Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 09:14:16 AM



Tiêu đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 09:14:16 AM

Tên sách: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2008
Số hoá: ptlinh, chuongxedap


Ban biên soạn:
Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Chủbiên)
Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
Thượng tá ĐẬU XUÂN LUẬN
Thượng úy PHAN NGỌC DOÃN
Trung úy NGUYỄN MINH THỦY

Hoàn chỉnh bản thảo:
Thượng úy PHAN NGỌC DOÃN


LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một đất nước nằm ở ven biển Thái Bình Dương - cửa ngõ quan trọng của lục địa Đông Nam châu Á. Trải qua bao thế kỷ, bọn phong kiến, thực dân và đế quốc nhòm ngó và xâm lăng nhưng dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục. Ngay từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã phải bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975...

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một kho tàng kiến thức vô cùng quý giá, xây đắp nên truyền thống quật cường, bất khuất, lòng yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc. Việc tìm hiểu lịch sử dân tộc vừa là nhu cầu, vừa là trách nhiệm trước lịch sử để tỏ lòng biết ơn đối với công lao to lớn của tổ tiên, vừa là đòi hỏi của thời cuộc để mỗi người dân Việt Nam tự tin hội nhập cùng bạn bè quốc tế với một bản sắc dân tộc mạnh mẽ.

Với ý nghĩa đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức biên soạn và xuất bản "Tủ sách lịch sử Việt Nam". Tủ sách lịch sử Việt Nam gồm nhiều cuốn, mỗi cuốn sách trình bày một cuộc khởi nghĩa cụ thể, theo dạng hỏi đáp, ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Hy vọng "Tủ sách lịch sử Việt Nam" nói chung và cuốn sách "Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê” nói riêng sẽ là người bạn đồng hành thân thiết của mỗi bạn đọc trong cuộc hành trình tìm về lịch sử dân tộc.

Mặc dù những người biên soạn đã có nhiều cố gắng, nhưng bộ sách khó tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong được bạn đọc lượng thứ và đóng góp ý kiến.

Trân trọng giới thiệu!

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 09:18:39 AM

Câu hỏi 1: Cho biết tình hình những năm đầu của phong trào chống Pháp ở Nghệ Tĩnh và quá trình hình thành cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng?
Trả lời:


Trong phong trào chống Pháp cứu nước của nhân dân ta cuối thế kỷ thứ XIX, Nghệ Tĩnh đã là một trong những vùng kháng chiến mạnh. Cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo là một trong những cuộc khởi nghĩa lớn ở thời kỳ này đã kết tinh và trưởng thành từ trong cuộc kháng chiến của Nghệ Tĩnh. Vì vậy việc nghiên cứu cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng không thể tách rời việc tìm hiểu phong trào chống Pháp ở Nghệ Tĩnh.

Nghệ Tĩnh từ lâu đã có truyền thống đấu tranh anh hùng và bất khuất. Ngay trong những buổi đầu xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân Nghệ Tĩnh đã tỏ rõ lòng căm thù giặc sâu sắc. Võ Đức Khuê, người xã Phú Hậu (nay là xã Quỳnh Đôi) huyện Quỳnh Lưu, đã mộ quân sẵn sàng vào Nam giết giặc. Khi giặc Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất, triều đình Huế hèn nhát đầu hàng thì nhân dân Nghệ Tĩnh lại càng căm phẫn. Cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai năm 1874 đã nói lên ý chí mạnh mẽ, ngoan cường của nhân dân Nghệ Tĩnh trước kẻ thù ngoại xâm và bọn thống trị phản động trong nước.

Sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn, hạ chiếu Cần Vương chống Pháp, phong trào cứu nước ở Nghệ Tĩnh lại càng sôi nổi. Phong trào kháng chiến mạnh mẽ của nhân dân đã lôi kéo được cả những người giàu có và hào lý tham gia. Chính vì vậy có thể nói phong trào ở Nghệ Tĩnh phát triển đều, không một phủ huyện nào không nổi dậy.

Ở Nghệ An, phong trào khá sôi nổi. Trước hết phải nói đến phong trào của phủ Diễn Châu. Tại huyện Đông Thành, có đội quân của cụ nghè Nguyễn Xuân Ôn. Cụ hiệu là Ngọc Đường, người xã Lương Điền. Cụ lập căn cứ ở Đồng Thông và khởi nghĩa chống Pháp. Cùng cộng tác với cụ có:

- Đinh Nhật Tân, người cùng thôn, nhà nghèo, năm 16 tuổi mồ côi cha mẹ, ông phải nương nhờ bà chị để có tiền ăn học. Năm 1878, ông đậu Cử nhân và làm quan đến chức Ngự sử.

- Trần Quang Diệm, ngươi cùng xã, xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo. Năm 28 tuổi, ông đậu Cử nhân và đã từng giữ chức Tri huyện Tùng Thiện (Sơn Tây cũ). Triều đình Huế đầu hàng, ông bỏ về quê và khi có chiếu Cần Vương ông đã đứng lên khởi nghĩa.

- Lê Trọng Vinh, quê ở Ngọc Lâm, huyện Diễn Châu, xuất thân từ một gia đình nông dân, ông được theo học một thời gian, nhưng sau ông bỏ học và chăm chú nghiệp võ. Ông đi lính và được giữ chức xuất đội. Ông khởi nghĩa chống Pháp cùng Nguyễn Xuân Ôn và được phong chức Đề đốc.

Bên cạnh đội quân của Nguyễn Xuân Ôn, còn phải kể đến đội quân của Nguyễn Ngợi, tức Lãnh Ngợi, hay cũng gọi là Tác Bẩy. Xuất thân từ gia đình nông dân nghèo ở Vân Tụ, huyện Yên Thành, ông nổi dậy và lập căn cứ ở vùng núi Tràng Sơn, chống Pháp rất dũng cảm. Sau một thời gian hoạt động, nghĩa quân của ông gia nhập vào đội quân của Nguyễn Xuân Ôn và đã có nhiều đóng góp to lớn.

Ngoài ra, còn có đội quân của Phan Bá Niên, người làng Tam Lệ, rất giỏi võ. Ông mộ quân chống Pháp rồi sau cũng về theo cụ nghè Ôn chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 09:19:06 AM

Ở phủ Anh Sơn, phong trào khá mạnh, nhất là ở các huyện Nam Đàn, Thanh Chương và Hưng Nguyên.

Tại Nam Đàn, có đội quân của Vương Thúc Mậu, người làng Hoàng Trù, xuất thân từ gia đình nông dân nghèo. Sau khi đậu tú tài, ông ở nhà dạy học. Hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông đứng lên khởi nghĩa và lập căn cứ tại đình làng. Ở Nam Hoành có quân của Thám hoa Nguyễn Đức Đạt, nguyên làm Tuần phủ Hưng Yên, cáo quan về làng năm 1873. Đáng chú ý còn có đội quân của Lãnh Sĩ, người huyện Nam Đàn. Cũng như Nguyễn Ngợi, ông khởi nghĩa chống Pháp từ hai bàn tay trắng. Ông thường một mình phục kích những toán quân địch đi lẻ tẻ dăm ba tên để cướp súng. Dần dần ông đã xây dựng nên một đội quân mạnh. Phan Bội Châu trong "Việt Nam vong quốc sử" đã nhiệt liệt ca ngợi tinh thần chiến đấu của ông. Ngoài ra còn phải kể đến Quản Hoè, còn gọi là Học Báu, người xã Yên Lạc (nay là xã Nam Linh) xuất thân từ một gia đình nông dân, đã từng đi lính cho Pháp và giữ chức xuất đội. Được Đội Khuyên vận động, ông đã trở về hàng ngũ kháng chiến.

Tại Thanh Chương, cũng có nhiều đội nghĩa quân mạnh. Ở đây có đội quân của Nguyễn Hữu Chính, người làng Cổ Đan, huyện Nghi Lộc. Ông rất thạo máy móc, đã từng tự chế ra súng hỏa công để đánh giặc. Rồi đến đội quân của Nguyễn Mậu, ông thi đậu Phó bảng võ, khởi nghĩa chống Pháp được phong chức đề đốc nên nhân dân thường gọi là Đề Mậu. Đáng chú ý hơn cả là đội quân của Lê Doãn Nhạ, người làng Trường Thành (nay là xã Sơn Thành, huyện Yên Thành), thi đậu Phó bảng năm 1871 và được cử làm Sơn phòng Chánh sứ Nghệ An, có nhiệm vụ mộ dân khai khẩn đất hoang. Ông xây dựng được một cơ sở lớn ở đồn Vàng (huyện Anh Sơn). Khi có chiếu Cần Vương, ông đứng lên mộ quân đánh giặc và lập căn cứ ngay tại đồn điền, lương thực và quân nhu khá dồi dào. Trong hàng ngũ của ông có nhiều đồng bào miền núi tham gia. Ngoài ra ở đây còn có đội quân của Bản Bôn, Phó Trác...

Tại Hưng Nguyên, có đội quân của Nguyễn Hợp, người làng Triều Khẩu, xuất thân từ gia đình nông dân nghèo, đi lính cho Pháp và giữ chức đội trưởng, về sau, ông giác ngộ và đã đem hai mươi lính tập có súng ống về với kháng chiến.

Ở Đô Lương, có Nguyễn Nguyên Thành, hay Nguyễn Thành khởi nghĩa. Ông làm quan đến chức Hồng Lô dưới thời Tự Đức.

Tại miền núi Hà Tĩnh, có đội quân của quản Thông, quản Thụ, ở Kim Sơn (nay thuộc Hương Khê, Hà Tĩnh).

Tại Hà Tĩnh, phong trào lên đều và mạnh, sôi nổi nhất là ở phủ Đức Thọ. Ở đây có hai sĩ phu nổi tiếng là Lê Ninh, tức Ấm Ninh, ở Trung Lễ xã Cổ Ngu và Phan Đình Phùng ở Đông Thái. Lê Ninh là người đứng lên khởi nghĩa đầu tiên ở Hà Tĩnh. Ngoài ra, còn có Phan Cát Tựu, vào thi Hội đúng năm Ất Dậu (1885) và khi kinh thành có biến đã theo xa giá đến Sơn phòng Hà Tĩnh, rồi về chiêu mộ quân đánh giặc. Bên cạnh đó, còn có Nguyễn Cấp, hoạt động khá mạnh mẽ.

Ở Hương Sơn, phong trào đặc biệt sôi nổi. Theo Phan Đình Phùng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa có Nguyễn Quỳnh và Nguyễn Huy Giao. Hai ông đã tập hợp được đông đảo nhân dân trong huyện. Đấy cũng là quê hương của Cao Thắng. Ông cùng anh họ là Nguyễn Đạt, em ruột là Cao Nữu và bạn là Nguyễn Kiểu, hưởng ứng lời kêu gọi của Phan Đình Phùng, khởi nghĩa và lập căn cứ ngay tại làng. Ngoài ra, còn có Thái Vĩnh Chinh, Cử nhân võ, người làng Hữu Bằng (nay là xã Sơn Bằng) cùng Lê Trinh theo Phan Đình Phùng mộ quân đánh giặc, về sau, Lê Trinh theo giặc, bị Lãnh Thái giết chết, ở Hương Sơn còn phải kể đến Đinh Nho Hành, người làng Gia Mỹ, thi đậu Phó bảng võ, làm quan đến chức Lãnh binh, ông khởi nghĩa ngay tại quê nhà.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 09:19:26 AM

Phong trào còn khá mạnh ở các huyện Nghi Lộc, Can Lộc, Nghi Xuân và Hương Khê.

Ở Nghi Lộc, có Đinh Văn Chất, người xã Kim Khê (nay thuộc xã Nghi Hòa), thi đậu Tiến sĩ. Ông khởi nghĩa và lập căn cứ ngay tại làng mình. Ngoài ra, còn có đội quân của Nguyễn Hành, thi đậu cử nhân và làm quan đến chức Giám binh tỉnh Nam Định.

Ở Can Lộc, anh em Nguyễn Trạch, Nguyễn Chanh nổi dậy ở Gia Hanh, tức Trung Hanh (nay là xã Nhân Lộc, huyện Can Lộc). Nguyễn Trạch còn gọi là Nguyễn Khương, Nguyễn Chanh còn gọi là Nguyễn Dật. Xuất thân từ gia đình nông dân nghèo khổ, hưởng ứng chiếu Cần Vương từ hai bàn tay trắng nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm và mưu trí, hai ông đã xây dựng được một đội quân mạnh. Cùng tham gia với hai ông, còn có Nguyễn Tuyển, người làng Yên Trí (nay là xã Phúc Lộc). Ở Phù Lưu Thượng có Mai Thế Quán, con trai Tuần phủ Mai Thế Quý, ông học giỏi song không chịu ra làm quan, nhân dân thường gọi là "cậu chiêu Dênh". Khác với đội quân của anh em Nguyễn Trạch, đội quân này ngay từ đầu đã có tới năm sáu trăm người, thanh thế rất mạnh.

Ở Nghi Xuân có Thần Sơn Ngô Quảng và Hà Văn Mỹ. Hà Văn Mỹ là một thư sinh ứng nghĩa, nhưng mưu trí và dũng cảm. Ông thường cải trang đột nhập đồn giặc lấy súng về trang bị cho nghĩa quân.

Ở Hương Khê, phong trào do Nguyễn Thoại cầm đầu, hoạt động của nghĩa quân có ảnh hưởng khá lớn.

Ở Cẩm Xuyên, có Huỳnh Bá Xuyên và Nguyễn Chiêu nổi dậy. Nguyễn Chiêu cũng là một nho sinh, do chiến đấu dũng cảm mà được phong chức Lãnh binh. Ngoài ra còn có Đề Dừ nổi dậy ở Hựu Quyền.

Ở phủ Hà Thanh, phong trào mạnh nhất ở Thạch Hà. Trước hết phải kể đến Nguyễn Cao Đôn, quê ở Thạch Bình. Ông thi đậu cử nhân song không chịu ra làm quan với triều đình, nhân dân quen gọi là ông cử Đôn. Là ngươi có danh vọng và uy tín trong vùng, ông được nhân dân hưởng ứng đi theo rất đông. Cùng với ông, còn có ba người con của cụ Bùi Thố là Bùi Hanh, Bùi Dương và Bùi Đê. Ba anh em đều học giỏi, nhưng không chịu đi thi, khi có chiếu Cần Vương thì đều nổi dậy khởi nghĩa. Đáng chú ý ở đây còn có đội quân của Bá hộ Thuận, tức Nguyễn Thuận, quê xã Thạch Xuân xuất thân từ gia đình nho học nhưng không đỗ đạt gì. Ông bỏ tiền mua chức bá hộ nên có tên gọi Bá hộ Thuận. Ông lập căn cứ ở Truông Xai, một nơi hiểm yếu thuộc huyện Thạch Xuân.

Ở phủ Hà Hoa, phong trào sôi nổi nhất ở Kỳ Anh. Bên cạnh, có đội quân của Lê Nhất Hoàn ở Mỹ Lự (nay là xã Kỳ Tân), đội quân của Trần Công Thưởng ở Long Trì (nay là xã Kỳ Phú), đội quân của Đội Xuyên ở Hữu Chế, đội quân của Đội Thoại ở Mỹ Xuyên. Ở phía bắc Kỳ Anh, có đội quân của Phan Khắc Hòa, người làng Phan Xá, huyện Nghi Xuân, ông đã về quê vợ mộ quân khởi nghĩa...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 09:19:53 AM

Qua một số tài liệu tập hợp tuy chưa được đầy đủ trên đây, chúng ta cũng đã thấy phong trào chống Pháp ở Nghệ Tĩnh khá sâu rộng, nhưng ở buổi đầu nó còn mang nặng tính chất tự phát, tính chất địa phương rõ rệt. Họ nổi dậy ngay tại làng, lấy đình làng làm nơi mộ quân. Họ phải tự lo liệu lấy lương thực và vũ khí. Nhiều đội quân quá nhỏ và thiếu tổ chức chặt chẽ. Người chỉ huy phần lớn lại là những nhà nho, tuy có nhiệt tình yêu nước nhưng vì không quen chiến đấu, ít hiểu biết về quân sự, nên khi phải đương đầu với một kẻ thù thiện chiến và trang bị vũ khí tối tân thì họ dễ dàng bị thất bại. Phong trào dần dần quy tụ vào những đội quân lớn, do các nhà khoa bảng thân hào hay thủ lĩnh nông dân có uy tín, có danh vọng chỉ huy.

Ở Đô Lương, quân Nguyễn Nguyên Thành hoạt động được một thời gian thì tan rã, số còn lại đi theo các đội khác chiến đấu. Ở Thanh Chương, quân của Nguyễn Hữu Chính hoạt động khá mạnh, nhưng căn cứ của ông ở vùng núi bị địch càn quét và tổn thất nặng, nhà của ông cũng bị giặc đốt phá, hai con trai bị chúng bắt giết, ông phải rút về Hà Tĩnh chiến đấu cùng Nguyễn Cao Đồng được ít lâu thì mất. Ở Nghi Lộc, quân của Đinh Văn Chất bị tan rã sớm vì thủ lĩnh bị giặc bắt giết ngay từ năm 1885. Nguyễn Hành cũng hoạt động khá mạnh, nhưng sau khi người con của ông bị hy sinh và ông bị giặc bắt ở Trung Cần thì nghĩa quân tan rã. Ở Nam Đàn, nghĩa quân quy tụ xung quanh Vương Thúc Mậu, nhưng đến giữa năm 1886 Vương Thúc Mậu bị địch bất ngờ bao vây, nghĩa quân bị tổn thất nặng và ông đã hy sinh. Như vậy vào giữa năm 1886, ở Nghệ An còn lại ba đội quân lớn: Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ và Nguyễn Mậu. Những thủ lĩnh xuất sắc ở Nam Đàn như Nguyễn Sĩ, Học Báu đều theo về với Nguyễn Xuân Ôn. Những đội còn lại này, tuy ít nhưng vì đã được rèn luyện trong chiến đấu, tích lũy được kinh nghiệm nên đã gây nhiều khó khăn cho địch. Tuy nhiên tình trạng phân tán vẫn là nhược điểm lớn của phong trào. Địch đã tập trung lực lượng để bình định từng vùng. Trước tiên, chúng tấn công ráo riết vào đội quân của Lê Doãn Nhạ. Bị truy kích, bị bao vây, thiếu lương thực và vũ khí, lâm vào tình thế cô lập, Lê Doãn Nhạ buộc phải giải tán nghĩa quân và đưa gia đình đi biệt tích. Quân của Nguyễn Xuân Ôn hoạt động mạnh nhất, song đến đầu năm 1887, trong lúc đang nằm dưỡng bệnh tại cơ sở, ông đã bị giặc vây bắt. Sau đó Đinh Nhật Tân bị ốm và qua đời, Trần Quang Diệm phải rút lên miền núi cầm cự được ít lâu thì tan rã.

Như vậy, phong trào chống Pháp ở Nghệ An vào năm 1888 bị giảm sút rõ rệt. Hoạt động của nghĩa quân tạm thời giảm bớt, nhưng phong trào vẫn tồn tại. Ở Thanh Chương, Diễn Châu, Nam Đàn, quân của Lê Trọng Vinh, Nguyễn Mậu, Nguyễn Ngợi, Lãnh Sĩ, Hiệp Tuấn vẫn hoạt động.

Tại Hà Tĩnh, trong buổi đầu, phong trào sôi nổi nhưng cũng rất phân tán. Đáng chú ý là hoạt động của Lê Ninh. Nghĩa quân đã tiến đánh thành Hà Tĩnh, bắt bố chánh Lê Đại và án sát Trịnh Bưu là bọn quan tỉnh đầu hàng giặc. Nhưng rồi địch quay lại đàn áp khốc liệt, làng Trung Lễ bị triệt hạ, Lê Ninh phải lui về Bạch Sơn, thuộc huyện Hương Sơn, rồi ốm chết năm 1887. Các con của ông là Lê Khai, Lê Phác, Lê Trực thay ông chỉ huy tiếp tục chiến đấu. Quân của Phan Cát Tựu hoạt động cũng mạnh, năm 1887 ông bị hy sinh trong trận đánh trên sông Ốc Giang. Nghĩa quân của ông và của Lê Ninh sau đó về với Phan Đình Phùng. Ở Thạch Hà, quân của Nguyễn Cao Đôn hoạt động một thời gian thì tan rã. Anh em Bùi Hanh bị hy sinh, ông thế cô, bị giặc lừa ra đầu thú, chúng ép ông phải cộng tác, nhưng ông không chịu và đã bị chúng bắn chết ở dọc đường. Riêng đội quân của Bá hộ Thuận vẫn giữ vững căn cứ Truông Xai, nhiều lần đột kích vào thị trấn Thạch Hà và thị xã Hà Tĩnh gây thiệt hại cho địch. Ở Hương Sơn, các toán dần dần quy tụ vào cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, lúc đó do Cao Thắng chỉ huy. Ở Kỳ Anh, Võ Pháp vẫn hoạt động khá mạnh. Ở Can Lộc, quân của anh em Nguyễn Trạch vẫn được duy trì và ngày càng trưởng thành, năm 1888 số lượng lên tới 600 người và được chia thành những cơ, đội, lập căn cứ ở đồn Cơn Khế. Địch nhiều lần càn quét, nhưng đều thất bại. Ảnh hưởng của hai ông khá rộng. Sau khi Mai Trọng Quán hy sinh trong trận đánh cuối năm 1885, nghĩa quân đã về theo Nguyễn Trạch. Ở Cẩm Xuyên, phong trào tập trung dưới sự chỉ huy của Huỳnh Bá Xuyên. Nhưng nghĩa quân gặp nhiều khó khăn. Lãnh binh Nguyễn Chuyên đóng ở một miền núi giáp Thạch Hà bị giặc đánh úp, ông bị bắt và đã cắn lưỡi tự tử ở dọc đường. Đế Dừ cũng bị bắt và hy sinh. Ở Nghi Xuân, Ngô Quảng và Hà Văn Mỹ hoạt động được ít lâu thì đem quân về với Cao Thắng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 09:20:27 AM

Như vậy, ở Hà Tĩnh, trong thời gian từ 1885 đến 1888, phong trào có nhiều chuyển biến. Những đội quân lẻ tẻ, thiếu tổ chức không thể đứng vững nổi trước lực lượng quân thù mạnh và có vũ khí tối tân. Điểm lại, không kể quân của Phan Đình Phùng do Cao Thắng chỉ huy vẫn giữ vững và phát triển, ở Hà Tĩnh chúng ta chỉ thấy còn lại quân của Bá hộ Thuận ở Thạch Hà, quân của Nguyễn Trạch, Nguyễn Chanh ở Can Lộc, quân của Võ Pháp ở Kỳ Anh và quân của Huỳnh Bá Xuyên ở Cẩm Xuyên. Cũng như những đội quân còn lại ở Nghệ An, họ tuy được rèn luyện trưởng thành trong chiến đấu, nhưng vẫn ở tình trạng cô lập và phân tán và từ sau khi Hàm Nghi bị bắt, thì nghĩa quân không tránh khỏi có tư tưởng hoang mang dao động. Phong trào sụt xuống rõ rệt và đòi hỏi sự thống nhất lãnh đạo tập trung ở một số người có uy tín lớn rộng. Chỉ trên cơ sở đó cuộc kháng chiến ở Nghệ Tĩnh mới có thể tồn tại và phát triển trong giai đoạn mới. Giữa lúc này, cụ Phan ở ngoài Bắc về trực tiếp chỉ huy nghĩa quân và tập hợp lực lượng chống Pháp. Từ đấy, phong trào Nghệ Tĩnh bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới.

Nhận được chiếu Cần Vương, Phan Đình Phùng và nhiều nhà khoa bảng có danh vọng ở địa phương đã đứng ra ứng nghĩa. Phan Đình Phùng sớm biết rằng, muốn chiến thắng bọn tư bản phương Tây thì phải đoàn kết được rộng rãi nhân dân, thống nhất lực lượng trong Nam ngoài Bắc. Vì vậy, ngay sau đó, ông đã ra Bắc, giao quyền lại cho Cao Thắng và khuyên chưa nên sớm bộc lộ lực lượng. Thực hiện chỉ thị của ông, Cao Thắng đưa đại bản doanh về Hương Sơn, nơi có địa thế hiểm trở để xây dựng phong trào. Phải nói rằng, Cao Thắng vừa chiến đấu và chỉ huy giỏi, vừa là người có tài tổ chức. Từ một đội quân còn mỏng manh, ông đã xây dựng nên một đội ngũ có tổ chức hùng hậu. Ông biết gần gũi nghĩa quân, tin cậy và thương yêu họ. Vì thưởng phạt nghiêm minh nên họ giữ được kỷ luật chặt chẽ. Nghĩa quân ở các nơi dần dần theo về với Cao Thắng. Mặc dù xuất thân từ thành phần nông dân nghèo khổ, nhưng tính ông khảng khái, khiêm tốn, biết nhường nhịn, nên nhiều nhà khoa bảng, thân hào thành thật cộng tác với ông. Ông lại được nhiều người có tâm huyết, như Thái Vĩnh Chinh, Nguyễn Huy Giao, Nguyễn Quỳnh hết lòng giúp đỡ. Cao Thắng rất chú trọng đến vấn đề lương thực vũ khí. Ông thấy rằng muốn thắng địch phải tự sản xuất được vũ khí và ông quyết tâm thực hiện ý định này. Loại súng trường do Cao Thắng chế tạo ra, địch phải thừa nhận rằng không kém gì so với súng của Pháp sản xuất. Trong công việc sản xuất vũ khí, ông đã được sự giúp đỡ đắc lực của Đội Quyên và Lê Phát. Đội Quyên, biệt hiệu là Đại Đẩu, ở làng Yên Phúc, xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ. Năm 16 tuổi, ông đã là một thợ rèn giỏi ở Nguyệt Tỉnh, huyện Hưng Nguyên. Khi phong trào Cần Vương bùng nổ, ông theo Lê Ninh khởi nghĩa, sau đó theo Cao Thắng và được giao việc tổ chức chế tạo vũ khí. Lê Phát, lúc đầu theo Lê Ninh làm thư ký trong quân. Cuộc khởi nghĩa Lê Ninh thất bại, ông theo về với Cao Thắng. Ông rất thông minh, có tinh thần tìm tòi nghiên cứu. Súng ống hỏng của nghĩa quân đều do ông sửa chữa. Cao Thắng đã tin yêu và cử ông giữ chức kiểm biện. Cao Thắng đã cùng Đội Quyên, Lê Phát miệt mài tìm tòi và khắc phục khó khăn, chế tạo ra được những khẩu súng đầu tiên theo kiểu Tây phương.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 09:20:45 AM

Về sau, rút kinh nghiệm của Cao Thắng, các quân thứ cũng đều tổ chức công binh xưởng chế súng. Theo các bô lão địa phương kể lại, quân thứ Can Lộc cũng lập công binh xưởng ở gần đồn Cơn Khế, giữa khu rừng rậm, kín đáo, xung quanh có nhiều thác nước chảy làm cho người đi ngay cạnh cũng không nghe thấy tiếng kéo bễ, búa đập. Việc sản xuất vũ khí của Cao Thắng đã có tiếng vang lớn, thanh thế nghĩa quân ngày càng rộng rãi. Năm 1888, cụ Phan trở về, hy vọng lấy phong trào Nghệ Tĩnh làm cơ sở để thống nhất lực lượng nghĩa quân trên toàn quốc. Hưởng ứng lời kêu gọi của cụ, các đội quân ở Nghệ Tĩnh đã cử người tìm đến Hương Sơn để xin gia nhập. Căn cứ vào tình hình cụ thể từng nơi, cụ đặt ra các quân thứ để phối hợp chiến đấu và mở rộng hoạt động chống Pháp.

Việc thành lập các quân thứ gắn liền với quá trình thống nhất lực lượng nghĩa quân Nghệ Tĩnh. Các quân thứ đều dựa vào cơ sở cũ, nơi nào yếu thì được bổ sung giúp đỡ phát triển. Các quân thứ chủ yếu được thành lập từ sau khi cụ Phan ở Bắc về. Phong trào Quảng Bình cũng được cụ chú ý. Trong thời gian này, nghĩa quân Quảng Bình đang gặp khó khăn, Tôn Thất Thiệp bị hy sinh trong lúc bảo vệ Hàm Nghi, Tôn Thất Đạm thoái chí tự tận, Lê Trực ra đầu thú. Phong trào sút xuống rõ rệt, nghĩa quân tan rã bỏ ra Hà Tĩnh tìm đến căn cứ Cao Thắng. Để duy trì và xây dựng lại phong trào Quảng Bình, Phan Đình Phùng lập hai quân thứ:

- Lệ thứ (Lệ Thủy) do Nguyễn Bí chỉ huy;

- Bình thứ (Quảng Bình) do Nguyễn Thụ chỉ huy.

Phan Đình Phùng còn mong muốn thống nhất phong trào chống Pháp trên toàn quốc. Theo tài liệu của địch, nghĩa quân Phan Đình Phùng đã nhiều lần vượt đèo Ngang vào miền Nam Trung Bộ nhằm xây dựng lại phong trào. Còn ở ngoài Bắc, lấy danh nghĩa Đốc Thị Lưỡng Kỳ Quân vụ đại thần, ông đã cử Tống Duy Tân chỉ huy phong trào chống Pháp cùng với hai ông Nguyễn Đức Ngữ và Hoàng Văn Thúy (tức Đốc Ngữ và Đề Kiều). Năm 1892, Tống Duy Tân bị giặc bắt, Cầm Bá Thước vẫn tiếp tục chiến đấu và tham gia phong trào Phan Đình Phùng, ông được cử chỉ huy quân thứ Thanh Hoá (Thanh thứ).

Cuộc khởi nghĩa lớn ở Nghệ Tĩnh do Phan Đình Phùng lãnh đạo chính là kết tinh và trưởng thành từ phong trào chống Pháp rộng lớn của nhân dân Nghệ Tĩnh, Quảng Bình và Thanh Hóa. Điều đó nói lên rằng Phan Đình Phùng và Cao Thắng không những đã biết tổ chức và chiến đấu, mà còn lo đến việc thống nhất các lực lượng nghĩa quân. Điều đó cũng cắt nghĩa cho sự tồn tại và sức mạnh của nghĩa quân Phan Đình Phùng trong những năm cuối thế kỷ thứ XIX.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:48:24 PM

Câu hỏi 2: Cho biết khái quát về thân thế, sự nghiệp Phan Đình Phùng với cuộc khởi nghĩa Hương Khê?
Trả lời:


Trong công cuộc đánh giặc cứu nước của các văn thân vào cuối thế kỷ XIX, Phan Đình Phùng - lãnh tụ nghĩa quân Hương Khê xuất hiện như một ngôi sao sáng nhất.

Phan Đình Phùng tên hiệu là Châu Phong, sinh năm 1847 tại làng Đông Thái (nay là xã Tùng Ánh), huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình có truyền thống hiếu học, trọng đạo nghĩa, con cụ Phó bảng Phan Đình Tuyển; là em ruột các ông Tú tài Phan Đình Thông, Cử nhân Phan Đình Thuật và là anh ruột Phó bảng Phan Đình Vận.

Phan Đình Phùng thi đậu cử nhân năm 1876, năm sau, 1877, đậu Đình nguyên Tiến sĩ, nên nhân dân địa phương còn gọi là cụ Đình; được bổ Tri huyện Yên Khánh (Ninh Bình), sau đó cụ được đổi về kinh đô Huế, sung chức Ngự sử Đô sát viện. Cụ Phan nổi tiếng về tính cương trực và thẳng thắn. Năm 1882, cụ dâng sớ đàn hặc Thiếu bảo Nguyễn Chánh về tội "ứng binh bất biến" (cầm quân ngồi yên không đi tiếp viện) khi giặc Pháp tiến công thành Nam Định. Năm 1883, vì thấy Tôn Thất Thuyết làm việc phê Dục Đức lập Hiệp Hòa, cụ đứng lên phản đối và vì thế bị Tôn Thất Thuyết đuổi về làng.

Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương, Phan Đình Phùng đã đứng ra chiêu tập quân sĩ chống Pháp. Các anh hùng hào kiệt khắp bốn tỉnh miền Bắc Trung Kỳ tự nguyện liên kết lực lượng dưới quyền chỉ huy tối cao của cụ Đình. Nghĩa quân xây dựng căn cứ tại vùng núi rừng Hương Sơn, Hương Khê (Vụ Quang) hiểm trở, nhằm tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Địa bàn hoạt động rất rộng, bao gồm vùng Nghệ Tĩnh và một phần tỉnh Quảng Bình và tỉnh Thanh Hóa. Ngay từ buổi đầu kháng chiến, cụ đã có nhận thức đúng đắn: cần có sức mạnh của toàn dân mới có thể chiến thắng được quân thù và cần có vũ khí hiện đại. Do đó, cụ đã giao cho Cao Thắng lãnh trách nhiệm tổ chức và xây dựng phong trào ở Nghệ Tĩnh, còn cụ ra Bắc (1887) đặt quan hệ và vận động thống nhất các lực lượng chống Pháp ở cả hai miền. Cao Thắng, người tùy tướng tài ba lỗi lạc của cụ, sau mấy tháng trời lao động, ngày đêm tìm tòi đã cùng các đồng chí chế tạo được súng đạn đánh Pháp, đặc biệt là súng trường kiểu 1874, đồng thời còn chăm lo giáo dục nghĩa quân tinh thần hăng hái dũng cảm, quyết chiến và ý thức tổ chức kỷ luật...

Năm 1888, Phan Đình Phùng ở Bắc về, trực tiếp lãnh đạo phong trào; thanh thế của nghĩa quân ngày càng lớn mạnh. Cụ chia nghĩa quân ra làm 15 quân thứ, mỗi quân thứ có từ 100 đến 500 nghĩa binh, có đề đốc hoặc lãnh binh chỉ huy, riêng đại đồn Vụ Quang lúc nào cũng có 500 quân trở lên.

Chiến thuật, chiến lược của cụ là dựa vào núi rừng hiểm yếu và công sự kiên cố để đánh giặc. Nhưng khác với lối đánh lập chiến tuyến cố định như của nghĩa quân Ba Đình (Thanh Hóa) trước đó, cụ biết dùng căn cứ vững chắc phối hợp với lối đánh du kích để tiêu diệt quân thù. Nghĩa quân có căn cứ địa nhưng không thủ hiểm, luôn luôn phân tán hoạt động đánh đồn diệt viện, chặn đường giao thông; không phá được đồn thì nhử địch ra ngoài để tiêu diệt; dùng hố chông, cạm bẫy để đánh địch, do đó đã làm cho quân địch nhiều phen khiếp sợ. Trận Vụ Quang tháng 10 năm 1894, áp dụng mưu kế "Sa nang úng thủy" của Hàn Tín đánh quân Sở ngày xưa, đã làm cho bọn địch tổn thất nặng nề: 100 lính và ba sĩ quan địch bị tiêu diệt; nghĩa quân thu 50 súng và rất nhiều quân trang, quân dụng. Vì vậy, mặc dù phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn gian khổ, cụ vẫn duy trì cuộc kháng chiến được mười năm, là thời gian dài nhất trong phong trào Cần Vương của nhân dân ta chống Pháp vào cuối thế kỷ XIX.

Trong sự nghiệp mười năm "Cần Vương chống Pháp", Phan Đình Phùng luôn luôn nêu cao tinh thần bất khuất, một lòng một dạ cứu nước, cụ đã chiếm được lòng tin yêu của nghĩa quân và lòng kính mến của nhân dân. Giặc đem danh lợi ra mua chuộc cụ, nhưng thất bại. Chúng dùng vũ lực đế uy hiếp tinh thần, cụ không sờn lòng. Chúng bắt thân nhân của cụ, khai quật mồ mả tổ tiên, cụ không nản chí. Câu trả lời khảng khái của cụ trước mặt tên Lê Kinh Hạp Tiễu phủ sứ - tay sai của giặc, khi hắn dọa bắn giết người anh ruột là Phan Đình Thông và đào mả tổ tiên, đã nói lên khí tiết của một vị anh hùng dân tộc: "Nay tôi chỉ có một ngôi mộ rất to nên giữ là nước Việt Nam; tôi chỉ có một ông anh rất to đang bị lâm nguy là mấy triệu đồng bào. Nếu về mà sửa sang lại phần mộ của tổ tiên riêng mình, thì ngôi mộ cả nước kia ai giữ? Về để cứu sống ông anh của riêng mình, thì còn bao nhiêu anh em trong nước ai cứu?".

Phan Đình Phùng kiên quyết kháng chiến, một lòng một dạ vì nhân dân, vì đất nước. Đến cuối năm 1895, trong một trận giao chiến ác liệt, cụ bị thương và sau đó đã hy sinh tại quân doanh vào ngày 28 tháng 12 năm 1895. Từ đó, phong trào Cần Vương của nhân dân ta coi như kết thúc, chấm dứt cả một thời kỳ đấu tranh vũ trang oanh liệt do các nhà sĩ phu văn thân yêu nước lãnh đạo.

Cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo là bản hùng ca bất tử của dân tộc Việt Nam trong công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Đứng về giá trị truyền thống mà nói thì đây là một sự tiếp tục, một sợi dây nối liền với những chủ trương của các sĩ phu yêu nước tiến bộ trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:49:08 PM

Câu hỏi 3: Cho biết đôi nét về làng Đông Thái, Đức Thọ, Hà Tĩnh - nơi sinh của Phan Đình Phùng và những người thân trong gia đình ông?
Trả lời:


Đông Thái là một làng nổi tiếng nhất trong tỉnh Hà Tĩnh, được mọi người gọi là làng có nhiều mũ cánh chuồn, vì xưa nay có người đậu đạt lớn, làm quan to rất nhiều. Khởi lên từ đời nhà Lê, phát một ông Quận công, nhà giàu có, hay làm việc phúc đức, dân trong địa phương đều được nhờ cậy, cho nên người ta sùng bái lắm, tôn ông là "Kiều Quận công".

Đến đời gần đây, làng Đông Thái lại càng đại phát, thi đậu hay làm quan cũng vậy. Ví như Quận công Hoàng Cao Khải và hai tổng đốc Hoàng Mạnh Trí, Hoàng Trọng Phu, ba cha con hiển hách một thời. Còn nhớ lúc ông quận Hoàng bày tiệc thọ bảy mươi, có người mừng câu liễn rất đúng, rất ý nghĩa: "Con cái một nhà hai tổng đốc, Pháp Nam hai nước một công thần”.

Đối với họ Phan, thì từ ông Phan Như Tính làm tổng đốc tỉnh Hải Dương hồi còn thuộc về Nam triều và chính là thầy học của cụ Phan Đình Phùng cho tới các ông Tiến sĩ Phan Đình Du, Phan Trọng Mưu, Phan Huy Nhuận, v.v... đều là người đồng hương đồng thời với cụ Phan.

Người ta thường bảo hai cái thái cực không gặp nhau. Đằng này chúng ta thấy hai cái thái cực cùng ở một làng Đông Thái: Họ Hoàng phò tá bảo hộ được vinh hiển đến tột bậc, họ Phan chống cự bảo hộ cũng quyết liệt tột bậc!

Họ Phan, từ thủy tổ ở đời Lê, truyền đến Đình Phùng là 12 đời, mà đời nào cũng có người thi đậu lớn, làm quan to, cho nên người ta thuở trước đã từng đặt tên cho xóm họ Phan ở là "Ô-y hạng", tỏ ý là một xóm toàn người đậu đạt cao sang.

Ông thân sinh ra Phan Đình Phùng là Phan Đình Tuyển, đậu Phó bảng khoa Giáp Thìn (1844) về thời vua Thiệu Trị. Làm quan tới Phủ doãn phủ Thừa Thiên, sau vâng mệnh vua sai ra Bắc làm chức Tán lý Quân vụ dẹp giặc ở tỉnh Lạng Sơn, bị tử trận.

Phan Đình Phùng có năm anh em:

Anh cả là Phan Đình Thông, đậu Tú tài, làm Phó quản đốc một đội thuyền chiến; thứ hai là Phan Đình Thuật, đậu Cử nhân làm Giáo thọ; thứ ba là Phan Đình Tuấn mất sớm; cụ Phan là thứ tư; còn người em út là Phan Đình Vận, đậu Phó bảng làm Tri phủ. Cụ còn hai em khác mẹ nữa, nhưng không ai thành đạt.

Phu nhân Phan Đình Phùng là con gái một quan phủ ở làng Thọ Tường cũng thuộc về tổng Việt Yên, sinh ra được bốn người con trai, về sau, phu nhân và mấy người con trai lớn đều mất sớm về bệnh điên, nhằm lúc Phan đang cầm quân kháng cự binh Pháp ở núi Vụ Quang, cho nên cụ đã than thở: "Mình sinh gặp phải lúc gia biến, quốc biến, thê biến, tử biến".

Trong bốn người con trai của cụ, duy có người sót lại là Phan Đình Cừ có tiếng thông minh, can đảm.

Phan Đình Cừ còn gọi là Bá Ngọc, hồi nhỏ theo cụ ở luôn trong quân. Đến năm Bính Thân (1896), nghĩa là sau khi cụ mất một năm, thì trốn đi du học ở Nhật Bản. Nhiều người tưởng chắc mai sau Bá Ngọc có thể nối được chí lớn của cha. Nhưng về sau xoay đổi xu hướng, có lẽ suy nghĩ việc nước không thể cứu lại được nữa, dẫu có làm gì thì chẳng qua cũng như "dã tràng xe cát biển Đông, nhọc lòng mà chẳng nên công chuyện gì", rồi người ta thấy Nguyễn Bá Trác về trước đưa Bá Ngọc về sau, quy thuận chính phủ bảo hộ làm những việc có hại cho phong trào cách mạng Việt Nam ở hải ngoại. Sau đó Bá Ngọc lại đi sang Tàu, song lần này đi một cách công khai. Không biết Bá Ngọc đi như thế có mục đích gì, chỉ biết cuối năm 1921, có tin ngoài báo về rằng một đêm Bá Ngọc đang chơi đèn, đốt pháo ở Hàng Châu (Trung Quốc) bất thình lình bị một thanh niên Việt Nam yêu nước cầm súng lục chĩa ngay vào Bá Ngọc mà bắn bảy phát, làm Bá Ngọc chết tươi, chấm dứt cuộc sống của một con người sớm bị khuất phục bởi lợi danh và đi ngược lại con đường cách mạng của cha mình.

Cụ Phan lại còn một bà vợ thứ nữa, tức là em ruột ông Lại bộ Tham tri Trần Trạm. Bà này về ở với cụ và sinh được một người con trai là Phan Đình Cam nhưng bị mất sớm; sau lại sinh hạ một người con trai nữa. Năm 1925-1926, còn thấy bà và cậu thứ nam đó ở làng Đông Thái. Sau đó, tin tức ra sao cũng chưa rõ.

Hồi cụ Phan cầm quân khởi nghĩa, những lúc lên ghềnh xuống thác, xông pha hòn đạn mũi gươm, sớm tối đều có bà truy tùy ở trong quân cho tới khi chung cuộc, nên người ta gọi bà là "cố nguếch rừng". Nguếch là một tiếng ở Nghệ Tĩnh dùng để chỉ người đàn bà nào đẻ con đầu lòng là gái; rừng là để chỉ rằng bà theo hầu cụ Phan ở trong rừng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:49:52 PM

Câu hỏi 4: Trình bày tóm tắt diễn biến, kết quả một số trận đánh của nghĩa quân Hương Khê?
Trả lời:


Sau khi củng cố lực lượng, ổn định tổ chức, được sự cổ vũ của toàn dân, nghĩa quân bắt đầu tác chiến.

Năm 1889

Ngày 1 tháng 9 năm 1889, Đề Niên lập hai đồn tại Mỹ Hòa đánh thắng trận càn của đơn vị lính tập do tên Thiếu úy De Ninort chỉ huy. Nghĩa quân diệt được 16 tên lính khố xanh và một tên lãnh binh ngụy. Tuần phủ Hà Tĩnh và tên Giám binh Jacquet phải mang nhiều binh lính đến cứu nguy.

Ngày 15 và 16 tháng 12 năm 1889, nghĩa quân đột kích đồn Dương Liễu gây cho địch nhiều thiệt hại.

Cuối tháng 12 năm 1889, nghĩa quân đánh đồn Hương Sơn do tên Thiếu úy Lambert và Roty chỉ huy đóng giữ.

Năm 1890

Tháng 3 năm 1890, đồn Hương Sơn bị tấn công một lần nữa, địch hoang mang lo sợ xin viện binh ứng cứu. Quân địch tăng cường càn qua huyện La Sơn và Hương Sơn. Đề Thắng và Phan Trọng Mưu anh dũng chống cự. Ở Hương Khê, các ông Bang Trúc và Hiệp quản Diệp tăng cường hoạt động, quân địch buộc phải rút lui.

Ngày 13 tháng 4 năm 1890, Đốc Chanh và Đốc Trạch phục kích giặc ở làng Hốt, nhiều lính khố xanh và lính dõng bị tiêu diệt.

Đêm 26 và 27 tháng 5 năm 1890, cai khố xanh tên là Hép ở đồn Trường Lưu ra hàng nghĩa quân, chỉ đường cho quân ta đánh đồn này. Đêm 28 tháng 5, nghĩa quân công đồn ráo riết, hai tên Thiếu úy Devogh và Trouve bỏ đồn chạy, quân ta rút về căn cứ. Ngày 29 tháng 5, chúng tăng viện chiếm lại đồn.

Đêm 31 tháng 5, đồn Trường Lưu lại bị ta tấn công, địch đóng cửa đồn không dám chống cự, nghĩa quân chuyển sang đánh đồn Hương Sơn.

Đêm 12 tháng 6 năm 1890, một toán lính khố xanh do Cai Lai chỉ huy từ Napé về Hà Trai bị Đề Đạt phục kích, tiêu diệt.

Đêm 13 tháng 6 năm 1890, nghĩa quân đánh đồn Hương Sơn và bao vây đồn Linh Cảm.

Ngày 14 tháng 6 năm 1890, Giám binh Lambert bị đánh bại khi đi càn quét ở phía trên Hương Sơn vội vàng rút chạy.

Ngày 26 tháng 6 năm 1890, hai thiếu úy khố xanh và Lambert bị chặn đánh tại Gia Định, Đông Tài và làng Hót. Địch rút chạy, nghĩa quân đánh đồn Trường Lưu lần thứ tư.

Đêm 28 rạng ngày 29 tháng 6 năm 1890, nghĩa quân đánh địch ở hai làng Trung Lễ và Thượng Ích, giặc thiệt hại nặng nề và rút chạy. Sau đó địch cho quân về đốt phá hai làng này.

Ngày 20 tháng 7 năm 1890, đồn Linh Cảm bị nghĩa quân tấn công, tên thượng tá ngụy đến tiếp cứu bị nghĩa quân phục kích chặn đánh tiêu diệt. Phía nghĩa quân, Đội Trạc và Cai Hẹp bị thương.

Đêm 21 tháng 7, nghĩa quân đánh đồn Quỳ Châu, do điều tra không kỹ, nghĩa quân thất bại. Lãnh Thiệt hy sinh. Giặc do thám biết tình hình nghĩa quân do Đề Mậu chỉ huy ở vùng Cây Chanh, Đồn Cốc. Công sứ Nghệ An là Luce tổ chức bao vây đánh Đề Mậu. Quân địch bao vây bốn mặt, Đề Mậu chỉ huy nghĩa quân vừa đánh, vừa theo đường bí mật rút lui.

Ngày 2 tháng 9 năm 1890, quân địch từ Hà Tĩnh về Kỳ Anh dồn lực lượng đi càn quét bị Đốc Chanh phục kích ở Cẩm Xuyên.

Ngày 14 tháng 9 năm 1890, nghĩa quân chặn đánh quân Lambert tại làng Xuân Liễu cách thị xã Hà Tĩnh 14km.

Tháng 10 năm 1890, nghĩa quân hai huyện Hương Khê và Hương Sơn hợp với quân của Đốc Chanh đánh đồn Nam Huân. Cuộc chiến đấu kéo dài năm ngày từ 20 đến 25 tháng 10 tại các làng Gia Hanh và làng Hốt cùng các vùng phụ cận.

Tháng 12 năm 1890, địch điều thêm quân đánh vùng Trại Tháp cách Nam Huân 6km. Nghĩa quân của Mai Văn Vinh đánh đồn Linh Cảm và chống trả quyết liệt cuộc càn quét của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại buộc chúng phải rút về căn cứ. Đây là giai đoạn nghĩa quân hoàn toàn chủ động chiến trường tại các huyện Thanh Chương, Hương Sơn, La Sơn, Hương Khê.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:50:13 PM

Năm 1891

Ngày 2 tháng 2 năm 1891, Bang Biện ở Vinh đánh úp đơn vị lính tập di chuyển từ Nam Huân về Nghệ An. Địch bị thiệt hại nặng nề.

Từ ngày 2 đến ngày 9 tháng 3 năm 1891, Giám binh Boudon chỉ huy càn quét từ Tri Bản đến Quỳ Hợp và kéo vào Hương Sơn. Nghĩa quân bí mật phục kích ở Thiều Thôn đánh địch giải thoát được đoàn tù binh của ta do Thiếu úy Hugnit áp giải từ Nam Huân về Linh Cảm.

Trận đánh kéo dài bốn giờ đồng hồ. Hugnit thoát chết, còn Boudon từ Truông Vắt, Trại Tháp về đến Linh Cảm thì bị tấn công. (Trong khi đó, ngày 2 đến ngày 5 tháng 3, Đốc Đốp và Bá hộ Thuận tấn công quân của Lambert ngay gần tỉnh lỵ Hà Tĩnh).

Ngày 28 tháng 3 năm 1890, Đề Thanh đánh quân của Thiếu úy Robert tại Thượng Bổn.

Đầu và cuối tháng 4, nghĩa quân tiêu diệt được một toán lính khố xanh khi chúng kéo đến càn quét và nghĩa quân bao vây đồn Đức Thọ.

Tháng 6 năm 1891, Boudon bị nghĩa quân đánh úp phải bỏ đơn vị chạy tháo thân.

Ngày 15 tháng 7 năm 1891, Lãnh binh Dương Lê đánh nhau với quân Thiếu úy Duravisean. Trước các hoạt động lẻ tẻ nhưng liên tiếp của nghĩa quân, địch đã cho Giám binh Boudon, Hugnit, Bourgeois, Focher, Magistris, Margnet và Robert là những sĩ quan trấn đóng các vùng Linh Cảm, Chợ Bộng, Tri Bản (Hà Tĩnh) mở cuộc càn quét rộng lớn từ ngày 1 tháng 9 năm 1891 ở khắp nơi nhưng nghĩa quân vẫn đủ sức cơ động chống trả làm tiêu hao nhiều sinh lực của địch.

Ngày 19 tháng 11, Duravisean, Magistris và Montignean đem quân đến Tràng Sim bị nghĩa quân đánh kịch liệt hàng giờ đồng hồ, gây cho địch nhiều thiệt hại rồi nghĩa quân chủ động rút an toàn về Vụ Quang.

Ngày 19 tháng 12, Đề Thắng đem quân đi đánh địch ở Lương Điền.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:50:48 PM

Năm 1892

Đầu tháng 3 năm 1892, nghĩa quân do Bá hộ Thuận chỉ huy đánh đồn Trung Lễ bắt được hai tên bá hộ phản động giam tại Lạc Hà, đánh úp đồn huyện Thạch Hà bắt sống viên tri huyện.

Cũng trong thời gian này, Cao Thắng cho quân đóng giả lính khố xanh bắt Tuần phủ Đinh Nho Quang lúc này giữ chức Tiễu phủ Quân vụ huyện Hương Sơn tại nhà riêng vì Đinh Nho Quang đã viết thư tố cáo và nói xấu Phan Đình Phùng với Pháp. Nhưng Phan Đình Phùng không sát hại mà bắt nộp cho nghĩa quân sáu ngàn đồng bạc rồi giữ lại bản Đồn. Việc bắt Đinh Nho Quang đã làm cho bọn Việt gian hoảng sợ, hoang mang.

Mấy tháng đầu năm 1892, tên Công sứ Damade được lệnh mở cuộc càn quét lớn vào khu Tràng Sim là căn cứ nghĩa quân Đề Thắng. Lính khố xanh Hà Tĩnh được huy động tối đa kéo vào vùng giữa Ngàn Phố và sông Cả rồi tiến vào rừng Tràng Sim.

Nghĩa quân chia lực lượng làm hai phần: một phần ở lại chống càn quét, một phần luồn về hoạt động gần tỉnh lỵ Hà Tĩnh và các phủ huyện lân cận.

Ngày 2 tháng 3 năm 1892, địch đánh vào Tràng Sim, Đinh Nho Quang và Cử Nhan được giải thoát, nghĩa quân lập kế cho người báo với viên chỉ huy Hugnit chỗ ở của Bá hộ Thuận tại Kỳ Anh và Nam Huân. Hugnit lập tức đem quân đến vây bắt. Khi đến nơi thì chỉ thấy đồn không nhà trống. Tràng Sim được an toàn. Hugnit lọt vào vòng vây của nghĩa quân. Tên Thiếu úy Briscout vội đem quân từ Kỳ Anh đến cứu cũng bị nghĩa quân phục kích đánh chặn. Sau hai giờ kịch chiến, địch thiệt hại nặng nể, Briscout chạy tháo thân về đồn Kỳ Anh. Còn Hugnit mãi sau mở được vòng vây chạy về đồn Voi lại bị chặn đánh, sau nhờ viện binh cứu thoát.

Như vậy là chiến dịch càn quét của đạo quân Damade sau hai tháng tưởng sẽ nhấn chìm được nghĩa quân nhưng chúng đã bị nhiều tổn thất, đến cuối tháng 4 năm 1892 phải kéo quân về căn cứ.

Ngày 8 tháng 6, lính khố xanh và lính dõng đến chợ Hương Sơn cách đồn Ngụy Giang chừng 1km thì bị phục kích.

Nghĩa quân lại bí mật về làng Trung Lễ, Đông Khê và Văn Lâm trừng trị một số Việt gian ác ôn, giết tên Hiệp quản ngụy tại đồn Đông Khê. Trưởng đồn Linh Cảm đem quân đến cứu bị phục kích ở Văn Lâm. Quân địch ở Nam Huân và Tri Bản đến tăng viện cho Linh Cảm cũng bị nghĩa quân chặn đánh cho tan tác dọc đường.

Tối 18 tháng 6, toán quân vận lương của nghĩa quân ở Hà Tĩnh đánh nhau với địch, trưởng đồn Robert đưa quân đến trợ chiến tại Truông Vắt thì nghĩa quân lại tiến đến bao vây đồn Nam Huân làm cho tên chỉ huy De Soulages, Robert và Hugnit mất thế chủ động phải xin gấp viện binh.

Như vậy, trong các năm 1889, 1890, 1891, 1892, nghĩa quân liên tiếp chủ động tấn công địch trong hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Địch tổ chức nhiều cuộc càn quét nhưng vẫn không ngăn nổi hoạt động của nghĩa quân. Chúng cho bọn Việt gian, thám báo thường xuyên đi sâu vào các vùng nghĩa quân đóng giữ. Có nguồn tin cung cấp cho địch là Phan Đình Phùng với nhiều tướng lĩnh và quân sĩ đang đóng tại căn cứ Hội Trung, Cao Đạt đóng tại La Sơn, Bá hộ Thuận đóng ở Trại Chè, Đốc Chanh đóng ở Thiều Thôn.

Ngay lập tức chúng lập kế hoạch tiến đánh Trại Chè của Bá hộ Thuận để đánh lạc hướng nghĩa quân rồi bất ngờ mang đại quân đánh thẳng vào Hội Trung tiêu diệt nghĩa quân ở Hữu ngạn Ngân Sơn nhằm bắt sống Phan Đình Phùng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:51:04 PM

Từ ngày 5 đến ngày 9 tháng 8 năm 1892, các tên chỉ huy Hugnit, Bourgeois, Le Pare và Lãnh binh Trọng chỉ huy quân càn quét từ Hà Tĩnh đến Trại Chè theo ba mũi:

- Thiếu úy Hugnit và Focher đưa 80 lính khố xanh đến Hương Khê.

- Robert và Bourgeois đưa 60 lính tập đến Trạc Cuội Hương Sơn.

- Lambert cùng Thiếu úy Crénon và Antariani đem 50 lính theo đường vòng đến Hương Khê.

Cả ba mũi quân tạo thành một gọng kìm, lấy giờ G là 21 giờ đêm 12 tháng 8 năm 1892 đồng loạt tấn công. Nhưng do địa bàn hiểm trở và sự cảnh giác cơ động của nghĩa quân, công tác điều tra, trinh sát của địch không chính xác, lực lượng huy động cho cuộc hành quân ít, đội hình bị kéo dài tạo điều kiện cho nghĩa quân phục kích đánh chặn. Thực ra, lực lượng nghĩa quân lúc này đã có mặt tại các phủ huyện, liên lạc giữa các đơn vị với nhau hết sức chặt chẽ. Ngoài việc chống càn quét, nghĩa quân còn có thể chuyển nhanh từ thế thủ ra thế công. Chủ tướng Phan Đình Phùng thường xuyên theo dõi, nghiên cứu nắm được mọi tính toán của kẻ địch.

Đúng giờ G, 21 giờ đêm 12 tháng 8, Robert đánh vào tiền đồn của nghĩa quân, đến sáng 13 tháng 8 thì tiến sâu vào rừng để lùng sục nhưng không gặp lực lượng nào. Bất ngờ, 20 giờ đêm 13 tháng 8 nghĩa quân phản công mãnh liệt, tiêu diệt 16 lính địch, đánh bị thương 15 tên, một số tên sa vào hố chông và bẫy chặt. Bọn địch phải vội vàng rút quân về căn cứ.

Đặc biệt là trong lúc địch đang dàn quân càn quét căn cứ nghĩa quân Khê Thượng, Hương Khê, Hương Sơn thì đêm 23 tháng 8 năm 1892, Bá hộ Thuận được lệnh của Phan Đình Phùng bí mật đem quân đến sát thị xã Hà Tĩnh, một toán quân nghi binh đánh vào phố xá gây náo động, thu hút sự chú ý của địch, để cho hai cánh quân lớn tấn công ráo riết vào trại khố xanh và nhà lao Hà Tĩnh gây cho địch nhiều tổn thất và giải phóng được 70 nghĩa quân đang bị chúng giam giữ.

Bọn địch nghe tin nghĩa quân tấn công thị xã Hà Tĩnh vội vàng thu quân đang càn quét các nơi rút nhanh về giữ các căn cứ ở đồng bằng. Nghĩa quân ung dung vận tải lương thực, chiến lợi phẩm về khu căn cứ an toàn.

Từ đó đến ngày 15 tháng 12 năm 1892 mới có cuộc đánh nhau giữa nghĩa quân với bọn Robert và Bourgeois ở núi Quạt.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:51:28 PM

Năm 1893

Tháng 1 năm 1893, quân Pháp lại mang lính khố xanh và lính dõng đi càn quét dãy núi Ngàn Trươi (Vụ Quang) và Truông Vắt. Chỉ huy các đạo quân là bọn Lambert, Maricini, Hugnit. Theo kế hoạch của chúng, ngày 7 tháng 1 năm 1893, De Soulages đã đem quân về phía Bắc, xuất phát từ Khiêm Ích nhưng ở đây chúng chỉ toàn gặp lều trại trống vắng. Hugnit từ Tràng Sim đi về phía Nam đến Khê Thượng bị quân ta chặn đánh, không làm sao ra khỏi địa điểm này đành phải mở vòng vây quay về Hòa Duyệt. Ngày 23, Lambert tiến vào Khe Ngọt bị nghĩa quân phục kích chặn đánh bị thương phải ngưng lại. Còn tên chỉ huy Bourgeois mãi đến ngày 21 vẫn không tiến nổi, vội liên lạc với Hugnit và ngày 6 tháng 2 năm 1893 chúng bị nghĩa quân tấn công tiêu diệt 20 tên và nhiều tên khác bị thương. Chúng phải rút lui.

Ngày 29 tháng 3 năm 1893, Đề Thắng đánh thiệt hại quân của Bourgeois ở Mỹ Đức rồi rút an toàn về Trại Chè.

Đầu tháng 4, Đề Thắng đem quân đánh nhau với Robert và Bourgeois ở Mỹ Duệ một lần nữa.

Cuối tháng 4, tên Hugnit được thăng Giám binh giữ chức chỉ huy trưởng vùng Hương Khê, Hương Sơn bèn xuất quân đánh vào Trại Chè thì Phan Đình Phùng cho nghĩa quân luồn về đồng bằng tấn công các đồn Trung Lương, Kim Chúc ở Can Lộc, đồn Hương Khê và nhiều căn cứ trong huyện Nghi Xuân - Hugnit vội rút quân về bảo vệ các căn cứ đang bị uy hiếp.

Từ tháng 5 đến tháng 7, Đề Nam, Đốc Trạch quấy phá địch dữ dội theo chiến thuật "địch đi ta đến, địch đến ta đi”, tức là tránh gặp địch để đánh địch những lúc sơ hở và bất ngờ làm cho địch hoang mang, bối rối.

Như vậy cuộc khởi nghĩa Hương Khê khởi đầu từ cuối năm 1885 đến 1893 đã 8 năm. Trải qua bao gian nan, vất vả, vừa đánh, vừa xây dựng lực lượng, khi thuận lợi, khi khó khăn, nghĩa quân đã trưởng thành nhiều mặt. Liên tiếp những năm 1889-1890-1891-1892-1893, các tướng sĩ đã nắm vững yếu tố nhân hòa, địa lợi để chống các cuộc càn quét lớn của địch và lợi dụng tình thế nghĩa quân đã chuyển nhanh từ thế thủ sang thế công, chủ động tấn công địch hàng trăm trận, có trận thắng lợi rất vẻ vang. Nhưng lúc này do triều đình phong kiến đầu hàng, thoả hiệp, thực dân Pháp đã đặt được bộ máy thống trị khắp cả nước, một hệ thống đồn bốt áp sát vào các căn cứ nghĩa quân. Còn nghĩa quân thì vẫn cơ động đánh địch, chống trả quyết liệt các cuộc càn quét nhưng địa bàn càng ngày càng bị thu hẹp và lùi sâu vào trong rừng. Việc tiếp tế lương thực ngày càng gặp khó khăn. Các quân thứ ở Quảng Bình, Thanh Hóa mất dần liên lạc, việc ứng cứu nhau kém dần hiệu quả.

Cao Thắng nghĩ đến tương lai của cuộc khởi nghĩa, đề xuất với Phan Đình Phùng phải có những trận đánh lớn về đồng bằng, mở rộng địa bàn đất đai và dân cư, nếu không nghĩa quân ngày càng hao mòn thu hẹp, lương thực khó khăn sẽ và tự bị tiêu diệt. Phan Đình Phùng từ lâu cũng đã nhận thấy cứ quanh quẩn trong rừng núi của bốn tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình mà không ra được đồng bằng cũng là tự thất bại rồi, nếu tồn tại thì lâu dài cũng trở thành đội quân "lục lâm thảo khấu" mà không đạt được mục đích sự nghiệp. Sau khi phân tích, nhận rõ tình thế, Phan Đình Phùng chấp nhận kế hoạch cho Cao Thắng đem quân chủ lực đánh vào thành Nghệ An. Quân thứ các tỉnh nhất tề hoạt động để phân tán lực lượng địch. Thu giữ được thành Nghệ An thì các quân thứ khác cũng có điều kiện thu giữ các sở lỵ nơi mình đang hoạt động. Có thể coi đây là cuộc tổng phản công địch của nghĩa quân Hương Khê. Trận đánh quyết định sống hay là chết để mở ra một tương lai xán lạn hay là để tự diệt một cách vẻ vang.

Cao Thắng từ căn cứ Vụ Quang (Ngàn Trươi) đem 1.000 binh chia làm hai đạo tiến ra Nghệ An. Cao Thắng và Nguyễn Niên chỉ huy một đạo 500 quân làm nhiệm vụ tiên phong. Cao Nữu chỉ huy một đạo 500 quân làm nhiệm vụ hậu tập. Trên đường hành quân Cao Thắng đã đánh thắng và thu hồi được mấy đồn. Một số đồn nghe tin Cao Thắng chỉ huy tấn công đã tự động rút chạy. Đến đồn Nỏ Thanh Chương, Cao Thắng chia lực lượng tấn công. Trong trận đánh này Cao Thắng bị quân của Thiếu úy Phiến bắn bị thương. Và cuối cùng do vết thương quá nặng Cao Thắng hy sinh tại trận tuyến. Thế là kế hoạch tiến về đồng bằng tan vỡ. Tin Cao Thắng hy sinh đã làm cho Phan Đình Phùng chết lặng người và từ đó ông tiên lượng sự khó khăn của cuộc khởi nghĩa trong những năm tiếp theo.

Sau khi Cao Thắng hy sinh, lực lượng nghĩa quân ngày càng hao mòn, lương thực ngày càng thiếu thốn, địa bàn hoạt động ngày càng bị thu hẹp. Việc thông tin liên lạc và ứng cứu cho nhau giữa các quân thứ khó khăn dần, có quân thứ đã bị mất liên lạc hoàn toàn. Địch dùng chính sách chiêu hàng, phái Khâm sai đại thần Hoàng Cao Khải vốn là bạn học cùng quê hương với Phan Đình Phùng thực hiện chính sách này.

Hoàng Cao Khải dùng đủ mọi lý lẽ tình cảm viết thư khuyên Phan Đình Phùng hạ khí giới trở về với triều đình sẽ được giữ nguyên quan tước bổng lộc. Nhưng Phan Đình Phùng đã kiên quyết thà chết không hàng địch, từ chối thẳng bức thư của Hoàng Cao Khải. Kế hoạch dụ hàng thất bại, bọn Pháp lại dùng chính sách quân sự tập trung lực lượng đánh mạnh vào lực lượng nghĩa quân. Nhưng nghĩa quân vẫn chủ động tấn công quân địch.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:51:47 PM

Năm 1894

Ngày 1 tháng 3 năm 1894, nghĩa quân đánh vào đồn Chợ Phố và hai hôm sau nhử địch đến một làng ở gần đó để phân tán lực lượng tạo điều kiện cho đơn vị bạn tấn công.

Ngày 4 tháng 3 năm 1894, nghĩa quân lại tấn công địch, cùng ngày tên chỉ huy Brisout bị nghĩa quân chặn đánh trên đường hành quân.

Ngày 29 tháng 3 năm 1894, Đốc Bình và Nguyễn Bảo tấn công đồn Nỏ giết được Thiếu úy Phiến - tên Việt gian đã chỉ huy quân ngụy bắn chết Cao Thắng.

Ngày 31 tháng 3 năm 1894, Bá hộ Thuận mở cuộc tập kích vào thị xã Hà Tĩnh, một lần nữa nhằm thực hiện lại kế hoạch cũ của Cao Thắng nhưng kết quả thu được không nhiều.

Trong ba tháng 4, 5, 6 năm 1894, nhiều cuộc giao chiến diễn ra giữa các tướng lĩnh nghĩa quân là Phan Duy Cầm, Đốc Cơ, Đốc Trạch với toán quân De Soulages, Philippe của Pháp.

Ngày 25 tháng 6 và đêm 12 tháng 7 năm 1894, đồn Pháp ở Quỳ Hợp bị nghĩa quân tập kích.

Ngày 14 tháng 7 năm 1894, tên chỉ huy Pháp Rallier du Paty tấn công Bá hộ Thuận. Nghĩa quân chống trả quyết liệt, nhiều lính địch rơi vào hầm chông, trúng đạn, bị chết và bị thương cuối cùng phải rút lui.

Cùng ngày tên Samaran mang quân đi càn quét ở phủ Diễn Châu và huyện Anh Sơn, khi về gần tỉnh lỵ Vinh chúng đã bị nghĩa quân chặn đánh.

Ngày 27 tháng 7 năm 1894, tên chỉ huy Soulages bị đánh tại Đại Hàm, y bị thương tháo chạy.

Tháng 8 năm 1894 có nhiều trận đánh tại Ngàn Cỏ và núi Mò Ho giữa quân bảo hộ do các tên Pháp Samaran, De Soulages, Gruault, Rallier du Paty, Focher cùng các tướng lĩnh nghĩa quân.

Cuối năm 1894, nghĩa quân phải di chuyển tổng hành dinh sang Đại Hàm. Lực lượng nghĩa quân bây giờ đã yếu, giặc đánh thẳng vào đại đồn. Hai bên giằng co nhau rất kịch liệt. Phan Đình Phùng đóng quân trên núi. Địch bao vây dưới chân. Núi này thuộc làng Tình Diệm là quân Diệm thứ ở vùng núi Đại Hàm do tướng Cao Đạt chỉ huy. Nghĩa quân có hơn 400 người, vũ khí có trên 200 khẩu súng, lương thực đang bị thiếu thốn.

Địch có hàng ngàn quân vừa lính vừa dân phu phục dịch chiến trường. Địch vây chặt, tấn công ráo riết. Các đường tiến thoái của nghĩa quân bị bịt kín, Phan Đình Phùng trưng cầu ý kiến tướng sĩ. Cao Đạt và Nguyễn Mục cùng các nghĩa sĩ kiên quyết xin đánh. Phan Đình Phùng ra lệnh nổ súng vào đám quân đầu tiên của địch. Hai bên đánh nhau luôn 15 ngày liền. Nghĩa quân ở trên núi có thế đánh rất lợi. Địch tiến lên bao nhiêu bị ngã gục bấy nhiêu. Quân địch bị tổn thất nặng nề phải gọi viện binh, Phan Đình Phùng cho quân nghi binh rút khỏi Đại Hàm trở lại núi Quạt an toàn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:52:10 PM

Năm 1895

Tháng 1 năm 1895, nghĩa quân lại từ núi Quạt rút về Vụ Quang định lập căn cứ tại một đỉnh núi hiểm trở. Nhưng đỉnh núi này đã bị địch chiếm đóng. Phan Đình Phùng chọn một địa điểm tương đối hiểm trở ở thung lũng Vụ Quang đóng quân. Trước trại nghĩa quân có con sông Vụ Quang nước chảy rất xiết. Phan Đình Phùng và các tướng lĩnh dự kiến thế nào địch cũng dò la và tấn công nên đã có phương án chủ động đề phòng trước.

Phan Đình Phùng cùng các tướng lĩnh bàn phương án tác chiến, dùng kế "Sa nang úng thủy" của Hàn Tín đánh quân Sở ngày xưa bên Tàu để lừa địch. Trận này ta thu được rất nhiều chiến lợi phẩm và vũ khí đạn dược. Đây là trận thắng oanh liệt giữa lúc nghĩa quân đang lâm vào cảnh vô cùng khó khăn.

Ngày 5 tháng 1 năm 1895, Đề Đạt đánh tan một đơn vị khố xanh đang trên đường càn quét.

Nghĩa quân Hương Khê thắng luôn mấy trận liền nhưng vẫn không cải thiện được tình thế, không làm chủ được chiến trường, vẫn bị quân địch bao vây kiêm tỏa.

Ngày 20 tháng 1 năm 1895, Haguet cho ngụy phó quản Di đem một đội khố xanh đến đánh nghĩa quân ở làng Trại thuộc huyện Nghi Xuân. Từ đấy đến tháng 5 năm 1895 nghĩa quân vẫn phải cơ động để bảo toàn lực lượng, cuộc sống của nghĩa quân càng ngày càng khó khăn.

Ngày 10 tháng 5 năm 1895, Margnet tấn công nghĩa quân của Phan Đình Nghinh ở Truông Vắt bị nghĩa quân đánh trả quyết liệt.

Ngày 12 tháng 5 năm 1895, Lý Võ cho quân tập kích đơn vị của Thiếu úy Daufès. Tháng 6 năm 1895, có nhiều trận đánh giữa nghĩa quân Phan Đình Nghinh và Đề Đạt với quân của bọn chỉ huy Pháp Haguet, Fonre, De Soulages, Franit, Hugnit tại Truông Vắt và Công Khê. Tuy có tổ chức được các cuộc giao chiến chống càn quét và tấn công trực tiếp vào các đồn địch nhưng nghĩa quân mỗi ngày lại bị lún sâu vào thế bị động. Ngược lại, bọn Pháp lúc này đã đặt được ách bảo hộ khắp toàn quốc do triều đình Huế đã đầu hàng thỏa hiệp hoàn toàn nên có điều kiện tăng cường lực lượng bao vây, ép chặt nghĩa quân vào rừng sâu, núi hiểm.

Tháng 7 năm 1895, tên Nguyễn Thân lãnh chức Khâm mạng Đại thần đại diện cho bọn phong kiến Nam triều ra đánh dẹp nghĩa quân bốn tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình. Duvillier, Công sứ Nghệ An làm tư lệnh ngụy quân bốn tỉnh, đốc suất 15 tên giám binh và 3.000 lính khố xanh mở cuộc tấn công vào Hương Khê nhằm mục đích xóa sổ cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo.

Trong lúc này quân chủ lực Hương Khê cũng như các quân thứ bị chia cắt, rời rạc, các phương tiện giao thông, liên lạc bị gián đoạn, lương thực, vũ khí và quân số bị thiếu hụt không bù đắp được. Các đường tiếp tế bị phong tỏa, các địa phương trước đây thường xuyên cung cấp lương thực cho nghĩa quân bị vây ráp, khủng bố, có làng bị triệt hạ. Nhân dân hết đường tiếp tế lương thực cho nghĩa quân.

Mỗi lần bị địch tấn công, nghĩa quân chỉ cơ động để bảo toàn lực lượng trong rừng núi từ dãy Giăng Màn sang núi Quạt rồi về lại Vụ Quang. Trong hoàn cảnh cấp bách này, Phan Đình Phùng do quá gian khổ, vất vả, thiếu ăn, mất ngủ, lo đại sự không thành đã lâm bệnh kiết lỵ nặng.

Ngày 12 tháng 7 năm 1895, một toán quân dân mang cá khô và muối gạo cho nghĩa quân bị tên De Soulages phục kích đánh cướp.

Ngày 19 tháng 7 năm 1895, Phó lãnh binh Hồ Lai bị bắt.

Đề Mậu, Đề Vinh đóng quân ở Quỳ Châu, Diễn Châu và Anh Sơn định tìm về đồng bằng nhưng không nổi, họ bị vây đánh gắt gao. Stenger, Allier tập trung quân đội tại Thổ Hoàng để bắt Phan Đình Phùng vì giặc cho rằng lúc đó Phan Đình Phùng đang ở Vụ Quang. Khi chúng tràn đến thì nghĩa quân đã rút hết.

Ngày 28 tháng 12 năm 1895, Phan Đình Phùng do bệnh quá nặng đã trút hơi thở cuối cùng tại căn cứ núi Quạt, thọ 49 tuổi.

Sau đó một số tướng lĩnh của nghĩa quân đã ra hàng như Đốc Phương, Đốc Trạch, Nguyễn Duyệt, Đề Mậu, Phan Đình Nghinh, Phan Đình Phong, Phan Đình Cẩn, Phan Đình Trinh.

Riêng Tôn Thất Hoàng, Hiệp Tuân, Phan Đình Thoại, Tôn Thất Định chiến đấu cho đến khi bị bắt, còn Đề Đạt, Nguyễn Mậu và một số khác rút sang Xiêm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:52:47 PM

Câu hỏi 5: Xuất phát từ những nguyên nhân nào làm cho Phan Đình Phùng từ một cậu học sinh dốt, lười học mà có quyết tâm phấn đấu để trở thành tiến sĩ?
Trả lời:


Những người được gần cụ Phan đều nói cụ tướng mạo rất xấu, nếu cứ lấy hình thức bên ngoài mà xét người thì không có ai ngờ về sau cụ lại trở thành anh hùng. Nhà tướng số nói cụ chỉ khác người được một quý tướng, là khi nằm ngủ thì mình mẩy ửng đỏ hồng hào lên, đó là một tướng rất lạ.

Thuở còn nhỏ, Phùng học rất dốt, đến nỗi học trước quên sau. Khi thấy thầy dạy học nói mai sau Phùng không làm được gì nên thân, hơn nữa thấy anh em mình ai cũng thông minh học giỏi, Phan Đình Phùng lấy làm phẫn uất vô cùng, cố gắng học để bằng anh bằng em.

Chính vì thế mà ròng rã trong bốn năm năm, trong tay không rời quyển sách, chân không bước ra đường, chỉ mài miệt nơi ánh sách ngọn đèn, quyết chí lập được công danh sự nghiệp. Phan thường nói với bạn đồng học: "Ta cố học để mai sau chiếm bằng được khôi nguyên".

Cụ Phan sinh ra vào đúng hoàn cảnh nước ta kén chọn nhân tài chỉ có từ chương khoa cử. Ai không ở trong vòng đó bước ra thì không thể là nhân tài, mà cũng khó có ngõ nào để xuất thân cho được.

Sau khi vua Gia Long vừa thống nhất trong nước xong, tức thời gươm giáo xếp xó, thơ phú lên đàn. Vua quan làm gương và khuyến khích dân: luôn mấy triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, toàn là Thiên tử thi phú; bầy tôi danh vọng như Hà Tôn Quyền, Doãn Uẩn toàn là quần thần từ chương. Vua tôi tưởng trong nước có bờ cõi, có nhân dân, thế là trời Nam định phận, không biết bên ngoài có cường lân, có địch quốc thường để mắt đến. Mọi việc khư khư chẳng chịu cải cách, cửa bể đóng chặt, thời thế chẳng hiểu... Kén người thì khinh võ bị mà lại trọng văn chương. Dạy dân thì bỏ thực học mà chuộng khoa cử.

Giữa lúc thiên hạ kẻ thì đang ra tay chinh phục đất xa, người thì biết lo thân tự cường cải cách, thế mà ở nước mình, vua quan vẫn kiềm chế giữ nhân dân ở chặt trong vòng học cũ thói xưa. Người ta lo mở mang những thương mãi, những công nghệ, những cơ khí, những khoa học, còn mình chỉ lo có một việc từ chương khoa cử.

Chính vì nhà vua giữ mãi chế độ từ chương khoa cử, buộc dân phải theo, ai đến "khoa hoạn” mới là tới mục đích nhân sinh, hễ ai đi trái con đường ấy, thì không ngõ xuất thân nào khác. Cho nên những người dưới cái chế độ đó, bao nhiêu tư tưởng, bao nhiêu hy vọng, bao nhiêu chí khí, đều quanh quẩn ở trong bốn chữ; bốn chữ ấy chia ra làm hai đoạn đó là: thi đậu và làm quan.

Cụ Phan sinh ra vào đúng hoàn cảnh như thế, thì cách lập chí xuất thân của cụ trừ khoa cử ra không còn có đường nào hơn, vậy nên thấy cụ có chí "học quyết khoa" không lấy gì làm lạ.

Vì quyết chí mai sau phải chiếm được giải khôi nguyên để khỏi phụ lời mình đã nói cứng cáp, đến nỗi có một phen Phan Đình Phùng đã liều chết.

Năm 21 tuổi cùng em là Phan Đình Vận, thọ nghiệp với ông bác là Phan Đình Tuân, đậu Tú tài, gặp giữa năm ấy có khoa thi, Phùng năn nỉ bà thân mẫu đến xin bác cho mình được cùng em đi thi. Ông bác nói: "Phùng học hãy còn kém sút, nó chưa đi thi khoa này được, hãy đợi khóa sau".

Cậu năn nỉ xin đi thi không được, đâm ra bực mình phẫn chí, lén sai đầy tớ ra chợ mua một lượng hương nhu là vị thuốc độc về, viện cớ mua để thử chế thuốc pháo, nhưng kỳ thật là đem trộn vào ly rượu, rồi gọi em là Phan Đình Vận tới bảo rằng: "Sinh ra làm trai, cốt được học, học cốt đi thi, học mà không được đi thi thì còn sống làm gì. Phen này anh liều chết cho rồi đời". Em sợ quá, kiếm lời an ủi can ngăn mãi song anh không nghe, một hai đòi uống thuốc độc tự tử mà thôi. Cực chẳng đã, Phan Đình Vận phải chạy mau tìm kiếm bà thân mẫu để nói cho bà nghe rằng anh Phùng đang uống rượu độc tự tử. Trong khi ông Vận đi kêu mẹ, thì Phùng đã uống thuốc độc mà mê man bất tỉnh rồi. Sau bà thân mẫu tới, hô hoán người nhà hàng xóm lại cấp cứu. Họ lấy nước đậu xanh và cam thảo cạy miệng ra mà đổ, một lúc lâu Phùng mới tỉnh. Ấy là lúc nhỏ, vì chút khoa danh mà Phan đã có can đảm khinh sinh liều chết đến thế, thảo nào sau ra làm quan, mắng Tôn Thất Thuyết giữa triều đình, cùng là khởi nghĩa trong mười năm trời, lấy sức châu chấu đá voi, tỏ ra một người can đảm đầy mình, làm việc gì cũng không sợ, coi chết như không.

Đến mãi khoa thi Bính Tý (1876) là năm cụ 39 tuổi, mới đậu Cử nhân. Qua năm sau (1877) vô kinh thi hội, đậu Đình nguyên Tiến sĩ. Lời thề "thế nào cũng chiếm giải khôi nguyên" ngày xưa, bây giờ đã được toại nguyện.

Cụ Phan lấy đức thuần phác trung hậu làm gốc sự học, cho nên khi viết văn cũng vậy. Lại thêm một tính cách thật thà mạnh dạn hơn người, đó là điều gì biết thì nói biết, điều gì không biết thì nói ngay không biết, không có lấp liếm che giấu. Đến nỗi khoa đi thi đình, đầu bài chính tay vua ra, có vấn đề nào cụ chưa học tới, chưa từng nghiên cứu, thì trong bài làm, tới chỗ đó, cũng viết ngay rằng: "Sĩ vị tằng đọc, bất cảm mạo tấu”, nghĩa là: "Chỗ này tôi chưa học, tôi không dám tâu càn". Chính vì thế mà biết được trong sự học của cụ có đức thận trọng và tự khiêm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:55:06 PM

Câu hỏi 6: Khi ra làm quan, Phan Đình Phùng rất cương quyết, dám nói, dám làm, dám xử lý nghiêm những chuyện sai trái. Cho biết một số chi tiết về nội dung trên?
Trả lời:


Thời ấy, ai cũng phải khẳng định cụ Phan có hai tính cách đặc biệt là: thẳng và gan.

Khi còn là học trò ở quê, một làng bên cạnh đắp con đường đi xuyên thẳng qua làng Đông Thái, theo lẽ mê tín phong thủy của ta ngày xưa, thì việc mở con đường này tất nhiên có hại cho cuộc lạc nghiệp an cư của dân Đông Thái; nhưng không ai dám đứng lên cản trở. Cậu học trò Phùng ngang tàng đảm nhận việc ấy. Cậu xách gươm ra, ngồi lỳ ở bên đường, nói rằng hễ ai đi qua đường này thì chém chết. Thế mà con đường ấy từ đó về sau phải bỏ rêu phong cỏ mọc không ai dám lai vãng đi qua nữa.

Chính vì có tính khảng khái dũng cảm như vậy, cho nên lúc ra làm quan gặp việc gì ngang tai trái mắt, mà thiên lương bảo phải làm để sửa lại, là cụ Phan mạnh dạn bảo ngay, dẫu biết rằng làm việc đó sẽ có hại đến tước lộc hay nguy đến tính mệnh mình cũng mặc.

Cụ làm quan, không như những kẻ tham quyền cố vị khác là hễ gặp việc gì khó khăn thì lại co đầu thụt cổ lại không dám mở miệng ra để nói ra lẽ phải. Bởi họ lo sợ nếu như việc phải đó mà mình làm ra hay nói ra, e thiệt hại cho vợ con mình, thân danh mình, sẽ mất cả áo ấm cơm no, không còn được lên xe xuống võng. Họ nghĩ thà cứ chiều đời ngậm miệng cho được vinh thân là hơn. Trái lại, cụ Phan không phải là hạng làm quan như thế. Bởi vậy mà khi làm Tri phủ Yên Khánh ở Ninh Bình, thấy một ông cố đạo bản xứ hay ỷ thế tôn giáo, hà hiếp lương dân, cụ Phan không kiêng nể ngần ngại gì, cụ hô lính đè cổ giáo sĩ đó xuống hỏi tội và đánh thẳng tay.

Giáo sĩ bị trận đòn ấy là cụ Trần Lục, người ta còn gọi là cụ Sáu, nhờ thế lực Pháp mà được triều đình phong làm Tuyên phủ sứ có oai quyền lừng lẫy một vùng Phát Diệm Ninh Bình, ai cũng phải sợ. Người ta nói ông có cái đức giết người như rạ, không kém gì Tôn Thất Thuyết. Chính vì thế mà việc cụ Phan cho đánh một ông cố đạo là đánh kẻ có tội hà hiếp người, chớ không phải bầy tỏ thâm ý ghét đạo Thiên chúa.

Đám văn thân ta lúc đó cùng có một ý nghĩ chung, cùng ôm một mối thù chung; gặp đâu có nhà thờ là đốt phá, gặp đâu có ông "mặc áo dài thâm" là vặt râu, gọt đầu, bắt bước qua cây thánh giá, thích chữ vào mặt, rồi giết chết. Bởi các ông văn thân lầm tưởng rằng những người theo đạo Thiên chúa đều là quân nội công của người Pháp. Trước đó, từ vua đến quan, từ quan đến dân đều tin tưởng như thế cho nên đã gây nên không biết bao nhiêu chuyện rắc rối giữa lương và giáo; không ít những cảnh đánh giết nhau xảy ra.

Nhưng với cụ Phan thì lại suy nghĩ khác. Với kẻ thân tín, cụ vẫn thường nói: “Đạo Thiên chúa lấy Gia Tô làm Trời, cũng như Thích Ca Mâu Ni là Trời của đạo Phật hay Khổng Phu Tử là Trời của nhà nho. Hễ ai đã tín ngưỡng điều gì, thì điều ấy là Trời của mình. Mình muốn người ta đừng xâm phạm đến sự tín ngưỡng của mình, thì mình đừng xâm phạm đến sự tín ngưỡng của người ta. Thiên chúa cũng là một thứ tôn giáo, mặc ai tin thì theo”. Còn như thuở ấy nếu người ta bảo giáo dân là quân nội công của người Pháp, thì cụ lại nói: "ấy là tại nước mình hèn yếu, không có nhân tài, không có tàu bền, súng lớn, quân mạnh tướng giỏi, chớ lỗi chi ở giáo dân. Chồn mượn oai hùm, dê đeo dạ cọp, ấy là thường tình của con người ta, có lấy chi làm lạ. Xứ nào mà không có hạng người hèn ấy".

Giữa lúc nhà nho đều cố chấp mà cụ Phan có tư tưởng rộng lượng như thế, quả thật cụ rất xứng đáng làm quan.

Có người nói cụ có tư tưởng rộng lượng như thế, bởi cụ đã có dịp gặp gỡ đàm luận về vấn đề ấy với Nguyễn Trường Tộ, một danh sĩ ở Nghệ theo đạo Gia Tô.

Mặc dù vậy, nhưng nếu mà có một giáo sĩ cậy thế làm xằng và hiếp người bên lương thì cụ làm phận sự chăn dân vẫn nọc kẻ ấy ra mà đánh, không tha.

Sự thật ở đời bấy giờ, ngoài những người chuyên tâm giảng đạo, bất can thế sự ra, thật cũng có ít nhiều giáo sĩ quá ỷ thế lực người Pháp hùng cường sẵn lòng bênh vực rồi được trớn làm quá giới hạn. Họ ỷ vào thế lực đó để giữ gìn quyền lợi của nhà chung và tự do truyền giáo. Giáo dân lại cũng ỷ thế mấy ông cố, ông cha mình để bắt nạt anh em đồng loại bên lương. Do đó mà đôi bên sinh ra lắm sự đánh giết, nghịch thù lẫn nhau. Tình hình tồi tệ như vậy, khiến cho phận sự làm quan phụ mẫu địa phương, bảo cụ phải trừ tệ an dân, dù một ông cố đạo có lỗi cũng không dung thứ. Chính vì thế cho nên chuyện cụ đánh một ông cố đạo chỉ là một kẻ "ỷ thế hiếp người", không phải có ác cảm với tất cả mọi người theo đạo Thiên chúa.

Về sau cụ khởi nghĩa, có lúc kéo cờ đề chữ "Bình Tây diệt tả" là vâng theo huấn lệnh của triều đình lúc bấy giờ thường hạ chiếu khuyến khích bọn văn thân đánh phá chém giết giáo dân. Nhưng sau cụ suy nghĩ thế là không nên, vì giáo dân cũng là đồng bào, có thù nghịch gì với mình đâu, cho nên khi đóng đại binh ở núi Vụ Quang, cụ vẫn hiểu dụ bọn giáo dân rằng: "Lương dân hay giáo dân đều là xích tử của triều đình, chớ nên vì lẽ gì mà hại lẫn nhau". Như vậy, cụ Phan thật không có lòng ghét đạo Thiên chúa, chỉ ghét những giáo sĩ hay giáo dân nào ỷ thế toà làm càn.

Song ở thời ấy, đánh một ông cố đạo là một việc khó xử, khó cho triều đình trong việc giao thiệp với nước Pháp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:55:29 PM

Một nguyên nhân mà nước Pháp và nước Nam có cuộc giao binh, sau thành ra cuộc bảo hộ là tự triều đình ta làm ngăn trở việc truyền giáo, bao nhiêu năm hạ chiếu thúc giục quân dân phải ngược sát giáo dân. Triều đình thấy trong mọi việc Pháp - Việt giao thiệp đều có giáo dân làm duyên có ở trong thì cho rằng quân này "rước voi về giầy mồ", bèn ra tay cấm, giết đạo. Đến khi thấy vì cấm đạo giết đạo quá lố, mà việc giao thiệp hai nước càng thêm nguy hiểm khó khăn cho mình thì triều đình bèn trở lại trị tội những quan, những dân nào đã xâm phạm đến người đạo. Triều đình muốn làm vậy để chiều lòng người Pháp. Thế là, khi nào nước Pháp nhịn thì triều đình ta làm tới, khi nào nước Pháp giận thì triều đình ta rút lui, còn để tự triều đình thì không có chủ trương quyết định gì cả.

Bởi thế, cụ Phan Đình Phùng, Tri phủ Yên Khánh, vì lỗi đã đánh một ông cố đạo mà bị triều đình trị tội phải triệu về kinh, sung vào viện Đô sát làm Ngự sử. Năm ấy là năm Tự Đức thứ 31.

Cụ được về kinh sung vào chức này, rất thích hợp với tính cương trực của cụ. Lúc bấy giờ việc nước lôi thôi, chính sự rối bét bởi vua thì nằm cao ở chốn thâm cung, giặc thì tung hoành khắp trong bờ cõi, thế nước hồ nguy, tình dân khổ sở, thế mà các quan đại thần, tiểu thần, trong triều, ngoài quận, trên đã không giúp được vua yên nước, dưới lại không có lòng thương dân. Tóm lại các ông ấy chỉ biết lo có bản thân và làm toàn những việc dối trên hiếp dưới, không còn có kỷ cương phép tắc gì nữa. Làm Ngự sử về thời trị đã khó khăn, vì thấy nhiều ông Ngự sử khiếp sợ oai quyền, biết rõ vua sai, quan lỗi mà không dám nói, huống chi làm Ngự sử thời loạn, khôn sống mống chết, cho nên Ngự sử là chức không phải giản đơn.

Cụ Phan thật là xứng đáng một quan Ngự sử ở thời loạn, vì gặp việc sai lầm, cụ đều dám nói.

Hồi ấy, nhà vua có lập ra một sở tập bắn ở cửa biển Thuận An, cách xa kinh thành 14 cây số, bắt buộc tất cả các quan văn võ đại thần ở kinh đều phải ra đó tập bắn. Cái bản ý của nhà vua lập ra trường tập bắn cho các quan, chắc vì lúc ấy trong nước đang có binh đao, nhà vua muốn rằng bất cứ quan dân, ai cũng có thể làm quân lính được cả, cho nên định luyện tập lấy một đội quân "các quan" để rồi ra hộ vệ kinh thành, chống cự binh Pháp.

Ai cũng đủ biết trong chốn triều miếu kinh đô, ai làm nên đến bậc đại thần là vào hạng "các cụ" rồi thì có oai quyền to, thanh thế lớn, không muốn ai sợ hãi cũng có người sợ hãi; nhân vậy mà có thiếu gì kẻ bưng bợ oai quyền và khúm núm ton hót ở đằng sau các cụ. Các cụ hỏi câu gì, dẫu là dở cũng là nói gang thép, các cụ làm việc gì dẫu cho bậy bạ cũng là việc làm hơn người.

Nhưng đối với cụ Phan, những việc làm sai trái đều được cụ thẳng thắn phanh phui. Ví dụ như việc tập bắn ở Thuận An.

Nhà vua đã định lệ, hễ cụ này bắn trúng mấy phát, cụ kia bắn trúng mấy phát, thì viên chấp sự trông nom việc tập bắn phải ghi vào sổ hẳn hoi để tâu vua xem. Các cụ đã quen áo dài vai rộng, võng lọng ngựa xe, đời nào mó tay đến khẩu súng tập bắn. Không may gặp lúc trong nước có nạn đao binh, nhà vua bắt buộc quan lớn cũng phải xắn tay áo lên, tập tành cái nghề của tên lính, thì hình như việc cực chẳng đã cho các cụ; các cụ chỉ làm cho xong chuyện, khỏi trái lệnh vua thì thôi. Có khi các cụ bắn mười phát đều lên mây xanh, không có được một phát trúng đích, thế mà viên chấp sự cũng ghi vào sổ cho nhiều, làm như là các cụ đều bắn giỏi cả.

Việc tập bắn man trá như vậy, các ông Ngự sử ở Đô sát viện đều thừa biết, nhưng ai cũng kiêng nể sợ hãi các cụ. Duy đến cụ Phan không thèm kiêng nể sợ hãi ai, vì cụ suy nghĩ: họ làm như thế là dối vua, bèn làm sớ tâu vua Tự Đức ngự giá ra cửa Thuận An, để xem các quan tập bắn cho rõ hư thực. Vua Tự Đức ngự ra xem, quả thấy trước kia sổ sách biên chép tâu lên đều là láo cả, trong bá quan tập bắn, mười phần chỉ có một hai phần bắn trúng mà thôi. Bởi vậy phê rằng: "thử sự cửu bất phát, phùng Phùng nãi phát" (việc này lâu không có ai phát giác ra, nay gặp Phùng mới phát), rồi thăng chức cho cụ làm Hinh khoa Chưởng ấn. Cả triều đình bấy giờ, ông quan nào cũng phải kiêng nể cụ về tính cương trực cảm ngôn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 05:58:10 PM

Câu hỏi 7: Trình bày những chi tiết mà Phan Đình Phùng đã làm cho Tôn Thất Thuyết nể phục? Khi vua Hàm Nghi phong cho cụ làm Tán lý Quân vụ, thống tướng các đạo nghĩa binh, cụ đã kéo cờ khởi nghĩa và đã tập hợp được lực lượng nghĩa quân lớn mạnh như thế nào?
Trả lời:


Có thể nói thời thế đã đào tạo cụ Phan trở nên một người anh hùng, cho nên ở vào hoàn cảnh nào, từ khi sinh ra cho đến lúc ra làm quan, lúc về làm ruộng ở nhà đều là những cơ hội xui khiến cụ phải ra để làm một việc của nhân tâm thời thế trao cho. Những cơ hội ấy có thể nói thời thế đã sắp đặt tạo điều kiện cho Phan Đình Phùng.

Khi vua Hàm Nghi tới Hàm Thao, định từ đấy đi lên Sơn phòng Hà Tĩnh nên mới hạ chiếu cho văn thân Hà Tĩnh tiếp giá, nhưng nghe quân Pháp đuổi gần tới nơi, Tôn Thất Thuyết phải lật đật đem ngài lánh đi chỗ khác. Nay đây mai đó, mãi tới tháng 10, ngài mới lui về đến miền thượng du tỉnh Quảng Bình.

Năm ấy ngài mới có 15 tuổi, đối với thời cuộc cũng chưa có cảm giác gì mấy; chỉ biết nhà tan nước mất là thương, thân mình dãi gió dầm sương, bơ vơ lưu lạc là khổ, chứ không biết chủ trương ứng phó với cảnh ngộ ra sao. Cho nên bị đuổi rất nguy, mà nên chạy đi đâu, nên làm thế nào, nhất thiết ngài đều theo Thuyết chủ trương; ngài chỉ như một chiếc thuyền con lênh đênh trên mặt sóng, mà Thuyết là người cầm chèo bẻ lái.

Sự thế đến cùng rồi, Thuyết nghĩ bây giờ chỉ còn trông cậy có dân, nghĩa là muốn lấy dân khí dân tâm chống với tàu bền súng lớn, đó là khí giới cuối cùng của Thuyết định chống với người Pháp. Nhưng mà dân lúc đó khác nào như lá rụng ở trong rừng ban đêm, phải ai có sức thu thập lại cho thành đông, thì mới chụm lửa mà đốt lên cho sáng được. Thuyết bèn nghĩ ngay đến người mà hồi xưa ở trong triều mắng mình mà mình đã định cho chém đó là Phan Đình Phùng.

Tôn Thất Thuyết có thể gọi là một bậc người "ở đời trị thì làm năng thần1, ở đời loạn thì làm gian hùng" được. Ví như việc đối với Phan Đình Phùng thì đủ biết. Lúc còn quyền cao chức trọng ở trong triều, Thuyết đã bỏ tù một viên án sát ở ngoài Bắc là Tôn Thất Bá, vì ông này dám nói là thế lực của người Pháp 8 phần thì mình chỉ có 2, làm sao chống nổi. Thuyết đã từng giết cả một viên quan ở bộ Binh là ông Chuyên, vì ông này đi đâu cũng nói rằng: "Khiêm khùng Thuyết ngu"2. Thuyết còn giết đến cả ông Thượng thư Trần Tiễn Thành, vì ông này ngăn cản không cho ông chống cự với người Pháp. Đó đều là những người có thế lực to và danh vọng lớn cả, mà Thuyết còn không tha, hễ ai phạm đến Thuyết thì sẽ mất mạng. Phan Đình Phùng hồi ấy không có bè đảng gì to, khiến cho Thuyết chẳng có gì là sợ, thì Thuyết muốn giết lúc nào mà chẳng được. Thế mà vì việc giết vua nọ, bỏ vua kia, cụ Phan mắng Thuyết giữa triều đình có mặt đông đủ các quan văn võ là kẻ phản thần mà Thuyết không giết. Phản ứng tức thời và kịch liệt của Thuyết là thét quân lính đưa Phan Đình Phùng ra chém, nhưng ngay sau đó lại cho giam vào ngục rồi cách chức đuổi về quê. Chắc hẳn Thuyết đã có chủ kiến. Thuyết biết rằng: cụ Phan Đình Phùng có cái tư tưởng hợp với Thuyết, đó là tư tưởng chống người Pháp tới cùng, dẫu biết rằng sức mình không thắng nổi. Thuyết không giết một người bạn đồng chí chắc hẳn biết trước rằng thời thế sau này sẽ cần dùng đến người như thế.

Còn cụ Phan cũng biết rằng Thuyết đối với mình có chỗ dụng tâm sâu sắc là thế nào, cho nên dẫu bị cách chức mà không oán. Đối với việc triều đình, Thuyết đã làm ngang tàng quá thì cụ khinh, nhưng đối với việc cứu nước của Thuyết tính làm thì cụ vẫn trọng. Sau khi cụ về quê làm ruộng được ít lâu, Thuyết đem ngay một trách nhiệm nặng nề trao cho đó là cử cụ làm Tham biện Sơn phòng tỉnh Hà Tĩnh, tức là bảo cụ dự bị sẵn sàng để chống cự giặc nay mai, điều đó cụ biết Thuyết và cụ là bạn tri kỷ là vậy.
____________________________________
1. Năng thần: Bày tôi có tài giỏi giang.
2. Khiêm là Ông Ích Khiêm người Quảng Nam, văn võ kiêm toàn, vốn là một người tay chân của ông Thuyết ở trong triều hồi bấy giờ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 06:00:33 PM

Hồi cụ làm Tham biện Sơn phòng Hà Tĩnh là năm Giáp Thân (1884). Đến tháng chạp năm ấy, bà cụ thân sinh mất, cụ xin nghỉ về để chịu tang. Thế nhưng mắt cụ để luôn đến thời cuộc: mấy tỉnh ở ngoài Bắc Kỳ mất; quân Pháp chiếm Mang Cá; cửa Thuận An mất; kinh thành thất thủ, vua Hàm Nghi chạy... cụ đều biết cả. Bao nhiêu cái tin thảm thiết, làm cho cụ bồn chồn và bảo với tả hữu rằng: "Thời thế không cho ta ngồi yên đây".

Vào khoảng tháng sáu tháng bảy năm 1885 cụ nghe tin vua Hàm Nghi chạy ra tới miền thượng du tỉnh Quảng Bình, liền phái một ông cử ở trong làng là Phan Cát Su đi lên miền thượng du tỉnh Hà Tĩnh để đón, dặn rằng khi nào vua tới nơi thì về báo tin cho biết. Khi vua Hàm Nghi đến nơi, cụ cùng các ông bạn đồng chí là Phan Quang Cư, Phan Khắc Hòa, Hoàng Xuân Phong, Ngụy Khắc Kiều, Phan Trọng Mưu tới hành tại bái yết, khóc và tâu rằng: "Để cho thành tan nước mất Thánh Thượng mông trần1 là tội ở lũ thần hạ. Xin Thánh Thượng yên lòng, lúc thần hạ nguyện hết sức Cần Vương cứu quốc, dẫu chết cũng không từ, miễn để Thánh Thượng sớm được hồi cung".

Vua Hàm Nghi phong cho cụ làm Tán lý Quân vụ, Thống tướng các đạo nghĩa binh. Cụ tạ ơn lui ra, cùng với ông Thuyết bàn đại sự nhà nước.

Ông Thuyết hỏi đến kế sách tiến hành, cụ Phan phân tích rằng: Không nói thì chắc tướng quân cũng biết, thời cuộc bây giờ khó khăn lắm rồi, vì trong thời cuộc này tướng quân đã trải lắm. Xứ Nam Kỳ là chân tay của nước nhà, nhân tâm đã khá, tiền của lại nhiều, nếu chân tay mất thì thân thể không cựa quậy được nữa. Từ ngày sáu tỉnh trong Nam Kỳ mất, thực lực của nước mình tổn hại lắm rồi, tôi đã biết rằng việc đời, đành để cho nó lấn tới hoài, không thể nào cưỡng nổi. Trước sau gì thì từ Khánh Hòa trở ra Bắc, người Tây cũng lấy cả, nhưng nếu trước kia ta đừng thất sách mà giết hại bọn giáo dân và đừng ngăn trở họ về việc thông thương để làm cái cớ gây hờn cho họ, thì họ chưa lấy có đâu dùng binh mà bức bách ta nguy vong sớm đến thế. Ta nhân thời giờ đó, có thể tự tỉnh tự cường được, đâu có đến nỗi mất Bắc Kỳ rồi mất đến cả kinh thành... Đến bây giờ, khắp trong nước đâu cũng có gót chân người Tây, họ kéo đi đâu như gió lướt ở trên, cỏ mọc ở dưới, làm cho lòng người phần thì sợ hãi, phần thì chán nản. Lại thêm những đứa tiểu nhân, dựa theo thế ngoài để ăn hiếp anh em cùng giống, khiến cho bọn dân vô cố chạy không có đường, kêu không có ngõ, thật là cực khổ. Phương chi trong nước bị nạn binh cách bao nhiêu năm nay, kho tàng sạch không, mùa màng mất mãi, quân lính bị thương vẫn chưa lành, khí giới không được lấy khẩu súng tốt, nếu có bao nhiêu người chí sĩ đi nữa, nhưng quân lương lấy vào đâu, hòng chống lại cường địch cho được. Tình thế ấy đủ chứng tỏ cho tướng quân hiểu rằng thời cuộc nước ta bây giờ khó khăn tới đâu. Nhưng ta may được một thứ khí giới còn mạnh, ấy là lòng người. Lòng người dầu sao cũng vẫn còn trông cậy được. Tôi nay mà nhận cái trách nhiệm nặng nhọc này, là trông cậy vào lòng người thôi... Lòng người đã đành là một thứ võ khí mạnh rồi, nhưng nếu người ta cứ đưa súng bền đạn tốt ra mà bắn mãi vào đầu mình thì mình lấy gì chống đỡ. Thế tất mình cũng phải có khí giới. Đồ súng đạn của ta làm sao địch lại được họ? Muốn địch lại được họ, tất cũng phải có một thứ súng đạn ngang với họ mới được, Nhưng hiện nay trong nước mình vật liệu không có, người làm chưa có, thì phải trù biện ở ngoại quốc về. Đã trù biện khí giới, lại phải cầu cứu cả viện binh nữa. Nhưng nước cứu viện cho mình không phải là nước Tàu, vì nước Tàu đang lo việc nhà họ cũng rối bét chưa xong, ta không thể tin cậy được. Cứ theo ý tôi xem ra, thì tất phải nước Xiêm. Tôi cũng không tin là nước Xiêm có thể địch nổi với Tây để cứu mình, nhưng mà nhờ họ mua khí giới và cho mượn binh, thì cũng giúp cho mình có được thanh thế. Vả chăng nước họ đối với mình là một nước sui gia2 thì họa may họ còn lấy chân tình mà giúp ta chăng? Còn tôi, thì rồi đây tôi cũng phải ra ngoài Bắc một lúc để hiệu triệu cho bọn chí sĩ ngoài ấy hưởng ứng, vậy mới gây dựng được thế lực to và may ra mới thành công lớn được. Muốn làm một việc lớn như thế này, phải có thiên thời, phải có địa lợi, phải có nhân hòa. Đất Hà Tĩnh tiếng có núi cao rừng sâu, nhưng không phải có địa lợi, vì bề ngoài không ra được biển mà bề trong thì là vào rừng, vào rừng là đường chết, nếu sau này bị bốn mặt bọc vây, ở giữa tuyệt lương thì nguy lắm. Song việc đó tôi đã tính rồi. Duy được có nhân hòa là quý hơn cả, tôi dám làm đại sự là chỉ trông cậy vào đó mà thôi, còn thiên thời thì tôi không dám nói đến.

Thuyết nghe cụ nói rất lấy làm kính phục, nói rằng: Thiên thời thì ai dám chắc. Song ngài cứ vì nước hết sức, việc cầu viện rồi có tôi lo.
________________________________________
1. Mông trần: nhuốm cát bụi, tỏ ý rằng vua chạy phải nhuốm cát bụi.
2. Ngày xưa vua Gia Long có một người chị lấy vua Xiêm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2016, 06:01:35 PM

Cụ phụng mệnh trở về, liền phát tờ hịch đi khắp các nơi, kéo cờ khởi nghĩa ngay ở làng cụ là làng Đông Thái.

Trong hịch văn, đại ý nói cụ phụng mệnh vua cử nghĩa binh để chống với cường địch, cứu lại quốc gia, song việc đó là việc chung của mọi người làm dân, tự mình cụ không thể gánh vác nổi, vậy xin những bậc anh hùng chí sĩ, ở trong bốn biển chín châu, cùng ra tài ra sức cứu nước mới được, v.v...

Lời hịch văn đơn sơ mà thống thiết, khiến cho ai xem cũng phải động mối thương tâm, coi hình như là tờ hịch của ông Lạc tân vương ở đời nhà Đường ngày xưa đánh bà Võ hậu vậy. Nhân thế mà chỉ trong có một tuần, nghĩa sĩ ở các nơi hưởng ứng theo cụ có đến năm sáu ngàn người đều thề hết sức theo cụ chỉ huy, liều mình vì vua vì nước.

Cụ bèn lấy ngay nhà cụ ở làm “nghĩa sĩ đường" tụ họp nghĩa quân, làm lễ tuyên thệ, rồi chia binh ra từng đồn trại đóng khắp trong tổng Việt Yên. Đồn trại nào cũng đều có kỷ luật và có quân thám tử hẳn hoi, cách sắp đặt điều khiển rất nghiêm minh. Nơi địa đầu làng Đông Thái lập ra một cái xưởng lớn để đúc súng và chế thuốc đạn theo lối của ta và rèn gươm đao nữa. Trong xưởng này bao giờ cũng có một trăm người thợ làm việc suốt đêm ngày để nhanh có đủ khí giới cho quân dùng.

Vùng này, trước kia quang cảnh cũng như mọi chỗ khác, ban ngày trông thấy làng xóm rộng lớn, ruộng lúa, bờ tre man mác, kẻ đi chợ búa, người việc cày cấy; đến đêm thì bốn bề đen tối, tịch mịch một màu, thỉnh thoảng nghe có tiếng chó sủa cầm canh, gà đua gáy sáng. Thế mà nay thay đổi hẳn quang cảnh khác: cờ quạt rợp trời, chiêng trống dậy đất, gươm đao sáng quắc, đèn đuốc thâu đêm; người ta trông thấy hình như ai cũng nô nức tấm lòng. Những người nghe cụ khởi nghĩa mừng rỡ múa hát, nào kẻ thì dắt trâu gánh gạo đến để khao quân, nào kẻ thì nách thước tay đao đến để vào ngũ, làm cho đường sá đi lại tấp nập ngày đêm, biến hẳn quang cảnh nhà quê ủ rũ vắng vẻ kia, trở nên hùng tráng, khí phách vô cùng.

Lúc bấy giờ, anh hùng chí sĩ ở bốn phương về theo cụ rất đông; người trong làng có ông Tiến sĩ Phan Trọng Mưu1, ông cử Phan Cát Su, Phan Quang Cư, còn văn thân ở hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An thì có Thám hoa Nguyễn Đức Đạt, Hoàng giáp Nguyễn Quý, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn, Đinh Văn Chất, Cử nhân Nguyễn Hanh, hai anh em ông Lê Ninh, ông Phó bảng Võ Nguyễn Hạnh, ông Củ nhân Thái Vĩnh Chính, Cao Đạt, v.v... Vì vậy mà thanh thế của cụ rất lớn, chính phủ bảo hộ và triều đình phải chú ý đến.
______________________________________
1. Ông Phan Trọng Mưu cùng với cụ Phan đều phụng mệnh khởi nghĩa binh, nhưng sau ông thất bại trước, chạy trốn ra Nam Định, rồi ông Hoàng Cao Khải đem ra thú với bảo hộ, được bảo hộ trọng đãi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 09:18:28 PM

Câu hỏi 8: Tình hình lương - giáo hồi đó có nhiều vấn đề mâu thuẫn hết sức phức tạp, Phan Đình Phùng đã giải quyết việc đó ra sao?
Trả lời:


Tình hình lương - giáo hồi ấy rất phức tạp và đã xảy ra không ít mâu thuẫn. Bởi thế mà trận đầu tiên của cụ Phan Đình Phùng ra binh lại là đánh hai làng có đạo Thọ Tường và Thọ Ninh. Chúng ta không nên hiểu lầm việc Phan Đình Phùng đánh vào hai làng có đạo là theo chỉ dụ cấm đạo của triều đình và chủ trương “Bình Tây diệt tả” của một số phần tử quá khích trước đó, mà đánh là bởi lí do các cố đạo hai làng này đã kích động giáo dân làm nhiều điều trái đạo như đốt nhà, cướp của, hiếp đáp nhiều gia đình trong vùng...

Lúc Pháp - Việt đang giao thiệp với nhau, họ ỷ thế người Pháp bênh vực mà làm nhiều hành động cho người mình mâu thuẫn sinh thù, sinh ghét nhau. Có khi chính họ làm đà cho giáo dân làm bậy, rồi chuyện gì cũng đổ cho văn thân. Công sứ tỉnh Nghệ hồi đó là ông Du Ranton đã thuật lại việc lương giáo xung đột ở Huế đủ để làm chứng cớ: Các ông cố đạo gọi dân đến dụ dỗ, hễ ai chịu theo đạo thì được lĩnh sáu đồng bạc. Những người đã phải ngửa tay lấy tiền dụ dỗ đút lót đều là hạng người không ra gì, cơ bản là nhận thức kém và cũng là vì nghèo đói quá nên phải tìm một cách để kiếm ăn. Khi lĩnh tiền xong, họ đã về làng dọa nạt văn thân và dân lương rằng: Chúng bây liệu hồn, chúng tao đã có người Tây đỡ đầu, nếu chúng bây dám há miệng chửi tao một câu, hay là gây gổ với chúng tao một chút, là chúng tao nướng xác bây cháy ra tro và lấy hết của cải của chúng bây... Tưởng chỉ hăm dọa như vậy nhưng không ngờ họ làm thật. Đêm tối họ chụm lửa tự đốt những căn nhà tranh vách nát của họ đi, rồi la làng rằng bọn văn thân hay là dân lương đã đốt nhà và lấy hết cả của cải của họ, sau đó kiện lên chính quyền bảo hộ, được các cha cố đạo bênh vực bao che, họ được đền bù nhiều tiền bạc. Thế là họ lấy được tiền của nhà nước bồi thường cho, còn đám dân lương bị vu oan kia lại chịu tội.

Núp dưới sự bao che của chính quyền bảo hộ và các cố đạo, một số giáo dân ngày càng lộng hành, phá phách... cho nên khối đoàn kết giáo lương trong vùng luôn mất ổn định. Hơn nữa mấy ông cố đạo ở hai làng đó còn xúi giục giáo dân, định đến ám hại cụ Phan.

Vào một đêm, khoảng canh ba, quân thám tử của cụ đi tuần phòng quanh doanh trại bắt được người ở hai làng Thọ Tường và Thọ Ninh đang núp ép trong bụi tre, gần bên trường đúc khí giới. Nghĩa quân bắt được và khám xét, thấy người nào cũng có giắt vũ khí trong người, quân thám tử liền giải ba đứa về đồn nộp. Cụ Phan hội chúng tướng lại tra xét thì họ xưng rằng cố của họ xui tới lén đốt hết đồn trại nghĩa binh ở Đông Thái. Tức thời cụ hạ lệnh cho mấy toán nghĩa binh đang đêm kéo đến bao vây đánh phá hai làng Thọ Tường và Thọ Ninh. Lệnh truyền rất nghiêm: chỉ đánh phá nhà thờ, nhà cố, không được xâm phạm nhà dân.

Nghĩa quân đánh rất mạnh, mấy ông cố đạo phải sai người liều chết trốn ra khỏi vòng vây để đi báo quân Pháp đóng đồn gần đó về cứu viện. Khi quân Pháp về tới, nghĩa quân đón đầu giao chiến quyết liệt được hai giờ đồng hồ. Nhưng vì hầu hết nghĩa binh chỉ là hạng tráng đinh nhiệt huyết, vừa mới triệu tập, chưa được huấn luyện gì, cũng chưa quen việc đánh nhau, lại thêm súng đạn lúc này còn là kiểu súng của ta, cách bắn chậm chạp, không địch lại được với súng Pháp, thành ra ứng chiến được hai giờ là rất cố gắng, sau đó nghĩa quân phải thua chạy. Quân Pháp thừa thắng đánh tiến tới triệt phá trung tâm đồn trại của nghĩa quân ở làng Đông Thái.

Cụ Phan tập hợp quân lại, an ủi tướng sĩ rằng: Được thua là sự thường của binh gia, tướng sĩ ta đừng nên vì thế mà ngã lòng thối chí... Rồi cụ kéo quân tới đóng ở huyện Hương Sơn và Hương Khê, nay ở chỗ này mai dời chỗ khác, không ổn định ở chỗ nào, làm cho quân Pháp đi tiễu trừ rất vất vả tốn hao sinh lực. Chẳng những chưa dẹp được cánh quân cụ Phan, mà thanh thế cụ lại càng to va phong trào văn thân lại ngày càng phát triển.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 09:23:14 PM

Câu hỏi 9: Khi giặc bắt anh trai và dọa bắn giết, quân bảo hộ viết thư dụ Phan Đình Phùng ra hàng, cụ Phan đã trả lời chúng như thế nào?
Trả lời:


Sang đầu năm Bính Tuất (1886), Phan Đình Phùng đóng quân ở làng Phụng Công, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Còn anh trai là ông Phan Đình Thông thì đóng ở Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Không ngờ Phan Đình Thông bị tên thủ hạ là Nguyễn Sử làm phản; nó làm nội ứng, nửa đêm thừa lúc ông Phan Đình Thông đang ngủ, dẫn quân lính bảo hộ đến vây đồn, trong lúc thảng thốt ông bị bắt giải về tỉnh Nghệ An. Tổng đốc tỉnh Nghệ An hồi ấy là Nguyễn Chính, vẫn còn ghi nhớ chuyện cũ, thù hiểm cụ Phan hồi làm Ngự sử đã dâng sớ hạch tội y làm Kinh lược Bắc Kỳ không chăm lo việc dân việc nước giữa lúc gian nan. Vì sự hạch tội ấy, vua Tự Đức bãi chức Kinh lược của Nguyễn Chính. Sau nhờ bảo hộ phục chức, cho làm Tổng đốc Nghệ An.

Nay bắt được anh cụ Phan, Nguyễn Chính toan chém tức thời cho đã cơn giận và trả thù xưa. Nhưng rồi tấm lòng mưu lập đại công biểu đã ngừng tay lại, trong trí suy tính làm sao chiêu dụ được Phan Đình Phùng ra hàng, thì mình lập công lao với bảo hộ to lớn. Chừng nào chiêu dụ mà Phan Đình Phùng không chịu ra hàng thì bấy giờ sẽ giết Phan Đình Thông cũng chưa muộn. Nghĩ vậy rồi Nguyễn Chính một mặt sai kẻ tâm phúc đi dò tung tích cụ Phan ở miền Hương Sơn, Hương Khê để dỗ cụ ra quy thuận.

Hồi đó Tiễu phủ sứ Lê Kính Hạp, nguyên trước là anh em bạn thân với cụ, nhưng sau bảo hộ sai đem quân đi đánh cụ. Nhân dịp anh cụ bị bắt, Lê Kính Hạp muốn lấy lẽ cốt nhục tình thâm, bèn viết gửi cụ một bức thư chữ Hán cứng cáp gọn gàng, bức thư được dịch ra quốc văn như sau:

"Bác Phan,

Tôi với bác xa cách bấy lâu nay, tấm tình thương nhớ, chắc cũng bồi hồi như nhau, điều đó không cần phải nói.

Duy có điều phải nói là mấy lúc gần đây tôi đi qua làng Đông Thái ngó thấy đền thờ cùng là phần mộ các đứng tiên quân bác nghiêng ngả điêu tàn không ngờ; tôi sụt sùi nước mắt mà khóc.

Bác Phan! Ngày mai trong họ hàng làng xóm được an hay nguy, can hệ ở nơi bác, tính mạng ông anh bác mất hay còn, cũng chỉ can hệ ở nơi bác. Thôi thì tấc lòng trung của bày tôi đối với vua, tới đó bác cũng đủ chứng tỏ với quỷ thần rồi, không lo ai chê mình vào đâu được nữa1.

Còn HlẾU và ĐỄ cũng là cái gốc lớn của đời người ta, có lẽ nào bậc người khoa giáp như bác mà học chưa tới nơi hay sao?

Huống chi là ong nuôi tay áo, nọc ở trong mình2, tấm gương ấy không phải đâu xa, kỳ thật nó sờ sờ ở trước con mắt bác rồi đó.

Núi Hồng sông Lam3 có vô số là cảnh non nước tốt đẹp có thể làm nơi vắng vẻ thanh cao cho bác ở để tu dưỡng chí tiết của bác được4.

Thôi nên về đi thôi! Tôi xin nói thật”.


Cụ Phan nhận được thư này, cười mà nói rằng: Mấy anh đồ nho hèn nhát, động một chút là đem cửa nhà mồ mả ra để dọa nạt người ta. Cụ còn nói với chúng tướng rằng: Tôi từ khi cùng chư tướng khởi binh Cần Vương đã có chủ tâm là bỏ cả việc gia đình quê quán ra ngoài không nghĩ gì đến nữa. Nay tôi chỉ có một ngôi mộ rất to nên giữ đó là đất Việt Nam, tôi chỉ có một ông anh rất to đang bị nguy vong đó là cả mấy mươi triệu đồng bào. Nếu về mà sửa sang phần mộ của mình, thì ngôi mộ cả nước kia ai giữ? Nếu về để cứu vớt ông anh của mình, thì bao nhiêu anh em trong nước ai cứu? Tôi bây giờ thề chỉ có một cái chết mà thôi... Nói vậy rồi cụ không thèm viết thư trả lời.

Nghe chuyện mọi người đều ứa nước mắt. Cụ không chịu bãi binh quy hàng, tức là ông Phan Đình Thông bị hại. Từ đấy cụ cùng tướng sĩ đóng đồn trong rừng, trên núi, thường dùng cách đánh du kích, vì chưa đủ sức đương trường đối chiến.

Bảo hộ phái quân lính truy lùng nhiều lần. Nghĩa binh cũng giao chiến nhiều trận, có trận được, trận thua, nhưng cái lui thì nhiều, mà tiến thì rất ít. Vì quân lính bảo hộ tới đâu cũng có kẻ truyền báo và trợ lực rất là nhanh nhẹn. Còn nghĩa quân thì đánh nhau chưa có kinh nghiệm, khí giới lại xấu, chỉ trông cậy ở lòng người mà thôi nên không địch được với quân bảo hộ.

Qua năm Đinh Hợi (1887), Phan Đình Phùng nghĩ mình cô lập sẽ không làm được gì, bèn quyết kế ra Bắc Kỳ để hiệu triệu đám văn thân chí sĩ ở ngoài ấy cùng nổi lên làm thanh viện. Khi đi, cụ dặn dò chúng tướng hãy khoan đứng lên bạo động, để đợi cụ về sẽ tính sau.
_______________________________________
1. Đoạn này nói ý là cụ Phan phụng mạng vua Hàm Nghi khởi binh Cần Vương, nay nhà thờ và phần mộ đến nỗi siêu tàn nghiêng ngả hương khói vắng tanh, mà ông anh ruột lại đang bị nạn lâm nguy, thôi thì cụ nên bãi binh về đi để cho yên mọi việc trong họ hàng làng xóm, khỏi mang tội với tổ tiên quê quán. Cụ cũng đã từng khởi nghĩa rồi, nhưng mà thời thế khó khăn, gia hương quạnh quẽ, thì nên về là phải, dẫu đối với quỷ thần cũng không thẹn, mà chẳng ai còn chê được mình, vì tấm lòng trung quân của cụ đến thế cũng là đủ rồi.
2. Đoạn này nói ý là ông anh cụ bị người nhà làm phản mà bị bắt, vậy cụ suy nghĩ kỹ đi, kẻo sau lại bị thủ hạ phản phúc đem cụ ra nộp cho Tây.
3. Núi Hồng sông Lam là hai phong cảnh hùng tráng nhất ở Hà Tĩnh và Nghệ An.
4. Đoạn này nói ý rằng cụ cứ việc bãi binh mà về, không chịu ra làm quan với người Pháp thì thôi, nhưng mà núi Hồng sông Lam không thiếu chi chỗ non xanh nước biếc, vắng vẻ tốt tươi, cụ có thể ẩn cư để giữ nguyên vẹn trong sạch cái danh tiết quý báu của mình, không ai làm hại hay ép điều gì đâu mà lo.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 09:24:27 PM

Câu hỏi 10: Cao Thắng là một danh tướng nổi tiếng tham gia vào cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng ở Hương Khê, Hà Tĩnh trong cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ nhất. Cho biết đôi nét về ông?
Trả lời:


Trong lịch sử họ Phan hoạt động cách mạng, Cao Thắng ở một địa vị rất quan trọng, cho nên muốn biết rõ Phan Đình Phùng, không thể không biết đến Cao Thắng.

Khi cụ Phan khởi nghĩa, hào kiệt bốn phương về theo, phần nhiều là người có võ nghệ và có tài năng, nhưng mà người có trí, có dũng, có ân, có oai, có cơ mưu, có thao lược, nói tóm lại đủ tài làm tướng thì không ai bằng Cao Thắng. Có thể nói Cao Thắng là chân tay, là hình ảnh của cụ Phan.

Thời kỳ đầu bị thất bại, cụ chạy ra Bắc để khuyến khích anh em ngoài ấy khởi nghĩa, bởi khi ấy các tướng đã chán nản, ba quân lìa tan, việc cách mạng như một đám lửa nguội tro tàn, cơ đồ gần như tắt lịm. Thế mà có người thổi được đống lửa nguội tro tàn ấy lại cháy bùng lên, ấy là Cao Thắng. Lúc cụ trở về, thanh thế lại mạnh, tướng sĩ đã đông, lương thực đã nhiều, súng đạn cũng đã sẵn, nhờ đó mà chống cự được với quân Pháp trong mấy năm trời nữa. Bởi thế cho nên người ta có thể nói được rằng: Ví như xây một bức tường, cụ Phan đắp nền móng, mà Cao Thắng thì chồng chất mãi gạch đá cho cao chót vót lên; hoặc ví như làm một ngôi nhà, cu Phan dựng cột còn Cao Thắng thì lợp ngói, quét vôi và treo tranh... Thế có nghĩa là trong Cần Vương cách mạng lúc bấy giờ cụ Phan vẽ kiểu, Cao Thắng là thợ.

Đúng vậy, sau khi cụ đã thất bại ra Bắc rồi, các tướng võ và quân sĩ tan lạc, việc Cần Vương đến đó coi như tan rã, không mong gì có cơ hội quật khởi. Chính cụ Phan ra Bắc nằm hơn một năm trời như là người đã ngã nhào muốn dậy mà chưa biết đến bao giờ dậy nổi. Ấy thế mà Cao Thắng nâng cụ dậy được, lại huyết chiến được bảy tám năm nữa. Cao Thắng thật là người có trí, có tài.

Cao Thắng là người ở xóm Nhà Nàng, làng Lê Đông huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là con một nhà bình dân tầm thường, dáng người thấp nhỏ, ngón chân ngón tay đều ngắn, cho nên người ta bảo ông có tướng ngũ đoản (năm cái ngắn) sau sẽ là người huyết chiến sa trường, bất đắc kỳ tử.

Cao Thắng rất thông minh lanh lẹ, thuở nhỏ có đi học chữ, nhưng tính không ưa khua búa múa văn làm một nhà danh sĩ, mà chỉ muốn học võ nghệ và binh thư để sau làm một tay chiến tướng, cho nên cả ngày chỉ tập võ và thích đi săn bắn, lấy thế làm vui. Cao Thắng có người em tên là Cao Nữu cũng vậy.

Hồi năm Giáp Tuất (1874) là năm Tự Đức thứ 27, tỉnh Hà Tĩnh có giặc Cờ Vàng, tức là giặc Đội Lựu nổi lên, định tranh cướp thiên hạ với nhà Nguyễn, Cao Thắng lúc bấy giờ còn nhỏ tuổi quá nên đã tình nguyện đi theo. Chưa đầy một năm, Đội Lựu chết, giặc Cờ Vàng tan, triều đình sai quân đi nã bắt những dư đảng rất ngặt, Cao Thắng sợ nên phải trốn tránh rất khốn khổ.

Lúc đó, anh thứ hai của cụ Phan là ông Phan Đình Thuật mới đậu Cử nhân, thấy Cao Thắng mới 13 hay 14 tuổi đã đi theo giặc, đoán chắc vì có cảnh ngộ gì đó chứ không phải chủ tâm phản triều đình gì. Nay giặc bị đánh tan, một thằng nhỏ như thế cũng sợ bị quan làng tróc nã, đến nỗi phải trốn tránh cực khổ, làm cho ông Thuật động lòng thương hại, ông bèn tìm cách che chở cho Cao Thắng khỏi bị bắt và đem về nhà nuôi được 8 năm. Đến khi ông Phan Đình Thuật mất thì Cao Thắng lại về làng ở.

Khi về làng, Cao Thắng không lo đường sinh nghiệp gì cả, sẵn trong mình có nghề võ, nên cùng với em và một người bạn tâm huyết là Nguyễn Kiểu, tối ngày chỉ ham tập quyền múa kiếm làm vui. Nguyễn Kiểu tụ họp mấy chục tên thủ hạ đi ăn cướp, nay làng này mai làng khác làm cho những nhà giàu thật khổ sở. Họ muốn bắt các ông, nhưng không sao bắt được. Chính Cao Thắng không ăn cướp của ai, nhưng cũng mang tiếng là đầu đảng ăn cướp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 09:25:25 PM

Cuối năm Ất Dậu (1885) cụ Phan khởi nghĩa, anh em Cao Thắng cùng với Nguyễn Kiểu đem 60 thủ hạ ra xin đi theo. Cụ phong cho làm chức Quản cơ và bảo sau sẽ trọng dụng, vì biết ông là người có tài. Quả thực Cao Thắng giúp cụ việc quân trong thời gian đầu đã tỏ ra là người có tài. Cụ Phan rất yêu mến. Năm ấy Cao Thắng mới 20 tuổi.

Sau khi cụ Phan đã ra Bắc, các tướng sĩ đều giải tán hết, duy còn Cao Thắng, cùng với mấy người anh em đồng chí là Cao Nữu, Cao Đạt và Nguyễn Niên, thu nhặt lấy ít nhiều tàn quân về ẩn phục ở trong rừng núi thuộc làng Lệ Động, là làng của ông để tìm cách khôi phục. Lúc này bạn thân của ông là Nguyễn Kiểu đã chết rồi.

Cao Thắng nghĩ rằng dùng binh mà không có tiền nhiều thì không làm gì được, cho nên trước hết ông nghĩ cách làm sao để lấy được nhiều tiền.

Thủ đoạn mà Cao Thắng lấy tiền khi ấy không khó gì, chỉ cần đem một vài chục người lân la xuống núi, xem làng xóm nào có nhà giàu thì xông vào đốt phá, cướp là lấy được tiền ngay, rồi lại đem quân vào rừng ẩn phục là sẽ không ai làm gì nổi. Nhưng ông không làm như thế. Một là biết rằng đóng ở rừng núi như vậy là trốn tránh qua thời mà thôi, chứ không phải là nơi dụng võ. Hai là, nếu dùng lối cướp bóc thì làm náo động dân gian, lỡ ra đến phải đốt nhà giết người thì mang tiếng cho đạo quân nhân nghĩa. Ba là, thời bấy giờ là thời loạn lạc, nhà nào có tiền cũng bỏ làng trôi dạt đi xa để trốn tránh, hoặc là chôn cất đi, mà chính ở vùng đó cũng không có mấy nhà giàu, thì lấy tiền ở đâu. Bởi thế ông dùng thủ đoạn để có tiền bằng một cách khác đó là cách bắt cóc. Ông cho thủ hạ đi dò la mãi và biết rằng hôm ấy có một chiếc thuyền chở mấy chục người hàng vải đi chợ Tràng (tức là chợ tỉnh Nghệ An bây giờ) bèn đem 20 người ra đón ở địa phận làng Triều Khẩu (thuộc phủ Hưng Nguyên, là phủ sở tại tỉnh Nghệ An) để bắt.

Khi thuyền đi ngang, ông chèo xuồng con ra đánh chìm và bắt sống cả bọn lái buôn đem về giam ở làng Nam Kim (thuộc huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An), đó chính là làng của vợ ông.

Khi dẫn họ về, ông bảo họ rằng: Ta bắt cóc các người cũng là một việc cực chẳng đã, vì hiện nay nghĩa binh thiếu tiền hoạt động, cần có các ngươi giúp đỡ nhiều ít. Vậy các ngươi viết thư về cho gia nhân, hạn trong một tháng đem tiền lại chuộc thì ta tha về.

Trong vòng một tháng, người nhà bọn kia đem tiền đến chuộc, ông tha cho về cả. Tiền thu được 6.000 đồng bạc.

Ông bắt cóc bọn hàng vải lấy được 6.000 đồng bạc là để lấy tiền để đúc súng. Vì thế, sau khi đã lấy được món tiền rồi thì ông đi tìm thợ. Tìm được thợ, nhưng bảo họ lên núi làm việc cho mình cũng là việc khó khăn, cho nên ông lại phải giở lối cũ ra là cách bắt cóc. Ông tự đem mấy chục người vào hai làng Trung Lương và Vân Trung (thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), là hai làng làm nghề thợ rèn, bắt rất nhiều thợ rèn trong làng ấy dẫn về Lệ Động - một khu rừng sâu để đúc súng. Đúc trong một tháng trời được 200 khẩu súng hạt nổ của ta, loại súng phải nhồi thuốc ở ống súng, rồi chỗ cò máy để hạt nổ, hễ nhận con cò máy có lửa bật ra, thì đạn mới chạy. Mục đích của ông đến đó ít nhiều đã đạt được.

Lúc bấy giờ, về quân giới ông đã có 200 khẩu súng mới đúc, tướng quân thì có các ông Cao Nữu, Cao Đạt, Nguyễn Niên, quân lính thì mới được 400 người. Trong 400 lính ấy, ông chia làm hai đoàn: một đoàn là lính súng; súng bao giờ cũng nạp đạn sẵn; nhưng hễ lúc lâm trận, thì 100 khẩu súng bắn một hiệp trước, xong rồi nạp đạn thì lại đến 100 khẩu khác bắn một hiệp sau, cứ luân phiên như thế, thành ra khi đánh trận, lúc nào cũng có tiếng súng nổ liên thanh, khiến cho quân địch không biết nghĩa binh nhiều súng hay ít, đó là mưu dùng binh của Cao Thắng.

Súng có, quân có, tướng có, là lúc thanh thế của Cao Thắng đã có uy tín, đi đến đâu cũng ít có người dám địch lại. Nếu chỉ là người tầm thường chỉ lo thân mình, thì khí giới ấy, binh lực ấy, nay đóng núi này, mai qua rừng khác nay cướp làng nọ, mai cướp làng kia, để lấy lương ăn, cứ như thế mãi cũng có thể tung hoành ở trong chốn núi Hồng sông Lam được trọn đời trọn kiếp, để làm một người anh hùng ai có muốn đánh dẹp cũng khó.

Nhưng chí khí của Cao Thắng rất lớn, ông nghĩ đến vua đến nước, đến anh em đồng loại, đến chủ tướng cũ là cụ Phan; nói tóm lại chí khí của ông là làm thế nào cho "Nước Nam của người Nam", cho nên ông không dừng lại ở khí giới đó, tướng sĩ đó, mà muốn cho khí giới còn mạnh hơn, tướng sĩ còn đông hơn nữa để phục vụ tốt cho cuộc khởi nghĩa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 09:27:36 PM

Câu hỏi 11: Cao Thắng đã tổ chức cướp súng của giặc để làm mẫu chế tạo súng cho nghĩa quân như thế nào? Việc đúc súng của nghĩa quân đã gặp những khó khăn gì và đã đạt được kết quả ra sao?
Trả lời:


Cao Thắng là một người biết lượng sức mình, lại có tính quả quyết. Ông tự biết rằng lực lượng quân của mình, trang bị súng đạn của mình còn yếu, nếu địch với quân Pháp sẽ gặp khó khăn, cho nên đêm ngày thường lo gây dựng thế nào cho thực lực của nghĩa binh lớn mạnh lên. Bấy giờ, vấn đề lương thực không phải lo nữa, là vì oai danh ông lúc ấy đã lớn, dân gian quanh miền đã khiếp sợ nể phục, ông muốn bao nhiêu gạo, bao nhiêu tiền, chỉ viết giấy đi các chủ nhà giàu, khiến họ tự phải đem tiền gạo lại nộp, không mấy khi phải dùng võ lực.

Song còn một việc khiến cho ông phải lo nghĩ nhất đó là vấn đề khí giới kiểu Tây. Ông đã từng bỏ ăn quên ngủ, nằm nghĩ đến một tháng trời, băn khoăn về vấn đề khó khăn này ông nghĩ rằng đã làm thì phải làm lớn, mà những kiểu súng của ta là kiểu súng ăn mày thế này chỉ riêng việc nạp thuốc cũng đã rất công phu và mất nhiều thời gian làm sao địch lại được với quân Pháp. Có muốn đánh với họ, thì phải có khí giới như họ mới được. Mặc dù mình không có tài sáng tạo, nhưng có tài bắt chước được nên làm theo như kiểu súng Tây cũng chẳng khó khăn gì. Cái khó khăn trước hết mà ông phải nghĩ mưu kế là làm sao để có được một khẩu súng Tây để ăn cắp mẫu phục vụ việc chế tạo súng.

Trong khi ông đang nghĩ quẩn nghĩ quanh, nghĩ đến cách mua, nghĩ đến cách cướp, nghĩ mãi chưa biết làm thế nào, thì chợt có lính vào bẩm rằng: có một người lạ mặt xin vào yết kiến để bẩm có việc cơ mật. Người lạ mặt bẩm rằng: Nghe nói có lệnh của tướng quân truyền ra, hễ ai lấy được một khẩu súng Tây đem nộp, thì sẽ được trọng thưởng 1.000 đồng bạc. Nếu bây giờ tôi lấy dâng cho tướng quân không những một khẩu súng Tây, mà tới 15 khẩu lận, thì tướng quân thưởng cho bao nhiêu? Cao Thắng mừng lắm nói rằng trong trại ta bao nhiêu tiền bạc sẽ cho hết. Hỏi ra mới biết người lạ mặt đó có một người bà con đi lính tập ở tỉnh Nghệ An mới viết thư về nhà nói rằng tới ngày mai đây có hai viên quan binh ở tỉnh thành Nghệ An dẫn 14 tên lính tập chở mấy hòm bạc lên đồn Phố (thuộc hạt Hương Sơn) để phát lương cho binh lính. Lẽ tự nhiên toán lính ấy có súng. Đó là một cơ hội trời giúp tướng quân. Vậy tướng quân nên sắp đặt cho nghĩa binh mai phục ở giữa đường, đánh toán lính tập mà cướp lấy súng của họ là được ngay.

Sau khi được mọi người hiến kế, Cao Thắng suy nghĩ: con đường từ tỉnh Nghệ An đi lên đồn Phố (chỗ đó là làng Phố Châu, chính là huyện lỵ Hương Sơn, bây giờ thuộc về tỉnh Hà Tĩnh) có nhiều chặng phải đi xuyên qua núi rừng rậm rì, hiểm trở. Giữa đường có một hòn núi trọc chặn ngang, không có cây cối nào rậm và to, chỉ mọc toàn là lau sậy rất cao, chính giữa có một con đường độc đạo. Ông Cao Đạt hiến kế rằng chỉ nên lựa chọn mấy chục tráng sĩ, cầm đoản đao mai phục ở hai bên rừng lau sậy, chờ khi nào toán lính tập kia nghễu nghện đi qua, thì ta nổ một tiếng pháo làm hiệu, rồi hai bên tráng sĩ bất ngờ nhảy ra đánh chắc chắn sẽ thắng.

Cao Thắng y kế đó và muốn bản thân làm việc khó khăn này, cho nên tức khắc xếp đặt công việc để ngày mai chính ông thân dẫn cả Cao Đạt, Cao Nữu, Nguyễn Niên cùng hai mươi quân cảm tử, nai nịt gọn gàng, cầm đoản đao ra mai phục tại đó.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 09:28:03 PM

Quả nhiên, xế chiếu hôm ấy, một toán gồm hai viên quan Pháp và 15 tên lính tập mang súng và khiêng hòm bạc, kéo nhau đi ngang qua rừng sậy đã nói trên. Bởi con đường độc đạo nhỏ hẹp, phải đi hàng một, lẻ tẻ từng người, không ngờ đâu rằng giữa bãi lau sậy này mà có sự bất trắc.

Tiếng giày đi cồm cộp đằng xa, đủ làm dấu hiệu để báo tin cho phục binh biết trước. Tới khi lính tập đi vào giữa khoảng nghĩa binh mai phục, Cao Thắng nổ pháo làm hiệu, tráng sĩ mai phục hai bên nhảy ra, miệng vừa hò hét, tay vừa khua đao, cứ mỗi người nhắm ngay một kẻ bên địch mà chém tung hoành. Tội nghiệp cả hai viên tiểu tướng Pháp và 15 chú lính tập đều bị chém ngã hết, không sót một người nào, không ai kịp trở tay. Hơn nữa đang đi đường mệt nhọc, lẻ loi, bỗng dưng bị chém một cách thình lình như thế, làm sao không chết.

Thế là Cao Thắng lấy được 17 khẩu súng, trong đó có hai khẩu súng kiểu hai nòng, 600 viên đạn và mấy ngàn đồng bạc nữa, mà phía mình không nhỏ một giọt máu, cũng không mất sức khỏe bao nhiêu.

Trở về sơn trại, ông mời người khách lạ mặt kia để trọng thưởng. Nhưng khách nói rằng: Thấy tướng quân làm việc nghĩa hiệp, tôi vẫn hâm mộ, trời bèn xui khiến tôi đem lại cơ hội giúp cho tướng quân được thành công đó thôi. Tôi nào có công cán gì mà thưởng, vả lại tôi có phải vì ham số tiền thưởng mà tới đây bao giờ; hôm qua tôi hỏi thưởng bao nhiêu là nói chơi vậy mà. Số tiền thưởng này tôi xin để lại tướng quân nuôi binh sĩ, đúc khí giới, thế là tôi mừng. Tôi có một bức thư kín, khi nào cụ Phan về, thì phiền tướng quân trình cụ giúp tôi, còn bây giờ không nên mở ra. Cao Thắng muốn hỏi tên họ, nhưng khách cũng không chịu nói, chỉ cười rồi đứng dậy vái dài một vái rồi đi.

Trước đó Cao Thắng chỉ ước mong có một khẩu súng Tây để làm mẫu, nay đã được thoả mãn. Cao Thắng gọi thêm rất nhiều thợ rèn, rồi kéo lên núi sâu, bắt đầu công việc chế tạo. Ông tự tháo một khẩu ra từng mảnh, để xem từ bộ phận thước tấc cho đến công dụng như thế nào, rồi đêm ngày ông ngồi một bên, đốc thúc bọn thợ rèn, cứ lấy từng mảnh ở súng Tây, theo đúng hình thức dài vắn rộng hẹp như thế mà rèn đúc. Mấy lần đầu còn hư hỏng lôi thôi. Nhưng hư hỏng thì ông lại bắt phá hết ra mà rèn đúc lại. Rèn đi đúc lại mãi mới được.

Công việc đúc súng này làm luôn trong mấy tháng ròng rã, được cả thảy 350 khẩu súng giống y súng Tây. Duy có thuốc đạn thì còn phải dùng thuốc ta.

Cao Thắng rèn đúc được 350 khẩu súng kiểu Tây, phải nói rằng rất khó khăn và công phu. Thật thế, lúc bấy giờ quân của ông như là một đám giặc cỏ, phải lẩn lút ở trong núi biếc rừng xanh, không dám lộ mặt, cho nên lấy đâu được sắt, lấy đâu được đồng, lấy đâu được máy mà đúc, lấy đâu được thuốc nổ để chế ra đạn. Thế mà ông làm được đủ cả, chính là nhờ ông có trí thông minh mưu mẹo và có nghị lực nhẫn nại. Lò xo trong súng thì ông dùng cây gọng dù uốn lại mà làm; sắt thì ông cho người đi khắp các chợ và các miền quê mua những móng lừa, móng ngựa, các thứ sắt vụn và những cày hư cuốc hỏng của các nhà nông, đem về đập ra mà rèn; còn bì đạn thì ông góp nhặt những mâm đồng, nồi đồng đạp giẹp ra thật mỏng rồi cuốn lại. Sợ thiếu những nguyên liệu cần dùng nên ông hạ lệnh cho các dân làng chung quanh chia bớt những đồ đồng trong nhà mình cho nghĩa binh và đem lên sơn trại nộp để làm quân giới. Cao Thắng chỉ nhờ có những nguyên liệu góp nhặt như thế mà rèn đúc được súng đạn, duy chỉ dùng sức người, không có máy móc gì.

Không những súng cũ và súng mới đã được hơn 500 khẩu, mà lượng tiền cũng dồi dào, số quân lính cũng tăng lên đến gần 1.000 người. Cao Thắng tự biết lúc này mình đã có gốc hơi vững, tức là có cơ sở để phát triển lên và có thể bắt đầu mưu tính việc lớn. Nhưng phải có người danh vong oai quyền để làm chủ cầm quân mới được. Người đó chẳng ai khác, đó chính là ông chủ tướng cũ hiện đang lưu lạc ẩn cư ngoài Bắc: Phan Đình Phùng.

Sau đó Cao Thắng bèn sai người ra Bắc Hà rước cụ Phan về. Phong trào khởi nghĩa ở 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã lắng xuống ít lâu, bây giờ phong trào đã có tổ chức, có khí giới, có kỷ luật lại nổi lên và kéo dài thêm được mấy năm nữa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 09:29:38 PM

Câu hỏi 12: Tại sao Phan Đình Phùng lại phải chạy ra Bắc? Những lý do gì thôi thúc Phan Đình Phùng quyết tâm khởi nghĩa?
Trả lời:


Sau khi làng Đông Thái bị phá, Phan Đình Phùng phải kéo tàn quân lên đóng ở hai hạt Hương Sơn, Hương Khê và khi Hương Sơn, Hương Khê thất bại, cụ chạy ra ngoài Bắc, lúc ấy có nhiều người cho thế có lẽ là đã hỏng việc lớn!

Sự thật, trước khi bước chân lên đường ra Bắc Hà, cụ Phan có định sẵn hai chủ kiến, hai cơ mưu, thế nào rồi cũng thực hành được một: Hoặc là hiệu triệu anh em trai tráng chí sĩ ở Bắc Hà nổi lên để giảm bớt cái sinh lực của binh lính bảo hộ đi; hoặc là trông mong tin cậy một người tài được cụ tin tưởng là Cao Thắng tướng quân ở nhà có thể gom góp sức tàn, rồi lại đánh trống mở cờ, quật cường phen nữa.

Nếu có xét tình thế của Phan Đình Phùng hồi bấy giờ mới biết nếu giao chiến với giặc là cụ sẽ thua không thể thắng được, mà đã thua không thể không chạy, đã chạy không thể không ra Bắc.

Vậy tại sao về sau vì những lý do gì mà Phan Đình Phùng lại quyết tâm khởi nghĩa? Bởi vì có hai lý do: thứ nhất là vì vua, thứ hai là vì có lòng người.

Cái gốc luân lý dựng nước của ta ngày xưa, được Phan Đình Phùng nhận thức sâu sắc có ba điều cốt tử là: một là vua, hai là thầy, ba là cha. Ba điều cốt tử ấy có nặng nhẹ trên dưới khác nhau: vua rồi mới đến thầy, thầy rồi mới đến cha. Vua là một bậc chí đại chí tôn, thay quyền Trời để thống trị chúng sinh muôn vật. Đã biết có Trời tất phải biết có vua. Đối với vua, hễ ai là người làm dân cũng phải tôn sùng, vì cho rằng tấc cỏ ngọn rau, miếng cơm manh áo đều là ơn của vua ban cho, muốn báo đáp lại cái ơn ấy, tất phải tôn vua mới được. Bởi cái quan niệm ấy, thành ra vua bảo gì tôi cũng phải nghe. Ai vâng lệnh vua thì là nghĩa sĩ, là trung thần, mọi người đều phải kính; ai trái lệnh vua thì là loạn thần, là tặc tử, sẽ bị giết chết luôn. Sợi dây luân lý vô thượng đó trói những người gọi là "dân" đã chặt, mà trói những người gọi là "quan" lại càng chặt hơn.

Phan Đình Phùng còn nghĩ rằng, quan đối với vua còn mắc một cái ơn nặng hơn nữa là vua cho cơm, cho áo... Cái ơn ấy mang một món nợ rất lớn không thể nào trốn tránh mà không trả được. Đã được vào hạng mang nợ cơm áo của vua, thì sẽ phải hiểu cái nghĩa "Vua lo, tôi nhục; vua nhục, tôi chết" cho nên hễ vua bảo gì tôi cũng phải nghe, tức là để trả cái khoản nợ cơm ấy, áo ấy. Vào đúng lúc nền quân chủ nước nhà đang cao, đang thịnh, nhân dân ai cũng thờ luân lý tôn vua, cụ không thể không tôn; huống chi cụ lại là bậc người nặng hơn những người khác - bậc ngươi trải mấy đời chịu ơn cơm áo của vua, vậy vua bảo điều gì phải, cụ không thể không vâng. Ân tri nặng như vậy, lòng ủy thác to đến thế, khiến cụ lại càng phải vâng lệnh mà khởi nghĩa Cần Vương. Chính vì thế mà cái tư tưởng chủ hòa của cụ đã biến thành ra cái tư tưởng chủ đánh. Đánh thắng hay thua chưa biết thế nào, nhưng cũng là để chứng tỏ cho người ta biết rằng: dân tộc Việt Nam này có sức quyết chiến và quyết tranh đấu tới cùng. Nên khi vua truyền lệnh Cần Vương, cụ vâng lệnh và trong bụng đã có chủ trương sẵn, đã tìm ra sức mạnh để thực hiện được sự vâng lệnh ấy. Sức mạnh mà cụ tin tưởng để thực hiện được đó chính là lòng người.

Không những vua bảo cụ khởi nghĩa mà dân cũng mong cụ cứu quốc nữa. Lúc cụ truyền lệnh Cần Vương ra đã làm rung động lòng người, nghĩa sĩ bốn phương đem quân, đem lương, đem nhiệt huyết về theo rất nhiều. Những hào kiệt ở trong bốn tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, trước kia tản lạc ẩn núp ở quanh trong núi đỏ rừng xanh, không có ai tập hợp, mà cũng chưa biết quy phục ai, thì bây giờ đều dạ theo cái tiếng gọi của cụ Phan mà theo, để nghe cụ chỉ huy. Có cái thế mạnh như cuốn nước, như đổ mưa, làm cho mọi người như đang chìm trong giấc ngủ, nay giật mình tỉnh dậy rất khí thế, sôi nổi. Những người già nua yếu đuối, cho đến đàn bà, trẻ con không có sức làm gì được, thế mà nghe đến chữ Phan Đình Phùng là kính phục. Kể cả những bọn phò đời nịnh thế, chỉ biết mưu cuộc giàu sang vinh hiển, còn ra sống chết mặc ai, hễ thấy ai có bụng yêu nước thương loài, thì bảo là đồ ngu, đồ dại, sao dám đem sức châu chấu đá voi, lấy trứng chọi đá mà chết thì giờ cũng phải kính phục khen thầm trong bụng rằng cụ rất giỏi. Những hạng giàu có xưa nay bóp chẹt từng đồng, coi tiền lớn hơn tính mạng, thế mà bây giờ cũng rút ruột ra để giúp cụ làm quân lương... Cụ kéo cờ khởi nghĩa lên, gió bay tới đâu người theo tới đó, thế mới biết mọi người tin phục đến mức nào.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 09:30:08 PM

Bao giờ cũng vậy, nước nào cũng vậy, anh hùng muốn làm được việc lớn, trước hết phải dò xét lòng người, lấy đó làm một thứ khí giới cốt tử. Khi đã có lòng người quy thuận rồi, thì làm gì mới có thể làm nổi. Cụ Phan Đình Phùng đã có lòng người tin phục như thế, là đã coi như cầm được một thứ khí giới mạnh trong tay. Hơn nữa cả vua và dân đều bảo cụ khởi nghĩa, cụ là người ở giữa, nếu trái lệnh vua là người bất trung, trái lòng dân là người đánh mất niềm tin phục của dân. Một người vốn trọng quân thần như cụ, không khi nào chịu làm người bất trung. Là người vốn nặng cái tư tưởng quốc gia như cụ, thì lệnh vua đến phải thực hiện, lòng dân tin phục lại càng không thể bỏ. Lệnh vua, lòng dân - như hai cái sức mạnh thiêng liêng, kéo đằng trước, đẩy đằng sau đã tiếp thêm sức mạnh cho cụ, cụ đã nói: “Tôi làm, dầu đến chết cũng cam tâm". Chính vì thế mà cụ quyết tâm khởi nghĩa.

Trước kia tư tưởng Phan Đình Phùng chủ hòa bao nhiêu, thì bây giờ lại chủ đánh bấy nhiêu. Sự thế lúc ban đầu bắt buộc cụ phải thua là bởi chưa có đất dụng võ. Hơn nữa khi thấy thành tan, vua chạy, nước mất, ba cái thảm ấy cùng dồn đến một lúc, khiến cho cụ rất nóng ruột, cho nên khởi binh là khởi binh, chứ chưa kịp tính đến thế giữ, mà cũng chưa kịp tính đến thế đánh. Một người có chí khí anh hùng như Phan Đình Phùng không phải không biết tới những điều đó. Sẽ bị thua, cụ cũng đã biết trước, vì cụ đã tự biết sức mình chưa có thể đánh, nhưng mà nhân được lúc lòng người đang khí thế thì phải chụp lấy thời cơ để làm ngay không thể bỏ qua. Mặc dù nhiều điểm yếu như vậy mà cụ gượng gạo cầm cự được với quân Pháp không phải là thời gian ngắn mà trong vòng hai năm trời, nghĩa là từ cuối năm 1885 đến năm 1887 mới thua và chạy ra Bắc, thế cũng đủ biết cái sức chống chọi của cụ cũng rất giỏi.

Như trên đã nói cụ Phan ra Bắc là để hiệu triệu chí sĩ ngoài Bắc nổi lên làm thanh thế cho mình. Hồi đó, phong trào văn thân ngoài Bắc cũng rất lớn, tràn khắp ra hầu hết các tỉnh như: Hải Dương, Nam Định, Bắc Ninh, Sơn Tây, v.v..., tỉnh nào cũng có một vài ngươi xưng hùng. Nhưng trong đó phần nhiều là đánh giặc theo kiểu manh động, tự phát, cò con, hoặc là chỉ lấy tà thuật dụ dân, chứ không được mấy người làm cho ra việc lớn. Vả lại không hợp sức với nhau, cho nên súng Pháp chĩa tới đâu liền tan tới đó, thành ra không có một thế lực gì đáng kể. Cụ Phan ra Bắc thấy tình thế như vậy, lấy làm chán nản, biết rằng văn thân Bắc Hà không đủ để cho mình nương dựa được, bèn giả làm một ông tú tài nghèo khổ ở Nghệ ra, ngồi dạy học ở một nhà làm ruộng tại huyện Thạch Thất tỉnh Sơn Tây.

Lúc bấy giờ Phan Đình Phùng thất bại mà đi, nhưng quân Pháp vẫn theo dõi ráo riết, cho nên cụ phải trốn tránh và đổi tên họ, thành ra ngay đến chủ nhà nuôi cụ ngồi dạy học có lẽ cũng không biết trong nhà mình lại có bậc đại anh hùng trú chân. Cụ ở Sơn Tây, nhưng vẫn thường có thư từ giao thiệp với anh em văn thân ở hạt Đông Triều tỉnh Hải Dương, hồi đó là cái gốc cách mạng ngoài Bắc, còn có thanh thế hơn mấy chỗ khác. Nội dung thư từ giao thiệp chỉ là việc cổ động cách mạng và được một người hào kiệt về sau cũng nổi lên huyết chiến với binh Pháp được đến mười mấy năm trời. Người ấy là ông Hoàng Hoa Thám, tức là ông Đề Thám. Lúc này, Hoàng Hoa Thám còn trẻ tuổi, nhưng rất anh hùng và có khí khái, nhân bấy lâu nghe đại danh cụ Phan, nay dò biết tin cụ ở Sơn Tây bèn tìm tới gặp. Cụ thấy Thám là người đảm lược chí khí nên rất đem lòng yêu mến và khuyến khích Thám nên nhanh chóng tổ chức khởi nghĩa ở Bắc Kỳ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 09:43:36 PM

Câu hỏi 13: Tại sao Phan Đình Phùng lại chọn núi Vụ Quang làm nơi đóng đại đồn? Ông đã giao nhiệm vụ và chia địa bàn đóng quân cho các thủ lĩnh như thế nào?
Trả lời:


Cách xa Trùng Khê, Trí Khê mấy chục dặm, có dãy núi là núi Vụ Quang. Tục gọi là Ngàn Trươi, địa thế hiểm yếu cụ Phan chọn làm nơi đóng đại đồn.

Ngàn Trươi, một khu rừng núi thật hiểm hóc quanh co và có địa thế thuận tiện cho việc dụng binh bởi vì nhờ có ba con đường độc đạo: mặt trước nhìn ra đồng bằng, có thể thấy được thành Hà Tĩnh, đằng sau toàn là rừng rậm, có đường lối bí mật đi qua đất Lào mà sang Xiêm, còn một con đường nhỏ nữa thì thông suốt qua tới núi Đại Hàm - núi này cũng là một chặng núi hiểm hóc: sơn mạch liên tiếp nhau và đột ngột, khuất khúc, cứ mỗi trái núi có một khe suối, hai bên bờ khe nào cũng có lau sậy mọc lên cao quá đầu người. Đường lối đi vào rất là gay go, nếu ai không thuộc thì không tìm được đường vào và nếu vào được rồi mà không thuộc địa thế cũng không biết đường mà ra.

Quân lính bảo hộ sẽ rất khó khăn khi tấn công đến căn cứ này bởi vì đường lên Ngàn Trươi phải trải qua nhiều rừng núi hiểm trở, dễ phục binh đánh úp. Hơn nữa, có lắm khu rừng nếu muốn băng qua phải có đủ sức chịu đựng vì đất sình lầy lội phải ngập cả chân, có chỗ ngập tới ngang lưng, sợ nhất là phải chống chọi với đỉa, với rắn, với muỗi mòng... nó bu lại hút máu một lát, người mạnh đến đâu cũng phải chết xỉu.

Từ Vụ Quang đến Trùng Khê, Trí Khê dài đến gần một trăm dặm đều có đồn trại liên tiếp của nghĩa binh dựng lên. Đồn trại dựng toàn bằng cây bền chắc, lấy ngay ở trong rừng, dựa theo thế núi, thế nước mà đóng để cho tiện việc chống giữ, việc ăn uống và cả việc chuyên chở binh gia lương thực đi lại. Bốn tỉnh: Thanh Hóa, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh đều là miền thượng du sơn cước rải rác có đồn trại nghĩa binh. Đồn lớn thì một đề đốc đóng, còn đồn nhỏ thì một lãnh binh.

Phan Đình Phùng chia ra mỗi thủ lĩnh làm chủ một địa phương, gọi là một quân thứ (nghĩa là chỗ quân đóng). Mỗi một quân thứ ở hạt nào đều lấy ngay tên của hạt ấy mà gọi cho tiện việc tiếp ứng, liên lạc. Mỗi quân thứ đóng ở một tỉnh, hoặc một huyện, hoặc một tổng, hoặc một làng tùy theo chỗ đóng binh có quan hệ đến việc vận lương và quân bị thế nào.

Phan Đình Phùng chia nghĩa quân ra 15 quân thứ như sau:

Khê thứ (huyện Hương Khê): do Nguyễn Thoại chỉ huy.
Can thứ (huyện Can Lộc): do Nguyễn Trạch, Nguyễn Chanh chỉ huy.
Lai thứ (tổng Lai Thạch): do Phan Đình Nghinh (cháu cụ) chỉ huy.
Bình thứ (tỉnh Quảng Bình): do Nguyễn Thụ chỉ huy.
Hương thứ (huyện Hương Sơn): do Nguyễn Huy Giao chỉ huy.
Diễn thứ (phủ Diễn Châu): do Lê Trọng Vinh chỉ huy.
Anh thứ (phủ Anh Sơn): do Nguyễn Mậu chỉ huy.
Nghi thứ (huyện Nghi Xuân): do Ngô Quảng chỉ huy.
Lễ thứ (làng Trung Lễ thuộc phủ Đức Thọ): do Nguyễn Cấp chỉ huy.
Cẩm thứ (huyện Cẩm Xuyên): do Huỳnh Bá Xuyên chỉ huy.
Thạch thứ (huyện Thạch Hà): do Nguyễn Huy Thuận chỉ huy.
Kỳ thứ (huyện Kỳ Anh): do Võ Phát chỉ huy.
Lệ thứ (huyện Lệ Thủy): do Nguyễn Bí chỉ huy.
Thanh thứ (tỉnh Thanh Hóa): do Cầm Bá Thước chỉ huy.
Diệm thứ (làng Tình Diệm, núi Đại Hàm thuộc về quân thứ này): do Cao Đạt chỉ huy.

Mỗi quân thứ như thế, tùy theo địa thế mà đóng quân nhiều hay ít. Quân ấy tuy dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh kể tên trên, nhưng tất cả đều dưới quyền cụ Phan điều khiển chỉ huy chung. Cụ hạ lệnh nhất thiết phải mặc một sắc binh phục, huấn luyện, trang bị như nhau. Mỗi quân thứ phải chọn trong quân mình ra hai hoặc ba chục lính xuất sắc về đóng ở đại đồn núi Vụ Quang, gọi là quân túc trực, phòng khi có việc quân, truyền báo hiệu lệnh ra cho quân thứ nào, thì sẵn có binh lính của quân thứ ấy mà sai khiến, vì họ đã thuộc đường lối đi lại sẽ mau lẹ dễ dàng. Kỷ luật trong quân được cụ duy trì rất chặt chẽ, chính tay cụ Phan thảo ra rất nghiêm minh và thi hành đều trong các quân thứ.

Lúc này quân thứ nào cũng có hoặc từ 100 cho đến 500 quân, còn ở đại đồn Vụ Quang thì lúc nào cũng có 500 quân, đều là tay súng kiểu mới, huấn luyện rất kỹ và bắn rất giỏi. Có 20 thân binh luôn ở bên cụ, là đại nguyên soái để hộ vệ và truyền phát hiệu lệnh đi các đại đồn. Một viên kiện tướng của cụ là Nguyễn Mục làm thống tướng đội quân tử sĩ ấy, cụ Phan đi đâu cũng đi theo từng bước.

Tổ chức quân thứ là một sáng tạo lớn của Phan Đình Phùng mà các cuộc chống Pháp đương thời không có. Quân hình thành trên cơ sở các cuộc khởi nghĩa địa phương đã được thử thách, do đó các thủ lĩnh có thể tự động tác chiến theo một kế hoạch chung hoặc tấn công tiêu diệt sinh lực địch, hoặc chống càn bảo vệ căn cứ địa, hoặc táo bạo đột kích vào trung tâm đầu não của địch. Từ đồng bằng đến miền núi, miền biển đều có quân thứ, do đó những hoạt động của địch đều có thể bị ta phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Đó là sự hợp lý trong bố trí thế trận quân sự.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 09:44:27 PM

Câu hỏi 14: Khi đã chọn được nơi đóng đại đồn và chia địa bàn đóng quân cho các tùy tướng, Phan Đình Phùng đã chỉ đạo cách sản xuất, dự trữ lương thực cũng như chế tạo vũ khí như thế nào? Trình bày khái quát những nội dung trên?
Trả lời:


Vấn đề lương thực được Phan Đình Phùng xác định là vấn đề cốt lõi, là mạch máu của nghĩa quân, được cụ sắp đặt dự bị cẩn thận, chu đáo. Dân ở mấy tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình thời gian này đã thuộc hẳn dưới quyền chính phủ bảo hộ, phải đóng thuế thân, ruộng đã phải đóng thuế điền, sự gánh vác nhiều hơn lúc trước; nhưng cụ Phan lấy nghĩa lý mà dụ cho dân, đại ý nói rằng: Nghĩa quân bây giờ cần phải có dân giúp cho về chỗ lương ăn, thì mới có thể yên ổn bề trong, mà có yên ổn bề trong, thì bề ngoài mới có thể chống giữ với quân Pháp. Cụ không cần lấy của dân nhiều, mỗi mẫu ruộng hàng năm chỉ cần dân đóng góp cho nghĩa binh một đồng bạc mà thôi. Nhân dân hạt nào cũng vui lòng đóng góp, không lấy sự phải đóng góp hai nơi làm nặng nề và không ai oán hận gì cả. Ngoài sự đóng thuế ra, dân làng còn đem sản vật và lúa gạo lên cung cấp cho nghĩa binh làm lương thực nữa. Thế mới biết lòng dân thương yêu cụ như thế nào. Có nhiều người vì việc cụ làm mà đến khuynh gia bại sản cũng cam tâm. Thậm chí mấy kẻ giàu có, ngày thường không dám thò ra đồng xu bát gạo nào giúp ai, thế mà bây giờ cũng phải theo gương phần đông và sợ oai thế của văn thân, rồi tự đem gạo tiền đóng góp.

Theo luật định, tới kỳ thuế thì dân ở địa phương nào đem tới chỗ có quân thứ ở địa phương ấy mà nộp. Mỗi quân thứ thu được bao nhiêu thì phải vào sổ sách cụ thể phân minh, trừ ra các khoản chi tiêu cho quân thứ mình rồi, còn thì phải đem nộp lên đại đồn. Cụ ra nghiêm lệnh cho các quân thứ không được cưỡng đoạt tài sản của dân, không được dung túng cho thủ hạ làm một việc gì trái phép.

Ở trong đại đồn, cách thức trữ lương thực bằng cách đào những hầm hố to lớn ở đất cao ráo trên núi, chu vi mỗi hầm ước độ 30 trượng, trước hết dùng cây khô và cỏ khô chất đầy, đốt lửa cháy lên cốt làm cho đất chỗ ấy cứng lại như đá, rồi sau mới đổ thóc gạo xuống đó. Trên mặt hầm đậy bằng những ván cây, lại lấy lau sậy và lá khô che phủ kín mít, khiến cho không ai biết là chỗ để lương. Dẫu địch có muốn cướp lương của nghĩa quân cũng không biết chỗ nào mà cướp. Từ núi Vụ Quang đến núi Trùng Khê, Trí Khê, cứ cách 3 dặm hoặc 5 dặm lại có một chỗ trữ lương như thế. Chỗ nào có hầm trữ lúa thóc thì cũng có trữ luôn cả những khí cụ xay lúa giã gạo. Làm vậy để lúc nào quân lính cần dùng gạo ăn sẵn sàng có đồ xay giã. Việc xay lúa giã gạo có riêng một đội quân trông coi gồm những người già yếu, không thể ra trận được; chức vụ của họ phải lo ứng biện gạo củi và đồ ăn cho các trại luôn đầy đủ.

Trên núi Vụ Quang, Phan Đình Phùng bố trí một trường chế tạo súng đạn đêm ngày. Cách thức chế tạo cũng theo như cách thức hồi trước Cao Thắng đã làm, nghĩa là chế tạo súng kiểu Tây, còn nguyên liệu để dùng chế tạo cũng mua của dân làng. Chính cụ đốc thúc cho thợ làm ngày đêm không nghỉ, hễ chế tạo ra được bao nhiêu thì phân phát đi cho mỗi quân thứ một ít. Song vì vật liệu mỗi ngày một hiếm hoi thiếu thốn, dân làng không lấy đâu được nhiều sắt hư, đồng cũ để cung ứng cho nghĩa quân nữa, thành ra việc đúc súng Tây cũng bị hạn chế và không chế tạo ra được bao nhiêu. Đã vậy mà lực lượng nghĩa quân hồi này ngày một đông thêm, cho nên không có súng để dùng, phải dùng cả gươm giáo là đồ khí giới cũ. Về thuốc đạn, thì cụ Phan cho người từ núi Vụ Quang đi đường tắt trong núi rừng qua Lào rồi sang Xiêm mua về, nhưng cũng vì đường xa hiểm trở, mỗi lần đi lại như thế rất lâu thành ra đúc đạn, bốn phần là thuốc của ta chế ra, chỉ pha trộn vào có một phần thuốc mua bên Xiêm.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng khi đã cơ bản khắc phục, tạm ổn định về lương thực và vũ khí thì nghĩa quân lúc bấy giờ cũng đã có thanh thế tương đối mạnh, có tổ chức chặt chẽ, khiến cho tướng sĩ Pháp cũng phải thầm khen cái tài dùng binh của cụ Phan. Cụ sắp đặt quân lính có hàng ngũ, luyện tập tướng sĩ có kỷ luật, hơn nữa mọi việc quân lương quân giới nhất thiết đều dự bị có khuôn phép chặt chẽ...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 10:50:59 PM

Câu hỏi 15: Tấm lòng sắt đá của Phan Đình Phùng được thể hiện bằng khẩu khí thơ văn đã chứng tỏ khí phách tâm trí của Phan Đình Phùng rất quyết tâm, không có gì có thể ngăn cản. Cho biết những chi tiết có liên quan đến nội dung trên?
Trả lời:


Giữa năm Kỷ Sửu (1889), Tôn Thất Thuyết ở bên Tàu đã viết thư, sau đó sai người đem về đưa cụ Phan.

Lúc này, Tôn Thất Thuyết ở Quảng Tây, chỉ vì nghe tin vua Hàm Nghi đã bị bắt, thành ra ông ta ở luôn bên Tàu không về nữa. Cũng vào thời gian đó, có người trốn sang Tàu đem hết việc tổ chức nghĩa quân của cụ Phan nói rõ cho Thuyết nghe, Thuyết mừng lắm, liền sai tên gia nhân trung tín là Trần Thế đem một bức thư về nước lần mò tới đại đồn Vụ Quang để diện trình cụ Phan. Trong thư, Thuyết khen tài trí của cụ và phong cụ là Bình Trung tướng quân. Cái cử chỉ ấy tỏ ra Thuyết coi mình như còn làm tể tướng, vẫn có quyền hành vậy. Thuyết lại nói: Hiện nay trong nước như không có triều đình, không có vua chúa, vậy thì nơi tướng quân khởi nghĩa có thể coi như nơi trung khu của nhà nước, tướng quân cứ tùy tiện làm việc, chọn người mà dùng, cốt giữ vững lấy đức liêm chánh công bình mà lo toan việc lớn, v.v...

Nhân có bức thư và mấy lời của Thuyết ân cần như thế, nên cụ Phan viết câu liễn sau dán ở đại đồn, giữa Nghị sự đường:

      Liêm bình khâm tướng huấn
      Ưu nhục lầm thần tâm.


Câu trên có ý tỏ mình vâng lời quan tướng Tôn Thất Thuyết khuyên răn liêm chánh công bình. Còn câu dưới có ý rằng: vua lo tôi nhục, vua nhục tôi chết, nay vua Hàm Nghi đã bị mất nước tan nhà, ủy thác việc lớn cho cụ, thì cụ xin sắt đá một lòng, không bao giờ dám trái, quyết làm cho kỳ thành công hay là đến chết mới thôi.

Mặc dù hồi này Phan Đình Phùng rất lo cho việc khởi nghĩa, nhưng cụ vẫn không quên cái khí vị nhà nho và không quên cái thú ung dung ngâm vịnh. Quả đúng cụ là một vị nho tướng, ở giữa lúc máu sắt ngổn ngang, ngồi giữa chỗ gươm đao lạnh lùng, thế mà mỗi khi có chuyện gì sinh tình, sinh cảm, nên vịnh nên ngâm, thì vị nho tướng ta cũng cứ ngâm vịnh một cách ung dung nhàn hạ. Bởi vậy mà thời gian này chính tay cụ đã viết những thư từ giao thiệp và soạn ra thơ ca cũng tương đối nhiều, nhưng sau thất lạc hết.

Cũng vào thời điểm ấy, ông Tuần phủ tỉnh Hà Tĩnh là Võ Khoa, với cụ vốn có tình quen biết, lại có lòng kính trọng chí khí cụ, nhưng ông nhắm thời thế khó có thể xoay chuyển, cứu vớt gì nữa nên ông có ý khuyên cụ bãi binh quy ẩn là hơn. Có điều ông không dám nói thẳng ra, mà chỉ ngụ ý kín đáo bằng mấy câu thơ gửi bí mật cho cụ như sau:

      Ký vô hạ vũ tô binh hỏa,
      An sử xuân phong biến hỗ hàn.
      Kỳ vị ngô châu di nhất ái,
      Thử hồi ninh phụ thử giang san.


Dịch ra lục bát là:
      Mùa hè khôn rưới lửa nồng,
      Gió xuân chi để lạnh lùng khắp nơi.
      Châu ta còn có một người,
      Lúc này sao nỡ phụ lời non sông.

Chắc cụ hiểu ý ông bạn nay đã làm quan với bảo hộ mà lại trấn giữ tỉnh Hà Tĩnh, chính là quê hương và chính là địa phương cụ đang dụng võ nên cụ đáp ý để tỏ ý chí quyết liệt, sắt đá của mình:

      Bách niên tôn xã dư hoài nhiệt,
      Nhất phiến cô trung tặc đởm hàn.
      Kỳ ngữ đồng nhân tri dã phủ,
      Sở vương thế lực bạt hà sơn?


Dịch là:
      Chí ta cứu nước đang nồng,
      Lòng ta trung dõng lạnh lùng địch quân.
      Ai về nhắn hỏi đồng nhân,
      Sở vương sức mạnh bạt sơn bao giờ?

Phan Đình Phùng có câu họa vần dưới chót đó là bởi vì ông Võ Khoa có nhắn miệng người tâm phúc đem thư, nói cho cụ Phan biết binh lực của bảo hộ hùng cường ra thế nào, cốt để khuyên cụ đừng chống lại làm gì vô ích. Những ý thơ của cụ Phan đã chứng tỏ khí phách tâm trí lúc nào cũng kiên cường quyết liệt, luôn giữ vững quyết tâm đã làm thì quyết làm, có thua cũng mặc, đến chết mới thôi, không có ai và không sức nào làm cho lui sợ mà bỏ cái quyết tâm ấy được. Hơn nữa bây giờ cụ đang đứng chân ở núi Vụ Quang - một địa hình thuận lợi và có trong tay binh lực ít nhiều, thì dẫu thua cũng phải thời gian dài.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 10:51:48 PM

Câu hỏi 16: Cho biết chi tiết bất ngờ, thú vị khi Lãnh binh Nguyễn Mục tham mưu, Phan Đình Phùng đã chỉ huy quân lấy ít địch nhiều và giành thắng lợi như thế nào?
Trả lời:


Một hôm trên núi Vụ Quang các tướng đem binh ra ngoài có việc hết cả, trong đại đồn chỉ còn 20 lính thân binh mà trong số 20 lính ấy chỉ có 14 khẩu súng. Bất ngờ đồn ngoài báo vào đồn trong cho cụ Phan biết có khoảng hơn 100 quân bảo hộ, gồm có mấy viên cai đội Pháp, còn toàn là lính tập, do hai viên quan võ quản xuất, đi tuần tiễu sắp tới nơi.

Cụ Phan nghe báo vậy rất lo, chắc quân địch đã do thám thế nào mới biết được tướng sĩ của cụ hôm nay ra ngoài cả, nên quân bảo hộ mới dám đưa mình đến chỗ chết như thế. Bây giờ tướng sĩ không có, khí giới không có, thì lấy gì chống cự cho lại, nên cụ đã định tháo đi ngõ sau núi Vụ Quang mà trốn tránh. Nhưng có ông Lãnh binh Nguyễn Mục, là đầu quân thân binh tử sĩ bẩm với cụ rằng: không nên trốn tránh. Tuy quân địch nhiều mà quân ta ít, nhưng quân ta đang chiếm được địa thế. Quân địch nhiều mà chơ vơ, quân ta ở trên cao, quân địch ở dưới, ta ở trên đánh xuống sẽ rất mạnh. Vậy xin quyết chống, không nên lui ra phía sau, sẽ vào khu đất bí, rồi lại mất đại đồn, đại đồn mà không còn thì nghĩa quân sẽ tan mất… Cụ nghe theo, bèn truyền lệnh cho 20 quân ấy vào lúc gà gáy một lần thì dậy nấu cơm ăn, ai cũng phải nắm thêm một nắm cơm để phòng buổi trưa ăn. Mỗi người đem theo 300 viên đạn, chia nhau ra, hoặc 3 người một tốp, hoặc 5 người một tốp, phục ở các chỗ hiểm yếu, để chờ quân Pháp. Khi nào nghe tiếng pháo nổ làm hiệu, thì bắn ra một lượt. Còn ở trên đỉnh núi, cụ sai cắm cờ cho nhiều và đốt lửa để khói lên nghi ngút, đồng thời cử mấy người trực sẵn ở đó, tảng sáng là nổi chiêng trống vang động núi non để làm nghi binh. Cụ Phan còn sai người tức tốc đi ra Khê thứ lấy quân tiếp ứng.

Quả nhiên, toán quân bảo hộ gồm có khoảng 150 tên lính tập đi tuần tiễu đến núi Vụ Quang, nhưng vì tới nơi trời tối nên chỉ hạ trại đóng binh lại ở dưới xa, chứ không dám động. Gần sáng chúng mới kéo nhau lên, thấy trên đỉnh núi có lửa lập loè và nghe có tiếng người thầm thì, tưởng nghĩa quân không hay biết gì mà đề phòng, thành ra mấy viên quan binh cứ đốc thúc lính tập chen cây rẽ lá mà leo lên mãi, định bất ngờ đánh phá đại đồn nghĩa quân và bắt sống họ Phan. Không ngờ vừa leo tới giữa núi, bỗng nghe một tiếng pháo nổ rồi thì trống trận, người reo. Từ nhiều phía có tiếng súng bắn, đạn bay rào rào đều nhằm vào họ. Một viên trung úy trúng đạn bị thương nặng, thành ra quân bảo hộ rối loạn, không biết đối phương ở phía nào mà bắn trả. Phục binh càng bắn dữ, viên thiếu úy phải hô quân lui, vì chỉ nghe hình như ba bề bốn phía đều reo, tứ tung vang động, chớ không biết nghĩa binh nhiều hay ít, chỉ biết là nghĩa binh có phòng bị rồi, nếu tấn lên nữa thì nguy, thành ra lệnh thoái binh vừa truyền, mạnh ai nấy chạy thoát thân xuống núi. Nghĩa binh ở trên cao đánh xuống thấp, cho nên ít người mà thắng thế.

Lính bảo hộ chạy xuống vừa tới chân núi thì gặp toán nghĩa binh tiếp ứng ở Khê thứ đến nơi. Cao Thắng dẫn 200 quân ở ngoài về, cũng vừa tới đó, cả hai đội liền hiệp nhau lại mà đánh rất quyết liệt. Lính bảo hộ bị đánh dồn một lúc cả trước mặt và sau lưng, ngã nằm ngổn ngang, số còn lại phải tìm đường đào tẩu, bỏ lại súng đạn và lương thực rất nhiều.

Cụ Phan ở trên đỉnh núi, gõ chiêng phất cờ làm hiệu lệnh để rút binh về, mặc cho lính tập kia chạy, không muốn đuổi theo. Ngay hôm ấy cụ tổ chức tiệc khao thưởng cho tướng sĩ. Cụ cho rằng thắng lợi này là do mưu của Nguyễn Mục nên Nguyễn Mục được kể làm đầu công.

Cao Thắng kể rằng: tối hôm trước ông đóng quân ở Diệm thứ (tức là núi Đại Hàm, do người em ruột là Cao Nữu làm chủ), cuối canh một đi ngủ, vừa mới chợp mắt thì mộng thấy đại đồn Vụ Quang phát hỏa lớn lắm. Ông giật mình tỉnh dậy, thấy sao ruột gan nóng bức như thiêu, trong trí rất lấy làm lo ngại, liền đánh thức Cao Nữu dậy, anh em bàn nhau, đoán rằng đại đồn tất có việc nguy cấp, rồi tức thời ông hô binh đi nửa đêm. Đến núi Vụ Quang chưa sáng thì vừa gặp toán lính bảo hộ ở trên núi chạy xuống, ông chặn đường mà đánh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 10:54:07 PM

Cho rằng quân bảo hộ không trở lại nữa, chiều hôm đó cụ Phan xuống chân núi xem xét chỗ chiến trường vừa diễn ra và sai nghĩa binh lượm xác của những lính tập và hai viên cai Tây đem chôn tử tế. Trong lúc đắc chí và cảm hứng cụ làm mấy bài thơ để kỷ niệm một trận mình thắng rất may như sau:

                  I
      Tài phái binh hành hốt phỉ lai,
      Dư tâm vị định chính bồi hồi.
      Trướng tiền thỉnh chiến hà nhân giả,
      Quả bế thời gian báo tiệp hồi.


Dịch nghĩa:
      Vừa phái quân đi giặc đến nơi,
      Lòng ta lui tới luống bồi hồi.
      Người xin quyết đánh là ai đó?
      Chớp mắt mà ta đã thắng rồi!



                  II

      Sơn cái cao hề, thủy cái thanh!
      Mối ư mặc tướng hiển anh linh.
      Bất nhiên chúng quả tương huyền thậm,
      Hồ đáo khê tiền dĩ thất kinh.


Dịch nghĩa:
      Chót vót non cao, nước một mầu,
      Quỷ thần âu cũng giúp ngầm nhau.
      Không dưng bên ít bên nhiều thế,
      Mà đến đầu khe đã chạy mau?

Hôm sau, cụ lại xuống núi, lúc đi tới một con suối thấy còn sót tử thi một người lính tập nằm ở bờ suối, đầu gục dưới nước, chân vắt trên bờ, bất giác cụ mủi lòng nhỏ lệ trách vấn những người hôm qua sao đi lượm xác chôn cất mà còn bỏ sót xác chết này. Cụ liền làm một bài thơ cảm khái:

      Nhĩ tâm nguyện vị lợi danh mi,
      Khước hướng khê biên tác tử thi.
      Giám triệt thùy nhân ưng tảo ngộ,
      Đáo thân tử hậu hối hoàn trì.


Dịch nghĩa:
      Chẳng qua danh lợi buộc thân mày!
      Đến nỗi bên khe chết bỏ thây.
      Trông đó ai ơi! Nên sớm liệu,
      Chết rồi có hối cũng ra chầy.

Thế mới biết tâm hồn thơ phú của cụ Phan được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, nhất là khi nghĩa quân thắng trận.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 10:55:13 PM

Câu hỏi 17: Trong quá trình khởi nghĩa, có một người phụ nữ thông minh, dũng cảm làm cho Cao Thắng và Phan Đình Phùng rất tin tưởng, người phụ nữ ấy là ai, đã lập được những chiến công gì sau khi được Phan Đình Phùng giao nhiệm vụ?
Trả lời:


Vào khoảng những năm 1887-1888, trên dòng sông Lam, người ta thấy một chiếc thuyền con của một người đàn bà và một đứa con trai nhỏ, từ đâu không biết, chở than lên bán vào những ngày có phiên chợ Tràng (là chợ ở giữa tỉnh Nghệ An).

Người đàn bà nhỏ thấp, da ngăm đen, vẫn giữ được vẻ đẹp của một thời thiếu nữ xuân sắc... Người đàn bà ấy trạc độ 27, 28 tuổi, nét mặt nghiêm nghị, thoáng chút buồn rầu, thỉnh thoảng lại như đang lo nghĩ điều gì... Còn đứa trẻ khoảng 7 tuổi, rất ngộ nghĩnh, lanh lẹ. Người phụ nữ ấy tên là Hoàng Thị Tám. Và câu chuyện về cô được kể lại như sau:

Đêm ngày 22 rạng ngày 23 tháng 5 năm Ất Hợi (tức ngày 5 tháng 7 năm 1885) xảy ra sự biến ở kinh đô Huế: kinh thành thất thủ, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi xuất bôn, cứu nước. Ngày 2 tháng 6 tới Sơn phòng Quảng Trị, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương. Sĩ phu yêu nước nổi dậy hưởng ứng khắp nơi. Tại Quảng Bình có những nhân vật chủ chốt như Nguyễn Phạm Tuân, Hoàng Văn Phúc, Đoàn Đức Mậu, Cao Thượng Chí... Nguyễn Phạm Tuân lập căn cứ ở vùng Tuyên Hoá, miền tây Quảng Bình. Hoàng Văn Phúc lập căn cứ ở vùng Lệ Thuỷ, nam Quảng Bình. Đó là hai lực lượng mạnh nhất, đáng chú ý nhất. Sau khi lên ngôi vua, Đồng Khánh đi kinh lý Quảng Bình để tìm cách dập tắt phong trào. Đồng Khánh ra lời kêu gọi nghĩa quân Cần Vương ra đầu thú và đặt giải thưởng cho ai bắt sống hoặc giết được các thủ lĩnh Nguyễn Phạm Tuân, Hoàng Văn Phúc. Miếng mồi nhử rất hấp dẫn: nếu bắt sống sẽ được bổ dụng làm quan hàm tam phẩm và được thưởng hai trăm lạng bạc. Nếu giết chết sẽ được bổ dụng làm quan hàm tứ phẩm và được thưởng một trăm lạng bạc (quan tam phẩm là ngang hàng với tả hữu thị lang trong triều, người mới đỗ đạt chỉ được bổ dụng làm quan với hàm ngũ, lục phẩm). Thế nhưng, chẳng ai hưởng ứng lời phủ dụ của Đồng Khánh.

Không may cho Hoàng Văn Phúc, trong một trận tấn công vào một đồn quân Pháp ở cửa Việt (Quảng Trị), ông trúng đạn và hi sinh. Trước khi hi sinh, ông có trăng trối lại với con gái là Hoàng Thị Tám muốn báo thù cho cha thì hãy tìm đến căn cứ của nghĩa quân Phan Đình Phùng. Lúc bấy giờ là tháng 9 năm 1886. Hoàng Thị Tám đã làm theo lời di huấn của cha tìm ra Nghệ Tĩnh. Để che mắt địch, cô sắm một con đò nhỏ làm nghề bán than vừa để kiếm tiền, vừa để dò la tin tức. Cô chọn chợ Tràng, bởi đây là nơi đông người qua lại thể nào cũng gặp nghĩa quân của Phan Đình Phùng trà trộn trong dân để nắm tình hình.

Cô Tám bán than tính rất điềm đạm, ít nói ít cười, không quan hệ nhiều với những người xung quanh. Chỉ khi lúc nào có khách đến hỏi mua than thì người ta mới thấy được khuôn mặt cô, suốt ngày cô ngồi cúi mặt như đang nghĩ ngợi điều gì. Ai từng tiếp xúc với cô đều nhận thấy cô là một người hết sức từ tốn, mềm mỏng, tiếng nói dễ nghe.

Một người đàn bà như cô Tám thật lạ lùng khó hiểu. Cô ít giao tiếp với mọi người xung quanh nhưng lại rất niềm nở thân mật với bọn lính tập. Nhiều lần, phiên chợ tan rồi, người ta bắt gặp cô Tám mua rượu, nem, quà bánh đem xuống ghe và dẫn mấy chú lính tập ăn uống say sưa...

Kẻ cười người chê, bàn tán ra sao, cô Tám biết hết. Nhưng cô vẫn tự nhiên, điềm tĩnh như không, hình như không để ý đến sự dị nghị của thiên hạ. Sau một thời gian mọi người không hề dám khinh cô Tám nữa, bởi vì khi gần lính tập, kể cả đãi trà rượu, nhưng tuyệt nhiên không thấy cô ta có vẻ lả lơi một chút nào.

Cô Tám nhỏ nhắn, mềm mại nhưng lại chứa một sức mạnh không ai ngờ. Nhiều thằng du côn vô loạn, thấy cô hay nói chuyện với lính tập ở trong chợ như thế, dở thói trăng hoa đàng điếm, nói chơi nói ghẹo. Ban đầu cô làm thinh không thèm nói gì, chúng thấy vậy càng làm tới, khiến cho cô không nhịn nhục được, phải dùng đến võ lực, đánh cho mấy đứa phải bỏ chạy. Sau chúng kéo nhau đến mấy chục đứa tới trả thù, làm đổ gánh than và định đánh cô một trận tơi bời để rửa thể diện anh chị. Người ta thấy cô Tám múa chân múa tay, đông xung tây đột, đánh võ với cả bọn du côn dữ tợn. Cuối cùng, có thằng thì bị cô đánh cho vỡ đầu, thằng thì chạy trốn, hoặc ngã nhào, riêng cô không bị một vết tích gì, mà sau khi bãi trận, thần sắc coi tự nhiên như không. Người trong chợ kéo nhau đến xem, họ reo cười khen ngợi cô Tám không ngớt.

Phiên chợ nào cũng thế, trong hai năm trời, hễ sáng sớm phiên chợ là thấy cô Tám chèo thuyền đến, chiều hôm tan chợ cô lại chèo thuyền về, chẳng có một phiên chợ nào cô Tám vắng mặt. Nhưng đến đầu năm Kỷ Sửu (1889) trở đi, ở chợ Tràng người ta không thấy cô Tám bán than đến họp chợ nữa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 10:56:36 PM

Giữa năm Canh Dần (1890), Phan Đình Phùng đã chiếm căn cứ ở trên Ngàn Trươi xưng hùng, có tiếng là "Sơn trung Tể tướng" được ba bốn năm. Lúc này, muốn cho phong trào thêm lớn, thực lực thêm to, cụ Phan thảo một tờ hịch truyền đi các nơi, để khích động nhân tâm, chiêu tập hào kiệt.

Tờ hịch truyền ra, sĩ phu Trung Kỳ càng lấy làm cổ vũ, thi nhau góp sức, hiến mưu lược, góp quân lương, dò xét tình hình quân Pháp giúp cụ Phan Đình Phùng. Thanh thế của cụ Phan tới lúc này đã lớn mạnh nhiều. Vấn đề súng đạn trở thành nỗi lo của cụ Phan Đình Phùng. Thuốc đạn phải mua ở bên Xiêm, đường sá qua Lào đi lại khó khăn nên không mua được nhiều. Lại bị quân bảo hộ chặn đường, nên súng đạn của nghĩa quân vận tải về thường bị mất luôn.

Một ngày, Cao Thắng đang cùng chư tướng bàn bạc việc quân, có một người đàn bà dẫn theo một đứa con trai nhỏ xin vào yết kiến. Người đàn bà đứng vái dài một vái rồi nói: Tôi là con gái ông Hoàng Văn Phúc1. Sau khi cha tôi mất, nhà tôi tan, thân tôi phải lưu lạc giang hồ, tìm cách để phục thù cho cha tôi. Tuy tôi là liễu bồ phận gái, nhưng cũng có hồ thỉ chí trai, tấm thân không kể bao nhiêu nông nỗi đắng cay, miễn là cầu vọng cho thỏa được tấm lòng mình ao ước. Đứa con nhỏ này đây (vừa nói vừa chỉ vào đứa trẻ nhỏ) không phải là con tôi, nó là con riêng một người bạn tôi, cũng một nhà chí sĩ, tên là Lê Doãn, trước theo cha tôi đã lập được nhiều công trận. Cha tôi thương yêu, mà tôi cũng thương yêu, nên cho tôi với Lê Doãn ước hẹn với nhau rằng một mai đại sự thành công thì thế nào chúng tôi cũng thành duyên cáng lệ với nhau. Anh ta đã góa vợ, chỉ có một đứa con trai mới 3 tuổi, chính là thằng bé này. Nhưng vì quốc sự gian nan, làm cho việc nhân duyên của chúng tôi giữa đường lỡ dở chia phôi. Anh đánh trận bị thương nặng, trước khi mất cậy nhờ giao phó tôi trông nom giùm đứa con. Không mấy lúc sau, cha tôi cũng mất, thân thế của tôi thành ra lênh đênh. Tôi phải đem đứa con nhỏ này cùng đi trốn. Đi trốn mà không biết ở vào đâu cho thuận tiện được cả mọi bề, cho nên tôi phải mua một chiếc thuyền mà ở lênh đênh trên mặt nước, nay ở chỗ này, mai dời chỗ kia, không biết đâu là định sở. Trong lưng tôi còn được mấy nén bạc, mới bỏ ra buôn than để chi độ qua ngày. Tôi cốt buôn than đem lên chợ Tràng bán, là có chủ tâm gần gũi giao thiệp với bọn lính tập đóng ở Nghệ An. Tôi giả đò quyến luyến với họ, để xui họ thừa cơ khởi nghĩa, hưởng ứng với nghĩa binh. Nếu vạn nhất mà việc đó thành công thì chẳng những nghĩa binh ở hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình thêm được vây cánh, khí giới, mà lại có thể mở ra được đường lối đi lại với nghĩa đảng ngoài Bắc, để trong ngoài ứng tiếp, chị té em nâng, may ra mới nên được việc lớn... Việc mưu tính đã gần thành rồi mà lại hư hỏng bởi nhà đương cuộc bảo hộ thấy động liền sinh nghi, vội vàng thay đổi toán lính tập tôi đang cám dỗ đi nơi khác, tôi đau đớn vô cùng. Rồi nghĩ nếu mình cứ quanh quẩn ở đó mãi, nhắm chừng cũng chẳng nên được việc gì, cho nên tôi phải bỏ đi để tìm kế khác, vẫn biết cụ Phan và tướng quân dấy nghĩa lâu nay, tôi rất lấy làm hâm mộ, đáng lẽ trước hết tôi phải lập được một chút công trạng gì thì mới dám đến xin tướng quân thâu dụng. Nhưng nay điều sở ước của tôi đã hỏng mất rồi không thể tự mình tìm được việc gì khác mà làm nữa, vậy tôi đến đây tức là đem thân mọn tài hèn, để tướng quân sai khiến...

Người đàn bà ấy chính là Hoàng Thị Tám - cô bán than ở chợ Tràng. Cao Thắng nghe chuyện lấy làm cảm động bùi ngùi, nhưng ông không khỏi sinh nghi cô là kẻ do thám do bảo hộ sai đến, liền gọi người lôi cô ra chém. Cô Tám chẳng có sắc mặt gì tỏ ra sợ hãi, cô chỉ cười và nói: Những thứ người mưu hại đồng bào như thế ở đời cũng có thiệt, nhưng người đó không phải là tôi. Tướng quân có muốn giết thì cứ giết đi, tôi rất vui lòng, lòng dạ tôi thế nào, đã có thần minh trên cao soi xét và có người ở dưới suối vàng biết giùm tôi, tôi không cần biện bạch làm gì. Miễn là xin tướng quân thương xót đứa con mồ côi này mà chăm nom dạy dỗ, tôi dầu có chết cũng được yên lòng nhắm mắt.

Cao Thắng tỏ ý rất kính phục liền dẫn cô Tám vô đại đồn yết kiến cụ Phan, trình bày sự thể. Cụ Phan còn đang ngần ngại, chưa biết dùng tài một người đàn bà vô chỗ nào. Cô Tám xung phong đi bắt một toán lính tập 30 người do một viên quản cơ làm đầu. Cụ Phan cho đi. Cô đi vô một làng xóm gần đó, mua một cây đòn gánh thật chắc, một đôi thúng, chất đầy rượu thịt, quà bánh, lại sửa sang mặt mày và trang điểm cho ra vẻ con người xinh đẹp mà hơi lẳng lơ, rồi quẩy gánh thũng thẵng đi tới chỗ lính tập đang đóng để bán hàng. Cô Tám khéo làm bộ tình tứ, nụ cười tiếng nói có duyên; cả toán lính xúm lại bu quanh cái gánh của cô, mua rượu, mua bánh tíu tít. Cậu nào thả giọng chàng màng, ve vãn, cô cũng niềm nở chiều đãi. Ai có sẵn tiền thì trả, ai khô xu cạn túi cô cũng bán chịu thả cửa.
_________________________________
1. Hoàng Văn Phúc cũng là một nhà cách mạng ở Quảng Bình.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 10:57:00 PM

Ngày hôm sau, cô Tám lại gánh rượu thịt tới, bọn lính hết sức vui mừng, xúm lại mua rượu vừa đánh chén, vừa nói chơi, men sắc và men rượu nhập lại, làm cho các cậu say mèm. Cô hàng lại càng chịu khó hầu hạ chiều chuộng, thêm vẻ thân mật hơn ngày hôm trước. Chúng ngồi lết trên bãi cỏ, cứ năm bảy người làm một tốp, cô Tám dọn một mâm thịt dê, một chai rượu bố. Muốn ngồi đánh chén cho khoan khoái thong thả, từ ông quản cho đến các thầy quyền đều tháo hết dây nịt, túi đạn, bay-don-nết và gác súng đạn lại một nơi ở trên thềm miếu thổ thần. Trong rượu có pha thuốc mê, dầu uống nhiều ít gì cũng mau say lắm. Chốc lát, cả đám lính đều say nhừ tử. Cô Tám biết thời cơ đã đến nơi rồi, càng ra sức hầu hạ, nào quạt, nào rót nước, nào nâng đỡ, cô không ngần ngại một chút nào.

Giữa lúc đó ở trước cửa miếu xôn xao đông người tụ lại. Hai chục tráng sĩ ở Ngàn Trươi xuống giả làm lái buôn và dân cày cũng trà trộn vào trong dân làng. Họ chỉ đợi chờ có ám hiệu là xông vào ra tay. Toán lính đang say mèm, không chú ý gì đến sự người ta xôn xao đông đảo, lần hồi các cậu nằm lăn ra trên cỏ mà ngủ.

Cô Tám lén móc được khẩu súng lục của viên quản, rồi chạy ra đứng ngay chỗ chất súng đạn kia, đưa mắt ra hiệu cho phục binh ra tay. Tức thời, 20 tráng sĩ xen lẫn trong đám dân làng và trẻ con, rút đoản đao nhảy ùa vào. Bọn lính đang mơ màng giật mình, hốt hoảng vùng dậy, nhưng dậy không nổi, anh nào đứng dậy được thì cũng không còn sức chống cự gì được.

Tráng sĩ Ngàn Trươi trói cả mấy chục cậu lính. Cô Tám truyền lệnh cho anh em tráng sĩ chia nhau khiêng vác hết thảy súng đạn và khí cụ của toán lính đem lên sơn trại. Còn bọn lính cô tha cho sống sót để về với vợ con.

Nghe chuyện, cụ Phan khen ngợi và mời cô Tám lên nghị sự đường để bàn tính một việc binh cơ quan trọng: qua Xiêm mua thuốc đạn. Cô Tám nghe xong liền nói: "Cụ muốn bảo tôi chết, tôi cũng dám chết ngay được liền bây giờ, sự khó nhọc vất vả có sá kể chi, thưa cụ”.

Từ đó nghĩa quân không thiếu thuốc đạn, trước kia chế đạn bằng bốn phần thuốc ta, một phần thuốc tây, bây giờ có thể dùng quá phần nửa là thuốc ngoài đem về. Ấy là nhờ có người bên Xiêm trù biện giúp cho. Và nhờ có người đàn bà là cô Tám giả làm khách buôn bán, mạo hiểm chuyên chở về được đến nơi đến chốn.

Khi cô Tám sang Xiêm lần đầu, cô dắt cả đứa con của Lê Doãn đi theo, nhưng cô để nó ở lại bên Xiêm, gửi người ta nuôi giùm cho khỏi bận rộn trở ngăn công việc. Cô đi đi về về, chuyên chở thuốc đạn được bốn năm chuyến; mỗi chuyến được năm bảy ngàn cân, chứ không phải ít. Vì cô khéo sắp đặt thuê mướn mấy chục thổ nhân, gánh vác lần hồi từng chặng, giả như là chuyên chở hàng hóa theo cách đi đường rừng vậy.

Cô đi lại chuyên chở thuốc đạn giúp nghĩa binh được mấy chuyến như thế rồi sau đó chẳng ai biết tông tích cô Tám. Có người đoán rằng vì nỗi đi đường khó nhọc quá mà cảm nhiễm phong sương, cô Tám sinh bệnh rồi chết ở giữa rừng, giữa núi nào đó. Hoặc cho là cô thấy nghĩa binh thất bại cho nên ở luôn bên Xiêm không về nữa. Nhưng thực ra cô Tám không chết ở rừng, cũng không ở bên Xiêm, mà cô bị địch bắt rồi hy sinh. Lần đó không rõ là chuyến đi thứ năm hay thứ sáu, cô Tám bị địch bắt ở Thái Lan. Chúng bắt cô lên tàu thủy đưa về Sài Gòn để giao cho nhà cầm quyền Pháp. Cô Tám đã nhảy xuống biển tự vẫn, hy sinh thân mình để bảo toàn bí mật cho sự nghiệp của nghĩa quân. Hồi ấy, vì đường sá xa xôi, thông tin liên lạc rất khó khăn mà nghĩa quân Phan Đình Phùng không biết được tấm gương hy sinh cao cả vì nghĩa lớn của cô Tám.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 10:57:55 PM

Câu hỏi 18: Cho biết một sự kiện làm chấn động dư luận Nghệ Tĩnh hồi đó, là việc nghĩa quân bắt sống Tuần phủ Đinh Nho Quang dưới sự chỉ huy mưu mẹo của Cao Thắng?
Trả lời:


Khi chánh thể bảo hộ mới lập, thủ đoạn của chúng là thường dùng đám quan lại và sĩ phu quy thuận đứng làm trung gian để trực tiếp thể hiện sự lợi hại với dân và thâu phục lòng dân cho dễ.

Trong đám quan lại sĩ phu đó, có những người chịu khuất phục thời thế, song vẫn giữ tư cách cao thượng, lương tâm trong sạch, họ biết nhân thời thế giúp bảo hộ mà chở che, thương xót, giúp đỡ cho dân. Trái lại, cũng có những người thấp hèn, tàn nhẫn, nhân cơ hội này mà lợi dụng thế thần áp bức dân chúng, cho được phú quý bản thân, thỏa mãn tư dục của họ mà thôi, còn thì sống chết mặc ai, nước non thây kệ... Hạng người đó làm khổ dân không biết bao nhiêu. Bởi vậy, việc cách mạng của cụ Phan có hai nghĩa: Một là chống với người Pháp, toan bề khôi phục nước nhà; hai là trừ đám sĩ phu quan lại người Nam mình hay dựa thời thế để làm hại dân.

Từ khi cụ khởi binh, đã nhiều lần đánh phá bọn này, có ý để cho những kẻ khác trông lấy gương đó mà chừa thói ỷ thế hại dân. Trong nhiều lần ấy, cụ lấy làm thống khoái nhất là việc bắt Tuần phủ Đinh Nho Quang.

Đinh Nho Quang là người huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, có tiếng là một tay danh sĩ, nguyên trước làm Tuần phủ tỉnh Hà Tĩnh. Sau về hưu rồi, bảo hộ cho sung vào công việc đi tiễu phủ các đảng văn thân. Đinh vốn là bạn thân với cụ Phan, nếu không tán thành việc cụ làm thì cũng nên trung lập hay là đứng bàng quan mới phải, nhưng nay đã ra phò bảo hộ mà đánh văn thân rồi lại còn ra ý khinh rẻ cụ Phan, và ỷ thế đi tiễu giặc mà ra tay hành hạ dân gian.

Đinh có viết một bức thư, khuyên dỗ cụ Phan ra hàng, lời lẽ rất ngạo mạn, trong đó có một câu như sau:

"Ông chỉ nằm bẹp ở trong núi, không chịu ra hàng, để ban đêm thì làm hùm làm beo, còn ban ngày thì làm chồn làm cáo, không phải là kế vững bền được đâu".

Thế nghĩa là Đinh có ý khinh rẻ cụ Phan, coi như giặc cướp, chỉ ban đêm mới dám ló đầu ra, cướp bóc đốt phá của dân, hung hăng như hùm như cọp, còn ban ngày thì sợ hãi, chui lủi trong bụi, trong rừng, như loài chồn cáo, không dám thò mặt ra. Trái lại, văn thân và nghĩa binh cụ Phan lúc ấy có hèn nhát như thế đâu, nhiều khi ban ngày cũng đối chiến với quân lính bảo hộ là sự thường thấy. Còn sự cướp phá của dân thì không hề, mà chỉ cướp phá của bọn quyền quý tham ô nịnh hót... Bởi vậy cụ Phan cả giận, liền gọi các tướng và hỏi trong các tướng, có ai đi bắt sống thằng Đinh Nho Quang đem về đây thì sẽ có trọng thưởng. Người nhận làm việc đó ngay chính là Cao Thắng.

Năm ấy là giữa năm Nhâm Thìn (1892), Tuần phủ Đinh Nho Quang sau khi về hưu vẫn giữ chức làm Tiễu phủ Quân vụ ở hạt Hương Sơn, hiệp với Lê Kinh Hạp làm Tham biện Quân vụ và một tên Ban biện là Đạt trông nom việc tuần phòng trong huyện.

Khắp trong huyện, chúng lập ra đến hai mươi đồn, đồn nào cũng có 30 tên lính tập đóng rất nghiêm mật. Còn ở nhà riêng của Đinh Nho Quang và nhà riêng Lê Kinh Hạp đều có ba mươi tên lính tập ngày đêm vác súng canh phòng hộ vệ. Ban biện Đạt thì quản xuất một đạo binh 50 người đi lại tuần phòng trong hàng huyện, hết đồn nọ đến đồn kia, suốt cả đêm ngày hết sức cẩn thận. Chính vì thế mà nghĩa quân có muốn đánh tràn xuống để bắt Đinh Nho Quang sẽ mất nhiều công sức, mà chưa dễ gì phá được bao nhiêu đồn lính đóng liên tiếp nhau. Vả lại, nghĩa binh có đánh được đến nơi, thì Đinh Nho Quang cũng đủ thời gian tìm đường trốn mất rồi, bắt sống thế nào được. Tình thế như vậy bắt buộc Cao Thắng phải dùng kế.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 10:58:27 PM

Hồi ấy là tháng mười. Nhân có một viên thiếu úy Pháp dẫn một toán lính tập chừng 80 tên ở tỉnh Nghệ An đi về tuần tiễu các khu rừng núi thuộc về hạt Hương Sơn, chừng khoảng năm ngày nữa thì trở về tỉnh Nghệ An, Cao Thắng sai người đi dò la, biết chắc như thế, mừng lắm và thầm nghĩ rằng đã có kế bắt sống được Đinh Nho Quang.

Bảy giờ sáng sớm hôm ấy, Cao Thắng lựa chọn năm người lính lanh lẹ, cho mang sắc phục giống y lính tập bảo hộ, đeo súng Tây, vác một lá cờ tam sắc, lén xuống núi, giả làm binh tây. Sau đó cho những người này đi khắp các đồn truyền báo rằng ngày mai có một ông quan hai dẫn lính đi tuần tiễu ngang qua, lính đóng các đồn phải ra ngoài cửa đồn bồng súng đứng sắp hàng để chào và để kiểm duyệt, nếu sai lệnh thì bị phạt. Các đồn tưởng thật, đều vâng lệnh răm rắp.

Thấy Cao Thắng cho nghĩa quân mặc giả y phục lính tập và cầm cờ tam sắc, mọi người lấy làm lạ, vì ông làm gì có những đồ ấy? Sau mới biết trong trại nghĩa quân Cao Thắng thường có sẵn y phục của lính tập là do những trận đánh nhau đã lấy được của lính bảo hộ.

Hơn sáu giờ sáng hôm sau, quả nhiên có một toán 100 lính tập kéo đi ngang các đồn. Đi đầu là một ông quan binh người Pháp, thân hình vạm vỡ và râu ria y như người Pháp, ngồi trên một con ngựa trắng; trước mặt có toán lính âm nhạc, vừa thổi kèn đánh trống rất oai vệ. Đi qua đồn nào là thấy lính ở đồn ấy đã bồng súng ra đứng chào ở ngoài cửa, đợi quân kéo đi rồi mới trở vào... Toán quân ấy kéo ngay tới trước cửa nhà Tuần phủ Đinh Nho Quang. Ngoài cửa nhà Đinh có lập một cái quán nghỉ chân. Toán quân kia kéo vào đó nghỉ. Viên quan võ Pháp sai lấy rượu và bánh ra ăn, còn lính cũng ăn bánh uống nước một cách tự nhiên như thường nên không có ai ngờ vực gì hết. Tốp lính canh gác ở nhà của Đinh, thấy cùng là đồng bọn cả, nên chẳng đề phòng gì lại còn thấy vui mừng nữa.

Khi ăn uống xong rồi, có hai người là thầy đội lảng vảng đến trước cổng nhà Đinh, lân la làm quen với mấy tên thủ hạ Đinh và làm bộ hỏi rằng: Nhà của ông lớn nào đây mà có anh em ta canh gác? Khi thủ hạ Đinh nói đây là nhà cụ lớn Tuần phủ Đinh Nho Quang, hai thầy đội ra vẻ ngạc nhiên như bây giờ mới biết. Sau đó nói với mấy cậu thủ hạ của cụ lớn là: Chúng tôi trước đóng ở Hà Tĩnh, giữa lúc cụ lớn ở đây đang làm Tuần phủ tại đó, thành ra chúng tôi đã được cơ hội ra vào hầu hạ cụ lớn. Về sau anh em tôi đổi đi chỗ khác đã ba năm nay, không biết tin tức cụ lớn ta thăng chức thế nào, nay vì việc quan, may mắn sao đi qua nhà cụ lớn, vậy anh em làm ơn vào bẩm cụ lớn, cho chúng tôi vào hầu thăm cụ giây lát...

Một tên thủ hạ chạy vào trong nhà bẩm rõ sự thể. Đinh đồng ý. Hai thầy đội rón rén bước vào vái chào một cách hết sức cung kính sợ hãi, rồi vòng tay đứng nói tình nghĩa thầy trò cũ. Thực tình Đinh đâu có nhớ được là hai thầy đội này trước có đóng ở Hà Tĩnh không và đã có dịp đi lại hầu hạ mình chưa, chỉ biết là họ có lòng kính trọng mình mà nhìn nhận là thầy trò cũ thì cho họ vào nhà thôi. Kẻ ưa nịnh hót, khi được người ta nịnh hót lấy làm oai phong sung sướng. Trong lúc nói chuyện, Đinh lên mặt thầy khuyên nhủ họ nên hết sức giúp nhà nước đại Pháp mà đánh giặc lập công, v.v...

"Thầy trò" đang đàm đạo, thì có một tên lính tập ở ngoài chạy vào sân mời hai thầy đội ra ngoài gặp quan có việc cần. Khi hai thầy đội bái từ Đinh đi ra, thì lúc đó, tất cả toán lính đi tuần, nửa ở ngoài, còn nửa đã lọt vào trong vườn của Đinh, tốp năm tốp ba, vai vẫn mang súng, miệng hút thuốc lá phì phèo, đi bộ trong vườn ra vẻ xem hoa, ngắm cảnh. Thủ hạ của Đinh thấy là lính nhà nước, thành ra chẳng ngăn trở và đề phòng gì.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 10:58:45 PM

Một lát sau, một trong hai thầy đội vào hầu Đinh hồi nãy lại chạy vào trong nhà vòng tay bẩm với Đinh rằng: Lúc trước anh em chúng con vào đây hầu thăm cụ lớn, quan trên chúng con thấy vắng mặt nên sai lính tìm kiếm và hỏi đi đâu, anh em chúng con cũng nói thật là đầy tớ của cụ lớn ngày trước, nay có dịp đi qua nên phải vô hầu thăm, cho phải đạo tôi tớ. Quan trên chúng con nghe tới đại danh cụ lớn, rất lấy làm vui mừng vì xưa nay ngài vẫn nghe tiếng của cụ lớn lừng lẫy xa gần. Bởi vậy, ngài còn e ngại, nên sai con vào bẩm với cụ lớn hay trước, xem ý cụ lớn có chịu tiếp giờ này không? Đinh nghe nói là một vị quan binh Pháp xin vào bái yết mình, còn có gì vinh diện cho bằng nên nói ngay: Được, thầy ra báo tin trước, để tôi ra cổng đón rước quan lớn vào chơi. Nói xong, Đinh thét vang người nhà đầy tớ mau mau dọn dẹp bàn ghế, sắp sẵn ly rượu rồi chỉnh tề khăn áo ra tận ngoài cổng rước khách... Tội nghiệp, Đinh vừa lò mò ra đến ngoài cổng, thấy có bốn người tráng sĩ đưa súng ngang trước mũi và hai người khiêng một cái võng, đồng thanh nói lớn rằng: Chúng ta phụng mạng của Phan nguyên soái xuống bắt Tuần phủ Đinh Nho Quang điệu về đại trại, chứ đây không phải là quân Pháp. Họ vừa nói, vừa xốc ngay Đinh mà đặt lên võng khiêng đi, số lính còn lại thì khống chế thủ hạ của Đinh, không cho ai động đậy. Đinh không ngờ mắc mưu như thế, chỉ nói được một câu: "Giặc nó bắt tao". Rồi võng Đinh đi trước, nghĩa quân đi sau, rầm rộ kéo đi tự nhiên. Thủ hạ của Đinh sợ hãi, đều chạy tan nát, không ai dám thò mặt ra cứu. Nghĩa quân đi vừa thổi kèn, vừa bắn súng liên thanh, nhằm ngay núi Vụ Quang báo hiệu. Trên núi nghe có hiệu súng, cho thêm hai đạo quân 200 người xuống núi tiếp ứng, để phòng bị có lính bảo hộ phá vây giải cứu cho Đinh. Đến tối thì nghĩa quân giải Đinh về tới sơn trại.

Sáng hôm sau, Cao Thắng dẫn Đinh vào nộp cho cụ Phan. Cụ cho Đinh ngồi tử tế rồi cười và nói: Ông cho tôi làm việc nghĩa cử này là tầm bậy hay sao? Các ông chỉ biết lo bảo toàn vợ con, nhà cửa và bổng lộc là sung sướng mà thôi, tưởng vậy đã đủ làm cho người ta kinh sợ. Sao ông ngu thế? Tôi với ông có tình anh em đồng học, đáng lẽ nay ông thấy tôi làm một việc gian nan tiết tháo như vậy, thì nên giúp đỡ cho tôi mới phải. Mà nếu có nhát gan sợ chết thì thôi, nên giấu mặt đi mà nằm một xó nhà, yên thân cho xong, sao lại đành lòng đi nịnh hót và bày mưu lập kế cho người ta để toan làm hại tôi. Đã vậy lại còn viết thư nói xấc xược với anh em cố giao nữa, ông nghĩ rằng mình ông có thể địch nổi được với quân của tôi sao? Thôi, người có đầu óc tâm địa như ông, có nói chuyện nghĩa lý gì nữa cũng là vô ích. Bấy lâu làm quan với người Pháp, ông ỷ thế đè đầu bóp cổ dân mà lấy tiền, nghe nói bây giờ về hưu, giàu có sung sướng lắm. Vậy thì nên mau mau đem giúp cho nghĩa binh lấy sáu bảy ngàn đồng đây, rồi tôi tha cho mà về, tôi chẳng thèm giết ông làm gì, cho dơ dáy cả thanh gươm. Ông tự liệu lấy.   

Đinh hổ thẹn quá, ngồi cúi mặt làm thinh. Cụ Phan truyền lệnh đem Đinh ra ở đồn ngoài, giam lại, giao cho 50 quân lính già yếu canh giữ. Đinh vẫn mong sớm tối thế nào cũng có quân lính bảo hộ lên giải cứu cho mình, nhưng đã bốn tháng không thấy tin tức gì, bởi quân lính bảo hộ cũng không dám tới sào huyệt của nghĩa quân chỉ vì cái tính mạng của một viên tuần phủ trí sĩ. Sau bốn tháng, Đinh phải viết thư cho người nhà đem lên nộp cho nghĩa quân 4 ngàn đồng. Bởi vì chưa đủ số tiền nghĩa quân cho chuộc mạng, thành ra Đinh vẫn bị giam. Mãi tới về sau, quân lính bảo hộ đánh phá được đồn ngoài của nghĩa quân, mới cứu được Đinh sống sót mà về.

Việc nghĩa quân lập kỳ mưu bắt sống Tuần phủ Đinh Nho Quang làm chấn động dư luận Nghệ Tĩnh hồi đó, chính vì thế mà bọn quan lại phải khiếp sợ giữ mình, không dám ho he khích bác văn thân và khinh thường nghĩa binh nữa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 11:00:52 PM

Câu hỏi 19: Trình bày những lí do mà Cao Thắng quyết đem quân đi đánh địch ở tỉnh Nghệ An? Trong trận huyết chiến đó, Cao Thắng và nhiều nghĩa quân đã hy sinh do bị mắc mưu địch ở đồn Nỏ như thế nào?
Trả lời:


Trong lúc nghĩa quân đang có thế mạnh sức lớn, tiếng lan truyền khắp xứ, khiến quân bảo hộ phải rất lo ngại, không biết có dẹp được không và nếu có thì bao giờ mới dẹp được. Trong lúc nghĩa quân đang cần người có trí có dũng để giúp đỡ cụ Phan về việc sai khiến tướng sĩ, liệu lương binh cơ, thì chợt có một cái tang rất đau đớn làm thay đổi cả đại cuộc, rung động cả toàn quân: cái tang Cao Thắng tử trận.

Cao Thắng là một người có tài cao chí lớn, nghĩa quân đang cần có ông, đang phải dựa vào ông làm một bức tường thành, bỗng thiếu mất ông đi, tức là nghĩa quân thiếu mất linh hồn, kém hẳn thực lực.

Trải qua năm năm huấn luyện, chuẩn bị, Cao Thắng thấy nghĩa quân đã có khí giới, có lương thực, tập luyện tương đối khá rồi. Tuy không dư thực lực, nhưng cũng đủ chống cự với quân Pháp trong một thời gian. Bởi vậy ông suy nghĩ nếu mà nghĩa quân cứ chui lủi lẩn khuất ở trong rừng núi mãi, không tiến lên một vài bước thì đến bao giờ mới chiếm cứ được một tấc đất để đồ lấy việc lớn. Đã không tiến được thì làm sao tránh khỏi có ngày sẽ thụt lùi, tan tác. Bây giờ ông muốn nghĩa quân phải kịch liệt dồn sức tấn công một phen xem thế nào, chứ cứ ở mãi rừng núi như thế này, tuy là đất của mình thật, nhưng bốn phía đều có quân Pháp bao bọc, siết cứng lấy mình, thành ra mình không khác chi con chim ở trong lồng, con cá ở trong chậu, vẫy vùng gì được. Suy nghĩ vậy rồi Cao Thắng vào bẩm cụ Phan để bàn về việc tấn công, huyết chiến một phen xem sao.

Khi Cao Thắng trình bày nguyện vọng của mình, Phan Đình Phùng suy nghĩ rồi hỏi Cao Thắng muốn đem quân ra đi thì đánh lấy đất nào trước và tại sao đánh nơi đó trước? Cao Thắng trả lời rằng xin đi đánh tỉnh Nghệ An trước. Và giải thích quân Pháp đối địch với ta, lấy tỉnh Nghệ An làm chính, đóng quân và tích lương ở đó rất nhiều, một là để chống giữ ta ở mặt Hà Tĩnh, Quảng Bình, hai là để chặn đường không cho ta giao thông với ngoài Bắc. Ngày nay nếu ta ngồi đây mà giữ mãi thì lấy gì khích động được lòng người, mứu toan được việc lớn. Bao nhiêu nghĩa đảng trong nước bây giờ đều trông ngóng vào ta mà định bước tiến hay lui; đến có sức khá như ta mà cứ ngồi yên thì họ cũng không dám động, nay nếu ta động thì tức khắc là họ ùa theo, chắc sẽ bùng lên khí thế mạnh mẽ. Vả lại lấy rừng núi làm chỗ trú chân tạm thời thì được, chứ làm chỗ thủ thành thì không xong, vì quân Tây chẳng cần gì đánh ta, cứ bọc vây ở vòng ngoài trong thời gian dài, chẳng cần phải hao phí một tên lính, một viên đạn nào, có thể khiến cho ta ở trong tình thế tuyệt lương, tự nhiên rồi ta tự phải tan, phải chết. Tiểu tướng dám quyết rằng thế nào quân địch cũng dùng tới cái kế không cần đánh mà thắng trận như thế đó. Bởi vậy, nghĩa quân ta phải ra tay trước để mở lấy một sinh lộ mới được.

Nghe Cao Thắng nói, Phan Đình Phùng phân vân rồi nói với Cao Thắng nếu ra đánh tỉnh Nghệ An mà Tây kéo quân ở trong ra, ở ngoài đánh vào, hai mặt đánh đổ dồn lại, thì tướng quân sẽ không chống cự cho nổi. Cao Thắng tiếp tục trình bày kế hoạch tiến công, thể hiện sự quyết tâm của mình rằng: Chỉ cần chống cự với mặt quân ở ngoài Bắc vào, còn mặt trong không sợ. Trong khi tiến binh lên thâu phục tỉnh Nghệ An, tôi sẽ xin chủ soái truyền lệnh cho các quân thứ đều cử binh một lượt, không cần gì đánh nhau, nhưng chỉ làm ra bộ lăm le đánh phá hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh, làm vậy để chia sức quân Tây, chúng không để hết tâm lực đến Nghệ An được. Vả lại, nghĩa binh ta ra đánh bây giờ cần phải liều chết mà đánh cho thật thần tốc, khiến cho quân địch chẳng kịp trở tay, thì sự đánh hạ được thành Nghệ An có lẽ cũng là việc dễ. Hễ hạ được Nghệ An rồi, tức khắc các đạo quân thứ ta thừa cái thắng thế ấy mà trường khu đại tán, lên chiếm hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh nữa. Nghĩa sĩ các tỉnh thấy vậy, họ sẽ nức lòng mà cùng nổi lên, quân Tây có ba đầu sáu tay cũng phải bối rối. Lúc ấy cụ đem đại binh đóng ở Quảng Bình đón đường chống cự với quân ở trong kinh ra, tôi xin ở Nghệ An để giữ vững mặt ngoài, nếu nghĩa quân ta giữ chặt được dải đất như thế làm chỗ nương thân, làm nơi căn cứ, may ra có thể làm nên việc lớn được.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 11:01:42 PM

Cụ Phan thấy chưa yên tâm và nói với Cao Thắng rằng quân ta hiện nay còn yếu thế lắm, sợ đi thì có điều bất lợi. Cụ Phan nói như vậy là ý không muốn cho Cao Thắng đi, nhưng Cao Thắng vẫn nói lớn rằng: Đại trượng phu đến chết là cùng, chứ có điều chi mà sợ.

Rồi Cao Thắng năn nỉ một mực xin đi, cuối cùng cụ Phan cũng phải chiều theo Cao Thắng. Vả lại, hồi bấy giờ ở quân thứ phủ Anh Sơn tỉnh Nghệ An, Nguyễn Mậu trù liệu việc quân lương có hơi chậm trễ, nên cụ cũng bằng lòng cho Cao Thắng đi để thu xếp việc đó luôn thể.

Cao Thắng bèn chọn lấy một ngàn quân cường kiện, luyện tập lại cho thật giỏi, theo như binh pháp của người Tây. Duy có quân phục thì ông cho mặc toàn sắc đỏ, vì ông lấy nghĩa rằng: phương Nam ta thuộc về hỏa, còn phương Tây thuộc về kim, nay lấy hỏa khắc kim nghĩa là lấy lửa nung vàng cho chảy ra, cho nên lấy sắc đỏ làm quân phục là để tượng về hỏa vậy. Đối với quân sĩ, ông chỉ có một quân lệnh rằng: "Hễ ai ra trận mà lùi lại thì chém đầu". Chính ông ra trận cũng không bao giờ chịu đi sau, bao giờ cũng xông pha lửa đạn mà lên trước, khiến cho quân lính đều cảm phục. Những trận đánh mà ông thường thắng là nhờ có cái can đảm ấy. Quân lính xưa nay không những phục ông là người đại tài mà lại quý mến ông là người có độ lượng, vì đối với quân lính, ông lấy tình như anh em khiến họ rất quý trọng, cho nên lần này ông ra binh, ai cũng vui lòng theo, không ngần ngại một chút nào.

Cao Thắng chia quân ra làm hai đội: Cao Thắng và Nguyễn Niên đi tiên phong, còn em ruột ông là Cao Nữu dẫn một nửa đi làm hậu đội, rầm rộ theo đường thượng đạo mà kéo đi, nhằm thẳng tỉnh Nghệ An tiến tới. Con đường từ đó về tỉnh Nghệ An có rất nhiều đồn trại của lính bảo hộ đóng để phòng cự văn thân. Đi đường gặp đồn nào là Cao Thắng đánh phá đồn ấy, đánh nhau lâu là nửa ngày, mau là một giờ hay vài giờ đồng hồ là ông phá được. Ông đã phá được mấy đồn như thế. Cao Thắng vốn là người có tiếng anh hùng, lính tập bảo hộ đều biết và có ý kiêng sợ, cho nên mỗi khi họ tuần tiễu mà gặp quân ông, họ không ham đánh lắm, đều gọi ông là "hổ tướng".

Sau khi đánh phá được mấy đồn rồi, Cao Thắng kéo quân ngang qua một đồn, gọi là đồn Nỏ. Trong đồn chỉ có một trăm lính tập mà thôi. Viên quan chỉ huy đội lính này là một người mình, trước làm chánh quản, sau được thăng chức làm quan một lon, gọi là quan một Phiến. Phiến nguyên trước cũng ở trong nghĩa đảng, nhiều mưu mẹo lắm, sau ra đầu hàng bảo hộ rồi đem thân vào hàng ngũ, lập nhiều chiến công, thành ra được làm tới quan một. Người Pháp tin dùng Phiến mới cho Phiến đóng ở đồn Nỏ là một chỗ hiểm yếu nằm ngay giữa đường, đối phương có phá được đồn này thì mới có lối đi tới.

Phiến nghe tin báo rằng ông Cao Thắng sắp kéo quân đi qua, liền dự bị cách nghênh địch. Và tự biết rằng quân mình ít, nếu ra đương trường mà đánh nhau với quân Cao Thắng thì chắc là thua, bèn nghĩ đến cách "hư hư thực thực" để đánh ông.

Phiến chia quân ra làm hai cánh, một cánh ở trong đồn, nếu quân Cao Thắng đến đánh thì cứ bình tĩnh như thường, không được náo động hay cự chiến gì hết, mặc kệ cho nghĩa quân cứ việc phá đồn, để chờ cho đến tối sẽ hay; còn một cánh thì ra mai phục ở ngoài đồn, cách độ hai ba cây số, hễ lúc nào thấy trong đồn có tín hiệu riêng là một ngọn đèn sáng ở trên cột cờ, đó là lúc trong đồn ra báo hiệu cho ngoài biết rằng trong đồn bắn ra, thì quân phục binh ở ngoài mới được bắn vào sau lưng nghĩa quân Cao Thắng. Bố trí đâu đó rồi Phiến chờ sẵn nghĩa quân của Cao Thắng đến.

Cao Thắng thừa thế thắng ở mấy đồn kia kéo quân tiến thẳng đồn Nỏ. Nghĩa quân đến nơi thì cũng đã vào lúc xế chiều. Cao Thắng chẳng thấy động tĩnh gì hết, ban đầu tưởng là quân trong đồn đã sợ mà bỏ đi rồi, sau ông suy nghĩ cũng còn sợ kế mai phục gì chăng nên không dám cho quân lính tràn tới, đành phải đóng binh lại để chờ tình hình xem sao.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 11:02:20 PM

Một lát sau, trong đồn có người chiếu ống nhòm ra ngoài. Cao Thắng lanh mắt nhìn thấy, biết rằng lính đồn cố sức giữ, bấy giờ ông mới hô quân đánh đồn. Mấy trăm khẩu súng chỉ thẳng vào đồn bắn như mưa rào, mà trong đồn cứ im phăng phắc, không có một tiếng súng nào bắn ra. Nghĩa quân hai ba lần muốn xông pha hãm thành nhưng rồi lại thôi. Mãi đến khi trời tối được một lúc, thấy trong đồn kéo lên một ngọn đèn cao, rồi ở trong bắn ra, Cao Thắng liền hô quân nằm rạp xuống đất mà ứng chiến. Quân trong đồn đều núp chỗ kín, ngó ra thấy ngọn lửa của nghĩa quân lập loè ở chỗ nào là nhằm theo chỗ ấy mà bắn; còn nghĩa quân ở ngoài chỉ bắn phòng vào phía đồn, chứ không biết là có trúng hay không. Lính tập mai phục ở ngoài đồn, thấy tín hiệu đèn sáng, bắt đầu chĩa súng ngay sau lưng nghĩa quân mà bắn. Nghĩa quân đang đánh đồn, chợt thấy đằng sau cũng có tiếng súng nổ liên thanh, nghĩ rằng có quân Tây ở đâu đến cứu viện, hơn nữa trời tối đen như mực, chẳng biết là viện binh ấy nhiều ít thế nào, chỉ biết là trước sau đều bị đánh cả, khiến cho lòng quân đã hơi hoảng loạn. Cao Thắng thấy sự thế như vậy, sợ quân sĩ nếu không quyết tử chiến thì không xong, ông liền nhảy lên mà hét lớn: "Lúc này chúng ta không đánh là chết, còn đợi đến bao giờ". Tức thời, ông chia quân ra làm hai đội, một đội thì tiếp tục đánh đồn, còn một đội quân thì cự với quân địch mai phục gọi là quân viện binh ở đằng sau. Mỗi đội gồm độ 150 người. Nói là ông đem 1.000 binh, nhưng do hai ông Nguyễn Niên và Cao Nữu quản xuất nhiều hơn và tấn công ở hướng khác, chưa hợp lực cùng nhau. Chính ông Cao Thắng thúc giục quân lính xông tới hãm đồn và tự ông xông pha lên trước, bất ngờ bị một viên đạn ở trong đồn bắn ra, trúng ngay bên bụng. Quân sĩ thấy ông chủ tướng bị đạn rồi, không ai ham đánh nữa, mau mau rút đi, báo với đạo quân sau vừa đánh vừa lui. Quân trong đồn và quân mai phục ở ngoài biết nghĩa quân chạy lui, tuy họ trông ra không thấy gì hết, nhưng cứ bắn phóng theo, làm cho nghĩa quân trúng đạn chết nhiều. Có điều là lính tập trong đồn, ngoài đồn tuyệt nhiên không biết là Cao Thắng bị đạn mà nghĩa quân tháo lui.

Nghĩa quân cõng Cao Thắng chạy mãi đến mấy chục dặm, mới tạm đóng binh ở trong một làng gần bên núi để lo cứu chữa thương tích cho ông. Lúc bấy giờ ông hãy còn sống, nhưng bị đạn trúng vào mạng mỡ, đau lắm, đến nỗi mê man không nói được câu gì nữa. Quân sĩ dùng hết mấy món thuốc cứu thương đem theo, đồng thời hái lá này lá kia để rịt chỗ thương tích, nhưng cũng vô công hiệu. Cao Thắng nằm mê man thiêm thiếp sau mấy giờ đồng hồ, bỗng dưng ông mở mắt nhìn các nghĩa binh, nước mắt tràn xuống hai bên gò má, thở dài mấy tiếng rồi mất. Ngày ấy chính là ngày tháng 10 năm Quý Tỵ (1893), ông mới 29 tuổi.

Tin dữ báo gấp đến Ngàn Trươi, cụ Phan khóc lóc kêu gào thảm thiết. Tức thời cụ truyền lệnh phải đem di hài Cao Thắng lên Ngàn Trươi để làm lễ an táng. Cụ dự bị việc tang rất trọng thể.

Ba ngày sau, quan tài Cao Thắng chở về đến đại doanh, cụ Phan mặc áo trắng ra đón tận cửa ngoài, hai tay vỗ vào quan tài mà gào khóc, gần muốn đứt hơi té xỉu. Tướng sĩ cũng khóc như mưa, không ai không thương tiếc Cao Thắng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 11:03:46 PM

Quan tài đặt giữa Nghị sự đường, chư tướng cắt phiên nhau ngày đêm tay cầm gươm trần đứng hai bên. Chính tay cụ Phan viết hai câu ai liễn để thờ.

Câu thứ nhất:

      Vị tiệp tiên tử, thiên ý vị hà,
      Hữu chí phất thành, anh dĩ hĩ.


Câu thứ hai:

      Công cầu tất thành, kích tiếp thệ tảo thanh quốc tặc,
      Sự nan dự liệu, cứ yên tích dĩ thiểu tư nhân.


Hai câu liễn đều có tình tứ lâm ly thống thiết. Đại ý cụ than khóc rằng ông Cao Thắng theo cụ ra khởi nghĩa binh từ lúc đầu, có chủ tâm quyết thắng để khôi phục cái quyền độc lập của nước mình, nay không ngờ chí lớn của ông chưa thoả, sự nghiệp định làm chưa thành, mà trời đã vội cướp người anh hùng đi, không biết rằng ý trời nghĩ ra sao? Cụ lại có ý than tiếc ông Cao Thắng là chân tay của cụ, cụ dựa nương trông cậy ông được nhiều công việc, nay không dè đâu ông đã sớm chết, làm cho dưới trướng của cụ thiếu mất một người có tướng tài, thật là đau đớn.

Cụ Phan sai ông Võ Phát (tục gọi là Bang Nhu, đóng quân ở hạt Kỳ Anh, sau này thất trận bị bắt rồi bị chém tại Kinh) soạn một bài văn tế bằng quốc âm.

Chính ngày đại táng, cụ Phan thắp nhang thân tế ông Cao Thắng ba tuần, rồi đứng đó bưng mặt lại khóc hu hu, làm cho tướng sĩ ba quân cảm động quá cũng phải khóc theo vang động một góc núi non. Nhất là những người lính đi đánh trận với ông may sống sót trở về, càng xót thương gào khóc lớn. Họ nói ông Cao chết oan, chết uổng, chết thay thế cho họ, vì nếu ông đừng xông pha ra trước sĩ tốt thì viên đạn ác nghiệt kia sẽ không làm ông chết.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 11:08:16 PM

Bài văn tế cụ Phan thân tế Cao Thắng như sau:

Than rằng:
Thanh bửu kiếm mười năm sẵn có, đáng anh hùng dùi mài mãi chưa thôi.
Áng nhung trường một phúc như không, con tạo hóa ghét ghen chi lắm thế!
Nghĩa đồng ưu tưởng lại luống đau lòng,
Tình vãng điếu nghĩ càng thêm rơi lệ.

Nhớ Tôn linh:
Hào kiệt ấy tài,
Kinh luân là chí;
Vén mây nửa gánh giang san.
Vỗ cánh bốn phương hò thỉ,
Gặp quốc bộ đang cơn binh cách, nghĩa giúp vua chung nỗi ân ưu,
Bỏ gia đình theo việc nhung đao, lòng đánh giặc riêng phần lao tụy;
Địa bộ muốn theo dòng Nhạc mục1, thét nhung bào từng ghê trận oai linh,
Thiên tài toan hoạc chước Võ hầu2, chế súng đạn biết bao chừng cơ trí;
Ơn quân tướng Đổng Nhung vâng mạng, cầm ấn quan phòng,
Tước triều đình Chưởng vệ gia phong, kéo cờ tân chế;
Những chắc rằng: ba sinh có phước, hăm hở mài gươm chuốt đá, chí khuông phò phông phụ với quân vương,
Nào ngờ đâu! Một sớm không chừng, mơ màng đạn lạc tên bay, trường chiến đấu biết đâu là số hệ;
Trong ba kỷ3 xuân thu tuy chửa mấy, trên yên ngựa đòi phen roi thét, trọng cương thường quyết mở mặt nam nhi.
Ngoài mươi sương, sự nghiệp biết chừng nào, trước cửa viên bỗng chốc sao sa, thu linh phách vội cướp công tráng sĩ.
Non thiên nhận phất phơ hơi gió thổi, thương người tiết nghĩa ngậm ngùi thay,
Nước tam thoa thấp thoáng bóng trăng soi, nhớ kẻ trung trinh ngao ngán nhẻ.
Thà chết nữa song tay địch khái4 theo về tổ phụ ấy cùng vinh.
Kìa sống như mấy kể hàng di, ở với tinh chiên càng thêm bậy.

Nay nhân:
Chung thất tới tuần,
Thúc sô dâng lễ.
Chén rượu thoảng bay mùi chánh khí, trước dinh đều đủ mặt quan liêu.
Nén hương nghi ngút khói bạch vân, dưới an đua chen hàng cơ vệ.
Chua xót thay, hai già tuổi tác5 ngọt bùi cậy tay em thay đỡ, khối thâm tình chưa thoát cõi hoàng tuyền.
Cám cảnh thay đàn trẻ thơ ngây, ân cần nhờ công vợ dạy nuôi, may di phúc6 lại nẩy ngành đan quế;
Tinh hồn ví dầu thanh sảng, hộ phen này cho tướng mạnh quân bền.
Linh hồn nếu có khôn thiêng, rồi ngày khác lại sắc phòng điện tế.

Thôi! Thôi!
Cửa tía lầu vàng đành kẻ khuất, đem thân bách chiến, để tiếng thơm cho tỏ mặt anh hùng.
Súng đồng gươm bạc mặc người còn, truyền lệnh ba quân, thét hơi mạnh để xây nền bình trị.
Thương ôi là thương,
Kể sao xiết kể.


Mãi đến mười mấy ngày sau, quan quân bảo hộ mới biết tin Cao Thắng chết. Bảo hộ cũng biết Cao Thắng chết là thực lực của cụ Phan sẽ giảm đi nên càng ra sức tuần tiễu hơn trước.
______________________________________
1. Nhạc mục: Nhạc Võ Mục Hầu, tức là Nhạc Phi đời nhà Tống.
2. Võ hầu: Gia Cát Khổng Minh đời nhà Hán, phong Võ hương hầu.
3. Mỗi kỷ là mười năm, ý nói là ông chưa tới 30 tuổi.
4. Câu này nói ý cũng là cái chết, nhưng nếu ra cương trường đại chiến với người Tây mà tử trận, thì vong linh ông được thỏa hơn là chết vào tay một ngưòi đồng bào làm cách gà chuồng bôi mặt đá nhau.
5. Ý nói ông vẫn còn cha mẹ.
6. Khi ông tử trận, thì bà vợ đang có thai.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:20:38 PM

Câu hỏi 20: Để kháng cự, đàn áp phong trào văn thân, bọn tùy thế lập công đã thực hiện những thủ đoạn gì? Khi Hoàng Cao Khải viết thư khuyên nhủ Phan Đình Phùng ra hàng, ông đã có những hành động và viết thư trả lời như thế nào làm cho bọn chúng khiếp sợ?
Trả lời:


Lịch sử thiên hạ xưa nay, không hề có một cuộc chinh phục nào mà người ta không chiêu nạp lợi dụng ngay những kẻ sinh trưởng ở đó làm quân sĩ, làm mưu thần, làm sai nhân, làm hướng đạo. Tước lộc vàng bạc chỗ này đổi lấy mưu mô công sức chỗ kia. Thời cuộc bảo hộ mới định ban đầu ở nước ta cũng vậy.

Công bằng mà nói, trong những người bổn thổ trước đây tùy thế lập công và bày mưu hiến kế cho bảo hộ về công việc bình định đảng nghịch, tiễu trừ văn thân, có người biết sự cưỡng lại cũng vô ích, cho nên đành phục theo thời thế mà mưu lợi cho nước cho dân; có người không biết lẽ đó, chỉ dựa lấy thời thế oai quyền, trở lại nhiễu hại nhân dân, sinh làm họa phước.

Hạng người này, đối với việc phá hoại cụ Phan, không còn tâm lực gì không đem ra, không còn thiếu mưu kế nào không sử dụng. Họ thừa biết phong trào văn thân do cụ Phan làm chủ, còn như cây đinh trước mắt, như bụi gai trên đường của bảo hộ, nếu họ bày mưu nghĩ cách gì phá tán đi được, tức là cơ hội cho họ nên công danh to, được phú quý lớn.

Để làm được điều đó, trước hết chúng tìm kiếm tảo trừ vây cánh văn thân.

Cuộc vận động văn thân Nghệ Tĩnh lúc bấy giờ mà cụ Phan Đình Phùng chủ trì, sở dĩ có cơ sở, có thanh thế, lan tràn rộng rãi và phát triển được như vậy là nhờ có lòng dân quy phục, sức dân giúp đỡ rất nhiều. Ngoài ra những người là bậc kiện nhi tráng sĩ không từ sống chết, bỏ hết gia hương, đi theo văn thân một cách phân minh, còn những người vẫn an cư lạc nghiệp ở nhà, hình như vô tâm vô sự, nhưng kỳ thật là ngấm ngầm hưởng ứng ủng hộ văn thân bằng tinh thần, bằng tiền bạc lúa gạo, bằng sự hô hào, đó là vây cánh gián tiếp của văn thân, có lẽ không một làng xóm nào là không có, chỉ ít hoặc nhiều mà thôi.

"Muốn trừ văn thân, ta hãy lo chặt vây cánh của văn thân trước" - chủ trương mà bọn tùy thế lập công suy nghĩ như thế. Chúng bèn ra tay trấn áp ở trong dân, hoặc là bắt bớ hành hạ những ông già, bà cả nào mà có thân nhân tử đệ đi theo văn thân, để cho thân nhân tử đệ xót tình máu mủ sẽ phải thò mặt ra hàng phục. Hoặc là giam cầm trừng phạt những nhà đang nghi là có bí mật quan hệ với đảng văn thân. Lúc đó dân gian Nghệ Tĩnh ở giữa cái không khí nhũng nhiễu kinh hoàng bao phủ đến nghẹt thở. Chúng đàn áp trừng trị những kẻ có con em đi theo văn thân, hay là thiệt có giúp ngầm văn thân, thì chẳng nói làm gì, vì lẽ mạnh được yếu thua, tội ai làm nấy chịu, là lẽ tự nhiên ở đời; nhưng đằng này bọn tuỳ thế lập công làm oai làm dữ lung tung, muốn bắt ai thì bắt, muốn chém ai thì chém. Giữa lúc thiên hạ loạn ly, mạng người rẻ như cỏ rác, nhất là người có máu mặt, người có tiền dư và người có hiềm oán chút xíu gì với quan Tiễu phủ sứ và bộ hạ các ngài là dễ bay đầu, mất mạng như chơi. Chính vì vậy mà chẳng thiếu gì người bị bắn, bị tù, bị đày, bị chết một cách oan uổng, chỉ vì lẽ có sự hiềm thù, chứ thật sự người ta không tội gì, cũng không dính líu xa gần chi với văn thân. Sự hình phạt lung tung oan uổng nhân dân như thế phần nhiều chẳng phải là quan Pháp, lính Pháp, mà chính là người Nam, lính Nam, gọi chung là bọn tùy thế lập công.

Họ ra tay chặt vây cánh văn thân đến thế, mà sao phong trào văn thân vẫn sôi nổi. Binh lính bảo hộ vẫn phải đi đánh dẹp rất vất vả cũng không xong. Hóa ra mưu kế của bọn tuỳ thế lập công chỉ làm cho dân gian tao nhiễu bất bình, chứ không thu được nhiều ít hiệu quả gì theo họ dự tính.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:21:36 PM

Chặt vây cánh của cụ Phan mà cụ Phan không khuất phục, họ bèn tính cách đánh ngay vào bản thân cụ Phan, nhưng cách đó không phải dễ dàng thực hành, họ nghĩ ra cái thủ đoạn lạ lùng, muốn gián tiếp đánh ngã được cụ là hành hạ nắm xương của tổ tiên cụ ở dưới đất. Chúng đã nói với Tây thế này: Phong tục ở xứ chúng tôi, mồ mả đất đai ông bà rất có quan hệ đến sự sinh tử họa phước của con cháu đang sống. Cứ khai quật mồ mả ông cha nhà nào lên, tự nhiên con cháu nhà ấy đang giàu hóa nghèo, đang lành phải đau, đang an phải nguy, Phan Đình Phùng có lòng son gan sắt, mạnh khỏe cố chấp đến đâu cũng phải lo nghĩ đến phần mộ tổ tiên nhà mình, nay cứ đào lên, sẽ bị nao núng động hệ tới bản thân, không ra đầu hàng thì cũng bệnh tật suy vi mà chết.

Trong ý họ tin chắc rằng cứ khai quật phần mộ rồi sai người chiêu hàng, bề nào họ Phan cũng phải vì đạo hiếu, vì việc nhà mà quăng gươm cởi giáp quy hàng, cho nên họ mới đành tâm hiến tới mưu kế như thế.

Ai cũng phải cho đó là một mưu kế quá nhẫn tâm, vì nếu việc làm của Phan có phải là trái thời và đắc tội chăng nữa thì cũng chỉ một mình cụ đắc tội mà thôi, chứ nắm xương khô của tổ tiên cụ dưới đất có tội gì đâu, mà họ nỡ bày sự khai quật lên cho đành. Thật họ có lòng muốn cho phong trào văn thân yên đi, để xứ sở bình an, đồng bào khỏi khổ, chẳng lẽ họ không có tài cao, diệu kế gì để giúp đỡ bảo hộ và mưu lợi cho dân khác hơn hay sao, lại tính đến việc làm quái lạ thế ấy?

Hồi đó là khoảng tháng 9 năm Giáp Ngọ (1894), một viên Tiễu phủ sứ (tất nhiên đó là người Việt Nam) dẫn một toán lính bổn bộ và quan huyện sở tại về làng Đông Thái, kêu lý trưởng và kỳ mục ra chỉ dẫn phần mộ tiên tổ họ Phan ở chỗ nào, để họ đào lên, đem về để tại tỉnh thành Hà Tĩnh. Và còn bắt giam nhiều người thân tộc của cụ Phan nữa.

Cụ Phan ở sơn trại nghe tin, cụ rất căm giận, bởi lẽ lễ giáo phong tục nước nhà thuở xưa vẫn cho mồ mả là nơi thần thánh bất khả xâm phạm. Mặc dù vậy, bề ngoài cụ vẫn trấn tĩnh tự nhiên, để cho vững lòng tướng sĩ. Khi tướng sĩ tiếp được tin, bẩm cho cụ nghe, cụ chỉ cười lạt mà nói: Ta đã tiên liệu tới sự ấy rồi, không có gì lạ.

Người ta đinh ninh chờ đợi tin tức xin hàng của họ Phan sai người đem đến, nhưng chờ đợi lâu không thấy động tĩnh gì, nên mới có bức thư trịnh trọng mang lên núi Vụ Quang khuyên cụ ra hàng.

Người hạ bút viết bức thư khuyên nhủ Phan ra hàng chính là người đồng hương, đồng thời với cụ, lại có tình thông gia với nhau nữa: ông Hoàng Cao Khải.

Thời gian đó là cuối tháng 10 năm Giáp Ngọ, ông Hoàng Cao Khải viết thư rồi sai chính người nội đệ (em vợ) mình và là ông anh con nhà bác của cụ Phan tên là Phan Văn Mân ban đêm lên núi Vụ Quang. Sẽ không ai khác ngoài ông này mà dám đem mạng đi sứ, nhất là đi sứ dụ chiêu hàng, vì nếu là người khác chắc là nghĩa binh làm thịt.

Mặc lòng, cho dù là thân quyến, Phan Văn Mân phải trải nhiều lớp gian nan nguy hiểm mới vô đến đại doanh. Vì cụ Phan đã được báo trước nên khi thấy Phan Văn Mân thò mặt vào, cụ Phan cười và nói: Anh đi làm thuyết khách cho Hoàng Cao Khải có vất vả lắm không? Sau đó cụ xem thư rồi thở dài: Không dè người khuyên nhủ tôi ra hàng là cố nhân Hoàng Cao. Tôi thề quyết làm việc tôi làm đây tới cùng, dầu sấm sét búa rìu cũng không làm sao cho tôi thay lòng đổi chí được, anh về nói giùm cho Hoàng Cao biết như thế. Nếu tôi không làm xong được công việc vua ủy thác, dân trông mong và không rửa hận cho khô cốt của tổ tiên ở dưới đất, thì chỉ có một cách là chết theo hoài bão tâm trí mình mà thôi.

Rồi tức thời cụ cầm bút viết thư trả lời, trao cho ông Phan Văn Mân đem về. Lúc anh em từ biệt, cụ ân cần dặn với: Cũng may phước cho người đem thư chiêu hàng chính là anh, nếu là ai khác thì bộ hạ của tôi chắc làm tương mắm để gửi biếu Hoàng Cao nếm thử. Lần sau y có sai đi, anh đừng có làm theo nữa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:26:12 PM

Nếu đọc cả hai bức thư dịch ra dưới đây, mới thấy không khác hai bức tranh phóng đại tâm tính chí khí của hai ông cùng một làng với nhau, cùng một thời thế với nhau, mà hai đằng xa cách nhau, không thể nào gặp nhau được.

Nội dung bức thư của Hoàng Cao Khải như sau:

Đồng Ấp Phan Đình Nguyên đại nhân túc hạ. Tôi với ngài xa cách nhau, xuân thu đắp đổi trải đã mười bảy năm nay rồi. Dâu bể cuộc đời, bắc nam đường bụi, tuy là mỗi người đi một ngả khác nhau, nhưng mà trong giấc mộng hồn vẫn thường thấy nhau không phải xa xôi gì. Ngồi nghĩ lại ngày trước chúng ta còn ở chốn quê hương giao du với nhau, cái tình ấy đằm thắm biết là dường nào?

Từ lúc ngài khởi nghĩa đến giờ, nghĩa khí trung can, đều rõ rệt ở tai mắt người ta. Tôi thường nghe các quý quan1 nói chuyện đến ngài, ông nào cũng phải thở than khen ngợi và tỏ ý kính trọng ngài lắm. Xem như thế thì tấm lòng huyết khí tôn nhân, tuy là người khác nước cũng chung một tâm tình ấy thôi, không phải là người cùng thanh khí với nhau có vậy.

Ngày kinh thành thất thủ, xa giá nhà vua bôn ba, mà ngài mạnh mẽ đứng ra ứng nghĩa, kể sự thế lúc bấy giờ ngài làm vậy là phải lắm, không ai không nói như thế. Song bởi lẽ, sự thế gần đây đã xoay đổi ra thế nào, thử hỏi việc đời có thể làm được nữa không, dầu kẻ ít học thức, kém trí khôn cũng đều trả lời không được. Huống chi như ngài lại là bậc người tuấn kiệt, chẳng lẽ không nghĩ tới đó hay sao? Tôi trộm xét chủ ý của ngài, chắc cũng cho rằng: ta cứ làm theo việc phải ta biết, cứ đem hết tài năng ta có, một việc nên làm mà làm là ở nơi người, còn nên được hay không nên là ở nơi trời, ta chỉ biết đem thân này hứa cho nước, đến chết mới thôi. Bởi thế, cho nên ngài cứ việc làm tới cùng, không ai có thể làm biến đổi cái chí ấy đi được.

Có điều tôi thấy tình trạng ở quê hương chúng ta gần đây lấy làm đau lòng hết sức. Nhân đây, tôi muốn đem ý kiến hẹp hòi, để ngỏ cùng lượng cao minh soi xét; nhưng mấy lần mở giấy ra rồi, mài mực xong rồi, đã toan đặt bút xuống viết rồi lại gác bút thở dài, không sao viết được. Vì sao? Vì tôi liệu biết can tràng của ngài cứng như sắt đá, không thể lấy lời nói mà chuyển động nổi. Đã vậy, lại còn khác tình, khác cảnh, xa mặt xa lòng, vậy thì lời nói của tôi, chắc gì thấu tới được nơi ngài, mà dầu cho có thấu tới nơi ngài chăng nữa, đã chắc gì lọt vào tai ngài chịu nghe giùm cho, chẳng qua chỉ để cho cố nhân cười mình là thằng ngu thì có.

Nay nhân quan Toàn quyền2 trở lại, đem việc ở tỉnh ta ra bàn bạc với tôi, có khuyên tôi sai người đến ngỏ ý cùng ngài biết rằng: ngài là bậc người hiểu biết nghĩa lớn, dầu không bận lòng tưởng nghĩ gì đến thân mình, nhà mình đi nữa, thì cũng nên tưởng nghĩ cứu vớt lấy dân ở trong một địa phương mới phải. Lời nói đó, quan Toàn quyền không nói với ai, mà nói với tôi, là vì cho rằng: tôi với ngài có cái tình xóm làng cô cựu với nhau, chắc hẳn tôi nói ngài nghe được, vậy có lẽ nào tôi làm thinh không nói?

Ngài thử nghĩ xem: quan Toàn quyền là người khác nước, muôn dặm tới đây, mà còn có lòng băn khoăn lo nghĩ tới dân mình như vậy thay, huống chi chúng ta sinh đẻ lớn khôn ở đất này, là đất của cha mẹ tôn tộc ở đó, có lý đâu mình làm lơ đành đoạn, thì trăm năm về sau, người ta sẽ bảo mình ra làm sao? Ôi! Làm người trên phải có lòng thương yêu dân làm cốt, chưa từng có ai không biết thương dân mà bảo là trung với vua bao giờ. Việc của ngài làm từ bấy lâu nay, bảo rằng trung thì thiệt là trung, song dân ta có tội gì mà vướng phải nông nỗi lầm than thế này, là lỗi tại ai? Nếu bảo là đã vì thiên hạ thì không thiết chi tới nhà nữa cũng phải, nhưng một nhà của mình đã vậy, chứ còn bao nhiêu nhà ở trong một vùng cũng bỏ đi cả, sao cho đang tâm? Tôi nghĩ nếu như ngài cứ khăng khăng làm tràn tới mãi, thì e rằng khắp cả sông Lam núi Hồng đều biến thành hồ cá hết thẩy, chứ không phải chỉ riêng lo ngại cho cây cỏ một làng Đông Thái chúng ta mà thôi đâu. Đến nỗi để cho quê hương điêu đứng xiêu tàn tưởng chắc bậc người nhân nhân quân tử không lấy gì làm vui mà làm thì phải.

Tôi suy nghĩ đắn đo mãi và lấy làm mừng rỡ mà nói riêng với mình: Được rồi, lời nói đó tôi có thể đem ra nói cho ngài nghe lọt tai, để xin ngài chỉ bảo cho biết như vậy có phải hay không?

Tuy nhiên, sự thế của ngài như cỡi trên lưng cọp đã lỡ rồi, bây giờ muốn bước xuống, nghĩ lại khó khăn biết bao!

Nếu như không có chỗ tự tin chắc chắn nơi mình, thì quyết không khi nào dám mở lời nói liều lĩnh để mang lụy cho cố nhân về sau. Nhưng may là tôi với quan Toàn quyền, vốn có tình quen biết nhau lâu, lại với quan Khâm sứ ở Kinh và quan Công sứ Nghệ Tĩnh, cùng tôi quen thân hiệp ý nhau lắm, cho nên trước kia Trần Phiên sứ
(tên là Khánh Tiến, làm Tuần phủ, nên gọi là Phiên sứ) và Phan Thị lang (tên là Huy Nhuận), cũng là chỗ thân trong tỉnh, trong làng, hoặc bị tội nặng, hoặc bị xử đày rồi, thế mà tôi bảo toàn cho hai ông ấy đều được yên ổn vô sự. Lại như mới rồi, ông Phan Trọng Mưu ra thú, tôi dẫn đến yết kiến các đại hiến quý quan, thì các ngài cũng tiếp đãi trân trọng như đãi khách quý và tức thời điện về tỉnh nhà, bắt trả lại mồ mả, và tha cả ba con về, như thế tỏ ra nhà nước bảo hộ khoan dung biết chừng nào! Cứ xem vậy đủ biết lẽ ấy, lòng ấy, dầu là người ngàn dặm xa nhau, vẫn là giống nhau vậy.

Bây giờ, nếu ngài không cho lời tôi nói là dông dài, thì xin ngài đừng ngần ngại một điều gì khác hết, tôi không khi nào dám để cho cố nhân mang tiếng là người bất trí đâu.


Hoàng Cao Khải
Đốn thư".
___________________________________
1. Là các quan Tây.
2. Bấy giờ là đời ông Toàn quyền De Lanessan.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:27:29 PM

Nội dung bức thư cụ Phan trả lời:

"Hoàng quý đài các hạ,

Gần đây tôi vì việc quân ở mãi trong chôn rừng rú, lại thêm lúc này tiết trời mùa đông, khí hậu rét quá, nông nỗi thiệt là buồn tênh. Chợt có người báo có thư của cố nhân gửi lại. Nghe tin ấy, không ngờ bao nhiêu nỗi buồn rầu lạnh lẽo tan đi đâu mất cả. Tiếp thư liền mở ra đọc. Trong thư cố nhân chỉ bảo cho điều họa phước, bày tỏ hết chỗ lợi hại, đủ biết tấm lòng của cố nhân, chẳng những muốn mưu sự an toàn cho tôi thôi, chính là muốn mưu sự yên ổn cho toàn hạt ta nữa. Những lời nói gan ruột của cố nhân, tôi đã hiểu hết, cách nhau muôn dặm tuy xa, nhưng chẳng khác gì chúng ta được ngồi cùng nhà nói chuyện với nhau vậy.

Song lẽ tâm sự và cảnh ngộ của tôi có nhiều chỗ muôn vàn khó nói hết sức. Xem sự thế thiên hạ như thế kia, mà tài lực tôi như thế này, y như lời cổ nhân đã nói "thân con bọ ngựa là bao mà dám giơ cánh tay lên muốn cản trở cỗ xe" sao nổi không biết; việc tôi làm ngày nay, sánh lại còn quá hơn nữa, chẳng phải như chuyện con bọ ngựa đưa tay ra cản xe mà thôi.

Nhưng tôi ngẫm nghĩ lại, nước mình mấy ngàn năm nay, chỉ lấy văn hiến truyền nối nhau hết đời này qua đời kia, đất nước chẳng rộng, quân lính chẳng mạnh, tiền của chẳng giàu, duy có chỗ ỷ thị dựa nương để dựng nước được là nhờ có cái gốc vua tôi cha con theo năm đạo thường mà thôi. Xưa kia nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh bên Tàu, bao nhiêu phen lăm le muốn chiếm lấy đất ta làm quận huyện của họ mà vẫn chiếm không được. Ôi! Nước Tàu với nước ta, bờ cõi liền nhau, sức mạnh hơn ta vạn bội, thế mà trước sau họ không thể ỷ mạnh mà nuốt trôi nước ta được, nào có vì lẽ gì khác đâu, chẳng qua non sông nước Nam tự trời định phận riêng hẳn ra rồi, và cái ơn huệ thi thư lễ nghĩa vốn có chỗ đủ cho mình tự có thể trông cậy dựa nương lắm vậy. Đến nay người Pháp với mình, cách xa nhau không biết là mấy muôn dặm, họ vượt bể lại đây, đi tới đâu như là gió lướt tới đó, đến nỗi nhà vua phải chạy, cả nước lao xao, bỗng chốc non sông nước mình biến thành bờ cõi người ta, thế là trọn cả nước nhà, dân nhà cùng bị đắm chìm hết thảy, có phải là riêng một châu nào hay một nhà ai phải chịu cảnh lầm than mà thôi đâu.

Năm Ất Dậu, xa giá thiên tử ngự đến Sơn phòng Hà Tĩnh, giữa lúc đó, tôi đang còn tang bà mẹ, chỉ biết đóng cửa cư tang cho trọn đạo, trong lòng há dám mơ tưởng đến sự gì khác hơn. Song, vì mình là con nhà thế thần, cho nên đôi ba lần đức Hoàng Thượng giáng chiếu vời ra, không lẽ nào có thể từ chối, thành ra tôi phải gắng gổ đứng ra vâng chiếu, không sao dừng được. Gần đây, Hoàng Thượng lại đoái tưởng lựa chọn tôi mà giao phó cho việc lớn, ủy thác cho quyền to; ấy, mạng vua ủy thác như thế đó, nếu cố nhân đặt mình vào trong cảnh như tôi, liệu chừng cố nhân có đành chối từ trốn tránh đi được hay không?

Từ lúc tôi khởi nghĩa đến nay, đã trải mười năm trời, những người đem thân theo việc nghĩa, hoặc đã bị trách phạt, hoặc đã bị chém giết, vậy mà lòng người trước sau chẳng hề lấy thế làm chán nản ngã lòng bao giờ; trái lại, họ vẫn ra tài, ra sức giúp đỡ tôi, và lại số người mạnh bạo ra theo tôi càng ngày càng nhiều thêm mãi. Nào có phải người ta lấy điều tai vạ hiểm nguy làm sự sung sướng thèm thuồng mà bỏ nhà dấn thân ra theo tôi như vậy đâu. Chỉ vì họ tin cậy lòng tôi, lượng xét chí tôi, cho nên hâm dở vậy đó thôi. Ấy, lòng người như thế đó, nếu như cố nhân đặt mình vào cảnh của tôi liệu chừng cố nhân có nỡ lòng nào bỏ mà đi cho đành hay không?

Thưa cố nhân, chỉ vì nhân tâm đối với tôi như thế, cho nên cảnh nhà tôi đến nỗi hương khói vắng tanh, bà con xiêu dạt, tôi cũng chẳng dám đoái hoài. Nghĩ xem, kẻ thân với mình mà mình còn không đoái hoài, huống chi là kẻ sơ; người gần với mình mà mình còn không bao bọc nổi, huống chi người xa. Vả chăng hạt ta đến đỗi điêu đứng lầm than quá, không phải riêng vì tai họa binh đao làm nên nông nỗi thế đâu. Phải biết quan Pháp đi tới, có lũ tiểu nhân mình túa ra bày kế lập công, thù vơ oán chạ; những người không có tội gì chúng cũng đâm thọc buộc ràng cho người ta là có tội, rồi thì bữa nay trách thế nọ, ngày mai phạt thế kia; phàm có cách gì đục khoét được của cải của dân, chúng nó cũng dùng tới nơi hết thảy. Bởi đó mà thói hư mối tệ tuôn ra cả trăm cả ngàn, quan Pháp làm sao biết thấu cho cùng những tật khổ của dân trong chốn làng xóm quê mùa, như thế thì bảo dân không phải tan lìa trôi dạt đi sao được?

Cố nhân với tôi, đều là người sinh đẻ tại châu Hoan, mà ở cách xa ngoài muôn ngàn dặm, cố nhân còn có lòng đoái tưởng quê hương thay, huống chi là tôi đây đã từng lấy thân chịu đựng và lấy mắt trông thấy thì sao? Khốn nỗi cảnh ngộ bó buộc, và lại sức mình chẳng làm được theo lòng mình muốn, thành ra phải đành, chứ không biết làm sao cho được. Cố nhân đã biết đoái hoài thương xót dân này, thì cố nhân nên lấy tâm sự tôi và cảnh ngộ tôi thử đặt mình vào mà suy nghĩ xem, tự nhiên thấy rõ ràng, có cần gì đến tôi phải nói dông dài nữa ư?


Phan Đình Phùng
Phúc thư".

Bức thư cụ Phan trả lời viết thật nhẹ nhàng mà đau đớn, tử tế mà cương quyết, tỏ ra mình chết thì thôi, không chịu bãi binh quy hàng. Cụ lại khéo đem quân mạng và dân tâm ra làm nòng cốt để hỏi cố nhân họ Hoàng nếu gặp cảnh ngộ ấy thì làm thế nào? Hình như cụ Phan có ý chặn đường rào ngõ không để họ Hoàng viết cho mình tới bức thư thứ hai nữa.

Thật vậy, lúc ông Phan Văn Mân đem bức thư phúc đáp ra Hà Nội, họ Hoàng xem rồi biến sắc. Họ Hoàng sai dịch bức thư ra chữ Tây, đưa trình Toàn quyền De Lanessan, luôn với tờ báo cáo của mình, ở trong có câu đại ý: "Bổn chức đã lấy hết sự thế lợi hại để tỏ bày khuyên nhủ Phan Đình Phùng ra hàng thú, nhưng y vẫn tỏ ý "hôn mê bất ngộ" (mê mẩn tối tăm không tỉnh), giờ xin chính phủ bảo hộ vì dân mà dùng binh lực tiễu trừ cho hết văn thân loạn phỉ, v.v...".

Ấy là lẽ cố nhiên. Đào mả không núng; khuyên hàng không nghe; văn chương không cảm; thôi thì chỉ còn võ lực. Giờ, quan văn trở vào buồng để cho tướng võ lại ra sân khấu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:28:07 PM

Câu hỏi 21: Cho biết những lý do gì khiến cho Phan Đình Phùng ở núi Vụ Quang phải lui quân về núi Đại Hàm?
Trả lời:


Tiếc thay cho Hoàng Cao Khải phí mất bao nhiêu tâm huyết để viết bức thư rất tài hoa thống thiết và cảm động để khuyên dỗ họ Phan, nhưng rốt cuộc chỉ là một tờ giấy bỏ, cụ Phan không chịu ra hàng.

Súng bắn chĩa vào, cụ Phan chẳng sợ; đào mồ mả lên để dọa, cụ cũng chẳng nao; huống chi một mảnh giấy, một lời văn của ông Hoàng Cao Khải làm sao chuyển động cái can trường như sắt đó.

Tuy không chịu bãi binh đầu hàng, nhưng tình thế bắt buộc cụ Phan phải lui, không ở núi Vụ Quang được nữa. Phải lui là bởi có hai lý do:

Một là, lúc đầu cụ mới khởi nghĩa cũng là lúc nghĩa sĩ bốn phương đều nổi lên. Ở Quảng Nam thì có ông Trần Văn Dự lập ra Nghĩa Hội, rồi mấy tỉnh Phú Yên, Bình Định, Bình Thuận kế theo; ở Quảng Trị thì có các ông Trương Đình Hội, ông Nguyễn Tự Như; ở Quảng Bình thì đảng ông Nguyễn Phạm Tuân, ông Lê Trực; ở Thanh Hoá thì có bọn ông Hà Văn Mao; ở Bắc thì có bọn ông Tạ Hiện, ông Nguyễn Thiện Thuật, thành ra Pháp phải chia binh đi ứng phó và đánh dẹp nhiều nơi, không thể chú toàn lực vào một nơi nào được. Về sau những ông này hoặc chết hoặc trốn, hoặc ra hàng, lần lượt tan nát hết, chỉ duy còn lại một mình cụ Phan là vẫn còn đứng vững, vẫn phản đối với cuộc bảo hộ, cho nên Pháp mới đem toàn lực mà nhằm vào mình cụ. Binh lính Pháp lần này tập trung vây bọc cả núi Vụ Quang, bị uy hiếp nghiêm trọng, khiến cho cụ không lui không được.

Hai là, trong các tướng, chưa có ông nào có tài xuất chúng, có thao lược đủ chống giữ với quân lính Pháp để cho cụ nể trọng như Cao Thắng. Cho nên sau khi ông Cao Thắng mất, cụ lại muốn giữ thế thủ, ổn định sinh lực ít lâu rồi ra đối chiến mới được, chứ không muốn bạo động hấp tấp vội vàng, sợ tổn hại đến thanh thế và nguyên khí của nghĩa binh và lại làm khổ dân sinh một cách vô ích. Tóm lại, cụ muốn kéo dài cuộc kháng chiến ra cho bền, cho lâu. Bởi vậy, phải tạm lui để giữ thế thủ trước, sẽ liệu thế đánh sau.

Có hai cớ ấy, khiến cho cụ phải lui quân sang đóng đồn ở núi Đại Hàm.

Núi Đại Hàm, cũng thuộc về hạt Hương Khê, là núi cũng có thế hiểm trở, thuận lợi cho việc nghĩa quân đứng chân. Từ lúc về đóng tại đồn mới này, trong đại trại chỉ để có 400 lính và 200 khẩu súng Tây, các tướng quân luôn giữ trong mình súng đạn và 100 đồng bạc, để phòng khi hoặc đánh, hoặc lui bất ngờ. Còn bao nhiêu quân lính khí giới đều phân phát cho các quân thứ hết. Thời gian đó là cuối năm Giáp Ngọ (1894).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:29:03 PM

Câu hỏi 22: Dựa vào những lý do gì mà nghĩa quân đề xuất với Phan Đình Phùng quyết đánh lính bảo hộ khi chúng kéo đến đánh nghĩa quân tại núi Đại Hàm?
Trả lời:


Cuối năm Ngọ, quân lính bảo hộ biết cụ Phan đóng trên núi Đại Hàm mà lực lượng nghĩa quân chẳng có bao nhiêu, nghe chừng có thể tiến lên đánh phá được, bèn phân chia ra hai đội kéo tới Đại Hàm khiêu chiến.

Núi Đại Hàm thuộc về địa phận làng Tình Diệm, có một quân thứ mà cụ Phan đã bố trí ngày trước, gọi là Diệm thứ, do ông Cao Đạt làm chủ tướng.

Lúc hay tin quân lính bảo hộ sắp kéo tới đánh, cụ Phan tính kế lui binh trước để tránh đi thì hơn. Nhưng hai ông Cao Đạt và Nguyễn Mục lại đề xuất với cụ xin quyết chiến đánh địch.

Cụ Phan im lặng và cúi mặt nhìn xuống bản đồ. Lúc bấy giờ cụ Phan dụng binh có bản đồ những hình thế sông núi đường sá hẳn hoi, đó cũng là một sự nghiệp của Cao Thắng để lại. Cao Đạt và Nguyễn Mục đứng chờ hơi lâu, không nghe thấy cụ trả lời, tưởng cụ không chịu cho đánh, liền rút gươm ra đồng thanh hô lớn: "Xin nguyên soái chặt đầu hai anh em chúng tôi đi đã rồi sẽ lui binh". Cụ Phan ngước mắt lên hỏi: "Chúng ta lấy thế gì mà đánh với người ta bây giờ?".

Cao Đạt và Nguyễn Mục cùng thưa rồi tỏ bày sự thế lợi hại rõ thêm: Chúng ta lấy thế núi. Chắc hẳn quân Tây họ biết ít nhiều là nội tình ta giờ suy yếu, nhất là họ thám được binh lực ở đại đồn ta hiện nay chẳng có bao nhiêu, cho nên muốn thừa cơ đánh ào lên một trận để đạp nghĩa binh xuống núi. Nguyên soái không quyết đánh thì nghĩa quân tan tành tức thời. Chúng không đem sức lớn đánh mấy quân thứ kia mà đánh núi này, ý đồ của chúng ra sao, không nói chúng ta cũng đều biết. Cụ có lòng nhân, không muốn làm quá nhọc sức tướng sĩ, bởi phải lấy ít địch nhiều mà cụ lại định kế lui binh để tránh sức lớn của chúng ào ào đè tới. Lấy thế mà nói, thì quân ta không phải không có thể chống cự lại được ít nhiều, là vì quân ta chiếm được địa lợi của thế núi. Núi này vốn có hình thế quanh co, hiểm trở, quân Tây có kéo tới bao nhiêu đi nữa, chắc cũng chỉ vây bọc ở dưới mà thôi, chúng không dám mạo hiểm lên trên bởi chưa thuộc rõ đường đất tự nhiên sẽ sợ gặp mai phục, vả lại, trong quân ta hiện nay còn 400 người, kể ra lực lượng thì ít thật, nhưng đều là hạng tráng đinh dũng sĩ, ăn không ngồi nhà cũng buồn, chỉ cầu có giặc tới mà đánh, có chết cũng mát ruột. Còn về súng đạn tích trữ của ta cũng có thể đủ sức cầm cự nhau trong một đôi tháng, như thế thì sợ gì mà vội lui, không dám đánh lại. Không đánh lại bây giờ, tất nhiên quân Tây cho mình đây là khiếp nhược, rồi ngày đêm chúng càng xua đuổi dồn ép ta mãi. Vậy thì, bẩm cụ hãy xem xét lại, ta cứ quyết đánh nhau với chúng một phen, nếu nước cùng đường túng thế lắm, bấy giờ ta lui cũng không muộn. Phía sau ta vẫn còn có sẵn đường lui.

Cụ Phan trầm ngâm một lát, rồi kiếm lời an ủi ngợi khen hai ông Cao Đạt và Nguyễn Mục làm tướng cầm quân, mỗi khi gặp giặc quyết đánh như thế là anh hùng, là trượng phu lắm. Nhưng nay ta ở trước một cảnh như cờ bí nước, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, không biết rằng lòng tất cả các quân sĩ có muốn đánh hay không?

Nghe cụ Phan nói vậy, tức thì hai ông Cao Đạt và Nguyễn Mục vâng lệnh rồi ra lấy ống loa kêu gọi quân sĩ tập trung lại mà nói: Nay Tây đem đại binh tới vây đánh sơn trại ta. Tình thế anh em ta bây giờ chỉ có một đánh hoặc một chạy, nguyên soái muốn hỏi ý của anh em ưng cách nào?

Quân sĩ không ai bảo ai mà đồng thời tay múa, miệng hô: Ưng đánh! Ưng đánh! Nam quốc vạn tuế. Nhiều người tung cả gươm và súng lên trên không rồi bắt lại tung lên, tỏ ý vui mừng hớn hở. Cao Đạt và Nguyễn Mục thấy lòng quân hăng hái, bèn vào bẩm lại cụ Phan, để cụ quyết cho đánh địch.

Sau khi được cụ Phan đồng ý quyết đánh, Cao Đạt và Nguyễn Mục đi xem xét những địa thế nào có thể lập trận phục binh rồi sai quân lính đi chặt cây tre về chẻ ra, đan thật nhiều những giỏ lớn. Quân lính vâng theo tướng lệnh, bảo sao là làm vậy chứ cũng chưa hiểu ý đồ tướng quân ra sao.

Trận địa để đối chiến với địch chuẩn bị rất mau lẹ, chỉ có hơn nửa ngày là xong.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:29:36 PM

Lúc bấy giờ trên sơn trại chỉ có 400 quân, còn khí giới hiện tại chỉ có 200 khẩu súng kiểu Tây và một ít đạn dược, còn lại đều là súng trường kiểu ta và đại đao đoản kiếm. Hai ông Cao Đạt, Nguyễn Mục bố trí: 200 tay súng để làm quân chiến, 200 tay đao thì làm quân phục. Các ngả lên núi, chỗ nào xung yếu thì phục binh chỗ đó, hễ thấy quân nghịch thò đầu lên thì xông ra mà chặt, không kể sống thác. Nhất định ban ngày mới ứng chiến, còn ban đêm thì nghi binh. Nghĩa là ban đêm, chính nơi đại đồn thì để tối tăm mù mịt, không thắp đèn đuốc gì hết, còn chỗ khác thì thắp đèn lửa lập loè lừa địch, khiến cho quân lính bảo hộ tưởng là đồn trại nghĩa binh ở đó, chúng sẽ nhằm ngay chỗ có ánh đèn mà bắn, mà súng của địch bắn ra dù đạn súng nhỏ hay súng đại bác cũng vậy hễ nhằm vật gì cứng mạnh dội lại thì nổ dữ. Nhưng trái lại, nếu nhằm mấy vật mềm nhẹ, nhất là bông gòn ướt và đất bùn là làm nó mất nổ. Bây giờ các quân sĩ mới biết hai ông sai chặt tre đan giỏ thật nhiều là nhằm mục đích đó.

Hồi vân thân Thanh Hóa chống cự với bảo hộ tại Ba Đình, đóng ở một làng giữa cánh đồng chiêm xung quanh có nước mênh mông, mà cầm cự được cả tháng, cũng bởi là nhờ mưu kế đó. Quân lính ở ngoài bắn vào như mưa, nhưng phần nhiều đạn không nổ là bởi văn thân đã khéo dùng những giỏ tre đựng bùn, đắp lên thành lũy, cản trở hiệu lực của đạn. Bây giờ Cao Đạt và Nguyễn Mục cũng dùng mưu kế ấy để đỡ đạn của súng thường, còn đối với đạn của súng đại bác thì đề phòng bằng cách mắc lưới võng từ cây nọ qua cây kia.

Mọi việc dự bị xong xuôi, chỉ đợi quân lính bảo hộ tới là đối chiến.

Quả nhiên, quân lính bảo hộ đến nơi chỉ ở dưới chĩa súng bắn lên chứ không dám mạo hiểm lên núi, bởi thấy thế núi nghiêng dốc, cây cối rậm rạp quá, sợ lên thế nào cũng bị phục binh thì nguy. Nghĩa binh có cái địa lợi là ở trên có chỗ ẩn núp trong nhũng khe đá hoặc bóng cây nhìn xuống là thấy rõ quân lính bảo hộ, còn lính bảo hộ nhìn lên thì không thấy các quân sĩ đâu mà chỉ thấy cây cối um tùm và khói đạn mù mịt mà thôi. Chính vì thế mà quân trên bắn xuống thường trúng hơn là quân dưới bắn lên, hơn nữa đạn của quân dưới bắn lên phần nhiều trúng vào những giỏ đựng bùn nên không nổ. Nghĩa quân lại lấy những vỏ đạn ấy, nhồi thuốc vào rồi bắn trả lại quân dưới.

Tối đến nghĩa quân nghỉ ăn cơm và dưỡng sức chứ không đánh. Ở dưới chân núi, quân lính bảo hộ nhìn lên thấy chỗ nào có bóng đèn đuốc lập loè thì cứ chĩa súng nhằm lên đó mà bắn. Nhưng mấy chỗ có lập loè đèn đuốc chỉ là chỗ đặt nghi binh mà thôi, chẳng có người nào hết.

Hai bên chống giữ nhau có đến nửa tháng như thế, trên không dám xuống đã đành, mà dưới cũng không dám leo lên. Chỉ nghe tiếng súng nổ hết ngày này qua ngày kia, luôn đêm này qua đêm khác, không khác gì một trận mưa sấm sét kéo dài, vang động cả một vùng núi non. Ai cũng tưởng chắc là nghĩa binh đã cháy ra tro hết rồi, nhưng thực ra chưa có một ai tử trận hay là bị trọng thương gì cả.

Quân lính bảo hộ nghĩ mình bắn phá dữ dội tới hai tuần như thế mà nghĩa binh không núng, không lui, bèn tập trung tất cả súng đại bác lại, định bắn phá tan, đốt cháy cả núi Đại Hàm làm cho nghĩa quân sẽ phải chết rụi hết, hoặc cho cháy hết không còn cây cối rậm rạp mà ẩn núp thì cũng sẽ phải ra đầu hàng. Nhưng đạn đại bác bắn lên phần nhiều mắc vào lưới võng của nghĩa quân đã giăng tứ tung, thành ra không hiệu quả.

Mấy ngày về sau, tuy là nghĩa binh còn khá nhiều đạn nhưng mà chỉ bắn một cách dè dặt, không dám bắn nhiều như trước nữa. Mỗi ngày giao chiến, cụ Phan đều ra tận chỗ mạo hiểm để chỉ bảo khuyến khích tướng sĩ, nhờ vậy nên lòng các quân sĩ càng phấn chấn bội phần. Cụ Phan muốn lập kế dụ quân lính bảo hộ lên núi để cho phục binh làm thịt, cụ bèn sai mấy quân sĩ lanh lẹ, lén theo đường tắt xuống núi, giả làm dân quê đi cày, khi gặp quân lính bảo hộ thì nói mình biết đường lên núi, xin chỉ đường để lãnh thưởng lập công. Hai viên quản cơ tưởng thật đã toan dẫn một toán lính tập đi liều, nhưng may cho chúng lúc ấy một viên thiếu úy cầm quân đã cản lại không cho, vì sợ mắc kế mai phục.

Bấy giờ, quân lính bảo hộ phân ra làm hai, một nửa vẫn ở mặt tiền, một nửa đạp gai lội suối, bọc ra mặt hậu để đánh phía sau lưng nghĩa binh, khiến cho trước sau đều bị địch tấn công, vì thế mà nghĩa binh ngày càng gặp khó khăn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:30:59 PM

Câu hỏi 23: Cho biết những khó khăn của nghĩa quân trên núi Đại Hàm và chi tiết Phan Đình Phùng suýt bị bắt sống trong trường hợp nào? Ông cùng với nghĩa quân đã làm gì để tránh được điều đó?
Trả lời:


Quân lính bảo hộ dàn trận ở mặt trước núi Đại Hàm đánh ròng rã hai tuần, nghĩa binh thiệt thòi nhân mạng và đạn dược khá nhiều song vẫn cố sức cầm cự giằng co, không hề nao núng. Trên núi nghĩa binh chỉ có 400 thầy trò với 200 khẩu súng, mà ở dưới núi vừa lính tập, lính tuần và tráng đinh mấy làng phụ cận phải ra phục dịch quan quân cả thảy có tới ngàn người; nghĩa quân chỉ có lấy bóng cây khe đá làm mạnh; còn quân bảo hộ lấy ngươi đông, súng tốt làm mạnh, thế mà nghĩa binh cầm cự được gần nửa tháng cũng là lâu lắm rồi.

Trong một cuộc đối chiến không cân sức về lực lượng và vũ khí như vậy, bên nào ít và yếu sẽ bị thua cũng là lẽ tự nhiên.

Toán viện binh 150 lính ở Nghệ An kéo đến tiếp chiến, làm cho nghĩa binh thêm khó khăn hơn nữa. Sau đó, quân lính bảo hộ phân ra hai ngả mà đánh: một nửa cứ ở trước mặt núi trấn áp, một nửa kia thì luồn cây, lách đá ra phía sau núi để bất ngờ đánh úp lên sào huyệt của nghĩa binh. Mục đích nhà cầm quân dùng tới chiến lược này là bằng mọi cách nhất định phải bắt sống Phan Đình Phùng và tiêu diệt hết nghĩa quân.

Mười mấy ngày chỉ huy căng thẳng, hơn nữa nỗi ăn ở cực khổ, ai cũng biết cụ Phan rất mệt nhọc.

Chiều tối bữa thứ mười lăm, ăn một vài nắm cơm khô chấm muối xong, cụ Phan dặn dò hai tướng Cao Đạt, Nguyễn Mục những chỗ quân cơ chiến lược trong đêm nay, để mình yên tâm nằm ngủ được vài trống canh cho lại sức. Một thanh bảo kiếm cụ Phan luôn để bên mình và rút ra ngoài vỏ sẵn sàng mỗi khi nằm ngủ, 10 năm nay, đêm nào cũng thế. Cụ nói với người nhà: "Để phòng khi lâm nguy bất trắc, mình đem chém đầu kẻ nghịch hoặc là tự đâm họng mình cho kịp".

Đêm đó, khoảng 10 giờ hơn, cụ Phan đặt mình nằm xuống lâu rồi mà thao thức suy tính chứ chưa ngủ được bỗng thấy tinh thần hồi hộp, chập chờn, con mắt thì máy lia lịa và ruột nóng nảy như lửa đốt. Cụ giật mình suy nghĩ chắc là có chuyện gì nguy biến xảy đến nơi, cho nên thần hồn báo trước cho thần tính đây chăng? Tức thời cụ ngồi nhổm dậy, đánh thức người cháu gọi cụ bằng chú ruột mà nói: Quái lạ! Ta đang nằm trằn trọc chưa ngủ được, chợt nghe trong mình phát ra nóng ruột và con mắt cũng máy dữ, chắc là có điềm lạ gì đây. Cháu dậy thắp cây đèn lên, để chú bói thử một quẻ xem thế nào.

Tự nhiên mà thắp đèn ở sơn trại mà chính là nơi cụ ở là việc rất nguy hiểm, nên cụ phải dặn trước người cháu nhớ che đậy bóng sáng cho khéo, kẻo quân Tây ở dưới ngó lên thấy hơi sáng lập loè, nó sẽ bắn. Người cháu thắp đèn rồi che kỹ lại, cụ Phan lấy quyển kinh "Dịch" và mấy đồng tiền trinh ra gieo quẻ bói. Giữa lúc ấy còn là ngày "Dần" mà cụ bói được quẻ: Mão quỷ phát động. Trừng mắt thở dài ra vẻ kinh ngạc, cụ cho rằng sự thế nguy biến đến nơi rồi. Ngày mai chính là ngày "Mão" mà nay thần ứng ra quẻ này thì mai đây thế nào quân Tây cũng chắc chắn đánh phá đồn trại của ta. Tức thời, cụ sai lính vệ sĩ đi gọi Cao Đạt và Nguyễn Mục vào khẩn cấp.

Hai ông này tay gươm vai súng, lật đật vào hầu. Cụ kể lại cho nghe từ điềm lạ máy mắt sốt ruột cho tới ý nghĩa quẻ bói mà thần mới ứng cho, rồi nói rằng: Thế nào ngày mai quân địch cũng đánh phá tới sào huyệt ta, mà chúng sẽ lén ra phía sau mà lên núi, vì mặt tiền có quân ta cầm cự và mai phục rồi, hẳn chúng không tấn lên phía trước. Sự thế trước sau đều bị địch tấn công như vậy mà quân ta ít, súng ta ít, lại đạn dược gần kiệt rồi, nếu ta dồn binh về mặt sau thì mặt trước hỏng mất, mà giờ cứ cầm cự chống giữ lấy mặt trước thì mặt sau bỏ trống, để chúng thừa cơ tập kích lên được, thì chúng ta bị tù cả đám. Ta phải tức tốc lui binh, bỏ núi này đi mới được.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:31:29 PM

Cao Đạt, Nguyễn Mục muốn xin cụ Phan kéo binh đánh tràn xuống mặt trước núi, liều mạng phá tan vòng vây mà chạy. Vì hai ông suy tính quân Pháp đã định phân ra đánh ngả sau nghĩa binh, thì chắc là mặt trước để hư không. Nghĩa binh có thể liều chết phá vây được. Nhưng cụ Phan không nghe, cụ cho rằng làm cách đó là vạn tử nhất sinh sẽ rất nguy. Phải biết quân bảo hộ dùng binh cũng rất cẩn thận, cơ mưu, chứ không như chúng ta nghĩ. Chúng bao vây ta cả trước và sau, nên sẽ chia đều quân cho cả hai nơi, không khi nào chúng lại để hư không mặt trước. Ta kéo tràn đánh xuống khác gì đưa thịt vào miệng cọp. Bởi vậy, ta quyết định bỏ núi, lui về sau, chứ không để tổn thương vô ích. Quân ta vẫn cứ lui đi mặt trước, có điều là đi xuyên đường rừng, không nên lộ mặt cùng họ giao chiến làm gì nữa.

Tướng sĩ đều phục cái định kế ấy. Liền ngay lúc đó, cụ sai đi kêu gọi hết thảy quân lính ở các chỗ đang ứng chiến và mai phục bỏ trận địa tập trung kéo về đại trại, tổ chức nấu cơm và thu xếp khí giới vật dụng. Lệnh truyền đến 2 giờ khuya sẽ ăn cơm rồi nai nịt sẵn sàng để gà gáy lần thứ nhất thì nhổ trại lui binh. Nhiều quân sĩ còn đang hăng hái muốn đánh, nhưng tướng quân đã ra lệnh, không ai dám trái.

Không ngờ nghĩa quân chuẩn bị chưa kịp thì nghe tiếng gà ở sơn thôn đã gáy hai dạo. Quân lính bảo hộ đã tiến lên đến nơi. Trời mới sáng mờ mờ, một con chó Tây dùng trong việc quân, đánh hơi đưa đường, chạy sồng sộc vào tới trong sân đại trại. Nguyễn Mục ngó thấy đưa súng lên bắn con chó một phát, con chó chạy khỏi đại trại. Quân lính bảo hộ đang chen cây lách đá, nghe tiếng súng nổ liền nhằm hướng ấy và dõi theo vết chân con chó dẫn đường mà tới. Bởi đá núi lởm chởm gập ghềnh, cây cối gai góc rậm rạp, thành ra quân lính bảo hộ tiến lên rất khó và lâu. Tiếng súng của Nguyễn Mục bắn con chó thật là tai hại, nếu như không có tình thế hiểm trở của núi rừng làm chậm trễ sự tiến binh của quân lính bảo hộ, thì có lẽ cụ Phan bị bắt rồi.

Trong khi quân lính bảo hộ đang lần đường theo dấu ở phía sau, thì nghĩa quân đã đưa được cụ Phan đi ra cửa trước rồi xuyên theo đường lối trong rừng chạy thoát. Một lúc sau, quân lính bảo hộ tiến vào đến nơi, chỉ thấy doanh trại trống rỗng, đồ vật bỏ lại ngổn ngang và không còn một người nào. Họ cướp được đồn trại của nghĩa quân rồi thôi, không đuổi theo nữa. Cũng vì lý do cây cối rậm um tùm, đường lối chẳng thấy, nên chúng không biết nghĩa quân lui chạy đằng nào mà đuổi theo.

Tướng sĩ hộ vệ cụ Phan chạy đường rừng, bao nhiêu đồ vật và lương thực mất hết, không kịp đem theo một chút gì.

Thời gian này tình cảnh nghĩa quân rất lao đao vất vả, lại thêm nỗi đói khát và rét, nên quân sĩ chết ở giữa rừng rất nhiều. Lắm người đói lả đuối sức, chạy theo không kịp, phải nằm phục vị ở giữa rừng, đào rễ cây mà ăn, rồi đốt lá mà sưởi, vì mùa này khí hậu rừng núi lạnh lẽo hơn dưới đồng bằng. Chính người cháu ruột của cụ cũng nằm lả bên khe suối, may có mấy quân sĩ xúm lại vực dậy dìu đi.

Trong lúc mọi người ở nông thôn, thành thị ăn tết thì nghĩa binh lao đao đói khát ở giữa rừng sâu núi thẳm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:31:46 PM

Đến mùng 6 tháng giêng, nghĩa binh mới kéo vế tới núi Quạt, đồn trú tại đó là quân thứ ở huyện Hương Khê. Kiểm tra binh sĩ, còn lại hơn hai trăm người mà ai nấy đều xanh xao gầy ốm, vì nỗi bôn ba cơ khổ ròng rã một tháng trời, cụ Phan và hai tướng Cao Đạt và Nguyễn Mục cũng vậy. Nội tình nghĩa quân rất căng thẳng vì nỗi lương thực thiếu thốn. Lúc nào dân làng cũng gánh gạo bắp heo gà lên núi cho nghĩa binh như là đi chợ, song mấy tháng này bị nhà chức trách cai trị địa phương canh phòng các ngả và hăm dọa gắt gao, thành ra họ không dám tiếp tế lương thực cho nghĩa quân như lúc trước nữa.

Kho tàng lúa bắp trên sơn trại càng ngày càng ít, mà sự tiếp tế mắc kẹt. Cụ Phan phải sai quân sĩ giả làm nông dân hay thương khách đi sang tỉnh Quảng Bình mua từng năm ba chục gánh gạo bắp, chở lén theo đường rừng, đem về cho quân sĩ ăn. Có nhiều khi lúa bắp đi mua chưa vận chuyển về kịp, quân sĩ phải nhịn đói đôi ba ngày chỉ uống nước lạnh trừ cơm là thường. Tuy vậy, không ai kêu la, than thở một tiếng nào; trái lại, họ vẫn vui vẻ thề nguyện kháng chiến đến chết mới thôi, cực khổ đã quen, đói rét chẳng kể. Thấy lòng quân khăng khít như thế, cụ thường cảm động khóc lóc một mình. Người cháu hầu hạ bên cạnh biết có lúc nửa đêm cụ thở dài và nói: Vì ta mà khổ sở tướng sĩ. Có dân tâm thê ấy mà nhân lực không có, thiên mạng không giúp, thảm biết bao nhiêu. Người anh hùng đến bước mạt lộ, đêm trường nằm than khóc một mình như thế, càng thảm hơn.

Đến tháng 5 năm ấy, Nguyễn Thân kéo đại quân ở kinh thành ra đến nơi, tình hình lương thực của nghĩa binh càng thêm cạn kiệt nguy khốn. Bao nhiêu lối hiểm đường quanh đều có lính tráng của Nguyễn Thân bủa giăng chặn nghẹt thành ra nghĩa quân trên núi tuyệt lương. Trước kia lương thực chỉ "thiếu" cũng đủ khốn khổ, bây giờ đến "tuyệt" thì quá nguy hiểm.

Nếu ở núi Quạt thì sớm muộn thầy trò cũng chết đói đến nơi, cụ Phan hạ lệnh nhổ trại kéo quân về nơi sào huyệt cũ là núi Vụ Quang. Tại đấy có địa lợi hơn, vì đã có đường rừng lại có đường thủy nữa, có lẽ công cuộc vận lương cũng dễ xoay trở. Khi nghĩa binh kéo đến mé sông Vụ Quang, cụ Phan cẩn thận sai 4 vệ sĩ qua sông dò thám trước thấy những đồn trại của nghĩa quân trên núi Vụ Quang hồi xưa đã bị quân lính Pháp chiếm giữ. Vì thế mà cụ Phan phải đem quân sang đóng trên một trái núi khác, cách không bao xa và cũng thuộc vào thung lũng của núi Vụ Quang. Nghĩa quân chặt cây cắt cỏ, cất lên doanh trại lụp xụp mà ở tạm. Cụ cũng biết rằng đóng binh ở đây thế nào nay mai quân lính bảo hộ cũng áp tới đánh, nên luôn phải tính cách chống cự sẵn sàng.

Chính vì thế mà sau này có trận huyết chiến Vụ Quang chính là một trận đánh để tháo thân, không ngờ lại là một trận đánh dữ dội và thắng lợi lớn nhất của nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:32:44 PM

Câu hỏi 24: Khi ở núi Vụ Quang biết mình lâm vào cảnh đường cùng, nhân lực nghĩa quân không đủ, Phan Đình Phùng đã chỉ huy quyết đánh để mở đường thoát thân, nhưng không ngờ đó là trận đánh huyết chiến thắng lợi nhất. Cho biết diễn biến, kết quả của trận đánh trên?
Trả lời:


Khi cùng nghĩa quân từ núi Đại Hàm về núi Vụ Quang, lúc này cụ Phan tự biết rằng mình với cái ngày cuối cùng ngày càng gần nhau, chẳng còn xa cách bao nhiêu nữa. Nếu là người ham sống sợ chết thì bây giờ chỉ có việc treo lên một vuông cờ trắng, rồi đem quân gia khí giới ra đầu hàng, quy thuận bảo hộ sẽ được dung thứ trọng đãi ngay, mặc dù 10 năm qua cụ đã làm cho bảo hộ hao tốn rất nhiều quân lính và tiền bạc. Nếu chịu ra hàng, thế nào cũng được biệt đãi hơn những Đề đốc Lê Trực và Tấn sĩ Phan Trọng Mưu rất nhiều. Bởi vì cuộc bảo hộ mới lập xong đang ở thời kỳ đầu, người Pháp cần thâu phục nhân tâm hơn là ham muốn sát phạt, nghiêm khắc. Hơn nữa, đối với các lãnh tụ văn thân cứng cỏi, gan dạ như bậc Phan Đình Phùng, bảo hộ vì lẽ chính trị buộc phải đánh dẹp thì đánh dẹp, chứ trong thâm tâm của những người Pháp họ vẫn chuộng công lý nhân đạo, vẫn quý trọng ai là người biết yêu nước quên mình như thế.

Thời cơ rất thuận tiện cho cụ Phan quy hàng bảo hộ để được yên thân. Nhưng mà cụ lâm vào đường cùng cảnh khốn như lúc này mà vẫn giữ vững tâm trí thẳng như tên biết mình chết đến nơi mà cứ ung dung, cứ khẳng khái, cứ tự nhiên, thà chịu đói, chịu khổ, chịu đau đớn đủ thứ, rồi chịu chết bỏ xác giữa rừng, chứ không chịu quăng súng xuống, đưa tay lên để cầu sự yên ổn phú quý, như thế mới biết cụ kiên cường đến mức nào.

Phan Đình Phùng biết mình đã lâm vào cảnh cùng đường rồi, việc cứu quốc Cần Vương có lẽ cũng đã đến lúc hư hỏng tan tành. Trong bức thư trả lời Hoàng Cao Khải, cụ đã từng tự so sánh việc mình làm như kiểu con bọ ngựa nhỏ nhoi muốn giơ tay lên cản chiếc xe to lớn. Nhưng là vì khí tiết, vì danh nghĩa, vì phận sự làm tôi đối với vua, làm dân đối với nước, đã trót ra tay làm thì phải làm tới chết. Vì vậy mà còn có đôi chút sức lực nào cũng đem ra cho hết, để chết một cách oanh liệt, không cần phải dè dặt sức mình như mấy năm trước. Dám đóng quân ở trên một trái núi thuộc về thung lũng Vụ Quang, gần bên quân lính bảo hộ có nghĩa là cụ Phan đã không trốn tránh việc quyết đánh...

Phần vì buồn về công việc hỏng, phần vì mấy tháng nay gặp nhiều khó khăn, thành ra tuổi chưa cao nhưng cụ Phan đã suy yếu nhiều. Có lần cùng với mấy viên tùy tướng đi dạo chơi trong rừng phía trước doanh trại, cụ Phan nhìn lên thấy đám mây bạc ở xa xa, chợt nhớ đến những nơi vì mình mà đang bị tan hoang phiêu dạt; vì mình mà hương khói và xương cốt tổ tiên mình bị lạnh lùng bới móc lên, cụ rất đau đớn. Trông về phía bắc mịt mù, nhớ đến vua chúa cũng đau lòng; kể cả khi nghe tiếng chim kêu vượn hú, lá rụng cây reo cũng khiến cho cụ bùi ngùi. Cụ bật tiếng thở dài, nói với mấy viên tùy tướng: Trước kia ta nghe những tiếng này, trông thấy những cảnh này, lòng ta phấn khởi biết bao, tưởng chừng gặp kẻ đối địch chỗ nào ta cũng nhảy tới bóp cổ moi gan ra ăn được mới khoái. Nhưng bây giờ cũng trông thấy cảnh này, nghe những tiếng này, lòng ta tê tái rầu buồn hết sức. Người có chí làm việc lớn mà trời không cho làm được, ở đời còn có nỗi gì đau đớn hơn nữa. Rồi cụ chỉ tay ra phía xa mà nói: Nhìn non sông tươi đẹp thế kia mà không phải của mình làm chủ nữa, thật thảm!

Những người đi theo cụ Phan nghe mấy lời ấy đều ứa nước mắt. Nhìn chủ tướng, thấy hai gò má cũng điểm nhiều giọt lốm đốm như giọt sương mai từ cặp mắt đỏ hoe kia vừa mới nhỏ xuống. Thầy trò cùng khóc với nhau ở giữa rừng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:33:16 PM

Nhưng cụ Phan đã quyết tâm còn chút hơi nào cũng đem ra chống chọi với thời cuộc cho hết, tới lúc xuôi tay nhắm mắt mới thôi. Bởi vậy không thể nào mà ngậm ngùi bi thương mãi được, cụ phải nghĩ cách chống cự với giặc, kẻo nghĩa quân tạm đóng trên núi này, thế nào sớm muộn nay mai quân lính bảo hộ cũng tới vây đánh, không sao tránh khỏi. Điều ấy chính cụ đã dự định từ trước rồi.

Nhìn xuống sông Vụ Quang quanh co một dải trắng phau, nước cuồn cuộn, cụ Phan đổi ngay sắc buồn, rồi vui mừng nói rằng: Nếu quân Pháp kéo tới đánh ta, thì con sông kia có thể cự địch được lắm.

Tướng sĩ ngẩn ngơ, không ai hiểu được là ý gì, trừ một mình Nguyễn Mục hình như hiểu thấu ý cụ Phan cho nên sau khi cụ Phan nói rồi, nghe ông ta ứng khẩu mà tiếp: Chắc họ được uống nước sông đó một bữa no nê.

Sau đó thầy trò lững thững trở về thảo trại thương lượng việc quân. Quả nhiên chỉ cách vài ngày sau, quân lính bảo hộ biết tin nghĩa binh đang đóng trên trái núi bên kia, liền thăm dò địa thế để kéo binh tới công kích.

Mỗi ngày nghĩa quân đều cử ra một vài người giả làm chú tiểu, xách búa qua núi Vụ Quang chặt củi, nhưng là để xem xét binh lính của bên đối địch. Lính tập nhìn thấy nhưng tưởng là dân núi đốn củi thật, không nghi ngờ gì. Mấy chú còn lân la nói chuyện và hút thuốc với họ. Nhờ vậy mà các hoạt động của lính tập ra sao, nghĩa quân biết cả.

Khi được tin báo về, cụ Phan họp các tướng lại để bàn cách chống cự. Lần này cụ có trận thế sắp đặt và chủ trương nhất định, cho nên không có ý lo ngại và tính kế lui binh như mấy lần trước. Nhưng các tướng lúc bấy giờ đều thấy lo, là vì hiện thời nghĩa binh chẳng những quân lương đã thiếu thốn cực khổ, mà ngay khí giới súng đạn cũng không còn sót lại được bao nhiêu, nếu phải cầm cự lâu ngày như ở Đại Hàm trước kia thì khó khăn. Họ lại suy nghĩ trái núi mình tạm trú đây không có địa hình thuận tiện, lấy gì mà chống giữ cho được. Còn sự trông mong ở các quân thứ kia đem binh tới cứu viện cũng không xong, vì là hồi này quân thứ nào cũng nguy như nhau. Hoặc đã vỡ lở, hoặc bị nghẹt đường, đến vận lương ăn còn không được, còn nói gì đến đem binh đi cứu viện thế nào được. Nhưng tới khi nghe cụ Phan nói rõ kế sách kháng địch, một mình Nguyễn Mục giữ vẻ tự nhiên, bởi ông ta đã đoán biết từ trước rồi, còn tướng sĩ đều có vẻ hớn hở vui mừng hiện trên nét mặt, nhưng chưa hiểu kế ấy như thế nào. Có lẽ vì tướng sĩ chưa chú ý đến câu nói của cụ Phan lúc trước: "Con sông kia có thể cự địch được". Bây giờ cụ nói rõ cho chủ tướng nghe là phải dùng kế "sa nang úng thủy" của Hàn Tín đánh quân Sở ngày xưa mới được.

Nói xong cụ truyền lệnh cho quân sĩ tiến lên trên đầu nguồn, mượn lấy những khúc gỗ lim to lớn của bọn lái buôn cây đã chặt sẵn sàng để ở trên ấy và tự chặt thêm mấy trăm cây lớn nữa. Những cây ấy cụ Phan cho quân sĩ ghép liền lại với nhau thành từng bè lớn, vừa đóng suốt thân cây này qua cây kia cho chặt và lấy mây trong rừng cột lại thật cứng, rồi đặt ngay trên nguồn làm như hàng rào hay cánh cửa để chặn ngay đầu nguồn của sông Vụ Quang từ trên núi này chảy xuống. Nghĩa quân chặn đầu nguồn cho nước dưới sông cạn đi để dùng kế dụ địch cho quân lính bảo hộ qua sông. Đợi họ qua tới giữa sông thì bấy giờ trên đầu nguồn chặt dây cho nước đưa cây trôi xuống ào ào như thiên binh vạn mã, đồng thời ngay mé sông chỗ đó lại cho tướng sĩ phục sẵn, chắc chắn quân lính bảo hộ sẽ phải tử thương rất nhiều.

Quân sĩ y theo kế ấy quyết tâm làm gấp rút cho xong. Những người gác ở đầu nguồn cầm sẵn dao sắc, búa lớn trong tay đợi khi có ám hiệu phát lên thì đồng thời chặt dây mau lẹ cho cây trôi xuống phăng phăng cùng một lúc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 09:33:40 PM

Cái kế "Sa nang úng thủy" này của Hàn Tín đánh Sở ngày xưa là như vậy. Chỉ khác là Hàn Tín xưa dùng bao cát để chặn nước lại, thì bây giờ cụ Phan dùng cây gỗ.

Đúng như dự kiến, quân lính bảo hộ kéo đến đánh trái núi nơi có đồn nghĩa binh đóng quân vào lúc quá nửa đêm. Lính tập đến vây bọc trái núi có lấp ló đồn trại nghĩa quân ở trên, mấy phía đều chĩa súng lên đó mà bắn như mưa rào. Nhưng chúng bắn mãi mà không thấy nghĩa quân ở trên bắn trả một tiếng súng nào. Ban đầu tưởng là nghĩa binh nằm ẩn nấp quanh quất đâu đó, nhưng lúc sau bắn trúng vào những đồn trại bằng cây lá, phát lên cháy nghi ngút, cũng không thấy động tĩnh của nghĩa quân, bấy giờ lính bảo hộ đoán chắc là nghĩa binh đã sợ hãi bỏ chạy, đồn trại chỉ là đồn trại bỏ không. Viên tướng cầm quân liền hô quân xông lên núi xem thử hư thực thế nào. Lên đến nơi, thấy còn sót lại năm bảy cái nhà lợp tranh chưa cháy, lính tập tiến đến gần cũng chẳng thấy bóng người nào hết, trong mỗi nhà tranh chỉ có ít nhiều khí giới là dao cùn, gươm mẻ bỏ nằm ngổn ngang. Quân lính bảo hộ thấy vậy càng tin chắc nghĩa quân sợ thua đã bỏ trại, chứ không nghi chút nào là có mưu kế.

Trong khi lính tập đang sục sạo ở trong những đồn trại bỏ không như thế, thì bỗng dưới chân núi có một toán quân, độ hơn một trăm người, nổi trống phất cờ và hò hét nhau làm như muốn kéo lên núi mà đánh. Rồi tiếng súng nổ ra đùng đùng tứ phía khiêu chiến quân Pháp.

Quân Pháp thấy vậy, tức tốc đổ quân xuống núi để đánh và đuổi bắt. Hai bên ứng chiến xa bằng súng đạn một lúc, nghĩa quân vờ yếu thế vội vàng rút lui, lần theo những lùm cây và mô đất để tránh đạn. Lính tập thừa thế rượt theo và bắn dữ dội. Nhưng nghĩa quân chỉ chạy một khúc đường lại nằm phục xuống bắn trả lính tập một hồi rồi lại chạy. Cứ chạy lại bắn, bắn lại chạy, tới đôi ba lần như thế, lính tập càng cố rượt theo nhằm bắt sống cho kỳ được mới thôi.

Ra tới sông Vụ Quang, nghĩa quân cứ chạy dựa bên mé sông, đến một chỗ thấy nước hơi cạn, thì bỏ hết cả cờ trống và quân giới lại mé bờ, rồi tranh nhau lội qua sông để thoát thân cho mau. Quân Pháp vẫn đuổi riết ở phía sau, đến khi thấy quân kia đã sang sông thì cũng ùa xuống mà sang, bởi nước lúc đó chỉ ngập trên đầu gối.

Lúc quân Pháp lội ra đến giữa sông, bỗng dưng nghe trên núi cao có một tiếng lệnh nổi lên làm hiệu, tức thời quân sĩ canh trên đầu nguồn chặt cây, tháo hết bè cây ra, cho cây trôi xuống. Nước trên nguồn bị chặn lại tức đường bí lối đã lâu, nay cây tháo ra, tự nhiên nước có đường chảy xuống ào ào, cây theo nước từ trên cao trôi xuống phăng phăng rất mạnh. Quân lính bảo hộ bất ngờ, lại không may trời có sương mù, không nhìn thấy đằng xa, lại còn bị phục binh bắn xuống quyết liệt, nên chạy không kịp, bị những cây to xô ngã rồi trôi theo nước, chết đuối lềnh bềnh trên sông rất nhiều.

Trận này, phía quân bảo hộ chết ba viên quan võ Pháp, không kể lính tập. Nghĩa quân thu được rất nhiều chiến lợi phẩm và vũ khí đạn dược gồm bốn chục khẩu súng, có cả đồng hồ, thắt lưng bằng da và nhiều tiền bạc. Đúng là một trận đánh trong lúc nghĩa quân đang lâm vào cảnh vô cùng khó khăn chỉ cốt đánh là để thoát thân, nhưng không ngờ lại là một trận đại thắng lớn nhất từ trước đến nay.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:19:48 AM

Câu hỏi 25: Sau khi đại thắng trận huyết chiến ở núi Vụ Quang cũng là lúc nghĩa quân gặp rất nhiều khó khăn về lương thực, vũ khí, di chuyển tìm địa bàn đóng quân... Cho biết cụ thể những khó khăn ấy?
Trả lời:


Sau khi thắng trận ở núi Vụ Quang, nghĩa quân thu quân và tụ họp ở bên khe núi. Sau đó tổ chức lặn mò ở sông Vụ Quang, con sông vừa xảy ra cuộc chiến đại thắng nhờ mưu kế "sa nang úng thủy" và đã tìm kiếm được bốn chục khẩu súng cùng một ít đạn. Phần nhiều súng đạn lính tập chìm sâu tận đáy sông hoặc là nước đánh trôi mất. Súng đạn, đồ dùng và lương thực thu được của lính tập được sắp xếp lại cẩn thận lại một chỗ.

Nghĩa quân hối hả bắc nồi nấu cơm ăn để lấy lại sức khoẻ sau khi chịu vất vả nhiều ngày đêm, rồi ngồi quần tụ trên những tảng đá bên khe, dưới bóng cây mát mẻ, ăn cơm rất vui vẻ ngon lành. Bữa ăn này có thêm vô số bánh mì, cá hộp và rượu chát vừa mới bắt được của quân bảo hộ, tướng sĩ chia cho nhau mỗi người một miếng, coi như sản phẩm ấy là bữa tiệc khao quân. Ai nấy lâu nay ăn đói mãi, bây giờ được một bữa tinh thần khoan khoái, cơm bánh tràn trề, lại thêm mấy món ăn lạ, hầu hết chưa được nếm qua bao giờ. Nhiều người có cái cảm giác như được dự bữa đại yến của vua ban.

Mặc dù bữa ăn này tướng sĩ được ăn nhiều thứ nhưng chủ soái là cụ Phan thì vẫn ăn mấy nắm cơm chấm muối như thường. Cụ nói những vật thực đã bắt được kia là công lao huyết hãn của tướng sĩ, giờ cụ khao thưởng hết cho binh sĩ. Xong bữa cụ Phan bàn với các tướng sĩ: Ban đầu quân ta cùng đường gấp nước, đóng đồn ở vùng núi này chỉ tạm thời mà thôi, ta đã nói trước rằng đây không phải là chỗ có thể trú chân trường cửu cho ta. Hồng phước non sông giúp ta đánh thắng được một trận như hôm nay là may mắn quá rồi, đừng nên tưởng rằng trận thắng này tức là có thể lưu lại ở đây yên ổn được. Chỉ nội chiều nay hay ngày mai, quân địch kéo đại đội binh mã tới báo thù quyết chiến với ta, thì ta làm sao? Cái diệu kế “Sa nang úng thủy" mới rồi chỉ dùng được một lần là hết, không ai để cho mình dùng được tới lần thứ hai. Lo đánh đã khó, mà lo ăn còn khó hơn. Thật khổ là việc lương thực bị nghẹt, không sao chuyển vận tiếp tế như mấy năm trước. Ví dụ quân Tây lại không cần đánh ta, chỉ vây bọc trái núi này độ mười ngày, cũng đủ làm cho quân ta chết đói. Bởi vậy, ta phải quyết kế lui chạy là hơn; mà phải lui chạy tức tốc mới được... Có mấy nơi quân ta có thể lui về đóng đồn, để ta đắn đo lựa chọn coi thử nơi nào hơn.

Sau khi nghe Nguyễn Mục đề xuất cho lui binh lên miền núi Khai Trướng, cụ thấy hợp với ý định của cụ nên nhất trí và tức thời cụ truyền lệnh cho tướng sĩ sắp đặt cho kịp đúng ngọ thì nhổ trại kéo quân đi, không được trì hoãn. Cụ dặn dò tướng sĩ bỏ lại hết những đồ vật gì kềnh càng, vô dụng, trừ khí giới phải mang đủ, mỗi người chỉ được đem theo y phục đủ dùng. Còn dư ít nhiều lương thực thì san bớt ra từng bao nhỏ, mỗi người đều đeo trên vai. Thế là ngoài khẩu súng để phòng đánh và túi gạo để phòng đói, quân sĩ không phải khiêng vác những quân nhu vật dụng nào khác, cụ Phan muốn cho quân sĩ nhẹ nhàng để đi cho mau, lên dốc xuống đèo cho dễ, lỡ đi giữa đường có gặp địch quân cũng dễ ẩn nấp hay đối phó.

Đúng ngọ, quân sĩ lên đường, nhằm phía Khai Trướng mà đi. Núi Khai Trướng còn gọi là núi Giăng Màn. Qua phía bên kia núi Giăng Màn là địa phận của dân Mường. Cụ Phan thấy rằng ở núi Giăng Màn cũng không yên được bởi vì khó mua lúa gạo cho quân sĩ ăn, thành ra lại phải bỏ núi Giăng Màn kéo quân sang nương náu ở đất Mường.

Nghĩa binh lúc này tuy có tiền, nhưng không thể mua được lúa gạo mà ăn bởi nơi đây là thượng du, lúa gạo không được dồi dào như trung châu và vì dân làng sợ lệnh của bảo hộ và Nguyễn Thân, dẫu lúa gạo dư dật có thể bán được, họ cũng chẳng dám bán cho nghĩa quân.

Ở đất Mường, nghĩa quân chỉ có thể mua khoai bắp để ăn trừ cơm. Sẵn có bắp nhiều, cụ Phan mua trữ để một nơi trong núi, trong ý muốn tích trữ lương thực và dưỡng sức quân sĩ ít lâu, rồi trở về chiến đấu một phen nữa. Tạm lánh ở đất Mường, muốn để thực hiện được hai việc đó, cụ đã phát lệnh tiễn và viết mật thư sai ông Tán dương Quân vụ Nguyễn Quýnh qua núi Quạt nhằm địa thế và dựng doanh trại sẵn sàng để nghĩa quân trở về. Chí khí thì như vậy nhưng hồi này thực lực của nghĩa quân rất kiệt quệ, cụ Phan thì vẫn bền lòng vững chí, không vì nhịn đói nhịn khát mà sinh ra chán nản.

Trong cơn bôn ba cực khổ, có khi Phan Đình Phùng với tướng sĩ ngồi bệt dưới đất chuyện vãn với nhau. Cụ thường nói đi nói lại về chuyện nhân lực thiên mạng và bày tỏ khí tiết của mình: nếu quả lòng trời quyết định rồi, không để cho ta xoay trở lại thời thế được nữa, thì chỉ có một nước là chết để báo đáp cái ơn tri ngộ phó thác của vua Hàm Nghi và tấm lòng tin yêu của anh em hương quốc mà thôi. Ngoài cái chết ra, không còn có thể làm cách gì khác. Trong lúc tình thế đã nguy, mà cụ Phan thường nói đến tiếng "chết", tướng sĩ nghi ngại và nói nhỏ với nhau cho đó có lẽ là điềm gở.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:20:11 AM

Kể từ lúc cụ Phan bắt đầu khởi binh năm 1885 đến năm 1895, trước sau 10 năm, mấy trăm nghĩa binh luôn bên mình cụ, trừ một số người đã chết ở sa trường, chết vì bệnh hoạn, còn lại bao nhiêu vẫn ngậm cay nuốt đắng mà theo, một bước không rời. Cụ khéo đối đãi và huấn luyện tướng sĩ, chẳng những rèn đúc họ cũng can đảm nhẫn nại như mình mà còn cảm hóa được tinh thần họ nữa. Ai nấy đều có chí mạnh, gan to, coi thường tính mạng. Nếu có thời vận và đủ lực lượng, thì tướng ấy, quân ấy có thể tung hoành chưa biết đến thế nào, đâu có tới nỗi phải lâm vào cảnh ngộ cùng khốn mà chết giữa rừng.

Phan Đình Phùng và nghĩa quân sang trú túc ở đất Mường Cô Ta vào hồi tháng 8 năm Ất Mùi (1895). Tưởng rằng cụ sang ở đất Mường xa xôi hiểm trở sẽ yên ổn tấm thân, nhưng quân bảo hộ dò biết tin tức nghĩa binh nương náu chỗ nào là lính tập tiến đánh ở chỗ đó. Thành ra nghĩa quân ở đâu cũng lo sợ, không thể yên thân được, lúc nào cũng để sẵn khí giới và hành lý bên mình, bất cứ trưa nắng hay đêm khuya, hễ nghe hơi động một chút là phải di chuyển. Đi, không có nghĩa là tướng sĩ sợ chiến đấu mà họ muốn tránh sự rủi ro bất ngờ xảy ra với cụ Phan hơn là tính mạng của mình.

Đang ở Cô Ta, nghe động chạy sang Cá Tang; đang ở Cá Tang, nghe động lại phải chạy qua Ban Bức. Nghĩa quân đổi dời quanh quẩn trong ba nơi ấy luôn mấy tháng trời rất vất vả, cực khổ, không nơi nào dám ở yên một tuần, mà từ nơi này chạy qua nơi kia rất xa, thường là mất khoảng 36 giờ đồng hồ, đường đi hết sức gồ ghề, hiểm hóc. Tướng sĩ đã khéo biến báo, bứt các thứ dây trong rừng kết lại thành như giày dép để mang vào chân mà đi, thế mà có nhiều người còn đổ máu chân, đủ biết đường sá gian nan đến thế nào.

Thấy tướng sĩ như vậy, cụ Phan thương tâm quá mà khóc lớn, vừa khóc vừa nói: Vì ta mà các ngươi phải khổ sở đau đớn trăm bề. Hay là các ngươi đem ta ra mà nạp cho Tây, rồi ai nấy trở về quê hương an nghiệp làm ăn, kẻo để các người chịu khổ sở đói khát mãi như vậy, lòng ta lấy làm bất nhẫn lắm. Nghe cụ nói vậy, tướng sĩ xúm lại khuyên giải và chỉ tay lên trời mà thề rằng: Chúng tôi vui lòng theo cụ đến chết, cực khổ thế này có thấm gì đâu. Đến chết còn vui lòng, huống chi cực khổ mức này gì mà không chịu được!

Tình cảnh còn nguy kịch hơn nữa khi nghĩa quân lo nghĩ vất vả quá, rất nhiều tướng sĩ lâm bệnh, nguy hiểm nhất là bệnh lỵ. Trong mấy tháng nương náu ở đất Mường, chính cụ Phan cũng mắc phải bệnh lỵ đến nỗi không ăn, không uống gì được, đúng ra mà nói thì không có gì mà ăn; thuốc men bổ dưỡng cũng chẳng có, thành ra mọi người gầy còm suy nhược rất nhanh. Người cụ bây giờ xanh xao ốm yếu, mà hai vành con mắt lúc nào cũng rơm rớm những giọt lệ. Cụ Phan thương cảm non sông, thương cảm cho thân thế mình, thương cảm những tướng sĩ theo mình; nhất là thương cảm việc đại sự hỏng, cảnh ngộ long đong... Quân sĩ thấy ông chủ tướng bệnh hoạn ốm yếu như thế, ai nấy đều cảm động ứa lệ.

Có mấy người cảm kích quá sức, đến nỗi rút gươm ra gào lớn: "Ta không mặt mũi nào ra hàng để cầu yên thân, cũng không nỡ lòng nào trông thấy cảnh tượng đau đớn mãi được, thà chết trước đi còn hơn", thế rồi tự đâm cổ mà chết.

Thế mới biết cụ Phan cố kết được lòng người rất giỏi, tiếc rằng vận số nước non đến lúc đường cùng và ý trời muốn tuyệt thì không biết làm thế nào.

Đã đói khát, bệnh tật trong mình, lại không được ở chỗ nào yên thân, nghĩa quân đến lúc này rất khổ cực. Quân lính bảo hộ dò theo tung tích mà dồn đuổi mãi sau lưng không cho tướng sĩ được nghỉ ngơi trọn một ngày nào. Chắc bảo hộ đoán biết nghĩa quân sắp tàn cuộc, cho nên càng phải dõi theo liên tục, vì nếu để cho nghĩa quân yên nghỉ lâu lâu dễ lại có thể phục hưng tái khởi. Chính vì quân bảo hộ luôn theo sát, cụ Phan bèn quyết kế đêm đi ngày ẩn, lén ở lại để trở về núi Quạt.

Lúc bấy giờ, các quân thứ đều rã rời tan tác, không thể nào ứng cứu hoặc liên lạc gì với nhau được, bởi bảo hộ sai quân lùng sục khắp nơi. Bao nhiêu quân thứ do cụ Phan sắp đặt khi trước, bây giờ thứ nào bị đánh tan rồi cũng không rõ, nếu có còn thì mỗi người mỗi nơi, không có chỗ nào dung thân. Khi nghe tin cụ Phan trở về núi Quạt, họ bèn lục đục kéo cả về đây nương náu. Những lúc chỉ có đôi ba trăm người còn rất đói khổ, bây giờ quân số lên đến 2.700 người ở một chỗ lại càng nguy kịch hơn.

Tình cảnh tuyệt lương như bây giờ, cụ Phan lo 2.700 quân sĩ phải làm thế nào. Tuy có mua lén được ít nhiều lúa gạo, nhưng đến nấu cháo lỏng mà húp mỗi người đôi ba thìa cũng không đủ, chứ chưa nói gì đến cơm. Đói quá, quân sĩ phải đào những củ nâu và những rễ này rễ kia trong rừng mà ăn đỡ lòng, nhưng nhạt quá, ăn không chịu được, họ lại phải nhổ mấy cây lau sậy, đốt ra thành than thay muối, để chấm mà ăn với củ nâu cho đỡ nhạt.

Đến mùa lạnh, trên rừng núi lạnh hơn rất nhiều so với dưới đồng bằng. Nghĩa quân không có đủ doanh trại che sương che gió, có người phải ra nằm phơi người giữa rừng, họ lấy cây lá phủ lên trên cho ấm. Có người đói rét đến mê man, đêm nằm giữa rừng, bị cọp beo tới ăn lúc nào không hay.

Mặc dù chịu đựng đói rét, khổ cực như vậy, nhưng chí khí của các tướng sĩ vẫn vững vàng, một lòng một dạ trung thành với chủ tướng Phan Đình Phùng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:22:12 AM

Câu hỏi 26: Cho biết những chi tiết cảm động về những ngày tháng cuối cùng của Phan Đình Phùng. Ông đã dặn dò các quân sĩ như thế nào trước khi hy sinh?
Trả lời:


Cụ Phan và nghĩa quân về tới núi Quạt vào ngày 12 tháng 10 năm Ất Mùi (1895). Tình cảnh đói, rét, ốm đau, khổ cực... đã làm cho cụ Phan và 2.700 quân sĩ kiệt sức. Lúc này cụ Phan bị bệnh lỵ rất trầm trọng. Ai nấy đều rầu buồn lo ngại, cùng nhau hầu hạ thuốc men ở bên cụ suốt ngày đêm. Các tướng thân cận có ba ông là Nguyễn Mục, Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Khai; còn gia nhân thì có phu nhân, cả hai người con trai là Phan Bá Ngọc và Phan Đình Cam, lúc này cũng ở bên giường bệnh phụ thân và cả một người cháu kêu cụ bằng chú ruột nữa.

Một ngày cụ Phan đi lỵ không biết mấy chục lần, người càng gầy, mắt càng hõm, sức càng đuối. Mệt quá, cụ nằm nhắm mắt thiếp đi. Bệnh tình ngày một nặng thêm, cụ cũng biết mình đã lâm vào cảnh thập tử nhất sinh rồi, thuốc men nhân lực không sao cứu vãn lại được nữa. Cho nên hễ thấy lúc nào trong mình hơi khỏe lại được giây lát, cụ lại gọi ông Nguyễn Quỳnh và hai ông kia ngồi gần kề bên giường để dặn dò việc quân. Cụ vừa thở hổn hển vừa nói: Tôi với các ông đồng cùng nhau khởi nghĩa đã mười năm nay, đến giờ công việc chắc không thành, mà người lại vội phải chia lìa xa cách nhau, thật đau buồn. Nhưng mà cổ nhân đã nói không sai: "Mưu việc ở người, nên việc ở trời", việc trời đã sắp đặt lỡ rồi, sức người không làm sao đổi xoay chống chọi được nữa. Nay mai tôi chết, trong đám các ông, ai liệu có thể chạy ra ngoại quốc để vừa lánh mình, vừa cầu học được càng hay. Nếu không thì sớm lo giải tán binh sĩ đi, cho họ về nhà cày cấy làm ăn, còn các ông thì sắp đặt mà ra đầu hàng bên nghịch cho xong, chớ có vọng động can qua nữa, đã không cưỡng nổi với mạng trời, lại kéo dài cảnh khổ liên lụy cho sinh dân, vô ích...

Các tướng đều bưng mặt khóc nức nở, không ai nói được câu gì. Cụ lại gọi phu nhân lại ngồi bên giường và con cháu đứng sắp hàng trước mặt mà nói: Bấy lâu tôi lo việc nước đã không xong, mà cảnh quê nỗi nhà cũng phải biến họa tơi bời, nay giữa đường lỡ dở, tôi phải bỏ mà đi, biết bao mối di hận ôm ấp trong lòng, nói càng thêm đau mà nói cũng chẳng hết. Chỉ biết là số trời đã định sao thì mình phải chịu vậy, không chống nổi mà cũng không tránh được bao giờ. Thôi thì sau này giờ nào tôi nhắm mắt rồi, mấy mẹ con cứ ra hàng phục cho được an toàn; ta biết thế nào bên nghịch cũng có lương tâm quý trọng nghĩa khí của ta, chắc không nỡ hại vợ con ta đâu mà sợ.

Phu nhân ngồi nghe, nước mắt chảy xuống ròng ròng. Bây giờ mới gạt lệ và nói: Xin ông tịnh dưỡng, may được bình phục để cho mẹ con tôi được theo hầu mãi ở trong chỗ gian nan cơ khổ tôi vẫn vui, chứ ông bỏ đi một mình, tôi còn sung sướng gì ở đời nữa...

Rồi cụ bảo người cháu tới bên dặn dò: Hễ chú nhắm mắt thì cháu dẫn thím và hai em cứ ra trước đồn Tây mà tự thú. Cháu có học, chắc biết "Chí thành chỉ đạo khả dĩ cảm nhân" (Giữ đạo rất mực thành thiệt, tất nhiên có thể cảm được lòng người), ta tin rằng người Tây không xử tàn nhẫn đâu mà lo.

Nói vừa dứt lời, cụ truyền đem bút mực lại và bảo người cháu đứng đó chép lời cụ đọc. Ai cũng nghĩ rằng cụ đọc một tờ chúc thư hay là viết thư để lại cho chính phủ bảo hộ ký thác cho vợ con. Mọi người phỏng đoán đều sai hết. Cụ đọc cho chép một bài thơ cảm khái. Bài thơ như sau:

      Nhung trường phục mạng thập canh đông,
      Võ lược y nhiên vị tấu công,
      Cùng hộ ngao thiên nan trạch nhạn,
      Phỉ đồ biến địa thượng đồn phong,
      Cửu trùng xa giá quan san ngoại,
      Tứ hải nhân dân thủy hỏa trung,
      Trách vọng dũ long ưu dũ đại,
      Tướng môn thâm tự quý anh hùng.


Dịch nôm:
      Nhung trường vâng mạng đã mười đông,
      Việc võ lôi thôi vẫn chẳng xong,
      Dân đói kêu trời vang ổ nhạn,
      Quân gian dậy đất rộn đàn ong,
      Chín trùng lận đận miền quan tái.
      Trăm họ phôi pha đám lửa nồng,
      Trách vọng càng to càng mệt nhọc,
      Tướng môn riêng hổ tiếng anh hùng.

Từ hôm đó trở đi, bệnh tình của cụ ngày càng thêm trầm trọng; thuốc men thay đổi nhiều cũng vô hiệu. Một vị danh y trong miền nghe tin cụ đau phải mạo hiểm, vất vả lắm mới lên được núi Quạt để trị bệnh cho cụ mà cũng không giảm chút nào.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:22:45 AM

Đến 8 giờ sáng ngày 28 tháng 12 năm 1895, cụ Phan mất. Trước giây phút trút hơi thở cuối cùng, cụ mở mắt nhìn quanh các tướng sĩ, hình như muốn nói điều gì nữa, nhưng hết hơi rồi không nói được, chỉ thấy hai bên khoé mắt ứa lệ, rồi nhắm nghiền. Năm ấy cụ 49 tuổi.

Các tướng sĩ như con mất cha mẹ, kêu gào khóc lóc vang dậy cả núi non. Ngày trước Cao Thắng chết, họ thương khóc một, bây giờ họ khóc thương cụ Phan tới mười. Vì cái chết của Cao Thắng đau đớn cho nghĩa binh thật, nhưng còn có hy vọng ở cụ Phan, bây giờ cụ Phan mất, nghĩa binh tuyệt vọng hẳn.

Nhiều binh sĩ cả tháng nhịn đói nằm sương, mòn hơi hết sức, cũng không cầm được nỗi đau, đến nỗi thương quá, khóc nhiều quá rồi chết luôn. Có mấy chục người thân binh tự đâm cổ chết theo chủ tướng.

Ông Nguyễn Quỳnh lo xếp đặt việc tang, không dám để chậm trễ, vì e có sự bất trắc thình lình xảy ra. Gia nhân và tướng sĩ cùng chọn ngày 16 là ngày an táng.

Tang lễ cử hành, tất nhiên là rất đơn sơ và giản dị. Duy có việc tâm liệm di thể của cụ là các tướng sĩ làm rất cẩn thận. Thay vì phải dùng quan tài như thường, tướng sĩ chặt cây gỗ vàng tâm thật lớn ở trong rừng, đem về khoét rỗng thân cây, đặt di thể trong đó, trên đậy nắp gắn lại chắc chắn.

Đúng ngày an táng, tướng sĩ sắp hàng làm lễ cử và lạy trước linh cữu, rồi rước linh cữu xuống an táng dưới chân núi Quạt. Lúc linh cữu hạ huyệt rồi, trên chỉ đắp đất bằng phẳng, chứ không đắp cao lên thành mồ. Tướng sĩ có ý định chôn cất như thế là đề phòng sợ mai sau có kẻ chỉ điểm mà mộ cụ bị khai quật lên.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:23:27 AM

Câu hỏi 27: Trình bày tóm tắt về địa bàn hoạt động của nghĩa quân?
Trả lời:


Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở vùng Hương Khê (Hà Tĩnh), nhưng địa bàn hoạt động của nghĩa quân lan rộng trong cả 4 tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình và Thanh Hóa.

Sau nhiều cuộc khởi nghĩa thất bại ở Trung Kỳ, một số văn thân và nghĩa quân lại tập hợp dưới sự chỉ huy của Phan Đình Phùng. Họ đóng quân từng địa phương để kháng chiến. Tại các miền thượng du đều rải rác có đồn trại nghĩa quân. Đồn lớn do một đề đốc, đồn nhỏ do một lãnh binh chỉ huy. Địa bàn chính của nghĩa quân là Nghệ An và Hà Tĩnh. Đó là một vùng núi non hiểm trở. Đời Trần đã dùng vùng này chống quân Nguyên cũng như Lê Lợi đã thủ hiểm ở đây 6 năm, sau tiến đánh quân Minh thắng lợi. Phía đông là dãy núi Thiên Nhận, phía bắc là những núi non vùng Thanh Hóa, phía nam là dãy Trương Vật chạy đến dãy Hoành Sơn, phía tây là dãy Trường Sơn còn gọi là Giăng Màn. Lưu vực sông Lam cùng các phụ lưu sông Lam chạy dài từ bắc đến nam là vùng Ngàn Phố (Hương Sơn) và Ngàn Sâu (Hương Khê). Đi về phía nam là Tuyên Hoá (Quảng Bình) rồi vào mãi Quảng Trị, Thừa Thiên. Phía bắc thông với Thanh Hoá và Hòa Bình.

Khu Ngàn Trươi có dãy núi Vụ Quang ở Hương Khê là khu trung tâm của nghĩa quân. Đó là một vùng rừng núi thật quanh co, hiểm trở. Ba con đường độc đạo, khúc khuỷu có thể từ Ngàn Trươi ra tỉnh Hà Tĩnh, thông sang Lào, sang Xiêm và đến dãy núi Đại Hàm. Những con đường này cũng rất quanh co khúc khuỷu, khi thì leo lên núi cao, có khi men theo những khu rừng lầy lội, thậm chí nếu không biết đường đi sẽ lạc vào những khu rừng lầy lội có bùn sâu tới bụng và nếu không thông thạo địa hình khi vào rồi lại không biết đường ra. Đại đồn nghĩa quân đóng trên núi Vụ Quang. Từ Vụ Quang đến dãy núi Trùng Khê, Trí Khê dài gần một trăm dặm, đồn trại kiên cố của nghĩa quân dựng lên liên tiếp. Đồn trại đều dựa theo thế núi và đặt gần sông hay suối để vừa tiện chiến đấu vừa tiện ăn uống, chuyển vận.

Có núi cao, rừng rậm, sông ngòi, khe suối che chở, nghĩa quân có thêm điều kiện chiến đấu, lúc ẩn lúc hiện; lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh. Chính vì thế mà cuộc khởi nghĩa duy trì được thời gian dài và làm cho quân Pháp nhiều phen thua đậm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:24:26 AM

Câu hỏi 28: Cho biết đôi nét về xưởng vũ khí của nghĩa quân Hương Khê?
Trả lời:


Phan Đình Phùng và các tướng lĩnh nhận thấy rằng muốn đương đầu và chiến thắng quân thù không những cần lòng hy sinh dũng cảm giết giặc mà còn phải có những lực lượng vật chất khả quan, có lương thực và nhất là vũ khí. Trong việc trang bị kỹ thuật cho nghĩa quân của các phong trào kháng Pháp hồi cuối thế kỷ XIX thì cuộc khởi nghĩa Hương Khê đã có những đóng góp lớn lao. Đó là việc chế tạo được súng trường kiểu 1874 của Pháp.

Đại bản doanh của cuộc khởi nghĩa được đặt ở Vụ Quang và bao gồm nhiều khu căn cứ. Khu căn cứ Vụ Quang - Ngàn Trươi gồm nhiều đồn lũy. Khu đồn Cồn Bội cách thành 18km về phía Đông Bắc với các lò rèn vũ khí, hầm chứa vũ khí, lương thực. Khu căn cứ Thượng Bồng, Hạ Bồng gồm một hệ thống đồn lũy, trong đó có rú Cồi (Khôi Sơn), rú Cọng (Điếm Sơn). Tại đây có một số lò rèn vũ khí do ông Phó Bích làm hiệp quản chỉ huy. Các lò rèn đều bố trí gần các khe suối để bảo đảm bí mật, như ở các khe Nhà Trận, rú Sui, rú Công, rú Cồi, v.v..., quân số làm việc rèn này lên đến hàng trăm người. Lò rèn Xá Lễ là một khu lò rèn lớn cung cấp vũ khí cho nghĩa quân. Theo các cụ phụ lão địa phương cho biết thì hồi nghĩa quân dựng lò rèn tại đây, khu vực này còn rất rậm rạp, tại chỗ có lúc tập trung từ 200 đến 300 thợ, có đến 30 gian lán trại dựng dọc theo các khe suối quanh vùng và các hiệp thợ thay phiên nhau làm việc từ tờ mờ sáng cho đến tối. Khu căn cứ Trùng Khê, Trí Khê cũng có cả một hệ thống đồn trại, bãi tập, xưởng vũ khí.

Đồng thời với việc xây dựng và phát triển các khu căn cứ, nghĩa quân thấy trước hết là phải làm thế nào có súng mẫu để theo đó mà chế súng mới, mua thì chắc chắn Pháp không bán, cho nên phải tổ chức cướp súng. Được tin có một toán lính đi từ Nghệ An lên đồn Phố Châu gồm hai sĩ quan Pháp và 15 lính tập mang theo tiền lương và có súng, con đường này lại xuyên qua nhiều khu rừng rậm rất thuận tiện cho việc phục kích, Cao Thắng đã trực tiếp chỉ huy một toán nghĩa quân phục kích cướp được 17 khẩu súng, hai hòm đạn và tiền bạc. Đây là loại súng mới với cỡ nòng 11mm, bắn bằng thuốc đạn không khói. Cao Thắng lên vùng Thượng Bồng mời Lê Phác (tức Kiểm Phất, người xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ) và Lê Quyên (tức Đội Quyên, người làng Yên Hồ, huyện Đức Thọ) và một số thợ rèn giỏi của vùng Nghệ Tĩnh cùng nghiên cứu khẩu súng của giặc để chế tạo. Những người thợ thủ công đã phát huy hết trí sáng tạo của mình lấy phương tiện thô sơ để làm ra vũ khí hiện đại. Để chế tạo bộ máy cò phức tạp đòi hỏi kỹ thuật cao, người ta tháo một khẩu súng Pháp ra từng bộ phận và rèn theo mẫu đó, xong lắp vào súng bắn thử, nếu được thì cứ theo mẫu mà làm, chưa được thì phải nghiên cứu sửa chữa lại bằng được mới thôi. Nòng súng là một bộ phận yêu cầu hợp kim cao, người ta có sáng kiến là uốn bằng sắt và củng cố thêm bằng nhiều vòng sắt ở bầu nòng cho chắc thêm và để khi bắn khỏi bị vỡ. Lò xo kim hỏa cần thép cứng và dẻo đã được nghĩa quân thay bằng loại gọng ô. Mọi bộ phận nghiên cứu xong, Cao Thắng đưa lên vùng Lệ Động hơn 300 thợ rèn của hai làng Trung Lương và Vân Chàng, 30 thợ gỗ và thợ mộc ở làng Xa Lang để làm báng súng và một số thợ bạc để làm vỏ đạn, một số thợ đúc đồng để đúc đạn. Cao Thắng tổ chức sản xuất theo lối dây chuyền và chuyên môn hóa. Về nguyên liệu, ông cho người đi khắp các làng quê, mua hoặc quyên tất cả những thứ như nồi đồng, mâm đồng, sắt cũ, sắt vụn, cày cuốc hư hỏng của nhân dân đem về căn cứ đúc súng. Đồng bào lương và giáo đã nhiệt liệt hưởng ứng, có người bớt cả đồ đồng đang dùng mang đến cho nghĩa quân...

Ngoài việc sản xuất súng, ông còn nghĩ cách chế thuốc súng theo kiểu thủ công, gồm than xoan tán nhỏ và diêm tiêu để nhồi vào đạn hoặc vượt rừng núi qua đường Lào sang tận Xiêm La (tức Thái Lan ngày nay) mua thuốc súng. Sau nhiều tháng trời lao động quên mình vì nghĩa lớn, Cao Thắng và những người thợ rèn ở vùng Nghệ Tĩnh đã tự chế được gần 350 khẩu súng kiểu 1874, kỹ thuật không khác gì nhiều so với của địch. Thành công này đã làm cho nghĩa quân phấn khởi và tin tưởng ở thắng lợi của mình.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:25:04 AM

Theo nguồn tài liệu của thực dân Pháp cho thấy thực dân Pháp cũng rất quan tâm chú ý đến trang thiết bị quân sự của nghĩa quân Hương Khê, nên ngay từ đầu thế kỷ XX, Đại úy Ch. Gosselin trong quyển sách L’Empire d'Annam (Đế quốc An Nam) đã viết về thành tựu này như sau: "Ông (tức Phan Đình Phùng) đã biết đào tạo các chiến binh của mình theo cung cách kỷ luật và hàng binh theo kiểu châu Âu, đó là điều mà chúng ta chưa bao giờ nhận thấy từ trước cho đến lúc đó, trang phục cho quân lính bằng những bộ quần áo tương tự như những binh lính người bản xứ và cuối cùng là trang bị cho các chiến binh bằng các khẩu súng kiểu 1874, những khẩu súng này được sản xuất bí mật tại những địa điểm mà chúng ta không phát hiện ra được và với một khối lượng rất nhiều. Tôi đã mang về Pháp vài khẩu súng này, những khẩu súng này giống về tất cả mọi phương diện với những khẩu súng do các công binh xưởng của chúng ta sản xuất và đã làm cho các sĩ quan pháo binh mà tôi đưa cho họ xem phải hết sức ngạc nhiên. Những khẩu súng này chỉ khác với những khẩu súng của chúng ta về hai điểm đó là lò xo xoáy ốc tôi chưa đủ và nòng súng không có xẻ rãnh, cho nên đạn đi không xa. Tuy nhiên những khẩu súng này đã bắn chết rất nhiều binh lính và sĩ quan người Âu và binh lính người bản xứ".

Gần đây trong luận án tiến sĩ quốc gia nhan đề "Les contacts Française - Vietnamiens en Annam et au Tonkin de 1885 à 1896” (Những sự tiếp xúc Pháp - Việt ở Trung và Bắc Kỳ từ 1885 tới 1896), Ch. Fourniau đã cho công bố nhiều bản báo cáo đương thời của bọn thực dân Pháp đã tham gia đàn áp cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Thực dân Pháp có mô tả một số doanh trại của nghĩa quân mà chúng chiếm được: "Doanh trại của Phan Đình Phùng bao gồm nhiều dãy nhà bằng gỗ được xây dựng rất tốt (những chỗ ở cho các tướng lãnh và trại lính chưa đến 300 người) và một xưởng vũ khí khá rộng có thể chứa đến 30 công nhân". Cũng toán lính này phát hiện ở một chỗ không xa một doanh trại khá, gồm 12 căn nhà, chứa được từ 150 đến 200 người. Người ta tìm thấy nhiều lò rèn và những dụng cụ để làm vỏ đạn và 4.000 khẩu phần gạo mà nghĩa quân bỏ lại khi rút lui.

Báo cáo của Le Normand ngày 11 tháng 5 năm 1895 cho biết, thời gian đầu, cuộc khởi nghĩa Hương Khê cũng giống như các cuộc khởi nghĩa khác trong nước về mặt trang bị kỹ thuật, vũ khí của nghĩa quân là bạch khí, nghĩa là chỉ gồm gươm, giáo mác, mã tấu, v.v... chưa có vũ khí hiện đại. Từ 1890, nghĩa quân đã tổ chức được một cuộc phục kích thành công, thu được một tá súng trường. Phấn khởi trước thành tích, sau đó nghĩa quân đã liên tiếp tổ chức nhiều cuộc phục kích nữa để cướp súng, những trận sau đó Đề Mậu và Đề Niên chỉ huy. Theo báo cáo của Công sứ Nghệ Tĩnh Duvillier, ngày 17 tháng 12 năm 1895 những người thợ làm những công đoạn khó khăn trong việc chế tạo súng đã được nghĩa quân trả công cao hơn rất nhiều so với mức bình thường ở ngoài xã hội.

Về những người thợ thủ công này, báo cáo của Le Normand viết tiếp: "Phan Đình Phùng đã sử dụng những người quê ở La Sơn đã từng là người làm vũ khí ở trên các pháo hạm hoặc trong các xưởng của hải quân, hoặc là thợ máy tại các hãng Daniel Chatmont... Những người này lại tuyển mộ ở Hà Nội những người làm vũ khí khác người bản xứ. Sau đó Phan Đình Phùng mới trưng dụng những người thợ rèn, thợ bạc, thợ mộc và thợ gỗ để làm ra súng. Việc sản xuất này được thúc đẩy nhanh chóng và chẳng bao lâu các toán quân đều được trang bị những vũ khí lợi hại. Những xưởng sản xuất được thiết lập trong những kho tại dãy núi Ngàn Trươi và Ngàn Phố; những người làm vũ khí và thợ bạc đã chế ra những quy lát từ chất thép được nấu theo phương pháp Catalane - một phương pháp nấu thép từ quặng sắt mà không phải trải qua giai đoạn gang. Họ cũng sản xuất các bộ phận bằng đồng và những vỏ đạn bằng đồng do họ trưng dụng được từ các mâm và nồi đồng ở các làng quê. Nòng súng được đúc trong núi, hoặc tại các làng thợ rèn, chẳng hạn như ở Vân Chàng. Báng súng được chuẩn bị ở mỗi nơi một ít và ở khắp mọi nơi".

Qua những nguồn tài liệu trên, chúng ta thấy điểm nổi bật trong thành tựu mà nghĩa quân Hương Khê đã đạt được là chế tạo thành công được súng trường kiểu 1874, về mặt chất lượng gần đạt tiêu chuẩn quốc tế và về mặt số lượng lên đến hàng ngàn khẩu, một số lượng lớn lao mà không một cuộc khởi nghĩa nào khác vào thế kỷ XIX cũng như sau này đạt được. Điều này đã khiến cho nghĩa quân Hương Khê không ngừng lớn mạnh và đủ sức đánh giặc lâu dài. Người ta cũng thấy mặc dù chưa có chính quyền trong tay, phương tiện vật chất thiếu thốn nghèo nàn hầu như không có gì, trình độ hiểu biết về khoa học kỹ thuật hiện đại lại thấp nhưng với tinh thần yêu nước nồng nàn xả thân vì nghĩa lớn, nghĩa quân Hương Khê đã dám lao vào tấn công một trận tuyến mới, đó là lãnh vực khoa học kỹ thuật tiên tiến và đã thu được một số thành tựu rất đáng tự hào và khâm phục. Đặc biệt là Cao Thắng đã nêu một tấm gương về tinh thần sáng tạo kỹ thuật, biết dùng và đối xử đúng đắn với thợ giỏi, khắc phục khó khăn, tổ chức dây chuyền sản xuất theo kiểu hiện đại. Tất nhiên lúc đó chưa thể có được những thành tựu ngang với kẻ địch. Nhưng dù sao điều này cũng đã nói lên tài trí thông minh sáng tạo, vượt khó khăn của nghĩa quân Hương Khê cũng như của dân tộc Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:26:02 AM

Câu hỏi 29: Trình bày đôi nét về chiến lược và chiến thuật của Phan Đình Phùng được áp dụng trong cuộc khởi nghĩa Hương Khê?
Trả lời:


Phan Đình Phùng là văn thân, trí thức yêu nước. Tài năng của ông được kết tinh bởi: Ý chí quyết tâm chống giặc cứu nước; đức độ trong đời thường cùng nghệ thuât tập hợp đoàn kết lực lượng; kế dùng người và cách đánh giặc khôn ngoan, mưu lược...

Phan Đình Phùng xác định muốn kháng chiến phải có căn cứ địa làm chỗ đứng chân để triệu tập binh mã, huấn luyện quân sĩ, rèn đúc vũ khí, tích trữ lương thực. Phan Đình Phùng đã chọn dãy núi Vụ Quang làm căn cứ đóng đại đồn. Núi Vụ Quang còn gọi là Ngàn Trươi, là nơi hiểm hóc, địa thế tiện lợi cho việc dùng binh, mặt trước nhìn ra tỉnh thành Hà Tĩnh, mặt sau là rừng núi, có đường qua Lào, Xiêm; hơn thế lại có đường thông với dãy núi hiểm hóc Đại Hàm. Các đồn trú của nghĩa binh rất tiện cho việc chống giữ và chuyên chở lương thực của bốn tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Đời Trần, Lê đã từng chọn nơi đây thủ hiểm để chống quân Nguyên, Minh. Dưới quyền Phan Đình Phùng, người trực tiếp thay ông chỉ huy nghĩa quân là Cao Thắng - vừa giỏi võ nghệ vừa lắm cơ mưu. Sự nghiệp chống Pháp của cụ Phan được rạng rỡ, một phần không nhỏ là nhờ Cao Thắng, người không chỉ tài chỉ huy mà còn giỏi chế tạo vũ khí.

Phan Đình Phùng rất chú trọng việc xây dựng căn cứ để thực hành kháng chiến lâu dài, vì thế ông đã chọn căn cứ ở những vùng rừng núi hiểm trở, địch khó bao vây và tiến công quân ta, nhưng quân ta vẫn có thể tổ chức được lực lượng chiến đấu lâu dài, thực hiện được cả hai việc tiến, thoái. Về mặt quân sự mà nói thì núi Đại Hàm là một rặng núi hiểm hóc: sơn mạch liên tiếp nhau và đột ngột, khuất khúc, cứ mỗi trái núi có một khe suối, hai bên bờ khe nào cũng có lau sậy mọc lên cao quá đầu người. Đường lối đi vào rất khó khăn hiểm hóc, nếu ai không thuộc thì không tìm được đường vào, hay vào rồi mà không thuộc địa thế cũng không biết đường ra. Căn cứ kháng chiến Phan Đình Phùng không đơn độc ở một khu vực mà là sự liên kết của nhiều vùng thuộc bốn tỉnh miền Trung, ít nhiều đều có tác động qua lại với phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX. Từ Vụ Quang đến Trùng Khê, Trí Khê dài đến gần một trăm dặm đều có đồn trại của nghĩa quân liên tiếp dựng lên. Đồn trại dựng toàn bằng cây bền chắc, lấy ngay ở trong rừng, dựa theo thế núi, thế nước mà đóng để tiện chống giữ, việc ăn uống cũng như việc chuyên chở binh gia, lương thực đi lại. Rộng ra đến bốn tỉnh miền Trung là miền thượng du sơn cước đều rải rác có đồn trại nghĩa binh. Đồn lớn thì bố trí đề đốc đóng, còn đồn nhỏ thì một lãnh binh.

Phan Đình Phùng chia nghĩa quân thông thuộc tay mình ra 15 quân thứ, mỗi quân thứ một vùng, nhiều hay ít quân tùy thuộc vào địa thế trong mưu đồ chiến lược chung. Mỗi quân thứ tuy là căn cứ riêng của các văn thân võ tướng nhưng đều dưới quyền chỉ huy của cụ Phan tại núi Vụ Quang - đó là chiến khu trung tâm chỉ huy cuộc kháng chiến, lực lượng quân sự chủ yếu tập trung ở chiến khu này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:27:23 AM

Vấn đề lương thực của nghĩa quân được Phan Đình Phùng rất coi trọng. Cụ Phan đã huy động không chỉ đủ mà còn tổ chức dự trữ lương thực với quy mô lớn, tỉ mỉ, khoa học. Với chính sách gần dân, thương dân, công tác dân vận thuyết phục, thu thuế, nộp lương thực có hạn độ theo hoàn cảnh, chính vì thế mà nhân dân bốn tỉnh đã tích cực ủng hộ quân khởi nghĩa với mức cao nhất. Việc hoạch định chiến lược trong xây dựng căn cứ lòng dân đã không chỉ bảo toàn lực lượng mà còn đoàn kết lực lượng khởi nghĩa trên toàn quốc, không chỉ miền Trung mà còn vươn ra Bắc, vào Nam... chứng tỏ tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Phan Đình Phùng rất rộng và sâu xa. Nếu như tư tưởng ấy, mong muốn ấy của cụ Phan được thực hiện bằng sự liên kết thống nhất sức mạnh của phong trào kháng Pháp trong cả nước thì có thể hiệu quả của phong trào Cần Vương còn lớn hơn rất nhiều.

Qua các tài liệu lịch sử để lại, tuy không nhiều, nhưng cũng đủ để chứng minh cho cách dùng binh - tổ chức chiến đấu của cụ Phan. Chiến tranh du kích, đánh vận động, phục kích, nhỏ lẻ, đánh ban đêm quần nhau liên tục nhằm tiêu hao lực lượng quân Pháp, chờ thời cơ tổ chức đánh lớn vẫn là những hình thức chiến thuật phổ biến được cụ Phan vận dụng. Đó là một trong những cách đánh khá độc đáo mang tính truyền thống và hiện đại của quân ít đánh quân đông, quân yếu đánh quân mạnh, nhằm bảo toàn lực lượng, khoét sâu điểm yếu của quân Pháp hòng đưa khởi nghĩa đi tới thắng lợi. Ở đâu hoặc đến đâu nghĩa quân đều dựa vào dân tổ chức kháng chiến ở đó. Nhờ chiến thuật liên tục cơ động, đánh vận động mà nghĩa quân đã bảo toàn được lực lượng trong thời gian khá dài trước sự bao vây và tiến công liên tục với quy mô lớn của thực dân Pháp. Căn cứ kháng chiến được trải dài, rộng trên một địa bàn lãnh thổ rộng lớn, việc tổ chức từng quân thứ có thể độc lập chủ động tác chiến, kiên quyết kháng chiến để hỗ trợ nhau, phối hợp với nhau cùng kháng chiến làm cho quân thù không thể tập trung tiêu diệt nghĩa quân một cách nhanh chóng đã được khẳng định ở giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến. "Từ ngày 1 tháng 1 năm 1896 đến 14 tháng 5 năm 1896, mặc dầu chúng đã buộc được 144 tướng sĩ nghĩa quân phải ra hàng và bắt giết một số khác, nhưng một điều rõ ràng mà chúng phải công nhận là chúng vẫn không tiêu diệt nổi ý chí tiếp tục đề kháng của nghĩa quân Hương Khê"1.

Sự tồn tại của phong trào khởi nghĩa Phan Đình Phùng hơn 10 năm trời dựa vào nghệ thuật xây dựng căn cứ, tích trữ lương thực, phối hợp tác chiến trong nước, thậm chí cả ngoài nước đã khẳng định tư tưởng kháng chiến trường kỳ, dựa vào địa hình hiểm trở của đất nước, lòng yêu nước, quyết tâm kháng chiến của nhân dân là chính xác và phù hợp với các điều kiện khách quan và chủ quan lúc đó. Cũng như lãnh tụ của các cuộc khởi nghĩa đương thời, chúng ta có thể tìm thấy tri thức quân sự ở Phan Đình Phùng rất dồi dào, sâu sắc, trình độ mưu lược cao. Có lẽ do vậy mà so với các cuộc khởi nghĩa khác, quy mô tầm vóc của khởi nghĩa Phan Đình Phùng cũng có phần nổi trội, thanh thế ảnh hưởng của nghĩa quân Phan Đình Phùng khá lớn, thuyết phục được nhiều lãnh binh khác về tụ hội dưới ngọn cờ khởi nghĩa của cụ Phan.
_____________________________________
1. Mai Hanh, Nghiên cứu lịch sử, số 85, tháng 4 năm 1966.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:28:27 AM

Câu hỏi 30: Hãy phân tích, nhận xét đánh giá về căn cứ kháng chiến của nghĩa quân Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo?
Trả lời:


Cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo được nhiều người biết đến và được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, quân sự quan tâm. Sự quan tâm đặc biệt ấy không phải chỉ vì cuộc khởi nghĩa do một sĩ phu có tên tuổi lãnh đạo hay là cuộc khởi nghĩa kéo dài nhất (10 năm từ 1885 đến 1895) trong phong trào Cần Vương kháng Pháp cuối thế kỷ XIX mà còn là bởi nó để lại một bài học vô giá. Đó là vấn đề chọn và xây dựng căn cứ kháng chiến.

Khi đã tập hợp được lực lượng và trang bị vũ khí của nghĩa quân lớn mạnh, Phan Đình Phùng cùng với bộ tham mưu của mình đã chọn vùng thượng du hai huyện Hương Sơn và Hương Khê làm căn cứ kháng chiến và vùng thượng du Nghệ An - Hà Tĩnh làm địa bàn hoạt động chính bao quanh khu căn cứ. Đặc biệt là khu Ngàn Trươi có dãy núi Vụ Quang là khu trung tâm của nghĩa quân, có địa hình rất thuận lợi kể cả trong tiến công cũng như phòng ngự; đồng thời tổ chức cho các quân thứ xây dựng căn cứ kháng chiến, tiếp nhận lương thực, mua sắm và tự tạo vũ khí... sẵn sàng đối phó với địch trong mọi tình huống.

Từ những đặc điểm trên, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét, đánh giá căn cứ của nghĩa quân Hương Khê như sau:

- Việc hình thành vùng căn cứ địa miền tây Hà Tĩnh là bước phát triển tất yếu của cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo nổ ra năm 1885 không phải tại Hương Khê mà tại làng Đông Thái huyện La Sơn (nay là xã Tùng Anh, huyện Đức Thọ). Lúc đầu chỉ có vài trăm nghĩa quân đứng chân tại làng. Đầu năm 1886, mặc dù hợp thêm nghĩa quân của Lê Ninh tại Bạch Sơn (thuộc dãy Đại Hàm), nhưng lực lương nghĩa quân vẫn chưa được là bao, nên khi cụ Phan ra Bắc, Cao Thắng đã đưa nghĩa quân về làng để dựa vào dân phát triển lực lượng. Như vậy thời gian đầu do lực lượng quá nhỏ, địch chưa để ý đến, nghĩa quân còn có thể dựa vào dân làng để phát triển được lực lượng, xây dựng thực lực. Nhưng sau hai năm xây dựng và phát triển, lực lượng nghĩa quân đã khá mạnh, thanh thế nghĩa quân đã khá lớn và lại càng lớn mạnh khi cụ Phan từ Bắc trở về quy tụ được các cuộc khởi nghĩa trong vùng. Một mặt thì kẻ thù đã để mắt và tìm cách đàn áp, một mặt nghĩa quân cần có chỗ đứng để tiến hành cuộc chiến tranh lâu dài nếu không sớm muộn cũng bị địch tiêu diệt, vì vậy sự ra đời của căn cứ địa là đòi hỏi khách quan và tất yếu của cuộc khởi nghĩa.

- Chúng ta đều biết trong khởi nghĩa vũ trang nói riêng và trong chiến tranh giải phóng nói chung, căn cứ địa có tầm quan trọng mang tính chiến lược. Nó trở thành điều kiện sống còn khi cuộc khởi nghĩa mới nổ ra và cả khi tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch còn quá chênh lệch nghiêng hẳn về phía địch. Bởi vậy mà căn cứ địa là chỗ đứng chân của nghĩa quân để tập hợp, phát triển lực lượng tiến hành chiến tranh, về mặt này nó còn là nơi dự trữ cung cấp hậu cần cho nghĩa quân, đồng thời căn cứ địa cũng là nơi bảo toàn lực lượng là bàn đạp để tấn công kẻ thù. Không có căn cứ địa vững chắc thì không thể tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài để cuối cùng giành thắng lợi. Lênin đã từng nói: "Trong chiến tranh ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, ai có nhiều nguồn lực lượng hơn, ai kiên trì đi sâu vào quần chúng nhân dân hơn thì người đó thu được thắng lợi".

Một căn cứ địa vững chắc ít nhất phải đạt được hai yêu cầu cơ bản là địa lợi và nhân hòa. Địa lợi tức là nơi có vị trí, địa hình có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Nhân hòa tức là nơi mà đại đa số nhân dân được giác ngộ, không sợ hy sinh, hết lòng ủng hộ và tham gia kháng chiến. Trong khởi nghĩa vũ trang thông thường ở giai đoạn đầu bao giờ lực lượng của nghĩa quân cũng yếu hơn địch rất nhiều. Trong điều kiện hoàn cảnh như vậy, kinh nghiệm của ông cha ta là chọn những nơi hiểm yếu, nơi rừng núi hiểm trở làm căn cứ địa và khởi nghĩa vũ trang ở Việt Nam đã chứng minh rằng rừng núi bao giờ cũng là căn cứ địa tốt nhất.

Là một nhà khoa bảng yêu nước như Phan Đình Phùng, một nhà quân sự tài giỏi như Cao Thắng, các ông hiểu rõ dân tộc ta, cha ông ta đã lợi dụng rừng núi như thế nào để đánh giặc. Hơn nữa những kinh nghiệm của các cuộc khởi nghĩa như Ba Đình, Hùng Lĩnh, Bãi Sậy và đặc biệt là những cuộc khởi nghĩa ngay chính trên quê hương đã giúp các ông nhận ra rằng với một kẻ thù mạnh, vũ khí tối tân như thực dân Pháp thì tốt hơn hết là áp dụng chiến thuật thủ hiểm ở rừng núi để bảo toàn, phát triển lực lượng, thực hiện chiến tranh du kích, phòng ngự kết hợp với tấn công tiêu hao và tiêu diệt sinh lực địch. Và các ông cũng nhanh chóng nhận ra rằng: vùng rừng núi Hương Sơn, Hương Khê với địa hình hiểm trở sẽ là chỗ đứng chân có lợi cho nghĩa quân, hạn chế thế mạnh của địch, hơn nữa nhân dân ở đây vốn giàu truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm. Hiện thời vùng này đang là trung tâm sôi động nhất của phong trào kháng Pháp. Nếu làm chủ được nó nghĩa quân sẽ dễ dàng phát triển lực lượng không những xuống vùng đồng bằng Nghệ Tĩnh, liên kết phong trào khởi nghĩa trong vùng mà còn có thể phát triển ra địa bàn Thanh Hóa, Ninh Bình, vào Quảng Bình, Quảng Trị... Và trong trường hợp nguy cấp có thể rút qua Lào bảo toàn lực lượng. Có lẽ từ sự nhìn xa trông rộng ấy mà các nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã quyết định chọn vùng này làm căn cứ của nghĩa quân. Từ nhận xét ấy chúng ta có thể tạm đi đến kết luận: Việc xây dựng căn cứ địa ở vùng rừng núi Hương Khê, Hương Sơn là sự kết hợp giữa nghệ thuật quân sự dân tộc với tầm nhìn chiến lược của các nhà lãnh đạo khởi nghĩa Hương Khê. Thực tế đã chứng minh rằng: căn cứ địa đã trở thành tấm lá chắn che chở bảo vệ nghĩa quân, ngăn bước tiến của giặc Pháp trong suốt gần 10 năm kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:28:56 AM

- Xây dựng càn cứ địa không những hiểu theo nghĩa thông thường là dựa vào thế hiểm yếu để phòng thủ mà còn phải xây dựng cho mình một hệ thống công sự vững chắc khoa học để việc phòng thủ có hiệu quả hơn. Trong khu căn cứ của mình, nghĩa quân Hương Khê đã xây dựng được một hệ thống đồn trại, công sự khá vững chắc và kiên cố theo kiểu phòng tuyến nhưng lại triệt để lợi dụng địa vật như rừng, núi, sông, suối để vừa tiện sinh hoạt vừa phù hợp với cách đánh phục kích, khi vận động chiến linh hoạt của mình. Trong thực tế chiến đấu và ngay cả những trận chống càn ở khu căn cứ chúng ta rất ít thấy nghĩa quân cố thủ trong công sự để chống trả mà thường lợi dụng địa hình địa vật để cơ động tiêu diệt địch. Chính vì vậy mà qua nhiều đợt càn quét mặc dù bị thiệt hại nặng nề giặc Pháp vẫn không thể tiêu diệt được nghĩa quân. Trong căn cứ từ khu đại bản doanh Ngàn Trươi - Vụ Quang, lực lượng nghĩa quân được bố trí trên một diện tích rộng khiến địch không thể tập trung lực lượng để tiêu diệt, mà trái lại khi cần có thể hỗ trợ cho nhau. Trái lại khu đại bản doanh lại được xây dựng như một cụm cứ điểm liên hoàn mạnh để bảo vệ cơ quan đầu não cuộc khởi nghĩa, bảo vệ khu hậu cần. Tại khu này ngoài những đồn trại ở các phòng tuyến xung quanh, riêng đại đồn Vụ Quang lúc nào cũng có từ 500 quân trở lên luôn sẵn sàng chiến đấu. Đây vừa là lực lượng mạnh để bảo vệ trung tâm, vừa là lực lượng cơ động chiến đấu. Những điều trên có thể cho phép chúng ta khẳng định việc xây dựng căn cứ địa và bố trí ở căn cứ thể hiện rõ tư tưởng chủ động tiến công của nghĩa quân Hương Khê, nếu ở một khía cạnh nào đó mang tính chất phòng ngự thì cũng không phải là phòng ngự bị động đơn thuần, tiêu cực mà là phòng ngự trên thế tiến công. Đây là sự thể hiện sinh động của đường lối nghệ thuật quân sự chủ động, tấn công của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

- Cuộc chiến tranh giải phóng là cuộc chiến tranh trường kỳ, đòi hỏi phải có căn cứ địa vững chắc, nghĩa là ngoài địa hình thuận lợi còn phải có sự tiếp tế thường xuyên về nhân tài vật lực. Muốn vậy phải có nhân dân nhiệt tình ủng hộ và phải có đường tiếp tế thuận lợi. Căn cứ của nghĩa quân Hương Khê không những được nhân dân Hương Khê, Hương Sơn mà cả nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh hết lòng ủng hộ. Họ tự nguyện đóng thuế cho nghĩa quân (1 đồng bạc một mẫu) trong lúc đang khốn khổ vì phải chịu chế độ sưu thuế nặng nề của thực dân Pháp. Họ đem cả mâm thau, nồi đồng để giúp nghĩa quân chế đạn, đúc súng.

Những người không có của cải thì lên sơn trại giúp nghĩa quân xay thóc giã gạo. Hàng trăm thợ rèn từ khắp nơi kéo về giúp nghĩa quân chế tạo vũ khí. Ngay cả những lúc giặc Pháp đàn áp, khủng bố dã man, những người ủng hộ hoặc bị chúng nghi là ủng hộ nghĩa quân họ vẫn không nản lòng, nhiều gia đình vẫn dám cho nghĩa quân trú tại nhà mình, che chở cho nghĩa quân mỗi khi bị càn quét. Vừa được nhân dân hết lòng ủng hộ, vừa trải dài trên diện rộng thuận tiện cho việc tiếp tế, chính vì vậy mà trại căn cứ nghĩa quân không những có đầy đủ lương ăn, áo mặc, vũ khí mà còn dự trữ để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài mặc dầu có lúc nghĩa quân lên đến hàng ngàn người, trong khi đó thực dân Pháp đã dựng hàng chục đồn bốt để ngăn chặn. Một điểm đáng lưu ý là không những thuận lợi cho việc tiếp tế mà căn cứ nghĩa quân còn đường thông sang Lào từ đó qua Xiêm, điều này đã giúp nghĩa quân rất nhiều trong việc mua sắm vũ khí. Chính nhờ vào sự giúp đỡ của nhân dân, vào căn cứ địa mà nghĩa quân mới có thể duy trì cuộc chiến đấu kéo dài suốt hơn mười năm trời. Vì vậy căn cứ địa của nghĩa quân Hương Khê không những là sự thể hiện tư tưởng dựa vào dân để chiến đấu của các lãnh tụ nghĩa quân mà còn là sự thể hiện cao độ của tinh thần yêu nước, của truyền thống anh hùng, bất khuất chống giặc ngoại xâm của nhân dân Hương Sơn, Hương Khê nói riêng và Thanh - Nghệ - Tĩnh nói chung.

- Điều khác biệt với nhiều cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương kháng Pháp cuối thế kỷ XIX là nghĩa quân Hương Khê không chỉ xây dựng cho mình một căn cứ địa duy nhất (như vậy rất dễ rơi vào thế cô lập) mà đồng thời với việc xây dựng căn cứ chính ở núi rừng Hương Sơn, Hương Khê, nghĩa quân còn xây dựng nhiều căn cứ địa tại chỗ, mỗi quân thứ có một căn cứ của mình. Những căn cứ này được liên lạc thường xuyên với căn cứ chính qua những nghĩa quân làm nhiệm vụ liên lạc tại đại bản doanh. Nhờ vậy mà hoạt động của toàn bộ nghĩa quân luôn có sự thống nhất hỗ trợ cho nhau, phân tán lực lượng của địch, khiến cho nhiều trận càn lớn của địch phải bỏ dở. Đây là nét độc đáo, sáng tạo của nghĩa quân trong nghệ thuật xây dựng căn cứ địa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:29:15 AM

Mặc dù vậy, việc xây dựng căn cứ địa của nghĩa quân Hương Khê vẫn còn có những hạn chế nhất định bởi tầm nhìn chiến lược của các nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Bởi căn cứ địa của nghĩa quân được xây dựng ở vùng rừng núi Hương Khê và Hương Sơn, một vùng núi non hiểm trở, dân cư thưa thớt có thể nói hầu như không có, việc tiếp tế tại chỗ không có mà hầu như từ bên ngoài vào. Nói là dựa vào dân nhưng thực tế là dân ngoài căn cứ vì vậy khi địch thực hiện âm mưu bao vây cắt đường tiêp tế thì lập tức nghĩa quân gặp khó khăn khó tránh khỏi bị tiêu diệt. Trong trường hợp ấy nghĩa quân phải tổ chức sản xuất tại chỗ nhưng nghĩa quân lại không làm được việc đó. Thực tế đã chứng minh khi thực dân Pháp tách được dân ra khỏi nghĩa quân thì nghĩa quân dễ dàng tan rã.

Việc bố trí lực lượng nghĩa quân trong căn cứ lỏng, bị dàn trải tuy phân tán được lực lượng địch nhưng nếu địch tập trung lực lượng lại dễ bị tiêu diệt và nhất là không có điều kiện mở những cuộc tấn công có quy mô lớn. Thực tế trận đánh của nghĩa quân chỉ là những trận đánh nhỏ ở quy mô chiến thuật, chưa có trận nào mang ý nghĩa chiến lược.

Khi cuộc khởi nghĩa đang trên đà phát triển, nghĩa quân chỉ ham đánh để tiêu hao, tiêu diệt địch mà không chú trọng đến việc mở rộng căn cứ địa xuống vùng có dân, nhất là xuống vùng đồng bằng nơi đông người nhiều của, phát động quần chúng biến khởi nghĩa vũ trang thành chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân để giành thắng lợi. Bởi "cách mạng không phải là cuộc đảo chính, không phải là kết quả của những âm mưu, cách mạng phải dựa vào cao trào cách mạng của nhân dân". Vì lẽ ấy cuộc khởi nghĩa không thể tạo cho mình một hậu phương vững chắc. Và nhất là từ cuối năm 1893 khi cuộc khởi nghĩa có chiều hướng đi xuống thì lẽ ra phải tập trung lực lượng phá vây để củng cố căn cứ địa thì các nhà lãnh đạo nghĩa quân lại quyết định đem quân tấn công thành Nghệ An làm đẩy nhanh quá trình tan rã của nghĩa quân.

Những hạn chế trên đây không thể tránh khỏi bởi những nhà lãnh đạo khởi nghĩa Hương Khê cũng như các cuộc khởi nghĩa khác của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX đều là các sĩ phu, văn thân yêu nước, không phải là những nhà quân sự. Hơn nữa do những hạn chế về tư tưởng giai cấp, về thời đại họ không thể giải quyết được đúng đắn yêu cầu giải phóng dân tộc và dân chủ của lịch sử Việt Nam hồi đó. Cho nên các cuộc khởi nghĩa Cần Vương nói chung, Hương Khê nói riêng chỉ rầm rộ thời gian đầu do nhiệt tình tham gia ủng hộ của nhân dân rồi dần dần tan rã, mà không trở thành một phong trào dân tộc thực sự, không thể đi đến thắng lợi được. Mặc dù thất bại nhưng những kinh nghiệm về xây dựng căn cứ địa và những hạn chế của cuộc khởi nghĩa Hương Khê không những đã để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu mà còn góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam. Những bài học ấy đã được Đảng và nhân dân ta phát huy triệt để trong Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp và đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:30:49 AM

Câu hỏi 31: Khi Phan Đình Phùng tổ chức khởi nghĩa thi tinh thần yêu nước của nhân dân địa phương đã được thể hiện như thế nào?
Trả lời:


Từ năm 1883, triều đình Huế hoàn toàn đầu hàng giặc. Trước nạn mất nước mà vua quan đã đầu hàng, nhân dân chỉ còn biết ủng hộ các cuộc khởi nghĩa ở địa phương để cứu nước, cứu làng.

Trong phong trào văn thân, ít nhiều các cuộc khởi nghĩa đều đã dựa được vào sức ủng hộ của dân chúng mà kháng chiến. Đinh Công Tráng được nhân dân Ba Đình và Nga Sơn đã tham gia nghĩa quân lại đem ủng hộ vật liệu và đến xây công sự Ba Đình vững chắc. Tống Duy Tân được dân chúng Thanh Hóa gia nhập hương binh đông đảo... Các nhà văn thân ai dựa được vào dân chúng thì cuộc chiến đấu được dẻo dai và lập được nhiều thành tích.

Tinh thần yêu nước của nhân dân địa phương biểu lộ rõ rệt nhất trong cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Kể cả những ngày phong trào mới nhen nhóm lên, những ngày thắng lợi cũng như những ngày khó khăn nhất, nhân dân địa phương đều tích cực ủng hộ nghĩa quân, không sợ gian nan nguy hiểm, mặc dầu quân Pháp khủng bố dã man. Dân chúng chịu đựng khổ cực, thiếu thốn để ủng hộ nghĩa quân, nghĩa quân chịu đựng khó khăn gian khổ để đánh lại giặc Pháp.

Nhiều cụ già còn kể chuyện rằng: cuối năm 1885 khi Phan Đình Phùng khởi nghĩa ở làng Đông Thái, dân chúng quanh vùng rất phấn khởi. Quang cảnh thôn xóm vắng vẻ cũ biến đổi hẳn. Chỗ nào cũng thấy cờ quạt của nghĩa quân. Già trẻ trai gái đều vui vẻ múa hát. Người ta nô nức đem trâu, lợn, gà và gánh gạo đến ủng hộ cụ Phan. Trai tráng đua nhau nhập ngũ. Hàng trăm thợ rèn kéo đến suốt đêm ngày làm giáo mác cho nghĩa quân.

Rồi cuộc khởi nghĩa dần dần trưởng thành. Ba vấn đề khó khăn nhất đặt ra là: lực lượng nghĩa quân, lương thực và vũ khí. Nhưng nhờ có dân chúng, Phan Đình Phùng và Cao Thắng đã khắc phục được cả. Từ lúc tay không khởi nghĩa đến những năm 1890-1894, có hàng mấy nghìn người theo Phan Đình Phùng. Những ngày cuối cùng vẫn còn tới 2.700 quân sĩ quyết tâm theo cụ, dù sống chết thề không chịu đầu hàng giặc. Hàng trăm thợ rèn từ đồng bằng lên trại nghĩa quân để rèn đúc khí giới. Máy móc không có, nguyên liệu thiếu, nhưng với tinh thần yêu nước và hai bàn tay lao động họ đã tạo ra hàng trăm khẩu súng tinh vi, hiện đại. Dân chúng các làng đã đi bòn nhặt từ lưỡi dao, cuộc cùn, lọng ô, móng lừa, móng ngựa cung cấp cho nghĩa quân làm nguyên liệu đúc súng. Và sau cũng vẫn không đủ nhu cầu, dân chúng đã ủng hộ cả nồi đồng, mâm thau, xanh chảo đang dùng cho nghĩa quân làm đạn1.

Vấn đề lương thực là vấn đề sống còn của nghĩa quân. Nhưng nhân dân Thanh, Bình, Nghệ, Tĩnh đã vui lòng nộp thuế chính thức cho nghĩa quân, mỗi mẫu ruộng là một đồng bạc, mặc dầu họ đã bị giặc Pháp vơ vét bao nhiêu thứ thuế. Ngoài việc đóng thuế, dân chúng còn mang gạo, ngô cung cấp cho nghĩa quân. Người ta kể lại rằng ai ủng hộ nghĩa quân bị giặc Pháp làm tan nát cửa nhà ngay, nhưng những ngày đen tối nhất, nghĩa quân bị bao vây chặt, dân chúng bị khủng bố, vẫn có người vượt rừng qua suối gánh gạo lên trại ủng hộ nghĩa quân; đồng bào miền núi vẫn bán ngô cho nghĩa quân. Có những người già yếu, túng thiếu không có gì ủng hộ đã lên hẳn trại để suốt ngày xay lúa giã gạo cho nghĩa quân. Ngược lại nghĩa quân đối với dân chúng cũng đầy lòng thương yêu và có kỷ luật. Ai đóng góp và ủng hộ cho nghĩa quân những gì đều phải có sổ sách ghi chép cẩn thận. Cụ Phan ra lệnh cấm các quân thứ không được tham ô hà lạm, chiếm đoạt tài sản của dân chúng. Kỷ luật đó càng làm cho dân chúng yêu mến nghĩa quân.

Do đó, 12 năm kháng chiến là 12 năm nghĩa quân Hương Khê đã liên hệ mật thiết với nhân dân địa phương, dựa vào nhân dân địa phương mà giết giặc. Tất nhiên trong điều kiện các nhà văn thân lãnh đạo kháng chiến, họ không đủ khả năng tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân để chiến đấu thắng lợi hoàn toàn. Dù sao, tinh thần yêu nước của họ cùng với tinh thần yêu nước của nhân dân ta đã ghi lại những trang lịch sử vẻ vang chống ách đô hộ của thực dân Pháp.
___________________________________
1. Thuốc đạn nghĩa quân chế lấy một phần nhưng không được tốt nên phải vượt qua Lào, sang Xiêm để mua thuốc súng. Đó là một việc rất khó khăn và nguy hiểm. Người có công nhất trong việc mua súng là cô Tám con gái ông Hoàng Văn Phúc, một lãnh tụ nghĩa quân ở Trung Kỳ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:32:57 AM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phan Đình Phùng, một nhà lãnh đạo kháng chiến (1886-1895) ở Nghệ Tĩnh, Đào Trinh Nhất, Nhà xuất bản Tân Việt.
2. Phan Đình Phùng - cuộc đời và sự nghiệp, Đinh Xuân Lâm, Chương Thâu, Nhà xuất bản Nghệ An, sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh, 2007.
3. Lịch sử Quân sự Việt Nam, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2004.
4. Chống xâm lăng, Trần Văn Giàu, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh - 2001.
5. Tạp chí Lịch sử Quân sự - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam - Bộ Quốc phòng.
6. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử - Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia - Viện Sử học.

Hết