu.

        Sau mấy ngày đau đớn, bối rối ấy, tôi lại quay xuống châu Ngân Sơn. Dọc đường, rẽ vào nghỉ tại cơ quan đồng chí Xích Thắng, người cứ thẫn thờ, nhưng phải cố sao để các đồng chí chung quanh không nhận thấy.

        Tại đây, có nữ đồng chí Sinh, biết chúng tôi là đoàn cán bộ xung phong Nam tiến, nhất định đòi đi theo để làm công tác. Thời gian này phong trào Nam tiến trong nam nữ thanh niên đang rất sôi nổi. Thấy đồng chí Sinh còn ít tuổi chúng tôi nói rõ, công tác này có nhiều khó khăn, hoạt động tại địa phương chưa bị lộ thì nên cứ ở lại địa phương hoạt động. Nhưng đồng chí Sinh nói: "Đoàn thể đã kêu gọi ai có tinh thần thì tham gia vào đội Nam tiến, nam giới đã được đi thì phụ nữ cũng phải được đi". Thấy chúng tôi không đồng ý, đồng chí Sinh ngồi khóc. Sớm hôm sau, chúng tôi dậy để lên đường, thì đồng chí Sinh về nhà đã lên, mang theo khăn gói quần áo, ngồi đợi đó để cùng đi. Thấy đồng chí Sinh sốt sắng, anh Xích Thắng cũng đồng ý để đồng chí đi. Đồng chí Sinh sau này công tác rất tích cực và trở thành một cán bộ tốt của Đảng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:29:23 AM

        Đêm hôm ấy, đồng chí giao thông đưa chúng tôi đi qua một chặng đường toàn đồi gianh. Mọi người rất vui. Riêng tôi vẫn nghĩ đến Bác. Nếu Bác mất, thì thật là một cái tang lớn, một sự tổn thất không gì bù đắp lại được cho Đảng ta và toàn thể nhân dân ta. Đi trong đêm vắng lặng và lạnh buốt, nhìn những triền đồi gianh man mác kéo dài vô tận, những ngôi sao sáng như đọng trên những ngọn cỏ gianh bơ xờ, một vài chấm lùa của những ngôi nhà ở cô đơn trên các ngọn núi, lòng cảm thấy bơ vơ, buồn vô hạn, hai hàng nước mắt cứ rưng rưng.                       

        Con đường Nam tiến kéo dài trên nhiều triền núi và cánh đồng qua các làng bản của đồng bào Thổ, Dao Tiền, Dao Đỏ... Tại nhiều nơi, quần chúng được tổ chức khá rộng rãi, tinh thần lên rất cao. Một không khí chuẩn bị khởi nghĩa sôi nổi trên suốt dọc đường. Đồng bào các dân tộc đón tiếp cán bộ như những người ruột thịt đi xa lâu ngày trở về.

        Từ Ngân Sơn, chúng tôi đi chín, mười đêm ròng, tiến về Phủ Thông, qua cánh đồng Hà Vị, vượt những vách đá dựng đứng của dãy núi Phía Bioóc, qua những triền núi, những cánh đồng nối tiếp nhau qua Chợ Đồn, rồi đến xã Nghĩa Tá. Chúng tôi nghỉ lại nhà đồng chí Dương ở bản Bẳng, đợi anh Chu Văn Tấn cho người lên đón.

        Vài ngày sau, anh Tấn cử đồng chí giao thông lên. Anh Tấn chờ chúng tôi gần Chợ Chu.

        Chúng tôi đi khoảng hai, ba đêm qua những vùng đồng bào Dao Ô-gang sống rất nghèo khổ. Chặng đường đêm cuối cùng phải qua làng Cóc. Ở đây, địch đóng đồn ngay giáp đường. Chúng tôi bàn nhau đi vượt qua đồn ban đêm. Tối hôm đó, tôi đi cùng đồng chí Hiền và một đồng chí giao thông. Đến gần đồn, sắp qua chỗ đường ngoặt, chợt nghe phía trước có tiếng lách cách. Liền ngay đó, nhìn thấy ánh đuốc và nghe tiếng người. Tôi đoán là bọn lính đi tuần. Chúng đã đến gần quá. Tôi kéo áo đồng chí giao thông đi trước, cùng nhảy vào một bụi cây ven đường, nằm im. Đồng chí Hiền đi sau, cũng lao theo. Vừa khi đó, năm tên lính dõng đi tuần tới, theo sau là một số đồng bào cầm đóm, đuốc. Chỉ lo vì có đuốc sáng mà bọn dõng nhận ra chúng tôi. Ánh đuốc soi vào đỏ cả bụi cây. Nhưng bọn dõng ghếch mắt đi qua và đồng bào mải nói chuyện cưới xin không ai chú ý hai bên vệ đường.

        Anh Chu Văn Tấn và đồng chí Dục Tôn đợi chúng tôi tại một cái lán của đồng bào làm để canh lúa ở ven rừng. Sau đó; những đồng chí trong đội Nam tiến do đồng chí Quang phụ trách cũng tới. Gặp nhau giữa rừng sâu, mừng vô kế. Hai con đường cùng được đánh thông và bây giờ đã hợp lại thành một con đường quần chúng của Cách mạng ôm vòng lấy Cao - Bắc - Lạng, con đường đã được vạch ra sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8.

        Chúng tôi lấy những tàu lá cọ, rải trong rừng, ngồi họp mặt trao đói kinh nghiệm, kể chuyện đến khuya. Tôi giới thiệu những kinh nghiệm của Cao Bằng, Bắc Cạn. Anh Tấn kể lại tình hình phong trào đang lên mạnh ở Bắc Sơn, Thái Nguyên và miền xuôi; cơ sở của chúng ta tại Bắc Sơn, Vũ Nhai đã được củng cố và đang mở rộng sang Chợ Chu, Đại Từ. Địch vẫn tiếp tục chính sách khủng bố để hòng dập tắt ngọn lửa cách mạng đã nhen nhóm khắp nơi. Anh Tấn cho tôi biết, đã bắt được liên lạc với Trung ương ở miên xuôi.

        Cách đó ít ngày, các đồng chí Cứu quốc quân đã bắn được một con nai. Anh Tấn vẫn để dành một chiếc chân nai chờ chúng tôi. Tối hôm đó, anh em thui lại chân nai để ninh làm tiệc liên hoan.

        Đêm khuya, cùng rải lá cọ nằm ngủ với nhau giữa rừng.

        Để kỷ niệm lần gặp gỡ đáng ghi nhớ ấy, chúng tôi đặt tên xã Nghĩa Tá là xã Thắng Lợi.

        Chúng tôi trở về Nghĩa Tá, ở lại một thời gian. Anh Tấn cho biết, đã báo cáo về Trung ương và sẽ có đồng chí ở Trung ương lên gặp. Tôi nán ở lại đợi. Trong thời gian này, tổ chức một lớp huấn luyện cho các đồng chí hội viên tại đây. Tôi tranh thủ thời giờ viết cuốn Kinh nghiệm Việt Minh tại Việt Bắc.

        Chờ khoảng nửa chừng vẫn chưa thấy đồng chí ở Trung ương lên. Để khỏi lỡ hẹn với các anh ở nhà, tôi biên thư cho anh Tấn biết, chúng tôi trở về Cao Bắng rồi sẽ quay xuống sau.

        Dọc đường đi lên, qua Đông Viên, Chợ Đồn, tình hình không có gì thay đổi. Tới Nà Lùm, tôi nhận được thư của đồng chí Đức Xuân. Đồng chí Đức Xuân là đội trưởng một đội tuyên truyền xung phong Nam tiến được giao nhiệm vụ tổ chức phong trào tại tổng Hà Vĩ, gần Phủ Thông. Đồng chí Đức Xuân báo cáo tình hình phong trào đang lên, đề nghị tôi xuống cánh đồng nói chuyện với một số đồng chí trung kiên và dự một cuộc mít tinh đã được chuẩn bị.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:30:00 AM

        Đi hết một cái dốc dài tám ki-lô-mét, xuống tới cánh đồng. Đã đến bữa ăn, chúng tôi vào nghỉ tại một nhì trong làng. Đang dở bữa thì có người đến báo, đồng chí Đức Xuân đã bị địch bắn chết, chúng chặt đầu đồng chí đem về treo tại Bắc Cạn. Chúng tôi biết tình hình bắt đầu thay đổi và trở nên xấu. Lúc đó, một tên chánh tổng vào nhà này chơi. Lát sau, lại có một người lạ mặt đến, chủ nhà giới thiệu là hội viên, nhưng một hội viên khác lại nói nhỏ để chúng tôi biết, người này chưa vào hội. Làng này ở gần Phủ Thông. Nhận thấy cần phải rút nhanh, mọi người ăn cho chóng xong. Chúng tôi nói chuyện với các hội viên về cách đối phó khi địch khủng bố, rồi quay trở lại Nà Lùm.

        Bà con tại Nà Lùm đã được tin đồng chí Đức Xuân bị hại, tỏ vẻ lo ngại. Một số đồng bào khuyên chúng tôi nên lánh vào rừng. Nà Lùm là một bản hẻo lánh ở trên triền núi Phía Boóc cao hơn mặt biển hàng ngàn thước. Nà Lùm theo tiếng địa phương là: ruộng bị bỏ quên. Chúng tôi rút lên rừng vầu, ở lại ít ngày, đợi điều tra rõ tin tức về đồng chí Đức Xuân. Đêm đến, trời lạnh cắt da chắt thịt. Quần áo, chăn màn thiếu thốn, đêm nằm như muôn vàn chiếc kim từ trên châm xuống, từ dưới châm lên.

        Sau vài ngày điều tra, biết đích xác đồng chí Đức Xuân đã bị địch hại, mọi người đều rất thương xót. Đồng chí Đức Xuân là một đảng viên rất tích cực, vận động quần chúng giỏi, có tài sáng tác những bài ca và bài hát lượn cách mạng, vui tính, được anh em quý mến. Chúng tôi tiếp tục trở về Cao Bằng. Để đề phòng sự bất trắc, chúng tôi không theo đường cũ, mà đi ngược theo dãy núi Phia Bioóc.

        Đồng chí Dao dẫn đường chiếu hướng Bắc, dùng dao phát cây mở lối đi dọc trên những đỉnh núi. Tiết trời đã về cuối đông, trên núi cao càng giá buốt. Nhiều lúc cả đoàn đang đi trong mưa mau, rét tê tái, nhìn xuống chân núi lại thấy nắng vàng rực trải ra trên những cánh đồng. Nghĩ đến một ngày mai tươi sáng được tự do đi lại trên những nẻo đường bằng phẳng của đất nước, cảm thấy người ấm lại.

        Ngày đi miết. Đêm tìm hốc đá nằm nghỉ. Có buổi sáng tỉnh dậy, sờ tay lên mặt thấy một con vắt tròn mọng bám ở mi mắt.

        Một buổi chiều, chúng tôi nghỉ lại ở một khu rừng đại ngàn âm u toàn cây cổ thụ già cỗi, rêu xanh phủ khắp nơi, có lẽ từ xưa đến nay chưa hề in dấu chân người. Tối hôm đó, nằm khó ngủ, nghĩ đến Bác. Tôi bỗng nhiên cảm thấy Bác chưa thể nào mất được, Bác vẫn ở đâu đây, rất gần với chúng tôi.

        Nửa đêm trời nổi mưa to gió lớn. Gió hú từng hồi trên các vòm cây. Thỉnh thoảng, gió lại làm đổ một cây cổ thụ đã chết khô mục nát từ lâu, khu rừng chuyển, tiếng động vang ầm.

        Cuối cùng, cả đoàn chúng tôi đã vượt qua hết dãy núi Phia Bioóc, đồng bào ở lũng Dao dưới chân núi đón đoàn cán bộ vừa đi xung phong Nam tiến về bằng một bữa cơm rất linh đình, mặc dầu ở các vùng xung quanh địch đang lùng sục ráo riết.

        Chúng tôi về tới nhà, thì ngày Tết cũng đã đến. Đúng tối ba mươi tháng chạp, phần lớn cán bộ của mười chín đội vũ trang xung phong Nam tiến đã đánh thông đường, đều về tập trung liên hoan mừng thắng lợi. Tổng bộ Việt Minh và Đảng bộ Cao - Bắc - Lạng trao tặng đoàn cán bộ Nam tiến lá cờ "Xung phong thắng lợi".

        Bữa ấy, tôi về cơ quan hội báo tình hình, thì thấy anh Đồng, anh Vũ Anh và anh Lã đang xúm xít quanh một tờ báo. Các anh chuyển tờ báo cho tôi và hỏi tíu tít:

        - Anh xem có đúng là chữ của Bác không? Đó là một tờ báo ở Trung Quốc mới gửi về, bên mép trắng có mấy hàng chữ Hán viết tay. Tôi nhận ra ngay đúng là chữ Bác. Bác viết:

        “Chúc chư huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố gắng công tác. Ở bên này bình yên”.

        Phía dưới có một bài thơ:

                                         Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân   
                                         Giang tâm như kính, tịnh vô trần
                                         Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh
                                         Dao vọng Nam thiên ức cố nhân.


        Dịch nghĩa:

                                        Mây ôm dãy núi, núi ôm mây
                                         Lòng sông như gương, không chút bụi
                                         Một mình dạo bước trên núi Tây Phong trong dạ bồi hồi
                                         Nhìn về trời Nam xa xăm nhớ bạn cũ.


        Tôi xem xong hết sức ngạc nhiên. Chữ viết này, lời lẽ này, những câu thơ này, đúng là của Bác. Tờ báo này mới xuất bản.

        Mọi người khôn xiết vui mừng. Phải nói rằng trong màn đêm ảm đạm đợt khủng bố trắng vô cùng khốc liệt tại Cao - Bắc - Lạng, tin Bác bình yên về với chúng tôi như những tia nắng rực rỡ vừa xuất hiện ở chân trời, báo hiệu một ngày mai tươi sáng đến gần...


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:31:22 AM

HỒI KÝ NAM TIẾN

NÔNG VĂN QUANG           
(Lão thành cách mạng)       

        Thí điểm tổ chức Mặt trận Việt Minh ở châu Nguyên Bình

        Tháng 3 năm 1941, nội dung công tác thí điểm bắt đầu được triển khai ở Gia Bằng, Kỳ Chỉ. Trước hết về tổ chức Đoàn Thanh niên phản đế được chuyển sang Thanh niên cứu quốc hội, đồng thời các giới khác cũng được xúc tiến tổ chức như phụ nữ cứu quốc hội, nông dân cứu quốc hội... Mỗi giới đều được bầu ra ban chấp hành để lãnh đạo sinh hoạt và hoạt động của các hội viên.

        Nơi được thí điểm đầu tiên là bản Thềm Phác, Giáp Giải, xóm nào có đảng viên thì đảng viên làm tổ trưởng các hội cứu quốc. Nơi chưa có đảng viên thì chọn cử hội viên tích cực có tín nhiệm với hội viên và nhân dân làm tổ trưởng. Thư ký ban chấp hành hội cứu quốc của các giới đều là đảng viên.

        Tháng 5 năm 1941, thực hiện chủ trương chấn chỉnh Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, đồng chí Vũ Anh đến chi bộ ghép xã Gia Bằng - Kỳ Chỉ - Linh Mai, thành lập Châu ủy châu Lâm Sơn (Nguyên Bình) gồm có các đồng chí Xích Thắng, Hồng My, Quang Hưng và Lý Công1 (Bí danh của đồng chí Nông Văn Quang), đồng chí Xích Thắng được cử làm Bí thư.

        Từ đấy Đảng bộ chuyển sang giai đoạn mới. Đồng chí Xích Thắng chỉ đạo toàn bộ công tác của Đảng bộ châu Lâm Sơn, sau đó là ủy viên Tỉnh bộ Việt Minh và là ủy viên Liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng. Đồng chí Quang Hưng làm Bí thư Châu ủy vì đồng chí Xích Thắng giữ chức Tỉnh ủy.

        Ban Việt Minh ở hai xã Gia Bằng, Kỳ Chỉ được thành lập Đồng chí Xích Thắng được cử làm chủ nhiệm ban Việt Minh xã Gia Bằng và đồng chí Lượng làm chủ nhiệm Việt Minh ở xã Kỳ Chỉ.

        Công tác phát triển Hội tiếp tục được đẩy mạnh, mỗi hội viên đều có nhiệm vụ hoạt động như điều tra, tuyên truyền nhằm kết nạp thêm hội viên mới. Hướng và cách phát triển là thông qua các tổ chức: hội tương tế, đội bóng đá, anh em họ hàng nội ngoại thân thích và bạn đồng cảnh tốt. Nội dung tuyên truyền là 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh. Cụ thể là dựa vào những tư tưởng quan điểm chủ yếu sau: vào Hội là đoàn kết nhau lại mới có sức mạnh nhằm đánh đổ chế độ cai trị của Pháp và Nhật để giành tự do và độc lập cho đất nước Việt Nam; cách mạng sẽ xây dựng chế độ mới: các dân tộc đều bình đẳng, nam nữ bình quyền trong việc nước cũng như việc nhà; xóa bỏ các thứ thuế không hợp lý của thực dân Pháp, lập ra thứ thuế công bằng và hợp lý, tịch thu ruộng đất của địa chủ người Pháp và bọn địa chủ tay sai của Pháp chống phá cách mạng; thực hiện người cày có ruộng, công nhân ngày làm việc 8 giờ, có chế độ bảo hiểm xã hội...

        Khi tuyên truyền về mục đích, tôn chỉ và chương trình, chính sách của Hội Việt Minh, cũng có nhiều câu hỏi thắc mắc, băn khoăn của quần chúng hội viên như: Pháp, Nhật có quân đội, có súng ống mọi thứ. Ta còn đang hai bàn tay trắng làm sao đánh nổi?...

        Mọi thắc mắc của quần chúng và hội viên được giải thích từng bước, từng vấn đề. Đại thể là ai cũng muốn vào Hội nhưng còn nhiều điều chưa hiểu, chưa rõ là điều tất nhiên. Vậy muốn giải phóng cho bản thân, gia đình mình, cho đất nước, trước hết ta phải đánh đổ được chế độ cai trị của Pháp, Nhật. Như vậy phải có tổ chức, tức là mọi người cần tham gia vào Hội Việt Minh. Ta đoàn kết mới có sức mạnh. Khi có sức mạnh sẽ có được nhiều thứ mà ta đang cần. Hoạt động của Hội phải giữ được bí mật. Không có khai báo thì kẻ địch có tai cũng như điếc, có mắt cũng như mù. Đối với những kẻ làm mật thám tay sai của Pháp, ta cần theo dõi hoạt động của bọn chúng để biết đề phòng...

        Qua gần hai tháng thí điểm ở xã, đã có phong trào khá mạnh về nhiều mặt: Trước hết đồi với lớp tuổi trẻ, trai cũng như gái, khi có được sự hiểu biết, việc tham gia các hoạt động của Hội biểu lộ sự hăng hái sôi nổi. Bởi nhiều nội dung trong chương trình của Mặt trận phù hợp nguyện vọng đòi hỏi của họ. Bên cạnh số thanh niên, thì lớp trung niên trong các dân tộc Dao, Mông, Tày... cũng biểu hiện sự giác ngộ, tinh thần hăng hái, sẵn sàng hưởng ứng ủng hộ những yêu cầu do đoàn thể cách mạng nêu ra. Đặc biệt ở họ đều tỏ ra niềm tin cách mạng sẽ thắng lợi dù còn dài lâu và không ít gian nan nguy hiểm.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:31:45 AM

        Đầu tháng 5 năm 1941, một cuộc họp tổng kết về công tác thí điểm thực hiện chương trình của Mặt trận Việt Minh đã được tổ chức. Hội nghị được tổ chức tại xóm Góc. Đồng chí Vũ Anh thay mặt Trung ương chủ trì cuộc họp tổng kết.

        Kết quả về các mặt công tác thí điểm cả ba huyện Hòa An, Hà Quảng và Nguyên Bình được phân tích đánh giá trong báo cáo tổng kết. Báo cáo tổng kết này là một trong những nội dung trù bị cho hội nghị Trung ương 8. Trên cơ sở nội dung tổng kết công tác thí điểm, hội nghị Trung ương 8 đã thảo luận và chính thức ra nghị quyết thành lập một tổ chức mới: Việt Nam độc lập đồng minh hội gọi tắt Hội Việt Minh. Thực hiện Nghị quyết 8 của Trung ương, hội cứu quốc của các giới được tiếp tục đẩy mạnh phát triển và củng cố không chỉ riêng ở hai xã Gia Bằng, Kỳ Chỉ nữa mà hướng dẫn thêm sang các xã Tế Môn, Lang Trà, Kim Mã, Tam Lọng. Đồng thời việc phát triển lực lượng vũ trang cũng được bắt đầu bằng cách tổ chức các đội tự vệ, tuyển chọn các hội viên tích cực trong Hội Cứu quốc các giới thanh niên và nông dân vào các đội tự vệ.

        Tháng 11 năm 1941, xã Lương Môn đã kết nạp thêm số hội viên mới như các anh Ngưu, Cốm, Măng, Hình và Vọng. Xã Lang Trà kết nạp thêm anh Cẩn... Các xã Kim Mã, Tam Lọng kết nạp các anh Dương Văn Đôi tức Trọng Khánh và anh Tọa bí danh Lý Thường Kiệt. Các anh này đều do Ma Văn Phái tức Mỹ Lợi đến tuyên truyền tổ chức vào Hội. Tháng 4 năm 1941, theo chỉ thị của Tỉnh ủy, Đảng bộ cử hai đồng chí Trương Văn Cù và Ma Văn Chúc đi học quân sự ở Điền Đông (Trung Quốc). Cuối năm 1941 tại mỏ thiếc Tĩnh Túc cũng lập ra tổ chức công nhân cứu quốc hội...

        Tại xã Trùng Khuôn, sau những đợt khủng bố cuối năm 1938, phong trào lúc này đã được phục hồi. Trong đợt khủng bố này, đồng chí Dương Kim Đao - một hội viên trung kiên, một cán bộ tiêu biểu của dân tộc Mông đã tránh thoát và bắt đầu đi hoạt động bí mật. Phần nhiều đồng chí hoạt động ở vùng Lũng Phẩy thuộc xã Hồng Việt, Hòa An. Cuối năm 1941, Tỉnh ủy quyết định cử đồng chí Bình Dương là người cũng đã thoát ly bí mật lên vùng này cùng cộng tác với đồng chí Dương Kim Đao.

        Thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, hai đồng chí đã từng bước chuyển hội đánh Tây sang tổ chức Mặt trận Việt Minh.

        Địa bàn hoạt động của hai đồng chí có mở rộng thêm chủ yếu các vùng dân tộc Mông và Dao Đỏ tại các huyện Hòa An, Hà Quảng, Trà Lĩnh, huyện Quảng Uyên và Nguyên Bình. Cũng vào thời kỳ này, tại mỏ thiếc Tĩnh Túc và châu Nguyên Bình, chủ yếu ở vùng nông thôn, cơ sở phong trào phát triển mạnh ở các dân tộc Dao, Mông, Tày, Nùng, Kinh.

        Sang năm 1942, phong trào cách mạng ở châu Nguyên Bình phát triển đã có bề sâu và cả bề rộng.

        Quanh dưới chân các triền núi, nhiều xóm làng Tày, Nùng đã có cơ sở cách mạng. Ở vùng cao từ các thung lũng đến các sườn núi, cơ sở cách mạng trong các dân tộc Mông, Dao cũng được phát triển thêm. Các cơ sở đã tạo ra những điều kiện "dựa vào nhau”. Mỗi khi địch khủng bố ở vùng thấp, các cán bộ hoạt động bí mật tránh lên vùng cao và ngược lại.

        Thực hiện nghị quyết Trung ương 8 năm 1941 và chỉ thị của Bác Hồ, Liên tỉnh ủy, tháng 1 năm 1942 hai đồng chí Văn và Đinh đến châu Nguyên Bình. Các đồng chí đã mở ngay lớp huấn luyện. Lớp huấn luyện đầu tiên được mở tại hang đá Kéo Quảng1 (Hang Kéo Quảng xã Gia Bằng mở bốn lớp huấn luyện.

        + Tháng 1 năm 1942, đồng chí Văn mở hai lớp xong thì đến Tết Nguyên Đán.

        + Tháng 4 năm 1942, mở lớp lịch sừ Đảng cho Thường vụ Tỉnh uỷ Cao Bằng và Châu uỷ Nguyên Bình.

        + Tháng 4 năm 1942, mở lớp Việt Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng là giảng viên) xã Gia Bằng; lớp gồm các hội viên trung kiên xã Gia Bằng. Lớp học thứ hai cũng được mở tiếp ở đây. Ngoài số anh em hội viên Gia Bằng, Kỳ Chỉ, lớp này có thêm một số hội viên các xã Kim Mã, Tam Lọng và mỏ thiếc Tĩnh Túc.

        Tháng 3 năm đó, hai đồng chí Văn và Đinh đến Kim Mã, Tam Lọng. Cũng như khi đến Gia Bằng, Kỳ Chỉ, công việc chính của các đồng chí là xúc tiến ngay việc mở lớp huấn luyện. Lớp này được tổ chức tại Sloỏng Bó thuộc xã Tam Lọng. Lớp học này có thể kể là lớp thứ ba của châu Nguyên Bình. Kết thúc lớp học, có phát động một phong trào phát triển Hội Việt Minh ở hai xã Kim Mã, Tam Lọng sang xã Thượng Ân, Cốc Đán thuộc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Cạn, tạo điều kiện mở con đường Nam tiến theo chủ trương của Bác Hồ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:32:09 AM

        Kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga

        Gặt hái vụ mùa đã vãn. Sáng sớm cũng như chiều tối sương mù giăng xuống các ngọn núi. Đúng ngày 7 tháng 11 năm 1943, tức ngày 10 tháng mười năm Quý Mùi, một cuộc mít tinh kỷ niệm lần thứ 26 Cách mạng tháng Mười Nga được tổ chức tại đỉnh núi Pù Mần, đỉnh một ngọn núi cao phía sau xóm bản Khuổi Quáng thuộc xã Hoa Thám, châu Nguyên Bình.

        Vây quanh ngọn núi này bấy giờ còn là một khu rừng già. Từ nơi họp mít tinh, theo đường chim bay ước tính chừng hai nghìn mét mới có làng xóm... ở các xóm bản lẻ. tẻ đó hầu hết là bà con dân tộc Dao Tiền.

        Tới dự mít tinh có ngót năm trăm đại biểu của các dân tộc hai tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn. Nhiều đoàn đại biểu phải trèo đèo lội suối mấy ngày đêm mới tới địa điểm. Trong số đó hành trình của đoàn đại biểu các xã Thuần Mang, Thượng Quan có phần vất vả và nguy hiểm. Bởi họ phải vượt ngang quốc lộ 3 phụ, lại phải qua gần châu ly Ngân Sơn. Trong thời gian ấy, bọn tri châu, tây đồn hàng ngày thường đưa lính vào lùng sục các xóm làng đã bị lộ.

        Mục tiêu yêu cầu cuộc kỷ niệm nhằm tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản - chủ nghĩa Mác - Lênin, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, ủng hộ Liên Xô chống phát xít Đức, Ý, Nhật thắng lợi.

        Chủ trì lễ kỷ niệm là đồng chí Văn cùng các đồng chí đại diện Ban liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng.

        Khai mạc cuộc mít tinh, đồng chí Văn nói về những nét chính thắng lợi Cách mạng tháng Mười Nga. Và cuối cùng, đồng chí đề ra những nhiệm vụ và những công tác cấp thiết trước mắt, đó là những công tác củng cố, phát triển cơ sở Hội Việt Minh và nhấn mạnh đến nhiệm vụ của các mũi, các đội xung phong trong kế hoạch Nam tiến.

        Phần hai của cuộc mít tinh biểu thị mặt tổ chức của các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu. Về hình thức có biểu diễn một số động tác cơ bản và bắn bia. Những tiếng súng kíp các loại từ giữa khu rừng vắng vẻ đã vang xa qua những ngọn núi trập trùng.

        Một phòng triển lãm tranh, ảnh tuy số lượng chưa nhiều và còn đơn giản cũng là một hình thức góp thêm ý nghĩa thiêng liêng và nghiêm túc của lễ kỷ niệm.

        Và cuối cùng, nhân dịp có mặt đại biểu đông đủ các địa phương, đã giải quyết một số vấn đề về tổ chức.

        Trước hết, thành lập khu Quang Trung riêng cho các vùng dân tộc Dao; bầu Ban Chấp hành Việt Minh khu trên cơ sở ba châu Lê Lợi, Kháng Pháp và Kháng Nhật1 (Châu Lê Lợi gồm xã Hoa Thám... Châu Kháng Pháp có các xã Hưng Đạo. Đội Cung... Châu Kháng Nhật tức châu Chợ đồn). Bầu cử bằng bỏ phiếu kín kết quả bầu Ban Chấp hành khu Quang Trung gồm: đồng chí Thượng bí danh Tuyên Truyền làm chủ nhiệm. Đồng chí Bàn Văn Hoan có bí danh là Công Trình làm phó chủ nhiệm và đồng chí Thành Công ủy viên Ban Chấp hành khu. Trong ba người có đồng chí Bàn Văn Hoan là người dân tộc Dao Tiền đầu tiên được kết nạp đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương.

        Về các dân tộc Tày, Nùng, Kinh thì châu Ngân Sơn được đặt tên mới là Lương Ngọc Quyến. Dưới sự chủ tọa của đồng chí Văn, Ban Việt Minh châu được bầu ra gồm các đồng chí: An (tức Doanh Hằng) chủ nhiệm, Quốc Thanh (tức Phan Văn Long)1 (Anh Phan Văn Long bị giam ở nhà tù Bắc Sơn, bọn Pháp đem xử bắn ngày 15 tháng 5 năm 1944 cùng Bàn Văn Hoan và anh giáo Nông Văn Bọc) và Nhất Thống tức Đồng Quang Tuấn) làm ủy viên Ban Chấp hành Việt Minh châu. Tiếp sau đó thành lập ban cán sự tỉnh Chu Trinh ở hội nghị tổng kết Nam tiến, đồng chí Bằng làm trưởng ban, Doanh Hằng làm ủy viên.

        Trong sinh hoạt ở cuộc mít tinh kỷ niệm, trước một bữa cơm trưa các đại biểu lại còn được xem một vở kịch cương. Nguyên do bởi một vạc cơm thổi muộn, đến giờ ăn mà chưa chín kỹ, phải chờ. Cố nhiên, nội dung kịch không phải đề tài chờ cơm.

        Để lấp chỗ trống thời gian chờ cơm chín, đồng chí Văn cùng mấy đồng chí khác đã diễn một màn kịch cương ngắn. Nội dung màn kịch đại thể: các dân tộc ta đều bị áp bức bóc lột. Thời cơ của lịch sử cách mạng ắt sẽ đến. Các dân tộc cần đoàn kết lại cùng đứng lên đánh đổ đế quốc pháp - Nhật để giành độc lập, tự do... Màn kịch do đồng chí Văn vừa là "tác giả" kiêm "đạo diễn" đồng thời cũng tự nhận một vai cùng thể hiện.

        Màn kịch cương kết thúc thì từ khu nhà bếp dưới bờ suối báo lên: vạc cơm đã chín.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:32:59 AM

        Lửa thử vàng gian nan thử sức

        Đầu năm 1944, phát xít Đức thua to ở mặt trận châu Âu. Ở Viễn Đông, phát xít Nhật cũng gặp sức cản bởi sự phản ứng mãnh liệt của các đạo quân Hồng quân Nga và Bát Nhất Trung Quốc.

        Nhưng càng gần đến ngày tận số, bọn thực dân Pháp được bọn quân phiệt Nhật Bản dung túng càng hung hăng dốc sức ra tay khủng bố phong trào cách mạng. Các cuộc lùng sục bắt bớ hàng ngày diễn ra liên tiếp.

        Riêng trên con đường Nam tiến, bọn thực dân Pháp đã mở đầu đợt khủng bố bằng vụ sát hại đồng chí Đức Xuân, đêm 8 tháng 1 năm 1944.

        Những hành vi thâm độc của chúng nhằm chặn đứng mũi Nam tiến của ta đã phát triển Hội đến các xã Cao Lộc, Quân Bình. Cùng lúc đó chúng bắt bớ một số hội viên đi giam cầm tra khảo nhằm lần tìm manh mối. Phong trào cách mạng ở tổng Hà Vị và cả vùng Phủ Thông ngừng lại. Một số hội viên tuy vẫn giữ lòng tin ở cách mạng nhưng cũng tạm thời nằm im cho tới sau ngày 9 tháng 3 năm 1945.

        Đầu tháng 2 năm 1944, Ban liên tỉnh ủy và Ban Việt Minh liên tỉnh mở lớp huấn luyện quân sự và chính trị khóa 3 ở Pạ Phá trong khu rừng Trần Hưng Đạo. Thời gian của lớp một tháng. Số người dự có tới ngót trăm. Thành phần đều là cán bộ phụ trách đội tự vệ và tự vệ chiến đấu. Đồng chí Văn và đồng chí Đinh trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn luyện tập. Trong học viên gồm nhiều dân tộc tại nhiều địa phương các huyện Nguyên Bình, Ngân Sơn và khu Quang Trung. Lớp huấn luyện mở vào dịp Tết Nguyên Đán năm Giáp Thân. Bọn mật thám ở địa phương phát hiện một số người vắng trong những ngày vui Tết. Sau khi bế giảng học viên trở về nhà, một số bị bắt liền. Bọn mật thám đã giăng bẫy từ lúc chúng phát hiện thấy vắng mặt những ngày Tết. Trong số hội viên bị bắt cũng có người không chịu nổi sự tra tấn đã khai ra một vài điểm về lớp học, chúng bắt dẫn tới nơi mở lớp. Dĩ nhiên ta không còn để lại bộ phận nào ở đấy khi biết tin một số người dự lớp về bị bắt. Nhưng dấu vết không thể nào xóa hết được.

        Cũng do vậy, khi chúng kéo đến chỉ trông thấy một vài dấu vết đã kiêng nể. Bọn chúng đã phải bàn tán với nhau: Năm kia (1942) ở Gia Bằng và Kỳ Chỉ đã bắt đi bỏ tù như thế tưởng bọn nó tan tác rồi, thế mà đến nay cộng sản càng tràn lan, khi chúng mình càng bóp chúng nó lại càng phình ra...".

        Thực ra bọn tay chân mật thám làm sao hiểu nổi quy luật phát triển của cách mạng, nhất là cách mạng giải phóng dân tộc!

        Phong trào cách mạng không chỉ "phình ra" ở Nguyên Bình mà còn lan rộng mọi miền khác trên con đường Nam tiến.

        Tuy nhiên, các cuộc khủng bố của Pháp vẫn diễn ra liên tiếp Cục diện chiến tranh thế giới thay đổi hàng tuần. Tình hình cách mạng trong nước cũng chịu sự tác động của các sự kiện đó.

        Lúc này phía ta cũng thấy cần thiết có một vài hành động để cảnh cáo bọn tay chân địch để phần nào bọn chúng biết thân phận mà giảm bớt sự hung hăng ôm chân quan thầy giữ chế độ thực dân.

        Sáng 8 tháng 1 năm 1944, một nhóm của ta chặn đường bắn tên C. Thượng Ân. Tên mật thám này đã từng gây thiệt hại phong trào địa phương. Tiếp đó, ngày 30-1-1944 một tổ tự vệ chiến đấu đi phục kích. Cả hai vụ chúng đều chết hụt. Đương nhiên chúng bèn tâu báo quan thầy. Nhiều gia đình có con em đi hoạt động bí mật đều bị bắt bớ. Có gia đình bị địch bắt cả hai bố con. Có người không chịu nổi sự tra khảo đã khai ra một vài cơ sở, thậm chí cá biệt có người ra đầu thú. Qua hai vụ diệt phản động càng làm cho bọn chúng biết thêm cơ sở phong trào phía bắc châu Ngân Sơn.

        Đang trên đường đi công tác, đồng chí Bàn Văn Hoan bị bắt ở Lũng Viền. Đồng chí bị sa lưới do hai tên phản bội đi báo quản chiểu Đ. đến vây bắt, đưa về giam tại nhà tù Bắc Cạn. Đồng chí bị Pháp xử bắn ngày 15 tháng 5 năm 1944 cùng anh Phan Văn Long tức Quốc Thanh quê xã Vân Tùng và anh giáo (hương sư) Nông Văn Bọc xã Tô Khê. Vụ xử bắn này tại ki-lô-mét số 7 đường Bắc Cạn - Chợ Đồn.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:33:18 AM

        Đồng chí Mỹ Thanh bị ám hại ngày 24 tháng 2 năm 1944 ở Nà Khoang, xã Thiều Quang. Vụ này cũng do một hội viên phản bội báo cho địch đến bủa vây lán trên rừng vào lúc mờ sáng. Trong vụ này đồng chí Nông Văn Tú tránh thoát. Bọn mật thám còn lần theo vết gậy, nốt giày của đồng chí từ Thiều Quang đến xã Bằng Đức. Đồng chí Tú đã kịp thời ẩn vào nơi an toàn.

        Ngày 22 tháng 3 năm 1944, đồng chí Hồng Giang bị sát hại ở Cốc Chủ, xã Phúc Lộc, Chợ Rã. Vụ này chúng cũng dùng nội gián. Hôm sau, có hai người Dao khiêng đầu đồng chí đến trình nộp bề trên ở chợ Hà Hiệu. Hôm ấy có cả bọn tay chân tri châu Đinh Ngọc Hồ. Tên tri châu đang dịp xuống xã đốc phu đã cùng bè lũ chứng kiến ăn mừng (!). Lúc này một tốp lính kỵ mã đóng tại Pảo Giang - Hà Hiệu cũng thừa dịp "dây máu ăn phần”. Cũng ngay sáng hôm ấy nhiều toán lính khố đỏ - pháo thủ tập trận giả dọc đường Đèo Giàng - Hà Hiệu cũng vừa kéo đến đầu chợ. Bọn chúng tụ tập xúm quanh đầu của người chiến sĩ cách mạng. Không khí huyên náo. Bọn chỉ huy người Pháp cùng lũ tay chân tỏ ra hí hửng đắc thắng.

        Ngày 10 tháng 4 tức này 18 tháng 3 năm Giáp Thân, hai đồng chí Bằng và Thạch bị bọn lính khố xanh đồn Ngân Sơn đến vây bắt. Hai đồng chí đang làm việc ở xóm Nưa Tút bên cạnh thác Quan Làng. Xóm nằm giữa khu ruộng bậc thang. Vào lúc gần tối trời mưa nhẹ, khi nghe tiếng chó cắn ầm ầm thì địch đã vây bốn phía. Trong giây phút nguy kịch, hai đồng chí đành lao ra giữa những làn đạn. Khi đã ra khỏi nhà, cả hai chạy qua những bờ ruộng bậc thang tới bờ suối an toàn. Đồng chí Bằng vượt qua suối với ý định sẽ luồn lên chân núi Phia Jạ, nhưng đang lên nương ngô thì bị trúng đạn. Còn đồng chí Thạch lội theo dòng suối thoát được, đến nửa đêm mới về tới cơ sở xã Kim Mã thuộc Nguyên Bình.

        Cũng trong tháng 4 không ít khốc liệt này, đồng chí Thành Công - một cán bộ người Dao Tiền đi công tác bên Chợ Đồn trên đường trở về đến tổng Trần Hưng Đạo bị bọn châu uý Liệu, Vài Khao chặn bắt (lúc này quản chiểu Liệu vừa mới được thăng chức châu úy, nên rất hăng máu chống phá cách mạng trong các vùng dân tộc Dao Tiền, Dao Đỏ, Mông...).

        Từ ngày 9 tháng 1 đến tháng 4 năm 1944 là thời gian địch khủng bố liên tục ở nhiều địa phương; kể từ vụ chúng sát hại đồng chí Đức Xuân ở Hà Vị rồi liên tục lan đến nhiều xã ở Ngân Sơn, Chợ Rã.

        Ngày 1 tháng 4, một tổ cán bộ Nam tiến hoạt động vùng Phia Bioóc đang trên đường công tác chạm trán với một tốp lính cơ và kỳ hào địa phương. Trong một buổi tối đang đi sang Chợ Đồn, khi qua địa phận xã Đồng Phúc, hai bên đã chạm trán nhau dọc đường. Phía ta ra điều kiện cho họ đầu hàng. Họ kháng cự lại. Đang giữa đêm khuya. Trời lại đổ cơn mưa to, tình huống ấy buộc ta phải nổ súng. Phía họ chết hai. Viên lý trưởng thoát chết, chạy về báo viên tri châu Chợ Rã cùng một toán lính đang ở chợ làng. Sau sự cố này, tổ cán bộ Nam tiến tiếp tục lên dốc Đấu Hoàng. Tới Slam Kha tạt lên nhà ông Tào Cao nghỉ ngơi. Trời đã tảng sáng tổ cán bộ mời lên nhà còn chân trớt chân ráo, một toán dõng đã ập đến vây nhà. Giây phút đầy nguy kịch. Gia đình ông Tào Cao đã khôn khéo che giấu nên cả tổ thoát nạn (Tháng 10 nậm 1943, cơ sở dân tộc Dao, phát triển xuống các dân tộc Tày, Nùng ở xóm Nà Đồng xã Chu Hương. Anh Thanh Quang là cán bộ sang phái triển ông Giảng Tần xóm Bản Chán xã Đồng phúc, ông này đến tổ chức nhà Tả Cạo ở Slam Kha xã Bằng Phúc thuộc tổng Quảng Khê tháng 11 năm 1943). Thời kỳ này tại nhiều nơi như Thượng ân, Cốc Đán và những xã ở châu Nguyên Bình mức độ khủng bố của địch cũng quyết liệt.

        Ở vùng các dân tộc Dao trên dãy núi phía Bioóc cũng như nhiều vùng thấp Tày, Nùng, tình hình đều căng thẳng. Những nhà có người đi hoạt động bí mật và cả những nhà bị nghi vấn đều sống trong không khí nặng nề nghẹt thở. Người thân trong gia đình những đồng chí đi hoạt động bị bắt giam hoặc bắt dồn về "tập trung dinh" Pá-danh ki-lô-mét số 2 phía bắc thị xã Bắc Cạn.

        Những chòm xóm lẻ đều bị địch bắt dồn về một làng. Xung quanh làng chúng bắt phải rào bằng vầu già để nguyên cây. Hai lớp vầu cắm chéo mắt cáo, hình quả trám. Cả làng chỉ được mở một cổng ra vào. Đêm cũng như ngày chánh phó lý cắt cử tay chân thay phiên canh gác; có lòng chủ yếu lính dõng hoặc tuần đinh, tuần từng luân phiên đến gác cổng. Ở Báo Lành, vợ đồng chí Liêm Sơn (tức Bích) quẩy ống bương xuống sông gánh nước, khi ra cổng tên mật thám khét tiếng bắt đứng lại để hắn dốc ngược từng lóng bương. Chúng kiểm tra có mang gạo, ngô ra ngoài tiếp tế chéo chồng hay không.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:33:42 AM

        Từ các đồn lẻ chúng đưa lính vào các làng lùng sục suốt ngày. Trong số cai, đội có những tên tìm mọi cách đe dọaa những nhà có người đi thoát ly. Từ các đồn Nà Bao xã Giao Bằng Kỳ Chỉ, Phai Khắt, Nà Ngần, Nguyên Bình cho đếnn Ngân Sơn, Bằng Khẩu, Kẻo Lẻng hầu như ngày nào chúng cũng đưa lính đi lùng sục.

        Châu Chợ Rã vùng giáp phía tây núi Phia Bioóc, các xóm lẻ đều bị bắt dồn xuống Bản Chán. Về phía đông dãy núi, các xóm Vằng Kheo, Nà Đồng đều bị dồn xuống. Bản Hậu, Đinh Phương. Vùng này chúng bắt dồi triệt để nhằmn chặn con đường Nam tiến của ta từ Vằng kheo sang Khâuu Ngoả thuộc tổng Quảng Khê.

        Một số hội viên người Dao bề ngoài đương chức đội trưởng hay chánh, phó quản cũng bị bị giam. Nhiều người bị tra khảo như chánh Mún Khèn, Nà Còi, Quảngg Khê, ông Tào Lường, Vằng Khèo bị bắt đi giam ở nhà tù Bắc Cạn. Các ông này vẫn giữ khí tiết cách mạng. Số gia đình bị tình nghi chứa chấp Việt Minh cũng bị chúng gây đủ tình tội.

        Song, nói chung những người bị bắt đều không chịu khai báo gì các tổ chức cơ sở ở địa phương. Nhiều gia đình chỉ chịu bán một phần tài sản như trâu bò, bạc trắng, vòng cổ, vòng tay đem tiền đi đút lót chuộc "tội", chứ không chịu khai báo làm hại phong trào. Đặc biệt nhiều vùng người Dao ở Chợ Đồn, những hội viên vốn là người lao động đến các chánh, phó quản người Dao khi bị lộ, chỉ chịu góp tiền, của đút lót bọn tay sai để bọn này làm ngơ hoặc "che chở". Trong lúc đang hỗn độn, có phần nguy hiểm, cán bộ ta nằm vùng vẫn được nhiều hội viên tận tình bảo vệ. Tuy nhiên, dọc tuyến đường Nam tiến cũng tạm thời bị cắt nhiều đoạn. Bởi nhiều chòm xóm là cơ sở liên lạc đã bị dồn đi tập trung vào xóm đông nhà. Các xóm Vằng Khiêu, Cốc Ngoã bị dồn xuống Bản Chán xã Đồng Phúc. Vừa thiếu ăn, vừa bệnh tật và hàng chục người bị chết vì che giấu cán bộ hoạt động ở xung quanh núi Phía Bioóc mà chúng ra tay khủng bố.

        Trước ngày chúng mở những cuộc khủng bố thì viên công sứ Bắc Cạn đã phái tay chân xuống dò la những vùng chúng nghi vấn. Tình hình và tài liệu mà địch nắm được đại thể là đến ngày 15 tháng 12 năm 1943, tỉnh Bắc Cạn đã có hai "trung tâm huấn luyện Cộng sản".

        Một là cùng dân tộc Mông xã Cao Thượng, châu Chợ Rã. Nơi đây có Lý A Nhì đứng lên xưng vua Mèo. Họ tập hợp dân chúng đến chầu chực và tụ hội ăn uống linh đình hàng mây ngày.

        Ngày 23 tháng 11 năm 1943, tri châu Đinh Ngọc Hồ đưa mấy tên tay sai mật thám, một số lính cơ, lính khố xanh vào vùng Cao Thượng. Họ lục soát các nhà người Mông. Bọn này đã thu được một số tờ báo Việt Nam độc lập (số báo ra ngày 10-9-1943) và một giấy hô hào lạc quyên của Ban liên tỉnh bộ Việt Minh. Bấy giờ đang có khoảng trăm người tụ tập tại đây, trong đó có một số hội viên của Việt minh. Chúng đã bắt tại chỗ mười bốn hội viên.

        Hai là trung tâm hoạt động tuyên truyền Cộng sản ở châu Ngân Sơn. Viên tây đồn Đờ-đông cùng tri châu Hoàng Mạnh Khui bày mưu tung lưới. Chúng cho một toán lính khố xanh, lính cơ và lính đoan vào khám nhà anh Phan Văn Đặng ở Nà Lắng xã Vân Tùng. Chúng lục soát thu được 13 tờ báo Việt Nanh độc lập (số báo ra ngày 10-10-1943). Anh Đặng bị bắt. Sau đó bọn chúng kéo sang Pao Ma, Bản Súng, vào khám nhà ông Phan Văn Châu. Chúng cũng đã thu được ở đây một cuốn sách nhỏ dày 24 trang. Bìa tập vở mỏng này có ghi: "Việt Minh kêu gọi binh lính đứng lên đánh Tây, đuổi Nhật". Anh Phan Văn Long tức Quốc Thanh con trai ông Châu bị chúng bắt luôn cùng anh Đặng.

        Sau mấy vụ truy lùng bắt bớ, viên công sứ Bắc Cạn đã bộc lộ sự hoảng hốt, lo lắng: "Tuyên truyền bí mật của Cộng sản vẫn mạnh, có sức hấp dẫn dân chúng khổ nghèo và đang lan rộng cả hai tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn". Do đó chúng bèn mở tiếp những cuộc khủng bố rộng hơn ở các châu Ngân Sơn, Chợ Rã và vùng phía bắc Bạch Thông.

        Đầu tháng 12 năm 1943, chúng dàn thành 5 toán. Toán đầu do Vi-ne, chánh mật thám người Pháp đích thân chỉ huy. Chúng kéo đến khám nhà anh Nông Văn Vận làng Đống Chót xã Bằng Đức. Liền đó chúng kéo vào Nà Pan khám xét nhà anh Đừng Văn Hàn tức Bằng xã Thượng Ân. Tiếp sau đó chúng kéo thẳng vào xã Tố Khế lục soát nhà anh giáo Nông Văn Bọc, nhưng không thu được tang vật gì mà chúng muốn. Nhà anh giáo Bọc tuy có những mấy giá sách nhưng đều là sách học với một lô sách bằng tiếng Pháp (số sách này do hai chủ mỏ ở Tài Xoảng và Bản Ơ biếu cho khi trở về Pháp) về địa chất khi khoáng.

        Nhưng cuối cùng bọn chúng tìm mọi cách bắt anh giáo Bọc đi giam ở nhà tù Bắc Cạn.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:34:18 AM

        Toán thứ hai do viên tri châu Nguyễn Công Phòng cùng châu đoàn Cao Sinh Phát đưa lính xuống xã Thuần Mang. Chúng đến khám một số nhà mà chúng đã nhận được nhiều mật báo của bọn tay chân phản động.

        Toán thứ ba do một viên đội khố xanh cầm đầu đưa lính xuống các xã Thiều Quang, Hại Quan, đến khám nhà anh Nông Văn Tạ ở Nà Phắc. Sau đó, chúng kéo vào Bản Và lục soát nhà ông Sẵn lý trưởng đương hành xã Bản Và.

        Trong thời kỳ này tại huyện Bạch Thông, một số gia đình người Dao ở Khú Dèn xã Đôn Phong cũng có một toán lính đột nhiên ập vào vây xóm và lục soát nhiều người. Nhờ có hội viên kịp thời báo tin, các đồng chí Duy Tiến, Tùng Văn đang hoạt động ở đây kịp trốn thoát.

        Còn phía châu Chợ Rã, tri châu Đinh Ngọc HỒ cũng cho lính phi ngựa lên đường Bản Hon, Bành Trạch. Chúng nói với các lý dịch là xuống "kinh lý", nhưng khi đến nơi đã đi ngay vào Khuổi Màn lục soát nhà ông Đoàn Ngọc Hải. Chúng đã nhận nhiều tin mật báo nhà này thường chứa chấp cộng sản đi lại nhiều lần.

        Hành động chống phá cách mạng của bọn Pháp không chỉ ở mức này. Cục diện khủng bố diễn ra liên tục suốt con đường Nam tiến. Từ vụ ám hại đồng chí Đức Xuân đến việc lộ nơi mở lớp huấn luyện quân sự thứ ba tại khu rừng Trần Hưng Đạo... không lúc nào chúng ngừng chống phá.

        Hai viên công sứ Cao Bằng, Bắc Cạn có chung một thủ đoạn ra tay chống phá ta từ căn cứ Cao Bằng suốt dọc đường dây Nam tiến. Việc dồn làng bản ở Nguyên Bình chúng bắt đầu thực hiện từ tháng 4 năm 1944. Cùng lúc chúng lập thêm đồn Nà Bao. Đồn này chỉ có viên bang tá với một toán lính chốt tại đó. Vùng Gia Bằng, Kỳ Chỉ chúng dựng đồn ngay giữa Phủ Choáng với một trung đội khố xanh. Chúng đều tăng lính cho các đồn, đặc biệt chúng đóng thêm các đồn Phai Khắt, Nà Ngần và tăng lính cho đồn Ben-le. Các đồn này đều có thể khống chế một phạm vi rộng khu rừng Trần Hưng Đạo; nghĩa là toàn bộ địa bàn suốt từ các xã Tam Lọng, Kim Mã và Hoa Thám. Trong đó quan trọng nhất là chặn con đường Nam tiến của ta phải qua đèo Khau Giáng và khống chế phần không nhỏ phía nam khu rừng Trần Hưng Đạo.

        Để thêm sức chống phá phong trào cách mạng vùng dân tộc Dao và đồng bào Mông, chúng thăng chức châu uý cho quản chiểu Chu Ứng Sliệu, Vài Khao, xã Nam Ti. Ngoài việc thăng chức cho y, bọn Pháp còn trả lương cho một trung đội hình dõng giao cho hắn cai quản điều hành. Đương nhiên thành phần đội dõng này đều là người Dao do đích thân y tuyển chọn để hình thành một tổ chức như lính nhà binh đủ sức trấn áp phong trào cách mạng trong vùng y đảm nhiệm.

        Phía Bắc Cạn bọn thực dân đặc biệt chú trọng châu Ngân Sơn. Ở đây cũng lập đồn Bang Tá ở Bằng Khẩu, cùng kèm đó có một đoàn lính khố xanh. Đồn này vốn đã có viên chuẩn uý Vi Bảo từ những năm 1940 - 1941, thời kỳ chúng sát hại đồng chí Phùng Chí Kiên. Cũng vào lúc này, Pháp cho lập lại đồn Kéo Lẻng trên đồi Cài Mò giữa hai xã Tố Khế và Cốc Đán với khoảng một tiểu đội khố xanh. Cụm đồn ải chúng rải ngang từ Bằng Khẩu vào Thượng ân, Cốc Đán nhằm chặn ngang làn sóng cách trạng từ Nguyên Bình sang Ngân Sơn, cắt đứt mối quan hệ giữa hai vùng. Vì đó có nhiều cơ sở cách mạng mà chúng đã biết được với đầy lo lắng, hoảng hốt.

        Thế nhưng vỏ quít dày có móng tay nhọn!

        Ban liên tỉnh đã kịp thời đề ra những chủ trương đối phó:

        "Quyết tâm chống khủng bố trắng. Không lùi bước trước những mất mát, gian khổ tạm thời. Giữ vững những cơ sở đã được củng cố.

        Đưa một số cán bộ là người dân tộc địa phương, có tín nhiệm với các tầng lớp quần chúng, đã từng trải qua thử thách, có kinh nghiệm trở lại địa phương nắm quần chúng giữ vững phong trào.

        Nắm vững cán bộ cốt cán trong các giới cứu quốc tại các địa phương, đề cao kỷ luật, giữ gìn bí mật sự liên tục hoạt động giữa các cơ sở, các vùng thực hiện triệt để ba không.

        Tổ chức việc bao vây, cô lập những tên tay sai phản động là người dân tộc địa phương. Các địa điểm liên lạc đều mang ký hiệu riêng. Việc đi lại đều phải xóa sạch dấu vết Theo dõi những cán bộ, đảng viên có người đi hoạt động xem có những biểu hiện gì đáng lưu ý, có hiện tượng khai báo gì không?".


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:35:13 AM

        Đứng trước tình hình có nhiều diễn biến khó khăn phức tạp nên cần có sự điều chỉnh phân công lại một số cán bộ. Hai đồng chí Bắc Hợp, Tích Cao trở lại phụ trách các xã Gia Bằng, Kỳ Chỉ, Linh Mai. Đồng chí Nông Văn Lạc trở lại phụ trách hai xã Tam Lọng, Kim Mã; đồng chí Đồng Sơn (tức Doanh Hằng) về phụ trách chung châu Ngân Sơn; hai đồng chí Hoàng và Thương phụ trách xã Hoa Thám; các đồng chí Hải Quỳnh, Minh vẫn đảm nhiệm vùng Phia Bioóc đến Bản Ti; Vũ Yến, Trần Hồ Trọng phụ trách phía nam Chợ Đồn.

        Cán bộ nói chung đều có ý thức cảnh giác cao. Mỗi đồng chí đều ý thức tự rèn luyện tác phong kiên quyết, nhạy cảm nhanh nhẹn, linh hoạt trước mọi sự việc diễn biến phức tạp hàng ngày. Địch đến xóm này ta lánh xóm khác hoặc lên rừng. Địch rút đi, ta kịp thời trở lại nắm sát tình hình tư tưởng, tinh thần quần chúng.

        Qua một thời gian thử thách khá quyết liệt, dù địch khủng bố gay gắt, các châu Nguyên Bình, Ngân Sơn nhìn chung vẫn giừ được phong trào. Tuy sự khủng bố có gây cho ta thiệt hại nhưng cơ bản chúng không dập tắt được ngọn lửa phong trào. Chúng vẫn không bắt được những cán bộ, đảng viên mà chúng định bắt. Ngược lại, càng khủng bố, chúng thấy ở nhiều địa phương số người đi hoạt động bí mật càng nhiều hơn.

        Tuy nhiên, bộ máy cai trị đàn áp của đế quốc vẫn điên cuồng, âm mưu chống phá càng xảo quyệt, hành động càng dã man, khốc liệt hơn. ông Trương Văn Ngưỡng xã Kỳ Chỉ bị chúng đưa từ nhà giam ra xử bắn tại châu lỵ Nguyên Bình. Chúng lại còn cắt đầu ông bêu chợ Páo Mặn. Hành vi độc ác ấy hòng làm nhụt nhuệ khí đấu tranh cách mạng của quần chúng. Anh Chu Văn Nình (như đã kể ở phần trên) một hội viên người Dao Tiền và anh Sáng người dân tộc Nùng cũng bị chúng đưa ra xử bắn tại đồn Phai Khắt. Chúng lại còn bêu đầu các anh ngay đầu xóm Phai Khắt, đầu đường đi về các thôn bản thuộc Tam Lọng, Kim Mã và Hoa Thám. Anh Nình bị bắn chỉ vì có kẻ đi báo nhà anh ủng hộ hội nghị tổng kết công tác Nam tiến một con lợn. Các gia đình có người đi hoạt động bí mật đều bị chúng dở hết nhà cửa đi dựng đồn bang tá và trại lính đồn Nà Bao. Không chỉ nhà cửa bị phá dỡ, mà ruộng đất cũng bị tịch thu. Ở Kim Mã, Tam Lọng, nhà cửa các anh Dương Văn Long, Vĩnh Hoa, Quốc Toàn... cũng không còn. Chúng phá dỡ đi làm đồn, trại lính ở Phai Khắt. Tháng 8 năm 1944, một tên chánh tổng phản động khét tiếng ở Kỳ Chỉ dẫn lính đến bao vây rừng bắn chết đồng chí Mệnh Tấn đang công tác ở địa phương. Tháng 10 năm ấy, ông Dương Mạc Quý đi liên lạc bị tai nạn ở Phiếng Sa. Chúng bắt tuần tổng Lộc giam ở nhà tù Cao Bằng, sau đó đưa về xử bắn tại xóm Đông Chiếm, Kỳ Chỉ. Dân chúng cả hơi xã này đều phải bỏ nhà cửa, bị chúng dồn đi tập trung ở một số làng khác. Chúng điều thêm lính về đồn Gỏi Chua chính giữa xã Gia Bằng. Tiếp theo có thay đổi lính mọi. cuối cùng là lính thuỷ đánh bộ. Lương thực hàng ngày của lính đều là thóc gạo của các nhà có người đi hoạt động bí mật; dĩ nhiên chúng cướp cả lợn, gà, rau cỏ. Ngày đêm chúng sục sạo tuần phòng liên tục khắp xóm làng. Lê Khắc Phổ, tri châu Nguyên Bình đích thân lên xin quan thầy nhận máy chém về dựng giữa phố chợ Nguyên Bình. Chúng chuẩn bị ráo riết cho những đợt khủng bố trắng khủng khiếp hơn.

        Nhưng, mọi âm mưu thâm độc của chúng càng bày đặt thêm thì tình hình thế giới và trong nước càng thay đổi. Tình hình đó đã báo hiệu ngày tận số của bọn chúng đã điểm.

        Về phía Bắc Cạn, sau vụ lính cơ bị ta bắn chết ở Đồng Phúc hồi tháng 4 năm 1944, Pháp tăng thêm lính các đồn Chợ Rã, Yến Thịnh và châu lỵ Chợ Đồn. Chúng lập thêm đồn bang tá ở tổng quận do tên bang tá Bức cầm đầu một trung đội khố xanh. Lập thêm đồn này chúng hòng chặn ngang đường phía nam châu Chợ Đồn.

        Sau vụ đồng chí Mỹ Thanh bị hy sinh ở Thiều Quang, phía Ngân Sơn bọn Pháp tăng thêm mức độ khủng bố. Trong các cuộc đi sục sạo có một vụ chúng điều lính từ các đồn Ngân Sơn, Bằng Khẩu và đồn Ben-le lên càn vây khu rừng Slùng Vành. Đó là khu rừng mạn bắc dãy Khau Giáng. Chúng bắt ép dân mỗi nhà ít nhất một người cùng đi với các toán lính. Chúng biết lùa dân đi cùng cũng chẳng công hiệu gì lớn về mặt quân sự. Nhưng càn vào rừng có người dẫn lối và sự trà trộn dân với lính cũng có tác dụng phần nào làm lá chắn cho chúng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:35:33 AM

        Tháng 8 năm 1944, mật vụ càn khá lớn vào rừng Khuổi Mãn rồi sang cả Khuổi Co. Đến đây, chúng phát hiện nơi mở lớp huấn luyện quân sự thứ ba của ta. Bọn chỉ huy phần nào bàng hoàng hoảng hốt. Chúng xua lính vào các lán trại và cả nơi nấu nướng dưới bờ suối. Có bếp lò vẫn còn ít than hồng. Chúng rất hoảng hốt khi thấy tấm da trâu vùi đất chôn kín bên khe. Nhưng bọn chúng thực sự khủng khiếp hơn cả là khi trông lên thấy trên cửa ra vào một cái lán rộng có biển đề "Trung đội thứ 12". Thế là bọn chúng lè lưỡi, ra hiệu cho nhau vội vàng lẳng lặng rút lui.

        Như vậy địa điểm này đã bị lộ. Những ngày sau đó, quản chiểu Sliệu tức chuẩn uý Chu Ứng Sliệu vừa được thăng chức càng tỏ ra hung hăng, trung thành với quan thầy gây thêm nhiều tội ác đối với đồng bào người Dao và xã Hoa Thám. Trung đội lính dõng của y cùng với toán lính đồn Bằng Khẩu nhiều lần càn đi càn lại khu rừng Trần Hưng Đạo. Ông Bàn Văn Hoa là hội viên trung kiên bị chúng đưa ra bắn tại chỗ, lùa dân chúng cả xóm về châu lỵ Nguyên Bình sống dồn một chỗ. Trong số dân đó chúng bắt một số người còn trẻ có sức khoẻ về quản ở làng của Chu Ứng Sliệu. Họ bị quản thúc nhưng vẫn phải lao động cho nhà của y và đồng bọn. Vào cuối năm 1944, Hoa Thám là một trong số các xã có cuộc sống cực kỳ ngạt thở. Thế nhưng, các hội viên cũng như dân chúng vẫn trung thành với đoàn thể. Lính đến làng, hội viên cán bộ tránh lên rừng, địch đi rồi lại trở về nhà. Cứ như vậy, giằng co và chịu đựng. Tuy nhiên, cũng không ít cơ sở một vài hội viên có phần dao động bi quan tưởng rằng "thế là hết". Bởi số hội viên này khi được kết nạp kiểu "đánh trống ghi tên" thì có hiện tượng ấy, cũng không có gì lạ. Trước ngày địch mở những đợt khủng bố, chúng phản tuyên truyền đủ mọi luận điệu.

        Lượng thông tin từ đoàn thể cách mạng trong lúc khó khăn, lại hạn chế rất nhiều. Do vậy có không ít người hoang mang thậm chí mất lòng tin cũng là thường tình. Thực chất những người đó cũng chưa hẳn là xấu. Địch khủng bố quyết liệt. Chúng đã gây nhiều tổn thất về người, về của. Tình hình cách mạng khó khăn, bi quan đến đỉnh điểm. Có gia đình gần như không còn mở mắt, ngẩng đầu lên được nữa. Mất người, mất của, tài sản cơ nghiệp hầu như đổ sập, người thân đang bị giam trong nhà tù, tin tức liên lạc tạm thời đứt đoạn, có sự dao động cũng là dĩ nhiên.

        Tuy nhiên, ít nhiều, cơ sở nào cũng có số cán bộ đảng viên và hội viên làm trụ cột. Trong lúc sóng gió, số anh em này vẫn bằng mọi cách gặp gỡ riêng những đối tượng hội viên trung kiên để phân tích an ủi, động viên nhằm giữ được phong trào cơ sở của mình.

        Tháng 8 năm 1944, Ban liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng nhóm họp ở Lủng Sa. Hội nghị thảo luận phân tích tình hình diễn biến nhiều khó khăn, phức tạp, cuối cùng quyết định: cho khởi nghĩa từng phần. Cụ thể các địa phương sẽ chuẩn bị lương thực bằng cách dựng kho của giấu vào rừng; củng cố các đội tự vệ chiến đấu, cho mua sắm vũ khí... chờ khi có lệnh là nổi dậy phất cao ngọn cờ giải phóng, chia thành khu vực mà nổi dậy.

        Nhưng trong khi mọi người đang nô nức hăm hở thực hiện thì Bác Hồ trở về nước. Bác đến Cao Bằng nghe đồng chí Văn và các đồng chí trong Ban liên tỉnh báo cáo tình hình và quyết định của hội nghị Liên tỉnh ủy vừa họp xong.

        Bác cho ý kiến: "Phong trào lên, địch khủng bố là lẽ tất nhiên, nhưng có phần vì ta bộc lộ lực lượng". Phân tích tình hình thực tế, Bác nhận xét về nghị quyết của hội nghị Ban liên tỉnh: "Chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao - Bắc - Lạng là mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phương mà chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong cả nước; mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục. Trong điều kiện bây giờ nếu phát động ngay, nhân dân nhất tề nổi lên đánh du kích theo quy mô và phương thức đã định trong nghị quyết, thì sẽ gặp nhiều khó khăn. Có thể còn khó khăn hơn thời kỳ khủng bố vừa rồi. Bởi vì các địa phương khác trong toàn quốc tuy phong trào cách mạng đang lên cao, nhưng hiện chưa nơi nào có điều kiện vũ trang chiến đấu để sẵn sàng hưởng ứng. Tình hình khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai ra sao cũng chưa nắm được. Quân khởi nghĩa Cao - Bắc - Lạng đơn độc dấy lên, nhất định đế quốc sẽ mau chóng tập trung lực lượng đàn áp. Riêng về mặt quân sự thì cũng không theo đúng nguyên tắc tập trung lực lượng; cán bộ, vũ khí đều phân tán, thiếu hẳn một lực lượng nòng cốt...".

        Vậy là các việc đang chuẩn bị được hoãn lại; đúng ra là dừng lại để chuyển hướng theo tinh thần chỉ chị của Bác; nghĩa là lúc này "chính trị vẫn còn trọng hơn quân sự".

        Từ tháng 3 đến tháng 11 năm 1944, con đường Nam tiến đoạn từ Phía Bioóc đến châu Sơn Dương bị cắt nhiều chặng, mãi cho đến ngày đồng chí Xuân Trường bị hy sinh. Tuy nhiên, khi rút quân, đơn vị cũng chuyển được xác đồng chí ra ngoài mai táng. Đơn vị trở về đến Lũng Lừa mới dừng lại họp rút kinh nghiệm.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:36:01 AM

        Còn mãi dấu chân của Bác từ Pác Bó đến Tân Trào

        Ngày cách mạng ra công khai hoạt động sau Nhật đảo chính pháp (9-3-1945) khác nào một ánh sáng bừng lên xóa hết cảnh u uất tối tăm.

        Dấu chân của Bác đã in trên con đường này khi Bác từ Pác Bó về Tân Trào.

        Ngày 4 tháng 5 năm 1945, Bác cất bước từ Pác Bó. Cùng đi với Bác có một đoàn gồm cán bộ và chiến sĩ quân giải phóng bảo vệ. Đoàn có tất cả 25 người. Ngày ấy đồng bào các dân tộc ở khu căn cứ Việt Bắc mến gọi "Bộ đội ông Cụ". Trong đoàn có 10 học sinh mới ở hải ngoại về và có hai người Mỹ. Hành lý của đoàn quá đơn giản. Ngoài một vài thứ tư trang ít ỏi chỉ có một số phương tiện thông tin liên lạc cần thiết hàng ngày.

        Rời khỏi Pác Bó xã Trường Hà, Bác và bộ đội bảo vệ đi qua các xã Xuân Hòa, Đào Ngạn, Phau Ngọc thuộc châu Hà Quảng. Tiếp đó đoàn sang xã Nam Tuấn, Bình Long, Hồng Việt thuộc phủ Hòa An. Đến đây, Bác gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Đặng Việt Châu, Đặng Văn Cáp, Lã... Bác nghe các đồng chí báo cáo tình hình triển khai các mặt ở địa phương và khu vực rồi Bác giao những nhiệm vụ khẩn thiết trước mắt.

        Ngày 9 tháng 5, đoàn tiếp tục lên đường từ dãy núi Lam Sơn hùng vĩ thuộc xã Hồng Việt đi sang Hoàng Tung, rồi qua xóm Thìn Tằng xã Bình Dương, xuống Khuổi Lầy, lên tổng Lèn (phía trong đồn Ben-le) tụt vào Khau Nam và đi xuống đèo Liềm Phường thuộc xã Thượng Ân. Chiều tối hôm ấy đoàn đến xóm Hoàng Phái xã Cốc Đán, và dừng chân nghỉ lại một đêm. Tối hôm đó Bác có buổi nói chuyện với cán bộ và nhân dân địa phương.

        Trước đó hai hôm, các đồng chí phụ trách xã Cốc Đán đã nhận tin mật: một đoàn bộ đội quan trọng sẽ đến và nghỉ lại một đêm tại địa phương. Số lượng khoảng ba chục người. Địa phương đã chuẩn bị gạo muối, thức ăn, chỗ nghỉ. Đặc biệt việc bố phòng canh gác tuần tra được tổ chức rất cẩn mật.

        Khi anh em trông thấy một đoàn người vào đến dưới Nà Vài thì ở Hoàng Phái đã nghe tiếng lợn kêu eng éc. Cho nên trong buổi nói chuyện, ông Cụ đã nhắc nhở khuyên nhủ cán bộ và quần chúng địa phương: "Nước ta còn nghèo. Ăn uống cần tiết kiệm, đừng xa phí. Công việc cách mạng và đời sống bà con còn phải chi dùng nhiều...".

        Lúc này cán bộ và quần chúng chưa ai biết Bác là Hồ Chí Minh mà chỉ biết "ông Cụ” này nhắc là "pỏ cốc" (ông Cụ gốc).

        Thấy Bác đã nhiều tuổi, đường dài, lại đi bộ thật vất vả, địa phương kiếm con ngựa để Bác đi đường đỡ mệt nhọc. Trước khi lên đường, Bác đưa các đồng chí địa phương một chiếc phong bì. Đoàn đi khỏi làng khá lâu anh em mới mở ra. Bác trả cho địa phương tiền cơm nước, đếm có bốn mươi đồng Đông Dương (lúc này ở địa phương 1 tạ thóc giá từ 1 đến 1, 2 đồng).

        Từ Hoàng Phái khởi hành, bộ đội ông Cụ đi vào Bản Pồm, đi xuống Khau Kẻ ra Nò Bán, Bản Và rồi qua sườn núi Toáng Bốm. Chiều tối đoàn đến nghỉ xóm Khuổi Mán thuộc xã Hà Hiệu, Chợ Rã. Ngày hôm sau đoàn đi tới thị trấn Chợ Rã. Dọc đường đi, Bác và đoàn dừng chân nghỉ ở Bản Hon, ăn trưa bằng cơm nắm. Các đồng chí phụ trách ở địa phương thu xếp để Bác vào xóm Pẻc Pén nghỉ, chứ không ở ngoài thị trấn.

        Xóm này vốn có một số gia đình là trí thức và quan lại cũ có một ít nhà rộng, khang trang nhưng các đồng chí lại thu xếp bác nghỉ ở nhà một nông dân thường, dĩ nhiên nhà cửa vẫn sạch sẽ thoáng mát.

        Hôm sau đoàn của Bác tiếp tục hành trình. Sáng sớm đoàn lên đường đi vào xóm Pác Phải rồi theo đường lên đèo Cáng Lò về phía tây nam dãy núi Phía Bioóc. Đi tới Pù Cút đoàn mới nghỉ trưa. Buổi chiều đoàn đi xuống Quảng Khê, Chợ Lùng rồi lên nghỉ ở xã Đồng Phúc.

        Hôm sau đoàn vượt đèo Đấu Hoàng, đến Bản Cải xã Phương Viên, châu Chợ Đồn. Khi đoàn vừa đến đây đã nhận được tin báo một toán quân Nhật từ thị xã Bắc Cạn vừa vào gần tới châu lỵ Chợ Đồn. Người địa phương bèn dẫn đoàn của Bác đi qua lối Bản Pút xã Bằng Viễn, vượt rừng Khuổi Luồng qua Kéo Báng rồi đi xuống Năm Cảng, Bản Lặc, Tủm Tó thuộc xã Bằng Lạng. Từ đấy đoàn sang Nà Kiên thuộc xã Nghĩa Tá. Bác và đoàn nghỉ lại đây hai hôm.

        Từ Nà Kiên đi về khu vực Tân Trào còn phải qua Bản Bảng (Nghĩa Tá), Bản Pình, Bản Pài - một nơi trong địa bàn giáp ba tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên và Bắc Cạn (cũ); tiếp đó còn đi qua đồn Cóc, các Làng Chụp, Làng Ngù thuộc châu Yên Sơn rồi mới đến xã Kim Quan Thượng và Kim Quan Hạ, Thanh La. Tới đây đoàn vượt đèo Chắn mới đến đình Hồng Thái thuộc châu Sơn Dương, ngày ấy gọi là châu Tự Do.

        Bác Hồ và đoàn cán bộ đến vùng Tân Trào vào ngày 21 tháng 5 năm 1945. Như vậy, dấu chân Bác in trên chặng đường mòn này thời gian là 20 ngày.

        Suốt chặng đường từ Pác Bó đến Tân Trào, đi tới đâu, nghỉ chân nơi nào, "Bộ đội ông Cụ” đều được quần chúng nhân dân địa phương hân hoan mừng đón. Nơi nào cũng vậy từ lúc đoàn đến tới khi đoàn đi khỏi đều để lại nhiều dấu ấn trong tâm tư tình cảm không bao giờ phai. Đã ngót 50 năm mỗi khi nhớ lại, cùng nhắc lại với nhau trong ký ức mỗi nét đều như mới hiện ra hôm qua! Hàng năm vào những dịp Tết hay ngày hội, các đám cưới hay kỳ yên, đồng bào vẫn muốn kể lại với nhau hàng chục, hàng trăm lần chuyện "Bộ đội ông Cụ” đến làng hay đi qua làng của mình. Người kể cũng như người nghe lúc nào cũng thấy câu chuyện xưa vẫn mới, dù đã qua nửa thế kỷ! Bởi những lời Bác nói, tình cảm quý mến cảm thông của Bác với các giới ở bất cứ địa phương nào đều được in sâu vào tâm khảm máu thịt đông đảo mọi người.

        Nhiều trạm Bác đến nghỉ chân địa phương sắm ngựa cho Bác đi đường đỡ mệt, nhưng cũng chẳng mấy quãng Bác đi ngựa. Phần lớn chặng đường Bác đi bộ cùng cán bộ, chiến sĩ quân giải phóng.

        Các thế hệ con cháu của Bác trên mảnh đất này mãi mãi ghi nhớ và theo dấu chân của Bác đã đi từ Pác Bó đến Tân Trào một địa điểm mà lịch sử dân tộc ta sẽ ghi lại vĩnh viễn cho các thế hệ sau những sự kiện: thành lập khu giải phóng; Đại hội quốc dân cử ra Chính phủ lâm thời; phát lệnh Tổng khởi nghĩa dẫn tới sự thành công Cách mạng tháng Tám năm 1945.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:37:43 AM

NHIỆM VỤ CHỦ YÊU LÀ NAM TIẾN, TRƯỚC MẶT LÀ ĐÔNG TIẾN: HƯỚNG LẠNG SƠN!

LONG XUYÊN (Lão thành cách mạng) kể LÊ CHUNG ghi     

        Trở về Tổ quốc

        Rời thị trấn Đại Kiệt - nơi có Tây Nam huấn luyện ban của Trung Quốc mà chúng tôi theo học, cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 1944, chúng tôi đã về đến Tổ quốc.

        Bốn năm trời xa Tổ quốc, xa quê hương Hòa An, xa đoàn thể, xa đồng chí (thời chiến tranh Trung - Nhật), nay được trở về chốn cũ quê xưa, chúng tôi bồi hồi xúc động. Bốn năm học tập ở đất Trung Hoa dưới chế độ quân phiệt Tưởng với biết bao gian nan khổ cực, chúng tôi vẫn một lòng trung thành với đoàn thể, với đồng chí, giữ vững tâm niệm lời thề:

                             “Nước Nam là nước Nam ta
                             Vì ai đến nỗi xót xa thế này
                             Vì giặc Nhật, vì giặc Tây

                             …

                             Muốn đánh Nhật, muốn đánh Tây
                             Thanh niên ta phải sang đây học hành
                             Một là học biết việc binh
                             Hai là học biết tính tình người ta
                             Thanh niên là chủ nước nhà
                             Phải cho oanh liệt mới là thanh niên...

        (Lời cấp trên dặn dò trước khi vào trường học)

        Cách đây bốn năm, chính trên địa điểm bí mật này, bạn bè đồng chí đã tiễn chúng tôi đi và giờ đây cũng tại nơi này, các anh lại chờ đón, gặp gỡ chúng tôi. Sau bao năm tháng xa nhau, giờ gặp lại, ai cũng mừng mừng tủi tủi. Gió núi heo hút rét thấu da thịt nhưng được sưởi ấm tình đồng chí thắm thiết chân thành, chúng tôi cảm thấy trong lòng ấm áp lạ thường. Tất cả cứ lặng đi hồi lâu trong xúc động tình bạn bè, tình đồng chí. Đồng chí Hoàng Tôn nghẹn ngào: "Đã bốn năm qua, giờ đây các đồng chí đã trở về nước".

        Đêm hôm ấy đồng chí Hoàng Tô (Hoàng Tô - cán bộ lâu năm ở huyện Hà Quảng. Anh ruột đồng chí Đàm Quang Trung) cho chúng tôi biết "Mặc dù thằng Pháp, thằng Nhật và bọn mật thám phản động ráo riết khủng bố phong trào, nhưng phong trào Việt Minh vẫn đi lên mạnh mẽ, quần chúng vẫn tin tưởng lắm. Gần đây bọn mật thám phản động báo cho Tây, Nhật, bao vây lùng sục vào các khu rừng, hòng bắt các đồng chí của ta ở các lán bí mật. Nhưng được các cơ sở ta che giấu, chúng có mắt như mù.

        Trời về khuya nghe tiếng gà gáy từ các xóm làng xa xa vọng lại. Tình yêu quê hương, xóm làng, người thân và tình đồng chí sát cánh bên nhau, giúp chúng tôi thấy được nhiệm vụ và trách nhiệm nặng nề đang chờ đón phía trước.

        Đồng chí Hoàng Tô nói cụ thể "Các đồng chí ở Hà Quảng đi học hải ngoại về, dừng lại ở đây sẽ phân công công tác ngay. Còn các đồng chí ở Hòa An, đêm nay lên đường, vì các địa phương đang cần cán bộ quân sự".

        Tôi ở Hòa An, nên đêm đó lại tiếp tục lên đường. Trước khi đi, đồng chí phụ trách giao thông đưa đường dặn kỹ: Các đồng chí phải bám sát nhau. Vì trời tối, mà đường thì có nhiều đoạn rất khó đi, nếu bị lạc đường, thì cứ ngồi đấy, chúng tôi sẽ cho người đến tìm. Trên đường đi, xảy ra chuyện gì các đồng chí cứ bám sát theo tôi mà chạy, nếu bị thất lạc nên tìm chỗ ẩn nấp cho cẩn thận, chúng tôi sẽ cho người tìm (theo khẩu lệnh đã quy định).

        Chúng tôi đang đi trên con đường trở về Hòa An - nơi chôn nhau cắt rốn của tôi. Vượt qua đèo, qua khe, qua suồl qua núi rồi qua những cánh đồng đã gặt hái xong, gần sáng khi đến địa phận Hòa An, tôi được phân vào lán bí mật do đồng chí Bắc Việt (Đồng chí Nông Công Dũng, nguyên cán bộ hậu cần Quân khu 1) phụ trách, các đồng chí đi cùng tôi được phân công đi đâu tôi không được biết, vì nguyên tắc bí mật. Đồng chí Bắc Việt, đón tiếp tôi với tất cả tấm lòng, đồng chí xúc động nghẹn ngào nói: "Chúng tôi mong đợi đồng chí đã bốn năm rồi, đồng chí có khoẻ không? Có thấy mệt lắm không?" Như hiểu được tâm trạng của tôi, đồng chí nói:

        - Đồng chí đi đường xa, chắc là mệt và buồn ngủ rồi, đồng chí lên lán ngủ đi. Sáng mai ta bàn công việc.

        Tôi bỏ đôi giày rơm ra, rửa chân và bước lên sàn lán. Trên đó có hai đồng chí nữ. Tôi còn nhớ đó là chị Ngọc và chị Kiều; chị Ngọc tức Triệu Dư là vợ đồng chí Vũ Lập thấy tôi liền hỏi:

        - Đồng chí đi học ở hải ngoại về đấy à?

        Tôi chưa kịp đáp; đồng chí Bắc Việt vội nhắc:

        - Này! Đồng chí Ngọc để đồng chí ấy nghỉ ngơi đã.

        Tôi ngả lưng ngủ thiếp đi lúc nào không biết, mãi đến trưa nghe tiếng hai đồng chí nữ gọi: "Đồng chí đi học hải ngoại về ơi,dậy ăn cơm thôi". Tôi mới giật mình tỉnh dậy.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:38:03 AM

        Tôi nhớ mãi bữa cơm đầu tiên ấy. Cơm ăn với muối và canh bương. Cơm xong tôi tiếp tục được nghỉ ngơi. Còn đồng chí Bắc Việt và hai đồng chỉ nữ thì khâu vá áo. Nắng lóa trên lũy tre xào xạc.

        Tôi thấy nhớ quê nhà và nhớ mẹ da diết... Về quê hương rồi mà không biết tình hình xóm làng, người thân ra sao! Lòng dạ tôi như thiêu như đốt. Nhiều lúc muốn hỏi đồng chí Bắc Việt, nhưng nhớ lại lời dặn dò của cấp trên:

        "Các đồng chí đến đâu, ở đâu, gặp ai, ai hỏi không được nói gì hết. Khi nào thượng cấp giao đi đâu, làm gì sẽ nói, tuyệt đối giữ bí mật, vì các đồng chí mới đi học ở hải ngoại về. Bọn mật thám phản động thăm dò dữ lắm! Nếu bị lộ sẽ gây nhiều khó khăn". Tôi không dám hỏi nữa.

        Gần tối đồng chí Bắc Việt gặp riêng tôi và bảo:

        - Đồng chí Long Xuyên, thượng cấp giao nhiệm vụ cho đồng chí đêm nay đi cùng đồng chí Hồng An (Tên thật là Hà Văn Sắt, cán bộ hoạt động bí mật, tiểu đội trưởng giải phóng quân) và đồng chí Ngọc vào địa phương đồng chí công tác và thăm mẹ đồng chí.

        Đồng chí Bắc Việt vừa nói xong, thì đồng chí Hồng An và đồng chí Ngọc cũng vừa đến. Đồng chí Bắc Việt giới thiệu cho tôi biết hai đồng chí trên, đồng thời giao nhiệm vụ cho chúng tôi luôn:

        - Các đồng chí đi vào địa phương công tác phải cẩn thận. Bọn phản động ở địa phương các đồng chí dạo này hay đi tuần đêm và phục ở các ngả đường. Nhất là lý trưởng (Sàng) và thằng Lang chủ nhà dây thép Cao Bằng làm mật thám cho Pháp, cả chánh Cửu nữa.

        Trước khi lên đường đồng chí Hồng An nói thêm:

        - Đồng chí Bắc Việt giao cho chúng ta vào địa phương công tác phải cẩn thận, hết sức đề phòng bọn phản động.

        Trời đã tối hẳn, chúng tôi bắt đầu lên đường. Lúc ấy vào khoảng đầu tháng 11, trời vẫn rét buốt. Đồng chí Hồng An dẫn chúng tôi đi qua con đường bí mật. Con đường này rất hẻo lánh, có đoạn xuyên đèo, xuyên qua núi rừng tránh các trạm phục gác tuần tra của bọn phản động. Giữa đêm khuya, chúng tôi đã đến cánh đồng quê nhà. Đồng chí Hồng An nhắc khẽ: "Sắp đến nhà Đông Hoan rồi? Chúng ta đi vòng ra đằng sau làng, tôi cùng đồng chí Ngọc xuống làng liên lạc với cơ sở".

        Đến rừng sau làng cũng vừa lúc gà gáy sang canh, đồng chí Hồng An nói: đồng chí Long Xuyên ở đây đợi chúng tôi".

        Nói xong, hai đồng chí lên đường. Tôi ngồi chờ để biết tình hình, rất sốt ruột. Khá lâu sau hai đồng chí mới về, nói lại với tôi:

        "Liên lạc được với cơ sở rồi, sớm mai khi mở cổng làng cho dân đi làm, cơ sở sẽ đưa cơm đến chỗ ta đã hẹn. Mẹ đồng chí Long Xuyên sẽ lên đây gặp đồng chí".

        Nghe nói, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì sắp được gặp mẹ, lo vì... tính mẹ tôi thường dễ xúc động. Năm nay mẹ gần bảy mươi tuổi rồi.

        Đồng chí Hồng An và đồng chí Ngọc động viên tôi:

        "Đồng chí đừng lo, có gì còn hai chúng tôi".

        Trời đã sáng hẳn, có tiếng gõ mõ ở dưới làng nghe cốc cốc cốc… ba hồi, hòa cùng tiếng người đuổi trâu ra chuồng lẫn tiếng chó sủa. Tôi, đồng chí Hồng An và đồng chí Ngọc ngồi trên bãi lá cây đợi mẹ tôi. Thấy có tiếng người ho "khạc khạc”, tội vội vàng đứng dậy nói với hai đồng chí: "Mẹ tôi đến đấy! Tiếng ho ấy là tiếng ho của mẹ tôi". Tôi chăm chú nhìn theo con đường mòn, thấy hình bóng của mẹ tôi đang lom khom bước từng bước một đến chỗ chúng tôi.

        Tim tôi thắt lại, niềm xúc động trào dâng khôn tả. Tôi nhanh chân bước xuống đón mẹ.

        “Mẹ ơi! Con của mẹ đã về rồi, mẹ đừng lo".

        Mẹ ôm chầm lấy tôi, hai mẹ con ngồi xuống bên đường, mẹ nhìn tôi và hai đồng chí cùng đi, những giọt nước mắt chảy tràn trên gương mặt nhăn nheo của mẹ. Mẹ nghẹn ngào nói: "Con ơi! Từ ngày con ra đi, bố mẹ, các anh, các chị và các em của con sống khổ nhục lắm.! Nhà ta ở xóm bên kia không còn nữa. Tây và bọn phản động bắt phá dỡ nhà, dồn làng. Nhà ta chúng nó bắt dồn sang làng Đông Hoan rồi. Hai anh và thằng em của con không còn nữa!".

        Dừng lại một lúc mẹ nói tiếp. "Các con ơi! Các con phải cẩn thận, thằng lý Sàng nó ác lắm, cả thằng chủ Lang, thằng chánh Cửu nữa. Nó báo Tây về bắt dân đi giam tù, bắn chết cán bộ cách mạng, chặt đầu, đem đi cắm ở đầu chợ Nước Hai (tên địa phương là chợ Háng Cáp). Các con phải cẩn thận các con nhé! Mẹ về đây ở lâu thằng thôn trưởng nó sẽ nghi".

        Dứt lời, mẹ tôi lại lom khom theo con đường mòn trở về nhà.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:38:34 AM

        Tiêu diệt lý Sàng củng cố cơ sở

        Trưa và chiều hôm ấy, chúng tôi nghe cơ sở trao đổi về bọn phản động và tình hình địa phương. Ngày hôm sau, chúng tôi chuyển đến địa điểm khác, cơ sở báo cho chúng tôi biết: thôn trưởng tên là Nơm đã đi báo cáo với lý Sàng:

        “Có tên ở làng ta đi theo Cộng sản sang Tàu đã về". Chúng nó đi tuần đêm và hỏi dò bố mẹ, anh em có con em đi sang Tàu. Lúc ấy cơ sở đề nghị chúng tôi: "Các đồng chí phải nhanh chóng đem thằng Sàng đi gặp thượng cấp, nếu không trị nó ngay, chúng tôi khó liên lạc với các đồng chí. Mấy hôm nay chúng nó theo dõi chúng tôi ghê lắm!”.

        Cơ sở và dân làng đề nghị: phải giết thằng lý Sàng. Chúng tôi xin ý kiến thượng cấp. Ngay ngày hôm sau được thượng cấp đồng ý, cho phép chúng tôi giết thằng lý Sàng, nếu không phong trào không lên được.

        Chúng tôi chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ. Đề nghị cơ sở địa phương tăng cường cho chúng tôi hai đồng chí trung kiên, biết mặt lý trưởng, biết nó hay đi tuần vào buổi nào và phải đi con đường nào để phục.

        Chúng tôi tổ chức đón đường lý trưởng hay đi tuần qua. Gần tối, lý trưởng, cùng hai lính dõng và một kỳ mục đi tuần, chúng tôi nổ súng. Bọn chúng chạy tán loạn. Chúng tôi đuổi theo lý trưởng, nổ luôn hai phát nữa, nó ngã gục xuồng, van xin:

        -Các quan Việt Minh tha chết cho con.

        Chúng tôi không khoan nhượng. Bọn chân tay và anh em họ hàng của nó hô hào, gõ mõ để dân làng ra bắt Cộng sản.

        Trời lúc ấy vừa gió vừa rét, chúng tôi rút lên đỉnh núi cao sau làng để quan sát xem sáng hôm sau, tên đồn trưởng đồn Háng Hóa có đem lính về khủng bố dân làng không và chờ cơ sở lên để biết tình hình. Sáng hôm sau, có một đám người đứng xung quanh xác lý trưởng, một lúc sau lại thấy hai ba tên lính khố xanh đi đi lại lại, đứng lên ngồi xuống tỏ vẻ lo lắng. Đằng sau chúng, có khoảng gần hai tiểu đội lính khố xanh có súng. Cả bọn tiến dần đến xác chết rồi dửng lại. Có một thằng vào chỗ xác chết, ngó nghiêng một lúc rồi quay ra. Sau đó cả bọn lính khố xanh rút hết về đồn, không dám khủng bố dân.

        Sáng sớm, cơ sở ta lên chỗ chúng tôi cho biết: "Đêm hôm qua dân làng không ai ngủ được. Vừa lo vừa sợ. Sợ tên Sàng chạy thoát. Nhưng sáng sớm nay, thôn trưởng báo cho dân làng biết: "Bác Sàng đã bị Việt Minh Cộng sản bắn chết rồi, dân làng phải cẩn thận!". Cơ sở ta lúc ấy rất phấn khởi, dân cả xã rất mừng. Từ nay, cổng làng chẳng cần đóng nữa. Vài tên phản động run sợ tìm đến cơ sở ta để thú tội và nộp súng. Phong trào Việt Minh của toàn xã nhân thời cơ phát triển rầm rộ. Các đội tự vệ được thành lập đêm ngày luyện tập và canh gác. Các hội cứu quốc cũng được thành lập, nhất là các quỹ do thanh niên nam nữ và các bà, các cụ lập nên ủng hộ đoàn thể Việt Minh.

        Trên đà phấn khởi, quần chúng nhân dân đã cử đại diện đến chỗ chúng tôi ủng hộ gạo, thịt và quần áo.

        Khoảng trung tuần tháng 12 năm 1944, cấp trên gọi tôi lên bổ sung vào đội tuyên truyền giải phóng quân của tỉnh. Đồng chí Nam Tuấn làm phân đội trưởng, tôi phụ trách một tiểu đội. Cấp trên giao cho tiểu đội tôi giải quyết bọn phản động nợ máu với cách mạng, lập đội tự vệ và huấn luyện đội tự vệ. Thi hành lệnh của cấp trên, tiểu đội chia làm hai tổ. Tôi phụ trách một tổ, đồng chí Lực phụ trách một tổ. Lợi dụng đêm khuya và lúc gần sáng tiến theo hai bên bờ sông Kỳ Cùng, nhanh chóng bí mật đột nhập vào vài ba nhà phản động ở xóm Pác Cậy, bắt được vài ba tên; tiếp tục truy quét xã Ngói ở xóm Thắc Tháy, nó biết tin bỏ chạy, nhưng không thoát. Cơ sở ta bắt được đem ra cho dân xử.

        Trung tuần tháng 3 năm 1945, cấp trên cho chúng tôi biết: Nhật đã đảo chính Pháp. Thấy binh lính quan chức Pháp chạy vào làng xin dân làng giúp họ. Họ yêu cầu ta giúp gạo, thịt. Một mặt chúng ta kêu gọi họ về theo đoàn thể Việt Minh đánh Nhật. Nếu họ đồng ý ta tổ chức đón tiếp họ cẩn thận. Nếu họ chống lại thì ta kiên quyết bắt họ phải nộp súng, còn dân thì bao vây, không tiếp tế lương thực. Một số binh lính và quan chức Pháp đã theo đoàn thể Việt Minh, nộp súng cho ta.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:39:00 AM

        Trước mắt là đông tiến mở rộng cơ sở ở Lạng Sơn

        Phong trào cách mạng toàn huyện Hòa An phát triển mạnh mẽ... Địa phương nào cũng tổ chức mít tinh, cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới. Các đội tự vệ đêm ngày luyện tập và canh gác. Bắt bọn phản động và phá các cơ sở tổ chức của Pháp, Nhật.

        Khoảng trung tuần tháng 3 năm 1945, phân đội tôi nhận được lệnh cấp trên nhanh chóng đến địa điểm Phổ Nuống (thuộc xã Nam Tuấn ngày nay) tập trung mít tinh toàn tỉnh và phân công công tác.

        Từ sáng sớm, phân đội chúng tôi đã đến địa điểm tập trung dự mít tinh. Sau cuộc mít tinh, tôi và đồng chí Liên Đoàn được cấp trên giao cho phụ trách một phân đội (Phân đội - tương đương một trung đội). Tôi phân đội trưởng, đồng chí Liên Đoàn chính trị viên phân đội, có đồng chí Diệp Lộc mà chúng tôi hay gọi là Ké Lộc giúp về quân sự.

        Phân đội tôi phụ trách gồm ba tiểu đội, tiểu đội 1 do đồng chí Quang Long là học sinh quân hải ngoại làm tiểu đội trưởng, chính trị viên là đồng chí Quân; tiểu đội trưởng tiểu đội 2 là Hồng An, chính trị viên là Đội Anh, học sinh quân hải ngoại; tiểu đội trưởng tiểu đội 3 là Bế Hiến Vinh, chính trị viên là Hồng Đạt. Vũ khí trang bị có một khẩu trung liên Pháp, còn lại toàn giúp 5, giúp 3; có hai khẩu súng ngắn: một poọc - học của Ké Lộc và một côn-bát của anh Viễn. Cả phân đội gồm 30 người, không kể Ké Lộc, trong đó mấy đồng chí nữ như Quế, Vân... Người cao tuổi nhất là đồng chí Hồng An 34 tuổi, người trẻ nhất là đồng chí Hòa 17 tuổi, còn đa số từ 20 đến 25 tuổi.

        Đồng chí Đàm Minh Viễn - Liên tỉnh ủy viên lãnh đạo trực tiếp thay mặt cấp trên giao nhiệm vụ cho phân đội: "Chủ yếu là Nam tiến, trước mắt là Đông tiến mở đường giao thông liên lạc tới Lạng Sơn và mở rộng căn cứ Cao Bằng đến các huyện thuộc Lạng Sơn. Phương châm hoạt động là lấy chính trị làm trọng, quân sự hỗ trợ cho chính trị. phân đội là một đơn vị chủ lực của Việt Nam Giải phóng quân, xuống Lạng Sơn cùng cán bộ chính trị, quân sự tỉnh Lạng Sơn xây dựng cơ sở quần chúng và đánh đồn địch. Trận đầu tiên phải thắng để gây thanh thế cho Việt Minh ở tỉnh Lạng Sơn. Ở Cao Bằng, ta đã thắng giòn giã Phai Khất, Nà Ngần. Đồng chí nói tiếp: “Phân đội ta cần thuộc bài hát, 10 điều kỷ luật Giải phóng quân và chấp hành thật nghiêm".

        Khoảng đầu tháng 4 năm 1945, toàn phân đội xuất phát từ địa phận huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng tiến xuống huyện Thạch An (Đông Khê). Toàn phân đội lúc ấy tiến theo các con đường mòn, qua các xã cách xa thị trấn và xa đồn Nhật. Tiến đến địa phương nào, anh em liên lạc với cơ sở ta ở địa phương đó, giúp địa phương xây dựng cơ sở, thành lập và huấn luyện đội tự vệ và lập các hội cứu quốc, đồng thời xử lý bọn phản động có nợ máu với cách mạng, giải tán các tổ chức cơ sở của Pháp và Nhật.

        Sau một ngày chuẩn bị lương thực và kiểm tra vũ khí đạn dược, đêm 18 tháng 3 năm 1945, phân đội chúng tôi xuất phát từ Phơ Muống đi theo đường mòn xuyên rừng tiến xuống xã Văn Trình, rồi xã Xuất Tính thuộc huyện Thạch An. Hai xã này giáp giới huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn. Xã Xuất Tính là quê anh Đàm Văn Ngụy, có một ít cơ sở do anh xây dựng. Chúng tôi dừng lại ở xã Xuất Tính một ngày đêm, chuẩn bỉ để vượt qua ranh giới giữa hai huyện Thạch An, Tràng Định. Theo truyền thống lực lượng vũ trang cách mạng thời ấy đi đến đâu đều tranh thủ huấn luyện cho tự vệ xã để góp phần củng cố cơ sở hoặc giúp phát triển cơ sở. Có một nữ tự vệ xã, cán bộ Việt Minh xin tình nguyện đi theo phân đội, đó là nữ đồng chí Ngọc Hoa. Ban Việt Minh xã Xuất Tính cử một giao thông tên là Cư, người Cao Bằng đi dẫn đường.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:39:36 AM

        Trừng trị bảy tên phản động ở "hành lang” người Dao

        Ngày 24 tháng 4 năm 1945, toàn phân đội nhận được lệnh cấp trên giao cho bắt bảy tên phản động nợ máu với cách mạng ở một xóm hành lang người Mán (nay gọi là Dao) do Pháp tổ chức, chống lại cách mạng, chặn con đường giao thông liên lạc cách mạng giữa các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng. Đồng chí Đàm Minh Viễn giao cho phân đội "đêm nay toàn phân đội ta phải bắt được bảy tên phản động nợ máu với cách mạng, với nhân dân". Toàn phân đội gấp rút chuẩn bị, đề nghị cơ sở địa phương cho hai đồng chí có tinh thần dũng cảm thuộc đường, biết tên, biết mặt bảy tên phản động, biết xóm hành lang người Dao và cho một vài cán bộ chính trị địa phương biết tiếng Dao. Chiều 24 tháng 4 năm 1945, toàn phân đội chuẩn bị xong và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng tiểu đội. Cán bộ địa phương đi cùng cũng đã sẵn sàng. Cơm chiều xong, trời đổ mưa to. Chúng tôi động viên nhau toàn phân đội lợi dụng lúc mưa to bắt đầu lên đường, tiến theo con đường mòn, leo qua đèo vượt qua núi qua khe, khoảng ba giờ ngày 25 tháng 4 năm 1945 đến sát xóm hành lang người Dao. Lúc này trời vẫn mưa, toàn phân đội bị ướt hết quần áo, ba lô. Theo kế hoạch đã phân công, một tiểu đội nhanh chóng vòng lên chặn cổng phía sau xóm, một tiểu đội vào ngay cổng chính, vừa kêu gọi bà con vừa phá cổng vào luôn. Chúng tôi cho cán bộ địa phương kêu gọi bà con trong xóm: "cho quân Việt Minh vào xóm trú mưa, các bà con đừng chạy", tiếp đó kêu gọi bảy tên phản động ra đầu thú. Một tên liều mạng chạy ra cổng sau nhưng không thoát, còn sáu tên ra thú tội. Toàn phân đội thực hiện xong nhiệm vụ giao cho cán bộ địa phương phụ trách tổ chức quần chúng vào các hội Cứu quốc và xây dựng tự vệ.

        Chiếm kho muối Bản Trại chia cho dân

        Rạng sáng ngày 25 tháng 4 năm 1945, toàn phân đội tiếp tục tiến theo con đường mòn qua suối, vượt đèo rồi tạm dừng trên đỉnh đèo, giáp giới giữa hai huyện Tràng Định và Thạch An, ăn cơm nắm và uống nước. Nghỉ một lúc, toàn phân đội tiếp tục tiến theo con đường tắt, chiều ngày 25 tháng 4 năm 1945 đã có mặt ở xã Chí Minh, Kim Đồng gặp cán bộ chính trị, quân sự địa phương huyện Tràng Định. Toàn phân đội đồng chí nào cũng mệt và buồn ngủ. Nhưng được cán bộ, nhân dân đón tiếp với tình đồng chí, các cụ già, thanh niên nam nữ, đến ủy lao, động viên chúng tôi; đem bánh lương khô cho phân đội. Chiều và tối phân đội cùng đội vũ trang, tự vệ địa phương phân công nhau canh gác và tuần tra. Phân đội phân công cho hai đồng chí nữ tiếp xúc các chị em phụ nữ ở đây, dạy hát cho các chị em và nói chuyện với các cụ bà. Đồng chí Quân - chính trị viên tiểu đội, đồng chí Cao Minh tiếp xúc với các cụ ông và thanh niên nam giới.

        Chiều và tối ngày 26 tháng 4 năm 1945, chúng tôi cùng các đồng chí địa phương trao đổi tình hình về phong trào địa phương, tình hình các đồn Nhật đóng và bọn phản động, chuẩn bị lương thực cho phân đội. Các đồng chí địa phương đề nghị với phân đội chủ lực giải phóng quân, đánh phá lấy kho muối ăn của Nhật ở đầu cầu Bản Trại phân phát cho nhân dân, hiện nay muối ăn nhân dân rất khan hiếm; đồng thời đánh đồn bảo an Nhật đóng ở Pò Mã. Dạo này chúng hay đi khủng bố phong trào cách mạng xã Quốc Khánh. Chúng tôi được biết đồn Thất Khê có đến hai đại đội Nhật đóng giữ. Phân đội chúng tôi chưa đủ sức đánh chiếm được. Kho muối Bản Trại chỉ có một tiểu đội lính bảo an canh gác. Chúng tôi chấp nhận đề nghị của địa phương và hạ quyết tâm chiếm bằng được kho muối trước khi đánh đồn Pò Mã. Anh hưởng quân sự trận đánh này tuy nhỏ, nhưng ảnh hưởng chính trị rất lớn. Nó chứng tỏ quân giải phóng là của dân, chiến đấu vì lợi ích của dân. Toàn phân đội chuẩn bị đánh chiếm kho muối của Nhật, đề nghị địa phương cho hai cán bộ dũng cảm, biết đường vào kho muối và biết chỗ trữ muối. Tối ngày 26 và 27, phân đội cử cán bộ đi cùng hai cán bộ địa phương đi điều tra kho muối. Chiều ngày 27 tháng 4 năm 1945 kế hoạch đánh chiếm kho muối được định xong: một tổ bí mật bắt tên gác và bắt thủ kho; tổ thứ hai, do đồng chí Quân - chính trị viên tiểu đội trực tiếp chỉ huy. Khi tổ của đồng chí Hồng An bắt tên gác và tên thủ kho, thì toàn tổ nhanh chóng đột nhập nhà lính bảo an đang ngủ, bắt chúng đầu hàng và nộp súng cho ta.

        Tiểu đội đồng chí Quang Long làm dự bị.

        Tiểu đội đồng chí Hiển Vinh phối hợp cùng đội vũ trang địa phương, chặn các ngả đường và bảo vệ dân vào kho lấy muối.

        Vào khoảng 12 giờ đêm, tiểu đội đồng chí Hồng An đã bắt gọn bọn linh bảo an canh gác kho muối, đồng thời báo ngay cho cán bộ địa phương đưa dân vào kho lấy muối. Đến gần sáng, ta đã lấy được đầy hai thuyền muối mà muối trong kho vẫn chưa hết. Đáng tiếc là khi chở muối về, một thuyền muối bị đắm trên sông Kỳ Cùng. Nhật đóng ở đồn gần đấy không dám ra cứu. Toàn phân đội trước khi rút còn bắn một băng đạn súng máy để thị uy.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:40:02 AM

        Đánh đồn Pò Mã

        Sáng ngày 28 tháng 4 năm 1945, toàn phân đội tiếp tục lên đường, chuẩn bị đánh đồn Pò Mã. Chiều tối ngày 28, toàn phân đội đã tiến đến Bản Tồn thuộc xã Quốc Khánh giáp xã Đội Cấn ngày nay (giáp biên giới Việt - Trung). Các đồng chí địa phương và nhân dân địa phương, nhất là dân xóm Bản Tồn, vui mừng đón tiếp phân đội. Các cụ già, thanh niên, em nhỏ cùng các đồng chí cán bộ địa phương ra đầu xóm phân đội tay nắm tay hỏi thăm sức khoẻ từng người.

        Trời gần tối, chúng tôi tranh thủ trao đổi cùng các đồng chí cán bộ và đội vũ trang tự vệ địa phương, phân công canh gác và tuần tra.

        Tối hôm ấy sau khi ăn cơm xong, chúng tôi thay nhau nghỉ ngơi, canh gác và tiếp xúc với các cụ già, thanh mền trong xóm. Trao đổi với các đồng chí cán bộ chính trị, quân sự địa phương (có mặt các đồng chí: Hải Cao, Bén, Ý và đồng chí Tuấn Phong) về tình hình phong trào đỉa phương, nhất là đồn Pò Mã, tình hình bọn phản động địa phương và khả năng cung cấp lương thực cho phân đội.

        Các đồng chí địa phương cho biết lính bảo an Nhật đóng ở Pò Mã có khoảng một trung đội, có tên quan bang (Hải) chỉ huy, có chánh tổng út phản động nhất vùng này cũng ở trong đồn sau khi Pháp bị Nhật quật đổ. Vũ khí của đồn Pò Mã chỉ có một khẩu súng máy, một khẩu súng bắn tờ- rông-lông V.B., còn lại là súng trường. Trong đồn có một nhà làm việc của tên bang tá, một nhà cho vợ con tên bang tá ở hài nhà linh bảo an, một lô cốt hai tầng. Đồn đóng ở trên đồi khá cao. Có tường xây xung quanh, cao quá đầu người. Có một cổng vào, hai cánh cửa được làm bằng gỗ nhiêu khá dày.

        Chiều và tối ngày 29 tháng 4 năm 1945, phân đội cử cán bộ đi cùng cán bộ địa phương trực tiếp điều tra đồn Pò Mã. Sau khi đi điều tra ngày 30 tháng 4 năm 1945 chúng tôi chuẩn bị phân công nhiệm vụ cho từng tiểu đội trong phân đội và phân công cho đội vũ trang địa phương (do đồng chí Tuấn phụ trách).

        Phân đội chủ lực giải phóng quân, tiểu đội đồng chí Quang Long vào phá cổng đồn, tiến vào trong đồn, đột nhập nhà bang tá, bắt bang tá và vợ con.

        Tiểu đội đồng chí Hồng An chặn phía sau đồn không cho bọn lính bảo an rút chạy.

        Tiểu đội đồng chí Hiển Vinh dự bị, bố trí sẵn sàng ở chân núi đá (gần chỗ chỉ huy của tôi).

        Vị trí chỉ huy ở đỉnh núi đá sau chợ, cách đồn khoảng 600 mét. Đội vũ trang địa phương do đồng chí Tuấn phụ trách phối hợp cùng dân quân tự vệ địa phương phục kích chặn đánh quân Nhật ở đèo Kéo Quân, không cho quân Nhật ở đồn Thất Khê tiến qua đèo ứng cứu đồn Pò Mã.

        Tối 30 tháng 4 năm 1945, toàn phân đội chủ lực và đội vũ trang địa phương xuất phát từ xóm Bản Tồn đến đồn Pò Mã. Khoảng 10 giờ, toàn phân đội đã tiến sát gần đồn, đơn vị dự bị cũng đến gần chỗ chỉ huy. Đến 12 giờ đêm, các tiểu đội đã vào vị trí chiến đấu, đồng thời đội vũ trang địa phương cũng bố trì phục kích xong ở đèo. Theo chủ trương của cấp trên "thuyết phục chính trị là chủ yếu”, tôi cho liên lạc đưa thư của cấp trên vào trao cho tên bang tá. Nếu nó trả lời theo ta và cho người ra điều đình thì ta sẵn sàng mở lượng khoan hồng. Nếu nó không trả lời, ta dùng loa gọi binh lính bảo an và vợ con quan bang về theo Việt Minh. Sáng sớm ngày 1 tháng 5 năm 1945, khi người của ta mang thư vào thì bị chúng bắt giữ, đe dọa. Ta cho loa gọi hàng thì chúng ở trong đồn bắn súng ra.

        Vào lúc 8 giờ sáng, ta bắn súng máy vào cổng đồn và bắn vào nhà tên bang tá làm việc. Đến 9 giờ sáng, ta dùng búa phá cổng và cho súng máy bắn yểm hộ.

        Khoảng 12 giờ, tiểu đội đồng chí Quang Long đột nhập vào trong đồn. Một giờ sau, toàn phân đội dồn địch vào lô cốt. Chúng chống lại một cách yếu ớt. Ta dùng loa kêu gọi vợ con bang tá và chồng ra hàng sẽ được bảo đảm tính mệnh. Khoảng 2 giờ chiều, chúng đầu hàng. Ta thu toàn bộ vũ khí, đồng thời nhận được tin đội vũ trang địa phương đang chặn đánh địch ở đèo Kéo Quân, địch bị thương vài tên, không tiến qua đèo Kéo Quân được, phải rút về đồn Thất Khê. Tiếp đó, phân đội tổ chức một cuộc mít tinh ở trong đồn, đồng chí Đàm Minh Viễn tuyên bố chính sách khoan hồng của Mặt trận Việt Minh, kêu gọi nhân dân địa phương ủng hộ Việt Minh. Kêu gọi lính bảo an, ai muốn tự nguyện theo Quân giải phóng cho theo, ai muốn về địa phương với vợ con thì cấp giấy cho về, kêu gọi bang tá và vợ con y tự nguyện theo Mặt trận Việt Minh. Tiếp đó, đồng chí Đàm Minh Viễn lên án tội ác của tên chánh tổng nợ máu với nhân dân, tuyên bố xử bắn ngay tên chánh tổng này trong cuộc mít tinh. Đánh xong đồn Pò Mã, phân đội chúng tôi lên Bắc Sơn và căn cứ Vũ Lăng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:40:26 AM

        Diệt phỉ, bảo vệ thị trấn Bình Gia

        Chúng tôi giúp huấn luyện đội du kích ở Vũ Lăng chưa được 10 hôm thì được tin quân Nhật rút khỏi Bình Gia và anh Đàm Minh Viễn đã đưa tiểu đội Hiển Vinh vào tiếp quản thị trấn. Anh Viễn lệnh cho tôi cùng Ké Lộc về ngay thị trấn Bình Gia. Chúng tôi chỉ đem theo mấy người thôi còn anh em ở lại giúp cơ sở. Khi chúng tôi về đến nơi, anh Viễn cho biết có một bọn thổ phỉ sắp vào cướp thị trấn Bình Gia. Chúng đã đến phố cũ cách thị trấn độ 500 mét. Tưởng quân ta chưa vào nên bọn phỉ định vào thị trấn. Chúng chỉ có hơn một tiểu đội. Chỉ huy bọn phỉ tên là Thùy, phó là Long, người Hoa ở phố Mỏ Nhài (Lạng Sơn). Chủ trương của ta là thuyết phục chúng không vào thị trấn. Theo lệnh anh Viễn, tôi có nhiệm vụ đi liên lạc với chúng trước, nói cho chúng biết “bộ đội Việt Minh cứu nước đã có mặt ở thị trấn rồi. Các anh không được vào cướp nhà, cần mua bán gì, chúng tôi giúp".

        Tôi xuống gác, trông ra phố đã thấy bọn phỉ đứng lố nhố. Chúng đều có vũ khí cả. Tên cầm đầu đeo khẩu sten băng ngang. Tôi tiến lại phía nó nói to:

        - Bộ đội Việt Minh đã vào đây lập chính quyền, đứng đầu là tôi trên tôi có người phụ trách nữa! Các anh vào đây làm gì?

        Tên cầm đầu hỏi:

        - Ông tên là gì?

        - Tên không cần biết. Tôi đại diện cho Việt Minh gặp ông! Cần gì cứ nói - Tôi đáp.

        Tôi không chờ trả lời mà tuyên bố thẳng:

        - Quân của tôi đã bố trí sẵn rồi. Ông cho quân hạ súng xuống!

        Tên chỉ huy lắc đầu:

        - Không. Chúng tôi không hạ súng.

        - Nếu không hạ súng, làm cho dân chúng sợ hãi, chúng tôi buộc phải nổ súng - Tôi đáp và nói thêm: muốn gặp cấp trên của tôi ông cũng phải bỏ súng ra, giao cho quân của ông giữ rồi phân tán quân ra thì mới nói chuyện được.

        Tên tướng phỉ làm đúng như lời tôi yêu cầu. Tôi nghĩ bụng: phải diệt thằng này trước, quân nó sẽ phải đầu hàng. Tôi dẫn nó đi theo vào nhà. Theo ám hiệu của tôi, đồng chí Hà đã được bố trí trước nổ súng tiêu diệt ngay tên trùm phỉ. Ké Lộc ở trên gác thổi kèn báo động. Bên ngoài, tên phó trùm phỉ và tay chân đều xin hàng.

        Ta thu được 12 khẩu giúp, 1 khẩu sten, 1 khẩu poọc-hoọc.

        Dân phố Bình Gia đổ ra hoan hô Việt Minh.

        "Không có Việt Minh thì bọn phỉ cướp bóc và giết hại đến dân".

        Mọi người dân địa phương đều nói như vậy khi gặp chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:40:57 AM

        Giải phóng Điềm He

        Sau cuộc mít tinh mừng thắng lợi, khoảng 3 giờ chiều, cơ sở ta ở biên giới Việt - Trung cho biết biệt động quân của Tưởng có khoảng một đại đội đang tiến theo con đường cái vào đồn Pò Mã để can thiệp. Toàn phân đội và đội vũ trang rút lên các cao điểm, dân ở phố chợ cũng cho sơ tán hết. Ta sẵn sàng đối phó. Gần 4 giờ chiều, bọn biệt động quân có khoảng gần một đại đội tiến theo con đường cái vào chợ không dám lên đồn, khoảng 15 phút sau, chúng lũ lượt kéo nhau về bên Tàu. Về sau mới biết bọn chúng vào một nhà đào vàng do chủ nhà người Hoa chạy sang Trung Quốc báo. Toàn phân đội sau khi thực hiện xong nhiệm vụ ở lại khoảng 3 đến 4 ngày, giúp địa phương quét bọn thổ phỉ và bọn phản động, củng cố các đội tự vệ và đội vũ trang địa phương.

        Ngày 14 tháng 5 năm 1945, toàn phân đội tiếp tục tiến xuống địa phận huyện Bình gia (bản Cù, bản Cảo) thuộc xã Hoa Thám ngày nay. Gặp các đồng chí cán bộ địa phương Bình Gia và Bắc Sơn, có các đồng chí Hà Tân Cương, Hà Khai Lạc, Giang Nam, Cự, Quốc Hưng (Quốc Hưng, Giang Nam là anh ruột Chu Văn Tấn). Các đồng chí trao đổi tình hình về phong trào địa phương và bọn Tây, Nhật, bọn phản động và đảng phái phục quốc. Các đồng chí cho biết:

        Quân Nhật kéo vào Bình Gia, Bắc Sơn nhưng bị các đội vũ trang hai huyện chặn đánh ở đèo Tam Canh. Nhật bỏ chạy, rút về tỉnh hết, hiện nay bang Pảo chạy từ Cao Bằng về nhà ở Văn Mịch. Đi theo nó có hai tên lính trang bị súng.

        Sau khi nghe xong tình hình địa phương hai huyện và đề nghị các đồng chí địa phương, trước mắt phải giải quyết bang Pảo (nhà ở Văn Mịch), chúng tôi cùng đội vũ trang địa phương nhanh chóng tiến xuống Văn Mịch, đưa thư cho bang Pảo, kêu gọi về theo Việt Minh, bang Pảo không trả lời, ta tiếp tục cử cán bộ đến gặp nó và kéo theo cả lực lượng vũ trang, cuối cùng thì bang Pảo và hai tên phản động cũng xin theo Việt Minh và nộp súng cho ta.

        Trong hai ngày 17 và 18 tháng 5 năm 1945, phân đội chia làm hai hướng, một hướng do đồng chí Liên Đoàn phụ trách, tiến qua địa phận huyện Văn Lãng vào Hội Hoan gặp đồng chí Gia Cát, tức Hoàng Văn Kiểu phối hợp với đội vũ trang địa phương tiến xuống huyện Điềm He chuẩn bị đánh đồn Điềm He.

        Một hướng tiến xuống Bình Gia vào thị trấn Bình Gia, rồi tiến qua huyện Bắc Sơn, truy quét bọn bảo an, do đồng chí Đàm Minh Viễn, đồng chí Diệp Lộc với tôi phụ trách. Khoảng ngày 6 tháng 7 năm 1945, hướng do đồng chí Liên Đoàn và đồng chí Hoàng Văn Kiểu chỉ huy phối hợp cùng đội vũ trang địa phương tiến công đồn Điềm He, ở huyện ly Điềm He. Nhưng tên tri châu đã bỏ chạy, còn lại tên đồn trưởng và 30 lính khố xanh. Khoảng tháng 5, bọn Nhật đưa thóc gạo và muối đến tích trữ ở đồn Điềm He. Trận đánh dự định vào cuối tháng 5. Đêm 21 tháng 5, bộ đội hành quân đến Điềm He nhưng do Lương Nhân, tên trưởng bạ phản động báo Việt Minh sắp đánh đồn nên tên đồn trưởng bỏ chạy, rút về tỉnh gần hết số lính khố xanh. Chỉ còn mấy tên lính gác ở lại bị ta bắt. Dân tự động bắt tên trưởng bạ Lương Nhân, nhưng sau khoan hồng tha cho tội chết. Ta huy động dân vào thu chiến lợi phẩm. Ba ngày ba đêm mới lấy hết thóc gạo và muối dự trữ ở đồn chia cho dân.

        Sau trận đánh thắng lợi, nhân dân càng tin tưởng Việt Minh. Bà con mổ lợn, mổ bò khao quân. Các cơ sở quần chúng quanh huyện lỵ Điềm He được xây dựng và phát triển rất nhanh.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:41:23 AM

        Thu phục lý Khoắn và thu nhận một bộ phận Phục quốc quân

        Khoảng đầu tháng 8 năm 1945, cấp trên cho biết: lý trưởng Khoắn (tức Nông Xuân Nhu) tổ chức bảo an theo Nhật ở địa phương (khu Yên Hùng), thuộc huyện Bình Gia (giáp huyện Na Rì) chống lại Việt Minh, không cho nhân dân tiếp xúc cán bộ Việt Minh. Cán bộ địa phương huyện Bình Gia yêu cầu chủ lực Giải phóng quân và các đội vũ trang hai huyện (Bắc Sơn, Bình Gia), dùng lực lượng vũ trang tiến vào để thị uy. Cán bộ chính trị địa phương vào thuyết phục lôi kéo lý Khoắn, nhưng nó không tiếp mà còn dùng lực lượng vũ trang chống lại.

        Theo lệnh cấp trên toàn phân đội chủ lực Giải phóng quân và các đội vũ trang hai huyện Bắc Sơn, Bình Gia tập trung đánh vào sào huyệt của lý Khoắn. Hai ngày đêm phân đội chủ lực đã tiến vào sào huyện của địch. Bọn chúng chạy tán loạn lên rừng, ta tiếp tục truy quét gần 15 ngày liên tục, cho cán bộ chính trị địa phương kêu gọi bọn bảo an về với cách mạng và tổ chức họp dân giải thích cho dân hiểu về chính sách Việt Minh, mặt khác kêu gọi tên cầm đầu ra thú tội sẽ được hưởng khoan hồng. Gần một tháng sau, lý Khoắn ra tự thú và chấp thuận theo ta. Cũng vào khoảng đầu tháng 8 năm 1945, tôi và Ké Lộc đang thu xếp hành trang trở lại Bắc Sơn huấn luyện tiểu đội Hà Tân Cương và tiểu đội của đội Bảo thành đơn vị chủ lực thì anh Đàm Minh Viễn cho gọi chúng tôi sang ngay gặp anh, có tình hình mới cần bàn.

        Cơ sở Na Sầm báo cho biết có một số anh em Phục quốc quân do Bồ Xuân Luật chỉ huy, độ hơn 100 người trang bị đầy đủ, có cả máy vô tuyến điện và máy quay tay (ra-gô-nô) để phát điện. Họ có tiền Đông Dương mua bán đàng hoàng. Họ có ý định vào lập căn cứ địa ở Bắc Sơn do một người ở Bắc Sơn tên là Tạo đưa đường.

        Hồi học ở Trung Quốc, anh Đàm Minh Viễn và tôi biết ở Lạng Sơn có một đội quân của Phục quốc quân bị chủ Nhật bỏ rơi và Pháp lợi dụng thời cơ trả thù, thẳng tay tàn sát nên phải chạy sang lánh nạn bên Trung Quốc. Tàu Tưởng có ý đồ lợi dụng số anh em này nên tổ chức thu dung họ. Anh em ta tiếp xúc tuyên truyền vận động được một số ít người hiểu rõ ý đồ của Tàu Tưởng đã bỏ hàng ngũ Phục quốc quân đi theo Mặt trận Việt Minh (trong số này về sau có người đã trở thành cán bộ cao cấp của quân đội ta).

        Anh Đàm Minh Viễn, Ké Lộc và tôi thống nhất chủ trương cứ để cho họ vào sâu, bắt liên lạc và thuyết phục họ hợp tác với Việt Minh đánh Nhật. Tuyệt đối không tổ chức đánh chặn dọc đường. Sau đó, họ đi theo con đường tắt từ biên giới Trung - Việt qua huyện Văn Lãng, huyện Bình Gia vào Bắc Sơn đi đến tận Mỏ Nhài. Đến Mỏ Nhài, lực lượng dân quân tự vệ ở đây ngăn chặn không cho họ đi tiếp nữa. Họ có tiền cũng không mua được gì. Họ tìm gặp Ké Lộc phụ trách hai tiểu đội du kích ở đó. Ké Lộc báo với tôi. Khi đó, anh Đàm Minh Viễn, Ké Lộc và tôi đã từ thị trấn Bình Gia sang Bắc Sơn trước. Biết tin Bồ Xuân Luật, người chỉ huy đội quân Phục quốc đó đề nghị gặp cấp trên của Việt Minh, anh Đàm Minh Viễn bảo: "Được, cho Bồ Xuân Luật đến gặp, đơn vị phải đóng ở Mỏ Nhài, không được kéo quân sang". Anh bảo tôi đem theo một tiểu đội phục kích ở chỗ đường hẻm nhất đề phòng họ tráo trở. Anh Viễn hẹn gặp vào buổi trưa nhưng họ không đến và đưa thư qua Ké Lộc hẹn ngày thứ hai mới sang gặp được. Anh Viễn trả lời "đồng ý" và bảo tôi rút quân về, không phục kích nữa. Ông Bồ Xuân Luật lại bắn tin sang: "Tôi sẵn sàng theo các ông Việt Minh đánh Nhật và trao cả người và cả vũ khí và máy V.T.Đ nữa, miễn là các ông bảo đảm an toàn cho tất cả chúng tôi".

        Anh Viễn trả lời "Rất hoan nghênh!". Buổi trưa hôm đó, ông Bồ Xuân Luật đến gặp đúng hẹn và giao cho ta cả vũ khí, máy V.T.Đ và ra-gô-nô. Chúng tôi mở tiệc chiêu đãi ông ta và mấy người cùng đi. Cùng dự tiệc, có anh Đàm Minh Viễn, Ké Lộc và tôi.

        Như vậy tổng kết lại từ thượng tuần tháng 3 năm 1945 đến trung tuần tháng 8 năm 1945, sau khoảng 5 tháng làm nhiệm vụ Đông tiến, phân đội Việt Nam Giải phóng quân chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Phân đội đã mở rộng căn cứ địa Cao Bằng sang các châu Tràng Định, Văn Lãng, Bình Gia, Bằng Mạc, Điềm He, Bắc Sơn của Lạng Sơn và đánh thông được con đường giao thông liên lạc giữa hai tỉnh. Chỉ riêng có phủ Cao Lộc là do các đồng chí Việt Minh ở đó chủ động phồl hợp với Quân giải phóng đấu tranh giành chính quyền, khi Quân giải phóng tiến vào phủ Cao Lộc.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:42:29 AM

NAM TIẾN TRÊN HƯỚNG PHÍA ĐÔNG CAO BẰNG

Trung tướng ĐÀM VĂN NGỤY         

        Từ năm 1940, cơ sở cách mạng đã được cắm sâu trong nhân dân các dân tộc thuộc các làng, bản: Tịnh Đà, Nội Chiếm, Lâm Xuyên, Đường âm thuộc miền Tây huyện Thạch An; nay gọi là xã Quang Trọng, Minh Khai, Canh Tân, Đức Thông. Lúc bấy giờ nơi này còn là một vùng rừng núi cao, hiểm trở, cũng là vùng sâu vùng xa và giáp giới của ba tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn.

        Khi phong trào Việt Minh lên cao, các hội quần chúng được ra đời: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc... rồi hình thành các Đội du kích, đội tự vệ mạnh. Xã nào cũng có vài chục du kích, tự vệ hoạt động bảo vệ phong trào, tiễu trừ bọn Việt gian, mật thám theo Pháp, Nhật. Trước tình hình đó thực dân Pháp lập một đồn ở Pò Bấu để đàn áp phong trào do một tên bang tá chỉ huy với 35 lính khố xanh. Đồn Pò Bấu nằm trong xã Quang Trọng, án ngữ cả một vùng giáp ranh ba tỉnh, hòng thực hiện âm mưu chống phá cách mạng và ngăn ngửa sự phát triển của phong trào lan rộng ra trong vùng.

        Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, quân Pháp ở thị xã Cao Bằng tháo chạy theo đường phía Nam qua đồn Pò Bẩu đi về hướng Ngân Sơn thuộc tỉnh Bắc Cạn.

        Bọn ở đồn Pò Bẩu cũng chạy theo đường phía Nam với quân Pháp. Chớp thời cơ trăm năm có một, cơ sở cách mạng tại đây đã lãnh đạo du kích, tự vệ cùng nhân dân các xã nổi dậy Khởi nghĩa cướp chính quyền, phá đồn, tịch thu kho thóc phân phát cho dân đang trong cảnh thiếu đói. Trước khí thế bừng bừng cách mạng của nhân dân, bọn quan chức ngụy quyền, lính dõng cũng ra hàng phục và nộp súng đạn cho cách mạng. Địa bàn và công tác quần chúng ngày càng phát triển rộng. Có thêm lực lượng, có thêm vũ khí ta lại thành lập thêm những đơn vị Việt Nam Giải phóng quân mới trong các xã miền Tây Thạch An tỉnh Cao Bằng do đồng chí Đàm Minh Viễn với bí danh là kỹ sư lãnh đạo chung (đồng chí Đàm Minh Viễn là anh trai đồng chí Đàm Quang Trung và còn là ủy viên Ban Chấp hành Tổng Bộ Việt Minh tỉnh Cao Bằng). Đội này lúc đầu thành lập chỉ có 50 đội viên, sau đồng chí Tuần trực tiếp chỉ huy đơn vị này Đông tiến về xuôi theo ngả Cao Bằng qua Thất Khê, Tràng Định, Lạng Sơn, phát động quần chúng toàn huyện Tràng Định bắt Châu đoàn đầu hàng quân giải phóng, nộp toàn bộ súng của linh dõng trong toàn châu. Quân giải phóng nhanh chóng làm chủ tất cả các xã trong châu Tràng Định từ thị trấn Thất Khê huyện lỵ ngày nay là quân Nhật đóng ta tiếp tục vận động tuyên truyền nhân dân tiến lên tiêu diệt phát xít Nhật, giải phóng thêm châu Thoát Lãng (là Na-sầm bây giờ) vận động được nhiều thanh niên nhập vào quân giải phóng, đưa lực lượng ta có quân số tới gần trăm người.

        Đến cuối tháng 4 năm 1945, trung đội nữa do đồng chí Hoàng Long Xuyên chỉ huy từ Cao Bằng cũng phát triển xuống tới vùng phía đông châu Tràng Định nhập vào đội đi trước, hình thành một lực lượng lên đến trên một trăm người, tập trung lại đánh chiếm đồn Pò Mã do một đơn vị bảo an binh dưới sự chỉ huy của Nhật chiếm đóng (đồn Pò Mã thuộc xã Quốc Khánh ngày nay). 5 giờ sáng ngày 1-5-1945, quân ta nổ súng, đến 12 giờ trưa ta chiếm xong đồn Pò Mã, giải phóng luôn mấy xã miền Đông châu Tràng Định.

        Đến giữa tháng 5 năm 1945, ta chia lực lượng thành 2 đội mỗi đội có trên 100 quân (đại đội) - Một đội tiến về hướng Châu Bình Gia, Bắc Sơn, Điềm He, Bằng Mạc, Cao Lộc... xoay quanh thị xã Lạng Sơn do đồng chí Đàm Minh Viễn chỉ huy; đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 thì vào giành chính quyền ở thị xã Lạng Sơn. Đội thứ 2 tiếp tục hoạt động ở châu Tràng Định, Thất Khê và Na Sầm, đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, giành chính quyền và tước vũ khí của quân Nhật tại Thất Khê, Na Sầm, do đồng chí Lê Thiết Hùng chỉ huy.

        Đội do đồng chí Đàm Minh Viễn chỉ huy, sau khi giành được chính quyền ở Lạng Sơn, để lại một bộ phận nòng cốt làm nhiệm vụ quân quản; còn đại bộ phận tiến về hướng nam, để giải phóng thị xã Bắc Giang.

        Tôi đã có mặt ở lực lượng giải phóng quân trên cánh Đồng thì tháng 3 năm 1945. Sau khi tiêu diệt đồn Pò Mã, thành lập đơn vị mới, tôi được phái sang đơn vị này cùng đồng chí Lê Thiết Hùng chiến đấu ở Tràng Định, Thất Khê, Na Sầm, giành chính quyền và tước vũ khí quân Nhật rồi tiếp tục chiến đấu với quân Quốc dân đảng phản động ở biên giới Việt - Trung.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:43:23 AM

MỪNG THẮNG LỢI, MỞ ĐƯỜNG NAM TIẾN

NÔNG VĂN LẠC (Lão thành cách mạng)       

        (Trích trong cuốn “Ánh sáng đây rồi"  của đồng chí Nông Văn Lạc, Nxb Văn học)

        Tháng cuối năm, công tác càng bộn rộn. Phấn khởi nhất là đã khai thông được đường Nam tiến, bắt liên lạc xuống tận dưới xuôi. Việc này có nhiều ý nghĩa quyết định đối với phong trào cách mạng cả nước.

        Đồng chí Văn cho biết thượng cấp có chủ trương cho chúng ta tổng kết việc khai thông đường Nam tiến và kinh nghiệm mở rộng cơ sở nhanh chóng ở các vùng dân tộc. Đồng chí nói: “Các đồng chí đã về đầy đủ, nên bàn ngay. Chiều mai tôi còn phải ra liên tỉnh, chắc có nhiều tình hình mới. Các đồng chí nhớ tranh thủ tắm giặt, khâu vá. Mượn được kéo thì giúp nhau cắt tóc, cho cái đầu nhẹ nhõm một tí". Đồng chí Trọng Khánh vừa cười vừa nói: "Cũng chịu đựng quen rồi. Nhiều lúc quần áo hôi hám, ngồi gần các hội viên, thấy xấu hổ. Nhưng các đồng chí cũng thông cảm chúng mình thôi". Đồng chí Kháng nói xen vào: “Nhưng hôm nay có điều kiện cho phép ta làm nhẹ nhõm con người, ta cứ làm". Đồng chí Hiền, giọng chậm rãi: "Tớ phải khâu lại cái quần xong mới tắm được. Loay hoay mở gói ra, còn một cái quần đã rách nhiều chỗ, chỉ khâu cũng chẳng còn, hỏi ai cũng không có. Tôi thấy đồng chí tước ít lạt giang làm chỉ. Vừa khâu, vừa nói: "Chúng mình chủ quan đấy, bằng này người mà không có ít chỉ để khâu vá". Có đồng chí nói: "Thiếu gì, ở trong rừng đâu chẳng có!".

        Người giặt, người khâu. Đồng chí cắt tóc kêu kéo cùn quá kéo này anh em để cắt bờm ngựa thôi. Đồng chí Ích Hậu đang hút điếu thuốc kêu rin rít vội đặt xuống, thở phào một cái rồi nói: "Kéo của vợ tớ đấy, để tớ liếc mấy cái cho, sẽ cắt được, ở nhà tớ thường làm thế".

        Chiều họp, đồng chí Văn nghe thêm các đồng chí báo cáo tình hình, sau đó bàn kỹ mục đích tổ chức hội nghị tổng kết phong trào và việc khai thông thắng lợi đường Nam tiến. Tôi được giao nhiệm vụ sang gặp các đồng chí phụ trách tổng Hoàng Hoa Thám và tổng Thể Rục bàn việc phục vụ như tìm địa điểm và lo vật chất cho hội nghị. Đồng chí Văn nhấn mạnh: kỳ này họp vào những ngày gần tết lo cho ý nghĩa ngày tết nữa nhé! Có giải quyết được không? - lánh, gạo, thịt, rượu không lo. Nhưng về tinh thần cần lo cái gì nhiều, đồng chí bảo cho biết".

        - Này nhé, mời đại biểu ban tổng, xã, đội nữ xung phong Minh Khai đến động viên hứa hẹn với nhau trong công tác, có quà kỷ niệm, chuẩn bị vài bài hát". Vừa nói, đồng chí Văn xem thư Liên tỉnh mới gửi vào. Liên tỉnh cho biết có tin Tây sắp cho lính về đóng thêm đồn dọc đường từ Cao Bằng vào Nguyên Bình, Cao Bằng đi Ngân Sơn. Những tin đồn ấy có thể có. Hàng năm, ngày gần Tết bọn chúng thường tăng cường canh phòng, lùng bắt cán bộ. Điều ấy ta không muốn, nhưng nếu xảy ra thật thì cũng là một dịp để rèn luyện tinh thần đấu tranh của quần chúng cách mạng. Kinh nghiệm năm 1942 đã chứng tỏ, tuy có khó khăn lúc đầu, sau phong trào lại lên gấp năm, gấp mười lần.

        Sáng hôm sau, tôi sang tổng Hoàng Hoa Thám. Trên đường đi, vào thăm kho thóc xã Đức Chính. Gần địa điểm đã nghe tiếng cười, tiếng hát động cả khu rừng. Đồng chí Liên vừa thấy, liền chạy ra báo cáo một cách say sưa: “Ban Việt Minh xã cho chúng tôi về làm thêm kho. Cả những người chưa vào hội, cũng đến xin ủng hộ đoàn thể hàng trăm cân thóc. Ta có nên lấy không?" - "Có thể nhận, nhưng mình chuyển lấy, không cho họ biết kho". Đồng chí Liên hai tay xoa lên đầu, nói: "Khó lắm! Mấy ngày qua, cả xã cho mấy chục người đi làm kho thóc, ai cũng biết mình làm kho ở hướng này". Tôi vào xem kho, nói chuyện một lúc, rồi đi gặp đồng chí Kháng - phụ trách khu Quang Trung, bàn kế hoạch chuẩn bị hội nghị. Chúng tôi đi xem địa điểm rồi quay về, vào nhà anh Ninh ở Trấn Bằng, mượn nhà này làm nơi liên lạc cho hội nghị. Anh Ninh hãi tay xách hai ống định ra lấy nước ngoài suối, vội đặt ống vào vách nhà, nói: "Sáng nay ở đây ăn cơm rồi đi đâu sẽ đi". Vợ và con gái ở gian trong ra chào và bắt tay. Đồng chí Kháng hỏi chuyện làm ăn, rồi hỏi: Đoàn thể định mượn nhà đồng chí làm nơi liên lạc, có được không? Anh nói: "Được. Còn lấy cái gì nứa nhà tôi có cũng giúp ngay. Nhà tôi nhờ đoàn thể Việt Minh mới mở mặt với anh em được đấy. Đứa con lúc nãy chào các đồng chí, năm nay lên chín tuổi, đã đọc được a b c rồi. Cháu hay hát Việt Minh Pia rạng sâu lắm".


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:43:41 AM

        Anh Ninh ngừng lại, ngẫm nghĩ một lúc rồi nói giọng buồn buồn: “Vợ chồng tôi khổ cực lắm. Tôi vốn là người Nùng, có hai anh em trai, bố mẹ chết sớm, họ hàng không có. Anh tôi đưa tôi đi lang thang xin ăn khắp nơi, lúc ấy anh tôi mười lăm tuổi, đi mãi, đi mãi, tối đâu ngủ đấy. Nhiều lúc nhịn đói. Một hôm, anh đưa tôi đến nhà bác On, người Dao Tiền ở xã Kim Mã, rồi anh tôi đi đâu không biết. Nghe chủ nhà nói đã cho anh tôi năm đồng, để tôi ở lại đấy. Ngày qua tháng lại chẳng thấy về, tôi tưởng anh đã chết. Mãi nhiều năm sau, anh về tìm tôi, anh cho biết anh đi ở với lý trưởng Vọng ở bản Um. Lúc này, tôi đã đi ở rể, làm khổ lắm, nhưng vợ và gia đình rất thương. Lấy nhau tám năm chưa có con, đi bói đâu họ cũng nói số hiếm con. Mãi năm kia mới đi tìm được một con nuôi, cháu ngoan lắm, biết thương bố mẹ". Đồng chí Kháng nói: "Đoàn thể Việt Minh khuyên bảo các dân tộc chúng ta đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau như anh em cùng một nhà. Cái nghèo khổ và khinh miệt dân tộc là do bọn đế quốc gây nên". "Đúng lắm, tôi cũng nghe nhiều cán bộ nói là không phân biệt dân tộc, sau này ai cũng có cơm ăn, việc làm, được học hành, tôi tin lắm. Hai năm nay vợ chồng tôi đỡ buồn, đỡ khổ, đi đâu mới dám ngửa mặt nhìn anh em, có tiếng nói, tiếng cười với các đồng chí. Nhiều lúc nước mắt cứ trào ra. Nhờ đoàn thể mới cởi được cái tủi nhục".

        Vợ bưng mâm cơm ra, tủm tỉm cười và nói: "Các đồng chí ăn bát cơm không với bố con Mùi". Đồng chí Kháng nhìn mâm cơm. "Có thịt mà sao đồng chí bảo chúng tôi ăn cơm không!". Chị cười rồi bước nhanh vào trong bếp, bưng thêm bát canh thịt gà nấu nấm hương tươi, thơm phức. Anh Ninh nói: "Năm nay rét sớm lại có mưa, nấm mọc nhiều lắm, tôi kiếm cũng đủ tiền muối, mỡ và sắp sửa vài thứ cho ngày Tết".

        Cơm xong, tôi cùng dộng chí Kháng đến nhà đồng chí chủ nhiệm Việt Minh xã bàn tìm thêm một địa điểm dự bị.

        Trở về đến cơ quan, thấy đồng chí Thiết Hùng và đồng chí Ngọc Đinh đang bàn tổ chức tập quân sự trong dịp Tết và việc canh phòng giữa các địa phương với nhau. Tôi hỏi: "Đồng chí Văn chưa về à?" - "Chưa thấy về". - "Việc chuẩn bị cho hội nghị thế nào?" - "Kết quả lắm". Nhưng quân sự không bàn được kỹ. Còn đương nói, có đồng chí nữ Xuân Dung lên báo tin chiều nay có lính cơ về bắt phu, hắn đã đi xã Phan Thanh. Đồng chí Thiết Hùng dặn đồng chí Xuân Dung về cho người đi theo dõi ngay, phải báo cho xã Đức Chính biết, nhưng đừng làm quá lộ. Nếu có gì, cho người về báo cáo. Xuân Dung nói: "Các đồng chí cứ yên trí, mọi công việc tôi đã bàn với đồng chí Quân và đồng chí Trọng rồi". Miệng nói tay mở cái túi, đưa ra mấy gói: "Hôm nay đi chợ Nguyên Bình mua cho các đồng chí ít thức ăn và giấy, mực. Chắc chắn hôm nay hết thức ăn rồi". Đồng chí Thiết Hùng nói: " Chúng tôi ở đây được các đồng chí giúp nhiều thế, thấy đầy đủ lắm, nhất là món chủ lực như mắm tôm và gừng không bao giờ thiếu. Hôm nay các đồng chí tiếp cho lại càng thêm dồi dào".

        Đồng chí Xuân Dung vừa về, tôi xem lại, thấy ngoài thức ăn và giấy mực còn có chuối, bánh rán.

        Chúng tôi còn bàn xem tên lính này về bắt phu hay làm gì. Sáng sớm, tôi đi gặp đồng chí Gia Thái và đồng chí Phấn Đấu ở Khuổi Linh nắm tình hình tên châu đoàn Nhâm. Đến chiều, đồng chí Phấn Đấu mới đến, cho biết châu đoàn đi ăn cưới mới về, say còn nằm thẳng cẳng ở nhà, quần áo lấm bết, giày cũng không biết tháo ra.

        Chúng tôi bàn nhau, bảo đồng chí Phấn Đấu theo dõi tiếp Còn đồng chí Gia Thái cần mở thông đường từ Nà Lừa lên Cốc Cổng, lên Thâm Dùng qua xã Năm Ty, bắt mối với tổng Trần Hưng Đạo.

        Tôi quay về cơ quan. Đồng chí Văn cũng vừa đến, thêm mấy cán bộ nữa. Đồng chí Văn nói: "Các đồng chí của ban liên tỉnh bổ sung cho Nam tiến đấy. Thượng cấp đánh giá rất cao phong trào và việc khai thông đường Nam tiến. Đây là phần thưởng chung cho tất cả chúng ta. Có phần thưởng riêng cho đội mũi nhọn, đội nhảy dù nữa" - "Tối nay ngủ hơi chật, có thể phải ngủ úp bát mới được". Ngọc Đinh lẩm bẩm: "Năm nay rét sớm, chắc được mùa ngô, mùa lúa. Che kín chỗ này và đốt thêm lửa mới ngủ được". Nhiều ý kiến không cho đốt lửa, rét cũng phải chịu, để giữ bí mật.

        Càng khuya rét càng dữ, sương mù dày đặc, rơi lả tả như mưa phùn.

        Tờ mờ sáng, tôi mò xuống gần làng, chờ gặp đồng chí Xuân Dung lấy thêm gạo và lương khô để các đồng chí đi công tác. Đến bờ sông, Xuân Dung cũng vừa lội qua suối. Tôi dừng lại, Xuân Dung bước tới, tôi hỏi ngay: "Có gì gấp không?" - "Chả có gì, tên lính chiều qua về rồi, nó định bắt hai xã này lấy 15 phu đi khiêng hàng vào đồn Bảo Lạc. Mới được 8 người. Nói đến phu tải hàng vào Bảo Lạc, người ta chạy hết, vì có bốn cái sợ: sợ bị đánh đập, sợ đi xa, sợ gánh nặng, sợ leo dốc cao".


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:43:58 AM

        Tôi quay về, có đồng chí còn co ro trong chăn chưa dậy. Ngọc Đinh loay hoay nhóm bếp, đun nước rửa mặt. Có người nói ừ à dưới chăn: "Rét lắm, rét lắm. Nấu cơm ăn sớm cho ấm bụng mới làm việc". Nghe nói nấu cơm sớm, đồng chí Thiết Hùng biết đến lượt mình làm, cứ lủi thủi đi tìm nồi, hỏi ăn rau gì, nấu bao nhiêu gạo. Tuy có phân công, nhưng mọi người đều giúp một tay xong bữa cơm.

        Ánh nắng cũng xua tan dần những đám sương mù, tia nắng mặt trời rọi qua lùm cây, ai nấy mò ra gốc cây tìm Chỗ nắng ngồi sưởi. Có đồng chí nói: "Mới bắt đầu đi hoạt động bí mật, thấy rét cũng sợ, nhưng trải mấy năm nắng mưa, rét buốt, cái da cũng quen dần". Đang nói chuyện về rét và ăn uống, nghe tiếng đồng chí Văn gọi về họp. Đồng chí Văn nói về tình hình thế giới. Đồng chí nhấn mạnh tình thế có lợi cho cách mạng. Ta phải mau mở rộng cơ sở, củng cố các ban chấp hành, các đội tự vệ, tích cực lo sắm võ khí và quyên thóc. Củng cố đường Nam tiến và đánh thông nhiều đường về xuôi, những công tác cấp thiết cả.

        Tôi báo cáo kết quả việc chuẩn bị cho hội nghị tổng kết.

        Địa điểm, định lấy Khuổi Triền, nơi liên lạc là nhà anh Ninh ở Trấn Bằng. Chỗ này kín đáo, đường tiến lui cũng dễ. Ở đấy sẵn lá chuối và và, nứa làm nhà, rau rừng cũng sẵn. Việc tự vệ canh gác, đã bàn với đồng chí Kháng, lấy trung đội võ trang khu Quang Trung do đồng chí Hoàng phụ trách về canh gác. Có việc gì thì đánh cũng được và đưa đường cũng được. Thịt lợn có một con: bánh, rượu và các món khác đều đảm bảo chắc chắn.

        Đồng chí Trọng Khánh và đồng chí Quyền báo cáo về việc đánh thông đường Ngân Sơn đi châu Na Rì sang châu Bình Gia, sang Bắc Sơn, xuống Võ Nhai, theo con đường họ hàng, đồng canh trong đồng bào Dao mà đi.

        Đồng chí Văn tính đốt ngón tay và nói: "Còn khoảng nửa tháng ta họp. Đồng chí Trọng Khánh, đồng chí Quyền tiếp tục nhiệm vụ đã giao, đồng chí Thuật sang gặp đồng chí Kháng hỏi lại những việc đã bàn có gì trở ngại, tôi cũng đi cùng với. Hồi đồng chí đi tổng Trần Hưng Đạo, tổng Đội Cung1 (Bí danh của những địa phương thuộc huyện Nguyên Bình và huyện Ngân Sơn bây giờ) để gặp đồng chí Đắc, đồng chí Hồng Quân và đồng chí Hiển, đồng chí Thơ xem việc gây cơ sở tây bắc huyện Chợ Rã, tây nam huyện Nguyên Bình. Tình hình phía ấy nghe báo cáo phấn khởi lắm. Qua dãy núi Phia Giạ, giáp huyện Tuyên Quang - Hà Giang có thể chắp mối với khu Thiện Thuật, đồng chí Bình Dương và đồng chí Kim Dao đã phát triển xuống cơ sở nhà đồng chí Cao hay nhà đồng chí Xùng Á Lơ, người Mèo ở Mạ Khao, Phia Pảng. Vận động đến ngày 20 tháng 12 ta, các đồng chí về tập trung dự hội nghị tổng kết, mỗi khu vực được về hai đồng chí. Việc mở lớp huấn luyện quân sự cho các đồng chí đại đội, trung đội tự vệ chiến đấu cũng rất cần. Kỳ này ban liên tỉnh nhấn mạnh lắm. Đồng chí đi chú ý tìm địa điểm ở tổng Hoàng Hoa Thám hay tổng Trần Hưng Đạo1 (Bí danh của những địa phương thuộc huyện Nguyên Bình và huyện Ngân Sơn bây giờ). Số người lần này tập trung có thể khoảng một trăm, cả hai tỉnh Cao Bằng và Bắc Cạn. Nơi tập có thể bắn súng, hô to không lộ, tiếp tế thuận lợi và có cây làm nhà". Đồng chí Thiết Hùng nói, nếu chuẩn bị kịp thì mở vào dịp Tết.

        Tôi xuống làng chuẩn bị lương khô đi Khai Quang. Giao thông đưa đi xã Vạn Kiếp tìm đồng chí Thơ, đồng chí Đắc ở Bạch Đằng, đồng chí Hồng Quân xã Triệu Âu, giao nhiệm vụ cho đồng chí Văn giao. Đến hôm quay về đồng chí Hiển ở tổng Đội Cung, bàn việc mở cơ sở xuống vùng Tày và Dao, củng cố đường liên lạc giữa châu Kháng Pháp từ Khuổi Ngoại qua Lũng Huyền, Pia Chảng đi Khuổi Ha qua núi Cứu quốc2 (Núi Cứu quốc (Pha Bióoc) thuộc huyện Chợ Rã) sang Nà Lâm, Thâm Nựng đi châu Kháng Nhật và cho giao thông đi đón đồng chí Lý Công về hội nghị tổng kết. Xong xuôi, mới quay ra tổng Thế Rục kiểm tra việc chuẩn bị hội nghị.

        Về tới cơ quan, đồng chí Văn hỏi sao chậm thế, định cho thư "hoả tốc" đi gọi về.

        Hôm sau lại đi sớm, rét buốt cóng cả chân tay. Đến bản Nà Sang rẽ xuống Khuổi Triền. Những đám mây mù lơ lửng trên đồi khe suối cũng tan dần. Đến nhà anh Ninh, gặp đồng chí Anh, đồng chí Hoàng đang ăn cơm sáng trong nhà. Các đồng chí và anh Ninh thấy tôi đến vội ra mời và bảo con gái lấy nước nóng rửa chân tay rồi vào ăn cơm luôn. Cơm nếp nấu với bí đỏ chấm muối vừng. Đồng chí Hồng Binh ở trong địa điểm vừa ra đón, nói: "Trong đã làrn cơm cho mấy đồng chí rồi đấy". Cháu Mùi lại xới cơm nếp đầy ắp, đưa tận tay đồng chí Hồng Binh và nói "ăn cho đỡ rét".


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:44:17 AM

        Cơm xong, Hồng Binh giục đi ngay. Lội qua khúc suối này đến khúc suối khác, tê buốt cả chân tay. ánh nắng loáng thoáng rọi qua tàu lá chuối, những hạt sương rơi lả tả như mưa. Tôi hỏi: "Còn xa lắm không? Hôm nọ tôi và đồng chí Kháng định làm ở khoảng này sao giờ lại đi xa thế - "À, phải rồi, còn vào trong nứa. Làm ở đây gần đường đi đồn Ben Le, nói to nó có thể nghe được".

        Tôi nhớ lại cách đây mấy năm, có lần cùng anh em phải đi phu khiêng cột gỗ nghiến cho bọn Tây làm nhà nghỉ mát, mỗi cây có sáu đến tám người khiêng, có người không may gầy chân, mà không được đền đồng xu nào còn bị chửi, ăn bạt tai. Hồng Binh nói, cứ nhả miếng nước giầu đỏ chói xuống nước chảy loang loáng cả chân. Bỗng nghe tiếng ồn ào phía trong vọng ra: "Đâm đi! Đâm đi!”. Tôi hỏi: "Đâm cái gì, các đồng chí?" - "Đâm cá đấy. Đêm qua rét quá, cá cũng co mình lờ đờ ở khe đá. Ra sớm kiếm ít con nấu với hoa chuối, ngon lắm! Rét thế này, các đồng chí ở đâu về sớm thế - Cứ đi thẳng vào lối này là đến nhà ở. Tôi cũng kiếm vài con cá nữa sẽ về sau”.

        Tôi đến lán, thấy đồng chí Tranh Đấu, đồng chí Tô Vũ đang vặt lông chim trĩ. Các đồng chí đặt chim xuống, hai tay xoa xoa vài cái vào quần rồi lấy ống nước đặt gần bếp, tay cầm thêm mấy cái bát làm bằng gốc tre, róc nước mời và nói: "Đêm qua rét lắm, đi soi chim trĩ, nhưng ánh sáng không tốt, nên chỉ được ba con. Làm cháo một con, còn hai con này làm quà cho các đồng chí". Đồng chí Tô Vũ đi vác thêm mấy khúc củi về đốt cho chúng tôi sưởi. Lửa mỗi lúc một đỏ, làm cho những lá chuối lợp lán khô dần. Đồng chí Thiết Hùng nhìn lên rồi nói: "Không khéo cháy nhà". - "Không lo, đây sẵn lá, chỉ nháy mắt là khối lá lợp". Đồng chí Hồng Binh xếp gọn đồ đạc rồi cũng chạy ra vác thêm vào mấy khúc, làm khói um cả nhà.

        Các bộ phận lần lượt báo cáo, nghe qua thấy khá chu đáo. Riêng củi và rơm để chống rét còn thấy ít, cần thêm.

        Đồng chí Văn hỏi: "Còn gạo, thịt, bánh và việc canh phòng phải đi kiểm tra lại. Tổ chức nắm tình hình những xã quanh đây, nhất là tên châu đoàn Nhâm và xã đoàn Thức, phải giao cho trung kiên bám cho chặt".

        Mọi công việc bàn xong, trời cũng vừa tối. Theo sự phân công sẵn, người nấu cơm, người kiếm thêm lá chuối về lợp lán, người kiếm hoa và nõn chuối về làm rau. Càng tối, sương mù càng nhiều. Thỉnh thoảng như có cơn mưa rào nhỏ. Có đồng chí cho là mưa xuân, có đồng chí cho là mưa này rét thêm, trâu bò già dễ chết.

        Đồng chí Văn bước vào bước ra xem đống rơm, đống củi rồi hỏi đồng chí Kháng: "Củi, rơm có đủ dùng không?” - "Củi đốt không lo, nhưng mưa này, đi kiếm rơm hơi khó. Ruộng ở đây ít, rơm lại xấu, rơm nương thì rặm lắm, không làm ổ ngủ được, phải đi xa kiếm mới được, nhưng mưa to nữa thì ướt, đem về rải nằm không được đâu. Lấy củi đốt là chính" - "Làm cách nào thì làm, đừng để anh em rét quá”.

        Đến lúc đi ngủ, ai cũng rủ người về nằm với nhau cho ấm. Đống lửa của đồng chí Kháng đang đỏ rực. Có đồng chí nói: "Lửa vừa đỏ lại có nhiều trâu chắc ấm lắm thì phải". Câu chuyện "con trâu” (con rận) thành chuyện vui của mọi người. Nhiều đồng chí đã ngủ, ngáy khí khò. Có đồng chí dậy thổi lửa rồi kêu rét hơn hôm qua, ngồi co ro sưởi và keo mảnh chăn mỏng của mình đắp cho đồng chí đang ngon giấc. Cả đêm thay nhau thức giấc vì cái rét quái quỷ này.

        Rồi đêm rét buốt dài đằng đẵng đã trôi qua. Mấy đồng chí nhăn nhó dậy vươn vai, trên người còn đầy tro tàn và rơm rạ. Có đồng chí vẫn nằm co quắp ngay bên đống lửa, quần áo đầy bụi tro trắng xóa. Đồng chí Tô Vũ đã dậy, nói lẩm bẩm: "Bên thì nóng như thiêu, bên thì lạnh như tiền. Một lúc phải quay mình ngay, không đảo nhanh thế thì chín mất" đồng chí nói chầm chậm, ai cũng phải bật cười. Có đồng chí nói: "Cái nằm của Tô Vũ kể cũng đặc biệt, mùa rét nằm sát đống lửa; mùa hè nằm trên cây". Anh em thường gọi là giường Tô Vũ chỉ cần ba cành: một ngáng dưới, hai cành buộc hai bên, là nằm.

        Trời tuy sáng đã khá lâu, nhưng sương còn che lấp cả khe sâu này, mọi người còn xúm gần lửa. Mấy đồng chí làm bếp mà cũng kêu cái vành tai sắp rụng. Lại bàn việc ăn, ở, đón khách, việc canh phòng, việc ăn tết. Việc đi công tác trong mấy ngày Tết cũng cần được chuẩn bị gấp. Còn hai ngày nữa đã đến hội nghị.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:44:33 AM

        Các đại biểu đã tới trạm liên lạc ngoài nhà anh Ninh. Đồng chí nào cũng đeo lắm thứ: bao gạo, lương khô, ống nước, nắm rau, cái hoa chuối... nếp sống của cán bộ ở trong rừng đã thành thói quen. Anh em khắp nơi kéo về, nhưng đồng chí đội trưởng đội khai thông đường Nam tiến, đồng chí Lý Công1 (Đồng chí Nông Văn Quang hiện nay là Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bắc Thái) chưa đến.

        Bỗng có ánh sáng ở ngoài vào, nghe tiếng cười giòn lại có tiếng nói "lắp". Đồng chí Thơ vội dậy, nghe ngóng. Đúng rồi, giọng của Lý Công. Bước đi, nhìn thấy mặt, đúng Lý Công, đúng Lý Công. Tiếng reo, tiếng chào tíu tít. Đồng chí Văn ôm đồng chí Lý Công, chào thắng lợi, rồi kéo đồng chí ấy vào ngồi gần đống lửa đang cháy đỏ hừng hực, Lý Công cười thật to, đón bát nước anh em rót cho, vừa nhìn vừa hỏi các đội về đủ, anh em khoẻ cả chứ? Đồng chí Khánh hỏi đồng chí Lý Công có khoẻ không? - Khoẻ lắm, có cái chân mỏi một chút, cả mắt cũng mỏi. Mấy ngày mấy đêm nay đi luôn, nhưng qua trạm nào cũng được các đồng chí đưa đón tốt lắm. Sáng nay, đến xã Vạn Kiếp, vào nhà đồng chí An Biên, vợ đồng chí nấu cơm, có thịt nai khô xào nấm hương, ăn xong lại cố đi. Có mệt, nhưng gặp nhau, nói chuyện thế là hết mệt". Nhiều đồng chí hỏi xuống dưới có gặp nhiều đồng chí du kích Bắc Sơn không? - Có, nhưng bí mật, bí mật?".

        Có tiếng cười, tiếng hát ở ngoài vọng vào, mỗi lúc một gần. Đồng chí Kháng dòm ra rồi reo lên: Chủ nhiệm Việt Minh xã Hoa Thám, chủ nhiệm Việt Minh châu Lê Lợi2 (Một số xã thuộc vùng dân tộc Dao huyện Hòa An và huyện Nguyên Bình) và mấy đồng chí nữa, hai người khiêng một con lợn. Mọi người vội chạy ra đón và rồi hỏi sao về được sớm thế? Mang cái gì nhiều thế? - Quà các hội viên gửi biếu hội nghị.

        Ăn cơm xong, hút thuốc lào, thuốc lá "sừng bò". Tuy ngồi gần đống lửa; nhưng đồng chí nào cũng đem cái "tập-póc"1 (Bật lửa của người Dao làm bằng sừng trâu, gộc tre, đá trắng với sợi dây thép) ra thi nhau, cái của tôi nhạy, cái của anh đẹp, có đồng chí chỉ một hòn đá trắng nhỏ với khúc dây thép uốn lại cũng đem ra thi bật thử xem cái nào ra nhiều lửa và bén mồi nhanh hơn. Đồng chí Đắc khoe tài cái bật lửa của mình vừa đẹp vừa nhậy, bật cái nào bén mồi cái ấy.

        Đồng chí Văn ở ngoài vào, vừa đi vừa xem đồng hồ và nói gần tám giờ rồi, ta họp thôi. Cuộc họp nào cũng vậy, dù nhiều người hay ít người đều bầu chủ tịch, thư ký, giới thiệu đại biểu, rồi nói tình hình thế giới và trong nước.

        Mới gần ba năm, chúng ta làm nhiều việc quan trọng mà trước kia chưa dám nghĩ tới, cơ sở quần chúng có tổ chức đã rộng khắp, phát triển mạnh lại được củng cố, nhiều nơi gần được hoàn toàn như tổng Thế Rục, tổng Hoàng Hoa Thám, tổng Đội Cung, tổng Trần Hưng Đạo, tổng Chí Kiên... thuộc các châu Nguyên Bình, Hòa An, Bảo Lạc (Cao Bằng), Tân sơn, chợ Rã, chợ Đồn (Bắc Cạn). Lực lượng tự vệ cũng được tổ chức khắp các xã, hầu hết đã được huấn luyện, các đội tự vệ chiến đấu cũng được chọn lọc và trang bị bằng súng kíp, số lính dõng được tổ chức khá, khi cần có thể thêm súng khai hậu. Cán bộ đã được rèn luyện trong đấu tranh nhiều mặt. Các ban Việt Minh, Ban Chấp hành các giới được củng cố và các lớp huấn luyện về nhiệm vụ và công tác của các giới cũng mở rộng được nhiều. Đó là điều thắng lợi thứ nhất.

        Điều thắng lợi thứ hai là khai thông được con đường Nam tiến xuyên qua núi, cánh đồng từ châu Nguyên Bình qua các châu Ngân Sơn, Chợ Rã, Bạch Thông tới Chợ Đồn, chẳng những khai thông mà còn được mở rộng, nhiều nơi liền với nhau về cơ sở, đã bắt được liên lạc với dưới xuôi. Con đường Nam tiến có ý nghĩa thật quan trọng. Khai thông được đường này là nhờ có đường lối chính sách Việt Minh và sự chỉ đạo đúng đắn của thượng cấp và sự phấn đấu tích cực, gan dạ, chịu đựng gian khổ, không sợ nguy hiểm của tất cả chúng ta. Nhiều đội đáng học tập, như đội "Cóc nhảy", đội "Nhảy dù” của đồng chí Lý Công, rất dũng cảm, không sợ gian nguy, tin tưởng tuyệt đối vào quần chúng các dân tộc.

        Tiếng hoan hô không ngớt. Hai đồng chí ngồi gần, xốc đồng chí Lý Công đứng dậy để anh em nhìn và hoan nghênh vỗ tay. Đồng chí Thơ ngồi gần đống lửa, mặt đỏ hồng, cũng vùng dậy, dang hai tay ra và nói: "Hát bài Cùng nhau đi Hồng Binh, liều thân ta vì nước...". Đồng chí Lý Công có lẽ cảm động, thấy định nói gì, miệng mấp máy lâu chưa ra tiếng, một lúc nghe tiếng lắp, lắp: "Công, công này là công tất cả chúng ta góp lại, công lớn nhất là công của các hội viên, quần chúng đã hiểu chính sách Việt Minh, hăng hái đi tuyên truyền, tổ chức người vào hội, nhất là có anh em họ hàng, đồng canh xa mấy cũng đi, tuyên truyền cách làm này kết quả lắm".


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:44:50 AM

        Đồng chí Văn đề nghị đồng chí Lý Công nói nhiều về kinh nghiệm để hội nghị nghe.

        Ngoài đội Lý Công, còn đội nữ xung phong Minh Khai, đội Đông tiến, Tây tiến, các đội củng cố hậu phương cũng có nhiều thành tích lớn. Các đội Nam tiến với các đội hậu phương gắn bó với nhau, cùng nhau góp phần khai thông đường Nam tiến.

        Về công tác tuyên truyền giáo dục đường lối cũng được bàn nhiều. Chính sách của Việt Minh, nâng cao hiểu biết về truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của các vị anh hùng dân tộc, đem đặt các tên bí mật của địa phương, của đồng chí nói cho dễ nhớ, dễ thuộc, thích hợp với sự hiểu biết từng dân tộc, từng lứa tuổi, từng đối tượng khác nhau, nhằm giáo dục động viên lòng yêu nước, đoàn kết các dân tộc như: Tổng Hoàng Hoa Thám, tổng Thế Rục, tổng Chí Kiên, tổng Trần Hưng Đạo, núi Cứu Quốc, rừng Phan Thanh, khu Quang Trung, châu Lê Lợi, châu Kháng Pháp, các đồng chí Đề Thám, Tán Thuật, Giao Thông, Bí Mật, Giúp Nhau, Việt Minh, Việt Nam, Quyết Tâm, Trưng Trắc, Trưng Nhị... Còn có những bài thơ, ca, lượn, hát, ngắn gọn để phổ biến, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc và nhớ lâu Cán bộ cũng như hội viên, quần chúng các dân tộc đều ưa thích.

        Về trị an trong xã hội, bọn kỳ lý cũng phải công nhận: Từ khi có Việt Minh, trộm cắp, chửi nhau, kiện cáo về ruộng đất, cờ bạc, rượu chè, trai gái bớt rất nhiều; người Dao thân mật đi lại với người Tày nhiều hơn trước. Bọn kỳ lý chỉ đoán mò, nhưng có phần đúng. Mối thù giữa các dân tộc do đế quốc gây nên rất sâu sắc. Đồng chí Trọng Khánh ngồi cạnh đồng chí ăn, nói: "Nó đã đặt ra những câu rất đau: Sưa kin mèo, Keo kin Tày, Tày kin Sam pản, Sam pản kin đâu kin tôm" (Con cáo ăn con mèo, người Kinh ăn người Tày, người Tày ăn người Mán, người Mán thì ăn đất, ăn củ nâu). Nói thế độc lắm, đau lắm".

        - Chúng ta đều biết đấy là thủ đoạn chia rẽ dân tộc gây thù hằn, mất đoàn kết với nhau để bọn chúng ngồi trên lưng hí hửng cười ta. Vừa qua, các đồng chí ta làm tốt, tốt lắm, các đồng chí Kinh hay Tày Nùng, hay Mán đến công tác ở với dân tộc nào đều được quý trọng, bảo vệ, mọi công việc cán bộ giao quần chúng hội viên đều làm đầy đủ, không nề hà. Nếu biết cán bộ ốm, ở cách xa làng thế nào cũng vượt đèo lội suối về thăm, cho ống gạo ngon, cho quả trứng, nải chuối, ít mật ong. Những cử chỉ ấy động viên chúng ta rất nhiều. Đường Nam tiến được khai thông càng nhiều thuận lợi.

        Đồng chí Văn nói tiếp:

        - Thượng cấp đã đánh giá cao thành tích của hai đội xung kích khai thông được con đường mà nơi gặp nhau ở xã Nghĩa Tá thuộc châu Chợ Đồn, thượng cấp đã nhất trì đặt tên xã này là xã Thắng Lợi để kỷ niệm, để biểu dương thành tích tất cả chúng ta ở đây, cũng như các đồng chí ở Bắc Sơn.

        Tiếng hoan hô vang động. Đồng chí Thơ đứng dậy điều khiển bài hát Kết đoàn rồi nghỉ ăn cơm trưa.

        Buổi chiều, đồng chí Văn trình bày những thuận lợi, những khó khăn trong bước đường đi của cách mạng đối phó với âm mưu của đế quốc Pháp và phát xít Nhật. Phong trào lên mạnh, công việc cũng dễ sinh chủ quan, sơ hở, địch có thể khủng bố. Phương hướng công tác năm nay, theo chủ trương của liên tỉnh, là đẩy mạnh tốc độ phát triển, tích cực củng cố cơ sở quần chúng, đồng thời chấn chỉnh các đội tự vệ, nhất là tự vệ chiến đấu, chú ý rút kinh nghiệm về vận động quần chúng ủng hộ thóc gạo, tiền để sang năm có nhiều cuộc vận động mới.

        Cuộc trao đổi bắt đầu, đồng chí nào cũng muốn nói. Đồng chí Lý Công được phát biểu trước.

        Tiếng pháo tay hoan hô kéo dài. Chủ tịch hội nghị hô hào hát bài “Pí noọng ơi, ngắm nghị tỉnh boong rà”. (Anh em ơi! Ngẫm nghĩ tỉnh ta xem...). Nghe đồng chí Ích Hậu ở bếp cất tiếng: chào các đồng chí. Nhiều đồng chí nhìn ra. Đồng chí Trọng Khánh giới thiệu với hội nghị hai đoàn ớ  biểu của tổng và hai xã đến chào mừng, có mang quà cho nữa. Lại tiếng hoang hô vỗ tay. Đồng chí Hồng Quân đứng nói: “Chúng tôi đại biểu của tổng Thế Rục và của hai xã đại diện cho các giới và ban Việt Minh, có đồng chí nữ Tự Quyết, đội trưởng đội xung phong Minh Khai cũng đến chào mừng”.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:45:09 AM

        Hồng Quân được hội nghị hoan nghênh nhiệt liệt. Tiếp đến, đồng chí Tự Quyết vừa đại diện cho chấp hành phụ nữ xã vừa đội trưởng xung phong Minh Khai phát biểu: "Phụ nữ trước đây người dưới bếp, đúng như bài hát Đang mẻ nhinh rà, dú trong quốc gia, mí phích mò mạ (Thân phụ nữ ta, ở trong một nước, không bằng trâu ngựa). Đoàn thể Việt Minh đã đến cứu thoát cái tủi nhục, tối tăm ấy cho chị em chúng tôi. Hôm nay thay mặt chị em trong xã và đội xung phong Minh Khai đến chào mừng thắng lợi các đồng chí...".

        Trời vừa xâm xẩm tồi, tiếng hoan hô lẫn tiếng vỗ tay lái kéo dài. Đồng chí Văn xem đồng hồ rồi cho anh em nghỉ để chuẩn bị ăn cơm và tìm cách chống rét đêm nay.

        Hội nghị chưa kết thúc, không khí liên hoan thân mật tình đồng chí, tình cán bộ. Sống trong gian nguy, người Nam kẻ Bắc, hàng năm, nhiều đồng chí cũng chẳng được gặp nhau, hôm nay lại có các đồng chí đại biểu đến chào mừng hội nghị, càng thêm nhộn nhịp. Người lo cơm nước, người lo củi rơm.

        Đồng chí Ích Hậu cười khì khì rồi nói: "Có vài món ăn, không lo, chỉ cái đựng thiếu, biết như thế đi mượn ở xã dưới cũng được". Đồ đựng thức ăn đều bằng cây vầu, mâm bằng lá chuối. Đồng chí Đắc đứng đằng sau nghe rồi cười: “Thế cũng sạch sẽ, lại không phiền ai phải mang đi mang lại ăn xong của rừng trả rừng, đến đâu cần lại làm lấy, tiện nhất". Đồng chí Đắc vừa nói một tay chống lên háng, tay cầm điếu "can" hút thuốc lá phập phồng, phập phồng quay vào báo tin sắp được ăn rồi.

        Tiếng mõ kêu canh cách giục mọi người đi ăn cơm. Anh em đến đông đủ. Đồng chí Văn nói: "Hôm nay ăn liên hoan và ăn Tết chào mừng thắng lợi, khai thông đường Nam tiến mừng phong trào đang lên. Có thịt, có bánh, còn có “lẩu". Nhưng thiếu cái đựng, ai có cái đựng thì rót, nếu không cứ chuyển tay tu tuỳ sức từng người". Tiếng cười khúc khích với lời chúc nhau, vừa chuyển chai rượu tới tay.

        Đêm đến, đống lửa sưởi mỗi lúc một rực sáng đồng chí quản ca thổi còi gọi mọi người về góp vui. Đồng chí Thơ nói: "Tối liên hoan hôm nay, hát, lượn, thơ ca để góp vui, giải trí, nhưng cũng để cùng nhau ôn lại chủ trương, đường lối, chính sách của đoàn thể Việt Minh. Mở đầu bài Kết đoàn, bài Cùng nhau đi Hồng binh, bài đang Mẻ nhình rà, bài Vườn không nhà trống. Cuộc vui kéo dài đến khuya, càng rét nhưng vẫn sôi nổi. Ban tổ chức vẫn giục đi vác củi về bỏ vào đống lửa cháy đỏ. Bỗng nghe tiếng: "Á-lô, á-lô, đêm đã khuya, cái rét đêm nay ác hơn đêm qua nhiều, anh em phải chuẩn bị rơm để nằm, củi để sưởi".

        Lại một đêm rét buốt dài dằng dặc. Tiếng còi inh ỏi báo sáng, nhiều đồng chí đã nhốn nháo dậy, có đồng chí vẫn ngồi gật gù bên bếp, trên mình đầy tro và rơm rạ. Có đồng chí chạy ra ngoài, vươn vai uốn mình. Đồng chí Đắc, hai tay gạt đống rơm, ngẩng đầu lên rồi nói: "Còn tối om thế này đã còi?". Nhưng mọi người dậy rồi đồng chí cũng ngồi xổm bên đống lửa, tay sờ soạng cái túi lấy thuốc nạp vào điếu “can", châm lửa rồi ra ngoài, hai tay xách hai ống xuống suối lấy nước về, đặt vào bếp đun để rửa mặt và uống.

        Ăn bánh xong, nhiều đồng chí chưa được uống nước, chủ tịch hội nghị đã thổi còi gọi họp. Cố làm hôm nay cho xong để kịp lên đường, tranh thủ công tác trong mấy ngày Tết. Mọi đồng chí tiếp tục phát biểu những kinh nghiệm thực tế của mình.

        Các đồng chí đều hoan nghênh báo cáo của đồng chí Văn và kinh nghiệm của đồng chí Lý Công. Tất cả đã cho hội nghị nhìn thấy già trẻ gái trai các dân tộc vùng cao vùng thấp, nô nức vào hội. Không những thế, một số gia đình có trong thôn xã như thủ bạ, lý trưởng, phó lý, kỳ mục, xã đoàn, lính dõng cũng xin vào hội. Dân tộc Dao Tiền có người làm đến quan châu, chánh quản, động trưởng cũng vào Hội. Ai cũng nói rằng con trâu đêm ngủ trong rừng còn biết quay đít vào nhau, quay đầu ra ngoài để chống thú rừng. Con người mình không bằng con trâu, con ngựa a? Sao để đứa nước ngoài đến áp bức, bóc lột như thế?

        Đồng chí Trọng Khánh nói: Anh em càng nghĩ thấm thía càng hăng hái làm việc. Có lúc anh em lại sợ thằng Tây nhiều quân lính, nhiều súng, cả xe tăng. Tôi lấy bài hát Vườn không nhà trống ra phân tích thì ai cũng lại gật gù lại bảo khen cán bộ nói đúng. Thế thì nhất định Việt Minh sẽ đánh được Tây, đuổi được Nhật khỏi đất nước.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:45:25 AM

        Đồng chí Kháng cũng nói kinh nghiệm tâm tư của mình từ khi đi công tác lên khu Thiện Thuật1 (Khu căn cứ thuộc huyện Bảo Lạc và Nguyên Binh) toàn dân tộc Mèo, nay đến khu Quang Trung (Khu căn cứ thuộc huyện Ngân Sơn và Nguyên Bình) lại toàn dân tộc Dao Tiền, leo hết núi đá tai mèo, nay lại đến đèo cỏ gianh. Tuy gian khổ, nhưng nhiều cái lý thú phấn khởi trong công tác và sống cùng với anh em.

        - Cái đầu tiên là phải học tiếng dân tộc, biết nói tiếng địa phương là điều cần thiết, anh em rất quý mến mình. Từ ngày sang khu Quang Trung có cái thuận lợi hơn, vì đồng chí Văn đã dịch Ngũ tự kinh sang tiếng Dao để tuyên truyền giáo dục... Tôi chủ trương cho quần chúng học tập, ai học thuộc và dạy cho được nhiều người khác thuộc có khen thưởng của cấp trên. Nhờ đấy, gây được phong trào phát triển hội viên mới. Cơ sở quần chúng càng mở rộng, lại đòi hỏi mở lớp học cho cốt cán. Cán bộ nhiều lúc chạy khướt. Chạy lên, chạy xuống mấy cái núi, cái rừng, long cả đầu gối. Nhờ bà "Bụt thích ca" đóng đinh khá chặt, không thì cũng tụt cái đầu gối này ra rồi".

        Ai cũng phải cười. Có đồng chí nói: "Gian khổ càng nhiều, thành tích càng lớn”. Đồng chí Kháng nói: "Nhưng đối với bọn kỳ lý, tôi còn ít kinh nghiệm, đề nghị đồng chí Lý Công nói thêm để học tập".

        - Tôi chẳng có kinh nghiệm gì hay đâu. Có điều muốn nói kỹ là thằng Tây thâm độc làm, nó chia rẽ các dân tộc, để dễ trị. Ở chỗ tôi công tác thế, chắc nơi khác cũng thế. Mán Tiền có người quản chiều Mán Tiền, Mán Đỏ có quản chiều Mán Đỏ. Có chánh Mán, động trưởng để cai trị dân tộc mình, quản chiều cũng có mười hai lính dõng riêng. Tuy thế, nhưng cũng chẳng có quyền gì, bọn trên khinh bọn dưới, kỳ hào lý dịch của dân tộc Tày khinh bọn quản chiều, động trưởng người Mán. Nhiều lúc người Mán, người Mèo lại được tri châu, Tây đồn khen ngợi làm cho lý dịch người Tày bực, mâu thuẫn giữa các dân tộc càng nặng thêm. Ta biết tuyên truyền, vận động, phân tích kỹ lưỡng rõ nguồn gốc ai gây ra việc này thì nhiều người thấm thía. Dần dần, từ quản chiếu, chánh Mán, động trưởng cũng nghe ra, tin cán bộ, dám vào hội.

        Đồng chí Lý Công vừa dứt lời, nhiều cánh tay giơ lên. Đồng chí Hiển và đồng chí Thơ được nói trước. Đồng chí Hiển nói về kinh nghiệm tổ chức giao thông và đi đêm trong rừng sâu không có ánh sáng, cách giữ gìn bí mật đi lại và cất giấu lương thực ăn ở trong rừng...

        Qua hơn hai ngày phát biểu sôi nổi từ việc tuyên truyền kết nạp người vào Hội, tổ chức huấn luyện, bầu ban chấp hành, tổ chức lực lượng tự vệ, kinh nghiệm mở cuộc quyên thóc, tiền, sản xuất thuốc đạn, súng, đến kinh nghiệm chống khủng bố. Hai hôm đã trao đổi được nhiều cái sáng ra cho mình, nhất là công tác phong trào thì phải làm kiểu vừa nhảy vừa củng cố mới nhanh và mạnh được.

        Đồng chí Văn kết thúc hội nghị, giao lá cờ xung phong Nam tiến của liên tỉnh tặng đội khai thông đường Nam tiến. Đồng chí đội trưởng Lý Công thay mặt anh em lên nhận cờ. Đồng chí Văn bắt tay đồng chí Lý Công trong tiếng hoan hô với tiếng hát bài Thanh niên xung phong.

        Đồng chí Văn nói: Hội nghị chúng ta có hai ngày rưỡi, rút được nửa ngày. Kể ra nửa ngày đối với tháng, năm không có ý nghĩa, nhưng đối với chúng ta lúc này rất có ý nghĩa. Hơn hai ngày rét buốt ở khe sâu, nhưng lòng chúng ta ấm áp vì nhưng thành tích to lớn chúng ta đã đạt được trong công tác khai thông được con đường rất quan trọng. Công tác năm tới, tôi đã nói, ta thiếu cán bộ, cơ sở quần chúng lại mở rộng rất nhanh, mỗi cán bộ phải chọn và đào tạo lấy cán bộ địa phương người dân tộc mình. Lâu nay ta đã làm, nhưng kỳ này tích cực hơn mới kịp với yêu cầu của phong trào. Xây dựng tổ, nhóm trung kiên ở các thôn, xã, khi cần chuyển vào hoạt động bí mật, thành lập tự vệ võ trang của Chính phủ, tổ chức giao thông cho tốt, bám quần chúng bất kỳ tình hình nào, có quần chúng mọi việc đều giải quyết được.

        Thực tế đã chứng minh tin mình, tin ở quần chúng với lòng quyết tâm, dũng cảm gan dạ vượt mọi khó khăn trở ngại, bước đường mình sẽ tới thắng lợi.

        Tiếng hoan hô và vỗ tay lại kéo dài. Hội nghị tổng kết khai thông đường Nam tiến đã cho mỗi người nhiều bài học công tác.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:50:03 AM

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO VIỆT MINH TỈNH TUYÊN QUANG

Trung tướng LÊ THUÝ         

        Sự hình thành và phát triển của phong trào Việt Minh tỉnh Tuyên Quang

        Theo chỉ thị của Bác Hồ, ban xung phong Nam tiến được thành lập do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo từ năm 1942 tại Cao Bằng. Vì hoàn cảnh lúc đó đội phải đặt nhiều "bí danh" khác nhau ở từng vùng đề phòng lộ bí mật. Đội xung phong Nam tiến được đặt tên là đội Trần Phú phát triển từ Cao Bằng xuống Bắc Cạn để gặp đội Bắc tiến (tức đội du kích Bắc Sơn) do anh Tân Hồng (tức Chu Văn Tấn) trực tiếp chỉ huy dưới sự chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng. Đồng chí Nông Văn Quang (tức Hợp) là đội trưởng đội Trần Phú. Theo chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Văn, đội đi trước là "con dao nhọn" xung kích mở đường phát triển từ Nguyên Bình (Cao Bằng) qua các châu Ngân Sơn, Chợ Rã, Chợ Đồn tỉnh Bắc Cạn. Tháng 10 năm 1943, đội đã phát triển đến xã Nghĩa Tá (châu Chợ Đồn) gặp đội Bắc tiến do đồng chí Hoàng Thượng (đội du kích Bắc Sơn) từ Định Hóa phát triển lên. Hai mũi đã gặp nhau tại xã Nghĩa Tá. Từ đó con đường Nam tiến, Bắc tiến đã thông, tạo mọi điều kiện thuận lợi phát triển phong trào Mặt trận Việt Minh và liên lạc với Thường vụ Trung ương Đảng ở dưới xuôi. Sau đó đồng chí Văn và anh Tân Hồng đã gặp nhau ở Bản Pình xã Trung Minh, Hùng Lợi thuộc địa phận huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang, xã này giáp ranh giữa các châu Chợ Đồn, Yên Sơn, Sơn Dương của ba tỉnh Bắc Cạn, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Sau khi đánh thông đường cuối năm 1943, đồng chí Văn triệu tập một số lớn cán bộ trong đội Trần Phú về tập trung ở Khuổi Triển xã Hoa thám thuộc khu rừng Trần Hưng Đạo châu Nguyên Bình để tổng kết đợt hoạt động và tổ chức mít tinh liên hoan mừng thắng lợi lần thứ nhất đợt một. Sau đợt này đồng chí Văn lại tiếp tục giao nhiệm vụ và chỉ đạo phát triển đợt hai. Đồng chí Văn nói: "Lần này là thành lập ban xung phong Nam tiến do đồng chí Nông Văn Quang (tức Hợp) làm đội trưởng gồm có các đồng chí: Nông Văn Quang, Duy Tiến, Thiết Lượng tức Lê Thuỳ), Tiên Phong (tức Long Giang), Hải Quynh, Vũ Yến, Lãnh Long Tùng tức (Minh Héo), Trần Hổ, Ái Dân; chín đồng chí trong đội Trần Phú; các đồng chí Hoàng Thịnh, Hiền, Thơ trong đội du kích Bắc Sơn.

        Đội chia làm hai tổ: tổ A và tổ B, mỗi tổ đi làm nhiệm vụ một hướng.

        Tổ A ngoài đồng chí Nông Văn Quang làm tổ trưởng còn có các đồng chí Duy Tiến, Hải Quynh, Vũ Yến, Lãnh Long Tùng, Trần Hổ, Ái Dân và các đồng chí Hoàng Thịnh, Thơ, trong đội du kích Bắc Sơn, có nhiệm vụ phát triển qua dãy núi Tam Đảo (Vĩnh Yên), núi Ba Vì (Sơn Tây) lấy hai dãy núi làm bàn đạp phát triển phong trào cách mạng xuống đồng bằng vây ép Hà Nội và vào Thanh Hóa, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa. Tổ B do tôi làm tổ trưởng, có các đồng chí Hiền, Tiên Phong và đồng chí Trọng - người Dao Tiền ở xã Nghĩa Tá đi cùng, có nhiệm vụ phát triển sang ba tỉnh: Tuyên Quang, Yên Bái, Hòa Bình. Khi phát triển qua tỉnh Yên Bái chú ý liên lạc với nhà tù Nghĩa Lộ và hai tổ gặp nhau ở núi Ba Vì. Sau khi đồng chí Văn giao nhiệm vụ trong tâm tư tôi rất lo, vì nhiệm vụ rất nặng nề, mặt khác cán bộ lại thiếu, phạm vi hoạt động rất rộng, bản đồ không có. Đồng chí Văn nói "Bản đồ là ở dân, phát triển được phong trào, xây dựng cơ sở được mở rộng, bản đồ là ở đấy". Câu nói đó làm tôi thấm thía vô cùng. Tôi tự nhủ là người đảng viên Cộng sản phải tự xác định trách nhiệm của mình, mặc dù có nhiều khó khăn gian khổ - đồng chí Văn nói: "Các đồng chí phát triển đến đâu thì báo cho tôi biết, sẽ tiếp tục bổ sung cán bộ ở Cao Bằng xuống cho hai hướng này". Từ đầu năm đến giữa nam 1944, đế quốc Pháp ra tay đàn áp phong trào Việt Minh, khủng bố ác liệt ở các huyện Hòa An, châu Nguyên Bình (thuộc Cao Bằng), châu Ngân Sơn, châu Chợ Rã, châu Chợ Đồn (thuộc tỉnh Bắc Cạn). Chúng bắt dồn làng, tập trung dân, lùng bắt cán bộ, nhằm làm cho phong trào Việt Minh ở các nơi trên bị tan rã, con đường liên lạc từ Cao Bằng về Chợ Đồn bị đứt từng quãng không thể liên lạc được với nhau. Từ đó phong trào khủng bố của địch đã lan sang tỉnh Tuyên Quang. Địch đã khủng bố một số nơi phía nam huyện Yên Sơn, phía bắc huyện Sơn Dương và huyện Chiêm Hóa, địch có bắt đi một số cán bộ trung kiên giam ở tỉnh Tuyên Quang, tra tấn nhục hình rất dã man đến chết nhưng chúng không khai thác được tin tức gì (như đồng chí Nguyên ở Đào Ảng xã Yên Nguyên, châu Chiêm Hoá).


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:50:31 AM
 

        Phong trào cách mạng ở Tuyên Quang có bị ảnh hưởng lột phần vì địch khủng bố từ tháng 3, 4, 5 năm 1944, nhưng ta vẫn giữ được phong trào. Do tình hình khó khăn trên, ta không bổ sung số cán bộ ở Cao Bằng xuống được. Trước khi tôi đi, đồng chí Nông Văn Quang dặn thêm: "Khi phát triển sang Tuyên Quang, chú ý liên lạc với các đồng chí du kích Bắc Sơn do anh Tân Hồng phụ trách". Phát triển qua dãy núi Tam Xá tức núi Ba Xứ thuộc huyện Yên Sơn (Tuyên Quang), vùng này chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số cư trú như Dao Tiền, Dao Ô Găng, Dao Thanh Y, Dao Quần Chẹt và một số đồng bào Tày ở lẫn lộn với người Nùng, người Kinh. Phát triển phong trào ở vùng này ta sẽ bồi dưỡng đào tạo một số cán bộ cốt cán chuẩn bị cho các hướng khác.

        Từ tháng 2 năm 1944 trở đi phong trào Việt Minh ở Chiêm Hóa, Yên Sơn đã phát triển mạnh, rộng rãi. Lúc đó cán bộ trong tổ tôi thực tế chỉ đồng chí Trọng với tôi, còn hai đồng chí Hiền và Tiền Phong chưa có mặt. Trong khi đó tôi đã tích cực liên lạc với du kích Bắc Sơn ở vùng núi Ba Xứ thuộc hai xã Trung Minh, Hùng Lợi, các đồng chí Hoàng Xuân, Ba Thiều phụ trách vùng này. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, chúng tôi đã bàn bạc thống nhất, chia vùng hoạt động. Tôi nói với đồng chí Hoàng Xuân, Ba Thiều và đề nghị với anh Tân Hồng cho xin một số cán bộ, vì phong trào Việt Minh ba huyện Yên Sơn, Hàm Yên, Chiêm Hóa phát triển khá rộng. Khu tam giác ba tỉnh: Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang lấy Bản Pình, Bản Pài, Thanh Cóc (Tuyên Quang) làm căn cứ trung tâm thành con đường hên lạc ngược xuôi, từ Đông sang Tây liên lạc với Thường vụ Trung ương Đảng ở miền xuôi.

        Khi thành lập Cứu quốc quân ngày 25 tháng 2 năm 1944 tại Khuổi Kịch thuộc xã Tân Trào (Sơn Dương), đồng chí Hoàng Quốc Việt trực tiếp chỉ đạo thành lập Cứu quốc quân III. Đội xung phong Nam tiến Trần Phú ở Cao Bằng có chín đồng chí nhập vào Cứu quốc quân III.

        Cuối năm 1943 và năm 1944, phong trào Việt Minh đã phát triển cả bề rộng và bề sâu. Riêng tỉnh Tuyên Quang đã tổ chức ban Việt Minh xã, tổ chức các hội cứu quốc như: nông dân, phụ nữ, thanh niên cứu quốc và xây dựng được lực lượng tự vệ chiến đấu ở các xã. Việc huấn luyện cách đánh du kích, phục kích, đánh lén phổ biến ở các huyện Yên Sơn, Chiêm Hóa, Hàm Yên. Giữa năm 1944, phong trào Mặt trận Việt Minh đã phát triển đến các xã Vĩnh Bảo, Vĩnh Tuy (huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang); đầu năm 1945, đến huyện Lục Yên Châu, thị xã Yên Bái, các huyện Trấn Yên, Văn Chấn tên Bái), hai huyện Bảo Yên, Văn Bàn thuộc tỉnh Lao Cai hiện nay.

        Sau khi tôi đề nghị với anh Tân Hồng bổ sung cán bộ cho hướng này, tháng 4 năm 1944, anh Tân Hồng cho thêm ba đồng chí: Chu Phóng, Hoàng Xuân, Bằng Long trong Cứu quốc quân III. Được đồng chí Nông Văn Quang bổ sung thêm đồng chí Hiệp (tức Ái Dân) vùng chợ Đồn sang, lúc này trong phạm vi tôi phụ trách, đã có một số cán bộ đáp ứng phần nào về xây dựng cơ sở và phát triển phong trào.

        Đến tháng 10 năm 1944, đội có thêm ba đồng chí nữa, các đồng chí Phong, Trần Tùng ở nhà tù Chợ Chu ra và có thêm đồng chí Hồng Thái, Cứu quốc quân III. Lúc này có quyết định thành lập tổ Đảng, như vậy cán bộ hoạt động ở tỉnh Tuyên Quang có năm đồng chí Cứu quốc quân III và hai đồng chí ở nhà tù Chợ Chu ra. Tất cả có bẩy người. Còn nơi khác không rõ lắm. Lúc này Ơ khu B Nguyễn Huệ do đồng chí Song Hào chỉ đạo chung, nhưng tôi cũng chưa gặp bao giờ.

        Chúng tôi bàn bạc thống nhất kế hoạch hoạt động trong phạm vi tỉnh Tuyên Quang phân công như sau: Về Cứu quốc quân III, do đồng chí Chu Phóng phụ trách, lấy xã Chiêu Yên, phía tây huyện Yên Sơn làm căn cứ, từ ki-lô-mét 24 đường số 2 Tuyên Quang - Hà Giang phát triển sang phía nam núi Là thuộc huyện Yên Bình, chủ yếu là xây dựng cơ sở, phát triển vùng dân tộc Cao Lan và Dao Quần Trắng, một số người ở phía tây tỉnh Tuyên Quang. Các đồng chí Hoàng Xuân, Bằng Long phụ trách xây dựng cơ sở giữ đường dây liên lạc từ Yên Sơn, Sơn Dương, liên lạc với đồng chí Tân Hồng ở Chợ Chu (Định Hóa), củng cố và xây dựng cơ sở trong hai huyện đó, giừ vững con đường liên lạc với Thường vụ Trung ương Đảng ở dưới xuôi, đề nghị với anh Tân Hồng cho thêm báo Cờ giải phóng và báo Cứu quốc. Tôi và các đồng chí Hồng Thái, Phong, Trần Tùng hoạt động ở các huyện Chiêm Hóa, Hàm Yên và phát triển lên châu Nà Hang, mặt khác chú ý phát triển lên hướng Bắc Quang (Hà Giang), Lục Yên Châu (Yên Bái). Trong lúc này phong trào cách mạng ở Tuyên Quang đã có sự chỉ đạo thống nhất, các cơ sở Mặt trận Việt Minh phát triển tỉnh Tuyên Quang và giữ vị trí rất quan trọng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa.

        Ngày 15 tháng 2 năm 1945, tôi và các đồng chí Hồng Thái, Trần Tùng từ làng Cánh Vân Trung xã Cô Ba (xã Hồng Sơn) đi bốn ngày đêm đến xã Minh Hương, Bạch Xa giáp Bắc Quang, Hà Giang. Mục đích đi lần này là kiểm tra lại tình hình phong trào Việt Minh ở các xã; xã Việt Minh gồm có các làng Ninh Kiệm, Pom Chạng, Khui Luyện, Hương Lạp thuộc phía nam dãy núi Chạm Chu, xã Phấn Đấu gồm có các làng Phù Loan, Minh Hương, Bạch Xa ở phía bắc núi Chạm Chu. Hai xã này thuộc huyện Hàm Yên.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:51:53 AM

        Cao trào đấu tranh vũ trang sau khi Nhật đảo chính Pháp.

        Chúng tôi đang ở nhà đồng chí Thành và đồng chí Cát người Dao Đỏ vùng Minh Hương thì nghe tiếng mìn nổ to ở hướng Vĩnh Tuy vọng tới. Hôm sau, ngày 10 tháng 3 năm 1945, có quần chúng đến báo Nhật đã đảo chính Pháp. Địch đã nổ mìn sập cầu Vĩnh Tuy trên đường số 2 lên Hà Giang. Cầu này bị sập, ô tô đi lại rất khó khăn. Nhân dân đồn rằng lính Pháp và lính khố đỏ đang chạy từ Tuyên Quang lên Hà Giang, một số lính khố đỏ người địa phương đã chạy về nhà, ngày 12 tháng 3 năm 1945, đồng chí Hồng Thái tranh thủ thời cơ này đi xuống xã Phù Loan tổ chức mít tinh ở làng người Tày. Đồng chí nói với bọn lý trưởng và tổng đoàn rằng: "Nhật - Pháp đánh nhau là thời cơ hành động của chúng ta đấy, là thời cơ cách mạng phải đứng lên giành chính quyền". Sau cuộc mít tinh ăn cơm liên hoan xong, tổng đoàn Quyền và lý Nha đã bắt đồng chí Hồng Thái để nộp cho quân Nhật ở Bắc Mục (Hàm Yên). Được tin quần chúng lên báo, tôi và Trần Tùng ở làng Minh Hương trao đổi thống nhất, nhanh chóng tổ chức đội tự vệ chiến đấu của xã Phấn Đấu gồm 12 đồng chí người Dao Đỏ, trang bị súng kíp, hoả mai định đi đón đường phục kích đánh tháo, nhưng đón đường không đúng nên chúng đi thoát, đưa đồng chí Hồng Thái giao cho quân Nhật tại Bắc Mục.

        Ngày 20 tháng 3 năm 1945, cấp trên cho gọi tôi và đồng chí Trần Tùng về gấp gặp đồng chí Tạ Xuân Thu và đồng chí Chì (tức Nguyễn Công Bình) ở xã Kim Bình thuộc huyện Chiêm Hóa. Sau khi nhận được giấy, tôi triệu tập ban Việt Minh xã Phấn Đấu giao nhiệm vụ thêm: Cần phải tích cực chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ tới, chúng ta sẽ đứng lên giành chính quyền. Sau khi giao nhiệm vụ xong, tôi và đồng chí Trần Tùng đi suốt ngày đêm đến tuổi Luyện gặp các đồng chí Tỳ, Bạch, Khai trong ban Việt Minh xã Việt Minh. Đến nhà đồng chí Bạch Ơ làng Pom Chạng, cơ sở báo cho biết có thằng tây đồn trưởng Bắc Mục và một số lính khố xanh chạy về nhà châu đoàn Nguyên thuộc xã Ninh Kiệm. Tôi và đồng chí Trần Tùng trao đổi triệu tập đội tự vệ chiến đấu thuộc xã Việt Minh, gồm 10 đồng chí Dao Tiền có trang bị súng kíp, hoả mai và kiếm của đồng chí Dao định tập kích đêm hôm ấy. Lúc này trời mưa rất to. Đồng chí Trần Tùng nói sợ súng kíp không nổ, để tối mai đánh cũng không muộn. Sáng hôm sau, cũng có thể có bọn phản động báo cho địch biết trước nên chúng đi mất. Tôi nói với đồng chí Trần Tùng thế là ta lỡ mất cơ hội tiêu diệt địch rồi. Sau đó tôi làm việc với Uỷ ban Việt Minh xã giao nhiệm vụ cho các đồng chí theo dõi tên đồn trưởng đi về hướng nào. Các đồng chí có thể dùng đội tự vệ chiến đấu của xã nếu biết đường đi của chúng có thể phục kích bắn vài phát hoả mai súng kíp là ta có thể bắt được chúng. Vì bọn lính đi cũng đã rất hoang mang, thằng nào cũng muốn thoát thân về nhà. Chúng tôi còn nhắc các đồng chí cần tích cực chuẩn bị mọi mặt chu đáo sẵn sàng như tinh thần, vũ khí và theo dõi bọn phản động báo cáo cho tôi ở Cánh Vần.

        Từ Pom Chạng chúng tôi về Cánh Vần mất hai ngày đến xã Hồng Sơn trước đây (tên bí danh là xã Cô Ba). Tới nơi tôi triệu tập các đồng chí trong ban Việt Minh xã gồm đồng chí Báo chủ nhiệm Việt Minh, các đồng chí Minh, Bằng trong ban Việt Minh xã. Quần chúng nhân dân biết tôi và đồng chí Trần Tùng tới ra đón rất phấn khởi. Họ nói rằng: "Bây giờ chúng ta phải đứng dậy cướp chính quyền" và cơ sở báo cho biết, nghe nói ta đã đánh vào đồn Đăng Châu (châu Sơn Dương) thu được nhiều súng lắm, trong khi tây chạy, một số lính khố đỏ chạy vào làng dân ẩn náu xin cơm ăn. Dân làng Cánh Vần cũng lấy được bốn khẩu súng, trong đó có ba khẩu Mút-cơ-tông, một khẩu súng Nga, mỗi khẩu súng gần 100 viên đạn, bao đựng đạn và sáu lựu đạn. Anh em tự vệ đề nghị trang bị số vũ khí này cho đội tự vệ xã. Tôi nói rằng các đồng chí cứ lấy súng đó mà dùng để tiếp tục đánh giặc. Số súng này để làm nòng cốt cho tự vệ chiến đấu xã Cô Ba. Còn ở đồn Chiêm Hóa, đội tự vệ chiến đấu có nhiệm vụ đưa đường.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:52:38 AM

        Hôm tập trung đội tự vệ chiến đấu và những cán bộ cốt cán xã Cánh Vần đến họp, tôi nói với anh em "Bây giờ tôi về đây thông báo cho mọi người biết hãy chuẩn bị sẵn sàng và theo dõi bọn việt gian phản động trước đây và bọn xấu cách mạng", đồng chí Hồng Thái đã bí bọn phản động ở xã Phú Loan bắt nộp cho quân Nhật ở Bắc Mục. Được tin này mọi người đều căm thù bọn phản động. Ở Cánh Vần tôi cho gọi Lý Phung ra gặp và hỏi nó: "tình hình bây giờ ông nghĩ sao?". Nghe hỏi vậy, lý Phung rụt rè đáp: "Thưa đồng chí, trước đây tôi không tin ở cách mạng, hay nói xấu cách mạng. Bây giờ các đồng chí bảo thế nào tôi cũng nghe và quyết tâm ủng hộ cách mạng đến cùng!". Tôi nói "ông xin lỗi dân làng đi và hứa rằng nếu tôi từ nay phạm tội nứa xin dân làng đem tôi xử tội, mong dân làng tha tội cho tôi". Đồng chí Hội là em ruột lý Phung ở trong ban chấp hành nông dân Cứu quốc xã nói với tôi: "Bây giờ, ông này biết có tội với dân rồi ông đã hối hận ăn năn, đồng chí tha cho ông được sống”. Tôi hỏi ý kiến nhân dân, nhân dân đồng ý với ý kiến của đồng chí Hội. Nhân dân nói ông lý Phung phải giữ đúng lời hứa.

        Ngày 24 tháng 3 năm 1945, tôi và đồng chí Trần Tùng đi gặp đồng chí Tạ Xuân Thu. Ngày 25 tháng 3 thì gặp đồng chí Phong ở Ngòi Chăm, xã Kiến Thiết, thấy đồng chí cầm một lá cờ đỏ sao vàng đi đầu cùng một tiểu đội. Hai bên gặp nhau tay bắt mặt mừng. Qua đồng chí Phong tôi được biết đồng chí Thu đang ở xã Kim Bình. Hai đồng chí Thu và Chì đang mong chúng tôi tới. Hồi tháng 1 năm 1944, tôi đã đến tuyên truyền ở đây, nhân dân ở xã này đã tham gia Việt Minh. Bí danh tôi đặt cho xã này là xã Tri Phương gồm các làng Đào Nàng, Kim Bình, Linh Đức, Linh Phú, Kiến thiết. Chủ nhiệm Việt Minh xã là đồng chí Hùng, cô Đông trong ban Việt Minh xã phụ trách phụ nữ, đồng chí Tuân là ủy viên.

        Sau khi gặp đồng chí Tạ Xuân Thu và đồng chí Chì, tôi báo cáo về tình hình chung các huyện Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn, về tình hình hoạt động của phong trào việt minh, tình hình bọn phản động, tình hình địch đóng ở đồn Chiêm Hóa. Đồng chí Tạ Xuân Thu cho biết ngày 13 tháng 3, ta đã giải phóng đồn Đăng Châu (Sơn Dương) sau đó địch lại chiếm lại, ngày 16 tháng 3 ta lại đánh đồn Đăng Châu lần hai, diệt toàn bộ địch và thu nhiều vũ khí; từ nay châu Sơn Dương gọi là châu Tự Do, sau đó giải phóng Chợ Chu, Định Hóa (Thái Nguyên), bây giờ ta chuẩn bị gấp đánh đồn Chiêm Hóa. Lực lượng đi cùng đồng chí Tạ Xuân Thu gồm 40 người gọi là trung đội Cứu quốc quân, trang bị đầy đủ gồm súng trường, tiểu liên và súng máy lấy được của địch ở đồn Đăng Châu. Mỗi người mang theo gần 100 viên đạn và có một số lựu đạn. Trong thời gian trú quân ở xã Kim Bình, anh em học tập chính trị do đồng chí Tạ Xuân thu lên lớp. Anh Thu phân tích về tình hình biến chuyển hiện nay đang có lợi cho ta. Ngoài ra số anh em này còn luyện tập cách đánh, thao tác súng và rút kinh nghiệm đánh đồn Đăng Châu, cách bao vây đồn, tập kích và đánh phục kích chặn địch. Đồng chí Thu còn giao nhiệm vụ cho tôi cần tập trung lực lượng tự vệ chiến đấu ở các xã chuẩn bị sẵn sàng tham gia Cứu quốc quân, trước mắt chuẩn bị ngay một tổ tự vệ chiến đấu để trinh sát đường hành quân như: bến phà qua sông Gậm, chuẩn bị mọi điều kiện thuận lợi để đánh vào đồn giành thắng lợi.

        Sau khi anh em đi trinh sát về báo cáo trong đồn có tên tri châu và khoảng 30 lính khố xanh, chúng tôi quyết định đánh đồn Chiêm Hóa. Đường hành quân từ Kim Bình đến Chiêm Hóa khoảng 35 ki-lô-mét. Đồng chí Tạ Xuân Thu hạ quyết tâm hành quân một đêm, sau khi vượt sông có thể bao vây tập kích địch ngay được là tốt nhất; để chậm sợ chúng đánh hơi thấy ta, chúng rút mất, làm sao phải giữ hết sức bí mật.

        Đêm 29 tháng 3, ta bắt đầu hành quân qua một số làng bản mà nhân dân chưa vào Việt Minh. Họ nhao nhác hỏi nhau "bộ đội Việt Minh" ở đâu mà đến nhanh thiết Kế hoạch tiến công vào đồn Chiêm Hóa như sau: đồng chí Tạ Xuân Thu và đồng chí Chì phụ trách hai tiểu đội bao vây ở phía bờ sông đánh lên; đồng chí Phong phụ trách một tiêu đội trang bị một khẩu trung liên đánh chính diện vào cổng đồn. Tôi phụ trách một tiểu đội trang bị một khẩu ten phục kích địch cách đồn 200 mét trên đường từ Chiêm Hóa đến Tuyên Quang.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:52:55 AM

        Đêm 29 rạng sáng 30 tháng 3, khoảng 4 giờ sáng chúng tôi mới hành quân đến bờ sông Gậm, chuẩn bị sang sông, mỗi mảng chỉ chở được 3 người, khi sang sông hết đã bốn giờ rưỡi. Cả nhóm chạy hành quân cấp tốc hơn một ki-lô-mét mới đến đồn và tiếp cận bao vây. Vừa bao vây xong, trong đồn lính đã dậy một phần rồi. Ta quyết định nổ súng. Sau năm phút chiến đấu ta bắt sống gần hết, còn tám tên chạy thoát về phía Tuyên Quang. Khi tàn quân địch chạy đến chỗ chúng tôi phục kích, tôi hô: “Giơ tay, bỏ súng xuống", anh em xông ra, bọn chúng đầu hàng, ta thu tám súng trường, để lại ba đồng chí giải chúng vào đồn xin chỉ thị. Đại bộ phận tiểu đội đánh lên đồn Kiểm Lâm và đánh sang nhà bưu điện. Lúc này tình hình đã ổn định, ta thu dọn chiến trường gồm súng, đạn dược, trang bị, lương thực. Nhân dân thị trấn Chiêm Hóa phấn khởi khen: "Cứu quốc quân giỏi thật! Đến lúc nào không ai biết; nghe súng nổ; nhân dân tỉnh dậy, trời vừa sáng đã đánh xong rồi".

        Đồng bào rất khâm phục mưu trí, cách đánh của Cứu quốc quân. Sau khi đánh chiếm xong các đồn trọng khu vực này một bộ phận ở lại tuyên truyền giải thích cho nhân dân, đồng thời tổ chức thêm một trung đội nữa, gồm những anh em tự vệ chiến đấu đi theo (khoảng 40 người) lấy vũ khí thu được ở đồn Chiêm Hóa trang bị cho anh em. Đồng chí Tạ Xuân Thu giao đội này cho tôi phụ trách, có nhiệm vụ giải phóng xã Yên Nguyên, phá kho thóc Chợ Bợ của Nhật phát cho nhân dân, đi thu súng châu đoàn, tổng đoàn, xã đoàn và lính dõng, ấn tín của bọn chức dịch và tổ chức Uỷ ban nhân dân giải phóng lâm thời của từng nơi. Tôi tiếp tục chỉ huy trung đội phát triển lên Hàm Yên, giải phóng các xã tả, hữu ngạn sông Lô đến Bạch Xa giáp xã Vĩnh Hảo, Bắc Giang (Hà Giang). Ở các xã này trong thời kỳ bí mật năm 1944, ta đã tổ chức Việt Minh 60 đến 70 phần trăm vào mặt trận Việt Minh rồi. Lúc này đi thu súng và khống chế bọn việt gian phản động.

        Đến xã Ninh Kiệm, châu đoàn Nguyên ra gặp chúng tôi xin nộp khẩu súng lục. Đến Pom Chạng, chúng tôi gặp chánh Thông, tên này trước đây nói xấu cách mạng, bây giờ ra đầu thú xin ủng hộ cách mạng và hứa nếu tái phạm xin đền tội.

        Sau khi tổ chức củng cố lại lực lượng Cứu quốc quân và lực lượng vũ trang theo tinh thần chỉ đạo của trên, Cứu quốc quân chia thành nhiều mũi toả đi giải phóng các huyện trong tỉnh và một số nơi của các tỉnh phụ cận như bắc Vĩnh Yên, Đoan Hùng (Phú Thọ), Yên Bình, Lục Yên Châu (Yên Bái).

        Ngày 10 tháng 4 năm 1945, Cứu quốc quân và Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã gặp nhau. Trung đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Trần Kiên làm trung đội trưởng và các đồng chí Trần Hổ, Liên chỉ huy từ Chợ Đồn (Bắc Cạn) xuống giải phóng Đài Thị gặp trung đội tôi ở thị trấn Chiêm Hóa.

        Từ ngày 15 đến 20 tháng 4 năm 1945, Hội nghị quân sự Bắc Kỳ được tổ chức tại Hiệp Hòa (Bắc Giang). Hội nghị quyết định phát động chiến tranh du kích, chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa, thống nhất các lực lượng Việt Narn Tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân và quyết định chọn Sơn Dương, Tuyên Quang làm căn cứ địa trung tâm lãnh đạo cách mạng cả nước.

        Ngày 15 tháng 4 năm 1945, có đơn vị đồng chí Tâm (tức Lê Quảng Ba) và các đồng chí Nam Long, Lĩnh Thành từ Chợ Rã (Bắc Cạn) phát triển qua Côn Lôn, Bằng Hành, Vô Điển (khu Trọng Con). Đồng chí Lê Quảng Ba gặp tôi ở Bạch Xa, huyện Hàm Yên. Như vậy Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân đã gặp nhau ở các nơi trên và về cơ bản đã thống nhất thành một lực lượng. Kế hoạch của đội đồng chí Lê Quảng Ba và Nam Long sẽ phát triển các xã Trinh Tường, Ngô Khê - tổng Yên Long thuộc huyện Bắc Quang (Hà Giang).

        Lúc này ở tỉnh Tuyên Quang tổ chức nhiều lực lượng và hình thành các đội: Đội Chì, Đội Thuỳ, Đội Kiên, Đội Liên, Đội Môn, mỗi đội có trên dưới 40 người tổ chức thành ba hoặc bốn tiểu đội. Ngoài ra lực lượng tự vệ chiến đấu được trang bị ở các địa phương bổ sung cho Cứu quốc quân. Có một số ít lính khố xanh xin tình nguyện nhập đội, số còn lại ta giải thích cho về địa phương. Trong trung đội lính khố xanh tình nguyện theo cách mạng có năm người, trong đó có Cai Lộc ở đồn Bắc Mục ra.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:53:23 AM

        Ngày 15 tháng 5 năm 1945 chúng tôi nhận được chỉ thị của đồng chí Chì (tức Nguyễn Công Bình) thành lập đại đội chủ lực Giải phóng quân của tỉnh Tuyên Quang tại làng Pom Chạng xã Ninh Kiệm (huyện Hàm Yên) và chỉ định ban chỉ huy đại đội.

        Đồng chí Hồng Thái - đại đội trưởng.   
        Đồng chí Trần Kiên - chính trị viên đại đội.
        Tôi (Lê Thuỳ) - đại đội phó.

        Đại đội gồm bốn trung đội.

        Đồng chí Chì phụ trách chỉ đạo chung chính trị - quân sự kiêm trung đội trưởng trung đội 1, nhưng chỉ huy chủ yếu là đồng chí Giáo Huyên.

        - Tôi - đại đội phó kiêm trung đội trưởng trung đội 2.

        - Đồng chí Trần Kiên - chính trị viên đại đội, kiêm trung đội trưởng trung đội 3.

        - Đồng chí Liên - trung đội trưởng trung đội 4.

        Còn trung đội đồng chí Môn đi độc lập hoạt động ở hướng Bình Ca, Đoan Hùng, Yên Bình và một phần hữu ngạn sông Chảy.

        Đại đội phân công hoạt động như sau:

        Trung đội Trần Kiên có nhiệm vụ chọc thẳng phát triển vào huyện Văn Chấn (Nghĩa Lộ) liên lạc với các đồng chỉ ở nhà tù Nghĩa Lộ. Khi phát triển vào Nghĩa Lộ, trung đội gặp đồng chí Trần Đức Sắc ở tù ra và đồng chí Ngô Minh Loan phụ trách khu vực này, các anh đã gặp nhau bàn bạc thống nhất củng cố cơ sỏ vùng giải phóng.

        Ở Khu giải phóng Tuyên Quang lúc này có ba trung đội chủ lực. Ngoài lực lượng tự vệ vũ trang có nhiệm vụ bảo vệ vùng giải phóng và củng cố lực lượng, ta có phái một số lực lượng phát triển sang hướng Lục Yên Châu và một bộ phận nhỏ vào thị xã Yên Bái tổ chức xây dựng cơ sở và làm công tác binh vận đã vận động được một tiểu đội bảo an binh mang cả vũ khí ra vùng giải phóng, bộ phận này do đồng chí Lê Minh phụ trách.

        Trong ban chỉ huy đại đội thực tế chỉ có một mình tôi chỉ huy các trung đội còn lại. Đồng chí Hồng Thái sau khi bị Nhật bắt giam ở Bắc Mục, chúng định đem về Tuyên Quang thủ tiêu. Khi chiếc xe của quân Nhật chở đồng chí Hồng Thái chạy đến ki-lô-mét 31 Tuyên Quang thì máy bay Mỹ phát hiện và bắn vào đoàn xe. Quân Nhật bỏ chạy. Chớp thời cơ đó đồng chí Hồng Thái và đồng chí Cát - người Dao Đỏ trốn thoát. Vào khoảng 10 giờ ngày 10 tháng 5 năm 1945, các đồng chí về đến làng Pom Chạng gặp tôi. Đồng chí Thái bị thương tương đối nặng, mắt sưng to, mặt tính bầm, hai tay không nhấc lên được. Vì tình trạng sức khoẻ và do bị địch bắt một thời gian, không nắm được tình hình của đội, nên chúng tôi để đồng chí Thái nghỉ, bồi dưỡng cho lại sức. Trong thời kỳ đại đội đánh Nhật tiến công lên vùng giải phóng đồng chí không tham gia hoạt động của đội.

        Về chính quyền, các tổ chức Uỷ ban châu lâm thời được thành lập trong phạm vi tỉnh Tuyên Quang.

        Ngày 12 tháng 5 năm 1945, châu Chiêm Hóa được đặt tên là châu Khánh Thiện, lấy Tô Trình làm trụ sở chính do Ma Văn Kinh làm chủ tịch bao gồm các tổng Phù Loan, tổng Yên Lũng (Hàm Yên), Vĩnh Yên (Na Hang), Sơn Đô, Yên Lĩnh (thuộc Yên Sơn) các ủy ban giải phóng châu đã được xây dựng nhanh chóng. Quá trình khởi nghĩa vũ trang cướp chính quyền trong tỉnh phát triển rầm rộ. Khí thế đấu tranh của quần chúng nhân dân bao trùm mọi địa bàn.

        Ngày 12 tháng 5 năm 1945, châu Hồng Thái (Yên Sơn) được thành lập tại làng Chạp (xã Trung Sơn) gồm hai tổng Bình Ca, tổng Kim Quan, có 11 xã gồm các dân tộc Dao, Cao Lan, Tày, Kinh.

        Ngày 15 tháng 5 năm 1945, phủ Toàn Thắng được thành lập gồm hầu hết các xã bên hữu ngạn sông Lô (phía bắc thị xã Tuyên Quang) gồm các xã Thắng Quân, Tứ Quận, Chiêu Yên, Xuân Vân, Trung Trực.

        Ngày 15 tháng 5 năm 1945, châu Kháng Địch thành lập bao gồm hai xã Trung Hạ (huyện Yên Sơn) và nam Sơn Dương.

        Ngày 22 tháng 5 năm 1945, phủ Quyết Thắng ra đời gồm 10 xã vùng hạ huyện Yên Sơn và một phần huyện Yên Bình.

        Chớp thời cơ Nhật đảo chính Pháp, cùng với phong trào cách mạng bùng lên mạnh mẽ trong toàn quốc, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang cùng lực lượng Cứu quốc quân tiếp tục nổi dậy cướp chính quyền ở các xã, huyện. Trong Khu giải phóng lúc này nhân dân vô cùng hân hoan phấn khởi, không khí tự do của một chế độ mới đang hình thành. Những chủ trương chính sách của mặt trận Việt Minh được thi hành nhanh chóng làm thay đổi cuộc sống của nhân dân. Được sự cổ vũ mạnh mẽ của phong trào cách mạng cả nước, các vùng phụ cận ngày càng có nhiều người tìm đến vùng giải phóng tham gia cách mạng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:54:39 AM
     
TÂN TRÀO VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Thượng tướng SONG HÀO        

        Trích trong cuốn: "Tân Trào” - Nxb văn hóa  thông tin, Trung tâm UNESCO Tân Trào, Hà Nội, 1997.

        Đầu tháng 5 năm 1945, theo chỉ thị của Bác và Trung ương, đồng chí Võ Nguyên Giáp về Kim Quan Thượng gặp tôi để chọn một địa điểm đón Bác về. Sau khi trao đổi, chúng tôi nhất trí chọn Tân Trào mà Kim Lung là trung tâm. Tân Trào - Kim Lung không những có cảnh thiên nhiên đẹp:

                                     Kim Lung cảnh đẹp như tiên,
                                     Ai mà đến đó thì quên đường về.


        Mà Tân Trào còn là nơi dễ cơ động "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”, sang trái sang phải đều có thể đi cả bốn hướng, đường liên lạc về xuôi cũng thuận tiện. Vì thế, sau này với ý thức quân sự mới, nhân dân lại có câu ca:

                                    Kim Lung đất hiểm tứ bề
                                    Kẻ địch muốn chết thì về Kim Lung.


        Tôi nghĩ ý kiến của anh Giáp và tôi có thể được Bác chấp nhận.

        Ít lâu sau tôi được thư báo chuẩn bị đón một đồng chí thượng cấp. Khu ủy chúng tôi chuẩn bị đón Người ở đình Hồng Thái, mà tôi đã bàn với đồng chí Trần Tùng, Chủ tịch ủy ban Giải phóng lâm thời châu Hồng Thái để lo việc tu sửa lại.

        Thế rồi ngày ấy cũng đến - ngày 21 tháng 5 năm 1945 - một ngày đã đi vào lịch sử cách mạng nước ta, ngày Bác về tới Tân Trào. Bác về cùng đồng chí Võ Nguyên Giáp. Dáng người mảnh dẻ, nước da rám nắng, vai vắt chiếc khăn mặt trắng. Bác mặc ào chàm, vì thế dân trong vùng gọi Bác là “Ông Ké áo chàm". Bốn tiếng "ông Ké áo chàm" như tiếng vang của một huyền thoại. Chúng tôi chỉ được giới thiệu là 'Cụ” Z (Zét). Cũng có người gọi ác là "ông Cụ”, là "đồng chí già".

        Bác bước vào đình Hồng Thái, nhìn bao quát khung cảnh và các đồng chí xung quanh với đôi mắt ấm áp. Bác bắt đầu câu chuyện bằng những lời hỏi thăm ân cần về sức khoẻ của chúng tôi và hỏi anh Trần Tùng, Chủ tịch ủy ban Giải phóng lâm thời châu Hồng Thái về tình hình địa phương. Giây phút gặp gỡ đầu tiên gần gũi thân thiết mà vẫn tôn kính, tin tưởng.

        Từ khi Bác về Tân Trào, đồng chí Lý (tức Võ Sĩ Cao - Nguyễn Cao) được phân công trực tiếp bảo vệ Bác. Sau đồng chí được Bác đặt tên là Kháng (Hoàng Văn Kháng). Đồng chí đã thực hiện nhiệm vụ hết sức chu đáo, tận tình; không chỉ bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Bác mà còn lo từng bữa cơm, giấc ngủ cho Bác.

        Lúc mới về, Bác ở xóm Tân Lập (Kim Lung - Tân Trào), trong gia đình ông Nguyễn Tiến Sự, chủ nhiệm Việt Minh xã ít ngày sau, Bác ra ở trong một cái lán trên núi Nà Lừa. Chính trong lán Nà Lừa lịch sử này, cuối tháng 7 năm 1945, trong lúc đang ốm thập tử nhất sinh, Bác đã nói một câu sắt đá: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập".

        Ngay sau khi Bác đến Tân Trào, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng từ dưới xuôi đã lên gặp Bác. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng đã lên đây từ trước. Đồng chí Hoàng ruốc Việt ở nước ngoài về cũng ở đây. Các đồng chí báo cáo tình hình mọi mặt với Bác và đề xuất một số chủ trương chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng. Nghe kết quả Hội nghị quân sự Bắc Kỳ và các chủ trương, nghị quyết khác của Thường vụ, Bác chỉ thị:

        Vùng giải phóng ở miền ngược đã bao gồm 6 tỉnh, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang; địa thế nối liền với nhau nên thành lập một khu căn cứ, lấy tên là Khu giải phóng, Hội nghị cán bộ Việt Minh đã ra nghị quyết thành lập Khu giải phóng vào ngày 4 tháng 6 năm 1945.

        Người tán thành thống nhất chỉ huy quân sự, sáp nhập Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân với Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân (việc này đã được thực hiện ở Định Biên, Thái Nguyên ngày 3 và 4 tháng 5 năm 1945).

        Hội nghị cán bộ toàn khu Nguyễn Huệ đã được triệu tập để thống nhất lãnh đạo và triển khai công tác. Hội nghị này đã được triệu tập ngày 4 tháng 6 năm 1945, quyết định củng cố và mở rộng Khu ủy Nguyễn Huệ, tôi vẫn được cử làm Bí thư Khu ủy.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:55:03 AM

        Từ khi Bác và Trung ương về, Tân Trào đã trở thành trung tâm của Khu giải phóng, trái tim và khối óc cách mạng của cả nước. Từ Tân Trào, những chủ trương, chỉ thị của Bác, của Đảng nhằm đẩy mạnh việc chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã toả đi khắp các miền trong nước. Khu giải phóng càng ngày càng có tiếng vang khắp nước. Cán bộ từ nhiều nơi trong nước và ngoài nước đổ về Tân Trào làm việc ngày càng đông, trong đó có các anh Đặng Việt Châu, Hoàng Hữu Nam, Lê Giản... Một nơi, với câu nói cửa miệng "Nước Thanh La, ma Kim Trận" đã trở thành Đại bản doanh của cách mạng.

        Bác vẫn giữ mối liên lạc chặt chẽ (bằng vô tuyến điện) với cơ quan chiến lược Đồng Minh ở Hoa Nam và tháng 7 năm 1945, Bác đã tiếp đại diện Đồng Minh nhảy dù xuống Tân Trào (trên sân bay nhỏ Lũng Cò mà Bác đã chuẩn bị trước) để bàn kế hoạch chống Nhật. Đó là thiếu tá Thomas, đội trưởng đội "Con nai" (mật danh của nhóm Đồng Minh năm người). Tôi được mời dự một buổi Bác và đồng chí Võ Nguyên Giáp tiếp những người bạn đồng minh, trong căn nhà bằng tranh tre nứa lá khá đẹp, kiến trúc phù hợp với lối sống của người phương Tây. Tiệc có rượu, bia, thịt bê thui và cả cá vữa bắt dưới suối lên đem nướng. Bác tiếp khách thoải mái, chủ động gây được không khí chan hòa cởi mở.

        Khu giải phóng ngày càng lớn mạnh. Mười chính sách lớn của Việt Minh được công bố và thực hiện, làm cho Khu giải phóng không ngừng được củng cố về mọi mặt. Trường Quân chính kháng Nhật được thành lập và đóng tại Khui Kịch, một bản của đồng bào Dao cũng thuộc vùng Tân Trào. Khoảng hạ tuần tháng 5 năm 1945 Bác nhận được báo cáo: Nhật huy động một lực lượng lớn sắp tiến công vào Tân Trào. Tôi có ý kiến đề nghị nên chuyển nơi ở của Bác vào sâu trong núi. Người nói: Địch không thể vào nơi đây nếu ta quyết tâm chiến đấu và biết tổ chức đánh chặn chúng lại và Người đã đúng.

        Mặt khác, chúng tôi cũng đã lo bảo vệ Tân Trào từ xa, vừa củng cố phát triển mở rộng Khu giải phóng vừa đẩy mạnh cao trào kháng Nhật. Đồng chí Nhị Quý chịu trách nhiệm hướng Đại Từ, đề phòng quân Nhật lên từ phía núi Tam Đảo. Đồng chí Lê Trung Đình hướng Định Hóa. Đồng chí Trần Thế Môn vùng dọc sông Lô (phía tả ngạn thuộc Sơn Dương, Yên Sơn và phía hữu ngạn thuộc Phù Ninh, Đoan Hùng (Phú Thọ).

        Nhiệm vụ chung của cán bộ Khu giải phóng là đẩy mạnh cao trào kháng Nhật; bảo vệ an toàn và mở rộng Khu giải phóng. Trở thành trung tâm cách mạng của cả nước, Khu giải phóng đồng thời cũng trở thành mục tiêu của giặc Nhật. Tháng 5 năm 1945, bằng chiến thuật du kích, ta đã đánh bại cuộc tiến công của Nhật từ Vĩnh Yên lên. Cuối tháng 5, ta chủ động chặn đánh đoàn thuyền của Nhật ở Bình Ca, thu nhiều muối, lương thực tiếp tế cho Khu giải phóng. Cũng vào thời gian đó, bọn Nhật đã tập trung 500 lính tấn công hòng xóa sổ vùng giải phóng. Dưới sự chỉ đạo của Khu ủy, chính quyền cách mạng, nhân dân đã thực hiện "vườn không nhà trống" bình tĩnh chờ địch. Cánh quân thứ nhất của Nhật từ Vĩnh Yên lên đánh chiếm đồn Thiện Kế. Tự vệ các xã thuộc châu Kháng Địch gồm các xã phía nam châu Sơn Dương đã phục kích, chiến đấu tiêu hao sinh lực địch, cản bước tiến quân ồ ạt của chúng. Sau khi chiếm được đồn Thiện Kế, quân Nhật tiến về Đăng Châu, bị ta phục kích ở dốc Đỏ tiêu diệt một số tên, sau đó quân ta rút vào rừng, tổ chức đánh du kích, Chặn đường tiếp tế của chúng. Cánh quân thứ hai xuất phát từ Tuyên Quang cũng bị chặn đánh quyết liệt từ Bình Ca đến châu Tự Do nên tối ngày 25 tháng 5 năm 1945 chúng mới tiến được về Đăng Châu. Sau khi gặp nhau ở Đăng Châu, quân Nhật định vượt qua làng Sảo (Hợp Thành), vào đến Bình Yên, Tân Trào thì bị quân dân ta chặn đánh, bọn chúng buộc phải rút quân về Đăng Châu.

        Ngày 27 tháng 5 năm 1945, quân Nhật lại hành quân theo đường Tú Thịnh tiến vào Thanh La, rồi từ đó đánh thẳng vào Tân Trào. Dưới sự lãnh đạo của Khu ủy Nguyễn Huệ, trung đội Giải phóng quân, do đồng chí Trần Thế Môn chỉ huy, đã bố trí phục kích tại đèo Chắn. Chờ địch đến gần mới bất ngờ nổ súng, ngay phút đầu đã tiêu diệt nhiều tên. Quân Nhật hỗn loạn, bắn loạn xạ rồi tìm đường rút chạy qua Trung Yên lên Thành Cóc. Ngày hôm sau, trên đường từ Thành Cóc ra sông Lô chúng lại bị đơn vị của các đồng chí Chu Phóng và Văn Bút chặn đánh. Quân Nhật phải rút chạy về Tuyên Quang, không hợp quân được Và cánh quân từ Định Hóa sang đã bị đơn vị đồng chí Phương Cương chặn đánh ở Phú Lương, buộc chúng phải rút về Thái Nguyên. Sau hơn mười ngày liên tục chiến đấu, quân dân Khu giải phóng đã đánh tan cuộc càn quét lớn nhất của quân Nhật vào thánh địa. Từ đó quân Nhật không dám tiến công vào Khu giải phóng nữa. Thanh thế cách mạng ngày càng lên cao, phong trào cách mạng nhanh chóng lan rộng sang các vùng lân cận.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:55:27 AM

        Để tiếp tục bảo vệ và mở rộng Khu giải phóng, đồng chí Trung Đình được phân công phụ trách một đơn vị giải phóng ở vùng ki-lô-mét 31 (ngã ba đường Thái Nguyên, Bắc Cạn, Chợ Chu) vùng Phố Ngũ, Khuôn Lùng. Đơn vị có nhiệm vụ củng cố, phát triển cơ sở cách mạng ở vùng này. Chặn đánh bọn Nhật nếu chúng dám vào vùng Định Hóa, Chợ Chu, từ đó mà tràn sang Tân Trào.

        Phía Đại Từ, đồng chí Nhị Quý phụ trách. Phong trào ở đây đã phát triển rộng, nhưng riêng huyện lỵ vẫn còn bị bọn Nhật kiểm soát. Tháng 6 năm 1945, đồng chí Trung Đình được điều về đây cùng đồng chí Nhị Quý củng cố, phát triển phong trào. Đồng chí Nhị Quý phụ trách chung còn đồng chí Trung Đình xuống phía nam Đại Từ để củng cố mở rộng phong trào. Do yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, Khu ủy yêu cầu Trung ương bổ sung cán bộ cho Đại Từ. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng đã giới thiệu bổ sung bốn cán bộ: đồng chí Ứng (Dy gầy), dân tộc Tày, ở nhà tù Sơn La về: đồng chí Mô (Lê Văn Mưu) ở Nghĩa Lộ ra; đồng chí Ngọc Lan bị Pháp quản chế ở Phù Liễn (Thái Nguyên) ra; đồng chí Hoài từ Côn Đảo về. Cả bốn đồng chí đều được phân công về các vùng ở phía nam Đại Từ, gần huyện lỵ. Lực lượng ở vùng này sau đó còn được bổ sung một số chiến sĩ giải phóng quân Trường Sơn, Thạch Sơn đã qua các lớp huấn luyện của Trường quân chỉnh ở Tân Trào. Do đó con đường liên lạc từ Tân Trào về xuôi và ngược lại từ dưới xuôi lên Tân Trào, Khu giải phóng được đảm bảo vững chắc. Các đại biểu lên Tân Trào dự Hội nghị toàn quốc của Đảng, Quốc dân đại hội Tân Trào, các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng xuôi ngược Tân Trào đều đi theo con đường này.

        Ở Tân Trào, Bác còn cho thành lập Nhà Cứu quốc (tiền thân của nhà văn hóa, câu lạc bộ ngày nay) - dự định các xã cũng sẽ làm như thế - để cán bộ và nhân dân sinh hoạt văn hóa, văn nghệ sau những giờ làm việc và tăng gia sản xuất. Một đời sống mới tươi vui, lành mạnh, sẵn sàng chiến đấu thực sự đã nảy sinh ở Khu giải phóng. Một xã hội Việt Nam mới thu nhỏ đã hình thành. Tân Trào trở nên có sức hút trí thức, văn nghệ sĩ và thanh mền anh tuấn từ bốn phương của đất nước. Việt Minh, Giải phóng quân, châu Tự Do, bến Bình Ca... đã gợi lên những cảm xúc cao đẹp trong mọi người dân Việt Nam.

        Ảnh hưởng của Giải phóng quân, của châu Tự Do tác động mạnh mẽ vào các tầng lớp nhân dân ở Hà Nội và trong cả nước. Nhóm du kích Tam Đảo của Thanh Sơn, Thạch Sơn, Tam Sơn, Ngân Sơn, Mai Sơn, Kim Sơn, Hồng Tâm... cũng góp phần vào ảnh hưởng này. Anh em đóng quân ở lán Than dưới chân núi Tam Đảo. Trước đây, anh Vũ Tuân từ Hoả Lò ra cũng về vùng này hoạt động. Đây là vùng đồng bào Dao có phong trào cách mạng khá; có trường hợp lý trưởng lại là cơ sở của Việt Minh, nên đặt vấn đề giải phóng Tam Đảo khá thuận lợi. Từ Ký Phú, Cát Nê, đồng chí Trung Đình đã xuống đây phối hợp với anh em du kích Thạch Sơn, lên tận Tam Đảo quan sát địa hình nơi Nhật đóng quân. Gặp viên quan chỉ huy đội "bảo an binh" tuyên truyền, giải thích chính sách Việt Minh. Viên quan cho biết ở Tam Đảo chỉ có một tiểu đội Nhật thuộc một trung đội "bảo an binh", y thoả thuận sẽ đưa trung đội bảo an binh phối hợp nếu quân ta đánh Tam Đảo. Biết chính xác tình hình, một kế hoạch đánh chiếm Tam Đảo chắc thắng đã được vạch ra.

        Trận đánh Tam Đảo đã diễn ra đúng kế hoạch, trung đội bảo an binh đã cùng quân ta phối hợp đánh bọn Nhật, thu nhiều chiến lợi phẩm, giải phóng một số tù, một số người Pháp (cả đàn bà, trẻ con) bị Nhật giam giữ tại Tam Đảo trong đó có giáo sư Mô-rít Béc-na và vợ là Y-von Béc-na trường Lít xê An-be Sa-rô của Pháp ở Hà Nội. Chiến thắng này đã góp phần mở rộng thêm Khu giải phóng.

        Sau Hội nghị Định Biên Thượng, đồng chí Hiến Mai nhận nhiệm vụ phụ trách hai huyện Hồng Thái, Hàm Yên (Tuyên Quang). Nhưng chưa kịp về địa phương này thì lại nhận nhiệm vụ làm phái viên của Tổng bộ Việt Minh, cùng đồng chí Vũ Phong đưa một đơn vị Võ trang tuyên truyền tiến xuống phía Nam, nên vẫn gọi là Đội Nam tiến, nhanh chóng mở hành lang nối liền Khu giải phóng Việt Bắc với chiến khu Hòa - Ninh - Thanh còn có tên là chiến khu Quang Trung), qua Phú Thọ, Sơn Tây, Hòa Bình chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa toàn quốc, mà thủ đô Hà Nội có tầm quan trọng đặc biệt.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:55:45 AM

        Từ Tân Trào, đoàn công tác này đã dần bắt mối gây cơ sở sang vùng Sóc Đăng, qua Yên Kiện, Chân Mộng, Đại Lục, Đào Giã, Thái Ninh, Hanh Cù, Chính Công, Thanh Ba, Hạ Hòa, Vũ Ẻn, vượt sông Hồng sang Mộ Xuân (huyện Yên Lập) rồi trở lại Cẩm Khê sát tới Phú Thọ; tạo thành một hành lang với nhiều cơ sở cách mạng. Đi tới đâu, đội Võ trang tuyên truyền Nam tiến đều tổ chức được các đoàn thể cứu quốc, các đội tự vệ; phân công một đồng chí ở lại để huấn luyện chính trị, quân sự cho quần chúng, các đoàn thể cứu quốc, các đội tự vệ và lãnh đạo quần chúng; tiếp tục bổ sung người cho đội.

        Khi đơn vị đến cách Phú Thọ 3 đến 4 ki-lô-mét thì nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa. Phối hợp với lực lượng cách mạng địa phương, đơn vị đã "thanh viện" cho quân khởi nghĩa, quân khởi nghĩa đã thu được 100 súng của bọn Nhật đóng ở đây. Sau ngày 23 tháng 8 năm 1945, đồng chí Hiến Mai lại được lệnh đưa đơn vị sang vùng Bình Xuyên (Vĩnh Yên) cùng phối hợp với đơn vị đồng chí Hoàng Sâm đánh bọn Quốc dân đảng phản động Đỗ Đình Đạo.

        Sau giải phóng Tam Đảo, đồng chí Trung Đình về Đồng Hỷ tham gia củng cố, phát triển phong trào ở đây và cùng các đồng chí ở Phổ Yên, Phú Bình phát triển phong trào ra Thịnh Đán, vùng giáp thị xã Thái Nguyên, chuẩn bị vào thị xã.

        Phía bắc Đại Từ, đồng chí Nhị Quý phụ trách cơ quan đóng ở xóm Đồng Măng, xa Văn Lãng, sát chân đèo qua núi Hồng, điểm án ngữ cửa ngõ vào Tân Trào từ phía Thái Nguyên. Quân Nhật đã ba lần đánh vào Đại Từ và cả ba lần chúng ũều bị Giải phóng quân và du kích chặn đánh, tiêu diệt, số còn lại phải rút chạy. Đó là các trận Vai Cầy, trận Hoàng Nông - La Bằng và trận xóm Đèo ở xã An Lạc. Sau các trận đó, giặc Nhật không dám vào chiến khu nữa.

        Ngày 12 tháng 8 năm 1945, đồng chí Nhị Quý được lệnh chuẩn bị đón đại quân từ Tân Trào sang để giải phóng thị xã Thái Nguyên, do đồng chí Võ Nguyên Giáp tổng chỉ huy.

        Như vậy là trước ngày có lệnh Tổng khởi nghĩa các con đường đưa quân cách mạng tiến vào giải phóng Tuyên Quang, Thái Nguyên đã sẵn sàng. Khu giải phóng ngày càng được mở rộng. Từ đây con đường về xuôi cũng đã được đánh thông. Tất cả chỉ còn chờ lệnh phát ra từ Tân Trào, từ "Đại bản doanh cách mạng". Chân trời phía đông đã ửng hồng. Một kỷ nguyên mới của dân tộc sắp bắt đầu.

        Thời gian ấy, tại Tân Trào đang diễn ra những sự kiện chính trị lớn, quyết định vận mệnh của toàn dân tộc ta. Ngày 13 tháng 8 năm 1945, tôi được triệu tập dự Hội nghị toàn quốc của Đảng, Hội nghị đã làm việc trong không khí hết sức khẩn trương, vì tình hình thế giới đang chuyển biến mau lẹ. Hội nghị quyết định phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Tổng Bí thư Trường Chinh được cử làm Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Hội nghị cũng bầu bổ sung một số ủy viên Trung ương Đảng. Tôi còn nhớ mãi vẻ mặt ân cần của đồng chí Hoàng Quốc Việt khi đưa cho tôi lá phiếu bầu.

        Hội nghị toàn quốc của Đảng vừa bế mạc thì ngay hôm sau, ngày 16 tháng 8 năm 1945, Đại hội quốc dân khai mạc ở đình Tân Trào. Đại hội quốc dân, tiền thân của Quốc hội ta ngày nay, đã thảo luận và nhất trí thông qua chủ trương của Việt Minh và cử ra ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức Chính phủ lâm thời do cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

        Bác xuất hiện với cái tên Hồ Chí Minh ở Tân Trào từ ngày ấy. Ngày 17 tháng 8 năm 1945, trước đình Tân Trào, đứng trên Hòn Đá Thề, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời thề kiên quyết lãnh đạo nhân dân chiến đấu chống quân thù giành lại độc lập cho Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suốt đời phấn đấu cho dân, cho nước.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là “Anh hùng giải phóng dân tộc” và "Nhà văn hóa kiệt xuất" của Việt Nam mà còn là "hiện thân những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định diện mạo văn hóa của mình và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau” như hội đồng UNESCO đã nhất trí đánh giá...


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:56:41 AM

NHỮNG NĂM THÁNG HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG Ở THÁI NGUYÊN (BẮC THÁI)

LÊ TRUNG ĐÌNH (Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp)       

        Sáng ngày 11 tháng 10 năm 1944, chúng tôi 12 đồng chí ở nhà tù Chợ Chu, Thái Nguyên đã vượt ngục. Trong số 12 đồng chí có các đồng chí Song Hào, Nhị Quý, Trần Thế Môn, Lê Hiến Mai, Lê Trung Đình... Đồng chí Song Hào, bí thư chi bộ nhà tù là người tổ chức và phụ trách việc vượt ngục. Đồng chí Dục Tôn - cán bộ của Xứ ủy và đồng chí Lộc Văn Tư là cán bộ địa phương. Cả hai đồng chí được Xứ ủy giao nhiệm vụ đón chúng tôi ở một địa điểm đã hẹn trước khu rừng Phúc Sinh để đưa chúng tôi về tập kết ở xã Văn Lãng huyện Đại Từ, Thái Nguyên. Địa điểm tập kết cuối cùng là nhà cụ Bảo Loan xã Na Mao để chờ đại diện Xứ ủy đến giao công tác. Trên đường đi, có một số đã được phân công rải ra các vùng lân cận thuộc tỉnh Tuyên Quang. Đoàn chỉ còn lại một số đồng chí như Song Hào, Nhị Quý, Lê Trung Đình... Cán bộ địa phương có các đồng chí Trung Lập, Tân Hưng tổ chức đưa đón và giúp đỡ chúng tôi.

        Tôi và một số được phân công ở ngay Đại Từ. Tôi về thôn La Phát thuộc xã Khôi Kỳ tổng Đội Cấn1 (Mật danh khi đó) (gần thị trấn Hùng Sơn); anh Nhị Quý về xã La bằng gần chân núi Tam Đảo). Cộng tác với chúng tôi có các anh Nhất Quý, Phúc Quyền... ở La Bằng, anh Luyện ở La Phát, Khôi Kỳ, và một số đồng chí khác... là đội viên du kích Tràng Xá, Đình Cả, Vũ Nhai.

        Anh Song Hào là người phụ trách chung; chỉ đạo phân khu B ở tạm nhà cụ Sàng xã Văn Lãng để tiện việc chỉ đạo chung. Tôi đến thôn La Phát ở nhà ông Đắc, một quần chúng người Sán Chỉ được một thời gian... Bọn tổng đoàn, lý trưởng lùng sục rất gắt gao... Tôi trở vào La Bằng ở nhà cụ bà Đại Quyết, có nhiệm vụ xây dựng cơ sở ở vùng này cùng anh Nhị Quý, nhưng cũng không được bao lâu lại về xã Văn Minh nhà cụ Sàng (chỗ anh Song Hào) gần đèo Khế để hoạt động quanh vùng đó và hướng ra Phú Minh củng cố vệt từ Văn lãng qua Hoàng Nông, La Bằng xuống đồn điền Yên Rã, để thông xuống Ký Phú, Cát Nê... (vệt chân núi Tam Đảo).

        Khoảng tháng giêng 1945 tôi được điều sang châu Sơn Dương đến thôn Thượng xã Thanh La và Ao Bục, một bản đồng bào Dao thuộc xã Thanh La gần Kim Quan Hạ, xã Khui Kịch nhà lý Hương (Tân Trào)... Anh Song Hào thời gian đó cũng về Tuyên Quang lấy Khởi Phát làm địa điểm xây dựng cơ quan phân khu B. Cơ quan phân khu B thuộc chiến khu II, lúc đó có cả các đồng chí Trần Thế Môn và Lê Hiến Mai. Tết năm ấy (Ất Dậu) 1945, sau năm cái Tết ở trong tù, tôi về cơ quan phân khu ăn tết (thịt hươu và chuối xanh) với các đồng chí Song Hào, Trần Thế Môn và Lê Hiến Mai, một cái Tết tự do, tình nghĩa. Sáng mùng hai Tết, tôi trở lại Ao Bục cùng với bà con dân bản vui một cái Tết "Tình dân nghĩa Đảng".

        Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, tình hình rất khó khăn, khẩn trương, có chuyển biến lớn... Theo quyết định của ban chỉ đạo phân khu B, một số chúng tôi đang công tác ở gần đó đều tập trung lại, đánh giá tình hình để có hành động kịp thời, trước hết là tước vũ khí bọn lính dõng, phục kích bọn lính lê dương ở Lũng Cò và những vùng chung quanh trại Nhật từ phía Thái Nguyên, Tuyên Quang qua Sơn Dương để ra biên giới. Sau đó tất cả chúng tôi và một số anh em dân quân du kích, tổ chức thành một đơn vị Cứu quốc quân có trang bị đầy đủ vũ khí: tiểu liên, súng trường gióp 5, gióp 3, khai hậu súng kíp và lựu đạn...

        Đại bộ phận tiến thẳng ra giải phóng châu Sơn Dương. Tôi và anh Chu Nhữ được phân công ở lại cùng với một số cán bộ địa phương tích cực công tác như đồng chí Bút Ngọc ở xã Thanh La và đồng chí Đao, cán bộ dân tộc Dao, sau làm Phó chủ tịch huyện Sơn Dương; đồng chí Trần Thủ Đô, nguyên là cán bộ tuyên truyền Cứu quốc quân châu Hồng Thái, sau làm Phó chủ tịch ủy ban hành chính châu Yên Sơn, Tuyên Quang, nay dang nghỉ hưu ở xã Trung Sơn huyện Yên Sơn, Tuyên Quang; đồng chí Lý Văn Quyết ở Tân Trào, Sơn Dương hiện nay ở xã Đông Thọ, hợp tác xã Hạ Sơn. Nhiệm vụ chủ yếu của chúng tôi là xây dựng, củng cố phát triển cơ sở ở khu vực Thanh La, Kim Quang... tiếp tục truy lùng bọn tàn binh Pháp (lính lê dương) còn lẩn trốn ở trong rừng, vận động nhân dân ủng hộ, giúp đỡ bộ đội, lương thực, thực phẩm cho Cứu quốc quân, xây dựng chính quyền xã, ủy ban cách mạng giải phóng trừng trị bọn việt gian thân Nhật; thu huỷ bỏ bằng sắc của chế độ cũ Pháp, Nhật và bọn tay sai...

        Sau khi giải phóng huyện Đăng Châu (Sơn Dương) anh Tạ Xuân Thu, tôi và anh Phương Cương được phân công sang giải phóng Chợ Chu, Định Hóa, Thái Nguyên. Hai anh Tạ Xuân Thu và Phương Cương tranh thủ đi trước, khi đơn vị đến Chợ Chu thì bọn lính bảo an và tên đồn trưởng đã chạy trốn về thị xã Thái Nguyên. Tri phủ Tinh ra hàng... Nhân dân thị trấn Chợ Chu và các xã lân cận như Làng Mò, Phúc Sinh, Đồng Quầng rất phấn khởi vui mừng ra đón Cứu quốc quân "Bộ đội Việt Minh", giúp đỡ ủng hộ lương thực, thực phẩm... đặc biệt, bà con buôn bán ở thị trấn Chợ Chu có quan hệ với nhà tù, trước nhất là một số anh em viên chức có cảm tình với cách mạng với những kỷ niệm như cái Tết Giáp Thân 1944. Một đêm văn nghệ không thể quên do chính anh em tù chính trì Chợ Chu tự biên tự diễn. Sau khi tri phủ Tinh ra hàng, Định Hóa hoàn toàn giải phóng. Thế là sau châu Sơn Dương, Định Hóa đã được giải phóng.

        Anh Tạ Xuân Thu chỉ huy đội Cứu quốc quân tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ mới. Tôi và anh Phương Cương ở lại Định Hóa cùng với anh Vũ Hưng và một số cán bộ địa phương và anh Thượng tổ chức một cuộc mít tinh lớn hàng ngàn người tham dự. Đại diện Việt Minh tuyên bố chính quyền tay sai Nhật - Pháp đã đầu hàng cách mạng, từ nay chính quyền thuộc về nhân dân các dân tộc trong huyện. Đại diện Việt Minh còn giới thiệu chính sách và điều lệ Việt Minh; những nhiệm vụ trước mắt phải làm như. cảnh giác đề phòng bọn Nhật từ thị xã có thể đánh lên Định Hoá; vận động nhân dân tăng gia sản xuất để chống đói, đi học bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ, giúp đỡ bộ đội; xây dựng chính quyền cách mạng ở các xã, tổ chức dân quân tự vệ du kích chiến đấu, tịch thu vũ khí của địch ở các đồn điền. Chính quyền cách mạng chia thóc cho tá điền và nhân dân xã Đồng Quầng, sau đó tiếp tục thi hành chính sách giảm tô giảm tức trong những năm 1945 và năm 1950...

        Lúc đó vấn đề chia ruộng đất cho tá điền tạm gác lại theo tinh thần chính sách của mặt trận; tạm quản chế tri phủ Tỉnh ở gần đèo So, nơi cơ sở quần chúng rất tốt để chờ xin chỉ thị cấp trên. Cùng trong thời gian này, chính quyền nhân dân các dân tộc ở huyện ra mắt quần chúng. Đồng chí Ma Đình Tương làm Chủ tịch ủy ban lâm thời Định Hoá; tiếp đó ở hầu hết các xã đều được thành lập chính quyền, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời, tổ chức dân quân tự vệ. Một số cán bộ cốt cán ở địa phương như đồng chí Vũ Hùng ở Quang Vuông, đồng chí Mộc Văn Tiến, Bí thư xã Minh Thuật và các đồng chí Nguyễn Văn Sạch, Nguyễn Văn Nhậm... đều tham gia công tác Việt Minh rất tích cực trong những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, xây dựng chính quyền và các đoàn thể trong huyện.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:57:03 AM

        Gặp giải phóng quân Nam tiến

        Ngày 1 tháng 5 năm 1945, trên đường đi công tác về phía Chợ Đồn tỉnh Bắc Cạn, tôi gặp bộ đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Đàm Quang Trung chỉ huy đang từ Cao Bằng xuống Tân Trào, Sơn Dương. Tôi và một tiểu đội cùng đi có dự cuộc mít tinh kỷ niệm ngày 1 tháng 5 do Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tổ chức ở Chợ Đồn... Khi về đến Chợ Chu, đồng chí Võ Nguyên Giáp sang Kim Quang Thượng (Tân Trào) đại bộ phận Giải phóng quân đóng lại Định Hóa, riêng đại đội Vị đóng ở Quán Vuông làm nhiệm vụ bảo vệ. Đồng chí Võ Nguyên Giáp về Tân Trào gặp đồng chí Song Hào; để bàn tìm địa điểm xây dựng căn cứ. Chúng tôi đã chọn vùng Tân Trào để đón Bác Hồ về. Đồng chí Võ Nguyên Giáp viết trong hồi ký của mình: "Tôi trở về Kim Quan Thượng bàn với anh Song Hào; chúng tôi nhận thấy nên chọn vùng Tân Trào là một vùng rừng núi hiểm trở giữa Tuyên Quang và Thái Nguyên, xa đường cái lớn, từ ngày các anh Song Hào, Tạ Xuân Thu, Lê Trung Đình vượt ngục Chợ Chu ra xây dựng cơ sở thành lập chính quyền cách mạng, nhân dân và cơ sở vùng này rất tốt".

        Một hôm tôi cùng đồng chí Vũ Hưng và một số cán bộ chủ chốt ở địa phương được quân du kích ngoài trạm gác về báo cáo bắt một người rất khả nghi khám người không có giấy tờ gì... Người này xin gặp đồng chí Đội Đình (nhân dân Tân Trào, Tuyên Quang và Định Hóa, Thái Nguyên thường gọi tôi là Đội Đình vì khi đi công tác xuống cơ sở tôi thường mang theo một tiểu đội dân quân du kích). Khi tôi ra trạm gác mới biết người bị bắt không phải là việt gian mà là đồng chí Tịu Con, người cùng ở tù với chúng tôi ở Chợ Chu. Tôi cởi trói cho đồng chí ấy và đưa về cơ quan huyện mời ăn một bữa cơm thanh đạm nhưng chứa chan tình cảm bạn tù lâu ngày gặp nhau. Tịu Con suýt nữa chết oan chỉ vì tội không có giấy tờ gì mà dám tự tiện đột nhập vào khu căn cứ địa giải phóng. Sau vài ngày nghỉ ngơi, tôi bàn với anh tổ chức một trung đội dân quân du kích có đủ vũ khí do anh chỉ huy về Phú Lương hoạt động; nhiệm vụ dân quân tự vệ chiến đấu, đơn vị vũ trang của anh hoạt động như tính chất một đơn vị vũ trang tuyên truyền. Lúc này đồn Phấn Mễ ở Phú Lương vẫn có một đơn vị quân Nhật đóng, một trong những điểm chốt ở đường số 3 để bảo vệ mỏ than Phấn Mễ, anh cần tạo điều kiện gấp khi có thời cơ thì diệt đồn Phấn Mễ, giải phóng Phú Lương.

        Còn tôi cũng đưa một tiểu đội ra vùng ki-lô-mét 31 đường số 3. Phố Ngữ, Khuôn Lồng để phát triển cơ sở, xây dựng chính quyền,tổ chức dân quân du kích... bố trí phục kích bọn Nhật trên đường từ Bắc Cạn về Thái Nguyên và ngược lại; phá đường ngả cây, cắt điện thoại để đề phòng việc Nhật thọc vào Chợ Chu, Định Hóa.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:57:21 AM

        Về Đại Từ cuối tháng 4 năm 1945

        Trong khi đang làm nhiệm vụ tôi nhận được chỉ thị cấp trên từ Khu giải phóng "phải về ngay Đại Từ (sau Hội nghị quân sự Bắc Kỳ) cùng anh Nhị Quý củng cố và phát triển phong trào quần chúng...”. Ở đây các vùng nông thôn rộng lớn đã được giải phóng. Nhưng ở huyện lỵ Đại Từ, bọn Nhật và tay sai vẫn còn kiểm soát, công việc rất khẩn trương (thời gian tôi phụ trách Định Hóa từ tháng 3 năm 1945 đến cuối tháng 4 năm 1945, lúc đầu có cả anh Phương Cương, anh Thượng, phụ trách quân sự).

        Về các xã phía nam huyện Đại Từ cuối tháng 4 năm 1945

        … "Về phía Ký Phú, Cát Nê, Quân Chu lần đầu tiên tôi đến vào cuối tháng 4 năm 1945 thì ở đó các anh Trường Sơn, Hùng Sơn, Bảo Sơn, Địch Sơn bị Nhật khủng bố phải rút từ Hùng Sơn về Cát Nê hợp lực với đơn vị của các anh Thạch Sơn, Thanh Sơn, Tam Sơn, Ngân Sơn, Kim Sơn, Thái Sơn, Hồng Tâm, Mai Sơn... đang cùng với một số thanh niên người địa phương và thanh niên từ xuôi lên Tam Đảo bị Nhật khủng bố cũng chạy xuống Quân Chu (Lán Than)1 (Lán Than: là nơi có lò đốt than củi, thuộc làng Quân Chu. Đội du kích Quân Chu, Tam Đảo lập căn cứ và trú quân ở đó). Các anh đã tổ chức và hình thành một đơn vị tự vệ chiến đấu và đề nghị đặt tên là đội Cứu quốc quân. Tinh thần chiến đấu của các anh rất cao, chịu đựng gian khổ để đối phó với bọn Nhật từ Đại Từ tiến công vào và từ Tam Đảo xuống Quân Chu. Theo chỉ thị của cấp trên, tôi có nhiệm vụ phải xuống đó giúp các anh tổ chức chỉ đạo phát triển phong trào từ Quân Chu xuống vùng Phúc Thuận, Trung Năng, Đồng Muốn và sang giúp Đồng Hỷ, nhằm bảo ve đường giao thông từ miền xuôi lên khu căn cứ và căn cứ Tân Trào về Trung ương; đồng thời giao nhiệm vụ cho nhóm anh Thạch Sơn nắm tình hình bọn Nhật ở Tam Đảo rồi trở về cơ quan huyện... Sau khi nhận được chỉ thị cấp trên, tôi tổ chức một tiểu đội phát triển qua đường Quảng Nạp, Phú Minh rồi về ngay các xã Văn Minh, Cao Vân, nơi cơ quan lãnh đạo huyện ở đó. Tôi làm việc trao đổi tình hình với anh Nhị Quý. Anh Nhị Quý ở lại trụ sở của huyện chỉ đạo củng cố phong trào chung của huyện. (Trong khi công tác ở cơ quan huyện được tin ta phát hiện một tên tay sai của Cung Đình Vận đang trà trộn ở đây, tôi đề nghị cho xử lý ngay). Ở huyện Đại Từ, vẫn còn một đơn vị Nhật và tri phủ Đường ở đó.

        Sau khi làm việc với anh Nhị Quý, tôi trở lại cơ sở; đến các xã La Bằng, Hoàng Nông, La Phát nơi tôi đã hoạt động, rồi ra bản Ngoại dốc Điệp để gặp tri phủ Đường do y đề nghị gặp lãnh đạo Việt Minh qua cơ sở của ta. Khi gặp tôi thái độ y rất sợ hãi và mong Việt Minh hiểu bọn Nhật còn ở huyện lỵ nên y không thể đi theo Việt Minh được...

        Sau khi giải thích chính sách Việt Minh, tôi còn cảnh cáo và răn đe y không được đưa Nhật vào vùng giải phóng khủng bố, càn quét gây khó khăn cho nhân dân trong huyện. Khi gặp tri phủ Đường có hai quần chúng của ta cùng đi với y là Thừa Hỷ và Ký Tọa (sau giải phóng Thái Nguyên các anh đều trở thành cán bộ tốt của ta. Thừa Hỷ làm thẩm phán tòa án tỉnh Thái Nguyên và sau này là một trong hai bồi thẩm xử án Cung Đình Vận ở thị xã Thái Nguyên). Gặp tri phủ Đường xong, tôi lại xuống thẳng Cát Nê và đi tiếp xuống Quân Chu, Lán Than để gặp đơn vị anh Thạch Sơn... Lần này tôi còn gặp cả anh Chuẩn (tức Vũ Tuân) từ Vĩnh Yên đến làm chính trị viên của đơn vị và chị Châu, cán bộ của Xứ ủy trên đường lên căn cứ Tân Trào nhận nhiệm vụ bị tắc đường cũng tạm dừng ở đây. Sau khi các đồng chí báo cáo tình hình bọn Nhật ở Tam Đảo tình hình quần chúng thị trấn Tam Đảo, các xã lân cận Quân Chu và Đồng Muốn, anh Thạch Sơn đưa tôi lên Tam Đảo quan sát tình hình bọn Nhật ở đó. Tôi và anh Thạch Sơn gặp tên Quản bảo an binh. Theo y, ở Tam Đảo chỉ có một tiểu đội Nhật đóng giữ còn lại là lính bảo an có khoảng một trung đội. Nếu Việt Minh đánh Tam Đảo thì tất cả anh em bảo an binh sẽ theo Việt Minh. Nhân dân ở đây đã theo Việt Minh. Khu vực này còn có một số kiều dân Pháp. Một số dân làm phục vụ cho các gia đình Pháp kiều. Xa hơn nữa là làng "An Nam" ở Tam Đảo.

        Sau khi lên Tam Đảo, tôi xuống Lán Than nơi đội du kích Thạch Sơn đóng. Các anh đề nghị đặt tên chính thức của đội và yêu cầu trên cho đánh Nhật ở Tam Đảo vì tình hình rất khẩn trương, anh em binh lính bảo an và nhân dân yêu cầu Việt Minh sớm giải phóng Tam Đảo. Tôi nhất trí có thể đánh được vì chúng chỉ có ít quân, nhưng phải chờ về báo cáo xin chỉ thị cấp trên, khi đánh phải có kế hoạch đối phó với việc chúng có thể từ Vĩnh Yên đánh lên, cũng cần phải có kế hoạch tổ chức cho dân thị trấn tạm sơ tán vào rừng. Sau đó, tôi giao nhiệm vụ cho các anh: tích cực xây dựng và phát triển cơ sở tuyên truyền chính sách Việt minh, có kế hoạch đề phòng bọn Nhật từ thị trấn Đại Từ đưa quân vào khủng bố quần chúng và phải trừng trị bọn việt gian thân Nhật, bọn Đồng minh giả... bảo vệ, giữ vững dường liên lạc từ xuôi lên và ngược lại. Sau đó tôi trở lên Ký Phú. Khi đến khu đình Ký Phú, tôi nhớ lại trong chuyến đi công tác lần trước, khi tôi đang nói chuyện với anh em dân quân du kích thì có tin bọn thật ở huyện lỵ Đại Từ đang từ phía Lục Ba tiến vào. xười phút sau, có hai tên Võ quan Nhật và một tên việt gian, một quần chúng dẫn chúng đi thẳng đến đình Ký Phú xin gặp đại diện Việt Minh. Tôi trực tiếp gặp và một số đồng chí thuộc đơn vị cùng đi như: Thạch Sơn, Trường Sơn, Ngân Sơn, Bảo Sơn, Địch Sơn và Tam Sơn... Khi gặp chúng tôi, bọn Nhật ba hoa... nào là Việt Nam đã được độc lập cùng với Nhật hợp tác để đánh Pháp, chúng nêu thuyết “Đại Đông Á", da vàng với da vàng không giết nhau...

        Nhưng mục đích chủ yếu của chúng là mượn đường qua đèo Khế (Tuyên Quang). Tôi chỉ thị cho anh em dân quân du kích giữ số này lại khai thác thêm tình hình Nhật ở Thái Nguyên, Đại Từ để báo cáo lên cấp trên quyết định.

        Khi về cơ quan lãnh dạo huyện được tin thị trấn Tam Đảo đã được giải phóng, tôi trao đổi ý kiến với anh Nhị Quý cử anh Mô xuống phía Quân Chu, Cát Nê, Ký Phú. Triệu Phú Nghiêm, lý trưởng và cả xã Quân Chu đều theo Việt minh; ở Cát Nê, Ba Gò có các anh Đông Sơn, Thái Sơn cán bộ cơ sở và nhân dân xã này cũng đều theo Việt minh. Nói chung nhân dân vùng này rất tốt, đã tích cực tham gia và ủng hộ Việt Minh, giúp đơ tự vệ du kích.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:58:45 AM
         
       Về Đồng Hỷ - tháng 7 năm 1945

        Về đến Đại Từ được ít ngày, tôi nhận được chỉ thị của cấp trên phải về gấp Đồng Hỷ đến xã Bình Định thuộc Tân Cương gặp chị Tâm để cùng chị củng cố và phát triển phong trào vì ở đây gần thị xã Thái Nguyên. Tình hình lúc này rất khẩn trương (khoảng tháng 7 năm 1945). Chúng tôi cần vận động nhân dân tích cực chống thuế, hoãn thuế, phá kho thóc ở đồn điền, chia cho tá điền để cứu đói cho nhân dân, liên hệ với Phổ Yên, Phú Lương, Phú Bình và phát triển ra Thịnh Đán; vào thị xã Thái Nguyên để nắm tình hình Nhật, tìm hiểu một số quần chúng tốt để đưa lên phục vụ ở chiến khu liên hệ với phong trào ở Võ Nhai để chuẩn bị thành lập ủy ban tỉnh lâm thời đảm bảo đường giao thông từ xuôi lên khu căn cứ giải phóng và ngược lại.

        Sau khi đến Bình Định tôi gặp chị Tâm ở nhà cụ Thân. Chúng tôi đã bàn bạc trao đổi ý kiến về công tác lớn cần phải làm. Chị Tâm cho đồng chí liên lạc đưa tôi về gấp xã Tiên Phù (Phổ Yên) gặp đồng chí Vũ Thị Ngọc (tức Vũ Thị San, cán bộ của Xứ ủy ở nhà cụ Hải Lóng - cơ sở 2 của Trung ương) và đồng chí Quang Huy, người phụ trách huyện Phổ Yên. Tiếp đó, đồng chí Vũ Thị Ngọc đưa tôi sang Kha Sơn Hạ, Phú Bình, đến một số cơ sở cũ của hai huyện Phổ Yên và Phú Bình. Nơi đây là những cơ sở thuộc phạm vi an toàn khu của Trung ương có những đồng chí cán bộ cốt cán địa phương như đồng chí Hải Long, Nguyễn Thị Dần, Mạnh Hùng... (Phổ Yên) các đồng chí Sứ, Nhật Cao, Sơn, Thăng, Phương... và một số chị em phụ nữ ở Phú Bình. Sau đó tôi lại trở về Bình Định Tân Cương qua Mỏ Chè, Tân Quang, Đinh Năng và Bá Vân...

        Tháng 8 năm 1945, tình hình rất khẩn trương... Không khí những ngày tiền khởi nghĩa tháng Tám 1945 vô cùng khẩn trương, tưởng chừng như một ngày bằng hai mươi năm. Trung ương chỉ thị phải hành động gấp để chuẩn bị khởi nghĩa từng phần ở những nơi có điều kiện. Hầu hết các vùng nông thôn ở Thái Nguyên ta đã kiểm soát, trừ huyện lỵ Phú Bình, thị xã Thái Nguyên, thị trấn Đại Từ, Phấn Mễ - nơi còn Nhật và chính quyền tay sai chiếm đóng. Sau ngày 15 tháng 8 năm 1945, Hội nghị Trung ương toàn quốc họp ở Tân Trào đã cử ra Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc, Trung ương cử đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trần Đăng Ninh đưa bộ đội Việt Nam Giải phóng quân và đại đội Việt-mỹ do đồng chí Đàm Quang Trung chỉ huy về giải phóng thị xã Thái Nguyên, làm điểm để rút kinh nghiệm giải phóng đô thị trong phạm vi toàn quốc. Lúc đó ở Đồng Hỷ, tôi, đồng chí Tâm, một số các đồng chí chủ chốt như Ngọc Lan, Sinh, Hoài và đồng chí Tẩy (liên lạc của Xứ ủy) nhận được chỉ thị phải gấp rút chuẩn bị đầy đủ lượng thực, thực phẩm, rau xanh để đón Giải phóng quân về giải phóng thị xã Thái Nguyên. Các huyện thuộc phía Bắc Thái Nguyên như Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương cũng nhận được chỉ thị trực tiếp từ khu căn cứ giải phóng Tân Trào; các huyện về phía nam như Phổ Yên, Phú Bình và Võ Nhai cũng nhận được chỉ thị phải chuẩn bị gấp đưa một số lực lượng vũ trang địa phương về thị xã phối hợp với Giải phóng quân để giải phóng thị xã. Các địa phương chỉ để lại một số đủ bao vây bọn Nhật ở đó như Phú Bình, Phú Lương, Phấn Mễ, Đại Từ và đồn điền Gia Sàng.

        Tối 19 tháng 8 năm 1945, theo hướng định sẵn, các đơn vị Giải phóng quân đã tập kết ở Thịnh Đán cách thị xã 7 ki-lô-mét. Vào thời điểm này, tình hình càng khẩn trương hơn bao giờ hết. Quân Nhật đã đầu hàng Đồng Minh. Đặc biệt là tình hình thị xã Thái Nguyên, huyện Đồng Hỷ rất sôi động, kể cả các xã phụ cận. Nhân dân rất phấn khởi. Khí thế cách mạng lên rất cao. Hàng trăm thanh niên, đại diện đoàn thể phụ nữ, công nhân viên chức, nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ ở thị xã và hai huyện Đồng Hỷ, Tân Cương ra Thịnh Đán đón Giải phóng quân. Họ báo cáo tình hình Nhật và dân chúng trong thị xã cho BỘ chỉ huy Giải phóng quân, một số tập trung vẽ bản đồ thị xã cung cấp cho các đơn vị, bộ chỉ huy. Một số thanh niên được giao nhiệm vụ hướng dẫn các đơn vị áp sát trại Nhật, dinh tỉnh trưởng và trại bảo an binh.

        Trước 4 giờ sáng ngày 20 tháng 8 năm 1945, Bộ chỉ huy đưa tối hậu thư cho chỉ huy Nhật đóng ở tòa sứ cũ đòi chúng phải đầu hàng vô điều kiện và nộp đủ vũ khí... Anh Quý đen phiên dịch cho Nhật bị bắt dẫn đường cho người của ta đến trại Nhật đưa tối hậu thư cho chúng.

        Trước đó, tối 18 tháng 8 năm 1945, từ Võ Nhai, Đình Cả một đơn vị vũ trang tuyên truyền đột nhập vào Đồng Bẩm, tổ chức biểu tình, tuần hành sang thị xã, rải truyền đơn hô hào nhân dân ủng hộ và tham gia Việt Minh, đánh đổ chính quyền Nhật và tay sai. Hướng này có các đồng chí Hoàng Thế Thiện, Thái và đồng chí Vũ Lập.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 12:59:09 AM

        Đúng 5 giờ sáng ngày 20 tháng 8 năm 1945, các đơn vị Giải phóng quân đã áp sát trại Nhật ở tòa sứ, trại bảo an binh, trại lính ở Bến Tương, khống chế một số điểm lẻ của chúng còn trong thị xã; nhưng vẫn bảo đảm cho nhân dân đi lại bình thường trong thị xã. Riêng lực lượng bảo an binh, tỉnh trưởng Thái Nguyên và tri huyện Đồng Hỷ đã đầu hàng ngay từ giờ phút ta bắt đầu nổ súng" (Có báo viết một trung đội Giải phóng quân tiến công bắt cả tỉnh trưởng, tên chỉ huy bảo an binh và một thiếu úy Nhật (ban biên soạn) - xem bài: Trận đánh Nhật giải phóng thị xã Thái Nguyên trong Tổng khởi nghĩa). Cơ quan chỉ huy của Bộ tư lệnh Giải phóng quân đóng ở hai địa điểm: bộ phận đóng ở đình thị xã do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách, bộ phận đóng ở nhà điện do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách.

        Tôi ở đình thị xã trực tiếp giúp việc cho anh Văn. Anh Quý ở nhà điện trực tiếp giúp việc anh Ninh. Cùng sáng 20 tháng 8 năm 1945, trong khi bộ đội ta bao vây áp sát trại Nhật thì một đơn vị bộ đội địa phương Phú Bnh lên kết hợp với Giải phóng quân đã áp sát vào nhà diện. Chiều 20 tháng 8 năm 1945, trong khi các lực lượng đang bao vây quân Nhật, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức ở sân vận động thị xã. Đồng chí VõNguyên Giáp thay mặt Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc tuyên bố giải tán chính quyền cũ do Nhật để lại và thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Thái Nguyên, Uỷ ban nhân dân tuyên bố bắt đầu thi hành chính sách của Chính phủ lâm thời trong thị xã và trong phạm vi toàn tỉnh, giới thiệu Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Thái Nguyên do đồng chí Lê Trung Đình làm Chủ tịch.

        Trước đó, tối 19 tháng 8, Bộ chỉ huy Giải phóng quân triệu tập cuộc họp chung với cán bộ lãnh đạo địa phương để thống nhất lực lượng cùng "khởi nghĩa giải phóng thị xã Thái Nguyên. Ban Tỉnh ủy lâm thời Thái Nguyên cũng được thành lập gồm có các đồng chí Nhị Quý, Lê Trung Đình, Hoàn Thế Thiện, Thái, Trịnh Thị Tâm.

        Cuộc bao vây quân Nhật ở thị xã đã sang ngày thứ tư. Quân địch vẫn ngoan cố không chịu đầu hàng. Trong khi đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp có chỉ thị Trung ương phải về Hà Nội gấp. Bộ chỉ huy Giải phóng quân để lại một bộ phận cùng với lực lượng vũ trang địa phương làm nhiệm vụ tiếp tục bao vây Nhật ở thị xã, còn đại bộ phận Giải phóng quân phải về Hà Nội. Nhiệm vụ tiếp tục giải quyết bọn Nhật ở thị xã và một số điểm chúng còn chiếm giừ ở một số huyện lỵ và trục đường số 3 giao lại cho địa phương giải quyết. Về sự kiện này, đồng chí Võ Nguyên Giáp có ghi trong hồi ký của mình:

        "Chúng tôi không đợi được đến trận đánh Thái Nguyên kết thúc, trung tâm không còn ở Thái Nguyên nữa, thủ đô đã được giải phóng. Các anh Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Tuân đã từ Tân Trào đến Thái Nguyên bàn với chúng tôi nên về ngay Hà Nội, còn một bộ phận để lại bao vây quân Nhật ở thị xã Thái Nguyên”.

        Như vậy là nhiệm vụ bao vây Nhật và ép chúng đầu hàng, giải phóng thị xã giao lại cho Ban Tỉnh ủy, chính quyền tỉnh lâm thời lúc đó đảm nhiệm. Cũng trong thời gian này, tôi và trưởng ngân khố tỉnh Thái Nguyên đến báo cáo với đồng chí Phạm Văn Đồng về tình hình ngân khố Thái Nguyên (đồng chí Phạm Văn Đồng chuẩn bị phụ trách Bộ Tài chính).

        Sau này, Bác Hồ từ Tân Trào về Hà Nội có nghỉ lại một đêm ở thị xã Thái Nguyên. Các đồng chí Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên đến thăm sức khoẻ Bác. Bác hỏi han tình hình và căn dặn: "Phải nhanh chóng củng cố chính quyền tỉnh, huyện, xã... Trước mắt phải sẵn sàng đối phó bọn Tàu Tưởng, sắp đến bọn Pháp có thể quay lại Đông Dương..."

        Ngày 24 tháng 8 năm 1945, phái viên của Tổng bộ Việt Minh thông báo cho tỉnh: bọn Nhật ở miền Bắc đã đầu hàng và đã giao lại toàn bộ công việc hành chính cho Chính phủ lâm thời Việt Nam. Riêng Thái Nguyên, chúng yêu cầu Thái Nguyên là một điểm tập kết cho bọn Nhật đóng ở những nơi lẻ như Phú Bình, Đại Từ và bọn Nhật ở Bắc cạn, Hà Giang rút về tập kết ở thị xã rồi về Hà Nội. Chúng yêu cầu chính quyền địa phương tiếp tế lương thực, thực phẩm và thôi không bao vây, cho phép chúng được đi lại tự do trong phạm vi thị xã, cho một số đơn vị lẻ ở Thái nguyên cũng được về thị xã tập kết để chờ ngày về Hà Nội.

        Ngày 26 tháng 8, tên lính Nhật cuối cùng đã rút khỏi thị xã Thái Nguyên.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:00:32 AM

KHU GIẢI PHÓNG VIỆT BẮC TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

NHỊ QUÝ         

        Trong cao trào kháng Nhật, tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, Khu giải phóng có tiếng vang và ảnh hưởng rất lớn đối với cả nước. Nhớ lại việt thành lập Khu giải phóng cách đây 49 năm, những cốt cán và chiến sĩ, đồng bào khu giải phóng rất tự hào.

        Từ khi bị địch giam cầm ở các nhà tù Sơn La, Chợ Chu (1941 - 1944), chúng tôi đã học tập thấm nhuần nhận định của Trung ương và Bác Hồ về mâu thuẫn Nhật - Pháp: "Hai con hổ tranh nhau một miếng mồi thế nào chúng cũng cắn nhau”. Chuẩn bị đón thời cơ khi phát xít Nhật đánh đổ thực dân Pháp ở Đông Dương, chúng tôi đã nghiên cứu những bài học lịch sử của các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp ở nước ta như cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn..., kinh nghiệm quốc tế như Công xã Pa-ri, Cách mạng tháng Hai và tháng Mười Nga, Công xã Quảng Châu... Chúng tôi còn nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng căn cứ địa Chính phủ của Trung Quốc, nghiên cứu chiến thuật đánh du kích. Hàng ngày khi đi vào rừng lấy củi, lấy gỗ chúng tôi tranh thủ tập quân sự... Cuối năm 1942, đầu nam 1943, chúng tôi bị giam ở nhà tù Sơn La và cuối năm 1943 đầu năm 1944, địch chuyển chúng tôi về nhà tù Chợ Chu (Thái Nguyên).

        Những năm 1942 - 1944, Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ có chủ trương cho cán bộ, đảng viên ở các nhà tù của thực dân Pháp vượt ngục ra hoạt động cho Đảng. Đồng chí Hạ Bá Càng (Hoàng Quốc Việt) thay mặt Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ chỉ thị cho cán bộ nhà tù Chợ Chu chúng tôi lựa chọn đảng viên vượt ngục. Nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Đảng, chi ủy tù chính trị ở nhà tù Chợ Chu do đồng chí Song Hào làm bí thư đã tích cực chuẩn bị cho đảng viên vượt ngục bảo đảm thắng lợi. Ngoài việc chuẩn bị của chi ủy và từng đảng viên chuẩn bị rất chu đáo trong chi bộ nhà tù, lực lượng Cứu quốc quân và cơ sở của ta ở bên ngoài cũng lập kế hoạch lo đón, đưa và bảo vệ an toàn cho anh em về tới căn cứ.

        Không bao giờ chúng tôi quên được các đồng chí Dục Tôn, Hồng Hải, Tư Già... là những người đã trực tiếp thực hiện kế hoạch này. Mỗi đảng viên chúng tôi quyết xả thân vì nước, quyết hy sinh phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, tự mình rèn luyện, học tập, nghiên cứu toàn diện các mặt về lý luận, đường lối cách mạng, công tác mặt trận Việt Minh, công tác vận động xây dựng các đoàn thể cứu quốc, công tác xây dựng Đảng, công tác binh vận, công tác quân sự, cứu thương... Mỗi đảng viên vượt ngục phải có đủ sức khoẻ, tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng, trình độ lý luận, trình độ chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng.

        Chi bộ nhà tù Chợ Chu năm 1943 - 1944 có 15 đảng viên, 12 đảng viên được chọn vượt ngục, 3 đảng viên được ở lại tiếp tục làm nhiệm vụ của chi bộ nhà tù.

        Ngày 20 tháng 8 âm lịch (tức ngày 11 tháng 10 năm 1944), 12 đảng viên chúng tôi vượt ngục hoàn toàn thắng lợi, thậm chí cơ sở đảng trong đồn khố xanh và trạm liên lạc giữa nhà tù Chợ Chu với Xứ ủy cũng bảo đảm bí mật. Điểm chúng tôi tập kết nhận nhiệm vụ là bản Na Mao (gần Văn Lãng). Anh Chu Văn Tấn theo dõi chặt chẽ quá trình thực hiện kế hoạch này, sau đó phân công nhiệm vụ cho các đồng chí vượt ngục. Số đồng chí vượt ngục đã tăng thêm lực lượng cán bộ cho địa phương.

        Chánh sứ Thái Nguyên thông báo truy lùng chúng tôi khắp nơi. Thực dân Pháp huy động lực lượng các tỉnh Thái Nguyên. Tuyên Quang, Bắc Cạn lùng sục, canh gác, đón lõng tất cả các ngả đường nhưng vô hiệu, 12 người chúng tôi về căn cứ xã Yên Lãng an toàn tuyệt đối. Đồng chí Dục Tôn, cán bộ của Xứ ủy và đồng chí Lộc Văn Tư là cán bộ địa phương được Xứ ủy giao nhiệm vụ đón chúng tôi.

        Vùng căn cứ địa rộng lớn của cách mạng đã hình thành từ trước. Đến tháng 8 năm 1944, Xứ ủy Bắc Kỳ họp ở Hiệp Hòa bàn tách vùng căn cứ địa rộng lớn từ Võ Nhai sang Yên Sơn, Tuyên Quang, Định Hóa, Đại Từ... thành Phân khu A và Phân khu B.

        Sau đó ít ngày chúng tôi họp ở xóm Khuôn Nánh xã Yên Lãng sát chân núi Tam Đảo liền với núi Hồng ở huyện Đại Từ. Ở cuộc họp này, chúng tôi được nghe báo cáo tình hình mọi mặt trong chiến khu (lúc đó gọi là chiến khu Nguyễn Huệ và có tên nữa là Phân khu B) bao gồm một vùng rộng lớn từ sông Cầu ở Thái Nguyên qua núi Chúa, núi Tam Đảo, núi Hồng, sang sông Lô, sông Đáy, sông Gậm, Tuyên Quang, Hà Giang một phần Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên. Sau khi bàn một số công tác, chúng tôi được phân công mỗi người phục trách một vùng trong chiến khu, cùng đoàn kết công tác với các cán bộ từ phong trào du kích Võ Nhai, Tràng Xá, Bắc Sơn sang và các cán bộ dân tộc địa phương như Khánh Phương, Dục Tôn, Phương Cương, Hồng Hải, Nhất Quý, Hoàng Thượng... Tại cuộc họp này đồng chí Song Hào được cử làm Bí thư Khu ủy trực tiếp lãnh đạo Phân khu B (Chiến khu Nguyễn Huệ), anh Tân Hồng (Chu Văn Tấn) trực tiếp lãnh đạo Phân khu A từ bên kia sông Cầu sang Đồng Hỷ, Võ Nhai...


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:00:52 AM

        Tháng 12 năm 1944, đồng chí Song Hào chọn vùng Tân Trào huyện Sơn Dương làm trung tâm lãnh đạo Phân khu B và dời cơ quan Khu ủy từ nhà đồng chí Lý Thanh ở xã Yên Lãng (Đại Từ) sang Ao Bục huyện Sơn Dương. Từ Tân Trào chỉ đạo các địa phương trong Phân khu B rất thuận tiện. Đồng chí Song Hào đổi tên xâ Kim Long thành xã Tân Trào, đặt tên đình Hồng Thái, đình Tân Trào, từ đó những nơi này thành những địa danh lịch sử.

        Đầu tháng 3 năm 1945, cơ sở và phong trào cách mạng trong chiến khu đã được củng cố và phát triển khá mạnh, quần chúng cơ cực dưới hai ách thống trị của phát xít Nhật và thực dân Pháp sôi sục đòi khởi nghĩa, nhưng lãnh đạo quyết chờ thời cơ.

        Ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đảo chính lật đổ thực dân Pháp, thời cơ nghìn năm có một đã đến.

        Chớp thời cơ, lập tức chúng tôi tổ chức cho lực lượng vũ trang quần chúng cách mạng khởi nghĩa từng phần. Ngày 10 tháng 3 năm 1945 khởi nghĩa bắt đầu từ Tân Trào ta tước vũ khí lính dõng, thu vũ khí của tàn quân Pháp thua Nhật chạy qua đèo Khế, Sơn Dương... thu bằng, triện của hệ thống chính quyền tay sai thực dân Pháp từ xã lên tổng. Vũ khí thu được đến đâu trang bị ngay cho lực lượng tự vệ cứu quốc các xã sẵn sàng tập trung chiến đấu, sẵn sàng gia nhập quân đội cách mạng. Ngày 21 tháng 3 năm 1945 chúng tôi họp cán bộ chiến khu ở xóm Cầu Chầm, huyện Sơn Dương quyết định khởi nghĩa giải phóng các huyện thuộc Tu lên Quang, Thái Nguyên. Đây là quyết định rất kịp thời chính xác. Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng dưới sự chủ trì của đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư Đảng ra chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Ngày 14 tháng 3 năm 1945, dưới sự lãnh dạo của các đồng chí Song Hào. Tạ Xuân Thu và một số đồng chí trực tiếp chỉ huy, Giải phóng quân, tự vệ cứu quốc giải phóng huyện Sơn Dương thu toàn bộ vũ khí, tri châu và binh lính bỏ chạy hết.

        Sau Sơn Dương là một loạt các huyện được giải phóng: Định Hóa, Chiêm Hóa, Na Hang, Đại Từ... đến cuối tháng 3 năm 1945 cả một vùng rộng lớn ở Trung tâm chiến khu giải phóng và Giải phóng quân. Chính quyền cách mạng được thành lập từ xã lên huyện đi đôi với hệ thống Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể cứu quốc, tự vệ cứu quốc được củng cố và phát triển rộng khắp. Các dân tộc anh em đều có đại diện trong chính quyền, đoàn kết bình đẳng các dân tộc Cán bộ, chiến si các dân tộc coi nhau như ruột thịt, thắm đượm tình nghĩa đồng bào, đồng chí.

        Ngày 1 tháng 5 năm 1945, chúng tôi mỗi người lãnh đạo một đơn vị giải phóng quân kéo về Chợ Chu (huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên) họp mít tinh kỷ niệm ngày quốc tế lao động và chào mừng Hồng quân Liên Xô tiến vào Béc-lin - sào huyệt cuối cùng của phát xít Hít-le. Cả rừng cờ đỏ sao vàng và các biểu ngừ mọc lên trên sân vận động Chợ Chu. Đồng bào các dân tộc, cán bộ, chiến sĩ vô cùng phấn khởi nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp nói về ý nghĩa ngày 1 tháng 5, nói về thắng lợi của Hồng quân Liên Xô, về thất bại của phát xít Đức, ý, Nhật, về triển vọng thắng lợi của cách mạng Việt Nam và tình hình nhiệm vụ mới. Quần chúng hô vang các khẩu hiệu cách mạng và hàng ngũ chỉnh tề, khí thế cách mạng bừng bừng diễu hành quanh sân vận động.

        Hai ngày 3 và 4 tháng 5 năm 1945, chúng tôi tập trung về xã Định Biên, huyện Định Hóa để dự hội nghị cán bộ lần đầu tiên của Khu giải phóng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp chủ trì hội nghị. Dự hội nghị này còn có các đồng chí Song Hào Tân Hồng, Đàm Quang Trung, Hoàng Văn Thái... Hội nghị bàn nhiều mặt công tác Khu giải phóng nhằm dẩy mạnh cao trào kháng Nhật, tiến tới Tổng khởi nghĩa giải phóng cả nước, lật đổ chính quyền tay sai phát xít Nhật và chế độ thống trị của phát xít Nhật.

        Sau hội nghị cán bộ Khu giải phóng, đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Song Hào nhất trí chọn Tân Trào làm trung tâm Khu giải phóng để mời Bác Hồ từ Pác Bó (Cao Bàng) về đây chỉ đạo cách mạng cả nước. Vì Tân Trào ở vào vị thế dễ cơ động mọi hướng, thuận lợi về thông tin hên lạc, về hoạt động chỉ huy. Tân Trào là một thung lũng nằm giữa vùng núi trùng điệp, có hai dãy núi lớn là núi Hồng và núi Tam Đảo dài hàng chục ki-lô-mét, có sông Lô, có đường số 2 từ Hà Giang, Tuyên Quang về xuôi, có nhiều dường rất thuận tiện về Hà Nội và lên biên giới Việt - Trung. Địa thế Tân Trào rất lý trưởng về mặt chiến lược để làm trung tâm căn cứ địa cách mạng cả nước, đủ cả ba điều kiện nhân hòa, địa lợi, thiên thời.

        Tháng 5 năm 1945 đồng chí Võ Nguyên Giáp đón Bác Hồ từ Cao Bằng về Tân Trào. Đồng chí Song Hào dược báo trước đã bàn với đồng chí Chu Nhữ và một số đồng chí cốt cán tổ chức chuẩn bị đón Bác ở đình Hồng Thái rồi sang đình Tân Trào. Sau một thời gian ở tạm nhà cụ Tiến Sự, Bác chuyển sang ở lán Nà Lừa. Để giữ bí mật, Bác cho phép gọi Bác là Cụ Z (Dét), lúc đó ít người biết Bác là Cụ Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh. Bác về ở Tân Trào để chỉ đạo cách mạng cả nước. Đây là vinh dự nhất, là niềm phấn khởi vui mừng nhất của đồng bào các dán tộc, cán bộ, chiến sĩ Khu giải phóng chúng tôi, cũng là hạnh phúc cho toàn Đảng, toàn dân ta.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:01:10 AM

        Đồng chí Lý (tức Võ Sĩ Cao - Nguyễn Cao) là một đồng chí trong số 12 đảng viên chúng tôi vượt ngục ra xây dựng chiến khu và Khu giải phóng, được phân công trực tiếp bảo vệ Bác Hồ. Đồng chí Lý sau được Bác đặt tên là Kháng (Hoàng Văn Kháng). Suốt từ khi ở Tân Trào đến năm Bác mất năm 1969, đồng chí Kháng đã tận tụy làm tròn nhiệm vụ vẻ vang bảo vệ Bác. Khi đưa Bác đi thăm đâu, mặc dù bố trì bảo vệ Bác chu đáo rồi, nhưng đồng chí Kháng vẫn thức được suốt ba đêm liền để kiểm tra giám sát việc bảo vệ được an toàn tuyệt đối. Chúng tôi rất tự hào về tinh thần trách nhiệm của đồng chí mình.

        Bác về ở Tân Trào trong cao trào kháng Nhật, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tân Trào trở thành trung tâm căn cứ địa cách mạng cả nước. Vì vậy chúng tôi lo bảo vệ Tân Trào từ xa, vừa củng cố phát triển mở rộng Khu giải phóng, vừa đẩy mạnh cao trào kháng Nhật. Tôi chịu trách nhiệm hướng Đại Từ, vừa lãnh đạo toàn diện cao trào kháng Nhật, vừa tổ chức lực lượng bảo vệ Tân Trào chặn đánh quân Nhật lên từ núi Tam Đảo, núi Hồng. Đồng chí Lê Trung Đình phụ trách hướng Định Hóa, từ ki- lô mét 31 trở vào. Đồng chí Trần Thế Môn phụ trách vùng dọc sông Lô thuộc Sơn Dương, Yên Sơn, Đoan Hùng, Yên Bình... Tất cá các mũi tấn công của quân Nhật vào Tân Trào đều bị quân dân Khu giải phóng bẻ gãy từ xa. Tân Trào được bảo vệ an toàn tuyệt đối. Đơn vị du kích Tam Đảo với tên gọi trung đội Phạm Hồng Thái do đồng chí Thạch Sơn làm đội trưởng, đồng chí Vũ Tuân làm chính trị viên, hình thành do sự hợp nhất đội du kích Cao Sơn do đồng chí Trường Sơn làm đội trưởng và đội Cứu quốc quân do đồng chí Thạch Sơn làm đội trưởng, đã lập công xuất sắc diệt được đồn Nhật ở Tam Đảo, lôi kéo được toàn bộ trung đội bảo an binh, giải phóng được một số tù, cứu được một số người Pháp có cả trẻ em và phụ nữ bị Nhật giam giữ ở Tam Đảo, trong đó có vợ chồng giáo viên Mô-rít Béc-na và vợ là Y-vôn Béc-na (trường An-be Sa-rô ở Hà Nội). Chiến thắng Tam Đảo và các chiến thắng khác của lực lượng vũ trang cùng nhân dân Khu giải phóng đã tác động mạnh mẽ đối với Hà Nội và cả nước, làm nức lòng nhân dân cả nước.

        Lúc này, tình hình chuyển biến nhanh chóng. Ở châu Âu phát xít Đức, Ý đã phải đầu hàng Đồng Minh; ở châu Á, Hồng quân Liên Xô đã đánh tan đội quân Quan Đông mạnh nhất của phát xít Nhật ở Mãn Châu, phát xít Nhật sắp phải đầu hàng. Thời cơ nghìn năm có một cho toàn Đảng, toàn dân ta vùng lên giải phóng cả nước đã đến. Mọi công việc chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa rất khẩn trương.

        Ở Tân Trào ngoài việc gấp rút đào tạo cán bộ, liên tục mở các lớp quân chính kháng Nhật, Bác và Trung ương triệu tập Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng để bàn về tình hình nhiệm vụ cấp bách, bổ sung một số ủy viên Trung ương Đảng và quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước. Tiếp theo là Quốc dân Đại hội họp ở đình Tân Trào quyết định Tổng khởi nghĩa và bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Lệnh tổng khởi nghĩa phát ra từ Tân Trào do Bác kêu gọi. Các quân lệnh số 1, số 2 phát ra từ Tân Trào do đồng chí Võ Nguyên Giáp ký. Cả nước nhiệt liệt hưởng ứng Tổng khởi nghĩa. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hà Nội tổng khởi nghĩa thắng lợi. Sự kiện này có ý nghĩa quyết định đối với cách mạng cả nước. Chưa đầy một tháng đến cuối tháng 8 năm 1945, Cách mạng tháng Tám đã thắng lợi trong cả nước. Lực lượng vũ trang và nhân dân Tuyên Quang dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Song Hào đã khởi nghĩa giành thắng lợi vào sáng 21 tháng 8.

        Ở Thái Nguyên, đồng chí Võ Nguyên Giáp là thành viên của Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc, trực tiếp chỉ huy Việt Nam Giải phóng quân tiến công quân Nhật ở thị xã từ sáng 20 tháng 8 năm 1945. Chiều ngày 20 tháng 8 năm 1945, đông đảo nhân dân thị xã Thái Nguyên đã dự mít tinh nghe công bố thành lập chính quyền cách mạng trong toàn tỉnh do đồng chí Lê Trung Đình làm Chủ tịch.

        Trên đường về Hà Nội, đồng chí Trần Đăng Ninh bố trí Bác Hồ nghỉ lại thị xã Thái Nguyên một đêm. Đồng chí Nhị Quý, Bi thư Tỉnh ủy và đồng chí Trung Đình - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân lâm thời tỉnh Thái Nguyên trực tiếp đón Bác và được Bác căn dặn nhiệm vụ trước mắt và việc ứng phó với quân Tưởng Giới Thạch sắp từ biên giới Việt - Trung vào qua Thái Nguyên. Đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên đường về Hà Nội cũng qua Thái Nguyên.

        Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng bào, chiến sĩ, cán bộ Khu giải phóng chúng tôi đã có nhiều gắn bó với Bác Hồ, những kỷ niệm với Bác không bao giờ quên.

        Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp núp bóng quân đội Anh tiến công đánh chiếm Nam Bộ mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai.

        Với lòng mong muốn xây dựng đất nước trong hòa bình, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã tìm mọi phương cách ngăn chặn cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Khi thực dân Pháp mở rộng cuộc chiến tranh ra cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Liền sau đó, Bác, Trung ương và Chính phủ lại trở lại Việt Bắc, trở lại trung tâm Khu giải phóng khi xưa: Sơn Dương, Chiêm Hóa, Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương, chợ Đồn nay lại là ATK của Trung ương. Đồng bào các dân tộc anh em đã phát huy truyền thống cách mạng, một lòng một dạ kháng chiến, tuyệt đối tin tưởng Bác, kháng chiến đến thắng lợi.

        Uống nước nhớ nguồn, đồng bào các dân tộc đời đời nhớ ơn Bác. Bác Hồ là tấm gương sáng ngời cho các thế hệ con cháu Việt Nam noi theo. Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta, trong công việc hàng ngày của chúng ta, trong trái tim các thế hệ Việt Nam ta.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:02:10 AM

TRƯỜNG QUÂN CHÍNH KHÁNG NHẬT (Khóa I)

HỒNG KỲ         

        Sau khi tổ chức vượt ngục ra khỏi nhà tù Tuyên Quang chúng tôi trở về chiến khu Hoàng Hoa Thám (Chiêm Hóa) chiến đấu ở đại đội 10 Cứu quốc quân. Tiếp đó, một tiểu đội bảy người nhận lệnh về Khu giải phóng vào Trường học quân sự. Cầm tờ giấy giới thiệu nhỏ bằng bao diêm: "Đoàn Z đi khu Đ nhờ các địa phương giúp đỡ". Mỗi người vai đeo khẩu giúp 5 với một tút-se 30 viên đạn, không chăn màn, không quần áo dự trữ, không lương thực chỉ có một túi gạo rang làm lương khô theo đồng chí giao thông mà đi. Cơm đủ no, rau xanh đủ ăn, bữa nào cũng có cái gì mằn mặn, có hôm có thịt thú rừng, cá suối. Có bữa qua làng, dân đang lễ hội, chúng tôi được giữ lại ăn một bữa rượu thịt no nê. Tối ngày thứ tư cả tiểu đội vào nghỉ ở làng đồng bào Dao. Ông chủ nhà đem cơm, rượu với thịt nai khô tiếp chúng tôi thân mật lắm. ông nói: ngày mai đến nơi rồi, ở đây đã nhìn thấy núi đấy, thì ra đó là dãy núi Tam Đảo. Hôm sau chúng tôi đi tích cực lắm, mặt trời đến vai thì nghỉ ăn cơm trưa, ăn xong anh giao thông giục lên đường ngay, cố đi, còn hai quăng dao nữa thì tới, thế mà mãi xế chiều mới tới nơi. Hóa ra mỗi quăng dao là một lần đổi vai đeo dao khoảng ba tiếng đồng hồ.

        Huyện lỵ Sơn Dương lúc này là một trung tâm cách mạng. Ở đây có trạm kiểm soát. Chúng tôi nghỉ lại trạm để ngày mai xin giấy vào khu.

        Ngày hôm sau Khu giải phóng điều của đơn vị tôi đồng chí Quyết Tâm, nghe nói sang bộ đội Trần Thế Môn đi lên Yên Bái; còn lại sáu anh em chúng tôi nhận giấy và tiếp tục lên đường.

        Hai hôm sau vào lúc gần trưa, chúng tôi đến một làng nhỏ thì có bảy nóc nhà sàn, kề ngay ven núi. Chúng tôi được dẫn vào một ngôi nhà to nhất, trong đó đã có hơn một chục đồng chí ở Bắc Sơn, Vũ Nhai cùng về học Trường quân sự, cùng là Cứu quốc quân nên thân với nhau ngay. Khi cả nhóm sắp ăn cơm thì có một người đến, khoảng 28, 29 tuổi mặc quần áo, đội mũ kê-pi vải cùng màu ghi bạc, quấn xà cạp trông rất lạ mắt. Đồng chí tự giới thiệu tên là Khang1 (Đại tướng Hoàng Văn Thái sau này) đến tổ chức chúng tôi thành một đơn vị chiến đấu.

        Đồng chí nói:

        - Các đồng chí được đoàn thể gọi về học, song hiện nay quân Nhật đang tấn công vào căn cứ địa, tôi được thượng cấp cử đến tổ chức các đồng chí thành một trung đội "Học sinh quân", do tôi làm trung đội trưởng, chúng ta sẽ đánh Nhật.

        Nghe nói vậy, chúng tôi phấn khởi lắm.

        - Bây giờ các đồng chí ăn cơm thật no, rồi mỗi người nắm lấy hai nắm cơm đủ ăn hai bữa. Người chiến sĩ du kích, một ngày có thể được ăn ba bữa, nhưng cũng có thể ba ngày không được ăn bừa nào, vậy nên khi có cơm thì ăn thật no rồi gói theo.

        - Gói theo nhiều cơm thì xấu hổ lắm á! - Một đồng chí nào đó nói.

        - Không có gì phải xấu hổ, chỉ sợ không có cơm ăn, đói không đánh được giặc mới xấu hổ thôi, các đồng chí đồng ý chứ.

        - Đồng ý, đồng ý, - chúng tôi hét vang.

        - Đồng ý, thì ăn thật nhiều và gói cơm ngay đi. Mọi người hồ hỏi phấn khởi khẩn trưởng triển khai mệnh lệnh của người chỉ huy.

        Từ lúc vào nhà tôi chú ý ngay đến một người dáng đầm đậm, mặc quần áo nâu đã bạc màu. Tên là Việt. Anh có một khẩu súng rất lạ. ăn cơm xong, tôi đến ngồi gần khẩu súng, anh nhìn tôi gườm gườm không mấy thiện cảm. Khi tôi đưa tay sờ vuốt khẩu súng, anh kéo khẩu súng ra xa, tôi lại sán đến sờ nữa và hỏi: Súng gì thế này đồng chí? Anh vẫn nhìn tôi gườm gườm và hỏi: Khố xanh hả? - Đâu có tôi là tù Pô-li-tíc, chính trị phạm, quốc sự phạm ấy mà, tôi trả lời. - Thế sao lại mặc đồ khố xanh? - Bọn tôi vượt ngục, nhặt được bộ quần áo lính, cắt cầu vai đi mà mặc, chẳng lẽ mặc áo tù in số mà lên chiến khu à? - Nghe vậy ánh mắt anh có phần dịu lại. Anh hỏi tôi bị giam ở nhà tù nào. Tôi trả lời bị bắt giam ở Tuyên Quang từ năm 1943. Anh lại hỏi: Thế các cậu phá tù ra à? Có mấy anh em?


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:02:32 AM

        Tôi trả lời: được năm nam, một nữ. Trong số đó một chết, một ốm, còn ở đây có ba nữ đồng chí ở lại đơn vị. - Cậu thích khẩu súng này lắm à? Đây là khẩu súng trung liên bờ-ren, bọn mình lấy được ở Đăng Châu, bắn hay lắm! - Có nhiều đạn không? - Ối đạn, 27 băng 30 viên, thêm một túi 500 viên, đủ đánh ra trò 30 trận đấy. - Trời, mình mê quá, cứ như con ngựa chiến? - Thích thì tớ cho đấy - Tôi chưa biết bắn - Khó gì, dạy cho một tẹo là thạo ngay, trông cậu tinh nhanh đấy. Thế là chỉ một giờ sau, Việt đã truyền cho tôi cách bắn trung liên, anh lôi tôi ra ngoài ruộng, dạy đủ kiểu: nằm bắn, cắp nách bắn, nằm ngửa bắn lên ngọn lèn đá và bắn máy bay, gấp chân để súng nằm nghiêng mà bắn là là mặt đất khi địch xung phong đông; vác súng lên vai quay nòng lại phía sau bắn đoạn hậu cho đơn vị rút lui. Việt bảo tôi: Thằng lính ra trận là phải nhanh mắt nhanh tay, nhanh cả trí nữa, mà phải dè sẻn đạn, khẩu này nhấn cò một cái là đi ba viên rồi, cậu phải tập chỉ nhấn 3 đến 5 viên là cùng, mắt không rời đường ngắm, băng đạn cứ 5 viên lại có một viên xuyên, một viên vạch đường, đầu đen là xuyên, đầu đỏ là lửa, đầu xanh vạch đường. Nhìn khẩu súng của tôi, Việt hỏi: Cậu kiếm đâu được khẩu gióp 5 mới thế - Lấy trên lô cốt nhà tù đấy? Việt lại lôi tôi vào nhà, tháo tung súng ra dạy tôi tháo lắp, ba lần thì tôi thạo. Sau đó Việt lấy chiếc khăn vuông đen vẫn quàng ở cổ bịt mắt tôi lại rồi bảo tôi tháo lắp. Tôi hỏi: Cần gì phải làm thế này? - À đi đánh đêm, súng hóc, cậu thắp đèn lên để tháo súng hả? Tháo lắp súng là cốt để chữa hỏng hóc, nên phải làm được bất kỳ lúc nào, mà phải thật nhanh. Lại ba lần nữa tôi tháo lắp gọn gàng. Việt khen và cho tôi chiếc khăn vuông. Anh bảo khăn của mẹ mình gói cơm cho đi theo du kích Bắc Sơn, mình giữ nó 5 năm rồi, khi tháo súng là phải trải cái khăn ra trước mặt, trên nhà sàn thì không bị rơi, ở ngoài bãi thì đất cát không lấm, tháo bộ phận thứ nhất để ngay trước mặt rồi các bộ phận sau xếp dần sang tay phải, khi lắp lại lấy bộ phận từ tay phải lắp dồn vào, đã tháo súng ra rồi thì bom rơi đạn nổ cũng cứ cắm đầu mà làm, sơ suất một chút là mất bộ phận, hỏng toi khẩu súng, khẩu này nó bắn bằng cả trung đội bắn ấy. Đạn thì nhiều, nhưng cậu chỉ mang bốn băng, một băng ở súng, ba băng đeo túi trước ngực. Anh còn hướng dẫn cách mang băng đạn và tạm phân công ba người: Việt, tôi và Minh cùng giữ khẩu trung liên, Việt nói:

        - Ba đứa từ nay là sống chết có nhau, cậu Kỳ có sao, thì mình thay, mình có sao thì cậu giữ ngay lấy 10 băng đạn, cậu Minh cầm khẩu gióp, cậu Minh có sao thì mình mang luôn cả đạn.

        Chập tối hôm đó chúng tôi được lệnh di chiến đấu, đánh giải vây cho trung dội đồng chí Thơ. Tập hợp xong, bỗng đồng chí Khang đến và hỏi tôi: Đồng chí bắn súng máy đã lâu chưa? - Dạ, mới thôi ạ, trước tôi bắn mút - Được tôi ra cho đồng chí một bài tập: trước chúng ta ước 80 mét là một đoạn đường cong về tay trái, địch đang từ phía đó đi tới, đồng chí đặt súng đánh chặn? Tôi liếc sang phải, qua thửa ruộng nhỏ, là một mương nước, đầu bờ trái mương có cái ụ mồi, cây lúp xúp. Tôi xách súng hô nhỏ: Tổ súng máy theo tôi! Liền đó, tôi băng qua thửa ruộng phải vào mương nước. Mương chỉ sâu đến thắt lưng, tôi cúi xuống chạy đến sau ụ mối, giá súng xong có thể bắn dọc con đường hàng trăm mét cả dưới ruộng lẫn trên sườn đồi. - Chỗ này bố trí đẹp quá, Việt thì thào. Đúng sách đấy cậu ạ! Đồng chí Khang đến cạnh tôi nằm xuống ngắm thử và nói: Được! Súng máy về chỗ. Tôi đứng dậy hô nhỏ: Tổ súng máy theo tôi. Đồng chí Khang xem tổ súng máy bố trí chiến đấu tốt; đồng chí hỏi tôi quen khẩu súng này chưa? Việt nói luôn: - Báo cáo khá lắm ạ, bịt mắt tháo súng nhanh gọn rồi. Đồng chí Khang lại nói: Thế là tốt, người chiến sĩ phải sử dụng thành thạo vũ khí của mình.

        Đêm hành quân đầu tiên của trung đội Học sinh quân là đêm trăng rất sáng. Tôi đi cuối hàng quân. Trước tôi là những bóng người và nòng súng nhấp nhô, có đôi tiếng lưỡi lê đập vào đùi lách cách. Khi trăng lên giữa đỉnh đầu, đơn vị dừng lại. Đồng chí Khang dẫn tổ súng máy đến một ụ đất nhỏ và nói: phía cổng trước mặt ta là con đường vào làng, cây đa to kia chính là cạnh cổng làng, từ cây đa men về phía tay phải ta là luỹ tre cách chúng ta khoảng 120 đến 150 mét. Trung đội đồng chí Thơ bị vây trong làng đó. Quân Nhật có thể ở ngay cổng làng và dọc theo luỹ tre. Súng máy của đồng chí bắn địch từ gốc đa đến bụi tre phía tay phải có 3 ngọn tre cao, bắn theo chớp lửa đầu nòng súng giặc. Chỉ xong mục tiêu, đồng chí lệnh cho chúng tôi chuẩn bị đánh địch. Việt rất tinh mắt, chỉ một chút sau khi đặt súng, Việt đến nằm cạnh tôi; nói: trước mặt độ 30 mét có cái cầu chỉ có hai cây gỗ, tốt nhất là nhảy qua, dưới gốc đa có cái quán nhỏ, cánh cổng làng bằng tre, bờ luỹ tre, ngoài luỹ có một con đường nhỏ. Từ cổng làng có hai bóng người đi ra, tôi rê nòng súng theo, một người lớn còn một người nhỏ, có lẽ trẻ con. Có tiếng của đồng chí Khang: súng máy chờ lệnh, có thể là liên lạc của ta. Quả đúng vậy, một cụ già và một chú bé, hỏi tìm đồng chí Khang. Qua cụ già và em bé, chúng tôi biết trong làng không có người, hôm qua Nhật đến, không có đánh nhau và đã rút. Sau khi trung đội phó và hai chiến sĩ vào kiểm tra, trung đội đi sang hướng khác, bố trí chiến đấu, đến sáng lại rút đi. Đêm hôm sau chúng tôi lại đi phục kích, bố trí xong thì trời lất phất mưa. Chỉ nhoáng một cái Việt đã lôl về hai tàu lá cọ một tàu cắm như cái lọng che súng, một tàu cho tôi Minh lấy một lá khoai môn to che cho túi đạn. Việt nói đùa: chỉ cốt che cho súng, đạn và cậu Kỳ, mưa gió là dễ ốm lắm, cả ba cùng cười rúc rích.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:03:00 AM

        Mấy hôm sau, trung đội Học sinh quân của chúng tôi được cấp trên rút bớt một tiểu đội nam, bổ sung một tiểu đội nữ. Đồng chí Trung Lương được cử làm trung đội trưởng. Nhiệm vụ mới của trung đội là làm công tác vũ trang, củng cố căn cứ địa. Hàng ngày một ông Việt Minh tổng dẫn chúng tôi đến một làng, nếu làng đó đã bị Nhật tràn qua, chúng tôi tổ chức thăm hỏi dân và nghe dân kể chuyện, rồi tổ chức lại các đoàn thể, nhất là thanh niên, phụ nữ và đội vũ trang, xem và bố trí lại việc canh gác, rút kinh nghiệm. động viên nhân dân yên tâm sản xuất và sẵn sàng đánh giặc giữ làng. Cũng có làng chưa có Việt Minh, phải tổ chức mới. Để tìm được người tin cẩn chúng tôi phải dựa vào dân, đặc biệt là lớp người có tuổi. Qua những người này, chúng tôi tìm ra các bác trung niên có tín nhiệm với dân, có khả năng công tác, rồi từ đó lập ra ban Việt Minh xã và các đoàn thể.

        Tiểu đội nữ là một thế mạnh đặc biệt của trung đội tôi. Các chị hát hay, đến đâu muốn tập họp dân, chỉ cần các chị "đồng ca" vài bài là đến các cụ già ốm cũng phải dậy, chỉ có hai cái khổ, mỗi khi các chị ra suối tắm, chúng tôi phải cho ba cậu gác, hai cậu hai đầu đường, một cậu bên kia bờ suối, được cái anh em rất quý mến các chị, lại kỷ luật và trung thực, nên không ai rời vọng gác. Khi có tin giặc đến, lại phải có một tổ đưa các chị rút lên rừng. Không phải các chị ngại chiến đấu, mà vì các chị mỗi người chỉ có một khẩu súng ngắn đủ loại! Brao-ning, sanh-tê-chiên, cầu khúc (Loại súng ngắn tự chế của Trung Quốc lúc đó, theo kiểu brao-ning, băng đạn 9 viên, bắn hay hóc), poọc thùng (Loại mô-de của Đức có băng đạn tới 30 viên, bao súng bằng gỗ, lắp vào thành báng. Súng bắn như tiểu liên), hơn nữa mỗi khẩu chỉ có 4 đến 5 viên đạn mà chưa chắc gì đã nổ. Cứ thế, chúng tôi đi củng cố khắp vùng Điềm Mặc, Định Biên Thượng, ra tận Quán Vuông, cũng vài lần có báo động, chúng tôi dàn quân chờ, nhưng quân Nhật lại không đến.

        Một buổi tối có một bác trung niên cầm cây đàn tính tìm gặp chúng tôi. Bác nói mới làm được bài hát, đến hát để Giải phóng nghe, nếu được thì bác sẽ đi hát cho dân nghe. Bài hát khá dài, tôi chỉ còn nhớ mấy câu cuối:

                                  Du kích đánh cả đêm ngày
                                  Quân Nhật đến lúc này càng cuống
                                  Quân Nga lại nhảy xuống như bi (Ý nói quân Nga nhảy dù xuống nhiều như vải bi)
                                  Quân Nhật không biết đi đằng nào
                                  Giải phóng liền ào ào bắn cho.
                                  Rồi về lấy ô tô đi chở.
                                  Đem quân Nhật đi đổ xuống sông
                                  Cách mạng đã thành công vạn tuế... Ới a! Ới a!


        Lời ca tuy ngây thơ mà chân thật, tiếng đàn và giọng hát của bác thật mê say và cuốn hút. Chúng tôi hoan hô nhiệt liệt.

        Bác cầm đàn đứng dậy: Cảm ơn, cảm ơn và hoan hô Giải phóng, một đời lầm than, bây giờ mới được làm Việt Minh, mình sẽ đi khắp nơi hát cho dân nghe mà đi theo cách mạng; hoan hô, cảm ơn!

        Chúng tôi hoan hô bác lần nữa. Quả thật giọng hát và tiếng đàn, bài ca này đến đâu mà chẳng làm say đắm lòng người.

        Ngày chờ đợi đã đến, chúng tôi được lệnh cấp tốc hành quân về trường, ai cũng vui, sẽ được về trường học. Không biết trường ốc sẽ như thế nào, nhưng ai cũng thấy tiếc, tiếc những buổi họp với dân, những lần có tin Nhật đến, nhanh chóng triển khai đón địch, tiếc những buổi họp với các đội vũ trang thanh niên nam nữ, nói chuyện rồi ca hát. Hành quân cấp tốc, nhưng cũng phải đến ngày thứ ba, mặt trời vừa đứng bóng chúng tôi mới tới một con đường rẽ xuống một dòng suối, cứ thế theo suối mà đi. Hai bên là rừng vầu rừng nứa, rừng chuối, cây đao. Leo qua mấy cái dốc chúng tôi đi vào một triền suối bằng phẳng, rộng thoáng hơn, rẽ lên một con đường nhỏ mới làm đất vàng sáng óng ánh. Vừa đi vào một khúc quanh mỏm núi, trước mắt chúng tôi bỗng hiện ra đột ngột một cổng chào ba cửa kết bằng lá đao xanh trắng. Trên bốn cột cổng là bốn bi hoa chuối đỏ tươi. Treo ngang cổng là băng chữ cắt to và đẹp "Hoan nghênh các đồng chí Học sinh quân". Tôi bỗng sừng lại trong người có một cái gì khó tả rất xúc động, rất tự hào, vui mừng và vô cùng tin tưởng. Tự nhiên chúng tôi cùng reo lên: đến trường rồi, anh em ơi, hoan hô!


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:03:21 AM

        Đi độ một trăm mét, cả nhóm đến một khu bãi rộng, bên cạnh dòng suối mà chúng tôi đi vào. Dưới tán rừng cao, bốn nếp nhà mái lợp lá, vách thưng đều bằng nứa mới tinh. Đây là Khuổi Kịch, cách Tân Trào độ dăm sáu ki-lô-mét, đầu năm 1943, đội Cứu quốc quân III dược thành lập ở đây. Đơn vị tôi (trừ tiểu đội nữ) được ở một ngôi nhà sàn phía tay phải. Nhà có ba gian, mỗi tiểu đội ở một gian vừa đẹp, còn gian giữa để họp và tiếp khách. Vừa bỏ túi đeo xuống, nghỉ một lát, có lệnh dọn dẹp nhà cửa, chúng tôi phân công một tiểu đội dọn dẹp trên nhà và lên rừng lấy tre nứa về làm bàn học, một tiểu đội dọn gầm sàn và phát dọn quanh nhà. Cả đơn vị có lẽ trừ tôi ra còn đồng chí nào cũng có một con dao tông nhọn khá to và sắc; cắm cán vào nó là một ngọn giáo lợi hại, bỏ cán ra nó là một con dao pha, có thể chặt cây gỗ cỡ bắp chân, chẻ nan, vót đũa, mổ lợn... Thật là một con dao nhọn lý tưởng, tuy vậy mà rất khó kiếm vì chỉ có một số vùng rèn được. Lao động độ hai giờ, nhà cửa đã phong quang tươm tất. Bàn ghế tuy đơn sơ nhưng ngồi viết thoải mái. Ngày hôm sau, chúng tôi được lệnh đi lấy tre, nứa, gỗ về làm hội trường cũng là câu lạc bộ. Câu lạc bộ có bốn gian và một chái, ba gian làm ba dãy ghế ngồi, một gian làm sân khấu, còn một chái để làm buồng. Ngay trên cửa vào, một học viên khéo tay lấy cành cây ghép thành ba chứ "Câu lạc bộ" vừa ngộ nghĩnh, vừa duyên dáng mà cũng trang nghiêm. Rồi chúng tôi làm sân tập, đào gốc tre nứa, chặt gỗ gốc cây nhỏ, chỉ một buổi sáng đến trưa chúng tôi đã có một bãi tập, đủ cho cả đại đội tập họp, đi đều, chạy nhảy, lăn, lê, toài...

        Ngay buổi chiều vừa làm xong bãi tập, đồng chí Khang, lúc này làm đại đội trưởng, tập họp toàn đơn vị. Mọi người mang theo tất cả túi đeo và vũ khí. Đến lúc đó chúng tôi mới biết đại đội có gần một nửa là các đồng chí người miền xuôi. Anh em phần lớn mặc quần áo nâu, chẳng có súng ống gì, mỗi người tròng teng một cái khăn gói dó, y như mấy ông lái thuốc lào. Còn chúng tôi lại đều mặc quần áo chàm, đội mũ nồi may cũng bằng vải chàm, có quai thắt xuống cằm, đi giày vải hoặc hài sắc (Một loại dép có quai hậu đan bằng rơm, đi rất êm), chân quấn xà cạp, vai đeo thông (Một loại túi của đồng bào Tây, có quai đeo làm ba lô, đựng đồ rất tiện), lưng thắt bao đạn. Ai cũng có súng, đủ cả trung liên, tiểu liên, súng trường, súng ngắn. Chúng tôi tập họp thành năm tiểu đội, tiến ra sân trường. Thấy chúng tôi, các đồng chí miền xuôi reo hò, hoan hô nhiệt liệt: chào các đồng chí Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, chào các đồng chí Cứu quốc quân. Tôi nghe thoáng có tiếng nói: Voa là ác mê giuýt cô đăng (Voi là, armé jusqưau den. Trông kìa trang bị đến tận răng!).

        Toàn đại đội xếp thành bốn hàng ngang, hai hàng trước là các đồng chí người miền xuôi. Chúng tôi đứng ở hai hàng sau. Đồng chí Khang cho hai hàng trước tiến lên tám bước, đằng sau quay. Lúng túng một lúc rồi mọi người cũng thành hàng ngũ khá chỉnh tề. Khi có lệnh hô nghiêm, bồng súng chào; các đồng chí miền xuôi không có súng nhìn nhau, một số đồng chí nắm tay đưa lên ngang tai, các đồng chí khác làm theo. Còn chúng tôi có đủ súng lại đã quen chào cờ, nên bồng súng ngả súng đưa lưỡi lê chĩa ra phía trước. Đồng chí Khang cho thôi chào, nghỉ rồi giới thiệu các đồng chí miền xuôi ở một số tỉnh, đều là đoàn viên thanh niên Cứu quốc, trong đó nhiều đồng chí là người Hà Nội quê hương tôi. Một số là học sinh Trường Bưởi chúng tôi quen gọi là Ly Pro (Lycée Protectorat). Còn chúng tôi đều về từ các chiến khu: Bắc Sơn, Vũ Nhai, Đình Cả Cao Bằng, Bắc Cạn, Chiêm Hóa, Chợ Chu và đều ở trong các đơn vị Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân nay đã thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân. Sang tiết mục liên hoan văn nghệ, anh Khang bảo các đồng chí ở chiến khu hát trước. Được anh em "tiến cử" tôi hát hai bài "Chào cờ cứu quốc" và “Phất cờ Nam tiến". Tôi bắt nhịp hát vài câu và mọi người hát theo. Nói chung là hát tạm được tuy có hơi cảm động, nhưng không kém lắm so với mọi khi hát ở dưới làng lại nhờ có tiếng véo von của mấy đồng chí nữ nên cũng nổi và được các đồng chí miền xuôi hoan hô nhiệt liệt.

        Đến lượt các đồng chí miền xuôi lên, tôi thấy một người bước ra khỏi hàng, tự giới thiệu tên là Đông (Tức anh Hoàng Thế Dũng, trưởng đoàn học sinh ATK Bãi Sậy, chính trị viên trung đội Phạm Hồng Thái, đào tạo cán bộ chính trị, sau khóa học là đội trưởng đội tuyên truyền nước Nam mới). Anh hát bài thứ nhất: "Quảng Châu công xã”, bài thứ hai: "Thăng Long thành hoài cổ”. Nghe anh hát bài thứ hai, trong tôi như thức dậy những kỷ niệm một thời về Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:03:50 AM

        Tôi vốn là người Hà Nội, lưu lạc ra đi từ năm lên sáu tuổi, sau có vài năm trở về đi học, rồi lại ra đi, quên làm sao được các nhịp cầu Long Biên trập trùng như sóng, quên làm sao bãi cát Nhị Hà, bao giờ lại trở về Hà Nội... Đang miên man bởi những hồi niệm về Hà Nội, tôi nghe Đông nói xin mời các đồng chí nghe bài thứ ba: "Tiến quân ca" của một nhạc sĩ Hà Nội gửi tặng các học sinh Trường Quân chính kháng Nhật khóa I. Đông móc túi ngực lấy ra một tờ giấy học trò, trịnh trọng đọc to: Tiến quân ca. Nghe vậy chúng tôi đồng thanh hoan hô, sung sướng vì có một bài hát tặng cho trường mình...

        Sau vài lời giới thiệu, Đông xúc động và trang nghiêm hát trọn vẹn bài "Tiến quân ca”. Mới nghe một lần mà sao giai điệu cung như lời bài ca đã làm cho tất cả chúng tôi xúc động, rạo rực.

                                 …"Đoàn quân Việt Minh đi
                                  Sao vàng phấp phới
                                  Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than...".


        Lời bài ca gợi lại trong tôi bao cảnh cùng cực của một thời nô lệ. Tôi nghĩ đến những xác chết của những người thợ cần lao nơi mỏ than Tuyên Quang có bé Duyên mới 15 tuổi bởi đói khát, bệnh tật và roi nẹt chủ mỏ, nhớ đến mẹ tôi bao tháng ngày lam lũ nhổ lạc thuê, nhớ những tháng ngày bị địch cầm tù, hai tay bị trói quặt sau lưng, miệng bị "gang” bằng chiếc đũa cả, có dây buộc quàng sau gáy và gông cùm, xiềng xích... Tôi bỗng bật khóc nức nở và ngồi thụp xuống. Tôi khóc như ứa máu trong tim vì có phần lời ca như chính lời thề chấp nhận mọi sự hy sinh vì nghĩa lớn, chỉ có chiến đấu hy sinh mới rửa được nỗi nhục cho bản thân mình, cho đồng bào, đồng chí.

        Buổi liên hoan kết thúc, anh em trung đội lập tức cử tôi làm người chỉ huy ca hát và phải học ngay bài Tiến quân ca về dạy cho trung đội. Tôi đến tìm Đông và bảo: Các “ông" hát hay quá, bọn tôi mê tít thò lò, anh em cử tôi làm chỉ huy hát, đến xin "ông" dạy cho bài "Tiến quân ca". Đông vui vẻ nói: Vâng, vâng, rất hoan nghênh "ông bạn", nhưng mời đồng chí vào đây ta bàn tí chút, các ông mê bài hát của chúng tôi thì chúng tôi cũng mê súng của các ông lắm. Sao mà các ông nhiều súng thế! Chả trách Nhật và bảo an chết nhiều là phải. Các ông có cho anh em chúng tôi được xem loại súng của các ông không, sao mà lắm thứ thế, tôi cứ vừa hát vừa liếc súng của các ông đấy.

        Tôi đáp: A súng thì nhiều kiểu lắm, nguyên súng trường đã có mút-cơ-tông, anh-đô-si-noa, rơ-manh-tông, suất cẩu, lại có giộp 5, giộp 3, còn đâu là tiểu liên, trung liên, phóng lựu lại còn bao nhiêu thứ súng ngắn nữa... Nhưng làm sao mà xem được, hay các ông kéo sang tôi.

        - Cũng hay, nhưng e lộn xộn, nhỡ súng, nhỡ đạn thì chết.    

        - Ừ nhỉ, hay là thế này, chúng tôi đem súng bày ra sân rồi mời các ông xem. Tôi còn có khẩu trung liên "chúa" lắm.

        - Hay đấy ta làm cuộc trưng bày vũ khí, chúng ta lên báo cáo xin ý kiến anh Khang.

        Thế là ngày hôm sau, anh em sắp một dãy bàn và đem các loại súng ra bày trên bàn; mỗi loại vài ba khẩu, có hai ba người giới thiệu. Có lẽ đây là cuộc trưng bày vũ khí đầu tiên của quân đội ta! Anh em đến xem, ai cũng muốn cầm lấy súng. Sau khi anh Khang nói: trung đội sẽ tặng anh em một số súng, lúc đó mọi người mới yên tâm, nhưng còn khẩu bờ-ren của tôi thì đem ra giữa sân, anh em thay nhau mỗi lần sáu người ngồi xung quanh nghe tôi và Việt giới thiệu, rồi mỗi anh vuốt ve một tý, có anh còn gọi nó là "mẹ ớ đây”. Có cậu vỗ vào lưng tôi: Sao mà cậu sướng thế một mình một khẩu súng to bắn bằng cả một trung đội!

        Câu lạc bộ, bãi tập, nhà bếp đều làm xong, các đơn vị được biên chế lại. Tôi ở trung đội Trần Quốc Tuấn, trung đội huấn luyện cán bộ quân sự. Trung đội Phạm Hồng Thái đào tạo cán bộ chính trị. Trung đội Hoàng Văn Thụ đào tạo cán bộ hành chính. Trước khi khai giảng, có một việc quan trọng là phải có một bài ca chào cờ chính thức của nhà trường. Từ khi lên chiến khu, chúng tôi vẫn hát bài “... Xếp hàng chào cờ Cứu quốc "theo điệu” Aurevoir Scout", (gặp lại! Hướng Đạo Sinh) hoặc "Chaut d'adieư” (Lời ca từ biệt) nay thì phải thay bằng lời bài hát khác. Chúng tôi được lệnh học hai bài "Tiến quân ca " và "Cờ hồng sao năm cánh". Bài "Tiến quân ca" chỉ một ngày là trung đội tôi hát đều răm rắp, ai cũng mê. Còn bài "Cờ hồng sao năm cánh” phải nói là khó hát lắm. Mấy đồng chí người Tày và cả cậu Việt nói: "Chịu kỷ luật thôi, không học được đâu, hát như làm tào1 (Tào, cúng ma, ông thầy hát ề à suốt đêm). Cả trung đội chỉ có Đông, tôi và vài đồng chí nữa hát tàm tạm được. Ngày chọn bài hát chào cờ đã đến, chúng tôi tập hợp toàn bộ đại đội lần lượt hát cả hai bài, hát bài “Cờ hồng sao năm cánh" trước. Mọi người hát được đều cố gắng. Tôi vươn cổ "gào” thật to để làm trọn nhiệm vụ của người quản ca. Đến bài "Tiến quân ca" cả đại đội hát rất đều, âm vang đến đầu rừng ngọn suối. Đoạn hai của bài thực tình tôi vừa hát vừa khóc. Lấy biểu quyết: bài Cờ hồng chỉ có hai "phiếu” của người sáng tác và người chỉ huy bài hát; bài Tiến quân ca được tất cả giơ tay, kể cả hai đồng chí đã biểu quyết cho bài "Cờ hồng". Chúng tôi hoan hô nhiệt liệt bài ca chính thức của nhà trường.

        Lễ chào cờ đã được chuẩn bị, một lá cờ đỏ sao vàng năm cánh được phụ nữ châu Tự Do khâu cho, cột cờ là một cây vầu to cao vút, hai Học sinh quân một nam, một nữ được cử ra kéo cờ. Đông được cử ra chỉ huy toàn trường hát. Hết lời ca thứ nhất, lá cờ đỏ sao vàng kéo lên đỉnh cột phấp phới bay trong nắng ban mai. Chúng tôi hát tiếp lời hai "... Sao vàng phấp phới, dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than"... ý chí của trên một trăm nam nữ thanh niên... từ bao lâu nuốt căm hờn, vũ trang đây lên đường... đã đem bài ca đó đến khắp toàn quân, khắp từ Nam chí Bắc đi khắp nước Việt Nam. Điều xúc động nhất là khi Cách mạng tháng Tám thành công, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quyết định lấy bài “Tiến quân ca" làm Quốc ca của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:04:46 AM

        Ngày khai giảng đã đến, sáng hôm đó tôi được ra gác ở cổng chính. Cổng chào được làm mới, to và đẹp hơn. Mặt trời vừa nhô lên khỏi ngọn cây trên sườn núi trước mặt thì đoàn khách cấp trên đã đến. Tôi giật mõ báo tin, rồi chỉnh đốn lại tư thế đón khách. Đi đầu là một ông khách tôi đã quen tử hồi đi "vũ trang củng cố". Không những quen mà tôi còn nói chuyện với ông đến hơn một giờ, có khi còn lâu hơn, thời gian đủ nấu chín bữa cơm kia mà, tôi tuyên truyền giải thích nhiều lắm, cố làm cho ông tin là chúng tôi cùng với nhân dân sẽ đánh thắng Nhật, làm cán bộ đoàn thể thì phải chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn... Thế mà bây giờ ông lại là thượng cấp đến dự lễ khai mạc. ông vẫn mặc bộ đồ trô-pi-can, đội chiếc mũ phớt như xưa, nhưng lần này ông cưỡi ngựa. Đi theo ông là một đoàn người. Có hai anh đi ngay sau lưng, đeo khẩu súng lạ trước ngực. Sau này tôi biết đó là súng các-bin. Sau hai bảo vệ là đồng chí Khang đại đội trưởng của tôi, ông Việt Minh tổng và mấy người nữa. Tôi tự nhủ dù sao cũng phải bình tĩnh. Khách đến cách năm bước, tôi đứng nghiêm lại bồng súng chào (anh em vẫn khen tôi có cái chào súng rất gọn, đẹp mà hùng dũng nữa). Ông khách xuống ngựa nói: đồng chí nghỉ, rồi ông tiến đến nắm tay tôi: đồng chí Hồng Kỳ cũng kịp về học à, cố gắng học, công tác tốt, bảo vệ tốt cho đoàn thể! Tôi rút chân lại đứng nghiêm nói to: rõ.

        Chiều hôm đó sau khi đổi gác tôi được lên lớp nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp - Chủ tịch Uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng nói chuyện. Chết thật, thế mà không ngờ lại tuyên truyền giải thích cho ông thượng cấp to thế này, nhưng chắc là mình không nói sai, cũng không huênh hoang lên mặt thuyết giáo chính trị, cái đó là chắc rồi... Đến chỗ nói về người chiến sĩ Giải phóng quân phải vừa là người chiến sĩ chiến đấu vừa phải là người chiến sĩ tuyên truyền giải thích chính sách của đoàn thể cho dân, đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ vào chỗ tôi ngồi ở hàng ghế thứ hai nói: đồng chí Hồng Kỳ hôm nọ nói chuyện với tôi lâu lắm, tuyên truyền nhiều vấn đề đều đúng cả, như vậy là tốt; các đồng chí cũng nên làm như vậy. Lạy trời, sao đất không nứt ra để tôi tụt xuống. Mấy cậu bên cạnh hích khuỷu tay vào tôi nói: Cậu giỏi thật, dám tuyên truyền cả Chủ tịch Uỷ ban Khu giải phóng.

        Một vinh dự lớn cho Trường Quân chính kháng Nhật khóa I là sau hai tuần học quân sự, chính trị, chúng tôi được nhận nhiệm vụ đi phục kích đánh chặn một toán phỉ khá đông xâm nhập căn cứ địa. Trong trận phục kích, chúng tôi tiêu diệt được gần hết số quân đó, số còn lại gồm cả tên đầu sỏ lại chạy vào trường chúng tôi xin cho ăn và ngủ nhờ. Mưu trí và mau lẹ, chúng tôi phân tán số này về các trung đội, đêm đó chúng tôi thanh toán nốt, chỉ còn hai tên chạy thoát lên rừng. Về sau dân quân vùng Tân Trào cũng bắt được. Hôm trưng bày chiến lợi phẩm thu được của bọn phỉ, có rất nhiều súng, nhưng cái đáng chú ý là hàng đống quần áo phụ nữ, trẻ em, nhiều hoa tai, dây chuyền, vòng xuyến bằng vàng mà chúng đã giết dân để cướp đoạt. Nếu chúng tôi không tiêu diệt, để mấy trăm tên này hoành hành trong dân thêm một thời gian nữa thì không biết bao nhiêu người dân lương thiện còn bị tàn sát. Bên ta hy sinh hai đồng chí. Đồng chí Đường hy sinh trong khi dẫn đường đưa quân phỉ vào ổ phục kích, đồng chí Lâm hy sinh trong khi tác chiến.

        Thấm thoát hơn một tháng trôi qua, chúng tôi đã biết thế nào là tình hình thế giới và trong nước, lịch sử của Cứu quốc quân và đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, và hai lực lượng quân sự này thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân. Chúng tôi cũng học công tác chính trị trong quân đội, công tác tuyên truyền giải thích chính sách đoàn thể trong nhân dân; học tập quân sự, học sơ qua về đội ngũ, học tập cá nhân chiến đấu và chiến thuật tiểu đội chiến đấu, trung đội chiến đấu. Chúng tôi còn được rèn luyện tinh thần kỷ luật và tư cách của một người quân nhân cách mạng, khẩn trương hoạt bát, khắc khổ nhẫn nại; chúng tôi biết, đã là một cán bộ của đội quân chủ lực của cách mạng thì đi đến đâu cũng cần xây dựng đơn vị mình chiến đấu tốt, công tác tốt, có quan hệ quân với dân như cá với nước.

        Ngày bế mạc đã đến, 120 học sinh Quân chính kháng Nhật khóa I là 120 "cánh chim" bay về khắp các miền trên đất Bắc, tích cực cùng toàn dân tham gia tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Sau ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp gây hấn ở Nam Bộ. Thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ, nhiều đại đội, tiểu đoàn Việt Nam Giải phóng quân thành lập các chi đội Nam tiến với tên gọi là "Vệ quốc đoàn” thực hiện lời tiên đoán của Bác Hồ đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:05:46 AM

TÔI ĐÃ GÓP PHẦN XÂY DỰNG SÂN BAY LŨNG CÒ - SÂN BAY ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM

LÊ GIẢN Nguyên Thứ trưởng Bộ Công an       

        Ngày nay có mấy ai biết rằng Việt Nam ta đã có một sân bay đích thực là của ta, do ta tự lực thiết kế và xây dựng, đáp ứng nhu cầu bức xúc của tình hình lúc đó, phải giữ quan hệ vừa đúng đắn, vừa nhanh chóng với bên ngoài. Đó là sân bay Lũng Cò.

        Gọi là sân bay Lũng Cò vì nó nằm trên một thung lũng thuộc xóm Lũng Cò, chỉ cách khu dân cư người Tày chửng vài trăm mét, qua con suối Lê và một vạt ruộng.

        Lũng Cò là một xóm khá đông dân cư ở gần như giữa đường từ huyện lỵ Sơn Dương thuộc tỉnh Tuyên Quang đi vào xã Tân Trào lịch sử.

        Ai quan tâm nghiên cứu lịch sử cận đại của Việt Nam đều biết rằng đầu năm 1948, nhân dân xã quê hương của đồng chí Hồng Kỳ, cách thị xã Cao Bằng khoảng bốn ki-lô-mét đã cứu được một trung uý phi công Mỹ nhảy dù xuống để thoát nạn máy bay bị trúng đạn súng phòng không của Nhật bốc cháy.

        Đã có kinh nghiệm cứu giúp những người nhảy dù lâm nạn, như tôi và Hoàng Đình Giong trước đấy ít tháng bị sa lầy trong những thửa ruộng bậc thang, thụt bùn và ngập nước, cán bộ và nhân dân trong vùng đã nhanh chóng đưa viên trung uý phi công vào ẩn nấp trong rừng núi heo hút.

        Viên trung uý rất sung sướng thoát nạn làm tù binh của phát xít Nhật; nhưng mỗi khi nghe tiếng súng nổ gần gần thì anh lại cuống quít run sợ xin được sớm đưa về căn cứ của quân đội Mỹ đóng ở phía bên kia biên giới Trung - Việt, dù rằng đi đến đâu ta cũng tổ chức mít tinh, đón tiếp rất nồng hậu. Địa phương báo cáo sự việc lên cấp trên và được ông Ké - tức Bác Hồ, theo tên gọi của dân địa phương thời kỳ đó - chỉ thị là bảo vệ an toàn và đưa y qua biên giới trao lại cho quân đội Mỹ.

        Nhận lại đồng đội bị nạn, trở về an toàn và vui khoẻ lại được nghe anh báo cáo về sự cứu trợ đầy nhiệt tình của nhân dân và quân du kích Việt Nam. Tướng Tư lệnh không quân Mỹ ở Chiến trường Trung Quốc ngỏ ý muốn được tiếp kiến ông lãnh tụ du kích Việt Nam để tạ ơn đáp nghĩa. Bác Hồ đã nhận lời, và hai bên đã có một cuộc gặp gỡ hữu nghị đi đến một mật ước: phía Việt Nam sẽ tăng cường lực lượng du kích, phát triển căn cứ du kích ở khắp các vùng trong lòng địch, phía Mỹ lãnh trách nhiệm đưa các phái đoàn quân sự sang giúp huấn luyện về quân sự, đồng thời giúp trang bị vũ khí, điện đài và các thứ quân trang, quân dụng khác.

        Việc xây dựng một sân bay bảo đảm quan hệ liên lạc giữa hai bên Việt - Mỹ cũng được đặt ra từ đấy. Do đó, sau khi Bác Hồ về ở căn cứ Tân Trào và các phái đoàn quân sự Mỹ nhảy dù theo, thì Bác cũng chỉ thị phải xây dựng sân bay. Đồng chí Đàm Quang Trung được giao nhiệm vụ này. Bản thân chưa bao giờ được qua lại trong một sân bay nào, cũng chưa từng mắt thấy một máy bay cất cánh hoặc hạ cánh trong sân bay, mặt khác, tuy có một thiếu tá trong phái đoàn Mỹ làm cố vấn, nhưng ngôn ngữ bất đồng anh không giao dịch được bằng tiếng Anh, tiếng Pháp nên đồng chí Quang Trung cảm thấy công việc trước mắt quá mới mẻ, quá khó khăn. Anh đề nghị xin cho thêm người giúp đỡ.

        Rất thông cảm với anh, Bác hỏi: Thế chú có dự kiến đề nghị ai không? Anh trả lời ngay: Cháu nghĩ rằng chỉ có anh Lê (tức là tôi, Lê Giản) có thể đáp ứng được yêu cầu. Vì anh đã từng đáp máy bay dân sự, quân sự, qua lại nhiều trường bay dân sự và quân sự, lớn có, nhỏ có, anh lại giao dịch được bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, hơn nữa anh rất am hiểu địa hình vùng này, chỉ có điều anh cũng đang rất bận rộn vậy xin Bác xem xét và quyết định.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:06:15 AM

        Nghe anh Quang Trung nói xong, Bác gật đầu, tỏ vẻ đồng tình với suy nghĩ của anh và nói: Được, được để tôi viết thơ cho chú cầm đi gặp chú Lê bàn định công tác. Gặp anh Quang Trung đến đưa thư của Bác và trình bày nhiệm vu mới được Bác giao, tôi vô cùng phấn khởi. Tôi và anh Quang Trung mấy tháng trước đây, đã từng chia vui, sẻ buồn trong cuộc chống chọi với quân Nhật từ Thái Nguyên lên chiếm đóng Chợ Chu, huyện ly huyện Định Hóa, nên đã trở thành đôi bạn tâm đắc. Nay lại có dịp công tác xây dựng sân bay đầu tiên của Tổ quốc thì còn gì lý thú hơn nữa, nên chúng tôi đã siết chặt tay nhau, biểu thị quyết tâm và khẩn trương hoàn thành nhiệm vụ Bác giao.

        Về địa điểm, tôi nghĩ ngay đến thung lũng Lũng Cò, một vạt đất phẳng phiu trước kia đồng bào vẫn giồng ngô, khoai, sắn, nhưng bỏ hoang từ ngày có chiến tranh. Tôi giới thiệu ngay với anh Quang Trung để mời thiếu tá cố vấn đi xem xét. Khi ba chúng tôi đến địa điểm khảo sát thì thiếu tá cố vấn tỏ ra rất hoan hỉ nói rằng: chúng ta sẽ xây dựng nơi đây một sân bay dã chiến lý tưởng. Thung lũng phẳng phiu này sẽ là đường máy bay sà xuống bay là là trên mặt đất cho đến con đường dốc thoai thoải kia băng qua giữa hai dãy đồi thì hạ cánh và từ từ đỗ lại dưới bóng hai hàng cây vừa râm mát lại vừa kín đáo thật là tuyệt vời!

        Và ngày hôm sau thì anh Quang Trung đã huy động bộ đội và thanh niên nam nữ dân công trong vùng hàng trăm người đến san bằng và nén đập, nhổ sạch những bụi cỏ gianh, chặt sạch những bụi cây mua, cây sim. Chỉ khoảng hơn một tuần lễ, chúng tôi đã làm lễ khánh thành sân bay, mở một cuộc mít tỉnh đón mừng chiếc máy bay đầu tiên hạ cánh an toàn xuống sân bay đầu tiên của Tổ quốc Việt Nam. Máy bay đã chở đến hai sĩ quan tăng cường cho phái đoàn liên hữu cùng một số hàng tiêu dùng, thực phẩm, thuốc men và thư từ cho đoàn.

        Lần lượt tôi, anh Quang Trung và ông thiếu tá cố vấn phát biểu, biểu dương tinh thần cao cả, công lao to lớn của anh chị em dân quân và bộ đội đã nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ, góp phần chiến thắng quân thù, phát xít bạo tàn, chúc tình đoàn kết chiến đấu Việt - Mỹ ngày càng bền chặt vững mạnh.

        Sau đó còn nhiều chuyến máy bay qua lại, tất cả đều an toàn, vô sự cho đến khi phát xít Nhật phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện và cuộc chiến tranh chống phát xít thực sự kết thúc.

        Chiến tranh kết thúc. Hòa bình được lập lại. Trên đưa anh trung uý O.S.S (tình báo chiến lược) (Người đến ta đầu tiên và về nước sau cùng tôi nhớ có thể là không chính xác lắm anh tên là Keent và được tin anh hiện còn sống ở Mỹ.) đáp chuyến máy bay cuối cùng về nước, tôi chúc anh đã có công đóng góp trong chiến đấu ác liệt với quân thù phát xít đến thắng lợi huy hoàng hôm nay, sẽ được trở lại cuộc sống yên vui, hạnh phúc với gia đình.

        Trong lời đáp của anh hôm đó, một ý đã gây ấn tượng sâu sắc trong tôi, anh nói: Vâng, chiến tranh nay đối với chúng tôi là kết thúc, nhưng đối với các ông một cuộc chiến tranh mới vô cùng gian khổ, xin chúc các ông cũng sẽ giành được thắng lợi huy hoàng...

        Cách đây mấy năm tôi có dịp đi thăm lại xóm Lũng Cò và sân bay mang tên xóm. Những người quen biết cũ đã khuất núi mất nhiều nhưng hình nét sân bay vẫn còn nguyên vẹn. Thung Lũng còn đó, đường băng dài thoai thoải nằm giữa hai dãy đồi cũng còn đó. Đây đó những trùm cỏ, những bụi cây đã mọc lại, xanh um có thể khiến cho du khách không ngờ từ 50 năm trước đây, đó là một sân bay đã từng đưa đón nhiều chuyến bay từ nước ngoài tới và từ nội địa ra, tuy nhiên đối với người quen biết cũ thì hình ảnh sân bay vẫn chẳng bị xóa nhòa.

        Phải chăng sân bay Lũng Cò, sân bay đầu tiên của Việt Nam do chính Bác Hồ chỉ đạo xây dựng lại chẳng là một di tích lịch sử đáng được dựng một tấm bia để đời đời con cháu sau này tưởng niệm. Thiết nghĩ dựng một tấm bia kỷ niệm tổn phí chẳng đáng bao nhưng tác dụng của nó sẽ lớn lao đáng kể, mong rằng vấn đề sẽ được ban nghiên cứu lịch sử quan tâm.

Hà Nội tháng 8 năm 1995         


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:07:16 AM
         
TIỂU ĐỘI CẬN VỆ ĐẶC BIỆT

Lưu Minh Đức (Lão thành cách mạng)        

        Trong lịch sử Việt Nam Giải phóng quân, có một đơn vị nhỏ mà Bác Hồ đặt tên là "Tiểu đội cận vệ đặc biệt" ít được biết đến. Tiểu đội này đã bảo vệ Bác đi từ Pác Bó về đến Tân Trào. Xuất phát khoảng 7 giờ 30 sáng ngày 4 tháng 5 năm 1945 đến 16 giờ ngày 21 tháng 5 năm 1945, Bác cùng đoàn tuỳ tùng và tiểu đội này mới về đến đình Tân Trào. Tiểu đội cận vệ đặc biệt gồm có 12 người. Tiểu đội trưởng là đồng chí Phạm Văn Quý, Kim Anh - tiểu đội phó, Đội viên là các anh: Giang Lâm, bảo vệ Bác ở Pác Bó (1941), Nông Ngọc Tuấn bảo vệ Bác ở Pác Bó (1941), Đinh Đại Toàn - đội viên đặc cách nấu ăn cho Bác, tôi (Lưu Minh Đức) đội viên kiêm báo vụ thông tin, Đỗ Văn - học sinh quân sự hải ngoại, Văn Lâm - học sinh quân sự hải ngoại của ông Bồ Xuân Luật, Trần Đình - đội viên, còn ba người không ai nhớ tên.

        Trước ngày lên đường hơn một tuần, tiểu đội chúng tôi được hướng dẫn diễn tập quân sự truy kích, phục kích; toàn đội chia đôi, bên địch bên ta dàn quân ở ngoài các mảnh ruộng bậc thang cạnh dòng Khui Nậm. Bác lên  phía trên lán tiểu đội ở, gọi ông Méc xuống và nói: "Hôm nay có chú Nguyễn, hướng dẫn cho các chú diễn tập quân sự một tuần".

        Ở với Bác Hồ lúc ấy, có hai người Mỹ, gốc Hoa, một ông tên là Méc (Méc - Nguyễn là bí danh của Mac. C-shin) nhưng Bác thường gọi là Nguyễn, còn có một ông họ Đàm (Đàm - Phờ-réng-khi là bí danh của Frand Tan) người Quảng Đông lấy tên Mỹ là Phờ-réng-khì. ông Méc là báo vụ viên thông tin, còn ông kia là cơ yếu.

        Dưới sự hướng dẫn của ông Méc, chúng tôi luyện tập quân sự một tuần. Lúc sơ kết, ai khá được phát súng các-bin, ai kém phát súng tôm-sơn. Các anh Phạm Văn Quý, Kim Anh, Giang Lâm, Nông Ngọc Tuấn được phát súng các-bin và mỗi người hai quả lựu đạn. Các anh Trần Đình và Văn Lâm được phát tôm-sơn và mỗi người hai quả lựu đạn. Riêng anh Đinh Đại Toàn được phát một côn-bát của Mỹ.

        Hai ông này là người của Mỹ phái đi theo Bác, sau lần Bác sang Côn Minh (Vân Nam) gặp trung tướng không quân Mỹ Sen-nô. Trưởng đoàn không quân Hoa Kỳ (phi đội cọp bay) ký giao kèo với Bác và quy ước thông tin liên lạc để thông tin liên lạc với Côn Minh. Trung tướng Sen-nô được phép chính phủ Hoa Kỳ viện trợ cho Việt Minh máy vô tuyến điện và vũ khí cùng đánh quân phiệt Nhật.

        Chuẩn bị từ lúc 7 giờ 30 nhưng đến 8 giờ sáng mới lên đường được vì còn mất thời gian vào việc phân công mang vác hành lý của đoàn. Bác thổi còi tập hợp đội lên trên bãi cỏ bằng. Bác tuyên bố. "Hôm nay di chuyển đi về xuôi?". Tiếp đó, Bác đi vào lán ổ rơm của hai ông cơ yếu và báo vụ người Mỹ gốc Hoa, xách va-ly rồi ra ngoài và đặt xuống đất.

        Bác nói: "Đây là điện đài đã biết ở Đông Hưng - tình báo Mỹ đã dùng ở Quân cảnh Đốc sát xứ". Bác vào lán xách ra hai túi nặng: đó là máy phát điện (ra-gô-not). Bác lại xách một chiếc chăn ra.

        Bác bảo: - "Chú nào xung phong mang thứ này?". Có anh xung phong nhận. Để giải quyết cho nhanh, Bác chỉ định từng người vào lán mang một thứ cụ thể phù hợp với sức vóc người đó.

        Riêng tôi đang đứng ngước nhìn trời mây. Biết ý tôi ngại mang vác nặng. Bác bước nhanh lại chỗ tôi và quàng luôn chiếc chăn vào vai tôi. Cái chăn ấy lạ lắm? Nó bằng vải ngoại rất dầy giống như một cái ống kín hai đầu đựng gì bên trong không biết. Bác bảo: - Chú mang thứ này". Có mấy dân công khoẻ mạnh vào gánh máy phát điện và điện đài.

        Công việc phân công mang vác vật dụng đã xong. Bác bảo chúng tôi xuống tập hợp với đủ hành lý. Bác hô: - "Nghiêm? Bên phải thẳng - thôi!". Hành động của Bác đúng như một nhà quân sự thực thụ. Bác đứng ở bờ suối đối diện với tiểu đội chúng tôi. Bên tay trái Bác là anh Đinh Đại Toàn, hai ông Méc và Phờ- réng-khì. Bác quy định hiệu lệnh đi đường, nói bằng tiếng Anh với hai ông và giải thích cho chúng tôi. "Three short" là ba hồi còi ngắn báo động có địch, phân tán. "Two long" là hai hồi còi dài báo yên, tiếp tục hành quân.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:07:59 AM

        Sau đó Bác tuyên bố. "Hôm nay, các chú vinh dự là đội viên tiểu đội cận vệ đặc biệt?". Rồi Bác hô: - "Bên phải, quay?", "Bước đều bước". Chân tôi bước theo người đi trước nhưng thầm nghĩ Bác bảo đặc biệt là đặc biệt chỗ nào? Chỉ có Bác và lũ trẻ này thôi? Đặc biệt ở chỗ nào cơ?

        Mãi về sau, qua thực tế tôi mới thấm thía được cái ý nghĩa đặc biệt của tiểu đội. Trách nhiệm nặng nề và cao quý của chúng tôi là được bảo vệ lãnh tụ Hồ Chí Minh của Đảng và cả dân tộc; hai là phải duy trì bằng được mối liên hệ qua điện đài với Côn Minh tức là đài Sở Công tác chiến lược OSS của Mỹ do ông Patty, thiếu tá phụ trách. Sở này thuộc đơn vị không quân phi đội cọp bay số 14 dưới quyền trung tướng Chai Sen-nô, trưởng đoàn không quân Hoa Kỳ, người đang thực hiện nhiệm vụ chính phủ Hoa Kỳ giao là viện trợ cho Việt Nam máy vô tuyến điện và vũ khí để cùng đánh quân Nhật.

        Cuộc di chuyển lịch sử này trải qua 14 ngày leo đèo, vượt núi, lội suối, băng rừng thật là gian khổ. Các anh Nông Văn Quất, Đặng Văn Cáp, Hoàng Minh Lý và Nông Văn Lạc thay nhau đưa đường từng chặng từ Pác Bó đến Tân Trào. Dọc đường, chúng tôi bổ sung được mấy người.

        Anh Phan Việt Bắc duỗi kịp đoàn và nhập vào đoàn khi đoàn nghỉ đêm ở làng Pác Cam, cách đồn Nước Hai theo đường chim bay hai ki-lô-mét. Anh Việt Huy và Hồng Sơn đuổi kịp đoàn ở Khui Sao. Cả ba anh cùng học lớp báo vụ cùng tôi ở Trung Quốc. Anh Văn điều đơn vị giải phóng đón Bác ở Kiến Lập, Tủm Tó; anh cùng ăn cơm trưa ở đây với Bác. Ở đây, tôi gặp anh Thanh Phong học sinh quân sự hải ngoại về trước tôi.

        Sau đó, Bác cùng anh Văn và đoàn đi đến làng Bản Chạp. Đoàn của anh Tống tức anh Phạm Văn Đồng cũng đến bản này cùng lúc và gặp Bác Hồ ở đây. Anh Tống trao đổi với Bác hồi lâu, rồi đi về Trường Quân chính kháng Nhật. Anh Việt Huy và anh Hồng Sơn đi theo đoàn anh Tống.

        Ngày 10 tháng 5 năm 1945, đoàn của Bác ăn cơm tối ở Bản Chạp. Sáng hôm sau, ăn cơm sáng ở đó, đến 11 giờ đi về làng Tân Trào, đến Tân Trào vào lúc 4 giờ chiều. Anh Văn đi trước vào làng Cả, Tân Trào báo cán bộ cơ sở tổ chức mít tinh đón đoàn vào lúc 6 giờ tối. Khi bắt đầu cuộc mít tinh, tiểu đội cận vệ đặc biệt bồng súng chào nhân dân, còn Bác cùng một số cán bộ nắm tay trái đưa lên ngang tai chào nhân dân; đây là kiểu chào thời Mặt trận Bình Dân.

        Sau mít tinh Bác Hồ nói: "Chờ tôi một lát; các chú tạm nghỉ ở gốc cây đa, tôi trở lại sẽ ngay". Một lát sau, Bác trở lại bảo tiểu đội và hai ông Mét và Phờ-réng-khì phân tán lên nhà dân; hai hôm sau, lại chuyển tất cả lên lán Nà Lừa cửa suối Đèo De đầu cánh đồng Tân Trà. Lối lên lán, phải qua một khe suối. Chúng tôi sẽ nghỉ tại đây. Bên phải là nhà bếp của tiểu đội. Leo lên dốc đã cuốc thành bậc thang, rẽ phải là lán Bác Hồ làm việc. Cách 15 mét là lán điện đài của chúng tôi. Phía chân dốc dưới lán Bác ở có lán học sinh của anh Kim Hùng, 10 người. Về sau, anh Văn đưa thêm bốn người nữa đến ở.

        Có anh Tuyên cao tuổi hơn cả, chừng 27 tuổi, còn bọn chúng tôi hầu hết đang độ tuổi 19 - 20. Chính tại lán Nà Lừa này, tôi lại càng thấm thía hơn về nhiệm vụ của tiểu đội cận vệ đặc biệt. Tiểu đội được tách ra năm người làm báo vụ thông tin vô tuyến điện. Ngoài tôi, còn có các anh Phan Việt Bắc, Phạm Văn Quý, Đoàn Hồng Sơn, Hoàng Việt Huy. Chúng tôi ở lán chung với Bác.

        Đoàn học sinh Kim Hùng, 14 người ở lán một mái dưới chân dốc phía dưới lán của Bác. Đây vừa là nơi ngủ, vừa là lớp học. Giáo viên là tôi và anh Phan Việt Bắc. Ông Mét coi chung tất cả là hiệu trưởng. Ở cái lán điện đài cách lán Bác ở độ 15 mét, ban đêm anh Văn Lâm và Trần Đình đến ngủ; ban ngày tôi và hai ông người Mỹ gốc Hoa cùng làm việc. Hai ông kèm cặp giúp tôi nâng cao tay nghề để có thể tự mình đảm bảo việc thông tin điện đài ở Côn Minh sau khi hai ông về Trung Quốc.

        Được ít hôm, anh Phạm Văn Quý ốm, xuống làng nằm trạm xá; rồi đến anh Đoàn Hồng Sơn, lại đến anh Hoàng Việt Huy. Có anh ốm thật, nhưng có anh tránh gác đêm nên vừa ốm đã bảo ốm nặng. Tôi còn nhớ một buổi sáng, anh Hoàng Việt Huy ốm nằm trạm xá nhưng lại lên lán. Bác trông thấy liền hỏi:

        - Tối qua chú có gác không?

        - Dạ, không ạ.

        - Bác hỏi: Vì sao?

        - Dạ, cháu ốm ạ.

        - Ốm có ăn được cơm không?

        - Dạ, ăn được ạ.

        - Chú ăn được bao nhiêu bát?

        - Dạ, ăn được ba bát ạ.

        Bác cười hỏi: Vậy chú đòi ăn bao nhiêu bát nữa?


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:08:37 AM

        Câu hỏi này thì Việt Huy không trả lời được. Đứng sau Bác, thấy Việt Huy im lặng, dáng vẻ lúng túng ngượng nghịu, tôi bỗng bật cười và thầm nghĩ: sao anh này lại trả lời Bác như vậy mà bây giờ im như thóc. Sao không trả lời ăn cháo loãng nửa bát, có được không!

        Thấy anh Huy im lặng, Bác quay lại hỏi tôi:

        - Sao chú Minh Đức chưa ốm?

        - Dạ, cháu cũng có thể ốm, Bác ạ.

        - Chú ốm xuống làng nằm trạm xá để tôi ở lại một mình?".

        Hôm đó, tôi thấy Bác quét gầm lán. Giang Lâm ở chung với phái đoàn Méc và Phờ-réng-khì. Tôi không bao giờ quên được cái cảnh Bác sống và làm việc ở cái lán tại chân núi Nà Lừa này. Lán của Bác là lán sàn cao hơn 1 mét không có vách liếp, không có ngăn đôi hai gian; sàn không rải dát, không có trải thảm hay chiếu. Dát sàn chỉ là những cây nứa ken khít nhau theo chiều dọc. Bác ngủ theo chiều dọc các cây nứa, có tấm chiếu cá nhân rách và một chiếc màn một. Tôi nằm cùng sàn, phía dưới chân Bác, theo chiều ngang của sàn ghép nứa. Với sàn nứa này, nằm ngủ cũng khá đau lưng, nhưng với tuổi 19 - 20 của tôi, hễ ngả lưng xuống là ngủ ngay, nên cảm giác khó chịu, đau lưng chỉ là khi mới nằm hoặc khi tỉnh giấc.

        Mỗi đêm tôi thường thức gác hai giờ, gác ngay cạnh lán. Tiểu đội cảnh vệ gác vị trí khác, cách lán chừng năm sáu mét. Khi về lán Nà Lừa, tiểu đội được tăng cường anh Hoàng Hữu Kháng. Anh làm quản lý nhà ăn, nên khi đó gọi là anh Lý. Về sau, anh Lý được điều đi làm quản lý Trường Quân chính kháng Nhật khóa I. Trong kháng chiến chống Pháp, anh làm Cục trưởng Cục Bảo vệ Nội vụ với tên chính thức là Kháng.

        Đầu tháng 6 năm 1945, Bác Hồ ốm rất nặng, bệnh đậu phát ban. Tiếng Tàu gọi là bệnh píu sề (phát ban). Hàng tuần Bác không ăn uống được gì, luôn mê sảng. Hiểu căn bệnh của Bác khá hiểm nghèo, chúng tôi vô cùng ái ngại. Anh Văn lo lắng lắm. Ngày ngày, sáng - trưa - chiều - tối, anh đều lên thăm, theo dõi sức khoẻ, bệnh tình của Bác. Biết Bác không ăn được cơm, anh bảo tôi tìm khoai lang luộc để Bác ăn, nhưng Bác cũng không ăn được. Anh còn bảo tôi lấy củ ráy giã nhỏ bọc lá chuối vùi trong gio bếp nóng sau đó lấy vải bọc để lau chân, tay cho Bác.

        Những ngày tháng ấy, chúng tôi thấy sự sống của Bác thật mong manh. Mỗi lần thấy Bác nằm mê man, tôi không cầm được nước mắt. Trước tình cảnh đó, anh Văn nghĩ ngay đến việc báo cho cán bộ địa phương tìm ông, bà lang nào giỏi đến chữa bệnh cho Bác.

        Mấy hôm sau, tôi thấy anh Văn đưa một bà trạc 55 tuổi, đi nhanh lên lán Bác. Bà mặc áo nâu váy đen, lưng đeo túi lưới đựng đầy lá thuốc nam và loại thuốc cao thực vật. Đây là bà lang người Trại đến chữa bệnh cho Bác. Sau một lúc sờ trán và chân, tay của Bác, bà quay ra nói với anh Văn: "ông Ké bị ốm quá mức rồi? Bây giờ, phải hòa ngay thuốc này cho ông Ké uống". Vừa nói, bà cụ vừa lấy trong túi lưới một gói thuốc đem hòa vào một bát nước. Rồi bà cụ và anh Văn đỡ Bác ngồi dậy để Bác uống hết bát thuốc. Khi bà cụ về, tôi còn xin một ít thuốc giải nhiệt. Bà vui vẻ đưa cho tôi một miếng cao thực vật và dặn hòa với nước để uống.

        Chiều hôm đó, Bác có đỡ và tự ngồi được, nhưng mới chỉ uống ít nước cháo loãng. Dần dần bệnh Bác thuyên giảm. Mấy hôm sau sức khoẻ Bác tạm hồi phục. Tôi mừng vô hạn. Thế là Bác đã qua khỏi một căn bệnh rất hiểm nghèo. Sau khi Bác khỏi bệnh, tôi được chuyển hẳn sang làm công tác chuyên môn mà tôi được đào tạo là công tác báo vụ thông tin. Đây là một chặng đường hoạt động mới trong cuộc đời hoạt động cách mạng của tôi.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:17:01 PM
         
PHẦN THỨ HAI

NHỮNG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI DU KÍCH PÁC BÓ, ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN VÀ CỨU QUỐC QUÂN


ĐỘI DU KÍCH PÁC BÓ - XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG - TIỄU PHỈ BẢO VỆ NHÂN DÂN VÀ BẢO VỆ BÁC HỒ

LÊ QUẢNG BA (Lão thành cách mạng)           
Trích hồi ký "Bác Hồ và đội du kích Pác Bó"        

        Nạn thổ phỉ ở vùng biển giới Cao Bằng - Quảng Tây

        Vùng Cao Bằng giáp Quảng Tây vốn có nhiều phỉ. Hồi đó những toán phỉ mọc như nấm cỏ sau cơn mưa. Bên kia biên giới, trên đất Trung Quốc, giáp giới châu Bảo Lạc của ta, có trùm phỉ Làm Tín ở Thang Nà. Từ đó, dọc theo đường biên giới xuống đến vùng đất Trung Quốc giáp với các châu Trùng Khánh, Hạ Lang bên ta, có anh em tên Sáng, Sính ở Lũng Cáng. Ở Bó Lầu, có tên châu Slam Tha tức châu ba mắt, nó có một nốt ruồi to tướng phía trên lông mày giống như con mắt thứ ba.

        Còn một số tên nữa !à Ké Khoắn cùng hoạt động ở Bó Lầu, Nông Ngán Khoáy ở Thin Xìn, Hải Quáng ở Lũng Vài, Mã Chẩn Thinh ở phía sau chợ Cọt Mà, Lò Pạc Phỉ phía Long Bang, Lường Sán Sình phía Thạch Long...Bọn chúng hoành hành sang cả các châu trong lãnh thổ ta giáp với Trung Quốc. Lại còn tên trùm phỉ họ Quách khét tiếng một thời không những ở vùng biên giới mà còn vào sâu trong nội địa Trung Quốc. Đó là tình hình phỉ trên đất Trung Quốc giáp với nước ta.

        Bên này, trên đất ta, có Nùng Dín ở Nặm Đin; Sứ Khì ở Năm Biếc; Ké Khoáy ở Chông Mạ; Lò Phẩy Sán ở Thông Nông... Bọn chúng chia nhau hùng cứ mỗi đứa một vùng, tha hồ làm mưa, làm gió ở chốn biên thuỳ heo hút này. Người già các bản thường nhắc lại những năm loạn lạc trước kia. Có nhóm thổ phỉ lẩn quất ở Thang Nà đem quân đi các nơi cướp tiền bạc, thóc gạo, trâu bò, lợn gà của dân; thậm chí cướp cả đàn bà, con gái đem đi. Trước khi rút, chúng còn đốt nhà, lửa cháy ngùn ngụt, đứng cách mấy vai (Theo tập quán địa phương, mỗi lần đổi vai gánh là khoảng một ki-lô-mét) còn trông thấy ngọn lửa. Trở về sào huyệt ở Thang Nà, bọn thổ phỉ giết trâu bò cướp được, nấu nướng ăn uống phè phỡn, rồi hãm hiếp các cô gái. Sau đấy, chúng đem bán họ cho bọn nhà giàu ở bên kia biên giới.

        Người già còn kể cho con cháu nghe những vụ bắt cóc tống tiền. Thời ấy rất nhiều người biết vụ bắt cóc Xã Hoàn ở Mỏ Sắt. Bọn thổ phỉ gửi thư đến bắt người nhà phải đem ba trăm đồng bạc trắng đến chuộc. Nếu không chuộc, chúng sẽ giết chết. Đến ngày hẹn, vợ con Xã Hoàn vẫn chưa chạy đủ món tiền quá lớn. Hôm sau, họ nhận được lá thư thứ hai kèm theo một cái tai. Vợ con Xã Hoàn phải chạy vạy khốn khổ, vay mượn, bán ruộng, bán trâu nộp đủ số tiền bọn thổ phỉ ấn định vào ngày hẹn cuối cùng. Xã Hoàn được tha về nhưng một bên tai đã bị cắt cụt.

        Biết bao chuyện khủng khiếp trong thời buổi nhiễu nhương đó. Nhưng rồi Tây đến xây đồn đắp luỹ, đưa lính khố đỏ đến đóng. Tây đồn lớn tiếng tuyên bố "Các quan đến triệt thổ phỉ. Không cho chúng quấy nhiễu vùng này nữa". Nhưng chỉ ít lâu sau, quan tây, lính khố đỏ là những tên cướp ngày hợp pháp, thay thổ phỉ đàn áp bóc lột nhân dân.

        Thỉnh thoảng, bọn tây đồn, quan châu, châu đoàn (Một chức vụ ở châu miền núi chịu trách nhiệm về trật tự trị an.) cũng cho lính đi tiễu phỉ (!). Chúng mang súng ống kéo đi nghênh ngang như đi chơi chợ. Tất nhiên, bọn chúng không gặp thổ phỉ mà chỉ gặp dân. Chúng bắt dân bản mổ lợn, giết gà, cơm rượu hầu hạ các quan tây, quan ta đi tiễu phỉ ăn uống no say, chúng nghênh ngang kéo về. Tây đi thì phỉ đến tiếp tục cướp bóc. Dân bản khóc thầm. Thổ phỉ là con báo. Quan tây, quan châu là con hổ. Cả hai đều là loài ăn thịt sống cả! Dân đã khổ lại càng khổ!

        Chưa hết! Ngoài quân Pháp lại thêm quân Nhật. Sau khi đã chiếm phần lớn Hoa Bắc và Hoa Trung, bọn quân phiệt Nhật sửa soạn đánh xuống Hoa Nam và vào Đông Dương. Chúng tung đặc vụ đến vùng biên giới này hoạt động trong thổ phỉ và cung cấp vũ khí, tiền bạc cho phỉ, dùng bọn này quấy rối hậu phương của Tưởng Giới Thạch và của Pháp.

        Khi Nhật đánh Đông Dương và Pháp nhanh chóng đầu hàng Nhật, bọn thổ phỉ với danh nghĩa người của Nhật hoạt động công khai. Quân Pháp lờ đi. Có tên trùm phỉ Lò Phẩy Sán mở cả sòng bạc có quân canh gác đàng hoàng ở ngay phố Thông Nông. (Tên trùm phỉ Lò Phẩy Sán làm tay sai cho cả Nhật lẫn Pháp. Hồi năm 1944, nhân dân ta thực hiện vườn không nhà trống để chống quân Pháp càn quét khủng bố. Do cán bộ cơ sở chưa có kinh nghiệm, nhân dân Kéo Đắc xã Đa Thông đã tập trung giấu ở một khu trong núi 94 bồ thóc, nhiều bồ thóc nếp và một số dành thóc giống cùng nhiều vải vóc tư trang khác. Tây cho mật thám đi dò la. Tên Lò Phẩy Sán cũng cho tay chân đi dò và phát hiện được trước. NÓ báo cho tây cho quân đến cướp phá).

        Mấy năm trước, du kích Trung Quốc hoạt động mạnh ở vùng biên giới này đã thuyết phục được một số trùm phỉ tham gia đánh Nhật, nhưng sau một số bỏ chạy về địa phương tiếp tục làm phỉ. Bây giờ được phát xít Nhật giúp đỡ và khuyến khích, chúng được thể lại hoành hành. Khắp nơi đều có những toán thổ phỉ nổi lên; mỗi toán chiếm cứ một khoảnh, xưng hùng xưng bá.

        Thổ phỉ có đám do người địa phương làm trùm, có đám do người nơi khác đến cầm đầu. Đó là chưa kể bọn "anh hùng hảo hán" từ Quảng Đông lên. Bọn này chuyên đi áp tải thuê cho bọn tư bản Hồng Kông chở thuốc phiện lậu. Chúng được trang bị tiểu liên và cả súng máy. Chúng khinh thường cả quân Tưởng lẫn quân tây. Nhiều cuộc đọ súng đã xảy ra trong rừng sâu giữa bọn buôn lậu với quân Tưởng, quân Pháp.

        Bọn chuyên đi áp tải thuê này cũng dựa vào các toán phỉ địa phương nhờ canh gác, đưa đường và thường tiếp tế súng đạn cho phỉ để trả công. Khi bị quân Quốc dân đảng Trung Quốc hay quân Pháp đón đường đánh và cướp đi mất hết hàng, chúng xoay ra làm phỉ và phối hợp với bọn phỉ địa phương đi cướp phá ở cả bên này lẫn bên kia biên giới.

        Ở một vài bản lại có những tên phỉ "nghiệp dư". Những 1úc túng thiếu, những ngày giáp Tết, chúng đi đánh lén một vài chuyến.

        Bọn trùm phỉ lôi kéo những thanh niên nghèo đói, dọa nạt, dụ dỗ những thanh niên hư hỏng đi làm phỉ để thêm vây cánh. Bọn phỉ hoành hành táo tợn đến mức không chỉ đón đường hay xông vào nhà dân ăn cướp mà thậm chí còn cướp phá cả một bản, một chợ. Vì vậy, cuộc sống ở vùng biên giới này luôn luôn căng thẳng và cơ cực.

        Nạn thổ phỉ không đơn thuần do đói nghèo sinh ra mà còn là do âm mưu thâm độc của tất cả bọn đế quốc (Tên trùm phỉ Lò Pạc Phỉ là chỉ huy đội tiên phong của quân Quốc dân đảng Trung Quốc kéo vào châu Trùng Khánh (Cao Bằng) hồi quân Tàu trắng bắt đầu vào nước ta.), đồng thời là một vấn đề quân sự vì các toán phỉ ít nhiều đều có vũ trang. Bởi vậy, việc chống phỉ để bảo vệ các khu căn cứ cách mạng, bảo vệ nhân dân ở vùng biên giới có tầm quan trọng đặc biệt. Nếu cách mạng không dẹp được phỉ thì khó động viên được nhân dân tin tưởng vào cách mạng.

        Do đó, chống phỉ là đặc điểm hoạt động của đội vũ trang cách mạng ở vùng biên giới miền núi này. Khi phong trào cách mạng lên cao lại có nhiều lực lượng vũ trang thì việc chống phỉ có thuận lợi hơn. Khó nhất là khi phong trào mới được xây dựng và lực lượng vũ trang còn yếu. Song dù hoàn cảnh thế nào, điều chủ yếu là dựa được vào dân với đường lối chính sách và biện pháp đúng đắn.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:19:00 PM

        Đối phó với trùm phỉ Lý Xíu

        Nhớ lại hồi năm 1939, tôi và Hoàng Sâm, đã phải hai lần trực tiếp đối phó với hai tên trùm phỉ. Hồi ấy, Ban châu ủy Hà Quảng đã phát động được cả một phong trào nhân dân tổ chức hội phòng phỉ để bảo vệ xóm bản và đã đề ra được sách lược đúng đắn đối phó có kết quả với bọn phỉ là kiên quyết diệt nhưng toán phỉ nhỏ, tạm thời hòa hoãn với những toán phỉ lớn, giáo dục tranh thủ những quần chúng nghèo đói đi theo phỉ.

        Song hòa hoãn được với những toán phỉ lớn không phải dễ. Việc đối phó với tên trùm phỉ Lý Xíu đem quân đến bản Pác Bó là một ví dụ. Hồi đó, chúng tôi chỉ có mấy người hoạt động ở các cơ sở, khi phân tán, khi tập trung. Đó là các anh Quốc Vân, Trần Văn Kỳ (tức Hoàng Sâm, tức Trần Sơn Hùng), Thế An, Tống Dề, Phùng và tôi. Chúng tôi họp lại thành một tổ vũ trang, có hai khẩu poọc-hoọc, một khẩu súng trường Bỉ, hai súng trường Nhật, có một số lựu đạn Ý và lựu đạn chày.

        Hôm đó, anh Sâm và tôi ở cách bản Pác Bó có vài ki-lô-mét, đang cùng một nhóm thanh niên bàn công tác phòng chống phỉ thì thấy La Thanh, một thanh niên bản Pác Bó hớt hải chạy đến, vừa thở vừa nói:

        - Có một bọn phỉ đông lắm kéo đến Pác Bó. Thằng tướng phỉ đang ở nhà bác Khâm Hoa. Nó đòi gặp hai anh.

        Theo lời La Thanh kể lại, buổi sớm hôm đó, trời còn mờ sương. Dân bản Pác Bó đang ngủ thì có một toán rất đông, có súng máy, súng trường poọc-hoọc ùn ùn vào bản. Tiếng gọi, tiếng nói văng tục ồn ào, tiếng chân nện thình thịch làm dân bản choàng dậy hốt hoảng nhòm qua khe cửa. Toán thổ phỉ đã đột nhập vào bản. Chúng cắt người gác các nơi. Đến xóm trên, chúng đặt súng máy, một khẩu trên đồi phía trước làng Pác Bó, hai khẩu đằng trước và sau nhà ông Khâm Hoa. Đứa nào đứa nấy súng ống lăm lăm trong tay. Tên trùm phỉ Lý Xíu, hai tay hai khẩu súng ngắn, ngang nhiên bước lên thang nhà ông Khâm Hoa gọi to :

        - Chủ nhà đâu?

        - Thưa quan, tôi đây ạ? ông Khâm Hoa ở trong nhà trả lời và mở cửa.

        Hắn đi xộc vào nhà, ngồi xếp chân bằng tròn giữa sàn, hai khẩu súng ổ quay ghếch lên hai bên đùi, dõng dạc nói:

        - Ta được biết ông Lê (Tức Lê Quảng Ba.), ông Trần (Tức Trần Sơn Hùng (Hoàng Sâm).) ở gần đây. Mày cho người đến nói với hai ông, ta là Lý Xíu mời hai ông đến uống rượu nói chuyện.

        Nghe La Thanh kể xong, tôi nói với Hoàng Sâm:

        - Thằng trùm phỉ này ngang tàng đấy? Nó muốn thi gan đọ sức với chúng mình. Tôi đã từng nghe đồn về tên này.

        - Rõ quá rồi? Thằng này cũng quỷ quyệt, nó kéo quân đến, bố trí xong đâu vào đấy mới cho mời chúng mình đến cốt để nắn gân cốt chúng mình đây. Nếu chúng mình tránh mặt, nó cướp bản ngay. Ngược lại, chúng mình đến, rất có thể phải đọ súng với nó.

        Ý kiến anh Sâm rất hợp với tôi.

        - Mình cũng nghĩ như vậy, tôi nói với Hoàng Sâm. Quân nó đông, súng ống nhiều, lại có cả súng máy. Nếu chúng mình không đến, nó cướp bản; chắc chắn dân bản không chống cự nổi. Việc phỉ đến cướp bản Pác Bó sẽ truyền đi các nơi. Các toán phỉ khác được thể càng hoành hành. Như vậy việc nhân dân phòng chống phỉ sẽ khó khăn. Vì thế, dù có phải đọ súng, đổ máu, chúng mình cũng phải đến.

        Tôi và anh Hoàng Sâm kéo nhau ra một chỗ khuất bàn tính kế hoạch đối phó. Hoàng Sâm bảo:

        - Chuyến này chúng mình chơi dao đây. Khéo tay thì được việc Không khéo tay thì dễ bị đứt tay chảy máu. Tất nhiên phải làm thế nào để khỏi bị đứt tay. Tôi nói:

        - Bọn phỉ đông hơn mình, vũ khí nhiều hơn, lại ở thế trận có lợi. Lúc này không thể dùng lực lượng vũ trang tiến công trực diện được. Phải dùng mưu đánh cho chúng một đòn tâm lý khiến cho chúng khiếp sợ.

        Sau khi thống nhất kế hoạch. Hoàng Sâm đeo khẩu poọc hoọc rồi cùng La Thanh đến nhà ông Khâm Hoa.

        Sau khi anh Sâm đi, tôi cử người cấp tốc đi báo cho các đội tự vệ quanh đấy biết tình hình và chuẩn bị sẵn sàng đối phó. Còn tôi huy động thêm một số anh em tự vệ tập trung lại phía dưới Bản Hoàng.

        Hơn một giờ sau, La Thanh lại đến cho biết tình hình và bảo tôi phải đến ngay. Thì ra anh Sâm đã giáng cho tên trùm phỉ một đòn tâm lý phủ đầu. Khi anh tới, mặc bọn phỉ đứng gác lên đạn lạch xoạch, anh đàng hoàng bước lên thang vào nhà. ông Khâm Hoa trịnh trọng giới thiệu anh với Lý Xíu. Sau khi hai bên "thi lễ" với nhau, anh ung dung ngồi xếp chân bằng tròn trước mặt hắn. Lý Xíu nhã nhặn hỏi:

        - Chẳng hay ông Lê có nhà không mà không thấy ông đến cùng uống cho vui? Rượu ngon nhưng không có tri kỷ, uống mất ngon, phải không thưa ông Trần?

        Anh Sâm trả lời:

        - Ông Lê đang bận huấn luyện một đội quân. Có gì ta hãy nói chuyện với nhau đã.

        Lý Xíu ra hiệu cho tên hầu rót rượu ra chén, rồi y chìa hai tay trịnh trọng mời:

        - Rượu ngon, xin mời ông cạn chén?

        Hoàng Sâm tươi cười:

        - Trước khi nâng chén, ông cho tôi có lời trước đã. Ông nên ra lệnh cho quân của ông đừng sơ suất để súng nổ. Vì nghe tiếng súng, quân của tôi tưởng tôi ra lệnh, lập tức họ nổ súng vào quân ông đấy. Như vậy, bữa rượu sẽ mất vui.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:19:42 PM

        Lý Xíu chừng bị bất ngờ, có vẻ bối rối, vội ra lệnh. La Thanh kể tiếp:

        - Sau đấy, tên hầu bưng mâm cỗ đặt xuống bàn và hai người vào tiệc. Một lát sau, anh Sâm hỏi y có cần gặp ông Lê nữa không thì tên trùm phỉ ngỏ ý muốn được gặp đấy?

        Thế là tôi và đồng chí Thế An theo La Thanh đến nhà ông Khâm Hoa. Tôi vừa đi vừa nghĩ tên trùm phỉ nghe anh Sâm nói ta có một đội quân ở ngoài bản đang luyện tập thì chắc nó cũng không dám giở trò gì với dân bản. Nó mời mình đến chắc là muốn thử tài mình đây. Khi tôi tới nơi, Lý Xíu làm bộ "thi lễ" niềm nở. Sau đấy, tên hầu lại bưng thêm cỗ, bữa tiệc tiếp tục. Một lát sau, ăn uống xong, Lý Xíu ngỏ ý mời tôi và anh Sâm dạo chơi. Tôi đưa mắt cho Hoàng Sâm và khẽ gật đầu. Tôi và anh Sâm cùng Lý Xíu đứng dậy xuống thang đi ra cổng. Cả hai bên đều có người đi kèm. Qua đầu nhà, đến gốc một cây si to, Lý Xíu dừng lại. Tôi thầm nghĩ đã đến lúc rồi đây, để xem nó giở trò gì. Lý Xíu dang hai tay nói bằng cái giọng mã thượng giang hồ:

        - Tôi nghe thiên hạ đồn ông Lê có tài bắn bách phát bách trúng nên tôi có lòng hâm mộ từ lâu. Hôm nay, may mắn được gặp, lại đang lúc vui vẻ, tôi muốn ông chỉ giáo cho được không?

        Nghe cái giọng "anh hùng hảo hán" trong các tiểu thuyết võ hiệp Tàu đầy vẻ khôi hài, tôi suýt phì cười. "Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy", tôi liền bắt chước lối nói của Lý Xíu:

        - Có lẽ thiên hạ đồn sai. Tài nghệ của tôi chỉ đáng bậc đàn em ông Trần. Nhưng nếu ông muốn cùng tôi thử tài cao thấp cho vui tôi xin lãnh ý. Nào, ta bắn cái gì đây?

        Lý Xíu đảo mắt nhìn quanh. Hắn trỏ cành si ở trên đầu. Cành này bị gãy gập từ lâu. Chỗ gãy khúc ở giữa đã mục có viền chung quanh tròn như điểm đen ở bia. Tôi đồng ý và nhường Lý Xíu bắn trước. Hắn giơ súng nhằm chỗ gãy bóp cò. Súng nổ. Viên đạn chỉ trúng cành si cách chỗ gãy mấy phân. Tôi bắn đúng vào điểm đen chỗ gỗ mục. Tên trùm phỉ la lên, giọng lạc hẳn đi:

        - A! Đúng hồng tiêu rồi.

        Hai bên lại tiếp tục theo đường nhỏ xuống xóm dưới. Giữa hai xóm, trên đường có vạt cỏ nương, có mấy cây hóp. Hắn lại nói:

        - Ta bắn cây hóp to nhất kia?

        - Mời ông bắn trước?   

        Lý Xíu nổi tiếng là tay súng cừ khôi trong hàng trùm phỉ. Y bắn súng ngắn, súng trường đều giỏi, bắn tay phải, tay trái như nhau. Lý Xíu rút súng ra, giơ súng nhằm cây hóp to nhất bóp cò. Tiếng súng vừa nổ, hắn nhìn chằm chặp và "hấy à" một tiếng, vẻ không hài lòng. Viên đạn chỉ rạch một vệt sướt lên thân cây.

        Đến lượt tôi. Theo thói quen, tôi chĩa nhanh khẩu poọc-hoọc về hướng cây hóp to nhất và bóp cò. Lẫn vào tiếng súng, có tiếng "đốp" khe khẽ. Một gióng hóp nứt toác ra làm đôi. Ngọn hóp rũ xuống. Phấn khởi, tôi bình tĩnh bắn tiếp phát thứ hai. Súng nổ. Một gióng nữa nứt toác. Tôi liếc nhìn thấy mặt Lý Xíu hơi tái đi. Hắn nói líu ríu:

        - Quả thiên hạ... đồn không sai?

        Ba người lại đi tiếp. Bỗng Lý Xíu dừng lại cách một cây đu đủ trĩu quả khoảng năm, sáu chục mét. Hắn trỏ quả đu đủ trồi ra bên ngoài chùm quả và nói:

        - Ta bắn cái quả chín đỏ trồi ra kia?

        - Mời ông bắn trước!

        Lý Xíu nheo một bên mắt, ngắm mục tiêu nổ súng. Phát đạn xuyên qua quả đu đủ. Mặt hắn tươi rói lên. Tôi nói:

        - Giỏi? Giỏi quá?

        Biết tên trùm phỉ chưa chịu, tôi tự nhủ phải cố gắng. Tôi chỉ quả đu đủ ấy nói:

        - Quả chín rồi, phải lấy xuống thôi?

        Rồi tôi tì khẩu súng lên cánh tay trái, nhằm cuống quả đu đủ bóp cò. Súng nổ. Quả đu đủ bị bắn gãy cuống rơi xuống đất.

        - Giỏi quá? Giỏi quá! anh Sâm khoái trá reo lên.

        Tôi kín đáo quan sát tên trùm phỉ. Mặt Lý Xíu đờ ra, ria mép giật giật. Các thớ thịt trên khuôn mặt đã tái đi hằn lên. Hắn đưa tay áo quệt những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán. Phút sau, hắn ấp úng:

        - Tôi thật có mắt không ngươi, đứng trước núi Thái Sơn mà không biết. Xin bái phục, bái phục...

        Ba người tiếp tục đi ra bờ sông. Ở đây, đất bãi bằng phẳng. Lý Xíu lại gạ ném lựu đạn. Ba mươi sải ném trúng đích. Mỗi bên ném bốn quả. Anh Sâm nhận lời. Lý Xíu sai quân hầu nhặt đá bên đường xếp thành một cái vòng tròn đường kính độ hai mét.

        Lần này, Lý Xíu mời anh ném trước, cách chỗ ba người đứng gần năm chục mét. Sẵn bên người bốn quả lựu đạn Ý, anh rút từng quả ném. Cả bốn quả đều rơi vào trong vòng. Tôi khoái trá reo lên:

        - Tuyệt Tuyệt!

        Lý Xíu ném chỉ vào có hai, lại gạ ném lựu đạn chày, thi ném xa.

        - Chúng tôi không đem theo lựu đạn chày, tôi cho đi lấy - tôi nói. Rồi tôi quay lại bảo anh Thế An:

        - Đồng chí cho mở kho đem một thùng lựu đạn chày ra đây!"

        Thật ra lúc đó, chúng tôi chỉ có đúng 18 quả lựu đạn chày mua của lính Quốc dân đảng Trung Quốc để trong hai cái thùng sắt cũ đựng dầu hoả, một thùng 8 quả, một thùng 10 quả. Hai thùng này có độn vôi ở dưới để chống ẩm và được giấu bí mật trong một hang núi chứ làm gì có kho. Nhưng tôi ra lệnh như vậy làm như mình có kho đạn dược đàng hoàng và nhiều lựu đạn lắm.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:20:02 PM

        Một lúc sau, hai đồng chí Phùng Lùa, La Thanh khiêng một thùng lựu đạn đến. Cuộc thi ném xa này cũng kết thúc nhanh chóng vì anh Sâm người cao, chân tay dài hơn địch thủ, có kỹ thuật ném điêu luyện nên lần nào Lý Xíu cũng thua. Lúc này tên trùm phỉ như con gà chọi say đòn, lại chỉ khẩu phù pắc tán (Một loại súng của Trung Quốc chế tạo tại tỉnh Hồ Bắc. ) đeo ở vai tên quân hầu:

        - Ta thi bắn súng trường, ông Lê? Tôi gật đầu, rồi dõng dạc ra lệnh:

        - Anh La Thanh! Cho mở kho lấy một khẩu súng trường Bỉ ra đây?

        Thật ra trong cái "kho" ấy cũng chỉ có độc một khẩu súng trường Bỉ vừa mua được của lính Quốc dân đảng bên kia biên giới. Anh Thanh biết ý chạy đi ngay và một lát sau đã đem khẩu súng ấy về.

        Cuộc thi bắn súng trường bắt đầu. Lý Xíu bắn ba phát nhằm vào mảnh giấy gài ở cây nhội dưới chân đèo Pắc Ngàm, nhưng tôi thấy hắn hồi hộp, tay run hẳn rồi. Cả ba phát đều trượt ra ngoài mục tiêu. Đang phấn chấn, tôi càng tự tin và lần này cũng lại thắng tên trùm phỉ. Lý Xíu cay cú đòi thi bắn trung liên. Tôi trả lời ngay:

        - Chúng tôi không có trung liên!

        Quả thật hồi ấy tổ vũ trang chúng tôi không có trung liên. Nhưng thỉnh thoảng chúng tôi lại cho anh em tập trung súng trường bắn từng loạt ba phát một, giả làm trung liên; sau đó cho người đi phao tin ở chợ Cọt Mà bên Trung Quốc.

        Lý Xíu không tin và nói:

        - Tôi biết các ông vừa cho thử trung liên. Các ông có nhiều trung liên hơn chúng tôi. Thôi không thi nữa!

        Lý Xíu đưa tay áo quệt bọt xều ra hai bên mép, rồi nói tiếp:

        - Các ông có đoàn thể, có nhiều súng đạn, bắn bao nhiêu cũng được. Còn chúng tôi, bắn một phát súng, ném một quả lựu đạn cũng đều phải móc ở hầu bao ra. Xin chịu thua các ông!

        Nghe Lý Xíu nói, tôi mới vỡ lẽ tại sao thi ném lựu đạn y lại đề nghị không rút chốt. Lúc ấy, mặt Lý Xíu đỏ bừng, rồi tím lại. Hắn quay ngoắt đi, hết cả điệu bộ "anh hùng hảo hán" lúc ban đầu. Theo lệnh chủ tướng, cả bọn phỉ lủi thủi rút khỏi Pác Bó theo đường lên Cáy Tác.

        Tôi và anh Sâm đoán biết Lý Xíu đem quân đi lối nào nên cùng mấy anh em cắt rừng theo đường tắt đến bản Thiêng Vài. Đội phòng phỉ của bản này đang tập trung trên đồi với khẩu Sàng Là. Đây là một loại súng cổ. Khi sử dụng phải nhồi thuốc súng vào nòng, sau nhồi các mảnh gang vụn, rồi châm ngòi hoặc mồi lửa. Tôi liền cho nạp đạn khẩu Sàng Là. Anh em vừa nạp đạn xong thì quân Lý Xíu mò đến chân đồi. Tôi ra lệnh châm ngòi. Khẩu Sàng Là nhằm vào một bụi mai gầm lên dữ dội. Các cây mai đổ, gãy văng cành lá bay tứ tung. Đám quân cướp, tuy còn ở cách xa nơi đạn nổ, không còn hồn vía, đạp lên nhau chạy tán loạn.

        Tôi và anh Sâm đi tại chỗ Lý Xíu. Tên trùm phỉ đang dựa vào một gốc cây, mắt trắng dã, mồm há hốc. Thấy chúng tôi đến, hắn lắp bắp:

        - Súng... súng gì thế, ông Lê..., ông Trần?

        Tôi nói:

        - Quân của chúng tôi đang tập trận. Chúng tôi thấy quân ông đi về ngả này nên phải cấp tốc chạy đến đây hạ lệnh cho quân của chúng tôi không được bắn vào quân của ông.

        Lúc này, Lý Xíu đã hoàn hồn. Hắn nói qua hơi thở còn đang hổn hển, vẻ khâm phục:

        - Các ông đi nhanh quá! Chúng tôi đi trước mà lại đến sau. Cũng may là không phải chạm súng với nhau. Xin đa tạ đa tạ?

        Anh Sâm trả lời:

        - Vì tình anh em nên phải đến cho kịp. May nhất là phát súng vừa rồi không bắn phải quân của ông.

        Lý Xíu chắp tay, cúi gập người xuống chào hai chúng tôi:

        - Tái kiến Tái kiến!


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:20:31 PM

        Hòa hoãn với trùm phỉ họ Quách

        Tên trùm phỉ họ Quách ở Quảng Đông nguyên trước là sĩ quan Quốc dân đảng Trung Quốc. Về sau, y đào ngũ và tổ chức một đội vũ trang chuyên đi áp tải thuốc phiện cho một đoàn buôn lậu từ Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) theo dọc biên giới Việt Trung về đến Quảng Đông. Khi có hàng, hắn đi áp tải; còn không thì đi ăn cướp. Sau hắn bỏ nghề áp tải thuốc phiện lậu vì đi ăn cướp bở hơn. Quách là một trong những tên đàn anh trong hàng thổ phỉ. Có nhiều giai thoại về tên trùm phỉ này. Những người già ở biên giới thường kể cho con cháu nghe mẩu chuyện sau:

        Một lần có một tên trùm phỉ đến gặp Quách. Nó muốn đọ tài với trùm phỉ họ Quách có tiếng là can trường kia. Hai tướng phỉ ngồi đối diện nhau bên bếp lửa. Quách hiểu bụng dạ tên này vì bọn trùm phỉ thường thử tài nhau để phân ngôi thứ.

        Tên nào thua phải chịu làm đàn em.

        Tên trùm phỉ lạ mặt cầm lấy cái điếu thuốc lào, nạp thuốc rồi dùng hai ngón tay gắp cục than hồng vào mồi thuốc. Hắn rít một hơi dài rồi nhẩn nha thả khói. Hai ngón tay vẫn kẹp hòn than. Hắn hút bốn năm điếu liền, một tay thay thuốc, một tay vẫn giữ hòn than kẹp giữa hai ngón đến khi có mùi da thịt cháy khét lẹt, hắn mới buông cục than, đưa cái điếu cho Quách, vẻ mặt lạnh như tiền.

        Họ Quách thản nhiên đỡ lấy cái điếu, đoạn vén một bên ống quần lên, tay nhặt một cục than hồng khác để lên bắp đùi Rồi hắn thong thả nạp thuốc, cầm cục than châm và hít một hơi dài. Hắn đặt cục than vào chỗ cũ, há miệng ung dung nhả khói. Rồi lại tiếp diếu thứ hai, thứ ba, thứ tư thứ năm. Mùi da thịt cháy khét lẹt nhưng họ Quách vẫn thản nhiên như không. Cục than hồng được chuyển từ bắp đùi rồi lại sang nõ điếu... Khi cái chỗ để cục than cháy đen lại, Quách thản nhiên đưa cái điếu cho khách. Tên trùm kia kính cẩn đưa hai tay đỡ lấy cái điếu, đặt xuống bàn rồi đứng dậy, vòng tay trước ngực cúi đầu nói:

        - Quách đại ca quả là bậc hảo hán; tiểu đệ xin bái phục!

        Việc hòa hoãn với tên trùm khét tiếng họ Quách ấy không phải dễ. Song chúng tôi có thuận lợi là uy tín của tổ vũ trang sau cuộc đối phó thắng lợi với tên trùm phỉ Lý Xíu đã tăng lên không chỉ trong nhân dân vùng biên giới mà còn tác động đến cả các toán phỉ khác ở bên kia biên giới.

        Một thuận lợi nữa là trong cuộc đối phó với trùm phỉ Lý Xíu, lúc đầu chúng tôi bị động phải chấp nhận cuộc thử sức với y, nhưng lần này chúng tôi chủ động đánh bằng chính trị và tâm lý. Tôi và anh Sâm bàn nhau hòa hoãn với tên trùm phỉ họ Quách trong lúc lực lượng cách mạng còn yếu.

        Chúng tôi cử anh Nam Hưng là một quần chúng cơ sở vùng này đến gặp hắn trước. Chiều hôm đó, anh trở về cho biết trùm phỉ họ Quách bằng lòng. Song nó muốn làm lễ kết bái huynh đệ phải có thần, phật chứng giám. Nó muốn anh Ba cũng như nó khi thề phải quỳ trước khẩu súng máy, đạn đã lên nòng. Cò súng có buộc sợi dây, đầu dây kia buộc vào chân con gà. Nó bảo "nếu ai không thật tâm, thần, phật xua con gà chạy để giật cò súng. Súng nổ, người thề gian dối phải chết!".

        Nghe anh Nam Hưng nói, cả hai chúng tôi im lặng nhìn nhau. Đã mấy tháng liền, tôi và anh Sâm không quản hy sinh gian khổ, trèo đèo lội suối, lần đến các bản ở vùng biên giới này làm nhiệm vụ đoàn thể giao cho là giải quyết nạn thổ phỉ.

        Chúng tôi đã làm được nhiều việc, thành lập những đội phòng phỉ ở các bản, trấn áp được một toán phỉ đến cướp bản Cáy Tác, đẩy lùi được toán phỉ Lý Xíu ở Pác Bó và thuyết phục được một số phỉ bỏ nghề cướp bóc trở về làm ăn lương thiện. Song thổ phỉ như nấm cỏ.

        Tôi nói với anh Sâm: "Trong khi lực lượng cách mạng chưa đủ mạnh để tiêu diệt thổ phỉ thì hòa hoãn với tên trùm phỉ họ Quách là đúng và cần thiết. Mình có thể hạn chế sự hoành hành của nó. Chí ít là tay chân của nó sẽ không quấy rối cơ sở mình. Họ Quách lại có uy thế trong hàng trùm phỉ. Thấy Quách đã kết nghĩa với ta, các tên trùm phỉ khác sẽ nể sợ. Song nó đặt điều kiện nguy hiểm quá! Vì cách mạng mình sẵn sàng chết bất cứ lúc nào. Nhưng đi thề thế này, ngộ chẳng may có con chuột chạy hay con rắn bò qua, gà sợ lồng lên làm giật cò, súng nổ thì cái chết vô nghĩa quá. Đã không có công, lại còn có tội với đoàn thể".

        Anh Sâm vỗ vai tôi:

        - Ba ạ! Mình nghĩ ra rồi. Ta cứ thoả thuận với nó như thế. Khi buộc dây, Ba cần chú ý để cho nó buộc đầu dây vào cò súng, còn Ba thì buộc đầu dây vào chân con gà. Nhưng Ba phải buộc thêm một cái que vào đoạn dây gần chân con gà, rồi ghim cái que xuống đất. Dù gà có phá chạy, cái que là cái chốt an toàn .

        - Làm như thế, nó biết; nó khinh mình và sẽ càng nghi - tôi nói với anh Sâm.

        Anh im lặng, đứng dậy đi đi lại lại một lúc rồi đến bên tôi khẽ nói:

        - Ba nói đúng? Hay là thế này; nó đã nghi, mình chơi lại bằng đòn chính trị, tâm lý vậy. Mình cho người đến phân giải cho nó hiểu làm như thế là không tin nhau. Đã nghi ngờ nhau thì chẳng cần kết nghĩa với nhau làm gì! 

        Tôi nhất trí về cử ngay anh Nam Hưng đi. Anh ấy sốt sắng đi ngay đến sào huyệt tên trùm phỉ họ Quách. Đêm đã khuya, anh mới về đến nhà. Vừa ló đầu lên khỏi cầu thang, anh đã hồ hởi reo lên:

        - Tốt rồi? Họ Quách đồng ý và đã hẹn ngày làm lễ kết bái huynh đệ.

        Đến sáng ngày hẹn, anh Nam Hưng đưa tôi đến một căn nhà gần sào huyệt của Quách. Lễ kết nghĩa tổ chức đơn giản. Quách cắt cổ con gà trống to, hứng tiết vào chén rượu. Tôi và Quách trích máu ở đầu ngón tay, rỏ vào đấy. Xong hai người chia nhau chén rượu và thề không bao giờ phản trắc nhau. Quách nhiều tuổi làm anh. Tôi ít tuổi làm em. Tiệc rượu đã được tên quân hầu bày ra trên tấm da gấu, Quách rót rượu mời tôi và Nam Hưng, rồi nói;

        - Bây giờ là anh em với nhau rồi, chú đừng khách khí nhé! Chú cần tôi giúp gì không?

        - Có đấy! Một chút việc nhỏ thôi! - Tôi từ tốn đáp.

        - Chú cần giúp gì? - Nét mặt Quách bỗng nghiêm trang.

        - Anh mua giúp tôi một ít súng đạn, nhất là đạn poọc-hoọc.

        - Tưởng cái gì khó chứ món ấy thì dễ lắm? Tôi sẽ bảo bọn buôn thuốc phiện lậu mua giúp. Chú cần giúp gì nữa không"

        - Đất Lục Khu là căn cứ cách mạng để đánh tây. Anh đừng cho quân của anh hoạt động ở vùng này.

        - Nhất định thế! Mà các toán quân khác cũng không được lai vãng vùng này, đứa nào không nghe, tôi cắt cổ nó. Chú cần giúp gì nữa nào?

        - Thế thôi? 

        - Phoong Phoong Slắm (Có nghĩa là yên tâm.) Quách vỗ vào ngực nói, Quách này đã nói là như dao chém đá.

        Những nhận thức sách lược đúng đắn của Châu ủy Hà Quảng đối phó với nạn thổ phỉ ở vùng biên giới này và kinh nghiệm chống phỉ tích luỹ được những năm đó đã giúp đội du kích chúng tôi nhanh chóng đối phó có hiệu quả với bọn phỉ trong những ngày hoạt động về sau này.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:21:14 PM

        Đội du kích Pác Bó với việc xây dựng các đội vũ trang châu, tổng và tự vệ, tự vệ chiên đấu xã.

        Qua gần bốn tháng hoạt động tập trung, chúng tôi nhận thấy phong trào Việt Minh ở các châu Hà Quảng, Hòa An và Nguyên Bình ngày càng mở rộng; anh em cán bộ và cốt cán ở một số địa phương đã trưởng thành và có thêm một số súng ống; số hội viên tham gia tự vệ cũng tăng thêm. Mặt khác, anh em đội du kích được rèn luyện thực tế đều có tiến bộ, không những có khả năng huấn luyện quân sự và chính trị theo chương trình đã học mà còn rút được ít nhiều kinh nghiệm về tổ chức lãnh đạo và chỉ huy một đội du kích nhỏ cũng như những kinh nghiệm mới về công tác quần chúng. Như vậy, cách mạng đã có điều kiện để xây dựng thêm lực lượng vũ trang. Thêm nữa, Bác chưa cho đánh các bốt dõng hay các đội tuần tiễu của địch, làm cho chúng tôi hiểu tình hình chưa cho phép tổ chức các cuộc chiến đau vũ trang.

        Vậy đội du kích lúc này nên làm gì? Nếu tiếp tục đi vũ trang tuyên truyền ở các châu khác như trước thì tác dụng của đội cũng hạn chế, có thể mở rộng được phong trào nhưng không củng cố kịp. Cuối cùng, chúng tôi thống nhất với nhau nên đưa đội du kích phân tán đi làm nòng cốt tổ chức các đội vũ trang châu. Chúng tôi báo cáo ý đó với Bác.

        Vào khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1942, Bác từ Khui Nậm xuống Hòa An, trung tâm của tỉnh Cao Bằng hồi ấy để chỉ đạo phong trào nên Bác đồng ý. Bác chỉ thị thêm cho chúng tôi:

        - Đồng ý phân tán đội đi tổ chức các đội vũ trang châu. Nhưng không được đánh ẩu! Điều quan trọng là quân sự cũng như chính trị, phải có nhiều cán bộ giỏi. Phải chú ý mở lớp huấn luyện để đào tạo và bồi dưỡng cán bộ chỉ huy và cán bộ huấn luyện. Các đồng chí phải kiên quyết cử người chuyên trách.

        Việc Bác đồng ý cho xây dựng các đội vũ trang châu đã mở ra một thời kỳ hoạt động mới của đội du kích. Đó là thời kỳ đội phân tán đi làm nòng cốt phát triển các lực lượng vũ trang châu bắt đầu từ đầu quý II năm 1942 đến giữa năm 1943.

        Vào dịp Bác chuyển cơ quan xuống Hòa An, đội tạm phân tán, người ở châu nào về xây dựng đội vũ trang ở châu ấy và sau từng thời gian quy định về gặp Ban chỉ huy đội để trao đổi kinh nghiệm. Các anh Bằng Giang, Bế Sơn Cương và Sĩ Cương về Hòa An xây dựng đội vũ trang châu có nhiều thuận lợi. Riêng ở châu Nguyên Bình, chỉ có một đồng chí Dương Mạc Hiếu là người địa phương và phong trào quần chúng ở đây còn yếu kém nên việc xây dựng đội vũ trang châu có chậm hơn ở Hòa An.

        Còn ở Hà Quảng, Ban chỉ huy đội du kích vẫn ở Pác Bó để tiện chỉ đạo chung. Trong thời gian này, anh Hoàng Sâm và anh Thế An đi bảo vệ Bác về Hòa An. Đồng chí Đức Thanh về phụ trách cơ sở quần chúng và tự vệ ở Nà Mạ và sau trở thành đội trưởng đội vũ trang tổng Phù Đúng (Hà Quảng). Cô Trưng thoát ly đội ra làm công tác phụ nữ châu, nhưng hoạt động ở đâu, cô cũng tham gia huấn luyện quân sự ở đó. Mấy anh em còn lại chia nhau tranh thủ đi mở lớp huấn luyện cho cán bộ phụ trách tự vệ và một số cán bộ chính trị. Tòi phụ trách huấn luyện ở Pác Bó đào tạo cán bộ cho các xã Kéo Đắc, Yên Lũng. Đồng chí Thiết Hùng ở các xã Đào Ngạn, Phù Ngọc. Đồng chí Phùng ở xã Nà Sắc. Cô Trưng trước khi chuyển sang làm công tác phụ nữ cũng tranh thủ giúp đồng chí Phùng ở xã Nà Sắc và giúp xã Sóc Giang mở được hai lớp. Còn đồng chí Đức Thanh cũng tranh thủ mở được một lớp ở xã Hòa Mục trước khi về cơ sở. Mỗi lớp học bảy ngày. Đến dự lớp huấn luyện, ai cũng phải đem theo gạo và thực phẩm tự túc trong thời gian học đồng thời còn góp thêm lương thực để nuôi giảng viên.

        Gần một tháng sau, khi hai anh Hoàng Sâm và Thế An trở lại, đội du kích bổ sung thêm các anh Lâm Văn Thịnh tức Thạch, anh Thân (anh ruột Kim Đồng) (Đồng chí Thân đã hy sinh trong trận đánh đồn Nà Rì, năm 1945.), anh Ích tức Lương Quay Sắm, anh Thắng - người tổng Thông Nông. Lúc này, anh Hoàng Sâm làm đội trưởng còn tôi làm chính trị viên cho đến giữa năm 1943.

        Vào thời gian này, hai đồng chí Hoàng Sâm và Thế An được trên điều đi tổ chức đội bảo vệ các tổ xung phong Nam tiến. Các tổ này đã gây cơ sở quần chúng theo tuyến đường Bắc Cạn để nối liền khu căn cứ Cao Bằng với Thái Nguyên. Tôi giữ các anh em còn lại làm nòng cốt và bổ sung thêm các anh Vương (Đồng chí Vương, người xã Sóc Giang bị phản động bắn chết năm 1943.), Sùng (Đồng chí Sùng tức Nông Quốc Chủng, sau làm đội phó đội bảo vệ chiến khu 2, nay đã mất.), Khải, người xã Linh Thành và anh Vĩnh Cường, người thôn Cốc Xú (Pác Bó) để tổ chức đội vũ trang châu Hà Quảng. Đồng chí Thạch được cử làm đội trưởng, đồng chí Thắng làm chính trị viên. Sau đó, thêm đồng chí Phùng phụ trách đội phó.

        Trong thời kỳ hoạt động phân tán, đội du kích đã làm được mấy việc có kết quả tốt như xây dựng được 3 đội vũ trang châu và một số đội vũ trang tổng ở các châu Hà Quảng, Hòa An và Nguyên Bình, xây dựng được nhiều đội tự vệ chiến đấu xã và mở rộng phong trào tự vệ xã, mở được hai lớp đào tạo cán bộ quân sự cho các châu tổng khác và cho tỉnh.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:21:30 PM

        Có thể nói kinh nghiệm có giá trị nhất trong thời kỳ hoạt động phân tán là đội du kích đã sáng tạo được hai hình thức tổ chức nhân dân vũ trang thích hợp với tình hình bấy giờ là đội vũ trang châu các đội vũ trang tổng và đội tự vệ chiến đấu xã.   

        Đội du kích chúng tôi đã tổ chức các đội vũ trang châu, tổng như sau:

        Về quân số, các đội vũ trang châu thường chỉ tổ chức từ 7 đến 12 người, vì điều kiện hậu cần chưa cho phép lấy nhiều người. Về vũ khí, các đội được trang bị đủ mỗi người một khẩu, có cả súng ngắn lẫn súng trường, súng kíp, súng hoả mai theo khả năng địa phương.

        Lúc này, phương châm hoạt động quân sự của các đội vũ trang châu là gặp địch thì tránh, tránh không được thì mới đánh; nhưng đánh cũng là để tránh. Đánh thì nhằm tiêu diệt đầu sỏ "đánh giập đầu rắn". Phương châm này chúng tôi đề ra trước khi đội phân tán và được Bác đồng ý. Ngoài ra, đội vũ trang châu còn luân phiên thay đổi trên dưới một phần ba số đội viên đã được rèn luyện một thời gian ở đội có đủ điều kiện đi phụ trách huấn luyện quân sự, chính trị cho tự vệ của xã. Danh sách những anh em này vẫn ở trong đội, khi cần lại gọi tập trung về.

        Mấy tháng sau, chúng tôi thấy một số xã có súng, có người, có khả năng cung cấp nên bàn nhau thống nhất tổ chức đội vũ trang tổng. Hình thức tổ chức này phát huy được hiệu lực hơn là để lẻ tẻ mỗi xã một, hai người. Các đội vũ trang tổng quy mô nhỏ hơn đội vũ trang châu. Mỗi đội chỉ tập trung từ 5 đến 7 người; có nơi, có lúc nhiều hơn một ít tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng tổng nhưng không quá một tiểu đội 12 người. Vũ khí của các đội vũ trang tổng thường không thống nhất, có súng gì, dùng súng ấy. Có đội chỉ có súng kíp, súng hoả mai; có đội ngoài súng kíp, súng hoả mai còn có súng trường và súng ngắn tuỳ theo khả năng của tổng.

        Theo kinh nghiệm của đội vũ trang châu, đội vũ trang tổng sau một thời gian học tập, rèn luyện cũng luân phiên cho một số đội viên xuống xã vừa làm cán bộ quân sự, vừa làm cán bộ chính trị gây cơ sở. Vì vậy, các đội vũ trang tổng thời kỳ này, ngoài việc học quân sự, còn phải học thêm về chính trị, về văn hóa và công tác binh vận dể làm ba nhiệm vụ: chính trị, văn hóa và binh vận.

        Hồi đó, ở tỉnh Cao Bằng, có tới 90 phần trăm dân số mù chữ. Ngay trong đội ngũ cán bộ, cũng có nhiều đồng chí không biết chữ. Bác thường nói với mọi người rằng mù chữ thì không làm cách mạng được. Một người đi nói với từng người thì tác dụng hạn chế, nếu nhiều người biết chữ đọc sách báo thì việc phổ biến chủ trương, chính sách sẽ nhanh và rộng rãi hơn. Bác chủ trương phong trào Việt Minh phát triển tới đâu, phong trào học văn hóa phải đi tới đó. Người biết dạy người không biết. Người biết nhiều dạy người biết ít. Bác nhận trách nhiệm trước chi bộ, hồi đó cơ quan còn ở Khui Nậm, trực tiếp dạy đồng chí Thế An học vì đồng chí ấy học rất khó thuộc, học đâu quên đấy.

        Do đó, trong nhân dân cũng như trong lực lượng vũ trang và nửa vũ trang thời ấy có phong trào học văn hóa rất sôi nổi. Báo Việt Nam độc lập với những bài viết, ngắn gọn, dễ hiểu, nội dung thiết thực phù hợp với trình độ của quần chúng đã góp phần to lớn vào phong trào học tập văn hóa và trở thành công cụ đắc lực truyền bá rộng rãi chủ trương, chính sách cách mạng trong nhân dân, trong các lực lượng vũ trang và nửa vũ trang. Quần chúng học được chữ, say mê đọc báo, mong chờ từng số.

        Ghi nhớ lời dạy của Bác, chúng tôi đặc biệt chú ý việc huấn luyện. Do đó, châu nào, tổng nào cũng có người chuyên trách việc huấn luyện và có nhiều lớp do châu, tổng mở. Các tổ chức lớp cũng linh hoạt. Có lớp huấn luyện cho cán bộ của hai tổng thuộc hai châu gần nhau, có lớp cho hai tổng gần nhau trong cùng một châu. Tổng cũng mở lớp chung cho cán bộ các xã trong tổng hay cho cán bộ các xã gần nhau của hai tổng trong châu: thậm chí còn mở lớp chung cho cán bộ một số xã gần nhau của hai châu. Nhờ đó việc đào tạo cán bộ được mở rộng và phong trào xây dựng lực lượng nửa vũ trang ở Cao Bằng được phát triển mạnh. Các lớp của châu, tổng mở đều học theo chương trình do đội du kích soạn thảo.

        Hoạt động của đội vũ trang tổng cũng dựa theo kinh nghiệm đội vũ trang châu. Đội vũ trang tổng nào cũng có một vài cốt cán thường trực và có danh sách số anh em luân phiên đi hoạt động ở xã để đào tạo cán bộ cho các xã; khi cần lại gọi về tập trung. Trong cuộc trừng trị tên tổng đoàn Quyền, đồng chí Lĩnh Thành đã đi phụ trách một xã vùng đồng bào Dao lại được đội gọi về tập trung.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:21:45 PM

        Chính nhờ kế hoạch phát triển lực lượng vũ trang, nửa vũ trang rất tích cực và linh hoạt như vậy, đến cuối năm 1942 ở các tổng Trung An, Phù Đúng, Thông Nông (Hà Quảng), Tĩnh Oa, Na Đàm (Hòa An) đã hình thành đội vũ trang tổng. Ngoài ra, các đồng chí cán bộ hoạt động bí mật có vũ khí họp thành các tổ vũ trang xã hoặc liên xã do các đồng chí tổ trưởng tổ cán bộ trong vùng phụ trách. Những anh em đó đều đã được qua lớp huấn luyện quân sự. Ở các châu Hòa An và Nguyên Bình, anh em cũng làm như ở Hà Quảng.

        Tôi đã khái quát vai trò của đội du kích trong việc xây dựng các đội vũ trang châu, tổng. Xin đề cập tiếp tác động của đội du kích đối với phong trào tự vệ xã.

        Chúng tôi còn nhớ đội du kích được Bác chỉ thị thành lập, khi phong trào Việt Minh ở Cao Bằng bắt đầu phát triển. Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương chủ trương tổ chức chính trị phải đi đôi với tổ chức tự vệ để bảo vệ tổ chức cách mạng và bảo vệ cản bộ. Tôi không nhắc lại các hình thức tổ chức tự vệ vì điều lệ của Việt Minh đã quy định cụ thể mà chỉ nói mặt huấn luyện tự vệ.

        Lúc đội du kích chưa thành lập, chúng tôi đi huấn luyện tự vệ thường phải hô khẩu lệnh bằng từ Hán Việt dịch từ khẩu lệnh Trung Quốc ra nên gặp rất nhiều khó khăn, càng đi sâu càng khó. Anh em khó hiểu và khó nhớ như "lập chính" (Nghiêm), "tiêu tức" (Nghỉ), hướng tả, chuyển, hướng hữu, chuyển... Mãi sau khi đội du kích đã Việt hóa được các khẩu lệnh thì việc huấn luyện tự vệ mới thuận lợi. Sau đó, các khẩu lệnh Việt được phổ biến rộng rãi trong các lực lượng vũ trang và nửa vũ trang ở Cao Bằng và các tỉnh khác.

        Đội du kích cũng đề ra được một chương trình huấn luyện quân sự từ thấp đến cao, tương đối cụ thể cho tự vệ. Chúng tôi chú trọng giảng giải cụ thể các cách canh gác, tuần tra, trinh sát, liên lạc, báo cáo và tổ chức thực tập. Thời gian huấn luyện thường từ ba đến năm ngày. Nội dung huấn luyện từ động tác cơ bản đến tiểu đội, rồi trung đội chiến đấu. Cuối tuần có ít nhất hai tối ôn tập và kiểm điểm kết quả học tập. Nhờ kinh nghiệm của đội du kích, việc huấn luyện tự vệ trở thành quy củ, nền nếp hơn.

        Thêm nữa, từ thực tiễn hoạt động, đội du kích lại sáng tạo ra một hình thức tổ chức nửa vũ trang thích hợp là đội tự vệ chiến đấu xã. Từ đầu năm 1943, khi các đội vũ trang châu, tổng đi hoạt động, chúng tôi nhận thấy đội nào cũng đều có anh em tự vệ xã, thôn tham gia phối hợp từng thời gian ngắn. Đó là những đồng chí trung thành, dũng cảm và hăng hái nhất trong tự vệ. Qua đó, chúng tôi thấy có một số đồng chí tự nguyện tham gia thường xuyên cần được giúp đỡ nâng cao trình dộ quân sự, chính trị mới đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, sau khi cân nhắc, ban chỉ huy đội chúng tôi chủ trương lập ra đội tự vệ chiến đấu xã. Đội này có nhiệm vụ vừa làm nòng cốt cho tự vệ xã, vừa làm lực lượng dự bị sẵn sàng bổ sung cho các đội vũ trang châu, tổng hoặc phối hợp với các đội tự vệ chiến đấu các xã khác, tổng khác. Vai trò và hiệu lực của tổ chức nửa vũ trang này đã được thực tiễn xác nhận.

        Về sau, chúng tôi tổ chức ở mỗi xã từ một tiểu đội đến một trung đội, ở thôn từ một tổ đến một tiểu đội tuỳ theo cơ sở quần chúng ở những nơi đó mạnh hay yếu. Xã đội trưởng đồng thời làm đội trưởng đội tự vệ chiến đấu; thôn đội trưởng đồng thời làm tổ trưởng. Các đội tự vệ chiến đấu xã được huấn luyện theo chương trình của các đội vũ trang tổng. Thời gian học từ 1 đến 10 ngày, sau nâng lên đến 15 ngày. Mỗi lớp huấn luyện tập trung từ hai đến ba trung đội của hai hay ba xã. Kết thúc lớp học, có tổ chức tập hành quân hoặc tập trận giả phối hợp với các đội vũ trang châu hoặc tổng.

        Tuân theo chỉ thị của Bác, chúng tôi đặc biệt coi trọng việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ. Bác thường dạy: "Văn phải ôn, võ phải luyện, phát triển phải đi đôi với củng cố”.

        Do đó từ giữa năm 1942 đến giữa năm 1943, không kể những lớp huấn luyện cấp tốc, ngắn ngày cho các đội vũ trang châu, tổng và tự vệ chiến đấu xã, đội du kích đã tổ chức được hai lớp huấn luyện của tỉnh và liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng nhằm mục đích đào tạo và bồi dưỡng cán bộ chỉ huy, cán bộ huấn luyện cho các châu.

        Lớp đầu tiên được tổ chức ở Pác Bó có trên 30 người. Nội dung chủ yếu học từ động tác cơ bản đến trung đội chiến đấu.

        Thời gian học là bốn tuần. Tôi và Thiết Hùng trực tiếp huấn luyện. Bãi tập ở ngay trên đồi Còi Mạc. Lớp học này được một số đội viên đội du kích và anh chị em tự vệ Pác Bó canh gác, bảo vệ chu đáo. Nhờ đó kinh nghiệm của đội du kích, lớp huấn luyện này tiến triển thuận lợi, giảng dạy thiết thực và không mất nhiều thời gian bàn về khẩu lệnh và động tác nữa.

        Lớp thứ hai có trên 50 học sinh do anh Thiết Hùng phụ trách tổ chức ở U Mả trong một khu rừng giữa Đào Ngạn và Mỏ Sắt. Thời gian nội dung học cũng như lớp thứ nhất. Đó là một số việc chính mà đội du kích đã làm được trong thời kỳ hoạt động phân tán. (Trong thời kỳ hoạt động của đội du kích Pác Bó đã có mầm mống của ba thứ quân vì đội du kích Pác Bó thực sự hoạt động như một đội chủ lực. còn các đội vũ trang châu, tổng thoát ly hoạt động ở các địa phương, các đội tự vệ và lự vệ chiến đấu ở các địa phương: các đội tự vệ và lự vệ chiến đấu ở các bản mường. các làng xã. Song chỉ đến khi Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập mới hình thành rõ rệt ba thứ quân với các đội vũ trang châu, tổng và các đội tự vệ, tự vệ chiến đấu xã.)


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:24:00 PM
       
        Những địa danh lịch sử

        Vào một buổi sáng, Bác gọi tôi và bảo dẫn Bác, anh Phùng Chí Kiên đi xem lại địa thế quanh hang Cốc Bó. Tôi nghĩ bụng ông Cụ đã ngoài năm mươi, đêm qua lại thức khuya đọc sách, sao không nghỉ ngơi cho lại sức đã, nhưng tôi không dám ngăn và lặng lẽ dẫn đường.

        Về sau, sống nhiều ngày bên Bác, tôi mới hiểu được ý nghĩa quan trọng của việc đó. Bác đến ở đâu, dù chỉ tạm một đôi ngày, bao giờ Người cũng chú ý quan sát địa thế và đường đi lối lại xung quanh để chủ động đối phó khi có địch sục đến bất ngờ.

        Hang Cốc Bó âm u, ẩm thấp nhưng địa hình vùng quanh hang thật hùng vĩ, nên thơ. Những ngọn núi chót vót xanh rì với những cây cổ thụ ở chân núi cành lá um tùm, có những dây leo rủ xuống mặt nước trong xanh; con suối rì rào uốn dòng đổ xuôi từng nấc về phía làng Pác Bó. Bác vui vẻ ngắm nhìn những vòm lá cao lộng ngả mái giao nhau che phủ cả một đoạn suối nước trong vắt, trông rõ mồn một từng hòn đá dưới lòng suối. Từng đàn cá chép, cá dầm xanh (Một loại cá như cá trắm cỏ, mình có vẩy xanh. Hiện nay ở suối Lê-nin, cá dầm xanh vẫn còn.) nối nhau lượn quanh khe đá. Tôi đưa Bác và anh Kiên đi một lượt thăm địa hình quanh chân núi giáp suối thì trời đã về chiều. Tôi giục Bác và anh Kiên trở về hang Cốc Bó ngay vì trời tối đường lên hang rất khó đi.

        Sáng hôm sau, Bác lại bảo tôi đưa Bác và các anh em đi tìm nơi làm việc ở dưới chân núi. Tôi đưa Bác và anh em ngược lên đầu nguồn nơi có vũng nước trong vắt, xung quanh lô nhô những tảng đá to. Ở đó, giáp chân núi có một chỗ tương đối bằng. Chúng tôi đi một vòng rồi lại quay trở lại chỗ đất bằng. Bác chỉ chỗ làm bếp, nấu cơm ở phía trên đầu nguồn; rồi chỉ cho chỗ đất bằng ở phía dưới có cây si gần bờ suối, Người nói:

        - Ta làm việc ở đây, các đồng chí à?

        Tôi đề nghị Bác cho xuống bản mượn bàn. Bác gạt ngay: Không được Tôi chợt hiểu ra rằng đi mượn bàn của dân thì dễ lộ bí mật. Tôi nghĩ hay là chặt cây nhơ nhỡ đóng xuống đất làm chiếc bàn và ghép cành làm mặt bàn, nhưng nhìn xuống thấy toàn đá không đóng cọc được. Tôi loay hoay không biết làm thế nào để có bàn làm việc và có thể đặt được cái máy chữ con của Bác lên trên.

        Buổi sáng hôm đó, cùng xuống núi với Bác còn có các anh Phùng Chí Kiên, Thế An và ông Lộc. Tôi bàn với các anh lấy đá kê làm bàn. Các anh đồng ý. Sau một hồi tìm kiếm, cuối cùng tìm được một tảng đá to mặt trên tương đối bằng có thể đặt được cái máy chữ con. Chúng tôi báo cáo với Bác, được Bác đồng ý. Thế là chúng tôi xoay trần ra, xúm lại vần tảng đá to xuống chỗ bằng phía dưới, sau đó tìm đá kê cho vững.

        Mặt bàn được kê ngay gần gốc si, cạnh một mỏm đá nhỏ có mặt phẳng có thể dùng làm ghế. Phải mất cả một buổi sáng mới xong, Bác ngồi lên phiến đá, hai khuỷu tay đặt lên mặt bàn đá, rồi lại quay người sang phải, sang trái. Nét mặt người vui vui lộ vẻ vừa ý. Bác cười nói với chúng tôi:

        - Cái bàn nhìn chông chênh thế mà đúng là bàn thạch đấy các đồng chí ạ! Nước lũ cũng khó mà lật đổ được nó.

        Ngay hôm sau, Bác xuống núi đến đây ngồi làm việc bên bờ suối, dưới vòm cây xanh có nhiều hoa, bướm và chim rừng, “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng" là chiếc bàn đó, và Bác làm bài thơ mà chúng ta đã biết.

                                  Sáng ra bờ suối, tối vào hang,
                                  Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.
                                  Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
                                  Cuộc đời cách mạng thật là sang!


        Một hôm, vào buổi sáng, Bác ra chỗ bàn đá làm việc như thường lệ. Đến giờ nghỉ, Bác rời bàn làm việc và tập thể dục. Bác vẫn giữ nghiêm kỷ luật làm việc, nghỉ ngơi và tập thể dục. Lúc ấy, đồng chí Dương Đại Lâm đang cày nương ở gần đầu nguồn trông thấy Bác thì ngừng tay chạy đến. Đồng chí Lâm là một thanh niên địa phương được tôi tuyên truyền giác ngộ vào khoảng cuối năm 1938 và đã trở thành cán bộ địa phương. Bác cũng đã biết Dương Đại Lâm qua tôi. Lâm chào Bác, rồi ngồi cạnh gốc si hút thuốc. Lúc Bác tập xong, anh nói với Bác bằng tiếng Tày:

        - Chính chỗ này là nơi cá dầm xanh đẻ đấy, Cụ ạ!

        Tôi vội dịch cho Bác nghe. Lâm nói tiếp, giọng vui vẻ:

        - Không phải năm nào cá dầm xanh cũng đến đẻ đâu? Năm nào nước vừa phải, đúng mùa đẻ của nó thì nó mới đến. Năm nay, cá tập trung về đẻ là điềm tốt lắm đấy.

        - Tốt thế nào? Bác mỉm cười hỏi.

        - Cái điềm tốt là sau này sẽ có nhiều người theo mình đấy?

        Bác gật đầu cười. Tôi nghĩ bụng cậu này đã đi theo chủ nghĩa Cộng sản mà còn duy tâm quá.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:24:57 PM

        Lúc ấy, Bác bỗng quay lại hỏi tôi:

        - Con suối này và quả núi kia địa phương gọi thế nào? Bác vừa nói vừa chỉ một quả núi ở phía xa, núi không cao lắm nhưng cây cối um tùm, ở ngay sát bờ suối.

        Tôi vội thưa với Bác:

        - Thưa Bác. Con suối này gọi là suối Giàng, còn quả núi kia có nhiều tên gọi lắm. Có tên gọi là Mà Tảng, là núi Khỉ còn gọi là núi Đào nữa!

        Tôi liền kể về lai lịch quả núi. Theo các bô lão địa phương kể lại năm nào cũng vậy, cứ đến mùa ngô ở vùng này; có một đàn khỉ mấy chục con không biết ở đâu kéo đến ăn ngô. Chúng vừa ăn, vừa phá, ăn xong, đến chiều chúng kéo nhau lên ngọn núi này nghỉ, đánh nhau chí choé. Trên núi, có nhiều cây nghiến to cao, có nhiều cành to, đạn bắn bị vướng cành nên rất ít khi bắn trúng khỉ. Lũ khỉ rất tinh khôn, bị đuổi chỗ này, chúng chạy chỗ khác; lúc leo lên tít ngọn cây; lúc chuyền sang cành khác.

        Năm 1939, tổ cách mạng chúng tôi gồm có ba người hoạt động thường xuyên ở vùng này. Anh Quốc Vân, Sơn Hùng và tôi thường xuyên ở nhà anh La Thanh - một quần chúng trung kiên. Nhà anh ở sát núi, nơi có nhiều hang hốc to nhỏ. Nếu địch đến nhưng còn xa thì chúng tôi lên núi. Nếu địch đến gần, chúng tôi chỉ việc ẩn vào trong lòng những cái hốc đá và vần một hòn đá to để gần bên che miệng hố là đủ. Cũng có lần địch đến gần nhà rồi, người nhà anh La Thanh phải đậy cho.

        Không những gia đình cơ sở mà quần chúng nhân dân vùng này cũng rất có ý thức bảo vệ cách mạng. Có một lần địch đến bất ngờ, một người trong chúng tôi chỉ kịp chui xuống hốc. Bà cụ Pháo ở cách nhà La Thanh một nhà, đang hái đu đủ ở gần đấy đã nhanh trí lấy cái sọt đu đủ đặt lên miệng hốc che kín và tiếp tục chọc đu đủ. Lính địch đến hỏi có thấy ai chạy qua. Bà cụ thản nhiên bảo không thấy. Chúng liền bỏ đi. Vì vậy chúng tôi đã chọn nhà anh La Thanh làm nơi họp với dân bàn việc bảo vệ ngô, đuổi khỉ và diệt khỉ.

        Thực ra kết quả chỉ đuổi khỉ được từng lúc chứ không sao diệt nổi. Lũ khỉ rất tinh khôn hễ thấy bóng người là lẩn trốn. Mãi sau này, dân đốn cây to nhiều, lại có nhiều súng săn bắn khỉ luôn nên chúng ít đến.

        Cuộc họp bàn bảo vệ ngô được dân bản hưởng ửng nhiệt liệt. Khi nới chuyện với dân bản, tôi không biết tên quả núi, cứ gọi là núi Khỉ. Anh em khác cũng quen gọi như thế. Sau khi họp xong dân bản ra về, bà nội anh La Thanh mới nói với ba chúng tôi:

        - Các cháu gọi núi ấy là núi Khỉ thì không đúng đâu? Dân bản gọi là Phía Tảo, tức là núi Đào đấy.

        - Tại sao lại gọi là núi Đào hở cụ? - Chúng tôi nhao nhao hỏi. 

        Bà cụ liền kể chuyện như sau:

        “Đời xưa, Ngọc Hoàng thượng đế có mấy cô con gái. Đến mùa hè, đào chín. Các cô rủ nhau xuống trần đi chơi, đến đây hái đào ăn. Mấy chị vui quá, trèo hết cây này đến cây khác, hái những quả đào chín nhất ăn. Các cô quá vui nên sắp đến gần trưa mà không biết. Riêng cô em út đã trèo lên một cây cách chỗ các chị khá xa. Trời nắng. Lại nóng dữ. Cô chạy xuống núi tìm nước. Trông thấy dòng suối, cô kêu to lên:

        - Các chị ơi! Đây có nước? Đây có nước!

        Các cô chị liền chạy đến suối, lúc đầu uống nước, sau cởi xiêm áo cùng nhau xuống suối tắm. Đang lúc họ vùng vẫy trong dòng suối, một cô chị nhìn lên thấy mặt trời sắp đứng bóng, hốt hoảng kêu lên:

        - Ôi! Mặt trời sắp đứng bóng rồi. Chúng ta phải về ngay không vua cha quở.

        Các cô chị vội vàng lên bờ, mặc xiêm áo rồi bay vút lên trời. Còn cô em út thì đang vùng vẫy dưới dòng nước mát ở xa, đến khi biết và bơi được vào bờ thì các chị đã bay đi hết, cô sợ hãi hấp tấp mặc vội xiêm áo, rồi vội vàng bay vút lên trời đuổi theo cho kịp các chị, quên khuấy mất quả đào cô đã hái đặt ở trên bờ định tắm xong mang về trời. Quả đào ấy sau biến thành quả núi bây giờ đấy, nên địa phương gọi là núi Đào”.

        Nghe tôi kể chuyện này, Bác vừa cười, vừa nói:

        - Thế ở đây, xưa cũng có tiên xuống chơi cơ đấy! Xưa thì có tiên cô, nay thì có tiên cậu, tiên ông.

        Anh em chúng tôi cười phá lên. Sau đó, Bác nói tiếp:

        - Cụ Các Mác là người sáng lập ra Chủ nghĩa xã hội khoa học. Người muốn loài người thành tiên. Cho nên chúng ta đặt tên núi này là núi Các Mác. Con suối này là suối Giàng. Cụ Lê-nin là người thực hiện chủ trương của Các Mác thành công ở Liên Xô cho nên chúng ta gọi suối Giàng là suối Lê-nin.

        Bài thơ nổi tiếng của Bác về núi Các Mác, suối Lê-nin ra đời tử đó:

                                  Non xa xa, nước xa xa,
                                  Nào phải thênh thang mới gọi là
                                  Đây suối Lê-nin, kia núi Mác,
                                  Hai tay xây dựng một sơn hà.


        Những tên lịch sử "núi Các Mác", suối "Lê-nin" đã ra đời trong ngày đầu Bác ở Pác Bó là như thế. Bác tạc tượng Mác trong hang Cốc Bó cũng vào dịp đó. Những việc làm trên của Bác trong những ngày đầu Bác ở trong nước đã nhắc nhở anh chị em cán bộ cách mạng chúng tôi hồi ấy bài học sâu sắc "uống nước, nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam ta. Lòng biết ơn của Bác đối với Các Mác và Lê-nin thật là sâu lắng và cảm động. Bác đi đến đâu, ánh sảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin chiếu rọi đến đó.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:26:08 PM

TIẾN QUÂN VÀO CHỢ RÃ

MAI TRUNG LÂM kể HOÀNG THẾ DŨNG ghi       

        Cuộc hành quân độc đáo của đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân

        Từ Hòa An đi Nguyên Bình, địch canh gác rất nghiêm mật. Cả đội hơn một trăm con người đều hành quân trên đường cái lớn thì rất dễ bị lộ, nên toàn phải đi theo đường mòn trên núi cao. Để đến khu vực an toàn ở vùng đồng bào Dao Tiền thuộc địa phận giữa châu Nguyên Bình (Cao Bằng) và châu Ngân Sơn (Bắc Cạn cũ, nay thuộc Cao Bằng, đội phải vượt qua con đường cái lớn nối liền tỉnh lỵ Cao Bằng với châu Nguyên Bình. Tin tức trinh sát cho biết chỉ có một đoạn từ Nà Bao đến Bó Ka là có thể qua được đường cái lớn.

        Nà Bao và Bó Ka cách nhau gần hai chục cây số, nằm dưới chân dãy núi đá tai mèo trải dài song song với con đường cái lớn. Đường này chạy qua một cánh đồng rất rộng. Ở gần Bó Ka cũng như gần Nà Bao có nhiều thung lũng có đường mòn từ trên núi xuống, xuyên ngang qua đường cái lớn. Vượt qua đường, đi bộ trên một cây số là đến khu vực có cơ sở của ta. Đi một ngày đường nữa thì đến địa phận châu Ngân Sơn.

        Nếu hành quân theo hai con đường mòn này thì rất dễ bị địch phát hiện. Trinh sát của đội tìm ra con đường mới chưa hề có dấu chân người, rất an toàn nhưng cực kỳ khó khăn hiểm trở. Ở khoảng giữa dãy núi đá từ Nà Bao đến Bó Ka có một đỉnh núi cao độ bốn, năm chục mét, cây cối um tùm. Nơi đây chưa hề có người qua lại. Một bên đá tai mèo lởm chởm từ chân lên đến đỉnh núi. Một bên trông xuống đường cái, cây cối phủ kín từ đỉnh xuống lưng chừng núi.

        Tiếp đó là một nản đá lớn (Tiếng Tày là vách đá.), chạy dài theo sườn núi ăn thẳng xuống tận chân núi, trông giống như một bức tường thành. Vách đá bị tán cây um tùm che lấp từng khoảnh. Những khoảnh lộ ra thì mặt phẳng lì. Sườn núi về phía có vách đá cao ấy không hề có đường lên xuống, chỉ có độc một cây dây rừng có ba nhánh bò từ mặt đất lên tới đỉnh núi toả ra thành nhiều nhánh bám chặt lấy các cành cây lớn như có người buộc. Loại cây này rất lạ. Thân to như bắp đùi, sù sì những mấu. Mùa xuân lá có màu đỏ tươi như màu hoa đào, mùa thu lá già lại xanh như những lá cây khác. Tiếng địa phương gọi là cây "khau đồng", nghĩa là cây dây đỏ.

        Do địa hình hiểm trở, lại không hề có đường mòn, nên địch hoàn toàn không chú ý đến đường này. Lợi dụng sơ hở đó của địch, anh Văn quyết định chọn con đường rất nguy hiểm nhưng cũng rất bất ngờ này đưa bộ đội ra khỏi khu vực mà địch chuẩn bị càn quét.

        Nơi trú quân của đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là địa điểm bí mật của đồng chí Tê, người Mông. Anh em đặt tên địa điểm này là khu Thiện Thuật, nằm trong châu Xích Vân. Thực ra trên bản đồ hành chính do Pháp lập hồi đó, tỉnh Cao Bằng chẳng có châu nào gọi là châu Xích Vân cả. Đây chỉ là một bí danh do cách mạng đặt ra để chỉ một khu vực rừng núi rộng lớn, địa bàn cư trú của dân tộc Mông nằm giữa các châu Hòa An, Nguyên Bình và Bảo Lạc.

        Từ khu Thiện Thuật đến đỉnh núi có vách đá theo đường chim bay cũng không xa lắm, nhưng vì không có đường nên chúng tôi cứ nhằm đỉnh núi có vách đá mà đi tới, qua hết eo núi này đến eo núi khác. Khởi hành từ lúc 4 giờ chiều đến khi trời tối mịt, toàn đội mới tới chân núi, rồi leo lên đỉnh. Trước khi hành quân, chúng tôi được một cán bộ địa phương giới thiệu về địa hình và cách xuống núi. Cách xuống núi này quả là độc đáo và rất nguy hiểm, chỉ trượt tay hay đặt chân không đúng chỗ là rơi tuột xuống ngay.

        Trời tối như bưng, chúng tôi phải dùng tay thay mắt, lần từng mô đá bò lên tới đỉnh. Anh Văn nhắc nhở mọi người: đường xuống rất nguy hiểm, phải bảo đảm an toàn tuyệt đối làm đúng theo lời người dẫn đường và chỉ dẫn cho người đi sau làm đúng như mình: tay người trước rời chỗ nào thì người đi sau đặt vào đấy; chân người trước vừa nhắc khỏi thì người sau thế chân vào, cứ thế chúng tôi nối đuôi nhau xuống. Tiểu đội trưởng xuống trước đội hình tiểu đội, trung đội trưởng trước đội hình trung đội, ban chỉ huy xen giữa đội hình của đội. Cả dây người trong bóng tối cứ thế âm thầm lặng lẽ nhích dần cho đến lúc đặt chân xuống được mặt đất.

        Hai chiến sĩ xuống đầu tiên, nhanh chóng triển khai canh giới ở hai đầu đường, phía Nguyên Bình lên và phía Cao Bằng xuống. Người thứ ba vượt qua đường, đi sâu vào độ 100 mét thăm dò. Người sau tới thì người trước lại vượt lên, cứ thế nối nhau vượt qua đường cái tiến sâu vào rừng. Đây là một cuộc hành quân độc đáo ít được biết đến mà đội trải qua trong thời kỳ hoạt động này.

        Bọn Pháp hoàn toàn không ngờ được chúng tôi đã vượt qua ngoài khu vực mà chúng đang chuẩn bị càn quét lớn. Băng qua con đường cái nối liền Cao Bằng với Nguyên Bình, chúng tôi đi sâu vào rừng độ năm, sáu trăm mét thì dừng lại điểm quân số, rồi tiếp tục theo người giao thông đến một cơ sở quần chúng, nghỉ ăn trưa và rút kinh nghiệm hành quân. Anh Văn biểu dương toàn đội, rồi ra lệnh tối đó tiếp tục hành quân.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:26:49 PM

        Đường rừng tối đen như mực. Hết rừng, lại qua đèo, lội suối. Chúng tôi quyết tâm đi kỳ được đến vùng đồng bào Dao Tiền, nơi có nhiều xã Việt Minh hoàn toàn. Đi mãi, ai nấy đều mệt lử. Có người sốt ruột hỏi đồng chí giao thông đã đến nơi chưa thì đồng chí này bảo cứ đi một tí nữa là đến. Cứ tí này đến tí khác, vẫn chưa đến nơi. Dọc đường không nghe tiếng gà gáy, không trông thấy ánh lửa.

        Đến một chỗ bằng phẳng, anh Văn phải lệnh cho đơn vị nghỉ để lấy lại sức. Hết lên đồi, xuống dốc, lại lội suối, lần theo khu rừng thưa thì trời đã sắp sáng. Mọi người nghe thấy tiếng gà gáy khá gần. Tôi đã mừng thầm. Đi từ trong rừng ra, nhìn thấy một bản có dăm ngôi nhà, tôi càng mừng, nghĩ rằng "thoát nợ" đến nơi rồi. Nhưng thấy người giao thông có vẻ ngơ ngác, tôi đoán là anh ta bị lạc đường rồi. Anh em lo lắng thì thào, làm sao bây giờ? Thật là tiến thoái lưỡng nan? Trở lại rừng chăng, hay cứ đi tiếp? Mọi người sốt ruột chờ đợi.

        Đúng lúc đó, anh Văn ra lệnh cho toàn đội lùi vào trong rừng tạm nghỉ, rồi triệu tập các đồng chí Khang, Hoàng Sâm, Lâm Kính, Nam Long và tôi lại hội ý. Anh hỏi:

        - Tình hình đã như vậy các đồng chí có ý kiến gì?

        Có đồng chí nói:

        - Nên trở lại đường cũ thôi!

        Đồng chí khác lại bảo:

        - Lên núi cao tạm ẩn vì trời vừa mới sáng, dân chưa ra khỏi nhà, chờ đồng chí giao thông đi tìm đường.

        Anh Văn trầm ngâm suy nghĩ một lát, rồi nói:

        - Nếu trở lại đường cũ thì rất khó khăn. Lên núi ẩn cũng không ổn, nhất định lộ! Sớm muộn đồng bào cũng đi rừng săn bắn, hái măng, kiếm củi trông thấy. Ý kiến của tôi là cứ tiếp tục hành tiến. Phải tổ chức hành quân theo đội hình chiến đấu để phòng bất trắc. Cần bố trí một tiểu đội đi đầu cách xa đội một chút. Tiểu đội này cải trang đóng giả quân địch đi tuần. Nếu gặp dân thì yên tâm, gặp bọn lý dịch hay lính dõng, lên tiếng hỏi chúng trước và nói là các quan đi tuần tra. Như vậy có được không? 

        Anh em đồng thanh trả lời:

        - Được! Được ạ.

        Anh Văn hỏi lại:

        - Các đồng chí sẵn sàng cả chứ?

        Chúng tôi trả lời đã sẵn sàng, rồi vội vã trở về đơn vị.

        Cuộc hội ý chớp nhoáng này giúp tôi ý thức được vấn đề dân chủ quân sự. Người chỉ huy khi hành quân cũng như trong chiến đấu cần biết tranh thủ ý kiến của anh em dưới quyền. Ở đây, người chỉ huy đã có chủ định sẵn nhưng vẫn hội ý với cấp dưới để anh em trình bày hết ý kiến rồi mới nói chủ trương của mình. Làm như vậy anh em dễ tiếp nhận và có thêm cơ sở để quán triệt sâu sắc chủ trương của trên.

        Sau khi cải trang xong, tiểu đội đi đầu được lệnh tiến ra cánh đồng theo con đường mòn. Nhân đây xin nói thêm là đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân luôn có sẵn một số bộ binh phục thu được của địch trong các trận Phai Khắt, Nà Ngần để đóng giả quân địch khi cần. Lúc tiểu đội này sắp qua hết cánh đồng bỗng gặp hai người dân đi tới. Tiểu đội trưởng dõng dạc hỏi to:

        - Các người đi đâu về?

        Một người vội vàng chắp tay thưa:

        - Dạ? Thưa các quan, hai chúng con đi ăn giỗ ở làng bên quá chén phải ngủ lại, sáng nay mới về. Con là phó lý. Xin kính mời quan lớn và các thầy quyền vào làng nghỉ để chúng con được đón quan và các thầy ở lại xơi cơm. 

        Một đồng chí ta đóng giả đội khố đỏ lớn tiếng bảo:

        - Tốt lắm! Nhưng thôi, quan bận đi đến chỗ hẹn gặp các cơ khác, đã báo trước cho họ chuẩn bị cơm nước rồi.

        Hai người chắp tay vái lia lịa, rồi đi vào làng, vừa đi vừa ngoái lại nhìn theo. Toàn đội được lệnh ra khỏi rừng, tiếp tục hành quân. Sau khi đi hết cánh đồng, lên dốc, rồi qua một đoạn đường rừng, anh Văn mới hỏi đồng chí giao thông:

        - Đến đây, đồng chí đã nhớ ra đường đi chưa?

        Đồng chí giao thông tủm tỉm cười, trả lời:

        - Ồ! Mình nhớ ra rồi! Đáng lẽ đi qua cái lối này về cơ. Tại trời nó tối quá, mình không nhìn rõ lối cũ nên lạc đấy mà?

        Mấy anh em đi cạnh nghe thấy đều phì cười, thở phào nhẹ nhõm. Thế là sắp đến nơi an toàn được nghỉ ngơi rồi. Lúc này, ai nấy đều mệt và đói lử vì đã hành quân suốt đêm và không có một chút gì vào bụng. Đến một chỗ bằng phẳng, chúng tôi được lệnh nghỉ và ăn tạm lương khô. Mọi người đều phấn khởi, nhưng khốn nỗi ăn lương khô mà không có nước uống, thật là khó nuốt. May sao, có đồng chí nêu lên sáng kiến:

        - Nhặt rau má ăn độn với lương khô tốt lắm đấy? Vừa đỡ khát, vừa dễ ăn, các đồng chí ơi!

        Nhiều người ồ lên:

        - Phải rồi. Phải rồi.

        Từ xưa, người già đã nói chống đói, không có gạo thì chỉ có ăn rau má là tốt hơn cả, các thứ rau khác đều không thể thay được. Rau má tuy hơi đắng nhưng ăn độn với lương khô lại thấy ngon. Tôi liền nhặt một ít, dùng phần nước còn lại trong bình toong rửa qua, rồi vò nát đưa cho anh Văn. Anh vừa nhai, vừa cười, nói:

        - Ồ! Thế mà ngon thật. Dễ ăn hơn ăn lương khô không độn rau đấy.

        Tôi nhớ mãi bữa cơm lương khô độn rau má ấy. Có đồng chí còn đùa "nếu không đi lạc đường thì không có bữa ăn đặc biệt này đâu nhé!". Cái không khí vui nhộn trẻ trung ấy đã tiếp sức cho chúng tôi vượt qua khó khăn gian khổ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:27:22 PM

        Diệt tên quản Chiểu

        Sau khi ăn xong, đội tiếp tục hành quân đến khu vực tiếp giáp giữa hai châu Nguyên Bình và Ngân Sơn. Vùng này phần đông là các làng đồng bào Dao Tiền, ngoài ra còn có một số làng Tày, Nùng thuộc châu Nguyên Bình. Phong trào ở các làng này không được như ở các bản Dao Tiền. Nhiệm vụ của chúng tôi là giúp địa phương mở rộng và củng cố phong trào, đồng thời tiễu trừ bọn phản động tay sai đầu sỏ đang chống phá cách mạng, kiềm chế phong trào quần chúng.

        Một hôm, chúng tôi được lệnh diệt một tên quản chiểu (Quản chiểu (tiếng Dao) chỉ chức vụ tương đương tri châu.) phản động cai trị đồng bào Dao trong vùng. Người kể không nhớ tên viên quản chiểu này. Ỷ vào quyền thế của một trung đội lính cúp-phăng trong tay, lại nổi tiếng giỏi võ, tên này xưng hùng xưng bá, lùng bắt cán bộ cách mạng, thẳng tay đàn áp những ai chống lại ra sức vơ vét của cải của dân để làm giàu. Phong trào quần chúng vì thế không thể phát triển được.

        Tôi cùng các đồng chí Bế Sơn Cương, Lâm Kính, Bế Văn Sắt và đồng chí Đắc cán bộ địa phương đặt kế hoạch đột nhập ban đêm diệt tên này tại nhà riêng của nó. Nhưng qua điều tra, thấy đánh ban đêm rất khó. Địch rào quanh làng hai lượt cây ở giữa cắm gai bùng nhùng rất khó vượt qua. Cổng vào làng kiên cố, không thể phá được. Hồi ấy không ai biết đến bộc phá.

        Chúng tôi đành quay về, bàn với nhau đánh vào lúc nhá nhem tối khi cổng làng chưa đóng. Ta sẽ đóng giả quân đi tuần tra đàng hoàng vào làng, đến thẳng nhà tên quản chiểu. Đồng chí Bế Sơn Cương mặc quân phục đội khố đỏ, tôi đóng vai quan bang tá, Lâm Kính đóng vai thầy thống phán. Mấy đồng chí khác đóng lính và một số giả làm thường dân bí mật mang vũ khí đi theo.

        Để đến được nhà tên phản động này phải vượt qua một ngọn núi cao, leo lên tụt xuống phải mất gần một ngày trời. Hành quân từ mờ sáng, đến chân núi thì trời đã ngả về chiều. Vừa đến đầu làng, chúng tôi gặp ngay một đám trẻ đang lùa trâu ra khỏi rừng. Tiếng mõ trâu kêu lộc cộc. Tôi lên tiếng hỏi:

        - Này các cháu, có phải đây là làng của ông quản chiểu?

        Một đứa đáp:

        - Phải ạ?

        Tôi lại hỏi:

        - Thế ông ấy có nhà không? Quan cần gặp.

        Một đứa khác chỉ về phía cửa rừng nói láu táu:

        - Úi! ông ấy đi săn đang về sau chúng cháu đấy?

        Đám trẻ tò mò xúm lại ngắm nghía những khẩu súng trong tay mấy anh em đóng giả lính. Đợi cho lũ trẻ lùa trâu vào làng hết, tôi dặn một số anh em đóng giả dân thường nấp kín vào các bụi rậm, còn cả toán thì đàng hoàng đứng đợi cách cổng làng độ hai chục mét. Lát sau, một người to, cao, mập mạp, mặt đỏ, lưng giắt dao, vai đeo súng từ trong rừng đi ra. Đến gần chúng tôi, y cúi đầu lễ phép nói:

        - Kính chào quan lớn ạ?

        Tôi gật đầu rồi hỏi:

        - Ông đi đâu về?

        - Dạ, con đi săn về.

        - Có phải ông quản chiểu không?

        - Dạ, bẩm phải ạ.

        Thấy đồng chí Đắc từ trong bụi rậm phía trước mặt thò tay ra vẫy làm ám hiệu, tôi liền đá một cú như trời giáng bất ngờ vào bụng dưới tên phản động. Nó qụy ngay xuống, không kịp chống cự. Bế Sơn Cương nhanh như cắt giật lấy súng và tước con dao trên người hắn. Lâm Kính và Bế Văn Sắt xông ra trói lại và giải nó đi ngay. Mấy nhà dân ở đầu làng nhốn nháo nhưng chẳng ai ra khỏi cổng. Bọn lính trong làng không kịp đối phó. Chúng tôi nhanh chóng rút vào rừng sau khi rải lại một số truyền đơn giải thích việc trừng trị tên phản động này và kêu gọi nhân dân đi theo Việt Minh chống Nhật - Pháp, cứu nước, cứu nhà. Sau vụ này, bọn phản động ở địa phương co lại không dám hung hăng săn tìm cán bộ ta như trước nữa. Cán bộ địa phương phấn khởi xốc lại phong trào.

        Công việc củng cố và phát triển phong trào ở huyện Nguyên Bình tạm ổn. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tiếp tục hoạt động mở rộng phong trào ở địa bàn mới châu Ngân Sơn. Đội chúng tôi công tác ở đấy từ tháng 2 cho đến đầu tháng 3 năm 1945 thì anh Văn chỉ thị cho các anh Bế Sơn Cương và Thu Sơn xuống Na Rì hoạt động. Tiếp đó, một tiểu đội gồm các anh Thanh Phong, Đinh Trung Lương, Bế Văn Sắt, tôi và một số anh em nữa do anh Khang phụ trách, đi trước mở đường hướng về phía Hoa Sơn, tức núi Phía Bioóc.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:27:49 PM

        Gặp Ra-da-ri-ô, chủ mỏ Đầm Hồng - Bản Ty

        Chúng tôi xuất phát từ Nà Bưa, Vằng Pài thuộc châu Ngân Sơn, đi theo đường núi hướng về châu ly Chợ Rã để chuẩn bị chiến trường đánh chiếm châu lỵ này. Trên đường đến xã Hà Hiệu, đang xuống dốc, chúng tôi chợt nhìn thấy trên đường cái một đám đông lính khố đỏ, khố xanh súng ống ba lô đầy đủ nhưng mặt mũi phờ phạc, dáng đi uể oải không có vẻ gì là đi trận mạc cả. Anh Khang ra lệnh cho cả đội dừng lại, sẵn sàng đối phó. Anh nói với tôi:

        - Không hiểu bọn lính này đi đâu mà có cả một thằng tây xi vin đi cùng. Trông chúng như đội quân bại trận. Anh Lâm hô cho bọn chúng đứng lại.

        Tôi liền hô to bằng tiếng Pháp:

        - Halte là! Haut les mains (Đứng lại! Giơ tay lên! )

        Cả đám quân địch dừng lại và rẽ ra hai bên, nhường đường cho một người Pháp, hai tay giơ lên quá đầu đi về phía chúng tôi. Lúc này, anh Khang và anh Thanh Phong cũng đã đến bên tôi. Người Pháp ấy đến trước mặt chúng tôi nói to:

        - Chers camarades, je sui entrain de vous chercher (Các bạn thân mến, tôi đang đi tìm các bạn.).

        Tôi nói bằng tiếng Pháp bảo người ấy bỏ tay xuống và hỏi:

        - Ông là ai, đem lính đi đâu?

        Người Pháp ấy nói:

        - Tôi là Ra-da-ri-ô, chủ mỏ ở Đầm Hồng - Bản Ty. Giám binh Bắc Cạn, đại uý Đờ-pông-tích phái tôi đi gặp ông Văn (Hồi đó, trong các tối hậu thư gửi cho các đồn địch, đồng chí Võ Nguyên Giáp đều ký tên là Văn.) có việc khẩn cấp.

        Tôi hỏi:

        - Giám binh Đờ-pông-tích giờ ở đâu?

        Ra-da-ri-ô trả lời:

        - Đại uý giám binh Đờ-pông-tích đã rời Bắc Cạn, đưa quân lính chạy về đồn Ba Bể.

        Nghe Ra-da-ri-ô nói, tôi đoán Nhật đã đảo chính Pháp, nên giám binh Bắc Cạn mới bỏ thị xã đem lính chạy và nhờ chủ mỏ Ra-da-ri-ô đi tìm Việt Minh? Phải chăng vì sĩ diện, Ra-da-ri-ô đã không đả động gì đến việc Nhật đảo chính?

        Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, không ai nói nhưng đều hiểu như nhau. Anh em cán bộ chúng tôi hồi ấy đã được giải thích trước là hai tên đế quốc Nhật và Pháp như hai con hổ dữ nhốt chung một chuồng, sớm muộn rồi chúng sẽ tranh nhau miếng mồi và cắn xé lẫn nhau. Chúng tôi được biết chủ trương của Đảng là kêu gọi những người Pháp dân chủ ở Đông Dương hợp sức với Việt Minh cùng lập mặt trận thống nhất chống phát xít Nhật. Vì thế, khi bất chợt gặp Ra-da-ri-ô và bọn lính ủ rũ như một đám tàn quân ấy, tôi nghĩ ngay rằng bọn Nhật đã đảo chính Pháp.   

        Tôi chìa tay ra và nói bằng tiếng Pháp:

        - Maintenant, nous sommes amis (Bây giờ chúng ta là bạn.).

        Hai tay Ra-da-ri-ô nắm chặt bàn tay tôi, vẻ mặt phấn chấn. Tôi quay ra giới thiệu ông ta với anh Khang và anh Thanh Phong, rồi hướng về phía anh em binh lính người Việt kêu gọi họ đi theo Việt Minh, đánh đuổi phát xít Nhật để giải phóng đất nước. Hôm đó là ngày 11 tháng 3 năm 1945. Về sau, tôi mới biết Nhật đã đảo chính Pháp đêm mồng 9 tháng 3 và Pháp đã bị đánh bại rất nhanh.

        Sau khi tôi nói chuyện với binh lính, anh Khang bảo anh Thanh Phong đi cùng anh đưa Ra-da-ri-ô đến gặp anh Văn, dẫn theo cả đám lính khố đỏ, khố xanh. Tôi và anh Bế Văn Sắt được lệnh đi gặp ngay tên giám binh Đờ-pông-tích đem sẵn theo bức thư giới thiệu mà Ra-da-ri-ô đã viết và đưa cho tôi trước lúc ông ta đi. Đi theo chúng tôi còn có bốn lính khố xanh bảo vệ và đưa đường đi về phía Chợ Rã tìm tri châu Đồng Phúc Quận, yêu cầu y giúp phương tiện để đến được đồn Ba Bể sớm.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:28:15 PM

        Thuyết phục tri châu

        Chợ Rã Thị trấn Chợ Rã là châu lỵ của châu Chợ Rã, nằm giáp chân núi, chỉ có một đường phố duy nhất. Hai bên đường là hai dãy nhà, phần đông là nhà gỗ lợp ngói máng. Chỉ có một số nhà gạch một tầng của viên chức, quan lại về hưu. Đây là một thị trấn loại nhỏ ở miền thượng du. Ở đây có một lô cốt bằng gạch với 12 tên lính lệ bảo vệ. Ngoài ra châu lỵ Chợ Rã còn có một đồn binh gọi là đồn Chợ Rã. Đồn này thường có một trung đội lính khố xanh do một tên sĩ quan Pháp chỉ huy, nhưng chúng đã tháo chạy theo giám binh Đờ-pông-tích khi tên này chạy Nhật qua vùng này.

        Tôi và anh Sắc đi theo mấy người lính khố xanh vào phố. Dân chúng nhìn chúng tôi rất chăm chú, ánh mắt lộ vẻ lo ngại. Ở thị trấn này, người Hoa đông hơn người Kinh. Người Kinh chỉ có mấy nhà, trưởng phố là ông Nguyễn Đình Tài quê ở làng Đình Bảng, Bắc Ninh, lên ngụ cư ở châu lỵ Chợ Rã, mở cửa hàng buôn bán đã trên chục năm. Thấy chúng tôi đi cùng mấy người lính, ông ta tỏ vẻ hoảng sợ. Khi tôi hỏi tin tức tri châu Đồng Phúc Quận, ông ta rụt rè đáp:

        - Thưa các ông không hiểu sao các quan tây, quan ta ở Chợ Rã chạy hết cả! Tôi không biết họ ở đâu.

        Tôi giải thích cho ông ta:

        - Nhật đã đảo chính Pháp, Pháp đã thua trận. Tôi đã gặp tên chủ mỏ Đầm Hồng - Bản Ty người Pháp, tên là Ra-da-ri-ô, cùng một số lính khố xanh, khố đỏ chạy Nhật đang đi tìm Việt Minh. Tôi cần gặp tri châu Đồng Phúc Quận ngay để thuyết phục ông ta theo Việt Minh.

        Bấy giờ ông Tài mới yên tâm, cho biết tri châu Đồng Phúc Quận không làm việc ở công đường dưới phố nữa, mà đã chuyển lên đồn binh sau ngày tây đồn đem lính chạy trốn ngày 10 tháng 3. Tôi bảo trưởng phố Tài đưa tôi đi gặp tri châu Quận, nhưng ông ta chỉ đưa đến chân núi rồi dừng lại. Hai chúng tôi và bốn người lính theo con đường to từ chân núi dẫn đến khu nhà trên đồn. Về sau trưởng phố Tài mới nói với tôi:

        - Sau khi ông lên đồn, ở phố dân chúng rất hoang mang, không biết là Nhật hay thổ phỉ đến.

        Hôm ấy, tôi đội chiếc mũ phớt của Trần Kiên - người trong đội mặc áo vét tông tít-xuy len và một ái quần tuýt - so màu nâu, tay cầm ba toong, súng lục giắt cạp quần. Anh Sắc mặc áo dạ nhà binh lấy được ở trận Phai Khắt, quần soóc, đi giày đinh săng đá, bít tất kéo gần đến đầu gối, khẩu poọc-hoọc báng gỗ lủng lẳng bên sườn. Hai anh em chúng tôi ăn mặc như thế thì cũng khó tránh khỏi đồng bào hiểu lầm.

        Chúng tôi lên đến cổng đồn, tên lính gác đứng nghiêm bồng súng chào. Có lẽ thấy tôi dáng điệu đàng hoàng, lại có người bảo vệ và bốn lính khố xanh đi theo nên lính gác tưởng là quan trên tỉnh xuống. Tôi chào lại theo kiểu nhà binh, rồi đi thẳng vào trong. Mấy người đã đứng tuổi đầu đội khăn xếp, mặc áo the dài, quần ống sớ, áng chừng là các chức sắc ở châu trông thấy tôi đều chắp tay vái chào. Tôi chào lại, rồi lên tiếng hỏi to:

        - Quan châu có nhà không, các ông?

        - Bẩm có ạ? - Họ đồng thanh trả lời.

        Có người nói to:

        - Thưa ông, quan châu đang làm việc ở công đường kia kìa.

        Hai chúng tôi đi thẳng đến ngôi nhà gạch một tầng ở giữa đồn, còn mấy người lính dừng lại ở sân. Đến trước căn phòng làm việc của tên tri châu, anh Sắt dừng lại phía ngoài, còn tôi đi thẳng vào. Tên tri châu ngồi ở sau cái bàn to thấy người vào đột ngột có vẻ hoảng sợ, ngơ ngác nhìn tôi. Tôi bỏ mũ và lên tiếng:

        - Chào quan lớn

        Sau này, tôi báo cáo lại với anh Văn. Anh hỏi tôi:

        - Tại sao anh lại nói chào quan lớn?

        Nghe anh hỏi thế tôi biết ngay là mình đã xử sự sai rồi. Bọn thực dân Pháp đã bị Nhật lật đổ, chính quyền tay sai của chúng cũng sụp đổ theo, làm gì còn quan lớn với quan bé nữa.

        Lúc ấy, tên tri châu đứng dậy nói:

        - Xin thào ngài, ngài là ai, đến đây có việc gì?

        - Tôi là Mai Trung Lâm, đại diện đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Mặt trận Việt Minh. Tôi vừa nói, vừa nhìn thẳng vào mắt tri châu Đồng Phúc Quận.

        Mặt y tái đi, miệng lắp bắp:

        - Dạ, dạ

        - Tôi đến đây để hỏi ông một số điều và giao cho ông một việc ông hãy cố gắng làm tròn để lập công chuộc tội với nhân dân. Điều thứ nhất ông cho tôi biết hiện nay tên giám binh Đờ-pông-tích ở đâu? - Tôi hỏi để thử nó thế thôi vì điều này Ra-da-ri-ô đã cho tôi biết cả rồi và còn có cả bức thư của ông ta gửi cho Đờ-pông-tích nữa.

        Đồng Phúc Quận trả lời:

        - Sau khi Đờ-pông-tích và binh lính bỏ đồn Bắc Cạn, họ đã qua châu lỵ đi về hướng hồ Ba Bể, còn đi đến đâu tôi cũng không rõ.

        Nghe nói vậy tôi biết là y nói thật. Tôi liền nói tiếp:

        - Điều thứ hai, tôi cần sáu con ngựa tốt để đi đến hồ Ba Bể tìm gặp Đờ-pông-tích. Vậy ông cho chuẩn bị ngay đi.

        Ông ta sốt sắng đáp:

        - Dạ, xin có ngay ạ?

        Sau khi truyền lệnh cho người tuỳ phái đi chuẩn bị ngay, ông ta lấy ghế mời tôi ngồi, rồi khoanh tay đứng chờ. Tôi ra hiệu cho Đồng Phúc Quận ngồi xuống, rồi thong thả nói:

        - Bây giờ, tôi nói vắn tắt để ông hiểu rõ tình hình. Giặc Nhật đã quật ngã giặc Pháp. Chính quyền tay sai của Pháp đã sụp đổ theo. Giặc Nhật bây giờ là kẻ thù chính của dân tộc ta. Ai đi theo giặc Nhật là phản lại Tổ quốc, chống lại nhân dân. Theo lệnh trên, tôi giao cho ông nhiệm vụ quản lý châu Chợ Rã, đợi đến khi tôi gặp Đờ-pông-tích xong, sẽ có lệnh sau. Cách mạng đã khoan hồng và tin ông, vậy ông chớ có phụ lòng.

        Lúc này, Đồng Phúc Quận đứng dậy, nét mặt xúc động, tự tay tháo bài ngà đeo trước ngực ra đặt lên bàn, rồi rút khẩu súng uy-ních đeo ở cạnh sườn, hai tay nâng nộp cho tôi. Biết y còn hoang mang trước sự việc xảy ra quá đột ngột, tôi dùng tiếng Tày để nói chuyện với y, tranh thủ tình cảm người cùng dân tộc:

        - Ông cứ giữ khẩu súng này và làm tốt công việc chúng tôi giao. Khi đi qua làng Vằng Pài tôi đã vào nhà ông và đã gặp anh em, con cháu ông, ông cứ yên tâm! Anh em và con cháu của ông nhờ tôi nói lại với ông là ông phải đi theo Việt Minh, không được chạy đi đâu cả.

        Đồng Phúc Quận nét mặt vui hẳn lên, bảo người hầu đi gọi thừa Chiêu, lục Đóa, chánh tổng Vũ, châu Đạt và quản chiểu Nhất đến. Khi mọi người đến đủ, Đồng Phúc Quận nói:

        - Sở dĩ chiều nay tôi cho mời các thầy đến công đường là vì có một việc đặc biệt quan trọng có quan hệ tới tôi và các thầy. Ông Mai Trung Lâm đây là đại diện của đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Mặt trận Việt Minh - ông ta vừa nói, vừa đưa tay về phía tôi.

        Mọi người cúi đầu chào. Tôi cũng chào lại. Viên tri châu nói tiếp: 

        - Thừa lệnh trên, ông đại diện Việt Minh đến đây để giao nhiệm vụ cho chúng ta cai quản châu Chợ Rã như mọi khi, cho đến lúc ông quay trở lại sẽ có lệnh của cấp trên sau. Vậy tôi thông báo để các thầy yên tâm và dốc lòng làm việc. Chiều nay tôi làm cơm mời ông Mai Trung Lâm và ông Việt Minh cùng đi với ông. Tôi nhờ các thầy thay mặt tôi tiếp thượng khách cho chu đáo, lý do thì các thầy đã biết.

        Đồng Phúc Quận quay về phía tôi cúi đầu chào và nói:

        - Tôi thành thật xin lỗi ông Mai Trung Lâm về sự vắng mặt của tôi. Mong ông bỏ qua cho vì hoàn cảnh đặc biệt của tôi. Gia đình đã dọn về làng cách đây ba cây số và có tin nhà tôi lại sắp trở dạ. Xin ông nguyên lượng.

        Tôi gật đầu, ông ta mới đi ra. Trong phòng chỉ còn lại mấy chức dịch và tôi.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:29:13 PM

        Lòng dân

        Buổi tối hôm ấy, tôi và anh Sắt đã dự một bữa tiệc thịnh soạn tại công đường của tri châu Chợ Rã. Thức ăn và rượu thừa thãi. Hai chúng tôi bảo nhau ăn thật no để lấy sức đi đến hồ Ba Bể sớm hôm sau. Còn cái khoản rượu thì quả thật rất thèm, nhưng lại phải từ chối vì kỷ luật quân đội nghiêm cấm.

        Dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu có cái bầu rất to, chúng tôi cùng các chức dịch châu, tổng vừa ăn vừa trò chuyện. Vừa mới tiếp xúc với người của Việt Minh nên lúc đầu họ cũng dè dặt, nhưng càng về sau càng cởi mở. Lại thêm rượu vào lời càng ra. Họ nói với chúng tôi đủ thứ chuyện. Là những chức dịch của châu, tổng nên họ biết không ít chuyện, chuyện quan châu ăn của đút, quan lấy con gái một nhà giàu ở phố Hàng Bông, Hà Nội, chuyện chợ búa, giá cả, đời sống của dân. Tôi cũng muốn nhân cuộc gặp gỡ này tìm hiểu tình hình địa phương nên chú ý lắng nghe, đôi khi gợi hỏi thêm để biết rõ hơn.

        Cuối cùng, cơm nước xong, tôi nói về cuộc đảo chính của Nhật lật đổ Pháp và chính sách cứu nước của Mặt trận Việt Minh. song cuộc nói chuyện đó cũng chỉ mới giải đáp được một phần những điều họ muốn biết, còn sự lo lắng nhất của họ nằm trong câu hỏi tiêu biểu của lục Đoá:

        - Bây giờ tây đi, Nhật chưa đến, các ông là Việt Minh đến. Nếu Nhật đánh Chợ Rã, ta chống lại như thế nào? Lấy gì mà đánh?

        Không trả lời lục Đóa, tôi hỏi:

        - Các ông có bao giờ nghĩ rằng một ngày nào đó thằng đế quốc Pháp sẽ bị sụp đổ không?

        Họ lắc đầu. Tôi cười to bảo họ:

        - Thế mà bây giờ các ông thấy thằng đế quốc Pháp đã sụp đổ rồi. Thằng Nhật chưa đánh đến mà giám binh Bắc Cạn Đờ-pông-tích và tây đốn Chợ Rã Đờ-đông đã đem cả vợ con và lính tráng chạy trốn mất. Việt Minh đã đoán trước tình hình đó. Sau khi quân phiệt Nhật chiếm Đông Dương và thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng Nhật, bọn Nhật - Pháp như hai con hổ sống chung một chuồng sớm muộn sẽ có ngày chúng cắn xé nhau để độc chiếm miếng mồi. Lúc đó là thời cơ cho nhân dân ta nổi dậy. Không ngờ thằng Pháp thua trận nhanh như vậy? Hiện nay, cái trục Đức – Ý - Nhật đang tan vỡ. Mút-xô-li-ni đã bị nhân dân Ý treo cổ. Hít-le cũng đang giẫy chết. Hồng quân Liên Xô đang tiến sâu vào nước Đức nhằm tiêu diệt Hít-le ở thủ đô Béc-lin, sào huyệt cuối cùng của phát xít Đức. Bọn quân phiệt Nhật đang bị sa lầy ở Trung Quốc. Quân Anh tiến công vào Miến Điện, còn quân Mỹ đã đánh thẳng vào nước Nhật. Vì vậy Nhật đã đảo chính Pháp để được rảnh tay đối phó. Nhưng rồi số phận của nó cũng giống như thực dân Pháp thôi. Còn nếu nó mò đến Chợ Rã ta thì sẽ đánh thôi".

        Tôi nói đến đây thì có người ngắt lời tôi xin phép hỏi:

        - Có điều này chúng tôi chưa hiểu, xin ông Mai Trung Lâm giải thích cho. Nhật có máy bay, tàu bò và đại bác. Chúng ta lấy gì mà chống lại?

        Đây là một câu hỏi thật tâm. Nhiều anh em trong đội vũ trang chúng tôi, lúc mới được tuyên truyền cách mạng, thường cũng có suy nghĩ băn khoăn như vậy. Tôi liền đem những điều dạy về cách đánh du kích của Quân giải phóng Trung Quốc, của du kích Nam Tư và của Hồng quân Liên Xô nói tóm tắt cho họ nghe. Rồi tôi kết luận tứ đại cường quốc Đồng Minh là Liên Xô, Mỹ, Anh và Trung Quốc cùng hợp sức đánh Nhật thì chắc chắn Nhật phải thua thôi. Một khi quân Đồng Minh tiến công Nhật ở Đông Dương thì đó là thời cơ tốt nhất cho ta tổng khởi nghĩa đánh đuổi giặc Nhật. 

        Lại có người hỏi:

        - Vậy cuộc kháng Nhật sẽ kéo dài đến bao giờ?

        Tôi đáp:

        - Mặt trận Việt Minh quyết tâm lãnh đạo nhân dân phối hợp với quân Đồng Minh chống Nhật cho tới khi nào giành được độc lập hoàn toàn. Cuộc kháng Nhật của dân tộc ta dài hay ngắn trước hết và chủ yếu là do sự cố gắng của toàn dân ta quyết định, không được ỷ lại, trông chờ quân Đồng Minh. Dân Việt Nam ta không còn con đường nào khác ngoài con đường chống Nhật đến cùng, phải không các vị?

        Họ đều nhất trí. Các nhà chức dịch châu Chợ Rã đều là những người ít nhiều có học. Tôi hỏi họ:

        - Vì sao thằng tây cai trị nước ta được non thế kỷ nay?

        Một người nói:

        - Tại người mình không biết đoàn kết, không biết cách đấu tranh, lại bị nó chia rẽ, mua chuộc; có nhiều người vì sinh kế phải đi làm cho nó, nhưng cũng có những người cam tâm làm tay sai cho nó.

        Một người khác nói:

        - Tại cái triều đình Huế khiếp nhược đầu hàng giặc để giữ lấy ngai vàng. Vì thế mà cả dân tộc ta bị lâm vào cuộc sống nô lệ, lầm than, tủi nhục.

        Thấy họ đã đề cập đến lịch sử nhưng trả lời chưa trúng câu hỏi của tôi, tôi nói:

        - Các ông đều hiểu dân tộc ta vì sao mất nước, nhưng chưa cắt nghĩa được tại sao dân ta lại cứ bị làm nô lệ mãi thế này? Theo tôi, kể từ khi Pháp cướp nước ta, đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa chống Pháp nhưng tất cả đều bị dìm trong bể máu. Các bậc tiền bối như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học sở dĩ đều bị thất bại chính là vì không có đường lối đúng đắn. Ngày nay, nhân dân ta đã có cụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Đông Dương đảm nhận sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam ta, có một đường lối cách mạng đúng đắn và Mặt trận Việt Minh hùng mạnh. Thực dân Pháp đã bị sụp đổ. Nhất định nhân dân ta sẽ đánh bại bọn quân phiệt Nhật Bản. Vấn đề lớn nhất hiện nay là ủng hộ bộ đội cách mạng, đoàn kết các dân tộc, đoàn kết toàn dân, kiên quyết chiến đấu giành độc lập hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:29:32 PM

        Nói đến đấy, tôi dừng lại một lát đưa mắt nhìn mọi người. Ai nấy đều gật đầu đồng tình. Tôi nói tiếp:

        - Ngày trước cả tỉnh Bắc Cạn này có bao nhiêu thằng tây? Chúng không đến chục thằng. Cả tỉnh Bắc Cạn ta có hơn sáu vạn dân. Vậy mà phải cúi đầu làm nô lệ cho chúng? Chính là vì các dân tộc chưa biết đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung. Thực dân Pháp đã chết rồi! Lẽ nào ngày nay chúng ta còn cam chịu tiếp tục làm nô lệ cho Nhật? Nếu toàn dân ta quyết tâm chiến đấu thì nhất định dân ta sẽ làm chủ nước ta

        Họ ngồi lặng đi như đang suy nghĩ về những điều tôi vừa trình bày. Bỗng có người lên tiếng:

        - Ông đại diện Việt Minh dạy rất chí lý! Rất là hoan nghênh! Chúng tôi đi làm cho Pháp, tuy có được học hành đôi chút nhưng cũng không hiểu; nghe ông nói, xin ghi lòng tạc dạ!

        Tôi nói thêm:

        - Các ông chưa hiểu cũng đúng thôi bởi vì đất nước bị giặc ngoại xâm giày xéo, nhân dân mất chủ quyền, thậm chí cả vua cũng chỉ là bù nhìn; giặc lại thực hành chính sách ngu dân và chia rẽ các dân tộc. Nay ta đã rõ rồi, quyết không cam chịu làm nô lệ cho giặc Nhật!

        - Đúng thế! Đúng thế! - họ đồng thanh lên tiếng.

        Lúc đó đã quá nửa đêm. Lục Đóa và chánh Vũ mời tôi và anh Sắt sang nhà lục Đóa ngủ. Nhà viên lục sự này ở ngay bên phải ngôi nhà tri châu Đồng Phúc Quận dùng làm công đường. Trong lúc vừa ăn vừa nói chuyện, tôi đã chú ý đến viên lục sự này; anh ta là người có những câu hỏi sắc nhất. Sau này tôi mới biết lục Đóa là người có học nhất trong mấy viên chức dịch. Anh ta đã đỗ đíp-lôm và cùng cả gia đình ở dưới xuôi lên Chợ Rã sinh sống và hoạt động cách mạng trong lòng địch. Anh chủ động gặp tôi trình bày quá trình tham gia hoạt động cách mạng ở quê hương anh và được tôi tin cậy cử đi họp hội nghị công chức ở thị xã Bắc Cạn. Anh còn cung cấp cho tôi nhiều tin về quân Nhật khi chúng kéo vào châu lỵ Chợ Rã. Về sau, anh tham gia bộ đội làm nhân viên cơ quan giao tế của Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh rồi chuyển làm phiên dịch cho ta cùng với mấy đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Pháp sang phối hợp với ta làm công tác vận động binh lính Âu - Phi. Khi nghỉ hưu, anh mang quân hàm đại uý.

        Nhà lục Đóa có người bố là ông đồ nho. Khi tôi và anh Sắt vào nhà, ông cụ vẫn còn thức. Lục Đóa giới thiệu chúng tôi với ông cụ. Ông cụ chắp tay vái tôi. Tôi vội vàng đáp lễ chắp tay vái lại và nói:

        - Chết, cụ đừng làm thế! Tôi chỉ đáng tuổi con cháu cụ thôi.

        Ông cụ nói:

        - Hai ông là người cách mạng, hy sinh vì dân vì nước. Tôi rất khâm phục, khâm phục.

        Tôi cúi đầu đáp lại:

        - Không dám! Không dám!

        Lục Đóa mời anh Sắt vào đi tắm còn lại tôi ngồi với cụ. Cụ tự tay pha trà, rồi vừa uống nước vừa đàm đạo. Cụ nói:

        - Trước đây, tôi có đọc Tân Thư. Người xưa có dạy "Ngã quốc như thuỳ nhân" (Nước ta như người ngủ.) và cũng hiểu "Quốc sỉ ngã thân sỉ" (Nước nhục thân ta nhục. )tôi cũng có hiểu tình thế nhưng không biết làm gì được.

        Ông cụ nói chậm rãi và chăm chú nhìn tôi như thể muốn biết thái độ của tôi. Cảm động trước những lời lẽ chân thành của cụ, tôi liền nói:

        - Thưa cụ, cháu và đồng chí cùng đi với cháu là kẻ hậu sinh; chúng cháu may mắn được Mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu dạy dỗ. Nay hiểu thế  nào, xin cụ cho phép cháu được trình bày như thế, có điều gì không đúng xin cụ chỉ giáo cho.

        Ông cụ đáp:

        - Không dám? Tôi có được nghe đồn về cụ Nguyễn Ái Quốc, lòng già kính phục lắm. Xin mời ông đại diện Việt Minh cứ cho nghe.

        - Thưa cụ! Tôi từ tốn nói - dân tộc ta không thiếu gì các sĩ phu ái quốc. Kể từ khi giặc Pháp xâm lược đất nước ta đến nay, biết bao văn thân, sĩ phu yêu nước, biết bao anh hùng, nghĩa sĩ nổi dậy chống giặc, cứu nước, nhưng cuối cùng đều bị thất bại. Đó chỉ là vì không có đường lối cứu nước đúng đắn và không đoàn kết rộng rãi được toàn dân. Ngày nay, dân tộc ta đã có Mặt trận Việt Minh, có cụ Nguyễn Ái Quốc dẫn đường chỉ lối, nếu dân ta biết đoàn kết yêu thương nhau và quyết tâm tranh đấu thì chắc chắn sẽ đánh thắng được giặc Nhật, giành lại được độc lập tự do.

        Ông cụ đồ gật gù:

        - Phúc nhà đã đến!

        Cuộc nói chuyện đến đó thì anh lục Đóa vào mời tôi đi tắm, rồi còn ngủ để ngày mai lấy sức hoạt động. Vợ anh đã đun nước nóng và đưa quần áo của chồng cho tôi thay. Bà là một phụ nữ đẹp, sắc sảo và lanh lợi, trẻ hơn chồng mấy tuổi. Sau này, khi cả gia đình đã theo Việt Minh, bà mới thân tình nói chuyện với tôi:

        - Thật tôi không ngờ những người cách mạng các anh rất giỏi giang và thật tình cảm! Nghe đế quốc nói những người Cộng sản thì hung dữ và xấu xí lắm, nhưng khi gặp thì thấy khác hẳn. Ông cụ nhà tôi rất phục và quý các anh. Chồng tôi cũng vậy. Thế là cả nhà tôi cùng đi theo Việt Minh ...

        Rồi bà ta vừa cười vừa nói:

        - Ôi chao! Còn hai cái bộ quần áo của các anh hôm ấy sao mà lắm rận thế! Tôi luộc quần áo, chúng chết nổi lên bám vào thành chậu như kiến!

        Nói rồi, bà ta cười rộ lên. Tôi cũng cười theo.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:30:28 PM

        Tuyên truyền vận động quần chúng ở Châu Chợ Rã

        Sau khi thu xếp xong việc cho binh lính về quê hương họ, tôi và anh Thanh Phong bàn với nhau kế hoạch công tác quần chúng trong châu. Anh Thanh Phong và ba anh em trong đội ở lại châu lỵ thường trực, có trách nhiệm chỉ đạo công việc hàng ngày còn tôi thì đi làm công tác quần chúng do biết nhiều tiếng của các dân tộc.

        Châu Chợ Rã gồm nhiều dân tộc Tày, Dao, Nùng, Mông, Ngái và Hoa. Tôi chọn tổng Phủ Thông làm điểm vì đã gặp được hai quần chúng tốt ở tổng đó lên Chợ Rã và hiểu được tình hình tổng này qua cán bộ đi điều tra. Đơn vị đi với tôi tiếng gọi là trung đội nhưng có đến năm chục người, không kể anh Thanh Phong và ba đồng chí ở lại châu lỵ. Tôi chia đơn vị làm nhiều tổ nhỏ, mỗi tổ độ bốn hoặc năm người. Tổ hoạt động vùng dân tộc nào thì có chiến sĩ người dân tộc đó hoặc biết tiếng dân tộc đó. Tôi đi cùng với một tổ để rút kinh nghiệm chỉ đạo chung.

        Có thể nói mấy ngày đầu tiên anh em chúng tôi gặp không ít khó khăn trong công tác dân vận. Vùng này hồi đó chưa có cơ sở của ta. Trước đây có đồng chí Nguyễn Đức Xuân đến gây cơ sở, nhưng đã bị bọn phản động tay sai Pháp bắt và chặt đầu ngay ở Phủ Thông. Nhân dân ở đây bị địch khống chế và tuyên truyền đầu độc lâu ngày nên còn lạc hậu lắm. Họ chịu những ảnh hưởng độc hại đó không ít, nào Việt Minh cộng sản đi đến đâu cũng cướp bóc của dân, hãm hiếp phụ nữ, giết người không ghê tay, nào Cộng sản vô thần, vô Tổ quốc, vô gia đình, cộng vợ, cộng chồng... Bởi vậy, nhân dân sợ và xa lánh cách mạng.

        Có những chuyện mà bây giờ tôi kể lại chắc những lớp người sinh sau Cách mạng tháng Tám chẳng mấy ai tin. Nhưng quả đó là những chuyện có thực ở vùng Phủ Thông này cách đây trên bốn chục năm. Khi bộ đội ta đến, nhiều phụ nữ chưa có chồng vì sợ cộng vợ, cộng chồng mà hoang mang đến mức vội vàng đi lấy chồng, tổ chức đám cưới ban đêm hoặc chịu cưới làm vợ lẽ. Lễ cưới chỉ một con gà cúng tổ tiên là nên vợ nên chồng. Nam giới không cần phải mất hàng tạ thịt lợn, hàng tạ gạo và hàng chục coong (Vò đựng rượu khoảng 20 lít.) rượu như trước. Thế nhưng khi đơn vị chúng tôi đến hoạt động chỉ ít ngày nhân dân dần dần hiểu bộ đội hơn. Họ nhận rõ bộ đội ta khác hẳn bọn lính dõng, lính khố xanh, khố đỏ của tây. Bộ đội Việt Minh kỷ luật rất nghiêm, kính già, yêu trẻ, tôn trọng phụ nữ, không tơ hào cái kim sợi chỉ của dân, đi rừng lấy củi giúp dân, giúp dân làm vệ sinh thôn xóm... Vì thế, thái độ của dân thay đổi rõ rệt, từ sợ sệt, xa lánh đến gần gũi, cởi mở thân thiết coi bộ đội như anh em, con cháu trong nhà.

        Công tác dân vận của bộ đội đã có sức mạnh đập tan những luận điệu xuyên tạc, dối trá, lừa bịp của địch về Việt Minh, về bộ đội Việt Minh. Bà con dân bản đều cho rằng: "Thì ra thằng tây, thằng Nhật đều nói láo cả”

        Sau khi giác ngộ quần chúng để họ có nhận thức đúng về Việt Minh, về bộ đội cách mạng, chúng tôi mới tiến hành tổ chức các hội cứu quốc từ xã đến tổng và cử ông Hoàng Văn Chung - cựu chánh tổng, một người có uy tín trong dân làm Chủ tịch Uỷ ban Việt Minh tổng Phủ Thông.

        Về sau, có thể nói những ngày đi vận động quần chúng ở các tổng, xã khác chẳng những là ngày hội của nhân dân mà của cả chúng tôi. Nhân dân tìm đến, đón chúng tôi về tổ chức các hội cứu quốc ở xã họ. Đồng bào mổ lợn ăn mừng. Chúng tôi can ngăn, nhưng đồng bào không nghe. Có người nói:

        - Không có gì sung sướng bằng hôm nay, dân ta làm chủ nước ta. Bộ đội phải cùng chúng tôi ăn mừng.

        Chính sách dân tộc là vấn đề quan trọng bậc nhất trong việc vận động nhân dân miền núi. Đội chúng tôi có thuận lợi rất lớn là có người của nhiều dân tộc tham gia. Ở các xã, dân tộc nào cũng thấy có người của dân tộc mình trong đội nên đồng bào các dân tộc đều tin.

        Thêm nữa, đồng bào các dân tộc thấy bộ đội Việt Minh có nhiều vũ khí thì rất tin tưởng. Nắm được tâm lý ấy, chúng tôi tìm lời lẽ dễ hiểu để nói cho đồng bào nhận rõ sức mạnh đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc là quan trọng nhất còn sức mạnh của vũ khí tuy cũng rất quan trọng song chỉ là sức mạnh hỗ trợ. 


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:30:47 PM

        Để thực hiện chính sách đoàn kết các dân tộc, chúng tôi tìm hiểu và tìm mọi biện pháp hòa giải những hiềm khích giữa các dân tộc vốn rất sâu sắc do bọn đế quốc, phong kiến gây ra từ bao đời nay. Các tầng lớp trên ở miền núi thường có vai trò quan trọng đối với dân. Chúng tôi vận động được một số chức dịch châu, tổng như các ông chánh Vũ, lục Đóa, giáo Hoàng, châu đoàn Đạt, lý Quốc, lý Bèn đi cùng với các tổ và nói chuyện với dân. Những người này cũng thành thật nói lên được tâm tư tình cảm của họ. Vì miếng cơm manh áo, họ làm cho đế quốc, bị chúng sử dụng làm tay sai chia rẽ các dân tộc nên ít nhiều có tội với dân. Họ xin đồng bào thông cảm bỏ qua cho. Họ cũng giãi bày được cái nhục của họ, có người bị đế quốc nhục mạ, đánh đập vì không thu đủ thuế, bắt đủ lính cho chúng. Nay họ đã đi theo Việt Minh và kêu gọi đồng bào cùng với họ vào các hội cứu quốc của Việt Minh để đánh Nhật, cứu nước. Sự tham gia công tác tuyên truyền của những chức dịch ấy cũng có tác dụng nhất định trong dân chúng và có ảnh hưởng tích cực đối với tầng lớp trên.

        Trong công tác tranh thủ tầng lớp trên, tôi còn nhớ chuyện tri phủ Phùng về quê hương. Chủ trương đó đã có ảnh hưởng lớn đến tầng lớp trên ở Chợ Rã. Hồi đó, các anh ở Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng có biên thư xuống hỏi tôi có thể cho tri phủ Hoàng Văn Phùng về Chợ Rã quê hương Phùng được không? Việc cựu tri châu bỏ quân theo Nhật bị ta xử bắn đã làm cho những người thuộc tầng lớp trên ở vùng này hoang mang. Được Liên tỉnh ủy hỏi ý kiến, tôi đồng ý ngay. Việc cho tri phủ Hoàng Văn Phùng về quê hương sinh sống là một bằng chứng về chính sách nhân đạo của Việt Minh làm cho tầng lớp trên hiểu đúng và tin tưởng Việt Minh hơn. Bởi thế, tôi đề nghị cho tri phủ Phùng về ngay. Sau đó, tôi liền đến ngay nhà ông bố của Phùng là cụ phán Thống. Khi đến châu lỵ Chợ Rã này, tôi đã đến nhà ông cụ này một vài lần. Nhà làm ở cánh đồng gần núi Hoa Sơn. Tôi có nghe cơ sở báo cáo ông cụ là người tốt hiền lành, được mọi người mến, nhưng không ai biết ông cụ có con làm quan ở xa. Khi tôi đến lần đầu, cụ chắp tay cúi đầu lạy. Tôi vội đỡ cụ và nói:

        - Ấy chết! Xin cụ đừng làm thế. Tuổi tôi như con cháu cụ thôi.

        Ông cụ có vẻ cảm động xua tay nói:

        - Tôi không dám!

        Cụ mời tôi ngồi, tự tay pha trà, rồi cùng tôi uống nước, trò chuyện. Hôm ấy, cụ cũng không đả động gì đến chuyện có con đi làm quan. Lần này, tôi đến nhà và nói với cụ Thống ngay:

        - Cụ có muốn con trai cụ là phủ Phùng về nhà ở với cụ không?

        Ông cụ đứng dậy, người run bắn, nét mặt tái hẳn đi chắp tay vái tôi, giọng run run:

        - Nó sống hay chết thì do ông.

        Tôi liền bảo:

        - Sống thôi!

        Cả gia đình vợ con phủ Phùng cùng về. ông cụ lặng người đi, đưa mắt nhìn tôi, vẻ nửa tin, nửa ngờ:

        - Có thật thế không ông?

        Tôi an ủi cụ:

        - Cháu nói thật đấy, cụ ạ! Người cách mạng không lừa dối cụ đâu. Cụ cứ yên tâm. Nay mai cả gia đình phủ Phùng sẽ về.

        Tôi nói rồi chào cụ ra về. Ông cụ tiễn tôi ra tận cổng. Một tuần sau, phủ Phùng và gia đình được đưa về tận nhà. Phủ Phùng có ngựa cưỡi, có người mang giúp đồ đạc. Dân cả bản đổ ra xem. Người nhà phủ Phùng reo lên:

        - Đúng anh Phùng về rồi! Anh Phùng nhà ta được về rồi!

        Họ ùa ra đón. Đứa con trai của phủ Phùng độ bảy, tám tuổi tung tăng chạy trước vào nhà. Cô em út phủ Phùng thấy cháu la lên:

        - Ôi trời! Con anh Phùng đây rồi!

        Cô chạy ra bế xốc thằng bé lên hôn lấy hôn để. Cụ Thống ở trong nhà bước ra sân đứng nhìn. Phủ Phùng xuống ngựa, vội vàng đi vào trong sân đến trước bố chắp tay vái. Ông cụ ôm lấy con. Cái cảnh xúc động này tôi được cán bộ cơ sở phản ảnh cho biết. Về sau, chính cụ Thống đã nói với tôi:

        - Lúc ấy, ông nói cho con tôi về, tôi bàng hoàng cả người, nhưng vẫn nửa tin nửa ngờ. Sau thấy con tôi và vợ nó về thật, tôi như người chết sống lại.

        Việc Việt Minh cho phủ Phùng và vợ con về quê hương sinh sống làm chấn động dư luận nhân dân cả vùng này.

        Chính sách khoan dung của cách mạng đã cảm hóa được phủ Phùng. Ông ta đi đâu không những ca ngợi Việt Minh quang minh chính đại mà còn giải thích cho bà con họ hàng và nhân dân việc cách mạng phải xử tử tri châu Chợ Rã là do y không nghe lời khuyên của Việt Minh, lại dại dột nghe lời tuần phủ trốn theo Nhật.

        Về phần họ hàng của tên tri châu Chợ Rã, hầu hết đã đi theo Việt Minh. Họ tiếc y đã không nghe lời khuyên của họ hàng, không làm theo lệnh của Việt Minh mà lại nghe lời tên tuần phủ trốn đi theo Nhật khiến họ hàng phải xấu hổ với dân bản. Gia đình tri châu cũng được cán bộ giải thích cặn kẽ tội trạng của y. Về sau, vợ con y cũng được đoàn thể chú ý giúp đỡ, tạo điều kiện cho tham gia công việc ở địa phương.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:33:29 PM

ĐỆ NHỊ TRUNG ĐỘI CỨU QUỐC QUÂN NHẬT KÝ

Đào Văn Trường         

        Dưới đây là toàn văn tiểu sử trung đội Cứu quốc quân II và một đoạn trích Nhật ký của đồng chí Đào Văn Trường nói về việc tiễu trừ bọn mật thám phản động -  Tư liệu lưu trữ tại BTQĐ-01 22-3-3407.

        Năm 1938, phong trào Cách mạng bắt đầu nhóm ở vùng Bắc Sơn và Võ Nhai, gồm có các dân tộc thiểu số Kinh, Tày, Nùng, Dao (M.T.D.C).

        27 tháng 5 ta năm 1939, Đảng ta lãnh đạo quần chúng tranh đấu kháng phu đắp đường Bắc Sơn, gồm có hơn 30 người đại biểu của dân chúng tổng Bản Thượng châu Võ Nhai.

        Tháng 8 ta, năm 1939, Đảng ta lại lãnh đạo quần chúng hơn 40 người đại biểu dân chúng tổng ấy kháng phu (Kháng phu là chống bắt phu (lao động đắp đường).) một lần thứ hai nữa.

        12 tháng 7 ta, giữa lúc Nhật uy hiếp "Đông Dương" (Đông Dương gồm 5 xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao, Cao Miên.), ném bom Thất Khê, Đảng ta lại lãnh đạo quần chúng tranh đấu kháng thuế gồm có 12 người đại biểu của toàn thể dân chúng Tràng Xá.   

        29 tháng 8 ta, tuy Pháp đã đầu hàng, nhưng Nhật chưa thoả mãn, cánh quân từ Nam Ninh vượt Nam Quan uy hiếp Lạng Sơn, dân chúng Bắc Sơn tự động hiệp lực với lính khố đỏ, lính dõng, tổng xã đoàn, nổi lên tiêu diệt giặc Pháp, mở đầu cuộc võ trang khởi nghĩa giải phóng dân tộc.

        Mồng 4 tháng 10 năm 1940, Pháp hàng Nhật, quay lại tiêu diệt Phục quốc quân của bọn phản quốc thân Nhật là Cường Để, đồng thời chúng đại khủng bố, đốt phá, bắn giết dân chúng Bắc Sơn, Vũ Lăng và Quảng Vũ, một lần nữa, tinh thần chiến đấu của dân chúng dưới quyền lãnh đạo của Đảng ta lại sôi nổi. Một số dân chúng khá đông (trước viết: độ 20 người) bắt sinh hoạt du kích, được dân chúng ủng hộ và thi hành chính sách tiễu trừ phản động.

        Đến 6 tháng 4 ta (21-5-41), Đệ nhất trung đội Cứu quốc quân thành lập, tiếp tục tiễu trừ phản động.

        Tháng 6 ta, Đệ nhất trung đội phân tán, phát triển lên miền biên giới. Một bộ phận ở lại bị bao vây ở dãy núi Lam Lấu (?) rút xuống Võ Nhai. Ròng rã hơn ba tháng trời, một mặt được dân chúng nhiệt liệt ủng hộ, bộ đội sinh hoạt du kích một cách khó khăn trong núi vẫn tiếp tục tiễu trừ phản động. Đế quốc tập trung lực lượng bao vây.

        Ngày 23 tháng 7 ta (19-8-41), Đệ nhị trung đội tuyên bố thành lập gồm có hơn 40 người, có đồng chí TW của Đảng ta dự lễ. Từ ngày ấy, Cứu quốc quân sinh hoạt đều đặn, học tập quân sự, chính trị và chiến đấu tiễu trừ phản động có nhiều thành tích oanh liệt.

        Không tiêu diệt nổi Cứu quốc quân, đế quốc gia tăng khủng bố trắng, đốt nhà, giết người, cướp của, dồn dân chúng ở tập trung như trại giam, thu vét lương thực, thi hành chính sách phong toả kinh tế và mua chuộc bọn chó săn chim mồi dẫn đường tiêu diệt Cứu quốc quân.

        Trong vòng vây của đế quốc, Cứu quốc quân không nao núng, chiến đấu rất oanh liệt, nhiều trận tiễu trừ mật thám phản quốc làm địch quân phải thán phục.

        Trong một cuộc gặp gỡ, đội viên C (Lữ) chẳng may bị hy sinh, để lại cho Cứu quốc quân một cái tang đau đớn. Hiện người anh hùng Cứu quốc quân ấy còn 2 người con vẫn hăng hái tham gia chiến đấu trong bộ đội.

        Viết ngày 29 tháng 9 ta.

        Cơ quan C (Lữ)

        27-9 ta (15-10-41), nhận được tin đội viên C (Lữ) bị tử trận. Tôi cải tổ lại trung đội gồm có 1 bán đội và 4 công tác chính trị đội. Làm lễ tuyên thệ.

        Cảm tưởng: Hơi buồn về tin trên. Bắt đầu được tín nhiệm hoàn toàn. Tin tưởng hơn lúc nào hết ở tự do. Lại thấy tinh thần chiến đấu và chịu khó. Yên lòng vì thấy chóng quen với đời sống du kích.

        28-9 ta (15-10-41) - Suốt ngày có tiếng súng hình như đại bác vọng từ phía Đông Nam, miền Phú Bình, Bắc Giang (không sao điều tra được).

        Tôi thuyên chuyển cơ quan sang cơ quan C. Nghị quyết tiến công tiễu trừ, cảnh cáo, thuyết phục.

        Cảm tưởng! Luồn rừng vất vả thực, nhưng không thấy anh em (mất hai chữ).

        29-9 ta - Suốt ngày tổ chức cơ quan.

        Làm lễ truy điệu đồng chí C (Lữ) dưới cờ và trước ngọn lửa đầu tiên sinh hoạt, nhiều người cảm động rơi nước mắt.

        Lúc ăn cơm có mặc niệm một phút và chia buồn cùng anh Long và ông cụ Co.

        12 giờ trưa có 8 phát súng. Có lẽ công tác đội K đã gặp mật thám chăng?

        Công tác đội báo cáo lương thực: mua được 6 nồi, giữ được mắm tôm, thịt, muối, còn mua được 14 nồi nữa.

        Quần chúng lại giúp cho 6 nồi và bán cho một gánh nữa vừa 2 nồi gạo.

        Đêm đến toàn đội đã lấy lương thực. Bán đội có 7 người, nhiều đàn bà (3). Hơi lo lắng. 9 giờ công tác chiến đấu đội trở về, mang anh Phố bị đạn bắn chim 3 phát sướt qua bắp chân. Một phát qua đùi, đạn chưa ra được.

        Anh Phố rất tinh thần, bắn ngã một mật thám, lúc về bị tập kích. Súng anh không nổ, bị bắn đằng sau. Anh chân bị thương, vượt qua mấy quả gò về chỗ gặp gỡ, quyết không vứt súng đạn.

        Rửa vết thương và bó cho anh, thấy cảm động, căm hờn đế quốc quá Anh cố không rên, nhưng lúc không giữ được, thấy anh kêu đau như nhắc nhở sự sống còn quyết liệt với đế quốc.

        Suốt đêm tăng gia sự canh phòng. Thế là 8 phát đạn ban trưa đã biết rõ nguyên nhân.

        Rút kinh nghiệm thấy: khinh thường địch nhân, súng kíp tồi và 2 người đi tiễu trừ địch nhân không thành, một chiến đấu bị đánh bể.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:33:45 PM

        30-9 ta, 23 người đi vận tải về cả, đã mừng. Tăng gia sự canh phòng, làm lều cho anh Phố dưỡng bệnh.

        Cơm chiều, tuy cầm bát đũa rồi, em Học (Trọc?) về báo cáo có lính ở chân núi, chỗ nhà cũ, đến 10 thằng (trước bọn vận tải về có thấy một thằng lính và một mật thám từ trong rừng đi qua Ngọc Mỹ). Lập tức rút lui. Bọn đi trinh thám và 2 người gác không theo kịp, tất cả 5 người. Thương hại anh Phố quá, bị vật lên vật xuống đến mười mấy lần. Sau cùng để anh ở lại mà đi. Đời chiến sĩ, cơm gạo cũng bỏ giữa đường! Chiến đấu quân rất tinh thần!

        Có tiếng nổ liên thanh. Ra chúng đốt nhà. Có tiếng kèn thu quân? Hay "hổ xám"?

        Trinh thám vượt kịp báo thu quân, tập trung tới 50 lính và mật thám, có cả thằng đồn cưỡi ngựa.

        Mới yên lòng, cắt người về chăm nom anh Phố và lấy lương thực, đồ đạc. Ra đế quốc cáu vì bị anh Phố bắn chết hôm qua 1 thằng

        Cảm thấy rõ rệt đàn bà, con trẻ và những phần tử lừng chừng làm vướng chân chiến đấu quân quá lắm. Những chiến đấu quân một mình thì sinh hoạt đâu đến nỗi vất vả như vậy, mà còn chơi cho đế quốc được nhiều vố oanh liệt nữa.

        Vòng vây thắt chặt rồi? Phải hoả chỉnh võ lực (?), quyết định giải phóng cho bộ đội những cái đến bực mình. Tối đến, thực hiện ngay nghị quyết: một bộ phận 14 người gồm có đàn ông, đàn bà (vợ Châm, vợ Trụ Tôn, vợ Tín) và một công tác chính trị phát xuất Đ.T (?) lên đường.

        2-10 - Anh Phố đã đỡ và bò đi được rồi. Chóng khoẻ để rồi bắn tây, bắn mật thám.

        3-10 ta - Chó lùng riết. Bí mật nấp chung quanh nhà quần chúng. Phải bắn mới được. Có tin thằng án sát Thái Nguyên xuống kinh lý Tràng Xá. Notes: không gặp ZT (giao thông!), nhỡ rồi, mai phải di tìm vậy.

        4-10 ta - Không có gì lạ. Nhỡ rồi, không đi được.

        5-10 ta - Độ 12 giờ, có tin bọn chó săn tìm đường vào cơ quan. Phái 3 người ra đối phó. Có 2 tiếng súng nổ. Bộ đội rút lui! 3 anh đi đối phó chưa về. Notes: Thoát chết. Chui vào bẫy chuột của chó ở... Mình chạy nhanh thật. Thôi, thế là đồng chí công nhân bị rồi. Biết bao giờ lại đào tạo được con người đã trưởng thành trong tranh đấu tốt và tinh thần như vậy được Thương hại quá, thế nào cũng bị bắn thôi.

        Cần gì. Còn nhiều nữa để trả thù. Quét sạch đế quốc ra khỏi bờ cõi.

        6-10 ta - Sáng dậy đi tìm nước nấu ăn gặp 3 anh đi đối phó về báo cáo bắn chết một mật thám. Lại thắng một trận. Ghi công anh Xuân. Notes: Chạy xong cơ quan và gặp T.U ai cũng hú vía hộ mình.

        7-10 ta - 12 giờ, lính mò lên cơ quan. Rút lui vượt mấy quả gò (núi đất). Cõng anh Phố tới một chỗ an toàn hơn. Notes: Sửa soạn lên đón Cụ và mua bán thay những thứ đã mất. Tiếc nhất ống nhòm, địa bàn và quyển "quân sự".

        8-10 ta - Không có gì lạ. ăn no ngủ yên và phái công tác đội đi làm việc với quần chúng. (trên Suối bùn: 20-1-42 - lời chú thích về sau).

        Notes: Chán quá! Hấp tấp lên tới nơi thì Phi và Cụ về rồi, hẹn 10 lên. an ủi, tìm thấy số 2.

        9-10 ta - Chia nhau đi thám hiểm và nhận xét địa hình, địa thế và tối bị ngã. Anh Phố va chân vào cây. Thôi tha hồ là đen. Thế mà anh giữ tinh thần không kêu rên.

        Công tác đội về báo cáo, hàng ngày quân thù đi do thám các làng ở đèo Khế.

        Notes: Dân ấp vẫn có cảm tình đặc biệt với mình. Họ yêu mình quá.

        12-10 ta - Chỗ ăn, chỗ ở yên ổn. Bắt đầu thi hành kế hoạch tiến công tiễu trừ phản động. Tổ chức một bộ đội chiến đấu 17 người tiến đánh vây 2 nhà mật thám Nho Phượng và Nho Thuận. Lính vừa đi khỏi, không lại bắn nhầm to.

        6 giờ bộ đội tản khai vây nhà xông vào. Nho Thuận đạp đổ liếp chạy xuống. H (xóa tên) và L đuổi theo H, đâm một nhát ngập dao, phải tỳ chân vào người nó mới rút ra được. Dao quằn lại. Nó vừa chạy vừa kêu, lại bị L cho một nhát nữa. Thế là tiêu đời quân bán nước, phản dân?

        Bộ đội trói gia đình chúng lại. Kể tội và tịch thu được 2 lợn, 3 gà, 14 quần, 6 áo, 3 chăn dạ, 10 tấm vải, 7 thắt lưng trắng, 3 súng (nải), 3 thắt lưng nhiễu đỏ, 1 xanh, 1 cravate, 4 khăn mặt, 1 mũ phớt, 1 vòng bạc, 2 nồi bắp, 1 nồi gạo, (Một nồi gạo khoảng 3,5 ki-lô-gam.) 1 con dao, 1 đôi xà cạp, 1 tay nải, 1 chai rượu.

        Nho Phượng và Nho Thuận thoát chết. Bốn quần chúng chạy báo, một bị đạn bắn thủng ống tay áo. Công việc nhanh nhẹn độ 18 phút, bộ đội trật tự và tinh thần rút lui. Một bộ phận lên ngược làm "mục tiêu”, sau đường tối hôm sau mới về.

        Thôi thế là đỡ thiếu quần áo, lại có cả rượu thịt khao sự thắng trận.

        Notes: Gặp thảo luận biết tình hình KT và ĐT (?).

        13-10 ta: Không có gì lạ. Tha hồ ăn thịt lợn. Tối công tác đội đi vận động lương thực.

        Notes: Gặp số 2, cả nhà tốt quá. Có thể dùng cho 3 thay chỗ X và T rồi .

        14- 10 ta - Không có gì lạ (mờ 4 dòng). 

        15- I0 ta - ăn ngủ yên lành. Cơ quan tốt. Bộ đội sinh hoạt hơi mất trật tự. Họ say sưa vì thắng lợi và khinh thường địch nhân quá.

        Cự Độ Minh đi vắng. Được tin lính Hải Dương đổi lính TN lên thay. Quyết định làm biểu ngữ và thư kêu gọi sự đoàn kết với binh lính mới.

        Dao quay đi ô tô về chợ Th Chà, có súng cho một phát thì hay quá.

        16-10 ta - Làm xong 2 biểu ngữ chữ đỏ, xanh và 2 bức thư cho lính. Phái công tác đội đi cắm giữa lối đi và vận động quần chúng luôn thể. 

        Có nhiều tài năng phải chú ý dùng và phát triển mới được.

        17-10 ta - Phê bình nội bộ kém về trật tự, kỷ luật.

        Cư về báo cáo lạc quan.
    Tổ chức lại bộ đội.
        Trung đội trưởng: Kiên, Ngũ.
        Phó: Cư, Poọc.
        Chính trị: Vai, Độ, Poạc.
        Trung đội phó: Lữ, K.
        Phẩm, K
        Học: (Mạc N). Đặc vụ viên.

        1 đội: Mạnh, K, K, Huyền, Đê
        2 đội: Khánh 5, Chiêm H, Hoè K, Bang, Thắng
        3 đội: Dương 3, Hồng K, Soài K, Nam K
        4 đội: Xuân 1, Đoàn K, Thành, Quyết
        5 đội: Phổ 1, Lai K, Bộ K


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:34:56 PM

CUỘC CHIẾN ĐẤU Ở HANG MỎ GÀ

TRẦN THỊ VŨ Uỷ viên ban lãnh đạo khu A. Chính trị viên Cứu quốc II.       

        Giữa năm 1944, phong trào cách mạng ở Võ Nhai và các vùng chung quanh đang được khôi phục và phát triển khá sôi nổi thì địch tìm mọi cách dập tắt.

        Từ tháng 6 năm 1944, chúng bắt đầu vây bắt lực lượng cách mạng ở Định Hóa sau khi bắt được một đồng chí trong ban lãnh đạo phân khu A. Việc địch ráo riết lùng sục bắt bớ hàng loạt cán bộ và quần chúng ở Mai Sơn, Phú Bình, Phổ Yên đã lan sang Đồng Hỷ, trực tiếp đe dọa phong trào cách mạng Võ Nhai.

        Giữa tháng 11 năm 1944, chúng bắt đầu khủng bố Võ Nhai, mật thám vây bắt hai hội viên Việt Minh ở Ngọc Mỹ (Tràng Xá), ít hôm sau chúng bắt năm cán bộ trong ban chấp hành Việt Minh xã này.

        Ban lãnh đạo phân khu, bí thư chi bộ kiêm chỉ huy trưởng Cứu quốc quân II đã có chủ trương:

        - Những cán bộ trong phân khu, trong ban chỉ huy Cứu quốc quân phải rút vào lán trong rừng.

        - Tất cả những cán bộ và hội viên quần chúng có tên trong danh sách truy lùng của địch (do một đồng chí đảng viên là phó lý trong đồn địch mật báo cho ta) phải khẩn trương lẩn tránh - ban ngày ra đồng làm việc có canh gác, ban đêm không được ngủ ở nhà.

        Tuy vậy, những cán bộ hội viên này, chỉ dăm ba ngày sau là không tuân thủ được lệnh trên, vì anh em dân tộc không quen ngủ xa nhà. Nhiều đồng chí đã thú thực: "Ngủ xa vợ khó lắm".

        Để đảm bảo an toàn cho cán bộ, ban lãnh đạo phải cử người thay nhau về làng tập trung các đồng chí ra ngủ ở đình Na Phái và phải cùng ngủ ở đấy để kiểm soát.

        Về phía địch, ngoài 100 lính khố xanh, lính cơ, còn thêm một tiểu đội lực lượng cảnh sát đặc biệt - tổ chức lực lượng chỉ điểm người địa phương về tận các thôn xã để lùng sục bắt bớ.

        Ta chủ trương:

        - Diệt tổng đoàn Thiên, tay sai đắc lực nhất và có nhiều nợ máu với nhân dân.

        - Vận động nhân dân cho mượn súng.

        - Chặt cây làm chướng ngại vật, cắt đứt liên lạc giữa đồn Đình Cả và Tràng Xá.

        Địch khẩn trương tăng cường gần 1.000 lính khố đỏ thuộc trung đoàn thuộc địa số 9 do tiểu đoàn trưởng Mi-lơ (Mille) chỉ huy, sau đó lại đưa lên 1.000 lính lê dương (Âu-Phi) và những tên mật thám khét tiếng gian ác.

        Tình hình đã thay đổi. Ban lãnh đạo vẫn chủ trương dùng đấu tranh vũ trang chống lại cuộc khủng bố của địch.

        Hầu hết lực lượng thanh niên và tự vệ đều tự nguyện tham gia Cứu quốc quân. Quần chúng tự động phá bỏ nhà cửa, mang thóc gạo đến trong các hang, hoặc đào hang trên sườn núi đất gần nhà để giấu trâu bò, thực hiện "vườn không nhà trống". Họ đã có kinh nghiệm đối phó với những cuộc khủng bố càn quét của địch (ở Bắc Sơn - 1940, ở Võ Nhai - 1942). Không đi thì cũng bị địch tập trung dồn làng, đốt phá nhà cửa, cướp bóc, cưỡng hiếp. Họ kéo nhau lên núi.

        Nơi tập trung đông nhất là ở hang Mỏ Gà - một hang đá rộng lớn ở lưng chừng núi cách mặt đất khoảng 500 mét.

        Ta đã có nhiều kinh nghiệm đánh du kích vì lực lượng quá chênh lệch nên chủ trương: khi địch sơ hở, ta có địa thế thuận lợi thì bố trí đánh. Đánh để chặn địch lấy vũ khí của địch trang bị cho ta. Khi địch mạnh, ta bí mật rút lui, địch không tìm thấy ta, không tiêu diệt được ta. Trong nhiều trận đánh phục kích, ta vừa nổ súng vừa gọi loa: “Người Việt Nam không bắn người Việt Nam! Anh em binh lính hãy bỏ súng, chạy đi; chúng tôi chỉ bắn lính tây thôi.". Ta đã có cơ sở binh vận trong lòng địch, nên đã có người hô nhau bỏ súng cùng chạy. Có trường hợp nhân mối đã tìm mọi cách báo trước cho ta những cuộc hành quân của địch.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:35:12 PM

        Trong nhiều trận phục kích, tập kích rất dũng cảm mưu trí, ví dụ: trận phục kích ở Na Hóa, tên đồn trưởng bỏ chạy, ta thu được 8.000 viên đạn và một số súng. Tên tuần phủ Cung Đình Vận (Thái Nguyên) trực tiếp lên Đình Cả cũng bị Cứu quốc quân phục kích bắn bị thương phải quay trở lại.

        Một trận đánh mà dân ta ghi nhớ và tự hào còn địch cay cú và khâm phục. Đó là ngày 27 tháng 11 năm 1944, địch huy động 4.000 quân gồm lính khố đỏ, lính khố xanh và cả lính lê dương từ Lạng Sơn xuống, từ Thái Nguyên lên bao vây tấn công ta ở hang núi Mỏ Gà. Hang này hồi đầu nhân dân kéo lên đến hơn 1.500 người, qua mấy lần càn quét quanh hang nhân dân đã được Cứu quốc quân bảo vệ và rút lui, một số trở về làng, một số tản đi nơi khác, chỉ còn lại một số người già yếu, trẻ con và phụ nữ con mọn, sau khi đã được chuẩn bị các câu trả lời để tránh khủng bố.

        Quân ta được tin báo trước cuộc tấn công này nên ta đã dựa vào thế núi chuẩn bị đối địch. Vũ khí chỉ có mấy khẩu khai hậu (rơ-manh-tông), vài khẩu poọc-hoọc, có những quả bộc phá (lựu đạn tự sản xuất bằng những mảnh gang vụn chặt từ lưỡi cày với thuốc nổ gói trong nhiều lớp lá chuối khô, có ngòi nổ, dùng dây giật từ xa) còn lại hầu hết là giáo mác.

        Ta còn một loại vũ khí bí mật rất lợi hại mà địch chưa khám phá ra. Đó là những sàn đá. Mỗi sàn rộng bằng một mặt giường lớn, đan bằng những cây tre, gàu, gỗ, trên buộc những tảng đá lớn. Sàn đá buộc dây vào các cây to đặt liền nhau trên sườn dốc núi.

        Từ mờ sáng, địch đặt sơn pháo ở mặt đường phía trước núi bắn lên, rồi tổ chức nhiều đợt tấn công. Lúc đầu địch cho một số ít bò lên thăm dò, ta nổ súng bắn bật trở lại. Chúng cho là ta chỉ có mấy khẩu súng bắn lẻ tẻ nên chúng hô hàng loạt nhất tề ào lên, trong đó có nhiều tên lính lê dương. Chúng tưởng có thể dùng sức mạnh bao vây, diệt và bắt toàn bộ chỉ huy và Cứu quốc quân cùng lực lượng tự vệ của ta.

        Ta bình tĩnh đợi địch bò lên núi được 50 mét mới bắt đầu cắt dây cho các sàn đá đồng loạt lăn xuống. Nhiều tên lính lê dương hung hăng nhất đã bị đè chết tại chỗ, một số bị đá lăn hất xuống chân núi.

        Giữa khoảng trống của sàn đá, ta đã đặt những quả “lựu đạn gang cày". Lựu đạn nổ phối hợp với các phát súng bắn tỉa trở thành những vùng nổ bắn ra những mảnh vụn gang sát thương địch giống như sức công phá của một quả bom bi loại nhỏ.

        Địch hăng tiết thúc cho lính tiếp tục bò lên, chúng quyết tâm tiêu diệt ta. Những bộ mặt đen sì, những cặp mắt xanh lè, lớp này lăn xuống, lớp khác lại nhô lên.

        Có một đồng chí nữ làm cán bộ giao thông ở khu vực căng Bá Vân bị lộ nên được điều lên Võ Nhai làm công tác dân vận ngay trước mấy ngày địch khủng bố. Đồng chí này được phân công tiếp thức ăn, nước uống cho anh em chiến đấu. Đồng chí chưa quen, chưa tiếp cận địch, nên trước những bộ mặt đen sì, nâu, trắng với những cặp mắt xanh lè trắng dã, hết lớp này đến lớp khác ào ạt tiến lên, đồng chí đã bị hoảng loạn. Anh em phải đưa về tuyến sau để ổn định tinh thần.

        Ta cũng bắt rút từng nhóm nhỏ chỉ còn một tiểu đội gồm những tay súng bắn tỉa giỏi len lỏi trong các khe đá, lùm cây nhằm những tên chỉ huy và những tên lính hung hăng dẫn đầu xông lên, nổ từng phát súng đanh gọn. Tiểu đội thứ hai tiếp tục làm sàn đá và cắt dây thả sàn đá.

        Cuộc chiến đấu căng thẳng, súng đạn địch nổ ầm ầm. Với số quân lớn, lại có đầy đủ các loại súng, địch không chịu rút lui. Cuộc chiến đấu kéo dài từ mờ sáng đến 2 giờ chiều (14 giờ) địch mới chiếm được hang.

        Toàn bộ đơn vị Cứu quốc quân, kể cả 2 tiểu đội cuối cùng cũng đã rút an toàn về căn cứ.

        Trong hang chỉ còn một số người già yếu, trẻ con và phụ nữ có con mọn ở lại sau khi đã được chuẩn bị các câu trả lời để tránh địch khủng bố.

        Trận chiến đấu ở hang Mỏ Gà là một trận đánh tiêu biểu của Cứu quốc quân đã gây ra cho địch nhiều thiệt hại. Thực dân Pháp đã phải thừa nhận: "Cuộc hành quân ngày 27 vừa qua ở vùng Mỏ Gà do ông Mát-sây (Massei) chỉ huy đã gửi về 159 người dân (đàn ông, đàn bà và trẻ con, trong đó có một phiến loạn quan trọng - phó ty Mỏ Gà) (Tài liệu rút trong tập hồ sơ của Pháp hiện lưu trữ ở Phòng Bảo tàng Đình Cả ).

        “Phiến loạn vùng này ở trong những chiến luỹ nhỏ, đã gây được một số tổn thất cho ta, chúng chống lại ta bằng cách lăn đá tảng xuống đạo binh của ta...".

        “Binh lính Pháp thì đồn đại với nhau là: Cộng sản có phép tàng hình, mình đuổi chúng rồi ngay sau đó chúng lại đuổi mình. Dễ gì mà tiêu diệt hết được bọn họ".


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:36:01 PM

QUÂN GIẢI PHÓNG - KHU GIẢI PHÓNG, MỐI QUAN HỆ CÁ - NƯỚC, MÁU - THỊT

TRẦN CƯ         

        Từ khi đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân ra đời khá nhiều sách báo đã nói xoay quanh lễ kỷ niệm ngày thành lập 22-12-1944 tại khu rùng Trần Hưng Đạo thiêng liêng. Nhưng, sau ngày đó trở đi, ngoài chiến công Phai Khắt, Nà Ngần lịch sử, đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã hoạt động như thế nào, ở đâu, trong một bối cảnh thế nào, nhất là công lao của nó trong việc hình thành Khu giải phóng, một hình thức phôi thai của nhà nước Việt Nam mới, do đó thúc đẩy cho cuộc Tổng khởi nghĩa 19-8-1945 thành công rực rỡ như thế nào, thì còn ít được chú ý.

        Tôi muốn nói thêm vào đó để thấy vì ngoài ý nghĩa kỷ niệm lịch sử long trọng, cần thấy rõ thêm nguyên lý cách mạng: quân đội cách mạng là từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ, trong mối quan hệ máu thịt giữa cá và nước, nước và cá tương hỗ tương sinh, đã được thực hiện một cách thật tài tình và sáng tạo.

        Để viết bài này, tôi đã đọc nhiều lần cuốn Từ nhân dân mà ra của đồng chí Võ Nguyên Giáp, nhất là với những tìm hiểu từ khi tôi được vinh dự ghi hồi ký này lần đầu tiên in trên báo Quân đội nhân dân từ 1960, nhân ngày kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng và 70 năm ngày sinh của Bác.

        Tôi còn đọc thêm khá nhiều sách, báo, hồi ký, trong đó đáng chú ý có cuốn Khu Thiện Thuật của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Việt Bắc (nxb Việt Bắc, xuất bản năm 1972), cuốn Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân của đồng chí Hoàng Văn Thái do Chính trị Cục phát hành năm 1948 và nhất là được đọc lại cuốn Khu giải phóng của đồng chí Võ Nguyên Giáp do báo Cứu quốc xuất bản từ 1946. Cuốn này tôi đã đọc cách đây 47 năm trong tòa soạn báo Ánh sáng trên An toàn khu, sách in trên giấy bản sần sùi, nay có lẽ rất hiếm; tài liệu hiện nay tôi được đọc chỉ là bản sao đánh máy 33 trang đã nhàu nát, trong kho tư liệu của Thư viện Quân đội ở Hà Nội. Sách này, với độ lùi xa, cho biết thêm nhiều điểm cụ thể, xin kể lại để các bạn cùng nghe .

        Có thể chia hoạt động của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân ra làm hai thời kỳ (xin phép không kể lại lễ thành lập vì đã nói nhiều).

        Thời kỳ thứ nhất: từ ngày thành lập (22-12-1944) đến trước ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945)

        Đặc điểm của thời kỳ này là đội phải hoạt động bí mật vì địch còn mạnh, ta còn yếu, lại bị bọn đế quốc Nhật - Pháp coi là "bất hợp pháp".

        Cho nên hoạt động của đội rất gian khổ và nguy hiểm. Sau chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, toàn đội đã phải hành quân cấp tốc ra ngoài vòng vây của địch, đi suốt hai đêm một ngày đến thung lũng hiểm yếu của Khu Thiện Thuật để tránh cuộc càn quét lớn.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:36:27 PM
         
        Mối tình cá nước ở Khu Thiện Thuật và bài thơ Lũng Dẻ

        Tại sao lại phải rút nhanh về đây. Khu Thiện Thuật ở đâu và nó thế nào? Trong sách Từ nhân dân mà ra, đồng chí Võ Nguyên Giáp viết là "Vùng núi đá tổng Thiện Thuật", trước kia tôi hiểu từ tổng này như nghĩa một đơn vị tổ chức như làng, xã. Sách Khu Thiện Thuật cho biết đó là một căn cứ địa đu kích mà cách mạng đã tạo ra dần dần ở vùng đất địa phương gồm phần lớn người dân tộc Mông, thực chất là khoét dần vào giữa cơ thể xã hội của bọn thống trị Pháp - Nhật, hệt như kiểu các lõm sau này ở miền Nam, hay như thời chống Pháp, Na-va đứng trước bản đồ lên sởi, lốm đốm đỏ ở giữa vùng tạm chiếm vì lực lượng ta phát triển chưa đều, phải phát triển "nhảy cóc" sau đó các lực lượng cách mạng tích cực nối liền nó lại với nhau, tạo thành những vùng đất của mình, do mình làm chủ tương đối hay hoàn toàn.

        Khu Thiện Thuật là thành quả của công tác gây cơ sở như thế. Đội Việt Nam quyên truyền giải phóng quân rút nhanh về đó chẳng khác gì cá rút nhanh về cái vùng nước mà cách mạng đã tạo ra cho mình để có thể nghỉ ngơi an toàn.

        Căn cứ du kích Khu Thiện thuật có truyền thống cách mạng từ 1941 và ra đời từ ngày 25 tháng 9 năm 1943 (tức là trước ngày 22-12-1944 Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân thành lập gồm những vùng dân tộc ít người ở phía tây Cao Bằng như: Hòa An, Nguyên Bình, Hà Quảng, Bảo Lạc, Trà Lĩnh (Cao Bằng); Đồng Văn, Vị Xuyên (Hà Giang), Chợ Rã (Bắc Cạn) và Na Hang (Tuyên Quang) (Xem bản đồ của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng - Việt Bắc). Địa bàn này không liền mảnh gồm thiều lũng rộng hẹp khác nhau, nhưng chủ yếu là những lũng nhỏ nằm giữa ba bốn ngọn núi cao, mỗi lũng chỉ có bốn, năm nhà. Có một lũng dài tới năm ki-lô-mét như Đường Thượng, phó Cao, Mèo Vạc (huyện Đồng Văn) dân cư khá tập trung.

        Khu Thiện Thuật trùng điệp núi đá cao hiểm trở không gần đường quốc lộ, mà chỉ có những con đường nhỏ nối huyện này sang huyện khác và những đường mòn xuyên rừng, hẹp và dốc, đi lại khó khăn. Đặc biệt khu này lại có một số vùng ở kề biên giới Trung Quốc, nhân dân ở đây thường có quan hệ họ hàng bạn bè với nhân dân bên Trung Quốc từ lâu. Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng đã quyết định khai thông con đường Tây Tiến này để cách mạng liên lạc với Trung Quốc. Còn về mặt quân sự thì mấy trăm năm trước, nhà Mạc đã nương náu ở đây để chống cự với nhà Lê và quân Cờ đen cũng đã đóng ở đây thời đánh nhau với Pháp. Đồng bào địa phương gọi cái lũng rừng già âm u, đẩy tiếng chim hót này là Lũng Dẻ (nghĩa là Lũng Thành) và đã có lần lợi dụng bức thành thiên nhiên này để chống bọn thổ phỉ.

        Cho nên, lãnh đạo Việt Minh đã chọn khu căn cứ lịch sử vững chắc này để làm nôi, làm chỗ tạm trú an toàn, lấy nước để cho đàn cá quý báu đầu tiên còn non nớt mất bao nhiêu công sức mới sinh ra được nghỉ ngơi, khao quân và kiểm điểm sau trận đánh là rất xác đáng và cũng rất dễ hiểu như mẹ thương con và bảo vệ cho con vậy. Đó là việc trước mắt, nhưng về lâu dài sau này thì chính Khu Thiện Thuật và Khu Quang Trung (ở vùng dưới gồm Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ Rã, Chi Sơn, Nghĩa Tá) lại là những hạt nhân căn cứ địa đầu tiên để mở rộng ra sáu tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Thái - Hà - Tuyên thành Khu giải phóng, chiếc nôi đầu tiên cho việc ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945.

        Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã nhớ lại buổi khao quân ấy của đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân: "Đồng bào các dân tộc trong khu nô nức cử đại biểu đem tặng phẩm đến chào mừng. Đồng bào đã được nghe tường tận những câu chuyện của các chiến sĩ cách mạng đánh đồn, hạ đồn một cách dũng cảm, lại được thấy tận mắt những chiến sĩ bình thường con em của mình trước đây bị sống trong tủi nhục, nay đã dám vùng lên đánh và đánh thắng bọn địch hung tàn.

        Chiến thắng vang dội khắp vùng cao. Đồng bào Tày, Nùng ở các vùng xen kẽ Đồng Mu, Nà Oan, Nà Mạ, Cốc Chia đã tìm ngay đến các hội viên Việt Minh Mông để nhờ giới thiệu với cán bộ cách mạng xin được gia nhập Hội Cứu quốc" (Võ Nguyên Giáp - Khu giải phóng, Sđd.).

        Rõ ràng là cá lại đẻ ra thêm những đàn "cá cách mạng" mới, nước đẻ ra cá, cá lại tạo ra nước, nước lại đẻ ra cá nữa mà lớn lên dần.

        Tôi bỗng cảm thấy chất hùng tráng pha chất thơ dân dã của cái "Lương Sơn Bạc" kiểu mới này. Nếu tôi được làm chính trị viên của đội thì trong đêm khao quân lịch sử đầu tiên ấy, tôi sẽ đọc bài thơ mà Bác Hồ đã viết về Lũng Dẻ này từ 1942, một cách thật tiên tri:

                                               Hai mươi tư tháng sáu
                                               Lên ngọn núi này chơi
                                               Ngẩng đầu; mặt trời đỏ
                                               Bên suối: một nhành mai.


        Nhớ lại trong khi rút nhanh về cái khu "nước căn cứ" này, toàn bộ 34 con cá chiến sĩ ấy chỉ ăn một bữa cơm nắm sơ sài. Vậy mà một cá đội viên người Dao đã thốt lên một câu thật hào hùng:

        “Đời chúng tôi là thế đấy! Cơm mỗi ngày một bữa, còn chiến đấu thì một đêm đánh hai trận".

        Nếu anh đội viên Dao này được biết thêm rằng chính ở cái Lũng Dẻ mà anh đang nghỉ sau hai trận đánh. “Ông Ké" đã đến làm việc ở đây và đã cảm hứng viết nên bốn câu thơ  tuyệt diệu nọ, tưởng như đã làm trước hai năm sẵn đó để ca ngợi các anh trong tư thế hiên ngang hết sức lạc quan:

                                               Ngẩng đầu: mặt trời đỏ
                                               Bên suối: một nhành mai.


        Thì đồng chí đội viên này còn tự hào hơn biết bao nhiêu?

        Trận Đồng Mu không thắng lợi như kế hoạch và phương châm hoạt động của đội do Bác Hồ đề ra

        Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được đồng chí Lã - Bí thư Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng thân đến thăm, đem theo thư chúc mừng của Liên tỉnh ủy và một số quà quý mấy tấm chăn len, mấy hộp sữa cho các đồng chí yếu mệt và nhất là một số đạn Mỹ vừa mới mua được.

        Ở địa phương, sau tin chiến thắng, nổi lên một phong trào rầm rộ trong hàng ngũ du kích xin “đi giải phóng”. Người nào được cấp trên chuẩn y đều coi đó là một vinh dự. Và chỉ trong một tuần các cán bộ và chiến sĩ được các châu tuyển lựa để bổ sung cho đội, tấp nập kéo về hình thành một đại đội.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:37:14 PM

        Tết sắp đến.

        Anh em chủ trương nghỉ ngơi luyện tập một thời gian ngắn để rồi lại lên đường chiến đấu. Một chương trình hoạt động “Mùa Tết chiến đấu" được đề ra rồi lễ thành lập đại hội được tiến hành. Các đại diện các Hội Cứu quốc và nhân dân tới dự lễ rất đông. Cùng với lời hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ mới, để nhớ tới công ơn của Bác và Đảng, toàn thể đại đội đã quyết nghị kính tặng Bác thanh kiếm Nà Ngần, thanh kiếm đầu tiên đoạt được của giặc.

        Vài ngày sau đại đội lên đường đi về phía Bảo Lạc, tiến hành cuộc tập kích mới - tập kích đồn Đồng Mu.

        Đồn này so với đồn Phai Khắt, Nà Ngần "rắn" hơn, có nhiều lô cốt, tường trình dày với lỗ châu mai, giao thông hào và dây thép gai bọc quanh. Quân địch gồm hơn bốn chục lính khố đỏ do ba sĩ quan Pháp chỉ huy. Đồn lại đóng trên một ngọn đồi cao nằm chơ vơ giữa cánh đồng. Vì ở đây giáp biên giới Việt Trung, thường bị thổ phỉ quấy rối nên phải xây dựng vững chắc.

        Cách đánh lần này không thể dùng cải trang để lọt vào đồn như trước, mà là bí mật đột nhập đồn trong đêm tối để tiêu diệt địch. Tin nhân mối cho biết, cách đây ít ngày, địch được tin sắp có bọn thổ phỉ bên Trung Quốc tràn qua, nên chúng báo động và đề phòng cẩn mật, nhưng sau đó, cơ sở của ta ở trong đồn lại báo cáo lại là địch đợi thổ phỉ một thời gian cho là hoang báo, nên việc canh phòng bắt đầu chểnh mảng. Ban chỉ huy đại đội liền quyết định đánh.

        Cuộc chiến đấu diễn ra từ 11 giờ đêm đến 2 giờ sáng. Quân ta chiến đấu giáp lá cà quyết liệt với địch, vừa đánh vừa hát. Tiếng hát có tác dụng động viên khí thế và giúp cho việc bắt liên lạc dễ dàng, nhưng đồng thời cũng làm lộ các vị trí chiến đấu của ta, làm cho quân địch phát hiện được mục tiêu.

        Độ hai chục tên địch bị diệt, bọn còn lại vẫn dai dẳng chống cự. Nếu kéo dài cuộc chiến đấu sẽ không lợi, ban chỉ huy hạ lệnh rút trước khi trời sáng, mặc dầu nhiều chiến sĩ yêu cầu tiếp tục xung phong tiêu diệt toàn bộ quân địch.

        Trong trận chiến đấu rất anh dũng này, tiểu đội trưởng Xuân Trường hy sinh. Còn đồng chí Quang Trung một mình đã dùng súng và dao diệt năm tên địch. Địch thiệt hại rất nặng, ta thu năm súng, một số đạn dược, bắt ba tù binh.

        Qua lời khai của tù binh mới biết vì sao ta gặp khó khăn: từ trưa hôm ta tập kích, tên đồn trưởng nhận được một lá thư của bọn thổ phỉ biên giới dọa tối hôm ấy sẽ hạ đồn. Do đó đêm ấy cả đồn đã đề phòng đối phó. Trường hợp bất ngờ đặc biệt này, cơ sở nội ứng không kịp báo cho quân ta biết.

        Sau đó đại đội đi về hướng nam hoạt động.

        Xin có một nhận xét sơ bộ:

        Như vậy rõ ràng đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã được hoạt động trên một địa bàn mà cách mạng đã chuẩn bị công phu về cơ sở chính trị và quân sự. Và đã hình thành một quy luật. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Minh đã gian khổ tạo dần ra nước cho cá (các địa phương có tổ chức các hội cứu quốc), rồi cá (các đội tự vệ và du kích địa phương chọn từ trong các hội viên cứu quốc) lại hoạt động tạo thêm những vùng nước mới cho cá hoạt động và lại đẻ thêm những đàn cá mới, cá lại hoạt động tạo ra nước mới nữa cho mình, cứ thế mà lớn mạnh lên, rộng ra.

        Công việc chuẩn bị này cực kỳ công phu và gian khổ, rất nguy hiểm, phải tuyệt đối giữ bí mật vì bọn thống trị tàn ác coi là bất hợp pháp nên ra sức đàn áp dã man. Nhưng các chiến sĩ Việt Minh gan dạ vẫn bền bỉ tiến hành suốt trong 3 năm rưỡi từ ngày có nghị quyết tổ chức Mặt trận Việt Minh ở Pác Bó của hội nghị Trung ương (19-5-1941) cho đến trước khi đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập (22-12-1944). Trước đó, đã làm thí điểm tổ chức Việt Minh ở châu Nguyên Bình.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:37:48 PM

        Người và tổ chức trước đã rồi mới đến súng

        Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã nêu rõ như thế trong cuốn Khu giải phóng, một nguyên lý đã thấm nhuần trước khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân

        “Chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa chẳng phải bắt đầu bằng sự mua sắm hay chế tạo vũ trang mà bắt đầu bằng sự giác ngộ dân, bằng sự tổ chức quần chúng. Người trước đã, rồi mới đến súng".

        “Khắp miền trung du và thượng du có một triệu người, phần lớn là dân tộc thiểu số. Vấn đề là phải lay chuyển một triệu người ấy, lôi cuốn họ vào phong trào Cứu quốc, một việc không phải là dễ. Vì ngoài Cao Bằng, Bắc Sơn, Đình Cả và một vài vùng lẻ tẻ ở Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang, thì hầu hết các địa phương đều đang sống trong quỹ đạo thống trị của đế quốc Pháp, chưa bao giờ tiếp xúc với tuyên truyền cách mạng".

        Muốn làm phải có cán bộ, cho nên sáu tháng trước khi về Pác Bó để thành lập Mặt trận Việt Minh (19-5-1941), Bác Hồ đã mở sớm một lớp huấn luyện từ tháng Chạp năm 1940, ở Nặm Quang (một làng người Nùng ở trên đất Trung Quốc giáp biên giới Việt - Trung) gồm 40 thanh niên Cao Bằng ra nước ngoài tránh địch khủng bố, tìm cách bắt liên lạc với cách mạng, được tập hợp lại để huấn luyện chương trình Việt Minh trong 40 ngày cho đến Tết; đây là lớp huấn luyện Việt Minh đầu tiên trong cả nước. Sau Tết, Bác phái họ về nước trước khi Bác về Pác Bó.

        40 cán bộ Việt Minh này là 40 con chim đầu đàn tung đi hoạt động, đem tin lành Việt Minh ra đời, tổ chức quần chúng vào các đoàn thể cứu quốc và đúng như Bác Hồ đã dự đoán: nội dung chương trình và hình thức tổ chức Việt Minh thích hợp vô cùng với nguyện vọng của dân chúng.

        Các cơ sở bí mật được củng cố lại, người ta bắt đầu tổ chức vài xã hoàn toàn ở biên giới (trong xã tất cả nam, phụ, lão, ấu đều vào tổ chức Việt Minh). Dần dần lan ra thành những tổng hoàn toàn, những châu hoàn toàn.

        Sang đến năm 1942, tức là hai năm trước khi thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân thì trong chín châu ở Cao Bằng, có ba châu đã hoàn toàn, một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử cách mạng nước ta.

        Việt Minh phát triển rầm rộ, trong hoàn cảnh hết sức bí mật, nhưng chính trên cơ sở địa bàn đã được Việt Minh hóa ấy mà các đồng chí giao liên đi từ địa phương này sang địa phương khác để chuyển nghị quyết của đoàn thể tới các ban chấp hành. Rồi những cấp đi kiểm tra công tác thường xuyên, đại biểu Tổng bộ Việt Minh đi kinh lý và Uỷ ban Việt Minh bí mật dần dần làm hết các công việc của hào lý hay tri châu, tri huyện. Góp phần vào thành tích to lớn ấy là tờ báo bí mật Việt Nam độc lập (Việt Lập) tuy khuôn khổ nhỏ bé nhưng lại rất dễ hiểu. thiết thực, nên đã là người tổ chức, người chỉ đạo và người bạn của nhân dân.

        Công việc tổ chức cơ sở chính trị quan trọng cứ phát triển cho đến tháng 11 năm 1942 thì toàn tỉnh Cao Bằng đã tiến hành Đại hội đại biểu Việt Minh, bầu ra Ban Việt Minh tỉnh chính thức, rồi Ban Liên tỉnh ủy lâm thời Cao - Bắc - Lạng cũng xuất hiện.

        Nam tiến, một mục tiêu chiến lược

        Một vấn đề lớn lúc đó được đặt ra là vấn đề Nam tiến. Theo lời dạy của Bác Hồ: "việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó đảm bảo thắng lợi". Đó là một nguyên tắc không bao giờ được quên trong quá trình tranh đấu, cho nên ngoài những lối liên lạc thông thường ra phải cấp tốc tổ chức ngay những con đường quần chúng liên lạc với Đình Cả, Bắc Sơn và từ Cao Bằng về miền xuôi, để đến lúc bị đế quốc khủng bố mới có thể giữ vững được mối liên lạc, lúc hoạt động vũ trang, các đội du kích mới có thể vận động một cách dễ dàng.

        Đồng chí Võ Nguyên Giáp từ hai năm trước khi được Bác Hồ giao cho nhiệm vụ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân cũng đã được Ban Liên tỉnh ủy Việt Minh Cao - Bắc - Lạng chỉ định phụ trách công việc Nam tiến này, cùng với một số cán bộ khác. Phải dùng phương pháp tổ chức quần chúng mà đánh thông ba con đường từ Cao Bằng, Lạng Sơn xuống Thái Nguyên và về vùng xuôi.

        Hơn một trăm cán bộ thánh niên nam nữ đã được chuyên môn hóa đi công tác Nam tiến, tình nguyện thoát ly gia đình, tổ chức 19 ban xung phong, phối hợp cùng các cán bộ địa phương dùng lối vũ trang tuyên truyền, chia ra mấy đường cùng tiến, cứ lớp trước phát triển thì lớp sau đến củng cố. Họ đã vượt qua không biết bao nhiêu triền núi, cánh đồng, qua nhiều bản đồng bào Tày, Dao và các làng người Kinh. Cho đến tháng 8 năm 1943 thì các đội Nam tiến bắt mối được với các đội xung phong Bắc tiến từ Bắc Sơn lên.

        Đến tháng Chạp ta năm ấy (1943) đúng 30 Tết, đồng chí Võ Nguyên Giáp trở lại Cao Bằng, mở hội ăn mừng cùng toàn thể các đội xung phong và long trọng thay mặt đoàn thể trao cho các cán bộ nam nữ lá cờ thêu chữ vàng “Xung phong Thắng lợi”


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:38:43 PM

*

*        *

        Đồng thời với việc chuẩn bị chính trị (để tạo ra nước cho cá bơi) thì công việc chuẩn bị quân sự vẫn tiến hành (để tạo ra những con cá ở địa phương như đội du kích Pác Bó. Do Bác Hồ đích thân tổ chức). Chính đội này đã tổ chức ra ba đội vũ trang châu và một số đội vũ trang tổng ở các châu Hà Quảng, Hòa An và Nguyên Bình.

        Ngay trong năm 1941 (tức là trước khi Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân thành lập ba năm), một số giáo viên tự vệ đã đi khắp các địa phương có tổ chức rộng rãi để thành lập các đội tự vệ và giúp các nam nữ đội viên luyện tập. Dần dần, việc huấn luyện quân sự đã trở nên bắt buộc cho các đội tự vệ. Đến cuối 1942, các đội tự vệ chiên đấu đã được thành lập trên nền tảng quân sự phổ thông.

        Tiến lên một bước nữa, Việt Minh còn tổ chức Trường Cán bộ quân sự, mỗi kỳ học một tháng, bí mật ở trong rừng. Cơ sở tổ chức không kém vẻ đồ sộ. Khi trường học đến khóa thứ 3 ở trong rừng Phan Thanh thì bị lộ, quân địch vào phải kinh ngạc thấy mấy ngôi nhà lợp lá cọ chứa hàng trăm người, nào giảng đường, nào nơi ăn ngủ, giá để súng, sân tập, lại có cả những đường tam cấp cao đến 50, 60 bậc, chứng tỏ Việt Minh bí mật sống đàng hoàng làm sao và thật đáng lo ngại đối với chúng. Đến cuối năm 1943, lại có lúc trường tổ chức những cuộc duyệt binh ban ngày, giữa cánh đồng và có cả những cuộc tập trận giả huy động hàng 400 - 500 người trong phạm vi mấy tổng liền.

        Như vậy, trước khi thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân thì sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang địa phương đã bừng bừng như thế.

        Kinh nghiệm Bắc Sơn - Đình Cả và mối quan hệ chính trị - quân sự

        Lúc bấy giờ có hai trung tâm điểm của phong trào là Cao Bằng và Bắc Sơn, Đình Cả.

        Kế hoạch của tổ chức Việt Minh là chấn chỉnh cơ sở chính trị ở Cao Bằng, Bắc Sơn, Đình Cả, tổ chức sự liên lạc chặt chẽ giữa hai trung tâm ấy rồi từ đó đánh rộng ra, nhưng có một sự chuệch choạc không đồng bộ giữa hai trung tâm.

        Trong khi ở Cao - Bắc - Lạng, lực lượng cách mạng khá phát triển thì ở Đình Cả, Bắc Sơn lại chuyển hướng từ hình thức đấu tranh vũ trang qua vận động chính trị trong hoàn cảnh bị địch khủng bố ác liệt.

        Sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, đế quốc đàn áp tàn sát lực lượng cách mạng rất dã man. Tuy vậy cơ sở du kích vẫn giữ vững, rồi cuộc chiến đấu lan rộng sang Đình Cả, Võ Nhai. Đồng chí Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Bây giờ phương châm hoạt động là quân sự và chính trị đi đôi: khu du kích cứ hết sức mở rộng, nhưng đồng thời phải nhằm mục đích vận động chính trị, duy trì cơ sở quần chúng”.

        Vào khoảng tháng 6 năm 1941, Tổng bộ Việt Minh quyết định phái một đơn vị do đồng chí Phùng Chí Kiên lãnh đạo vào Bắc Sơn, Đình Cả để tiếp viện cho khu du kích. Lực lượng ấy bị lộ ngay khi hành quân qua phố Bình Gia và từ đó bị quân lính đế quốc truy lùng ráo riết. Vào đến Bắc Sơn, lực lượng này mở trường huấn luyện, không bao lâu thì bị vây bọc liên tục, có lần một tuần lễ phải dời địa điểm năm lần.

        Đến cuối năm 1941, sau khi bàn giao lại công tác cho các cán bộ địa phương, đồng chí Phùng Chí Kiên đưa một bộ phận vũ trang qua Bắc Cạn để liên lạc với Cao Bằng. Lực lượng này hành quân vô cùng gian khổ, hơn 10 ngày chỉ ăn cơm khô và măng núi, khi đến Ngân Sơn thì bị địch phục kích. Đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Huy người phụ trách huấn luyện quân sự ở Bắc Sơn bị hy sinh. Thật là một cái tang đau đớn. Nhưng lực lượng còn lại cũng tiến về đến Cao Bằng. Cuộc hoạt động du kích này còn kéo dài mấy tháng ở Bắc Sơn, Đình Cả. Sau đó, một bộ phận được phân tán để vận động chính trị, một bộ phận tạm thời rút qua biên giới.

        Chỉ thị của đoàn thể lúc bấy giờ là chính trị trọng hơn quân sự, nên các trung đội du kích đều chia thành tổ 5 - 3 người đi gây cơ sở quần chúng ở khắp Thái Nguyên, Tuyên Quang. Một trong những nhiệm vụ công tác là đánh thông con đường với các miền lân cận, nhất là Cao Bằng.

        Các cán bộ của Bắc Sơn làm công tác này trong điều kiện bí mật, thiếu thốn vô cùng gian khổ, mỗi người chỉ có một túi lương khô, một ống muối rang; chân núi, bờ suối là giường, lá cọ là chiếu, trong tất cả các ngày sương nắng hay mưa to vẫn bền bỉ, tin tưởng đi gây từng các điểm nhỏ ở khắp tỉnh Thái Nguyên, ở chân núi Tam Đảo, ở các châu, huyện Tuyên Quang.

        Một đội công tác phụ trách tiến lên đón anh em Nam tiến. Mãi cho đến tháng 8 năm 1943 hai bên mới gặp nhau và đầu tháng chạp năm ấy, tổ chức cuộc hội nghị Bắc Sơn để trao đổi kinh nghiệm và khánh thành con đường Thái Nguyên - Bắc Cạn. Con đường vũ trang này xuyên qua rừng núi từ Thái Nguyên lên Cao Bằng, đi mất khoảng 20 ngày, có khi đi được cả ngày lẫn đêm. Đồng thời, việc liên lạc với toàn quốc, tức là với các bộ phận khác của Tổng bộ Việt Minh đều thực hiện.

        Nhưng đế quốc đâu có chịu khoanh tay: ngay lúc đó chúng mở một cuộc đại khủng bố trắng ở trung tâm Cao - Bắc - Lạng .


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:39:26 PM

        Bài học chống khủng bố Cao - Bắc - Lạng

        Cuối năm 1943, (lúc này Bác Hồ đang bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam ở Trung Quốc), theo kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa của Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng, nhân dân tích trữ lương thực trong núi, thực hiện vườn không nhà trống từng bộ phận. Hầu hết các xã đều có kho thóc du kích, đồng thời súng đạn cũng được chuẩn bị ráo riết. Nhưng việc làm ấy không thể giữ được hoàn toàn bí mật, nhất là lại thêm mở các cuộc duyệt binh, tập trận giả và triển lãm. Cho nên thực dân Pháp quyết định đàn áp phong trào trước khi khởi nghĩa bùng nổ. Chúng dùng hai phương pháp: dụ dỗ, đàn áp phá tan các cơ sở quần chúng, cắt đứt đường tiếp tế lương thực của các cán bộ bí mật, sau đó dùng quân sự tấn công tiêu diệt các cơ quan bí mật của Việt Minh.

        Tháng 10 năm 1943, chúng bắt đầu dụ dỗ bằng tuyên cáo, yết thị, mít tinh, hiểu dụ dân chúng nên yên phận làm ăn, "chớ dại đi theo bọn người Kinh Việt Minh", kêu gọi những người tham gia cách mạng ra đầu thú và bảo đảm cho được làm việc với chính phủ.

        Song hàng ngũ Việt Minh vẫn vững chắc vì đã được giải thích sâu rộng về âm mưu địch. Chỉ có một cán bộ bí mật ra thú, nhưng sau đó lại xin trở lại đoàn thể. Chính sách dụ dỗ của địch bị thất bại, chúng liền quay ra đàn áp, vây bắt các chiến sĩ cách mạng, bắt cả thân nhân, tịch thu tài sản. Người có tài liệu Việt Minh khi bị bắt liền bị bắn tại chỗ, bêu đầu ở châu hay ở tỉnh. Nhà bị tình nghi có liên đới với Việt Minh bị tịch thu. Có nơi bị triệt hạ cả làng. Nhiều đám cháy lớn ở các làng “làng đồng chí". Chúng còn treo giải thưởng, nộp một đầu người cách mạng được 1.000 đồng bạc Đông Dương và 100 đấu muối.

        Bọn chúng còn áp dụng biện pháp dồn làng, nhiều làng nhỏ tập trung với một số làng khác. Cảnh hoang vu điêu tàn lan tràn khắp Cao - Bắc - Lạng. Một làng mới bị tập trung, chúng bắt trồng ba lớp luỹ tre, đào hồ cắm chông xung quanh, ngày đêm phải canh gác, hàng ngày phải điểm mục. Cấm ngặt từ 6 giờ tối hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau không ai được ra khỏi làng. Mang một thúng thóc đi ngâm hay một bì gạo ra chợ, có thể bị bắn ngay tại chỗ, vì chúng cho là đi tiếp tế cho Việt Minh.

        Đồng thời chúng còn cài kẻ gian vào hàng ngũ cách mạng, gây hoài nghi chia rẽ kết hợp với việc không ngày nào không kéo lính về bắn phá, cướp đốt và bắt dân phải đầu thú hoặc làm tờ cam đoan không vào Việt Minh nữa.

        Trước tình hình đó, Việt Minh tổ chức ra các ban xung phong chống khủng bố gồm có nam nữ thanh niên đi khắp nơi tuyên truyền giải thích để giữ vững tinh thần cho đồng bào.

        Nhưng dần dần, trước những thủ đoạn quá tàn khốc của quân thù, một vài nơi tỏ ra nao núng. Việc đầu thú lan rộng. Có nơi quần chúng xin nghỉ việc hội. Có nơi thanh niên bỏ chạy vào rừng hàng bốn năm chục người.

        Ban Việt Minh liên tỉnh bên ra chỉ thị tổ chức cuộc rút lui có kế hoạch: cho phép và ra kế hoạch cho một bộ phận ít hội viên đầu thú; mặt khác, các cán bộ phải "chuẩn bị bí mật" tối không được ngủ nhà, đi đâu phải có bảo vệ, sắm sẵn lương thực hai ba tháng và liên lạc với các đồng chí bí mật để lúc động khỏi sa vào lưới địch.

        Đặc điểm của Cao - Bắc - Lạng là số đồng chí hoạt động bí mật lên rất đông nên “đầu năm 1944, có chỉ thị lập các tiểu tổ bí mật" để duy trì phong trào. Một tiểu tổ bí mật gồm các đồng chí hoạt động bí mật, trong một hoặc hai xã đã thoát ly gia đình trốn vào rừng núi. Mỗi tổ có một "cơ quan" là một túp lều ở trên đỉnh núi, trong ngàn sâu, có tích trữ lương thực trên dưới sáu tháng, cùng sống theo một quy tắc bí mật rất nghiêm, trong thời gian biểu bắt buộc có giờ làm công tác quần chúng và giờ nghiên cứu bọc tập.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:39:59 PM

        Nơi nào lập được tiểu tổ bí mật gồm cán bộ địa phương thì nơi ấy phong trào không thể bị dập tắt được. Bởi vì cứ hễ trời gần tối thì các "người bí mật" rời căn cứ, vượt ba bốn cây số rừng núi, suối khe đến chỗ hẹn nhau vào lúc tối, dùng dấu hiệu bí mật liên lạc, gặp và giải thích tình hình cho những hội viên trung kiên "ở dưới làng" đã không quản nguy hiểm đến tính mệnh, mang lương thực ra ủng hộ. Đêm khuya "người bí mật" tranh thủ ngủ một giấc trên bờ sông hay bờ ruộng, đến tảng sáng trở về "cơ quan" phải làm sao vào rừng trước lúc sương tan mới khỏi bị phê bình và không làm liên lụy đến địa phương.

        Nắm được hoạt động của Việt Minh, kẻ địch tiến hành những cách khủng bố tàn bạo hơn. Chúng bao vây từng dãy núi hiểm yếu, đẩy dân làng đi trước làm bình phong, quân lính chúng thúc theo sau, mở cuộc lùng rừng, săn lùng lực lượng cách mạng, hoặc cho một số tên đi phục kích ở các đầu suối, chúng cho lính đi dò những vết chân, dấu cỏ, trên các hòn đá có rêu, hay vết gậy chống của “người bí mật", để rồi đem quân đến bao vây tiêu diệt.

        Những khu rừng bị tình nghi đều bị chúng đốt cháy. Cán bộ bí mật lâm vào cảnh nguy ngập, tránh được khỏi bị chết thiêu là nhờ tìm được một nơi ẩn nấp bên cạnh một con suối. Cơ quan đồng chí Phạm Văn Đồng bị vây mấy lần, có lần bị tiến công bằng đại bác.

        Kẻ địch đặc biệt chú ý đến khu vực Bắc Cạn. Một lần đồng chí Võ Nguyên Giáp và hai đội viên bị vây ba ngày liền ở trên đỉnh núi gần Thế Rục, phải dùng ống nứa và nước dây rừng vắt ra để thổi cơm. Cứ mỗi lần tìm ra một cơ quan bí mật là kẻ địch triệt hạ tất cả mấy làng lân cận. Tổng Hoàng Hoa Thám là nơi có phong trào rất cao nhưng do kẻ địch khủng bố tàn khốc, hai phần ba dân chúng đã bỏ làng chạy vào núi.

        Phong trào sụt dần, có nơi trước có đến hàng vạn hội viên, nay chỉ còn vài chục. Dân chúng vẫn tốt nhưng một số tạm ngừng hoạt động Việt Minh. Họ nói rằng: đến ngày khởi nghĩa họ sẽ đứng dậy đánh quân thù, nhưng trước ngày khởi nghĩa, nếu đi gặp một đồng chí bí mật mà cả làng bị đốt thì họ lại không dám.

        Như vậy là cơ sở quần chúng không duy trì được. Tình hình đó ảnh hưởng xấu đến chủ trương khởi nghĩa từng phần. Đồng chí Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh cơ sở quẩn chúng nhất định phải duy trì, chúng tôi biết vậy và giảng giải cho toàn thể cán bộ hiểu như vậy. Dù khó khăn đến đâu cán bộ cũng phải bám lấy quần chúng. Mặt khác, sự khủng bố tàn khốc của địch lại chính là cơ hội để chọn lọc các phần tử trung kiên, rèn luyện con người.

        Cán bộ lại chia nhau đi các địa phương làm theo kinh nghiệm Bắc Sơn: mỗi người một túi lương khô, một ống muối, tìm đủ mọi cách mà đón gặp các hội viên trung kiên, khi trên đường đi chợ, khi ngoài rẫy, để giảng giải cho họ biết tình hình chung (thời sự thế giới, phong trào dưới xuôi tình hình các trung tâm khác) để thấy mặc dù địch khủng bố tàn khốc vẫn không thắng được cách mạng. Cứ thế, đến kỳ khai hội sau, cùng nhau hội họp điểm mặt: rất có thể thiếu vài đồng chí hay nhiều hơn nữa. Thường thường nếu đến hẹn không về tức là đã bị hy sinh trong lúc đi công tác. Cũng thật lạ cho sức chịu đựng dẻo dai của anh em lúc đó: có vùng tới tám - chín tháng liền chỉ ăn bắp thay gạo xay với ruột chuối, có vùng phải đào củ rừng thay gạo nhưng ngọn lửa tin tưởng vẫn không tắt, vẫn sẵn sàng mạnh dạn, kiên quyết, tin tưởng làm công tác.

*

*        *


        Cuộc vũ trang tiến công của đế quốc tuy có làm phong trào thu hẹp, nhưng lại ăn sâu và lên cao. Lên cao vì phong trào tiến dần lên vũ trang tranh đấu. Các tiểu tổ bí mật được lệnh phải quân sự hóa, nghĩa là phải có súng, có đạn, phải luyện tập theo kỷ luật quân sự; phải du kích hóa nghĩa là bao giờ cũng phải sẵn sàng, khăn gói mang theo vai, có lệnh là có thể lập tức chuyển đi nơi khác. Ban Việt Minh liên tỉnh lại ra chỉ thị lập Những đội vũ trang chuyên môn, rồi lại cho phép những đội vũ trang ấy hành động để tiêu diệt những đội tuần tiễu lẻ tẻ của địch.

        Cuộc đấu tranh vũ trang sẽ đẩy phong trào đi tới. Cuộc đại khủng bố của địch đã rèn luyện cho cán bộ và quần chúng tinh thần hy sinh rất dũng mãnh, đó là một điều kiện tất yếu dẫn đến cuộc vũ trang khởi nghĩa sau này...


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:52:40 PM

PHẦN THỨ BA

GIẢI PHÓNG QUÂN CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ KHU GIẢI PHÓNG VÀ TRONG TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM - 1945


RA ĐƠN VỊ CHIẾN ĐẤU

PHÙNG THẾ TÀI                                   
(Trích trong “Bác Hồ -  Những kỷ niệm không quên”)       

        Sau khi hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Bác từ Côn Minh trở về nước an toàn, tôi đề đạt nguyện vọng được chuyển ra đơn vị chiến đấu. Tôi tâm sự với đồng chí Vũ Anh:

        - Em biết được phục vụ Bác là một vinh dự lớn, nhưng anh biết em rồi, em chỉ thích trực diện đánh nhau với địch, còn bảo vệ Bác, anh giao cho người khác. Sau này dù công tác gì, em hứa sẽ luôn luôn xứng đáng với sự dìu dắt, giúp đỡ của anh.

        Như phần trên tôi đã nói, công ơn đồng chí Vũ Anh đối với tôi vô cùng to lớn. Nếu như cha mẹ tôi sinh ra tôi lần thứ nhất, thì đồng chí Vũ Anh đã sinh ra tôi lần thứ hai. Đồng chí Vũ Anh là người kết nạp tôi vào Đảng và là người đầu tiên giao nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ cho tôi và tôi trở thành người đầu tiên được vinh dự làm nhiệm vụ quan trọng đó.

        Lúc đầu Bác chưa hoàn toàn nhất trí cho tôi chuyển công tác. May nhờ có anh Hoàng Hữu Nam nói thêm vào, cuối cùng Bác mới đồng ý. Đồng chí Hoàng Hữu Nam nói: "Xem tướng cậu ấy, cứ cho ra trận là thích hợp nhất".

        Đêm trước hôm tôi lên đường, Bác cho gọi lên dạy bảo:

        - Chú đòi được ra chiến đấu, Bác cũng không ngăn. Nhưng Bác chỉ phân vân hai điều: một là, tính chú nóng quá. Bây giờ chú là lính. Cách mạng phát triển, quân đội phát triển, mai sau chú cố gắng, sẽ là quan; là tướng. Tướng mà nóng tính thì hỏng việc; hai là, tính chú liều quá. Có Bác bên cạnh mà chú còn dám bắt gà, bắt ngựa của dân, sau này ra "hùng cứ một phương", chú sẽ còn làm nhiều điều sai trái, ai ngăn được chú? Hoặc như việc chú tiêm ký ninh vào ven cho Bác cũng là một việc liều. Bác chưa thấy ai tiêm ký ninh vào ven như chú cả.

        Nói đến đây, Bác cười độ lượng:

        - Nhưng thôi! Bác còn sống là may rồi! Phải nói chuyến đi vừa qua, chú có nhiều ưu điểm: chú thông minh, tháo vát vừa bảo vệ vừa nấu ăn, vừa là thầy thuốc, lại kiêm cả “nhà ngoại giao" nữa. Vậy lần này ra chiến đấu, chú nhớ phải phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, cố gắng học tập, rèn luyện mọi mặt để luôn tiến bộ.

        Trước khi ra về Bác hỏi tôi:

        - Chú có hứa với Bác là sẽ khắc phục khuyết điểm để mau chóng tiến bộ không nào?

        - Thưa Bác cháu xin hứa.

        Bác bắt tay tôi.

        - Bây giờ chú sang chỗ đồng chí Vũ Anh để nhận nhiệm vụ.

        Lúc này phong trào ở các tỉnh biên giới phía Bắc đang phát triển mạnh, cần có lực lượng vũ trang để hỗ trợ phong trào. Đồng chí Vũ Anh giao cho tôi phụ trách một tiểu đội đi về hướng Đông Khê, Thất Khê (Lạng Sơn), có nhiệm vụ vừa xây dựng cơ sở, vừa phát triển lực lượng.

        Một hôm tiểu đội của tôi đang hoạt động ở vùng Mỏ Sắt thì thấy một đoàn quân khá đông từ triền núi bên kia đi về phía mình. Thoạt đầu tôi hơi chột dạ vì lực lượng mình quá ít chỉ có sáu người, so với năm, sáu chục người của họ quần áo đồng phục, súng ống đàng hoàng. Rõ ràng là cả một trung đội lính khố đỏ đang đi hành quân. Lại còn có cả năm, sáu thằng Tây và một con đầm.

        Thế là rõ. Bọn Pháp bị Nhật đảo chính tìm đường chạy sang Trung Quốc đây. Tôi nghiến chặt răng lại nghĩ bụng: Cho chúng mày chết. Mấy chục năm trời áp bức nhân dân Việt Nam, bóc lột tận xương, tận tuỷ đồng bào tao. Gia đình tao vì quá nghèo khổ mà phải tha phương cầu thực, không biết bố mẹ tao bây giờ phiêu bạt nơi đâu? Đối với nhân dân Việt Nam thì bọn mày tàn ác như thú dữ. Còn đối với bọn phát xít Nhật, thì chúng mày chỉ mới nghe tiếng súng đã kéo nhau chạy trốn.

        Tôi cho quân ẩn nấp, đợi khi thằng đội đi đầu đến gần (sau này biết tên nó là đội Oanh), tôi nhảy ra chĩa súng vào người nó quát:

        - Các anh đi đâu? Việt Minh cướp chính quyền khắp nơi rồi, cứ đi cả đàn cả lũ thế này mà chết cả nút hả?

        Cả đoàn quân dừng lại bất ngờ, ngơ ngác... Tên đội Oanh khúm núm thưa:

        - Có vợ chồng tên chánh mật thám Bắc Cạn và năm thằng Pháp muốn chạy sang Trung Quốc, nhờ các ông giúp đỡ...

        Tôi kéo đội Oanh lại trấn áp:

        - Mày làm tay sai cho bọn cướp nước bao nhiêu năm còn chưa đủ hả? Còn định bám chúng cho đến bao giờ? Đây là dịp lập công chuộc tội, trở về với cách mạng.

        Đội Oanh tỏ ra sợ hãi. Tôi bàn với đội Oanh kế hoạch diệt bọn Pháp.

        Giải quyết xong bọn mật thám Pháp, tôi tập trung anh em lính khố đỏ lại tuyên bố. Ai muốn đi theo cách mạng đứng ra một bên, ai muốn về nhà đứng ra một bên.

        Những người xin về quê, tôi viết cho mỗi người mấy chữ vào một tờ giấy, ký tên loằng ngoằng, rồi phát cho một chục đồng bạc Đông Dương làm tiền ăn đường.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:53:22 PM

        Khoảng hơn chục người xin ở lại. Tôi tuyển thêm một số du kích địa phương thành lập hẳn một trung đội du kích hoàn toàn mới. Sáu anh em trong tiểu đội cũ được tôi phong làm cán bộ tiểu đội hết và tôi nghiễm nhiên trở thành trung đội trưởng...

        Thấy súng còn nhiều, tôi bàn với du kích địa phương lập thêm một trung đội nữa. Và tôi trở thành đại đội trưởng...

        Về chiến lợi phẩm còn có thêm 6 khẩu súng ngắn, 6 cái đồng hồ và mấy vạn đồng Đông Dương tìm thấy trong túi của hai thằng chánh, phó mật thám.

        Tôi thấy đây là một số tiền khá lớn, vả lại cũng bắt đầu thấy ngợp vì đội quân mình chỉ huy đông quá nên tôi quyết định kéo về báo cáo với đồng chí Vũ Anh.

        Tôi cứ ngỡ là mình sẽ được khen, nào ngờ sau khi nghe tôi báo cáo xong, sắc mặt đồng chí Vũ Anh cứ tái đi và cuối cùng đồng chí thốt lên lo lắng:

        - Việc này tôi báo cáo với Bác ra sao? Lẽ nào chú không biết một tý gì chính sách đoàn kết của mặt trận Việt Minh trong giai đoạn hiện nay hay sao?

        Nghe đồng chí Vũ Anh nói vậy tôi vô cùng ân hận về việc làm của mình. Đúng tôi là một thằng đại ngu... Bác đang kêu gọi đoàn kết, cả người Pháp ở chính quốc lẫn người Pháp ở Đông Dương cùng đứng chung trong mặt trận chống phát xít. Thế mà tôi thấy địch chỉ biết đánh chứ không biết vận dụng chính sách đoàn kết khoan hồng. Không biết tội này nếu Bác biết được rồi sẽ ra sao? Ro ràng Bác đã lường trước được tính tôi nên khi đồng Ý cho tôi chuyển công tác, Bác đã dặn tôi là không được liều.

        Tôi vô cùng ân hận trước khuyết điểm của mình, năn nỉ đồng chí Vũ Anh cố làm sao để Bác thông cảm và tha thứ cho tôi, rồi lấy cớ là phong trào khắp nơi đang phát triển mạnh tôi đề nghị đồng chí Vũ Anh cho tôi lên đường ngay.

        Lần này đi, đồng chí Vũ Anh chỉ cho tôi mang theo một tổ ba người chứ không phải sáu người như lần trước và dặn nhiệm vụ chính là võ trang tuyên truyền xây dựng cơ sở không được nổ súng tràn lan, nếu cần thì phải trao đổi xin ý kiến với cấp ủy địa phương.

        Tôi đi về hướng Phục Hòa, Đông Khê, Thất Khê. Ở các địa phương này, tin Nhật đầu hàng đang làm dấy lên một cao trào cách mạng đặc biệt sôi nổi mà sau này ta gọi là không khí tiền khởi nghĩa. Tôi nghĩ phải nhân lúc kẻ địch đang hoang mang lãnh đạo nhân dân cướp chính quyền là thuận lợi nhất. Tôi tìm vào những cơ sở cách mạng cũ mà tôi đã góp phần xây dựng từ năm 1943 - 1944, cùng với họ phát triển lực lượng vũ trang. Thiếu vũ khí, tôi đề xuất, muốn có nhiều vũ khí thì nên đánh đồn địch, chúng nó đang hoang mang ta sẽ thu được nhiều súng...

        Trước hết tôi chủ trương làm thử ở Thất Khê.

        Thấy anh em còn do dự, tôi bảo cứ tập hợp quần chúng lại, tôi đã có cách. Tôi chọn ra khoảng 100 du kích, trang bị chủ yếu là gậy và mã tấu. Cũng có một vài khẩu súng kíp. Tôi huấn luyện cho mấy ngày, đi đứng, nghiêm nghỉ. Hồi còn bé ở Côn Minh tôi đã có dịp đứng hàng giờ xem sư đoàn bảo vệ Long Vân luyện tập nên có biết đôi chút về quân sự. Tôi lại người to, tiếng to, có tác phong oai vệ nên chỉ mấy hôm cả trăm người như một, giá như có quân trang đồng phục mặc vào chắc chắn ai cũng phải nhầm đây là một đội quân chính quy. Hàng ngày vào lúc chập choạng buổi chiều, tranh tối tranh sáng, tôi cho đoàn quân đi rầm rập qua phố Thất Khê để uy hiếp tinh thần bọn lính trong đồn.

        Chiều 15 tháng 8 năm 1945, tôi mặc quần áo Nùng, đầu đội mũ vải, nhưng thắt chẽn, đeo súng đàng hoàng, cùng với hai du kích vào gặp tuần phủ Thất Khê. Tôi dọa phủ Thư:

        - Tôi là người của Việt Minh. Nhật đã đầu hàng. Các nơi đã khởi nghĩa cướp chính quyền. Các anh hãy nộp vũ khí và cả dấu của phủ cho chúng tôi thì sẽ được yên thân.

        Thấy tôi nói dứt khoát, oai phong, lại nghĩ đến mấy lần trước có những đoàn quân đi rầm rập ngoài phố, bọn lính về cấp báo quân Việt Minh đông và mạnh lắm, nên hôm nay, tuần phủ ngoan ngoãn chấp hành lệnh.

        Đã có kế hoạch chuẩn bị trước, quân ta ào vào khẩn trương khuân vũ khí và các đồ quân trang, quân dụng ở đồn khố đỏ và đồn khố xanh vào rừng bên kia sông.

        Giữa lúc đó thì một tình huống không dự kiến xảy ra. Có quân cấp báo đội quân tiên phong của Trương Phát Khuê đã vượt biên giới tràn vào.

        Suốt đêm tôi đốc thúc chuyển hết kho tàng, vũ khí vào rừng. Một mặt đôn đốc việc thành lập chính quyền ở các địa phương. Xong đâu đấy mới thấy quân của các anh Hoàng Minh Thảo, Lê Thiết Hùng từ hướng Pò Mã kéo về. Các anh khen tôi làm gọn cái Thất Khê thế là tốt...

        Tôi bảo: .

        - Bây giờ các anh ở đây lo đối phó với bọn Tưởng, tôi đi làm nốt cái Na Sầm.

        Anh Lê Thiết Hùng vội ngăn:

        - Ấy! Cậu phải có kế hoạch.

        - Anh cứ yên chí! Tôi sẽ làm gọn trong một buổi.

        Na Sầm chỉ cách Thất Khê có 30 ki-lô-mét. Đã có tin cơ sở báo cho tôi biết, sau khi ta hốt gọn cái Thất Khê, thằng Na Sầm đang hoang mang cực độ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:53:50 PM

        Tôi chỉ mang theo một trung đội nhưng rất nhiều súng. Sau khi cho quân vây xung quanh, tôi đĩnh đạc bước vào giơ súng dọa bọn chỉ huy:

        - Các anh phải đầu hàng. Tất cả Lạng Sơn về tay Việt Minh hết rồi. Ai chống cự sẽ phải đền tội

        Bọn chúng lạy van rối rít?

        - Chúng em xin theo các anh.

        Ta lại thu được một số lượng lớn súng ống ở đây. Sau khi lo việc cất giấu vũ khí thiết lập chính quyền mới, tôi trở về Thất Khê. Anh Lê Thiết Hùng bảo tôi: “Bây giờ quân đông, súng nhiều, ta phải tổ chức một khóa huấn luyện cấp tốc, đào tạo cán bộ cho địa phương. Rồi anh Lê Thiết Hùng nói vui: Cậu sẽ làm "giám đốc" trường quân chính này".

        Lớp đầu tiên tôi triệu tập khoảng 150 học viên. Được địa phương và được các anh đồng ý, tôi chọn anh Đàm Văn Ngụy làm phó cho tôi. Là một thanh niên dân tộc thiểu số địa phương, Đàm Văn Ngụy được giác ngộ và trưởng thành nhanh chóng trong phong trào cách mạng. Năng nổ và nhiệt tình, lại thêm tháo vát, quen thuộc địa bàn, chính Đàm Văn Ngụy đã góp phần rất lớn cho sự tồn tại của trường quân chính" tạm thời này... Hầu như suốt ngày đêm anh phải đi lo chạy gạo cho hàng trăm học viên có đủ cái ăn mà học tập.

        Thời gian này xảy ra một câu chuyện đáng ghi nhớ. Số là một trung đoàn Quốc dân đảng đóng ở Thất Khê, thường xuyên gây nhiều phiền toái cho địa phương quanh vùng. Điển hình là việc cho quân thay nhau đi cướp bóc, nhũng nhiễu dân chúng. Đồng bào căm lắm. Tôi nghĩ bụng phải trị cho bọn này một trận mới được và bàn kế hoạch với đồng chí Y cán bộ huyện Thất Khê. Dịp đó đã đến. Nhân một trung đội của chúng đến cướp bóc ở gần cầu Bản Trại, tôi cho phục kích diệt gọn 30 tên. Bọn lính thì hết sức kinh hoàng, nhưng bọn chỉ huy, được mấy tên Việt Nam Quốc dân đảng gièm pha định làm to chuyện. Nó chính thức gửi công văn đòi bắt Phùng Thế Tài đổi mạng. Tôi bỗng chột dạ. Chuyến này mà bọn chúng làm to đến tai Bác thì gay, không biết tôi phải ăn nói với Bác ra sao? Công bằng mà nói việc tôi làm là đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng. Đồng bào và các dân tộc nghe tin quân ta đánh bọn Tưởng một trận nhớ đời đều hả lòng, hả dạ. Còn bọn Tưởng thì sau vụ này chúng bớt hung hăng, không dám làm càn như trước.

        Tôi phải đến nhà cụ Liên, một nhân sĩ có tiếng trong vùng, giỏi chữ Hán, biết tiếng Trung Quốc, có uy tín với bọn Tưởng nhờ can thiệp giúp.

        Cụ Liên vào gặp tên chỉ huy, nói từ tốn: "Chúng tôi được lệnh từ trên Trung ương là Việt Nam phải có nhiệm vụ ủng hộ Hoa quân nhập Việt. Mấy lần mọi việc đều tốt đẹp, không may vừa rồi lại xảy ra chuyện đáng tiếc, chúng tôi thành thật có lời xin lỗi... Còn về Phùng Thế Tài, chúng tôi đã bắt ông ấy làm kiểm điểm, ông ấy có trình bày là hôm ấy một số quân của quý quốc đã quá thẳng tay sát phạt dân lành nên quân của ông ta hơi quá tay, ông ta ngăn không kịp..."

        Nghe Cụ Liên nói, bọn chúng đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Và khi nghe cụ Liên nói tiếp; "Nhân dịp đến thăm bản doanh, chúng tôi xin ủng hộ quân đội quý quốc 10 tấn gạo" thì bọn chúng lập tức cho qua sự việc vừa rồi. Nhưng còn vớt vát:

        - Nếu sắp tới xảy ra một trường hợp tương tự, nhất định chúng tôi sẽ không cho qua.

        Cuộc thương thuyết của cụ Liên thế là thắng lợi. Tôi thật sự cảm ơn cụ đã giải toả cho tôi một tình huống hết sức phức tạp.

        Sau này tôi mới biết, chính trong thời gian đó, ở Hà Nội Bác cũng đã phải đứng trước hàng trăm chuyện lôi thôi như chuyện của tôi gây ra.

        Không biết trong sổ tay của Bác có ghi chuyện Phùng Thế Tài tổ chức diệt 30 tên lính Tưởng ở cầu Bản Trại, Thất Khê hay không?

        Tất cả những sự việc trên đây nói ra thì có vẻ dài dòng như vậy nhưng thực ra chỉ diễn ra trong vòng 10 ngày sôi động của Cách mạng tháng Tám ở vùng đất Đông Bắc Tổ quốc. Bây giờ nghĩ lại tôi vẫn cảm thấy tự hào là mình có những đóng góp ít ỏi nhưng xứng đáng vào thắng lợi quan trọng của nhân dân miền biên giới.

        Lúc này tôi đã bước sang tuổi 25. Nghĩ lại, mới ngày nào còn là một đứa trẻ cầu bất, cầu bơ, nay có thể độc lập công tác ở một mũi, một địa phương, tuy vẫn còn để phạm những thiếu sót nhưng cơ bản đã hoàn thành được nhiệm vụ đúng thời điểm lịch sử đòi hỏi.

        Có được điều này, tôi không thể nào quên sự quan tâm dìu dắt của Bác, của đồng chí Vũ Anh, trong đó "lớp học trên đường" từ Pác Bó đến Côn Minh chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Tôi còn nhớ như in khi giảng về Cách mạng tháng Mười Nga, Bác thuật lại cho chúng tôi nghe chỉ thị của Lê-nin đêm 6 tháng 11 năm 1917: "Cách mạng phải nổ ra đêm nay, chứ nhất định không để đến ngày mai, để đến ngày mai là có tội đối với Tổ quốc, với nhân dân".


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:54:21 PM

        Khi quyết định giải phóng Thất Khê và sau đó là Na Sầm, tôi cũng nghĩ là phải nhanh lên, làm ngay bây giờ thì chắc chắn là thắng, chứ để đến mai thì chưa biết sẽ ra sao; rằng nếu để đến mai, bọn Tưởng tràn vào thì khó có thể thành công ...

        Cũng phải nói thêm rằng, trong những năm tiền khởi nghĩa tôi vừa có nhiệm vụ bảo vệ Bác, vừa lăn lộn với phong trào ở vùng căn cứ địa, nên tôi nắm rất vững con người ở đây, thuộc lòng đường đi lối lại, các cơ sở coi tôi như người nhà. Có thể nói đó là sự tích luỹ suốt bốn, năm năm trời hoạt động tại một địa bàn, lớn dần lên trong phong trào quần chúng, để khi có thời cơ vụt trưởng thành nhanh chóng.

        Sau Thất Khê, Na Sầm, đêm 23 tháng 8, anh Lê Thiết Hùng, ké Lộc và tôi băng về Lạng Sơn, cùng tham gia giành chính quyền ở thị xã vào ngày hôm sau. Và ở đây một sự kiện mới nữa đã đến với tôi - tôi trở thành phó chủ tịch tỉnh Lạng Sơn.

        Sau đó, anh Lê Thiết Hùng được đồng chí Vũ Anh gọi về Hà Nội.

        Tình hình ở Lạng Sơn lúc này khá phức tạp. Bọn Phục quốc quân chiếm toàn bộ khu phố Kỳ Lừa, do Nông Quốc Long làm thủ lĩnh. Phía bên kia cầu, Quốc dân đảng và Việt Minh chia nhau chiếm giữ, không lực lượng nào chịu lực lượng nào. 

        Thực chất đây là một chính quyền liên hiệp được thoả thuận giữa các bên do Nông Quốc Long làm chủ tịch, Phùng Thế Tài làm phó chủ tịch. Trụ sở ủy ban cùng treo hai lá cờ song song: một lá cờ ba sọc và một lá cờ đỏ sao vàng. Cờ ba sọc gồm ba sọc trắng, ba sọc xanh, trên có ngôi sao. Những ngày sau đó trong thành Lạng Sơn có thêm một sư đoàn quân của Trương Phát Khuê đóng, làm chỗ dựa cho bọn tay sai.

        Tình hình phức tạp đến mức tôi không biết xoay xở ra sao? Phải thú thật là tôi còn thiếu cái vốn hiểu biết toàn diện để tự mình phân tích được một cách khoa học mọi tình hình đang diễn ra trước mắt. Tôi thuộc loại người có sức mạnh, có bản lĩnh, có quyết tâm cao thực hiện mọi việc nhưng phải có Đảng vạch đường, chỉ lối, còn ở cái tỉnh Lạng Sơn ở miền biên giới xa xôi này thì Nông Quốc Long, chủ tịch Phục quốc lại đang làm chủ tịch, còn tôi thì làm phó ... Lúc này Bác Hồ thì ở tận Hà Nội, còn đồng chí Vũ Anh cũng ở tận đâu đâu dưới ấy, hình như làm ủy viên quân sự toàn quốc. Do đó mỗi khi xuất hiện một vấn đề gay cấn tôi chẳng biết hỏi ai. Cho đến khi bước vào chuẩn bị bầu cử quốc hội thì rất lúng túng. Tôi thấy trong danh sách hầu hết là bọn phản động.

        Thế là tôi về Hà Nội, tìm gặp đồng chí Vũ Anh. Nghe tôi báo cáo tình hình, đồng chí Vũ Anh cũng thấy phức tạp, tại sao lại để cho Nông Quốc Long làm chủ tịch tỉnh, bộ mặt phản động của chúng, ai mà chẳng biết. Có lẽ phải tìm cách loại bỏ Long đi mới ổn. Nhưng đồng chí Vũ Anh bảo tôi hãy khoan bàn vấn đề này. Trước mắt anh dẫn tôi đi gặp Bác. Đồng chí Vũ Anh dẫn tôi đến Bắc Bộ Phủ.

        Kể từ ngày chia tay Bác ở Pác Bó đến nay, đã gần một năm tôi mới gặp lại Bác. Bác cho tôi ăn cơm và ngủ lại một đêm để nói chuyện. Hầu như Bác dành cả một buổi tối để nghe tôi kể chuyện tình hình những ngày đầu cách mạng ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn... Nhân dân khắp nơi vùng lên lập chính quyền mới như những ngày hội. Nhưng từ khi quân Tưởng sang thì tình hình trở nên phức tạp, khó khăn.

        Tôi nói với Bác bọn Tưởng là giặc chứ không phải là quân Đồng Minh gì đâu. Nếu Chính phủ không sớm có chủ trương đối phó thì nó sẽ phá hết thành quả cách mạng của ta. Rồi quên khuấy mất lời dặn của đồng chí Vũ Anh, tôi báo cáo luôn với Bác tình hình phức tạp của Lạng Sơn và khẳng định nếu để Nông Quốc Long làm chủ tịch thì thế nào ta cũng mất Lạng Sơn.

        Nghe đến đây Bác mỉm cười vỗ vai tôi:

        - Có Phùng Thế Tài làm phó chủ tịch mà lại để mất Lạng Sơn à?

        Mấy hôm sau, tôi được tin Nông Quốc Long không còn làm chủ tịch Lạng Sơn nữa. Hình như Long bị một phe phái nào đó loại bỏ. Còn tôi cũng không trở về Lạng Sơn mà đi nhận một nhiệm vụ khác. Mọi công việc tôi bàn giao cho đồng chí Huyền ở trong ủy ban.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:55:03 PM

VÀI SUY NGHĨ VỀ CHIẾN THẮNG PHAI KHẮT - NÀ NGẦN

HỒNG KỲ         

        Thấm thoắt trận tiêu diệt hai đồn Phai Khắt - Nà Ngần đến nay đã hơn 50 năm. Trong lịch sử chiến thắng để tồn tại của dân tộc Việt Nam lưu lại những võ công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Như Nguyệt, Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Xuân Giang, Rạch Gầm, Xoài Mút, Ngọc Hồi, Đống Đa, Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Tuy quy mô tầm vóc của các trận Phai Khắt, Nà Ngần khiêm tốn, nhỏ nhoi, nhưng ý nghĩa của nó lại rất lớn.

        Trận tiêu diệt đồn Phai Khắt diễn ra chiều ngày 25 tháng 12 năm 1944, ba ngày sau khi đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân ra đời. Trong trận này nhờ có nhân dân đùm bọc tiếp tế và giúp đỡ, Giải phóng quân đã nắm chặc thời cơ, lúc lính địch đang ăn cơm chiều, khôn khéo cải trang thành một toán lính dõng từ trên châu Nguyên Bình đi tuần xuống, đột nhập vào đồn.

        Do điều tra nắm chắc được vị trí địch, tiểu đội trưởng Thu Sơn đóng giả "đội xếp” mượn tiếng "đón quan châu” tập hợp được binh lính rồi cùng anh em bắt hàng toàn bộ quân sĩ trong đồn. Viên đồn trưởng người Pháp đi xa, được báo, quay về, đáng lẽ chỉ bị bắt nhưng vì chống cự nên bị một đội viên bắn chết cả người lẫn ngựa. Anh em nhanh chóng tước súng địch, tịch thu kho vũ khí.

        Trận đánh diễn ra chỉ trong vòng mười lăm phút. Chỉ nửa tiếng sau đã hoàn toàn thu dọn chiến trường. Hơn hai chục lính khố xanh, người thì giác ngộ đi theo cách mạng, kẻ được tha về quê quán làm ăn.

        14 giờ sau chiến thắng Phai Khắt, Giải phóng quân đánh tiếp trận Nà Ngần. Sáng ngày 26 tháng 12 năm 1944, đợi trời tan sương bộ đội ta đã cải trang thành lính địch (nhờ có quần áo của chúng thu được trong trận trước) vừa đi vừa hô hoán reo la như vừa bắt được mấy người dân tộc Dao "làm Cộng sản", (thực ra là lão đồng chí Toàn và hai đội viên Cứu quốc khác đóng giả) ung dung tiến vào đồn. Lính địch trong đồn chưa kịp ăn sáng, đã bị gọi tập hợp, tiếp đó bị vây bắt, dụ hàng. Tên Quản chỉ huy cùng bốn lính cố tình chống cự đã bị bắn chết. Trận đánh diễn ra từ năm đến sáu phút.

        Hai trận đánh nhỏ, vì quân sĩ mỗi bên chỉ khoảng ba mươi đến bốn mươi người, song lại là trận đánh có ý nghĩa chính trị, lịch sử quan trọng.

        Đối với kẻ địch, đây là trận đánh đàng hoàng của đội quân chủ lực của một dân tộc đối thủ mà từ 60 năm nay cứ mỗi lần vùng dậy là một lần bị nhấn chìm trong biển máu; một trận đánh có tổ chức, có kế hoạch, có công tác tham mưu, công tác chính trị và công tác hậu cần. Đó là trận tiêu diệt nhanh gọn trong 14 giờ hai cứ điểm cách nhau 15 ki-lô-mét, một trận đánh trí tuệ, táo bạo và thần tốc đáng gờm, trận đánh như một ngọn roi lửa của nhân dân Cao - Bắc - Lạng quất vào mặt quân thù. Sau một năm bị khủng bố trắng đẫm máu, trận đánh chứng tỏ sức sống kiên cường, bất khuất của cách mạng Việt Nam, báo trước một tương lai thảm họa cho bọn thực dân xâm lược.

        Đối với cách mạng Việt Nam, Phai Khắt, Nà Ngần là hai trận đầu xuất trận của đội quân chủ lực của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam dưới sự tổ chức, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đó là trận đánh "tuyên truyền giải phóng" chính thức ra mắt toàn dân biết. Cách mạng "đã từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự". Đó là trận đánh báo hiệu cho toàn dân tiến lên con đường vũ trang tranh đấu đầy máu lửa, hy sinh để tích cực chuẩn bị cho thời kỳ toàn dân khởi nghĩa giành lấy chính quyền.

        Trận đánh đó báo cho toàn quốc đồng bào, nhất là với thanh niên, đây không còn là lúc:

                         “Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước
                         Chọn một dòng. . . "

        Sau Phai Khắt, Nà Ngần, con đường chiến đấu đã mở ra. Sự lựa chọn dùng bạo lực cách mạng để tự giải phóng dân tộc bị áp bức ra khỏi vòng nô lệ từ những năm ba mươi đã được thực hiện đúng thời cơ, kiên quyết, sáng tạo. Đây là lúc “những chàng trai quý gái yêu” hãy vững bước theo Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân tiến lên con đường vũ trang tranh đấu.

        Đối với quân ta, các trận Phai Khắt, Nà Ngần đã tạo một tiền lệ của truyền thống "ăn mỗi ngày một bữa, thắng mỗi ngày hai trận", "khó khăn nào cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng", đánh chắc thắng và mở đầu truyền thống anh hùng "trận đầu đánh thắng".

        Sau Nam tiến lần thứ nhất (1941 - 1943) thắng lợi là sự ra đời của đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Sau các trận thắng rực rỡ Phai Khắt, Nà Ngần là rộ lên phong trào yêu cầu được đi "giải phóng" của thanh niên Cao - Bắc - Lạng, phát triển phong trào vũ trang toàn dân, hình thành ba thứ quân lan về Thái Nguyên, Tuyên Quang, chuẩn bị lực lượng, chớp thời cơ "Nhật - Pháp bắn nhau..." để hành động và chỉ vài tháng sau Nhật đảo chính Pháp, sáu tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Thái - Hà - Tuyên đã thành lập Khu giải phóng bước sang thời kỳ tiền khởi nghĩa sôi nổi trong cả nước.

        Khi có quân lệnh số 1 ban ra cho toàn dân khởi nghĩa thì Việt Nam Giải phóng quân - lực lượng vũ trang thống nhất của Đảng gồm đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - đơn vị mang truyền thống Phai Khắt Nà Ngần cùng với Cứu quốc quân và các lực lượng vũ trang khác, dưới sự chỉ huy của Bộ chỉ huy Việt Nam Giải phóng quân, Uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng cùng với toàn dân nổi dậy suốt từ Bắc chí Nam, chỉ trong một tuần từ 19 đến 25 tháng 8 năm 1945 đã giành được chính quyền trong cả nước, giải phóng dân tộc Việt Nam ra khỏi vòng nô lệ, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

        Chiến thắng Phai Khắt - Nà Ngần, bừng sáng lên trong đêm dài nô lệ một vì sao báo hiệu sự đổi đời!


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:56:30 PM

TRẬN ĐÁNH QUÂN NHẬT Ở TAM ĐẢO

1. TRẬN ĐÁNH TAM ĐẢO

LÊ HỒNG TÂM       

        “Tam đảo! Hai chữ Tam Đảo sẽ được lưu truyền đời đời trong lịch sử cách mạng của ta". Đó là câu mở đầu của một bài đăng trên báo Quân giải phóng - cơ quan của Giải phóng quân Việt Nam, số 1 ra ngày 3-8-1945, ghi nhận một chiến công xuất sắc của Quân giải phóng ở chiến khu trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. (Số báo này hiện còn lưu giữ tại Bảo tàng Quân đội.)

        Báo chí cách mạng trong thời kỳ bí mật như “Nước Nam mới" và sau này như báo Quân đội nhân dân, tạp chí Lịch sử quân sự đều đã có những bài viết về trận Tam đảo. (Báo Quân đội nhân dân, số 8679 (29-7-1985) và số 8680 (30-7-1985).)

        Nhân kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Tám, chúng ta cùng nhau nhớ lại chiến công này.   

        Tam Đảo vốn là một khu nghỉ mát do thực dân Pháp xây dựng trên một đỉnh cao của dãy núi Tam Đảo thuộc tỉnh Vĩnh Yên (nay là tỉnh Vĩnh Phúc) có quy mô dáng dấp như một thị trấn miền núi ở nước Pháp với hơn 100 biệt thự kiểu dáng kiến trúc vừa cổ kính vừa hiện đại, bao quanh bởi vườn hoa và thảm cỏ. Cùng với các biệt thự, Tam Đảo còn có các nhà thờ đạo Thiên chúa với dáng tháp cao xây bằng đá tảng và khách sạn nhiều tầng; có trường học, bệnh xá và nhà bưu điện, có cửa hàng bách hóa và nhà câu lạc bộ, có sân vận động, các bể bơi cho người lớn và trẻ em, có điện nước đầy đủ và đường ô tô trải nhựa nối với quốc lộ số 2, qua thị xã Vĩnh Yên về Hà Nội. Cho tới năm 1945, khu nghỉ mát Tam Đảo là nơi cư trú thường xuyên của hơn 100 gia đình quan chức cao cấp người Pháp.

        Ở Tam Đảo ngoài khu nghỉ mát của người Pháp mà nhân dân ta khi ấy gọi là "làng Tây", còn có một xóm nhỏ của các gia đình người Việt Nam được gọi là "làng ta" với những nhà tranh vách đất tồi tàn của những người lao động thuộc vùng đồng bằng lên đây sinh sống bằng các nghề phục vụ việc xây dựng và tu sửa, trông coi các biệt thự của khu nghỉ mát.

        Để bảo vệ Tam Đảo, thực dân Pháp đã thiết lập tại đây một đồn cảnh sát do sĩ quan người Pháp chỉ huy, một đồn lính khố xanh có một trung đội được trang bị đầy đủ súng đạn. Lực lượng này còn trông coi một trại giam hàng trăm người tù Việt Nam bị đưa từ các nơi đến để làm lao công tạp dịch phục vụ khu nghỉ mát.

        Từ đầu những năm 40, việc bảo vệ Tam Đảo được tăng cường một đại đội lính lê dương người Âu vì lúc này Mặt trận Việt Minh và Cứu quốc quân đã có những hoạt động trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, có nơi chỉ cách Tam Đảo không quá ba giờ đi theo đường mòn trong rừng già của dãy núi Tam Đảo.

        Sau này phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp (9-3-1945), đơn vị lính lê dương bỏ chạy, một trung đội quân Nhật chiếm đóng Tam Đảo, lập đồn trại trong hai biệt thự kiên cố cạnh tháp chuông nhà thờ. Chúng nắm quyền chỉ huy lực lượng cảnh sát và lính khố xanh được đổi tên thành bảo an binh, khống chế người Pháp cư trú ở Tam Đảo, tổ chức mật vụ để nắm tình hình và tăng cường tuần tra canh gác các ngả đường mòn dẫn tới chiến khu Việt Bắc. Bởi lẽ các hoạt động của Việt Minh đã xuất hiện ở Tam Đảo và quân Nhật ở đấy đã nằm trong sự đe dọa bị tấn công bởi Giải phóng quân mà chúng tuyên truyền xuyên tạc là “giặc cỏ".

        Từ cuối năm 1944, để thực hiện chủ trương Nam tiến, Tam Đảo đã là một địa bàn mở rộng hoạt động của trung đội Phạm Hồng Thái do đồng chí Thạch Sơn chỉ huy. Trung đội này vốn là một đơn vị Cứu quốc quân đã xây dựng được căn cứ bí mật trong đồng bào dân tộc người Dao ở xã Quân Chu và hoạt động vũ trang tuyên truyền mở rộng Khu giải phóng ở các xã phía Nam thuộc huyện Đại Từ và huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

        Hoạt động của trung đội Phạm Hồng Thái khi ấy có thuận lợi vì trong đơn vị có một số cán bộ và chiến sĩ vốn là con em các gia đình lao động cư trú ở Tam Đảo và tinh thần cách mạng của đông đảo nhân dân đã được khơi dậy mạnh mẽ bởi những tin tức về thắng lợi của Việt Minh ở chiến khu và các nơi khác đã lan truyền tới đấy.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:56:46 PM

        Cho đến trước ngày xảy ra trận đánh (16-7-1945) thì chương trình Việt Minh đã được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi ở Tam Đảo. Nhiều tổ chức cách mạng đã được xây dựng trong nhân dân ở "làng ta", trong hạ sĩ quan, binh lính của đồn bảo an binh và trong những người tù ở trại giam.

        Chương trình Việt Minh và chủ trương kêu gọi người Pháp cùng hợp tác để đánh đuổi phát xít Nhật cũng đã được phổ biến trong cộng đồng người Pháp bị Nhật cầm giữ ở đây qua một cơ sở rất tích cực của Quân giải phóng là vợ chồng giáo sư sử học người Pháp tên là Béc-na.

        Kế hoạch đánh Tam Đảo được cấp trên dự kiến thì một tổ công tác của Quân giải phóng đã có thể cắm chốt tại đây để nghiên cứu kỹ càng vị trí đóng quân, theo dõi chặt chẽ hoạt động của quân Nhật, bí mật huấn luyện chiến đấu cho những người tù hăng hái nhất bằng chính vũ khí của bảo an binh và chuẩn bị kế hoạch phối hợp tác chiến của Giải phóng quân với các tổ chức cách mạng.

        Gần tới ngày xảy ra trận đánh, đội trưởng Thạch Sơn đã đưa đồng chí Lê Trung Đình - một cán bộ cấp trên chỉ đạo phong trào cách mạng ở Thái Nguyên bí mật đột nhập Tam Đảo để xem xét tại chỗ mọi mặt công tác chuẩn bị. Trên đường trở về Tân Trào, sau khi dự Hội nghị quân sự Bắc Kỳ tháng 4 năm 1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp nghe đội trưởng Thạch Sơn báo cáo và cho những ý kiến chỉ đạo sâu sát, cổ vũ mạnh mẽ ý chí chiến đấu của các chiến sĩ Giải phóng quân.

        Trận Tam Đảo bắt đầu từ nửa đêm về sáng ngày 16 tháng 7 năm 1945. Những binh lính bảo an và người tù được giác ngộ cách mạng đã nổi dậy phối hợp với Giải phóng quân chiến đấu dưới quyền chỉ huy của đội trưởng Thạch Sơn. Quân ta bao vây chặt quân Nhật trong đồn trại, bắn tỉa để tiêu hao lực lượng, uy hiếp tinh thần của chúng và tập kích, xung phong chiếm được đồn lúc trời vừa sẩm tối. Kết quả là quân địch bị tiêu diệt hoàn toàn, ta thu được toàn bộ súng đạn và đồ quân dụng, trong đó có những thứ khi ấy rất quý hiếm như trung liên, súng phóng lựu đạn, máy thông tin...

        Thành tích chiến đấu này đã được nhấn mạnh trong bài “Phê bình các cuộc chiến đấu vừa qua" đăng trên báo Quân giải phóng (số 1 ngày 3-8-1945), trong đó có đoạn viết "trong lúc này Giải phóng quân chiến đấu là để mở rộng ảnh hưởng chính trị và tăng gia lực lượng quân sự của ta. Về mặt quân sự thì các cuộc chiến đấu có kết quả khác nhau. Có cuộc thì kết quả là đem lại cho ta một số súng đạn của địch giúp bộ đội ta phát triển thêm. Còn có cuộc thì kết quả là giết chết một số quân địch, còn súng đạn thì ta chỉ có mất chứ không có được! Mà những cuộc lỗ vốn này phần nhiều là những cuộc phục kích (...) còn những cuộc có lãi thì phần nhiều là những cuộc tập kích như trận Lục An Châu, Yên Bình, Tam Đảo. Tập kích là khó, nhưng ta tập kích lại có kết quả lớn. Đó là vì trong những trận tập kích vừa rồi, quân địch bị ảnh hưởng chính trị mà đầu hàng thì nhiều, còn bị sức chiến đấu mãnh liệt của ta tiêu diệt như ở Tam Đảo thì ít...".

        Trong trận Tam Đảo, việc bảo an binh nổi dậy phối hợp chiến đấu với Quân giải phóng đã là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi.

        Sự kiện này là kết quả nổi bật của công tác binh vận và đã có ảnh hưởng rộng lớn trong lính bảo an dưới quyền chỉ huy của phát xít Nhật. Để phát huy ảnh hưởng này, ngay sau trận đánh, báo “Nước Nam mới" đã đưa tin "Anh em binh lính phối hợp với Giải phóng quân đã hạ đồn Tam Đảo toàn bộ quân Nhật bị tiêu diệt...". Báo Quân giải phóng thì viết "Tại Tam Đảo, anh em đội, cai, binh lính đã theo lời kêu gọi của Việt Minh, quay súng lại tiêu diệt giặc Nhật! Anh em binh lính nổi dậy diệt trừ giặc Nhật lần này là lần đầu tiên. Cái gương nghĩa khí ấy, toàn thể binh lính Việt Nam sẽ noi theo, toàn thể quốc dân Việt Nam sẽ ghi nhớ...".

        Do kết quả của công tác vận động quần chúng, trong khi trận đánh diễn ra ác liệt, đồng bào ta đã nấu cơm, giết lợn, đưa đồ ăn, nước uống đến tận vị trí chiến đấu của các chiến sĩ ở sát đồn địch, đã lớn tiếng hò reo để động viên quân ta và áp đảo tinh thần quân địch khi các chiến sĩ xung phong chiếm đồn. Sau đó đồng bào còn tham gia thu dọn chiến trường, vận chuyển thương binh, chiến lợi phẩm và một số thanh niên Tam Đảo đã xin gia nhập ngay Giải phóng quân.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:57:29 PM

        Vì đã được tuyên truyền và có liên lạc từ trước với Giải phóng quân, nên trong trận đánh, người Pháp đã tỏ rõ thiện chí bằng cách giao cho quân ta một số súng đạn họ cất giấu được, tiếp tế thức ăn, thuốc men và tham gia băng bó, chăm sóc các chiến sĩ bị thương. Tin tưởng vào chính sách của Việt Minh, đã có 20 người Pháp đề nghị được theo quân ta về Khu giải phóng trong đó có vợ chồng Béc-na giáo viên trường trung học An-be Sa-rô (Albert Sarraut), gia đình công sứ Vĩnh Yên và một số quan chức cao cấp khác. Những người này đã được chăm sóc, bảo vệ chu đáo trong những ngày ở Khu giải phóng.

        Thay mặt cho họ vợ chồng giáo viên Béc-na đã viết "Thư gửi các bạn ở Hà Nội". Những dòng đầu thư này viết: "Việt Minh! Tôi muốn nói với các bạn về họ! Một là để thoả mãn trí tò mò da diết của tôi cũng như của các bạn, hai là để xóa bỏ những hiểu lầm và thành kiến mà số đông chúng ta mắc phải. Việt Minh không phải là kẻ cướp, cũng không phải là người ghét người Pháp mà chỉ là những người ghét chủ nghĩa phát xít và mong muốn giải phóng đất nước họ khỏi ách Nhật Bản. Đó là bộ phận sống động nhất, chân chính nhất của một đất nước đang sôi động và đầy sức mạnh...".

        Sau khi nói về thái độ ưu ái và sự bảo vệ an toàn của quân dân ta dành cho người Pháp ở Khu giải phóng, bức thư đó có đoạn viết “Không bao giờ tôi quên được buổi tối đó khi được ông Văn (Võ Nguyên Giáp), một vị chỉ huy mà theo chúng tôi là người có quyền hành nhất và kinh nghiệm phong phú nhất - nói cho chúng tôi nghe, với những lời giản dị, mạnh mẽ về những cố gắng bền bỉ nhưng không kết quả của Việt Minh nhằm tiếp xúc với người Pháp và làm cho người Pháp hiểu. Bất hạnh thay họ đã nói chuyện với một chính quyền đế quốc. Chính quyền này đã trả lời họ bằng cách tăng cường các cuộc đàn áp (...), chúng tôi thấy cần phải thực hiện một nhiệm vụ cấp bách là thường xuyên kêu gọi những người Pháp còn lại ở Hà Nội hoặc ở nơi khác tại Đông Dương chưa được giải phóng hãy thức tỉnh trước thực tế đó. Với tất cả tấm lòng, chúng tôi mong ước rằng vào lúc xảy ra những cuộc chiến đấu cuối cùng, những người Pháp này đừng có hoạt động gì làm hoen ố lịch sử quan hệ Pháp - Việt Nam".

        Những dòng cuối cùng của bức thư là "Chúng tôi khẳng định rằng Việt Nam quyết tâm phát triển các quan hệ bạn bè, đẩy mạnh trao đổi buôn bán, kỹ thuật văn hóa với nước chúng ta sao cho việc giải phóng Đông Dương là bình minh của một tình hữu nghị mới, thật sự nhân đạo, tài sản quý báu nhất đối với những người có thiện chí của tất cả các nước". Ký tên Mô-rít (Maurice) và Y-von Béc-na (Yvonne Bernard), cựu giáo viên trường trung học An-be Sa-rô. (Thư này viết bằng chữ Pháp đã được in và bí mật tán phát rộng rãi ở Hà Nội).

        Chiến thắng Tam Đảo cùng với việc một số người Pháp theo về Khu giải phóng và lá thư của họ đã có tác dụng phủ định sự tuyên truyền xuyên tạc của kẻ thù về Việt Minh, chứng minh cụ thể chính nghĩa và sức mạnh của phong trào cách mạng do Việt Mình lãnh đạo. Thế giới cũng đã biết được tin chiến thắng Tam Đảo qua làn sóng điện của đài phát thanh Côn Minh (Trung Quốc) nhờ nguồn tin của tổ công tác liên lạc của quân Đồng Minh do thiếu tá người Mỹ tên là Tô-mát chỉ huy, khi ấy cũng có mặt ở Tân Trào.

*

*      *

        Ở vào thời điểm phong trào cách mạng sôi sục chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền, phát xít Nhật còn ngoan cố chưa chịu đầu hàng và quân Đồng Minh chuẩn bị đổ bộ vào Đông Dương thì chiến thắng Tam Đảo đã là một chiến công đặc biệt. Tin chiến thắng nhanh chóng lan truyền về Hà Nội và các địa phương đã cổ vũ mạnh mẽ các hoạt động quân sự đánh Nhật, cướp vũ khí xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng va công tác binh vận.

        Tin chiến thắng về đến Tân Trào trong những ngày chuẩn bị họp Quốc dân Đại hội đã đem thêm những niềm vui hân hoan, tin tưởng tới các đại biểu của mọi miền đất nước về dự Đại hội. Chiến thắng Tam Đảo được đài phát thanh Côn Minh chuyển đi, thế giới có thêm hiểu biết đúng đắn về sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân ta do Việt Minh lãnh đạo.

        Sau trận Tam Đảo, cán bộ và chiến sĩ trung đội Giải phóng quân Phạm Hồng Thái cùng anh em binh lính và người tù giác ngộ cách mạng đã tham gia chiến đấu đều trở thành cốt cán của các đơn vị Giải phóng quân được phát triển lớn mạnh trong những ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945. Chiến thắng Tam Đảo đã được ghi vào lịch sử quân đội nhân dân quang vinh của chúng ta.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:58:21 PM

2. DIỄN BIẾN TRẬN ĐÁNH NHẬT Ở TAM ĐẢO

KIM SƠN         

        Một tình huống bất ngờ

        Từ hội nghị miền Bắc Đông Dương trở về Tân Trào, tại làng Cát Nê, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã giao nhiệm vụ cho trung đội Giải phóng quân Phạm Hồng Thái phải tiến công quân Nhật, mở rộng khu căn cứ sang Vĩnh Yên.

        Hạ tuần tháng 5 năm 1945, một kế hoạch hoạt động quân sự lớn được dự định và khẩn trương chuẩn bị. Đồng chí Lê Trung Đình là một cán bộ cấp trên trực tiếp của trung đội Phạm Hồng Thái đã cùng đồng chí Thạch Sơn, trung đội trưởng vượt sang Tam Đảo nắm lại tình hình cơ sở đã có ở đây và đi nghiên cứu địa hình chuẩn bị cho những hoạt động phối hợp với quân Đồng Minh.

        Theo dự định trong trường hợp máy bay Đồng Minh ném bom cầu Việt Trì thì Quân giải phóng sẽ thừa cơ tiến đánh các căn cứ huấn luyện và hậu cần của Nhật đóng ở Bảo Sơn, Đình Âm (Vĩnh Yên). Kế hoạch hoạt động sẽ phải thực hiện bằng trận đánh mở đầu diệt quân Nhật đóng giữ thị trấn Tam Đảo bằng nội công ngoại kích. Cơ sở và nhân mối của ta lúc bấy giờ đã có trong anh em binh lính và cả dân thường bị bắt giam ở Tam Đảo.

        Nhưng một tình huống bất ngờ xảy ra. Có một nhân mối trong số lính bảo an phản bội, báo cho Nhật biết anh em tù, nhân dân và binh lính, cảnh sát người Việt ở Tam Đảo đã theo Việt Minh. Bọn Nhật ở Vĩnh Yên quyết định ngày 16 tháng 7 năm 1945 sẽ tước vũ khí của binh lính người Việt và sẽ có những biện pháp đối phó tiếp theo.

        Một kế hoạch táo bạo đánh úp quân Nhật

        Được tin trên, nửa đêm 15 tháng 7 năm 1945, cơ sở của ta đã kịp báo tin cho các đồng chí Trường Liên, Ngân Sơn và tôi lúc đó là liên lạc, được phân công bám sát cơ sở ở đây. Tình hình rất khẩn cấp, không cho phép do dự. Cần phải có ngay một kế hoạch đối phó, không thể báo cáo và xin chỉ thị của trên kịp được.

        Sau khi bàn bạc với anh đội Bồng, đại diện cho anh em lính bảo an và anh Phan, đại diện cho anh em tù, mọi người đã cùng nhau thống nhất chủ trương đối phó, quyết định không để cho Nhật tước vũ khí mà phải chủ động tiến công địch trước.

        Một kế hoạch đánh úp táo bạo được khẩn trương vạch ra: trong đêm 15 tháng 7 năm 1945 rạng sáng 16 tháng 7 năm 1945, các anh đội Bồng và Phan cùng những anh em lính và tù hăng hái tự nguyện bí mật bao vây chờ Quân giải phóng đến sẽ tấn công quân Nhật trước lúc tảng sáng. Tôi được giao nhiệm vụ giữ liên lạc chặt chẽ giữa bộ phận này với Quân giải phóng.

        Anh Ngân Sơn nhanh chóng xuống ngay làng An Nam" cùng anh Trần Cường và cơ sở của ta ở đó, cắt đường điện thoại Tam Đảo - Vĩnh Yên, tìm cách liên lạc với các đồng chí Việt Minh ở các làng Mạ, Nhân Lý... tiến ra phá cầu Lính (Quân Pháp gọi cầu này là Pont des linh, dân ta quen gọi là cầu Lính.) và ngả cây to làm vật chướng ngại từ ki-lô-mét 13 đến ki-lô-mét 18 Vĩnh Yên - Tam Đảo, rồi tổ chức trận địa ngăn chặn địch ở bình độ 300 mét (dốc đứng). Anh Trường Liên gấp rút đi báo tin ngay sau khi có kế hoạch cho trung đội phạm Hồng Thái ở làng Quân Chu để kịp đưa lực lượng lên tăng cường làm nòng cốt cho trận đánh. Mọi việc được triển khai theo kế hoạch đã định.

        Đêm hôm ấy, anh em binh lính mai phục xung quanh đồn Nhật. Anh em tù đã nhiều người bám sát hàng rào khu đồn và bí mật tiến sát tới chân tường nhà quân Nhật. Cuộc bao vây đã dần đần hình thành. Song lệnh nổ súng chưa ban ra, còn phải chờ Quân giải phóng tới, nhưng đáng tiếc trong anh em lính, có người sợ trời sáng sẽ bị lộ nên đã tự động nổ súng. Giặc Nhật ở trong đồn bắn ra xối xả. Thế là cuộc bắn nhau giữa anh em binh linh theo cách mạng và quân Nhật nổ ra vang dội cả thị trấn Tam Đảo. Anh em tù nghe súng nổ theo đúng kế hoạch liền xung phong vào đồn cận chiến với quân Nhật. Bọn Nhật chống cự kịch liệt, sử dụng cả lựu đạn, súng máy, phóng lựu. Anh em tù phải lùi ra. Binh lính cũng chưa quen chiến trận bị vấp phải lựu đạn có phần hoảng hốt. Trận đánh đã diễn ra không đúng kế hoạch, lực lượng Quân giải phóng chưa đến kịp. Binh lính và anh em tù rút khỏi thị trấn do tôi dẫn đường về phía căn cứ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:58:54 PM

        Một kế hoạch mới: bao vây và tiêu hao địch

        Quá nửa đêm, rạng sáng ngày 16 tháng 7 năm 1945, anh Trường Liên mới về đến căn cứ đề nghị điều trung đội Phạm Hồng Thái lên hỗ trợ cho lính bảo an và anh em tù tiến công quân Nhật.

        Lúc này, trung đội lại đang phân tán. Một tiểu đội đang đi củng cố cơ sở và mở thông đường từ Phúc Thuận về dưới xuôi. Một bộ phận khác được lựa chọn đi học trường Quân chính kháng Nhật ở Tân Trào. Lực lượng còn lại chẳng được bao nhiêu. Tuy vậy trung đội trưởng Thạch Sơn hạ quyết tâm phải cấp tốc đến Tam Đảo cùng anh em binh lính và tù nhân tham gia trận đánh Nhật, giành thắng lợi. Liên lạc được phái đi để tìm cách báo cáo với đồng chí Lê Trung Đình đang hoạt động gần thị xã Thái Nguyên để qua đồng chí Lê Trung Đình báo cáo lên cấp trên.

        Trung đội Giải phóng quân chỉ còn lại có 12 người và 8 khẩu súng: 1 Sten, 5 khẩu súng trường vừa gióp 5 vừa gióp 3, hai khẩu súng săn, 2 thủ pháo tự tạo và một ít kíp mìn, thuốc nổ... Lực lượng tuy không đông, trang bị không mạnh nhưng quyết tâm, khí thế và niềm tin vào thắng lợi của anh em rất cao.

        Đêm tối, đường dốc, đá gập ghềnh; trời lại vừa mưa, đường trơn như đổ mỡ; có người trượt chân lăn xuống khe sâu lại lóp ngóp bám gốc cây leo lên theo sát đội hình hành quân. Tiếng súng từ trên đỉnh Tam Đảo vọng xuống khiến anh em càng sốt ruột. Trời đã tảng sáng, nhưng trong rừng đường đi vẫn tối như ban đêm. Đội trưởng và anh em đều chung một ý nghĩ: cần phải tăng tốc độ hành quân hơn nữa. Những đôi chân đất bất kể đá nhọn, đường trơn vượt những đoạn dốc đứng để tới kịp hỗ trợ cho anh em binh lính và tù.

        Cách Tam Đảo khoảng hơn hai ki-lô-mét, mọi người bỗng nghe tiếng nói lao xao. Đề phòng gặp địch, đội trưởng Thạch Sơn ra lệnh cho đơn vị hành quân theo đội hình chiến đấu, súng cầm tay. Liền sau đó, đồng chí vượt đội hình lên phía trước vừa đi vừa quan sát. Anh Phan, anh đội Bồng và tôi từ trên dốc đi xuống thấy quân ta đều reo lên: "Giải phóng quân đến rồi".

        Nơi gặp gỡ của hai cánh quân có một tảng đá rất lớn, mặt bằng tuy gồ ghề nhưng khá rộng. Cả hai đoàn quân bổ tới, tay bắt mặt mừng, ân cần hỏi thăm nhau, đặc biệt là đối với những anh em bị thương máu loang đỏ trên những bộ quần áo tù nhân. Đồng chí Thạch Sơn nói với các anh em binh lính và tù vừa từ trên núi xuống:

        - “Thay mặt đoàn thể Việt Minh, chúng tôi - đơn vị Giải phóng quân Phạm Hồng Thái nhiệt liệt hoan nghênh anh em binh lính đã đoàn kết với anh em tù theo lời kêu gọi của Việt Minh quay súng bắn vào giặc Nhật. Bây giờ, chúng ta cần phải kiên quyết tiêu diệt giặc Nhật để bảo vệ cơ sở bảo vệ đồng bào. Giải phóng quân cần sự tình nguyện của các anh em. Ai muốn cầm súng quay lại diệt giặc Nhật xin giơ tay".

        Mọi người gần như nhất loạt giơ tay hưởng ứng. Hơn 40 anh em binh lính và tù đã được lựa chọn trong số đó và được tổ chức thành bốn tiểu đội. Anh em binh lính và tù đề nghị để chiến sĩ Giải phóng quân chỉ huy các tiểu đội, làm nòng cốt cho mỗi tiểu đội. Số còn lại trao súng đạn cho những người đi chiến đấu và được hướng dẫn về căn cứ.

        Sau một cuộc trao đổi chớp nhoáng với đội Bồng cùng anh em binh lính, một kế hoạch bao vây, tiêu hao tiến tới tiêu diệt quân Nhật được vạch ra và nhanh chóng phổ biến cho toàn đội. Trung đội bây giờ được trang bị đầy đủ vũ khí đạn dược do anh em lính bảo an mang theo bổ sung, tiến vào trung tâm thị trấn Tam Đảo theo hai hướng.

        Hướng thứ nhất có hai tiểu đội đi theo hướng Bắc, tiểu đội 1 vào chiếm lĩnh các biệt thự từ tây bắc đến tây nam đồn Nhật.

        Hướng thứ hai có hai tiểu đội theo hướng Đông xuống Đông Nam; tiểu đội 3 vào chiếm giữ nhà bưu điện và nam bể bơi, tiểu đội 4 tiến xuống làng "An Nam" cùng với cơ sở tiếp tục phá cầu, ngả cây làm vật chướng ngại và chặn địch ở bình độ 300.

        Đoàn quân tiến vào thị trấn, đồng bào từ những nơi ẩn nấp đang lo sợ sau khi anh em binh lính và tù nổi dậy khởi nghĩa đã rút đi, nay thấy Quân giải phóng người đeo kín ngụy trang tay cầm vũ khí tiến vào thị trấn, ai nấy đều vui mừng, niềm tin hiện rõ trên mặt. Vượt qua nhiều ngôi nhà trong thị trấn, hai cánh quân đã đến sát một biệt thự có tầng hầm kiên cố và rào bốn mặt mà lính Nhật đóng.

        Vào lúc 7 giờ sáng ngày 16 tháng 7 năm 1945, toàn trung đội đã hình thành thế bao vây quân Nhật cách chúng không quá 100 mét. Các chiến sĩ chăm chú theo dõi hoạt động của địch. Hai tên Nhật từ trong đồn lom khom chạy vọt ra. Ngay lập tức chúng bị quân ta từ các phía bắn vào. Địch ở trong nhà bắn ra yểm hộ cho hai tên này rút vào đồn. Thấp thoáng có những chiếc mũ sắt thò lên ở các cửa sổ. Tiếng súng của Quân giải phóng lại rộ lên. Những chiếc mũ lại thụt xuống.

        Nhưng âm mưu đánh lừa của chúng để quân ta tiêu hao đạn dược đã bị quân ta kịp thời phát hiện. Chúng ta chuyển sang cách đánh mới: từng người bắn tỉa và bắn kiềm chế không cho địch ló đầu ra khỏi đồn. Bà con ở gần đấy đem gối, đệm bông lấy từ các biệt thự đến cho chiến sĩ ta làm bệ tì. Một tên Nhật vụt xuống bếp thì một phát đạn của đồng chí Ngân Sơn từ phía nhà thống sứ bắn sang trúng bếp, tro bụi tung lên, tên Nhật đó hoảng sợ bỏ chạy vào đồn. Từ đó, quân Nhật không dám ra khỏi nhà. Ta tiếp tục bao vây đánh tiêu hao địch, chờ thời cơ xung phong tiêu diệt chúng. Từ bốn phía, các tay súng của ta nhằm cửa sổ, cửa ra vào của đồn Nhật mà bắn cầm canh.

        Trong trận Tam Đảo, đồng bào ta sau bao năm tủi nhục dưới ách đế quốc đã đến với các chiến sĩ giải phóng. Ai cũng tặng một chút quà, từ nắm cơm, bánh kẹo đến trái cây vườn nhà cho Quân giải phóng. Trong đó có cả một số người Pháp.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 10:59:34 PM

        Vận động những người Pháp bị Nhật giam giữ ở Tam Đảo

        Đây là một loại công tác đặc biệt mới mẻ. Nhân khi ta đã vây chặt quân Nhật, một bộ phận Quân giải phóng gồm các đồng chí nói khá tiếng Pháp được rút ra làm nhiệm vụ tuyên truyền số người Pháp bị Nhật cầm tù ở đây về chủ trương của Việt Minh là giải phóng đất nước, không trả thù người Pháp và kêu gọi họ hợp tác với ta đánh phát xít Nhật.

        Lúc quân ta mới tiến vào thị trấn Tam Đảo, có một số người Pháp từ các cửa sổ thập thò nhìn theo Quân giải phóng vẻ lo lắng. Theo lệnh đội trưởng Thạch Sơn, một vài anh em biết tiếng Pháp nói vài câu ngắn gọn để làm yên lòng họ: "Chúng tôi là Việt Minh. Chúng tôi đánh Nhật. Người Pháp có thể hợp tác với chúng tôi trong mặt trận của Đồng Minh".

        Thực ra, chương trình Việt Minh và chủ trương kêu gọi người Pháp cùng hợp tác đánh Nhật cũng đã được tuyên truyền trong một bộ phận người Pháp bị Nhật cầm giữ ở đây qua một cơ sở rất tích cực của Quân giải phóng là vợ chồng giáo viên người Pháp tại trường trung học An-be Sa-rô là Mô-rít và Y-von Béc-na. Vì thế, trong trận ta tiến công Nhật ở Tam Đảo, người Pháp đã tỏ rõ thiện chí bằng cách giao cho ta một số súng đạn họ cất giấu được, tiếp tế thức ăn, thuốc men và tham gia băng bó các chiến sĩ bị thương.

        Trong lúc quân ta đang bao vây quân Nhật, đồng chí Thạch Sơn cũng trực tiếp gặp một số người Pháp theo nguyện vọng của họ. Hai vợ chồng giáo viên Béc-na được đồng chí Thạch Sơn gặp ngay ở nhà họ, rồi cả chánh sứ Rê-mô-vin... Lúc đầu, chánh sứ Rê-mô-vin chưa thật tin ta, sợ ta trả thù. Song qua tiếp xúc, được biết rõ sự độ lượng của ta, có một số người đã tự nguyện xin theo ta để được đưa đến biên giới Việt - Trung. Đồng chí đội trưởng hứa có thể tổ chức đưa họ tới với lực lượng Đồng Minh.

        Đợt xung phong tiêu diệt quân Nhật cố thủ trong đồn

        Đến gần trưa ngày 16 tháng 7 năm 1945, đội trưởng Thạch Sơn lần lượt đến từng tiểu đội nắm lại tình hình cả ta và địch. Một kế hoạch xung phong tiêu diệt quân địch cố thủ trong đồn được phổ biến cho toàn đơn vị.

        Đợt xung phong cuối cùng bắt đầu lúc trời vừa tối. Quân ta từ ba hướng áp sát đồn Nhật. Hướng Đông và Đông Nam có lực lượng bố trí để tiêu diệt khi địch rút chạy theo đường xuống Thác Bạc.

        Mở đầu đợt xung phong, chiến sĩ ta từ các hướng đồng loạt ném mìn tự tạo và bắn dữ dội vào ngôi thà Nhật đóng. Tiếng hô xung phong của chiến sĩ, tiếng hò reo vang dội của đồng bào làm náo động cả thị trấn. Địch điên cuồng đối phó với đợt xung phong này. Sau một loạt mìn tự tạo ném vào trong ngôi nhà Nhật đóng, các tiểu đội xông vào chiếm dồn địch. Quân ta thu được một số vũ khí, rồi lập tức toả ra truy tìm những tên chạy trốn sau khi chúng bỏ lại hơn chục xác chết trong nhà.

        Cuộc lùng sục truy bắt địch trong khách sạn Mê-tơ-rô-pôn và trên đường phố diễn ra suốt cả trong đêm. Đúng như ta dự kiến, quân Nhật kéo nhau rút chạy ra hướng Đông Nam. Tiểu đội 3 do đồng chí Hồng Tâm chỉ huy đã nổ súng tiêu diệt tổ súng máy của địch ở trước nhà bưu điện. Ở đây hai chiến sĩ của ta hy sinh. Đồng chí Hồng Tâm bị thương vì mảnh lựu đạn của địch, nhưng cũng đã kịp thời tiêu diệt tên này bằng một phát đạn súng trường.

        Trời về khuya, sương toả xuống phủ kín thị trấn Tam Đảo. Đồng chí Thạch Sơn ra lệnh cho các tiểu đội tiếp tục lùng sục, ngăn chặn quân địch trên các ngả đường, chờ trời sáng. Sáng ngày 17 tháng 7 năm 1945, nhân dân thị trấn tưng bừng đổ ra đường như ngày hội, cùng Quân giải phóng truy lùng bọn Nhật còn trốn trong các lùm cây. Đồng chí Thạch Sơn phát hiện một tên nằm trốn giữa vườn hoa, định bắt sống thì tên Nhật ném lựu đạn ra làm đồng chí bị thương nhẹ. Lùi lại, lợi dụng địa hình, Thạch Sơn nổ một loạt súng Sten, kết liễu đời tên này.

        Ở khu vực nhà đoan, một số người Pháp phát hiện ba tên Nhật đang lẩn trốn. Quân giải phóng đã phái ngay một tổ tới. Mấy tên Nhật bị vây chặt không chịu đầu hàng, ngoan cố chống lại đến cùng nên đã phải đền tội.

        Trận đánh kết thúc, bộ đội ta rút khỏi thị trấn theo con đường Tam Đảo - Quân Chu. Khi quân ta hoàn thành nhiệm vụ rời khỏi Tam Đảo, có 20 người Pháp xin theo ta, trong đó có vợ chồng và con cái giáo viên Béc-na, vợ chồng con cái chánh sứ Rê-mô-vin, con trai A-lếch-xăng-đơ-ri... Họ đã tận mắt thấy rõ lực lượng có tổ chức của chúng ta và sự giúp đỡ chân thành của chúng ta. Cảm động trước những điều mắt thấy tai nghe, họ đã viết cảm tưởng, tỏ lòng biết ơn và cùng ký tên chung. Riêng vợ chồng giáo viên Béc-na còn viết thư gửi những người Pháp ở Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:00:15 PM

3. MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ TRẬN ĐÁNH NHẬT Ở TAM ĐẢO (Ngày 16 và 17-7-1945)

KIM SƠN sưu tầm       

        Trích ở một số báo, sách trong nước và nước ngoài nói về trận đánh Nhật ở Tam Đảo ngày 16 và ngày 17 tháng 7 năm 1945 của đơn vị Giải phóng quân Việt Nam mang tên Phạm Hồng Thái.

        1. Báo “Nước Nam mới” - cơ quan tuyên truyền của Mặt trận Việt Minh tại Khu giải phóng - số 4, ngày 4 tháng 8 năm 1945 đã đăng: “Anh em binh lính phối hợp với Giải phóng quân đã hạ đồn Tam Đảo. Toàn số quân Nhật bị tiêu diệt"...

        2. Báo "Quân giải phóng" cơ quan tuyên truyền của Việt Nam Giải phóng quân, số 1 ngày 3 tháng 8 năm 1945.

        a. Bài "Phê bình các cuộc chiến đấu vừa qua"... "Còn những trận có lãi thì phần nhiều là những cuộc tập kích như trận Lục An Châu, Yên Bình, Tam Đảo.

        Tập kích là khó, nhưng ta tập kích lại có kết quả lớn. Đó là vì trong những trận quân địch bị ảnh hưởng chính trị mà đầu hàng thì nhiều, còn bị sức chiến đấu mãnh hệt của ta tiêu diệt như ở Tam Đảo thì ít..."

        b. Bài "Tinh thần anh em binh lính Tam Đảo muôn năm" "Tam Đảo. Hai chữ Tam Đảo sẽ lưu truyền đời đời trong lịch sử Cách mạng giải phóng của ta"... "Tại Tam Đảo anh em đội cai, binh lính đã theo lời kêu gọi của Việt Minh quay súng lại tiêu diệt giặc Nhật".

        “Một điều đáng ghi nhớ nữa là trên ngọn núi Tam Đảo binh lính và Giải phóng quân phối hợp cùng nhau chiến đấu mãnh liệt đã đưa đến các kết quả tiêu diệt toàn bộ quân giặc và thu toàn bộ khí giới của chúng".

        “Tinh thần Tam Đảo muôn năm".

        3. “Đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" - Tác giả Trần Dân Tiên viết: "Tam Đảo trước kia là nơi nghỉ mát của Pháp, bây giờ Nhật dùng làm trại tập trung giam cầm một trăm Pháp kiều. Một hôm, du kích Việt Minh tấn công Tam Đảo giải thoát những người bị tù. . .

        “Chỉ có 20 người liền nói. Hổ ăn thịt hoặc Việt Minh ăn thịt cũng thế cả. Chúng ta cứ theo những người du kích đến đâu thì đến"

        "Trong số này, có cả đàn bà, trẻ con và ông già, những công sứ, kỹ sư, giáo sư và sinh viên. Họ đến đâu cũng được tiếp đãi tử tế. Mặc dù vùng này nghèo, thứ gì cũng khó kiếm, nhưng họ được Việt Minh lo cho ăn uống đầy đủ không mất một xu”.

        “Họ rất cảm động và ngạc nhiên. Để tỏ lòng biết ơn một vài người như hai vợ chồng giáo sư Béc-na (Maurice Bernard và Yvonne Bernard) đã viết những bức thư nói rõ những điều họ đã tai nghe mắt thấy ở vùng Việt Minh....; "Vì thế thực dân Pháp cho họ là phản bội, bị Việt Minh mua chuộc và hai vợ chồng giáo sư này lập tức bị đưa về Pháp...".

        4. Sách "Quân giải phóng (1945 - 1947)" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Sang tháng 7 hạ đồn Tam Đảo, tiêu diệt toàn thể quân Nhật ở đây và giải phóng cho một số người Pháp bị Nhật cầm giữ...". .

        “Sau mỗi một cuộc chiến đấu đều có cuộc khai hội kiểm thảo, ban chỉ huy lại viết những cuốn sách con như trận Phai Khắt, Nà Ngần, trận Đồng Mu, trận đột kích Bắc Cạn, trận Đình Cả, trận Tam Đảo vân vân. . . để huấn luyện".

        5. Sách "Từ nhân dân mà ra" in lần thứ hai của đồng chí Võ Nguyên Giáp (Nxb Quân đội nhân dân, Hà nội, 1969) viết: "Sang tháng 7, hạ đồn Tam Đảo, tiêu diệt quân Nhật đóng tại đó, giải phóng một số thường dân Pháp bị cầm giữ...".

        “Thời gian này tại cơ quan của Uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng đã có máy chữ và những máy điện thoại chiến lợi phẩm thu được trong trận hạ đồn Tam Đảo.. (trang 209 - 210).

        6. Lịch sử Bộ đội thông tin liên lạc - Nxb Quân đội nhân dân Hà Nội, 1982, trang 30 - 31: "Ngày 16-7-1945"..."24 giờ ngày 15 tháng 7, trạm liên lạc của Quân giải phóng ở Tam Đảo được tin cấp báo của cơ sở Việt Minh trong nhà tù và trại lính bảo an cho biết hôm sau Nhật sẽ thu súng đạn của lính bảo an và có thể sẽ khủng bố trắng. Mấy đồng chí Giải phóng quân đang có mặt ở trạm vội cho liên lạc vượt đồi núi sang Quân Chu báo tin cho trung đội Phạm Hồng Thái...".

        7. Một số bài viết của các đồng chí Lê Thanh Nghị, Trần Huy Liệu, Lê Thiết Hùng, Hoàng Đạo Thuý... và một số sách, báo, tạp chí xuất bản trong nước cũng đã viết những cảm nghĩ hoặc bình luận, tường thuật về trận tiêu diệt phát xít Nhật ở Tam Đảo.

        8. Tác giả người Mỹ Bernard Fall viết: "Trận đánh duy nhất có tầm quan trọng ở Đông Dương mà người ta biết là trận đánh diễn ra ở nơi nghỉ mát Tam Đảo của 500 Việt Minh tiến công trại hiến binh Nhật do 40 tên chiếm đóng và tiêu diệt quân đội Nhật ở đó ngày 16 tháng 7 năm 1945, giải thoát cho một số người Pháp bị cầm giữ ở đó..." 1945 - 1952 (trang 19).

        9. Sách “Histoire du Việt Nam, 1940 - 1952" của Philippe Devillers (trang 133) viết: "Trận đột kích ngoạn mục vào đồn ở trên cao của Tam Đảo là một trận xung phong tiến hành khó khăn của 500 xung kích đánh đồn Nhật có 40 người - có 8 tên bị giết sau 24 giờ chiến đấu”.

        10 Sách “Guérilla” (Chiến tranh du kích) (tiếng Anh) của Walter Lauquere - Nxb Weidefeld Nicolson, 1977, viết: “Một hoạt động quân sự được ghi nhận là cuộc tấn công một đồn binh ở nơi nghỉ mát trên núi Tam Đảo ngày 17 tháng 7 năm 1945, trong đó có 8 tên hiến binh Nhật bị giết chết".

        11 . Sách "Tại sao Việt Nam " của Patty (Mỹ) - Nhà xuất bản Trường Đại học California viết: "31-7 Monfort và 2 người Việt Nam đã rời đi cùng với 20 người Pháp lánh nạn được tìm thấy ở một làng gần khu vực của AGAS hoạt động. Số người Pháp này đã được du kích Việt Minh giải thoát ngày 4 tháng 7 tại một trại tập trung dân thường của Nhật ở Tam Đảo...”.

        12. “Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam" ' Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, cũng ghi nhận sự kiện tiến công của Quân giải phóng vào đồn Nhật ở Tam Đảo...

        13. Nhật ký về những người Mỹ trong đội quân Việt - Mỹ của Allison K. Thomas năm 1945 cũng ghi cảm tưởng và điện báo với cấp trên về trận đánh Nhật ở Tam Đảo.

        14. Sách lịch sử Đảng tỉnh Vĩnh Phú, tỉnh Bắc Thái, sách căn cứ địa Việt Bắc... cũng đã ghi nhận về trận đánh Nhật ở Tam Đảo của thời kỳ tích cực chuẩn bị Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

        15. Đài phát thanh Côn Minh - Trung Quốc, năm 1945 cũng đã phát tin Việt Minh tiến công tiêu diệt phát xít Nhật ở Tam Đảo.

        Cho tới nay mới được biết có trên 20 tác giả sách, báo viết nói tới trận tiêu diệt phát xít Nhật ở Tam Đảo.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:01:33 PM

ĐÁNH NHẬT VÀ TAY SAI, BẢO VỆ CHIẾN KHU

ĐÀM QUANG TRUNG (TRỌNG KHOÁT ghi)       

        Đảo chính hất cẳng thực dân Pháp đêm 9 tháng 3 năm 1945 xong, phát xít Nhật thành kẻ độc quyền thống trị Đông Dương. Chúng sử dụng thực dân Pháp đã đầu hàng làm tay sai cùng chống phá phong trào cách mạng Đông Dương. Dân tộc ta lại chịu hai tròng áp bức: Phát xít Nhật và thực dân Pháp. Giặc Nhật thấy cách mạng xuất hiện mạnh mẽ ở chiến khu Việt Bắc, nhất là ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, nên chúng coi khu vực này là địa bàn càn quét chủ yếu, hòng bao vây, tiêu diệt đầu não cách mạng ta đang lãnh đạo toàn dân sục sôi chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.

        Giữa tháng 4 năm 1945, tôi được lệnh dẫn một đại đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân hoạt động trong vùng Phủ Thông thuộc huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Cạn.

        Mở đầu cho các hoạt động này, chúng tôi được chỉ thị của Trung ương Mặt trận, phải lấy cho được đồn Phủ Thông và phá kho thóc của Nhật chia cho dân, vừa để gây uy thế cho cách mạng, vừa phát triển căn cứ địa và mặt khác, tiêu hao lực lượng địch, tranh thủ được người và vũ khí về cho ta, có thêm sức đánh thắng địch, bảo vệ chiến khu.

        Đồn Phủ Thông, vẫn do lính khố xanh (trước đây là tay sai Pháp, sau đổi là bảo an binh làm tay sai cho Nhật) đóng. Chỉ huy đồn là cai Ngọ, người Bắc Cạn. Qua điều tra dân tình, thấy nhiều người nói về cai Ngọ rằng: ông này trước đảo chính làm lính khố xanh cho Pháp bảo vệ tuần phủ Hà Quảng. Tuy là cai đồn đấy, nhưng có vẻ hiền lành, đi đâu cũng ăn mặc bảnh bao, đẹp trai, không ức hiếp, nạt nộ ai bao giờ.

        Vậy là chúng tôi tin có thể thu phục được. Mặc dù Hoàng Văn Ngọ (tên thật của cai Ngọ) không biết rõ tôi là đại đội trưởng Việt Minh, mà cũng không chắc đã nhớ mặt tôi. Hồi đi học, tôi kém Ngọ bảy tuổi. Nhưng nhìn chung, trong số lính bảo an tay sai Nhật ở Cao Bằng thời kỳ này, đã có nhiều người tỏ xu hướng muốn bỏ hàng ngũ địch, đi theo Việt Minh, theo cách mạng hoặc sợ hãi bỏ ngũ về quê sinh sống. Trước đó mấy ngày, chúng tôi đã cho một cán bộ và vài anh em tìm cách liên lạc, báo cho cai Ngọ biết ý đồ muốn chiếm đồn, đoạt vũ khí và lôi kéo anh theo Việt Minh đánh Nhật.

        Thấy chỉ huy và binh lính trong đồn mấy ngày liền không động binh, chúng tôi đoán là họ sẵn sàng đầu hàng. Điều tra lại số lính, thấy trước đây có 15 tên. Nay thường chỉ có 9 đến 10 tên. Số còn lại chắc đã bỏ ngũ về quê rồi. Chúng tôi cho người đến hẹn giờ để bảo an binh mở sẵn cổng cho ta vào. Và vào nhập nhoạng tối hôm ấy, không nhớ rõ là 15 hay 17 tháng 4, tôi dẫn một trung đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân vào.

        Cai Ngọ đã cho mở cổng, cho lính ra ngoài hàng rào, đứng xếp hàng rất ngay ngắn. Thấy bộ đội cách mạng đến, súng ống hàng dãy, cai Ngọ đứng trước hàng quân hô to: Nghiêm Bồng súng chào?

        Cả tiểu đội lính khố xanh bồng súng chào. Cai Ngọ ngay ngắn bước đến trước mặt tôi, giơ tay chào theo kiểu "lính tây”- bàn tay phải sát vành mũ, lòng bàn tay ngửa ra ngoài.

        - Báo cáo quan đồng chí, chúng tôi là người Việt Nam, các quan đồng chí cũng là người Việt Nam, chỉ huy quân đội cách mạng. Chúng tôi cùng anh em xin theo quân đội cách mạng, vào Việt Minh, đánh Nhật, cứu nước.

        Tôi bảo cai Ngọ cho anh em đứng nghỉ, để tôi nói chuyện. Cai Ngọ cho người dẫn mấy chiến sĩ ta thu súng và vào kho lấy gạo phát cho dân. Anh em nộp súng xong, đứng vào hàng, cùng cai Ngọ nghe tôi nói.

        - Các anh em đều đã biết Việt Minh và Quân đội giải phóng đang trên đà chiến thắng. Phát xít Nhật nhất định sẽ thua. Cách mạng sẽ giải phóng cho toàn dân tộc Việt Nam ta, trong đó có bà con, gia đình và bản thân anh em. Vậy nếu anh em tự nguyện thì chúng tôi sẵn sàng thu nạp anh em vào lực lượng vũ trang cách mạng chiến đấu cho đất nước và quê hương, anh em trước đây đi lính cho Nhật, Pháp, thì có lương ăn, nuôi sống bản thân và vợ con, gia đình, song vẫn chỉ là tay sai của chúng. Còn nay, nếu theo cách mạng, vào Quân giải phóng thì người chỉ huy, người chiến sĩ đều như anh em một nhà, biết thương yêu giúp đỡ nhau. Theo cách mạng thì khổ đấy. Như đi công tác vất vả, lại phải chiến đấu hy sinh, anh em hãy suy nghĩ cho kỹ. Ai đồng lòng, quyết chí thì theo, nếu không anh em được tự do trở về quê chung sống làm ăn với gia đình, chỉ mong anh em giữ bí mật các hoạt động của đoàn thể và quân đội cách mạng. Còn nếu lại tiếp tục làm tay sai cho giặc, gây thiệt hại cho cách mạng thì sau này có tội to, bị trừng phạt rất nặng...

        Sau đó, tôi bảo anh em ai đồng lòng theo cách mạng thì giơ tay. Hầu hết hàng quân đều tự nguyện xin gia nhập bộ đội Việt Minh. Có vài người trình bày gia cảnh, xin về quê thu xếp việc nhà. Riêng với cai Ngọ, tôi gọi riêng ra bảo:

        - Vậy là anh đã giúp Cách mạng, giúp đỡ tôi lấy được đồn Phủ Thông. Chúng tôi đổi tên cho anh, từ nay gọi anh là đồng chí “Hoàng Triệu Minh". Anh nhớ chưa "Hoàng Triệu Minh" là bí danh mới của anh nhé. Và đoàn thể giao cho anh làm tiểu đội trưởng tiểu đội Phủ Thông, đóng quân luôn ở đây .

        Cai Ngọ đứng nghiêm:

        - Báo cáo đồng chí, tôi là Hoàng Triệu Minh, tiểu đội trưởng tiểu đội Phủ Thông xin tuân lệnh đồng chí, hứa hết lòng cùng anh em theo Việt Minh đánh đổ phát xít Nhật, cứu nước.

        Sau khi lấy xong đồn Phủ Thông, giữa tháng 5 năm 1945, theo Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng, đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân hợp nhất thành Việt Nam Giải phóng quân.

        Lúc đó, được tin có một đoàn xe Nhật gần 30 chiếc hành quân từ Cao Bằng về Bắc Cạn. Tôi hạ lệnh cho tiểu đội do đồng chí Luận chỉ huy, đi phục kích chặn đánh ở bên đèo phía Cao Bằng. Anh em ra đến nơi bố trí đội hình đâu đấy, thì thấy xe Nhật đang nối tiếp nhau leo dốc từ phía Cao Bằng, lên gần tới mốc ranh giới giữa hai tỉnh.

        Trang bị của tiểu đội anh Luận có một súng trung liên bơ-ren. Ngoài ra, mỗi đội viên một mút-cơ-tông và một khai hậu. Các súng này đều do anh em đi chiến đấu chiếm được của địch, hoặc vận động, mua lại được của lính dõng ở địa phương. Tham gia trận này còn có thanh niên ở phố Thủ Thông như anh Hoàng Trường Minh (tên thật là Hoàng văn Nùn, lúc đi học còn gọi là Hoàng Khải Luận).


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:01:55 PM

        Chiếc xe đi đầu của Nhật đã lên đến tầm bắn của súng máy. Tôi ra lệnh nổ súng. Khẩu trung liên chấp chới nhả dạn. Chiếc xe đi đầu bị bắn nát đầu máy, nằm chềnh ềnh tại chỗ, các xe sau ùn lại. Các súng bộ binh khác cũng thi nhau nhả đạn. Các xe sau cũng đều bị bắn hỏng một số. Lính Nhật và tay sai trên các xe đứa thì gục tại chỗ, đứa bị thương giãy giụa ven đường, quanh xe. Không rõ là bao nhiêu. Nhưng cũng khá nhiều. Anh em chỉ quan sát qua chớp lửa đạn, thấy chúng lố nhố, xô đẩy nhau, rồi ngã gục, lăn quay ra khắp đường. Những chiếc xe không bị hỏng phía sau cọ cựa quay tới quay lui nhúc nhắc, ầm ì trong đêm tối.

        Khẩu trung liên đã bắn được trên 500 viên thì xạ thủ ngừng tay, quay đầu báo cáo sang sảng.

        - Báo cáo tiểu đội trưởng, trung liên hết đạn.

        Bọn Nhật trên xe còn lại, có việt gian đi cùng, nghe được câu đó biết là ta đã hết đạn, liên hô nhau nhảy xuống, xách tiểu liên và súng trường bắn đuổi. Quân ta, nhờ có thanh niên và nhân dân địa phương dẫn đường rút lui được về căn cứ an toàn. Bọn Nhật thấy ta im tiếng súng, cho xe co kéo nhau đi thêm một đoạn nữa. Nhưng vì thiệt hại quá nhiều, kéo nhau khó khăn hay sợ lại bị phục kích tiếp hay sao đó, chúng cho xe quay lại trở về phía Cao Bằng. Chúng thu nhặt xác chết, cấp cứu bọn bị thương, xe lành kéo xe hỏng lục đục mãi gần sáng mới xong.

        Có những anh em tự vệ chiến đấu là người Phủ Thông hàng ngày vẫn lên đèo Giàng đốn củi, chất lên xe bò đưa về, hôm nay trước chiến thắng của Giải phóng đánh bại đoàn xe Nhật, không nén nổi vui mừng, nô nức xin gia nhập Giải phóng quân. Họ reo lên:

        - Giặc Nhật chết đến nơi rồi, bà con dân bản ơi!

        Trận thứ hai đánh Nhật là trận bảo vệ căn cứ Chợ Chu ở ki-lô-mét 31 trên đường đi Thái Nguyên và Bắc Cạn.

        Phát xít Nhật đã thăm dò và đánh hơi thấy phong trào quần chúng xây dựng căn cứ địa và hoạt động vũ trang ta lên mạnh ở khu vực Định Hóa. Chúng cho một cánh quân từ Thái Nguyên về tăng cường cho lực lượng ở Định Hóa để tiến hành càn quét phá cơ sở của ta.

        Lúc này, tôi là đại đội trưởng đại đội 3 Giải phóng quân. Anh em vẫn hàng ngày chia nhau đi các mũi làm công tác vũ trang tuyên truyền trong dân. Tôi và anh Tạ Xuân Thu (chính trị viên đại đội) được tin báo có Nhật từ Chợ Chu lên. Người báo chỉ nói là "đông lắm", không biết rõ là bao nhiêu. Theo báo cáo thì chúng đã tiến qua Phố Ngữ một đoạn. Chúng tôi phán đoán là chúng sẽ tiến vào Chợ Chu, lúc này là căn cứ quan trọng của ta ở Thái Nguyên. Tuy nhiên, do nhạy bén với tình hình, cơ quan lãnh đạo cách mạng của ta đã chuyển sang Tân Trào (Tuyên Quang) rất bí mật rồi nên giặc Nhật không biết.

        Tôi tập hợp đại đội, xốc lại súng ống, tiến quân ra chặn đánh. Cũng đã bàn nhau, nếu chiếm lĩnh trận địa được thì phục kích, nhưng rồi cuộc chiến lại diễn ra gần như tao ngộ. Chúng tôi ra gần đến Phố Ngữ, cách khoảng một ki-lô-mét, bố trí đội hình ven một con suối nhỏ để phục kích.

        Vũ khí toàn đội có một khẩu tiểu liên Sten với mười súng trường, còn nữa là khai hậu. Tôi có hai khẩu súng lục một khẩu là xanh-tê-chiên. Nhưng lợi hại nhất là khẩu tiểu liên đã giao cho một anh nguyên là đội của quân Pháp trước đây người Định Hóa giữ và sử dụng.

        Hồi đó, chỉ biết hễ gặp Nhật là xông lên bắn giết, chứ có được học hành chiến kỹ thuật cơ bản như bây giờ đâu. Chúng tôi vừa hành quân ra gần đường cái qua Phố Ngữ một đoạn thì hai trung đội đi đầu đụng ngay tốp lính Nhật đi trước. Chúng tiến quân dè dặt có vẻ thăm dò. Để giành thế chủ động, tôi hạ lệnh nổ súng luôn. Anh em lợi dụng địa hình cây cối và mô đất... cứ nhè những nơi Nhật ẩn núp mà bắn. Tiếng súng nổ dày, rung cả tán lá cây rừng, đất đá làm toé nước suối. Khí thế diệt địch hăng say và oai hùng lắm.

        Ở khoảng cách 150 mét, tôi cũng ngắm một tên giặc Nhật bắn mấy phát súng ngắn. Với khoảng cách này thì súng ngắn chắc chẳng trúng đâu. Nhưng đã ra chiến trận là phải có tiếng súng kèm theo mới động viên được khí thế. Còn anh em tiếp cận quân Nhật, thì nổ súng liên hồi, nhất là khẩu tiểu liên. Tiếng súng phá tan bầu không khí tĩnh lặng của khu rừng xưa nay ít người qua lại.

        Nghe tiếng súng to nổ bất thần, bọn Nhật kinh hoàng lắm. Một vài tên chết. Một số bị thương kêu la giãy giụa. Chúng cũng nổ súng, nhưng không quan sát được mục tiêu, bắn loạn xạ lên khắp dải đất ven suối. Chúng chững lại rồi ý ới hò hét, đứa lành cõng đứa bị thương, những tên chết cũng được lôi theo, rút lui thảm hại. Anh em ta giữ được lối vào Chợ Chu. Địch bỏ chạy, anh em ta rút về căn cứ an toàn.

        Tôi đi giữa đội hình, không quan sát được trên đầu, nhưng theo anh em báo cáo là đã tận mắt trông thấy có đến trên 30 tên lính Nhật và tay sai chết và bị thương. Nhưng điều thắng lợi lớn nhất là chúng phải bỏ dở cuộc hành quân tiến về Định Hóa để tăng cường cho vị trí mới chiếm đóng được của chúng. Cách mạng từ đó có cơ sở phát triển nhanh.

        Sau trận thứ hai đánh thắng phát xít Nhật này, bên ta không sứt mẻ gì, anh em rất phấn khởi, càng tự tin bao nhiêu, càng tin vào Cách mạng nhất định thắng bấy nhiêu, khẩu hiệu động viên nhau lúc này là: "Thời cơ đã đến. Hãy chớp lấy thời cơ!".

        Từ trận này cho đến ngày tôi trở về Tân Trào làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ, tôi còn chỉ huy đơn vị đánh tiếp ba trận nữa. Hai trận đánh vào thị xã Cao Bằng, trong đó có trận đầu dùng bom nổ ở chân cầu thị xã làm hiệu lệnh tấn công, làm cho bọn tay sai Nhật trong thị xã khiếp đảm. Còn một trận nữa ở Hà Vị, chặn đường quân Nhật hành quân từ Bắc Cạn lên Cao Bằng. Tất cả đều đạt mục đích quấy rối tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ căn cứ an toàn và nhất là cổ vũ được tinh thần anh em ta, làm cho nhân dân vững tin vào cách mạng, trong tình hình địch tan rã, hoang mang tột độ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:03:09 PM

CUỘC BIỂU TÌNH CỦA QUẦN CHÚNG VÀ CUỘC TIẾN CÔNG QUÂN NHẬT Ở THÁI NGUYÊN (8-1945)

HOÀNG THẾ THIỆN         

        Trong tập hồi ức “Những chặng đường lịch sử" Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Chúng tôi tới Thịnh Đán thì được tin có đội tuyên truyền xung phong từ Võ Nhai tiến xuống hôm trước, đã đột nhập thị xã tổ chức quần chúng tuần hành thị uy. Một đội dân quân của Phú Bình, Phổ Yên cũng đã vào thị xã lùng bắt một số tay chân của địch. Tình hình bảo an binh đang hết sức hoang mang. (Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.202.)

        Hồi ức của Đại tướng gợi cho tôi nhớ lại những tháng ngày hoạt động sôi nổi ấy.

        Sau tháng 5 năm 1945, Khu giải phóng Việt Bắc ngày càng củng cố và phát triển. Thanh thế Việt Minh và Giải phóng quân ngày càng lớn; thanh niên từ vùng xuôi lên xin gia nhập Quân giải phóng ngày một đông. Vào thời điểm đó, đội vũ trang tuyên truyền Võ Nhai chúng tôi nhận được chỉ thị phát triển xuống phía Nam, đến các xã thuộc huyện Đồng Hỷ và hướng vào thị xã Thái Nguyên.

        Một sáng cuối tháng 5, có một nhóm thanh niên thị xã đến gặp Việt Minh Võ Nhai. Tôi - đội trưởng và Đào An Thái - chính trị viên gặp họ ngay. Nhóm này có 15 người, đa số là học sinh vừa mới nghỉ học muốn lên chiến khu để xin gia nhập Quân giải phóng. Khi gặp dân quân xã, vì một sự hiểu lầm, dân quân đã nổ súng làm chết một người. Chúng tôi sớm ổn định tư tưởng cho anh em. Sau khi biết nguyện vọng của các anh, chúng tôi giải thích: Cách mạng ở đâu cũng quan trọng, thị xã Thái Nguyên là một vị trí có ý nghĩa rất lớn về quân sự và chính trị. Nếu các tổ chức cách mạng ở đây được xây dựng và phát triển thì có lợi hơn rất nhiều. Chúng tôi muốn anh em quay về thị xã thành lập các tiểu tổ Việt Minh bí mật, sẵn sàng tổ chức ra các đoàn thể thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc...

        Anh em hiểu ra ngay và tự nguyện quay trở lại thị xã. Chúng tôi liền tổ chức một lớp huấn luyện cấp tốc ba ngày. Tôi và Đào An Thái phụ trách giảng dạy về chính trị. Đồng chí Bắc huấn luyện về quân sự. Khi kết thúc lớp huấn luyện, tôi trao đổi với anh em một số kinh nghiệm hoạt động bí mật của Việt Minh ở địa bàn đô thị. Chúng tôi tổ chức việc giữ liên lạc với các anh trong thị xã, qua cơ sở ở đồn điền Đồng Bẩm do anh Hoàng Công phụ trách. Hoàng Công là bí danh anh Cát, con thứ hai của nhà tư sản dân tộc Cát Hanh Long ở Hải Phòng, đã liên lạc và nhận nhiệm vụ của chúng tôi từ trước.

        Từ đó, chúng tôi đã có thêm cơ sở trong đồng bào thị xã. Theo báo cáo, lực lượng do chúng tôi huấn luyện đã nhanh chóng tổ chức được nhiều cơ sở Việt Minh bí mật trong thanh niên, phụ nữ và viên chức. Một cơ sở do anh Mực phụ trách (là nhân viên đoạn đường sắt Thái Nguyên - Phấn Mễ) đã gửi cho đội vũ trang tuyên truyền chúng tôi một máy chữ xách tay và giấy tờ cần thiết để làm công tác tuyên truyền.

        Chúng tôi đến các xã thuộc huyện Đồng Hỷ, họp dân tuyên bố xóa bỏ chính quyền của địch; tịch thu bằng, triện của các chánh tổng và lý trưởng, cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng. Ở vài xã chủ yếu là chúng tôi tước vũ khí của tân binh được địch trang bị, súng trường Mỹ hiệu rơ-manh-tông bắn phát một. Chúng tôi có gởi một thư đánh máy cho tri huyện Đồng Hỷ kêu gọi ông này ủng hộ Việt Minh. Công việc của đội vũ trang tuyên truyền tiến triển thuận lợi.

        Sáng sớm ngày 19 tháng 8 năm 1945, chúng tôi nhận được thư của Hoàng Công từ Đồng Bẩm gởi đến. Trong thư anh báo tin: Mẹ anh từ Hà Nội lên cho biết Nhật đã đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim sắp đổ; anh em Việt Minh và nhân dân Hà Nội đã biến cuộc mít tinh tổng hội viên chức ủng hộ chính quyền bù nhìn ngày 17 tháng 8 năm 1945 thành một cuộc mít tinh lớn tại sân Nhà hát thành phố ủng hộ Việt Minh. Anh Công gởi cho chúng tôi tờ nhật báo Đông Pháp đã đổi tên là Đông Phát ra ngày 18 tháng 8 có đăng ảnh cuộc mít tinh lớn ấy của nhân dân Hà Nội. Anh cũng cho biết nhân dân thị xã Thái Nguyên cũng đang sục sôi khí thế cách mạng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:03:32 PM

        Tôi cùng Thái hội ý cấp tốc và đi đến quyết định: Thái về ngay khu Võ Nhai báo cáo tình hình và xin chỉ thị cấp trên, tôi đưa đội vũ trang tuyên truyền về đồn điền Đồng Bẩm gặp Công và các anh trong nhóm thanh niên thị xã để hiểu thêm tình hình. Chúng tôi cũng thống nhất, khi chưa có chỉ thị của trên, tôi và đội vũ trang tuyên truyền căn cứ tình hình cụ thể mà quyết định hành động.

        Vào khoảng trưa ngày 19 tháng 8, chúng tôi về tới đồn điền Đồng Bẩm. Tại đây, anh Hoàng Công cho biết, khí thế cách mạng của quần chúng ở thị xã Thái Nguyên và các xã ven thị xã đang lên rất cao. Mọi người đang mong chờ Quân giải phóng. Các anh trong nhóm thanh niên đã quyết định tổ chức một cuộc mít tinh vào hai giờ chiều ở sân vận động thị xã. Tình hình rất khẩn trương và yêu cầu tôi xử trí. Tôi hỏi thêm về tin tức ở Hà Nội, anh Công nói chưa có.

        Tôi vội vàng cùng Công và đội vũ trang tuyên truyền đến sân vận động. Theo sau chúng tôi có hàng trăm đồng bào thuộc xã Đồng Bẩm mang theo gậy gộc, giáo mác và nhiều cờ đỏ sao vàng. Chúng tôi tới nơi đã thấy hàng nghìn người đang tập hợp đông đủ và cả một rừng cờ đỏ sao vàng. Không khí cách mạng thật sôi nổi. Các anh trong nhóm thanh niên đang khẩn trương hướng dẫn đồng bào đứng vào hàng ngũ. Anh Vĩ, anh Xuyên, anh Khánh, anh Đích, anh Giai, anh Mực tức Phạm Nghiêm)... báo cáo tóm tắt tình hình thị xã.

        Quân Nhật đóng tại dinh công sứ và bảo an binh đóng tại trại lính tây cũ chưa tỏ rõ thái độ. Bọn tỉnh trưởng và tri huyện Đồng Hỷ đang hoang mang, nhân dân thị xã đang hướng về cách mạng nóng lòng chờ đón Quân giải phóng. Các anh đã thông báo truyền miệng sẽ tổ chức cuộc mít tinh tại đây vào lúc 2 giờ chiều. Đến lúc đó, đã có hơn 5.000 người trong thị xã và các xã ven như Đồng Bẩm, Túc - Duyên và nhiều xã khác thuộc huyện Đồng Hỷ đã đến, một số đồng bào đang tiếp tục đi tới.

        Chúng tôi trao đổi ý kiến và xác định mục đích cuộc biểu tình này là biểu dương lực lượng cách mạng của quần chúng, để thăm dò thái độ của quân Nhật và bọn bù nhìn trong thị xã. Hội ý xong đã gần 2 giờ chiều, nên tôi quyết định cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình. Khi vào đến trung tâm thị xã, cuộc biểu tình sẽ dừng lại, tôi sẽ lên diễn thuyết.

        Chúng tôi bố trí lực lượng đội vũ trang tuyên truyền như sau: Có bốn anh và một chị đi đầu. Đội viên nữ đi đầu là chị Thanh (sau này trở thành Trưởng ty Y tế tỉnh Bắc Thái) có sáu anh chị em đi hai bên và bốn anh đi sau hộ vệ đoàn biểu tình. Các anh chị mặc quần áo chàm, có thắt lưng da mang bao đạn, chân quấn xà cạp màu đen hoặc màu chàm, đa số đi chân đất và mang súng kíp. Chúng tôi cử một số thanh niên điều khiển hô khẩu hiệu.

        Cuộc biểu tình bắt đầu tiến vào thị xã. Các anh trong nhóm thanh niên dẫn đầu đi sau năm đội viên của chúng tôi. Anh Vĩ đi bên phải tay cầm một khẩu súng ngắn, các anh khác mang cờ, gậy gộc, có một người cầm cây đinh ba. Hàng trăm lá cờ đỏ sao vàng được đồng bào giương lên. Nhiều thanh niên phụ nữ thị xã, mặc áo dài, có nhiều quần áo nâu, áo trắng quần đen là những nông dân các xã ven thuộc Đồng Hỷ và Phú Yên, nhóm mặc quần áo chàm là dân xã Đồng Bẩm. 

        Đồng bào vừa đi vừa hô khẩu hiệu: Đả đảo phát xít Nhật, đả đảo bọn bù nhìn tay sai, ủng hộ Việt Minh. Không khí cách mạng hừng hực. Tôi đi bên trái quãng giữa đoàn biểu tình. Vào đến một phố trung tâm thị xã, đoàn biểu tình được lệnh dừng lại. Tôi chọn một cột điện leo lên và nói chuyện với đồng bào. Tôi báo tin quân Nhật thua trận đã đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim đang lung lay và kêu gọi đồng bào ủng hộ và tham gia Việt Minh, kêu gọi anh em bảo an binh quay súng về với cách mạng. Tôi còn báo tin Quân giải phóng đang tiến đánh quân Nhật ở Cao Bằng, Lạng Sơn và sẽ về đến Thái Nguyên, kêu gọi mọi người sẵn sàng hưởng ứng Quân giải phóng...

        Sau đó, các khẩu hiệu đả đảo phát xít Nhật ủng hộ Việt Minh lại vang lên và có thêm khẩu hiệu kêu gọi anh em bảo an binh quay về với cách mạng. Đoàn biểu tình lại rầm rộ kéo qua các phố, không khí phấn chấn rực lửa cách mạng tràn trề.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:03:51 PM

        Tôi đi vòng xuống phía cuối đoàn biểu tình, thấy có bốn người mặc áo dài gấm, ngoài có áo the, ngực đeo thẻ bài, đầu đội nón dứa, đi giày da có cổ. Tôi nhận ra ngay là các quan lại. Tôi hỏi họ: Các ông là ai? Tại sao tham gia biểu tình? Một người tự xưng là án sát (hay bố chánh) nói: Chúng tôi trong dinh tỉnh trưởng và tri huyện Đồng Hỷ. Được tin các ông tổ chức mít tinh chúng tôi hỏi Hà Nội, Phủ Khâm sai bảo chúng tôi phải tham dự với Việt Minh, nên chúng tôi có mặt từ lúc đoàn biểu tình đi vào thị xã. (Sau này, tôi được biết: sau khi chiếm phủ Khâm sai, Việt Minh liền dùng điện thoại báo tin Hà Nội đã khởi nghĩa giành được chính quyền và lệnh cho họ trao chính quyền cho Việt Minh.)

        Tôi nói: Hoan nghênh các ông đã đi biểu tình với nhân dân. Sáng mai sẽ có phái viên của Quân giải phóng trực tiếp đến gặp các ông. Đoàn biểu tình tiếp tục đi và giải tán có trật tự. Quân Nhật đóng ở thị xã "án binh bất động". Lúc đó vào khoảng 5 giờ chiều.

        Tôi cho đội vũ trang tuyên truyền quay về đồn điền Đồng Bẩm để ăn cơm và nghỉ ngơi, sẵn sàng chờ lệnh và chú ý cử người đón chính trị viên Đào An Thái. Tôi và anh Minh, một cán bộ của đội vũ trang tuyên truyền ở lại (anh Minh sau này là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bắc Thái trong những năm sáu mươi). Khi đảo một vòng quanh thị xã nghe đồng bào râm ran nói chuyện với nhau về cuộc biểu tình. Có những toán nông dân cầm cờ đỏ sao vàng kéo nhau về các xã ngoại thành. Chúng tôi hẹn gặp lại Công và các anh trong nhóm thanh niên thị xã ở sở điện vào khoảng bảy giờ tối. Anh em cho biết sau cuộc biểu tình thị uy quân Nhật co lại và có ý nghe ngóng tình hình, bảo an binh hoang mang, có người đã nộp súng cho cách mạng. Anh em thanh niên đã nhận được năm khẩu súng kiểu Pháp. Tỉnh trưởng và tri huyện Đồng Hỷ rất lo sợ.

        Cũng trong thời gian đó, có đồng bào đã tự dộng đi bắt bọn việt gian thân Nhật về giam giữ tại một phòng trong nhà sở điện. Tôi đến gặp họ và khuyên họ biết ăn năn nhận lỗi, cách mạng sẽ khoan hồng. Trong số những người này, có anh Đô là phiên dịch tiếng Nhật, sau trở thành một người hoạt động tích cực cho Việt Minh tỉnh Thái Nguyên.

        Khoảng 10 giờ rưỡi tối, tôi tạm biệt Công và nhóm thanh niên. Tôi và anh Minh về đồn điền Đồng Bẩm để chờ tin tức của Thái. Trong khi chờ đợi Thái tôi tập trung suy nghĩ về việc phải làm vào sáng ngày mai. Có mấy tình huống: Đào An Thái về mang theo chỉ thị của cấp trên, có hoặc không có Quân giải phóng đi cùng; Đào An Thái chưa về. Trong các trường hợp đó, đội vũ trang tuyên truyền sẽ hành động ra sao? Tôi nhớ lại các bài học mà các bậc đàn anh truyền cho trong thời gian tôi bị giam ở nhà tù Hoả Lò và Sơn La về tình thế khởi nghĩa, kinh nghiệm của cách mạng Nga là quân khởi nghĩa phải chiếm ngay các vị trí đầu não của bọn cầm quyền, trong đó có nhà bưu điện và sở kho bạc...

        Cuối cùng, tôi tập trung suy nghĩ vào việc cần có hành động gì đối với tỉnh trưởng và đồn trưởng bảo an binh. Chúng tôi sẽ cử hai người đến gặp họ nói rõ quân Nhật đã đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim đang hoang mang sắp đổ, Việt Minh nổi dậy khắp nơi, Quân giải phóng sắp về đến Thái Nguyên, yêu cầu tỉnh trưởng trao quyền cho cách mạng, yêu cầu anh em bảo an binh quay về với cách mạng (theo cách mạng hoặc nộp súng cho cách mạng). Còn đối với quân Nhật, chúng tôi chờ xem thái độ của chúng mà quyết định sau.

        Tôi cũng thảo hai thư của cách mạng gởi tỉnh trưởng và đồn trưởng bảo an binh. Ngay trong đêm, tôi ngồi đánh máy hai bức thư. Tôi dự định sẽ bàn với nhóm thanh niên thị xã về việc sẽ cử người đi gặp tỉnh trưởng và đồn trưởng bảo an binh. Quá nửa đêm, tôi ngủ thiếp đi, vai vẫn mang túi dết và chân đi dép.

        Khoảng 4 giờ sáng, tôi được đánh thức, đồng chí gác cầu Gia Bảy vừa về tới báo tin đã bị Quân giải phóng chiếm trạm gác và tước khẩu súng. Đồng chí đưa tôi xem một giấy ký nhận có tước một khẩu súng của đồng chí gác cầu Gia Bảy. Dưới có ký tên đại đội trưởng Quân giải phóng - Quốc Chủng hoặc Thế An tôi không còn nhớ rõ.

        Tôi cùng đội vũ trang tuyên truyền đến ngay trạm gác. Ở đây, tôi gặp anh Quốc Chủng. Anh nói: hiện nay Quân giải phóng do anh Văn và Trần Đăng Ninh chỉ huy đang bao vây tấn công quân Nhật và đồn bảo an binh trong thị xã. Mọi việc ở đây từ lúc này đều do sở chỉ huy quyết định. Anh cho biết tôi cần về gặp anh Trần Đăng Ninh để nhận chỉ thị. Tôi tạm giao đội vũ trang tuyên truyền cho anh Quốc Chủng và một mình đến sở chỉ huy để gặp anh Trần Đăng Ninh.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:04:19 PM

        Khi đến nơi anh Trần Đăng Ninh đang lên cơn sốt rét nặng. Anh nằm trên một chiếc chiếu rải xuống sàn nhà, mình đắp hai ba chăn. Tôi mừng quá, vội ngồi sà xuống bên anh và nắm tay anh. Mặc dù đang mệt anh Ninh vẫn nói với tôi cụ thể từng công việc lúc đó? Quân giải phóng đang bao vây tấn công quân Nhật và bảo an binh... Về quân sự, mọi việc có anh Văn chỉ huy. Anh Ninh phụ trách công việc chính trị, tuyên tuyền vận động nhân dân trong thị xã tiếp tế đạn dược, lương thực cho bộ đội đang chiến đấu. Anh chỉ thị cho tôi quay về bàn giao đội vũ trang tuyên truyền cho Quốc Chủng và về ngay đây để nhận nhiệm vụ mới.

        Anh Trần Đăng Ninh là Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, cùng bị tù với chúng tôi ở nhà giam Hoả Lò. Lúc chúng tôi ở Võ Nhai, đã có dịp gặp và cùng làm việc với anh, trong lúc anh và các đồng chí Trung ương lên dự cuộc họp thống nhất lực lượng Cứu quốc quân và Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân thành Việt Nam Giải phóng quân.

        Tôi quay về chỗ đại đội trưởng Quốc Chủng để giao đội vũ trang tuyên truyền. Tôi có yêu cầu xin vài đồng chí về công tác tại thị xã Thái Nguyên. Anh Quốc Chủng hứa sẽ đáp ứng yêu cầu. Tôi tạm biệt anh chị em trong đội với tâm trạng xúc động bồi hồi, luyến tiếc. Anh chị em là những người thuộc thành phần các dân tộc Kinh có, Tày có Dao có, tự nguyện đi theo cách mạng. Một số người có học, biết đọc, viết thông thạo, nhiều người còn chưa biết chở. Trong nhiều tháng chúng tôi đã gắn bó thân thiết, cùng ăn cùng ở cùng chịu đựng gian khổ và chia vui thắng lợi với nhau.

        Tôi quay đi thật nhanh và đến sở điện, được giới thiệu đi gặp các anh Trung Đình, Nhị Quý để nhận sự phân công. Tôi có nhiệm vụ một mặt vận động dân trong thị xã tổ chức tiếp tế ăn uống cho các toán quân ta đang bao vây đồn Nhật và đồn bảo an binh, một mặt tổ chức ngay các đoàn thể thanh niên, phụ nữ... của thị xã. Tôi cũng có nhiệm vụ huy động đồng bào đi dự cuộc mít tinh ở sân vận động để ra mắt Uỷ ban cách mạng tỉnh Thái Nguyên.

        Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi đến gặp anh em trong nhóm thanh niên thị xã. Lúc này đã có thêm nhiều người tham gia, có nhiều viên chức cấp sở - tỉnh Thái Nguyên như anh Giai, anh Chung... và nhiều chị em, trong đó có các chị Tư Phòng (mẹ của đồng chí Nguyễn Khánh - Phó Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay), chị Bạch Thị Tân là các chị nhiệt tình, hăng hái trong công tác tổ chức tiếp tế cho Quân giải phóng và vận động chị em phụ nữ tham gia Việt Minh.

        Chúng tôi làm việc với sự hăng hái không biết mệt - sự sôi nổi, nhiệt huyết của tuổi trẻ trong những ngày đầu của Tổng khởi nghĩa tháng Tám.

        Cuộc tiến công quân Nhật kéo dài trong nhiều ngày. Sự đầu hàng của tỉnh trưởng và đồn bảo an binh giao nộp vũ khí cho cách mạng... đã được trình bày trên một số bài báo của chúng ta. Tôi nhớ lại một vài chi tiết:

        Vào 8 giờ ngày 20 tháng 8, ta dùng loa nói cho quân Nhật biết sẽ có hai người mang theo thư của Bộ chỉ huy Quân giải phóng vào cho viên quan tư chỉ huy Nhật. Hai người đưa tối hậu thư là anh Quý đen phiên dịch tiếng Nhật và Bùi Huy Lượng - tỉnh trưởng Thái Nguyên vừa mới được Nhật cử thay Cung Đình Vận.

        Trong ngày 20 tháng 8 có các trung đội Quân giải phóng của Bắc Giang đến tăng cường cho cuộc tiến công quân Nhật. Các anh mặc quân phục, đội mũ bê rê may bằng vải ka ki vàng, người đi dép, người đi chân đất. Khi đến nơi anh em được bố trí ở một số góc đường, tiến công bọn lính Nhật đóng ở các điểm lẻ trong những ngôi nhà hoặc trên các mái nhà. Tôi đến thăm một trạm cứu thương, ở đây đã có một cáng thương binh vừa mới được đem tới. Anh bị thương ở cổ, viên đạn còn nằm bên trong cuống họng, mê man bất tỉnh. Theo người phụ trách trạm, thương binh đó là một trung đội trưởng của Quân giải phóng Bắc Giang. Tôi lại gần nhận ra đó là đồng chí Đề cùng bị tù với tôi ở nhà giam Hoả Lò, Hà Nội. Sau đó đồng chí Đề đã hy sinh.

        Trong một lần đi vận động đồng bào, tôi có ghé thăm một trạm gác của quân ta ở ngã ba đường Thái Nguyên đi Hà Nội. Đêm hôm trước ở tại đây, bộ đội ta đã bắt được một tù binh Nhật. Khi gặp tên tù binh này tôi ra hiệu bằng tay là Quân giải phóng đối xử tử tế với tù binh. Hắn cúi dầu và chắp tay trước ngực tỏ vẻ cảm phục và cảm ơn.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:04:38 PM

        Ngày 23 tháng 8, khi anh Văn chuẩn bị về Hà Nội, tôi được dự cuộc họp anh Văn giao nhiệm vụ tiếp tục bao vây tiến công quân Nhật do anh Đàm Quang Trung chỉ huy. Khi anh Văn nói xong và anh Đàm Quang Trung đã nhận nhiệm vụ, tôi có đưa ra một ống nhòm quân sự loại lớn, do một anh thanh niên đưa cho tôi lúc bước vào họp. Tôi đề nghị để anh Quang Trung dùng. Anh Văn gạt đi và nói rằng lúc này không để mất thì giờ vào những việc lặt vặt như thế. Tôi nhớ mãi bài học này.

        Ngày 26 tháng 8, phái viên của Tổng bộ Việt Minh có phái viên của bộ tư lệnh quân Nhật đi theo giải quyết ổn thoả vấn đề quân Nhật triệt thoái khỏi Thái Nguyên. Tôi được anh Lê Trung Đình phân công tổ chức một bữa tiệc đãi bọn sĩ quan chỉ huy quân Nhật ở Thái Nguyên, tiễn chúng về Hà Nội. Khi mấy phụ nữ đã bày xong bàn tiệc, phía quân Nhật có sáu sĩ quan đến dự. Chúng tôi thay mặt cho Việt Minh Thái Nguyên hoan nghênh quân Nhật đã giao nộp vũ khí và chúc họ bình an lên đường về Hà Nội, tôi cũng chúc họ sớm đoàn tụ với gia đình, có anh Quý đen làm phiên dịch. Viên chỉ huy quân Nhật cảm ơn Việt Minh đã giúp họ và hứa không làm gì có hại cho Việt Minh.

        Sau bữa tiệc, tôi được cấp trên gọi về Hà Nội báo cáo tình hình. Tôi đến Hà Nội ngay trong ngày và vào thẳng Bắc Bộ phủ để gặp anh Văn. Sau khi tôi báo cáo ngắn gọn, anh Văn giao nhiệm vụ cho tôi đưa một đồng chí lãnh đạo lên Thái Nguyên để đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội. Anh cũng nhắc tôi chú ý đảm bảo an toàn và giữ bí mật. Anh đưa cho tôi một giấy công lệnh. Tôi đến phòng thường trực ở bên cạnh Bắc Bộ phủ để nhận một xe ô tô du lịch den, ở mũi xe có cắm một lá cờ đỏ sao vàng lớn.

        Tôi đến phòng làm việc của anh Nguyễn Văn Trân lúc đó là Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính Bắc Bộ, thấy anh Lê Đức Thọ đã chờ sẵn. Anh Thọ là Đặc phái viên của Uỷ ban hành chính Bắc Bộ, có nhiệm vụ lên Thái Nguyên "kiểm tra tình hình". Tôi đưa anh Lê Đức Thọ ra xe và chạy lên Thái Nguyên.

        Xe của chúng tôi phải qua phà ở Phủ Lỗ vì đường bị ngập nước. Dọc đường xe chúng tôi nhiều lần bị ngăn lại. Có những dân quân trai và gái rất trẻ đứng ở bên đường, nét mặt rạng rỡ kiểm soát giấy tờ. Tôi đưa giấy chứng minh của anh Thọ cho họ xem và chỉ vào lá cờ đỏ sao vàng ở trước mũi xe. Các trạm gác đều cho đi qua, có người còn giơ tay chào.

        Tối hôm đó, chúng tôi về đến thị xã Thái Nguyên. Anh Lê Trung Đình và anh Nhị Quý cho biết anh Trần Đăng Ninh đã đưa Bác về Hà Nội rồi. Anh Thọ làm việc với chúng tôi ngay đêm và sáng hôm sau quay về Hà Nội.

        Sau khi Đào An Thái về đến Thái Nguyên, chúng tôi cùng nhau xếp đặt các công việc tổ chức các đoàn thể quần chúng, các cơ sở chính quyền nhân dân, v.v... của một thị xã có truyền thống cách mạng. Chúng tôi đặc biệt chăm lo việc lựa chọn và đào tạo những người dự kiến sẽ trở thành cán bộ cho cách mạng. . .

        Chúng tôi cũng được chỉ thị phải chuẩn bị đối phó với việc “Hoa quân nhập Việt" lúc này đã trở thành nhiệm vụ trước mắt khẩn cấp. Mọi công việc đều được tiến hành khẩn trương, thuận lợi. Theo tôi đó là nhờ có sự đoàn kết của toàn dân triệu người như một. Chúng tôi - những người cán bộ ít ỏi của Đảng lúc bấy giờ chỉ có hai bàn tay trắng, nhưng biết dựa vào dân, gắn bó chặt chẽ với dân, mọi việc đều có dân đảm nhiệm và gánh vác.

        Tinh thần đoàn kết nhân dân sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám thật là cao đẹp. Tôi nhớ mãi câu nói của một cụ nhân sĩ trong hội nghị Việt Minh ở thị xã Thái Nguyên:

        "Việt Minh thật tài giỏi Việt Minh đã biến toàn dân thành những người trong một dòng họ, họ Đồng đệm Chí, đồng chí A, đồng chí B, đồng chí C, đồng chí X, đồng chí Y, đồng chí Z...

        Tất cả đều họ Đồng đệm Chí cả. Như vậy, công việc sao chẳng thành công".

        Làm được như vậy, bởi lẽ chúng tôi đã thấm nhuần sâu sắc chiến lược đoàn kết của Bác Hồ:

        Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.

        Thành công, thành công, đại thành công.

        Năm mươi năm đã qua, song mỗi lần nghĩ về những ngày tháng Tám ở Thái Nguyên, tôi như thấy mình trẻ lại, bởi được sống trong hồi âm của bầu không khí Cách mạng tháng Tám "long trời lở đất" của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:05:32 PM

TRẬN ĐÁNH NHẬT Ở THỊ XÃ THÁI NGUYÊN TRONG TỔNG KHỞI NGHĨA

LÊ CHUNG         

        Thị xã Thái Nguyên là một thị xã ở phía nam Việt Bắc, giữa triền núi Tam Đảo và triền núi Đình Cả - Yên Thế, một cứ điểm có thể làm bàn đạp để tràn về miền trung châu Bắc Bộ. Trong lịch sử chiến đấu của Việt Nam Giải phóng quân, trận đánh Thái Nguyên có một ý nghĩa đặc biệt.

        Trước hết là vì thị xã Thái Nguyên là một thị xã quan trọng tiêu biểu cho tinh thần cách mạng từ trước. Phong trào cách mạng ở Thái Nguyên rất cao, đã có cuộc khởi nghĩa năm 1918 của binh lính người Việt đóng ở thị xã Thái Nguyên, và hoạt động của Cứu quốc quân năm 1941, 1942.

        Hai là vì quân số huy động cho trận đánh giải phóng thị xã Thái Nguyên lên đến hơn một chi đội, tương đương một tiểu đoàn, một cuộc tập trung lực lượng vũ trang cách mạng lớn chưa từng có.

        Ba là thế trận tập kích lúc đầu chuyển dần sang trận địa bao vây, phối hợp với các trận chiến đấu trên đường phố, kết hợp tiến công quân sự và địch vận.

        Bốn là sự tham gia rất tích cực của đông đảo nhân dân thị xã Thái Nguyên và nhân dân các vùng lân cận, nhất là lớp thanh niên nam nữ nổi dậy cướp chính quyền.

        Năm là vì trong trận Thái Nguyên, tiến công một đô thị có nhiều đồn trại, nhà ở kiên cố, lần đầu tiên Việt Nam Giải phóng quân dùng đến những vũ khí tinh xảo trong chiến tranh thế giới lần thứ hai như đại liên, súng cối 60 ly, súng ba-dô-ca, tơ rôm blông V.B., trung liên Bren, tiểu liên tôm-sơn, súng các-bin, súng ngắn côn-bát... của quân đội Đồng Minh chống phát xít gửi giúp cùng một số vũ khí chiến lợi phẩm ta chiếm được của Nhật trong trận Tam Đảo.

        Diễn biến trận đánh dưới đây chứng minh cho những đặc điểm ấy.

        Lễ tiễn Giải phóng quân lần đầu tiên xuất trận

        Ngày 12 tháng 8 năm 1945, ở Khu giải phóng đã được tin vô tuyến điện cho hay rằng Nhật sắp đầu hàng Đồng Minh. Ngay đêm hôm ấy, Uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng hạ mệnh lệnh khởi nghĩa (xem phần IV).

        "Huy động bộ đội đánh vào các đô thị nếu đủ điều kiện thắng lợi". Sáng ngày 15 tháng 8 năm 1945, được tin chính thức Nhật đầu hàng Đồng Minh không điều kiện, một Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập.

        14 giờ 30 ngày 16 tháng 8 năm 1945, một đơn vị Giải phóng quân, trong đó có một bộ phận của bộ đội Việt - Mỹ hàng ngũ chỉnh tề tập hợp dưới lá cờ đỏ sao vàng dưới bóng cây đa Tân Trào làm lễ xuất phát về hướng Nam.

        Trước toàn thể đại biểu về dự Đại hội Quốc dân ở Tân Trào và toàn thể bộ đội tập hợp dưới cờ, đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt cho Uỷ ban khởi nghĩa tuyên đọc bản Quân lệnh số 1 (xem phần IV) cho Giải phóng quân; kế đến lời huấn thị của vị đại diện cho đoàn đại biểu về dự Đại hội. Bà cụ Nam và chị Ngân Giang, đại biểu Hà Nội chúc bộ đội Giải phóng lên đường đánh giặc thắng lợi, mang lá cờ đỏ sao vàng cắm vào Hà Nội, Huế và Sài Gòn.

        Dự lễ tiễn đoàn quân giải phóng xuất trận, có một đoàn nhân sĩ đủ các giới, những chiến sĩ đã từng trải gian khổ trong các lao tù, những nhà văn, nghệ sĩ đã từng hoạt động ở Hà Nội, mấy vị nữ đại biểu với dáng điệu yêu kiều của nơi đô thị. Đối diện là bộ đội ăn mặc đủ các kiểu, sức vóc mạnh mẽ, đã từng chiến đấu kiên cường ở nhiều mặt trận miền rừng núi Việt Bắc. Đứng bên anh em bộ đội là mấy sĩ quan trong phái đoàn quân sự Mỹ đại biểu quân Đồng Minh.

        Đồng chí Đàm Quang Trung khi ấy là đại đội trưởng đại đội Việt - Mỹ (Đại đội Việt - Mỹ là đơn vị chủ công được trang bị vũ khí mạnh nhất) thay mặt đơn vị hứa hẹn quyết tâm chiến đấu lật đổ ách thống trị của giặc Nhật và lũ tay sai.

        Sau đó, từ Tân Trào tiến về Thái Nguyên, bộ đội hành quân bộ tắt qua núi Hồng đến xóm Đồng Măng ra xã Văn Lãng ở chân đèo Khế.

        Đêm 16 tháng 8, bộ đội trú quân tại Đồng Măng. Tại đây đồng chí Nhị Quý (tên thật Ngô Ngọc Tín) khu ủy viên Khu giải phóng phụ trách mọi mặt công tác Việt Minh huyện Đại Từ cùng đồng chí Lê Trung Đình cũng là khu ủy viên đã được chỉ thị của đồng chí Võ Nguyên Giáp động viên nhân dân đón tiếp và tiếp tế lương thực, thực phẩm.

        Sáng hôm sau, bộ đội hành quân tiếp theo đường mòn về bản Ngoại, nghỉ đêm ở đó (ngày 17-8). Hai đồng chí Võ Nguyên Giáp và Đàm Quang Trung đi nghiên cứu đồn Nhật trên đồi cao Đại Từ.

        Vì tình thế bây giờ rất khẩn trương, cần phải tranh thủ thời gian, các đồng chí quyết định không đánh đồn Đại Từ, đưa bộ đội hành quân theo đường tắt sang xã Thịnh Đán chỉ cách thị xã Thái Nguyên 7 ki-lô-mét về phía Tây. Đoạn này phải vượt qua nhiều suối lũ trời mưa tầm tã, bộ đội hành quân chậm, sẩm tối mới tới một xóm nhỏ giữa rừng, nhịn một bửa, ngủ lại một đêm (18-8). Sáng hôm sau tiếp tục hành quân, quá trưa mới tới Thịnh Đán. Đồng chí Lê Trung Đình chuẩn bị sẵn cơ sở ở Thịnh Đán, đón Giải phóng quân tập kết trước khi đánh vào thị xã.

        Cùng với thời gian này, đại đội Vi trú quân ở Đại Từ (Thái Nguyên) và đại đội Bát tức Đàm Quốc Chủng ở Chợ Chu đều được lệnh từ trước đã về đến gần thị xã Thái Nguyên.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:06:29 PM

        So sánh lực lượng ta - địch

        Đến 13 giờ ngày 19 tháng 8, bộ đội giải phóng có mặt đông đủ ở làng Thịnh Đán, lực lượng gồm có đại đội Đàm Quang Trung, đại đội Vi, và đại đội Đàm Quốc Chủng. Tất cả khoảng 450 người, được tổ chức thành một chi đội đo đồng chí Lâm Cẩm Như (tức Lâm Kính) (Đồng chí Lâm Cẩm Như tức Lâm Kinh là cháu đích tôn của cụ Nguyễn Thượng Hiền.) làm chi đội trưởng. (Sau Cách mạng tháng Tám, có chi đội tương đương quân số một trung đoàn.)

        Trung đội hoả lực do đồng chí Hồng An phụ trách vác đại liên, súng cối nặng được đồng chí Nhị Quý hướng dẫn men theo rìa dãy núi Tam Đảo xuống xã Quân Chu, qua Bình Định, Tân Cương vượt sông Công ra Thịnh Đán.

        Vì đường xa, vác nặng nên ngày hôm sau mới tới địa điểm tập kết. Bộ chỉ huy trận đánh có hai đồng chí Võ Nguyên Giáp và Trần Đăng Ninh. Giúp việc, có các đồng chí Du Phong tức Nguyễn Chính, đồng chí Lân tức Phan Mỹ, đồng chí Châu Ký và sĩ quan tuỳ tùng Hùng Việt.

        Tối ngày 19 tháng 8, Bộ chỉ huy Giải phóng quân triệu tập một cuộc họp chung với cán bộ lãnh đạo địa phương để thống nhất lực lượng và hoạt động chung "khởi nghĩa giải phóng thị xã Thái Nguyên". Ban tỉnh ủy lâm thời Thái Nguyên cũng được thành lập gồm có các đồng chí Nhị Quý, Lê Trung Đình, Hoàng Thế Thiện, Đào An Thái và đồng chí Nguyễn Thị Tâm.

        Lúc này, địch ở Thái Nguyên đóng thành hai cụm, một cụm lính Nhật và một cụm lính bảo an.

        Quân Nhật khoảng 120 tên, do một tên quan tư chỉ huy, trong số đó có từ 60 đến 70 lính chiến đấu đóng tại trại lính khố xanh cũ và dinh công sứ Pháp trên đồi cao, có công sự kiên cố gần cầu Gia Bảy. Ngoài đồn trại, quân Nhật còn đóng ở các điểm lẻ, trong những ngôi nhà gạch lớn như nhà Gô-chi-ê (Nhà Gô-chi-ê vốn thuộc một hãng buôn lớn của Pháp, có cấu trúc kiên cố, quân Nhật dùng làm sở hiến binh do một tiểu đội đóng giữ.), ty liêm phóng, kho gạo và đồn điền Gia Sàng.

        Khoảng 400 lính bảo an với gần 600 khẩu súng trường và một ít súng máy đóng tại trại lính tây cũ, sát với dinh tỉnh trưởng có cổng thông nhau qua nhà phó sứ ở gần Bến Tượng.

        Mặc dù lực lượng của Giải phóng quân về số lượng không đủ để tiêu diệt địch và trình độ tác chiến còn thấp, nhưng căn cứ vào tình hình đặc biệt lúc bấy giờ, vào tinh  thần hoang mang tan rã của địch, đồng chí Võ Nguyên Giáp quyết định hành động.

        Nhân dân các huyện quanh thị xã Thái Nguyên nổi dậy cướp chính quyền huyện, xã

        Mệnh lệnh khởi nghĩa của Uỷ ban chỉ huy Khu giải phóng được phổ biến từ mấy hôm trước. Nhân dân các huyện quanh thị xã Thái Nguyên rầm rộ nổi dậy cướp chính quyền ở huyện, xã... Các tổ, đội tuyên truyền và quần chúng trung kiên từ bốn phía kéo về. Quần chúng phía Võ Nhai do các đồng chí Hoàng Thế Thiện và Đào An Thái lãnh đạo kéo xuống. Phía Đồng Hỷ, Phú Bình, quần chúng do chị Tâm lãnh đạo kéo đến vây thị xã.

        Bên trong thị xã, nhân dân mà lực lượng nòng cốt là đội tự vệ vũ trang gồm những thanh niên hăng hái như các anh Mực, Đích, Lê Văn Xuyên, Phạm Nguyên, Hoàng Công, Nguyễn Khanh, Nguyễn Thế Giai... biểu tình, tuần hành thỉ uy.

        Từ chiều 19 tháng 8, nhân dân trong thị xã và các huyện xung quanh kéo về tổ chức một cuộc mít tinh lớn hàng vạn người ở sân vận động thị xã. Các đồng chí Hoàng Thế Thiện và Đào An Thái chủ trì cuộc mít tinh kêu gọi nhân dân đánh đổ ngụy quyền tay sai, thành lập các đoàn thể cứu quốc, vận động anh em bảo an binh rời bỏ hàng ngũ địch. Cuộc mít tinh biến thành cuộc tuần hành thị uy lớn, quần chúng nhân dân toả đi các đường phố chính làm cho ngụy quân và ngụy quyền hoang mang cực độ

        Quân Nhật báo động sẵn sàng chiến đấu, song không bắn vào nhân dân.

        Đội tự vệ trừ gian lùng bắt gần 40 tên tay sai thân Nhật và xử bắn tên vệ sĩ của Cung Đình Vận.

        Các đoàn thể quần chúng, nhất là chị em phụ nữ cứu quốc như chị Tư Phòng, chị Bạch Thị Tân tích cực chuẩn bị cơ sở hậu cần để đón Quân giải phóng.

        Tên chỉ huy bảo an bị bộ đội ta bắt. Toàn bộ lính bảo an đầu hàng và nộp vũ khí cho cách mạng.

        Bộ chỉ huy Quân giải phóng vừa đến Thịnh Đán thì được tin đã có một đội tuyên truyền từ Đình Cả đến Thái Nguyên ngay gần Thịnh Đán; một số thanh niên và công chức tỉnh Thái Nguyên đang tổ chức một cuộc mít tinh nhỏ ở gần đấy. Đồng chí chỉ huy trưởng ra lệnh cho tất cả những ai là dân ở đây đều phải đến trình diện tại trụ sở xã mặt khác ra lệnh cấm không cho người ngoài vào tỉnh để phong toả tin tức.

        Một ban tình báo lâm thời được thành lập điều tra ngay tin tức trong số hơn hai chục thanh niên và công chức vừa đến trình diện. Mấy người làm việc ở sở công chính tình nguyện vẽ giúp bộ đội những tấm bản đồ khá chi tiết. Các anh em thanh niên và công chức sau khi cung cấp tin tức, tình nguyện đi dẫn đường cho các đơn vị bộ đội.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:06:48 PM

        10 giờ đêm, Bộ chỉ huy làm xong kế hoạch tác chiến, có phái đoàn quân sự Mỹ, nhất là thiếu tá A.K Tô-mát tham gia ý kiến.

        12 giờ đêm, bộ đội được lệnh xuất quân chiếm lĩnh vị trí chiến đấu. Theo mệnh lệnh chiến đấu, 4 giờ sáng, toàn thể bộ đội và Bộ chỉ huy đều phải có mặt ở địa điểm đã định. 5 giờ 30 (lúc tang tảng sáng) tất cả phải bố trí trận địa xong và sẵn sàng chiến đấu.

        Sở chỉ huy lúc đầu đặt tại ngôi đình thị xã cạnh vườn hoa (ngôi đình này đã bị phá huỷ trong kháng chiến chống Pháp); vị trí thứ hai đặt tại ngôi nhà hai tầng của chủ nhà máy điện tỉnh. Đi theo bộ chỉ huy, có một đại đội vừa làm nhiệm vụ bảo vệ, vừa là đội dự bị. Sĩ quan tuỳ tùng Hùng Việt được chỉ định làm nhiệm vụ điều động thanh niên đắp chiến luỹ dọc các đường phố.

        4 giờ sáng ngày 20 tháng 8, bộ đội chiếm lĩnh xong vị trí chiến đấu. Chi đội Giải phóng quân đặt dưới quyền chỉ huy của chi đội trưởng Lâm Kính. Điều đáng chú ý là trong khi đại đội của Đàm Quang Trung vây áp sát trại Nhật, một đơn vị bộ đội địa phương Phú Bình tích cực lên phối hợp với Quân giải phóng đã bao vây áp sát nhà điện. Đại đội Vi bao vây chặt đồn bảo an binh và dinh tỉnh trưởng. Đại đội Đàm Quốc Chủng tách ra một trung đội do đồng chí Hiệp là trung đội trưởng làm nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy còn lại hai trung đội bố trí ở đồn điền Gia Sàng làm đội dự bị.

        Sáng sớm ngày 20 tháng 8, tuy đã tiếp nhận tối hậu thư, tỉnh trưởng Bùi Huy Lượng vẫn không chịu trả lời. (Tuần phủ mới là Bùi Huy Lượng được Nhật cử thay Cung Đình Vận. Tuần phủ tỉnh Thái Nguyên là Cung Đình Vận, khét tiếng gian ác và phản động được Nhật triệu về Hà Nội giao cho chức "Bắc Kỳ tiễu phỉ đại sứ”. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, bọn Nhật thay từ "tuần phủ” bằng từ "tỉnh trưởng" đổi tên gọi lính khố xanh thành bảo an binh. Sau Cách mạng tháng Tám, Cung Đình Vận bị ta bắt ở chợ Mơ và đưa ra xét xử tại Tòa án nhân dân Thái Nguyên và xử bắn tại sân vận động thị xã.)

        Trung đội trưởng Lương Thịnh dẫn đầu một trung đội giải phóng quân tiến công vào dinh tỉnh trưởng có một trung đội lính bảo an bảo vệ, bắt tỉnh trưởng Bùi Huy Lượng, tên chỉ huy bảo an và toàn bộ trung đội bảo an. Bọn hiến binh Nhật bắn sang khu dinh tỉnh trưởng. Trung đội giải phóng nổ súng trung liên bắn dữ dội vào trại hiến binh Nhật.

        Bọn hiến binh Nhật chỉ có 18 tên, cử một tên thiếu uý và phiên dịch mặc quần áo lính vác cờ trắng ra  hàng. Trung đội trưởng Lương Thịnh cho giải tên tỉnh trưởng, tên chỉ huy bảo an và tên thiếu uý Nhật về sở chỉ huy. (Có người viết: Tuy đã tiếp nhận tối hậu thư, Bùi Huy Lượng vẫn còn nhùng nhằng mặc cả để chia phần thắng lợi. Bộ đội ta bắn một quả đạn ba-dô-ca vào trại bảo an binh. ngay cạnh dinh tỉnh trưởng. Trước khi thế áp đảo của quần chúng nhân dân đấu tranh đòi chúng đầu hàng, cộng với tiếng nổ của đạn ba-dô-ca và sức vây ép của Giải phóng quân, viên tỉnh trưởng buộc phải cho kéo cờ trắng đầu hàng. Sau khi tuân theo tối hậu thư, trao chính quyền và nhiệm sở cho uỷ ban khởi nghĩa, viên tỉnh trưởng được lệnh khuyên bảo lực lượng bảo an binh đầu hàng, nộp vũ khí cho cách mạng. Người viết bài này ghi lại những ý kiến trái ngược nhau với ý muốn đề nghị các bạn chiến đấu dự trận này bổ sung tư liệu để dựng lại chính xác sự kiện lịch sử này)

        Ta buộc tên tỉnh trưởng phải trao chính quyền và trụ sở của chúng cho ủy ban khởi nghĩa; đồng thời buộc tên chỉ huy bảo an phải ra lệnh cho tất cả binh lính đầu hàng, nộp toàn bộ vũ khí cho cách mạng. Trừ một vài hoạt động chống cự lẻ tẻ không đáng kể, hầu hết binh lính do quản Khiêm chỉ huy đều tuân theo mệnh lệnh của Quân giải phóng nộp toàn bộ súng đạn và kho vũ khí gần 600 khẩu súng trường, một số súng máy, đạn dược và lựu đạn.

        Đến trưa thì giải quyết xong trại bảo an. Hơn 60 anh em binh lính tình nguyện tham gia Giải phóng quân được thu nhận và được biên chế vào đại đội Đàm Quang Trung, kịp thời tham gia đánh địch. Trong số này, nhiều anh em chiến đấu rất dũng cảm, có 7 người đã anh dũng hy sinh khi tiến công đồn trại Nhật. Phần lớn còn lại xin về quê được cấp tiền ăn đường và giấy thông hành. Anh em binh lính rất cảm kích trước tinh thần và lòng bao dung quảng đại của bộ đội cách mạng.

        Chiến lợi phẩm được chuyển về vị trí dự bị của Bộ chỉ huy do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách. Tại đây, anh Ninh lo việc tuyên truyền động viên nhân dân trong thị xã, tiếp tế đạn dược, lương thực cho bộ đội đang chiến đấu.

        Bắt đầu từ 6 giờ 30 sáng hôm ấy, anh Phan Mỹ được Bộ chỉ huy giao nhiệm vụ điều khiển các thanh niên tự vệ tỉnh Thái Nguyên đi thu thập tất cả số vũ khí đạn dược chiến lợi phẩm chuyển ngay về phía Nam thị xã trang bị cho các đội tân binh đã tuyển mộ từ Bắc Giang lên để thành lập một chi đội mới.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:07:27 PM

        Tiến công trại Nhật

        Trận đánh Nhật tại thị xã Thái Nguyên đến nay đã gần 50 năm. Đã có nhiều bài viết về trận này. Tôi thích đoạn nhà báo quân đội Trần Cư thuật lại lời đồng chí Đàm Quang Trung kể lại chi tiết trận đánh Nhật trong bài Tại sao có bộ đội Việt - Mỹ? Tác dụng?" đã đăng trên báo Nhân dân năm 1990:

        "Chúng tôi nhận được lệnh tiến về Thái Nguyên. Kế hoạch đánh thị xã được vạch ra tóm tắt như sau: bao vây, gọi hàng, buộc địch trao chính quyền cho Việt Minh. Phân công đại đội chủ lực Việt Minh bao vây quân Nhật ở trong thành; chi đội 3 do đồng chí Lâm Kính phụ trách bao vây và gọi hàng lực lượng bảo an; các lực lượng du kích, tự vệ chiến đấu của địa phương và bộ đội Thái Nguyên toả ra chặn tất cả các ngả đường dẫn đến thị xã.

        Chiều hôm sau, bộ đội ăn cơm tối xong thì có lệnh xuất phát. Anh em thanh niên đưa các đơn vị đến từng ngõ, từng nhà cần bố trí trong thị xã. Đến tảng sáng thì bố trí xong.

        Gần sáng, tôi ra cửa sổ trên lầu hai của căn nhà đối diện với cổng thành quân Nhật đóng, cách xa độ 40 mét, qua khe cửa sổ, tôi thấy tại cổng ra vào có hai tên lính gác. Từ trong thành tiến ra một xe chở nước và bọn lính đi chợ mua thực phẩm. Rồi vài tên sĩ quan Nhật đeo kiếm đứng tụ tập trước cổng thành. Nếu tiến công tiêu diệt chúng thì vào lúc này có kết quả nhất, bởi vì chúng tôi lúc đó có 8 súng máy, 20 tôm-sơn và vài chục khẩu các-bin. Nhưng ta chủ trương bao vây gọi hàng là chủ yếu cho nên tôi lặng lẽ quan sát.

        Bọn sĩ quan Nhật cứ xì xồ gì đó. Rồi thấy trong trại chúng nhốn nháo lên như có báo động. Thì ra chúng ra lệnh tiến công. Sợ lỡ mất thời cơ, tôi liền rút luôn quả lựu đạn ném vào bọn ở cổng thành. Một tên bị thương. Thế là các cỡ súng của ta đồng loạt "lên tiếng". Tôi chạy như bay xuống gác. Đồng chí người Dao đứng gác đã bắn chết tên lính Nhật gác cổng nhưng lại bị một tên khác bắn lại, trúng đầu, gục ngay xuống.

        Trên thực tế, quân ta hồi ấy tinh thần quyết tâm rất cao, nhưng kỹ thuật tác chiến thì còn non kém. Anh em chưa được huấn luyện bao nhiêu, lại chưa có kinh nghiệm đánh những trận như thế này.

        Trận đánh kéo dài đến 8 giờ sáng. Tôi đến gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp thì được đồng chí cho biết: ta đã buộc tên tuần phủ đầu hàng. Nhưng hắn còn mặc cả để chia phần thắng lợi. Ta bèn hạ lệnh bắn vào trong trại bảo an một phát ba-dô-ca. Thế là chúng kéo cờ trắng (làm bằng khăn trải bàn) xin hàng. Đến trưa thì giải quyết xong trại bảo an. Ta vẫn chủ trương bao vây và dụ hàng bọn Nhật; ta đề nghị tạm ngừng bắn để cho tỉnh trưởng mang tối hậu thư của ta hẹn tên quan tư Nhật cử đại biểu ra gặp ta thương lượng, lần thứ nhất không kết quả; lần thứ hai lại vào có mang theo tối hậu thư của bộ đội Việt - Mỹ do ông A.K Tô-mát thảo bằng tiếng Anh".

        Siết chặt vòng vây trại Nhật, diệt các ổ đề kháng bên ngoài trại

        Sau khi ta gửi tối hậu thư vào một lúc thì có một sĩ quan Nhật tay cầm cờ trắng ra đón người đưa thư vào trại. Sau đó phía quân Nhật cử hai phái viên ra gặp Bộ chỉ huy Quân giải phóng.

        Cuộc đàm phán kéo dài hơn một giờ. Phía Nhật viện cớ là sẽ phải giao nộp vũ khí cho quân đội Đồng Minh, không muốn giao nộp cho ta. Thực chất là chúng muốn dây dưa kéo dài thời gian để chờ viện binh từ Hà Nội lên.

        Bộ chỉ huy Quân giải phóng đặt điều kiện cho phía Nhật nếu đến hai giờ chiều không trả lời dứt khoát thì sẽ bị tiến công và cho phép hai phái viên Nhật trở về trại. Để đề phòng quân Nhật tráo trở, sở chỉ huy được chuyển ngay đến vị trí thứ hai là chủ nhà máy điện, phía sau có quả đồi cao, tiện việc quan sát và chỉ huy chiến đấu.

        Trong thị xã ngoài đồn trại, quân Nhật còn đóng ở ba đồn lẻ trong những ngôi nhà gạch lớn, nằm giữa thị xã uy hiếp một số trục đường. Từ những vị trí mật trên mái nhà, trong các cửa sổ, thỉnh thoảng quân Nhật lại bắn một vài phát súng dọc theo đường phố quấy rối sự đi lại và hoạt động bình thường của nhân dân. Đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng thiếu tá A.K Tô-mát cho điều tra và phái từng tổ xung phong, đồng thời dùng ba-dô-ca, lựu đạn lửa tiêu diệt 3 ổ đề kháng đó. Chiến sĩ ta đã mưu trí, anh dũng chiến đấu, nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ, thu được chiến lợi phẩm.

        Tại ngôi nhà Gô-chi-ê (sở hiến binh Nhật) quân địch dựa vào tường, rào vững chắc, ngoan cố chống cự. Tổ ba-dô-ca, do tiểu đội trưởng Hải phụ trách được điều đến, bắn toang một mảng tường nhà. Tiếng ba-dô-ca nổ, áp đảo tinh thần quân Nhật. Tổ xung phong do đồng chí Vũ Ngọc Lê làm tổ trưởng, dùng búa phá cửa sổ, nhảy vào trong nhà, dùng lựu đạn và súng ngắn tiêu diệt quân Nhật, đánh chiếm từng căn phòng một. Hai đồng chí Võ Nguyên Giáp và Đàm Quang Trung, có thiếu tá Tô-mát cùng đi, trực tiếp xem xét tại chỗ sự bố phòng của quân Nhật trong ngôi nhà Gô-chi-ê. Quân ta thu được một lá cờ mặt trời (cờ Nhật), một khẩu súng ngắn pa-ra-ben-lom Đức, mười khẩu súng trường Nhật, nhiều đạn dược và quân trang, quân dụng.

        Tại ty Liêm phóng, quân Nhật bị đánh bật ra khỏi nhà. Chúng dồn vào cố thủ trong một lò nung vôi bỏ không. Tổ xung phong chiến đấu của ta ném lựu đạn vào, địch nhặt ném trả lại. Cuộc chiến đấu kéo dài, phía ta đã có đồng chí bị thương vong. Rút kinh nghiệm tại chỗ, chiến sĩ ta rút chốt lựu đạn cho xì khói, đếm một, hai, ba rồi mới ném, tốp quân Nhật ở đây bị diệt. Thế là cả ba ổ tác chiến của Nhật đều bị tiêu diệt.

        Quân Nhật hoàn toàn bị vây hãm trong trại. Sau đó, sự đi lại trong thành phố mới tương đối an toàn vì không còn bị những tên lính Nhật từ những vị trí bí mật trên mái nhà hoặc cửa sổ lúc lúc lại bắn ra các đường phố. Qua kinh nghiệm đó cũng thấy rõ ràng nếu có những tổ tác chiến gan dạ thì với một số lượng rất ít có thể làm tê liệt sinh hoạt của một đô thị.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:07:56 PM

        Thành lập ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh, thành lập chính quyền nhân dân các cấp

        Ngay chiều 20 tháng 8, ta tổ chức một cuộc mít tinh quần chúng tại sân vận động thị xã; đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc, tuyên bố bãi bỏ chính quyền của Nhật và tay sai, thành lập chính quyền nhân dân trong thị xã và trong toàn tỉnh, thực hiện các chính sách của Uỷ ban dân tộc giải phóng, Uỷ ban nhân dân cách mạng tỉnh do đồng chí Lê Trung Đình là Chủ tịch ra mắt trước hàng vạn quần chúng nhân dân. Mọi người hò reo, hô vang các khẩu hiệu, vui mừng phấn khởi vì từ nay chấm dứt chế độ quan lại phong kiến thực dân phát xít.

        Sau khi chính quyền nhân dân cấp tỉnh được thành lập, Quân giải phóng tiếp tục bao vây quân Nhật. Các đội tuyên truyền được toả đi vận động nhân dân thành lập chính quyền nhân dân các cấp.

        Các đoàn thể quần chúng cứu quốc vừa mới được tổ chức, bắt tay ngay vào hoạt động. Chị em phụ nữ tiếp tế cơm ăn, nước uống cho bộ đội giải phóng; anh em thanh niên công nhân nhà máy điện, học sinh, viên chức và nhân dân thị xã ngả cây to, khiêng bàn tủ, lật xe bò, xe ngựa xuống đường làm vật chướng ngại cản giặc, phối hợp chiến đấu với Quân giải phóng, các tiểu đội, trung đội vũ trang của các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên... bao vây các đồn trại Nhật ở địa phương mình, cùng nhân dân khởi nghĩa chiếm các huyện ly, cô lập quân Nhật ở các đồn trại lẻ, không cho chúng co cụm về thị xã.

        Hai giờ chiều, viên quan tư Nhật không chịu trả lời. Bộ chỉ huy Quân giải phóng thông báo cho nhân dân thị xã biết, ta tiếp tục tiến công.

        Ba giờ chiều, đại đội của đồng chí Đàm Quang Trung, lúc ấy đã được tăng cường trung đội hoả lực Hồng An, dùng hoả lực súng máy, ba-dô-ca, súng tự động và cả súng cối bắn mãnh liệt vào trại Nhật. Địch dựa vào công sự kiên cố chống trả quyết liệt. Tiếng súng trường, súng máy, tiếng lựu đạn nổ lẫn với tiếng moóc-chi-ê bắn trả của địch làm rung chuyển cả thị xã Thái Nguyên. Bị vây hãm chặt, bị thiếu lương ăn, nước uống, quân Nhật chịu tiếp nhận các điều kiện của ta.

        Cuộc bao vây trại Nhật ở thị xã đã bước sang ngày thứ ba (22-8). Chiều ngày hôm đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhận được tờ báo Đông Phát đăng tin ngày 19 tháng 8 năm 1945, nhân dân Hà Nội đã khởi nghĩa giành được chính quyền, dinh khâm sai đổi tên là Bắc Bộ phủ. Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Bắc Bộ và Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Hà Nội đã ra mắt nhân dân. Đồng chí Võ Nguyên Giáp còn nhận được thư đề ngày 21 tháng 8 năm 1945 của giáo sư Ngụy Như Kon Tum- Giám đốc Việt Nam học xá gửi các ông cán bộ cao cấp Việt Minh ở chiến khu, mời Việt Minh về Hà Nội nắm chính quyền.

        Toàn bộ chỉ huy và bộ đội, nhân dân được tin hò reo vui sướng, các đồng chí Trường Chinh và Nguyễn Văn Trân từ Tân Trào đến Thái Nguyên bàn với đồng chí Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong Bộ chỉ huy cần về ngay Hà Nội để lo công việc trong cả nước, trung tâm công việc bây giờ không còn ở Thái Nguyên nữa. Việc chỉ huy đánh Thái Nguyên giao lại cho đồng chí Đàm Quang Trung.

        Sau đó, Giải phóng quân tiếp tục bao vây địch và tiến công chủ yếu bằng hoả lực. Quân Nhật khốn đốn, không có lương ăn và thiếu nước uống nghiêm trọng; tên nào ló ra ngoài là bị bắn ngay. Quân ta vừa tiến công quân sự, vừa làm công tác địch vận. Ngày 24 tháng 8, phía Nhật đề nghị gặp lại ta. Hai đồng chí Nhị Quý và Lê Trung Đình cùng anh Quý (Quý đen) phiên dịch tiếng Nhật, được cử đi tiếp xúc với chúng tại dinh công sứ. Vì bị vây hãm chặt chẽ nên quân Nhật chịu nhận một số điều kiện:

        - Giao nộp vũ khí ở tất cả các đồn lẻ, như Đại Từ, Phấn Mễ, Giang Tiên, Đá Gân, Gia Sàng... cho ta;

        - Riêng ở thị xã chúng xin lùi một thời gian để xin lệnh cấp trên nhưng chịu "án binh bất động" không can thiệp vào công việc của nhân dân ta.

        Tên quan Nhật lại dẫn đồng chí Lê Trung Đình đến các đồn lẻ tiếp nhận vũ khí của chúng, còn bọn lính thì đưa về tập trung tại thị xã.

        Trại Nhật vẫn bị bao vây, song chúng đã được nhân dân ta tiếp tế cho lương ăn, nước uống.

        Ngày 25 tháng 8, Tổng khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi trong cả nước. Khi phái viên của bộ tư lệnh Nhật cùng phái viên của Bộ Tham mưu ta ở Hà Nội lên Thái Nguyên để giải quyết, quân Nhật mới chịu chấp nhận các điều kiện để vũ khí lại cho giải phóng quân, còn binh sĩ thì được ta phụ trách đưa về Hà Nội.

        Thế là toàn tỉnh Thái Nguyên sạch bóng quân xâm lược. Trận đánh Nhật ở thị xã Thái Nguyên là một trong những chiến công ở thời kỳ non trẻ của quân đội ta. Cùng với các trận đánh Nhật ở Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Cạn... trận đánh Nhật ở Thái Nguyên có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong lịch sử Giải phóng quân. Toàn tỉnh Thái Nguyên được giải phóng đã góp phần củng cố và tăng thêm sức mạnh của hậu phương, trở thành chỗ dựa vững chắc của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới được thành lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:08:59 PM

ĐÁNH BẠI CÁC CUỘC TIẾN CÔNG CỦA NHẬT VÀO VÙNG GIẢI PHÓNG TỈNH TUYÊN QUANG

LÊ THUỲ         

        Phát xít Nhật biết rằng địch thủ nguy hiểm nhất, đáng sợ nhất của chúng là Mặt trận Việt Minh, là Giải phóng quân, là chính quyền cách mạng được thành lập, là các căn cứ mới ra đời. Đây cũng là mục tiêu đầu tiên cần xóa bỏ của chúng.

        Trung tuần tháng 5 năm 1945, Nhật tập trung 2.000 quân mở một cuộc tiến công lớn vào vùng giải phóng. Địch chia làm ba mũi tiến sâu vào khu căn cứ ở giữa sông Lô và đường số 3. Âm mưu của chúng là chia cắt vùng giải phóng ra nhiều mảnh và bao vây tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng. Quân dân vùng giải phóng anh dũng chiến đấu dùng du kích chiến, phục kích, tập kích bẻ gãy các cánh quân của chúng ở các hướng Chợ Đồn - Bắc Cạn, Chợ Chu, Định Hóa - Thái Nguyên.

        Ở hướng Tuyên Quang ngày 25 tháng 5 năm 1945, cánh quân chủ yếu của địch từ Chợ Chu phối hợp với cánh quân Thiện Kế lên cùng tiến quân vào châu Sơn Dương hình thành một mũi mạnh uy hiếp vùng núi Hồng (Tân Trào). Đến đèo Chắn chúng lọt vào ổ phục kích của ta. Trung đội của các đồng chí Trần Thế Môn và Long Giang nhất loạt nổ súng. Địch bị ta đánh bất ngờ, chết gần 40 tên và bị thương một số. Bọn còn lại kéo vào xã Thành Cóc ra Đạo Viện về Yên Sơn (Tuyên Quang).

        Đầu tháng 6 năm 1945, quân Nhật tiến đánh châu Khánh Thiện (tức châu Chiêm Hoá). Cánh quân ở Chợ Đồn kéo xuống tạo thành gọng kìm phía Bắc, cánh quân ở Tuyên Quang tiến lên Chợ Bợ, xã Yên Nguyên, Chiêm Hóa, tạo thành gọng kìm phía Nam.

        Trước khi nhận được thông báo tình hình quân Nhật tiến công vùng giải phóng, hai trung đội giải phóng quân của đồng chí Chì và đồng chí Liên đã nhanh chóng tập kết ở xã Yên Nguyên thuộc vùng phía nam Chiêm Hóa. Trung đội tôi về tập kết ở xã Bình Xa chuẩn bị đánh địch ở Chợ Bợ (làng Đồng Vàng, đầu cầu Cả (cách cầu Chợ 8 ki-lô- mét), xã Yên Nguyên). Tôi và đồng chí Liên thống nhất chọn địa hình hiểm trở, hai bên có núi đá cao, đường độc đạo thuận lợi cho phục kích đánh địch, đội hình triển khai kín đáo, có lợi cho ta. Xã Yên Nguyên đã xây dựng được cơ sở Mặt trận Việt Minh từ năm 1944, có lực lượng tự vệ chiến đấu của xã và nhân dân phối hợp đưa đường bám sát theo dõi hành động của địch.

        Ngày 2 tháng 6 năm 1945, địch hành quân từ Tuyên Quang theo đường số 2 đến ki-lô-mét 31, đóng quân ở Chợ Bợ, địch có khoảng 150 tên; chúng lùng sục xung quanh xã Bình Xa, bị tự vệ chiến đấu và một tổ giải phóng quân chặn đánh. Khi chúng tiến vào làng Ba Nhất, Nhân Thọ, bộ đội ta chặn đánh bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Mục đích cuộc hành quân của địch lần này là nhằm càn quét lực lượng giải phóng quân và đánh vào các cơ quan châu Khánh Thiện mới được thành lập, khi cánh quân từ Tuyên Quang lên gặp cánh quân ở Chợ Đồn, Đầm Hồng xuống Chiêm Hóa, thì cùng nhau rút về Tuyên Quang.

        Trung đội giải phóng quân của tôi đang hoạt động ở gần Hàm Yên kéo về xã Bình Xa cách Chợ Bợ ba ki-lô-mét. Trung đội của đồng chí Liên đang công tác ở gần Chiêm Hóa kéo về tập kết ở xã Yên Nguyên. Trung đội của đồng chí Chì hoạt động xung quanh Phố Trinh, bảo vệ cơ quan châu Khánh Thiện đóng ở xã Vinh Quang cũng bị kéo về tập trung ở xã Yên Nguyên. Như vậy cả ba trung đội chuẩn bị sẵn sàng đánh địch từ Chợ Bợ lên Chiêm Hóa. Các trung đội đóng cách nhau từ 3 - 4 ki-lô-mét liên lạc rất thuận tiện. Nhân dân ở đây đã có phong trào Việt Minh từ trước, lực lượng tự vệ chiến đấu xã đã được huấn luyện đánh du kích, anh em rất hăng hái sẵn sàng tham gia đánh địch.

        Khi địch còn đóng ở Chợ Bợ trung đội tôi đã phái một tiểu đội 12 đồng chí do đồng chí Cát làm tiểu đội trưởng trực tiếp chỉ huy tổ chức trận phục kích ở đầu cầu Chợ Bợ. Đây là trận phục kích đầu tiên. Tiểu đội được trang bị một khẩu súng cổ của người Dao Tiền thời trước để lại, chúng tôi gọi là khẩu súng "Thần Công”, súng dài 1,6 mét cỡ 40 ly, mỗi lần nạp đạn mất một nửa ki-lô-gam thuốc đen và hai ki-lô-gam gang vụn đập từ nồi gang hỏng ra. Đồng chí Cát là người Dao Tiền ở Bó Miền người cao to, đẹp trai, khoẻ mạnh đảm đương vác khẩu súng "Thần Công" ra bố trí cách cầu Chợ 50 mét. Khoảng 10 giờ ngày 3 tháng 6 năm 1945, địch có một tiểu đội đi tuần qua cầu, chúng có khẩu trôm-blông VB. Khi địch lọt vào trận địa phục kích của ta, ta phát hoả bằng khẩu súng "Thần Công" trước rồi anh em bắn tỉa tiếp theo. Địch chết tám tên tại chỗ, số còn lại chạy về Chợ Bợ, sau đó cho một bộ phận ra khiêng xác về. Ta rút lui an toàn.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:09:27 PM

        Trận thứ 2 vào ngày 6 tháng 6 năm 1945, tôi trực tiếp chỉ huy trung đội gồm 45 tay súng, riêng tôi có khẩu sten; ngoài ra trang bị toàn gióp 3 và gióp 5, mỗi người mang 100 viên dạn, 1 quả lựu đạn. Chúng tôi đã chọn chỗ phục kích ở đầu cầu Cả thuộc xã Yên Nguyên trước hai ngày. Tôi gọi ba đồng chí tiểu đội trưởng là Đắc, Tuỳ, Cát và dặn dò anh em phải phục sát đường từ 5-7-10 mét, nấp kín quan sát địch, dù vắt cắn, muỗi đốt khi địch tới không được nhúc nhích cho đến khi có hiệu lệnh của tôi.

        Tôi giao nhiệm vụ cho toàn trung đội và từng đồng chí "nếu bắn năm viên đạn địch phải chết bốn tên, nếu bắn bốn viên địch chết ba tên, nếu bắn ba viên địch chết hai tên, nghĩa là ta bất ngờ nổ súng khi địch lọt vào đúng giữa trận địa phục kích" thì phải đạt hiệu quả cao. Tôi sẽ dùng khẩu sten phát hoả trước, tận dụng mọi địa hình, địa vật để tiêu diệt địch. Tiểu đội đồng chí Tuỳ phục kích ở đoạn đầu. Tiểu đội đồng chí Đắc phục kích ở giữa. Tiểu đội đồng chí Cát phục kích ở đoạn cuối, trận địa kéo dài 300 mét.

        Sau khi bố trí xong, tôi đi kiểm tra thấy anh em đã nấp kín và chuẩn bị sẵn sàng. Đến 9 giờ ngày 6 tháng 6 năm 1945, địch hành quân lọt vào trận địa. Đi đầu có 6 tên bảo an binh thăm dò. Chúng nói to "Tôi là người Việt Nam đừng bắn tôi nhé?". Sau khi họ đi qua 100 mét thì đến bọn Nhật (có súng máy đi đầu) cúi lom khom đi gần vệ đường.

        Khi đội hình của địch đã lọt vào giữa trận địa phục kích, khẩu súng sten phát hoả, toàn trung đội nổ súng đồng loạt. Đồng chí Đắc bắn trúng hai tên cầm súng máy. Tất cả trung đội tiếp tục nổ súng, số địch còn lại tản ra bắn vào đội hình của ta. Anh em ta tản ra các hốc núi và tiếp tục bắn tỉa từng tên một.

        Cuộc chiến đấu diễn ra từ 9 giờ đến 12 giờ trưa. Trận này địch chết 30 tên, một số bị thương, chúng mang xác những tên bị chết về đốt tại Chợ Bợ. Cuộc hành quân lên Chiêm Hóa lần này của địch bị thất bại.

        Sau trận này, quân ta lại quay về tập kết chỗ cũ rút kinh nghiệm và vẫn bám sát địch ở Chợ Bợ. Trung đội phái một tiểu đội ra phục kích ở đầu làng Bình Xa một ki-lô-mét trên con đường ở Chợ Bợ vào Bình Xa để đánh địch khi chúng vào lùng sục, để thay tiểu đội đồng chí Cát về nghỉ ở nhà ông Hải, còn một tiểu đội đóng ở gần tôi cách nhà ông Hải 800 mét.

        Vào lúc 12 giờ trưa, trời mưa to, cùng lúc tôi đang lên cơn sốt thì nghe thấy tiếng súng nổ lẹt đẹt. Có một số đồng chí chạy thoát về báo Nhật đã đánh úp tiểu đội đồng chí Cát đóng ở nhà ông Hải rồi. Lần này tiểu đội ngủ trong nhà sàn, không ai gác phía sau. Bọn việt gian thân Nhật ở Chợ Bợ đưa đường hai tiểu đội lính Nhật luồn rừng vòng lên núi đá sau nhà ông Hải đánh xuống. Chúng dùng tiểu liên và kiếm phạt khi anh em chạy trên nhà sàn xuống. Độ 5 phút chúng rút lui ngay, không qua chỗ tiểu đội phục kích của ta gác trước nhà ông Hải.

        Ta hy sinh sáu đồng chí, trong đó có đồng chí Cát là tiểu đội trưởng, có bốn người dân tộc Dao Tiền và hai người Kinh. Mẹ ông Hải cũng bị địch sát hại, ta mất sáu súng trường và khẩu súng “Thần Công". Có lẽ địch cay cú trả thù ta sau trận thất bại nặng nề ở đầu cầu Cả. Chúng phán đoán lực lượng ta bị sứt mẻ, tinh thần hoang mang không còn đủ sức tiếp tục chiến đấu được nữa. Lực lượng trung đội tuy có hy sinh sáu đồng chí, nhưng lại bổ sung lực lượng tự vệ chiến đấu vừa đủ một trung đội, lấy súng lực lượng tự vệ chiến đấu bổ sung, ba khẩu khai hậu, ba súng trường gióp 5, anh em sẵn sàng đi đánh Nhật.

        Trận thứ 3, ngày 14 tháng 6 năm 1945, địch có gần một đại đội trên dưới 100 tên chuẩn bị hành quân lên Chiêm Hóa. Quần chúng báo cho biết, địch vẫn đi đường cũ. Trung đội lại tiếp tục hành quân qua đèo Áng xuống làng Đồng Vàng bố trí trận địa tiếp tục đánh địch, nhưng lần này bố trí cách trận địa cũ 200 mét, sát đầu cầu Cả, chỗ này vẫn kín đáo. Bên kia cầu Cả có trung đội đồng chí Liên phục kích cách cầu 300 mét.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:09:52 PM

        Vì đường độc đạo, địch không thể đi đường khác được. Lần này chúng đi rất thận trọng, mỗi tên đi cách nhau 10 mét, bò lom khom hai bên đường tiến cách trận địa tôi phục kích 200 mét, chúng rẽ phải xuống suối Đồng Vàng rồi lên đầu bên kia cầu. Một lần nữa chúng lại bị bất ngờ lọt vào trận địa phục kích của trung đội đồng chí Liên. Đánh nhau độ hơn một giờ, có tên xông vào vật lộn với anh em ta. Có đồng chí ta nấp đằng sau bắn chết tên vật lộn và lấy được một khẩu súng trường Nhật. Trận này địch chết 20 tên, song chúng lên được Chiêm Hóa. Đoạn hai đầu cầu Cả ta bố trí hai trung đội, nhưng chỉ có một trung đội được chiến đấu.

        Trận thứ 4, ngày 24 tháng 6 năm 1945, sau khi địch gặp bọn ở Đầm Hồng kéo xuống, ta đoán thế nào chúng sẽ kéo nhau xuôi về Tuyên Quang. Theo chỉ thị của đồng chí Chì phải tập trung cả đại đội (chỉ có ba trung đội) vì một trung đội của đồng chí Kiên đi Nghĩa Lộ chưa về kịp. Tôi trao đổi với đồng chí Liên và Giáo Huyên, trung đội phó của trung đội đồng chí Chì. Chỗ phục kích cả đại đội cũng vẫn lấy chỗ phục kích cũ xê xích một hai trăm mét.

        Lần này ta phái tổ tự vệ và dân quân xã Yên Nguyên lên đỉnh đèo Gà cách chỗ phục kích hai ki-lô-mét theo dõi sát hành động của địch, nếu địch bắt đầu hành quân từ Chiêm Hóa xuống thì ta sẽ phát hiện trước, ngoài ra còn phái một tổ tự vệ chiến đấu ở xã Vinh Quang lên Chiêm Hóa bám sát địch. Nếu có hiện tượng chúng hành quân xuống xã Yên Nguyên đi về Tuyên Quang thì báo cho biết ta còn tổ chức lực lượng dân quân gõ mõ báo hiệu địch hành quân.

        Lần này chúng đi xuống hơn 200 tên có súng máy hạng nặng. Chỗ nào nghi ngờ, chúng dùng bức kích pháo bắn vào hai bên đường. Đầu tiên chúng vào trận địa phục kích của đơn vị đồng chí Chì trước, nhưng hôm đó đồng chí Chì ở cơ quan châu Khánh Thiện, giao cho đồng chí Giáo Huyên phụ trách trung đội.

        Đợi địch lọt vào trận địa, ta bắt đầu nổ súng. Sau 20 phút chiến đấu một tiểu đội của đồng chí Giáo Huyên dạt vào chân núi, có một bộ phận địch đuổi theo (trong tiểu đội này có bốn đồng chí nữ) còn hai tiểu đội đánh vào sau lưng chúng. Chúng cho một bộ phận đối phó, đại bộ phận địch vẫn tiếp tục hành quân đến chỗ phục kích của trung đội đồng chí Liên đánh nhau kịch liệt trong một giờ. Sau đó anh em tản ra tiến hành bắn tỉa, chúng vẫn tiếp tục hành quân, đại bộ phận đã lọt vào trận địa phục kích của tôi ở đầu cầu Cả.

        Cả hai trung đội đánh địch kịch liệt từ 9 giờ 30 đến 12 giờ trưa. Lúc này chúng không đi đường cái mà dạt xuống đầu cầu Cả theo suối Đồng Vàng, một bộ phận ở lại đối phó với ta bằng súng máy và yểm hộ cho đại bộ phận chúng rút ra ngòi Pác Nhung đi ca nô về Tuyên Quang còn một bộ phận rút về Chợ Bợ. Sau khi chôn những tên bị chết, chúng đốt phá Chợ Bợ rút đi theo đường bộ về Tuyên Quang. Trong trận này ta tiêu diệt gần 50 tên, ta hy sinh một, bị thương hai, trong đó có một dân quân.

        Sau khi địch đã rút khỏi địa phận Chiêm Hóa về Tuyên Quang, ta tổng kết và mít tinh mừng thắng lợi ở xã Vinh Quang thuộc châu Khánh Thiện. Đồng chí Chì nói: Ta đã đánh bốn trận, cả khi địch tiến công lên và khi rút về, ta có thương vong một ít và mất một vài khẩu súng nhưng không đáng kể. Ta tiêu diệt hơn 100 tên địch, trong đó có một tên chỉ huy cuộc hành quân này; ta đã đánh bại quân Nhật tiến công lên vùng giải phóng giành nhiều thắng lợi.

        Đồng chí biểu dương lực lượng giải phóng quân, anh em tự vệ chiến đấu, anh em dân quân và nhân dân các xã Yên Nguyên, Bình Xa đã tiếp tế lương thực đạn dược, nắm địch, phối hợp chặt chẽ cùng Giải phóng quân đánh bại cuộc tiến công của địch.

        Đại đội chủ lực giải phóng quân của tỉnh Tuyên Quang vừa mới được thành lập hơn chục ngày lần đầu tiên xuất trận đánh từ một tiểu đội, một trung đội, đến hai trung đội rồi đến cả đại đội, chủ yếu là đánh phục kích, lấy những loại súng đầu tiên, bí mật bất ngờ tiêu diệt địch rồi tản ra lợi dụng địa hình, địa vật có lợi cho ta, bắn tỉa từng tên một, đó là lối đánh du kích có hiệu quả nhất lúc bấy giờ. Anh em trong trung đội phần lớn là các đội tự vệ chiến đấu bổ sung vào đã được huấn luyện cách đánh du kích. Sở trường của anh em phần lớn là người dân tộc ở miền núi gồm: Tày, Dao Tiền, Cao Lan, Kinh vốn quen bắn súng kíp, hoả mai khi săn bắn thú rừng trước đây nay được trang bị súng trường đã đánh địch có hiệu quả hơn. Mặc dù bị địch đánh bất ngờ, anh em không hề nao núng lo sợ, mà vẫn phấn khởi và tin tưởng, hăng hái chiến đấu trong hàng ngũ Giải phóng quân.

        Bằng những chiến công đánh bại các cuộc hành quân của địch vào vùng giải phóng, Giải phóng quân càng được nhân dân trong vùng cảm phục, tin yêu.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:11:09 PM

QUÂN GIẢI PHÓNG THAM GIA KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN Ở TUYÊN QUANG

TRẦN TRỌNG TRUNG         

        Từng bước xây dựng cơ sở cách mạng, tiến tới cao trào kháng Nhật trong toàn tỉnh

        Với sự ra đời của chi bộ Cộng sản đầu tiên ở mỏ than Tuyên Quang (tháng 3 năm 1940), phong trào cách mạng trong tỉnh từng bước phát triển, đánh dấu bằng những cuộc đấu tranh của quần chúng trong suốt hai năm 1941-1942 ở thị xã và các vùng lân cận.

        Trong khi đó, cơ sở cách mạng cũng từng bước hình thành trong các vùng dân tộc ít người, trước hết là trên địa bàn hai huyện phía nam tỉnh.

        Sơn Dương và Yên Sơn là hai huyện thuộc Tuyên Quang nối liền với hai huyện Đại Từ và Định Hóa (Chợ Chu) của Thái Nguyên. Từ cuối năm 1941, dựa vào địa hình thuận lợi chung quanh núi Hồng bốn huyện trên đây đã được xây dựng từng bước và dần dần trở thành căn cứ cách mạng của hai tỉnh, lấy núi Hồng làm trung tâm.

        Trong năm 1942, với chủ trương "Xây dựng và củng cố các cơ sở cách mạng vùng chung quanh núi Hồng", các tổ chức Việt Minh đã nhanh chóng phát triển, nhất là trên các vùng đồng bào Dao, Tày... Sang năm 1943, phong trào cách mạng ở Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai phát triển đã tác động trực tiếp đến vùng căn cứ cách mạng trong hai huyện Sơn Dương và Yên Sơn. Hai huyện đã trở thành trung tâm cách mạng của tỉnh, nhất là trong những ngày phong trào ở thị xã gặp khó khăn, do địch khủng bố. Hầu hết các xóm thuộc hai huyện ở sát núi Hồng đã có các đội tự vệ tuy trang bị thô sơ nhưng đã làm tròn nhiệm vụ bảo vệ các cuộc mít tinh quần chúng bảo vệ cán bộ, giữ gìn xóm làng.

        Từ năm 1944, phong trào cách mạng ở Tuyên Quang có một bước phát triển mới, theo tinh thần Nghị quyết tháng 2 năm 1943 của Ban Thường vụ Trung ương (do đồng chí Hoàng Quốc Việt truyền đạt tại hội nghị cán bộ ở Khui Kịch (Sơn Dương) tháng 2 năm 1944).

        Sự ra đời và hoạt động của đội Cứu quốc quân III, sự hình thành chiến khu Nguyễn Huệ (trong đó có tỉnh Tuyên Quang) và nhất là sự lãnh đạo của Xứ ủy... là những điều kiện thuận lợi rất quan trọng đối với phong trào cách mạng Tuyên Quang trong suốt quá trình thực hiện chủ trương của phân khu ủy. Tích cực xây dựng căn cứ, củng cố các đội tự vệ vũ trang, sắm vũ khí, giữ gìn bí mật, chống chủ quan manh động, sẵn sàng đề phòng địch càn quét".

        Cùng với cơ sở cách mạng ở Sơn Dương và Yên Sơn ngày càng được củng cố và phát triển, phong trào ở thị xã cũng từng bước được phục hồi, các tổ chức Việt Minh bước đầu được xây dựng ở Chiêm Hóa và Hàm Yên..., tất cả đã tạo thành thế hỗ trợ và phối hợp liên hoàn giữa phong trào các địa phương trong tỉnh.

        Với thế mới, lực mới đã được củng cố và ngày càng mở rộng, nhân dân các dân tộc Tuyên Quang có điều kiện đẩy mạnh sự nghiệp kháng Nhật. cứu nước lên thành cao trào trong phạm vi toàn tỉnh sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945.

        Nghe tin Nhật đảo chính, quân Pháp và tay sai phản động ở thị xã Tuyên Quang bỏ chạy. Suốt mấy ngày sau đảo chính, mọi hoạt động chính trị của các công sở trong thị xã hầu như bị tê liệt. Do chưa chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, nên mặc dù thị xã Tuyên Quang bỏ ngỏ, ta chưa có điều kiện chớp thời cơ thuận lợi để giành chính quyền, khi mà Pháp đã bỏ chạy và hai ngày sau Nhật mới từ Phú Thọ lên chiếm đóng thị xã Tuyên Quang.

        Một ngày sau cuộc đảo chính, tại Khui Kịch (Sơn Dương) Phân ủy phân khu B (chiến khu Nguyễn Huệ) tiến hành hội nghị dưới sự chủ trì của đồng chí Song Hào. Hội nghị nhận định thời cơ đã đến, cần nhanh chóng và mạnh dạn hành động. Phân khu ủy chủ trương "bắt mạch" sự phản ứng của địch bằng cuộc nổi dậy giành chính quyền ở xã Thanh La (Minh Thanh - Sơn Dương).

        Thanh La là một xã gần cơ quan lãnh đạo của phân khu, có cơ sở Việt Minh khá mạnh. Hội nghị nhấn mạnh: cuộc ra quân đầu tiên phải bảo đảm chắc chắn để gây thanh thế của cách mạng, thăm dò khả năng đối phó của địch và làm đà cho cao trào khởi nghĩa ở các địa phương khác, trước hết là trên địa bàn huyện Sơn Dương. Đồng chí Tạ Xuân Thu, người phụ trách vùng Thanh La - Hồng Thái, được phân khu ủy giao nhiệm vụ chỉ huy cuộc nổi dậy giành chính quyền ở Thanh La.

        Ngay đêm hôm đó (10-3-1945) quân khởi nghĩa tước vũ khí của lính dõng, thu triện đồng, vũ khí của tổng lý, kỳ hào, làm chủ toàn xã Thanh La. Thực tế thắng lợi nhanh gọn của cuộc khởi nghĩa ở Thanh La cho thấy: địch hoang mang, suy yếu, quân khởi nghĩa có thể tiến lên mở rộng hoạt động vũ trang, nhanh chóng giành chính quyền trên nhiều địa bàn rừng núi, mở rộng căn cứ, tiến tới giành chính quyền trong toàn tỉnh.

        Khuếch trương thắng lợi đầu tiên, ba ngày sau, quân khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện lỵ Đăng Châu (tức Sơn Dương). Thóc trong kho được chia cho dân nghèo để giải quyết nạn đói. Hàng trăm khẩu súng, hàng chục hòm lựu đạn thu được của địch đã tạo thêm điều kiện cho quân khởi nghĩa mau chóng phát triển lực lượng, cải tiến trang bị.

        Ngày 16 tháng 3, lần đầu tiên chính quyền cách mạng cấp huyện được thành lập ở Sơn Dương. Từ tháng 4, cao trào kháng Nhật, khởi nghĩa giành chính quyền lan rộng đến nhiều huyện khác trong tỉnh (Chiêm Hóa, Na Hang, Yên Bình) (Lúc này, huyện Yên Bình vẫn còn thuộc tỉnh Tuyên Quang.)


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:11:37 PM

        Những sự kiện quan trọng diễn ra từ trung tuần tháng 4 đến đầu tháng 6 (Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, đồng chí Hồ Chí Minh về đến Tân Trào, thành lập Khu giải phóng...) đã tác động trực tiếp đến cao trào kháng Nhật của tỉnh Tuyên Quang. Chính quyền cách mạng đã được thành lập trên phần lớn địa bàn tỉnh. Ở thị xã và một số địa phương khác, tuy nhân dân chưa giành được chính quyền, nhưng các tổ chức cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh và các đội vũ trang địa phương đã lớn mạnh, sẵn sàng chờ lệnh nổi dậy giành chính quyền khi có thời cơ thuận lợi.

        Để kịp thời lãnh đạo cao trào khởi nghĩa đang trên đà phát triển trong toàn tỉnh, tháng 7 năm 1945, Tỉnh ủy Tuyên Quang được thành lập. Đồng chí Tạ Xuân Thu được Trung ương chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy. Sự ra đời của tổ chức lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng trong toàn tỉnh là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển từ khởi nghĩa giành chính quyền ở các châu huyện, tiến lên giải phóng toàn tỉnh.

        Giành chính quyền ở thị xã, kết thúc thắng lợi cuộc khởi nghĩa trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

        Trung tuần tháng 8, thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã chín muồi trên quy mô cả nước.

        Vào những ngày sục sôi cách mạng này, trong khi tại Tân Trào đang diễn ra hàng loạt sự kiện quan trọng (hội nghị toàn quốc của Đảng, Đại hội quốc dân, lễ xuất phát của Quân giải phóng...) thì đồng chí Tạ Xuân Thu đến thị xã Tuyên Quang điều tra tình hình địch, điều động và tổ chức lực lượng, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Lãnh trách nhiệm chỉ đạo cuộc khởi nghĩa ở đây, ngày 16 đồng chí Song Hào ra đến bờ tả ngạn sông Lô thì gặp đồng chí Trần Thế Môn cùng một đơn vị Quân giải phóng vừa hành quân cấp tốc từ Chiêm Hóa về đến Soi Sính.

        Các đồng chí Song Hào, Tạ Xuân Thu và Trần Thế Môn nhất trí thành lập ủy ban khởi nghĩa, do đồng chí Song Hào làm chủ tịch và ba ủy viên là các đồng chí Tạ Xuân Thu, Nguyễn Công Bình (tức Chì ) và Trần Thế Môn. Đồng chí Môn được phân công chỉ huy đánh vào thị xã.

        Nước sông Lô lên to, nhiều đường phố thị xã ngập nước. Quân giải phóng được lệnh tập kết ở Ỷ La, cách thị xã 5 ki-lô-mét về phía Bắc. Từ đây, một đơn vị tiếp tục hành quân lên phía Bắc, giải phóng huyện lỵ Hàm Yên (Bắc Mục) và chặn quân Nhật từ hướng Hà Giang kéo về Tuyên Quang.

        Để giải phóng thị xã Tuyên Quang, Uỷ ban khởi nghĩa chủ trương vừa dùng lực lượng vũ trang bao vây tiến công quân Nhật, vừa phát huy sức mạnh quần chúng nhân dân biểu tình thị uy làm áp lực, đồng thời triệt để lợi dụng nhân mối đã được tổ chức trong hàng ngũ địch, tuyên  truyền lôi kéo bảo an binh ngả theo cách mạng.

        Lực lượng vũ trang nòng cốt tham gia khởi nghĩa gồm các đơn vị Quân giải phóng và các đội vũ trang tại chỗ (tự vệ cứu quốc, các đội vũ trang quần chúng khác trong và quanh thị xã) Đặc biệt, trong lực lượng vũ trang khởi nghĩa có đơn vị du kích người Dao, trang bị súng kíp, cung nỏ, giáo mác, từ Thành Cóc (xã Hùng lợi - Yên Sơn) và đơn vị tự vệ mỏ than trang bị cuốc chim, choòng, búa...

        Mặc dù thời gian gấp, nước lũ lại đang cản trở việc giao thông hên lạc, điều động lực lượng, nhưng nhân dân thị xã và các vùng lân cận, gồm cả công nhân, thanh niên, phụ nữ, phụ lão, thiếu niên..., đã được huy động, sẵn sàng đi biểu tình thị uy, hỗ trợ cho lực lượng vũ trang.

        Hai giờ sáng ngày 17, trước khi lực lượng vũ trang khởi nghĩa xuất quân tiến vào giải phóng thị xã, đồng chí Song Hào - Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa của tỉnh đọc Quân lệnh số 1 động viên cán bộ, chiến sĩ quyết tâm chiến đấu và giành thắng lợi.

        Tiến quân đến gần phía bắc thị xã, quân khởi nghĩa chia làm hai cánh: một cánh vòng xuống bao vây phía nam thành Tuyên Quang; cánh quân chính, dưới quyền chỉ huy của đồng chí Trần Thế Môn, tiến thẳng đến khu vực trại bảo an binh, dinh tỉnh trưởng và các công sở.

        Tại trại bảo an binh, khi quân khởi nghĩa tiến đến, người lính gác cổng (nhân mối đã được chuẩn bị từ trước) đã mở cổng. Được binh lính giác ngộ hướng dẫn, quân khởi nghĩa đột nhập thẳng vào phòng của đội Táng - chỉ huy bảo an binh. Việc chiếm trại bảo an binh kết thúc mau lẹ, vì bị bất ngờ, viên chỉ huy cùng tất cả binh lính đều nộp vũ khí và xin hàng. Quân khởi nghĩa thu súng đạn, tập trung binh lính lại, giải thích chính sách của Việt Minh, thu nhận những người tự nguyện đi theo cách mạng và cấp giấy cho những ai muốn trở về quê.

        Từ trại bảo an binh, quân khởi nghĩa toả đi chiếm nhà bưu điện, kho bạc, nhà đoan, sở kiểm lâm.

        Khi quân khởi nghĩa tiến vào dinh tỉnh trưởng bù nhìn Dương Thiệu Trinh thì y đã khăn áo chỉnh tề, chờ Việt Minh đến để xin hàng. Đồng chí Tạ Xuân Thu thay mặt Uỷ ban khởi nghĩa tiếp nhận sự đầu hàng của viên tỉnh trưởng và lệnh cho y gọi điện báo cho quân Nhật trong thành, kêu gọi chúng đầu hàng Việt Minh.

        Riêng đối với quân Nhật, lúc đầu ta không thực hiện được chủ trương dùng chính trị và địch vận để thuyết phục chúng đầu hàng, vì lực lượng tự vệ thanh niên cứu quốc không nắm vững kế hoạch, đã nổ súng bắn vào trạm liên lạc của Nhật, bắt một lính Nhật và bảy tên mật thám. Do thái độ ngoan cố của quân Nhật, Uỷ ban khởi nghĩa chủ trương tiếp tục bao vây chúng trong thành, đồng thời huy động quần chúng gây áp lực.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:12:16 PM

        Nhân dân thị xã và nhiều vùng lân cận kéo về chật đường phố để chào mừng quân khởi nghĩa, chào mừng cách mạng. Khắp nơi, từ nhà dân đến các công sở, từ phố Xuân Hòa đến phố Tam Cờ, từ nóc nhà thờ trên núi Cố đến thuyền bè trên các bến sông Lô, đâu đâu cũng phấp phới cờ đỏ sao vàng... Cuộc biểu tình tuần hành của hàng nghìn người, đội ngũ chỉnh tề, đi dọc theo các phố chính. Trong khí thế của ngày hội cách mạng, quần chúng vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu.

        Việt Nam độc lập muôn năm
        Ủng hộ Mặt trận Việt Minh
        Đả đảo phát xít Nhật


        Trước khí thế của quần chúng cách mạng, lại bước đầu gặp khó khăn về tiếp tế lương thực, thực phẩm, cấp chỉ huy Nhật buộc phải gửi thư xin điều đình để "mở đường cho rút về Hà Nội". Uỷ ban khởi nghĩa chấp nhận và cử đồng chí Tạ Xuân Thu làm đại diện, đến điều đình với chúng. Ta đòi quân Nhật phải tuyên bố đầu hàng, giao nộp vũ khí và tôn trọng mọi quy định của quân khởi nghĩa. Phía Nhật chỉ chấp nhận nộp tất cả vũ khí đã thu được của Pháp hồi đảo chính tháng 3 năm 1945.

        Cuộc điều đình đang tiếp diễn thì đêm 18 tháng 8, có tin một số quân Nhật từ Hà Giang theo đường số 2 kéo về, đã tới Ỷ La, phía bắc thị xã 5 ki-lô-mét. Bọn chỉ huy Nhật trở mặt, không tiếp tục thương lượng nữa. Chúng cho bắn pháo 75 ly và súng máy vào quân khởi nghĩa và trên các đường phố chung quanh thành rồi cho quân phá vây ra đón đồng bọn đang bị chặn lại ở phía bắc thị xã.

        Trước tình hình đã trở nên phức tạp, một mặt Uỷ ban khởi nghĩa ra lệnh siết chặt vòng vây quân địch trong thành, kiên quyết ngăn chặn không cho hai bộ phận quân địch yểm trợ được cho nhau, mặt khác, huy động thêm lực lượng quần chúng xuống đường biểu dương lực lượng, tạo thành khí thế mạnh mẽ, áp đảo tinh thần quân địch.

        Cuộc chiến đấu kéo dài suốt ngày 19. Số quân địch phá vây bị chặn đánh phải quay trở lại trong thành. Cùng với tiếng súng là tiếng trống, tiếng pháo và tiếng hò la vang dậy của quần chúng được tập trung mỗi lúc một thêm đông. Hàng vạn người mang theo cờ, khẩu hiệu, tuần hành thị uy trên các đường phố quanh thành, vừa đi vừa hô to khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Việt Minh và phản đối thái độ ngoan cố của bọn Nhật.

        Do áp lực của quần chúng, lại do tin quân cách mạng đã giành được chính quyền ở Hà Nội, quân Nhật trong thành Tuyên Quang càng muốn mau chóng rút lui an toàn khỏi thị xã về Hà Nội tập kết để chờ ngày hồi hương. Về phía ta, cùng với tin khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, còn có tin một bộ phận quân đội Tưởng Giới Thạch và bọn tay sai Quốc dân đảng cùng một số quân Pháp (chạy sang Hoa Nam hồi đảo chính) đã vượt biên giới vào Hà Giang. Vấn đề quan trọng hàng đầu lúc này đặt ra với Uỷ ban khởi nghĩa là nhanh chóng đẩy được bọn Nhật ra khỏi thành, giải phóng thị xã để kịp thời chuẩn bị đối phó với quân Tưởng sắp kéo về dây.

        Ngày 21 tháng 8 cuộc điều đình giữa ta và bọn chỉ huy Nhật kết thúc. Chúng bàn giao cho ta vũ khí thu được của Pháp trước đây, đổi lấy việc ta để cho chúng rút khỏi Tuyên Quang an toàn.

        Ngày 21 tháng 8, thị xã Tuyên Quang được hoàn toàn giải phóng.

        Sáng hôm sau, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại sân vận động thị xã, chào mừng khởi nghĩa thắng lợi, chào mừng Uỷ ban dân tộc giải phóng lâm thời tỉnh Tuyên Quang được thành lập, do đồng chí Nguyễn Công Bình (tức Chì) làm Chủ tịch.

        Khí thế cách mạng sôi sục khắp nơi.

        Vũ khí thu được từ tay quân đội Nhật nhanh chóng được phân phối về các đội Quân giải phóng và tự vệ. Dự kiến tình hình sắp tới sẽ còn diễn biến phức tạp do quân Tưởng và cả quân khố đỏ do Pháp chỉ huy đang từ vùng biên giới phía Bắc kéo về, Uỷ ban dân tộc giải phóng chủ trương nhanh chóng phát triển và củng cố các lực lượng vũ trang (cả Quân giải phóng và các đội vũ trang địa phương), sẵn sàng đối phó với tình hình mới. Đồng thời, Uỷ ban cũng vạch ra hàng loạt công việc cấp bách trước mắt nhằm khắc phục nạn đói, nạn lụt, ổn định tình hình chính trị, xã hội, bảo đảm đời sống của nhân dân các dân tộc trong tỉnh mau chóng trở lại bình thường.

*

*       *

        Trải qua 5 tháng, từ trung tuần tháng 3 đến trung tuần tháng 8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã kết thúc thắng lợi trọn vẹn.

        Đó là thắng lợi của đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong quá trình tiến từ chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần, rồi chớp thời cơ tiến lên tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước.

        Đó là thắng lợi của quá trình xây dựng từng bước về chính trị và tổ chức, từ chi bộ Cộng sản đầu tiên ra đời trong đội ngũ công nhân mỏ than, đến lực lượng chính trị quần chúng đông đảo gồm mọi thành phần nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh.

        Đó là thắng lợi của nghệ thuật kết hợp giữa tiến công quân sự của lực lượng vũ trang (mà nòng cốt là Quân giải phóng) với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của lực lượng chính trị hùng hậu gồm hàng vạn quần chúng tự giác đứng vào đội ngũ, quyết giành quyền sống.

        Đó còn là thắng lợi của tinh thần nguyên tắc và biện pháp linh hoạt mềm dẻo của Uỷ ban khởi nghĩa, biết từng bước căn cứ vào tình hình cụ thể của địch và của ta, ở địa phương và trong toàn quốc, để có đối sách thích hợp, nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là giành được toàn bộ chính quyền về tay nhân dân trong thời gian ngắn nhất và với những tổn thất thấp nhất ở Tuyên Quang.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:13:30 PM

ĐÁNH NHẬT Ở TUYÊN QUANG

XUÂN PHONG         

        Đột kích trại hiến binh Nhật, đoạt súng máy tại thị xã Tuyên Quang

        Trung tuần tháng 4 năm 1945, đơn vị vũ trang công tác do tôi (Hoàng Văn Ngọ tức Ngọ Bầu, tức Xuân Phong) và đồng chí Trịnh Nam được các đồng chí Tạ Xuân Thu và Song Hào chấp thuận xúc tiến việc sưu tầm vũ khí để tự võ trang bằng đủ mọi cách.

        Một hôm đồng chí Chú làm cai coi phu của sở lục lộ (sở này hiến binh Nhật đóng) báo cho biết quân Nhật mới chuyển vũ khí về, trong đó có một khẩu súng hai chân và một đống đạn to bằng bắp chuối và gửi kèm theo một sơ đồ trại hiến binh, kho vũ khí.

        Chúng tôi nhóm họp có các đồng chí Trịnh Nam, Thế Vinh, Hoàng Giáp, Quý Sơn, Đào Hồng, Sung, Mùi, Lễ. Tất cả đều nhất trí là phải lấy ngay, nếu chậm trễ địch chuyển chỗ khác thì mất hết.

        Ngay sau đó tôi và hai đồng chí Hoàng Giáp, Thế Vinh chịu trách nhiệm đi trinh sát dịa hình và việc canh gác của bọn Nhật.

        Qua trinh sát chúng tôi nắm được:

        1. Lính Nhật đóng tại ngôi nhà ngay giáp nhà bà Nam Lai có khoảng một tiểu đội; nhà sĩ quan một tầng lầu, phán đoán chỉ có vài ba tên.

        2. Chỉ có vọng gác ở cổng chính do một tên Nhật thường trực và không có tốp canh.

        3. Các cửa sổ kho chỉ đóng bằng những tấm phên nứa cài suốt tre bên trong (cửa bị phá hồi 9-3-1945).

        4. Một cột đèn phòng thủ góc đường gần cổng chính cs chụp phòng không chỉ chiếu một quầng sáng độ 20 mét vuông quanh cột điện.

        5. Mặt sau trại có ba đường kẽm gai trên mặt tường, mặt bên hông đường vào phố Cầu Gù có một hàng kẽm, nhưng thường có người qua lại.

        6. Trừ đèn ở vọng gác và nhà lính, ngoài ra không có đèn khác, kể cả đèn bốn góc trại, địch không dùng nữa đề phòng máy bay Mỹ.

        Sau khi nắm vững tình hình, tôi quyết định tối hôm sau sẽ đánh kỳ tập, đánh bất ngờ trước giờ giới nghiêm.

        Hôm sau, khoảng gần 19 giờ, từ điểm tập kết (nhà số 84 phố Xuân Hoà) tôi và Hoàng Giáp, Thế Vinh tiến vào đường hẻm tiếp cận điểm đột phá đoạn đường rào giáp nhà bà Nam Lai). Từ nhà số 84 đến đây khoảng trên một ki-lô-mét. Anh Thế Vinh công kênh tôi lên kiểm tra thấy dây kẽm không mang điện, tôi dùng dao găm, cậy từng mảnh vữa có cắm mảnh chai trên bờ tường, đoạn dùng kìm chuyên dụng cắt ba sợi kẽm gai cuốn về một bên để lộ một khoảng trống chừng hai mét.

        Ngồi trên bờ tường, tôi bình tĩnh ném đá thăm dò từ hai đến ba lần, rồi buông mình xuống phía trong.

        Súng lên đạn, khóa an toàn, cầm dao, tôi men theo tường tiếp giáp nhà bà Nam Lai tiến về phía dãy nhà lính Nhật ở. Đến đầu căn nhà thứ nhất, tôi quan sát khá rõ khu vực nhà kho và định tiến về phía đó. Chợt, có hai tên Nhật đi từ nhà sĩ quan xuống nhà ngang. Tôi vội nép mình xuống rãnh giọt gianh của mái nhà, súng sẵn sàng, chờ chúng vào khuất trong nhà (vì chúng đi trong luồng sáng đèn từ nhà ngang hắt ra nên không thể phát hiện được tôi). Tôi lần theo tường nhà kho bỏ qua hai cửa, đến cửa thứ ba. Sau khi xem xét, tôi nâng cửa rút thanh tre cài cửa sổ một tay hé cửa lách vào (súng vào chốt an toàn giắt cạp quần). Luồn người qua cửa sổ bước vào trong, đẩy thêm thanh tre về phía trái rồi đặt xuống đất, tôi lần đi trong tư thế ngồi; cách xa cửa một đoạn để tránh ánh sáng hắt ra ngoài, tôi bật diêm và tắt ngay, đủ để nhận được đường đi. Tôi đi tiếp đến lần thứ ba bật diêm thì thấy đạn cối 81 lổn nhổn, gần đó là một khẩu FM của Pháp.

        Hồi hộp quá tôi trấn tĩnh lắp một băng đạn trong số băng nằm sẵn ở đó cụp chân chống, khóa kẹp chân dọc theo súng và khoác súng vào vai lần ra cửa.

        Lần này, tôi không lách được mà phải nâng phên cửa lên (lúc này tôi mới thấy chủ quan đã vào một mình). Rất bình tĩnh, tôi nâng cửa lên, nhẹ nhàng vắt từng chân qua cửa sổ đứng lên cái gờ tường xây phía ngoài, từ từ co chân cho người thấp xuống, một chân thõng xuống dưới, tay hạ dần liếp êm và buông ra (lúc này phên cửa được đỡ bởi cái loa che lửa của khẩu FM).

        Tôi buông người nhảy xuống đất, cánh phên cửa sập xuống phát ra một tiếng kêu khá to. Địch báo động và la thét ầm ĩ . Tôi phóng về điểm đột phá. Các anh Giáp và Thế Vinh vẫn chờ ở đó, một người ở trên bờ tường, một người đứng dưới phía ngoài hẻm. Tôi đưa súng cho Giáp và ra lệnh: "Sang trường con trai", còn tôi vọt lên mặt tường phóng xuống hẻm vượt tường phía sau trường học, bám theo đồng đội qua sân trường ra phía cổng trước cùng nhau vượt rào sang đường phố Măng-đa-ranh trước mặt là cổng trường con gái). Tôi dựa khẩu FM vào gốc cây phượng, tính là sẽ đóng vai thanh niên dạo chơi để xem xét động tĩnh. Nhưng chợt xem đồng hồ đã đến giờ giới nghiêm, tôi quay lại lấy súng và lệnh cho anh em sẵn sàng chiến đấu; chúng tôi men theo bờ rào nhà đốc học tây. Tôi đi trước, vai khoác FM, tay cầm súng ngắn, vì chỉ có tôi mới biết sử dụng FM thôi. Các đồng chí khác chỉ có dao găm và dụng cụ phá rào.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:13:55 PM

        Đến ngã tư nhà phó sứ trại giam, tôi băng qua đường, men theo tường rào nhà phó sứ tiến ra bờ sông. Sắp đến đường phố Xuân Hòa, bỗng nghe tiếng giày đinh của tụi tuần sát Nhật, tôi đứng lại trong bóng tối của cột điện do chụp đèn phòng không tạo nên, cách tụi Nhật một quãng, súng sẵn sàng.

        Chúng tiếp tục đi qua, tôi ép mình vào tường nhà cụ Phổ Tế Đường, nghe ngóng và tính toán nhiều tình huống. Chúng đi rất chậm, tôi dõi theo (lúc này tôi đã nghĩ nếu bị lộ sẽ mang theo khẩu FM bơi qua sông). Song không có gì xảy ra, địch đã đi qua.

        Tôi vọt về nhà số 84 Xuân Hòa, rút dao găm mở cửa, lọt vào nhà, cài then đàng hoàng và lên gác, cất súng FM trên gác thượng. Mọi người trong nhà vẫn ngủ yên, không ai hay biết. Chừng 10 giờ ngày hôm sau, lợi dụng tiếng ô tô qua lại ầm ĩ tôi lấy hai viên đạn, đập đầu ban ra, đổ bỏ thuốc đi lắp vào nòng súng và bóp cò để thử kíp, hai viên đều nổ. Tôi phân tán anh em đi tìm băng đạn. Anh em đã đem về năm băng. Để súng lại trên lầu thượng, chúng tôi về căn cứ đóng quân xã An Khang (chỉ cách thị xã ba ki-lô-mét), tôi bàn với các đồng chí kế hoạch đem súng về.

        Trước đây, tôi đã từng chuyển súng trường, tháo báng gỗ bỏ ra, thân nòng đút vào đòn ống nứa dại và chở bằng xe ngựa. Nhưng nay làm thế thì mạo hiểm quá, sơ suất một tý thì công toi mà mất mạng, vì phải đi qua trước trại Nhật đóng quân, qua liên lạc sở (trụ sở của mật thám Nhật), qua bốt gác cầu Chả, chưa kể đến việc chạm trán với bọn tuần sát.

        Cuối cùng, tôi quyết định đi bằng đường sông Lô. Tôi bảo đồng chí Lễ tìm một người nữa ở địa phương biết chèo thuyền và tin cẩn bảo đảm bí mật (nhà Lễ có thuyền và được bà trẻ Nam mẹ Lễ đồng ý). Đây là một vấn đề rất hệ trọng, đi với tôi có thể thuyền sẽ mất, Lễ có thể không trở về, thế mà bà đồng ý. Tấm lòng vì nước của bà thật cao cả. 

        Một ngày sau, vào lúc chiều tà, tôi, Lễ và một cháu nhỏ chừng 13 tuổi gọi là thằng cu con, bơi thuyền nan ngược dòng sông, đem theo một súng, đi lẫn vào những thuyền của dân qua trạm gác ghềnh Giềng (trạm bảo an binh có thuyền lưu động) theo luồng cái bên hữu ngạn sông Lô, qua miền Đồng Tiền. Tới bến Pha Lô chừng 22 giờ chúng tôi ép thuyền cạnh chân cột đo nước thấp nhất, giao cu con trông thuyền. Tôi và Lễ lên bờ. Tôi hướng dẫn Lễ cách đối phó với địch và sử dụng súng trường mút.

        Đứng trong công sự do Nhật đào sẵn hình tròn, Lễ dõi theo và yểm hộ tôi vượt qua bãi sông, vượt qua đường cái phố Xuân Hòa. Tới nhà 84, tôi rút dao găm mở cửa, lọt ào đóng cửa cài then rồi lên gác thượng, cả nhà vẫn ngủ yên.

        Trong bóng đèn ngủ, tôi lắp một băng đạn vào súng, giắt thêm một băng vào thắt lưng, khoác súng lần xuống cầu thang. Chợt bố tôi dậy đi tiểu bắt gặp ông kêu "mày giết tao". Tôi vội phân trần cho ông hiểu hoạt động vì cách mạng của tôi và nói: "Nếu bố để lộ, Nhật nó giết cả nhà". Bố tôi im lặng cài then cửa. Khi tôi quan sát dọc phố rồi băng qua đường cái ra bờ sông, bình tĩnh xuống thuyền và bơi sang phía Canh Nông, tả ngạn sông Lô. Tránh luồng cái bên hữu ngạn, e gặp bảo an binh thì phức tạp, tôi theo luồng con bên kia bãi soi, không có nhà cửa dân cư.

        Thuyền xuôi đến cuối bãi thì bị cạn, nước chỉ còn chừng một gang tay. Tôi hì hục kéo thuyền. Chừng một giờ sau hết cạn, chúng tôi lên thuyền, phổ biến cách đối phó: Lễ và cu con chèo thuyền, còn tôi sẽ nổ súng khi cần. Thuyền xuôi một lúc, vừa qua ghềnh Giềng bỗng có tiếng quát "thuyền nào dừng lại", tôi giục Lễ móc thuyền về bên bờ làng Chanh (tả ngạn sông ). Dứt tiếng quát thứ ba, tôi bóp cò khẩu FM hướng về phía tụi bảo an binh, súng không nổ. Sợ lỡ thời cơ, tôi buông FM, cầm khẩu mút-cơ-tông nổ liền ba phát còn gắm lại hai viên. Thuyền cập bên bờ làng Chanh, tôi chuẩn bị lại FM và súng trường, chuẩn bị cho đợt tác chiến tiếp, nhưng tụi lính đã sợ, chúng kêu "Việt Minh, Việt Minh" và lui thuyền chuồn xa dần.

        Chúng tôi xuống thuyền xuôi về An Khang, gặp lại các đồng chí trong đội. Niềm vui thắng lợi mở đầu cho những chiến công sau này; đánh bốt bảo an binh ki-lô-mét 4 trên đường số 2, từ Tuyên Quang đi Hà Nội và vũ trang khởi nghĩa cướp chính quyền huyện Yên Bình đêm 17 tháng 8 năm 1945 phối hợp với cuộc khởi nghĩa ở thị xã Tuyên Quang cùng ngày.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:14:30 PM

        Diệt bốt bảo an binh Nhật (ki-lô-mét 4 đường Tuyên Quang - Hà Nội)

        Tháng 5 năm 1945, sau Hội nghị quân sự Hiệp Hòa, cấp trên sắp thành lập Khu giải phóng, thống nhất đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân với Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân. Phân khu Hà - Tuyên - Thái (khu Nguyễn Huệ cũ) do đồng chí Song Hào làm bí thư, được phổ biến mọi mặt để đẩy mạnh nhiệm vụ trước mắt, củng cố phát triển lực lượng vũ trang. Chúng tôi đề ghị khảo sát và tiêu diệt các trạm kiểm soát của bảo an binh Nhật trong thị xã, đồng thời cho thành lập ban ám sát để trừng trị những tên ác ôn (nhưng điểm này đồng chí Song Hào không chấp thuận).

        Đầu tháng 5 năm 1945, được biết bốt gác đầu cầu Chả bến ô tô thị xã Tuyên Quang thường có 5 tay súng bảo an, bọn này hay tập trung đánh bạc trong bốt. Tôi lập kế hoạch kỳ tập; chuẩn bị chu đáo vũ khí, dụng cụ xong. Chừng 20 giờ ngày 12 tháng 5, chúng tôi tập kết tại phố Cô Đầu phổ biến kế hoạch, đứng ngay trên đường phố như đi chơi vậy.

        Nhưng khi chúng tôi tiến xuống đến cây si (cạnh nhà đồng chí Triệu) trinh sát lại thì thấy tên Thiện, một trong những tên bảo an mà tôi biết, bắc ghế nằm ngang trước cửa bốt. Nhớ lại có thể tên Thiện đã lướt qua chỗ chúng tôi tại phố Cô Đầu. Tôi tính nếu cứ đánh thì phải bắn thằng này (dù nó vô tình hay cố ý) và tôi quyết định rút quân, thứ tự từng người một. Đồng chí Giáp, đồng chí Thế Vinh, đồng chí Tân Bần lần lượt rút êm qua cầu Chả về căn cứ An khang nơi đóng quân.

        Tập hợp tất cả các đồng chí, tôi nhắc lại nhiệm vụ trước mắt, điểm lại lực lượng và trang bị có một trung liên, một tiểu liên, tám khẩu súng trường và một số gươm, lựu đạn, dao găm, ống nhòm; anh em đã từng luyện tập ít cũng 20 ngày, nay phải xuất quân đánh 1 trận. Mặt khác tên Thiện đã lướt qua chỗ chúng tôi đang lúc chúng tôi phổ biến kế hoạch ngay trên đường phố, tôi đoán có thể kế hoạch của chúng tôi đã bị lộ, mai mốt chúng sẽ tăng cường phòng bị hơn thì khó mà diệt; có nhiều khả năng là địch ở bốt số 4 sẽ rút để tránh bị tiêu diệt.

        Tôi để trung liên lại, có đồng chí Lễ ở nhà còn kéo quân đi toàn bộ; gồm tôi, đồng chí Trịnh Nam, đồng chí Hoàng Giáp, Thế Vinh, Tân Bần, Đào Hồng, Quý Sơn, Sung và Mùi, tất cả chín người. Đồng chí Sung đi trước theo đường bờ sông ngược lên đến cửa ngòi, đi tiếp theo đường bờ ngòi tiến vào cầu Móc Dăng (toàn đường to) rồi xuôi theo đường số 2. Dưới ánh trăng mờ chúng tôi hành quân theo đội hình hai hàng dọc hai bên vệ đường (như đã từng luyện tập)

        Vào khoảng 21 giờ chúng tôi đến dốc Đỏ, bỗng nghe những tiếng đập "phành phành" ở phía trước. Chúng tôi tản ra theo đội hình chiến thuật; nghe ngóng một lát, tôi bảo đồng chí Sung bỏ vũ khí lại tiến lên trinh sát. Lát sau Sung về kể lại, đó là một cái ô tô nhỏ bị hỏng lốp đang chữa. Tôi hỏi địch đóng ở đâu? Đồng chí ấy nói đi qua chỗ địch đóng rồi và tả lại căn nhà dưới chân đồi nhà chủ Thịnh (quản lý đồn điền Mông Ba Da).

        Nhóm hội ý thật nhanh, thống nhất kế hoạch và hành quân quay lại, đến cách ngôi nhà đó chừng 500 mét, chúng tôi sẽ xuống đồng (đất khô), thấy trong nhà đèn sáng choang và chúng đang sát phạt nhau. Chúng tôi bò qua đường. Tôi liền ra lệnh "xung phong" và vọt lên trước tiên, nhảy qua đầu tên lính vừa gác ngang cây súng lên bạo cửa. Tôi quát "Tất cả giơ tay lên", đồng thời lên cò tiểu hên. Xưng danh Quân giải phóng Việt Nam, tôi tuyên bố Quân giải phóng không có ý giết bọn họ. Ngay lập tức đồng đội cùng vào đã tước hoàn toàn 12 khẩu súng của bọn chúng, bố trí canh gác và cảnh giới ngoài đường cái. Tên cai Chẩn chỉ kịp xé toạc cái băng bảo an đeo nơi tay áo; có lẽ do quá sợ vì nó là chỉ huy.

        Tôi nói vắn tắt về chính sách khoan dung của Việt Minh và những điều tôi đã tiếp nhận của cấp trên để họ yên tâm. Họ pha nước mời uống; qua họ tôi biết được cái ô tô đó là của Trịnh Văn Văn ở Yên Bình sang (lái và phụ xe là cơ sở của tôi tại phủ Yên Bình) trên xe có tên lục sự có súng ngắn; hắn sang lĩnh lương và quần áo cho bảo an bên đó. Tôi rất tiếc vì trên xe đồng chí Văn và phó Năm có súng tiểu liên nhưng nghĩ họ đâu có dám giết tên lục sự và thoát được đi đâu trong khi không có liên lạc.

        Theo yêu cầu của bọn bảo an, tôi cấp tiền cho họ về quê và hứa sẽ bắn ít phát súng chỉ thiên cho có tiếng nổ làm cớ cho họ nói với tuần phủ Dương Quý Liên.

        Trừ anh Ấm xin theo, trở thành một đội viên của đơn vị, chúng tôi rút quân. Đến ki-lô-mét số 5 tôi cho mỗi đồng chí bắn ba phát chỉ thiên rồi theo đường đi Bình Ca trở về căn cứ chiến khu, lòng vui khôn tả vì đã hoàn thành nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:15:42 PM

BỘ ĐỘI VIỆT - MỸ

NGỌC AN         

        Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ở Đông Dương, lợi dụng cơ hội Pháp thua Đức (6-1940), phát xít Nhật bắt đầu thực hiện kế hoạch xâm lấn Đông Dương. Tháng 9 năm 1940, quân đội Nhật từ miền Nam Trung Quốc vượt biên giới, xâm chiếm Đông Dương. Thực dân Pháp ở Đông Dương đầu hàng phát xít Nhật. Từ đó, máy bay Đồng Minh thỉnh thoảng bay trinh sát và ném bom xuống một vài thành phố, đô thị Việt Nam.

        Cuối năm 1944, một máy bay của không quân Mỹ bay trên bầu trời Cao Bằng bị hỏng máy. Người lái phải nhảy dù xuống một vùng núi gần tỉnh ly Cao Bằng và được Việt Minh cứu đưa về căn cứ cách mạng. Quân Nhật cấp tốc cho người đến chiếm chiếc máy bay rơi và ra sức lùng sục tìm bắt phi công Mỹ. Không tìm bắt được. Nhặt buộc tội Pháp để cho phi công trốn thoát.

        Từ khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra. Đảng ta coi phong trào cách mạng Đông Dương là một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng thế giới, đứng hẳn về phe chống phát xít xâm lược. Vì vậy, Đảng ta chủ trương giúp đỡ và cùng Đồng Minh đánh phát xít Nhật ở Đông Dương. Nhiều cán bộ của Đảng và Mặt trận Việt Minh đã liên lạc được với tù binh Đồng Minh bị Nhật giam giữ ở Việt Nam. Nhưng vì ngôn ngữ bất đồng nên hai bên không thảo luận được với nhau, thành ra việc giúp đỡ số tù binh Đồng Minh này không tiến triển được. (Tù binh Đồng Minh bị Nhật bắt được ở các nơi khác đưa về giam giữ ở Sài Gòn, trong hai trại (trại Pô-ét (Poet) và trại 5E), gồm có: 2.314 người Anh, 1.756 người Hà Lan, 256 người Ốt-xtrây-li-a, 214 người Mỹ; ở Gia Lâm (Hà Nội) có 287 người, phần lớn là lính Ấn Độ. Theo Pát-ti (Patty) trong cuốn Tại sao Việt Nam? (Why Viet-nam?). Trường Đại học Caliphoócnia Béccơlây (California Berkley) Lốt Ănggiơlét - Luân Đôn (Los Angeles - Lon don) xuất bản. 1980, bản dịch của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Bộ Quốc phòng .)

        Riêng về trường hợp phi công Mỹ nhảy dù - trung uý Sô (Shaw), ta tổ chức đưa về Trung Quốc, vì Sô thuộc lực lượng không quân Mỹ đóng ở Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc).

        Nhật và Pháp rải quân bao vây chặt biên giới Việt - Trung hứa thưởng tiền và muối cho người nào bắt được và dọa trừng phạt nặng những người giúp đỡ người Mỹ này.

        Trước tình hình Nhật, Pháp vây bắt, lùng sục dữ như vậy để bảo đảm an toàn, các đồng chí của ta đã phải khá công phu mới đưa Sô đến được địa điểm quy định. Từ căn cứ cách mạng ở gần tỉnh lỵ Cao Bằng đến biên giới Việt - Trung, phải mất gần một tháng sau, Sô mới vượt được quãng đường gần 60 ki-lô-mét.

        Đến biên giới Việt - Trung, Sô được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau gần một tháng không chuyện trò được với ai, chỉ ra hiệu với những người giúp đỡ đưa đi, nên khi gặp Bác Hồ, Người biết nói tiếng Anh, Sô rất phấn khởi. Được gặp Bác Hồ, được nói chuyện với Người, Sô đã đề nghị Bác cùng đi đến Bộ tư lệnh không quân Mỹ ở Côn Minh.

        Lúc này, Bác cần gặp một số cán bộ của ta ở Côn Minh nên đã vui lòng nhận cùng đi. Hai người cùng đi với nhau năm ngày trên đất Trung Quốc. Sau đó thì chia tay nhau. Mười ngày sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Côn Minh thì được biết Sô đã về Mỹ. (Sô được máy bay đón nên về Côn Minh trước).

        Những người Mỹ ở Côn Minh lúc này đang giúp Tưởng Giới Thạch chống Nhật. Họ đến gặp Bác để cám ơn đã giúp đỡ Sô và tặng những người cách mạng Việt Nam một số tiền và thuốc men. Bác nhận thuốc men nhưng không nhận tiền.

        Sau đó, Bác gặp tướng Sê-nôn (Chennault), tổng tư lệnh không quân Mỹ ở Trung Quốc. Tướng Sê-nôn hỏi Bác: Việt Minh có vui lòng giúp đỡ, tổ chức cứu những phi công Đồng Minh bị rơi ở Đông Dương không?

        Chủ tịch Hồ Chí Minh cho Sê-nôn biết: Những người cách mạng Việt Nam giúp đỡ Đồng Minh để cùng nhau chống phát xít.

        Trung uý Phen (C.Fenn) được tướng Sê-nôn giao nhiệm vụ liên lạc với ta để tổ chức cứu giúp phi công Mỹ bị rơi ở Việt Nam. Về phía ta, Bác cũng đề nghị Đồng Minh giúp đỡ cách mạng Việt Nam đánh phát xít Nhật. Họ cũng đã nhận lời.

        Xuất phát từ chính sách thực dân kiểu mới, khi Đông Dương bị Nhật xâm lược, đế quốc Mỹ đã không giúp Pháp chống Nhật và dự định sau khi Đồng Minh chiến thắng sẽ biến Đông Dương thành một khu vực thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mỹ.

        Vì vậy ít lâu sau, ngày 16 tháng 7 năm 1945, họ đã cho một nhóm sĩ quan tình báo nhảy dù xuống căn cứ địa Việt Bắc để tổ chức cứu giúp phi công Đồng Minh bị rơi và giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Toán đầu tiên, toán "Con nai” thuộc lực lượng OSS (office of stratégi Services (cơ quan tình báo Mỹ).) do thiếu tá Tô-mát (Thomas) chỉ huy, nhảy dù xuống địa phận xã Kim Lung cách Tuyên Quang 20 dặm về phía đông. Trong toán có hai binh nhất người Mỹ, một trung uý người Pháp là Mông-pho (Monfort) và hai hạ sĩ quan người Việt Nam trong quân đội Pháp. Trung úy Pháp và hai hạ sĩ quan người Việt Nam thuộc phái đoàn 5 (5e Mission) - một tổ chức tình báo của Pháp ở Côn Minh. Viên trung uý người Pháp và hai tên người Việt bị ta phát hiện và yêu cầu phía Mỹ trả họ về Trung Quốc.

        Sau khi nhảy dù trót lọt toán thứ nhất, tổ chức tình báo Mỹ đã cho nhảy dù toán thứ hai.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:15:58 PM

        Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị chọn người trong các đơn vị Giải phóng quân để tổ chức một đơn vị gọi là Bộ đội Việt Mỹ. Đại đội Việt - Mỹ do đồng chí Đàm Quang Trung chỉ huy quân số khoảng gần 200 người. Đại đội không có chính trị viên. Thiếu tá Tô-mát, toán trưởng toán "Con nai" coi là tham mưu trưởng đại đội. Trong gần một tháng ở chiến. khu Việt Bắc vùng Tuyên Quang) đội tập trung vào việc huấn luyện quân sự. Những sĩ quan: Ê-li-xơn K.Tô-mát, Rê-nơ Đề Phuốc-nô, Uy-li-am Den-xki, Lâu-ren-xô Vốt, A. Rôn-xquai-ơ, Pôn Hô-ê-gô-lan, Hen-ri Pruy-ni-ê... đã huấn luyện về vũ khí mới và chiến thuật du kích cho các chiến sĩ ta. Máy bay Mỹ có thả dù tiếp tế cho bộ đội Việt Mỹ một số vũ khí.

        Hiện nay, chúng tôi chưa sưu tầm và thống kê được số lượng và chủng loại vũ khí Mỹ đã tiếp tế và trang bị cho bộ đội Việt Mỹ. Nhưng căn cứ vào số vũ khí, trang bị của đại đội Việt Mỹ trong trận đánh Nhật ở thị xã Thái Nguyên (20-8-1945), gồm có 1 đại liên, 2 súng cối 60 ly, 4 khẩu ba-dô-ca, 8 trung liên bren-nơ, 20 tiểu liên tôm-sơn, 60 các-bin, 4 súng trường gióp 8 tự động, 20 súng ngắn côn-bát và một số ống nhòm, thì có thể ước đoán số lượng và chủng loại vũ khí Mỹ thả dù tiếp tế cho ta lúc đó, có lẽ cũng chỉ có như thế, hoặc nhiều hơn một ít.

        Mùa hè năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai đã đi vào giai đoạn cuối. Ngày 8 tháng 8 năm 1945, Chính phủ Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản. Rạng sáng ngày 9 tháng 8 năm 1945, cuộc tiến công của Hồng quân Liên Xô vào đạo quân Quan Đông - đạo quân chiến lược hùng hậu của phát xít Nhật bắt đầu.

        Trước thời cơ lịch sử, ngày 12 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban lâm thời Khu giải phóng lệnh cho các đơn vị Giải phóng quân tiến công các đô thị và trọng trấn của quân địch... Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Trung ương Đảng, Tổng bộ Việt Minh và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.

        14 giờ ngày 16 tháng 8 năm 1945, đơn vị chủ lực của Việt Nam Giải phóng quân xuất phát từ Tân Trào (Tuyên Quang), tiến đánh quân Nhật và tay sai ở thị xã Thái Nguyên, Đại đội Việt - Mỹ do đồng chí Đàm Quang Trung chỉ huy cũng được lệnh hành quân về tham gia đánh địch ở Thái Nguyên. Những người Mỹ trong toán "Con nai" cũng tham gia trận đánh Nhật ở thị xã Thái Nguyên.

        Ngày 20 tháng 8 năm 1945, 400 binh lính bảo an do quản Khiêm chỉ huy đầu hàng quân cách mạng. Ta thu được 600 súng trường và một số súng máy.

        Với số súng đạn này, ta nhanh chóng tổ chức thêm một chi đội mới. Đại đội Việt - Mỹ được bổ sung thêm người, tổ chức thành chi đội 4 do đồng chí Đàm Quang Trung làm chi đội trưởng. Thiếu tá Tô-mát vẫn tự xem là tham mưu trưởng chi đội.

        Quân Nhật ở trong đồn vẫn tiếp tục chống cự. Vào lúc 6 giờ sáng ngày 20 tháng 8 năm 1945, Bộ chỉ huy Quân giải phóng gửi tối hậu thư cho viên quan tư chỉ huy Nhật đòi chúng phải đầu hàng. Trong tối hậu thư có đoạn viết: Chúng tôi là đội Quân giải phóng Việt Nam và bộ đội Việt Mỹ do đoàn thể Việt Minh lãnh đạo, hôm nay đã đến đây và đã bao vây. Chúng tôi yêu cầu các anh em nhận những điều kiện này..." (Tối hậu thư ký tên Văn tức đồng chí Võ Nguyên Giáp. Lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.).

        Để tăng thêm thanh thế của Quân giải phóng Việt Nam cùng Đồng Minh hiệp đồng chiến đấu, cũng có một tối hậu thư bằng tiếng Anh do thiếu tá Tô-mát ký, gửi quân Nhật yêu cầu đầu hàng.

        Chi đội 4 vừa thành lập xong thì được lệnh của đồng chí Võ Nguyên Giáp đưa một trung đội quay lại Tân Trào đón Bác về Hà Nội, để lại một đại đội tiếp tục đánh Nhật ở Thái Nguyên, còn hai đại đội cấp tốc hành quân về Hà Nội. Những người Mỹ trong toán "Con nai" không cùng hành quân với chi đội 4 về Hà Nội. 

        Ngày 16 tháng 9 năm 1945, thiếu tá Tô-mát và những sĩ quan tình báo trong toán "Con nai" chấm dứt nhiệm vụ của họ ở Hà Nội. Và đến đây, bộ đội Việt - Mỹ cũng không tồn tại nữa. Chi đội 4 được bổ sung thêm 200 tự vệ chiến đấu Hà Nội là lực lượng nòng cốt, cùng với các chiến sĩ tự vệ thành Hoàng Diệu (Hà Nội), bảo vệ chính quyền cách mạng. 

        Như vậy, nếu tính từ cuối tháng 7 năm 1945 đến ngày 9 tháng 9 năm 1945 thì bộ đội Việt - Mỹ tồn tại trong khoảng 50 ngày.

        Những người Mỹ nhảy dù xuống căn cứ địa Việt Bắc ngày 16 tháng 7 năm 1945 là những sĩ quan tình báo của OSS. Họ đến chủ yếu là nhằm mục đích nắm tình hình quân Nhật ở Đông Dương và lực lượng cách mạng Việt Nam để phục vụ cho mưu đồ của Mỹ sau này.

        Về phía ta, việc giúp đỡ Đồng Minh là nhiệm vụ chung chống phát xít Nhật và cũng nhằm tranh thủ viện trợ vũ khí của Đồng Minh để đánh Nhật.

        Bộ đội Việt - Mỹ là như thế. Mối quan hệ Việt - Mỹ cũng chỉ giới hạn đến đó. Trong bộ phim Việt Nam, một thiên lịch sử truyền hình có nói đến bộ đội Việt - Mỹ. Song chưa nói sự giúp đỡ dè dặt của Mỹ với Việt Minh lúc bấy giờ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:17:07 PM

NHŨNG THÁNG ĐẦU NĂM ẤT DẬU 1945

NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG         

        Từ sau cái đêm mồng 9 tháng 3 năm 1945, Nhật ở đâu kéo về lắm thế. Tỉnh lỵ Thái Nguyên, huyện Đồng Hỷ, cầu Gia Bảy, dọc đường cái quan đâu cũng lố nhố những bộ đồng phục màu cứt ngựa, quần lửng quá gối, áo thùng hở nách, ống tay quá khuỷu, lủng lẳng bên hông thanh kiếm. Rất ít người đeo lon, chẳng rõ có phải lính cả không nhưng hết thảy đều trọc lóc, mặt cứ lầm lầm chỉ vẫy tay ra hiệu, buông thõng cụt lủn tiếng "giô-tô" hoặc "giô-tô nay" (Tiếng Nhật: "tốt", "không tốt").

        Họ đi lại hăng lắm, sục vào các xóm làng bên đường, sĩ quan gọi lý hương tụ họp dân nghe tuyên cáo, rồi căng lên khúc vải trắng hoặc đỏ viết dòng chữ Nhật ở dưới viết chữ quốc ngữ “Đại Đông Á Muôn Năm!". Tây đã hết tiệt. Riêng ở mỏ Y-von (mỏ sắt Trại Cau) vẫn còn tên chủ mỏ Rít-si-ê cùng tốp tây đen cai quản làm ăn. Hệ thống kè sông đào vẫn hoạt động. Nhật đã nắm lính khố xanh chốt ở các kè cống và hàng ngày đến kiểm tra ...

        Đây là những tin thu lượm được chuẩn bị để báo cáo "đoàn thể" khi tôi đang là nhân viên điện thoại đập Ta-cun. Vừa sẩm tối, giao "ca" trực máy xong, tôi định đến điểm hẹn theo quy ước thì ông Sáu "thầy thuốc" đeo túi bước vào hỏi to:

        - Cậu Nhàn có đây không?.

        - Dạ có. Tôi bước vội ra.

        Ra ngõ gặp gái mà lại may - ông Sáu cười khà khà. Cậu hết trực chưa? Trời tối quá, tính nhờ cậu chiếc đèn pin vào xóm một lúc.

        - Dạ được.

        - Cái nghề chữa bệnh nó thế. Phiền cậu nhé!

        Tôi hiểu ông Sáu đến lúc này chắc có chuyện, liền lẳng lặng lấy đèn ra đường. Ông Sáu bước theo. Đi được một quãng, ông khẽ giật tay tôi:

        - Đoàn thể chỉ thị phải nắm chắc sự đi lại của Nhật từ đây xuống mỏ Y-von vào giờ nào hàng ngày? Theo dõi liền một tuần.

        - Vâng. Tôi phải đến đâu báo cáo?

        - Cứ ở đây. Tôi sẽ đến gặp cậu.

        Từ khi Nhật cai quản, các kê phải chịu trách nhiệm về việc tàu thuyền đi lại trên sông đào, nhất là bến cảng mỏ sắt hàng ngày phải báo cáo về Ta-cun để tổng hợp trình lên quan binh Nhật. Cái lệnh khắc nghiệt ấy không ngờ lúc này lại trở thành thuận lợi cho nhiệm vụ "đoàn thể" giao cho tôi.

        Hơn tuần sau ông Sáu lại đến. Tôi báo cáo cặn kẽ mọi động tĩnh từng ngày của Nhật và lính khố xanh. Nghe xong, ông Sáu khẽ nói.

        - Ngày này tuần sau cậu kiếm cớ xin nghỉ, vào "C.K" (C.K: Chiến khu), gặp thượng cấp.

        - Đến đâu, anh? 

        - Xuống Đá Gân sẽ có người đón.

        Một tuần trôi chậm rì.

        Đúng ngày, tôi đến điểm hẹn. Bác Năm là cơ sở của ông Sáu. Vừa thấy tôi, bác liền kéo ngay vào bếp đã sẵn rổ khoai luộc với ấm chè tươi. Bác rỉ tai:

        - Cậu ngồi xuống, bóc khoai ăn đi. Bác chỉ tay lên ngôi nhà bên sườn đồi - tụi lính đang sát phạt nhau.

        Lúc sau, ông Sáu lách tấm liếp che cửa cùng một người dỏng cao vận quần áo như mấy bác phu kè bước vào. Bác Năm kéo khúc gỗ, hai người ngồi xuống quanh rổ khoai.

        Ông Sáu vỗ vỗ tay tôi, nói nhỏ:

        - Báo cáo đồng chí Cửu! Đây là cậu Nhàn cơ sở của ta ở Thác Huống về báo cáo tình hình.

        - Đồng chí nói rõ thêm hoạt động của địch mấy ngày gần đây.

        Tôi nói tỉ mỉ những điều mắt thấy, tai nghe qua các nguồn tin, rồi quả quyết:

        - Tôi theo dõi liên tục đều thấy những ngày thứ bảy, chủ nhật, tụi sĩ quan nghỉ ăn chơi, quân lính lo bảo vệ tỉnh lỵ nên chúng không xuống mỏ.

        - Nó có gọi điện xuống mỏ được không?

        - Được ạ. Trước kia đường dây điện thoại từ mỏ thông lên tỉnh đã bị hỏng trong cuộc Nhật đảo chính, nay phải nói qua tổng đài Ta-cun.

        Đồng chí Cửu suy nghĩ một lát rồi hỏi:

        - Làm chúng không thông với nhau được chứ? 

        - Được ạ.

        - Sao cho khỏi lộ?

        - Khi cần cắt dây ở xa, không thể phát hiện ngay được.

        - Còn ở đây? Đồng chí Cửu nhìn ông Sáu.

        - Bác Năm đã vỡ đất trồng sắn lấp đường mòn đi tắt và đến lúc đó sẽ cắt dây cho phà trôi khỏi bến mỏ. Hai mắt đồng chí Cửu nhấp nhánh lộ vẻ phấn khởi, nắm cánh tay tôi rung rung.

        - Đồng chí nắm tình hình tốt. Khi nào có tín hiệu thì hành động ngay.

        - Còn tôi?

        - Đã báo cáo thượng cấp rồi. Xong việc đồng chí đi luôn.

        Theo đúng kế hoạch ông Sáu giao, tôi làm xong mọi việc rồi đi một mạch vào mỏ sắt. Đến nơi, mảnh trăng non vừa nhô khỏi đầu núi.

        - Nhàn hử?

        - Vâng! - Tôi nhận ra Quý khẽ hỏi - ông Sáu đâu?

        - Cùng hai đồng chí Cao, Nùng xuống khu văn phòng mỏ rồi. 

        - Nhỡ lộ thì sao?

        - Lộ sao được. Trước kia ông Sáu là anh-phiếc-mê-sếp (lnfirmier chef: y tá trưởng.) của mỏ vẫn thường qua lại với đám cai ký, còn mấy anh người Trại Cau thường mang hàng ra mỏ bán. Người ta quen rồi.

        - Ông Sáu dặn tôi phải vào đây ngay. 

        - Đồng chí Cát Lượng (Anh Quốc Vinh (Cục trưởng Chính trị Quân khu 1, đã mất).) đang chờ đấy. Theo tôi.

        Qua đoạn đường rừng ngoằn ngoèo đến ngôi nhà khá to, tường đất bao quanh. Chính gian giữa, chiếc đèn ba dây toả sáng vàng rực. Quý để tôi đứng chờ, anh bước vào một chút rồi quay ra, vẫy gọi.   


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:17:28 PM

        Một người to đậm chắc nịch, vận quần áo chàm, thắt lưng to bản, đi ghệt da đứng trên thềm. Tôi vừa bước tới, người ấy đưa mạnh nắm tay phải lên mang tai. Tôi vội làm theo, bụng hồi hộp "Đồng chí này chắc là chỉ huy. Sao lại chào mình trước"'.

        - Đồng chí Nhàn à? Tôi là Cát Lượng.

        - Vâng ạ? Xin chào đồng chí!

        - Cách mạng đừng vâng dạ thế. Chuyện đó nói sau. Bây giờ đồng chí báo cáo mọi việc mới giao.

        - Báo cáo đồng chí! Tin chắc chắn ở Thái Nguyên, bọn quan tư lệnh Nhật về Hà Nội lo thu xếp lễ thành lập nội các Trần Trọng Kim. (17-4-1945)

        Mấy ngày nay chúng lo canh phòng tỉnh lỵ không có kế hoạch xuống mỏ. Các đội lính khố xanh ở các kè được dịp túm tụm uống rượu, đánh bạc.

        - Nếu bị đánh, tây mỏ có báo Nhật được không?

        - Điện thoại đã bị cắt, đường bộ phải qua sông, lúc này bác Năm tháo phà trôi xuống hạ lưu rồi.

        - Tốt! Cát Lượng ngúc mạnh - Ta hành động. Đồng chí biết cưỡi ngựa chứ? Đi với tôi cùng bốn đồng chí. Toàn đội đi tàu hoả, đồng chí Quý dẫn đột nhập bắt bọn cảnh sát và tay sai Nhật. Tên nào chống cự... Đôi lông mày anh xếch ngược - bắn ngay!

        Tôi hơi rợn người, nhưng da mặt cũng nóng lên như sắp xung trận. Chúng tôi ra sân. Sáu con ngựa đã sẵn yên cương. Nhờ được cưỡi con ngựa hiền, nước đại khá êm, tôi theo kịp đoàn, dẫn thẳng vào khu văn phòng mỏ.

        Ông Sáu với năm đồng chí xuống trước đóng giả con bạc sẵn trong sòng xóc đĩa tại nhà đám tây đen. Thoáng nghe vó ngựa dồn dập, các đồng chí bật dậy rút súng bắt tất cả ngồi im. Ông Sáu đón chúng tôi đến ngay nhà chủ mỏ. Vừa lúc đoàn tàu chở Quân giải phóng tới đích kéo hồi còi dài vang rền khắp bến cảng. Nguyễn Quý dẫn toàn đội toả ra chiếm giữ các điểm, bao vây nhà đội cảnh sát và toán lính do Nhật phái xuống.

        Sự việc diễn ra quá nhanh địch không kịp trở tay. Chỉ một tên mật vụ liều mạng vọt qua cửa sổ liền bị tổ phục kích phóng dao quật ngã.

        Viên chủ mỏ tây xanh mặt, giơ hai tay run rẩy, lắp bắp không thành lời.

        Đồng chí Cát Lượng dịu giọng (ông Sáu dịch):

        - Ông bỏ tay xuống, nghe đây. Quân cách mạng chỉ tước đoạt những thứ của đế quốc thực dân, không lấy gì của các ông, cũng không giết ông nếu thực hiện đúng các điều...

        Viên chủ mỏ gật lia lịa, xin phép gọi thư ký đến ghi những việc phải làm. Nửa giờ sau, chúng đã tập trung mọi thứ. Toàn bộ vũ khí, kíp mìn, tiền mặt của mỏ, bản khai số gạo tồn kho và năm con ngựa. Ta thu toàn bộ vũ khí và ngựa, còn gạo tiền phát hết cho công nhân viên chức.

        Cuộc mít tinh được triệu tập ngay. Dân vùng mỏ vốn đã nghe đồn về Mặt trận Việt Minh, ai cũng ngóng chờ một sự đổi đời. Họ đã cảm thấy chuyện gì đang xảy ra từ lúc nghe tiếng còi tàu hoả rúc bất thường, tiếng vó ngựa phi rầm rập. Lúc này vừa dứt tiếng loa, mọi gia đình đều lục tục kéo đến.

        Đồng chí Cát Lượng đứng trên chiếc bàn giữa bãi trống, cất giọng trầm vang chào đồng bào, chào anh chị em cùng giai cấp cần lao...

        Mấy trăm lồng ngực nén thở lặng đi, lần đầu tiên được nghe gọi mình là đồng bào. Tất cả đều ngước mắt chằm chằm vào gương mặt vuông vức của người đang nói rành rọt tội ác đế quốc Pháp, sự tàn bạo đến man rợ của phát xít Nhật... Ai cũng nuốt từng lời cách mạng kêu gọi đồng bào đứng lên ủng hộ Việt Minh đánh đuổi Nhật, giành độc lập tự do, mọi người đều bình đẳng thoát cuộc đời trâu ngựa, hết cảnh giàu nghèo khác biệt... Không còn các quan, các thầy lý, thầy chánh ăn cắp, ăn cướp, hà hiếp dân nữa.

        Trong đám đông bật lên tiếng hít hà:

        - Ôi! nghe mới sướng làm sao! Thật thế thì có chết cho cách mạng cũng không hận...".

        Nhưng đây đó cũng thảng thốt.

        - Giờ nói tốt vậy, biết đâu sau này?...". '

        - Sức vậy mà đánh đuổi Nhật được ư...".

        Tôi thì chẳng hoài nghi gì. Có lẽ tôi còn ngây thơ dễ sùng tín như ngày ở trường thắc thỏm nghe bốn tiếng "Quốc tế đệ tam" đã mừng run. Cũng có lẽ tôi vẫn nhớ câu “vận hội" của cha tôi với lời "sấm truyền"... Lẽ nào tôi vẫn tin, vì tôi đã mang trong mình lúc lên đường ngày sinh của mẹ cho. Bất giác tôi ngoảnh nhìn khẩu súng đeo vai vừa được phát và cười với mình "lại đúng năm Dậu nữa chứ?" (Tôi sinh năm 1921, Tân Dậu. Tôi thoát ly năm 1945 Ất Dậu.)


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:18:12 PM

ĐÊM CHUẨN BỊ CHO TỔNG KHỞI NGHĨA

DU PHONG         

        Ông Ké? Ông Ké đến? Ba nữ dân quân Tân Trào reo lên trong lúc chúng tôi đang say sưa cưa đục làm bàn ghế bằng tre, nứa và trang trí đình Tân Trào làm địa điểm họp Đại hội Quốc dân Đại biểu toàn quốc mà anh Văn giao nhiệm vụ cho tôi được phụ trách gồm: gian phải đình làm phòng họp, gian trái làm phòng ăn, uống nước; bệ cuối gian giữa dùng triển lãm, dựng thêm một gian bếp bằng tre nứa cạnh đình phía trái làm nơi đun nấu.

        Ông Ké bước vào đình, đi sau là anh Văn, lúc này khoảng 4 giờ chiều ngày 13 tháng 8 năm 1945. Sau khi đi xem một lượt, ông Ké dừng lại phòng họp nói: "Các cô chú dự kiến mấy người trong Chủ tịch đoàn? Ba thì rộng, năm thì chật, nên dùng một đoạn bương dài đẫy gian (chiều ngang) thì ba hay bảy ngồi vẫn thoải mái". Ông Ké sang phòng ăn nhắc nên bỏ hết ghế cho rộng, cần bàn thì đứng ăn hay uống đều tốt. Đến bệ bày triển lãm ông Ké lại chỉ dẫn: "Nên sắp xếp lại sách báo và vũ khí lấy được của địch theo từng chiến khu”.

        Thấy ông Ké đang ốm vẫn lo việc chuẩn bị nơi họp Đại hội, chúng tôi cũng bảo nhau làm cho tốt, cho nhanh. Ông Ké ngồi cạnh sàn đình trao đổi với anh Văn, luôn nở nụ cười tươi sáng, chúng tôi thầm đoán với nhau: đang có việc gì mới tốt đẹp lắm đấy.

        Một nữ dân quân nhanh tay lấy dao phạt khúc nứa ngộ tươi đổ nước vào, vò nắm lá vối vừa hái trên cây, bên bờ suối trước cửa đình đưa vào bếp, thoáng cái đã có bát nước vối nóng bưng lên đình mời ông Ké và anh Văn. Thấy ông Ké cầm bát nước vối nóng uống một hơi, chúng tôi cảm nhận như được ấm lòng vì thấy Cụ bớt mệt.

        Anh Văn quay lại hỏi tôi: Du Phong có muốn về Hà Nội không? Tôi xúc động mừng quá, chỉ kịp thưa: Có ạ? Thế Du Phong chuẩn bị về ngay.

        Tôi liền bàn giao những việc còn lại cho các nữ dân quân Tân Trào, tôi đưa ông Tô-mát về trường và mời anh Quang Trung về ngay gặp anh Văn. Cùng lúc hai đồng chí dân quân đã đến mời Cụ về lán. Cụ ngồi lên chiếc ghế có tựa lưng, dưới mặt ghế buộc hai ống tre đủ dài để khiêng.

        Cho đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại, tôi cũng tự hào được vinh dự có mặt phục vụ trong lúc ông Ké đang ốm. ông Ké làm việc với anh Văn chỉ trong 20 - 30 phút tại đình Tân Trào để anh Văn chủ trì triển khai kế hoạch cho Tổng khởi nghĩa. Đêm hôm đó có thêm anh Trần Huy Liệu cùng làm việc với anh Văn.

        Tôi đánh máy từ đấy cho đến sáng, một đêm thức trắng vẫn tỉnh táo. Anh Văn và đồng chí Trần Huy Liệu soạn thảo đến đâu, báo cáo ông Ké thông qua, là đánh máy liền thành nhiều tập để phân phát cho các địa phương trong toàn quốc như Mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa, Quân lệnh số 1... (những bản này vẫn trưng bày ở Bảo tàng Cách mạng) .

        Khoảng 3 giờ sáng ngày 14 tháng 8 năm 1945 anh Văn báo cho tôi là được đi theo làm Thư ký Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc mà anh là Chủ tịch. Tôi mừng quá nắm chặt tay anh Văn hỏi lại: "Anh ạ, bản đồ mang theo là những đâu?".

        Anh Văn cười nói: "Cứ sang cùng chị Chi (đồng chí Minh Châu) đang soạn từ Tân Trào về thị xã Thái Nguyên, về Hà Nội, vào Huế, Sài gòn, đến Cà Mau theo đường quốc lộ".

        Thế là tôi lưng đeo máy chữ, tập bản đồ, tay sách cặp tài liệu của anh Văn đứng trong hàng ngũ đoàn Giải phóng quân dự lễ xuất phát từ cây đa Tân Trào. Tôi được đồng chí Lý trao cho khẩu súng lục, nhận lại khẩu súng trường mà tôi vẫn giữ gìn để đứng gác hàng đêm ở cơ quan tại Tân Trào. Cùng lúc tôi được kiêm nhiệm giúp việc anh Lâm, anh Quang Trung về Văn phòng kế hoạch tham mưu.

        Thế là chúng tôi được tiến quân về giải phóng thị xã Thái Nguyên.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:19:12 PM

QUÂN GIẢI PHÓNG TIẾN VỀ THỦ ĐÔ HÀ NỘI

TRẦN CƯ         

        Gần đây, nghiên cứu thêm nhiều bài viết mà các tác giả Pháp, Mỹ, Trung Quốc ghi lại những tấm lòng của Bác Hồ gặp gỡ các sĩ quan và tổ chức Mỹ ở Trung Quốc trước Cách mạng tháng Tám, chúng tôi thấy nổi lên rất rõ sự lãnh đạo tài tình của Bác Hồ lúc bấy giờ về sách lược tranh thủ các lực lượng Đồng Minh để ủng hộ Việt Minh, đặc biệt là Mỹ, nhằm giúp cho Cách mạng tháng Tám giành thắng lợi nhanh chóng.

        Tình hình vắn tắt những ngày đầu tháng 8 năm 1945 là cả hai lực lượng Đồng Minh được phân công vào giải giáp quân Nhật đã đầu hàng ở Việt Nam (phía Bắc vĩ tuyến 16 là quân Tưởng, phía Nam là quân Anh) đều đến Hà Nội chậm và rất cay cú vì Việt Minh đã nhanh tay làm Cách mạng tháng Tám, làm chủ Hà Nội mất rồi.

        Như vậy là Việt Minh đã cùng toàn thể nhân dân Việt Nam thực hiện xuất sắc nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng (họp ở Tân Trào ngày 13 - 15 tháng 8 năm 1945) chủ trương: Lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy tước vũ khí Nhật trước khi quân Đồng Minh vào Đông Dương giành lấy chính quyền từ tay Nhật, lật đổ bọn bù nhìn tay sai Nhật; đứng địa vị cầm quyền mà tiếp đón quân Đồng Minh vào giải ngũ quân Nhật trên đất Đông Dương".

        Để tìm hiểu vấn đề này, tôi đã gặp nói chuyện với đồng chí Đàm Quang Trung - người chỉ huy bộ đội Việt - Mỹ lúc bấy giờ.

        Sau đây là những điểm chính trong cuộc chuyện trò giữa chúng tôi về vấn đề ấy. Tôi hỏi:

        - Xin anh cho biết nguồn gốc của bộ đội Việt - Mỹ có từ bao giờ và đã hoạt động như thế nào ở chiến khu trước khi về Hà Nội.

        Đồng chí Quang Trung nói:

        - Do Bác Hồ đã bàn với tướng không quân Mỹ là Sen-nô ở Côn Minh trước đó ít lâu về việc Việt Minh và Mỹ sẽ giúp nhau trong công cuộc chống phát xít Nhật ở Việt Nam, Mỹ sẽ cho một số chuyên viên nhảy dù xuống chiến khu của ta. Tôi được lệnh chuẩn bị đón tiếp vào ngày 16 tháng 7 năm 1945. Địa điểm nhảy dù được chọn là một triền ruộng phẳng ngay xế cây đa Tân Trào lịch sử, cách độ 200 mét về phía Đông Nam. Trên một thửa ruộng có căng một chiếc dù đỏ để làm đích nhảy, anh Lê Giản còn hướng dẫn chúng tôi cả nghi thức đón tiếp cho long trọng. Đặc biệt, anh dạy chúng tôi hô cả mấy câu: "Híp, híp, hu-ra...aaa!" cho thật hùng dũng. Đơn vị tôi dàn thành hàng ngang để đón tiếp.

        Đến hơn 14 giờ, một chiếc máy bay xuất hiện lượn quanh cây đa một vòng và sáu cái dù tung ra lơ lửng rơi xuống. Có ba cái vướng vào cành đa. ĐÓ là Tô-mát với hai anh lính Mỹ bị treo lủng lẳng trên cành đa. Chúng tôi ra giúp cho họ xuống. Có một dù rơi trúng cánh đồng căng dù đỏ. Anh ta nhanh nhẹn cởi bỏ dù, rút luôn hai khẩu súng lục lăm lăm cầm tay, rồi tiến về phía chúng tôi.

        - Hip, hip, hu...ra...a! Hip, hip hu...ra...a!

        Nghe tiếng hô, anh ta liền cất súng vào bao rồi tiến về phía chỗ đồng chí Định đứng ở mãi đầu hàng quân, chứ không đi về phía ban chỉ huy đứng nghênh tiếp. Rồi anh ta bắt tay đồng chí Định. Tôi nghĩ bụng: "Thằng này láo, chẳng theo nghi thức gì cả?".

        Sau buổi tiếp đón, đồng chí Định báo cáo ngay rằng hắn không phải là người Mỹ, mà là người Pháp, tên hắn là Mông-pho, quan một, đại đội phó đại đội 7 ở Cao Bằng, đơn vị cũ của Định hồi anh mang lon cai dưới quyền hắn. Mông-pho là một tên thực dân cáo già, nói sõi tiếng Việt, cả tiếng Tàu, lại biết ăn cả mắm tôm nữa đấy. Đi theo Mông-pho còn có hai người Việt. Xuống đây hắn bất ngờ gặp Định, nên tranh thủ anh, phải chăng hắn định lợi dụng tình thầy trò cũ để giữ bí mật tung tích cho hắn?

        Tôi vội ngắt:

        - Thế thì gay! Ta hẹn hợp tác với Mỹ để cùng giúp nhau đánh phát xít Nhật, chứ có hợp tác với thực dân Pháp đâu mà họ lại cho nhảy dù cả tây Mông-pho xuống ngay căn cứ địa bí mật của mình. Địa điểm Tân Trào này là theo lệnh Bác mới chọn, vừa mới dọn từ Pác Bó về chưa được bao lâu để tiện sự chỉ đạo phong trào trong nước và liên lạc với ngoài nước. Nếu lộ thì...

        - Đúng thế, cho nên khi phát hiện ra Mông-pho ta đã yêu cầu phía Mỹ trả ngay họ về Trung Quốc.

        Đồng chí Quang Trung kể tiếp:

        - Sau lễ đón tiếp, Tô-mát được dẫn lên chào Bác Hồ. Từ đó Tô-mát nhận việc huấn luyện cho đơn vị. Tô-mát người cao lớn, chừng trên dưới 30 tuổi, có hiểu biết cơ bản về công tác tham mưu và làm công tác này giỏi. Anh tự coi là tham mưu của đơn vị. Cách làm việc của anh là thảo đề án, làm tờ trình, nếu tôi đồng ý, thì ký vào để thực hiện. Anh không ra lệnh gì hết, mà đều tôn trọng lệnh của tôi, người chỉ huy đơn vị. Hồi đó, tôi còn rất trẻ, kém anh ta đến ba, bốn tuổi.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:19:31 PM

        Tô-mát huấn luyện cho anh em đơn vị sử dụng các loại súng côn-bát, tôm-sơn, các-bin, ba-dô-ca... Người phiên dịch là anh Thái Bạch. Nhưng vì anh Bạch không có chuyên môn về vũ khí, cho nên gặp khó khăn, anh đã nhờ tôi giúp vì tôi đã tốt nghiệp môn này tại lớp lục quân bổ túc trường Tây Ban Cán ở Trung Quốc trước đây.

        Lớp học được gần một tháng thì tôi được giao nhiệm vụ hành quân lên Bắc Cạn, vắng độ mười ngày.

        Nhưng tình hình cách mạng phát triển dồn dập, khẩn trương. Chúng tôi được lệnh luồn về Thái Nguyên. Kế hoạch đánh thị xã được vạch ra tóm tắt như sau: bao vây, gọi hàng, buộc địch trao chính quyền cho Việt Minh.

        Anh Đàm Quang Trung kể tiếp về việc Quân giải phóng tiến về Hà Nội trong những ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945:

        - Bao vây đến ngày thứ tư thì anh Văn về Hà Nội. Anh cũng chẳng kịp bàn giao gì cho tôi chỉ viết mấy chữ để lại, bảo rằng tôi sẽ là phụ trách quân sự cao nhất ở đây. Anh đặc biệt dặn làm mấy việc:

        Một là lấy ra một trung đội Quân giải phóng tin cẩn, trở lại Tân Trào đón Bác về xuôi. Anh dặn kỹ: Bác đang ốm mệt, phải chuẩn bị sẵn cả cáng để Bác dùng nếu cần. Đưa Bác về xuôi thì sẽ cho ô tô lên đón.

        Tôi giao việc đó cho anh Mã Thành Kính.

        Hai là để lại một đại đội tiếp tục bao vây thị xã Thái Nguyên. Việc này giao cho anh Lê Trung Đình.

        Anh còn dặn tôi trên đường hành quân, nhớ tránh khiêu khích đụng độ với quân Nhật. Sau đó, tôi chỉ huy tất cả bộ đội kéo về Hà Nội. Ở Hà Nội, ta đã giành được chính quyền từ ngày 19 tháng 8 năm 1945.

        Hôm sau, có nữ đồng chí đi xe đạp lên đón. Đó là chị Liên cán bộ của Vĩnh Phú.

        Chúng tôi về đến Gia Lâm thì mấy lính Nhật gác cầu Long Biên không cho qua. Bộ đội nghỉ tạm tại huyện Gia Lâm. Tôi tách ra về Hà Nội trước tìm gặp anh Văn ở Bắc Bộ phủ. Ở đó tôi còn gặp cả các anh Nguyễn Khang, Nguyễn Quyết và Vương Thừa Vũ.

        Anh Quyết thấy tôi trang bị toàn đồ Mỹ, nào côn-bát, poa-nha, ống nhòm, đèn pin, mũ cát... bèn reo lên:

        - Ôi! Oách quá! Thế tất cả anh em ở chiến khu đều ăn mặc như cậu à?

        - Đâu có? Chỉ có một số ít thế này thôi!

        Các anh cho biết quân Nhật yêu cầu quân ta vào Hà Nội phải mặc đồng phục thống nhất, để phân biệt với "quân phiến loạn" 

        Thế là có người phản đối:

        - Quân cách mạng có gì mặc nấy, không hình thức! Chỉ cốt không gây sự với nó để nó cút về cho sớm thôi.

        - Đồng phục tất cả à? Lấy đâu ra?

        Có anh góp ý:

        - Ta mới chiếm trại bảo an. Đề nghị anh Quyết ra lệnh lấy quần áo đồng phục trong kho bảo an binh cho anh em mặc tạm.

        Thế là lập tức hơn năm trăm bộ quần áo, cả giày, mũ, bít tất được chở ngay sang Gia Lâm, phát cho Quân giải phóng. Cứ giao thế, chẳng cần giấy tờ sổ sách gì hết.

        Khi nhận quân trang vẫn có người lên tiếng:

        - Quân cách mạng có gì mặc nấy, lại càng không nên mặc quần áo lính khố xanh.

        Tôi phải đả thông.

        - Quân chính quy nước nào cũng phải mặc đồng phục. Nay cách mạng còn nghèo, ta chưa may được thì chiếm của địch dùng tạm vậy. Vậy bất kể khố xanh, khố đỏ, khố vàng, quần áo của nó có cái gì không hợp thì cắt đi. Quân cách mạng lấy tinh thần làm chính.

        Vậy là anh em tạm đồng ý!

        Riêng món giày xăng-đá cũng có một lời khuyên: phải để anh em chọn giày cho vừa chân, phải đi cả bít tất kẻo nó cọ vào, sưng chân, đau lắm.

        Quả vậy. Chỉ hôm sau, nhiều cậu chân to như bàn cuốc cả đời đi đất có được xỏ chân giày dép bao giờ đâu, cho nên lộp cộp được một buổi là khập khiễng, phải cởi ra, vứt xó!

        Lại có ý kiến sẽ cho cả đội kèn quân nhạc, do đồng chí “Quản" Liên mới lập, sang tận Gia Lâm đón bộ đội. Tôi nghĩ bụng. Nó có phải là kèn "mu-dích" không? Cái món đấy chúng mình có nghe bao giờ mà đón! Mới lại hình như còn phải tập mới đi đều theo kèn được chứ? Có lẽ cũng nên thôi? 

        Quân Nhật cứ nhùng nhằng mãi, rồi mới đồng ý là chiều tối để cho Quân giải phóng vào Hà Nội.

        Tôi hỏi:

        - Tại sao lại chiều tối?

        Có lẽ để hạn chế người đi xem bớt tưng bừng long trọng đi? Nhưng trước hết phải cảnh giác, đề phòng chúng trở mặt đánh úp bất thần.

        Cho nên chúng tôi không để bộ đội xếp hàng ba đi ở giữa đường cái, mà đi thành hai hàng, dọc theo hai bên lề dường, súng đeo vai mà không vác, đạn đã vào ổ nhưng chưa lên nòng.

        Đoàn Quân giải phóng, kèm theo danh hiệu bộ đội Việt - Mỹ đã tiến về thủ đô Hà Nội trong bối cảnh như thế đó.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:20:30 PM
         
GIẢI PHÓNG HÀ GIANG

HOÀNG LÊ DÂN        

        Tình hình Hà Giang những ngày đầu và chủ trương của Đảng sau cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám

        Sự kiện giải phóng tỉnh Hà Giang là cả một quá trình đấu tranh đầy mưu trí của quân và dân ta trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của thời kỳ Cách mạng tháng Tám. Sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh, các đội vũ trang của ta ở Tuyên Quang, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đã nhạy bén nắm thời cơ vũ trang khởi nghĩa, nổ súng đánh thị xã Tuyên Quang ngày 17 tháng 8 năm 1945, làm chủ hầu hết các vị trí, như trại lính Nhật trên núi Thổ Sơn ở giữa lòng thị xã. Ở đây, quân Nhật chống cự quyết liệt, không chịu giao súng. Cuộc Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 ở Hà Nội thắng lợi rực rỡ đã tạo điều kiện khách quan cho cuộc vũ trang khởi nghĩa ở các địa phương. Ngày 21 tháng 8 năm 1945, quân Nhật giao lại toàn bộ súng đạn của Pháp cho ta và rút quân về Hà Nội. Lần đầu tiên sau trên sáu thập kỷ bị đế quốc Pháp rồi phát xít Nhật thống trị, đất Tuyên Quang sạch bóng quân thù.

        Trong khi đó, ở Hà Giang, một tỉnh ở miền núi phía Bắc tỉnh Tuyên Quang, do chưa có cơ sở quần chúng mạnh và chưa có lực lượng vũ trang, địa phương đã bỏ lỡ thời cơ không giải phóng được thị xã Hà Giang.

        Cuối tháng 9 năm 1945, quân đoàn 52 của Tưởng Giới Thạch do Triệu Công Vũ, quân đoàn trưởng chỉ huy, nhân danh Đồng Minh, tiến vào miền Bắc Việt Nam giải giáp quân đội Nhật. Bọn Việt Nam Quốc dân đảng phản động tay sai của Tàu Tưởng do Hoàng Quốc Chính, ủy viên Trung ương Việt Nam Quốc dân đảng cầm đầu bám gót vào theo quân đoàn 52.

        Dựa vào thế lực Tàu Tưởng, bọn Hoàng Quốc Chính lôi kéo sử dụng nhiều người cầm đầu các cơ quan của chính quyền bù nhìn thân Nhật, tổ chức ngụy quyền tỉnh Hà Giang. Chúng ra sức tuyên truyền cho cái gọi là "Cương lĩnh cách mạng quốc gia" giả hiệu của chúng, đề cao chúng là những "nhà ái quốc" hải ngoại về “giành độc lập", "giải phóng dân tộc" để lừa bịp và lôi kéo đồng bào ta. Chúng bày ra các trò "dựng cờ Nam tiến", "lễ tế cờ" và mít tinh" ủng hộ chúng. Chúng lập ra "thanh niên chiến đấu đội", mở "quán thanh niên", "hội chợ" do Vũ Quang Phẩm, xứ ủy viên Việt Nam Quốc dân đảng phụ trách, để lôi kéo thanh niên phục vụ ý đồ chính trị của chúng.

        Về quân sự, bọn Hoàng Quốc Chính tập hợp những tên lưu manh, côn đồ, du đãng, một số thanh niên thích phiêu lưu mạo hiểm và những dân nghèo thất nghiệp, tổ chức thành một đội quân khoảng 200 người do Bùi Nguyên Phách trung tá tham mưu trưởng chỉ huy.

        Ngoài lực lượng vũ trang của Hoàng Quốc Chính chiếm giữ thị xã Hà Giang, các huyện Vị Xuyên, Bắc Mê, một phần huyện Bắc Quang và Quản Bạ, còn có nhiều loại lực lượng vũ trang khác hoạt động theo kiểu thổ phỉ ở tỉnh Hà Giang. Ở Đồng Văn, có thổ ty Vương Chí Sình (Tên chữ Hán - Việt là Vương Chí Thành, ta quen gọi là Vương Chí Sình. Ở địa phương. người Hoa gọi là Woòng Chấy Sình.) đứng đầu người dân tộc Mông, có một lực lượng vũ trang lợi hại quen đánh ở rừng núi. Vương Chí Sình được Triệu Công Vũ, quân đoàn trưởng quân đoàn 52 phong cho chức Hà Giang đốc biện khu xứ sư trưởng với quân hàm trung tá. Đó là hai lực lượng vũ trang đáng kể nhất.

        Ngoài ra, bọn Việt cách lưu vong, do hai người là Bùi Thế Cường và Hoàng Xuân Long cầm đầu, từ Trung Quốc về cấu kết với thổ ty Dương Trung Nhân, quấy rối vùng này. Bọn Việt cách lưu vong sau cũng hợp tác với bọn Việt quốc Hoàng Quốc Chính.

        Ở Đồng Văn, lại thêm 500 quân của Vũ Phụng Tường cấu kết với thổ ty Nguyễn Châu cướp bóc dân chúng.

        Tại Niên Sơn, Mèo Vạc, có bọn biệt động quân của Trương Phát Khuê do Mã Duy Nhạc cầm đầu và gần 200 thổ phỉ của tướng phỉ Lầu Pát Dì từ Trung Quốc tràn sang quấy rối vùng biên giới ta.

        Tình hình ở vùng biên giới này vô cùng phức tạp. Chưa bao giờ ở cái tỉnh miền núi nhỏ bé này lại có nhiều lực lượng vũ trang cả nước ngoài lẫn trong nước, tung hoành tự do đến thế. Nhân dân lầm than khổ cực trăm bề, nghèo đói thiếu ăn. Bệnh tật, mù chữ và mê tín dị đoan đè nặng lên cuộc sống người dân. Nhân dân còn phải cung cấp lương thực thực phẩm cho cái đội quân Tàu Tưởng, còn bị thổ phỉ cướp bóc nhũng nhiễu; bị bọn Việt quốc trắng trợn tước đoạt bạc hoa xoè, vải vóc, các tấm da thuộc, bắt may quần áo, đóng giày không công cho lực lượng vũ trang của chúng.

        Không những thế, bọn Việt quốc còn ngăn cấm dân tự do đi lại, buôn bán, làm ăn, cắt đứt liên hệ kinh tế với vùng Chính phủ ta quản lý. Do đó, nhân dân bị lạc hậu với thời cuộc, chưa hiểu rõ Mặt trận Việt Minh và Chính phủ ta.

        Cơ sở cách mạng còn ít và chậm phát triển. Toàn tỉnh chưa hình thành đảng bộ, chưa có tỉnh ủy. Ở tỉnh, chỉ có hai vùng có cơ sở cách mạng là Bắc Mê ở phía Bắc tỉnh và Bắc Quang ở phía Nam, nhưng cả hai nơi này chưa có liên lạc với nhau. Ở Bắc Mê, có đồng chí Việt Hưng là cán bộ địa phương phụ trách xây dựng cơ sở.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:20:53 PM

        Ở Bắc Quang, có một trung đội vũ trang do đồng chí Lê Quảng Ba đưa từ tỉnh Cao Bằng sang gây dựng cơ sở hồi tháng 6 năm 1945. Đơn vị này, do đồng chí Nam Long làm trung đội trưởng, đồng chí Bế Triều làm chính trị viên, đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng ở tổng Bằng Hành - Cố Đạo và thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng tổng từ trước ngày Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 ít lâu. (Sở dĩ chỉ có mấy tháng mà phong trào quần chúng ở tổng Bằng Hành - Cố Đạo phát triển nhanh như vậy là vì ở đây đã có cơ sở cách mạng rộng rãi từ năm 1936 do đồng chí Phạm Trung Ngu, đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương xây dựng. Do bị lộ ở Hòa An, đồng chí được Tỉnh uỷ Cao Bằng phái đi theo hướng Bắc Cạn, Hà Giang, Tuyên Quang gây cơ sở với danh nghĩa công khai là người đi dạy học. Bọn tổng lý lại dùng đồng chí làm thư ký giúp việc sổ sách và được tin cậy. Đồng chí hoạt động được hơn một năm thì bị lộ phải rút về Cao Bằng.)

        Việc giải phóng Hà Giang nằm trong bối cảnh lịch sử và so sánh lực lượng địch - ta cụ thể như vậy. Trung ương giao cho Liên tỉnh Hà - Tuyên - Thái (Gồm ba tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên hồi ấy.) và đồng chí Song Hào - Xứ ủy viên kiêm Bí thư chiến khu Nguyễn Huệ (Trong thời kỳ ấy, đã có nghị quyết thảnh lập khu giải phóng gồm sáu tỉnh Cao Bằng. Bắc Cạn, Lạng Sơn. Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, song cấp dưới chưa kịp thực hiện. Do đó, thực tế vẫn tồn tại chiến khu Nguyễn Huệ ở tả ngạn sông Cầu và chiến khu Trần Hưng Đạo ở hữu ngạn sông Cầu.) trực tiếp chỉ đạo việc giải phóng Hà Giang.

        Trên còn tăng cường cho hai cán bộ. Các đồng chí Thanh Phong khi ấy là Hiệu trưởng Trường Quân chính kháng Nhật khóa II, đồng chí Mai Trung Lâm và đồng chí Mã Thành Kính - giáo viên được trên cử sang Tuyên Quang nhận nhiệm vụ: trực tiếp chỉ huy việc giải phóng tỉnh Hà Giang. Anh Thanh Phong phụ trách chung, anh Mai Trung Lâm là Chỉ huy phó ở tại Trường Canh Nông ở thị xã Tuyên Quang, đã gặp được các đồng chí Song Hào, Tạ Xuân Thu là hai đồng chí phụ trách liên tỉnh Hà - Tuyên - Thái cùng đồng chí Nguyễn Công Bình tức Chì - Phó bí thư tỉnh ủy Tuyên Quang kiêm Chủ tịch tỉnh, đồng chí Nguyễn Công Thành - Thường vụ tỉnh ủy kiêm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh.

        Trong cuộc gặp mặt đầu tiên này, đồng chí Song Hào thông báo tình hình cho các anh em mới đến: Tuyên Quang nổ súng khởi nghĩa từ sáng 17 tháng 8 và ngày 21 tháng 8 được giải phóng. Các ủy ban hành chính xã, huyện và tỉnh đã được thành lập. Nhân dân rất phấn khởi, nhiệt liệt ủng hộ Việt Minh và chính quyền cách mạng. Song bọn Việt Nam Quốc dân đảng, dựa vào Tàu Tưởng, đã chiếm hai tỉnh lỵ Yên Bái và Hà Giang uy hiếp Tuyên Quang từ hai hướng. Trung ương đã giao nhiệm vụ cho Liên tỉnh chỉ đạo và hỗ trợ việc giải phóng Hà Giang, song tỉnh hiện đang thiếu rất nhiều cán bộ, cần phải cấp tốc mở lớp đào tạo ngắn hạn.

        Lớp học mở mới được một tuần thì có tin hoả tốc báo bọn Việt quốc từ châu lỵ Bắc Quang đã chiếm đóng các xã Chính Tường, Ngô Khê, Vĩnh Tuy và đang xuống làng Hè Giáp huyện Bắc Mục. Bộ đội ta không chặn được chúng vì không đủ lực lượng. Ban chỉ đạo Liên tỉnh quyết định điều hai đồng chí Thanh Phong và Mai Trung Lâm cấp tốc lên ngay với trung đội vũ trang đang hoạt động ở tổng Bằng Hành - Cố Đạo để trực tiếp đối phó và giao lớp học lại cho đồng chí Mã Thành Kính phụ trách.

        Việc giải phóng tỉnh Hà Giang sẽ là một quá trình đầy khó khăn. Hiện nay, quân Tàu Tưởng đang đóng tại thị xã, nếu lực lượng vũ trang ta tiến công bọn Hoàng Quốc Chính ở thị xã, bọn Tàu Tưởng không thể không bảo vệ bọn tay sai. Chúng sẽ lu loa "Việt Minh chống lại quân đội Đồng Minh" và vin cớ đó đàn áp. Nhưng ngoài thị xã ra, ở những nơi không có quân Tưởng đóng, ta phải chiếm lại những điểm mà bọn Việt quốc đã lấn chiếm, không để chúng phát triển rộng ra.

        Nhiệm vụ trước mắt trên giao là đánh chiếm lại châu Bắc Quang, rồi châu Hoàng Su Phì; sau đó phát triển phong trào, áp sát và bao vây bọn Việt quốc trong thị xã. Đồng chí Thanh Phong đề nghị đồng chí Song Hào cử anh Chu Phóng, một cán bộ của đội Cứu quốc quân đã tham gia cướp chính quyền ở thị xã Tuyên Quang đi theo và tăng cường cho mặt trận Hà Giang một trung đội vũ trang đầy đủ vũ khí do đồng chí Chu Thái Long, vừa tốt nghiệp Trường Quân chính kháng Nhật khóa I về làm trung đội trưởng.

        Như vậy, lực lượng tham gia giải phóng tỉnh Hà Giang chỉ vẻn vẹn có hai cán bộ trực tiếp chỉ đạo và hơn hai trung đội vũ trang được thành lập và hoạt động trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám một thời gian ngắn. 


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:22:31 PM

        Giải phóng châu Bắc Quang

        Căn cứ vào thực tế diễn biến của cuộc đấu tranh nhằm giải phóng tỉnh Hà Giang, có thể thấy rõ đó là một quá trình gồm hai giai đoạn.

        Giai đoạn thứ nhất đã diễn biến như sau: sau khi trung đội của Chu Thái Long hành quân lên tổng Bằng Hành - Cố Đạo tập trung với trung đội của Hà Lĩnh Thành, có một cuộc họp tại doanh trại ở Thác Vệ, nơi có trụ sở của Uỷ ban dân tộc giải phóng tổng. (Sau khi đưa bộ đội đến tổng Bằng Hành - Cố Đạo. đồng chí Lê Quảng Ba lại về Cao Bằng ngay và ít ngày sau đồng chí Nam Long - Trung đội trưởng được lệnh trên đi nhận công tác khác, đồng chí Hà Lĩnh Thành lên thay.)

        Ngoài các anh Thanh Phong, Mai Trung Lâm và Chu Phóng còn có Trần Thiên Tân và Chu Đức Tung - hai cán bộ dân vận cùng các trung đội trưởng. Cuộc họp đầu tiên này quyết định hai vấn đề lớn: thành lập Uỷ ban hành chính châu Bắc Quang để khi giải phóng được châu lỵ, có bộ máy hành chính hoạt động ngay và đánh chiếm đồn Bắc Quang, giải phóng thị trấn Bắc Quang.

        Hội nghị phân công đồng chí Thanh Phong ngoài trách nhiệm chỉ huy chung, lo việc lựa chọn người để đưa vào ủy ban châu, mở lớp đào tạo cán bộ và chỉ đạo việc phát triển cơ sở. Đồng chí Mai Trung Lâm phụ trách về quân sự; giúp việc có anh Trần Thiên Tân - một cán bộ rất thông thạo địa hình và dân tình.

        Nhiệm vụ quân sự trước mắt là đánh chiếm đồn Bắc Quang và thị trấn Bắc Quang. Lực lượng có hai trung đội trừ một tiểu đội ở lại Thác Vệ bảo vệ cơ quan. Giữa hai đồng chí chỉ huy, có quy ước hễ hành quân đến đâu thấy địch sơ hở có thể đánh thắng thì chủ động đánh để dần dần bao vây cô lập châu lỵ, mở rộng địa bàn xây dựng cơ sở.

        Châu lỵ Bắc Quang, trung tâm hành chính quân sự của châu là một thị trấn nhỏ.

        Quân đoàn 52 của Tưởng Giới Thạch từ thị xã Hà Giang đi qua châu để về Hà Nội. Trung đội của ta giữ châu lỵ phải rút ra ngoài đề phòng quân Tưởng tước vũ khí. Bọn Việt quốc bám gót quân Tàu chiếm châu lỵ. Chúng đổi tên châu là huyện và cử tri châu cũ là Bế Cao Bảo làm huyện trưởng.

        Về quân sự, chúng cử một quản khố đỏ tên là Xiêm chỉ huy quân sự toàn châu, trực tiếp làm đồn trưởng và phong cho y làm thiếu tá. Binh lính thường gọi y là Tư Xiêm. Bên cạnh đó, bọn Việt quốc cử một đảng viên tên là Hành làm chủ nhiệm chính trị, chỉ đạo chung cả bộ máy hành chính và quân sự. Lực lượng vũ trang của địch ở châu có khoảng một tiểu đoàn kể cả số quân giữ đồn. Giữa châu lỵ Bắc Quang và thị xã Hà Giang có một trạm liên lạc; binh lính Quốc dân đảng từ thị xã xuống hoặc từ châu lỵ lên đều nghỉ đêm ở đó. Trạm có một máy điện thoại và bảy, tám lính người địa phương canh giữ. Đồn binh ở châu lỵ Bắc Quang xây dựng từ thời Pháp có tên gọi là đồn Đại Lý. (Thực dân Pháp gọi đồn Bắc Quang là Poste délégué.)

        Đồn này ở trên bờ ngòi Quang là một đồn kiên cố, có tường dày, hoả lực nhiều, quân đông. Đối với trình độ bộ đội ta hồi ấy - một bộ đội hoàn toàn du kích, binh lực sử dụng chỉ có gần hai trung đội trang bị kém, ít kinh nghiệm chiến đấu nên đánh đồn bốt và thị trấn Bắc Quang quả là trên sức mình, so sánh lực lượng không cho phép dùng quân sự trực diện tiến công đồn.

        Do đó, kế hoạch giải phóng châu lỵ Bắc Quang được đặt ra là: trước hết chiếm trạm làng Vạt để chặn quân địch từ thị xã Hà Giang xuống; tiếp đó, bí mật đột nhập chiếm lô cốt đầu phố, chiếm lĩnh thị trấn và bao vây đồn; thuyết phục tri huyện Bế Cao Bảo sang đồn mời bọn chỉ huy sang để thuyết phục họ quy thuận theo Chính phủ. Nếu họ không chịu quy thuận thì bắt giữ người của họ làm con tin và bao vây chặt, triệt lương, buộc họ đầu hàng

        Kết quả ta chiếm được trạm làng Vạt, lô cốt đầu phố, bao vây đồn, nhưng tên Bế Cao Bảo lại lánh mặt, một thương gia người Việt ta định nhờ làm môi giới cũng đi vắng. Sau ta phải nhờ người Hoa ở phố đứng làm trung gian mời bọn Xiêm, Hành sang cửa hiệu Diệp Phúc Ký của người Hoa này để gặp cán bộ ta.

        Nhưng lịch sử lại có những ngẫu nhiên khiến kế hoạch "dụ hàng kết hợp với áp lực quân sự" lại trở thành một cuộc đàm phán không có ý định trước giữa ta và bọn Việt quốc chỉ huy đồn. Số là trong cuộc tiếp xúc với nhà buôn người Hoa, anh Trần Thiên Tân bỗng nhiên giới thiệu đồng chí Mai Trung Lâm là "đại diện Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà". Trần Thiên Tân vốn là một bang tá thời trước đi theo cách mạng, quen biết nhiều nhân vật có tiếng tăm ở địa phương nên lời giới thiệu của anh được nhà buôn Diệp Phúc Ký tin ngay. Thế là từ đó, đồng chí Mai Trung Lâm mặc nhiên hoạt động với danh nghĩa "đại diện Chính phủ”.

        Cuộc đàm phán đưa tới kết quả giữ nguyên hiện trạng, quân đội hai bên không đánh lẫn nhau, binh lính Quốc dân đảng sang thị trấn chơi hay mua bán không được mang vũ khí, chỉ huy đồn báo cáo lên cấp trên của họ về đề nghị "đoàn kết thống nhất chính quyền và quân đội" mà cán bộ ta nêu lên.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:22:47 PM

        Chỉ huy đồn còn tập hợp binh lính để chào mừng và nghe đại diện "Chính phủ nới chuyện. Họ đã tạo cho ta một cơ hội tốt để tuyên truyền vận động binh sĩ Quốc dân đảng. Về sau, ta mới được biết tin Hành đã làm báo cáo và lấy chữ ký của tất cả sĩ quan, hạ sĩ quan gửi lên cấp trên. Việc đó cho thấy tâm lý của binh sĩ Quốc dân đảng ở đây cũng không muốn đánh nhau, không muốn chia rẽ, muốn được sống yên ổn, khác với bọn cầm đầu chóp bu đầy rẫy tham vọng cá nhân.

        Cuộc đàm phán ở Bắc Quang còn dẫn đến cuộc đàm phán giữa cán bộ ta và bọn cầm đầu Việt Nam Quốc dân đảng tỉnh Hà Giang.

        Song Xiêm, Hành đã không chịu giữ nguyên hiện trạng trong khi vị "đại diện" Chính phủ và một số đại biểu nhân dân tỉnh Bắc Quang đi lên thị xã Hà Giang đàm phán. Nhận được tin của đồng đảng ở Hà Nội báo cho biết không có đại diện nào của Chính phủ cử lên Hà Giang cả, chúng rắp tâm đánh úp bộ đội ta ở châu lỵ Bắc Quang. Song ông Lý Kinh - cơ sở của ta trong hàng ngũ địch mang nộp cho ta mật thư của Xiêm, Hành gửi cho các đồn Chính Tường, Vĩnh Tuy và Yên Bình Xã.

        Biết trước được âm mưu của địch tập trung quân về châu lỵ đánh úp, ta đã dùng kế "điệu hổ ly sơn" chủ động mời Xiêm, Hành sang trụ sở ta nói là để bàn công việc vì có lệnh Chính phủ gọi ông Thanh Phong về Hà Nội báo cáo. Cả hai tên sang ngay. Trước bức mật thư, bằng chứng không thể chối cãi được, chúng phải cúi đầu nhận tội và buộc phải viết lệnh cho đơn vị nộp vũ khí đầu hàng. Quân ta vào chiếm đồn ngay đêm ấy (4-11-1945).

        Ngày hôm sau, ta buộc Xiêm, Hành viết lệnh cho bọn cầm đầu các đồn khác trong châu nộp vũ khí đầu hàng quân đội Chính phủ. Đề phòng bọn địch chống lại, ta huy động lực lượng đến bao vây đồn Chính Tường trước tiên, rồi đưa lệnh nộp vũ khí đầu hàng cho tên chỉ huy. Y răm rắp chấp hành lệnh. Ta thu hết vũ khí và giải tán đơn vị này.

        Sự kiện bộ đội ta chiếm hai đồn Bắc Quang và Chính Tường không tốn một viên đạn và chính sách khoan hồng của ta đối với binh sĩ Quốc dân đảng đã có tác động mạnh mẽ đến tinh thần binh sĩ địch, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tước vũ khí và giải tán các đơn vị địch đóng ở các đồn Vĩnh Tuy, Tiên Yên và Yên Bình Xã, châu Bắc Quang được hoàn toàn giải phóng.

        Chiến thắng vang dội đó đã tác động mạnh đến những người cầm đầu châu Hoàng Su Phì. Sau khi Bắc Quang giải phóng, thổ ty Vương Văn Thịnh - cựu tri châu Hoàng Su Phì đã gửi thư cho ta, cử con rể là Vũ Ngọc Huyên đem sáu khẩu súng nộp để làm tin, nhờ Trần Thiên Tân làm môi giới và mời ta vào Hoàng Su Phì.

        Ngày 13 tháng 11, bộ đội ta tiến vào châu lỵ Hoàng Su Phì trong niềm vui hân hoan nồng nhiệt của nhân dân. Tiếp đó, ngày 14 tháng 11, ta giải phóng Cốc Pài và bản Mây. Châu Hoàng Su Phì, hồi đó bao gồm cả huyện Xỉn Mần, hoàn toàn giải phóng. Tại Quản Bạ, được cán bộ Việt Minh giác ngộ, ngày 25 tháng 11, binh lính Quốc dân đảng làm binh biến, bắt hai tên chỉ huy nộp cho cách mạng. Tổng Quản Bạ (nay gọi là huyện Quản Bạ) được giải phóng. Bọn Hoàng Quốc Chính ở thị xã càng lâm vào thế cô lập Những nhiệm vụ chính của giai đoạn thứ nhất được thực hiện hoàn toàn thắng lợi. Giải phóng được hai châu mới chỉ là thắng lợi bước đầu.

        Giải phóng thị xã Hà Giang và các châu huyện còn lại là nhiệm vụ hết sức khó khăn nặng nề. Đặc biệt trong tình hình so sánh lực lượng ta lại yếu hơn địch.

        Lực lượng vũ trang của bọn Việt quốc nhiều hơn ta, lại được quân Tàu Tưởng làm hậu thuẫn. Bọn Hoàng Quốc Chính còn lôi kéo được lực lượng vũ trang của thổ ty Vương Chí Sình. Dân chúng thì lạc hậu, bị địch bưng bít lừa bịp, chưa hiểu gì về cách mạng, về Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Nhiều nơi, ta chưa có cơ sở cách mạng.

        Những người lãnh đạo công cuộc giải phóng Hà Giang không thể chủ trương giải phóng Hà Giang bằng đấu tranh vũ trang mà phải bằng đấu tranh chính trị là chủ yếu. Phải bằng mọi cách phân hóa lực lượng địch, làm suy yếu lực lượng của bọn Việt quốc, phải chuẩn bị sẵn sàng để khi có thời cơ là lập tức hành động, lật đổ ngụy quyền, xây dựng chính quyền cách mạng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:23:31 PM

        Cuộc đàm phán ở thị xã Hà Giang

        Sau khi Hoàng Quốc Chính trả lời sẵn sàng đón tiếp “đại diện" Chính phủ bất kể ngày nào, đồng chí Mai Trung Lâm và một đoàn đại biểu nhân dân Bắc Quang lên đường. Chuyến đi thị xã lần này là để tìm hiểu tình hình và thăm dò thái độ bọn Hoàng Quốc Chính. Các anh dự kiến kết quả đàm phán, nhiều lắm, chỉ có thể đạt được tạm hòa hoãn như ở Bắc Quang và chờ sự thương lượng, dàn xếp ở cấp Trung ương. Vì vậy, việc lập đoàn đại biểu nhân dân Bắc Quang cùng đi với "đại diện" là để chứng tỏ sự ủng hộ của nhân dân địa phương đối với Chính phủ; mặt khác, để tranh thủ thời cơ tuyên truyền rộng rãi chủ trương "đoàn kết thống nhất" và "tự do đi lại, buôn bán làm ăn..." trong nhân dân thị xã.

        Theo thuật ngữ hiện đại, chuyến đi này thực chất là một "cuộc tiến công chính trị" nhằm phân hóa hàng ngũ đối phương và tranh thủ nhân dân. Đóng vai trò “đại diện" Chính phủ, với đường lối chính sách hợp lòng dân, cán bộ ta có cái thế mạnh so với bọn Việt quốc.

        Song Hoàng Quốc Chính quả là một tên nham hiểm, xảo quyệt và lợi hại. Y giở nhiều thủ đoạn từ cách tiếp đón lúc đầu, đến việc sắp xếp vị trí ngồi nơi họp, chỉ tiếp "đại diện", còn bố trí đoàn đại biểu nhân dân ở nơi khác, không mời đoàn đại biểu dự họp... nhằm làm giảm uy thế của "đại diện" Chính phủ. Nhưng cán bộ ta biết "tuỳ cơ ứng biến", tỉnh táo mưu trí đối phó. Các đại biểu nhân dân đều phân tán đi thăm hỏi tìm hiểu dân tình qua bà con quen biết, tranh thủ giải thích đường lối chính sách của Chính phủ.

        Trong cuộc họp đầu tiên, Hoàng Quốc Chính nhân danh Chủ nhiệm Việt Nam Quốc dân đảng tỉnh chính thức giới thiệu "đại diện" của Chính phủ. Sau đó, y còn nói thêm có lẽ với hàm ý tự khẳng định: "ông Mai Trung Lâm là một thanh niên Việt Nam ái quốc đã cùng với chúng tôi lăn lộn nhiều năm nơi đất khách quê người để tìm đường cứu nước. Ông về nước trước và đã tham gia chính phủ". Tất cả mọi người nhất loạt đứng dậy vỗ tay hoan nghênh rầm rộ.

        Uy tín của Chính phủ cách mạng thật là lớn. Song một điều bất ngờ đã xảy ra. Tên thiếu tướng Quốc dân đảng Trung Quốc đột nhiên đứng lên chất vấn "đại diện" đòi xem "Uỷ nhiệm thư" của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đây quả là một đòn ác hiểm và thật bất ngờ vì vị "đại diện" ta không lường đến việc tên Chính lại "muối mặt" mời quan thầy đến và thầy nó lại giở cái trò thọc gậy bánh xe này. Tên tướng của Tưởng Giới Thạch muốn dựa vào thủ tục lễ tân ngoại giao để kiểm tra tư cách "đại diện"; song chỗ yếu của nó ở đây là đã can thiệp vào công việc nội bộ của một nước độc lập. Cán bộ ta đã nhanh trí đánh vào chỗ yếu đó bằng lời lẽ đĩnh đạc: "Tôi đâu có phải là người ngoại quốc từ nơi khác đến mà phải cần ủy nhiệm thư. Đất nước tôi mới giành được độc lập, có rất nhiều việc phải làm cho nên việc giấy tờ đối với nội bộ chúng tôi cũng chưa phải là việc cấp thiết nhất. Vả lại, tôi và Hoàng Chủ nhiệm đây là đã biết nhau từ khi ở Trung Quốc. Bây giờ chúng tôi gặp nhau còn gì đáng tin cậy hơn. Giấy tờ này sao có giá trị bằng lời giới thiệu vừa rồi của Hoàng Chủ nhiệm? Có phải không các vị?".

        Người phiên dịch là Tôn Kỳ Nguyên, dân Quảng Đông, giáo viên dạy ở trường Hoa Văn thị xã, không thạo tiếng Bắc Kinh, dịch ấp a ấp úng. Tên thiếu tướng cứ hỏi đi hỏi lại bằng tiếng Bắc Kinh, vẻ mặt cau có. Vị "đại diện" Chính phủ đứng lên nói lại bằng tiếng Bắc Kinh. Tên tướng của Tưởng Giới Thạch lộ vẻ ngạc nhiên. Khi "đại diện" nói xong, Hoàng Đức Chính giới thiệu thêm:

        - “Ông Mai Trung Lâm đây đã tốt nghiệp quân sự học hiệu Hoàng Phố, phân hiệu II".

        Tên thiếu tướng đứng dậy ngượng ngùng nói:

        - “Xin lỗi! Xin lỗi! Vì trách nhiệm của tôi!".

        Nhìn vào mặt tên thiếu tướng đang ỉu xìu, "đại diện" ta vạch rõ trách nhiệm của y nhưng không đả kích trực tiếp việc y can thiệp công việc nội bộ của ta. Đại ý cách mạng Trung Quốc có trách nhiệm phù trợ các nước khác làm cách mạng thành công; điều đó cũng có lợi cho nhân dân Trung Quốc. Hoa quân nhập Việt ngày nay cũng phải làm đúng theo di huấn của Tôn tiên sinh. Tên thiếu tướng ngồi nghe chỉ gật gật đầu, không đối đáp lại.

        Tranh thủ những người ngồi nghe, "đại diện" ta nhắc lại bằng tiếng Việt những điều vừa nói. Phòng họp vang lên tiếng vỗ tay thán phục.

        Trong phiên họp đầu tiên này, những thủ tục khai mạc, giới thiệu và đặc biệt là cuộc đối đáp giữa "đại diện" ta và tên thiếu tướng Quốc dân đảng Trung Quốc đã choán mất nhiều thời gian. Vị "đại diện" chỉ còn khoảng nửa giờ để đề xuất vắn tắt những vấn đề cần trao đổi.

        Phiên họp thứ hai vào buổi chiều, tập trung bàn về chính sách đoàn kết thống nhất quốc gia mà trước mắt là vấn đề thống nhất tổ chức chính quyền. Bàn về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đoàn kết thống nhất quốc gia, hầu hết họ đều tán thành. Đó là các viên chức đầu ngành kể cả tỉnh trưởng Chu Văn Sáng, là những đảng viên Đảng Phục quốc mới về hợp tác với Việt quốc... Không có ai ra mặt chống lại chính sách đại nghĩa đó, tuy nhiên có một số ngồi im lặng.

        Khi bàn về việc thống nhất tổ chức chính quyền, họ bàn cãi khá sôi nổi; có những ý kiến khác nhau biểu lộ sự bất đồng trong hàng ngũ của họ.

        Suốt cuộc họp đó Hoàng Quốc Chính và Vũ Quang Phẩm chỉ ngồi nghe, để Bùi Nguyên Phách và mấy tên Việt quốc đàn em nêu nhiều lý do, khó khăn, phức tạp trong việc thống nhất tổ chức chính quyền. Thực chất là bọn chúng chống lại chính sách đoàn kết thống nhất quốc gia bởi vì tán thành đoàn kết phản đối thống nhất tổ chức chính quyền thì chỉ là nói suông.

        Phiên họp chiều kết thúc không thống nhất được ý kiến. Buổi tối hôm đó, các đại biểu đi dự chiêu đãi do đồng bào người Kinh ở thị xã tổ chức để chào mừng "đại diện" Chính phủ, lòng dân hướng về Chính phủ và mong mỏi sự đoàn kết thống nhất, tự do đi lại, buôn bán làm ăn... biểu lộ rõ qua bữa tiệc tổ chức tại khách sạn Len-nê đêm ấy.

        Phiên họp thứ ba vào sáng hôm sau tiếp tục thảo luận vấn đề thống nhất tổ chức chính quyền. Qua một giờ, tình hình vẫn nhùng nhằng như hôm trước. Lý lẽ không có gì mới. Cuộc thảo luận có kéo dài hết buổi cũng không ngã ngũ được vì ý đồ định sẵn của đối phương. "Đại diện" ta chủ động đề nghị để báo cáo lên trên tất cả những ý kiến đã nêu lên ở hội nghị và chuyển sang vấn đề thống nhất lực lượng vũ trang.

        Cuộc thảo luận buổi sáng hôm ấy và cả phiên họp thứ tư vào buổi chiều cho đến giờ cuối vẫn chưa đi đến nhất trí. Vấn đề thống nhất tổ chức chính quyền đã bế tắc. Vấn đề thống nhất lực lượng vũ trang càng bế tắc hơn. Các đại biểu công chức đầu ngành không ai nói gì. Có thể do họ không hiểu được sâu sắc vấn đề quân sự; có thể họ cũng dè dặt.

        Có lẽ những người phục quốc nhận thức được bản chất và vai trò lực lượng vũ trang nên họ phát biểu nhiều hơn và công khai tỏ rõ quan điểm: một chính phủ chỉ có một lực lượng vũ trang, nhưng đây là một vấn đề dặc biệt khó giải quyết.

        Bọn cầm đầu Việt quốc đều im lặng. Chính vẫn để cho mấy tên đàn em tuyên bố dứt khoát lập trường quan điểm chưa thể thống nhất lực lượng vũ trang được vì đây là hai hệ thống tổ chức quân sự khác hẳn nhau dựa trên hai hệ tư tưởng - chính trị đối lập nhau.

        Buổi tối hôm đó, đồng bào người Hoa ở thị xã tổ chức chiêu đãi "đại diện" Chính phủ. Trong lúc đi chuốc rượu từng người, "đại diện" ta bất ngờ gặp ông Vương Chí Sình và bà vợ cùng dự chiêu đãi. Thì ra ông ta cũng có mặt trong suốt bốn phiên họp nhưng tên Chính không giới thiệu. Có lẽ y cố tình không muốn có sự tiếp xúc giữa "đại diện" Chính phủ và thổ ty họ Vương. Giữa nơi đông người không tiện trao đổi để bọn Chính khỏi chú ý, "đại diện" ta chỉ chạm cốc, chúc sức khoẻ vợ chồng ông Vương và tỏ ý mong được gặp lại. Cuộc gặp ngẫu nhiên này ngay sớm hôm sau đã đưa đến một cuộc gặp gỡ trao đổi ý kiến giữa cán bộ ta và vợ chồng ông Vương, làm cho vợ chồng ông hiểu rõ đường lối chính sách của Chính phủ, thêm tin tưởng và quyết tâm theo Chính phủ Cụ Hồ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:24:14 PM

        Thuyết phục ông Vương Chí Sình

        Vương Chí Sình là một thổ ty có cỡ, đứng đầu dân tộc Mông có ảnh hưởng không chỉ đối với dân tộc mình mà cả đối với các dân tộc ít người khác ở tỉnh Hà Giang. Vương Chí Sình thừa hưởng uy thế của người bố là Vương Chính Đức được thực dân Pháp phong làm bang tá vì ở Đồng Văn đã có một tri châu người Tày. Họ Vương tuy giữ chức bang tá nhưng có toàn quyền; thực dân Pháp phải nhượng bộ coi Đồng Văn nói chung và đất Ngũ Xá nói riêng thuộc quyền quản lý của Vương Chính Đức. Họ Vương được quyền thu thuế thuốc phiện còn thực dân Pháp mua thuốc phiện phải trả tiền. Tri châu có việc phải đến nhà bang tá. Nhưng đến đời Vương Chí Sình, người thổ ty này chỉ còn cai quản người Mông ở đất Ngũ Xá và dưới quyền của tri châu Đồng Văn - Nông Ích Toại.

        Sau khi Nhật đảo chính Pháp, quân Pháp ở Hà Giang bỏ chạy sang Trung Quốc, Nhật chiếm tỉnh lỵ Hà Giang, rồi đưa quân đi chiếm các châu, huyện. Đội du kích Quản Bạ phục kích tại Hố Lồ, bắn chết một tên sĩ quan Nhật, thu được ngựa và súng ngắn; tại Bắc Mê thu một số vũ khí và lương thực. Sau đó, đội du kích của ta liên tục phục kích đánh quân Nhật ở Pắc Miu (Bắc Mê), Tráng Kìm, Cán Tỷ, Quyết Tiến, Nà Làng (Quản Bạ). Đặc biệt trận phục kích ở đầu cầu Cán Tỷ, đêm 30 tháng 4 diệt được 60 tên Nhật. Song đến tháng 5 năm 1945, do ta mất cảnh giác, bọn phản động nổi dậy giết hại một số cán bộ và cốt cán. Cơ sở cách mạng ở Bắc Mê tan vỡ, mãi sau mới dần dần khôi phục được.

        Khi Nhật đưa quân lên Phố Bảng, Vương Chí Sình đem quân chống lại. Sau Vương thoả hiệp với quan Nhật, nhận chức tri châu Đồng Văn. Khi ta trừng trị bọn phản động đầu sỏ ở Đường Thượng, bọn này báo Vương Chí Sình có thổ phỉ đến cướp bóc. Vương Chí Sình sai Hầu Vạn Quả dẫn 200 quân, có 6 khẩu trọng liên tiến về Đường Thượng. Đồng chí Việt Hưng, cán bộ địa phương trực tiếp gặp họ, giải thích chương trình cứu nước của Việt Minh, chính sách đánh Nhật và nhờ Hầu Vạn Quả chuyển thư của Việt Minh cho Vương. Hầu Vạn Quả nhận thư, rút quân về và hẹn ngày đến gặp Vương.

        Ngày 25 tháng 5 năm 1945, đồng chí Việt Hưng lên Sà Phin gặp Vương nhưng ông ta lại đi vắng. Anh đã thuyết phục những người dưới quyền thay mặt Vương, nói cho họ hiểu rõ chính sách cứu nước quang minh chính đại của Mặt trận Việt Minh và tranh thủ sự đồng tình của họ nói lại với Vương về việc hợp sức đánh Nhật; do đó, đã tạo điều kiện thuận lợi cho ta sau này thuyết phục Vương Chí Sình đi theo Chính phủ.

        Khi đế quốc Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh và quân đội của Quốc dân đảng Trung Quốc vào Đông Dương giải giáp quân đội Nhật Bản, Vương Chí Sình thoả hiệp với quân Tưởng và vẫn cai trị châu Đồng Văn. Tên Triệu Công Vũ, quân đoàn trưởng quân đoàn 52, phong cho Vương làm "Hà Giang đốc biện khu xứ sư trưởng" với quân hàm trung tá. Bọn Hoàng Quốc Chính cũng tranh thủ Vương Chí Sình, mời ông lên thị xã ở và hợp tác với chúng làm phó chỉ huy.

        Vương có một lực lượng vũ trang, khi cần có thể động viên tới ba, bốn trăm quân. Nếu bọn Việt quốc lôi kéo được thổ ty này thì phong trào cách mạng phát triển lên huyện Đồng Văn (bọn Việt quốc đổi tên châu thành huyện) và phía Bắc tỉnh cũng như việc giải phóng thị xã sẽ gặp trở ngại lớn.

        Thái độ của Vương Chí Sình đối với Chính phủ và Mặt trận Việt Minh ra sao, ta chưa rõ. Giữa lúc đó, cuộc gặp bất ngờ trong buổi tối chiêu đãi của đồng bào người Hoa đã tạo điều kiện cho ta tiếp xúc với họ Vương. Ngay tối hôm đó, tiệc tan, ông ta cho người cầm thư đến ngỏ ý muốn được gặp ngay, "có nhiều việc cần trình bày". Việc tiếp xúc với Vương Chí Sình cần được tiến hành gấp và kín đáo

        Cuộc gặp hai vợ chồng Vương tại nhà ông ta kéo dài gần hai giờ đã giúp ta hiểu rõ tâm trạng và thái độ của Vương Chí Sình. Ông đã biết có Mặt trận Việt Minh hoạt động và có Chính phủ Hồ Chí Minh nên muốn đi Hà Nội bái yết Cụ Hồ, nhưng Hoàng Quốc Chính ngăn cản. Ông nêu lên những thắc mắc của mình về bọn Việt quốc: sao lại cấm dân đi Tuyên Quang buôn bán, làm ăn, cướp của dân chúng dưới hình thức quyên góp, vay mượn bạc hoa xoè, vải vóc da thuộc, lương thực, thực phẩm; cưỡng bức các hiệu may, hiệu giày ở thị xã may quân phục, đóng giày không trả tiền, dùng quân đội chống lại Việt Minh? Hoàng Quốc Chính mời ông làm phó chỉ huy nhưng ông không nhận. Ông cho biết cuộc họp trao đổi về chính sách đoàn kết thống nhất tổ chức chính quyền và lực lượng vũ trang hai bên đã giúp ông hiểu rõ tình hình và tỏ ý thiết tha mong muốn về được Hà Nội bái yết Cụ Hồ Chí Minh mà ông rất ngưỡng mộ, nhưng ngại Hoàng Quốc Chính ngăn cản.

        Ông Vương Chí Sình chủ động liên lạc với "đại diện" Chính phủ ngay sau bữa tiệc và mong muốn được về thủ đô Hà Nội đã tỏ rõ thái độ của ông. "Đại diện" ta hiến kế cho ông vượt qua mặt Hoàng Quốc Chính, trực tiếp đến gặp tên thiếu tướng Tàu Tưởng xin về gặp tướng Lư Hán ở Hà Nội để đề nghị giảm bớt mức cung cấp lương thực, thực phẩm quá nặng, nhân dân ca thán nhiều.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:24:36 PM

        Ý kiến ấy được vợ chồng ông Vương chấp nhận ngay. Sau khi bàn với ông Vương kế hoạch cụ thể đi Hà Nội, cán bộ ta về tới nơi ở vừa kịp giờ điểm tâm. Việc tranh thủ ông Vương Chí Sình coi như đã xong.

        Đã đến lúc phải kịp thời rút khỏi thị xã, ở lại thêm sẽ càng nguy hiểm, việc mạo danh nghĩa "đại diện" Chính phủ càng có nguy cơ bị lộ, còn đội quân chính quy mà trong phiên họp cuối cùng, tên Chính khoe sắp đón về nước thì đang trên đường hành quân.

        Gặp bọn Chính lúc điểm tâm, anh Mai Trung Lâm lấy cớ có điện gọi phải về báo cáo Chính phủ ngay nên phải tạm ngừng cuộc họp. Bọn Chính trao đổi với nhau và nhất trí vì việc hoãn họp, gỡ thế bí cho chúng. Họ còn tổ chức bữa cơm tiễn và gửi một số cán bộ đi theo nhờ giúp đi Phú Thọ và Yên Bái.

        Trước khi rời thị xã, anh Lâm bố trí để anh Hoàng Văn Võ một cán bộ tin cậy ở lại thị xã với gia đình và làm công tác binh vận. Các đại biểu nhân dân Bắc Quang cũng đã đi từ chiều hôm trước.

        Buổi chiều, anh ung dung cùng với đồng chí Dị đi chơi phố cùng với anh Võ. Tình cờ, chạm trán tỉnh trưởng Chu Văn Sáng và người em họ của anh, tên là Canh, đang ở trong đội quân của Việt Nam Quốc dân đảng. Canh lại là học sinh trường Pơ-lô-tông A (Trường đào tạo hạ sĩ quan ở Sơn Tây.) ở Tông. Hai thầy trò đều nhận ra nhau. Anh Lâm dặn Võ thuyết phục người lính này.

        Sáng hôm sau, anh cùng đồng chí Dị đàng hoàng rời thị xã. Về đến trạm làng Vạt, anh được tin chỉ huy trưởng đã chủ động trừng trị bọn Xiêm, Hành âm mưu đánh úp ta. Sau khi dặn trung đội trưởng Hà Lĩnh Thành thu xếp chỗ nghỉ tạm và lo cơm nước cho những tên Việt quốc đi theo, anh Lâm gọi dây nói về Bắc Quang báo cáo vắn tắt với chỉ huy trưởng về cuộc đàm phán và xin chỉ thị xử lý bọn Việt quốc đi theo. Sáng hôm sau theo kế hoạch đã định, anh Lâm đưa nhóm Việt quốc ấy lên đường về Bắc Quang để anh em phục kích ngang đường bắt gọn.

        Hai hôm sau Vương Chí Sình và vợ, cùng hai người bạn gái của bà đi ô tô xuống huyện lỵ Bắc Quang, được hai đồng chí chỉ huy đón tiếp ân cần niềm nở và cử cán bộ đi cùng xuống tỉnh lỵ Tuyên Quang, nhờ một số đồng chí ở đây giúp đỡ đi về Hà Nội.

        Bọn Chính biết tin, căm tức, lồng lộn. Chúng cho người lên Đồng Văn báo cho bố Vương Chí Sình biết có người tên là Mai Trung Lâm lên Hà Giang tự xưng là đại diện Chính phủ nhưng chính là người của Việt Minh đã rủ hai vợ chồng Vương đi theo về Hà Nội và đã giết cả hai ở cầu Ngần, thả xác trôi sông. Chúng yêu cầu ông cho quân đi cùng với quân của chúng đánh Việt Minh trả thù cho con.

        Cái tin bịa đặt trắng trợn đến tai bà Síu, mẹ vợ Vương Chí Sình. Bà này theo các bô lão địa phương, trước đây theo hội Tam điểm của Trung Quốc, bảo vệ Tôn Trung Sơn khi còn hoạt động bí mật sang Việt Nam tránh triều đình Mãn Thanh truy nã. Bà là một trong những người Hoa ở Hà Nội đã bảo vệ Tôn Trung Sơn. Đến khi cách mạng Tân Hợi thành công, những người Hoa này sang Trung Quốc thăm Tôn Trung Sơn. Khi họ trở lại Hà Nội, đế quốc Pháp sợ họ ảnh hưởng đến dân Việt Nam nên trục xuất số người Hoa ấy, trong đó có bà Síu. Song bà không về Trung Quốc mà lên ở Đồng Văn buôn bán, mở quán cà phê và gả người con gái độc nhất mới lớn cho Vương Chí Sình làm vợ ba để lấy chỗ dựa. Pháp cũng không trục xuất nữa.

        Dần dần, bà hầu như trở thành cố vấn đắc lực và tin cậy của Vương. Bọn mã phái, tổng giáp và binh đầu - những chức sắc dưới trướng Vương Chí Sình đều vị nể bà. Nghe tin con gái, con rể bị giết, bà Síu phẫn uất và cưỡi ngựa vào ngay Sà Phin gặp thông gia Vương Chính Đức, yêu cầu tập trung dân binh các bản Mông đi đánh Việt Minh trả thù cho con trai và con dâu. Ông thông gia không nói gì vì đã nhận được thư của Vương Chí Sình báo tin đang ở Bắc Quang và sẽ đi Hà Nội yết kiến Cụ Hồ Chí Minh. Bà ta nhiếc thông gia:

        - Cái ông này không biết thương con trai, con dâu mình, không biết quý giọt máu của mình.

        Ông cụ đáp lại:

        - Việc này là của đàn ông. Không can gì đến đàn bà. Bà nên im đi.

        Rồi ông ta nói với những người dân Mông:

        - Chúng mày muốn đánh nhau làm gì? Việc gì đã xảy ra sau sẽ biết.

        Người thổ ty Mông cao tuổi này tin vào đứa con của mình và hoàn toàn giữ bí mật hành động của con.

        Vương Chí Sình về với Chính phủ ta là cả dòng họ người Mông họ Vương, cả dân tộc Mông ở tỉnh Hà Giang về với Chính phủ. Bọn Việt quốc mất một hậu thuẫn quan trọng. Cuộc đấu tranh giải phóng tỉnh Hà Giang tiến thêm một bước mới.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:25:28 PM

        Đội quân Ba Viên và cuộc binh biên ở thị xã Hà Giang

        Đội quân chính quy ở Mông Tự mà bọn cầm đầu Việt quốc khoe sắp đón được là đội quân nào, người chỉ huy là ai, thái độ chính trị của người đó và của binh sĩ ra sao, trình độ huấn luyện và trang bị vũ khí thế nào? Những câu hỏi dần dần được giải đáp nhờ tin tức anh Võ ở lại thị xã báo về. Thì ra Hoàng Văn Võ là bạn thân của Nguyễn Duy Viên, người chỉ huy đội quân đó, thời kỳ cùng ở trong quân đội Pháp. Cả hai cùng dạy trường Pơ-lô-tông A ở Tông; anh Võ đóng đội còn Nguyễn Duy Viên là thiếu uý. Về sau anh được thăng làm phó quản một đại đội và đổi lên Đồng Văn thì Nguyễn Duy Viên lên cấp trung uý và đổi lên Hà Giang chỉ huy đơn vị ở thị xã. Khi Nhật đảo chính Pháp, anh Võ bỏ về quê hương và được ta giác ngộ thì Nguyễn Duy Viên chạy theo quân Pháp sang Trung Quốc, rồi được Pháp phong đại uý. Binh sĩ thường gọi Nguyễn Duy Viên là ông Ba Viên. Mối quan hệ thân thiết xưa là một thuận lợi lớn cho công tác binh vận của ta.

        Đội quân của Pháp chạy sang Trung Quốc khá đông. Tưởng Giới Thạch cho đội quân bại trận đó đóng ở Mông Tự, tỉnh Vân Nam. Theo ý đồ của thực dân Pháp đội quân này ở Mông Tự huấn luyện để chờ ngày quân đội Đồng Minh đổ bộ vào Đông Dương thì trở về khôi phục lại thuộc địa cũ. Đế quốc Mỹ cử cố vấn giúp đỡ huấn luyện và cung cấp vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng.

        Song tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng. Phát xít Đức bị tiêu diệt tận hang ổ. Quân phiệt Nhật đầu hàng không điều kiện. Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập trước khi quân đội Đồng Minh vào Đông Dương giải giáp quân đội Nhật theo sự phân công của Đồng Minh. Quân đội Anh vào giải giáp quân Nhật ở miền Nam, còn quân đội của Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc. Đội quân bại trận của Pháp đồn trú ở Mông Tự không còn có cơ sở pháp lý để trở lại Đông Dương nữa. Thực dân Pháp phải chờ quân Tưởng lật đổ chính quyền cách mạng Việt Nam xong mới kéo quân vào; mặt khác bọn Tưởng cũng có ý đồ riêng của chúng muốn dựng lên một chính quyền bù nhìn ở miền Bắc Việt Nam. Vì thế, bọn Pháp vẫn phải bó gối thụ động ngồi chờ ở Mông Tự trong khi ở miền Nam Việt Nam, bọn thực dân Pháp được quân đội Anh che chở đã nổ súng gây hấn.

        Trong thời gian ấy, bọn Hoàng Quốc Chính ở Vân Nam cử người nhân danh Việt Nam Cách mạng Đồng Minh hội, bí mật gặp gỡ Ba Viên, gợi ý ông rời bỏ Pháp, đem quân về nước để ủng hộ Chính phủ, bảo vệ Tổ quốc, chống Pháp xám lược. Chúng giữ kín việc chúng đã tổ chức chính quyền riêng ở Hà Giang.

        Ở Mông Tự, Ba Viên và một số sĩ quan thân tín, qua đài phát thanh đã biết tin cuộc Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thành lập do Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ông hưởng ứng gợi ý của họ và đem vấn đề về nước bàn với một sĩ quan thân tín. Tất cả đều thống nhất chủ trương rời bỏ hàng ngũ Pháp, về nước. Theo một kế hoạch chung, cả ba đại đội khố đỏ bí mật rút khỏi trại vào một buổi tối và hành quân đến địa điểm đã hẹn với bọn Chính. Ở một nơi tạm nghỉ chân, cả mấy đơn vị hợp nhất thành một tiểu đoàn, cử Ba Viên làm chỉ huy trưởng và thiếu uý Hải tức Một Hải làm chỉ huy phó.

        Đầu tháng 11 năm 1945, đội quân này về đến thị xã Hà Giang. Bọn Chính tổ chức lễ đón tiếp rất long trọng, huy động đông đảo nhân dân thị xã ra đón. Tỉnh lỵ Hà Giang thời trước là một thị xã sạch đẹp, nay đầy rác rưởi bẩn thỉu. Người chỉ huy đội quân này cho binh lính ra phố ăn mặc đẹp, giữ kỷ luật, lại có tiền chi tiêu sòng phẳng nên nhân dân có thiện cảm gọi là đội quân Ba Viên. Mấy ngày sau, bọn Chính tổ chức cho đội quân này làm lễ tuyên thệ và tổ chức làm lễ khao quân linh đình để lấy lòng sĩ quan và binh lính. Sau đó, Chính ngỏ ý cử Ba Viên làm phó chỉ huy, nhưng ông ta không nhận. Ông yêu cầu cứ để mình chỉ huy tiểu đoàn và hứa giúp huấn luyện các đơn vị của Chính.

        Ở thị xã Hà Giang được mấy ngày, đi dạo thăm phố xá, nơi đóng quân cũ, ông gặp được quản Võ, cùng một vài bạn cũ người Việt và người Hoa. Qua họ, ông mới biết rõ Hoàng Quốc Chính không phải là người của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà; chúng chống lại việc hợp nhất chính quyền và quân đội do đại diện Chính phủ lâm thời đề xuất dựa vào thế lực Tàu Tưởng chiếm đóng tỉnh Hà Giang, không cho dân tự do đi lại, buôn bán, làm ăn...

        Qua trao đổi với bạn bè cũ, nhất là với quản Võ, ông lại càng hiểu tại sao Hoàng Quốc Chính khất lần đề nghị của ông đem quân về Hà Nội để đi đánh Pháp xâm lược ở miền Nam bằng câu trả lời có tính chất lần lữa: "Rồi sẽ đi thôi, giờ chưa có cơ hội", tại sao tên Chính bảo ông đem quân đi đánh Việt Minh ở Bắc Quang, tại sao con thư ký Phượng lúc nào cũng bám sát ông như hình với bóng và có lần nó đã lấy súng ngắn của ông, mà ông đã cảnh giác, bí mật tháo đạn trước, chĩa vào đầu ông bóp cò? Ông về trại đem những suy nghĩ thầm kín của mình trao đổi với mấy sĩ quan thân cận dưới quyền. Tất cả đều thống nhất nhận định là đã bị bọn Chính lừa gạt và cần phải đi tìm gặp Việt Minh ngay


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:25:52 PM

        Để đánh lạc hướng, ông đề nghị với Chính cho Một Hải đi Quản Bạ, ông đi Bắc Quang để trực tiếp điều tra sự bố phòng của Việt Minh và quan sát địa hình, tìm hướng tiến công. Tên Chính suy nghĩ một lát rồi chấp nhận. Nhờ sự giúp đỡ của cơ sở ta ở thị xã, đại uý Nguyễn Duy Viên đi an toàn đến thị trấn Bắc Quang gặp được hai đồng chí chỉ huy. Cùng đi với ông có xếp Thư, một người thân tín và nữ thư ký Phượng. Cuộc tiếp xúc riêng giữa đồng chí chỉ huy phó được phân công và đại uý Nguyễn Duy Viên ngày càng thân mật.

        Sau khi nhận xét về bọn Chính, ông bày tỏ quyết tâm của bản thân và các sĩ quan dưới quyền về với Chính phủ và đề nghị giúp ông đi về Hà Nội bái yết Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trực tiếp đàm đạo với đại uý Nguyễn Duy Viên, qua thái độ, nét mặt, cử chỉ, ánh mắt của ông, cán bộ ta thấy những nhận xét của cơ sở về người sĩ quan này khá chính xác. Đó là một người có học thức, có tâm huyết, tinh thần yêu nước được thời thế thức tỉnh, đã nhận ra sự thật và quyết tâm đi tìm con đường chính nghĩa phục vụ đất nước. Đúng là một con người có thể tin cậy. Nếu Ba Viên và lực lượng quân sự của ông ngả về phía cách mạng thì so sánh lực lượng giữa ta và bọn Việt quốc thay đổi, có lợi cho ta. Có thể phối hợp giữa lực lượng vũ trang của ta từ ngoài đánh vào với một cuộc binh biến của tiểu đoàn Ba Viên để giành chính quyền. Đây chính là thời cơ mà những người lãnh đạo công cuộc giải phóng Hà Giang đang chờ đợi.

        Việc tuyên truyền vận động đội quân Ba Viên không thành vấn đề nữa. Nhưng một vấn đề mới nảy sinh: bọn Việt quốc sẽ đối phó với đơn vị của ông - một lực lượng vũ trang chính quy đặc biệt quan trọng đối với chúng, hiện còn ở thị xã ra sao? Cán bộ ta bàn với Ba Viên. ông khẳng định sự vững vàng của các sĩ quan dưới quyền ông. Cán bộ ta gợi ý với ông dù sao cũng phải có chủ trương thông báo ngay cho đơn vị còn ở thị xã biết để đề cao cảnh giác và chủ động chuẩn bị, sẵn sàng đối phó với bọn Chính.

        Ba Viên ngồi im lặng, vẻ suy nghĩ. Đề xuất vấn đề sử dụng đội quân Ba Viên phối hợp với bộ đội ta quả là một vấn đề khó, lại rất tế nhị. Cán bộ ta khéo léo gợi ý với ông "nên có một món quà dâng Chính phủ" khi ông ra mắt. Lúc đầu ông chưa hiểu ý. Quà dâng Chính phủ ắt không phải vật bình thường. Ông bây giờ tay không. Cán bộ ta nói rõ thêm: "việc ông theo về Chính phủ tức là Hà Giang theo về Chính phủ". Ông chợt hiểu và khẳng định: "Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng, một món quà rất xứng đáng để dâng Chính phủ”.

        Thấy Ba Viên đã nhìn nhận vấn đề, cán bộ ta liền nói rõ ý định của mình, dùng bộ đội ta từ ngoài đánh vào phối hợp với lực lượng của ông ở trong làm nội ứng. Ông ta do dự, sợ mang tiếng "phản trắc". Cán bộ ta nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của việc trừng trị bọn phản động Việt quốc không chỉ có quan hệ đến vận mệnh tỉnh Hà Giang mà còn liên quan đến tình hình chung cả nước đang phải đối phó với cuộc xâm lược của Pháp ở miền Nam; đồng thời vạch rõ việc bọn Việt quốc lừa dối ông, âm mưu lợi dụng ông và đơn vị chống lại Chính phủ, mượn tay con Phượng định ám sát ông.

        Lập luận sắc bén của cán bộ ta đã có sức thuyết phục. ông vui vẻ tán thành và khẳng định bọn chúng chỉ là một đám quân “ô hợp". Rồi ông viết ngay mật lệnh và giao cho xếp Thư đem gấp lên cho Một Hải chỉ huy phó. ông ra lệnh cho Một Hải khẩn cấp thi hành ngay sau khi nhận được mật lệnh.

        Kế hoạch của ông như sau: lợi dụng lúc sơ hở nhất của địch vào bữa ăn trưa (chỉ có mấy tên đầu sỏ và các sĩ quan mang theo súng lục, súng ống của binh lính đều gác vào giá khóa cả) trói hai người lính và giải họ đến báo cáo với bọn Chính, hai người này ăn cắp súng cho Việt Minh; rồi bất ngờ chĩa súng vào bọn đầu sỏ và các sĩ quan, bắt giơ tay và tước vũ khí. Đồng thời binh sĩ chặn tất cả các cửa nhà ăn, chĩa súng vào trong, bắt tất cả đầu hàng. Nếu chúng chống cự mới nổ súng. Cán bộ ta rất tán thành kế hoạch của ông, đồng thời cũng viết lệnh cho Hà Lĩnh Thành điều quân áp sát tỉnh lỵ và sẵn sàng phối hợp khi cần. Ngay trong đêm người của ta đã bảo vệ để xếp Thư mang mật lệnh của Ba Viên về thị xã.

        Sau đó, ông chuẩn bị hành lý để lên đường về Hà Nội. Nữ thư ký Phượng lúc nào cũng bám sát ông.

        Sau khi ông Ba Viên và nữ thư ký Phượng đi được một ngày thì ngay buổi tối hôm đó, có người của Một Hải về Bắc Quang báo cáo mật lệnh đã được thực hiện thắng lợi hoàn toàn trưa ngày 8 tháng 12 năm 1945. Cuộc binh biến diễn ra theo đúng kế hoạch. Không phải nổ một phát súng. Bọn Chính bị bắt gọn. Tất cả các đơn vị vũ trang Việt quốc đều bị tước vũ khí và bị giữ tập trung trong doanh trại. Quân Tàu Tưởng không hề biết gì. Lực lượng vũ trang của ta đã vào thị xã.

        Sáng sớm hôm sau, khi cử người xuống thị xã Tuyên Quang báo cáo với đồng chí Song Hào và yêu cầu tăng cường thêm cán bộ, hai đồng chí chỉ huy cùng một số cán bộ đi lên thị xã Hà Giang để thu xếp tổ chức bộ máy chính quyền và các đoàn thể quẩn chúng, tổ chức việc phòng thủ và giữ gìn an ninh trật tự, duy trì sinh hoạt bình thường của nhân dân.

        Ngày 25 tháng 12 năm 1945, Uỷ ban hành chính lâm thời tỉnh ra đời, kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng tỉnh Hà Giang, đánh dấu một bước ngoặt mới của lịch sử Hà Giang. Giải phóng được tỉnh Hà Giang là một thắng lợi có ý nghĩa lớn trong thời kỳ đầu của Cách mạng tháng Tám của chúng ta.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:30:14 PM
 
ĐỘI DU KÍCH BA TƠ TRONG TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM 1945

        Ngày 11 tháng 3 năm 1945, một cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ ở phía tây tỉnh Quảng Ngãi, mở đầu một cao trào cách mạng rầm rộ, góp phần trực tiếp chuẩn bị Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công mau chóng ở Nam Trung bộ.

        Đó là cuộc khởi nghĩa Ba Tơ do các chiến sĩ cách mạng, đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương bị địch giam giữ ở đây lãnh đạo. Sau khi đội du kích Ba Tơ cùng nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền và thiết lập Uỷ ban cách mạng, ngày 14 tháng 3 năm 1945, được tin có 81 tên Nhật và một số lính khố xanh, trong đó có tên quản Trân và đội Bá là những tên việt gian lợi hại kéo lên khủng bố. Xét thấy lực lượng mình chưa đủ sức chống lại quân thù nên ban chỉ huy quyết định chuyển ngay lực lượng về chiến khu dựa vào nơi núi rừng hiểm trở để hoạt động.

        Tinh thần anh dũng của bộ đội có thừa, tinh thần ủng hộ của nhân dân trong vùng rất cao, nhưng đồng bào ở thưa thớt, lại rất nghèo. Bộ đội vì thế bị thiếu thốn về lương thực, quần áo, thuốc men, ăn uống thất thường, lại thêm địa phương này là nơi rừng thiêng nước độc đầy muỗi, vắt, rắn, rết nên bộ đội ốm đau gần hết.

        Sau một tháng gian lao cực độ, 26 người không đủ sức để mang 24 khẩu súng trường và mấy chục ki-lô-gam đạn. Một số đồng chí quá ốm yếu phải xin giải ngũ về quê. Toàn đội chỉ còn lại trên dưới 15 người. Thực tiễn cho thấy chủ trương rút về khu núi rừng hiểm trở, dân cư thưa thớt, nghèo nàn, không có đủ điều kiện phát triển là không phù hợp.

        Trước tình hình đó, vào thượng tuần tháng 5, ban chỉ huy cử đồng chí Nguyễn Chánh về trung châu báo cáo với tỉnh để xin chủ trương mới. Theo nhận định của tỉnh và ý kiến của đại biểu Tổng bộ Việt Minh thì hoạt động của đội có phần cô lập và bị động, thiếu điều kiện để phát triển. Vì thế, tỉnh quyết định đưa đội về trung châu để liên lạc mật thiết với quần chúng, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang trong toàn tỉnh. 

        Đầu tháng 5 năm 1945 trên dưới 15 đồng chí rút về trung châu sau hai tháng anh dũng chiến đấu chống giặc ở vùng rừng núi. Quả nhiên chủ trương đúng tất đưa đến kết quả tốt đẹp. Sau hơn một tháng hoạt động ở trung châu, anh em du kích đi lưu động nhiều nơi vũ trang tuyên truyền gây cơ sở chính trị, tham gia hoặc biểu diễn văn nghệ và nhất là huấn luyện các tiểu đội du kích và tự vệ ở các làng, chẳng khác gì hoạt động của đội du kích Pác Bó và đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân ở Cao - Bắc - Lạng. Nhờ đó quân dân được liên hệ mật thiết với nhau, ý thức vũ trang được ăn sâu và lan rộng trong quần chúng. Nhờ đó, các đoàn thể quần chúng cũng như lực lượng vũ trang phát triển rất nhanh chóng.

        Sau hơn một tháng hoạt động ở trung châu, đội thành lập được hai chiến khu:

        Chiến khu bắc Quảng Ngãi ở Vĩnh - Sơn (Vĩnh Tuy - Sơn Tịnh) do các đồng chí Phạm Kiệt, Phan Phong, Võ Thứ, Tạ Phương chỉ huy, có đại đội Phan Đình Phùng và một trung đội dự bị.

        Chiến khu nam Quảng Ngãi ở Núi Lớn (rừng Dầu Rái ở Mộ Đức) do các đồng chí Nguyễn Đôn, Lê Đức, Nguyễn Khoách, Trần Công Khanh chỉ huy, có đại đội Hoàng Hoa Thám. Mỗi chiến khu lúc đó đã có lực lượng vũ trang hơn 100 người. Phụ trách chung là đồng chí Nguyễn Chánh.

        Cuộc khởi nghĩa Quảng Ngãi bùng nổ vào khoảng 3 giờ chiều 13 tháng 8 năm 1945. Cùng ngày hôm ấy, cả hai chiến khu đều được lệnh đánh chiếm các đồn của địch trong phạm vi chiến khu và sau đó đều tập trung về gần tỉnh lỵ.

        Dựa vào sự ủng hộ của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội du kích Ba Tơ dã cùng nhân dân giải phóng tỉnh Quảng Ngãi trong Cách mạng tháng Tám và đã trở thành nòng cốt của bộ đội chủ lực Liên khu 5. Du kích Ba Tơ tiêu biểu cho truyền thống bất khuất của nhân dân Liên khu 5 và đã góp phần xây dựng nên truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:30:43 PM

        Sau Cách mạng tháng Tám, du kích Ba Tơ đổi tên là "Quân giải phóng" để thống nhất với toàn quốc cho đến ngày 2 tháng 9 năm 1945, thì mang tên là "Vệ quốc đoàn". Chúng tôi xin giới thiệu tiếp dưới đây hoạt động của đội du kích Ba Tơ trong những ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (Du kích Ba Tơ, Nxb Quân đội nhân dân. Hà nội. 1950.).

        Hoạt động của đội du kích Ba Tơ trong những ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

        Cuộc khởi nghĩa ở Quảng Ngãi bùng nổ vào khoảng 3 giờ chiều 13 tháng 8 năm 1945. Cùng ngày hôm ấy, hai chiến khu đều nhận được mệnh lệnh: 

        Bộ đội du kích chiến khu Bắc và Nam phải lập tức lấy các đồn thượng du, xong về tập trung gần thành phố chờ lệnh mới.

        Nhiệm vụ của đại đội Phan Đình Phùng đánh chiếm đồn Gi Lăng, Trà Bồng, Sơn Hà, chiếm đóng các phủ Bình Sơn, Sơn Tịnh rồi về tập trung gần tỉnh lỵ.

        Nhiệm vụ của đại đội Hoàng Hoa Thám: đánh chiếm các đồn Ba Tơ, Minh Long, các huyện Nghĩa Hành, Mộ Đức, rồi về đóng gần tỉnh lỵ" .

        Đường tiến của đội quân chiến khu Bắc

        Đại đội Phan Đình Phùng gồm có năm trung đội phân phối như sau:

        Hai trung đội do đồng chí Nguyễn Chánh và Phạm Kiệt kéo lên lấy đồn Gi Lăng.

        Một trung đội do các đồng chí Tạ Phương và Phan Phong chỉ huy kéo lên đánh Sơn Hà.

        Còn hai trung đội do đồng chí Võ Thứ kéo lên lấy Trà Bồng rồi kéo xuống Châu Ô (Bình Sơn).

        Chiếm đồn Gi Lăng:Đồn Gi Lăng là một đồn sơn phòng của đế quốc Pháp, đồng thời cũng là nơi chúng an trí chính trị phạm như đồn Ba Tơ. Địa thế rất hiểm trở. Phòng thủ rất kiên cố. Đồn này do quản Trân, một tên việt gian lợi hại coi giữ với 20 lính và 37 khẩu súng. Vì thế nên phải tập trung hai trung đội và phải do đồng chí Nguyễn Chánh và Phạm Kiệt chỉ huy.

        Bộ đội tạm nghỉ trong rừng, cách đồn Gi Lăng độ 5 ki-lô-mét. Hai đồng chí Nguyễn Chánh và Phạm Kiệt đi quan sát đồn. Đến khoảng 5 giờ chiều thì bắt được liên lạc với Quân và Liên là hai người lính trong đồn ở trong tổ chức của ta. Khi tình hình đã rõ, kế hoạch lấy đồn được vạch ra như sau:

        “Đồng chí Phạm Kiệt đem quân bao vây đồn, sẵn sàng tấn công, còn đồng chí Nguyễn Chánh thì đi bắt tên quản Trân ở ngoài đồn. Vì nếu nó lọt được vào trong đồn chỉ huy, sẽ thêm nhiều khó khăn cho ta.

        Sau bữa cơm chiều, Quân (bồi của quản Trân) đã tìm cách giữ Trân ở lại nhà mình. Tối đến, đồng chí Nguyễn Chánh cùng với ba người có súng đến nhà Quân và gặp Trân ở đó. Thấy đồng chí Nguyễn Chánh, Trân hỏi: .

        - Ai đó?

        Đồng chí Nguyễn Chánh rút súng ra chỉ vào mặt Trân hô:

        - "Giơ tay lên, ngồi im".

        Bị tấn công bất ngờ, quản Trân đành phải giơ tay chịu trói và đi mở cửa đồn để giao cho quân cách mạng.

        Theo lệnh của đồng chí Phạm Kiệt, anh em du kích đã tiến sát đồn, mai ph