Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:18:18 PM



Tiêu đề: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:18:18 PM

        - Tên sách: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2006
        - Số hóa: ptlinh, meofmaths, luc_thao.

        CHỈ ĐẠO CÔNG TRÌNH:

                                     THỦ TRƯỞNG VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM

        TỔ CHỨC BẢN THẢO:

                                   - TRẦN NGỌC LONG

                                   - PHAN SỸ PHÚC

                                   - ĐỖ MẠNH CƯƠNG

                                   - NGUYỄN HỒNG DUNG

                                   - NGUYỄN HÀ HẢI

                                   - NGUYỄN ĐĂNG TIẾN


CÙNG BẠN ĐỌC

        Năm 1989, trước yêu cầu đổi mới trong nghiên cứu lịch sử và ý kiến đóng góp của đông đảo bạn đọc, bắt đầu từ số 37(3-1989), Tạp chí Lịch sử quân sự (LSQS) mở chuyên mục “Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ”. Từ đó đến nay, cứ đều đặn trên các số, với chuyên mục này, Tạp chí đã đăng tải hơn 200 bài viết liên quan đến các vấn đề lịch sử chiến tranh, lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam, lịch sử quân sự thế giới, lịch sử tổ chức quân sự qua các thời kỳ từ cổ đại đến hiện đại; về Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh…”

        Đúng như tên gọi của nó, chuyên mục này đã góp phần trả lại sự thật hoặc làm sáng tỏ thêm một số sự kiện và nhân vật liên quan đến LSQS nói riêng, lịch sử nói chung. Ngay từ khi ra đời, chuyên mục “Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ” đã thu hút được sự chú ý của đông đảo độc giả. Từ gợi ý của nhiều nhà khoa học và đáp ứng yêu cầu của đông đảo bạn đọc, Ban biên tập Tạp chí LSQS đã tổ chức tuyển chọn trong số các bài viết đã đăng trên Tạp chí thành cuốn sách “Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ” (Tuyển chọn từ Tạp chí Lịch sử quân sự).

        Cuốn sách giúp người đọc tiếp cận sự thật của một số sự kiện, nhân vật mà lâu nay, vì nhiều lý do, được phản ánh không đúng hoặc thiếu chính xác trên sách, báo và diễn đàn khoa học. Do số lượng bài viết của chuyên mục này rất lớn, đề cập tới nhiều vấn đề của LSQS và lịch sử nói chung, trong khi dung lượng cuốn sách lại có hạn, nên trên từng lĩnh vực chúng tôi chỉ tuyển chọn một số bài. Những bài có nội dung trùng lặp, những vấn đề sau khi được nêu trên Tạp chí đã được các cơ quan hữu quan, các tác giả tiếp thu, “sửa lại cho đúng” hay những vấn đề mà tính khoa học và tính thực tiễn còn hạn chế, đều không tuyển chọn đưa vào cuốn sách này.

        Để tiện cho việc theo dõi của độc giả, cuốn sách được sắp xếp nội dung theo trình tự thời gian: Một số vấn đề  “sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ” trước Cách mạng Tháng Tám 1945; trong kháng chiến chống thực dân Pháp; trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và một số vấn đề khác.

        Một số bài được viết cách đây gần 20 năm, văn phong sử học và phương pháp nghiên cứu, tiếp cận đến nay có thể có nội dung đã trở nên bất cập, song với tinh thần tôn trọng các tác giả; đồng thời để bảo đảm tính lịch sử nên nội dung các bài viết được tuyển chọn về cơ bản đều được giữ nguyên.

        Lịch sử là một dòng chảy liên tục. Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng có điều kiện để nhìn nhận lại và tiếp cận tới sự thật lịch sử một cách khách quan, thấu đáo hơn; và “Lịch sử chỉ diễn ra một lần-viết sử phải viết nhiều lần”. Mục đích của những người tham gia biên soạn cuốn sách này cũng là nhằm góp phần trả lại và làm sáng tỏ hơn sự chân thực cho lịch sử.

        Việc tuyển chọn và biên soạn 88 trong tổng số gần 200 bài viết liên quan chuyên mục "Sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ" đăng trên Tạp chí LSQS là một công việc khó khăn; đòi hỏi phải có sự cân nhắc thận trọng và kỹ lưỡng. Mặc dù những người thực hiện đã có nhiều cố gắng song chắc chắn cuốn “Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ” (Tuyển chọn từ Tạp chí Lịch sử quân sự) sẽ không tránh khỏi những hạn chế, sai sót. Chúng tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiên của bạn đọc để có thể sửa chữa, bổ sung cho lần tái bản sau.


VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM       


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:51:17 PM
        
PHẦN I



VỀ VỊ TRÍ CỬA SÔNG HÁT NƠI HAI BÀ TRƯNG PHẤT CỜ KHỞI NGHĨA1

NGUYỄN QUANG NGỌC        

        Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa toàn dân vừa mang tính chất quy tụ, vừa mang tính chất toả rộng. Tại cửa sông Hát, Hai Bà Trưng bí mật tập hợp nghĩa quân nòng cốt mở hội thề rồi tiến đánh Đô úy trị (Hạ Lôi, Mê Linh, Hà Nội), tiến xuống Tây Vu, đánh chiếm thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) và mở cuộc tiến công quyết định giải phóng Luy Lâu (Lũng Khê, Thuận Thành, Hà Bắc) đánh đổ chính quyền đô hộ nhà Hán ở Giao Chỉ. Mặt khác, do có sự chuẩn bị từ trước, nhân dân các địa phương đều đồng loạt nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hát Môn, giải phóng quê hương, làm cho cuộc khởi nghĩa thành công rất nhanh gọn. Do đó, nhắc đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, điều quan trọng trước tiên phải nói đến là cửa sông Hát. Đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhưng quả thực cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào xác định và mô tả tương đối cụ thể về một vùng cửa sông Hát, nơi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa. Bài viết này được hình thành trên cơ sở tư liệu khảo sát thực địa cách đây vừa đúng 10 năm, hẳn là không khỏi lạc hậu so với những thành tựu nghiên cứu mới, song chúng tôi vẫn xin mạnh dạn được trình bày.

        Sông Hát thực ra chỉ là một tên gọi khác của sông Đáy. Sách Đại Nam nhất thống chí chép “Sông Bạch Hạc: ở cách huyện Bạch Hạc 22 dặm về phía Tây, hoặc gọi là ngã ba do các sông Thao, Đà, Lô hợp dòng mà thành…lại chảy về phía Đông qua địa giới hai huyện Tiên Phong và Phúc Thọ gồm 28 dặm, đến bến Phù Nhi, lại chảy 24 dặm đến phía Nam xã Hát Môn, thì chia ra một chi làm sông Hát”2... “Sông Hát ở cách huyện Phúc Thọ 17 dặm về phía Đông, do hạ lưu sông Bạch Hạc chảy vào, cửa sông nông, về mùa đông và mùa xuân có thể lội qua được, về mùa hạ và mùa thu, nước lũ đổ đến, nước từ sông này chảy về phía Nam qua các huyện Phúc Thọ, Đan Phượng và Yên Sơn, chảy quanh co 54 dặm đến địa phận huyện Chương Đức tỉnh Hà Nội thì hợp với sông Tích”3.

        Như thế, sông Hát (hay sông Đáy) nhận nước từ sông Hồng chảy qua địa bàn ba tỉnh Hà Tây, Nam Hà và Ninh Bình rồi đổ ra cửa biển Thần Phù.

        Sách Thủy kinh chú-cuốn sách ra đời cách đây khoảng 1.500 năm, khi mô tả đất Giao Chỉ cũng chỉ bám vào hệ thống sông Diệp Du (tức sông Hồng) và cho biết các nhánh sông khác tương đương với các sông Cà Lồ, sông Đuống, sông Hát, khi ấy là những dòng sông lớn và là mạch máu giao thông quan trọng ở Giao Chỉ. Theo dòng sông Hát, người ta có thể đi từ Mê Linh qua Chu Diên và vào tận Cửu Chân (Thanh Hoá). Sông Hát trong thực tế là đường giao thông chính, cổ nhất và quan trọng nhất nối liền Giao Chỉ với Cửu Chân.

        Sông Hát, nơi kết tinh của nhiều huyền thoại mà bộ địa lý học lịch sử đầu tiên của nước ta đã không thể không nhắc đến “Hát Giang ở huyện Phúc Lộc. Tương truyền sông Hát phát nguyên từ Giang Hán, trong sông có cây chiên đàn cao hơn 10 trượng; lâu năm cây già, rễ cây xuyên thông với sông Giang Hán, cá anh vũ đi theo đấy về phía Nam. Các triều bắt cống cá ấy để cúng tế”4.

        Sông Hát cũng đã nhiều lần được tô đẹp bằng những áng thơ văn khiến cho người đọc khó lẫn, khó quên. Phạm Đình Hổ, cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã từng đứng trên đỉnh núi Viễn Sơn (Sơn Tây) mà nhìn "sông Hát Giang vòng quanh phía Đông như một dải lụa trắng, lại vòng từ phía Bắc ra phía Đông, nước chảy uốn éo quanh co. Lác đác như lá tre điểm xuyết trên tấm lụa, ấy là những chiếc thuyền đi trên mặt sông"5. Và sông Hát sống mãi với lịch sử đất nước bởi vì nơi đây là nơi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, nơi chứng kiến những kỳ tích anh hùng của dân tộc cách ngày nay gần 2.000 năm.

        Cửa sông Hát bây giờ là nơi giáp giới giữa Trung Châu và Vân Nam cách Hát Môn 3 km về phía Đông Bắc. Đây là cửa sông mới đào vào cuối thế kỷ XIX. Theo trí nhớ của nhân dân địa phương và theo tài liệu khảo sát thực địa của một số nhà nghiên cứu đã công bố thì cửa sông Hát là cống Ba Xuân thuộc thôn Vĩnh Thọ xã Vân Phúc, cách đền Hát Môn 5 km về phía Tây Bắc. Dòng nước từ cống Ba Xuân chảy qua vùng bãi đất mới hình thành của Vân Nam qua Hát Môn. Chắc chắn cửa sông này cũng được hình thành muộn và không có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Vậy cửa sông Hát thời kỳ Hai Bà Trưng (hay có liên quan đến khởi nghĩa Hai Bà Trưng) ở đâu?

        Sông Hồng vốn là một dòng sông có lưu lượng nước rất lớn và có độ dốc cao, nước chảy xiết. Mỗi mùa mưa lũ, dòng nước lại làm thay đổi địa hình hai bên bờ sông, thậm chí có làng trước mùa mưa lũ đang đông vui mà qua mùa mưa lũ đã thành lòng sông. Trái lại có chỗ vốn là lòng sông mà chỉ sau một vài năm đổi dời lại nổi lên thành bãi. Nhiều năm trước đây chúng tôi có dịp đi dọc theo bờ sông Hồng từ huyện lỵ Phúc Thọ xuôi xuống đến xã Liên Hà huyện Đan Phượng để tìm hiểu về tình hình tự nhiên, xã hội, các di tích lịch sử, địa danh, tình hình di dịch dân cư và vấn đề hình thành làng xã trên một đoạn dọc theo bờ sông Hồng dài 15 km và chúng tôi nhận thấy:

        1. Về địa danh các làng xã kéo thẳng từ Cẩm Đình (Phúc Thọ) xuống đến Liên Hà (Đan Phượng) hầu hết đều có các từ châu; hà, hồng, sa: thí dụ Trung Châu, Phú Châu, Nam Châu, Hồng Hà, Liên Hồng, Liên Hà, Nại Sa, Sa Khúc…Sở dĩ người ta đặt tên như vậy vì trước đó khu vực này là lòng sông hoặc bãi bồi. Nếu khảo sát lui vào phía trong đê thì hầu như không có các địa danh được gọi theo kiểu này. Nhân dân trong vùng phân biệt rất rõ ràng địa vực “trong đồng", "ngoài bãi"; xóm “trong đồng", xóm "trại"...

        2. Về chất đất ở phía bên trong đường ranh giới chúng tôi vừa nêu ở trên là đất thịt hay đất cát pha, còn phía ngoài thì hoàn toàn là đất phù sa, cát bồi.

        3. Các truyền thuyết về quá trình khai hoang lập làng cũng như các giấy tờ còn lại của các làng, các họ ở vùng phía ngoài đường ranh giới trên đều xác nhận: hầu hết họ có gốc ở bên kia sông, một số ít thì ở phía trong đường ranh giới chuyển ra.

        4. Hầu hết các đền miếu ở phía ngoài đường ranh giới đều mới lập và sao thần tích từ quê cũ ở bên kia sông hay ở phía trong đường ranh giới ra thờ vọng.

        Kết hợp tất cả các nguồn tư liệu có được, chúng tôi có thể xác định được ranh giới giữa vùng đất đã ổn định với vùng bãi bồi và qua đó có thể xác định được đã có một thời từ cách đây rất xa bờ sông Hồng chính là đường ranh giới này và đường ranh giới đó vẫn ổn định cho đến ngày nay.

-------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-1993. Tên các đơn vị hành chính trong bài viết vẫn được giữ theo thời điểm năm 1993 (Ban Biên soạn).

        2, 3. Đại Nam nhất thống chí, tập 4. NXB KHXH, Hà Nội. 1969, tr. 208, 209.

        4. Nguyễn Trãi toàn tập, NXB KHXH, Hà Nội, 1976, tr. 223.

        5. Phạm Đình Hổ. Vũ trung tùy bút. NXB Trẻ, Tp. HCM, 1989, tr. 17.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:54:56 PM

        Điều này hoàn toàn trùng hợp với những di tích và truyền thuyết ở khu vực Hát Môn hiện nay.

        Đền Hát Môn như các sách Đại Việt sử ký toàn thư, Việt điện u linh, Đại Nam nhất thống chí cũng như tất cả các thần tích, ngọc phả viết về Hai Bà Trưng và tướng lĩnh của Hai Bà đều xác nhận là di tích chính và lâu đời nhất, được lập ra ở cửa sông Hát để thờ Hai Bà ngay từ khi Hai Bà mới mất6. Mặc dù từ khi xây dựng cho đến nay, đền đã trải qua rất nhiều lần trùng tu, sửa chữa, nhưng qua ký ức dân gian và các di tích, di vật còn lại thì có thể tin được rằng vị trí của đền chưa từng bị thay đổi, di chuyển. Nói một cách khác đền vẫn ở trên vị trí cũ từ khi mới khởi dựng cho đến nay.

        Về kiến trúc, đền Hát Môn không có gì đặc biệt. Phía trong tam quan có nhà tả mạc, hữu mạc, đại bái, nhà thiêu hương, hậu cung. Trong đền có bệ thờ hai cây quéo vì theo truyền thuyết thì Hai Bà khi bị bại trận đã chạy về Hát Môn gặp bà hàng nước và ăn quả quéo quê hương. Miếu thờ bà hàng nước đến nay cũng vẫn còn ở trước cửa đền ngay trên đê Cựu. Nét đặc biệt nhất là ở đền Hát Môn, bài vị Hai Bà Trưng và các đồ thờ đều sơn đen (cũng phải nói thêm là trong đền có một số đồ thờ màu đỏ là do người đời sau mới cung tiến, đấy không phải là đồ thờ gốc). Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Trong đền thờ Bà Trưng, phàm kỳ án và các đồ tự khí hết thảy đều sơn then, tuyệt nhiên không dùng màu đỏ… tương truyền thần mất vì binh khí, nên kiêng màu  đỏ giống máu”7. Như thế ở đền Hát Môn đến nay vẫn còn giữ được phong tục này, kết hợp với các di tích ở địa phương và các sách Hậu Hán thư, Thủy kinh chú, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt điện u linh… chúng ta có thể tin được rằng Hai Bà Trưng đã hy sinh trong chiến đấu chứ không phải là hai bà "thất thế đành liều với sông" như quan niệm dân gian sau này.

        Ở Hát Môn hiện nay vẫn còn dấu tích con đê cổ và ranh giới trong đồng, ngoài bãi, khu tân dân cư và khu cựu dân cư được phân định rất rõ ràng. Khu cựu dân cư nay là nghĩa trang liệt sĩ, xưa có những chiếc cầu bằng đá, tục truyền đó là bến sông. Xóm phường nằm sát khu cựu dân cư vốn là xóm chài thờ đức thánh Thủy-tương truyền là ông thánh được Hùng Vương phái về trị thủy vùng cửa sông Hát. Dân Hát Môn xưa ở chỗ cựu dân cư (phía trong đê cổ) nhưng sau vì vỡ đê dân làng phải đắp con đê mới lui vào phía trong nên họ mới chuyển vào lập làng ở trong đồng (khu vực gần đền Hát Môn). Tình hình ổn định dần, dân làng kéo nhau ra ở Hát Môn trại và Hát Môn trại trở thành khu vực cư trú chính của dân Hát Môn bây giờ.

        Ở gần đền Hát Môn xưa có ghềnh Triệu là nơi nước chảy dữ dội, rất nguy hiểm với thuyền bè qua lại. Ký ức dân gian về một vùng cửa sông đầy nguy hiểm đó đã khiến người dân Hát Môn liên tưởng đến cái tên làng quê mình: một cửa sông gầm thét? Dấu tích dòng sông cổ chưa bị lấp hết nay vẫn còn ở Hát Môn các đoạn sông cụt và vũng Mắt Rồng rộng hơn chục héc ta, sâu có chỗ đến 3m và chỉ cách cửa đền Hát Môn khoảng 800m.

        Trong khi khảo sát tại địa phương, chúng tôi được ông Hoà (xóm Hát Môn) cho nghiên cứu và sao lại bản đồ của làng vẽ năm 1912 tỉ lệ 1/4.000. Tấm bản đồ này tuy mới vẽ cách đây hơn 80 năm nhưng cũng cung cấp được nhiều thông tin hữu ích về tình hình đất đai và cư dân của Hát Môn xưa.

        Từ những nguồn tư liệu ấy, chúng tôi cho rằng sông Hồng trước đây chảy đến sát cửa đền Hát Môn và chính khu vực cửa đền Hát Môn hiện nay mới là cửa sông Hát có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và chắc chắn cái tên Hát Môn là cái tên cổ được dịch nguyên nghĩa từ cửa sông Hát mà ra. Cũng tại cửa đền Hát Môn nay vẫn còn dấu tích Bãi Cát dài và cồn đất cao hình con rùa cổ vươn dài vào gần cửa đền gọi là đồng Mu Rùa, xưa cây cối mọc um tùm-tương truyền là nơi Hai Bà Trưng tổ chức hội thề và xuất trận.

        Thiên Nam ngữ lục, thiên sử ca dân gian thế kỷ XVII, không chỉ cho biết rõ những lý do mục tiêu của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng mà còn mô tả cảnh quan vị trí của Hát Môn lúc đó:

        “Hát Môn có thế dụng binh

        Sông sâu làm cứ, rừng xanh làm nhà".

        Hai Bà Trưng đã chọn sông nước Hát Môn làm căn cứ, chọn rừng xanh Hát Môn làm nhà, chọn Bãi Cát dài trên đồng đất Hát Môn làm quảng trường lập đài thề đại hội non sông rồi toả ra giải phóng đất nước...

        Sông sâu Hát Môn từ lâu đã thành đồng bãi xóm làng, rừng xanh Hát Môn thậm chí không còn trong ký ức. Thế nhưng đền Hát Môn-đài kỷ niệm chính của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã gần 2.000 năm vẫn còn đây và mãi mãi còn đây trường tồn cùng đất nước, núi sông này.

------------------
        6. Đại Nam nhất thống chí, Sđd , tr. 222.

            Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1. NXB KHXH, Hà Nội, 1983, tr. 147.

            Việt điện u linh. NXB Cửu Long, 1992, tr. 70.

        7. Đại Nam nhất thống chí, Sđd, tr. 222.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:58:18 PM
     
QUÊ HƯƠNG VÀ NGÀY GIỖ CỦA LÝ NAM ĐẾ8

LÊ THÀNH LÂN        

        Trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, nhân dân ta liên tiếp nổi lên khởi nghĩa chống lại ách thống trị của bọn phong kiến phương Bắc. Đất nước ta như một lò lửa đang nhen nhóm, lúc cháy âm ỉ, lúc bùng lên rực sáng. Cuộc khởi nghĩa trước chuẩn bị tiền đề, khơi nguồn cho cuộc khởi nghĩa sau nổ ra mạnh mẽ hơn, rộng khắp hơn. Lòng yêu nước căm thù giặc của thế hệ này hun đúc truyền lại cho thế hệ sau. Nhiều lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa này là con em của các tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa trước.

        Trong hàng ngàn cuộc nổi dậy có hai cuộc khởi nghĩa đã thành công và giành được độc lập dân tộc trong một thời gian ngắn, nhưng ý nghĩa rất to lớn, dư âm rất vang dội. Đó là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thế kỷ thứ I và cuộc khởi nghĩa của Lý Bí thế kỷ thứ VI.

        Sau 4 năm độc lập dưới thời Hai Bà Trưng (40-43) là 5 thế kỷ bị Bắc thuộc, rồi mới đến thời Tiền Lý do Lý Nam Đế khai sáng, tồn tại được 59 năm, từ năm 544 đến 602. Tiếp theo đó lại là hơn 300 năm Bắc thuộc nữa mới tới thời tự chủ, bắt đầu từ họ Khúc (905-938). Cũng có thể tính rằng, phải mất gần 340 năm mới tới kỷ nguyên độc lập, mở đầu bằng việc Ngô Quyền xưng Vương vào năm 939.

        Sau 3 năm vừa khởi nghĩa giành chính quyền, vừa tiến hành hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Lương (541-543), Lý Bí xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên làm vua được 5 năm (544-548). Thực ra ông chỉ có một năm để xây dựng chính quyền, còn 4 năm sau là kháng chiến chống xâm lược.

        Ba nhà vua tiếp theo của triều Tiền Lý là Triệu Quang Phục-Triệu Việt Vương (Dạ Trạch Vương, 548-571), Lý Thiên Bảo-Đào Lang Vương (548-555) và Lý Phật Tử-Hậu Lý Nam Đế 555-602). Thời gian làm vua của các vị vua này có dài hơn, nhưng không quản lý được cả nước, chỉ cát cứ trên những vùng đất không rộng và luôn luôn phải kháng chiến, có lúc lại lục đục đánh nhau.

        Việc nghiên cứu về thời Tiền Lý cho đến nay còn chưa được nhiều. Lúc đó ta chưa thể có sử sách, ký ức dân gian bị hạn chế bởi hoàn cảnh trên, khiến cho việc nghiên cứu của chúng ta ngày nay gặp nhiều khó khăn. Trung Quốc lúc đó vào thời Nam-Bắc Triều, rất rối ren; các cuốn sử của Trung Quốc như Lương thư, Trần thư có ghi chép được đôi điều về tình hình nước ta, nhưng cũng rất sơ lược.

        Đầu kỷ nguyên độc lập, chắc sử sách của các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa chép được bao nhiêu; đến triều Lý, Trần thì đã chép được nhiều bản. Đáng tiếc là phần lớn các bộ cổ sử đó đã bị thất truyền, chủ yếu do sự hủy hoại và vơ vét của giặc Minh trong 20 năm thống trị, từ 1407 đến 1427, chúng thực hiện chính sách “dù một mảnh giấy, một nét chữ, cũng phải hủy diệt hết”. Chỉ còn cuốn Việt sử lược được viết vào đời Trần, mãi đến triều Thanh mới được in ra ở Trung Quốc. Sang triều Lê, khi viết sử, Ngô Sĩ Liên phải than rằng: "Sách vở cả nước thành đống tro tàn". Tình trạng thiếu tư liệu đó khiến cho khi viết về quá khứ xa xôi của dân tộc, nhiều chỗ không được rõ, có đôi chỗ thiếu nhất quán và không phải không có chỗ sai. Để bổ sung cho chính sử nhiều khi phải tham khảo thêm dã sử như truyền thuyết dân gian, ngọc phả, thần phả. Trong một chừng mực nào đấy, có nhẽ bây giờ chúng ta vẫn phải làm như vậy. Nhiều thế hệ các nhà sử học đã phát hiện và giải quyết được nhiều vấn đề nhưng vẫn còn những vấn đề đã được đặt ra nhưng chưa được lý giải một cách trọn vẹn và triệt để. Ở đây, chúng tôi muốn bàn về ngày giỗ và quê hương của Lý Nam Đế.

        Ngày nay, chúng ta chỉ còn biết tên Lý Nam Đế qua thư tịch cổ bằng chữ Hán. Chữ này có hai âm là Bôn và Bí. Lúc đầu khi phiên ra quốc ngữ, các nhà sử học dùng âm Bôn, sau này, do thấy các địa phương thờ ông đều gọi quả bí là quả bầu, có ý kiêng tên huý của ông, nên các nhà sử học đi đến khẳng định tên ông là Lý Bí 9. Trong bài viết, chúng tôi dùng chữ Bí, chỉ những chỗ trích dẫn, chúng tôi để nguyên chữ Bôn, nếu nguyên tác viết như vậy.

------------------
        8. Tạp chí LSQS số 11-1988. Tên các đơn vị hành chính trong bài giữ theo thời điểm năm 1988.

        9. Nguyễn Lương Bích. Những người trẻ làm nên lịch sử, NXB Thanh niên, 1974. tr. 149 và Lịch sử Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội, 1971, tr. 113.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:59:52 PM

        Ngày giỗ của Lý Bí.

        Theo Đại Việt sử ký toàn thư10, ông mất ngày Tân Hợi tháng Ba năm Mậu Thìn. Dùng cuốn Lịch và niên biểu 2000 năm11 do chúng tôi soạn mà đổi thì là ngày 20 tháng Ba năm Mậu Thìn, theo dương lịch là ngày 13 tháng 4 năm 548. Như vậy cũng khớp với Trần thư mà Lịch sử Việt Nam12 đã dẫn là ông mất vào tháng 3 năm Thái Thanh thứ 2 đời Lương Vũ Đế.

        Trước đây, khi soạn Lịch Văn hoá tổng hợp 1987-1990, chúng tôi đã dựa vào bài Di tích Lý Nam Đế của Minh Tú công bố sai rằng ông mất ngày mùng 2 tháng Năm Mậu Thìn, tức là ngày 24 tháng 5 năm 548. Bài đó dựa vào ngọc phả ở đình Giang Xá xã Đức Giang huyện Hoài Đức-tức là dựa vào dã sử, không thể xem là chính xác bằng chính sử. Vậy, nay chúng tôi xin đính chính lại.

        Vấn đề quê hương của Lý Bí.

        Việc xác định quê hương của ông có nhiều khó khăn, đã từng có thảo luận, đến nay chưa dứt điểm.

        Lúc đầu, phần lớn các nhà sử học đều coi quê ông là huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay. Về sau, bắt đầu từ năm 1958, Đào Duy Anh viết trong cuốn Lịch sử Việt Nam rằng quê Lý Bí ở Sơn Tây. Năm 1964, phát triển ý này, ông đã bàn sâu hơn trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời. Tiếp theo là Đỗ Đức Hùng, năm 1980, trong bài Về tên đất Thái Bình-quê hương Lý Bôn13; năm 1983, Nguyễn Vinh Phúc trong bài Quê hương Lý Bí14 đã bàn một cách chi tiết theo hướng quê Lý Bí ở Sơn Tây. Gần đây, năm 1986, lại có bài của Phạm Thị Nết trong cuốn Danh nhân Thái Bình15 quay trở về với ý kiến coi quê ông ở tỉnh Thái Bình.

        Vậy là hình thành hai khuynh hướng cơ bản khác nhau: khuynh hướng 1 (KH1) coi quê Lý Bí ở tỉnh Thái Bình hiện nay; khuynh hướng 2 (KH2) coi quê ông ở tỉnh Sơn Tây cũ, nay là các huyện ngoại thành ở phía tây Hà Nội. Chúng tôi ủng hộ KH2.

        Quê hương Lý Bí không thể là tỉnh Thái Bình.

        Chúng tôi thấy lập luận của Phạm Thị Nết-đại diện cho KH1 có 4 nhược điểm sau đây:

        Một là, có thể Phạm Thị Nết chưa tham khảo hết các tài liệu có bàn đến vấn đề này. Chúng tôi không thấy chị dẫn ra cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh, cũng như bài Quê hương Lý Bí của Nguyễn Vinh Phúc. Có thể vì thế mà chị chưa nắm hết các lập luận chủ yếu của KH2.

        Hai là, khi Phạm Thị Nết viết rằng đa số các nhà nghiên cứu theo KH1, chị đã không chú ý đến một thực tế là một số lớn trong số đó đã thay đổi ý kiến, chẳng hạn như Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn (cùng với Phan Huy Lê và Lương Ninh) khi viết Lịch sử Việt Nam vào năm 1983 đã không còn theo KH1 như khi viết Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, năm 196316; cũng như Trương Hữu Quýnh (cùng với Phan Đại Doãn) khi viết Danh nhân lịch sử Việt Nam năm 198717, không còn theo KH1 như khi viết Lịch sử Việt Nam, năm 197018. Rất có thể các nhà nghiên cứu khác cũng đã bị thuyết phục mà thay đổi ý kiến, nhưng chưa có dịp biểu lộ ý kiến mới của mình.

        Ba là, Phạm Thị Nết có phê phán một chỗ trích dẫn Việt sử thông giám cương mục19 chưa thật chính xác của Đỗ Đức Hùng, nhưng theo chúng tôi, lỗi đó không quan trọng; điều quan trọng là chị đã không bàn thẳng vào các luận cứ cơ bản của KH2 mà chúng tôi nêu lại dưới đây.

------------------
        8. Tạp chí LSQS số 11-1988. Tên các đơn vị hành chính trong bài giữ theo thời điểm năm 1988.

        9. Nguyễn Lương Bích. Những người trẻ làm nên lịch sử, NXB Thanh niên, 1974. tr. 149 và Lịch sử Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội, 1971, tr. 113.

        10. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1. NXB KHXH, Hà Nội, 1972, tr. 161.

        11. Lê Thành Lân. Lịch và niên biểu Việt Nam.

        12. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh. Lịch sử Việt Nam, tập 1. NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985, tr. 291.

        13. Đỗ Đức Hùng. Về tên đất Thái Bình, quê hương Lý Bôn, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 191, 1989, tr. 63-65.

        14. Nguyễn Vinh Phúc. Quê hương Lý Bí, báo Hànội mới, số 4797, ngày 17-7-1983.

        15. Phạm Thị Nết. Vấn đề quê hương Lý Bí và sự nghiệp dựng nước của ông, trong sách Danh nhân Thái Bình, tập 1, Sở VHTT Thái Bình. 1986, tr. 17-41.

        16. Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn. Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam,tập 1, Hà Nội, 1963, tr. 1 42.

        17. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn. Danh nhân lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1987, tr. 23.

        18. Trương Hữu Quýnh. Lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục, 1970.

        19. Việt sử thông giám cương mục. Tiền biên, tập 2, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 09:02:06 PM

        Để bác lại KH1, những người theo KH2 có hai lập luận cơ bản rất thuyết phục là:

        1. Nguyễn Vinh Phúc viết: "Nếu bảo huyện Thái Bình ở tỉnh Thái Bình ngày nay là quê hương Lý Bí thì e không hợp lý, vì huyện đó sau đổi là huyện Thái Ninh và gần đây là huyện Thái Thụy. Vậy mà đến thế kỷ X, biển vẫn còn vào tận thị xã Thái Bình, nơi có làng Kỳ Bá tức Kỳ Bố hải khẩu (cửa biển Kỳ Bô), chỗ đóng quân của sứ quân Trần Lãm. Ngược lên 4 thế kỷ, vùng Thái Thụy, hằn vẫn còn là biển hoặc bãi lầy, không thể là căn cứ của họ Lý là một họ đã từng 7 đời làm hào trưởng"20.

        2. Đỗ Đức Hùng viết: "Ngọc phả của đình (ở Thái Thụy, Thái Bình) không chép đây là quê Lý Bí mà chỉ kể rằng Lý Bí đi đánh giặc ở Hợp Phố có đi qua đây, cắm sinh từ để đóng quân, nên dân làng thờ"21.

        Khi ngả về KH2 này, Trần Quốc Vượng trong Lịch sử Việt Nam viết: "Hai làng Tử Các và Các Đông ở Thái Thụy, Thái Bình có hai đình thờ Lý Bí, nhưng vùng này chỉ cách biển 2 km, dân mới khai thác chừng vài năm nay, có lẽ thế kỷ VI còn là vùng biển hay vùng lầy. Dân gian cũng không cho đấy là vùng quê Lý Bí"22.

        Với hai luận cứ trên, ta có thể loại trừ khả năng coi quê Lý Bí ở tỉnh Thái Bình hiện nay. Còn để khẳng định quê ông ở các huyện ngoại thành phía tây Hà Nội thì khó hơn một chút, chúng tôi sẽ trình bày khi phân tích các thư tịch cổ.

        Bốn là, khi Phạm Thị Nết viết: "Về đại thể, nguồn thư tịch cổ chỉ cho biết: Lý Bí người Thái Bình thuộc Long Hưng"23, chị đã không phân tích chi tiết để thấy có sự khác nhau trong các thư tịch cổ và cả những mâu thuẫn và sai sót trong đó.

        a. Theo chúng tôi, tài liệu cổ nhất mà nay chúng ta còn có trong tay là Việt điện u linh, ta tạm coi tài liệu này có từ năm 1329, chỉ viết rằng: "Về đời Vũ Đế nhà Lương (nước ta thuộc Lương 502-540) ở huyện Thái Bình thuộc Giao Châu có ông Lý Bôn...”24. Huyện thời đó là một đơn vị hành chính quá lớn mà ta thì muốn biết cụ thể làng xã nào. Ngặt nỗi, xưa từng có hai huyện Thái Bình khiến người đời sau, chẳng hạn bắt đầu từ triều Lê, không rõ huyện Thái Bình nào, vì thế mà nhầm lẫn.

        b. Cuốn sử viết vào năm 1377 là Việt sử lược chỉ viết: "xưa người trong châu là Lý Bí…"25, thực ra không cho ta biết thêm điều gì.

        c. Trải qua bao biến cố, 300 năm sau, vào triều Lê Trung Hưng, mới xuất bản Đại Việt sử ký toàn thư (in năm 1697). Sách đó viết: "Vua họ Lý, huý Bôn, người Thái Bình, phủ Long Hưng"26. Theo đấy thì huyện Thái Bình, quê Lý Bí, thuộc phủ Long Hưng, tức là thuộc đất Thái Bình hiện nay. Có nhẽ bắt đầu từ đấy có sai sót. Dưới đây, chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ điều này.

        d. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú viết: "Tiền Lý Nam Đế họ Lý, tên Bôn, là người làng Thái Bình (quận) Long Hưng"27 là theo Đại Việt sử ký toàn thư, nhưng lại cho Thái Bình là làng, có nhẽ như vậy là thêm sai.

        e. Việt sử thông giám cương mục bắt đầu chú ý đến huyện Thái Bình, nhưng vì dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư nên lúng túng và thiếu nhất quán, Việt sử thông giám cương mục chua: "Sử cũ chép Lý Bôn là người Thái Bình, thuộc Long Hưng. Nay xét tên Thái Bình đặt từ năm Vũ Đức thứ 4 (621) triều Đường, tên Long Hưng đặt từ đời Trần (1225-1400). Đời Lương không có tên đất này. Sử cũ chỉ theo đó mà truy gọi thôi. Bây giờ ở xã Tư Đường, huyện Thụy Anh, phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Thái Bình), còn thờ Lý Bí"28.

-------------------
        20. Nguyễn Vinh Phúc. Quê hương Lý Bí, báo Hànộimới, số 4797, ngày 17-7-1983.

        21. Vấn đề quê hương Lý Bí và sự nghiệp dựng nước của ông, Sđd , tr. 17-41.

        22. Lịch sử Việt Nam, Sđd, tr. 285.

        23. Vấn đề quê hương Ly Bí và sự nghiệp dựng nước của ông, Sđd , tr.17-41.

        24. Lý Tế Xuyên. Việt điện u linh, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1960, tr.17.

        25. Việt sử lược, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960. tr.29.

        26. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 , NXB KHXH, Hà Nội, 1972, tr. 117.

        27. Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1. NXB Sử học, Hà Nội. 1960, tr.155.

        28. Việt sử thông giám cương mục. Tiền biên, tập 2, NXB Văn Sử Địa. Hà Nội, 1957, tr.1.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 09:04:41 PM
           
        Đoạn này có mấy ý cần nhấn mạnh:

        1. Sử cũ ở đây là Đại Việt sử ký toàn thư.

        2. Thời Lý Bí (503-548) chưa có Thái Bình, mà cũng chưa có Long Hưng.

        3. Tên huyện Thái Bình được đặt vào năm 621, ngay ở thế kỷ sau. Lê Quý Đôn viết trong Vân đài loại ngữ: nhà Đường lên làm vua năm Vũ Đức thứ 5 (622) (vua Cao Tổ), đặt ra An Nam đô hộ phủ, tên An Nam bắt đầu từ đây, gồm có 17 châu, phủ: 1-Giao Châu, thống trị 8 huyện: Tống Bình, Thái Bình, Giao Chỉ... 2-Phong Châu (xưa là Văn Lang)...29. Chú ý là huyện Thái Bình nay thuộc đất tỉnh Sơn Tây, như chúng tôi sẽ phân tích ở dưới.

        4- Đến đời Trần mới đặt quận Long Hưng. Đào Duy Anh trong Đất nước Việt Nam qua các đời viết: "Sử chép rằng nhà Trần (Thái Tông) đổi 24 lộ đời Lý làm 10 lộ, nhưng không chép rõ danh sách các lộ. Trong sử lại thấy chép tên 15 lộ là: Thiên Trường, Long Hưng... Phủ Long Hưng: huyện Ngự Thiên, huyện Duyên Hà, huyện Cổ Lan, huyện Thần Khê"(30). Đại Nam nhất thống chí có nói đến phủ Thái Bình và phân phủ Thái Bình rồi ghi rõ: "Đời Hán là đất Giao Chỉ, đời Lý là hương Thái Bình; đời Trần là lộ An Tiêm, đều là đất phủ Thái Bình cả; thời Minh là huyện Thái Bình lệ vào phủ Trấn Nam"31. Người dịch còn ghi chú phủ Thái Bình đó và phủ Kiến Xương sau thuộc tỉnh Thái Bình.

        Tỉnh Thái Bình được thành lập ở giữa thời Nguyễn: “năm Thành Thái thứ 6 (l894), lấy huyện Đông Quan, Thụy Anh, Quỳnh Côi, Phụ Dực của phủ Thái Bình; ba huyện Vũ Tiên, Thư Trì, Tiền Hải của phủ Kiến Xương; hai huyện Duyên Hà, Hưng Nhân của phủ Tiên Hưng tỉnh Hưng Yên, đặt làm tỉnh Thái Bình, đổi phủ Thái Bình làm phủ Thái Ninh"32.

        5. Điểm mấu chốt là huyện Thái Bình năm 621 nêu ở điểm 3 khác với phủ Long Hưng hay huyện Thái Bình thuộc tỉnh Thái Bình nêu ở điểm 4.

        Chính Đại Việt sử ký toàn thư sai khi ghép huyện Thái Bình ở điểm 3 với phủ Long Hưng nêu ở điểm 4. Việt sử thông giám cương mục theo đó nên tiếp tục sai và có mâu thuẫn. Bây giờ chúng tôi lập luận để thấy rõ huyện Thái Bình nêu ở điểm 3 lập năm 621 là thuộc tỉnh Sơn Tây xưa hay thuộc các huyện ngoại thành phía tây Hà Nội nay. Có ba ý quan trọng sau đây:

        Ý thứ nhất: Đào Duy Anh đã lập luận rất rõ rằng huyện Thái Bình lập năm 621 này thuộc miền đất tỉnh Sơn Tây. Theo "Dã đàm ký" chép trong Tân Đường thư (nước ta thuộc Đường từ 621) nói rằng An Nam đô hộ phủ (Tống Bình) qua các huyện Giao Chỉ và Thái Bình hơn 200 dặm thì đến Phong Châu33. Ta lần lượt xác định 4 địa danh được nêu ở câu trên:

         - An Nam đô hộ phủ lúc đó là thành Tống Bình, mà Tống Bình ở đời Tuỳ là ở phía nam sông Hồng và sông Đuống (gồm cả Gia Lâm và nội thành Hà Nội nay), về sau nó chỉ nằm ở phía nam sông Hồng (Hà Nội nay), còn nam sông Đuống là huyện Long Biên34.

         - Phong Châu "là tên châu ở đời Tuỳ, Đường, đất huyện Mê Linh đời Hán"35. Nguyên đất Phong Châu, vua Hùng xưa đóng đô ở đấy, đời Lê Quang Thuận đặt tên là Bạch Hạc, lời chua trong Dư địa chí36 của Nguyễn Trài nói rằng: “có cây chiên đàn, chim hạc trắng đậu trên cây, nên đặt tên thế"37. Vậy Phong Châu là đất ngã ba Bạch Hạc (Vĩnh Phú), chỗ sông Lô đổ vào sông Hồng.

         - Huyện Giao Chỉ (thuộc quận Giao Chỉ đời Tuỳ, Đường) ở vào khoảng phía nam sông Hồng, quanh vùng Hoài Đức... Như thế thì quận Giao Chỉ đúng là ở phía tây Hà Nội, trên đường Sơn Tây38. Vậy tạm coi huyện Giao Chỉ là vùng xung quanh huyện Hoài Đức ngoại thành Hà Nội nay.

         - Giờ ta thay An Nam đô hộ phủ, Phong Châu, Giao Chỉ bằng Hà Nội; Bạch Hạc, Hoài Đức thì ta thấy vị trí của huyện Thái Bình lập năm 621 phải ở vào khoảng tỉnh Sơn Tây.

----------------------
        29. Lê Quý Đôn. Vân đài loại ngữ, tập 1, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1962, tr.173.

        30, 32. Đào Duy Anh. Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB KHXH, Hà Nội, 1964, tr. 94, 96, 105, 167.

        31. Đại Nam nhất thống chí, tập 3, NXB KHXH, Hà Nội, 1971, tr. 313.

        33 ,34, 35, 38. Đào Duy Anh. Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, tr. 68, 67, 72, 15.

        36. Nguyễn Trãi Toàn tập, NXB KHXH, Hà Nội, 1976, tr. 220.

        37. Đại Nam nhất thống chí, tập 4, NXB KHXH. Hà NỘI, 1971, tr. 183.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 09:12:05 PM
       
        Ý thứ hai: Đoạn trích sau đây cũng từ Việt sử thông giám cương mục nói về cuộc đụng độ của hai vị vua triều Tiền Lý vào năm 557 khẳng định huyện Thái Bình này thuộc đất tỉnh Sơn Tây. "Phật Tử kéo quân xuống phía Đông, đánh nhau với Triệu Việt Vương ở Thái Bình, 5 lần giáp chiến chưa phân được thua. Quân Phật Tử phải lùi một ít rồi xin hoà. Việt Vương nghĩ Phật Tử là người họ với Lý Bôn trước, không nỡ tuyệt tình, mới lấy châu Quần Thần làm địa giới chia cho Lý Phật Tử ở về phía Tây nước mình. Lý Phật Tử mới đổi sang ở thành Ô Diên”.

        Lời chua: - Thái Bình: Tên đất. Thời bấy giờ Lý Phật Tử từ trong vùng Di Lạo kéo quân xuống phía Đông, đánh nhau với Triệu Việt Vương ở đấy, sau cắt chia địa giới ở châu Quần Thần thuộc huyện Từ Liêm, thì Thái Bình phải thuộc Phong Châu xưa, tức là Sơn Tây bây giờ. Có thể khảo thêm Địa lý chí trong tân Đường thư mà lấy làm bằng chứng: "Huyện Thái Bình bị cắt đất ra làm Phong Khê". Lại nói: "Phong Khê thuộc Phong Châu”. Nhưng các sách chép không rõ, nên chưa biết đích xác ở đâu. Hai thôn Đường, Nguyễn thuộc Thái Bình sẽ thấy sau này có lẽ cũng là ở đấy. Còn nếu bảo đây là Thái Bình thuộc Sơn Nam thì không phải39. Vậy Việt sử thông giám cương mục khẳng định Phật Tử và Việt Vương đánh nhau năm 557 tại Thái Bình thuộc tỉnh Sơn Tây. Không lý gì mà huyện Thái Bình quê Lý Bí (503-548) lại thuộc tỉnh Thái Bình. Việt sử thông giám cương mục còn chú thêm rằng hai thôn Đường, Nguyễn thuộc Thái Bình, được nhắc đến ở thế kỷ thứ X, là Thái Bình thuộc Sơn Tây.

        Ý thứ ba: Về hai thôn Đường, Nguyễn đó, Đại Việt sử ký toàn thư có nhắc đến:

        "Canh Tuất (950)... Tam Kha sai Xương Văn và hai sứ là họ Dương và họ Đỗ đem quân đi đánh hai thôn Đường, Nguyễn ở Thái Bình"40. Chúng tôi đồng ý với Đỗ Đức Hùng rằng: "Hai thôn Đường Lâm (nay ở thị xã Sơn Tây) và Nam Nguyễn (nay ở Ba Vì) ở sát nhau cách thị xã Sơn Tây ngày nay 5 km dọc theo đường 11A"41. Theo chúng tôi, có thể sau Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha thoán đoạt đã gây bất bình trong họ hàng và nhân dân quê Ngô Quyền là người Đường Lâm và Nam Nguyễn. Nhân dân ở đấy đã nổi lên chống lại Dương Tam Kha, vì thế Tam Kha phải cử quân đi đánh hai thôn đó. Vậy hai thôn Đường, Nguyễn mà sử chép chính là hai thôn Đường Lâm và Nam Nguyễn gọi tắt thuộc huyện Thái Bình tồn tại từ thế kỷ thứ VII thời đường. Thôn Nam Nguyễn nay được gọi là Nam An thuộc xã Cam Thượng, huyện Ba Vì, Hà Nội42.

        “Ất sửu năm thứ 15 (965)... Vua (Ngô Xương Văn) đem quân đi đánh hai thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình, vào đến cõi, đổ thuyền lên bờ đánh, bị nỏ của quân phục bắn trúng, chết”43. Vậy là Ngô Xương Văn đi thuyền theo sông Hồng lên mạn Sơn Tây, cập bến Hà Tân, đổ bộ lên Đường Lâm, Nam Nguyễn.

        Tóm lại, ta chỉ có thể hiểu được quê hương Lý Bí (503-548), trận địa giao tranh giữa Lý Phật Tử và Triệu Quang Phục (557) và hai thôn Đường, Nguyễn mà hai lần Ngô Xương Văn đến đánh dẹp (950-965), phải cùng một huyện Thái Bình, được lập năm 621-622 đời Đường thuộc ngoại thành phía tây Hà Nội hiện nay (tỉnh Sơn Tây trước đây). Vậy Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng huyện Thái Bình, quê hương Lý Bí là thuộc phủ Long Hưng được lập đời Trần, nay là tỉnh Thái Bình là không hợp với lý lẽ trên.

        Quê Lý Bí là huyện ngoại thành nào của Hà Nội?

        Nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ KH2, nhưng đi vào chi tiết vẫn có khác nhau, chúng tôi xin bình luận tiếp mấy ý sau:

        Một là, vấn đề "hai thôn Đường, Nguyễn" còn có những ý kiến khác nhau. Các nhà nghiên cứu đều nhất trí thôn Đường là Đường Lâm, nay thuộc thị xã Sơn Tây. Trần Quốc Vượng cho rằng "Nguyễn là Nguyễn Gia Loan, nơi cát cứ của Nguyễn Khoán, cũng tự xưng là Thái Bình (Nguyễn Gia Loan là tên núi Độc Nhũ hay Biện Sơn ở Vểnh Mô trước thuộc An Lạc, Vĩnh Yên, nay thuộc huyện Mê Linh, ngoại thành Hà Nội44). Theo chúng tôi, có nhẽ Trần Quốc Vượng muốn nói đến Vĩnh Lạc thuộc tỉnh Vĩnh Phú hiện nay.  

        Chúng tôi ủng hộ ý kiến của Đỗ Đức Hùng đã nêu ở phần trên rằng Nguyễn là Nam Nguyễn (nay là Nam An thuộc Ba Vì) ngay cạnh Đường Lâm, vì nghĩ rằng cuộc nổi dậy thường nổ ra trên những địa điểm gần nhau và cùng một phía bên sông, ít khi ở hai thôn cách xa nhau và bị ngăn cách bằng một con sông lớn như sông Hồng. Việc Nguyễn Khoán lấy tên là Thái Bình chắc không phải theo địa danh vì sử đã ghi địa danh ông cát cứ là Tam Đái45, vả lại 11 sứ quân kia không ai đặt tên theo địa danh.

---------------------
        39. Việt sử thông giám cương mục. Tiền biên, tập 2, tr. 9.

        40. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Sđd, tr. 149, 151.

        41. Về tên đất Thái Bình, quê hương Lý Bôn, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 191, 1980, tr. 63-65.

        42. Bùi Thiết. Làng xã ngoại thành Hà Nội, NXB Hà Nội, Hà Nội, 1985, tr. 30.

        43. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 , Sđd , tr.149, 151.

        44. Lịch sử Việt Nam, tập 1 , Sđd, tr. 285.

        45. Những người trẻ làm nên lịch sử, Sđd, tr. 151.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 09:14:40 PM

        Hai là, ở huyện Ba Vì còn có làng Thái Bình thuộc xã Đông Thái, xưa thuộc xã Vật Lại46. Bùi Thiết có nhận xét: "Làng Thái Bình là một làng cổ, tên gọi này gợi cho các nhà nghiên cứu tìm kiếm có phải đây là đất Thái Bình, quê hương của Lý Bôn thế kỷ thứ VI"47.

        Chúng tôi không tin vào điều này lắm, vì đây chỉ là một làng, chưa phải là một huyện như Việt điện u linh đã viết mà năm 621 nhà Đường đặt ra, thuộc Giao Châu là một trong 17 châu phủ48, huyện này lại phải chứa Đường Lâm, Nam Nguyễn.

        Chúng tôi còn tìm thấy trong Từ điển thôn xã Việt Nam do Ngô Vi Liễn soạn năm 1924 có huyện Thái Bình thuộc phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông49, nhưng vì Ứng Hoà ở phía nam của Hà Nội, không khớp với những lập luận trên, nên chúng tôi loại trừ ngay, không khảo cứu kỹ về lai lịch của huyện này.

        Ba là, cần bàn kỹ xem huyện Thái Bình đó là vùng nào ở ngoại thành phía tây Hà Nội.

        1. Kết luận của Đỗ Đức Hùng là: ”Giới hạn huyện Thái Bình thuộc vùng đất Giao Châu xưa (thế kỷ VI) nay (1980) là đất các huyện Hoài Đức, Quốc Oai, Thạch Thất và Ba Vì (tỉnh Hà Sơn Bình). Đây là miền đất được các nhà nghiên cứu coi là miền đất cổ, dân cư đã sinh tụ đông đúc từ lâu đời, là miền đất trung tâm của đất nước ta xưa”50. Theo những quy định gần đây nhất về đơn vị hành chính, thì miền đất Đỗ Đức Hùng xác định có lẽ thuộc huyện Ba Vì, thị xã Sơn Tây, huyện Phúc Thọ, Thạch Thất, huyện Đan Phượng và huyện Hoài Đức của Hà Nội cùng huyện Quốc Oai của Hà Sơn Bình nay.

        Liệu có thể thu hẹp phạm vi này lại được không?

        2. Nguyễn Vinh Phúc muốn giải quyết vấn đề đó ông cho rằng: Huyện Hoài Đức có tới năm làng thờ vị anh hùng này: Đại Tự (làng Thía), Lưu Xá (Chồi Lựu), Giang Xá (Chồi Giang), Di Trạch (làng ải), Miêu Nha (làng Ngà, nay thuộc Từ Liêm). Ở huyện Đan Phượng có hai nơi thờ Lý Bí: Phương Lang nội và Phương Lang ngoại. Vậy muốn tìm quê hương vị anh hùng này phải hướng về khu vực Đan Phượng, Hoài Đức. Đó là điều hợp lý hơn cả51.

        Chúng tôi đã đi tìm kiếm theo hướng đó, nhưng thật bất ngờ, kết quả là ngược lại.

        3. Khi về Miêu Nha (làng Ngà) xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, ở đấy có đình thờ Lý Nam Đế, chúng tôi được nhân dân địa phương cho biết: đây không phải là quê hương ông mà chỉ là nơi ông đóng quân và đánh giặc.

        Thần phả thôn Di Trạch (xưa là Di Ải, tên nôm là làng Ải), xã Di Trạch, huyện Hoài Đức52, thôn này cũng có đình thờ Lý Nam Đế, cũng ghi rằng quê ông ở Thái Bình, Long Hưng, tức là không phải ở Di Trạch.

        Thần phả làng Giang Xá chồi Giang), xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, nơi thờ Lý Nam Đế mà Minh Tú đã giới thiệu53 cũng không là quê ông.

        Vậy theo cách lập luận ngoại trừ, ta dễ nhận thấy Từ Liêm, Hoài Đức không phải là Thái Bình xưa và cũng không phải là quê hương Lý Bí.

        Chúng tôi còn được biết có năm địa điểm nữa ở Hà Nội có thờ Lý Nam Đế là:

        - Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức.

        - Thôn Đại Tự, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức.

        - Thôn Yên Bệ, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức.

        - Thôn Phương Lang nội, xã Trung Châu, huyện Đan Phượng.

        - Thôn Phương Lang ngoại xã Trung Châu, huyện Đan Phượng.

        Ở Hà Sơn Bình có xã Ngọc Than thuộc huyện Quốc Oai cũng thờ Lý Nam Đế.

        Trong danh sách này có thêm huyện Đan Phượng và huyện Quốc Oai. Tuy chưa có điều kiện đến tất cả các nơi trên, chưa được đọc các thần phả của các làng đó, nhưng bằng trực giác, chúng tôi có phỏng đoán rằng nhân dân các địa phương trên, cũng như thần phả ở đó sẽ không nhận nơi ấy là quê ông mà chỉ biết và nói quê ông ở Thái Bình. Điều này cũng dễ hiểu, bởi nếu có một nơi nào nhận là quê ông thì đã có người phát hiện và chắc chắn giờ đây chúng ta không còn phải bàn đến. Còn một lý do nữa là phần lớn các thần phả được Nguyễn Bính soạn vào thế kỷ XVI, khi mà tác giả bộ Đại Việt sử ký toàn thư đã nhầm rằng quê Lý Bí ở Thái Bình, Long Hưng, nên chắc rằng ông cũng chỉ có thể ghi như vậy.

--------------------
        46, 47. Ngô Vi Liễn. Từ điển thôn xã Việt Nam, 1924, tr. 60-94.

        48. Vân đài loại ngữ, tập 1, Sđd. tr.173.

        49. Ngô Vi Liễn. Từ điển thôn xã Việt Nam, 1924, tr. 15, 60-94.

        50. Về tên đất Thái Bình, quê hương Lý Bôn, Tlđd, tr. 63-65.

        51. Quê hương Lý Bí, Tlđd.

        52. Thần phả thôn Di Trạch, xã Di Trạch, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Lưu giữ tại Ban bảo vệ di tích lịch sử thôn.

        53. Minh Tú. Di tích Lý Nam Đế, Báo Nhân Dân số 1 1659, ngày 8-6-1986.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 09:15:40 PM

        4. Chúng tôi còn được đọc cuốn Lý triều Trung thần Thẩm Động Quý vương Đại vương ngọc phả của trang Nguyên Xá, huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây54 do Hàn Lâm Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Đức nguyên niên. Thần phả nói về Trương Chủng (út Quý) quê ở địa phương được Lý Nam Đế phong làm Tiền tướng quân. Thần phả này cũng viết rằng quê Lý Bí ở Thái Bình, Long Hưng như Đại Việt sử ký toàn thư, nghĩa là cũng công nhận quê Lý Bí ở đó. Ở đây lại thêm huyện Thạch Thất không phải quê Lý Bí.

        Cũng có nhiều triển vọng rằng thần phả các làng có thờ các vị vua khác của triều Tiền Lý cũng như các vị tướng của triều đại này khi nhắc tới Lý Bí hoặc là như một người đồng hương, hoặc là không đồng hương của các vị thần làng cũng sê không nhận Lý Bí quê ở đó, mà chỉ ghi Lý Bí quê ở Thái Bình. Để tiên khảo cứu tiếp, chúng tôi xin liệt kê các địa danh này.

        Có năm nơi thờ Lý Phục Man:

        - Thôn Giá Lụa, xã Yên Sở (Cổ Sở), huyện Hoài Đức. Đây là quê của Lý Phục Man.

        - Thôn Mộc Hoàn, xã Vân Côn, huyện Hoài Đức.

        - Thôn Phương Bằng, xã Song Phương, huyện Hoài Đức.

        - Thôn Tiên Lệ sặt), xã Tiên Yên, huyện Hoài Đức.

        - Thôn Canh Nậu, xã Canh Nậu, huyện Thạch Thất.

        Có một nơi thờ Triệu Túc:

        - Thôn Dịch Vọng Trung, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm.

        Có một nơi thờ các ông Trịnh, Đô, Hộ, Quốc là các tướng của Lý Nam Đế: thôn Đức Thượng, xã Đức Hoà, huyện Hoài Đức.

        Có một nơi thờ Lý Thiên Bảo: thôn Phù Long, xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ.

        Có một nơi thờ Đô Bảo, tướng của Triệu Quang Phục: thôn Dịch Vọng Tiền, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm.

        Có ba nơi thờ Lý Phật Tử:

        - Thôn Dịch Vọng Hậu, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm.

        - Thôn Dịch Vọng Sở, xã Mai Dịch, huyện Từ Liêm.

        - Thôn Mai Dịch, xã Mai Dịch, huyện Từ Liêm.

        Tóm lại, ngoài Trương Chủng được thờ ở Thạch Thất, còn có năm nơi ở Hoài Đức, năm nơi ở Từ Liêm, một nơi ở Thạch Thất, một nơi ở Phúc Thọ có thờ các vị vua hoặc tướng thời Tiền Lý. Chỉ còn huyện Ba Vì, thị xã Sơn Tây là chưa được nhắc tới.

        5. Chúng tôi nghĩ rằng, nếu mở rộng hơn một chút nữa, khảo cứu đến những nơi thờ Nhã Lang, con của Lý Phật Tử, rất có thể ta cũng thu được thêm những thông tin về triều đại này có liên quan đến quê hương Lý Bí. Chúng tôi thấy có năm nơi thờ Nhã Lang:

        - Xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng.

        - Thôn Chu Chàng, xã Minh Châu, huyện Ba Vì.

        - Thôn Chu Quyến, xã Chu Minh, huyện Ba Vì.

        - Thôn Phú Cường, xã Phú Cường, huyện Ba Vì.

        - Thôn Bằng Lũng, xã Tiên Phong, huyện Ba Vì.

        6. Thần phả làng Giang Xá55 cho ta biết rằng Lý Bí mồ côi cha lúc 5 tuổi, mồ côi mẹ lúc 7 tuổi, sau làm con nuôi một vị sư khi Lý Bí 13 tuổi, vị sư này về đây tu hành, mang theo cả Lý Bí. Thế là Giang Xá, Hoài Đức trở thành quê hương thứ hai và là đất dấy nghiệp của ông.

        Nếu chi tiết có tính dã sử này đúng, thì có thể góp phần lý giải vì sao tại quê hương ông không có đền thờ ông. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sớm rời quê hương, ông lại chỉ làm vua 5 năm mà chỉ có 1 năm yên hàn, chưa đủ để củng cố chính quyền, triều Tiền Lý không dài, không ổn định, tiếp theo là 300 năm Bắc thuộc. Đó là lý do khiến cho ký ức dân gian về ông không còn gì ở quê hương.

        Nhân đây chúng ta có thể liên hệ đến trường hợp 12 vị tướng của Hai Bà Trưng có quê ở Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, đã chiến đấu và hy sinh ở những nơi khác, tại đó có đền thờ các vị, nhưng tại quê hương Đường Lâm không còn di tích gì.

        7. Bây giờ chúng ta quay trở lại biện luận một cách chặt chẽ hơn. Trong Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh viết: "Huyện Giao Chỉ-đầu đời Đường, năm 622, tách đất Tống Châu đặt hai huyện Giao Chỉ và Hoài Đức. Năm 627, lấy ba huyện Hoàng Giao, Hoài Đức và Giao Chỉ cho nhập vào huyện Tống Bình và đổi tên huyện Giao Chỉ sang cho châu Nam Từ. Chúng ta có thể đặt huyện Giao Chỉ mới ở đời Đường (huyện Nam Từ cũ) ở phía tây bắc Hà Nội, vào khoảng giữa Hoài Đức và thị xã Sơn Tây"56.

        Huyện Thái Bình đời Tuỳ, Đường so với huyện Giao Chỉ phải xa hơn nữa về phía Tây, tức là phải ở vào khoảng thị xã Sơn Tây và huyện Ba Vì hiện nay.

        Tất cả những phân tích trên đây cho phép chúng tôi tạm rút ra kết luận sau đây:

        Huyện Thái Bình được lập từ thời Tùy, Đường  là quê hương Lý Nam Đế, huyện Thái Bình này nhất thiết phải chứa Đường Lâm, nay thuộc thị xã Sơn Tây và huyện Nam Nguyễn (nay là Nam An) thuộc Ba Vì.

        Phạm vi của huyện Thái Bình có nhiều triển vọng là vùng đất của thị xã Sơn Tây và huyện Ba Vì hiện nay, trong một chừng mực nào đó, có thể bao gồm một phần đất huyện Phúc Thọ và huyện Thạch Thất của Hà Nội và một phần đất huyện Quốc Oai của Hà Sơn Bình, nhưng không thể là vùng đất thuộc các huyện Đan Phượng, Hoài Đức và Từ Liêm.
---------------------
        54. Lý triều Trung thần Thẩm Động Quý vương Đại vương ngọc phả lục, Chi đệ thất bộ (Quốc triều chính bản). Lưu giữ tại Ban bảo vệ di tích lịch sử thôn Nguyên Xá huyện Thạch Thất, Hà Nội.

        55. Di tích Lý Nam Đế, Tlđd.

        56. Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, tr. 75.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:35:51 PM
        
CÓ MỘT TRẬN QUYẾT CHIẾN TRÊN SÔNG BẠCH ĐẰNG MÙA XUÂN TÂN TỴ (981)57

LÊ ĐÌNH SỸ        

        Cho đến nay, trong giới sử học, còn tồn tại khá nhiều ý kiến khác nhau về cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất và về chiến sự trên sông Bạch Đằng mùa Xuân năm Tân Tỵ (981). Chỉ riêng về trận Bạch Đằng, hiện đang là một vấn đề tranh cãi, ý kiến rất khác biệt. Không ít nhà nghiên cứu đã nghi ngờ hoặc phủ nhận chiến công này, dẫn đến tình trạng một số sách hoặc từ điển khi viết về truyền thống Bạch Đằng đã không đề cập đến. Vì vậy, câu hỏi: "Có hay không một trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng?" thời đó, rất cần được giải đáp thoả đáng.

        Một số nhà sử học đã dựa vào một vài sử liệu trong đó có sách Đại Việt sử ký toàn thư, chứng minh rằng, đầu năm 981, quân Tống chia làm ba đạo tiến vào Đại Cồ Việt. Đạo chủ lực là bộ binh, do Hầu Nhân Bảo chỉ huy, vượt Nam Quan vào Lạng Sơn. Đạo thứ hai là thủy binh, do Lưu Trừng cầm đầu, từ biển tiến vào sông Bạch Đằng rồi vào sông Lục Đầu, liên lạc với bộ binh của Hầu Nhân Bảo, đánh chiếm vùng tả ngạn sông Hồng. Đạo thứ ba cũng là thủy binh, do Trần Khâm Tộ điều khiển, tiến vào sông Hồng vừa tiến công các cánh quân của Lê Hoàn xuất phát từ Hoa Lư, vừa chiếm một số vùng châu thổ sông Hồng, trong đó có cả thành Đại La, làm bàn đạp đánh chiếm kinh đô Hoa Lư và cả nước Đại Cồ Việt. Theo cách hiểu này thì Hầu Nhân Bảo đã bị quân ta chặn đánh và giết chết ở ải Chi Lăng(?). Cũng có ý kiến căn cứ vào bản dịch sách Việt sử lược và một số tư liệu khác, chứng minh rằng Hầu Nhân Bảo vượt biên giới tiến qua Ngân Sơn (Cao Bằng), qua Thái Nguyên, rồi bị quân ta đánh tiêu diệt ở Bình Lỗ (Sóc Sơn, Hà Nội). Theo hai cách lý giải trên, cánh chính binh Hầu Nhân Bảo không đi theo đường thủy qua Bạch Đằng. Như vậy, đối tượng tác chiến của Lê Hoàn trên hướng Bạch Đằng không phải là đoàn quân Hầu Nhân Bảo và trận Bạch Đằng nếu có chỉ là trận ngăn chặn đạo quân của Lưu Trừng mà thôi.

        Gần đây, một số nhà sử học đã chứng minh và hiểu theo cách mới, cho rằng Hầu Nhân Bảo không tiến hướng bộ Lạng Sơn hoặc Ngân Sơn, mà theo hướng Lãng Sơn (Quảng Ninh), qua sông Bạch Đằng và liên lạc với đạo quân bộ ở Lãng Sơn và Hoa Bộ rồi bị đánh và bị tiêu diệt trên sông Bạch Đằng (981). Quan điểm này cho rằng thủy binh Hầu Nhân Bảo đến trước và thủy binh Lưu Trừng đến sau đều tập kết ở sông Bạch Đằng; còn cánh quân bộ từ Ung Châu qua Qủy Môn quan, qua Tô Mậu tiến vào, gồm các tướng Tôn Toàn Hưng, Hắc Thủ Tuấn, Trần Khâm Tộ, Thôi Lượng...

        Sự phản ánh của sử liệu quá ít ỏi, tản mạn, không rõ ràng và còn trái ngược nhau dẫn đến nhận thức lịch sử rất khác nhau và kết quả là chúng ta chưa xây dựng được một bức tranh khả dĩ đầy đủ và chân xác về diễn biến chiến sự trên sông Bạch Đằng (981) và thậm chí cũng chưa trình bày được những nội dung cơ bản, những nét khái quát nhất về diễn biến chiến trận ấy một cách hợp lý, lôgic làm cơ sở cho những thể hiện tiếp theo về bức tranh đó.

        Chúng tôi thấy rằng, cách chứng minh Ngân Sơn chính là Lãng Sơn và Hầu Nhân Bảo chủ tướng giặc chỉ huy đạo quân tiến theo đường thủy qua sông Bạch Đằng là tương đối hợp lý hơn, phù hợp với nhiều sử liệu của nước ta và sử liệu của Trung Quốc đương đại. Đây là mũi, hướng tiến công chính cửa quân Tống, do đó đã thu hút sự quan tâm của Lê Hoàn và được Lê Hoàn tập trung lực lượng chủ yếu của mình để ngăn chặn và tiêu diệt.

        Việc Lê Hoàn cho đóng cọc trên sông Bạch Đằng chống binh thuyền Hầu Nhân Bảo là có thật, là sự kế thừa kinh nghiệm của Ngô Quyền; nhưng Lê Hoàn đã không thực hiện được trận mai phục bằng sự kết hợp giữa phục binh và trận địa cọc ngầm. Chiến sự lần này diễn ra không được mau lẹ, thuận lợi như trận Bạch Đằng của Ngô Quyền đánh giặc Nam Hán (938). Thực tế, chiến sự trên sông Bạch Đằng trong kháng chiến chống Tống lần thứ nhất diễn ra nhiều lần, nhiều đợt với những trận đánh khác nhau kể từ tháng Chạp năm Canh Thìn (980) đến tháng Ba năm Tân Tỵ (4-981).

        Sử liệu Trung Quốc, sách Tống sử liệt truyện, Tống sử bản kỷ, Tục tự trị thông giám trường biên, Đông đô sử lược v.v… đều chép rằng: "Năm Thái Bình hưng quốc thứ năm, mùa Đông… quan quân tiến đánh, phá được giặc" (Tống sử liệt truyện) và "Năm Thái Bình hưng quốc thứ năm (980), tháng Chạp ất Dậu (981) (?) Giao Châu hành doanh đánh nhau với giặc, phá được quân giặc" (Tống sử bản kỷ). Sách An Nam chí lược của Lê Trắc chép: "Mùa Thu năm ấy (980) tiến quân đánh. Mùa Đông tháng Chạp đánh nhiều trận phá được hàng vạn quân Giao Chỉ. Sang mùa Xuân năm sau lại phá được giặc ở sông Bạch Đằng".

-----------------------
        57. Tạp chí LSQS số 2-2001.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:39:32 PM

        Sử của ta, Việt sử thông giám cương mục cho biết, sau khi Lê Hoàn cử sứ giả sang Tống làm kế hoãn binh, bị vua Tống cự tuyệt thì "Nhà vua tự làm tướng, ra kháng chiến; sai quân sĩ đóng cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn địch. Quan quân Tống đông lắm. Quan quân ta đánh bất lợi: Hai trăm thuyền đều bị địch lấy mất cả. Hầu Nhân Bảo đem tiền quân tiến lên trước". Ngoài Tống sử và chính sử nước ta, nhiều thần tích ở Hải Phòng, Quảng Ninh và Hải Dương còn phản ánh chiến sự xảy ra trên đường tiến của Hầu Nhân Bảo; nhưng các trận đánh buổi đầu đó, quân ta gặp khó khăn, không chặn nổi giặc, thủy binh Hầu Nhân Bảo đã chiếm được sông Bạch Đằng và các làng mạc xung quanh, chúng đã đặt "Giao Châu hành doanh" tại đó.

        Như vậy, việc đóng cọc ở sông Bạch Đằng chỉ có tác dụng ngăn cản phần nào bước tiến của thủy binh Tống, chứ không đủ khả năng chặn đối phương tạo nên một thắng lợi quyết định ngay từ đầu như thời Ngô Quyền chống Nam Hán (938) hoặc không giống như thời Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên (1288). Điều này giúp ta lý giải, vì sao sử sách của ta xưa khi bàn về bí quyết thành công của Lê Hoàn không đề cập đến tác dụng của trận địa bãi cọc. Lê Văn Hưu đánh giá cao tài năng quân sự của Lê Hoàn, nhưng không nói gì đến trận địa cọc Bạch Đằng. Trần Hưng Đạo trong Di chúc năm 1300 chỉ ca ngợi việc Đắp thành Bình Lỗ để phá giặc, không nói gì đến tác dụng của trận địa cọc ngầm chống Tống của Lê Hoàn. Do đó, không nên mô tả trận đánh trên của Lê Hoàn giống như các trận Bạch Đằng khác của Ngô Quyền và Trần Quốc Tuấn; và cũng không nên vì thế mà cho rằng trên hướng sông Bạch Đằng không diễn ra trận quyết chiến nào khác của Lê Hoàn sau đó.

        Mục tiêu của nhà Tống tiến quân xâm lược Đại Cồ Việt, trước hết nhằm chiếm kinh đô Hoa Lư để thủ tiêu nhà nước do Lê Hoàn xưng Hoàng đế, biến nước ta thành một lộ của nước Tống do quan lại Tống trực tiếp cai trị. Việc vua Tống phong Hầu Nhân Bảo chức "Giao Châu Lộ kế độ chuyển vận sứ" có lẽ là dự kiến nhân sự cho bộ máy cai trị về sau, một khi đã bình định được Giao Châu của người Việt.

        Muốn chiếm được Hoa Lư thì các đạo quân thủy, bộ nhà Tống phải phối hợp được với nhau ở khu vực lưu vực sông Nhị Hà (sông Hồng). Nhưng lúc đó, do sự đánh trả quyết liệt của quân và dân ta, các đạo quân Tống không thể liên lạc với nhau, không hội quân được. Tôn Toàn Hưng buộc phải đóng lỳ ở Hoa Bộ. Hầu Nhân Bảo không thể chờ được viện quân của Lưu Trừng và Trần Khâm Tộ, đã quyết định cùng Quách Tiến kéo toàn bộ quân thủy bộ dưới quyền tiến từ sông Bạch Đằng đến sông Luộc để vượt thành Bình Lỗ đánh Hoa Lư. Kết quả là tại đây Hầu Nhân Bảo đã bị quân ta giáng một đòn mạnh, bị tổn thất nặng nề, phải quay binh thuyền rút về sông Bạch Đằng. Trần Hưng Đạo đã đánh giá cao trận đánh này rằng: "Thời Đinh-Lê dùng được người tài giỏi… xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống...".

        Sau thất bại Lỗi Giang, trở lại sông Bạch Đằng, đạo thủy binh Hầu Nhân Bảo đã gặp quân của Lê Hoàn và trận quyết chiến, trận đánh quyết định số mệnh Hầu Nhân Bảo và đoàn quân xâm lược, đã diễn ra giữa quân dân ta với quân Tống ngay trên sông Bạch Đằng vào tháng Ba năm Tân Tỵ (tức tháng 4-981).

        Tống sử chép: "Thái Bình Hưng quốc năm thứ sáu (981), mùa Xuân, tháng ba ngày Nhâm Tuất (1-5-981), Giao Châu hành doanh lại phá được giặc Giao Chỉ ở sông Bạch Đằng, cướp được 200 chiến hạm... Tri Ung Châu Hầu Nhân Bảo bị giết ở trận này" (Tống sử bản kỷ). Giả Thực truyện trong Tống sử ghi: "Lê Hoàn giả vờ xin hàng, Tôn Toàn Hưng cứ tưởng là thật, chẳng lo phòng bị, nên thua to...".

        Sách Tục tự trị thông giám trường biên của Lý Đào chép: “Thái Bình hưng quốc năm thứ sáu, tháng Ba ngày Kỷ Mùi (28-4-981), Giao Châu hành doanh phá được 15.000 quân của Lê Hoàn ở sông Bạch Đằng, chém hơn 1.000 thủ cấp, lấy được 200 chiến hạm, thu nhặt được hàng vạn mũi tên, áo giáp. Cũng trận này, giặc giả hàng để dụ Nhân Bảo. Nhân Bảo cả tin, liền bị giặc giết hại".

        Tống sử liệt truyện ghi: "Lê Hoàn giả vờ xin hàng để đánh Hầu Nhân Bảo. Nhân Bảo bị giết chết" và "Nhân Bảo bị giặc vây bị giết ở giữa sông".

        Sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng, phần chép về Hầu Nhân Bảo ở trận Bạch Đằng tháng Ba năm Tân Tỵ cho biết thêm: "...Nhân Bảo đem vạn quân xông lên trước, thế giặc rất mạnh, viện quân phía sau đến không kịp, trận thế bị vây hãm nên Nhân Bảo bị loạn quân giết chết, quẳng xác xuống sông. Vua Tống nghe chuyện lấy làm thương tiếc, truy tặng rất ưu hậu”.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:40:17 PM

        Sách Việt sử lược (nguyên bản Tứ khố toàn thư) chép: Năm Tân Tỵ, năm đầu niên hiệu Thiên Phúc, mùa Xuân, tháng Ba (4-981), quân Hầu Nhân Bảo đến (theo đường) Lãng Sơn, quân Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, quân của Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng. Vua tự làm tướng, sai quân đóng cọc chặn sông… Quân Tống lui giữ Ninh Giang, vua sai trá hàng dụ Nhân Bảo. Quân Tống thua, ta bắt chém Hầu Nhân Bảo; bọn Khâm Tộ nghe tin quân Bảo thua, liền tháo chạy". Sách Đại Nam nhất thống chí và rất nhiều thần tích ở vùng Thủy Nguyên (Hải Phòng), ở Kim Môn, Chí Linh (Hải Dương) đều phản ánh trận Bạch Đằng năm 981 là một chiến công vang dội, lẫy lừng của quân dân ta trong kháng chiến chống Tống.

        Diễn biến chiến sự trên sông Bạch Đằng mùa Xuân Tân Tỵ cho thấy, việc đánh tan quân Tống, giết chết Hầu Nhân Bảo là việc không mấy dễ dàng. Bởi vậy, Lê Hoàn mưu tính dùng kế trá hàng để làm kiêu lòng địch, hy vọng giết được chủ tướng giặc. Cách xử sự khôn khéo của Lê Hoàn đã được Tống sử chép: "Lê Hoàn giả vờ xin hàng mà Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng cứ tưởng là thật...". Vì thế, ngày 28-4-981, tướng Hầu Nhân Bảo bị giết tại sông Bạch Đằng và toàn bộ đạo quân Tống ở đây bị đánh bại. Cho dù chính sử nhà Tống có khuếch trương là giết được nhiều quân Lê Hoàn, thu được nhiều binh thuyền, giáp trụ của ta, nhưng cũng không che giấu được cái thực tế cay đắng là Hầu Nhân Bảo bị mắc mưu và bị giết, quan quân Tống đại bại.

        Trên thực tế, trận Bạch Đằng ngày 28-4-981 được Lê Hoàn tính toán kỹ. Với mưu lược tài giỏi, ông đã chỉ huy các tướng lĩnh, binh sĩ và dân binh thực hiện một trận quyết chiến, đánh trận phản công quyết định vào quân viễn chinh Tống. Có thể hình dung trận này như sau: Lê Hoàn đã chọn một khúc sông hiểm yếu bố trí sẵn phục binh, sau đó cho một cánh quân khiêu chiến với quân Hầu Nhân Bảo. Chiến sự đang diễn ra quyết liệt thì quân ta giả thua chạy, quân Tống "thừa thắng" đuổi theo. Khi binh thuyền địch lọt vào trận địa mai phục, Lê Hoàn tung quân đánh và đã giành được thắng lợi lớn. Hầu Nhân Bảo bị giết trong loạn quân. Tuy chưa có đủ tư liệu để dựng lại trận thủy chiến này một cách hoàn hảo như trận Bạch Đằng thời Trần Hưng Đạo tiêu diệt Ô Mã Nhi (1288), nhưng có thể coi đây là một trận quyết định diễn ra rất ác liệt và thắng lợi rất vẻ vang. Với vũ công này, quân và dân ta đã giết được tên chủ tướng nguy hiểm, hiếu chiến nhất của giặc và đánh bại hoàn toàn đạo thủy quân Tống. Thắng lợi to lớn của Lê Hoàn và các tướng sĩ thời Tiền Lê trong trận Bạch Đằng Xuân Tân Tỵ được nhân dân trăm họ ngợi ca và tiếng vang lưu truyền hậu thế. Đôi câu đối ở đền thờ Lê Đại Hành (Phủ Diễn, Thanh Trì) có viết:

                                         “Đế đô tích tại Hoa Lư động,
                                         Thánh vũ kim tồn Bạch Đằng giang”

                                         (Động Hoa Lư tráng lệ Đế đô,
                                         Sông Bạch Đằng lưu truyền chiến tích).


        Được tin Hầu Nhân Bảo bị giết trên sông Bạch Đằng, Tôn Toàn Hưng cho quân tháo chạy, đạo quân Trần Khâm Tộ ở Tây Kết lo sợ rút lui, bị quân ta truy kích, tiêu diệt đến quá nửa. Các tướng giặc Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân bị bắt giải về Hoa Lư. Cuộc chiến tranh giữ nước dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn đã giành thắng lợi.

        Chiến thắng của quân dân ta mùa Xuân năm Tân Tỵ (981), trong đó có trận quyết chiến Bạch Đằng tháng Ba năm Tân Tỵ (28-4-981), là bất ngờ lớn nhất đối với nhà Tống. Đây là đòn cảnh cáo quyết liệt có ý nghĩa lâu dài, làm sụp đổ hoàn toàn tinh thần và ý chí của đối phương, buộc nhà Tống phải ra lệnh rút quân, từ bỏ dã tâm xâm lược Đại Cồ Việt. Chúng ta không nên phủ nhận hoặc hạ thấp chiến công này. Và cũng chính vì thế, nhân dịp kỷ niệm 1.020 năm kháng chiến chống Tống lần thứ nhất, chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu để khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng mùa Xuân Tân Tỵ (981).


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:46:01 PM

VÌ SAO TÊN LÊ ĐẠI HÀNH ĐƯỢC ĐẶT CHO MỘT ĐƯỜNG PHỐ HÀ Nội?58

LÊ VĂN LAN       

        Hà Nội hiện có một đường phố (và một ngõ phố) mang tên Lê Đại Hành.

        Theo nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, phố Lê Đại Hành dài 450m, chạy trên phần đất của hai thôn Hậu Phong Vân và Long Hồ, thuộc tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương ngày xưa. Tới giữa thế kỷ XIX, hai thôn này hợp lại thành thôn Vân Hồ, thuộc tổng Kim Liên (là tên mới đổi, cũng vào lúc này, của tổng Tả Nghiêm). Còn ngõ Lê Đại Hành thì nối đường phố này với phố Thái Phiên, xưa thuộc khu vực đàn Nam Giao đời Lê. Chứng cứ ngôi nhà bia, có tấm bia "Nam Giao điện bi ký" (khắc năm 1679), trước năm 1926 năm người Pháp mở đường qua khu vực này, phá nhà bia, đem bia về đặt ở khu Bảo tàng Lịch sử bây giờ) thì bia và nhà bia vẫn ở chỗ đó.

        Chúng tôi muốn trình bày đôi điều về tên gọi Lê Đại Hành, được đặt cho con đường và ngõ phố vừa giới thiệu qua trên đây.

        Vẫn theo cụ Nguyễn Vinh Phúc thì, thời Pháp thuộc, chỗ này là "phố Hoàng Cao Khải". Tên Lê Đại Hành được thay cho tên Hoàng Cao Khải, từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Và, nguyên thủy của tên Lê Đại Hành, là (nguyên văn sách "Phố và đường Hà Nội", Nxb Giao thông vận tải, H, 2004, tr.336) như sau: "Đại Hành được coi là miếu hiệu (chúng tôi gạch chân) của Lê Hoàn".

        Vì sao, trước hai chữ "miếu hiệu', mà chúng tôi gạch chân, lại có ba chữ "được coi là"?

        Mọi người đều biết: miếu hiệu, tên để thờ ở Thái miếu, hoặc thụy hiệu, tên đẹp, của các bậc vua chúa ngày xưa, thường chỉ có (tức: ra đời, được đặt định) vào lúc kết thúc thời gian "quàn" (có thể nhanh chóng hoặc lâu dài, thậm chí dài đến cả năm trường) cái thân xác đã băng hà của các vị ấy ở toà điện thiêng nơi Cấm thành. Chẳng hạn như vua Lê Thánh Tông, băng hà ngày 30 tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1497) nhưng đến ngày 24 tháng Chạp năm ấy, mới có việc, như trong Đại Việt sử ký toàn thư chép, "dâng tôn hiệu cho Đại Hành Hoàng đế là: Sùng Thiên Quảng Vận Cao Minh Quang Chính Chí Đức Đại Công Thánh Văn Thần Vũ Đạt Hiếu, Thuần Hoàng Đế, miếu hiệu là: Thánh Tông", để rồi đến cuối Xuân năm sau (Mậu Ngọ 1498) tháng Ba ngày 8, đưa quan tài về Lam Kinh, an táng vào ngày 28 tháng ấy!”

        Trong đoạn sử bút vừa được dẫn nguyên văn, có mấy chữ đáng chú ý, là: "dâng tôn hiệu cho Đại Hành Hoàng đế”, “tức thị”; lúc được "dâng tôn hiệu” (vào ngày 24 tháng Chạp, cuối năm Đinh Tỵ) thì lúc ấy (tức thị: từ ngày 30 tháng Giêng đầu năm, chính thức băng hà, cho đến khi ấy) trong thời gian được quàn ở cung Bảo Quang, tên để gọi Lê Thánh Tông không phải là Thánh Tông) mà là Đại Hành!

        Sử thần nổi tiếng ở thế kỷ XIII là Lê Văn Hưu đã có lời giải thích rõ ràng về cái tên "Đại Hành" này: "Thiên tử và Hoàng hậu, khi mới băng, chưa chôn vào sơn lăng, thì gọi là Đại Hành Hoàng đế, Đại Hành Hoàng hậu. Đến khi lăng tẩm đã yên, thì họp bầy tôi, bàn xem đức hạnh hay hay dở, để đặt thụy hiệu, không gọi là Đại Hành nữa". Như vậy, rõ ra một quy luật nhân xưng, của và cho các đấng bậc trưởng thượng ngày xưa, rằng: Đại Hành chỉ là một cái tên dùng tạm, trong lúc các vị đã băng hà mà chưa được an táng, thế thôi.

        Vậy thì, Lê Hoàn, mất năm 1005, đến nay đã là đúng được 1.000 năm, cớ sao lại vẫn cứ phải mang mãi cái tên tạm thời là Lê Đại Hành thế?

        Lại vẫn chính Lê Văn Hưu ở thế kỷ XIII đã có lời giải thích như sau: "Lê Đại Hành thì (lại khác người mà) lấy Đại Hành làm thụy hiệu để truyền mãi đến nay là cớ làm sao? Vì: Ngọa Triều là con bất tiếu, lại không có bề tôi Nho học, để giúp đỡ mà bàn về phép đặt thụy hiệu, cho nên thành ra là thế!".

----------------------------
        58. Tạp chí LSQS số 10-2005.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:46:26 PM

        Như vậy, theo Lê Văn Hưu, có hai nguyên nhân khiến Lê Hoàn vẫn cứ mãi phải mang cái tên đặt tạm lúc mới mất.

        Về nguyên nhân “không có bề tôi Nho học giúp đỡ mà bàn về phép đặt thụy hiệu”, khi nhấn mạnh điều này, vị Bảng nhãn khoa thi Nho học năm 1247 Lê Văn Hưu, hẳn là muốn thiên về việc quảng bá cho đạo Nho, ở giữa một triều đại đương thời sùng Phật là nhà Trần, hơn là muốn chê trách sự thể không đủ trình độ tri thức ở thời Tiền Lê. Bởi vì thực tế, chắc chắn sử quan họ Lê biết, điều mà Đại Việt sử ký toàn thư đã chép rõ, là Lê Hoàn từng có dưới bệ rồng những bậc đại sư, như Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, đặc biệt là Thái sư Hồng Hiến-"người phương Bắc, thông hiểu kinh sử, thường theo các cuộc chinh phạt, làm quân sư, cùng là khuyên vua lên ngôi, mưu bàn việc nước, có công lớn, vua tin dùng như tâm phúc".

        Thế thì, cái nguyên nhân “Ngọa Triều là con bất tiếu” có phần chính xác hơn. Vì đúng là kẻ kế vị chiếc ngai vàng hoàng đế nước Đại Cồ Việt của Lê Hoàn này, không xứng đáng, “không giống ông cha" (tức: "bất tiếu")!

        Tuy nhiên, nói cho đầy đủ, thì Ngọa Triều dù sao cũng chỉ là một đầu mối-chắc chắn là đầu mối chính-của tình thế cực kỳ rối ren, sau khi Lê Hoàn mất. Và chính cái đại cuộc rối ren nghiêm trọng ấy, mới đích thực là nguyên nhân và hoàn cảnh khiến cho cả triều đình Hoa Lư và các tôn vương kế vị-đầu là Trung Tông (Long Việt) sau là Ngọa Triều (Long Đĩnh)-không còn lòng dạ nào mà nghĩ đến việc đặt cho Lê Hoàn một miếu hiệu (thụy hiệu) để dùng lâu dài nữa!

        Xem xét cho sâu kỹ hơn chút nữa, có thể thấy thêm rằng: nếu cái đại cuộc rối ren sau khi Lê Hoàn mất mà có đầu mối chính, quy về cho kẻ “bất tiếu” Long Đĩnh (Ngọa Triều), thì chỗ và lúc sinh ra cái đầu mối ấy, có thể và dường như, lại chính là... Lê Hoàn! Bởi vì, hệ thống lại tất cả công việc và công tích mà Lê Hoàn đã để tâm và tiến hành trong 24 năm “ở ngôi” ta thấy: ông đã tính và làm rất tốt, thậm chí cực hay, việc quân sự, ngoại giao, nội chính (tức dẹp loạn), kinh tế đặc biệt là nông nghiệp: cày tịch điền, giao thông-thủy lợi (kênh nhà Lê), cả văn hoá nữa (khôi phục tục bơi chải)... Nhưng về phương diện chăm lo cho thế hệ thứ hai trong gia đình (hoàng tộc, quý tộc) của mình nói chung, và nói riêng là việc giáo dục dạy dỗ chúng, thì ông hầu như không có động thái gì ngoài việc ban phát quyền lợi cho chúng hưởng thụ (tức: cho đứa này được hưởng "đóng ở" miền đất này, đứa kia được hưởng "đóng ở" miền đất kia). Sử thần Lê Văn Hưu, hơn 200 năm sau Lê Hoàn, có nói đến-nguyên văn-một "lỗi ở Đại Hành là không sớm đặt thái tử”, thật ra, chỉ là nói theo công thức, một điều cụ thể trong tổng thể phương thức ứng xử với con cái của Lê Hoàn mà thôi.

        Bởi thế, chính ở chỗ yếu này của Lê Hoàn, ta thấy sử thần tài danh họ Lê ở thế kỷ XIII đã tìm được một cách so sánh rất hay, giữa Lê Hoàn (Lê Đại Hành) và Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) để rút ra và nêu lên kinh nghiệm và bài học lịch sử rất có giá trị, về việc cần rèn tạo sắp đặt chặt chẽ, chỉn chu lực lượng và đội ngũ kế vị để chuyển giao việc triều chính, quốc gia đại sự, từ đời trước cho đời sau. Xin đọc kỹ lại đoạn sử bút sau đây của Lê Văn Hưu ở thế kỷ XIII, được Ngô Sĩ Liên dẫn lại vào thế kỷ XV: "Có người hỏi: Lê Đại Hành với Lý Thái Tổ ai hơn? Thưa rằng: Kể về mặt trừ dẹp gian trong, đánh tan giặc ngoài, làm mạnh nước Việt ta, ra oai với người Tống thì Lý Thái Tổ không bằng Lê Đại Hành (là người) có công lao gian khổ hơn. Nhưng về tỏ rõ ân uy, lòng người suy tôn, hưởng nước lâu dài, để phúc cho con cháu thì Lê Đại Hành không bằng Lý Thái Tổ (là người) biết lo tính lâu dài hơn".

        Như vậy, Lý Công Uẩn "biết lo tính lâu dài hơn" trong việc “để phúc cho con cháu”, vì là người đã được học hành, rèn tạo tri thức và trí tuệ rất kỹ (cho nên cũng dạy dỗ con cháu rất kỹ). Còn Lê Hoàn, cực kỳ vĩ đại, với căn cốt là một võ tướng bẩm sinh, một người bình dân trở thành Thiên tử, mê mải thực hành và thực hiện vô cùng nhiều việc thực tế lớn lao, nhưng lại để nhãng mất việc gia đình và con cái. Do đó mà có đứa con "không giống ông cha" (bất tiếu), cũng do đó mà sự nghiệp cái thế thì xuất chúng, nhưng không khỏi bị thiệt thòi, ở chỗ, dù chỉ là một cái tên gọi Đại Hành thôi, mà cũng phải mang tạm, "được coi là miếu hiệu” mãi đến cả nghìn năm sau. Và ở ngay trên đất kinh kỳ-Thủ đô ta. Khổ thế!


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:50:30 PM
         
CÙNG TÌM HIỂU BÀI “NAM QUỐC SƠN HÀ” VÀ “PHẠT TỐNG LỘ BỐ VĂN”DƯỚI THỜI NHÀ LÝ59

BÙI PHAN KỲ        
       Trong các bài thơ văn viết bằng chữ Hán từ thế kỷ thứ X, bài Quốc tộ (Vận nước) của Thiền sư Đỗ Pháp Thuận viết vào khoảng năm 981, in trong Thiền uyển tập anh, bài Phạt Tống lộ bố văn của Lý Thường Kiệt, viết năm 1075, in trong Việt điện u linh, bài Nam quốc sơn hà, cùng tác giả, viết năm 1077, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, là những áng văn thơ in đậm tinh thần tự tôn dân tộc, có vị trí mở đầu nền văn học chữ viết của Việt Nam. Qua bài Vị trí danh dự của Nam quốc sơn hà, tác giả Văn Hiến viết trong tạp chí Giáo dục và thời đại số42 (461), ngày 19-10-2003, xin mạn phép tham gia cùng tìm hiểu:

        Tác giả Văn Hiến đã phát hiện những mâu thuẫn về bài Nam quốc sơn hà trong phần đọc thêm của sách Văn học 9: “Nam quốc sơn hà là bài thơ của Thần, do Thần đọc giúp Lý Thường Kiệt cổ vũ tướng sĩ khi chống Tống ở sông Cầu năm 1076 (tr.28)... Bài thơ đã được Thần đọc nhiều lần, lần thì giúp Lê Hoàn chống Tống (981), lần thì giúp Lý Thường Kiệt chống Tống... ở đây tạm để tên Lý Thường Kiệt là theo tương truyền... nên coi đây là bài thơ Thần-khuyết danh hoặc vô danh-thì mới phù hợp với tư liệu hiện còn (những chữ in nghiêng là do người viết bài này nhấn mạnh).

        Xin nhiệt liệt hoan nghênh ý kiến của tác giả và xin cung cấp thêm tư liệu trước khi nêu chính kiến: Bài Nam quốc sơn hà được in nguyên văn chữ Hán trong bản gốc Đại Việt sử ký toàn thư, truyền qua các đời, đều khẳng định là của Lý Thường Kiệt, hiện được đặt trang trọng trong Bảo tàng lịch sử, được nhiều tác giả tra cứu thận trọng trước khi sử dụng. Đoạn trích dưới đây của học giả Dương Quảng Hàm, vị giáo sư, hiệu trưởng đầu tiên của trường trung học Chu Văn An của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đã biên soạn bộ Việt Nam văn học sử yếu từ năm 1941, được coi là cuốn văn học sử phổ thông đầu tiên bằng quốc ngữ, cũng là bộ sách giáo khoa văn học bậc trung học đầu tiên của Việt Nam, đã nói rõ về phương pháp biên soạn trong bài Biên tập đại ý mở đầu bộ sách: "Nay chúng tôi lấy tài sơ học thiển soạn ra quyển Việt Nam văn học sử yếunày, cũng tự biết là làm một việc quá bạo và chắc rằng tác phẩm của chúng tôi còn nhiều điều thiếu thốn, phải đợi công cuộc khảo cứu tra tầm của các học giả sau này mà bổ khuyết dần. Dù sao chăng nữa, trong việc biên tập, chúng tôi đã hết sức cẩn thận. Khi xét về một vấn đề nào, trước hết sưu tập các tài liệu tản mạn ở các sách, các báo rồi khảo sát suy nghĩ: điều gì xác thực chắc chắn mới chép, điều gì còn hồ nghi thì để huyền, điều gì có nhiều thuyết tương đương thì giãi bầy rõ ràng để sau này có thể nghiên cứu thêm mà quyết định. Tóm lại, chúng tôi lấy sự thực làm trọng, không khi nào dám lấy ý riêng mà giải quyết một nghi vấn theo cách võ đoán, cũng không hấp tấp theo liều những ý kiến thông thường, nhiều khi sai lầm hoặc thiên lệch…" (Dương Quảng Hàm, tháng 6 Tây năm 1941, Sđd, Quốc gia Giáo dục xuất bản, H, 1950, tr. 3-4).

        Với quan điểm thận trọng như vậy, Nam quốc sơn hà được in dưới đầu đề: "Bài thơ của Lý Thường Kiệt làm khi chống nhau với quân nhà Tống" ở thiên thứ hai, chương thứ tư (tr. 232). Trước bài thơ, Lý Thường Kiệt được xếp vào mục Thi gia đời Lý, được giới thiệu... "là một bậc danh tướng triều Lý đã có công đánh quân nhà Tống (1075-1078), khi chống nhau với quân địch, có làm một bài thơ để khuyến khích tướng sĩ, lời lẽ thật là khảng khái" (Sđd, tr. 225).

        Tổng tập văn học Việt Nam do Bùi Văn Nguyên chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, H, 1957, tập 1, in bài Nam quốc sơn hà trước bài Quốc tộ, viết trong tiểu dẫn: "Bài Nam quốc sơn hà do Lý Thường Kiệt làm năm 1077 trong khói lửa của cuộc chiến đấu quyết liệt chống giặc Tống xâm lược trên bờ sông Như Nguyệt...". Đoạn sau, giới thiệu Lý Thường Kiệt, tác giả Phạt Tống lộ bố văn, lại khẳng định rất dài về bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt “có một sức mạnh kỳ lạ cổ vũ quân sĩ nức lòng xông lên với tất cả khí thế quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ xâm lược" (Sđd, tr.270).

        Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam xuất bản năm 1996, Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản gần đây, khi biên soạn, về danh tướng Lý Thường Kiệt đều khẳng định ông là tác giả bài Nam quốc sơn hà(60).

------------------------
        59.Tạp chí LSQS số 1-2004.

        60. Từ đến Bách khoa quân sự Việt Nam xuất bản năm 2005, mục từ "Lý Thường Kiệt” và "Nam quốc sơn hà" vẫn ghi Lý Thường Kiệt "tương truyền là tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà và Phạt Tống lộ bố văn" (chú thích của Ban biên soạn).


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:51:22 PM

        “Sổ tay ngữ văn THCS 7” của các tác giả Tạ Đức Hiền, PGS. Nguyễn Kim Hoa, TS. Lê Thuận An, Nxb Hà Nội, 2003, tự giới thiệu là "cuốn sách đã hội tụ, kết tinh và hệ thống những kiến thức cơ bản nhất, tinh chắc nhất về Ngữ văn 7 theo chương trình cải cách của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành từ năm học 2003-2004”, in bài Nam quốc sơn hà trong phần 1, Văn học, tên tác giả Lý Thường Kiệt và cũng giới thiệu hoàn cảnh ra đời trong cuộc chiến đấu dữ dội và ác liệt chống quân Tống xâm lược (tr. 59, 60).

        Như vậy, luồng chính thống công nhận Lý Thường Kiệt là tác giả bài Nam quốc sơn hà đã trải qua từ Lê Văn Hưu soạn Đại Việt sử ký (1272), Phan Phù Tiên soạn Đại Việt sử ký tục biên (1455) làm nền cho Ngô Sĩ Liên soạn Đại Việt sử ký toàn thư (1479), rồi thông qua Lê Quý Đôn soạn Đại Việt thông sử, Ngô Thì Sĩ (1726-1770) viết Anh ngôn thi tập, Phan Kế Bính soạn Đại Nam nhất thống chí (1916,1917), Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược (1926), Nguyễn Văn Ngọc soạn Nam thi hợp tuyển (1927)... cung cấp tư liệu cho Dương Quảng Hàm biên soạn Việt Nam văn học sử yếu (l941), Bùi Văn Nguyên soạn Tổng tập văn học Việt Nam (1997)… đến nay, Lý Thường Kiệt vẫn được công nhận là tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà. Sự truyền lại qua chính sử và văn học sử đó, gọi là tương truyền cũng chưa thoả đáng.

        Luồng nghi vấn được tìm thấy rõ trong Văn học 10 của các tác giả Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc, Chu Xuân Diên, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đồng Minh, Lê Thị Diễn, tái bản năm 2000, trong phần Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XX (tr. 80), khi kể đến Nam quốc sơn hà đã đặt dấu hỏi sau câu "thường được coi là của Lý Thường Kiệt(?)”. Văn học 9 của các tác giả Đỗ Quang Lưu, Nguyễn Lộc, Nguyễn Sĩ Cẩn, Nxb Giáo dục, in Nam quốc sơn hà ở phần đọc thêm, cũng in tên Lý Thường Kiệt trước dấu hỏi(?), dùng tiểu dẫn giới thiệu ông là "tướng lĩnh nhà Lý cầm quân đánh Chiêm Thành và giặc Tống xâm lược". Với đoạn này, tác giả Văn Hiến yêu cầu "phải ghi rõ Thái úy Lý Thường Kiệt Tổng lĩnh chư quân trong sự nghiệp đánh Tống, bình Chiêm".

        Chúng tôi đồng ý không nên dùng thuật ngữ tướng lĩnh để chỉ vị Phụ quốc Thái úy thời nhà Lý vì tướng lĩnh chỉ có nghĩa là tướng chỉ huy quân đội như bất kỳ vị tướng chỉ huy nào, nhưng chúng tôi chưa hiểu rõ thuật ngữ Tổng lĩnh chư quân của tác giả Văn Hiến. Nếu dùng để chỉ công việc thống lĩnh binh quyền nhà Lý thì thuật ngữ đó vừa mang ý nghĩa Hán, vừa không chuẩn xác. Nếu dùng để chỉ một chức phẩm của Lý Thường Kiệt thì ông chỉ được phong các chức phẩm: Phụ quốc Thái phó, Phụ quốc Thái úy, Thượng trụ quốc, Phụ quốc Thượng tướng quân, (tuớc) Khai quốc công, Tể tướng...chứ không có chức phẩm Tổng lĩnh chư quân.

        Văn học 9 cho rằng đó là bài thơ của Thần, khi nước ta đã có sử và văn học bằng chữ viết là đẩy chính sử về với dã sử, cổ vũ chủ nghĩa thần bí, trái định hướng của nền giáo dục Việt Nam. Cho rằng bài thơ đó đã có từ thời Lê Hoàn, chúng tôi sợ không phù hợp với tư liệu lịch sử: nước ta sau thời Bắc thuộc, kể từ đầu thời tự chủ, Ngô Quyền và các người kế tiếp vẫn xưng vương. Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành khi lên ngôi dù xưng Hoàng đế nhưng vẫn nhận tấn phong của nhà Tống làm Giao Chỉ quận vương. Riêng Lê Hoàn đã ba lần nhận sắc phong của Tống Thái Tông: "Năm Canh Dần (990) nhận phong tước Đặc tiên, năm Quý Ty (993) nhận phong tước Giao Chỉ quận vương, năm Đinh Dậu (997) lại nhận tước Nam bình vương. Điều đó chứng minh dưới thời Lê Hoàn, tư tưởng đối ngoại không nhấn mạnh yêu cầu xưng đê. Chỉ đến đời nhà Lý, vua Nhân Tông là vị vua có đầu óc tự cường tự lập, năm Giáp Ngọ (1054) đặt tên nước là Đại Việt, không được nhà Tống chấp nhận vẫn không chịu thần phục, quyết thực hiện hoài bão xây dựng một quốc gia hùng mạnh, sánh với thiên tử nhà Tống. Năm 1068, Tống Thần Tông giúp vua Chiêm Chế Củ (Rudravarman III) thuyền, ngựa, binh khí đem quân đánh Đại Việt ở phía Nam, đồng thời chuẩn bị cuộc tiến công sang Đại Việt từ phía Bắc. Cuộc chiến đấu “phạt Tống, bình Chiêm" của nhà Lý với vai trò lịch sử của Lý Thường Kiệt xuất hiện vào thời kỳ đó. Tư tưởng Nam quốc sơn hà nam đê cư tất cũng xuất hiện trong giai đoạn đó (nhà Lý, cho tới đời vua thứ 7 là Lý Cao Tông mới chịu nhận sắc phong là An Nam quốc vương vào khoảng năm 1174).

        Vả lại dưới thời Lê Hoàn, người giỏi chữ Nho tập trung vào mấy vị thiền sư: Đỗ Pháp Thuận, Khuông Việt, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, có tác phẩm nào đều được lịch sử Phật học ghi rõ. Còn thơ về Nam quốc sơn hà tất phải do người Đại việt sáng tác, vào thời kỳ không khó tìm tác giả, bởi vậy không nên coi là vô danh hoặc khuyết danh. Đương nhiên, trong lịch sử có thể xuất hiện sự ngộ nhận kéo dài như trường hợp coi Triệu Đà là một triều vua Việt, có đủ bằng chứng xác thực thì cải chính, nhưng phải được Hội Khoa học lịch sử Việt Nam xác nhận, không nên kéo dài tình trạng mỗi giới một phách.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:52:26 PM

        Với đoạn viết về Văn lộ bố khi đánh Tống của Văn học 9, tác giả Văn Hiến giải thích: "Trong dịp này, ông viết một số bài lộ bố gửi đến nhân dân các châu Ung, Khiêm, Liêm… thực ra lộ bố văn chỉ bao gồm lời tuyên bố rõ ràng". Châu Khiêm cần sửa là Châu Khâm, và Phạt Tống lộ bố văn chỉ là một bài duy nhất còn in trong Việt điện u linh mà Tổng tập văn học Việt Nam đã sao lại cả nguyên bản, phiên âm và bài dịch của Trần Văn Giáp: bản chữ Hán chia thành 4 đoạn, 13 câu, 145 chữ, không có “một số bài” như tác giả Văn Hiến khẳng định.

        Đi sâu vào nội dung, tính chất của bài văn, có thể hiểu hình thức công bố trước nhân dân Trung Quốc các tỉnh vùng biên thời đó, không phải là "gửi tới nhân dân các châu”... Câu cuối cùng (chữ Hán) bài viết tự xác định: Hịch văn đáo nhật, dụng quảng văn tri. Thiết tự tư lường, mạc hoài chấn bố (Lời hịch truyền đến, mọi người nghe biết. Hãy tự đắn đo, chớ mang lòng sợ hãi). Vậy Phạt Tống lộ bố văn là một bài hịch, Hán Việt tự điển (Thiều Chửu, Nxb Tp. HỒ Chí Minh, 1933, tr. 314) định nghĩa Hịch: lời hịch, lời văn của các quan đòi hỏi, hiểu dụ hay trách cứ dân gọi là hịch, có việc cần kíp thì viết vào mảnh ván cắm lông cánh gà vào gọi là vũ hịch để tỏ cho biết là sự cần kíp. Trong cuộc hành quân này, hịch văn là bài hịch viết ra để kể tội vua Tống và tể tướng Vương An Thạch, trực tiếp trấn an nhân dân Trung Quốc vùng biên, nơi có quân ta đánh tới, chứ không phải "một số bài lộ bố gửi đến nhân dân Trung Quốc các châu Ung, Khâm, Liêm".

        Xét các câu khác trong lộ bố văn, thấy rõ những nội dung này phải công bố lúc nào, dưới hình thức nào để phục vụ đắc lực cho mục tiêu tiến công phá hủy các căn cử hành quân của giặc Tống, ở đó riêng trong thành Ung Châu đã tập trung 6 vạn quân Tống, dưới quyền chỉ huy của tướng Tô Giám. Đoạn trước đó của Hịch văn viết rõ "Bản chức phụng quốc vương mệnh, chỉ đạo Bắc hành; dục thanh yêu nghiệt chi ba đào, hữu phân thổ, vô phân dân chi ý; yếu tảo tình uế chi ô trọc, ca Nghiêu thiên, hưởng Thuấn nhật chi giai kỳ" (Bản chức phụng mệnh quốc vương, chỉ đường Bắc tiến; muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ phân biệt đất (nước), không phân biệt (chúng) dân; phải quét sạch bẩn thỉu hôi tanh cho dân hưởng những ngày tháng yên vui dưới thời Nghiêu Thuần). Đoạn này viết sau hai đoạn mở đầu và tiếp nối kể tội vua Tống và tể tướng Vương An Thạch tham tàn, vơ vét của dân, khiến trăm họ lầm than, suy kiệt.

        Những nội dung trên đây cho phép ta hiểu rõ, bằng lộ bố văn, Lý Thường Kiệt báo cho nhân dân những nơi có quân ta đánh tới ý định trừng phạt quan quân nhà Tống chứ không phân biệt nhân dân Trung Hoa với nhân dân Đại Việt. Ông đứng trên cương vị mệnh quan của triều đình Đại Việt, vâng lệnh quốc vương, viết hịch hiểu dụ nhân dân các tỉnh vùng biên chứ không ra tuyên bố đối ngoại với vua quan nhà Tống. Nội dung đó chỉ có thể công bố ngay trên đường hành quân, không thể gửi đến trước sẽ mất yếu tố bất ngờ, gửi đến sau sẽ mất tác dụng trấn an. Vả lại, cụm từ gửi đến nhân dân các châu… là rất mơ hồ, gửi tới địa chỉ nào, bằng con đường nào để tới nhân dân các châu là một đối tượng vừa rộng lớn vừa không xác định?

        Hịch văn thời cổ thường viết trên mảnh ván. Nay làm thế sẽ rất cồng kềnh, bất tiện. Chính vì vậy nó mới được viết rõ trên vải để tiện cuốn vào, trương ra trên các chặng đường tạm dừng. Tất nhiên người này đọc được sẽ truyền đạt cho người khác, trong khi quân ta giữ rất nghiêm kỷ luật hành quân, kỷ luật chiến trường, khi đánh phá thành Ung còn chia thóc cho dân.

        Trong văn bản chữ Hán dùng chữ lộ nghĩa là phơi ra, trương ra chứ không dùng chữ lộ là nhằm chỉ đường (như quốc lộ tỉnh lộ), chữ bố nghĩa là vải, dệt bằng sợi gai, sợi bông (như bao bố). Lộ bố văn là bài (hịch) viết trên vải, trương ra cho mọi người đều đọc.

        Xếp trong toàn bộ bài hịch, thì từ văn ở đầu bài đã thay cho thuật ngữ Hịch văn trong câu cuối Hịch văn đáo nhật… Đã là hịch văn thì chẳng cần từ bố đặt trước cũng đủ hiểu đó là lời hiểu dụ, khuyên bảo của quan trên với dân chúng. Nếu dịch bố văn là lời tuyên bố thì không hợp với bất cứ một thể văn nào đã được xác định trong nền học vấn bằng chữ Hán dưới thời phong kiến, bao gồm các thể: thơ, phú, kinh nghĩa, văn sách, chiếu, chế, biểu, hịch, cáo... Kêu gọi, răn bảo thì dùng hịch; tuyên bố, thông báo thì dùng cáo, không có dạng nào gọi là bố văn cả. Trong cách hành văn bằng chữ Hán, không dùng tính từ lộ để diễn đạt sự rõ ràng, mà phải dùng từ minh (như minh bạch, phân minh). Ai cũng biết tất cả các thể văn bằng chữ Hán kể trên, tự nó đã phải rõ ràng, nhất là các thể văn chính luận như hịch, cáo, chiếu, chế, biểu. Thông báo việc trọng đại thì gọi là đại cáo, thông báo rộng rãi thì gọi là bá (không phải báo) cáo, bố cáo, công bố, không ai dùng cụm từ lộ bố, lộ cáo, lộ hịch để diễn đạt lời tuyên bố rõ ràng. Nếu buộc phải dịch đúng cụm từ đó sang chữ Hán thì người ta sẽ dịch là minh ngôn công bố, minh ngôn thông báo, minh ngôn tuyên cáo... chứ không dùng cụm từ lộ bố văn . Trong ngữ cảnh này của đầu đề bài hịch (hịch văn) chỉ có thể dịch là: bài văn (bài hịch) đánh Tống viết trên vải, trương ra (cho mọi người cùng đọc). Tổng tập văn học Việt Nam, do Bùi Văn Nguyên chủ biên, cũng chú thích dưới bài Phạt Tông lộ bố văn: “lộ bố: Một bài văn viết trên vải trương ra truớc công chúng, trên đó nêu rõ tội ác của địch hoặc chính nghĩa của ta”. Phải chăng đó là lời chú thích chuẩn xác?

        Mấy ý lạm bàn, mong được các bậc túc nho chỉ giáo.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:54:44 PM

VỀ NĂM SINH CỦA HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRÂN QUÔC TUẤN61

LÊ ĐÌNH SỸ       

        Sách Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) đã cho chúng ta biết rõ thời gian qua đời của Trần Quốc Tuấn. Đó là ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300). Năm nay (2000), cả nước đang chuẩn bị kỷ niệm 700 năm ngày mất của vị anh hùng dân tộc. Thế nhưng, Trần Quốc Tuấn sinh năm nào, cho đến nay vẫn chưa rõ. Vấn đề năm sinh của Hưng Đạo Đại Vương hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau. Xin nêu lên một số sách tiêu biểu:

        - Trần gia ngọc phả (Thư viện Hán Nôm, ký hiệu A 2046) chép ông sinh năm Quý Dậu (1213);

        - Trần triều thế phả hành trạng (Thư viện Hán Nôm, ký hiệu A 663) và sách Dược sơn kỷ tích (thư viện Hán Nôm, ký hiệu A 709) đều chép năm Nhâm Tý Nguyên Phong thứ 2 (1252);

        - Trần Đại vương bình Nguyên toàn biên và Trần vương truyện khảo (thư viện Hán Nôm, ký hiệu A 3095) cùng ghi, ông sinh ngày 10 tháng Chạp năm Bính Tuất, niên hiệu Kiến Trung thứ 2 đời Trần Thái Tông (1226).

        Các sách sử thời hiện đại cũng phán đoán và ghi chép năm sinh của Trần Quốc Tuấn rất khác biệt, ví dụ:

        - Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm đưa ra niên đại giới hạn từ năm 1228 đến năm 1231;

        - Lịch sử Việt Nam, tập 1 , của ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, dè dặt đặt dấu hỏi khi nêu năm sinh 1213(?);

        - Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1 , của Trần Văn Giáp, ghi năm sinh 1226;

        - Binh thư yếu lược, phụ Hổ trướng khu cơ, bản dịch của Viện Sử học, phần Tiểu sử ghi Trần Quốc Tuấn sinh khoảng từ năm 1226 đến năm 1229;

        - Kế sách giữ nước thời Lý-Trần của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam chép Trần Quốc Tuấn sinh năm 1228;

        - Trần Hưng Đạo, Tiểu sử, Sự nghiệp, Tác phẩm, Nguyễn Khắc Thuần chủ biên, đã ước đoán Trần Quốc Tuấn sinh vào khoảng dăm năm sau khi triều Trần dựng nghiệp, tức khoảng 1231;

        - Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam cho là năm 1229;

        - Từ điển nhân vật lịch sử của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế, ghi năm 1226...

        Và rất nhiều các bài nghiên cứu trên các tạp chí, kỷ yếu khoa học ghi chép một cách không thống nhất về năm sinh của Trần Quốc Tuấn.

        Một số tài liệu nêu trên chứng tỏ tính phức tạp của vấn đề tuy nhiên nó cũng chứng tỏ vấn đề đó đã được rất nhiều người quan tâm đến. Vậy, Trần Quốc Tuấn sinh năm nào? Giả thiết nào đáng tin cậy hơn cả?

        Trước hết, trong số các niên đại nêu trên, chúng ta có thể dễ dàng loại trừ hai niên đại 1213 và 1252. Sách ĐVSKTT cho biết, Trần Liễu (bố Trần Quốc Tuấn) sinh năm 1211 và thọ 41 tuổi; gia phả họ Trần ở làng Nhị Khê cho rằng, Trần Liễu sinh năm 1213. Như vậy, chúng ta không thể lấy năm 1213 là năm sinh của Trần Quốc Tuấn được. Sử cũ phản ánh rõ năm 1257, trước cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ nhất, vua Trần Thái Tông đã ra lệnh cho Trần Quốc Tuấn làm Tiết chế chỉ huy các tướng đem quân thủy bộ ngăn giặc ở biên giới phía Bắc, như vậy năm sinh của ông là 1252 cũng hoàn toàn không chính xác. Còn lại trong các niên đại từ 1226 đến 1231 thì năm nào là hợp lý nhất?

----------------------------
        61. Tạp chí LSQS số 5-2000.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:55:10 PM

        Nếu nói rằng, Trần Quốc Tuấn sinh năm 1226, lúc cha ông-Trần Liễu 16 tuổi (theo ĐVSKTT); Trần Quốc Tuấn lấy vợ năm 1251, lúc 26 tuổi và ông thọ 75 tuổi thì năm sinh đó không hợp lý. Bởi vì việc lập gia đình so với vương vị của ông và nhất là với phong tục tập quán đương thời rõ ràng là quá muộn (Trần Liễu lúc 14 tuổi đã lấy Thuận Thiên công chúa), trừ phi chúng ta cho rằng do cuộc tư ước thầm lén của Trần Quốc Tuấn với Thiên Thành công chúa nên ông phải chờ đợi lâu, thậm chí như trong sử chép là phải vượt qua lễ giáo? Mặt khác, theo Trần gia ngọc phả căn cứ vào năm sinh, tuổi của Trần Liễu và bà Nguyệt (vợ kế của Trần Liễu) thì Trần Quốc Tuấn phải sinh muộn hơn. Cái mốc 1226 có thể là do các tác giả nói trên đã căn cứ vào năm sinh của Trần Liễu (1211) làm cơ sở để ước tính khả năng sinh con sớm nhất lúc 16 tuổi âm của nam giới: 1211+15 (tức 16 tuổi âm lịch) = 1226 và coi đó là năm sinh của Trần Quốc Tuấn. Như vậy là không hợp lý và chúng ta có thể loại trừ năm sinh 1226 và một vài năm sau đó.

        Sử Chép Về Thiên Thành công chúa là em gái vua Trần Thái Tông, con Thượng hoàng Trần Thừa (1184-1234). Như vậy bà Thiên Thành chỉ có thể sinh muộn nhất vào năm 1234. Bà lấy Trần Quốc Tuấn năm Tân Hợi (1251), khi đó ít nhất phải là 18 tuổi. Nếu cho rằng, lúc này bà dưới tuổi 20, thì bà sinh vào khoảng trong các năm từ 1231-1233. Giả định Trần Quốc Tuấn bằng tuổi vợ thì ta có mốc giới hạn muộn nhất về năm sinh của ông là 1233.

        Hiện nay, về năm sinh và năm mất của bà Nguyệt (mẹ Trần Quốc Tuấn) cũng không chính xác, nhiều tài liệu phản ánh rất khác nhau, do đó cũng ảnh hưởng đến việc đoán định năm sinh của Trần Quốc Tuấn. Nếu giả thiết cho rằng, Trần Quốc Tuấn lấy vợ lúc 19 - 20 tuổi thì năm sinh của ông có thể là 1231 hoặc 1232.

        Sách Tuệ trung thượng sĩ hành trạng cho biết, người anh trai của Trần Quốc Tuấn là Hưng Ninh Vương Trần Tung mất năm Trùng Hưng thứ 7, tức năm 1291, thọ 62 tuổi (tuổi âm lịch). Vậy Trần Tung phải sinh vào năm 1230. Nếu đúng như vậy, thì sớm nhất Trần Quốc Tuấn chỉ có thể sinh vào các năm 1231 hoặc 1232. Ngọc phả Trần Quốc đại vương nói rằng, Trần Quốc Trấn em cùng cha khác mẹ của Trần Quốc Tuấn sinh ngày 3 tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1232). Chính vì thế, chúng ta có thể coi những thông tin về năm sinh 1231 là hợp lý hơn cả. Cả ba cuốn Trần triều thế phả hành trạng (ký hiệu A 663), Dược sơn kỷ tích (A 709) và Trần vương truyện khảo (A 3095) đều thống nhất ghi ngày sinh của ông là mồng 10 tháng Chạp, tuy khác nhau về năm. Nếu ngày tháng ấy chính xác thì đó là ngày 10 tháng Chạp năm Canh Dần, tính ra dương lịch là ngày 14-1-1231.

        Trong điều kiện tư liệu hết sức hiếm hoi, lại trong tình trạng "tam sao thất bản", chúng ta rất khó đoán định một cách chính xác năm sinh của vị anh hùng dân tộc. Theo cách lý giải trên, chúng tôi cho rằng, có thể lấy các năm 1231 hoặc 1232 làm năm sinh của Trần Quốc Tuấn là tương đối hợp lý. Trong hai năm đó, chúng tôi đề nghị lấy năm 1231 là năm sinh của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Nếu quả đúng như vậy thì ông lấy vợ năm 20 tuổi (1251), làm Tiết chế chỉ huy các tướng năm 26 tuổi (1257), được phong Quốc công tiết chế (Tổng chỉ huy quân đội) lúc 52 tuổi (1283) và hưởng thọ 69 tuổi, tức 70 tuổi âm lịch )1231-1300). Tuy nhiên, trong lúc chờ đợi tư liệu chính xác thì việc đoán định năm sinh nói trên vẫn chỉ là một giả thiết để tham khảo mà thôi.

        Nếu Trần Quốc Tuấn ra đời năm 1231 hoặc 1232 thì cũng có nghĩa là ông sinh ra trong bối cảnh quyền lực của dòng họ tông thất Trần đã ổn định. Là con một quý tộc tông thất (An Sinh Vương), Trần Quốc Tuấn hẳn được thừa hưởng nhiều ưu đãi cũng như sự tôn vinh mà vương triều Trần và xã hội đã dành cho dòng dõi hoàng tộc. Tuy nhiên, tuổi thơ của vị anh hùng đâu được hoàn toàn viên mãn, bởi Trần Quốc Tuấn đã sớm mồ côi mẹ. Ông được cô ruột là Thụy Bà công chúa-chị ruột Thiên Thành công chúa, nhận làm con nuôi và sau này việc hôn nhân giữa Trần Quốc Tuấn và Thiên Thành cũng do Thụy Bà xếp đặt, lo liệu. Cuộc đời ông qua một lần gia biến, ba lần quốc nạn, nhưng ông đều đã vượt qua và lập công xuất sắc, nổi tiếng là bậc hiền lương anh hùng.

        Tuy công lao và sự nghiệp của Trần Quốc Tuấn rất vẻ vang, nhưng cuộc đời ông đã phải trải qua rất nhiều gian nan mà sử sách ngày nay chưa thể phản ánh hết. Cũng như vậy, năm sinh của vị anh hùng vẫn đang là một bài toán khó giải, chưa thể tìm ra một đáp số chuẩn xác. Chúng tôi rất mong đợi những phát hiện mới và hợp lý hơn của các đồng nghiệp quan tâm đến vấn đề này.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:58:49 PM

NHỮNG TÊN NGƯỜI CHÉP SAI TRONG “HỊCH TƯỚNG SĨ” VÀ “BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO”62

NGUYỄN LƯƠNG BÍCH       

        Những văn thơ của ta thời xưa, truyền lại đến ngày nay, phần lớn là do truyền miệng và sao chép tay, nên những sai sót câu chữ và tình trạng "tam sao thất bản" là không thể tránh được. Những bản "thiên cổ hùng văn" như Hịch tướng sĩ và Bình Ngô đại cáo, sử sách ghi chép luôn, nên ít sai sót, nhầm lẫn, nhưng cũng có một số tên người nước ngoài, những bản văn hiện lưu hành, ghi chép chưa chính xác, nên xem lại và có thể nên sửa lại.

        Trong Hịch tướng sĩ có một đoạn nói về mấy viên tướng nước ngoài đương thời, chủ yếu để nhấn mạnh về những người tỳ tướng đã hết lòng chiến đấu theo gương chủ tướng. Đoạn văn như sau: "Việc cũ đời xưa, hãy tạm không bàn. Nay ta lấy việc thời Tống, Thát mà nói. Vuông Công Kiên là người thế nào, tỳ tướng Nguyễn Văn Lập của ông lại là người thế nào, mà lấy thành Điếu Ngư chỉ bằng cái đấu đương đầu với trăm vạn quân Mông Kha, khiến sinh linh nước Tông đến nay vẫn còn nhớ ơn. Cốt Đãi Ngột Lương là người thế nào và người tỳ tướng Cân Tu Tu, lại là người thế nào, dám xông pha lam chướng hàng vạn dặm đường để đánh bại Nam Chiếu trong khoảng vài tuần khiên vua Thát còn lưu danh đến nay"(63).

        Đoạn văn này có tên bốn tướng: hai tướng là người Tống và hai tướng là người Mông Thát:

        Tướng Tống thứ nhất ở đây chép tên là Vương Công Kiên. Chính là Vương Kiên, thừa chữ Công đệm ở giữa. Tướng Tống thứ hai là tỳ tướng của Vương Kiên, bài Hịch chép tên là Nguyễn Văn Lập. Theo Tống sử, Vương Kiên không có người tỳ tướng nào tên là Nguyễn Văn Lập. Người tỳ tướng của Vương Kiên mà bài Hịch nói đây chính là viên phó tướng của Vương Kiên tên là Trương Ban. Vương Kiên làm trấn thủ Hợp Châu, đóng quân doanh tại thành Điếu Ngư. Năm 1259, đại quân Mông Thát tới vây đánh thành Điếu Ngư. Vương Kiên cùng phó tướng Trương Ban anh dũng chiến đấu trong năm, sáu tháng liền, giữ vững thành Điếu Ngư và đánh chết Đại hãn Mông Thát là Mông Kha, tức vua Nguyên Hiến Tông ngay tại trận, buộc quân Mông Thát phải rút chạy. Sau chiến thắng này, Vương Kiên bị tên tể tướng hèn nhát của triều đình Tống là Giả Tự Đạo điều đi nơi khác và tìm cách giết chết, Trương Ban thay Vương Kiên làm trấn thủ Hợp Châu, đóng quân ở Điếu Ngư. Năm 1267, mấy vạn quân Nguyên (tức quân Mông Thát) tiến đánh Hợp Châu và Trùng Khánh, nhưng phải rút chạy trước sức kháng cự kiên cường của Trương Ban. Năm 1275, quân Nguyên lại tới vây đánh Trùng Khánh, Trương Ban đem quân từ Hợp Châu tới giải vây cho Trùng Khánh, đầu năm 1277 đánh lui được giặc. Năm 1278, Trương Ban chết trong chiến đấu. Vương Lập-không phải Nguyễn Văn Lập-lên thay làm trấn thủ Hợp Châu. Nhưng Vương Lập hèn nhát, đầu năm 1279 ra hàng quân Nguyên, dâng thành Điếu Ngư và cả vùng Hợp Châu cho giặc. Như vậy, không nên làm lẫn lộn tên người anh hùng chống giặc là Trương Ban với tên kẻ đầu hàng giặc là tên tướng hèn nhát Vương Lập. Chép là Nguyễn Văn Lập thì không có nghĩa.

        Cặp tên thứ hai là tên hai tướng Mông Thát đã đánh chiếm nước Đại Lý ở Vân Nam. Tên tướng thứ nhất, bài Hịch chép là Cốt Đãi Ngột Lương, chính là Ngột Lương Hợp Thai, phiên âm la-tinh là U-riang-kha-đai. Phần đầu "U-riang" của tên này phiên âm Hán-việt là Ngột Lương. Vậy Ngột Lương phải đặt lên trước. Tên này, các sách thường phiên âm khác nhau ở phần cuối tên: như Ngột Lương Cáp Thai, Ngột Lương Cáp Đãi, Ngột Lương Hợp Đái, Ngột Lương Hợp Đãi..., tôi nghĩ rằng tên này các sách đã chép quen là Ngột Lương Hợp Thai thì bài Hịch cũng nên chép như thế.

        Còn tên tướng Thát thứ hai, bài Hịch chép là Cân Tu Tư hoặc Xích Tu Tư. Trong chữ Hán, chữ Cân và chữ Xích chỉ khác nhau một cái chấm. Không chấm là Cân, có chấm là Xích. Tên Cân Tu Tư hay Xích Tu Tư viết như thế là đúng hay sai, tôi chưa tra vấn được. Chỉ biết rằng theo Nguyên sử, khi đánh chiếm Đại Lý, Ngột Lương Hợp Thai có một tỳ tướng là Triệt Triệt Đô, khi sang đánh Việt Nam phải tự tử vì thua trận. Nhưng hai tên phiên âm Cân Tu Tư và Triệt Triệt ĐÔ khác nhau nhiều quá, không lẽ lại là một người.

        Vậy ở bài Hịch tướng sĩ có ba tên, biết chắc là chép sai:

        - Vương Công Kiên, chính là Vương Kiên

        - Nguyễn Văn Lập, nên sửa là Trương Ban

        - Cốt Đãi Ngột Lương, nên sửa là Ngột Lương Cột Đãi hay Ngột Lương Hợp Thai.

        Về bài Bình Ngô đại cáo, chỉ có một tên người chép sai là tên Triệu Tiết trong đoạn văn:

                                       Cố Lưu Cung tham công nhi thủ bại
                                       Triệu Tiết hiếu đại nhi xúc vong

                                       (Cho nên Lưu Cung tham công mà thất bại
                                       Triệu Tiết hám lớn phải tiêu vong).


        Ý ở đây Nguyễn Trãi muốn nói đến hai tên vua hiếu chiến. Câu trên nói về vua Nam Hán cho quân xâm lược Việt Nam bị Ngô Quyền đánh bại. Tên vua Nam Hán là Lưu Cung.

        Câu dưới nói đến vua Tống cho quân xâm lược Việt Nam bị Lý Thường Kiệt đánh bại. Tên vua Tống là gì, nhầm lẫn là ở đây Bài Đại cáo viết theo thể văn biền ngẫu. Mà trong văn biền ngẫu, ở câu trên là tên vua thì ở câu dưới phải là tên một vua khác. Vua Tống trong lúc này là Tống Thần Tôn cũng họ Triệu, nhưng không phải là Triệu Tiết. Triệu Tiết chỉ là một tên phó tướng trong đoàn quân xâm lược Việt Nam. Vậy không thể đặt một viên phó tướng đối xứng với tên một ông vua. Cũng có người thấy chép Triệu Tiết là sai, nên chép thành Triệu Oa, Triệu Quá. Như thế vẫn là sai. Vua Tống Thần Tôn, chính tên là Triệu Húc. Tên Triệu Tiết trong Bình Ngô đại cáo phải sửa lại là Triệu Húc mới đúng:

                                      Cô Lưu Cung tham công nhi thủ bại
                                       Triệu Húc hiếu đại nhi xúc vong

                                       (Cho nên Lưu Cung tham công mà thất bại
                                       Triệu Húc hám lớn phải tiêu vong).


        Trên đây là mấy tên người chép sai trong hai bài văn cổ Hịch tướng sĩ và Bình Ngô đại cáo, nếu sửa được thì chữ dùng chính xác và ý nghĩa sáng rõ hơn.

-------------------------------
        62. Tạp chí LSQS số 1-1988.

        63. Theo bản dịch của Nguyễn Lương Bích trong Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, NXB QĐND, Hà Nội, 1981.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 10:44:42 PM
         
VỀ BẾN CỔ CHƯƠNG DƯƠNG VÀ TRẬN CHƯƠNG DƯƠNG THÁNG TƯ NĂM ẤT DẬU (1285)64

LÊ ĐÌNH SỸ        

        Hiện nay, ở Hà Nội có cầu Chương Dương (ở ngay bến phà Chương Dương trước đây) và cạnh đó là phường Chương Dương có phố Chương Dương độ (thuộc quận Hoàn Kiếm). Chính vì thế, không ít người, kể cả người ở Thủ đô, đã nhầm tưởng đó chính là bến Chương Dương nơi đã diễn ra trận Chương Dương vào tháng Tư năm Ất Dậu (1285) trong cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên (thế kỷ XIII). Mặt khác, người ta cũng đã ngợi ca nhiều về trận then chốt quyết định Thăng Long, khiến tướng giặc Thoát Hoan bạt vía kinh hồn, mà quên đi ý nghĩa lớn lao của chiến trận Chương Dương trước đó. Vậy, trên thực tế, bến cổ Chương Dương ở đâu và trận Chương Dương đã diễn ra như thế nào? Vị trí, ý nghĩa của trận thắng đó ra sao?

        Lật lại những trang sử cổ, chúng tôi thấy cuốn sử sớm nhất của nước ta chép về địa danh Chương Dương là Việt sử lược tác giả khuyết danh đời Trần (thế kỷ XIV): Năm 950, Ngô Xương Văn giáng truất Dương Tam Kha xuống làm Chương Dương sứ, cho hưởng lộc ở thực ấp đó65. Sang thế kỷ XV, Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, trong sách Đại Việt sử ký toàn thư và Ngô Thì Sỹ (thế kỷ XVIII), trong sách Đại Việt sử ký tiền biên, cũng đều chép tương tự sự kiện nói trên và có chú thêm: "Nay là Chương Dương độ"66. Các sử gia triều Nguyễn (thế kỷ XIX), trong sách Việt sử thông giám cương mục cũng theo lời chua của Đại Việt sử ký toàn thư nói rằng: "Chương Dương, nay thuộc xã Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây"67.

        Thực ấp của Dương Tam Kha đã được xác định thuộc địa bàn xã Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Nơi đây hiện còn có đền thờ Dương Tam Kha. ông có công khai khẩn ruộng hoang lập ấp, được tôn vinh làm Thành hoàng của làng Chương Dương. Đền thờ còn lưu giữ nhiều tài liệu quý như: Bản thần tích, 28 đạo sắc phong cho Bột Hải Đại Vương (tước hiệu của Dương Tam Kha) và một số tài liệu văn tự Hán Nôm khác.

        Gần đây, ông Chu Huy công bố bài viết về địa danh lịch sử và di sản Hán Nôm có liên quan đến làng Chương Dương, coi đây là một vùng đất cổ trong lịch sử dựng nước.

        Vào thế kỷ X, vùng đất Chương Dương vẫn còn hoang vắng, thưa thớt cư dân, với những bờ lau trắng, rừng sậy khô, đầm nước vắng. Vùng đất ấy còn mang tên Chân Giang, nghĩa là vùng đất nằm kề bên sông, khi nước lên thì ngập lụt và khi mùa khô nước rút, lộ ra vùng đất ven sông để cày cấy và trồng trọt.

        Thời ấy, đê sông Hồng chưa có, nên việc ra vào mỗi mùa sông nước là thực tế. Chữ "Chân Giang" ở đây có thể là một cách diễn đạt như "chân mạ", "chân màu” theo như cách nói của nông dân đồng bằng Bắc Bộ, nên "Chân Giang" cũng có nghĩa là "chân sông", bên sông, gần sông. Có người cho rằng "Chân Giang" có thể đọc láy thành "Chương Dương", điều này còn khó chấp nhận.

        Tuy còn hoang vu thưa thớt nhưng ngay từ buổi đầu giành được độc lập, ở đây đã có "ấp", tức là đã có cư dân sinh sống và ấp đó đã có tên gọi là Chương Dương. Vì thế mới có sự tích Ngô Xương Văn tha tội chết cho kẻ "thoán nghịch" Dương Tam Kha và phong là Chương Dương Công (ông già đất Chương Dương) rồi bắt phải về hưu trí, một hình thức cải tạo lao động ở một vùng đất mới được khai phá, còn hoang vu, cách khá xa kinh đô CỔ Loa thuở ấy. Sách Đại Nam nhất thống chí cũng viết: "Bến cổ Chương Dương ở địa phận huyện Thượng Phúc. Sử chép, Ngô Xương Văn đem đất này phong cho Dương Tam Kha làm đất ăn lộc"68.

        Như vậy, cho đến nay, đất Chương Dương đã được khai phá trên 10 thế kỷ. Đó là một vùng đất cổ của nước ta. Tuy lúc đầu là một ấp nhỏ, nhưng đến thời Lý-Trần, cùng với việc đắp đê nơi đây trở thành một vùng trù phú cạnh kề kinh thành Thăng Long của nước Đại Việt. Đến thế kỷ XIX, Chương Dương đã là một tổng gồm 7 làng: Chương Dương, Chương Lộc, Bộ Đầu, Cát Bi, Yên Cảnh, Kỳ Dương và Thư Dương. Tổng Chương Dương chạy theo đê sông Hồng hơn chục cây số và trong suốt 10 thế kỷ, dưới nhiều triều đại, làng Chương Dương đã phát triển và là vùng đất ghi nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, nơi sinh ra nhiều danh nhân của đất nước.
--------------------------------
        64. Tạp chí LSQS số 4-2003.

        65. Việt sử lược, bản dịch của Trần Quốc Vượng, NXB Sử học, H, 1960, tr. 42.

        66. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1. NXB KHXH, H, 1983, tr. 200; và Đại Việt sử kýliền biên, NXB KHXH. H.1997, tr. 144.

        67. Việt sử thông giám cương mục, tập 1, NXB Giáo dục, H, 1998, tr. 226.

        68. Đại Nam nhất thống chí, tập 3, NXB KHXH. H, 1971, tr. 185.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 10:46:52 PM

        Địa danh Chương Dương còn được nhắc đến nhiều trong các bộ sách lịch sử địa lý, trong các bộ địa chí và cả trong các thi phẩm của nhiều thi nhân đời sau. Tên Chương Dương, theo ghi chép về thần tích đền xã Chương Dương, tổng Chương Dương, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín (thời Nguyễn) có câu: "Kính xét, Thường Tín xưa gọi là lộ Quốc Oai. Chương Dương nguyên là Trương Dương sau đổi tên như ngày nay". Sách Việt sử thông giám cương mục chép: "Trương Dương, tức bến đò Chương Dương, nay thuộc huyện Thượng phúc"69. Thượng Phúc là tên châu đời Trần thuộc Đông Đô. Thời Minh đổi thành Bảo Phúc. Năm 1831 là huyện Thượng phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng, tỉnh Hà Nội. Sách Các tổng trấn xã danh bị lãm chép thời Gia Long: "Xã Chương Dương, tổng Chương Dương, huyện Thượng phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng". Thượng Phúc sau được đổi thành huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Như vậy, theo các sử liệu trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, bến cổ Chương Dương thuộc vùng đất ăn lộc của Dương Tam Kha, tức địa bà n xã Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây ngày nay.

        Bến Chương Dương (Chương Dương độ) gắn liền với một sự kiện lịch sử quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ hai (1285). Lúc đó, tại bến Chương Dương, quân dân nhà Trần đã lập nên một chiến công vang dội, sử gọi đó là trận Chương Dương (4-1285).

        Vào tháng Tư năm ất Dậu (tức khoảng tháng 5-1285), cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ hai chuyển sang giai đoạn phản công chiến lược. Lúc đó, Hưng Đạo Vương đã tấn công A LỖ (ở sông Luộc), tiêu diệt cụm quân của Vạn hộ Lưu Thế Anh, rồi lập tức dẫn một đạo quân tiến thẳng ra Vạn Kiếp, bố trí thế trận mai phục chuẩn bị đón đánh quân Nguyên tháo chạy theo hướng này. Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản và tướng Nguyễn Khoái đánh giặc ở Tây Kết. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật chỉ huy đánh giặc ở Hàm Tử.

        Sau chiến thắng Tây Kết và Hàm Tử, các tướng của nhà Trần, như: Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản, Trung Thành vương (không rõ tên) và Nguyễn Khoái tiến lên áp sát Chương Dương, chuẩn bị đánh giặc ở Chương Dương-Thăng Long. Chính lúc đó, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải cũng đã được lệnh từ Thanh Hoá ra, để kịp chỉ huy đánh trận Chương Dương-Thăng Long.

        Chương Dương nằm cách Thăng Long khoảng 20 km về phía nam, ở sát sông Hồng, phía đối ngạn sông là Hàm Tử (Hưng Yên). Chương Dương cùng với Hàm Tử là nơi quân Nguyên xây dựng hai trại quân lớn, tạo thành hai lá chắn bảo vệ mặt nam Thăng Long.

        Bị mất Hàm Tử, giặc Nguyên vội tăng quân ở Chương Dương, mục đích là bảo vệ bằng được đồn trại này: nếu để mất Chương Dương thì Thăng Long sẽ nguy khốn, quân Nguyên ở đây sẽ bị cô lập, tiến thoái lưỡng nan. Quân nhà Trần cũng quyết tâm hạ đồn Chương Dương để mở đường tiến lên bao vây, giải phóng Thăng Long.

        Về chiến trận ở Chương Dương, chính sử của ta chép như sau: ngày 10 tháng Tư năm ất Dậu "có người từ chỗ giặc trốn về đến ngự doanh báo: Thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại quân giặc ở các xứ kinh thành, Chương Dương. Quân giặc tan vỡ lớn. Bọn Thát tử Thoát Hoan, Bình chương A Lạt rút chạy qua sông Lô"70. Sách Đại Việt sử ký tiền biên chép: "Vua rước Thượng hoàng và tiến quân đến Đại Mang đánh cho Toa Đô nhà Nguyên bị đại bại ở Tây Kết, chém được nó. Hưng Đạo vương Quốc Tuấn đuổi theo đánh úp Thoát Hoan ở Vạn Kiếp. Quân Nguyên tan vỡ, chạy về phía Bắc. Trước đấy, Thượng tướng là Quang Khải, Hoài Văn hầu là Quốc Toản, cùng với Trần Thông và em Nguyễn Khả Lạp là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại giặc ở các xứ kinh thành; Chương Dương"71. Sách Việt sử thông giám cương mục chép: "Trước đây, Thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản đem quân dân các lộ đánh bại được quân Nguyên ở Chương Dương, thu phục kinh thành"72.

        Rất tiếc là sử sách cũ lại ghi chép quá ít về trận đánh này. Nhưng điều chắc chắn, đây là một trận kịch chiến. Cả ta và địch đều quyết tâm. Tuy nhiên, lúc đó, thế của quân ta rất mạnh, quân nhà Trần vào trận với khí thế rất hăng. Trong trận này, quân ta chiến đấu anh dũng, tiêu diệt, bắt sống nhiều giặc và thu nhiều vũ khí của chúng. Bởi vì, sau đó ít ngày, khi chiến tranh kết thúc, Thượng tướng Trần Quang Khải theo hai vua Trần trở lại Thăng Long, đã cảm khái làm bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư, trong đó có câu: “Đoạt sáo Chương Dương độ”, tức là: Cướp giáo giặc ở bến Chương Dương. Nếu không tiêu diệt được nhiều giặc và không thu được nhiều vũ khí của quân Nguyên thì Trần Quang Khải không viết như vậy.

--------------------------------
        69. Việt sử thông giám cương mục, Sđd , tr. 226.

        70. Đại Việt sử ký toàn thư, lập 1 , Sđd, tr. 54.

        71. Ngô Thì Sỹ. Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, tr. 368.

        72. Việt sử thông giám cương mục, tập 1, Sđd. tr. 524.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 10:47:28 PM

        Đối với Trần Quang Khải, lúc đó, sự kiện Chương Dương hãy còn tươi rói, chỉ mới trước khi ông làm bài thơ không lâu. Trận thắng Chương Dương và Hàm Tử diễn ra làm cho quân Nguyên kinh hoàng và đó là hai chiến công oanh liệt dẫn đến trận Thăng Long lịch sử. Bài thơ xuất hiện trong không khí khải hoàn của cả dân tộc.

        Ta hạ đồn Chương Dương là đã tiêu diệt một bộ phận rất quan trọng của giặc Nguyên, phá tan lá chắn của chúng ở phía nam Thăng Long, mở toang cửa ngõ tiến về giải phóng kinh thành. Từ Chương Dương, đại quân do Trần Quang Khải chỉ huy, nhanh chóng vây hãm và tiêu diệt địch ở Thăng Long.

        Cuộc chiến ở Thăng Long cũng hết sức quyết liệt, vì đây là trận then chốt, quyết định sự thất bại của quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy. Sử nhà Nguyên viết rằng: "Quân thủy bộ (Đại Việt) đến đánh đại doanh; vây hãm nhiều vòng. Quan quân tức (quân Nguyên) cố đánh từ sáng đến tối, mệt mỏi, thiếu thốn, khí giới đều hết" và "người Giao Chỉ chống đánh quan quân. Tuy mấy lần bị thua, nhưng quân tăng viện ngày càng đông. Quan quân mệt mỏi, chết và bị thương nhiều. Quân mã không thể nào thi thố được tài năng".

        Như vậy, trận thắng ở Chương Dương có quan hệ trực tiếp đến thắng lợi giải phóng kinh đô Thăng Long. Nhiều nhà sử học còn gắn Chương Dương với Thăng Long và coi trận Chương Dương-Thăng Long là trận quyết chiến chiến lược trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285).

        Vì ý nghĩa của trận Chương Dương rất lớn nên dư âm của nó còn lưu lại mãi về sau. bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải sống mãi trong ký ức mọi người, đem lại niềm bồi hồi, xúc cảm cho nhiều thế hệ, trong đó có các địa danh Chương Dương, Hàm Tử rất đỗi tự hào. Sau này, trong thơ của các nhà thơ Ninh Tốn và Đoàn Nguyên Tuấn cũng đều nhắc đến chiến thắng Chương Dương. Ninh Tốn đỗ Tiến sĩ năm 1778, trong lời tiêu dẫn bài thơ Chương Dương dạ bạc (Chiều đậu thuyền ở bến Chương Dương), đã viết: "Thuyền Long bút đậu ở bến Chương Dương, nhân đọc câu thơ Đoạt sáo bỗng nghĩ: Khoảng niên hiệu Trùng Hưng nhà Trần, quân Nguyên sang xâm lược, may được một Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn vì nước hết sức, vì nghĩa khởi xướng, nên đã quét sạch bụi Hồ, khôi phục lại giang sơn". Trong bài thơ của ông có bốn câu như sau:

                                               “Chương Dương thủy thanh liên,
                                               Thảo, thụ, yên hà cổ.
                                               Nhân tụng "đoạt sáo" thi,
                                               Hốt tưởng Đông A tộ…"

                                               (Nước Chương Dương gợn sóng xanh,
                                               Cỏ, cây khói, ráng như xưa
                                               Nhân đọc câu thơ "đoạt sáo"
                                               Bỗng nghĩ tới cơ nghiệp nhà Trần…).


        Nhà thơ Đoàn Nguyên Tuấn trong bài thơ Quá Nhĩ Hà quan Bắc binh cố Luỹ (Qua Nhĩ Hà xem lại luỹ xưa của quân phương Bắc) có câu:

                                               “Hồn giặc bay về Ngũ Lĩnh hàng muôn dặm,
                                               Nghìn năm chuyện cũ nhớ Chừng Dương”.

     
        Nhân dân địa phương còn truyền tụng thơ về Chương Dương:
   
                                               "Gốc đa hoa gạo nơi này
                                               Chương Dương chợ họp ở ngay bên đường
                                               Cả thủy lục thông thương đều tiện
                                               Bến Chương Dương kỷ niệm còn ghi...".


        Nhiều sử sách xa xưa của ta đã nhắc đến địa danh Chương Dương và ca ngợi chiến công lớn ở Chương Dương độ. Sách Việt sử thông giám cương mục của nhà Nguyễn có chép lời cẩn án rằng: "Trận đánh ấy, thắng được ở Chương Dương, thu phục được kinh thành là chiến công to nhất thời bấy giờ".

        Như vậy, Chương Dương hay Chương Dương độ ở huyện Thường Tín, Hà Tây là một địa danh lịch sử lẫy lừng và mãi mãi chói sáng, nơi ghi tạc chiến công oanh liệt của quân dân nhà Trần, đó là chiến thắng Chương Dương trong cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước vĩ đại hồi thế kỷ XIII.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:09:55 PM
         
BÀN THÊM VÊ SỰ KIỆN LÊN NGÔI HOÀNG ĐẾ CỦA NGUYỄN HUỆ TẠI PHÚ XUÂN (22-12-1788)73

HUỲNH CÔNG BÁ        

        Về ngày lên ngôi của vua Quang Trung, tất cả các sử sách cũ của ta đều ghi là ngày 25 tháng Một74 năm Mậu Thân (tức là ngày 22-12-1788).

        Sách Hoàng Lê nhất thống chí viết: “Ngày 20 tháng ấy (tức là tháng Một năm Mậu Thân). Sở (Ngô Văn Sở) lui về Tam Điệp, thì ngày 24 Tuyết (Nguyễn Văn Tuyết) đã vào đến thành Phú Xuân. Bắc Bình Vương tiếp được tin báo, giận lắm, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay. Nhưng các người đến họp đều nói: "Chúa công với vua Tây Sơn tức Nguyễn Nhạc) có sự hiềm khích, đối với ngôi chí tôn, lòng tôn phò của mọi người chưa thật vững bền, nay nghe quân Thanh sang đánh, càng dễ sinh ra ngờ vực hai lòng. Vậy xin trước hết hãy chính vị hiệu, ban lệnh ân xá khắp trong ngoài, để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, rồi sau sẽ cất quân ra đánh dẹp cõi Bắc cũng chưa là muộn”.

        Bắc Bình Vương lấy làm phải, bèn cho đắp đàn ở trên núi Bân, tế cáo trời đất cùng các thần Sông, thần Núi: chế ra áo cổn mũ miện, lên ngôi Hoàng đế, đổi năm thứ 11 niên hiệu Thái Đức của vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm năm đầu niên hiệu Quang Trung. Lễ xong, hạ lệnh xuất quân, hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788)75. Ở đây có lẽ chép nhầm tháng Một ra tháng Chạp.

        Sử của triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện cũng viết “Nguyễn Huệ được cáo cấp, mắng to: "Chó Ngô là quân gì mà dám tung hoành". Nguyễn Huệ liền hạ lệnh cất quân. Các tướng đều khuyên : "Trước tiên nên chính ngôi vị để kết chặt lòng người”. Nguyễn Huệ bèn cho đắp đàn ở phía nam núi Ngự Bình, lấy ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân (1788) tự lập làm Hoàng đế, đổi niên hiệu là Quang Trung. Liền ngày ấy, vua Quang Trung đem các tướng sĩ thủy bộ cùng tiến ra Bắc"76.

        Trên cơ sở các nguồn tư liệu ấy, trong cuốn Quang Trung-Anh hùng dân tộc (1788-1792), tác giả Hoa Bằng đã viết: “Oai hùng giữa cảnh sông Hương, núi Ngự, Bắc Bình Vương đương chú mắt vào thời cục Bắc Hà, thì Nguyễn Văn Tuyết từ núi Tam Điệp, vâng lệnh Ngô Văn Sở, phi ngựa trạm, đưa tin khẩn cấp vào thành Phú Xuân (ngày 24 tháng Một năm Mậu Thân-1788): Tôn Sĩ Nghị lót miệng bằng tiếng "cứu Lê" đã kéo binh sang chiếm Thăng Long, giày đạp dân chúng! Khí diệm quân Thanh đang mạnh! Thú binh ở Bắc của ta không sao địch nổi, đã phải rút lui, đóng giữ từ Thanh Hoá trở vào.

        … Bấy giờ các tướng tá ai cũng khuyên Vương: nên hãy trước chính vị hiệu để ràng buộc lấy lòng người Nam, Bắc, rồi sau sẽ ra bắt sống quân hùm beo ấy.

        Chiều ý chư tướng, Bắc Bình Vương sai chọn ngày lập đàn Giao ở Bân Sơn, phía nam núi Ngự Bình, làm lễ tế trời, đất và các thần Sông, Núi, rồi với bàn tay đanh thép như Nã Phá Luân thứ nhất, Vương tự làm lễ "gia miện" lấy. Thế là từ ngày 25 tháng 11 năm ấy, được mang cái hiệu Quang Trung nguyên niên (1788) thay vào hai niên hiệu: Chiêu Thống thứ 2 và Thái Đức thứ 11.

        Ngày hôm đăng quang, vua Quang Trung tự làm tướng, cầm đầu đại binh, đốc thúc các tướng sĩ ở tế đàn, kéo cả quân bộ, quân thủy rầm rộ ra Bắc Hà với cái tiêu khí đang tưng bừng, bồng bột"77.

        Gần đây, trong tác phẩm Tìm hiểu thiên tài quân sụ của Nguyễn Huệ…, các tác giả Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng cũng viết: "Ngày 20 tháng Một năm Mậu Thân, Ngô Văn Sở đưa quân về tới Tam Điệp thì cũng ngay ngày hôm ấy Ngô Văn Sở cử đô đốc Nguyễn Văn Tuyết phi ngựa vào Phú Xuân cấp báo Nguyễn Huệ. Chỉ bốn ngày sau, tức 24 tháng Một năm Mậu Thân (21 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Văn Tuyết tới Phú Xuân. Nghe báo cáo đầy đủ tình hình, Nguyễn Huệ quyết định ngay ngày hôm sau 25 tháng Một năm Mậu Thân (tức ngày 22 tháng 12 năm 1788) xuất quân tiến ra Bắc"78.

        Như vậy là tất cả sử cũ và mới đều nói ngày lên ngôi Hoàng đế của Nguyễn Huệ tại Phú Xuân là ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân (tức 22-12-1788). Song có một điều gây ra thắc mắc: tại sao trong Chiếu lên ngôi của Nguyễn Huệ lại ghi là ngày 22 tháng Một năm Mậu Thân (tức là ngày 19- 12- l788), trước ngày ghi trong các tài liệu sử sách 3 ngày. Bản chữ Hán của Chiếu lên ngôi (in trong Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, quyển 11) viết như sau:

        “Trẫm ứng thiên thuận nhân, bất khả lao chấp tôn nhượng, di kim niên thập nhất nguyệt, nhị thập nhị nhật, tức thiên tử vị , kỷ nguyên vi Quang Trung nguyên niên”79.

--------------------------
        73. Tạp chí LSQS số 3-1989.

        74. Tức tháng Mười Một âm lịch, theo cách truyền thống.

        75. Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí (bản dịch), NXB Văn học, Hà Nội, 1970, tr. 359-360.

        76. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch), trích từ tập san Sử Địa, Sài Gòn, số 9-10 (1968), tr. 94.

        77. Hoa Bằng. Quang Trung-Anh hùng dân tộc (1788-1792), NXB Hoa Tiên, Sài Gòn, 1974, tr. 157-158.

        78. Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng. Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ-con người và sự nghiệp, Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1986, tr. 32.

        79, 80. Tuyển tập thơ văn Ngô thì Nhậm, Q. 11, NXB Hà Nội, Hà Nội, 1978, tr. 105, 108.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:14:22 PM

        Mai Quốc Liên dịch như sau.

        "Trẫm ứng mệnh trời thuận lòng người, không thể cố chấp nhún nhường mãi, lấy ngày 22 tháng Một năm nay (tức năm Mậu Thân) lên ngôi thiên tử, đặt niên hiệu là Quang Trung nguyên niên80.

        Giáo sư Phan Huy Lê, trong tác phẩm Quang Trung-con người và sự nghiệp cũng đã xác nhận sự chênh lệch về ngày tháng đó. Tác giả viết:

        "Tại Phú Xuân, 24 tháng Một năm Mậu Thân (21-12-1788), Nguyễn Huệ nhận được tin cấp báo. Ngày hôm sau, ngày 25 tháng Một, Nguyễn Huệ làm lễ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung (theo Chiếu lên ngôi thì Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế ngày 22 tháng Một) rồi lập tức ra lệnh xuất quân"81.

        Tại sao có sự chênh lệch đó?

        Chúng tôi nghĩ rằng việc ghi chiếu ngày 22 tháng Một là một việc làm rất có tính toán, cân nhắc của Nguyễn Huệ. Phải chăng lễ lên ngôi đã được tổ chức vào ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân (22-12-1788), nhưng khi viết chiếu, Quang Trung vẫn phải để niên hiệu của mình chính thức bắt đầu từ ngày 22 tháng Một năm ấy (19-12-1788) đã khẳng đinh hơn nữa tính chất chính thống của triều đại mình (mà vốn từ lâu nó đã có đủ tư cách đó), hoàn toàn đập lại tính chất ngụy trá của chức "An Nam quốc vương" do nhà Thanh phong cho Lê Chiêu Thống cũng vào ngày 22 tháng Một năm Mậu Thân.

        Hoàng Lê nhất thống chí cho biết nhà Thanh đã thụ phong cho vua Lê vào ngày 22 tháng Một năm Mậu Thân82.

        Tại sao Nguyễn Huệ đã không đề chiếu trước ngày 22 tháng Một hoặc sau ngày 22 tháng Một năm Mậu Thân? Nếu đề chiếu trước ngày 22 tháng Một thì tức là trái với chủ trương "phù Lê" mà Nguyễn Huệ đã ban bố trước đây, mặc dù ông rất biết cái bất tài vô lực của vua Lê lúc bấy giờ. Song yêu cầu lúc đó cần thiết phải sử dụng chủ trương "Phù Lê" để đoàn kết lực lượng giải quyết những vấn đề cấp thiết nhất, tức là vấn đề Nguyễn Ánh ở Gia Định và vấn đề đời sống của nhân dân trong cả nước. Đó cũng là mục tiêu ngay từ đầu của phong trào nông dân Tây Sơn. Còn nếu đề chiếu sau ngày 22 tháng Một năm Mậu Thân thì tức là thừa nhận cái việc làm sai trái của nhà Mãn Thanh và hành động bán nước của Lê Chiêu Thống và khi bộ máy ngụy chức đã được củng cố ổn định thì tình hình sẽ càng trở nên phức tạp.

        Còn ngày thực tế làm lễ lên ngôi thì đúng là ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân (22-12-1788). Bởi vì điều kiện thông tin liên lạc lúc bấy giờ không cho phép Nguyễn Huệ có thể biết được kịp thời trong ngày, để làm lễ lên ngôi cùng một ngày với việc nhà Thanh phong vương cho Lê Chiêu Thống. Cũng có thể có trường hợp trùng hợp một cách ngẫu nhiên, song khả năng đó không thể xảy ra vì trái với chủ trương "Phù Lê" đã nói ở trên. Mặc dù ngay từ tháng Bảy năm ấy, tức là 4 tháng trước đó, Lê Chiêu Thống đã cử Lê Duy Đán và Trần Danh Án sang Trung Quốc. Tuy nhiên, tính chất bán nước của Lê Chiêu Thống lúc bấy giờ chưa lộ rõ và đối với dư luận phức tạp của quần chúng khiến cho Nguyễn Huệ chưa thể nghĩ đến điều đó. Và như sau này trong nội dung của Chiếu lên ngôi cho thấy Nguyễn Huệ đã hết sức trung thực và thận trọng trong vấn đề này.

        Một điều thắc mắc thứ hai là như các tài liệu đã dẫn ở trên cho thấy, sau khi nhận được tin cấp báo của Nguyễn Văn Tuyết vào ngày 24, lập tức ngày hôm sau, 25 tháng Một năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ cho làm lễ lên ngôi và sau khi lễ xong, cùng trong ngày hôm đó, ông đã lập tức chỉ huy đại quân hàng vạn người lên đường Bắc tiến, tiêu diệt quân xâm lược Thanh. Như vậy là chỉ sau có 12 tiếng đồng hồ, với phương tiện thông tin, liên lạc và vận chuyển hồi đó làm sao có thể tập hợp được 6 vạn binh sĩ có mặt tại lễ đàn với đầy đủ trang bị, tinh thần chiến đấu để kịp thời lên đường? Đây có phải là một điều bí ẩn không thể hiểu nổi hay không?
---------------------
        81. Phan Huy Lê. Quang Trung-Nguyễn Huệ-con người và sự nghiệp. Sở Văn hóa-Thông tin Nghĩa Bình, xuất bản 1986, tr. 32.

        82. Hoàng Lê nhất thống chí, Sđd, tr. 359.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:15:24 PM

        Sách Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ… viết: "Mới nghe thì tưởng như lệnh xuất quân có vẻ nóng vội. Nhưng thật ra, lệnh xuất quân ấy đã dựa trên những cơ sở thực tế của nó. Từ nhiều tháng trước, những đạo quân ở Phú Xuân của Nguyễn Huệ đã được huấn luyện và chuẩn bị đầy đủ chu đáo, lúc nào cũng ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng đợi lệnh lên đường xuất trận để đối phó với mọi tình hình bất trắc xảy ra, dù là ở phía nam hay ở phía bắc. Nếu không có một sự chuẩn bị chu đáo, một tư thế sẵn sàng chiến đấu như thế, thì không có một đội quân nào gồm trên dưới chục vạn người có thể ngày hôm trước được tin giặc đến mà lập tức ngày hôm sau đã xuất phát lên đường đi hàng ngàn dặm để đánh giặc"83.

        Ghi chép của các giáo sĩ phương Tây đang giảng đạo ở Việt Nam lúc bấy giờ cũng đã cho biết: “Từ khi Tân Vương (tức Nguyễn Huệ) trở về lại Phú Xuân (tức từ tháng 4 năm 1788) ông ấy rất bận việc phòng ngự, ông đã xây một bức tường cao 20 piê84 xung quanh dinh của ông, hình như ông gấp lắm. Ông bắt mọi người làm việc suốt đêm không nghỉ"85.

        Đoạn trích vừa rồi là từ một bức thư của linh mục La Bartette viết tại Dinh Cát (Quảng Trì) vào ngày 23-7-1788.

        Trong một bức thư gửi cho Bá Đa Lộc, giáo sĩ Doussain cũng đã viết: Tại Phú Xuân, toàn dân đều học tập quân sự86.

        Theo linh mục Sérard, lúc bấy giờ ở Thuận Hoá "đàn ông thì đi lính, đàn bà và trẻ con thì làm tạp dịch, kẻ thì cày cấy, người thì xây thành đắp luỹ"87. “Tất cả đàn ông từ 15 đến 60 tuổi đều tham gia việc quân” 88. “Tất cả (quân đội của Nguyễn Huệ) đều quyết tử”89. "Tất cả đều thực hiện khẩu hiệu "Tận xuất vi binh"90 của Nguyễn Huệ". "Cả dân tộc này đều làm lính cho họ chẳng sót một người nào"91.

        Rõ ràng qua thư từ của các giáo sĩ, cho thấy lúc bấy giờ binh sĩ của Nguyễn Huệ đã được động viên, huấn luyện và chuẩn bị đầy đủ và đang sẵn sàng ở tư thế đợi lệnh xuất quân chiến đấu. Theo Doussain, số quân đó đã lên tới trên 6 vạn người92.

        Đi đôi với quá trình chuẩn bị về lực lượng quân đội, Nguyễn Huệ còn có những sự chuẩn bị khác, nhất là về mặt chính trị để kịp thời ứng phó với sự thay đổi của tình hình. Theo tài liệu nhật ký của các giáo sĩ phương Tây đang giảng đạo ở địa phận Đàng Ngoài lúc bấy giờ (từ tháng 10-1788) cho biết Nguyễn Huệ đã dự định lên ngôi Hoàng đế vào ngày 11 tháng Mười năm Mậu Thân (tức là ngày 8-11-1788), trước ngày các sử sách của ta ghi chép gần một tháng rưỡi. Và trong một bản sắc lệnh gửi cho các tướng sĩ ở Bắc Hà của Nguyễn Huệ ban bố vào ngày 6 tháng Mười năm Mậu Thân (tức ngày 3-11-1788), cũng do các giáo sĩ phương Tây cung cấp cho biết lúc bấy giờ Nguyễn Huệ có giao cho các quan tư pháp và tham chính viện nhiệm vụ soạn thảo một bộ luật trong vòng một đến hai tháng để kịp thời ban bố trong ngày khởi đầu triều đại của ông.

--------------------------------------
        83. Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, Tìm hiểu thiên tài..., Sđd, tr. 215.

        84. Pied: 0,324 mét.

        85. Tài liệu của Archives Missions Étrangèrcs Cochinchine (viết tắt A.M.E.C). Voi 801. tr. 177

        86. Thư của Doussain viết ngày 6-6-1787, dẫn theo Cadière trong Documents relatifs à l’époque de Gia Long. B.E.F.E.O, N07, 1912, p. 212.

        87. Thư của La Bartette gửi Letondal ngày 11-6-1788, tài liệu A.M.E.C. Vol. 801, tr. 177.

        88. Trong bức thư đề ngày 16-5-1788, Doussain đã tự viết hai chữ "tận xuất" bằng tiếng Việt.

        89. Thư của Doussain viết ngày 16-6-1788, tài liệu A.M.E.C. Vol. 746, tr. 22.

        90. Thư của Doussain viết ngày 6-6-1 787, dẫn theo Cadière, tài liệu đã dẫn.

        91. Trích trong Alexis Faure, Les Francais en Cochinchine au XVIIIe siècle... challamel, Paris, 1891.

        92. Thư của Sérard viết ngày 12-7-1789, tài liệu A.M.E.C đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:16:35 PM

        Đoạn mở đầu của bản Sắc chỉ đó viết như sau:

        “Bởi sắc chỉ này ta cho các tướng Đại tư mã, Đại đô đốc và các sĩ quan khác biết rằng từ trước tới nay các vua chúa đều lấy luật pháp để cai trị thần dân và duy trì hoà bình, nên ta cũng noi gương các vị tiền bối mà đánh dấu ngày khởi đầu triều đại ta bằng cách soạn ra một bộ luật để dân chung sống trên đất đai ta nghiêm ngặt tuân theo. Vì thế ta đã giao cho các quan tư pháp và tham chính viện nhiệm vụ hoàn tất tác phẩm đó trong 1, 2 tháng”93.

        Theo chúng tôi, có thể chưa phải Nguyễn Huệ dự định lên ngôi vào ngày 11 tháng Mười năm Mậu Thân như tài liệu của giáo sĩ trên cung cấp, do chủ trương "Phù Lê" mà chúng tôi đã nêu ra ở trên, song có thể trong khoảng trước sau của thời gian này, Nguyễn Huệ đã có sự chuẩn bị về mặt luật pháp như trong bản Sắc chỉ nói trên đã cho biết. Sự phân tích tình hình chính trị-quân sự lúc bấy giờ cho thấy có thể có khả năng đó.

        Một là, ngay từ tháng Bảy năm Mậu Thân (tức tháng 8- 1788), Lê Chiêu Thống ngầm sai bọn Lê Duy Đán và Trần Danh Án sang Trung Quốc cầu cứu triều đình nhà Mãn Thanh, rước quân nước ngoài về giày xéo đất nước.

        Hai là, sau khi làm chủ được một vùng đất đai rộng lớn ở Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc tự lấy làm thoả mãn, ung dung hưởng lạc, từ bỏ ngọn cờ cứu nước, cứu dân, phó mặc Gia Định cho sự bất tài của Nguyễn Lữ. Điều đó đã tạo ra một sự sơ hở lớn để Nguyễn Ánh tấn công đánh chiếm lại Gia Định. Nguyễn Lữ mắc mưu bỏ chạy về Quy Nhơn. Ngày 8 tháng Tám năm Mậu Thân (tức ngày 7-9-1788) Nguyễn Ánh chiếm được Sài Gòn, thủ phủ của Gia Định. Tướng của Nguyễn Lữ là Phạm Văn Tham buộc phải rút lui về Hàm Luông dựa vào sự giúp đỡ của người Chân Lạp. Nguyễn Ánh một mặt cho quân bao vây quân của Phạm Văn Tham, mặt khác lo tổ chức việc cai trị ở Gia Định. Và cũng có thể nói từ đây trở đi quân Tây Sơn đã mất hẳn Gla Định.

        Ba là, từ ngày 1 tháng Một năm Mậu Thân (tức ngày 28-11-1788), 29 vạn quân Thanh do Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sỹ Nghị chỉ huy, đã chia làm ba đạo, ồ ạt kéo vào dết nước ta với mưu đồ xâm lược. Trước kẻ địch đông gấp bội, Ngô Văn Sở theo lời đề nghị của Ngô Thì Nhậm tạm thời rút quân về giữ Tam Điệp. Ngày 20 tháng Một năm đó (ngày 16-12-1788) quân Thanh vào đến Thăng Long. Tôn Sỹ Nghị buông lỏng cho quân lính mặc sức hoành hành, cướp bóc, hãm hiếp nhân dân. Bọn Lê Chiêu Thống bám gót quân Thanh, được vua Thanh phong làm "An Nam quốc vương". Y đã tỏ ra là một tên bù nhìn ươn hèn, đốn mạt. Đối với quân thù thì bọn chúng qụy lụy đến khốn nạn. Đối với nhân dân trong nước thì bọn chúng tàn nhẫn đến dã man. Dựa vào thế quân Thanh, chúng trả thù báo oán rất ti tiện và ra sức vơ vét thóc gạo, cướp bóc của cải để cung đốn cho quân xâm lược.

        Nhiệm vụ lịch sử lúc bấy giờ đặt ra cho phong trào Tây Sơn là không được dừng lại ở việc giải quyết những nhiệm vụ giai cấp mà còn phải vươn lên để giải quyết nhiệm vụ của dân tộc.

        Đứng trước tình hình đó, những người lãnh đạo chân chính của phong trào Tây Sơn không có cách nào khác là phải phá bỏ cái quan điểm "phù Lê", "diệt Trịnh", lập ra một triều đại mới để tập hợp quần chúng chống ngoại xâm. Với một khả năng mẫn cảm sâu sắc về chính trị, Nguyễn Huệ không thể không nhận thức ra được sự tất yếu này và chuẩn bị cho nó. Sự chuẩn bị về luật pháp nói trên là một ví dụ. Các quan lại, tướng sĩ của ông cũng đã nhiều lần dâng biểu khuyên mời ông sớm lên ngôi định vị hiệu.

        Song, sự phức tạp của tình hình lúc bấy giờ đòi hỏi Nguyễn Huệ phải xử sự một cách hết sức khéo léo và tế nhị. Bởi vì, mặc dù với một tấm lòng trung thực và xuất phát từ lợi ích của cả dân tộc nhưng việc Nguyễn Huệ lên ngôi xoá bỏ nhà Lê cũng có thể sẽ là một cơ hội để cho những phần tử phản động nhân đó dựng cờ phù Lê chống Tây Sơn, thậm chí những người tốt cũng có thể nghi ngờ về tính chất chính nghĩa của phong trào Tây Sơn. Đấy là nói chung. Riêng trong nội bộ của phong trào Tây Sơn cũng có những cái phức tạp của nó. Mặc dù Nguyễn Huệ là người lỗi lạc, có nhiều cống hiến xuất sắc, nhưng về danh nghĩa lâu nay, người cầm đầu phong trào vẫn là Nguyễn Nhạc. Bây giờ tự nhiên Nguyễn Huệ tuyên bố lên ngôi sẽ không tránh khỏi dị nghị trong dư luận. Cuộc đấu tranh tư tưởng này đòi hỏi Nguyễn Huệ phải hết sức thận trọng. Ở đây không chỉ có sự trung thực mà cần phải có sự khéo léo nữa94. Chính vì thế, Nguyễn Huệ đã cân nhắc hết sức thận trọng.

-----------------------
        93. Nhật ký về những sự kiện đáng ghi nhớ trong địa phận giáo hội Bắc Kỳ về chính trị, dân sự, tôn giáo từ tháng 10-1788 cho tới cuối tháng 7-1789, tài liệu lưu trữ tại Hội truyền giáo hải ngoại Ba-lê (Đặng Phương Nghi sưu tầm và dịch, tập san Sử Địa, Sài Gòn, số 9-10 (1968), tr. 214).

        94. Nguyễn Lộc. Văn học Tây Sơn, Sở Văn hoá-Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1986, tr. 62.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:17:10 PM

        Sự thận trọng đó của ông thể hiện rất rõ trong nội dung của Chiếu lên ngôi. Mở đầu bài chiếu, vua Quang Trung nhấn mạnh, việc thay đổi triều đại trong lịch sử không có gì trái với đạo trời, mà chính là để làm tốt đạo trời. Qua thực tiễn lịch sử nước ta, việc thay đổi các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần chứng tỏ "Thánh nhân dấy lên không phải một họ".

        Sau đó, vua Quang Trung nói rõ lý do ông tham gia phong trào nông dân khởi nghĩa là vì sự phẫn nộ trước những thối nát của triều đại phong kiến lúc bấy giờ, là mong muốn có một trật tự xã hội tốt đẹp để cho dân chúng yên ổn, “rồi sau đó trả nước cho họ Lê, trả đất về Đại huynh (tức Nguyễn Nhạc), Trẫm sẽ dùng hia thêu đỏ ngao du hai miền để làm vui mà thôi”.

        Nhưng lịch sử không dừng lại ở đó: Vua Lê thì bất lực, Hoàng Đại huynh thì mệt mỏi, chỉ muốn giữ một phủ Quy Nhơn; nguyện vọng của nhân dân là mong mỏi Nguyễn Huệ đứng ra gánh vác công việc, nhà vua dù muốn từ chối cũng không thể từ chối được.

        "Trẫm nghĩ: nghiệp lớn rất trọng, ngôi trời khó khăn. Trẫm thật lòng lo không đương nổi. Nhưng ức triệu người trong bốn bể trông cậy vào một mình trẫm. Đó là ý trời, há phải việc người? Trẫm ứng mệnh trời, thuận lòng người, không thể cố chấp nhún nhường mãi được...". Và vì thế nhà vua buộc phải lên ngôi. Với tư cách một vị hoàng đế, nhà vua tuyên dương "Nhân, Nghĩa, Trung, Chính", quyết tâm "lấy giáo hoá trị thiên hạ". Nhà vua tin tưởng con đường mình đi là con đường chí thuận, sẽ vãn hồi được thánh trị, kéo dài được phúc lành cho tông miếu xã tắc, "cùng dắt dìu dân lên con đường lớn, đặt vào đài xuân".

        Bài chiếu với lời lẽ hùng hồn, lập luận chặt chẽ thể hiện một tấm lòng trung thực của ông vua áo vải cùng với quyết tâm xây dựng lại giang sơn đất nước95.

        Sự thận trọng của Nguyễn Huệ còn biểu hiện ở việc lựa chọn ngày lên ngôi như đã chứng minh ở trên. Đoạn trích sau đây từ Khâm định Việt sử thông giám cương mục có khác đôi chút với đoạn trích từ Hoàng Lê nhất thống chí ở trên cho thấy một sự quyết định sáng suốt, có dự đoán và chuẩn bị của Nguyễn Huệ:

        “…Ngày 24 tháng Một năm Mậu Thân, khi tin cấp báo về đến Phú Xuân, trước vẻ hớt hải lo lắng của Nguyễn Văn Tuyết và nỗi hoang mang của các tướng sĩ, Nguyễn Huệ bình tĩnh và tươi cười nói: “Việc gì mà cuống quít lên vậy, chúng nó tự đi đến chỗ chết mà thôi, ta hãy lên ngôi làm cho danh nghĩa quang minh chính đại, để ràng buộc lấy lòng người trong Nam ngoài Bắc trước đã, rồi sẽ ra bắt sống chúng nó cũng chưa muộn nào...”96. Thế rồi lập tức ngày hôm sau, 25 tháng Một năm Mậu Thân (22-12-1788), Nguyễn Huệ cho tập trung các quan cùng với 6 vạn binh sĩ lên đỉnh núi Bân, làm lễ tế cáo trời đất, tuyên chiếu lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung và sau đó tuyên bố luôn lệnh xuất quân”.

        Với một nhãn quan chính trị nhạy bén, tinh tế, ông đã kết hợp một cách tài tình tuyệt đẹp giữa một sự kiện chính trị trọng đại với một sự kiện quân sự trọng yếu, giữa việc lên ngôi Hoàng đế với việc xuất quân đại phá quân Thanh. Sự tác động tương hỗ giữa hai sự kiện chính trị và quân sự nói trên đã nâng cao rất lớn uy tín của Nguyễn Huệ, giải quyết một cách gọn ghẽ cuộc đấu tranh tư tưởng trong nội bộ nhân dân lúc bấy giờ, tập hợp và phát huy được sức mạnh của cả dân tộc, làm tiền đề cho một chiến công hiển hách đang chờ đợi.

        Sách Lê quý kỷ sự viết: "Làm lễ đăng quang xong, Huệ đưa hết các tướng sĩ ở lễ đàn, vượt qua sông Hương, không ngoái lại nữa, lên đường nhằm Bắc Hà thẳng tiến"97.

        Họ ra đi từ Phú Xuân vào ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân để có mặt ở Thăng Long vào sáng ngày mồng 5 tết Kỷ Dậu, đón năm mới bằng chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa oanh liệt, quét sạch 29 vạn quân Thanh xâm lược.

--------------------
        95. Nguyễn Lộc. Văn học Tây Sơn, Sđd, tr. 61.

        96. Khâm Định Việt sử thông giám cương mục. Chính biên, quyển 47, tr. 40. Dẫn theo Đỗ Bang, Đàn Nam giao Tây Sơn tại Huế, Kỷ yếu Tây Sơn-Nguyễn Huệ, Ty Văn hoá-Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1978, tr. 303.

        97. Nguyễn Thu. Lê quý kỷ sự (bản dịch), NXB KHXH , Hà Nội, 1975, tr. 120.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:25:02 PM

VỀ “HƯỚNG TIẾN QUÂN CỦA NGUYỄN HUỆ…” TRONG “ĐỐI THOẠI SỬ HỌC”98

LÊ ĐÌNH SỸ       

        Cuốn sách "Đối thoại sử học"99 (ĐTSH) ra đời gây ra không ít dư luận. Nhiều người "bán tín bán nghi" đâu là chân lý, đâu là sự thật? Là một người đã nhiều năm nghiên cứu lịch sử quân sự Việt Nam cổ trung đại, tôi luôn quan tâm tới những phát hiện mới trong lĩnh vực chuyên sâu của mình, thường tìm hiểu thông tin hai chiều về lịch sử dân tộc và hoan nghênh một không khí học thuật mới, tiến bộ. Tuy nhiên, sau khi đọc ĐTSH, tôi thấy ở đó chứa đựng nhiều kết luận vội vàng, thiếu khoa học. Riêng trong lĩnh vực lịch sử quân sự, thấy còn nhiều vấn đề sai lệch, cần phải trao đổi với nhóm tác giả. Ở đây, xin nêu mấy ý kiến về hướng tiến quân của Nguyễn Huệ trong chiến dịch Thăng Long (1789) mà ĐTSH đã đề cập tới.

        1. Đạo quân chủ lực của Nguyễn Huệ có tập kết ở Tam Điệp không?

        Trong ĐTSH, cả hai tác giả Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh từ chỗ hiểu sai "khái niệm về một phòng tuyến quân sự" đã đi đến phủ nhận vai trò của phòng tuyến Tam Điệp-Biện Sơn, đánh giá thấp tài năng quân sự của Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Huệ.

        Từ chỗ phủ nhận vị trí chiến lược của Tam Điệp-Biện Sơn, Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh cũng phủ nhận luôn cuộc hội quân của Quang Trung tại Tam Điệp. Bùi Thiết viết: "Chúng tôi đã chứng minh rằng đại quân của Quang Trung không tập kết ở Tam Điệp như sự trình bày trong các sách vở lịch sử và việc ở Tam Điệp có 5 mũi tiến quân ra Bắc như giả định hiện nay không có tư liệu chứng minh..."(trang 443). Lê Trọng Khánh dựa vào tài liệu của một giáo sĩ Pháp khẳng định: "Quang Trung đã tiến đến Kẻ Vôi (Hoà Bình)" và "đã chọn Kẻ Vôi làm địa bàn tập kết đại quân" (trang 447)(?)

        Chúng ta đã biết, là người chỉ huy tối cao, Nguyễn Huệ và Bộ chỉ huy Tây Sơn luôn theo dõi sát tình hình Bắc Hà, đã lường trước mọi mưu đồ của kẻ thù, vì vậy, mọi việc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến được tiến hành chu đáo và gấp rút từ mấy tháng trước. ông đã khai thác triệt để tiềm năng trong nước để chuẩn bị lực lượng chống quân Thanh xâm lược ở phía Bắc và đối phó với quân Nguyễn Ánh ở phía nam. Ông cho triệu tập binh lính về Phú Xuân, thường xuyên luyện tập xây dựng nhiều đồn luỹ ở các cửa khẩu và dọc theo bờ biển, mộ thêm binh sĩ, chuẩn bị lương thảo, luyện tập quân sự sẵn sàng đánh giặc. Sau khi nghe cấp báo tình hình quân Thanh và ý đồ của chúng, Nguyễn Huệ đã dự liệu một kế hoạch hành binh chớp nhoáng để đánh tan 29 vạn quân Thanh trong dịp Tết Kỷ Dậu 1789.

        Do đã có kinh nghiệm của các lần hành quân vào Nam diệt quân Xiêm (1785), ra Phú Xuân, sông Gianh và Thăng Long diệt tập đoàn phản động nhà Trịnh (1786) bằng cả đường thủy và đường bộ, nên chỉ một ngày sau khi được cấp báo, Nguyễn Huệ đã quyết định xuất quân ngay.

        Tất cả các quan điểm về đường hành quân của quân Tây Sơn, đến nay vẫn còn là giả thiết. Quan điểm của Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh là Nguyễn Huệ và quân Tây Sơn chỉ hành quân theo một trục đường, đó là đường thượng đạo, tức là đường trên miền Tây Quảng Bình-Nghệ An-Thanh Hoá-Hoà Bình, không theo đường thiên lý qua Tam Điệp; điểm tập kết đại quân là Kẻ Vôi và Nguyễn Huệ nghỉ lại ở đó để chuẩn bị lương thực, thực phẩm cho đại quân và thức ăn cho voi, ngựa, trước khi tiến ra Thăng Long.

        Bấy giờ quân xâm lược đã chiếm đóng Thăng Long, quân Tây Sơn còn ở xa, thời gian chuẩn bị gấp. Nếu Quang Trung hành quân theo đường thượng đạo thì hẳn khó mà bảo đảm kịp thời gian. Đường rừng xưa khác nay, vừa xa lại rất khó đi, thời gian lúc này là vốn quý, là lực lượng, không thể chậm trễ được. Lúc ấy, đường Thiên lý (gần như quốc lộ A1 ngày nay) đã hình thành, Tây Sơn đã lật đổ tập đoàn phản động họ Trịnh, đất nước đã được thống nhất; đó là điều kiện để Quang Trung cơ động lực lượng nhanh chóng bằng con đường ngắn nhất, tiện nhất, với tốc độ thần tốc. Đó là đường biển cho thủy binh và đường bộ-đường Thiên lý cho bộ binh, đồng thời quân Tây Sơn cũng có đủ khả năng để khắc phục những hạn chế do địa hình, thời tiết gây nên và được nhân dân ủng hộ, bảo vệ.

        Nguyễn Huệ đã tuỳ theo số lượng quân sĩ, trang bị và theo khả năng phương tiện để tổ chức đội hình hành quân, bảo đảm thông suốt, thuận lợi và bí mật. Có thể từ Phú Xuân ra Nghệ An, rồi từ Nghệ An ra Thanh Hoá và Tam Điệp, quân Tây Sơn chia thành hai đạo. Đạo chủ yếu đi theo đường bộ-đường Thiên lý, gồm bộ binh, kỵ binh và một bộ phận tượng binh. Đạo đường thủy dành cho thủy binh, tượng binh, pháo binh là những lực lượng và phương tiện nặng nề, cồng kềnh. Qua nghiên cứu các tài liệu, việc phân chia các chặng đường hành quân với các mốc thời gian ghi trong sử sách, chúng ta thấy các cung trạm và bảo đảm hành quân có thể thực hiện được theo hai trục đường đó. Chính vì vậy, đại quân Nguyễn Huệ có điều kiện thuận lợi để mau chóng vượt qua một chặng đường dài, trong một thời gian không lâu, để qua Nghệ An, qua Thọ Hạc (Thanh Hoá) và tới địa điểm tập kết đại quân ở Tam Điệp và Biện Sơn.

----------------------------------
        98. Tạp chí LSQS số 3-2000.

        99. Bùi Thiết-Đỗ Văn Ninh-Lê Trọng Khánh... Đối thoại sử học, NXB Thanh niên, H, 2000.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:26:13 PM

        Kết luận này cũng phù hợp với những phản ánh trong sử sách xưa nay. Các sử gia Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “Ngay ngày hôm ấy (22- 12-1788), Văn Huệ lùa hết tướng sĩ ở tế đàn vượt sông ra Bắc. Khi qua Nghệ An và Thanh Hoá lấy thêm quân lính đến 8 vạn người, bèn tạm đóng quân ở Thọ Hạc, trước hãy sai người ruổi ngựa đưa thư đến Sĩ Nghị để xin đầu hàng. Lời lẽ trong thư rất là nhũn nhặn, khiêm tốn”100; và “đến đây, quân Văn Huệ kéo đến đèo Ba Dội (Tam Điệp sơn), nhà vua (tức Lê Chiêu Thống) được tin, lấy làm lo sợ, hỏi Sĩ Nghị về mưu kế”101. Tác giả Nguyễn Thu, trong sách Lê quý kỷ sự có chép: "Huệ xuất phát từ Phú Xuân, qua Nghệ An đến Thanh Hoá, vừa đi vừa thu nhặt thêm binh lính: Quân dưới cờ được đến 8 vạn người. Làm lễ thệ sư ở Thọ Hạc, Huệ cưỡi đầu voi, ra lệnh (...) Huệ nói dứt lời, các quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, làm cho trời đất biến đổi cả cảnh sắc. Rồi chiêng trống vang rền... Quân lính gấp đường kéo ra. Khi đến Sơn Nam (Tam Điệp), Huệ viết thư mắng Tôn Tổng đốc là thằng điên"102. Trong hồi ký của một giáo sĩ người Pháp có mặt ở nước ta thời đó là Đờ la Bít-xa-se (De la Bissachère) có viết: Khi được tin quân Thanh sang xâm lược, Nguyễn Huệ lập tức đưa quân ra Bắc Hà, "ông ấy đi suốt ngày đêm, dọc đường dùng quyền lực thu nạp tất cả những người có thể cầm được vũ khí, ông không có lương thực nào khác ngoài lương thực tìm thấy trong các làng mà ông đi qua"103.

        Mấy tài liệu trên chứng tỏ, Nguyễn Huệ hành quân qua những vùng đông dân, qua Nghệ An, Thanh Hoá và đã tập kết tại Tam Điệp-nơi mà đạo quân của Ngô Văn Sở đã lui về trấn giữ từ trước.

        Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15-1-1789), đại quân của Nguyễn Huệ đã tới Tam Điệp-Biện Sơn. Kể từ khi được tin cấp báo của Ngô Văn Sở, do Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết phi ngựa mang vào (21-12-1788) đến ngày tập kết ở Tam Điệp, quân Tây Sơn đã hành quân mất 25 ngày. Trong điều kiện thời bấy giờ, trên một quãng đường dài, vừa đi vừa tổ chức lực lượng, đó quả là một cuộc hành quân táo bạo, thần kỳ, chứng tỏ nghệ thuật dụng binh thiên tài của Nguyễn Huệ.

        Vậy là, việc Nguyễn Huệ tập kết đại quân ở Tam Điệp vừa được phản ánh trong sử sách, vừa phù hợp với khả năng hành quân của quân đội Tây Sơn. Ý kiến cho rằng đại quân của Nguyễn Huệ tập kết ở Hòa Bình, không qua Tam Điệp, của Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh cũng chỉ là một giả thiết không có cứ liệu chính xác. Theo tôi, đã không dựa trên một cơ sở tư liệu tin cậy thì các tác giả ĐTSH không nên vội vã đưa ra kết luận của mình để phủ định toàn bộ những thành quả nghiên cứu trước đây.

        Từ chỗ cho rằng, đạo chủ lực của Quang Trung không hội quân ở Tam Điệp, Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh đi đến phủ nhận hai vấn dề: một là, không có việc từ Tam Điệp, quân Tây Sơn chia thành 5 mũi tiến quân ra Bắc như sử sách đã nói; hai là, Nguyễn Huệ không tiến quân theo hướng nam Thăng Long, không tham gia đánh Hà Hồi và Ngọc Hồi, mà ông chỉ huy quân chủ lực tiến theo hướng tây nam, đánh vào Khương Thượng-Đống Đa. Trong bài "Góp phần nhận thức lại nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ trong chiến thắng Đống Đa", Lê Trọng Khánh viết rằng: "Nguyễn Huệ chủ trương đột phá vào thành Thăng Long từ hướng Đống Đa bằng cánh quân chủ lực tinh nhuệ nhất của Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, trong đó có khoảng 1 vạn quân do Đô đốc Đặng Văn Long, tức Đô đốc Long, chỉ huy làm quân tiên phong, có nhiệm vụ chủ yếu là nhanh chóng làm tê liệt 3 vạn quân của Sầm Nghi Đống ở Đống Đa, mở đường cho Nguyễn Huệ thọc sâu vào tiêu diệt lực lượng chủ lực do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy" (trang 450). Theo Lê Trọng Khánh, cánh quân tiến công theo hướng phía nam Thăng Long, do Ngô Văn Sở chỉ huy, là cánh thứ yếu, chỉ nhằm nghi binh, lôi kéo sự chú ý của quân Thanh mà thôi.

        Ý kiến này hoàn toàn ngược lại với những kết luận trước đây của nhiều nhà sử học. Nếu lý giải theo Lê Trọng Khánh, tức là từ Kẻ Vôi (Hoà Bình), Quang Trung chia quân thành 5 đạo tiến theo 5 mũi vào Thăng Long thì quả là không có sức thuyết phục. Nếu đại bản doanh của Nguyễn Huệ đóng ở Hoà Bình thì rất khó liên lạc với các đạo quân khác của Tây Sơn ở cả Biện Sơn và Tam Điệp. Do vậy, vị trí tập kết của đại quân Nguyễn Huệ, như nói ở trên, là hợp lý và từ Tam Điệp, Nguyễn Huệ mới có điều kiện thuận lợi họp chư tướng dưới quyền để chỉ đạo thực hiện kế hoạch tác chiến của mình. Theo chúng tôi, cách lý giải trước đây là phù hợp lô-gic. Chỉ có từ Tam Điệp, Quang Trung mới có thể hội họp các tướng và phân chia quân thành 5 đạo, với những lực lượng và nhiệm vụ khác nhau, đồng loạt tiến ra Bắc để thực hiện một nhiệm vụ chiến dịch-chiến lược quan trọng nhất của cuộc chiến tranh như ông đã nói "việc được thua đều quyết định ở trận này".

-------------------
        100, 101. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 2, NXB Giáo dục, H, 1998, tr. 845, 846.

        102. Nguyễn Thu. Lê quý kỷ sự, NXB Khoa học xã hội, H, 1974, tr. 122.

        103. Ch. May bon. La relation sur le Tonkin ét la Cochinchine de M. De la Bissachère, Paris, 1920. p. 132.

        2. Nguyễn Huệ chỉ huy cánh quân nào trong chiến dịch Ngọc Hồi-Đống Đa xuân Kỷ Dậu (1789)?


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:27:20 PM

        Điều đó cũng phù hợp với những ghi chép của Ngô gia văn phái trong Hoàng Lê nhất thống chí rằng: "Tại Tam Điệp, vua Quang Trung mở tiệc khao quân, chia quân sĩ ra làm 5 đạo hôm đó là ngày 30 tháng Chạp. Rồi nhà vua bảo kín với các tướng rằng; Ta với các ngươi làm lễ cúng Tết trước đã. Đến 30 Tết lập tức lên đường, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Các người nhớ lấy, đừng cho là ta nói khoác. Sau đó nhà vua truyền lệnh: các viên tướng ở trung quân thuộc về doanh vua sai phái là Đại tư mã Sở; nội hầu Lân đốc suất tiền quân làm tiên phong; Hám hổ hầu đốc suất hậu quân làm đốc chiến; Đại đô đốc Lộc, Đô đốc Tuyết đốc suất tả quân, trong đó gồm cả thủy quân vượt biển vào sông Lục Đầu; rồi Tuyết vẫn kinh lý vùng Hải Dương để tiếp ứng mặt Đông; còn Lộc thì đi gấp lên các hạt Lạng Sơn, Phượng Nhãn, Yên Thế để chặn đường về của quân Thanh; Đại đô đốc Bảo, Đô đốc Long đốc suất hữu quân, trong đó gồm quân voi và quân kỵ mã: Long xuyên qua huyện Chương Đức, theo đường tiến thẳng đến Nhân Mục, huyện Thanh Trì để đánh ngang vào đồn quân Điền Châu; Bảo thì thống đốc quân voi do đường Sơn Minh ra làng Đại áng, huyện Thanh Trì để tiếp ứng cánh hữu. Cả 5 đạo quân đều lạy vâng mệnh, đúng ngày, gióng trống lên đường ra Bắc"104.

        Dẫu rằng Hoàng Lê nhất thống chí là một bộ tiểu thuyết lịch sử, nhưng nó được viết ra gần với thời gian xảy ra sự kiện, các tác giả lại thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai. Trong điều kiện sử liệu rất hiếm hoi thì những điều mô tả trên của Ngô gia văn phái rất đáng để chúng ta tham khảo. Các sách khác như Lê quý kỷ sự, Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, v v. đều phản ánh tương tự. Không hiểu tại sao Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh không tham khảo mà lại phán đoán và trình bày ý kiến của mình một cách khiên cưỡng, có tính áp đặt, thiếu sức thuyết phục, thiếu chứng cứ khoa học... để bác lại những điều mà sử sách trước đây đã viết?

        Phủ nhận hướng tiến công phía nam do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy, Bùi Thiết còn cho rằng, sử sách trước đến nay đã cường điệu những trận đánh từ Thanh Quyết đến Ngọc Hồi, vì đó đâu phải là "cú đánh chiến lược"; những người viết sử trước đây đã chưa hiểu trọn cách dùng binh của Nguyễn Huệ; công nhận các trận từ Thanh Quyết đến Ngọc Hồi do Quang Trung tự thân đốc chiến là vô hình chung hạ thấp tài ba của Hoàng đế Quang Trung(?).

        Thực tế không như Bùi Thiết suy đoán. Việc Nguyễn Huệ đích thân chỉ huy cánh quân chủ lực đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu đánh thẳng vào hệ thống phòng thủ mạnh nhất của quân Thanh ở phía nam Thăng Long là điều quá rõ, vừa được phản ánh trong sử cũ, vừa phù hợp với cách hành binh của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ. Tài dụng binh của Nguyễn Huệ đã nổi tiếng mà chính kẻ thù cũng phải thừa nhận ông "là tay anh hùng lão luyện có tài cầm quân". Trong cuộc đời chinh chiến của mình, bao giờ Nguyễn Huệ cũng rất táo bạo, trực tiếp chỉ huy những đạo quân chủ lực đánh hướng chính diện, vào những vị trí quan trọng nhất của địch, tập trung binh lực tốc chiến tốc thắng, khiến quân thù không kịp trở tay và nhanh chóng thất bại. Cả hai chủ tướng Nguyễn Huệ và Tôn Sĩ Nghị đều coi mặt trận nam Thăng Long là quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định. Ở đây, khi được tin Nguyễn Huệ chuẩn bị tiến công, Tôn Sĩ Nghị đã lo tăng cường lực lượng phòng thủ. Trong số năm tướng nanh vuốt nhất thuộc đạo quân chủ lực của mình, Tôn Sĩ Nghị đã điều ba người về Ngọc Hồi và mặt trận phía nam là: Đề đốc phó tướng Hứa Thế Hanh, chỉ huy quân tiên phong, Tổng binh Trương Triều Long và Tổng quản Tả dực quân Thượng Duy Thăng. Chỉ huy tiến quân trên hướng chính diện, đánh vào cụm quân quan trọng nhất của địch, không ai khác đó là Nguyễn Huệ. Khẳng định sự thật lịch sử này quyết không phải "hạ thấp tài ba của hoàng đế" như Bùi Thiết nói, mà ngược lại càng nâng cao uy tín của Quang Trung-Nguyễn Huệ.

        Việc Nguyễn Huệ tự mình chỉ huy chiến đấu ở Hà Hồi và Ngọc Hồi là hoàn toàn đúng sự thật. Sách Việt sử thông giám cương mục đã mô tả diễn biến trận Ngọc Hồi như sau: "Hồi trống canh năm hôm sau tức mồng 5 Tết Kỷ Dậu), Văn Huệ xắn tay áo đứng dậy, đốc thúc bản bộ lùa quân rầm rộ tiến lên. Chính Văn Huệ tự mình đốc chiến, cho hơn trăm voi khoẻ đi trước. Tờ mờ sáng, quân Thanh lùa toán quân kỵ tinh nhuệ ồ ạt tiến. Chợt thấy bầy voi, ngựa quân Thanh đều sợ hãi, hí lên, tế chạy, lồng lộn quay về, chà đạp lẫn nhau. Giặc (Nguyễn Huệ) lại lùa voi xông đến. Quân Thanh trong cơn gấp rút, không cứu nhau được, ai nấy rút vào trong luỹ để cố thủ. Bốn mặt đồn luỹ quân Thanh đã cắm chông sắt, súng và tên bắn ra như mưa. Giặc (Nguyễn Huệ) dùng những bó rơm ướt to lớn để che đỡ mà lăn xả vào, rồi quân tinh nhuệ tiến theo sau. Kẻ trước ngã, người sau nối, thảy đều trổ sức liều chết mà chiến đấu. Các luỹ quân Thanh đồng thời tan vỡ và quân Thanh đều chạy… Quân Thanh bị chết và bị thương quá nửa. Thế Hanh, tiên phong Trương Sĩ Long và Tả dực Thượng Duy Thăng đều chết trận"105.

---------------------
        104. Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, tập 2, NXB Văn học, H, 1984, tr. 1 82.

        105. Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tập 2, tr. 847.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:27:57 PM

        Sách Lê quý kỷ sự cũng chép: "Ngày mồng 5, trời còn chưa sáng. Nguyễn Huệ thân chinh đốc chiến, cho hơn trăm voi đực tiến lên trước, quân cứng mạnh tiến theo sau, đánh kịch liệt hồi lâu. Quân kỵ bên Thanh đều cưỡi ngựa. Ngựa trông thấy voi đều hí lên, quay đầu chạy. Bộ binh nhà Thanh bị voi chà đạp bèn rút vào đồn trại, giữ rào luỹ, bắn súng ra để tự thủ. Giặc (Nguyễn Huệ) lùa voi, xông pha tên đạn, nhổ rào luỹ tiến lên. Hứa Đề đốc, Trương tiên phong và Thượng Tả dực đều chiến đấu mà chết. Các quân nhà Thanh đổ vỡ tan tành"106. Sách Hoàng Lê nhất thống chí viết: "Vua Quang Trung truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm ướt dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Đoạn kén hạng lính khoẻ mạnh, cứ mười người khiêng một bức, lưng giắt dao ngắn; hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ "nhất"; vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến đến sát đồn Ngọc Hồi..."107. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập của triều Nguyễn, các sách An Nam quân doanh kỷ yếu, Minh đô sử, Thánh vũ ký, Thanh sử lược... của Trung Quốc cũng đều ghi chép khá chi tiết về trận Ngọc Hồi của quân Tây Sơn, do Nguyễn Huệ trực tiếp đốc chiến. Thế xung trận của đội quân Nguyễn Huệ như triều dâng bão cuốn mà chính quân địch cũng phải thừa nhận: "Quân giặc (quân Nguyễn Huệ) họp lại đông như kiến cỏ, thế lên ào ạt giống như nước thủy triều dâng lên"108.

        Nguyễn Huệ không những đã đích thân chỉ huy đạo quân chủ lực tiến công hướng chính diện vào mặt trận phía nam Thăng Long mà chính ông còn là người trực tiếp đốc chiến trong trận then chốt quyết định ở Ngọc Hồi-Đầm Mực, đánh tan quân Thanh, mở thông cửa ngõ phía nam vào giải phóng Thăng Long. Trận tiêu diệt chiến lược này có ý nghĩa rất lớn đối với thắng lợi của toàn chiến dịch Thăng Long (1789), càng thể hiện tài năng quân sự kiệt xuất của Nguyễn Huệ, chứ không phải như tác giả của ĐTSH nói là hạ thấp tài ba của Nguyễn Huệ.

        Thực tế lịch sử trên đây đã được các nhà sử học xưa nay đều công nhận, vậy tại sao Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh cố tình làm lơ để đi tìm một cách chứng minh khác và phủ nhận những thành quả đạt được của sử học nước ta? Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh coi "Ngọc Hồi chỉ là một trận đánh mang tính sách lược", cho rằng trận Đống Đa chính là "quả đấm thép" do Nguyễn Huệ đích thân thực hiện trên hướng chủ yếu từ phía tây nam Thăng Long. Những phán đoán này không những không có cơ sở sử liệu mà còn không phù hợp với cách đánh của Nguyễn Huệ.

        Giáo sư, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trong bài "Đánh bằng chính binh, thắng bằng kỳ binh-Nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Quang Trung" và Giáo sư, Trung tướng Hoàng Phương trong bài "Cách đánh của Nguyễn Huệ trong chiến dịch Ngọc Hồi-Đống Đa" đều đã phân tích một cách có lý về nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ109. Thắng lợi to lớn trên hướng tiến công chủ yếu của quân đội Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, đưa đến việc uy hiếp lớn mặt nam Thăng Long-hướng phòng ngự chủ yếu của địch. Điều này rất quan trọng, vì nó là tiền đề không thể thiếu được trong mưu lược sâu xa của Quang Trung, là tạo điều kiện cho cánh quân của Đô đốc Long (Đặng Tiến Đông) đánh vào đồn Khương Thượng-Đống Đa. Trong hoàn cảnh phải lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít dịch nhiều, Quang Trung đã có được nghệ thuật tìm, chọn, xác định hướng, mục tiêu tiến công và phương pháp, thủ đoạn tác chiến đánh nhanh, tiêu diệt gọn, làm tan rã lớn, nhanh chóng phá vỡ đội hình và ý định tác chiến của địch. Cách đánh của Quang Trung là cùng một lúc, bằng nhiều mũi, trên nhiều hướng, bất ngờ tiến công vào toàn thế trận của quân Thanh, đánh thẳng vào Thăng Long, nơi đầu não của địch, khiến chúng không kịp trở tay và thất bại. Hướng tiến công của Nguyễn Huệ vào Ngọc Hồi là hướng chính binh, hướng tiến công của Đô đốc Long đong Tiến Đông) là hướng kỳ binh. Hướng phía nam đánh chính diện; hướng phía tây nam đánh vu hồi, thọc sâu và đã tiêu diệt nhanh chóng cụm quân Sầm Nghi Đống, cô lập cụm quân Hứa Thế Hanh, đặt Tôn Sĩ Nghị vào tình thế hoàn toàn bị động, không thể chống đỡ nổi.

        Đó là cách giải thích hợp lý. Thiết nghĩ rằng, Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh không nên sáng tạo ra một cách lý giải khác khi chưa có một cơ sở khoa học, chưa có tư liệu để chứng minh.

-----------------
        106. Lê quý kỷ sự, Sđd, tr. 123.

        107. Hoàng Lê nhất thống chí, Sđd, tr. 183.

        108. Trần Nguyên Nhiếp. An Nam quân doanh kỷ yếu, bản chép tay do Trần Văn Giáp sưu tầm.

        109. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Quang Trung-Nguyễn Huệ với chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa, NXB QĐND, H, 1992, tr. 17, 20.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:45:57 PM
           
BÀN VỀ NGÀY MẤT CỦA VUA TÔI QUANG TRUNG110

LÊ THÀNH LÂN        

        Một số ngày tháng, nhất là khi chúng được đổi sang dương lịch còn chưa ổn. Dường như các tư liệu mà nay ta có cũng đủ để xác định một cách chính xác hơn, chẳng hạn năm sinh, ngày mất của Quang Trung, ngày mất của Ngô Thì Nhậm và ngày mất của Phan Huy Ích.

        Về ngày mất của vua Quang Trung.

        Năm 1946, ngày giỗ của vua Quang Trung được tổ chức trọng thể vào ngày 29 tháng Chín âm lịch. Ngày tháng đó được ghi trong Đại Thanh thực lục và Đại Nam chính biên liệt truyện111 là các bộ sử lớn của Trung Quốc và Việt Nam. Cadie (L.Cadière) là một người Pháp sớm nghiên cứu kỹ niên biểu Việt Nam112 cũng xác định như vậy.

        Liến sau đó, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết trên báo Dư luận (số 28 năm 1946) nêu các cứ liệu xác đáng để bác ý kiến trên và đưa ra kết luận là: "Vua Quang Trung mất ngày 29 tháng Bảy năm Nhâm Tý vào giờ Dạ Tý, tức là ngày 16 tháng 9 dương ích năm 1792, vào khoảng 11 giờ đến 12 giờ khuya". Bài báo đó sau được trích in vào cuốn La Sơn phu tử113. Từ đó hầu hết mọi người thừa nhận như vậy.

        Về âm lịch thì đúng như vậy, nhưng còn có thể nói một cách khác, ta sẽ bàn thêm cho hết mọi nhẽ, còn về dương lịch dường như có chệch một chút. Có điều là toàn bộ cứ liệu và biện dẫn lại để đưa đến một kết luận chính xác.

        Theo chúng tôi, tài liệu đáng tin cậy nhất là của Phan Huy Ích. Ông là một trong những bầy tôi gần gũi của Quang Trung. Khi ấy, ông đang ở kinh đô Phú Xuân và sau cái tang này, ông làm bài thơ Thu phụng quốc tang cảm thuật. Sau này, ông đưa bài thơ đó vào tập Dụ am ngâm tập114. Bên dưới bài thơ ông chú "Thất nguyệt hối, long ngự thượng tân" nghĩa là "ngày cuối tháng Bảy, nhà vua cưỡi rồng về chầu trời". Chữ "hối" chỉ ngày cuối tháng, có thể là ngày 29 hay ngày 30 tuỳ theo tháng Bảy này thiếu hay đủ. Hoàng Xuân Hãn dựa vào một bản Bách trúng kinh mà ông được đọc, đã cho biết lịch Tây Sơn tháng Bảy đó thiếu115. Sau khi hiệu đính lại cuốn Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh116, chúng tôi117 cũng nhận thấy như vậy. Thế là theo Phan Huy Ích, Quang Trung mất vào ngày 29 tháng Bảy năm Nhâm Tý. Cuốn Hợp tuyển thơ văn Việt Nam118 đã dịch đúng như vậy. Nhưng cũng cần nhắc đến là trong cuốn Thơ văn Phan Huy Ích119 ngày “hối” đó lại dịch thành ngày 30 và người dịch còn ghi chú rằng có nhiều tài liệu cho biết Quang Trung mất ngày 29, khiến cho người đọc hiểu lầm.

        Các tài liệu khác như Quốc triều toát yếu, Đại Nam thực lục120, Lữ Trung Ngâm121, Lê Triều dã sử122 đều thống nhất với Phan Huy Ích, khi viết rằng Quang Trung mất vào tháng Bảy âm lịch, tuy không ghi cụ thể ngày nào.

-------------------------------------
        110. Tạp chí LSQS số 4-1998.

        111. Đại Nam chính biên liệt truyện. Sơ tập, quyển 30. Tạ Quang Phát dịch in trên Tập san Sử Địa, số đặc biệt Xuân Mậu Thân 1968.

        112. Cadière, L.Tableau Chronologique des dynasties Annamites. B.E.F.E.O, tập 5, 1905, tr. 77-145.

        113, 115. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Minh Tân xuất bản, 1952, tr. 159.

        114. Phan Huy Ích. Dụ am ngâm tập. Ký hiệu A. 603 ở kho sách Hán-Nôm, thuộc Viện Hán-Nôm UBKHXH.

        116. Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh. Ký hiệu A.1237 Kho sách Hán-Nôm, Viện Hán-Nôm, UBKHXH.

        117. Lê Thành Lân. Đọc và hiệu đính cuốn Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh. Tạp chí Hán-Nôm, số 2 (3) 1987, tr. 40-48.

        118. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 3, NXB Văn học, H, 1978, tr. 277.

        119. Thơ văn Phan Huy Ích, tập 2. NXB KHXH, H, 1978, tr. 73.

        120. Đại Nam thực lục, tập 21 NXB Sử học, H, 1962. tr. 159.

        121. Hoàng Xuân Hãn. Phe chống đảng Tây Sơn ở Bắc với tập Lữ Trung Ngâm. Tập san Sử Địa số 21, 1971.

        122. Lê Triều dã sử, ký hiệu A.17 và A.2703, khảo sách Hán-Nôm, UBKHXH.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:47:09 PM

        Lê quý dật sử cũng ghi là Quang Trung mất vào tháng Bảy, nhưng lại cho là vào ngày 30123. Như đã dẫn giải ở trên, tháng Bảy này không có ngày 30. Chắc là có một sự nhầm lẫn về lịch nào đó. Đáng tiếc, cuốn sử chép tay này chỉ có một bản chữ Hán ở thư viện Viện Sử học124 nên không thể khảo dị thêm. Các nhà nghiên cứu đều cho rằng Bùi Dương Lịch là tác giả cuốn sử này. Ông đỗ Hoàng Giáp và làm Huấn đạo thời Lê Chiếu Thống và có làm việc cho Tây Sơn ở Sùng Chính viện.

        Hai người Pháp là ông Ghêra (Guérard) lúc đó đang ở miền Bắc và ông Labútxơ (Labousse) lúc đó đang ở miền Nam nước ta, một năm sau đó đều viết thư về Pháp, nói rằng Quang Trung mất vào tháng 9 dương lịch125. Ta biết rằng tháng 9 này sánh với âm lịch, rơi vào khoảng từ 15 tháng Bảy đến 15 tháng Tám. Vậy cũng phù hợp với Phan Huy Ích.

        Các sách Dã sử nhật ký và Hoàng Lê nhất thống chí126 lại ghi rằng Quang Trung mất vào tháng Tám âm lịch. Liệu hai sách này có viết sai không? Rất có thể là không sai. Nếu ta khéo luận lý thì, từ đó, ta còn có thể xác đinh được giờ mất của Quang Trung.

        Ta biết rằng có hai cách quan niệm khác nhau về giờ bắt đầu của một ngày âm lịch; các nhà tính lịch thì coi ngày âm lịch và ngày dương lịch đều bắt đầu từ 12 giờ khuya (cách tính bác học) 127, còn người dân thì thường coi ngày âm lịch bắt đầu từ 11 giờ khuya của ngày dương lịch trước (cách tính dân gian128). Thế là hai quan niệm đó chênh lệch nhau 1 giờ, từ 11 giờ đến 12 giờ khuya. Nếu ta coi rằng Quang Trung mất vào khoảng thời gian chênh lệch đó thì theo cách tính bác học là vào giờ cuối cùng của ngày 29 tháng Bảy, còn theo cách tính dân gian thì cũng lúc ấy nhưng vào giờ đầu tiên của ngày mồng 1 tháng Tám năm Nhâm Tý. Vậy là Dã sử nhật ký và Hoàng Lê nhất thống chí đã ghi theo cách tính lịch dân gian, mà điều đó có nhẽ lại hợp với dã sử và tiểu thuyết lịch sử. Lúc đó, theo dương lịch vào khoảng từ 11 giờ đến 12 giờ khuya ngày 15 tháng 9 năm 1792. Ông Hoàng Xuân Hãn, trong khi viết ở trang trước rằng "ngày 29 tháng Bảy ăn vào ngày 15 tháng 9 năm 1792"129 thì ở trang sau ông lại kết luận là "ngày 16 tháng 9 dương lịch năm 1792 vào khoảng 11 đến 12 giờ khuya"130. Kết luận này không thoả đáng vì lúc đó đang chuyển từ ngày mồng 1 sang ngày mồng 2 tháng Tám âm lịch.

        Nếu từng ấy chứng cứ đủ để độc giả tin vào điều chúng tôi đã khẳng định thì cũng đủ để phủ định tính đúng đắn của các tư liệu cho rằng Quang Trung mất vào ngày 29 tháng Chín âm lịch. Tuy vậy, ta cũng cần lý giải thêm một chút. Quang Trung là linh hồn của phong trào Tây Sơn, là vua, đồng thời cũng là một vị tướng tài ba, bị mất đột ngột giữa tuổi 39, để lại cơ nghiệp cho Quang Toản, lúc đó mới 9 tuổi, là một tổn thất không gì bù đắp được. Để dàn xếp nội bộ, để đối phó với thù trong (Nguyễn Ánh) và giặc ngoài (nhà Thanh), chắc là triều đình Phú Xuân đã phát tang và báo tang chậm lại 2 tháng. Bởi vậy mới có chuyện Đại Thanh thực lục và Đại Nam chính biên liệt truyện căn cứ vào đó mà ghi nhầm thành 29 tháng Chín âm lịch. Đó chính là lập luận của ông Hoàng Xuân Hãn. Mãi về sau, ông viện dẫn thêm lời thư của Lông-giê (Longer) viết năm 1793: "Cái chết của tiếm vương Quang Trung được giữ bí mật gần 2 tháng trời"...

---------------------
        123. Lê quý dật sử, NXB KHXH, H, 1987, tr. 108.

        124. Lê quý dật sử, Bản chữ Hán chép tay, ký hiệu Hv 195 thư viện Viện Sử học.

        125. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Sđd, tr. 157.

        126. Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, NXB Văn học, H. 1982, tr. 208.

        127. Hoàng Xuân Hãn. Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa học Xã hội, Paris, 1982.

        128. Nguyễn Xiển, Nguyễn Mậu Tùng, Lê Minh Triết và Lê Thành Lân. Tìm hiểu âm lịch nước ta, NXB Khoa học và Kỹ thuật, H, 1985, tr. 39.

        129, 130. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Sđd, tr. 158, 160.



Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:47:42 PM

        Hai nhà sử học nhà Thanh là Ngụy Nguyên và Từ Diên Húc viết rằng Quang Trung mất vào tháng Ba âm lịch131. Hoàng Xuân Hãn cho rằng hai nhà sử học này, người nọ viết theo người kia và không chú tâm viết về việc này, chỉ nhắc qua nhân một việc khác nên có sai sót. Ngụy Nguyên còn có một chỗ nhầm lẫn nữa mà chúng tôi sẽ nói ở dưới. Chúng ta còn có các cứ liệu để khẳng định rằng Quang Trung còn sống ít nhất cũng đến trung tuần tháng Bảy. Đó là 3 văn bản còn lại có đóng ấn của Quang Trung. Một là đạo sắc phong cho Phan Huy Ích làm Thụy Nham Hầu đề ngày 18 tháng Tư nhuận năm Nhâm Tý132. Hai là tờ chiếu gửi cho Nguyễn Thiếp đề ngày 1 tháng Sáu âm lịch năm đó nhắc nhở về việc dịch sách133. Ba là tờ Hịch truyền quan lại, quân dân các phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn đề ngày 10 tháng Bảy âm lịch được dẫn theo tư liệu của Đờ la Bítxase (de La Bissachère) 134.

        Một tài liệu xuất bản gần đây ghi rằng Quang Trung mất vào tháng Bảy nhuận năm Nhâm Tý135. Sau những thảo luận trên, ta thấy ngay điều này không đúng. Cặn kẽ hơn, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng năm Nhâm Tý đó không có tháng Bảy nhuận. Lịch Trung Quốc nhuận tháng Tư136. Lịch Nguyễn nhuận tháng Hai. Điều này có thể thấy ở Đại Nam thực lục137 hoặc theo Hoàng Xuân Hãn138. Lịch Tây Sơn nhuận vào tháng Tư. Tháng nhuận này có ghi trong hai văn bản. Một là đạo sắc của Quang Trung phong cho Phan Huy Ích đã nêu trên. Hai là tờ truyền của triều đình Tây Sơn gửi cho Nguyễn Thiếp, ghi ngày 14 tháng Tư nhuận năm Quang Trung thứ 5 (tức là năm Nhâm Tý)139. Qua khảo cứu sơ bộ140, chúng tôi cũng nhận thấy lịch Tây Sơn có tháng Tư nhuận vào năm đó.

        Vậy là Quang Trung mất vào khoảng từ 11 đến 12 giờ khuya ngày 15 tháng 6 năm 1792, theo âm lịch, có thể coi là giờ cuối cùng của ngày 29 tháng Bảy năm Nhâm Tý, theo các nhà làm lịch; và cũng có thể coi là giờ đầu tiên của ngày 1 tháng 8 theo cách tính dân gian.

--------------------
        131. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Sđd, tr. 17.

        132,133. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Sđd, tr. 141, 151. 253, 265, 289, 344; Quốc văn đời Tây Sơn, Nhà sách Vĩnh Bảo. 1950, tr. 96.

        134. Nguyễn Lương Bích… Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, NXB QĐND, H, 1971, tr. 424: UBKHXH-Lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB KHXH, H, 1971. tr. 367.

        135. Văn Tân,... Ngô Thì Nhậm, con người và sự nghiệp. Ty Văn hoá Thông tin Hà Tây xuất bản, 1974, tr. 91, 99; Cao Xuân Huy,... Tuyển tập thơ vãn Ngô Thì Nhậm. Quyển 1, NXB KHXH, H, 1978, tr. 53; Mai Quốc Liên, Ngô Thì Nhậm trong văn học Tây Sơn, Ty Văn hoá-Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1985, tr. 57.

        136. Tiết Trọng Tam, Âu Dương Di. Lưỡng thiên niên Trung Tây lịch đối chiếu biểu, Bắc Kinh, 1959.

        137. Đại Nam thực lục, NXB Sử học, H, 1962, tr. 154.

        138. Hoàng Xuân Hãn. Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa học Xã hội, Paris, 1982, tr. 87.

        139. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Sđd, tr. 151, 253, 289.

        140. Lê Thành Lân. Đọc và hiệu đính cuốn Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh.Tạp chí Hán-Nôm, số 2(3) 1987, tr. 40-48.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:50:31 PM

        Về năm sinh của Quang Trung.

        Hoa Bằng viết Quang Trung sinh năm Quý Dậu, tức năm 1752141. Năm Quý Dậu ăn vào khoảng từ ngày 3 tháng 2 năm 1753 đến 22 tháng 1 năm 1754, không có ngày nào ăn vào năm 1752. Rõ ràng ở đây có nhầm lẫn.

        Đại Nam chính biên liệt truyện142 cho biết Quang Trung mất ở tuổi 40. Đó là "tuổi ta" có tính cả "tuổi mụ'. Vậy là lúc đó quang Trung 39 tuổi, đúng như cuốn Lịch sử Việt Nam của Ủy ban Khoa học xã hội đã ghi143. Ta tính ra Quang Trung sinh năm Quý Dậu, tức là năm 1753.

        Trên Tạp chí Bách khoa số 229, Ngô Bá Lý viết theo lời kể của nhân dân địa phương rằng Quang Trung sinh vào giờ Thìn ngày 5 tháng Năm năm Quý Dậu (1753); còn Thiên Lương cũng viết theo dân gian nhưng lại cho rằng Quang Trung sinh vào giờ Tuất ngày 5 tháng Năm năm Nhâm Thân (l752). Trong bài Góp thêm về phổ hệ Tây Sơn và chân dung anh em họ, Tạ Chí Đại Trường đã nêu các lý lẽ xác đáng để bác lại việc coi ngày 5 tháng Năm là ngày sinh của Quang Trung144.

        Tóm lại, chúng ta vẫn chưa biết được ngày sinh mà chỉ mới biết được năm sinh của Quang Trung.

        Về năm sinh của Quang Toản.

        Theo Mai Quốc Liên145 thì Quang Toản lên ngôi lúc 15 tuổi, nên theo cách tính tuổi hiện nay thì Quang Toản sinh năm 1777. Chúng tôi không biết chắc, nhưng đoán rằng Mai Quốc Liên theo tài liệu của Ngụy Nguyên. Trong Càn Long chinh vũ An Nam ký146, Ngụy Nguyên viết rằng: Quang Toản lên ngôi lúc 15 tuổi, tất nhiên tính theo "tuổi ta", tức là sinh năm 1778. Nhưng, như ở trên chúng tôi đã nhắc đến, sử gia này nắm không chắc và đã từng viết sai ngày mất của Quang Trung. Một phần vì Ngụy Nguyên không để tâm chuyên khảo về chuyện này, ông lại là người Trung Quốc, sinh sau những sự kiện lịch sử này vài năm. Chúng tôi ngờ rằng có thể Ngụy Nguyên đã nhầm Quang Toàn với Quang Thùy, một người con khác của Quang Trung, từng sang sứ Trung Quốc cùng Quang Trung "giả", nửa đường bị ốm phải quay về. Lúc đầu vua Càn Long cũng từng nhầm Quang Thùy là Thái tử (Quang Toàn). Tạ Chí Đại Trường147 cho rằng Quang Thùy nhiều tuổi hơn Quang Toản. Một điều nữa cũng đáng băn khoăn: giả như lúc Quang Toàn có tuổi đó, thì khá "cứng cáp" chẳng đến nỗi để Bùi Đắc Tuyên phụ chính và chuyên quyền. Vào thời đó, ở tuổi này, Nguyễn Ánh đã tự mình gánh vác sự nghiệp.

        Theo chúng tôi thì lúc Quang Trung mất, Quang Toản 9 tuổi nghĩa là sinh vào năm 1783. Bằng chứng là có 4 tài liệu cùng chung ý ấy:

        Tạ Chí Đại Trường148 viết theo Lông-giê, Quang Toàn sinh năm 1783.

        Lê quý dật sử149 và Hoa Bằng150 viết rằng Quang Toản lên ngôi lúc 10 tuổi, chắc là theo "tuổi ta". Hoàng Xuân Hãn151 lại viết rằng vào năm Cảnh Thịnh thứ 3 (1795) Quang Toản 12 tuổi tức là sinh năm 1783.

-------------------
        141. Hoa Bằng. Quang Trung-Anh hùng dân tộc, Bốn phương xuất bản, 1951, tr.27.

        142. Đại Nam chính biên liệt truyện. Sơ tập, quyển 30. Tạ Quang Phát dịch, in trên Tập san Sử Địa, số đặc biệt Xuân Mậu Thân 1968.

        143. UBKHXH. Lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB KHXH, H. 1971, tr. 367.

        144. Tạ Chí Đại Trường. Góp thêm về phổ hệ Tây Sơn và chân dung anh em họ, Tập san Sử Địa, số đặc biệt Xuân Mậu Thân 1968.

        145. Mai Quốc Liên. Ngô Thì Nhậm trong văn học Tây Sơn, Sđd, tr. 57.

        146. Ngụy Nguyên. Càn Long chinh vũ An Nam ký, do Hoàng Xuân Hãn dịch, in trên Tập san Sử Địa. số đặc biệt Xuân Mậu Thân 1968.

        147, 148. Tạ Chí Đại Trường. Góp thêm về phổ hệ Tây Sơn vả chân dung anh em họ, Tlđd.

        149. Lê quý dật sử, NXB KHXH. H, 1987, tr. 108.

        150. Hoa Bằng. Quang Trung-Anh hùng dân tộc, Sđd, tr. 333.

        151. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Sđd, tr. 163.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:52:18 PM

        Về ngày mất của Ngô Thì Nhậm.

        Trong câu chuyện riêng, Giáo sư Phan Huy Lê có gợi cho chúng tôi việc đính chính lại ngày mất của Ngô Thì Nhậm. Chúng tôi đọc thấy:

        Đầu tiên, Lê Thước152 căn cứ vào gia phả cho biết Ngô Thì Nhậm mất ngày 16 tháng Hai năm Quý Hợi và đổi sang dương lịch thành ngày 7 tháng 3 năm 1803.

        Sau đó, Tảo Trang153 dùng cuốn lịch Trung Quốc của P.Hoàng đổi sang dương lịch ngày 9 tháng 3 năm 1803.

        Gần đây hơn, Mai Quốc Liên cho rằng "Ngô Thì Nhậm bị đánh bằng trượng đến chết (có thuyết nói, về nhà được ít lâu thì chết). Hôm đó là ngày 16 tháng Hai năm Quý Hợi, tức là ngày 9 tháng 3 năm 1803"154.

        Chúng tôi thấy nhận định ấy chưa ổn. Để lý giải đúng, ta cần xem lại lịch. Năm Quý Hợi này, lịch Trung Quốc có nhuận tháng Hai155, còn lịch nhà Nguyễn có nhuận tháng Giêng156. Khảo cứu sơ bộ về lịch nhà Nguyễn qua cuốn Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh157, chúng tôi158 cũng nhận thấy như vậy. Tháng nhuận này còn thấy ghi ở Đại Nam thực lục159. Như vậy, hai lịch khác nhau kéo dài trong 2 tháng Ngô Thì Nhậm mất đúng vào khoảng thời gian đó.

        Bây giờ ta xem lại tài liệu cũ:

        Đại Nam thực lục160 ghi “ngày Canh Thìn, đóng gông giải bọn thượng thư Tây Sơn là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích và Nguyễn Gia Phan đến Bắc Thành... Kể tội ở học đường phủ Phụng Thiên (tức là Quốc Tử Giám nhà Lê cũ) mà đánh đau. Nhậm bị đánh chết".

        Đổi ngày Canh Thìn ra dương lịch thì không phải ngày 9 tháng 3 năm 1803 mà có thể hoặc là 6 tháng Hai hoặc 6 tháng 4 năm 1803. Theo âm lịch Trung Quốc thì tháng Hai không có ngày Canh Thìn. Dùng lịch Việt Nam161 để đổi thì đó ngày 1 tháng Hai năm Quý Hợi). Sử biên niên, tuy theo trật tự thời gian nhưng khi đề cập đến một việc nào đó thì lùi về trước nói cả xuất xứ, nguyên nhân và tiến về sau để nói hậu quả. Bởi vậy chữ "Nhậm bị đánh chết" chưa hẳn là bị đánh chết ngay tại trận đòn.

        Ngô gia thế phả162 cho biết Ngô Thì Nhậm mất vào giờ Hợi (từ 21 đến 23 giờ ngày 1 tháng Hai năm Quý Hợi). Rõ ràng ông mất tại nhà vào ngày hôm sau. Dùng lịch Việt Nam ở các tài liệu163 đổi sang dương lịch thành ngày 7 tháng 4 năm 1803.

        Khớp hai tài liệu trên lại, ta thấy rằng: ngày 15 tháng Hai năm Quý Hợi là ngày Canh Thìn, Ngô Thì Nhậm bị vua quan nhà Nguyễn đành đòn tại Văn Miếu. Sau đó, gia đình đón ông về nhà. Vì tuổi cao, không chịu nổi trận đòn thù dã man, hôm sau là ngày 16 tháng Hai năm Quý Hợi, tức là ngày 7 tháng 4 năm 1803 vào khoảng từ 9 giờ đến 11 giờ khuya, ông đã mất tại nhà.

       Về ngày mất của Phan Huy Ích

        Các sách đều viết rằng ông mất vào ngày 20 tháng Hai năm Nhâm Ngọ164, rồi đổi sang dương lịch thành ngày 12 tháng 3 năm 1822165. Có tài liệu chỉ ghi ngày âm lịch.

        Chúng tôi nhận thấy ngày âm lịch và dương lịch trên không khớp với nhau. Có thể ngày âm lịch là đúng.

        Đổi một cách chính xác, ngày 20 tháng Hai năm Nhâm Ngọ là ngày 13 tháng 3 năm 1822.

        Chúng tôi hy vọng rằng việc xác định lại những ngày kỷ niệm về các danh nhân thuộc triều đại Tây Sơn này đáp ứng kịp thời lễ kỷ niệm 200 năm chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa (1789-1989) vào đầu năm tới và lễ kỷ niệm 185 năm ngày mất của Ngô Thì Nhậm (1803-1988) vào đầu năm nay.

-----------------------
        152 . Lê Thước. Ngô Thì Nhậm, Tạp chí Tổ quốc, số 304.

        153. Tảo Trang. Bước đầu tìm hiểu về một nhà văn trong Ngô gia văn phái, Tạp chí Văn học, số 5- 1 973 .

        154. Cao Xuân Huy,... Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm. quyển 1, NXB KHXH, H, 1978, tr. 53.

        155. Tiết Trọng Tam, Âu Dương Di. Lưỡng thiên niên Trung Tây lịch đối chiếu biểu. Bắc Kinh, 1959.

        156. Hoàng Xuân Hãn. Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa học Xã hội, Paris, 1982.

        157. Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh. Ký hiệu A.1237. Kho sách Hán-Nôm, Viện Hán-Nôm, UBKHXH.

        158. Lê Thành Lân. Đọc và hiệu đính cuốn Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh. Tạp chí Hán-Nôm, số 2(3) 1987, tr. 40-48.

        159. Đại Nam thực lục, tập 3, NXB Sử học, H, 1962, tr. 104.

        160. Đại Nam thực lục,tập 3, NXB Sử học, H, 1962, tr. 108.

        161, 163. Hoàng Xuân Hãn. Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa học Xã hội, Paris, 1982.

        Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh. Ký hiệu A.1 237. Kho sách Hán-Nôm, Viện Hán-Nôm, UBKHXH.

        Lê Thành Lân. Đọc và hiệu đính cuốn Lich đại niên kỷ bách trúng kinh, Tạp chí Hán-Nôm, số 2(3) 1987, tr. 40-48.

        162. Ngô gia thế phả. Ký hiệu VBV 1345, kho sách Hán-Nôm, Viện Hán-Nôm, UBKHXH, tờ 35a.

        164,165. Thơ văn Phan Huy Ích, NXB KHXH, H, 1978, tập 1 , tr. 9; Trần Văn Giáp. Tìm hiểu kho sách Hán-Nôm, tập 1, NXB Văn hoá, H, 1984, tr. 203; Phan Huy Chú và dòng văn Phan Huy, Ty Văn hoá thông tin Hà Sơn Bình xuất bản, 1983, tr. 320.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:02:29 AM

GÓP THÊM TƯ LIỆU LÀM SÁNG TỎ DANH TƯỚNG ĐẠI TƯ MÃ NGÔ VĂN SỞ THỜI TÂY SƠN166

ĐỖ BANG       

        Triều đại Tây Sơn kết thúc nhưng không để lại bộ chính sử của mình là một thiệt thòi lớn, là một khó khăn, phức tạp khó khắc phục cho công tác sử học của chúng ta. Diện mạo lịch sử đất nước thời Tây Sơn khó khôi phục đúng đắn và đầy đủ, các sự kiện và nhân vật lịch sử thời Tây Sơn bị xuyên tạc, bóp méo, ngộ nhận hoặc không rõ ràng đã gây ngờ vực, tranh cãi trong nhiều năm qua như trường hợp Đô đốc Long: Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu trong chiến thắng Đống Đa mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789); tướng Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Dũng hay VÕ Văn Dũng đi sứ nhà Thanh năm 1792. Phức tạp hơn là việc tranh cãi về Đại tư mã Ngô Văn Sở và một viên tướng Ngô Văn Sở khác của Tây Sơn đầu hàng Nguyễn Ánh, sau nhận chức Khâm sai Chưởng cơ dưới triều Gia Long.

        Năm 1976, Tạ Ngọc Liễn với bài Đại tư mã Ngô Văn Sở, một danh tướng của Tây Sơn xác định quê quán ông ở làng Trảo Nha, Thạch Hà, Nghệ An, là cựu thần của Lê-Trịnh167. Năm 1987, trên Tạp chí Sông Hương, số 25, bằng tư liệu điền dã có tính phát hiện công phu, tác giả Phan Thuận An đã có một nhận định lý thú: Đã có hai nhân vật lịch sử cùng họ, cùng tên, cùng chữ lót và cùng làm tướng trong một thời kỳ lịch sử (cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX) nhưng hai người phục vụ cho hai thế lực chính trị khác nhau: tướng Ngô Văn Sở nhà Nguyễn, người gốc Gia Định và danh tướng Ngô Văn Sở của nhà Tây Sơn, người gốc Nghệ An. Đây là một trường hợp hy hữu trong lịch sử Việt Nam và thế giới168.

        Năm 1988, sau khi tiếp xúc với trang tư liệu về nhân vật lịch sử Ngô Văn Sở trong Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 25, tác giả Phan Thuận An lại có bài Tư liệu mới về Ngô Văn Sở trên báo Văn hoá và Đời sống (số 15-10-1988, Sở Văn hoá Thông tin Bình Trị Thiên) và bài Thử đưa ra một kiến giải mới về nhân vật lịch sử Ngô Văn Sở thời Tây Sơn trong Hội thảo khoa học Phú Xuân-Thuận Hoá trong phong trào nông dân Tây Sơn vào tháng 12 năm 1988. Sau đó lại được giới thiệu trên Tạp chí Sông Hương (số 41, năm 1990), với tiêu đề Thử đưa ra một kiến giải mới về nhân vật lịch sử Ngô Văn Sở. Nhân vật Ngô Văn Sở được chép trong Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 25, được dịch như sau:

        Ngô Văn Sở, trước người huyện Đăng Xương, phủ Thừa Thiên, sau vào ngụ ở Gia Định. Lúc đầu theo ngụy triều giũ chức Đô úy, sau đầu hàng theo quân đi đánh giặc. Do lập được nhiều chiến công nên thăng chức làm Vệ úy vệ Hùng nhuệ. Năm Kỷ Mùi (1799), theo Võ Tánh giữ thành Bình Định. Khi tướng giặc là Trần Quang Diệu vây thành, các hàng tướng là Võ Văn Sự, Nguyễn Bá Phong mở cửa Bắc ra hàng giặc. Tánh sai Sở chặn cửa thành lại. Từ đó những kẻ phản bội không dám ra nữa. Khi thành bị chiếm, Sở trốn về  triều. Vào thời Gia Long thăng Khâm sai Chưởng cơ, lãnh quản đạo Thanh Hoa ngoại, có tội bị cách chức rồi chết. Năm Minh Mạng thứ 3(1822) truy phục chức Chưởng cơ, lại hậu ban cho con cháu. Con trai là Thắng làm quan chức Cai đội169.

        Sau khi khảo sát và đối chiếu nhiều nguồn tài liệu khác nhau, tác giả Phan Thuận An đã dè dặt kết luận: Có lẽ chỉ có một tướng Ngô Văn Sở chứ không có hai như trước đây chúng tôi đã lầm tưởng. Ông gốc người Thừa Thiên, vào ngụ tại Gia Định, theo quân Tây Sơn đi đánh Nguyễn Ánh, nhưng sau vì ở trong thế bức bách đe doạ đến tính mạng, cho nên ông bỏ trốn chạy vào Nam gia nhập lục lượng Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn. Nhờ chiến công, ông được thăng chúc Vệ úy, rồi khi Gia Long xưng đế, ông thăng Chưởng cơ và được trọng dụng giữ chức Trấn thủ Thanh Hoa ngoại. Nhưng sau đó, trong thời Gia Long (1802-1819) hay đầu thời Minh Mạng (1820-1840), hoặc bị một lỗi lầm gì đó, hoặc bị truy tội là đã man khai tông tích, nên ông bị cách chức. Tuy nhiên, sau khi chết có thể vì già hoặc bệnh, ông vẫn được truy phục nguyên hàm nhờ có con gái đầu là Ngô Thị Chánh được vua Minh Mạng thương yêu170.

---------------------------------------
        166. Tạp chí LSQS số I-2002.

        167. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4(169), 1976, tr. 56.

        168. Tướng Ngô Văn Sở ấy không phải là danh tướng, Tạp chí Sông Hương, số 25, 1987, tr. 91.

        169. Tham khảo bản dịch của Phan Thuận An trong bài Thử đưa ra một kiến giải mới về nhân vật lịch sử Ngô Văn Sở, Hội thảo khoa học Phú Xuân-Thuận Hoá trong phong trào nông dân Tây Sơn tháng 12-1988. tr. 86; Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 25, Thuận Hoá, 1993, tập 2. tr. 436.

        170. Phan Thuận An, Tlđd, tr. 91-92.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:04:17 AM

        Cũng trong hội thảo khoa học Phú Xuân-Thuận Hoá trong phong trào nông dân Tây Sơn vào tháng 12 năm 1988, tác giả Trần Viết Điền có bài Về tướng Ngô Văn Sở ấy khá sắc sảo và công phu. Sau khi khảo sát điền dã các nơi có liên quan đến nhân vật Ngô Văn Sở ở Thuận Nhơn, Hà Lỗ, Châu Chữ để đọc các bản gia phả, tiếp xúc với hậu duệ, khảo sát các khu mộ táng, nhà thờ tộc Ngô… rồi đối chiếu lại sử sách, tác giả Trần Viết Điền đi đến kết luận:

        1. Không thể nhập hai tướng Ngô Văn Sở làm một được, vì lẽ:

        - Nếu "Tướng Ngô Văn Sở ấy" là "danh tướng Ngô Văn Sở" thì hoá ra Quốc sử quán triều Nguyễn đã thiếu nhất quán khi soạn bộ Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 25 chép Ngô Văn Sở còn sống sau năm 1802, còn quyển 30 lại chép sự kiện Ngô Văn Sở bị dìm chết ở sông trong cuộc đảo chánh ở Phú Xuân năm 1795.

        - Nếu "Tướng Ngô Văn Sở ấy" là "danh tướng Ngô Văn Sở' thì tại sao sử triều Nguyễn không chép chức vụ cao nhất của Ngô Văn Sở là Đại tư mã, Đại tổng lý khi ra hàng, lại viết ông giữ chức Đô úy của ngụy triều?

        2. Khả năng hợp với lôgic cũng như khớp với tư liệu hiện có là tồn tại hai tướng Ngô Văn Sở cùng phục vụ triều Tây Sơn. Một tướng nổi tiếng với chức vụ cao sau đó bị dìm chết ở sông, tướng còn lại chỉ giữ chức Đô úy khi phục vụ Tây Sơn và sau đó ra hàng Nguyễn vương…171.

        Cuối năm 1992, trên Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ của Ban Khoa học và Kỹ thuật Thừa Thiên-Huế, tác giả Trần Đại Vinh có bài Thương xác về Đại tư mã Ngô Văn Sở. Sau khi phân tích tư liệu về nhân vật Ngô Văn Sở trong Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 25 và kiến giải về những điều chưa hợp lý của tác giả Phan Thuận An cho rằng chỉ có một Ngô Văn Sở, tác giả Trần Đại Vinh cho rằng hoàn toàn không có chuyện Đại tư mã Ngô Văn Sở về hàng lại khai là Đô úy172.

        Công việc sưu tầm tư liệu để xác minh về Đại tư mã Ngô Văn Sở đã được Các nhà nghiên cứu ở Huế tìm tòi với một khả năng cao nhất nhưng vẫn chưa hoàn toàn thoả mãn độc giả và những người quan tâm. Đó cũng là điều mà chúng tôi bận tâm để tìm hiểu trong nhiều năm qua.

        Trong các năm 1996, 1997 và gần đây, nhờ có nhiều dịp đi khảo sát thực địa để biên soạn Lịch sử thành phố Quy Nhơn và Địa chí tỉnh Bình Định nên tôi đã tìm được quê quán của Đại tư mã Ngô Văn Sở nay là thôn Bình Thạnh, phường Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn. Tại đây có hơn 30 gia đình tộc Ngô, từ đường, lăng mộ, phổ đồ, tộc phổ và bản tiểu sử nhà họ Ngô…

        Bản tiểu sử cho biết:

        - Đại tư mã Ngô Văn Sở thuộc chánh phái-Ngô Văn Ngữ, Ngữ Luận hầu thuộc thứ phái. Chánh quán làng Bình Thạnh, tổng Dương An, phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Chánh phái theo vua Quang Trung-Nguyễn Huệ. Thứ phái theo Nguyễn Phúc Ánh-Gia Long. Bản tiểu sử cho biết: Ngô Văn Sở là con của ông Ngô Văn Diễn, giữ chức Khinh xa Vệ úy và bà Nguyễn Thị Mỹ. Ngô Văn Sở có các bà vợ là: Nguyễn Thị Quý, Đặng Thị Vây, Trương Thị Trà, Trần Thị Ngoạn, Trần Thị Yên, Huỳnh Thị Lan.

        Có các em: Ngô Thị Nghé, Ngô Văn Tri, Ngô Thị Điệt, Ngô Văn Ngữ, Ngô Văn Dần.

        Ngô Văn Sở có các con trai: Ngô Văn Đắc, Ngô Văn Nhật. Có các cháu trai: Ngô Văn Trương, Ngô Văn Kỳ.

        Bản tiểu sử còn cho biết Đại tư mã Ngô Văn Sở phò vua Quang Trung. Hưởng ứng hiệu triệu của ba anh em Tây Sơn lên tòng quân ở núi Tây Sơn, rồi theo đoàn quân Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ra trú ở Thuận Hoá. Sau khi Ngô Văn Sở bị giết thảm hại, rồi gia đình, vợ con ở lại tỉnh Bắc Ninh. Từ đó không còn liên lạc được với bà con ở Bình Định nữa173.

        Tác giả Quách Tấn cũng xác nhận Ngô Văn Sở người làng Bình Thành (Tuy Phước). Ông là người khoẻ mạnh, giỏi võ nghệ, thông binh pháp, đã cùng Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng kết bạn thân174.

        Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Huân, Ngô Văn Sở kết nghĩa với Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu trước khi tham gia khởi nghĩa Tây Sơn. Thân phụ Bùi Thị Xuân hứa gả cháu của mình là Băng Tâm cho Ngô Văn Sở175. sau đó cả ba người đều theo Tây Sơn và thành danh tướng của cuộc khởi nghĩa. Tư liệu này cho phép chúng ta xác nhận quê quán của Ngô Văn Sở là ở phủ Quy Nhơn và Ngô Văn Sở tham gia cuộc khởi nghĩa ngay từ đầu, năm ông khoảng 20 tuổi.

------------------
        171. Trần Viết Điền, Tlđd, tr. 77-78.

        172. Trần Đại Vinh. Thương xác về Đại tư mã Ngô Ván Sở đăng trên Thông tin Khoa học và Công nghệ của Ban Khoa học và kỹ thuật Thừa Thiên-Huế, số 2, 1992, tr. 52.

        173. Các tài liệu được các ông Ngô Đình Cường (sinh năm 1928) và Ngô Văn Cự (sinh năm 1925) cung cấp. Bản tiểu sừ còn cho biết: Hậu quân Ngô Văn Ngữ có một em gái tiến cung làm thứ phi cho vua Gia Long, không con. Sau bị bệnh chết, quan tài được đưa về chôn ở quê là thôn Bình Thạnh, xứ Gò Lăng, tục gọi là mả Bà Vua, được cấp tự điền. Hậu quân Ngô Văn Ngữ mất năm Nhâm Thìn (1832). Bia mộ bà Ngô Thị... ở xứ Gò Lăng cho biết bà mất vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822), bia mộ do Ngô Văn Ngữ phụng lập năm Minh Mạng thứ 6 (1825). Như vậy, Đại tư mã Ngô Văn Sở cũng có một người em làm phi dưới triều vua Gia Long. Tương truyền chợ Dinh ở đây là do bà lập nên.

        174. Quách Tấn. Nước non Bình Định, Nam Cường xuất bản, 1967, tr. 69.

        175. Nguyễn Bá Huân, Tây Sơn danh tướng anh hùng truyện, Sở Văn hoá Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1978, tr. 63-65-66.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:04:50 AM

        Tham gia phong trào Tây Sơn, Ngô Văn Sở thành vị thủ lĩnh tài ba đánh quân Nguyễn ở phía Nam trong các trận ở Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận năm 1773. Ngô Văn Sở theo Nguyễn Huệ đánh Nguyễn Ánh ở Gia Định năm 1783, đánh quân Trịnh ở phía Bắc năm 1786. Là một thuộc tướng của Võ Văn Nhậm, sau Nhậm làm phản bị Nguyễn Huệ giết (5-1788), Ngô Văn Sở được Nguyễn Huệ giao trọng trách trông coi 11 trấn Bắc Hà. Trong dịp này, các quan chức và tướng lĩnh được giao cai quản Bắc Hà như: Nội hầu Phan Văn Lân, Chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng, Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, Hộ bộ Trần Thuận Ngôn, Học sĩ Ngô Thời Nhậm đều theo Ngô Văn Sở giữ Thăng Long. Nguyễn Huệ nói rằng: "Sở và Lân là nanh vuốt của ta. Dụng và Ngô là lòng dạ của ta. Nhậm là bề tôi mới của ta. Nay ta lấy cái việc quân vụ và Quốc chính của 11 trấn Bắc Hà ủy thác cho. Ta thuận cho theo tiện nghi mà làm việc, phải hội đồng thương nghị với nhau, chớ vì cũ mới mà xa cách nhau. ĐÓ là điều mong mỏi của ta vậy"176.

        Cuối năm 1788, vua Càn Long nhà Thanh cử 29 vạn  quân, do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy, kéo sang xâm lược nước ta. Trước binh lực hùng hậu của giặc Thanh, Ngô Văn Sở cho đánh cầm chân địch rồi rút quân về giữ phòng tuyến Tam Điệp (Ninh Bình), cử Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết vào Phú Xuân cấp báo cho Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ đánh giá rất cao "nước cờ Tam Điệp" của Ngô Văn Sở. Trong cuộc kháng chiến chống Thanh, Ngô Văn Sở được vua Quang Trung cử làm tướng tiên phong, đã góp phần vào thắng lợi huy hoàng chống quân Thanh xâm lược vào năm 1789.

        Năm 1790, Ngô Văn Sở được vua Quang Trung giao cầm đầu đoàn sứ gồm có Đặng Văn Chân, Phan Huy ích, Võ Huy Tấn, Võ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc, Đỗ Văn Công đưa Phạm Công Trị (người giả làm vua Quang Trung) sang Yên Kinh mừng thọ vua Càn Long nhân dịp 80 tuổi. Vua Thanh đón tiếp hết sức nồng hậu, cũng là một thành công về hoạt động ngoại giao của Ngô Văn Sở. Về nước, Ngô Văn Sở tiếp tục được giao nhiệm vụ phụ trách 11 trấn Bắc Hà cho đến thời Cảnh Thịnh.

        Năm 1795, vụ biến ở kinh đô Phú Xuân do phe phái Võ Văn Dũng buộc vua Cảnh Thịnh bắt nộp Bùi Đắc Tuyên. Sau khi nhấn chìm Bùi Đắc Tuyên chết, Võ Văn Dũng làm giả chiếu lệnh của Tiết chế Nguyễn Quang Thùy, cho người bắt Ngô Văn Sở, vu là phe phái của Bùi Đắc Tuyên, đóng cùm đưa về Kinh, lại sai Nguyễn Văn Huấn đem binh vào Quy Nhơn bắt Bùi Đắc Trụ, con của Bùi Đắc Tuyên giải về, khép vào tội phản nghịch, đều cho dìm xuống nước mà chết177.

        Đó là cái chết oan nghiệt, thê thảm của Đại tư mã Ngô Văn Sở do phe cánh thanh trừng lẫn nhau dưới thời Cảnh Thịnh. Còn Ngô Văn Sở trước sau vẫn là một tướng lĩnh tài ba, phục vụ hết mình vì sự nghiệp Tây Sơn.

----------------
        176. Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 30, Sđd, tr. 119.

        177. Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 30. Sđd, tr. 187.

        - Đại Nam thực lục, tập 2, NXB Sử học, Hà Nội, 1963, tr 214-215.

        - Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, tập 2, Hà Nội, 1984, tr. 221.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:13:52 AM
               
PHẦN HAI


VỀ VAI TRÒ CỦA HOÀNG ĐÌNH KINH (CAI KINH) VỚI BUỔI ĐẦU KHỞI NGHĨA YÊN THẾ (1887-1913)1

HOÀNG MINH THẢO        

        Kể từ ngày bắt đầu, khởi nghĩa Yên Thế diễn ra cách đây đã hơn 100 năm. Trong thời gian đó, hầu như chưa có một công trình nghiên cứu lịch sử nào đề cập đến vai trò của Hoàng Đình Kinh-một trong những thủ lĩnh quân sự lúc ban đầu của phong trào nông dân Yên Thế. Đó là một khó khăn lớn khi chúng tôi nghiên cứu vấn đề này. Song cũng chính vì thế mà việc nghiên cứu để làm sáng tỏ vai trò của thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Đình Kinh càng thôi thúc chúng ta tích cực nghiên cứu hơn lúc nào hết.

        Có ý kiến cho rằng phong trào nông dân Yên Thế chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: từ 1887 đến 1891 do ông Đề Nắm, Bá Phức, Hoàng Đình Kinh, Đề Công, Đề Dương, Đề Thảo lãnh đạo. Giai đoạn thứ hai: tử 1892 đến 1913 do Đề Thám - người có tên tuổi nổi nhất trong số những lãnh tụ của khởi nghĩa Yên Thế, lãnh đạo. Tên tuổi của Hoàng Hoa Thám được ghi đậm nét, chân dung của ông được đặt ngang hàng với các thủ lĩnh đương thời như Phan Đình Phùng… Việc phân định và nội dung như vậy là hợp lý.

        Nhưng tên tuổi và sự nghiệp của thủ lĩnh Hoàng Đình Kinh thì thế nào?

        Từ khi Pháp đánh chiếm miền Bắc, một số lớn quan lại cũ đã không chịu thi hành lệnh giải giới của triều đình Huế, kẻ thì về ở ẩn, người thì cầm súng kháng chiến… Trong số những người quyết tâm kháng chiến chống Pháp có ông Hoàng Đình Kinh. Ông đã rút vào một dãy núi hiểm trở để  kháng chiến. Vì thế dãy núi đó được gọi là dãy Cai Kinh. Khu vực Yên Thế nằm trọn vẹn giữa dãy núi đá Cai Kinh (Bắc Giang và Lạng Sơn) cùng với dãy núi trùng trùng điệp điệp ở miền thượng lưu sông Thương và sông Cầu. Tại đây, ông cùng với Đốc Ngữ đã tập hợp được một số nghĩa quân đông đảo để tung ra hoạt động trong và ngoài khu vực thung lũng vùng Phố Bình Gia (Thái Nguyên); phong trào do ông dấy binh khởi xướng còn ảnh hưởng trong một vùng rộng lớn lân cận. Sau đó, phong trào đã phát triển rầm rộ hơn khi hoà vào phong trào chung, với căn cứ được đặt ở Yên Thế, dưới sự chỉ đạo của Hoàng Hoa Thám.

        Việc chọn căn cứ có đủ điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà để tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài thường là một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu của mọi cuộc chiến tranh, nhất là khi giữa ta và địch, tương quan lực lượng chênh lệch nhau. Thực dân Pháp, cậy có quân đội nhà nghề và vũ khí tinh xảo, muốn nhanh chóng bình định và nắm quyền cai trị trên toàn bộ đất nước ta trong một thời gian ngắn. Vì vậy, để đương đầu với chúng, nghĩa quân phải kháng chiến từng vùng, từng giai đoạn với nhiều hình thức tác chiến thích hợp: đánh nhỏ, lẻ, phục kích, tập kích... nhờ hình thế hiểm yếu, Yên Thế trở thành một căn cứ kháng chiến vững chắc, là nơi không những nghĩa quân có nguồn nhân tài vật lực dồi dào mà còn tiếp giáp với Trung Quốc, do đó, có thể phối hợp với một bộ phận nghĩa quân của Trung Quốc lúc ấy cũng đang chống Pháp. Mặt khác, từ Yên Thế nghĩa quân có thể rút lui khỏi căn cứ để bảo toàn lực lượng một cách thuận lợi cũng như tung các đội quân sang hoạt động ở các vùng Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên… để mở rộng địa bàn và thanh thế của căn cứ kháng chiến. Căn cứ Yên Thế đã thỏa mãn những yêu cầu: Căn cứ khó bị bao vây, tinh thần kháng chiến nhân dân trong vùng rất cao, địch chưa kiểm soát được dân, dễ giao lưu các nhân tài, tóm lại là vừa hiểm trở vừa thông suốt, rất thích hợp với lối đánh du kích sở trường của nghĩa quân.

        Để có thêm cơ sở khách quan cho việc đánh giá căn cứ Yên Thế, xin dẫn ra đây một nhận xét của quân Pháp:

        “Căn cứ Yên Thế là một tập đoàn cứ điểm vừng chắc, với các công sự dày đặc và hào giao thông hình răng sấu, phía Đông có nhiều tiền đồn được thiết lập trên con đường Đình Thép-Yên Thế và sau hết một trung tâm kháng chiến hết sức vững chắc ở phía Bắc phòng tuyến, nơi ông Phức (Bá Phức) đặt tổng hành dinh".

---------------------------------------
        1.Tạp chí LSQS số 4-1993.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:15:58 AM

        Trong giai đoạn 1 của cuộc khởi nghĩa Yên Thế, có hàng chục trận đánh lớn nhỏ của nghĩa quân tiến công quân Pháp và đã 4 lần thực dân Pháp mở những cuộc hành quân tiến công căn cứ Yên Thế. Lần thứ nhất vào ngày 18 tháng 9 nam 1889 với lực lượng khoảng 750 quân. Lần thứ hai vào tháng 11 năm 1890 với 800 quân tiến công liên tục trong vòng 15 ngày có pháo binh yểm hộ (50 khẩu sơn pháo 80 ly, 2 khẩu pháo hạm). Lần thứ ba vào ngày 4 tháng 12 năm 1890 với 900 quân. Lần thứ tư vào tháng 3 năm 1892 với trên 1.000 quân có hàng chục khẩu sơn pháo, súng cối và công binh đi cùng. Sau 4 lần tiến công, thực dân Pháp tỏ ra lúng túng và bị bất ngờ trước sức mạnh của nghĩa quân không những không tiêu diệt được căn cứ mà còn liên tiếp nếm đòn thất bại. Với hàng trăm lính Pháp, lính khố đỏ bị chết, bị thương và bị bắt, trong đó có hàng chục sĩ quan cấp úy, thực dân Pháp phải tạm ngừng ý đồ đập tan căn cứ kháng chiến này.

        Những con số và dẫn chứng qua các tài liệu của Pháp trên đây đủ để nói lên một điều: Căn cứ kháng chiến Yên Thế là một căn cứ hiểm trở, lợi hại, “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”. Nghĩa quân Yên Thế không chỉ bó hẹp hoạt động ở núi rừng vì thế căn cứ Yên Thế không phải là căn cứ chỉ để cố thủ. Trên thực tế, có lúc căn cứ gần như vãn quân vì nghĩa quân hoặc cơ động để tiến công nơi khác, hoặc để ngay sau đó lại tụ họp lực lượng tại đây kháng chiến đến cùng. Thủ đoạn chiến thuật của nghĩa quân rất linh hoạt, đó là phục kích, tập kích, đánh đồn, chặn đường giao thông, đánh tiếp viện… với tính cơ động cao, lúc tập trung, lúc phân tán linh hoạt, lại có tinh thần chiến đấu rất dũng cảm và được nhân dân hết lòng đùm bọc, chở che, nghĩa quân chẳng những đã gây cho địch nhiều tổn thất mà còn đánh lui được nhiều cuộc tiến công càn quét lớn nhỏ của địch, giữ được căn cứ, bảo toàn được lực lượng.

        Thủ lĩnh quân sự Cai Kinh chỉ tham gia trực tiếp với phong trào nông dân Yên Thế trong một thời gian rất ngắn. Ông hy sinh trên đường rút sang Trung Quốc sau trận Phố Bình Gia ngày 6 tháng 7 năm 1888, nhưng những thủ lĩnh như Đề Phức, Đề Thám vẫn tiếp tục một cách xứng đáng sự nghiệp kháng chiến, duy trì được cuộc chiến đấu lâu dài tới 20 năm sau.

        Mặc dù vậy, với công lao gây dựng, đặt nền móng cho phong trào ở buổi ban đầu, phải chăng Cai Kinh cũng cần được coi là một trong những linh hồn chủ chốt của cuộc kháng chiến. Ngoài vai trò nói trên, Cai Kinh còn là người trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo nên những thủ lĩnh kế cận, hun đúc trong lòng họ ngọn lửa yêu nước và niềm tin vào sự tất thắng của cuộc kháng chiến. Tiêu biểu cho những thủ lĩnh quân sự được Cai Kinh "dìu dắt" là Hoàng Hoa Thám. Từ một người dân bình thường, nghèo khó phải đi làm mướn để sinh nhai ở làng Bằng huyện yên Thế, Đề Thám đã tham gia đội quân khởi nghĩa của Trần Quang Loan ở vùng Bắc Ninh. Khởi nghĩa thất bại, ông nhập cuộc với Đề Phức-một lãnh tụ nghĩa quân chống Pháp ở vùng Yên Thế. Cuối cùng vì thất bại liên tiếp, cả hai ông đều tìm đến hợp tác với Cai Kinh đang hoạt động ở vùng thượng lưu sông Thương (Bắc Giang). Trong thời gian này, họ của Đề Thám được đổi từ Trương Văn sang Hoàng Hoa và ông được phong chức "Đề" với ý nghĩa là những người cùng chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào nông dân Yên Thế.

        Có lớp người kế cận như Đề Thám và một số thủ lĩnh tài ba khác, phong trào Yên Thế, sau cái chết đột ngột, sự ra đi quá sớm của Hoàng Đình Kinh cũng như sự thoái trào của Đề Phức, vẫn không hề bị mai một mà trái lại vẫn tiếp tục được duy trì-"Ngọn tọa đăng Đề Thám" vẫn rực sáng hơn bao giờ hết.

        Xét về mặt ý thức, cái chết của thủ lĩnh Hoàng Đình Kinh trước lưỡi gươm của kẻ thù càng hun đúc thêm chí căm thù và củng cố thêm quyết tâm chiến đấu của nghĩa quân Yên Thế, càng làm tăng uy tín của một căn cứ kháng chiến chống Pháp mạnh nhất thời bấy giờ.

        Xét về mặt thực tiễn, những hoạt động quân sự cụ thể của thủ lĩnh Hoàng Đình Kinh chính là đặt tiền đề vật chất quan trọng cho sự tồn tại và lớn mạnh của phong trào Yên Thế. Điều đó gợi cho chúng ta những suy nghĩ, nhận xét đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về vai trò và ý nghĩa tác động của thủ lĩnh quân sự Hoàng Đình Kinh.

        Trong thời kỳ cận đại, cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài gần 30 năm. Đó là cuộc khởi nghĩa độc đáo, mạnh mẽ và lâu dài nhất của nhân dân ta. Trước sức mạnh của đế quốc xâm lược Pháp, cuộc khởi nghĩa không những đứng vững ở một địa bàn chiến lược hiểm mà còn lan ra trên một phạm vi rất rộng lớn ở rừng núi và trung du Bắc Việt. Giá trị lớn lao của nó là chống lại kẻ địch có vũ khí hiện đại. Với vũ khí thô sơ và trong tương quan lực lượng khá chênh lệch mà duy trì được kháng chiến lâu dài như thế là do đâu? Trước hết là do được sự ủng hộ của nhân dân, là tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường của nghĩa quân và cuối cùng là có nghệ thuật chỉ huy và tác chiến tài giỏi. Song lời giải đáp trên chắc chắn còn chưa đủ; hy vọng rồi đây các công trình nghiên cứu khác sẽ giải quyết thấu đáo hơn sự kiện lịch sử độc đáo này. Khởi nghĩa Yên Thế, bằng sức mạnh vật chất và tinh thần hàm chứa trong lòng một dân tộc, đã cản trở và làm phá sản kế hoạch “bình định” của thực dân Pháp đối với nước ta trong một thời gian ngắn.

        Khi đánh giá ý nghĩa của khởi nghĩa Yên Thế, chúng ta không thể tách rời với việc đánh giá vai trò của các thủ lĩnh quân sự mà tên tuổi của họ gắn liền với những chiến công mà nghĩa quân đã đạt được. Cũng như xem xét vai trò của Hoàng Hoà Thám không thể bỏ qua việc đánh giá những thủ lĩnh đầu tiên của phong trào, trong đó có Hoàng Đình Kinh. Chúng ta hy vọng và chờ đón những công trình lịch sử tới đây trên ý nghĩa đó.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:19:23 AM

VỀ SỰ HY SINH CỦA LIỆT SĨ PHẠM HỒNG THÁI1

NGUYỄN PHƯƠNG NAM       

        Năm 1916, Hồ Tùng Mậu, tên thật là Hồ Bá Cự (biệt hiệu là Hồ Quốc Anh, Mộc Công, Lương Tử Anh, Phan Tài), người làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, cùng với một số thanh niên yêu nước sang Thái Lan, rồi Trung Quốc hoạt động cách mạng. Trong số này nổi bật có Lê Hồng Phong, Lê Văn Phan tức Lê Hồng Sơn, Lê Quang Đạt và Trương Văn Lệnh... Họ đã đến Quảng Châu, nơi có rất đông Việt kiều sinh sống. Theo báo chí Trung Quốc thì có đến 7-8 ngàn người đi vào võ nghiệp ở đây.

        Đầu những năm 1920, Phan Bội Châu đã quay sang quan điểm chống Pháp sau một thời gian ở tù và thử nghiệm tư tưởng thoả hiệp với Pháp. Tên tuổi của ông vẫn có sức lôi cuốn quần chúng mạnh mẽ, nhưng hoạt động không có hiệu quả.

        Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn và những thanh niên yêu nước đầy nhiệt huyết đã thành lập một tổ chức mới gọi là "Tâm tâm xã" (Hiệp hội của những người cùng chí hướng-dịch sát nghĩa là Hội những trái tim cùng nhịp đập). Do chưa có kinh nghiệm về đấu tranh cách mạng và có lẽ chịu ảnh hưởng của những triết lý khuyến khích nổi dậy ở Pháp, Ý, Tây Ban Nha2 thế kỷ XIX và với tính cách sôi nổi, họ đã áp dụng phương pháp tuyên truyền và hành động ám sát để gây chấn động, thức tỉnh nhân dân đứng lên đấu tranh chống Pháp.

        Tháng 6 năm 1924, nhân Toàn quyền Đông Dương Mac-xi-an Méc-lanh sang thăm Quảng Đông, nhưng người lãnh đạo Tâm tâm xã đã quyết định ám sát viên Toàn quyền này bằng cách cho nổ bom trong buổi lễ được tổ chức ở đảo Sa Điện - tô giới Châu Âu.

        Lúc đầu, Lê Hồng Sơn, người đã từng ám sát một tên gián điệp hai mang trong nội bộ Đảng, được giao nhiệm vụ này. Nhưng sau khi cân nhắc, do Lê Hồng Sơn bị các nhà chức trách biết rõ tung tích, nên Phạm Hồng Thái đã đảm nhiệm thay.

        Phạm Hồng Thái là con trai một công chức tỉnh Nghệ An tham gia phong trào Cần Vương. Thời thanh niên, Phạm Hồng Thái đã học trường Pháp-Việt ở Hà Nội và sớm say mê lý tưởng cách mạng. Sau khi học xong, Phạm Hồng Thái vào làm thợ cơ khí ở một ga-ra Ô tô và sau đó làm việc ở mỏ than. Tuy mới từ trong nước sang và mới trở thành thành viên Tâm tâm xã, nhưng khát khao được cống hiến cho sự nghiệp cứu nước, Phạm Hồng Thái đã xung phong nhận nhiệm vụ đầy nguy hiểm; mang bom đến mục tiêu định trước.

        Tối 19 tháng 6 năm 1924, các quan chức Pháp tổ chức một đại tiệc ở khách sạn Vích-to-ri-a để chào mừng Méc-lanh. Khi bữa tiệc vừa bắt đầu, món súp vừa được bưng ra, Phạm Hồng Thái đã ném quả bom tự tạo qua cửa sổ phòng tiệc. Tiếng nổ kinh hoàng vang khắp Sa Điện. Năm thực khách chết tại chỗ, hàng chục người bị thương. Toàn quyền Méc-lanh thoát chết với một tâm trạng hoảng hốt.

        Sau những phút giây hoảng loạn, bọn cảnh sát, mật vụ hò nhau đuổi bắt. "Trong khi tìm cách chạy vào đất liền, Phạm Hồng Thái đã nhảy từ trên cầu xuống Châu Giang và chết đuối"3.

        Méc-lanh vội vã trở về Hà Nội trên một chiếc tàu chở khách vì lo sợ bị tấn công lần nữa. Vụ nổ bom ở Sa Điện đã khiến thực dân Pháp ở Đông Dương lo ngại và gây chấn động dư luận thế giới, góp phần thúc đẩy phong trào chống Pháp của nhân dân Đông Dương lên cao.

        Mặc dù việc ám sát cá nhân không phải là phương pháp cách mạng đúng đắn nhưng "tiếng bom của Phạm Hồng Thái đã nhóm lại ngọn lửa chiến đấu. Nó bắt đầu một thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân"4.

        Chính phủ của Tôn Dật Tiên đã dựng một ngôi mộ cho người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái tại Hoàng Hoa Cương, trên ngọn đồi ở Quảng Châu, nơi yên nghỉ của 72 liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc tấn công vào Dinh Tổng đốc Quảng Đông (tháng 3-1911).

        Sự thật về cái chất của liệt sĩ Phạm Hồng Thái là như vậy. Đáng tiếc là lâu nay, nhiều tài liệu lưu hành trong nước đã gọi sự hy sinh cao cả của liệt sĩ Phạm Hồng Thái là "tự tử".

        Trong cuốn Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, xuất bản năm 1981, Ban Biên tập Nhà xuất bản Sự thật đã chú thích ở trang 318: "Bị đuổi bắt, Phạm Hồng Thái đã nhảy xuống sông tự tử".

        Trong Tổng tập văn học, tập 36, in xong ngày 30 tháng 4 năm 1980, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành, Hội đồng biên tập, khi chú thích bài "Những vấn đề châu Á" cũng viết: "Bị đuổi bắt, Phạm Hồng Thái đã nhảy xuống sông tự tử".

        Chưa hết, Nhà xuất bản Văn hoá, khi chú thích cuốn "Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê", ở tập 3, trang 12, cũng viết: "Liệt sĩ Phạm Hồng Thái sau khi ám sát hụt toàn quyền Méc-lanh, nhảy xuống sông tự tử...".

        Mới đây, Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, trong chương trình Hà Nội phố, khi giới thiệu về phố Phạm Hồng Thái, cũng vẫn cho rằng ông Phạm Hồng Thái tự vẫn.

        Khi đọc và nghe những từ "Phạm Hồng Thái tự tử", chúng tôi cho rằng nó không phản ánh đúng hành động tích cực của một Anh hùng liệt sĩ, một sự thật lịch sử.

        Chưa bao giờ người ta coi sự quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh là tự tử. Tổng đốc Hoàng Diệu không giữ được thành Hà Nội, đã quyên sinh để giữ tròn khí tiết, quyết không chịu sa vào tay giặc; người ta đã tôn vinh ông bằng tử "tuẫn tiết”. Bị giặc đuổi bắt, Phạm Hồng Thái nhảy xuống sông với hy vọng trốn thoát nhưng không may bị nước cuốn trôi, sao gọi là "tự tử" được?

        Theo chúng tôi nên dùng từ "hy sinh”, "tuẫn nạn", "tuẫn tiết" để chỉ trường hợp tử nạn của Phạm Hồng Thái là phù hợp với sự thật lịch sử hơn cả. Trong bài viết về cái chết của đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Trường Chinh dùng từ "tựu nghĩa". Đó cũng là một từ rất hay. Điều mong mỏi của chúng tôi là loại bỏ hẳn từ "tự tử", "tự vẫn" khi nhắc đến cái chết của liệt sĩ Phạm Hồng Thái.

----------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 6-2004.

        2. Theo triết lý của Auguste Blanqui.

        3. William J. Duiker. Ho Chi Minh, Hyperion, New York, 2000.

        4. Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Sự thật. Hà Nội, 1975. tr. 64.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:21:57 AM

TRƯỜNG QUÂN SỰ HOÀNG PHỐ VÀ VIỆC ĐÀO TẠO NHỮNG CÁN BỘ QUÂN SỰ CÁCH MẠNG ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM1

PHẠM XANH       

        Sau đại hội V của Quốc tế Cộng sản, trong một buổi tiếp thân mật Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Manuinski, ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản đã thông báo quyết định của Quốc tế Cộng sản cử Người tới Quảng Châu công tác với nhiệm vụ chủ yếu là chuẩn bị về mặt chính trị-tư tưởng và tổ chức để tiến tới xây dựng một đảng cộng sản ở Đông Dương và giúp đỡ các đại biểu cách mạng của các nước khác ở Đông Nam Á. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị cho chuyến công tác xa-xích gần lại quê hương mình. Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu ngày 11 tháng 11 năm 1924. Hồi đó, Quảng Châu là trung tâm cách mạng của Trung Quốc. Người dân ở đây đang sống trong bầu không khí của ngày hội cách mạng. "Thật khó mà miêu tả Quảng Châu trong những ngày đó. Ở đây có cái gì đó tựa như năm 1917 không bao giờ quên ở nước Nga vậy. Tôi luôn luôn có cảm giác rằng ngôn ngữ loài người còn quá nghèo nàn để có thể diễn đạt hết sức mạnh của tình cảm: phẫn nộ và sung sướng, yêu thương và căm giận của quần chúng nhân dân tràn ra trên các đường phố và quảng trường… "2.

        Quảng Châu còn là nơi hội tụ của nhiều thế hệ những người yêu nước Việt Nam từ lớp cách mạng đàn anh như Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu với các đồng chí của ông và lớp thanh niên trí thức yêu nước mới xuất dương sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tập hợp lại trong một tổ chức yêu nước-Tâm tâm xã. Rõ ràng, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu trong một bầu không khí chính trị thuận lợi và thực sự tồn tại một tổ chức cách mạng của những thanh niên yêu nước Việt Nam đang sẵn sàng tiếp nhận những gì mới mẻ cho chương trình hành động của mình. Thế là diễn ra cuộc hội nghị lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc, người đang đi tìm lực lượng và những người đang khao khát cái mới. Cuộc gặp gỡ lịch sử đó đã sản sinh ra Cộng sản Đoàn (tháng 2-1925), làm hạt nhân cho một tổ chức cách mạng rộng lớn hơn là Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, được thành lập sau đó ít lâu (tháng 6-1925). Tiếp đó, với tư cách là người sáng lập, lãnh tụ của tổ chức cách mạng ấy, Nguyễn Ái Quốc đã đề ra một kế hoạch cụ thể. Sau này, L.Marty gọi đó là "kế hoạch Nguyễn Ái Quốc". L.Marty cho biết, kế hoạch đó đòi hỏi:

        "Ở ngoài nước:

        a- Đào tạo những người xuất dương trẻ tuổi (chúng tôi nhấn mạnh-PX).

        b- Chuẩn bị tài liệu tuyên truyền và bảo đảm một cách đáng kể việc xuất bản đều đặn tờ báo của Hội..."3.

        Theo đó, chúng ta biết việc đào tạo những thanh niên yêu nước từ trong nước xuất dương sang là nhiệm vụ hàng đầu và bức thiết nhất của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội. Thực chất của việc đào tạo đó là tạo ra một đội ngũ cán bộ cách mạng cho một đảng mác-xít tương lai ở Việt Nam. Xét về phương thức đào tạo, đội ngũ đó được đào tạo theo hai cách: tự đào tạo và gửi thanh niên theo học ở các trường khác. Xét về nội dung đào tạo, đội ngũ ấy được đào tạo tại hai loại trường: trường chính trị và trường quân sự. Trong bài viết nhỏ này chúng tôi xin dừng lại và làm sáng tỏ việc đào tạo đội ngũ cán bộ quân sự cách mạng Việt Nam tại Trường Quân sự Hoàng Phố của Chính phủ Tôn Dật Tiên, dưới sự huấn luyện của các cố vấn quân sự Xô-viêt trong những năm 1924-1927.

---------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 11-1986.

        2. X.A.Đa-lin. Hồi ức Trung Quốc 1921-1927 (bản tiếng Nga), NXB Khoa học , in lần thứ 2, M, 1982, tr. 217. Đa-lin là đại diện của Quốc tế Cộng sản đã 3 lần tới Trung Quốc công tác: 1922, 1924 và 1926-1927. Sau khi về Liên Xô, X.A. Đa-lin đã viết nhiều cuốn sách về Trung Quốc thời kỳ này, trong đó có cuốn "Trong đội ngũ cách mạng Trung Quốc", M, 1926.

        3. Góp phần vào lịch sử các phong trào chính trị ở Đông Pháp, tập IV, tr. 18, bản tiếng Pháp.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:24:38 AM

        I. Vài nét về sự ra dời và hoạt động của Trường Quân sự Hoàng Phố những năm 1924-1927.

        Tháng 2 năm 1923, Tôn Dật Tiên gửi thư yêu cầu Chính phủ Xô-viết cử cố vấn chính trị và quân sự sang Quảng Châu giúp Chính phủ ông. Tháng 3 năm 1923, Chính phủ Xô-viết đã thông qua quyết định viện trợ tài chính cho Chính phủ cách mạng Tôn Dật Tiên (2 triệu đô-la Mêhicô) và cử M.M.Bô-rô-đin sang Quảng Châu làm cố vấn chính trị cho Tôn Dật Tiên. Ngày 2 tháng 9 năm 1923, một đoàn đại biểu Quốc dân Đảng Trung Quốc viếng thăm Liên Xô. Trong 3 tháng lưu lại Liên Xô, đoàn đã tiếp xúc và làm việc với nhiều cơ quan lãnh đạo cao cấp của Liên Xô và của Quốc tế Cộng sản. Trong một cuộc tiếp xúc với Hội đồng quân sự cách mạng Liên Xô ngày 9 tháng 9 năm 1923, Đoàn thay mặt Tôn Dật Tiên đã trình bày những yêu cầu sau đây:

        1- Đoàn mong muốn Hội đồng quân sự cách mạng cử tới liền Nam Trung Quốc nhiều cố vấn quân sự để huấn luyện quân đội Trung Quốc theo mẫu hình Hồng quân.

        2- Đoàn mong muốn Hội đồng quân sự cách mạng tạo mọi khả năng để các đại diện của Tôn Dật Tiên tìm hiểu Hồng quân;

        3- Đoàn mong muốn hai bên cùng nhau thảo luận kế hoạch hoạt động quân sự ở Trung Quốc.

        Tháng 1 năm 1924, Đại hội I của Quốc dân Đảng Trung Quốc đã thông qua nghị quyết mời cố vấn quân sự Liên Xô và xây dựng lực lượng vũ trang theo mẫu hình Hồng quân.

        Tất cả những sự thực dẫn ra ở trên minh chứng về sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ cách mạng Quảng Châu tới việc xây dựng quân đội cách mạng dân tộc theo kiểu Hồng quân, mà điểm xuất phát là xây dựng một trường quân sự để đào tạo bộ khung cho quân đội cách mạng đó. Và sự lưu tâm đặc biệt đó cũng được thể hiện rõ nét qua những lời nói của chính Tôn Dật Tiên trong một cuộc tiếp thân mật đồng chí M.M. Bô-rô-đin và các cố vấn quân sự Xô-viết đầu tiên tới Quảng Châu như V.Pô-li-ác, J.Giéc-man, A.Trê-rê-pa-nốp... Hôm đó, Tôn Dật Tiên đã nhấn mạnh nhiệm vụ cấp thiết của Chính phủ cách mạng của ông là tổ chức quân đội cách mạng dân tộc theo mẫu hình Hồng quân để chuẩn bị lực lượng cho cuộc Bắc phạt thống nhất đất nước Trung Hoa và đặt nhiều hy vọng vào các cố vấn quân sự Xô-viết, những người đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong cuộc chiến đấu chống bọn can thiệp quốc tế, sẽ truyền lại những kinh nghiệm quý báu đó cho các học viên-những sĩ quan tương lai của quân đội cách mạng.

        Từ sau buổi tiếp đó mới bắt tay xúc tiến xây dựng trường quân sự Hoàng Phố. Việc đầu tiên cần phải giải quyết là vấn đề tài chính. Lúc đó, Chính phủ Tôn Dật Tiên còn nghèo, đã buộc phải đi vay tiền ở giới thương nhân. Cuối tháng 2 năm 1924, đã vay được 60.000 đô-la Quảng Đông, nhưng số tiền đó vẫn chưa đủ4. Ngày 1 tháng 5 năm 1924, chính thức bắt tay xây dựng trường. Trường được xây dựng trên đảo Hoàng Phố nằm trên sông Tây Giang, cách Quảng Châu 25 km. Từ xưa nơi đây đã có một đồn binh án ngữ con đường từ biển vào thành phố thương mại Quảng Châu. Pháo đài đó được xây dựng từ năm 1870, sau khi kết thúc cuộc chiến tranh "Nha phiến". Theo con mắt của các chuyên gia quân sự Xô-viết, vị trí của trường nằm trên một hòn đảo giữa sông, làm cho nó tránh được những điều bất ngờ không cần thiết và che mắt những kẻ tò mò. Sau một tháng rưỡi lao động khẩn trương của đội ngũ cán bộ, cố vấn quân sự Xô-viết và học viên khoá đầu, ngày 15 tháng 6 năm 1924, chính thức cắt băng khánh thành Trường Hoàng Phố. Hôm đó, Tôn Dật Tiên, M.M. Bô-rô-đin từ Quảng Châu tới dự. Tại buổi lễ khánh thành Trường, Tôn Dật Tiên đã đọc một bài diễn văn khá dài, trong đó có đoạn:

        “Hôm nay, chúng ta khánh thành Trường nhằm mục đích gì? Từ giờ phút này chúng ta muốn làm sống lại sự nghiệp cách mạng và xây dựng quân đội cách mạng mà học viên của trường này sẽ là nòng cốt.

        … Quân đội cách mạng là gì? Khi theo học trường này, các bạn đã tự đặt cho mình mục đích gì để trở thành người chiến sĩ của quân đội cách mạng ấy? Cần phải trau dồi phẩm chất gì để có quyền gọi là chiến sĩ cách mạng? Để hiểu thế nào là quân đội cách mạng phải lấy những anh hùng đã ngã xuống vì sự nghiệp cách mạng chúng ta ra làm gương và để làm được như vậy phải học tập ở quân đội cách mạng kỹ năng tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng. Chỉ có quân đội sẽ chiến đấu như một đảng cách mạng chiến đấu thì mới có thể gọi là quân đội cách mạng.”

        “… Dựa vào đâu mới có thể thực hiện được quyết tâm trở thành chiến sĩ của quân đội cách mạng? Kiến thức sâu rộng là cơ sở đó. Bằng cách nào mà có được kiến thức sâu rộng? Con đường thu nhận kiến thức sâu rộng đó không chỉ ở chỗ miệt mài nghiên cứu khoa học mà các thầy giáo truyền thụ tại giảng đường, mà còn ở chỗ thông qua cái bộ phận mà vươn tới cái toàn bộ. Bằng cách đó mà mở rộng kiến thức của mình. Ngoài giờ lên lớp phải gắng sức mà tự đào tạo, nghiền sách vở, đọc báo chí soi sáng khoa học quân sự và lý luận cách mạng. Chỉ sau khi các bạn đã nắm được kiến thức thì mới có thể đi sâu vào bản chất sự vật và dĩ nhiên khi các bạn được nghị lực cách mạng thôi thúc thì mới nảy ra mong muốn được kế tục sự nghiệp của các bậc anh hùng đã ngã xuống”.

        ".. Quân đội cách mạng gồm những chiến sĩ đang chiến đấu cứu nước, cứu dân mà các bạn là nòng cốt của đội quân cách mạng tương lai ấy… “5.


---------------------------------
        4. V.Vit-ni-a-cô-va A-ki-mô-va, Hai mươi năm ở nước Trung Hoa khởi nghĩa, 1925-1927, bản tiếng Nga, NXB Khoa học, M, 1980, tr. 132.

        5. Tôn Dật Tiên, Tác phẩm chọn lọc, bản tiếng Nga, NXB Sách chính trị, M, 1964, tr. 475-480.



Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:25:49 AM

        Theo quyết định của Chính phủ Quảng Châu, trường Hoàng Phố là một trường bộ binh, thời gian học là 6 tháng. Ngoài ra, có những lớp chuyên ngành, thời gian học tập dài hơn, chẳng hạn như: lớp pháo binh (có 60 học viên, thời gian học 9-12 tháng), công binh (130 học viên, thời gian học 9 tháng), thông tin liên lạc (30 học viên, thời gian học 9 tháng). Về sau, trường được giao nhiệm vụ đào tạo cán bộ chính trị học, lý luận về chủ nghĩa đế quốc, "ba nguyên tắc" và phương châm chính trị của Tôn Dật Tiên, lịch sử Trung Quốc và lịch sử phong trào cách mạng ở phương Tây. Vì thế mà trường được chính thức mang tên Trường Quân chính Hoàng Phố.

        Ngoài những môn học quân sự và chính trị, trường còn tổ chức một lớp tiếng Nga, học kiếm và thể dục. Trường có nhiệm vụ đào tạo sĩ quan nòng cốt cho quân đội cách mạng dân tộc của Chính phủ Quảng Châu. Chính trên ý nghĩa đó mà trong các sách vở phương Tây còn xuất hiện một tên gọi nữa là Học viện Quân sự Hoàng Phố.

        Đội ngũ giáo viên huấn luyện, ngoài 58 cố vấn quân sự và chính trị Liên Xô6 gồm những sĩ quan được đào tạo quân sự ở nước ngoài. Phần lớn là ở Nhật, hoặc các sĩ quan đã tốt nghiệp tại các trường võ bị trong nước như trường Bảo Định. Như vậy đội ngũ giáo viên của trường không thuần, có thể nói là phức tạp. Trong khi đó, các cố vấn quân sự-chính trị Xô viết không thông thạo tiếng Trung Quốc hoặc tiếng Anh là hai thứ tiếng thông dụng ở đây. Vì không thể sử dụng ngôn ngữ để lên lớp trực tiếp, hoặc giám sát các bài giảng lý thuyết của đội ngũ giáo viên nên đoàn cố vấn quân sự Xô-viết-đứng đầu là P.A.Páp-lốp7, đã tìm ra một giải pháp đúng đắn và thích hợp; thời gian học tập, huấn luyện chủ yếu là trên thao trường, trong thực tế8. Đến ngày 1 tháng 11 năm 1924, trường Hoàng Phố đã có 62 giáo viên và sĩ quan huấn luyện.

        Đội ngũ học viên được lựa chọn chủ yếu từ học sinh các trường đại học và trung học Quảng Châu, Thượng Hải và một vài thành phố khác, là những người bước đầu đã trải qua trường học cách mạng trong phong trào học sinh-sinh viên. Khoá đầu có 950 học viên, trong đó có 39 đảng viên cộng sản, hầu như không có học viên công nhân. Về sau, trường có tổ chức một khoá đặc biệt cho những người tình nguyện trong số người ít được học hành, chủ yếu là nông dân và dân nghèo thành thị. Chính phủ Quảng Châu đã trao cho trường nhiệm vụ đào tạo cán bộ quân sự cách mạng cho tất cả các tỉnh của đất nước. Nhiệm vụ ấy đã được nhà trường thực hiện vào năm 1925. Trong số 2.500 học viên tốt nghiệp khoá III năm 1925 có hầu hết đại biểu của các tỉnh trên toàn đất nước. Đến khoá tiếp theo, về thành phần xã hội, học viên của trường gồm: 1.640 người là nông dân, 400 người là học sinh, 400 người là thương nhân, 100 người là công nhân, 10 người là binh lính, 15 người là quan lại, 12 người là đại biểu trí thức. Tháng 3 năm 1926, trường Hoàng Phố có tất cả hơn 5.000 học viên, gồm các ban bộ binh, chính trị, pháo binh, công binh, hậu cần. Như vậy, trường Hoàng Phố là một trường quân sự lớn hồi đó. Mặc dù thành phần xã hội trong giáo viên và học viên khá phức tạp nhưng nhà trường vẫn giữ được tính chất cách mạng của nó, bởi vì những người cộng sản và những người cánh tả trong Quốc dân Đảng chiếm tuyệt đại bộ phận (65-70%), số còn lại là cánh hữu (15-20%).

        Trong hơn 3 năm tồn tại của mình, trường Hoàng Phố, dưới sự huấn luyện trực tiếp của các cố vấn quân sự và chính trị Liên Xô, đã đào tạo được 5 khoá. Học viên tốt nghiệp các khoá đầu được giữ lại, tổ chức thành hai trung đoàn của trường, còn học viên các khoá sau trở thành cán bộ khung cho quân đội cách mạng dân tộc của Chính phủ cách mạng Quảng Châu. Trường Hoàng Phố không những chỉ là lò đào luyện đội ngũ cán bộ quân sự mới, mà còn là chỗ dựa đáng tin cậy của cách mạng. Vì thế, không lấy làm lạ là: mỗi lần bọn phản động ở Quảng Châu ngóc đầu dậy thì đòn đánh đầu tiên của chúng đều trước riết nhằm vào Trường. Trong những năm bão táp cách mạng 1924-1925, học viên của trường đã có lúc phải gác "bút nghiên" để lao vào chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng. Như vậy, họ đã tôi luyện kỹ năng chiến đấu của mình không chỉ trên thao trường mà cả trên chiến trường. Vào những năm đó, trường Hoàng Phố đã trở thành chỗ dựa quân sự chủ yếu của chính quyền cách mạng. Chẳng hạn, tháng 10 năm 1924 khi gặp nội loạn, Chính phủ Quảng Châu đã rút ra đảo Hoàng Phố và từ trong những bức tường pháo dài, tiến hành động viên các lực lượng trung thành với cách mạng đánh trả. Chính học viên khóa đầu của trường đã góp phần quyết định đánh tan cuộc phiến loạn đó. Tiếp đó, năm 1925, hai trung đoàn trường Hoàng Phố và một vài đại đội học viên của trường đã góp phần to lớn trong việc đánh bại quân đội của tướng Trần Quýnh Minh, tay sai của đế quốc Anh và cuộc nổi loạn phản cách mạng của bọn quân phiệt Lưỡng Quảng ở vùng Quảng Châu. Rõ ràng, với những học viên được huấn luyện theo kiểu mới, có chất lượng làm nòng cốt. Chính phủ cách mạng Quảng Châu đã tiến hành thắng lợi các chiến dịch quân sự như Đông phạt I, Đông phạt II mở rộng và làm chủ địa bàn hoạt động. Và trên cơ sở những kinh nghiệm quý báu thu được trong hai cuộc chinh phạt đó, Chính phủ Quảng Châu đã tiến hành cuộc Bắc phạt lần thứ nhất nhằm thực hiện mong ước của Tôn Dật Tiên: thống nhất đất nước Trung Hoa rộng lớn.

        Trường Hoàng Phố ngừng hoạt động vào đầu tháng 8 năm 19279.

-------------------
        6. J.N.Du-kin. V.I.Lênin và các dân tộc phương Đông, Tạp chí Viễn Đông, bản tiếng Nga, 4-1980, tr. 140.

        7. Sau khi P.A.Páp-lốp hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ, tướng V.K.Bliu-ke sang thay vào tháng 11-1924.

        8. Xem Trê-rê-pa-nốp. A.J-Ghi chép của một cố vấn quân sự Trung Quốc, bản tiếng Nga, M, 1976, tr. 125.

        9. Sau cuộc đảo chính tháng 4-1927, Tưởng Giới Thạch rời trường Quân chính lên Nam Kinh đào tạo sĩ quan theo đường lối, quan điểm của Tưởng.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:26:55 AM

        II. Mấy nét về việc đào tạo cán bộ quân sự Việt Nam tại Trường quân sự Hoàng Phố.

        Bên cạnh việc đào tạo sĩ quan cho toàn đất nước Trung Hoa, Tôn Dật Tiên và Chính phủ cách mạng Quảng Châu còn trao cho trường Hoàng Phố một nhiệm vụ quốc tế: giúp đào tạo đội ngũ cán bộ quân sự cho các nước láng giềng.

        Nhà trường đã thực hiện được nhiệm vụ nặng nề đó từ khoá III (năm l925). Có lẽ người nước ngoài đầu tiên theo học quân sự tại trường này là người Việt Nam và người Triều Tiên.

        Nhà yêu nước Việt Nam có ý định đầu tiên gửi học sinh Việt Nam theo học trường Hoàng Phố là Phan Bội Châu. Nhân việc về Quảng Châu "dựng bia đá ở trước mồ liệt sĩ (Phạm Hồng Thái) để làm kỷ niệm", được biết trường Hoàng Phố có các cố vấn quân sự Liên Xô huấn luyện vừa mới khánh thành, Phan Bội Châu liền đến tham quan trường, với ý định gửi thanh niên Việt Nam theo học tại đó. Sau này, Phan Bội Châu nhớ lại: "Gặp lúc Tưởng Trung Chính giữ chức hiệu trưởng trường quân quan Hoàng Phố, Lý Tế Thâm làm giám đốc nhà trường, tôi đến yết kiến hai người này để xem nhà trường và có ý định đưa học sinh vào học. Họ Tưởng và họ Lý đều tán thành, ba vị giáo viên trong trường là người Nga, cùng tôi nói chuyện và cùng chụp một tấm ảnh"10.

        Khôn khéo sử dụng ảnh hưởng của Phan Bội Châu, những thanh niên trí thức yêu nước trong Tâm tâm xã đã đăng ký xin thi vào trường Hoàng Phố. Hôm trường tổ chức thi tuyển, không may Hồ Tùng Mậu bị ốm phải ở lại Quảng Châu, số đông dự thi đã trúng tuyển, trong số đó có Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Trương Vân Lĩnh… Đó là kỳ thi tuyển học viên khoá III của trường. Trong số 2.500 học sinh tốt nghiệp khoá III “có 25 người Triều Tiên và 10-15 người Việt Nam. Điều đó chứng tỏ sự mong muốn của Tôn Dật Tiên, phe cách mạng của Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc giúp đỡ đào tạo cán bộ cho các nước láng giềng”11. Có lẽ, đó là những học viên Việt Nam dầu tiên theo học Trường Quân sự Hoàng Phố.

        Sau này, khi tới Quảng Châu với trọng trách của mình trước Quốc tế Cộng sản, với vị trí công việc của mình trong phái bộ Bô-rô-đin, Nguyễn Ái Quốc không những tiếp tục giữ mối quan hệ đã có với nhà trường, mà còn nâng nó lên ngang tầm với ý nghĩa của nó trong toàn bộ công việc mà Người đang tiến hành ở đây. Vì thế mà mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với trường Quân sự Hoàng Phố không những chặt chẽ, mà còn có nội dung hơn. A.I. Trê-rê-pa-nốp, một trong những cố vấn quân sự Liên Xô của trường đã xác nhận: "Đồng chí Hồ Chí Minh đã ở Quảng Châu vào những năm 1924-1925, đã thường xuyên liên hệ với các học viên Việt Nam ở trường Hoàng Phố và chỉ đạo việc giáo dục họ (chúng tôi nhấn mạnh-P.X)"12. Việc Nguyễn Ái Quốc và Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội gửi thanh niên-những hội viên của mình vào học trường Hoàng Phố có nghĩa là vấn đề bạo lực vũ trang trong một cuộc cách mạng ở một nước thuộc địa đã được đặt ra và được chuẩn bị ngay từ đầu. Hơn thế nữa, qua đoạn trích dẫn trên của A.I. Trê-rê-pa-nốp, chúng ta biết được rằng Nguyễn Ái Quốc không chỉ dừng lại ở việc gửi học sinh theo học quân sự, mà còn chỉ đạo việc giáo dục họ. Từ khoá III năm 1925, cho đến khi trường bị đóng cửa sau cuộc đảo chính phản cách mạng của Tưởng Giới Thạch, khoá nào cũng có học viên Việt Nam theo học võ bị. Trong một bài nhan đề Học viện Quân sự Hoàng Phố và cách mạng Việt Nam đăng trên tờ Tuần báo của Học viện Hoàng Phố, tác giả Wou Hai Tsieo đã xác nhận: "Trường Hoàng Phố đã tồn tại 3 năm và đã đào tạo được 5 khoá. Trong suốt thời gian đó đã có những đồng chí Việt Nam vượt qua muôn trùng nguy hiểm tới trường tham gia vào sinh hoạt của trường, làm tăng lực lượng quân sự của trường và làm tăng uy tín của trường. Số đồng chí này tốt nghiệp rời trường thì số đồng chí khác vào học... Hết khoá này đến khoá khác, số lượng các đồng chí Việt Nam càng đông hơn"13. Có khoảng 30 học viên Việt Nam đã tốt nghiệp tại trường này14. Được sự quan tâm rất mực của Nguyễn  Ái Quốc, được sự giúp đỡ tận tâm của đội ngũ giáo viên-cố vấn quân sự Liên Xô, các học viên Việt Nam theo học ở đây đã học tập đạt được kết quả tốt đẹp. A.I. Trê-rê-pa-nốp, một giáo viên Liên Xô đã nhận xét: "Trong số các học viên của chúng tôi có khoảng 30 người Việt Nam. Họ rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc hết sức để học tập bởi vì họ biết rằng, để giành chính quyền về tay công nông, phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong giặc ngoài”15. Không ai khác, chính Nguyễn Ái Quốc đã giáo dục cho học viên của mình tinh thần đó.

------------------------------
        10. Phan Bội Châu niên biểu, in lần thứ 2, NXB Văn Sử Địa , Hà Nội, 1 957, tr. 201.

        11. A.I. Trê-rê-pa-nốp, Sđd, tr. 123.

        12. A.I. Trê-rê-pa-nốp. Sđd, tr. 123.

        13. Phụ lục 2 cho lá thư số 1680/Sài Gòn, ngày 15-3-1928 SLOTFOM, vd, 3, carton 49.

        14. Hiện nay, chúng tôi đang tiến hành thu thập để lập một danh sách đầy đủ những học viên Việt Nam đã tốt nghiệp tại Trường Quân sự Hoàng Phố những năm 1925-1927. Cho tới nay, bản danh sách đó vẫn chưa đầy đủ. Đồng chí nào có biết rõ, xin chỉ giúp cho chúng tôi. Sau đây là một số người trong khoảng 30 học viên đó: Lê Hồng Sơn, Lê Quảng Đạt, Lê Hồng Phong, Trương Vân Lĩnh, Lê Thiết Hùng, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Võ Tòng, Lê Khắc Trung, Đô Huy Liêm và nhiều người khác.

        15. I. Trê-rê-pa-nốp, Hồi ký, Phụ nữ Liên Xô, bản tiếng Nga, số 2-1980, tr. 7.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:27:35 AM

        Trong thời gian công tác tại Quảng Châu, cùng với việc gửi người theo học quân sự, Nguyễn Ái Quốc còn mở lớp huấn luyện chính trị tại ngôi nhà 13-15 đường Văn Minh. Trường huấn luyện chính trị đặc biệt được Chính phủ Tôn Dật Tiên coi như là một phân hiệu của Trường Quân sự Hoàng Phố và đã hoạt động dưới sự giúp đỡ của Chính phủ Quảng Châu16.

        Được như thế là nhờ uy tín và sự vận động khôn khéo của Nguyễn Ái Quốc. Việc trường huấn luyện chính trị đặc biệt của Nguyễn Ái Quốc trực thuộc Trường Quân chính Hoàng Phố dẫn đến hai điều lợi: (1) Tránh được những cặp mắt soi mói, rình mò của bọn mật vụ quốc tế (hồi đó bọn này nhan nhản ở Quảng Châu, Hồng Công) và bọn phái hữu trong Quốc dân Đảng là bọn chống cộng điên cuồng trong Chính phủ Quảng Châu hồi đó; (2) Tranh thủ được đội ngũ giáo viên-các cố vấn quân sự-chính trị Xô-viết ở trường Hoàng Phố. Vậy là Trường Quân chính Hoàng Phố và Trường Huấn luyện chính trị của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội có mối quan hệ rất khăng khít. Có thể nói, hai trường đó đã thâm nhập vào nhau, cùng nhau tồn tại. Và điều đó có nghĩa là một số giáo viên của trường này đồng thời cũng là giáo viên của trường kia. Chính vì thế mà trong lá thư đề ngày 28 tháng 12 năm 1927 (số 5077/Sài Gòn) của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ Thuộc địa Pháp đã cho biết là không chỉ nhiều người Việt Nam được huấn luyện tại Hoàng Phố mà còn những nhà cách mạng Việt Nam được sử dụng như những người giáo viên huấn luyện ở đây17.

        Các học viên Việt Nam tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố đã gia nhập quân đội cách mạng dân tộc của Chính phủ Quảng Châu và cùng với đội quân đó tham gia các cuộc Đông phạt I, Đông phạt II, Bắc phạt. Một số đã ngã xuống trên chiến trường đó, trên chiến luỹ Quảng Châu bên cạnh những người con Xô-viết và những người cộng sản Trung Quốc chân chính như Trương Thái Lôi… Số còn lại về sau trở về nước trở thành những cán bộ quân sự của Đảng ta như các đồng chí Phùng Chí Kiên, Trương Vân Lĩnh, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn… Đó là vốn cán bộ quý báu mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị cho đất nước ngay từ ngày đầu cách mạng. Để hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc chuẩn bị đội ngũ cán bộ quân sự đầu tiên, chúng tôi xin dẫn ra một học viên đã tốt nghiệp tại Trường Quân chính Hoàng Phố trong những năm 1925-1927.

        Đồng chí Phùng Chí Kiên (1901-1941) quê Nghệ An vào học khoá V với tên là Mạnh Văn Liễu. Tốt nghiệp, đồng chí gia nhập quân cách mạng và tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu ngày 12 tháng 12 năm 1927. Sau thất bại của công xã Quảng Châu, đồng chí cùng với quân cách mạng rút về Khai phong và Lục Phong xây dựng khu Xô-viết: "Với cương vi đại đội trưởng quân cách mạng, đồng chí đã cùng cán bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc chịu đựng gian khổ, kiên trì bảo vệ cách mạng"18. Tháng 2 năm 1941, đồng chí trở về nước. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 ở Pắc Bó, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn-Vũ Nhai và trung đội Cứu quốc quân I. Tháng 7 năm 1941, trên đường đưa trung đội du kích rút về biên giới để bảo vệ lực lượng, đồng chí đã bị giặc phục kích và hy sinh ngày 21 tháng 8 năm 1941.

        Với sự giúp đỡ tận tâm của những cố vấn quân sự, chính trị Liên Xô, Trường Quân chính Hoàng Phố đã thực hiện được mong muốn của Tôn Dật Tiên, đã đào tạo được những cán bộ quân sự vào lớp đầu tiên của cách mạng Trung Quốc, Việt Nam và Triều Tiên. Đó chính là những cán bộ quân sự đầu tiên trong sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng theo mô hình Hồng quân Liên Xô. Và đội quân đó đã sát cánh cùng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đưa cách mạng mỗi nước tới những thắng lợi to lớn ngày nay.

----------------
        16. Xem: K.Kô-bê-lép, Hồ Chí Minh, NXB Đội cận vệ Thanh niên, bản tiếng Nga, M, 1979, tr. 118.

        17. Xem: Huỳnh Kim Khánh, Vietnamese Communium 1925-1927, lthaca and Lon don, p. 77.

        18. Những người cộng sản trên quê hương Nghệ Tĩnh, tập 1 , BNCLS Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tỉnh xuất bản 1978. tr. 148, 189.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:32:05 AM

VỀ BẢN CHỈ THỊ “NHẬT-PHÁP BẮN NHAU VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TA”1

LÊ KIM       

        Cách đây đúng 60 năm, tối ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đã tiến hành đảo chính quân sự, lật đổ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương. Liền sau đó, bản chỉ thị ngày 12 tháng 3 năm 1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, do Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo, nhan đề "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã kịp thời đề ra những chủ trương nhạy bén, sáng suốt, làm dấy lên một cao trào cách mạng chưa từng thấy, cùng với các quyết định khác nhanh chóng dẫn đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám hoàn toàn thắng lợi.

        Có thể nói, bản chỉ thị này là một nét vàng trong pho sử đấu tranh cách mạng, một trong những mốc son rực rỡ trên chặng đường dài giải phóng dân tộc của toàn dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản quang vinh, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

        Tuy nhiên, những năm gần đây có một số bài báo, thậm chí cả một số cuốn sách chọn lọc, đã ghi lại khá nhiều sự kiện chưa thật chính xác xung quanh quá trình soạn thảo và ban hành bản chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, gây nên những hiểu biết sai lệch của người đọc, nhất là những người thuộc thế hệ trẻ. Xin phép được nêu lên một vài dẫn chứng:

        Năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn "Trường Chinh-Một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng", dày hơn 900 trang, khổ 16,5 x 24,5cm, gồm các bài hồi ký của những tác giả đã một thời gần gũi và hiểu biết nhiều về đồng chí Trường Chinh. Mặc dù vậy, trong các sự kiện có liên quan đến sự ra đời của bản chỉ thị lịch sử Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta vẫn có những đoạn nhầm lẫn quan trọng, cần phải "bàn thêm cho rõ". Ví dụ: Bài Trường Chinh-Một nhà lãnh đạo tài năng của cách mạng Việt Nam kể lại: … Ngay sau đêm Nhật đảo chính hất cẳng Pháp (9-3-1945) đồng chí đã chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng, ra chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" (sách đã dẫn, tr. 24).

        Một bài khác, đăng ở trang 595 cũng nhớ lại: "... Ngay sau khi cuộc đảo chính Nhật, Pháp ngày 9-3-1945 xảy ra, đồng chí (Trường Chinh) đã triệu tập cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng, từ đó đề ra chỉ thị nổi tiếng "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”...".

        Một bài nữa đăng trên trang 104, có đoạn viết: "Ngày 9-3-1945, đồng chí Trường Chinh đã triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng ở Đình Bảng (Bắc Ninh) ra chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", v.v...".

        Cuốn Lịch sử Cách mạng Tháng Tám 1945, cũng do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1995, kể lại một cách chi tiết cụ thể hơn: "Ngày 8-3-1945, tin từ cơ sở cách mạng trong một nhà in, một số nhân mối trong binh lính và từ một số cá nhân, nhân sĩ yêu nước ở Hà Nội báo cho ban Thường vụ Trung ương và đồng chí Trường Chinh đang hoạt động ở ATK Trung ương, Toàn quyền Decoux bị nhà cầm quyền Nhật gọi vào Sài Gòn, quân Nhật ở Hà Nội có lệnh cấm trại, chuẩn bị vũ khí, lương thực; quân Pháp cũng đã được báo động. Nhận được tin ấy, với tinh thần nhạy bén, Tổng Bí thư Trường Chinh nhận định: "Nhật lật Pháp đến nơi và lập tức quyết định họp Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng... " (tr. 111, 112), v.v…

        Sự thật không hoàn toàn diễn ra đúng như trên. Như nhiều người đã rõ, trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta không tập trung mà phân tán ở nhiều nơi, tại nhiều địa điểm bi mật và luôn luôn thay đổi chỗ trú đóng. Việc thông tin liên lạc trong suốt thời kỳ này không thể và cũng không có các phương tiện điện thoại hữu tuyến hoặc vô tuyến mà hoàn toàn do liên lạc viên đảm nhiệm. Vì thế, không thể "ngày 8 tháng 3 được tin Nhật Bản chuẩn bị tiến hành đảo chính, tối ngày 8 triệu tập họp, sáng ngày 9 đã có thể khai mạc Hội nghị", như đã viết. Hơn nữa, những tin tức tình báo quân sự do phía Pháp thu lượm được và do chính những nhân chứng lịch sử quan trọng như Toàn quyền Decoux, Tổng tư lệnh Aymé, Tư lệnh các lực lượng kháng chiến bí mật Mordant, Tư lệnh sư đoàn Bắc Kỳ Sabattier... tiết lộ sau khi chiến tranh kết thúc, đều thống nhất thừa nhận, từ đầu tháng 3 năm 1945, Pháp đã "nhiều lần nhận được tin Nhật Bản sẽ tiến hành "đảo chính trong 24 giờ tới" nhưng sau đó lại "không thấy có gì xảy ra" nên càng thêm chủ quan, rơi vào cái "bẫy nghi binh" của Nhật Bản. Tin cuối cùng về cuộc đảo chính do Pháp nhận được là cuộc đảo chính sẽ "bùng nổ vào tối ngày 8-3", do đó chỉ có một sư đoàn Bắc Kỳ nhận được lệnh báo động và rời khỏi doanh trại (để rút sang Trung Quốc). Tối ngày 8 tháng 3, Thống sứ Bắc Kỳ đã phát lệnh báo động bí mật cho tất cả các công sứ đứng đầu các tỉnh, nhưng suốt đêm 8 và cả ngày 9 tháng 3 vẫn không thấy Nhật Bản hành động, vì vậy "đã phát lệnh báo yên thì cuộc đảo chính lại bùng nổ vào lúc 20 giờ 45 phút tối ngày 9 tháng 3".

------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số tháng 3-2005.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:32:30 AM

        Về phía Đảng ta và cụ thể Tổng Bí thư Trường Chinh hồi đó, đã nhận định về việc "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" như thế nào?

        Nếu đọc lại một loạt bài viết của đồng chí Trường Chinh đăng trên tờ Cờ giải phóng, lưu hành bí mật trong những năm 1943, 1944 và những ngày đầu năm 1945 trước khi bùng nổ cuộc đảo chính Nhật-Pháp, chúng ta thấy:

        Trên báo Cờ giải phóng số ra ngày 28 tháng 7 năm 1944, có đăng bài xã luận nhan đề Phải tiến gấp (sau này được biết rõ là do đồng chí Trường Chinh viết), trong đó nhấn mạnh: "Cả Đông Dương như một cánh đồng cỏ khô, tàn lửa cách mạng động rơi vào đâu cũng có thể bốc cháy. Hai quân thù Nhật, Pháp cầm cự, giữ miếng nhau… (nhưng) Nhật, Pháp sẽ bắn nhau...". Nhận định này xuất phát từ tình hình lực lượng Đồng minh đang phản công thắng lợi ở Philippin, đối diện ngay bán đảo Đông Dương, lúc đó là chiếc cầu nối tiền tuyến với hậu phương Nhật Bản. Nếu lực lượng Đồng minh đổ bộ lên chiếc cầu này thì nhất định quân đội Pháp ở Đông Dương sẽ đánh vào phía sau lưng quân đội Nhật Bản đang chiếm đóng xứ này. Mặt khác, đứng trước tình hình đó, quân đội Nhật Bản cũng nhất định không chịu rơi vào thế bị động và rất có thể sẽ ra tay trước, thanh toán lực lượng Pháp trước khi quân Đồng minh đổ bộ để trừ hậu hoạ. Đó là những phân tích rất khoa học mà Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh và giữ trọng trách Tổng Bí thư là đồng chí Trường Chinh, đã thể hiện trên một loạt bài báo tiếp theo. Vấn đề là phải hành dộng như thế nào để kịp đón bắt thời cơ.

        Trong bài viết nhan đề Cái nhọt bọc sẽ phải vỡ mủ, số ra ngày 28 tháng 9 năm 1944, đồng chí Trường Chinh đã đi từ nhận định "Nhật-Pháp sẽ bắn nhau” đến khẳng định "Nhật-Pháp nhất định sẽ bắn nhau”, để đưa ra lời kêu gọi: "Hỡi quốc dân đồng bào… Hỡi các chiến sĩ cứu quốc!... Phải kíp mài gươm, lắp súng để mai đây Nhật-Pháp bắn nhau kịp nổi dậy tiêu diệt chúng, giành lại giang sơn Tổ quốc...".

        Trên cơ sở một loạt bài đăng trên Cờ giải phóng trong nửa cuối năm 1944 (mà hai bài trên chỉ là tiêu biểu), có thể nói Tổng Bí thư Trường Chinh hồi đó đã rất trăn trở xoay quanh sự kiện "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Với sự trăn trở này, dứt khoát không thể chờ đến khi Nhật, Pháp bắt đầu bắn nhau mới tính đến chuyện hành động, mà phải tính toán từ trước. Thêm một dẫn chứng nữa để xác minh rõ:

        Từ năm 1991, Nhà xuất bản Sự thật đã xuất bản một cuốn sách chứa đựng nhiều tư liệu rất quý chung quanh sự ra đời của bản chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Đây là một cuốn sách nhỏ, khổ 13x19cm, gồm hai tập, dày tổng cộng 358 trang, nhan đề "Đồng chí Trưởng Chinh", do đồng chí Đức Vượng biên soạn, đồng chí Hoàng Tùng hiệu đính. Đây là một cuốn tư liệu đáng tin cậy vì không chỉ dựa vào các văn bản gốc mà còn dựa vào "những lời kể của chính đồng chí Trường Chinh” hiện còn lưu trữ (sách đã dẫn, tập 2, trang 136). Những tư liệu kể trên cho biết: đồng chí Trường Chinh "quyết định triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương (mở rộng) vào một ngày đầu tháng 3 năm 1945” chứ không phải đến tối ngày mùng 8 hoặc sáng ngày 9 (thậm chí có bài báo còn viết là ngày 10 tháng 3 năm 1945) mới triệu tập. Thời điểm họp "được ấn định vào ngày 7 tháng 3 năm 1945", tức là trước khi Nhật Bản tiến hành đảo chính.

        Cuốn sách cho biết thêm: "trong lúc chờ đợi các đồng chí về dự họp, đồng chí Trường Chinh tranh thủ viết báo cáo để trình bày tại hội nghị" và "cắm cúi khởi thảo chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” tại một cơ sở bí mật ở xã Vân Nội, huyện Đông Anh, sau đó mới rời Vân Nội sang chùa Đồng Kỵ để họp" và đồng chí "đã đến chùa Đồng Kỵ thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh vào lúc hoàng hôn ngày 7 tháng 3 năm 1945. Căn cứ vào giấy triệu tập thì ngày 7 tháng 3 anh em sẽ có mặt tại chùa Đồng Kỵ. Song, do khó khăn về việc đi lại, nhiều đồng chí ở xa, mãi tới lúc xâm xẩm tối ngày 9 tháng 3 những người được triệu tập mới có mặt đầy đủ (tr. 43).


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:32:51 AM

        Cuốn sách kể lại rất tỉ mỉ: “Đồng chí Trường Chinh là người đến sớm hơn cả. Đồng chí rất nóng ruột, ra ngóng vào trông, chờ mãi anh em mới tới. Thời kỳ bí mật, các đồng chí không thể họp đông, nhưng được gặp nhau lúc ấy mà đủ mặt là điều đáng mừng" (tr. 44). Sách còn chú thích rõ "Bác Hồ và đồng chí Hoàng Quốc Việt-ủy viên Thường vụ Trung ương, lúc này đang công tác tại Trung Quốc. Các ủy viên Trung ương khác do Hội nghị Trung ương tháng 5 năm 1941 bầu ra, có người bị địch bắt, có đồng chí bị hy sinh, có đồng chí ở xa nên vắng mặt. Dự Hội nghị Thường vụ Trung ương lần này chỉ có: đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Trung ương Đảng, chủ trì hội nghị; Nguyên Lương Bằng-ủy viên Trung ương bổ sung cuối năm 1943; Lê Đức Thọ-ủy viên Trung ương bổ sung cuối năm 1944; Nguyễn Văn Trân, Lê Thanh Nghị-đại diện Xứ ủy Bắc Kỳ".

        Vẫn theo tường thuật trong sách, "đồng chí Trường Chinh vừa mới nói được mấy câu khai mào hội nghị thì có động. Từng người một phải lần lượt lủi ra vườn sau, lách qua khóm tre thoát ra cánh đồng. Một lát sau chợt thấy từ phía Hà Nội loé lên những ánh chớp. Rồi, tiếng súng lớn, súng nhỏ thi nhau nổ. Một vài đám cháy bốc lên. Rõ ràng, Hà Nội lúc này đang có biến… ".

        Với những tư liệu trên (ghi theo lời kể của đồng chí Trường Chinh ngày 15-7-1987 và biên bản cuộc toạ đàm ngày 10-8-1988, hiện còn lưu trữ), có thể khẳng định, Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng) đã được triệu tập từ sớm, ít nhất giấy triệu tập cũng đã được gửi đi trước một tuần và ngày họp cũng đã được ấn định.

        Với tiến trình này, có thể khẳng định thêm, mục đích ban đầu của Hội nghị là thảo luận nhận định do đồng chí Trường Chinh khởi thảo, với nội dung chủ yếu là "Nhất định Nhật, Pháp sẽ bắn nhau. Chúng ta phải làm gì để đón bắt thời cơ này?" . Tiếng súng đảo chính bùng nổ một cách trùng hợp hồi 20 giờ 45 phút tối ngày 9 tháng 3 giữa lúc hội nghị vừa khai mạc (muộn hơn dự định hai ngày) đã như một cái "đanh đóng cột" chứng minh hùng hồn nhận định vô cùng sáng suốt nhạy bén, kịp thời của Đảng ta. Trong cuộc họp tiếp theo (phải di chuyển địa điểm thêm hai lần nữa), dĩ nhiên hội nghị không bàn đến chuyện Nhật, Pháp sẽ bắn nhau nữa, mà chuyển sang chủ đề "Nhật, Pháp đã bắn nhau rồi đấy" và từ đó thảo luận quyết nghị về những hành động của chúng ta.

        Do nhiều lần chuyển địa điểm, cho nên mãi "đến khoảng 11 giờ trưa ngày 12 tháng 3 năm 1945 hội nghị mới kết thúc trong niềm phấn chấn lạ thường" (tr. 53). Đồng chí Trường Chinh từ Đình Bảng trở về cơ sở cũ ở Vân Nội, bắt tay vào việc hoàn chỉnh bản chỉ thị lịch sử của Thường vụ Trung ương gồm gần 4.000 từ, chứa đựng trong 6 mục: Nhận xét tình hình; Điều kiện mới do tình thế mới nảy sinh; Chiến thuật của Đảng thay đổi; Thái độ của ta đối với việc kháng chiến của Pháp và việc lập Mặt trận Dân chủ chống Nhật ở Đông Dương; Những công việc cần kíp; Sẵn sàng hưởng ứng quân Đồng minh" (tr. 55). Bản chỉ thị này đề ngày 12 tháng 3 năm 1945 là thời điểm kết thúc Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng, nhưng thực tế đến ngày 14 tháng 3 mới in xong để phát hành.

        Toàn bộ diễn biến và sự ra đời của bản chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta là như vậy. Rất đáng tiếc là, nếu như cuốn sách xuất bản năm 1991 chứa đựng nhiều tư liệu gốc rất đáng tin cậy thì những cuốn xuất bản năm 1995, 2002... lại có khá nhiều sự nhầm lẫn. Đó cũng là điều khó tránh vì thời gian càng lùi xa, các nhân chứng lịch sử càng tuổi cao, sức yếu, dễ quên, dễ nhầm là chuyện rất bình thường. Có điều, sách không viết chính xác thì sẽ kéo theo một loạt bài báo (chủ yếu của thế hệ trẻ) cũng lại viết nhầm lẫn, thậm chí còn kèm theo những bình luận, suy luận không xác đáng. Vì vậy, rất cần phải dày công nghiên cứu để sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ, nhất là đối với những sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:35:48 AM

TRAO ĐỔI THÊM VỀ NGÀY THÀNH LẬP CHIẾN KHU TRẦN HƯNG ĐẠO VÀ GIẢI PHÓNG TỈNH LỴ QUẢNG YÊN1

VŨ TRỌNG HOAN       

        Trong cuốn "Chiến khu Trần Hưng Đạo" do Bộ tư lệnh Quân khu 3 chỉ đạo biên soạn và NXB Quân đội nhân dân ấn hành năm 1993, ở phần Lời nói đầu có ghi: "... ngày 8 tháng Sáu năm Ất Dậu (1945) trên đất Đông Triều, Chí Linh đã nổ ra cuộc khởi nghĩa vũ trang và thành lập Đệ Tứ chiến khu Trần Hưng Đạo" và sau đó chú thích như sau: "Chiến khu Trần Hưng Đạo thành lập ngày 8 tháng Sáu năm Ất Dậu (tức ngày 16 tháng 7 năm 1945 dương lịch)". Chúng tôi (tức các tác giả sách) đã thẩm định và được các nhân chứng lịch sử của Chiến khu Trần Hưng Đạo thừa nhận. Những ngày đánh chiếm Uông Bí, Bí Chợ, tỉnh lỵ Quảng Yên đều lấy theo ngày âm lịch… "2.

        Qua nghiên cứu một số ấn phẩm lịch sử do Viện Lịch sử quân sự Việt Nam và các địa phương trên địa bàn Quân khu 3 xuất bản, bài viết này xin được trao đổi một số ý kiến như sau:

        Như chúng ta đã biết, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ họp từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 4 năm 1945 tại Hiệp Hoà (Bắc Giang), do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì, đã quyết định xây dựng 7 chiến khu trong cả nước, trong đó có Chiến khu Trần Hưng Đạo. Sau đó, đồng chí Lê Thanh Nghị-Xứ ủy viên, ủy viên Thường vụ ủy ban quân sự Bắc Kỳ, được phân công chỉ đạo việc thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo.

        Thực hiện chủ trương của Trung ương, Hội nghị Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Hải Dương họp tại Đông Thôn (Thanh Miện) cuối tháng 4 năm 1945 đã quyết định xây dựng căn cứ chống Nhật tại vùng rừng núi Chí Linh-Đông Triều và giao cho hai tỉnh ủy viên là Trần Cung và Hải Thanh đang phụ trách phong trào hai huyện này trực tiếp xúc tiến công tác xây dựng căn cứ, sau đó tăng cường thêm đồng chí Nguyễn Bình và một số đồng chí khác.

        Ngày thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo được xác định là ngày đánh thắng bốn đồn địch (Đông Triều, Chí Linh, Tràng Bạch, Mạo Khê), diễn biến tóm tắt của sự kiện này như sau:

        Sau thời gian củng cố tổ chức Đảng, phát động phong trào quần chúng, chuẩn bị lực lượng vũ trang, tối ngày 7 tháng 6 năm 1945, tại nhà hội viên cứu quốc Nguyễn Kim Ngọc (làng Đạm Thủy, trong khu căn cứ Đông Triều-Chí Linh), ban lãnh đạo khu căn cứ họp bàn bổ sung lần cuối nhiệm vụ đánh chiếm các vị trí của địch cho từng bộ phận:

        - Đồng chí Nguyễn Bình phụ trách lực lượng du kích đánh đồn Đông Triều, phối hợp có lực lượng làm nội ứng của Nguyễn Hiền.

        - Đồng chí Hải Thanh chỉ huy lực lượng du kích phối hợp với quân phỉ của Lương Đại Bân đánh đồn Chí Linh.

        - Đồng chí Trần Cung, có lực lượng của Nguyễn Văn Đài phối hợp, đánh đồn Tràng Bạch và tước vũ khí của bọn chủ mỏ Mạo Khê.

        - Sư Tuệ sử dụng lực lượng Việt Minh tại chỗ tước vũ khí của quân địch ở phủ lỵ Kinh Môn.

        Đêm 7 rạng ngày 8 tháng 6 năm 1945 đã diễn ra 4 trận đánh vào các vị trí Đông Triều, Chi Linh, Tràng Bạch, Mạo Khê. Do làm tốt công tác địch vận, phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng du kích, lực lượng làm nội ứng và quần chúng nhân dân, nên ở cả bốn vị trí, quân địch đều nhanh chóng đầu hàng và giao nộp toàn bộ vũ khí cho quân cách mạng. Chỉ có nhiệm vụ tước vũ khí ở phủ Kinh Môn là chưa thực hiện được (ngày 10 tháng 6 năm 1945 ta mới hoàn thành được nhiệm vụ này).

        Ngày 9 tháng 6 năm 1945 trong cuộc mít tinh được tổ chức tại sân đình Hổ Lao, đồng chí Trần Cung, thay mặt ban lãnh đạo khởi nghĩa, tuyên bố thành lập chiến khu kháng chiến. Đồng chí Nguyễn Bình, đại tiện ủy ban quân sự cách mạng, long trọng đọc 7 điều kỷ luật của du kích cách mạng quân. Với thành tích đánh thắng bốn đồn địch, ngày 8 tháng 6 năm 1945 được lấy làm ngày chính thức ra đời Chiến khu Trần Hưng Đạo.

        Về mốc thời gian trên, sách "Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam", tập 1 (NXB QĐND, H, 1994) và lịch sử các địa phương đều xác định là ngày 8 tháng 6 nhưng không chú thích như cuốn "Chiến khu Trần Hưng Đạo" của Quân khu 3, nên độc giả vẫn hiểu đó là ngày dương lịch.

----------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 6-2002.

        2. Bộ Tư lệnh Quân khu 3. Chiến khu Trần Hưng Đạo, NXB QĐND, Hà Nội, 1993, tr. 5.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:36:29 AM

        Do âm lịch và dương lịch chênh nhau 38 ngày (theo cuốn “Lịch thế kỷ XX” do Bộ Văn hóa Thông tin xuất bản năm 1992) nên khi đổi từ ngày âm lịch sang ngày dương lịch, đã nảy sinh một số ý kiến khác nhau:

        - Có ý kiến cho rằng: Nếu coi việc chính thức ra đời Chiến khu Trần Hưng Đạo có tác động mạnh mẽ nhiều mặt đến việc xây dựng phát triển các lực lượng vũ trang cách mạng trên địa bàn Chiến khu giai đoạn tiền khởi nghĩa và trong Cách mạng Tháng Tám như các cuốn sử đã nêu, thì có lẽ ngày 8 tháng Sáu âm lịch (16-7 dương lịch) là hơi muộn vì một khoảng thời gian ngắn như vậy khó có thể tiến hành được hàng loạt công việc, đặc biệt là xây dựng, phát triển các lực lượng vũ trang đủ sức hoàn thành các nhiệm vụ trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, dù rằng ở Chiến khu và một vài địa phương ta đã có một số đội du kích. Về vấn đề này, theo chúng tôi có thể cắt nghĩa được, bởi trên thực tế, việc xúc tiến thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo đã được thực hiện ngay sau Hội nghị Tỉnh ủy lâm thời Hải Dương. Quá trình chuẩn bị lực lượng cách mạng, ta đã phát triển được nhiều tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng cách mạng và nhiều đội du kích làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh ở các địa phương, nên khi tuyên bố chính thức thành lập Chiến khu, ta đã có sẵn lực lượng trong tay để hành động. Như vậy, về mặt thời gian, ta vẫn hoàn toàn có thể bảo đảm việc tiếp tục xây dựng, phát triển lực lượng, đáp ứng yêu cầu của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.

        - Về việc đánh chiếm bốn đồn đích trong đêm 7 rạng ngày 8 mà quân Nhật không có phản ứng gì đáng kể… Theo chúng tôi, trong bối cảnh lịch sử lúc đó, khi mà phát xít Đức đã đầu hàng Hồng quân Liên Xô, quân Nhật bị thua đau ở mặt trận Thái Bình Dương, nên ở Đông Dương, binh lính Nhật bị tác động tinh thần rất mạnh. Trên chiến trường Việt Nam, do thiếu quân, nhiều nơi chúng đã phải co về cố thủ trong các thành phố, thị xã. Nhiều đồn bốt trước đây do quân Nhật chiếm đóng, nay hoàn toàn do binh lính người Việt canh giữ. Số binh lính này rất hoang mang dao động, nên khi được ta tuyên truyền vận động, đã sẵn sàng ngả theo cách mạng. Hơn nữa từ sau ngày 15 tháng 5 năm 1945, Việt Nam Giải phóng quân được thành lập, đã mở rộng hoạt động ra các khu vực xung quanh Bắc Ninh, Bắc Giang-một địa bàn gần sát với Chiến khu Trần Hưng Đạo và tiến xuống các tỉnh phía Nam. Ở Chiến khu Quang Trung, nhiều đội du kích ra đời đang tích cực hoạt động đánh địch ở các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá. Do thế và lực của ta đã mạnh, nên ở nhiều nơi, trước các hoạt động ráo riết của Việt Minh, quân Nhật chỉ án binh bất động hoặc phản ứng nhỏ giọt, khả năng ứng cứu giải toả các đồn binh khi bị ta tấn công rất hạn chế. Việc ta đánh bốn đồn binh ngày 8 tháng Sáu (trước khi nổ ra Tổng khởi nghĩa khoảng 1 tháng) hoàn toàn có thể thực hiện được bởi các đồn này đều do binh lính người Việt canh giữ, số binh lính này tinh thần đã rất hoang mang rêu rã, lại được ta vận động giác ngộ từ trước (đồn Đông Triều lớn nhất thì đồn trưởng Nguyễn Hiền là nội ứng của ta), nên chẳng những lính địch không chống cự mà còn phối hợp, giúp đỡ quân du kích chiếm đồn và thu vũ khí. Sở dĩ nêu vấn đề này vì có ý kiến cho rằng lúc đó quân địch còn đang mạnh, chúng sẽ phản ứng quyết liệt và việc đánh bốn đồn của ta không diễn ra dễ dàng như vậy.

        Gần đây, theo tài liệu của thân nhân đồng chí Đại tá Nguyễn Huy (nguyên là Chánh Văn phòng của Đệ tứ chiến khu trước đây) thì ngày 8 tháng Sáu năm 1945 là ngày âm lịch vì lúc đó mọi công văn của Chiến khu do đồng chí phụ trách đều ghi và sử dụng theo ngày âm lịch. Cũng theo đồng chí Huy thì hôm thành lập Đệ tứ chiến khu là ngày phiên chợ Bác Mã, mà ngày 8 tháng Sáu (âm lịch) mới là ngày phiên chợ.

        Trong hội thảo ở Chí Linh, đồng chí Trần Cung cũng cho biết sau khi đánh đồn Thiên (đồn Chí Linh) ít lâu, đồng chí đã xử một số tên phản động ở chợ Ngát. Các đồng chí ở Ban chỉ huy quân sự huyện Chí Linh cho biết thân nhân của những người bị xử hiện vẫn làm giỗ vào ngày 15 tháng Sáu (ârn lịch).

        Như vậy, ngày thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo là ngày 8 tháng Sáu âm lịch (tức 16-7-1945 dương lịch) là hoàn toàn có cơ sở khoa học.

        - Về ngày giải phóng tỉnh lỵ Quảng Yên, sự kiện này có thể được tóm tắt như sau: Chiều ngày 20 tháng 7 năm 1945, sau khi các thuyền của ta đã tập kết lực lượng chiến đấu ở bãi sú (bên Phụng Cốc-Hà Nam) sẵn sàng đợi lệnh thì được tin có 4 thanh niên Đại Việt từ Hải Phòng sang, bọn này vào dinh Tỉnh trưởng dùng súng uy hiếp định ép Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thanh bàn giao chính quyền cho chúng. Trước tình hình đó, Nguyễn Bình cùng một số đồng chí vào dinh Tỉnh trưởng thuyết phục đám thanh niên Đại Việt, buộc chúng phải rút ra ngoài, đồng thời quyết định đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên ngay trong đêm 20 tháng 7.

        19 giờ ngày 20 tháng 7, các đơn vị ta đổ bộ lên phố Chợ rồi chia làm hai hướng nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu được giao. Tiểu đội Ký Con tiến về phía phà Rừng, các đơn vị khác tiến vào đồn Bảo an binh. Trong thị xã, tổ trinh sát do các đồng chí Quách Lĩnh, Hùng Phong chỉ huy, cắt đứt dây điện thoại của địch liên lạc với Hải Phòng, Hòn Gai, rồi tiếp cận kho bạc. Nguyễn Bình cùng Sơn Vi vào đồn gặp viên quan một tên là Tiếp, yêu cầu hắn ra lệnh cho binh lính hạ vũ khí đầu hàng quân cách mạng. Cùng thời gian này, Tiểu đội Ký Con tiến vào huyện Yên Hưng tước khí giới của bọn lính cơ. Như vậy, trận đánh tỉnh lỵ Quảng Yên và huyện Yên Hưng diễn ra nhanh gọn ngay trong đêm ngày 20 tháng 7 năm 1945. Trận này ta thu được 500 khẩu súng các loại và nhiều đạn dược, quân trang, quân dụng.

        Nếu mốc thời gian (20-7) là ngày âm lịch thì khi đổi ra dương lịch đã là ngày 27 tháng 8 năm 1945, khi đó hầu hết các tỉnh thuộc Chiến khu Trần Hưng Đạo và trong cả nước đã giành được chính quyền, như vậy sẽ không phù hợp với nhận đinh tỉnh lỵ Quảng Yên "là tỉnh lỵ đầu tiên mà quân cách mạng đã chiếm được trong thời kỳ tiền khởi nghĩa": đã “tạo điều kiện thuận lợi phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang và đẩy mạnh phong trào cách mạng tiến lên giành thắng lợi trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám ở vùng duyên hải Đông Bắc" mà lịch sử các địa phương và chính các tác giả cuốn “Chiến khu Trần Hưng Đạo" đã đưa ra.

        Do vậy theo chúng tôi, chỉ có ngày 8 tháng Sáu đánh chiếm bốn đồn (Đông Triều, Chí Linh, Tràng Bạch, Mạo Khê) là ngày âm lịch, còn ngày giải phóng tỉnh lỵ Quảng Yên (20-7) lại là ngày dương lịch.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:41:09 AM

MẤY Ý KIẾN NHỎ GÓP VÀO BÀI TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA BÁC HỒ TRONG TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP1

TRỊNH VƯƠNG HỒNG       

        Bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945 là một văn kiện lịch sử vô giá, một áng vặn chương bất hủ. Đã từ lâu, bản Tuyên ngôn nổi tiếng đó đã được giới chuyên môn trong và ngoài nước, ở các góc độ khác nhau, nghiên cứu toàn diện và sâu sắc. Riêng lời mở đầu bản Tuyên ngôn-câu trích trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776, theo chúng tôi biết, cũng đã có nhiều công trình đề cập tới2.

        Gần đây, tác giả Trần Cư trong bài Tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ trong Tuyên ngôn độc lập, đăng trên Nghiên cứu Lịch sử quân sự, số 18, tháng 9 năm 1985, đã đề cập trở lại vấn đề trên. Mặc dầu tiêu đề bài như trên, song tác giả chỉ khoanh vào phạm vi "một đối tượng đặc biệt” Bác Hồ đã nhằm khi viết Tuyên ngôn độc lập3.

        Nghiên cứu, cho dù chỉ ở vài khía cạnh nào đó, về bản Tuyên ngôn do vị lãnh tụ thiên tài và kính yêu của nhân dân ta thảo ra là rất đáng hoan nghênh và trân trọng. Song, ở một số khía cạnh, nhất là trong cách lập luận và lý giải việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trích Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ, của bài nói trên, chúng tôi thấy có điểm cần phải bàn thêm.

        Với động cơ tha thiết cùng tác giả trao đổi về một số khía cạnh mà bài viết đã nêu lên để đi đến một cách hiểu đúng, thống nhất, chúng tôi mạnh dạn trình bày một số suy nghĩ, mong được sự đồng cảm của tác giả.

        Như đã biết, vấn đề mà tác giả chú tâm tìm hiểu, cũng được một số nhà nghiên cứu nước ngoài đề cập với những cách giải khác nhau.

        Phi-líp Đơ-vi-le, trong Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952, viết:

        “Bản Tuyên ngôn kỳ lạ mở đầu bằng một câu trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ và trích dẫn Tuyên ngôn nhân quyền Pháp năm 1791. Song tiếp theo lời dạo đầu đầy hứa hẹn như vậy là bản cáo trạng mạnh mẽ bất công đối với chế độ thuộc địa của Pháp và tuyên bố sự tan vỡ của nó...

        Bản Tuyên ngôn không hề nhắc gì về Liên Xô.

        Việt Minh đã giành được chính quyền nhưng họ còn phải đưa cách mạng đến thắng lợi… Đối với họ lúc bấy giờ là bảo toàn những thắng lợi đó khi quân Đồng minh đến đấy; hơn nữa những thắng lợi này có lẽ cũng còn mong manh khi những lãnh tụ của nó trên thực tế cũng còn xa lạ đối với dân chúng Việt Nam"4.

        Thật ra, ngay từ giữa tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng ta họp ở Tân Trào đã chỉ ra "mâu thuẫn giữa hai phe đồng minh Anh-Pháp và Mỹ-Trung Quốc về vấn đề Đông Dương”5 và đề ra chủ trương đối phó với quân Đồng minh khi chúng kéo vào nước ta6. Vậy nên, việc trích Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp không phải là một thủ thuật, càng không phải là để lấy lòng quân Đồng minh sẽ kéo đến khi chính quyền của ta còn non trẻ. Đặt vấn đề như Đơ-vi-le là không đúng sự thật.

        Ý kiến của giáo sư Nhật Bản Sin-gô Si-ba-ta cũng khiến chúng ta suy nghĩ. Trong bài Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng, cũng viết: "… Cụ Hồ Chí Minh còn có một đóng góp quan trọng về mặt lý luận và tư tưởng. Người đã đặc biệt làm sâu thêm lý luận về vấn đề dân chủ, quyền dân tộc tự quyết và những quyền dân tộc cơ bản. Trong lĩnh vực này, chúng ta không được xem nhẹ bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Cụ Hồ Chí Minh thảo ra và đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945.

---------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số4-1986.

        2. Xem: Phi-líp Đơ-vi-le: "Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952", Pa-ri, 1952, tr. 143.

        3. Do Trần Cư nhấn mạnh. Kể từ đây, những đoạn trích không có chú thích đều ở bài Tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ trong Tuyên ngôn độc lập, Nghiên cứu lịch sử quân sự, số 18, tháng 9 năm 1985.

        4. Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952, Sđd, tr. 143.

        5, 6. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Văn kiện Đảng (1930-1945), H, 1977, tập 3, tr. 413.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:42:06 AM

        Những lời trích dẫn trên cho thấy rằng những tư tưởng thể hiện trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng là tư tưởng của Cụ Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam là sự kế thừa tư tưởng của cuộc cách mạng độc lập ở Mỹ và cuộc cách mạng Pháp (chữ nghiêng trong bản in-TVH) . Tính chất độc đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã kế thừa những tư tưởng này và mở rộng quyền của con người thành quyền của dân tộc trong nền dân chủ tư sản, quyền lợi của con người, quyền lợi của cá nhân được coi như là cơ sở cho quyền lợi của cách mạng. Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc”7.

        Như chúng tôi đã có dịp trao đổi với ý kiến trên8, Chủ tịch Hồ chí Minh sử dụng Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ cũng như Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp không phải là việc phát huy tư tưởng cách mạng tư sản về quyền con người và mở rộng thành quyền lợi dân tộc. Ở đây chỉ là việc sử dụng một cách tài tình, nhuần nhuyễn các nguyên tắc của cách mạng tư sản để phục vụ cho sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó là một sách lược cách mạng. Tư tưởng về dân tộc và thuộc địa của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng của Lê-nin về quyền dân tộc tự quyết mà Người đã tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo trong thực tiễn cách mạng và làm cho phong phú thêm.

        Trong bối cảnh nêu trên, việc đặt vấn đề theo hướng của tác giả Trần Cư là rất cần thiết và đáng hoan nghênh. Theo tác giả, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trích Tuyên ngôn độc lập Mỹ chính là do nhằm vào "một đối tượng đặc biệt" là đế quốc Mỹ.

        Chúng tôi hoàn toàn nhất trí rằng, khi đưa câu trích Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ vào bản khai sinh của nước Việt Nam mới tuyên bố trước thế giới và đồng bào về nền độc lập của ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhằm nói với nước Mỹ và nhân dân Mỹ. Song quá nhấn mạnh như cách đặt vấn đề của Trần Cư, e có phần khiên cưỡng.

        Hãy đọc những dòng tác giả Trần Cư đặt vấn đề: “Xin lưu ý câu này của Trần Dân Tiên: Cụ Hồ nói "Trong đời Cụ viết đã nhiều nhưng đền bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như thế”9.

        Tôi hiểu là, vẫn lời tác giả, "suốt 30 năm, đối tượng duy nhất Bác nhằm viết là thực dân Pháp. Nhưng đến bây giờ, do tình hình phát triển, đã xuất hiện một đối tượng mới là đế quốc Mỹ.

        … Vậy thì phải tiến công nó, ngay khi viết bản Tuyên ngôn này".

        Và đây là những dòng cuối bài, dường như là cảm hứng của tác giả: "Như vậy là: Rõ ràng trong bản Tuyên ngôn độc lập, ngoài đối tượng khác, Bác Hồ có dụng ý nhằm một đối tượng đặc biệt cần nêu lên lúc bấy giờ: Đế quốc Mỹ.

        Vì nhằm đối tượng như thế, nên Bác đã viết nó như thế. Do đó mà có câu vui sướng: "Cụ Hồ viết đã nhiều nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như thế”.

        Luận điểm của tác giả về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh "tiến công" vào một đối tượng đặc biệt "là đế quốc Mỹ", qua lời mở đầu Tuyên ngôn độc lập, có nhiều chỗ cần phải bàn cả về nội dung và phương pháp đưa tác giả tới luận điểm. Song, do phạm vi bài viết, chúng tôi xin chỉ trao đổi trên một số khía cạnh.

        Thứ nhất, nếu cho rằng đối tượng duy nhất (chắc tác giả muốn nói là kẻ thù?) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm viết suốt 30 năm trước khi viết Tuyên ngôn độc lập chỉ là thực dân Pháp, thì quả không ổn. Điều này có lẽ miễn phải chứng minh nhiều.

-----------------------
        7. Trích trong Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Sđd , tr. 225-226.

        8. Xem Nghiên cứu Lịch sử, số 144 tháng 5 và 6 năm 1972.

        9. Trần Cư nhấn mạnh.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:43:43 AM

        Mọi người đều biết rằng, là một nhà hoạt động xuất sắc trong phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản quốc tế từ những thập kỷ đầu của thế kỷ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc, trong đó có đế quốc Mỹ. Qua hoạt động lý luận, đương nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc những dòng mà Các Mác, F.Ăng-ghen và nhất là V.I Lê-nin viết về Mỹ; đặc biệt, qua hoạt động thực tiễn, lại từng ở nước Mỹ, nhận thức của Người về đế quốc Mỹ càng sinh động, cụ thể. Những ngày sống và tận mắt chứng kiến chủ nghĩa đế quốc Bắc Mỹ đã để lại ở Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều ấn tượng đặc biệt sâu sắc như hành hình kiểu Lyn-sơ và hoạt động đầy tội ác của đảng 3K, những cuộc bãi công chống chiến tranh, đòi tăng lương của công nhân Mỹ. Gần chục năm sau, vào năm 1924, các ấn tượng sâu sắc ấy sống lại trong những bài báo có giá trị đặc biệt của Người về các chủ đề trên. Và, năm 1918, Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, đã gửi đến Hội nghị Véc-xay bản yêu sách gồm 8 điểm đòi độc lập cho Việt Nam, những yêu cầu khá gần với 14 điểm của Uyn-xơn10 và trong một mức độ nhất định dường như là sự vận dụng cụ thể vào Việt Nam11. Yêu cầu 8 điểm của Nguyễn Ái Quốc không được bọn đế quốc chú ý. Từ những tri thức thực tiễn đến việc nhận thức tính chất giả dối trong 14 điểm của Uyn-xơn đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh dần dần hiểu một cách sâu sắc bản chất của chủ nghĩa đế quốc nói chung, đế quốc Mỹ nói riêng, như Người đã viết: "...Nhưng sau một thời gian theo dõi nghiên cứu chúng (tức 14 điểm tuyên bố của Uyn-xơn, TVH) tôi nhận thấy rằng "chủ nghĩa Uyn-xơn chỉ là trò bịp lớn", vì vậy "đối với chủ nghĩa đế quốc, ngoài con đường cách mạng đấu tranh đến cùng, không thể có con đường nào khác"12.

        - Bài “Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng" của giáo sư Nhật Bản Sin-gô Si-ba-ta, đăng trong: Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, NXB ST, H, 1971, tập III, tr. 225-226.

        - Phan Ngọc Liên và Trịnh Vương Hồng. Lịch sử nước Mỹ trong tác phẩm của Hồ Chủ tịch, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 144 tháng 5 và 6 năm 1972.

        Tiếp đó, còn có một loạt bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến đế quốc Mỹ. Ví như Người phân tích thái độ phản động của Mỹ đối với nước Nga Xô-viết trẻ tuổi khi cùng với Nhật "đã cho quân đổ bộ lên Vơ-la-đi-vô-xtốc"13, để giúp bọn bạch vệ; về việc Mỹ cùng các nước thắng trận chia chiến lợi phẩm của cuộc chiến tranh thế giới mới do chủ nghĩa đế quốc gây ra mà Mỹ là một phần tử tích cực nhằm tiêu diệt nước Nga Xô-viết và dập tắt phong trào cách mạng thế giới14

        Xem thế đủ biết không phải suốt 30 năm trước 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ "nhằm một đối tượng" là Pháp.

        Thứ hai, rất thú vị với việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trích Tuyên ngôn độc lập Mỹ, Trần Cư cho đây là "một đòn" gậy ông đập lưng ông "tuyệt diệu” tuy còn đôi chút băn khoăn bởi suy luận chủ quan của mình. Bỗng "may thay" khi xem Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình, tác giả nghe được lời của chính Pát-ti thú nhận. Chưa tin, Trần Cư cẩn thận xem đi xem lại đến “ba lần". Và, câu của Pát-ti được Trần Cư coi là “một bằng chứng chính xác và hùng hồn cho lập luận" của mình. Nhưng tiếc thay, theo chúng tôi, câu nói của Pát-ti, không hề củng cố, chứ chưa nói là có thể làm cơ sở cho lập luận của tác giả.

        Câu nói của Pát-ti (trong phím đã dẫn) như sau: "Khi nghe thấy dịch câu mở đầu bản Tuyên ngôn là trích trong bản Tuyên ngôn của nước Mỹ thì tôi không còn tin ở tai tôi nửa".

        Pát-ti ngạc nhiên khi nghe lời mở đầu Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam lại là một câu trích từ Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ. Nhưng đó chỉ là về cảm xúc-tức là hiện tượng. Còn nguyên nhân-bản chất của cảm xúc đó, tức là ông ta ngạc nhiên vì lẽ gì thì bản thân câu trên không nói lên điều gì cả. Chúng tôi nghĩ rằng Trần Cư đã cố tình giải thích cảm xúc của Pát-ti theo ý mình, cho rằng với việc trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đích danh, hơn nữa đã "tiến công" một kẻ thù, tiến công một "đối tượng mới" là đế quốc Mỹ.

--------------------
        10. Tổng thống Mỹ.

        11. Theo bài của Sác-lơ Phuốc-ni-ô trong Hồ Chí Minh, Notre Camarade, Éditions Sociales, 1970, tr. 23.

        12. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng biên soạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh, H, 1960, tr. 8-9.

        13. Xem bài "Đông Dương và Thái Bình Dương" trong Hồ Chí Minh tuyển tập, Sđd, tr. 37.

        14. Xem Nguyễn Ái Quốc, Lên án chủ nghĩa thực dân, NXB ST, H, 1959, tr. 142.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:45:30 AM

        Thật ra, điều này khá phức tạp và tế nhị. Giải thích cho rõ ràng tư tưởng cũng cần tới bao công phu và giấy mực. Nhưng dầu sao, cũng không thể hiểu giản đơn, "thẳng đuột" một chiều như Trần Cư trình bày.

        Như đã biết, dẫu rằng ở phe Đồng minh chống phát-xít, đế quốc Mỹ vẫn là kẻ thù của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là kẻ thù nguy hiểm, trực tiếp của phong trào giải phóng dân tộc, trong đó có Việt Nam. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ giàu lên và vươn tới địa vị sen đầm quốc tế. Do phải tập trung lực lượng đối phó ở Châu Âu, nên với Việt Nam, chúng đã thông qua Tưởng Giới Thạch để thực hiện chính sách bành trướng. Ngoài đế quốc Pháp, cả Mỹ, Tưởng và Anh đều có những âm mưu riêng đối với Việt Nam. Ngay hồi đó, điều này đã được Đảng ta chỉ rõ qua nhiều nghị quyết của mình. Để tập trung lực lượng đối phó với kẻ thù chính là thực dân Pháp, với quân Đồng minh, Đảng chỉ rõ "tránh xung đột, giao thiệp thân thiện”15, tạo điều kiện cho họ giải giáp phát-xít Nhật và sớm rút ra khỏi nước ta.

        Riêng với Mỹ, ta đã có giao thiệp từ sớm-ngay khi Chiến tranh thế giới thứ hai đang tiếp diễn. Việc ta giúp đỡ Trung úy Sao (Shaw)-phi công Mỹ bị nạn ở Việt Nam16, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thương lượng với phái bộ Đồng minh (tức Mỹ) ở Trung Quốc17… tất cả là sự thực hiện một sách lược có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, chứ hoàn toàn không làm sai lạc việc nhận thức về bản chất chủ nghĩa đế quốc nói chung, đế quốc Mỹ nói riêng và âm mưu xâm lược của chúng ở Đông Dương. Vậy là, trong điều kiện phức tạp trong năm đầu của chính quyền cách mạng non trẻ, chúng ta ra sức trung lập Đồng minh và tìm cách để họ sớm rút khỏi nước ta, tránh bị rơi vào thế "một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh"18.

        Mặt khác, nếu chúng ta lưu ý cuốn sách của Pát-ti "Tại sao Việt Nam?” đặc biệt những dòng trích dịch đăng ngay trong Nghiên cứu Lịch sử quân sự, số 18, chúng ta sẽ càng băn khoăn về lập luận của Trần Cư. Đương nhiên không phải mọi điều Pát-ti viết đều dáng tin cậy, song trong đoạn trích dịch đó, ông ta đã miêu tả tỉ mỉ cuộc tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay buổi chiều "trước ngày độc lập" và những lời của Người, thông qua Pát-ti để chuyển tới Chính phủ Mỹ. Sự miêu tả trên đây của Pát-ti về vấn đề này phù hợp với những tư liệu mà chúng ta đã có.

        Khi chúng tôi đang viết bài này thì có sự kiện Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng tiếp đoàn các nhà kinh doanh Mỹ thăm Việt Nam (tháng 10-1985). Tại cuộc tiếp đó, xuất phát từ bản chất yêu hoà bình và quý trọng tình hữu nghị giữa các dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng cho biết nhân dân ta sẵn sàng đặt quan hệ với các nước khác, kể cả những nước khác ta về chế độ chính trị, miễn là họ thực sự tôn trọng nền độc lập của Việt Nam. Đó là lập trường nhất quán của ta. Ở thời điểm 1945 cũng vậy. Chính vì thế, khi trả lời đoàn Mỹ về việc lập quan hệ với Việt Nam, đồng chí Phạm Văn Đồng nói: "Tôi cần nói rõ rằng nhân dân Việt Nam muốn có mối quan hệ nhiều mặt đối với nhân dân Mỹ. Đáng lẽ việc này phải làm từ lâu rồi. Các ông hãy nhớ lại rằng chúng ta có cơ hội để thực hiện điều này từ năm 1945 (chúng tôi nhấn mạnh-TVH). Đó là cơ hội mà các ông đã bỏ lỡ"19. Vấn đề thế là rõ.

        Vậy phải chăng phản ứng của Pát-ti khi nghe lời mở đầu Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 là phản ứng mừng vui hoà trộn với những tâm trạng phức tạp khác? Và nếu giả thiết này đúng thì lập luận của Trần Cư quả thực cần được xem lại.

        Thứ ba, ngoài câu nói của Pát-ti được tác giả xem là cơ sở tư liệu quan trọng, quyết định lập luận của mình, thì chúng ta thấy Trần Cư đã khi ông trích cả câu, lúc dẫn từng ý lời của Trần Dân Tiên xem là cứ liệu quan trọng. Trần Cư viết: "Vì nhằm đối tượng là như thế (tức Mỹ-TVH), nên Bác đã viết nó như thế. Do đó mà có câu vui sướng…" (tiếp đó là câu của Trần Dân Tiên như đã biết). Nhưng, không rõ vô tình hay hữu ý, Trần Cư đã bỏ qua những dòng tiếp đó của Trần Dân Tiên-những dòng giải thích hoàn toàn rõ ràng là tại sao "Cụ Hồ không giấu nổi sự sung sướng. Cụ Hồ nói trong đời Cụ, Cụ đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy"20. Trần Dân Tiên viết: "Thật vậy, bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản yêu cầu gửi cho Hội nghị Véc-xay mà Cụ Hồ đã viết năm 1919 và chương trình Việt Minh Cụ Hồ đã viết năm 1941. Hơn nữa bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản Tuyên ngôn khác của tiền bối… của bao nhiêu sách báo, truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn tám mươi năm nay… Là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh...

        Là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam…

        Là một trang vẻ vang trong lịch sử Việt Nam. Nó chấm dứt chính thể quân chủ chuyên chế và chế độ thực dân áp bức. Nó mở một kỷ nguyên mới dân chủ cộng hoà"21.

        “Cụ Hồ không giấu nổi sự sung sướng"… và "cho đến bây giờ mới viết được bản Tuyên ngôn như vậy" là vì những lẽ đó.

----------------------------------
        15. Văn kiện Đảng, Sđd, tr. 416.

        16. Theo Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Văn học, H , 1970, tr. 100.

        17. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd. tr. 90.

        18. Văn kiện đảng, Sđd, tr. 413.

        19. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng nói chuyện với đoàn các nhà kinh doanh Mỹ thăm Việt Nam, xem báo Nhân dân, số 11475, ngày 3 tháng 12 năm 1985.

        20. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Sđd, tr. 109.

        21. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd. tr. 110.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:46:22 AM

        Vậy, nên hiểu vấn đề tác giả đặt ra như thế nào?

        Chúng tôi rất nhất trí tiêu chuẩn mà Trần Cư nhắc lại từ sách "Cách viết" của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đầu bài báo, lấy đó làm căn cứ suy nghĩ, nghiên cứu. Trần Cư viết: Vấn đề viết cho ai, vào lúc nào là một vấn đề quan trọng, cần phải nắm rõ thì mới hiểu được tại sao Bác đã "viết như thê".

        Ta hãy cùng theo ánh sáng của những lời dạy của Bác Hồ để thử tìm chân lý.

        Theo chỗ chúng tôi hiểu, có thể chưa đầy đủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng "Tuyên ngôn độc lập" Mỹ không dưới ba lần và mỗi lần đều trong những hoàn cảnh và mục đích cụ thể.

        Đoạn trích trong Tuyên ngôn độc lập 1945 là lần thứ hai Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng Tuyên ngôn độc lập Mỹ-lần thứ nhất khi giới thiệu "Lịch sử kách mệnh Mỹ" trong tài liệu Đường kách mệnh và lần thứ ba vào năm 1964 khi Người trả lời tạp chí Mai-rô-ni-ti Ôp-oăn.

        So sánh đoạn trích của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phần “Lịch sử kách mệnh Mỹ" và trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, chúng ta thấy có sự khác nhau. Cái khác ở đây không phải là lời văn dịch-đoạn trích dịch ở Đường kách mệnh chưa được gọt giũa bằng đoạn trích ở Tuyên ngôn độc lập 1945, nhưng cả hai đều đảm bảo đúng tinh thần của bản Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ. Có chăng, cái khác ở đây chủ yếu là ở liều lượng trích dẫn. Trong Đường kách mệnh, câu trích như sau. "Trời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn sung sướng… Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng thì dân chúng phải phá đổ chính phủ ấy đi và gây nên chính phủ khác"22. Sau khi trích dẫn như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích rằng: "Nhưng bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến kách mệnh, ai đụng đến chính phủ”, nên nhân dân Mỹ bây giờ "vẫn cứ lo tính lách mệnh lần thứ hai"23. Việc trích dẫn và giải thích như vậy về cách mạng Mỹ rất có ý nghĩa với cách mạng Việt Nam lúc đó. Từ việc trích và giải thích như trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định với nhân dân ta rằng chúng ta có quyền sống độc lập tự do, nhưng lại bị thực dân Pháp thống trị, cho nên chúng ta phải đứng lên đánh đuổi chúng. Lời trích Tuyên ngôn độc lập Mỹ ở đây có hiệu lực một lời kêu gọi, cổ vũ nhân dân ta có ý thức về quyền lợi của mình mà đứng lên đấu tranh cứu nước, cứu nhà.

        Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ trích dẫn câu: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh  phúc"24. Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại giải thích: "suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do"25. Câu trích đó và tiếp theo là câu trích trong Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp được sử dụng khi nhân dân Việt Nam đã giành được chính quyền, Chúng ta khẳng định với thế giới rằng chúng ta có quyền hưởng và bảo vệ nền độc lập tự do mà nhân dân ta "đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay"26. Hiệu lực của câu trích dẫn và lời giải thích này khẳng đinh về mặt pháp lý là "những lẽ phải không ai chối cãi được"27 đã ghi trong Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp.

------------------------------
        22, 23. Đường kách mệnh, Bị áp bức dân tộc liên hiệp với hội Tuyên truyền bộ ấn hành 1927, phần II, tr. 8.

        24,25,26,27. Hồ Chí Minh tuyển tập, Sđd, tr. 205 và 207.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:47:04 AM

        Trong bài trả lời Tạp chí Mai-rô-ri-ti Ôp-oăn do một nhóm nhân sĩ trí thức Mỹ xuất bản, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân Việt Nam không bao giờ lầm lẫn nhân dân Mỹ yêu chuộng công lý với những chính phủ đã phạm nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam chúng tôi từ mười năm nay. Chính những kẻ đang phá hoại nền độc lập, tự do của dân tộc chúng tôi, cũng là những kẻ đã phản bội bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, trong đó đã nêu cao chân lý "tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng", và nêu cao quyền bất khả xâm phạm của con người: "quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc"28. Lời trích dẫn Tuyên ngôn độc lập Mỹ lần này để nói với nhân dân Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn khơi dậy trong lòng họ "những truyền thống tốt đẹp", nguyện vọng "muốn sống hoà bình và hữu nghị với các dân tộc khác" để họ đứng lên chống lại bọn cầm quyền Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược gọi là "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam Việt Nam-cuộc chiến tranh bẩn thỉu của Chính phủ Mỹ không những gây tang tóc, đau thương cho nhân dân Việt Nam mà còn làm hao người tốn của của nhân dân Mỹ, bôi nhọ thanh danh nước Mỹ. Cũng qua đó, Người tố cáo giới cầm quyền Mỹ đã phản bội lại lời tuyên bố trịnh trọng của tổ tiên họ trước kia.

        Ba lần nhắc đến Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776 trong ba hoàn cảnh lịch sử khác nhau với những đối tượng và mục đích khác nhau, chứng tỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh nắm rất vững tinh thần của bản Tuyên ngôn độc lập này, Người đã khéo vận dụng nó trong những điều kiện khác nhau để phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng của dân tộc ta một cách có hiệu quả.

        Từ việc thấm nhuần phương pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sử liệu như vậy, chúng tôi nghĩ rằng cách hiểu của Trần Cư còn có phần khiên cưỡng.

        Còn nhiều khía cạnh khác trong bài của Trần Cư cần được trao đổi. Song, do khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ xin nêu vắn tắt mấy điểm.

        Ví như Trần Cư dẫn đoạn Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích (mà tác giả gọi là lời bình) sau khi trích Tuyên ngôn độc lập Mỹ: "Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống sung sướng và quyền tự do" và Trần Cư cho rằng ở tư tưởng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh "đã vượt xa Giép-phéc-xơn".

        Chúng tôi không nghĩ rằng tất cả những người ở thế hệ sau, thời đại sau đều nhất nhất vượt những người ở thời đại trước. Song nhìn chung, thế hệ sau bao giờ cũng tiên tiến hơn người sống ở thời đại trước. Nếu sự so sánh thường khập khiễng, thì ở đây, sự so sánh của tác giả lại càng khập khiễng hơn. Bởi lẽ, nếu so điều gì đó ở Nguyễn Ái Quốc với Giép-phéc-xơn khi Nguyễn ái Quốc chưa đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, thì còn tạm chấp nhận được. Đằng này, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một người cộng sản nổi tiếng, một đại biểu lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế mà đem so với một Giép-phéc-xơn, dầu tiến bộ đến mấy, cũng là đại biểu của ý thức hệ tư sản, thì thật là... kỳ cục. So với thời đại ông, tư tưởng Giép-phéc-xơn không thể thoát khỏi chính hoàn cảnh lịch sử mà ông sống và quan điểm giai cấp của mình. Mặt khác, chúng ta không nên quên lời dạy của Lênin về tính hạn chế của các giáo lý tư sản: "Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay của giai cấp khác, qua những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào đó có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng… bị người khác lừa dối và tự lừa dối mình về chính trị”29.

        Xin nêu một ví dụ khác. Sau khi phân tích nhiều khía cạnh cho là lý thú của những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích các câu trích, Trần Cư cho đây là "một thứ" "uy-mua" rất phớt ăng-lê, cộng với cái vẻ "i-rô-ni" rất Pháp, cả hai trộn lại thành ra cái trào lộng rất Hồ Chí Minh, mà cũng rất Việt Nam" (chúng tôi nhấn mạnh-TVH).

        Điều này thuộc một lĩnh vực khác, tôi ít am hiểu, không dám bàn ở đây, chỉ xin nêu để tác giả xem lại.

        Tất nhiên, trong quế trình bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh có tiếp thu những tinh hoa của nền văn hoá thế giới. Song từ đó mà đưa ra hằng đẳng thức: Uy-mua Anh + (cộng, trộn) I-rô-ni Pháp = ( thành ra) cái trào lộng rất Hồ Chí Minh, thì thiển nghĩ không còn gì liều hơn. Chẳng lẽ yếu tố văn hoá dân tộc không là một thành phần cơ bản trong việc hình thành phẩm chất văn hoá ở một lãnh tụ thiên tài như Chủ tịch Hồ Chí Minh...

        Nếu ví Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngôi sao sáng thì cũng có thể nói ở thời điểm 1945-1946, khi đất nước đầy những hiểm nghèo với những mâu thuẫn đan chéo, phức tạp, những kẻ thù bên trong và kẻ thù từ ngoài đến, ngôi sao ấy đã bừng lên sáng ngời. Người đã cùng Đảng ta dắt dẫn nhân dân vượt mọi thác ghềnh giành thắng lợi; đặc biệt đối sách với các đế quốc, trong đó có Mỹ và tay sai của Mỹ là Tưởng Giới Thạch, được xem "như một mẫu mực tuyệt vời về sách lược Lê-nin-nit"(30).

        Và như thế, đề tài mà Trần Cư nêu ra, mới chỉ được trình bày và trao đổi chưa phải là rộng rãi trên một vài khía cạnh. Rồi đây, cũng có thể sẽ có những ý kiến chuẩn xác và sâu sắc hơn. Tôi không dám chắc những điều trao đổi với tác giả, tất thảy đều là đúng, chỉ xin nêu một số cứ liệu và đôi ba ý kiến để chúng ta cùng suy nghĩ về "Tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ trong Tuyên ngôn độc lập", sao cho thấu hiểu được chân xác một trong những tác phẩm vĩ đại của Người. Bởi chính sinh thời Người đã dạy, đại ý: khen mà không đúng chưa hẳn đã có ích.

-----------------
        28. Hồ Chí Minh. Về nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, NXB ST, H, 1967, tr. 41.

        29. V.I. Lê-nin: Mác-Ăngghen, Chủ nghĩa Mác, NXB Tiến bộ. Mát-xcơ-va, 1976 (bản tiếng Việt), tr. 60

        30. Lê Duẩn. Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vi độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, NXB ST, H, 1979, tr. 31.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:52:36 AM

HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐÃ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO?
TA CÓ THỔI PHỒNG HAY BÓP MÉO SỰ THẬT KHÔNG?
1

VĂN TẠO       

        Tôi được Viện Lịch sử quân sự Việt Nam mời viết tập IX bộ Lịch sử quân sự Việt Nam, về thời kỳ "Vận động Cách mạng Tháng Tám". Mừng vì trong lòng đã ấp ủ từ lâu một mong muốn làm rõ vấn đề là: Vai trò của lực lượng quân sự trong Cách mạng Tháng Tám. Cũng bởi có người coi Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra một cách "hoà bình", "ít đổ máu' nên vai trò của hoạt động vũ trang là không đáng kể.

        Nhưng lúc đầu cũng e rằng "lực bất tòng tâm" vì tuổi đã già, lại không đi sưu tầm được thêm tài liệu. Chỉ nói tài liệu ở trong nước chứ chưa nói tới khối lượng tài liệu đồ sộ ở nước ngoài như ở Nhật, Pháp, Mỹ, Trung Quốc... mà tôi không có điều kiện tiếp cận được. Nhưng cũng phần nào bớt được ngại ngần khi thấy các nhà sử học nước ngoài đã có nhiều công trình viết về thời kỳ này. Sâu sắc nhất là hai công trình xuất bản gần đây: một của Đavít Ma (David Marr), Vietnam 1945-The Quest for Power, NXB Đại học California, Berkeley, 1995 (Việt Nam 1945-Sự tìm kiếm quyền lực); và hai là của Stein Tonnesson, The Vietnamese Revolution of 1945-Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war, NXB Sage-London-New Delhi, 1991 (Cách mạng Việt Nam năm 1945-Ru-dơ-ven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong thế giới chiến tranh).

        Các công trình lớn này đã phần nào giúp tôi có thêm tư liệu và có được những quan điểm mới trong việc nhìn nhận một số sự kiện lịch sử, nhất là nhìn từ góc độ quốc tế của các sự kiện đó.

        Nhưng riêng về quân sự thì quan điểm giữa tôi và Xten Tôn-nét-xơn (S. Tonnesson) lại có chỗ khác nhau.

        Trong Lời giới thiệu của công trình kể trên, mục Giải thích Cách mạng Tháng Tám, Xten Tôn-nét-xơn viết: "Giống như nhiều truyền thuyết, câu chuyện về cuộc Cách mạng Tháng Tám chứa đựng khá nhiều sự thật và do đó có thể chấp nhận như một lý thuyết, nhưng nhiều sự việc đã bị bóp méo, cường điệu hoặc bỏ qua. Vai trò của Chính phủ toàn quốc tiền cách mạng (VT gạch dưới) do học giả được kính trọng Trần Trọng Kim đứng đầu, đã bị xuyên tạc… Khối lượng đấu tranh chống người Nhật đều đã được thổi phồng"2

        Về vấn đề Chính phủ Trần Trọng Kim có thể được coi là chính phủ "tiền cách mạng" hay không sẽ xin bàn ở chuyên đề khác. Ở đây chỉ xin tập trung vào vấn đề: Hoạt động của các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám.

        Công trình của Xten Tôn-nét-xơn, ngoài nhận xét kể trên còn có chỗ tác giả trích dẫn và phê bình một vài cuốn sử Việt Nam viết về thời kỳ Cách mạng Tháng Tám là đã miêu tả quá chủ quan và sơ sài các trận đánh Nhật, không nói rõ "quân số vũ khí của hai bên, địa danh, địa hình chiến trường, cuộc chiến đấu diễn ra cụ thể như thế nào… mà chỉ thấy nói một cách chung chung: tấn công… đánh đuổi… rồi chiến thắng… ?".

        Điều đó tôi thừa nhận là có thực. Ngay cả tháng 8 năm 1997 vừa qua, một bài tường thuật ngắn của một tác giả, in trên báo Hà Nội mới , vẫn còn viết là ở Hà Đông có một trận đánh Nhật thời kỳ đó, ta đã tiêu diệt "một trung đội Nhật"? Số lượng quân Nhật bị tiêu diệt này là không có thực trong lịch sử.

        Chính vì vậy mà khoa học lịch sử yêu cầu chúng ta phải xác minh tư liệu và không được chọn dùng một cách tuỳ tiện, thậm chỉ dẫn sai tài liệu theo ý muốn chủ quan của mình. Nhưng chính Xten Tôn-nét-xơn trong khi góp ý kiến với chúng ta như trên, tác giả cũng lại thiếu thận trọng và thiếu chính xác khi nói về một số sự kiện lịch sử quân sự của ta. Không những tác giả không coi trọng những cuộc chiến đấu chống Nhật-Pháp và chống quân đội của chính quyền bù nhìn tay sai của chúng ở các địa phương, mà còn vô tình hay cố ý dẫn ra và nhận định sai lầm về một số cuộc chiến đấu mà diễn biến đã được tường thuật khá rõ ràng và chính xác. Cụ thể như hai chiến thắng đầu tiên của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là hạ hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần.

------------------------
        1. Tạp chí LSQS số4-1998.

        2. Xten Tôn-nét-xơn. The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war, (Cách mạng Việt Nam năm 1945, Ru-dơ-ven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong thế giới chiến tranh), NXB Sage-London-New Delhi, 1991, tr. 2.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:02:37 PM

        Hai cuộc hạ đồn này đã đạt được thắng lợi cả về quân sự lẫn chính trị, đã được người chỉ huy là Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết lại một cách cẩn trọng và đầy đủ trong công trình Từ nhân dân mà ra như chúng ta đã biết. Nay lại được tác giả tường thuật hoàn toàn sai sự thực như sau:

        “Ngày 22 tháng 12 năm 1944 được coi là ngày khai sinh chính thức của quân đội, sau này được gọi là Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Một vài cuộc tiến công táo bạo tiếp theo: Trong đêm giữa 25 và 26-12 (tức đêm tiến công đồn Phai Khắt-VT), một viên cai người Pháp bị dùng mưu bắt và 15 binh sĩ của anh ta bị cắt cổ. Ngày 4 tháng 1, một cuộc tấn công của 200 "phiến loạn" vào một đồn binh khác thất bại3...

        Loại trừ cách dùng khái niệm mà chúng ta không thể chấp nhận được khi gọi các đội quân cách mạng của chúng ta là "quân phiến loạn" vì theo quan niệm của tác giả, cứ ai chống lại chính quyền chính thống đương thời đều bị coi là "phiến loạn"-chỉ bàn về sự kiện lịch sử đã được tường thuật kể trên thì sai lầm ở chỗ nào:

        Hai cuộc chiến đấu ở Phai Khắt, Nà Ngần sau khi thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đối với lực lượng vũ trang ta lúc đó là rất có ý nghĩa, vì là nó mở đầu cho hoạt động của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vừa mới ra đời. Cuộc chiến đấu diễn ra trong tình hình quân số mới được tập hợp lại từ nhiều nguồn, vũ khí thì ít ỏi, thô sơ lại cần phải thực hiện quyết định của lãnh tụ Hồ Chí Minh khi khai sinh ra đoàn quân này là: "Trận đầu ra quân nhất định phải thắng".

        Về vũ khí, như đồng chí Võ Nguyên Giáp đã thuật lại: "Lực lượng của ta trong thời kỳ trứng nước này còn rất mỏng manh. Vũ khí đã thiếu, đạn dược còn thiếu hơn. Mỗi khẩu súng trường trung bình chỉ có 20 viên đạn. Đánh một hai trận là sẽ bắn đến viên đạn cuối cùng"4...

        Do đó, phương thức tác chiến phải là du kích chiến: phục kích, tập kích…

        Địa bàn hoạt động thì luận chứng khả thi phải là:

        - Nơi đồn giặc đóng có cơ sở quần chúng cách mạng hỗ trợ. Điều cần thiết là phải chuẩn bị kế hoạch cho nhân dân đối phó với sự khủng bố trả thù của địch.

        - Phải trinh sát kỹ lưỡng, nắm chắc được địch tình, nếu có nội ứng càng tốt.

        - Mục tiêu là diệt đồn, thu vũ khí, binh vận (chỉ tiêu diệt kẻ ngoan cố chống đối).

        Một đội quân cách mạng, trước khi ra quân đã có chủ trương cẩn trọng và nhân đạo như vậy, sao lại có thể "cắt cổ 15 binh sĩ người Việt" được?

        Còn diễn biến của trận tập kích thì:

        Phía địch có 17 lính và 1 cai. Đồn trưởng là một tên Pháp đã đi ngựa lên châu, có khả năng quay trở lại lúc ta công đồn. Phía ta có khoảng 50 người chia làm 3 toán nhập đồn với giấy tờ giả trót lọt và cuộc chiến diễn ra nhanh chóng.

        Các chiến sĩ ta đột nhập đồn nhanh với mưu lược như vậy khiến 17 lính và 1 cai bị bất ngờ không kịp kháng cự. Tất cả đã đầu hàng. Giữa lúc tổ canh gác trên đường Nguyên Bình-Phai Khắt, cách đồn khoảng 3 cây số, chạy về báo tin là tên đồn trưởng đang trên đường về. Du kích quân khống chế bọn đã bị bắt ở sau đồn, bố trí phục kích chờ địch. Lệnh là không được nổ súng khi thấy chưa cần thiết, nhưng khi tên đồn trưởng đủng đỉnh cưỡi con ngựa hồng tiến vào thì do lòng căm thù giặc, một chiến sĩ ta đã nổ súng kết liễu đời y. Sự việc đáng tiếc này diễn ra ngoài ý muốn của chỉ huy vì nếu bắt sống được dể làm công tác địch vận thì tốt hơn.

        Với số gần hai chục tù binh đó, một số ít được chọn để bổ sung vào đội quân giải phóng. Số còn lại bị giữ lại vài ngày để phong toả tin tức rồi phóng thích5.

        Với sự tường thuật như trên của người trực tiếp chỉ huy trận đánh thì "sai số" có thể coi là tối thiểu. Sao lại có thể như tường thuật kể trên của Xten Tôn-nét-xơn được?

        Đây là một sự kiện đã quá rõ ràng và có tư liệu trực tiếp là cuốn Từ nhân dân mà ra của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được tác giả dẫn nhiều lần, là một trong những nguồn xuất xứ tư liệu quan trọng. Phải chăng do tác giả vốn coi nhẹ đấu tranh vũ trang của cuộc cách mạng này nên đã bị sai sót như vậy?

----------------------------
        3. Xten Tôn-nét-xơn: Sđd..., Chương IV: "Các kế hoạch xung đột", mục "Kế hoạch khởi nghĩa", tr. 179.

        4. Võ Nguyên Giáp. Từ nhân dân mà ra, NXB QĐND, Hà Nội, 1964, tr. 146.

        5. Võ Nguyên Giáp. Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 153.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:02:57 PM

        Dẫn ra một vài tư liệu, sự kiện kể trên để tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau về những thuận lợi và khó khăn của chúng ta, chứ không phải từ đó mà chúng tôi đánh giá thấp sự cống hiến của tác giả đối với việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời kỳ này.

        Điều cần thiết dưới đây là tôi muốn trình bày vắn tắt nhận thức của tôi về hoạt động quân sự của chúng ta trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám.

        Theo tài liệu tôi vừa nhận được do Giáo sư Phu-tu-ra Mô-tô (Phutura Moto) cung cấp thì trong cả cuộc chiến ở Đông Dương phía Nhật Bản chỉ bị chết có khoảng 1.500 người. Lịch sử còn ghi lại những trận chiến đấu chống Nhật của ta, đáng kể như trận hạ đồn Tam Đảo mà dư luận phương Tây đánh giá khá cao, ta cũng chỉ diệt được có 7 quân nhân Nhật Bản và bắt 2. Các cuộc đánh Nhật ở các địa phương nhiều lắm cũng chỉ diệt 3-5 tên. Có địa phương lại quan tâm bắt sống Nhật, nếu có điều kiện, hơn là tiêu diệt họ, như trận du kích Lai Khê, Kim Thành, Hải Dương dùng mưu bắt được 4 lính Nhật trông coi cầu Lai Vu rồi giam giữ ở Hải Dương cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám thành công đã trao lại cho phía Nhật.

        Do chủ trương nhân đạo như vậy nên thời kỳ này đã có khoảng 450 quân Nhật chạy sang hàng ngũ Việt Minh. Một số đã có đóng góp nhất định vào cuộc chiến đấu chống Pháp sau này ở Việt Nam.

        Nhưng, không thể chỉ căn cứ vào con số quân nhân Nhật Bản bị tiêu diệt trong hơn 5 năm (1940-1945) ít hay nhiều mà đánh giá thấp hoặc bỏ qua đi không kể đến những hoạt động quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám.

        Bởi vì trong quá trình vận động Cách mạng Tháng Tám (1930-1945), đối tượng đấu tranh quân sự của cách mạng Việt Nam không chỉ là Nhật mà là luôn thay đổi theo tình thế. Từ chỗ đối tượng đấu tranh là Pháp-Nhật (6-1940 đến 2-1943), đến Nhật-Pháp (2-1943dế  9-3-1945), rồi từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 mới chỉ còn phát xít Nhật và tay sai.

        Khẩu hiệu đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng từ “đánh Pháp đuổi Nhật” đến "đánh đổ phát xít Nhật-Pháp" đến "đánh đổ phát xít Nhật và tay sai". Như vậy, hoạt động quân sự của quân và dân Việt Nam không thể chỉ bằng vào các cuộc chiến đấu chống Nhật mà phải là bằng vào cả quá trình đấu tranh chống lại ba kẻ thù Nhật, Pháp và tay sai của chúng để đánh giá. Hơn nữa, chủ trương chung của cách mạng là "hy sinh xương máu, chiến đấu để giành cho kỳ được độc lập, tự do" nhưng lại "tiết kiệm xương máu” trong những điều kiện có thể… Cho nên phải nhìn hoạt động quân sự đó một cách khách quan và toàn diện.

        Hoạt động quân sự đó nhằm:

        1. Tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, khống chế, uy hiếp, lôi kéo, cải hoá địch ở địa phương (từ những lực lượng thấp nhất là tuần đinh, lính dõng, xã đoàn, tổng đoàn phản động) đi đến chiến đấu (như đột kích diệt đồn, phục kích địch đi tuần tiễu khủng bố, truy kích địch chạy trốn, đến tao ngộ chiến, trận địa chiến) đến khởi nghĩa từng phần và Tổng khởi nghĩa.

        2. Xây dựng lực lượng quân đội từ nhỏ đến lớn, từ tự vệ địa phương, tự vệ thoát ly đến quân du kích, đến Cứu quốc quân, Giải phóng quân… Xây dựng và phát triển qua luyện tập và chiến đấu, chiến đấu từ nhỏ đến lớn để xây dựng các đơn vị từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao.

        3. Xây dựng địa bàn hoạt động quân sự từ thôn làng đến lập các căn cứ địa, khu du kích đến các chiến khu, khu giải phóng. Tác chiến với mọi hình thức có thể để thu chiến lợi phẩm trang bị cho quân đội, tăng thêm quân số và củng cố, mở rộng địa bàn hoạt động, mở rộng khu căn cứ, khu giải phóng...

        4. Hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, tạo nên chỗ dựa vững chắc cho lực lượng vũ trang và tạo nên nguồn bổ sung dồi dào cho các lực lượng vũ trang từ Trung ương đến địa phương. Ngay hoạt động của lực lượng vũ trang cũng còn có lúc phải "chính trị trọng hơn quân sự" rồi mới tiến lên "chính trị và quân sự đi đôi"…

        5. Vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng nhằm xây dựng nênQuân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh cho cả hiện tại và tương lai, như trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân mà Hồ Chí Minh đã đề ra.

        Đó là các nội dung cơ bản của hoạt động quân sự thời kỳ này, trong đó đấu tranh quân sự, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch kể cả Nhật-Pháp và tay sai của chúng) là quan trọng. Nhưng đó cũng chỉ là một trong nhiều hoạt động quân sự khác của cách mạng.

        Từ xây dựng lực lượng và xây dựng địa bàn hoạt động đến khởi nghĩa địa phương, khởi nghĩa từng phần và Tổng khởi nghĩa; từ làng xã đến tổng, huyện, tỉnh và Trung ương… không đâu không có hoạt động của lực lượng quân sự bao gồm tự vệ địa phương, du kích bán thoát ly, du kích thoát ly đến Cứu quốc quân, Giải phóng quân)... mà lại có thể giành được thắng lợi, xây dựng được chính quyền.

        Có nơi dù không phải nổ súng tiêu diệt một tên địch nào thì vai trò của lực lượng vũ trang cũng vẫn rất quan trọng. Không có nó không thể khống chế lực lượng phản động của địch ở địa phương, kiềm chế lực lượng vũ trang của chúng, để phong trào quần chúng tiến lên giành và giữ được chính quyền.

        Với nội dung ý nghĩa đó, Cách mạng Tháng Tám vẫn là cuộn khởi nghĩa vũ trang nhưng do điều kiện chủ quan và khách quan đặc biệt mà ít phải đổ máu.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:05:55 PM

BÀN VỀ "KHOẢNG TRỐNG QUYỀN LỰC" TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM1

NGUYỄN MẠNH HÀ       

        Trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, đưa đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, mở ra kỷ nguyên mới độc lập, tự do, thống nhất đất nước, là một trong những sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại nhất. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Cách mạng Tháng Tám đều tìm hiểu một cách khách quan, khoa học quá trình dẫn tới thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa. Tuy nhiên, do đây là một cuộc cách mạng diễn ra trên một không gian rộng, có quá trình chuẩn bị trong thời gian dài, diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động lớn, thành quả của cuộc Cách mạng có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, tác động trực tiếp đến mọi mặt đời sống xã hội Việt Nam tại thời điểm xảy ra cuộc cách mạng và sau đó… nên việc có những quan điểm xem xét, nhìn nhận khác nhau, chưa chính xác về cuộc Cách mạng vĩ đại này, là điều dễ hiểu. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn bàn thêm về một số kết quả nghiên cứu, đánh giá của học giả nước ngoài xung quanh nội dung: Có phải Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi nhanh chóng là do tại thời điểm đó ở Việt Nam tồn tại một "khoảng trống quyền lực"?

        Nhà nghiên cứu lịch sử, nhà Việt Nam học có tiếng người Na-uy Xten Tôn-nét-xơn (Stein Tonnesson), đã có một số công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, trong đó có cuốn "Cách mạng Việt Nam năm 1945-Ru-dơ-ven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong một thế giới chiến tranh"2. Đây là một công trình nghiên cứu công phu, nhiều tư liệu về cuộc Cách mạng Tháng Tám, một sự kiện mà ông đánh giá cao: "Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, những thời điểm 1945 và 1975 nổi lên như là những bước ngoặt lớn, đánh dấu sự khởi đầu và kết thúc của một quá trình dài chiến tranh và biến đổi xã hội. Cách mạng Việt Nam quan trọng không phải chỉ thuần tuý trong bối cảnh của Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Việt Nam nằm trong những nguồn cảm hứng chủ yếu của một đường lối đấu tranh lớn khác sau chiến tranh: đó là quá trình phi thực dân hoá. Trong các cuộc cách mạng cộng sản, cách mạng của những người Việt Nam nổi lên như là một trong những cuộc cách mạng có sức sống và làm đảo lộn nhiều nhất"3.

        Tuy nhiên, trong cuốn sách của mình, ngoài những quan điểm của cá nhân như coi số lượng các cuộc đấu tranh chống Nhật của nhân dân ta là "được thổi phồng", hay vai trò của chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim phải được coi là một chính phủ "tiền cách mạng", hay vai trò của Tổng thống Mỹ Ru-dơ-ven có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển của tình hình ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám… Xten Tôn-nét-xơn nhấn mạnh tình trạng "chân không quyền lực", coi đây là một nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Xten Tôn-nét-xơn viết trong Lời giới thiệu: "Mục đích của công trình nghiên cứu này là… một cuộc thăm dò có hệ thống các nguyên nhân của cách mạng, cuộc thăm dò sẽ đi theo hai hướng chính, mỗi hưởng sẽ đi theo một trong hai đường dây chủ yếu: một dẫn tới tình trạng chân không quyền lực; một dẫn tới việc giành quyền lực". Xten Tôn-nét-xơn nói rõ: "tình trạng chân không quyền lực có thể được mô tả chính xác như là một sự vắng mặt của các lực lượng Pháp và Đồng minh, sự thiếu quyết tâm của người Nhật trong việc nắm giữ quyền kiểm soát cho tới khi Đồng minh tới và sự bất lực của các quan lại và chính quyền của họ để có thể tự tồn tại được". Sau khi dẫn ra những luận cứ, ở cuối cuốn sách, Xten Tôn-nét-xơn nhấn mạnh: "Khoảng trống quyền lực sau sự đầu hàng của Nhật ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn... là chủ yếu trong bất cứ sự giải thích nào về Cách mạng Việt Nam"4.

-------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2000.

        2. Stein Tonnesson. The Vietnamese Revolution of 1945-Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war. Sage Publication, London-New Delhi, 1991.

        3. Stein Tonnesson, Sđd, p. 426.

        4. Stein Tonnesson, Sđd, p. 412.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:06:59 PM

        Từ nhận định của XXten Tôn-nét-xơn, chúng tôi xin trao đổi một số điểm sau:

        1. Nếu bạn đọc, nhất là người nước ngoài, chưa nghiên cứu hoặc chưa có một sự hiểu biết thấu đáo về sự kiện Cách mạng Tháng Tám, hẳn có lẽ đồng ý với Xten Tôn-nét-xơn khi ông tìm cách chứng minh cho nhận định của mình. Như vậy, sẽ dẫn tới việc nhiều người sẽ ngộ nhận về sự "ăn may", về thắng lợi dễ dàng của Tổng khởi nghĩa. Đi xa hơn, sẽ cho rằng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh, vai trò của quần chúng nhân dân trong cuộc cách mạng này là không đáng kể, mờ nhạt... Đây là điều nhận định không đúng với thực tế diễn biến cuộc cách mạng.

        Thứ nhất, có thể khẳng định ràng: không tồn tại một khoảng trống quyền lực nào ở Việt Nam, trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1945, đặc biệt là từ ngày 15 tháng 8 đến ngày 19 tháng 8 năm 1945 (kể từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng và khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội). Thực tế là sau khi làm đảo chính lật đổ Pháp (đêm 9-3-1945), phát xít Nhật đã nhanh chóng thiết lập quyền thống trị, kiểm soát về mọi mặt trên toàn lãnh thổ Việt Nam và Đông Dương. Vai trò Toàn quyền Đông Dương, vốn của Đô đốc Đờ-cu (Decoux), đã bị Nhật bắt giữ, nay được giao cho tướng Yuichi Tsuchihashi, Tư lệnh Quân đoàn 38 của Nhật-Còn các nhà ngoại giao Nhật ở Đông Dương đóng vai trò tương đương như của các viên Công sứ Pháp trước đó. Tất cả các thành phố lớn ở Việt Nam như Sài Gòn, Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng... đều được đặt dưới sự kiểm soát của quân dội Nhật.

        Chính phủ Trần Trọng Kim, do Nhật dựng lên ngày 7 tháng 4 năm 1945, gồm 10 bộ, thực chất không nắm quyền hành gì đáng kể. Nhưng dù sao đây cũng là một chính phủ và chính phủ này, đến tận ngày 17 tháng 8, vẫn còn nắm quyền và cử người "mặc cả" với Việt Minh về việc chia sẻ quyền lực trong tương lai. Trước đó, ngày 14 tháng 8 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim còn ra tuyên bố: "Nhất quyết không chịu lùi một bước trước một khó khăn nào để làm tròn sứ mệnh... và vẫn hợp tác chặt chẽ với các nhà đương cục Nhật"5.

        Thứ hai, như trên đã nói, từ sau 9-3-1945, trên thực tế phát xít Nhật đã thiết lập mọi quyền kiểm soát ở Việt Nam. Cho tới khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh (15-8) thì ở Việt Nam, các lực lượng quân đội Nhật vẫn chưa nhận được lệnh đầu hàng. Quân Nhật vẫn duy trì kiểm soát trật tự, an ninh. Ông Lê Trọng Nghĩa, nguyên ủy viên ủy ban nhân dân cách mạng Bắc Bộ, người trực tiếp đi gặp Đại sứ Nhật Tsukamoto tối ngày 19 tháng 8 năm 1945, cho biết: "phải đến ngày 21, tập đoàn quân 38 của Nhật với hơn 1 vạn quân đóng giữ vùng quanh Hà Nội, mới nhận được lệnh ngừng bắn. Vì vậy, trước đó, trong những ngày 17, 18, 19 quân đội Nhật vẫn có đủ lý do để nổ súng can thiệp, hoặc để tự vệ hoặc để giữ an ninh... mà họ chịu trách nhiệm cho đến khi quân đội Đồng minh đến tiếp quản"6. Ông Nghĩa cũng dẫn ra tài liệu của Nhật về bức điện từ Hà Nội gửi về Tô-ki-ô ngày 19, rằng phía Nhật đã thực hiện một "cuộc dàn xếp thoả hiệp" với Chính phủ (Trần Trọng Kim) nhưng không thành7. Điều này có thể hiểu là Nhật đứng đằng sau hỗ trợ cuộc "mặc cả" của chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh nhằm chia sẻ quyền lực, nhưng thất bại.

        Thực tế trong các ngày 17, 18 tháng 8 năm 1945 ở Hà Nội cho thấy, xe tăng và các đơn vị quân Nhật bố trí ở nhiều vị trí trung tâm thành phố, sẵn sàng nổ súng, khiến tình hình rất căng thẳng. Mặt khác, tại nhiều địa phương như Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Tuyên Quang, Hà Giang... đã nổ ra các cuộc chiến đấu của quân dân ta với binh lính Nhật, để giành chính quyền. Như vậy, không thể nhận định là từ sau khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng, thì quân Nhật ở Việt Nam "bỏ mặc tình hình", để cho Việt Minh dễ dàng lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền.

-------------------
        5. Trần Quang Huy, "19-8, Cách mạng Tháng Tám là sáng tạo", Hội Khoa học Lịch sử việt Nam, H, 1995, tr. 26-27.

        6, 7. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Đoàn thanh niên Cứu quốc Hoàng Diệu, NXB Lao Động, H, 1999, tr. 338, 344.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:07:32 PM

        Thứ ba, theo Xten Tôn-nét-xơn, nguyên nhân của sự trống vắng quyền lực là do: "... chính sách của Đồng minh đối với Đông Dương từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1945 là ngu dốt và quên lãng, còn chính sách của Pháp đối với Đông Dương là bối rối và bất lực". Thực tế có phải như vậy không? Theo chúng tôi không hoàn toàn như vậy. Mỹ, Anh và cả Pháp đều thừa hiểu sớm muộn tình thế cũng dẫn đến việc phát xít Nhật lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương, trong đó có Việt Nam, nhằm trừ hậu hoạ. Nguyên nhân của sự lật đổ này xin không nêu ra đây. Điều cần nhấn mạnh là tuy đã dự kiến trước sau Nhật sẽ hành động nhưng cả Mỹ, Anh và trực tiếp là Pháp đều không thể làm gì được để ngăn chặn bởi bất lực, bởi (với Anh, Mỹ) còn có những mục tiêu, nhiệm vụ khác quan trọng hơn, cần kíp hơn. Ở đây, đối với Đồng minh không thể giải thích là do ngu dốt và quên lãng, bởi vào thời gian từ tháng 3 đến tháng 8, Đồng minh chưa đủ sức để can thiệp, chứ chưa nói là đánh bại được quân Nhật ở khu vực này. Còn đối với lực lượng Pháp, sau cuộc đảo chính của Nhật, hầu hết bị bắt giam, chỉ còn một số ít chạy thoát sang Lào, Trung Quốc và một số ít khác bí mật tổ chức "kháng chiến" chống lại quân Nhật. Sự tác động của Pháp đến Việt Nam, sau ngày 9-3-1945, có chăng chỉ là bản tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của Đờ Gôn (De Gaulle) và sự tập hợp một cách chắp vá, manh mún một vài đơn vị Pháp ở Xri-lan-ca, ấn Độ, Trung Quốc... chuẩn bị đưa tới Đông Dương. Và đến tận ngày 17 tháng 8 năm 1945, Chính phủ Pháp mới có quyết định bổ nhiệm tướng Lơ-cléc (Leclerc) làm Tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh và Đô đốc Đác-giăng-li-ơ (D’Argenlieu) làm Cao ủy, để chuẩn bị tới Việt Nam. Thêm nữa, mãi tới ngày 12 tháng 9 năm 1945, đại đội lính Pháp đầu tiên mới theo chân quân Anh tới Sài Gòn, nghĩa là sau hơn nửa tháng khi cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam đã thắng lợi trên phạm vi cả nước. Chúng tôi muốn dẫn ra những sự kiện trên để chứng tỏ vào thời điểm cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra, Pháp không có một vai trò nào đáng kể ở Việt Nam. Đối tượng của cuộc Cách mạng Tháng Tám mà nhân dân ta tiến hành lúc đó chính là phát xít Nhật và hệ thống chính quyền phản động tay sai Nhật. Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: thực tế ta giành chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Cuộc cách mạng nổ ra và giành thắng lợi nhanh chóng cho thấy điều kiện khách quan thuận lợi đã đóng vai trò rất quan trọng nhưng không phải là cơ bản, quyết định thắng lợi mà chính là do nhân tố chủ quan, do sự lãnh đạo sáng suốt tài tình của Đảng Cộng sản Đông Dương, của lãnh tụ Hồ Chí Minh và quyết tâm của toàn dân.

        2. Qua nghiên cứu tìm hiểu, chúng tôi khẳng định rằng dù cho điều kiện khách quan thuận lợi đến mấy, nhưng nếu không có sự chuẩn bị xây dựng lực lượng cách mạng quần chúng cần và đủ thì khởi nghĩa không thể giành được thắng lợi. Sự chuẩn bị lực lượng để đón thời cơ đã được Đảng thực hiện một cách tỉ mỉ, cụ thể trong suốt một quá trình lâu dài, trực tiếp bắt đầu từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939) và được đẩy nhanh từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941). Tuy nhiên, do khuôn khổ bài viết, chỉ xin tóm tắt quá trình chuẩn bị này từ sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, cũng là ngày mà Xten Tôn-nét-xơn cho là bắt đầu xuất hiện "khoảng trống quyền lực", cho đến ngày 19 tháng 8 năm 1945. Như đã biết, sau sự kiện Nhật hất cẳng Pháp, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Chỉ thị nhận định: "Sau cuộc đảo chính này, đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể, trước mắt, duy nhất của nhân dân Đông Dương". Vì thế, khẩu hiệu "Đánh đuổi Nhật, Pháp" được thay bằng "Đánh đuổi phát xít Nhật". Tuy nhiên, về thời cơ, Chỉ thị cho rằng "mặc dầu tình hình chính trị khủng hoảng sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương chưa thực sự chín muồi...". Trên cơ sở nhận định đó, Chỉ thị nhấn mạnh phải: "phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ, làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Cao trào ấy có thêm bao gồm từ hình thức bất hợp tác, bãi công, bãi thị đến phá phách, cho đến những hình thức cao như biểu tình, thị uy võ trang, du kích. Sẵn sàng chuyển qua hình thức Tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện (ví dụ khi quân Đồng minh bám chắc và tiến mạnh trên đất ta). Dự kiến tình hình sẽ phát triển mau lẹ, Chỉ thị yêu cầu: "Ngay bây giờ phát động du kích, chiếm căn cứ địa, duy trì và mở rộng chiến tranh du kích phải là phương pháp duy nhất của dân tộc ta để đóng vai trò chủ động trong việc đánh đuổi quân ăn cướp Nhật Bản ra khỏi nước, chuẩn bị hưởng ứng quân Đồng minh một cách tích cực". Đồng thời, Chỉ thị cũng khẳng định: "Song dù sao ta không thể đem việc quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương là điều kiện tất yếu cho tổng khởi nghĩa của ta. Vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện… Nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940 và quân đội viễn chinh của Nhật mất tinh thần thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:08:19 PM

        Có thể nói Chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" là một văn kiện lịch sử, có ý nghĩa chỉ đạo hành động chuẩn bị mọi mặt lực lượng đón thời cơ khởi nghĩa một cách tích cực, chủ động, đã được Đảng ta sớm đề ra và phù hợp với tình hình lúc dó. Chính vì thế, trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến đầu tháng 8 năm 1945, cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta đã được Đảng chỉ đạo rất sát sao, cụ thể và đầy sáng tạo. Đó là những cuộc khởi nghĩa từng phần ở nhiều địa phương, đưa tới sự mở rộng các căn cứ địa, chiến khu cách mạng. Đó là sự thành lập của hàng loạt các đơn vị, tổ chức vũ trang Cứu quốc quân, Việt Nam giải phóng quân, tự vệ, du kích, hỗ trợ và làm nòng cốt cho đấu tranh chính trị của quần chúng; là sự phát triển của chiến tranh du kích, là các tổ chức, đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh lan rộng chưa từng thấy. Khu giải phóng Việt Bắc ra đời đầu tháng 6 năm 1945, gồm 6 tỉnh và một số vùng phụ cận, chính là hình ảnh thu nhỏ của một nước Việt Nam mới... Chính những kết quả đạt được trong quá trình vận động, chuẩn bị lực lượng đã chủ động góp phần tạo ra thời cơ cách mạng, tình thế cách mạng trực tiếp, tuyệt nhiên không phải chỉ do điều kiện khách quan mang lại.. Điều này càng thể hiện rõ kể từ sau khì phát xít Nhật bị đánh bại, phải tuyên bố đầu hàng Đồng minh. Một chi tiết cần nêu ra là tuy Nhật đầu hàng Đồng minh nhưng Nhật vẫn chưa nhận được lệnh chinh thức trao quyền quản lý Đông Dương, trong đó có Việt Nam, cho Đồng minh, vì thế vẫn có trách nhiệm quản lý tình hình ở đây cho đến khi Đồng minh đến. Sự tài tình của Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh là ở chỗ đã tận dụng triệt để thuận lợi có một không hai: phát xít Nhật hoang mang, bối rối, chính phủ Trần Trọng Kim yếu thế, bất lực quân Đồng minh chưa vào, quân Pháp tuy lăm le quay trở lại nhưng chưa có thực lực… để lãnh đạo toàn dân vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền. Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệu tập Hội nghị toàn quốc ở Tân Trào. Tuy trong điều kiện chưa có thông tin chính xác về việc Nhật đầu hàng, nhưng nhận thấy thời cơ khởi nghĩa đã tới, Hội nghị vẫn quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Ủy ban khởi nghĩa, ngay trong đêm 13 tháng 8, đã ra quân lệnh số 1: "Giờ Tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành quyền độc lập của nước nhà. Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!... Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta". Hội nghị cho rằng: "Tình thế vô cùng khẩn cấp. Tất cả mọi việc phải nhằm vào 3 nguyên tắc: Tập trung: tập trung lực lượng vào những việc chính; Thống nhất: thống nhất mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động, chỉ huy; Kịp thời: kịp thời hành động không bỏ lỡ cơ hội". Cũng trong dịp này, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập". Tiếp đó, ngày 16 và 17 tháng 8, Quốc dân Đại hội, cũng họp tại Tân Trào, tán thành và thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa. Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh: "Không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được độc lập. Nhiều sự gay go, trở ngại sẽ xảy ra. Chúng ta phải luôn khôn khéo và kiên quyết. "Khôn khéo" để tránh những sự không lợi cho ta. "Kiên quyết" để giành được nền hoàn toàn độc lập Một dân tộc quyết tâm và nhất trí đòi quyền độc lập thì nhất định được độc lập".

        Đại hội Quốc dân đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, quyết định thành lập ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong Thư kêu gọi đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "... Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ".

        Chính vì đã có sự chuẩn bị chu đáo, nắm bắt đúng lúc thời cơ tình thế cách mạng trực tiếp xuất hiện, với quyết tâm và sự khôn khéo, mau lẹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc Tổng khởi nghĩa đã nổ ra và giành thắng lợi trên phạm vi cả nước chỉ trong vòng 14 ngày (từ 14 đến 28-8-1945), trước khi quân Đồng minh kéo vào. Đây là một sự kiện vĩ đại, được chuẩn bị trong vòng 15 năm, trải qua 3 cuộc vận động cách mạng lớn, đã đi tới kết quả: đất nước được độc lập, nhân dân làm chủ cuộc sống mới của mình, chế độ phong kiến hàng nghìn năm, ách áp bức thực dân hơn 80 năm, bị lật nhào, một Nhà nước mới ra đời: Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

-----------------
        8. Ban NCLS Đảng Trung ương, Văn kiện Đảng 1930-1945, H, 1977, tập 3,

        tr. 385.

        9, 10, 11, 12. Văn kiện Đảng 1930-1945, Sđd, tập 3, tr. 384, 386, 389, 392.

        13. Văn kiện Đảng 1930-1945, Sđd , tr. 410, 411.

        14. Chặt xiềng, NXB Sự thật, H, 1955, tr. 65 (dẫn theo Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, NXB CTQG. H, 1994, tr. 22).

        15. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB CTQG, H, 2000, tr. 554.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:12:07 PM
         
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 BÙNG NỔ TRONG BỐI CẢNH NHẬT BẢN CHƯA ĐẦU HÀNG1

LÊ KIM        

        Cho tới nay, vẫn còn một số bài báo, thậm chí có một vài cuốn sách vẫn viết rằng Cách mạng Tháng Tám 1945 đã bùng nổ “sau khi Nhật Bản chấp nhận đầu hàng không điều kiện các lực lượng Đồng minh chống phát xít".

        Sự thật diễn ra không hoàn toàn như vậy.

        Một thời gian dài sau khi chiến tranh kết thúc, nhiều tài liệu mật tuần tự được tiết lộ, cũng như một số hồi ký của các nhân chứng lịch sử lần lượt xuất bản2 cho biết:

        Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945), Mỹ thiết lập một đài phát thanh đặt tại Xan Phran-xi-xcô, trên bờ biển Thái Bình Dương, hướng về phía châu Á. Hồi đó, nhân dân ta thường gọi là Đài Cựu Kim Sơn. Từ 20 giờ đến 24 giờ đêm 12 tháng 8 năm 1945, đài này liên tiếp phát đi bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc... bản tin đặc biệt loan báo Nhật Bản đã gửi công hàm tới Mỹ, Anh, Trung Quốc, Liên Xô "xin hàng". Nhưng trên thực tế, những công hàm bắt đầu được gửi đi từ ngày 10 tháng 8 tới "Tứ cường" nói trên chỉ là những công hàm "mặc cả về những điều kiện ngừng bắn". Đài Cựu Kim Sơn đã không ngần ngại, phát luôn là Nhật Bản "xin hàng" để gây tác động về "chiến tranh tâm lý".

        - Hồi 23 giờ đêm 13 tháng 8 năm 1945, khi Tổng bộ Việt Minh phát lệnh Tổng khởi nghĩa vũ trang trên phạm vi toàn quốc thì trước đó 9 giờ, tức 14 giờ cùng ngày, Tư lệnh Đạo quân phương Nam của Nhật Bản, đặt Tổng hành dinh tại Đà Lạt, Việt Nam, đã gửi thư về Tô-ki-ô, kiến nghị với Nhật hoàng "tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến, chớ vội ngã lòng nản chí".

        - Đúng 12 giờ trưa ngày 15 tháng 8 năm 1945, vua Nhật Bản Hi-rô-hi-tô (Hirohito) đọc chiếu chỉ trên đài Tô-ki-ô. Toàn bộ bản Tuyên bố này, từ đầu chí cuối, không có chữ nào là "đầu hàng", mà chỉ ngỏ ý quyết định "đình chỉ chiến tranh" (sẽ viết kỹ hơn ở phần dưới). Thậm chí, tới ngày 22 tháng 8 năm 1945, lệnh "đình chỉ chiến tranh" vẫn chưa được truyền đạt tới các đơn vị quân Nhật ở các chiến trường.

        - Ngày 22 tháng 8 năm 1945, khi chiếc máy bay đầu tiên chở phái đoàn "tiền trạm" đầu tiên của Đồng minh (Mỹ) hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm, toàn bộ quân đội Nhật Bản ở Đông Dương vẫn "chưa biết gì về việc vua Nhật Bản tuyên bố đình chỉ chiến tranh" vì Đài Tô-ki-ô hồi đó "phát sóng rất yếu', ngay tại Triều Tiên cũng không nghe rõ. Tuy nhiên, ngay trong ngày 19 tháng 8 năm 1945, nhân dân ta đã giành được chính quyền tại thủ đô Hà Nội và đã đàng hoàng đón tiếp phái bộ Đồng minh trên cương vị "chủ nhân ông" của nước Việt Nam. Ghi lại đầy đủ và chính xác những chi tiết nổi bật trong giai đoạn lịch sử quan trọng này, chính là để khẳng định một lần nữa sự lãnh đạo sáng suốt, nhạy bén, kịp thời và tài giỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiến hành Tổng khởi nghĩa vũ trang và nhanh chóng hoàn thành cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 trong bối cảnh còn rất nhiều khó khăn, phức tạp: Nhật Bản chưa thật sự đầu hàng, Quốc dân đảng Trung Hoa đang chờ thời cơ thực hiện mưu đồ "Hoa quân nhập Việt", thực dân Pháp cũng đang lăm le quay trở lại Đông Dương...

        Dưới đây là một số diễn biến quan trọng mà trong phạm  vi một bài báo, người viết chỉ có thể dẫn chứng vắn tắt. Bạn đọc có thể dễ dàng tìm thấy toàn văn những tư liệu này, được ghi và dịch bằng các thứ tiếng Anh, Nga, Pháp… hiện lưu trữ tại Thư viện Trung ương Quân đội ở Hà Nội và một số thư viện khác trong nước:

        Ngày 9 tháng 5 năm 1945, phát xít Đức (và trước đó là phát xít Ý) hoàn toàn bị tiêu diệt. Hoà bình được lập lại trên toàn châu Âu và châu Phi. Từ ngày 7 đến ngày 27 tháng 7 năm 1945, tại Pốt-xđam (Nam nước Đức), có một cuộc họp quan trọng giữa ba nhân vật đứng đầu chính phủ ba nước Mỹ, Anh, Liên Xô là: Tơ-ru-man (Truman), Sớc-sin (Churchill), Xta-lin (Xtalin). Phần lớn thời gian Hội nghị bàn về vấn đề Đức. Đến giai đoạn cuối của Hội nghị mới bàn đến việc đay mạnh nỗ lực chiến tranh nhằm thanh toán nốt quân phiệt Nhật Bản, tên phát xít cuối cùng trong phe "Trục".

        Ngày 26 tháng 7 năm 1945, Tuyên bố Pốt-xđam được công bố. Vì lúc này bản Hiệp định "không xâm lược lẫn nhau' được ký kết giữa Liên Xô và Nhật Bản từ năm 1941 vẫn đang còn có hiệu lực, đồng thời cũng để giữ bí mật cho việc tiến công Nhật Bản sau này, nên Xta-lin chưa ký vào bản Tuyên bố Pốt-xđam. Mặt khác, khi bước vào giai đoạn 2 của Hội nghị Pốt-xđam, để bàn về việc lập lại hoà bình ở châu Á, lại có thêm đại diện của Tưởng Giới Thạch cùng tham gia, vì vậy, bản Tuyên bố Pốt-xđam chỉ được mở đầu "nhân danh Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Chủ tịch chính phủ Dân quốc Trung Hoa và Thủ tưởng Đại Anh quốc, đại diện cho hàng trăm triệu nhân dân" các nước đó.

        Sau khi cho biết Hoa Kỳ, Đại Anh quốc và Trung Quốc "đã quyết định mở cuộc tiến công cuối cùng vào Nhật Bản cho tới khi Nhật Bản chấm dứt mọi sự kháng cự", bản Tuyên bố kêu gọi: "Thời điểm đã tới để Nhật Bản quyết định, hoặc là tiếp tục cuộc chiến dưới sự kiểm soát của các thế lực quân phiệt mà những tính toán ngu dốt đã dẫn đế quốc Nhật Bản tới bờ vực của sự hủy diệt, hoặc là đi theo con đường của lẽ phải".

-------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2000.

        2. Đặc biệt, cuốn “Nhật Bản trong những ngày chiến tranh" của I-va-nốp (lvanov), Tham tán Đại sứ quán Liên Xô tại Tô-ki-ô trong thời kỳ này, lần đầu tiên xuất bản năm 1978 rồi tái bản nhiều lần, đã cung cấp nhiều tư liệu rất đáng tin cậy


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:14:57 PM

        Toàn bộ bản Tuyên bố Pốt-xđam gồm tất cả 13 điều, kể cả lời kêu gọi. Dưới đây chỉ lược dịch nội dung chủ yếu của một số điều khoản.
        …
        - Điều 6: Phải vĩnh viễn loại trừ mọi quyền lực và ảnh hưởng của những kẻ đã lừa gạt, lôi cuốn nhân dân Nhật Bản lao vào việc chinh phục thế giới (…)

        - Điều 7: Các lực lượng Đồng minh cần phải được đóng quân tại các địa điểm sẽ được ấn định tại Nhật Bản cho tới khi thiết lập xong trật tự mới và sau khi đã thật sự có chứng cớ là bộ máy chiến tranh của Nhật Bản đã bị tiêu diệt hoàn toàn.
        …
        -Điều 9: Các lực lượng vũ trang Nhật Bản phải hoàn toàn giải tán, tước bỏ toàn bộ vũ khí, binh lính trở về nhà làm ăn sinh sống hoà bình.

        - Điều 10: Các tội phạm chiến tranh, kể cả những kẻ phạm tội ác đối với các tù binh chiến tranh là người của chúng tôi, phải bị trừng trị theo công lý (...)

        - Điều 11: Nhật Bản được phép giữ lại các ngành công nghiệp phục vụ kinh tế dân sinh nhưng không được sử dụng để tái vũ trang phục vụ cho chiến tranh.

        - Điều 12: Các lực lượng vũ trang Đồng minh sẽ sớm rút khỏi Nhật Bản sau khi Nhật Bản thực hiện đầy đủ các điều khoản trên đây (…)

        - Điều 13: Chúng tôi đòi Chính phủ Nhật Bản phát ngay lệnh đầu hàng không điều kiện tới tất cả các lực lượng vũ trang...

        Sau khi đã nhờ Thụy Sĩ, là một nước trung lập, chuyển bản Tuyên bố Pốt-xđam tới Chính phủ Nhật Bản, Mỹ còn cho máy bay rải hàng triệu tờ in nội dung bản Tuyên bố nói trên đã dịch sang tiếng Nhật xuống Tô-ki-ô và một số thành phố khác. Đáp lại là "một sự im lặng hoàn toàn".

        Ngày 6 tháng 8, Mỹ ném quả bom nguyên tử đầu tiên, hủy diệt thành phố Hi-rô-si-ma của Nhật Bản, song vẫn không nhận được tín hiệu trả lời. 20 giờ tối ngày 8 tháng 8 theo giờ Mát-xcơ-va, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô triệu tập đại sứ Nhật Bản tại Mát-xcơ-va tới văn phòng Bộ, thông báo Liên Xô hủy bỏ Hiệp định trung lập ký năm 1941 và tuyên chiến với Nhật Bản từ 0 giờ ngày 9 tháng 8 năm 1945. Liền sau đó, Đài Cựu Kim Sơn vào hồi 6 giờ ngày 9 tháng 8 cũng thông báo: "Liên Xô chính thức tham gia Tuyên bố Pốt-xđam và đang mở cuộc tiến công Nhật Bản". Trong khoảng thời gian này, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Tô-gô (Togo) cũng nhận được bức điện cuối cùng của sứ quán Nhật Bản tại Mát-xcơ-va gửi về. Nhật hoàng Hi-rô-hi-tô, được Bộ trưởng Ngoại giao và Thủ tướng cấp báo tin "Quốc gia đại sự", vội ra lệnh cho Thủ tướng triệu tập Hội đồng tối cao chỉ đạo chiến tranh vào lúc 10 giờ. Đối với toà Đại sứ Liên Xô nằm ngay giữa thủ đô, Nhật Bản hối hả cử hiến binh tới canh giữ, cắt hết mọi đường dây điện thoại, niêm phong tất cả các phương tiện thu phát tin tức và ra lệnh "quản thúc đại sứ Liên Xô Ma-lich (Malik) và toàn bộ nhân viên sứ quán ngay trong khuôn viên toà đại sứ". Tuy nhiên, do chuẩn bị trước, sứ quán Liên Xô tại Nhật Bản vẫn giấu được một đài phát vô tuyến điện.

        Đúng 10 giờ, các ủy viên Hội đồng tối cao chỉ đạo chiến tranh của Nhật Bản (thành lập từ 12-1941) có mặt đông đủ trong phòng họp. Hội đồng này do vua Hi-rô-hi-tô làm Chủ tịch, gồm 6 ủy viên là Thủ tướng, Bộ trưởng Chiến tranh, Bộ trưởng Hải quân, Tổng tham mưu trưởng Liên quân, Tham mưu trưởng Hải quân, Bộ trưởng Ngoại giao.

        Hội nghị vừa khai mạc thì nhận được điện báo: quân đội Liên Xô đang mở cuộc đại tiến công trên trận tuyến dài 4.800km, đã vượt biên giới Mãn Châu, tiến công cả bán đảo Cao Ly (Triều Tiên). Máy bay Liên Xô ném bom Trường Xuân,là nơi đặt Tổng hành dinh đạo quân Quan Đông. Hạm đội Liên Xô bắn phá dữ dội bán đảo Xa-kha-lin và quần đảo Cu rin, chuẩn bị đổ bộ... Lúc 11 giờ 30 phút, lại được tin Mỹ ném quả bom cực mạnh thứ hai xuống Na-ga-sa-ki. Đài Cựu Kim Sơn loan báo đây là bom nguyên tử, có sức hủy diệt lớn…

        Trước tình hình Nhật Bản đang ở vào thế "lưỡng đầu thụ địch", cả hai mặt đều bị tiến công mạnh, Ngoại trưởng Tô-gô dè dặt đưa ra ý kiến "có lẽ nên chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam...". Thì lập tức, Đại tướng, Bộ trưởng Chiến tranh A-na-mi (Anami) và Đô đốc Tô-ê-đa (Toeda) đã gạt phắt. Họ viện cớ, nào "đầu hàng là hèn nhát, là phản bội", nào "Nhật còn hơn 5 triệu quân thường trực chính quy và 20 triệu thanh niên sẵn sàng xả thân bảo vệ ngôi vua", "còn hơn 8.000 láy bay, 600 tàu chiến", lại "đang nghiên cứu loại vũ khí bí thật sức mạnh không thua gì bom nguyên tử", v.v...

        Biên bản cuộc họp được trình lên Nhật hoàng Hi-rô-hi-tô. Vin vào lý do đây là chuyện "đối ngoại", Nhật hoàng gặp riêng Ngoại trưởng Tô-gô một lần nữa, rồi truyền lệnh cho. Ông ta nhờ Thụy Sĩ "nhắn tin" cho Tứ cường biết thái độ của Nhật Bản đối với Tuyên bố Pốt-xđam.

        Như vậy là không có "công hàm của Nhật Bản gửi bốn nước Mỹ, Anh, Trung Quốc, Liên Xô để ngỏ ý xin hàng" như Đài Cựu Kim Sơn đã loan báo trong buổi phát tin tối 12 tháng 8 năm 1945, mà chỉ có "văn thư của Thụy Sĩ ký ngày 10 tháng 8, gửi bốn ngoại trưởng Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc với nội dung đại ý là Nhật Bản sẵn sàng chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam ngày 26 tháng 7 năm 1945 của Mỹ, Anh, Trung Quốc và sau đó có thêm Liên Xô tham gia, sau khi được giải thích và cam kết rõ là bản Tuyên bố trên không bao hàm một đòi hỏi nào có liên quan tới những đặc quyền của Thiên hoàng là vị cầm quyền tối cao của Vương quốc.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:15:22 PM

        Sau mấy ngày trao đi đổi lại giữa Nhật Bản và Tứ cường, thông qua hai nước trung lập là Thụy Sĩ và Thụy Điển, Nhật Bản ngỏ ý sẽ chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam nếu được đáp ứng bốn điều kiện:

        1. Giữ nguyên vẹn ngôi vua và thể chế quân chủ.

        2. Nước Nhật Bản không bị chiếm đóng.

        3. Quân đội Nhật Bản tự tước vũ khí và tự giải tán sau khi kết thúc chiến tranh.

        4. Toà án Nhật Bản sẽ tự xét xử những người bị coi là "tội phạm chiến tranh", không cần tổ chức tòa án quốc tế.

        Tứ cường kiên quyết bác bỏ, đòi Nhật Bản phải lập tức tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Mỹ gợi ý: cứ tuyên bố đầu hàng rồi muốn kêu nài điều gì, Tư lệnh tối cao các nước Đồng minh là Đại tướng Mỹ Mắc Ác-tơ sẽ xét sau. Đài Cựu Kim Sơn công bố danh sách 141 tội phạm chiến tranh của Nhật Bản. Các phương tiện tuyên truyền chiến tranh tâm lý của Mỹ đe dọa, "có thể" Mỹ sẽ ném quả bom nguyên tử thứ ba xuống ngay giữa Tô-ki-ô (thực ra lúc ấy, Mỹ đã hết bom nguyên tử dự trữ). Dù sao, lời đe doạ "úp mở" này cũng làm cho Nhật Bản hoảng sợ. Hội đồng tối cao chỉ đạo chiến tranh lại họp để quyết định trả lời Tứ cường. Khi biểu quyết, ba trên tổng số sáu đồng ý chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam nhưng để "cầu hoà" chứ không phải để "xin hàng", ba ủy viên còn lại thì tán thành "quyết chiến". Do số phiếu ngang nhau 3/3, Nhật hoàng quyết định đưa ra trưng cầu ý kiến toàn thể nội các gồm 14 thành viên. Kết quả là 9 người tán thành "cầu hoà", còn 5 người khăng khăng "quyết chiến". Nhật hoàng ôm mặt khóc và… "đành khuất phục" đa số. Thủ tướng quỳ lạy, xin từ chức. Cựu Thủ tướng Tô-giô (Tojo), người phát động chiến tranh năm 1941, đã tự sát…

        2 giờ sáng ngày 14 tháng 8, Đô đốc Ô-nhi-si (Ônishi), Tư lệnh lực lượng không quân thuộc hải quân, đệ trình Nhật hoàng một "diệu kế chuyển thắng thành bại". Theo Ô-nhi-si, hiện nay đã có 2.000 phi công lái máy bay quyết tử; cứ tính thật rộng rãi, dùng 3 máy bay chứa đầy thuốc nổ lao xuống phá một tàu chiến Mỹ là đủ sức tiêu diệt toàn bộ hạm đội Mỹ đang tập trung tại vùng biển Nhật Bản. Nhật hoàng không chấp nhận.

        Sau đó Nhật hoàng chỉ thị cho nhà báo Ki-ha-ra (Kihara) nổi tiếng là người văn hay chữ tốt, viết giúp Vua bản Chiếu chỉ đặc biệt, trong đó tuyệt đối không được ghi chữ "đầu hàng" mà chỉ viết là "xin chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam ngày 26-7".

        Chiều 14 tháng 8, Bản chiếu chỉ viết xong, được nhà Vua duyệt y và đọc trước vào "đĩa nhựa" để phát đi cho toàn dân nghe vào 12 giờ trưa ngày 15 tháng 8. Đêm 14 rạng 15 tháng 8, một nhóm sĩ quan xông thẳng vào Hoàng cung gây bạo loạn, định ép Vua phải kêu gọi toàn thể quân và dân quyết chiến. Cuộc bạo loạn đã bị dập tắt. Đúng 12 giờ ngày 15 tháng 8, Đài Tô-ki-ô phát đi lời tuyên bố của nhà vua đã ghi trên đĩa  nhựa. Nhưng, do kỹ thuật ghi không chuẩn, Nhật hoàng lại phát biểu rất nghẹn ngào, xúc động, nhỏ nhẹ, nên phe "quyết chiến" tung tin, đây là âm mưu của bọn "hèn nhát cầu hoà", không phải ý kiến của vua. Tư lệnh Ô-nhi-si đã dùng máy bay, rải truyền đơn xuống Tô-ki-ô trong đó ghi: "Bản Tuyên bố trên Đài phát thanh trưa 15 tháng 8 là giả mạo. Hãy giữ vững ý chí, tiếp tục chiến đấu đến cùng?".

        Tình hình rất khẩn trương vì trên các chiến trường quân đội Nhật Bản vẫn tiếp tục chiến đấu. Suốt ngày 16 tháng 8, Đài Cựu Kim Sơn liên tục phát đi “lời mời" của Đại tướng Mỹ Mắc Ác-tơ, nhân danh Tư lệnh tối cao các lực lượng Đồng minh, hối thúc Nhật Bản cử ngay một phái đoàn quân sự tới Sở chỉ huy tiền phương của Đồng minh đặt tại Ma-ni-la (Phi-líp-pin) để "thảo luận về các biện pháp ngừng bắn, tạo điều kiện an toàn cho Tư lệnh tối cao các lực lượng Đồng minh tới Tô-ki-ô tổ chức lễ tiếp nhận đầu hàng của Nhật Bản".

        Tối 17 tháng 8, Đài Tô-ki-ô trả lời: "Trong ngày mai, 18 tháng 8, một phái đoàn quân sự do tướng Ca-oa-bê (Kawabe), Phó Tổng tham mưu trưởng dẫn đầu, sẽ tới Ma-ni-la để "hội đàm”. Mắc Ác-tơ cử tướng Xao-thơ-len (Southerlen) là Tổng tham mưu trưởng đứng đầu phái đoàn Đồng minh gặp đoàn Nhật Bản.

        Buổi họp đầu tiên chỉ tranh cãi quanh vấn đề thủ tục. Buổi hôm sau (sáng 19-8), Mỹ yêu cầu Nhật Bản hạ lệnh ngừng bắn ngay lập tức cho các đơn vị trên tất cả các chiến trường. Nhật Bản vin vào lý do khó khăn về thông tin liên lạc nên sớm nhất phải 48 giờ mới truyền đạt được lệnh ngừng bắn tới các đơn vị đóng trên các đảo ở chính quốc, 4 ngày sau mới tới được Trung Quốc, 6 ngày sau mới tới được Đông Dương, còn các khu vực khác phải vào khoảng 2 tuần.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:15:40 PM

        Xao-thơ-len hỏi vặn:

        - Sao lúc tiến công chúng tôi, các ông truyền lệnh nhanh thế?

        Ca-oa-bê bình thản trả lời:

        - Lúc đó chỉ làm theo phương án đã chuẩn bị sẵn. Còn đây là chuyện đột ngột, trái ý muốn, bắt buộc phải làm. Không thể hạ lệnh vắn tắt qua điện đài, mà phải cử đặc phái viên mang theo mệnh lệnh viết trên giấy, trao tận tay các tư lệnh chiến trường, kèm theo lời giải thích.

        Xao-thơ-len nói to:

        - Ngày 23 tháng 8 chúng tôi sẽ đổ bộ. Ngày 25 tháng 8 ký các văn kiện đầu hàng. Được không?

        Ca-oa-bê lắc đầu:

        - Không được! Không đảm bảo an toàn cho các ông. Các ông đã ném hai quả bom nguyên tử, giết hại nhiều người, dân chúng tôi rất căm uất. Trên đất Nhật Bản hiện còn hai triệu quân chính quy thường trực chiến đấu, chưa kể hàng chục triệu người mang vũ khí.

        Xao-thơ-len chưng hửng, không biết nói gì thêm. Ca-oa-bê nói tiếp:

        - Tốt nhất, các ông cứ để cho chúng tôi tự tước vũ khí, tự giải tán các lực lượng vũ trang. Khi nào xong chúng tôi sẽ báo qua Đài Tô-ki-ô.

        Sau suốt ngày bàn cãi, chiều 19 tháng 8, cuộc họp kết thúc với thoả thuận: Phái đoàn quân sự Nhật Bản quay về Tô-ki-ô phổ biến lệnh ngừng bắn "ngay lập tức" tới các đơn vị trong nước và báo ngay cho Đồng minh biết khi có thể đảm bảo an toàn cho việc đổ bộ lên Tô-ki-ô.

        Mãi tới ngày 27 tháng 8, Nhật Bản mới nhắn tin: "Đồng minh có thể đổ bộ lên quân cảng Y-ô-cô-xư-ca". 10 giờ sáng ngày 28 tháng 8, Liên Xô là nước đầu tiên có mặt tại điểm hẹn. Đại diện cho Liên Xô là Tuỳ viên quân sự Đại sứ quán Liên Xô ở Tô-ki-ô. Khoảng 14 giờ, đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ mới đổ bộ lên quân cảng Y-ô-cô-xư-ca.. Phó đô đốc Tư lệnh quân cảng Nhật Bản, sau khi làm lễ "nghênh tiếp" lực lượng Đồng minh, đã rút kiếm ngắn đeo bên người mổ bụng tự sát. Sứ quán Liên Xô tại Nhật Bản ghi nhận, tới ngày 28 tháng 8, hàng trăm sĩ quan Nhật Bản tự sát.

        Đêm 31 tháng 8, tiếng súng cuối cùng mới ngừng nổ, sau khi quân đội Xô-viết hoàn toàn kiểm soát toàn bộ bán đảo Xa-kha-lin. Phía Nhật Bản lại đề nghị, tình hình chưa thật sự an toàn, lễ ký Hiệp định đầu hàng ấn định vào ngày 31 tháng 8 cần lùi lại đến 2 tháng 9.

        Các văn kiện được công bố trong ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Nhật Bản gồm có:

        - Bản "Chiếu chỉ ngày 2 tháng 9 năm 1945 của Thiên hoàng”, có chữ ký và dấu ấn của Vua Hi-rô-hi-tô và chữ ký của Thủ tướng Na-ru-hi-tô (Naruhito) và toàn bộ 14 Bộ trưởng Chính phủ.

        - Bản "Văn kiện đầu hàng", cùng ký có Bộ trưởng Ngoại giao Si-ghê-mít-xư (Shigemitsu) thừa lệnh Thiên hoàng, đại diện Chính phủ Nhật Bản và Tổng tham mưu trưởng U-mê-du (Umezu) thừa lệnh Tổng hành dinh Thiên hoàng. Phía dưới văn kiện đầu hàng, nổi bật dòng chữ "chấp nhận", có chữ ký của Đại tướng Mắc Ác-tơ với tư cách là Tư lệnh tối cao các lực lượng Đồng minh. Tiếp đó là Đô đốc Ni-mít (Nimitz) đại diện cho Mỹ và các đại diện của Trung Quốc, Anh, Liên Xô, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Pháp, Hà Lan, Niu Di-lân…

        Trở lại tình hình Việt Nam, ngay sau khi được tin Nhật Hoàng tuyên bố trên Đài phát thanh trưa 15 tháng 8, ngay hôm sau, 16 tháng 8, đội quân Việt-Mỹ lập tức làm lễ xuất phát từ Tân Trào, tiến về Thái Nguyên đánh quân Nhật. Sở chỉ huy của Mỹ đặt tại Côn Minh chăm chú theo dõi tình hình và ngày 19 tháng 8 được tin Việt Minh đã giành được chính quyền tại Hà Nội. Thiếu tá Mỹ Pát-ti (Patti) chỉ huy đội tiền trạm của Mỹ quyết định đi ngay Hà Nội để chuẩn bị lễ đầu hàng của quân đội Nhật Bản ở khu vực Đông Dương. Nhưng ngày 21 tháng 8, máy bay Mỹ vừa tới vùng trời Hà Nội đã bị súng phòng không của Nhật Bản bắn lên. Ngày 22 tháng 8, Pát-ti và toàn bộ phái đoàn quân sự mới hạ cánh được xuống sân bay Gia Lâm và cho tới lúc này, viên Trung tướng Nhật Bản Chư-si-ha-si (Tsuchihashi) tới gặp Pát-ti "vẫn ngơ ngác không biết tin gì về việc đầu hàng" và cũng "chẳng có đặc phái viên nào từ Tô-ki-ô tới truyền đạt lệnh đầu hàng" mà chỉ có lệnh "tạm ngừng bắn trong vòng 5 ngày, từ ngày 17 đến ngày 22 tháng 8 năm 1945".

        Phái đoàn Mỹ, đồng thời cũng là phái đoàn đầu tiên của Đồng minh vừa đặt chân tới thủ đô Hà Nội ngày 22 tháng 8 thì ngày 23 tháng 8 nhân dân ta giành được chính quyền cách mạng tại Huế, ngày 25 tháng 8 tại Sài Gòn. Pát-ti thừa nhận "chỉ trong vòng 6 ngày (từ 19 đến 25 tháng 8), Việt Minh đã giành được chính quyền trong cả nước".

        Ngày 2 tháng 9, trong lúc tại Vịnh Tô-ki-ô, Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng các lực lượng Đồng minh, thì tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước nhân dân Việt Nam và toàn thế giới "Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập".

        Đúng một tuần sau, bộ phận tiền trạm của Quốc dân đảng Trung Hoa do tướng Tiêu Văn dẫn đầu, mới tới Hà Nội vào ngày 9 tháng 9. Ngày 14 tháng 9, Lư Hán mới tới để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật Bản ở Bắc Đông Dương theo sự phân công của các lực lượng Đồng minh chống phát xít. Cũng mãi tới ngày 28 tháng 9 năm 1945, lễ đầu hàng của quân đội Nhật Bản bại trận mới được tổ chức tại Hà Nội. Ngày 26 tháng 3 năm 1946, những tên lính cuối cùng của Nhật Bản tại Đông Dương mới được đưa hết về nước.

        Những sự kiện lịch sử trên đây khẳng định, cuộc Tổng khởi nghĩa vũ trang 1945 của nhân dân Việt Nam đã diễn ra trong bối cảnh quân đội Nhật Bản chưa đầu hàng các lực lượng Đồng minh chống phát xít và Đạo quân phương Nam của Nhật Bản tại Đông Dương vẫn còn nguyên vẹn vũ khí. Làm rõ hơn sự kiện lịch sử này, càng thấy rõ được sự lãnh  đạo kịp thời, nhạy bén, sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cách mạng Tháng Tám 1945 đã diễn ra rất nhanh chóng, các tổ chức cơ sở của Mặt trận Việt Minh tại các địa phương đã khéo léo tiến công kết hợp với tuyên truyền vận động, lật đổ chính quyền bù nhìn các cấp và "trung lập hoá" quân đội Nhật Bản đang chiếm đóng tại nhiều thành phố, thị xã. Không phải ai khác mà chính các chiến sĩ Việt Minh trong các đội xung phong tuyên truyền đã báo tin cho quân đội Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương biết họ "đã thua trận" và khuyên họ “không can thiệp vào tình hình nội bộ của Việt Nam". Nhiều binh sĩ Nhật Bản, kể cả một số võ quan cấp cao đã chạy sang hàng ngũ cách mạng của Việt Minh.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:19:16 PM

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM LÀ KẾT QUẢ CỦA SỰ CHUẨN BỊ LÂU DÀI CỦA TOÀN ĐẢNG VÀ TOÀN DÂN1

NGÔ VĂN MINH       

        Trong bài viết này, tôi muốn trao đổi với tác giả Xten Tôn-nét-xơn về vai trò của Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

        Ở chương 12, tức chương kết luận của tác phẩm, Xten Tôn-nét-xơn cho rằng: "Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh chưa bao giờ thực sự hoạch định cho Cách mạng Tháng Tám, họ vạch kế hoạch cho một cuộc rút lui nhờ sự trợ giúp của quân Đồng minh. Như vậy, cuộc cách mạng này là tự phát, ứng biến tại trận"2. Quan điểm này của Xten Tôn-nét-xơn giống với quan điểm của Đa-vít Ma (D.G. Marr) trong tác phẩm "Việt Nam 1945-Sự tìm kiếm quyền lực" khi tác giả này cho rằng: "Sau ngày 9-3-1945, các sự kiện diễn ra theo một cái đà tự phát, không có bàn tay điều khiển nào. Những đảng viên Cộng sản và những người tham gia Việt Minh ở địa phương đã giành nhiều thắng lợi do sự ứng phó nhanh chóng của họ trước những thay đổi đột ngột hơn là theo một kế hoạch điều khiển nào"3. Điều này cho thấy, cả hai tác giả đều chưa nghiên cứu một cách thấu đáo đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương trong Cách mạng Tháng Tám mà trong đó quan trọng nhất là sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược qua các nghị quyết Trung ương 6, 7, 8. Với các nghị quyết này, Trung ương Đảng đã tập trung vào những nội dung chủ yếu nhất sau đây:

        Một là, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và chủ trương giải quyết nó trong khuôn khổ từng nước Việt Nam, Lào, Campuchia; coi nhiệm vụ giải phóng dân tộc là quan trọng, cấp bách nhất, việc giải quyết mọi vấn đề khác của cách mạng đều xoay quanh vấn đề cốt lõi này.

        Hai là, lập mặt trận thống nhất dân tộc rộng rãi để phát huy toàn lực cho công cuộc giải phóng dân tộc.

        Ba là, đặt mạnh vấn đề vũ trang cho nhân dân, thành lập quân đội cách mạng, chủ trương từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, coi việc xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời nêu lên những điều kiện thuận lợi để khi thời cơ đến, chủ động lãnh đạo nhân dân giành chính quyền.

        Nội dung sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược này còn được tiếp tục cụ thể hoá, bổ sung thêm trong hàng loạt văn kiện tiếp theo như Chỉ thị về công tác tổ chức (1-12-1941), Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng (21-2-1941), Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (25, 28-2-1943), đặc biệt Chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, của Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra ngày 12 tháng 3 năm 1945, cùng các văn kiện khác của Tổng bộ Việt Minh.

        Tất cả những văn kiện trên không những nêu lên nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho cả giai đoạn mà còn gắn với từng diễn biến chính tn trong nước để chỉ ra kẻ thù chính trước mắt một cách kịp thời, từ thực dân Pháp đến thực dân Pháp-phát xít Nhật, rồi phát xít Nhật-thực dân Pháp và cuối cùng là phát xít Nhật. Cũng qua từng giai đoạn, Trung ương Đảng đã có những dự đoán chính xác về tình hình chính trị trong nước. Trong đó có những dự báo xa từ 5 đến 10 năm để có thời gian chuẩn bị như dự báo chiến tranh Thái Bình Dương sẽ bùng nổ. Liên Xô và các nước dân chủ sẽ chiến thắng chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Lại có những dự báo gần như Nhật sẽ nhảy vào Đông Dương và Nhật sẽ lật Pháp để độc chiếm Đông Dương... Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh còn dự báo chính xác về thời cơ cách mạng: Năm 1941, trong tác phẩm Lịch sử nước ta, lãnh tụ Hồ Chí Minh dự báo năm 1945 Việt Nam sẽ độc lập, và đến tháng 10-1944, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Người lại khẳng định: "Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh?"4.

-------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2001. Bài viết trao đổi về một luận điểm của Xten Tôn-nét-xơn trong cuốn Cách mạng Việt Nam năm 1945-Rudơven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong một thế giới chiến tranh (The Vietnamese Revolution of 1945, Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war), International Peace Research Institute, Oslo. SAGE. Lon don. Newbury-New Delhi, 1991.

        2. S. Tomnesson. The Vietnamese Revolution of 1945, Roosevelt,De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war, Sđd, p. 109.

        3. D.G. Marr. Vietnam 1945-The quest for power. University of California Press. Berkeley-Los Angeles-London, 1995, p.6.

        4. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7: 1940-1945, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 353.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:19:50 PM

        Không những chỉ ra những công việc phải làm, những dự báo chính xác, Trung ương Đảng còn nêu lên những điều kiện nổ ra khởi nghĩa và đảm bảo khởi nghĩa thắng lợi. Chính dựa vào những chủ trương khởi nghĩa từng phần của Nghị quyết Trung ương 8, mà tại Quảng Ngãi, mặc dù đứt liên lạc với Trung ương, Đảng bộ ở đây đã lãnh đạo thành công cuộc khởi nghĩa Ba Tơ vào ngày 11 tháng 3 năm 1945. Trong Tổng khởi nghĩa, chính dựa vào hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Đảng trong chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta là: "Nếu cách mạng Nhật bùng nổ và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940, và quân đội viễn chinh của Nhật mất tinh thần, thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc Tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi"5, nên ngay khi nghe tin Nhật đầu hàng Đồng mình, mặc dù chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương, nhưng Đảng bộ nhiều tỉnh vẫn lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền (trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, chỉ có 13 tỉnh nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương trước khi khởi nghĩa giành chính quyền).

        Các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) và Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (12-3- 1945) thực sự trở thành một kế hoạch bao trùm, định hướng cho Tổng khởi nghĩa. Trong Tổng khởi nghĩa, các Đảng bộ địa phương đã thể hiện tinh thần chủ động, sáng tạo theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương. Đây là sự chủ động vận dụng chủ trương chung, vì thế không thể gán cho nó tính "tự phát, ứng biến tại trận", "không theo một kế hoạch cụ thể nào" như ông Xten Tôn-nét-xơn nhận xét.

        Tất cả mọi sự chủ động, sáng tạo của Đảng bộ các tỉnh đều bắt nguồn từ đường lối chung của Trung ương về giải phóng dân tộc, đã được nêu lên trong các nghị quyết trên. Chính đặc điểm này đã nói lên sự chỉ đạo tài tình trong việc đề ra đường lối chung, thể hiện được những vấn đề lý luận cơ bản để các Đảng bộ địa phương linh hoạt, chủ động trong việc vận dụng. Nếu hiểu đường lối của Trung ương phải vạch ra những vấn đề cụ thể cho từng ngày, từng tháng, thì ở Việt Nam, trong Cách mạng Tháng Tám, không thể tiến hành khởi nghĩa thắng lợi vì điều kiện thông tin bấy giờ không đảm bảo nhanh chóng. Hơn nữa, nếu điều kiện thông tin cho phép thì cũng không nhất thiết phải có một kế hoạch cập nhật như thế.

        Thêm một vấn đề cần làm sáng tỏ nữa là Đảng Cộng sản Đông Dương không hề có ý ỷ lại Đồng minh như Xten Tôn-nét-xơn nhận định. Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố đứng về phía Đồng minh để đánh Nhật. Điều này nói lên chính sách chính nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, nhưng Đảng cũng luôn lưu ý các cấp Đảng bộ và toàn dân một tư tưởng chủ đạo là phải dựa vào sức mình để tạo và chớp thời cơ khởi nghĩa. Ngăn ngừa tư tưởng dựa vào kế hoạch "Hoa quân nhập Việt", lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ rõ đối sách của cách mạng Việt Nam là: "Trong việc giao dịch với Quốc dân đảng Trung Quốc không mong chi nhiều…, chúng nó không vào Việt Nam càng tốt cho ta hơn"6. Trung ương Đảng có chủ trương liên hiệp có điều kiện với những người Pháp kháng chiến đang đánh Nhật, xem đấy là "Đồng minh khách quan" của nhân dân Đông Dương, nhưng cũng lưu ý "phải đề phòng cuộc vận động của bọn Đờ Gôn định khôi phục quyền thống trị của Pháp ở Đông Dương"7 và nhấn mạnh: "Rốt cuộc khẩu hiệu "Dân tộc độc lập" do sức mạnh của quần chúng võ trang mà quyết định, chứ không phải do lời hứa hẹn của bọn Pháp mà quyết định"8. Nghị quyết của Quốc dân đại hội ngày 16, 17 tháng 8 năm 1945 lại chỉ rõ: "Không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được độc lập. Nhiều sự gay go trở ngại sẽ xảy ra. Chúng ta phải khôn khéo và kiên quyết"9.

        Trên đây mới chỉ là quan điểm của tôi về một số luận điểm thiếu khách quan khoa học trong việc nghiên cứu của Xten Tôn-nét-xơn. Song dù sao cũng phải công nhận rằng Xten Tôn-nét-xơn đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam. Do lập trường, quan điểm, phương pháp phân tích vấn đề và một lý do không kém phần quan trọng là Xten Tôn-nét-xơn không khai thác được bao nhiêu nguồn tài liệu ngay tại Việt Nam, đặc biệt là không tiếp cận nguồn văn kiện của Đảng Cộng sản Đông Dương về quá trình cách mạng dẫn đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám nên tác giả đã có những nhận định không phản ánh đúng bản chất của vấn đề.

-------------------
        5. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 392-393.

        6. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 103.

        7, 8. Văn kiện Đảng, tập 7, Sđd, tr. 366, 368-369.

        9. Văn kiện Đảng, tập 7, Sđd, tr 561.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:33:16 PM

1VỀ LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ NHẬT BẢN TẠI ĐÔNG DƯƠNG KHI BÙNG NỔ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 19451

LÊ KIM       

        Cuốn Lịch sử Cách mạng Tháng Tám 1945 do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1995, trong chương Tổng khởi nghĩa, có đoạn viết: "Số lượng quân Nhật ở Đông Dương trong những ngày nhân dân ta tổng khởi nghĩa được phản ánh trong các tài liệu còn chưa được thống nhất. Có tài liệu viết là khoảng 10 vạn. Theo Trần Quang Huy: Bắc Bộ có 4 vạn, Trung và Nam Bộ 3 vạn. Theo Trần Văn Giàu: ở Sài Gòn quân Nhật đông hơn gấp mấy lần các nơi khác. Theo tập san về Cách mạng Tháng Tám: ở Nam Bộ là 6 vạn (sách đã dẫn, trang 198).

        Vậy thì, phải căn cứ vào tài liệu văn bản nào, từ nguồn gốc nào để biết được chính xác số lượng quân đội Nhật Bản trên toàn cõi Đông Dương, cũng như tại Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ khi nhân dân ta đồng loạt vùng lên tiên hành cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang dẫn đến thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám 1945?

        Theo nhiều nhà sử học phương Tây, có một văn bản được đánh giá là chính xác nhất về số lượng và thành phần các đơn vị quân đội Nhật Bản đóng trên từng khu vực Đông Dương. Đó là bản báo cáo quân số mà Bộ Tư lệnh quân đội Nhật Bản tại Đông Dương đệ trình Bộ Tư lệnh các lực lượng Đồng minh khu vực châu Á - Thái Bình Dương sau khi vua Nhật Bản xin hàng. Bản báo cáo này chia làm hai phần. Phần thứ nhất là số quân Nhật Bản tại Đông Dương tính đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, tức là ngày vua Nhật Bản Hi-rô-hi-tô (Hirohito) chính thức tuyên bố xin chấm dứt chiến tranh. Phần thứ hai là những bản báo cáo quân số tiếp theo tính từ ngày 16 tháng 8 năm 1945. So với bản báo cáo thứ nhất (ghi nhận trong ngày 15 tháng 8 năm 1945), những bản báo cáo quân số tiếp theo ghi nhận quân số quân Nhật "tiếp tục bị giảm dần do đào ngũ và tử vong vì những cuộc đụng độ (với Việt Minh) mà Bộ Tư lệnh quân đội Nhật Bản gọi là "những thương vong sau khi chiến tranh (Thái Bình Dương) đã chấm dứt". Điều đáng lưu ý là, những bản báo cáo trong phần hai này đã được ghi cụ thể, tỉ mỉ đến từng cá nhân, từng số lẻ, là cốt để "Bộ Tư lệnh quân đội Đồng minh (chủ yếu là Mỹ) thu xếp phương tiện tàu bè đưa số quân Nhật Bản này từ Đông Dương, cụ thể là từ các bến cảng Sài Gòn và Hải Phòng, về nước. Vì vậy, có thể kết luận, đây là những bản báo cáo quân số chính xác nhất.

        Từ năm 1992, Nhà xuất bản Albin Michel của Pháp đã sưu tầm được những bản báo cáo quân số của Cục Tác chiến - Quân lực thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Nhật Bản đóng tại Đông Dương từ ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi bắt đầu kết thúc chiến tranh Thái Bình Dương đến ngày 4 tháng 12 năm 1945 khi đã hoàn thành việc đầu hàng và giải giáp, tập trung tại các địa điểm chờ ngày xuống tàu về nước. Những tài liệu này đã được dịch sang tiếng Pháp, in trong cuốn Lơ-cléc và Đông Dương từ trang 47 đến trang 50. Những bản báo cáo quân số này cho biết:

        Ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi vua Nhật Bản Hi-rô-hi-tô tuyên bố chấm dứt chiến tranh, số quân Nhật Bản đóng tại Đông Dương (trên địa bàn ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia) là 82.260 tên, gồm toàn bộ lính chiến đấu thuộc Quân đoàn 38 bộ binh và các đơn vị phụ thuộc; các lực lượng không quân, hải quân; cơ quan Tổng hành dinh của Bộ tư lệnh đạo quân Phương Nam, tương đương với một Phương diện quân. Đạo quân này có tới hơn 4 triệu binh lính, trải dài từ miền Nam Trung Quốc qua Mi-an-ma, Thái Lan, Đông Dương và các nước khu vực Đông Nam Á đến tận miền Trung và Nam Thái Bình Dương, nhưng riêng tại Đông Dương chỉ có cơ quan Tổng hành dinh đặt tại Đà Lạt.

        Hà Nội là nơi có tới ba cơ quan chỉ huy, tức Bộ Tư lệnh Quân đoàn 38, sở chỉ huy Sư đoàn 21, sở chỉ huy Sư đoàn 82, có các đơn vị trực thuộc đóng tại Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Móng Cái, Hòn Gai, Hải Phòng… Sở chỉ huy Sư đoàn 83 đặt tại Thanh Hoá, có các đơn vị đóng tại Phủ Lý, Luông Pha Băng, Viếng Chăn… Sở chỉ huy Trung đoàn 62 đặt tại Vĩnh Yên, có các đơn vị đóng tại Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang.

        Đà Nẵng là nơi đặt sở chỉ huy Sư đoàn 2, có các đơn vị đóng tại Biên Hoà, Lộc Ninh, Long Thành, Thủ Dầu Một, Phnôm Pênh…

------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2001.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:33:42 PM

        Phnôm Pênh cũng được Nhật Bản chọn làm địa điểm đặt sở chỉ huy Sư đoàn 55 nhưng cho tới ngày 15 tháng 8 năm 1945 mới chỉ có 1 tiểu đoàn thuộc sư đoàn này tại Thái Lan điều động tới.

        Như vậy, có thể khẳng định, trên tất cả các thành phố, tỉnh lỵ và một số thị trấn ở Việt Nam, Lào, Campuchia đều có quân đội Nhật Bản chiếm đóng. Một điều cần nhấn mạnh là trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương do Nhật Bản phát động ngày 7 tháng 12 năm 1941 và chấm dứt ngày 15 tháng 8 năm 1945, quân đội Nhật Bản ở hầu hết các chiến trường đều bị tổn thất nặng, nhất là trong giai đoạn cuối. Chỉ riêng trên bán đảo Đông Dương (gồm Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia) là hầu như còn nguyên vẹn. Những cuộc ném bom bắn phá của máy bay Mỹ tại Thái Lan và Đông Dương chỉ gây cho quân đội Nhật Bản những thiệt hại nhỏ. Tư lệnh tối cao đạo quân Phương Nam của Nhật Bản, đặt tổng hành dinh tại Đà Lạt, là Thống chế Bá tước Tê-ra-u-chi (Terauchi), ngày 16 tháng 8 năm 1945 đã biết chính xác vua Hi-rô-hi-tô tuyên bố xin hàng từ trưa 15 tháng 8 năm 1945 nhưng vẫn bưng bít che giấu, chỉ phổ biến xuống cấp dưới là “ngừng bắn trong 5 ngày, từ 17 đến 22 tháng 8 năm 1945". Trưa 22 tháng 8 năm 1945, chiếc máy bay "tiền trạm" chở Trưởng phái đoàn quân sự Mỹ là thiếu tá A. Pát-ti (Archimedes Patti) bay từ Côn Minh (Trung Quốc) đi Hà Nội còn bị súng cao xạ phòng không của Nhật Bản bắn, không hạ cánh được xuống sân bay Bạch Mai, phải tiếp đất ở Gia Lâm và cho tới lúc này, quân đội Nhật Bản đóng tại đây "vẫn không được biết gì về việc đầu hàng cả!".

        Như vậy là, khi phát động cuộc Tổng khởi nghĩa vũ trang từ bản Quân lệnh số 1, ban hành lúc 11 giờ đêm 13 tháng 8 năm 1945, các lực lượng vũ trang cách mạng cùng với nhân dân ta đã phải đối phó với một kẻ thù rất mạnh và hiếu chiến. Mặc dù vậy, nhân dân ta vẫn giành được thắng lợi trọn vẹn. Đó là do đã khéo léo kết hợp tiến công quân sự với binh vận và thuyết phục.

        Ngay từ khi Nhật Bản kéo quân vào Đông Dương, Đảng ta một mặt vạch trần dã tâm xâm lược của bọn quân phiệt trong quần chúng nhân dân, mặt khác cũng rất chú trọng vận động binh lính Nhật Bản cũng như đã từng vận động binh lính Pháp và ngụy2. Sau khi Nhật Bản tiến hành đảo chính quân sự tối 9 tháng 3 năm 1945, Đảng ta kịp thời chuyển khẩu hiệu "Đánh Pháp, đuổi Nhật" thành khẩu hiệu "Đánh đuổi phát xít Nhật", tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính, dấy lên một cao trào "Kháng Nhật, cứu nước", tiến hành một loạt cuộc tiến công quân sự, chủ yếu là chống lại những cuộc hành quân càn quét, đồng thời vẫn không ngừng tiến hành công tác địch vận.

        Trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, tại một số nơi, chính Mặt trận Việt Minh, bằng các truyền đơn địch vận, đã thông báo cho binh lính Nhật Bản biết tin vua Nhật Bản đã tuyên bố đầu hàng, trước khi những đơn vị này được cấp trên thông báo chính thức. Ở một số nơi như Bắc Kạn, lực lượng cách mạng đã bao vây quân đội Nhật Bản đóng trong doanh trại, buộc chúng phải nộp vũ khí rồi mới cho chúng rút khỏi thị xã, kéo về Thái Nguyên. Tại Thái Nguyên, lực lượng bộ đội Việt - Mỹ vừa tiến công bao vây, vừa kêu gọi quân đội Nhật Bản đầu hàng và khi tình hình còn đang giằng co, đã linh hoạt chuyển sang giành chính quyền ở thị xã. Tại Hà Nội, trong lúc lực lượng cách mạng đang bao vây trại bảo an binh thì quân đội Nhật Bản huy động cả xe tăng tới ứng cứu, nhưng nhân dân ta lại lập tức bao vây và thuyết phục lính Nhật, buộc chúng phải rút lui. Tại nhiều nơi khác, mặc dù lực lượng cách mạng còn nhỏ yếu nhưng đã dựa được vào sức mạnh của quần chúng nhân dân, giành được chính quyền cách mạng ngay trước mũi súng của quân đội Nhật Bản.

        Tại Sài Gòn, quân đội Anh kéo vào làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật Bản, đã thâm độc sử dụng ngay binh linh Nhật Bản đàn áp lực lượng cách mạng, nhưng đã bị nhân dân ta chống trả quyết liệt. Các bản báo cáo quân số của Nhật Bản sau ngày 15 tháng 8 năm 1945 tiếp tục ghi nhận, từ ngày 16 tháng 8 đến ngày 4 tháng 12 năm 1945, quân đội Nhật Bản đóng tại Đông Dương tiếp tục bị suy giảm: 109 binh sĩ bị chết, 132 bị thương, 72 mất tích, 478 đào ngũ. Trong số này, chủ yếu là những thương vong tại Nam Bộ; chỉ tính đến ngày 30 tháng 10 năm 1945 đã có 119 binh sĩ bị chết và bị thương, từ ngày 15 tháng 8 đến ngày 30 tháng 10 năm 1945 có tới 439 đào ngũ, rất nhiều người đã chạy sang hàng ngũ Việt Minh.

--------------------
        2. Trong Văn kiện Đảng toàn tập do NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 2000, tập 7, tr. 479, có in lại một tờ truyền đơn kêu gọi binh sĩ Nhật do Mặt trận Việt Minh tán phát từ tháng 1-1942.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:36:17 PM

VỀ THỜI GIAN GIÀNH CHÍNH QUYỀN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 19451

PHAN TRỌNG BÁU       

        Thời gian giành chính quyền toàn quốc nói chung trong Cách mạng Tháng Tám tưởng như không có vấn đề gì phải bàn cãi. Trong bài "Tìm hiểu tính chất và đặc điểm của Cách mạng Tháng Tám”2, tác giả đã viết "Chỉ trên 10 ngày nhân dân cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nắm được chính quyền trong toàn quốc". Trong tác phẩm "Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám"3, tác giả Nguyễn Anh Dũng lại nhích lên "chỉ trong vòng hai tuần lễ đã lật đổ được toàn bộ chính quyền thực dân phong kiến, thiết lập được chính quyền cách mạng trên khắp đất nước". Mười ngày hay 15 ngày là một con số có thể xê dịch chút ít nhưng không quá 20 ngày.

        Vậy phạm vi thời gian giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám nên hiểu thế nào? Muốn xác định được vấn đề này cần giải quyết hai điểm:

        1. Thế nào là giành được chính quyền trong một địa phương? (chủ yếu là một tỉnh).

        2. Trong số 59 tỉnh, thành giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám thì nên lấy địa phương nào làm mốc mở đầu và địa phương nào làm mốc kết thúc, qua đó mà xác định thời gian, tức là số ngày giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám là 15, 20 ngày, một tháng hay lâu hơn nữa?

        Trong Cách mạng Tháng Tám, việc giành chính quyền trong một địa phương đã diễn ra không đồng đều và dưới nhiều hình thái khác nhau: Hoặc bắt đầu từ nông thôn rồi kết thúc ở thành thị, tỉnh lỵ (gồm 29 tỉnh thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ), hoặc bắt đầu từ tỉnh lỵ rồi kết thúc ở huyện và xã (gồm 15 tỉnh Nam Bộ và 7 tỉnh Nam Trung Bộ), cũng có tỉnh thì cuộc khởi nghĩa nổ ra cùng một ngày ở thị xã và ở huyện (gồm 4 tỉnh Trung Bộ và 4 tỉnh Nam Bộ). Nhưng vô luận diễn ra dưới hình thái nào thì việc giành chính quyền cũng phải được hoàn thành bằng việc đánh đổ toàn bộ chính quyền thực dân, phong kiến và bọn tay sai phát xít Nhật và Tàu Tưởng, phải chiếm được trung tâm hành chính và xác lập bằng cuộc ra mắt của chính quyền cách mạng. Do đó, có tỉnh như Quảng Ngãi thì ngay từ ngày 11 tháng 3 năm 1945 chi bộ Đảng ở Ba Tơ đã khởi nghĩa, lập chính quyền cách mạng, mở đầu giai đoạn khởi nghĩa từng phần, chuẩn bị khẩn trương cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Sau khi nghe tin Nhật hoàng chấp nhận đầu hàng Đồng minh, trưa ngày 14 tháng 8 năm 1945, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi quyết định tiến hành khởi nghĩa. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, lực lượng khởi nghĩa đã chiếm dinh tỉnh trưởng và các công sở quan trọng như kho bạc, nhà bưu điện, sở mật thám… bắt tỉnh trưởng làm con tin và đóng vai trung gian điều đình giữa Nhật và ta. Như vậy, ngày khởi nghĩa thành công và giành được chính quyền ở tỉnh Quảng Ngãi là ngày 16 tháng 8 năm 1945. Nhưng vì bọn Nhật và một số phản cách mạng còn định cướp lại chính quyền nên ta đã phải dùng lực lượng vũ trang, vừa đánh vừa đàm phán, cuối cùng ngày 21 tháng 8 năm 1945, bọn Nhật mới chịu chấp nhận ngửng bắn, những mưu toan của bọn phản động mới bị đập tan và thị xã Quảng Ngãi hoàn toàn giải phóng. Ngày 30 tháng 8 năm 1945, chính quyền ta mới ra mắt nhân dân.

        Tuy vậy, không phải hễ đã chiếm được tỉnh lỵ là coi như việc giành chính quyền ở địa phương kết thúc. Thái Bình là một ví dụ.

        Sau khi nhận được tin Hà Nội biểu tình tuần hành thị uy ngày 17 tháng 8 năm 1945, mặc dù chưa nhận được lệnh của Trung ương, nhưng thấm nhuần chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", Tỉnh ủy Thái Bình đã họp khẩn cấp và vạch kế hoạch giành chính quyền ở các phủ huyện rồi tập trung lực lượng đánh chiếm thị xã, giành chính quyền toàn tỉnh. Nhưng tình hình đã diễn ra ngược lại. Nhờ tinh thần năng động sáng tạo của Đoàn Thanh niên Cứu quốc thị xã, tuy chưa nhận được lệnh khởi nghĩa nhưng chiều ngày 18 tháng 8 năm 1945, các đồng chí đã quyết định huy động lực lượng quần chúng tham gia khởi nghĩa. Sáng 19 tháng 8 năm 1945, một cuộc mít tinh lớn diễn ra ở thị xã rồi sau đó biểu tình tuần hành chiếm các công sở, bọn lính Nhật và chính quyền bù nhìn không dám phản ứng. Ta nhanh chóng làm chủ tình hình và chính quyền cách mạng đã điều hành mọi việc trong thị xã. Đồng thời với khởi nghĩa thắng lợi ở thị xã, các huyện Quỳnh Côi, Đông Quan, Phụ Dực, Tiên Hưng cũng giành được chính quyền. Từ ngày 20 đến 22 tháng 8, các huyện Duyên Hà, Thụy Anh, Hưng Nhân, Kiến Xương, Vũ Thư, Tiền Hải cũng tiếp tục thành lập chính quyền cách mạng ở địa phương. Riêng huyện Thư Trì thì ngày 25 tháng 8 mới giành được chính quyền vì còn phải huy động quần chúng đắp đê Mỹ Lộc bị vỡ do lụt gây ra.

------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2002.

        2. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng. Tìm hiểu tính chất và đặc điểm của Cách mạng Tháng Tám, Hà Nội, 1963, tr. 24.

        3. Nguyễn Anh Dũng. Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám, NXB Sự thật, Hà Nội, 1989, tr. 166.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:36:47 PM

        Như vậy, hình thái giành chính quyền ở Thái Bình lại ngược với Quảng Ngãi, là từ tỉnh lỵ về các huyện. Mặc dầu vậy, ngày khởi nghĩa thắng lợi ở Thái Bình không thể là ngày 19 tháng 8 năm 1945 mà phải là ngày mà toàn tỉnh đã được giải phóng, ngày 25 tháng 8 năm 1945, cũng đồng thời là ngày ra mắt của chính quyền cách mạng tỉnh.

        Ở trên chúng tôi đã trình bày hai trường hợp để xác định quan niệm thế nào là giành được chính quyền ở một tỉnh, nghĩa là trong mọi trường hợp, dù ở huyện về hay ở tỉnh phát triển xuống, cũng phải giải phóng được lãnh thổ, chiếm được thủ phủ, chính quyền cách mạng được ra mắt nhân dân, thì nhiệm vụ giành chính quyền mới coi như hoàn thành.

        Nếu chúng ta có thể nhất trí với một chuẩn mực như đã trình bày thì vẫn còn những ngoại lệ, mà tỉnh Vĩnh Yên là một dẫn chứng.

        Vĩnh Yên là một tỉnh có phong trào phát triển mạnh, từ sau ngày 9 tháng 3 năm 1945 đến đầu tháng 8 năm 1945, tỉnh đã có vùng giải phóng và huyện Lập Thạch đã có ủy ban Dân tộc giải phóng. Từ ngày 18 đến 24 tháng 8, ta đã giành được chính quyền ở nhiều huyện như Bình Xuyên (18-8), Vĩnh Tường (21-8), Yên Lạc (22-8), Tam Dương (24-8)… Trong khi đó tình hình ở thị xã Vĩnh Yên lại diễn ra phức tạp vì bọn Đại Việt và Quốc dân đảng đã giành được chính quyền trước ta và gây ra cuộc xô xát làm đổ máu hàng trăm người khi ta tổ chức biểu tình tiến vào thị xã. Cuộc biểu tình giành chính quyền về tay cách mạng bị thất bại. Tuy vậy, cuối tháng 9 năm 1945, ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Vĩnh Yên vẫn được thành lập và đóng trụ sở tại huyện Yên Lạc. Sau đó, ta tiến hành những cuộc tiến công vào bọn phản cách mạng nhưng nhờ sự chi viện của quân đội Tưởng nên chúng vẫn tồn tại. Cho mãi đến giữa tháng 6 năm 1946, khi quân Tưởng rút đi, ta mới tiêu diệt được bọn phản động và thị xã Vĩnh Yên mới được hoàn toàn giải phóng. Nếu theo quy chuẩn như đã nêu thì Vĩnh Yên chưa giành được chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám mà phải gần một năm sau chính quyền ở tỉnh này mới hoàn toàn thuộc về ta.

        Cũng trong tình hình tương tự (Quốc dân đảng và lực lượng phản động đã cướp chính quyền từ trước), mà tỉnh Hà Giang, mặc dầu có 2/3 diện tích tỉnh nằm trong Khu Giải phóng, nhưng mãi đến 25 tháng 12 năm 1945, ta mới giành được chính quyền. Hay như Hải Ninh phải sang tháng 2 năm 1946, Móng Cái tháng 7 năm 1946, Lào Cai tháng 11 năm 1946. Đặc biệt, ở Lai Châu, do thế lực của tầng lớp thổ ty còn mạnh, ta chỉ tổ chức giành được chính quyền ở châu Quỳnh Nhai, còn toàn tỉnh phải đến mấy năm sau, khi bộ đội ta tiến vào Tây Bắc, giải phóng một vùng rộng lớn của đất nước, thì Lai Châu mới trở về với chính quyền cách mạng vào cuối 1952.

        Tóm lại, thời gian giành chính quyền ở các địa phương trong Cách mạng Tháng Tám không phải chỉ nói một cách đơn giản là trong hơn 10 ngày hay hơn 15 ngày mà có thể phải quan niệm một cách rõ ràng như sau:

        - Nếu lấy Quảng Ngãi là tỉnh đầu tiên trong toàn quốc giành được chính quyền (16-8-1945) và tỉnh cuối cùng là Lào Cai, mãi tới ngày 8 tháng 11 năm 1946 mới hoàn thành nhiệm vụ, thì thời gian giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám sẽ kéo dài đến thời điểm nào?

        - Hiện đã có một số cách tính thời gian, chúng tôi xin nêu ra 2 cách suy nghĩ về vấn đề này, xin được cùng trao đổi:

        + Nếu tính thời gian giành chính quyền trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thì có thể lấy mốc đầu tiên là Quảng Ngãi (16-8-1945) và mốc kết thúc là Vĩnh Yên (cuối tháng 9-1945), như vậy cũng phải trên 1 tháng.

        + Còn nếu tính thời gian giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thì phải kéo dài đến ngày 8 tháng 11 năm 1946, là ngày chính quyền cách mạng tỉnh Lào Cai được thành lập, tức là 1 năm 2 tháng 8 ngày. Vì đó mới là ngày toàn bộ chính quyền về tay nhân dân ta.

        Đương nhiên, đây là cái nhìn chung mà không tính đến những ngoại lệ như Hà Cối, Ba Chẽ, các đảo Cô Tô, Vạn Hoa của tỉnh Móng Cái, ta chưa kịp giải phóng thì Pháp đã chiếm và phải tới cuối năm 1954, sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, những địa phương này mới trở về với đất nước thân yêu.

        Tóm lại, sở dĩ cần phân biệt thời gian giành chính quyền trong Tổng khởi nghĩa với thời gian giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám vì có như thế chúng ta mới thấy được cái phong phú, đa dạng của Cách mạng Tháng Tám và đó cũng chính là thực tế diễn biến của cuộc cách mạng to lớn này của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:39:36 PM

BÀN THÊM VÊ TÍNH CHẤT CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM1

VŨ QUANG HIỂN       

        Khi viết về tính chất của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, đồng chí Trường Chinh khẳng định đó là “một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mang tính chất dân chủ mới”2. Song gần đây có ý kiến cho rằng Cách mạng Tháng Tám là “một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình”3. Sự thống nhất trong những nhận định ấy là tính chất giải phóng dân tộc, còn tính chất dân chủ thì cách hiểu có khác nhau. Vậy xin bàn thêm cho rõ về vấn đề này.

        Tính chất của một cuộc cách mạng được quy định bởi nhiệm vụ mà nó giải quyết, ở lực lượng tham gia và kết quả mà nó mang lại. Đây là những vấn đề có liên quan chặt chẽ đến đường lối cách mạng của Đảng, vì Cách mạng Tháng Tám là thành quả của 15 năm đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để có đường lối đúng đắn, Đảng phải trải qua một quá trình đấu tranh về tư tưởng, nhất là trong nhận thức, về nhiệm vụ chủ yếu và lực lượng cách mạng.

        Xã hội Việt Nam, khi bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị, có hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc xâm lược và mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến, trong đó mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu. Những mâu thuẫn ấy quy định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là chống đế quốc và chống phong kiến, mà chống đế quốc là nhiệm vụ hàng đầu.

        Xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến có nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau, với địa vị kinh tế, thái độ chính trị và khả năng cách mạng khác nhau. Công nhân và nông dân có số lượng đông nhất,bị áp bức bóc lột nặng nề nhất, có tinh thần đấu tranh hăng hái nhất, giữ vai trò động lực cách mạng, trong đó công nhân là giai cấp lãnh đạo. Các tầng lớp khác như học sinh, nhà buôn nhỏ, địa chủ vừa và nhỏ, trong quan hệ với công nhân và nông dân, có mặt hạn chế, nhưng trong quan hệ với đế quốc thì họ cũng phải chịu nỗi nhục mất nước. Vì thế, trong một mức độ nhất định, họ có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc, nên họ có khả năng tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Họ không phải là đối tượng của cách mạng giải phóng dân tộc, mà là "bầu bạn cách mệnh của công nông"4. Bản thân giai cấp nông dân Việt Nam cũng có đặc điểm: vừa mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc, vừa mâu thuẫn với địa chủ phong kiến về quyền lợi ruộng đất. Họ có cả hai yêu cầu độc lập dân tộc và ruộng đất, nhưng họ luôn đặt lợi ích dân tộc cao hơn. Vấn đề ruộng đất không phải là duy nhất, cũng không phải là vấn đề số một của giai cấp nông dân ở thuộc địa. Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng thuộc địa là giải phóng dân tộc, mà chủ yếu là giải phóng nông dân, vì chủ nghĩa đế quốc xâm lược và thống trị nước ta chủ yếu là thống trị và bóc lột nông dân. Vấn đề dân tộc là yếu tố quyết định tính chất độc đáo của cách mạng thuộc địa. Vì thế, trong cách mạng ở thuộc địa, trong khi đồng thời phải giải quyết cả hai vấn đề dân tộc và vấn đề ruộng đất, thì vấn đề dân tộc luôn được đặt lên hàng đầu.

        Trong thời kỳ vận động cứu nước 1939-1945, Đảng có sự chuyển hướng chiến lược cách mạng. Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, do Nguyễn Ái Quốc chủ trì (5-1941), nhấn mạnh mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức với bọn đế quốc-phát xít xâm lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Hội nghị phân tích:

        “…Dẫu là anh tư bản, anh địa chủ, một anh thợ hay một anh dân cày đều cảm thấy cái ách nặng nề của đế quốc là không thể nào sống được. Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng.

        Pháp-Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương"5.

        “…Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tủ, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, nếu không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc"6. "Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương, hợp với nguyện vọng chung của tất cả nhân dân Đông Dương… cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng" (tác giả nhấn mạnh), vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng". "Trong giai đoạn hiện tại ai cũng biết rằng nếu không đánh đuổi được Pháp-Nhật thì vận mạng của dân tộc phải chịu kiếp trâu ngựa muôn đời mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết được. Vậy thì trong lúc này muốn giải quyết nhiệm vụ giải phóng không thể đưa thêm một nhiệm vụ thứ hai chưa cần thiết với toàn thể nhân dân, giải quyết mà có hại cho nhiệm vụ thứ nhất".

------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2002.

        2. Trường Chinh. Tuyển tập, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 1 72.

        3. Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị. Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975) - Thắng lợi và bài học, NXB CTQG, Hà Nội, 2000, tr. 65.

        4. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2, NXB CTQG, Hà Nội, 1995, tr. 226.

        5. Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương. Văn kiện Đảng 1930-1945, tập 3, NXB Sự thật, Hà Nội, 1977, tr. 151.

        6. Văn kiện Đảng, tập 3. Sđd, tr. 196.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:40:12 PM

        Việc tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất "không phải đi lùi lại một bước, mà chỉ bước một bước ngắn hơn để có sức mà bước một bước dài hơn"7. Trên cơ sở đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, Đảng chủ trương tập hợp mọi lực lượng chống đế quốc. Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định "Đảng ta phải thống nhất lực lượng cách mạng của nhân dân Đông Dương dưới một hiệu cờ thống nhất, tất cả các tầng lớp, các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo có tinh thần chống Pháp, chống Nhật muốn độc lập cho đất nước, thành một mặt trận cho cách mạng chung"(8 ). Nghị quyết của Hội nghị giải thích cụ thể việc tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất:

        "Ngay bây giờ nếu ta nêu khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày, như thế chẳng những ta bỏ mất một lực lượng đồng minh, một lực lượng hậu thuẫn trong cuộc cách mạng đánh đuổi Pháp-Nhật mà còn đẩy lực lượng ấy về phe địch làm thành hậu bị quân cho phe địch nữa. Nhưng chúng ta cũng đừng tưởng rằng chưa giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân sẽ làm giảm bớt sức chiến đấu đâu. Không, nông dân cũng không giảm bớt sự hăng hái tranh đấu mà vẫn nỗ lực tranh đấu mạnh hơn vì trong cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc họ cũng được hưởng nhiều quyền lợi to tát". Đó là "lật một cái ách bóc lột nặng nề nhất của họ". "Như vậy không giảm bớt lực lượng cách mạng của nông dân trong cuộc tranh đấu chống Pháp, chống Nhật, mà lại còn tăng thêm những lực lượng đồng minh. Như vậy là giai cấp vô sản đi đúng con đường chính trị hoàn toàn có lợi mới mau hoàn thành cách mạng"9.

        Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Mặt trận Việt Minh được thành lập, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp mọi người Việt Nam có lòng yêu nước thương nòi, đưa cả dân tộc vùng dậy trong cao trào kháng Nhật cứu nước, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở cả nông thôn và thành thị, làm cho Cách mạng Tháng Tám mang tính chất dân tộc sâu sắc. Theo cách dùng từ của Lê-nin trong tác phẩm Tổng kết một cuộc tranh luận về quyền tự quyết, thì đó chính là một "lò lửa khởi nghĩa dân tộc"10. Hình thức chính quyền là sự phản ánh tính chất của cách mạng, phản ánh lực lượng tham gia cách mạng. Trước năm 1939, Đảng chủ trương thành lập chính quyền công nông. Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (11-1939) chủ trương thành lập chính quyền với hình thức cộng hoà dân chủ, song phạm vi là trên toàn Đông Dương. Hội nghị lần thứ 8 (5-1941) đã giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thành lập ở mỗi nước một mặt trận, riêng ở Việt Nam Hội nghị chủ trương "sau lúc đánh đuổi được Pháp-Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ, chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cửa toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp-Nhật và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam đều thảy được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy"11.

        Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc gần một thế kỷ trên đất nước Việt Nam, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, giải quyết thành công vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Đó là thắng lợi của đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn của Đảng Cộng sản và tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh.

        Đồng chí Trường Chinh khẳng định rằng "Cách mạng Tháng Tám Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Mục đích của nó là làm cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách đế quốc, làm cho nước Việt Nam thành một nước độc lập tự do"12.

        Vậy cuộc cách mạng này có tính chất dân chủ không? Có, nhưng chưa thật sự là điển hình.

        Tính chất dân chủ của Cách mạng Tháng Tám thể hiện ở chỗ "nó chống lại phát xít Nhật và bọn tay sai phản động, và nó là một bộ phận của cuộc chiến đấu vĩ đại của lực lượng dân chủ, tiến bộ trên thế giới chống phát xít xâm lược". "Do Cách mạng Tháng Tám, một phần ruộng đất của đế quốc và Việt gian đã bị tịch thu, địa tô được tuyên bố giảm 25%, một số nợ lưu cũ được xoá bỏ"13.

        Cách mạng Tháng Tám "chưa làm cách mạng ruộng đất, chưa thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng", "chưa xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, chưa xoá bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến để cho công nghiệp có điều kiện phát triển mạnh... quan hệ giữa địa chủ và nông dân nói chung vẫn như cũ. Chính vì thế Cách mạng Tháng Tám có tính chất dân chủ, nhưng tính chất đó chưa được đầy đủ và sâu sắc (tác giả -VQH-nhấn mạnh)"14. Cách mạng Tháng Tám là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình. Nhưng tính chất dân chủ của nó chưa điển hình. Phân tích tính chất của Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Trường Chinh kết luận: "Cách mạng Tháng Tám Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mang tính chất dân chủ mới. Nó là một bộ phận khăng khít của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam"15.

------------------
        7,8. Văn kiện Đảng, tập 3, Sđd, tr. 202, 203.

        9. Văn kiện Đảng, tập 3, Sđd. tr. 202, 203

        10. Lênin Toàn tập, tập 30, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1981 , tr. 67.

        11. Trường Chinh. Tuyển tập, Sđd. tr. 169-172.

        12. Văn kiện Đảng, Sđd, tr. 197-205.

        13, 14, 15. Trường Chinh. Tuyển tập, Sđd, tr. 169-172.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:43:44 PM
           
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 - TRAO ĐỔI THÊM VỀ KHÁI NIỆM KHỞI NGHĨA VÀ CÁCH MẠNG1
   
NGUYỄN MẠNH HÀ        

        Chỉ còn một năm nữa là tròn 60 năm diễn ra cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 long trời lở đất, lật nhào chế độ phong kiến hơn một nghìn năm và ách thống trị thực dân hơn 80 năm, đưa đến sự thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đây là một sự kiện lịch sử đã được sách báo đề cập đến nhiều trong mấy chục năm qua, trên nhiều khía cạnh. Đặc biệt, đã có khá nhiều nhà Việt Nam học nước ngoài như Ken-pốt (Hà Lan), Đa-vít Ma (Mỹ), Sten Tôn-nét-xơn (Na Uy)... đã xuất bản những cuốn chuyên khảo về sự kiện lịch sử này với nhiều tư liệu mới, những cách tiếp cận và đánh giá vấn đề đáng chú ý.

        Trong bài viết này, chúng tôi muốn nêu lên một số vấn đề để cùng nghiên cứu, trao đổi qua cuốn sách của Đa-vít Ma: "Việt Nam 1945 - Sự tìm kiếm quyền lực"2.

        Đa-vít Ma lần đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1965, là lính quân dịch thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ. Trong thời gian ở miền Nam Việt Nam, ông đã tìm hiểu và cưới vợ là một người phụ nữ ở Đà Nẵng, gốc Huế. Do tham gia phong trào sinh viên Sài Gòn phản đối chiến tranh, ông bị chính quyền Mỹ trục xuất, phải sang Ốt-xtrây-li-a cư trú 10 năm mới được nhập lại quốc tịch Mỹ. Đa-vít Ma quan tâm nghiên cứu về lịch sử chính trị, xã hội của Việt Nam khá sớm (1967), và thực sự bắt đầu từ năm 1983 khi ông tiếp xúc với Trung tâm tư liệu của Pháp ở Aix-en Prô-văng-xơ. Ông đã công bố nhiều công trình như: Các phong trào văn thân yêu nước cuối thế kỷ XIX; Việt Nam trước sự phán xét (1920-1945), viết về các phong trào cách mạng ở Việt Nam. Ông đang thu thập tư liệu để viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và thời kỳ đổi mới của Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế.

        Cuốn sách "Việt Nam 1945 - Sự tìm kiếm quyền lực" là một công trình đồ sộ, được nghiên cứu khá công phu. Giáo sư Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trong buổi họp giới thiệu cuốn sách của Đa-vít Ma, ngày 2 tháng 12 năm 1995 tại Hà Nội, đã cho rằng cuốn sách có một "nền tảng tư liệu cực kỳ phong phú - phong phú nhất từ trước đến nay, kết hợp cả tư liệu bên trong (Việt Nam) và bên ngoài". Cuốn sách đã đặt ra nhiều vấn đề mới, lôi cuốn được sự quan tâm, tranh luận vì đã đặt thẳng các vấn đề một cách mạnh mẽ, có căn cứ.

        Qua cuốn sách và qua trao đổi trực tiếp với Đa-vít Ma, chúng tôi thấy ông đã nêu ra một loạt vấn đề còn cần phải tiếp tục nghiên cứu, trao đổi. Ví dụ như ông đặt vấn đề: Sự kiện Tháng Tám năm 1945 có phải là một cuộc cách mạng hay không? Ông cho rằng: sự kiện Tháng Tám 1945 ở Việt Nam chỉ là cuộc Tổng khởi nghĩa chứ không phải là một cuộc cách mạng. Theo Đa-vít Ma, cách mạng phải là một quá trình lâu dài. Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 mới chỉ là bước khởi điểm của cuộc cách mạng, sau đó Việt Nam còn phải trải qua 2 cuộc kháng chiến nữa mới hoàn thành cuộc cách mạng. Một lý lẽ nữa mà Đa-vít Ma đưa ra là vì cuộc Tổng khởi nghĩa này không phản ánh được sự thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội lúc đó. Thậm chí ông còn cho rằng "nó giống như một cuộc đảo chính hơn" vì chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn. Còn mục tiêu của Cách mạng là độc lập, hoà bình, thống nhất, dân giàu nước mạnh thì mãi đến năm 1975, 1976 mới đạt được.

        Đây là ý kiến nhìn nhận của một nhà nghiên cứu lâu năm về các vấn đề lịch sử Việt Nam cận hiện đại, đáng được quan tâm xem xét. Dưới góc độ nghiên cứu về Cách mạng Tháng Tám, chúng tôi xin cùng trao đổi về vấn đề này với Đa-vít Ma theo từng điểm mà ông nêu ra.

        1. Về mục tiêu của cuộc cách mạng.

        Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương) đã xác định những nhiệm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Những nhiệm vụ này thể hiện trong việc đề ra và giải quyết hai vấn đề cơ bản là dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống phong kiến. Sau đó, theo yêu cầu và diễn biến tình hình, Đảng dần dần xác định nhiệm vụ trọng tâm là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc. Điều này phù hợp với đòi hỏi và tình hình thực tiễn là nhằm giải quyết mâu thuẫn chủ yếu giữa dân tộc bị áp bức với đế quốc, thực dân xâm lược, giải quyết nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng ở một nước thuộc địa là giải phóng dân tộc. Các hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939); lần thứ 7 (11-1940) và đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941) đã dần dần hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Tháng 8 năm 1945, trước những điều kiện chủ quan, khách quan chín muồi, Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chớp thời cơ lãnh đạo toàn dân từ Bắc chí Nam đứng dậy thực hành cuộc Tổng khởi nghĩa, lật đổ sự thống trị phong kiến, thực dân, giành độc lập cho dân tộc. Như vậy, mục tiêu đề ra ban đầu của cuộc cách mạng là giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, cơ bản đã được thực hiện. Lần đầu tiên, nhân dân Việt Nam có được chính quyền đại diện cho quyền lợi chính đáng của mình. Lần đầu tiên, toàn dân được tự do cầm lá phiếu đi bầu những đại diện cho mình trong Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số tháng 8-2004.

        2. David Marr, Vietnam 1945 - The Quest for Power, NXB Đại học California, Ber Keley, 1995.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:45:01 PM

        Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đến thời điểm Tháng Tám năm 1945, đã đem lại độc lập cho dân tộc, quyền làm chủ vận mệnh của mình cho mỗi người dân. Đấy là điều cơ bản không thể phủ nhận. Tuy rằng, ngay sau khi Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trên phạm vi cả nước chưa đầy một tháng, nhân dân Việt Nam lại phải cầm súng tiến hành kháng chiến chống lại cuộc xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp, tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Trong Tuyên ngôn độc lập đọc trước hàng chục vạn người tại Quảng trường Ba Đình chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà"3.

        2. Về tính chất của cuộc cách mạng

        Trước hết, chúng tôi muốn trình bày sơ lược khái niệm Khởi nghĩa. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin thì khởi nghĩa là một hình thức đặc biệt của đấu tranh chính trị, là một trong những phương thức đấu tranh cao nhất của dân tộc hoặc giai cấp bị áp bức nhằm lật đổ bộ máy thống trị cũ giành chính quyền. Lực lượng tiến hành khởi nghĩa gồm đông đảo quần chúng nhân dân có trang bị vũ khí, có thể có lực lượng vũ trang được xây dựng từ trước làm nòng cốt hoặc hỗ trợ. Ngoài ra, còn có thể có một bộ phận binh lính được giác ngộ tham gia.

        Khởi nghĩa là một nghệ thuật và chỉ nổ ra, giành thắng lợi khi hội đủ một số điều kiện và khi tình thế cách mạng xuất hiện như: khi tình hình chính trị - xã hội khủng hoảng sâu sắc; tầng lớp thống trị không thể thống trị như cũ được nữa; quần chúng đã được chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng hành động; đội tiên phong lãnh đạo khởi nghĩa đã quyết tâm đưa quần chúng xuống đường. Khởi nghĩa phải dựa vào một cao trào cách mạng của nhân dân chứ không thể dựa vào một âm mưu, khởi nghĩa chỉ có thể diễn ra ở từng phần lãnh thổ hoặc địa phương, gọi là khởi nghĩa từng phần nhằm chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa hay tạo điều kiện để phát triển thành đấu tranh cách mạng, v.v...

        Đối chiếu với thực tế diễn ra vào tháng 8 năm 1945, ta thấy khái niệm cũng như các yếu tố, điều kiện của cuộc khởi nghĩa đều có. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ biểu hiện như nêu ở trên, chúng ta sẽ không thấy hết được tính rộng lớn về phạm vi và chiều sâu của cuộc cách mạng này.

        Bây giờ xin trình bày về khái niệm Cách mạng. Theo quan niệm chung, cách mạng được hiểu là một sự thay đổi căn bản, sự nhảy vọt về chất trong quá trình phát triển tự nhiên, xã hội hoặc nhận thức. Trong lĩnh vực xã hội, khái niệm về cách mạng cũng để chỉ sự biến đổi sâu sắc, triệt để không cải lương nửa vời, làm thay đổi tận gốc rễ chế độ xã hội, đưa giai cấp tiên tiến lên nắm chính quyền. Còn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (mà Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành, đạt kết quả vĩ đại vào Tháng Tám năm 1945) là một loại hình đấu tranh dân tộc và giai cấp ở các nước phụ thuộc, thuộc địa và nửa thuộc địa. Nhiệm vụ của cuộc cách mạng là đánh đổ sự thống trị của thực dân, giành lại quyền độc lập cho dân tộc, xoá bỏ mọi tàn tích của chế độ phong kiến (và tiền phong kiến), đem lại ruộng đất cho nhân dân, xây dựng chế độ cộng hòa dân chủ, mở đường cho xã hội phát triển. Lực lượng chủ yếu của cuộc cách mạng đó là nhân dân, được tập hợp trong một mặt trận dân tộc thống nhất.

        Như thế, nếu cũng đem đối chiếu với thực tế diễn biến của sự kiện Tháng Tám năm 1945, chúng ta thấy những tiêu chí để định tính một cuộc cách mạng rất rõ. Đây thực sự là một cuộc cách mạng mang tính chất dân tộc dân chủ nhân dân sâu sắc. Bởi vào thời điểm đó, các mâu thuẫn của xã hội thuộc địa, nửa phong kiến đã trở nên rất gay gắt, trong đó mâu thuẫn chủ yếu nhất là giữa đế quốc và nhân dân Việt Nam, đòi hỏi phải được giải quyết bằng một cuộc cách mạng. Vì thế, các hội nghị của Trung ương Đảng trước đó xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương, trong đó có Việt Nam, là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Cuộc cách mạng này vẫn bao gồm hai nội dung chống đế quốc và chống phong kiến, là hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo.

---------------
        3. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, NXB CTQG, Hà Nội, 2000, tr. 3.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:46:23 PM

        3. Trở lại với những nội dung mà Đa-vít Ma nêu lên, chúng tôi xin trình bày như sau.

        Thứ nhất, theo quan điểm của Đa-vít Ma: Cách mạng phải là một quá trình lâu dài, Cách mạng Tháng Tám mới chỉ là khởi điểm mà phải trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; vì nó không phản ánh được sự thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội. Như trên đã trình bày, Luận cương chính trị của Đảng ta, được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương thông qua tháng 10 năm 1930, đã nhấn mạnh: cách mạng dân tộc dân chủ (lúc đó gọi là cách mạng tư sản dân quyền) mới chỉ là giai đoạn thứ nhất của cách mạng Đông Dương. Sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi, hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến được hoàn thành, cách mạng Đông Dương sẽ chuyển sang giai đoạn thứ hai - giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám là thành quả của quá trình đấu tranh lâu dài, đặc biệt là 15 năm chuẩn bị lực lượng đấu tranh của toàn dân. Thực tế này khác với nhận định của Đa-vít Ma khi ông cho rằng: nó giống một cuộc khởi nghĩa, đảo chính hơn vì chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Ở đây, Đa-vít Ma chỉ tính khoảng thời gian 2 tuần lễ kể từ khi địa phương đầu tiên là Quảng Ngãi khởi nghĩa ngày 14 tháng 8 năm 1945) cho đến các địa phương sau cùng giành thắng lợi là Hà Tiên, Đồng Nai Thượng ngày 28 tháng 8 năm 1945. Đây chỉ là khoảng thời gian Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh, chớp thời cơ khách quan thuận lợi, điều kiện chủ quan đã chín muồi, để phát động toàn dân đứng lên giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Còn quá trình chuẩn bị để đạt được kết quả nhanh chóng đó đã được thực hiện trong nhiều năm. Nếu chỉ là khởi nghĩa thì sẽ khó lý giải tại sao Đảng Cộng sản Đông Dương lại tổ chức liên tiếp 3 hội nghị: Trung ương lần thứ 6 (11-1939); lần thứ 7 (11-1940); lần thứ 8 (5-1941) để chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, đưa vấn đề đánh đổ thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc lên thành nhiệm vụ trọng tâm cần giải quyết trước? Nếu chỉ là khởi nghĩa thì cũng sẽ khó giải thích quá trình Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ đạo xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, lập các chiến khu cách mạng. Và sau ngày Nhật tiến hành đảo chính Pháp (9-3-1945), quá trình chuẩn bị khởi nghĩa được đẩy nhanh lên rất nhiều. Ngày 16 tháng 4 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức Ủy ban dân tộc giải phóng các cấp, chuẩn bị cho việc thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam. Khởi nghĩa từng phần đã nổ ra ở nhiều dịa phương. Trước ngày khởi nghĩa ở Hà Nội, Quốc dân đại hội đã được triệu tập, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam tức Chính phủ lâm thời.

        Như thế, không có việc Cách mạng Tháng Tám giống như một cuộc đảo chính, chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn.

        Cách mạng Tháng Tám không phải là khởi điểm của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mà kết quả của nó đánh dấu sự kết thúc thắng lợi giai đoạn một của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân vì đã lật nhào cả sự thống trị của thực dân đế quốc và phong kiến, thành lập một Nhà nước mới có Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận... theo chính thể dân chủ nhân dân. Mặc dù ngay sau khi cách mạng thành công, thực dân Pháp đưa quân trở lại xâm lược Việt Nam một lần nữa, toàn dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lại phải cầm súng kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp, sau đó đánh đuổi đế quốc Mỹ, bảo vệ nền độc lập, đưa lại hoà bình, thống nhất đất nước vào năm 1975. Như vậy, việc tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm (1945- 1975) được coi là giai đoạn tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong hoàn cảnh, điều kiện mới, khi mà chúng ta đã có Nhà nước, có Chính phủ, quân đội, được quốc tế công nhận, thực hiện cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc trước các thế lực ngoại xâm, chứ không còn là đấu tranh cách mạng giành chính quyền.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:46:37 PM

        Cách mạng Tháng Tám đã làm thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ ách đô hộ, thống trị của thực dân, phong kiến. Nhân dân trở thành người làm chủ đất nước, có quyền đi bầu cử người đại diện cho quyền lợi của mình trong cơ quan quyền lực tối cao. Thắng lợi của cách mạng là thắng lợi của giai cấp công nhân và nông dân - thành phần chiếm số đông nhất của dân tộc, lực lượng hăng hái, triệt để nhất của cách mạng. Chính quyền dân chủ nhân dân từ Trung ương tới tận từng thôn xã đã nhanh chóng đảm đương chức trách, bước đầu làm tốt nhiệm vụ phục vụ mọi mặt đời sống của nhân dân. Không chỉ có công nhân, nông dân, Cách mạng Tháng Tám còn huy động và tập hợp được hết thảy các lực lượng, các giai tầng xã hội, tổ chức đoàn thể yêu nước có thể tập hợp được, tham gia xoá bỏ chế độ xã hội thuộc địa nửa phong kiến, xây dựng nên chế độ xã hội mới dân chủ nhân dân. Sự thay đổi cơ cấu xã hội được thể hiện rất rõ.

        Thứ hai, nhà sử học Đa-vít Ma cho rằng: Mục tiêu của Cách mạng Tháng Tám là độc lập, hoà bình, thống nhất, dân giàu, nước mạnh đã không thực hiện được, vì thế theo ông: sự kiện Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam chỉ là khởi nghĩa, còn tầm vóc cách mạng thì chưa có.

        Theo chúng tôi, vấn đề ở đây là quan niệm về mức độ như thế nào là khởi nghĩa, như thế nào là cách mạng. Như trên chúng tôi đã nêu khái niệm về khởi nghĩa và cách mạng. Rõ ràng là Đảng Cộng sản Đông Dương, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân chuẩn bị một cuộc tổng khởi nghĩa và đã thực hiện thành công khi thời cơ đến, điều kiện đã hội đủ. Cuộc Tổng khởi nghĩa này mang tầm vóc của một cuộc cách mạng bởi nó đã lật đổ được chế độ thực dân, phong kiến tồn tại hàng trăm, hàng nghìn năm, giành chính quyền (mục đích), xây dựng một nhà nước dân chủ nhân dân, trong đó người dân, từ thân phận nô lệ, bị áp bức, trở thành người làm chủ. Đất nước được độc lập, nhân dân được hưởng không khí tự do, hoà bình chưa được bao lâu, đã lại phải đương đầu với sự xâm lược trở lại của thực dân Pháp. Tuy nhiên, lần trở lại này của quân Pháp khác với lần trước. Lần này, tình hình quốc tế trong nước và ngay cả vị thế của Pháp cũng đã khác trước. Thực dân Pháp đã phải núp bóng quân Anh (mang cờ Anh, mặc quân phục Anh) để trở lại Sài Gòn. Còn quân Anh, quân Trung Hoa dân quốc vào nước ta là theo quy định của Hiệp định Pốt-xđam, để giải giáp phát xít Nhật đầu hàng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là điều chúng ta phải chấp nhận. Khi muốn đưa quân ra miền Bắc, thực dân Pháp đã phải tính đến cơ sở pháp lý, ký Hiệp định Trùng Khánh (28-2-1946) với Trung Hoa dân quốc để thay thế đội quân của Tưởng Giới Thạch làm nhiệm vụ giải giáp phát xít Nhật và Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) với Chính phủ Hồ Chí Minh. Chính Đa-vít Ma cũng cho rằng: sự sụp đổ của Bảo Đại và việc thành lập chính quyền cách mạng làm cho cách mạng có chiều sâu. Điều này có được là do vai trò của nhân dân, dưới sự chỉ đạo của Đảng.

        Tầm vóc của Cách mạng Tháng Tám, được đồng chí Trường Chinh, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương thời kỳ này, nhấn mạnh: “cuộc khởi nghĩa Tháng Tám 1945 đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo"4.

        Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, dân tộc Việt Nam đã bước vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Cuộc Tổng khởi nghĩa đã hoàn thành mục tiêu của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ là giải phóng dân tộc, làm thay đổi tính chất chế độ xã hội, đưa nhân dân trở thành người làm chủ đất nước và vận mệnh của mình... Đây là những điều, theo chúng tôi, Đa-vít Ma, một nhà sử học nước ngoài, có thể chưa cảm nhận được hết và chưa đánh giá đúng mức tầm vóc, ảnh hưởng của sự kiện đã "mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người Việt Nam"5.

-------------------------
        4. Trường Chinh. Cách mạng Tháng Tám, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, NXB Sự thật, Hà Nội, 1975, tập 1, tr. 374.

        5. Lê Duẩn. Tiến lên dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, NXB Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 13.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:49:17 PM

VỀ CÁC ĐƠN VỊ VÀ SỐ LƯỢNG QUÂN TRUNG HOA DÂN QUỐC VÀO MIỀN BẮC CUỐI NĂM 19451

TRỊNH VƯƠNG HỒNG       

        Cuối năm 1945, quân Trung Hoa dân quốc, theo quyết định của Hội nghị Pốt-xđam, kẻo vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân Nhật. Nhưng sự thật của cuộc giải giáp ấy như thế nào, cho đến nay vẫn còn nhiều tài liệu viết khác nhau. Chúng tôi xin trích giới thiệu cùng bạn đọc một số những tài liệu đó.

        1 . Võ Nguyên Giáp - Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 148-149: "Phía Vân Nam, Quân đoàn 93 thuộc Đệ Nhất phương diện quân của Lư Hán, theo kế hoạch sẽ đi dọc sông Hồng đến Hà Nội.... Phía Quảng Tây, Quân đoàn 62, lực lượng của Quốc dân đảng Trung ương, có tướng Tiêu Văn đi cùng, sẽ đi đường Lạng Sơn, Cao Bằng xuống Hà Nội... Hai quân đoàn khác (Quân đoàn 52 của Trung ương và Quân đoàn 60 của Vân Nam) đi tiếp theo sẽ chia nhau xuống Hải Phòng, vào Vinh và Đà Nẵng. Tổng số quân của chúng vào miền Bắc là mười tám vạn người".

        2. Bộ Tổng tham mưu - Ban Tổng kết chiến lược - Lịch sử cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp . . . Lưu tại Viện

        Lịch sử quân sự Việt Nam, ký hiệu TL 1299/35(2) 72, bản đánh máy, tr. 26-27: "Lợi dụng việc thi hành Hiệp nghị Pốt-xđam được phép đưa quân vào Đông Dương giải giáp quân Nhật từ Bắc Vĩ tuyến 16 trở ra, 4 quân đoàn Tưởng gồm từ 180.000 đến 200.000 quân . . . ào ạt tiến vào Việt Nam .

        Quân đoàn 93 Vân Nam và Quân đoàn 62 Trung ương. . . đến ngày 9 tháng 9 năm 1945  .

        Quân đoàn 52 Trung ương chiếm vùng Hải Phòng, duyên hải, Quân đoàn 60 Vân Nam rải ra chiếm các thị trấn lớn ở Trung Bộ" .

        3. Cục Nghiên cứu khoa học quân sự - Trường kỳ kháng chiến, tập 1, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, ký hiệu TL 3689, tr.9 nêu giống như tài liệu của Ban Tổng kết chiến lược đã dẫn trên. Chỉ khác ở chỗ nêu số lượng quân Tưởng là 180.000 người.

        4. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Lịch sử cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp 1945-1954, Nxb QĐND, Hà Nội, 1985, tập 1, tr. 26: "Cuối tháng 8, gần 20 vạn quân Trung Quốc gồm 4 quân đoàn địa phương và Trung ương vượt biên giới vào nước ta. Quân đoàn 93 từ Lào Cai theo sông Hồng xuống, Quân đoàn 62 theo đường Lạng Sơn sang và chia nhau đóng dọc các trục đường giao thông tại Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ. Tiếp đó Quân đoàn 50 theo đường biển vào vùng Đông Bắc và Hải Phòng, Quân đoàn 60 đóng từ Hội An (Quảng Nam) trở ra. . . Sau này Tưởng còn đưa thêm Quân đoàn 53. . . sang để kiềm chế Lư Hán".

        5. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương - Những sự kiện lịch sử Đảng (1945-1954), Nxb ST, Hà Nội, 1979, tập II, tr. 11: "ở  miền Bắc, gần 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch... ùn ùn kẻo vào" . Phần chú thích ghi: "Quân đoàn 93 (Vân Nam) vào Lào

        Cai, Quân đoàn 60 vào Hải Phòng; Quân đoàn 62 Quảng Đông, Quảng Tây) vào Cao - Lạng; Quân đoàn 50 (Quảng

        Tây) vào duyên hải Bắc Bộ".

        6. Trần Trọng Trung trong Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu (Nxb QĐND, Hà Nội, 1979, tập 1, tr. 79) viết: "Theo

        số liệu tình báo Pháp ở Hà Nội nắm được, quân Tưởng ở miền Bắc Đông Dương có tới 220.000 tên, bao gồm 80. 000 lính

        chính quy ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, cộng với 130.000 lính tạp dịch và Sư đoàn 93 (15.000 tên) ở Thượng Lào".

        7. Y vơ Gia - Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Nxb Phút, Plon 1979, bản dịch, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, phần 2, tr. 53: "Từ những ngày cuối tháng 8, quân Quốc dân đảng Trung Hoa ồ ạt kẻo vào Bắc Kỳ... Chúng chậm chạp toả ra khắp nơi bằng những đoàn người đi bộ kéo dài vô tận trên các con đường và những lối mòn từ Vân Nam và Quảng Tây đổ xuống. Chúng đưa lại quang cảnh của những toán người ô hợp hơn là đội quân chính quy.

        .... Hai trong số đó từ Vân Nam đến - Quân đoàn 93 và Quân đoàn 60. . . Hai quân đoàn từ Quảng Tây đến - Quân đoàn 62 . . . , Quân đoàn 52 . . . Tất cả có khoảng 150.000 người" .

        8. Giôn Pichni Herixơn - Cuộc chiến tranh triền miên, Niu Yoóc, 1982, xem Tạp chí Lịch sử quân sự số 10, tháng 10-1986, tr. 63: "Trên 150.000 quân Trung Quốc đã đến Việt Nam trong tháng 9- 1945 để nhận sự đầu hàng của Nhật ở Bắc Vĩ tuyến 16 như đã thỏa thuận tại Hội nghị Pốt-xđam".

        9. Keng C . Chen - Việt Nam và Trung Quốc (1938-1954), Cơ sở xuất bản Sử Địa, Sài Gòn, 1973, tài liệu dịch, bản đánh máy, tr. 138: "Tại miền Bắc, quân Trung Hoa tổng cộng chừng 152.500 người dưới sự điều động của tướng Lư Hán, bắt đầu tiến vào Việt Nam".

        Về các đơn vị, tác giả viết ở chú thích như sau: "Chu Hsieh Nhật ký PP.1, 41, 42, 103. Các đạo quân là Lộ quân 53, 60, 62 và 93, Trung đoàn 23, 39, 93 " .

        Tại sao lấy Vĩ tuyến 16 làm ranh giới giải giáp quân Nhật?

        J.R.Xanhtơni - Câu chuyện một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Pari, 1967, bản dịch Thư viện Trung ương Quân đội, Ký hiệu 355 V (09) 21/3934, tr. 16: "(Khu vực) Ấn Độ, Nam Dương, Miến Điện do thủy sư đô đốc Loạt Louis Mountbatten chỉ huy;

        (Khu vực 2) dưới quyền của Thống chế Tưởng có tướng Weydemeyer phụ tá gồm có Trung Hoa và Đông Dương. Tướng Weydemeyer sau cũng phải nhường địa bàn hoạt động hàng không cho đô đốc Mountbatten vì các căn cứ của ông ta đều xa quá so với những cứ điểm phía Nam của bán đảo Đông Dương. Và chắc  cũng vì thế, vài tháng sau đã khai sinh ra cái quan điểm tai hại là đem chia đôi Đông Dương từ Vĩ tuyến 16" .

        Ý kiến ngắn của người sưu tầm

        - Chỉ có 3 quân đoàn Tưởng cùng được nêu trong các tài liệu trên là 93, 62 và 60.

        - Số lượng (tuyệt đối) quân Tưởng được nêu đều không khớp, hoặc chỉ khớp ở từng cặp tài liệu. Tuy vậy, các tài liệu đưa số lượng quân Tưởng vào miền Bắc là 18 vạn hay theo lối phiếm chỉ gần 20 vạn cũng là thoả đáng. Bởi lẽ, nếu lấy quân số lý thuyết một quân đoàn Tưởng Giới Thạch nhân với 4, cộng thêm số dân binh, dân phu hoặc dân chúng kéo theo, thì số liệu trên đã gợi cho người đọc hình dung đại thể về đoàn quân ấy.

        Trong khi chưa có điều kiện tiếp cận tài liệu gốc, các tài liệu trên, dẫu quý cũng chỉ có ý nghĩa tham khảo. Chúng tôi thiên về số liệu của Keng C.Chen, bởi ông có điều kiện khai thác tài liệu của Trung Hoa dân quốc, tuy nhiên Chen cũng mới chỉ tính quân chính quy mà chưa tính các lực lượng khác.

        Việc phân chia ranh giới giải giáp phát-xít Nhật, với giả thiết của Xanhtơni, nếu đúng cũng mới là bề ngoài. Về bản chất, đây là vấn đề phức tạp quan hệ đến thế lực các nước trong khối chống phát-xít, đến mâu thuẫn trong phe tư bản, điều mà người sưu tầm không bàn ở đây.

---------------------
        1. Tạp chí LSQS số 45 (9-1989)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:01:11 AM

VỀ HAI SỰ KIỆN DIẾN RA Ở HẢI PHÒNG NGÀY 6 THÁNG 3 NĂM 1946

NGUYỄN HÙNG PHONG       

        Theo tài liệu Pháp

        Trong cuốn Bảy năm với tướng Lơ-cléc (Sept ans avec Leclerc) trang 207-297, Đại tá Giác Mát-xuy (Jacque Massu) viết về miền Bắc năm 1946, có những ý chính như sau:

        Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Chính phủ Pháp và Tưởng Giới Thạch ký Hiệp định thân thiện Pháp - Hoa (Traité d'amitié Franco-Chinois) tại Trùng Khánh thoả thuận cho quân Pháp thế chân quân Tàu Tưởng ở miền Bắc Việt Nam từ Vĩ tuyến 16 trở ra để giải giáp và quản lý quân Nhật. Lịch thủy triều chỉ các ngày 4, 5 và 6 tháng 3, mực nước 20 mét mới đủ cho tàu chiến xâm nhập Hải Phòng. Nếu không, lại phải chờ ngày 16, 17 hoặc 18 tháng 3. Cho nên Pháp phải chọn ngày 6 tháng 3 năm 1946 để tiến vào Hải Phòng.

        - Đơn vị Giác Mát-xuy (hồi ấy ông ta là đại úy) xuống hai tàu há mồm LST 347 và LST 382 tại Sài Gòn ngày 25 tháng 2 năm 1946. Tàu há mồm không có vỏ thép. Còn bao nhiêu thì xuống năm tàu vận tải (cargo): Poóc-sê, Ba-phlơ, Sê-phi, Bê-rê-giơ, Êx-pê-ran (porché, Barfleur, Céphie, Bérelgeuse, Espérance). Đoàn này dừng lại ở Cam Ranh, ngày 1 tháng 3 đi tiếp và ngày 5 tháng 3 đến Vịnh Bắc Bộ.

        Tại đây, nhập với năm chiến hạm: Ê-min Béc-tanh (émile Bertin) của đô đốc Ô-boi-nê-ô (Auboyneau), có cả tướng Lơ-cléc, Tri-om-phan (Triomphant), Đuy-quet (Duquesne), Bê-an (Béarn), Tuốc-vin (Tourville) thành một hạm đội mạnh.

        22 giờ ngày 5 tháng 3, Lơ-cléc lệnh gọi Giác Mát-xuy đến tàu mình phổ biến những thoả ước và kế hoạch đổ bộ. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, đoàn tàu dọc hàng một tiến vào sông Cấm. Đi đầu là Tri-om-phan, có tướng Va-luy (Valluy) và ban tham mưu. Rồi tuần dương hạm của Giuy-bơ-lanh (Jubelin), có hoa tiêu dày dạn kinh nghiệm, rồi hai tàu há mồm. Các chiến hạm khác nối đuôi theo sau. Mọi người đều tin tưởng vào những mệnh lệnh do sĩ quan liên lạc của Lơ-cléc thông tin. Và mọi người đều ngắm nhìn trời đất.

        Bỗng nhiên một tiếng nổ, rồi lại một tiếng nổ thứ hai. Và súng nổ liên tục, dồn dập, có cả đại liên và đại bác 37 ly.

        Hai tàu há mồm chở đạn và ét xăng. Đại úy Ki-li-an (Killian) và Mát-xuy lên boong, vô tư như khách du lịch. Được lệnh không bắn trả, thiết giáp hạm Tri-om-phan vẫn ngênh ngang lừng lững tiến. Tra-xông (Tra son) nhìn xa thấy quân Tàu mặc quân phục xanh, ngắm bắn thẳng như bắn bia.

        Nửa giờ hãi hùng. Nhiều người bị thương la hét. Bắt đầu có những đám cháy.

        Cuối cùng, Đại úy Giuy-bơ-lanh được phép bắn trả. Bắn vào cầu cảng thấy có lửa cháy, cho là đã bắn trúng. Chắc quân Tàu bực bội vì tài sản cướp được đang bị cháy. Quân Tàu nhơn nháo, vẫy cờ trắng loạn xạ. Mát-xuy còn thấy Đại tá Gìn (Gilles), Sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa, phất cờ trắng lớn, tỏ ý muốn điều đình!

        Một số hải quân trên tàu há mồm hốt hoảng nhảy xuống nước. Tàu LST 347 có 4 người chết, 7 trọng thương, 12 bị thương nhẹ. Tàu Tri-om-phan có 8 người chết, 30 trọng thương, có chỗ bị cháy, 439 vết đạn vào vỏ tàu. Bê-an chuyển xác chết về chôn ở nghĩa trang Vịnh Hạ Long.

        Ngày 7 tháng 3, báo Anh đưa tin, đăng cả Hiệp định Sơ bộ. Ngày 8 tháng 3, quân Tàu Tưởng ở Hải Phòng cho phép 5.000 quân Pháp được đổ bộ.

        Ngày 18 tháng 3, tướng Lơ-cléc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội.

        Ngày 30 tháng 5 năm 1946, tướng Lư Hán rời Việt Nam trở lại Trung Quốc.

        Về phía ta

        Tháng 11  năm 1945, chính trị phái viên Lê Quang Hoà phân công Trần Ngọc Tràng - Trưởng phòng thuyền vụ Bắc Bộ kiêm Trưởng ban kiểm mã của thuế quan hải quan) Hải Phòng và Hùng Phong, hai nghĩa quân chiến khu Đông Triều phụ trách công tác đặc biệt, vận động quan tư Nhật Nitta đóng ở Uống Bí cho hoặc bán vũ khí cho ta. Chỉ một nhiệm vụ này thôi. Lại cử thêm Nguyễn Kế Phụng là Trưởng ban trinh sát. Thời gian sau khi Nguyễn Bình vào Nam chiến đấu Lê Quang Hoà cử Trưởng ban trinh sát khác thay. Ba chúng tôi đi ô tô con ra Uống Bí đến nhà ông Đỗ Thậm, là trung gian giao dịch. ông mời quan tư Nitta đến nhà gặp chúng tôi, có đội Hosino và Sấm phiên dịch đi cùng.

        Sau vài lần làm thân, Tràng nêu rõ mục đích. Nhưng ông Nitta rất tiếc và bảo: các ông đến muộn, chúng tôi đã thống kê vũ khí nộp cho Đồng minh rồi, không thể tặng một vũ khí nào. Một thời gian sau, ông Nitta chuyển bản doanh về Hải Phòng, tại dãy nhà hai tầng phố Bến Bính nay là trụ sở Công an quận Hồng Bàng).

        Ba chúng tôi thỉnh thoảng đến giao dịch giữ tình thân. Lệ là mỗi bên bỏ ra cái gì mình có cầm tay, cùng nhấm nháp. Chúng tôi không được cấp kinh phí giao dịch, như các đồng chí cũng làm nhiệm vụ đặc biệt khác. Tất nhiên chúng tôi không dám mang theo giấy tờ chứng minh nào, đề phòng đặc vụ Tưởng bắt thì không được lộ là cán bộ quân đội hay Việt Minh.

        Rồi một việc rắc rối xảy ra với tôi trong thời gian khá dài. Từ ấy tôi đơn thương độc mã giao thiệp với ông Nitta, có Sâm làm phiên dịch. Đọc báo, tôi được biết Vôn Ri-ben-trốp (Von Ribbentrop) nguyên Bộ trưởng Ngoại giao của Hitler chờ ra toà án Muy-nich. Hắn đã giấu thuốc độc trong rốn. Khi sắp phải ra hầu toà, hắn đã nuốt để tự sát. Liên hệ việc này, tôi hỏi một dược tá làm thế nào để tự vẫn. Anh bảo nuốt bột Xi a-nua đờ méc-quya (cyanure de mercure) sẽ thủng dạ dày, khoảnh khắc là chết.

        Tôi nghe theo anh. Mỗi khi đến với Nitta, tôi giấu thuốc độc trong người. Nếu chẳng may bị đặc vụ Tưởng bắt mà không vượt ngục thoát được thì tự vẫn.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:01:34 AM

        Sáng 6 tháng 3 năm 1946, ngẫu nhiên tôi đến với Nitta. Một lát sau, có tiếng súng nổ rung cả sàn gác. Rồi Nitta bảo: tàu chiến Pháp kẻo vào Hải Phòng, quân Tàu nổ súng, nhưng họ không biết bắn cầu vồng nên không trúng, quân Pháp đã bắn lại, quân Tàu loạn ngũ. Quân Nhật đang lau súng lớn cho Tàu, tôi có thể lệnh cho anh em tôi cướp lại súng lớn bắn tàu Pháp được không? Tôi không nắm được tình hình, cũng không được chỉ thị của trên, song thấy đề xuất ấy có lợi cho ta nên tôi đồng ý liền. Thế là Nitta nhấc điện thoại lệnh cho quan quân ngoài cảng.

        Về sau, theo Nitta nói lại thì hải tàu chiến Pháp trúng đạn bị thương, rồi cả đoàn kẻo cờ trắng rút ra khơi.

        Sau đó, tôi chạy về huyện Hải An báo cáo Lê Quang Hoà. Và tôi cũng không dám bén mảng doanh trại Nhật, vì ngại có đặc vụ Tưởng cảnh giới.

        Hai ngày sau, phiên dịch Sâm mời tôi vào gặp Nitta. Trà nước một lúc, ông Nitta nói: "Tôi tưởng các ông đánh Pháp đến cùng, nên mới đám hành động thế. Nay các ông ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp cho chúng đóng quân năm điểm trên miền Bắc, tù binh Nhật do quân Pháp - Việt quản lý. Chúng được lên Hải Phòng, đương nhiên biết ai đã ra lệnh bắn tàu của chúng. Trước sau tôi phải ra Toà án Đồng minh. Tôi thua ai chứ không chịu thua quân Pháp. Tôi không chịu được hai cái nhục ấy. Hôm nay tôi gặp ông lần cuối, rồi tôi hara kiri (mổ bụng tự sát)".

        Tôi bàng hoàng, không ngờ sự việc lại diễn biến bi đát đến thế! Đột nhiên tôi trả lời: "ông Nitta, ông đã có nhiều thiện chí với tôi, với dân tộc tôi, chúng tôi ký Hiệp định Sơ bộ là để hoà hoãn, có thời cơ sẽ tiếp tục đấu tranh giành độc lập, thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc. Tôi cũng không chịu được cái cảnh thấy ông chết trước mặt tôi, vì chúng tôi, ông cho phép tôi được tự sát trước".

        Rồi lại uống nước để ông Nitta ngấm đòn tâm lý, tôi lại tiếp: "Nhật Bản bị Mỹ chiếm đóng, Việt Nam còn phải tiếp tục đấu tranh vì độc lập, thống nhất, chúng ta cần phải sống cho Nhật Bản và Việt Nam. Tại sao chúng ta lại chết sớm?".

        Nhoáng một lát, tôi nói tiếp: "Tôi thấy có một con đường, tại sao ông không sang hàng ngũ chúng tôi". Nitta suy nghĩ một lúc rồi nói: "ông về báo cáo Bộ chỉ huy cần bao nhiêu sĩ quan Nhật, những binh chủng gì, tôi sẽ khuyên anh em ở lại, chỉ xin một điều kiện: cho tôi nhập quốc tịch Việt Nam".

        Tôi về báo cáo Lê Quang Hoà, anh không chịu, bảo: "Cấp giấy cho Nitta, ông ấy bán giấy cho Đồng minh lấy tiền thì rất nguy cho chúng ta".

        Tôi phân tích: "Anh giao nhiệm vụ mua hoặc xin vũ khí, Nitta không thể đáp ứng được. Nhưng ông ấy đã giúp ta nhiều việc, mà do ông ta tự đề xuất và tự nguyện: Một là, cho ta sơ đồ Nhật thả mìn ở Vịnh Bắc Bộ để ta vớt mìn đảm bảo an toàn giao thông, lấy thuốc làm vũ khí. Hai là, công thức làm bom chống tăng thủ công, đơn giản cho mùn cưa vào chai rồi đổ ét xăng vào. Xe tăng vận hành, vỏ nóng, ném bom vào là bị bốc cháy. Thứ ba và cao nhất là cho quân bắn vào đoàn tàu chiến Pháp xông vào Hải Phòng, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho việc ký Hiệp định Sơ bộ (16 giờ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hồ Chủ tịch mới ký Hiệp định).

        Trong khi chờ đợi, tôi đã tự xuất tiền riêng 200 đồng lấy của bố mẹ, may cho Nitta hai bộ âu phục mùa hè. Lần cuối, Nitta bảo tôi: "Các ông không cho tôi nhập quốc tịch, tôi phải về nước, nhưng chỉ sáu tháng hay một năm thăm quê ở Nagasaki, rồi tôi sẽ tìm đường trở lại với các ông, tôi gửi Sato lại làm mối dây liên lạc, ông trông nom nó cho".

        Không dám để ở Hải Phòng vì có quân Pháp, tôi phải gửi ở cơ sở huyện An Dương nuôi Sato giúp. Một hôm, Sato về Hải Phòng tìm tôi, hỏi có được tin ông Nitta không? Tôi nào biết gì? Sato bảo khi tàu ông Nitta ra khơi, Pháp cho máy bay rượt theo thả bom, tàu chìm, cả binh đoàn đều chết hết! Năm đó, ông 35 tuổi, vóc người cao đẹp, chững chạc, phúc hậu.  Ông kể ông đã tham gia đổ bộ vào Xin-ga-po. Còn tôi lúc đó mới tuổi 23.

        Tôi vẫn nghĩ: quan tư Nitta đã dũng cảm, dám hạ lệnh cho quân bắn đoàn tàu chiến Pháp xâm nhập Hải Phòng sáng ngày 6 tháng 3 năm 1946, do đó tạo thêm thuận lợi để ta ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp. Ba việc ông ta giúp đều do ông đề xuất. Chứ chúng tôi làm sao nghĩ tới. Thế mà đời ông và binh đoàn ông phải kết thúc thảm thương. Tôi thật ân hận!

        Việc thứ hai: Cũng sáng 6 tháng 3 năm 1946, tiểu đội "Bấu xấu cứu quốc" đã hạ thổ từ bãi cỏ Nhà máy chai, chui theo cống ngầm, tiếp cận kho súng đạn ở Sáu Kho (súng đạn của Pháp rơi vào tay Nhật đêm ngày 9 tháng 3, nay thuộc về quân Tàu Tưởng) rồi đội nắp cống chui lên đặt mìn. Đạn nổ tung hơn một ngày. Hầu hết tiểu đội hy sinh vì bị sức ép.

        Trong khi đó, Giác Mát-xuy viết là  quân Pháp bắn vào cầu cảng và bắn trúng kho súng đạn gây cháy. Có đúng không? Kho cháy do đạn của Pháp hay do anh em "Bấu xấu cứu quốc" nổ mìn, điều này mới là chắc chắn 100%.

        Anh em có lần đánh hàng bằng cách này thành công, mới báo cáo Trần Doãn Tòng, nghĩa quân chiến khu tổ chức, xây dựng lực lượng tự vệ vũ trang Lạc Viên trong thành phố. Lực lượng này đã bao vây trại khố đỏ (Casere Bouet - nay là bản doanh Bộ Tư lệnh Hải quân), thu phục được trại toàn vẹn cả vũ khí và chiếm vài công sở, trong đó có Nhà băng Năm sao, sau là hành dinh Bộ chỉ huy chiến khu, rồi ủy ban quân sự liên tỉnh miền Duyên Hải. Sáng 23 tháng 8 năm 1945, quân chiến khu và nhân dân về giành chính quyền thành phố Hải Phòng, cụ Trần Doãn Tắc - thân sinh đồng chí Tòng, trước nấu bếp trên tàu buôn Pháp đường Hải Phòng - Mác xây (Marseille), là liên lạc viên của Đảng, có thời Nguyễn Bình cũng làm thợ giặt trên tàu, là chiến hữu của nhau. Cụ Tắc liên lạc với Công an và Công an đã đào tạo, huấn luyện thêm cho tiểu đội "Bấu xấu cứu quốc".

        Hai sự việc xảy ra ở Hải Phòng sáng 6 tháng 3 năm 1946 thật tuyệt diệu, đã tạo thêm thuận lợi cho việc ký Hiệp định Sơ bộ vào chiều hôm ấy.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:08:21 AM

VỀ TRƯỜNG LỤC QUÂN TRUNG HỌC QUẢNG NGÃI VÀ NHỮNG CÁN BỘ CỦA TRƯỜNG1

PHAN SỸ PHÚC       
        Trong quá trình tìm hiểu về một số tướng lĩnh của Quân đội ta, tôi có dịp được tiếp xúc với nhiều tài liệu viết về Trường Lục quân trung học Quảng Ngài. Tuy nhiên, khi đề cập đến Trường này và nhất là về những người lãnh đạo Trường như các đồng chí Nguyễn Sơn, Đoàn Khuê, các tư liệu, sách, kể cả Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, ghi chép không thống nhất. Bài viết này dựa vào một số tư liệu trong các cuốn sách như: Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), tập 1 (Bộ tư lệnh Quân khu 5 xuất bản năm 1988); Tướng Nguyễn Sơn (Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1994); Đại tướng Đoàn Khuê (Nxb QĐND, Hà Nội, 2002), hồi ức của cựu học viên Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi - Ung Răng và một số đồng chí khác . . . xin làm rõ thêm về một trong những trường quân sự đầu tiên ở Khu 5 và nhất là về những người lãnh đạo trường lúc đó cũng như về sau này.

        Sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, đất nước ta vừa giành được độc lập, phải đối phó với nhiều khó khăn, thách thức... Thực dân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, âm mưu mở rộng chiến tranh ra cả nước. Đối phó với cuộc xâm lược của thực dân Pháp, ở các mặt trận, quân và dân ta đã chiến đấu dũng cảm, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch.

        Nhu cầu cán bộ quân sự chi viện cho các mặt trận là rất lớn. Với tầm nhìn xa trông rộng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trước đó cũng đã gấp rút thành lập nhiều trường huấn luyện cán bộ quân sự cho quân đội. Ở miền Bắc, ngày 17 tháng 3 năm 1946, Trung ương Đảng quyết định mở Trường Quân chính Bắc Sơn, đặt ở xóm Cầu Tre (Đồng Quang, Đồng Hỷ, Thái Nguyên), có nhiệm vụ đào tạo cán bộ lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang của Đảng (cả chính trị và quân sự) cơ sở. Ngày 17 tháng 4 cùng năm, Trường võ bị Trần Quốc Tuấn được thành lập trên cơ sở Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam... Ở miền Nam, tích cực xây dựng lực lượng và chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến, tháng 12 năm 1945, ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam được thành lập. Đồng chí Nguyễn Sơn làm Chủ tịch; đồng chí Hoàng Quốc Việt - ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, làm ủy viên Chính trị. Tuy vậy, trên thực tế, lúc này ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam mới chỉ đạo các tỉnh Nam Trung Bộ, còn Nam Bộ vẫn do Xứ ủy Nam Bộ lãnh đạo. Ở Nam Trung Bộ, tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến ở địa bàn, cùng với việc cải tổ các chi đội Vệ quốc đoàn, biên chế lại các trung đoàn, tiểu đoàn, đại đoàn, ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam đã thành lập các trường huấn luyện cán bộ quân sự. Tháng 3 năm 1946, Trường Quân chính Bắc Sơn (Phú Yên) được thành lập, đào tạo cán bộ trung đội, đại đội cho các đơn vị ở phía Nam. Tháng 4 năm 1946, ủy ban mở lớp bổ túc cán bộ trung đoàn. Tới tháng 6 năm 1946, ủy ban thành lập Trường Lục quân trung học Quảng Ngài để đào tạo cán bộ trung đội. Thành phần ban giám hiệu của Trường có đồng chí Nguyễn Sơn - Chủ tịch ủy ban kháng chiến miền Nam, kiêm chức Hiệu trưởng. Tổng đội trưởng có đồng chí  Phạm Kiệt, rồi sau đó là Lê Thuỳ. Còn đồng chí Đoàn Khuê là Chính tả viên Tổng đội, Bí thư Đảng ủy của Trường.

        Trường đóng ngay ở thị xã Quảng Ngãi.

        Trường có hơn 400 học viên, một nửa trong số đó là các chiến sĩ đã chiến đấu ở các mặt trận phía Nam, số còn lại là học sinh, viên chức mới tòng quân. Học viên của Trường được gọi là sinh viên, mỗi người có một số hiệu và một huy hiệu tròn đính trước ngực, ghi rõ chữ: "Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi". Số học viên này được chia làm 4 đại đội, gồm: Đại đội 1, do Đông Hưng phụ trách; Đại đội 2, do Minh Ngọc phụ trách; Đại đội 3, do Phan Lai phụ trách và Đại đội 4, do Minh Tâm phụ trách. Các đại đội trưởng phụ trách các đại đội trên đều là những hàng binh người Nhật đi theo cách mạng. Họ cũng chính là những giáo viên giảng dạy về quân sự kỹ thuật cho các học viên. Chính Hiệu trưởng Nguyễn Sơn là người đã thuyết phục được các sĩ quan này về với cách mạng. Ngoài ra, Trường còn có một số giáo viên người nước ngoài khác. Có lần, Nhà trường bố trí cho học viên nghe giảng về phép duy vật biện chứng do một giáo viên người Pháp và một người Việt từ Hà Nội vào giảng. Học viên nghe giảng bằng tiếng Pháp, nếu không hiểu thì được nghe dịch sang tiếng Việt.

        Chương trình học tập quân sự do Hiệu trưởng lập ra, bao gồm các nội dung cá nhân chiến đấu: làn lê, bò toài, bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn theo kiểu Nhật, kiểu Pháp. Về chiến thuật, học viên được giảng dạy và huấn luyện về chiến thuật tiểu đội tiến công, còn chiến thuật cấp trung đội chỉ được giới thiệu đại cương.

        Khi học xong chương trình tiểu đội chiến đấu, học viên được cử đi thực tập ở các đơn vị thuộc các mặt trận trong ba tỉnh: Phú Yên, Bình Định và Quảng Ngài, cũng có một số người được cử lên mặt trận Củng Sơn, An Khê... Thời gian thực tập là 30 ngày, sau đó học viên trở về tiếp tục học tập.

        Khoá học dự kiến một năm nhưng do tình hình quân Pháp mở rộng chiến tranh, nên phải bế mạc sớm vào ngày 22 tháng 11 năm 1946. Nhà trường phân công học viên về các mặt trận, các tỉnh và gửi 100 người ra miền Bắc. Số anh em ra Bắc, đi bằng tàu hoả, cuối tháng 11  ra đến Hà Nội. Ngày 3 tháng 12 năm 1946, số anh em này lên Sơn Tây, đi cùng có đồng chí Nguyễn Sơn. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19 tháng 12 năm 1946), đoàn học viên Lục quân Quảng Ngãi chuyển về Đền Và, rồi Thạch Thất. Từ đây, các học viên này được lệnh toả đi các mặt trận, bổ sung vào đội ngũ những cán bộ quân sự của quân đội ta lúc bấy giờ.

--------------------
        1. Tạp chí LSQS số 2-2004.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:09:08 AM

        Chủ trương thành lập Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi với quy mô tương đối lớn (trên 400 học viên), là một chủ trương đúng đắn và táo bạo. Dù đào tạo được một khoá nhưng Trường kịp thời cung cấp một số lượng đáng kể cán bộ quân sự, đáp ứng nhu cầu rất lớn về cán bộ quân sự lúc bấy giờ ở các mặt trận, địa phương.

        Khi chiến tranh lan rộng, chiến trường bị chia cắt, việc liên hệ giữa Trung ương và địa phương gặp nhiều khó khăn. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên một hướng chiến lược quan trọng, tháng 11  năm 1946, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định cử đồng chí Phạm Văn Đồng làm đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ ở Nam Trung Bộ. Tiếp đó, về mặt quân sự, để thuận tiện cho việc chỉ đạo chỉ huy và phát huy khả năng độc lập tác chiến của từng chiến trường, đầu tháng 12  năm 1946 , Trung ương quyết định giải thể ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam và các đại đoàn, tổ chức lại Chiến khu 5 và Chiến khu 6. Các đồng chí Cao Văn Khánh và Nguyễn Chánh được cử làm Khu trưởng và Chính ủy Chiến khu 5. Sau khi ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam giải thể, đồng chí Nguyễn Sơn được cử làm Hiệu trưởng Trường Lục quân (hợp nhất).

        Khái quát sơ lược về sự ra đời và hoạt động của Trường Lục quân trung học Quảng Ngài, chúng ta cùng xem xét đến những ghi chép chưa chính xác trong một số cuốn sách lịch sử Sách 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1999, trang 35-36 có ghi: "l tháng 6, ủy ban kháng chiến miền Nam mở Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi, tại thị xã Quảng Ngài, có 500 học viên, đào tạo và bổ túc cán bộ tiểu đội, trung đội. Hiệu trưởng: Trần Nguyên Bát (tức Nguyễn Sơn), nguyên Chủ tịch ủy ban kháng chiến miền Nam. Chính trị viên: Nguyễn Chính Giao. Tháng 11, khoá học bế giảng". Như vậy, ngoài việc ghi chưa chính xác về số lượng học viên của Trường, các tác giả sách, không hiểu dựa theo nguồn tư liệu nào, lại ghi sai tên người Chính trị viên của Trường là Nguyễn Chính Giao, chứ không phải là Đoàn Khuê1. về chức vụ này của đồng chí Đoàn Khuê hầu hết các tài liệu đều ghi chép đồng chí là Chính trị viên của Trường Lục quân trung học Quảng Ngài, trong đó có điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đọc tại buổi lễ truy điệu đồng chí Đoàn Khuê.

        Ngoài ra, sách 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam còn ghi sai tên thật của Nguyễn Sơn là Vũ Nguyên Bác thành Trần Nguyên Bát. Nguyễn Sơn là tên gọi khi ông trở về nước sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Nguyễn Sơn có nhiều bí danh khác nhau như Hồng Thủy, Lý Anh Tự, Hồng Tú, Phổ... nhưng tên mà ông cụ thân sinh ra ông đặt cho là Vũ

        Cuốn 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam (là bản tái bản có sửa chữa bổ sung của cuốn 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam), Nxb QĐND, Hà Nội, 2005, trang 37 vẫn ghi sai: "Hiệu trưởng: Vũ Nguyên Bát (tức Nguyễn Sơn), nguyên Chủ tịch ủy ban Kháng chiến miền Nam. Chính trị viên: Nguyễn Chính Giao" (Chú thích của Ban biên soạn).

        Nguyên Bác. Chữ "Bác" này trong tiếng Hán có nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa là rộng. Còn chữ "Nguyên" có nghĩa là đầu nguồn, là chữ "Nguyên" trong câu "ẩm thủy tư nguyên" có nghĩa là "Uống nước nhớ nguồn". Nguyễn Sơn là con thứ tư trong một gia đình có năm người con trai là Tôi, Tớ, Tao, Bác, Sư và một cô em gái út tên là To. Các tên con cái trong gia đình được ông cụ thân sinh Nguyễn Sơn đặt rất ngộ nghĩnh, điều này thể hiện tính cương trực, ngang tàng, chống đối lại cường quyền. Bởi bản tính ấy nên gia đình ông đã nhiều lần bị chính quyền thực dân sở tại sách nhiễu. Gia đình ông bỏ quê (lúc đó Gia Lâm vẫn thuộc tỉnh Bắc Ninh) ra Hà Nội nhưng vẫn không thoát khỏi cảnh bị ức hiếp. Trên Tạp chí Giáo dục và thời đại, số tháng 12 năm 1994, trong bài viết về Nguyễn Sơn, nhà báo An Thái có nhận xét rằng: Sở dĩ cụ thân sinh ra Nguyễn Sơn đặt tên như vậy là để không ai chửi được mình.

        Cuốn Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1996, ở mục từ Nguyễn Sơn trang 566 lại ghi chức danh của Nguyễn Sơn, là "Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ". Thực ra tên gọi của ủy ban là "ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam". Cuốn Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, tái bản năm 2005, Nxb QĐND, ở mục từ Nguyễn Sơn trang 723 vẫn ghi Nguyễn Sơn "năm 1945, về nước, Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ"2.

        Ngoài ra, trong cuốn Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam cũng không thấy ghi chức vụ của đồng chí Đoàn Khuê ở một số đơn vị như: Chính ủy Trung đoàn 108 chủ lực Khu 5 và Chính ủy Trung đoàn 84.

        Sách Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của các tác giả Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế, Nxb Văn hoá (in lần thứ năm), 1999, mục từ Võ Nguyên Thủy (Võ Nguyên Bác) tức Nguyễn Sơn trang 961 viết: "... Sau ngày Toàn quốc kháng chiến ông về nước đứng trong hàng ngũ QĐNDVN với quân hàm Thiếu tướng, từng giữ các chức vụ Tư lệnh Liên khu V và Tư lệnh kiêm Khu trưởng Liên khu IV. Khoảng năm 1951 ông sang phục vụ lại trong hàng ngũ quân giải phóng Trung Quốc...". Những ghi chép trên đây có một số điểm không chính xác sau. Một là, Nguyễn Sơn chưa bao giờ giữ chức Tư lệnh Liên khu 5. Hai là, "Tư lệnh" hay "Khu trưởng" đều là từ chỉ chức vụ người đứng đầu của liên khu hay quân khu, nên không có việc cùng lúc giữ hai chức vụ "Tư lệnh" kiêm "Khu trưởng" như các tác giả từ điển trên đã viết. Ba là, Nguyễn Sơn về nước sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, rồi được cử giữ chức Chủ tịch ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Sau khi ủy ban này giải thể, ông được cử làm Hiệu trưởng Trường Lục quân (hợp nhất). Tới tháng 1 năm 1947, ông được cử giữ chức Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Từng tham mưu, tháng 7 năm 1947 là Khu trưởng Khu 4. Năm 1948, trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên, ông được phong hàm Thiếu tướng. Những năm 1948-1949, ông được cử giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4. Bốn là, năm 1950 (chứ không phải năm 1951 như sách đã dẫn), Trung ương Đảng cử ông sang giúp đỡ cách mạng Trung Quốc2.

--------------------------
        2 . Phần này có sự bổ sung của tác giả.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:15:02 AM

AI LÀ NGƯỜI ĐẦU TIÊN MỞ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN1

TƯ ĐƯƠNG       

        Đó là một câu hỏi bấy lâu nay không phải chỉ của riêng tôi, mà hầu như của tất cả những người đi lấy tư liệu lịch sử về "con đường mòn ấy". Giống như người đi đãi cát tìm vàng, tôi là người may mắn tìm ra cục "vàng mười", giải đáp được điều mình mong mỏi.

        Trong một lần đi sưu tầm tư liệu lịch sử về chiến trường Tây Nam Bộ thời kỳ chống Mỹ, tôi đã làm việc với Trung tướng Nguyễn Đệ, tức Ba Trung. Anh đã kể cho tôi nghe hàng trăm trận chiến đấu của mình và đồng đội trong thời đánh Pháp và đánh Mỹ. Và thật không ngờ, trong câu chuyện của anh, tôi đã được biết về việc mở đường Trường Sơn và những con người đầu tiên khai phá "con đường mòn ấy" .

        "Cuối tháng 4 năm 1946, lúc đó tôi (Nguyễn Đệ - Ba Trung) đang là Đội trưởng Cảm tử quân tỉnh Bà Ria, nhận được lệnh bàn giao công việc cho người khác để đi học ở Trường võ bị Trần Quốc Tuấn. Số người đi học của hai tỉnh Bà Ria và Biên Hoà tất thảy có 5 người áo tôi phụ trách. Tiếp sau đó ít ngày, một đoàn chừng hơn 10 người của quân khu 9 do đồng chí Vũ Đức (Hoàng Đình Giong) - Khu bộ trưởng Khu 9 dẫn đầu, sáp nhập cùng với đoàn chúng tôi.

        Khoảng tháng 10 năm 1946, đoàn xuất phát. Thời kỳ này, giặc pháp đã đánh chiếm hầu khắp các tỉnh Nam Bộ và một số tỉnh cực Nam Trung Bộ. Chúng tôi len lỏi qua vùng giặc chiếm đóng đi tới căn cứ của Tỉnh ủy và ủy ban kháng chiến tỉnh Ninh Thuận. Đến đây, các đồng chí Tỉnh ủy Ninh Thuận cho biết là các đồng chí ấy cũng muốn liên lạc với Trung ương và các tỉnh phía Bắc, nhưng địch phong toả rất chặt, không có đường nào ra được. Các đồng chí khuyên chúng tôi ở lại chiến đấu, không đi học nữa. Tôi nói: "Ngoài nhiệm vụ đi học, tôi còn mang thư của Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình ra báo cáo với Trung ương, dù khó khăn thế nào tôi cũng phải đi".

        Lúc này, đoàn Khu 9 ở lại, đồng chí Vũ Đức làm Liên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 81 và Trung đoàn 82 của 3 tỉnh cực Nam Trung Bộ.

        Thấy quyết tâm mở đường ra Bắc của chúng tôi không thay đổi, các đồng chí Tỉnh ủy Ninh Thuận đưa ra một phương án: nhờ ghe của ngư dân đi đường ven biển. Tỉnh cử một tổ liên lạc dẫn đường. Trên đường đi, bị địch phục kích, tổ liên lạc bị thương vong. Không còn người dẫn đường, chúng tôi phải quay lại căn cứ.

        Tôi hỏi các đồng chí Ninh Thuận xem còn cách nào nữa không. Lúc này, Tỉnh ủy có tổ quân báo hoạt động hợp pháp trong lòng địch. Các đồng chí đó tổ chức cho riêng tôi đi bằng con đường hợp pháp, vì đi bằng cách đó không thể đi đông người được

        Tôi được đưa vào một cơ sở của quân báo ở thị xã Phan Rang, đóng vai thợ may mướn. Khoảng một tháng thì xin được giấy tờ hợp pháp. Khi có đủ giấy tờ, tôi chuyển chỗ đến ở nhà một cơ sở khác ở ga Tháp Chăm để chuẩn bị đi, nhưng do thiếu kinh nghiệm hoạt động trong vùng địch nên đã bị lộ. Địch bao vây truy lùng nhóm quân báo trong thị xã Phan Rang. Anh em trong cơ sở phải đưa tôi trở lại chiến khu Huế nên đặt cho căn cứ tỉnh Ninh Thuận thời đó).

        Đang ở tuổi 18, sức lực và lòng hăng hái có dư, lại được không khí sôi sục của Cách mạng Tháng Tám cổ vũ, tôi không chịu bó tay dừng lại khi nhiệm vụ chưa hoàn thành. Các đồng chí Ninh Thuận cũng đang cần mở đường liên lạc với tỉnh bạn và Trung ương, thấy tôi nhiệt tình nên việc tìm kiếm cách mở đường lại được đặt ra bàn bạc nghiêm túc hơn.

        Con đường đi theo triền núi Trường Sơn, qua các buôn, sóc của các dân tộc Ê Đê, Mơ Nông...trước đó đã bị gạt ra khỏi các dự tính, bây giờ lại được nêu ra. Đó là con đường rất hiểm trở, có những buôn làng, bọn Pháp và Nhật cũng chưa bình định được bàn đi tính lại, dù thấy có nhiều khó khăn, nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm mở con đường này. Cùng đi với tôi có ba người của tỉnh Ninh Thuận là ông Long, anh Hoa và anh N. Ông Long lúc đó khoảng 40 tuổi, biết tiếng dân tộc, người đen đúa và cũng "cà răng căng tai" giống như những người dân tộc thiểu số Tây Nguyên, được giao nhiệm vụ giao dịch và dẫn đường.

---------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4(40)-1989


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:15:30 AM

        Trời đã vào tiết đông, gió se lạnh (12-1946). Chúng tôi,mỗi người phong phanh một bộ quần áo mỏng, lưng đeo gùi gạo và muối lên đường. Hơn ba ngày đường rừng rậm rạp không thấy một bóng người, đến gần trưa ngày thứ ba, ông Long và anh Hoa đi dò tình hình trước. Tôi và N ở lại nấu cơm. Xế chiều, ông Long trở về nói lại ông đã gặp một ông già ở buôn cách đây vài cây số, cho biết dân ở vùng này từ xưa không ai theo Pháp, theo Nhật Bản. Dân hiện nay không còn hạt gạo, hạt muối, phải sống bằng lá rừng.

        Nếu vào được buôn này (tôi quên tên) thì việc mở đường sẽ có nhiều hy vọng. Hầu như đêm hôm ấy, chúng tôi thao thức không ngủ để bàn bạc kế hoạch tiếp xúc với nhân dân địa phương, vận động quần chúng như thế nào, xây dựng chính quyền địa phương ra sao... Ai có chút kinh nghiệm đều được đưa ra để xem có thể vận dụng vào công việc trước mắt không?

        Sáng hôm sau, tất cả chúng tôi vận khố và chà tro than đầy người cho giống như người địa phương.

        Chúng tôi đến buôn, vừa đặt gùi xuống, bà con đã kẻo đến, xúm quanh, nhòm ngó thì thầm bán tán như xem một bầy thú lạ Tôi cũng ngơ ngác lạ lùng không kém gì họ. Dân ở đây còn sống theo chế độ mẫu hệ, cả một bộ tộc sống chung trong một mái nhà dài. Trẻ già, trai gái đều đóng khố và con gái thì được che kín bộ ngực bằng một thứ vỏ cây gì đó khá mềm mại.

        Không phải chờ đợi lâu, chỉ trong ngày hôm đó, chúng tôi đã biết cuộc sống của họ như thế nào. Họ sang dựa vào sự hái lượm, chủ yếu bằng lá rừng, những búp lá hái được cho vào ống tre non rồi bỏ vào bếp lửa đốt lên tới khi chín mang ra ăn. Cả bộ tộc không có, dù chỉ là một cái nồi nhỏ.

        Không có muối, họ lấy tro cỏ tranh thay thế. Khi đi ngủ, tất cả mọi người không phân biệt nam nữ, nằm quây quần xung quanh bếp lửa. Số gạo, muối ít ỏi của chúng tôi đổ ra cùng đồng bào ăn chung, dè xẻn cũng chỉ kéo dài được bốn ngày. Sang ngày thứ năm, chúng tôi bắt đầu nếm thử "cơm" của họ: lá cây và tro tranh. Bốc nhúm lá bỏ vào miệng là thấy đủ thứ mùi vị: chua, cay , đắng, chát, nồng nồng. Dù chỉ nhìn đã không muốn ăn, nhưng tôi cũng cố nhai và cố nuốt. Từ hôm ăn lá cây, sức khoẻ của chúng tôi giảm sút trông thấy, nhưng hằng ngày vẫn cùng bà con đi hái lá và tìm củ rừng. ông Long tuyên truyền giáo dục và hành động của chúng tôi đã cảm hoá họ nên chỉ sau một tuần lễ, chúng tôi đã thành lập được chính quyền cách mạng ở buôn này. Cứ như thế, di chuyển dần về phía Khánh Hoà. Trong vòng hai tháng, chúng tôi đã tập chính quyền và đoàn thể ở bảy buôn. Sắp tới buôn A Thố, chúng tôi đã được nhân dân báo cho biết buôn này còn tục "tế người". Hai ngày đến ở buôn A Thố, chúng tôi vẫn làm mọi việc như đã làm đối với các buôn đã qua. Sau khi xây dựng chính quyền cách mạng xong, chúng tôi lại lên đường. Không ngờ buôn A Thố đã cho người phục kích đón nơi chúng tôi đi qua. Lúc đó mặt trời đã cao, tôi  đang đi bỗng thấy tên trên sườn núi bắn xuống như mưa. Hai người đi trước ngã gục, ông Long bị một mũi tên cắm phập vào giữa ngực. Tôi bị một mũi tên bắn xuyên qua phần mềm cánh tay trên, nhưng vẫn ráng hết sức tới xốc ông Long lên vai chạy được một đoạn khoảng 100 mét. Ngấm thuốc độc, ông Long tắt thở. Người tôi choáng váng, chao đảo muốn ngã, bèn đặt ông Long xuống. Tôi ráng hết sức chạy tiếp thêm một đoạn rồi nghiến răng giật mạnh mũi tên ra khỏi cánh tay mình. Chợt nhớ đến gói thuốc chống tên thuốc độc của dân cho từ mấy hôm trước khi đến buôn A Thố, tôi vội mở lấy ra bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến một phần, còn một phần đắp vào vết thương. Vị thuốc thật thần diệu. Vết thương oang ngậm miệng bỗng vọt ra một dòng máu bầm tím. Tôi thấy trong mình bớt choáng váng.

        Chiếu theo hướng đã định, tôi mải miết chạy rời xa khu vực nguy hiểm, tới chiều mới gặp một con suối, lúc đó, tôi mới thấy mình đang khát cháy cổ. Mừng quá, tôi tưởng sức mình có thể uống cạn dòng nước trong vắt này. Cơ thể mất máu, nước vào không làm cho khoẻ thêm, trái lại nó đã làm cho tôi suy sụp không gượng được nữa. Tôi đã bắt đầu bò lồm cồm như những động vật bốn chân. Đêm đó, tôi trú ở một hang đá. Nghe tiếng hổ gầm và mùi hôi thối xộc vào mũi mới biết là mình đang nằm cách hang hổ không bao xa. Trong hoàn cảnh đêm tối rừng rậm, sức kiệt, biết làm sao bây giờ, tôi đành thi thố với số phận.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:15:55 AM

        Đêm đó, phần vì vết thương tấy nhức, phần vì lo sợ, tôi không sao chợp mắt được. Khi mặt trời lên, tôi nhìn sang cái hang cách đó vài bước đã thấy hai con hổ con xinh xắn bò ra trước cửa phơi nắng. Mẹ chúng đã đi kiếm ăn xa. Một ý nghĩ ngộ nghĩnh chợt đến, tôi định bắt một con mang theo, nhưng lại nghĩ đến cái chết đang đe dọa mình, nên vội vã tiếp tục cuộc hành trình.

        Từ hôm ấy, tôi không đủ sức đi bình thường, có lúc đi, có lúc bò, lúc nào cảm thấy đói thì dứt vài đọt lá rừng bỏ vào miệng.

        Ngày này sang ngày khác, quanh mình chỉ có rừng rậm hoang vắng và tiếng kêu của muông thú. Nhiều lúc, trước mắt tôi chỉ thấy màu đen tối tuyệt vọng. Mấy người bạn của tôi chắc đã bị dân A Thố "tế' rồi, còn mình thì cũng khó thoát khỏi làm mồi cho lũ thú rừng. Làm gì? Không lẽ nằm yên để chờ chết, khi mình còn cử động được. Mỗi khi tư tưởng tuyệt vọng xâm chiếm, tôi lại lấy gương Lục Vân Tiên ra để cổ vũ mình. Trong cơn hoạn nạn tưởng như không còn đường thoát nhưng anh ta vẫn tin ở ngày mai và trời đất quy thần đã không phụ lòng. Và tôi lại tiếp tục trườn, bò... Đến chiều ngày thứ bảy, tôi nhìn thấy một đám nương, kề bên là một nếp nhà sàn. Một cô gái trẻ từ trên nhà đang đi xuống. Hy vọng sống trong tôi trỗi dậy mãnh liệt. Tôi gọi, nói đúng hơn là tôi đã gào thét. Nhưng hơi sức của tôi lúc đó chẳng còn bao nhiêu, có lẽ tiếng kêu quá nhỏ nên cô gái chưa nghe rõ. Cô ta ngơ ngác vài giây, khi chợt nhìn thấy tôi đang bò, cô ù té chạy mất. 

        Tôi leo lên nhà, ngồi chờ đợi. Lúc này, tôi mới ngửi thấy mùi hôi thối từ vết thương của mình  xông ra rất khó chịu.

        Một ông già vóc người cao lớn, tóc dài xoã xuống vai đã tới đứng núp bên cánh cửa lúc nào, ông giương nỏ về phía tôi quát to bằng tiếng Ê Đê. Tôi không biết ông ta nói gì. Có lẽ ông hỏi tôi là ai, đến đây làm gì? Tôi thoáng nghĩ, đây là bước cùng rồi, một may một rủi, mình cứ nói thẳng ra mình là ai, nếu ông già này là người tốt thì mình thoát nạn, vạn bất đắc dĩ thì đành chịu chết. Tôi cầm tờ giấy công vụ có dấu son giơ lên và nói: "Tôi là người của Mặt trận Việt Minh được phái đi công tác". Thấy nói tới "Mặt trận Việt Minh" đôi mắt nảy lửa của ông già dịu xuống, nhưng vẫn chưa hết cảnh giác đề phòng. Một phút sau ông mới chậm rãi bước lại gần tôi. ông xem giấy và nghe tôi nói việc đi qua A Thố bị họ phục kích như thế nào. Để kết thúc điều tôi vừa nói, tôi nhắc ông: nếu ông là kẻ thù của Việt Minh thì ông cứ giết tôi đi". Khi hiểu ra cảnh ngộ của tôi, ông vừa khóc vừa nói: "A Thố nó ác lắm, đã có đoàn cán bộ Việt Minh 16 người của Đà Lạt qua đó bị chúng giết ". . .

        Qua ông già kể, tôi được biết buôn Ru-oai này đã thành lập chính quyền và có các đoàn thể cách mạng.

        Ở đây, tôi được gia đình ông già chăm sóc rất chu đáo, ít ngày sau sức khoẻ bình phục, ông đã dẫn tôi tới ủy ban kháng chiến Phú Yên (ở gần núi Vọng Phu). Người đầu tiên tiếp tôi là anh Thanh Sơn (sau này là Thứ trưởng Bộ Thương nghiệp) và anh Phạm Văn Bạch - Chủ tịch ủy ban kháng chiến Nam Bộ. Các anh khuyên tôi: "Nghỉ ngơi bồi dưỡng tại đây cho khoẻ. Đi ra ngoài Bắc bây giờ địch cắt đường rồi. ủy ban kháng chiến Nam Bộ được lệnh chuyển vô Nam Bộ đang tính việc mở đường về, rất may có đồng chí...".

        Sau khi chữa lành vết thương và được học tập lớp chính trị ngắn ngày, tôi được biên chế vào đơn vị "tiên phong" mở đường do anh Thọ phụ trách. Khỉ giao nhiệm vụ mở đường, anh Phạm Văn Bạch nói: chúng ta mở con đường này với tinh thần vâng theo lời dạy của Cụ Hồ, quyết tâm đánh thắng quân xâm lược  Pháp, vì vậy con đường chúng ta mở sẽ mang tên Người - đường Hồ Chí Minh". Tôi dẫn anh em mở theo con đường tôi đã đi qua, đi đến A Thố, chúng tôi lại bị phục kích, anh Thọ bị trúng một mũi tên vào giữa trán, anh em trong đơn vị nổi giận, đòi tàn sát cả buôn này. Tôi phải khuyên can anh em nhiều lần, họ mới nguôi giận. Đi qua các buôn mà trước đây vài tháng, chúng tôi đã xây dựng chính quyền, đoàn được nhân dân đón tiếp nồng nhiệt.

        Đến căn cứ Huế của Ninh Thuận, tôi được anh em cho hay tin dữ: đồng chí Vũ Đức, Liên Trung đoàn trưởng vừa mới hy sinh. Khi địch tiến công vào trung đoàn bộ, đồng chí đã trực tiếp chỉ huy một bộ phận ở lại chặn địch để cho anh em thương binh và cơ quan rút lui an toàn. Tinh thần gan góc dũng cảm và thương yêu binh sĩ của Liên Trung đoàn trưởng Vũ Đức đã để lại trong tôi ấn tượng tốt đẹp, sâu sắc không bao giờ phai mờ.

        Đến cuối tháng 7 năm 1947, đội mở đường của chúng tôi đã về đến tỉnh Bà Ria. Tiếp sau đó ít lâu, ủy ban kháng chiến Nam Bộ cũng từ Phú Yên về Bà Rịa. Và từ đó, con đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành đường giao thông huyết mạch giữa Trung Bộ và Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 09:31:41 PM
           
MỘT VÀI CHI TIẾT VỀ PHÁO ĐÀI LÁNG1

TRẦN QUANG VỸ        

        Pháo Đài Láng, nơi vinh dự được giao nhiệm vụ khai hoả loạt đạn đầu tiên bắn vào thành Hà Nội, mở màn cho Toàn quốc kháng chiến, đã được viết nhiều trên sách, báo cũng như phát trên đài phát thanh, truyền hình từ mấy chục năm nay. Vì vậy, trong bài này chúng tôi chỉ đề cập những chi tiết còn ít người nói tới và những chi tiết đưa chưa thật chính xác.

        1. Địa điểm của Pháo đài Láng và sự ra đời của nó Pháo đài Láng nằm ở địa bàn phường Láng Thượng (quận Đống Đa) hiện nay, xưa thuộc xã Yên Lãng (tên nôm là Kẻ Láng) một làng cổ ven đô, bên bờ sông Tô Lịch, phía tây thành Thăng Long.

        Cụm dân cư Yên Lãng ra đời cách đây khoảng 2.000 năm, gồm ba thôn: Láng Thượng, Trung và Hạ. Đến năm 1981 chia thành phường Láng Thượng có thôn Thượng và hai xóm thôn Trung; phường Láng Hạ có hai xóm thôn Trung và một xóm thôn Hạ; còn một xóm thôn Hạ nay thuộc về phường Thịnh Quang.

        Người Hà Nội đều biết đến Láng, vì nhân dân ở đây có nghề trồng rau gia vị nổi tiếng. Theo sử sách, nghề này có từ  đời vua Trần Dụ Tông (giữa thế kỷ XIV) mà đặc sản là húng Láng, hành hoa, cà pháo; còn có chùa Láng tên chữ là Chiêu Thiên Tự, xây dựng từ đời vua Lý Anh Tông (giữa thế kỷ XII) là một di tích lịch sử, một thắng cảnh có tiếng của Thăng Long xưa.

        Sau khi chiến tranh Thế giới lần thứ 2 bùng nổ (9- 1939), thực dân Pháp ở Đông Dương cắm 5 mẫu ruộng ở cánh đồng Dập và khu vực gò ma thuộc thôn Trung để lập pháo đài với mục đích bảo vệ  phía tây Hà Nội, chống phong trào cách mạng và bắn máy bay Nhật (vì Nhật ở phe trục với Đức - Ý).

        Ngày 17 tháng 6 năm 1940, quân Đức kẻo vào Pa-ri, thủ đô của pháp; Pê-tanh (Pétain) phải ký hiệp ước đình chiến với Đức, thực dân Pháp ở Đông Dương xây bệ đặt 4 khẩu cao xạ 75 ly mua của Đức, là loại súng tối tân nhất lúc bấy giờ, cố định súng vào bệ bê tông. Đến cuối tháng 9 năm 1940, quân Nhật kéo vào Đông Dương sau đó buộc Pháp phải ký Hiệp ước phòng thủ chung (ngày 29-7-1941) và bắt thực dân Pháp phải dùng Pháo đài Láng để bắn máy bay Mỹ khi đến ném bom quân Nhật đóng ở Hà Nội (ngày 7- 12- 1941, Mỹ tham chiến đánh Đức - Ý - Nhật) . Lời ghi ở bảng giới thiệu trong Phòng trưng bày bổ sung di tích Pháo đài Láng -TBBSDTPĐL) viết: "Pháo đài Láng là một trong ba pháo đài do quân Pháp xây dựng trong thời kỳ Đại chiến Thế giới lần thứ 2 nhằm mục đích phòng thủ khu vực Hà Nội với nhiệm vụ chủ yếu đánh trả máy bay quân đội Nhật" là chưa đầy đủ, rõ ràng. Về sự kiện có khác nhau: Trong Pháo đài có xây đài chỉ huy, hầm trú ẩn, hầm để đạn. Ngoài pháo cao xạ có hai khẩu đại liên kiếu Hốt-kít, một khẩu trung liên Biển và một số súng trường để trợ thủ và bảo vệ cho pháo. Quân số ở đây có 1 đại đội lính Pháp và lính khố đỏ, có viên quan hai Pháp tên là Đét-xru-mô (Desrumeau), quan một Pơ-ti (Petit), viên quản Bông-pông (Bonpont). Phía lính khố đỏ có viên đội Nguyễn Ưng Gia cai quản (cấp bậc Maréchal des logis ngang với trung sĩ bây giờ). Năm 1943, máy bay Mỹ tới ném bom vào thành Hà Nội, nhưng bom rơi vào khu chợ Hàng Da, làm nhiều người dân bị chết. Quân Pháp cho pháo cao xạ bắn ở tầm 4.000 mét nhưng khi Nguyễn Ưng Gia tính thì máy bay Mỹ ở tầm 6.000 mét nên bắn không trúng (có thể là do Pháp cố tình) .

        Đầu năm 1945, Nhật nhiều lần cho lính đến cắm trại ở chùa Láng để trinh sát và diễn tập tiến công Pháo đài Láng và trại Nhãn (Cầu Giấy), là những căn cứ quân sự của Pháp ở cửa ngõ phía tây Hà Nội.

        Đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật làm đảo chính hất cẳng Pháp. Họ tập kích vào Pháo đài, bắn chết Đét-xru-mô, Bông-pông, một số lính Pháp và khố đỏ. Riêng Pơ-ti thoát chết vì hôm đó không có mặt. Một người dân là bà Riềng bị bắn chết. Một số lính khố đỏ, trong đó có Nguyễn Ưng Gia, vượt hàng rào chạy vào xóm, xin quần áo dân thường mặc để trốn đi nơi khác.

        Pháo đài Láng bị quân Nhật chiếm đóng cho đến khi quân của Trung Hoa dân quốc kéo vào nước ta giải giáp quân Nhật.

        Bảng giới thiệu của Phòng trưng bày có viết: "Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, Cách mạng Tháng Tám thành công, Pháo đài Láng đã trở về tay Quân giải phóng" còn thiếu một quãng thời gian tuy ngắn từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 4 năm 1946 (lúc quân của Tưởng Giới Thạch rút về nước) nhưng là giai đoạn mà Nhật và quân Tưởng đã tháo dỡ nhiều bộ phận của bốn khẩu cao xạ, một số đạn bị lấy đi đêm vỏ đồng bán cho đồng nát.

        Khi bộ đội ta vào tiếp quản Pháo đài Láng thì ta chưa có pháo binh. Mãi tháng 5 năm 1946, Bộ Tổng tham mưu mới tập trung anh em pháo thủ trong Hội cựu chiến binh yêu nước thuộc Mặt trận Việt Minh và tuyển chọn một số người cao to, biết chữ, về tập trung ở trại Vệ quốc đoàn Trung ương (số 40 Hàng Bài). Đến ngày 29 tháng 6 năm 1946, ra quyết định thành lập ba trung đội Pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh (đến tháng 9 năm 1946, có thêm Trung đội pháo đài Thủ Khối), thành Đại đội Pháo binh Thủ Đô do đồng chí Phạm Văn Đôn làm Đại đội trưởng, đồng chí Tô Na làm Chính trị viên, chỉ huy cả bốn trung đội.

-----------------------
        1. Tạp chí LSQS số 6-2001


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 09:34:40 PM
         
        2. Thành phần của Trung đội Pháo đài Láng Chúng tôi muốn nói rõ thêm, vì các tư liệu về vấn đề này còn rất ít. Hơn 50 năm đã đi qua, nên đáng tiếc là tên tuổi các chiến sĩ của Pháo đài không còn ai nhở được hết, vì thời kỳ này, thanh niên yêu nước nhập ngũ rất đơn giản, lý lịch và tên thật không chính xác. Do vậy, rất dễ hiểu là số tên họ ở bảng danh sách trong Phòng TBBSDTPĐL và trong cuốn "Lịch sử pháo binh QĐNDVN ' xuất bản năm 1991 chưa thật đầy đủ và cũng có họ tên khác với những điều mà chúng tôi được biết qua một số nhân chứng ở Trung đội này những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến. Theo ông Nguyễn Ưng Gia thì Pháo đài Láng có 44 người, chia làm 3 khẩu đội. Nguyễn Ưng Gia làm Trung đội trưởng1, Nguyễn Văn Khoát làm Chính trị viên.

        Bốn khẩu cao xạ thời kỳ Pháp thuộc đã bị mất nhiều bộ phận, nhưng được xưởng sửa chữa pháo đạn2 tu sửa lắp thành hai khẩu nên Pháo đài chỉ có hai khẩu đội súng. Khẩu đội pháo phía ngoài gần đường do đồng chí Bình chỉ huy, Nguyễn Phi Hùng làm phó phụ trách việc ngắm bắn, đồng chí Nghệ (pháo thủ cũ của Pháp) có thao tác thuần thục giữ việc giật cò; các đồng chí Tần, Uyên, Bùi Văn Ẩm3, Trần Đình Xuyên (đều là pháo thủ cũ của Pháp) thực hiện việc quay tầm, hướng, cắt ngòi nổ, nạp đạn. Còn ba thanh niên của làng Láng mới nhập ngũ là Đỗ Văn Đa (thường gọi là Đỏ) Đoàn Bản, Nguyễn Văn Sinh làm nhiệm vụ tiếp đạn.

        Khẩu đội pháo nằm ở phía trong do Đoàn Hùng4 (tên thật là Ấu Sĩ Hùng) chỉ huy, đồng chí Bạn làm khẩu đội phó, Nguyễn Văn Đề (pháo thủ cũ). Thanh niên làng nhập ngũ có Ngô Quang Chiêu, Nghiêm Trần Duyên, Ngô Văn Tranh, Ngô Quang Trường.

        Khẩu đội dự bị do Lê Văn Oanh5 phụ trách có Nguyễn Đình Chiến (là pháo thủ cũ, đã hy sinh khi Pháp ném bom xuống khu trận địa giả), Nguyễn Huy Giao, Nguyễn Đình Ngọc không phải là Vũ Đình Ngọc như ở bản danh sách tại Phòng TBBSDTPĐL), Nguyễn Đình Ất, Đàm Duy Nho, hai thanh niên làng nhập ngũ là Nguyễn Văn Dương, Lâm Văn Toàn.

        Quản lý Trung đội là đồng chí Hưng.

        Y tá Trung đội là đồng chí Khả.

        Ông Nguyễn Ưng Gia nguyên Trung đội trưởng Pháo đài, năm nay đã 90 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn (hiện ở Khu tập thể Nông nghiệp - phường Phương Mai). Không nhớ được hết tên mọi người, ông có bổ sung thêm: Đồng chí Uyên (là pháo thủ cũ của Pháp, quê ở Thái Bình), làm phó cho ông. Về chính trị cũng có một đồng chí phó cho đồng chí Nguyễn Văn Khoát, một đồng chí liên lạc chuyển các thông tin bằng đi bộ, một vài đồng chí làm nhiệm vụ tiếp phẩm, cấp dưỡng nhưng không nhớ tên.

-----------------------
        1. Ông Gia sinh năm 1912 ở Huế, vào lính pháo thủ của Pháp năm 1940, vì Pháp thua Đức nên không phải sang Pháp mà được về làm chức đội ở Pháo đài Láng, chỉ huy lính khố đỏ dưới quyền của quan hai Pháp Đét-xru-mô, rồi trở thành con rể của làng (vợ là bà Nghiêm Thị Năm vừa mất năm nay). Ngày Nhật đánh vào pháo đài, ông xé hàng rào chạy về nhà vợ, sau đó Nhật mộ lính lái xe. Ông vào làm lái xe đại đội vận tải pháo. Đến Cách mạng Tháng Tám thì bỏ vào Sài Gòn, được đông chí Phạm Ngọc Thạch giới thiệu về Hà Nội đến đồng chí Phạm Văn Đồng làm bảo vệ và lái xe (Bộ Tài chính). Bộ Quốc phòng biết, điều ông về làm trung đội trưởng Pháo đài Láng.
        2. Xưởng sửa chữa pháo có một kíp thợ trên 10 người (trang 13 cuốn Lịch sử pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam 1945-1975, Nxb QĐND, 1991) có hai người là Nguyễn Văn Trúc và Nguyễn Văn Đó được ghi vào bảng danh sách 31 chiến sĩ của Đại đội pháo binh tại Phòng TBBSDTPĐL.

        3. Phòng TBBSDTPĐL ghi là Bùi Văn Ân.

        4. Phòng TBBSDTPĐL ghi là Đoàn Hưng.

        5. ông Lê Văn Oanh là một pháo thủ cũ của Pháp, quê ở xã Chương Dương, huyện Thường Tín, Hà Tây, mất năm 1999, nhưng người con là Lê Văn Khánh có bổ sung cho chúng tôi các tư liệu trong quyển sổ tay còn lưu lại về tên các chiến sĩ của khẩu đội này.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 09:41:27 PM

        Về đồng chí Trần Thái Quang trong bảng danh sách ở Phòng TBBSDTPĐL có ghi là xạ thủ 12,7 ly, nhưng theo chúng tôi tìm hiểu thì Pháo đài Láng không có súng 12,7 ly mà chỉ có một khẩu trung liên Bren và hai khẩu Hốt-kít loại bắn đạn 8 ly) mà thôi. Vậy có thể Trần Thái Quang ở Pháo đài Xuân Canh chăng1? hay là theo như trong sổ tay của ông Lê Văn Oanh lưu lại thì Trần Thái Quang là một pháo thủ của khẩu đội sơn pháo 75 ly được Đại đội pháo binh điều về tăng cường đầu tháng 1 năm 1947 cho Pháo đài Láng. Như vậy tổng cộng danh sách thu thập được là 30 người.

        3. Một vài chi tiết trong quá trình chiến đấu của Pháo đài Láng.

        Ngoài những việc đã được nói trên sách báo đề cập, chúng tôi xin nói thêm vài chi tiết:

        Trong Pháo đài, lúc quân Tưởng trao trả ta, chỉ còn lại 400-500 viên đạn. Nhân dân thôn Láng Trung phát hiện một hầm có 200 viên do địch chôn giấu ở gò ma, đã chuyển cho Trung đội. Anh em pháo thủ đa số là bộ binh và thanh niên mới nhập ngũ, chưa biết đến pháo, được đồng chí Nguyễn Ưng Gia tổ chức huấn luyện. Với tinh thần yêu nước, quyết tâm giết giặc, anh em đã nhanh chóng học tập và thực hiện được các thao tác chính xác theo lệnh của chỉ huy, điều khiển 2 khẩu cao xạ chuyên dùng để bắn máy bay, nay làm pháo bắn mục tiêu mặt đất, khuất xa, theo đường cầu vồng, rất khó khăn.

        Năm 1996, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Toàn quốc kháng chiến, báo Nhân dân, số 15155, ra ngày 19 tháng 12 năm 1996, ở trang 4, mục "Hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày Toàn quốc kháng chiến", của M.T, có viết "Phạm Văn Đôn, Đại đội trưởng pháo binh chỉ huy Pháo đài Láng giới những loạt đại bác đầu tiên xuống dinh luỹ của thực dân Pháp trong đêm 19 tháng 12 năm 1946 lịch sử". Đồng thời trên Đài Truyền hình Việt Nam (chương trình VTVI) phát câu chuyện đồng chí Phạm Văn Đôn trực tiếp chỉ huy Pháo đài Láng.

        Việc này là không chính xác nên một số anh em pháo thủ cũ của Pháo đài Láng đã viết thư lên Bộ Tư lệnh Pháo binh, Quân khu Thủ Đô, Thành ủy Hà Nội nêu thắc mắc băn khoăn về việc báo chí công bố không đúng sự thực vì lúc đó đồng chí Phạm Văn Đôn không có mặt trên đài chỉ huy của Pháo đài để chỉ huy 2 khẩu đội bắn loạt đạn đầu tiên, hiệu lệnh cho Toàn quốc kháng chiến.

        - Chúng tôi cũng muốn nhắc đến sự đóng góp to lớn của nhân dân và chính quyền địa phương trong những ngày nóng bỏng của cuộc chiến đấu để Trung đội hoàn thành nhiệm vụ.

        Ngay từ tháng 10 năm 1946, xã Yên Lãng đã thành lập ủy ban bảo vệ bên cạnh ủy ban hành chính do ông Vũ Quýnh làm Chủ tịch, có một đại đội tự vệ bảo vệ làng và giúp bộ đội.

        Đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, một bộ phận tự vệ thay nhau chuyển đạn từ nơi cất giấu ở Trung Kính Thượng về để Trung đội chiến đấu; còn một bộ phận phối hợp với khẩu đội dự bị của Lê Văn Oanh, ngày đêm bảo vệ vòng ngoài, ngăn chặn bọn Việt gian tay sai của Pháp lẻn vào gần Pháo đài do thám. Một số các bà, các chị tham gia đội tiếp tế nấu cơm hằng ngày cho bộ đội và tự vệ (gạo do nhân dân ủng hộ).

        Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Pháo đài Láng hạ được một máy bay trinh sát của địch nên sau đó Pháp cho pháo binh bắn bừa bãi vào Láng và máy bay ném bom nhiều lần; có một lần đã trúng khẩu đội đồng chí Bình. Hai đồng chí Bùi Văn Ẩm và Trần Đình Xuyên hy sinh. Hai đồng chí này là pháo thủ cũ của Pháp, vì không rõ nguyên quán nên nhân dân Yên Lãng chôn cất ở đó và ghi tên hai đồng chí vào danh sách liệt sĩ của phường Láng Thượng bây giờ. Nhân dân Yên Lãng còn huy động người đắp lại ụ pháo bị đánh phá và đắp một pháo đài giả rất công phu ở cánh đồng thôn Hạ, có ụ súng, chòi chỉ huy, hôm để đạn, người rơm để lừa địch. Trong những ngày chiến đấu khó khăn, việc ăn uống hoàn toàn do dân Yên Lãng đảm nhiệm, đội tiếp tế phụ nữ nhiều khi phải gánh cơm mang tới cho bộ đội dưới làn đạn pháo của địch. Đó là các bà, các chị Bé Hoạch, Hai ý, Phương, Văn, Tuyết, Ty, Nhàn...

        Ngoài việc phục vụ chiến đấu, xã còn lập các đội phá hoại: chặt cây, đào trường để cản xe địch. ông Vũ Quýnh thường xuyên dẫn đầu các đoàn đại biểu các ngành, các đoàn thể trong xã, ban đêm đến úy lạo, tặng quà, động viên bộ đội và tự vệ chiến đấu.

        Ngày 10 tháng 1 năm 1947, Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội lệnh cho Trung đội phá pháo, rút về Hà Đông. Nhân dân Láng biết tin đến tiễn đưa và gói cơm nắm cho các chiến sĩ lên đường.

        Ngày 11 tháng 1 năm 1947 (tức 20 tháng Chạp) bộ đội Pháo đài Láng rút qua sông Tô Lịch về Mễ Trì, Hữu Từ mang theo khẩu sơn pháo 75 ly có bánh xe được tăng cường về sau này) và tháo khóa nòng hai khẩu cao xạ mà Pháp đổ bê tông chôn tại chỗ không mang đi được, để làm nhiệm vụ mới.

        Sau khi bộ đội rút khỏi Pháo đài, địch bắn phá ác liệt dọn đường để tiến ra ngoại thành. Chiều 29 Tết (tức 20-1- 1947), địch đưa quân ra Yên Lãng bắn chết một số cụ già vì yếu không đi tản cư được và đốt phá nhà dân. Trung đội Pháo đài Láng từ lúc thành lập (ngày 29-6- 1946) cho đến khi rút khỏi thành phố đã hoàn thành nhiệm vụ vinh quang của mình, bắn phát pháo lệnh mở màn cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp; cùng Đại đội pháo binh non trẻ của ta ở Hà Nội, chỉ có bảy khẩu thu được của địch, phối hợp với các trận chiến đấu của bộ đội, nhân dân Thủ đô kìm chân địch, tạo thời gian cho cả nước củng cố và xây dựng lực lượng để kháng chiến. Cán bộ chiến sĩ Đại đội pháo binh Hà Nội, sau khi rút khỏi Thành, cũng là nòng cốt xây dựng nên các phân đội rồi đại đoàn pháo binh hiệp đồng chiến đấu với bộ binh trong các chiến dịch để năm 1954 trở về giải phóng Thủ đô.

        Di tích Pháo đài Láng vẫn còn, đó là một bằng chứng về truyền thống chiến đấu anh dũng bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Để xứng đáng với ý nghĩa và tầm vóc của nó, chúng tôi nghĩ ngoài sự quan tâm bảo tồn di tích cần thiết phải có những nội dung cần bổ sung và chỉnh lý để các thế hệ mai sau luôn luôn ghi nhớ đến chiến công của những người đi trước.

----------------------
        1 . Trong bài “Từ Xuân Canh đến Đoan Hùng" của Nguyễn Đỗ Minh Quân, Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng, số 36, tháng 12-1996, ti. 15 viết "Pháo đài Xuân Canh có một tiểu đội trọng liên 12 ly 7".


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:08:37 PM


MỘT SÔ Ý KIẾN VÊ TRẬN TẬP KÍCH SÂN BAY GIA BÍ THỜI KỲ ĐẦU TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN1

TRẦN QUANG VỸ       

        1. Trận tập kích vào sân bay Gia Lâm tháng 1-1947 có hay không?

        Cuốn Quân khu Thủ đô Hà Nội - Lịch sử tháng chiến chống thực dân Pháp 1945-/1954" (Nxb Hà Nội, 1986, tr. 168) viết về một trung đội pháo binh của Chiến khu 10 tăng cường cho Mặt trận Hà Nội, đến cách sân bay Gia Lâm 400 mét, lúc 16 giờ ngày 25 tháng 1 năm 1947 đã bắn 15 phát vào sân bay làm 2 chiếc khu trục của địch bốc cháy.

        Cuốn "Lịch sử Pháo binh QĐND Việt Nam 1945-1975" (Nxb QĐND, 1991, ti. 23) nói cụ thể hơn: "Đêm 24-1-1947, trung đội sơn pháo 75 ly của Bộ chỉ huy Khu 10 do anh Vũ Quang Điện vừa tốt nghiệp Trường võ bị Trần Quốc Tuấn khoá 1 phụ trách, đã bí mật vào chiếm lĩnh cạnh đê làng Vo Vàng, cách đường băng sân bay Gia Lâm khoảng 400 mét. Lúc 16 giờ ngày 25-1-1947, khi 3 máy bay khu trục Xpít-phai (Spitfire) vừa hạ cánh, khẩu đội nhằm bắn thẳng 14 phát, 1 chiếc bốc cháy, 1 chiếc bị thương".

        Như vậy, trận pháo kích ngày 25 tháng 1 năm 1947 vào sân bay Gia Lâm không phải là trận tập kích mà Nguyễn Quốc Dũng2; Đặng Việt Châu3; Nguyễn Hưng 4; Đỗ Sâm - Hoàng Tiêu5 đã viết.

        Chúng tôi gặp đồng chí Nguyễn Văn Trân - nguyên Bí thư Thành ủy, kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến Hà Nội thời kỳ này, nhưng đồng chí chỉ nhớ là có một trận tập kích vào sân bay Gia Lâm đầu năm 1947, nhưng không nhớ cụ thể.

        Nhân chứng của sự kiện này vẫn còn, một số người đã cung cấp cho chúng tôi những chi tiết đáng lưu ý để chúng tôi nêu lên những vấn đề sau:

        2. Chủ trương đánh sân bay Gia Lâm có từ lúc nào?

        Đảng ta đã nhận định việc thực dân Pháp mưu toan xâm chiếm đất nước ta một lần nữa, chiến tranh khó có thể tránh được nên việc đánh vào sân bay Gia Lâm để làm "mù cánh" địch (theo như cách nói của anh em Đội phá hoại thành phố lúc bấy giờ) đã được đặt ra trước khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

        Đồng chí Lê Minh Nghĩa6 kể lại: sau khi ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Đảng ta đã có chủ trương rất nhạy bén. Vào khoảng tháng 4 năm 1946, đồng chí Vân (tức Phan Lang), Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh đã báo cho đồng chí Nghĩa, lúc đó là Chủ nhiệm Việt Minh thị xã Bắc Ninh, ý kiến của Xứ ủy Bắc Bộ là phải lập một khu đặc biệt xung quanh sân bay Gia Lâm để củng cố cơ sở chính trị và tổ chức binh vận gồm: phố Gia Lâm (Ngọc Thụy) và các thôn quanh sân bay là Thượng Cát, Gia Thượng, Gia Quất, Gia Thụy, Bắc Cầu (phía bắc đường xe lửa), Ngọc Lâm, ái Mộ (sân bay), Sài Đồng, Mai Phúc (dọc đường số 5), Lâm Du, Tư Đình (phía đê sông Hồng) và giao cho một Ban cán sự do đồng chí Nguyễn Việt Dũng - Bí thư Phủ ủy7.Từ Sớm phụ trách, đồng chí Thế - đại đội trưởng, cán bộ quân sự Thị ủy Bắc Ninh và đồng chí Nghĩa. Khu đặc biệt này trực thuộc tỉnh Bắc Ninh, không qua Huyện ủy Gia Lâm (thời kỳ này Gia Lâm thuộc tỉnh Bắc Ninh) .
       
        Đến tháng 7, đồng chí Dũng chuyển lên công tác ở Tỉnh ủy Bắc Ninh thì đồng chí Nghĩa được cử thay làm Bí thư Ngọc Thụy. Đồng chí Nghĩa đã nắm tình hình sân bay qua những người vào làm phu và một số người hay đột nhập vào đó để lấy trộm quân trang, quân dụng của Pháp (đại ca của họ là Quý Thông) .

        Tháng 11  năm 1946, đồng chí Vân gọi Lê Minh Nghĩa lên thông báo việc Xứ ủy quyết định kế hoạch tập kích sân bay nếu chiến tranh xảy ra và sau đó báo đồng chí lên gặp Xứ ủy (có đồng chí Lê Thanh Nghị và Trần Quốc Hoàn dự) để báo cáo tình hình. Đồng chí Nghĩa không thạo về quân sự, nhưng trước khi gặp Xứ ủy, nhờ sự góp ý của đồng chí Vương Văn Trà (Bí thư Phủ ủy Thuận Thành, lúc này đã tham gia quân đội) nên đã xin cung cấp chai xăng và bom ba càng. Xứ ủy chỉ thị ngay cho đồng chí Vũ Anh và đồng chí Nguyễn Duy Thái (phụ trách quân giới) để đồng chí Nghĩa lấy vũ khí ở Bình Đà đem về Gia Quất.

        Cuối tháng 11, đồng chí Lê Hồng, được Bộ Tổng chỉ huy giao nhiệm vụ tổ chức cuộc tập kích sân bay Gia Lâm khi xảy ra chiến tranh, đến liên lạc với Lê Minh Nghĩa để thành lập một đội cảm tử thực hiện công việc này.

------------------
        1. Tạp chí LSQS số 2-1999
       
        2 . Nguyễn Quốc Dũng - Thêm những tư liệu về trận tập kích sân bay Gia Lâm đầu năm 1947, Tạp chí LSQS, số 6-1993, tr.70-72.

        3. Đặng Việt Châu - Nhớ lại trận đột kích sân bay Gia Lâm đầu năm 1947, báo QĐND, số 8445. ngày 4-12-1984.

        4. Nguyễn Hưng - Trận đánh máy bay lịch đầu tiên ở sân bay Gia Lâm, Tạp chí LSQS, Số 4-1993.

        5. Đỗ Sâm - Hoàng Tiêu - Thêm vài chi tiết về trận đánh, Tạp chí LSQS, tháng 6-1993, tr. 73.

        6. Còn có tên là Vũ Nhân, tên thật là Đô Nguyên Thanh, sau này là Chánh văn phòng Bộ Tổng tham mưu, rồi Trưởng ban Biên giới của Chính phủ, nay là chuyên viên cao cấp của Chính phủ.

        7 . Sau làm Chánh văn phòng Chủ tịch Nước.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:10:07 PM

        Những chi tiết trên có khác với tư liệu số KC26, lưu trữ ở Tổng cục II8 về Ban tình báo Bắc Ninh - Gia Lâm năm 1946-1947. Ngày 18 tháng 7 năm 1946, tại số nhà 17 phố Nguyễn Thị Kim (nay là 16 Nguyễn Huy Tự, Hà Nội) việc chuẩn bị trận đánh sân bay đã được đồng chí Hoàng Minh Đạo Trưởng phòng 5 Bộ Tổng tham mưu, trực tiếp giao cho đồng chí Nguyễn Hồng điều tra, nắm tình hình trường bay Gia Lâm, chuẩn bị hướng dẫn Quyết tử quân đánh phá máy bay theo phương hướng một trận tập kích bí mật.

        Cũng theo bài báo9 thì Nguyễn Hồng là một công nhân kỹ thuật tại nhà máy xe lửa Gia Lâm - Đông Anh, thông thạo vùng này. Nguyễn Hồng đã đóng vai làm phu ở sân bay nên nắm được quy luật hoạt động, quan sát được địa hình và cách bố trí của địch. Anh đã tổ chức một số người trở thành nhân mối giao thông viên của lực lượng tình báo quân sự. Việc chọn người tổ chức Quyết tử quân do Thị ủy Ngọc Thụy, ủy ban huyện Gia Lâm và Đặc phái viên của Bộ Tổng tham mưu lo liệu.

        Nhưng đồng chí Lê Hồng nói với chúng tôi là không biết về các sự việc này và đồng chí cũng không phải là Nguyễn Hồng. Đồng chí Lê Minh Nghĩa cũng không rõ câu chuyện này và nếu có một bộ phận tình báo khác hoạt động tại sân bay thì bộ phận này thực hiện nhiệm vụ trực tiếp với cấp trên, không liên lạc với cấp ủy địa phương theo nguyên tắc bí mật.

        3. Tổ chức lực tượng của Đội Quyết tử (Lúc đầu, đồng chí Nghĩa đặt tên và may cờ là Đội Cảm tử)

        Đội Quyết tử để đánh sân bay Gia Lâm được thành lập vào cuối tháng 11  năm 1946 không có một văn bản chính thức nào) do đồng chí Lê Hồng làm đội trưởng, đồng chí Lê Minh Nghĩa làm đội phó, đồng chí Võ Cường - một cán bộ quân sự của Thị ủy Ngọc Thụy - làm đại đội trưởng, phụ trách việc huấn luyện. Quân số gồm 4 trung đội (khoảng hơn 100 người) .

        Lúc đầu, việc tuyển mộ người ở nội thành vào đội, việc chuẩn bị vũ khí (chủ yếu do Bộ Tổng tham mưu cung cấp), việc tổ chức địa điểm trú quân ở nhà máy xe lửa Gia Lâm do đồng chí Trần Cư - ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Tổng Công đoàn, Trưởng ban phá hoại của Hà Nội, lo liệu. Làm xong các nhiệm vụ trên, đồng chí Trần Cư lại đi nhận công tác khác.

        Việc tuyển mộ các thanh niên ngoại thành vào đội, việc tổ chức biên chế thành các tổ ba người, tiểu đội, trung đội, việc huấn luyện về chính trị do Lê Minh Nghĩa phụ trách.  Đồng chí Trần Duy10 được giao việc quyên lương thực, quần áo, giày, dép cho anh em.

        Về y tế có anh Ngô Văn Quỹ, là sinh viên năm thứ 5 Trường Y khoa, anh Lâm - một y tá của Nhà thương Đồn Thủy (địa điểm Viện quân y 108 hiện nay) và hai chị Đào Thị Ngọc Dung, Đặng Thị Hoàn Hảo.

        Thành phần của Đội Quyết tử có cả nông dân, công nhân, học sinh, sinh viên, tiểu thương, tiểu chủ, dân nghèo ở Gia Lâm. Đặc biệt trong đội có 7 tay "anh chị" khét tiếng phố chợ (như anh Tư cụt), được đồng chí Nghĩa bố trí mỗi tiểu đội một người, làm nhiệm vụ dẫn đường, và chừng 7 - 8 người Việt Nam mới (binh lính Nhật theo ta) như các anh Nguyễn Văn Phi, Ái Việt và một bác sĩ là Trần Việt Minh.

        Đầu tháng 12 năm 1946, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng tham mưu trưởng, đồng chí Lê Quang Đạo và Trần Quang Huy, là các Xứ ủy viên, đã triệu tập ban chỉ huy Đội Quyết tử đến trụ sở ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm để báo cáo. Đồng chí Thái nhận xét: cán bộ chỉ huy thiếu thành phần quân sự, nên đã chỉ thị phải bổ sung cán bộ trung đội, tiểu đội lấy từ đại đội 8 của đồng chí Võ Kích, đóng ở Gia Lâm, và trung đội tiếp phòng gác cầu Long Biên của đồng chí Sủng.

--------------------
        8 , 9. Nguyễn Quốc Dũng - Thêm những tư liệu về trận tập kích sân bay Gia Lâm..., Tài liệu đã dẫn.

        10. Tên thật là Trần Quang Tăng, hoạ sĩ, lúc đó là sinh viên Trường Mỹ thuật Hà Nội


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:11:18 PM

        4. Trận tập kích được thực hiện vào thời điểm nào.

        Theo kế hoạch, việc đánh sân bay Gia Lâm do Lê Hồng chỉ huy được chọn ngay vào đêm 19 tháng 12 năm 1946 - thời điểm nổ súng Toàn quốc kháng chiến. Cuốn "Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chông Pháp 1945-1954" (Bộ Tổng tham mưu xuất bản năm 1991, tr. 119) viết về việc đồng chí Bùi Huy Bé, Phó phòng Tình báo đã báo cáo với Tổng tham mưu trưởng về trận tập kích sân bay Gia Lâm, do Ban tình báo Gia Lâm chuẩn bị, không thực hiện được.

        Cuốn "Chiến đấu trong vòng vây" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trang 49, có nói không đánh được vào sân bay Gia Lâm vì địch canh phòng cẩn mật.

        Hồi ký của đồng chí Lê Minh Nghĩa viết cho Ban Tổng kết - Bộ Tổng tham mưu và bài của Đặng Việt Châu cho biết thêm, đêm 19 tháng 12 năm 1946, trận đánh sân bay Gia Lâm không thành công vì công tác chuẩn bị chưa tốt.

        Đồng chí Nghĩa và đồng chí Trần Duy kể lại rằng: lúc 5 giờ 30 chiều 19 tháng 12 năm 1946, Lê Hồng tới nơi trú quân ở nhà máy xe lửa, vứt cặp xuống bàn và nói: "Giờ khởi nghĩa đã đến, chúng ta phải xuất quân". Chỉ huy sở đặt trên nóc nhà máy, có đồng chí Lê Minh Nghĩa, Lê Hồng và Trần Duy. Các chiến sĩ đã áp sát sân bay, hiệu lệnh là khi có pháo hiệu đỏ thì các đơn vị sẽ xông lên tập kích. Nhưng đến giờ hành động thì chỉ nhìn thấy các pháo hiệu xanh, loay hoay đến gần sáng, Ban chỉ huy phải ra lệnh rút quân.

        Cách chừng hơn 10 hôm sau (không rõ ngày, nhưng đồng chí Nghĩa nói là ngay đêm 20 và 21 tháng 12) đơn vị Quyết tử định đột nhập vào sân bay nhưng lại phải rút lui vì địch canh phòng cẩn mật.

        Sau hai lần không thực hiện được việc đột kích, đồng chí Nguyễn Văn Trân, có đồng chí Vương Thừa Vũ - Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội, cùng dự, đã mời đồng chí Lê Hồng và đồng chí Đặng Việt Châu đến, giao nhiệm vụ cho đồng chí Châu giúp đồng chí Hồng trong trận đánh tới cũng như quyết định thay đổi cách đánh và hướng đánh (không từ Ngọc Thụy nữa mà từ phía Nam sân bay vào), bổ sung vũ khí, tăng cường một trung đội Vệ quốc đoàn, một Đội phá hoại của Hà Nội và một vài người Nhật. Chỉ huy trận đánh là đồng chí Lê Hồng và Đặng Việt Châu.

        Lê Hồng về truyền đạt mệnh lệnh (cũng không có văn bản) cho đồng chí Nghĩa nhận nhiệm vụ mới, với cương vị Bí thư Huyện ủy Ngọc Thụy, để thành lập đại đội Ngọc Thụy tập trung, do đồng chí Vương Văn Trà làm đại đội trưởng, đồng chí Nghĩa làm chính trị viên, đồng chí Võ Cường chuyển sang làm đại đội trưởng du kích Ngọc Thụy.

        Các bài viết và các nhân chứng nói rất khác nhau về thời điểm của trận tập kích này. Đồng chí Lê Hồng nhớ là ngày 9 tháng 1 năm 1947. Đặng Việt Châu chỉ viết là vào đầu năm 1947. Tài liệu của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cho là ngày 18 tháng 1 năm 1947. Đỗ Sâm, Hoàng Tiêu căn cứ vào tài liệu nói là ngày 16 tháng 1 năm 1947. Nguyễn Hưng viết là trận đánh vào cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 1947.

        Có mấy chi tiết sau mà chúng tôi lưu ý:

        a. Tất cả các bài viết và lời kể của nhân chứng đều thống nhất thời điểm là trận đánh diễn ra vào trước Tết Nguyên Đán một vài hôm. Tháng Chạp Bính Tuất năm đó thiếu nên mồng Một Tết Đinh Hợi - đối chiếu với dương lịch là ngày 21 tháng 1 năm 1947. Như vậy, trận tập kích vào sân bay xảy ra trong khoảng từ ngày 15 tháng 1 đến ngày 19 tháng 1 năm 1947 là cùng.

        b- Đồng chí Nguyễn Thụ11, một nhân chứng còn nhớ một sự việc là ngày 15 tháng 1 năm 1947, đồng chí được tin bố là Nguyễn Văn Thìn đã hy sinh khi đánh vào nhà của tướng Moóc-li-e (Morlière), nên vẫn lấy ngày 15 tháng 1 làm ngày giỗ bố. Cũng ngày hôm đó, đồng chí nhận lệnh; đơn vị phá hoại của đồng chí sẽ tham gia trận đánh vào sân bay Gia Lâm, nên ngay buổi chiều, toàn đội đã qua sông Hồng để đến tập kết ở thôn Vàng, làng Hội Xá. Bài của Đặng Việt Châu ghi rõ: chiều hôm vượt sông, đồng chí tập hợp cả đơn vị cảm tử và trung đội mới, điều chỉnh lại biên chế và cán bộ phụ trách, kiểm tra lại vũ khí, trinh sát lại tình hình địch ở sân bay. Đến hôm sau, Ban chỉ huy đội bàn kế hoạch đánh vào tối ngày hôm đó. Như vậy, ngày đó là ngày 16 tháng 1 năm 1947.

        Đồng chí Nguyễn Giang12 chỉ huy một mũi và là một trong hai người rút ra sau cùng, còn nhớ là chiều 27 tháng Chạp (tức ngày 18 tháng 1 năm 1947) đồng chí mới về tới làng Phù Đồng, nơi đơn vị đóng quân sau trận đánh. Trước khi tới đó, đồng chí đã ở lại làng Thổ Khối một ngày, một đêm, sau khi ra khỏi sân bay lúc khoảng 3 giờ sáng đêm tập kích, tức là đêm 25 tháng Chạp (hay đêm ngày 16 tháng 1 năm 1947).

        Như vậy thời điểm diễn ra trận đánh, theo Đỗ Sâm - Hoàng Tiêu là phù hợp hơn cả.

---------------------------
        11 . Tên thật là Nguyễn Ngọc - nguyên thư ký kiêm nhân viên mật mã Văn phòng Xứ ủy Bắc Bộ, sau làm cán bộ Liên hiệp Công đoàn Hà Nội, lúc đó được cử vào Ban công tác phá hoại của thành phố do đồng chí Trần Cư phụ trách.

        12. Tên thật là Nguyễn Văn Quý - người đã phá máy phát của nhà máy điện Yên Phụ đêm 19-12-1946, báo hiệu mở màn Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, lúc đó là cán bộ của Ban công tác phá hoại của Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:12:10 PM

        5. So sánh lực tượng của ta và địch, diễn biến trận tập kích.

        Theo Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, lực lượng tiếp phòng của Pháp đóng ở sân bay Gia Lâm khoảng 1.000 lính Âu-Phi, gồm 1 tiểu đoàn Lê dương, các đơn vị thiết giáp và pháo, các đội thám báo, khoảng 100 phi công và nhân viên kỹ thuật với 9 phi cơ khu trục Xpít-phai, 12 máy bay vận tải Đa-cô-ta (Dakota).

        Các tài liệu nói về lực lượng của ta cũng rất khác nhau. Theo Đỗ Sâm - Hoàng Tiêu thì có 2 đại đội (đại đội 1 và đại đội 4). Đặng Việt Châu viết là 6 tiểu đội (3 tiểu đội làm nhiệm vụ đột kích và 3 tiểu đội yểm trợ). Nguyễn Giang nói lực lượng khoảng 100 người (4 tiểu đội quyết tử, 1 trung đội Vệ quốc đoàn và 1 Đội phá hoại 16 người của Ban công tác phá hoại Hà Nội tăng cường) .

        Đồng chí Lê Hồng cho biết toàn bộ lực lượng trước trận đánh chừng 200 người, nhưng tham gia trực tiếp chiến đấu khoảng 150 (chừng 100 đội viên Đội Quyết tử, 1 trung đội Vệ quốc đoàn và 1 Đội phá hoại của Hà Nội). Số quân còn lại độ gần chục người làm nhiệm vụ cáng thương, cứu thương túc trực bên kia đường xe lửa và ở hậu tuyến gần ở làng Vàng) để đón nhận, chăm sóc thương binh và nấu ăn.

        Vũ khí của ta không kể lực lượng Vệ quốc đoàn) chỉ có dao găm, chai xăng, 6 bom ba càng, 1 khẩu phóng lựu đạn Trôm-blông (Tromblon V.B) và mỗi người 2 quả lựu đạn. Riêng đồng chí Hồng có 1 khẩu súng ngắn Côn (Con) 8 và 4 quả lựu đạn.

        Diễn biến của trận đánh có những điều khác nhau, không như các bài viết đã đăng báo. Theo lời kể của các đồng chí Lê Hồng, Nguyễn Giang, Trần Duy, Nguyễn Quý (tuy không giống nhau) có thể khái quát như sau: 

        - Một cánh xuất phát lúc 11 giờ đêm từ thôn Sài Đồng, có khoảng 30 người được huấn luyện kỹ do đồng chí Quyến làm trung đội trưởng, đồng chí Bình làm trung đội phó. Đồng chí Đặng Việt Châu và đồng chí Lê Hồng đi cùng cánh này, có nhiệm vụ quan trọng nhất là phá các máy bay khu trục Xpít-phai trên đường băng. Đến sát sân bay, bên trái một cái đầm thì Lê Hồng dẫn 2 tiểu đội, trong đó có đồng chí Quyến, Bình và Nguyễn Văn Phi (người Nhật) tiến vào trong, đồng chí Châu và 1 tiểu đội bố trí sau đầm làm nhiệm vụ yểm trợ.

        - Một cánh do Nguyễn Giang chỉ huy, khoảng 70 người, hầu hết là các chiến sĩ mới, xuất phát từ thôn Vo Vàng bên bờ sông Đuống, có nhiệm vụ phá các hăng-ga (nhà để máy bay) và máy bay vận tải Đa-cô-ta ở bãi đỗ phía cuối đường băng.

        - Một cánh của trung đội Vệ quốc đoàn, độ 40 người, do trung đội trưởng Đỗ Bằng, vừa tốt nghiệp Trường võ bị Trần Quốc Tuấn chỉ huy, bố trí ở gần đường nhựa, phía Bắc sông Hồng, lối dẫn vào sân bay, phía đầu sân băng nơi đỗ máy bay Xpít-phai, có nhiệm vụ đánh chặn quân tiếp viện địch từ Hà Nội sang ứng cứu.

        Theo lời kể của đồng chí Lê Hồng, sau khi dàn trung đội theo hình cánh cung, đúng 12 giờ đêm, đồng chí Hồng ra hiệu cho đồng chí Quyến và Bình truyền đạt lệnh cho bộ đội bò vào khu để Xpít-phai, nhưng bò chừng 10 phút, gần tới máy bay thì quân Pháp thấy tiếng động hô lên "Halte là? Qui vive" (đứng lại! ai đó), rồi từ bên trái, lính Pháp lại hô tiếp "Halte là? Qui vi ve". Biết bị lộ, đồng chí Hồng liền chồm dậy ném liền 2 quả lựu đạn về phía có tiếng địch và hô xung phong". Cả trung đội đồng loạt ào lên hét to "xung phong" và ném tới tấp lựu đạn, chai cháy vào khu sân băng để máy bay.

        Nguyễn Văn Phi vác khẩu Trôm-blông - không phải tiểu liên Tôm-xơn (Thompson), khi xông lên, phóng được 2 quả lựu đạn, thì bị bắn gãy bàn chân và đã bò lết ra được bên ngoài.

        Lê Hồng bị đạn quật ngã xỉu, cách phi cơ địch chừng dăm bảy thước (một viên đạn xuyên từ nách lên cổ, một phát vào đùi trái và một số mảnh đạn cối vào lưng), lúc tỉnh lại, thấy lửa cháy rực phía trước. Đồng chí Quyến và Bình thay nhau vừa bò, vừa kẻo đồng chí Hồng ra khỏi đường băng và đặt nằm ở bãi cỏ um tùm cạnh đó. Súng liên thanh của địch bắn rát, mà cả hai người cũng đều bị thương, không thể cõng nên đồng chí Hồng phải ra lệnh hai người rút ra ngay kẻo bị bắt tất cả.

        Cánh của Nguyễn Giang (theo đồng chí kể lại): lúc 12 giờ đêm vượt qua hàng rào dây thép gai thứ 4 (hàng rào cuối cùng) còn chừng mươi người (số còn lại hoặc bị thương vong hoặc không lọt vào được), ném lựu đạn vào nhà hăng-ga, phá máy móc thiết bị của khu sửa chữa. Nguyễn Giang và hai đội viên (sau một người hy sinh) vào tới bãi để máy bay Đa-cô-ta, ném chai cháy và lựu đạn vào. Sau đó, đồng chí bị thương ở cánh tay phải và chạy lạc sang khu vực của Lê Hồng phụ trách, thấy đồng chí Hồng nằm trong bãi cỏ, đồng chí đã tìm cách dìu ra ngoài.

        Cánh của Đỗ Bằng (theo anh em kể lại) giáp chiến với xe thiết giáp của địch từ Hà Nội sang tiếp viện. Anh ôm bom ba càng lao vào xe địch thì bị đại liên trên xe bắn ra, hy sinh tại trận.

        Vào lúc 2 giờ sáng, đơn vị đã được đồng chí Đặng Việt Châu cho lệnh thu quân.

        Về Nguyễn Giang và Lê Hồng (theo lời kể của hai đồng chí này), khi đồng chí Giang tìm thấy đồng chí Hồng, lúc này đã gần 3 giờ sáng, lực lượng của ta đã rút về đến Hội Xá. Đồng chí Hồng tay trái bị trúng đạn, phải tháo dây lưng vòng qua cổ đeo lên, tay phải quàng qua vai Nguyễn Giang, chân trái bị thương phải lết, cứ thế hai người ôm nhau đi từng bước trên cánh đồng mấp mô, trời tối đen lúc đó đám cháy đã tắt), nên dựa theo hướng gà gáy sớm, đi xuôi về thôn Thổ Khối, bên đê sông Hồng. Đến 7 giờ, sương mù còn dày đặc, hai đồng chí thoát khỏi nơi nguy hiểm, sức đã kiệt. Đồng chí Giang đặt đồng chí Hồng nằm ở bờ ruộng và vào một xóm gần đấy tìm được một sư ông. Hai người khiêng đồng chí Hồng về nơi an toàn hơn. Du kích Thổ Khối đã đưa đồng chí Hồng đi bệnh viện. Đồng chí Giang được băng bó nghỉ ngơi một ngày, một đêm. Sáng hôm sau, đồng bào đưa anh về Hội Xá, nhưng đơn vị đã qua Phù Đồng. Đến 5 giờ 30 chiều, du kích Hội Xá mới đưa được anh sang bên kia sông Đuống, nơi Đội Quyết tử tập kết.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:13:34 PM

        6. Kết quả của trận đánh.

        Các bài viết cũng như các câu chuyện kể của nhân chứng có khác nhau.

        Đặng Việt Châu viết: "Tin ta diệt 16 máy bay địch cứ truyền miệng nhau, gây ra một luồng phấn khởi cho bộ đội và nhân dân". Đỗ Sâm - Hoàng Tiêu ghi lại là ta phá hủy 3 máy bay, làm hỏng 2 - 3 chiếc khác. Nguyễn Giang kể là ta đã phá được ở sân bay 3 khu trục và ở khu hăng-ga 3 chiếc vận tải. Nguyễn Thụ nói: "Ba ngày sau đơn vị nhận được bức điện mừng của đích thân đồng chí Võ Nguyên Giáp, nhiệt liệt khen ngợi chiến công xuất sắc tiêu diệt 6 máy bay địch, làm vẻ vang cho bộ đội, phong chức đại đội trưởng và thưởng Huân chương Chiến công hạng ba cho đồng chí Giang13.

        Đồng chí Lê Hồng thuật chuyện đồng chí Đặng Việt Châu, sáng hôm sau trận đánh, trèo lên cây đa trên đê sông Đuống, cạnh làng Vàng, nhìn qua ống nhòm thấy 2 máy bay bị cháy đen từng mảng và 3 chiếc khác bị thủng lỗ chỗ nhiều nơi.

        Chúng tôi thấy cũng cần lưu ý, trong bài của Đặng Việt Châu có đoạn viết như sau: "12 giờ 30, tôi nghe tiếng nổ ùng ục như tiếng lựu đạn rồi bỗng một ngọn lửa bùng lên, tiếng xe tăng gầm và tiếng súng máy nổ giòn... Nhưng sao ánh lửa chỉ bùng lên chừng 1 phút rồi lại tắt ngay, tôi đoán không phải là máy bay bốc cháy mà có lẽ là các chai xăng của ta ném vào".

        Tin của đài địch ngày hôm sau mà ta thu được, nói một trận tập kích của Việt Minh vào sân bay Gia Lâm nhưng phía Pháp chỉ bị thiệt hại nhẹ. Số thương vong của địch, theo Đỗ Sâm - Hoàng Tiêu, chừng 20 tên và của ta cũng khoảng 20 đồng chí. Theo Trần Duy và chị Ngọc Dung thì số thương vong của ta nhiều hơn. Nguyễn Giang ước tính có khoảng 50 đồng chí đã hy sinh, mất tích, bị thương.

        Đặng Việt Châu chỉ viết lực lượng của ta rút về đến Hội Xá thiếu 3 người là Lê Hồng, Nguyễn Giang, Đỗ Bằng, còn Nguyễn Văn Phi vì mất máu nhiều nên đã hy sinh ở đó. Thật ra Nguyễn Văn Phi bị thương ở bàn chân nên được đưa về trạm xá ở Bách Môn (Tiên Du) và chị Ngọc Dung được đơn vị phân công coi sóc anh, nhưng anh bị uốn ván, mất sau đó 15 hôm. Khi toàn đội rút sang Phù Đồng mới được tin Đỗ Bằng hy sinh mà không đưa được thi hài ra. Ngày hôm sau, đồng chí Châu về Ban Bảo vệ thành phố báo cáo, gặp đồng chí Trần Quốc Hoàn mới hay là Lê Hồng và Nguyễn Giang chỉ bị thương và còn sống.

        7. Kết luận.

        Trận tập kích vào sân bay Gia Lâm chưa có tài liệu nào nghiên cứu được kỹ, có thể vì không có văn bản quyết định việc thành lập và việc giải thể của đơn vị Quyết tử14, mà cũng không có sự tổng kết của đơn vị trong tình hình chiến sự của Mặt trận Hà Nội lúc đó.

        Một số người chủ chốt của đội cũng không ở lâu ở đây, cán bộ của trận đánh lại phân tán (như Lê Hồng thì bị thương nặng phải đưa đi bệnh viện hậu phương, Đặng Việt Châu nhận nhiệm vụ làm Chủ tịch ủy ban kháng chiến tỉnh Thanh Hoá, Nguyễn Giang nhận nhiệm vụ công vận ở lại nội thành . . .) .

        Suy nghĩ của chúng tôi về trận tập kích vào sân bay Gia Lâm những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp có mấy điểm sau đây:

        a- Tương quan lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, như "trứng chọi với đá". Nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, vì độc lập của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, mọi tầng lớp từ những người được xếp vào hạng thấp hèn của xã hội cho đến những trí thức, những người có tiền của, với trình độ học vấn, hiểu biết khác nhau, nếp sống và cách suy nghĩ khác nhau, đã đoàn kết thành một khối, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, không ngại hiểm nguy trước một trận đánh không cân sức.

        b- Đây là một trận đột kích cảm tử đầu tiên của ta vào một sân bay địch. Nó thể hiện cách đánh: lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Nó mở màn cho truyền thống quân đội ta dùng lực lượng đặc biệt tinh nhuệ tập kích vào các căn cứ mạnh, nằm sâu trong lòng địch, trong hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mỹ.

        c- Trong thời gian này, quân Pháp được tăng viện từ Hải Phòng lên hòng đánh rộng ra vùng ngoại ô thủ đô. Tại Mặt trận Hà Nội, không quân địch hằng ngày vẫn bắn phá các làng mạc quanh thành phố mà chúng nghi có bộ đội ta. Ngày 15 tháng 1 năm 1947, địch chọc thủng phòng tuyến ven sông Hồng và cũng ngày hôm đó, một số lớn đồng bào ta ở Liên khu 1 tản cư ra khỏi Thủ đô nên địch bắt đầu tấn công dữ dội vào khu vực này. Do vậy, trận tập kích vào sân bay Gia Lâm có hiệu quả ít hay nhiều cũng góp phần giữ thế trận kìm chân giặc của Mặt trận Hà Nội.

----------------------
        13 . Nguyễn Giang kể: đơn vị chỉ nhận được điện của đồng chí Tổng chỉ huy mà không có quyết định. Sau này đồng chí công tác trong nội thành nên cũng không có Bằng và Huân chương gửi đến.
        14. Theo giấy chứng nhận của đồng chí Lê Minh Nghĩa về quá trình tham giạ Đội Quyết tử của đồng chí Trần Duy. thì đội được thành lập tháng 11 năm 1946  và giải thể tháng 2 năm 1947.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:23:38 PM

SỰ KIỆN NGÀY 7-10-1947 Ở BẮC KẠN1

TRẦN LONG       

        Cách đây 50 năm, thực dân Pháp mở cuộc hành quân đại quy mô lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta và khoá chặt cửa ngõ biên giới Việt - Trung. Sự kiện quân Pháp bất ngờ nhảy dù xuống Bắc Kạn sáng ngày 7 tháng 10 năm 1947 mở đầu cho cuộc hành binh đầy tham vọng trên đã và đang có nhiều ý kiến khác nhau.

        Để làm rõ hơn sự kiện này, chúng tôi đã tìm gặp trao đổi với nhiều nhân chứng lịch sử, trong đó có những người đã từng là cán bộ lãnh đạo của Bắc Kạn lúc bấy giờ, như Doanh Hằng - nguyên Chính trị viên Tỉnh đội bộ dân quân Bắc Kạn; Triệu Văn Tịnh - nguyên Tỉnh đội phó; Nông Văn Lạc - nguyên Chủ nhiệm Tỉnh bộ Việt Minh. Theo các nhân chứng thì việc quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn vào sáng 7 tháng 10 năm 1947 là điều bất ngờ đối với ta. Nhìn chung thế trận ở đây chưa sẵn sàng, mặc dù công tác chuẩn bị kháng chiến đã được triển khai nhiều tháng trước đó. Tại thị xã Bắc Kạn và các vùng lân cận, mật độ dân cư tăng vọt do các cơ quan Trung ương và nhân dân các tỉnh miền xuôi tản cư đến, trong khi đó, do chủ quan, phán đoán không chính xác, đầy đủ khả năng và hành động của địch nên công tác tiêu thổ kháng chiến, tản cư triển khai chậm chạp, thiếu kiên quyết.

        Cho đến ngày 7 tháng 10, đoạn đường huyết mạch Thái Nguyên - Bắc Kạn vẫn chưa được phá; việc đắp ụ, đào hố để cản bước tiến của địch chỉ mới làm được một phần ở phía Nam; nhà cửa trong thị xã gần như còn nguyên vẹn; việc di chuyển sơ tán các cơ quan, công binh xưởng còn dở dang. . . Các bãi chông, hệ thống kè trên sông làm theo kiểu đại trà, thiếu trọng điểm; chông cắm cao và dàn trải khắp nơi, do đó hiệu quả mang lại rất thấp trong khi công sức đổ ra lại quá lớn.

        Do nhận định Bắc Kạn không phải là hướng chính của địch cho nên lực lượng của ta ở đây cũng rất mỏng. Sau khi rút khỏi Hà Nội, Trung đoàn Thủ đô có cử cán bộ lên giúp địa phương huấn luyện cho du kích, song đến thời điểm đó, tỉnh cũng mới chỉ có một tiểu đoàn tân binh trong khi một số cơ quan như Ty Ngân khố, cơ sở in giấy bạc, Trường võ bị Trần Quốc Tuấn, bộ phận dự bị Đài Tiếng nói Việt Nam, một số nhà máy, kho tàng dồn về đóng rải rác trong và quanh thị xã đều là những mục tiêu ưu tiên cần được bảo vệ.

        Tám giờ 15 phút ngày 7 tháng 10 năm 1947, hàng trăm lính dù Pháp bất ngờ nhảy dù xuống Bắc Kạn trong khi các đồng chí Dương Thiết Sơn - Bí thư Tỉnh ủy và Dương Mạc Thạch - Chủ tịch ủy ban kháng chiến tỉnh đang họp ở Khu chưa về. Tuy lúc đầu có lúng túng bị động, song việc tổ chức chiến đấu đánh trả địch vẫn được các đồng chí ở Tỉnh bộ Việt Minh và Tỉnh đội bộ dân quân triển khai tích cực. Quân Pháp nhảy dù đúng vào sân vận động thị xã, trong lúc tại đây đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái vẫn đang nói chuyện với Tiểu đoàn tân binh và một số học viên Trường. võ bị Trần Quốc Tuấn. Lực lượng của ta tuy lần đầu bất ngờ gặp quân nhảy dù, có phần hoang mang song đã cố gắng chiến đấu bảo vệ cán bộ, các cơ quan và đồng chí Hoàng Văn Thái rút ra khỏi thị xã an toàn.

        Cùng thời điểm trên, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh cũng đang bị kẹt ở thị xã Bắc Kạn. Khi máy bay địch ném bom bắn phá, dọn bãi chuẩn bị nhảy dù thì đồng chí Tổng Bí thư đang làm việc ở đây phải lánh xuống hầm. Căn hầm này có ba ngách, ở ngay trụ sở của Liên tỉnh bộ Việt Minh (toà nhà này nguyên là nhà của Đinh Ngọc Phụng). Căn hầm do một nhóm thợ đào vàng có kinh nghiệm ở Ngân Sơn xây dựng, nó có thể chứa được vài trăm người, rất bí mật và an toàn. Một sự trùng hợp trớ trêu. một nhóm lính dù Pháp lại nhảy xuống đúng vào nóc hầm khi mà dưới hầm đã chật ních người, trong đó có Tổng Bí thư Trường Chinh. Rất may, suốt cả một ngày đi lại trên hầm mà quân địch vẫn không phát hiện được gì. Phải chờ đến tối những người ở hầm mới được thoát hiểm. Việc họ thoát ra bằng cách nào, lâu nay có nhiều nguồn tư liệu đề cập khác nhau. Theo các nhân chứng thì buổi tối hôm đó, đồng chí Tổng Bí thư và những người trong hầm thoát ra nhờ sự dẫn đường của du kích và một số phụ nữ địa phương, dưới sự tổ chức của chị Xin ở Đội Kỳ - Bắc Kạn. Trong đêm tối mịt mùng, các chị căng một sợi dây dài để cho mọi người nắm lấy và lần theo sợi dây đó đi vào rừng.

        Thực ra trong lúc lộn xộn như vậy cũng không ai biết rằng trong đoàn vượt vòng vây thoát hiểm còn có đồng chí Tổng Bí thư của Đảng. Mãi đến nửa đêm mồng 9 tháng 10, đồng chí Trường Chinh mới về đến hậu cứ.

        Còn một trường hợp đáng tiếc nữa xảy ra trong cái ngày đáng nhớ ấy. Đó là cái chết của cụ Nguyễn Văn Tố - Trưởng ban Thường trực Quốc hội, một nhân sĩ yêu nước và có uy tín.

        Khi quân Pháp nhảy dù xuống trụ sở Liên tỉnh bộ Việt Minh, cụ Nguyễn Văn Tố đang có mặt tại đây. Phần do tập trung thu gom tài liệu, phần do chậm chạp, lại không được hướng dẫn trước, cho nên cụ Tố đã không chạy kịp và bị địch bắt sau đó bị bắn chết. Xung quanh cái chết của cụ Tố cũng có nhiều giả thiết khác nhau. Có người cho rằng khi bị bắt và hỏi tên, cụ trả lời là "Tố", quân Pháp nhầm tưởng là "Hồ" (vì hai âm tiết gần giống nhau); có ý kiến lại cho rằng cụ Tố nói tiếng pháp rất lưu loát, hơn nữa trông bề ngoài có nét hao hao giống Cụ Hồ nên có chuyện Xa-lăng hấp tấp điền vào Sài Gòn báo cáo cho Cao ủy Bô-la-e và Tổng chỉ huy Bát-te rằng "đã bắt được Hồ Chí Minh". Theo các nhân chứng kể lại thì cụ Nguyễn Văn Tố vốn là một con người tầm thước; đôi mắt sắc sảo; đối đáp thông minh bằng tiếng Pháp do đó địch mới lầm tưởng là "Chủ tịch Hồ Chí Minh". Tuy nhiên, tất cả các giả thiết trên đều chỉ là những phỏng đoán mà thôi. Người duy nhất có mặt bên cạnh cụ Nguyễn Văn Tố lúc địch nhảy dù là vợ của đồng chí Dương Mạc Thạch, nhưng bà cũng đã nhanh chân chạy thoát được trước khi địch bắt được cụ Tố.

        Mặc dù bị tấn công bất ngờ và gặp một số khó khăn lúng túng trong mấy ngày đầu, song quân và dân ta đã lật ngược được thế cờ, sớm giành lại quyền chủ động trong quá trình đối phó với địch. Chỉ sau một tuần đã tìm ra những cách đánh thích hợp nhằm vào những điểm yếu mà tiến công địch để rồi không những phá được ý đồ chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của chúng mà còn từng bước tiêu hao, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực của địch.

        Sự kiện quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Kim vào sáng 7 tháng 10 năm 1947 là một bất ngờ đối với ta. Tuy nhiên, "sự bất ngờ đó" không làm giảm giá trị thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, mà ngược lại nó càng tôn thêm tầm vóc của chiến thắng. Việc nhắc lại "sự kiện 7-10" một lần nữa càng khẳng định ý nghĩa lịch sử lớn lao và những bài học kinh nghiệm của chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947.

---------------------
        1. Tạp chí LSQS số 5-1997.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:30:06 PM

ĐÔI ĐIỀU TRAO ĐỔI VỀ CHI ĐỘI GIẢI PHÓNG QUÂN QUẢNG TRỊ (CHI ĐỘI THIỆN THUẬT, TRUNG ĐOÀN 95)1

TRẦN SÂM       

        Trong cuốn Lịch sử Trung đoàn 95, do Sư đoàn 325, Binh đoàn Hương Giang biên soạn và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành, có ghi: Chi đội Thiện Thuật thành lập ngày 19-9-1945 (tr.11. Cuốn Lịch sử Sư đoàn 325 (tr. 17 từ dòng thứ 5 trên xuống) cũng ghi: Chi đội Thiện Thuật thành lập ngày 19-9-1945 tại thị xã Quảng Trị. Ngoài ra, trong Lịch sử Trung đoàn 95 còn ghi: Buôn thành lập Chi đội tại thị xã Quảng Tri do đồng chí Trần Hữu Dực đại diện Khu ủy chủ trì . . .

        Chúng tôi thấy như vậy là không chính xác nên đã tổ chức một cuộc họp bao gồm một số đồng chí trong ủy ban khởi nghĩa của tỉnh, là những người tham dự cuộc họp trưa 23 tháng 8 năm 1945, công bố Quân lệnh thành lập Chi đội Giải phóng quân, để xác định lại. Trong cuộc họp này, có mặt đồng chí Trần Hữu Dực - Chủ tịch ủy ban; Đặng Thí - Ủy viên; Nguyễn Hữu Khiếu - Ủy viên.

        Dự họp, ngoài các đồng chí trong ủy ban khởi nghĩa còn có các đồng chí: Trương Linh - người được chỉ định chỉ huy các đơn vị tự vệ tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh và chỉ huy Chi đội những ngày đầu; Trần Sâm - nguyên Chính ủy đầu tiên của Trung đoàn từ đầu đến năm 1948 và từ đầu năm 1947 kiêm luôn Trung đoàn trưởng); Lê Nam Thắng - nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn (từ đầu 1948 đến 1950)2. Chúng tôi cũng đã mời Trung tướng Hoàng phương, lúc đó là Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cùng dự.

        Trong cuộc họp này, đồng chí Trần Hữu Dực và các đồng chí trong ủy ban khởi nghĩa xác định lại rằng: trong ngày giành chính quyền (23-8-1945), ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời từ ủy ban khởi nghĩa chuyển thành) đã ra 3 quân lệnh:

        - Khoảng 10 giờ ngày 23 tháng 8 năm 1945 ra Quân lệnh số 1 : "Lệnh cho lực lượng vũ trang chiếm đóng giữ nguyên tại chỗ...".

        - Khoảng trưa ngày 23 tháng 8 năm 1945 ra Quân lệnh số 2: "Lệnh thành lập Chi đội Giải phóng quân. . . " .

        - Chiều ngày 23 tháng 8 năm 1945 ra Quân lệnh số 3: 'Lệnh cho các lực lượng vũ trang chiếm đóng bàn giao ngay nhiệm vụ, người và vũ khí, kho tàng, doanh trại. . . cho Chi đội Giải phóng quân . . . " .

        Như vậy, ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Quảng Trị đã quyết định thành lập Chi đội Giải phóng quân ngay trong ngày giành được chính quyền tại tỉnh nhà, đó là ngày 23 tháng 8 năm 1945 chứ không phải ngày 19 tháng 9 năm 1945 như hai cuốn sách trên đã ghi.

        Trong cuốn Lịch sử Trung đoàn 95 ghi: "Lễ thành lập rung đoàn do đồng chí Trần Hữu Dực, đại diện Khu ủy chủ trì". Điều này cũng không chính xác vì lúc đó chưa thành lập Khu ủy và đồng chí Trần Hữu Dực không còn ở Quảng Trị nữa mà đang giữ chức Chủ tịch ủy ban hành chính Trung Bộ.

        Hiện nay, có ba đơn vị mang phiên hiệu Trung đoàn 95 và việc xác định ngày thành lập, tổ chức kỷ niệm hằng năm mỗi nơi một khác: Trung đoàn 95, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2 lấy ngày 19 tháng 9 năm 1945. Trung đoàn 95 thuộc Sư đoàn 2, Quân khu 5 lấy ngày 5 tháng 9 năm 1946 và Trung đoàn 95 thành lập tại thị xã Quảng Trị năm 1946. Theo chúng tôi, trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến năm 1964, trong toàn quân chỉ có một đơn vị mang phiên hiệu Trung đoàn 95, không có Trung đoàn 95 nào thành lập tại Quảng Tri vào năm 1946 cả.

        Vừa rồi, trong cuộc họp mặt các Trung đoàn 95 (A, B, C, D) tại Quảng Trị, anh em đều thống nhất ý kiến lấy ngày 23 tháng 8 năm 1945 làm ngày truyền thống của Trung đoàn là hợp lý.

        Vì vậy chúng tôi đề nghị Tổng cục Chính trị và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cho phép sửa lại ngày thành lập Trung đoàn 95 cho đúng với thực tế lịch sử.

        Về tên các Trung đoàn 95:

        Hiện nay vẫn còn cả bốn đơn vị mang phiên hiệu Trung đoàn 95:

        - Trung đoàn 95A, đơn vị vào Nam tiến đầu tiên, hiện làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế ở Quân khu 9.

        - Trung đoàn 95B gọi là 95A cũng được vì từ Trung đoàn 95 tách làm hai, một Trung đoàn vào Nam trước - gọi là 95A, một Trung đoàn vào sau vài tháng gọi là 95B thực tế là Trung đoàn 95 còn lại), hiện trong đội hình Sư đoàn 2 Quân khu 5.

        - Trung đoàn 95C làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế ở miền Đông Nam Bộ.

        - Trung đoàn 95D trong đội hình Sư đoàn 325, Quân đoàn 2.

        Theo chúng tôi, để giữ vững và tiếp tục phát huy truyền thống hào hùng của Trung đoàn 95, các đơn vị trên vẫn mang phiên hiệu Trung đoàn 95 (A, B, C, D) và lấy ngày truyền thống như đúng với thực tế lịch sử.

        Với tinh thần trách nhiệm trước lịch sử của những cán bộ cũ của Trung đoàn, chúng tôi xin trao đổi và đề đạt những kiến nghị trên.

--------------------
        1. Tạp chí LSQS số 5-2001.

        2. Trần Sâm Lê Nam Thắng - nguyên Trung đoàn trưởng (1948-1950) và Đặng Thí - nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:39:31 PM

VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẠI ĐOÀN CHỦ LỰC ĐẦU TIÊN1

ĐỖ CHÍ       

        Việc thành lập đơn vị chủ lực có quy mô lớn để đảm đương những nhiệm vụ tác chiến tập trung được đặt ra từ rất sớm. Ngay năm đầu kháng chiến chống Pháp, khi ta đang còn gặp nhiều khó khăn lớn, thiếu thơn trăm bề, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL (26-8- 1947) thành lập đại đoàn độc lập2. Lực lượng của đại đoàn này gồm các đơn vị trực thuộc Bộ Tổng chỉ huy. Đó là Trung đoàn 147, Trung đoàn 165 (Trung đoàn Thủ đô), Tiểu đoàn 160. Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái kiêm nhiệm chức Đại đoàn trưởng, đồng chí Lâm Kính - Đại đoàn phó3.

        Nhưng việc triển khai thành lập đại đoàn độc lập bị gián đoạn do quân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc tháng 10 năm 1947.

        Sang năm 1948, trong hoàn cảnh căn cứ địa kháng chiến bị bao vây uy hiếp các mặt, việc triển khai tổ chức đại đoàn độc lập lại tiếp tục. Nhưng theo một tiến trình khác, thích hợp với tình hình mới, vừa chiến đấu vừa xây dựng, trước hết là xây dựng nền móng vững chắc, củng cố các đơn vị nòng cốt của đại đoàn: Tiểu đoàn 160 được bổ sung cán bộ, chiến sĩ cho đủ số quân, mang phiên hiệu mới: Tiểu đoàn 11 . Trung đoàn 165 có 2 tiểu đoàn, dồn lại thành Tiểu đoàn 54 làm nòng cốt để sau này xây dựng lại Trung đoàn Thủ đô. Trung đoàn 147, mang phiên hiệu mới: Trung đoàn 17, được bổ sung quân số, có đủ 3 tiểu đoàn bộ binh (Tiểu đoàn 18, Tiểu đoàn 23, Tiểu đoàn 29). Các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của Trung đoàn được tăng cường nhiều cán bộ đã kinh qua chỉ huy tác chiến, đã qua học các trường võ bị, quân chính để có thể nhanh chóng đảm đương nhiệm vụ của cơ quan chỉ huy cấp đại đoàn.

        Năm 1948, các đơn vị trên đây đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào luyện quân lập công, đặc biệt đảm nhiệm được vai trò đầu đàn, đi đầu trong công kiên chiến. Ngày 25 tháng 7 năm 1948, Tiểu đoàn 11 đánh đồn Phủ Thông, trên đường số 3. Lần đầu tiên bộ đội chủ lực của ta công phá một cứ điểm mạnh của địch do một đại đội Lê dương chiếm giữ. Tiểu đoàn 1 đã đột phá rất nhanh, tiêu diệt gọn sở chỉ huy địch, nhưng rồi phải dừng lại trước lô cốt cuối cùng của đồn Phủ Thông. Tuy nhiên, trận đánh đã gây được tiếng vang lớn, khiến cho kẻ địch phải lo ngại; "những điểm mạnh đến như ở Phủ Thông không còn là bất khả xâm phạm nữa".

        Ba tháng sau, lại một trận công đồn rất quyết liệt nổ ra ở cửa ngõ vùng Đông Bắc Bắc bộ. Tiểu đoàn 29 đánh đồn An Châu, đột phá nhanh, mạnh song vẫn phải chững lại khi phát triển sâu vào trong trận địa phòng ngư của địch.

        Năm 1948, các tiểu đoàn chủ lực của ta mới diệt được các đồn cỡ một, hai trung đội địch (Tiểu đoàn 18 diệt đồn Đồng Dương, Tiểu đoàn 29 diệt đồn Đồng Khuy). Nhưng những bài học rút ra từ những ưu điểm, khuyết điểm của hai trận Phủ Thông - An Châu là cái vốn vô cùng quý giá. Cho nên, nếu tháng 10 năm 1948, Tiểu đoàn 29 chưa đè bẹp được quân địch trong đồn An Châu thì 5 tháng sau đó (3-1949), tiểu đoàn này đã giành thắng lợi vang dội ở Bản Trại trên đường số 4. Trong vòng 1 giờ, Tiểu đoàn 29 đã diệt gọn đồn Bản Trại do một đại đội Lê dương trấn giữ, mà ở đây địch phòng thủ còn hiểm hơn nhiều so với Phủ Thông và An Châu.

        Việc triển khai tổ chức đại đoàn được đẩy nhanh nhịp độ từ đầu năm 1949.

        Trước hết, Bộ Tổng chỉ huy quyết định sáp nhập hai Tiểu đoàn 11 và 54 vào Trung đoàn 17, và trung đoàn này có những 5 tiểu đoàn bộ binh được gọi là Trung đoàn 308.

        Nhưng danh hiệu Trung đoàn 308 cũng chỉ tồn tại được ít ngày. Từ tháng 4 năm 1949, trong các thông tri, chỉ thị, mệnh lệnh của Bộ xuất hiện danh từ "đại đoàn chủ lực".

        Đồng chí Vương Thừa Vũ từng là Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội hồi đầu kháng chiến, đang là Chỉ huy phó Liên khu 4, đặc trách mặt trận Bình - Trị - Thiên được điều lên Việt Bắc nhận nhiệm vụ mới: Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy đại đoàn. Đồng chí Cao Văn Khánh, từ Khu 5 nhận chức Đại đoàn phó.

        Tiểu đoàn pháo binh 410 được điều về đại đoàn. Các Liên khu 1, Liên khu 3 đóng góp cho các đại đoàn chủ lực các tiểu đoàn 79, 322, 626(.. là những đơn vị có nhiều thành tích chiến đấu và được trang bị vũ khí đầy đủ nhất.

        Hạ tuần tháng 4 năm 1949, Bộ chỉ huy đại đoàn lên bóp ở Bộ Tổng chỉ huy, nhận chỉ thị. Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ nói về những nét chính của cuộc họp này như sau:

        Về tổ chức biên chế của đại đoàn, chúng tôi làm việc với đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái. Đồng chí chỉ thị: Lấy Trung đoàn 308 làm nòng cốt để xây dựng đại đoàn. Ta chủ trương xây dựng từng bước vững chắc. Lúc đầu, hãy tổ chức một trung đoàn và những tiểu đoàn bộ binh, pháo binh trực thuộc, sau nâng dần lên hai trung đoàn rồi cuối cùng có đủ ba trung đoàn. Xây dựng đi đôi với tác chiến, điều chủ yếu là phải nhanh chóng nâng trình độ chiến đấu của bộ đội từ đánh từng tiểu đoàn lên trung đoàn tập trung "Đại đoàn mang số hiệu 308, tiếp tục phát huy truyền thống Quân Tiên Phong của Trung đoàn 308...".

----------------------
        1. Tạp chí LSQS số 9 (45)-/989.

        2 , 3. Xem hồ sơ số 34 Bộ Quốc phòng, tập "Sắc lệnh của Chính phủ, nghị định, quyết định của Bộ Tổng chỉ huy về tổ chức trong quân đội một đại đoàn độc lập"


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:40:06 PM

        Đồng chí Võ Nguyên Giáp dành một buổi trao đổi với chúng tôi về trách nhiệm của đại đoàn chủ lực đầu tiên, đồng chí Tổng chỉ huy đặt vấn đề: "Nó là con chim đầu đàn, vậy phải thế nào cho xứng đáng với vai trò này?". Chúng tôi cùng bàn luận: 308 phải rất nghiêm về kỷ luật. Cán bộ, chiến sĩ thương yêu nhau, tin nhau. Mạnh về chính trị, giỏi về quân sự, có nếp sống văn hoá tươi vui. 308 phải giành được niềm tin yêu của nhân dân, của đơn vị bạn. 308 phải là mối đe dọa ghê gớm đối với địch. Đồng chí Võ Nguyên Giáp quyết định: 308 phải gương mẫu về các mặt, đi tiên phong trên con đường tiêu diệt sinh lực địch, hễ đánh là thắng, hễ đánh là tiêu diệt sinh lực địch, ngày càng lớn mạnh, quyết định chiến trường. Cuối cùng, đồng chí giao nhiệm vụ cụ thể, trước mắt:

        "Vừa qua, Thường vụ Trung ương Đảng đã quyết định mùa Thu này phải giải phóng Bắc Kạn, nhổ cái mũi nhọn của địch cắm sâu vào căn cứ địa kháng chiến của ta. Nay Bộ giao các anh Vũ làm chỉ huy trưởng mặt trận Bắc Kạn. Trận Bắc Kạn sẽ là trận đánh ra mắt của Đại đoàn 308. Bây giờ đã cuối Xuân, từ nay đến đầu mùa Thu chỉ còn 3 tháng, anh Vũ lo việc giải phóng Bắc Kạn. Đồng chí Trường Chinh cũng vừa mới chỉ thị cho Liên khu 10 tiếp tục mở chiến dịch ở Tây Bắc cho đến hết tháng 6 này. Cụ thể là sẽ mở chiến dịch Sông Thao. Ta đưa chủ lực sang đánh vào chỗ yếu nhất của địch ở phòng tuyến này, tạo điều kiện cho bộ đội ở Liên khu luồn sâu khuếch trương chiến quả. Việc này giao cho anh Khánh đưa Tiểu đoàn 11 và Tiểu đoàn 54 đi chiến đấu. Đây cũng là một dịp luyện quân thiết thực nhất chuẩn bị cho trận ra mắt của 308 ở Bắc Kạn mùa Thu này"...

        Bộ Tổng chỉ huy ra quyết định thành lập mặt trận Bắc Kạn, bí danh là "Mặt trận 1 bis" từ cuối tháng 4 năm 1949 song phải đến đầu tháng 6 Bộ chỉ huy mặt trận này mới hình thành. Bởi lẽ trong tháng 5, đồng chí Vương Thừa Vũ chỉ huy trưởng mặt trận còn phải đem quân sang sông Lô phá cuộc hành quân Pômôn của địch đánh lên Phú Thọ, Tuyên Quang.

        Tháng 7, khi các đơn vị của Đại đoàn 308 còn đang luyện quân ở Thái Nguyên, đang tiếp tục. mở chiến dịch Sông Thao ở Yên Bái thì mặt trận Bắc Kạn bắt đầu khởi động. Các lực lượng vũ trang đìa phương tiến hành tiễu phỉ ở Chợ Rã, phá hoại đường sá từ Nà Phặc đến thị xã Bắc Kạn; phát triển chiến tranh du kích ở Nguyên Bình; đặt súng máy cao xạ uy hiếp đường bay của máy bay địch tiếp tế cho Bắc Kạn. Bộ chỉ huy mặt trận nhận được chỉ thị: Chiến dịch Bắc Kèm phải mở màn "sớm chừng nào hay chừng ấy, chậm nhất là từ ngày 25 đến ngày 30 tháng 8 năm 1949. Trong trường hợp chiến thắng Bắc Kạn thì tiếp tục khuếch trương chiến quả ngay để giải phóng đường số 3 bist"...

        Sang đầu tháng 8, ta uy hiếp địch mạnh hơn bằng các trận tập kích sân bay, pháo kích kho tàng địch trong thị xã Bắc Kạn. Trong khi đó, trên đất Thái Nguyên, tập trung đầy đủ các đơn vị của Đại đoàn 308, từng gây bão lửa trên các phòng tuyến địch ở đường số 3, đường số 4, sông Lô, sông Thao. Thái Nguyên - Bắc Kạn chỉ cách nhau vài ngày đường hành quân bộ. Tai hoạ lớn sắp đè xuống đậu lũ quân Pháp đóng trong thị xã Bắc Kạn. Trước tình hình đó không còn cách nào khác, địch phải tháo chạy.

        Sáng ngày 9 tháng 8 năm 1949, địch rút chạy khỏi thị xã Bắc Kạn. Hôm sau, 10 tháng 8, địch rút Phủ Thông. Tiếp đó, ngày 13, địch rút khỏi Nà Phặc, Ngân Sơn. Ngày 15, địch rút khỏi Bằng Khẩu . . .

        Lần đầu tiên trong kháng chiến chống Pháp, một thị xã một tỉnh được giải phóng. Bộ Tổng tư lệnh lúc này đã có sắc lệnh gọi Bộ Tổng chỉ huy thành Bộ Tổng tư lệnh) quyết định tổ chức lễ thành lập Đại đoàn 308. Buổi lễ mừng đại đoàn chủ lực đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời được tổ chức ngày 28 tháng 8 năm 1949 tại thị trấn Đu, huyện phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

        Trong ngày lễ thành lập Đại đoàn 308, mới có một trung đoàn (Trung đoàn 88 thành lập 1-7-1949) và những tiểu đoàn trực thuộc. Một tháng rưỡi sau có thêm trung đoàn thứ hai Trung đoàn 102 tức Trung đoàn Thủ đô, thành lập 10-10-1949).

        Đến giữa năm 1950, có thêm trung đoàn thứ ba: Trung đoàn 36, còn gọi là Trung đoàn Bắc-Bắc,sinh ra và trưởng thành trên chiến trường Bắc Ninh - Bắc Giang. Như vậy, trước chiến dịch Biên giới (1950) Đại đoàn 308 mới có đủ 3 trung đoàn bộ binh và các tiểu đoàn binh chủng trực thuộc.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:46:04 PM

TẠI SAO a, b, c, d, e, f là CHỮ VIẾT TẮT CHỈ CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI TA1

NGUYỄN THẾ NGUYÊN       

        Quân đội nào cũng cần có ký hiệu quân sự và chữ tắt quân sự chỉ các đơn vị để làm các văn kiện quân sự và thể hiện tình hình quân sự trên bản đồ một cách đơn giản, gọn gàng, rõ ràng, dễ hiểu, khoa học.

        Người đầu tiên đề nghị quân đội ta cần có ký hiệu quân sự và chữ tắt quân sự là đồng chí Nguyễn Khắc Huỳnh, cán bộ Ban nghiên cứu Phòng Tác chiến Bộ Tổng tham mưu (BTTM). Đó là vào mùa hè năm 1948, lúc cơ quan Bộ trú ở xã Điềm Mạc, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Ý kiến này được cấp trên chấp nhận. Tổng Tham mưu trưởng chỉ thị cho lập một tổ nghiên cứu việc này. Tổ gồm Nguyễn Khắc

        Huỳnh, Nghiêm Xuân Hiếu đều là cán bộ Ban Nghiên cứu và tôi - Nguyễn Thế Nguyên, Trưởng ban chiến sự của Phòng Tác chiến (lúc này chưa gọi là Cục Tác chiến).

        Việc xác định các ký hiệu quân sự được làm nhanh. Chúng tôi thống nhất cứ tham khảo ký hiệu các nước mà đặt ký hiệu của ta, vì ký hiệu quân sự các nước nói chung giống nhau. Ta chỉ có quy định khác là ký hiệu ta màu đỏ, ký hiệu địch màu xanh; còn các nước đế quốc thì ký hiệu họ màu xanh, ký hiệu đối phương của họ màu đỏ. Việc đặt chữ tắt quân sự phải bàn đi bàn lại nhiều buổi hơn.

        Thoạt đầu, đồng chí Huỳnh nêu: "Nên bắt chước chữ tắt quân sự các nước: "Gr" là tiểu đội, "Sec" là trung đội, "Cie" là đại đội, "Bon" là tiểu đoàn, "R" là trung đoàn, "D" là đại đoàn.

        Thực ra đó là viết tắt các chữ Group, Section, Compagnie, Régiment, Division của Pháp. Đồng chí nói: "Không riêng Pháp, Anh, Mỹ, Đức viết tắt như vậy mà Nhật, Tàu cũng viết tắt như vậy".

        Tôi nói: "Ký hiệu quân sự đặt giống các nước thì được. Còn chữ tắt quân sự đặt như các nước không tiện, không phù hợp với ta. Người biết tiếng Pháp còn hiểu được. Rất nhiều người không biết tiếng Pháp sẽ rất khó nhớ".

        Đồng chí Huỳnh bác lại: "Tàu và Nhật cũng có nhiều người không biết tiếng Anh, tiếng Pháp, nhưng họ dùng chữ tắt như vậy lâu cũng thành quen".

        Đồng chí Hiếu bàn: "Ta thử đặt theo tiếng của Việt Nam xem sao!".

        Cả ba cùng soát lại thì thấy quá khó: Tiểu đội viết tắt là "tđ" tiểu đoàn cũng viết tắt là "tđ". Trung đội thì viết tắt là "trđ", trung đoàn cũng viết tắt là "trđ". Đại đội viết tắt là "đđ" đại đoàn cũng viết tắt là "đđ". Viết tắt như vậy lẫn lộn.

        Nếu thêm chữ cho rõ hơn ví dụ đại đội viết tắt là "đđô", đại đoàn là "đđoa" thì dài quá còn gì là viết tắt nữa. Tôi bỗng nảy ra một ý nghĩ: "Có thể thay chữ cái a, b, c để chỉ các đơn vị được không?".

        Thấy đó là một ý kiến hay, chúng tôi bàn tiếp. Cứ theo thứ tự chữ cái của ta: "a" là tiểu đội, "b" là trung đội, "c" là đại đội  d là tiểu đoàn. Đến cấp "ô" là được. Nhưng không thể dùng "đ" để chỉ trung đoàn vì nói điện thoại, đánh điện, đánh máy dễ nhầm chữ "d" với chữ "đ". Vì thế chúng tôi quyết định bỏ chữ "đ" mà lấy chữ "e" để chỉ trung đoàn.

        Chỉ còn một cấp nữa là đại đoàn. Không thể dùng chữ "g" để chỉ đại đoàn vì nói điện thoại dễ nhầm "d" trên với "g" dưới. Còn dùng chữ cái tiếp theo sau là "h" thì buồn cười vì cấp đại đoàn mà lại "ca hát"!

        Đồng chí Hiếu đề nghị lấy chữ "f' để chỉ đại đoàn.

        Đồng chí Huỳnh nói: "Nếu dùng chữ "f' thì vô hình chung ta đã dùng "a, b, c, d, e, f" theo hệ chữ cái an-pha-bê của Pháp".

        Sau một hồi suy nghĩ,tôi nói: "Ta có đọc là: a, b, c, "đê" (d), 'ơ" (e), f như an-pha-bê Pháp đâu. Ta vẫn đọc theo chủ cái của ta là a, b, c, d dê), e, f cho nên ta cứ dùng "f' để chỉ đại đoàn cũng được. Tuy chữ cái của ta không có chủ f, nhưng máy chữ, máy in của ta đều có chữ f. Đó là cơ sở để lấy chữ f chỉ đại đoàn của chúng tôi. Cả ba chúng tôi đều nhất trí.

        Tiếp đó, chúng tôi đặt chữ tắt chỉ các cấp cán bộ: cấp trưởng thêm chữ "t", cấp phó thêm chữ "f', chính trị viên hoặc chính ủy thêm chữ "v" vào sau chữ tắt chỉ đơn vị. Ví dụ: đại đoàn trưởng là "ft"; đại đoàn phó là "ff', chính ủy đại đoàn là "fv".

        Việc đặt chữ tắt binh chủng, quân chủng dễ hơn: Bộ binh là "BB", Công binh là "CB", Pháo binh là "PB", Trinh sát là "TS", Thông tin là "TT", Không quân là "KQ", Hải quân là "HQ"

        Để phân biệt chữ tắt chỉ đơn vị với chữ tắt chỉ binh chủng, quân chủng, chúng tôi quy định: chữ tắt chỉ đơn vị thì dùng chữ viết thường hoặc chữ in thường, không dùng chữ hoa.

        Còn chữ tắt chỉ binh chủng, quân chủng thì dùng chữ in hoa, cao hơn chữ tắt chỉ đơn vị một phần ba (tức đúng tỷ lệ cao thấp của chữ thường và chữ hoa của máy chủ và máy in). Ví dụ: tiểu đội trinh sát 3 viết là "aTS3", trung đoàn công binh 5 viết là "eCB5"; đại đoàn bộ binh 8 viết là "fBB8".

        Làm xong bản thảo ký hiệu chữ tắt, chúng tôi trình lên Tổng Tham mưu trưởng. Đồng chí chỉ thị tranh thủ thêm ý kiến các phòng trong BTTM. Các phòng xem và đồng ý.

        Mùa Thu 1948, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái ký quyết định ban hành cuốn ký hiệu quân sự và chữ tắt quân sự đầu tiên dùng trong các lực lượng vũ trang Việt Nam.

        Năm 1961, với cương vị là Phó phòng Giáo luyện chiến dịch Cục Tác chiến, tôi đã chỉ đạo 2 đồng chí Trần Đức Khôi và Nguyễn Kim làm lại bản ký hiệu và chữ tắt quân sự.

        Về chữ tắt, chúng tôi vẫn giữ cách đặt như cũ, chỉ thêm một chữ như "q" (có dấu mũ) để chỉ quân đoàn, chữ "tđq" (q có mũ) để chỉ tập đoàn quân. "q" có mũ là để khỏi nhầm với số 9.

        Về ký hiệu, chúng tôi lấy ký hiệu của quân đội Xô-viết, chỉ thêm một ít ký hiệu như tỉnh đội và ký hiệu bộ chỉ huy chiến dịch.

        Lần này bản ký hiệu và chữ tắt quân sự mới cũng được đồng chí Hoàng Văn Thái phê duyệt và ký quyết định ban hành.

-------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-1997


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:55:09 PM

TRỞ LẠI VẤN ĐỀ TẠI SAO a, b, c, d, e, f là CHỮ VIẾT TẮT CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUÂN  ĐỘI TA1

NGUYỄN KHẮC HUỲNH       

        L.T.S: Tạp chí LSQS số 4-1997 có đăng (và sau đó Tạp chí Người làm báo của Hội Nhà báo Việt Nam, số 12-1997, có trích đăng lại) bài viết của tác giả Nguyễn Thế Nguyên "Tại sao a, b, c d, e, f là chữ viết tắt chỉ các đơn vị quân đội ta". Hơn 8 năm sau, người được tác giả Nguyễn Thế Nguyên nhắc đến ở phần đầu bài viết trên - đồng chí Nguyễn Khắc Huỳnh - nguyên cán bộ Ban Nghiên cứu Phòng Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, đã có bài viết để sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ" một số vấn đề trong bài viết của tác giả Nguyễn Thế Nguyên.

        Chúng ta vừa kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Bộ Tổng tham mưu (BTTM) cũng sắp kỷ niệm 61 năm ngày Thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 - 22-12-2005), tôi xin ghi ít dòng kể lại sự ra đời của bản ký hiệu thống nhất đầu tiên của quân đội với những chữ cái a, b, c, d, e, f là chữ viết tắt chỉ các đơn vị quân đội từ phân đội đến binh đoàn?

        Hồi đó, cuối năm 1947 - đầu năm 1948, cơ quan BTTM đóng ở Điềm Mạc, Định Hoá, Thái Nguyên. Phòng Tác chiến BTTM lúc đó do đồng chí Đào Văn Trường phụ trách. Phòng có hai ban: Ban chiến sự và Ban nghiên cứu. Ban nghiên cứu do đồng chí Nguyễn Bình Chuẩn phụ trách. Khi đề ra chương trình công tác năm 1948 của Ban nghiên cứu, Nguyễn Khắc Huỳnh đề nghị đưa vào đó công tác nghiên cứu bản ký hiệu quân đội Việt Nam.

        Hồi đó, quân đội ta chưa có bản ký hiệu thống nhất. Trước đó Văn phòng BTTM đã có một quy định tạm thời dùng cách viết tắt như: Tiđo, Trđo, Tiđoa. . . để chỉ tiểu đội, trung đội, tiểu đoàn. . . Cách viết tắt này chủ yếu dùng trong điện và báo cáo nhưng cũng ít được dùng và không thuận tiện lắm.

        Quá trình chuẩn bị, soạn thảo, xây dựng ký hiệu, việc xác định ký hiệu trận địa, chiến sự, binh khí, màu sắc đôi bên ta địch... tương đối dễ đàng. Chỉ đến lúc phải nghiên cứu xác định dùng chữ tắt thế nào để chỉ các đơn vị quân đội cho thuận tiện... mới đòi hỏi nhiều công sức. Chúng tôi tham khảo ký hiệu quân đội các nước Pháp, Nhật, Trung Quốc... Qua phân tích ký hiệu mà quân đội Pháp sử dụng, chúng tôi nhận thấy, họ có cách dùng một chữ cái để chỉ một cấp đơn vị như: C chỉ đại đội (Compagnie), B chỉ tiểu đoàn (Bataillon), R chỉ trung đoàn (Régiment), D chỉ sư đoàn (Division). Tiếng Pháp là đa âm nên việc sử đụng các chữ viết tắt như vậy là rất thuận tiện. Với tiếng Việt, người đi trước đã thử dùng Tiđoa, Trđoa. . . rồi mà không được. Cuối cùng, Nguyễn Khắc Huỳnh đưa ra phương án dùng các con chữ đầu của vần chữ cái a, b, c, d... để chỉ các đơn vị quân đội. Phương án chung là như vậy, sau khi đi vào cụ thể, một số vấn đề phải bàn bạc và thống nhất. Ba đơn vị nhỏ tiểu, trung, đại đội dùng a, b, c thì dễ nhất trí. Nhưng tiểu đoàn thì dùng d (dê) hay đ (đê)? Qua thảo luận chúng tôi nhanh chóng thông nhất dùng d. Còn trung đoàn dùng e chứ không dùng đ. Còn sư đoàn dùng f hay h? Có ý kiến cho rằng chữ cái tiếng Việt không có chữ f Nhưng nhiều ý kiến lại cho rằng vần ta có f, máy chữ có chữ f cho nên dùng f để chỉ sư đoàn.

        Chúng tôi cũng đã thống nhất rằng các ký hiệu a, b, c, d, e, f đều viết chữ thường, không viết hoa.

        Còn ký hiệu các quân, binh chủng thì dùng chữ tắt tên của binh chủng và viết hoa cả như bộ binh là BB, công binh là CB, pháo binh là PB, không quân là KQ...

        Khi đã có chữ tắt chỉ đơn vị rồi thì việc xác định ký hiệu chỉ các chức vụ cũng không khó khăn lắm: dùng t chỉ cấp trưởng, f chỉ cấp phó, v chỉ chính trị viên, như: đại đội trưởng là ct, trung đoàn phó là ef, chính ủy sư đoàn là fv .

        Toàn Ban nghiên cứu chung sức bàn bạc, góp ý, khoảng giữa năm 1948, Nguyễn Khắc Huỳnh hoàn thành bản ký hiệu. Tổ Đồ bản góp sức vẽ lại cho thật chuẩn để trình lên Bộ. Mùa Thu năm 1948, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái ký quyết định ban hành bản ký hiệu quân đội Việt Nam2. Chính đồng chí Nguyễn Khắc Huỳnh được phân công đến nhà in báo Tập san quân sự - hồi đó ở Quán Chu, Đại Từ, hướng dẫn khắc bản và in bản ký hiệu. Bản ký hiệu được các đơn vỉ đồng tình và hoan nghênh. Chẳng bao lâu, cách gọi a, b, c... thay cho tiểu, trung, đại đội... trở thành quen thuộc trong quân đội và cả trong nhân dân, cả trong công tác quân sự và cả trong sinh hoạt đời thường.

        Thời kỳ này, quân đội ta đang trong quá trình xây dựng.

        Đơn vị lớn nhất là trung đoàn, chưa có binh chủng hợp thành. Bởi vậy bản ký hiệu không đồ sộ như ngày nay, nhưng nó cũng đáp ứng được yêu cầu của công tác tham mưu tác chiến lúc bấy giờ và cả trong một thời gian dài. Mãi đến sau 1960, Bản ký hiệu mới có sự điều chỉnh, bổ sung đầu tiên, tuy nhiên các ký hiệu a, b, c, d, e, f thì vẫn thông dụng mãi. Đồng chí Hoàng Văn Thái đã có lần khen: "Bản ký hiệu quân đội được đấy. Bây giờ ai cũng dùng cách gọi a, b, c...".

        Cuốn Lịch sử Cục Tác chiến BTTM có ghi việc này3. Tôi chỉ viết bổ sung cho rõ. Chuyện sẽ không có gì để nói thêm nếu không có việc "nhà báo" Nguyễn Thế Nguyên (NTN) viết bài đăng trên Tạp chí LSQS số 4- 1997 nói rằng chính ông đề xướng, sáng tạo các ký hiệu a, b, c . . . ông Nguyên viết: "Tôi (tức NTN) bỗng nảy ra một ý nghĩ: "Có thể thay chữ cái a, b, c để chỉ các đơn vị được không?". Với lời kể trong bài báo này, ông NTN nhận mình là tác giả chính của bản ký hiệu và các chữ tắt a, b, c, d, e, f...

        Xin mạnh mẽ khẳng định rằng ông Nguyễn Thế Nguyên không dính líu gì tới việc nghiên cứu xây dựng bản ký hiệu quân đội năm 1948. Hồi đó ông Nguyễn Thế Nguyên (tên thật là Nguyễn Trù) cũng ở Phòng Tác chiến nhưng thuộc Ban chiến sự. Là người của Ban chiến sự, sao ông Trù lại dính vào công việc của Ban nghiên cứu.

        Như phần đầu bài báo này tôi đã nói, công việc nghiên cứu bản ký hiệu quân đội được đưa vào chương trình công tác của Ban nghiên cứu Phòng Tác chiến BTTM và được các thành viên trong Ban nghiên cứu chung sức bàn bạc thảo luận, thống nhất. Do đó, không có chuyện lập một tổ nghiên cứu việc này gồm ba đồng chí như tác giả Nguyễn Thế Nguyên viết. Vì vậy, những lời nói hay ý kiến của ông Nguyên trong bài báo trên để khẳng định sự tham gia của ông vào việc này đều không có thật.

        Đầu năm 1998, sau khi đọc bài của Nguyễn Thế Nguyên trên Tạp chí Người làm báo, người viết những dòng này (Nguyễn Khắc Huỳnh) có trao đổi với ông Nguyễn Bình Chuẩn, lúc ấy còn rất minh mẫn. ông Chuẩn khẳng định: 'Hồi đó ở BTTM, anh Trù (Nguyễn Thế Nguyên)  hoàn toàn không liên quan gì tới bản ký hiệu quân đội".

        Là một người thuộc cơ quan Tác chiến BTTM năm xưa, nay đang chuyên nghiên cứu lịch sử, tôi viết bài báo nhỏ này không có tham vọng gì, mà chỉ có một mong muốn giản đơn góp phần làm rõ sự thật, nói lại cho đúng sự thật lịch sử, dù việc lớn hay không lớn lắm.

--------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-1997

        2. Không biết ngày nay, trong một bảo tàng nào hay một hồ sơ nào còn giữ được nguyên bản ký hiệu Quân đội do Nhà xuất bản Tập san quân sự in, BTTM ban hành năm 1948 không?

        3. Lịch sử Cục Tác chiến BTTM, Nxb QĐND, Hà Nội, 2005, tr.103.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 11:09:51 PM

MỘT SỐ ĐIỂM CẦN BÀN THÊM VỀ CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI THU - ĐÔNG 19501

LÊ KIM       

        Cách đây 55 năm, ta giành được chiến thắng to lớn trong chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950. Từ đó đến nay, đã có nhiều sách, báo trong và ngoài nước viết về sự kiện này. Tuy nhiên, ngay cả những bản tổng kết, cũng như những tham luận trong hội thảo và hồi ức của nhiều nhân chứng ở cả hai phía vẫn có khá nhiều nhận định cần luận bàn thêm.

        Người viết bài này có may mắn được trực tiếp tham gia chiến đấu từ Khâu Luông đến Cốc Xá, tiếp đó lại được tham gia dẫn giải tù binh từ sở chỉ huy Trung đoàn 36, Đại đoàn 308, lên Bộ chỉ huy Mặt trận; được trực tiếp hỏi chuyện Le Page, Charton... rồi trong những năm gần đây lại được đọc mã số văn bản, mệnh lệnh của quân đội Pháp có liên quan đến chiến dịch Biên Giới (được tiết lộ sau khi chiến tranh kết thúc 20 năm); xin được trình bày một số điểm cần "bàn thêm cho rõ" như sau:

        1. Như nhiều người tham dự chiến dịch còn nhớ và trong các bản tổng kết cũng ghi rõ: "Đợt 1 từ 16 đến 20 tháng 9 ta tập trung lực lượng tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê, đồng thời bố trí đánh quân ứng cứu. Nhưng chờ mãi đến 29 vẫn chưa thấy địch, lúc đó Đại đoàn 308 có nhiệm vụ chặn viện) mới được lệnh cử cán bộ đi chuẩn bị chiến trường ở Thất Khê và các đơn vị dành một phần ba quân số đi lấy gạo. Đêm 30-9, địch bí mật tiến từ Thất Khê về phía Đông Khê. Do thiếu cảnh giới chu đáo, ta đã không phát hiện được kịp thời". Một câu hỏi được đặt ra: Vì sao, trái với thông lệ, vị trí Đông Khê bị tiêu diệt từ 10 giờ ngày 18 tháng 9 nhưng mãi tới ngày 30 tháng 9 địch mới đưa quân lên chiếm lại? Sự kiện này đã (và đang còn) nảy sinh nhiều phán đoán. Có ý kiến cho rằng "trận địa phục kích của ta bị lộ, địch "không dại gì thò đầu vào cái bẫy gánh điểm diệt viện" ta giăng sẵn. Có ý kiến cho rằng, đường đi "bị phá hoại nhiều, làm chậm bước tiến" của địch . Lại có ý kiến suy luận "Le Page trù trừ, do dự" ...

        Sự thật không hoàn toàn như vậy. Trong cuốn Hồi ký xuất bản năm 1971, tướng Raoul Sa lan, nguyên Tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương cho biết, ngày 13 tháng 5 năm 1949, tướng Revers, Tổng tham mưu trưởng "là một đại tướng có uy tín, được nể trọng", "được lệnh đi Đông Dương nghiên cứu tình hình, chủ yếu là chiến trường Bắc Bộ". Mãi tới ngày 21 tháng 6, Revers mới trở về Pháp. Trong bản tường trình tuyệt mật trình lên chính phủ, Revers đề xuất ý kiến: "Trước tình hình hiện nay2 cần rút ngắn tuyến phòng ngự biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, chỉ nên giữ lại các vị trí từ Móng Cái đến Thất Khê, cần rút bỏ ngay Bắc Kạn, Nguyên Bình; giảm bớt số quân đóng ở Cao Bằng và khi nào Cao Bằng bị uy hiếp mạnh cũng rút bỏ nốt...". Phương án này đã được Hội đồng các bộ trưởng tán thành. Đầu tháng 9 năm 1949, tướng Blaizot, là Tổng tư lệnh Đông Dương, đã phê chuẩn kế hoạch củng cố tuyến phòng ngư từ Móng Cái đến Thất Khê; chuẩn bị rút bỏ Cao Bằng, Đông Khê ngay từ bây giờ". Nhưng đến ngày 10 tháng 9, Carpentier thay Blaizot lại chủ trương "cần giữ cả Cao Bằng". Chỉ 6 hôm sau, tức 16 tháng 9, Đông Khê bị tiêu diệt. Đại tá Constans, Tư lệnh Quân khu Biên giới, đề nghị "rút ngay Cao Bằng". Tổng tư lệnh Carpentier lập tức từ Sài Gòn đáp máy bay ra Hà Nội, đi thị sát Cao Bằng, Lạng Sơn trong các ngày 18, 19 và 20-9. Ngày 22, Carpentier gửi huấn thị cho Alessandri - Tư lệnh chiến trường Bắc Bộ, ghi rõ: "Cao Bằng sẽ rút vào ngày 2-10. Tuyệt đối giữ bí mật. Chỉ được mật báo cho Charton vào ngày 1-10 để rút vào ngày 2. Cuộc lui quân phải thật gọn nhẹ, không được mang xe, pháo".

        Rất rõ ràng, qua những văn bản chính thức và tuyệt mật được công bố sau khi chiến tranh kết thúc mà Sa lan tiết lộ trên đây, bạn đọc có thể dễ dàng nhận thấy:

        - Cả Charton lẫn Le Page đều phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên là Constans và cao hơn nữa là Carpentier. Trong suốt thời gian dài từ 16 đến 30 tháng 9 ta "đánh điểm mà không thấy viện" chính là lúc các tướng, tá Carpentier, Alessandri, Constans... đang họp bàn xem "lúc nào thì Cao bằng rút và rút như thế nào?". Không phải Charton thấy Binh đoàn Le Page bị đánh nên đã tự ý "bỏ đường cái, rút theo đường mòn, vứt lại toàn bộ xe, pháo" mà chính là phải làm đúng theo huấn thị của Tổng tư lệnh Carpentier đo Tư lệnh Quân khu Constans truyền đạt. Chỉ có một điểm Charton thực hiện không khớp với lệnh cấp trên, đó là do lúng túng, mãi tới "6 giờ sáng ngày 3 tháng 10 đơn vị đầu tiên mới bắt đầu rút" (chứ không phải rút từ 24 giờ ngày 2 tháng 10 như Carpentier chỉ thị3). Đến "gần trưa hôm đó, khi đơn vị cuối cùng đã rút khỏi Cao Bằng thì một loạt mìn phát nổ, tiêu hủy 150 tấn đạn dược bỏ lại trong thành không mang theo được", (theo tiết lộ của trung tá Faretz, hồi đó là phó tham mưu trưởng của Charton). Vì vậy, nhiều sách báo của ta viết "cánh quân Charton rút khỏi Cao Bằng lúc nửa đêm ngày 2 rạng 3 - 10" là không chính xác.

--------------------
        1 Tạp chí LSQS số 10-2005

        2. Trong phạm vi giới hạn của bài viết này, không thể nêu hết các lý do Revers nêu ra, mong bạn đọc thông cảm.

        3. Trong hồi ký của Le Page, do Nxb Latines xuất bản năm 1981, có in lại toàn văn hai bản mệnh lệnh này.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 11:10:13 PM

        2. Cũng không phải Le Page "trù trừ do dự" hoặc "do đường sá bị phá hoại nhiều nên "chậm tiến quân và tiến quân chậm", mà chủ yếu là vì bản thân Le Page cũng như Charton đều tuyệt đối phải hành động đúng theo lệnh cấp trên.

        Theo chính Le Page tiết lộ trong hồi ký xuất bản năm 1981, "mãi đến ngày 30 tháng 9, Le Page mới nhận được điện mật số ZF 879-35 của Constans chỉ thị phải "tiến đến Đông Khê vào buổi sáng ngày 2 tháng 10 để chờ đến chiều hôm đó sẽ có lệnh mới.

        Đến 14 giờ 30 chiều, Le Page lại nhận được lệnh (do máy bay thả xuống, chứ không gửi bằng điện để đảm bảo giữ được hoàn toàn bí mật) chỉ thị ngày 3 tháng 10 phải tiến từ Đông Khê lên Nậm Nàng, ở cây số 114, đón Binh đoàn Charton. Le Page bộc lộ trong hồi ký: "tôi rất sửng sốt vì lệnh này cùng ký trong ngày 29 tháng 9 như lệnh trước, nhưng đến chiều ngày 2 tháng 10 mới thả từ máy bay xuống cho chúng tôi và mãi đến lúc đó tôi mới được biết Charton đang rút khỏi Cao Bằng" và dù biết đây là một nhiệm vụ phải hy sinh, tôi vẫn cứ phải thực hiện mệnh lệnh".

        3. Trong cuốn Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) do Nxb QĐND xuất bản năm 2000, trang 283, có đoạn viết: "Đúng 17 giờ ngày 5 tháng 10, ta bắt đầu nổ súng tiến công Cốc Xá là khu vực có địa hình hiểm trở, thung lũng lòng chảo, núi đá vôi dốc đứng bao quanh. Dựa vào các mỏm cao, hẻm núi, hang sâu, bốn tiểu đoàn địch bố trí binh hoả lực nhiều tầng ngoan cố chống cự...". Ở đây, có hai điểm quan trọng, không chính xác. Một là về tới Cốc Xá thì địch không còn bốn tiểu đoàn nữa mà đã bị đánh tả tơi, rơi rụng suốt từ Khâu Luồng, Nà Pa, Quang Liệt rồi. Hai là, địch không kịp co cụm, bố trí binh hoả lực nhiều tầng và cũng không có tên nào chui vào hang sâu cố thủ. Chính Faretz tiết lộ trong hồi ký: "Mãi tới 16 giờ ngày 6 tháng 10, lần đầu tiên Charton mới bắt liên lạc được với Le Page bằng điện đài. Le Page cho biết, đơn vị ông đang trong tình thế nguy kịch, đang bị bao vây, có ít nhất 150 lính bị thương", chưa kể số chết và bị thương bỏ lại dọc đường. Le Page cũng tiết lộ trong hồi ký: "Tôi báo cho Charton biết là chúng tôi hoàn toàn bị bao vây, chỗ nào cũng có địch. Tôi định chờ đến đêm sẽ dựa vào bóng tối thoát ra ngoài. Tôi lệnh cho Tiểu đoàn dù lê dương số 1 lĩnh nhiệm vụ mở vòng vây, nhưng đơn vị này đã bị thương vong tới ba phần tư quân số và số đông các sĩ quan không còn sức tiến lên nữa" .

        4. Một điểm vô cùng sai lầm nữa là, trong khi cuốn Người lính già Đường số 4 anh hùng, Nxb Trẻ thành phố Hồ Chí Mình, 2004, tr. 325 nhận định: "Hai binh đoàn Le Page Charton đã chiến đấu đến người cuối cùng", thì cả Le Page và  Charton đều thừa nhận trên giấy trắng mực đen là cả hai binh đoàn này đều "không chiến đấu đến người cuối cùng" và khi bị chia cắt, bao vây, tiến công thì "toàn thể hai ban chỉ huy cùng với các binh sĩ còn lại đều giơ tay hàng, nộp vũ khí"!

        Trên đây chỉ là 4 điểm lớn trong nhiều điểm mà người viết không thể nêu hết trong một bài báo. Cũng từ 4 điểm trên đây, xin được trình bày một số suy nghĩ: Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950 là một chiến thắng rất to lớn mà chính Đại tướng Pháp Guillaume, trong lời giới thiệu cuốn hồi ký của Trung tá Le Page đã phải thừa nhận là "một giai đoạn đau đớn cho Pháp trong chiến tranh Đông Dương"; còn Le Page thì viết: "thảm hoạ này đánh dấu bước ngoặt đi xuống của cuộc chiến tranh Đông Dương và báo hiệu sự sụp đổ của đế quốc thuộc địa Pháp" .

        Tuy nhiên, cho tới nay, sách báo và cả những bản tham luận, bản tổng kết chiến dịch của ta vẫn chưa nêu hết tầm vóc to lớn và ý nghĩa đích thực của chiến thắng, bên cạnh đó còn có nhiều sự kiện, nhiều nhận định chưa thật chính xác.

        Vì vậy chân thành đề nghị:

        - Các nhà viết sử cần cố gắng sưu tầm, nghiên cứu thêm những văn bản từ phía bên kia, nhất là những hồi ức của các nhân chứng. Dĩ nhiên, những nhân vật này đều viết theo quan điểm, tâm trạng riêng cùng với nhiều lý lẽ có tính chất thanh minh, bào chữa. Nhưng bên cạnh đó, họ cũng bộc lộ những ý đồ, chủ trương rất đáng để ta nghiên cứu. Đặc biệt, những chỉ thị, huấn thị, mệnh lệnh mật được tiết lộ sau khi chiến tranh kết thúc, dù trích đoạn hay đăng toàn văn đều rất bổ ích, ta cần căn cứ vào những văn bản này để nhận định, chứ không nên suy diễn chủ quan.

        - Hơn nửa thế kỷ qua, đã có rất nhiều cuốn sách viết về chiến dịch Biên Giới 1950 được xuất bản ở Pháp. Một số đã được dịch sang tiếng Việt. Nhưng rất tiếc, cho tới nay, cả hai cuốn hồi ức của Charton và Le Page, là hai nhân vật có thể gọi là nhân chứng chủ chốt, lại chưa được dịch sang tiếng Việt.

        - Trong tình hình hiện nay, khi Việt Nam đã tham gia Công ước Bernes, tuy việc dịch thuật có nhiều phiền phức, các viện nghiên cứu vẫn nên sưu tầm các hồi ký của nhân chứng và những huấn lệnh quân sự của phía bên kia, tìm người có khả năng dịch đúng, dịch tốt để làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu trước mắt cũng như lâu dài..

        Không riêng gì chiến địch Biên Giới 1950, mà cả những chiến dịch lớn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng vậy. Những tài liệu này chỉ dùng để nghiên cứu, cho nên không cần phát hành rộng rãi. Vì vậy, cần dịch toàn văn, không nên trích dịch, lược dịch hoặc biên dịch.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 11:18:49 PM
         
VỀ CHIẾN CÔNG DIỆT XE TĂNG ĐỊCH CỦA CÙ CHÍNH LAN TRÊN QUỐC LỘ 6 CUỐI NĂM 19511

THẾ TRƯỜNG        

        Cách đây 47 năm, trong Đại hội liên hoan Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất ngày 19 tháng 5 năm 1952, Cù Chính Lan là một trong năm người đầu tiên được Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà phong tặng đanh hiệu cao quý "Anh hùng Quân đội". Chiến công của anh đã đi vào lịch sử vào phim ảnh, vào sách giáo khoa như những bản anh hùng ca bất tử.

        Cù Chính Lan sinh năm Canh Ngọ (1930) tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nông dân nghèo. Với lòng yêu nước thiết tha, vào bộ đội, được sự chăm sóc giáo đục của Đảng, anh giác ngộ sâu sắc về mục tiêu lý tưởng chiến đấu và trở thành một chiến sĩ ưu tú của quân đội, một đảng viên Cộng sản gương mẫu. Trong chiến đấu, Cù Chính Lan luôn lập chiến công, nhưng tiêu biểu nhất vẫn là trận đánh địch ở cánh đồng Giang Nại trên đường 59 và trận phục kích xe địch trên Quốc lộ số 6.

        Sáng ngày 29 tháng 5 năm 1951, Tiểu đoàn 353, Trung đoàn 9 bố trí đánh đích trên đường 59 Ninh Bình. Mờ sáng hôm đó một đại đội lính nguy từ Phát Diệm đi về hướng Phương Nại. Đến ngang cánh đồng xã Giang Nại, chúng lọt vào ổ Phục kích của ta. Chỉ sau 5 phút, khoảng 2 phần 3 lực lượng địch đã bị diệt tại chỗ. Lúc đó, Cù Chính Lan vừa học xong lớp đào tạo tiểu đội trưởng Trường quân chính Đại đoàn 304. Anh được điều về Đại đội 12, Tiểu đoàn 353. Đến nơi, đơn vị đi chiến đấu cả, chưa được tiếp nhận. Anh ở lại nhà đại đội bộ. Nghe tiếng súng nổ ran ngoài cánh đồng, biết đơn vị đang đánh địch, Cù Chính Lan mượn luôn con dao phát bờ ruộng của chủ nhà nơi đóng quân và lao ngay ra cánh đồng Giang Nại. Lúc này, bọn địch bị đòn bất ngờ đã hoảng loạn tháo chạy tứ tung. Một tên địch bất ngờ xuất hiện ngay trước mặt, anh vung dao xông tới. Thấy đối phương đã lao đến quá gần, tên nguy không dám bắn trả và hạ súng xuống, giơ cả hai tay xin hàng. Cù Chính Lan tước luôn khẩu tiểu liên Xten và tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu cho tới lúc toàn thắng. Từ đó, Cù Chính Lan được anh em Đại đội 12 gọi bằng cái tên trìu mến: "Chiến sĩ tay dao bắt sống giặc". Với chiến công này, anh được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng ba (tương đương như Huân chương Chiến công hạng ba bây giờ).

        Đến trận Giang Mỗ trong Chiến dịch Hoà Bình ngày 13 tháng 12 năm 1951, trên quốc lộ 6, Tiểu đoàn 353 tổ chức trận địa phục kích chặn đánh quân Pháp từ thị xã Hoà Bình nống ra càn quét ở hướng Chợ Bờ. Lúc này, Cù Chính Lan làm Tiểu đội trưởng bộ binh của Đại đội 12. Sau 5 ngày kiên trì phục kích, sáng ngày 13 tháng 12 năm 1951, một đoàn xe quân sự của địch hành quân trên đường số 6, tiến về phía Phương Lâm - Chợ Bờ. Do đã bị đánh nhiều lần nên lần này chúng tiến quân rất thận trọng. Một xe tải chở lính đi đầu cứ 500 mét lại dừng lại đổ lính xuống sục sạo hai bên đường, thấy an toàn chúng mới phát tín hiệu cho cả đoàn xe tiếp tục tiến. Đi sau chiếc xe đi dẹp đường là mấy xe bí (Auto Miltrailleur - xe gắn súng máy), loại này có vỏ thép nhưng bánh lốp. Sau cùng là một chiến xa bánh xích có tháp pháo trên nóc xe, làm nhiệm vụ hộ tống.

        Do bên ta giấu quân giỏi, nguy trang khéo nên địch tuy có sục sạo vào gần tới nơi, nhưng vẫn không phát hiện được. Đến 9 giờ, toàn bộ đội hình hành quân của địch lọt vào trận địa phục kích của ta. Tiểu đoàn trưởng Đỗ Đức hạ lệnh nổ súng. Phát đạn SKZ đầu tiên đã bắn trúng chiếc xe AM đi thứ ba. Bốn khẩu đại liên cùng lúc bắn mãnh hệt, chia cắt đội hình hành quân của địch. Lựu đạn của các chiến sĩ ta từ hai bên sườn đồi cao tới tấp ném xuống lòng đường, tiêu diệt bộ binh địch vừa từ trên các xe nhảy xuống. Xung kích bật dậy xung phong đánh giáp lá cà, tiêu diệt từng tốp địch. Bọn lính Pháp đạt sang hai bên đường chống cự lại rất quyết liệt.

        Khoảng hơn 1 giờ, ta đã diệt gần hết quân địch ở quãng giữa đội hình, dồn bắt làm tù binh, thu vũ khí. Lúc này chiếc chiến xa đi cuối đội hình chừng như biết có dấn lên cũng sẽ bị tiêu diệt nên đã lùi ra xa rồi nã pháo 40 ly vào trận địa của ta hòng cứu đồng bọn. Số địch còn lại ở cuối đội hình nhân cơ hội đó tổ chức phản kích.

        Ngay lúc đó, Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan dẫn một tổ mau chóng đuổi theo chiếc chiến xa nọ. Anh vừa chạy vừa hô lớn: "Lực lượng địch đó, ta phải mần bằng được chiếc xe tăng này anh em ơi!". Cả tiểu đội chạy theo Cù Chính Lan, chỉ có 5 chiến sĩ bám sát được Tiểu đội trưởng. Ngô Lai ném 1 quả lựu đạn vào chiếc chiến xa đang chạy, chiếc xe hất văng quả lựu đạn ra, nổ ở ven đường. Cù Chính Lan hét to: "Không ổn rồi, các đồng chí chuyển nhiều lựu đạn cho tôi, nhanh lên!"'

----------------------
        1. Tạp chí LSQS số 6-1999



Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 11:19:06 PM

        Lập tức anh chạy men sườn đồi, lựa thế bám sau xe rồi tìm cách nhảy lên. Chiếc chiến xa gầm rú đưa Lan đi cách xa đồng đội. Anh rút chốt lựu đạn ném vào thùng xe khi nắp xe đang mở. Quân địch nhặt lựu đạn ném ra, lựu đạn nổ tung dưới lòng đường. Một mảnh lựu đạn xé toạc áo trấn thủ đang mặc của anh phía sau lưng, rất may không bị thương, chiếc xe quay mạnh tháp pháo hất Lan xuống đất. Không còn lựu đạn, anh chạy về nơi Ngô Lai vừa bị thương đang được đồng đội băng bó. Anh lấy khẩu tiểu liên "Tuyn", nhặt vội 2 quả lựu đạn chày nhét vào túi quần rồi quay lại đuổi theo chiếc chiến xa. Nó đã ở khá xa, Cù Chính Lan hậm hực nhìn theo.

        Nhìn quãng đường vòng mà chiếc xe đang lao tới, anh quyết định chạy tắt rừng để đón đầu với ý nghĩ sôi sục: "Phải đánh, chết cũng đánh!". Cù Chính Lan phóng nhanh theo lối mòn giữa đồi cây rậm rạp. Chiếc chiến xa đến chỗ ngoặt bỗng lùi lại vì 2 chiếc máy bay Hen-cát F6F cũng vừa bay tới, ầm ầm lao xuống cắt bom vào trận địa quân ta ở ven rừng. Chắc mẩm quân ta không đuổi theo nữa, một tên lính Pháp mở nắp xe ló đầu ra quan sát rồi lại thụt vào. Chiếc chiến xa rì rì quay về hướng thị xã Hoà Bình. Từ bìa rừng, Cù Chính Lan xốc tới, nhẹ nhàng nhảy lên chiếc chiến xa. Vì xe đang chạy, động cơ nổ ầm ầm nên bọn giặc trong xe không phát hiện được sự có mặt của anh. Anh rút quả lựu đạn chày Trung Quốc, dùng răng giật dây nụ xoè cho xì khói, đếm 1, 2, 3, 4 rồi mới thả vào thùng xe. Một tiếng nổ chát chúa vang lên, cửa khói trong xe bùng lên. Cả kíp lính trong chiến xa bị tiêu diệt. Chiếc chiến xa không có người lái, đã húc vào mô đất rìa đường, khựng lại. Nó chỉ còn là một khối sắt nặng nề dưới chân Cù Chính Lan. Sau giây phút sững sờ, anh vui sướng gọi đồng đội vang cả núi rừng: "Nó chết rồi, xe tăng địch chết rồi, các đồng chí ơi".

        Trận đánh ở Giang Mỗ giành thắng lợi lớn, quân ta đã tiêu diệt 153 tên dịch, bắt 71 tù binh, phá hủy toàn bộ đoàn xe quân sự của địch gồm 10 chiếc, trong đó có 6 xe GMC chở đầy lính. Sau trận này, trong các đơn vị của Đại đoàn 304 chiến đấu trên quốc lộ 6) đã dấy lên một phong trào "Noi gương Cù Chính Lan, học tập Cù Chính Lan" rất sôi nổi.

        Gần một tháng sau, ngày 11 tháng 1 năm 1952, trong một trận đánh địch từ Ao Trạch càn quét vào ven đường số 6, từ một địa điểm phía bắc đường, Đại đội 59, Tiểu đoàn 418 của Trung đoàn 57 đã nhanh chóng xuất kích, hình thành thế bao vây địch. Một chiếc xe AM không đường thoát, buộc phải dừng lại nhưng văn ngoan cố bắn trả quân ta. Noi gương Cù Chính Lan, một chiến sĩ Đại đội 59 cũng nhảy lên xe. Tên lái hoảng sợ, cơ cao tay xin hàng. Ở hướng Đại đội 54, Tiểu đội trưởng Nguyễn Viếng dẫn đầu tiểu đội lao đến một xe AM khác. Anh hô to: "Cù Chính Lan đánh được xe tăng, chúng ta cũng đánh được như anh". Nói xong, Viếng lao ngay lên, dùng lựu đạn diệt được xe địch. Hai chiếc AM còn lại tháo chạy về Gò Bùi cũng bị quân ta dùng lựu đạn, súng trường tiêu diệt.

        Đã có nhiều tài liệu, nhiều bài báo viết về những chiến công của Cù Chính Lan. Tất cả đều đúng. Nhưng người viết bài này chỉ muốn cung cấp thêm tư liệu nhằm làm rõ hơn, đúng hơn với thực tế lịch sử về chiếc chiến xa bị Cù Chính Lan dùng lựu đạn tiêu diệt ở quốc lộ 6 cuối năm 1951. Đó không phải là xe tăng mà là xe Háp-tờ-rắc, một loại xe chiến đấu có hoả lực mạnh của quân đội viễn chinh Pháp dùng ở chiến trường Việt Nam đầu những năm 50 thế kỷ XX. Loại xe này nhìn bề ngoài rất giống xe tăng, cũng chạy bằng bánh xích nhưng vỏ thép mỏng hơn, nhỏ hơn, trọng lượng nhẹ hơn (chỉ nặng khoảng 6 tấn), trên tháp pháo cũng gắn ca-nông Bô-pho loại đại bác 40 ly bắn liên thanh). Còn xe tăng hồi đó loại nhỏ nhất cũng nặng 12 tấn, trang bị đại bác cỡ từ 75 ly trở lên và chỉ bắn phát một.

        Có ít nhất 3 người khẳng định chiếc chiến xa bị Cù Chính Lan tiêu diệt bằng lựu đạn là xe Háp-tờ-rắc chứ không phải xe tăng. Người thứ nhất là Trung tướng Đỗ Đức - nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, trước đây là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 353, Trung đoàn 9, người chỉ huy trận đánh Giang Mà ngày 13 tháng 12 năm 1951.

        Người thứ hai là Đại tá, nhà văn quân đội Hải Hồ hồi ấy là cán bộ tuyên huấn của Trung đoàn 9 và năm 1965 là người viết kịch bản phim " Người chiến sĩ trẻ" - bộ phim truyện nói về chiến công của Cù Chính Lan. Người thứ ba là Đại tá Lê Đăng Dần, sau này là Phó Chính ủy Đại đoàn 304. Đặc biệt, Đại tá Hải Hồ và Đại tá Lê Đăng Dần đã trực tiếp xem xét, nghiên cứu kỹ chiếc xe bị Cù Chính Lan đánh gục năm xưa trên đường số 6.

        Dù là xe tăng hay Háp-tờ-rắc, song việc một mình với đôi chân trần chạy tắt đồi, đuổi theo xe địch, tìm cách nhảy được lên xe rồi dùng lựu đạn ném vào thùng xe đang chạy, tiêu diệt cả xe và kíp lính trong xe mãi mãi vẫn là một hành động đặc biệt dũng cảm, gan dạ, mưu trí của Anh hùng Cù Chính Lan cách đây gần nửa thế kỷ.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 11:25:55 PM

CHUYẾN ĐI VÀ CÁI CHẾT CỦA TRUNG TƯỚNG NGUYỄN BÌNH1

NGUYỄN VĂN SỸ       

        L.T.S: Trong chuyến đi ra Bắc năm 1951, Trung tướng Nguyễn Bình - Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ. đã bị địch tập kích tại một trạm dừng chân trên đường hành quân. Sau đây là tình tiết sự việc qua lời kể của đồng chí Nguyễn Văn Sĩ - Trưởng đoàn chuyến đi ấy, nay là Thiếu tướng đã nghỉ hưu.

        Lúc bấy giờ, ta giải tán Chiến khu 8, giải tán Trung đoàn chủ lực Đồng Tháp. Là Tham mưu trưởng của Trung đoàn Đồng Tháp, tôi được Bộ Tư lệnh Chiến khu 8 cử ra miền Bắc học quân sự. Về đến Bộ Tư lệnh Nam Bộ, tôi được chỉ định làm Trưởng đoàn của đoàn cán bộ phụ trách đưa đồng chí Nguyễn Bình ra Trung ương.

        Bộ Tư lệnh Nam Bộ đóng ở chiến khu Đ, tôi nhớ đồng chí Lê Bình Đẳng, huyện đội Hóc Môn nhận nhiệm vụ đi nghiên cứu đường hành quân. Khi đồng chí Đẳng trở về báo cáo với Bộ Tư lệnh Nam Bộ, tôi được biết đồng chí đã liên lạc với một bộ phận bộ đội đang hoạt động ở Hạ Lào, giáp ranh với Campuchia. Đoàn ra Bắc gồm có:

        - Đồng chí Nguyễn Bình.

        - Tôi là Trưởng đoàn, kiêm Phó Bí thư chi bộ.

        - Đồng chí Châu, người Quảng Bình, trong Ban bí thư Bộ Tư lệnh Nam Bộ, làm Chính trị viên của đoàn kiêm Bí thư chi bộ (nay không biết chết hay sống).

        - Đồng chí Võ Bá Nhạc, Trưởng phòng quân nhu Nam Bộ (bị bắt tại Tà Ni, đã chết).

        - Đồng chí Thanh.

        - Đồng chí Chung, Tiểu đoàn trưởng thuộc từng đoàn 301 (không biết chết hay sống).

        - Đồng chí Hưng, Tiểu đoàn bậc trưởng thuộc Trung đoàn 306 (đã chết).

        - Đồng chí Tùng, cán bộ biệt động công tác ở nội thành (hy sinh tại Tà Ni) .

        - Đồng chí Khiêm, phụ trách hậu cần, hiện còn sống ở thành phố Hồ Chí Minh.

        - Số người phục vụ ở chung với đồng chí Nguyễn Bình.

        - Đồng chí Liên, y sĩ hy sinh tại Tà Ni).

        - Đồng chí Bốn, bảo vệ (không biết chết hay sống).

        - ông Mười, thợ săn (đã chết).

        - Một tiểu đội cảnh vệ (không biết ai còn, ai mất) . Lúc bấy giờ sức khoẻ của đồng chí Nguyễn Bình không tốt, không thể hành quân bộ mà phải đi ngựa.

        Tôi không nhớ địa danh các trạm đã đi qua. Đoàn rời chiến khu Đ khoảng cuối tháng 8 năm 1951. Đi qua chiến khu Dương Minh Châu, sang căn cứ miền Đông Campuchia (ở bên kia đường 22), khu vực chùa Tà Ni. Qua các căn cứ Ban cán sự tỉnh Kinpong Chăm, ở Đum Be. Từ Chlong đi lên phía Bắc là vùng người dân tộc thiểu số đi trong vùng giải phóng, nên hành quân ngày. Như tôi đã nói, có 2 người đi ngựa, đồng chí Nguyễn Bình và đồng chí Võ Bá Nhạc.

        Vì vậy, Việc bảo đảm bí mật rất khó thực hiện. Người dân tộc thiểu số rất chân thật, với ta cũng như với địch. Sau này, khi trở về, nói chuyện với đồng bào, đồng bào cho biết có một đoàn cán bộ đã đi qua trong đó có một ông Sáu Việt Minh (muốn nói có một người cấp tướng). Trong đoàn đã có những diễn biến tư tưởng không thuận. Nên nếu bị địch tập kích, cán bộ phải hành động ra sao? Chi bộ phải họp, xác định trách nhiệm của chi bộ được Xứ ủy giao cho là đưa đồng chí Nguyễn Bình ra Trung ương thì người đảng viên phải chết cùng chết, sống cùng sống với đồng chí Nguyễn Bình.

        Khoảng cuối tháng 10, đoàn đã đến một phạm người dân tộc ở bên này sông Sê-rê-pốc. Đêm đó, đoàn đã liên hoan với đồng bào, có tổ chức vũ. Sáng hôm sau, vượt sông Sê-rê-pốc ban ngày, đến bóng ở một phẩm cùng người dân tộc để sáng lại hành quân vượt lộ 19, gặp bộ phận của bộ đội Hạ Lào.

        Hôm ấy, đoàn căng ni lông nghỉ ở trong rừng. Khoảng 14 giờ đến 15 giờ, chúng tôi nghe tiếng súng nổ ở ngoài phẩm. Đến lán của đồng chí Nguyễn Bình, các đồng chí cho biết đồng chí đã cùng đồng chí Bốn ra phẩm chơi. Chúng tôi vội cho tất cả súng ống cầm tay tiến ra phẩm và khi tới nơi thấy địch, chúng tôi đồng loạt nổ súng. Địch bỏ chạy, chúng tôi chạy ngay đến chỗ đồng chí Nguyễn Bình thì đã thấy đồng chí bị trúng 3 viên đạn ở đầu gối và 2 viên đạn súng nhỏ ở đầu.

        Chúng tôi phán đoán đồng chí Nguyễn Bình bị thương và còn sống, địch lấy cây súng của đồng chí và bắn hai viên đạn vào đầu. Sau này, qua đồng chí Bốn, chúng tôi biết hôm ấy, đồng chí Nguyễn Bình mặc quần quân sự, áo lót ba lỗ. Phát hiện đồng chí Nguyễn Bình, địch biết là có cán bộ Việt Minh, chúng tiếp cận và nổ súng. Đồng chí Nguyễn Bình bị thương ngay trong loạt đạn đầu. Chúng tôi phán đoán lực lượng địch không đông, khoảng một trung đội, đóng trên lộ 19, hành quân kiểu an dân.

        Sau khi lấy được thi hài của đồng chí Nhuyễn Bình, đoàn hành quân vượt sông Sê-rê-pốc trở lại phẩm đóng quân ở địa điểm cũ. Chúng tôi khẩn trương thương lượng mua ván, đóng hòm và tổ chức mai táng đồng chí Nguyễn Bình trong đêm ở cạnh bìa rừng. Trong khi chúng tôi tổ chức mai táng đồng chí Nguyễn Bình, đồng bào nổi lửa và bắt đầu rời bỏ phum. Chúng tôi phán đoán, hoặc đồng bào sợ địch càn quét, hoặc theo phong tục khi có người chết đồng bào bỏ phum đi tìm một nơi ở mới. Ngay trong đêm, đoàn hành quân trở về Nam Bộ và đã đến căn cứ miền Đông Campuchia ở khu vực chùa Tà Ni. Xế chiều, Bộ Tư lệnh miền Đông Campuchia cho liên lạc đề nghị đoàn vào trong căn cứ, không nên ở tại chùa Tà Ni, vùng này bây giờ không yên. Đã ăn cơm chiều, đang nghỉ trên võng, anh em đề nghị nghỉ đêm tại đây và sáng sớm liên lạc của Bộ Tư lệnh miền Đông Campuchia ra đón đoàn.

        Nhưng hửng sáng, một đại đội kỳ binh Com-măng-đô hành quân đánh căn cứ và khi phát hiện có khói ở khu vực chùa, chúng tiếp cận bắn xối xả vào điểm trú quân. Chúng tôi tổ chức bắn trả và rút lui vào bìa rừng (cách chừng khoảng 400-500 thước) là có thể an toàn. Trong trận này, có 2 người hy sinh, đồng chí Tùng và đồng chí Liên. Đồng chí Võ Bá Nhạc bị bắt. Sau này, chúng tôi đoán có thể khi đoàn hành quân ban ngày theo quốc lộ 22, đồng chí Võ Bá Nhạc vẫn đi ngựa, tình báo địch phát hiện có một đoàn cán bộ đi về hướng chùa Tà Ni nên chúng tổ chức một cuộc hành quân tập kích.

        Khoảng cuối tháng 11, đoàn về đến căn cứ Dương Minh Châu; lúc bấy giờ Bộ Tư lệnh Nam Bộ đã dời về đây. Chúng tôi họp kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ mà Bộ Tư lệnh Nam Bộ đã giao cho, nhưng đã không hoàn thành, phân tích trách nhiệm ưu khuyết điểm của cấp ủy và người chỉ huy, làm tờ trình gửi lên Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

        Đầu tháng 12, số cán bộ được phân công trở về cơ quan và đơn vị. Tôi được điều động về chiến trường, một thời gian ngắn ở mặt trận Đồng Tháp, sau về tỉnh đội Mỹ Tho với chức vụ Tỉnh đội phó Tham mưu trưởng.

        Một lần, đồng chí Khiêm, mà tôi đã nêu trên, có đến gặp tôi ở Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh, bày tỏ nguyện vọng có thể tham gia việc đi tìm hài cốt của đồng chí Nguyễn Bình.

-----------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-1996.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 11:34:25 PM


"CHUYẾN ĐI VÀ CÁI CHẾT CỦA TRUNG TƯƠNG NGUYỄN BÌNH" ĐÔI ĐIỀU CẦN NÓI RÕ1

PHÙNG ĐÌNH ẤM       

        Tạp chí Lịch sử quân sự số ra tháng 4-1996 có đăng bài "Chuyến đi và cái chết của Trung tướng Nguyễn Bình". Nội dung bài viết nói về việc tổ chức đoàn bảo vệ Trung tướng Nguyễn Bình, năm 1951, xuất phát từ Chiến khu Đ, theo đường Đông Bắc Campuchia và Hạ Lào để đi về Trung ương, có đoạn kể về trường hợp hy sinh của đồng chí Nguyễn Bình khi đã vượt sông Sê-rê-pốc để qua bên kia đường 19 gặp một bộ phận của bộ đội Hạ Lào đón đưa đi tiếp.

        Theo tác giả Nguyễn Văn Sĩ - nguyên Đoàn trưởng và là Phó Bí thư chi bộ đơn vị bảo vệ Trung tướng thì hôm ấy, đoàn bảo vệ căng ni lông nghỉ trong rừng. Khoảng 14 đến 15 giờ, nghe tiếng súng nổ ở ngoài phẩm, anh em phán đoán đồng chí Nguyễn Bình đi cùng đồng chí Bốn ra phẩm, nên tất cả súng cầm tay chạy đi tiếp ứng. Khi ra đến nơi, thấy địch, đơn vị đồng loạt nổ súng. Địch bỏ chạy. Anh em bổ đến thì thấy Trung tướng Nguyễn Bình đã hy sinh vì bị trúng 3 viên đạn ở đầu gối và 2 viên đạn súng ngắn ở đầu, phán đoán là địch bắn đồng chí Nguyễn Bình bị thương, nhưng chưa chết, chúng lấy súng ngắn của đồng chí bắn 2 phát vào đầu ... Khi lấy được thi hài của đồng chí Nguyễn Bình, đoàn hành quân vượt sông Sê-rê-pốc. Trở lại đóng quân ở địa điểm cũ... thương lượng mua ván, đóng hòm tổ chức mai táng đồng chí trong bìa rừng. Trong khì đoàn tổ chức mai táng đồng chí Nguyễn Bình thì đồng bào nổi lửa và bắt đầu rời bỏ phum ... đi tìm nơi ở mới. Ngay trong đêm đoàn hành quân trở về Nam Bộ...

        Đồng chí Nguyễn Bình hy sinh cách đây đã 50 năm, Quân khu 5 và Tổng cục Chính trị đã hai lần tổ chức tìm mộ nhưng không thành công. Gần đây, theo quyết định của Bộ Quốc phòng ta và được sự chấp thuận của Nhà nước Campuchia, một đoàn công tác đặc biệt lần thứ ba đi tìm hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình. Được sự giúp đỡ của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 1 và lực lượng vũ trang quân đội Hoàng gia Vương quốc Campuchia, đoàn đã đến nơi Trung tướng Nguyễn Bình hy sinh tại phum Kpal Rômía (làng đầu con tê giác), gặp  được cụ Nhoi Sâm, 73 tuổi, là người đã trực tiếp cùng đoàn bảo vệ khiêng thi hài đồng chí Nguyễn Bình vượt sang bờ Nam sông  Sê-rê-pốc và cùng tham gia mai táng đồng chí. Qua sự gợi ý của Đoàn, cụ lần lượt kể câu chuyện dài của 49 năm về trước. Cụ nói rằng, cái năm Trung tướng Nguyễn Bình đến làng, cụ vừa 24 tuổi và là đội trưởng dân quân2, bộ đội Việt Nam đến ở trong làng hai đêm, không biết người chỉ huy tên gì, cấp gì, theo thói quen đồng bào gọi người chỉ huy cao nhất đó là "Lục Thum" (tức là ông Lớn - cũng có người gọi là ông Sáu, tức quan Sáu - cấp tướng). Ông cụ cho Lục Thum biết ở đây bọn lính Com-măng-đô gác cầu thỉnh thoảng vào làng "ba trui" bắt heo, bắt gà, bộ đội Việt Nam ở phải đề phòng. Không ngờ, bất thình lình bọn chúng đến làng, phát hiện Lục Thum đang ở ngoài chòi ruộng hóng mát và xem phong cảnh, chúng đã nổ súng và Lục Thum đã bị đạn hy sinh. Hôm đó ông cụ đưa đường cho tiền trạm của đoàn bảo vệ đi liên lạc với anh em hương Hạ Lào xuống ở làng Sray-kô, khi trở về thì sự việc đã xảy ra. ông cụ bảo: "Tôi vô cùng đau đớn thương tiếc Lục". Lập tức tôi và Rom Chum cùng một dân quân nhà cùng với bộ đội Việt Nam khiêng xác Lục Thum đi vòng làng khoảng 6 cây số, dùng thuyền độc mộc vượt sang bờ Nam Sê-rê-pốc. Tội nghiệp Lục Thum, người cao to như Tây, hỏng con mắt trái, miệng có răng vàng, chết lúc còn trẻ quá3. Để chôn cất, tôi phải đốt đuốc bằng tre nứa để soi sáng cho bộ đội Việt Nam đào hố thật rộng, sâu đến ngực, khi chôn xong thì đã một giờ sáng.

----------------------
        1 Tạp chí LSQS số 2-2001.

        2. Dân quân của Ít-xa-rắc, lực lượng kháng chiến của Campuchia

        3. Đồng chí Nguyễn Bình hy sinh năm 43 tuổi.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 01:54:48 AM

        Lúc đó còn mùa mưa, nước sông dâng cao, nghe bộ đội Việt Nam nói là tháng 9 của năm 1951. Sau đó, bộ đội Việt Nam rút về phía Nam, chừng ba ngày sau ông Vàng cùng anh em trở lại đắp nấm mộ thật cao, không biết có lấy xác đi chưa?

        Nếu chưa thì xác còn đấy. Ngôi mộ nằm gần con đường lên xuống bến nên hằng ngày bà con trong làng đi qua, đi lại thấy mộ vẫn còn nguyên, năm nào đồng bào cũng phát dọn cây cối xung quanh không cho chúng mọc lấp thành rừng!".

        Ông cụ Nhoi Sâm là người dân tộc Muông, bản chất thật thà, chúng tôi tin lời ông kể, nhưng để bảo đảm chính xác chúng tôi đưa hình Trung tướng Nguyễn Bình được phóng lớn ra. Vừa thấy, ông cụ chắp tay xá tấm hình và reo lên: "Đây rồi, hình Lục Thum đã chết đây rồi?". Chúng tôi hỏi: Khi chôn Trung tưởng Nguyễn Bình có hòm ván gì không? ông cụ vẻ ngậm ngùi và bảo: Đồng bào thương Lục Thum nên đã cho chiếc chiếu đan bằng mây để bó khiêng đi, đến lúc chôn, cũng chôn luôn với chiếc chiếu mây đó chứ không có hòm ván gì cả ông cụ còn cho biết,từ đó đến nay, kể cả thời Pôn Pốt, dân làng vẫn ở nguyên chỗ cũ, mộ của Lục Thum gần đường lên xuống bến và cách làng chừng dìm ngược dòng sông Sê-rê-pốc. Những người già trong làng trông chừng mãi không thấy bộ đội Việt Nam đến tìm, nay đã 49 năm... Có điều rất may là thổ nhưỡng ở đây rất tốt, đã 49 năm qua nhưng hình dáng ngôi mộ vẫn còn lùm lùm hiện rõ trên mặt đất và nhờ sự chăm sóc của đồng bào nên không bị cây rừng bao phủ. Khi mộ được bốc lên, hài cốt của Trung tướng Nguyễn Bình về cơ bản vẫn còn nguyên vẹn. Có đủ xương sọ, xương hàm, xương quai xanh, xương sống, xương chậu và xương tứ chi. Đặc biệt là đầu của Trung tướng không suy chuyển, có đủ con mắt giả bằng thủy tinh và hàm răng có mấy chiếc răng vàng. Nhìn cái xương đầu lâu còn nguyên vẹn, không có tỳ vết gì, cả Đoàn đều khẳng định Trung tướng Nguyễn Bình không bí phát đạn nào bắn vào đầu cả. Căn cứ vào nhân chứng sống và những điều tai nghe, mắt thấy trong chuyến đi tìm hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình, người viết bài này cũng mong nói lại vài điểm chưa thật chính xác trong bài "Chuyên đi và cái chết của Trung tướng Nguyễn Bình" và cũng để góp phần hoá giải những tin đồn đại thất thiệt về cái chết của đồng chí, đến gần đây nó vẫn còn âm ỉ trong một số người. Tháng 9 năm 1996, nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày giỗ của Liệt sĩ Trung tướng Nguyễn Bình, tác giả Phùng Đình Cung có viết bài đăng trên báo Sài Gòn giải phóng, nêu lên công lao đóng góp của đồng chí Nguyễn Bình đối với nền độc lập tự do của dân tộc nói chung và Nam Bộ nói riêng, đặc biệt đối với Quân khu 7 và Sài Gòn - Gia Định. Trong bài báo, tác giả có hai đề nghị: một là đề nghị đặt tên Nguyễn Bình cho một con đường của thành phố Hồ Chí Minh, hai là, đề nghị Bộ Quốc phòng tổ chức đi tìm hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình. Bài báo vừa được đăng trên trang 4 của báo Sài Gòn giải phóng ngày 28 tháng 9 năm 1996 thì ngày 5 tháng 10 năm 1996, Mai Ngọc Khuê, một cán bộ hưu trí ở tỉnh Sông Bé, tự xưng là người có những "chức danh đặc biệt": nguyên Trinh sát chính trị miền Đông Nam Bộ, thành viên Ban Giám đốc Quốc gia tự vệ thuộc tỉnh Gia Định... đã viết thư (bức thư đánh máy số l099) gởi Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng, Quân khu 7, Viện Lịch sử Đảng, Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương Đảng, Thành ủy và Ban nghiên cứu lịch sử Đảng thành phố Hồ Chí Minh, báo Sài Gòn giải phóng. Trong thư ông Khuê nêu lên một số điểm bất bình với đồng chí Nguyễn Bình và một số điểm hoài nghi xung quanh cái chết của đồng chí.

        Kể từ sau cuộc đi tìm mộ và khai quật hài cốt của Trung tướng Nguyễn Bình thì chuyến đi và cái chết của đồng chí đã sáng tỏ như ban ngày, với đầy đủ nhân chứng, vật chứng không còn nghi ngờ gì nữa.

        Chiều ngày 29 tháng 2 năm 2000, hài cốt của Trung tướng Nguyễn Bình đã được đưa về đến Quân khu 7, nơi hơn nửa thế kỷ trước, đồng chí làm vị Tư lệnh đầu tiên (lúc đó gọi là Chiến khu 7). Lễ cải táng đồng chí được tiến hành theo nghi thức trọng thể do Thượng tướng Phạm Văn Trà - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng làm chủ tang. Hàng ngàn đồng chí, đồng đội từng công tác và chiến đấu bên cạnh đồng chí, những nhân sĩ, trí thức cùng thời, những người mến mộ, tưởng nhớ công lao của đồng chí và những người thân, đồng hương... đến viếng và tiễn đưa đồng chí đến nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh. Để tưởng nhớ công lao đóng góp vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của vị tướng tài ba được Bác Hồ tin tưởng, Nhà nước ta đã truy tặng đồng chí Nguyễn Bình, vị Trung tướng đầu tiên của quân đội ta, phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:02:19 AM

TRẬN LẠC SONG "ĐÔI ĐIỀU CẦN NÓI LẠI1

THẾ TRƯỜNG       

        Chiến thắng Lạc Song ngày 22 tháng 12 năm 1951 (trong chiến dịch Hoà Bình) đã đi vào lịch sử quân đội ta như một dấu son chói lọi. Đây là trận phục kích thắng lợi giòn giã của Đại đội sơn pháo 756 thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn pháo binh 675 Đại đoàn 351, chỉ trong vòng 20 phút đã diệt gọn một đoàn tàu địch gồm 1 tàu chiến và 4 ca nô trên đường từ thị xã Hoà Bình đang xuôi sông Đà về Hà Nội. Ngay chiều hôm trận đánh kết thúc (22-12-1951),Hồ Chủ tịch đã gửi điện cho Đại đội 756: "Bác rất hân hoan vui mừng khi được báo cáo về chiến thắng Lạc Song của các chú. Bác và Chính phủ quyết định tặng cho đơn vị các chú một lá cờ, tùy các chú chọn tên cho lá cờ ấy". Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng gửi thư khen. Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quyết định tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba cho Đại đội. Ngày nay, ai đã đến thăm Bảo tàng Quân đội hoặc Bảo tàng Binh chủng Pháo binh đều thấy một kỷ vật vô cùng quý giá đối với các chiến sĩ “chân đồng vai sắt, đánh giỏi bắn trúng": Đó là lá cờ nhỏ nổi bật trên nền đỏ phía góc phải có thêu dòng chữ "Hồ Chủ tịch khen thưởng Đại đội 756 Trung đoàn 675". Giữa lá cờ, dưới ngôi sao vàng nổi bật bốn chữ to đậm: Chiến thắng Lạc Song.

        Là người trực tiếp chiến đấu ở Lạc Song từ đầu đến cuối trận đánh, gần đây có dịp đọc cuốn ký sự Đại đoàn Quân Tiên phong (Nxb QĐND, Hà Nội, 1978) ở những chương mục viết về chiến dịch Hoà Bình trong đó có chiến thắng Lạc Song thì tôi không khỏi băn khoăn khi không thấy được một chữ nào, dòng nào nói đến phiên hiệu của Đại đội 756, đơn vị duy nhất đã lập nên chiến công xuất sắc này. Đọc hai trang 402 và 403 của cuốn ký sự, nếu không phải là người trong cuộc đã chiến đấu ở Lạc Song thì ai cũng dễ coi đây là chiến công của đơn vị ĐKZ nào đó chứ không phải của các chiến sĩ sơn pháo 75 ly của Đại đội 756. Một điều cần nói cho rõ thêm là tiểu đoàn súng ĐKZ (đại bác không giật) đầu tiên của quân đội ta mãi đến giữa chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 mới được thành lập,chứ cuối năm 1951 chúng ta đâu có súng ĐKZ.

        Đi vào tường thuật trận đánh, cuốn ký sự viết có những đoạn theo tôi cần nói lại cho rõ. Ví dụ như trang 402 đã mô tả: Chiếc ca nô thứ ba cố dạt sang bờ bên kia để tránh đạn nhưng cũng không thoát. Nó bị thương tụt lại phía sau chuệnh choạng như thằng say rượu... Nhưng thực tế ra sao, ta hãy đọc trang 198 cuốn sách Pháo binh nhân dân Việt Nam - Những chặng đường chiến đâu (Nxb QĐND, Hà Nội, 1982) khi giới thiệu về trận Lạc Song đã viết rất chính xác đúng như diễn biến mà những người đánh trận này đã được tận mắt chứng kiến là: Chiếc ca nô thứ ba phóng vượt lên với tốc độ rất lớn, khẩu đội 1 sơn pháo 75 chờ nó vào đường tim kính ngắm 15 ly giác rồi chỉ cần một phát đạn đã làm cho buồng lái vỡ toác. Khẩu đội 3 lại bồi thêm cho nó một phát nữa giữa bụng. Máy chết, tàu cháy trôi vật vờ thêm một đoạn ngắn rồi chìm mất hút giữa lòng sông sâu. Như vậy, chiếc ca nô thứ ba không chỉ bị thương mà đã bị bắn đắm bởi hai phát đạn đại bác 75 ly. Và trước đó khi đoàn tàu đã vào đến trận địa phục kích thì ba chiếc ca nô chạy đầu đã bị pháo binh ta bắn chìm trong vòng 5 phút, số đạn pháo tiêu thụ chưa đến 10 viên. Khẩu đội 2 đã bắn tiêu diệt chiếc thứ 4 và nhấn chìm nó tại chỗ. Như vậy, 4 ca nô của địch xuôi sông Đà hôm đó, tất cả đều bị sơn pháo bắn chìm chứ không hề có đơn vị ĐKZ nào nổ súng như trong cuốn ký sự Đại đoàn Quân Tiên phong đã viết. Chi tiết viết chưa đúng nữa ở trang 402 cuốn ký sự là chỉ còn lại chiếc tàu Mônito điên cuồng dùng tiểu pháo 20 ly bắn mở đường và cố lê cái thân nặng nề đầy thương tích lượn sát vào bờ sông tả ngạn mong qua thoát được cửa ải thử hai... nhưng ba khẩu súng 75 ly ở trận địa cuối cùng đã chờ sẵn. Chiếc tàu chiến vừa lù lù hiện ra ở đầu khuỷu sông thi liên tiếp 8 phát đạn đã nổ quyêt định sô phận nó.... Đến đây tuy đã công nhận pháo 75 đã tiêu diệt chiếc tàu chiến nhưng theo cách diễn đạt này thì hình như chiếc tàu LCM đã bị một đơn vị nào đó bắn bị thương nặng trước khi bị 3 khẩu pháo 75 ly bắn tiêu diệt. Là người trực tiếp tận mắt quan sát trên mặt sông Đà hôm đó thì diễn biến trận đánh không phải như vậy. Được biết cách trận địa của Đại đội 756 khoảng 2km về phía thượng nguồn cũng có một đơn vị pháo 70 ly làm nhiệm vụ đón đánh địch trên sông nhưng khi đoàn tàu từ thị xã Hoà Bình xuôi về ngang qua trận địa, đơn vị pháo 70 ly này đã nổ súng nhưng vì pháo đặt ở đồi cao, lại lui về phía sau, cự ly xa quá nên bắn không trúng. Đoàn tàu địch vượt qua được trận địa đó xuôi nhanh về phía Trung Hà khi đì vào trận địa Lạc Song - Đồng Việt do Đại đội 756 bố trí phục kích thì bị đánh. Bốn ca nô đi đầu lần lượt bị pháo ta bắn chìm tại chỗ. Chiếc tàu chiến đi sau cũng bị 3 khẩu đội 75 ly tập trung hoả lực bắn trúng nhiều phát đạn vào sườn trái làm thân tàu vỡ toác. Nó phải cố lết vào bãi cát bồi ở gần bờ hữu ngạn (chứ không phải bên tả ngạn vì tả ngạn là trận địa của quân ta) để cho bọn quân lính còn sống sót nhảy ào xuống bãi cát, chạy thục mạng lên bờ hòng tẩu thoát. Nhưng, không kể những tên địch bị chết trong tàu, bị đạn bắn thẳng của quân ta tiêu diệt khi chúng chạy lên bãi cát bồi hoặc bơi giữa sông, hơn ba chục tên khác đã bị lực lượng dân quân địa phương làm nhiệm vụ bủa lưới và bắn tỉa bên hữu ngạn sông Đà bắt tại trận. Chi tiết này quan trọng, cuốn ký sự Đại đoàn Quân Tiên phong chưa đề cập đến, cũng cần nói thêm cho rõ, cho đủ.

        Và sau trận đánh, địch phản ứng không phải bằng 200 phát đạn pháo 150 ly từ vị trí Pheo bắn tới như trong cuốn ký sự đã viết. Thực tế không có phát đạn nào của địch bắn tới mà chúng đã dùng hàng chục máy bay chiến đấu từ Hà Nội bay lên quần đảo bắn phá trong 3 giờ, ném 38 quả bom na-pan gây nên nhiều đám cháy dữ dội bên bờ trái sông Đà khi Đại đội 756 đã kịp rút về hậu cứ an toàn. Đại đội phó 756 Lê Đức Tùng chỉ huy trận Lạc Song, hiện nay là Đại tá ở đường Trường Chinh (Hà Nội); Chính trị viên Đại đội là anh Cao Văn Chấn hiện là Thiếu tướng, ở khu tập thể Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô; Chính trị viên phó Đại đội là anh Trần Hữu Khiêm hiện là Đại tá, ở tổ 17 phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội. Các anh đều đã nghỉ hưu và là những nhân chứng quan trọng của chiến thắng Lạc Song.

        Tường thuật một trận đánh, nếu có viết thiếu, viết chưa rõ chưa đúng về quá trình diễn biến chiến đấu cũng là điều bình thường. Vì vậy, việc nói lại cho rõ, bổ sung thêm cho đủ làm sao để sự việc được mô tả đúng như khi nó có, bảo đảm tính chân thật, chính xác của lịch sử cũng là điều bình thường và cần thiết trong công việc nghiên cứu khoa học.

        Việc nói lại đôi điều trong trận đánh Lạc Song 46 năm về trước cũng nằm trong trường hợp đó.

------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 6-1997


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:08:59 AM

BÀN THÊM VỀ KẾ HOẠCH NAVA1

VŨ LÂM       

        Nhân kỷ niệm 45 năm chiến thắng Điện Biên (7/5/1954  - 7/5/1999) từ Thông tin Cựu chiến binh số 69, xuất bản tháng 4 có biên soạn "Đề cương tuyên truyền" về ngày kỷ niệm lịch sử này, được đăng suốt 13 trang báo (từ trang 20 đến trang 32). Trong phần viết về bản Kế hoạch Na-va, Đề cương cho biết:

        ..."Mục tiêu của kế hoạch Na-va là. trong vòng 18 tháng tiêu diệt phần lớn chủ lực của ta, kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, biến Việt Nam vĩnh viễn thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Pháp và Mỹ."

        Thực ra, mục tiêu của bản kế hoạch do Hăng-ri Na-va (Henri  Navarre), nguyên Tổng chỉ huy các lực lượng Pháp ở Đông Dương thời kỳ đó vạch ra, không hoàn toàn đúng như vậy Chính Na-va, trong hai cuốn sách có tính chất hồi ký nhan đề Đông Dương hấp hối (xuất bản năm 1960) và Thời điểm của những sự thật (xuất bản năm 1979) đều thừa nhận, vào thời điểm mà Na-va được phái sang Đông Dương (tháng 5- 1953) thì cả thế và lực của Pháp ở Việt Nam đều đã rất yếu, Pháp không thể nào thắng được cuộc "chiến tranh toàn dân" do Việt Minh chỉ đạo. Vậy thì không thể nào mơ tưởng đến chuyện "kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam" được cũng như việc không thể nghĩ đến chuyện "biến Việt Nam vĩnh viễn thành thuộc địa".

        Toàn văn bản Kê/hoạch Na-va, lần đầu tiên được công bố trong cuốn Chúng tôi đã chiến đấu ở Điện Biên Phủ, xuất bản năm 1984, do thiếu tá Giăng Pu-giê là thư ký riêng của Na-va những năm 1953-1954, không có câu chữ nào như bản "Đề cương tuyên truyền" nói trên đã viết. Những tài liệu mật của Pháp được công bố 20 năm sau khi chiến tranh kết thúc, cho biết cụ thể thêm: cuối tháng 10 năm 1953, những kiến nghị trong bản kế hoạch chiến lược do tướng Na-va soạn thảo đã được Quốc hội Pháp thông qua với 315 phiếu thuận, 251 phiếu chống, kèm theo quyết nghị 3 điểm:

        1- Phát triển quân đội người bản xứ nhằm tuần tự thay dần quân Pháp ở Đông Dương.

        2- Chuẩn bị sẵn sàng bước vào thương lượng để tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Đông Dương.

        3- Hoàn tất việc trao trả độc lập cho các thuộc địa cũ ở Đông Dương dưới hình thức "các nước liên kết trong khối Liên hiệp Pháp" .

        Phần nói về Việt Nam trong Kế hoạch Na-va không phải là "bình định và kiểm soát toàn bộ lãnh thổ!' mà chỉ là cố giành lại chủ động, tạo thế cân bằng tiến tới thế mạnh để Pháp có thể "rút lui trong danh dự'!. Na-va dự định, trong giai đoạn 1953-1954 củng cố thế phòng ngự, giữ vừng các vùng đang kiểm soát để chờ viện binh từ Pháp sang đi đôi với việc phát triển nguy quân; năm 1955 mới tiến công quân chủ lực Việt Minh, làm suy yếu lực lượng kháng chiến để tạo thế thạnh cho thương lượng; đến cuối năm 1956 mới tuần tự rút quân Pháp về nước. Pháp đặt hy vọng, nếu phải thương lượng với Việt Minh thì sẽ thương lượng trên thế mạnh; trong cái chính phủ được Pháp trao trả độc lập, Bảo Đại vẫn là Quốc trưởng, Việt Minh chỉ được vài ghế bộ trưởng là cùng.

        Thế nhưng, khi phát hiện thấy Đại đoàn 316 của ta tiến quân lên Tây Bắc, Na-va vội vã cho quân nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ trong cuộc hành quân Ôổ bộ đường không từ ngày 20 đến ngày 22 tháng 11  năm 1953, tiếp đó tăng thêm binh lực, biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm. Na-va bộc lộ trong Hồi ký: căn cứ lớn nhất Đông Dương này sẽ là một tấm lá chắn bảo vệ cho các vị trí của Pháp ở Thượng Lào, một bàn đạp vững chắc ở khu vực Tây Bắc uy hiếp Việt Minh, đồng thời cũng nhằm "thu hút lực lượng Việt Minh, nhằm ngăn chặn hoặc làm giảm bớt sức tiến công của quân chủ lực Việt Minh đánh vào phòng tuyến của Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ".

        Hành động này nằm ngoài Kế hoạch Na-va, là một phản ứng đối phó bị động của thực dân Pháp, mở đường cho thảm bại to lớn sau đó của Pháp ngay tại Điện Biên. Như nhiều người đã rõ, sau khi được tin Pháp nhảy dù chiếm đóng Điện Biên, ta đã hạ quyết tâm tiêu diệt địch ở khu vực này. Tiếp theo Đại đoàn 316, nhiều đại đoàn khác cũng được lệnh cấp tốc hành quân lên Tây Bắc. Mới đầu, trận tiến công mở màn vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được ấn định vào ngày 25 tháng 1 năm 1954, sau đó lui lại 24 giờ (tức ngày 26-1)  nhưng liền sau đó lại tạm hoãn để chuyển phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc".

        Bản Đề cương tuyên truyền của tờ Thông tin Cựu chiến binh viết: "Sau một thời gian chuẩn bị lại, 17 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1954 quân ta nổ súng tiến công giữa lúc địch chủ quan cho rằng ta đã từ bỏ ý đỉnh đánh Điện Biên phủ": Viết như vậy, hoặc nói như vậy, dễ làm người đọc, người nghe, nhất là thế hệ trẻ ít biết về trận Điện Biên lịch sử, hiểu không đầy đủ có thể nghĩ rằng trận tiến công mở màn đã được tiến hành một cách bí mật, hoàn toàn bất ngờ đối với địch.

        Nhìn lại cả hai thời điểm (ngày 25-1-1954 và ngày 13-3-1954) địch đều biết trước có đợt tiến công. Trận dự định tiến công chiều ngày 25 tháng 1, do có một chiến sĩ bị địch bắt nên đã lui sang ngày 26 tháng 1 và sau đó, do chuyển phương châm tác chiến, mãi đến 13 tháng 3 mới lại tiến hành. Những tư liệu của phía Pháp được tiết lộ sau khi chiến tranh kết thúc, cả những lời khai của tù binh bị bắt tại trận đều cho biết:

        Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 2 đến đầu tháng 3 năm 1954, đích thân tướng Na-va cùng với nhiều quan chức cấp cao của Mỹ, Pháp đã liên tục đáp máy bay lên tận Điện Biên trực tiếp quan sát, chỉ thị tăng cường phòng ngự. Trước khi ta nổ súng tiến công, tướng Mỹ Ô Đa-ni-en đã tới Điện Biên (ngày 2-2); Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Plê-ven và một loạt các tướng Tổng tham mưu trưởng, Tổng thanh tra quân đội Pháp... ngày 19-2); riêng Na-va liên tiếp tới Điện Biên 4 lần, kiểm tra từng công sự. Nếu trong số tướng Pháp có kẻ chủ quan thì đó là chủ quan sẽ đánh thắng, chứ không phải chủ quan nghĩ rằng đối phương "đã từ bỏ ý định đánh Điện Biên Phủ". Riêng Na-va, có nhiều băn khoăn, lo lắng, không tin chắc có thể chiến thắng (theo tiết lộ của Giăng Pu-giê, thư ký riêng của Na-va).

        Do thực hiện phương châm "đánh chắc, tiến chắc", ta phải cấu trúc trận địa bao vây và tiến công. Ngày 10 tháng 3, địch đã phát hiện thấy nhiều đoạn chiến hào ta gần sát các vị trí của chúng, nhất là phía cao điểm Him Lam. Từ ngày 12 tháng 3, các vị trí địch ở Điện Biên đều được lệnh báo động sẵn sàng chiến đấu. Sáng 13 tháng 3, chỉ huy trưởng Đờ Cát còn nhắc các đơn vị dưới quyền là cuộc tiến công của Việt Minh "sẽ bắt đầu vào 17 giờ hôm nay" (tức 13-3-1954) và tăng cường báo động...

        Thấm thoắt gần nửa thế kỷ đã trôi nhanh kể từ ngày chiến thắng Điện Biên, rất nhiều tài liệu mật của phía Pháp đã được công bố. Một số sách như Trận Điện Biên Phủ của Giuyn Roa (Jules Ruy), cựu đại tá không quân Pháp; Thời điểm của những sự thật của tướng Hăng-ri Na-va... đều đã được dịch sang tiếng Việt, có thể dùng để tham khảo. Toàn văn bản Kế hoạch Na-va cũng đã được dịch sang tiếng Việt.

        Đặc biệt, cuốn Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp lần đầu tiên ra mắt bạn đọc vào năm 1958 tới nay đã được tái bản tới 7 lần, có bổ sung thêm nhiều tư liệu phong phú và bổ ích. Những cuốn sách này đều có lưu trữ ở Thư viện Trung ương Quân đội và nhiều thư viện khác, có thể tìm đọc dễ dàng để hiểu biết sâu sắc hơn về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

----------------
        1. Tạp chí LSQS số 3-1999


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:14:31 AM

TRAO ĐỔI VỀ BỨC ẢNH "BỘ CHÍNH TRỊ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG BÀN CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢCTRONG ĐÔNG - XUÂN 1953-1954"1

TRẦN QUANG VỸ       

        Tháng 5 năm 1984, kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Ngành Bưu điện phát hành một bộ tem trong đó có mẫu với nội dung "họp Bộ Chính trị", các mẫu tem do hoạ sĩ Huy Toàn thiết kế dựa trên các tư liệu chính thức nên đã được in ấn và phát hành. Mẫu tem này có hình ảnh 5 người.

        Xem lại một số sách báo, chúng tôi thấy có 4 bức ảnh khác nhau đều được chú thích ở dưới: "Buổi họp của Bộ Chính trị bàn về kế hoạch Đông Xuân 1953-1954" hoặc "Buổi họp của Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ".

        Các bức ảnh này có thể đã chụp cùng một buổi, ở cùng một địa điểm vì trang phục và vị trí đứng hoặc ngồi của các nhà lãnh đạo quanh bàn họp đều như nhau, có khác chỉ là người nhiếp ảnh chụp từ những góc độ khác nhau và trong những thời khắc khác nhau.

        Ba bức ảnh có hình 4 người mà ai cũng có thể nhận ra, từ trái sang phải là đồng chí Phạm Văn Đồng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư Đảng; Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Những bức ảnh này được in trong nhiều sách báo như ở Tạp chí "Hình ảnh Việt Nam" (tr. 2, số 2, tháng 12-1954), cuốn quân đội nhân dân Việt Nam anh dũng", Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh xuất bản 1954 (Phụ bản sau tr. 4), cuốn "Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb QĐND, Hà Nội, 2000 (Phụ bản sau tr. 16).

        Bức ảnh với hình 5 người mà Ngành Bưu điện chọn đưa vào tem, có trong cuốn "Sức mạnh Việt Nam", Nxb QĐND, 1976 phụ bản sau tr. 296). Bức ảnh này còn thấy ở Bảo tàng Thái Nguyên và trong phim "chiến thắng Điện Biên Phủ". Ngoài bốn vị lãnh đạo như ở trong các bức ảnh 4 người, còn một người thứ 5 đứng bên tay phải đồng chí Phạm Văn Đồng.

        Một số độc giả và người nghiên cứu lịch sử muốn biết đồng chí này là ai? Bảo tàng Cách mạng ở Hà Nội cũng không có bức ảnh đó. Để giải đáp thắc mắc của độc giả, tháng 1 năm 1996, Ban Biên tập Tạp chí Tem tìm hiểu một số cơ quan hữu trách, có công văn hỏi Bảo tàng Bắc Thái (khi đó còn là tỉnh Bắc Thái) và được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bắc Thái và Bảo tàng Bắc Thái trả lời, nội dung như sau:

        "Bức ảnh lịch sử "Bác Hồ cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị họp bàn quyết định mở chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954" được chụp tại An toàn khu ở bản Tin Keo, xã phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Bắc Thái, tháng 12 năm 1953.

        Những người trong ảnh từ trái sang phải là đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị2; đồng chí Phạm Văn Đồng - Phó Thủ tướng; Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng chí Trường Chinh; Đại tướng Võ Nguyên Giáp (tr. 18 Tạp chí Tem, số 17 , tháng 3- 1996) .

        Đồng thời, một nguồn tư liệu từ các cơ quan có liên quan cũng xác định: "Tấm ảnh được chú thích là Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết đinh chủ trương tác chiến Đông - Xuân 1953-1954 đã được sử dụng trên nhiều sách báo; trong ảnh cả 5 người đều đứng (khác với ảnh 4 người ngồi), người đúng thử nhất từ trái sang là đồng chí Đặng Tính - Cục phó Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu".

        Một lần, tình cờ chúng tôi giở cuốn "Quân đội nhân dân Việt Nam anh dũng", trong các phụ bản có một bức ảnh chân dung đồng chí Hoàng Anh - Phó Tổng Tham mưu trưởng (1954) có những nét giống trong bức ảnh 5 người nên chúng tôi tìm gặp đồng chí Hoàng Anh và được biết thời gian đó đồng chí là Bí thư Liên khu ủy 4, đang lên Việt Bắc công tác và được Bộ Chính trị mời đến để báo cáo về tình hình bảo đảm hậu cần của Liên khu 4 cho Mặt trận, nên mới có bức ảnh này.

        Ngoài tình tiết về bức ảnh, còn một chi tiết khác cần nói rõ thêm:

        Có một đoạn phát trên chương trình VTV3, Đài Truyền hình Việt Nam năm 2001, nhân kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ như sau: "Ngày 6-12-1953, Hồ Chủ tịch chủ trì hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh và nghị quyết mở chiến dịch Điện Biên Phủ tại ngôi nhà ở lưng chừng đèo De, nơi Người ở và làm việc. Đèo De cao 700 mét, thuộc xã Thanh Định, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên".

        Để nói một cách chính xác hơn, thì từ Đại hội Đảng II (1951), Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã được thay bằng Bộ Chính trị và đèo De ở bản Tin Keo, thuộc xã Phú Đình, huyện Định Hoá.

        Về mở chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng tôi đọc ở cuốn "Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thấy như sau: Ngày 20 đến ngày 22 tháng 11 năm 1953, địch đã ném xuống cánh đồng Mường Thanh sáu tiểu đoàn dù (tr. 45)... Ngày 6 tháng 12 năm 1953, tờ trình của Tổng Quân ủy được gửi lên Bộ Chính trị nêu thời gian tác chiến ỏ Điện Biên Phủ ước độ 45 ngày (tr. 50)... Hạ tuần tháng 12-1953, Bộ Chính trị quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược trong Đông - Xuân 1953-1954 (tr. 59).

        Như vậy, các bức ảnh có hình 4 người là ảnh Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn chủ trương chiến lược trong Đông - Xuân 1953-1954, in ở cuốn "Điện Biên Phủ  Điểm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp phụ bản sau tr. 16). Còn bức ảnh có hình 5 người cũng chụp tại cuộc họp trên, khi đồng chí Hoàng Anh - Bí thư Liên khu ủy 4, báo cáo về kế hoạch Liên khu 4 đảm bảo công tác hậu cần cho Mặt trận Điện Biên.

-------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 2-2002

        2. Tổng cục Chính trị được thành lập theo Sắc lệnh số 121/SL, ngày 11-7-1950. Cùng ngày, đồng chí Nguyễn Chí Thanh được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị theo Sắc lệnh số 122/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:21:02 AM

LIỆU CÓ THỂ THAY ĐỔI PHƯƠNG CHÂM TÁC CHIẾN TRƯỚC NGÀY 26-1-1954?1

TRẦN TRỌNG TRUNG         
        Như chúng ta đã biết, ngày 14 tháng 1 năm 1954, tại hang Thẩm Púa, hội nghị cán bộ chiến dịch Điện Biên Phủ đã nhất trí phương châm tác chiến là "đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Hói nghị nhận định rằng, quân ta đang sung sức, còn địch thì mới chiếm đóng, lực lượng của chúng chưa được tăng cường, bố trí còn tương đối sơ hở, trận địa phòng ngự chưa được củng cố.

        Với phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", ta dự kiến ngày 20 tháng 1 nổ súng và trận đánh sẽ kéo dài 3 đêm 2 ngày. Do công tác chuẩn bị chậm, bộ đội không kịp nổ súng vào ngày quy định. Đến ngày 26, phân tích tình hình mọi mặt, chỉ huy trưởng chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã cùng Đảng ủy Mặt trận quyết định thay đổi phương châm tác chiến thành "đánh chắc, tiến chắc".

        Thực tế lịch sử đã khẳng định: thay đổi phương châm tác chiến là một quyết định quả đoán và chính xác, thể hiện bản lĩnh và trách nhiệm của người cầm quân. Nhưng vấn đề đặt ra để tìm hiểu và trao đổi thêm là liệu có thể quyết định sớm hơn, hay nhất thiết phải vào thời điểm mà bộ đội đã sẵn sàng nhận lệnh nổ súng? Hai vấn đề cần nghiên cứu phân tích thêm là tình hình địch trên cánh đồng Mường Thanh và công tác chuẩn bị chiến đấu của bộ đội tháng 1 năm 1954.

        Tình hình địch tháng 1 năm 1954 như thế nào, có phải chúng bộc lộ những "sơ hở của một kẻ địch mới lâm thời chiếm lĩnh trận địa" không? Phải chăng công tác nắm địch thiếu chính xác và toàn cục đã dẫn đến đánh giá không đúng tình hình địch lúc đó?

        Từ khi Na-va hạ quyết tâm “chấp nhận giao chiến" (3-12- 1953) đến ngày ta họp hội nghị Thẩm Púa (14-1-1954), địch đã trải qua hơn 40 ngày xây dựng tập đoàn cứ điểm. Nhịp độ vận chuyển phương tiện chiến tranh từ Hà Nội lên Điện Biên Phủ lúc đó là 50-60 chuyến đa-cô-ta với chừng 150 tấn mỗi ngày. Mức cao nhất là gần 200 tấn/ngày. Đầu tháng 12, khi chúng bắt đầu xây dựng Béatrice (Him Lam) thì lực lượng địch ở Mường Thanh đã lên tới 11 tiểu đoàn. Qua cuốn Trận Điện Biên Phủ của Giuyn Roa và hồi ký của J.Pu-giê - thư ký riêng của Na-va, thì nhịp độ xây dựng các trung tâm đề kháng được triển khai khá nhanh: Béatrice 4-12-1953; Isabelle: 6-12-1953; Claudine Eliane: 7-12-1953; Gabrielle: 1-1-1954; Huguette: 24-1-1954. Như vậy là trừ cứ điểm Huguette (tây sân bay) được xây dựng sau ngày 14-1, còn 7 trung tâm đề kháng khác đều được xây dựng trước hội nghị Thẩm Púa của ta ít nhất là nửa tháng, kể cả cụm cứ điểm đồi Độc Lập (Gabrielle, 1-1-1954).

        Đến ngày 22 tháng 12 năm 1953, khi Na-va ra chỉ lệnh thứ 3 (quyết giữ vững tập đoàn cứ điểm), lực lượng địch ở Điện Biên Phủ đã bao gồm 12 tiểu đoàn bộ binh và dù. Mệnh lệnh tác chiến ngày 16 tháng 1 năm 1954 của Bộ chỉ huy chiến dịch cũng nói "địch có khoảng 13 tiểu đoàn". Trong cuốn Điện Biên Phủ (tái bản năm 1979), đồng chí Võ Nguyên Giáp cũng viết rằng trước ngày ta tiến công (13-3-1954), lực lượng địch gồm 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo cối... Cụ thể hơn về trang bị kỹ thuật, theo Pu-giê, xe tăng M-24, cối 120 và pháo 105, 155 bắt đầu được đưa lên Điện Biên từ ngày 18 tháng 12 năm 1953 và chừng nửa tháng sau, đại bộ phận đã triển khai xong trên cánh đồng Mường Thanh. Từ tháng 1 năm 1954, quân Pháp chờ đợi cuộc tiến công của đối phương vì tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ "đã chật cứng những tiểu đoàn, mọi việc chuẩn bị đã kết thúc". Trong hồi ký của mình, Pu-giê nhắc lại nội dung bản báo cáo tình hình tháng 1 năm 1954, nói rằng: "ở miền thượng du, các công trình phòng ngự ở Điện Biên Phủ đã hoàn tất và chỉ còn sửa sang những chi tiết vụn vặt mà thôi". Những nhận xét trên đây phù hợp với cách đánh giá của Giuyn Roa (sách Trận Điện Biên Phủ) và Pi-e Rô-côn (sách Tại sao Điện Biên Phủ). Tập ký sự Chiến thắng Điện Biên Phủ (Nxb QĐND, 1970) cũng nhắc lại ý của Na-va đánh giá tình hình cuối tháng 12 năm 1953, nói rằng: "Mọi việc cần thiết phải làm để tổ chức phòng ngự Điện Biên Phủ đều đã xong xuôi một cách hoàn hảo...".

        Tóm lại, toàn bộ tình hình địch từ khi Na-va hạ quyết tâm chấp nhận giao chiến đến giữa tháng 1 năm 1954, cả về xây dựng và củng cố các trung tâm đề kháng (trừ Huguette) và về tăng cường binh lực (quân số và trang bị kỹ thuật), cho phép rút ra kết luận:

        1- Vào ngày ta họp hội nghị Thẩm Púa (14-1), địch không còn ở trạng thái lâm thời chiếm lĩnh trận địa, không phải binh lực của chúng chưa được tăng cường, thế phòng ngự chưa được củng cố. Việc nắm địch thiếu chính xác đã dẫn đến việc chọn phương châm tác chiến có thể dược quyết định sớm hơn chứ không phải đợi đến ngày 26 tháng 1 năm 1954.

        2- Trong khoảng thời gian 12 ngày (từ 14 đến 26-1), binh lực địch và thế bố trí của chúng không có sự thay đổi to lớn đột ngột (trừ việc hình thành cụm Huguette). Nói cách khác tình hình địch mà ta phát hiện ngày 26 tháng 1 (địch tăng cường lực lượng, trận địa phòng ngự, tổ chức trận địa phòng ngự khá vừng chắc...) thực chất và căn bản vẫn là tình hình trước đó 12 ngày mà ta chưa nắm được đầy đủ và chính xác.

-----------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 1 - 1994)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:21:40 AM

        Về phía ta, ngay từ ngày kéo pháo đầu tiên (ngày 16-1, kéo thử một khẩu lựu pháo và một khẩu cao pháo để rút kinh nghiệm), thực tế đã cho thấy cần cân nhắc: Liệu có thể chuẩn bị mở màn chiến dịch đúng thời gian kế hoạch? Liệu có thể thực hành chiến đấu theo phương châm đánh nhanh giải quyết nhanh? Hai ngày tiếp theo, với tốc độ kéo pháo trên nhiều đoạn đường dốc có lúc chỉ đạt 150-200mét/giờ, ta đã có thể kết luận là việc kéo pháo không thể hoàn tất sau ba ngày đêm (16 đến 18-1-1954) như kế hoạch ban đầu. Do không thể nổ súng đúng ngày quy định (20-1), Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định lui lại 5 ngày. Vậy mà ngày 24 pháo vẫn chưa vào hết trận địa. Trên hướng Bắc dự kiến đưa vào 12 khẩu nhưng vẫn còn một nửa đang trên đường vào. Dân công chuyển đạn cũng chưa được bao nhiêu. Sau khi một chiến sĩ của Đại đoàn 312 bị địch bắt, thời gian nổ súng được lui lại thêm 24 giờ, tức là vào 17 giờ ngày 26 tháng 1.

        Việc kéo pháo vào trận địa gặp khó khăn đã làm nảy sinh những băn khoăn đối với cán bộ, cả bộ binh và pháo binh. Pháo chiếm lĩnh trận địa chậm, chuẩn bị phần tử bắn vội vã liệu có ảnh hưởng đến mức chính xác? Công sự pháo chưa được củng cố, chưa đủ mức chịu đựng phi pháo địch oanh kích. Trong chuẩn bị chiến đấu (chưa có phản ứng đáng kể của địch), pháo cơ động chiếm lĩnh trận địa đã khó khăn như vậy thì khi thực hành chiến đấu, nếu cần di chuyển trận dịa, pháo sẽ cơ động như thế nào...

        Ngoài những băn khoăn về hợp đồng bộ pháo quy mô lớn (chưa trải qua diễn tập), nhất là chi viện bộ binh chiến đấu tung thâm, còn có không ít vướng mắc xung quanh cách đánh. Bộ đội chưa quen đánh ban ngày, nhất là trên cánh đồng bằng phẳng trong điều kiện địch phát huy uy lực của xe tăng, máy bay và pháo binh. Đại đoàn hướng Tây phải đột phá liên tiếp 3 - 4km để tiếp cận sở chỉ huy địch và khi đã vào tung thâm thì hàng loạt vấn đề phải giải quyết: nắm quản, nắm tình huống, giải quyết thương binh tử sĩ, tiếp tế đạn dược...

        Ngay từ hội nghị Thẩm Púa, những thắc mắc về cách đánh đã xuất hiện ở một số ít cán bộ, những người chưa tin là có thể đánh nhanh giải quyết nhanh. Nhưng trong không khí sôi nổi của hội nghị và tiếp đến là những ngày ráo riết chuẩn bị bước vào chiến dịch, những băn khoăn không có điều kiện bộc lộ công khai. Ngày 23 tháng 1, khi xuống kiểm tra công tác chuẩn bị chiến đấu của đơn vị, đồng chí Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái mới được nghe một số cán bộ nói đến những lo lắng về chiến thuật. 30 năm sau, trong hồi ký Điện Biên Phủ - Chiến dịch lịch sử, đồng chí Thái kết luận: "những băn khoăn trong hội nghị Thẩm Púa đã được thực tế chứng minh là có cơ sở”.

        Thế nhưng hồi đó, do không nhạy bén, không sớm phát hiện những thực tế trên đây, cho nên qua ngày 18 rồi ngày 22 (tức là đã trải qua 3 ngày rồi một tuần không đưa được pháo vào trận địa), cơ quan tham mưu chiến dịch đã không tính toán lại để có phương án giải quyết thoả đáng hơn là đề đạt thay đổi vị trí trận địa để rút ngắn chặng đường kéo pháo  (Một nửa số pháo còn lại không vượt đèo vào Bản Nghịu nữa mà tập trung ở cả khu vực Nà Hi, Nà Ten. Và một băn khoăn mới của cán bộ pháo binh lại xuất hiện: Trận địa pháo tập trung cả ở phía Bắc đồi Độc Lập 4km có lợi không?). Thực tế cho thấy, dù đường kéo pháo đã rút ngắn được vài ba ngày nhưng đến ngày 25 tháng 1 pháo vẫn chưa vào hết trận địa.

        Chính vì không nắm chính xác tình hình địch và công tác chuẩn bị chiến đấu của ta để kịp thời đặt vấn đề thay đổi phương châm tác chiến vào khoảng thời gian thích hợp nhất, tức là từ ngày 18 đến 20 tháng 1, cho nên ngày 26 mới quyết định tạm ngừng tiến công vào lúc bộ đội đã sẵn sàng nhận lệnh nổ súng, một việc mà 35 năm sau, đồng chí chỉ huy trưởng chiến dịch gọi là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân của mình.

        Với quyết định khó khăn nhưng chính xác và táo bạo đó, cấp chiến dịch sẵn sàng đương đầu với những thử thách mới do việc thay đổi phương châm tác chiến đặt ra: từ việc lui quân và kéo pháo về vị trí tập kết an toàn đến việc làm lại hầu như toàn bộ công tác chuẩn bị chiến đấu (cả về lãnh đạo tư tưởng, động viên quyết tâm và giải quyết những tồn tại về kỹ thuật, chiến thuật), từ việc chuẩn bị kế hoạch tiến công theo phương châm tác chiến mới đến việc lo hậu cần tiếp tế cho mấy vạn quân chiến đấu dài ngày khi những cơn mưa đầu mùa sắp kéo đến.

        Dù thấy trước những khó khăn thử thách mới, nhưng quán triệt lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi lên đường ra mặt trận, đồng chí Chỉ huy trưởng cùng Đảng ủy chiến dịch tạo yếu tố quyết định đầu tiên cho chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:26:20 AM

CÓ HAY KHÔNG HẦM NGẦM CỐ THỦ VÀ KHỐI BỘC PHÁ 960kg TRÊN ĐỒI A11

NGUYỄN ĐÔN TỰ         

        Đồi A1 giữ vị trí quan trọng trong hệ thống phòng thủ phía đông Mường Thanh và Chỉ huy sở của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Về phía ta, quyết tâm tiêu diệt Cứ điểm A1 của Bộ chỉ huy chiến dịch cũng rất cao: sử dụng Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) và Trung đoàn 102 (đại đoàn 308) là hai trung đoàn thuộc loại mạnh nhất của các đại đoàn chủ lực. Nhưng rồi cả hai trung đoàn trong trận đầu đều không hoàn thành nhiệm vụ mà còn bị thiệt hại nặng. Vì sao? Đó là câu hỏi day dứt. Nào là do hào tiến công của Trung đoàn 174 đào không tới hàng rào dây thép gai nên khi vượt qua bãi trống, bộ đội bị thương vong nhiều; nào là do trục trặc về thông tin nên tấn công chậm 30 phút so với giờ tổng công kích, để cho địch kịp tập trung pháo binh đối phó. Cuối cùng, một lý do nữa được chấp nhận là do địch có một hầm ngầm kiên cố, nếu không phá được thì không thể giành thắng lợi. Bởi vậy mà cấp đại đoàn và tham mưu chiến dịch phải nghiên cứu cách đánh hầm ngầm trong đợt tấn công tới.

        Khi Trung đoàn 102 rút khỏi A1 ngày 2 tháng 4 năm 1954 thì Tiểu đoàn 255 có nhiệm vụ thay thế và có trách nhiệm tổ chức phòng ngự trên 1/3 quả đồi mà quân ta đã chiếm được. Trên một bãi chiến trường tan hoang, pháo hai bên đã san bằng các giao thông hào, bộ đội phải đào một hệ thống trận địa mới. Địch ở địa thế cao hơn, giữa ta và địch chỉ cách nhau có 20-30 mét, không có dây thép gai ngăn cách. Đến giữa tháng 4, có lệnh của trên là sẽ đào một đường hầm để tiếp cận và đặt một khối bộc phá 1.000kg bên dưới hầm ngầm của địch để phá tung căn hầm này. Tiểu đoàn 255 có nhiệm vụ bảo vệ không cho địch tấn công sang phá cửa hầm, cho đến khi quả bộc phá nổ. Một đại đội công binh được giao nhiệm vụ đào đường hầm này.

        Vấn đề quan trọng bậc nhất là xác định vị trí hầm ngầm, từ đó xác định cửa đường hầm, hướng và cự ly đào. Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An, Tham mưu trưởng Đức Y và Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 255 Nguyễn Đôn Tự đã trực tiếp quan sát, bàn bạc rất cụ thể các phương án trước khi đi đến quyết định. Đề phòng hoả lực bắn thẳng của địch, chiều dài đường hầm được xác định tối thiểu là 50 mét. Còn hướng bắn thì cứ nhằm vào phía đỉnh đồi vì quan sát không thấy rõ đâu là hầm ngầm.

        Từ ngày 20 tháng 4 năm 1954, công binh bắt đầu đào. Để che mắt địch, phải làm sao giữ được bí mật cửa hầm, gây tiếng động tối thiểu khi đào; đất phải cho vào bao tải đưa ra phía sau đồi để đổ. Phải có hoạt động nghi binh ở phía Bắc (cửa hầm ở Đông Nam) để địch khó phán đoán. Cán bộ công binh, phái viên của cấp trên và Trung đoàn trưởng trực tiếp thường xuyên kiểm tra hướng đào.

        Đến ngày 5 tháng 5 năm 1954, công binh đào xong 50 mét đường hầm và hoàn tất buồng trong cùng để chứa được 1.000kg thuốc nổ (50 gói x 20kg). Phải dùng cả hai cách gây nổ: bằng điện và bằng giây cháy chậm. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định lấy tiếng nổ của quả bộc phá làm hiệu lệnh tấn công toàn mặt trận (21 giờ ngày 6-5-1954). Từ trên xuống dưới ai cũng nghĩ sẽ có một tiếng nổ long trời, nhưng thực tế chỉ có một tiếng "ục" to như quả bom thường, rồi đất đá tung lên trời và rơi xuống lả tả (lúc đó tôi ở ngay chân đồi).

        Sau tiếng nổ, quân báo của ta nghe và ghi lại mạng thông tin thoại của địch như sau:

        21 giờ 00: A1 báo cáo bị một tiếng nổ gầm mạnh, không rõ là gì, mọi người đều bị uể oải, rã rời (s'énervent). Phát hiện Việt Minh từ chân đồi lên nhiều. Chiến hào đông A1 bị pháo kích mạnh.

        21 giờ 07: A1 báo cáo tất cả đều như quay cuồng. Xin pháo sáng. Xin bắn vào Pomloi. Phát hiện Việt Minh có súng phun lửa.

        21 giờ 17: A1 báo cáo một trung đội phía Đông bị tiếng nổ mạnh thương vong nhiều.

        21 giờ 25: Việt Minh đang xung phong mạnh. Chiến hào Đông bị đảo lộn. 2e BPC báo cáo tình hình nguy ngập. Xin pháo bắn lập tức.

        21 giờ 40: Lệnh một đại đội lê dương lên phản kích ngay. Sẽ đánh lên đỉnh đồi...

        Trong hồi ký của Trung tá Pu-giê, người chỉ huy cứ điểm A1, viết về quả bộc phá như sau: "Lúc 21 giờ đêm mìn nổ. Trước tiên một sự rung rinh chạy suốt mỏm đồi, đất đá rung chuyển và một tiếng nổ át cả các tiếng động khác. Tiếng gầm kéo dài vài giây trong lòng đất với âm lượng trầm. Đỉnh đồi bị vẹt, vị trí của Đại đội 2 mất tăm. Quân Việt Nam lọt vào cửa mở, chúng chiếm miệng phễu trên đỉnh bên trên chúng tôi. Một lúc sau tôi mới hiểu rõ tình thế”.

        Tên sĩ quan Pháp bị bắt làm tù binh trên đồi A1 đã khai với Tham mưu trưởng Trung đoàn Đức Y: "Dãy cao điểm phía Đông bị mất thì sở chỉ huy không giữ được. Ở sở chỉ huy đang có cuộc họp bàn việc rút chạy hoặc đầu hàng".

        Như vậy, có thể thấy:

        1. Quả bộc phá 1.000KG (thực ra chỉ có 960 kg) đã tiêu diệt được đại đội 2 bố trí ở hệ thống công sự giáp ta, trong đó có một hầm dã chiến kiên cố có sức chứa cỡ trung đội - hiện vẫn còn dấu vết: rộng 4 mét, dài 6 mét, liền mép nổ của quả bộc phá về phía quân ta, nắp đã bị bay - và một số ụ súng hai bên hầm này. Chính tuyến này đã ngăn chặn có hiệu quả cuộc tấn công của Trung đoàn 174 và Trung đoàn 102, bằng súng bắn thẳng sát mặt đất và bằng hoả lực mạnh phản kích có xe tăng yểm trợ. Quả bộc phá đã giải quyết được của mở để hai tiểu đoàn của Trung đoàn 174 tấn công vào trung tâm, chiến đấu khá ác liệt, đến 4 giờ 30 sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954 thì hoàn toàn làm chủ đồi A1.

        2. Không có hầm ngầm cố thủ trên đồi A1. Trên đỉnh đồi A1 hiện nay có một hầm nổi có nắp, chỉ có một lối vào, không có lỗ châu mai, không có chiến hào để xuất kích, thực chất đó là hầm để rượu của toà nhà Châu Ún trước đấy, nhà đã bị phá từ lâu, còn lại cái hầm được sửa lại để làm kho, để quân nghỉ ngơi... không phải là hầm chiến đấu, tất nhiên không phải hầm để cố thủ. Đồng chí Thiếu tướng Cao Pha, lúc đó là Trưởng phòng Quân báo của chiến dịch, sau khi toàn thắng, có đến ngay Đồi A1 để kiểm tra hầm ngầm, đã kết luận ngay là không có hầm ngầm mà chỉ là hầm rượu của nền nhà cũ.

        Theo tôi, có thể đánh giá hiệu quả của quả bộc phá như sau (dựa vào sự đánh giá của địch và thực tế chiến đấu của ta): "Quả bộc phá 960 kg đã làm nổ tung tuyến phòng thủ phía trước của địch, một đại đội địch tan xác, nhiều tên khác bị choáng váng, sau nhiều phút mới có thể chiến đấu lại được".

        Đồng thời xác định là không có hầm ngầm, do đó đề nghị bỏ tấm biển "Hầm ngầm cố thủ” trước cửa hầm trên đỉnh Đồi A1 và sửa lại tấm biển sơ đồ Đồi A1 đặt ở chân đồi theo tinh thần trên. Nếu cần có thể triệu tập và tham khảo ý kiến của các đơn vị và cá nhân liên quan đến sự kiện trên để có kết luận thống nhất.

--------------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 3-2000)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:36:46 AM

XUNG QUANH TRẬN CHIẾN ĐẤU 38 NGÀY ĐÊM TRÊN ĐỒI A1 TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ1

NGUYỄN VĂN KHIẾU         

        Năm 1992, trong quá trình đi sưu tầm tư liệu để biên soạn cuốn lịch sử của Trung đoàn 174 trong kháng chiến chống Pháp, tôi được anh Nguyễn Hữu An, lúc đó là Giám đốc Học viện quân sự cấp cao - nguyên là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, sau đó là Trung đoàn trưởng 174 (từ giữa chiến dịch Tây Bắc đến Điện Biên Phủ) cung cấp nhiều tư liệu, trao đổi về nguyên nhân thành công, thất bại của Trung đoàn 174 trong một số trận đánh quan trọng, trong số đó có trận chiến đấu trên đồi A1.

        Vào trận đánh mà Trung đoàn trưởng vẫn chưa nắm được đồi A1 có hầm cố thủ hay không và cũng chưa đánh giá hết tầm quan trọng của A1 trên dãy cao điểm phía Đông Điện Biên.

        + Đồi A1 là một cứ điểm của địch nằm trên dãy cao điểm phía Đông lòng chảo Điện Biên. Khác với vị trí C1, C2, D, E nằm cùng trên dãy cao điểm phía Đông và các vị trí Hin Lam, Độc Lập, công sự A1 dựa vào đồn cũ của Pháp xây dựng từ trước 1940. Năm 1945, Nhật chiếm Điện Biên, đã tu sửa thêm. Ngày 20 tháng 11 năm 1953, Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, cải tạo củng cố tiếp, xây dựng A1 thành một cứ điểm vững chắc.

        Khác với các vị trí ở khu Đông, từ đồi D trở lên phía Bắc (E, Him Lam, Độc Lập) chỉ được sự yểm hộ của trận địa pháo, cối Mường Thanh, cứ điểm A1 (cả C1, C2) đều được sự chi viện hoả lực của hai trận địa pháo Mường Thanh và Hồng Cúm, và của các trận địa cối ở khu Trung tâm, các hoả khí bắn thẳng của vị trí A3, C2, đại liên, xe tăng bên bờ tây sông Nậm Rộm. Điều quan trọng là khi bị tấn công, A1 sẽ được các lực lượng cơ động của khu Trung tâm đến ứng cứu nhanh chóng.

        + Ta chỉ phát hiện chính xác địch có hầm cố thủ là sau trận đánh lần thứ nhất của Trung đoàn 174 (đêm 30-3) và được kiểm nghiệm lại sau trận đánh lần thứ 2 (đêm 1-4) của Trung đoàn 102. Qua khai thác tù binh, ta biết rõ: địch đã sửa tầng chìm của căn nhà ăn cũ (nơi chứa rượu vang và đồ đạc), đào sâu xuống và xây lại, củng cố cải tạo lỗ châu mai, đắp thêm ụ súng, đào thêm chiến hào và giao thông hào xung quanh. Bên trong xây thành các khu ngăn cách, có hầm chỉ huy thông tin, nơi cố thủ chứa được khoảng một trung đội.

        + Đối với địch, A1 có tầm quan trọng bậc nhất trong các vị trí ở dãy cao điểm phía Đông, nó chỉ cách trung tâm chỉ huy của Đờ Cát khoảng 500 mét theo đường chim bay. Nếu ta chiếm được A1, rồi đến C2, C1, đặt trận địa sơn pháo 75, đại liên, ĐKZ, có thể uy hiếp trực tiếp sở chỉ huy của Đờ Cát, diệt xe tăng và trận địa đại liên, bảo vệ cho quân ta vượt cầu Mường Thanh, đánh chiếm hầm chỉ huy của Đờ Cát một cách dễ dàng.

        Địch lấy dãy cao điểm phía Đông làm tấm lá chắn bảo vệ lòng chảo Điện Biên, lấy cứ điểm A3, A1, C2, C1 làm bức tường chắn cho chỉ huy sở của tướng Đờ Cát. Để mất A1 và C1 thì coi như số phận tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã được định đoạt.

        Chính vì thế hai lần ta đánh A1, địch đều phản kích quyết liệt. Từ đêm 1 tháng 4 đến ngày 4 tháng 4, ta và địch mỗi bên giữ được nửa đồi A1. Ngày 9 tháng 4, Đờ Cát mở cuộc phản kích quyết liệt để chiếm lại đồi C1 (đã bị Trung đoàn 98 chiếm sáng 2-4), đánh bật quân ta, nhằm cải thiện thế đứng cho điểm cao A1, C1.

        Hai lần tiến công A1 không dứt điểm (lần thứ nhất đêm 30-3 của Trung đoàn 174, Đại đoàn 316, lần thứ hai đêm 1 tháng 4 của Trung đoàn 102, Đại đoàn 308) đều có khuyết điểm cơ bản giống nhau:

        + Cách đánh tuy có điểm mũi (phía Đông) và diện (mũi phía Đông Nam) nhưng khi tác chiến, hai mũi lại xích lại gần nhau, hình thành cách đánh vỗ mặt. Trong khi đó lại thiếu một mũi vu hồi ở phía Tây Nam (phía sau lưng). Chính vì vậy mà không chặn được quân viện của địch từ A3, Mường Thanh lên tiếp viện.

        Trong thực hành chiến đấu của Trung đoàn 174: tại hướng chủ yếu, việc tập trung pháo bắn thẳng diệt các hoả điểm của địch chưa phục vụ đắc lực cho bộ binh ta xung phong, việc mất liên lạc với Đại đoàn đã làm chậm giờ nổ súng của đơn vị.

        + Quá trình điều tra nắm địch, ta không phát hiện được địch có hầm cố thủ nên không có kế hoạch đánh chiếm. Địch dựa vào đây ngăn chặn, kết hợp với quân tăng viện và pháo binh ở Hồng Cúm sát thương quân ta ngay trên tuyến xuất phát xung phong và khu vực triển khai tiến công.

        + Về đánh giá vị trí A1, ngay ở cấp chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch cũng chưa thấy hết tầm quan trọng, vị trí then chốt của nó đối với toàn cục. Sau này, khi tổng kết chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng chiến dịch, có viết: "Về mặt chỉ huy chiến dịch có thiếu sót là chậm xác định những trận then chốt và trận then chốt quyết định".

        Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng chiến dịch, trong một lần nói chuyện về chiến dịch Điện Biên, có nói: Trận A1 là chìa khoá vàng trong chiên dịch Điện Biên Phủ.

        Sau hai lần đánh không thành công, Bộ chỉ huy Đại đoàn 316 mới nhận thức được A1 là vị trí có tầm quan trọng bậc nhất ở dãy cao điểm phía Đông. Nếu phân tích một cách cặn kẽ, tỷ mỹ thì việc đánh giá không đúng tầm quan trọng của vị trí A1, trách nhiệm phần lớn thuộc về Đại đoàn 316, bằng chứng là:

        - Trong lúc chuẩn bị tiến công theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", Đại đoàn đã giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 98 đánh A1, Trung đoàn 174 đánh C1, C2. Sau khi rút ra thực hiện phương châm: "đánh chắc, tiến chắc", Đại đoàn mới đổi lại: giao nhiệm vụ đánh A1 cho Trung đoàn 174, sau khi có đề nghị của đồng chí Vũ Lăng - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98. Có lẽ lúc đầu do đánh giá cứ điểm C1 quan trọng hơn cứ điểm A1 nên Đại đoàn mới giao cho Trung đoàn 174, một đơn vị có truyền thống đánh công kiên, đảm nhiệm mục tiêu này, mà để Trung đoàn 98, chưa kịp củng cố sau khi bị thương vong ở Nam phần Bắc Ninh, đánh A1.

        - Sau khi đã phân công lại nhiệm vụ (giao cho Trung đoàn 174 đánh A1) việc chỉ đạo giữa đánh A1 và C1 vẫn dàn đều thiếu tập trung (tăng cường đại đội sơn pháo và hoả lực trợ chiến như nhau, hoả lực pháo binh 105 ly chi viện mỗi nơi 1 đại đội).

---------------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 3-2002)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:37:07 AM

        Trong trận tiến công A1 lần thứ nhất của Trung đoàn 174, khi phê duyệt kế hoạch tác chiến, Đại đoàn đã không phát hiện thấy thiếu mũi vu hồi, đã không đề nghị với trên tăng cường cho Trung đoàn hoả lực bắn thẳng (sơn pháo 75 ly, ĐKZ), đã không tập trung hoả lực pháo binh ở Pú Hồng Mèo kiềm chế pháo binh địch ở Hồng Cúm, tổ chức thông tin liên lạc trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng chưa phù hợp với trận đánh lớn thiếu dây, không mắc được xuống chỉ huy sở của Trung đoàn, lại không cho dùng Moóc làm tín hiệu nhận lệnh nên làm chậm giờ nổ súng của Trung đoàn).

        Để chuẩn bị cho trận đánh dứt điểm, tiêu diệt A1 (đêm 6-5), Đại đoàn đã khắc phục được khuyết điểm cũ và đã chỉ đạo Trung đoàn 174:

        - Đào một đường hầm hình chữ T chứa 986 kg thuốc nổ (Trong số 8238 báo Quân đội nhân dân ra ngày 10-5-1984, đồng chí Đại tá Nguyên Phú Xuyên Khung - nguyên là cán bộ chỉ huy tổ công binh thân gia đào hầm đánh bộc phá hầm cố thủ ở đồi A1 cho biết số thuốc nổ có 986 kg, chia thành 56 gói, với hơn 400 kíp nổ các loại. Trong khi đó, Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự - nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 255, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316 viết bài đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3 năm 2000 ghi khối bộc phá nặng 960 kg) để đánh hầm.

        - Đào một con hào ở phía tây nam A1 lượn theo đồi Cháy và đồi E, thọc ra đường 41, quặt về phía A1, hình thành một mũi vu hồi phía Tây Nam, thực hiện cắt đường tiếp viện từ Mường Thanh qua A3 lên cứu A1, bịt hẳn đường rút của A1. Nhờ vậy, đợt tấn công lần 3 của Trung đoàn 174 vào A1 tuy vẫn ác liệt nhưng đã thuận lợi hơn nhiều (chiến đấu từ 20 giờ 30 ngày 6 tháng 5 đến 4 giờ 30 ngày 7 tháng 5, Trung đoàn 174 đã làm chủ vị trí A1).

        + Cuộc chiến đấu trên đồi A1 (bao gồm 3 đợt tấn công và 1 đợt 31 ngày phòng ngự), là trận đánh dài ngày nhất trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

        Tổng cộng trận chiến đấu trên đồi A1 kéo dài 38 ngày đêm (Cuộc chiến đấu trên Đồi C1 , C2 cũng có tiến công và phòng ngự, kéo dài 31 ngày đêm).

        Để thực hành trận đánh đồi A1, quân ta đã phải đào 27km chiến hào và giao thông hào, phải đào sâu vào lòng đồi A1 suốt 16 ngày đêm khoét được một giao thông hào hình chữ T đặt 56 gói bộc phá và hơn 400 kíp nổ (cứ hơn 2kg thuốc nổ có 1 kíp), phải đào 200 mét giao thông hào cách địch 200 mét, nằm dưới làn hoả lực của địch. Đường hào này lượn dưới chân đồi Cháy, lợi dụng khe suối cạn ra Đường 41, quặt về phía Tây Nam Ai để thực hiện mũi vu hồi.

        - 38 ngày đêm chiến đấu, ta đã phải đánh 12 trận phản kích quyết liệt. Đây cũng là trận đánh mà tỷ lệ thương vong giữa ta và địch xấp xỉ 1/1 (chỉ có khác ta bị thương nhiều, còn địch chết nhiều). Số cán bộ chỉ huy trận đánh bị phê bình và kỷ luật nhiều (Trung đoàn trưởng và Chính ủy Trung đoàn 174 bị phê bình, Trung đoàn phó 174 bị cách chức xuống làm Trợ lý tác chiến Đại đoàn, một tiểu đoàn trưởng của Trung đoàn 102 bị truy tố ra toà án binh).

        Nói thêm về chiếc xe tăng trên đồi A1

        Trung đoàn 102 tấn công A1 lần 2 đêm 1 tháng 4 năm 1954 (lúc 22 giờ 30). Trung đoàn 102 có 4 đại đội đánh theo cửa mở hướng Đông (mũi của Tiểu đoàn 249 Trung đoàn 174 đánh lần 1). 2 đại đội của Tiểu đoàn 251 Trung đoàn 174 đánh theo cửa mở hưởng Đông Nam.

        5 giờ ngày 2 tháng 4, địch chia làm 2 cánh phản kích. Ở cánh phải, chúng bị các đơn vị của Trung đoàn 102 chặn đứng lại. Ở cánh trái (Đông Nam), địch cho xe tăng mở đường đánh xuống trận địa Đại đội 674, Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174. Bộ đội ta anh dũng bám chắc trận địa, dùng tiểu liên chia cắt bộ binh địch, yểm trợ cho hai đồng chí dùng Bazôca bắn cháy tại chỗ chiếc xe tăng đi đầu. Mất chỗ dựa, bộ binh địch hoảng hốt tháo chạy.

        Chính xác là, trong trận đánh của Trung đoàn 102, Đại đội 674, Tiểu đoàn 251 của Trung đoàn 174 đến phối thuộc, đã diệt tại chỗ chiếc xe tăng trên đồi A1 hiện nay.

        Sau 41 năm, Trung đoàn trưởng và Chính ủy Trung đoàn đã được minh oan.

        Thực ra, nếu lúc đó chỉ huy Trung đoàn 174 không chủ động, cứ máy móc ngồi chờ Đại đoàn ra lệnh, ngồi lại ở chỉ huy sở cơ bản mà không lên chỉ huy sở tiền phương ra lệnh tấn công A1 thì trận đánh chưa biết sẽ ra sao?

        Một sự thật khách quan là khi địch bắn đứt dây thông tin liên lạc nên Trung đoàn 174 không nhận được lệnh của Đại đoàn. Có ý kiến của Ban tác chiến đề nghị đồng chí Vũ Lập - Tham mưu trưởng, cho phép Trung đoàn sử dụng điện thanh nhận lệnh bằng tín hiệu "Moóc" nhưng không được, vì sợ vi phạm quy định của Mặt trận: "Không được sử dụng điện đài trước giờ nổ súng".

        Tóm lại, trận đánh đồi A1 kéo dài, bị thương vong nhiều có nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân nổ súng chậm là do đường dây thông tin liên lạc từ Đại đoàn xuống bị đứt, không nối lại kịp, khuyết điểm đó thuộc về Đại đoàn.

        Về nguyên nhân đánh đồi A1 không thành công cũng như đánh giá khuyết điểm của cán bộ chỉ huy Trung đoàn 174, sau này, ngày 12 tháng 6 năm 1995, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xác nhận: "Trận tiến công cứ điểm A1, mở đầu đợt 2 chiến dịch Điện Biên, đã không thành công vì nhiều nguyên nhân. Trong các nguyên nhân đó, việc Trung đoàn 174 nổ súng chậm, do không nhận được lệnh của Đại đoàn 316, dẫn đến hậu quả không hoàn thành nhiệm vụ. Việc không chuyển đạt lệnh kịp thời thuộc về trách nhiệm của Đại đoàn, không phải là khuyết điểm của Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An và Chính ủy Trần Huy" (Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét sau khi trao đổi ý kiến với đồng chí Trần Huy và đồng chí Nguyễn Đôn Tự, có đồng chí Chu Huy Mân tham dự tại cuộc họp ngày 12-6-1995).


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:05:44 AM
       
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TRUNG ĐOÀN 209 TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ 19541

TRẦN VĂN THỨC - NGUYỄN MẠNH HÀ        

        L.T. S: Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã diễn ra cách đây 50 năm. Từ đó đến nay, đã có hàng trăm, hàng nghìn công trình, bài viết, hồi ức của các nhà khoa học, các chính khách, tướng lĩnh, các cựu chiến binh trong và ngoài nước viết về các nội dung trực tiếp và gián tiếp liên quan đến sự kiện vĩ đại này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề về chiến dịch, người và đơn vị tham gia... còn có những ý kiến trái ngược nhau, thậm chí gay gắt, cần được làm rõ. Một trong số đó là các sự kiện liên quan đến hoạt động tác chiến và vai trò của một số cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 trong những ngày cuối của chiến dịch. Để góp phần làm rõ những vấn đề nêu trên, Tạp chí LSQS công bố một số kết quả nghiên cứu của nhóm cán bộ Viện LSQS Việt Nam được cử, tìm hiểu về vấn đề này để bạn đọc tham khảo với mong muốn "Sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ”.

        Về sự tham gia của các đơn vị thuộc Trung đoàn 209 trong các trận cuối chiến dịch Điện Biên Phủ

        Về sự tham gia của các tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 209 trong các trận đánh chiếm cứ điểm 507 (Élian 10), 508 (Élian 11), 509 (Élian 12) và một số chi tiết của các trận đánh đó hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau.

        Về vấn đề này, cuốn sách "Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997)", Nxb QĐND, Hà Nội, 1997, do tập thể tác giả biên soạn, dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy Chỉ huy Trung đoàn 209, viết: "14 giờ ngày 7-5-1954, sau khi tổ chức lại lực lượng, tiểu đoàn 130 tiếp tục tiến công điểm cao 507. Trong 30 phút đầu ta tập trung hoả lực bắn phá mãnh liệt các công sự, lô cốt địch, tạo điều kiện cho bộ binh áp sát mục tiêu. Pháo hoả vừa dứt, Tiểu đoàn 130 liên tục tổ chức hai đợt xung phong vào nam cao điểm, địch bị rối loạn hoàn toàn, bị chia cắt từng mảng, nhiều tên bị tiêu diệt, một số sống sót xin hàng. Phát hiện thấy cờ trắng xuất hiện ở cao điểm 508, 509, Ban chỉ huy Trung đoàn hội ý, thống nhất đề nghị Đại đoàn cho toàn Trung đoàn xuất kích. Thừa thắng, hai Tiểu đoàn 130 và 154 đánh tràn sang chiếm luôn cao điểm 508 và 509" (các chữ trích, in nghiêng là do chúng tôi muốn nhấn mạnh) (tr. 136).

        Cuốn "Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312”, Nxb QĐND, Hà Nội, 2000, do tập thể tác giả biên soạn, dưới sự chỉ đạo của Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1, Đảng ủy, Chỉ huy Sư đoàn 312, viết: “Đến 12 giờ ngày 7-5-1954, sau khi tổ chức lại lực lượng, Đại đoàn trưởng ra lệnh cho trung đoàn (Trung đoàn 209) tiếp tục tấn công cứ điểm 507. Sau hai lần đột phá, Tiểu đoàn 130 chiếm được cử điểm 507. Thừa thắng, các đơn vị của Trung đoàn 209 đánh tràn sang chiếm luôn điểm cao 508 và 509" (tr. 172).

        Cuốn “Lịch sử QĐND VN", tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội, tái bản 1994, của Ban nghiên cứu

        Lịch sử Quân đội thuộc Tổng cục Chính trì và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, do tập thể tác giả biên soạn viết: "14 giờ ngày 7-5-1954, Tiểu đoàn 130 (Trung đoàn 209, Đại đoàn 312) tấn công vị trí 507 ở gần cầu Mường Thanh" (tr. 582).

        Như vậy, theo các cuốn lịch sử nói trên thì Tiểu đoàn 130 là đơn vị đánh chiếm cứ điểm 507, sau đó cùng Tiểu đoàn 154 đánh chiếm 508, 509. Tuy nhiên, một số đồng chí nguyên là cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 lại cho rằng, viết như vậy là chưa hoàn toàn đúng sự thật lịch sử. Xung quanh vấn đề này, từ trước tới nay, đã có nhiều bài của các cựu chiến binh công bố trên báo, tạp chí.

---------------
        1.  (Tạp chí LSQS các số 9, 10, 11-2004 và số 1-2005)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:06:29 AM

        Trung tá Ngô Trọng Bảo - nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154, trong đơn thư gửi các cơ quan và cá nhân có liên quan cũng như trong các buổi trao đổi với chúng tôi, luôn khẳng định việc đánh chiếm cứ điểm 507, 508, 509 là do Tiểu đoàn 154, gồm một đại đội tăng cường, có sự tham gia của Đại đội 360, Tiểu đoàn 130. Đồng chí cho rằng các sách lịch sử nói trên viết Tiểu đoàn 130 đánh chiếm cứ điểm 507 và là lực lượng chủ công trong các trận đánh chiều hôm đó của Trung đoàn 209 là sai. Năm 1997, đồng chí Ngô Trọng Bảo viết bài "Giờ phút hấp hối của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ”, đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, có những nội dung liên quan đến các đơn vị thuộc Trung đoàn 209. Dịp chuẩn bị kỷ niệm 50 năm chiến thắng hếch sử Điện Biên Phủ, đồng chí Ngô Trọng Bảo đã cung cấp tư liệu cho Dương Thục Anh viết bài "ông già sửa xe đạp cô đơn và những bí mật của trận đánh cuối cùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ”, đăng trên báo An ninh thế giới cuối tháng, số 31, tháng 2 năm 2004 và kể cho Thao Lan viết bài "Ai là người ra lệnh cho Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật vượt cầu Mường Thanh bắt tướng Đờ Cát”, đăng trên báo Tin tức, số 1549, 1550, 1551, tháng 4 năm 2004. Các bài nêu trên đều viết việc đánh chiếm 507, 508, 509 theo nhận thức của đồng chí Bảo.

        Đồng tình với ý kiến của nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 còn có một số cựu chiến binh khác. Trung tá Sơn Hà - nguyên Chủ nhiệm trinh sát Đại đoàn 312, trong đơn kiến nghị gửi Viện LSQS Việt Nam, ngày 31 tháng 3 năm 2004, viết: "Tới nay đã có đầy đủ căn cứ, chứng lý để khẳng định trận đánh cuối cùng của Đại đoàn 312 lập công chói lọi, kết thúc vẻ vang chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn do một đơn vị nhỏ của Tiểu đoàn 154 thực hiện, chỉ trong buổi chiều ngày 7 tháng 5 đã đập tan phòng tuyến án ngữ của địch còn lại phía Đông sông Nậm Rốm, sau đó nhờ được Trung đoàn kịp thời tăng viện 40 chiến binh (Đại đội của Tạ Quốc Luật) đã linh hoạt nắm thời cơ quân địch bắt đầu tan rã, lệnh cho Đại đội 360 vượt cầu Mường Thanh lập được thành tích vang dội bắt sống tướng giặc".

        Trung tá Đỗ Xuân Trường (từ trần 1-1999), nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 130, cũng viết: "Thành tích chớp thời cơ đột phá từ 507 đến 509 để tạo điều kiện cho Đại đội 360, Tiểu đoàn 130 lập công lớn là xương máu của bao anh em đồng đội thuộc Tiểu đoàn 154, cộng với công lao, trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn này...".

        Đại tá Lê Chí Duyên (từ trần 1-2000), nguyên Trung đội phó Trung đội 1, Đại đội 520, Tiểu đoàn 154, cũng cho biết Đại đội 520 tham gia đánh 507 và 508 trong buổi chiều ngày 7 tháng 5...

        Sau khi có các bài viết theo lời kể của đồng chí Ngô Trọng Bảo đăng trên một số báo trước đây và thời gian vừa qua, liên quan đến các sự kiện nêu trên, các cán bộ của Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 209 đã có phản ứng, đến Toà soạn báo An ninh thế giới cuối tháng và tác giả bài viết, sau đó có đơn thư kiến nghị Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng liên quan, trong đó có Viện LSQS Việt Nam, đề nghị nghiên cứu, xem xét làm rõ sự thật lịch sử.

        Ngày 30 tháng 5 năm 2004, 15 đồng chí, trong đó đa phần nguyên là cán bộ chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn của Trung đoàn 209 tổ chức cuộc họp, do đồng chí Trần Quân Lập - nguyên Chính ủy Trung đoàn, chủ trì, nhằm xác định những đơn vị tham gia các trận đánh chiếm cứ điểm 507, 508, 509 và một số vấn đề khác. Hầu hết các đồng chí có mặt trong buổi họp hôm đó đều cho rằng khi viết về các trận đánh cuối cùng của Trung đoàn 209 trong chiến dịch Điện Biên Phủ không nên và không thể chia cắt từng đoạn, đơn vị này đánh, đơn vị kia đánh, cũng như tách bạch sự chỉ huy của từng đồng chí cán bộ vì như thế sẽ làm mất hết ý nghĩa của trận đánh và khó có thể đánh giá đúng công tích của từng người. Sự thực là trận đánh diễn ra nhiều đợt, có nhiều đơn vị của Trung đoàn 209 tham gia, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất của Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn. Về sự tham gia của các tiểu đoàn, bản kết luận cuộc họp nêu rõ: Tiểu đoàn 130 lập được thành tích lớn. Đêm 6 tháng 5, đánh cứ điểm 507 không dứt điểm, đã nghiêm khắc kiểm điểm, chấn chỉnh lại lực lượng, là mũi chủ yếu tiếp tục tiến công ban ngày, cùng các đơn vị khác giải quyết 507. Sau đó, cùng đội hình Trung đoàn đánh chiếm 508, 509. Đại đội 360 lập thành tích xuất sắc, tiến vào trung tâm Mường Thanh, bắt tướng Đờ Cát và toàn bộ Ban Tham mưu của chúng. Tiểu đoàn 154, qua 37 ngày đêm phòng ngự đồi D, anh dũng giữ vững trận địa, làm bàn đạp cho cuộc tiến công vào khu trung tâm, đánh chiếm cứ điểm 505A và Đại đội 520, Tiểu đoàn 154 phối hợp đánh 507, 508, 509, tạo thuận lợi cho Đại đội 360 vượt sông Nậm Rốm đánh vào khu trung tâm. Đại đội hoả lực 290 của Tiểu đoàn 166 chỉ viện đắc lực đánh chiếm 507.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:06:49 AM

        Căn cứ theo các cuốn "Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209", 'Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312", "Lịch sử QĐNDVN”, tập 1 và qua nghiên cứu, kiểm chứng ý kiến của các đồng chí cựu chiến binh Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, chúng tôi thấy:

        1- Việc đánh chiếm các cứ điểm 507, 508, 509 trong chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954 có sự tham gia của Tiểu đoàn 130, Tiểu đoàn 154, cùng sự chi viện của Đại đội hoả lực 290, Tiểu đoàn 166 (đánh chiếm 507).

        2- Những trận đánh này do Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn 209 trực tiếp chỉ huy. Tại Sở chỉ huy cơ bản của Trung đoàn đóng tại khu vực đồi E, Ban chỉ huy Trung đoàn gồm các đồng chí Trung đoàn trưởng Hoàng Cầm, Chính ủy Trần Quân Lập. Trung đoàn phó Thăng Bình và Phó Chính ủy Kim Mỹ trực tiếp chỉ huy đơn vị tại mặt trận tiền duyên. Cán bộ cấp tiểu đoàn trực tiếp chỉ huy đơn vị mình ở mặt trận tiền duyên có Chính trị viên Tiểu đoàn 130 Trần Quải, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 Ngô Trọng Bảo và một số đồng chí cán bộ cấp đại đội, trung đội, tiểu đội. Nhiều nội dung sự kiện, chi tiết trong các bài viết của Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154, cũng như khi đồng chí cung cấp cho người khác, làm cho người đọc hiểu không đúng về vai trò chỉ đạo, chỉ huy của Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn, của các đồng chí cán bộ cấp tiểu đoàn, cán bộ chỉ huy các đại đội, tiểu đội. Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 có vai trò, đóng góp nhất định trong việc chỉ huy đơn vị thuộc quyền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Việc đồng chí không đề cập trực tiếp, cụ thể đến sự lãnh đạo, chỉ huy của Trung đoàn trong thời điểm quyết định đó, đã làm cho người đọc hiểu rằng dường như chỉ có một mình đồng chí xử lý các tình huống, gây nên sự hiểu lầm, hiểu sai thực chất vấn đề.

        3- Ý kiến của các đồng chí Ngô Trọng Bảo, Sơn Hà, Đỗ Xuân Trường, Lê Chí Duyên đã góp thêm căn cứ để xác định Tiểu đoàn 154 có tham gia đánh chiếm 507. Nhưng nhiều chi tiết khác về trận đánh đó mà các đồng chí này viết chưa được kiểm định, thiếu những căn cứ khoa học, không đúng với thực tế lịch sử.

        Cụ thể:

        - Về thời gian mở đầu các trận đánh chiều 7 tháng 5 của Tiểu đoàn 154, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 đưa ra chính xác là sớm 22 phút trước giờ G (14 giờ). Sự thực có đúng như thế không? Nhiều người biết rằng thời gian mở đầu các trận đánh chiều 7 tháng 5 diễn ra sớm hơn dự kiến do quân Pháp có dấu hiệu tan rã, hạ vũ khí đầu hàng. Theo nhiều tài liệu và qua ý kiến của nhiều đồng chí từng tham gia chiến đấu trong buổi chiều hôm đó thì thời gian bắt đầu Tổng công kích trong khoảng 14 đến 15 giờ. Điều này cho thấy việc xác định giờ Tổng công kích chỉ là tương đối. Trận đánh của Trung đoàn 209 vào vị trí 507 diễn ra trong bối cảnh đó nên cũng chỉ có thể nói khoảng chừng, khó có thể nói chính xác tới tận từng phút.

        - Về lực lượng của Đại đội 360, trong bài "Giờ phút hấp hối của tập đoàn cử điểm Điện Biên Phủ”, đồng chí Ngô Trọng Bảo viết có khoảng "hai trung đội đủ”, nhưng năm 2001, khì cung cấp tư liệu cho cán bộ Phòng Thông tin Tư liệu Viện LSQS Việt Nam, cũng như những lần tiếp xúc với chúng tôi gần đây, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 lại nói chỉ có 40 người. Hỏi tại sao lại có sự không thống nhất như vậy, đồng chí Bảo nói rằng không thể biết chính xác được, 80 hay 40 là do anh em cung cấp và theo suy đoán của cá nhân. Xác định lực lượng của Đại đội 360 như vậy là thiếu nhất quán và khó tin. Theo bản tường trình viết tay của đồng chí Tạ Quốc Luật (viết năm 1984) thì lực lượng của Đại đội 360 có lúc đó khoảng trên 80 người.

        Về vị trí các cứ điểm, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 đã viết và cung cấp tư liệu, vẽ bản đồ minh hoạ các trận đánh chiều 7 tháng 5 của Tiểu đoàn 154. Theo đó, Tiểu đoàn 154 đánh từ cứ điểm 507 sang 508, 509 theo một chiều dọc. Có nghĩa là 3 cứ điểm này nằm theo thứ tự chiều dọc trên thực địa. Nhưng đối chiếu với bản đồ quân sự của Pháp và qua tìm hiểu chúng tôi thấy không như vậy. Như nhiều người biết, trong quá trình thiết lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, phía pháp thường đặt tên các cứ điểm và cụm cứ điểm theo vần chữ cái A, B, C... tương ứng với thời gian xây dựng các vị trí đó và đánh số thứ tự các cứ điểm theo số 1, 2, 3... theo chiều quay của kim đồng hồ. Thực tế, các cứ điểm 507, 508, 509 không xếp thẳng hàng, ba cứ điểm này tựa như các đỉnh của một tam giác. Cứ điểm 508 nằm ở phía Nam cầu Mường Thanh. Gần với 507, không phải là 508, mà là 509, án ngữ cầu sắt và cầu phao bắc qua sông Nậm Rốm sang trung tâm Mường Thanh. Do vậy, để tiến sang Mường Thanh (bằng cầu, lúc đó chưa có các phương tiện vượt sông khác), không cần phải qua 508. Tài liệu cá nhân của đồng chí Tạ Quốc Luật, hiện lưu tại nhà riêng của con trai ông, viết rằng sau khi Đại đội 360 cùng các đơn vị đánh chiếm xong 507, liền đánh sang 509, không phải vượt qua 508.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:07:09 AM

        Đọc bài báo "Giờ phút hấp hối của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ” nhiều người sẽ tưởng rằng chiều 7 tháng 5 ở Điện Biên Phủ còn diễn ra những trận đánh quyết liệt. Nhưng theo một số sách lịch sử có độ tin cậy cao cũng như ý kiến nhân chứng thì từ trưa hôm đó địch đã có dấu hiệu tan rã. Chớp thời cơ, chiều 7 tháng 5, ta tiến hành tổng công kích, nhiều trận đánh diễn ra nhưng không ác liệt như bài báo mà Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 viết. Về vấn đề này, từ năm 2000, nguyên Chính ủy Đại đoàn 312 đã viết cho đồng chí Sơn Hà, nêu rõ: đêm 6 tháng 5 và sáng 7 tháng 5, ở Điện Biên Phủ diễn ra những trận chiến đấu rất khẩn trương, quyết liệt nhất là ở đồi A1, các đồi và cứ điểm ở phía bờ Đông sông Nậm Rốm. Đến trưa 7 tháng 5, chiến sự tàn dần, cho đến khoảng 16-17 giờ thì hầu như tàn hẳn, nhiều nơi xuất hiện cờ trắng và mỗi lúc một nhiều. Không có cuộc chiến đấu gay gắt, dữ dội nào diễn ra. Đó là kết quả của sau gần hai tháng chiến đấu, trực tiếp là các cuộc chiến đấu dữ dội đêm 6 tháng 5 và sáng 7 tháng 5 ở khắp mặt trận. Trung tướng phạm Hồng Sơn, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36, Đại đoàn 308, cũng nói với chúng tôi giống như nguyên Chính ủy Đại đoàn 312 viết. Đại tá Cao Sơn - nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn pháo hoả tiễn H.6, cho biết loạt H.6 bắn cuối cùng diễn ra vào sáng 7 tháng 5. Cuốn sách Lịch sử pháo binh QĐNDVN (1945-1975) cũng không viết có pháo lớn bắn trong chiều hôm đó.

        4. Ý kiến các đồng chí Sơn Hà, Đỗ Xuân Trường cho rằng việc đánh chiếm 507 đến 509 hoàn toàn do một đơn vị của Tiểu đoàn 154 thực hiện, có sự tăng viện của 40 chiến binh của Đại đội 360, theo chúng tôi là không hoàn toàn đúng. Gặp gỡ, trao đổi với đồng chí Sơn Hà, chúng tôi nêu vấn đề căn cứ vào đâu để đồng chí phủ nhận những điều mà các sách Lịch sử Trung đoàn 209, Lịch sử Sư đoàn 312, Lịch sử QĐNDVN đã viết. Đồng chí Hà cho biết do kết quả của một quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân. Được biết, đồng chí không phải là người trực tiếp tham gia chiến đấu với các đơn vị Trung đoàn 209 nhưng rất quan tâm đến vấn đề này. Mấy năm nay, đồng chí Hà đã bỏ nhiều công sức thu thập tư liệu, nhưng phải nói rằng chưa có đủ tư liệu xác thực có sức thuyết phục, mà chủ yếu chỉ là tư liệu nhân chứng. Đó là qua tiếp xúc trao đổi với Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154. Đồng chí Đỗ Xuân Trường, là Tiểu đoàn phó 130 nhưng lại không tham gia các trận đánh của đơn vị vào chiều 7 tháng 5 vì đang phải điều trị do bị thương trước đó. Rất tiếc là đồng chí Trường đã mất nên không thể đối chứng được. Những ý kiến của các đồng chí Sơn Hà, Đỗ Xuân Trường chưa có đủ cơ sở, không đủ sức thuyết phục để phủ nhận những điều mà các cuốn sách nói trên đã viết cũng như của các nhân chứng, là các cán bộ, chỉ huy Trung đoàn 209, chỉ huy các tiểu đoàn thời kỳ đó.

        Qua đây, chúng tôi kiến nghị với Sư đoàn 312, Trung đoàn 209, khi có điều kiện tái bản các cuốn Lịch sử của Sư đoàn 312, Lịch sử Trung đoàn 209, nên:

        - Bổ sung lực lượng đánh chiếm cứ điểm 507 có Tiểu đoàn 154, còn lực lượng đánh 508 và 509 thì vẫn giữ như cũ vì hai cuốn sách trên đã viết.

        - Viết chi tiết hơn về những trận đánh cuối cùng của đơn vị trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

        - Cần sử dụng tư liệu nhân chứng, nhưng phải kiểm định độ xác thực. Không viết các cứ điểm là cao điểm vì cứ điểm không phải cái nào cũng là điểm cao.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:07:52 AM

        Về vấn đề bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri

        Việc tướng Đờ Cát-xtơ-ri, Chỉ huy trưởng cùng Bộ tham mưu Binh đoàn tác chiến Tây Bắc (Groupement Operationnel du Nord Ouest, viết tắt là GONO) bị bắt vào chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954 là mốc quan trọng đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của quân Pháp ở Điện Biên Phủ, có thể xem là “dấu chấm hết" của Kế hoạch Na-va.

        Đơn vị lập được chiến công xuất sắc- vào hầm Sở chỉ huy GONO, bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Ban Tham mưu địch, là Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Điều này đã được các sách lịch sử viết rõ. Sách "Lịch sử cuộc kháng chiên chống thực dân Pháp, 1945-1954", tập 2, của tập thể tác giả thuộc Viện LSQS Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1994, tr. 441 viết: "Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật lập tức cùng hai chiến sĩ Vinh và Nhỏ, tiến vào Sở Chỉ huy đích". Sách "Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997)", của nhiều tác giả, Nxb QĐND, Hà Nội, 1997, tr. 137 viết: "Sau một loạt thủ pháo, tiểu liên uy hiếp, tổ chiến sĩ Vinh, Nhỏ dẫn đầu trung đội cùng đại đội trưởng xông vào hầm Bộ chỉ huy tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ”. Sách "Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312", của nhiều tác giả, Nxb QĐND, Hà Nội, 2000, cũng viết giống như cuốn "Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209" kể trên, và ghi rõ "Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật dùng tiếng Pháp bắt tướng Đờ Cát-xtơ-ri phải ra lệnh cho toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm đầu hàng" (tr. 173). Sách “Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)", của Ban Tổng kết - Biên soạn lịch sử, Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN, xuất bản 1991, viết: "Việc bắt Đờ Cát-xtơ ri sau này có báo cáo cụ thể: Sau khi Trung đoàn 209 tiêu diệt các cứ điểm ở tả ngạn sông Nậm Rốm, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng hai chiến sĩ thọc sâu vào hầm Đờ Cát-xtơ-ri bắt sống toàn bộ Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vào hồi 16 giờ 20 phút". Cùng với các sách báo lịch sử, các nhân chứng trực tiếp bắt Đờ Cát-xtơ-ri cũng xác định vấn đề rất rõ ràng.

        - Thư của đồng chí Tạ Quốc Luật báo cáo thành tích lên Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc số 2309, thứ 6, ngày 28 tháng 5 năm 1954, viết: "Trong trận tổng công kích cuối cùng vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cháu vinh dự được Ban Chỉ huy giao nhiệm vụ dẫn đầu một tổ xung kích 5 người chọc một mũi nhọn vào phía Chỉ huy sở của tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Năm người đó là: Tạ Quốc Luật, Vinh, Hiếu, Lam, Nhỏ". Theo đồng chí Tạ Quốc Luật, sau lễ mừng chiến thắng Điện Biên Phủ, tổ chức tại Mường Phăng, ngày 13 tháng 5 năm 1954, năm đồng chí nói trên được vào Tổng cục Chính trị, và được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo chiến công.

        Đồng chí Hoàng Đăng Vinh (hiện là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thị xã Bắc Ninh) khẳng định tên 5 người trong tổ xung kích giống như đồng chí Tạ Quốc Luật viết. Đồng chí Vinh bổ sung họ và tên đệm của đồng đội là Nguyễn Văn Lam, Bùi Văn Nhỏ và Đào Văn Hiếu.

        - Trong bài "Gặp người tham gia bắt Đờ Cát-xtơ-ri" của Minh Châu, viết theo lời kể của đồng chí Đào Văn Hiếu (xóm 8 xã Nga Hưng, Nga Sơn, Thanh Hoá), đăng trên báo Sức khoẻ và Đời sống, số 279, tháng 5 năm 2004, thì: "Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật phân công: "đồng chí Hiếu và đồng chí Lam bịt cửa hầm phía Bắc, còn tôi (Luật) cùng đồng chí Vinh và đồng chí Nhỏ đánh bịt cửa hầm phía Nam". Như vậy, căn cứ theo các sách lịch sử và tư liệu nhân chứng (Tạ Quốc Luật, Hoàng Đăng Vinh, Đào Văn Hiếu), chúng tôi xác định:

        - Tổ xung kích trực tiếp vào Sở Chỉ huy GONO bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Tham mưu địch gồm 5 đồng chí: Tạ Quốc Luật, Hoàng Đăng Vinh, Nguyễn Văn Lam, Bùi Văn Nhỏ và Đào Văn Hiếu.

        - Việc tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Tham mưu GONO bị bắt diễn ra tại hầm Sở Chỉ huy GONO.

        Xung quanh vấn đề bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Tham mưu GONO, những năm gần đây, trên một số tờ báo có nhiều bài viết dựa theo nhân chứng kể lại, có sự sai lệch với những điều đã được lịch sử ghi nhận.

        Báo Thanh niên, số 74 (2004), ngày 14 tháng 3 năm 2004, có bài "Người bắt tù binh đầu tiên ở Điện Biên Phủ” của Kiều Hương, viết theo lời kể của ông Trần Cối tức Trần Quân, quê ở làng Tiên Lữ, Lập Thạch, Vĩnh Phúc, nguyên Đại đội trưởng quân báo Trung đoàn 209, Đại đoàn 312) viết: “Chuyện bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri từng được viết là tại hầm chỉ huy của nó. Sự thực không phải". Trước khi bị bắt, “tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Tham mưu đã chạy ra sông Nậm Rốm". Đây rõ ràng là sự phủ nhận chiến công của Đại đội 360, ngược hẳn với những điều mà sử sách và các phương tiện thông tin đại chúng đã thông tin. Đọc kỹ bài này, chúng tôi thấy tác giả Kiều Hương hoàn toàn phụ thuộc vào lời kể của ông Trần Cối, thiếu chứng cứ khoa học, không phù hợp với thực tế sự thật. Bài báo này, sau khi công bố, đã gây nhiều phản ứng trong bạn đọc. Mặc dù, trong bài "Những chi tiết xung quanh việc tướng Đờ Cát-xtơ-ri bị bắt sống", đăng trên báo Thanh niên, ngày 18 tháng 4 năm 2004, tác giả Kiều Hương đã đưa ý kiến của 2 nhân chứng là ông Hoàng Thế Chinh và ông Trần Đức Hoà, nhằm chứng minh cho điều mà ông Tràn Cối kể trên là đúng. Nhưng, những điều ông Hoà, ông Chinh đưa ra cũng thiếu cơ sở và không có tính thuyết phục.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:08:11 AM

        Ông Hoà nói: "Qua cầu Mường Thanh, tôi thấy trong đám hàng binh có khoảng 5 thằng mũ đỏ, có thể là ca-lô đỏ, hay mũ nồi đỏ, trong đó có đôi thằng chống can, có khả năng là cùng trong bộ chỉ huy của Đờ Cát-xtơ-ri vì không lếch thếch như bọn lính". Nếu chỉ căn cứ vào mũ đỏ (ca-lô hay mũ nồi không xác định rõ) cùng với can và quần áo rồi xác định đó là bộ chỉ huy Pháp thì khó có thể thuyết phục được người đọc. Ông Chinh thì xác nhận: "địch đã ra cách cầu 30-40 mét rồi. Cả bộ tham mưu của nó đã kéo ra, trong đó có Đờ Cát-xtơ-ri nhưng lúc đó mình không biết mặt cụ thể. Không ai bắt Đờ Cát-xtơ-ri và bộ chỉ huy. Lúc đó hàng binh ra khỏi cầu Mường Thanh là khoảng 5 giờ. Bộ binh chỉ dẫn giải tù binh về phía sau chứ không phải bắt gì cả". Ông Chinh không biết mặt tướng Đờ Cát-xtơ-ri, lại xác định là có Đờ Cát-xtơ-ri trong đám tù binh, điều đó quả thật vô lý.

        Trong khi đó, cũng trong bài viết này, tác giả Kiều Hương lại dẫn lời kể của ông Mai Đức Toại, nguyên là Trợ lý chính trị Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209. Ông Toại khẳng định: Địch không thể ra bờ sông hàng... Ông Quân (tức Trần Cối - TG) không thể vào đây được vì nếu pháo ta không bắn, cũng không chui vào được vì không có bộc phá để đánh dây thép gai. Đi đường khác thì sẽ gặp khẩu đại liên 4 nòng bên kia cầu Mường Thanh". Ông Toại cho biết: "Nhìn từ cửa hầm sau, tôi thấy Tạ Quốc Luật đang cầm trong tay khẩu súng ngắn, giám sát bọn sĩ quan từ dưới hầm lóc ngóc đi lên. Ngày sau trận đánh ngày 7 tháng 5, khoảng chiều 8 tháng 5, tôi đã làm thành tích cho cả tổ Tạ Quốc Luật. Theo đề nghị của đơn vị thì Tạ Quốc Luật được đề nghị tặng Huân chương Quân công hạng Ba và tổ còn lại là Huân chương Chiến công hạng Nhất. Sau cấp trên tặng Tạ Quốc Luật Huân chương Chiến công hạng Nhất, tổ còn lại đều là Huân chương Chiến công hạng Hai. Thật ra, Tạ Quốc Luật chỉ riêng chuyện chỉ huy đánh thắng địch và chiếm được 507, 508, 509 đã xứng đáng được phong anh hùng".

        Một số nhân chứng viết bài hoặc cung cấp tư liệu cho người khác viết về việc bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri tuy thừa nhận vai trò chỉ huy tổ xung kích của đồng chí Tạ Quốc Luật, nhưng có nhiều chi tiết viết thêm vào, không đúng với sự thật lịch sử.

        Tiểu đoàn phó 154 - Ngô Trọng Bảo, trong bài viết "Giờ phút hấp hối của tập đoàn cứ điểm Điện biên Phủ”, đăng trên Tạp chí Xưa ít Nay, năm 1997, viết "Tôi trao đổi nhanh với anh Quải tình hình đã thuận lợi nhiều rồi, địch đang tan rã, nhiều cứ điểm đã kéo cờ trắng, tôi cho đơn vị Tạ Quốc Luật sang bắt Đờ Cát-xtơ-ri đây "Tôi trao nhiệm vụ mới cho đồng chí Tạ Quốc Luật trong tiếng đạn nổ xé tai của trận địa trọng liên 12,7 ly".

        Theo đồng chí Bảo viết, thì chính đồng chí Bảo là người ra lệnh cho đồng chí Tạ Quốc Luật vượt cầu Mường Thanh vào bắt tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Sự thực có phải như vậy không? Theo chúng tôi, có nhiều chứng cứ chứng tỏ đồng chí Bảo không phải là người ra lệnh cho Tạ Quốc Luật. Thứ nhất, đồng chí Bảo không phải là cấp trên trực tiếp của đồng chí Tạ Quốc Luật (đồng chí Bảo là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154. Đồng chí Tạ Quốc Luật là Đại đội trưởng Đại đội 360, Tiểu đoàn 130. Cấp trên trực tiếp của đồng chí Tạ Quốc Luật ở mặt trận tiền duyên lúc đó là Chính trị viên Tiểu đoàn 130 Trần Quải). Thứ hai, trong những lần gặp gỡ với chúng tôi cũng như trong các buổi họp mặt cựu chiến binh Trung đoàn 209, đồng chí Quải phủ nhận điều đồng chí Bảo viết trong bài báo kể trên. Thứ ba, tài liệu của đồng chí Tạ Quốc Luật viết từ năm 1984, nêu rõ: "12 giờ trưa ngày 7 tháng 5, đồng chí Kim Mỹ - Phó Chính ủy Trung đoàn, thay mặt Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 209 cùng đồng chí Trần Quải, Bí thư Tiểu đoàn ủy 130, xuống giao nhiệm vụ cho Đại đội 360: nhiệm vụ của Đại đội 360 thọc sâu vào Mường Thanh bắt sống toàn bộ Bộ Tham mưu của địch và tướng Đờ Cát-xtơ-ri". Không những thế, tập tài liệu dài 12 trang đánh máy, khổ giấy A4 này của đồng chí Tạ Quốc Luật, không có một dòng chừ nào nhắc tới đồng chí Ngô Trọng Bảo. Một điều cần lưu ý là đồng chí Luật viết tài liệu này từ năm 1984, lúc đó chưa xảy ra chuyện nhận công lao, thành tích, đơn thư khiếu nại như bây giờ.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:08:41 AM

        Trong bài “Ai là người ra lệnh cho Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật vượt cầu Mường Thanh bắt tướng Đờ Cát?", đăng trên báo Tin tức, các số 1549-1550-1551, tháng 4 năm 2004, tác giả Thao Lan viết: "Ngô Trọng Bảo trao đổi nhanh với Chính trị viên Trần Quải rồi lệnh cho Tạ Quốc Luật vượt cầu Mường Thanh". Chúng tôi đã tới Toà soạn báo Tin tức, gặp và trao đổi với nhà báo Thao Lan, tìm hiểu bài báo được viết dựa theo nguồn tư liệu nào. Tác giả Thao Lan cho biết là dựa vào lời kể của đồng chí Ngô Trọng Bảo. Như thế, việc tác giả Thao Lan viết giống như quan điểm của đồng chí Bảo là điều không có gì lạ.

        - Báo Tin tức, số 38 (299), ngày 22 tháng 9 năm 2004 có bài "Thêm một sự thật về việc bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri không ghi tên tác giả) . Sau mấy lời "phi lộ" của báo là ý kiên của ông Nguyễn Văn Thái, quê ở Trình Xá, Ngô Quyền, Tiên Lữ, Hưng Yên (về ý kiến này của ông Thái, từ tháng 6 năm 2004, Viện LSQS Việt Nam cũng đã nhận được một bản). Bài này có nhiều chỗ cần phải bàn. Thứ nhất, căn cứ vào đâu để tác giả bài báo khẳng định "Thêm một sự thật về việc bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri?". Vậy đâu là "không sự thật?". Thứ hai, điều ông Thái viết chưa được kiểm chứng và nhiều chỗ mâu thuẫn, không lôgíc. Cụ thể, theo ông Thái thì có "một tiểu đội tiến vào hầm Đờ Cát-xtơ-ri cùng Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật, chiến sĩ Nhỏ người Nghệ An mà tôi cho là có công nhất". Sự thực không phải là một tiểu đội mà là 5 người. Điều thiếu sức thuyết phục là ông Thái không nói rõ việc mình có mặt trong lúc bắt Đờ Cát-xtơ-ri hay không, nhưng lại biết được "chiến sĩ Nhỏ là người có công nhất", rồi “Đồng chí Nhỏ quay ra báo cáo và đưa đồng chí Tạ Quốc Luật đến nói tiếng Pháp và tướng Đờ Cát-xtơ-ri được giải ngay về Sở Chỉ huy tiểu đoàn gần nhất". Thứ ba, ngay bản thân lời "phi lộ" của bản báo cũng chưa chính xác vì lúc đó không phải chỉ có đồng chí Ngô Trọng Bảo là cán bộ tiểu đoàn duy nhất ở tiền duyên mà còn nhiều người khác nữa. Hơn nữa, tại mặt trận Điện Biên Phủ, vào thời điểm chiều 7 tháng 5, quan niệm thế nào là tiền duyên cũng còn phải bàn vì khu vực địch kiểm soát còn rất hẹp...

        Tờ Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng của báo Quân đội nhân dân, số 4-1999, có bài “Bắt sông tướng Đờ Cát-xtơ-ri ở Điện Biên Phủ” của Nguyễn Văn Trường, ghi theo lời kể của đồng chí Nguyễn Nghĩa Khoa (huyện Diễn Châu, Nghệ An) lại nói rằng: Đồng chí Khoa là một trong những người bắt tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Theo đồng chí Khoa thì đồng chí Nguyễn Văn Lam, quê ở Hưng Nguyên - Nghệ An, (người được xác định là thành viên tổ 5 người bắt Đờ Cát-xtơ-ri) là Tiểu đội trưởng, đã hy sinh khi vượt sông Nậm Rộm. Đồng chí Khoa và Tiểu đội phó, thay thế vị trí chỉ huy của đồng chí Lam. Những điều đồng chí Khoa nói, chúng tôi chưa có cơ sở kiến chứng, nên vẫn căn cứ vào Thư của đồng chí Luật báo cáo với Bác Hồ là trong tổ 5 người đó có đồng chí Lam.

        Tóm lại, có thể thấy, xung quanh việc bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ ri và Bộ Tham mưu GONO, hiện có nhiều nhân chứng cung cấp các nguồn thông tin khác nhau, khác với các sách lịch sử đã viết.

        Theo chúng tôi, căn cứ vào các tài liệu, dựa theo các nhân chứng và căn cứ vào thực tế diễn biến lúc đó thì:

        - Trực tiếp tham gia bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Chỉ huy GONO gồm 5 đồng chí Tạ Quốc Luật, Nguyễn Văn Lam, Hoàng Đăng Vinh, Bùi Văn Nhỏ, Đào Văn Hiếu, do Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật chỉ huy.

        - Đờ Cát-xtơ ri cùng toàn bộ Ban Tham mưu tập đoàn cứ điểm bị bắt tại hầm chỉ huy chứ không phải ở bờ sông Nậm Rốm.

        - Trường hợp đồng chí Khoa, sẽ xác minh đối chiếu sau...

        - Báo cáo của Đại tướng Tổng Tư lệnh tại Hội đồng Chính phủ trong tập Điện Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004, tr. 808 ghi: "5 giờ lệnh giới nghiêm được ban hành, các đơn vị bộ đội ta chiếm lĩnh Mường Thanh theo từng khu vực đã định từ trước". Theo đó khu vực hầm chỉ huy GONO thuộc quyền kiểm soát của Đại đoàn 308, các đơn vị của Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 không có nhiệm vụ và không được vào hầm chỉ huy GONO. Đó là kỷ luật chiến trường. Việc một số đồng chí ở Trung đoàn 209 nói rằng đêm 7 tháng 5 họ còn vào hầm Chỉ huy GONO có thể là không chính xác.

        Tháng 9 năm 2004 vừa qua, Viện LSQS Việt Nam nhận được công văn số 933 của Bộ CHQS tỉnh Hà Tĩnh, về việc xác định đơn thư của ông Nguyễn Thừa Hà (thôn 12, xã Cẩm Thăng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh), nói ông Hà là người tham gia bắt Đờ Cát-xtơ-ri. Ngày 6 tháng 10 năm 2004, chúng tôi đã về xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, gặp và trao đôi với ông Nguyễn Thừa Hà. Cùng dự có các đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Cẩm Thăng; Thượng tá Nguyễn Trọng Thắng - Trưởng ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Bộ CHQS Hà Tĩnh và một đồng chí cán bộ Ban CHQS huyện Cẩm Xuyên. Qua trao đổi, chúng tôi nêu lên những điều không hợp lý trong đơn thư của ông Hà, khẳng định ông Hà không tham gia bắt tướng Đờ Cát-xtơ-ri cùng Ban tham mưu GONO. Kết thúc cuộc gặp, ông Hà thừa nhận: “Các chú khẳng định như vậy thì tôi không có thắc mắc gì nữa".


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:09:22 AM

        Về vấn đề cứu pháo

        Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 là một trong những đơn vị tham gia kéo pháo vào, kéo pháo ra (do ta thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc") và đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Nhiều cuốn lịch sử đã ghi lại khá chi tiết các chiến công đó. Cuốn Lịch sử Đại đoàn bộ binh 312, Nxb QĐND, Hà Nội, 2000, ghi: "Tiểu đoàn 130 đưa được 5 khẩu pháo vượt dốc an toàn" (tr. 144); "ngày 5-2-1954, Đại đoàn hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo ra ki-lô-mét 70 đường Tuần Giáo. Trong thời gian kéo pháo, riêng Trung đoàn 141 có 29 đồng chí hy sinh, 106 đồng chí bị thương. Đại đội 366, Trung đoàn 209; Đại đội 143, Trung đoàn 141 được Bộ Tư lệnh tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba" (tr. 145). Cuốn Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997), Nxb QĐND, Hà Nội, 1997, viết: "Chiều ngày 5 tháng 2, khẩu pháo cuối cùng trong số 15 khẩu pháo được Trung đoàn kéo ra vị trí tập kết an toàn ở cây số 70 đường Tuần Giáo. Trong đợt kéo pháo ra, Trung đoàn có 25 đồng chí hy sinh, 96 đồng chí bị thương" (tr. 199).

        47 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại, ông Ngô Trọng Bảo viết bài Cứu pháo, kể về chiến công của mình, đăng trên Nguyệt san Sự kiện & Nhân chứng, số 89, tháng 5 năm 2001. Bài báo có đoạn: "Nguy hiểm, mệt nhọc, nhưng anh em trong đơn vị vẫn phấn khởi với nhiệm vụ được trao thêm khi thấy Chính ủy Trung đoàn Trần Quân Lập cũng đã ròng rã mấy đêm liền có mặt ở các điểm nút quan trọng. Cả đơn vị đang xúm vào 4 đoạn dây thả pháo từ từ xuống dốc, vừa thả vừa chèn thì bất chợt có một loạt đạn pháo xoèn xoẹt bay tới, tiếng nổ chát chúa, mảnh đạn văng tứ tung, có một số anh em bị đất cát vùi nhưng không ai việc gì. Giữa lúc đạn nổ, cảm nhận sự nguy hiểm đã đến, tôi (Ngô Trọng Bảo) hô lớn: Chèn pháo! Loạt đạn thứ 2 lại nổ gần hơn trước và chỉ có 4 tiếng nổ (của 1 C pháo địch). Lần này khẩu pháo bị chồm lên rồi đè bên hòn chèn và lao xuống dốc vòng vèo. Anh em vội căng dây giữ lại, nhưng trước sức mạnh đang có đà của khối thép 2 tấn ấy làm sao có sức kìm lại được? Bỗng dây tời đứt khẩu pháo lao vun vút, nhiều chiến sĩ ngã vắt ngang sợi dây căng thẳng. Tôi thấy nguy cơ pháo lăn xuống vực mất, mà mất một khẩu pháo lúc này là thiệt hại lớn lắm nên đã vội lao ra nắm lấy một đầu dây bên càng trái và chạy theo pháo một đoạn ngắn rồi nhanh chóng chạy vòng lại quanh một gốc cây nhỏ bên lề đường sát bờ vực, quấn thêm 2 vòng nữa rồi ngồi thụp xuống, chân đạp mạnh vào gốc cây, 2 tay vẫn giữ đầu dây. Một tiếng "rầm" thật mạnh, gốc cây uốn cong rồi bật cả rễ. Khẩu pháo đang lao bị mất đà đột ngột quay ngang, nòng pháo húc vào vách đồi tạo một hố sâu hoắm rồi dừng hẳn".

        Trong dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, trong bài "Ông già sửa xe đạp cô đơn và những trận đánh cuối cùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ", đăng trên báo An ninh thế giới cuối tháng, số 31, tháng 2 năm 2004, thì vấn đề cứu pháo của đồng chí Ngô Trọng Bảo, dưới ngòi bút của Dương Thục Anh, viết theo lời kể của đồng chí Bảo, đã được "nâng cấp" thêm. Bài báo viết "Ngô Trọng Bảo chính là nhân vật thứ 2 sau anh hùng Tô Vĩnh Diện đã lấy thân mình cứu khẩu trọng pháo bị đứt dây kéo đang trên đà lăn xuống vực. Để cứu pháo, anh hùng Tô Vĩnh Diện đã lấy thân mình chèn pháo, cản sức lăn của pháo làm cho pháo chững lại. Còn trường hợp của Ngô Trọng Bảo, thì khẩu pháo bị đứt một bên dây và từ đỉnh đồi lao xuống vực. Mất thăng bằng, một số anh em bị ngã bổ chửng phía sau. Bằng sức trẻ của một thanh niên 25 tuổi, nhanh như cắt lao chạy theo khẩu pháo và túm được một đoạn dây còn lại, và Ngô Trọng Bảo đã quàng dây 2-3 vòng vào thân cây ngang bên vệ đường và ghì chặt 2 chân vào thân cây. Pháo đang trên đà lao xuống dốc bị chững lại lôi bật cả gốc cây, pháo quay ngang húc nòng vào sườn đồi dừng hẳn. Hơn 100 người lính kéo pháo đã bình tĩnh gỡ được khẩu trọng pháo và kéo ra trận địa an toàn".

        Vấn đề cứu pháo của đồng chí Ngô Trọng Bảo, như hai bài báo trên miêu tả, là một chi tiết mới, chưa có trong các sách lịch sử. Đọc hai bài báo trên, độc giả hẳn cho rằng, đồng chí Ngô Trọng Bảo không những có tinh thần dũng cảm như anh hùng Tô Vĩnh Diện mà còn tài trí hơn cả Tô Vĩnh Diện. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ, chúng tôi thấy không có cơ sở khoa học và thực tế. Đó cũng là cảm nhận của nhiều người, nhất là các đồng chí cựu chiến binh Trung đoàn 209, và là một trong những lý do để các đồng chí Đại tá Trần Quân Lập, Đại tá Nguyễn Hữu Tài, Đại tá Nguyễn Duy Hàn đến toà soạn báo An binh thế giới cuối tháng, gặp tác giả yêu cầu cải chính, nhưng tác giả không chấp nhận.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:09:41 AM

        Có thể nêu ra những dẫn dụ về sự bất hợp lý của các chi tiết cứu pháo như sau: "Khẩu pháo bị chồm lên rồi đè lên hòn chèn và lao xuống dốc vòng vèo", hơn 100 người kéo pháo đã bất lực, "dây tời đứt, khẩu pháo lao vun vút”, thế mà đồng chí Bảo lại có thể "lao ra nắm lấy một đầu dây bên càng trái và chạy theo pháo một đoạn và nhanh chóng vòng lại quanh gốc cây nhỏ bên lề đường, sát bờ vực...", và do vậy, đã cứu được pháo.

        Chúng tôi đã trực tiếp gặp và trao đổi với đồng chí Bảo để tìm hiểu thêm, nhưng những câu trả lời của đồng chí Bảo đều chung chung, không cụ thể. Khi chúng tôi hỏi trong số những người chứng kiến việc cứu pháo của đồng chí Bảo, hiện có ai còn sống để làm chứng không, đồng chí Bảo trả lời là không còn nhớ ai nữa. Thế nhưng, trong bài Cứu pháo, đồng chí Bảo cho biết có mặt Chính ủy Trung đoàn Trần Quân Lập. Chúng tôi hiểu lý do tại sao đồng chí Bảo không đưa đồng chí Trần Quân Lập làm ra chứng, bởi vì hiện đồng chí Lập là một trong những cựu chiến binh của Trung đoàn 209 cực lực phản đối việc nói đồng chí Bảo là người cứu pháo.

        Cứu được một khẩu pháo ở Điện Biên Phủ trong thời điểm năm 1954 là một chiến công lớn, cho dù là của một cá nhân, nhưng cá nhân đó ở trong một tập thể, bởi vậy, (nếu có) được coi là chiến công chung của đơn vị. Ấy thế mà Ban chỉ huy Tiểu đoàn 130 và Trung đoàn 209 đều không biết, cả 100 người khéo pháo hôm đó lại im lặng trước chiến công cứu pháo. Quả là điều khó giải thích. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 209, thời Điện Biên Phủ, hiện ở Hà Nội và các tỉnh lân cận còn khá nhiều. Cấp trung đoàn có Chính ủy Trần Quân Lập, Chủ nhiệm chính trị Nguyễn Hữu Tài, Tham mưu phó Nguyễn Duy Hàn, Trưởng Tiểu ban tác chiến Bùi Đắc. Tiểu đoàn 154 có Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Năng, Chính trị viên Phan Xuân Phồn, Chính trị viên phó Phạm Dũng. Tiểu đoàn 130 có Chính trị viên Trần Quải, Cán sự chính trị Mai Đức Toại, Chính trị viên Đại đội 363 Trần Thẩm và đồng chí Hoàng Đăng Vinh. Tiểu đoàn 166 có Đại đội trưởng đại đội trợ chiến Lê Phương, cán bộ tác chiến Nguyễn Hồng quân v.v.. Những đồng chí này đều không làm chứng cho hành động cứu pháo của đồng chí Bảo.

        Về thời gian cứu pháo, cũng có nhiều điều mâu thuẫn. Đồng chí Bảo viết: "Ngày hôm sau tôi (Ngô Trọng Bảo) được tuyên dương và được thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba". Theo đồng chí Bảo cung cấp, chúng tôi thấy đồng chí Bảo có Giấy chứng nhận đeo 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, số 714, ngày 10 tháng 2 năm 1954 và 948, ngày 20 tháng 3 năm 1954. Giấy chứng nhận đeo Huân chương, không viết rõ do thành tích cụ thể nào, nên việc xác định đó có phải do thành tích cứu pháo hay trong đợt kéo pháo hoặc thành tích khác là điều rất khó xác định. Đối chiếu giữa bài Cứu pháo với Giấy chứng nhận đeo Huân chương, có thể xác định được việc cứu pháo diễn ra vào ngày 9 tháng 2 năm 1954. Nhưng theo sách Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312 và Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997), thì việc kéo pháo của đơn vị đã hoàn tất vào ngày 5 tháng 2 năm 1954. Và như vậy, thời gian cứu pháo (nếu có) phải trước ngày 5 tháng 2 năm 1954. Vậy nên, việc đồng chí Bảo viết một ngày sau chiến công cứu pháo, đồng chí được tuyên dương và thưởng Huân chương, liệu có đúng hay không? Về vấn đề này, chúng tôi xin không bàn về chi tiết hành động cứu pháo của đồng chí Bảo, vì lời kể của đồng chí Bảo về việc cứu pháo qua 2 bài báo là không thống nhất có nhiều mâu thuẫn thiếu sức thuyết phục đến độ vô lý.

        Tóm lại, qua các sách lịch sử, bài viết của đồng chí Bảo, của Dương Thục Anh, và tiếp xúc trao đổi với đồng chí Bảo, chúng tôi thấy:

        - Trung đoàn 209, trong đó có đại đội của đồng chí Bảo và bản thân đồng chí Bảo có tham gia vào việc kéo pháo vào và kéo pháo ra trong chiến dịch Điện Biên Phủ và đã lập được chiến công xuất sắc. Các chiến công đó, các sách Lịch sử Đại đoàn bộ binh 312, Lịch sử Trung đoàn 209 đã viết rõ.

        - Việc đồng chí Bảo viết và cung cấp tư liệu cho Dương Thục Anh viết, về vấn đề đồng chí Bảo cứu được một khẩu pháo trong đợt kéo pháo ra do việc ta thay đổi phương châm tác chiến, là một chi tiết mới. Tuy nhiên, chi tiết này lại không đáng tin cậy. Hơn thế, nếu các cựu chiến binh ở Điện Biên Phủ và các nhà nghiên cứu không có ý kiến phản bác thì vô hình chung, chúng ta đã công nhận một sự kiện rất thú vị và sáng tạo của một nhân vật chỉ huy tài trí, có sức mạnh vô song. Vì thế, những người viết bài này rất mong nhận được ý kiến của bạn đọc về "vấn đề cứu pháo" của đồng chí Bảo, ngõ hầu soi rọi sự thực lịch sử đã diễn ra cách đây nửa thế kỷ.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:10:10 AM

        Về trận Him Lam

        Trận tiến công Him Lam (13-3-1954) là một trận đánh lớn của Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 165), do Bộ tư lệnh Đại đoàn 312 chỉ huy, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, nhằm tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam - một trong những trung tâm đề kháng ngoại vi kiên cố nhất trên hướng Đông Bắc của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Him Lam gồm 3 cứ điểm do một tiểu đoàn Lê dương và một đại đội lính ngụy người Thái chiếm giữ. Trận đánh diễn ra ác liệt từ 17 giờ đến 20 giờ 30 phút ngày 13 tháng 3 năm 1954 với sự phối hợp chặt chẽ của pháo binh và bộ binh. Quân ta lần lượt đánh chiếm 3 cứ điểm, diệt và bắt hơn 400 tên địch, góp phần phá vỡ tuyên phòng thủ ngoại vi của địch, tạo thế bước đầu cho chiến dịch phát triển.

        Vào thời điểm diễn ra trận đánh này, đồng chí Bảo mới là Đại đội trưởng đại đội trợ chiến, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209. Nhưng, theo lời kể của dông chí Bảo và dưới ngòi bút của Dương Thục Anh trong bài “Ông già sửa xe đạp cô đơn và những bí mật của trận đánh cuối cùng trong chiến dịch điện Biên Phủ, báo An ninh thế giới cuối tháng", số 31, tháng 2 năm 2004, đồng chỉ Bảo trở thành người chỉ huy trận đánh Him Lam. Bài báo có đoạn viết: "ông (tức Ngô Trọng Bảo) chính là người chỉ huy trận đánh Him Lam mở màn chiến dịch với thắng lợi giòn giã". Dương Thục Anh viết như vậy theo chúng tôi, là do tin vào lời kể của đồng chí Bảo, không có tư liệu lịch sử chính xác để kiểm chứng, không biết rõ về trận Him Lam. Thực ra, về trận Him Lam, các sách lịch sử dã viết rất nhiều và khá đầy đủ. Riêng chi tiết Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng Lê Trọng Tấn) là người chỉ huy trực tiếp trận đánh đó, thì đã có quá nhiều người biết.

        Việc Dương Thục Anh viết đồng chí Bảo là người chỉ huy trận Him Lam đã gây phản ứng gay gắt đối với người đọc, nhất là cựu chiến binh Trung đoàn 209. Vì thế, trong bài “Đi tìm sự thật lịch sử" đăng trên báo An ninh thế giới cuối tháng, số 32, tháng 3 năm 2004, tác giả bài báo trên đã "xin đính chính lại chi tiết ông Ngô Trọng Bảo là người tham gia trận đánh Him Lam với tư cách là đại đội trợ chiến chứ không phải chỉ huy như bài báo đã nêu. Chúng tôi (tức Dương Thục Anh) thành thật xin lỗi quý độc giả và các cựu chiến binh Điện Biên Phủ về sai sót đáng tiếc này".

        Về vấn đề đồng chí Bảo là người tham gia trận Him Lam, với vị trí như thế nào, thiết nghĩ đã rõ. Điều chúng tôi muốn nói là, nếu như không có ý kiến phản ứng của các đồng chí cựu chiến binh Trung đoàn 209 một cách kịp thời thì tác giả bài báo chắc gì đã đính chính chi tiết trên. Nếu để lâu ngày, không có ý kiến phản bác sẽ làm cho người đọc hoài nghi, người viết khác lại dựa vào cái sai đó (do không biết là sai) viết tiếp tạo sự sai lệch kiểu dây chuyền. Chúng tôi đã trực tiếp hỏi đồng chí Bảo về vấn đề này, đồng chí Bảo cho biết, do tác giả bài báo đưa bản thảo đến gần sát với thời gian đưa đi in nên đồng chí không thể đọc kỹ hết các chi tiết, kể cả một số chi tiết của bài "Ông già cô đơn...".

        Thiết nghĩ, khi viết về các vấn đề lịch sử, những người viết nên thật cẩn trọng, có kiến thức lịch sử, tôn trọng tư liệu nhân chứng, song cần kiểm chứng, đối chiếu. Người viết cần có chính kiến, bởi tư liệu nhân chứng cung cấp do thời gian, sự kiện diễn ra đã lâu, nên độ chính xác nhiều khi không cao. Có như vậy, mới có thể tránh được những sai sót không đáng có gây bất bình cho người đọc...


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:10:40 AM

        Lời kết

        50 năm qua, kể từ khi trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, đến nay đã có hàng nghìn công trình, sách, bài viết của các nhà chính trị, quân sự, các vị tướng lĩnh, học giả, nhà nghiên cứu v.v.. trong và ngoài nước viết về sự kiện "chấn động địa cầu” này, theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở trong nước, bên cạnh các công trình, bộ sách lịch sử mang tính chính thống, còn có các tập ký sự lịch sử, hồi ký, các bài viết của nhân chứng đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các báo...

        Lịch sử Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược gắn liền với chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại. Đó là niềm tự hào không chỉ của riêng cựu chiến binh, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn này mà còn của quân đội, của toàn Đảng, toàn dân ta. Việc các cựu chiến binh Trung đoàn 209 viết hồi ký, cung cấp tư liệu, tái tạo góp Phần làm đầy đủ hơn trang sử hào hùng của đơn vị là điều rất cần thiết, nhiều bổ ích. Đó là nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quý giá. Xử lý các nguồn tư liệu nhân chứng, tìm giá trị đích thực của nó là trách nhiệm thuộc về các cơ quan chuyên môn, những người làm công tác nghiên cứu lịch sử. Ý thức đầy đủ điều đó nên sau khi có đơn thư của các cựu chiến binh Trung đoàn 209 (đáng chú ý là của các đồng chí Ngô Trọng Bảo, Sơn Hà, Trần Quân Lập, Nguyễn Hữu Tài, Nguyễn Duy Hàn) gửi tới nhiều cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng, trong đó có Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, chúng tôi đã tập trung nhiều thời gian, công sức nghiên cứu, đối chiếu, thẩm định tư liệu, sự kiện và gặp gỡ nhân chứng v.v.. Trên từng vấn đề, chúng tôi đã có cố gắng, thận trọng phân tích, đánh giá. Có thể thấy các bài báo của đồng chí Bảo và các bài viết liên quan tới đồng chí Bảo có phần đúng, nhưng cũng còn có nhiều sai lệch. Nếu căn cứ vào các bài viết mà chúng tôi đã dẫn trên, xâu chuỗi lại, thấy nổi lên các "chiến công" của đồng chí Bảo như sau:

        - Chỉ huy trận Him Lam, mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ, chỉ huy trận đánh cuối cùng (cứ điểm 507, 508, 509) trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

        - Người thứ hai, sau Anh hùng Tô Vĩnh Diện, cứu được một thẩu pháo ở mặt trận Điện Biên Phủ.

        - Ra lệnh cho đồng chí Tạ Quốc Luật chỉ huy đơn vi vượt cầu Mường Thanh, bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và toàn bộ Ban tham mưu GONO.

        Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy không có đủ căn cứ khoa học và thực tiễn để xác định những "chiến công" trên là có thật 100%, có chăng chỉ là một phần nhỏ.

        Trên tinh thần tôn trọng đối với nhân chứng lịch sử, Viện LSQSVN, sau khi tổ chức nghiên cứu thẩm định, ngày 8 tháng 7 năm 2004, đã tổ chức một buổi toạ đàm, mời các đồng chí có đơn thư và liên quan, đại diện các cơ quan hữu quan đến dự. Nhưng đáng tiếc, cả phía các đồng chí Bảo, Sơn Hà và phía các đồng chí Lập, Tài, Hàn không hoàn toàn thống nhất với những ý kiến của Viện LSQSVN đưa ra. Hai đồng chí Bảo và Sơn Hà vẫn giữ ý kiến như đã nêu trong đơn thư. Theo đồng chí Bảo: "Lịch sử về giờ chót của chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn còn có chỗ nhầm lẫn lớn về trận đánh cuối cùng trong đợt tổng công kích bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ tham mưu địch", "nguyên nhân sâu xa của sự nhầm lẫn lịch sử này phải chăng là do 3 nỗi "hận" của Trung đoàn 209 từ Bản Vậy (Nà Sản, 1952) rồi cao điểm D2 đêm 30 tháng 4 năm 1954 đến cứ điểm 507 đêm 6 tháng 5 năm 1954, đã làm cho người chỉ huy Trung đoàn bị ám ảnh vì "cay cú” mà phủ nhận công tích của Tiểu đoàn 154 để bù đắp cho Tiểu đoàn 130", "sau khi chiến dịch kết thúc, Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn 209 đã phạm sai lầm là tính toán, sắp đặt một kế hoạch báo cáo quân sự bằng những tình huống giả tạo trong đợt Tổng công kích tập trung trong cuốn hồi ức Chặng đường mười ngàn ngày của nguyên Trung đoàn trưởng 209, Thượng tướng Hoàng Cầm - TG) biến sự kiện lịch sử và chiến công này thành một thứ hàng hoá bao cấp nằm trong tay một vài người có chức có quyền để tùy tiện ban phát thiếu công bằng, phục vụ yêu cầu chính trị cục bộ của Trung đoàn là "rửa hận", gây sự dối trá, kéo theo một số người thiếu cảnh giác cùng đứng ra bảo vệ sự dối trá ấy, tiến hành bịt đầu mối và vô hiệu hoá "người trong cuộc", tạo ra một không khí lộn xộn mất đoàn kết trong nội bộ cựu chiến binh, đồng thời lừa dối cấp trên, lừa dối công luận suốt 50 năm qua" (trích đơn thư của đồng chí Ngô Trọng Bảo gửi Viện LSQSVN, gửi đông chí Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy quân sự Trung ương, Uỷ ban kiểm tra Đảng ủy quân sự Trung ương, ngày 27 tháng 3 năm 2004).

        Treo chúng tôi, những điều đồng chí Bảo viết như trên là không đúng, bởi lẽ cuốn Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997) Nxb QĐND, Hà Nội, 1997, do một tập thể tác giả biên soạn, dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn 209 (thời điểm 1997), Ban chỉ huy Trung đoàn thời kỳ điện Biến Phủ chắc chắn có vai trò nhất định trong việc cung cấp tư liệu sự kiện cho việc biên soạn. Những báo cáo tổng kết của Ban chỉ huy Trung đoàn trong chiến dịch Điện Biên Phủ và những điều cựu chiến binh kể lại được Đảng ủy, Ban chỉ huy Trung đoàn 209 (năm 1997), tập thể viết cuốn Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997) tôn trọng, nghiên cứu cân nhắc thận trọng, đưa vào lịch sử những nội dung, sự kiện có cơ sở khoa học. Nếu cuốn sử trên còn có chỗ nào hạn chế, thiếu sót, thì đó thuộc về trình độ nghiên cứu, hoàn toàn không do mục tiêu "lừa dối công luận" như đồng chí Bảo phản ánh.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:34:53 AM
           
MỘT SỐ Ý KIẾN LIÊN QUAN ĐẾN TRUNG ĐOÀN 209 TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ 19541

TRẦN QUÂN LẬP - NGUYỄN HỮU TÀI       

        Nhân đọc loạt bài về "Một số vấn đề liên quan đến Trung đoàn 209 trong chiến dịch Điện Biên Phủ” của các tác giả Trần Văn Thức và Nguyễn Mạnh Hà đăng trong chuyên mục Sửa lại cho đúng - Bàn thêm cho rõ của Tạp chí Lịch sử quân sự (từ số 153, tháng 9-2004 đến số 157, tháng 1-2005), chúng tôi rất hoan nghênh tinh thần trách nhiệm cao trước lịch sử của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Để làm rõ thêm bối cảnh trận đánh cuối cùng ở Mường Thanh, chúng tôi xin cung cấp một số tư liệu và có một số ý kiến sau:

        1. Về sử dụng lực lượng của Trung đoàn 209.

        Bướt vào đợt 3 chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 209 có nhiệm vụ tiêu diệt các cứ điểm 505, 505A (Dominique 3), cửa ngõ vào tung thâm Mường Thanh. Trung đoàn đã sử dụng Tiểu đoàn 166 đánh Cứ điểm 505, tiểu đoàn 154 đánh Cứ điểm 505A. Cả hai vị trí này đều bị tiêu diệt đêm 1 tháng 5 năm 1954.

        Tiếp đó, Trung đoàn nhận nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm 507 cùng một lúc với các Trung đoàn 174 đánh A1 (Eliane 2), Trung đoàn 98 đánh C2 (Eliane 4), Trung đoàn 165 đánh Cứ điểm 506, Trung đoàn 102 đánh 311 (Huguette F). Thời gian nổ súng, thống nhất lấy hiệu lệnh là tiếng nổ của khối bộc phá gần 1.000 kg trên đồi A1 (20 giờ 30 đêm 6-5-1954).

        Trung đoàn đã sử dụng Tiểu đoàn 130 đánh Cứ điểm 507 (Eliane 10) nằm ngang giữa đường 41 đến bờ sông Nậm Rốm, ngăn chặn đường tiến công qua cầu sang Mường Thanh. Tiểu đoàn đã sử dụng Đại đội 363 đột phá, song vấp phải hàng rào bùng nhùng địch mới trải đêm 6 tháng 5 mà ta không phát hiện được. Bộc phá không cắt đứt được hàng rào bùng nhùng nên đội hình tiến công của ta bị ùn tắc. Trước hoả lực trung, đại liên dày đặc của địch (23 khẩu), Đại đội 363 bị thương vong, mất sức chiến đấu; Tiểu đoàn điều thê đội 2 (Đại đội 366) lên thay, đánh chiếm được một số đoạn giao thông hào, song Đại đội trưởng và Đại đội phó 366 đều bị thương. Trung đội trưởng Trần Can lên thay cũng bị hy sinh, buộc phải ngừng tiến công. Trước tình hình không có lợi, Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn củng cố trận địa dã chiến đề phòng địch phản kích khi trời sáng, bám sát trận địa, chấn chỉnh bộ đội chờ lệnh tiếp tục tiến công.

        Ngay sau đó, Đảng ủy Trung đoàn họp và nhất trí kết luận: Nguyên nhân của việc không tiêu diệt được Cứ điểm 507 là do ta không bám sát địch, tổ chức hoả lực tấn công rời rạc, không kiềm chế được hoả lực địch. Mặt khác, trong khi địch liên tục tăng cường chi viện phòng ngự thì quyết tâm của Trung đoàn là điều động lực lượng dự bị, tiếp tục tiến công đánh ban ngày. Điều này không phải do "cay cú” mà xuất phát từ tương quan lực lượng địch - ta lúc đó. Ta đã lần lượt chiếm được các cứ điểm A1, C2, 506, địch phản kích nhiều đợt, máy bay trút bom ồ ạt cũng không cứu vãn nổi. Nếu đánh ban ngày, có điều kiện quan sát tốt, ta sẽ không vướng phải những tình huống "bất ngờ" như đã xảy ra đêm 6 tháng 5.

        Quyết tâm này lúc đầu chưa được thông qua. Ý định của trên là chờ lệnh tổng công kích, cũng ở hướng ấy, tiến công một thể.

        Chúng tôi tiếp tục trao đổi, nhất trí đề nghị cho đánh ban ngày vì lực lượng của Trung đoàn vẫn còn đủ sức. Tình hình địch đã thay đổi. Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn, sau khi xin ý kiến của Tư lệnh chiến dịch, đã chuẩn y quyết tâm của Trung đoàn, ấn định giờ nổ súng là 14 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1954, chi viện hoả lực - 5 khẩu pháo.

        Trung đoàn đã điều động Đại đội 360 (đêm 6 tháng 5 là đơn vị dự bị cho Trung đoàn 165 đánh Cứ điểm 506) trở lại đội hình Tiểu đoàn 130 làm chủ công đánh Cứ điểm 507. Đồng chi Kim Mỹ - Phó Chính ủy trực tiếp xuống động viên, giao nhiệm vụ. Tiểu đoàn 154 sử dụng Đại đội 520, bố trí phòng ngự ở 505A, mở một mũi tấn công hỗ trợ (nơi tiếp giáp giữa 506-507).

        Kết quả như ta đã rõ, Cứ điểm 507 đã bị tiêu diệt nhanh gọn; sĩ quan, binh linh địch lũ lượt ra hàng. Cùng lúc đó, dọc sông Nậm Rốm xuất hiện nhiều cờ trắng, thời cơ lớn đã đến.

        Một mặt, Trung đoàn báo cáo lên Đại đoàn, mặt khác lệnh cho các tiểu đoàn 130, 154 đánh thốc lên các cứ điểm 508, 509, có điều kiện vượt sông Nậm Rốm đánh thẳng vào Chỉ huy sở Tập đoàn cứ điểm.

        Do vậy nên khi có lệnh tổng công kích vào trung tâng Mường Thanh (15 giờ ngày 7-5) thì các đơn vị của Trung đoàn 209 đang ở tư thế tiến công, có nhiều thuận lợi hơn các đơn vị khác, đã tiến vào trước hầm Đờ Cát-xtơ-ri).

------------------
        1. (Tạp Chí LSQS số 5-2005)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:36:36 AM

        2. Nói thêm về sự kiện bắt sông tướng Đờ Cát-xtơ-ri

        Đại đội 360 - đơn vị đã đánh chiếm 507-509 vượt qua cầu Mường Thanh bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và toàn bộ Bộ Tham mưu Tập đoàn cứ điểm, là một đại đội có truyền thống bẻ gãy gọng kìm sông Lô năm 1947, lập nhiều chiến công trong nhiều chiến dịch lớn, song tâm tư vẫn không thoải mái vì sắp xếp thứ hạng trong đội hình của Tiểu đoàn, Đại đội 360 vẫn đứng sau các đại đội 366 và 363, chưa lần nào được giữ vai trò chủ công trong các trận đánh lớn. Lần này được Trung đoàn trao nhiệm vụ chính nên cán bộ, chiến sĩ rất phấn khởi, quyết tâm cao, mặc dầu một bộ phận bị bom vùi đất sáng 6 tháng 5. Đại dội trưởng Tạ Quốc Luật hứa: "Không thắng trận, không về gặp Trung đoàn", ý chí kiên cường cộng với tài chỉ huy linh hoạt của Tạ Quốc Luật đã được thể hiện trong việc ra lệnh cho Trung đội Chu Bá Thệ vượt cầu phao tại Cứ điểm 509 (Eliane 12) sang phía hữu ngạn sông Nậm Rốm để chia cắt các lực lượng địch với chỉ huy trung tâm. Việc tổ chức chỉ huy đánh chiếm cầu sắt Mường Thanh trong điều kiện khẩu pháo trọng liên 4 nòng vẫn liên tục nhả đạn, việc bắt tù binh dẫn đường đến hầm Đờ Cát-xtơ-ri và đặc biệt việc xử trí tình huống trong hầm Đờ Cát-xtơ-ri, vừa có tính chất quân sự, đúng luật, vừa có tính chất chính trị, chấp hành tốt chính sách tù - hàng binh của ta. Việc Đảng và Chính phủ ta truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 15 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân cho Tạ Quốc Luật đã danh giá đúng công lao, thành tích của cá nhân đồng chí đó nhưng đồng thời cũng khẳng định một sự thật lịch sử cách đây 50 năm của Trung đoàn 209.

        3. Về nguyên nhân của cái gọi là "nhầm lẫn lịch sử"

        Trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, có một loạt bài báo nêu những sự kiện trái ngược với các văn kiện, tài liệu đã công bố trước đó liên quan đến Trung đoàn 209 trong trận đánh cuối cùng vào trung tâm Mường Thanh. Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 Ngô Trọng Bảo cho rằng nguyên nhân sâu xa của sự nhầm lẫn lịch sử phải chăng là do ba nỗi "hận" của Trung đoàn 209 từ Bản Vậy (Nà Sản, 1952), rồi Cao điểm D2 đêm 30 tháng 3 năm 1954 đến Cứ điểm 507 đêm 6 tháng 5 năm 1954, đã làm cho người chỉ huy Trung đoàn bị ám ảnh vì cay cú mà phủ nhận công tích của Tiểu đoàn 154 để bù đắp cho Tiểu đoàn 130?

        Vậy chúng tôi xin phân tích về ba nỗi “hận”.

        - Trận Bản Vậy là trận đánh của toàn Trung đoàn ngày 1 tháng 12 năm 1952. Đây là một cao điểm nằm trong tập đoàn cứ điểm Nà Sản (Mai Sơn - Sơn La) mà quân Pháp vội vã thiết lập, tập trung các đội quân bị đánh đuổi trên mặt trận Tây Bắc co cụm lại. Quân ta chưa có kinh nghiệm đánh tập đoàn cứ điểm, trình độ trang bị, nhất là về hoả lực tầm xa còn rất thấp. Các đơn vị bạn đánh Nà Xi, Pú Hồng cũng không thành công. Trận đánh này đã cho ta kinh nghiệm xương máu để đi tới thành công trong trận đánh Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ năm 1954. Đây là nỗi "hận” của toàn quân đã được trả, chứ không riêng gì Trung đoàn 209.

        - Trận đánh Cao điểm D2 của Tiểu đoàn 130 (đêm 30-3-1954) không dứt điểm, sáng 31 tháng 3, địch ở D2 rút chạy về Mường Thanh. Đó là khuyết điểm của Tiểu đoàn 130, cần phải phê phán. Song trước đó, ngày 13 tháng 3 năm 1954, Tiểu đoàn 130 là mũi chủ công tiến công mỏm 3 trong cụm Him Lam, đã đánh nhanh chóng, diệt gọn trong vòng 1 giờ. Duyên cớ gì mà chỉ huy Trung đoàn phải “hận”, lấy “tiếng" của 154 bù đắp cho 130?

        - Còn về trận đánh Cứ điểm 501 thì như trên chúng tôi đã trình bày, có một sơ suất là trong cuốn Lịch sử của Trung đoàn 209 không ghi mũi tiến công phối hợp của Trung đội Lê Chí Duyên (Đại đội 520 - Tiểu đoàn 154) đánh Cứ điểm 507. Sự việc đó cần được bổ sung khi tái bản.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:37:36 AM
       
MẤY Ý KIẾN VỀ CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH QUÂN SỰ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP1

TRẦN VĂN THỨC         

        1. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), cả nước ta được chia thành nhiều đơn vị hành chính - quân sự (HC-QS). Theo thời gian, cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến, các đơn vị HC-QS được thay đổi tên gọi và địa giới (Trong bài này, chúng tôi chỉ đề cập tới những sự điều chỉnh tương đối lớn về địa giới của các đơn vị HC-QS. Trong thực tế, chiến khu hàm chứa hai nội dung sau: a. Căn cứ địa cách mạng hoặc kháng chiến được vũ trang để tự bảo vệ và làm bàn đạp liến công của lực lượng vũ trang, làm chỗ dựa để tích luỹ và phát triển lực lượng về mọi mặt, nhất là quân sự, phục vụ cho khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Ở nước ta, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ có Chiến khu Việt Bắc (của trung ương), Chiến khu Trần Hưng Đạo, Chiến khu Đ... (của vùng, miền)..., Chiến khu Ngọc Trạo (của địa phương)... b. Tên gọi của đơn vì HC-QS thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp: Chiến khu 1, Chiến khu 2...) cho phù hợp với tình hình thực tiễn.

        Tháng 10 năm 1945, Chính phủ quyết định thành lập các Chiến khu trên khắp cả nước. Theo đó, các Chiến khu lần lượt được hình thành.

        Chiến khu 1 gồm các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, uyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên.

        Chiến khu 2 gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.

        Chiến khu 3 gồm các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên, Hải Ninh và thành phố Hải Phòng.

        Chiến khu 4 gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên.

        Chiến khu 5 gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai.

        Chiến khu 6 gồm các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng.

        Từ tháng 11 năm 1945, Chính phủ quyết định thành lập Khu 71 (Về tên gọi của các đơn vị HC-QS ở Nam Bộ trong giai đoạn 1945-1946, phần lớn các văn bản đều viết là Khu 7, Khu 8, Khu 9, rất ít khi viết là Chiến khu), Khu miền Đông Nam Bộ, gồm các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Bà Rịa, Chợ Lớn, Tây Ninh, Gia Định và thành phố Sài Gòn.

        Khu 8, Khu miền Trung Nam Bộ, gồm các tỉnh Bến Tre, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho và Sa Đéc.

        Khu 9, Khu miền Tây Nam Bộ, gồm các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Bạc Liễu, Rạch Giá, Vĩnh Long và Trà Vinh.

        Tháng 10 năm 1946, trước Toàn quốc kháng chiến 2 tháng, Hội nghị quân sự do Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập tại Hà Nội đã quyết định phân chia lại các chiến khu. Một số chiến khu mới được thành lập và do đó, địa giới của một số chiến khu có sự thay đổi lớn. Chiến khu 1 tách thành 3 chiến khu 1, 10, 12. Bởi vậy địa bàn của Chiến khu 1 giờ đây chỉ còn các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phúc Yên. Chiến khu 10 gồm các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái. phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên.

        Chiến khu 12 gồm các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Yên, Hải Ninh (Quảng Yên và Hải Ninh trước đó thuộc Chiến khu 3).

        Chiến khu 2 gồm Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hoà Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Lai Châu, Sơn La. Gần đến ngày Toàn quốc kháng chiến, Hà Nội tách thành Khu đặc biệt (Khu 11).

        Chiến khu 3 gồm các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Kiến An và Thái Bình.

        Chiến khu 4, 5, 6 và Khu 7, 8, 9 - địa giới vẫn giữ nguyên như trước.

        Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) ít hôm1 (Có tài liệu viết là ngày 23-12, cũng có tài liệu viết ngày 24-12) Khu 11 (Hà Nội) được sáp nhập vào Khu 2, trở thành tiền phương của Khu này.

        Khoảng tháng 11 năm 1946, các đơn vị HC-QS trong cả nước được đổi tên thành Khu. Trong năm 1947, thành lập thêm 2 khu (14 và 15). Khu 14 được thành lập tháng 7 năm 1947 gồm tỉnh Lai Châu, Sơn La và châu Mai Đà của tỉnh Hoà Bình. Khu 15, được thành lập tháng 9-1947, gồm các tỉnh vùng Tây Nguyên. Đến tháng 9 năm 1947, cả nước có 13 khu. Bắc Bộ có 6 khu (1, 2, 3, 10, 12, 14). Trung Bộ có 4 khu (4, 5, 6, 15). Nam Bộ có 3 khu (7, 8, 9).

-----------------
        1. (Tạp chí LSQS số 6-1999)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:38:27 AM

        Theo Sắc lệnh 120/SL ngày 25 tháng 1 năm 1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (VNDCCH), một số Khu có liên quan về vị trí địa lý, quân sự... được hợp nhất lại thành Liên khu2 (Trong những ngày đầu kháng chiến, Hà Nội được chia thành 3 Liên khu. Thực ra, Liên khu này chỉ là sự hợp nhất của các khu phố mà thôi). Theo đó, các Liên khu lần lượt được thành lập.

        Liên khu 1 ra đời trên cơ sở hợp nhất Khu 1, Khu 12 và điều chỉnh địa giới, gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Quảng Yên, Hòn Gai và Hải Ninh.

        Liên khu 2 được thành lập trên cơ sở hợp nhất Khu 2 và Khu 3, gồm các tỉnh Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Hoà Bình.

        Tháng 10 năm 1948, Liên khu 5 được thành lập trên cơ sở hợp nhất Khu 5, Khu 6 và Khu 15, gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng.

        Theo Sắc lệnh 127/SL ngày 4 tháng 11 năm 1949 của Chủ tịch Chính phủ VNDCCH, Liên khu Việt Bắc được thành lập trên cơ sở hợp nhất Liên khu 1 và Liên khu 10.

        Tháng 5 năm 1952, Trung ương quyết định thành lập Khu Tả Ngạn sông Hồng gồm Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình. Năm tỉnh này trước đó thuộc Liên khu 3.

        Tháng 7 năm 1952, các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La được tách khỏi Liên khu Việt Bắc, hình thành Khu Tây Bắc.

        Từ sau khi thành lập Khu Tả Ngạn và Khu Tây Bắc (1952) cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, các đơn vị HC-QS không có sự thay đổi về tên gọi và địa giới.

        2. Việc thay đổi địa giới (tách, nhập) và tên gọi của các đơn vị HC-QS trong thời kỳ 1945-1954 diễn ra nhiều lân. Đây chính là nguyên nhân quan trọng khiến cho không ít tác giả trong quá trình nghiên cứu, biên soạn đã có những nhầm lẫn đáng tiếc về sử dụng thuật ngữ các đơn vị HC-QS, cũng như phạm vi, địa giới của các đơn vị này.

        Ví như cuốn sách Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống Pháp (QK 3-LSKCCP), Nxb QĐND, Hà Nội, 1990 viết: "Địa bàn Khu 3 tiếp giáp biển Đông với bờ biển dài gần 200 km. Trên đất liền, Khu 3 tiếp giáp các tỉnh Quảng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang ở phía Bắc; Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ ở phía Bắc - Tây Bắc; Sơn La ở phía Tây và Thanh Hoá ở phía Tây Nam" (tr. 9, 10); "Về địa lý quân sự, địa bàn Khu 3 chia làm 4 vùng rõ rệt: vùng rừng núi, trung du; vùng nông thôn đồng bằng; vùng ven biển, hải đảo và vùng thành phố, thị xã, thị trấn” (tr. 12).

        Viết như trên thì hoá ra, Khu 3 thời chống Pháp, về mặt địa lý và địa giới hành chính, tương đương với Quân khu 3 hiện nay. Thực ra không phải như vậy, Khu 3 ngày ấy chỉ bao gồm các tỉnh vùng Tả Ngạn sông Hồng là Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên và Thái Bình mà thôi.

        Cũng trong cuốn sách nói trên, việc "xưng danh" các đơn vị HC-QS có nhiều chỗ mâu thuẫn khiến cho người đọc rất khó hiểu. Chẳng hạn, ở trang 347 viết: "Trong những ngày hè nóng bỏng năm 1952 này, quân và dân Liên khu 3 còn nhận được một quyết định quan trọng của Trung ương Đảng, Chính phủ. Đó là... thành lập một Khu riêng - Khu Tả Ngạn... phạm vi của Liên khu 3 do vậy đã thu hẹp lại trong miền Hữu Ngạn sông Hồng"... Nhưng các trang 7 và 529 lại viết: “Hai năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (từ tháng 7-1952 đến 7-1954), Liên khu 3 lại được tách thành Khu 3 và Khu Tả Ngạn trực thuộc Trung ương"; "Đến tháng 5-1952, tách Liên khu 3 thành hai khu: Khu Tả Ngạn và Khu 3".

        Như vậy, cùng một sự kiện, với cách diễn giải, đề cập trên đây của cuốn sách, người đọc có hai cách hiểu khác nhau. Thứ nhất, sau khi thành lập Khu Tả Ngạn, Liên khu 3 chỉ bị thu hẹp địa giới mà thôi, còn tên gọi vẫn không có gì thay đổi. Thứ hai, Liên khu 3 tách thành Khu Tả Ngạn và Khu 3. Và bởi vậy, tên gọi Liên khu 3 không còn nữa!

        Trên cơ sở những trình bày ở trên, chúng tôi thấy rằng, viết như ở trang 347 (QK 3-LSKCCP-SĐD) mới chính xác. Do có sự lẫn lộn như đã nêu trên, nên rất nhiều chỗ trong các trang 9, 13, 40, 41, 45... của cuốn QK 3-LSKCCP đều viết là Khu 3 trong khi đúng ra phải viết là Liên khu 3.

        Thường thì một số đơn vị HC-QS được thành lập trên cơ sở hợp nhất các đơn vị HC-QS hoặc tách ra từ một đơn vị HC-QS. Do đó, xảy ra trường hợp có đơn vị HC-QS được "sinh ra" và có đơn vị HC-QS bị "mất đi". Thế nhưng về vấn đề này, đã không ít tác giả do nắm không chắc nên viết không chính xác. Ví như: "Liên khu 3 - trên cơ sở hợp nhất các Chiến khu 2, 3, và 11" (QK 3-LSKCCP-SĐD, tr. 9) và: "Liên khu 3, Liên khu đồng bằng Bắc Bộ trong kháng chiến chống Pháp, thành lập theo Sắc lệnh 120/SL, ngày 25 tháng 1 năm 1948 của Chủ tịch Chính phủ VNDCCH trên cơ sở hợp nhất Khu 2, Khu 3 và Khu 11". (Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam của Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự - Bộ Quốc phòng, Nxb QĐND, H, 1996, tr. 447, mục từ Liên khu).

        Viết như trên hoá ra Khu 11 vẫn tồn tại cho đến trước khi Liên khu 3 ra đời. Đó quả là một sự nhầm lẫn đáng tiếc. Sự thực là, sau ngày Toàn quốc kháng chiến mấy hôm, Khu 11 đã được sáp nhập vào Khu 2, Mặt trận Hà Nội trở thành tiền phương của Khu 2.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:39:08 AM

        Nhầm lẫn trên, không chỉ có ở 2 cuốn sách như đã dẫn, mà còn thấy trong một số sách khác. Cụ thể, cuốn Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) do Ban Tổng kết - Biên soạn lịch sử Bộ Tổng tham mưu, xuất bản năm 1991, cũng viết. "Các khu 2, 3 và 11 khu Hà Nội) bợp nhất làm một Liên khu lấy tên là Liên khu 3" (tr. 246); "ngày 4-10-1947, Bộ Tổng chỉ huy đã gửi cho các khu ở Bắc Bộ nêu lên phương hướng nhiệm vụ tác chiến trong Thu Đông.

        - Khu 2 và Khu 11 đánh thọc sâu vào Hà Đông hay Hà Nội" (tr. 188, 189).

        Thực tế, cuối năm 1949, Liên khu Việt Bắc được thành lập trên cơ sở hợp nhất Liên khu 1 và Liên khu 10. Rõ ràng là với sự ra đời của Liên khu Việt Bắc thì từ thời điểm đó, Liên khu 1 và Liên khu 10 đã "đi vào lịch sử" chứ không còn tồn tại trong thực tế trên phương diện một tổ chức HC-QS nữa. Thế nhưng, khi viết lịch sử giai đoạn 1952, 1953, các tác giả cuốn QK 3-LSKCCP vẫn viết: "Vùng tự do của ta, tới đây đã bao gồm hầu hết các tỉnh miền núi rộng lớn thuộc Liên khu 1, 10, tỉnh Hoà Bình..." (tr. 423~ "đêm 8-10-1952, trong khi... và lực lượng vũ trang Liên khu 10 còn đang tiến vào " (tr. 379). Như chúng tôi đã trình bày ở trên, các đơn vị HC-QS thời kỳ 1945-1954 lúc thì gọi là chiến khu, khu, liên khu... Mỗi tên gọi gắn với một giai đoạn lịch sử nhất định. Chẳng hạn, từ cuối năm 1946 đến cuối năm 1948, các đơn vị HC-QS được gọi là khu, không còn gọi là chiến khu như trước nữa. Vậy mà, nhiều tác giả khi trình bày về giai đoạn lịch sử này vẫn dùng thuật ngữ chiến khu. Ví như cuốn "50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam" của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (VLSQSVN), Nxb QĐND, H, 1995, tr. 49; Cuốn Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Nxb QĐND, H, 1994, tr. 263, 275; QK 3-LSKCCP, Sđd, tr. 112, 117, 118...

        Lại cũng có trường hợp, một đơn vị HC-QS được "xưng danh" khi trong thực tế nó chưa ra đời. Cuốn Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp - Những sự kiện, Nxb Văn hoá - Thông tin, H, 1997, có viết: "Năm 1947... từ 21 đến 24-5, Toà án quân sự Liên khu 3 đã xét xử...". (tr. 135). Sự thực, Liên khu 3 chỉ ra đời sau tháng 1-1948, do vậy làm gì đã có Liên khu 3 từ tháng 5 năm 1947!

        Cũng bởi sự tách, nhập nên số các đơn vị HC-QS cũng tăng giảm theo từng thời kỳ. Cụ thể, cuối năm 1945, cả nước có 9 chiến khu: Bắc Bộ 3 chiến khu (1, 2, 3); Trung Bộ 3 chiến khu (4, 5, 6); Nam Bộ 3 chiến khu (7, 8, 9). Vậy mà, ở trang 154, cuốn Thủ đô Hà Nội - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 (Nxb Hà Nội, 1986) lại viết: "Theo quyết định của Trung ương từ tháng 10- 1945, cả nước được chia làm 12 chiến khu. Hà Nội là Chiến khu đặc biệt - Chiến khu XI trực thuộc Trung ương".

        Vào thời điểm tháng 9 năm 1947, cả nước có 13 khu, trong đó, ở Bắc Bộ có 6 khu (1, 2, 3, 10, 12, 14); ở Trung Bộ có 4 khu (4, 5, 6, 15); ở Nam Bộ có 3 khu (7, 8, 9). Song, một số sách lại viết là 14 khu: “Từ 12 khu năm 1946, đến tháng 9 năm 1947, cả nước có 14 khu: Bắc Bộ có khu 1, 2, 3, 10, 11, 12, 14 (Lai Châu, Sơn La, một phần Hoà Bình, Phú Thọ). Trung Bộ có khu 4, 5, 6, 15 (Tây Nguyên). Nam Bộ có khu 7, 8, 9" (LSKCCTDP 1945-1954 của VLSQSVN, Nxb QĐND, Hà Nội 1994, tr. 284). Viết như thế này, có nghĩa là Khu 11 - Hà Nội vần tồn tại.

        Ở trang 444 cuốn Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam - Sđd, viết: “Khu, đơn vị HC-QS thường gồm một số tỉnh, thành phố tiếp giáp nhau thuận lợi cho chỉ đạo, chỉ huy tác chiến và xây dựng lực lượng vũ trang trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp (cuối 1946). Cả nước có 14 khu: Bắc Bộ 7 khu 7 (1, 2, 3, 10, 11, 12, 14), Trung Bộ 4 khu (4, 5, 6, 15), Nam Bộ 3 khu (7, 8, 9)". Viết như trên vừa khó hiểu, vừa không đúng ở chỗ: số lượng 14 khu mà tác giả nêu trên là vào thời điểm nào? Nếu là cuối năm 1946, thì không đúng. Bởi lúc đó chỉ có 12 khu (chưa có Khu 14 và 15). Còn nếu như vào năm 1947, sau khi thành lập Khu 14 và 15 thì Khu 11 đã sáp nhập vào Khu 2, nên cả nước lại chỉ có 13 khu chứ không phải 14 khu như con số mà Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam nêu.

        Đôi điều chúng tôi trình bày và diễn giải trên đây, thực ra là một trong nhiều vấn đề hiện còn tồn tại và chưa được khảo chứng để giải đáp thoả đáng trong không ít công trình lịch sử về thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954) đã được ấn hành ở Trung ương và địa phương. Chính vì vậy, bàn thêm về đơn vị HC-QS, mục đích của chúng tôi là "sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ". Và, rất có thể, ngay cả những điều trong bài viết này cũng lại sẽ được "sửa lại", "bàn thêm". Mong được sự chỉ giáo của bạn đọc và nhất là các tác giả của các cuốn sách mà chúng tôi lấy làm "vật chứng".


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:39:49 AM
     
TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH - QUÂN SỰ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ (1945-1954)1

TRẦN VĂN THỨC       

        Nam Bộ là nơi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra sớm nhất (23-9-1945). Suốt trong cả 9 năm (1945-1954), về tổng thể, đây là một chiến trường nằm sâu trong vùng địch hậu, bởi thế vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang (LLVT), xây dựng hậu phương căn cứ địa, tổ chức chiến trường... mang nhũng nét đặc thù riêng. Bài viết này đề cập tới vấn đề tổ chức chiến trường, các đơn vị hành chính-quân sự (HC-QS) của Nam Bộ, thế nhưng cũng chỉ ở một số khía cạnh trong rất nhiều nội dung của nó.

        1. Nam Bộ bước vào cuộc kháng chiến trong điều kiện các đơn vị HC-QS chưa được hình thành. LLVT tuy có số lượng đông, nhưng tổ chức thiếu chặt chẽ. Xứ ủy, ủy ban nhân dân, cấp ủy ở các địa phương chưa hoàn toàn quản lý, nắm bắt được LLVT. Đó là các yếu tố trong nhiều yếu tố ảnh hưởng lớn tới khả năng tác chiến, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và ngăn chặn bước tiến quân của kẻ thù hung bạo.

        Chỉ một thời gian ngắn sau ngày Nam Bộ kháng chiến, đồng chí Nguyễn Bình - một cán bộ quân sự cao cấp, được Trung ương Đảng phái vào Nam Bộ. Sau khi tới tỉnh Thủ Dầu Một, ngày 20 tháng 11 năm 1945, đồng chí đã triệu tập Hội nghị quân sự Nam Bộ (thực ra chỉ có đại biểu của các đơn vị miền Đông Nam Bộ, tại ấp An Hoà, An Phú Xã). Hội nghị bàn việc thống nhất lực lượng, thống nhất chỉ huy, tổ chức lại bộ đội, vạch chương trình chống Pháp, diệt tề - trừ gian, đoàn kết quân dân, tiếp tế cho bộ đội, phân chia lại hoạt động cho các đơn vị vũ trang, chuẩn bị phát động phong trào chiến tranh du kích, thống nhất tên gọi các đơn vị Giải phóng quân và thành lập các chi đội. Hội nghị nhất trí cử đồng chí Nguyễn Bình làm Tổng Tư lệnh Giải phóng quân Nam Bộ, đồng chí Hoàng Đình Giong (Vũ Đức) làm Chính trị ủy viên.

        Sau hội nghị này, trên thực tế, các LLVT Nam Bộ vẫn chưa được thống nhất về tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy, nhưng những vấn đề mà hội nghị quyết định đã có tác dụng bước đầu thống nhất LLVT trên danh nghĩa, tạo nên tinh thần kháng chiến, củng cố lòng tin của quân và dân Nam Bộ.

        Một tháng sau ngày họp Hội nghị An Phú Xã, thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, ngày 10 tháng 12 năm 1945, Xứ ủy triệu tập hội nghị mở rộng tại một xã bên bờ sông Vàm Cỏ Đông (Về địa điểm họp, có nhiều ý kiến cho là ở bên bờ hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, tại xã Bình Hoà Nam. Tuy vậy, cung có ý kiến là ở Hoà Khánh, hoặc ở Hiệp hoà bên bờ là ngạn sông Vàm Cỏ Đông). Hội nghị quyết định một số vấn đề quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của cuộc kháng chiến đang ngày một lan rộng. Một trong những nội dung là bàn biện pháp thống nhất LLVT, phân chia các chiến khu theo chỉ thị của Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo quyết định của hội nghị này, các chiến khu (thường vẫn gọi là khu) ở Nan Bộ được hình thành. Chiến khu 7, miền Đông Nam Bộ, gồm các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Bà Rịa, Chợ Lớn, Gia Định, Tây Ninh và thành phố Sài Gòn1 (Theo miền Đông Nam Bớ kháng chiến, 1945-1975, Nxb QĐND, Hà Nội, 1990, thì "Chiến khu 7 gồm thành phố Sài Gòn và các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Tây Ninh, Gia Định", tr.86). Khu bộ trưởng là Nguyễn Bình (Theo "Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, 1945-1975”, Sđd, thì sau khi dự Hội nghị Vàm Cỏ Đông, đồng chí Nguyên Bình ra thông báo bỏ chức Tổng Tư lệnh Giải phóng quân", tr.86). Chính trị ủy viên là Trần Xuân Độ. Khu bộ phó là Dương Văn Dương.

        Chiến khu 8, miền Trung Nam Bộ, gồm các tỉnh bến Tre, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Sa Đéc. Khu bộ trưởng là Đào Văn Trường. Chính trị bộ chủ nhiệm là Võ Sỹ. Khu bộ phó là Trương Văn Giàu.

        Chiến khu 9, miền Tây Nam Bộ, gồm các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Bạc Liêu, Rạch Giá, Vĩnh Long và Trà Vinh. Khu bộ trưởng là Hoàng Đình Giong (Vũ Đức). Chính trị bộ chủ nhiệm là Phan Trọng Tuệ. Khu bộ phó là Nguyễn Ngọc Bích.

        Trong tiến trình của cuộc kháng chiến, địa giới hành chính, tên gọi của các đơn vị HC-QS, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy có sự thay đổi nhằm đáp ứng những yêu cầu thực tế của cuộc kháng chiến. Về địa giới hành chính, tháng 10-1946, các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh (vốn thuộc Khu 9) được chuyển về Khu 8. Một năm sau đó, khoảng cuối năm 1947, hai tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc (thuộc Khu 9) được hoạch định lại thành tỉnh mới là Long Châu Tiền và Long Châu Hậu. Tỉnh Long Châu Tiền chuyển thuộc Khu 8. Như vậy, đến năm 1948, địa giới hành chính của Khu 8 được mở rộng thêm 3 tỉnh nữa là Vĩnh Long, Trà Vinh và Long Châu Tiền. Cả 3 tỉnh này vốn dĩ thuộc Khu 9, bởi thế địa giới hành chính của Khu 9 bị thu hẹp lại.

        Năm 1948 (Về thời gian thành lập Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, các tài liệu ghi khác nhau. Cuốn Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1996, tr. 144 viết ngày thành lập Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn là tháng 1-1948, trong khi đó cuốn Lực lượng vũ trang thành phố Hồ Chí Minh, tr. 126 lại viết là tháng 12-1948), các tỉnh Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn và Sài Gòn tách khỏi Khu 7 để thành lập Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn2 (Về địa giới Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, theo cuốn Lực lượng vũ trang thành phố Hồ Chí Minh, tr. 126, thì chỉ có thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, tỉnh Gia Định và huyện Trảng Bàng (thuộc Tây Ninh). Về tên gọi của Đặc khu Sài Gòn , có một số tài liệu vẫn viết là Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn). Bộ Tư lệnh đầu tiên gồm. Tô Ký - Tư lệnh, Phan Trọng Tuệ - Chính ủy, Huỳnh Văn Một - Phó Tư lệnh.

---------------
        1. (Tạp chí LSQS số 6-2000, xem thêm Tạp chí LSQS, số 6-1999)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:45:22 AM

        Đến giữa năm 1950, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, cuộc kháng chiến của quân và dân ta gặp nhiều khó khăn. Một trong những biện pháp để đẩy mạnh kháng chiến tiến tới của Xứ ủy Nam Bộ là tổ chức, sắp xếp lại chiến trường. Theo đó, thành phố Sài Gòn tách ra cùng các huyện vùng ven phía Bắc là Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Chánh thành lập Đặc khu Sài Gòn. Bộ Tư lệnh đầu tiên gồm Nguyễn Thi - Tư lệnh, Nguyễn Văn Mười (Mười Cúc tức Nguyễn Văn Linh) - Chính ủy, Nguyễn Hộ và Đào Tấn Xuân - Phó tư lệnh, Trần Lương (Lương Đình Minh tức Trần Hải Phụng) - Tham mưu trưởng.

        Sau khi Đặc khu Sài Gòn được thành lập, địa bàn Khu 7 được mở rộng thêm do sáp nhập các tỉnh, huyện còn lại của Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn cũ gồm Chợ Lớn, Gia Định, Tây Ninh.

        Giữa năm 1951, Nam Bộ có sự thay đổi lớn về địa giới, tên gọi các tỉnh. 20 tỉnh của Nam Bộ sát nhập thành 10 tỉnh. Tháng 5-1951, giải thể các khu 7, 8, 9, chiến trường Nam Bộ được phân chia thành 2 phân liên khu đó là Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây (Về ngày tháng phân chia Nam Bộ thành 2 phân liên khu, sách Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945-1954 - Những sự kiện, Nxb VH-TT, Hà Nội, 1997, tr.280, viết: theo chúng tôi, Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp, không có lúc nào được gọi là Liên khu Nam Bộ, còn ngày thành lập là 12-10-1951, thì cần được nghiên cứu và thẩm định lại, bởi điều đó rất có thể là không chính xác). Phân liên khu miền Đông gồm các tỉnh Thủ Biên (Thủ Dầu Một, Biên Hoà và huyện Thủ Đức thuộc Gia Định), Gia Ninh (Gia Định, Tây Ninh và huyện Đức Hoà, Trung Huyện, khu Đông Thành thuộc Chợ Lớn), Bà Chợ (Bà Rịa, Chợ Lớn và huyện Long thành thuộc Biên Hoà, huyện Nhà Bè thuộc Gia Định), Mỹ Tân Gò (Mỹ Tho, Tân An, Gò Công), Long Châu Sa (một phần Long Xuyên và Châu Đốc phía tả ngạn sông Hậu cùng Sa đức, Đạc khu Sài Gòn. Tư lệnh và Chính ủy đầu tiên là Trần Văn Trà và Phạm Hùng.

        Phân liên khu miền Tây gồm các tỉnh Vĩnh Trà (Vĩnh Long, Trà Vinh), Bến Tre, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Long Châu Hà (một phần tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc ở hữu ngạn sông Hậu và Hà Tiên). Tư lệnh và Chính ủy đầu tiên là Phan Trọng Tuệ và Nguyễn Văn Vịnh.

        Cả hai phân liên khu này trực thuộc Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

        2. Ngoài việc tổ chức các đơn vị HC-QS, ở Nam Bộ còn có Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Đây và một tổ chức chỉ có ở Nam Bộ, còn Bắc Bộ và Trung Bộ thì không có. Về vấn đề này, sách 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1995. tr.65 viết: “Ngày 24 tháng 9 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị tổ chức Ban Quân sự Nam Bộ. Tên gọi và thành phần: để phù hợp với hệ thống chung, Ban Quân sự Nam Bộ gọi là "Bộ Tư lệnh Nam Bộ", "nhiệm vụ và quyền hạn trong Bộ Tư lệnh: 1. Về bàn việc, theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nghĩa là kế hoạch chủ trương phải đưa ra thảo luận trong Ban Thường vụ hay Bộ Tư lệnh tuỳ điều kiện. 2. Chính uỷ phải có quyền quyết định tối hậu. Nhưng trong lúc dùng quyền ấy, cần trọng uy tín của Tư lệnh và Phó Tư lệnh và không lấn át sáng viên chuyên môn".

        Cũng theo cuốn sách nói trên, trang 66 viết: "Tháng 10 (1948), thành lập Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Tư lệnh Trung tướng Nguyễn Bình" (Theo sách Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945-1975 thì sau khi Trung tướng Nguyễn Bình được điều ra Bắc, "đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy trực tiếp giữ chức Chinh ủy kiêm Tư lệnh Nam Bộ, đồng chí Dương Quốc Chính làm Phó Tư lệnh", tr. 172).

        Như vậy, vấn đề Bộ Tư lệnh Nam Bộ, theo sách 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, là rõ ràng, bởi lẽ:

        - Việc thành lập Bộ Tư lệnh Nam Bộ được căn cứ theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

        - Bộ Tư lệnh Nam Bộ được thành lập vào tháng 10 năm 1948, một tháng sau ngày có chỉ thị.

        - Chỉ thị thành lập Ban Quân sự Nam Bộ, nhưng tên của tổ chức này lại là Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

        Thế nhưng, sách Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954) - Những sụ kiện, Nxb VH-TT, Hà Nội, 1997, lại viết: "Ngày 21-3-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử Trung tướng Nguyễn Bình giữ chức Tư lệnh, ông Trần Văn Trà giữ chức Phó Tư lệnh, ông Phạm Ngọc Thuần giữ chức Chính trị ủy viên Bộ Tư lệnh Nam Bộ", (tr. 195-196). "Tháng 4-1949 thành lập Bộ Tư lệnh Nam Bộ". Và, theo các sách Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, 1945-1975 và Lực lượng vũ trang thành phố Hồ Chí Minh thì trước khi có chỉ thị thành lập Ban Quân sự Nam Bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở Nam Bộ đã có Ban Quân sự Nam Bộ. Chứng cứ là, sách Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, 1945-1975, viết: "Ngày 12-12-1947, Ban Quân sự Nam Bộ được thành lập do đồng chí Nguyễn Thanh Sơn làm Trưởng ban" (tr.135), “Tháng 6-1948, Chính phủ gửi điện vào công nhận Ban Quân sự Nam Bộ và cử Trung tướng Nguyễn Bình giữ chức ủy viên Quân sự. Tháng 10, Bộ Tư lệnh Nam Bộ được thành lập thay cho Ban Quân sự Nam Bộ, do Trung tướng Nguyễn Bình làm Tư lệnh" (tr. 150).

        Còn ở sách Lực lượng vũ trang thành phố Hồ Chí Minh, lại viết Tháng 11-1947, Ban Quân sự Nam Bộ được thành lập do đồng chí Nguyễn Thanh Sơn làm Trưởng ban" (tr. 110). "Tháng 10-1948, Bộ Tư lệnh được thành lập thay cho Ban Quân sự Nam Bộ, Trung tướng Nguyễn Bình được cử làm Tư lệnh, đồng chí Dương Quốc Chính được cử làm Chính ủy” (tr. 126).

        Trên đây là một số vấn đề về các đơn vị HC-QS ở Nam Bộ thời kỳ 1945-1954 đã được công bố rải rác ở một số công trình lịch sử quân sự. Nay chúng tôi sắp xếp lại, trên bình diện chung của chiến trường Nam Bộ, để bạn đọc tiện theo dõi. Kèm theo đó là một số điều còn nghi vấn, mong rằng bạn đọc, cùng giới nghiên cứu lịch sử, nhất là các bậc lão thành đã từng tham gia chiến đấu và công tác ở Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hiểu biết về vấn đề này, góp phần lý giải thêm cho sự kiện thêm sáng tỏ và chuẩn xác.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:54:55 AM

PHẦN III


TRẬN TUA HAI, VÀI CHI TIẾT  CẦN XEM LẠI VÀ CHỈNH SỬA1


TRẦN PHẤN CHẤN       

        Với ý nghĩa vượt hơn một trận đánh tương đương "cấp tiểu đoàn tăng cường", trận Tua Hai ở Tây Ninh (đêm 25 rạng 26-1-1960) đã đi vào lịch sử như tiếng súng mở màn phong trào Đồng khởi ở miền Đông Nam Bộ, tạo ra một điển hình cho loại hình tiến công địch bắt đầu bằng tiến công quân sự kết hợp nổi dậy mạnh mẽ của quần chúng. Chính vì ý nghĩa lịch sử như vậy, trận Tua Hai không chỉ được đưa vào danh mục nhiều sách biên niên lịch sử mà cả từ điển.

        Nhân đọc tuần san Sài Gòn giải phóng ngày 14 tháng 10 năm 2000, chúng tôi phát hiện trong mục "Bạn đọc đặt câu hỏi", khi báo giải đáp cho một bạn đọc hỏi về trận Tua Hai, đã căn cứ vào "Từ điển địa danh lịch sử văn hoá Việt Nam" (TĐĐDLSVHVN, tác giả Nguyễn Văn Tân, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1998, tr.1.243). Chúng tôi đã tra tìm đúng sách này, đồng thời lại tra tìm đến "Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam" (TĐBKQS, Trung tâm từ điển Bách khoa Quân sự - Bộ Quốc phòng, Nxb QĐND, Hà Nội, 1996, tr.868).

        Cả hai cuốn sách trên đều có danh mục "Trận Tua Hai", song khi đối chiếu nội dung, chúng tôi thấy các yếu tố thông tin chủ yếu trong hai cuốn sách không thống nhất, thậm chí một số tài liệu khác nhau. Cụ thể:

        - Về vị trí căn cứ Tua Hai:

        TĐĐDLSVHVN ghi: "Cách thị xã Tây Ninh 5 km về phía Bắc".

        TĐBKQS ghi:  "Tây Bắc thị xã Tây Ninh 7 km".

        - Về cấp căn cứ và lực lượng địch trong căn cứ:

        TĐĐDLSVHVN: "Lực lượng Mỹ, ngụy ở đây gồm hai trung đoàn, một chi đoàn thiết giáp và một đại đội pháo binh”.

        TĐBKQS: "Căn cứ Tua Hai của Trung đoàn 32 quân đội Sài Gòn...", "Gồm 4 khu do 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng chiếm giữ, xung quanh có 14 tháp canh và hệ thống phòng thủ cẩn mật".

        - Về lực lượng vũ trang của ta được sử dụng trong trận đánh:

        TĐĐDLSVHVN: "Một tiểu đoàn lực lượng vũ trang nhân dân ta và một đoàn quân giáo phái đã phối hợp tấn công..."

        TĐBKQS: "3 đại đội bộ binh (59, 70, 80), Đại đội đặc công 60 và 3 tiểu đội vũ trang Tây Ninh".

        - Về kết quả trận đánh:

        TĐĐDLSVHVN: "400 địch bị chết, 500 tên bị bắt sống, thu 1.200 súng các loại".

        TĐBKQS: "Diệt 500, bắt giáo dục thả tại chỗ 500 quân, thu 1.500 súng các loại".

        Từ điển là "chuẩn khoa học", chưa nói đến tính chuẩn xác thì sự khác nhau nói trên giữa hai sách đã gây sự nghi ngờ cho độc giả.

        Khách quan mà nói, do hoàn cảnh lịch sử, việc chỉnh sửa những thông tin do hai sách trên đưa ra thật không đơn giản. Trận đánh diễn ra cách nay đã hơn 40 năm, tư liệu “văn bản" phía ta còn lại chủ yếu là những dòng tin thông tấn được ta phát đi với tinh thần động viên, cổ vũ Đồng khởi thời đó; Phía địch còn lại một số mẫu báo cáo; phần chủ yếu còn lại hiện nay là nhân chứng trong đó chủ yếu là phía ta. Tỉnh ủy Tây Ninh đã hai lần tổ chức hội thảo về chiến thắng Tua Hai, lần thứ hai vào cuối năm 1999, đã in kỷ yếu (Chiến thắng Tua Hai và phong trào Đồng khởi ở miền Đông Nam Bộ, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Nxb QĐNĐ, Hà Nội 1999). Nhưng ngay trong kỷ yếu này có rất nhiều số liệu khác nhau được đưa ra trong các bài tham luận. Mặc dù vậy, với những việc có thể làm được, kể cả việc tham khảo ý kiến nhân chứng phía bên kia, chúng tôi mạnh dạn đề đạt một số điểm cụ thể cần chỉnh sửa.

        - Về vị trí căn cứ Tua Hai: Theo khảo sát thực địa, số liệu do TĐBKQS đưa ra là phù hợp ("Tây Bắc thị xã Tây Ninh 7 km"); số liệu trong TĐĐDLSVHVN cần chỉnh lại.

        - Về địch ở căn cử Tua Hai: Với quá trình nghiên cứu tư liệu từ hai phía, chúng tôi cho rằng: Tua Hai là căn cứ của Trung đoàn 32, Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn (như TĐBKQS đã nêu, lúc đó còn được gọi là thành Nguyễn Thái Học). Lực lượng thường xuyên ở đây gồm 3 tiểu đoàn bộ binh: (1, 2, 3), 1 đại đội trọng pháo (cối 81 và ĐKZ trở xuống), 1 đại đội quân xa, 1 đại đội chỉ huy công vụ.

        Nếu thừa nhận ý kiến này, thì nhiều chi tiết trong 2 sách cần xem lại để chỉnh sửa.

-------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 2-2001)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:55:23 AM

        Về chi tiết "Lực lượng Mỹ, ngụy ở đây gồm 2 trung đoàn...": Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn lúc bấy giờ có 3 trung đoàn đóng ở 3 căn cứ riêng rẽ: căn cứ Trung đoàn 31 ở Bến Cát (Bình Dương), căn cứ Trung đoàn 32 ở Tua Hai (Tây Ninh), căn cứ Trung đoàn 3 ở Cẩm Giang (Tây Ninh). Riêng sư đoàn bộ đóng ở Bến Kéo (Tây Ninh). Vào thời điểm ta tiến công, không có việc địch tăng cường thêm 1 trung đoàn vào Tua Hai, chỉ có việc Trung đoàn 32 mới nhận về khoảng 300 tân binh (phần lớn là từ Bến Tre lên) để huấn luyện, nhưng trước giờ ta nổ súng, phần lớn lực lượng các tiểu đoàn 2, 3 đã tập hợp trước căn cứ (quân ta có phát hiện việc này và thoạt đầu tưởng là địch báo động) để lên xe hành quân về Trại Bí, thực hiện cuộc càn vào khu vực Kà Tum (trong vùng căn cứ của ta). Trong căn cứ Tua Hai còn lại tiểu đoàn 1, phần còn lại của các tiểu đoàn 2, 3, các đại đội pháo, quân xa, công vụ, sở chỉ huy trung đoàn (vắng mặt thiếu tá Phạm Văn Liễu - Trung đoàn trưởng). Tài liệu địch còn cho biết, Trung đoàn 32 vẫn cho nhiều lính về phép Tết bình thường.

        Về chi tiết "tiểu đoàn xe tăng", “chi đoàn thiết giáp", "tiểu đoàn pháo": đều không có căn cứ. Cho đến cuối năm 1959, trang bị cho một sư đoàn quân đội Sài Gòn chỉ có 2 tiểu đoàn pháo và 1 tiểu đoàn thiết giáp (Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ, nguỵ trên chiến trường B2, Phòng Tổng kết chiến dịch - Ban Tổng kết chiến tranh B2, Nxb QĐND, H, 1988) (so với trước đó, chỉ có 1 tiểu đoàn pháo và 1 đại đội thiết giáp), chưa nói gì đến xe tăng. Trong diễn biến trận Tua Hai cũng không thấy sự xuất hiện của tăng thiết giáp và không có tư liệu nào nói các đơn vị trên đóng ở Tua Hai (mà có tài liệu nói, có pháo cụm ở Bến Kéo, Cẩm Giang). Năm 1961, Mỹ đưa vào 268 xe cơ giới, trong dó phần lớn là thiết giáp M113 để xây dựng 4 tiểu đoàn cơ giới (Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Viện LSQS Việt Nam, Hà Nội. 1991), chưa thấy nói đến việc xây dựng đơn vị tăng thiết giáp.

        Về lực lượng ta được huy động trong trận đánh: Như TĐBKQS là đúng (tổng số 225 cán bộ, chiến sĩ, không kể 300 dân công); không có "đoàn quân giáo phái", đó chỉ là tên ngụy trang của Trung đội vũ trang Tây Nình tham gia trận đánh.

        Về thiệt hại của địch: Con số địch bị diệt (500), bị bắt (400 hoặc 500) đều được ước lượng, làm tròn, căn cứ báo cáo của các mũi tiến công, của chiến đấu viên. Về số súng lấy được (1.200-1.500 khẩu) có thể coi là tương đối chính xác do có thể "đếm được" khi mang ra, nhưng cần trừ lại một nửa (khoảng trên dưới 750 khẩu) vì ta có lấy quân xa của địch để chở, nhưng bị chúng phục kích, đánh lấy lại một nửa (việc này được cả hai bên thừa nhận). Nhìn chung, với kết quả trên, mỗi thành viên tham gia chiến đấu đều phải diệt, bắt gần 5 tên địch, thu gần 7 súng. Việc thu súng nhiều như vậy có thể hiểu được vì ta đánh trúng kho (cũng chính là quyết tâm của ta) mà địch lại tập trung súng vào kho khi chưa sử dụng. Về tỷ lệ diệt, bắt dịch như vậy là quá cao, nếu xét rằng bộ đội vào trận rất thiếu đạn (nên có chủ trương lấy đạn địch đánh địch ngay trong trận) và chỉ được trang bị thêm 76 thủ pháo. Địch tuy bị bất ngờ, chống cự yếu, nhưng vẫn có chống cự (gây cho ta 7 hy sinh, 25 bị thương). Đại tá Nguyễn Hữu Có Tư lệnh Quân khu 1 của địch thừa nhận (trong báo cáo ngày 1-2-1960): chúng chết và bị thương 76 người, mất tích một số. Con số này tương đối phù hợp với ý kiến của một số nhân chứng thuộc Trung đoàn 32 sống sót sau trận đánh: số chết là 49 (nhân chứng chính là người đi mua hòm chôn và cho biết thêm: số 300 tân binh bị đẩy vào thực hiện cuộc càn ở Kà Tum đều không dám trở về căn cứ Tua Hai, rã ngũ, phần lớn trốn luôn về Bến Tre, trùng hợp với ý kiến "mất tích một số” của Nguyễn Hữu Có). Căn cứ những tư liệu từ hai phía, có thể "tóm lại kết quả trận đánh: ta đã đánh chiếm, làm chủ căn cứ cấp trung đoàn của địch tại Tua Hai trong khoảng 1 giờ, diệt, bắt, giáo dục, thả tại chỗ và làm tan rã hàng trăng tên, thu trên 750 súng các loại và nhiều chiến lợi phẩm khác, gây thiệt hại nặng Trung đoàn 32, Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn.

        Việc ước lượng về số sinh lực địch bị loại như vậy (trong điều kiện chưa có chứng cứ cụ thể để đưa ra con số chính xác) tuy chưa đạt yêu cầu cụ thể về tính chuẩn xác, nhưng vẫn đúng, khoa học và vẫn hơn là đưa ra những con số quá cao mà không có sức thuyết phục.

        Và việc đánh giá kết quả như trên cũng như việc xem xét lực lượng địch cho đúng (theo hướng "ít" hơn) chẳng những không hạ thấp ý nghĩa, vị trí lịch sử của trận Tua Hai, như đã được đánh giá, mà trái lại, còn làm tăng tính thuyết phục, bởi vì sự nghi ngờ những số liệu đưa ra bao giờ cũng dẫn đến sự nghi ngờ về đánh giá. Với một lực lượng vũ trang được gom góp lại từ các bộ phận, được nhen nhóm, xây dựng để tự vệ tiến lên hỗ trợ đấu tranh chính trị, có bộ phận còn phải ngụy trang giáo phái, trang bị chắp vá... mà đã đánh trúng, đánh chiếm, làm chủ một căn cứ cấp trung đoàn của địch, diệt sinh lực, bắt tù binh, thu vũ khí... đó là một kỳ tích mà sau này khi lực lượng đã thành "Quân giải phóng" còn phải phấn đấu.

        Như vậy, việc chỉnh sửa danh mục "Trận Tua Hai" trong các từ điển và trong các công trình lịch sử là việc làm cần thiết. Làm rõ sự kiện lịch sử này không chỉ để bảo đảm tính khoa học mà còn làm tăng sức thuyết phục đối với những đánh giá từ trước đến nay về trận này.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:05:53 AM

ĐỐI THOẠI XUNG QUANH "SỰ KIỆN VỊNH BẮC BỘ”1

TRẦN BƯỞI       

        Vừa qua tại Hà Nội, các nhà sử học Việt Nam đã tiếp đón và tổ chức hai cuộc hội thảo khoa học với các bạn đồng nghiệp Mỹ (Cuộc hội thảo lần thứ nhất tổ chức cuối tháng 11-1988, do Trung tâm nghiên cứu W. Joyner đề nghị. Cuộc hội thảo lần thứ hai tổ chức vào tháng 5-1989, theo đề nghị của Uỷ ban Hoa Kỳ hợp tác khoa học với Việt Nam (U.S committee for scientific co-operation with Vietnam)) về các đề tài của cuộc chiến tranh Việt Nam. Một trong những đề tài được đưa ra thảo luận khá sôi nổi và lý thú là "Đánh giá lại cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ" (Đầu đề bản tham luận của giáo sư Gareth Porter (The Tonkin Gulf crisis reconsidered)) theo cách nhìn mới.

        Với phương pháp đối thoại trực tiếp trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở và không định kiến, hai bên đã đưa ra lập luận của mình và qua tranh luận để đi tới một sự đánh giá khách quan nhất đối với sự kiện lịch sử.

        Trong đoàn các nhà sử học Mỹ, Giáo sư Gareth Porter và Giáo sư Edwin E.Moise3 (Giáo sư Gareth Porter, Trường Đại học American; Giáo sư Edwin E.Moise, trường đại học Clemson) đã chuẩn bị công phu bản tham luận và những cứ liệu về "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ". Đoàn sử học Việt Nam cũng phân công các bình luận viên (commentator) chuẩn bị trước để phát biểu về sự kiện này. Mở đầu cuộc đối thoại, hai bên đồng ý rằng, thời điểm Xuân - Hè năm 1964 là thời điểm quan trọng, có tác động sâu sắc đối với cục diện chiến tranh. Chính quyền của Tổng thống L.B. Johnson bắt đầu xúc tiến mạnh mẽ chính sách gây áp lực ngoại giao đối với nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (VNDCCH), trong khi chính sách của Chính phủ VNDCCH là kiềm chế và liên tiếp đưa ra những giải pháp thương lượng để giải quyết cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Ông Gareth Porter nhấn mạnh ý đồ của chính sách ngoại giao Mỹ lúc này chỉ nhằm gây sức ép buộc Bắc Việt Nam phải ngừng chi viện cho các lực lượng cách mạng ở miền Nam, nhưng trong hành động, Mỹ đã vô tình thúc đẩy cuộc chiến tranh leo thang để sau đó trở thành cuộc chiến tranh quy mô lớn mà không bên nào mong muốn. Từ lập luận tổng quát đó, ông Gareth Porter đánh giá: "Sự kiện Vinh Bắc Bộ" là sự khiêu khích vô tình trong nền ngoại giao vũ lực Mỹ (Nguyên văn của câu tham luận: unwittinh provocation in U.S coercive diplomacy). Các sự kiện xảy ra liên tiếp trong các ngày đầu tháng 8 năm 1964 trên Vịnh Bắc Bộ không có dụng ý thúc đẩy tình huống căng thẳng để đi tới một cuộc chiến tranh, bởi vì Mỹ lúc đó rất sợ chủ lực của miền Bắc ồ ạt kéo vào miền Nam. Tiếp đó, ông Gareth Porter đã đưa ra nhiều dẫn chứng rằng Mỹ đã không làm chủ được các hoạt động ngoại giao cưỡng bức của mình nên đã vô tình đẩy cục diện chiến tranh phát triển theo chiều hướng ngược lại cái mà Mỹ mong muốn gây sức ép quân sự buộc VNDCCH lùi bước.

        Trong cuộc đối thoại tháng 5, Giáo sư E. E. Moise không đưa ra những lập luận tổng quát mà lại bắt đầu bằng những sự việc cụ thể. Theo ông, đúng là Mỹ đã có kế hoạch chi tiết đánh phá VNDCCH từ đầu năm 1964 nhưng còn do dự, đến tháng 7 mới quyết tâm hành động. Tuy nhiên, hành động của Mỹ không nhằm ý định đẩy cuộc khủng hoảng lên cực điểm - chiến tranh, mà chỉ muốn tạo ra một tín hiệu rõ ràng, báo cho VNDCCH biết rằng Mỹ không từ bỏ cam kết của mình ủng hộ chế độ Sài Gòn của Nguyễn Khánh. Về tính chất các sự kiện xảy ra ở Vịnh Bắc Bộ, ông E. E. Moise cho biết, ông đã tiếp xúc với các sĩ quan, thủy thủ Mỹ, kể cả đại tá J. Herrich là người chỉ huy các cuộc tuần tiễu Desoto thì, đêm 30 rạng sáng 31 tháng 7, tàu khu trục Maddox có mặt ở Vịnh Bác Bộ là theo kế hoạch tuần tiễu thường lệ chứ không phải có ý hỗ trợ cho các tàu biệt kích Sài Gòn tấn công hai đảo Hòn Mê và Hòn Mát. Trận đụng độ trên biển chiều 2 tháng 8 là do Mỹ không lường được quyết tâm đối trả của hải quân Bắc Việt Nam. Cũng là vô tình và ngẫu nhiên đó, trận đụng độ tiếp theo xảy ra trong đêm ngày 4 là không có thật; đó là do sự sai lầm về kỹ thuật của các thủy thủ và sĩ quan trên hai tàu khu trục Mỹ gây nên nhưng là sai lầm không cố ý, không tính toán trước. Để kết luận, E. E. Moise cho rằng, quyết định chung của chính quyền Mỹ là có cân nhắc, song khi thực hiện thì cấp thấp hơn, có thể là các quan chức điều hành của Mỹ ở Sài Gòn đã thúc đẩy các hành động khiêu khích, kể cả sử dụng các tàu biệt kích nguỵ hành động quá giới hạn dự định mà hậu quả của nó đã dẫn đến sự leo thang chiến tranh của hai bên.

        Điều đáng chú ý trong phần kết luận, ông Gareth Porter đã bình luận: nếu như chính quyền Mỹ lúc đó hiểu được sự kiềm chế của Hà Nội mong muốn một thoả hiệp thương lượng hơn là một cuộc chiến tranh, thì Washington đã có thể kết hợp áp lực ngoại giao với sức mạnh mà đạt được một giải pháp thương lượng, bảo vệ được lợi ích tối thiểu của mình ở Nam Việt Nam. Điều đó có lợi hơn là tung sự hiện diện quân sự của Mỹ vào miền Nam để chuốc lấy hậu quả thua thiệt hơn nhiều sau này.

        Các nhà sử học Việt Nam đã không đồng ý với nhiều điển của những lập luận đó. Tại cuộc đồi thoại trực tiếp, chúng ta cũng trình bày tóm tắt bản tham luận của mình và sau đó thẳng thắn nhưng cởi mở trao đổi với các nhà sử học Mỹ.

        Chúng ta đề nghị các bạn Mỹ không nên bó hẹp không gian và thời gian lịch sử khi nghiên cứu "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ", không sa quá nhiều vào những tình tiết cụ thể của các sự kiện và nên nghiên cứu thật kỹ các chủ trương, chính sách của cả hai bên ở cấp Nhà nước.

-----------------
        1. (Tạp chí LSQS số 8-1989)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:06:29 AM

        Bằng những tư liệu tin cậy, chúng ta đã chứng minh: “Chiến lược chiến tranh đặc biệt" của Mỹ vào cuối năm 1963 đang đứng trước nguy cơ thất bại. Chế độ độc tài Diệm - Nhu bị lật đổ, ngụy quyền Sài Gòn sa vào một cuộc khủng hoảng toàn diện đang phá vỡ những nỗ lực chiến tranh của Mỹ. Đây là nguyên nhân trực tiếp buộc Mỹ phải đẩy mạnh những hoạt động phá hoại vốn đã diễn ra từ năm 1962 do lực lượng biệt kích ngụy tiến hành, được Mỹ viện trợ và khuyến khích. Chúng ta cũng lưu ý các nhà sử học Mỹ về sự xuất hiện từ rất sớm ý đồ phá hoại nước VNDCCH, khi cố Tổng thống J. Kennedy lên nắm chính quyền ở Mỹ. Ông ta đã từng nói “một trong những cách chống du kích tốt nhất là cho người của chúng ta luồn vào thánh địa của Cộng sản mà phá". Tuy nhiên, chúng ta đồng ý với các bạn đồng nghiệp Mỹ, kể từ tháng 2 năm 1964, kế hoạch chi tiết phá hoại miền Bắc với cái tên 34A mới được vạch ra, bao gồm cả những hoạt động biệt kích đường bộ, đường biển và đường không của ngụy Sài Gòn. Việc điều hành phần lớn các hoạt động phá hoại này đã được chuyển giao cho Bộ Tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương. Do đó, các hoạt động tuần tiễu Desoto ở Vịnh Bắc Bộ của các tàu khu trục Mỹ và hoạt động của các tàu biệt kích ngày xuất phát từ Đà Nẵng để bắn phá dọc bờ biển miền Bắc đã có sự phối hợp theo một kế hoạch nhất định.

        Các hoạt động khiêu khích và phô trương sức mạnh quân sự của Mỹ là một mặt biểu hiện quan trọng của “chính sách ngoại giao cưỡng bức" ("Effort át coercive diplomacy" trong phát biểu của ông Gareth Porter) như ông Gareth Porter đã thừa nhận. Các hoạt động đó vừa nhằm tạo sức ép, đồng thời cũng là sự chuẩn bị cần thiết về quân sự cho các hoạt động đánh phá bằng không quân và hải quân của Mỹ vào miền Bắc sau này. Chúng ta đề nghị phân tích lại sự việc tháng 5 năm 1964, khi Bộ Tham mưu của Tổng thống L. B. Johnson đã dự thảo nghị quyết đưa trình Quốc hội, nhấn mạnh cam kết ủng hộ chế độ Sài Gòn và đề nghị cho phép Tổng thống sử dụng mọi biện pháp, kể cả việc đưa lực lượng vũ trang đến hỗ trợ. Sau này, Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ (ngày 7-8) do Quốc hội Mỹ thông qua cũng là sự phát triển của tinh thần dự thảo tháng 5 mà thôi.

        Rõ ràng, đường hướng chính sách của chính quyền Mỹ đối với Việt Nam được tính toán cho việc leo thang chiến tranh chú không phải là sự vô tình hoặc không lường được hậu quả. Vì vậy, lập luận của chúng ta là, với chính sách đó thì dù "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" chưa xảy ra vào đầu tháng 8 cũng sẽ xảy ra vào các tháng tiếp sau đó. Và cuối cùng, hậu quả sai lầm của “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ" dã đưa nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh hao người, tốn của và mất uy tín kéo dài hàng chục năm sau đó.

        Chúng ta không đồng ý với một số lý giải chi tiết sự kiện của ông E. E. Moise; bởi vì khi nghiên cứu cục diện chiến tranh, phải nghiên cứu từ chính sách của nhà nước, của ban lãnh đạo cấp cao chứ không thể lấy hành động của cấp thừa hành. Những dẫn chứng vô tình, không cố ý của thủy thủ, sĩ quan trên các tàu khu trục Mỹ không thể làm bằng cớ để biện minh cho chính sách; vả lại, chính họ đã bị sự điều hành của cấp cao lừa dối, thậm chí chính quyền Mỹ hồi đó còn che giấu cả nhân dân và Quốc hội nhằm thông qua cho được bản nghị quyết sai lầm về Vịnh Bắc Bộ, một nghị quyết mà thượng nghị sĩ Uâynơ Moócxơ bang Origân đã mô tả như là một bản “tuyên chiến đề ngày trước" (Thượng nghị sĩ Uâynơ Moócxơ bỏ phiếu không tán thành dự thảo Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ trong cuộc họp của uỷ ban đối ngoại của Thượng nghị viện trước khi đưa ra thông qua tại cuộc họp toàn thể Thượng nghị viện).

        Cuộc đối thoại đã dành một thời gian để trao đổi về chiều hướng có thể thay đổi nếu lúc đó chính quyền Mỹ hiểu rõ được sự kiềm chế và lập trường đúng đắn của nước VNDCCH và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam qua các giải pháp thương lượng. Nhân dịp hội thảo, chúng ta đã trình bày rõ 6 yêu cầu cấp bách để giải quyết cuộc chiến tranh ở miền Nam của Mặt trận tuyên bố ngày 7 tháng 11 năm 1963 và sự ủng hộ của Chính phủ VNDCCH đối với 6 yêu cầu đó (Xem Tuyên bố 6 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miên Nam Việt Nam ngày 7-11-1963, trích đăng trong “Những sự kiện lịch sử Đảng”, Nxb Thông tin lý luận, 1985, tập 2, tr. 277). Nhưng chúng ta cho rằng, trong bối cảnh lịch sử đó, chính quyền Mỹ chưa chịu chấp nhận giải pháp thương lượng, bởi lẽ tham vọng của giới cầm quyền còn rất lớn. Nó thể hiện ngay trong Nghị quyết số 273 của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ họp ngày 26 tháng 11 năm 1963 khẳng định rằng: Mục tiêu của Mỹ ở Nam Việt Nam là để giúp đỡ nhân dân và chính phủ nước này chiến thắng cuộc đọ sức chống âm mưu chỉ đạo từ bên ngoài và được Cộng sản ủng hộ.

        Trong đối thoại, các bạn đồng nghiệp Mỹ hoàn toàn không bác bỏ các điểm lập luận của chúng ta và trong không khí cởi mở, họ đánh giá cuộc hội thảo đã có những kết quả rất bổ ích. Ông E. E. Moise rất cảm ơn cuộc đối thoại thẳng thắn này và nói rõ ý định trong thời gian tới. Ông sẽ viết một quyển sách trình bày với công luận Mỹ về sự thật của "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ", nhằm bác bỏ những sai lầm của một số cuốn sách đã viết về sự kiện này.

        Qua đối thoại, mối quan hệ giữa các nhà sử học Việt Nam và Mỹ đã có bước tiến bộ tốt, đặt cơ sở cho sự phát triển rộng lớn trong tương lai. Các bạn đồng nghiệp Mỹ hứa sẽ cung cấp cho chúng ta những tư liệu cần thiết để làm sáng tỏ thêm nhiều đề tài phong phú về cuộc chiến tranh Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:12:36 AM

VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG VỊNH BẮC BỘ THÁNG 8-19641

TRẦN BƯỞI       

        Cách đây 35 năm, ngày 5 tháng 8 năm 1964, lần đầu tiên máy bay của Hải quân Mỹ đã bắn phá một số địa phương trên lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đây là hành động chiến tranh nguy hiểm, bất chấp luật pháp quốc tế, xâm phạm trắng trợn chủ quyền nước ta. Để biện minh cho hành động này, Mỹ công bố phải "đánh trả đũa” vì các khu trục hạm của Mỹ đã bị Hải quân Việt Nam vô cớ tiến công hai lần trên vùng biển quốc tế ở Vịnh Bắc Bộ vào chiều 2 và đêm 4 tháng 8.

        Thực ra, trận tập kích bằng không quân ngày 5 tháng 8 chỉ là đỉnh cao của một loạt các vụ khiêu khích của Hải quân Mỹ và ngụy Sài Gòn diễn ra từ cuối tháng 7 năm 1964. Các tàu khu trục của Mỹ tiến vào Vịnh Bắc Bộ để hoạt động do thám, đã xâm phạm hải phận thuộc chủ quyền Việt Nam và đã Bị Hải quân nhân dân Việt Nam đánh đuổi. Hải quân Mỹ. qua hành động tuần tiễu của mình trên vùng Vịnh Bắc Bộ, đã đóng vai trò hỗ trợ cho các tàu biệt kích ngụy xâm nhập, bắn phá các đảo và ven biển Nghệ An, Thanh Hoá, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống và lao động sản xuất của ngư dân Việt Nam. Mỹ không chịu dừng lại sau trận đụng độ ngày 2 tháng 8 mà nhanh chóng tăng cường thêm tàu khu trục và tàu sân bay đến vùng biển Việt Nam để đe dọa làm cho tình hình căng thẳng hơn, dẫn đến "trận chiến đấu không hề có" trong đêm 4 tháng 8 (Về chiến đấu trên biển không hề xảy ra, Tạp chí Lịch sử quân sự số 8-1989).

        Chính quyền của Tổng thống L. B. Giôn-xơn đã tập hợp các sự việc xảy ra ở Vịnh Bắc Bộ để dựng lên cái gọi là cuộc "khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ" nhằm lừa dối, kích động Quốc hội Mỹ nhanh chóng thông qua trong ngày 7 tháng 8 một nghị quyết lấy tên là “Nghị quyết Vinh Bắc Bộ". Nghị quyết tai hại này đã cho phép: “... Tổng thống với tư cách là Tổng tư lệnh được áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết để đẩy lùi bất kỳ một cuộc tiến công vũ trang nào chống lại các lực lượng của Mỹ và nhằm ngăn chặn sự xâm lược tiếp theo" (J. S. On-xơn - Từ điển chiến tranh Việt Nam. Nxb Gơ-rin-út, Con-nếch-ti-cớt, 1988, tr. 180 (tiếng Anh)).

        Sai lầm của Nghị quyết trên đã bị các chính quyền L. B. Giôn-xơn và R. Ních xơn lợi dụng để phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và mở rộng ra toàn bán đảo Đông Dương. Mãi tới năm 1972, Quốc hội Mỹ mới dùng quyền phủ quyết để xoá bỏ hiệu lực của Nghị quyết này.

        Khi nghiên cứu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ, thì thấy rằng thời điểm Xuân-Hè 1964, nhất là từ khi có Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, là bước chuyển quan trọng trong ý định mở rộng quy mô chiến tranh của chính quyền L. B. Giôn-xơn. Cùng với việc xúc tiến các áp lực ngoại giao, Mỹ còn đẩy mạnh các hoạt động chống phá Việt Nam dân chủ cộng hòa; đồng thời tích cực chuẩn bị dư luận và kế hoạch để sử dụng quân chiến đấu Mỹ trên chiến trường Việt Nam. Để tranh thủ sự đồng tình của Quốc hội Mỹ và nhân dân Mỹ, chính số quyền Giôn-xơn ra sức tạo dựng hình ảnh các lực lượng của Mỹ là nạn nhân bị khiêu khích và bị tấn công vô cớ. Kết quả là trong một thời gian ngắn, chính giới và ngay cả một bộ phận dân chúng đã bị đánh lừa và tin là thật. Chỉ đến khi Giôn-xơn mở rộng chiến tranh, đưa ồ ạt lính Mỹ trực tiếp tham chiến và đổ máu ở Việt Nam thì chính trường nước Mỹ bắt đầu xáo động. Các chi tiết của cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ được phanh phủi, nhiều nghị sĩ cảm thấy mình bị lừa dối và bắt đầu cuộc đấu tranh để hạn chế và chống lại chính sách điều hành chiến tranh sai lầm của chính quyền Mỹ.

        Sau khi chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ thất bại, nhiều học giả ở Mỹ và phương Tây đã nghiên cứu về cuộc chiến tranh này và họ không bỏ qua việc phân tích về các sự việc xảy ra trong cuộc khủng hoảng ở vùng Vịnh Bắc Bộ trong mùa Hè năm 1964. Thậm chí có những học giả công phu điều tra, thu thập tư liệu để viết sách chuyên khảo về cuộc khủng hoảng này. Các học giả có quan điểm tiến bộ, tôn trọng sự thật lịch sử đều có chung nhận xét rằng: "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, trong tất cả chiều cạnh của nó, về sau được chứng minh là một sai lầm lớn của chính quyền..." (G. Côn-cô - Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb QĐND, Hà Nội, tập 1, tr 152).

------------------
        1. (Tạp chí LSQS Số 4- 1999)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:12:56 AM

        Họ phê phán đòn trả đũa của không quân với tinh thần tương đối khách quan là: "Kết luận chủ yếu rút ra sau khi nghiên cứu nghiêm chỉnh về các sự kiện đã viện dẫn thì không có bằng chứng nào của cuộc tấn công có đủ cơ sở lý luận để bào chữa cho sự trả đũa" (A Hustinaud và E. G. Wnơely - Vịnh Bắc Bộ, Nxb Gác-đen Xi-ti, New York 1971).

        Và khi phân biệt người chủ mưu và nạn nhân thì Pi-tơ A. Pu-lơ đã vạch rõ. "Chính quyền Giôn-xơn lợi dụng bầu không khí khủng hoảng, một phần do các biện pháp chiến tranh bí mật chống Bắc Việt Nam của chính họ gây ra, để đạt được ủy quyền to lớn của Quốc hội cho phép tiến hành chiến tranh ở Đông Nam Á vào bất cứ lúc nào nó thấy phù hợp" (Pi-tơ A. Pu-lơ - Nước Mỹ và Đông Dương từ Ph. Ru-dơ-ven đến Nich-xơn, nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986, tr. 165).

        Tuy nhiên, cũng có những cuốn sách có lập luận tán đồng cách đánh giá các sự kiện Vịnh Bắc Bộ như chính quyền. Đáng chú ý là năm 1986, Hải quân Mỹ chính thức xuất bản cuốn lịch sử của mình trong chiến tranh Việt Nam (EJ. Marolca, OP. Fidzgerald - The United States navy and the Vietnam Conflict, Volume 11, P 410-449, Naval history Center, Department of the naval, Washinglon D.C, 1986 (nguyên bản tiếng Anh)), đã dành hẳn một chương để chứng minh việc các tàu khu trục Mỹ bị tấn công vô cớ ngoài hải phận quốc tế ở Vịnh Bắc Bộ và do đó, đòn trả đũa của không quân Mỹ vào một số căn cứ của Hải quân Việt Nam là sự phát triển hợp lô-gích.

        Để thấy được nguồn gốc và bản chất của các sự việc xảy ra trên Vịnh Bắc Bộ, quan điểm của chúng ta là phải đặt các sự việc đó trong mối quan hệ với toàn bộ chính sách của Mỹ đối với Việt Nam. Sự cam kết ủng hộ và viện trợ để duy trì chế độ ngụy miền Nam lệ thuộc Mỹ đã làm cho nước Mỹ ngày càng sa lầy vào cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Cho đến cuối năm 1963, khi ở miền Nam Việt Nam đã có mặt trên 16.500 cố vấn quân sự Mỹ cùng với các phương tiện chiến tranh yểm trợ khá mạnh mẽ mà vẫn không ngăn được đà thất bại của 406.000 quân ngụy, thì Mỹ buộc phải tiến hành các biện pháp khẩn cấp dể cứu vãn sự đổ vỡ của chế độ tay sai. Các biện pháp đó chính là hàng loạt các vụ khiêu khích trên biển, trên không và bắn phá vùng ven biển miền Bắc nước ta, đi đôi với các hoạt động ngoại giao gây áp lực.

        Từ việc tạo dựng ra cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ, thông qua sức mạnh của hải quân và không quân, Mỹ coi đó là con chủ bài để răn đe và khi cần thì hành động bất ngờ và nhanh nhất. Ngay từ thế kỷ XIX, Mỹ đã dùng sức mạnh hải quân đánh bại đế quốc Tây Ban Nha từ biển Ca-ri-bê sang tới Thái Bình Dương. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hải quân và không quân của Mỹ phát triển vượt xa các nước đế quốc khác cả về số lượng và chất lượng. Để thực hiện tham vọng bành trướng toàn cầu, Mỹ thiết lập nhiều căn cứ không, hải quân tại các nước đồng minh và chư hầu để sử dụng các lực lượng này can thiệp vào nhiều nơi như vùng biển Ca-ri-bê, eo biển Đài Loan, Nhật Bản, vịnh Hồng Hải và biển Đông (Việt Nam)...

        Từ sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan vỡ, Mỹ càng dựa vào sức mạnh của các hạm đội và không quân tầm xa hành động ngang ngược, vượt mặt cả Liên Hiệp quốc Sau chiến tranh vùng Vịnh (năm 1991), Mỹ tự ý quy định vùng cấm bay ngay trên không phận của I-rắc. Tháng 8 năm 1998, Mỹ lấy cớ truy đuổi tổ chức khủng bố quốc tế, dùng tên lửa phóng từ các tàu chiến vào đất Xu-đăng và Áp-ga-ni-xtan. Cuối tháng 3 năm 1999, lợi dụng cuộc khủng hoảng Cô-xô-vô, Mỹ và các nước NATO không áp đặt được giải pháp của mình cho Nam Tư nên đã dùng không quân đánh phá ác hệt nước này.

        Những hành động sử dụng sức mạnh quân sự của Mỹ đang là mối nguy cơ đe dọa hoà bình và ổn định ở các khu vực. Bài học cảnh giác rút ra từ cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ hơn 30 năm trước đây vẫn còn nguyên giá trị.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:17:52 AM
       
NGUYỄN VIẾT XUÂN VỚI LỜI HÔ BẤT TỬ “NHẰM THẲNG QUÂN THÙ MÀ BẮN!"1

NGUYỄN THANH HỒNG        

        Lâu nay trên một số tạp chí xuất hiện những bài viết về sự kiện lịch sử Nguyễn Viết Xuân với lời hô bất tử: "Nhằm thẳng quân thù bắn” trong đó có một số chi tiết cần bàn thêm cho rõ như: "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!" hay: "Nhằm thẳng quân thù, Bắn!"? Nơi Đại đội 3 lập trận địa phòng không nằm trên đất Lào hay miền Tây tỉnh Quảng Bình và đơn vị đó trực thuộc Bộ Tư lệnh Phòng không Quân khu 4 hay nằm trong đội hình của Sư đoàn 325?

        Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu lưu giừ tại Phòng Lịch sử Quân khu 4, tôi xin ghi lại sự kiện trên để bạn đọc tham khảo.

        Đại đội 3, Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ 37 ly thuộc Sư đoàn 325, Quân khu 4 do Đại đội trưởng Lê Hữu Mai và Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân chỉ huy, xây dựng trận địa phòng không tại khu vực Cha Lo trên đường 12, miền Tây tỉnh Quảng Bình, làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến vận tải chiến lược trên đường Trường Sơn.

        Ngày 15 tháng 10 năm 1964, tin về anh Nguyễn Văn Trỗi bị Mỹ, nguỵ giết hại đã gây xúc động lớn trong cán bộ, chiến sĩ Đại đội 3. Trong buổi truy điệu Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi được tổ chức ngay tại trận địa, Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân thay mặt chỉ huy đơn vị kêu gọi cán bộ, chiến sĩ trả thù cho anh Trỗi và học tập gương anh. Nguyễn Viết Xuân nói: "Anh Trỗi đã ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào mặt kẻ thù mà đấu tranh đến hơi thở cuối cùng. Chúng ta cũng sẽ nhìn thẳng vào máy bay giặc Mỹ mà bắn".

        Toàn Đại đội nhất trí đồng thanh hô vang khẩu hiệu. "Noi gương anh Trỗi, quyết tâm bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, bảo vệ mục tiêu”.

        10 giờ trưa ngày 18 tháng 11 năm 1964, một tốp 3 máy bay Mỹ lao xuống bắn phá mục tiêu do Đại đội 3 bảo vệ. Lúc này toàn Đại đội đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, Đại đội trưởng Lê Hữu Mai ra lệnh: "Nhằm chiếc đi đầu, bắn!". Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân hô tiếp: - Các đồng chí! Hãy trả thù cho anh Trỗi. Phản lực Mỹ không có gì đáng sợ. Nhằm thẳng vào quân thù mà bắn!

        Ngay lập tức, các khẩu pháo gầm lên, hàng loạt đạn xé không khí chụp lấy chiếc máy bay đi đầu. Một tiếng nổ vang. chiếc máy bay bốc lửa đâm đầu xuống chân núi cách trận địa vài cây số! Hai chiếc còn lại vứt bom, tháo chạy.

        Trận địa đã bị lộ, hàng chục tốp máy bay Mỹ từ biển nối tiếp nhau lao vào, phóng gần 150 quả đạn rốc-két xuống trận địa. Có 4 quả trúng công sự Khẩu đội 3, hất các pháo thủ ra khỏi mâm pháo. Nguyễn Viết Xuân băng mình trong lửa đạn lao tới Khẩu đội 3, nhưng các pháo thủ đã bò dậy, nhảy lên mâm pháo và tiếng súng của Khẩu đội 3 lại gầm lên hoà vào tiếng súng của toàn đại đội. Lại một chiếc máy bay Mỹ trúng đạn bốc cháy. Nguyễn Viết Xuân đứng trên trận địa hô lớn:

        - Hoan hô Khẩu đội 3! Các đồng chí chiến đấu rất dũng cảm. Thay mặt chi bộ Đảng tôi biểu dương các đồng chí. Chúng ta đã "vít cổ” máy bay Mỹ xuống ngay từ đầu như thế là rất tốt nhưng đừng có ai chủ quan. Có thể địch sẽ đến nữa và ta còn phải đánh ác liệt hơn. Chúng ta chớ bắn phí đạn, mà phải bắn gần, bắn khi máy bay địch bổ nhào, bắn cho chắc ăn...

        5 tốp máy bay Mỹ tiếp tục lao vào bắn phá điên cuồng. Cả trận địa Đại đội 3 gầm lên tiếng súng bắn trả. Trong lửa đạn mịt mù, Chính trị viên Xuân như con thoi chạy khắp các khẩu đội kịp thời động viên bộ đội giữ vững vị trí chiến đấu.

        Một quả đạn rốc-két nổ sát bờ công sự ngay cạnh sở chỉ huy Đại đội. ống chân bên phải của Nguyễn Viết Xuân bị dập nát. Đoạn chân đứt còn bám lủng lẳng vào đùi bằng lớp da, máu tuôn như xối.

        Chiến sĩ Tình vội chạy đến. Xuân xua tay:

        - Cứ bình tĩnh. Đừng cho ai biết tôi bị thương.

        Tình đi gọi y tá Nhu. Vừa thấy bóng Nhu, Xuân đã hỏi:

        - Nhu đấy à? Anh em có ai việc gì không? Nhu chưa kịp trả lời Xuân đã ôn tồn nhưng kiên quyết:

        - Cậu cắt cái chân cho mình tý. Vướng quá!

        Nhu đỡ lấy đùi Xuân, run rẩy, lưỡng lự, nhưng Xuân đã rướn người lên:

        - Nào! Đồng chí bắt đầu đi.

        Nén cơn đau, Xuân thì thào: "Thế là tốt. Giấu khúc chân của mình đi Nhu ạ. Chớ cho anh em biết mình bị thương phải cắt chân".

        Không dằn được lòng mình, Tình đứng dậy hét to:

        - Các đồng chí ơi! Chính trị viên bị thương rồi. Hãy bắn tan xác máy bay Mỹ, trả thù cho Chính trị viên!

        Cả trận địa hô vang: "Trả thù cho Chính trị viên!”

        Từng loạt đạn thẳng căng bao vây lấy máy bay Mỹ, thêm 1 chiếc F.100 trúng đạn rơi xuống chân núi.

        Trận chiến đấu tạm lắng xuống. Đại đội trưởng Mai và Trung đội trưởng Nguyên chạy tới bên Xuân. Anh vẫn nở nụ cười trên đôi môi nhợt nhạt:

        - Các đồng chí đừng lo, tôi chỉ mất một cái chân thôi, không hề gì đâu. Anh em chiến đấu dũng cảm lắm, các đồng chí nhớ ghi công anh em và động viên đơn vị tiếp tục chiến đấu tốt Đồng chí Nguyên thay tôi làm Bí thư chi bộ như đã dự kiến. Sau trận chiến đấu này nhớ tiến hành ngay công tác phát triển Đảng. Chú ý chăm sóc anh em thương binh...

        Nguyễn Viết Xuân lịm dần trong vòng tay đồng đội.

-------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 5-1999)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:23:04 AM

VỀ NGÀY THÀNH LẬP TRUNG ĐOÀN BA GIA1

NGUYỄN ĐỨc THÁI         

        Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các đơn vị Quân giải phóng miền Nam nói chung, Quân khu 5 nói riêng do phải giữ bí mật nên sau khi thành lập thường mang những mật danh khác nhau. Bên cạnh đó, do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt những tài liệu lưu trữ thất lạc nên trong quá trình nghiên cứu biên soạn lịch sử của các đơn vị không tránh khỏi những thiếu sót, nhầm lẫn... Bài viết này xin bàn thêm về ngày thành lập Trung đoàn 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam (Sau chiến dịch Ba Gia (28-5-1965 đến 31-5-1965), Trung đoàn 1, Quân khu 5 được vinh dự mang tên Trung đoàn Ba Gia) - Trung đoàn ba lần Anh hùng, gắn bó với mảnh đất Quảng Nam "Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ".

        Trong sách Lịch sử Trung đoàn Ba Gia (1963-1998), Nxb QĐND, Hà Nội, 2000, trang 15 ghi: "Nhằm nâng cao số lượng và chất lượng của lực lượng vũ trang, đáp ứng với yêu cầu mới của chiến tranh cách mạng, cuối năm 1962, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định thành lập các trung đoàn bộ đội chủ lực của Quân khu.

        Thực hiện kế hoạch đó, ngày 20 tháng 11 năm 1962, “Công trường 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam" chính thức được thành lập. Với lực lượng gồm hai tiểu đoàn bộ binh 60, 70 và một số đại đội trực thuộc, do đồng chí Quách Tử Hấp làm Chỉ huy trưởng Công trường, kiêm Tỉnh đội trưởng Quảng Nanh, đồng chí Dương Liên làm Chính ủy Công trường kiêm Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam. Đây là một trong ba đơn vì cấp trung đoàn được thành lập đầu tiên trên chiến trường Khu 5 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước".

        Sách Sư đoàn 2 (tập 1), Nxb Đà Nẵng, 1989, trang 16 ghi: "Tháng 11 năm 1962, theo quyết định của Quân khu, Trung đoàn bộ binh 1 - một trong hai trung đoàn chủ lực đầu tiên của chiến trường được thành lập. Lúc này Trung đoàn còn kiêm nhiệm vụ Tỉnh đội Quảng Nam. Các đồng chí Quách Tử Hấp, Trung đoàn trưởng kiêm Tỉnh đội trưởng; Dương Loan (Liên) - Chính ủy kiêm Chính trị viên Tỉnh đội. Hiện nay Trung đoàn Ba Gia lấy ngày 20 tháng 11 năm 1963 - ngày Trung đoàn tách khỏi nhiệm vụ kiêm chức năng Tỉnh đội Quảng Nam - làm ngày truyền thống" (Ngày 20-11-2003, Trung đoàn Ba Gia làm lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập).

        Năm 2000, được giao nhiệm vụ sưu tầm tư liệu, nghiên cứu biên soạn lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh giai đoạn 1945-2000, tôi có điều kiện tiếp xúc với một số nguồn tư liệu gốc. So sánh với hai cuốn sách trên thì các mốc thời gian hoàn toàn khác. Tôi đã thể hiện điều này trong tập 2 "Lịch sử Lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam - Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)" do Nxb QĐND xuất bản năm 2004.

        Trong tập hồi ức Chỉ một con đường của Trung tướng Nguyễn Huy Chương, Nxb Đà Nẵng, 2001, từ trang 150 đến 153, mục "Trở lại chiến trường xưa" có viết: "Tết Nhâm Dần năm 1962 (Tức ngày 5-2-1962) khung trung đoàn bộ binh được bộ tăng cường cho Khu 5 đón Tết tại Binh trạm Tà Lê; sau đó tiếp tục hành quân về trạm Nước Lá trà Mỹ), đây là binh trạm tiếp đón phân phối lực lượng cho các tỉnh. Trung đoàn cán bộ khung được Quân khu phân công về Quảng Nam (có biệt danh Dì 2)". Đồng chí về xây dựng Trung đoàn 2 (còn gọi là Công trường 2).

        Tài liệu lưu trữ tại Ban Khoa học Lịch sử quân sự tỉnh Quảng Nam, số 602/2, Báo cáo tình hình 6 tháng đầu năm 1962 của Công trường 1 Quảng Nam (bản viết tay) có đoạn viết: "Cơ quan Dì 2 được trên chú ý tăng cường cán bộ, bước đầu đã xây dựng, làm việc và chỉ đạo công tác các đơn vì tương đối có kết quả". Còn ở trang 18, tài liệu ghi: "Các cấp ủy Đảng từ Công trường đến chi bộ đã được tổ chức và sinh hoạt đều, nhất là các đơn vị tập trung như 60, 70, 75. Các đơn vị phân tán thì sinh hoạt thất thường hai, ba tháng một lần như cơ quan Công trường". Phần phương hướng 6 tháng cuối năm 1962, trang 22 tài liệu ghi: "Cuối tháng 7 họp Đảng ủy chuẩn bị họp sơ kết đầu năm... lên kế hoạch hoạt động mùa đông. Đề nghị Khu hướng dẫn thêm nhiệm vụ 6 tháng cuối năm và chỉ đạo Hội nghị sơ kết của công trường. Ký tên Công trường 1".

-----------------
        1. (Tạp chí LSQS sô s3-2004)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:23:24 AM

        Tài liệu Dự thảo báo cáo phong trào du kích chiến tranh từ năm 1961 đến tháng 3 năm 1966, ký hiệu A2/8, lưu tại Ban Khoa học Lịch sử quân sự tỉnh Quảng Nam, trang 5, 6, mục "Quá trình hình thành cơ cấu quân sự các cấp ủy Đảng câng như lực lượng vũ trang và bán vũ trang" có ghi: "Tháng 9 năm 1962, Quân khu giải tán Ban Quân sự và thành lập Trung đoàn 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam, lực lượng gồm 3 tiểu đoàn 70, 60, 751 (Tiểu đoàn 75 vào đến Quảng Nam tháng 2 năm 1962, có 1 đại đội đủ quân); Đại đội 10 độc lập, các đại đội trực thuộc như ĐK, cối 81, trọng liên, đặc công, trinh sát, công binh, giao thông chiến, thông tin. Lực lượng chủ yếu của trung đoàn kể cả chỉ huy sở ở cánh Nam, riêng Tiểu đoàn 75 ở cánh Bắc"... "Tháng 11 năm 1962 tách Bắc Quảng Nam thành lập Tỉnh đội Quảng Đà... Về phần lực lượng vũ trang có Tiểu đoàn 75, chia một bộ phận công binh, trinh sát, thông tin, cán bộ của ba cơ quan và thủ trưởng cho Quảng Đà. Trung đoàn 1 vẫn kiêm nhiệm Tỉnh đội Quảng Nam". Ở trang 7, tài hếu ghi tiếp: "Tháng 11 năm 1963, Quân khu quyết định tách Trung đoàn 1 khỏi Tỉnh đội Quảng Nam để tiện cơ động làm nhiệm vụ và thành lập Tỉnh đội Quảng Nam. Trung đoàn để lại cho Tỉnh đội Quảng Nam có Tiểu đoàn 70, Đại đội 10 độc lập, còn các đơn vị trực thuộc như thông tin, công binh, trinh sát, cơ quan, thủ trưởng mỗi bên một nửa, nhưng dành ưu tiên cho Trung đoàn...".

        Từ những tài liệu trên và gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, chúng tôi được biết: Tiểu đoàn 60 đủ quân vào đến chiến trường Quảng Nam tháng 3 năm 1962. Tiểu đoàn 90 là đơn vị cơ động của Quân khu, hoạt động ở phía Nam Quảng Nam, đơn vị đã hỗ trợ cho lực lượng địa phương giải phóng Tứ Mỹ - Xuân Bình - Phú Thọ - Kỳ Thạnh - Kỳ Trà (Nam Tam Kỳ), đánh đồn Trà Mỹ, đánh bại chiến thuật "trực thăng vận" của địch ở Nà Niêu (Tiên Phước)... Khi tách Trung đoàn 1 khỏi Tỉnh đội Quảng Nam, Tiểu đoàn 90 mới về đội hình Trung đoàn 1.

        Về Đảng, sau khi tách tỉnh, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, tổ chức ở Nà Cau (tháng 11 năm 1962), đồng chí Dương Loan được bầu vào Ban thường vụ Tỉnh ủy, đồng chí Quách Tử Hấp và 3 cán bộ của Trung đoàn 1 là: Trần Kim Anh, Trần Đình Hiếu, Nguyễn Đình Trọng được bầu là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Quảng Nam.

        Tại hội nghị lấy ý kiến thông qua bản thảo tập 2 sách Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh, các đồng chí Quách Tử Hấp, Trần Tốc ( Khi thành lập Trung đoàn kiêm Tỉnh đội, đồng chí Trần Tốc (Khanh) làm Phó Chính ủy kiêm Chính trị viên phó; đồng chí Nguyễn Hữu Đức (Đinh Châu) làm Trung đoàn phó kiêm Tỉnh đội phó. Tháng 11 năm 1962, hai đồng chí Tốc và Đức về làm Tỉnh đội trưởng và Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Đà), Trần Kim Anh và tất cả các cựu cán bộ chỉ huy tỉnh Quảng Nam, Quảng Đà trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước về dự, đã công nhận sự kiện Trung đoàn 1 thành lập tháng 2 năm 1962 là chính xác.

        Tổng hợp các dữ liệu trên đây tôi thấy có đôi điều cần bàn về ngày thành lập Trung đoàn 1 như sau:

        Thứ nhất, ngày 20 tháng 11 năm 1962 không phải là ngày thành lập Trung đoàn 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam, mà đây chính là ngày tỉnh Quảng Nam được tách làm hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà. Nếu ngày đó mới được thành lập thì tại sao có báo cáo 6 tháng đầu năm của Công trường 1 như đã viết ở trên.

        Thứ hai, sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Quảng Nam thành lập Ban quân sự trực thuộc Tỉnh ủy, có 17 đồng chí. Ngày 3 tháng 2 năm 1962, Tỉnh ủy quyết định thành lập Tiểu đoàn 70 trên cơ sở khung của Tiểu đoàn 79 mới từ miền Bắc vào chiến trường cuối năm 1961. Vào tháng 2 năm 1962, Quân khu 5 giải tán Ban quân sự, thành lập Trung đoàn 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam. Còn về ngày cụ thể nào trong tháng 2, chúng tôi đã gặp nhiều nhân chứng và được xác định đó là ngày 20 tháng 2.

        Lực lượng ban đầu của Trung đoàn 1 có ba tiểu đoàn 70, 60. 75 và các đơn vị trực thuộc. Tháng 11 năm 1962, Tiểu đoàn 75 về Quảng Đà, Trung đoàn 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam còn 2 tiểu đoàn là 70 và 60. Khoảng mùa Đông năm 1963, tiểu đoàn 40 đủ quân vào đến chiến trường Quảng Nam và sau đó được bổ sung vào đội hình Trung đoàn 1. Lúc Trung toàn tách ra khỏi Tỉnh đội Quảng Nam (20-11-1963), Tiểu toàn 70 ở lại Quảng Nam, Tiểu đoàn 90 về đội hình Trung đoàn. Như vậy, tháng 11 năm 1963, Trung đoàn Ba Gia đủ 3 tiểu đoàn là 40, 60, 90 và các đơn vị trực thuộc chứ không phải có hai tiểu đoàn như sách Lịch sử Trung đoàn Ba Gia đã viết.

        Trong sách Lịch sử Trung đoàn Ba Gia (1963-1998), ảnh đồng chí Quách Tử Hấp chú thích là "Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn Ba Gia" là đúng. Nhưng ghi đồng chí Quách Tử Hấp làm Trung đoàn trưởng ngày 20 tháng 11 năm 1962 hoặc ngày 20 tháng 11 năm 1963 đều không chính xác. Ngày 20 tháng 11 năm 1963, Trung đoàn tách khỏi Tỉnh đội Quảng Nam, lúc đó đồng chí Phạm Duy Minh làm Trung đoàn trưởng; đồng chí Nguyễn Đình Trọng làm Chính ủy; đồng chí Quách Tử Hấp làm Tỉnh đội trưởng Quảng Nam.

        Trên đây là vài ý kiến xin mạnh dạn trao đổi với tác giả tập sách Lịch sử Trung đoàn Ba Gia (1963-1998)