Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:00:07 PM



Tiêu đề: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:00:07 PM
         
        - Tên sách: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
        - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
        - Năm xuất bản: 1980
        - Số hóa: macbupda, ptlinh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/Bia%20LL%20VT%20Tay%20Nguyen%20a_zpsfhekoqkg.jpg)

        Trong quá trình viết cuốn “Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, các đồng chí lãnh đạo Mặt trận Tây Nguyên cũ, các đồng chí trong Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn 3, các đồng chí cán bộ ở tỉnh ủy và tỉnh đội Gia Lai - Công Tum, Đắc Lắc và nhiều cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đã đóng góp ý kiến và cung cấp, bổ sung tư liệu

        Xin chân thành cảm ơn các đồng chí và các bạn.

        “… Quân và dân Tây Nguyên, già, trẻ, gái, trai, Kinh, Thượng đoàn kết một lòng, luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua diệt giặc lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu được những thành tích to lớn, cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

HỒ CHÍ MINH        


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:04:39 PM
       
Chương mở đầu

TÂY NGUYÊN - ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI

        Tây Nguyên gồm nhiều cao nguyên và rừng núi trùng điệp nối tiếp nhau chạy dài theo hướng bắc nam, ở về phía tây Trung Bộ. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam nối liền với các tỉnh miền Đông Nam Bộ, phía đông giáp các tỉnh đồng bằng Khu 5 và phía tây tiếp giáp nước Lào và Cam-pu-chia anh em, với đường biên giới chung dài khoảng 700 ki-lô-mét.

        Diện tích Tây Nguyên khoảng 67.000 ki-lô-mét vuông, chiều dài từ bắc xuống nam 450 ki-lô-mét và từ đông sang tây 150 ki-lô-mét. Phạm vi chiến trường Tây.Nguyên trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước gồm ba tỉnh: Công Tum, Gia Lai và Đắc Lắc, có diện tích gần 36.000 ki-lô-mét vuông.

        Dân số Tây Nguyên khoảng 1 triệu người, gồm ngót 30 dân tộc anh em, đông hơn cả là các dân tộc Xơ Đăng, Dê Triêng, Cơ Giông (Công Tum), Gia Rai, Ba Na (Gia Lai), Ê Đê Mơ Nông (Đắc Lắc), Cơ Ho (Lâm Đồng). Đồng bào Thượng chiếm độ 64% dân số. Đồng bào Kinh sống phần lớn ở các thi xã, quận lỵ, chiếm khoảng 36%.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/LLVT%20TN%20-%200011_zpss3n8pazo.jpg)
Sơ đồ Tây nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước

        Các dân tộc ở Tây Nguyên đoàn kết gắn bó với nhau trong cộng đồng chung, có nền văn hóa lâu đời, có truyền thống đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống kẻ thù để tồn tại và phát triển. Năm 1973, cán bộ Viện khảo cơ học đã phát hiện dược những công cụ lao động bằng đá thuộc thời kỳ đồ đá mới ở vùng Mê Van (Đắc Lắc) chứng tỏ từ thời xa xưa, Tây Nguyên là một trong những cái nôi của loài người trên đất nước ta.

        Đây còn là một vùng đất giàu có và tươi đẹp của Tổ quốc. “Tây Nguyên là một vùng được thiên nhiên ưu đãi: có chất đất màu mỡ, có khí hậu thuận hòa, có nắng trời đầy đủ, có lượng mưa khá lớn, có sông suối và mạch nước ngầm khá nhiều. Bình nguyên, đồi núi, rừng cây, đồng cỏ… tất cả đều là những tài nguyên rất đủ tạo ra cuộc sống ấm no cho đồng bào địa phương và góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu của nhân dân cả nước, vào việc đẩy mạnh xuất khẩu, vào sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà”1.

        Tây Nguyên có khoảng 1 triệu héc-ta đất trồng trọt. So với cả nước, vùng đất đỏ ba-dan ở đây chiếm tỷ lệ cao hơn cả, rất thích hợp với các loại cây công nghiệp như: cao-su, cà-phê, chè, canh-ki-na, đay, dâu tằm... Tây Nguyên nhiều đồng cỏ, có thể cải tạo thành những vùng chăn nuôi quy mô lớn.

        Rừng Tây Nguyên chiếm hơn 50% diện tích tự nhiên, phần lớn chưa được khai thác. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như: trắc, gụ, cẩm lai, mun, sao, giáng hương, kiền kiền, săng lẻ… và nhiều động vật quý, hiếm, có giá trị kinh tế cao như : voi, hổ, báo, hươu, nai, bò tót, trâu rừng, lợn rừng, gấu ngựa, sóc bay, thằn lằn bay, chồn bay... Rừng còn có nhiều dược liệu quý như: sâm bố chính, hồng đằng sâm, sa nhân, mã tiền, hà thủ ô, mật ong... Rừng chằng những là nơi kín đáo cất giấu kho tàng, vũ khí, mà còn là nguồn tài nguyên vô tận để ta khai thác phục vụ chiến dấu và dời sống. Trong kháng chiến chống Mỹ, bộ đội Tây Nguyên đã phát rừng làm rẫy, sản xuất tự túc một phần lương thực để duy trì lực lượng, bám giữ chiến trường.

        Tâỵ Nguyên có nhiều sông suối dọc ngang, dáng kể hơn cả là các sông Sê-rê-pốc, Pô Cô, Sa Thầy, sông Ba và các con suối lớn như Ia Đrăng, Ia Mơ, Ia Súp,.. Sông suối lắm thác nhiều ghềnh, không thuận tiện cho việc vận chuyển. Về mùa mưa lũ, nước dâng cao và chảy xiết nên đi lại gặp nhiều khó khăn. Sông suối Tây Nguyên có nguồn dự trữ thủy điện lớn. Thác Đa Nhim (Lâm Đồng), thác Gia Li (Gia Lai) vừa có giá trị về thủy diện, vừa là thắng cảnh.

        Tây Nguyên có nhiều suối nước nóng nổi tiếng, có các hồ thiên nhiên xinh đẹp như Hồ Lắc (Đắc Lắc), Biển Hồ (Gia Lai).

        Thời tiết ở Tây Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến thảng 10. Những tháng mưa lớn thường gây ra lũ lụt, việc đi lại cũng như hoạt động quân sự gặp nhiều trở ngại. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5, đất se cứng lại, nhiều sông suối khô cạn, trời trong xanh, thời tiết đưa lại nhiều thuận lợi cho việc giao thông.

        Thiên nhiên không chỉ đem lại cho Tây Nguyên những tiềm năng kinh tế dồi dào, mả còn tạo nên những đặc điểm hình thành một khu vực quân sự có tầm chiến lược rất quan trọng đối với Tổ quốc Việt Nam.

        Tây Nguyên núi non trùng điệp, nối lièn một dải. Các cao nguyên có độ cao trung bình từ 500 đến 1.000 mét, phía đông như một bức trường thành, phía tây nghiêng mình thoai thoải về triền sông Mê Công, liên kết với các cao nguyên Hạ Lào và vùng dông bắc Cam-pu-chia tạo thành một vùng đất đai rộng lớn nhô lên như một chóp nhọn của bán đảo Đông Dương. Tây Nguyên có nhiều núi cao quanh năm mây mù bao phủ, cao hơn cả có các đỉnh Ngọc Lĩnh 2.598 mét, Ngọc Nay 2.259 mét (Công Tum), Chư Yang-sin 2.442 mét (Đắc Lắc)... Tây Nguyên thế đất rất cao, có thể khống chế hầu như toàn bộ khu vực xung quanh. Đây là một thế đứng vô cùng lợi hại.

----------------------
        1. Trích bài nói của đồng chí Lê Duẩn trong cuộc mít tinh do tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tinh Đắc Lắc tổ chức ngày 11-4-1978 tại thị xã Buôn Ma Thuột. Báo Nhân Dân số 8731, ngày 23-4-1978.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:07:40 PM

        Ở thế cao, lại nằm vào trung độ của cả nước, từ Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang ta có thể cơ động vào nam, ra bắc, tiến về đồng bằng, duyên hải đều dễ đàng. Người ta ví Tây Nguyên là “mái nhà” của miền Nam, “lưng tựa” của Khu 5, là “cửa ngõ” đi vào Sài Gòn, Nam Bộ. Tây Nguyên còn là hành lang nối liền hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa với tiền tuyến lớn míền Nam anh hùng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với hai nước láng giềng anh em chống kẻ thù chung, từ Tây Nguyên, ta đã tiến sang phối hợp với bạn, giải phóng A-tô-pơ (Hạ Lào) và vùng Đông Bắc Cam-pu-chia.

        Với những đặc điểm về địa lý và mối liên quan với các chiến trường, Tây Nguyên dã trở thành một địa bàn chiến lược vô cùng quan trọng của Tổ quốc. Ngay từ buổi đầu đặt chân xâm lược nước ta, thực dân Pháp trước đây cũng như đế quốc Mỹ sau này đều rất chú ý đến địa bàn chiến lược có tính chất sống còn này.

        Thực dân Pháp chiếm Tây Nguyên vào khoảng năm 1890. Chúng ra sức khai thác tài nguyên trên những vùng đất đai màu mỡ, đồng thời lập ngay các đồn binh để cai trị. Tiếp đó, chúng đặt vấn đề “ra sức phòng thủ Tây Nguyên để bảo vệ Đông Dương”. Năm 1928, chúng thành lập các tiểu đoàn bộ binh miền núi. Trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, vào khoảng giữa năm 1946, thực dân Pháp liền tổ chức các lực lượng vũ trang cao nguyên “Forces armées des hauts piateaux) nhằm phục vụ. cho ý đồ chính trị lâu dài của chúng. Lực lượng này có bộ phận tập trung hoạt động công khai, có bộ phận bí mật hoạt động ngấm ngầm trong nhân dân để bám giữ Tây Nguyên một cách lâu dài.

        Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ càng chú trọng đến địa bàn Tây Nguyên hơn. Chúng cho rằng: muốn chiến thắng ở miền Nam Việt Nam thì phải kiểm soát bằng được Cao nguyên Trung phần. Đế quốc Mỹ dùng chính sách thực dân kiều mới, thông qua bọn tư sản mại bản và phong kiến phản động tay sai để nắm Tây Nguyên.

        Về quân sự, dế quốc Mỹ và bọn tay sai muốn biến Tây Nguyên thành tuyến phòng thủ để bảo vệ Dông Dương và là một trung tâm chiến lược nằm trong kế hoạch khống chế toàn bộ vùng Đông - Nam châu Á . Mỹ - ngụy tổ chức các “lực lượng đặc biệt”, biệt kích, đưa lên Tây Nguyên nhiều trung đoàn, sư đoàn, lập các hệ thống chiếm đóng kiên cố, nhiều tuyến, nhiều vòng từ biên giới Lào, Cam-pu-chia đến các trung tâm thị xã, thị trấn để ngăn chặn các cuộc tiến công từ ngoài vào và dàn áp phong trào đấu tranh của các dân tộc. Ngoài việc đầu tư, tăng cường về quân sự, như xây dựng các căn cứ dự trữ lớn, lập đường ống dẫn dầu lên Tây Nguyên, mở rộng các đường chiến lược, nắm chắc và đào tạo các “lực lượng đặc biệt”... đế quốc Mỹ vả bọn tay sai còn ráo riết thi hành chính sách chia để trị bằng mọi thủ đoạn răn đe, mua chuộc hòng thôn tính Tây Nguyên một cách lâu dài.

        Cuộc chiến đấu chống xâm lược, giữ vững cao nguyên miền Tây thiêng liêng của Tổ quốc đã diễn ra vô cùng gay go, quyết liệt suốt gần một phần ba thế kỷ. “Hết Pháp đến Mỹ đã ra sức giành giật, bình định Tây Nguyên hòng đè bẹp các lực lượng cách mạng. Nhưng Tây Nguyên đã đứng vững như núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Tây Nguyên luôn luôn gắn bó với cả nước, và cả nước đã kề vai sát cánh với Tây Nguyên chiến đấu lâu dài và anh dũng, biến Tây Nguyên thành một căn cứ địa thần thánh của cuộc kháng chiến ở miền Nam”1     .

        Mỗi khi nói đến Tây Nguyên, người ta nghĩ ngay tới những con người thật thà, trung thực, cần cù, thông minh và đầy lòng dũng câm, không hề khuất phục trước thiên nhiên, không quỳ gối trước kẻ thù, có một tâm hồn sôi nổi và phong phú. Các bản trường ca Đam San, Sin Nhã... giàu tính chiến đấu và trữ tình; tiếng đàn tơ-rưng, klông-pút... trầm hùng, giéo giắt như tiếng suối xa, tiếng gió ngàn thủ thỉ; cái không khí hào hùng của những đêm vừa kể “khan” vừa mài gươm giết giặc bên ánh lửa bập bùng; mái nhà Rông cao vút trông xa như một tượng đài chiến thắng vẫy gọi mọi người đấu tranh với thiên nhiên, thú dữ… đã phản ánh một phần tính cách và tâm hồn người Tây Nguyên.

        Sống trên địa bàn đất rộng, người thưa, núi rừng hiểm trở ở các dân tộc Tây Nguyên sớm có truyền thống đoàn kết chế ngự, chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm để tồn tại, phát triển. Từ xa xưa, người Tây Nguyên đã có truyền thống thượng võ. Từ cụ già đến em nhỏ đều ưa thích phóng lao, luyện tập cung tên và ở đâu cũng mang theo vũ khí bên người. Săn bắt voi, cưỡi ngựa đuổi thú rừng... đã trở thành tập quán cổ truyền lý thú của nhiều buôn làng. Đồng bào các dân tộc ở dây đều khá thành thạo trong việc gài bẫy, đào hố cắm chông, thò... chống thú dữ phá hoại sản xuất.

        Nhân dân Tây Nguyên đã từng nổi dậy mạnh mẽ dưới ngọn cờ của nghĩa quân Tây Sơn, liên kết với đồng bào Kinh ở các tỉnh miền xuôi, hưởng ứng các phong trào Văn Thân, Cần Vương chống xâm lược. Trong những năm sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, tiếng sủng cứu nước của nhân dân Tây Nguyên không bao giờ ngừng nổ. Các cuộc đấu tranh chống Pháp cướp đất lập đồn điền, chống sưu thuế, chống đi phu làm đường... đã diễn ra liên tiếp. Nhiều cuộc đấu tranh dã diễn ra quyết liệt: cuộc khởi nghĩa của đồng bào Gia Rai do Pa Tơ Pun lãnh đạo, đã giết chết tên quan cai trị Ô-dăng-đan ngày 7 tháng 4 năm 1904 và cuộc nổi dậy của đồng bào Ba Na chống Pháp cướp đất lập đồn điền ở vùng An Khê. Thực dân Pháp đã phải dùng máy bay ném bom triệt hạ hai làng Đê-ba và Đê-cờ-rúi vào ngày 20 tháng 3 năm 1929. Nhiều nơi, nhân dân dã tự tay châm lửa đốt làng, vào rừng sâu lập căn cứ kháng chiến, quyết không đội trời chung với quân xâm lược.

--------------------------
        1. Trích bài nói của đồng chí Lê Duẩn trong cuộc mít tinh do tinh ủy vả ủy ban nhân dân tinh Đắc Lắc tổ chức ngày 11-4-1978 tại thị xã Buôn Ma Thuột, Báo Nhân Dân số 8731, ngày 23-4-1978.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:08:47 PM

        Tiêu biểu cho ý chí bất khuất, quật cường của các dân tộc Tây Nguyên là cuộc khởi nghĩa của A-ma Trang Lơn - người anh hùng đã phất cao ngọn cờ chống thực .dân Pháp khi chúng vừa đặt ách đô hộ trên đất nước ta. Cuộc khởi nghĩa kéo dài suốt 20 năm (1914 - 1934) và lan rộng từ Đắc Lắc đến Lâm Đồng. Bọn thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn đã ra sức dàn áp, nhưng vẫn không dập tắt được tinh thần yêu nước của quần chúng. Đền nay bản anh hùng ca của nghĩa quân vẫn còn vang dội trong lòng nhân dân Tây Nguyên:

                                             Dân Mơ Nông ơi, vùng lên đi!
                                             Con gái đánh bằng chày giã gạo
                                             Con trai cầm dao găm, giáo mác
                                             Tất cả giơ lên như bông lau lách
                                             Giết bằng được tên Hăng-ri Mét.

        Đó là lời thề chiến đấu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đối với quân xâm lược.

        Từ khi ra đời, ánh sáng của Đảng đã chiếu rọi đến rừng núi Tây Nguyên xa xôi, đến với đồng bào các dân tộc qua hình ảnh các chiến sĩ cộng sân ở các nhà lao Công Tum, Đắc Tô, Đắc Lây, Buôn Ma Thuột... Nhờ những tấm gương yêu nước thương nòi, trung thành, bất khuất và vô cùng xúc động ấy mà đồng bào Tây Nguyên sớm có niềm tin ở Đảng, ở cách mạng. Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, những hiểu biết và niềm tin về Đảng đã được biểu hiện tập trung vào Bók Hồ kính yêu. Những tiếng “muối Bók Hồ”, “chữ Bók Hồ”, “bộ dội Bók Hồ”... đã trở nên gắn bó, sâu nặng biết bao trong lòng người Tây Nguyên.

        Chính sách đại đoàn kết dân tộc đúng đắn của Đảng, sự quan tâm săn sóc của Bác Hồ và của Chính phủ đã đáp ứng nguyện vọng sâu xa từ bao đời nay của các dân tộc sống trên dải đất cao nguyên miền Tây xa xôi của Tổ quốc. Chính sách đoàn kết, tôn trọng và bình đẳng giữa các dân tộc đã làm khơi dậy những truyền thống tốt đẹp, đã tập hợp và phát huy cao độ sức mạnh to lớn của các dân tộc Tây Nguyên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Hoảng sợ trước sức mạnh đoàn kết chiến đấu của nhan dân Tây Nguyên, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã dùng mọi thủ đoạn thâm độc nhằm chia rẽ Kinh - Thượng, gây hận thù giữa các dân tộc để dễ bề thống trị. Song chúng đã bị thất bại. Khối đoàn kết keo sơn giữa các dân tộc Tây Nguyên vẫn vững bền như dải Trưởng Sơn muôn đời của Tổ quốc.

        Thấm nhuần chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, khắp buôn làng, rừng núi Tây Nguyên đã anh dũng đứng dậy cùng cả nước đánh giặc suốt hai cuộc kháng chiến. Bằng các loại vũ khí thô sơ: chông, thò, cạm bẫy kết hợp với vũ khí được trang bị và với cách đánh thông minh, độc đáo, nhân dân Tây Nguyên đã lập nên những làng chiến đấu anh hùng, những căn cứ du kích bất khả xâm phạm như Xi-tơ, Xốp-dui, xã Gào, xã B5, Đắc Uy, Khuê Ngọc Điền - những pháo đài của lòng yêu nước mà không một thứ vũ khí nào của giặc Pháp, giặc Mỹ có thè đè bẹp nổi.

        Những con đường chiến lược 14, 19..., những đỉnh đèo An Khê. Măng Giang, những thung lũng Ia Đrăng, Sa Thấy, những cánh rừng Plâỵ Me, Đức Cơ, những vùng núi Chư Pa. Đắc Tô và biết bao địa danh khác ở Tây Nguyên đã trở thành tên của những chiến công bất diệt. Chiến thắng Buôn Ma Thuột (3-1975) mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một khúc ca hùng tráng, mở màn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước cửa nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.

        Nhân dân Tây Nguyên chẳng những cầm vũ khí phối hợp với bộ đội đánh giặc giữ làng, mà còn tích cực sân xuất lương thực nuôi cán bộ, bộ đội, đi dân công cáng thương, gùi đạn, đào hầm đắp ụ, cung cấp tình hình địch và dẫn đường cho bộ đội... “Làm Cách mạng”, ba tiếng thiêng liêng và quen thuộc ấy đã trở thành nguyện vọng, niềm tự hào và là nghĩa vụ chung của mọi người dân, không phân biệt gái trai, lớn nhỏ. Dù đói cơm, nhạt muối, gian khổ, ác liệt đến đâu, đồng bào vẫn một lòng trung thành với cách mạng, luôn luôn lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng.

        Những ai dã từng sống và chiến dầu ở Tây Nguyên trong những tháng năm gian khổ sẽ còn mãi mãi mang theo trọn cuộc đời mình những kỷ niệm sâu sắc về nghĩa tình quân dân cá nước. Có người con gái Gia Rai đã nghiến răng tự cắt tay mình cho bật máu, kiếm cớ vào đồn giặc xin bông băng về cứu chữa cho thương binh dưới hầm bí mật. Biết bao dồng chi thân yêu từ mọi miền của đất nước đã ngã xuống được mồ yên mả đẹp nhờ bàn tay vun đắp và tấm lòng che chở nâng niu của đồng bảo các dân tộc.

        Trong cuộc chiến đấu lâu dài và anh dũng, nhiều người con ưu tú của các dân tộc Tây Nguyên đã trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân : Anh hùng Núp, Kpa Kơ-lơn. A Xâu, Y Buông...

        Kiên cường, bất khuất trước quân thù, thủy chung son ắt với cách mạng. tin yêu Đảng, tôn kính Bók Hồ, săn sàng hy sinh tất cả đề giành độc lập, tự do đã trở thành phẩn chất tốt đẹp của đồng bào các dân tộc. Tây Nguyên luôn luôn xứng dáng với niềm tin yêu của Tổ quốc.

        Khi còn sống, Bác Hồ vô cùng thương nhớ Tây Nguyên! Trung ương Đảng. Chính phủ và nhân dân cả nước đánh giá cao sự hy sinh không bờ bến và lòng dũng cảm tuyệt vời của đồng bào Tây Nguyên… Tổ quốc ta, nhân dân ta và các thế hệ mai sau đời đời biết ơn các liệt sĩ từ khắp mọi miền đất nước đã ngã xuống trên chiến trường Tây Nguyên, mãi mãi ghi nhớ công lao của đồng bào các dân tộc... đã cùng cả nước viết nên những trang sử chói ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam”1     .

        Truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, thế trận chiến tranh nhân dân vĩ đại cùng với vị trí địa lý quan trọng của Tây Nguyên là những điều kiện rất thuận lợi để lực lượng vũ trang cách mạng không ngừng lớn mạnh và cuối cùng đã hoàn thành trách nhiệm lịch sử mà Tổ quốc giao phó: giải phóng Tây Nguyên, góp phần cùng cả nước đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng.

--------------------------
        1. Trích bài nói của đồng chí Lê Duẩn trong cuộc mít tinh do tỉnh ủy vả ủy ban nhân dân tinh Đắc Lắc tổ chức ngày 11-4-1978 tại thị xã Buôn Ma Thuột, Báo Nhân Dân số 8731, ngày 23-4-1978.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:13:31 PM

Chương một

MỘT CHẶNG ĐƯỜNG ĐẤU TRANH MỚI CỦA NHÂN DÂN TÂY NGUYÊN

1. CAO TRÀO ĐỒNG KHỞI

        Ngày 7 tháng 5 năm 1954, dân tộc ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta trong 9 năm đã kết thúc thắng lợi. Quê hương được giải phóng. Hòa bình được lập lại. Nhân dân trong cả nước mừng vui.

        Trong niềm vui chung của cả nước, đồng bào miền Nam lưu luyến tiễn đưa con em mình đi tập kết ra Bắc theo điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Người ra đi đinh ninh hai năm sẽ trở về, kẻ ở lại nguyện son sắt, thủy chung tranh đấu...

        Nhưng, niềm vui và ước mơ như bình minh vừa lóe sáng dã bi mây đen bao phủ. Hiệp định Giơ-ne-nơ bị phá hoại. Mỹ hất cẳng Pháp, dưa Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng bù nhìn, thiết lập ở miền Nam Việt Nam một chính quyền tay sai thân Mỹ, độc tài và phát xít. Nỗi đau chia cắt lại trùm lên cả dân tộc. Và, tiếng thét căm thù, tiếng gọi dấu tranh một lần nữa lại vang lên mạnh mẽ từ mũi Cà Mau đến vùng cực bắc của Tổ quốc.

        Ngày 2 tháng 2 năm 1955, Ngô Đình Diệm ban hành chính sách “tố cộng, diệt cộng”, mở đầu một thời kỳ vây quét tàn sát dã man nhất của chúng. Đi dôi với chính sách “tố cộng, diệt cộng” tàn bạo, đẫm máu, Mỹ - Diệm ráo riết cướp đất, dồn dân vào các “khu trù mật”, “dinh điền” với chiêu bài “cải cách điền địa”, “tái định cư”. Mỹ - Diệm đã biến miền Nam thành địa ngục trần gian, hàng vạn người yêu nước đã bị giam căm và giết hại.

        Tây Nguyên là trọng điểm thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng” và “tái định cư” của Diệm. Thủ đoạn của chúng là vừa dụ dỗ mua chuộc, vừa khủng bố tàn sát. Năm 1956, 1957, địch đã đem xe ủi đất phá sạch các buôn làng, nương rẫy. Chúng đã giày xéo lên mảnh đất thân thương đã gắn bó với đồng bào các dân tộc suốt nhiều thế hệ liên tục dấu tranh với thiên nhiên, với thú dữ và giặc ngoại xâm để tồn lại. Đồng bào các dân tộc đã bị dồn vào những “khu trù mật”, “dinh điền” bao quanh các căn cứ quân sự, dọc đường chiến lược. Với “chiến dịch Thượng du vận”, đêm ngày những cuộc vây ráp, bắt bớ, truy nã, chém giết diễn ra khốc liệt. Mỹ - Diệm còn dùng thủ đoạn chia để trị, kích động hằn thù dân tộc, chia rẽ người Kinh với người Thượng, giữa các dân tộc với nhau, gây nên cảnh “nồi da xáo thịt” thâm độc. Nhiều cán bộ Đảng và quăn chúng trung kiên bị bắt hoặc bật ra khỏi cơ sở. Thực chất chính sách “tố cộng, diệt cộng” và “tái định cư” của Mỹ - Diệm là nhằm quét sạch lực lượng cách mạng khỏi Tây Nguyên, kẹp chặt quần chúng, chiếm cứ địa bàn chiến lược quan trọng để đánh phá phong trào cách mạng miền Nam mà trực tiếp là Khu 5.

        Âm mưu thâm độc và hành động man rợ của Mỹ - Diệm càng khơi sâu lòng căm thù giặc của nhân dân Tây Nguyên. Vốn rất quý trọng độc lập, tự do, từng theo Đảng và Bác Hồ cùng cả nước chống thực dân Pháp, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã nhận thức được: “Nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chưa phải đã hoàn thành. Cuộc đấu tranh ái quốc không vi đình chiến mà kết thúc. Cuộc chiến tranh đó còn dang tiếp tục”1     .

        Trong những ngày cuộc chuyển quân tập kết dang diễn ra sôi động, mọi người đều hướng về miền Bắc và Bác Hồ kính yêu, mong được gặp Bác, được nghe Bác dặn dò thì một số đồng chí cán bộ, đảng viên được phân công ở lại làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh mới. Họ đã nén ước mơ cháy bỏng được gặp Bác Hồ, để nhận lấy phần gian khổ, hy sinh. Cán bộ, đảng viên người Kinh, người Thượng được tăng cường cho các dâng bộ địa phương ở Tây Nguyên đã sát cánh lên nhau xuống các buôn làng, tuyên truyền, vận động giác ngộ quần chúng. Những đảng viên người Kinh đã cà răng, xâu tai, đóng khố và trở thành những “cán bộ nằm vùng”, những người con, những người đồng chí tin yêu của nhân dân Tây Nguyên. Đồng bào các dân tộc đã ra sức che chở, đùm bọc, nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ hoạt động với tất cả tấm lòng tin tưởng sắt son vào cách mạng. Đường lối của Đảng. ánh sáng của cách mạng qua đội ngũ cán bộ, đảng viên “nằm vùng” đến với đồng bào các dân tộc, giữ vững lòng tin cho họ, khơi dậy trong họ lòng yêu nước và căm thù Mỹ - Diệm. Nhờ đó, những cuộc đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà ngay từ cuối năm 1954 đã dấy lên sôi nổi, mạnh mẽ bằng nhiều hình thức phong phú như biểu tình, tuần hành, cử đại biểu đến chất vấn địch, v.v. Phong trào đấu tranh đó đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, kể cả học sinh và binh lính người Thượng. Ở Công Tum, Plây Cu, An Khê, Buôn Ma Thột, đàng bộ các địa phương đã tổ chức cho hàng vạn lượt người kéo vào thị xã, thị trấn, quận lỵ đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ Trước làn sóng đấu tranh của nhân dân các dân tộc, tên Peo tỉnh trưởng Pkây Cu và nhiều tên tay sai khác hốt hoảng chạy trốn.

--------------------------
        1. Trích Nghị quyết Bộ Chính trị, tháng 9 năm 1954.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:15:47 PM

        Quyết liệt và gian khổ nhất là cuộc đấu tranh chống “tố cộng”, chống cướp đất dồn dân, lập “Khu trù mật” từ năm 1957 đến năm 1960. Đây là thời kỳ cao điểm Diệm thực hiện chính sách phản động này ở Tây Nguyên. Chúng kiểm soát gắt gắt mọi sinh hoạt, đi lại của nhân dân, nhằm cắt đứt liên lạc; triệt nguồn tiếp tế cho cán bộ. Chúng tăng cường quân đội, cảnh sát thẳng tay khủng bố đồng bào với khẩu hiệu “bắn nhầm hơn bỏ sót”. Chúng treo giải thưởng 5.000 đồng (tiền ngụy) một đầu cán bộ. Sự tàn bạo của kẻ thù đã lên đến tột đỉnh. Cuối năm 1958, địch tàn sát một lúc 80 đồng bào ở Plây Ngo huyện 5 (Gia Lai). Chúng đã đốt sạch nhà cửa, phá sạch nương rẫy và công cụ lao động, chêm giết cả người già, phụ nữ, trẻ em, hòng làm cho nhân dân khiếp sợ, khuất phục chúng. Song, kẻ thù càng tàn bạo thì sự vùng dậy của nhân dân Tây Nguyên càng mãnh liệt. Nhân dân Tây Nguyên có câu phương ngôn “Muốn thành tre, măng phải đội đất mà lên”. Và họ đã “đội đất” đứng dậy quyết sống mái với quân thù. Ngọn lửa đấu tranh chống “tố cộng”, chống cướp đất dồn dân bùng cháy, lan rộng toàn Tây Nguyên. Nhân dân vùng Krông Pách (Đắc Lắc), huyện 4, huyện 5, vùng Hờ Nừng (Gia Lai), huyện 40, 67, 80, (Công Tum) đã nổi dậy diệt ác ôn, tề điệp, rào làng chiến đấu, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “tố cộng”, “dồn dân” của địch. Những tên tay sai ở các nơi địch đưa về lập ấp, kìm kẹp quần chúng đều bị thủ tiêu. Cán bộ đảng và cơ sở cách mạng được bảo vệ. Trước sự khủng bố khốc liệt và truy nã ráo riết của địch, cán bộ, đảng viên và quần chúng trung kiên của Đảng đã nêu cao ý chí kiên cường bất khuất, vượt mọi gian nguy, kiên trì bám sát quần chúng. Nhiều đồng chí bị địch bắt tra tấn chết đi sống lại vẫn không một lời xưng khai, trước lúc hy sinh còn tìm cách tiến công lại kẻ thù. A Vừu bị địch bắt; chúng chặt tay, xẻo tai, khoét mắt, rút từng mảng thịt hòng khuất phục anh. Nhưng anh đã gan góc chống lại kẻ thù đến hơi thở cuối cùng, bảo vệ được bí mật của Đảng, bảo vệ những đồng chí, đồng bào của anh tiếp tục hoạt động. Anh đã nêu một tấm gương sáng chói về ý chí kiên cường, phẩm chất cách mạng cao đẹp của người cộng sản. Những tấm gương như thế đã giữ vững niềm tin, nâng cao tinh thần đấu tranh cho quần chúng và làm cho Đảng ngày càng bám rễ vững chắc ở Tây Nguyên. Tin yêu Đảng và Bác Hồ, đồng bào các dân tộc đã đặt tất cả lòng tin yêu của mình vào cán bộ đảng. Những năm đen tối nhất của cách mạng, Tây Nguyên thiếu muối, thiếu gạo, đồng bào phải ăn tro tranh thay muối, củ mài thay cơm, bệnh tê phù, mờ mắt, bướu cổ phát triền. Nhưng bà con vẫn chắt chiu, dành dụm từng hạt muối, lon gạo, lựa thời cơ mang tiếp tế nuôi dưỡng cán bộ, gây dựng phong trào, phát triển lực lượng.

        Tháng 4 năm 1959, nhân dân lâng Tà Boóc huyện 40 (Công Tum) đã lập mưu chuốc rượu diệt gọn tốp địch 4 tên, thu 3 súng. Chị Y Ngã là người phụ nữ dũng cảm lập công đầu. Nhân lúc địch say rượu, chị xông đến ôm chặt tên trung úy ngụy cho chồng chém đầu hắn. Không đội trời chung với giặc, không uống chung con nước với lũ ác ôn, diệt xong tốp địch, nhân dân Tà Boóc đã nổi lửa đốt làng, kéo vào rừng sống “bất hợp pháp” với địch. Tiếp theo Tà Boóc, tháng 11, tại Gia Lai, một tiểu dội địch vào cướp phá làng Xung Ia O, chị Rơ Chăm Panh đã huy động dân làng dùng gậy đập chết cả bọn, thu 7 súng, rồi đốt làng kéo vào rừng lập làng mới. Noi gương Tà Boóc, Xung Ia O, đồng bào Mang Khênh (Công Tum), buôn Sâm (Đắc Lắc) và nhiều làng ở Gia Lai đứng lên díệt tề điệp ác ôn, dời làng vào rừng, chống địch.

        Cuộc nổi dậy của đồng bào Tà Boóc, Xung Ia O là hồi trống trận vang rền trên núi rừng Tây Nguyên, giục giã người người kiên quyết đứng lên cầm vũ khí đánh giặc với tinh thân thà hy sinh tất cả chứ không đi cùng đường với Mỹ - Diệm. Tấm gương các chị Y Ngã, Rơ Chăm Panh tiêu biểu cho truyền thống bất khuất kiên cường của nhân dân Tây Nguyên, là biểu tượng đẹp đẽ về lòng dũng cảm, mưu trí cửa phụ nữ các dân tộc ít người.

        Trước sức đấu tranh kiên quyết của nhân dân, địch đã thất bại. không lập được chính quyền tay sai trên hai phần ba số xã. Phong trào đấu tranh của quần chúng được giữ vững. Lực lượng lãnh đạo phát triển. Các khu căn cứ cách mạng được hình thành. Các đội du kích ra đời. Đây là nhân tố quyết định sự phát triển của các phong trào đấu tranh thắng lợi của nhân dân Tây Nguyên.

        Chính sách “tố cộng”, “tái đinh cư” của Mỹ - Diệm mới ra đời đã vấp phải làn sóng chống trả quyết liệt, và những thủ đoạn nham hiểm của chúng từng bước bị nhân dân Tây Nguyên đánh bại. Lầu năm góc Mỹ phải cay đắng thú nhận: “Chính sách định cư sớm gây ra những phản ứng chính tri không ngờ của người Thượng ở Tây Nguyên. Các bộ lạc thù ghét chống lại chính sách của chính phủ Việt Nam” (Diệm)1     .

--------------------------
        1. Theo tài liệu của bộ quốc phòng Mỹ.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:16:39 PM

        Tháng 5 năm 1959, Nghi quyết 15 của Trung ương Đảng ra đời. Nghị quyết vạch rõ phương hướng cho cách mạng miền Nam là: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam lả con dường bạo lực”. Phương châm đấu tranh lúc này là: “Chính trị là chủ yếu có vũ trang hỗ trợ”. Về vấn đề dân tộc, Nghị quyết 15 của Trung ương chủ trương: “Các dân tộc thiểu số bao gồm trên một triệu người sống trên một vùng rừng núi rộng lớn (hai phần ba ở miền Nam) ở vào một vị trí chiến lược quan trọng. Họ có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm và kiên quyết dấu tranh chống Mỹ - Diệm”. Đảng phải có chính sách dân tộc đúng đắn, đoàn kết các dân tộc thiều số đấu tranh chống đế quốc, phong kiến ở miền Nam, nâng cao tinh thần cửa họ chống Mỹ - Diệm”

        Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng đã đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của tình hình và nguyện vọng bức thiết của đồng báo các dân tộc Tây Nguyên. Nó là ánh sáng chói lọi xuyên qua bao lớp mây mù, chiếu rọi xuống các buôn làng, nương rẫy, làm bùng cháy trong lòng nhân dân Tây Nguyên ngọn lửa đồng khởi vốn đã được nhen nhóm. Cái “cẩm nang” thần kỳ mở đường cho dân tộc ta đi tới tương lai đây rồi! Đảng bộ Công Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và những cán bộ, đảng viên “nằm vùng” xây dựng cơ sở sung sướng, xúc động đến chảy nước mắt, và đã nhanh chóng tiếp thụ Nghị quyết với lòng tràn dầy phấn khởi. lạc quan, tín tưởng. Cả Tây Nguyên dâng lên cao trào “làm cách mạng” của quần chúng. Cán bộ, đảng viên đưa nhau đi tìm đào vũ khí chôn giấu sau ngày ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, để trang bị cho dân quân du kích, thành lập lực lượng vũ trang. Những lò rèn trước đây rèn dao rựa phát rẫy, giờ đây được mở rộng rèn thêm giáo mác đánh giặc. Khắp các buôn làng, nam nữ thanh niên nô nức gia nhập lực lượng vũ trang. Các ban quân sự tỉnh, huyện gấp rút được thành lập do các đồng chí bí thư hoặc phó bí thư làm trưởng ban. Ở các xã, thành lập ban chỉ huy xã đội. Các tiểu đội, trung đội dân quân du kích ở các buôn làng được thành lập. Thời cơ cách mạng đã điểm, các đảng bộ địa phương quyết từ hai bàn tay trắng dựng nên cơ đồ, đã nhanh chóng xây dựng các trung đội bộ đội địa phương huyện. Trang bị chủ yếu là giáo mác, cung tên. Mỗi trung đội chủ lực được ba, bốn khẩu súng trường cũ vừa tìm dược. Riêng trung đội bộ đội địa phương huyện 5 (Gia Lai) được 9 khẩu súng trường lấy của địch. Tỉnh ủy Đắc Lắc xây dựng được tổ đặc công 9 đồng chí và một trung đội chủ lực của tỉnh (tiền thân của tiểu đoàn 301 Đắc Lắc). Đồng bào góp vải may quần áo cho bộ đội. Các chiến sĩ đã lấy da thú khâu bao đựng đạn, lấy mây rừng bện thành dây mang súng. Lương thực nuôi bộ đội, gạo tính từng lon, muối đếm từng hạt. Ngô, sắn là nguồn sống chính. Gian nan vất vả, nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn vững niềm tin.

        Mới thành lập, nhưng các đội dân quân du kích xã, bộ đội địa phương huyện đã hỗ trợ tích cục cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, thúc đẩy phong trào diệt ác, phá kìm phát triển. Du kích xã A3 (Gia Lai) sau hai tháng thành lập đã diệt gọn một tiểu đội địch đi lùng sục. Du kích và bộ dội địa phương huyện 7 phục kích đánh tan cuộc vây ráp của địch, giết chết tên Cay ác ôn, bảo vệ được cơ sở cách mạng. Được lực lượng vũ trang hỗ trợ đắc lực, khí thế cách mạng của quần chúng sục sôi. Tình thế cách mạng đã chín nuồi. Sau những năm đấu tranh giữ gìn và phát triển lực lượng, giờ dây phong trào cách mạng Tây Nguyên đã chuyển lên thế tiến công, mở đầu bằng cuộc đồng khởi Đắc Tả oanh liệt.

        Dưới ánh sáng Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, ngày 2 tháng 1 năm 1960, cuộc đồng khởi Bến Tre bùng nổ và nhanh chóng lan rộng khắp các tỉnh Nam Bộ. Nắm lấy thời cơ, Khu ủy Khu 5 đã phát động cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở các tỉnh Trung Trung Bộ. Như mạch nước được khơi nguồn, ngày 20 tháng 10 năm 1960, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của tỉnh ủy Công Tum, quân và dân trong tỉnh đã đồng loạt tiến công và nổi đậy, tiêu diệt các đồn Đắc Rú, Đắc Lây, Đắc Bung, Đắc Tả, bắt 300 tên địch, thu 50 súng. Ở phía đông Công Tum, lực lượng vũ trang tiến công tiêu diệt vị trí Măng Đen, Măng Bút, chặn đánh địch trên đường số 5 diệt 7 xe quân sự. Kết hợp với đòn tiến công quân sự, nhân dân các dân tộc vùng bắc và đông Công Tum nổi dậy chặt rào phá banh các “ấp chiến lược” giành quyền làm chủ.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:18:17 PM

        Cuộc đồng khởi Đắc Tả như ngọn lửa rừng gặp gió đã bùng cháy khắp Tây Nguyên. Ở Gia Lai, Đắc Lắc, dưới sự chỉ đạo của tỉnh ủy, lực lượng vũ trang và quần chúng nồi dậy áp đảo địch. Ngày 23 tháng 10 năm 1960, lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai tiến công tiêu diệt đồn Can Nác, sau đó đánh chiếm khu dinh điền Lệ Thanh. Địch đóng ở đồn bót lẻ hoảng sợ co về các quận lỵ. Nhân dân huyện 4, huyện 5 nồi dậy phá banh các “ấp chiến lược”, khu dồn, mở rộng vùng căn cứ. Ở Đắc Lắc, sau cuộc biểu tình lớn 2.000 người chống Diệm ở Ea Nu, đêm 27 tháng 10 năm 1960, quân và dân trong tỉnh đánh chiếm đồn Plây Lốc, Ea Nu, Ea Thu, hỗ trợ cho nhân dân vùng đông và bắc thị xã Buôn Ma Thuột nổi dậy giành quyền làm chủ.

        Qua cuộc đồng khởi, Tây Nguyên đã giải phóng 53 ngàn dân, hình thành thêm nhiều căn cứ “ lõm” cách mạng, vừng giải phóng mở rộng liên hoàn.

        Ngày 20 tháng 10 năm 1960 là cái mốc lịch sử mở đầu cao trào đồng khởi của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, báo hiệu sự phá sản tất yếu của những chính sách phản động của Mỹ - Diệm trên dải đất miền Tây rực lửa của Tổ quốc.

        Ngày 20 tháng 12 năm 1960, mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng miền Nam. Khí thế cách mạng của quần chúng dược cổ vũ dâng lên mạnh mẽ.

        Tháng 1 năm 1961 Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp nhận định: “Thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm đã chấm dứt và thời kỳ khủng hoảng triền miên đã bắt đầu. Các hình thức du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần đã xuất hiện, mở đầu cho cao trào cách mạng ở miền Nam”1     . Bộ Chính tri chỉ rõ phương châm đấu tranh trong thời gian tới là “đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả hai mặt trận chính trị và quân sự”2     .

        Thời gian này ở Tây Nguyên, địch tập trung quân đánh phá vào các khu căn cứ của ta và ráo riết thực hiện kế hoạch xúc dân, lập “ấp chiến lược” với quy mô lớn, tàn bạo, hòng lập lại thế trận đã mất. Ta gặp khó khăn về kinh tế, lực lượng cách mạng còn non yếu, nên địch đã lấn lại một số “vùng lõm” ta giành được trong cuộc đồng khởi. Những vừng địch tạm thời kiểm soát, chúng dùng thủ đoạn vừa mua chuộc vừa khủng bố đánh phá cơ sở cách mạng. Phong trào đấu tranh chính trị bị đich thẳng tay đàn áp đẫm máu, một số nơi bị chừng lại.

        Thấu suốt phương châm đấu tranh mới của Đảng, đứng trước tình hình phức tạp cửa chiến trường Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 chủ trương dùng lực lượng chủ lực mở đợt tiến công vào quân địch, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, củng cố phong trào.

        Lúc này, Bộ Tổng tư lệnh bổ sung cho Tây Nguyên tiểu đoàn 200 pháo binh. Giữa tháng 1 năm 1961, tiểu đoàn vào đến chiến trường. Đơn vị gồm 148 cán bộ, chiến sĩ được chọn từ hai tiểu đoàn pháo của sư đoàn 324 và 305, trang bị sơn pháo 75, cối 81 và 60 mi-li-mét, một ít tiểu liên cải tiến. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của Tây Nguyên, tuy lúc đầu lực lượng ít, trang bi còn nghèo, những tiền đồ của nó rộng lớn, đầy hứa hẹn.

        Đến chiến trường, tiểu đoàn 200 được Khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở ở huyện 40 (Công Tum), để củng cố căn cứ đứng chân cho lực lượng lớn của ta sau này, đồng thời gấp rút mở hình lang chiến lược Bắc - Nam và bí mật “xoi” các con đường từ bắc Công Tum xuống căn cứ Khu 5.

        Chấp hành chủ trương của Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5, tháng 9 năm 1960 bộ đội chủ lực Quân khu từ đồng bằng hành quân lên Tây Nguyên mở đợt tiến công tiêu diệt cứ điểm Đắc Hà nằm trên dường 14 phía bắc thị xã Công Tum. Đang mùa mưa lớn, địa hình mới lạ, hiểm trở, lực lượng chủ lực Quân khu đã phải khắc phục nhiều khó khăn, nổ súng đúng quy định. Chỉ sau ít gìờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt hoàn toàn quân địch chiếm đóng Đắc Hà, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang Công Tum và quần chúng diệt ác ôn, phá “ấp chiến lược” mở rộng vùng căn cứ phía bắc. Đắc Hà là chiến thắng lớn nhất ở Tây Nguyên năm 1961, đã tạo đà cho quân và dân huyện 67, 30, 29 (Công Tum), huyện 5, 7, An Khê (Gia Lai), huyện Buôn Hồ, Phước An (Đắc Lắc) tiến công và nổi dậy tiêu diệt, lâm tan rã từng đơn vị trung đội dân vệ, bâo an của địch, giải phóng hàng chục “ấp chiến lược”, “dinh điền”.

        Chiến thắng Đắc Hà dã củng cố và giữ vững niềm tin cho quần chúng trước làn sóng khủng bố của địch, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến sĩ tiều đoàn 200 cùng với cấp ủy địa phương nhanh chóng xây dựng các tổ chức quần chúng, chính quyền ấp, xã và các đội du kích ở huyện 40, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mở hành lang chiến lược Bắc - Nam.

        Trên chiến trường toàn miền, nhân dân ta liên tỉếp giành những thắng lợi lớn. Địch bị giáng những đòn nặng đề. Ngụy quân, ngụy quyền ở khắp các nơi hoang mang, dao động có nguy cơ dẫn đến tan rã lớn.

--------------------------
        1, 2. Trích Nghị quyết Bộ Chính trị, tháng 1 năm 1961.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:21:26 PM

        Để cứu vãn tình thế, ngày 16 tháng 11 năm 1961, tổng thống Mỹ Ken-nơ-di quyết định đẩy cuộc “chiến tranh đặc biệt” lên nấc thang cao hơn. Ken-nơ-di đã cử Xta-lây và Tay-lo lần lượt sang miền Nam Việt Nam nghiên cứu vạch kế hoạch tăng cường viện trợ quân sự cho ngụy quyền Sài Gòn, đưa thêm “cố vấn”, quân chiến dấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Tính đến tháng 5 năm 1963, lực lượng Mỹ ớ miền Nam lên tới 13 nghìn 500 tên, trong đó có 13 đại đội máy bay phân lực chiến đấu1     . Cùng thời gian này, quân ngụy tăng lên 385 nghìn tên. Chúng bắt đầu mở những cuộc càn quét lớn với chiến thuật “Phượng hoàng bay”, “Thiết xa vận” hòng “bình định” miền Nam trong vòng 18 tháng.

        Hành động của Mỹ, ngụy đã bị các cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam chặn đứng. Các chiến thuật “tân kỳ” và âm mưu thâm độc của Mỹ, ngụy liên tiếp bí phá sản trước các cuộc tiến công của ta, nhất là sau cbiến thắng Ấp Bắc vang dội.

        Được chiến thắng toàn miền cổ vũ và hỗ trợ, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5, Tây Nguyên tiếp tục tiến công dịch trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự, binh vận. Đảng bộ các tinh Tây Nguyên đã tổ chức gần ba nghìn cuộc đấu tranh chính trị với hàng chục vạn lượt người tham gia. Bên cạnh các cuộc đấu tranh chính trì, binh vận, lực lượng vũ trang đã mở những trận tiến công địch thắng lợi. Đặc biệt là những hoạt động của bộ đội chủ lực, tuy mới thành lập, lực lượng ít nhưng đã tỏ rõ là đội quân trăm trận trăm thắng, khiến cho địch nơm nớp lo sợ.

        Lúc này chủ lực Tây Nguyên có thêm tiểu đoàn 40 đặc công của Quân khu 5 tăng cường.

        Tiểu đoàn 200 sau những nám phân tán làm nhiệm vụ mở dường, xây dựng cơ sở, được tập hợp lại, ổn định tổ chức và huấn luyện, bước vào đợt “thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công” do Quân khu 5 phát động. Tháng 5 năm 1963, tiểu đoàn ra quân dùng súng cối 81 bắn phả đồn Đắc Pét, chi viện cho lực lượng địa phương Công Tum đột nhập phá “ấp chiến lược” Đắc Tung, Đắc Rú. .. trên dường 14. Lần đầu tiên pháo, cối ở Tây Nguyên xuất hiện, hệ thống dồn bốt địch khu vực Đắc Tô, Đắt Pét trực tiếp bị uy hiếp. Trung đoàn 42 ngụy liền mở cuộc hành quân càn quét sâu vào vùng căn cứ bắc Công Tum nhằm giải tỏa sức ép của ta, yểm trợ cho bảo an, dân vệ dồn dân lập “ấp chiến lược”. Các chiến sĩ tiểu đoàn 200 pháo binh và tiều đoàn 407 đặc công đã chặn đánh quyết liệt, phá tan cuộc càn của trung đoàn 42 ngụy, diệt hàng trăm tên.

        Tháng 6 năm 1963, tiểu đoàn 200 và tiểu đoàn 407 bí mật hành quân vào Gia Lai tiến công trại biệt kích Plây Mơ-rông. Nhờ chuẩn bị chu đáo, hiệp đồng chặt chẽ giữa pháo cối và đặc công, giữ dược bí mật, bất ngờ, ta đã tiêu diệt hoàn toàn một tiểu đoàn địch, làm chủ trận địa. Đây là trận đánh xuất sắc đạt hiệu suất chiến đấu cao. Lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, bộ đội ta tiêu diệt gọn một tiểu đoàn địch trong công sự vững chắc. Trận thắng Plây Mơ-rông đã gây tác động lớn về tâm lý và chính trị đối với địch, nhất là bọn ngụy quân, ngụy quyền ở các quận, huyện.

        Sau trận thắng Plây Mơ-rông, các chiến sĩ tiểu đoàn 200 và 407 lại hành quân ra bắc Công Tum, bao vây tiến công căn cứ Đắc Pét đêm 11 tháng 11 năm t963. Trận đánh thắng lợi giòn giã. Quân địch đóng ở Đắc Pét hoàn toàn bị tiêu diệt. Vừa tập trung lực lượng diệt đồn. đánh giải tỏa, ta còn tổ chức các đội vũ trang tuyên truyền đột nhập vào các “ấp chiến lược” dọc đường 14 và ven thị xã Công Tum, diệt bọn ác ôn đầu sỏ, cảnh cáo bọn bảo an, dân vệ; giác ngộ nhân dân, tổ chức các tổ tự vệ mật. Nhân đà lực lượng vũ trang ta thắng lớn, Diệm bị lật đổ (tháng 11 năm 1963), bọn bảo an dân vệ, cảnh sát các nơi hoang mang, các đảng bộ Tây Nguyên đã phát động quần chúng nổi dậy diệt ác phá kìm, bung về làng cũ. Nhân dân các huyện 40, 67, 80, 29 nổi dậy phá banh hệ thống “ấp chiến lược” chung quanh thị xã Công Tum. Ở Gia Lai, đồng bào ven sông Ea Dun, huyện 6 và xung quanh An Khê nppri trống mõ vây bắt tề điệp, ác ôn, phá các khu dồn dân, bung về làng cũ. Ở Đắc Lắc, tỉnh ủy huy động hàng nghìn dân đi phá đường, đắp ụ chướng ngại, ngăn chặn các cuộc càn quét, dồn dân của địch, v.v.

        Toàn Tây Nguyên 40% “ấp chiến lược”, “dinh điền” bị phá banh. Vùng giải phóng bắc Công Tum, tây Gia Lai, nam Đắc Lắc được mở rộng và củng cố. Qua các cuộc đấu tranh chính trị, binh vận và tiến công quân sự. quần chúng được tổ chức chặt chẽ, thống nhất, tạo nên khí thế mới ở vùng căn cứ, khơi dậy và củng cố được phong trào ở vùng ven và đô thị. Ba thứ quân của ta hình thành và phát triển. Vùng căn cứ mỗi xã đã có từ 1 đến 2 trung đội du kích, mỗi huyện có 1 đại đội hoặc trung đội bộ binh, mỗi tỉnh có từ 1 đến 2 đại đội bộ binh.

        Dưới ánh sáng Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, cuộc dấu tranh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã tiến những bước nhảy vọt, từ đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ tiến lên đấu tranh vũ trang là chủ yếu. Trong đó, bộ đội chủ lực đã phát huy dược vai trò nòng cốt, liên tục tiến công tiêu diệt và tiêu hao lực lượng quân sự địch, hỗ trợ đắc lực cho lực lượng vũ trang địa phương cùng lực lượng chính tri của quần chúng đập tan bộ máy kìm kẹp của địch ở một sổ vùng, giành quyền làm chủ, tạo dược địa bàn đứng chân cho lực lượng chính tri và quân sự.

--------------------------
        1. Theo tài liệu của bộ quốc phòng Mỹ.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:30:34 PM

2. THÀNH LẬP MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN ĐẨY MẠNH TIẾN CÔNG QUÂN SỰ

        Nhận rõ vi trí chiến lược Tây Nguyên ngay trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong báo cáo của Tổng Quân ủy được Bộ Chính trị thông qua ngày 27 tháng 11 năm 1953 đã chi rõ: “Lực lượng ta có phát triển vào Tây Nguyên thì mới giành dược thế chiến lược quan trọng nhất ở miền Nam. Nếu thế chiến lược đó ở trong tay địch thì cục diện miền Nam rất khó cải biến”. Tháng 1 năm 1961, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp đánh giá tình hình cách mạng miền Nam sau cao trào đồng khởi, đề ra phương châm đấu tranh ba vùng, đã xác định: “Ở vùng rừng núi lấy đấu tranh quân sự làm chủ yếu và phải có nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch và xây dựng lực lượng của ta”. Nghị quyết 9B của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 năm 1963 vạch phương hướng đấu tranh cho cách mạng miền Nam trong tình hình mới đã nhấn mạnh: “Điều quan trọng nhất, quyết định nhất trong bất cứ trường hợp nào cũng phải nỗ lực tăng cường lực lượng của ta về mọi mặt, đặc biệt là lực lượng quân sự”.

        Cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân miền Nam đang đứng trước thời cơ chiến lược mới. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ đã bị thất bại nặng nề. Lực lượng cách mạng miền Nam phát triển mọi mặt, có khả năng giáng những đòn tiêu diệt lớn để đưa cách mạng tiến lên.

        Thực hiện các nghị quyết của Trung ương Đảng, trên chiến trường Tây Nguyên, chiến tranh du kích được mở rộng, có điều kiện thuận lợi để tiến lên xây dựng những binh đoàn chủ lực tập trung.

        Ngày 1 tháng 5 năm 1964, Mặt trận Tây Nguyên được thành lập, lấy phiên hiệu là “Chiến trường B3”.

        Quá trình tiến hành chiến tranh cách mạng, Tây Nguyên luôn gắn chặt với sự lãnh đạo của đảng bộ Khu 5, Quân khu 5 đã thành lập bộ phận tiền phương ở Tây Nguyên do đồng chí Hà Vi Tùng và Dương Liên phụ trách. Mặt trận Tây Nguyên chính thức ra đời. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 cử đồng chí Nguyễn Chánh làm Tư lệnh, đồng chí Đoàn Khuê làm Chính ủy cùng một số cán bộ cao cấp, trung cấp hình thành ba cơ quan. Mặt trận Tây Nguyên thành lập đánh dấu giai đoạn phát triển nhảy vọt của phong trào cách mạng của nhân dân Tây Nguyên và lực lượng vũ trang trên chiến trường, là yêu cầu khách quan của lịch sử, phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của cuộc chiến tranh giải phóng ở nước ta.

        Vừa thành lập, Mặt trận Tây Nguyên đã bắt tay vào thực hiện sứ mạng vẻ vang của Quân ủy Trung ương, Bộ Tồng tư lệnh giao cho chiến trường: Xây dựng Tây Nguyên thành chiến trường đánh tiêu diệt lớn, có đội quân chủ lực mạnh làm nòng cốt thúc đẩy ba thứ quân phát triển; tiêu diệt, tiêu hao nhiều và rộng rãi sính lực, phương tiện chiến tranh của địch; thu hút và giam chân lực lượng chủ lực cơ động Mỹ, nguỵ, tạo điều kiện cho đồng bằng và thành phố nổi dậy; phối hợp chặt chẽ với Trị - Thiên, Đông Nam Bộ và các chiến trường khác tiến công địch trong những thời điểm chiến lược.. Đồng thời xây dựng hậu phương trực tiếp của chiến trường thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng miền Nam và Đông Dương, xây dựng, bảo vệ hành lang chiến lược nối liền hậu phương lớn với tiền tuyến lớn, phá thế chia cắt của địch, tiến lên chia cắt địch.

        Đây là nhiệm vụ xuyên suốt trong quá trình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng nhiệm vụ của chiến trường, Đảng ủy và Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên khẩn trương ổn định tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy đợt chiến đấu Hè - Thu theo chỉ thị của Quân khu 5.

        Bước vào chiến dấu, lực lượng chủ lực Tây Nguyên ngoài tiểu đoàn 200 pháo binh, tiểu đoàn 407 đặc công, còn có thêm tiểu đoàn 303 súng máy của Quân khu bổ sung.

        Thời tiết dã vào mùa mưa. Đất rừng sũng nước, lầy lội. Dân công huyện 4ỏ, huyện 67 được huy động phục vụ cho trận đánh mở màn Plây Cơ-rông ở phía bắc Công Tum. Không có ni-lông che mưa, dân công và bộ đội tìm chặt những tàu lá chuối rừng che cho hàng và súng đạn. Gian nan, vất vả, nhưng không ai sờn lòng nản chí, vì họ hiểu rõ ý nghĩa quan trọng của trận mở đầu.

        Đêm 3 rạng ngày 4 tháng 7 năm 1964, các chiến sĩ tiểu đoàn 200 và tiểu đoàn 407 nổ súng đánh địch. Trận đánh kéo dài gần 10 tiếng đồng hồ. Tiểu đoàn bảo an số 104 và 9 tên cố vấn Mỹ bị tiêu diệt. Ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Plây Cơ-rông được giải phóng. Chiến thắng Plây Cơ-rông được Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba. Đây là tấm Huân chương Quân công đầu tiên của bộ đội chủ lực Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đánh dấu sự trưởng thành về nhiều mặt của bộ đội ta.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:31:48 PM

        Được chiến thắng Plây Cơ-rông cổ vũ, trên mặt trận đấu tranh chính trị và binh vận, nhân dân Đắc Lắc nắm vững phương châm dấu tranh, vận động được một số binh lính trung đoàn 45 ngụy ở Buôn Ma Thuột chống lệnh chỉ huy không đi càn quét khu vực Buôn Hồ, Phước An. Dân quân du kích và đồng bào Kinh, Thượng nổi dậy triệt ác ôn, phá kìm kẹp, giải phóng hàng chục “ấp chiến lược”, “dinh điền” trong tỉnh. Bọn bảo an, dân vệ một số nơi tan rã, nộp súng trình diện với cách mạng. Ở Gia Lai, nhân dân làng O Răng kéo nhau đi phá đường 14, đắp ụ chướng ngại, phối hợp với đồng bào O Vang, O Rưng phá banh các “ấp chiến lược”.

        Để dối phó với đòn tiến công và nổi dậy của ta, lực lượng chủ lực ngụy và bọn bảo an, dân vệ phải phân tán chiếm đóng các vị trí, các trục đường giao thông quan trọng, củng cố các tiểu khu trong từng quận, hình thành thế chiếm đóng kiểm soát “tuyến kết hợp diện”. Lực lượng chủ lực cơ động địch nằm ở các tiểu khu và bọn địa phương ở các chi khu thường xuyên nống ra hoạt động với tính chất “bình định”, đồng thời hành quân sâu đánh phá căn cứ, hành lang vận chuyển của ta. Chúng dốc mọi nỗ lực nới rộng vùng kiềm soát của chúng, đầy ta ra xa các căn cứ, chi khu, quận lỵ và đường giao thông.

        Cuối năm 1964, Tây Nguyên được Bộ Tổng tư lệnh bổ sung thêm trung đoàn 320, trung đoàn 101 và tiểu đoàn 545 (Quân khu Tây Bắc). Mặt trận thành lập viện quân y và mở cửa khẩu Tân Lập, tiến hành thu mua lương thực, thực phẩm, tăng nguồn vật chất dự trữ cho chiến đấu. Bộ đội địa phương và dân quân du kích qua đợt Hè - Thu phát triển cả về số lượng và chất lượng. So sánh lực lượng trên chiến trường, ta mạnh lên, địch đang suy yếu. Ta có điều kiện mở những đợt hoạt động dài ngày, đánh tiêu diệt lớn hơn, hỗ trợ tích cực cho phong trào phá ấp, giành dân của địa phương.

        Cùng thời điểm này, trên cả hai miền Tổ quốc, giặc Mỹ liều lĩnh leo nấc thang chiến tranh mới cực kỳ nghiêm trọng. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ gây ra “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” và dùng không quân đánh phá miền Bắc. Ở miền Nam, chúng thực hiện kế hoạch Giôn-xơn - Mắc Na-ma-ra, tăng viện trợ quân sự cho ngụy quyền Sài Gòn, xúc tiến kế hoạch “bình định” miền Nam trong vòng hai năm, thành lập Bộ chỉ huy Liên quân Việt - Mỹ do Oét-mo-len cầm đầu. Đế quốc Mỹ trực tiếp nắm quân ngụy, điều hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam trong tình cảnh ngụy quyền Sài Gòn đang lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng. Từ sau khi Ngô Đình Diệm bị giết, bọn tay sai miền Nam liên tiếp tiến hành những cuộc đảo chính quân sự tranh giành quyền bính, thanh trừng lẫn nhau, khiến cho bộ máy tố chức hành chỉnh, quân sự từ trung ương đến địa phương của chúng chia rẽ sâu sắc, rệu rã nặng nề. Tình hình đó đặt đế quốc Mỹ đứng trước con đường đầy chông gai nguy hiểm không có lối thoát.

        Thời cơ cách mạng miền Nam giành thắng lợi quyết định trong “chiến tranh đặc biệt” đã chín muồi.

        Tranh thủ thời cơ thuận cơ đó, cuối năm 1964, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương mở đợt hoạt động phá ấp giành dân dọc dường 14 từ Đắc Pét đến Kleng “tập trung lực lượng ba thứ quân, kết hợp giữa tiến công và nổi dậy tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, mở rộng địa bàn, làm cho chiến trường có bước chuyển biến lớn, tạo cơ sở tốt cho việc hoàn thành nhiệm vụ cả năm 1965”1     .

        Được thắng lợi hai miền Nam, Bắc cổ vũ, nhất là chiến thắng Bình Giã vang dội cuối năm 1964, các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên bước vào đợt hoạt động Xuân - Hè 1965 với lòng tin tưởng và phấn chấn. Các tỉnh ủy và tỉnh đội theo chỉ thị của Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 đã phát động phong trào đấu tranh chính trị trực diện với địch, chống bắt phu, bắt lính, chống càn quét lùng sục, phối hợp với đòn tiến công của chủ lực, tổ chức cho quăn chúng nổi dậy diệt ác ôn, phá kìm kẹp, rào làng chiến đấu.

        Ngày 7 tháng 2 năm 1 965, chiến sự bắt đầu nổ ra ở cả hai hướng Plây Cu và Công Tum.

        Đêm 6 tháng 2, các chiến sĩ tiểu đoàn 408 đặc công bắt đầu áp sát, lót lực lượng vào trại lính Mỹ Hô-lô-uây và sân bay lên thẳng ở Plây Cu. 4 giờ sáng ngày 7, tiểu đoàn 408 nổ súng. Địch bị đánh bất ngờ không kịp đối phó. Trại lính Mỹ Hô-lô-uây bị thiệt hại nặng, 8 tên Mỹ chết và hơn 100 tên khác bị thương. Sân bay lên thẳng bốc cháy dữ dội, 20 chiếc máy bay bị phá hủy, phá hỏng2. Tiếng súng tiến công của tiểu đoàn 408 đã dội về Nhà trắng như một tiếng sét, làm cho Oa-sinh-tơn bàng hoàng, choáng váng. Thất bại quá nặng, Giôn-xơn bối rối. liền triệu tập khàn cấp cuộc họp hội đồng an ninh quốc gia tại văn phòng nội các lúc 7 giờ 45 phút, quyết định “di chuyển phụ nữ, trẻ em Mỹ” khỏi Sài Gòn và liều lĩnh ra lệnh ném bom “trả đũa” miền Bắc Việt Nam.

--------------------------
        1. Trích Nghị quyết của Đảng ủy Mặt trận, tháng 4 năm 1965.

        2. Theo con số Giôn-xơn thú nhận trong hồi ký của y.



Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:32:55 PM

        Cũng đêm 7 tháng 2, tiểu đoàn 407 và tiểu đoàn 334 (trung đoàn 320) đánh chiếm các dồn bảo an phía tây Plây Cu và đồn biệt kích biên phòng Plây Mơ-rông, diệt hơn 100 tên địch. Lực lượng dân quân du kích và đồng bào các dân tộc ven đường 14 phá “ấp chiến lược”, khu dồn, gồng gánh đồ đạc trở về làng cũ.

        Tại hướng Công Tum, trung đoàn 101 tiêu diệt đồn bảo an Đắc Giao, bắn phá căn cứ  Đắc Pét. Bọn địch đóng ở Đắc Vân, Đắc Tả hốt hoảng bỏ chạy. Bộ đội huyện và dân quân du kích đột nhập các “ấp chiến lược” xung quanh, diệt ác ôn, tề điệp, cùng đồng bào các dân tộc phá banh các “ấp chiến lược” ở phía bắc Đắc Tô. Địch điều tiểu đoàn 3 trung đoàn 42 lên chiếm lại Đắc Giao. Nhưng chúng mới đến Đắc Long đã bị ta chặn đánh diệt gọn 1 đại đội. Số còn lại tháo chạy tán loạn. Thừa thắng, các chiến sĩ trung đoàn 101 tiêu diệt đồn Đắc Long, bao vây Đắc Xút. Bộ đội địa phương và dân quân du kích Công Tum cắt đứt đoạn đường 14 từ Đắc Tô đi Đắc Siêng.

        Trước nguy cơ các cứ điểm phòng ngự phía bắc Công Tum bị mất, địch phải điều trung đoàn 40, trung đoàn 42 và tiều đoàn 21 biệt động quân lên Công Tum mở cuộc hành quân phân kích 129. Chúng dốc mọi cố gắng đánh bật ta ra khỏi khu chiến đề giành lại quyền chủ động.

        Cuộc chiến đấu giằng co, ác liệt kéo dài gần một tháng. Mặc dù ăn uống thiếu thốn, kham khổ, mỗi ngày 250 gam gạo một người, các đơn vị của ta vẫn liên tục tiến công địch. Cơ quan phía sau bớt khẩu phần ăn, dồn gạo ra phía trước cho bộ đội. Cả mặt trận sục sôi khí thế thi đua giết giặc, lập công.

        Sau những ngày dùng bom, pháo dọn dường, sáng ngày 29 tháng 3, tiều đoàn 21 biệt động quân lọt vào trận địa phục kích của đại đội 3 tiểu đoàn 1 (trung đoàn 101). Các chiến sĩ đại đội 3 nổ súng và nhanh chóng vận động chiếm các điểm cao phía nam Đắc Long, đánh hất địch ra ven đường. Tiểu đoàn 2 và 3 (trung đoàn 101) từ hai cánh đánh ép quân địch vào giữa. Địch buộc phải cụm lại ven đường chống đỡ. Ngày 30 tháng 3, trung đoàn 101 mở đợt tiến công vào các cụm quân của tiểu đoàn 21 biệt động, diệt gần hết tiểu đoàn này, bắn rơi 3 máy bay. Địch phái tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 42 đến giải vây, liền bị ta diệt gọn một đại đội. Mất tiều đoàn 21 và tiểu đoàn 1 bị đánh tan tác, hai cánh quân của dịch rút chạy khỏi khu chiến, kết thúc cuộc hành quân phân kích 129.

        Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên ra quân đợt Xuân đã tiêu diệt và tiêu hao được một bộ phận sinh lực của chủ lực, bảo an, dân vệ thuộc “khu chiến thuật 22”, phá banh một số “ấp chiến lược” trên tuyến đường 14 phía bắc Công Tum và Plây Cu. Lực lượng chủ lực địch phản kích bị đánh, ở trong hậu cứ bị khống chế nên chúng sống trong trạng thái lo sợ bị tiêu diệt. Bọn bảo an, dân vệ chiếm đóng các dồn bốt lẻ không dựa được ào bọn chủ lực nên bị diệt từng bộ phận, tinh thần hoang mang rệu rã. Lực lượng bản thân của tiểu khu Công Tum, Plây Cu bị đánh thiệt hại và bi uy hiếp trên nhiều hướng. Một số đồn bốt, vị trí thuộc tiểu khu Công Tum bị cô lập, địch buộc phải rút bỏ Đắc Tả, Đắc Vân, Mỏ Lẹt, Măng Bút. Các vị trí thuộc tiểu khu Plây Cu với binh lực 1 trung đội bảo an, dân vệ bị ta đánh, chúng không phản kích chiếm lại dược, phải rút dồn lại thành vi trí từng đại đội. Trên chiến trường, cuối mùa Xuân dã diễn ra hình thái: “địch từ thế chiếm đóng “tuyến kết hợp diện” đã bị thu hẹp và bắt đầu co cụm”1     .

        Về phía ta, quân và dân phấn khởi, tin tưởng trong bầu không khí chiến thắng và giải phóng. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương tung các đơn vị chủ lực ra tiếp tục hoạt động trên cả hai hướng Công Tum và Plây Cu đẩy mạnh tác chiến của ba thứ quân kết bợp với nổi dậy của quần chúng, đánh cho địch những đòn đau và nặng hơn nữa, tiêu diệt gọn một số đơn vị chủ lực và địa phương ngụy, thúc đẩy thêm quá trình suy sụp của chứng, mở rộng vùng giải phóng, phối hợp với toàn miền.

        Đêm 31 tháng 5, tiểu đoàn 952 (tiểu đoàn 407 và 542 sáp nhập lấy tên 952) nổ súng tiêu diệt quận lỵ Lệ Thanh, mở đầu cho đợt hoạt động Hè trên toàn chiến trường. Trận đánh thắng lợi giòn giã đã tạo điều kiện cho trung đoàn 320 ngày hôm sau đánh trận vận động phục kích trên đường 19 tây, diệt 300 tên địch và toàn bộ phái đoàn kiểm tra của bộ nội vụ ngụy quyền Sài Gòn, bắt sống tên tỉnh phó Plây Cu.

        Hướng Công Tum, đêm 25 tháng 6, trung đoàn 101 đánh chiếm trại biệt kích Tu Mơ-rông, bắn pháo vào quận lỵ Đắc Tô. Bộ đội địa phương tỉnh và dân quân du kích diệt các chốt bảo an, dân vệ, giải phóng toàn bộ “ấp chiến lược” từ Đắc Tô đến Đắc Pét. Hãng UPI phải chua chát bình luận “Việt cộng cỏ thề cắt đôi miền Nam Việt Nam ở vĩ tuyến 15, nơi họ chiếm giữ gần hết tỉnh Công Tum trong tuần qua” (UPI, 7-1965).

--------------------------
        1.   Trích Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận, tháng 7 năm 1965.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:33:24 PM

        Trong lúc trung đoàn 101 giành thắng lợi lớn ở mặt trận phía bắc, thì trung đoàn 320 tiêu diệt đoàn xe quân sự địch 40 chiếc trên đường 19 tây, bao vây Đức Cơ, buộc địch phải đưa quân cứu viện tạo thời cơ để ta tiêu diệt. Đức Cơ nguy khốn, hệ thống đồn bốt, “ấp chiến lược” vùng tây nam Plây Cu bị lực lượng vũ trang tỉnh và đồng bào các dân tộc phá bung từng mảng. Địch phải sử dụng lực lượng tổng dự bị giải vây cho Đức Cơ. Chúng ném xuống khu chiến một chiến đoàn nhảy dù, một chiến đoàn lính thủy đánh bộ, một chi đoàn thiết giáp và một tiểu đoàn biệt động.

        Chiến sự diễn ra quyết liệt xung quanh Đức Cơ, Lệ Thanh. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 320 kiên cường bám trụ suốt một tháng trời, giành giật với địch từng tấc đất. Trung đoàn 320 dùng một bộ phận chặn ở ngã ba Lệ Thanh, kìm chân địch. Các tiểu đoàn còn lại vận động từ phía sau đội hình hành quân của địch đánh tới. Quân địch bị kẹp vào giữa, rối loạn. Ngày 9 tháng 8, bằng một trận đánh vận động tiến công, trung đoàn 320 đã tiêu diệt 500 tên địch, phá hủy 25 xe quân sự. Lúc này ở phía bắc Buôn Ma Thuột, trung đoàn 2 Quân khu 5 và tiểu đoàn 952 tiêu diệt quận lỵ Thuần Mẫn. Nhân dân dọc đường 14 từ ngã ba Mỹ Thạch đến Buôn Hồ nổi dậy diệt ác ôn, giành quyền làm chủ.

        Tây Nguyên đã bước vào giữa mùa mưa lớn. Ta dã tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng chủ lực ngụy. Bộ tư lệnh Mặt trận cho mở vây Đức Cơ và lệnh cho trang đoàn 101 và tiểu đoàn 200 tranh thủ thời cơ tiêu diệt cứ điểm Đắc Xút để mở rộng vùng giải phóng phía bắc Đắc Tô. Đây là trận đánh hợp đồng giữa pháo binh vả bộ binh cấp trung đoàn đầu tiên vào cứ điểm địch. Ngày 18 tháng 8 năm 1965, cuộc tiến công bắt đầu. Chì sau hai tiếng đồng hồ, các chiến sĩ trung đoàn 101 và tiểu đoàn 200 đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Đắc Xút, diệt 360 tên địch, thu 2 khẩu pháo 105 còn nguyên vẹn. Trong trận này, trung đội phó Vũ Hồng Khanh mười hai lần lên xuống cửa mở dưới làn đạn bắn chặn của địch, chỉ huy các chiến sĩ đánh bộc phá liên tục mở cửa và xung phong đánh chiếm khu vực đầu cầu, tạo điều kiện cho tiểu đoàn đánh vào bên trong dứt điểm nhanh, gọn. Vũ Hồng Khanh đã dũng cảm, mưu trí, kiên quyết tiến công địch, nêu cao truyền thống “quyết thắng, sáng tạo” của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên.

        Đợt hoạt động Hè kết thúc thắng lợi to lớn. Ta tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của quân chủ lực ngụy, mở rộng vùng giải phóng. Lực lượng địch ở tiểu khu Công Tum, Plây Cu bị thiệt hại nặng, một số chi khu không phục hồi kịp, một số chi khu khác bị bao vây uy hiếp. nên tinh thần binh lính chúng hoang mang, dao động. Hệ thống “dinh điền”, “ấp chiến lược” tan rã từng mảng Vùng kiểm soát của chúng bị thu hẹp. Địch buộc phải co cụm, hình thành từng cứ điểm với quy mô tiểu đoàn để bảo vệ xung quanh hậu cứ của chúng.

        Sau chiến thắng Hè 1965, lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên từ những đội dân quân du kích hình thành trong cuộc đồng khởi, qua chiến đấu và được miền Bắc xã hội chủ nghĩa bổ sung, chi viện đã phát triển thành ba thứ quân cân đối, có trang bị tương đối tốt. Khối chủ lực trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt. Trước đây tổ chức đánh một “ấp chiến lược”, một trận phục kích, một vị trí nhỏ phải tốn nhiều thời gian chuẩn bị, gặp nhiều khó khăn lúng túng, thì sau đợt hoạt động Hè, các đơn vị đã tiến lên tiêu diệt một số chi khu, cứ điểm với thời gian ngắn, thực hiện được diệt gọn. Các đơn vị đã vận dụng tốt các hình thức chiến thuật vận động tiến công, phục kích, đánh công sự vững chắc trong mọi thời tiết và điều kiện, đặc biệt về mặt chiến thuật đánh công sự vững chắc đã có bước tiến rõ rệt. Bộ đội được rèn luyện có sức chịu đựng dẻo dai, bền bỉ, chiến đấu liên tục nốt mùa khô và mùa mưa. Khả năng tiến tới mở những đợt hoạt động dài ngày và chiến dịch đánh tiêu diệt lớn quân địch, giải phóng địa bàn của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã trở thành hiện thực.

        Với chiến thắng Xuân - Hè, Tây Nguyên đã góp phần vào chiến công chung của quân và dân miền Nam đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, mở ra một thời kỳ phát triển mới cho cách mạng miền Nam.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 03:10:36 AM

Chương hai

PLÂY ME, CHIẾN DỊCH TIẾN CÔNG LỊCH SỬ

        Đế quốc Mỹ đã đẩy cuộc “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nạm lên đến mức cao nhất, vượt quá giới bạn trong sự tính toán về chiến lược của chúng. bị thua đau ở miền Nam, chúng gây chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân ra miền Bắc, hòng gỡ thế bí và ngăn chặn sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến. Song kết quả thực tế trái với ý muốn chủ quan của Mỹ. Làn sóng tiến công của cách mạng miền Nam tiếp tục dâng cao giáng cho địch những đòn chí mạng. Những trận Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài đã chôn vùi mọi cổ gắng của Mỹ. Quân chủ lực ngụy bị tiêu diệt lớn không đủ sức làm tròn vai trò xung kích cho chủ Mỹ. Cuộc khủng hoảng chính trị của ngụy quyền Sài Gòn càng thêm trầm trọng. Hệ thống “ấp chiến lược”, khu dồn bị phá banh từng mảng. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam đã thất bại và hơi thở hấp hối của nó đã dội về Nhà trắng báo giờ cáo chung. Ở miền Bắc, nhân dân ta đã đập tan bước đầu cái huyền thoại về “sức mạnh không thể tưởng tượng nổi” của không lực Huê Kỳ.

        Tình hình đó đặt nước Mỹ trước hai con đường: một là rút lui khỏi Việt Nam; hai là tiếp tục leo thang chiến tranh. Bọn cầm đầu Nhà trâng và Lầu năm góc cãi vã nhau gay gắt. Rút cuộc, chúng không tìm ra lối thoát. Xuất phát từ quan điểm quân sự tư sản phản động, đế quốc Mỹ đã tính toán sai lầm, chủ quan về chiến lược nên tất yếu dẫn chúng đến hành động liều lĩnh, phiêu lưu quân sự mới ở Việt Nam.

        Ngày 1 tháng 4 năm 1965, tổng thống Mỹ Giôn-xơn quyết định chuyển cuộc “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam sang “chiến tranh cục bộ”. Báo chí phương Tây viết “lý do sự tham chiến mới của Mỹ rất rõ ràng... đó là vì quân đội Sài Gòn đã thua trận”.

        Ngày 6 tháng 3 năm 1965, tên lính thủy đánh bộ Mỹ dầu tiên đặt chân lên Đà Nẵng. Tiếp theo, các đơn vị “thiện chiến” Mỹ đã từng tham gia chiến tranh thế giới thứ hai đổ bộ vào miền Nam. Cuối năm 1965, tổng số lính Mỹ ở miền Nam lên đến 18 vạn 4 nghìn tên, gồm lữ đoàn 3, lữ đoàn 9 lính thủy đánh bộ, lữ đoàn 173 dù, lữ đoàn 1 dù (sư đoàn 101 dù), lữ đoàn 2 (sư đoàn bộ binh 1), lữ đoàn 3 (sư đoàn bộ binh số 25), sư đoàn kỵ binh không vận số 1 và 21 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn và 3 đại đội xe tăng, thiết giáp, 1.741 máy bay chiến đấu phản lực, máy bay lên thăng, 47 tàu chiến. Quân chư hầu gồm 1 tiểu đoàn quân Úc, sư đoàn “Mãnh hổ, lữ đoàn “Rồng xanh” Nam Triều Tiên1     .

        Trên chiến trường Tây Nguyên, sau thất bại nặng nề ở Đức Cơ và Công Tum, địch thay đổi cơ cấu tổ chức, nhằm củng cố và tăng cường sức chiến đấu cho lực lượng chủ lực và địa phương, thực hiện ý đồ co cụm lớn, bảo vệ những nơi xung yếu như quận lỵ, thị trấn, thị xã, đường giao thông chiến lược, ngăn chặn ta tiến công. Tiểu khu Công Tum, Plây Cu tách khỏi vùng chiến thuật 2, thành lập biệt khu 24. Chúng tổ chức thêm trong mỗi trung đoàn bộ binh tiểu đoàn chiến đấu thứ tư và tăng cường cho biệt khu 24 trung đoàn 42 Cộng hòa, bỏ tổ chức vùng chiến thuật, thành lập quân khu 2. Tháng 9 năm 1965, sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ lên An Khê. Theo các nhà quân sự Mỹ, sư đoàn này ra đời là do “sáng kiến vĩ đại” của bộ trưởng bộ quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra, có 16 nghìn quân, 465 máy bay lên thắng, có sức cơ động nhanh, có thể đổ quân xuống bất cứ nơi nào chúng muốn (?)

        Quân Mỹ lên Tây Nguyên, nuôi tham vọng tiêu diệt chủ lực Tây Nguyên, dập tắt phong trào cách mạng của nhân dân ta, chiếm lại đất, gom lại dân, củng cố hệ thống “ấp chiến lược”, “dinh điền” đã bị phá rã, “bơm” lại tinh thần cho quân ngụy, gỡ lại thế trận bi đát của chúng sau mùa khô 1965, đồng thời đánh phá hành lang chiến lược Bắc - Nam cửa ta, cắt đứt sự chi viện của hậu phương lớn cho chiến trường.

        Trong tình hình đó, việc tăng cường lãnh đạo, thống nhất chỉ huy, phát triển lực lượng ba thứ quân, xây dựng căn cứ hậu phương trực tiếp của chiến trường có ý nghĩa chiến lựoc quan trọng chẳng những đối với Tây Nguyên mà còn cho cả Khu 5 và Nam Bộ.

--------------------------
        1. Theo tài liệu Tin quân sự địch số 124, 125, 126 tháng 10, 11, 12-1975 của Cục Nghiên cứu, Bộ Tổng tham mưu.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 03:16:33 AM

        Tháng 7 năm 1965, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương cử Thiếu tướng Chu Huy Mân (bí danh là Châu) làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên. Tháng 8 năm 1965, Bộ Tổng tư lệnh bổ sung cho Tây Nguyên trung đoàn 33, đến thảng 10 tăng thêm trung đoàn 66 cùng bộ tư lệnh và ba cơ quan sư đoàn 304 (Nông trường 1). Đây là những trung đoàn hộ binh có truyền thống chiến đấu trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Cuối năm 1965, hai tiểu đoàn vận tải đoàn 559 và đoàn cán bộ của Tổng cục Hậu cần đến Tây Nguyên thành lập cửa khẩu V.Q.5, tiếp nhận nguồn hàng của Trung ương chi viện qua đường Cam-pu-chia và tổ chức mua thêm nguồn hàng tại chỗ cung cấp cho chiến trường. Để bảo đảm cơ sở vật chất cho nhu cầu tác chiến, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thành lập binh trạm Nam và bệnh viện 2, hình thành căn cứ hậu cần cánh Nam. Thời gian này, ta tổ chức bộ phận S.8 ở nam sông Sê Sụ làm nhiệm vụ bảo quản kho tàng, nhận hàng chuyển giao của Quân khu 5 và Đoàn 559, chuẩn bị xây dựng căn cứ hậu cần cánh Bắc. Các đường hành lang C01, C02, C03, C07 thuộc Quân khu 5 cũng được chuyển giao cho hậu cần Mặt trận quản lý. Đường hành lang bắc - Nam qua Tây Nguyên được củng cố thông suốt Hàng ngày, chiến trường đón nhận những đoàn quân và cơ sở vật chất từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa chi viện vào.

        Cùng với sự phát triển của khối chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương từ chỗ mỗi tỉnh chỉ có một trung đội hoặc đại đội tập trung, nay đã có 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội đặc công, 1 đại đội pháo, cối đứng chân ở vùng sâu, sẵn sàng đánh vào phía sau lưng địch. Mỗi huyện xây dựng được một trung đội hoặc đại đội bộ binh. Các đơn vị tranh thủ huấn luyện quân sự nâng cao trình độ tác chiến lên một bước mới.

        Như vậy, trước chiến dịch Plây Me, ba thứ quân của ta đã phát triển khá cân đối. Riêng lực lượng chủ lực đã có 4 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo, cối, 1 tiểu đoàn súng máy cao xạ. 12,7 mi-li-mét. Các đơn vị đã qua huấn luyện và có kinh nghiệm tác chiến trong trận Đức Cơ, Đắc Xút, hoàn toàn có khả năng để hoàn thành nhiệm vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh giao cho chiến trường: tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, tiếp tục làm tan rã một bộ phận quân ngụy, đánh bại kế hoạch tiến công mùa khô của chúng, mở rộng vùng đứng chân của ta, làm chủ đại bộ phận rừng núi và nông thôn, nhất là vùng rừng núi có ý nghĩa chiến lược.

        Ngày 20 tháng 7 năm 1965, từ Hội trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”1     .

        Hịch ra quân đã truyền!

        Quyết chiến quyết thắng, cả nước đáp lời Người: ra trận!

        Trong khí thế sục sôi ra quân đánh Mỹ của cả nước, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên họp kiểm điểm đợt hoạt động Hè và nhận định tình hình chiến trường, đề ra phương hướng cho Đông - Xuân. Đảng ủy Mặt trận dự kiến: “Trên chiến trường B3, vùng rừng núi Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng. Để bảo đảm giữ vững các khu chiến lược vùng này, trong thời gian tới địch có khả năng dưa những đơn vị hoàn chỉnh quân Mỹ chiếm đóng các vỉ trí quan trọng, chủ yếu trước tiên có thể là Plây Cu, Công Tum... quân Mỹ xuất hiện trên chiến trường Tây Nguyên, nhất thời chúng có thể bơm thêm sức hoạt động cho bọn ngụy quân, nhưng chúng không thể nào khắc phục được nhược điểm cơ bản của quân ngụy ngày càng suy yếu. Đồng thời trên chiến trường sẽ xuất hiện nhiều mục tiêu ngoài công sự cũng như trong hậu cứ, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt chúng, mặc dù ban dầu chứng có thề đánh phá một số nơi và gây khó khăn tạm thời cho ta, chứ không thể đảy lùi được phong trào cách mạng của ta đang phát triển”2. Đảng ủy Mặt trận xác đinh: “Chúng ta cần phải cảnh giác mọi mặt, thường xuyên bồi dưỡng, chuẩn bị tư tưởng cho bộ đội sẵn sàng diệt quân Mỹ, quyết đánh thắng trận đầu và giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ biện pháp đề phòng binh khí, kỹ thuật Mỹ (nhất là máy bay, hóa chất độc)”3     .

--------------------------
        1. Hồ Chí Minh, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1970, tr. 362.

        2. Trích Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận, tháng 7 năm 1965.

        3. Trích Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận, tháng 7 năm 1965.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 03:40:53 AM

        Đây là một nghị quyết quan trọng thể hiện tính chủ động, kiên định và cách mạng của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên, đặt cơ sở cho việc chuẩn bị tư tưởng, chuẩn bị lực lượng sẵn sàng bước vào cuộc đọ sức với quân Mỹ:

        Tuy nhiên, trong tâm tư cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không khỏi băn khoăn khi quân Mỹ nhảy vào miền Nam. Một câu hỏi day dứt: “Liệu ta có đánh thắng được Mỹ không và đánh bằng cách nào?”. Đó là nỗi lo chung. Hồi đó chúng ta mới biết Mỹ về bản chất chung, về cái vẻ hùng hổ bề ngoài và những lời khoa trương dồn đại về sức mạnh của quân đội Mỹ, còn tinh thần, cách đánh của chúng, chúng ta chưa biết cụ thể và chính xác. Khi Mỹ bắt đầu tham chiến, đồng chí Châu thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên một lần nữa khắng định: “Trước hết phải dám đánh Mỹ và quyết tâm đánh thắng, cứ đánh khắc tìm ra cách đánh” và hạ quyết tâm “Dù phải một đổi một cũng kiên quyết đánh thắng trận đầu”.

        Theo tinh thần đó, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương mở chiến dịch Plây Me đúng vào thời điểm quân ngụy đang trên đà suy yếu, quân Mỹ mới chân ướt chân ráo lên Tây Nguyên. nhiệm vụ chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận chủ lực ngụy, nếu Mỹ tham chiến thì cố gắng tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, củng cố, mở rộng vùng giải phóng, xây dụng căn cứ địa; rèn luyện bộ đội và cơ quan chiến dịch, nâng cao trình độ tác chiến của lực lượng vũ trang; qua tác chiến tìm hiểu thêm quân Mỹ; phối hợp với chiến trường Quân khu 5 và toàn Miền.

        Chiến dịch Plây Me là chiến dịch tiến công đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên diễn ra trên một không gian tương đối rộng tử Bầu Cạn, Plây Me đến Đức Cơ, Ia Đrăng với thời gian kéo dài 30 ngày đêm liên tục. Đồn Plây Me được chọn làm mục tiêu “vây điểm”, cách thị xã Plây Cu khoảng 30 ki-lô-mét về phía tay nam. Plây Me là tiền đồn bảo vệ mặt tây nam Plây Cu, là bàn đạp của các cuộc hành quân của địch đánh phá vùng căn cứ của ta ở huyện 4, hyện 5 Gia Lai. Tên tướng ngụy Vĩnh Lộc, tư lệnh quân đoàn 2 đã liệt Plây Me vào loại vị trí biên phòng mạnh và hiểm yếu của chúng. Nếu Plây Me mất thì các căn cứ địch nằm trong dải phòng ngự phía tây, tây nam Plây Cu bị uy hiếp, vùng đất ấy sẽ bị cắt rời và trở thành bàn đạp tiến công của ta. Vì vậy suốt thời kỳ “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ”, “chiến tranh Việt Nam hóa”, Mỹ - ngụy đã nỗ lực giữ bằng được Plây Me.

        Suốt những ngày đầu tháng 10, Bộ tư lệnh Mặt trận tập trung theo dõi tình hình địch, nghiên cứu phương án tác chiến, và tổ chức lực lượng, điều khiến các đơn vị hành quân vào khu vực tập kết chiến dịch. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định chọn cách đánh “vây điểm để diệt viện”. Bằng cách đánh này, ta buộc quân chủ lực ngụy đang suy yếu, co cụm phải rời khỏi hậu cử đi cứu viện để giữ tiền đồn hiềm yếu Plây Me và địa bàn quan trọng phía tây và tây nam căn cứ quân đoàn 2, tạo thời cơ cho ta tiêu diệt. Quân ngụy bị tiêu diệt, quân Mỹ buộc phải sớm nhảy vào vòng chiến khi chúng chưa kịp chuẩn bị, tạo thời cơ cho ta tiêu diệt thột bộ phận quản Mỹ. Tỉnh lộ 21 được chọn làm điểm quyết chiến đánh trận then chốt thứ nhất, tiêu diệt quân ngụy. Tinh lộ 21 là con đường bộ duy nhất từ Plây Cu đi Plây Me, bộ binh, cơ giới địch phản kích phải đi qua. Ở đây ta bố trí trung đoàn 320 là đơn vị có kinh nghiệm đánh vận động trong trận Đức Cơ. Trung đoàn 320 có nhiệm vụ đánh tiêu diệt lớn quân chủ lực ngụy tại điểm quyết chiến này. Trận then chốt thứ nhất của chiến dịch kết thúc, nếu quân Mỹ tham chiến thì trận then chốt thứ hai sẽ diễn ra ở đâu? Đó là vấn đề khá phức tạp mà Bộ tư lệnh Mặt trận và các cán bộ tham mưu, tác chiến tiếp tục theo dõi những diễn biến trên chiến trường và hành động quân Mỹ để có quyết định chính xác. Vấn đề này có liên quan mật thiết đến việc sử dụng lực lượng và cách đánh. Quân Mỹ tuy đã nếm đòn đau ở Vạn Tường, Núi Thành, nhưng chúng vẫn hung hăng, ỷ vào sức mạnh hỏa lực pháo binh, không quân và sức cơ động nhanh bàng máy bay lên thắng. Chúng có thể “nhảy cóc” sâu vào phía sau lưng ta bằng chiến thuật “trực thăng vận” đánh đòn bất ngờ. Nhưng đây mới chỉ là dự kiến ban đầu, còn phải chờ thực tiễn.

        Thường vụ Đảng ủy tập trung chỉ đạo đại hội Đảng các cấp và tổ chức đợt sinh hoạt chính trị quán triệt nghị quyết Đảng ủy sâu rộng trong toàn đảng bộ Mặt trận và các đơn vị trước khi bước vào chiến dịch, coi đây là yếu tố tiên quyết để đi đến thắng lợi. Nội dung đại hội Đảng và sinh hoạt chính trị nhâm quán triệt cách đánh “vây điểm diệt viện”, xây dựng quyết tâm tiêu diệt chiến đoàn ngụy, dám đánh và quyết thắng Mỹ trận đầu, giải quyết tư tưởng ngại ác liệt, thiếu lòng tin đánh thắng giặc Mỹ.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 03:43:40 AM

        Những ngày đại hội ở trung đoàn 320 đã nổ ra cuộc tranh luận sôi nổi, đấu tranh căng thẳng giữa tích cực và tiêu cực, do dự và quyết tâm. Cuối cùng nhân tố tích cực đã thắng. Mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng đều xây dựng tinh thần dám đánh Mỹ và quyết thắng Mỹ. Trung đoàn 33, trung đoàn 66 và các tiểu đoàn binh chủng mới vào chiến trường đã nhanh chóng quán triệt tinh thần cơ bản của nghị quyết Đảng ủy Mặt trận với sự nhất trí cao. Cuộc sinh hoạt chính trị và đại hội đảng các cấp đã khơi dậy trong mỗi cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ đối với Tổ quốc “Dù Mỹ có đưa thêm 3 vạn hay 50 vạn quân, dù chúng trang bị bằng thứ vũ khí gì, bất kỳ chúng đặt chân lên nơi nào của lãnh thổ Việt Nam, chúng ta cũng kiên quyết đánh bại chúng, đánh cho đến khi không còn bóng một tên xâm lược nào trên dải đất thân yêu của chúng ta”1     .

        Đó là câu trả lời đanh thép của nhân dân ta, là ý chí và quyết tâm của chúng ta. Tây Nguyên nguyện cùng cả nước ra trận, quyết “gặp Mỹ là đánh, tìm Mỹ mà diệt” như ông cha ta đã từng diệt giặc Nguyên ở Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, diệt quân Minh ở Chi Lăng, diệt quân Thanh ở Đống Đa...

        Thời tiết ở Tây Nguyên đã chuyển vào mùa khô. Sông, suối nước chảy cuồn cuộn giở đã cạn dần. Thung lũng ngập nước giờ đã phơi mình hứng nắng. Mặt đất đã cứng, thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển, chuẩn bị chiến dịch. Các đơn vi chủ lực dược lệnh hành quân vào tuyến tập kết. Ở các hướng phối hợp, bộ đội địa phương, dân quân du kích đã trong tư thể sẵn sàng đánh địch, tạo điều kiện cho hướng chính triển khai lực lượng cài thế.

        Tỉnh ủy và tỉnh đội Gia Lai gấp rút cử những đoàn cán bộ xuống các ấp, xã vùng căn cứ vận động đồng bào đi dân công và huy động vật chất phục vụ cho chiến dịch. Sức người, sức của của nhân dân được động viên đến mức tối đa. Mùa lúa thu hoạch năm 1965, đồng bào chỉ đề lại lúa giống cho mùa sau, còn tự nguyện đem đóng góp hết cho cách mạng. Mặt trận cần gạo, nhân dân không quản ngại khó khăn, vất vả, thiếu thốn, đêm ngày giã gạo cung cấp kịp thời cho chiến dịch. Nhiều mí già ở làng Nú, làng Sinh, làng Mùi, lảng Gà, Ba Bò, Quynh Kla và nhiều làng khác ở huyện 4, huyện 5 đi bộ hàng chục ki-lô-mét mang những nắm xôi, nải chuối đến thăm và động viên bộ đội đánh giặc.

        Trên các nẻo đường vùng căn cứ phía tây, vùng đông đường 21 và Đắc Lắc, từng đoàn dân công đủ các lứa tuổi thuộc nhiều dân tộc khác nhau gùi gạo, gùi đạn, dắt trâu bò vượt suối, băng rừng, nườm nượp đổ về hướng chiến dịch. Cả nhà đi dân công, cả làng đi dân công, ai cũng đòi phải để cho họ đóng góp vào cuộc chiến đấu một mất một còn với giặc. Tỉnh ủy và tỉnh đội thành lập các trạm xá, chuẩn bị tổ chức từng đoàn cán bộ và nhân dân dân đường cho bộ đội. Đó là nhân tố quan trọng góp phần tăng nhanh sức mạnh của ta để giành thắng lợi trong chiến dịch.

        Mở đầu chiến dịch, đêm 19 tháng 10, tiểu đoàn 200 pháo kích Đức Cơ và một đại dội của tiểu đoàn 952 nổ súng đánh Tân Lạc. Plây Me vẫn yên tĩnh. Bị lừa, máy bay địch lên thả pháo sáng, bắn phá xung quanh Đức Cơ, Tân Lạc. Đúng 22 giờ 4 phút cùng ngày, các chiến sĩ đại đội 1 tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 bộ binh, bất ngờ và táo bạo tiến công Chư Ho - tiền đồn bảo vệ mặt tây nam Plây Me. Chỉ 6 phút nổ súng, trung đội biệt kích canh giữ Chư Ho bị diệt gọn. Ta dùng súng cối và ĐKZ pháo kích Plây Me, phá sập một số công sự, nhà lính. Các chiến sĩ trung đoàn 33 xông lên mở hai lớp hàng rào ở hướng bắc và tây nam, tiến hành bao vây Plây Me. Dưới ánh sáng của đèn dù và lửa cháy, bộ đội đào công sự bắn rồi nhanh chóng phát triển thành hào giao thông. Ngay trong đêm các đại đội trực thuộc và cơ quan trung đoàn vác gỗ. nứa từ phía sau đưa lên cho bộ đội làm hầm. Thấu suốt cách đánh “vây điểm diệt viện”, đơn vị đã chọn những cán bộ, chiến sĩ trung kiên có thể lực tốt của tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 3 làm nòng cốt đưa lên trận địa vây điểm.

--------------------------
        1. Tuyên bố của Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ngày 3 tháng 8 năm 1965.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 03:46:00 AM

        Suốt trong 5 ngày, địch dùng không quân, pháo binh đánh phá dữ dội xung quanh Plây Me. Chúng thả bom bi, bom phốt-pho và na-pan trùm lên khu chiến. Bọn bộ binh trong đồn liên tiếp phản kích nới rộng vòng vây. Mặc dù đường dây điện thoại về sở chỉ huy trung đoàn bị cắt đứt, chiến sĩ ta vẫn bình tĩnh, chủ động đánh lui các đợt phản kích của địch, diệt hàng trăm tên. Chiến sĩ làm nhiệm vụ bao vây tích cực bắn tỉa và mở thêm các lớp rào dây thép gai, khống chế sân bay lên thẳng, tăng cường sức ép đối với bọn địch trong đồn. Chúng hoang mang cực độ, trông chờ quân cứu viện nhưng cũng chẳng thấy đâu. Đường 21 vẫn yên tĩnh. Các chiến sĩ trung đoàn 320 rất sốt ruột, nhưng vẫn kiên trì ẩn mình trong những công sự chở đợi dưới cái nắng như thiêu. Các chiến sĩ làm nhiệm vụ vây điểm đã ăn hết nắm cơm vắt cuối cùng và bắt đầu ăn gạo rang dự trữ thay cơm. Nước uống phải nhường nhau từng ngụm. Trong gian khổ và ác liệt, Lê Văn Đạn, đại đội phó đại đội 1 đã giương cao ngọn cờ lãnh đạo, tiền phong gương mẫu của người chi huy, bò đến từng hầm động viên chiến sĩ.

        Ngày 23 thảng 10, biệt khu 24 quyết định dùng tiểu đoàn 21, 22 biệt động quân, tiều đoàn 1 (trung đoàn 42) và chiến đoàn 3 thiết giáp đến giải vây cho Plây Me. Sau những trận bom, pháo dọn đường, lực lượng giải vây địch hùng hổ tiến quân. nhưng chúng đã lọt vào trận địa phục kích của trung đoàn 320. Đại đội 1 tiểu đoàn 5 làm nhiệm vụ chặn đầu, nổ súng. Toàn bộ chiến đoàn cơ giới địch ùn lại, trút đạn vào đại đội 1. Các tiểu đoàn ở điểm quyết chiến bắn mãnh liệt vào giữa đội hình địch, cắt chúng làm nhiều mảng. Nguyễn Văn Hàm bình tĩnh bắn cháy 5 xe M113. Nguyễn Văn Lãng chiến sĩ B40 bắn 3 phát diệt 3 xe tăng. Lương Văn Bài bắn 2 phát diệt 2 xe M48.

        Đại đội 2, tiểu đoàn 4 làm nhiệm vụ khóa đuôi, xung phong ra mặt đường, nhưng xe cơ giới và bộ binh địch đã co cụm trên điểm cao 601. Chúng bắn chặn quyết liệt vào đội hình của đơn vị. Chính trị viên dại dội 2 hô lớn: “Xe địch cụm nhiều là thời cơ lập công của đại đội ta, các đồng chí hãy anh dũng xông lên”. Lời động viên phát ra đúng lúc đã có tác dụng cổ vũ cán bộ, chiến sĩ bất chấp bom đạn địch, dũng mãnh xung phong như một cơn lốc.

        18 giờ, trung đoàn 320 hoàn toàn làm chủ trận địa. Xác xe giặc cháy thành bãi trên điểm cao 601. Ta tiêu diệt chiến đoàn 3 thiết giáp và 1 tiểu đoàn, 1 đại đội bộ binh địch, phả hủy, phá hỏng 89 xe quân sự, bắn rơi nhiều máy bay.

        Ngày 24 tháng 10, Mỹ cho 2 tiểu đoàn kỵ binh bay lên Plây Cu và thúc quân ngụy tiếp tục phản kích giải vây cho Plây Me.

        Ngày 26 tháng 10, dưới sự yểm trợ của không quân pháo binh Mỹ, quân ngụy giải vây cho Plây Me. Tại dây 11 chiến sĩ bao vây phía đông nam, do trung đội trưởng Đậu Văn Phơn chỉ huy, đã chặn đánh quyết liệt 1 tiểu đoàn địch cùng 20 xe tăng, xe bọc thép ngay sát hàng rào đồn Plây Me. Xe tăng và bộ binh địch tổ chức 5 đợt tiến công. Một sổ chiến sĩ bị thương và hy sinh. Tay súng trong tiểu đội giảm. xuống, mỗi đồng chí còn lại dùng hai, ba loại súng đánh địch. Cứ mỗi đợt xung phong của địch bị đánh lui, anh em lại thu nhặt vũ khí của đồng chí hy sinh, bị thương dồn lại, chuẩn bị cho đợt chiến đấu tiếp. Đậu Văn Phơn bi thương, anh nghiến răng chịu đau bình tĩnh chỉ huy, động viên đơn vị cùng đồng đội đánh bại mọi cuộc phản kích của địch. Trước hàng rào đồn Plây Me, xác 140 tên ngụy, 3 tên cố vấn Mỹ nằm ngổn ngang, 2 xe tăng, 3 xe M113 đang bốc cháy. Tiểu đội của Đậu Văn Phơn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Được lệnh lui quân, năm chiến sĩ còn lại khiêng cáng thương binh, tử sĩ, vác hết súng đạn của đồng đội và chiến lợi phẩm rời khỏi trận địa. Những con đường cũ bị bom đạn phả sạch: Rừng Plây Me tan hoang mất hết lối đi. Tiểu đội lạc sang khu 6 Gia Lai, gần mười ngày sau mới đến được vị trí trú quân. Các chiến sĩ lả đi vì đói và khát, nhưng thương binh, tử sĩ và vũ khí vẫn mang về trọn vẹn. Tiểu đội Đậu Văn Phơn đã nêu tấm gương sáng ngời về tinh thần dũng cảm, ngoan cường, về tình thương yêu đồng chí, đồng đội và ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên.

        Cuộc phản kích giải vây của quân ngụy bị thiệt hại nặng nề. Ngày 26 tháng 10, Oét-mo-len phải vội vã đến sở chỉ huy tiền phương lữ đoàn 1 kỵ binh không vận ở Plây Đê-mốt xem xét tình hình và quyết định đình chỉ cuộc càn quét của quân Mỹ ở Bồng Sơn (Bình Định) để tập trung lực lượng lên Tây Nguyên, mở cuộc hành quân đánh sâu vào hậu phương ta, gỡ thế thất bại cho quân ngụy.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 03:48:38 AM

        Ngày 31 tháng 10, quân Mỹ dùng máy bay lên thẳng đổ xuống làng Mùi, Plây Ia Priêng, tập kích vào tổ diện đài của ta đang di chuyển. Tiếp theo, chúng đổ xuống Quynh Kla và khu vực đông nam suối Ia Mơ. Cuộc ra quân lần này của quân Mỹ có tính chất thăm dò, chuẩn bị cho lữ đoàn 3 kỵ binh không vận tiến công vào khu trung tuyến chiến dịch, đánh đòn bất ngờ vào sau lưng đội hình chiến dịch của ta. Nhưng quân Mỹ mới đặt chân xuống đất đã bị các đơn vị nhỏ của ta chặn đánh diệt 300 tên. Không thực hiện được ý định, chúng đâm lúng túng và ngày 9 tháng 11 chúng rút lực lượng về Plây Cu.

        Diễn biến trên chiến trường trong mười ngày đầu tháng 11 cho thấy: quân Mỹ muốn giữ bí mật ý định nhưng bị lộ ngay từ đầu; bằng sức cơ động nhanh, đánh đòn bất ngờ chớp nhoáng vào đối phương, lại bị đối phương ở ngay tại chỗ đánh cho thiệt hại; muốn giành quyền chủ động chiến trường buộc đối phương phải đánh theo cách đánh của Mỹ, thì bị đối phương co kéo xé nhỏ, tiêu hao, phải xoay sang đối phó lúng túng. Quân Mỹ nhảy xuống nơi nào cũng bị đánh đau, âm mưu thủ đoạn của chúng bị phá vỡ. Trong trận ngày 4 tháng 11, một đại đội Mỹ đổ xuống Plây Thê, tập kích vào vị trí trú quân của tiểu đoàn 2, trung đoàn 33. Bộ phận đi lấy gạo của đơn vị trên đường về gặp Mỹ, anh em đặt ngay ba lô xuống, tháo súng khỏi vai, tổ chức tiến công. Tiểu đoàn 3 đóng quân gần đó nghe súng nổ, liền chủ động xách súng đến chi viện. Một trung đội Mỹ bị diệt gọn. Ngày 6 tháng 11 các chiến sĩ trung đoàn 33 lại đánh thiệt hại nặng một đại đội Mỹ đổ xuống đông nam Ia Mơ. Chúng phải rút chạy khỏi khu vực suối. Ia Mơ.

        Như vậy, bộ đội ta không chỉ dám đánh Mỹ mà còn biết đánh thắng. Hành động của Mỹ và những trận đánh của bộ đội ta chứng minh những dự kiến về địch và quyết tâm chiến dịch của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Tây Nguyên là chính xác. Đến đây, Bộ tư lệnh Mặt trận bồ sung phương án tác chiến và quyết định chọn thung lũng Ia Đrăng làm điểm quyết chiến đánh trận then chốt thứ hai, tiêu diệt quân Mỹ, kết thúc chiến dịch Plây Me.

        Thung lũng Ia Đrăng chạy dưới chân dãy núi Chư Pông, cách Plây Me khoảng 25 ki-lô-mét về phía tây, có nhiều suối và rừng cây rậm rạp, xa căn cứ hậu phương chiến dịch của địch. Quân Mỹ khó triển khai cùng một lúc nhiều trận địa pháo cơ động tại Ia Đrăng và không huy động hết được những căn cứ pháo binh cố định để phát huy đến mức tồi đa ưu thế về hỏa lực, chi viện cho bộ binh.

        Đối với ta, Ia Đrăng sát vùng căn cứ và đường hành lang chiến lược, thuận tiện cho cơ động, vận chuyển, tiếp tế. Bộ đội ta có điều kiện phát huy sở trường đánh vận động. Ở đây ta bố trí trung đoàn 66 còn đang sung sức và trung đoàn 33 đã trải qua chiến đấu, có kinh nghiệm. Cả hai đơn vị đã được huấn luyện các hình thức chiến thuật vận động tiến công, vận động phục kích. Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương tiếp tục châm ngòi  Plây Me, nhử quân Mỹ vào sâu để tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng, thực hiện tốt nhiệm vụ của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và Quân khu 5 giao cho chiến trường, hoàn thành mục đích chiến dịch đề ra. Nhưng ngày 10 tháng 11, lữ đoàn 3 kỵ binh không vận trở lại tập kết ở Bầu Cạn. Ngày 11, một bộ phận của lữ đoàn 3 kỵ binh Mỹ nhảy xuống Plây Ngo cách Plây Me 10 ki-lô-mét về phía tây. Bộ tư lệnh Mặt trận lệnh cho tiểu đoàn 952 đặc công tổ chức tập kích đánh phủ đầu sở chỉ huy hành quân của lữ đoàn 3 kỵ binh Mỹ ở Bầu Cạn, và quyết định không “châm ngòi” Plây Me như đã chủ trương lúc đầu vì tình hình đã thay đổí.

        Ngay trong đêm 11, các chiến sĩ tiểu đoàn 952 và bộ phận trinh sát Mặt trận, bất ngờ tiến công sở chỉ huy hành quân lữ đoàn 3 Mỹ và sân bay lên thằng ở Bầu Cạn, diệt một đại đội, phá hủy, phá hỏng nhiều máy bay. Cùng đêm, bộ đội tỉnh Gia Lại tập kích căn cứ Mỹ ở An Khê gây cho chúng nhiều thiệt hại.

        Bằng chiến thuật “trực thăng vận” ngày 14 tháng 11, tiểu đoàn Í lữ đoàn 3 kỵ binh không vận nhảy xuống khu vực phía bắc Chư Pông 3 ki-lô-mét. Đồng thời chúng đổ xuống tây nam Quynh Kla và đông nam Ia Đrăng 2 trận địa pháo và tiểu đoàn 2. Tiểu đoàn 3 làm dự bị, nhưng chỉ sau một ngày tiều đoàn 1 bị ta đánh, Mỹ phải tung luôn tiểu đoàn 3 vào vòng chiến.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 03:52:03 AM

        Quân Mỹ đổ xuống Chư Pông vừa đúng lúc trung đoàn 66 đến chiến trường. Bộ đội chưa kịp nghỉ ngơi, bồi dưỡng sức khỏe sau những tháng hành quân bộ đường dài đã bước vào chiến đấu. Tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 9 trung đoàn 66 dang củng cố nơi đóng quân, thì quân Mỹ tập kích bất ngờ vào đơn vị. Các chiến sĩ trinh sát, thông tin, anh nuôi, y tá, liên lạc, văn thư liền tổ chức đánh trả quân địch. Đại đội 13 nghe súng nổ, vận động đến phối hợp chiến đấu. Trận chạm súng đầu tiên diễn ra khá ác liệt. Cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 9 chiến đấu ngoan cường, tiêu diệt đại đội A, đánh thiệt hại đại đội C của tiểu đoàn 1 Mỹ, buộc chúng phải rút chạy. Ngày 15, sở chỉ huy tiền phương Mặt trận ra lệnh cho trung đoàn 66 nhân đà quân Mỹ rối loạn, dùng tiểu đoàn 7 tiếp tục tiến công. Các chiến sĩ tiểu đoàn 7 vận dụng tốt chiến thuật đánh vận động, liên tục công kích diệt gọn 1 đại đội Mỹ thuộc tiểu đoàn 1. Bọn còn lại hốt hoảng phải chạy vòng quanh trên bãi cỏ rậm rạp dưới chân núi Chư Pông. Trước tình thế đó bọn Mỹ phải ra lệnh cho không quân dùng 100 lần chiếc máy bay B52 ném bom xuống thung lũng Ia Đrăng. đây là lần đầu tiên Mỹ dùng máy bay chiến lược yểm trợ chiến thuật cho bộ binh ở Tây Nguyên. Oét-mo-len thú nhận trong hồi ký của y: “Vì không còn cách nào khác, lữ đoàn 3 kỵ binh không vận đang nguy khốn”. Mỗi ngày quân Mỹ còn bắn thêm 4 nghìn quả đạn đại bác và liên tục dùng máy bay phản lực đánh phá. Cường độ ác liệt chiến dịch tăng gấp bội. Rừng núi Chư Pông ngày đêm rung chuyền trong tiếng nổ xé trời của bom. B52 và pháo bầy Mỹ. Cây cối xơ xác, gãy đồ ngổn ngang. Lửa bom na-pan cháy lan rộng khắp thung lũng.

        Quán triệt tư tưởng tiến công của Đảng trong tác chiến tiến công và phân công, đồng thời vận dụng nghệ thuật đánh giặc độc đáo của dân tộc ta lấy “đoản binh thắng trường trận”, và luôn luôn tạo thời cơ để đánh địch trên thế mạnh, đêm đến, tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 tổ chức tiến công vào tiểu đoàn Mỹ, không cho chúng hoàn hồn phản kích lại. Dưới ánh sáng chói lòa của đèn dù, pháo sáng, chiến sĩ tiểu đoàn 7 giương lê sáng quắc, băng qua rừng le và cỏ dại rậm rạp, tìm đánh quân Mỹ. Khẩu hiệu “gặp Mỹ là đánh, tìm Mỹ mà diệt” xuất hiện ngay trong đêm săn Mỹ của tiểu đoàn. Bộ đội ta tìm đánh đúng vào sở chi huy tiểu đoàn địch, diệt điện đài và sở chỉ huy. Quá trình phát triển tiến công, nhiều chiến sĩ bị lạc, nhưng mọi người đều nhằm hướng súng nổ lao tới. Chiến sĩ Nguyễn Hữu Cần lạc đơn vị, trên đường lần theo tiếng súng, gặp địch, một mình anh với khẩu trung liên đã trở thành mũi vu hồi lợi hại, đánh vào phía sau lưng đội hình địch, diệt ổ đại liên, tạo thời cơ cho đơn vị bạn xung phong. Nguyễn Hữu Cần đã nêu gương dũng cảm chủ động hiệp đồng “tìm Mỹ mà diệt”, thể hiện tinh thần chiến đấu ngoan cường của bộ đội ta. Bị đánh tả tơi và bị truy kích sát nút, quân Mỹ đang đêm phải chạy bộ khỏi thung lũng Ia Đrăng không đợi trực thăng đến bốc. Nhưng những loạt súng tiều liên AK và lựu đạn của chiến sĩ ta đã làm chùn chân quân Mỹ lại. Suốt đêm chúng chỉ loanh quanh trong rừng và chạy được một quãng không đầy 5 ki-lô-mẻt.

        Sáng ngày 17, tiểu đoàn 8 được lệnh cấp tốc hành quân về đội hình trung đoàn, chuẩn bị đánh tiêu diệt lớn. Trên đường hành quân đến đông bắc Chư Pông thì tiểu đoàn 8 gặp Mỹ. Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi bình tĩnh chỉ huy đơn vi tiến công vào giữa đội hình quân Mỹ, làm chúng rối loạn và bị cắt rời. Đồng chí Luận, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 đang chỉ huy bộ đội lùng địch ở một hướng khác, nghe súng nổ, liền dẫn đơn vi đến phối hợp. Quân Mỹ bị các chiến sĩ tiểu đoàn 8 (trung đoàn 66) và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 33) vây chặt giữa thung lũng Ia Đrăng. Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi xông xáo luôn có mặt ở những nơi khó khăn, gay cấn nhất của trận đánh, chỉ huy đơn vị. Một trận đánh gặp địch bất ngờ diễn ra quyết liệt. Trên bầu trời Chư Pông, máy bay lên thẳng máy bay phản lực địch đan kín, bắn đạn 20 mi-li-mét, phóng rốc-két, ném bom. Nhưng bộ đội ta đã áp sát vào đội hình quân Mỹ, thực hiện đánh gần, nên hạn chế được thương vong. Cuộc chiến đang tiếp diễn thì tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi hy sinh. Tiếp theo, chính trị viên tiểu đoàn 8 bị thương nặng phải đưa ra khỏi trận địa. Đồng chí Luận tiểu đoàn phó tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 phụ trách chi huy chung cả hai đơn vị. Cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 8 trung đoàn 66 nghiêm chỉnh và tự giác chấp hành mệnh lệnh. Quân địch bị đánh tan tác, mạnh tên nào tên nấy chạy. Các chiến sĩ ta vẫn giữ vững được đội ngũ hình thành từng tổ. từng mũi bám sát, yểm hộ cho nhau diệt địch. Trận đánh giáp lá cà quyết liệt bằng lưỡi lê báng súng và vật nhau với quân Mỹ kéo dài cho đến tối. Chiến sĩ Cao Đình Thơ bằng đường lê chính xác và quả cảm, đâm chết một tên Mỹ, cứu được đồng đội đang ôm vật với Mỹ giữa bãi cỏ. Chính trị viên phó đại đội Đinh Văn Đế ba lần bị thương vẫn dồn hết sức lực còn lại đuổi dịch, bắn chết 5 tên Mỹ. Khi hết đạn, anh dùng dao găm đâm chết 3 tên Mỹ khác. Tấm gương đánh gần của Cao Đình Thơ, Đinh Văn Đế đã cổ vũ bộ đội “bám thắt lưng Mỹ mà đánh”.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 03:54:23 AM

        Khoảng 16 giờ, tiểu đoàn phó Luận hy sinh, cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn 8 và tiểu đoàn 1 tiếp tục chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc. Lê Khắc Nga, Lê Văn Điều xông xáo thọc vào giữa đội hình địch, mỗi người diệt 22 tên Mỹ, đạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú” đầu tiên của chiến trường. Trung đội trưởng Trần Bở vừa chỉ huy đơn vị, vừa dùng lê đâm chết 5 tên Mỹ và bắn chết 6 tên khác. Nguyễn Hữu Tài chiến sĩ tiểu đoàn 7, mặc bom đạn ác liệt, đã ba lần lấy thân mình làm giá súng cho đồng đội bắn máy bay diệt bộ binh địch, yểm hộ đắc lực cho đơn vị tiến công...

        Trận quyết chiến ở thung lũng Ia Đrăng diễn ra suốt tám tiếng đồng hồ đã khắc họa lên hình tượng tuyệt vời về người chiến sĩ quân đội nhân dân vóc người nhỏ bé, giản dị, dịu hiền mà anh dũng, thông minh, khiến cho những tên Mỹ to xác phải kinh hoàng, run sợ. Sau trận đánh đẫm máu ở thung lũng Ia Đrăng, tiểu đoàn 1 kỵ binh không vận Mỹ chỉ còn 12 tên sống sót chạy về căn cứ. Một tên thượng sĩ Mỹ kể lại: “Súng bắn khắp nơi dưới đất, trên trời, tất cả mọi người xung quanh tôi trúng bạn và chết. Thế là quân Bắc Việt Nam và Việt Cộng xung phong vung lựu đạn, đâm lê và thét bằng tiếng Anh: lính Mỹ là đồ chó đẻ, giết hết chúng nó đi”. (Báo Tin trong tuần (New Wek) 29-11-1965).

        Ngày 18 tháng 11, trung đoàn 33 tâp kích tiêu diệt trận địa pháo của tiểu đoàn 2 kỵ binh không vận Mỹ ở tây bắc suối Ia Mơ, diệt 200 tên địch, 3 pháo lớn, 7 máy bay lên thẳng. Tiêu diệt trận địa pháo Ia Mơ góp phần đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 2 Mỹ, làm cho quân Mỹ rất hoang mang.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/LLVT%20TN%20-%200052_zps2jjucise.jpg)
Diễn biến chiến dịch Plây Me

        Cùng ngày này, địch đưa lực lượng tổng dự bị ra đỡ đòn. Chúng ném hai chiến đoàn dù I và II xuống khu vực suối Ia Pơ Man, Ia Nau. Địch vừa đổ xuống chưa kịp phản công đã bị các chiến sĩ trung đoàn 320 chặn đánh, diệt hơn 200 tên. Bọn còn lại vội vã rút chạy khỏi Ia Pơ Man và Ia Nau.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:12:22 AM

        Ngày 19 tháng 11, lữ đoàn 3 kỵ binh không vận Mỹ tháo chạy khỏi thung lũng Ia Đrăng mà vẫn còn khiếp đảm trước đường lê sáng quốc của các chiến sĩ Tây Nguyên. Ở các hướng phối hợp, bộ đội địa phương và dân quân du kích Công Tum, Gia Lai, Đắc Lắc với sự tham gia đông đảo của nhân dân các buôn, làng, thực hiện khẩu hiệu “mỗi người dân là một dũng sĩ”, “cung tên, giáo mác là vũ khí”, liên tục đánh nhỏ, lẻ trên các trục đường giao thông và pháo kích vào các căn cứ, đồn bốt, làm cho hậu phương địch không ổn định. Đặc biệt, trận đánh của tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Gia Lai vào căn cứ An Khê, Bầu Cạn, diệt gần 100 tên Mỹ, ngụy, phá hủy, phá hỏng hàng chục xe quân sự đã có tác dụng căng địch, phối hợp với hướng chính.

        Chiến dịch Plây Me kết thúc, 1.700 tên Mỹ và 1.274 tên ngụy bị diệt; 1 chiến đoàn thiết giáp ngụy, 1 tiểu đoàn Mỹ bị diệt gọn; 1 tiểu đoàn Mỹ khác và 2 tiểu đoàn ngụy bị thiệt hại nặng. Lữ đoàn 3 kỵ binh không vận bị đánh thiệt hại nặng. Ta phá hủy và phá hỏng 89 xe quân sự, bắn rơi. phá hủy 59 máy bay.

        Với chiến công xuất sắc đó, chiến dịch Plây Me lịch cử được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng hai Huân chương Quân công hạng nhất. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Quân ủy Trung ương giải thích: “Quân đội ta không có huân chương nào cao hơn Huân chương Quân công hạng nhất, nhưng để xứng đáng với chiến thắng. Plây Me, nên tặng chiến thắng này hai Huân chương Quân công hạng nhất”. (Điện của Quân ủy Miền gửi Bộ tư lệnh Tây Nguyên, tháng 12 năm 1965).

        Plây Me vừa là trận cuối cùng đánh bại hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, vừa là trận đầu đánh Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên. Bằng chiến công oanh liệt Plây Me, lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã giương lên lá có đầu đánh tiêu diệt gọn tiểu đoàn Mỹ và chiến đoàn ngụy ở Trung Trung Bộ, giáng một đòn mạnh vào quân viễn chinh Mỹ, hạ uy thế của chúng, góp phần cùng với miền Nam anh hùng đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của giặc Mỹ.

        Chiến thắng Plây Me oanh liệt là bản anh hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Tây Nguyên dám đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Các chiến sĩ Tây Nguyên đã biết kết nợp chặt chẽ giữa tinh thần dũng cảm tuyệt vời, trí thông minh sáng tạo với binh lực, hỏa lực sẵn có để tạo nên sức mạnh áp đảo, làm cho bọn kỵ binh bay Mỹ không phát huy được ưu thế vũ khí, kỹ thuật và sức cơ động. Chúng bị đánh ngã ngay từ phút đầu xung trận. Nhiều cán bộ, chiến sĩ ta đã vượt qua ác liệt, hiểm nguy, lấy tiếng súng làm mệnh lệnh hiệp đồng, nhằm hướng địch xốc tới, khi hy sinh mà tay vẫn ghì chặt súng, cắm lê vào ngực kẻ thù. Họ đã làm sống lại hình ảnh bất diệt của dũng sĩ đâm lê Hoàng Văn Nô và anh hùng lấy thân mình làm giá súng Bế Văn Đàn trong cuộc kháng chiến lần thử nhất. Đó là những biểu hiện sinh động nói lên “Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của quân và dân ta là nghệ thuật đánh địch trên thế mạnh. Bất kể so sánh lực lượng như thế nào, vũ khí và phương tiện như thế nào, quy mô tác chiến như thế nào, đều biết kết hợp tinh thần dũng cảm với trí thông minh sáng tạo, tạo nên sức mạnh áp đảo tiêu diệt quân địch, giành thẳng lợi lớn”1     . Đó là chiến công chói lọi trong trang sử truyền thống chống Mỹ, cứu nước của các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên, mãi mãi là niềm tự hào của nhân dân Tây Nguyên.

        Đối với lịch sử quân đội Mỹ, Plây Me là bài học nhớ đời về một thất bại nhục nhã và cay đắng. Ia Đrăng “sẽ dược coi là một trong những nơi mà người lính chiến đấu Mỹ bị ném vào một cuộc thử thách gay gắt nhất của chiến tranh”, và “tướng Mỹ đã phải đánh theo cách đánh mà kẻ thù (Quân giải phóng) lựa chọn, chứ không phải theo cách đánh của chúng ta (Mỹ)”. (Thời báo Nữa Ước 21-11-1965).

*

*      *

        Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng bài học về chủ nghĩa anh hùng cách mạng và kinh nghiệm quý báu trong chiến dịch Plây Me là những viên ngọc quý, đóng góp vào kho tàng kinh nghiệm của nền nghệ thuật quân sự độc đáo Việt Nam, luôn luôn giúp chúng ta củng cố niềm tin, sẵn sàng đánh bại bất cứ kẻ thù hung ác nào đụng đến Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu.

--------------------------
        1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, Tạp chí Cộng sản, tháng 5-1979.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:14:14 AM
       
Chương ba

SA THẦY, ĐẮC TÔ THẮNG LỚN,
MỸ LUI VỀ PHÒNG NGỰ CHIẾN LƯỢC

        Khi đưa quân Mỹ vào xâm lược nước ta, mộng tưởng của các nhà chiến lược Lầu năm góc là: “chỉ cần 4 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ” hoặc “cùng lắm cũng chỉ cần 175 nghìn quân” là có thể “đảo ngược được chiều hướng cuộc chiến tranh”1     . Nhưng sau cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất bị thất bại, chúng đã cảm thấy con đường leo thang chiến tranh ở Việt Nam là “một cuộc hành trình nguy hiểm” đối với nước Mỹ. Song do bản chất, chủ nghĩa đế quốc thường đánh giá so sánh lực lượng hai bên trên chiến trường bằng số lượng binh lính, vũ khí, kỹ thuật đơn thuần. Vì vậy, chúng thường hành động trái với quy luật và bị các quy luật khách quan của chiến tranh phủ định mưu đồ chủ quan của chứng. Muốn “tìm diệt” Quân giải phóng và chiến thắng trong cuộc chiến tranh hạn chế, lại bị Quân giải phóng đánh bại, buộc phải leo thang, mở rộng chiến tranh một cách phiêu lưu cho đến khi bị đánh bại hoàn toàn.

        Bước sang mùa khô năm 1966 và 1967, gần nửa triệu quân Mỹ và một khối lượng phương tiện chiến tranh khổng lồ được Nhà trắng và Lầu năm góc ném vào miền Nam Việt Nam. Phần đất miền Nam với diện tích khoảng 17 vạn ki-lô-mét vuông phải chứa một triệu 89 nghìn 800 tên lính Mỹ, ngụy và chư hầu, gồm 22 sư đoàn, 17 lữ đoàn, trung đoàn chính quy được trang bị rất hiện đại trừ vũ khí nguyên tử. Với binh lực và hỏa lực đó, quân Mỹ tin rằng chúng có thể làm “nản lòng đối phương”, “xoay chuyển được tình thế”. Theo chúng, máy bay chiến lược B52 và pháo tầm xa - vua chiến trường, có sức công phá ghê gớm sẽ làm tê liệt sức đề kháng của đối phương trong thời gian ngắn nhất. Đế quốc Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược phản công ồ ạt, toàn diện bằng hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” nhằm tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng và cơ quan đầu não cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam. Nhà trắng và Lầu năm góc chắc mẩm chúng sẽ giành được thắng lợi về quân sự, cải thiện được tình hình miền Nam, xúc tiến đường lối chính trị, ngoại giao bịp bợm.

        Ở miền Bắc, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bàng không quân hết sức khốc liệt. Tham vọng của chúng là phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm lung lay ý chí và quyết tâm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, ngăn chặn sự. chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn, củng cố tinh thần suy sụp của ngụy quân, ngụy quyền ở miền Nam.

        Trước tình hình đó, tháng 12 năm 1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 12 đề ra nhiều vụ cho toàn Đáng, toàn dân và toàn quân: “Động viên lực lượng cả nước, kiên quyết đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước”. Nghị quyết 12 xác định: “Nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước hiện nay rõ ràng là nhiệm vụ thiêng  liêng của cả dân tộc ta, của nhân dân ta từ Nam chí Bắc”.

        Tháng 6 năm 1966, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở mặt trận Đường 9 tạo nên một hướng tiến công chiến lược mới, buộc đế quốc Mỹ phải bị động, thay đổi thế bố trí chiến lược trên toàn miền Nam. Đây là đòn đánh cân não bất ngờ đối với quân viễn chinh Mỹ.

        Thực hiện Nghị quyết 12 của Trung ương Đảng, nhân dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc bừng bừng khí thế thi đua giành cờ “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của Chú tịch Hồ Chí Minh, đã lập nên những chiến công oanh liệt. Miền Nam loại khỏi vòng chiến đấu 175 nghìn tên địch, có 9 vạn tên Mỹ, 15 nghìn tên chư hầu và phá hủy một khối lượng phương tiện chiến tranh lớn của địch. Miền Bắc đánh giỏi, bắn trúng, bắn rơi 2. 680 chiếc máy bay hiện đại, bắt sống hàng trăm giặc lái. Nhịp độ xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn được giữ vững. Những đoàn quân và những đoàn xe vận tải vẫn vượt Trường Sơn tiếp sức cho tiền tuyến lớn.

--------------------------
        1. Những đoạn tư liệu của địch trong ngoặc kép là trích hồi ký Giôn-xơn.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:21:41 AM

1. PHÁT TRIỂN VÀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG,
TẠO THẾ BƯỚC VÀO MÙA KHÔ THỨ HAI

        Mùa khô năm 1967 - 1968 ở Tây Nguyên đã diễn ra một cuộc đọ sức quyết liệt, khẩn trương giữa ta và địch để giành quyền chủ động chiến trường, chiếm giữ địa bàn chiến lược quan trọng của miền Nam và của cả Đông Dương.

        Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận kịp thời đề ra nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên: “Kiên Định lập trường, vượt qua mọi khó khăn, lướt qua mọit ác liệt, đánh thật nhanh, mạnh, liên tục, tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ và quân chủ lực ngụy, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng diệt kèm, phá ấp, mở rộng vùng giải phóng, phát triển chiến tranh du kích, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, củng cố căn cứ địa hậu phương trực tiếp của chiến trường”: Trên cơ sở sự chi viện của hậu phương lớn, nhiệm vụ đó đặt ra cho đảng bộ và lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên phải nỗ lực vượt bậc, chạy đua với thời gian, thời tiết và với địch, khẩn trương xây dựng lực lượng về mọi mặt để kịp thời đáp ứng yêu cầu tác chiến ngày càng lớn của chiến trường và phương hướng chiến lược của Bộ.

        Tháng 12 năm 1965, Đảng ủy Mặt trận quyết định thành lập hai sư đoàn bộ binh 1 và 6. Sư đoàn bộ binh 1 gồm các trung đoàn 33, 320, 66 đã chiến đấu trong chiến dịch Plây Me lịch sử. Sư đoàn bộ binh 6 mới hình thành bộ tư lệnh và cơ quan sư đoàn cùng một số đơn vị trực thuộc. Riêng trung đoàn 101A được trên điều động vào Nam Bộ. Đầu năm 1966, Bộ Tổng tư lệnh bổ sung cho Tây Nguyên trung đoàn 24A, đến giữa năm tăng thêm sư đoàn 325B (gồm trung đoàn 95 và 101B) và trung đoàn 88 (thuộc sư đoàn 308).

        Tác chiến của các binh đoàn chủ lực có phát triển mạnh mẽ và vững chắc là phải dựa vào sự phát triển của chiến tranh du kích. Ngược lại chiến tranh du kích phát triển đến mức độ nào đó mà không có tác chiến của các binh đoàn chủ lực hỗ trợ thì cũng khó phát triển. Đây là mối quan hệ hữu cơ giữa hai lực lượng để tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân hùng mạnh vững chắc. Để vận dụng được quy luật đẩy mạnh chiến tranh du kích phát triển cùng với chiến tranh chính quy phù hợp với đặc điểm chiến trường Tây Nguyên, Đảng ủy và Bộ tư lệnh xác định phải xây dựng hai khối chủ lực: khối chủ lực cơ động và khối chủ lực tại chỗ. Hai khối chủ lực nảy sẽ cùng với lực lượng vũ trang địa phương tiến hành và đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân. Tháng 8 năm 1966, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định tách ba trung đoàn 24, 33, 95 từ sư đoàn 6 và sư đoàn 325B (sư đoàn 10) thành những trung đoàn độc lập “cắm” ở 3 tỉnh làm nhiệm vụ chủ lực tại chỗ. Các trung đoàn chủ lực tại chỗ có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của chủ lực cơ động, tác chiến ở vùng sau lưng địch, vùng ven đô, trục đường giao thông chiến lược trực tiếp hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, góp phần xây dựng, phát triển chiến tranh du kích ở địa phương.

        Năm 1967, khối chủ lực Tây Nguyên được tổ chức thành 1 sư đoàn và 4 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo hỗn hợp - trung đoàn 40 pháo binh đầu tiên của chiến trường.

        Cùng với sự phát triển của khối chủ lực cơ động và tại chỗ, bộ đội địa phương mỗi tỉnh có 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn đặc công, 2 đại đội pháo cối và từ 2 đế 6 đại đội bộ binh độc lập. Lực lượng dân quân du kích xã, thôn lên tới 16 nghìn đội viên, số đông đã qua chiến dấu. Những vành đai diệt Mỹ bắt đầu hình thành quanh các căn cứ địch.

        Cuối năm 1965 và đầu năm 1967, Tây Nguyên thành lập binh trạm Nam và binh trạm Bắc, xây dựng căn cứ hậu cần khu vực. Lực lượng công binh, vận tải và các đơn vị làm nhiệm vụ ở tuyến sau được huy động, gấp rút mở thêm đường ô tô 128 từ Tà Xẻng vào nam đường 19 và các đường hành lang chạy xuống phía đông. Đường hành lang C01 đi xuống căn cứ Khu 5. Đường hành lang C09 từ miền tây Gia Lai tiếp tế cho lực lượng hoạt động phía đông bắc Plây Cu. Đường hành lang C06, C010 chuyển hàng chi viện cho căn cứ kháng chiến tỉnh Bình Định, Phú Yên. Năm 1968, ta mở thêm đường hành lang C011 chuyển hàng cho Khánh Hòa. Với sự hình thành căn cứ hậu cần khu vực cánh Nam, cánh Trung, cánh Bắc và hệ thống đường hành lang Bắc - Nam, Đông - Tây, các xã, huyện vùng giải phóng 3 tỉnh Tây Nguyên được nối liền thành căn cứ hậu phương tại chỗ, bảo đảm chỗ đứng chân xây dựng và tác chiến của lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:22:00 AM

        Xưởng quân giới Tây Nguyên ra đời. Từ một xưởng sửa chữa lúc đầu trang bị còn thô sơ, được miền Bắc xã hội chủ nghĩa chi viện thiết bị, các chiến sĩ quân giới đã xây dựng thành xưởng sản xuất quân giới X53.

        Năm 1966, tổ chức quân y Tây Nguyên được bỏ sung, củng cố hoàn chỉnh từ cơ quan chỉ đạo đến các hệ thống điều trị, vệ sinh phòng dịch, sản xuất thuốc chữa bệnh, huấn luyện cán bộ chuyên môn. Hệ thống điều trị hình thành từng khu vực, phía trước cỏ quân y các đơn vị, các đội phẫu cơ động và trạm xá, phía sau có các bệnh viện. Viện 1 ở cánh Bắc, viện 2 ở cánh Nam, viện 211 ở cánh Trung. Cơ động theo các hướng tác chiến của bộ đội còn có các đội điều trị 80, 81, 82, 83. Đội điều trị có lúc làm nhiệm vụ của một bệnh viện dã chiến, có lúc phân tán thành từng đội phẫu bám sát các đơn vị chiến đấu. Giữa năm 1966, tổ chức vệ sinh phòng dịch và xưởng dược X38 ra đời. Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, các mặt công tác quân y từng bước được củng cố và đi vào nền nếp, phục vụ tốt cho yêu cầu chiến đấu. Bệnh sốt rét ác tính hiểm nghèo ở chiến trường dần dần được khác phục, không còn là nỗi lo âu của bộ đội như trước. Các bệnh thiếu dinh dưỡng như suy nhược, thiếu máu, mờ mắt, quáng gà, phù tim, phù thũng cũng giảm bớt, trong đó có một số bệnh đã chấm dứt hẳn. Tỷ lệ tử vong do bệnh tật ở chiến trường gây nên được hạn chế đến mức thấp nhất. Thành công đó đã mở ra triển vọng tốt đẹp cho ngành quân y Tây Nguyên nghiên cứu, điều trị, sản xuất ngày càng đạt chất lượng cao.

        Bên cạnh việc tổ chức, xây dựng các ngành chuyên môn phục vụ, đào tạo cản bộ, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương tiến hành huấn luyện quân sự, khẩn trương nâng cao chất lượng và sức chiến đấu cho bộ đội theo kịp sự phát triển cửa chiến tranh, không ngừng bổ sung những điểm mới vào nội dung chiến dịch, chiến thuật, chiến đấu. Trong huấn luyện, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận chú trọng xây dựng tư tưởng đánh tiêu diệt theo hướng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô vừa và lớn. Tư tưởng này được quán triệt suốt trong quá trình xây dựng và chiến đấu của khối chủ lực Tây Nguyên. Đối với đội ngũ cán bộ trung đoàn, sư đoàn, Bộ tư lệnh Mặt trận mở những lớp tập huấn về nghệ thuật chiến dịch tiến công, làm cho cán bộ chỉ huy biết tổ chức thế trận có chiều sâu, dùng mưu kế lừa địch, đánh trận then chốt quyết định. Năng lực chỉ huy, trình độ tác chiến của cán bộ, chiến sĩ được nâng lên toàn diện, nhất là tác chiến hiệp đồng trong đội hình trung đoàn, sư đoàn.

        Sau trận Plây Me, một số cán bộ, chiến sĩ bàng hoàng và dao động, sinh hoạt, ăn uống thiếu thốn, lao động, chiến đấu liên tục, căng thẳng, lại thêm tác động của chiến tranh tâm lý của địch. trong các đơn vi tư tưởng bi quan, tiêu cực phát triển. Ở một số bộ phận, ý chí chiến đấu giảm sút. Một số cán bộ, chiến sĩ vi phạm phẩm chất, đạo đức cách mạng. Trước tình hình đó, Đảng ủy Mặt trận chủ trương “tiến hành củng cố bộ đội toàn diện - trước hết tập trung củng cố ý chí chiến đấu, phẩm chất, khí tiết, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ đến cùng”. Đợt sinh hoạt chính trị được tổ chức. Đối tượng chủ yếu nhằm vào cán bộ chủ trì và đảng viên. Qua đó làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ nhiệm vụ chiến đấu ở miền Nam là để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam trong đó có Tây Nguyên, thống nhất Tổ quốc. Mỗi người phải kiên định lập trường cách mạng, kiên cường trong đấu tranh, dám xả thân vì Tồ quốc, khó khăn không nản, ác liệt không sờn, có tính tổ chức cao, kỷ luật nghiêm, cần kiệm, tự lực, luôn luôn lạc quan tin tưởng, thủy chung gắn bó với đồng đội và tập thể, nghĩa tình son sắt với nhân dân. Đi đôi với sinh hoạt chính trị, toàn đảng bộ Mặt trận tiến hành cuộc vận động xây dựng Đảng, phấn đấu rèn luyện theo tiên chuẩn đảng viên 3 tốt, chi bộ 3 tốt do Quân ủy Miền phát động.

        Cuối tháng 2 năm 1967, sau Tết âm lịch, đại hội mừng công lần thứ nhất của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên khai mạc. Đại hội tổng kết kinh nghiêm và biểu dương phong trào thi đua giết giặc lập công của các lực lượng vũ trang. Đại đội 2 trung đoàn 66 được tặng cờ “Đại đội anh dũng diệt Mỹ” đầu tiên của chiến trường. Đại đội 1 trung đoàn 40 pháo binh được tặng cờ “Đơn vị chân đồng vai sắt, đánh giỏi bắn trúng, lập công tập thể” đầu tiên của pháo binh Tây Nguyên. Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ dược tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, Chiến sĩ thi đua. Các đồng chí Đậu Văn Phơn, Lê Khắc Nga, Nguyễn Tiến Lãng, Hồ Dục, A Ênh, Y Len... đã nêu cao tinh thần anh dũng, sáng tạo trong chiến đấu, tận tụy trong phục vụ, được đại hội nhiệt liệt biểu dương.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:22:22 AM

        Đại hội mừng công Tây Nguyên mở ra sau cuộc sinh hoạt chính trị và cuộc vận động xây dựng Đảng là sự kiện có ý nghĩa chính trị quan trọng, góp phần củng cố và bồi dưỡng nhân sinh quan cách mạng, lập trường giai cấp công nhân cho đảng viên, cán bộ, đưa họ trở về đúng vị trí lãnh đạo, tiền phong gương mẫu trong chiến đấu và xây dựng.

        Đại hội đang tiến hành, đồng chí Nguyễn Hòa, chiến sĩ trung đoàn 320 từ mặt trận sông Sa Thầy trở về báo cáo bắt sống được tên giặc lái Mỹ. Đây là tên tù binh Mỹ đầu tiên ở Tây Nguyên. Đồng chí Chính ủy mặt trận xức động ôm hôn thắm thiết người chiến sĩ vóc người nhỏ bé mà gan dạ giữa tiếng hoan hô vang dậy. Một phong trào thi đua bắt sống giặc Mỹ được phát động ngay ở đại hội. Thiếu tướng Chu Huy Mân thay mặt Bộ tư lệnh trao dây trói tù binh tượng trưng cho các đơn vị, khí thế “giết giặc lập công” được khích lệ, cổ vũ.

        Đoàn ca múa Tổng cục Chính trị đến chiến trường đúng vào những ngày cuối của đại hội. Anh chị em diễn viên không kịp nghỉ ngơi, lao vào biểu diễn phục vụ đêm bế mạc. Qua nhiệt tình phục vụ và các tiết mục nghệ thuật, đoàn đã đem đến chiến trường nghĩa tình sâu đậm của hậu phương lớn đối với tiền tuyến.

        Báo Tây Nguyên, phân xã thông tấn xã giải phóng, đội văn nghệ xung kích, đội chiếu bóng, nhà in lần lượt được thành lập.

        Ngày 5 tháng 3 năm 1967, báo Tây Nguyên ra số đầu tiên, biểu dương ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân, dân Tây Nguyên và đem đến cho cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường tiếng nói của Đảng, góp phần tăng cường và củng cố thêm trận địa tư tưởng vô sản trong lực lượng vũ trang. Các đội chiếu bóng bắt đầu gùi máy, cõng phim xuống các đơn vị phục vụ bộ đội. Lần đầu tiên trong rừng sâu gian khổ, được xem phim, được nghe tiếng máy nổ và thấy điện sáng, cán bộ, chiến sĩ ai nấy đều bồi hồi, xúc động. Giữa cảnh bom rơi, đạn nổ, giữa cuộc sống và chiến đấu gian khổ, ác liệt ở chiến trường, không ai ngờ lại có ngày được xem những cuốn phim thời sự, tài liệu, phim truyện mang cuộc sống chiến đấu, lao động anh hùng của đất nước và bè bạn bốn phương. Đội văn nghệ xung kích gấp rút sáng tác, luyện tập các tiết mục kịp ra mắt phục vụ các đơn vị trước khi đi chiến dịch.

        Phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng phát triển bộ đội đua nhau viết bích báo, sáng tác kịch. múa... Những đêm biểu diễn văn nghệ ngoài trời được tổ chức; nội dung phong phú, đậm đà tính chiến đấu, lao động và tình đoàn kết quân dân ở chiến trường.

        Tây Nguyên bước vào cuộc đọ sức với quân Mỹ trong mùa khô thứ hai với sự lớn lên như chàng trai làng Gióng. Bộ mặt chiến trường thay đổi căn bản và toàn diện. Bên cạnh khẩu súng của anh bộ đội ra trận, có cây đàn, cây sáo trúc của người chiến sĩ văn công, chiếc máy chiếu phim của người chiến sĩ điện ảnh. Giờ đây, trong gian khổ, ác liệt đã có tiếng nói lạc quan tin tưởng của “binh chủng công tác chinh trị” làm phong phú, tuổi trẻ thêm cuộc sổng ở chiến trường. Gian khổ, ác liệt còn nhiều, nhưng không khí bi quan, tư tưởng tiêu cực bị đẩy lùi, niềm lạc quan cách mạng và ý chí tiến công chiến thắng...

        Lúc này, quân Mỹ cũng hối hả nhảy lên Tây Nguyên gấp rút tăng cường lực lượng chiến đấu cho quân ngụy. Có lúc chúng tập trung đến 4 sư đoàn bộ binh (2 sư đoàn Mỹ), 2 trung đoàn thiết giáp, 11 tiểu đoàn pháo binh, không kể quân biệt động và địa phương...

        Âm mưu của đế quốc Mỹ là bằng cuộc phản công chiến lược với hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định”, chúng sẽ tiêu diệt lực lượng chủ lực Tây Nguyên, “bình định” nông thôn, cắt đứt hành lang chiến lược Bắc - Nam, khôi phục lại thế trận ở vùng Cao nguyên Trung phần đã bị phá vỡ trong mùa khô thứ nhất. Từ đầu năm 1966, địch mở liên tiếp các cuộc hành quân càn quét nống ra khu vực bắc Buôn Ma Thuột, tây Gia Lai, bắc và tây bắc Công Tum.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:23:02 AM

        Toàn Mặt trận Tây Nguyên dồn sức củng cố, xây dựng lực lượng, chuẩn bị mọi mặt theo tinh thần của Nghị quyết Quân ủy Trung ương tháng 2 năm 1966: “Lấy chiến trường rừng núi làm chiến trường tiêu diệt địch - trọng điểm là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Cần chú trọng chỉ đạo tác chiến, đồng thời chú trọng xây dựng về mọi mặt”. Để kết hợp giữa tác chiến và xây dựng, Đảng ủy Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương dùng một lực lượng mở đợt hoạt động, tiêu diệt và kìm chân một bộ phận quân Mỹ, ngụy hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, phối hợp với chiến trường toàn Miền. Sư đoàn 1 được lệnh đưa một bộ phận sang hướng bắc Buôn Ma Thuột, khu vực đường 19 và Chư Pông cùng với các tiểu đoàn bộ đội địa phương Đắc Lắc, Gia Lai chặn đánh sư đoàn 23 ngụy và lữ đoàn 3 kỵ binh không  vận Mỹ.

        Từ ngày 11 tháng 2 đến ngày 7 tháng 4, với cách đánh nhỏ lẻ, ta đã diệt gần 600 tên địch, diệt gọn 1 đại đội Mỹ, 1 chi dội xe bọc thép, bẻ gãy cuộc càn quét của địch ra khu vực buôn Ia Vầm và Chư Pông.

        Bước sang hè, lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên hoạt động trên cả hai hướng tây nam Plây Cu và bắc Công Tum. Ý định của ta là buộc quân Mỹ phải phân tán, không cho chúng thực hiện phản công ồ ạt, buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta; tranh thủ tiêu hao một bộ phận sinh lực quân Mỹ, làm cho chúng mệt mỏi, căng thẳng, tiến lên tiêu diệt một số đơn vi Mỹ, ngụy.

        Đêm 21 tháng 5, tiểu đoàn 5 trung đoàn 24 nổ súng bao vây Tu Mơ-rông. Trung đoàn 42 ngụy và tiểu đoàn 21 biệt động quân liền mở cuộc hành quân “Tân thắng” giải vây cho Tu Mơ-rông. Quân ngụy bị đánh, Mỹ điều ngay lữ đoàn 1 sư đoàn 101 dù từ Cam Ranh lên Công Tum ném vào cuộc hành quân. Mới đầu mùa hè, Mỹ - ngụy đã phải điều quân chắp vá từ vùng này sang vùng khác và lực lượng dù Mỹ phải ra quân sớm. Chúng dốc sức phản kích.

        Các chiến sĩ trung đoàn 24 kiên cường liên tiếp tiến công vào các cụm quân Mỹ, ngụy, đánh tan cuộc lấn chiếm Đắc Trâm của chúng.

        Hơn 30 ngày quần nhau với dịch căng thẳng, ác liệt các chiến sĩ trung đoàn 24 đã loại khỏi vòng chiến đấu 900 tên Mỹ, 200 tên ngụy, diệt gọn 1 tiểu đoàn Mỹ. Địch phải dùng máy bay B52 ném bom yểm trợ và đổ thêm lữ đoàn 2 sư đoàn kỵ binh không vận xuống khu chiến...

        Trong lúc 2 lữ đoàn Mỹ bị giam chân ở bắc Công Tum ngày 20 tháng 5, trung đoàn 66 (thiếu) tập kích địch ở khu vực đồn Mo; tiểu đoàn 966 (trung đoàn 320) pháo kích Plây Gi-răng, gây thiệt hại cho địch. Lữ đoàn 3 sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” phải vội vã nhảy ra Sùng Lễ, Chư Pa, giải vây cho Plây Gi-răng. Nhưng chúng chưa kịp phản công đã bị các chiến sĩ trung đoàn 33 đánh phủ đầu ở Sung Lễ. Tiếp đến ngày 29 tháng 5, trung đoàn 66 và 33 phối hợp tiến công diệt gọn 1 tiểu đoàn Mỹ ở Chư Pa. Bộ dội địa phương Gia Lai đánh sập cầu Ia Búc trên đường 19 tây, làm gián đoạn sự cơ động bằng đường bộ của địch.

        Tiếng súng đợt hoạt động hè cửa lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên nổ giòn trên cả hai hướng, tạo nên một tuyến tiến công kéo dài từ bắc Công Tum đến nam Gia Lai, uy hiếp dải phòng ngự phía tây của địch, buộc quân Mỹ và quân ngụy phải dàn mỏng lực lượng đối phó. Ý đồ chiến lược phản công ồ ạt, “tìm diệt” chủ lực Tây Nguyên của quân Mỹ không thực hiện được, buộc chúng phải xé lẻ từng đại đội, tiểu đoàn và bị diệt từng đơn vị Mâu thuẫn giữa ý đồ chiến lược của bọn chỉ huy với hành động chiến thuật của binh lính Mỹ trên chiến trường càng bộc lộ rõ và bị khoét sâu. Đó là sự trái khoáy mà những “chiến lược gia” Lầu năm góc không tài nào khắc phục nổii. Suốt trong thảng 6, lữ đoàn 3 kỵ bính không vận tiếp tục bi xé lè từng đại dội, tiểu đoàn đề đối phó với hàng loạt trận tiến công của trung đoàn 95 và trung đoàn 66 ở khu vực Đức Vinh, Ia Le, Đi-na-mô, điểm cao 185...

        Ngày 3 tháng 7, các chiến sĩ đại đội 2 tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 diệt gọn 1 đại đội Mỹ gồm 127 tên tại Đức Vinh. Với chiến công xuất sắc này, các chiến sĩ đại đội 2 đã nêu kỷ lục lần đầu tiên 1 đại đội ta diệt gọn 1 đại đội Mỹ, mở ra phong trào thi đua đuổi và vượt đại đội 2 diệt gọn đơn vị Mỹ trong lực lượng vũ trang Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:23:20 AM

        Cay cú trước những thất bại không ngờ, quân Mỹ từ đồn Đức Vinh có xe thiết giáp yểm trợ, phản kích vào trận địa dại dội 2 để lấy xác đồng bọn. Các chiến sĩ đại đội 2 đã biến trận địa phục kích thành điểm chốt kiên cường, thu hút, giam chân, tiêu hao quân địch. Đại đội 1, đại đột 3 kịp thời vận động đến bao vây, tiến công vào hai bên sườn. Nhờ kết hợp chặt chẽ giữa chốt giữ trận địa của đại đội 2 và xuất kích đánh tạt sườn của đại đội 1, đại đội 3 nên ta diệt gọn 1 đại đội, đánh tan đội hình phản kích của quân Mỹ. Chúng phải bỏ thêm lại trận địa 4 xác xe M113.

        Thực tiễn trận đánh của tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 đã hình thành bước đầu chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt, mở ra khả năng mới để nâng tốc độ đánh tiêu diệt của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên lên trình độ cao hơn.

        Tây Nguyên bước vào mùa mưa. Những trận mưa lớn dai dẳng tưởng chừng mọi hoạt động của bộ đội bị ngừng lại. Nhưng trên các hướng, bộ dội chủ lực và bộ đội địa phương vẫn tiếp tục tiến công địch ở khu vực Đức Vinh, đường 21, Ba Bi, Làng Le, Plây Gi-răng, Thăng Đức, Đức Cơ, Chư Pông, Chư Pa... Quân Mỹ và quân ngụy liên tiếp bị tiêu hao, tiêu diệt từng đại đội và bị căng kéo khắp nơi. Chúng phải ném lữ đoàn 3, sư đoàn kỵ binh không vận số 1 và quân Nam Triều Tiên vào vòng chiến để gỡ lại thế trận bị động của lữ đoàn 2 sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới”.

        Trong tháng 7 và tháng 8, những trận đánh của trung đoàn 320 ở làng Dịt, trung đoàn 88 ở Đức Vinh, trung đoàn 66 ở Chư Pông, trung đoàn 101 ở đường 19 tây, diệt gọn 4 đại đội Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 500 tên. Trên các hướng phối hợp, chiến tranh du kích ngay từ ngày đầu đợt hoạt động dã phát huy được tác dụng kìm giữ, tiêu hao quân địch, hỗ trợ cho phong trào phá ấp giành dân. Lực lượng công binh địa phương đã cùng với công binh chủ lực cài mìn, đánh phục kích, bắn tỉa từng tốp xe, tốp lính địch tuần tra bảo vệ các đường 14, 19, 21. Dân quân du kích các huyện 40, 67, 16 tỉnh Công Tum, huyện 4, 5, 7, 8 tinh Gia Lai, huyện 2, 11 tỉnh Đắc Lắc đã tổ chức những bãi chông, mìn, thò xung quanh vùng căn cứ, hạn chế được các cuộc càn quét lùng sục của địch, đồng thời tham gia chiến dấu trên đường 18, 14, 19A, 19B, gây cho địch một số thiệt hại. Đặc biệt đêm 3 tháng 9, các chiến sĩ đặc công Gia Lai táo bạo tập kích sân bay An Khê, phá hỏng gần 40 chiếc máy bay lên thắng của sư đoàn kỵ binh không vận số 1, làm cho địch choáng váng.

        Song song với đòn quân sự đánh phủ đầu quân Mỹ của các lực lượng vũ trang, cán bộ và đồng bào Tây Nguyên đã vượt muôn vàn khó khăn, kiên trì thực hiện phương châm 4 bám (dân bám đất, du kích bám địch, chi bộ bám dân, cấp trên bám cấp dưới), tổ chức những đợt đấu tranh chính trị, binh vận thắng lợi. Nhân dân xã Đắc Ui, Mang Khênh (Công Tum), huyện 4, huyện 5 (Gia Lai), xã Khuê Mộc Điền (Đắc Lắc) vận dụng ba mũi giáp công đấu tranh làm thất bại các cuộc càn quét của Mỹ, ngụy, giữ được dân, bảo vệ được cơ sở. Những hoạt động đó đã tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, buộc Mỹ, ngụy phải phân tán đối phó bị động, nên quân chúng đông mà hóa ít, hỏa lực nhiều nhưng không phát huy được tác dụng.

        Cuộc chiến đấu mùa mưa chấm dứt, quân Mỹ chẳng những không thực hiện dược ý đồ “tìm diệt” chủ lực của ta, mà còn bị mắc kẹt một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược ở Tây Nguyên. Đến tháng 8, chúng cố dốc sức mở cuộc hành quân “Thần phong 18” để gỡ thể diện về chính trị dưới con mắt và dư luận của báo chí phương Tây, nhưng lại bị lực lượng địa phương đánh tiêu hao, chúng phải chuồn khỏi vùng Đức Cơ.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:32:54 AM

CHIẾN DỊCH SA THẦY, ĐÁNH BẠI CUỘC PHẢN CÔNG MÙA KHÔ LẦN THỨ HAI CỦA MỸ Ở TÂY NGUYÊN.

        Cuộc chiến đấu mùa mưa giúp cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và Địch trên chiến trường, đồng thời phát hiện và nắm vững quy luật hoạt động của quân Mỹ.

        Tuy bị thất bại liên tiếp, nhưng thủ đoạn tác chiến của quân Mỹ vẫn chưa thay đổi. Chúng còn ỷ vào sức cơ động nhanh, hỏa lực mạnh của không quân và pháo binh, nên rất chủ quan và dễ bị mắc lừa. Khi phát hiện lực lượng đối phương, quân Mỹ thường nhảy cóc sâu vào phía sau lưng, thực hiện bao vây, chia cắt, chặn đường tiếp tế rồi đánh bật dối phương ra khỏi khu chiến.

        Về phía ta. bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, qua chiến đấu, có sức chịu đựng bền bỉ, dẻo dai. có sức cơ động tương đối tốt và vận dụng các cách đánh thông minh, sáng tạo, bảo đảm giành thắng lợi.

        Trên cơ sở nhiệm vụ được giao và thực tiễn chiến trường, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định mớ chiến dịch Sá Thầy với mục đích:

        Tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận sinh lực quân Mỹ, hỗ trợ cho phong trào phá ấp giành dân của địa phương; thu hút lực lượng Mỹ lên Tây Nguyên, kìm và giữ chúng ở vùng rừng núi, tạo điều kiện cho chiến trưởng đồng bằng tiến công, góp phần cùng toàn miền Nam đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của địch.

        Sông Sa Thầy chạy từ bắc Công Tum vào nam Gia Lai. Phía đông sông Sa Thầy là sông Pô Cô. Đây là khu vực rừng già, rừng non xen kẽ kín đáo, có những bãi cỏ tranh bằng phẳng và những ngọn núi cao nhô lên như những chiếc bát úp. Trên bờ đông sông Pô Cô, địch thiết lập đồn biên phòng Plây Gi-răng cách biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia khoảng 20 ki-lô-mét. Chọn nơi đây mở chiến dịch trong mùa khô thứ hai, ta hạn chế được sức cơ động bằng cơ giới và tác dụng binh khí kỹ thuật của quân Mỹ. Với địa hình mới lạ, xa căn cứ quân đoàn 2, lại bị rừng rậm và sông suối bao bọc, quân Mỹ dễ rơi vào thế bị chia cắt, cô lập, đội hình chiến dịch của chúng sẽ tan vỡ, không giữ được bài bản lúc ra quân. Đối với ta, đây là vùng căn cứ, bộ đội quen thuộc địa hình, thuận lợi cho việc tiếp tế, vận chuyển, cơ động và tập kết giấu quân, triển khai tác chiến. Ta có diều kiện nhử địch vào khu quyết chiến đã chọn sẵn, buộc quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta trên địa hình do ta lựa chọn.

        Khi những trận đánh đang diễn ra ác liệt ở khu vực Đức Vinh, Chư Pa, kế hoạch tác chiến  chiến dịch của ta đã được xây dựng. Lực lượng trinh sát, công binh, hậu cần và cán bộ tham mưu đã bí mật đi trước nghiên cửu địa hình, chuẩn bị chiến trường. Đồng bào vùng căn cứ huyện 4, huyện 5 Gia Lai, huyện 61 Công Tum được huy động chuẩn bị đi dân công hỏa tuyến.

        Đầu tháng 9, các đơn vị tham gia chiến dịch được lệnh hành quân. Dọc đường đi, các chiến sĩ sư đoàn 1 gặp lại bà con huyện 5 quen thuộc đã  từng kề vai chiến dấu trong chiến dịch Plây Me, đang hăm hở gùi đạn, gạo vào các cụm kho chiến dịch. Mùa mưa, nước sông dâng lên đục ngầu. Đêm đến, dân công, bộ dội bí mật, lặng lẽ vật lộn với dòng nước xiết, chuyển đạn, gạo sang phía đông cho trung đoàn 95 và 320. Máy bay trinh sát vè vè suốt ngày bên bờ tây. kết hợp với biệt kích xuyên rừng sục sạo, nhưng chúng không phát hiện dược hướng chiến dịch của ta. Giữ được bí mật, bất ngờ đến ngày nổ súng là nắm chắc phần thắng trong tay. Mọi người đều có ý thức chấp hành nghiệm quy định “đi, ở không dấu, nấu không khói”. Những nơi bộ dội, dân công đi qua hoặc tạm dừng, dấu vết được xóa sạch và ngụy trang. Cứ như thế đến ngày nổ súng, hướng chủ yếu của chiến dịch nhận đủ 1.005 tấn gạo, thực phẩm, súng đạn, bảo đảm cho bộ đội hoạt động.

        Ở các hướng phối hợp, trung đoàn 24, trung đoàn 33 và lực lượng vũ trang địa phương bắt đầu hoạt động thu hút địch về phía bắc Công Tum và bắc Buôn Ma Thuột.

        Trên hướng chủ yếu. Bộ tư lệnh Mặt trận sử dụng sư đoàn 1 bộ binh, 1 tiểu đoàn súng cối 120, 2 tiểu đoàn súng máy cao xạ. Trung đoàn 95 làm nhiệm vụ khơi ngòi chiến dịch.

        Ngày 18 tháng 10, tiều đoàn 1 trung coàn 95 bắn pháo và bao vây đồn biệt kích biên phòng Plây Gi-răng. Các chiến sĩ công binh, thông tin Mặt trận phối hợp với trung đoàn 95 bắc 2 cầu treo nghi binh qua sông Pô Cô và mắc đường dây điện thoại giả chạy dọc phía tây sông.

        Bị mắc lừa, địch dùng máy bay B52 ném bom rải thảm khu vực cầu treo và cho biệt kích sục sạo phát hiện lực lượng ta. Sư đoàn 4 Mỹ sau khi triển khai xong các tuyến chiến đấu phía tây Plây Cu, “bắt dược mồi” liền vội vã mở cuộc hành quân “Pôn Ri-vơ 4” đánh vào khu vực đông và tây sông Sa Thầy.

        Trước khi đổ bộ sang bờ tây sông Sa Thầy, sư đoàn 4 Mỹ lập ngay các trận địa pháo binh ở Sùng Lễ, Sùng Thiện, chiếm tuyến bàn đạp phía đông sông Pô Cô. Chúng dùng các trận địa pháo tầm xa và máy bay chiến lược B 52 bắn phá, ném bom dọn đường, yểm trợ cho bộ binh đổ bộ bằng máy bay lên thắng sang bờ tây sông Pô Cô, thiết lập tuyến chia cắt chiến dịch và tiến đến bờ đông sông Sa Thầy. Tại đây, trung đoàn 320 liên tục tiến công vào các cánh quân Mỹ, diệt gọn từng đại đội, gây cho chúng thương vong nặng nề. Chiến thuật đổ bộ thẳng đứng bằng máy bay lên thẳng kết hợp với từng đại đội biệt kích Mỹ xuyên rừng, đánh chiếm các khu vực địa hình khống chế ở bờ dông sông Sa Thầy của quân Mỹ tan vỡ. Địch phải dùng máy bay B52 ném bom ồ ạt, và đổ thêm lực lượng bộ binh, pháo binh xuống khu vực phía đông, sử dụng bọn biệt kích đánh mở dường sang phía tây sông Sa Thầy.

        Ngày 10 tháng 11, các chiến sĩ tiểu đoàn 9 (trung đoàn 66) vận động tiến công diệt gọn 2 đại đội biệt kích ngụy bên bờ tây sông Sa Thầy. Trung đoàn 320 pháo kích các trận địa pháo của quân Mỹ bên bở đông sông, diệt 70 tên, phá hủy 4 khẩu pháo 105.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:33:16 AM

        Mười lăm ngày giao chiến với ta ở khu vực đông Sa Thầy, quân Mỹ đã thi thố hết sức mạnh của hỏa lực pháo binh, không quân, nhưng chúng không thực hiện được ý đồ chia cắt đội hình chiến dịch của ta, không tiêu diệt được một đơn vị nào của ta, lại bị thương vong, thiệt hại nặng. Ngày 11 tháng 11, tiểu đoàn 2 thuộc lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ được tăng cường 1 đại đội pháo 105, 1 đại đội súng cối 106,7 đổ bộ sang bờ tây sông Sa Thầy, đóng trên bãi chốt cũ của chúng đã trú quân - bãi Cl.

        Ta đã cài thế buộc địch đổ đúng vào khu quyết chiến của chiến dịch.

        Tiểu đoàn pháo binh 32 đã bố trí trận địa phục sẵn ở đây từ trước ngày chiến dịch mở màn. Không thấy địch, nhiều cán bộ, chiến sĩ đâm ra sốt ruột, nản lòng, có ý kiến đề nghị khiêng pháo đi nơi khác, hiệp đồng với đơn vị bạn. Nhưng Bộ tư lệnh Mặt trận chỉ thị cho đơn vi phải tuyệt đối giữ bí mật, bất ngờ, kiên trì chờ đợi không được nôn nóng. Bây giờ quân Mỹ đã đổ ngay xuống bãi C1, cách bố trí của chúng gần đúng như dự kiến của cấp trên. Mọi người cảm thấy giờ đây mọi chiến công của mình đều gắn bó với sự chỉ huy, lãnh đạo của các cấp, tự hào với chiến trường, tin tưởng ở thắng lợi.

        Sáng ngày 12 tháng 11, khi bức màn sương vừa vén lên khỏi các cánh rừng, để lộ toàn bộ các cụm quân địch, tiểu đoàn 32 bắn mạnh vào bãi C1. Nhiều quả đạn cối 120 của ta chụp đúng trận địa pháo binh, sở chỉ huy tiểu đoàn và các vi trí đại đội bộ binh Mỹ. Kho đạn dã chiến Mỹ bốc cháy dữ dội. Hai đại đội pháo 105 và cối 106,7, sở chỉ huy tiểu đoàn 2 Mỹ bị diệt, bộ binh địch bị thương vong nặng nề. Từ các hướng, chiến sĩ trung đoàn 88 và tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 băng qua những bụi cây cao khuất đầu người, lởm chởm gai, đánh chiếm bãi C1. Nhưng do rừng gai cản trở, và chiến thuật tập kích địch trú quân dã ngoại không thuần thục, các đơn vị của ta đã bỏ lỡ thời cơ diệt gọn tiểu đoàn Mỹ.

        Ngày 13, dưới sự chi viện của không quân, một đại đội Mỹ nhảy xuống nhặt xác đồng bọn rồi vội vàng rút chạy khỏi bãi C1. Cùng ngày, ở phía nam bãi C1, tiểu đoàn 9 trung đoàn 66 tiến công, diệt gọn một đại đội Mỹ. Những ngày tiếp theo, các trận tiến công trên lưu vực đông và tây sông Sa Thầy nổ ra dồn dập quyết liệt, làm đảo lộn mọi mưu đồ tính toán chủ quan của bộ chỉ huy Mỹ.

        Ngày 16, Mỹ phải điều lữ đoàn 2 sư đoàn kỵ binh không vận từ Bình Định, Phú Yên ném lên Tây Nguyên đỡ gòn cho sư đoàn 4. Với chính diện gần 400 ki-lô-mét vuông, chiều dài từ Sùng Thiện, Sùng Lể đến Đức Cơ, Lệ Thanh, chiều ngang từ Plây Gi-răng ở bờ đông sông Pô Cô sang bờ tây sông Sa Thầy, quân Mỹ tập trung sư đoàn bộ binh số 4 và lữ đoàn 2 sư đoàn kỵ binh không vận số 1, nhiều đại đội biệt kích Mỹ, ngụy và hàng chục đại đội, tiểu đoàn pháo binh. Chúng bị sa vào trận đồ bày sẵn của các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên bố trí thành thế trận có bậc thang, có chiều sâu, có các khu quyết chiến nhỏ và lớn, lợi hại không sao gỡ ra được.

        Luôn luôn quán triệt tư tưởng tiến công và tư tưởng đánh tiêu diệt, sau khi đánh bại cuộc phản công của địch ở bờ tây, buộc chúng phải lùi về bờ đông sông Sa Thầy, các đơn vị chủ lực Tây Nguyên tiến sang phía đông sông đánh mạnh vào tuyến chia cắt chiến dịch của chúng. Ngày 20 và 21 tháng 11, trung đoàn 320, trung đoàn 66 và trung đoàn 95 liên tục tiến công vào các cụm quân của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 và sư đoàn 4 Mỹ ở bờ đông sông Sa Thầy. Máy bay lên thẳng Mỹ kéo đến hàng đàn, nhưng chúng không mang hết xác chết và những tên bị thương. Chúng lập tuyến phòng ngự ở bờ đông sông Pô Cô để yểm hộ và chi viện cho quân của chúng bên bờ đông sông Sa Thầy, đồng thời ngăn chặn quân ta tiến sâu vào tuyến phòng ngự của sư đoàn 4 Mỹ. Thừa thắng, bộ đội ta tràn sang tiếp tục tiền công địch bên bở dông sông Pô Cô, phá tan tuyển phòng ngự cửa sư đoàn 4 Mỹ, mở toang hàng rảo, tiến vào hoạt động ở huyện 4, huyện 5 tỉnh Gia Lai.

        Bị thất bại nặng nề, ngày 27, 28 tháng 11, quân Mỹ rút chạy khỏi khu vực đông và tây sông Sa Thầy. Chúng củng cố lại lực lượng, đổ xuống khu vực Cà Đin và đẩy trung đoàn 42 ngụy nống ra Plây Kiêng, Plây Le (Công Tum) nhằm đánh đòn bất ngờ vào lực lượng ta. Nhưng âm mưu của chúng không qua mắt được lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên.

        Một lần nữa quân.Mỹ lại bi dụ vào thế trận ta đã chuẩn bi. Tiểu đoàn 200 đã chờ sẵn quân dịch. Ngày 6 tháng 12, khi 111 lần chiếc máy bay lên thăng ồ ạt đổ một tiểu đoàn và 2 đại đội Mỹ xuống Cà Đin, tiểu đoàn pháo binh 200 đã giáng một đòn sấm sét, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 1 thuộc lữ đoàn 2 kỵ binh không vận.

        Chiến dịch Sa Thầy kết thúc giòn giã: 2.400 tên địch bị diệt (có hơn 2.000 Mỹ), diệt gọn 1 tiểu đoàn vả 8 đại đội Mỹ, 3 đại đội ngụy, đánh thiệt hại nặng 1 tiều đoàn Mỹ khác, bắn rơi 20 máy bay, phá hủy 25 đại bác, 17 xe quân sự Cuộc hành quân “Pôn Ri-vơ 4” biến thành cuộc tháo chạy đẫm máu của sư đoàn 4 và sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ. Chiến thuật “trực thăng vận” đổ quân ào ạt bị đánh tả tơi, mất hiệu nghiệm, buộc quân Mỹ về sau phải dè dặt, cơ động từng tiểu đoàn trên một trục, một hướng để tránh bị tiêu diệt.

        Chiến thắng Sa Thầy biểu hiện sinh động mưu kế lừa địch của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên, nói cách khác là lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã áp dụng sắc sảo nghệ thuật điều khiển địch, buộc địch phải hành động theo ý mình. Đó là nét độc đáo nổ bật nhất trong chiến dịch Sa Thầy.

        Với chiến thắng Sa Thầy, Tây Nguyên đã góp phần cùng miền Nam anh hùng đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai cửa giặc Mỹ. Thắng lợi đó dã khẳng định các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên cùng với quân và dân cả nước hoàn toàn có khả năng đánh bại “chiến tranh cục bộ” của địch, giành thắng lợi về mình.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:34:00 AM

*

*      *

        Sau thất bại ở Sa Thầy, đầu năm 1967, quân Mỹ mở tiếp cuộc hành quân “Sam-hút-tơn”, “Phrăng-xi Ma-ri-ôn” vào vùng tây Gia Lai, đường 19, Đức Cơ. Giữa năm 1967, quân ngụy mở cuộc hành quân “Dân Thắng”, “Phi Bằng” vào các khu vực Đắc Tô (Công Tum), Đắc Đoa, đường 19 (Gia Lai), đường 21, Lạc Thiện, Quảng Nhiêu (Đắc Lắc), v.v: . Những cuộc hành quân của Mỹ - ngụy trong thời gian này có tính chất ngăn chặn các cuộc tiến công của ta và giữ an ninh cho các căn cứ, thi xã, trục dường giao thông chiến lược. Nhưng ngay tháng đầu ra quân (từ 15 tháng 2 đến 10 tháng 3), địch bị tiêu diệt 1.900 tên, 52 xe quân sự bị phá hủy.

        Tong mùa hè, tại các khu vực đông và tây Sa Thầy, Đức Cơ, bắc Công Tum, cả Mỹ lẫn ngụy bị ta tiến công dồn dập, loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 tên nữa, 2 tiểu đoàn cùng 1 lữ bộ Mỹ bị diệt gọn. Tiểu đoàn pháo binh 200 và tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 đã lập công xuất sắc.

        Ngày 13 tháng 3, các chiến sĩ tiểu đoàn pháo binh 200 pháo kích Sùng Thiện, diệt trên 300 tên Mỹ, ngụy, phá hỏng 8 đại bác, 1 máy bay lên thẳng, 30 xe quân sự, đánh thiệt hại nặng lữ bộ lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ.

        Ngày 12 tháng 7, bằng một trận vận động tiến công, các chiến sĩ tiểu đoàn 7 tiêu diệt gọn 2 đại đội Mỹ, bắt sống 6 tên ở khu vực tây nam Đức Cơ. Đây là trận đánh tiêu diệt xuất sắc nhất, bắt tù binh nhiều nhất kể từ sau chiến dịch Sa Thầy.

        Quân Mỹ buộc phải rút bỏ vùng tây Sa Thầy, Sùng Thiện và Sùng Lễ. Thực chất chíng đã bắt đầu rút chạy về mặt chiến dịch ở Tây Nguyên.

        Đầu năm 1967, miền Bắc xã hội chủ nghĩa bổ sung cho chiến trường Tây Nguyên tiểu đoàn 33 ĐKZB và trung đoàn 174 bộ binh. Mới đến chiến trường, trung đoàn 174 đã được lệnh hành quân đi chiến đấu ở hướng Đắc Siêng, Đắc Pét.

        Tháng 6, đang giữa mùa mưa, Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định cho tiểu đoàn 200 ĐKZB đánh vào căn cứ địch ở Tân Cảnh. Một loại vũ khí mới lần đầu tiên xuất trận ở chiến trường phải bảo đảm đánh thắng giòn giã, gây khiếp sợ cho địch và tạo niềm tin cho ta. Trước khi đơn vị hành quân, các đồng chí trong Đảng ủy và Bộ tu lệnh Mặt trận lần lượt xuống kiểm tra, giao nhiệm vụ, động viên cán bộ, chiến sĩ. Tiểu đoàn 200 được lệnh gấp rút học tập kỹ thuật, cách sử dụng. Bộ tư lệnh mặt trận phân công đồng chí Tham mưu trưởng Mặt trận chỉ huy trận đánh.

        Đêm 17 tháng 6, từ đỉnh Ngọc Bờ Biêng, các chiến sĩ tiểu đoàn 200 đánh một trận pháo kích xuất sắc, phá nát căn cứ 42 ở Tân Cảnh, diệt 3 trận địa pháo 16 khẩu, máy bay lên thẳng, 30 xe quân sự, loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên Mỹ, ngụy. Địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp phản ửng. Quân địch ở Tân Cảnh 5 ngày sau còn bàng hoàng.

        Trong lúc căn cứ Tân Cảnh đang chìm dưới những trận mưa đạn ĐKB của tiều đoàn 200, và ở Đắc Siêng, Đắc Pét, địch đang khốn đốn trước cuộc vây hãm, tiến công của trung đoàn 174 thì khối chủ lực cơ động bước vào chuẩn bị cho mùa chiến dịch mới.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:57:00 AM

CHIẾN DỊCH ĐẮC TÔ - LỮ ĐOÀN DÙ MỸ BỊ ĐÁNH QUỴ

        Ngày 25 tháng 7 năm 1967, Đảng ủy Mặt trận họp đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ của Quân ủy Trung ương và Quân khu 5 giao cho chiến trường từ sau chiến dịch Sa Thầy và đề ra nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong đông - xuân 1967 - 1968. Trên cơ sở nhiệm vụ chung đã được xác định, ngày 10 tháng 9 giữa lúc bộ đội đang bước vào đợt sinh hoạt chính trị về tình hình, nhiệm vụ mới và huấn luyện quân sự, Đảng ủy Mặt trận chính thức quyết định mở chiến dịch Đắc Tô nhằm mục đích:

        - Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực quân Mỹ, bức địch phải điều lực lượng cơ động lên Tây Nguyên càng nhiều càng tốt. Tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy. Phối hợp chặt chẽ với chiến trường toàn Miền.

        - Nhanh chóng huấn luyện và rèn luyện trong tác chiến để nâng cao trình độ đánh tập trung của bộ đội chủ lực tiêu diệt gọn đơn vị tương đối lớn và lớn của địch. Rèn luyện; gấp rút nâng cao trình độ tác chiến cho bộ đội địa phương. Đẩy mạnh chiến tranh du kích phát triển.

        Thời gian này, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cứ đồng chí Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, đồng chí Trần Thế Môn làm Chính ủy Mặt trận thay cho đồng chí Chu Huy Mân về Quân khu 5.

        Các đồng chỉ trong Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mật trận tập trung theo dõi những diễn biến trên chiến trường, tính toàn phương án tác chiến, kế hoạch bảo đảm hậu cần và xác định quyết tâm chiến dịch lần cuối cùng. Thời gian chuẩn bị rất ngắn, bao nhiêu công việc phải làm, phải suy nghĩ trước khi nổ súng cứ dồn dập đến. Trong tình trạng tinh thần chiến đấu cửa quân Mỹ suy yếu, sau chiến dịch Sa Thầy, chúng đã phải dè dặt, làm thế nào kéo dược lực lượng lớn của địch ra xa căn cứ để tiêu diệt? Chọn khu vực mở chiến dịch và chọn điểm quyết chiến ở đâu để đạt được ý đồ đánh tiêu diệt có giá tri chiến thuật, hạn chế được thương vong, là việc làm đòi hỏi phải nghiên cứu công phu và tính toán khoa học, ti mỉ. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận đã phân tích kỹ và đi đến kết luận: chọn Đắc Tô mở chiến dịch mùa đông năm 1967 là chính xác và phù hợp với tình hình chiến trường, phù hợp với tương quan lực lượng giữa ta và địch hiện nay.

        Đảng ủy và Bộ tư lệnh cũng thảo luận khá sôi nổi việc sử dụng đại đội 1 pháo binh cùng với tiểu đoàn 6 độc lập đưa pháo lên chốt ở Ngọc Bờ Biêng. Rút kinh nghiệm ở mặt trận Đường 9, một trung đội ta chốt ở Đầu Mâu có công sự kiên cố, quân Mỹ tổ chức tiến công suốt một tháng vẫn không lên. được và bị đánh bại, Đảng ủy và Bộ  tư lệnh Mặt trận khẳng đinh: với công sự tốt, tổ chức hỏa lực mạnh, tiểu đoàn 6 chẳng những trụ bám được ở Ngọc Bờ Biêng mà còn biến nó thành điểm chốt hiểm yếu của chiến dịch, thu hút, kìm chân và tiêu hao địch.

        Đắc Tô là thung lũng án ngữ ngã ba đường 14 và 18, cách thị xã Công Tum khoảng 40 ki-lô-mét về phía bắc. Địch xây dựng ở đây 2 sân bay, nhiều kho tàng và căn cứ quân sự tương đối lớn. Căn cứ 42 ở Tân Cảnh và căn cứ Đắc Tô 2 là trung tâm của tuyển phòng ngự cơ bản của địch ở bắc Tây Nguyên, đồng thời là căn cứ xuất phát hành quân của chúng ra vừng ba biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia - Lào. Thị trấn Tân Cảnh chạy dọc hai bên đường 14 cách căn cứ 42 khoảng 1 ki-lô-mét về phía đông.

        Phía tây nam thung lũng Đắc Tô, núi rừng trùng điệp, kín đáo với các dãy Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Tang, Ngọc Dơ Lang, Ngọc Com Liệt, Ngọc Rình Rua cao trên 1.000 mét, tạo thành lá chắn thiên nhiên che chở cho Đắc Tô - Tân Cảnh. Ta chiếm các điểm cao này thì toàn bộ thung lũng Đắc Tô sẽ nằm trong tầm bắn của pháo binh và bị khống chế. Ở phía đông Đắc Tô có các dãy Ngọc Long Dra, Ngọc Van, Ngọc Xia nhô lên như những tấm bình phong vững chãi. Với địa hình hiểm trở đó, ta có điều kiện dẫn dắt, nhử địch từ xa vào nơi đã chọn sẵn, tạo  thời cơ đánh đòn tiêu diệt lớn.

        Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định chọn khu vực điểm cao 875 làm điểm quyết chiến của chiến dịch - nơi có dải địa hình và các điểm cao nằm ở trung tâm không gian chiến dịch, là một trong những điểm cao tương đối đột xuất khống chế các vùng xung quanh. Khu vực điểm cao 875 lại xa các trận địa pháo có định cửa địch ở Đắc Mót, Plây Cần, buộc chúng phải cơ động pháo ra ngoài thiết lập trận địa pháo lâm thời, ta có điều kiện kiệt lực lượng pháo binh địch và hạn chế được thương vong cho ta.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:57:19 AM

        Sư đoàn 1 bộ binh có nhiệm vụ đánh tiêu diệt địch tại khu quyết chiến 875. Tiểu đoàn 6 (độc lập) và 2 khẩu sơn pháo 75 của đại đội 1 chiếm giữ dãy Ngọc Bờ Biêng, khu chốt hiểm yếu của chiến dịch, khống chế Đắc Tô, thu hút, kìm chân, tiêu hao quân địch, nhử chúng vào sâu, tạo điều kiện cho sư đoàn 1 đánh trận then chốt. Trung đoàn 24 (thiếu) và tiểu đoàn 304 bộ đội địa phương Công Tum có nhiệm vụ từ hướng đông và đông bắc tiến công vào Tân Cảnh, quận ly Đắc Tô buộc địch phải phân tán đối phó; tổ chức lực lượng pháo, cối mang vác kìm và diệt các trận địa pháo địch, yểm hộ cho bộ binh tiến công.

        Ở Tây Nguyên, được rèn luyện trong đấu tranh gian khổ và chiến đấu ác liệt, từ người chiến sĩ đến đồng chí tư lệnh, qua kinh nghiệm, đều xây dựng cho mình một thói quen lo xa, luôn luôn suy nghĩ, dự kiến những công việc sắp làm, những sự kiện sắp xảy ra; trận đánh, chiến dịch này chưa kết thúc đã tính toán, chuẩn bị cho những. trận đánh, chiến dịch sau và công việc năm sau nữa. Thực tiễn sinh hoạt và chiến đấu ở chiến trưởng đặt ra cho người chiến sĩ Tây Nguyên nhiệm vụ: chiến đấu, rút kinh nghiệm, huấn luyện, sân xuất, làm đường, vận chuyển rồi lại chiến đấu, huấn luyện... cứ thế diễn ta năm này qua năm khác. Mọi cán bộ, chiến sĩ từ đơn vị đến cơ quan, phía trước cũng như phía sau đều nhận thức được sâu sắc nhiệm vụ đó, nên luôn luôn chủ động chuẩn bị trước.

        Bởi vậy, tháng 9, Đảng ủy Mặt trận mới chính thức ra nghị quyết mở chiến dịch Đắc Tô, nhưng ngay từ thảng 7, tháng 8 các đoàn cán bộ, chiến sĩ trinh sát, công binh, tham mưu, hậu cần đã lên đường đi chuẩn bị chiến dịch. Cơ quan Bộ tư lệnh và các đơn vị binh chủng rộn rịp bước vào học tập chính trị, huấn luyện quân sự theo phương hướng diệt lữ đoàn Mỹ. Các đơn vị học tập tình hình nhiệm vụ mới và tiến hành đăng ký chỉ tiêu thi đua diệt địch. Mỗi người căn cứ vào nhiệm vụ được giao, loại súng được sử dụng, tính toán chỉ tiêu diệt địch rồi hạ quyết tâm trước đơn vị. Lần đầu tiên toàn Mặt trận dấy lên phong trào tự nguyện đăng ký chỉ tiêu diệt Mỹ rộng khắp. Để đạt được chỉ tiêu đã giao ước, ngoài giờ học tập chính thức, từng tổ 3 người, từng tiều đội tự động ra thao trường ôn luyện chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt và kỹ thuật bắn các loại súng. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh mặt trận và cán bộ ba cơ quan chia nhau xuống sát từng đơn vị, giúp đỡ mọi công việc chuẩn bị, giải quyết những vướng mắc, khó khăn mà đơn vị, chiến sĩ chưa giải quyết được. Nhiều đồng chí trong Bộ tư lệnh và cơ quan không chỉ xuống đến sư đoàn, trung đoàn, mà còn đến tận các đại đội. Tác phong sâu sát đó của cản bộ và cơ quan chiến dịch dã xây dựng được sự gắn bó mật thiết giữa cấp trên với cấp dưới, đơn vị với cơ quan, cán bộ với chiến sĩ trong những năm gian khổ ở chiến trường và đã trở thành truyền thống đoàn kết thống nhất đẹp đẽ cửa lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên.

        Mặc dù núi rừng Công Tum như chìm trong những trận mưa tầm tã, mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch vẫn được tiến hành khẩn trương và sôi động.

        Công binh Mặt trận và các đơn vị gấp rút mở đường mới và sửa chữa những đoạn đường thồ hư hỏng, lầy lội. Bộ dội phải đi xa chặt nứa, lồ ô đan phên lát dường thồ dài hàng trăm ki-lô-mét. Để bảo đảm bí mật, chặt nứa và lồ ô phải rút hết ngọn xuống đất, những đoạn đường trống trải phải làm giàn ngụy trang. Cán bộ, chiến sĩ công binh, vận tải phải chặt hàng vạn cây trong những khu rừng ken dày dưới những trận mưa núi. Mỗi lần rút được ngọn xuống đất là một lần người chiến sĩ phải dồn sức co kéo vất vả. Không có ý thức chấp hành kỷ luật nghiêm và tinh thần giữ bí mật cao cho chiến dịch không thể làm được những việc ấy.

        Công tác vận tải, bảo đảm hậu cần cho chiến dịch đánh lớn và việc khó nhất lúc bây giờ. Bộ tham mưu và cục hậu cần vắt óc tính toán. lập kể hoạch, đồng thời kết hợp với trí thông minh và sức mạnh của quần chúng toàn mặt trận mới đưa đến trận địa trước ngày nổ súng dược 679 tấn lương thực, thục phẩm, đạn dược, thuốc men, trong đó có 10 nghìn bánh lương khô tự chế của quân nhu Tày Nguyên.

        Mặt trận phải huy động lực lượng vận tải và các binh trạm hành lang, trường quận chính. trường quân y, bệnh viện, đội điều trị, xưởng dược, xưởng quân giới và cơ quan Bộ tư lệnh ra mặt đường làm công tác vận chuyển.

        Các chiến sĩ gái hộ lý, y tá, y sĩ, dược tá của viện quân y 211, xưởng dược 38 cũng dược tổ chức thành một đội xe đạp thồ di vận chuyển suốt mùa chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:57:43 AM

        Trên những con đường mới mở hướng về Đắc Tô náu kín dưới những rừng lồ ô, giang nứa, rừng gõ um tùm, từng đoàn cán bộ, chiến sĩ các đơn vi nườm nượp gùi, thồ. Với quyết tâm “không vì hậu cần mà ảnh hưởng đến chiến đấu”, cán bộ và chiến sĩ vận tải gái, trai đưa nhau vượt qua những đoạn đường lầy, giúp đỡ và động viên nhau trèo lên “Dốc trăm bậc” và đỉnh đồi “Cây da gió lộng” cao hàng nghìn mét, rồi đổ xuống dòng sông Sa Thấy chảy xiết, vượt sang bờ phía đông, đưa đạn, gạo đến từng trận địa. Một phong trào thi đua “vượt cân tăng chuyến” diễn ra sôi nổi. Trong các đơn vị, năng suất gùi, thồ không ngừng tăng lên. Những “kỷ lục” mới luôn luôn bị phá vỡ. Cán bộ, chiến sĩ viện quân y 211 không quen gùi, thồ cũng nỗ lực dưa năng suất thồ 80 ki-lô-gam. gùi 45 ki-lô-gam mỗi chuyến một người lúc đầu lên 120 ki-lô-gam và 65 ki-iô-gam. Thêm 1 ki-lô-gam gạo, 1 viên đạn ra phía trước là để đồng chí mình được ăn no, diệt thêm một tên giặc. Đội nữ vận tải cục hậu cần đạt năng suất bình quân 50 ki-lô-gam một người. Tiều đoàn 6 vận tải đạt năng suất bình quân mặt đường 42 ki-lô-gam một người. Đạt năng suất bình quân như thế, nhiều chiến sĩ phải gùi 100 ki-lô-gam, thồ từ 1,5 tạ đến 2 tạ một chuyến. Nhiều đồng chí bác sĩ, đội trưởng đội điều tri tham gia vận chuyển cũng không kém gì chiến sĩ vận tải chuyên nghiệp. Cả mặt trận dồn sức cho chiến dịch; thực hiện kỳ được đánh to thắng lớn, diệt lữ đoàn Mỹ.

        Ở các bệnh viện và tiểu đoàn thu dung, ngoài việc tham gia vận chuyển, đã mở đợt thi đua điều tri đột xuất nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh, trả nhanh quân số về chiến đấu. Các đơn vi phía trước đã nhận dược 1.600 cán bộ, chiến sĩ khỏe mạnh từ các bệnh viện, tiển đoàn thu dung trở về. Chiến dịch lại có thêm tay súng.

        Cuối tháng 9 và đầu tháng 10, bộ đội được lệnh hành quân chiếm lĩnh trận địa. Đoàn văn công Tổng cục Chính trị và đội văn nghệ xung kích B3 đã chia nhau từng tổ đến tận đơn vị trung đội, đại đội phục vụ động viên chiến sĩ trước khi lên đường. Đi chiến dịch lần này, mỗi chiến sĩ được trang bị thêm cuộn dây trói tù binh mới tinh. Những từ “đánh to”, “thắng lớn”, “diệt lữ đoàn” được mọi người nhắc đến với một niềm tin tưởng. Dọc đường hành quân, cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 1 bộ binh, tiểu đoàn 6 độc lập, trung đoàn 40 pháo binh mỗi khi gặp nhau lại siết chặt tay, thách thức thi đua vượt chỉ tiêu diệt địch đã đăng ký, biểu hiện niềm tin và quyết tâm của bộ đội Tây Nguyên trong mùa đánh Mỹ thứ ba ở chiến trường.

        Đường lên những dãy núi bắc Công Tum dốc đứng thành vại, mưa trơn lầy lội. Muỗi bay hàng đàn, vắt nhiều như trấu. Bộ đội hành quân trong rừng sâu theo những dấu chân len lỏi của chiến sĩ trinh sát đi trước. Có đơn vị vừa đi vừa xem bản đồ, địa bàn, xác định phương hướng cắt đường. Các chiến sĩ gọi những con đường gian truân ấy là những “con đường diệt Mỹ”, “Con đường chiến thắng”. Chiến sĩ bộ binh mang nặng leo núi đã khó, chiến sĩ pháo binh khiêng vác cồng kềnh càng khó hơn. Đại đội 1 pháo binh phải tháo rời 2 khẩu sơn pháo 75, nhưng nhiều bộ phận phải từ 4 đến 6 người mới khiêng nổi. Lên đèo, xuống dốc, mưa trơn, nhiều chiến sĩ ngã lăn xuống vực, quần áo rách nát, mình mẩy bị thương rớm máu. Khó khăn tưởng chừng không thể đưa hai khối thép đó lên đỉnh 1.338 của dãy Ngọc Bờ Biêng được. Thử thách và gian nan đến với họ. Nhưng các chiến sĩ đại đội 1 pháo binh Tây Nguyên đã làm cho kẻ địch bất ngờ và từ bất ngờ đến kinh hoàng.

        Các đơn vị chủ lực cơ động dang trên đường hành quân Bộ tư lệnh Mặt trận ra lệnh cho các trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực tại chỗ cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích Gia Lai, Đắc Lắc hoạt động để đánh lạc sự chú ý của địch đối với hướng chính chiến dịch.

        Tiếng súng diệt địch bắt đầu nổ trên đường 14. 19, 21, khu vực tây Plây Cu và bắc Buôn Ma Thuột. Sư đoàn 4 Mỹ bị nhừ đòn trong mùa hè chưa kịp củng cổ phải thúc quân mở cuộc hành quân “Mác Ác-tơ” vào vùng tây Gia Lai và Đắc Lắc; đồng thời lập căn cứ tiền phương ớ Tân Cảnh - Đắc Tô để triển khai lực lượng thăm dò, phát hiện ta ở khư vực Pa Kha - Tà Xẻng. Chúng đã tung hai phần ba lực lượng trên các hướng, nhưng quân Mỹ đi đến đâu cũng chỉ “đấm vào không gian” như các báo chí phương Tây mô tả, không sao tìm thấy Quân giải phóng. Nhưng đột nhiên và bất ngờ, chúng lại bi bộ đội chủ lực tại chỗ, bộ đội địa phương và du kích thúc vào sườn đánh vào cơ quan đầu não.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:58:18 AM

        Đêm 20 tháng 10, tiểu đoàn 33 ĐKZB bắn vào sở chi huy quân đoàn 2 ngụy, căn cứ La Sơn và sở chỉ huy sự đoàn 4 Mỹ ở Plây Cu, giết và làm bị thương 300 tên. Đêm 27 tháng 10, trung đoàn 33 chủ lực tại chỗ và tiểu đoàn 303 Đắc Lắc tiến công căn cứ sư đoàn 23 ngụy ở Buôn Ma Thuột. Địch thú nhận “thương vong hơn 200 người, phần lớn là sĩ quan ngụy bị chết”.

        Ngày 28 tháng 10, bộ đội ta chặn đánh quyết liệt tiểu đoàn 1 lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ ở buôn Mê Van. Trung đoàn 8 thiết giáp ngụy đi ứng cứu cho quân Mỹ, bị ta chặn đánh diệt một số xe. Sở chỉ huy trung đoàn thiết giáp bị đánh thiệt hại nặng. Trong ngày, trung đoàn 45 ngụy ở Phước An kéo về Buôn Ma Thuột, bị bộ đội địa phương và du kích chặn đánh trên đường 21.

        Chỉ trong một tuần, lực lượng quân Mỹ và quân ngụy bị diệt hơn 800 tên, nhưng ý đồ và lực lượng ta thì chúng vẫn còn mù tịt. Bộ mặt bí ẩn của Tây Nguyên quả đã làm cho quân viễn chinh Mỹ lo lắng, kinh hoàng. Tên La-xâu tư lệnh quân Mỹ ở Tây Nguyên phải kêu “tình hình Tây Nguyên ngày càng trở nên đáng lo ngại... Mối đe dọa ở Plây Cu, Buôn Ma Thuột rất nghiêm trọng, nếu không tăng thêm lực lượng thì chúng ta sẽ bị o ép mạnh” (báo cáo của La-xâu lên Oét-mo-len).

        Trong lúc bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn và các tướng, tá của chúng ở Tây Nguyên đau đầu nát óc, phán đoán tình hình, lúng túng tìm kiếm phát hiện lực lượng ta, thì các đơn vị chủ lực cơ động của ta sau những ngày hành quân gian nan đã từ các ngả kẻo về bao quanh thung lũng Đắc Tô. Thế là trên những điểm cao Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Tang, Ngọc Com Liệt, 875, trong các cánh rừng già mênh mông và im lặng ở tây nam Đắc Tô, những đơn vi bộ binh, pháo binh, công binh, trinh sát, thông tin, quân y đến trước bí mật xây dựng trận địa.

        Thấm thoắt, tháng 10 đã qua. Trời quang, đêm đã bắt đầu rét. Bộ đội ban ngày chặt gỗ, đào hầm, ban đêm đốt đuốc, đốt nến che bớt ánh sáng làm thêm. Khối lượng công việc bề bộn. Công sự chiến đấu, hào giao thông, hầm nghỉ ngơi, bếp nấu ăn v.v. mới làm xong quá nửa. Một số đơn vi còn đang trên đường vào chiếm lĩnh. Giữa lúc đó sư đoàn 4 Mỹ sau khi “làm con dã tràng xe cát” ở vừng Chư Pa, Đức Cơ, Mê Van đã chuyển cuộc hành quân “Mác Ác-tơ” ra vùng tây bắc Công Tum.

        Ngày 2 tháng 11, sở chí huy lữ đoàn 1 Mỹ lên Đắc Tô và thiết lập 2 trận địa pháo ở Plây Cần, Đắc Mót. Oét-mo-len đình chỉ cuộc hành quân của lữ đoàn dù 173 ở Phú Yên, ném chúng lên Đắc Tô. Hai tiểu đoàn Mỹ thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1 và lữ đoàn dù ngụy cũng được dịch lên Tây Nguyên làm lực lượng dự bị.

        Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên phán đoán lữ đoàn 1 sư đoàn 4 Mỹ sẽ đồ quân xuống hướng Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Dơ Lang, lữ đoàn dù 173 sẽ đổ quân xuống khu vực Plây Cần và Ngọc Com Liệt với ý định chia cắt đội hình ta và hợp vây chiến dịch tại khu vực điểm cao 875. Trung đoàn 320 của ta được lệnh gấp rút chiếm Ngọc Dơ Lang. Các chiến sĩ tiểu đoàn 6 (trung đoàn 320) vừa hành quân đến Ngọc Dơ Lang thì một tiểu đoàn Mỹ cũng đến Ngọc Rình Rua. Địch ra quân sớm hơn dự kiến để thực hành ngăn chặn chiến dịch. Giữa ta và địch cùng tranh chấp chiếm các điểm cao trong tuyến một chiến dịch, nên tình huống chiến đấu diễn ra căng thẳng. Tình hình đó thúc đẩy đội hình chiến dịch của ta phải nhanh chóng vào chiếm lĩnh và khẩn trương hoàn tất mọi công việc chuẩn bị.

        Chiều ngày 3 tháng 11, lữ đoàn 1 Mỹ dùng máy bay lên thăng dò một tiểu đoàn xuống khu đồi tranh phía đông dãy Ngọc Bờ Biêng khoảng 500 mét và tiến lên trận địa chốt của đại đội 11 tiểu đoàn 6 Tây Ninh. Bộ đội ta đang đào công sự phải ngừng tay, bước vào chiến đấu.

        15 giờ 30 phút ngày 3 tháng 11, trên mỏm đồi yên ngựa dãy Ngọc Bờ Biêng, tiểu đội 7 của đại đội 11 (tiểu đoàn 6 Tây Ninh) mở màn chiến dịch Đắc Tô bằng trận đánh quyết liệt với 2 đại đội Mỹ trước chiến hào đơn vị. Các chiến sĩ tiều đội 7 nhảy lên chiến hào thu 2 súng ga-răng, M79. Đây là những khẩu súng chiến lợi phẩm đầu tiên của chiến dịch. Bộ đội phấn chấn hẳn lên.

        Bom, pháo địch bắt đầu nã vào trận địa. Đường dây về sở chỉ huy tiểu đoàn bi đứt. Màn đêm ập xuống. Pháo địch bắn vào trận địa. Cây cối gãy đồ rào rào. Cán bộ chiến sĩ tiểu đội 7, ăn lương khô trừ bữa rồi tranh thủ sửa lại công sự, khẩn trương chuẩn bi cho trận đánh ngày mai.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:58:44 AM

        Sáng ngày 4, địch ném bom đào, bom xăng và hóa chất độc đến 8 giờ. Trận địa chốt, cây cối um tùm, bỗng sạch quang, lửa cháy nham nhở. Nhiều đoạn chiến hào bị san phẳng. Quân Mỹ bắt đầu tiến công lên chốt. Chúng lại bị đánh bật khỏi trận địa. Bom, pháo lại giội xuống. Thêm một số chiến sĩ bị thương vong. Suốt ngày, quân Mỹ tổ chức 8 đợt tiến công chiếm chốt của ta, nhưng đều bị các chiến sĩ tiểu đội 7 đại đội 11 anh dũng, bình tĩnh đánh lui, diệt 120 tên, thu nhiều súng, giữ vững trận địa…

        Ngày 5, một đại đội Mỹ bất ngờ ập lên trận địa chốt thứ 2 của đại đội 11 ở Ngọc Tang. Bộ đội ta dùng lưỡi lê, báng súng, lựu đạn gánh giáp lá cà với quân Mỹ, diệt 70 tên. Nguyễn Tấn, một chiến sĩ lần đầu ra trận chiến đấu rất dũng căm, khi còn 1 viên đạn cuối cùng, anh đợi cho tên Mỹ xông đến gần mới bắn gục nó tại chỗ.

        Ngày 6 và 7, các chiến sĩ trung đoàn 320, trung đoàn 66 chặn đánh quân địch ở khu vực điểm cao 724, 823 và pháo kích Ngọc Rinh Rua, diệt hơn 300 tên, tiêu diệt và tiêu hao 3 đại đội Mỹ, phá hủy 2 máy bay lên thẳng.

        Cùng với những trận đánh của bộ binh, đại đội 1 pháo binh dùng 2 khẩu sơn pháo 75 bắn phá Đắc Tô; trung đội ĐKZ của Bùi Kim Tứ ở Ngọc Tang vừa chặn đánh bộ binh địch tràn xuống, vừa bắn vào sân bay, gây thiệt hại cho địch.

        Lữ đoàn 173 Mỹ sau khi lần lượt đổ quân xuống chiếm các điểm cao 823, 845, 882 trên dãy Ngọc Com Liệt, bắt đầu tiến công từ sườn phải vào sư đoàn 1 của ta để tiến lên điểm cao 875. Mỹ thúc 1 đại đội biệt kích ngụy đi mở đường, nhưng chúng đã bị tiểu đoàn 9 trung đoàn 66 diệt gọn. Ngày 11, trung đoàn 320 và trung đoàn 66. đánh một trận vận động xuất sắc ở khu vực điểm cao 823, diệt gọn 4 đại đội thuộc lữ dù 173 và lữ 1 sư đoàn 4 Mỹ, giết, làm bị thương hơn 400 tên, trong đó tiểu đoàn 4 dù bị diệt gọn. Tiểu đoàn 1 dù đến cứu nguy, nhưng các chiến sĩ tiểu đoàn 8 và đại đội trợ chiến 12,7 (trung đoàn 66) kịp thời chặn đánh. Tiểu đoàn 1 dù phải đối phó lúng túng, bị động, không cứu nguy được cho bọn địch ở điểm cao 823.

        Trong trận này, đại đội trưởng Trương Văn Hóa, người đã từng dùng đòn hiểm vật lộn bắt sống 2 tên Mỹ trong đợt hè ở Sa Thầy, đã dẫn đầu đơn vị tiến công vào cánh quân Mỹ đang di chuyển từ điểm cao 823 sang Ngọc Rình Rua, làm chúng rối loạn đội hình, tháo chạy, tạo thời cơ cho trận đánh kết thúc nhanh gọn. Chiến sĩ Cao Xuân Hòa bị đạn tiện đứt ngón chân vẫn kẹp nách trung liên vượt qua những trận bom bi, đuổi địch.

        Các trận đánh xung quanh khu vực 724, 823 làm cho địch hết sức bất ngờ, không thực hiện được ý đồ chia cắt đội hình chiến dịch của ta. Tên tướng Pẻc phải thốt lên: “Tôi không hiểu nổi vì sao khi tiểu đoàn 4 vừa đến 823 đã bị đánh ngay”.

        Diễn biến những ngày đầu chiến dịch chứng minh những phán đoán, dụ kiến của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Mặt trận về hướng hợp vây chiến dịch của địch là đúng. Bộ tư lệnh sử dụng trung đoàn 66 và 320 chặn đánh địch ở khu vực Ngọc Dơ Lang, Ngọc Com Liệt nhử lữ dù 173 và sư đoàn 4 Mỹ vào “bẫy Đắc Tô” là chính xác. Nhưng lần này địch ra dè dặt từng mũi, không ồ ạt như chiến dịch Plây Me, nên các đơn vị của ta chỉ đánh bại từng mũi và nhử chúng từng bước vào đến khu vực điểm cao 875, không đánh được những trận tiêu diệt lớn. Tuy vậy, trước tình thế lữ đoàn dù 173 và sư đoàn 4 bị mắc bẫy, bị tiêu hao, bộ chỉ huy Mỹ buộc phải tung lực lượng dự bị gồm 2 tiểu đoàn của sư kỵ binh không vận số 1 và chiến đoàn dù số 3 ngụy sớm vào vòng chiến. Không quân Mỹ phải dùng mỗi ngày 700 lần chiếc máy bay B52 và máy bay phản lực ném bom xuống Đắc Tô. Núi rừng Đắc Tô chỉ còn trơ những quả đồi trọc, đi bộ hàng ngày vẫn không qua hết bãi bom B52. Trận địa chốt loang lổ hố bom, nhiều đoạn hào giao thông sụt lở. Nhưng từ trong những công sự, chiến hào ấy, bộ đội ta vẫn tổ chức những trận đánh giữ chốt kết hợp với xuất kích ngắn tiến công địch. Ý chí và quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ Đắc Tô như được nhân lên. Khẩu hiệu “Quyết giữ trận địa đến cùng”, “Phấn đấu trở thành dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú” mọc lên khắp chiến hào.

        Từ ngày 8 đến ngày 27 tháng 11, các đơn vị bộ binh. pháo binh Tây Nguyên dồn dập tiến công dịch trên toàn tuyến chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:59:03 AM

        Trên dãy Ngọc Bờ Biêng, tiểu đoàn 6 Tây Ninh lập chiến công xuất sắc, diệt 300 tên địch, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 lữ đoàn 1 Mỹ. Ở đây, các chiến sĩ tiểu đoàn 6 vận dụng tốt chiến thuật chốt kết hợp với vận động tiến công, tổ chức xuất kích ngắn đánh lui nhiều đợt tiến công ác liệt của địch.

        Ngày 9 tháng 11, dựa vào sự yểm trợ tối đa của không quân, pháo binh, 1 tiểu đoàn Mỹ liều mạng ào lên chiếm được một số đoạn hào giao thông, công sự chiến đấu. Tình huống hết sức gay go, phức tạp, địch, ta xen kẽ luôn luôn tìm cách tiến công nhau để chiếm trận địa. Các chiến sĩ tiểu đoàn  6 bình tĩnh bám những đoạn hào giao thông còn lại, dùng lựu đạn, lưỡi lê, báng súng đánh giáp lá cà với địch. Trận đánh diễn ra rất ác liệt. Trung dội phó Bùi Xuân Xuyên bị thương nặng. Hoàng Hữu Tĩnh, chiến sĩ B40 lao đến băng cho Xuyên. Xuyên nói qua hơi thở: “Chiến đấu còn dài, để dành băng băng cho đồng chí khác. Thế nào cũng cố gắng giữ cho được chốt...”. Hoàng Hữu Tĩnh đặt Xuyên nằm xuống hào giao thông, cầm lấy khẩu AK của Xuyên, gạt nước mắt, lao vào cuộc tiến công, cùng đồng đội giành lại từng công sự với quân Mỹ.

        Lòng thương yêu đồng đội và căm thù quân giặc của Hoàng Hữu Tĩnh - một tân binh ra trận lần đầu, đã nêu một tấm gương chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, cổ vũ đơn vị lập công. Bị đánh mạnh, bọn Mỹ cụm lại dựa vào nhau. Hoàng Hữu Tĩnh chọn cụm địch đông nhất, hướng nòng B40 vào chúng, ấn cò. Mười lăm tên Mỹ chết gục. Ngày hôm sau, tiểu đoàn 6 Tây Ninh đánh bật quân Mỹ khỏi chiến hào. Hoàng Hữu Tĩnh được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì. Qua những trận đánh quyết liệt ở Ngọc Bờ Biêng, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 6 - một tập thể kiên cường đã biến trận địa thành mồ chôn giặc Mỹ. Bọn tướng, tá Mỹ phải thừa nhận “Ngọc Bờ Biêng, một chiến tuyến kiên cố của Việt cộng”.

        Sau thời gian bắn khống chế sân bay Đắc Tô, ngày 17 và 18, đại đội 1 pháo binh bắn mãnh liệt vào căn cứ dã chiến tiền phương của sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ. Địch phản pháo và dùng máy bay ném bom vào trận địa. Cán bộ, chiến sĩ đại đội 1 bình tĩnh hiệu chỉnh chính xác từng quả đạn vào mục tiêu địch. Bộ binh Mỹ liều lĩnh tiến công lên trận địa pháo. Khẩu đội trưởng Bùi Ngọc Hoan nhanh trí dùng AK quét gục tốp địch lên gần công sự, tạo điều kiện cho tiểu đoàn 6 đánh bật chúng xuống chân dốc. Quân Mỹ tổ chức tiến công đợt hai, nhưng Bùi Ngọc Hoan đã dùng cối 82 bắn ứng dụng đánh tan đội hình địch. Con “voi thép” của đại đội 1 lần đầu xung trận, tiếp tục trút lửa xuống Đắc Tô. Kho đạn 1.100 tấn của địch trúng đạn nổ dữ dội, làm cho toàn bộ căn cứ dự trữ hậu cần của cuộc hành quân địch bị phá hủy, 3 đại đội ngụy bị tiêu diệt, 150 tên Mỹ chết, 3 máy bay C130 chở quân vừa hạ xuống đường băng bị phá hủy. Bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn hốt hoảng kêu lên: “Đây là cơn bão lửa kinh khủng nhất… Việt cộng bắn cả ngày lẫn đêm rất chính xác, gây thiệt hại cho đồng minh (Mỹ - ngụy)”.

        Trên hướng đường 18 và đông bắc Đắc Tô, các chiến sĩ trung đoàn 24 chủ lực tại chỗ cùng với lực lượng công bình và bộ đội địa phương Công Tum tiến công vào quận lỵ Đắc Tô, thị trấn Tân Cảnh, chặn đánh các đoàn xe vận tải, chở quân ứng cửu của địch, buộc chúng phải phân tán đối phó. Nổi bật nhất là những trận đánh của trung đoàn 24 ở Ngọc Xia (14-11), Tân Cảnh (16-11), điểm cao 1030, 1423 và Ngọc Van (17, 19-11), đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn địch, phá hủy nhiều xe quân sự. Các trận phục kích trên đường 18 - Plây Cần của công binh, trinh sát Mặt trận, trận phục kích đường 14 - Võ Định của tiểu đoàn 304 và trận đánh bại “Nghĩa binh” Công Tum của tiểu đoàn 406 đặc công, diệt hơn 200 tên dịch, phá hủy 22 xe quân sự. Bị đánh cả phía trước lẫn phía sau, thế trận cuộc hành quân “Mác Ác-tơ” của địch bị rối loạn. Chúng chống đỡ lúng túng.

        Chiến thắng giòn giã ở khu vực điểm cao 882, 724, Ngọc Bờ Biêng, Đắc Tô, đường 18, 14 và nhiều nơi khác ở phía dông Đắc Tô đã tạo thuận lợi cho trung đoàn 174 lập công xuất sắc ở khu quyết chiến then chốt của chiến dịch: điểm cao 875.

        Sau những cố gắng tiến công chia cắt đội hình chiến dịch của ta ở khu vực Ngọc Dơ Lang, Ngọc Com Liệt không thành công, bộ chỉ huy Mỹ cho rằng nếu không chiếm được điểm cao 875 làm bàn đạp khống chế ta, thực hiện đòn đánh vu hồi vào lòng đội hình chiến dịch Quân giải phỏng thì không chia cắt dược chiến dịch, không thay đổi dược thế trận. Vì vậy mặc dù xa các căn cứ pháo binh cố định yểm trợ, quân Mỹ vẫn tập trung lực lượng đánh lên điểm cao 875. Chứng tin rằng với sức mạnh ồ ạt của máy bay chiến lược B52, đối phương không thể đương đầu nồi.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:59:25 AM

        Ngày 17, tiểu đoàn 1 và 2 thuộc lữ dù 173 bắt đầu tiến công chiếm điểm cao 875. Cánh quân của tiểu đoàn 1 Mỹ chưa đến 875 đã bị các chiến sĩ trung đoàn 66 chặn đánh kìm chúng tại chỗ, diệt từng bộ phận. Tiểu đoàn 2 Mỹ tiếp tục tiến lên 875. Thế là chúng đã bị lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên nhử sâu vào cải bẫy đã dăng sẵn. Tại dây, đại đội 7 (trung đoàn 174) đã bí mật xây dựng  875 thành điểm chốt kiên cố, thu hút và kìm giữ quân Mỹ. Khi tiểu đoàn 2 dù tiến lên, các chiến sĩ đại đội 7 nổ súng chặn đứng dội hình của chúng trước chiến hào và tổ chức một bộ phận xuất kích ngắn đánh tạt sườn, tiêu diệt một bộ phận. Không chiếm được điểm cao 875, ngày 18, địch cho từng tốp máy bay B52 trên tiếp giội bom gần như san phẳng ngọn đồi. Quân Mỹ tưởng lực lượng ta đã bị hủy diệt, chứng thúc nhau xông lên. Nhưng từ trên mảnh đất bị bom Mỹ cày xới nát vụn, các chiến sĩ đại đội 7 bất thần vụt dậy bắn mãnh liệt vào quân địch. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Xao đứng hiên ngang trên chiến hào kẹp tiểu liên AK quét gục từng tốp địch và chỉ huy đơn vì lập công. Chiến sĩ Bùi Đình Ước trận đầu thử lửa, mặc cho đạn địch găm vào thành chiến hào tung đất, anh vẫn gan góc dùng súng B40, AK, lựu đạn diệt 22 tên Mỹ. Không tiến lên được, quân Mỹ phải nằm trước chiến hào đại đội 7, bắn như đổ đạn. Lại một đợt oanh tạc nữa của máy bay B52 vào điểm cao 875. Quân Mỹ cố sống cố chết xông lên. Tổ chiến đấu 3 người Phùng Quang Chí, Bùi Xuân Lộc, Đỗ Văn Chuyên chờ cho địch đến gần mới siết mạnh cò súng. Loạt đạn đầu của toỏ làm hơn mười tên Mỹ đổ gục. Chúng lôi nhau lùi xuống. Tổ Phùng Quang Chí động viên nhau “giữ vững quyết tâm, thà hy sinh, không để mất chốt”. Địch lại tổ chức tiến công. Lựu đạn Mỹ thi nhau bay vào chiến hào. Phùng Quang Chí. Bùi Xuân Lộc, Đỗ Văn Chuyên nhanh tay chụp ném trả lại. Lộc dùng B40 bắn liền 3 quả vào giữa đội hình địch. Chúng rú lên kinh hoàng. Cuộc chiến đấu trên điểm cao 875 diễn ra rất ác liệt, nhưng tổ 3 người Phùng Quang Chí đã dũng cảm cùng đơn vị đánh tan mọi đợt tiến công của một tiểu đoàn quân Mỹ. Các đồng chí đã phát huy bản lĩnh chiến dấu, mưu trí, anh dũng tuyệt vời diệt 102 tên Mỹ, nêu kỷ lục xuất sắc về thành tích diệt địch của một tổ 3 người trong một đợt chiến đấu. Tập thể đại đội 7 như một bức tưởng thép sừng sững trên điểm cao 875 đã làm cho các mũi tiến công của quân Mỹ quằn lại và bị tiêu hao nặng, buộc chúng phải tăng thêm lực lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho trung đoàn đánh trận quyết chiến như đã dự kiến trong phương án.

        Ngày 19, trong lúc địch đang bi kìm chặt ở khu vực điểm cao 875, từ các hướng, trung đoàn 174 (sư đoàn 1) thực hành chiến thuật vận động tiến công, tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 2 lữ dù 173 Mỹ. Một số tên sống sót cụm lại ở thung lũng dưới chân điểm cao, bị pháo binh ta diệt nốt. Xác lính Mỹ nằm la liệt. Những tên bị thương mãi đến hai ngày sau chúng mới mang được ra khỏi trận địa.

        Ngày 20, bộ đội ta tiêu diệt thêm một số, bắn rơi 12 máy bay lên thằng của chúng đến lấy xác đồng bọn. Đến ngày 27 tháng 11, cũng tại khu.vực điểm cao 875, trung đoàn 174 lại diệt gọn 1 đại đội của sư đoàn kỵ binh không vận Mỹ, kết thúc chiến dịch Đắc Tô 1. Giai đoạn “tìm diệt” của quân Mỹ ở Tây Nguyên chấm dứt.

        Bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn trong những ngày này liên tiếp nhận được nhưng bức điện đầy bi thảm của những tên chỉ huy Mỹ ở Đắc Tô: “Lại bi tiêu diệt tiều đoàn 2, xác. chết và thương binh chưa lấy dược. Trong 2 ngày 19 và 21 tháng 11 đã dùng hết sức mạnh của máy bay, pháo binh bảo vệ cho trực thăng hạ cánh nhưng không tài nào xuống được, 11 chiếc đã bị bắn rơi. Quân Việt cộng hình như đã dùng các hầm cố thủ bằmg bê tông thép, nên quân Mỹ không thể chiếm được đồi 875”. Và “Đến 14 giờ ngày 20 tháng 11, mặt trận Đắc Tô tình hình vẫn bi đát, số thương vong của lữ dù 173 chưa giải quyết thì lại thêm xác chết và thương binh của kỵ binh không vận”. Ngày 23 tháng 11 chủng lại nhận dược bức điện cuối cùng từ Đắc Tô: “Thương binh vẫn nằm chết khát vì không được tiếp tế, đã quá 50 giờ không đưa được khỏi trận địa để cứu chữa. Tình hình không sáng sủa gì hơn. Việt cộng khống chế toàn trận địa, mặc dù số phi vụ không quân hỗn hợp của Mỹ và Sài Gòn đã tăng lên 737 lần”.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 05:02:18 AM

        Cuối cùng, bộ chi huy Mỹ phải cho máy bay ồ ạt lên ném bom xăng trong một phạm vi rộng để thiêu hủy xác chết và xóa dấu vết bại trận theo yêu cầu của tên tư lệnh lữ dù 173. Lần đầu tiên, Mỹ buộc phải ném bom thiêu xác, vì không còn đủ khả năng lấy xác như trước đây.

        Chiến dịch Đắc Tô kéo dài 27 ngày đêm liên tục. Lực lượng vũ trang và đồng bào Tây Nguyên đã vượt qua muôn vàn khó khăn, ác liệt, sáng tạo nhiều cách đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, giành thắng lợi vẻ vang: tiêu diệt hơn 4.000 tên Mỹ, ngụy, đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 173, đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 1 sư đoàn 4 Mỹ . Chiến thắng Đắc Tô được trên tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất. Hàng trăm đơn vị, chiến sĩ trở thành “Đơn vị anh dũng diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú” dược tặng thưởng Huân chương Chiến công

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/LLVT%20TN%20-%200099_zpswgn7cyuu.jpg)
Diễn biến chiến dịch Đắc Tô (từ 3/11 đến 30/11/1967) – Lữ đoàn dù Mỹ bị đánh quỵ

        Chiến thắng Đắc Tô mùa đông năm 1967 đã ghi thêm vào trang sử quyết thắng của dân tộc ta những nét vàng son chói lọi... là một trong những chiến thắng lớn nhất mở đầu Đông - Xuân quyết thắng 1967 - 1968 của miền Nam anh hùng”1     .

        Chiến thắng Đắc Tô cùng với những chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta trên cả hai miền Tổ quốc dã biến chiến lược “tìm diệt” của đế quốc Mỹ thành chiến lược “bị diệt”, vĩnh viễn chôn vùi nó và buộc chúng phải co về chiến lược “quét và giữ”. Về thực chất, đế quốc Mỹ đã lùi về phòng ngự chiến lược, chứng tỏ ỷ chí xâm lược của chúng bắt đầu lung lay.

--------------------------
        1. Trích xã luận báo Quân đội nhân dân, ngày 29 tháng 11 năm 1967.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:35:03 AM
         
Chương bốn

TÂY NGUYÊN, MÙA XUÂN MẬU THÂN - TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY ĐỒNG LOẠT


1. TIẾN CÔNG VÀO DINH LŨY KẺ THÙ, CÙNG CẢ NƯỚC ĐƯA CUỘC CHIẾN TRANH SANG THỜI KỲ MỚI.

        Sau hai cuộc phản công chiến lược mùa khô thất bại, thế và lực của quân Mỹ trên chiến trường miền Nam bắt đầu giảm sút. Âm mưu chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” bị phá sản, kế hoạch hai gọng kìm “tìm diệt và bình định” đã tỏ ra mất hiệu lực. Quân Mỹ buộc phải lui dần về thế phòng ngự chiến lược.

        Ngoài những trận đòn thôi sơn của bộ đội chủ lực, giặc Mỹ còn bị chiến tranh du kích dăng ra đánh khắp nơi. Phong trào đấu tranh chính tri đòi đuổi Mỹ, lật ngụy dấy lên mạnh mẽ khắp các đô thị miền Nam. Nhiều trận pháo kích, đột nhập của lực lượng tinh nhuệ nổ ra ngay tại sào huyệt của giặc Mỹ. Chiến tranh đã len vào tận cửa sổ, tận giường ngủ của quân xâm lược và trở thành nỗi khiếp sợ thường xuyên đối với chúng.

        Để giữ cho tình thế khỏi tụt nhanh xuống dốc, Giôn-xơn hối hả gửi thêm lính Mỹ, vũ khí và phương tiện chiến tranh sang Việt Nam. Ngày 21 tháng 11 năm 1967, y đã phải tuyên bố: “Đồng hồ đã điểm! Chúng ta cần đưa tất cả số quân tăng thêm sang nhanh dược chừng nào hay chừng ấy”1     .

        Cuối năm 1967, quân Mỹ ở chiến trường miền Nam đã lên tới 480 nghìn tên, gồm 9 sư đoàn và 3 lữ đoàn. Nếu tính cả quân ngụy thì tổng quân số của địch đã có tới hơn 1 triệu tên.

        Với quan điểm quân sự tư sản chủ quan, máy móc, đánh giá so sánh lực lượng nặng về số lượng, vật chất mà nhẹ về ý chí, quyết tâm và tài trí của con người, các nhà chiến lược Mỹ cho rằng đối phương chi có khả năng tiến công với quy mô và mức độ hạn chế ở ngoài tuyến phòng ngự của chúng. Tuy nhiên, chúng vẫn nơm nớp lo sợ và dự đoán “một cuộc tiến công lớn ác liệt sắp xảy ra”. Giôn-xơn giục Oét-mo-len duyệt lại các kế hoạch, đặc biệt là kế hoạch về lực lượng dự trữ cơ động để có thể đối phó được với tình hình. Đa số lỉnh Mỹ được lệnh không nghỉ phép trong dịp Tết; chúng yêu cầu bọn ngụy cũng làm như vậy.

        Về phía cách mạng miền Nam, sau hai mùa khô đọ sức với giặc Mỹ, lực lượng ta ngày càng phát triển, kinh nghiệm chiến đấu được tích tuy phong phú, trình độ tác chiến càng được nâng cao, thế trận đã tỏa rộng và dăng kín khắp nơi, uy hiếp địch từ mọi phía.

        Tình hình đó tạo nên thời cơ thuận lợi cả về mặt khách quan lẫn chủ quan để ta khai thác, tạo ra những chuyển biến mới trong chiến tranh.

        Tháng 12 năm 1967, Bộ Chính tri Trung ương Đảng ra Nghị quyết nêu rõ:

        … “Những diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thể bị động và khó khăn. Tình hình ấy cho phép ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của ta sang một thời kỳ mới”.

        Cục diện, hình thái giữa ta và địch ở Tây Nguyên cuối năm 1967 dã diễn ra đúng như nhận định trên đây của Bộ Chỉnh trị.

        Sau thất bại ở Đắc Tô, quân Mỹ buộc phải lui về tuyến phòng ngự cũ. Viên tư lệnh sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ phải rầu rĩ tuyên bố là sau này hắn sẽ không cho quân đánh sâu vào hậu phương của đối phương nữa. Quân Mỹ đã phải hạn chế đến mức thấp nhất các cuộc hành quân có tính chất “tìm diệt” mà lo đối phó với ta trong trạng thái phòng ngự bị động. Chúng thành lập các tuyến ngăn chặn tiến công kết hợp với phản kích gần. Chúng bắt đầu co về giữ các thị xã, quận lỵ, trục đường giao thông quan trọng và các vùng xung yếu, đẩy dần quân ngụy ra tuyến trước chết thay cho chúng.

        Đầu năm 1968, tại Đắc Lắc, quân Mỹ có khoảng 450 cố vấn và nhân viên kỹ thuật. Quân ngụy có trung đoàn 45, trung đoàn 8 thiết giáp và một số tiểu đoàn bảo an.

        Tại Gia Lai, quân Mỹ có sư đoàn không vận ở An Khê, sư đoàn bộ binh số 4 và lữ đoàn dù 173 ở Plây Cu. Quân ngụy có tiểu đoàn biệt động quân số 11 và 22, 1 trung đoàn thiết giáp và một số tiểu đoàn bảo an biên phòng.

        Tại Công Tum, quân Mỹ có 1 lữ đoàn thuộc sư đoàn bộ binh số 4 đóng ở khu vực đường 18, quân ngụy có trung đoàn 42, 1 tiếu đoàn biệt động quân và các tiểu đoàn bảo an trong thị xã.

        Ngoài ra, còn các đơn vị lẻ và bọn bảo an, dân vệ đóng rải rác ở các địa phương.

--------------------------
        1. Cuộc chiến tranh 30 năm, Hãng thông tin Mỹ AP.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:37:25 AM

        Sau hai mùa khô đọ sức với quân Mỹ, ta càng hiểu rõ, hiểu đúng đối phương của mình hơn, đã phát hiện dược những mặt yếu kém và những sơ hở của chúng. Cán bộ, chiến sĩ ta chẳng những không gờm sợ Mỹ mà còn ham đánh Mỹ và biết cách đánh thắng chúng. Phong trào thi đua giết giặc, lập công, phấn đấu trở thành “Đơn vị anh dũng diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt Mỹ” dấy lên sôi nổi khắp nơi.

        Niềm tin yêu và sự động viên, khích lệ mạnh mẽ của đồng bào cả nước dành cho Tây Nguyên sau chiến thắng Đắc Tô càng làm cho cản bộ, chiến sĩ thêm phấn khởi, tự hào và quyết tâm thắng Mỹ. Đợt tổng kết chiến dịch và sinh hoạt chính trị cuối năm 1967 đã nâng cao thêm khí thế và lòng tin, chuẩn bị cho bộ đội bước vào nhiệm vụ mới. Một yêu cầu cấp bách đặt ra và được quán triệt sâu sắc trong bộ đội lúc này là nhận rõ thời cơ, kiên quyết xốc tới sẵn sàng đánh thắng địch trong mọi tình huống, trên mọi địa bàn. Dù có điều kiện chuẩn bị hay chưa được chuẩn bi vẫn phải kiên quyết khắc phục khó khăn chấp hành mệnh lệnh để phối hợp với chiến trường chung.

        Cuối tháng 11, ngay sau khi dược phổ biến sơ bộ chủ trương của cấp trên, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận mở hội nghị liên tịch với các đồng chí Bí thư tỉnh ủy Công Tum, Gia Lai và Đắc Lắc cùng bàn bạc cách phối hợp hoạt động giữa bộ đội chủ lực vả địa phương, giữa tiến công và nổi dậy.

        Để thống nhát chi đạo và chỉ huy, phối hợp giữa hai lực lượng và ba thứ quân trên chiến trường, bộ chỉ huy các hướng Công Tum, Plây Cu, Buôn Ma Thuột với sự có mặt của các đồng chí lãnh đạo ở ba tỉnh đã được thành lập, khẩn trương bước vào nhiệm vụ.

        Thực hiện chủ trương cửa Trung ương về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt mùa Xuân 1968, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận nêu quyết tâm: động viên toàn thể lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nỗ lực vượt bậc, tiến công liên tục, toàn diện và triệt để vào quân địch, thực hiện bằng được quyết tâm chiến lược của Đảng, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các chiến trường và sẵn sàng ứng phó một cách chủ động, mạnh mẽ nếu chiến tranh kéo dài.

        Về mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh xác định: mùa xuân là thời kỳ cao điểm. Nhiệm vụ cơ bản là thực hiện kế hoạch và quyết tâm chiến lược đánh vào toàn bộ ba thị xã, song do đặc điểm và vị trí của ba tỉnh, do tính chất phòng ngự của địch và ý đồ của ta, nên quyết tâm của Thường vụ tập trung vào hai trọng điểm là Công Tum và Đắc Lắc.

        Cả chiến trường chuyển vào nhiệm vụ với nhịp độ khẩn trương chưa từng có. Ta nhanh chóng triển khai, điều động lực lượng trên các hướng, thành lập thêm một số đơn vị cần thiết để bảo đảm yêu cầu chiến đấu, bổ sung cho mỗi thị xã đủ 1 tiểu đoàn đặc công, 1 đội hỏa lực hỗn hợp, tăng cường cho Buôn Ma Thuột 2 tiểu đoàn bộ binh, Plây Cu 1 tiểu đoàn, đưa sang phía đông Tân Cảnh 1 tiểu đoàn, củng cố và mở rộng các tuyến hành lang Đông - Tây, đồng thời mở thêm binh trạm 4 ở Đắc Lắc.

        Ngoài lực lượng bộ đội địa phương và các phân đội mũi nhọn của Mặt trận tăng cường, ở Công Tum còn có trung đoàn 24, Gia Lai có trung đoàn 95, Đắc Lắc có trung đoàn 33. Sư đoàn 1, lực lượng chủ lực cơ động của Mặt trận được tập trung trên hướng đường 18 - Plây Cần. Ta phán đoán sau khi thị xã Công Tum bị tiến công và uy hiếp mạnh, quân Mỹ tất phải nhảy ra phân kích lớn trên hướng đường 18 để cứu nguy cho sào huyệt của chúng, đây sẽ là cơ hội tốt để sư đoàn 1 đánh những đòn tiêu diệt lớn quân Mỹ ở khu vực này. Đồng thời cũng chuẩn bị sẵn phương án nếu quân Mỹ không ra phản kích trên hướng đường 18 thì sư đoàn 1 sẽ nhanh chóng chuyền sang đánh Đắc Tô - Tân Cảnh.

        Cuối tháng 12, Tây Nguyên được chính thức phổ biến quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trong mùa Xuân 1968. Lúc này thời gian đã trở nên cấp bách. Các địa phương đang gấp rút tổ chức và triển khai lực lượng cho kịp ngày nổ súng. Thưởng vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận không có điều kiện làm việc chung với các đồng chí lãnh đạo của ba tỉnh như lần trước, nên tranh thủ làm việc với từng đồng chí. Trong lần gặp này, đồng chí Chính ủy Mặt trận cùng các đồng chí lãnh đạo địa phương đã nghiên cứu quán triệt nội dung, tính chất, yêu cầu và ba khả năng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt; đồng thời đi sâu phân tích đánh giá các mục tiêu của địch trong từng thị xã để có kế hoạch phân công lực lượng đánh chiếm cho thích hợp và bàn kế hoạch huy động, vũ trang quần chúng sao cho kịp thời, đạt được hiệu quả cao.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:39:32 AM

        Trước ngây N, thời điểm nổ súng của Tổng tiến công, ta mở một đợt hoạt động quân sự trên khắp chiến trường với lực lượng ba thứ quân và thời gian từ ngày 15 đến ngày 25 tháng 1 năm  1968 nhằm:

        - Tiêu diệt một bộ phận sinh lực Mỹ - ngụỵ, tiêu hao một phần vật chất, phương tiện chiến tranh của chúng, giam chân thu hút lực lượng Mỹ ở hướng đường 18 - Plây Cần, kéo địch ra ngoài các thị xã, tạo điều kiện thuận lợi cho ngày N, đồng thời thu hút địch lên Tây Nguyên phối hợp với chiến trường đồng bằng.

        - Đưa lực lượng tiến sát vào các thị xã và vùng phụ cận, uy hiếp đường giao thông, đánh lỏng bộ máy kìm kẹp của địch ở vùng ven, gây men, cổ động quần chúng, tập dượt, rên luyện bộ đội, chuẩn bị bàn đạp cho ngày N.

        - Bảo đảm giữ bí mật ý định Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, tiến hành chuẩn bị các mặt, nhất là cơ sở vật chất cho quá trình hoạt động.

        Những ngày im lặng trên chiến trường đã qua. Rừng núi Tây Nguyên lại bừng dậy trong tiếng sýng trận chào Xuân 1968.

        Trên hướng đường 18 - Plây Cần, sư đoàn 1 đã kìm chân quân Mỹ có kết quả, diệt 725 tên, bắn rơi 33 máy bay, phá hủy 26 xe quân sự và 7 đại bác của địch.

        Trên hướng bắc Công Tum, các lực lượng vũ trang đã nhằm vào thị xã và vùng ven đánh một số trận tập kích tốt, đồng thời đẩy mạnh hoạt động trên đường 14, diệt 419 tên, phá hủy 50 máy bay, 17 xe quân sự. Nổi bật là trận đánh táo bạo vào sân bay Công Tum đêm 10 tháng 1 của bộ đội đặc công, diệt 250 tên Mỹ, phá hủy 30 máy bay lên thằng và 104 xe quân sự...

        Tại Gia Lai, ta đã đánh liên tục. thắng giòn giã, diệt 818 tên, bắn rơi và phá hủy 81 máy bay, phá hủy 207 xe quân sự, 800 tấn xăng, đạn. Trong đó nổi lên hàng loạt trận đánh xuất sắc gây cho địch những tổn thất nặng nề về phương tiện kỹ thuật và cơ sở vật chất. Ngày 15 tháng 1, trung đoàn 95 đánh liền hai trận giao thông trên đường 19, phá hủy 89 xe quân sự và hơn 50 tấn xăng, đạn, diệt 150 tên Mỹ - ngụy. Ngày 26 tháng 1 , bộ đội đặc công đánh vào khu kho và sân bay A-rê-a, phá hủy 75 máy bay các loại, 1 kho xăng 5 vạn lít và 12 hầm đạn...

        Những hoạt động của quân và dân Gia Lai làm cho địch phải đối phó trong thế bị động lúng túng, đồng thời hỗ trợ và cổ vũ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng phát triển nhanh ở Plây Cu và vùng ven thị xã.

        Tại Đắc Lắc, các trận đánh đã diễn ra liên tiến và sôi động ngay trong lòng thị xã và vùng phụ cận, nhằm đúng vào các cơ quan đầu não ngụy quân, ngụy quyền và sân bay, kho tàng... của địch. Ngày 4 tháng 1, ta tập kích sân bay thi xã, diệt 70 tên Mỹ, phá hủy 20 máy bay và tiến công khu hành chính ngụy quyền, phá sập dinh tỉnh trưởng, tên này đã phải chuồn ra cổng sau để thoát thân. Ngày 21 và 24 tháng 1, cơ sở nội tuyến của ta đánh vào khu kho Mai Hắc Đế, phá húy khoảng 1.000 tấn bom, đạn và đặt mìn tại phòng tham mưu sư đoàn bộ 23, diệt 2 tên trung tá...

        Thị xã Buôn Ma Thuột bị xáo động. Bọn ngụy quân, ngụy quyền hoang mang, lo sợ. Khí thế quăn chúng dâng lên mạnh mẽ, sẵn sàng chờ bộ đội vào phối hợp hành động.

        Kết quả đạt được trong gần 1 tháng hoạt động mà dồn dập là 10 ngày trước Tết Mậu Thân đã khẳng định chủ trương đẩy mạnh hoạt động quân sự trên toàn chiến trường trước ngày N là đúng đắn và chính xác.

        Ta đã mạnh dạn và thành công trong việc đánh hậu cứ địch - một khâu yếu mà xưa nay chưa làm được. Qua rèn luyện thực tế, bộ đội đã nhanh chóng làm quen với chiến trường mới, với cách đánh mới. Đòn tiến công này làm cho địch thêm căng thẳng, bối rối, đồng thời cổ vũ gây men cho phong trào nổi dậy của quần chúng. Đổ là sự chuẩn bị cần thiết cho một trận tập kích chiến lược sắp sửa diễn ra.

        Lệnh Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt phát ra rất nhanh và hoàn toàn giữ được bí mật. Thời gian được tính từng phút. Không gian như nín thở chờ đợi sự chuyển mình của lịch sử. Cả miền Nam anh dũng xốc tới trong lời thơ hào hứng và xúc động của Bác Hồ:

                                           Xuân này hơn hẳn máy xuân qua,
                                           Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
                                           Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
                                           Tiến lên!
                                                            Toàn thắng ắt về ta.


        Núi rừng Tây Nguyên rừng rùng đứng dậy trong thế trận mùa xuân. Mỗi buôn làng là một trận địa, mỗi người dân là một chiến sĩ, không phân biệt già trẻ, gái trai, Kinh, Thượng... tất cả đều xông lên diệt Mỹ. Chưa có lần ra quân nào giục giã lòng chiến sĩ như lần này. Không một ai phân vân do dự trước sự hy sinh có thể xảy ra trong cuộc đọ sức quyết liệt này. Từ các đồng chí thương binh, bệnh binh còn điều trị trong bệnh viện đến các chiến sĩ làm nhiệm vụ sản xuất ở phía sau đều náo nức xin ra trận. Các đơn vị đã xuất kích với số quân cao nhất. Không ai bảo ai những các chiến sĩ đều mặc những bộ quân phục mới nhất, bước vào ngày hội chiến đấu trong tư thế đĩnh đạc của người chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:41:16 AM

        Từ các buôn làng ven thị, những vùng đồi núi sát nách giặc cho tới các cánh rừng xa, bộ đội ta như những mũi tên bật khỏi ná, nhằm thẳng sào huyệt kẻ thù lao tới. Nhiều phố phường, ngã năm, ngã bảy... còn là điều bỡ ngỡ với bộ đội ta; nhiều mục tiêu tác chiến cũng chỉ mới xác định được trên bản đồ, song không thể chậm trễ dù chỉ trong giây lát. Bộ đội vừa hành quân vừa nổ súng đánh địch, mở đường. Có đơn vị đã hành quân suốt 6 giở liền.

        Ngay từ chiều 29 tháng 1, hàng trăm cán bộ đảng và đội viên biệt động của ba tỉnh đã ém sẵn trong các thị xã bí mật tổ chức quần chúng sẵn sàng nổi dậy phối hợp với đòn tiến công của bộ dội. Kế hoạch huy động đông đảo quần chúng kéo vào thị xã đấu tranh chính trị cũng được gấp rút tiến hành ở nhiều nơi. Cũng trong ngày 29 tháng 1, tỉnh Gia Lai huy động hàng nghìn quần chúng vào đô thị, dưới hình thức đi sắm hàng Tết rồi ở luôn trong thị xã, sẵn sàng chờ lệnh hành động.

        Cả Tây Nguyên bừng bừng khí thế cách mạng. Cả Tây Nguyên là một khói thuốc nổ khổng lồ đang chờ phút châm ngòi để chôn vùi giặc Mỹ. Giữa lúc ấy. Bộ tư lệnh Mặt trận nhận được điện của trên là hoãn thời gian nổ súng lại 1 ngày để phối hợp chung với chiến trường toàn Miền. Khi tin đó được phổ biến xuống, cả ba tỉnh đều nhất loạt báo cáo về: bộ đội đã sẵn sàng, quần chúng đã sẵn sàng, không còn cách nào hoãn được, xin đề nghị nổ súng như đã chuẩn bị.

        Đảng ủy và Bộ tư lệnh kịp thời báo cáo lên cấp trên, đồng thời mạnh dạn hạ quyết tâm cho bộ đội nổ súng vào đêm 29 rạng ngày 30 tháng 1 năm 1968.

        Đêm giao thừa Mậu Thân. cả chiến trường thao thức chờ giờ nổ súng. Từ khắp nơi, tín hiệu nổ súng xuyên màn đêm tới tấp báo tin về sở chỉ huy Mặt trận. 0 giờ 30 phút ngày 30 tháng 1, tiểu đoàn 2 trung đoàn 174 sư đoàn 1 phối hợp với các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đã nổ phát súng đầu tiên trên chiến trường, đánh chiếm và làm chủ hoàn toàn thị trấn Tân Cảnh.

        Tiếng súng ở Tân Cảnh được ghi vào lịch sử như tiếng súng mở đầu cuộc Tồng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân trên toàn chiến trường.

        Cả Tây Nguyên nhất loạt nổ súng đánh chiếm dinh lũy kẻ thù.

        0 giờ 45 phút: Buôn Ma Thuột.

        0 giờ 55 phút: Plây Cu.

        1 giờ 15 phút: Công Tum.

        Trên hướng Buôn Ma Thuột, ngay những phút đầu, ta đã đánh chiếm được đài phát thanh, gần hết sư đoàn bộ sư đoàn 23, tòa hành chính, ty cảnh sát và bắn pháo dồn dập vào trung đoàn bộ trung đoàn 45, sân bay Buôn Ma Thuột. Sau đó phát triển đánh chiếm khu cư xá Mỹ Bãng-ga-lô. Một bộ phận khác đánh vào khu cơ giới và pháo binh. Ngay trong đêm đầu, ta đã diệt được một bộ phận cơ quan đầu não và đơn vị trực thuộc sư đoàn bộ sư đoàn 23, các lực lượng bảo an, cảnh sát ở khu hành chính, đài phát thanh, bắn cháy 9 xe tăng và xe bọc thép, chiếm hậu cứ tiểu đoàn 4 trung đoàn 45.

        Hơn 400 em học sinh trường kỹ thuật Đắc Lắc xé cờ ngụy, treo cờ Mặt trận lên cột cờ nhà trường rồi chia nhau ra dẫn dường, đón bộ đội vào chiến đấu.

        Tiếng súng, tiếng thủ pháo của Quân giải phóng hòa lẫn với tiếng mõ, tiếng hò reo của đồng bào trong các khu phố, “ấp chiến lược” nổi dậy, chặt rào, phá bốt, diệt ác ôn. Cả Buôn Ma Thuột chuyền mình trong bão táp tiến công và nổi dậy.

        Bóng đêm chưa tan, hàng vạn đồng bào Kinh, Thượng trong và ngoài thị xã từ các ngả dã rầm rộ kéo xuống đường biểu tình, phổi hợp với đòn tiến công quân sự. Quần chúng vây chặt căn cứ trung đoàn 45 ngụy, kêu gọi binh sĩ địch quay súng trở về với cách mạng... Hốt hoảng trước làn sóng tiến công vũ bão, giặc Mỹ đã huy động máy bay, xe tăng giội bom lửa, bắn rốc két và đạn liên thanh vào đoàn biểu tình, nhưng vẫn không sao lay chuyển được khí thế quật khởi của quần chúng. Nhân dân đã khuân giường, tủ, gỗ ván ra đường làm vật cản, có gia đình mang cả bàn thờ, máy khâu, xe máy ra cho bộ đội dựng chiến lũy ngăn xe giặc. Nhiều bà mẹ, nhiều chị em đã băng mình dưới bom đạn mang bánh tét, thức ăn, hoa quả, nước uống ra tận vi trí chiến đấu cho bộ đội và đưa thương binh về nhà cứu chữa, nuôi dưỡng.

        Sáng hôm sau, đích đùng xe thiết giáp, pháo binh và 2 tiểu đoàn bộ binh của trung đoàn 45 mở các đợt phản kích điên cuồng, chiếm lại các vị trí vừa bị mất. Các chiến sĩ tiểu đoàn 101 đánh giáp lá cà với bộ binh và xe tăng địch ở ngã 6. Tại khu Băng-ga-lô và sư đoàn bộ sư đoàn 23, nhiều tiểu đội, tổ 3 người của ta đã dùng báng súng, lưỡi lê lợi dụng từng căn nhà, cầu thang, cửa sổ quần nhau quyết liệt với địch. Ta đánh từ ngoài vào, từ trong ra tạo thành nhiều mũi thọc sâu, chia cắt làm cho địch không đường tháo chạy. Được đồng bào hỗ trợ, các đơn vị đã ngoan cường bám trụ trong lòng thị xã, đánh trả quyết liệt viện binh của địch kéo đến phân kích.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:43:00 AM

        Hơn 18.000 đồng bào Kinh, Thượng ở các huyện 6, huyện 8, Buôn Hồ... chia thành nhiều đoàn tiến vào thị xã ớ cánh nam, máy bay và bộ binh địch xả đạn vào đoàn biểu tình. Bộ đội địa phương và dân quân du kích huyện 6 anh dũng đánh trả, diệt hơn 1 trung đội địch, bắn lộn cổ 2 máy bay lên thẳng, bảo vệ quần chúng giữ vững đội ngũ kéo vào bao vây thị xã. Trong số người xuống đường, có má Thanh mặc dầu bị giặc bắn chết con vẫn tiếp tục dẫn đầu đoàn biểu tình, dùng toa kêu gọi binh lính địch. Em gái Hờ Tam cầm cờ đi đầu, bị địch bắn trọng thương đã trao cổ lại cho chị ruột là Hờ Lan và kêu gọi: “Các anh chi hây giữ lấy cờ”.

        Đích ném bom vào giữa phố, bộ đội cõng em nhỏ, cụ. già ra khỏi đám cháy, lao vào lửa cứu tài sản cho dân. Trước hành động giết người man rợ của giặc Mỹ và tinh thần quả cảm của đồng bào và bộ đội, một số lính ngụy thức tỉnh, bắn lại bọn chỉ huy ác ôn và nhập vào hàng ngũ đấu tranh của quần chúng.

        Ta đã trụ bám kiên cường suốt 6 ngày đêm trong thị xã đánh lui nhiều đợt phân kích điên cuồng của giặc, diệt 1.980 tên Mỹ - ngụy, bắt sống gần 100 tên, phá hủy, bắn rơi 18 máy bay, phá hủy 150 xe quân sự; giải phóng 10 làng với khoảng 5.000 dân, bức rút đồn Quảng Nhiêu, Phú Học và đồn Buôn Hồ cũ.

        Hướng Plây Cu, các đơn vị nhanh chóng tiến công đánh phá các mục tiêu chủ yểu của địch.

        Một bộ phận đánh vào khu biệt động quân, diệt gọn ban chỉ huy và 200 tên, phá hủy, bắn cháy 35 xe quân sự, bắn rơi 15 máy bay lên thẳng, phá hủy hoàn toàn một trận địa pháo 21 khẩu, đốt cháy gần 1.000 tấn đạn và hàng vạn lít xăng.

        Một bộ phận đánh vào trung tâm thị xã, diệt bọn cảnh sát, bảo an, phá 3 nhà lao, giải phóng 2.000 người bi địch giam giữ.

        Đội 21 đặc công của Mặt trận đã chiếm lĩnh khu tỉnh đoàn báo an, đánh chiếm khu hành chính, khu cảnh sát vùng 2, phối hợp với các đội vũ trang tiếp tục phát triển đánh sâu vào thị xã, diệt 2 đại đội bảo an, phá hủy 10 xe M113, bắn rơi 2 máy bay. Sau đó tiếp tục bám cơ sở, chiến đấu quyết liệt với địch đến phản kích.

        Các đội đặc công 60, 70, 80 (tiểu đoàn 408) tiến công sân bay A-rê-a và Cù Hanh, phá hủy 45 máy bay lên thẳng, 35 xe các loại. Pháo binh ta dồn dập đánh bồi vào các sân bay trên và khu vực quân đoàn 2, phá hủy khụ ra-đa, diệt 15 máy bay, đánh sập nhiều nhà tầng.

        Trung đoàn 95 diệt đoàn xe 26 chiếc trên đường 19, không cho dịch cứu viện cho Plây Cu. Một bộ phận của tiểu đoàn 15 bộ đội địa phương Gia Lai trên đường vào thị xã gặp địch nống ra ngăn chặn đã nổ súng diệt một bộ phận quân Mỹ, giết chết tên thiếu tá chỉ huy.

        Liên tiếp trong các ngày sau, ta vừa đành bồi các căn cứ kho tàng, sân bay... của địch, vừa chặn đánh giao thông và bộ binh địch nống ra giải tỏa.

        Phối hợp với tiến công quân sự, 11.000 quần chúng xuống đường dấu tranh chính trị. Chính quyền một số ấp xã ở các huyện 4, 5, 6 được thành lập. Hơn 14.000 đồng bào đã trở về làng cũ, 11 làng xung quanh thị xã được giải phóng.

        Hướng Công Tum, ta đánh chiếm khu hành chính, tiểu khu Công Tum, một phần biệt khu 24, sân bay, tiêu diệt 1.800 tên, phá hủy 250 xe quân sự, 26 máy bay, phá hủy nhiều kho tàng, đạn dược.

        Ở đây địch phản kích dữ dội. Ngay trong đêm chúng cho máy bay ném bom vào thị xã. Các chiến sĩ tiểu đoàn 304, 406 và trung đoàn 24 dã anh dũng đánh trả quyết liệt A Xâu, chiến sĩ tiểu đoàn 304 bẻ gãy hơn chục đợt phản kích của bọn biệt kích “Lôi hổ”, dùng lựu đạn ném trả địch, chiến đấu suốt một ngày giữa địa hình trống trải. Dù chỉ một mình trước quân thù bổ vây bốn phía, anh vẫn làm cho chúng run sợ trước thế tiến công của cách mạng. Dũng sĩ A Thang 16 tuổi chiến đấu với địch trên từng tầng gác cho đến viên đạn cuối cùng. Phạm Văn Hai, không may sa vào tay giặc vẫn một lòng son sắt với cách mạng. Tuy hai tay bi trói, anh vẫn lơi đụng khi địch sơ hở, cướp lựu đạn của địch diệt địch và anh dũng hy sinh trong phòng thẩm vấn của chúng.

        Những tấm gương xả thân vì nước, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng vì sự nghiệp giải phóng nhân dân đã để lại những ấn tượng không bao giờ phai mờ trong lòng các tầng lớp nhân dân thị xã. Nó có sức khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và ỷ chí căm thù giặc Mỹ xâm lược của những người bấy lâu sống trong vòng kìm hãm của địch. Cũng qua tiếp xúc với bộ đội ta, nhân dân đô thị càng hiểu, càng tin ở cách mạng.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:44:26 AM

        Cùng lúc với các trận đánh diễn ra ở thị xã Công Tum, ta còn bao vây đồn Kleng, ép địch từ hướng tây vào mở rộng vùng đông - tây thị xã trên trục đường Krông - Công Tum và Công Tum - Com Rẫy, giải phóng một loạt 7 “ấp chiến lược”.

        Bị ta tiến công bất ngờ và dữ dội, quân Mỹ ở Công Tum vô cùng hoang mang, lúng túng. Chúng hành động dè dặt không dám tung lực lượng lớn ra phân kịch trên hướng đường 18 như ta dự kiến. Trong lúc đó, các hoạt động của sư đoàn 1 trên hướng này lại chưa đủ mạnh để có thể kéo địch ra tiêu diệt. Vì vậy sư đoàn 1 không có thời cơ tiêu diệt lớn quân địch. Khi được lệnh chuyển sang phương án đánh vào Đắc Tô - Tân Cảnh, do chuẩn bị chưa đầy đủ nên sư đoàn chuyển không kịp. Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt dầu Xuân Mậu Thân, khối chủ lực cơ động của Mặt trận chưa phát huy được quả đấm mạnh trên chiến trường, kết quả tác chiến chưa tương xứng với lực lượng.

        Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy lịch sử này, “quân dân Tây Nguyên dã thực hiện được đồng loạt việc tiến công và ngay từ phút đầu đã đánh trúng vào tất cả những mục tiêu chủ yếu một cách bất ngờ, khiến quân địch trở tay không kịp, đối phó yếu ớt.

        Bộ đội đã có bước chuyển biến nhảy vọt về chất lượng, chẳng những tiến công thắng lợi vào các thị xã, mà nhiều đơn vị đã trụ bám kiên cường liên tục đánh địch phản kích trong điều kiện bom đạn ác liệt một thời gian dài. Tinh thần và sĩ khí chiến đấu rất cao.

        Nhân dân các dân tộc Tây Nguyên không phân biệt gái, trai, Kinh, Thượng đều sục sôi khí thế cách mạng vùng lên đánh đổ ngụy quyền, trừ diệt tề điệp ác ôn, giúp đỡ bộ đội, nuôi dưỡng thương binh và sẵn sàng hy sinh tất cả để giành cho được độc lập, tự do.

        Ta đã phát triển được thế tiên công chiến lược áp đảo quân thù trên toàn Tây Nguyên, đưa chiến tranh cách mạng vào tận dinh lũy cuối củng của địch, dồn chúng vào tình thế vô cùng hoang mang, lúng túng. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, chiến thắng của ta đã tạo ra một cục diện mới trên chiến trường hoàn toàn có lợi cho ta, đẩy địch lún sâu vào thế phòng ngự bi động”1     .

        Chiến thắng Xuân Mậu Thân đã đánh dấu một bước chuyển biến nhảy vọt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường Tây Nguyên. Chưa bao giờ ở Tây Nguyên lại động viên và tổ chức được một lực lượng hùng hậu gồm hàng chục vạn người của các dân tộc nổi dậy tiến công trên một quy mô rộng lớn như vậy. Nó chứng tỏ đường lối chống Mỹ, cứu nước và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng và phát huy cao độ dược sức mạnh chiến đấu to lớn của toàn thể đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

        Qua chiến đấu, khối đoàn kết các dân tộc càng thêm rộng rãi, quyền làm chủ rừng núi, buôn rẫy của nhân dân các dân tộc được xây dựng và củng cố, lực lượng cách nạng thêm phát triển, tạo thành thế bao vây, cô lập Mỹ - ngụy ở vùng rừng núi Trường Sơn trùng điệp...”2.

        Thắng lợi của Tây Nguyên nằm trong thế trận tiến công của cả nước, luôn luôn được sự hỗ trợ và thức dậy mạnh mẽ cửa các chiến trường. Bão táp tiến công và nổi dậy đạp lên đầu thù xốc tới của đồng bào và chiến sĩ niền Nam, nhất lả cuộc chiến đấu đầy khí phách anh hùng của quân, dân mặt trận Huế, Sài Gòn đã khích lệ cổ vũ Tây Nguyên thừa thắng xông lên liên tiếp giành thắng lợi.

        Quân và dân Tây Nguyên đã góp phần vào thắng lợi chung to lớn của cả nước, tạo ra bước ngoặt mới của cuộc chiến tranh giải phóng.

        Đánh giá thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt này, Báo cáo Chính tri Đại hội Đảng lần thứ IV đã khẳng định:

        “Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào đàm phán với ta tại Hội nghi Pa-ri”.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân 1968 đã thực sự làm cho quân Mỹ khiếp sợ. Một viên tướng trong ban tham mưu của Oét-mo-len hồi. bấy giờ phải nói: “Oa-sính-tơn phải kinh hoàng”... còn phó tổng thống Hăm-phray thì rầu rĩ thốt lên: “Tết đã thực sự đẩy lùi chúng ta”3     .

        Trước sức ép của nhân dân và chính giới Mỹ về sự thất bại nặng nề của đòn Tết Mậu Thân, ngày 31 tháng 3 năm 1968, Giôn-xơn dã phải tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ tới, ngửng ném bom miền Bắc Việt Nam và chịu đàm phán với ta tại Pa-ri. “Nước Mỹ hùng mạnh về quân sự trong lịch sử, lần này đã trở thành kẻ thua trận về nhiều mặt: chính trị, quân sự, tâm lý và thái độ bài ngoại” (Roi-tơ, 2-2-1968).

        Trái lại về phía ta, chưa bao giờ cục diện chiến tranh lại thuận lợi, thế chiến lược lại vững chắc như sau Tết Mậu Thân. Cách mạng miền Nam chàng những đã tạo được thế trận vững vàng ở vùng nông thôn, rừng núi mà còn có mặt trận mới ở thành thị.

--------------------------
        1. Trích Kiểm điểm của Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên, tháng 3 năm 1968.

        2. Tuyên dương công trạng quân, dân Tây Nguyên của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 1 tháng 3 năm 1968.

        3. Cuộc chiến tranh 30 năm, Hãng thông tin Mỹ AP.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:46:15 AM

2. LIÊN TỤC TIẾN CÔNG VÀ PHẢN CÔNG ĐỊCH, GIÀNH THẮNG LỢI TRÊN MỌI MẶT TRẬN

        Sau đợt Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Thường trực Quân ủy Trung ương gửi điện “Nhiệt liệt khen ngợi những thành tích vừa qua của quân, dân Tây Nguyên, đặc biệt là thành tích của quân, dân thị xã Buôn Ma Thuột, Công Tum, Plây Cu và thị trấn Tân Cảnh”, đồng thời chỉ thị cho chiến trường:

        “… Hãy thừa thắng xông lên, đánh mạnh, đánh trúng, đánh giòn giã hơn nữa, liên tục tiến công và phản công tiêu diệt nhiều địch (cả Mỹ, ngụy và bọn biệt kích) đập tan mọi âm mưu xảo quyệt của chúng, làm cho chúng tê liệt, đánh cho chúng không ngóc đầu dậy nổi, hỗ trợ đắc lực và động viên thúc đày quần chúng nồi dậy giành chính quyền, mở rộng vùng nhân dân lâm chủ”1     .

        Chấp hành nghiêm chỉnh chi thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, trong khí thế sục sôi cách mạng của toàn miền Nam, đồng bào và các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã đạp bằng mọi khó khăn, thử thách, thừa thắng xốc tới, liên tiếp mở các đợt tiến công và phản công địch, giữ vững và phát huy quyền làm chủ chiến trường, giành thắng lợi to lớn trong năm 1968.

        Bị ta đánh trúng vào sào huyệt, giặc Mỹ và bọn tay sai lồng lộn điên cuồng như con thú dữ. Chúng liên tiếp mở các cuộc hành quân cảnh sát, đánh phá cơ sở cách mạng trong đô thị và vùng ven, đàn áp đẫm máu các cuộc nổi dậy của quần chúng, cho máy bay ném bom vào phố đông dân giữa ban ngày, dùng xe tăng, xe ủi đất san bằng các buôn làng ven thị để lập vành đai trắng. Chúng thực hiện giới nghiêm trong các thị xã, quận lỵ, truy lùng bắt bớ những người yêu nước, hòng triệt hết chỗ dựa của lực lượng vũ trang, đẩy ta ra khỏi địa bàn đô thị.

        Mỹ - ngụy mở nhiều cuộc hành quân ngăn chặn ta ở vùng ven, đồng thời thường xuyên tung biệt kích, thám báo ra lùng sục quanh các thị xã, căn cứ nhằm phát hiện trận địa pháo và nơi trú quân của ta. Máy bay trinh sát của chúng rà lượn, soi tìm dấu vết từng con đường mòn, từng đám rừng khả nghi. Bất kể ngày đêm, pháo binh địch sẵn sàng bắn chặn mọi hướng chúng phán đoán quân ta có thể tiến công. Trên các trục dường giao thông quan trọng nối liền với các thị xã, địch dùng bom đạn, hóa chất độc phát quang hai bên dường, đồng thời lập thêm nhiều đồn bốt, cụm xe cơ giới và tăng cường lính tuần tiễu. Bọn địch đóng trong thị xã, cứ đêm đến lại bí mật luồn ra khỏi căn cứ, phục sẵn bên ngoài đề phòng ta tiến công vào nơi đóng quân của chúng. Song các đợt tiến công của ta vẫn diễn ra như lớp lớp sóng trào, phá vỡ mọi phòng tuyến ngăn chặn, giáng đòn sấm sét vào dinh lũy của quân xâm lược.

        Các phân đội mũi nhọn đặc công, pháo binh, bộ đội địa phương và các đội biệt động thị đã kiên cường bám dân, bám địch, bám địa bàn vùng ven, vừa duy trì loạt động thường xuyên vừa đánh địch dồn dập trong các đợt cao điểm phối hợp với các chiến trường. Bằng nhiều cách đánh mưu trí, linh hoạt, trong năm 1968, các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã mở 207 trận tiến công vào hầu hết các vị trí quan trọng của địch, gồm các cơ quan đầu não ngụy quân, ngụy quyền, kho tàng, sân bay, bãi đè xe, trận địa pháo... diệt 7.077 tên, trong đó gần một nửa là quân Mỹ. Tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn pháo binh, 2 đại đội bộ binh Mỹ củng 2 tiểu đoàn và 10 dại đội ngụy. Đánh thiệt hại 5 tiểu đoàn, 3 đại đội và 1 chi đoàn xe thiết giáp ngụy.

        Cả ba thị xã Công Tum, Plây Cu, Buôn Ma Thuột và 10 trong số 12 quận lỵ ở Tây Nguyên đều bị đánh. Ta đã đánh bồi, đánh nhồi nhiều lần vào hàng loạt mục tiêu nằm sâu trong sào huyệt địch làm chúng không kịp củng cố: 7 lần đánh vào trung đoàn bộ trung đoàn 45, sư đoàn bộ sư đoàn 23 ngụy, khu cơ giới pháo binh, khu bảo an và ty cảnh sát Plây Cu; 14 lần đánh vào biệt khu 24, khu hậu cần và cơ giới Mỹ ở thị xã Công Tum; 21 lần đánh vào sân bay A-rê-a. Đặc biệt, sân bay Buôn Ma Thuột bị ta tiến công tới 29 lần.

        Quân và dân Tây Nguyên đã đánh trúng, đánh đau vào chỗ mạnh tạm thời của quân Mỹ là vũ khí và phương tiện chiến tranh, gây cho chúng những tổn thất nặng nề và khó khăn, lúng túng. 789 xe quân sự, gồm nhiều xe bọc thép và xe tăng hạng nặng, 528 máy bay hiện đại các loại, 46 đại bác, 33 kho xăng dầu, 45 kho bom đạn gồm hàng vạn tấn cùng nhiều dàn ra-đa, thiết bị quan trọng đã bị phá hủy.

--------------------------
        1. Điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Thường trực Quân ủy Trung ương gửi Mặt trận Tay Nguyên, ngày 4 tháng 2 năm 1968.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:48:22 AM

        Đòn tiến công đô thị, hậu cứ địch là một thắng lợi vang dội chưa từng có ở Tây Nguyên. Ta đã thực hiện được quyết tâm đưa chiến tranh vào tận sào huyệt địch, biến hậu phương của địch thành chiến trường cửa ta. Hàng loạt căn cứ kiên cố mà trước đây giặc Mỹ thường huênh hoang, khoác lác là “tuyệt đối an toàn”, “bất khả xâm phạm” giờ đây đã trở thành nơi mất an toàn nhất dối vớt chúng. “Lâu đài nghỉ mát” của quân xâm lược sau mỗi lần hành quân đi tàn sát đồng bào ta bỗng chốc biến thành biển lửa chôn vùi chúng. Địa bàn chiếm đóng và phạm vi hoạt động của địch bị thu hẹp lại. Nhiều vị trí quan trọng của chúng xung quanh các thị xã, quận lỵ và trên các trục đường giao thông chiến lược 14, 19, 21 đã bị mất. Phạm vi chiến trường của ta ngày càng mở rộng, có chiều dài lẫn chiều sâu. Thế trận của ta tỏa rộng và dăng kín trên khắp ba tỉnh, cài ém vào mọi địa bàn và đã trở thành mối nguy cơ đe dọa thường xuyên đối với Mỹ - ngụy. “Vùng làm chủ được mở rộng và điều rất có ý nghĩa là chúng ta đã xây dựng được những bàn đạp ở các đô thị Công Tum, Plây Cu, Buôn Ma Thuột”1. Với thế trận đã được củng cố, Tây Nguyên cũng có điều kiện thuận lợi để phát huy quyền làm chủ chiến trường, sẵn sàng tiến công địch bất cứ lúc nào và vào bất cứ nơi đâu.

        Quân và dân Tây Nguyên chẳng những đã tiêu diệt được một bộ phận sinh lực quan trọng của địch trong thị xã, phá hủy một khối lượng lớn nguồn dự trữ chiến tranh tại chỗ của chúng, mà còn giáng đòn cân não vào ý chí xâm lược của giặc Mỹ. Từ hung hăng, kiêu ngạo, giặc Mỹ đã trở nên khiếp sợ, rã rời. Cơ đồ xâm lược của chúng đang nghiêng ngả trước ngọn trào cách mạng của quân và dân ta. Trên dải đất Tây Nguyên bất khuất, kiên cường cũng như trên toàn miền Nam ta không có một chỗ đứng chân nào yên ổn đối với quân xâm lược.

        Sau những trận đòn dữ dội và liên tiếp trong năm 1968, Lầu năm góc đã phải rút ra kết luận cay đắng, dù có đổ thêm quân, tăng thêm vũ khí vào miền Nam đến mức nào đi nữa cũng không sao cứu vãn nổi tình thế đã bày ra trước mắt: Mỹ thua đã rõ ràng!

        Cuộc đọ sức giữa ta và địch trên mặt trận này diễn ra ngày càng trở nên gay go, quyết liệt. Bộ đội ta đã phải trải qua muôn vàn hy sinh, thử thách để chiến thắng quân thù. Cứ sau mỗi lần các mục tiêu bị tiến công, giặc Mỹ lại tăng cường phòng thủ và thay đổi cách bố trí. Các lớp rào kẽm gai ngày càng dày đặc; lô cốt, chòi canh mới lại mọc lên; đèn pha, mìn sáng và các loại hỏa lực càng nhiều hơn. Ngoài lực lượng canh gác bảo vệ tại chỗ, địch còn tung quân ra các hướng để phát hiện, ngăn chặn ta từ xa. Đưa bộ đội lọt vào được thị xã nổ súng đúng thời gian quy định là một khó khăn lớn. Nhiều lần bộ đội ta chưa vượt hết vật chướng ngại trên đường vào mục tiêu thì trời đã sáng rõ. Có đơn vị cắt chưa hết hàng rào cuối cùng thì đã đến giờ hiệp đồng nổ súng. Việc cứu chữa, chuyển thương binh, giải quyết tử sĩ nằm sâu trong căn cứ địch càng trở nên phức tạp. Nhiều thử thách có lúc tưởng chừng như không vượt qua nổi. Trong khó khăn, thử. thách, bài học truyền thống rút ra từ chiến dịch Plây Me năm trước: có quyết tâm đánh địch thì nhất định sẽ tìm ra cách đánh, đã có tác dụng cổ vũ, xây dựng lòng tin cho bộ đội. Dựa vào sự giúp đỡ, che chở của nhân dân, các đơn vị mũi nhọn của ta kiên trì bám địch, phát hiện được những sơ hở của chúng và tìm được cách đánh có hiệu quả.

        Trận tập kích căn cứ hậu cần sư đoàn 4 Mỹ ở Cơ-ty-pơ-rông rạng sáng ngày 23 tháng 8 của tiểu đoàn 408 đặc công - ngọn cờ đầu “Luồn sâu đánh giỏi, liên tục tiến công thị xã và căn cứ Mỹ” đã tiêu biểu cho tinh thần khắc phục khó khăn, chấp hành mệnh lệnh và kỹ thuật điêu luyện đánh hậu cứ địch. Đơn vị phải hành quân hàng chục ki-lô-mét dưới trời mưa tầm tã, vượt qua nhiều đồn bốt và đường giao thông của địch, phải giấu mình suốt một ngày trời cạnh căn cứ địch với độc chiếc quần lót và gói thuốc nổ trong tay. Trước giờ nổ súng, ở mũi chủ yếu đã có 5 chiến sĩ bị thương vong vì đạn pháo của địch và 2 chiến sĩ bị rắn độc cắn, song bộ đội vẫn giữ vững quyết tâm chiến đấu. Chỉ trong vòng 25 phút, đơn vị đã phá hủy 133 xe quân sự, diệt 72 tên Mỹ, phá sập 11 nhà cùng nhiều lô cốt.

        Đồng bào huyện 4 (Gia Lai) đã góp phần làm nên chiến công này. Bà con bố trí cho bộ đội trà trộn giả làm người đi rẫy để vượt qua đường giao thông và các chốt của địch. Sau trận đánh, đồng bào đã đón sẵn trên đường để khênh cõng thương binh về căn cứ. Không có gạo, đồng bào mài ngô non của mình nấu cháo nuôi bộ đội. Càng khó khăn gian khổ, càng nổi bật sự cưu mang, đùm bọc của nhân dân đối với lực lượng vũ trang, con em của mình. Lòng dân là chiếc nôi nuôi dưỡng, là chỗ dựa vững chắc để bộ đội ta hoạt động thắng lợi trên mặt trận tiến công hậu cứ địch.

--------------------------
        1. Điện của Quân ủy Trung ương gửi Mặt trận Tây Nguyên tháng 3 năm 1968.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:49:38 AM

        Ở Tây Nguyên, chưa bao giờ cuộc chiến đấu trên mặt trận giao thông lại diễn ra sôi động và liên tục như trong năm 1968.

        Cả ba thứ quân trên khắp chiến trường đều xông ra mặt dường diệt xe, phá cầu, cắt giao thông địch. Hễ ở đâu có xe đích chạy là ở đấy có trận địa tiêu diệt chúng.

        Các trung đoàn chủ lực tại chỗ 24, 95... diệt xe đoàn trên dường chiến lược 14, 19... Bộ đội địa phương tỉnh, huyện diệt xe lê, xe chốt trên các con đường 5, 7, 18… Dân quân du kích xã, thôn diệt xe tăng địch đi càn ngay tại bìa làng, ven rẫy. Đồng bào các dân tộc, không phân biệt già trẻ, gái trai đổ ra mặt đường đào hào, chặt cây, đắp ụ dựng, chiến lũy ngăn xe giặc. Chỉ sau một đêm, hàng trăm vật chướng ngại đã mọc lên ngổn ngang, dài hàng cây số, khiến giặc Mỹ phải bàng hoàng, sửng sốt trước sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân.

        Phong trào lấy bom bí, đạn pháo lép của địch làm mìn diệt xe địch dấy lên mạnh mẽ ở huyện 5 (Gia Lai) rồi lan nhanh khắp ba tỉnh Tây Nguyên. Tiêu biểu cho phong trào này là xã đội phó Siu Dơng - “người kỹ sư không có văn bằng của chiến tranh nhân dân vô địch” đã tự tạo gần 100 quá mìn các loại và hướng dẫn cho dân quân khắp vùng đến tham quan học tập. Làng quê anh ở ngay sát nách giặc, chỉ cần sơ suất phát ra một tiếng nổ là bọn địch có thể ập vào làng vây bắt. Anh đã đưa những quả bom bi nhặt được vào rừng sâu sản xuất để che mắt địch. Lòng căm thù giặc Mỹ tàn phá quê hương, ý thức trả thù cho đồng bào, đồng chí bị giặc giết hại đã tạo nên tinh thần dũng cảm, trí thông minh giúp anh vượt qua tất cả.

        Phong trào nữ dân quân đánh xe xuất hiện ở huyện 4 (Gia Lai) với “lá cờ đầu diệt xe cơ giới Mỹ ở Tây Nguyên” là Rơ-mắc Sao đánh 14 trận, cùng lúc đạt 2 danh hiệu “Dũng sĩ diệt xe cơ giới” và “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Rơ-mắc Sao còn vận động chi em dân quân trong xã ra đường gài mìn để “cái tay nó cũng biết chôn lửa làm cháy cái xe thằng Mỹ” như mình.

        Đánh tỉa giao thông đã trở thành một phong trào quần chúng rộng rãi gây cho địch nhiều thiệt hại và làm cho chúng luôn luôn bị căng thẳng. Dân quân du kích đã phát huy được ưu thế và sở trường của mình, đánh nhỏ lẻ, đánh khắp nơi, đánh địch trên mọi địa hình, trong mọi thời tiết, đánh địch bằng mọi vũ khỉ trong tay; lúc gài mìn, khi bắn tia; ban ngày phục kích diệt xe, ban đêm kéo ra đường phá ống dẫn dầu của địch trên đường 19. Các hoạt động thường xuyên của dân quân du kích buộc địch phải phân tán đối phó, tạo thuận lợi cho bộ đội tập trung tiêu diệt từng đoàn xe lớn của địch.

        Dựa vào quân số đông, vũ khí, phương tiện hiện đại sẵn có trong tay, giặc Mỹ tập trung mọi có gắng cao nhất, quyết giữ bằng dược các mạch máu giao thông quan trọng nối liền với các thị xã, căn cứ. Chúng dùng bom đạn, na-pan, hóa chất độc và huy động cả máy cày, máy xúc… hủy diệt màu xanh và sự sống dọc hai bên đường. Một ngọn cỏ cũng không sống nổi dưới bàn tay quân xâm lược. Đồn bốt, trận địa pháo, cụm xe tăng, chốt di động… mọc lên dày đặc để yểm hộ cho các đoàn xe của chúng Song, thực tế diễn ra đã không theo ý muốn của giặc Mỹ. Mật độ các trận đánh giao thông của ta không hề giảm sút, mà còn tăng lên đến mức chưa từng có.

        Chỉ tính trên các con đường số 14, 18, 19 và 21 (đường 21 ở Gia Lai) trong năm 1968, các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã đánh 284 trận, diệt hơn 5.500 tên; phần lớn là giặc Mỹ, phá hủy, phá hỏng 1.629 xe quân sự, có gần một phần ba là xe tăng và xe bọc thép.

        Các con đường chiến lược ở Tây Nguyên đã trở thành “con đường không vui”, “con đường đẫm máu”, là “nơi khủng khiếp” dối với Mỹ, ngụy. Đường 14 và 19 là nơi chiến sự diễn ra quyết liệt nhất và cũng là nơi xe của địch bị chôn vùi nhiều nhất. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 95 gan góc trụ bám trên đèo Măng Giang giữa “tọa độ lửa” của địch ròng rã suốt hàng năm trời, vẫn luôn tạo được thời cơ bất ngờ diệt gọn từng đoàn xe địch. Có ngày, trung đoàn dã đánh liền 2 trận trên cùng một đoạn đường, phá hủy, phá hỏng 98 xe các loại. Có trận vừa xông ra mặt đường diệt gọn cả đoàn xe, vừa đồng loạt tiến công các đồn bốt địch bảo vệ đường, đánh sập cầu cống, cắt dứt giao thông trong nhiều ngày.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:50:53 AM

        Trên mặt trận này, ba thứ quân đã phối hợp nhịp nhàng, vận dụng được nhiều lối đánh sáng tạo, linh hoạt và có hiệu quả. Ta dã kết hợp đánh nhỏ lẻ thường xuyên với đánh vừa, đánh lớn trong các đợt cao điểm, kết hợp giữa xung lực và hỏa lực, vừa diệt xe cơ giới và bộ binh địch đi giải tỏa, vừa đánh sập cầu cống, phá hệ thống dẫn dầu, băm nát giao thông địch. Trình độ và kinh nghiệm đánh giao thông của cả ba thứ quân đều có bước phát triển. Không những chỉ bộ đội chủ lực, mà bộ đội địa phương của ba tỉnh và dân quân du kích nhiều vùng đều thành thạo đánh giao thông, diệt gọn từng đoàn xe, tốp xe lẻ của địch. Tổ du kích Y Lai (Công Tum) diệt cả tốp 4 chiếc xe của dịch trên đường 14. Chiến sĩ công binh Trịnh Đức Trá (Gia Lai) trong vòng 9 tháng đã diệt 26 xe các loại và 51 tên địch, 15 lần đạt danh hiệu dũng sĩ. Có trận bị sức ép hất ra lề đường và bị thương vào mắt, Trịnh Đức Trá vẫn bình tĩnh lấy tay bịt vết thương, tiếp tục xông ra đường cùng đồng dội diệt nốt những chiếc xe còn lại của địch trên đường 19.

        Những hoạt động mạnh mẽ và liên tục của ta trên mặt trận giao thông gây cho địch nhiều thiệt hại và khó khăn lớn trong việc vận chuyền tiếp tế và cơ động lực lượng trên chiến trường. “Dạ dày đô thị” bị chọc thủng, “cuống họng giao thông” bị bóp nghẹt, Mỹ - ngụy ở Tây Nguyên trăm bề khốn quẫn, càng sa lầy trong thế bị động lúng túng và buộc phải phân tán lực lượng đối phó khắp nơi.

        Phối hợp với đòn tiến công dồn dập trên mặt trận đô thị và giao thông của bộ đội chủ lực tại chỗ và lực lượng vũ trang địa phương, khối chủ lực cơ động của Mặt trận đã khắc phục mọi khó khăn về địa hình, thời tiết, liên tục đánh địch ở vòng ngoài, kìm chân thu hút chúng, tạo thời cơ thuận lợi cho việc tiến công vào thị xã, đồng thời hỗ trợ thúc đẩy phong trào quần chúng nổi dậy chống phá âm mưu “bình định” gom dân của địch, giữ vững vùng giải phóng.

        Sư đoàn 1, sau các trận chiến đấu trên hướng đường 18 - Plây Cần, cơ động lực lượng sang hướng tây Công Tum đánh quân Mỹ nống ra ngăn chặn ở khu vực Chư Tăng Kra, Chư Mo, Chư Tô Bia, Chư Ben, Chư Tăng An... (Trung đoàn 209 được Bộ tăng cường cho Tây Nguyên sau Tết Mậu Thân, đã nhanh chóng bước vào chiến đấu trong đội hình của sư đoàn 1 thay thế cho trung đoàn. 320 chuyển vào hoạt động ở Đắc Lắc).

        Suốt từ tháng 3 đến tháng 6, bằng hàng loạt trận liên tiếp: phục kích, tập kích, vận động tiến công kết hợp chốt, đánh mìn, bắn máy bay, sư đoàn dã diệt 1.160 tên địch, bắn rơi 72 máy bay, phá hủy 42 xe quân sự và 57 lô cốt. Nổi bật trong đợt này là trận Chư Tăng Kra ngày 25 tháng 3, diệt gọn 2 đại đội và 1 trận địa pháo Mỹ. Tại đây diễn ra nhiều cuộc giáp chiến giữa ta và địch. Chiến sĩ ta dùng lựu đạn, thủ pháo giành giật với địch từng khẩu pháo, từng mỏm đồi dưới tầm bom đạn ác liệt để giữ vững các điểm cao.

        Sư đoàn 325 C (thiếu), có mặt ở Tây Nguyên tháng 4 năm 1968, đã nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh mới của chiến trường, khẩn trương bước vào hoạt động trên hướng đường 18. Được pháo binh và cao xạ chi viện, sư đoàn đã dành một số trận tập kích tương dối tốt, làm cơ sở cho việc nghiên cứu vận dụng chiến thuật đánh địch trong công sự sau này. Đó là các trận diệt gọn đại đội Mỹ ở Ngọc Pơ (8 và 9-5), điểm cao 824 (25-5), Ngọc Hồi (29-5). Trong đợt hoạt động từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 6, sư đoàn đã kìm chân thu hút địch trên khu vực đường 18, phối hợp với chiến trường chung, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, diệt gọn và đánh thiệt hại nặng 5 đại đội Mỹ, ngụy, bắn rơi 24 máy bay, phá hủy 22 đại bác và hơn 30 xe quân sự.

        Pháo 105 của ta xuất hiện lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên đã phát huy được uy lực, giáng đòn bất ngờ vào quân địch. Pháo binh đã chi viện đắc lực cho bộ binh tiến công dứt điểm căn cứ Ngọc Hồi, điểm cao 824, đồng thời bám trụ trận địa khống chế không cho địch đổ xuống điểm cao 936 lấy xác đồng bọn suốt hai ngày liền, phá hủy 2 máy bay cần cẩu, diệt nhiều tên địch.

        Trong đợt hoạt động này, do sử dụng lực lượng thiếu tập trung, 2 sư đoàn tác chiến trên hai hướng, công tác chuẩn bị chiến trường, nắm địch chưa thật đầy đủ nên khối chủ lực cơ động của Tây Nguyên chưa tạo được những đòn tiêu diệt lớn quân địch, hiệu quả còn bi hạn chế.

        Do bản chất ngoan cố và hành động phản kích điên cuồng của giặc Mỹ, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy càng kéo dài và quyết liệt. Sau nhiều tháng chiến đấu liên tục chưa có thời gian học tập, củng cố, một số ít cán bộ, chiến sĩ tỏ ra thiếu vững vàng, kiên định, sa sút ý chí chiến đấu, ngại lâu dài, ác liệt. Phát hiện tình hình trên, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận kịp thời đưa các đơn vị về phía sau củng cố nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:53:06 AM

        Một đợt sinh hoạt chính trị tập trung được tiến hành sâu rộng trong tất cả các đơn vị, lấy 7 điều Bác dạy trong bức điện Người gửi đồng bào và chiến sĩ miền Nam đầu tháng 3 năm 1968 làm nội dung kiểm điểm.

        7 điều Bác dạy là:

        - Ý chí phải thật kiên quyết
        - Kế hoạch phải thật tỉ mi
        - Kiểm tra phải thật kỹ càng
        - Phối hợp phải thật ăn khớp
        - Chấp hành phải thật chu đáo
        - Cán bộ phải thật gương mẫu
        - Bí mật phải giữ triệt để.


        Trong đợt học tập này, bộ đội được quán triệt đầy đủ nội dung, yêu cầu và tính chất lâu dài quyết liệt của cuộc Tổng tiến công và nòi dây đồng loạt, thấy rõ đây là một quá trình tiến công và phản công sẽ diễn ra liên tục… Cán bộ, chiến sĩ đã nghiêm khắc vạch ra những thiếu sót của mình và cùng nhau bàn biện pháp khắc phục. Tư tưởng mệt mỏi bi quan, ngại lâu dài, nôn nóng trông chờ thắng lợi, chỉ chú trọng chiến đấu trước mắt mà buông lỏng xây dựng lâu dài được đưa ra phân tích, phê phán. Tình cảm vả ý thức trách nhiệm đối với lịch sử, đối với nhân dân Tây Nguyên được nâng lên một bước. Các đơn vị đều có quyết tâm vươn lên lập công, xứng đáng với lời dạy bảo của Bác.

        Sau một thời gian học tập chính trị, huấn luyện quân sự và tiến hành đại hội Đảng các cấp, tháng 8 năm 1968  các đơn vị chủ lực cơ động của Mặt trận bước vào chiến đấu trong đợt cao điểm mùa thu đang diễn ra sôi nổi khắp ba tỉnh.

        Vượt qua các con sông lớn giữa mùa mưa lũ, nhưng cánh rừng khôộc sũng nước và những trận bom B52 rải thảm chặn đường, sư đoàn 1 đã hành quân lật cánh vào Đắc Lắc - hướng trọng điểm trong đợt hoạt động mùa thu của chiến trường.

        Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận dã thảo luận, cân nhắc rất kỹ giữa mục tiêu thị xã Buôn Ma Thuột và quận lỵ Đức Lập. Qua phân tích, Đảng ủy và Bộ tư lệnh cho rằng thời cơ giải phóng thị xã lúc này không còn thích hợp nữa. Sau hơn nửa năm bị ta đánh nhiều lần, quân địch ở thị xã Buôn Ma Thuột đã tăng cường lực lượng và mọi biện pháp phòng thủ. Cơ sở cách mạng của ta trong thị xã, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng đang gặp nhiều khó khăn, yếu tố bí mật bất ngờ không còn nữa. Quận ly Đức Lập và toàn bộ tuyến phòng thủ phía tây nam Đắc Lắc là nơi địch đang thực hiện “phi Mỹ hóa”, lại chưa bị ta đánh lớn bao giờ nên chủ quan, sơ hở. Ở đây, địch đang ráo riết gom dân lập ấp thực hiện kế hoạch “bình định”, nếu tiêu diệt và làm tan rã lực lượng chiếm đóng và hệ thống kìm kẹp ở vùng .này sẽ có tác dụng hỗ trợ, thúc đẩy phong trào nổi dậy của quăn chúng. Trên cơ sở phân tích ấy, đâng ủy và Bộ tư lệnh quyết định tập trung đại bộ phận lực lượng của sư đoàn 1, mở cuộc tiến công vào quận lỵ Đức Lập và toàn bộ các vị trí của dịch nằm trên tuyến phòng thủd tây nam Đắc Lắc, đồng thời dùng pháo binh, đặc công... đánh mạnh vào thị xã Buôn Ma Thuột và các khu vực lân cận.

        Cuối tháng 7, địch có phần nào đánh hơi được sự chuyển hướng của ta từ phía bắc xuống phía nam chiến trường. Bộ tư lệnh dã chiến Mỹ ở Tây Nguyên khẩn khoản xin bộ tư lệnh quân Mỹ ở Sài Gòn cho tăng cường máy bay B52 đánh chặn đường tiến quân của ta. Bộ đội vừa hành quân, vừa tổ chức nghi binh để tiến dần vào mục tiêu. Trong khi đó, trên hướng phối hợp, trung đoàn 1 sư đoàn 325C cùng bộ dội địa phương tỉnh Công Tum dã vượt sông Pô Cô đi theo các con đường mới mở, tiến vào vây ép thu hút địch ở Đắc Siêng. Toàn chiến trường rộ lên một đợt đánh giao thông trên các đường 14, 19 và 21 tạo yếu tố bí mật, bất ngờ cho hướng chính. Các lực lượng vũ trang ba tỉnh được huy động lên hết mặt đường tổ chức một đợt tuyên truyền vũ trang vào vừng ven thị, diệt tề điệp, ác ôn, vận động nhân dân rào làng chiến đấu và chặn đánh các toán lính ngụy nống ra lùng sục... gây một không khí đánh lớn vào thị xã.

        Ngày 23 tháng 8, trong tiếng súng tiến công đồng loạt nổ ra khắp ba tỉnh, sư đoàn 1 cùng các đơn vị phối thuộc của Mặt trận và lực lượng vũ trang Đắc Lắc đã tiến công quận lỵ Đức Lập và các vị trí đóng quân của địch trên toàn tuyến Đắc Xắc, Sa Pa, Đắc Lao, Đắc Pét... đồng thời chặn đánh quyết liệt các cánh quân của địch đến giải tỏa.

        Sau gần 10 ngày chiến đấu liên tục (23 - 31 tháng 8 ) ta đã diệt 1.790 tên địch, loại khỏi vòng chiến đấu 18 đại đội cộng hòa, biệt kích, thám báo và bảo an của địch, phá hủy 32 xe quân sự, 10 đại bác, 6 kho vũ khí, đánh sập nhiều cầu cống, bắn rơi 42 máy bay các loại. Tên tướng ngụy Trương Quang Ân, tên đại tá cố vấn Mỹ cùng nhiều sĩ quan tuỳ tùng đi trên máy bay bị tan xác.

        Riêng tại quận Đức Lập, ta diệt hơn 1.300 tên, tiêu diệt và đánh thiệt hại 16 đại đội. Đại bộ phận quân chiếm đóng và hệ thống ngụy quyền cấp quận, xã bị tiêu diệt và tan rã. Hàng nghìn đồng bào nổi dậy giành quyền làm chủ.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:54:56 AM

        Địch phản kích điên cuồng, dùng không quân và pháo binh đánh vào giữa quận lỵ. Bộ đội ta vừa truy quét tàn quân địch không cho chúng tháo chạy, vừa lao mìmh trong lửa đạn cứu nhân dân. Y tá Đường có mặt trong từng căn nhà, ngõ phố, băng bó, cứu chữa cho đồng bào bị thương. Lê Văn Đức hai lần bị thương đã quên hết mọi đau đớn cùng đồng đội dỡ hầm đưa dân lên. Trung đội trưởng Đinh bị trúng đạn vào tay phải dã chuyền xẻng qua tay trái dập lửa và tiếp tục chỉ huy anh em làm nhiệm vụ. Những tấm gương quên mình vì nhân dân của cán bộ, chiến sĩ ta đã để lại trong lòng đồng bào Đức Lập niềm tin yêu vô hạn. Những bình ảnh sáng ngời bản chất và truyền thống cách mạng của quân đội nhân dân đã nhanh chóng xua tan những luận diệu xuyên tạc quân đội cách mạng từ trước của địch. Qua hình ảnh người chiến sĩ, đồng bào vùng mới giải phóng càng biết rõ và tin tưởng cách mạng, tin yêu Anh bộ đội Cụ Hồ.

        Chiến thắng Đức Lập khẳng định sự chuyển hướng kịp thời và quyết tâm chính xác của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận, thể hiện tính chủ động, tích cực và bước trưởng thành mới cửa bộ đội chủ lực cơ động trong cách đánh công sự vững chắc nằm trong tuyến phòng thủ của địch.

        Trên mặt trận nông thôn, cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra dai dẳng, quyết liệt và không kém phần gian khổ.

        Nhằm đánh bật lực lượng vũ trang ta ra khỏi các địa bàn xung yếu, cứu nguy cho các đô thị và giành lại những vùng nông thôn bị mất, quân Mỹ ráo riết thực hiện chiến lược “quét và giữ”. Chứng tập  trung lực lượng tiến hành “bình định” nông thôn, đánh phá quyết liệt vùng căn cứ và hành lang vận chuyển của ta. Trên khắp ba tỉnh, Mỹ - ngụy liên tiếp mở hàng trăm cuộc hành quân “bình định” xúc nhân dân rời buôn làng, nương rẫy vào khu dồn của chúng quanh các đô thi và trục đường giao thông chiến lược 14, 19 và 21.

        Lừa bịp và mua chuộc không nổi, quân ngụy sục vào làng vây chặt bốn phía. rồi cho máy bay lên thẳng đổ xuống, bắt từng người dân chở đi. Chủng đốt nhà, cướp hết thóc giống, nông cụ, trâu bò rồi cho xe tăng, xe bọc thép càn phá hoa màu, nương rẫy triệt hết nguồn sinh sống làm cho đồng bào không cỏn chỗ dựa trở về làng cũ.

        Ở các vùng căn cứ, địch cho máy bay B 52 đánh phá ngày đêm, tung biệt kích, thám báo quấy rối và thà hóa chất độc phá hoại mùa màng của ta. Lúa, ngô vừa trồ bông, sắn, khoai đang xanh tốt bị hóa chất độc làm khô hay ruỗng thối trên nương. Chỉ trong vòng 3 tháng mùa mưa ở Đắc Lắc, Mỹ - ngụy đã mở tới 88 cuộc hành quân càn quét đánh phá căn cử hành lang và ngăn chăn các cuộc tiến công của ta.

        Nhận rõ vi trí chiến lược quan trọng của nhiệm vụ giải phóng nông thôn, Tây Nguyên đã “phát động quần chúng đẩy mạnh chiến tranh du kích, quét sạch ngụy quyền xã, đánh rã ngụy quyền quận, làm chủ vùng nông thôn, mở rộng vùng phụ cận. xây dựng bàn đạp xung quanh thị xã và quận lỵ”1.

        Nhiệm vụ được đặt ra là “tích cực đánh vào thị xã nhưng phải mở cho được vùng nông thôn, đánh là phải bảo vệ được dân, giữ dược dân”2      và giải phóng nông thôn phải trên cơ sở “tiến công và nổi dậy thường xuyên liên tục bằng hai chân, ba mũi”3. Nhiệm vụ phá ấp mở vùng được quán triệt trong cả ba thứ quân. xuyên suốt quá trình hoạt động.

        Từ mùa mưa 1968 trở đi. nhất là vào những tháng cuối năm, địch chuyển sang thực hiện chiến lược “quét và giữ”, tiến hành chương trình “bình định cấp tốc” rất quyết liệt. Ta đã kịp thời chuyển hướng vừa duy trì đòn tiến công đô thị, vừa nhanh chóng tập trung lực lượng đánh phá âm mưu và kế hoạch “bình định” của địch, giữ vững nông thôn.

        Để phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của ba thứ quân trên mặt trận đánh phá “bình định”, Bộ tư lệnh đã chỉ rõ nhiệm vụ, chức năng của từng lực lượng: “Lực lượng địa phương phải triệt để lợi dụng thắng lợi của bộ đội chủ lực, tranh thủ giải phóng nông thôn, phá tan các cuộc càn quét “bình định” của địch, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, bảo vệ sản xuất, bảo vệ chính quyền và các tổ chức quăn chúng, hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh chính trị và làm công tác binh vận...”4. Bộ đội tỉnh đánh vào thị xã, quận lỵ và vùng ven, hỗ trợ cho địa phương mở vùng. Dân quân du kích cùng lực lượng chính trị quần chúng chủ yếu là mở vùng, bao vây vị trí, đánh địch càn quét và xây dựng cơ sở.

--------------------------
        1. , 2. , 3. , 4. Trích Phương hướng, nhiệm vụ, yêu cầu và phương châm hoạt động Đông 1968 của ba tỉnh.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:55:33 AM

        Bộ tư lệnh giao nhiệm vụ cho các đơn vị chủ lực tại chỗ phải quan hệ chặt chẽ với địa phương, không chỉ đơn thuần phối hợp chiến đấu, mà còn có trách nhiệm trực tiếp giúp đỡ địa phương về các mặt huấn luyện, xây dựng chính trị tư tưởng, xây dựng phong trào, cơ sở... coi các đơn vị bộ dội địa phương chiến đấu trong đội hình của bộ đội chủ lực như chính bản thân đơn vị mình.

        Các trung đoàn chủ lực tại chỗ 24, 33, 95, các tiểu đoàn vùng ven 6, 39... cùng các đơn vị mũi nhọn của Mặt trận đứng vững trên địa bàn được phân công, phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương và dân quân du kích ba tỉnh liên tiếp đánh bại hàng trăm cuộc cân quét gom dân của địch, giữ vững từng buôn làng, giành đi giật lại với địch từng người dân. Nhiều phân đội cùng nhiều cán bộ, chiến sĩ thuộc các đơn vi chú lực tại chỗ tỏa xuống các thôn, xã cùng dân quân du kích phả ấp, diệt kèm, xây dựng cơ sở.

        Được lực lượng vũ trang và các đội công tác hỗ trợ, đồng bào các buôn làng Tây Nguyên liên tiếp nổi dậy, dùng giáo mác, gậy gộc và mọi vũ khí trong tay trừng tri bọn ác ôn, tề điệp, phá bỏ mọi hình thức kìm kẹp, giành lại quyền làm chủ. Nhiều nơi đồng bào đã nhất tề nổi dậy, phá bung khu dồn, “ấp chiến lược” trở về làng cũ. Với bàn tay lao động cần cù, đồng bào lại dựng lên làng mới và phát rẫy làm ăn. Địch lại kéo đến bao vây xúc dân vào ấp. Địch líp lại, đồng bào lại bung ra, cứ thế cuộc đấu tranh kéo dài hàng năm trời... Quyết không để cho địch gom dân, lập ấp, sống cảnh cá chậu chim lồng, đồng bào nhiều nơi đã tự tay châm lửa đốt trụi buôn làng thân yêu của mình, thề không đội trời chung với giặc, rồi kéo nhau vào rừng sâu sống với du kích. Đồng bào phải đào củ rừng ăn thay cơm, lấy túi cát của địch bỏ lại trên trận địa làm quần áo, nhưng vẫn luôn luôn lạc quan tin ở cách mạng và sẵn sàng góp công sức của mình để giành cho được độc lập, tự do.

        Đồng bào vùng căn cứ đã quyên góp gạo, muối, nông cụ thóc giống giúp đồng bào mới trở về ổn định đời sống. Cán bộ, chiến sĩ ta đã chia sẻ với nhân dân từng hạt muối, lon gạo, từng tấm áo... Nhiều đơn vị đã giao cho địa phương cả nương sắn của mình giữa lúc cán bộ, chiến sĩ ta chỉ ăn cầm hơi để đánh giặc.

        Phá ấp, mở vùng, giải phóng nhân dân đã trở thành ý chí, tình cảm sâu sắc của toàn thể đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên.

        Bằng các hoạt động liên tục và mạnh mẽ giữa hai lực lượng và ba thứ quân, giữa tiến công và nổi dậy, trong năm 1968 ta đã phá được 130 “ấp chiến lược” và khu tập trung của địch, giải phóng 60.000 người, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu và kế hoạch “bình định” của Mỹ - ngụy trên chiến trưởng rừng núi Tây Nguyên.

        Nhằm phát huy hơn nữa sức mạnh to lớn của chiến. tranh du kích trong giai đoạn Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên liên tiếp tổ chức hai hội nghị chuyên đề về chiến tranh du kích, về công tác quân sự địa phương. Các đồng chí Bí thư và Thường vụ tỉnh ủy Gia Lai. Công Tum, Đắc Lắc, đoàn đại biểu lực lượng vũ trang ba tỉnh và bốn huyện căn cứ miền Tây (huyện 4 và 5 Gia Lai, huyện 67 Công Tum, huyện 5 Đắc Lắc) cùng nhiều cá nhân lập công xuất sắc về tham dự hội nghị.

        Hội nghị đã khẳng định thành tích to lớn và bước trưởng thành vượt bậc của chiến tranh du kích trong cao trào Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vừa qua: “Đã tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận sinh lực, phương tiện chiến tranh và cơ sở vật chất quan trọng của Mỹ - ngụy. Phong trào chiến tranh du kích phát triển tương đối rộng rãi và đều khắp; sáu phương thức tác chiến được vận dụng rộng rãi và có hiệu quả; chiến tranh du kích đã tích cực hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy ở khắp nơi, làm chủ nhiều vùng nông thôn và thị xã với mức độ khác nhau, đã góp phần quan trọng vào việc mở rộng và xây dựng căn cứ của ta ngày càng vững mạnh. Nhân dân và dân quân du kích đã hăng hái phục vụ chiến đấu với tinh thần chưa từng có. Trong cách mạng gian khổ quyệt liệt và liên tục, đội ngũ cán bộ vẫn không ngừng phát triển về số lượng và nâng cao về chất lượng, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm. Sự lãnh đạo của các cấp ủy và sự chỉ đạo của cơ quan quân sự địa phương đã có bước tiến bộ lớn trong việc quán triệt và vân dụng đường lối, phương châm của cách mạng trong thời kỳ mới”1.

        Hội nghị đã quán triệt vi trí chiến lược, nhiệm vụ và phương châm của chiến tranh du kích trong cuộc Tổng tiến công vả nổi dậy, đồng thời đề ra những nhiệm vụ và công tác cụ thể cần tiến hành nhằm đưa phong trào tiến lên vững chắc, toàn diện sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn mới của địch trên chiến trường Tây Nguyên.

--------------------------
        1. Trích Báo cáo tổng kết phong trào chiến tranh du kích tại hội nghị quân sự địa phương Tây Nguyên, ngày 22 tháng 9 năm 1968.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 03:58:23 AM
        
*

*     *

        Ngày 20 tháng 11 năm 1968, tại một khu giải phóng bên bờ sông Sa Thầy, dưới vòm lá bằng lăng mát rượi, thơm ngát hoa rừng, đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ lần thứ 2 của .lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên khai mạc.

        Gầ 300 đại biểu, thay mặt cho phong trào thi đua giết giặc, lập công của các đơn vị và địa phương trong toàn Mặt trận đã về dự đại .hội. Đại hội còn có mặt các đoàn đại biểu nhân dân ba tỉnh, đại biểu các gia đình có công với cách mạng, nhũng đội viên thanh niên xung phong, chiến sĩ dân công xuất sắc. Anh hùng Núp - người con ưu tú của Tây Nguyên kiên cường bất khuất trong kháng chiến chống Pháp, anh hùng Quân giải phóng Kpa Kơ-lơn - người dũng sĩ thiếu niên dưới chân núi Chư Pông trong kháng chiến chống Mỹ cũng có mặt trong đại hội mày. Các đội văn công ba tỉnh Còng Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đã vượt qua bao đèo dốc và bốt đồn của địch, đem lời ca tiếng hát lạc quan chiến dấu và đậm đà màu sắc dân tộc về phục vụ đại hội.

        Bên cạnh các mái nhà tranh giản dị là mái nhà Rông cao vút lợp lá mùn cun của Tây Nguyên. Tiếng đàn bầu, sáo trúc xen lẫn tiếng đàn tơ-rưng, klông-pút rộn ràng.

        Đại hội là hình ảnh tiêu biểu của khối dại đoàn kết của quân và dân các dân tộc, của sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên địa bàn rừng núi Tây Nguyên. Đại hội đã nghe nhiều bản báo cáo tập thể và cá nhân của các đơn vị và địa phương lập công xuất sắc, rút ra những bài học về chủ nghĩa anh hùng cách mạng và những kinh nghiệm chỉ đạo phong trào thi đua của ba thứ quân. Đại hội tổ chức trao đổi, học tập kình nghiệm bằng các buổi thảo luận chuyên đề như đánh công sự vững chắc, đánh xe cơ giới Mỹ, bố trí hầm chông liên hoàn của dân quân du kích.

        Với niềm thành kính thiết tha, đại hội đã thay mặt toàn thể đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên, gửi thư quyết tâm lên Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ lòng nhớ thương, tin tưởng và hứa với Người: đoàn kết một lòng, vượt qua mọi khó khăn, ác liệt, cùng cả nước bền gan chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng để sớm được đón Bác vào thăm.

        Ngày 30 tháng 11 năm 1968, đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên vô cùng phấn khởi, xúc động được Bác gửi điện thăm hỏi, động viên. Trong bức điện Bác viết:

        Thân ái gửi đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Tây Nguyên1    

        Tôi rất vui mừng nhận được thư báo cáo thành tích của Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ lần thứ 2 của các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Tây Nguyên.

        Như vậy là quân và dân Tây Nguyên, già, trẻ, gái, trai, Kinh, Thượng đoàn kết một lòng, luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua diệt giặc, lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu dược những thành tích to lớn cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

        Tôi nhiệt liệt khen ngợi các anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng, cán bộ, chiến sĩ và toàn thể đồng bào Tây Nguyên đã dũng cảm chiến đấu, xây dựng hậu phương vững mạnh, phục vụ tiền tuyến, lập công vẻ vang.

        Giặc Mỹ và tay sai bị thua to trên khắp nước ta, đã phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá miền Bắc, và chịu ngồi nói chuyện với đại diện hai miền nước ta. Nhưng chúng còn rất ngoan cổ. hiếu chiến, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược. Vì vậy nhiệm vụ của quân và dân cả nước ta còn rất nặng nề.

        Đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên đã đoàn kết càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không ngừng, phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu cửa địch, ra sức củng cố và phát triền vùng giải phóng và phục vụ tiền tuyến.

        Tôi tin chắc rằng Tây Nguyên nhất định củng cả nước tiến lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

        Tôi xin gửi đến Cụ Chủ tịch, các vi trong Phong trào dân tộc tự trị và toàn thể đồng bào Tây Nguyên, các cháu thanh niên và nhi đồng lời thăm hỏì ân cần và lời chào quyết thắng.

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 1968.  
[/i]      
HỒ CHÍ MINH                

        Thư Bác được chuyển tới đồng bào, chiến sĩ trên khắp chiến trường Tây Nguyên. Một đợt học tập làm theo thư Bác được tiến hành sâu rộng khắp các địa phương và đơn vị.

        Trong cuộc chiến đấu đầy gian nan thử thách trên tuyến đầu miền Tây Tổ quốc, đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên luôn luôn nhận được tình thương ấm áp của Bác. Khi ta lập công, Người gửi thư khen ngợi; khi ta gặp khó khăn, vấp váp, Người nhắc nhở dặn dò; trong hiểm nghèo, Người động viên khích lệ… Từng giờ, từng phút Người hằng dõi theo bước đi, nhịp thở của chiến trường.

        Mỗi chiến công, mỗi chặng đường thắng lợi đều có bàn tay Người chỉ đường, dẫn lối.

        Thực hiện lời dạy bảo ân cần của Bác, toàn thể đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên càng tin tưởng, phấn khởi, khẩn trương chuẩn bị mọi mặt, chủ động đón nhiệm vụ năm 1969, với quyết tâm giành thắng lợi to lớn hơn nữa để Bác vui lòng.

--------------------------
        1. Bức điện này Bác Hồ nhờ cụ I-bi Alê-ô, Phó Chủ tịch Đoàn chủ tịch U.B.T.Ư.M.T.D.T.G.P. miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Phong trào dân tộc tự trị Tây Nguyên chuyển.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:02:27 AM
      
Chương năm

VƯỢT QUA THỬ THÁCH, TRỤ BÁM CHIẾN TRƯỜNG, LIÊN TỤC TIẾN CÔNG, TRƯỞNG THÀNH TOÀN DIỆN


1. ĐÁNH VÒNG TRONG, DIỆT VÒNG NGOÀI, THẮNG ĐỊCH GIÒN GIÃ NGAY TỪ ĐẦU NĂM

        Sau 4 năm tiến hành chiến tranh xâm lược bị thất bại nặng nề và liên tiếp, Giôn-xơn và các nhà chiến lược Mỹ đã phải rút ra một kết luận cay đắng là dù có đổ thêm quân và vũ khí vào chiến trường Việt Nam đến mức nào đi nữa cũng không thể cứu vãn được sự thất bại hoàn toàn. Không thể sa lầy mãi trong cái hầm chông Việt Nam, đã đến lúc nước Mỹ phải rút dần sự dính líu trực tiếp khỏi cuộc chiến tranh này. Chủ trương chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ra đời nhằm gỡ cho nước Mỹ ra khôi cuộc chiến tranh Việt Nam một cách danh dự. Nó chính là con dẻ của thất bại chiến lược “chiến tranh cục bộ”. “Việt Nam hóa chiến tranh”' chỉ là sự thay đổi chiến lược của chiến tranh xâm lược, chứ không phải là sự từ bỏ chiến tranh xâm lược. Tuy bị thất bại, nhưng đế quốc Mỹ vẫn rất ngoan cố. Chúng vẫn không chịu từ bỏ chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam.

        Tuy nhiên. thực hiện một chiến lược mới không phải là chuyện dễ dàng, nhất là chiến lược ấy đẻ ra trong ra trong thế thua thì lại càng khó khăn. Quân Mỹ phải hà hơi tiếp sức vực quân ngụy dậy, từng bước đưa dần quân ngụy ra phía trước đối phó với chủ lực ta.

        Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” được bắt đầu tiến hành đầu năm 1969. Ở chiến trường Tây Nguyên, địch chọn Chư Pa làm nơi thí điểm cho chiến lược này. Ngày 10 tháng 1 năm 1969, liên đoàn 2 biệt động quân và trung đoàn 42 ngụy được sự hỗ trợ của máy bay, đại bác và bộ binh Mỹ, mở cuộc hành quân “Bình Tây 48” vào khu vực Chư Pa, nhằm bí mật thọc vào hậu phương của ta, cướp phá kho tàng, cắt đứt hành lang vận chuyển, đẩy chủ lực ta ra xa, nới rộng phòng tuyến phía tây thị xã Plây Cu đang bị ta o ép, tiến công.

        Ngay từ khi mới đặt chân xuống vùng núi Chư Pa, các tiểu đoàn đầu tiên của địch đã bị lực lượng tại chỗ của ta chặn đánh. Lấy tiếng súng làm hiệu lệnh hiệp đồng tác chiến, các chiến sĩ giao liên, vận tải, giữ kho, sản xuất cùng lực lượng dân quân du kích bám đánh địch liên tục, làm rối loạn đội hình của chúng. Trung đoàn 24 và tiểu đoàn 8 thuộc trung đoàn 66 kịp .thời vận động tới, mở hàng loạt trận tập kích mạnh mẽ vào sở chỉ huy dã chiến trung đoàn 42, các sở chỉ huy tiều đoàn, trận địa pháo và nơi đóng quân của địch.

        Về các trận chiến dấu quyết liệt diễn ra tại Chư Pa, hãng thông tin .AFP, ngày 28 tháng 1 năm 1969 đã nhận xét: “Đây là trận đánh ác liệt nhất kể từ cuộc tiến công đẫm máu hồi Tết Mậu Thân đến nay”. Địch vội vã hủy bỏ cuộc hành quân “Bình Tây 48”, mở tiếp cuộc hành quân “Bình Tây 49”, rồi “Bình Tây 50” nhưng vẫn không sao ra khỏi vũng lầy thất bại.

        Quân Mỹ không thể giữ mãi “thái độ trùm chăn” để mặc cho quân ngụy bị tiêu diệt, chúng buộc phải tung lực lượng ra ứng cứu. Thế là cả thầy lẫn tớ đều bi đánh cho vỡ đầu mẻ trán và cuối cùng đã phải rút chạy nhục nhã khỏi vùng núi Chư Pa.

        Sau 24 ngày đêm liên tục chiến đấu, ta đã diệt gọn 1 tiểu đoàn quân Mỹ, đánh thiệt hại nặng liên đoàn 2 biệt động quân và trung đoàn 42 ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên Mỹ - ngụy, bắn rơi và phá hủy 24 máy bay, phá hỏng 9 khẩu pháo lớn.

        Ta nhanh chóng chiếm lĩnh vùng núi Chư Pa, dùng Chư Pa làm bàn đạp xuất phát tiến đánh đường số 14 ở phía bắc thị xã Plây Cu.

        Thế là âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch vừa đưa ra thí điểm đã bị thất bại ngay từ trong trứng. Lớp son phấn mà đế quốc Mỹ ra sức tô vẽ lên bộ mặt “Việt Nam hóa” đã bị rơi rụng.

        Đợt chiến đấu vừa kết thúc, Bác Hồ gửi điện khen ngợi cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 24 và các đơn vi lập công ở Chư Pa. Đây là phần thưởng vô cùng cao quý, một nguồn cổ vũ lớn lao đối với toàn thể đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên.

        Chiến thắng Chư Pa là hồi kèn xung trận đầu năm, động viên, thôi thúc quân và dân Tây Nguyên thừa thắng xốc tới giành thắng lợi to lớn và toàn diện trong năm 1969.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:05:50 AM

        Sau chiến thắng Chư Pa, quân địch chưa hoàn hồn thì một trận bão tố mới lại nổi lên ngay tại sào huyệt của chúng.

        Dựa vào sự giúp đỡ và che chở của nhân dân địa phương, các đơn vị vượt qua mọi khó khăn trở ngại, đưa lực lượng vào chiếm lĩnh vị trí đúng thời gian quy định, chấp hành không điều kiện lệnh tiến công đồng loạt trên toàn miền Nam.

        Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 2, Tây Nguyên nổ súng đồng loạt vào 37 mục tiêu của địch, gồm 3 thị xã (Công Tum, Plâỵ Cu, Buôn Ma Thuột), 2 quận lỵ (Buôn Hồ, Lạc Thiện), 4 sở chỉ huy (liên đoàn 2 biệt động quân, quân đoàn bộ quân đoàn 2, trung đoàn bộ trung đoàn 45, biệt khu 24), 5 sân bay cùng nhiều vi trí quan trọng Đồng thời đánh mạnh trên các đường chiến lược 14, 19, chặn giao thông, triệt tiếp tế của địch.

        Mặc dù đã tìm mọi cách phòng trong, chặn ngoài, Mỹ - ngụy vẫn hoàn toàn bi bất ngờ choáng váng. Chúng phân ứng rất dè dặt, chủ yếu là dựa vào không quân. pháo binh và dùng lực lượng tại chỗ để chống đỡ. Thời cơ đang thuận lợi, Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương phát huy kết quả và thắng lợi vừa giành được, giữ vững và phát triển thế tiến công liên tục, đẩy địch lún sâu hơn nữa vào thế phòng ngự bị động, tạo điều kiện thuận lợi để chủ lực ta triển khai trên hướng chính.

        Trong khi các trung đoàn chủ lực cơ động 66, 28 và 40 hành quân lên hướng tây Kleng chuẩn bi thế trận thì các phân đội mũi nhọn, bộ dội địa phương và dân quân du kích tiến công địch dồn dập bằng hàng loạt trận quy mô vừa và nhỏ, vừa tiêu diệt sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch, vừa diệt ác phá kèm, phát động quần chúng nổi dậy phá kế hoạch gom dân, lập ấp của địch, Phong trào “bắn máy bay khắp trời” và “đánh tỉa giao thông” rộ lên khắp ba tỉnh..

        Cùng thời gian này, một bộ phận của trung đoàn 40 tiến hành bao vây trại lực lượng đặc biệt Plây Cần trên đường 18. Pháo 85 nòng dài của ta xuất hiện trên chiến trường, ngay từ phút đầu đã phát huy được uy lực, giáng đòn bất ngờ, gây cho địch thiệt hại lởn. Các chiến sĩ pháo binh phát hiện đúng thời cơ, nổ súng kịp thời, chinh xác; bắn tiết kiệm đạn, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Có ngày, với 7 quả đạn đã diệt 7 mục tiêu địch. Các loại hỏa lực của ta đã phối hợp chặt chẽ và phát huy được hiệu quả, vừa tiêu diệt bọn linh trong đồn. vừa diệt các cánh quân từ xa đến giải tỏa, vừa đánh địch dưới đất, vừa khống chế địch trên không. Máy bay của chúng chưa kịp hạ xuống đường băng đã bị trúng đạn bốc cháy.

        Quân địch ở Plây Cần vô cùng khốn đốn, phải kết kêu lên: “Nối đuôi những quả ĐKZ và đạn súng cối là những quả đạn 85 mi-li-mét của Việt cộng làm cho quân đồng minh không hoạt động được trên mặt đất, mặc dù B52 đã thả tới hàng nghìn tấn bom nhưng vấn không sao đẩy dược các khẩu pháo này ra xa”.

        Các đài quan sát, các trận địa pháo mặt đất, pháo cao xạ của ta vẫn trụ bám kiên cường dưới bom đạn na-pan và hóa chất độc của địch, chiến đấu suốt 30 ngáy đêm. “khẩu đội thép” đại đội 48 cao xạ do Trần Trọng Diễn chi huy, có ngày đã đánh trả 16 lần chiếc máy bay Mỹ chiến đấu đến người cuối cùng để giữ vững trận địa.

        Được pháo binh yểm trợ, đêm 3 tháng 3, ta cho chiếc xe tăng lội nước PT76, xuất hiện lần đầu tiên trên chiến trưởng, bí mật đến sát vào Plây Cần, dùng hỏa lực trên xe bắn thẳng vào các mục tiêu trong đồn, diệt 6 xe bọc thép, phá hỏng 1 đại bác 175 mi-li-mét và làm nổ 4 kho xăng, đạn của địch.

        Hòa nhịp với tiếng súng tiến công Plây Cần, cùng ngày 24 tháng 2, ta bắt đầu bao vây đánh lấn trại lực lượng đăc biệt Đức Cơ trên đường 19. Ngay từ những loạt đạn đầu, ta đã phá hủy khu trung tâm thông tin, trận địa pháo, 4 xe học thép cùng nhiều nhà kho, trại lính. Pháo binh  ta còn bắn vào sân bay, không cho máy bay Mỹ hạ xuống tiếp tế và lấy xác đồng bọn.

        Phối hợp với pháo cơ giới tầm xa, các phân đội pháo mang vác, công binh, bộ binh và dân quân du kích luồn sâu, bám sát đồn đich, diệt nhiều toán biệt kích từ trong đồn nống ra ngoài và liên tiếp chặn đánh bộ binh và cơ giới địch từ các nơi đến giải tỏa cho Đức Cơ.

        Nhân lúc bọn địch quanh vùng Đức Cơ hoang mang dao động và được bộ đội hỗ trợ, dân quân du kích đã dột nhập vào một số “ấp chiến lược”, diệt ác ôn, rải truyền đơn, tuyên truyền binh vận, đồng thời gài mìn diệt xe cớ giới địch trên đoạn dường từ Đức Vinh đi Đức Cơ. Nổi bật là trận ngày 25 tháng 2, một tổ du kích do xã đội phó Siu Xăng chỉ huy với 6 quả mìn tự tạo đã diệt cả đoàn xe 6 chiếc, từ Plây Cu đến giải tỏa cho đồn Đức Cơ.

        Trận đánh xuất sắc này của du kích dược tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng hai.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:07:21 AM

        Giữa những ngày chiến đấu khẩn trương, các đơn vị ở đây vẫn tranh thủ mọi thời gian, hướng dẫn du kích tổ chức trận địa bắn máy bay, truy lùng biệt kích, sử dụng các loại súng... và dìu dắt du kích ra phía trước cùng hoạt động. Bộ đội còn dạy học, cát tóc cho các em, chữa bệnh và hướng dẫn nếp sống vệ sinh cho đồng bào địa phương.

        Đồng bào quanh vùng Đức Cơ gùi gạo, đạn, đào công sự ngụy trang xe pháo, cung cấp tin tức địch cho bộ đội và nhường nương rẫy, thóc giống của mình để bộ đội tăng gia sản xuất. Trên mặt trận Đức Cơ, ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả ba thứ quân để đánh đích.

        Với việc bao vây Plây Cần và Đức Cơ, lần đầu tiên pháo binh Tây Nguyên đảm nhiệm tác chiến độc lập trên một hướng, sử dụng hỏa lực nhiều tầng kết hợp với một lực lượng nhỏ bộ binh, tiến công địch dài ngày, đạt kết quả tốt mở ra một lối đánh mới, vừa tiết kiệm được binh lực vừa gây cho địch nhiều thiệt hại, lại có tác dụng kìm chân, hạn chế sự cơ động của địch, phối hợp với các hướng trên chiến trường.

        Đợt tiến công đồng loạt đầu Xuân Kỷ Dậu của Tây Nguyên đã kết thúc thắng lợi. Mặc dù quân địch ra sức đề phòng, tích cực phá chuẩn bị tiến công của ta, song chúng vẫn không sao tránh được các trận đánh vẫn diễn ra dữ dội và bất ngờ. Mỹ, ngụy bị đánh dồn dập ở cả thị xã, hậu cứ, vùng ven và trên các đường giao thông quan trọng, bị thiệt hại nặng cả về sinh lực lẫn phương tiện chiến tranh. Kế hoạch chiến lược “quét và giữ”, “ngăn chặn từ xa” tỏ ra bất lực

        Ta đã nhanh chóng vượt qua mọi thử thách, giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến trường, đưa chiến tranh tiến sâu vào lỏng địch. Chất lượng đánh hậu cứ, kho tàng, sân bay có bước tiến mới, các đơn vị thực hiện được phương châm “lấy ít dành nhiều, dùng nhỏ thắng lớn”.

        Mỹ, ngụy còn đang choáng váng trước đòn sấm sét giáng trúng hang ổ, thì ta mở tiếp trận đánh ở vòng ngoài, kéo chúng ra để tiêu diệt. Thế là đòn trước chưa hết đau, đòn sau đã đến.

        Cuối tháng 2, ta mở cuộc tiến công lớn trên hướng Kleng, nhằm phối hợp với chiến trường Khu 5 và toàn Miền.

        Qua keo đầu thử sức với chủ lực ta tại Chư Pa, quân ngụy ở Tây Nguyên tỏ ra non kém và bất lực. Âm mưu “thay đổi màu da của xác chết” chưa thể thực hiện được, giặc Mỹ chưa kịp rút chân ra khỏi vòng binh lửa đã phải vội vã quay ra đối phó với ta ở hướng Kleng.

        Phát hiện chủ lực ta xuất hiện ở phía tây Kleng, địch sợ ta đánh vào thị xã Công Tum liền ra quân thực hành ngăn chặn. Dựa vào sức mạnh của hỏa lực và phương tiện cơ động, giặc Mỹ ra quân tương đối nhanh. Chúng triển khai căn cứ hành quân chiến dịch cùng lúc với việc triển khai các tuyến ngăn chặn và phản kích từ xa. Các đơn vị chủ lực Tây Nguyên vốn đã nhẵn mặt sư đoàn 4 Mỹ, nên mọi thủ đoạn của chúng không qua được mắt bộ đội ta. Cuộc chiến đấu diễn ra trong suốt chiều sâu chiến dịch khoảng 30 ki-lô-mét, từ cứ điểm Kleng ở phía tây sông Pô Cô đến dãy Chư Rơ Bang ở phía dông sông Sa Thầy. Chính diện của chiến dịch cũng rộng khoảng 30 ki-lô mét, từ sườn nam Chư Rơ Bang dấn Ngọc Tô Ba.

        Hai lữ đoàn thuộc sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ được đưa vào chiến đấu. Tuyến ngăn chặn và các mũi thăm dò vòng ngoài do 3 tiểu đoàn của lữ đoàn 1 đảm nhiệm. Vòng trong do 3 tiểu đoàn của lữ đoàn 2 và các đơn vị pháo binh yểm trợ, chiếm giữ khu vực Kleng, Chư Tăng Kra, Chư Tăng An, Chư Do làm lực lượng dự bi chiến dịch.

        Ngay từ đầu, nhịp độ chiến đấu giữa hai lên đã diễn ra rất khẩn trương.

        Ngày 3 tháng 3. tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 8 lữ 1 đổ xuống phía nam Chư Rơ Bang. Cánh quân đi đầu từ chân dốc vừa mò lên đỉnh chiếm điểm cao liền bị bộ phận vệ binh của Mặt trận đang đào công sự đánh bật xuống, diệt gọn 1 trung đội. Lấy tiếng súng làm tín hiệu hiệp đồng chiến đấu, dại đội 6 trung đoàn 66 băng rừng vận động tới, cùng 15 tay súng vệ binh diệt gọn 1 đại đội Mỹ trong vòng 40 phút.

        Những ngày tiếp theo, địch cho máy bay B52 đánh phá dữ dộì, hòng đẩy quân ta ra xa để tránh cho tiểu đoàn 3 của chúng khỏi bị diệt. Bộ đội ta vẫn gan góc bám sát địch, lần lượt tiêu diệt và đánh thiệt hại các đại đội còn lại của tiểu đoàn này.

        Tiểu đoàn 1 trung đoàn 8 đổ xuống vùng Ngọc Tô Ba, nống ra thăm dò gặp trận địa pháo của ta. Các chiến sĩ trinh sát, pháo thủ trung đoàn 40 chặn đánh chúng suốt 3 ngày liền, diệt hàng trăm tên. Cùng lúc, ta tiến công địch ở Plây Gia Siêng. Chư Hinh, Chư Kram Lô... diệt gần 300 tên, bắt tù binh, thu vũ khí. Bọn còn lại phải co cụm ở Ngọc Tô Ba và điểm cao 467 để chống đỡ.

        Bị đòn phủ đầu, giặc Mỹ hốt hoảng tung nốt tiểu đoàn 3 trung đoàn 12 xuống khu vực Chư Cô Tắc, Chư Kê Pác để tiếp cứu. Nhưng bọn đi chữa cháy lại bi lửa thiêu. Suốt từ 18 đến 30 tháng 3, ta liên lục vây hãm, tiến công, diệt và đánh thiệt hại cả 4 đại đội của chúng.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:08:49 AM

        Nắm vững thời cơ tiến công đồng loạt trên toàn chiến trường, từ ngày 23 trở đi, bộ đội ta mở nhiều đợt công kích, đánh giáp lá cà diệt bộ phận còn lại của tiểu đoàn 1 ở Ngọc Tô Ba và điểm cao 467, giết và bắt sống gần 100 tên. Tàn quân Mỹ đã phải vút súng, quẳng ba lô và bỏ xác đồng bọn tại trân địa chạy tháo thân dưới làn đạn truy kích của quân ta. Máy bay Mỹ suốt mấy ngày liền phải gọi loa chỉ đường cho quân lính cua chúng  mất phương hướng đang chạy tán loạn trong rừng. Hình ảnh quân viễn chinh Mỹ trong trận đọ sức cuối cùng với chủ lực ta tại Công Tum là như thế! Bốn năm trước đây, khi mới đặt chân xuống vùng núi Chư Pông, những tên lính “công tử bột” Hoa Kỳ hùng hổ kiêu căng bao nhiêu, thì giờ đây trong trận ra quân cuối cùng ở vùng núi Kleng, chúng càng run sợ khiếp nhược bấy nhiêu. Từ hung hăng đến khiếp sợ và từ khiếp sợ đến thất bại hoàn toàn là con đường tất yếu của quân xâm lược!

        Trong lúc ở tuyến ngăn chặn vòng ngoài, cả 3 tiểu đoàn của lữ đoàn 1 bị đánh tơi tả, thì ở vòng trong, ta liên tục vây hãm, cho pháo binh bắn phá dữ dội các căn cứ hành quân, trận địa pháo và sân bay của địch ở Kleng, Chư Tăng Kra, đồng thời dùng lực lượng bộ binh tập kích chốt Chư Dô, Chư Tăng An và liên tiếp đánh quân địch nống ra giải tỏa

        Cùng lúc với các trận đánh dồn dập trên hương chính, ta ở nhiều đợt tiến công đồng loạt trên cả ba tỉnh. Đặc biệt đã thọc sâu đánh mạnh vào hậu cứ lữ đoàn 1 Mỹ ở Tân Phú (Công Tum) và tập kích bọn Mỹ bảo vệ sân bay Đắc Tô... làm rõi loạn thế trận hậu phương của địch.

        Ngày 30 tháng 3 giặc Mỹ tung thêm 1 tiểu đoàn của lữ đoàn 2 từ Plây Cu đến cứu nguy cho đồng bọn, nhưng chúng đã bị ta đánh phủ đầu ở Chư Dôn (tây nam Công Tum).

        Thể là các mũi xung kích bị bẻ gãy, đội tiên phong bị vây hãm và thiệt hại nặng. hậu tuyến liên tục bi đánh phá, cuộc hành quân của dịch không thực hiện được ý định. Bị tổn thất nặng cả về sinh lực lẫn phương tiện chiến tranh và thất bại về thủ đoạn chiến dịch, quân Mỹ phải rút lui về tuyến phòng ngự cơ bản của chúng ở thị xã Công Tum và trên trục đường 14.

        Trong một tháng chiến dấu, ta diệt và đánh thiệt hại 22 đại đội, loại khỏi vòng chiến dấu gần 2.500 tên Mỹ, bắn rơi và phá hủy 80 máy bay, phá hủy, phá hỏng 50 xe quân sự và 39 pháo, cối hạng nặng, thiêu hủy 12 kho xăng, đạn và dụng cụ chiến tranh, thu hàng trăm súng các loại. Lữ đoàn 1 sư đoàn bộ binh số 4 bị đánh quỵ và tất cả các căn cứ của địch từ trong thị xã đến các sở chỉ huy dã ngoại ở phía tây Công Tum đều bị đánh tơi tả.

        Giặc Mỹ đã ném hơn 1 vạn tấn bom, bắn hàng chục nghìn quả đạn đại bác xuống khu vực Kleng hòng làm chỗ dựa tinh thần cho quân lính của chúng, nhưng vẫn không sao vực nổi ý chí sa sút của lính Mỹ. Nhiều đơn vị quân Mỹ hễ gặp ta là nằm gí tại chỗ, gọi pháo binh và không quân đến giải nguy, khi giáp chiến thì khiếp sợ, nhiều tên bỏ ngũ tìm đường tấu thoát.

        Tiếp theo những thất bại nặng nề trong năm 1968, thất hại trong lăn ra quân này đã đánh dấu bước suy yếu mới của giặc Mỹ. Dù chúng có bổ sung quân, tăng thêm vũ khí và phương tiện chiến tranh đến mức nào đi nữa, cũng không thể tránh khỏi thất bại hoàn toàn trước sức mạnh của chiến tranh nhân dân đã phát triển tới đỉnh cao ở Tây Nguyên và toàn miền Nam ta.

        Chiến thắng Kleng thể hiện rõ tác phong linh hoạt, nhạy bén và bản lĩnh chiến đấu vững vàng của bộ đội chủ lực Tây Nguyên. Các đơn vi từ bộ binh, pháo binh, công binh, cao xạ... đến các bộ phận phục vụ như vệ binh, vận tải. nuôi quân... đều chủ động tiến công, hễ gặp địch là đánh, dù địch dông hơn nhiều lần cũng kiên quyết tiêu diệt.

        Đại đội 9, trung đoàn 66 gặp địch ngay trên đường hành quân, đã nhanh chóng hạ ba lô cầm súng chiến đấu. diệt gọn cả đại đội Mỹ và bắt tù binh, thu vũ khí. Tiểu đoàn 8 trung đoàn 66 trong vòng 10 ngày đánh thắng liền 7 trận, diệt gọn và đánh thiệt hại 6 đại đội Mỹ, bắt tù binh, thu nhiều vũ khí mà không để mất một viên đạn, một cân lương thực nào và thương vong thấp. Đơn vị đã vận dụng tốt phương châm “lấy ít đánh nhiều, dùng nhỏ thắng lớn”, biết kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến và xây dựng ngay trong quá trình chiến đấu, thực hiện càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn.

        Trung đoàn 28 bộ binh, vừa bổ sung cho Tây Nguyên tháng 2 năm 1969, đã nhanh chóng thích ứng với chiến trường mới, lập dược chiến công đầu tại Chư Đô. Hình ảnh đầy khí phách anh hùng cách mạng của Vương Tử Hoàng, người đảng viên ưu tú, khẩu đội trưởng đại liên mãi mãi là niềm tự hào bất diệt của toàn trung đoàn. Máy bay địch oanh tạc dữ dội vào trận địa, lửa na-pan trùm lên người, Vương Tử Hoàng vẫn hiên ngang đứng vững trên vi trí chiến đấu của mình như một cây đuốc sống. tiếp tục chỉ huy khẩu đội bắn thẳng vào máy bay địch cho đến phút tắt thở. ánh sáng của “cây đuốc sống” Vương Tử Hoàng còn mãi mãi tỏa sáng trên chặng đường chiến đấu và cổ vũ cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên tiến lên giành thắng lợi.

        Chiến thắng Kleng kết thúc một mùa Xuân đánh Mỹ, diệt ngụy rực rỡ chiến công của quân và dân Tây Nguyên bất khuất kiên cường. Mỹ - ngụy “quét” chẳng xong mà “giữ” cũng không nổi, bị đánh tới tấp cả vòng trong lẫn vòng ngoài. Thế và lực của chúng đều giảm sút và ngày càng sa lầy trong thế bị động, lúng túng.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:10:19 AM

2. CHIẾN CÔNG CỦA TINH THẦN QUYẾT THẮNG, SÁNG TẠO

        Tiếng súng diệt Mỹ còn âm vang trên núi rừng Kleng, cán bộ chủ trì ở các đơn vì đã khoác ba lô còn quện đất đỏ chiến hào về dự hội nghị quân chính toàn Mặt trận. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp cửa Bộ tư lệnh, hội nghị tổng kết đánh giá đợt hoạt đông vừa qua, đồng thời xác định rõ nhiệm vụ, đồi tượng tác chiến và yêu cầu của chiến dịch sắp tới. Đối tượng tác chiến của ta lúc này đã có sự thay đổỉ. Quân Mỹ lui về giữ các thị xã, căn cứ và các đường chiến lược 14, 19, chỉ để lại một ít lực lượng ở khu vực tây KLeng. Quân ngụy tiến ra phía trước đối phó với chủ lực ta, bắt đầu đảm nhiệm gánh nặng chiến tranh thay dần cho quân Mỹ.

        Đánh thắng trận đầu giòn giã, giáng đòn đích đáng vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch ở Tây Nguyên là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với chiến trường.

        Đại biểu của các đơn vị, cơ quan, binh chủng tham dự hội nghị đều khẳng định rõ quyết tâm và nêu chỉ tiêu, biện pháp cụ thể của đơn vị mình, đồng thời hứa động viên cao độ khí thế cách mạng của quần chúng, tiến công vào khó khăn, lập nên những kỳ tích chưa từng có, góp phần cùng chiến trường đánh tháng trận đấu.

        Cả Tây Nguyên rùng rùng trong khí thế ra quân: “Đánh cho sư 4 đảo điên, đánh cho quân ngụy ở Tây Nguỵên tơi bời”. Cao trào thi đua “Trẩy hội Điện Biên, lập công dâng Bác”, kỷ niệm các ngày lễ lớn trong tháng 5 lịch sử dấy lên sôi động khắp chiến trường. Với tấm lòng kính yêu Bác vô hạn, với sức mạnh truyền thống của Điện Biên Phủ lịch sử, mỗi cán bộ, chiến sĩ đều không cho phép mình vừa lòng, thỏa mãn với nếp nghĩ cũ, với năng suất và việc làm bình thường trước đây mà tất cả đều muốn vươn lên giành kỷ lục mới, đỉnh cao mới, góp phần cao nhất của mình vào thắng lợi chung.

        Trên các con đường thổ từ miền Tây đổ về hướng Đông, dọc cánh Nam ra cánh Bắc, từng đoàn người và xe thồ, dân công và bộ đội nườm nượp nối nhau đưa gạo, đạn ra phía trước. náo nức như trẩy hội. Bên cạnh các đơn vị vận tải chuyên nghiệp là các đội vận chuyển đột xuất của cán bộ và chiến sĩ ba cơ quan Bộ tư lệnh. của các viện quân y, đội điều trị, xưởng dược, xưởng quân giới và các binh trạm. Trên dọc đường, nổi lên các khẩu hiệu “Mặt đường là trận địa, xe thồ là vũ khí, năng suất là chiến công”, “Nhanh như chong chóng, phóng như vệ tinh, tăng chuyến tăng cân, đưa hàng ra tiền tuyến”… Các tiểu đoàn vận tải của Mặt trận đưa năng suất gùi bình quân đầu người lên 50 - 60 ki-lô-gam mỗi chuyến. Đại đội 2 tiểu đoàn 2 “Voi đầu đàn” của ngành vận tải Tây Nguyên đã xuất hiện hàng chục kiện tướng gùi từ 70 đến 90 ki-lô-gam. Các chiến sĩ Nguyễn Đình Cỏn, Võ Văn Hoan... gùi trên vai hơn 100 ki-lô-gam, nặng gấp đôi trọng lượng bản thân mình. Bùi Xuân Chế lập kỷ lục chưa từng có, gùi 118 ki-lô-gam mỗi chuyến, gồm 5 đầu đạn ĐKB, 1 khẩu AK, quần áo và gạo sẵn sàng chiến đấu. Phong trào phấn đấu gùi 5 đầu dạn ĐKB dấy lên sôi nổi khắp các đơn vị vận tải.

        Đội xe đạp thồ viện quân y 211 gồm các bác sĩ, y tá, hộ lý, nuôi quân... dẻo dai bám đường, vững vàng tay lái đưa hàng ra phía trước. Nhiều chiến sĩ gái đã thồ tới 140 ki-lô-gam băng băng vượt dốc...

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy khí phách anh hùng của dân tộc ta đã phát huy cao độ sức mạnh tiềm tàng trong mỗi con người, đưa ta tới những tầm cao mới để chiến thắng quân thù. Không chịu bó tay trong khi chiến trường còn đang thiếu phương tiện vận chuyển, anh em trong bộ phận xăng, xe, quân giới và vận tải thuộc binh trạm Bắc nêu cao tinh thần dám nghĩ, dám làm, mạnh dạn tháo rời chiếc ô tô nhỏ ra làm nhiều bộ phận, rồi cùng nhau gùi và khênh qua đồi núi đưa sang tuyến đường mới mở, lắp ráp lại, kịp thời chuyển đạn cho chiến dịch.

        Phát huy truyền thống kẻo pháo Điện Biên Phủ năm xưa, trung đoàn 40 quyết tâm vượt đèo cao, suối sâu, đưa pháo 105 và 85 nòng dài ra sát phía trước để kiềm chế pháo địch và chi viện cho bộ binh. Công việc nan giải nhất là đưa pháo 85 nòng dài ra trận địa, nòng pháo đã nặng, trọng lượng lại dồn cả về phía sau. Lúc đầu phải dùng 24 người để khênh, nhưng vướng chân nhau chỉ đi được 100 mét đã phải hạ vai. Với tốc độ ấy, mỗi ngày chỉ đi được 2 ki-lô-mét, mà đoạn đường lại dài tới 20 ki-lô-mét toàn đồi núi trùng diệp. Sau nhiều đêm họp bàn, đại hội quân nhân đã tìm ra sáng kiến cải tiến cách mang vác. Nhở vậy, chỉ cần 15 người mà mỗi ngày đi được 3 - 4 ki-lô-mét. Với “lòng quyết tâm cao hơn núi”, các pháo thủ chân đồng vai sắt của trung đoàn 40 đã đưa pháo vào chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian quy định...

        Những kỷ lục mới, những việc làm táo bạo trong mùa “Trẩy hội Điện Biên” đánh dấu một cao trào cách mạng sôi nổi, thể hiện rõ ý chí quyết thắng; sáng tạo, vượt lên khó khăn để chiến thắng quân thù của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên. Nó đã góp phần bảo đảm cho chiến dịch thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:11:44 AM

        Ta mở chiến dịch Đắc Tô 2 với lực lượng ba thứ quân trên toàn chiến trường, nhằm giáng đòn phủ đầu vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, phá kế hoạch “bình định” của địch trên chiến trường Tây Nguyên, đồng thời phối hợp chặt chẽ với chiến trường đồng bằng Khu 5 và toàn miền Nam.

        Không gian diễn ra chiến dịch Đắc Tô 2 gần trùng hợp với chiến dịch Đắc Tô 1. Nhưng đối tượng tác chiến lần này đã thay đổi: bộ binh ngụy + hoả lực Mỹ. Đại bộ phận quân chủ lực ngụy ở Tây Nguyên được huy động vào chiến dịch này. Giặc Mỹ đã chi viện cho quân ngụy trong chiến dịch 631 lần chiếc máy bay chiến lược B52, 1.935 lần chiếc máy bay chiến thuật, hơn 20.000 tấn bom và 16.000 quả đạn đại bác.

        Lực lượng của ta trên hướng chính của chiến dịch gồm trung đoàn 66, trung đoàn 28 bộ binh và trung đoàn 40 pháo binh. Tiểu đoàn 5 thuộc trung đoàn 24, tiểu đoàn 20 đặc công và lực lượng vũ trang tỉnh Công Tum hoạt động ở hướng đông. Các tỉnh Gia Lai, Đắc Lắc là hướng phối hợp. Trung đoàn 95 đánh giao thông dịch trên đường 19, các tiểu đoàn 631 và 37 hoạt động ở Plây Cu và vùng ven thi xã.

        Phát hiện ta mở chiến dịch, ngày 3 tháng 5 địch liền ra quân ngăn chặn. Tiểu đoàn 1 và 4 thuộc trung đoàn 42 ngụy được đổ xuống khu vực Ngọc Pha Ria vả Ngọc Bờ Biêng.

        Ngay từ khi tiểu đoàn 1 mới đặt chân xuống khu vực Ngọc Pha Ria, phối hợp với bọn biệt kích ở đồn Plây Cần nống ra xung quanh lùng sục, đã bị bộ đội ta chặn đánh, diệt hơn 100 tên. Các phân đội hỏa lực liên tiếp bắn vào nơi trú quân của địch, triệt tiếp tế đường không, đồng thời đánh phá các vị trí Ngọc Hồi, Plây Cần, điểm cao 824... Bị đánh cả trước mặt lẫn sau lưng, tiểu đoàn này không thực hiện được ý đồ ngăn chặn, phải lùi ra cụm ở phía nam Ngọc Pha Ria, lại bị pháo binh ta nện trúng đội hình. Bọn còn lại phải rút chạy.

        Trong lúc ấy, tại khu vực Ngọc Bờ Biêng, tiểu đoàn 4 vừa đổ quân xuống, chưa củng cổ xong công sự đã bị đánh tới tấp. Tên cố vấn Mỹ chết tại trận, tên tiểu đoàn phó bị thương cùng 2 đại đội bị tiêu diệt và thiệt hại nặng. Tiểu đoàn này đã chen nhau lên máy bay, chuồn thẳng về Công Tum củng cố.

        Giữa lúc đích còn lo đối phó ở vòng ngoài, thì đêm 10 rạng ngày 11 tháng 5, bộ binh và pháo binh ta đã luồn sâu đánh phá mãnh liệt vào các vị trí nằm trong sào huyệt của địch như căn cứ hành quân liên hợp Mỹ - ngụy ở Đắc Tô, sân bay Công Tum, trung đoàn bộ trung đoàn 42, khu tập trung quân ở Diên Bình, thị trấn Tân Cảnh, vây hãm đồn Plây Cần, đồng thời chặn đánh xe cơ giới và bộ binh địch đi giải tỏa trên đường 18 và đường 14 (đoạn từ Công Tum dí Tân Cảnh).

        Trước tình thế bị uy hiếp mạnh cả trong sào huyệt lẫn vòng ngoài, địch phải vội vã mở cuộc phản kích “Dân quyền”, tung 8 tiểu đoàn bộ binh và 3 chi đoàn thiết giáp ra hướng tây bắc Công Tum để đối phó với chủ lực ta. Về phía ta, giai đoạn khêu ngòi chiến dịch đã kết thúc, địch đã phải ra quân theo mưu kế bày sẵn của ta. Quân ngụy tuy có thua kém quân Mỹ về hỏa lực, song về các thủ đoạn bộ binh thì chẳng kém quân Mỹ, mà trái lại có mặt chúng còn tỏ ra tinh ranh hơn. Bọn này khá thông thuộc địa hình rừng núi, luồn lách nhạnh, thường tìm cách tránh né đối phương để khỏi bị tiêu diệt. Khi hành quân, chúng cho bộ phận trinh sát đi đầu thăm dò, hễ phát hiện thấy quân ta là tất cả dừng lại chạy tản mát vào rừng, rồi tìm điểm cao co cụm lại. Chúng lợi dụng rừng le dày đặc để dào công sự chống dỡ. “Tự do di tản” để “bảo toàn lực lượng” đã trở thành phương sách của chúng.

        Những ngày đầu chiến dịch, bộ đội ta lùng bám địch rất vất vả, cứ nổ súng là chúng bỏ chạy nên vẫn chưa diệt gọn dược tiểu đoàn nào. Một số chiến sĩ cho rằng đánh ngụy còn khó hơn cả đánh Mỹ, không tin là ta có thể diệt gọn đơn vị của địch. Việc tìm ra hình thức chiến thuật mới để đánh bại thủ đoạn của địch, giành thắng lợi cho chiến dịch và xây dựng lòng tin cho bộ đội là một yêu cầu bức thiết đặt ra lúc này. Bộ tư lệnh Mặt trận rất quan tâm dấn vấn đề này, đã cử cán bộ tham mưu tỏa xuống bám sát các đơn vị  cùng bộ đội rút kinh nghiệm để tìm ra cách đánh mới.

        Bộ đội xuyên rừng, kiên trì lùng sục suốt ngày đêm. Bộ phận chỉ huy của tiểu đoàn đi ngay trong đội hình đơn vị để hễ phát hiện được địch là kịp thời triển khai vây địch lại, không cho chúng kịp di tản. Thời kỳ này đã xuất hiện hàng loạt trận đánh xuất sắc, diệt gọn nhiều tiểu đoàn địch với chất lượng cao.

        Từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 5, ta liên tiếp bao vây, tiến công đánh quỵ tiểu đoàn 22 biệt động quân ở vùng Ngọc Dơ Lang.

        Từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 5, tại Plây Thông Breng và điểm cao 668, tiểu đoàn 9 trung đoàn 66 đã liên tiếp vận động tiến công và tập kích, tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn biệt kích ứng chiến số 2, loại khỏi vòng chiến đấu 327 tên, đồng thời đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn biệt kích ứng chiến số 1, giết, làm bị thương và bắt sống 250 tên. Đây là trận đánh đạt hiệu suất cao nhất của chiến dịch.

        Sau nhiều lần bị ta chặn đánh, sáng ngày 31 tháng 5, tiểu đoàn 11 và 23 biệt động quân tháo chạy về khu vực điểm cao 875, trung đoàn 66 và tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 28 nhanh chóng vận động tới, vây chặt và liên tiếp mở các đợt tiến công mãnh liệt, xóa sổ hoàn toàn 2 tiểu đoàn này, bắt tù binh, thu vũ khí, loại khỏi vòng chiến đấu 729 tên. Đây là trận đánh có tốc độ tiêu diệt nhanh và đạt chất lượng cao của chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:14:14 AM

        Trong các trận đánh diễn ra trên đây, sau khi phát hiện được vị trí trú quân của địch, các đơn vị đã nhanh chóng áp sát đội hình, bao vây chặt, không cho địch rút chạy, rồi liên tiếp mở các đợt công kích, thọc sâu chia cắt đánh chiếm sở chi huy, lần lượt tiêu diệt các cụm quân của địch, tiến lên làm chủ hoàn toàn trận địa. Trước lối đánh kiên quyết và dũng mãnh của ta, địch trước phải lùi dần đội hình nhằm tạo ra một khoảng cách cho không quân và pháo binh của chúng đánh phá để chặn bước tiến của quân ta, nhưng địch lùi đến đâu, ta lại dồn lên đến đấy, nên bom pháo của chủng trở thành một tác dụng, ngược lại địch càng bị vây chặt hơn và cuối cùng không tránh khỏi số phận bị tiêu diệt.

        Chiến thuật bao vây tiến công liên tục, khi mới ra đời bộ đội Tây Nguyên thường gọi là bao vây công kích. Quân địch đã phải ghi nhận: “Chiến thuật bám sát bao vây được Cộng sản Bắc Việt khai triển và áp dụng lần đầu tiên vào năm 1969, khi chúng đương đầu với các cuộc hành quân của ta tại chiến trường Cao nguyên Trung phần”1.

        Chiến thuật mới của ta ra đời dã đánh bại chiến thuật đóng chốt điểm cao của địch, cổ vũ và xây dựng lòng tin cho bộ đội, đưa trình độ đánh tiêu diệt cửa bộ đội chủ lực phát triển lên một bước mới. Chiến thuật này được vận dụng một cách rộng rãi trên chiến trường, không ngừng phát triển và nâng cao trong quá trình chiến đấu.

        Trong khi hàng loạt tiểu đoàn địch bị diệt gọn, thì ban chỉ huy liên đoàn 2 biệt động quân cùng với cơ quan chỉ huy của nó cũng bi ăn đòn liên tiếp, kéo chạy như đèn cù từ Plây Cần, Đắc Mót, qua Ngọc Rinh Rua đến Đắc Tô và ngày 31 tháng 5 đã phải rút chạy hoàn toàn.

        Thời tiết Tây Nguyên lúc này mưa mỗi ngày một lớn. Bộ đội phải dầm mình trong mưa rét để truy diệt địch. Nhiều cán bộ, chiến sĩ, gần tháng trời chưa một lần nghỉ ngơi, tắm giặt, áo quần luồn rừng toạc rách, đầu tóc bết mồ hôi và đất bụi chiến hào. Có đơn vị hết gạo, thiếu muối, quân số chưa kịp bổ sung... vẫn quần nhau với địch suốt ngày đêm. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên kịp thời gửi điện động viên cán bộ, chiến sĩ ngoài mặt trận:

        “Cả nước đang hướng về Tây Nguyên anh hùng, cả chiến trường đang hướng về mặt trận tây bắc Công Tum, hướng về các đồng chí với tất cả niềm thương yêu, tin tưởng. Các đồng chí hãy phát huy tinh thần cách mạng tiến công, diệt địch đến cùng, kết thúc chiến dịch một cách nhanh gọn và giòn giã “.

        Trang thư ghi vội qua máy điện thoại được các đồng chí chính trị viên chuyền xuống tận các chiến sĩ đang vây ép Plây Cần, truy kích địch trên đường 18 và anh em thương binh trong các trạm phẫu tiền phương. Đại đội 9 trung đoàn 28 lúc này chỉ còn lại 12 tay súng vẫn xông thẳng ra mặt đường 18, giáp chiến với xe tăng và bộ binh địch. Đồng chí Nguyễn Lỡ đã ôm gọn quả mìn lao thẳng vào 1 chiếc xe tăng đang xả đạn về phía đồng đội và đã anh dũng hy sinh khi xe tăng địch tan xác. Hành động anh hùng của anh đã làm cho quân thù vô cùng khiếp sợ. Bọn địch trong các xe còn lại vội vã bỏ xe, chạy giạt sang hai bên đường, làm mồi cho các chiến sĩ ta dùng AK tiêu diệt. Hàng loạt chiến sĩ vừa bổ sung về đơn vị, chỉ sau một ngày chiến đấu đã trở thành dũng sĩ. Truyền thống, khí thế chiến đấu hào hứng cùng với kinh nghiệm chiến đấu phong phú được đơn vị truyền đạt lại các chiến sĩ mới đã tiếp thụ nhanh chóng.

        Tất cả cho phía trước, tất cả vì thắng lợi của chiến dịch, cơ quan trung đoàn bộ trung đoàn 40, từ đồng chí thủ trưởng đến các chiến sĩ văn thư, liên lạc, y tá, quản lý, nuôi quân đã băng mình trên trận địa, chuyền đạn tới từng khẩu đội để pháo ta kịp thời bắn chặn các toán tàn quân địch cho bộ binh ta vận động tới tiêu diệt.

        Phối hợp nhịp nhàng với hướng chính của chiến dịch, quân và dân khắp ba tỉnh Tây Nguyên đã đánh mạnh, đánh liên tục vào hàng loạt căn cứ, kho tàng, sân bay và các đường giao thông chiến lược của địch, đồng thời đẩy mạnh phá ấp giành dân, chống dịch “bình định”.

        Sau gần 1 tháng đọ sức quyết liệt (3 - 31 tháng 5), chiến dịch Đắc Tô 2 đã kết thúc giòn giã. Ta đập tan hoàn toàn cuộc hành quân “Dân quyền” của địch, giáng đòn phủ đầu mạnh mẽ vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” trên chiến trường Tây Nguyên. Diệt gọn và đánh qụy 9 trong số 12 tiểu đoàn tham chiến của địch, loại khỏi vòng chiến dấu 4.135 tên, phá hủy 88 xe quân sự, bắn rơi và phá hủy 103 máy bay, bắt hàng trăm tù binh, thu nhiều vũ khí.

        Mùa khô năm 1967, Đắc Tô đã từng là “địa ngục trần gian” khủng khiếp đối với giặc Mỹ. Giờ đây, Đắc Tô lại là nơi vùi thây của hàng nghìn tên ngụy. Cả thầy lẫn tớ đều cùng chung một nấm mồ thất bại.

        Chiến thắng Đắc Tô đã thể hiện tinh thần quyết thắng, sáng tạo và sự trưởng thành về trình độ, chất lượng đánh tiêu diệt của bộ đội chủ lực Tấy Nguyên: trong thế trận chung của chiến dịch, một tiểu đoàn ta diệt gọn một tiểu đoàn quân ngụy, bắt tù binh, thu vũ khí trong thời gian ngắn nhất đã trở thành phổ biến.

        Tiếng súng vừa chấm dứt ở vùng núi Đắc Tô, khối chủ lực cơ động của Mặt trận được lệnh hành quân lật cánh về phía nam Tây Nguyên. Các đơn vị chỉ kịp xốc lại đội hình và nhận thêm trang bị bổ sung, rồi tiếp tục hành quân. Bộ đội không đủ thời gian trở lại hậu cứ tổng kết, khao quân như mọi lần.

        Đồng chí chủ nhiệm hậu cần cùng đoàn cán bộ ba cơ quan của Mặt trận đã có mặt sẵn ở binh trạm Bắc để nắm tình hình và giải quyết nhu cầu cần thiết cho các đơn vị để bộ đội kịp hành quân. Tình hình lương thực lúc này dã trở thành mối lo lớn của chiến trường, có tác động quyết định tới địa bàn đứng chân hoạt động của khối chủ lực Tây Nguyên.

--------------------------
        1. Trích trong cuốn “Cẩm nang chiến thuật hành quân liên binh của quân lực Việt Nam cộng hòa”, tr. 7, xuất bản tháng 2 năm 1971.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:16:09 AM

3. LỜI THỀ SON SẮT VÀ NHỮNG THỬ THÁCH CHƯA TỪNG CÓ

        Bước sang năm 1969, chiến trường Tây Nguyên gặp khó khăn lớn về đạn dược, thuốc men, quân trang và nhất là lương thực. Hình dung dược những khó khăn, thiếu thốn sẽ phải trải qua, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, giảm chi phí chiến đâu đến mức thấp nhất, đồng thời được sự đóng góp của nhân dân địa phương, Tây Nguyên đã vượt qua được khó khăn buổi đầu, ổn định dời sổng bộ đội và giữ vững nhịp độ tiến công trên chiến trường.

        Sau các đợt hoạt động liên tiếp ở Chư Pa, Kleng, rồi tây bắc Công Tum, đến mùa hè năm 1969 tình hình lương thực đã trở nên đáng lo ngại. Nguồn dự trữ rất mỏng lại phân tán nhiều nơi, có thời điểm số gạo còn lại của cả chiến trường chỉ đủ nuôi sống bộ đội trong khoảng một tuần. Lúc này lương thực trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng ủy, Bộ tư lệnh và của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên toàn Mặt trận. Nó có tác động trực tiếp tới mọi mặt hoạt động của khối chủ lực trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên.

        Số gạo còn lại của năm 1968 chuyển qua năm 1969 chưa bằng một phần ba so với lượng tồn kho của năm 1967 chuyển qua năm 1968. Thực phẩm cũng ít hơn 8 lần so với năm trước. Quân trang cũng trong tình trạng thiếu hụt lớn, tính chung toàn chiến trưởng trong năm 1969, cứ 2 người chiến đấu ở phía trước, hoặc 8 người phục vụ ở phía sau mới được 1 bộ quân phục.

        Việc vận chuyển, tiếp tế lương thực từ hậu phương lớn vào chiến trưởng trong1 năm 1969 gặp rất nhiều khó khăn do địch đánh phá. Tây Nguyên chỉ tiếp nhận được khoảng 57% so với năm trước. Nguồn thu mua qua các cửa khẩu miền Tây cũng bi hạn chế do tình hình ở đây đang có nhiều phức tạp. Số lương thực, thực phẩm mua được trong cả năm 1969 chưa bằng một nửa năm 1968 và ít hơn nhiều lần so với các năm trước đây.

        Trong lúc đó, ngoài việc bảo đảm nhu cầu các mặt cho toàn bộ khối chủ lực hoạt động trên địa bàn, Tây Nguyên còn có nhiệm vụ nuôi dưỡng các đoàn cán bộ, thương. bệnh binh và các đơn vi bộ đội hành quân qua chiến trường. Năm 1969, Tây Nguyên đã cung cấp 494 tấn lương thực, thực phẩm cho hơn 61.500 người qua lại trên hành lang.

        Từ giữa năm 1968 và nhất là trong năm 1969, Mỹ - ngụy mở hàng trăm cuộc hành quân càn quét, xúc tát gom dân, phá hoại sân xuất, triệt nguồn sinh sống của đồng bào, tiến hành “bình định cấp tốc” vô cùng khốc liệt âm mưu cửa chúng là lập vành đai trắng để “tát nước bắt cá”, tách lực lượng vũ trang ra khỏi nhân dân. Ở các vùng giải phóng, chúng liên tiếp tung biệt kích, thám báo vào sâu trong hậu cử cửa ta để chỉ điểm cho máy bay đánh phá nương rẫy, kho tàng, bến tiếp nhận và các tuyến đường vận chuyển của chiến trường. Thuyền bè đi lại trên sông, cho đến người sân xuất trên nương... đều là mục tiêu đánh phá cửa máy bay Mỹ. Chúng còn tìm mọi cách ngăn chặn đường hành lang chiến lược, nhằm triệt nguồn chi viện của hậu phương lớn vào chiến trường.

        Với âm mưu tàn bạo và độc ác ấy, kẻ thù hòng gây ra cảnh đói khổ cho đồng bào và chiến sĩ ta, khiến ta suy yếu gần, mất sức chiến đấu, buộc phải buông lơi vũ khí, rút khỏi chiến trường

        Tình hình trên đây đặt ra cho Tây Nguyên muôn vàn khó khăn, có lúc tưởng chừng không thể khắc phục nổi. Trong những ngày sóng gió và thử thách nghiêm trọng này, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương vả Khu ủy, Quân khu ủy Quân khu 5 đã hiểu rất rõ những khó khăn của chiến trường, liên tiếp gửi điện động viên và chi đạo kịp thời để Tây Nguyên vượt qua thử thách.

        Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận tập trung mọt trí tuệ, làm việc cả ngày đêm, mở nhiều cuộc họp với cán bộ chủ trì các ngành và thủ trưởng các đơn vị, nắm lại thực lực của chiến trường, đánh giá tình hình tư tưởng và khả năng khắc phục khó khăn của bộ đội, tìm ra những biện pháp có hiệu lực nhằm ổn định tình hình, tiếp tục đẩy mạnh mọi hoạt động trên chiến trường. Đồng thời động viên, kêu gọi toàn thể đảng viên, đoàn viên, cán bộ và chiến sĩ: vạn người như một, đoàn kết thành một khối thống nhất, phát huy tinh thần cách mạng tiến công và truyền thống cần kiệm, tự lực, khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, quyết đứng vững trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên để tiếp tục chiến đấu.

        Để giảm bớt một phần khó khăn trước mắt về lương thực, ta đưa một bộ phận nhỏ lực lượng không trực tiếp chiến đấu về hậu phương lớn. Tháng 5 năm 1969, trường quân chính và trường quân y của Mặt trận lên đường ra Bắc tiếp tục học tập. Thương binh, bệnh binh mất sức chiến đấu cũng được nhanh chóng chuyển về hậu phương để điều trị.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:17:55 AM

        Ta khẩn trương củng cố bộ đội, biên chế sắp xếp lại các đơn vị cho phù hợp với nhiệm vụ và hoàn cảnh thực tế của chiến trường, theo phương châm: tăng cường thành phần chiến dấu, tăng cường lực lượng cho địa phương, đảm bảo ít mà tinh, gọn nhẹ nhưng có sức đột kích mạnh.

        Mặt trận đã tăng cường các loại vũ khí B40, B41, pháo cối cho các trung đoàn chủ lực và bộ đội tập trung tỉnh, trang bị hỏa lực bắn máy hay cho các đơn vị đường dây, binh trạm, sản xuất và các địa phương. Cử các đoàn cán bộ về giúp tỉnh đội xây dựng một số đơn vi kỹ thuật như đặc công, thông tin, công binh và các trạm sửa chữa vũ khí. Tiến hành huấn luyện bộ binh đánh theo kiểu đặc công cho cả ba thứ quân, thực hiện phương châm “lấy ít đánh nhiều, dùng nhỏ thắng lớn”. Động viên các đơn vị phục vụ phía sau rút bớt quân số bổ sung kịp thời cho các trung đoàn chiến đấu...

        Đầu tháng 6, Bộ tư lệnh triệu tập cản bộ trung, cao cấp toàn Mặt trận về học tập tình hình, nhiệm vụ mới và mở một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong khắp các đơn vị, nhằm phát động tư tưởng, tình cảm, xác định trách nhiệm chính tri của toàn thể cán bộ, chiến sĩ đối với chiến trường trong tình hình mới đầy khó khăn, thử thách.

        Bộ đội đã nhận thức dược vị trí quan trọng của địa bàn chiến lược Tây Nguyên chẳng những đối với Tổ quốc mà còn có ý nghĩa to lởn đối với cách mạng Đông Dương. Thấy rõ việc giữ vững và thắng địch ở Tây Nguyên, bảo vệ thông suốt hành lang chiến lược của cả nước là sứ mệnh lịch sử mà Đảng và nhân dân đã giao phó, dù phải trải qua khó khăn, thiếu thốn đến đâu cũng kiên quyết hoàn thành bâng được nhiệm vụ chính trị quan trọng này. Qua học tập, tư tưởng, tình cảm được phát động, mọi người càng thấy thấm thía sâu sắc với nỗi khổ cực của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên khi buôn làng chưa sạch bóng quân thù, càng gắn bó với chiến trường gian khổ, với nhiệm vụ giải phóng Tây Nguyên. Tình đồng chí, nghĩa đồng bào càng thêm sâu đậm trong lòng người chiến sĩ. Những chao đảo phân vân buổi đầu đã được khắc phục.

        Hình ảnh những người mẹ Tây Nguyên lưng gầy cháy nắng, cả cuộc đời gắn liền với “nương rẫy cách mạng” để nuôi “bộ đội Bók Hồ” đánh giặc; những người chị chưa đủ áo che thân vẫn cõng con trước ngực, gùi gạo sau lưng phục vụ tiền tuyến; những em nhỏ chưa cao bằng tầm cây súng đã theo dân làng đi tải đạn; những cụ già còn thiếu cơm nhạt muối vẫn quanh năm kiên nhẫn ngồi vót chông cho con cháu rào làng ngăn giặc..., tất cả những hình ảnh ấy đã làm xúc động và trở thành sức cổ vũ mạnh mẽ đối với mỗi cán bộ và chiến sĩ Tây Nguyên trong những ngày sóng gió, gian truân này.

        Bộ đội đều xác định được trách nhiệm và tình cảm của mình dối với nhiệm vụ, đối với chiến trường, sẵn sàng đón nhận mọi thử thách lớn nhất, kiên quyết đứng vững trên địa bàn chiến lược cùng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và quân dân cả nước kề vai chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng.

        Toàn thể cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên cùng chung một ý chí gửi lên Đảng lời thề son sắt của mình: dù thiếu gạo, dù ăn rau rừng, uống nước suối cũng quyết không rời bỏ chiến trường, buông lơi chiến đấu!

        Chưa bao giờ ý chí tiến công vào khó khăn gian khổ, truyền thống quyết thắng, sáng tạo, cần kiệm, tự lực và tình đồng đội, tình quân dân lại được phát huy mạnh mẽ và thể hiện một cách phong phú trong cuộc sống của bộ đội Tây Nguyên như thời kỳ này.

        Khối chủ lực cơ động hành quân về phía nam chiến trường giữa những ngày thiếu gạo. Đến khu vực Cầu Lầy (Gia Lai) toàn đội hình đã phải dừng lại để lấy sắn ăn thay cơm. Mỗi chiến sĩ có từ 10 đến 20 chiếc bánh sắn gói bằng lá dong, lá chuối rừng và còn chất đầy trên ba lô từng bó lá sắn làm thức ăn dự trữ dọc đường. Các đơn vị đã hành quân bộ ròng rã một tháng trời biết bao gian nan vất vả, song không một ai chịu tụt lại phía sau, tất cả đều phấn đấu vượt nhanh tới đích để kịp chuẩn bi chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:19:28 AM

        Những ngày này, trung đoàn 95 hoạt động ở khu vực đường 19 cũng không kém phần gian khổ. Trời mưa tầm tã, nước lũ tràn về ngập sông Ba, sông A Dun, Ia Đrăng... làm nghẽn đường tiếp tế từ phía sau xuống trung đoàn. Có thời kỳ mỗi chiến sĩ chỉ ăn nửa lạng gạo mỗi ngày. Anh em đề nghị đồng chí chính ủy và trung đoàn trưởng ăn một ngày 2 lạng để có sức chỉ huy đơn vị chiến đấu. Các đồng chí không nhận phần ưu tiên ấy mà dành số gạo ít ỏi đó góp phần nuôi dưỡng thương binh vừa từ mặt trận trở về. Có lần, đại đội 3 của tiểu đoàn 3 được lệnh xuất kích, cả đơn vị tập trung gạo lại nhưng mỗi người cũng chỉ có được 2 lạng mang theo. Đồng bào huyện 7 (Gia Lai) đã hạ những buồng chuối cuối cùng còn lại sau các trận càn của địch để chia đều cho bộ đội. Trong ba lô mỗi chiến sĩ có thêm 8 quả chuối xanh làm lương thực dự trữ đi chiến đấu. Suốt nhiều tháng trời, trung đoàn 95 dã từng ăn rau, ăn cháo quần nhau với dịch trên đường 19. Chiến sĩ trung liên Hà Văn Náy bụng đói vẫn chiến đấu đến viên đạn cuối cùng rồi xông lên dùng dao chặt chết 2 tên Mỹ. Lòng căm thù giặc giày xéo quê hương và ý chí trả thù cho đồng bào, đồng chí đã làm nên sức mạnh để bộ đội ta vượt qua khó khăn.

        Giữa những ngày nhạt muối thiếu cơm này, bộ đội Tây Nguyên đã nhận được tình thương yêu đùm bọc và sự giúp đỡ quý báu của đảng bộ, chính quyền và đồng bào các địa phương. Tuy đời sống còn thiếu thốn, cơm chưa đủ no, áo chưa đủ mặc do giặc cướp bóc, càn phá liên tiếp đồng bào vẫn tìm mọi cách cưu mang bộ đội. Nhiều nơi đồng bào đã ăn sắn, ăn bo bo, củ rừng để dành gạo nuôi thương binh, bộ đội. Nhiều địa phương đã đóng góp tới 80% lương thực cho cách mạng. Có xã ở Gia Lai, chỉ trong 6 tháng đầu năm 1969 đã nộp kho 1.855 giạ lúa, đó là chưa kể số lương thực nuôi bộ đội và cán bộ mỗi khi qua làng. Nguồn hậu cần tại chỗ của nhân dân là chỗ dựa vững chắc cho các đơn vị chủ lực của ta trụ bám chiến đấu trên địa bàn vùng ven trong những tháng ngày gian khổ.

        Trong cuộc chiến đấu đầy gian nan, thử thách này, biết bao hình ảnh cao đẹp và xúc động về tình đồng đội đã xuất hiện. Chiến sĩ thông tin Nguyễn Văn Mai, trong trận đánh ở đèo Măng Giang ngày 17 tháng 8 năm 1969 bi thương, biết mình không sống nổi đã nhường nắm cơm duy nhất của mình cho đồng đội và dặn lại: “Tôi không sống được nữa, ăn vào cũng chẳng ích gì, đồng chí cầm lấy mà ăn để có sức đánh giặc”…

        Nắm cơm sâu nặng nghĩa tình đồng chí giữa những ngày chiến đấu gian lao ấy mãi mãi ghi sâu vào ký ức và xây dựng nên sức mạnh truyền thống, bồi dưỡng phẩm chất anh hùng cho những người đang sống và chiến đấu trong đội ngũ hôm nay.

        Cần kiệm, chắt chiu, quý trọng và giữ gìn tài sân của cách mạng đã trở thành ý thức ăn sâu vào đời sống hàng ngày của người chiến sĩ Tây Nguyên. Trong nhiều tháng liền và kể cả những ngày lúa chín vàng đầy nương, các đơn vị phía sau thường chỉ ăn mỗi ngày 1-2 lạng gạo, có lúc ăn toàn sắn để tập trung gạo cho các đơn vị hoạt động phía trước và nuôi dưỡng thương bính, bệnh binh. Rau sắn, măng rừng vừa là thức ăn vừa là chất độn của bộ đội. Từ các cán bộ chỉ huy, các bác sĩ ngày đêm bên bàn mổ cho đến chiến sĩ vệ binh khênh gỗ đào hầm, các chiến sĩ vận tải gùi hàng vượt dốc đều cùng ăn khẩu phần lương thực như mọi người.

        Các đơn vị vận tải có thói quen, hễ đeo gùi lên vai là trong túi đã có sẵn kim chỉ để kịp thời khâu bao gạo mỗi khi bị gai rừng cào rách. Mọi người đều nhận thức mỗi hạt gạo vào đến chiến trường là mồ hôi, xương máu của đồng bào, đồng chí. Các chiến sĩ giữ kho đã biết chăng vải nhựa dưới sàn kho thu gạo rơi vãi và hứng từng giọt nước muối đưa về cô lại. Đại đội 31 thông tin đã tìm nhặt những mẩu ni-lông vương vãi trên đường đưa về nháp diện, ghi xong rửa sạch để dùng cho lần sau, khắc phục được nạn thiếu giấy tại chiến trường...

        Tại các bến tiếp nhận hàng từ hậu phương lớn chuyển vào địch tung biệt kích, thám báo xuống quấy rối và cho máy bay đánh phá suốt ngày đêm. Binh trạm Bắc đã dốc toàn bộ lực lượng, phương tiện cùng các tiểu đoàn vận tải của Mặt trận lao vào lửa đạn giành giật từng bao gạo, hòm đạn, giải phóng xe trước lúc trời sáng. Tiểu đoàn 2 đã quét nhặt sạch số gạo vương vãi đem về đãi cát sạn để ăn thay tiêu chuẩn được cấp phát, giành gạo tốt trong kho cho các đơn vị.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:20:47 AM

        Tất cả cho phía trước, tất cả để chiến thắng quân thù đã trở thành ý chí và tình cảm sâu sắc của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường. Từ người chiến sĩ săn bắn, lấy măng trong rừng đến người nữ y tá phục vụ ở phía sau... đều hiện rất rõ những gì phía trước đang cần và sẵn sàng làm hết sức mình dễ phục vụ nhiều nhất, tốt nhất. Mỗi chiến thắng, mỗi bước trưởng thành của chiến trường là công sức chung, là niềm vui chung của mọi người.

        Nhiều chiến sĩ đã sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình để bảo vệ từng viên đạn cho bộ đội có đạn tiếp tục chiến đấu. Trên đường gùi hàng ra phía trước, Lê Văn Hiền không may sa vào tay giặc. Chúng dở mọi thủ đoạn mua chuộc dụ dỗ, đánh đập dã man vả cuối cùng chúng mổ bụng moi gan anh nhưng vẫn không sao biết được khu vực để kho của Quân giải phóng. Đồng bào xã U Gờ Đak vô cùng xúc động trước khí phách anh hùng của người chiến sĩ vận tải, đã chôn cất anh trước nòng súng đe dọa của quân thù. Nữ du kích Y Huân, dân tộc Ba Na tỉnh Gia Lai bị địch đốt cháy cả chân tay vẫn nghiến chặt răng, không chịu khai báo nơi để đạn của bộ đội... Những hình ảnh cao cả và xúc động ấy đã có sức giáo dục sâu xa ý thức quý trọng, bảo vệ tài sân cách mạng và nung nấu ý chí diệt thù trong lòng cán bộ và chiến sĩ.

        Để góp phần giải quyết khó khăn về lương thực và thực phẩm, cơ quan quân nhu Mặt trận cử người tỏa về các địa phương sưu tầm được gần 100 loại rau rừng rồi in thành sách gửi xuống cho bộ đội nhận dạng, đồng thời thường xuyên hướng dẫn cách sản xuất rau, màu và chế biến thực phẩm cho các đơn vi. Xưởng chế biến của Mặt trận ra đối với máy móc thô sơ đã nhanh chóng bước vào hoạt động. Các kỹ sư và công nhân tận dụng tài nguyên tại chỗ của rừng núi, nghiên cứu và sản xuất thành công một sồ mặt hàng mới như: tương làm bằng sắn, mầm kem chế biến từ lá sắn và xương động vật, thịt khô đóng gói, bánh kẹo làm bằng bột sắn... đã góp phần phục vụ kịp thời đời sống bộ đội và nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh.

        Các đơn vi đều thành lập các tổ rèn nông cụ, săn bắn, đánh cá, trồng rau, say giã, chế biến thực phẩm… Dụng cụ thái sắn, nồi hông, lò sấy măng ra đời.

        Báo Quân giải phóng Tây Nguyên mở thêm chuyên mục về sản xuất để hướng dẫn kỹ thuật canh tác và phổ biến các kinh nghiệm tiên tiến của tập thể và cá nhân sản xuất, chăn nuôi giỏi. Sản xuất tự túc trở thành một nhiệm vụ chiến lược cơ bản lâu dài và có tính chất sồng còn đối với chiến trường. Việc lãnh đạo và chỉ đạo sân xuất được tiến hành chặt chẽ, công phu từ trên xuống dưới. Kế hoạch và chỉ tiêu sản xuất được quy định cụ thể đối với từng đơn vi, đối tượng và trở thành mục tiêu phấn đấu không kém phần gian khổ, quyết liệt. Mặc dù nhịp độ chiến đấu rất khằn trương, liên tục, quân số lại có hạn, song trước mỗi đợt ra quân, cấp ủy và thủ trưởng các đơn vị đã tính kỹ từng phần việc, kiên quyết để cán bộ và nhân lực ở lại bảo đảm chi tiêu sản xuất và chăn nuôi cho toàn đơn vị. Ngoài các đơn vi vừa chiến đấu, công tác vừa tham gia sản xuất, toàn mặt trận đã giành 10% quân số để sản xuất chuyên nghiệp.

        Cán bộ, chiến sĩ đã nhận thức rõ sản xuất không chỉ đơn thuần là để chống đói và cải thiện đời sống trước mắt mà còn là một nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng cả về chính trị, quân sự và kinh tế gắn liền với việc xây dựng địa bàn chiến lược lâu dài ở Tây Nguyên, nhằm “lấn đất, ép địch, giành dân, tạo thế chiến trường”. Ngay từ năm 1969, Tây Nguyên đã có kế hoạch từng bước đưa dần nương rẫy về hướng đông sông Sa Thấy để tạo thế bao vây uy hiếp địch. Ngày đồng loạt hạ cây trên rẫy được quy định thống nhất trên toàn chiến trường như ngày nổ súng, nhằm phân tán sự chú ý và đánh phá của máy bay địch. Công việc “nhà nông” quanh năm vất vả, cán bộ và chiến sĩ trên mặt trận sản xuất đã nêu cao tinh thần hăng say lao động, không quản ngày đêm, vừa phấn đấu bâo đảm chi tiêu trồng trọt, chăn nuôi vừa tích cực bắn máy bay, diệt biệt kích, chống thú rừng phá hoại hoa màu.

        Với bàn tay lao động cần cù, sáng tạo, bộ đội Tây Nguyên đã biến rừng hoang thành nương ngang rẫy dọc, bốn mùa xanh tốt lúa ngô nuôi quân đánh giặc. Nhiều đơn vi đạt sản lượng cao, có kinh nghiệm tốt về phát rẫy, gieo trồng... Rau xanh giờ đây không còn là một khó khăn đáng kể đối với Tây Nguyên nữa. Các bệnh do thiếu sinh tố đã được đầy lùi. Sức khỏe của bộ đội đã nâng lên rõ rệt.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:22:11 AM

        Sau một năm phần đấu không kém phần hy sinh gian khổ, lao động sân xuất đã đem lại cho chiến trường những thu hoạch có ý nghĩa. Toàn Mặt trận đã thu được 535 tấn thóc, 136 tấn ngô hạt, 11 tấn đậu, lạc, vừng, 937 tấn rau xanh, 18 tấn thịt và để lại cho năm sau 13 triệu rưỡi gốc sắn và đàn lợn 2.400 con. Ngoài ra, bộ đội còn tận dụng khai thác nguồn của cải phong phú của thiên nhiên để phục vụ đời sống, với những số liệu đáng kể: 78 tấn thịt, 14 tấn măng khô và hàng trăm tấn rau rừng các loại

        Chẳng những ta đã sản xuất được một khối lượng lương thực, thực phẩm tại chỗ, góp phần nuôi dưỡng lực lượng bám trụ chiến trường, giảm bớt mồ hôi, xương máu của đồng bào, đồng chí, mà qua thực tiễn lao động sân xuất, bộ đội càng thêm gắn bó với chiến trường, với nhân dân Tây Nguyên. Những đặc tính tốt đẹp: cần cù, tiết kiệm, chịu thương chịu khó, lạc quan, giản dị và quý trọng thành quả lao động... càng nảy sinh, phải triển. Cán bộ, chiến sĩ càng thấy rõ tiềm năng kinh tế dồi dào của chiến trưpừng Tây Nguyên, tin vào khả năng lao động sáng tạo của mình và bình tĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Qua thực tiễn chỉ đạo sản xuất, Tây Nguyên còn rút được những kinh nghiệm và bài học quý báu về việc kết hợp chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất tại chiến trường, giữa tác chiến trước mặt với việc xây dựng căn cứ địa lâu dài.

        Nhằm khắc phục tình hình thiếu thuốc men tại chiến trường, ngành quân y Tây Nguyên đã dựa vào dân, dựa vào bộ dội và dựa vào sự hiểu biết của mình, tiếp thu kinh nghiệm cổ truyền của đồng bào địa phương để tìm ra cây thuốc hay, bài thuốc quý. Phong trào sân xuất thuốc đông y đã trở thành mạng lưới rộng khắp ba tỉnh từ chủ lực đến địa phương, từ cơ quan ở phía sau đến các trung đoàn cơ động giữa mùa chiến dịch. Các bệnh viện, bệnh xá trung đoàn và tỉnh đội đều sản xuất được các loại thuốc sốt rét, lỏng lỵ, viên bổ, rượu bổ, các loại cao động vật, thực vật, các loại nước giải khát ép từ hoa quả rừng như dâu da, chôm chôm, vải...

        Xưởng dược X38 của Mặt trận dã nấu được cồn 90 độ và sàn xuất viên bổ Đa min từ giun đất, có đủ 11 loại a-xít a-mỉn… Với 10 viên gạch chịu lửa giành giật từ trận địa của địch và những mẫu thủy tinh thu nhặt được, Trần Bá Song, người thợ thủy tinh của thành phố Hải Phòng năm xưa đã cùng đồng đội dày công tìm tòi nghiên cửu cho ra lò mẻ thủy tinh đầu tiên, cung cấp chai lọ và ống tiêm cho chiến trưởng. Xưởng dược của Mặt trận còn tận dụng những mẩu sắn còn sót lại trên các nương rẫy đưa về nấu rượu, nấu cồn, tiết kiệm được hàng tấn lương thực giành cho phía trước.

        Các bệnh viện ở tuyến sau đã sản xuất hàng trăm mặt bằng, tự túc được 10% thuốc sốt rét và kháng sinh, 30% thuốc an thần, 50% thuốc lỏng lỵ, 80% thuốc ghẻ lở và 100% cồn y học. Bệnh xá tỉnh đội Công Tum chỉ trong 6 tháng đầu năm 1969 đã sản xuất hàng vạn viên bổ đằng sâm - một cây thuốc rất sẵn ở địa phương. Thuốc men sản xuất tại chiến trường dủ phục vụ kịp thời nhu cầu chiến đấu và góp  phần chữa bệnh cho đồng bào địa phương.

        Với quyết tâm vượt qua khó khăn, thiếu thốn để chiến thắng quân thù, phong trào lấy thuốc nổ, sắt thép của địch đề làm vũ khí diệt dịch dù phát triển rộng rãi trong cả ba thứ quân.

        Bom đạn lép, xác xe ô tô bi bắn cháy trên đường cho đến mảnh tôn, kíp nổ, mẩu dây điện trong các bãi đổ bộ của địch đều là nguồn nguyên, vật liệu để ta dùng sán xuất vũ khí. Du kích quanh vùng Plây Me còn bày mưu làm trận địa giả nhử địch để thu hút chất nổ và sắt thép của chúng đưa về làm mìn tự tạo diệt xe trên đường 21 (Gia Lai). Các chiến sĩ quân giới tỉnh Công Tum đã vượt suối trèo đèo tỏa đi các hướng, khênh về hàng tần thép, tôn, thuốc nổ sản xuất mìn cho bộ đội diệt xe cơ giới và bộ binh địch. Ngoài ra, còn rèn được hàng nghìn xẻng, cuốc, rìu, rựa cung cấp cho đồng bào địa phương. Được bộ đội hướng dẫn, đồng bào nhiều vùng ở Gia Lai đã vào rừng, lên nương thu nhặt đạn pháo lép, bom bi của địch dưa về cho các đại đội công binh 17 và 18 làm mìn, bộc phá ống đánh cầu Hà Ra, Hà Tam… và diệt xe địch trên đường 19. Chiến sĩ công binh Đào Công Quỹ đã dũng cảm, kiên trì cưa bom suốt nhiều năm trời, lấy được hàng tấn thuốc nổ làm bộc phá cho đơn vị đánh giao thông địch. Với dụng cụ gọn nhẹ vác vai, anh có mặt ở nhiều nơi và được đồng bào hết lòng giúp đỡ. Hễ ở đâu thấy có bom của địch chưa nổ là bà con dẫn anh tới lấy thuốc đưa về.

        Việc tận dụng khai thác thuốc nổ và sắt thép của địch để sản xuất vũ khí tại chỗ diệt địch đã thể hiện rõ truyền thống quyết thắng, sáng tạo và tự lực của đồng bào và các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên.

        Trong hoàn cảnh kháng chiến gian khổ, xa hậu phương, xa mọi nguồn tiếp tế, quanh năm làm bạn với núi rừng, người chiến sĩ Tây Nguyên càng tỏ ra thông minh, tháo vát luôn luôn cần kiệm, lo xa và có tỉnh thần tự lực trong cuộc sống.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:24:20 AM

        Nhiều chiến sĩ biết hàng chục loại lá, quả chua, thông thạo gần trăm loại rau rừng và phân biệt chính xác từng loại nấm; nhìn xuống vũng nước đã đoán dược số lượng cá có thể đánh bắt; trông vào rừng cây xác định được loại thú cư trú, ăn đêm ăn ngày, đi đàn hay đi lẻ. Săn bẫy thú rừng, câu cá, bắt ong... đã trở thành thói quen lý thú trong sinh hoạt hàng ngày của bộ đội.. Nhiều người biết đan mũ nan, giần sàng, rổ rá, biết gò xoong chậu và tự chế biến nhiều loại bánh kẹo. Có đơn vị làm dược cả giò măng và hàng chục món ăn từ rau sắn, măng rừng. Bộ đội khâu vá, sàng sẩy khéo tay chẳng thua gì nữ giới. Nhiều chiến sĩ còn biết đỡ đẻ, cắt may quần áo cho đồng bào.

        Chỉ cần khẩu AK trên vai, đôi dép lốp dưới chân, tấm vải nhựa, con dao bên mình và chiếc bật lửa trong túi cùng ít lon gạo mang theo, người chiến sĩ Tây Nguyên đã có thể lên đường công tác. Hết gạo thì chặt chuối, tìm củ rừng, sau rừng ăn thay cơm. Thiếu nước thì hạ ống dang hoặc chặt dây rừng lấy nước. Không sẵn nồi, lấy ống nứa làm cơm lam, có khi quết đất sét vào khăn ướt gói lại làm nồi. Cuộc sống vẫn cứ ung dung!

        Ngay tại phía trước, bộ đội vẫn có thể giã bột làm bún bánh, cải thiện bữa ăn. Không có cối xay, cối giã đem theo thì cưa ngang thân cây cuốn vải nhựa nẹp lại làm cối, tha hồ vững chắc, lại cơ động hơn cả, vì ở đâu cũng san cây rừng. Khi ở gần trận địa, để giảm bớt tiếng động, chiến sĩ ta lấy mũ sắt của địch, nịt dây cao su lại rồi đưa xuống hầm giã bột. Cái móc võng, giá ba lô, đền làm từ lọ dầu chống vắt... cũng luôn luôn được cải tiến, sao cho nhanh, gọn, dễ dàng. Trên đường hành quân, có lúc chỉ với con dao nhỏ trong tủi, thậm chí không có dao thì dùng lách nứa, chiến sĩ ta vẫn có thể mổ gọn cả con thú rừng nặng hàng tạ, ăn không hết thì làm giàn sấy ngay tại chỗ để đem theo ăn dần. Chỉ với con dao, cái đục trong tay, bộ đội vẫn làm được hội trường lớn, nhà cửa các kiểu và bàn mây, ghế tựa. Nhà ở có đủ phên hoa, cửa sổ chấn song xinh xắn...

        Người chiến sĩ Tây Nguyên chẳng những thông minh, tháo vát trong cuộc sống mà còn tỏ ra rất am hiểu và nhạy bén trước các thủ đoạn, hành vi của kẻ thù. Nhìn dạng công sự của địch, quan sát vòng lượn của từng loại máy bay, ngửi thấy mùi thuốc lá phảng phất trong rừng... bộ đội đã có thể phán đoán được đơn vị và hành động của địch đề xử trí linh hoạt, kịp thời. Không những chỉ có các chiến sĩ hàng ngày giáp mặt với quân thù ở phía trước, mà ngay cả các chiến sĩ vận tải, giao liên, nuôi quân, y tá gặp địch trên đường vẫn chủ động và bình tĩnh chiến đấu. Đồng chí Nguyễn Văn Mỹ, chiến sĩ trung đoàn 40, quần nhau với địch ở điểm cao 875, bị lạc trong rừng suốt 12 ngày đêm, vẫn nhắm hướng cắt rừng tìm về đơn vị với đầy đủ súng đạn.

        Đời sống vật chất còn thiếu thốn, song tâm hồn chiến sĩ vãn lạc quan, tràn đầy sức sống. Các đội tuyên truyền văn hóa của trung đoàn 66, 28, 40, cục hậu cần, viện quân y 211 và của ba binh trạm vẫn vai đàn tay súng, băng suối vượt rừng về biểu diễn tận cơ sở. Không quản đêm ngày, mưa nâng, hễ ở dâu có bộ đội là ở đấy có sân khấu mọc lên, có lẽ người xem ít hơn cả người bíểu diễn. Những trận sốt rét rừng vẫn thường đến với diễn viên trên đường hành quân. Anh chị em lại dìu, cáng nhau đi đến nơi kịp giờ biểu diễn. Có khi diễn viên lên sân khấu đôi bàn tay còn xạm đen nhựa măng, vết tích của những ngày lấy măng ăn trên đường hành quân đi biểu diễn.

        Đội văn nghệ xung kích của Mặt trận vừa biểu diễn, vừa thâm nhập, sáng tác, dàn dựng tiết mục, chuẩn bị cho hội diễn văn nghệ toàn chiến trường vào cuối năm. Bài hát “Cây sắn tiến công”, một sáng tác thành công của đội phản ánh thế trận và ý chí tiến công trên mặt trận sản xuất đã ra đời trong thời kỳ này.

        Các đơn vị thương yêu, gắn bó và giúp đỡ mọi mặt, tạo điều kiện cho đội văn nghệ của chiến trường hoạt động. Có trung đoàn sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, nhận nuôi đội văn nghệ xung kích giữa những ngày rất khó khăn về lương thực, tưởng chừng phải tạm rời khỏi chiến trường. Thà đói cơm, nhạt muối chứ không thể thiếu lời ca tiếng hát lạc quan giữa chiến trường gian khổ.

        Say mê chiến đấu cho lý tưởng cao đẹp, lạc quan tin tưởng vào khả năng chiến thắng của mình là nét nổi bật trong tâm hồn chiến sĩ ta. Giữa trận địa, bộ đội vẫn làm thơ, viết bích báo và sáng tác bài hát truyền thống... Thiếu giấy, các chiến sĩ ta viết trên vỏ bao thuốc, nhãn đồ hộp lấy của địch ở trận địa, có khi viết vào mảnh nứa, vỏ cây… Ở trung đoàn 40 pháo binh, có đại đội làm báo tường bằng các mảnh mo nang ghép lại. Sau mỗi chiến dịch hoặc vào các ngày lễ lớn, các trung đoàn vãn ra được tập san thơ ca, bản tin người tốt, việc tốt.

        Từ trong cuộc chiến đấu hào hùng và đầy ý nghĩa này, chiến sĩ ta đã hướng về một ngày mai tươi dẹp của Tây Nguyên xã hội chủ nghĩa. Nhiều bài thơ tràn đầy cảm xúc đã vẽ lên viễn cảnh buôn làng Tây Nguyên rợp bóng cờ bay, từng đoàn xe chở đầy vải, muối... nối đuôi nhau đi lên mọi vùng cao. Những cô gái Tây Nguyên ung dung lái máy cày trên những nông trường đai đỏ màu mỡ. Nhà máy mọc lên, trường học mới dựng ríu rít đàn em cắp sách tới trường...

        Ngày mai ấm no, hạnh phúc của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên cũng chính là nguyện vọng thiết tha và là mục tiêu chiến đấu của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Tây Nguyên nhất định sẽ cùng cả nước đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, nhất định sẽ cùng cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là niềm tin sắt đá, là ý chí và quyết tâm chiến đấu của toàn thể đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:25:22 AM

*

*      *

        Giữa lúc đại hội liên hoan chiến sĩ thi đua và dũng sĩ toàn Tây Nguyên lần thứ ba chuẩn bị khai mạc, và trên mặt trận phía nam của chiến trường, bộ đội đang tập trung vận chuyển dưới trời mưa tầm tã để chuẩn bị gạo, đạn cho chiến dịch, thì một tin đau đớn đã đến: Bác Hồ qua đời!

        Đại hội ngừng khai mạc, các đội văn công lần lượt trở về đơn vị. Các đại biểu, anh hùng, chiến sĩ thi đua, những cháu con của Bác đang chiến đấu dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng và tình thương bao la của Người trên dải đất miền Tây Thành đồng Tổ quốc không nén nổi tiếng khóc khi được tin đau thương này. Nước mắt lưng tròng, vây quanh ảnh Bác, mọi người rất đỗi ân hận tự thấy mình chưa làm tròn nhiệm vụ quét sạch quân thù để đón Bác vào thăm Tây Nguyên thực hiện ước mơ thiêng liêng suốt bao năm trường của đồng bào, đồng chí.

        Trong những căn nhà lợp lá mùn cun giữa rừng săng lẻ, mọi người kìm tiếng nấc nghẹn ngào, lắng nghe Di chúc thiêng liêng của Người và hướng tất cà lòng mình về trái tim Hà Nội, nơi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta dang làm lễ truy điệu Người.

        Một không khí đau buồn, trầm lặng bao trùm lên khắp rừng núi, buôn làng Tây Nguyên, vùng đất xa xôi của Tổ quốc nhưng gần gũi trong tình thương bao la của Bác, nơi mà mỗi hạt muối, cái chữ Bók Hồ... đã ăn sân vào trái tim và khối óc của đồng bào các dân tộc. Những ngày này, Tây Nguyên mưa tầm tã, bầu trời dày đặc mây mù.

        Giữa những ngày đau thương tột đỉnh của toàn dân tộc cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên đã gạt nước mắt, tỏa về các buôn làng xa xôi củng đồng bào chia sẻ nỗi đau buồn và tổ chức lễ tang Bác. Nhiều cụ già chưa nghe rõ tiếng phổ thông nhưng nhìn nét mặt đau buồn của bộ đội và khi mới nghe hai tiếng “Bók Hồ” đã ôm ảnh Bác vào lòng, khóc nức nở.

        Đời sống nhân dân còn khó khăn, nhiều nơi quanh năm thường mình trần đóng khố, nhưng trong những ngày này, từ cụ già đến em nhỏ đều mặc áo để đeo băng tang. Những chiếc áo cũ được khâu vá lại, đồng bào còn lấy bao đựng cát của địch làm vải để may thêm áo mới. Bàn thờ Bók Hồ dặt giữa nhà Rông, hương trăm nghi ngút. Buổi sáng trước khi vào rừng, lên đường, đồng bào lại đến tưởng niệm Người. Bộ đội đến từng nhà động viên, an ủi nhân dân, truyền đạt Di chúc thiêng liêng của Bác, lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và cùng địa phương phát hiện kịp thời, đập tan mọi luận điệu chia rẽ, gây hoang mang của địch.

        Ngày 6 tháng 9 năm 1969, Đảng ủy, Bộ tư lệnh và đại biểu ba cơ quan thay mặt các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên tổ chức trọng thể lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong giọng nói nghẹn ngào, xúc động, đồng chí Thiếu tướng Tư lệnh mặt trận ôn lại công ơn trời biển và sự quan tâm săn sóc của Bác đã dành cho đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên qua một chặng đường cách mạng, đồng thời nhác nhở toàn thể cán bộ, chiến sĩ hãy biến đau thương thành hành động cách mạng, nâng cao quyết tâm chiến đấu, không ngừng để bồi dưỡng đạo đức cách mạng, để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên chiến trường, xứng đáng với sự quan tâm dạy dỗ của Bác.

        Thay mặt toàn thể đảng viên, đoàn viên, cán bộ và chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên, Đảng ủy Mặt trận gửi điện lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, hứa quyết tâm: ra sức học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên quyết thực hiện đầy đủ lời dạy của Người đối với quân, dân Tây Nguyên “Đoàn kết, chiến đấu giỏi, sản xuất giới”, đạp bằng mọi chông gai, trở ngại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, cùng quân và dân cả nước đưa lá cờ bách chiến bách thắng của Người đến đích cuối cùng.

        Với tất cả tấm lòng nhớ thương vô hạn và sức mạnh thiêng liêng của bản Di chúc lịch sử Người để lại, đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên nén chặt đau thương, tiếp tục vượt qua mọi thử thách, tiến công địch dồn dập trên khắp chiến trường, khiến cho quân thù phải bất ngờ, sửng sốt.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:28:14 AM

        Sau một thời gian huy động toàn lực ra làm công tác vận chuyển trên một tuyến dài hơn 70 ki-lô-mét trong mưa tuôn xối xả và máy bay B52 của địch ngày đêm ném bom rải thảm chặn đường, sáng ngày 29 tháng 10, ta bắt đầu nổ súng đánh chiếm căn cứ Ka Te, mở màn cho đợt tiến công trên toàn tuyến phòng thủ của địch suốt từ Bu Prăng đến Đức Lập.

        Ka Te là một căn cứ bộ, pháo hỗn hợp dược địch xây dựng kiên cố, nằm trên điểm cao 936 ở về phía đông Bu Prăng và cách thị xã Gia Nghĩa 42 ki-lô-mét về phía tây bắc. Nó là một vị trí quan trọng nằm trong hệ thống phòng ngự liên hoàn bằng hỏa lực của địch, chạy dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia nhằm ngăn chặn các cuộc tiến công của ta. Trong căn cứ này có gần một trăm tên Mỹ và 12 khẩu pháo các cỡ. Chúng xây dựng ở đây tất cả 82 lô cốt, nhà ở, kho tàng và sở chỉ huy theo kiểu nửa chìm, nửa nồi. Các chiến hào trong căn cứ ăn thông với nhau như mạng nhện và xung quanh là hệ thống hàng rào kẽm gai dày đặc với nhiều loại mìn tự động. Bảo vệ vòng ngoài là 3 đại đội biệt kích ngụy. Bọn này thường ngày nống ra xa lùng sục để phát hiện, ngăn chặn ta tiến công.

        Rạng ngày 29 tháng 10, pháo binh ta đồng loạt bắn vào Ka Te đánh phá sở chi huy, trận địa pháo, lô cốt và diệt bộ binh địch trong căn cứ. Đồng thời ta dùng cối 82 phục sẵn kiềm chế các trận địa pháo của địch ở các điểm cao xung quanh không cho chúng chi viện đồng bọn ở Ka Te. Trong lúc ấy, chiến hào của bộ binh ta mỗi ngày càng lấn sâu vào sát hàng rào của địch, khép chặt căn cứ Ka Te trong vòng vây. Bọn Mỹ trong đồn hốt hoảng kêu cứu, nhiều tên cuống quýt đâm đầu chạy ra ngoài vướng mìn chết vắt xác trên hàng rào. Một đại đội biệt kích đang lùng sục ở vòng ngoài, hớt hải chạy về bị ta đánh cho tan tác. Đích huy động 186 lần chiếc máy bay các loại sà xuống bắn phá sát ngay hàng rào hòng đẩy ta ra, cứu nguy cho đồng bọn trong cơn hấp hối. Nhưng chiếc thòng lọng của các chiến sĩ trung đoàn 66 vẫn ngày đêm siết chặt vào cổ chúng. Các đơn vị súng máy cao xạ của ta đã anh dũng chiến đấu trên địa hình trống trải, bắn tan xác nhiều máy bay Mỹ, có chiếc bốc cháy ngùn ngụt ngay cạnh hàng rào, làm cho bọn địch trong căn cứ càng hốt hoảng.

        Bị đánh tới tấp cả đêm lẫn ngày, cả ở mặt đất lẫn trên không, bọn địch ở đây hoàn toàn bị cô lập. Xác chết của chúng không kịp chôn, bọn bị thương không được chuyển đi cứu chữa, số còn sống phải chui rúc trong hầm tối, tanh mùi xác chết. Tên nào ló lên mặt đất liền bị đạn bắn tỉa của ta tiêu diệt. Bọn địch trong căn cứ Ka Te thiếu nước uống, cơm ăn, sinh lực hao mòn, tinh thần căng thẳng, vô cùng khốn quẫn. Chúng khẩn khoản xin máy bay tiếp tế ban đêm, nhưng tất cả các kiện hàng từ máy bay ném xuống đều lọt vào tay quân ta. Các chiến sĩ đại đội 49 trung đoàn 40 đã quật lộn cổ máy bay Mỹ ngay trong đêm tối.

        Trước nguy cơ bi tiêu diệt, một bộ phận địch lợi dụng trời tốt lén lút bỏ đồn tháo chạy, liền bị các khẩu đội 12,7 của ta quay nòng sủng quét thẳng vào đội hình. Chúng chết chồng lên nhau. Bọn còn lại phải vội vã chui vào căn cứ. Không cho địch rút chạy, 4 giờ sáng ngày 2 tháng 11, từ chiến hào vây lấn, các chiến sĩ bộ binh chia làm nhiều mũi đồng loạt xung phong đánh chiếm và làm chủ căn cứ Ka Te.

        Như vậy là sau 4 ngày đêm liên tục vây lấn, tiến công, ta đã tiến lên dứt điểm trận đánh, tiêu diệt và làm chủ căn cứ bộ pháo hỗn hợp Ka Te, diệt gần 200 tên, trong đó có 70 tên Mỹ, bắn rơi 14 máy bay, thu 6 khẩu pháo 105 mi-li-mét cùng hàng chục tấn đạn.

        Đây là trận đánh công sự vững chắc thành công của chiến trường, có giá tri lớn về mặt chiến thuật. Trong điều kiện ta chưa có các loại pháo cơ giới và xe tăng để hoàn toàn áp đảo quân địch, giải quyết trận đánh một cách nhanh chóng, bộ đội ta đã nêu cao tinh thần triệt để tiến công địch, đánh đêm không xong liền trụ lại tiếp tục đánh ngày, dành một ngày chưa xong thi dành tiếp trong nhiều ngày cho tới khi dứt điểm. Bộ binh đã phát triển chiến hào lấn sâu vào hàng rào vây chặt địch lại không cho chúng tháo chạy, đồng thời hạn chế được thương vong do phi pháo địch gây ra. Pháo binh đã biết phát huy đến mức cao nhất hiệu lực của các loại pháo mang vác, vừa kiềm chế được các trận địa pháo và sân bay cửa đích, vừa bắn ngắm trực tiếp diệt các mục tiêu trong căn cứ, chi viện đắc lực cho bộ binh. Các loại súng phòng  không được đưa sát vào hàng rào, vừa diệt địch trong đồn, vừa khống chế không cho máy bay địch sà xuống ném bom bịt cửa mở và đánh vào chiến hào của bộ binh ta. Với cách đánh sáng tạo và triệt để đó, ta đã vây hãm làm cho địch mòn mỏi, suy yếu dần rồi tiến lên đánh bại hoàn toàn chúng.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:29:58 AM

        Cách đánh trên dây đã xây dựng dược lòng tin cho bộ đội và mở ra tiền đề đánh địch trong công sự vững chắc - một yêu cầu mới đang đặt ra cho chiến trường trong quá trình phát triển cửa cuộc chiến tranh giải phóng.

        Sau khi san bằng căn cứ Ka Te, bộ binh, pháo binh và lực lượng tinh nhuệ của ta tiến công dồn dập vào hàng loạt vi trí còn lại của địch suốt từ Bu Prăng đến Đức Lập, đồng thời chặn đánh quyết liệt các cánh quân đến giải tỏa. Phối hợp chặt chẽ với hướng chính, ta còn đánh địch liên tiếp ở Gia Nghĩa, Kiến Đức, Nhân Cơ và Buôn Ma Thuột.

        Qua hơn một tháng chiến đấu vô cùng dũng cảm và quyết liệt (29-10 - 5-12), ta đã loại khỏi vòng chiến đấu các chiến đoàn 220, 53 và 1 chiến đoàn hỗn hợp của địch, đánh chiếm và phá hủy hàng loạt vị trí trên tuyến phòng thủ Bu Prăng - Đức Lập, làm rối loạn thế trận của địch trên chiến trường nam Đắc Lắc - Quảng Đức.

        Hình ảnh người chiến sĩ Tây Nguyên đánh giặc hăng, gùi gạo khỏe, chịu thương chịu khó và căn kiệm, giản dị đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng đồng bào và các đơn vị bạn cùng hoạt động trên chiến trường nam Tây Nguyên.

        Hòa nhịp với tiếng súng trên mặt trận Bu Prăng - Đức Lập, ta tiến công dịch ở thị xã Công Tum, Plây Cu, Buôn Ma Thuột, quận lỵ Đắc Tô, Đắc Pét, Buôn Hồ, Quảng Nhiêu và hàng trăm căn cứ, đồn bốt, nơi đóng quân dã ngoại của địch trên khắp ba tỉnh. Trong đó có nhiều trận đạt hiệu suất chiến đấu cao, như trận tập kích khu kho 40, 41 trong thị xã Công Tum, trận tập kích cụm bộ, pháo hỗn hợp ở ngã ba Mỹ Trạch, trận tiến công sân bay và khu sĩ quan Mỹ ở Tân Tạo…

        Cùng thời gian trên, ta đánh mạnh các con đường giao thông huyết mạch của địch, gây cho chúng nhiều khó khăn lúng túng trong việc tiếp tế vũ khí và cơ động lực lượng trên chiến trường.

        Đặc biệt, ngày 6 tháng 12, ta bắn rơi chiếc máy bay lên thẳng ở phía tây nam đồn Tu Mơ-rông, giết chết tên đại tá Nguyễn Bá Liên, tư lệnh biệt khu 24, 1 đại tá cố vấn Mỹ cùng nhiều sĩ quan tùy tùng.

        Đòn tiến công quân sự mạnh mê trên đây đã có tác dụng thúc đây và hỗ trợ đắc lực cho phong trào quần chúng nổi dậy chống phá âm mưu “bình định cấp tốc” của địch, giành quyền làm chủ. Trong khỉ lực lượng của địch bị chủ lực ta kìm và tiêu diệt ở hướng Bu Prăng - Đức Lập thì đêm 14 rạng ngày 15 tháng 11, đồng bào nhiều nơi ở Đắc Lực đã sôi nổi xuống đường phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương truy lùng bọn tề diệp, ác ôn, tước vu khí và giải tán các đội phòng vệ dân sự, giành quyền lâm chủ buôn làng. Trên hướng đường 14. các đội công tác của địa phương dã xây dựng cơ sở và phát động quần chúng ở 13 buôn với khoảng 3.000 dân, diệt nhiều tên ác ôn có nợ máu.

        Lực lượng vũ trang nhân dân và đồng bào Gia Lai đã. đấu tranh giành giật với địch, đưa được hơn 4.000 dân ở 18 làng lên làm chủ, phá âm mưu dồn dân, bắt lính của địch

        Chiến thắng Bu Prăng - Đức Lập kết thúc một năm phấn đấu gian kho nhưng rực rỡ chiến công của đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:30:26 AM

*

*       *

        “Năm 1969, tuy đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, nhưng đồng bào các dân tộc và lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã nêu cao ý chí và nghị lực cách mạng, đạp bằng mọi trở lực, đứng vững trên chiến trường, không ngừng giữ vững và phát triển thế chủ động tiến công, giành thắng lợi to lớn và toàn diện. Quân và dân Tây Nguyên đã liên tục tiên công, liên tục nổi dậy, vừa tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh, kìm chân thu hút địch phối hợp với các chiến trường, vừa đẩy mạnh phá áp giành dân, ngăn chặn, đánh phá âm mưu “bình định cấp tốc” của địch, bảo vệ và giữ vững hành lang chiến lược, đồng thời sân xuất tự túc được một phần lương thực, góp phần xây dựng căn cứ địa Tây Nguyên…

        Ta đã giáng đòn phủ đầu vào âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” và chiến lược “quét và giữ” của địch trên chiến trường Tây Nguyên, đẩy chúng vào thế thua, thế yếu, thế phòng thủ bị động”1.

        Năm 1969, năm đỉnh cao của gian nan và thắng lợi sẽ mãi mãi đi vào trang sử truyền thống của Tây Nguyên bất khuất, kiên cường với những cột mốc chiến công chói lọi những kỷ lục và sự kiện dáng ghi nhớ, tự hào.

        Năm 1969 là năm đạt kỷ lục cao nhất về tốc độ mở các chiến dịch và đợt hoạt động. cũng như về số lượng và chất lượng diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh cửa địch. Quân và dân Tây Nguyên đã diệt Mỹ, đánh ngụy suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, dông, liên tiếp đập tan các cuộc hành quân “Bình Tây”, “Dân quyền” của địch ở vùng núi Chư Pa. Đắc Tô, đánh bại trận ra quân cuối cùng của giặc Mỹ ở Kleng, rồi tiến về phía nam mở mặt trận Bu Prăng - Đức Lập giành chiến công mùa đông giòn giã.

        Năm 1969 cũng là năm Tây Nguyên đánh mạnh, đánh đau, đánh liên tục vào các cơ quan đầu não ngụy quân, .ngụy quyền, kho tàng, sân bay và các đường giao thông chiến lược của địch, gây cho chúng nhiều tồn thất nặng nề và khó khăn, lúng túng. Các đơn vị đều nêu cao tinh thần chủ động, tích cực vượt khó khăn, nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh, đánh bồi nhiều lần vào hàng loạt vi trí quan trọng của địch nằm sâu trong lòng thi xã, khiến chúng không kịp củng cố. Mỹ - ngụy ở Tây Nguyên “quét” không xong, mà “giữ” cũng không nổi, bị căng ra đánh khắp nơi và đối phó bị động trên mọi hướng.

        Đi đôi với thắng lợi trên mặt trận quân sự, trong năm 1969, hơn 20.000 đồng bào các dân tộc đã giành được quyền làm chủ. Vùng giải phóng ở Tây Nguyên được mở rộng và không ngừng củng cố. Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời (6-6-1969), trên khắp các tỉnh Tây Nguyên, chính quyền cách mạng các cấp được thành lập. Đây là một sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình đấu tranh lâu dải, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi của toàn Miền, của quân và dân Tây Nguyên.

        Năm 1969 để lại trong lòng mỗi cán bộ, chiến sĩ đã sống và chiến dấu ở Tây Nguyên những ấn tượng không bao giờ quên về những ngày sóng gió, gian truân, về tình đồng đội đậm đà, sâu nặng, về sức mạnh tiềm tàng của ý chí và nghi lực cách mạng gắn liền với biết bao tấm gương quên mình vì thắng lợi chung của đồng bào, đồng chí. Quân và dân Tây Nguyên đã dũng cảm vượt qua những thử thách hiểm nghèo mà có lúc tưởng chừng như không thể khắc phục nổi, làm được những việc ngoài tầm suy nghĩ lúc ban đầu, khiến quân thù phải bất ngờ, choáng váng.

        Như đại bàng lao mình trong giông tố để đi tới chân trời tươi sáng, đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên đã vượt qua đỉnh cao của khó khăn, thử thách để đi tới đỉnh cao của thắng lợi. Lửa thử vàng, gian nan luyện chí anh hùng, vượt qua sóng gió khó khăn, cán bộ và chiến sĩ Tây Nguyên càng đoàn kết, thương yêu đồng bào, đồng chí, càng gắn bó với chiến trường gian khổ nhưng rất đỗi tự hào. Những phẩm chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội cách mạng càng thêm ngồi sáng và phát triển.

        Khó khăn gian khổ và những thử thách mới còn đang đặt ra trên bước đường đi tới, song với niềm tin, ý chí và nghị lực dược tôi luyện qua thực tiễn chiến trường, đồng bào và các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên bước vào năm 1970 trong tư thế đĩnh đạc và chủ động, sẵn sàng đón nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

--------------------------
        1. Trích Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên về kiểm điểm tình hình 1969 và nhiệm vụ, phương hướng năm 1970.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2016, 04:53:32 AM
       
Chương sáu

PHÁT TRIỂN TIẾN CÔNG ĐỊCH TRÊN BA CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM - LÀO - CAM-PU-CHIA


1. THẮNG LỢI LỚN Ở MẶT TRẬN ĐẮC SIÊNG

        Mùa khô ở cánh bắc không còn dược mấy ngày nữa. Bầu trời trong xanh đã bắt đầu điểm một vài đám mây xám, nặng nề.

        Bộ chỉ huy quân sự địch ở Công Tum cho tăng cường các hoạt động sực sạo. Thám báo, biệt kích, mò sâu vào các triền núi phía bắc và phía tây chỉ tìm thấy những tốp nhỏ bộ đội ta đang cần cù thu dọn nương rẫy chuẩn bị cho mùa gieo hạt. Bọn lái máy bay trinh sát cũng chỉ thấy dưới cánh máy bay của chúng vài ba chiếc ô tô vận tải chạy ra, chạy vào rất “buồn tẻ” ở trên tuyến hành lang phía sau. Những trung tâm trinh sát vô tuyến diện hàng ngày vẫn nghe thấy tín hiệu của những điện báo viên quen thuộc phát từ những chiếc đài 15W ở nguyên vị trí cũ trong các vùng hậu cứ.

        Chúng phán đoán “Việt Cộng còn phải tập trung củng cố chưa có đủ điều kiện và khả năng mở những cuộc tiến công”.

        Nhưng trong các vùng hậu cứ, công tác chuẩn bị chiến dịch đã đi vào những phần việc cuối cùng. Các đơn vị đang phân phát nốt những chiếc xẻng tự tạo từ vỏ đạn pháo, phuy xăng, và đây đó một vài chiến sĩ đang đan nốt những tấm phên, tấm cót. Tất cả đã sẵn sàng “tiếp tục đánh một đòn thật nặng vào chiến lược “quét và giữ” vào âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ”1.

        Khối chủ lực cơ động cửa Mặt trận bắt đầu hành quân. Từ những hướng bất ngờ, các chiến sĩ lặng lẽ luồn theo những đường ống mới phát cách đó vài giờ, thận trọng bước từng bước nhẹ nhàng qua những đám lá khô hoặc qua những thân cây đổ ngổn ngang dọc đường, đến thẳng vào thung lũng Đắc Siêng. Các máy thông tin vô tuyến điện mang theo đều tạm ngừng hoạt động để tập trung sự chú ý của địch vào những chiếc đài nghi binh đang đặt ở hậu cứ. Xa xa về phía trước và hai bên đường của các đơn vị luôn luôn có những cặp mắt tinh tường của các chiến sĩ trinh sát, chiến sĩ bộ binh chốt đường, giám sát chặt chẽ mọi hoạt động của địch.

        Đạn, gạo dược vận chuyển theo phương pháp mới. Ở tuyến hành lang phía ngoài, hàng được tích lũy dần trong một thời gian khá dài để giữ nhịp độ vận chuyển bình thường, không gây nên hiện tượng đột xuất. Còn ở tuyến trong, các đội gùi, thồ không đi trước mà bám ngay sau đội hình hành quân của bộ bính, đưa đạn, gạo vào kho phía trước cùng lúc với các lực lượng chiếm lĩnh vị trí chiến dấu. Bọn địch không còn có thể bám theo sự vận chuyển vật chất để tìm hướng chiến dịch như cái nếp trước kia chúng vẫn thường làm Lực lượng hậu cần Tây Nguyên đã phấn đấu bảo đâm yêu cầu “kịp thời, đầy đủ và bí mật”.

        Đêm 31 tháng 3.

        Đồn Đắc Siêng cùng với hàng chục điểm cao ở xung quanh vẫn chìm đắm trong bóng đen của dãy núi cao chạy dài suốt từ phía đông bắc xuống đông nam. Con đường 14 chạy từ hướng nam lên lướt qua dưới chân đồn không nhìn rõ nữa. Trong màn đêm tĩnh mịch chỉ còn nghe từ ấy tiếng rì rầm cái điệp khúc muôn thuở của con sông Pô Cô đang chảy ở phía đông đồn. Đám lính của 3 đại đội thuộc lực lượng đặc biệt ngụy do các sĩ quan “Mũ nồi xanh” Mỹ trực tiếp xây dựng và huấn luyện đang túm tụm xem phim. Chúng hoàn toàn yên tâm tận hưởng món quà tinh thần của đoàn công tác chiến tranh chính trị, vì xung quanh chúng đã có tới 8 lớp rào kẽm gai xen lẫn với những bãi mìn, một chiến hào rộng cắm chông và một bức tường hộp cao cùng cả một hệ thống lô cốt, ụ súng bố trí dày đặc. Hơn nữa, cả 7 toán thám báo được tung ra rất xa để thăm dò mới trở về lúc chập tối cũng đều mang những tin tức “tốt lành”.

        Nhưng chỉ vài giờ sau, cách hàng rào ngoài cùng không đầy 500 mét đã có cơ man nào là công sự chiến đấu và chiến sĩ của trung đoàn 28, trung đoàn pháo 40 đang ấn mạnh từng nhát xẻng vào trong lòng đất tìm tiếp tục phát triển hầm, hào.

        4 giờ sáng ngày 1 tháng 4, những chiếc hầm vững chãi làm bằng những đoạn gỗ và phên tre vác từ hậu cứ, từ những cánh rừng xa tới đã được lấp đất và ngụy trang chu đáo. Các xạ thủ ĐKZ, súng cối lợi dụng ánh sáng của đèn dù địch để kiểm tra lại các phần tử bắn vào những mục tiêu đã được phân công.

        5 giờ 40 phút sáng ngày 1 tháng 4, rừng Đắc Siêng bất thần rung lên trong tiếng nổ xé trời. Hỏa lực đủ loại, nhiều tầng từ bốn hướng gầm lên trút đạn vào căn cứ Đắc Siêng.

        Hướng chính đã nổ súng. Chiến dịch tiến công Xuân - Hè năm 1970 của quân và dân Tây Nguyên chính thức mở màn.

--------------------------
        1. Trích Nghị quyết Đảng ủy mặt trận Tây Nguyên, tháng 2 năm 1970.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2016, 04:54:43 AM

        Bọn địch bị “bịt mắt” đến tận phút cuối cùng trước khi nổ ra chiến dịch. Chúng hoàn toàn bất ngờ. Chúng lúng túng vì không biết trước được hướng chính của đối phương và chúng cũng chưa chuẩn bị được gì cho việc triển khai một cuộc hành quân ngăn chặn.

        Suốt ngày 1 tháng 4, địch phản công yếu ớt. Pháo từ Plây Cần bắn lên quanh đồn vài chục quả kết hợp với máy bay ném bom xuống các mỏm đồi phụ cận. Mãi gần tối mới có một tốp trực thăng từ Măng Đen lên tăng viện cho lực lượng trong dồn khoảng một đại đội biệt kích.

        Trong tình hình lúc đó, kẻ địch chưa chịu bỏ mất địa bàn; chúng vẫn còn khả năng giữ đất, còn muốn chứng minh cho sự “đúng đắn” của “Việt Nam hóa chiến tranh”, cho vai trò của quân ngụy. Vì vậy, dù Đắc Siêng chỉ là một vị trí nằm cô lập, giá trị về chiến dịch, chiến thuật nói chung không lớn lắm, chúng cũng không bỏ. Nhất định chúng sẽ ra giải tỏa. Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định tăng cường thêm áp lực vây hãm, buộc địch phải ra giải tỏa nhanh hơn.

        Ngày 2 tháng 4 và tiếp những ngày sau, ta dùng ĐKZ, cối 82 và cối 120 liên tiếp bắn phá các vị trí trong đồn. Các chốt hỏa lực hỗn hợp của ta khống chế chặt khu vực sân bay và cổng đồn. Những đường hào giao thông đã đào tới khu vực hàng rào. Các mũi bộ binh bắt đầu những trận chiến đấu vô cùng quyết liệt ở khu vực đầu cầu.

        Đường không bị khống chế, đường bộ cũng bị cắt đứt hoan toàn. đồn Đắc Siêng rơi vào tình trạng cô lập và bị uy hiếp nghiêm trọng. Một số công sự sập đổ, kho tàng nổ tung; nhiều tên chết và bị thương; gạo, nước vơi dần. Những chiếc dù hàng do máy bay C123 từ trên cao thả xuống rơi ra ngoài tới hai phần ba. Bọn trong đồn kêu cứu đến lạc giọng.

        Sau phút bàng hoàng ban đầu, bộ chỉ huy địch giao cho biệt khu 24 tổ chức việc ứng cứu. Nhưng mãi bốn ngày sau, thế trận phân kích của địch mới được hình thành với cách sử dụng tới hai phần ba lực lượng dăng thành một vành đai xung quanh các căn cứ phía sau và chỉ dành có một phần ba lực lượng trực tiếp tung vào khu chiến, kẻ địch đã để lộ rõ ý đồ chỉ lo giải tỏa cho đồn Đắc Siêng. Chúng không còn đủ khả năng đánh bật ta ra khỏi toàn bộ khu vực. Lúc này địch tìm cách ngăn chặn ta đánh vào sở chỉ huy chiến dịch ở Đắc Tô. Thực sự chúng đã có một bước suy yếu mới.

        Ngày 3 tháng 4, địch bắt đầu lập một trận địa pháo 6 khẩu ở khu vực Pô Cô Hạ.

        Trong hai ngày 3 và 4 tháng 4, hai tiểu đoàn 22 và 23 của liên đoàn biệt động quân số 2 liên tiếp đổ xuống Đắc Còn và phía tây cầu Pô Cô Hạ, cách Đắc Siêng 7 ki-lô-mét về phía đông nam. Ý định của chúng là thiết lập ở đây một trận địa xuất phát cơ bản, kết hợp với trận địa phía trước của tiểu đoàn 1 biệt kích vừa đổ xuống cách Đắc Siêng 3 ki-lô-mét về phía nam để yểm hộ cho nhau đánh thẳng vào trận địa vây lấn của ta, rồi từ đó phá vỡ hoặc chí ít cũng làm rối loạn thế trận tiến công của ta.

        Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch quyết định cho đánh ngay vào tiểu đoàn 23.

        Ngày 4 tháng 4, tiểu đoàn 4 (trung đoàn 42) từ Ngọc Dơ Lang (ở phía tây cầu Pô Cô Hạ) và đồi Không Tên (ở phía bắc cầu) cho hai toán ra sục sạo thăm dò và chuẩn bị đường hành quân cho lực lượng biệt động. Địch chạm ta, phát hiện được một phần lực lượng ta, tiểu đoàn 23 lùi lại chiếm điểm cao 763, tiểu đoàn 22 củng cố lại vi trí Đắc Còn. Hai tiểu đoàn biệt động co cụm lại, dựa vào nhau để khỏi bị tiêu diệt và bỏ cả kế hoạch đi giải tỏa dự định vào tối ngày 5 tháng 4.

        Bộ đội ta phải khá vất vả mới xác định được vị trí ba cụm đóng quân của tiểu đoàn 23 biệt động trong một vạt sừng le rậm rạp.

        15 giờ 30 phút ngày 5 tháng 4, trung đoàn 66 bắt dầu nổ súng. Ở nhiều nơi, các đơn vị phải dùng mìn định hướng phát quang những bụi le mới bắn được B40, B41 vào công sự địch.

        Một cánh quân của tiểu đoàn 22 từ Đắc Còn sang ứng cứu bị đánh đau phải quay đầu chạy trở lại.

        Suốt từ sáng đến chiều ngày 6 tháng 4, quan sát những diễn biến ở phía địch, ban chỉ huy trung đoàn 66 phán đoán dịch sắp sửa rút chạy. Bọn bị thương có thể ra bãi trống chờ trực thăng bốc đi, còn đại bộ phận sẽ chạy bộ theo phía dông nam về Đắc Còn. Đội hình bao vây của ta được sắp xếp điều chỉnh lại.

        Sáng ngày 7 tháng 4, địch bắn pháo và ném bom dữ dội ở phía tây bắc. Từ trên điểm cao, tiểu đoàn 23 ngụy cũng cho nhiều toán lính đánh ra hướng này. Biết chắc đó chỉ là những hành động nghi binh, các chiến sĩ vẫn kiên trì chờ đợi.

        11 giờ 30, địch bắt đầu hành động đúng như ta dự kiến. Tổ hoả lực phục kích ở “bãi đáp” bấy giờ mới nổ súng đánh vào cả bọn bộ binh và lũ trực thăng đang hạ thấp độ cao, bắn rơi liền ba chiếc, khiến cho bọn còn lại phải bay vọt lên. Đại đội 11 cùng với các đơn vị trực thuộc của trung đoàn đánh tràn qua tuyến công sự thứ nhất, thứ hai rồi tiếp tục đuổi theo một sổ địch đang chạy về phía đông nam. Đại đội 9 và đại đội 10 chạy vòng lên đón đầu. Tên tiểu đoàn trưởng và 3 tên có vấn Mỹ bị bắn chết. Chỉ trong chốc lát, cả tiểu đoàn 23 biệt động quân bị xé ra từng mảnh nhỏ rồi bị tiêu diệt hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2016, 04:55:18 AM

        Lúc này, lực lượng biệt kích đổ xuống nam Đắc Siêng cũng bị tiểu đoàn 8 (trung đoàn 66) đánh thiệt hại nặng. Sở chỉ huy tiển đoàn 2 biệt động quân cũng bị bộ đội đặc công và pháo binh giáng những đòn đau. Sở chỉ huy chiến dịch của chúng nằm sâu mãi trong căn cứ Đắc Tô cũng đã có 20 tên bỏ mạng, 4 pháo lớn bị phá hỏng, 11 máy bay đỗ trên đường băng sân bay bị cháy rụi. Cả đến trận địa pháo lớn 10 khẩu ở Plây Cần cũng bị kiềm chế không thể tự do hoạt động được nữa. Toàn bộ đội hình chiến dịch của địch đều bị ta đánh. Bọn biệt động quân xưa nay vẫn được coi là lực lượng xung kích trong phản kích giải tỏa mới ra quân đã mình đầy thương tích, phải quay về củng cố và làm nhiệm vụ “giữ nhà”, bảo vệ tuyến sau cho đội hình chiến dịch. Kế hoạch giải tỏa Đặc Siêng của địch từ hướng nam lên đã bị phá sản hoàn toàn.

        Ớ chiến trường phía sau, các lực lượng vũ trang nhân dân địa phương, các đơn vị chủ lực tại chỗ cũng giành được những thắng lợi to lớn. Phía Plây Cu, ta đánh vào sân bay Tân Tạo, Cù Hanh, A-rê-a, phá hủy nhiều máy bay, kho tàng... Tiều đoàn 631, đại đội đặc công 70, 90... tập kích vào trại huấn luyện, hậu cứ liên đoàn 2 biệt động và trung đoàn 47 cộng hòa gây cho chúng nhiều thiệt hại.

        Bọn địch lâm vào thế phía trước bị tiêu diệt, phía sau bị tiến công, tinh thần binh lính càng hoảng loạn. Các đội quân cơ động bị điều động như đèn cù, trung đoàn 47 lúc phải chạy lên hướng chính để tham gia giải tỏa, khi lại phải lùi về phía sau để bảo vệ vùng hậu cứ.

        Ngày 6 tháng 4, bộ binh ta được lệnh lui ra và chỉ để lại bộ phận pháo binh tiếp tục làm nhiệm vụ khống chế căn cứ Đắc Siêng.

        Đắc Siêng được mở vây, nhưng bọn địch trong đồn vẫn nơm nớp lo sợ trước sức ép còn mạnh mẽ của ta ở khu vực này. Những trận pháo kích dữ dội từ hướng Ngọc Bờ Biêng, từ hướng tây, hướng bắc Đắc Siêng vào Đắc Tô vẫn còn là nỗi kinh hoàng đến mất ăn, mất ngủ đối với địch.

        Ngày 11 tháng 4, máy bay trực thăng lại ồ ạt đổ tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) xuống cách Đắc Siêng 2 ki-lô-mét về phía đông bắc. Địch tiếp tục chuẩn bị cho đợt giải tỏa thứ hai.

        Từ khi tiểu đoàn 23 biệt động quân bị tiêu diệt, địch đã đoán biết được khu quyết chiến của ta ở nam Đắc Siêng. Do đó khả năng địch tiếp tục giải tỏa từ hướng nam lên không còn nhiều, và với cách đò quân hiện tại thì chúng đang có ý định giải tỏa gần. Phương hướng giải tỏa sẽ là phía tây và phía bắc Đắc Siêng.

        Ngày 12 tháng 4, Bộ chỉ huy chiến dịch có ý định chuyển khu quyết chiến lên phía bắc Đắc Siêng. Đây là khu vực ta có nhiều thuận lợi. Trung đoàn 28 đã chuẩn bị kỹ, lại có sẵn cả tuyến tiếp tế, thuận lợi cho công tác bảo đàm hậu cần. Còn về địch, ở khu vực này chúng sẽ phải tiếp tế khó khăn hơn, hỏa lực chi viện bị hạn chế.

        Ngày 13 tháng 4, tiểu đoàn 3 (trung đoàn 28) phát hiện được tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) của địch đang lén lút luồn rừng tiến lên hướng núi Éc. Các chiến sĩ lập tức chặn đánh, kiên quyết buộc chúng phải dừng tại trên điểm cao 629 để tạo tình huống chiến dịch mới.

        Tiểu đoàn biệt kích số 4 di chuyển từ phía đông sang phía tây Đắc Siêng. Chúng định cùng với tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) tổ chức một bàn đạp mới cho việc tiến quân lên núi Éc, kết hợp với một mũi đổ quân thẳng đứng của tiểu đoàn 3 (trung đoàn 42) đang được thực hiện ở ngay trên núi Éc. Chúng muốn chiếm lấy điểm chốt chiến dịch rất lợi hại có tác dụng khống chế cả một vùng rộng lớn ở phía bắc Đắc Siêng của các chiến sĩ trung đoàn 28, biến nó thành một bàn đạp để từ đó đẩy ta ra khỏi thung lũng Đắc Siêng.

        Suốt hai ngày 14 và 15 tháng 4, 111 lần chiếc máy bay đủ loại bắn phá xuống vùng đất nhỏ hẹp của núi Éc. Đỉnh núi như bị úp lên một chiếc mũ lửa chồng lồ. Rừng cây bị cháy trụi, mặt đất bị đào bới, tưởng chừng như đã bị hủy diệt hoàn toàn. Nhưng cái tập thể nhỏ kiên cường của các chiến sĩ bộ binh, súng cối và súng 12,7 vẫn tồn tại. Bom đạn ác liệt không khuất phục được họ. Từ trong các công sự, họ vẫn bình tĩnh bắn những luồng đạn thẳng căng vào đàn máy bay của kẻ thù. Đã có 9 chiếc trực thăng chở đầy lính bị rơi. Một số chiếc sà thấp đổ được quân. Những tên lính vừa nhảy ra đã phải chui vội xuống hố bom tránh những viên đạn cối. Chúng cụm lại, dựa vào nhau chống đỡ trước những mũi tiến công của ta do đại đội phó Lê Minh Hộ, trung đội trưởng Trọng Thoát dẫn đầu. Bọn chỉ huy trung đoàn 42 phải cho tiểu đoàn 3 của chúng nhảy lùi xuống cạnh khu vực của tiều đoàn 1.

        Trong khu vực phía bắc Đắc Siêng, như vậy là đã có 2 tiểu đoàn của trung đoàn 42 - lực lượng chủ yếu của cuộc hành quân giải tỏa mới. Một tiểu đoàn bi đánh đau phải co cụm lại. còn tiểu đoàn kia cũng bị một đòn phủ đầu phải đổ quân kéo dài.

        Tình huống chiến dịch đã xuất hiện!

        Đêm 16 tháng  4, theo lệnh của Bộ tư lệnh mặt trận Đắc Siêng, trung đoàn 66 chỉ để lại một bộ phận nhỏ sẵn sàng đánh chặn, tiêu hao, kiềm chế nếu địch sử dụng thêm một mũi tiến công theo trục đường 14 từ hướng nam lên, còn toàn bộ trung đoàn cấp tốc vận động lên hướng bắc cùng với trung đoàn 28 và tiểu đoàn 5 (trung đoàn 24) triển khai đánh địch ở khu quyết chiến mới.

        Thế trận đã cài xong. Bộ tư lệnh mặt trận Đắc Siêng quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt tiểu đoàn 1, ngăn chặn tiêu đoàn 3, sau đó sẽ tập trung tiêu diệt nốt.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2016, 04:55:38 AM

        Tiểu đoàn 1 quân ngụy bị bao vây, bị tiến công liên tục suốt mấy ngày liền. Những khẩu ĐKZ ta đặt ở điểm cao phía đông bắn rất chính xác, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Nguy cơ tiểu đoàn 1 bị tiêu diệt càng ngây càng rõ ràng.

        Địch đổ tiểu đoàn 4 xuống phía tây bắc Đắc Siêng để tiếp sức cho tiểu đoàn 3 đang cố đánh lên núi Éc. Nhưng cả hai tiểu đoàn này đều phải quay trở lại cứu nguy cho tiểu đoàn 1.

        Những tổ chốt hỗn hợp hỏa lực và bộ binh của trung đoàn 28 ở bắc Đắc Siêng đã chặn đứng được cánh quân của tiểu đoàn 4.

        Tiểu đoàn 7 (trung đoàn 66) bám chặt tiểu đoàn 3 (trung đoàn 42 ngụy), liên tiếp đánh những trận tiêu diệt nhỏ. Bọn địch bị dồn ép, lúng túng không sao thoát ra được, cuối cùng phải co cụm lại để tự cứu lấy mình.

        Các cánh quân ứng cứu của địch đều bị chặn. Phía Tân Cảnh, các phân đội ĐKZB của trung đoàn 40 cũng vừa đánh cho địch một đòn rất đau, phá hủy 4 khẩu pháo và một kho đạn dự trữ 600 tấn, một kho xăng và làm thiệt hại nặng trung đoàn bộ trung đoàn 42. Nắm lấy thời cơ, trung đoàn 28 cho tiểu đoàn 3 cùng với tiểu đoàn 8 của trung đoàn 66 mới đến tăng cường mở đợt tiến công vào quân địch.

        Đến 15 giờ ngày 22 tháng 4, trận đánh kết thúc. Trên trận địa, các chiến sĩ vận tải nhận bàn giao những bó súng chiến lợi phẩm và chuẩn bị giải 44 tên tù binh về phía sau.

        Diệt xong tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42), thế trận của ta càng thêm vững chắc. Ờ sườn phía đông nam núi Éc, tiểu đoàn 3 (trung đoàn 42 ngụy) bị cô lập hoàn toàn.

        Bộ tư lệnh Mặt trận chỉ thị: “Phải bao vây chặt. Kiên quyết đột phá, đánh đến đâu củng cố đến đó, tiến lên dứt điểm toàn bộ”.

        Ngay trong ngày 22 tháng 4, bộ đội đào công sự khép kín vòng vây, đặt tuyến công sự thứ nhất của địch trong tầm lựu đạn.

        Súng ĐKZ, 12,7 được đưa sát vào ngay sau lưng của đội hình bộ binh, tập trung bắn vào từng đoạn chiến hào của địch, yếm hộ cho các mũi bộ binh xung phong đánh chiếm từng mục tiêu vòng ngoài.

        Súng cối và ĐKZB của trung đoàn 40 chốc chốc lại bắn vào các trận địa pháo địch ở Plây Cần, Pô Cô Hạ. Bọn pháo thủ địch thỉnh thoảng mới dám ra khỏi hầm để bắn vội mấy quả đạn chỉ viện cho đồng bọn ở phía bắc Đắc Siêng.

        Từng tốp máy bay địch thay nhau lên ném bom, bắn phá. Đạn 12,7, đạn AK cửa bộ binh ta tới tấp bắn lên. Bọn giặc lái bị đẩy lên cao, nên bom cháy, bom phả ném xuống phần lớn rơi ra ngoài khu vực. Một chiếc trực thăng vừa đổ xuống đã bị trúng đạn bốc cháy, 5 chiếc khác đeo những kiện hàng dưới bụng chưa kíp thả cũng bị ăn đạn phòng không của ta, đâm sầm xuống đất.

        Tên trung đoàn trưởng trung đoàn 42 phải đích thân mò lên chỉ huy việc tiếp tế. Ngao ngán và thất vọng, hắn phải tính đến biện pháp cuối cùng, cho trực thăng đang lượn lờ ở xa đột ngột tăng tốc độ quay ngoặt lại lao vụt ngang trận địa, thả hàng. Nhưng quá nửa những kiện hàng được đạp xuống thột cách vội vã, lại rơi vào tay quân ta.

        Bọn địch ngày càng khốn quẫn. Vòng vây quân ta siết lại dần. Đạn dược của chúng đã gần cạn. Ở nhiều hướng, súng đại liên địch phải bắn phát một cầm.chừng. Mấy chục tên bị thương không mang đi được, khát nước đang kêu gào. Trong các ngách hào, những xác chết nằm phơi dưới nắng ngay trên các bờ công sự, bắt đầu bốc mùi hôi thối. Thêm vào đó rất nhiều đài quan sát của pháo binh, bộ binh ta nằm ngay gần mục tiêu, đã hiệu chỉnh cho những quả đạn cối 82, 120 liên tục bắn vào. Thần kinh của bọn địch căng ra như những sợi dây đàn.

        Trên đỉnh núi Éc, bầy trực thăng chở lực lượng cuối cùng của trung đoàn 42 ngụy từ phía Đắc Tô lên đang bị các dũng sĩ núi Éc đánh cho tơi bời, 7 chiếc bi bắn rơi, hơn ba chục tên nhảy được xuống đất phải co cụm lại để cứu lấy mình, còn đâu mà lo ứng cứu.

        5 giờ sáng ngày 28 tháng 4, tiểu đoàn 3 địch bị “vo tròn” lại, đến 7 giờ 30 phút thì bị ta “bóp bẹp” hoàn toàn. 361 tên bị chết, 86 tên bị bắt. Ta thu được 122 khẩu súng và đếm được 17 xác máy bay đủ loại.

        Đây là một trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao. Các chiến sĩ Tây Nguyên đã sáng tạo một hình thức chiến thuật mới, dùng bao vây công kích để nâng cao trình độ đánh tiêu diệt các đơn vi địch đóng quân dã ngoại, từ đó đánh bại về cơ bản chiến thuật đóng chốt trên điểm cao vốn là một thành phần quan trọng trong chiến lược “quét và giữ” của chúng.

        Sau chiến dịch Đắc Siêng, Quân ủy Trung ương gửi điện khen ngợi cán bộ và chiến sĩ Tây Nguyên:

        …“Đợt hoạt động vừa qua, các đồng chí đã nêu cao quyết tâm khắc phục khó khăn, chiến đấu liên tục, lập nhiều chiến công. Đặc biệt mặt trận Đắc Siêng đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng, bắt tù binh, thu vũ khí, hạ nhiều máy bay, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch; đã vây ép, giam chân địch, thu hút và kéo địch ra để tiêu diệt; hoạt động quân sự đã phổi hợp và hỗ trợ tốt cho phong trào quần chúng nổi dậy phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ nhiều nơi, góp phần phá âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” và chiến lược phòng ngự của địch…

        Với tinh thần dũng cảm chiến đấu, đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ, các đồng chí đã vận dụng nhiều cách đánh linh hoạt, sáng tạo nâng cao hiệu quả chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ”.

        Tiếp theo những phần thưởng cao quý trong các chiến dịch Plây Me (1965), Đắc Tô (1967), một lần nữa quân và dân Tây Nguyên lại được vinh dự đón nhận Huân chương Quân công giải phóng hạng nhất trong chiến thắng Đắc Siêng.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2016, 04:57:36 AM
     
2. SÁT CÁNH CHIẾN ĐẤU VỚI NHÂN DÂN HẠ LÀO VÀ NHÂN DÂN VÙNG ĐÔNG BẮC CAM-PU-CHIA.

        Trong lúc đang bận rộn chuẩn bi cho chiến dịch xuân hè, các chiến sĩ Tây Nguyên nhận được tin : ngày 18 tháng 3, đế quốc Mỹ tồ chức cho bọn tay sai phản động Lon Non - Xỉ-rích Ma-tắc làm đảo chính lật đổ ông hoàng Xi-ha-núc.

        Những ngày sau, tử Cam-pu-chia, những tin tức nóng bỏng lại tiếp tục truyền về: rất nhiều đơn vị lớn của bộ binh Mỹ và bộ binh ngụy Sài Gòn dã vượt qua biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. tiến sâu vào đánh phá ở vùng đường số 2, số 4, vùng Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu và ở các tỉnh Môn-đun-ki-ri, Ra-ta-na-ki-ri.

        Ở phía Lào bọn lính Vàng Pao và lính đánh thuê Thái Lan dưới sự yểm trợ của không quân Mỹ đang ra sức lấn chiếm các vùng giải phóng của lực lượng cách mạng.

        Là những người sống và chiến đấu trên mảnh đất của Tổ quốc sát liền với hai nước bạn láng giềng, đã từng thấy rõ mối quan hệ mật thiết giữa vận mệnh của ba nước Đông Dương nên hơn ai hết, các chiến sĩ Tây Nguyên càng hiểu rõ âm mưu thâm độc mới của kẻ thù. Mở rộng xâm lược ra toàn cõi Đông Đương, đế quốc Mỹ muốn tạo ra một thế mạnh mới, lôi kéo Cam-pu-chia và Lào vào quỹ đạo của chúng, biến hai nước này thành những thuộc địa kiểu mới, cùng với chế độ phản động tay sai Nguyên Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam hình thành một khu đệm ngăn chặn làn sóng của phong trào giải phóng dân tộc. Mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia, dế quốc Mỹ còn thực hiện âm mưu thọc một mũi dùi hiểm ác vào sau lưng cách mạng miền Nam Việt Nam, tiêu diệt cơ quan dầu não kháng chiến của miền Nam, cắt đứt đường tiếp tế và phá hoại các cơ sở hậu phương.

        Với tinh thần hết lòng hết sức vì sự nghiệp cách mạng chung của nhân dân ba nước Đông Dương, các đơn vị được lệnh sát cánh cùng bạn chiến đấu đã nô nức về tập trung nhận thêm trang bị, củng cố lại tổ chức cho phù hợp rồi nhanh chóng lên đường làm nhiệm vụ.

        Những đội quân tình nguyện đều mang trong lòng tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, thủy chung, chân thành, tôn trọng nhân dân và lực lượng cách mạng bạn, chiến đấu dũng cảm, kiên cường nên dược nhân dân bạn tin cậy, yêu thương, giúp đỡ tận tình.

        Các chiến sĩ trung đoàn 24 đã chiến đấu thắng lợi ở Hạ Lào, cùng bạn Lào giải phóng tỉnh A-tô-pơ rồi hành quân cấp tốc quay xuống đông bắc Cam-pu-chia, bất ngờ đánh vào đồn Xiêm Pạng, phát triển tiếp sang phía tây, giải phóng quận lỵ Chén, Chei Xeng, Cho-em-san và thị xã Ta-ben-man-chay.

        Đi theo đường 19 tây, các chiến sĩ tiểu đoàn 394, tiểu đoàn 1 (trung đoàn 95) và tiểu đoàn 631, một số đại đội đặc công đã đuổi địch chạy dài suốt hai bên bờ sông Pô Cô và cùng với các đơn vị của Miền tiến vào Lom Phát, Bản Lung, Bô Keo.

        Sau gần hai tháng sát cánh chiến đấu cùng nhân dân hai nước, các chiến sĩ Tây Nguyên đã tiến công táo bạo, liên tiếp cùng với bạn Lào giải phóng tỉnh A-tô-pơ và cùng với nhân dân Cam-pu-chia giải phóng các tỉnh Ra-ta-na-ki-ri, Xtung Treng và Prê-a-vi-hia. Vùng giải phóng đông bắc Cam-pu-chia và Hạ Lào nổi liền với vùng giải phóng Tây Nguyên tạo nên cho cách mạng ba nước Đông Dương một căn cứ địa hoàn chỉnh và vững chắc để đưa cách mạng tiến lên.

        Đế quốc Mỹ và bọn tay sai bị giáng một đòn nặng có ý nghĩa chiến lược. Nhiều tên trong giới cầm quyền Mỹ về sau đã thú nhận việc mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia và Lào là một sai lầm có tính chất chiến lược.

*

*       *

        Ních-xơn đã thất bại trong việc mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia, thất bại trong âm mưu dùng Cam-pu-chia thọc một mũi dùi hiểm ác vào sau lưng cách mạng miền Nam. Nhưng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, trong khi vẫn phải tiếp tục rút quân, từng bước xuống thang chiến tranh, chúng còn phản công cục bộ, giành giật với ta không những trên chiến trường Việt Nam mà còn cả trên chiến trưởng Cam-pu-chia và Lào.

        Ngày 8 tháng 2 năm 1971, những đơn vị “sừng sỏ” của quân ngụy Sài Gòn (có máy bay và pháo binh Mã yểm trợ, có bộ binh Mỹ giữ bàn đạp ở phía sau) bắt đầu ồ ạt tiến đánh vào Nam Lào. Chúng cho rằng cuộc hành quân “Lam Sơn 719” đánh chiếm khu vực Đường 9 - Nam Lào, cắt đứt đường hành lang chiến lược của ta tức là phóng được một mũi dùi mới xuyên thủng dạ dày của cách mạng miền Nam. Đòn đánh này cũng hiểm ác không kém gì đòn đánh vào khu vực biên giới Việt Nam - Cam-pu chia, trong thời gian vừa rồi.

        Đoán biết được âm mưu, ý đồ và hướng hành quân cửa địch, quân và dân hai nước Việt - Lào đã dăng bẫy sẵn sàng chờ chúng.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2016, 05:09:37 AM
3. ĐẬP TAN NGAY TỪ ĐẦU CUỘC HÀNH QUÂN CỦA ĐỊCH RA VÙNG BA BIÊN GIỚI

        Theo kế hoạch cũ, Tây Nguyên sẽ dược tăng cường thêm sư đoàn 2 nên kế hoạch tác chiến của khối chủ lực cơ động sẽ là bao vây Đắc Siêng, kéo địch ra, tiêu diệt địch ở nam Đắc Siêng, ở đông, tây sông Pô Cô, rồi trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ này sẽ đánh thẳng vào Đắc Tô - Tân Cảnh, thực hiện nhiệm vụ giải phóng vùng tây bắc đắc Tô - Tân Cảnh. Ta dã làm một con đường vận chuyển từ binh trạm 37 (thuộc đường dây 559) lên thẳng khu Đắc Siêng. Bộ chỉ huy tiền phương của chiến dịch đã lên chỉ đạo triển khai những công việc chuẩn bị cuối cùng.

        Địch đánh ra Đường 9 - Nam Lào; sư đoàn 2 không vào Tây Nguyên nữa; Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh cho Tây Nguyên phải phối hợp chiến trường.

        Nhiệm vụ mới đó đặt ra cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên một số vấn đề cần phâi giải quyết kịp thời:

        - Lực lượng ít, vật chất có hạn, quyết tâm mở chiến dịch của khối chủ lực cơ động ở hướng cũ hay phải chuyển sang hướng mới?

        - Giữ vững quyết tâm giải phóng Đắc Tô – Tân Cảnh hay tạm thời gác lại?

        - Làm thế nào để phối hợp chiến trường đạt được yêu cầu “đúng lúc, kịp thời và dai sức”?

        - Làm thế nào diệt được nhiều sinh lực địch, kìm chân nhiều đơn vị địch, bảo vệ được kho tàng, hậu cứ và đoạn đường hành lang chiến lược đi qua Tây Nguyên.

        Sau khi cân nhắc kỹ giữa kế hoạch hoạt động cũ và nhiệm vụ mới vừa được giao, trên cơ sở lực lượng hiện có, Thường vụ Đảng ủy khẳng định: tình hình thay đổi, nhiệm vụ cũng đã thay đổi nên phải thay đổi quyết tâm cho phù hợp: cương quyết lật cánh chiến dịch về phía nam đường 18.

        Chuyển hướng chiến dịch về khu vực mới, ta có mấy điều lợi:

        - Địa hình bộ đội đã quen thuộc.

        - Gần hậu cứ, ở đây còn đủ đạn, gạo nên việc tiếp tế sẽ nhanh chóng, kịp thời.

        - Cùng một lúc làm được cả thấy nhiệm vụ của trên giao.

        Lúc Thường vụ Đảng ủy Mặt trận quyết định chuyển hướng chiến dịch cũng đúng vào lúc phía Chư Hinh, Chư Chóc, tây Kleng, trung đoàn 42 và liên đoàn 2 biệt động quân của địch do sư đoàn 22 trực tiếp chỉ huy bắt đầu ra sục sạo. Bộ tư lệnh Mặt trận nhận định đây là giai đoạn đầu của cuộc hành quân thăm dò, chuẩn bị bàn đạp cho một mũi tiến quân phối hợp với cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, nên chúng sẽ còn tiến lên phía bắc, ra vùng ba biên giới để đánh phá kho tàng, đánh phả hành lang chiến lược ở đoạn chạy qua vùng này.

        Trước tình hình và nhiệm vụ mới, chuyển hướng chiến dịch về nam đường 18, thực tế là một chủ chương chính xác kịp thời.

        Ngày 14 tháng 2, lúc các trung đoàn 28, 40, 66 bắt đầu chuyển hướng hành quân thì địch cũng sực sạo đến khu vực Cà Đin - xóm 9 và hai bờ sông Sa Thầy. Các chiến sĩ phải chạy đua với địch, phải chặn đánh khi chúng ra xa căn cứ.

        Tin chiến thắng từ Đường 9 - Nam Lào dội về càng giục giã bước hành quân của các chiến sĩ.

        Ngày 21 tháng 2, bọn địch cho trực thăng cẩu 4 khẩu pháo xuống điểm cao 1030.

        Ngày 26 tháng 2, từng đàn máy bay trực thăng chở bộ chỉ huy nhẹ của trung đoàn 42 cùng với tểều đoàn 2 và một pháo đội từ Chư Hinh chuyền về Ngọc Rinh Rua và chở bộ chỉ huy nhẹ sư đoàn 22 và tiểu đoàn 4 (trung đoàn 42) từ Kleng lên Plây Cần.

        Tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42 ngụy) và tiểu đoàn 2 biệt động quân vẫn hành quân bộ tiến dần lên phía bắc.

        Để tạo thời cơ chiến dịch, Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định tập trung bao vây tiêu diệt tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) là tiểu đoàn mạnh nhất, gần ta nhất và lại đi đầu đội hình sục sạo của địch. Bao vây tiêu diệt tiểu đoàn 1, quân địch tất phải ứng cứu và sẽ sa vào thế trận của ta.

        Ngày 27 tháng 2, bộ phận đi trước của tiểu đoàn 7 (trung đoàn 66) chạm địch ở điểm cao 842, nổ súng diệt một số nhưng không bao vây được nên tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42 ngụy) lợi dụng đêm tối di chuyển đi nơi khác.

        Sáng ngày 28 tháng 2, ở phía bắc điểm cao 935, một phân đội hỗn hợp của ta gồm đại đội 5 (tiểu đoàn 8 ) và đạt đội 49 súng máy 12,7 của trung đoàn 40 phát hiện tiểu đoàn 1 địch tiến lên vị trí chốt của mình. Các chiến sĩ đồng loạt nổ súng và xuất kích diệt địch. Bị đánh chặn đầu dữ dội và bất ngờ, cánh quân địch quân lại rồi lùi về co cụm trên điểm cao 935. Hai tiểu đoàn 7 và 8 (trung đoàn 66) kịp thời vận động đến bao vây. Tiểu đoàn 9 (trung đoàn 66) được điều lên chiếm điểm cao 923 sẵn sàng chặn đánh không cho tiểu đoàn 22 biệt động sang ứng cứu. Tiểu đoàn 3 (trung đoàn 28) tiến vào nam điểm cao 875, hình thành thêm vòng vây thứ hai của chiến dịch.

        7 giờ sáng ngày 1 tháng 3, trận công kích vào tiểu đoàn đích ở điểm cao 935 bắt đầu. Trong đội hình, các chiến sĩ xung kích đại đội 2 tiểu đoàn 7 (trung đoàn 66) nổi bật lên với tác phong xuất kích kiên quyết, xung phong mạnh mẽ, đánh mạnh, đánh gần, truy kích đến cùng. Trong lửa đạn, khói bom mù mịt của ké thù, các chiến sĩ đại đội 1 vận tải vẫn xông lên tiếp đạn kịp thời cho pháo thủ, thực hiện quyết tâm: “bộ đội cần, vận tải có mặt, quyết không vì hậu cần mà làm ảnh hưởng đến chiến đấu”.

        Một phân đội cối 82 của trung đoàn đã bắn nổ tung kho đạn địch trên điểm cao 1030, phá hủy 4 khẩu pháo 105 và giết chết một số lớn bọn lính tiểu đoàn 2 (trung đoàn 42) vừa chân ướt chân ráo từ trên trực thăng nhảy xuống định cùng với tiểu đoàn 22 biệt động quân đi cứu viện cho tiểu đoàn 1.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2016, 05:13:10 AM

        12 giờ trưa, đợt công kích thứ hai vào điểm cao 935 lại tiếp tục Các loại hỏa lực cối, ĐKZ, 12,7, súng phun lửa, B40, B41... tập trung bắn chế áp phá hủy thêm nhiều công sự địch. Các chiến sĩ đại đội 2 thọc sâu vào tuyến trong, đánh trúng sở chỉ huy địch, tạo điều kiện cho các đại đội bạn xung phong. Đến 14 giờ, tiểu đoàn 7 hoàn toàn làm chủ trận địa. Tiểu đoàn 1 địch bị tiêu diệt, 72 tên bị bắt, 5 trực thăng bị bắn rơỉ. Với chiến thuật bao vây công kích, tiểu đoàn 7 đã nâng tốc độ đánh tiêu diệt lên một bước mới.

        Ngày 3 và 4 tháng 3, trung đoàn 66 tiếp tục tiến công đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 2 (trung đoàn 42) và tiểu đoàn 22 biệt động.

        Chỉ trong 6 ngày ra quân, quân ngụy bi diệt gọn 1 tiểu đoàn, 2 tiểu đoàn khác bị đánh mất sức chiến đấu. Sư đoàn 22 ngụy buộc phải cho lực lượng còn lại rút chạy khỏi vùng núi Ngọc Tô Ba.

        Cuộc tiến công ra vùng ba biên giới để phối hợp với cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của địch bị đạp tan ngay từ trong giai đoạn triển khai.

        Quân địch từ tiến công phải rút về phòng ngự ở tuyến Plây Cần, Đắc Mót, Tân Cảnh. Không bỏ lỡ thời cơ, ta chủ trương từ phản công chuyển sang tiến công để phát huy quyền chủ động liên tục trên chiến trường, đẩy địch vào thế bị động và buộc chúng phải bỏ hẳn ý đồ đánh ra vùng ba biên giới.

        Hướng tiến công của ta lần này nhằm vào điểm cao Ngọc Rinh Rua là điểm khống chế có vi trí chiến thuật quan trọng trong tuyển phòng ngự của địch. Địch đã đặt ở đây một căn cứ hỗn hợp bộ binh, pháo binh. Diệt được Ngọc Rinh Rua thì tuyến phòng ngự Plây Cần - Đắc Mót - Đắc Tô sẽ bi uy hiếp trực tiếp, buộc địch phải ra giải tỏa. Ta sẽ nhử địch vào khu quyết chiến xung quanh Ngọc Rinh Rua.

        Đêm 30 tháng 3, các chiến sĩ tiểu đoàn 7, đại đội 19 đặc công và các chiến sĩ ĐKZ của trung đoàn 66 bí mật gỡ mìn, cắt rào kẽm gai bao quanh Ngọc Rình Rua, tiến vào ém quân quanh cứ điểm địch.

        Trung đoàn 28 và trung đoàn 311 cùng bộ phận còn lại của trung đoàn 66 cũng đã chiếm lĩnh xong các vị trí chặn địch ở Đắc Tô lên, Đắc Mót vào.

        5 giờ ngày 31 tháng 3, tiếng mìn định hướng của tiểu đoàn 7 nổ rền mở màn trận tiến công. Trong lúc tiếng vọng của bộc phá và mìn định hướng còn âm vang trong vách núi, thì từ ba hướng, chiến sĩ ta bật dậy lao qua cửa mở đánh chiếm lô cốt đầu cầu. Mũi hướng đông và hướng bắc gặp khó khăn, bộ đội bị hỏa lực địch ngăn chặn. Ở hướng chính phía đông bắc còn vướng một hàng rào. Hai khẩu đại liên của địch bắn chéo cánh sẻ như đổ đạn ra cửa mở. Một số chiến sĩ bị thương. Đại đội trưởng đại đội 2 Nguyễn Văn Doãn nhanh trí lấy khẩu B40, lựa thế bắn liền 2 quả, dập tắt 2 hỏa điềm lợi hại, yểm hộ cho Vương Văn Chài ôm bộc phá tiến lên. Sau chớp lửa sáng lòa, lớp rào cuốì cùng bị tung đi một mảng lớn. Doãn và Chài dẫn đầu đội hình xung kích lao qua màn khói, thọc nhanh vào chiêm lô cốt đầu cầu rồi phát triển sang phía phải diệt thêm lô cốt thứ hai và thứ ba, bắt tên tù binh đầu tiên của trận đánh. Chớp thời cơ đó, tổ xung kích của Vương Văn Chài vừa tạo được, các tổ xung kích khác liên tiếp lao vào mở rộng phạm vi tiến công. tám lô cốt và một số công sự đã bị ta đánh chiếm, khu cố vấn bị diệt. Ba tên Mỹ bị các chiến sĩ gí súng vào mạng sườn phải đưa tay chịu trói.

        Các mũi bạn chưa vào được. Địch tập trung đối phó với đại đội 2 và chiếm lại một số khu vực. Đại đội trưởng Doãn bị thương nặng, chính trị viên Bảy và chính trị viên phó Quyết cùng với 8 chiến sĩ kiên quyết trụ bám, đẩy địch ra khỏỉ từng căn hầm, từng công sự, khôi phục lại các vị trí và tiếp tục phát triển sâu vào bên trong.

        Pháo địch bắn tới. Các đội kiềm pháo của trung đoàn 40 lập tức bắn trả, 6 khẩu pháo với ngót 30 tên pháo thủ cùng 5 xe địch bị tan xác.

        Hai khẩu ĐKZ được điều vào bên trong hàng rào chi viện trực tiếp cho bộ binh. Đến 10 giờ đại đội 2 chiếm được một phần ba cứ điểm, đại đội 3 dược lệnh bỏ hướng đông, theo cửa mở của đại đội 2 vào chiến đấu. Địch bị hất xuống khu tây nam điểm cao.

        Máy bay AD6, A37 từng tốp thay nhau giội bom xung quanh hàng rào, lửa na-pan chảy rừng rực trên các khu cửa mở. Súng cao xạ 12,7, súng AK của bộ binh ta tới tấp bắn lên. Hàng chục chiếc trực thăng bay tới. Lợi dụng lúc đồng bọn phóng rốc-két, bắn đạn 20 mi-li-mét chia cắt quân ta, hai chiếc sà xuống đinh bốc bọn chỉ huy. Vương Văn Chài giương sủng bắn một loạt đạn ngắn, chiếc trực thăng rơi bịch xuống hàng rào. Một chiếc khác bị đạn cối bắn trúng cháy bùng lên khi mới vừa chạm đất.

        Đại đội 1 đánh bật được bọn địch ngăn chặn và từ hướng bắc tiến vào. Bên trong, các chiến sĩ tiểu đoàn 7 hình thành 4 mũi thọc sâu đánh vào sở chỉ huy, khu thông tin và trận địa pháo. Khu trung tâm căn cứ bị đánh chiếm. Máy bay đích thả hỏa mù vào bên trong cứ điểm và giội bom cháy xung quanh, tạo một bức màn khói che mắt ta cho bọn tàn quân tháo chạy. Một tiểu đội bộ binh và một tiểu đội súng cối của đại đội 3 vận động ra phục sẵn ở phía nam “cất vó” không sót một tên nào.

--------------------------
        1. Trung đoàn 31 thuộc sư đoàn 2 vào tăng cường cho Tây Nguyên cuối tháng 3; tháng 6 lại về Quân khu 5.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2016, 05:13:27 AM

        Tiểu đoàn 7 (trung đoàn 66) một lần nữa lại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mở ra một bước phát triển mới cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên: tiêu diệt một tíểu đoàn địch trong công sự vững chắc giữa ban ngày và ngay trong tầm phi pháo ác liệt.

        Vương Văn Chài, người chiến sĩ xung kích số một của đại đội 2 đã phá tung cửa mở trước nhất, đánh chiếm lô cốt đầu cầu trước nhất, bắt tù binh trước nhất, bắn rơi máy bay trước nhất và đánh chiếm sở chỉ huy địch trước nhất, rất xứng đáng dược mang danh hiệu “Dũng sĩ 5 nhất” mà cả đơn vị đã tin yêu trao tặng.

        Ngay trong đêm, đại đội 8 pháo binh (trung đoàn 40) được lệnh cấp tốc lên Ngọc Rình Rua lấy pháo địch bắn vào Đắc Tô. Trên trận địa, 4 khẩu pháo địch đang quay nòng về phía hậu cứ ta với những đống đạn chất cao vàng chóe. Chính những khâu pháo này gây thương vong cho đồng đội, bắn phá buôn làng cửa đồng bào, phải quay ngược lại bắn trả vào đầu giặc. Đại dội trưởng Phạm Ngọc Minh cùng các chiến sĩ đại đội 8 gấp rút kiểm tra pháo, đạn, chuẩn bị trận địa. Một khẩu bị xẹp lốp, một khẩu bi vỡ kính ngắm và trong buồng đạn của mỗi khẩu các chiến sĩ còn lôi ra được một khối bộc phá lớn, địch chưa kịp giật nụ xòe.

        Sáng ngày 1 tháng 4, sương mù vừa tan, căn cử đích ở Đắc Tô và dọc đường 18 hiện rõ trong kính ngắm. Những khẩu pháo chiến lợi phẩm bắt đầu nhà đạn. Pháo thủ số 1 Hà Tiến Chiến thành thạo điều khiển nòng pháo mất máy ngắm, lúc sang phải, lúc sang trái, lúc nâng lên, hạ xuống theo lệnh hô của khẩu đội trưởng Đỗ Đắc Toàn, cùng đồng đội đưa những quả đạn giội chính xác vào các mục tiêu. Trong căn cứ Đắc Tô 2, một kho hàng bốc cháy, một khu nhà lính đổ sập, hai khẩu pháo địch gãy rời. Cả khu vực Đắc Tô - Tân Cảnh rung chuyển trong tiếng gầm của đạn pháo trả thù.

        Từ hướng Công Tum, 1 chiếc OV10 bay lên nghiêng ngó chỉ điểm cho mấy chiếc AD6 ném bom vào trận địa. Một tốp trực thăng vũ trang sà xuống bắn đạn 20 mi-li-mét vào các công sự pháo. Khói lửa cuộn lên, một số chiến sĩ bị thương, nhưng những pháo thủ kiên cường của đại đội 8 vẫn tiếp tục lao đạn, lấy phần tử bắn, giội lửa xuống căn cứ địch. Các chiến sĩ đại đội 8 pháo binh (trung đoàn 40) đã mở đầu cho phong trào thi đua “đoạt pháo dịch, diệt địch” trong lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên.

        Mất Ngọc Rinh Rua, địch để mất một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng ngự tây nam Tân Cảnh. Suốt từ ngày 1 đến ngày 16 tháng 4, bọn ngụy xua 20 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 22, 23 và liên đoàn 2 biệt động quân, lữ đoàn 2 dù lên khu vực Ngọc Rinh Rua để mở những đợt phản kích.

        Đặc điểm của khu quyết chiến là nằm kề ngay tuyến phòng ngự cơ bản cửa địch, đồng thời cũng là tuyến xuất phát phản kích, nên rất khó bao vây chặt. Địch dễ chạy, lại tập trung được nhiều hỏa lực pháo binh chi viện. Nắm được những đặc điểm đó, ta kết hợp thế trận bố trí sẵn với cơ động cao, giữ bí mật bất ngờ lừa địch từng bước bằng cách “thả mồi” nhường cho địch vài vị trí có lợi, kéo địch vào sâu, sau đó dùng lực lượng bố trí sẵn chặn lại tiến công kiên quyết không cho chúng chạy. Lúc đó lực lượng cơ động mau chóng hình thành bao vây phía sau, thực hành tiến công tiêu diệt địch. Bằng cách đó, xung quanh Ngọc Rinh Rua, ta đã làm cho lực lượng của quân đoàn 2 ngụy không chịu đựng nổi, phải cầu cứu đến lực lượng tổng dự bị. Cũng tại đây ta đã diệt được 3 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 9 tiểu đoàn khác.

        Bọn địch rất hoang mang vì đến đâu cũng bi đánh, bị diệt. Tiểu đoàn 4 (trung đoàn 42 ngụy) từ điểm cao 867 đi xuống lọt vào khu trú quân của tiểu đoàn 8 của ta. Các chiến sĩ nuôi quân củng với một khẩu đội cối 82 đã nổ súng chặn địch. Nghe tiếng súng, một trung đội của đại đội 7 trên đường từ trận địa trở về chạy tới hiệp đồng, giữ chặt địch lại cho ban chỉ huy tiểu đoàn 8 có thời gian điều thêm lực lượng tới đánh chứng thiệt hại nặng.

        Trong lúc các trung đoàn 66, 28 và tiểu đoàn 7 (trung đoàn 3) đánh địch ở khu vực Ngọc Rinh Rua, các chiến sĩ đặc công tập kích vào Trí Lễ, Đắc Tô diệt 73 xe quân sự và nhiều tên địch. Các chiến sĩ pháo binh kiềm chế gắt gao các trận địa pháo địch, phá huỷ, phá hỏng 23 khẩu. Trên đường 14, 18, các đoàn xe tiếp tế, chở quân của địch cũng liên tiếp bị chặn đánh.

        Cả phía trước, phía sau bọn địch đều bị tiến công. Ở vùng bắc Công Tum, sĩ quan, binh sĩ các đơn vị của quân đoàn 2 lại diễn lại cảnh tranh cướp, bắn giết nhau bám càng máy bay trực thăng Mỹ chạy khỏi “vùng đất chết” như những bậc “đàn anh” của chúng ở Đường 9 - Nam Lào.

        Ý đồ của địch hành quân ra đánh phá hậu cứ, hành lang chiến lược của ta ở Tây Nguyên hoàn toàn bị đập tan. Bộ đội Tây Nguyên đã thu hút, giam chân một lực lượng lớn chủ lực cơ động của quân đoàn 2, thực hiện tốt nhiệm vụ phối hợp chiến trường. Trong trận đánh Ngọc Rinh Rua, do bộ đội có quyết tâm cao, cán bộ chỉ huy kiên quyết, táo bạo, giải quyết được bước đầu có hiệu quả việc kiểm diệt pháo địch, khống chế máy bay, nên ta đã nâng được trình độ đánh công sự vững chắc lên một bước mới: đánh ban ngày và trong một thời gian ngắn. Điều đó mở ra cho bộ đội lòng tin mới, làm tiền đề thắng lợi cho nhiệm vụ đánh vào các tuyến phòng ngự của địch.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2016, 05:48:51 AM

4. PHÁ VỠ KẾ HOẠCH “BÌNH ĐỊNH” CỦA ĐỊCH Ở KHU VỰC NAM THỊ XÃ PLÂY CU

        Để đánh địch một cách toàn diện và giáng cho chúng đòn đau hơn nữa, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên cho mở tiếp mặt trận thứ hai phối hợp kịp thời với những hoạt động của khối chủ lực cơ động trên hướng bắc Công Tum, đánh vào bọn “bình định”, thành phần cơ bản thứ hai của chiến dịch phản công của kẻ địch.

        Chọn trọng điểm phá ấp giành dân ở khu vực tam giác Phú Nhơn - Phú Thiện - Mỹ Trạch nhằm vào nơi địch yếu và có nhiều sơ hở, ta có điều kiện tiêu diệt, làm tan rã hệ thống kìm kẹp của đích từ quận đến xã, phá từng mảng hệ thống “ấp chiến lược”; thu hút, giam chân, tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực địch; xây dựng và phát triển chiến tranh du kích, tạo bàn đạp cho chủ lực hoạt động; củng cố đường hành lang Đông - Tây nối liền hai vùng giải phóng Gia Lai và Đắc Lắc.

        Lực lượng ta ở khu vực trọng điểm, ngoài trung đoàn 95 và các đơn vi tăng cường (tiểu đoàn 20 đặc công, tiểu đoàn 6 của trung đoàn 24) còn có các đơn vi bộ đội địa phương, dân quân du kích của hai tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc. Ở đây địch đã biến mỗi “ấp chiến lược” thành một vi trí phòng thủ tương đối vững chắc, nên đòn tiến công quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp phá vỡ từng mảng “ấp chiến lược”, tiêu diệt và làm tan rã lớn lực lượng kìm kẹp, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.

        Đêm 15 tháng 3, tiểu đoàn 20 tiến vào chi khu quận lỵ Phú Nhơn. Vì phải chuyển sang cường tập, nhiều chiến sĩ ta lập tức nằm đè lên hàng rào làm cầu cho đồng đội vượt lên đánh chiếm lô cốt đầu cầu, rồi tỏa nhanh ra các mục tiêu. Đại đội 1 bộ binh (tiểu đoàn 1) cũng tiến vào phối hợp. Sau 4 giờ chiến đấu, ta diệt gọn 2 đại đội bảo an, 1 trung đội công binh Mỹ, 1 trung đội thiết giáp cùng với toàn bộ lực lượng cảnh sát và cơ quan hành chính.

        Cùng lúc đó, đại đội 2 (tiểu đoàn 394) diệt đồn bảo an Plây Kly Phun, bắt sống tên quận phó Phú Nhơn.

        Đại đội 19 diệt bọn tề ác ôn sống lưu vong ở Đôn Hòa. Đồng bào hai ấp Tung Mơ, Tung Dao được mở kèm, sung sướng đi theo đội công tác và dân quân huyện 5 (Gia Lai) trở về quê cũ.

        Trong một đêm, một chi khu quận lỵ bị diệt, hàng chục “ấp chiến lược”, khu dồn ở xung quanh bị phá tan. Hệ thống kìm kẹp của địch trong một khu vực rộng lớn đang rung chuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân phía Phú Thiện, Mỹ Trạch, Quang Nép nổi dậy. Kể hoạch “bình định” ở khu vực này của địch dang có nguy cơ đổ sụp. Quân đoàn 2 phải tức tốc điều động quân đối phó.

        Mờ sáng ngày 16 tháng 3, 2 chiến đoàn bộ binh, 2 chi đoàn xe bọc thép địch từ hai phía đánh ép vào Phú Nhơn. Trên địa hình trống trải và bằng phẳng, địch phát huy được sức mạnh của máy bay, pháo binh, xe tăng, xe bọc thép. Mặt đất bi cày xới, đất đá tơi vụn ra. Nhưng từ trong những công sự đã sụt lở, các chiến sĩ đầu tóc bi cháy sém vẫn bám trụ, giữ vững vi trí chiến đấu của mình.

        Đại đội 9 (tiểu đoàn 6) cùng với 2 khẩu đội cối của đại đội 12 và đại đội 13 chốt giữ buôn Dung và buôn Tao Cho đã đánh lui bảy đợt xung phong của gần 2 tiểu đoàn và 1 chi đội xe bọc thép, diệt 1 đại đội địch.

        Đại đội 18 công binh được 200 đồng bào xã E 14, E15 (huyện 5 Gia Lai) góp sức, bố trí hai bãi mìn và ba bãi vật chướng. ngại, diệt 7 xe M113 cùng với 80 tên lính ngụy ở nam, bắc Phú Nhơn.

        Năm ngày địch phản công là năm ngày chúng liên tiếp bị thất bại. Vì tập trung quân đối phó nên nhiều nơi bị sơ hở. Giải tỏa không được, lại còn mất thêm các ấp Plây Thơi, Plây Mun, Đê A lăng, Gô Cung và các khu đồn lớn Plây Lon Dù, Plây Lon Ngó, Quang Nép. Bọn địch phải lùi lại củng cố và chuẩn bị cho cuộc phản kích lần sau.

        Lực lượng ta phối hợp tương đối tốt giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, đánh đồng loạt vào hệ thống kìm kẹp, phát động quần chúng nổi dậy có trọng điểm, từng bước tạo được thế liên hoàn.

        Ngày 20 tháng 3 trung đoàn 95 chuyển hướng tác chiến xuống vùng nam bắc Plây Bô; hình thành một thế trận tiêu diệt quân chủ lực địch, kìm hãm chúng, tạo điều kiện cho các nơi khác diệt kẹp, giành dân phát huy thắng lợi.

        Đêm 1 tháng 4, súng cối và ĐKZ ta pháo kích dữ dội vào đồn Mới, gây cho địch những  thiệt bại nặng. Trong lúc đó đại đội 1 (tiểu đoàn 1) cùng với các đội công tác đột nhập vào buôn Sâm ấp Plây Bôi. Gần 1.000 đồng bào được mở kèm đã phá rào mang đồ đạc về vùng giải phóng và trải ra các làng ở phía đông đường 14. Chiến đoàn 45, 47 cùng với 2 chi đoàn thiết giáp địch lại bị hút vào khu chiến mới.

        Ở trận địa buôn Sâm, 3 đại đội bộ binh và 14 xe tăng địch chia thành ba mũi đánh vào đại đội 3, tiểu đoàn 1 và một khẩu đội ĐKZ.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2016, 05:49:16 AM

        Ngay phút đầu, ta tiêu dỉệt hai xe tăng, địch lùi ra lại bị bồi tiếp một quả mìn định hướng. Máy bay địch kéo tới bắn phá, ném bom suốt 7 giờ liền rồi mới dám cho bộ binh tiếp tục tiến vào. Khẩu ĐKZ bị địch bắn hỏng, anh em dùng thủ pháo, lựu đạn diệt địch.

        Trận địa vẫn được giữ vững. Xung quanh chốt buôn Sâm có 90 xác giặc và 4 xác xe tăng nằm ngổn ngang. Riêng các chiến sĩ ĐKZ đã diệt 40 tên địch và bắn cháy 2 xe.

        Trong 7 ngày địch bị diệt 2 đại đội, bị thiệt hại nặng 7 đại đội khác, bị phá hủy 31 xe tăng, xe bọc thép, 4 khẩu pháo và 2 máy bay.

        Đêm 10 tháng 4, tiểu đoàn 6 đột nhập vào Plây Keng Dếch, giải phóng hơn một nghìn dân, phá tan “ấp chiến lược” cuối cùng của địch trong khu vực quận lỵ Phú Nhơn và Plây Bôi, Phú Quang.

        Sau trận này, trung đoàn quyết định cho lực lượng lui về phía tây chiếm địa hình có lợi để dụ địch vào sâu hơn nữa.

        Đêm 14 tháng 4, ở tây bắc buôn Sâm 4 ki-lô-mẻt, tiểu đoàn 394 đã đánh một trận xuất sắc diệt gọn tiểu đoàn 2 (trung đoàn 45 ngụy), kết thúc giòn giã đợt hoạt động thứ hai của trung đoàn.

        Sau đó địch đưa 8 tiểu đoàn của trung đoàn 44. 45, 47, 53 và 1 tiểu đoàn biệt động về xây dựng lại hệ thống phòng thủ xung quanh Phú Nhơn, Phú Thiện, ngã ba Mỹ Trạch và dọc hai bên dường 14, 21, đường 7, củng cố lại hệ thống ngụy quyền, líp lại một số khu vực mới mất.

        Sau 20 ngày củng cố, rút kinh nghiệm và có thêm trung đoàn 24 từ Cam-pu-chia trở về, ngày 20 tháng 5, các chiến sĩ ta lại tiếp tục ra quân bước vào trận chiến đấu mới. Địa bàn tác chiến kéo dài từ vùng Mỹ Trạch, Phú Nhơn tới nam cầu Ia Hleo. Ở đó ta đã căng địch ra chọn chỗ địch yếu nhất mà tiến công.

        Trung đoàn 24 đánh thiệt hại nặng nhiều đại đội và diệt gọn một chi đội xe bọc thép ở Mỹ Trạch. Trung đoàn 95 lừa địch ra xa đường 14, bố trí thành thế trận đánh vận động nên đã tạo được thế mạnh hơn hẳn địch, diệt gọn tiểu đoàn 2 (trung đoàn 45 ngụy) vừa mới thành lập lại và đưa ra chiến dấu ở vùng núi Chư Kia và điểm cao 364.

        Sau đó, ngày 12 tháng 6, trung đoàn chuyển xuống pháo kích Cẩm Ga và cho tiểu đoàn 394 kiên trì phục kích ở bác Cẩm Ga, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 (trung đoàn 45 ngụy), diệt gọn 1 chi đội xe bọc thép trên đường chúng kéo quân từ Phú Nhơn về cứu viện, kết thúc thắng lợi chiến dịch phá ấp giành dân ở vùng trọng điểm và trên cả chiến trường.

        Qua 3 tháng hoạt động, chúng ta đã giành lại quyền làm chủ với nhiều mức độ khác nhau cho 20.725 người; giáo dục cho 1.033 gia đình và 772 binh sĩ ngụy hiểu rõ chính sách của cách mạng; 18 trung đội dân vệ, phòng vệ dân sự rã ngũ và mang súng ra hàng; 13 nghìn lượt người đã đứng lên đấu tranh chống địch dồn làng, bắt lính và chống đàn áp, bắn phá. Một khí thế cách mạng mới đã dấy lên và ngày càng phát triển trong các vùng tạm chiếm ở đô thị và nông thôn Tây Nguyên.

        Sáu tháng qua, bọn địch liên tiếp bi bất ngờ. Vừa bị đòn phủ đầu ở Ngọc Tô Ba, đã phải lo chống đỡ với đòn đánh ở Phú Nhơn, Phú Thiện. Đang lúng túng ở Phú Nhơn, Phú Thiện thì đòn tiến công mới cửa đối phương lại giáng xuống khu vực Ngọc Rinh Rua. Bọn chỉ huy quân đoàn 2 ngụy đầu óc rối mù. Tinh thần sĩ quan, binh lính suy sụp. Hầu như toàn bộ chủ lực quân đoàn 2 đã bất lực trong phản kích giải tỏa trước sức mạnh tiến công của chủ lực ta có số lượng ít hơn rất nhiều. Trong phản công, quân địch bị đánh bại nhanh chóng, không dám trụ lại chống đỡ, đã rút chạy chiến dịch, Trong phòng ngự, chúng không giữ được điểm ở tiền duyên, bất lực cả trong phân kích ở khu vực sát nách tuyến phòng ngự cơ bản.

        Trên mặt trận “bình định”, quân chủ lực ngụy là lực lượng nòng cốt cũng đã phải lùi một bước mặc dù chúng phát huy được mọi thứ hỏa lực của phi pháo, xe tăng, xe bọc thép.

        Quân đoàn 2 dã dốc túi tới 25 trong số 31 tiều đoàn chủ lực của mình mà vẫn không đủ đối phó. Chúng phải xin thêm 6 tiểu đoàn của 2 lữ đoàn dù dự bi chiến lược. Nhưng càng tung quân ra nhiều thì càng bi tiêu diệt lắm. Hơn 80% tổng số đơn vị chủ lực ngụy tham chiến đã bị tiêu diệt và bị đánh thiệt hại.

        Nhiều đơn vị chủ lực của ta đã diệt gọn từng tiểu đoàn, đánh quỵ, đánh thiệt bại từng trung đoàn địch ngoài dã ngoại và bước đầu đã đánh địch trong công sự vững chắc thành công.

        Điều đó cho phép ta khẳng định một điều quan trọng: “Chủ lực ta mạnh hơn hẳn chủ lực quân đoàn 2 ngụy”1. Ngày 29 tháng 6 năm 1971, đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đẩng đã nhận xét:

        “…Ở đồng bằng Khu 5 và Tây Nguyên, địch đã thất bại rõ ràng. Ở đây ta và địch giằng co nhau quyết liệt, ta vẫn nắm được quyền chủ động chiến trường và giữ vững thế ba vùng hỗ trợ lẫn nhau...”2.

--------------------------
        1. Trích Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên, tháng 7 năm 1971.

        2. Trích điện số 476 của đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Ban Chấp Trung ương Đảng gửi Trung ương Cục, ngày 29 tháng 6 năm 1971.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2016, 05:50:43 AM

5. CHUẨN BỊ CHO MÙA KHÔ TIẾP THEO

        Khối chủ lực Tây Nguyên đã qua “mùa làm ăn”, tập trung về hậu cứ để củng cố, huấn luyện. Trên chiến trường chỉ còn tiếng súng của bộ đội địa phương, dân quân du kích và một số rất ít những đơn vị bộ đội chủ lực đang làm nhiệm vụ đánh địch, bảo vệ địa phương và tiếp tục duy trì tiến công vào các hậu cứ, kho tàng, đường giao thông, buộc địch phải căng kéo lực lượng ra đối phó tạo điều kiện cho khối chủ lực củng cố, huấn luyện.

        Thực tế ở Tây Nguyên trong suốt những năm qua đã chứng minh rằng chất lượng của bộ đội tốt, sức chiến đấu càng cao, hiệu suất chiến đấu càng lớn, thắng lợi càng to. Đó là cơ sở để thực hiện tư tưởng chỉ đạo tác chiến lấy ít thắng nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng dông. Đánh những trận thắng lớn bằng binh lực nhỏ là phù hợp với tình hình và nhiệm vụ của chiến trường.

        Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận chú trọng củng cố, nâng cao chất lượng bộ đội một cách toàn diện: chính trị tư tưởng, tổ chức và kỹ thuật, chiến thuật. Việc nâng cao chất lượng chính trị của bộ đội được tiến hành bàng nhiều biện pháp, nhiều hình thức phong phú nhưng tựu trung là làm cho bộ đội hiểu được sâu sắc hai nhiệm vụ chiến lược: giải phóng miền Nam và bảo vệ miền Bắc; hiểu được mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ thấy rõ con đường của cách mạng miền Nam là đi lên chủ nghĩa xã hội. Các chiến sĩ Tây Nguyên đều nhận thức rằng đối với họ, giải phóng miền Nam, trước hết là giải phóng Tây Nguyên, giải phóng đồng bào các dân tộc Xê Đăng, Gia Rai, Mơ Nông, Ê Đê, Việt... đang bị địch kìm kẹp khổ cực ngay trên mọi vùng đất của Tây Nguyên này.

        Đó là nhiệm vụ, đồng thời là lòng tin sắt đá của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đối với cách mạng. Việc giáo dục trách nhiệm, tình cảm gắn bó với Tây Nguyên, chiến đấu giải phóng Tây Nguyên là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu. Chính những cái đó làm cho người chiến sĩ Tây Nguyên vượt qua được mọi khó khăn, gian khổ, yên tâm, phấn khởi, kiên cường bám trụ chiến đấu trên chiến trường.

        Trong khi giáo dục nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang, các đơn vị không coi nhẹ việc tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, vận động nhân dân. Những cán bộ, chiến sĩ ưu tú nhất dã được các đơn vị cử về địa phương tổ chức vận động, xây dựng con người mới, nếp sống mới, cách làm ăn tập thể - mầm mống của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

        Ngay trong những tháng mùa khô, từng đoàn cán bộ của Mặt trận đã về các huyện, xã cùng địa phương kiện toàn ban cán sự, cơ quan huyện đội. Số cán bộ người dân tộc dược Mặt trận đào tạo bổ sung cho cơ sở địa phương đã đạt tới tỷ lệ 74,13 %. Qua hai lớp tập huấn ở Mặt trận và 18 lớp tập huấn ở huyện, trình độ chính trị, quân sự của các cán bộ huyện đội, xã đội được nâng lên đã có thể bảo đảm tốt được nhiệm vụ chỉ đạo phong trào và chỉ huy chiến đấu. Nhiều đại đội huyện đã diệt được trung đội địch. Nhiều xã như xã Gào, xã Reo, Đê Kia, Chiu Riu, B6, B7, Đắc Ui... đã chống càn thắng lợi, bắn rơi được máy bay, bảo vệ được buôn làng, nương rẫy.

        Bộ đội và nhân dân gắn bó với nhau như ruột thịt. Đơn vị và địa phương đoàn kết, thống nhất cùng chỉ đạo chiến đấu, sản xuất và công tác.

        Qua những chiến dịch, qua thực tế các trận chiến đấu càng chứng minh vai trò quan trọng của công tác xây dựng và huấn luyện trong việc nâng cao sức chiến đấu cho các lực lượng vũ trang.

        Địch có xu hướng ngày càng đi sâu vào phòng ngự, lấy hỏa lực và công sự vững chắc làm chủ yếu, kết hợp cơ động phản kích chống đỡ với ta. Do đó, huấn luyện nâng cao trình độ đánh công sự vững chắc của bộ đội là một đòi hỏi cấp bách.

        Trong phản kích, địch thường dùng đội hình dày đặc, sử dụng lực lượng lớn và khi bị đánh đau thì co lại thành những cụm lớn nên công tác huấn luyện lần này ta chủ trương đi sâu huấn luyện chiến thuật bao vây công kích với lực lượng lớn, từ một đến hai trung đoàn.

        Địch đã hạn chế những cuộc hành quân xa căn cứ, các trận đánh thường diễn ra gần tuyến phòng ngự cơ bản của chúng, trên các trục giao thông, nên phải chú trọng huấn luyện cho chiến sĩ giải cách đánh tăng, đánh xe bọc thép.

        Một số đơn vị bộ binh còn huấn luyện kỹ chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt, đánh địch trên các địa bàn trống trải, tập luyện thêm cách đánh tập kích ban đêm có trụ bám lại, tiêu diệt triệt để quân địch và xử trí tình huống khi phải chuyển sang đánh ngày.

        Các đơn vị binh chủng học cả ba cách đánh: cách đánh của binh chủng mình, cách đánh của bộ binh và đánh máy bay để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của binh chủng và hợp đồng tốt với đơn vị bạn trong các tình huống chiến dịch, phát huy cao độ sức mạnh của binh chủng, phát huy được toàn bộ thế trận tổng hợp của chiến dịch. Riêng pháo mặt đất, pháo cao xạ với yêu cầu chi viện chặt chẽ, kịp thời và có hiệu lực cho bộ bình nên đã tập trung luyện cách đánh gần, nằm ngay trong đội hình của bộ binh, tích cực tiến công, bám trụ kiên cường, bắn trúng, bắn đúng thời cơ, hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh trong từng tình huống chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2016, 05:51:26 AM

        Tư tưởng chiến thuật được quán triệt trong mọi hành động chiến đấu của bộ đội, xây dựng tác phong chiến đấu tốt rèn luyện kỹ thuật và chiến thuật phân đội giỏi đồng thời phát huy cao độ tinh thần chủ động, linh hoạt, mưu trí, sáng tạo của mỗi cá nhân.

        Tư tưởng tiến công, tư tưởng đánh tiêu diệt được thể hiện trong rèn luyện:

        “Xuất kích kiên quyết - Xung phong mạnh mẽ - Bám trụ kiên cường - Tiêu diệt triệt để - Đoàn kết và chủ động hiệp đồng”.

        Công tác tổ chức, biên chế được tiến hành theo phương châm gọn nhẹ, bảo đảm cơ động thuận lợi và tăng quân số chiến đấu, thể hiện được tư tưởng chỉ đạo chiến thuật và cách đánh của ta, phù hợp với diều kiện và khả năng của chiến trường.

        Các trung đoàn bộ binh được trang bị thêm súng cối, ĐKZ, 12,7 và một số B40, B41.

        Do lực lượng pháo binh được tăng cường nên Bộ tư lệnh Mặt trận lập thêm cơ quan tư lệnh pháo binh để chỉ huy thống nhất pháo binh.

        Lực lượng đặc công dược tổ chức thành hai bộ phận chuyên trách với hai nhiệm vụ khác nhau.

        - Đặc công cơ động chuyên đánh công sự vững chắc, chi khu quận lỵ, sở chỉ huy trung đoàn địch ở sâu trong hậu cứ, diệt vị trí tiểu đoàn địch, trong tuyến phòng ngự hoặc đánh sở chỉ huy chiến đoàn, trận địa pháo địch ở dã ngoại.

        - Đặc công căn cứ có nhiệm vụ chuyên đánh các cơ quan đầu não, đánh sân bay, kho tàng, bãi xe địch... Mỗi đội có thể bám chặt một mục tiêu, vừa đánh vừa xây dựng cơ sở.

        Lực lượng hậu cần tổ chức thêm đoàn 671 để “tạo thêm một khốỉ lượng vật chất dự trữ chiến lược cho Mặt trận” .

        Mùa huấn luyện vừa xong cũng vừa đến mùa thu hoạch lúa. Bộ đội còn đang nhộn nhịp tuốt lúa trên những nương rẫy cuối cùng, cán bộ chỉ huy các đơn vị đã bắt đầu tính toán đến kế hoạch làm đường vận tải phục vụ cho chiến dịch trong mùa khô sắp tới.

        Tháng 10 năm 1971, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định đẩy nhanh tốc độ chuẩn bị chiến trường.

        Cả Tây Nguyên dấy lên một khí thế cách mạng mới: “Trường Sơn chuyển minh, Pô Cô dậy sóng”.

        Trong các buôn làng, nhịp chày giã gạo vang lên suốt ngày đêm. “Kho cách mạng” được lập thêm nhiều. vượt ngoài kế hoạch để tiếp nhận những gùi gạo nuôi quân của bà con tự nguyện bớt khẩu phần ăn tiếp tục mang tới đóng góp. Những nương sắn bạt ngàn được chăm sóc, dọn cỏ, chuẩn bị cho “bộ đội nó ăn đỡ đói khi về đánh giặc gần làng mình”.

        Trước sân nhà Rông các làng, nhân dân tụ tập xin tình nguyện di phục vụ bộ đội. Cụ già tóc bạc trắng cũng nhất quyết không nhường phần “công tác cách mạng” cho con cháu. Các em còn bé không mang được nặng cũng “xin mang một quả đạn cối 82 cho các chú bắn vỡ cái đồn thằng giặc”. Thế là cả già trẻ, gái trai đều lên đường và đội quân ấy đã đông gấp hai, ba lăn số lượng điều động của huyện, xã.

        Các đơn vị công binh, bộ binh, binh trạm đều lao vào khẩn trương mở đường. Chỉ có cuốc xẻng, choòng, đục, các chiến sĩ đã bạt núi san đèo, đưa năng suất làm đất vượt 1,4% , năng suất phá đá vượt 1,5% mức chỉ tiêu hàng ngày. Hơn 12 vạn công đã đổ ra để lập nên 508 ki-lô-mẻt đường mới và sửa chữa 480 ki-lô-mét đường cũ. Không chỉ có mồ hôi mà cả máu đã đổ xuống. Đại đội 9 (trung đoàn công binh 83) vừa mở dường vừa phải đánh địch, chịu đựng hàng chục tấn bom của chúng ném xuống:

        Một mạng đường dọc ngang trong vùng căn cứ đã hình thành. Một số con đường khác ngụy trang kín đáo cũng đang bí mật bò dần ra phía trước theo những phương án tác chiến. Một số đường thồ đã trở thành đường ô-tô. Riêng đoàn 671 đã san núi phá ngầm mở dược 300 ki-lô-mét đường bộ, đường sông, đưa hàng về các cánh Trung, cánh Nam. Theo các trục đường mới, những cho hàng phía trước như Đ27, Đ28, Đ51, Đ74, H35... đang bắt đầu mọc lên. Một số kho nhỏ trước kia, cũng được mở rộng.

        Các đồng chí chủ trì cơ quan chính trị, hậu cẩn Mặt trận ra cả mặt đường chỉ huy đôn đốc việc mở đường thông xe. Chiến dịch vận chuyển đã huy động một lực lượng nhân lực lớn. Ngoài các đơn vị vận tải chuyên nghiệp, các đơn vị bộ binh, trường quân chính, trường quân y và cả các bác sĩ, y tá, hộ lý của các viện, các đội điều trị cũng đều đi vận chuyển, gùi hàng. Chiến sĩ Nguyễn Công Thức luôn nghiên cứu cải tiến cách thồ hàng, đưa trọng lượng thồ tăng dần từ 300 ki-lô-gam lên tới 420 ki-lô-gam, thậm chí 450 ki-lô-gam, có lần đồng chí thồ cả 2 phuy xăng, nêu kỷ lục cao nhất về vận chuyển xe thồ trên chiến trường. Chiến sĩ lái xe đại đội 4, đại đội 141 “có lệnh là đi, có hàng là chở” bất kể ngày đêm, chẳng quản bom đạn địch, khép kín vòng quay xe nhanh. Chiến sĩ Hà Văn Thêm, ô-tô bị máy bay địch đuổi bắn, xe bốc cháy, toàn thân anh bị bỏng rộp vẫn giữ vững tay lái đưa hàng tới vị trí bàn giao. Còn biết bao tấm gương đẹp đẽ khác nữa xuất hiện trong quá trình chuẩn bị cho chiến dịch. Tất cả mọi người đều muốn góp sức vào để thực hiện trọn vẹn khẩu hiệu hành động “Trường Sơn chuyển mình, Pô Cô dậy sóng, quét sạch quân thù, giải phóng Tây Nguyên” trong mùa thi đua giết giặc, lập công Xuân - Hè 1972.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Hai, 2016, 11:49:51 PM

Chương bảy

CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC QUY MÔ LỚN
ĐẦU TIÊN TRÊN CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN

        Sau mùa xuân năm 1971, quân ngụy mất khả năng tiến công, buộc phải đi vào phòng ngự chiến lược trên toàn chiến trường. Trong lúc đó, lực lượng ta lớn mạnh về mọi mặt, thế chiến lược phát triển có lợi cho ta. “Ta đang ở thế thắng, thế chủ động, thế thuận lợi, thế đi lên; địch đang ở thế thua, thế bị động, thế khó khăn, thế đi xuống”1.

        So sánh về thế và lực trên chiến trường lúc đó rất thuận lợi cho ta mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn vào năm 1972 nhằm đánh bại căn bản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, tạo nên so sánh lực lượng mới, cục diện mới, dẫn đến một bước ngoặt trong chiến tranh, đưa cuộc cách mạng tiến lên những bước phát triển cao hơn.

        Bộ Tổng tư lệnh xác định Tây Nguyên là một hướng tiến công của bộ đội chủ lực trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, với nhiệm vụ:

        “Tiêu diệt địch, giải phóng vùng Đắc Tô - Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Công Tum. Hướng phát triển cỏ thể là hướng Plây Cu, có điều kiện thì mở rộng vùng giải phóng tây Plây Cu, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ”2.

        Tây Nguyên và đồng bằng Khu 5 có quan hệ mật thiết với nhau, nên nhiệm vụ của bộ đội chủ lực Tây Nguyên là phải tiêu diệt cho được lực lượng quân sự của địch, thu hút, giam chân lực lượng cho lực của chúng, tạo cơ sở cho phong trào tiến công và nổi dậy ở đồng bằng Khu 5.

        Vùng ba biên giới như bừng lên một sức sống mới. Bộ đội lại nhộn nhịp. Nhiều khu trú quân mới mọc lên và đêm đêm, từ hành lang chiến lược, những chiếc xe tăng, xe kéo pháo, vận tải nối đuôi nhau rẽ vào chiến trường. Sau khỉ điều trung đoàn 24 A đi nơi khác, Bộ Tổng tư lệnh tăng cường cho Tây Nguyên sư đoàn 2 (thiếu) và bổ sung thêm sư đoàn 320 A, trung đoàn 24 B bộ binh, tiểu đoàn 20 B đặc công, cùng một số lớn các đơn vị binh chủng và đơn vị chuyên môn, kỹ thuật.

        Lần đầu tiên, khối chủ lực Tây Nguyên có một bước phát triển nhảy vọt cả về chất và về lượng.

        Thấy ta ráo riết chuẩn bị chiến trường và cơ động những lực lượng lớn, địch phán đoán đòn tiến công chiến lược chủ yếu, hướng tiến công chủ yếu của ta trên toàn Miền là Tây Nguyên. Do đó, từ đầu năm 1972 chúng đã điều trung đoàn 47 lên, cùng với trung đoàn 42 tăng cường phòng thủ khu vực Tân Cảnh, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động thăm dò, cho máy bay đánh phá kho tàng và các tuyến đường vận chuyển của ta. Trung bình mỗi ngày các đường 128, 70, 60, 50 K bị từ 15 đến 29 lần chiếc máy bay ném bom, bắn phá. Chỉ tính riêng 5 ngày từ ngày 9 đến ngày 13 tháng 2 đã có “hàng nghìn chiếc máy bay đủ loại của Mỹ ném bom ở Tây Nguyên” (AFP, 13-2-1972).

        Cuối tháng 2, chúng phát hiện được một bộ phận của sư đoàn 320 ở phía đông điểm cao Chư Mom Rây và thấy ta dang làm đường 70 B qua dãy núi phía tây sông Pô Cô để tiến sang Võ Định. Địch tin chắc hướng tiến công của ta sẽ là hướng này, và không còn tin tưởng vào khả năng chống giữ của quân đoàn 2, chúng phải vội vã điều lực lượng dự bị chiến lược ra tăng cường.

        Lữ đoàn dù số 2 vừa cập rập đến Công Tum, lập tức bị ném ra dãy điểm cao phía tây sông Pô Cô để cùng với tiểu đoàn 11 biệt động và tiểu đoàn 3 (trung đoàn 47) hình thành một tuyến phòng ngự lâm thời, ngăn chặn từ xa.

        Lực lượng chủ lực còn lại của địch ở Tây Nguyên là sư đoàn 23 và một bộ phận của liên đoàn 2 biệt động quân cũng đã phải bị động rải quân ra đôi phó với 2 trung đoàn 66, 95 của ta trong giai đoạn đánh nhỏ, giai đoạn chuẩn bị chiến dịch ở đường 14 và đường 19.

        Như vậy, địch đã hình thành hệ thống phòng ngự theo một tuyến dài dọc hai trục đường 14, 19. Hai khu vực Đắc Tô - Tân Cảnh và thị xã Công Tum là hai trung tâm phòng ngự mạnh. Thêm vào đó, do không đánh giá được khả năng của ta, chúng cho là ta chỉ có thể mở được hướng tiến công từ phía tây nên chỉ tổ chức thêm những tuyến phòng ngự vòng ngoài ở hướng này. Toàn bộ tuyến phòng thủ từ thị xã Plây Cu đến Tân Cảnh đều bị bỏ ngỏ ở hướng đông. Riêng đoạn phòng ngự từ bắc thị xã Plây Cu đến nam thị xã Công Tum không được bảo vệ cả phía đông lẫn phía tây.

        Đó chính là nhưng điểm yếu của địch, ta phải nắm khi đánh chúng cũng như khi chọn mục tiêu đột phá.

        Nhiệm vụ chiến dịch của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên là tiến công vào tuyến phòng ngự của địch, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng quân sự của chúng, giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân. Muốn giải phóng được đất đai, vấn đề quan trọng là phải tiêu diệt được lực lượng địch. Ta rất quen cách lừa nhử địch ra ngoài công sự và có kinh nghiệm tiêu diệt nhiều lực lượng của chúng ở dã ngoại. Bây giờ địch đã đi vào phòng ngự, liệu những kinh nghiệm đó có còn sử dụng được không? Chẳng lẽ tiêu diệt địch lúc này chỉ còn có một cách duy nhất là đột phá vào công sự của chúng?

        Qua tình hình thực tế của chiến trường trong năm, ta thấy địch không đủ sức đối chọi với ta ở bên ngoài, nhưng chúng cũng chưa chịu mất một điểm nào trong tuyến phòng ngự. Chúng còn dựa được vào quân dông, hỏa lực nhiều, phương tiện cơ động nhanh nên chưa phải đã hoàn toàn cố thủ. Nếu ta đánh vào chỗ “tất phải cứu”, địch sẽ ra ngăn chặn, cứu viện. Ta còn có thể nhử địch ra ngoài công sự, lừa chúng vào thế trận của ta mà tiêu diệt. Vì vậy Bộ tư lệnh Mặt trận đề ra cách đánh của chiến dịch là “vây hãm diệt sinh lực kết hợp với đột phá”. Trước tiên ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng của địch ở vòng ngoài, vây hãm những khu trung tâm phòng ngự làm cho lực lượng chiến dịch của chúng bị suy yếu, sứt mẻ. Tiếp theo ta siết chặt, vây hãm làm cho địch trong công sự suy yếu, khó khăn, lúc đó mới tiến hành đột phá. Làm như vậy sẽ tạo được thời cơ, tạo được điều kiện tốt cho đột phá nhanh chóng và chắc thắng.

--------------------------
        1. Trích điện số 236 của Bộ gửi Mặt trận Tây Nguyên, Quân khu 5 và Miền, ngày 10 thagns 9 năm 1971.

        2. Trích điện số 236 của Bộ gửi Mặt trận Tây Nguyên, Quân khu 5 và Miền, ngày 10 thagns 9 năm 1971.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:06:20 AM

1. TIÊU DIỆT SƯ ĐOÀN 22 - GIẢI PHÓNG KHU VỰC ĐẮC TÔ - TÂN CẢNH

        Ngày nổ súng đã tới gần, đường sá mở chưa xong, địch lại đánh phá ngày càng quyết liệt, sức vận chuyển bi hạn chế rất nhiều. Gạo, đạn, xăng dầu chưa đủ. Đến ngày 15 tháng 2, số gạo dự trữ cho chiến dịch do Đoàn 559 chuyển vào vào mới chỉ được 35% kế hoạch. Khó khăn chồng chất tưởng chừng không thể nào vượt nổi. Đảng ủy Mặt trận kiên quyết tung người đi mở thêm cửa khẩu thu mua, tập trung mọi phương tiện đưa nhanh gạo từ các nơi về, đồng thời phối hợp chặt chẽ với cơ quan kinh tài của các tỉnh để động viên mọi nguồn nhân, vật lực.

        Đến cuối tháng 3, do sự nỗ lực của Mặt trận và Đoàn 559, những yếu tố cơ bản để triển khai chiến dịch cũng tạm ổn, mặc dù chỉ mới đủ cho giai đoạn đầu.

        Cùng một lúc với các chiến trường toàn Miền, Quân giải phóng Tây Nguyên mở đầu cuộc tiến công chiến lược bằng trận nổ súng vào bọn lính dù. Đêm 30 rạng ngày 31 tháng 3, trung đoàn 52 và một tiểu đoàn của trung đoàn 48 thuộc sư đoàn 320 bắt đầu vây ép tiểu đoàn dù 2 ở điểm cao 1049 và các chốt lẻ phụ cận.

        Bi ép mạnh, địch co dần lại. Đến ngày 2 tháng 4, ta tổ chức tiến công, tiểu đoàn địch bị thiệt hại nặng. Bọn địch thấy nếu để mất khu vực này thì từ đây đối phương có thể chọc thẳng sang đường 14, cắt đôi thế trận phòng ngự ở bắc Công Tum, cô lập cụm phòng ngự Tân Cảnh và uy hiếp trực tiếp thị xã Công Tum.

        Bọn chỉ huy ngụy điều tiếp lữ đoàn dù sổ 3 cùng với sở chỉ huy nhẹ của sư đoàn dù ra khu vực Công Tum. Lữ đoàn dù 3 tung lực lượng ra phía tây sông Pô Cô thay thế cho tiểu đoàn 3 (trung đoàn 47) và tiểu đoàn 2 (lữ đoàn dù 2).

        Cuộc giao tranh mới bắt đầu, sư đoàn dù (thiếu) - lực lượng dự bị chiến lược của quân ngụy đã phải làm nhiệm vụ thê đội 1 chiến dịch. Điều đó chứng tỏ sự suy yếu mới của quân ngụy và thế bị động lúng túng của bọn chỉ huy của chúng.

        Để nhanh chóng đập vỡ tuyến ngăn chặn vòng ngoài, Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương tiêu diệt tiểu đoàn dù số 11 ở điểm cao 1015 và giao cho trung đoàn 64 (sư đoàn 320) đảm nhiệm. Đợt chiến đấu đầu tiên không thành công vì tổ chức chỉ huy và sử dụng cách đánh không tốt. Với tinh thần triệt để chấp hành mệnh lệnh và quyết tâm thực hiện bàng được nhiệm vụ đã được phân công, ban chỉ huy trung đoàn kịp thời rút kinh nghiệm, động viên bộ đội kiên quyết khắc phục mọi khó khăn, ác liệt để tổ chức đánh lại.

        Trận đánh được tiếp tục từ sáng ngày 14 tháng 4: Các cỡ pháo của trung đoàn 675 vả các loạt hỏa lực của trung đoàn 64 (sư đoàn 320) bắn trúng sở chỉ huy địch, đốt cháy hai kho và phá hủy tới 50 - 60 % số hầm hào, công sự dã chiến. Bọn địch không chịu nổi, một số phải trồi lên mặt đất, phá chạy ra xung quanh nhưng đều bị đánh bật trở lại.

        17 giờ, bộ đội bắt đầu xung phong. Mũi thọc sâu của các chiến sĩ đại đội 9 đánh đúng sở chỉ huy và bắn chết tên tiểu đoàn trưởng của địch. Bọn địch bị chia cắt và bị tiêu diệt từng bộ phận, một số tên lợi dụng đêm tối trốn được ra ngoài, nhưng chúng mới tới Ngọc Đi Ốc đã rơi vào trận địa đón lõng của tiểu đoàn 2 (trung đoàn 48).

        Tiểu đoàn dù số 11 bị tiêu diệt hoàn toàn. Trong số 166 tên bị bắt làm tù binh, có gần đủ mặt số sĩ quan từ cấp đại đội đến cấp tiểu đoàn. Đây là tiểu đoàn dù đầu tiên của địch bị tiêu diệt gọn trên chiến trường. Uy thế của lực lượng dự bị chiến lược, con cưng của quân ngụy Sài Gòn giảm sút một cách nhanh chóng và thảm hại.

        Trận đánh tuy phải kéo dài nhưng đã thu được thắng lợi lớn. Trung đoàn 64 (sư đoàn 320) đã từng tiêu diệt 2 tiểu đoàn và lữ đoàn bộ lữ dù 3, xích tay tên đại tả lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ ở Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, lần này lại hoàn thành tốt trận then chốt thứ nhất của chiến dịch. Trung đoàn phát huy được truyền thống “dũng cảm đánh hăng” và tạo được cơ sở tốt để xây dựng tác phong chiến dấu của một đơn vì chủ lực. Thành tích này của trung đoàn được đánh giá cao. Một lần nữa, trung đoàn được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:06:47 AM

        Mất điểm cao 1015, tên Ngô Du - tư lệnh quân đoàn 2, hớt hải lên Võ Định để cùng với bọn chỉ huy sư đoàn dù bàn cách chiếm lại.

        Tiểu đoàn dù số 3 vừa mò ra khỏi vị trí Đắc Keng Peng, chưa kịp đi phản kích đã bị chặn đánh, thiệt hại nặng phải ôm đầu chạy về. Sở chỉ huy của cả 2 lữ đoàn dù cũng bị no đòn pháo kích của các chiến sĩ trung đoàn 28. Thế là, tướng tiếp tục ra lệnh nhưng quân nhất định không đi nữa. Kế hoạch phản kích không có người thực hiện nên chúng phải hủy bỏ.

        Tuyến ngăn chặn ở phía tây sông Pô Cô bị chọc thủng. Sư đoàn dù phải rút bỏ một số vị trí, co về cùng với lực lượng quân đoàn 2 giữ lấy tuyến phòng ngự cơ bản từ Võ Định đến thị xã Công Tum.

        Phối hợp với sư đoàn 320 đánh quân dù, trên các hướng khác, các đơn vi đều hoạt động tích cực.

        Ở phía bắc, sư đoàn 2 (thiếu), tiểu đoàn 3 (trung đoàn 400) một số phân đội nhỏ của trung đoàn 40 cùng với một số đơn vị của tỉnh đội Công Tum tiến hành vây hãm trung tâm phòng ngự Đắc Tô - Tân Cảnh. Các đơn vị phá hủy, phá hỏng 36 máy bay, 36 xe tăng, xe bọc thép và 39 khẩu pháo, cối. Sư đoàn 2 còn bố trí sẵn thế trận, lừa địch ra vùng Ngọc Tụ, vùng tây bắc sân bay Đắc Tô 2, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn và đánh tan 2 tiểu đoàn khác. Một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch trong khu then chốt phòng ngự Đắc Tô - Tân Cảnh và vùng xung quanh bị diệt.

        Trên đường 14, trung đoàn 28 tập kích diệt trận địa pháo địch ở Công-trăng Lăng-loi, đánh thiệt hại tiểu đoàn 23 biệt động quân và diệt gọn 2 chi đội xe bọc thép thuộc trung đoàn thiết giáp 14, làm gián đoạn sự vận chuyển, ứng cứu của địch từ Công Tum đi Tân Cảnh.

        Trung đoàn 95 đánh địch ở nam thị xã Công Tum, tổ chức 7 chốt hỏa lực ở Chư Thoi, hình thành những mũi chặn địch từ Plây Cu lên Công Tum. Các chiến sĩ trung đoàn 95 đã kiên cường bám trụ dưới tầm phi pháo ác liệt liên tiếp đánh giao thông diệt nhiều đoàn xe tiếp tế của địch, trong đó có đoàn xe 40 chiếc và 120 chiếc. Địch phải dùng trung đoàn 45 và trung đoàn 53 cùng với 2 chi đoàn xe tăng, xe bọc thép phản kích hòng đánh bật trung đoàn 95 của ta ra khỏi khu vực đường 14 và các chốt Chư Thoi. Nhưng các chiến sĩ trung đoàn 95 vẫn giữ vững trận địa và biến Chư Thoi thành bức tường thép sừng sững chặn đứng mọi cuộc phản kích của địch. Hàng trăm xe quân sự và hàng chục đại đội địch bỏ xác tại khu vực này.

        Trung đoàn 28 và trung đoàn 95 đã góp phần siết chặt thêm thế vây hãm chiến dịch đối với các cụm phòng ngự của địch ở Công Tum.

        Thời gian này trên chiến trường toàn Miền, quân và dân Trị - Thiên đã đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở Quảng Trị, đánh chiếm và làm cho các căn cứ Ái Tử, La Vang, Đông Hà, Thành Quảng Trị buộc địch phải lùi về phía nam sông Mỹ Chánh.

        Ở miền Đông Nam Bộ, quân và dân ta đã giải phóng huyện Lộc Ninh và đang tiến công vào thị xã An Lộc, cửa ngõ tây bắc Sài Gòn. Địch bị thiệt hại nặng. Chương trình “bình định” của chúng bị quét sạch khỏi nhiều vùng rộng lớn và phá sản ngay trên những khu vực chúng đã chà đi xát lại nhiều lần trong suốt mấy năm trời.

        Bọn chỉ huy địch đã thấy được hướng tiến công chiến lược chủ yếu của đối phương không phải là Tây Nguyên nên mặc dù tuyến ngăn chặn phía tây sông Pô Cô bị chọc thủng, chúng vẫn buộc phải điều bộ chỉ huy nhẹ sư đoàn dù và lữ đoàn dù số 2 vào Bình Long.

        Qua bước một của chiến dịch, địch bị tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận, lực lượng quân dù rút đi quá nửa, lực lượng nòng cốt chiến dịch của địch đã suy yếu, mất sức phản kích. Cánh cửa chiến dịch dược mở toang ở hướng tây. Sư đoàn 320 đang tràn qua sông Pô Cô. Đường 14 và thị xã Công Tum bị uy hiếp trực tiếp, cụm Đắc Tô - Tân Cảnh bị bao vây khốn đốn. Thời cơ chiến dịch xuất hiện, điều kiện để đột phá đã đến lúc chín muồi. Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định bỏ qua bước hai không cần kéo địch ra bắc Võ Định để tiêu diệt như đã dự kiến lúc đầu, nhanh chóng thực hiện luôn bước ba: tiến công địch giải phóng vùng Đặc Tô - Tân Cảnh.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:07:07 AM

        Cụm phòng ngự Đắc Tô - Tân Cảnh so với cụm phòng ngự ở thị xã Công Tum thì nhỏ hơn, lại ở một vị trí đột xuất nên dễ bị cô lập, dễ bị bao vây, chĩa cắt. Đích tập trung ở đây 13 tiểu đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp và 3 tiểu đoàn pháo.

        Trong cách bố trí phòng ngự, địch cũng tập trung sức mạnh về hướng tây, hướng bắc. Sở chỉ huy của cụm nằm trong căn cứ 42 cũng đặt lại sâu về hướng đông là hướng bị bỏ trống, không có gì che đỡ.

        Khi phân tích tình hình cụ thể, Bộ tư lệnh Mặt trận quyết đinh lợi đụng điểm yếu cơ bản đó của địch để đánh địch. Phải tập trung lực lượng vào hướng địch sơ hở và từ đó đánh vào chỗ hiểm yếu nhất của chúng.

        Sở chỉ huy tiền phương của Bộ tư lệnh Mặt trận từ lâu đã chuyển sang dãy núi Ngọc Tơ Lum để chỉ đạo việc chuẩn bị cho trận đột phá.

        Hơn 400 tấn vật chất đã được chuyển sang lót sẵn ở hướng đông.

        Trung đoán 66 được tăng cường thêm tiểu đoàn 37 đặc công nằm trong đội hình chiến đấu của sự đoàn 2 được giao nhiệm vụ tiêu diệt căn cứ 42. Các chiến sĩ phải tự xoi một con đường dài gần 200 ki-lô-mét len lỏi qua những khu rừng rậm, núi cao để vận chuyển đạn, gạo tới vị trí tập kết. Vào những đêm trước trận đánh, từ các cánh rừng xa 2, 3 ki-lô-mét, họ lặng lẽ vác những đoạn gỗ đến bí mật chôn giấu ngay gần hàng rào của địch để khi chiến đấu sẽ có gỗ làm hầm. Những hoạt động của ta ở phía tây và phía bắc đã thu hút hết sứ chú ý của kẻ địch. Thế trận của trung đoàn 66 giữ được bí mật, an toàn.

        Ngày 17 và 18 tháng 4, đánh hơi thấy có lực lượng của ta ở hướng đông, chúng cho lực lượng ra thăm dò. Từ sở chi huy tiền phương, Bộ tư lệnh Mặt trận kịp thời lệnh cho các đơn vị ở hướng đông chỉ được phép tổ chức những bộ phận nhỏ đánh dịch, còn tất cả đều phải cố tránh để giữ bí mật lực lượng. Đồng thờ lệnh cho sư đoàn 2 ép mạnh vào phía bắc sân bay Đắc Tô 2. Bọn địch hoang mang không phán đoán được tình hình, không nắm được cụ thể lực lượng và ý đồ của ta ở hướng đông.

        Các lực lượng của ta trên đường 14 được lệnh đẩy mạnh cường độ hoạt động. Trên đoạn đường phía nam thị xã Công Tum, hàng trăm dân quân và đồng bào huyện 3, huyện 4 (Gia Lai) sát cánh cùng bộ đội đắp ụ, chôn mìn, xây dựng những trận địa chốt ngay sát mép đường, trên các khu vực Chư Thoi, cầu Ia Tô Ve. Đường 14 bị cắt đứt hẳn ở cả hai phía bắc và nam thị xã Công Tum. Trung đoàn 95 và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 24) chịu đựng hàng trăm tấn bom đạn đủ loại của địch (kể cả bom 7 tấn có sức công phá lớn) để dựng một cánh cửa thép đóng chặt con đường vận chuyển huyết mạch của dịch trong suốt 67 ngày đêm liên tiếp.

        Những đơn vị địch nằm ở hướng đông căn cứ 42 bị quét sạch trong lúc các cụm pháo của trung đoàn 40 và trung đoàn 675 bắn dữ dội phá hoại các mục tiêu bên trong căn cứ.

        Đại đội 29, lần đầu tiên xuất trận đã điều khiển những quả đạn B72 bay vào phá hủy hầu hết tuyến công sự ở cả hai phía đông, đông nam, diệt gọn hai khẩu ĐKZ đặt cao tít trên tháp nước.

        Kho xăng địch bốc cháy, kho đạn địch nổ tung. Khu trung tâm thông tin chỉ còn trơ lại một đống gạch vụn. Bọn chỉ huy sư đoàn 22 phải nhờ mạng thông tin của lũ cố vấn Mỹ để điều khiển quân lính.

        Tên đại tá Tòn Thất Hùng được quân đoàn 2 cử lên cùng với sư đoàn 22 quyết “tử thủ” ở Đắc Tô - Tân Cảnh, bám được một chiếc máy bay lên thăng Mỹ chuồn vội về Plây Cu, bỏ mặc đám quân tướng của sư đoàn 22 ở lại chịu đòn.

        Trong khói lửa mù mịt, các chiến sĩ trung đoàn 66 và tiểu đoàn 37 áp sát vào hàng rào căn cứ địch.

        Từ vị trí tạm dừng bí mật ở ngầm Pô Cô Hạ; đại đội 7 thiết giáp xuất kích. 9 chiếc xe tăng T54 của ta như những con mãnh hổ ầm ầm chạy dọc theo đường 14, lướt qua quận lỵ Đắc Tô rồi lao về căn cứ 42.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:07:49 AM

        Địch đã hoảng hốt về sự xuất hiện bất ngờ cửa một lực lượng lớn bộ binh tinh nhuệ của ta ở hướng đông, nay lại đột ngột thấy thêm mũi vu hồi mạnh của xe tăng cũng dang lao vào hướng này. Tên sư đoàn trưởng sư đoàn 22 Lê Đức Đạt không còn cách nào xoay chuyển được tình hình. Tự lượng sức không thể chống đỡ nổi đòn tiến công mạnh mẽ, bất ngờ và hết sức hiểm hóc này, hắn khẩn thiết xin cấp trên cho rút. Tên Ngô Du, tư lệnh quân đoàn 2 cũng đang bí kế đành phải nghe theo, nhưng khốn nỗi, ý kiến của chúng không được quan thầy Mỹ chuẩn y.

        Từng đàn máy bay đủ loại từ các sân bay ở Plây Cu, Công Tum liên tiếp lao lên. Bầu trời đêm Đắc Tô - Tân Cảnh sáng trắng những đèn dù và vang động tiếng bom nổ, đạn réo.

        Vỏ thép của những chiếc xe tăng T54 chốc chốc lại lóe lên sáng chói vì mảnh của những quả bom nổ gần đập vào. Ngồi trong xe, nhìn qua lớp kính dày, các chiến sĩ lái vẫn thấy thấp thoáng trong khói bom những chiến sĩ bộ binh. Trần Minh Dần, Phan Bá Nhân, Mai Xuân Hóa... bình thản đi trước mũi xe để dẫn đường. Hơn 30 cán bộ, chiến sĩ của trung đoàn 66 do đồng chí tham mưu phó Hoàng Anh Tài phụ trách đã làm thành những lộ tiêu sống cho xe đi. Nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũng, nhiều đồng chí bị thương không đi được nữa vẫn cố leo lên ngồi trên thành xe để tiếp tục chỉ đường.

        Xe tăng ta vào đúng vị trí chiến đấu, đúng thời gian quy định nhờ công lao thầm lặng của các chiến sĩ trung đoàn 7 công binh mở đường số 50 K, làm ngầm Pô Cô Hạ và của các chiến sĩ bộ binh dẫn đường dũng cảm.

        Bọn địch trong căn cứ 42 chống cự quyết liệt và gọi pháo từ các nơi bắn về. Đại đội 8 (trung đoàn 40), đại đội 4 (trung đoàn 675), những đơn vị có truyền thống “đã nổ súng là trúng mục tiêu”, lập tức khóa chặt miệng các khẩu pháo của địch. Pháo thủ Lương Văn Căm một mình đảm nhiệm tất cả các số của khẩu pháo cho anh em đi vận chuyển, vẫn bắn kiềm chế dịch kịp thời.

        Trong suốt quá trình chiến đấu, các chiến sĩ đại đội 33 thông tin của Mặt trận thoăn thoắt vượt qua các bãi bom, bãi pháo nối các mối dây đứt, giữ vững dường dây liên lạc thông suốt từ sở chỉ huy Mặt trận tới tận các đơn vị đang ở trên các chiến hào.

        Ở hướng đông căn cứ 42, đại đội 3 (trung đoàn 66) đã phá xong các lớp rào.

        Ở hướng bắc, địch chống trả quyết liệt, một số chiến sĩ bộc phá hy sinh. Đại đội trưởng đại đội 6 (trung đoàn 66) Nguyễn Phước Hậu và trung đội trưởng Vinh gương mẫu ôm mìn định hướng lao lên dưới sự yểm hộ của các chiến sĩ xe tăng. Địch phản kích định bịt tại cửa mở. Nằm cùng đồng đội ngay sát lớp rào trong cùng, chiến sĩ Bùi Viết Nhần thoáng nghĩ: nếu mình cứ nằm mà bắn B 40 thì luồng lửa phụt ra phía sau có thể làm thương vong đồng đội. Không chần chừ, anh đứng thẳng người lên trước làn đạn dày đặc của kẻ địch, bình tĩnh giương súng ngắm và bóp cò. Quả đạn của anh bay vào phá tan chiếc xe tăng phản kích. Bùi Viết Nhần cùng đồng đội đã giữ vững được cửa mở, đợi giờ phút xung phong.

        5 giờ 10 phút ngày 24 tháng 4, ba phát pháo hiệu màu bay vút lên không trung vẽ thành những dường cong mờ trên màn sương buổi sớm.

        Từ các hướng, bộ đội nhất tề xung phong.

        Người trước ngã, người sau tiến lên, tiều đoàn 7 đánh chiếm đầu cầu. Xe tăng ta bắn mạnh vào hai bên sườn đội hình phản kích của địch, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong vào bên trong. Đạn pháo xe tăng, đạn B 40 và thủ pháo của bộ binh lần lượt phá sập từng lô cốt của địch. Xích xe tăng chà nát nhiều ụ súng kháng cự. Tiểu đoàn trưởng tiều đoàn 7 Phạm Văn Vượng với tác phong chỉ huy sâu sát, xông xáo, dũng.câm luôn luôn cỏ mặt ở những nơi ác liệt nhất, mưu trí giải quyết kịp thời các tình huống khó khăn cho bộ đội, dẫn tiểu đoàn cùng với xe tăng nhanh chóng chọc một mũi thọc sâu vào tận khu trung tâm chỉ huy địch. Phạm Văn Vượng vinh dự được Đảng và Chính phủ tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Địch dùng dàn phóng chất độc hóa học bắn hơi ngạt, hơi cay hòng chặn bước tiến các cánh quân của ta. Đã được chuẩn bị sẵn, các chần sĩ rót nước trong bi-đông vào khăn mặt và khẩu trang mang bên mình, buộc che mồm, mũi rồi tiếp tục chiến đấu.

        Ban chỉ huy trung đoàn 66 lệnh cho tiểu đoàn 37, đang gặp khó khăn chưa vào được, chạy qua cửa mở của tiểu đoàn 7 để đánh vào. Đại đội 29 bắn 5 phát B72 yểm hộ. Hai xe tăng dự bị củng tiến.

        Đến 9 giờ 30 phút, những tốp tù binh bị ta bắt, lũ lượt theo cửa hướng đông đi ra.

        Các đơn vị địch hầu như bị khóa chặt cả chân tay, nằm nguyên một chỗ, nhìn bọn chỉ huy đang giãy chết trong căn cứ 42.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:08:13 AM

        So sánh lực lượng trong khu vực, ta ít hơn địch nhiều lần, nhưng do khéo chia cắt địch và biết tập trung lực lượng thích đáng để giành ưu thế tuyệt đối ở trận đánh then chốt, nên ta đã nhanh chóng đè bẹp được địch trong căn cứ 42.

        Đúng 11 giờ trưa, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ 42. Tên Lê Đức Đạt cùng với tên đại tá cố vấn Mỹ bi bắn chết. Tên sư đoàn phó Vi Văn Bình chạy trốn cũng bị tóm cổ cùng với số sĩ quan tham mưu, lũ cố vấn Mỹ và hơn 400 binh lính của hắn.

        Ở trung tâm căn cứ 42, lá cờ Giải phóng do tỉnh ủy Công Tum trao cho trung đoàn 66 hôm làm lễ xuất quân được Nguyễn Xuân Hòa, tiều đội trưởng tiểu đội 4 đại đội 2 mang vào trận đánh, đang tung bay, báo tin chiến thắng với mọi người.

        Thế trận ngầm từ lâu vẫn giấu kín ở hướng đông, bất ngờ bật dậy, kết hợp với mũi xe tăng vu hồi và các cụm pháo chiến dịch gây thành giông bão lớn trên khu vực hiểm yếu nhất của địch, chỉ trong chốc lát phá tan tành khu phòng ngự then chốt của trung tâm Đắc Tô - Tân Cảnh. Hãng thông tin nước ngoài đưa tin “Đây là một sở chỉ huy cỡ sư đoàn lần đầu tiên bị đánh chiếm trong cuộc tiến công kéo dài đã 26 ngày qua của Cộng sản” (AFP, 24-4-1972).

        Nói về thế bất ngờ của mũi xe tăng vu hồi, một phóng viên phương Tây khác mô tả:

        “Xe tăng Cộng sản vòng qua các tiền đồn bảo vệ, đánh thọc vào sở chi huy tiền phương của sư đoàn bộ binh số 22”, và đến khi “các nòng pháo cửa xe tăng hầu như chĩa thằng vào các boong ke chi huy, các cố vấn Mỹ mới giật mình không hiểu xe tăng từ đâu tới” (Báo Diễn đàn thông tin quốc tế, 26-4-t972).

        Pháo chiến dịch của ta chuyển làn bắn sang căn cứ Đắc Tô 2.

        Lúc 8 giờ sáng, khi thấy khả năng tiêu diệt căn cứ 42 đã rõ ràng, Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương nhanh chóng và táo bạo phát triển tiến công vào Đắc Tô 2.

        Trung đoàn 1 (sư đoàn 2) tăng cường thêm tiểu đoàn 10 làm nhiệm vụ ngăn chặn ở giữa Đắc Tô và Tân Cảnh được lệnh đánh thẳng vào sào huyệt của trung đoàn 47 ở căn cứ Đắc Tô 2.

        4 xe tăng T54 và 1 pháo cao xạ tự hành 57 mi-lí-mét cũng được lệnh rời căn cứ 42 sang phối hợp chiến đấu.

        Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển chỉ huy chiếc xe tăng số 377 lao vào giữa bầy xe tăng địch, tả xung hữu đột diệt hết chiếc này đến chiếc khác. Tổ chiến đấu của Nguyễn Nhân Triển đã nêu kỷ lục diệt liền một lúc 5 xe địch trong một trận đánh của binh chủng thiết giáp trên mặt trận Tây Nguyên.

        Sức chống cự của dịch nhanh chóng bị đè bẹp. Quân ta hoàn toàn làm chủ căn cứ Đắc Tô 2.

        Đêm hôm đó, trung đoàn 2 (sư đoàn 2) và tiểu đoàn 3 (trung đoàn 400) lại tập kích căn cứ Diên Bình, diệt gọn 2 liên đội bảo an, thu nguyên vẹn 6 khẩu pháo lớn, 7 ô tô và 2 máy bay lên thẳng.

        Hai căn cứ trụ cột đã bị diệt, cộng thêm căn cứ Diên Bình cũng bị phá nát, cụm phòng ngự phía bắc tỉnh Công Tum của địch bị đổ sụp rất nhanh. Bọn địch ở hai căn cứ hỏa lực trên Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Rình Rua bị cô lập phải rút về Plây Cần. Bọn ở Trí Lễ, quận lỵ Đắc Tô và trên dãy điểm cao ở bờ tây sông Pô Cô bị uy hiếp phải chạy hết về khu vực Công Tum. Sở chỉ huy của lữ đoàn dù 3 cũng vội lùi vào phía trong thị xã.

        Trung đoàn 28 và một bộ phận của sư đoàn 320 đón lõng bắt được hầu hết bọn tàn binh chạy trên đường và cả những vùng ở hai bên trục đường. Lực lượng kìm kẹp của địch trong vừng bị tan rã hoàn toàn. Hơn 25 nghìn đồng bào các dân tộc mấy năm nay phải sống đọa đày trong các trại tập trung, các “ấp chiến lược” dọc hai bên đường 14, 18 từ Võ Định lên Tân Cảnh, từ Đắc Tô về Đắc Mót được giải phóng. Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ “bộ đội B3” về giúp đồng bào dựng lại nhà cửa, đào hầm hào phòng tránh bom đạn địch, ổn định nhanh mọi sinh hoạt bình thường. Các đội công tác của trung đoàn 24, 40 sát cánh cùng cấp ủy địa phương giữ gìn trật tự, trị an, giúp địa phương xây dựng chính quyền, tổ chức các đoàn thể quần chúng. Trên mảnh đất này, một cuộc sống mới đang bắt đầu.

        Chiến thắng ở Đắc Tô - Tân Cảnh, lần đầu tiên lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên tiến công bằng hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, có tốc độ nhanh trong vòng 10 tiếng đồng hồ đánh ngã toàn bộ một lực lượng tương đương 1 sư đoàn tăng cường của địch, phá vỡ toàn bộ một trung tâm phòng ngự mạnh, giải phóng một vùng tương đối rộng. Chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh mở ra cho các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên khả năng đánh tiêu diệt lớn. Việc giải phóng Tây Nguyên đã trở thành một khả năng thực tế.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:08:47 AM

        Sau khi Đắc Tô - Tân Cảnh bị tiêu diệt, lực lượng địch ở thị xã Công Tum rất mỏng yếu. Trong thi xã chỉ có 2 tiểu đoàn chủ lực và một số đơn vị bảo an. Đại bộ phận sư đoàn 23 và liên đoàn 6 biệt động (mới ở Nam Bộ ra thay cho lữ đoàn dù 2) vẫn phải rải quân ra đối phó trên đường 14.

        Về phía ta, đường 50 K chưa nối thông được với đường 14 ở phía bắc, đường 70B cũng chưa vượt qua dãy điểm cao phía tây sông Pô Cô. Việc vận chuyển đạn, gạo và cơ động binh khí kỹ thuật gặp nhiều khó khăn. Cân nhắc thấy tuy địch ở Công Tum sơ hở nhưng ta chưa có đủ điều kiện để phát triển tiến công một cách nhanh chóng, mạnh mẽ, Thường vụ Đảng ủy Mặt trận quyết định phải khẩn trương đánh địch để mở đường vận chuyển và cơ động lực lượng.

        Ngày 4 tháng 5, liên đoàn 6 biệt động quân bị đánh thiệt hại nặng. Sư đoàn 320 cùng với trung đoàn 28 phá vỡ được tuyến phòng ngự Võ Định - Công Trăng Klả.

        Ngày 9 tháng 5, trung đoàn 52 có pháo binh chi viện và 5 xe tăng của đại đội 2 thiết giáp tham gia cùng đột phá, trong 45 phút đã tiêu diệt tiểu đoàn 62 biệt động, đánh chiếm và làm chủ hoàn toàn vi trí Kleng. Trong trận đánh, do bố trí trận địa ở một địa điểm bất ngờ ngay trên sân bay, 4 khẩu súng máy cao xạ 12,7 của tiểu đoàn 16 (sư đoàn 320) đã bắn rơi 8 máy bay địch đủ loại. Sau đó, trên đường cùng bộ binh hành quân vào hướng Công Tum, các đồng chí lại giá súng ngay trên mặt đường trống trải kịp thời bắn rơi tại chỗ một chiếc máy bay khác, bảo vệ được đội hình của bộ binh.

        Ở Chư Pao, làng Rệp, các chiến sĩ trung đoàn 95 đánh tiêu hao lữ đoàn dù 3 trên đường rút khỏi Công Tum. Sở chỉ huy hành quân của lữ đoàn dù cũng bị tiểu đoàn 20 tiêu diệt gọn trong căn cứ Ia Con cùng với hơn một tiểu đoàn pháo, 3 đại đội vừa lính dù, vừa bảo an, thám báo. Khắp cả ba tỉnh, nhân dân có điều kiện thuận lợi đang nổi dậy cùng với bộ đội địa phương và dân quân du kích diệt ác, phá kìm. Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, các chi Hơ Phênh, Hơ Bi đã kiên trì bám đất, bám dân hoạt động, vận dụng sáng tạo phương châm đấu tranh hai chân, ba mũi. Các chị đã cùng với đội công tác vận động và làm tan rã 1 đại đội địch, cùng với nhân dân làm tan rã 1 trung đội phòng vệ dân sự, tranh thủ được sự đồng tình của 1 đại đội bảo an khác, tạo diều kiện thuận lợi cho 4.000 nhân dân ở khu đồn Ia Bi nổi dậy phá tan toàn bộ khu dồn của địch, bung về làng cũ.

        Cả phía trước, phía sau, bọn địch đều bị ba thứ quân của ta tiến đánh. “Tình hình Công Tum, đường 14 và toàn quân khu 2 là vô cùng nguy hiểm, rối mù!” (AFP, 8-5-1972).

        Bọn cố vấn Mỹ trong thị xã Công Tum đã “di tản” về Plây Cu.

        Tên Ngô Du bất lực đã bị cách chức. Tên Nguyễn Văn Toàn, thiếu tướng tư lệnh mới của quân đoàn 2 cho điều chỉnh lại lực lượng và đội hình phòng ngự.

        Địch bỏ vị trí Krông, bỏ quận lỵ Công Tum. Toàn bộ sư đoàn 23 rút hết về để dăng thành một tuyến phòng ngự mới khá chặt chẽ ở ngay sát phía bắc thị xã.

        Điều kiện thực tế lúc đó về ta và về địch không cho phép ta đánh thẳng được vào thị xã nữa. Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định phải đánh địch bằng hai bước: tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực của sư đoàn 23 ở vùng ven, sau đó mới tiến công địch trong thỉ xã.

        Một số đơn vị xe tăng, pháo binh (có cả những đơn vị mới thành lập, được trang bị pháo 105, 155 vừa thu được của địch) đã tiến tới các khu vực gần thị xã.

        Qua 12 ngày chiến dấu, sư đoàn 320 và trung đoàn 28 phá vỡ dược một khu vực phòng ngự của địch ở tây bắc thị xã từ quận ly Công Tum đến ngã ba Trung Tín. Địch phải co về phía đông suối Đắc Lây.

        Địch dùng thủ đoạn bố trí thành nhiều điểm tựa nhỏ, dựa vào công sự vững chắc, liên kết với nhau chặt chẽ để chống đỡ, sơ tán đội hình để tránh đạn mỗi khi pháo ta bắn mạnh. Đồng thời chúng tăng cường các hoạt động của pháo binh, không quân, đặc biệt là tăng cường ném bom rải thảm của máy bay B52.

        Trước thủ đoạn mới của địch, ta chưa diệt gọn được những đơn vị lớn. Thế trận phòng ngự của địch chưa bị đập nát, lực lượng địch chưa suy yếu nghiêm trọng nên không tạo được thời cơ đột phá vào trong thị xã.

        Bọn địch ở thị xã Công Tum đã bị vây hãm. Đường bộ bị cắt đứt. Một số kho tàng bị phá hủy. Trung tâm phòng ngự cửa địch gồm nhiều vi trí công sự vững chắc, liên hoàn trên một phạm vi rất rộng, nên ta khó triệt được tiếp tế đường không. Địch ở trong thị xã đã khốn quẫn nhưng chưa bị kiệt quệ, vì vậy điều kiện đột phá cũng chưa chín muồi.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:14:45 AM

        Trước tình hình đó, Thường vụ Đảng ủy Mặt trận chủ trương bằng mọi cách cố gắng đưa gạo, đạn đến cho bộ đội và kiên quyết vừa đánh vào thị xã, vừa đánh ở vòng ngoài để tiêu diệt toàn bộ quân địch.

        Đêm 24 và 25 tháng 5, từ các hướng địch sơ hở và phòng ngự yếu, sư đoàn 2 và đại đội 209 của thị đội Công Tum cùng với đơn vị xe tăng đã chọc những mũi rất mạnh vào trong thị xã. Các đơn vị đánh chiếm phía nam khu hành chính tỉnh, khu vực sân bay, sở chỉ huy của trung đoàn 44, kho 40 - 41, bệnh viện dã chiến và hai phần ba biệt khu 24.

        Tên Giôn Pôn-van trùm cố vấn Mỹ ở quân đoàn 2 lên thị sát và chỉ thị cho sư đoàn 23 chống cự đến cùng. Hắn chưa kịp quay trở về, chiếc máy bay lên thẳng của hắn đã bị bắn lộn cổ trên đường 14. Nhân vật quan trọng số ba của nước Mỹ ở Việt Nam sau Bân-cơ và Oét-mo-len, người trực tiếp điều hành mọi hoạt động quân sự, chính trị của quân đoàn 2, bi tan xác đã làm cho Ních-xơn hết sức đau đầu.

        Bọn địch chống cự điên cuồng, chúng tập trung ném bom phá, bom cháy, hóa chất độc, tập trung bắn pháo, tung xe tăng, bộ binh liên tiếp phản kích giành giật với ta từng căn nhà, góc phố.

        Bộ tư lệnh Mặt trận cho điều chỉnh lại đội hình chiến đấu và cho thêm trung đoàn 66 vào bên trong thị xã để tiếp tục tiến công, cố nối liền các khu đã chiếm thành một khu vực lớn liên hoàn.

        Biết bao gương chiến đấu kiên cường bất khuất đã xuất hiện trong các đơn vị đang đánh dịch ở trong và ngoài thị xã.

        Trên khu vực Ngọc Bay, khẩu đội 12,7 do Anh hùng Trần Phúc Yên chỉ huy đã góp phần khống chế máy bay địch, yểm hộ đắc lực cho bộ binh. Trong mấy mùa chiến dịch trước, anh đã từng bắn rơi 4 máy bay và góp phần chủ yếu cùng khẩu đội bắn rơi 31 chiếc khác. Lần này với kỹ thuật điêu luyện và tài chi huy mưu trí, sáng tạo anh lại cùng khẩu đội đánh tan nhiều cuộc tiến công bằng không quân của địch, bắn rơi nhiều chiếc và diệt gọn cả một tốp 6 chiếc trực thăng vũ trang. Dùng máy bay không đẩy được khẩu đội của Trần Phúc Yên ra khỏi khu vực này, địch phải đưa bộ binh đến tiến công. Trần Phúc Yên bình tĩnh chỉ huy khẩu đội dùng súng 12,7, tiểu liên, lựu đạn chiến đấu và chiến thắng một lực lượng địch đông hơn gấp 30 lần.

        Trong trận chiến đấu ác liệt, Trần Phúc Yên đã anh dũng hy sinh, nhưng hình ảnh người đại đội phó trưởng thành từ một xạ thủ súng máy cao xạ mưu trí, dũng câm và có kỹ thuật điêu luyện ấy không bao giờ phai nhạt trong tâm trí của các chiến sĩ Tây Nguyên.

        13 ngày chiến đấu quyết liệt đã trôi qua.

        Tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch chưa bị phá vỡ, chúng còn tập trung dược lực lượng đối phó với ta ở bên trong thị xã. Các đơn vị vẫn giữ vững những vị trí đã chiếm, nhưng sức chiến đấu bị giảm dần, vì việc tiếp tế bị mưa lũ cán trở, gạo đạn dự trữ mang theo còn ít.

        Đêm ngây 5 tháng 6, xét thấy những điều kiện để tiêu diệt hoàn toàn quân địch trong thị xã không còn nữa, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định cho các đơn vị lui quân.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/LLVT%20TN%20-%200243_zpseo699ngu.jpg)
Diễn biến chiến dịch giải phóng Đắc Ioo - Tân Cảnh (twf 30-3 đến 25-4-1972)

        Đợt hoạt động Xuân - Hè trong chiến dịch tiến công chiến lược năm 1972 ở Tây Nguyên đã kết thúc. Tuy còn một số thiếu sót chưa hoàn thành nhiệm vụ giải phóng thị xã Công Tum, nhưng “... chiến trường Tây Nguyên đã giành được thắng lợi to lớn về tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung... Sự chỉ đạo có ưu điểm là kiên quyết và sáng tạo, ra sức khắc phục khó khăn, giành được thắng lợi to lớn...”1.

--------------------------
        1. Trích điện số 442 của Thường vụ Quân ủy Trung ương gửi Trung ương Cục, Khu ủy Khu 5 và Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên, ngày 16 tháng 6 năm 1972.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:20:33 AM

2. TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN TIẾN CÔNG,
GIỮ VỮNG VÀ MỞ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG

        Sau những thất bại nặng nề vừa qua, quân địch đang củng cố và cố gắng cải thiện lại thế phòng ngự, cố gắng khai thông đường 14. Chúng muốn giữ nguyên hiện trạng rồi lợi dụng những khó khăn của ta trong mùa mưa để đánh ra, giành. lại những vùng đã mất.

        Sau hai tháng chiến đấu liên tục, ta có khó khăn về nhiều mặt, nhưng quyết tâm chung của ta là tiếp tục cuộc tiến công chiến lược, tạo cho được cực diện mới trong năm 1972.

        Công việc phải giải quyết lúc này là tập trung củng cố bộ đội, bố trí lại thế trận chiến dịch cho phù hợp với nhiệm vụ chiến đấu tiêu diệt địch, giành dân, bảo vệ vùng giải phóng với khả năng cơ sở vật chất hiện có.

        Sau khi sư đoàn 2, trung đoàn 52 và trung đoàn công binh 83 xuống Khu 5, Bộ tư lệnh Mặt trận tiến hành điều chỉnh lại thế bố trí chiến dịch và triển khai một kế hoạch hoạt động mới:

        - Trung đoàn 28, trung đoàn 66 cùng các lực lượng pháo binh thay phiên nhau vừa củng cố, huấn luyện vừa tiếp tục bao vây thị xã Công Tum, tiêu diệt địch nống ra, bảo vệ vùng phải phóng.

        - Trung đoàn 24 và trung đoàn 95 luân phiên nhau củng cố, huấn luyện, tiếp tục đánh giao thông, từng thời gian làm chủ đường số 14, cô lập thị xã Công Tum, uy hiếp thị xã Plây Cu và bảo vệ vùng giải phóng ở huyện 3, huyện 4 (Gia Lai).

        - Sư đoàn 320 thọc sâu vào khu vực tây nam thị xã Plây Cu, cùng với một số đơn vị độc lập đang đứng chân ở đó, mở một mặt trận mới, tiến hành diệt địch trên đường 19 tây, mở vùng nông thôn thuộc huyện 4, huyện 5 (Gia Lai).

        - Lực lượng các tinh hoạt động tiếp trên khu vực trọng điểm của mình.

        Thực hiện kế hoạch trên, ở vừng ven thị xã Công Tum, sư đoàn 23 ngụy bị diệt gọn 2 tiểu đoàn, bị đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn khác.

        Trên đường 14, căn cứ hỏa lực 41A bị tiểu đoàn 20 diệt gọn, 1 chi đội xe bọc thép bị tiêu diệt hoàn toàn. Cũng tại đây, tiểu đoàn 394 đánh một trận xuất sắc, lần đầu tiên thu nguyên vẹn 3 xe tăng. Con đường huyết mạch của địch bi cắt và bị uy hiếp thường xuyên. Địch phải chôn chân ở khu vực này tới 5 tiểu đoàn bộ binh và gần 1 trung đoàn thiết giáp để làm nhiệm vụ bảo vệ.

        Trong khu vực tây nam Plây Cu, sự xuất hiện của sư đoàn 320 là một bất ngờ lớn đối với địch. Chúng chưa kịp đối phó thì ta đã dùng phần lớn khối chủ lực kết hợp với lực lượng địa phương đánh vào lực lượng kìm kẹp của chúng. Ta đã lấy lực lượng mạnh nhất của ta đánh vào lực lượng yếu nhất của địch. Vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, ta đã tiêu diệt được đồn Tầm, bức rút đồn Chư Phổ, giải phóng vùng làng Dịt - Thanh Giáo trên đường 19 tây, rồi phát triển sang hướng đông quận lỵ Thanh An mở dân ở 6 ấp làng Klan, phát triển về phía tây, đập nát đồn Chư Bồ, giải phóng nhân dân ở khu đồn Chư Bồ - Đức Cơ.

        Ngày 10 tháng 9, sư đoàn 320 và các đơn vị tăng cường đã tổ chức bao vây căn cứ biên phòng Đức Cơ. Tiểu đoàn 631 tiêu diệt căn cứ biên phòng Chư Nghé bằng một trận đánh vây lấn rất đẹp. Chiến dịch tổng hợp của ta mở ra ở vùng đông dân, đất bằng ở ven đường 14, 19 tây đã buộc địch phải giảm bớt cường độ của các cuộc hành quân lấn chiếm ở phía bắc Công Tum. Chúng phải điều những lực lượng lớn của sư đoàn 23 và các liên đoàn biệt động để lo ngăn chặn ta phát triển về hướng thị xã Plây Cu.

        Các đội vũ trang tuyên truyền của sư đoàn 320 kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương luồn sâu vào các “ấp chiến lược” tuyên truyền, giáo dục chính sách 10 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng, phối hợp với đòn tiến công quân sự đưa dược hàng vạn đồng bào thoát khỏi sự kìm kẹp của địch trở về vùng căn cứ.

        Trước tình hình thiếu, đói của số đồng bào mới từ vùng địch trở về, ngoài việc vận động nhân dân vùng căn cứ đóng góp giúp đỡ, anh em còn tổ chức hướng dẫn cho bà con sản xuất tự túc bằng cách trồng cây lương thực ngắn ngày. Giành dân đã khó, giữ dân càng khó hơn, nên mặc dù đang gặp rất nhiều khó khăn về lương thực, thực phẩm, sư đoàn 320 vẫn nêu quyết tâm “dù bộ đội phía trước có đói cũng phải bớt gạo để giúp dân”. Nhiều đơn vị đã tự nguyện rút bớt từ một phần ba đến một nửa khẩu phần ăn hàng ngây, dành ra hàng tấn gạo, hàng chục cân muối cứu giúp đồng bào trong giai đoạn khó khăn. Chính những sự việc và hành động thực tế đó của bộ đội, của nhân dân và chính quyền địa phương đã có sức thuyết phục lớn, góp phần làm cho những người lâu nay bị địch bưng bít, xuyên tạc về cách mạng đã nhanh chóng gắn bó với cách mạng, với cuộc sống mới.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:21:03 AM

        Cuộc tiến công chiến lược của quân và dân ta trên toàn Miền đã bước sang tháng thứ 7. Trong 6 tháng, quân và dân miền Nam đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và binh khí kỹ thuật của địch. Ta đã tiêu diệt dược các đơn vị cỡ trung đoàn, sư đoàn, đánh thiệt hại nặng nhiều sư đoàn khác trong đó có 2 sư đoàn dự bị chiến lược và buộc chúng sa lầy ở mặt trận Quảng Trị. Ta phá vỡ được nhiều khu vực phòng ngự then chốt, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn tương đối hoàn chỉnh. Toàn bộ khối chủ lực cửa ta không những đứng vững trên những địa bàn chiến lược ở rừng núi mà nhiều trung đoàn, sư đoàn đã thọc sâu được vào đồng bằng Khu 5, đồng bằng sông Cửu Long tạo nên một so sánh lực lượng mới có lợi cho ta, tạo nên thế tiến công mới và khả năng mới để đánh bại âm mưu “bình định” của địch.

        Do thắng lợi lớn của ta, vấn đề Việt Nam mà Ních-xơn đã cố tình làm cho mờ nhạt đi nay lại đang nổi lên thành vấn đề số một của nước Mỹ. Ních-xơn đang đứng trước những khó khăn chồng chất trong thời kỳ gay go, phức tạp nhất của năm bầu cử tổng thống ở Mỹ.

        Đế quốc Mỹ đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” và trước sức ép của nhân dân Mỹ đòi chấm dứt hoàn toàn mọi dính líu của Mỹ vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

        Trên mặt trận ngoại giao, chúng ta lại giáng tiếp một đòn tiến công quyết liệt bằng cách đưa ra bản dự thảo: “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Phía Mỹ đã phải thừa nhận đây là một văn kiện rất quan trọng, mở đường cho hội nghị Pa-ri về Việt Nam mau đi tới một giải pháp cơ bản. Nhưng ngay sau đó, phía Mỹ đã trì hoãn việc ký kết rồi lật lọng đòi thay đổi nhiều vấn đề cơ bản mà các bên tham dự hội nghị đã thỏa thuận. Trong lúc đó, ở chiến trường, chúng ồ ạt tuôn vũ khí vào cho quân ngụy, ráo riết bắt lính, đôn quân, tăng cường càn quét, “bình định”, khống chế kìm kẹp nhân dân vùng chúng tạm kiểm soát và tích cực tổ chức các cuộc lấn chiếm quy mô lớn ra các vùng giải phóng. Những việc làm đó đã bộc lộ rõ Mỹ vẫn nuôi tham vọng xâm chiếm miền Nam nước ta.

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta đang phát triển mạnh mẽ với triển vọng vô cùng tốt đẹp. Mỹ đang gặp khó khăn chồng chất, càng kéo dài chiến tranh càng khó giành được thắng lợi mà còn có thể bị thất bại to lớn hơn. Tình hình kinh tế, chính trị của nội bộ nước Mỹ đòi hỏi phải giải quyết vấn đề Việt Nam. Tương quan về sự đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và lực lượng phản cách mạng cũng như giữa các nước lớn trên thế giới cũng đòi Mỹ phải chấm dứt dính líu về quân sự ở Việt Nam. Vì vậy khả năng kết thúc chiến tranh sớm có thể xảy ra.

        Ta tập trung mọi cố gắng làm cho khả năng này trở thành hiện thực.

        Theo chỉ thị cửa Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, ngày 23 tháng 9 năm 1972, hội nghị Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên đề ra chủ trương hoạt động trong những tháng cuối năm là: tranh thủ thời cơ có lợi, tập trung mọi lực lượng mở một chiến dịch tổng hợp quy mô lớn, đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị, tiêu diệt và làm tan rã lớn quân ngụy, chủ yếu là địa phương quân, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn, giành cho được những địa bàn quan trọng.

        Đầu tháng 10, trung đoàn 24 B luồn sâu vào Đắc Lắc, tiến hành mở dân ở khu vực Cheo Reo - đường 7. Trung đoàn 25 mới thành lập trên cơ sở tiểu đoàn 20 B và tiểu đoàn 5 (đoàn 671) cũng vào hoạt động ở phía bắc Buôn Ma Thuột. Đồng thời để có những quả đấm tập trung mạnh hơn, đáp ứng với yêu cầu tác chiến ngày càng phát triển, Đảng ủy Mặt trận quyết định thành lập sư đoàn 10 gồm các trung đoàn 28, 66, 95, tiểu đoàn 37 đặc công và một số đơn vị trực thuộc.

        Ngày 12 tháng 10, để hoàn chỉnh thêm vùng giải phông phía bắc Công Tum và mở thông đường vận chuyển, Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương tiêu diệt căn cứ Plây Cần. Trung đoàn 40 tháo rời từng bộ phận pháo 85 và 105 khiêng vào cách vi trí địch khoảng 1 - 2 ki-lô-mét, lần đầu tiên dùng cách ngắm bắn trực tiếp để phá hoại công sự địch, chi viện cho bộ binh. Kết hợp chặt chẽ các mũi đột phá của bộ binh với pháo binh và xe tăng, chỉ trong vòng 5 giờ, trung đoàn 66 được tăng cường thêm tiểu đoàn 37 đã tiêu diệt gọn cứ điểm cửa tiểu đoàn 95 biệt động biên phòng.

        Với cách đưa pháo lớn vào gần ngắm bắn trực tiếp, không một loại công sự vững chắc nào của địch có thể chịu đựng nổi. Bộ đội ta đã nâng chiến thuật đánh công sự vững chắc lên một bước phát triển mới, có hiệu lực lớn và có tốc độ cao hơn.

        Sau khi diệt xong căn cứ Plây Cần, dự kiến rất có thể sẽ phải giải quyết tiếp căn cứ Đắc Siêng đang bị cô lập cao độ, nên các đơn vị một mặt tổ chức cho bộ đội cấp tốc hành quân về phía nam thị xã Công Tum cùng với trung đoàn 95 mở mặt trận mới, mặt khác chủ động tổ chức một bộ phận nhỏ đi chuẩn bị ở căn cứ Đắc Siêng.

        Đúng như dự kiến, ngày 22 tháng 10, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Mặt trận phải tổ chức đánh Đắc Siêng ngay. Nhận dược lệnh của Mặt trận trung đoàn 66 còn cách Đắc Siêng 7 ngày đường. Bộ đội quyết tâm đi có ngày lẫn đêm rút ngắn thời gian hành quân xuống còn 5 ngày. Tới vi trí là triển khai chuẩn bị chiến đấu ngay. Ngày 29 tháng 10, nắm thời cơ và hiệu quả do pháo bắn trực tiếp tạo được bộ binh tổ chức mở cửa, đánh chiếm đầu cầu. 30 phút sau khi xung phong, ta đã tiêu diệt và bắt hết quân địch, làm chủ hoàn toàn căn cứ.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:21:24 AM

        Đây là trận đánh thứ hai chứng minh cho sự thành công của phương pháp đánh công sự vững chắc theo kiểu mới.

        Ba ngày sau, áp dụng kinh nghiệm chiến đấu sáng tạo của hai trung đoàn 40 và 66, sư đoàn 320 tổ chức cho tiểu đoàn 3 (trung đoàn 400) và tiểu đoàn 631 tiến vào dứt điểm căn cứ Đức Cơ trên đường 19 tây đã bị vây hãm bằng một lực lượng nhỏ suốt từ ngày 10 tháng 9, góp phần phong phủ thêm kinh nghiệm đánh công sự vững chắc.

        Với chiến thắng Đức Cơ, ta đã nhổ được vị trí cuối cùng của địch ở phía tây đường 19 tây, mở thông đường hành lang lên vùng giải phóng Công Tum.

        Ở khu tam giác Phú Nhơn - Phú Mỹ - Mỹ Trạch, lực lượng của sư đoàn 320 phối hợp với lực lượng địa phương đã diệt được căn cứ 43, diệt 2 ban chỉ huy hành quân quận Phú Nhơn và tiểu khu Plây Cu, giải phóng được 9 làng trên trục đường 14 từ Phú Mỹ đến bắc Phú Nhơn gồm hơn 1.000 dân.

        Đến tháng 11, hầu hết huyện 5 Gia Lai (trừ một vùng nhỏ xung quanh Thanh An) đã hoàn toàn giải phóng. Ta đã tạo dược một bàn đạp vững chắc để phát triển tiến công về hướng thị xã Plây Cu.

        Tử cuối tháng 11, địch điều lên tăng cường cho Tây Nguyên 3 tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp và thành lập thêm một số đơn vị pháo có cả pháo 175 mi-li-mét. Chúng tổ chức liên tiếp các cuộc hành quân lấn chiếm ra các hướng trọng điểm với quy mô lớn. Ở hướng Đức Cơ có lúc lực lượng địch lên tới 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp và 2 tiểu đoàn pháo.

        Cuộc chiến đấu chống địch lấn chiếm đã diễn ra quyết liệt trên khu vực bắc thị xã Công Tum, trên đường 14 và đường 19 tây.

        Ngày mà các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đuổi hết bọn lấn chiếm ra khỏi các vùng giải phóng cũng chính là ngày đế quốc Mỹ phải chịu ký kết Hiệp định Pa-ri, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, chấm dứt chiến tranh xâm lược, chấm dứt sự dính líu về quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam.

        Hơn 350 ngày đêm chiến đấu liên tục từ mùa khô đến mùa mưa, quân và dân Tây Nguyên vượt qua muôn vàn gian khổ, dã giành được đỉnh cao nhất của thắng lợi trong 8 năm đánh Mỹ.

        Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã phát huy được sức mạnh của quả đấm chủ lực trên một hướng tiến công chiến lược. Lần đầu tiên tiêu diệt 1 sư đoàn (thiếu), tiêu diệt, đánh thiệt hại nặng 75% số tiểu đoàn địch tham chiến. Phá vỡ cả hệ thống phòng ngự then chốt của địch ở phía bắc Công Tum và tây nam thị xã Plây Cu.

        Tây Nguyên cũng đã tiến một bước nhảy vọt về giải phóng đất đai và giành dân. Các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã giải phóng một vùng đất rộng lớn với hơn 4 vạn dân bao gồm hầu hết tỉnh Công Tum và vùng tây nam thị xã Plây Cu, mở rộng và hoàn chỉnh thêm vùng giải phóng phía tây đường 14.

        Khối chủ lực Tây Nguyên đã trưởng thành và phát triển toàn diện. Chủ lực ta đã mở được chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô tương đối lớn, phát triển phong phú chiến thuật đánh công sự vững chắc, nâng cao trình độ và tốc độ đánh tiêu diệt; tiêu diệt một tập đoàn phòng ngự và một loạt các cứ điểm phòng ngự biên phòng. Thực hiện được đánh giao thông, cắt đường dài ngày, đánh bại các cuộc hành quân giải tỏa đường, đánh tỉa giao thông thường xuyên và đánh tập trưng quy mô vừa.

        Tây Nguyên trong cả năm chiến đấu đã thu hút về phía mình hầu hết các đơn vị chủ lực của quân đoàn 2 và giam chân chúng trong một thời gian khá dài, tạo điều kiện thuận lợi cho Khu 5, hoàn thành tốt nhiệm vụ phối hợp chiến trường của Bộ Tồng tư lệnh giao cho.

        Chiến thắng năm 1972 ở Tây Nguyên không chỉ là thể hiện sự mưu trí, sáng tạo trong kế hoạch lập thế trận, trong cách đánh, quyết tâm sắt đá, ý chí quyết chiến quyết thắng, tinh thần bất khuất, kiên cường của mỗi tập thể, mỗi người, mà côn là sự thể hiện của tinh thần dẻo dai, bền bỉ. Hơn 350 ngày chiến đấu liên tục không một ngày nghỉ ngơi đã xóa bỏ những suy nghĩ cũ cho rằng Tây Nguyên chỉ có thể đánh lớn được trong mùa khô. Những chiến thắng lớn trong đợt hoạt động cuối năm cũng đã xóa bỏ thành kiến cũ là mở đầu chiến dịch bao giờ cũng giòn giã thắng to, nhưng càng về sau càng gặp khó khăn nên sức tiến công càng yếu dần. Thắng lợi năm 1972 mở ra cho quân và dân Tây Nguyên nhiều khả năng mới, nhiều triển vọng tốt đẹp trong nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng, trong giai đoạn phát triển mới của cách mạng.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:23:55 AM

Chương tám

GIỮ VỮNG VÀ MỞ VỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG,
XÂY DỰNG THẾ TRẬN TIẾN CÔNG TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG MỚI

1. BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ

        “Thắng lợi rất to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và chiến công xuất sắc của quân và dân ta đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B 52 vào Hà Nội, Hải Phòng cuối cùng đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, rứt hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi nước ta”1.

        Hiệp định Pa-ri được ký kết là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta. Nhưng đế quốc Mỹ và ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu đã phá hoại Hiệp đinh một cách hệ thống.

        Chúng vẫn tiếp tục dùng quân ngụy đẩy mạnh kế hoạch “bình định”, lấn chiếm các vùng giải phóng. Chúng âm mưu cố thắng ta dần từng bước bằng sức mạnh quân sự nhưng hạn chế ở mức độ không gây ra chiến tranh lớn buộc quân Mỹ phải trực tiếp trở lại tham chiến.

        Kế hoạch “tràn ngập lãnh thở” của lực lượng quân đoàn 2 ngụy được thực hiện ngay trước giờ lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực và nhằm vào hai mục tiêu là vùng giải phóng Võ Định và Đức Cơ, nhưng đã thất bại hoàn toàn.

        Từ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973 trở đi, chúng liên tục mở các cuộc tiến công lấn chiếm với quy mô từ một trung đoàn đến một sư đoàn và sư đoàn tăng cường, kết hợp với nhiều máy bay, pháo binh, thiết giáp đánh phá ác liệt để giải tỏa các trục giao thông và chiếm một số vị trí có giá trị chiến dịch, chiến thuật ở trường 14, 19, 21 ở phía bắc, tây bắc thi xã Công Tum, phía tây, tây nam thị xã Plây Cu. Chúng muốn cải thiện lại thể phòng ngự và giảm bớt sức ép của ta đối với hai thị xã Công Tum và Plây Cu.

        Quân và dân Tây Nguyên chưa được hưởng một ngày hòa bình trọn vẹn đã phải bước vào cuộc chiến đấu chống lấn chiếm kéo dài triền miên suốt nhiều tháng trời. Chỉ tính riêng trong tháng 8, các chiến sĩ của sư đoàn 10 chốt giữ ở Đắc Rơ Cót đã phải chịu đựng sự tàn phá khốc liệt của 3.581 quả bom và 41.632 quả đạn pháo cỡ lớn.

        Vùng giải phóng Đắc Rơ Cót xanh tươi mà nay đã:

                                  “Cây  quanh mình trụi lá
                                    Đất đá hoá thành vôi”2.

        Bên cạnh cái ác liệt của chiến tranh, lại còn cái khắc nghiệt của thời tiết, nhất là trong những tháng mùa mưa:

                                   “Ngày nắng như đổ lửa
                                    Đêm mưa hầm đầy nước” 3.

        Các chiến sĩ Tây Nguyên vẫn tiếp tục cuộc sống căng thắng, vẫn thiếu ngủ và ăn uống kham khổ:

                                   “Cơm nắm ngày hai bữa
                                    Hớp nước cũng chia đôi”4.

        Nhưng với ý chí dược tôi luyện trong nhiều năm chiến đấu, tư tưởng đã xác định qua những đợt học tập về thắng lợi của cách mạng, về âm mưu cửa kẻ thù và về nhiệm vụ của quân và dân ta trong giai đoạn cách mạng mới, cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên đã nhanh chóng đẩy lùi tư tưởng ngại gian khổ, ác liệt, muốn nghỉ ngơi mới chớm nở trong buổi đầu. Các đơn vị, các binh chủng lại nắm chắc tay súng, vững vàng trên trận tuyến chiến đấu chống “bình định”,  lấn chiếm của kẻ địch.

        Cả Tây Nguyên về cơ bản vẫn giữ vững được vùng căn cứ và vùng giải phóng mở ra trong năm 1972. Địch chỉ giải tỏa được một số điểm ta mới chiếm lĩnh trước ngày 28 tháng 1, và cải thiện được một phần thế phòng ngự ở phía tây đường 14.

        Trong đấu tranh với địch, ta đã phát triển được nhiều hình thức đấu tranh phong phú. Song song với đòn trừng trị bằng quân sự, trên các địa điểm tiếp xúc giữa hai bên ở làng Dịt, làng Poóc, Chư Rệt, Ngô Trang... chiến sĩ ta rất chững chạc, đàng hoàng, ôn hòa, lịch thiệp, giải thích cho hàng nghìn lượt binh sĩ địch nghe về các điều khoản của Hiệp định Pa-ri, về thắng lợi to lớn của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bộ đội ta còn nói rõ nội dung cụ thể chính sách 10 điểm của cách mạng đối với binh sĩ, gia đình binh sĩ và nhân viên ngụy quyền. Các chiến sĩ ta cũng rất cứng rắn, kiên quyết khi dùng những lý lẽ sắc bén để đập lại luận điệu xảo trá hoặc những yêu cầu láo xược của bọn chỉ huy ngoan cố, của bọn tâm lý chiến ác ôn ngụy.

        Tại “nhà hòa hợp” ở làng Dịt, trước những bằng chứng không thể chối cãi do ta đưa ra, tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn biệt động số 81 đã phải ký vào biên bản nhận tội vi phạm Hiệp đinh.

        Các đội công tác cửa bộ đội và của cấp ủy địa phương thâm nhập vào vùng địch, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng, nhất là chính sách hòa hợp dân tộc, xây dựng thêm nhiều cơ sở và hướng dẫn cho quần chúng đấu tranh.

        Nhân dân huyện 5 (Gia Lai), bằng pháp lý của Hiệp đinh, buộc bọn địch trong căn cứ Plây Me phải làm cam đoan không bắn pháo và càn quét quấy nhiều nhân dân quanh vùng. Nhân dân làng Bra Mai, làng Đắc Còn (Gia Lai), làng Ma Rốc (Đắc Lắc)... buộc địch phải phá rào, gỡ chông mìn để nhân dân tự do đi lại làm ăn.

        Hơn 8 nghìn lượt đồng bào Đắc Lắc và gần 3 vạn lượt đồng bào Gia Lai được cán bộ hướng dẫn đã xáp vào đấu tranh chính trị, chống bắt lính, chống bắn pháo bừa bãi và đòi chồng con trở về làm ăn giúp đỡ gia đình.

        Nhiều nơi đã đấu tranh khôi phục dược việc đi lại, trao đổi, mua bán giữa vùng ta và vùng địch. Diện phá lỏng được mở rộng và đang có chiều hướng phát triển tốt nhất là ở vùng ven các thị xã.

--------------------------
        1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1979, tr.19.

        2. , 3. , 4. Trích ca cao của chiến sĩ ở Đắc Cơ Rót.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:27:33 AM

2. ĐÁNH BẠI ÂM MƯU LẤN CHIẾM CỦA ĐỊCH,
MỞ RỘNG VÀ HOÀN CHỈNH VÙNG GIẢI PHÓNG

        Suốt mấy tháng trời, địch tập trung lục lượng mở chiến dịch lấn chiếm có trọng điểm trên từng hướng. Chúng dùng thủ đoạn “cài lấn xen kẽ, dũi dần dài ngay” để đẩy lực lượng ta. Đối phó với tình hình đó, về mặt chỉ đạo chỉ huy tác chiến, bộ đội ta kiên quyết, tích cực và liên tục đánh trả. Nơi nào bị đánh đau, chúng phải co lại và tạm hòa hoãn trong từng thời gian. Những nơi chất lượng và hiệu suất chiến đấu của ta còn thấp, vận dụng phương châm kết hợp phản công và tiến công chưa tốt, chưa tích cực chủ động tiến công, cách đánh chưa rõ ràng, còn nhập nhừng giữa tiến công tiêu diệt địch và phòng ngự giữ đất, sử dụng lực lượng còn phân tán nhỏ giọt, thiếu kiên quyết tập trung để dứt điểm từng chỗ... thì tác chiến còn giằng co kéo dài. Do nhiều thiếu sót đó ta không thực hiện được những trận đánh đau, đánh hiềm, đánh tiêu diệt, không phá được chiến thuật mới của địch, chưa hoàn toàn đánh bại dược âm mưu, ý đồ lấn chiếm của chúng.

        Bộ tư lệnh Mặt trận kịp thời mở một cuộc hội nghị rút kinh nghiệm và bàn chuyên đề về chỉ đạo cách tranh của ta trong chống lấn chiếm. Tháng 9 năm 1973, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên chủ trương: kiên quyết đánh tiêu diệt quân địch lấn chiếm bằng cả phản công và tiến công, phối hợp trên nhiều hướng, cả phía trước lẫn phía sau.

        Cuối tháng 9, Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định chủ động mở một hướng tiến công mới ở khu vực phía tây thị xã Plây Cu để phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện cho sư đoàn 10 đánh địch lấn chiếm ở bắc Công Tum.

        Ngày 22 tháng 9, sư đoàn 320 sau một thời gian tranh thủ củng cố, huấn luyện, đã tiến công tiêu diệt vị trí Chư Nghé. Đây là vị trí đã bị ta tiêu diệt hồi tháng 9 năm 1972, nhưng không có lực lượng đóng giữ, nên tiểu đoàn 80 biệt động biên phòng đã chiếm lại và củng cố thành một căn cứ vững chắc nằm lọt sâu trong vùng giải phóng của huyện 4 (Gia Lai).

        Trận đánh được chuẩn bị rất chu đáo theo tinh thần “quyết thắng”, “sáng tạo” và diễn ra rất nhanh, gọn, đáp ứng đúng yêu cầu của việc kết hợp đấu tranh quân sự chính trị và ngoại giao trong điều kiện và hoàn cảnh phức tạp của tình hình. Sư đoàn 320 đã thành cóng trong việc đưa pháo Đ74 vào ngắm bắn thực tiếp, dùng pháo trên xe tăng đứng ngoài rào chi viện kịp thời cho bộ binh và kéo cả pháo cao xạ 37, 57 vào gần để bảo vệ cho đội hình tiến công. Công binh của sư đoàn 320 đã nghiên cứu và sử dụng thành công việc dùng mìn chống tăng thu được của địch để phá rào và tạo hố rất nhanh cho bộ binh trong quá trình chiếu đấu.

        Chiến thắng Chư Nghé mở ra cho ta triển vọng tiêu diệt hết các cứ điểm đích còn đóng sâu trong các vùng căn cứ của ta để hoàn chỉnh và mở rộng vùng giải phóng liên hoàn.

        Trận đánh Chư Nghé cũng là đòn trừng tri đích đáng đầu tiên của quân và dân ta ở miền Nam, đánh vào âm mưu và hành động phá hoại Hiệp định Pa-ri của bè lũ Mỹ - ngụy.

        Quân đoàn 2 địch lo sợ, phải rút bớt lực lượng ở Công Tum về tăng cường cho tây nam Plây Cu, vẫn chưa đủ, chúng buộc phải kéo thêm cả lực lượng dưới đồng bằng lên đối phó với ta ở khu vực này.

        Bằng cách sử dụng các phân đội bộ binh, công binh, pháo binh, kết hợp với dân quân du kích luồn sâu liên tục đánh vào sở chỉ huy, kho tàng, trận địa pháo, đường giao thông, ta đã buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, bộc lộ nhiều sơ hở. Sư đoàn 320 có thêm điều kiện và thời cơ, tập trung lực lượng đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn địch, làm thất bại hoàn toàn. các cuộc phản kích lấn chiếm lại Chư Nghé.

        Sau Chư Nghé, trên hướng Công Tum, đường 19, địch cũng bị đòn đau. Cả ba thứ quân của ta hoạt động có hiệu quả ở vùng sau lưng dịch. Lực lượng của địch bị phân tán, thế trận bị rối loạn, chúng bắt đầu tơi vào tình trạng bị động, lúng túng.

        Đối phó ở Tây Nguyên chưa xong, đến tháng 11, quân đoàn 2 ngụy lại phải dồn lực lượng về hướng mặt trận mới mở của ta ớ Quảng Đức, chúng buộc phải giảm hẳn số cuộc hành quân lấn chiếm, lùi trở về củng cố các tuyến phòng ngự, ngăn chặn và bảo vệ các thị xã, các trục giao thông quan trọng.

        Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên có điều kiện để thay phiên nhau vừa chiến đấu, vừa củng cố, huấn lu rện và tiến hành các công tác khác.

        Ngày 14 tháng 2 năm 1974, Quân ủy Trung ương phổ biến cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên tinh thần cơ bản của Nghị quyết Trung ương lần thứ 21 và dự kiến:

        “Tinh hình có thể phát triển theo hai khả năng:

        - Một là, do đấu tranh tích cực của ta trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định Pa-ri, hòa bình sẽ được lập lại thực sự.

        - Hai là, Hiệp định Pa-ri tiếp tục bị địch vi phạm và phá hoại, xung dột quân sự có thể ngày càng tăng, cường độ và quy mô chiến tranh ngày càng lớn, ta lại phải tiến hành chiến tranh cách mạng gay go, quyết liệt để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:28:18 AM

        Về chủ quan, ta phải hết sức tranh thủ thực hiện khả năng một, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cho khả năng thứ hai”1.

        Quân ủy Trung ương còn chỉ rõ: “Cách mạng miền Nam có thể trải qua nhiều bước quá độ và chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con dường bạo lực cách mạng”2. Bất kể trong tình hình nào cũng phải nắm vững thời cơ, nắm vững đường lối, chiến lược tiến công.

        Căn cứ vào tinh thần cơ bản của Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên xác định nhiệm vụ trung tâm của Tây Nguyên lúc này là: “Đánh bại kế hoạch “bình định”, lấn chiếm của dịch, giành dân, giành quyền làm chủ”3.

        Chúng ta không chi đánh địch ở hướng chúng tập trung lấn chiếm, mà còn buộc địch phải bị động đối phó ở hướng khác do ta lựa chọn, làm chúng không thực hiện được ý định, kế hoạch dẫn tới đảo lộn cả thế trận của chúng. Cả ba thứ quân sẽ đẩy mạnh các hoạt động đánh nhỏ đều khắp để hạn chế nhưng chỗ mạnh của địch, đánh vào những chỗ yếu, chỗ sơ hở của chúng, lạo điều kiện cho lực lượng chủ lực cơ động tập trung đánh từng trận qui mô vừa, tiêu diệt gọn, trừng trị đau, giải quyết vấn đề mấu chốt để đánh bại âm mưu lấn chiếm của địch.

        Từ cuối năm 1973, ta đã có chủ trương đưa một lực lượng lớn luồn sâu sang hướng đông, mở một mặt trận mới thường xuyên đánh vào trận địa giao thông quan trọng nhưng lại rất sơ hở của địch ở đoạn đường 19 chạy qua An Khê. Để bảo đảm vật chất và binh khí kỹ thuật cho lực lượng luồn sâu này, ta triển khai mở đường 220. Con dường này trở thành một hướng vu hồi chiến dịch hết sức nguy hiểm đối với kẻ địch, nên khi nó từ Võ Định vươn tới vùng Com Rẫy, chúng đã liên tiếp cho lực lượng ra ngăn chặn, phá hoại.

        Thực hiện chủ trương vừa đánh địch lấn chiếm, vừa bảo vệ đường 220, Bộ tư lệnh Mặt trận lệnh cho sư đoàn 10 tổ chức quét địch ở khu vực Com Rẫy. Rút kinh nghiệm thất bại của tiểu đoàn 3 (trung đoàn 40 ngụy) vừa bị trung đoàn 28 của ta diệt gọn ở Con Ke Rpô, đầu tháng 3 năm 1974, khi được lệnh ra ngăn cản ta làm đường, tiểu đoàn 95 biệt động quân đã xin tăng  cường thêm 2 đại đội của tiểu đoàn 62 và dùng chiến thuật “mạng nhện” tổ chức đóng quân phân tán thành hàng chục điểm có công sự vững chắc và vật chướng ngại trên một phạm vi rộng ở phía đông căn cứ Con Rốc.

        Ngày 16 và 17 tháng 3, bộ tư lệnh sư đoàn 10 dùng trung đoàn 28 đột phá dứt điểm mục tiêu chủ yếu là sở chỉ huy tiểu đoàn địch, sau đó tiếp tục công kích các mực tiêu quan trọng khác. Địch tan vỡ, bỏ chạy, nhưng không thoát khỏi ba tầng vây lõng của trung đoàn 24 (thiếu).

        Tiểu đoàn 95 và 2 đại đội tăng cường của địch bị diệt gọn, trong số 250 tên bị bắt có cả 2 tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó.

        Chiến thuật đóng chốt kiểu mới của địch bị đánh bại. Chúng run sợ và từ đó không dám mò ra khu vực Com Rẫy nữa.

        Ngày 24 tháng 4, trung đoàn 24 tổ chức phá nốt căn cứ Con Rốc, diệt gọn tiểu đoàn bảo an số 270. Đường 220 của ta tiếp tục chọc thủng xuống phía bắc đường 19.

        Sau khi buộc địch phải lui về các tuyến phòng ngự cũ, sư đoàn 10 cùng các đơn vị binh chủng kỹ thuật tiến lên tiêu diệt cụm cứ điểm Đắc Pét, chi khu quận ly Măng Đen. Lực lượng địa phương Công Tum bao vây bức rút quận lỵ Măng Bút.

        Vùng bắc và đông bắc thị xã Công Tum sạch bóng quân thù. Ở tỉnh Công Tum, địch bị dồn gọn lại trong thị xã và một số vi trí ở vùng ven.

        Ở hướng Gia Lai, sư đoàn 320 đẩy mạnh các hoạt động ở vùng sau lưng địch, đồng thời tổ chức một hệ thống kiềm, diệt pháo địch rộng rãi và chặt chẽ, hạn chế có hiệu quả sức mạnh về pháo binh, chỗ dựa chủ yếu của chiến thuật lấn dũi của địch, tạo diều kiện cho các trận đánh địch lấn chiếm và diệt các vị trí địch còn lại trong vùng giải phóng.

        Sau khi tiêu diệt căn cứ Lệ Ngọc nằm trên tuyến bảo vệ vòng ngoài cửa thị xã Plây Cu, sư đoàn 320 tổ chức cho trung đoàn 48 tiến đánh cụm hỗn hợp bộ binh, pháo binh, thiết giáp của địch ở căn cứ 711 và điểm cao 601, tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn biệt động sổ 82, 1 chi đoàn xe tăng, xe bọc thép, thu nguyên vẹn 2 pháo 155, 1 cối 106,7 và nhiều quân trang, quân dụng.

        Lần này ngoài việc phát huy tác dụng của các loại pháo lớn ngắm bắn trực tiếp, sư đoàn 320 còn khéo kết hợp các cơ pháo cao xạ bố trí tập trung trên hướng chủ yếu và đội hình chủ yếu của đợt hoạt động, bắn rơi 5 máy bay, bắn bị thương 3 chiếc khác, chi viện rất tốt cho bộ binh dứt điểm. Bọn địch đã phải kêu: “Đây là trận đánh ác liệt nhất kể từ sau ngày ngừng bắn”.

        Qua trận đánh ngày 14 tháng 4, trung đoàn 48 bước đầu dã thành công trong việc nghiên cứu đánh bại thủ đoạn dùng xe tăng, thiết giáp kết hợp với bộ binh, pháo bính phòng ngự trong công sự vững chắc của địch.

        Trên đà chiến thắng chung của chiến trường, trung đoàn 25 tuy mới thành lập nhưng đã nỗ lực rèn luyện và trưởng thành nhanh chóng. Ngày 30 tháng 5, trung đoàn 25 tổ chức đánh hiệp đồng binh chủng, tiêu diệt gọn tiểu đoàn bảo an số 211 trong căn cứ Ia Xúp (Đắc Lắc), giải phóng toàn bộ nhân dân bị địch kìm kẹp ở quanh vùng.

        Vùng giải phóng phía tây; tây nam Plây Cu và phía tây tây bắc Đắc Lắc được bảo vệ vững chắc và hoàn chỉnh thêm một bước mới. Các đơn vị ở cánh nam duy trì được sức ép vào các khu vực trọng yếu của địch, lập được thế trận mới trên đường 19 tây, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm.

--------------------------
        1. Trích điện số 01?TK G6/1 của Quân ủy Trung ương gửi Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên, ngày 14 tháng 2 năm 1974.

        2. Trích điện số 01?TK G6/1 của Quân ủy Trung ương gửi Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên, ngày 14 tháng 2 năm 1974.

        3. Trích Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên, tháng 1 năm 1974.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:30:10 AM
   
3. XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG TÂY NGUYÊN
NÂNG CAO SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG.

        Xuất phát từ quan điểm: không có đường lối đúng để xây dựng thế đứng chân vững chắc, để động viên và bồi dưỡng tiềm lực của nhân dân, của đất nước, nhằm bảo đảm nguồn cung cấp sức người, sức của cũng như nguồn động viên cổ vũ về chính trị. tinh thần, thì không thể tiến hành được chiến tranh cách mạng lâu dài để cuối cùng giành lấy thắng lợi, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyyên chủ trương: “Nhanh chóng xây dựng căn cử và vùng giải phóng, xây dựng hậu phương quân đội, đặc biệt là xây dựng kinh tế, phát triển sản xuất tăng nhanh tiềm lực kinh tế và tiềm lực quân sự tại chỗ để đánh thắng địch trong bất kỳ tình huống nào”1.

        Từ tháng 5 năm 1973, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã tổ chức cuộc hội nghị liên tịch giữa đại biểu các lực lượng vũ trang nhân dân với đại biểu của cấp ủy đảng và chính quyền địa phương ba tỉnh để bàn về xây dựng căn cứ địa, xây dựng vùng giải phóng trong tình hình mới, đề ra phương hướng xây dựng cơ bản các mặt trong thời gian ba năm.

        Mặt trận tổ chức bồi dưỡng cho 54 cán bộ sơ cấp, đưa về tăng cường cho 4 huyện miền Tây của ba tỉnh. Trong điều kiện vừa tác chiến, vừa củng cổ, huấn luyện rất khó khăn, bận rộn, các đơn vị đều chủ động kết hợp chặt chẽ với cấp ủy địa phương, tích cực tham gia xây dựng căn cứ địa, xây dựng vùng giải phóng, từng bước làm cho vùng giải phóng có chuyển biến về mọi mặt.

        Các đơn vị đều coi trọng việc nâng cao giác ngộ cho quần chúng, thường xuyên tổ chức tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ và Mặt trận. Trung đoàn 40, 48, 66, 95, 675... còn tổ chức những buổi nói chuyện thời sự, những cuộc mít tinh mừng chiến thắng kết hợp với những buổi biểu diễn văn nghệ quần chúng, tạo nên không khí vui tươi lành mạnh ở địa phương. Do đó trong điều kiện sinh hoạt còn khó khăn,  gian khổ, quần chúng vẫn tin tưởng, lạc quan.

        Từng đoàn cán bộ, chiến sĩ của các đơn vi tỏa về các buôn làng trực tiếp giúp đỡ nhân dân sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật canh tác, giúp dỡ nông cụ và các loại giống. Phong trào sản xuất được đẩy mạnh, số thóc giống bình quân đầu người gieo trong vụ mùa đã tăng hơn các năm trước nhiều lần. Hơn 400 cán bộ, chiến sĩ của sư đoàn 320 cùng với cán bộ huyện 4, huyện 5 (Gia Lai) vận động nhân dân ở 85 buôn làng trồng thêm được 6 triệu gốc sắn, đồng thời hướng dẫn chế biến sắn đưa vào bữa ăn hàng ngày.

        Phòng hậu cần Mặt trận, sư đoàn 10, sư đoàn 320 giúp địa phương xây dựng được một số trạm xá phục vụ nhân dân đau yếu. Hàng chục tổ phòng dịch của bộ đội thường xuyên xuống các buôn làng, phát hiện và dập tắt kịp thời các ổ dịch bệnh, cứu sống hàng trăm đồng bào.

        Bộ đội xây dựng được một số trường học cho các em nhỏ. Mặt trận lại mở rộng thêm trường văn hóa thiếu nhi, thu nhận 840 con em đồng bào các dân tộc của ba tỉnh về học. Các chiến sĩ đã tốt nghiệp đại học, từng là giáo viên của các trường cấp 2, 3 trên miền Bắc, chiến đấu ở các đơn vị, được điều về để dạy dỗ các em. Qua 2 năm học tập, từ chỗ chưa biết chữ, các em đã có trình độ lớp 4, lớp 5 phổ thông. Trường. văn hóa thiếu nhi của Mặt trận Tây Nguyên đã góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt xây dựng Tây Nguyên sau này.

        Các đội công tác cùng với địa phương thực hiện việc củng cố, kiện toàn bộ máy chính quyền, tổ chức bầu cứ hội đồng nhân dân xã, thành lập và đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nhi đồng. Mọi mặt công tác ở các xã, các buôn đã đi vào nền nếp.

        Trong đợt hoạt động đột xuất chống cứu đói, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên quyết định mở một chiến dịch vận chuyển lớn, kịp thời đưa hàng chi viện của Trung ương về các địa phương. Hơn 4.000 cán bộ, chíến sĩ được huy động về làm những kho chứa và sửa đường suốt từ ngã ba biên giới tới các tỉnh, các huyện. Sáu đoàn cán bộ của Mặt trận màng theo đầy đủ phương tiện liên lạc xuống nằm ngay tại các địa phương trọng điểm cung cấp kịp thời những tin tức cần thiết, những yêu cầu cấp bách của địa phương cho ban chỉ đạo chung.

        Chỉ trong một thời gian ngắn, hơn 3.000 tấn gạo, 200 tấn muối, 15 tấn thuốc cùng hàng nghìn thước vải của Trung ương được đưa đến tận tay nhân dân các vùng giải phóng trên cả ba tỉnh. Nhiều đơn vi xuất cả gạo của đơn vì để cấp cho nhân dân kịp thời, quyết không để một người dân nào trong vùng mình đóng quân bị chết đói. Những việc làm cụ thề đó của bộ đội đã có ảnh hưởng tốt trong quần chúng, càng làm tăng thêm lòng phấn khởi, tin tưởng ở Đảng, ở cách mạng. Nhận những cân gạo, lon muối từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa chi viện đúng lúc khó khăn nhất, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đều xúc động và có chung một ý nghĩ: “Không cỏ Đảng, không có bộ đội Cụ Hồ thì đồng bào các dân tộc còn muôn đời cực khổ”. Qua đỏ, nhân dân vùng mới giải phỏng cũng xóa bỏ được nốt những băn khoăn, ngờ vực đối với cách mạng và càng yên tâm hăng hái sân xuất, xây dựng cuộc sống mới.

--------------------------
        1. Trích Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên, tháng 5 năm 1973.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:31:09 AM

        Để xây dựng căn cứ địa một cách toàn diện, bên cạnh việc chăm lo ổn định đời sống cho nhân dân, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên còn tổ chức huấn luyện nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy cho cán bộ huyện đội, xã đội, nâng cao trình độ tác chiến cho bộ đội huyện và các đơn vị dân quân du kích. Sư đoàn 10, sư đoàn 320, trung đoàn 40, 95, 234... cùng với địa phương nơi đóng quân tổ chức những ban chỉ đạo chung chống địch lấn chiếm, bảo vệ sản. xuất. Đội du kích xã Diên Bình mới thành lập sau ngày giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh, qua một thời gian huấn luyện, xây dựng đã độc lập tác chiến đánh tan 1 đại đội địch, bắn rơi 1 trực thăng, bảo vệ được nhân dân. Dân quân du kích xã E3, E5 (huyện 5 Gia Lai) bao vây diệt gọn cả toán biệt kích lọt sâu vào vùng giải phóng. Dân quân du kích huyện 16, 29, 80 cùng với tiểu đoàn 2 bộ đội địa phương Công Tum bao vây quận lỵ Măng Bút suốt hơn 2 tháng trời ròng rã, gây cho địch muôn vàn khốn đốn và cuối cùng phải rút chạy hoảng loạn.

        Vùng giải phóng Tây Nguyên được mở rộng và nối liền thành một vùng căn cứ tương đối hoàn chỉnh từ bắc Công Tum tới nam Đắc Lắc, nối liền đường hành lang chiến lược từ miền Bắc vào tới chiến trường Nam Bộ.

        Con đường 1B trườn qua Tây Nguyên từng đoạn đã rải đá, thuận lợi cho xe đi cả mùa khô lẫn mùa mưa. Hệ thống đường dây thông tin tải ba cũng đã chạy qua Tây Nguyên, bảo đảm giữ vững liên lạc và sự chi đạo của Trung ương tới các chiến trường.

        Những người dân Tây Nguyên sống ở hai bờ sông Pô Cô, Sa Thầy, trong thung lũng Ia Đrăng hay ở chân núi Chư Pông đã thấy xuất hiện những anh bộ đội miệt mài lắp đặt một đường ống thẳng tắp kéo dài mãi xuống phía nam. Đến giữa năm 1974, xăng dầu của Bók Hồ đã chạy theo đường ống đó tới cả những nông trường Đắc Tô, Đức Vinh cho máy bơm, máy cày, máy bừa làm việc ngày đêm trên những cánh đồng nước hay trên những nương rẫy mênh mông.

        Những đoạn đường 14, 18, 19 trong các vùng giải phóng đã được gỡ hết mìn, cầu cống được sửa lại. Hơn 900 ki-lô-mét đường ô tô mới được mở thêm. Tính đến cuối năm 1974, ta đã có tới 1.332 ki-lô-mét đường cơ giới phục vụ cho chiến đấu và đời sống của nhân dân.

        Trong các lực lượng tham gia mở đường, trung đoàn 7 công binh nổi lên là một tập thể kiên cường và xuất sắc. Khi mở đường 220 từ Võ Định vòng qua phía đông thi xã Công Tum chạy xuống phía bắc đường 19, trung đoàn 7 đã phải chịu đựng hàng trăm tấn bom đạn địch, phải chiến đấu quyết liệt hàng chục lần với bộ binh của chúng. Trong điều kiện khó khăn đó, tốc độ bạt núi, san đèo của trung đoàn không bao giờ giảm sút, chất lượng các đoạn đường đi qua những vùng bình độ cao trên 1.000 mét vẫn bảo đảm cho xe đi nhanh. Trung đoàn 7 đã góp phần vô cùng quan trọng cho trung đoàn 95 trụ vững và chiến đấu ở vùng sau lưng địch, tạo nên thế trận hiểm trước mắt cũng như lâu dài.

        Lực lượng thông tin Mặt trận xây dựng được hai đường dây chính quy dài 86 kí-lô-mêt từ Bộ tư lệnh Mặt trận tới sư đoàn 10, huyện 67 và tỉnh đội Công Tum. Các đơn vị thông tin của sư đoàn, binh trạm phát huy truyền thống tự lực đã tự tạo được 400 ki-lô-mét đường dây trần làm bằng dây kẽm gai của địch, chống được cháy và khắc phục được tình trạng thiếu dây, bảo đảm phục vụ thường xuyên cho nhiều khu vực. Hệ thống vô tuyến điện tiếp sức đường dài thường xuyên bảo đảm cho Bộ tư lệnh Mặt trận nắm tình hình và chỉ đạo kịp thời mọi hoạt động của sư đoàn 320 và các đơn vị ở cánh nam. Bộ phận quân bưu vận chuyển an toàn hàng trăm ki-lô-gam thư từ, hoàn thành tốt nhiệm vụ, là nhịp cầu nối liền tình cảm giữa các chiến sĩ ngoại tiền tuyến với những người thân ở hậu phương.

        Lực lượng hậu căn xác định xong các khu vực kho phía trước, phía sau, kho dự trữ, kho cấp phát. Hai khu vực kho dự trữ xăng, trữ lượng mỗi kho 1.000 tấn đang được xây dựng. Các kho dự trữ quân giới, quân nhu, quân y cũng đang được hình thành. Hệ thống quân y được bố trí điều chỉnh lại thích hợp, bảo đảm phục vụ trên các hướng, các địa bàn và có thể kết hợp, hỗ trợ được với hệ thống dân y của địa phương.

        Xưởng quân giới đã hoàn thành về cơ bản và đang triển khai sửa chữa vũ khí cho các đơn vi.

        Các khu sản xuất chuyên nghiệp đã xác định và xây dựng được quy hoạch sản xuất 5 năm. Nương rẫy của các đơn vị áp sát vào tuyến phòng ngự của địch. Tiểu đoàn 631 đã trồng sắn, trồng lúa cách sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy có 20 ki-lô-mét. Nương rẫy của trung đoàn 95 đã vượt qua đường 14 sang hướng đông, vào sâu trong vùng hậu phương của địch.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:33:23 AM

        Đi đôi với việc xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương quân đội, việc nâng cao sức  chiến đấu cho cả ba thứ quân là một trong những nhiệm vụ hàng đầu và được khẩn trương tiến hành.

        Trong điều kiện cách mạng có bước chuyển biến mới, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng tập trung chủ yếu vào việc quán triệt tình hình, nhiệm vụ cho cản bộ, chiến sĩ; tổ chức học tập tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 21 cho cản bộ trung cấp, sơ cấp. Căn cứ vào tình hình cụ thể, Mặt trận đã tríển khai kịp thời các cuộc vận động: “Nâng cao chất lượng chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu”, “Nâng cao ý thức làm chủ tập thể, sử dụng và quản lý tốt cơ sở vật chất kỹ thuật”. Các đơn vị đều phát động phong trào thi đua quyết thắng, học tập kỹ thuật, chiến thuật, chuyên môn, nghiệp vụ giỏi, rèn luyện ý chí quyết tâm cao, kỷ luật nghiêm, nếp sống đẹp.

        Thông qua học tập và rèn luyện thực tế, rút kinh nghiệm, bồi dưỡng sau mỗi đợt chiến dấu, công tác và trong quá trình sinh hoạt, tình hình tư tưởng của bô đội có nhiều chuyển biến tốt. Quyết tâm và ý chí chiến đầu được củng cố, nâng cao. Một hiện tượng phổ biến trong các đơn vị mỗi khi có nhiệm vụ chiến đấu là 100% quân số đều xin đi, không ai muốn ở lại làm nhiệm vụ “coi nhà”; ra chiến đấu gian khổ, ác liệt, giữ chốt dài ngày, không có ai yêu cầu thay thế, nghỉ ngơi. Trong khó khăn, cán bộ, chiến sĩ đã phát huy dược dũng khí tiến công cách mạng, quyết xông lên hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Đồng chí Viên, trung đội trưởng (đại đội 11 tiểu đoàn 3 trung đoàn 48) trong trận đánh Chư Nghé, 11 lần băng mình dưới làn đạn dày đặc của địch để dẫn từng chiến sĩ bộc phá lên đánh liên tục vào từng lớp rào, mở cửa cho toàn đại đội xung phong. Anh nuôi Hoàng Xuân Trung (tiểu đoàn 16 sư đoàn 320) trên đường mang cơm ra trận địa bị mảnh bom địch chém gãy chân vẫn dùng hai tay bò, trườn đem cơm tới cho đồng đội đang đánh trả quyết liệt máy bay địch, góp phần động viên đơn vị bắn rơi 5 máy bay.

        Trong sản xuất, các đơn vị thể hiện được tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, tranh thủ ngày đêm, đạt cho được chỉ tiêu quy định.

        Tinh thần đoàn kết hiệp đồng, ý thức tổ chức kỷ luật có nhiều tiến bộ. Trong điều kiện khó khăn. phức tạp, cơ động khẩn trương, cản bộ, chiến sĩ đều chấp hành mệnh lệnh một cách nghiêm túc. Tinh thần đoàn kết giữa bộ binh và binh chủng, giữa đơn vị đảm nhiệm nhiệm vụ chủ yếu và các đơn vị phối thuộc, tăng cường rất gắn bó, hết lòng chi viện cho nhau hoàn thành nhiệm vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhau lập công.

        Tháng 6 năm 1974, Đảng ủy Mặt trận ra nghị quyết xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên thành binh đoàn chủ lực tác chiến hiệp đồng binh chủng với yêu cầu gọn nhẹ, mạnh, cân đối và đồng bộ.

        Các trung đoàn, sư đoàn bộ binh được hoàn thiện thêm một bước về tổ chức, biên chế. Mỗi sư đoàn được tăng thêm một trung đoàn pháo hỗn hợp.

        Lực lượng pháo binh chiến dịch của Mặt trận tổ chức lại thành 2 trung đoàn có đủ thành phần pháo mặt đất và pháo phòng không.

        Mặt trận thành lập trung đoàn đặc công 198, trung đoàn xe tăng 273 và trung đoàn thông tin 29.

        Nhờ cách biên chế, tổ chức mới, đã thu gọn được các đầu mối nhỏ lẻ, phân tán, tăng cường khả năng chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp về các mặt, tăng cường sức chiến đấu của đơn vị. Từng bước, giảm dược thành phần phục vụ, rút dược người ra bồ sung cho chiến dấu. Do đó trong năm 1974 so với năm 1973, quân số không tăng bao nhiêu, nhưng lực lượng chiến đấu đã tăng 5,48 %, chỉ huy tăng 1% , nếu chỉ tính riêng bộ binh và đặc công thì lực lượng đã tăng tới 6,08*.

        Việc huấn luyện bộ đội trong hai năm 1973, 1974 là bước chuyển biến từ huấn luyện ngắn ngày, có tính chất bổ sung trước đây sang huấn luyện có kế hoạch, có thời gian dài hơn, nhằm nâng cao chất lượng chiến đấu một cách cơ bản, có hệ thống, tương đối toàn diện. Công tác huấn luyện bước đầu đi vào nền nếp, có chế độ huấn luyện chính quy, có chương trình, kế hoạch thống nhất.

        Việc củng cố, nâng cao chất lượng huấn luyện, chủ yếu theo phương hướng tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô vừa và lớn, khâu trung tâm là cán bộ, nhất là cán bộ cao cấp, trung cấp, chú trọng cả bộ binh và binh chủng, cả chủ lực và địa phương. Mặt trận và các đơn vị tổ chức liên tiếp được 127 lớp tổng kết, tập huấn, nghiên cứu chiến thuật, chiến dịch… đã thu được kết quả tốt.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:35:41 AM
         
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/LLVT%20TN%20-%200291_zpszj0aekxv.jpg)


        Đến tháng 10 năm 1974, hầu hết các đơn vị đều hoàn thành xong chương trình huấn luyện.

        Lực lượng vũ trang nhan dân Tây Nguyên, đặc biệt là khối chủ lực dã có đủ sức mạnh tác chiến kéo dài trong cả mùa khô và mùa mưa, đánh có hiệu suất cao trong tác chiến hiệp đồng binh chủng với quy mô khác nhau. Đánh địch trong công sự vững chắc tốt, đánh địch ngoài công sự càng tốt hơn. Trong phòng ngự, đã giữ vững được khu vực. Các hoạt động nhỏ lẻ của bộ binh, binh chủng đã có nhiều kinh nghiệm, đạt được những kết quả đáng kể. Những nhân tố mới phát triển ngày càng nhiều. Từ chỗ cả chiến trường chỉ có trung đoàn 66 đảm nhiệm được nhiệm vụ đánh địch trong công sự vững chắc, đến nay đã có thêm các trung đoàn 24, 28 của sư đoàn 10, các trung đoàn 48, 64 của sư đoàn 320 và đặc biệt cả trung đoàn 25 mới thành lập.

        Qua gần hai năm chiến đấu đánh địch lấn chiếm và xây dựng lực lượng, kết hợp với sự chỉ viện to lớn của Trung ương về mọi mặt, Tây Nguyên đã cỏ những biến đổi căn bản. Tương quan lực lượng về quân sự và chính trị ở chiến trường, ta đã mạnh hơn hắn địch. Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã lập được thế trận tiến công mới vững chắc, hình thành thế .bao vây các căn cứ đầu não và những nơi xung yếu của địch trên các hướng. Địch càng ngày càng lún sâu vào thế phòng ngư bị động. Tinh thần và khả năng chiến đấu của quân ngụy ở Tây Nguyên sa sút nghiêm trọng. Khả năng phản kích không mạnh, thủ đoạn chiến thuật lấn dũi của chúng không còn hiệu lực nữa. Trên thực tế, lực lượng chủ lực của quân đoàn 2 ngụy không còn đủ sức làm nòng cốt cho kế hoạch “bình định”, lấn chiếm ở Tây Nguyên.

        Thực tiễn đó mở ra cho Tây Nguyên những thuận lợi cơ bản để tạo điều kiện và thời cơ mới thực hiện tốt phương hướng chiến lược của Trung ương Đảng và nhiệm vụ của chiến trường trong năm 1975.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:40:09 AM

Chương chín

TÂY NGUYÊN MỞ MÀN CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC XUÂN 1975 ĐẠI THẮNG


1. CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG - KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN CỦA LỰC LƯỢNGVŨ TRANG NHÂN DÂN TÂY NGUYÊN XUÂN 1975

        Sau gần hai năm tiến hành kế hoạch “bình định”, lấn chiếm, quân địch đã bị ta giáng đòn nặng nề. Hè - Thu 1974, quân chủ lực ngụy bị tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận, quân số thiếu hụt, tinh thần chiến đấu sa sút. Chúng phải lùi về phòng ngự bị động để giữ những phần đất chúng tạm thời kiểm soát, nhất là đô thị. Trên toàn Miền lúc đó, lực lượng chủ lực ngụy có 13 sư đoàn chính quy, 18 liên đoàn biệt động, hơn 2.000 xe tăng, xe bọc thép, 1.500 khẩu đại bác, 6 sư đoàn không quân cùng hàng vạn bảo an, dân vệ, cảnh sát phải phân tán dàn mỏng, đối phó với ta suốt từ Trị - Thiện, Tây Nguyên đến Nam Bộ.

        Hai sư đoàn tổng dự bị chiến lược dù và lính thủy đánh bộ bị giam chân ở Trị - Thiên, thường xuyên phải đối đầu với khối chủ lực Mặt trận Đường 9 của ta. Phần lớn lực lượng bộ binh, pháo binh, thiết giáp. không quân và lực lượng địa phương quân còn lại tập trung vào tuyến phòng ngự Huế - Đà Nẵng, Sài Gòn - Gia Định và một phần ở Cần Thơ, Chương Thiện, đường số 4...

        Trên địa bàn quân khu 2, địch bố trí 2 sư đoàn chủ lực, 7 liên đoàn biệt động quân, 14 tiểu đoàn và một số đại đội pháo binh, 5 thiết đoàn và 13 chi đội xe tăng, xe bọc thép, 2 sư đoàn không quân với 138 máy bay chiến đấu. Chúng phải rải lực lượng ra phòng giữ, chống đỡ với các cuộc tiến công của ta trong 12 tỉnh duyên hải và miền núi. Riêng ở Tây Nguyên, quân đoàn 2 đã tập trung hơn hai phần ba lực lượng bộ binh, pháo binh, hầu hết lực lượng thiết giáp và 1 sư đoàn không quân.

        Giữa tháng 12 năm 1974, tên chuẩn tướng Lê Văn Thân lên làm tư lệnh phó quân khu 2, phụ trách các “lực lượng an ninh lãnh thổ” và “công chức an ninh phát triển”, đi kiểm tra các tiểu khu và lập một “kế hoạch đặc biệt 3 tháng” đầu năm 1975 phòng giữ Tây Nguyên và đồng bằng. Thực chất là tăng cường lực lượng địa phương đánh phá cơ sở cách mạng trong vùng chúng kiểm soát, thực hiện “chiến dịch bình định cấp tốc, lập tức” trong 3 tháng đầu năm của Thiệu, ngăn ngừa và chống đỡ với các cuộc tiến công của ta.

        Xuất phát từ quan điềm quân sự tư sản phản động, máy móc và do không phán đoán được ý định, khả năng của ta, đồng thời bị tác động của nghệ thuật nghi binh chiến dịch của ta, địch đã tập trung lực lượng mạnh vào hướng bắc Tây Nguyên. Trên khu vực Công Tum, Plây Cu chúng bố trí sư đoàn 23 (thiếu), 6 liên đoàn biệt động quân, 2 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn, 1 liên đoàn và 21 tiểu đoàn bảo an. Đắc Lắc và Quảng Đức có trung đoàn 53, 1 thiết đoàn, 2 tiểu đoàn pháo binh, 12 tiểu đoàn bảo an và liên đoàn biệt động quân số 21. Phú Bổn có 4 tiểu đoàn bảo an.

        Cách bố trí lực lượng của địch bộc lộ nhược điểm rất lớn về thế trận phòng ngự. Quân chủ lực địch dễ bị giam chân, mắc kẹt ở Công Tum, Plây Cu khi ta thực hành chia cắt chiến dịch, cắt đứt đường 14, 19, 21. Trái lại ở Quảng Đức và Đắc Lắc, chủ yếu là Đắc Lắc, nơi ta có điều kiện phát huy sức mạnh của binh chủng hợp thành thì ở đó địch lại yếu và cô lập, dễ bị tiêu diệt vỡ tan vỡ nhanh chóng trước sức tiến công của ta. Đây là biểu hiện sự lúng tung, bị động, sự mâu thuẫn giữa ý đồ phòng ngự với khả năng, lực lượng có hạn trong thế bố trí trên một địa bàn chiến lược quan trọng của địch.

        Được Nghị quyết 21 của Trung ương soi sáng, ngay từ tháng 2 năm 1974, Bộ đã dự kiến phương hướng chiến lược trong hai năm 1975, 1976 và chỉ rõ “Đòn tiến công chính cửa chủ lực là ở Tây Nguyên”. Nên tập trung vào hai mức: “Tiêu diệt địch, giải phóng hai tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn. Cắt đường 19, bao vây, cô lập Công Tum, Plây Cu. Mức cao nhất tập trung giải phóng các tỉnh Tây Nguyên, trước hết tiêu diệt địch, giải phóng Công Tum, Plây Cu”1.

        Như vậy, chẳng những Bộ xác định đòn tiến công chiến lược của ta ở Tây Nguyên mà còn dự kiến cả mức độ, hướng chính và yêu cầu từng mức phải đạt. Thực tiễn chiến trường chứng minh dự kiến phương hướng chiến lược của Bộ là có cơ sở vững chắc. Sự chỉ đạo kịp thời đó đã tạo thuận lợi cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận chủ động nghiên cứu, chuẩn bị trước về mọi mặt.

        Giữa năm 1974, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cử đồng chí Vũ Lăng làm Tư lệnh, đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy Mặt trận, thay đồng chí Hoàng Minh Thảo và đồng chí Trần Thế Môn đi nhận nhiệm vụ khác.

        Trước khi vào chiến trưởng, đồng chí Vũ Lăng được các đồng chí ở cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu trao đổi, gợi ý sơ bộ về nhiệm vụ năm 1975. Ý đồ chiến lược của trên và nhiệm vụ của khối chủ lực Tây Nguyên được rõ dần. Tháng 9 năm 1974, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh chính thức giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh B3 mở chiến dịch nam Tây Nguyên. Khu vực tác chiến lúc đầu chủ yếu là Thuần Mẫn, Đức Lập. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận nghiên cứu quán triệt nhiệm vụ và phổ biến sơ bộ cho các ngành liên quan chuẩn bi trước.

--------------------------
        1. Điện số 01/TK-G6/1 của Quân ủy Trung ương, ngày 14 tháng 2 năm 1974.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:40:44 AM

        Giữa lúc toàn Mặt trận khẩn trương chuẩn bi theo nhiệm vụ Bộ giao lần thứ nhất thì tháng 10 năm 1974, tại Thủ đô Hà Nội, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp nghe Bộ Tổng tham mưu báo cáo về kế hoạch tác chiến chiến lược năm 1975. Hội nghi đã phân tích sâu sắc toàn diện về tình hình miền Nam và khả năng can thiệp trở lại của Mỹ khi ta đánh lớn, ngụy quyền Sài Gòn có nguy cơ sụp đổ. Hội nghị dã thống nhất một nhận định quan trọng: “Mỹ đã rút ra khỏi miền Nạm thì khó có khả năng nhảy vào lại miền Nam, và dù chúng có can thiệp đến thế nào đi nữa cũng không cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn”1. Sau khi phân tích, cân nhắc kỹ các mặt về tình hình trong nước và thế giới, Bộ Chính tri và Quân ủy Trung ương nêu quyết tâm: “Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền trong thời gian 1975, 1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta”2     …

        Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhất trí thông qua phương án chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công có ý nghĩa chiến lược 1975 và nhấn mạnh: “Cần đánh mở rạ ở Buôn Ma Thuột và Tuy Hòa”3. Ngoài kế hoạch hai năm, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương còn dự kiến phương án: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”4.

        Trong lúc địch tập trung lực lượng mạnh ở hai đầu (Trị - Thiên và vùng Sài Gòn - Gia Định), yếu và sơ hở ở giữa (quân khu 2), Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chính là một quyết đinh vô cùng sáng suốt và chuẩn xác. Đánh mở ra ở Tây Nguyên có ý nghĩa rất quan trọng. Khi tập đoàn phòng ngự của địch ở Tây Nguyên bị tiêu diệt, ta cỏ điều kiện mở cuộc tiến công tiếp theo giải phóng vùng đồng bằng đông dân Trung Trung Bộ, thực hiện chia cắt chiến lược, cô lập quân khu 1 của địch, trực tiếp uy hiếp quân khu 3, nhất là Sài Gòn - Gia Định. Thế trận phòng ngự của địch trên toàn miền Nam sẽ nhanh chóng tan vỡ.

        Căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ Bộ Chính trị đề ra cho quân và dân miền Nam, Ngày 13 tháng 11 năm 1974, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ cho Mặt trận Tây Nguyên lần thứ hai. Nhiệm vụ lần này được mở rộng phạm vi, quy mô và mục tiêu cụ thể của cuộc tiến công:

        - Tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, diệt, làm bị thương từ 4 đến 5 vạn tên, trong đó diệt từ 3 đến 4 trung đoàn, liên đoàn bộ binh, thiết giáp, đánh thiệt hại nặng từ 1 đến 2 sư đoàn chủ lực ngụy, diệt nhiều tiểu đoàn bảo an, trung đội dân vệ, làm tụt nhanh quân số của chúng. Mở rộng hành lang chiến lược từ đường 14 qua Gia Nghĩa xuống đường 20 nối với miền Đông Nam Bộ và từ Tây Nguyên xuống ba tỉnh Khu 5.

        - Giải phóng nhân dân và phần lớn vùng đất bằng nam Plây Cu và Cheo Reo, xung quanh Buôn Ma Thuột, đánh bại kế hoạch “bình định” nống lấn và thủ đoạn giải tỏa của địch, giữ vững, phát huy quyền làm chủ chiến trường, thực hiện chia cắt chiến lược. Tích cực phối hợp với mặt trận đánh phá “bình định” ở đồng bằng. Cụ thể diệt từ 3 đến 4 tiểu khu, chi khu, từ 1 đến 2 tỉnh lỵ (Gia Nghĩa, Cheo Reo).

        - Đánh phá giao thông và hậu cứ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm cho tiềm lực kinh tế địch giảm sứt trầm trọng. Khi có thời cơ, thực hiện chia cắt hẳn các đường 14, 19, 21, trọng điểm là đường 19.

        - Phát triển đấu tranh chính trị trong các thị xã. Ra sức xây dựng cơ sở tự vệ mật, các tổ chức biệt động, diệt ác ôn đầu sỏ, tạo thế làm chủ cơ sở.

        - Xây dựng ba thứ quân, xây dựng vùng giải phóng, đường chiến dịch, chiến lược, hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ tiếp theo.

        Những nhiệm vụ trên đều có liên quan mật thiết với nhau, nhiệm vụ này làm tiền đề, điều kiện cho nhiệm vụ kia phát triển và ngược lại. Nhưng nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh, giải phóng địa bàn là nhiệm vụ trung tâm quan trọng số một có tính quyết định.

--------------------------
        1.  , 2. , 3. , 4. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 27, 33, 34, 35.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:41:13 AM

        Ngày 1 tháng 12 năm 1974, Đảng ủy Mặt trận họp mở rộng quán triệt nhiệm vụ Bộ giao và đề ra nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên. Trong 5 ngày làm việc, Đảng ủy tập trung nghiên cứu thảo luận tình hình địch, ta, nhiệm vụ chiến trường, phương châm và cách đánh. Về địch, Đảng ủy kết luận: “Quân ngụy đang có bước suy yếu mới toàn diện không gượng dậy được, xu thế của chúng là lùi về phòng ngự, bị động”. Về nhiệm vụ chiến trường, Đảng ủy nhấn mạnh phải nắm vững khâu chủ yếu là tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh, giải phóng địa bàn. Để tiêu diệt lớn địch, phải chuẩn bị trước lực lượng, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật ở mức cao nhất, tốt nhất và phải có cách đánh thích hợp.

        Căn cứ vào phương châm chung của Bộ Chính trị đề ra, Đảng ủy Mặt trận nêu phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến của chiến dịch nam Tây Nguyên: “Mạnh bạo, chắc thắng, chủ động, cơ động, linh hoạt, bí mật bất ngờ”. Trong tình hình quân Mỹ rút khỏi miền Nam, ngụy quyền Sài Gòn đang vấp phải những mâu thuẫn chồng chất và suy yếu, lực lượng cách mạng miền Nam lớn mạnh và ở thế áp đảo, thì đây là phương châm đúng đắn phù hợp với tình hình, mang tính cách mạng và khoa học cao. Để vận dụng tốt phương châm đề ra, Đảng ủy nhấn mạnh, trong chỉ đạo và thực hiện cần nắm vững những quy luật cơ bản của chiến tranh cách mạng, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị với ngoại giao, phá hủy sức mạnh tổng hợp của ba thứ quân, tiến công địch bằng ba mũi giáp công ở cả ba vùng chiến lược, tiêu diệt và làm tan rã lớn quân địch.

        Để bảo đảm cho bộ đội hoàn thành tốt các nhiệm vụ của chiến dịch, về công tác hậu cần, Đảng ủy nêu hai vấn đề lớn:

        Một là, bảo đảm vững chắc, kịp thời cho bộ đội có vũ khí, đạn dược, vật chất cần thiết và sức khỏe tốt.

        Hai là, tổ chức tốt việc bảo vệ, bảo quản, sửa chữa sản xuất, tích trữ lương thực, vũ khí, xe, máy... nhằm đáp ứng phục vụ nhiệm vụ trước mắt và có dự trữ cho nhiệm vụ tiếp theo.

        Nhiệm vụ do đòi hỏi phải xây dựng ngành hậu cần Mặt trận thành hậu cần của một binh đoàn cơ động phụ vụ tác chiến hiệp đồng bình chủng quy mô lớn.

        Năm 1975 là năm tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh toàn diện trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Do bản chất ngoan cố của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, cuộc đấu tranh sẽ quyết liệt, phức tạp, yêu cầu nhiệm vụ rất cao, mang tính chất kiên quyết, khẩn trương. Do đó, Đảng ủy Mặt trận chủ trương: “Bằng mọi biện pháp thích hợp với tình hình cụ thể, tiến hành công tác tư tưởng và tổ chức một cách tích cực, kể cả phía trước và phía sau, cơ quan và đơn vị, nhằm tạo nên chuyển biến căn bản, toàn diện. có khí thế và hành động cách mạng sục sôi tự giác, bảo đảm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu, nhiệm vụ tranh thủ nhân dân”1. Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết 21 của Trung ương, Nghị quyết Quân ủy Trung ương và nhiệm vụ chiến trường, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên: “Vững vàng trước mọi diễn biến của tình hình, tích cực tiến công địch trong mọi hoàn cảnh; mục tiêu nào cũng đánh, lực lượng nào cũng đánh, đánh liên tục, dẻo dai, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, đạp bằng mọi khó khăn, gian khổ, quyết tâm giành thắng lợi cao nhất, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao”2.

        Về xây dựng Đảng, phải xây dựng toàn diện, nhưng chú trọng phát huy sức mạnh của các cấp uy đảng, vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên. Đảng viên tiếp tục phấn đấu theo 5 yêu cầu của cuộc vận động rèn luyện nâng cao chất lượng đảng viên. Xây dựng chi bộ thực sự  vững mạnh về chính tri, tư tưởng, tổ chức, có năng lực lãnh đạo toàn diện”3.

        Trong công tác cán bộ, hướng vào việc bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao năng lực, trình độ lãnh đạo, tổ chức, chỉ huy đơn vị chiến đấu hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Trên cơ sở đó, đào tạo, xây dựng một đội ngũ cán bộ “có phẩm chất, tài năng, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, có nhiệt tình cách mạng cao, có đầy đủ khả năng hoàn thành mọi nhiệm vụ”4.

        Nghị quyết Đảng ủy tháng 12 năm 1974 đã vạch ra những nhiệm vụ cụ thể về quân sự, chính trị, hậu cần và tạo nên sự nhất trí cao độ đối với chủ trương chiến lược của Đảng trong toàn đảng bộ Mặt trận.

        Giữa lúc Tây Nguyên đang khẩn trương chuẩn bị thì ngày 13 tháng 12, một tin vui từ miền Đông Nam Bộ đưa tới: đêm 12 bộ đội ta tiến công chi khu Bù Đốp ở tỉnh Bình Phước, đến ngày 16 đã quét sạch hệ thống đồn bốt từ đông bắc Đồng Xoài đến Kiến Đức và từ ngã ba Liễu Đức đến cầu Phước Tín. Thừa thắng, ngày 26 tháng 12, ta diệt gọn chi khu Đồng Xoài, ngày 30 diệt gọn chi khu Phước Bình và ngày 6 tháng 1 năm 1975, ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long. Mỹ - Thiệu làm rùm beng “sự kiện Phước Long”. Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ ở Ô-ki-na-oa đặt trong tình trạng báo động khẩn cấp; một bộ phận hạm đội 7 được điều đến bờ biển nam Việt Nam; quân chủ lực ngụy ồ ạt phản công “tái chiếm Phước Long”. Nhưng bị thất bại thảm hại, cuối cùng cả Mỹ lẫn ngụy phớt lờ đi “sự kiện Phước Long”.

        Qua sự kiện Phước Long, ta thấy quân ngụy đang suy yếu nghiêm trọng không đủ sức phản kích chiếm lại những vùng đã mất và Mỹ khó có khả năng can thiệp bằng lực lượng quân sự trở lại vào miền Nam. Thời cơ trực tiếp giải phóng Tây Nguyên đã mở.

--------------------------
        1. , 2. , 3. , 4. Trích Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên, tháng 12 năm 1974.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:42:09 AM

        Ngày 21 tháng 1 năm 1975, đồng chí Lê Ngọc Hiền, Phó Tổng tham mưu trưởng vào phổ biến chỉ thị của Thường vụ Quân ủy Trung ương ngày 9 tháng 1 năm 1975 về nhiệm vụ chiến dịch Nam Tây Nguyên. Cụ thể là phải tiêu diệt từ 4 đến 5 trung đoàn bộ binh, từ 1 đến 2 trung đoàn thiết giáp, nhiều tiểu đoàn bảo an, trung đội dân vệ. Cố gắng đánh quy hoặc tiêu diệt 1 sư đoàn, đánh thiệt hại nặng quân đoàn 2. Giải phóng phần lớn hoặc hoàn toàn các tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức, gồm ba thị xã Cheo Reo, Gia Nghĩa, Buôn Ma Thuột. Trọng điểm là tỉnh Đắc Lắc, mục tiêu then chốt quyết định là Buôn Ma Thuột, mục tiêu quan trọng là ba quận ly Đức Lập, Thuần Mẫn, Kiến Đức. Hướng phát triển là Cheo Reo, Gia Nghĩa. Cheo Reo là hướng phát triển chủ yếu.

        Sau Tết âm lịch, trời xuân nắng dịu, tại sở chỉ huy của đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tồng tư lệnh, Đại tướng Văn Tiến Dũng thay mặt quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, theo quyết định của trên tuyên bố thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận1      Tây Nguyên.

        Trung tướng Hoàng Minh Thảo: Tư lệnh.

        Đại tá Đặng Vũ Hiệp: Chính ủy,

        Thiếu tướng Vũ Lăng và các đồng chí đại tá Phan Hàm, Nguyễn Năng, Nguyễn Lang: Phó Tư lệnh.

        Đại tá Phí Triệu Hàm: Phó Chính ủy.

        Bên cạnh Bộ tư lệnh chiến dịch, có đồng chí Bùi San dại diện Thường vụ Khu ủy Khu 5 cùng một bộ phận cơ quan. Ở các hướng chiến dịch, tỉnh ủy và tỉnh đội Đắc Lắc, Gia Lai, Công Tum thành lặt các ban chỉ đạo tác chiến phổi hợp. Các đồng chí đã đóng góp nhiều ý kiến, cung cấp nhiều tin tức cho Bộ tư lệnh chiến dịch và chỉ đạo lực lượng địa phương hoạt động từ đầu cho đến kết thúc chiến dịch.

        Từ ngày 17 đến 19 tháng 2, Bộ tư lệnh chiến dịch họp mở rộng, xác định phương án tác chiến chính thức. Trên cơ sở quyết tâm của Đảng uý, Bộ tư lệnh Mặt trân Tây Nguyên, hội nghị đã dành nhiều thời gian thảo luận về so sánh lực lượng, bố trí thế trận và cách đánh.

        Hội nghị quyết định: tập trung lực lượng chủ yếu của chiến dịch vào khu vực Buôn Ma Thuột, Đức Lập. Thuần Mẫn, tiêu diệt địch, giải phóng địa bàn. Mục tiêu then chốt quyết định là Buôn Ma Thuột. Sau đó phát triển thắng lợi, tiêu diệt địch, giải phóng Cheo Reo, Gia Nghĩa và các quận lỵ, chi khu trong ba tỉnh, Đắc Lắc là trọng điểm. Cách đánh chung của chiến dịch là: bí mật triển khai lực lượng cắt đường giao thông 14, 19. 21, ngăn chặn lực lượng cơ động chiến dịch, chiến lược của quân ngụy ứng cứu, tăng viện cho Buôn Ma Thuột. Đồng thời thực hiện hai trận đánh then chốt ở Thuần Mẫn, Đức Lập, kéo địch ở Buôn Ma Thuột ra tiêu diệt, làm cho Buôn Ma Thuột sơ hở, suy yếu, cô lập, dừng lực lượng binh chủng hợp thành mạnh đánh trận then chốt quyết định giải phóng Buôn Ma Thuột.

        Kế hoạch tác chiến được dự kiến theo hai phương án:

        Một là, đánh địch khi chúng chưa tăng cường phòng ngự dự phòng.

        Hai là, đánh địch đã tăng cường phòng ngự dự phòng.

        Về chỉ đạo, Bộ tư lệnh chiến dịch nêu rõ: trong công tác chuẩn bị, lấy phương án thứ hai làm cơ bản; nhưng trong thực hiện phải hết sức tạo thời cơ đánh địch theo phương án thứ nhất.

        Để thực hiện tốt phương án tác chiến đề ra, thủ đoạn tác chiến của ta là chia cắt, cô lập quân địch ở Tây Nguyên với đồng bằng Khu 5,. chủ yếu là cắt tập đoàn phòng ngự địch ở Công Tum, Plây Cu; nhử địch và hãm chúng ở Công Tum, Plây Cu làm cho Buôn Ma 'Thuột sơ hở, tiêu diệt gọn quân địch ở Buôn Ma Thuột, giải phóng Buôn Ma Thuột và tỉnh Đắc Lắc. Sau đó, tiến công tiêu diệt địch ở Cheo Reo, Gia Nghĩa, giải phóng ba tỉnh nam Tây Nguyên, tạo ra một thế trận mới, phát triển tiến công trên các hướng khác, trói chặt địch ở Công Tum, Plây Cu làm cho chúng rã rời, suy yếu, đánh đòn tiêu diệt nhanh chóng, giải phóng Tây Nguyên.

        Đêm 25 tháng 2, giữa tiếng đại bác cầm canh, tiếng bom của không quân địch ngăn chặn các tuyến quân ta triển khai và dưới ánh sáng đèn dù, trong một khu rừng bên bờ sông Đắc Đam, Bộ tư lệnh chiến dịch họp thông qua phương án tác chiến và quyết tâm chiến dịch trước đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh.

        Trên tấm bản đồ quyết tâm có ghi rõ nhiệm vụ, lực lượng tham gia chiến dịch, và nổi bật lên những mũi tiến công của quân ta vào mục tiêu then chốt Buôn Ma Thuột. Đồng chí Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh và đồng chỉ Đặng Vũ Hiệp, Chính ủy thay mặt lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên ký quyết tâm bên cạnh bản đồ. Đại tướng Văn Tiến Dũng đã ký phê chuẩn.

        Đây là sự thể hiện ý chí thống nhất, quyết tâm và niềm tin mãnh liệt của cán bộ, chiến sĩ toàn Mặt trận.

        Một phong trào thi đua “Mừng Đảng, mừng Xuân, ra quân đại thắng, quét sạch quân thù, giải phóng nhân dân” được phát động.

        Số phận quân thù đã được quyết định!

--------------------------
        1. Bộ tư lệnh Mặt trận, tính chất là Bộ tư lệnh chiến dịch. Để khỏi trùng tên với Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên trước đó, từ đây, chúng tôi dùng: Bộ tư lệnh chiến dịch - (B.T.).


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:44:30 AM

2. CHUẨN BỊ CHO CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN THẮNG LỚN - ĐIỀU ĐỊCH VÀO PHƯƠNG ÁN

        Những cơn mưa cuối mùa ở Tây Nguyên còn đang trút nước. Nước xói mòn sườn đồi, đường sá, làm thành vô số những dòng chảy nhỏ đổ về các con sông. Sông, suối như rộng thêm, nước chảy xiết. Không đợi cho mùa mưa dứt, Tây Nguyên đã bắt tay vào chuẩn bị cho chiến dịch Xuân 1975.

        Chấp hành chủ trương chiến lược của Đảng, đầu tháng 9 năm 1974, các đoạn tiền trạm, trinh sát thuộc bộ tham mưu, cục hậu cần và các binh chủng đã lần lượt lên đường vào nam Tây Nguyên. Nhiệm vụ của người đi trước là trinh sát địa hình, nắm địch, nghiên cứu, xác định các vi trí kho, bến vượt, cung trạm và các tuyến tập kết của bộ đội. Các chiến sĩ trung đoàn 29 thông tin cũng được lệnh vào nam Tây Nguyên phục vụ cho công tác chuẩn bị và nghiên cứu triển khai mạng thông tin chiến dịch.

        Ngày 12 tháng 9, trung đoàn 7 công binh chính thức được giao nhiệm vụ xây dựng mạng đường sá Đức Lập. Tiểu đoàn 2, tiểu đoàn 3 và 1 đại đội tân binh mới bổ sung, cùng với tiểu đoàn 17, sư đoàn 10 xuất phát từ vùng núi cao phía bắc và đông bắc Công Tum, các đơn vị công binh khắc phục mưa lũ, mang nặng, vượt gần 300 ki-lô-mét đường rừng đến khu vực Đức Lập. Ngày 28 tháng 10, các đơn vị nhập tuyến triền khai nhiệm vụ làm các con đường 6B, 2B, N1, N5 phía bắc Đức Lập và các con đường 14C, 22, 23, 128 phía tây bắc Đức Lập.

        Hướng vào mặt trận nam Tây Nguyên, đầu tháng 10 các đơn vị còn lại của trung đoàn 7 và các trung đoàn pháo cao xạ, pháo mặt đất 234, 40, trung đoàn xe tăng 273, sư đoàn bộ binh 10 gấp rút sửa chữa, khôi phục các trục đường từ vị trí đóng quân ra dấn đường 1B. Mạng đường sá xây dựng năm 1972, qua mưa lũ bị xói mòn hư hỏng. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị phải lao động cật lực một ngày chín, mười tiếng đồng hồ. Tháng 11, công việc sửa chữa đường cũ đã hoàn thành.

        Ngày 10 tháng 11, tiểu đoàn 4 cầu phà trung đoàn 7 bắt đầu thi công bắc cầu Pô Cô Hạ, Diên Bình, Đắc Mót. Sau khi bắc xong cầu trên đường 14, 18, tiểu đoàn 4 tiếp tục lên đường vật lộn với sông nước suốt chặng đường dài từ Công Tum vào Đặc Lắc. Tây Nguyên đã vào mùa khô, nhưng sông Pô Cô, Sê Rê Pốc nước vẫn lớn. Lưu tốc nước trung bình 1 mét/giây, có nơi 2 mét/giây. Các chiến sĩ công binh đi xa từ 3 đến 5 ki-lô-mét khai thác vật liệu làm cầu. Anh em dùng ca nô chuyên chở vật liệu về bến và chỉnh cầu, ghép phà. Ngày 12 tháng 12, chiếc cầu phao trọng tải 50 tấn được bắc qua sông Pô Cô. Bốn ngày sau, chiếc cầu phao thứ hai lại nối liền hai bờ sông Sê Rê Pốc, khai thông tuyến đường vận chuyển chiến dịch. Đại đội 18 trinh sát công binh và tiểu đoàn 4 cũng triền khai xong 8 trạm chỉ huy giao thông, sẵn sàng đón bộ đội. Nhưng lúc đó có lệnh hoãn cuộc hành quân đến ngày 13 tháng 1 năm 1975.

        Lúc này, hậu cần chiến lược bắt đầu giao hàng ở Công Tum, Gia Lai. Theo kế hoạch, đầu tháng 1, đoàn vận tải quân sự Quang Trung sẽ giao hàng ở Đắc Lắc. Số hàng hóa hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa chu viện cho Mặt trận lên đến hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc men.

        Chưa bao giờ Tây Nguyên tiếp nhận khối lượng vật chất kỹ thuật nhiều và lớn đến thế. Vừa tiếp nhận, vừa chuyển giao hàng tận kho cho các đơn vị, lại phải bảo đảm cho bộ đội hành quân, hàng trăm khó khăn, phức tạp mới đẻ ra. Hậu cần Mặt trận như người chị đảm đang, cần mẫn lo toan mọi công việc. Các đồng chí đại đoàn tổ chức bố trí các cụm kho đồng bộ, liên hoàn chi viện cho nhau trên từng hướng chiến dịch, hảo đảm phục vụ kịp thời tác chiến ở các hướng và cả khi đánh phát triển sang mùa mưa. Lực lượng vận tải, quân nhu, quân giới, quân y được tổ chức thành hai hộ phận, có bộ phận phục vụ tương đối ổn định, có bộ phận cơ động bám sát các đơn vị chiến dấu. Hậu cần chiến dịch đã huy.động toàn bộ xe cơ giới, xe đạp thồ và lực lượng gùi ra mặt đường. Nơi nào xa địch, có điều kiện giữ bí mật tốt thì tận dụng xe cơ giới, xe đạp thồ, nơi nào gần địch phải sử dụng lực lượng gùi bộ.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:44:55 AM

        Vật chất và phương tiện kỹ thuật Trung ương chi viện cho chiến dịch và dự trữ cả năm được Đoàn 559 chuyển nhanh, kịp thời, đầy đủ đến chiến trường. Trên đường mòn Hồ Chí Minh, hàng nghìn xe ô tô phủ kín bạt, tươi lá ngụy trang, ngày đêm hối hả đến Tây Nguyên. Các chiến sĩ công binh, anh chị em thanh niên xung phong tấp nập đào đất, chặt cây, sửa đường thông tuyến cho xe ta qua. Không một phút ứ đọng, ngừng trệ, những đoàn xe vận tải mang quyết tâm của Đảng, tình nghĩa của hậu phương nối đuôi nhau chảy vào chiến dịch như một dòng nước vô tận. Các cụm kho ở Công Tum, Gia Lai, Đắc Lắc hàng đầy ắp. Mỗi cụm kho trung bình trong một đêm phải tiếp nhận 120 xe. Các chiến sĩ làm nhiệm vụ bốc xếp lao động cật lực suốt đêm. Ban đầu cứ 6 chiến sĩ bốc xong một xe từ 3 đến 4 tấn hàng mất 15 phút; về sau với tinh thần giải phóng xe nhanh, không đểt ứ đọng hàng ở bến bãi, anh em đã nâng năng suất bốc xếp lên 7 phút một xe. Nhờ sự nỗ lực của Đoàn 559 và cán bộ, chiến sĩ hậu cần, nên trước ngày nổ súng, hậu cần chiến lược đã giao đủ só hàng dự trữ cho chiến dịch và vượt 10% kế hoạch. Đoàn 559 còn vận chuyển toàn bộ vật chất, kỹ thuật dự trữ cả năm cho Tây Nguyên. Từng đoàn xe chở nặng lại tiếp tục đổ về mặt trận phía nam.

        Cùng thời gian này, từ các cụm kho chiến dịch, hàng trăm xe vận tải chở đầy hàng theo những con đường quân sự làm gấp, chuyển hàng đi các hướng sư đoàn 10, 320, 316, trung đoàn 95, 25, 198... Riêng các đơn vi pháo binh, xe tăng có phương tiện thì “tự túc” vận chuyển cho đơn vi mình. Lúc đầu ô tô chỉ chạy ban đêm, về sau chạy lấn sang ngày, rồi chạy cả ngày lẫn đêm. Các chiến sĩ lái xe thiếu ngủ, căng thẳng, nhưng vẫn vững tay lái trên những đoạn đường đèo. Ở các tuyến sâu, các chiến sĩ vận tải, tiểu liên AK khoác trước ngực, quân đùi áo cộc, hăm hở gùi, thồ đạn, gạo ra tận trận địa cho các đơn vị.

        Dưới tán lá xanh của rừng và trên những con đường đổ ra phía trước hầu như cả mặt trận đều làm nhiệm vụ vận chuyển. Đầu tháng 3, hậu cần Mặt trận hoàn thành cơ bản vận chuyển hàng dự trữ cho các đơn vị đạt 78% kế hoạch, trong đó lương thực, thực phẩm đạt 114%, vũ khí dạt 83 %, xăng dầu đạt 24%. Hàng dự trữ ở các tuyến sư đoàn, trung đoàn đã nhận đến tháng 3 năm 1975. Sư đoàn 320 và trung đoàn 593 đã nhận đủ lương thực, thực phẩm hết tháng 8 năm 1975.

        Bộ đội trước khi xuất kích được lĩnh mọi người hai bộ quân phục; 50% quân số được cấp phát bổ sung giày, dép, mũ cứng; 30 % quân số được phát ni-lông đi mưa. Tuy còn nhiều thiếu thốn, nhưng đối với Tây Nguyên, những con số trên là biểu hiện sự cố gắng rất lớn của cán bộ, chiến sĩ hậu cần chiến lược và chiến dịch.

        Bên cạnh những đoàn ô tô vận tải nối đuôi nhau chạy ra tiền tuyến, là những đơn vị bộ binh, pháo binh, đặc công, thông tin và những đoàn cán bộ tăng cường cho Tây Nguyên cũng nườm nượp hành quân. Xe vào chiến trường chở đầy bộ đội và đạn gạo nặng trĩu. Con đường chiến lược 1B suốt ngày nhộn nhịp những đoàn quân, đoàn xe kéo pháo, xe vận tải hối hả tuôn vào chiến dịch.

        Đầu tháng 12, sư đoàn 968 trước đây theo yêu cầu của bạn, sang hoạt động ở Hạ Lào, nay cũng bắt đầu hành quân vào Tây Nguyên. Sự đoàn đã đi bộ vượt qua vùng núi biên giới Việt - Lào gian khổ đến vị trí tập kết T73 Tây Nguyên ngày 15 tháng 1 năm t975. Xe, pháo an toàn, bộ đội khỏe mạnh.

        Cuối tháng 12 năm 1974, Bộ Tổng tư lệnh quyết định điều thêm sư đoàn 316 từ Nghệ An vào Tây Nguyên. Được vào chiến trường, cán bộ, chiến sĩ nắm chặt tay hô vang khẩu  hiệu “quyết đi xa, đi sâu, đi cho đến, đánh cho thắng”. Vào những ngày giáp Tết, hơn 500 xe ô tô chở cán bộ, chiến sĩ sư đoàn rời khỏi Nghệ An, hướng ra tiền tuyến với bao xúc động, tin tưởng. Sư đoàn 316 đến chiến trường thì đất nước đã vào Xuân, chiến dịch đang ở giai đoạn chuẩn bị nước rút.

        Từ đầu tháng 1 đến trước ngày nổ súng, lực lượng của Bộ bổ sung liên tiếp vào Tây Nguyên. Trung đoàn 95B, sư đoàn 325 - đơn vị đã từng lập công oanh liệt giữ thành Quảng Trị; 1 tiểu đoàn đặc công của Bộ, trung đoàn cao xạ 232, trung đoàn công binh 575 thuộc đoàn 559 và 1 tiểu đoàn cầu phà, 1 tiểu đoàn và 1 đại đội thông tin, 1 tiểu đoàn vận tải, 1 đại đội trinh sát, 1 trung đội khí tượng, 3 trạm sửa chữa xe, pháo, đội điều trị 48 và 8.000 quân bổ sưng lần lượt đến Đắc Lắc. Ngoài ra còn có các đơn vị phối hợp và phối thuộc ở các hướng: sư đoàn 3 Quân khu 5 đến khu vực đường 19 đông An Khê, trung đoàn 271 bộ binh, tiểu đoàn 14 đặc công của Miền đến Gia Nghĩa, tiểu đoàn 21 sư đoàn 470 Đoàn 559 đến Bản Đôn.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:45:22 AM

        Chưa bao giở lực lượng Tây Nguyên hùng hậu như năm 1975. Cả nước dồn sức chi viện nhân, tài, vật lực cho Tây Nguyên thắng lớn. Quân đông, mỗi tiểu đoàn bộ binh được biên chế trên dưới 400 người - một kỷ lục chưa từng có từ trước tới nay ở chiến trường, lại được trang bị vũ khí kỹ thuật tương đối hiện đại và dồi dào. Các đơn vị cũ của Mặt trận đã qua chiến đấu và đã huấn luyện tác chiến hiệp đồng bính chủng quy mô lớn. Các đơn vị bổ sung, tăng cường và phối hợp đã từng lập công trong các chiến dịch lớn ở Quảng Trị, miền Đông Nam Bộ, Khu 5 được chuẩn bị tốt mọi mặt trước khi vào chiến dịch.

        Quân ta trội hơn hẳn quân địch về số lượng và chất lượng, bố trí trong thế trận liên hoàn và hiểm, hình thành những quả đấm mạnh ở những khu vực tác chiến then chốt của chiến dịch, lại được đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ đạo và sự chi viện dồi dào của hậu phương lớn. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị bộ binh, binh chủng và cơ quan đều phấn khởi, tin tưởng, có quyết tâm cao, hăng hái thi đua lập công.

        Trong lúc các đơn vị tăng cường, bổ sung từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa ùn ùn vào Tây Nguyên thì tại mặt trận phía nam, sau những ngày lao động cật lực, trung đoàn 7 và tiểu đoàn 17 (sư đoàn 10) mở xong hệ thống đường tiến công ở phía bắc và tây bắc Đức Lập. Công binh sư đoàn 10 tiếp tục mở thêm 8 ki-lô-mét đường mới, sửa chữa 34 ki-lô-mét đường cũ cho pháo kéo vào trận địa bắn thẳng.

        Mạng dường sá Đức Lập vừa làm xong, công binh Mặt trận chuyển sang xây dựng hệ thống đường cơ động vào Buôn Ma Thuột.

        Ngày 31 tháng 1, tiểu đoàn 47 trung đoàn 575 từ bắc Đức Lập mang theo 2 máy húc vượt qua tai mắt địch, hành quân sang phía bắc Buôn Ma Thuột, sửa chữa, khôi phục con đường 50 và 48. Giữa tháng 2, tiểu đoàn chuyển sang mở tuyến đường mới 50B và 2 nhánh 50C, 50D dài 61 ki-lô-mét. Tiểu đoàn 2 đảm nhiệm mở tuyến đường 11 và 2 nhánh 57B, 57C dài 75 ki-lô-mét.

        Hệ thống dường phía bắc Buôn Ma Thuột, đỉa hình trống trải. qua nhiều suối, bùn lầy. Vào mùa phát rẫy, nhân dân trong các “ấp chiến lược” đi lại nhiều dễ lộ. Trung đoàn 575 vừa làm, vừa trinh sát nắm tuyến, chỉnh hướng tránh nương rẫy. Các chiến sĩ công binh phải đi xa 4, 5 ki-lô-mét chặt gỗ, nứa mang về chồng lấy, sửa ngầm. Phong trào thi đua phát huy sáng kiến, tăng năng suất lao động được phát động. Tốc độ thi công tăng lên, chất lượng được bảo đảm. Đến ngày 28 tháng 2, trục đường 50B và 51 đã thông đến nam Buôn Giua và bắc ngầm Ca Tun, cách Buôn Ma Thuột khoảng 30 ki-lô-mét. Trung đoàn 53 ngụy mở cuộc càn vào khu vực suối Ca Tun, cắt ngang có hai trục đường 50B và 51. Trung đoàn 575 tạm dừng mở đường, ngụy trang và tổ chức bám địch.

        Để thu hút dịch về hướng bắc Tây Nguyên, giữ bí mật chiến dịch, tạo điều kiện cho hướng Buôn Ma Thuột chuẩn bị, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định đẩy mạnh chiến dịch hoạt động nghi binh được tiến hành ngay từ đầu năm lên mức cao hơn. Các đơn vị được lệnh sử dụng lực lượng đánh nhỏ, lẻ ở hướng bắc, và cử cán bộ xuống bàn bạc với tỉnh ủy, tỉnh đội Công Tum, Gia Lai huy động lực lượng dân công làm đường vào thị xã, phao tin ta chuẩn bị đánh Công Tum, v.v.

        Chấp hành chủ trương trên, sư đoàn 10 dùng pháo, cối bắn vào thị xã Công Tum; sư đoàn 320 đánh nhỏ ở khu vực đường 19 tây; pháo binh bắn vào La Sơn, Thanh An; trung đoàn 95 chặn tránh các tốp xe quân sự tập kích các chốt địch trên đường 19 đông Plây Cu, trung đoàn 198 đặc công tập kích kho xăng Plây Cu. Dân công các huyện 40, 67, 30, 80, Diên Bình - Tân Cảnh (Công Tum), huyện 4, huyện 5 (Gia Lai) được huy động rầm rộ đi làm đường. Đồng bào, bộ đội, gái trai đủ các lứa tuổi cơm nắm, nước ống, thi nhau chặt cây, đào đất làm con đường nghi binh chạy vào thị xã Công Tum và Plây Cu.

        Những hoạt động đó đã thu hút tai mắt bọn tình báo CIA và tình báo ngụy. Chúng bám sát bước đi của sư đoàn 10 và sư đoàn 320. Nhưng sư đoàn 10 và 320 vẫn đứng nguyên vi trí cũ, thường xuyên tăng cường sức ép vào các căn cứ của chúng. Địch lại phát hiện sư đoàn 10 và 320 ăn Tết trước để chuẩn bị tiến công vào dịp Tết. Chúng đoán ta sẽ mở chiến dịch bắc Tây Nguyên; Công Tum sẽ là mục tiêu chủ yếu. Các liên đoàn biệt động quân số 21 22, 23, 6 được tập trung về Công Tum sẵn sàng đối phó với ta. Bước đầu ra quân, đích đã bị động về mặt chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:47:04 AM

        Giữa lúc địch bị hút vào hướng bắc Tây Nguyên, thì sư đoàn 968 bí mật vào thay chân sư đoàn 10 và sư đoàn 320. Sư đoàn 968 bắt đầu hoạt động tích cực trên cả hai hướng Plây Cu, Công Tum. Địch phát hiện ta có thêm sư đoàn 968 ở Hạ Lào về, phán đoán ta đánh Plây Cu Chúng lại vội vã điều liên đoàn biệt động quân 23 ở Công Tum về Plây Cu cùng với trung đoàn 44, 45 phòng giữ Plây Cu.

        Đầu tháng 2, sư đoàn 320 và các trung đoàn binh chủng bí mật rời khỏi khu vực đường 19, Đức Cơ, hành quân vào vi trí tập kết chiến dịch. Mùa khô, rừng rụng hết lá, nước suối cạn khô, sư đoàn tổ chức cho bộ đội mang theo nước ăn, nước uống dọc đường. Trải qua 5 ngày đi bộ dưới cái nắng gay gắt của rừng khôộc Gia Lai, sư đoàn 320 đã đến vị trí tập kết ở phía tây Thuần Mẫn an toàn. Sư đoàn 10 cũng bí mật rời khỏi tuyến phòng thủ Võ Định. Đêm đến, đoàn ô tô nổ máy bật đèn gầm, chở sư đoàn 10 theo đường 1B lao vào hướng nam. Hậu cần Mặt trận tổ chức 3 trạm tiếp xăng dầu, 2 trạm kích kéo, sửa chữa dọc đường ở ngã ba 90, nam đường 19 và nam Chư Pông, bảo đảm cho bộ đội hành quân Trong lúc đó, bệnh viện Z100 ở Tân Cảnh được lệnh hành quân vào hướng Võ Định. Ban ngày người ta thấy những chiến sĩ quân y gái, trai mang nặng dụng cụ chữa bệnh, thuốc điều trị, v.v. đi bộ vào hướng thị xã Công Tum. Tin đồn ta sắp đánh Công Tum càng được lan rộng. Đêm đến, những chiến sĩ quân y Z100 lại bí mật đi tắt qua dãy Ngọc Blốc để hôm sau lên xe vào Đắc Đam tây Buôn Ma Thuột.

        Ba cơ quan của Mặt trận cũng được lệnh di chuyển vào Đắc Đam phục vụ cho Bộ tư lệnh chỉ huy, chỉ đạo các đơn vị

        Trên đường 1B ở những trạm ba-rí-e, bến phà, ngầm, các chiến sĩ công binh, thông tin, trinh sát thức suốt đêm để chỉ đường, hướng dẫn bộ đội hành quân.

        Nhìn bề ngoài, Tây Nguyên dường như im lặng, nhưng bên trong cái màu xanh mượt mà của núi rừng, Tây Nguyên đang bừng lên một sức sống mãnh liệt, một khí thế ngút trời.

        Sư đoàn 10, sư đoàn 320 và các binh chủng đã hành quân vào vi trí tập kết chiến dịch, nhưng mạng thông tin cũ vẫn dược duy trì. Các đài vô tuyến của các đơn vị vẫn phát sóng như thường lệ. Hàng ngày mạng thông tín nghi binh của ta cứ đúng giờ là đều đặn phát lên không trung những bức điện báo cáo, mệnh lệnh giả. Bộ tư lệnh chiến dịch dùng đường dây và hệ thống đài vô tuyến của sư đoàn 470 Đoàn 559 chỉ huy các đơn vị. Mạng thông tin nghi binh của ta đã góp phần tích cực đánh lạc hướng sự chú ý của địch. Tên tướng hai sao Mỹ Sác-lơ Tim-mét, cố vấn quân sự cho Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên, phải thú nhận: “bằng biện pháp nghi binh qua làn sóng điện này, phía Việt Cộng đã thành công trong kế hoạch giam chân bộ phận chủ yếu của lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa thuộc quân khu 2 ở tỉnh Plây Cu, Công Tum” (Bài của Sác-lơ Tim-mét đăng trên Tập san quân sự Mỹ).

        Ngày 22 tháng 1, phân đội trinh sát Mặt trận cùng cán bộ các đơn vị bộ binh, binh chủng chia làm 3 cánh bắc, tây, nam đi trinh sát Buôn Ma Thuột. Tiếp đến, ngày 8 tháng 2, đồng chí Phó tư lệnh chiến dịch, chi huy một bộ phận trinh sát hưởng chủ yếu ở phía bắc và tây bắc Buôn Ma Thuột. Các đồng chí sư đoàn trưởng, sư đoàn phó sư đoàn 316 chi huy trinh sát hướng tây và nam. Hướng đông và mục tiêu trong thi xã do cán bộ trung đoàn 198 đặc công đảm nhiệm. Hầu hết các mục tiêu bảo vệ vòng ngoài và một số mục tiêu quan trọng trong thị xã, trinh sát ta nắm chắc, cụ thể nên dã giúp cho Bộ tư lệnh chiến dịch tính toán phương án, hạ quyết tâm chính xác.

        Bên cạnh các đoàn trinh sát nắm địch, cơ quan chiến dịch còn cử những đoàn cán bộ tham mưu, chính tri, hậu cần xuống các đơn vị, theo dõi, phát hiện tình hình, giúp Bộ tư lệnh chỉ đạo kịp thời. Bộ phận ở sở chỉ huy tỉếp tục chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch. Khẩu hiệu cổ động, truyền đơn binh, dịch vận, các tài liệu về chính sách đối với vùng giải phóng, đối với ngoại kiều và tư sản dân tộc, lệnh giới nghiêm được gấp rút biên soạn.

        Công nhân nhà in Mặt trận thức thâu đêm in các tài liệu, mệnh lệnh để kịp phát hành trước ngày bộ đội xuất kích.

        Các chiến sĩ thông tin đêm ngày bám dây, canh máy, nhận hàng trăm bức điện từ các đơn vị báo cáo về và phát đi hàng chục chỉ thị, mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch.

        Cả Mặt trận đang dồn sức chuẩn bi cho trận then chốt Buôn Ma Thuột.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:48:12 AM

        Ngày 23 tháng 1, tình báo địch phát hiện trung đoàn 25 của ta đang di chuyển sang đường 21 và sư đoàn 10 đang di chuyền về phía nam. Chúng đoán ta đánh Đức Lập, Gia Nghĩa, mở thông hành lang chiến lược vào Nam Bộ. Trung đoàn 53 ngụy liền được điều động lên Đức Lập sẵn sàng đối phó với ta. Nhưng theo nguồn tin địa phương thu thập được, chúng đoán ta đánh Buôn Ma Thuột. Vì vậy trung đoàn 53 lập tức mở cuộc càn ra vùng Quảng Nhiêu, Buôn Hồ, trung đoàn 45 lùng sục phía tây Thuần Mẫn. Biệt kích, thám báo đổ xuống khu vực đóng quân của sư đoàn 320.

        Tình hình càng trở nên phức tạp. Bộ Tư lệnh chiến dịch suy nghĩ, phán đoán, phân tích kỹ từng hành động của địch và đi đến kết luận: Những hoạt động lùng sục của địch hiện nay mới có tính chất thăm dò rời rạc, cục bộ, chúng chưa tìm ra được lực lượng của ta và hướng chính của chiến dịch. Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương: Kiên trì, khôn khéo, giữ bí mất ý định và lực lượng ta ở khu vự tác chiến chủ yếu. Tích cực hoạt động nghi binh trên hướng Công Tum, Plây Cu để thu hút trung đoàn 45, giữ chân trung đoàn 44 và lực lượng khác. Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho sư đoàn 320 hành quân sâu lên phía tây, tránh đụng độ với địch, giữ bí mật lực lượng, đồng thời lệnh cho sư đoàn 968 hoạt động ráo riết ở hướng Công Tum, Plây Cu.

        Chấp hành mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, sư đoàn 320 nhanh chóng hành quân lên hướng tây đường 14, chỉ để lại những tổ trinh sát bám địch. Sư đoàn 968 tiến công tiêu diệt chốt Mỹ, bức rút đồn Tầm và đánh chiếm dãy điểm cao 605, Chư Kra, Chư Gôi, nằm trong tuyến phòng thủ dường 19 tây nam Plây Cu của địch. Căn cứ Thanh Bình, quận lỵ Thanh An bị uy hiếp mạnh. Hướng Công Tum, sư đoàn 968 tổ chức đánh vào các căn cứ địch và cho một bộ phận cắt đoạn đường 14 nam Tân Phú.

        Những hoạt động đó buộc địch phải tăng cường lực lượng phòng giữ bắc Tây Nguyên . Trung đoàn 45, sư đoàn 23 bỏ dở cuộc lùng sục ở tây Thuần Mẫn, vội vã về Thanh An.

        Sau những cuộc lùng sục không phát hiện được dấu vết sư đoàn 320 và sư đoàn 10, địch đâm lúng túng. Bị đánh mạnh ở hướng bắc, càng lúng túng, chúng càng tăng viện bình cho Plây Cu.

        Trước mười ngày nổ súng, địch càn vào vùng Chư Nga phía bắc Buôn Ma Thuột. Các chiến sĩ trung đoàn 675 đánh địch, bảo vệ trận địa pháo. Một chiến sĩ bị thương nặng, địch bắt dược mang về Plây Cu khai thác. Nhưng đồng chí này bất tỉnh. Ngày 4 tháng 3, một bộ phận sư đoàn 316 hành quân sang nam đường 14 (đoạn đông bắc Đức Lập), chiến sĩ ta đánh rơi cuốn nhật ký và tiền miền Bắc. Địch bắt được. Nhật ký có ghi “đêm 14 tháng 3 vượt đường 14 vào Buôn Ma Thuột”. Địch lại nhặt được mũ cứng, dây điện thoại của bộ đội ta đánh rơi.

        Đây là những sơ suất, thiếu sót của đơn vị, đã gây ra “một trò chơi ú tim” căng thẳng. Tuy vậy, đến lúc này địch vẫn chưa phát hiện được gì về sư đoàn 10 và sư đoàn 320.

        Thời gian còn lại cho công tác chuẩn bị rất ngắn. Phải thúc đẩy nhanh công tác mở đường ở hướng tây bắc và tây nam Buôn Ma Thuột và mọi việc chuẩn bị khác. Phải hết sức giữ bí mật và tiếp tục tạo thời cơ cho trận then chốt. Bộ tư lệnh chiến dịch điều khiển các đơn vị tiến vào vị trí tập kết và theo dõi chỉ đạo trung đoàn 95A ở đường 19 đông nổ súng đúng kế hoạch.

        Sau khi các đơn vị bộ binh và binh chủng triển khai ở hướng chính an toàn, đêm 3 rạng ngày 4 tháng 3, theo đúng kế hoạch, trung đoàn. 95A bất ngờ tiến công địch trên đường 19 phía đông thị xã Plây Cu. Các chiến sĩ trung đoàn 95A ngoan cường, chỉ trong một đêm đã tiêu diệt hệ thống đồn bốt địch từ ngã ba Plây Bôn đến ấp Phú Yên, làm chủ đoạn đường dài 20 ki-lô-mét.

        Trên đoạn đường 19 từ An Khê đến Bình Khê, hồi 5 giờ 30 phút cùng ngày, sư đoàn 3 Quân khu 5 tiến công các cứ điểm và chốt địch phía tây bắc Che Chẻ, Truông Ổi, Cột Cờ, cầu 13, chốt lăng Mai Xuân Thưởng, đồi Đá, các chốt nam Cây Rui, Chóp Nón, điểm cao 309, 334, Định Quang. 8 giờ, sư đoàn 3 tiếp tục tiến công địch ở Tiên Thuận, các vị trí địch ở phía đông điểm cao 334, 309 và khu vực sông Côn. 12 giờ, sư đoàn 3 Quân khu 5 làm chủ các mục tiêu trên.

        Đường 19 từ Plây Cu đi Quy Nhơn bị cắt đứt.

        Chiến dịch Tây Nguyên mở màn!...


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:48:32 AM

        8 giờ ngày 4 tháng 3, Thường vụ Đảng ủy chiến dịch họp phân tích tình hình, nhận định: Ta vẫn giữ được bí mật, bất ngờ và đã chủ động điều địch vào đúng ý đồ của ta. Thường vụ Đảng ủy chiến dịch hạ quyết tâm: Đánh địch theo phương án thứ nhất: địch chưa tăng cường phòng ngự dự phòng.

        Căn cứ vào nhận định và quyết tâm của Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh chiến dịch đề ra biện pháp kiểm tra và chỉ huy chặt chẽ sư đoàn 320; lệnh cho sư đoàn 968 tích cực hành động, tăng thêm đạn pháo đánh vào Công Tum, Plây Cu; lệnh cho trung đoàn 149 sư đoàn 316 nhanh chóng vượt đường 14 vào nam thị xã Buôn Ma Thuột; tiểu đoàn 6 trung đoàn 24 chuẩn bi đánh Mê Van; 1 tiểu đoàn của trung đoàn 95B chặn địch ở Bản Đôn. Đồng thời, đề nghị đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chi thị cho sư đoàn 3 Quân khu 5 ở An Khê, Bình Khê hoạt động mạnh.

        Đêm 4 rạng ngày 5 tháng 3, trung đoàn 25 cắt đường 21, diệt đoàn xe địch, làm chủ đoạn đường phía đông Chư Cúc. Tập đoàn phòng ngự địch ở Tây Nguyên bị cắt rời và cô lập khỏi đồng bằng Khu 5. Đường chiến lược 19 và 21 không còn là nguồn sống chính của quân ngụy ở Tây Nguyên nữa.

        Ngày 5 tháng 3, một đại đội của trung đoàn 45 ngụy có cả pháo 105, cùng tên phó tư lệnh sư đoàn 23 từ Plây Cu về Buôn Ma Thuột.

        Sư đoàn 320 trải qua một thời gian căng thẳng giấu quân ở tây đường 14 chờ thời cơ, bắt đầu hành động. Khi đoàn xe 14 chiếc của địch đến phía bắc Thuần Mẫn (Cẩm Ga), trung đoàn 9 nổ súng diệt 8 xe, thu 2 pháo 105, bắt tên trung úy pháo binh. Đường 14 đoạn bắc Buôn Ma Thuột bi cắt đứt.

        Thực hiện quyết tâm của Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch, đại đội 9 và tiểu đoàn 4 trung đoàn 7 công binh lót sẵn lực lượng mở đường 20C hướng tây bắc Buôn Ma Thuột và chuẩn bi bắc phà 3A, 3B trên sông Sê Rê Pốc. Ở hướng bắc Buôn Ma Thuột, trung đoàn 575 tiếp tục làm những đoạn đường còn lại.

        Ngày 8 tháng 3, mạng đường sá cánh Bắc còn cách Buôn Ma Thuột từ 10 đến 12 ki-lô-mét. 23 giờ ngày 9, trung đoàn 575 khai thông trục đường 50B và hai nhánh 50C, 50D với đường xuất phát tiến công của xe tăng. Cùng thời gian này, trung đoàn 7 cũng hoàn thành trục đường 51, 57B, 57C. Còn lại dốc nam ngầm Kơ-muya, khi nổ sủng, công binh sẽ dùng bộc phá giải quyết. Hoàn thành hệ thống đường sá Buôn Ma Thuột là sự nỗ lực cao độ của cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 7 và trung đoàn 575. Vừa đánh địch, vừa dò gỡ mìn, và hộ tống cho xe tăng đột kích trên cả 4 hướng. công binh ta đã mở mới và khôi phục 336 ki-lô-mét đường vào Buôn Ma Thuột, bắc 3 phà, làm 2 bến vượt cho xe tăng, pháo, bộ binh qua sông. Riêng tuyến đường phía tây và tây nam, Bộ tư lệnh chiến dịch giao cho trung đoàn 7 chỉ được thí công trước lúc bộ đội xuất kích khoảng 5 tiếng đồng hồ. Khó khăn thì khắc phục, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 7 thấy được ý nghĩa quan trọng của việc giữ bí mật, tạo thời cơ, nên không xin thêm thời gian. Bộ đội đã bí mật cưa trước ba phần tư đường kính những cây trên dọc đường rồi ngụy trang lại, liên kết bộc phá sẵn ở các bến vượt, dốc có khối lượng độ đá lớn. Khi xe tăng, bộ binh xuất kích, công binh cũng khai thông tuyến đường vào Buôn Ma Thuột.

        Trung đoàn 29 thông tin gấp rút mắc dây cho trung đoàn 148 (sư đoàn 316), trung đoàn 198, 95B, 25, 273, 675, 575 và cụm kho 10B hướng bắc. Đồng thời chuẩn bị nối sở chỉ huy chiến dịch với sư đoàn 320 và mắc mạng dây cho lực lượng sư đoàn 10 đánh Đức Lập, sư đoàn 316 ở phía tây. Mùa khô thường gây ra nạn cháy rừng đe dọa đường dây, các chiến sĩ trung đoàn 29 phải rải các tổ chốt ở những nơi xung yếu, tổ chức tuần tra bảo vệ. Thời gian này, thông tin mắc xong đường dây liên lạc cho Khu ủy Khu 5 và tinh ủy Đắc Lắc. Riêng đường dây qua sông Sê Rê Pốc về sở chỉ huy chiến dịch chậm hơn so với quy định. Tổng cộng độ dài các dường dây điện thoại phục vụ cho chiến dịch lên đến 470 ki-lô-mét.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:48:54 AM

        Hậu cần chiến dịch chuẩn bị sẵn những xe đạn, xăng dầu để đi cùng đội hình hành quân chiếm lĩnh của các đơn vị. Các chiến sĩ vận tải chuyển nhanh 1 cơ số đạn và 7 ngày lương thực, thực phẩm cho các đơn vị ở hướng tây và tây bắc.

        Quân y hành quân triển khai các đội điều trị, đội phẫu, bệnh viện, sẵn sàng đón thương binh. bệnh binh.

        Trung đoàn 273 xe tăng phát động phong trào quần chúng hiến kế mang thêm đạn, nước uống, lương thực theo xe để bảo đảm chiến đấu liên tục, dài ngày, giảm bớt khó khăn vận chuyển của Mặt trận. Chiến sĩ các đơn vị trong trung đoàn nghiên cứu sắp xếp gọn trong buồng chiến đấu của xe tăng, mang thêm mỗi xe được 10 quả đạn, 60 lít nước và từ 10 đến 15 ngày gạo, thực phẩm.

        Trong lúc các đơn vị của ta khẩn trương hoàn thành mọi công việc chuẩn bi trước giờ tiến công vào mục tiêu then chốt Buôn Ma Thuột, thì tại khu vực bắc Tây Nguyên, sư đoàn 968 dùng pháo đánh mạnh vào Công Tum, Plây Cu. Bộ binh ta liên tục chặn đánh tiêu hao trung đoàn 44, 45 ngụy nống lấn, giải tỏa. Thanh Bình, Thanh An bị thít chặt.

        Đường 19, 21 bị cắt đứt; đường 14 xuất hiện sư đoàn 320, nhưng cường độ các trận đánh chưa đủ để buộc dịch phải xử trí lớn ở Buôn Ma Thuột. Địch vẫn bị hút về hướng nghi binh của ta. Điều đó thể hiện nghệ thuật lừa địch tài giỏi của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên. Vì thế, suốt trong những ngày 4, 5, 6 tháng 3, địch đã điều liên đoàn 4 biệt động quân từ Bầu Cạn xuống tăng cường cho lữ đoàn 3 kỵ binh cùng với 3 tiểu đoàn bảo an, giải tỏa đường 19, đối phó với trung đoàn 95A. Ở hướng đường 19 đông An Khê, địch điều 2 trung đoàn 40, 42 thuộc sư đoàn 22 từ Quy Nhơn, Phù Mỹ lên Phú Phong, Bình Khê phối hợp với trung đoàn 47 đối phó với sư đoàn 3 Quân khu 5. Trên đường 21, địch điều chi đoàn 2 thiết giáp thuộc trung đoàn 19 từ Bình Thuận ra Khánh Hòa cùng với bọn học viên trường biệt động quân ở Dục Mỹ và 2 tiều đoàn bảo an đối phó với trung đoàn 25 ở tây Khánh Dương.

        Địch sa lầy và bị giam chân một lực lượng lớn ở các hướng phối hợp của ta. Bộ tư lệnh chiến dịch cho nổ súng đánh Chư Xê (nam Thuần Mẫn) đã kéo trung đoàn 53 ra đối phó, tạo điều kiện cho lực lượng ta ở bắc, tây bắc Buôn Ma Thuột tiếp tục chuẩn bị.

        6 giờ ngày 7 tháng 3, tiểu đoàn 3 trung đoàn 48 sư đoàn 320 nổ súng. Sau 40 phút chiến đấu, ta diệt gọn Chư Xê.

        Ngày 8 tháng 3, trung đoàn 48 dược tăng cường 2 pháo 105, 3 pháo 85 bắn thẳng, tiến công chi khu quân sự Thuần Mẫn. Đây là mục tiêu quan trọng đầu tiên của chiến dịch. 6 giờ nổ súng. 7 giờ 20 phút, trung đoàn 48 làm chủ Thuần Mẫn, diệt 1 tiểu đoàn bảo an, 2 trung đội cảnh sát và cơ quan chi khu, bắt 121 tên, thu 200 súng (có 2 khẩu pháo 105), 18 xe quân sự.

        Trong trận này, trung đội phó Vũ Văn Sơn đã anh dũng dẫn đầu trung đội vượt qua làn đạn bắn chặn của địch, đánh chiếm khu vực đầu cầu, tạo điều kiện cho đơn vị xung phong đánh vào bên trong dứt điểm nhanh gọn. Tổ 3 người Lệ, Đôn, Quán chiến đấu ngoan cường, hai chiến sĩ hy sinh, Lệ vẫn vác cờ xông lên câm trên sở chỉ huy quận lỵ.

        Địch đang bàng hoàng thì ngày 9, sư đoàn 10 và trung đoàn pháo 40 tiến công chi khu quận lỵ Đức Lập. Đây là tuyến phòng thủ vững chắc của địch bao gồm 5 cứ điểm liên hoàn nằm trên đường 14 tây nam Buôn Ma Thuột. Sau khi mất căn cứ Núi Lửa, căn cứ 23, xe tăng, bộ binh địch cụm vào quận lỵ chống cự. Đội hình tiến công của sư đoàn bị chặn lại, không thực hiện được ý định chiến dịch dứt điểm Đức Lập trong ngày để sẵn sàng tiến công Buôn Ma Thuột. Sư đoàn 10 phải điều chỉnh lực lượng, tăng cường chỉ huy, tiếp tục đến công sang ngày 10 tháng 3 mới giải quyết xong.

        Như vậy, đến ngày 9 tháng 3, ta đã cài xong thế chiến dịch, cô lập tập đoàn phòng ngự địch ở Tây Nguyên với đồng bằng Khu 5, chia cắt Công Tum, Plây Cu với Buôn Ma Thuột. Trong cuộc đấu trí giữa ta và địch, ta đã thắng.

        Trước tình hình không có lợi cho địch, ngày 9 tháng 3, tên Phạm Văn Phú, tư lệnh quân đoàn 2 và quân khu 2, vội vàng đáp máy bay đến kiểm tra Buôn Ma Thuột. Tên Phú chỉ thị cho cấp dưới của y kiểm soát chặt chế hệ thống phòng thủ thị xã, phân phối các kho xăng, đạn, đề phòng bị tiến công, giao quyền cho Vũ Thế Quang phó tư lệnh sư đoàn 23 làm tư lệnh chiến trường.

        Để nhốt chặt địch tại chỗ, không cho lực lượng các nơi khác tăng cường cho Buôn Ma Thuột, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho pháo nòng dài sẵn sàng đánh sân bay Hòa Bình nếu địch đổ quân tăng cường cho thị xã, và cho tiểu đoàn 33 ĐKZB sẵn. sàng đánh vào sân bay Cù Hanh không cho địch cơ động bằng đường không ứng cứu cho Buôn Ma Thuột, trói chặt chúng ở Plây Cu.

        Đến giờ nổ súng, lực lượng địch trong thị xã Buôn Ma Thuột về cơ bản không có gì thay đổi lớn. Ở đây địch có sở chi huy tiền phương sư đoàn 23, trung đoàn 53 (thiếu), 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn bảo an và bọn cảnh sát. Tổng số khoảng 8.000 tên. Địch diều thêm về phía đông bắc thị xã liên đoàn 21 biệt động quân.

        Buôn Ma Thuột có diện tích khoảng 25 ki-lô-mẻt vuông chạy dài trên một vùng đồi bằng với bình độ từ 420 đến 480 mét, là thị xã lớn có tầm quan trọng về quân sự, chính trị, kinh tế đối với Mỹ - ngụy ở Tây Nguyên, đến lúc này đã bị hoàn toàn cô lập.

        Các mũi tiến công của quân ta như những gọng kìm dần dần thít chặt lấy Buôn Ma Thuột.

        Chiều ngày 9 tháng 3. Bộ tư lệnh chiến dịch phát lệnh tiến công.

        Đêm 9 rạng ngày 10, rừng Tây Nguyên vẫn nép mình lặng lẽ dưới trăng, nhưng hàng vạn con người đang rùng rùng chuyển động. Từ bốn hướng, quân ta rời vị trí tạm dừng, tiến vào chiếm lĩnh trận địa.

        Bộ phận đại diện Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và sở chỉ huy chiến dịch đêm nay không ngủ, theo dõi và chỉ đạo từng bước đi của các đơn vị. Cả mặt trận cũng thao thức, hồi hộp, chờ mong giờ phút trọng đại. Nòng súng thép từ các trận địa đã hướng vào các mục tiêu sẵn sàng chờ giờ nổ súng.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:54:37 AM

3. BUÔN MA THUỘT ĐÒN ĐIỂM TRÚNG HUYỆT
PHƯỚC AN TIÊU DIỆT SƯ ĐOÀN 23 PHẢN KÍCH
GIẢI PHÓNG TỈNH ĐẮC LẮC

        01 giờ 55 phút ngày 10 tháng 3, cuộc tiến công vào mục tiêu then chốt Buôn Ma Thuột bắt đầu.

        Trung đoàn 198 đặc công bất ngờ và táo bạo nổ phát súng đầu tiên tiến công sân bay lên thẳng Ngã Sáu, khu kho Mai Hắc Đế, sân bay Hòa Bình.

        Ở sân bay Ngã Sáu, các đại đội 1, 3, 18 kiên quyết dứt điểm nhanh gọn các mục tiêu trong sân bay và cho một mũi vượt qua đường 14 đánh chiếm khu cảnh sát, bệnh viện dã chiến đối diện với sân bay, tạo hành lang thông suốt ở cửa ngõ đông bắc thị xã.

        Ở hướng tây bắc, các chiến sĩ dại đội 2 tiêu diệt sở chỉ huy khu kho Mai Hắc Đế và bọn lính gác, đóng một cái chốt vững chắc bảo vệ con đường tiến vào sư đoàn bộ sư đoàn 23 ngụy.

        Cửa ngõ phía đông bắc và tây bắc vào Buôn Ma Thuột đã mở toang.

        Trung đoàn 198 nổ súng được 15 phút, pháo chiến dịch ĐKZB, H12 bắt đầu bắn vào sư đoàn bộ sư đoàn 23 ngụy. Đạn hỏa tiễn của ta thi nhau vạch lên nền trời những đường lửa sáng rực, rồi chụp xuống căn cứ dịch. Điên trong thị xã vụt tắt. Pháo sáng địch hốt hoảng vọt lên không. Địch rúc còi báo động inh ỏi. Tên đại tá Vũ Thế Quang rúc dưới hầm ngầm, gào đến khản cổ trong máy để liên lạc với quân đồn trú và tiểu khu, nhưng y chỉ nhận được những tiếng nổ xé trời của đạn pháo quân ta.

        Lợi dụng tiếng súng tiến công dồn dập của đặc công và tiếng nổ của đạn pháo, hỏa tiễn, các đơn vị bộ binh, xe tăng, pháo cơ giới từ vi trí tập kết vượt sông Sê Rê Pốc tiến vào chiếm lĩnh trận địa. 12 trung đoàn bộ binh và binh chủng hình thành 5 mũi như 5 cánh sao, nhịp nhàng tiến vào Buôn Ma Thuột.

        5 giờ ngày 10 tháng 3, quân ta đã nằm gọn ở tuyến xuất phát tiến công như những mũi tên sẵn sàng bật khỏi ná lao vào mục tiêu.

        6 giờ, các chiến sĩ tiểu đoàn 5, trung đoàn 95 B vượt qua khu vực sân bay lên thẳng ở thị xã, đánh chiếm Ngã Sáu. Địch huy động xe tăng, bộ binh và dùng không quân yểm trợ phản kích đánh bật ta ra. Ban chỉ huy trung đoàn 95 B liền tổ chức lại đội hình, dùng tiểu đoàn 4 và đại đội 4 xe tăng, tiến còng chiếm lại Ngã Sáu,

        Cùng lúc, các đơn vị của ta đánh chiếm các cứ điểm Chư Bua, Chư Duê, điểm cao 491. Hệ thống cứ điểm án ngữ vòng ngoài thị xã trên cả ba hướng nam, tây nam, tây bắc bị quét sạch. Lực lượng địch trong Buôn Ma Thuột bị trói chặt.

        7 giở 10 phút, pháo chiến dịch tầm xa của ta bắt đầu bắn vào căn cứ sư đoàn bộ sư đoàn 23. tiểu khu Đắc Lắc, khu thiết giáp, khu pháo binh. Trong căn cứ địch, đạn nổ, lửa cháy, khói đùn lên đen đặc. Buôn Ma Thuột rung chuyển dữ dội và hỗn loạn.

        Trung đoàn 148 chớp thời cơ pháp chiến dịch đang bắn. áp sát đội hình, dùng bộc phá liên tục mở cửa, đánh chiếm khu pháo binh, khu thiết giáp, hậu cứ tiểu đoàn 1 ngụy.

        Địch phản kích lại ác liệt. Cửa mở hẹp, xe tăng và bộ binh bi ùn ở phía. sau. Không thể để đồng đội bị thương vong, thượng sĩ Nguyễn Quang Trung anh dũng ôm bộc phá xông lên dưới làn đạn bắn thẳng của địch, mở rộng cửa mở cho xe tăng tiến công và dẫn đầu trung đội đánh vào bên trong. Cán bộ đại đội bị thương vong, Trung được chỉ định chỉ huy đại đội, anh đi sát động viên chiến sĩ chiến đấu cho đến khi quân địch bị tiêu diệt hoàn toàn.

        13 giờ 30 phút, trung đoàn 148 cùng xe tăng theo đường Phan Bội Châu đánh địch co cụm ngăn chặn ở khu vực trường trung học Bồ Đề và phát triển.sang Ngã Sáu hợp điểm với trung đoàn 95B. Ở hướng tây bắc, địch phản kích chiếm lại khu kho Mai Hắc Đế và cứ điểm Chư Duê hòng chặn đường tiến của trung đoàn 174. Tại đây các chiến sĩ đặc công và trung đoàn 174 phối hợp chiến đấu đánh tan quân địch, diệt 2 xe M113, 2 xe GMC chở quân. Thừa thắng, tiểu đoàn 1 trung đoàn 174 được sự chi viện đắc lực của xe tăng chia làm hai mũi tiến công vào khu tiếp liệu. Thấy địch lo đối phó với tiểu đoàn 1, các chiến sĩ tiểu đoàn 3 chớp thời cơ vượt cửa mở, đánh vào bên trong khu tiếp liệu

        Ở hướng tây, mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của tiểu đoàn 4 sư đoàn 10 vượt qua các ổ đề kháng vòng ngoài của địch, tiến công khu vận tải và khu truyền tin. 11 giờ 30 phút, tiểu đoàn 4 làm chủ khu truyền tin; 16 giờ đánh chiếm doanh trại tiểu đoàn 23 quân y, áp sát căn cứ sư đoàn bộ sư đoàn 23. Sự có mặt bất ngờ của mũi thọc sâu tiểu đoàn 4 sát nách căn cứ đầu não của địch trong thị xã, khiến chúng vô cùng hoảng loạn, kêu cứu khẩn cấp. Máy bay địch oanh tạc dữ dội ngay vào đội hình, nhưng các chiến sĩ bộ binh, xe tăng kiên cường bám trụ, tạo thể tiến công vào mục tiêu chính.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:57:30 AM

        Lúc này ở sân bay Ngã Sáu, các chiến sĩ đặc công trung đoàn 198 tảo trừ địch ở những vi trí đã chiếm và đánh địch co cụm ở đông bắc sân bay.

        Trung đoàn 95B và xe tăng trung đoàn 273 sau khi chiếm xong Ngã Sáu, tiến công vào tiểu khu Đắc Lắc. Trung đoàn 95B phải tổ chức dột kích lần thứ ba mới dứt điểm. 15 giờ, toàn bộ quân địch trong tiểu khu Đắc Lắc bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Cờ giải phóng đã phấp phới trên tiểu khu Đắc Lắc, báo tin chiến thắng. Trung đoàn 95B tổ chức chốt giữ bảo vệ mục tiêu và dùng một mũi phát triển tiến công sang khu quân cảnh, đồng thời điều 3 xe tăng quay lại sân bay Ngã Sáu cùng đặc công đánh địch phản kích ở hướng đông bắc.

        19 giờ, sân bay Ngã Sáu im hẳn tiếng súng.

        Ở hướng nam thi xã, tiểu đoàn 7 và 8 (trung đoàn 149) vượt qua suối Ia Tam đánh vào khu tiếp vận, sở thú y, ty ngân khố, khu cư xá sĩ quan; tiểu đoàn 9 phải vận động một đoạn đường khoảng 8 ki-lô-mét đánh chiếm quận lỵ Hòa Bình ở phía đông.

        Quá trình phát triển chiến đấu, các trung đoàn cao xạ 232, 234 đã theo sát, bảo vệ tốt đội hình tiến công của bộ binh và xe tăng ta. Địch dùng 60 lần chiếc máy bay đánh vào trận địa cao xạ, nhưng các chiến sĩ vẫn bình tĩnh, vững tay tầm, tay hướng, hiệp đồng chặt chẽ, bắn rơi 6 máy bay A37, buộc máy bay địch bốc lên cao.

        Trong ngày 10 tháng 3, mặc dù địch phản kích mạnh trên cả 4 hướng, nhưng chiến sĩ ta chiến đấu rất ngoan cường, táo bạo, dũng mãnh thọc sâu, hiệp đồng gắn bó, đã làm chủ phần lớn các mục tiêu quan trọng trong thị xã Buôn Ma Thuột và các cứ điểm án ngữ vòng ngoài.

        Cùng với cuộc tiến công vào mục tiêu then chốt Buôn Ma Thuột, ở hướng Đức Lập, sau khi tổ chức lại lực lượng, trung đoàn 66, trung đoàn 28 (sư đoàn 10) và trung đoàn pháo 40 đánh chiếm quận lỵ Đức Lập và phát triển tiến công diệt địch ở ngã ba Đắc Song. Hệ thống đồn bốt địch ở tây nam Buôn Ma Thuột bị quét sạch. Đức Lập hoàn toàn được giải phóng. Sư đoàn 10 tiêu diệt 1 tiểu đoàn chủ lực, 1 tiểu đoàn bảo an, thu 14 pháo, 20 xe tăng, xe bọc thép.

        Ở hướng Gia Nghĩa, trung đoàn 271 bộ binh và tiểu đoàn 14 đặc công tiến công tiêu diệt địch và làm chủ ấp Nhân Cơ, Nhân Hải, áp sát sân bay Nhân Cơ.

        Đêm 10 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch họp đánh giá tình hình trong ngày và nhận định: Địch bị đánh đòn bất ngờ, chúng lúng túng và bị động ngay từ phút đầu. Hệ thống chỉ huy, phòng ngự của địch bị rối loạn.Mặc dù lực lượng tại chỗ kết hợp với không quân phản kích ác liệt nhưng không đầy lùi dược lực lượng ta ra khỏi thị xã nên binh lính, sĩ quan ngụy hoang mang cực độ. Tuy vậy, bọn đầu sỏ, ác ôn vẫn cố chống lại.

        Bộ tư lệnh chủ trương: Tập trung lực lượng mạnh, nhanh chóng tiêu diệt sở chỉ huy sư đoàn 23 và các mục tiêu còn lại trong thị xã. Triển khai lực lượng sẵn sàng đánh phản kích, đồng thời khẩn trương tiêu diệt các căn cứ bàn đạp Bản Đôn, Chư Nga, Buôn Hồ, trói chặt địch ở Buôn Ma Thuột, không cho lực lượng cơ động bên ngoài ứng cứu. Đưa lực lượng cao xạ áp sát thị xã, bảo vệ đội hình tiến công của ta và bảo vệ nhân dân, điều một lực lượng sang phía đông bắc, sẵn sàng đánh địch đổ bộ dường không. Điều sư đoàn 10 (thiếu) ở Đức Lập sang phía đông bắc thị xã làm lực lượng dự bị và sẵn sàng đánh phản kích.

        Quá trình phát triển chiến đấu, đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã theo sát chỉ đạo kịp thời và thường xuyên cử cán bộ xuống kiểm tra, đôn đốc thực hiện kế hoạch.

        Ngày 11 tháng 3, sau khi pháo binh chiến dịch bắn cấp tập hai tiếng đồng hồ, từ bốn hướng, các mũi binh chủng hợp thành của ta xung phong đánh chiếm sào huyệt cuối cùng của quân ngụy ở Buôn Ma Thuột. Trong giờ phút tuyệt vọng, quân địch cố dồn hết sức mạnh chóng đỡ. Chúng cho không quân ném bom ngay trên đường phố. Xe tăng M48, M41 liều mạng xông ra bịt các ngả đường. ĐKZ, đại liên, cối, AR15 từ trong lỗ châu mai, lô cốt cố thủ, đổ đạn cố dựng bức tường lửa trước cổng sở chỉ huy sư đoàn bộ sư đoàn 23. Nhưng chúng đã bị lực lượng tiến công của ta đè bẹp. Các chiến sĩ bộ binh bám sát, yểm hộ cho xe tăng diệt các ổ đề kháng của địch. Các chiến sĩ xe tăng luôn luôn tiến bước, mở những mũi đột kích mạnh tiêu diệt xe tăng và hỏa điểm dịch, yểm hộ đắc lực cho bộ binh. Trung đoàn 95B và đại đội 4 xe tăng từ tiểu khu Đắc Lắc tiến công sang hậu cứ sư đoàn bộ sư đoàn 23. Dọc đường tiến, địch dùng máy bay oanh tạc. Đồng chí Nguyễn Văn Phòng, trung dội trưởng xe tăng, bình lĩnh cho xe mình vượt qua đánh vào sư đoàn bộ sư đoàn 23, hợp điểm với cánh quân của ta ở hướng tây. Đồng chí Năng đại đội trưởng dại đội 6, bị thương hỏng một mắt vẫn bám xe, chỉ huy đơn vị yểm hộ cho bộ binh tiến công. Đoàn Sinh Hưởng, Bùi Mạnh Hùng, Phạm Hồng Vách anh dũng cho xe tăng vượt qua các tầm hỏa lực dày đặc, đột phá vào giữa bầy tăng địch, mở đường cho bộ binh. Các trung đoàn bộ binh 95B, 148, 174, 149, tiểu đoàn 4 và trung đoàn xe tăng 273 như đôi bạn “ý bợp tâm đồng”, phối hợp nhịp nhàng, chi viện cho nhau đắc lực, tạo thế trận tiến công mạnh mẽ, vững chắc. Bùi Văn Bin, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 4 (sư đoàn 10), gương mẫu, sâu sát, dũng cảm cùng với  mũi trưởng mũi thọc sâu chỉ huy đơn vị linh hoạt vượt qua những chướng ngại, hợp đồng chặt chẽ với các trung đoàn bạn.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:58:38 AM

        11 giờ ngày 11 tháng 3, toàn bộ quân địch ở thị xã Buôn Ma Thuột bị tiêu diệt. Cuộc tiến công vào mục tiêu then chốt của ta toàn thắng. Cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt trận mọc lên khắp các nóc nhà dân, công sở, reo vui trong nắng ấm.

        Hai tên đại tá Vũ Thế Quang và Nguyễn Trọng Luật lợi dụng lúc máy bay oanh tạc, chạy trốn ra vườn cà phê ngoài thị xã. Tên Luật bi cơ quan trung đoàn 24 đi cùng với mũi thọc sâu đánh bắt. Tên Quang thoát chết, chạy xuống phía nam; đến tối ngày 11, y bị các chiến sĩ trung đoàn 174 lùng sục, tóm cổ.

        Đêm 11 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch nhận đinh: Địch bị mất thị xã nhưng các căn cứ bàn đạp vẫn còn. Chúng có thể dùng lực lượng tăng viện đổ quân xuống các căn cứ bàn đạp, phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. Hướng phản kích chủ yếu sẽ là hướng đông bắc. Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho trung đoàn đặc công 198 và trung đoàn 148 tảo trừ và đánh địch tại chỗ, giữ vững địa bàn, củng cố thắng lợi. Trung đoàn 24 (thiếu) phối hợp với tiểu đoàn 6 trung đoàn 95 B diệt căn cứ 45. Tiểu đoàn 5 trung đoàn 24 diệt cứ điểm Chư Nga. Tiểu đoàn 21 Đoàn 559 đánh địch, giải phóng Bản Đôn. Trung đoàn 149 sư đoàn 316 và trung đoàn đặc công 198 tiêu diệt cứ điểm Hòa Bình:

        Ngày 12 tháng 3, ta tiến công tiêu diệt căn cứ 45. Tại đây trung đoàn 24 và xe tăng ta diệt và bắt 350 tên địch, thu và phá hủy 245 xe quân sự, thu 400 súng các loại.

        Cùng ngày, tiểu đoàn 1 trung đoàn 174 đánh chiếm cầu Thọ Thành, diệt và bắt 300 tên địch, thu hàng trăm xe. Trung đoàn 64 sư đoàn 320 giải phóng Buôn Hồ, phát triển đánh dịch ở Chư Pao, Đạt Lý.

        Ngày 13 tháng 3, trung đoàn 148 giải phóng ấp Châu Sơn. Trung đoàn 24 diệt địch ở Chư Nga. Phối hợp với đòn tiến công của chủ lực, bộ đội địa phương tỉnh Đắc Lắc đánh chiếm và làm chủ quận lỵ Lạc Thiện.

        Ngày 14 tháng 3, ta tiến công hậu cứ trung đoàn 53 gần sân bay Hỏa Bình.

        Cùng ngày này, tiểu đoàn 21 giải phóng Bản Đôn, diệt và làm tan rã 2 tiểu đoàn bảo an thuộc liên đoàn 926.

        Phối hợp với hướng chính, sư đoàn 968 đánh chiếm 2 chốt địch ở tây nam Plây Cu, áp sát Thanh Bình, uy hiếp Thanh An. Pháo binh bắn phà sân bay Công Tum, Cù Hanh. Trên đường 19, trung đoàn 95 A diệt cụm quân địch ở ngã ba Plây Bôn, đánh địch giải tỏa, diệt gọn 2 chi đoàn thiết giáp, phát triển tiến công xưống Măng Giang. Sư đoàn 3 Quân khư 5 tiêu diệt các cánh quân giải tỏa của sư đoàn 22 ngụy ở khu vực lăng Mai Xuân Thưởng, Vườn Xoài, tiếp tục tiến công địch ở Bình Tân, Bình Tường, Đồng Phó.

        Trên đường 21, trung đoàn 25 diệt đoàn xe đích ở phía đông Chư Cúc, giữ vững trận địa.

        Đây không chi là sự điển hình về tạo bất ngờ, giành thế chủ động mà còn là điển hình về phát triển tiến công trong quá trình chiến dịch. Ta thực hiện tốt phương châm “càng đánh càng mạnh”, tận dụng được vật chất, kỹ thuật, vũ khí địch đánh địch; địch càng đánh càng suy yếu, rối loạn.

        Trận thắng Buôn Ma Thuột đã tạo ra bước phát triển nhảy vọt về tương quan lực lượng, về thời cơ và thế chiến lược mới. Nguyên nhân thắng lợi có ý nghĩa chiến lược này là do ta đánh giá đúng địch, đúng ta. Bộ đội có quyết tâm cao, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo. Đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã cùng với Bộ tư lệnh chiến dịch chỉ đạo hết sức chủ động, có cách đánh thích hợp với từng mục tiêu, đối tượng cụ thể và thực hành nghi binh chiến dịch, lừa địch thành công.

        Ngày 12 tháng 3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương điện khen quân, dân Tây Nguyên: “Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhiệt liệt khen ngợi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, anh chị em công nhân viên đã nêu cao tinh thần quyết thắng, anh dũng, mưu trí, sáng tạo, táo bạo và khẩn trương giành nhiều thắng lợi to lớn ngay trong những ngày đầu chiến dịch. Cần nhanh chóng nắm lấy thời cơ thuận lợi giành thắng lợi to lớn hơn nữa”. Nói về tác dụng chiến lược của trận Buôn Ma Thuột, báo Pháp Thế giới số ra ngày 21 tháng 3 năm 1975 nhận xét: “Trong vài ngày, bản đồ quân sự miền Nam Việt Nam bị đảo lộn; chỉ có trận Buôn Ma Thuột mà khiến cho từng mảng cấu trúc do chế độ Thiệu dựng lên bị sụp đổ. Hóa ra Buôn Ma Thuột mang cái đà của một bước ngoặt trong cuộc xung đột đến nay đã được 30 năm”.

        Cả nước vui mừng, khen ngợi, động viên, tiếp thêm cho Tây Nguyên sức mạnh mới để phát triển thế tiến công.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 12:59:07 AM

        Kẻ thù kinh hoàng, run sợ. Tiếng súng Buôn Ma Thuột làm chấn động Nhà trắng và Lầu năm góc. Ma-tin đang ở Mỹ phải cấp tốc gửi cho Thiệu một bức thư khích lệ, nhưng lại bộc lộ tâm trạng đầy cay đắng, thất vọng: “Ở Hoa Thinh Đốn, mặt trận đấu tranh trong thời gian tới sẽ vô cùng gay go, nếu có thể có cơ hội, trong vài tuần tới, quân lực Việt Nam Cộng hòa đánh một trận đẹp mắt với quân Bắc Viết Nam để công chúng thấy rõ thì điều đó có tác dụng; phản ứng chính tri ở đây (Mỹ) sẽ rất tốt nếu như có sự kiện như vậy... Đó là canh bạc có thể đem lại lợi ích tốt đẹp”1.

        Vâng lời chủ Mỹ, Thiệu ngoan cố lao vào canh bạc để xin viện trợ tiếp tục chiến tranh. Nguyễn Văn Thiệu và Cao Văn Viên ký lệnh “tử thủ Buôn Ma Thuột”. Tên Phạm Vãn Phú tư lệnh quân đoàn 2, quân khu 2 liều mạng đáp máy bay đi khích lệ binh lính và ra lệnh dùng máy bay lên thẳng đổ sư đoàn 23 (thiếu) xuống Phước An.

        Ngày 12 tháng 3, dưới sự yểm trợ của không quân, trung đoàn 45 nhảy xuống vùng điểm cao 581 phía đông bắc căn cứ 53 Hòa Bình, liên kết với tàn quân của liên đoàn 21 biệt động. Ngày 15 và 16, chúng ném nốt trung đoàn 44 và sư đoàn bộ 23 xuống Phước An.

        Ngay sau trận thắng Buôn Ma Thuột, đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã chỉ rõ: Thời cơ mới xuất hiện, phải nhận thức rõ, chạy đua với địch, với thời gian, thời tiết, phải liên tục cải tiến tác phong chiến đấu, tác phong chỉ huy cho cơ động, linh hoạt. Phải nắm lấy thời cơ mới để làm tốt những vấn đề dự kiến cho năm 1976.

        Bộ tư lệnh chiến dịch cũng dự kiến trước âm mưu, khả năng phân kích của địch, nên trận Đức Lập vừa kết thúc, sư đoàn 10 đã được lệnh hành quân sang phía đông Buôn Ma Thuột và sử dụng trung đoàn 95 B làm dự bị.

        Đây là thời cơ để ta tiêu diệt đơn vị lớn quân địch, thực hiện tốt chỉ tiêu trên giao. Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm sử dụng sư đoàn 10 tăng cường tiêu diệt gọn sư đoàn 23 ngụy phản kích bằng một số trận đánh liên tiếp trên đường 21.

        Ngày 14 tháng 3, trung đoàn 24 sư đoàn 10 và đại đội 5 thiết giáp, được sự chi viện của pháo binh chiến dịch, đã đánh tan tiểu đoàn 2 đích ở khu vực điểm cao 581. Thừa thắng, ta tiến công vào cụm quân của tiểu đoàn 1 trung đoàn 45 ở điểm cao. Một sồ sống sót chạy về cụm ở đồn điền cà phê ngã ba Nông Trại, cùng với liên đoàn 21 biệt động quân bảo vệ phía tây quận lỵ Phước An. Ý đồ phản kích của địch tan vỡ, chúng quay sang co cụm, chống đỡ bị động với các cuộc tiến công của sư đoàn 10.

        Chiều ngày 15, pháo chiến dịch và pháo sư đoàn 10 bắn dữ dội vào khu vực địch co cụm. Sáng ngày 16, bộ binh và xe tăng ta tiến công vào ngã ba Nông Trại. Trung đoàn 45 ngụy và liên đoàn 21 biệt động bị diệt và tan rã. Một số tàn binh chạy về Phước An.

        Lúc này, trung đoàn 66 (thiếu) và trung đoàn 149 phối hợp với xe tăng tiến công căn cứ 53 Hòa Bình, Trận đánh diễn ra rất ác liệt, kéo dài đến sáng ngày 17 ta mới tiêu diệt hoàn toàn quân địch. Trong trận đánh này, đồng chí Chuyên xạ thủ súng phun lửa đại đội 29 tiểu đoàn 2 mưu trí vượt qua lưới đạn địch ngăn chặn, bình tĩnh phụt những đường lửa chính xác vào lỗ châu mai lô cốt và hầm ngầm cố thủ, dập tắt 3 hỏa điểm, bắt 58 tên địch ra hàng, yểm hộ đắc lực cho bộ binh xung phong.

        Căn cứ 53 bị diệt. Lực lượng di cứu viện bị đánh tả tơi. Chúng không liên lạc được với nhau. Tàn quân sư đoàn 23 ở Phước An hoang mang cực độ. Nhiều tên cởi bỏ quần áo lính, mặc quần áo thường dân chạy trốn.

        Ngày 17 tháng 3, trung đoàn 24, 28 và xe tăng trung. đoàn 273 tiến công Phước An. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, phần lớn trung đoàn 44, 45 và liên đoàn 21 cùng sư đoàn bộ sư đoàn 23 bị tiêu diệt. Phước An được giải phóng.

        Bọn địch còn lại chạy về Chư Cúc. Để bảo vệ cho quân chúng chạy thoát, máy bay địch ném bom phá sập cầu cống trên đường 21, ngăn chặn quân ta truy kích. Nhưng ngay trong ngày 17, trung đoàn 25 đã đón sẵn phía đông Chư Cúc, diệt gọn 1 đại đội địch đang chạy về Khánh dương. Đường về đồng bằng bị khóa chặt. Ngày 18 tháng 3, sư đoàn 10 tiến công Chư Cúc, tiêu diệt hoàn toàn lực lượng còn lại của sư đoàn 23 ngụy, giải phóng vùng đông bắc Đắc Lắc.

        Giữa lúc sư đoàn 10 thắng lớn trên đường 21, sáng ngày 18 tháng 3, ủy ban quân quản tỉnh Đắc Lắc được thành lập và ra mắt nhân dân tại ngôi chùa xã Lạc Giao, đường Trần Hưng Đạo.

        Sau 30 năm đấu tranh bền bỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, lần đầu tiên toàn tỉnh Đắc Lắc được giải phóng, đồng bào các dân tộc thực sự làm chủ vận mệnh của mình.

        Chỉ trong tám ngày tiến công của các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên mà cơ đồ chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ xây dựng trong hơn 20 năm ở Đắc Lắc sụp đổ tan tành. Một sư đoàn chủ lực sừng sỏ được mệnh danh “Sư đoàn nam bình, bắc phạt, Tây Nguyên trấn” bị xóa sổ.

        Tác dụng chiến lược của trận thắng Buôn Ma Thuột - Phước An đã đẩy ngụy quân, ngụy quyền đến tình trạn tan rã nhanh chóng, mở đầu bước suy sụp mới toàn diện không gượng dậy được của ngụy quyền Sài Gòn

        Địch buộc phải rút lui chiến lược khỏi Tây Nguyên

        Thời cơ giải phóng Tây Nguyên đã điểm!

--------------------------
        1. Trích thư Ma-tin, đại sứ Mỹ gửi cho Thiệu ngày 14 tháng 3 năm 1975.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:01:23 AM
       
4. CUỘC TRUY KÍCH THẦN TỐC CỦA SƯ ĐOÀN 320 TRÊN ĐƯỜNG SỐ 7
GIẢI PHÓNG TÂY NGUYÊN

        Sau trận đòn điểm trúng huyệt Buôn Ma Thuột, lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên phát triển tiến công tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy phstn kích. Hy vọng tái chiếm Buôn Ma Thuột của địch tiêu tan. Công Tum, Plây Cu nằm trong thế bi bao vây bốn mặt. Trong lúc đó, theo nhận định và ước tính của phòng 2, bộ tổng tham mưu ngụy thì hiện thời có 4 sư đoàn tổng trù bị của miền Bắc được điều động vào Nam, cộng với sư đoàn 968 từ Hạ Lào sang, nâng tổng số “quân Cộng sản” tại miền Nam lên 19 sư đoàn. Tin đó như một đòn trời giáng, gây khủng khiếp dối với ngụy quyền Sài Gòn. Còn có cách nào cứu vãn được nữa?

        Ngày 14 tháng 3, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên vội vã đến Cam Ranh nghe Phạm Văn Phú, tư lệnh quân đoàn 2 và quân khu 2 thuyết trình về tình hình Tây Nguyên. Phạm Văn Phú báo cáo với Thiệu: “Trình tổng thống, tôi đã cho trung đoàn 44, 45 giải tỏa Buôn Ma Thuột, nhưng lực lượng đối phương (quân giải phóng) quá mạnh đẩy lùi lực lượng tăng viện chúng ta (ngụy) về phía đông quốc lộ 21. Ở Công Tum, Plây Cu, địch (Quân giải phóng) đánh mạnh vào liên đoàn 23 biệt động quân, hoạt động mạnh ở phía đông và phía tây, phi trường Cù Hanh bị pháo kích liên tục. Ở phía đông quốc lộ 19, trung đoàn 95 Cộng sân đánh mạnh vào liên đoàn 4 biệt động quân và thiết đoàn 3 kỵ binh, đã có 12 thiết giáp bị cháy. Ở Bình Đinh, các trung đoàn 12 và 2 của Cộng sản nỗ lực từ phía đông để chiếm phi trường Phù Cát”1.

        Nghe xong, Thiệu hỏi Phú: “Đứng trước sự kiện đó anh nghĩ sao?”. Phú trả lời: “Xin giữ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá! Tôi đã cho tăng viện 2 trung đoàn 44, 45 cho Buôn Ma Thuột. Nhưng, do trực thăng bi hư hỏng nhiều nên 3 ngày mới chuyển được 1 trung đoàn 1.500 quân. Tôi đã bổ cứu bằng cách lệnh cho 2 liên đoàn biệt động ở Công Tum về tăng cường cho mặt trận phía đông và tây chuẩn bị chiến đấu đến cùng”2.

        Thiệu cho biết không có quân tăng viện, y chỉ thị: “Quân viện bị cúp, đạn và tiền đều thiếu. Địch đánh mạnh hơn năm 1968, 1972. Công Tum, Plây Cu người ít, kinh tế không có, nên rút quân về cứu Buôn Ma Thuột và giữ vùng duyên hải”3.

        Kế hoạch rút lui được Thiệu, Viên, Phú bàn tính rất kỹ. Lúc này mọi con đường từ Tây Nguyên về đồng bằng đều bị cắt đứt, chỉ còn đường số 7 - con đường còn lại duy nhất để về đồng bằng. Đường số 7 bị hư hỏng nặng vì đã bỏ, nhưng sửa chữa lại có thể sử dụng được. Thiệu, Viên, Phú thấy rút lui theo tỉnh lộ 7 là một việc làm rất mạo hiểm, nhưng đường cùng không có cách nào khác

         Tối ngày 14 tháng 3, Phạm Văn Phủ triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tại bộ tư lệnh quân đoàn 2, trình bày lại chỉ thi của Thiệu và ra lệnh rút quân khỏi Công Tum, Plây Cu. Tên Cẩm, phó tư lệnh quân đoàn và tên Lý tham mưu trưởng được giao thiết lập kế hoạch rút quân. Sợ lộ bí mật kế hoạch, chúng quyết định dùng mật lệnh chỉ thị từng giai đoạn rút, không phổ biến rộng rãi. Theo lệnh Nguyễn Văn Thiệu, không dược thông báo trước cho các tỉnh trưởng. Ai biết thì rút, không biết thì ở lại Tây Nguyên. Lý do là dùng lực lượng địa phương ở lại chống đỡ để bảo vệ cho chủ lực rút an toàn, mặt khác để đánh lạc hướng sự chú ý của đối phương, giữ bí mật cho cuộc tháo chạy.

        Để bảo đảm cho cuộc rút lui, địch điều liên đoàn biệt động quân số 6 và 23 tăng cường cho lữ đoàn 2 kỵ binh bảo vệ đoạn dường từ ngã ba Mỹ Trạch đến quận Sơn Hòa, yểm trợ cho công binh sửa đường, bắc cầu. Đoạn đường còn lại giao cho quân địa phương Phú Bổn và Phú Yên bảo vệ. Tuy vậy, chúng vẫn cảm thấy không có gì chắc chắn, nên điều thêm liên đoàn biệt động quân số 7 ở Công Tum “ưu tiên” cho rút trước để về án ngữ đoạn đường từ phía đông Cheo Reo đến đèo Tu Na.

        Đêm 14 và 5, sư đoàn 6 không quân liên tục vận chuyển lính và gia đình về Nha Trang. Chúng đốt giấy tờ, phá một sổ máy móc ở sân bay Cù Hanh. Đột nhiên những đám cháy bốc lên ngùn ngụt tại sân bay. Trên đường phố xe nhà binh chạy hỗn loạn. Thị xã Plây Cu náo động. Theo tin hãng thông tín Mỹ, giá vé máy bay từ Plây Cu đi Sài Gòn cao vọt khác thường, 40 nghìn đồng tiền ngụy một vé, nhiều người chen chúc tranh giành vẫn không mua được.

        Những tin đó đều được Bộ tư lệnh chiến dịch theo dõi chặt chẽ, tổng hợp và phân tích. Tại sao có hiện tượng này? Đích có âm mưu gì? Chúng tập trung lực lượng phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột hay rút khỏi Tây Nguyên? Trận Buôn Ma Thuột, Phước An đã đủ làm cho địch rút bỏ địa bàn chiến lược quan trọng này chưa?

        Ta đã thắng địch trong cuộc đấu trí trước khi bước vào chiến dịch. Giờ đây tình hình chuyển biến mau lẹ, phải hết sức chủ động, nắm thời cơ để có những quyết định và hành động kịp thời. Bộ tư lệnh chiến dịch tập trung nghiên cứu, phân tích tình hình và lệnh cho các đơn vị, các đài quan sát phải bám sát từng hành động của địch, từng hiện tượng trên chiến trường, báo cáo thường xuyên về sở chỉ huy chiến dịch.

        Tối 15 tháng 3, đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh gọi điện thông báo cho Bộ tư lệnh chiến dịch biết có hiện tượng địch rút bỏ Công Tum, Plây Cu. Tiếp đến, tin từ Hà Nội cho biết: Sở chỉ huy tiền phương của quân đoàn 2 và lãnh sự quán Mỹ đã chuyển về Nha Trang. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cũng đã gợi ý cho chiến trưởng là nên nghĩ đến khả năng địch buộc phải rút bỏ Tây Nguyên.

--------------------------
        1. , 2. , 3. Trích tóm lược phúc trình của Phạm Văn Phú, ngày 7 tháng 4 năm 1975, Tài liệu lưu trữ phòng 2, bộ tham mưu Quân đoàn 3.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:01:56 AM

        Ngày 16 tháng 3, các đài quan sát của ta phát hiện và báo về sở chỉ huy chiến dịch là thấy từng đoàn xe địch hàng trăm chiếc từ ngã ba Mỹ Trạch chạy về Phú Bổn. Tỉnh lộ 7 bụi bốc lên mù mịt. Bộ tư lệnh chiến dịch điện ngay cho đồng chí Kim Tuấn, sư đoàn trưởng sư đoàn 320 hỏi lại về con đường số 7, và chỉ thị xác minh lập tức hiện tượng nói trên.

        Qua những sự kiện trên dây, kết hợp với gợi ý của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và ý kiến của đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Bộ tư lệnh chiến dịch kết luận:

        - Trong tình hình Buôn Ma Thuột bi mất, phương thức phòng thủ thành phố, thị xã của địch mất hiệu nghiệm. Cuộc phản kích của sư đoàn 23 là phương thức tích cực nhất của địch trong phòng ngự về chiến dich, nhưng có nguy cơ bị thất bại, các căn cứ bàn đạp không còn, nên có thể buộc địch phải rút bỏ Tây Nguyên, bảo tồn lực lượng về giữ đồng bằng đông dân.

        - Trận Buôn Ma Thuột vượt ra ngoài phạm vi chiến dịch, mang ý nghĩa và tầm vóc chiến lược và đẩy địch mắc sai lầm về chiến lược. Đây là thời cơ mới trực tiếp để ta hoàn thành giải phóng Tây Nguyên.

        Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định: Sử dựng sư đoàn 320 tăng cường 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 cụm pháo binh chiến dịch và trung đoàn 95B làm dự bị, nhanh chóng chặn địch ở đông nam Cheo Reo, tiêu diệt tập đoàn rút chạy của quân đoàn 2.

        Đêm 16 tháng 3, đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cho biết địch đã rút bỏ Công Tum, Plây Cu theo đường số 7 về Cheo Reo, và lệnh cho Bộ tư lệnh chiến dịch đôn đốc sư đoàn 320 khẩn trương hành động.

        Cuộc đuổi đánh địch thần tốc của các chiến sĩ sư đoàn 320 bắt đầu đêm 16 tháng 3.

        Lúc này trung đoàn 48 ở Thuần Mẫn, trung đoàn 9 ở Phú Nhơn, trung đoàn 64 đang truy kích địch ở Chư Pao, Đạt Lý, trung đoàn 95B dang làm dự bị cho sư đoàn 10 ở đường 21.

        Đêm 16, tiểu đoàn 9 nhận được lệnh đuổi đánh địch. Thời gian gấp rút, đường xa, đèo dốc khó đi, trời lại tối. Tiểu đoàn 9 quyết tâm đến đường 7 trước địch. Đã từng chiến đấu ở chiến trường, bộ đội hiểu rất rõ giá trị chiến lược của thời cơ, anh em đã tìm nứa khô làm đuốc, có tỉểu đội đốt cả dép cao su, soi đường vượt tắt qua những dãy núi đá tai mèo dốc đứng để đến đường 7. Địch chạy bằng xe cơ giới. Ta đuối địch bằng đôi chân Trường Sơn. Cuộc chạy đua với địch của các chiến sĩ tiểu đoàn 9 diễn ra rất khẩn trương, quyết liệt. 16 giờ ngày 17, tiểu đoàn 9 mới đến được đường số 7, chặn địch ở đông nam Cheo Reo 4 ki-lô-mét. Các chiến sĩ đại đội 11 nhờ ở gần đã nhanh chân đến sớm hơn các đơn vị trong tiểu đoàn khoảng 5 tiếng đồng hồ.

        Trong đêm 16, hậu cần chiến dịch và sư đoàn đã huy động 110 xe ô tô cấp tốc chở các đơn vị đang làm nhiệm vụ hướng Buôn Ma Thuột về Thuần Mẫn. Thiếu ô tô, bộ đội tổ chức chạy bộ được đoạn nào hay đoạn ấy. Ô tô sẽ quay lại đón bộ đội dọc đường.

        Đội điều trị 3 cũng được lệnh hành quân, tăng cường phục vụ cho sư đoàn 320 đuổi địch. Về sau, hậu cần lại điều thêm bệnh viện Z100 xuống phục vụ.

        Sáng ngày 17, một số xe địch chạy lọt về Củng Sơn. Nhưng đại bộ phận tập đoàn rút chạy của quân đoàn 2 vẫn chưa chạy thoát. Trên đường số 7 hàng nghìn xe quân sự của địch nối đuôi nhau ùn ủn đồ về thị xã Cheo Reo. Chúng chạy hàng tư, hàng năm lấn ra cả hai bên đường. Máy bay hộ tống trên trời trút bom, bắn rốc két, ngăn chặn phía sau, dọn đường phía trước và hai bên.

        Đoàn xe địch qua khỏi Cheo Reo khoảng 4 ki-lô-mét gặp trận địa phục kích đầu tiên của tiểu đoàn 9 trung đoàn 64. Bộ đội chưa kịp đào công sự, lợi dụng gốc cây, ụ mối, nổ súng. Đang cơn hoảng loạn, nghe súng của ta nổ, cả đoàn xe địch nhào ra hai bên đường, chạy vào rừng. Một số tên lái xe nhảy khỏi xe chạy về Cheo Reo.

        Thị xã Cheo Reo, người và xe các loại chật ních không có chỗ chen chân. Nạn cướp giật hoành hành. Không khí ngột ngạt đến nghẹt thở. Mờ sáng ngày 18, địch củng cố lại đội hình, dùng hai thiết đoàn xe tăng mở đường chạy về Củng Sơn. Tiểu đoàn 9 ngoan cường, nổ súng dữ dội vào đoàn xe địch. Xe tăng, xe bọc thép liều chết mở hết tốc độ lao qua cầu Ea Nu. Cầu sập. Xe và lính rơi xuống sông. Đường tắc nghẽn, địch bỏ xe tản vào rừng, lội sang sông Ba. Lúc này lực lượng lớn của sư đoàn 320 đuổi kịp đánh thốc tới. Hàng trăm xe quân sự địch cháy nằm ngổn ngang hai bên đường và bãi sông.

        Địch phải dùng một phi đội máy bay A37 oanh tạc hai bên sườn và phía sau bảo vệ đội hình cho quân chúng tiếp tục tháo chạy. Nhưng không quân ngụy cuống cuồng ném bom cả vào liên đoàn 7 biệt động quân, làm chết và bị thương 1 tiểu đoàn, phá hủy một số xe thiết giáp.

        Cuộc đuối đánh địch của các chiến sĩ sư đoàn 320 mới bước sang ngày thứ hai đã thu được thắng lợi giòn giã. Tên chuẩn tướng Phạm Duy Tất chỉ huy cuộc rút lui phải kêu lên: “tồn thất quả nặng nề gần như tan rã”, và “liên đoàn 23 biệt động quân vẫn phải đối đầu với sư đoàn 320, thường xuyên bị tập kích. Các đơn vị phải băng rừng vì trên đường, lực lượng địa phương quân đã rút bỏ”1.

        Trong ngày, tiểu đoàn 1 trung đoàn 48 cắt đứt đoạn đường từ Phú Thiện đi Cheo Reo, vây diệt 1 tiểu đoàn bảo an ở Cầu Cháy.

        Để tạo thế tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho sư đoàn 320 nhanh chóng đánh chiếm thị xã Cheo Reo làm bàn đạp.

--------------------------
        1. Phúc trình của Phạm Duy Tất, Tài liệu lưu trữ phòng 2, bộ tham mưu Quân đoàn 3.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:06:59 AM

        11 giờ ngày 18 tháng 3, pháo binh bắn phá các mục tiêu trong thị xã. 16 giờ, trung đoàn 48 mở đợt tiến công vào sân bay, tòa hành chính, khu cố vấn Mỹ, tiểu khu Phú Bổn, trại lính “Ngô Quyền”, ty cảnh sát, ty chiêu hồi, đài phát thanh. Khoảng 24 giờ, thị xã Cheo Reo, tỉnh lỵ Phú Bồn hoàn toàn giải phóng. Ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng cơ quan quân đoàn 2 và một số đơn vị địch.

        Trong cơn nguy khốn, tên Phạm Văn Phú phải ra lệnh cho lính bỏ vũ khí nặng, quân dụng đi vòng rừng không qua đèo, chạy khỏi Phú Bổn. Bọn lính sống sót vội vã lột hết quần áo lính, mặc quần áo dân sự, có tên chỉ mặc độc chiếc quần đùi lẩn vào dân chạy trốn.

        Tàn binh ngụy cưỡng ép nhân dân “di tản” theo làm bia đỡ đạn cho chúng tháo chạy. Bộ đội ta đã khôn khéo chia cắt địch ra để diệt, bảo vệ an toàn cho nhân dân. Sư đoàn 320 vừa đuổi diệt địch, vừa cử những bộ phận vào rừng tìm dân chạy lạc. Do địch tuyên truyền xuyên tạc nhân dân hoảng sợ chạy tán loạn. Khi ta tìm được, nhiều gia đình chưa nhận ra, còn van xin sợ hãi. Nhưng trước thái độ chăm sóc ân tình, cưu mang đùm bọc của các chiến sĩ, nhân dân dã nhận rõ sự thật chính nghĩa, trở về quê cũ làm ăn. Bộ đội nhường cơm ăn, nước uống cho nhân dân, tìm gạo, thực phẩm chia cho từng gia đình và hướng dẫn họ trở về làng cũ. Tiêu biểu cho tinh thần dũng cảm, hết lòng vì dân của sư đoàn là tiểi đội trưởng Nguyễn Vi Hợi đại đội 9 trung đoàn 64. Hợi đã diệt 6 xe bọc thép, 20 tên địch, bắt sống 6 xe bọc thép khác và cùng đồng đội bắt 120 tên địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu. Trong công tác vận động nhân dân bị địch cưỡng ép “di tản”, Hợi đã tìm được 200 người dân lạc trong rừng. Anh lấy nước uống, thức ăn cung cấp cho nhân dân, giúp đỡ người già, trẻ em, rồi giải thích chính sách, vận động họ trở về quê cũ, được mọi người cảm phục, tin yêu.

        Ngày 21 tháng 3, các chiến sĩ trung đoàn 64 đuổi kịp lực lượng chạy trước của địch và vây diệt chúng ở Phú Túc. Ngày 22, diệt địch ở Ga Pui, Ngày 23, trung đoàn 64 tiến sát Củng Sơn.

        Bộ tư lệnh Quân khu 5 ra lệnh cho tiểu đoàn 96 và tiểu đoàn 13 bộ đội tỉnh Phú Yên chặn đường rút chạy của địch ở phía đông Củng Sơn.

        Ngày 24 tháng 3, trung đoàn 64 và 2 tiểu đoàn bộ đội tỉnh Phú Yên phối hợp tiến công vào Củng Sơn. Đây là tụ điểm cuối cùng của tàn binh dịch. Lực lượng chúng khoảng 6 nghìn tên đủ các sắc lính và 40 xe tăng, xe thiết giáp. 12 giờ trung đoàn 64 và bộ đội địa phương Phú Yên từ ba mặt tiến công vào Củng Sơn. Trước sức tiến công mạnh mẽ của ta, đội quân ngụy ô hợp rối loạn, chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng bị đập tan. 18 giờ ngày 24 tháng 3, Củng Sơn hoàn toàn giải phóng. Địch chỉ chạy thoát về Tuy Hòa được 11 xe M113 và một bộ phận của liên đoàn 6 biệt động quân.

        Cuộc truy kích thần tốc của sư đoàn 320 trên đường số 7 kết thúc thắng lợi. Ta tiêu diệt gọn tập đoàn rút chạy của quân đoàn 2 ngụy, gồm liên đoàn biệt động quân số 6, 7, 23, 25, các trung đoàn thiết giáp số 3, 19, 21 và 1 tiểu đoàn quân cộng hòa, cùng với phần lớn cơ quan quân đoàn 2, nhân viên kỹ thuật sư đoàn 6 không quân; bắt khoảng 8.000 tên, thu và phá hủy 1.400 xe các loại (có 90 xe tăng, 34 xe M113).

        Giữa lúc sư đoàn 320 đuổi diệt địch trên đường số 7, ngày 18 tháng 3 ở bắc Tây Nguyên, trung đoàn 29 sư đoàn 968 đã cùng với lực lượng địa phương tỉnh Công Tum tiến vào giải phóng thị xã Công Tum.

        Trung đoàn 95A từ đường 19 đông gấp rút hành quân lên cùng với lực lượng tỉnh Gia Lai giải phóng Play Cu, đánh địch chống cự ở căn cứ quân đoàn 2.

        Ngày 19 tháng 3, trung đoàn 19 sư đoàn 968 giải phóng Thanh Bình.

        Ngày 23 tháng 3, sư đoàn 3 Quân khu 5 và 1 tiểu đoàn của trung đoàn 95A giải phóng An Khê.

        Trên đường 21, sư đoàn 10 và trung đoàn 25 đánh chiếm Khánh Dương, diệt và làm tan rã trung đoàn 40 thuộc sư đoàn 22 ngụy và 4 tiểu đoàn bảo an.

        Ở Quảng Đức tiếp giáp với nam Đắc Lắc, ngày 20 tháng 3, các chiến sĩ trung đoàn 271 đánh chiếm Kiến Đức và ngày 24 giải phóng thị xã Gia Nghĩa.

        Thời gian này, bộ đội địa phương và dân quân du kích Gia Lai đánh chiếm và làm chủ đồn bảo an Làng Cổ, Brơ Mái, Dê Mơ-nang, Đê Ngôn, Đê Toan, An Điền, An Định, Cửu An, Ninh Đức, Cu Lang 1, 2, 3, Plây Cu Rõ... và cùng với chủ lực tiếp quân các thị xã, thị trấn, quận lỵ trong tỉnh, ổn định trật: tự, an ninh.

        Ngày 25 tháng 3, toàn bộ Tây Nguyên sạch bóng quân thù.

        Cuộc truy kích của sư đoàn 320 trên đường số 7 có thể nói là cuộc đuối địch lớn nhất trong lích sử chiến tranh Đông Dương tính đến lúc đó. Ta đã đánh bại hoàn toàn âm mưu, ý định co cụm lớn để giữ vững đồng bằng đông dân của Mỹ - ngụy, giáng một đòn hết sức nặng và bất ngờ vào đầu não ngụy quyền trung ương.

        Chiến tjắng Buôn Ma Thuột, Phước An và đường số 7 đã mở ra một thời kỳ suy sụp mới của quân ngụy trên toàn miền Nam. Nó làm rung chuyển dữ dội hệ thống phòng ngự của địch từ nam Quảng Trị đến đồng bằng sông Cửu Long và Sài Gòn - Gia Định, mở đầu bước phát triển mới, nhảy vọt của cách mạng miền Nam.

        Trong bài Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đại thắng mùa xuân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng nhận định: “Thắng lợi Tây Nguyên đánh dấu một bước suy sụp mới của Mỹ - ngụy, một bước ngoặt trong quá trình phát triển của cục diện quân sự chính trị ở miền Nam. Với chiến thắng Tây Nguyên, cuộc chiến tranh cách mạng đã bước sang một giai đoạn mới từ tiến công có ý nghĩa chiến lược phát triển thành Tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam”.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:08:19 AM

5. TIẾN XUỐNG GIẢI PHÓNG CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG NAM TRUNG BỘ

        Trong lúc Tây Nguyên bắt dầu nổ súng đánh Buôn Ma Thuột thì trên chiến trường toàn Miền, quân và dân ta cũng dồn dập tiến công phối hợp. Các lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 5 tiêu diệt địch, giải phóng Tiên Phước, Phước Lâm (Quảng Nam), tiến công và bức địch rút khỏi Sơn Hà, Trà Bồng (Quảng Ngãi). Chương trình “bình định” của địch ở hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi tan vỡ. Ở Trị - Thiên, Quân đoàn 2 mở loạt trận tiến công phía tây nam Huế, đánh chiếm và làm chủ cứ điểm núi Bông, núi Nghệ. Lực lượng vũ trang nhân dân và đồng bào Trị - Thiên tiêu diệt quận lỵ Mai Lãnh và giải phóng 11 phân, chi khu khác ở đồng bằng. Ở Nam Bộ, sư đoàn 7 thuộc Quân đoàn 4 đánh chiếm Định Quán, Hoài Đức, Giá Rai và đang tiến về Lâm Đồng. Lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 7 tiêu diệt chi khu Dầu Tiếng và các vi trí địch ở Bên Củi, Cầu Khởi, suối ông Hùng, ngã ba Đất Sét. Những hoạt động đó buộc địch phải phân tán lực lượng ra đối phó khắp nơi, không phán đoán được hướng tiến công chính của ta. Sau đòn thất bại chiến lược Tây Nguyên, trước sức tiến công của quân và dân Trị - Thiên, địch rút khỏi Quảng Trị và bắt đầu “di tản” Huế. Thừa thắng, Quân đoàn 2 và lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu Trị - Thiên đập tan tuyến phòng thủ vòng ngoài, đánh chiếm cửa Thuận An, Tư Hiền và từ ba mặt tiến vào giải phóng thành phố Huế. Ở Khu 5, sư đoàn 2 tiến công tiêu diệt địch và cùng với lực lượng địa phương giải phóng Tam Kỳ, Tuần Dưỡng. Quân và dân Quảng Ngãi tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi. Đà Nẵng bị bao vây bốn mặt, cô lập vả rối loạn.

        Tương quan lực lượng trên chiến trường về mặt chiến lược lúc này nghiêng hẳn về phía cách mạng miền Nam. Lực lượng chiến lược ngụy suy yếu nghiêm trọng, đột biến và đang tan rã lớn. Khả năng trước mắt của địch không đủ sức phản kích chiếm lại Tây Nguyên, mà chủ yếu co cụm lập phòng tuyến ngăn chặn ta, trọng điểm là khu vực Nha Trang, Cam Ranh để giữ an ninh vùng Sài Gòn - Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long. Địch vội vã rút lực lượng dự bị chiến lược khỏi Trị - Thiên, ném lữ đoàn 3 dù xuống khu vực đèo Ma Đrắc hiểm trở, lập lá chắn ngăn chặn lực lượng ta từ Tây Nguyên tràn xuống đồng bằng. Nhưng âm mưu và thủ đoạn địch diễn ra trong bối cảnh quân chủ lực, địa phương ngụy đang mất tinh thần và tan rã lớn, ngụy quyền trung ương đang hoang mang cực độ, cấu xé lẫn nhau, tiềm lực chiến tranh sút kém. Tháng 3 năm 1975, bộ tổng tham mưu ngụy thú nhận: “Ngân sách điều hành chiến tranh quá yếu kém này ảnh hưởng trầm trọng đến tiềm năng chiến đấu của quân lực Việt Nam cộng hòa, đến tinh thần của binh sĩ... khả năng tự vệ của quân lực Việt Nam cộng hòa sẽ tụt dốc nhanh chóng kể từ đệ nhị tam cá nguyệt tài khóa năm 1975”1.

        Toàn miền Nam địch có 4 quân khu thì quân khu 2 và quân đoàn 2 bị đánh thiệt hại nặng nhất buộc phải rút chạy khỏi địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Đây là điểm rất mới, một bước ngoặt đột biến trong quá trình phát triển của cách mạng miền Nam.

        Bộ đội Tây Nguyên sung sức, bám sát đích. Cán bộ, chiến sĩ phấn chấn, tin tưởng, khí thế thi đua lập công dâng cao. Các đơn vị của ta có kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng binh chủng đánh thành phố, khẩn trương và linh hoạt. Hậu cần ta còn dồi dào, đủ sức bảo đảm cho bộ đội đánh phát triển. Thời tiết đang mùa nắng có nhiều thuận lợi cho việc cơ động bộ đội, vận chuyển.

        Đó là thời cơ mới để ta hoàn thành kế hoạch cả năm 1976. Ngày 21 tháng 3, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ bổ sung chiến dịch Tây Nguyên cho các đơn vị chủ lực Mặt trận: “Tiếp tục phát triển chiến đấu trên 3 trục đường 19, 7, 21, giải phóng Phú Yên, Khánh Hòa , phối hợp với sư đoàn 3 Quân khu 5 giải phóng Bình Định. Mục tiêu chủ yếu là diệt lữ dù 3, trung đoàn 40 ở Khánh Dương, Phượng Hoàng, và tiến xuống chiếm lĩnh Nha Trang, Cam Ranh”2.

        Chấp hành mệnh lệnh. của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên nhanh chóng tổ chức lực lượng phát triển tiến công trên 3 hướng xuống các tỉnh đồng bằng Nam Trung Bộ. Ba cánh quân của ta ở đường 19, đường số 7, đường số 21 như ba dòng thác lớn từ vùng cao nguyên đất đỏ cuồn cuộn đổ về xuôi. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị chưa ai kịp giũ sạch đất, bụi của chiến trường, họ mang theo bộ quân phục còn khét mùi thuốc súng của những trận đánh Buôn Ma Thuột, Phước An, đường 7, đường 19, đuổi địch. Đường độc đạo, hiểm trở, địch lại dùng không quân, pháo binh ngăn chặn ác liệt, nhưng trước sức tiến công như vũ bão, đồn bốt, căn cứ địch liên tiếp tan tác dưới bước chân thần tốc của bộ đội ta.

--------------------------
        1. Trích thư BTTM ngụy gửi BTM liên quân Việt - Mỹ, Tài liệu lưu trữ phòng 2 bộ tham mưu Quân đoàn 3.

        2. Trích nghị quyết Đảng ủy Quân đoàn 3, tháng 6 năm 1975.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:09:00 AM

        Trước tình hình nguy khốn đó, ngày 24 tháng 3, tên Việt gian Nguyễn Văn Thiệu đã gửi công điện thượng khẩn cho các viên tư lệnh quân khu, quân đoàn, tiểu khu, binh chủng phải “tử thủ” những phần đất còn lại tính đến ngày 20 tháng 3. Hai mươi bốn giờ sau, Thiệu lại vội vã gửi bức công điện hỏa tốc thứ hai, y nhấn mạnh “đây là nghiêm lệnh” phải “tử thủ bảo vệ” những phần đất còn lại tính đến cuối ngày 25 tháng 3. Thiệu ngoan cố đến tột đỉnh, nhưng càng ngoan cố, y càng bối rối, cuống cuồng. Vì “nghiêm lệnh” của y không trấn an được tinh thần suy sụp, tan rã của quân ngụy. Phần đất “tử thủ” của quân. ngụy đang rung chuyển dữ dội trong tiếng súng tiến công của quân ta.

        Ngày 29 tháng 3, các chiến sĩ trung đoàn 19 sư đoàn 968 và trung đoàn 95 A tiến xuống Bình Định hợp điểm với sư đoàn 3 Quân khu 5. Dưới sự chỉ huy thực tiếp của Bộ tư lệnh Quân khu 5, sư đoàn 968 cùng với sư đoàn 3 tiến công địch ở khu vực Thủ Thiện, Lai Nghi, Phú Phong, Bình Khê, hỗ trợ đắc lực cho nhân dân Bình Đinh nổi dậy giành quyền làm chủ. Sáng ngày 30, sư đoàn 3 tiếp tục tiến công các cụm quân địch còn lại ở Lai Nghi, Phú Xuân, Phủ Hòa 2 và chốt chặn đường rút lui của địch về Quy Nhơn. Trung đoàn 2 sư đoàn 3 đánh chiếm ga Diêu Trì và sở chỉ huy sư đoàn 22 ngụy ở An Sơn. Phối hợp với sư đoàn 3, các chiến sĩ trung đoàn 19 sư đoàn 968 đánh chiếm núi Trà Lam Sơn (tây Gò Quánh) diệt tiểu đoàn 3 trung đoàn 40 ngụy. Các chiến sĩ trung đoàn 95A đánh dịch ở Phú Phong, lăng Mai Xuân Thưởng.

        9 giờ ngày 31 tháng 3, thị trấn Đập Đá được giải phóng. Các quận ly phía tây tỉnh Bình Định như An Túc, Bình Khê hoàn toàn giải phóng. Các quận lỵ phía bắc Bình Đinh như Tam Quan, Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ cũng lọt vào tay quân ta. Trung tâm huân luyện Phù Cát tháo chạy về Quy Nhơn, nhưng chúng đã bị ta chặn lại tiêu diệt ở Đập Đá.

        Ngày 1 tháng 4, trung đoàn 19 sư đoàn 968 đánh chiếm và làm chủ sân bay Gò Quánh. Trung đoàn 47 ngụy chiếm giữ Gò Quánh bị ta tiêu diệt.

        Qua 3 ngày tiến công, sư đoàn 3, sư đoàn 968 và trung đoàn 95A đã tiêu diệt sư đoàn 22 (thiếu). Đây là sư đoàn chủ lực cuối cùng của quân đoàn 2 ngụy bị xóa sổ.

        Thừa thắng, 13 giờ ngày 31 tháng 3, quân và dân Bình Định tiến công thị xã Quy Nhơn. 16 giở ngày 1 tháng 4, Quy Nhơn được giải phóng.

        Lúc này, các chiến sĩ tiểu đoàn 2 trung đoàn 95A vượt biển đánh chiếm và giải phóng các đảo Hòn Tre, Cù Lao Thu. Tại Cù Lao Thu, địch ngoan cố chống cự, các chiến sĩ tiểu đoàn 2 đã tổ chức đột phá liên tục mới dứt điểm.

        Cánh quân thứ hai của ta sau những ngày truy kích địch trên đường số 7, ngày 28 tháng 3 đã có mặt ở vị trí tạm dừng ở miền tây tỉnh Phú Yên. Đảng bộ và chính quyền các địa phương trong tỉnh đã huy động nhân dân vác đạn, dẫn dường, tiếp tế cơm nước cho bộ đội. Dân quân các xã Phú Nhiêu, Mỹ Thành Đông, Mỹ Thành Tây, Phú Hiệp, Hòa Hiệp, Hòa Bình... đã vác đạn, tải thương, dẫn đường và sát cánh  chiến đấu với bộ đội cho đến khi quân địch hoàn toàn bi tiêu diệt.

        Ngày 31 tháng 3, được dân quân du kích đưa đường, phối hợp chiến đấu, tiểu đoàn 9 trung đoàn 64 tiến công cứ điểm Hòn Một; tiểu đoàn 8 đánh chiếm đoạn đường số 1 từ Phú Khê đến cầu ván Hòa Xuân.

        Lúc này ở phía bắc Phú Yên, dân quân du kích và bộ đội địa phương đánh chiếm cầu Ngân Sơn, cắt đoạn quốc lộ 1 ở Phía nam Tuy An, không cho địch dồn về thị xã, tạo điều kiện cho chủ lực tiến công Tuỵ Hòa.

        Giữa lúc trung đoàn 64 và bộ dội Phú Yên diệt địch ở Hòn Một thì các chiến sĩ trung đoàn 48, trung đoàn 9 khẩn trương triển khai lực lượng tiến công địch ở thị xã Tuy Hòa.

        5 giờ ngày 1 tháng 4, các mũi tiến quân của sư đoàn 320 bắt đầu đánh chiếm Tuy Hòa. Cán bộ, chiến sĩ sư đoàn quyết tâm “vây chặt, đánh nhanh, diệt gọn”. Ngay từ phút đầu nổ súng, sư đoàn 320 đã sử dụng pháo binh, xe tăng đánh trúng căn cứ địch ở núi Nhạn Tháp. Xe tăng trung đoàn 273 nhanh chóng chiếm lĩnh cầu Ông Chủ, chi viện cho trung đoàn 9 tiến vào Tuy Hòa. Sau 45 phút nổ súng, các chiến sĩ tiểu đoàn 4 chiếm Ngã Năm, khống chế đường Trần Hưng Đạo, trung tâm thị xã.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:10:04 AM

        Cùng lúc, ở phía bắc, các chiến sĩ trung đoàn 48 đánh chiếm căn cứ Chóp Chài, phát triển thành hai mũi dọc đường số 1 và ven biển, tiến công sân bay Đông Tác. Một bộ phận trung đoàn 64 vượt sông Đà Rằng đánh vào sân bay phối hợp với trung đoàn 48. 6 giờ 30 phút, trung đoàn 48 đánh chiếm từ cảnh sát, tiểu khu Phú Yên. Từ hướng nam, trung đoàn 64 tiến công quận lỵ Phú Lâm, cầu Bàn Thạch. Tiểu đoàn 96 và đại đội 26 đặc công tỉnh đánh chiếm cứ điểm núi Sầm, Quy Hậu, Phước Khánh. Tiểu đoàn 9 trung đoàn 64 và tiểu đoàn 13 bộ đội địa phương diệt địch ở Hòa Hiệp, tiến về bịt chặt mặt phía đông sân bay.

        Trên các hướng. các mũi tiến công của ta phát triển đều, nhịp nhàng, chặt chẽ, trói chặt dịch trong thi xã. Tàu chiến ngụy bắn đại bác vào thị xã và sân bay cứu nguy cho đồng bọn. Đồng chí Thưởng đại đội trưởng đại đội 9 được giao sử dụng xe tăng M41 của địch đánh Tuy Hòa, đã chỉ huy đơn vị hướng nòng pháo ra biển bắn chìm một tàu chiến địch. Số tàu chiến còn lại phải tháo chạy ra khơi, bỏ mặc đồng bọn.

        9 giờ ngày 1 tháng 4, quân ta hoàn toàn làm chủ các mục tiêu trong thị xã Tuy Hòa.

        Trên biển và khu vực sân bay Đông Tác, cuộc truy kích dịch diễn ra phức tạp và ác liệt. Địch cướp thuyền đánh cá chạy ra khơi lên tàu tẩu thoát. Được bà con ngư dân giúp đỡ, các chiến sĩ sư đoàn 320 dùng thuyền đuổi theo. Tàu chiến địch bắn chặn yểm hộ cho quân của chúng tháo chạy. Mặt biển Tuy Hòa dựng lên từng cột .nước trắng xóa, làm cho những con thuyền của ta nghiêng ngả. Nhưng bộ đội ta vẫn bình tĩnh, chèo thuyền lướt qua tầm đạn giặc va bắn đuổi quân địch. Từ trên bờ súng cối ta bắn chặn, không còn đường thoát, địch phải kéo cờ trắng dầu hàng.

        Ở khu vực sân bay, hàng trăm tên chui rúc trong hầm ngầm, đụn cát lần lượt ra hàng. Tên chuẩn tướng Trần Văn Cẩm tư lệnh phó quân đoàn 2, tư lệnh chiến trường Phú Yên và mấy tên công vụ của y bị các chiến sĩ tiểu đoàn 8 trung đoàn 64 bắt sống dưới hố cát phía đông nam sân bay. Tên đại tá Vi Văn Bình, thanh tra quân đoàn 2 cũng bị các chiến sĩ tiểu đoàn 9 và dân quân địa phương tóm cổ.

        Trận tiến công của sư đoàn 320 kết thúc giòn giã. Toàn bộ lực lượng chủ lực, địa phương ngụy chiếm đóng Phú Yên bị diệt, bị bắt vỡ tan rã.

        Thị xã Tuy Hòa ngày đầu giải phóng đỏ rvc màu cờ và màu hoa phượng vĩ. Nhân dân phấn khởi đổ xô ra hai bên đường hoan hô cách mạng và cùng với các chiến sĩ tiếp tục truy quét bọn tàn binh còn ẩn náu, giữ trật tự trị an trong thi xã.

        Cánh quân thứ 3 của ta do sư đoàn 10, trung đoàn 25 bộ binh, trung đoàn 40 pháo binh, xe tăng trung đoàn 273 sau khi giải phóng Khánh Dương, tiến đánh lữ dù 3 ở đèo Phượng Hoàng, mở đường xuống giải phóng Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh.

        Lữ đoàn dù số 3 ngụy chiếm lĩnh đèo Phượng Hoàng cùng với bọn bảo an hình thành các nút chặn liên tục về đến Dục Mỹ. Chúng định biến khu vực đèo Phượng Hoàng thành cánh cửa thép bịt chặt đường tiến quân của ta xuống Nha Trang. Quân dù đã dùng “chiến thuật di tản”, lấy đại đội làm đơn vị đóng chốt và dùng pháo binh ngăn chặn. Với “chiến thuật di tản”,  quân dù hy vọng sẽ tiêu hao dược đối phương mà chúng thì không bị tiêu diệt lớn, bảo tồn được lực lượng cơ động chiến lược. Trong suốt ngày 29 và 30 tháng 3, rừng núi đèo Phượng Hoàng rung chuyển trong tiếng gầm của đại bác. Và, trên đoạn đường 21 từ Khánh Dương đến Phượng Hoàng, máy bay địch ném bom, bắn phá ác liệt.

        Sư đoàn 10, trung đoàn 25, trung đoàn 40 và xe tăng trung đoàn 273 đã mưu trí vượt qua tầm đạn giặc ngăn chặn, tiến xuống áp sát khu vực đèo Ma Đrắc (Phượng Hoàng).

        Để tiêu diệt lữ dù, đập tan lá chắn phía tây Ninh Hòa của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch chỉ đạo cách đánh cho sư đoàn 10 là tranh thủ chuẩn bị tốt, tổ chức diệt pháo binh, phá thế dựa của quân dù, rồi tập trung lực lượng bộ binh, xe tăng đột kích diệt từng tiểu đoàn địch ở phía trước, đồng thời cơ động một lực lượng luồn phía sau, cắt ra từng cụm không cho chúng ứng cứu.

        Thời gian chuẩn bị gấp rút, trung đoàn 40 pháo binh không kịp đào công sự đã đặt pháo ngay trên đường, nổ súng tiêu diệt 12 khẩu đại bác trong số 24 khẩu của quân dù. Hỏa lực pháo binh địch yếu hẳn, không đủ sức che chở cho bọn bộ binh. Bộ binh và xe tăng ta với lối đánh gom, liên tiếp vây diệt từng đại đội địch. Quân dù không dựa được vào hỏa lực pháo bình, lại bị ta tiến công diệt từng đơn vị, chúng toan cụm lại chống đỡ. Nhưng lúc này đội hình của chúng đã bị chia cắt không còn cách nào cụm lại được. Tình thần sĩ quan binh lính dù bắt đầu dao động, hoảng loạn.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:11:39 AM

        Ngày 1 tháng 4, giữa lúc sư đoàn 320 giải phóng thị xã Tuy Hòa, thì tại khu vực đèo Phượng Hoàng, các chiến sĩ sư đoàn 10, trung đoàn 25 và xe tăng ta mở đợt tiến công vào toàn bộ các cụm quân của lữ dù 3. Nhờ vây chặt, hiệp đồng chặt chẽ, sau hai giờ chiến đấu, ta tiêu diệt gọn lữ dù 3 ngụy. Cánh cửa “thép” Phượng Hoàng (Ma Đrắc) - phòng tuyến phía tây Ninh Hòa bị đập tan. Bộ đội ta tràn xuống giải phóng thi trấn Ninh Hòa.

        Hồi 10 giờ 30 phút ngày 1 tháng 4, được tin tuyến phòng thủ đường 21 của lữ dù 3 ở đèo Ma Đrắc bị vỡ, 17 khẩu đại bác bị phá hủy, lữ dù bị diệt, tên Phạm Văn Phú liền triệu tập cuộc họp khẩn cấp tại bộ tư lệnh quân đoàn 2 bàn biện pháp đối phó. Nhưng chỉ sau cuộc họp một tiếng đồng hồ, Phạm Văn Phú lại được cấp báo Dục Mỹ, Nính Hòa bị quân ta tràn ngập, Tuy Hòa mất liên lạc, y run cầm cập, chuồn về Phan Rang. Lực lượng địch ở Khánh Hòa hỗn loạn. Chúng ra lệnh thiết quân luật 24 trên 24. Những tên sĩ quan chiến tranh chính trị phóng xe đi loan báo lệnh giới nghiêm. Nhưng bọn lính đồn trú địa phương đã bỏ trốn về nhà lo “di tản” vợ con. Trung tâm huấn luyện Lam Sơn, trường biệt động quân, trường hạ sĩ quan Đồng Đế và cảnh sát bỏ chạy. Nhân viên hành chính các ty rời khỏi nhiệm sở. Tàn binh địch từ các nơi ùn ùn đổ về bến xe Nha Trang, bắn loạn xạ cướp phương tiện chạy về Cam Ranh. Quân lỉnh, nhân viên ngụy quyền, gia đình thân tín của chính quyền Sài Gòn tràn vào sân bay Nha Trang cướp máy bay “di tản”. Tên Lượng, tư lệnh sư đoàn 5 không quân ra lệnh đóng cửa sân bay Nha Trang. Hàng nghìn người ùn đống, đường sá chật ních,

        Giữa lúc hỗn loạn đó, ngày 2 tháng 4, sư đoàn 10 và xe tăng trung đoàn 273 tiến vào giải phóng thành phố Nha Trang. Những ổ đề kháng cuối cùng của địch cài lại ở khu vực đèo Rù Rì, Đồng Đế, sở chỉ huy quân đoàn 2 nổ súng chống cự, bị ta tiêu diệt. Bọn tân quân, ác ôn, lưu manh lẩn trốn trong thành phố bị ta tóm gọn. Nha Trang trở lại trật tự, yên tĩnh. Thừa thắng, ngày 3 tháng 4, sư đoàn 10 theo quốc lộ 1 tiến về giải phóng Cam Ranh. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra ác liệt. Đích dùng không quân ném bom chặn đường, các ổ đề kháng ở những nơi xung yếu phản kích lại quân ta. Nhưng trước sức tiến công vũ bão của bộ đội ta và sức vùng dậy của quần chúng, bọn địch ở Cam Ranh nhanh chóng bị tiêu diệt. Sư đoàn 10 và xe tăng ta tiến vào quân cảng Cam Ranh.

        Toàn tỉnh Khánh Hòa giải phóng đỏ rực cờ sao. Trung đoàn 25 tiếp tục phát triển theo quốc lộ 1 tiến vào Phan Rang, đánh chiếm và lâm chủ sân bay Thành Sơn.

        Chiến dịch Tây Nguyên kết thúc toàn thắng.

*

*     *

        30 ngày đêm thức trọn cùng đất nước, cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên đã vượt qua muôn vàn gian khổ, ác liệt, đấu trí và đấu lực quyết liệt với kẻ thù, tiến công liên tục truy kích thần tốc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương giao cho. Lực lượng chủ lực Tây Nguyên đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng các tỉnh và nhân dân, kết hợp giữa tiến công và nổi dậy đã tiêu diệt và làm tan rã quân đoàn 2, quân khu 2 và một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược ngụy. Tiêu diệt sư đoàn 23, lữ du 3, trung đoàn 40 thuộc sư đoàn 22, tiêu diệt 8 liên đoàn biệt động quân, 1 liên đoàn công binh, 4 trung đoàn thiết giáp, 10 tiểu đoàn pháo binh; đánh thiệt hại nặng sư đoàn 6 không quân. Tiêu diệt, làm tan rã 7 tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn, 51 đại đội bảo an và toàn bộ lực lượng cảnh sát dân vệ, phòng vệ dân sự trong 7 tỉnh. Thu và phá hủy toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật, kho tàng ở Tây Nguyên và hai tỉnh đồng bằng.

        Toàn bộ Tây Nguyên gồm các tỉnh Công Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bồn, Quảng Đức và hai tỉnh đồng bằng Phú Yên, Khánh Hòa, thành phố Nha Trang và cảng Cam Ranh được hoàn toàn giải phóng. Các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên còn góp phần giải phóng tỉnh Bình Định.

        Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên và bước phát triển của nó đã chứng minh sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta. Trong suốt quá trình chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã đề ra đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, đề ra phương pháp tiến hành chiến tranh cách mạng phù hợp với quy luật tiến lên của lịch sử, nên đã đưa cách mạng đi đến thắng lợi huy hoàng

        Dự kiến sự phát triển tình hình một cách khoa học và nắm vững thời cơ cách mạng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 và chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chính trong giai đoạn đầu cuộc Tổng tiến công là thể hiện sự chỉ đạo chiến lược tài tình, chuẩn xác. Từ sự chỉ đạo chiến lược tài tình đó, Bộ Chính trị Quân ủy Trung ương nắm vững thời cơ, quyết định tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy bắt đầu từ tháng 3 năm 1975 và luôn luôn tạo ra những thời cơ mới để phát triển cuộc tiến công giành thắng lợi nhanh, gọn, có ý nghĩa chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:12:00 AM

        Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên biểu hiện tập trung và sinh động sự vận dụng nghệ thuật quân sự của Đảng một cách sáng tạo, đầy mưu lược của đại diện Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên trong quá trình tiến hành chiến dịch.

        Cụ thể là đã chọn mục tiêu và hướng tiến công chính xác sử dụng lực lượng hợp lý và khoa học. Trong khi tập trung lực lượng chủ yếu vào mục tiêu then chốt, Bộ tư lệnh chiến dịch đã sử dụng một lực lượng vừa đủ ở các hướng phối hợp để đánh căng địch ra, buộc chúng phải phân tán lực lượng. Trên chiến trường Tây Nguyên, ta chỉ có ưu thế lực lượng tương đối so với địch, nhưng ở hướng chủ yếu, ở khu vực trọng điểm như Buôn Ma Thuột, ta đã chiếm ưu thế tuyệt đối hơn địch. Chỗ giỏi của ta là biết phân tán dịch ra thành hai khối ở hai đầu để tập trung ưu thế lớn vào nơi quyết định, đánh vào Buôn Ma Thuột, đồng thời kèm chặt quân địch ở Plây Cu.

        Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên còn vận dụng sắc sảo nghệ thuật nghi binh, điều khiển địch, đánh lạc hướng sự chú ý của chúng vào hướng chính và có cách đánh thích hợp. Nhờ nghệ thuật nghi binh chiến dịch thành công, nên khi chiến dịch mở màn, địch hoàn toàn bị bất ngờ, bất ngờ cả quy mô tiến công và cường độ các trận đánh, bất ngờ cả thời gian và không gian diễn ra cuộc tiến công.

        Về cách đánh, nắm vững đặc điểm địa hình, cách bố trí lực lượng, khả năng của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch đã sử dụng cách đánh chia cắt tập đoàn phòng ngự địch ở Tây Nguyên với đồng bằng, chủ yếu cắt các cụm phòng ngự Công Tum, Plây Cu với Buôn Ma Thuột, trói chặt địch ở Buôn Ma Thuột và tiêu diệt gọn quân địch, giải phóng thị xã quan trọng này bằng đòn đột kích mạnh của binh chùng hợp thành. Do đó lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã phát huy được sức mạnh của binh chủng hợp thành, tạo được thế trận hiểm, áp đảo địch ngay từ trận mở màn cho đến khi kết thúc chiến dịch.

        Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng còn là sự kết tinh những truyền thống anh hùng, phẩm chất cách mạng trong sáng của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã được tôi luyện từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và phát triển cao trong những năm đánh Mỹ, diệt ngụy gian khổ, ác liệt ở chiến trường. Cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên đã biết phát huy cao độ những truyền thống, phẩm chất đó trong các thời cơ lịch sử, trong các tình huống phức tạp nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh hiệp đồng. đoàn kết, gắn bó. giữa các binh chủng, luôn luôn sáng tạo trong cách đánh, kiên quyết và chủ động, cơ động, linh hoạt, mưu trí, dũng cảm tuyệt vời.

        Chiến thắng Tây Nguyên tháng 3 năm 1975 còn là thắng lợi của những năm tháng cả nước tích lũy, dồn sức cho chiến dịch. Hậu phương lớn anh hừng đã vì tiền tuyến “ lúa không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Tiền tuyến lớn miền Nam cùng ra trận chung sức đánh giặc, chia sẻ ác liệt với Tây Nguyên. Đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên bất khuất, Khu 5 anh dũng đã trực tiếp đóng góp sức người, sức của, động viên, có vũ và kề vai chiến đấu với bộ đội, góp phần thuận lợi đưa cuộc tiến công chiến lược đến toàn thắng.

        Chiến thắng huy hoàng của chiến dịch Tây Nguyên xứng đáng với lời khen ngợi và đánh giá của Quân ủy Trung ương ngày 30 tháng 3 năm 1975: “Mở đầu hoạt động mùa khô năm nay, các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã cùng đồng bào các dân tộc tiến công và nổi dậy giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược rất to lớn. Các đồng chí đã chiến đấu anh dũng, mưu trí, sáng tạo tiến công mạnh, phát triển nhanh, làm cho địch bất ngờ hoàn toàn, trở tay không kịp”... “Quân và dân cả nước ta vô cùng phấn khởi trước thắng lợi rực rỡ của quân và dân Tây Nguyên. Quân ủy Trung ương nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã lập nên chiến công xuất sắc và tuyên dương công trạng của các đồng chí trong toàn quân”.

        Quốc hội và Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên và các sư đoàn 10, 320, 316. Các trung đoàn bộ binh, binh chủng tham gia chiến dịch và sư đoàn 968 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhì. Quốc hội và Chính phủ dã tặng thưởng hàng trăm Huân chương Quân công hạng 3 và Chiến công hạng nhất, hạng nhì, hạng ba cho các đơn vị và cá nhân lập được thành tích xuất sắc.

        Sự khen ngợi, cổ vũ của Quốc hội, Đảng và Chính phủ đã tăng sức mạnh cho đôi chân thần tốc của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trên con đường vào chiến dịch mang tên Bác kính yêu.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:13:49 AM

Chương mười

THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ


1. ĐƯỜNG VÀO CHIẾN DỊCH MANG TÊN BÁC

        Sau hai đòn chiến lược Tây Nguyên, Huế, ta giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi, bao vây cô lập Đà Nẵng. Tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở quân khu 1 bị đập nát và cắt rời. Ở quân khu 2 địch mất địa bàn chiến lược Tây Nguyên, lực lượng quân đoàn 2 và quân khu 2 bị tiêu diệt và tan rã lớn. Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đang tiến về cùng với quân và dân địa phương giải phóng các tỉnh đồng bằng Nam Trung Bộ. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam đang bước vào giai đoạn quyết định. Giữa lúc đó quân đoàn 3 được thành lập theo quyết định số 54/QP-QĐ ngày 26 tháng 3 năm 1975 của Bộ Quốc phòng, lấy phiên hiệu là B3. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới về chất của khối chủ lực Tây Nguyên.

        Ngày 27 tháng 3, tại sở chỉ huy chiến dịch phía tây Thuần Mẫn, Đại tướng Văn Tiến Dũng công bố quyết định trên. Đồng chí Vũ Lăng được cử làm Tư lệnh Quân đoàn, đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy. Các đồng chí Nguyễn Năng, Kim Tuấn làm Phó tư lệnh, đồng chí Phí Triệu Hàm làm Phó chính ủy. Ba cơ quan Mặt trận Tây Nguyên cũ chuyển thành cơ quan bộ tham mưu, cục chính trị, cục hậu cần Quân đoàn. Cùng ngày này, Bộ Chính trị quyết định thành lập đảng bộ Quân đoàn 3 đặt dưới sự lãnh dạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương về mọi mặt.

        Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên bước sang chương mới.

        Tuy mới thành lập, nhưng các đơn vị trong Quân đoàn đã có lịch sử và truyền thống vẻ vang trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và 11 năm đánh Mỹ oanh liệt của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị dã từng cùng với đảng bộ và đồng bào Tây Nguyên đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, vượt qua gian nan, ác liệt, sát cánh bên nhau chiến đấu lập nên những thành tích xuất sắc, những chiến công bất diệt. Những năm dành Mỹ, diệt ngụy ở chiến trường, lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên luôn luôn kiên trì xây dựng tư tưởng đánh tiêu diệt và tác chiến hiệp đồng binh chủng lớn. Do đó, đứng trước yêu cầu của cách mạng, trước nhiệm vụ và thời cơ lịch sử, Quân đoàn đã nhanh chóng hòa cùng dội ngũ trùng điệp của cả nước đi vào chiến dịch mang tên Bác.

        Thế tiến công của cách mạng như chẻ tre. Tây Nguyên và Huế vừa giải phóng đã tiếp đến Đà Nẵng và các tỉnh Nam Trung Bộ sạch bóng quân thù. Địch có bốn quân khu, bốn quân đoàn thì lực lượng quân sự ở hai quân khu và hai quân đoàn đã bi tiêu diệt và tan rã. Phần đất miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 đến Phan Rang được hoàn toàn giải phóng liền một dải.

        Bọn tàn quân thua trận chạy dồn về Sài Gòn mang theo tâm trạng bi quan, sợ hãi, làm cho bọn tướng, tá ngụy thêm hốt hoảng. Ở quân khu 3 và vùng đồng bằng sông Cửu Long, thế chiếm đóng của địch bị mất dần. Vành đai phòng thủ trọng yếu Sài Gòn - Gia Định bị quân và dân Nam Bộ chặt đứt từng mắt xích. Hạ tầng cơ sở của địch bị tan rã từng mảng. Sự diệt vong của chế độ Sài Gòn chỉ còn tính được từng ngày, từng tháng.

        Trong tình cảnh bối rối, điên đảo đó, bọn cầm đầu ngụy quân, ngụy quyền Sài Còn nảy ra những cuồng vọng đen tối, những mưu đồ xảo quyệt. Nguyễn Văn Thiệu gào thét “tử thủ” phần đất còn lại. Được quan thầy Mỹ an ủi, khích lệ và tiếp sức, địch toan co cụm chiến lược lớn, tập trung lực lượng bảo vệ Sài Gòn - Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long để tạo một thế tương đối mạnh hòng đi đến một giải pháp chính trị với ta. Tổng thống Pho cử tướng Uây-en tham mưu trưởng lục quân Mỹ vội vã đến Sài Gòn, vạch kế hoạch phòng thủ và lập cầu hàng không chở hàng quân sự khẩn cấp tăng viện cho quân ngụy. Những chiếc máy bay vận tải cỡ lớn C5 Ga-ia-xi chở hàng trăm khẩu pháo hạng nặng từ Mỹ đáp xuổng sân bay Tân Sơn Nhất. Những tàu vận tải LST, tàu sân bay Hen-cốc cùng bọn lính thủy đánh bộ Mỹ rập rình ngoài biển Đông. Địch cho rằng ta chưa đủ sức đánh Sài Gòn ngay, vì phải lo củng cố thắng lợi. Đế quốc Mỹ và bọn tay sai đến giờ hấp hổi vẫn nhìn hiện thực theo lăng kính chủ quan của giai cấp tư sản. Chúng không thể hiểu nổi sức mạnh to lớn của cách mạng. Do đó, chúng ngoan cố, liều lĩnh cho đến khi hoàn toàn sụp đổ.

        Sau những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, khí thế giải phóng miền Nam của quân và dân ta đang dâng lên mạnh mẽ. Lực lượng quân sự, chính trị của ta dồi dào và sung sức. Thế và lực của cách mạng miền Nam đang phát triển theo cấp số nhân. Ta đã tạo ra được một thời cơ chiến lược mới rất thuận lợi để giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng miền Nam.

        Ngày 31 tháng 3, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp thảo luận về tình hình miền Nam, đã kết luận: “Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chín muồi. Tử giờ phút này trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta bắt đầu, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc.

        Cách mạng nước ta đang phát triển sôi nổi nhất với nhịp độ một ngày bằng 20 năm. Vì vậy Bộ Chính tri quyết định nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược với tư tưởng thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn: thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4, không thể để chậm”1.

--------------------------
        1. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa Xuân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 197t, tr. 163.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:14:19 AM

        Chấp hành chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị, từ năm hướng, quân ta rầm rập tiến về bao vây sào huyệt đầu não cuối cùng của địch ở Sài Gòn - Gia Định.

        Quân đoàn 4 sau khi giải phóng Lâm Đồng, Di Linh đã chuyển lực lượng về phía đông, tiến công vào sư đoàn 18 ngụy ở Xuân Lộc.

        Quân đoàn 2 và sư đoàn 3 Quân khu 5 từ phía đông nam Sài Gòn đang tiến về Long Thành, Bà Rịa, Nước Trong, Vũng Tàu.

        Ở phía tây và tây nam, Quân khu 8, Quân khu 9 mở rộng hoạt động ở Long An, áp sát lực lượng ra đến đường số 4, chuẩn bị cắt đứt con đường huyết mạch của địch từ Sài Gòn chạy về đồng bằng sông Cửu Long. Đoàn 232 dang tiến sát tuyến phòng thủ sông Vàm Cỏ Đông và Hậu Nghĩa.

        Ở phía bắc, Quân đoàn 1 theo quốc lộ 1 đang tiến vào khu vực tập kết ở phía nam tỉnh Sông Bé.

        Quân đoàn 3 chỉ sau hơn 10 ngày thành lập, đã được vinh dự nhận nhiệm vụ tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Ngày 4 tháng 4, sư đoàn 316 và bộ phận cán bộ đi chuẩn bị bắt đầu hành quân vào Đồng Xoài.

        Sư đoàn 320 đang củng cố thắng lợi ở Tuy Hỏa được lệnh quay trở lại đường số 7, rồi theo đường 14 hành quân qua Đức Lập, Bu Brăng, Bình Long vào miền Đông Nam Bộ. Sư đoàn 10 đang truy quét địch ở Nha Trang, Cam Ranh theo đường liên tỉnh số 2 nối với đường 20, vào tây bắc Sài Gòn.

        Đoàn 559 và hậu căn Quân đoàn huy động gần 3.000 chuyến xe chở bộ đội và binh khí kỹ thuật vào miền. Đông Nam Bộ. Lần đầu tiên, Quân đoàn tiến hành cuộc hành quân cơ giới đường dài, nhiều ngả, nhiều hướng phức tạp. Việc tổ chức cung trạm, tuyến tạm dừng và sửa chữa dọc đường, bảo đảm đội hình đến gọn từng ngày phải được tính toán hết sức khoa học. Tính ra, sư đoàn 10, sư đoàn 320 và các trung đoàn xe tăng, cao xạ, công binh phải cơ động trên một nghìn ki-lô-mét, từ Tây Nguyên đuổi địch xuống đồng bằng rồi lại từ đồng bằng. ngược Trường Sơn để vào Sài Gòn. Nhưng mọi cán bộ, chiến sĩ đều phấn khởi, tin tưởng, vì không có niềm vui nào bằng được tham gia trận chiến đấu cuối cùng mang tên Bác, thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng. Những đồng chí thương binh, những chiến sĩ bị ốm đang nằm điều trị ở các trạm xá, bệnh viện cũng xin trở về đơn vị đi chiến đấu. Không một ai chịu ở lại phía sau trông coi đồ đạc, kho tàng. Có thể nói, trước thời cơ đất nước chuyển mình, ốm đau, bệnh tật đã tan biến, chỉ còn lại trong mỗi người cái sức bật vươn tới của tuổi trẻ.

        Đường hành quân cửa Quân đoàn có đèo cao dốc đứng, rừng núi bạt ngàn của Trường Sơn hùng vĩ, có cao su, cà phê xanh biếc, lại có ruộng đồng thẳng cánh cò bay và cả những vùng đầm lầy cát trắng. Hàng nghìn xe ô tô các loại xe xích, xe công trình, xe tăng và thiết giáp chở bộ đội, kéo pháo, rầm rập ngày đêm nhằm hướng nam thẳng tiến. Vào gần đến vị trí tập kết, đường sá như mạng nhện, vô số những ngã ba, ngã năm. Đường công binh mới mở đan chéo qua đường cũ; đường chạy qua đồng hoang, đường len vào các xóm, các trảng chi chít. Ở những nơi nhiều lối rẽ, hàng chục tấm biển chỉ đường A300, A80, A60, A2300, v.v. cắm chồng lên nhau. Những chiến sĩ làm nhiệm vụ chỉ đường có mặt thường xuyên để hướng dẫn cho từng đoàn xe qua.

        Bộ đội đang hành quân, các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân đoàn được triệu tập đến sở chỏ huy chiến dịch Hồ Chí Minh ở phía tây thị trấn Lộc Ninh nhận nhiệm vụ.

        Nhiệm vụ Bộ giao cho Quân đoàn lần này hết sức nặng nề, nhưng vô cùng vẻ vang: Với lực lượng trong biên chế, có pháo chiến dịch chi viện, Quân đoàn đảm nhiệm một hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch từ phía lây bắc vào Sài Gòn. Dùng lực lượng cỡ sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường tiến công tiêu diệt căn cứ Đồng Dù, thực hiện chia cắt tuyến phòng thủ Đồng Dù, Tân Quy, Củ Chi, Trảng Bàng, bao vây tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy không cho co cụm về Sài Gòn. Tổ chức lực lượng đột kích mạnh binh chủng hợp thành thọc thẳng vào Sài Gòn, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, hợp đồng với đơn vị bạn đánh chiếm bộ tổng tham mưu ngụy, làm chủ quận 3, phát triển tiến công hiệp đồng với đơn vị bạn đánh chiếm “dinh Độc Lập”, biệt khu thủ đô, giải phóng quận 1, quận 10. Đồng thời có nhiệm vụ giữ vững các khu vực mục tiêu phụ trách, bảo vệ kho tàng và ổn định trật tự, an ninh thành phố.

        Trên hướng tiến công của Quân đoàn, lực lượng địch khá mạnh, gồm sư đoàn 25, liên đoàn biệt động quân số 9 và 32, liên đoàn 6 công binh, khoảng 2 vạn tên của trung tâm huấn luyện Quang Trung, trung đoàn thiết giáp số 10, lữ đoàn nhảy dù số 4, 20 tiểu đoàn bảo an ở Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Bình Dương, Gia Định và lực lượng pháo binh 86 khẩu đại bác cỡ từ 105 đến 175 mi-li-mét. Sân bay Tân Sơn Nhất có sư đoàn 5 không quân, bộ tư lệnh dù, bộ tư lệnh không quân, bộ tư lệnh thiết giáp ngụy. Chiều sâu phòng ngự của địch trên hướng tiến công của Quân đoàn khoảng 100 ki-lô-mét.

        Ngày 14 và 15 tháng 4, Bộ tư lệnh Quân đoàn giao nhiệm vụ chính thức cho sư đoàn 316, sư đoàn 320 và các binh chủng. Các đồng chí trong bộ tư lệnh sư đoàn 320, 316 và cán bộ binh chủng nhận nhiệm vụ xong đều phấn khởi. Mặc dù nhiệm sự rất nặng nề, phức tạp, khó khăn, nhưng các đồng chí rất tin tưởng và hứa quyết tâm trước Bộ tư lệnh Quân đoàn chấp hành nghiêm chỉnh mọi mệnh lệnh hiệp đồng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:14:39 AM

        Sư đoàn 10 vẫn còn đang hành quân dọc đường. Các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn và cơ quan rất lo lắng dõi theo từng bước đi của sư đoàn 10. Đường hành quân của đơn vị còn dài, dọc đường 20 địch lại đánh phá ác liệt, nhiều cầu cống hư hỏng nặng. Trung đoàn 7 công binh và sư đoàn 10 phải vừa đánh địch. sửa đường, bắc cầu, vừa hành quân.

        Bộ tư lệnh Quân đoàn lệnh cho hậu cần tập trung thêm xe, nhanh chóng xuống chở sư đoàn 10 và đề nghị với sở chỉ huy chiến dịch chi viện thêm phương tiện để đưa sư đoàn đến vị trí tập kết đúng quy định. Bộ đội đang hành quân, nhưng các đồng chí thủ trưởng Sư đoàn 10 đã tranh thủ vượt lên trước về Quân đoàn nhận nhiệm vụ.

        Công binh trung đoàn 7 và trung đoàn 575 sau khi bảo đảm đường cơ động cho sư đoàn 320, sư đoàn 10 và các đơn vị binh chủng kỹ thuật cũng có mặt đầy đủ ở Minh Thanh, Dầu Tiếng.

        Thời gian còn lại cho công tác chuẩn bị rất ngắn. Chiến dịch đang thúc giục khẩn trương. Trung đoàn 7 công binh vừa sửa xong đường 30 từ ngã ba An Phú về Minh Thanh và triển khai các trạm đón bộ dội, thì máy bay địch đánh phá khu vực Dầu Tiếng. Bộ tư lệnh Quân đoàn ra lệnh phải nhanh chóng đưa binh khí kỹ thuật sang tập kết phía tây sông Sài Gòn, đề phòng không quân địch khống chế bến sông.

        Trung đoàn 7 gấp rút mở trục đường từ Minh Thanh đi Dầu Tiếng và hệ thống đường bờ tây sông Sài Gòn, bắc phà Bến Củi, Bến Tranh. Trung đoàn 575 đảm nhiệm hai trục đường Dầu Tiếng đi Bến Tranh và Dầu Tiếng - Bến Súc.

        Nếu ở Tây Nguyên, công binh phải san hàng nghìn mét khối đất đá trên những đoạn đường đèo, làm hàng chục bến vượt, ngầm trong rừng sâu hiểm trở, thì ở đây địa hình trống trải, khó giấu quân và giữ bí mật, nhiều nơi chưa xác định được tuyến, không có bản đồ để đối chiếu với thực địa. Cán bộ, chiến sĩ phải dựa vào trục đường cũ xác định hướng, bi mật phân chia từng đoạn để trinh sát đánh dấu tuyến, rồi mới nối lại thành mạng đường. Với kinh nghiệm trong những năm mở đường Trường Sơn, các chiến sĩ công binh đã vượt qua khó khăn, khai thông mạng đường sá cơ động sang phía tây sông Sài Gòn đúng thời gian quy định. 20 giờ ngày 20 tháng 4, đại đội 11 ghép xong phà 50 tấn qua Bến Củi. 2 giờ sau, đại đội 5 cũng hoàn thành chiếc phà thứ hai qua Bến Tranh.

        20 giờ ngày 21 tháng 4, Bộ tư lệnh Quân đoàn lệnh cho các đơn vị xe tăng, pháo binh, cao xạ vượt sang phía tây sông Sài Gòn, bí mật tiến vào vị trí tập kết, đề phòng địch đánh phá cầu.

        Ngày 22 tháng 4, công binh tiếp tục mở đường cơ động cho mũi thọc sâu của sư đoàn 10.

        Công binh các sư đoàn, trung đoàn cũng dồn sức gấp rút làm các tuyến đường chiến đấu trên các hướng.

        Hệ thống đường sá vào Sài Gòn đến ngày 27 tháng 4, cơ bản đã thông. Trục đường 4 do trung đoàn 575 đảm nhiệm đã thông với đường số 7. Trục dọc 5, do trung đoàn 7 phụ trách gồm hai nhánh 71, 72 sẵn sàng đón binh đoàn thọc sâu.

        Sư đoàn 10 trải qua những ngày đêm vất vả cùng xe pháo trên những con dường gồ ghề, khúc khuỷu của đất Bảo Lộc, Bình Long, ngày 25 tháng 4 đã về đến vị trí tạm dừng ở Dầu Tiếng an toàn.

        Ngày 26 tháng 4, trung đoàn 29 thông tin cũng bắc xong các đường dây liên lạc từ Quân đoàn đến các đơn vị và đường dây vu hồi.

        Trong những ngày này, nhà in Quân đoàn gấp rút in những khẩu hiệu cổ động, những sơ đồ thành phố Sài Gòn thu nhỏ để kịp phát cho các đơn vị.

        Chiến dịch tiến dần đến ngày nổ súng. Thời gian chỉ còn tính từng ngày một. Toàn quân đoàn khẩn trương hoàn thành mọi công việc chuẩn bị. Các đơn vị pháo mặt đất, cao xạ, xe tăng lần lượt vàn chiếm lĩnh trận địa. Sở chỉ huy Quân đoàn và các đơn vị bộ binh rời khỏi Dầu Tiếng tiến về Củ Chi, Trảng Bàng triển khai thế trận, sẵn sàng nổ súng.

        Nhân dân Củ Chi đất thép, Trảng Bàng kiên cường bao năm bền gan chiến đấu, đã từng chịu bao nỗi đắng cay trước những cuộc càn quét và bom đạn của kẻ thù, giờ đây chung sức cùng bộ đội đi giải phóng Sài Gòn, giải phóng quê hương. Đồng bào giúp bộ đội đào hầm cho pháo, xây dựng trận địa, chặt cây ngụy trang công sự. Suốt trong những ngày nổ súng, bất chấp những trận phản pháo ác liệt của địch, anh chị em thanh niên, phụ nữ và các mẹ đều thay nhau thức cùng bộ đội sửa lại công sự bị sụt lở, bổ sung thêm lá ngụy trang trận địa và nấu nước tiếp tế cho bộ đội. Đêm 28 tháng 4, nhiều thanh niên gái, trai đã tự động thường trực ở Xa Nhỏ, Đồng Lớn và ngã tư Bầu Ràng chỉ đường cho binh đoàn thọc sâu và các đơn vị tiến vào Sài Gòn. Thành ủy và thành đội Sài Gòn - Gia Định cử những đoàn cản bộ, những tổ chiến sĩ biệt động ra tận vi trí tập kết của Quân đoàn dẫn các đơn vị tiến công vào các mục tiêu dịch. Trong những ngày sôi động này, sự có mặt của nhân dân và cán bộ cơ sở chiến sĩ biệt động Củ Chi, Trảng Bàng, Sài Gòn - Gia Định bên cạnh Quân đoàn, cùng chia sẻ ác liệt kề vai chiến đấu, động viên bộ đội là nguồn cổ vũ lớn lao tiếp thêm sức mạnh cho Quân đoàn hoàn thành nhiệm vụ. Đó là một trong những nhân tố quan trọng góp phần cho Quân đoàn tạo nên thế trận vây cắt, tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy trong tuyến phòng thủ tây bắc Sài Gòn, đánh chiếm Tân Sơn Nhất, bộ tổng tham mưu ngụy.

        Sài Gòn, thành phố Bác Hồ ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước, chỉ còn cách khoảng 50 ki-lô-mét nữa. Bộ đội ta đến về Sài Gòn lần này bằng lực lượng hùng mạnh chưa từng có. Cán bộ, chiến sĩ trong Quân đoàn nguyện mang hết tâm lực của mình cùng với quân và dân cả nước giành toàn thắng cho trận quyết chiến lịch sử.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:16:01 AM

2. ĐẬP TAN TUYẾN PHÒNG THỦ TÂY BẮC SÀI GÒN

        Để chia cắt và tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy, không cho chúng co cụm về Đồng Dù, Hóc Môn giữ cửa ngõ vào Sài Gòn, Bộ tư lệnh Quân đoàn chủ trượng dùng trung đoàn 174 thuộc sư đoàn 316 kết hợp với lực lượng địa phương Tây Ninh, vây diệt trung đoàn 49 ngụy đóng ở phía nam Tây Ninh và cắt con đường số 1 và đường 22. Đồng thời tổ chức pháo binh tiến công diệt các trận địa pháo địch, phá thế dựa của sư đoàn 25, tạo điều kiện cho các đơn vị của ta luồn sâu, cài thế.

        Ngày 20 tháng 4, trung đoàn 174 được bộ đội địa phương và dân quân du kích Tây Ninh dẫn đường, phối hợp chiến đấu, bất ngờ đánh chiếm và làm chủ đoạn đường 7 ki-lô-mét từ cầu Cẩm An đến bến Mương. Trung đoàn 49 ngụy đóng ở Tây Ninh, Bến Kéo, Cẩm Giàng, Trà Võ bị cắt rời và cô lập khỏi tuyến phòng thủ tây bắc Sài Gòn. Trung đoàn cao xạ 232 kéo pháo theo sát bộ binh, đánh tan các đợt oanh tạc của máy bay địch, bảo vệ tốt đội hình vây cắt địch của trung đoàn 174. Địch dốc sức phản kích để khai thông đường số 1 (Sài Gòn đi Phnôm Pênh) và đường 22, nhưng không thành công.

        Ngày 24 tháng 4, các trận địa pháo mặt đất của Quân đoàn và sư đoàn 316. 320 từ nhiều hướng bắn phá căn cứ Đồng Dù, Củ Chi, Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ. Kế hoạch dự định đến ngày 27 sẽ hoàn thành đợt bắn pháo tiêu diệt lực lượng pháo binh của địch. Nhưng trong các ngày 25, 26, 27, ta tổ chức bắn không tốt, phối hợp chưa chặt chẽ, nên kết quả chưa đạt. Bộ tư lệnh Quân đoàn quyết định tập trung đánh thêm ngày 28 tháng 4. Cuộc đấu pháo giữa ta và địch diễn ra quyết liệt suốt 4 ngày liền. 11 trong số 18 trận địa pháo địch bị diệt, các trận địa còn lại bị tê liệt hoàn toàn. Trong đợt diệt pháo phá thế dựa của sư đoàn 25 ngụy, các chiến sĩ trung đoàn 40 đã lập công xuất sắc. Bằng 48 quả đạn, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 diệt gọn 3 trận địa pháo cố định và cơ động của địch ở Trảng Bàng, Đồng Chùa.

        Lực lượng pháo binh bị diệt, làm cho thế phòng ngự của sư đoàn 25 ngụy ở hướng tây bắc không còn hiệu lực tạo nên những sơ hở của địch trên hướng tiến công chủ yếu của Quân đoàn vào Sài Gòn. Trước tình hình đó, địch âm mưu co sư đoàn 25 về Đồng Dù để lập lá chắn mạnh, ngăn chặn đường tiến của ta. Bộ tư lệnh Quân đoàn kịp thời lệnh cho sư đoàn 316 kiên quyết cắt đường, khóa chặt dịch ở Phước Mỹ, dùng 1 tiểu đoàn chốt phía đông Trảng Bàng, sẵn sàng đánh vận động tiêu diệt bọn phản kích, đồng thời đưa toàn bộ trung đoàn 174 áp sát ra mặt dường, đón diệt trung đoàn 49 ngụy ở Bến Kéo, Cẩm Giàng chạy về.

        Chấp hành mệnh lệnh của Quân đoàn, trung đoàn 174 đã áp sát đoạn đường Trà Võ, Cẩm Giàng, Bến Mương. Tiểu đoàn 1 (trung đoàn 48) bí mật chốt ở Phước Mỹ. Tiểu đoàn 9 (trung đoàn 49) bố trí phía đông căn cứ Trảng Bàng. Lực lượng còn lại của sư đoàn 316 sẵn sàng vận động đánh tiêu diệt lớn quân địch phản kích.

        Ở hướng đông Sài Gòn, hồi 17 giờ ngày 26, Quân đoàn 2 dưới sự chi viện của pháo binh chiến dịch dã đồng loạt đánh chiếm căn cứ Nước Trong, chi khu quân sự Long Thành, vượt đường 15 giải phóng Phước Thường, bao vây Long Tân; sư đoàn 3 Quân khu 5 đánh chiếm chi khu Đức Thạnh, tiến về giải phóng thi xã Bà Rịa.

        Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn.

        Trên các hướng chiến dịch, Quân đoàn 4 sau khi giải phóng Xuân Lộc, phát triển đánh chiếm Trảng Bom. Đặc công diệt địch và chiếm cầu Rạch Chiếc, Rạch Cát, Cầu Gềnh, mở đường sẵn sàng đón chủ lực. Pháo binh ta đánh phá tê liệt sân bay Biên Hòa, địch phải di chuyển máy bay về Tân Sơn Nhất. Quân khu 8 và Quân khu 9 cắt đứt lộ 4, đoạn Bến Lức đi ngã ba Trung Lương. Đoàn 232 đánh chiếm đầu cầu An Ninh, Lộc Giang trên sông Vàm Cỏ Đông. Trung đoàn 24 và 88 đang tiến về phía nam quận 8 Sài Gòn.

        Quân đoàn 1 vượt đường 16 tiến đến bắc Lái Thiêu 7 ki-lô-mét.

        Lúc này cuộc chiến đấu của sư đoàn 316 trên đường số 1 và 22 đang diễn ra quyết liệt. Xe tăng và bộ binh địch dốc sức phản kích vào khu vực Phước Mỹ và phía nam chi khu Trảng Bàng. Nhưng các chiến sĩ tiểu đoàn 1 (trung đoàn 148), tiểu đoàn 9 (trung đoàn 149) đã kiên cường bám trụ trận địa, đánh bại mọi cuộc phản kích của địch, buộc chúng phải co về Trảng Bàng. Trung đoàn 149 chớp thời cơ áp sát lực tượng vây chặt mặt phía đông bắc Trảng Bàng, buộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 50 ngụy phải mang toàn bộ vũ khí ra hàng. Thừa thắng, sư đoàn 316 tiến công tiêu diệt các chốt bảo an ở Suối Cao, Trung Hưng, Bố Heo. Địch ở chi khu Trâng Bàng bị nhốt chặt.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:16:43 AM

        Đêm 28 tháng 4, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh quân đoàn căn cứ vào tình hình phát triển tiến công trên các hướng chiến dịch và cuộc tiến công của sư đoàn 316, quyết định cho sư đoàn 320, sư đoàn 10 hành quân chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian, kế hoạch hiệp đồng chung. Bộ tư lệnh Quân đoàn kiểm tra lại hệ thống thông tin liên lạc, và lệnh cho sư đoàn 10 nhanh chóng nắm chắc trung đoàn 198 đặc công và trung đoàn 64 phối thuộc cho sư đoàn, xử trí kịp thời kế hoạch đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng và bàn đạp Hóc Môn; lệnh cho trung đoàn 198 khẩn trương, bí mật đưa lực lượng lót sẵn chuẩn bị đánh chiếm cầu.

        Sư đoàn 320 phải kiên trì giữ vững quyết tâm tập trung lực lượng đánh chiếm căn cứ Đồng Dù nhanh, gọn. Hướng nào bị địch ngăn chặn thì kiên quyết đánh bật địch, đưa lực lượng vào chiếm lĩnh ngay, không chần chừ mất thời gian, đồng thời vạch phương án đánh địch phản kích từ bên ngoài vào phía sau lưng đội hình tiến công của sư đoàn. Sư đoàn 316 đưa lực lượng áp sát, vây chặt chi khu Trảng Bàng, bảo đảm cho sư đoàn 320 dứt điểm Đồng Dù, đồng thời phải nắm vững thời cơ địch rối loạn, chuyển sang tiến công tiêu diệt địch ở chi khu Trảng Bàng.

        Các cụm pháo binh chuẩn bị sẵn các phân tử bắn vào Đồng Dù và sẵn sàng cơ động pháo, đài quan sát vào Hóc Môn, chi viện cho sư đoàn 10 đánh chiếm Tân Sơn Nhất.

        Công binh phải sẵn sàng các đội cầu thuyền để trong trường hợp địch phá sập cầu thì nhanh chóng vào bắc lại cầu Bông, cầu Sáng.

        Trong tình hình cuộc tiến công đã phát động thì phải nắm chắc thời cơ, tiến công liên tục dồn dập, táo bạo, thần tốc, mạnh mẽ cho đến toàn thắng. Bộ tư lệnh Quân đoàn nhắc các đơn vị phải quán triệt đầy đủ tư tưởng chỉ dạo đó của Bộ tư lệnh chiến dịch, vượt qua mọi ác liệt khó khăn, thực hiện tốt phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến “mạnh bạo, chắc thắng, đánh mạnh, đánh liên tục, nắm chắc thời cơ, thọc sâu, phát triển nhanh” không dược do dự dừng lại.

        Thời gian nổ súng tiến công căn cứ Đồng Dù của sư đoàn 320 và đánh chiếm cầu Bông, cầu  Sáng của đặc công có quan hệ mật thiết đến mũi thọc sâu của sư đoàn 10. Chỉ cần nổ súng không đúng thời cơ là địch có thể gây khó khăn cho ta. Cầu Bông nằm trên quốc lộ 1, cầu Sáng nằm trên đường 15, là hai con đường độc đạo chạy giữa cánh đồng lúa Hậu Nghĩa, Củ Chi vào Sài Gòn. Xung quanh là bùn lầy, không có đường nào khác cho xe tăng, bộ binh cơ động vào nội thành. Nếu đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng trước khi tiến công Đồng Dù, địch có thể dùng lực lượng phản kích giải tỏa, ngược lại đánh Đồng Dù sớm và khi Đồng Dù có nguy cơ bị diệt, địch sẽ dùng không quân phá sập các cầu, chặn đường tiến của binh đoàn thọc sâu. Bộ tư lệnh Quân đoàn đã dự kiến đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng theo ba phương án: Sử dụng đặc công lót sẵn đánh chiếm và giữ cầu Bông, cầu Sáng, nếu đặc công gặp khó khăn thì tăng cường bộ binh cùng đánh chiếm. Nếu địch phá cầu trước, ta nhanh chóng cơ động lực lượng vượt qua kênh Sáng đánh chiếm bàn đạp phía nam, đưa đội cầu thuyền và hai tiểu đoàn cao xạ vào bắc lại cầu, bảo vệ dường tiến của binh đoàn thọc sâu. Quyết tâm của ta là tận dụng mọi khả năng, thời cơ đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng và bàn đạp Hóc Môn không để địch phá hoại.

        Sau khi cân nhắc tính toán kỹ, Bộ tư lệnh Quân đoàn thận trọng quyết định thời cơ đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng và bàn đạp Hóc Môn lúc sư đoàn 320 siết chặt vòng vây căn cứ Đồng Dù, nhốt chặt sư đoàn 25 ngụy và bắt đầu tiến công. Đây là thời cơ chiến đấu chi diễn ra trong giây phút, chẳng những yêu câu các đơn vị chấp hành mệnh lệnh nghiêm, hiệp đồng chặt chẽ mà còn đòi hỏi phải hành động khẩn trương, chính xác.

        Đồng Dù là căn cứ quân sự lớn có diện tích chừng 8 ki-lô-mét vuông, là điểm tựa cơ bản của địch trong tuyến phông thủ tây bắc Sài Gòn - Gia Định và cách Sài Gòn hơn 30 ki-lô-mét.

        2 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4, sư đoàn 320 triển khai xong lực lượng tiến công căn cứ Đồng Dù. Các cụm.pháo của Quân đoàn gồm trung đoàn 40, 675 và cụm pháo sư đoàn 320 bắt đầu đánh vào Đồng Dù. Các trang đoàn bộ binh của ta tiến lên dùng bộc phá mở cửa. Quân địch bị nhốt chặt.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:17:04 AM

        Lúc này các chiến sĩ đặc công trung đoàn 198 đánh chiếm cầu Bông và cầu Sáng, phát triển đánh tan tiểu đoàn 81 biệt kích dù. Đại dội 10 (trung đoàn 64) được lệnh chốt giữ đánh địch phản kích, bảo vệ cầu Bông.

        Hòa trong tiếng súng thắng trận ở khu vực cầu Bông, cầu Sáng, tại căn cứ Đồng Dù, bộc phá mở cửa của sư đoàn 320 cũng nổ dậy đất.

        Ở hướng tây bắc, đại đội 3 trung đoàn 48 phá được 2 lớp hàng rào ngoài. Địch phát hiện hướng cửa mở, chúng tập trung đổ dạn vào dội hình đại đội 3. Các chiến sĩ làm nhiệm vụ đánh bộc phá liên tục bị chặn lại không lên được. Đại đội trưởng Tăng lệnh cho hỏa lực tập trung bắn yểm hộ. Chiến sĩ B40, B41 dò lên lựa thế bắn vào tuyến lô cốt ngoài cùng. Khẩu đội súng cối của Trần Kim Thành bắn dập vào bên trong bờ tường đất. Hỏa lực địch ngưng lại. Chớp thời cơ, Dóng trung dội trưởng trung đội mở cửa lệnh cho Trung ôm bộc phá lên đánh tiếp Bộc phá nổ, khói chưa tan, Trần Văn Minh chạy lên đánh quả thứ 3 nhưng vẫn còn hai lớp hàng rào nữa. Địch ngóc đầu dậy bắn như mưa. Các chiến sĩ trung đội 7 tập trung hỏa lực chi viện cho Nguyễn Khắc Bảo ôm bộc phá vụt lên. Một lớp hàng rào nữa bị tiện dứt, nhưng Bảo, người bộc phá viên kiên cường của đại đội 3 đã anh dũng hy sinh. Nguyễn Văn Linh ôm khối thuốc nổ chứa chất căm hờn, lao lên hàng rào cuối cùng. Cửa mở hướng tây bắc thông thống.

        Vũ Văn Sơn trung đội trưởng trung đội 9 dẫn đấu trung đội đánh chiếm khu vực đầu cầu.

        Cửa mở thứ hai của trung đoàn 48 do đại đội 11 phụ trách, dùng mìn liên kết phá tung 5 lớp rào ngoài. Chỉ còn hai lớp rào nữa, nhưng các chiến sĩ đại dội 11 phải vật lộn gay go với các tầng hỏa lực dày đặc như lưới lửa trước cửa mở. Mỗi lần chiến sĩ ta ôm bộc phá lao lên cửa mở lại bị chiếc xe tăng M 41 nấp sau ụ đất lớn chặn lại. Thời gian vô cùng khẩn cấp. Bộ binh chuẩn bị xung phong đang ùn phía sau. Đại đội trưởng Nguyễn Công Bạ thấy nóng ruột vô cùng. Đồng đội đang thương vong. Xe tăng địch lợi đụng vật chắn, chĩa nòng pháo ra cửa mở trút đạn. Phải diệt cho được xe tăng địch. Bạ nảy ra ý định, anh lùi về phía sau dẫn Nguyễn Tiến Ngọ chiến sĩ B 41 cùng lên với anh. Bạ chỉ mục tiêu chiếc xe tăng cho Ngọ và giao hẹn hiệp đồng. Nguyễn Công Bạ nổ tiểu liên kéo hướng chú ý của chiếc xe tăng địch. Ngọ ôm khẩu B 41 lách sang trái tránh luồng đạn của địch, rồi giương súng nhằm chiếc xe tăng, ấn cò. Xe tăng địch bị quả đạn chính xác của Ngọ thiêu cháy. Tuy vậy, tuyến lô cốt vòng ngoài của địch vẫn bắn mạnh. Một số cán bộ, chiến sĩ trong trung đội mở cửa bị thương vong. Tình hình càng trở nên căng thẳng. Bằng mọi giá phải khai thông cửa mở cho bộ đội xung phong. Bạ lấy khẩu B 40 của một chiến sĩ bị thương rồi gọi bộc phá viên Lê Văn Sử cùng lên. Quả đạn B 40 của Bạ nổ vang, bựng khói trùm kín ổ đại liên địch. Sử nhanh chóng đặt bộc phá vào hàng rào, giật nụ xòe và cùng Bạ chạy xuống. Bộc phá nổ, hàng rào thứ 6 bị cuốn phăng. Bạ lại. cùng với bộc phá viên Cử lao lên hàng rào cuối cùng. Cửa mở hướng đại đội 11 thông suốt. Các chiến sĩ trung đoàn 48 vượt qua cửa mở đánh chiếm tuyến công sự thứ nhất làm bàn đạp. Lúc này là 7 giờ 30 phút.

        Ở hướng tây nam, trung đoàn 9 đang mở cửa thì một tình huống diễn ra đúng như dự kiến. Địch từ phía Củ Chi phản kích vào sau lưng đơn vị. Trung đoàn 9 và đại đội 11 trợ chiến đã kịp thời đánh tan quân địch phản kích. Sau đó trung đoàn 9 chia làm hai mũi vòng sang cổng chính, và theo cửa mở của trung đoàn 48 đánh vào bên trong.

        Trong lúc trung đoàn 9 đánh địch phản kích bên ngoài, thì các chiến sĩ trung đoàn 48 bị hỏa lực địch ngăn chặn trên cả hai hướng cửa mở. Các xạ thủ B40, B 41 của đại đội 3 thương vong gần hết. Đơn vị điều thêm hỏa lực lên cửa mở tổ chức đột phá, đánh chiếm khu công binh. Lực lượng tiểu đoàn 1 còn mỏng, ban chỉ huy trung đoàn 48 cho tiểu đoàn 2 và 4 xe tăng theo cửa mở của đại đội 3, tiến công vào khu vực cóng binh, tiếp tiếp sức với tiểu đoàn 1.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:17:22 AM

        Ở hướng cửa mở đại đội 11, dại đội trưởng Nguyễn Công Bạ dẫn đầu đơn vị xung phong đánh chiếm tuyến công sự thứ nhất. Xe tăng địch ra bịt cửa mở bị đánh lui. Bạ cho một tiểu đội đánh nghi bình kéo sự chú ý của địch về một hướng, tạo điều kiện cho đơn vị đánh chiếm tuyến công sự thứ hai và diệt xe tăng địch.

        Trận đánh căn cứ Đồng Dù lả trận gay go, ác liệt nhất trong tuyến phòng thủ tây bắc Sài Gòn. Nhưng các mũi tiến công của sư đoàn 320 được tổ chức chặt chẽ, hiệp đồng gắn bó; cán bộ, chiến sĩ chiến đấu ngoan cường, mưu trí, sáng tạo nên đến 11 giờ. sư đoàn 320 hoàn toàn làm chủ các mục tiêu. Lá cờ mang truyền thống quyết chiến quyết thắng của sư đoàn đã phấp phới bay trên trong tâm căn cứ Đồng Dù.

        Tên chuẩn tướng Lý Tòng Bá trốn ra rừng cao su bị nhân dân và dân quân du kích Củ Chi bắt sống.

        Tại chi khu Trảng Bàng cách Đồng Dù 10 ki-lô-mét về phía bắc, sau những ngày thực hành chia cắt, bao vây, ngăn chặn, sư đoàn 316 chuyển sang tiến công. Bị pháo binh ta pháo kích bốn ngày liền và bị sư đoàn 316 đánh tiêu hao, lực lượng sư đoàn 25 đóng ở Bến Kéo, Cẩm Giàng, Trà Võ, Đồng Chùa, Suối Sâu, Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ tan rã từng mảng. Ngày 29, trước sức tiến công của các chiến sĩ sư đoàn 316, bộ đội địa phương và dân quân du kích Tây Ninh, toàn bộ trung đoàn 46, 49, liên đoàn bảo an 251, 1 chiến đoàn thiết giáp địch nhanh chóng bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Hệ thống phòng ngự địch từ Đồng Dù đến Gò Dầu Hạ đã bị quét sạch.

        Sư đoàn 25 “con chủ bài” phòng ngự cửa ngõ tây bắc Sài Gòn bị tiêu diệt.

        Giữa lúc cuộc tiến công căn cứ Đồng Dù của sư đoàn 320 diễn ra ác liệt, mũi thọc sâu binh chủng hợp thành sư đoàn 10 được lệnh nhanh chóng vượt qua Đồng Dù đánh chiếm bàn đạp Hóc Môn, sẵn sàng tiến công vào nội thành đúng kế hoạch hiệp đồng của chiến dịch là 6 giờ sáng ngày 30 tháng 4. Binh đoàn thọc sâu hành quân thần tốc, táo bạo, vượt qua hệ thống đồn bốt địch chưa bị tiêu diệt, tiến vào Hóc Môn.

        Trung đoàn 24 và tiểu đoàn 1 xe tăng vòng sang tây bắc Củ Chi, theo quốc lộ 1 tiện qua cầu Bông. Trung đoàn 28, trung đoàn 4 pháo binh, tiểu đoàn 2 xe tăng đi qua Phú Hòa Đông, Tân Quy theo tỉnh lộ 15 tiến qua cầu Sáng. Trung đoàn 66 làm dự bị đi sau.

        11 giờ, cánh quân của trung đoàn 24 tiến vào quốc lộ 1. Địch từ Hậu Nghĩa ra ngăn chặn. Trung đoàn 24 đánh tan quân địch, tiếp tục tiến đến Củ Chu. Ở dây cuộc chiến đấu của trung đoàn 64 với xe tăng địch diễn ra quyết liệt. Đơn vị đi đầu của trung đoàn 24 xốc tới tiến công hiệp đồng. Bị đánh cả phía trước và phía sau, thiết đoàn 10 xe tăng địch tháo chạy qua cầu Bông. Tổ chốt của trung đoàn 24 và tiểu đoàn 20 đặc công kịp thời nổ súng chặn đầu. Từ phía sau, trung đoàn 64, 24 và đại đội 9 xe tăng đánh thốc tới. Trong thế bị kẹt từ hai đầu, xe tăng địch hoảng loạn nhào xuống cánh đồng lúa phía nam cầu Bông. Đại đội 9 xe tăng ta từ trên đường 1 chĩa nòng pháo diệt từng chiếc xe tăng địch. 28 xe tăng, xe bọc thép và hàng chục xe GMC bốc cháy. Toàn bộ quân địch bị diệt. Cánh quân của trung đoàn 24 tiếp tục phát triển đánh chiếm Thành Quan Năm, Hóc Môn. Trên đường 15, cánh quân của trung đoàn 28 bị địch ngăn chặn ở Phú Hòa Đông. Đơn vị tổ chức chiến đấu tiêu diệt lực lượng địch phản kích, tiến đến Tân Quy thì trời đã xế chiều. Thời gian công kích vào nội thành giục giã, nhưng trung đoàn 28 đến Tân Quy lại bị xe tăng, bộ binh địch ngăn chặn. Trung đoàn 28 vừa tiến vừa đánh địch. mở đường vượt qua cầu Sáng. Cầu sập, đường tắc, trung đoàn 28 phải quay trở lại Ba Ri, Tân Quy theo tỉnh lộ 8, vượt qua Đồng Dù, tiền sang Cầu Bông, phát triển chiếm khu vực tây nam trại huấn luyện Quang Trung. 18 giờ 30 phút, cánh quân cửa trung đoàn 28 tiến đến cầu Tham Luông.

        Trong một ngày tiến công, Quân đoàn đã đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch án ngữ phía tây bắc Sài Gòn, quét sạch hệ thống đồn bốt trong dải phòng ngự 40 ki-lô-mẻt từ Tân Quy qua Đồng Dò đến Gò Dàu Hạ, tiêu diệt sư đoàn 25, thiết đoàn 10, các liên đoàn biệt động quân số 32. 9, liên đoàn công binh số 6 cùng toàn bộ lực lượng bảo an, biệt kích dù, cảnh sát địch, mở toang cánh cửa tiến vào Sài Gòn - Gia Định.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:18:32 AM

3. TRẬN QUYẾT CHIẾN CUỐI CÙNG

        Quân đoàn tiến vào Sài Gòn qua những vùng có truyền thống cách mạng Trảng Bàng, Củ Chi, Hóc Môn, Bà Điểm. Sức mạnh của dân tộc ta, được hun đúc trong bốn nghìn năm đấu tranh giữ gìn nền độc lập, thống nhất toàn vẹn cho Tổ quốc, dâng lên với khỉ thế lay trời chuyến đất. Một cảnh tượng hùng vĩ của đất nước đang diễn ra hào hùng và sôi động. Từng đoàn xe tăng, xe chở bộ đội nối đuôi nhau tiến vào Sài Gòn như những dòng thác cuồn cuộn chảy. Hai bên đường, từng đợt sóng người dào lên vẫy tay vẫy mũ, hoan hô cách mạng, đón chào những chiến sĩ quân đội nhân dân trở về giải phóng Sài Gòn với bao niềm vui sướng, xúc động, bồi hồi. Từ ngày Nam Bộ đứng lên vát nhọn tầm vông đánh Pháp, trải qua 30 năm đấu tranh gian khổ dưới sự lãnh đạo của Đảng, đến nay nhân dân ta mới dược chứng kiến sức mạnh kỳ diệu của dân tộc.

        Ngược chiều với đoàn quân chiến thắng là hàng ngàn hàng vạn sĩ quan, binh lính ngụy quyền Sài Gòn, quần đùi, áo cộc nhàu nát được nhân dân tha tội chết, lủi thủi trở về quê nhà sau những năm làm lính .đánh thuê cho Mỹ, mà vẫn chưa hết bàng hoàng.

        Trong cơn hấp hối, đế quốc Mỹ và bọn tay sai vẫn ngoan cố bày mưu tính kế đẩy binh lính chống lại cách mạng. Lúc nhân dân cả nước đang phấn khởi đứng lên tự giải phóng mình và làm chủ đất nước thì quân địch ra sức đào hào, đắp ụ, xây thành trên đường số 1, ngăn chặn cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân ta. Chúng dùng máy bay, pháo binh ném bom, bắn phá ngay trên đường phố, gây thêm tội ác đối với đồng bào ta. Chúng điều lính dù, thiết giáp chốt chặn ở ngã ba Bà Quẹo, ngã tư Bảy Hiền. Chúng hy vọng sẽ lật ngược được vòng quay của bánh xe lịch sử. Nhưng tất cả tham vọng ngông cuồng đó của bọn cầm đầu ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn đã bị đổ sập nhanh chóng được sức tiến công thần tốc và nổi dậy mạnh mẽ của quân và dân ta.

        Bộ tư lệnh Quân đoàn dự kiến đánh chiếm sân hay Tân Sơn Nhất từ hai hướng tây và bắc, là những hướng phòng thủ hiểm yếu của địch. Trong tình hình, trên các hướng chiến dịch, thế tiến công của các quân đoàn bạn như chẻ tre, địch đang tan rã lớn, sư đoàn 25 ngụy phòng thủ phía tây bắc Sài Gòn đã bị tiêu diệt, mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của sư đoàn 10 sẽ nhằm vào nơi địch tập trung lực lượng tương đối mạnh để tiến công. Đánh trúng và tiêu diệt lực lượng chủ yếu của địch trên hướng tây và tây bắc, ta sẽ nhanh chóng làm chú sân bay Tân Sơn Nhất, phát triển tiến công sang các mục tiêu khác thuận lợi, vì sức đề kháng mạnh của địch đã bị đập tan. Đó là một quyết định rất táo bạo, nhưng chắc thắng.

        Theo hướng tiến công dã dự kiến, chiều ngày 29, ban chỉ huy trung đoàn 24 dùng một đại đội và 3 xe tăng phối hợp với 1 tiểu đoàn đặc công thuộc đoàn 115 đánh chiếm trại huấn luyện Quang Trung, còn đơn vị vẫn tiếp tục tiến vào ngã ba Bà Quẹo. Tại đây, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt. 20 chiến sĩ của đơn vị bi thương vong và một số xe thiết giáp bị cháy. Trung đoàn cao xạ 234 kéo pháo sát theo đội hình hành tiến của bộ binh và xe tăng, bắn rơi 3 máy bay địch, diệt 7 ổ đại liên trên các nhà tầng, bảo vệ tốt cho trung đoàn 24 tiến công vào lữ đoàn dù số 4 ngụy

        Với quyết tâm “phất cao ngọn cờ đầu thọc sâu đánh thành phố”, các chiến sĩ trung đoàn 24 bộ binh và tiểu đoàn 1 xe tăng liên tục đột kích vào quân dù, diệt các cụm hỏa lực của chúng. Quân dù ngăn chặn ở ngã ba Bà Quẹo bị đánh tan. Ban chỉ huy trung đoàn 24 liền điều 1 đại đội bộ binh, đưa súng ĐKZ ém sát ngã tư Bảy Hiền, chuẩn bị tiến công vào mục tiêu chinh.

        Đúng 21 giờ ngày 29 tháng 4, mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của Quân đoàn tiến cách sân bay Tân Sơn Nhất và bộ tổng tham mưu ngụy khoảng 3 ki-lô-mét.

        Lúc này trên các hướng chiến dịch, cuộc tiến công của các quân đoàn bạn đều phát triển  thuận lợi, không một sức mạnh nào ngăn nổi.

        Ở phía bắc Sài Gòn, Quân đoàn 1 đã bao vây Phú Lợi, tiêu diệt một bộ phận tàn binh của sư đoàn 25 từ Bến Cát chạy về Bình Dương. Đơn vị đi đầu của Quân đoàn đã đế bắc Lái Thiêu 3 ki-lô-mét. Tại khu vực Búng nằm trên đường 13, địch rút chạy về Lái Thiêu, Quân đoàn 1 đã bao vây tiêu diệt và bắt khoảng 7.000 tên. Cánh quân phía bắc còn cách Sài Gòn 30 ki-lô-mét.

        Ở hướng đông nam Sài Gòn, quân ta đánh chiếm và làm chủ Vũng Tàu, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ và đang tiến về Cát Lái, cầu xa lộ Đồng Nai. Đặc công đã đánh chiếm căn cứ Nước Trong, ngã ba Long Bình. Biên Hòa đang kịch chiến, vì địch ở Hố Nai còn chống cự.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:18:53 AM

        Ở phía nam và tây nam, quân ta làm chủ thị xã Hậu Nghĩa, quận IV Đức Hòa, bức rút Đức Huệ, mở thông sông Vàm Cỏ Đông. Quân ta đánh chiếm ngã ba Vĩnh Lộc, cầu Sáng, lộ 10, cắt đứt lộ 4, phát triển tiến công địch ở Cần Giuộc và Hưng Long.

        Nhân dân và lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã nổi dậy diệt bọn ác ôn đầu sỏ, chiếm các công sở, đồn bốt địch dọc đường số 1 và nội thành. Công nhân xưởng dệt Vi-na-tếch-cô đấu tranh bắt bọn phá hoại, tề điệp, bảo vệ an toàn máy móc và tò chức tiếp tế cơm nước cho bộ đội. Cả Sài Gòn dang rùng rùng nổi dậy.

        Giờ tận số của chế độ Sài Gòn đã điểm!

        Đêm 29 tháng 4, sở chỉ huy Quân đoàn nhộn nhịp hẳn lên. Những chiếc máy điện thoại réo vang, báo tin chiến thắng dồn dập của các mũi, các hướng. Tổng đài điện thoại và chiến sĩ cơ yếu nhận điện và dịch điện luôn tay từ phía trước gửi về và từ Quân đoàn gửi đi. Sư đoàn 10 báo tin vui đã chiếm xong ngã ba Bà Quẹo và đề nghị cho đánh chiếm Tân Sơn Nhất ngay trong đêm. Cán bộ, chiến sĩ ở sở chỉ huy vô cùng phấn chán, tin tưởng, lao vào chuẩn bị mọi mặt suốt đêm hôm ấy để kịp 4 giờ sáng ngày 30 hành quân vào Hóc Môn phục vụ cho Bộ tư lệnh chỉ huy đột phá vào nội thành. Cái tin quan trọng của sư đoàn 10 được cấp tốc báo lên sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh.

        23 giờ, Bộ tư lệnh Quân đoàn nhận được chỉ thị của Bộ tư lệnh chiến dịch: Quân đoàn 3 dùng lực lượng đánh chiếm Bộ tổng tham mưu ngụy, coi đó là nhiệm vụ chính thức của Quân đoàn, không phải nhiệm vụ phát triển hiệp đồng.

        Chỉ còn khoảng 6 tiếng đồng hồ nữa là cuộc Tổng công kích vào nội thành Sài Gòn bắt đầu. Quân đoàn vinh dự nhận thêm nhiệm vụ nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Bộ tự lệnh Quân đoàn nghiên cứu, tính toán lực lượng, giao cho trung đoàn 28 đánh chiếm bộ tổng tham mưu ngụy, và lệnh cho các cụm pháo Quân đoàn, sư đoàn nhanh chóng hoàn thành mọi mặt chuẩn bị, sẵn sàng đánh vào mục tiêu.

        Mọi công việc chuẩn bị của các đơn vi cho giờ Tổng công kích vào nội thành đã xong, chỉ còn chờ lệnh hiệp đồng chung của Bộ tư lệnh chiến dịch.

        4 giờ ngày 30 tháng 4, pháo chiến dịch và ĐKZB bắt đầu bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tổng tham mưu ngụy. Hòa trong tiếng nổ vang trời của pháo binh chiến dịch, các cụm pháo binh Quân đoàn và sư đoàn 10 cũng thi nhau trút đạn xuống bộ tư lệnh dù, bộ tư lệnh không quân, bộ tư lệnh thiết giáp và sư đoàn 5 không quân ngụy trong sân bay. Sài Gòn rung chuyển trong tiếng nổ của các loại pháo tiến công của quân ta.

        Trên các đường phố, xe nhà binh, cảnh sát và xe chở những người “di tản” hốt hoảng lao vùn vụt. Trong các  công sở ngụy quyền, nhân viên, công chức bỏ trốn. Bọn lính và cảnh sát hàng ngày nhan nhản, hách dịch dọa nạt nhân dân, giờ đây lột vội bộ quân phục, khoác chiếc áo thường dân, tìm đường tẩu thoát.

        Đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4, từng đàn máy bay lên thẳng Mỹ bật đèn sáng, hớt hải, bay rối loạn trên bầu trời Sài Gòn. Rồi từng chiếc lén lút đỗ xuống những mái nhà bằng, chở người đi tản tháo chạy vội vã. Nhân viên tòa đại sứ Mỹ cùng sĩ quan, binh lính và gia đình của chúng tranh cướp nhau lên máy bay với bọn tay sai Sài Gòn. Chúng bắn súng thị uy chửi bới, văng tục, ẩu đả loạn xị. Tiếng kêu khóc của trẻ con, phụ nữ bị chìm lắng trong mớ âm thanh hỗn độn, sợ hãi của quang cảnh Sài Gòn hấp hối.

        Ở bộ tổng tham mưu ngụy, bọn tướng tá cuống quít gọi điện đi các nơi nắm tình hình, tìm cách đối phó. Nhưng ở quân khu 3, tên tướng ngụy Nguyễn Văn Toàn đã chạy, binh lính tan rã. Sư đoàn 18 ở Đồng Nai thương vong quá nửa, số còn lại tinh thần hoang mang. Lữ đoàn 3 kỵ binh hết đạn, hết xăng Tên Niêm, tư lệnh sư đoàn 22 ở Long An chạy trốn. Lái Thiêu bị tràn ngập. Chỉ còn Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh quân đoàn 4 hứa sẽ tuân lệnh bộ tổng tham mưu, nhưng sau đó vài giờ y đã tự sát. Vĩnh Lộc ra lệnh cho thiết giáp, lính dù chặn ở Gò Vấp, ngã tư Bảy Hiền, không quân ném bom từ ngã tư Bảy Hiền đến trại huấn luyện Quang Trung. Nhưng rồi y cũng trốn nốt Thế là chút hy vọng mỏng manh của bạn tay sai Sài Gòn ngoan cố chống cự để tìm giải pháp thương lượng, ngừng bắn trong cơn hấp hối đã tan biến trong tiếng gầm của đại pháo và tiếng tiểu liên AK, tiếng pháo xe tăng T54 của mũi thọc sâu của quân ta ở ngã tư Bảy Hiền.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:19:18 AM

        Đêm đã qua. Nắng sớm chan hòa trên thành phố Sài Gòn. Trung đoàn 24 bắt đầu tiến cộng tiêu diệt địch ở ngã tư Bảy Hiền. Máy bay địch giội bom xuống đường phố từ cổng số 5 đến ngã ba Bà Quẹo. Một tiểu đoàn dù từ hướng “dinh Độc Lập” ra phản kích. Trung đoàn 24 dùng đại đội 7 bộ binh và 8 xe tăng., xe bọc thép đột kích mở đường, nhưng không dứt điểm. Hỏa lực ngăn chặn của địch vẫn mạnh. Đại đội trưởng đại đội 7 cho trung đội 1 mở một mũi lên hướng bệnh viện “Vì dân” thọc vào sườn địch, tạo đà cho đơn vị tiến công vào chính diện. Nguyễn Hồng Tư dã dùng khẩu đại liên lấy được của địch ở ngã ba Bà Quẹo đặt lên xe bọc thép quét mạnh vào đội hình địch, yểm hộ cho bộ binh tiến, diệt từng cụm địch. Đại đội trưởng xe tăng Nguyễn Xuân Trường chỉ huy đơn vị táo bạo mở mũi đột kích mạnh chi viện đắc lực cho bộ binh. Nguyễn Xuân Trường đã hy sinh anh dũng, hành động của anh đã cổ vũ đơn vị xốc tới đánh thẳng vào bọn địch phản kích. Xe tăng số 985 bị hỏng pháo. Trưởng xe Mai Trọng Hoạt lệnh cho Tính lái xe tiến lên lao vào đội hình xe tăng địch. Tính dấn mạnh “ga”, mở hết tốc độ cho xe 985 vọt lên. Chiếc M48 của địch hốt hoảng, quay ngang định chạy. Nhưng Tính đã cho xe của mình lao vào chiếc xe tăng địch. Chiếc M48 không kịp bắn đã đổ nhào. Các chiến sĩ trong xe 985 choáng váng, nhưng sau giây lát định thần, Tính lại cho xe 985 tiếp tục xung phong.

        Quân địch cố thủ ngã tư Bảy Hiền bị đánh tan. Trung đoàn 24 và tiểu đoàn 1 xe tăng phát triển đánh chiếm cổng số 5, đột phá vào sân bay. Pháo binh chiến dịch và Quân đoàn ngừng bắn vào Tân Sơn Nhất.

        Công nhân xưởng dệt Vi-na-tếch-cô, nhân dân ngã ba Bà Quẹo, ngã tư Bảy Hiền vượt bom đạn giặc, đổ ra đường tiếp tế cơm nước cho bộ đội, băng bó cho thương binh và đưa vào nhà nuôi dưỡng. Nhờ đó đã tạo thêm đà cho trung đoàn 24 phát triển tiến công nhanh.

        Tại cổng số 5, các loại súng chống tăng và đại liên địch từ trong sân bay tuôn ra như vãi cát. 3 xe tăng T54 dẫn đầu của ta bị cháy nằm cản giữa đường. Đại đội 7 bộ binh tiến lên bị hỏa lực địch chặn lại. Tình hình rất gay cấn. Ban chỉ huy trung đoàn 24 điều thêm pháo 85 lên đột phá, yểm hộ cho tiều đoàn 1 và xe tăng tiến công. Nguyễn Trần Đoàn chiến sĩ lái xe tăng đại đội 1 bị thương giập nát một cánh tay vẫn không rời vi trí chiến đấu. Đoàn đã nhờ y tá cắt cánh tay cho khỏi vướng, tiếp tục cùng đơn vị đánh chiếm Tân Sơn Nhất. Hành động quả cảm của Nguyễn Trần Đoàn, biểu hiện tinh thần quyết thắng của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên, đã cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ các đơn vị xốc tới đánh tan quân địch ngăn chặn, mở toang cổng số 5 tiến vào sân bay.

        9 giờ 45 phút, được chiến sĩ biệt động Sài Gòn Nguyễn Thị Trung Kiên dẫn đường, trung đoàn 24 và tiểu đoàn 1 xe tăng trung đoạn 273 chia làm hai mũi đánh vào Tân Sơn Nhất. Các chiến sĩ tiểu đoàn 5 tràn vào cổng số 5 tiến công khu truyền tin, bộ tư lệnh sư đoàn 5 không quân. Tiểu đoàn 4, tiểu đoàn 6 mở cửa sổ 4, đánh chiếm bộ tư lệnh dù, bộ tư lệnh không quân và các mục tiêu xung quanh, bắt liên lạc với Phái đoàn quân sự hai ba của ta ở trại Đa-vít.

        11 giờ 30 phút, trung đoàn 24 làm chủ hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất và kéo lá cờ chiến thắng lên đỉnh cột cờ cao vút trong sân bay.

        Giữa lúc cuộc chiến đấu của trung đoàn 24 diễn ra gay go ở cổng số 5, các chiến sĩ trung đoàn 28 và tiểu đoàn 2 xe tăng trung đoàn 273 nổ súng đánh chiếm bộ tổng tham mưu ngụy.

        10 giờ, cổng chính vào bộ tổng tham mưu ngụy vẫn còn đóng kín. Đại đội 10 anh hùng cùng với tiểu đoàn 2 xe tăng, 2 đại đội công binh, trinh sát, tiểu đoàn cao xạ tổ chức đột phá vào cổng chính. Từ trong bộ tổng tham mưu ngụy, xe tăng và bộ binh chúng bò ra bịt cổng chính kết hợp với mũi phân kích từ phía nam tới. Chiến sĩ ta đã cắt địch ra từng cụm tiêu diệt. Bị đánh cả phía trước và phía sau, một đại đội địch hạ vũ khí đầu hàng. Thừa thắng, trung đoàn 28 chia hai mũi, một mũi đánh tràn vào cỏng chính, một mũi vòng sang phía đông nam. 3 xe M41 cuối cùng của địch tiến ra phản kích bị ta bắn cháy tại chỗ.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:19:33 AM

        Vượt qua cổng chính, chiếc xe tăng mang số hiệu 001 do Nguyễn Bá Lưu chỉ huy, cùng tổ cắm cờ Trần Lựu và Nguyễn Duy Tân đại đội 10 Anh hùng, tiến thẳng vào tổng hành dinh quân ngụy. Xe tăng 001 đã lăn vết xích đầu tiên lên thềm nhà bộ tổng tham mưu ngụy. Trung đội phó Trần Lựu dùng AK yểm hộ cho tiểu đội trưởng Nguyễn Duy Tân mang cờ chạy lên tầng gác. Lá cờ 3 que còn ủ rũ, Trần Lựu và Nguyễn Duy Tân giật cờ xuống, thay vào đó lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Lá cờ nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao vàng năm cánh rực rỡ tung bay trên tổng hành dinh quân ngụy, báo tin toàn thắng đã về ta.

        Lúc này đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4. Các chiến sĩ trung đoàn 28 sư đoàn 10 chia nhau tiến vào kiểm soát các phòng làm việc của tòa nhà bộ tổng tham mưu quân ngụy. Cao Văn Viên và đồng bọn đã chạy ra nước ngoài và lẩn trốn, nhưng căn phòng làm việc của y vẫn còn nguyên những hiện vật của tội ác bán nước. Biển đề bàn khắc tên “đại tướng Cao Văn Viên”, con dấu bộ tổng tham mưu, thanh kiếm chỉ huy khắc đậm nét “Cao Văn Viên”.

        Chiến sĩ trung đoàn 28 phát triển chiếm nhà ở của Nguyễn Văn Thiệu. Thiệu đã chạy ra nước ngoài, nhưng giấy thông hành, gậy chỉ huy, lon vai trung tướng ngụy, con dấu “Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu” vẫn nằm kín trong tủ. Trung đoàn 28 sư đoàn 10 đã thu toàn bộ. Đó là bằng chứng một thời của chế độ bán nước do Mỹ dựng lên đầy tội ác, đã sụp đổ tan tành  trước sức mạnh tiến công thần tốc của quân và dân ta.

        Cùng một thời điểm của lịch sử, hai lá cờ mang truyền thống quyết chiến quyết thắng của quân đội ta tung bay rực rỡ ở dinh lũy cuối cùng của quân ngụy Sài Gòn và sân bay Tân Sơn Nhất là sự thể hiện sinh động tinh thần chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc, tinh thần đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể của cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn.

        Cũng ở thời điểm này, các chiến sĩ trung đoàn 64 sư đoàn 320 được lệnh nhanh chóng phát triển sang quận 1, hiệp đồng với đơn vị bạn đánh chiếm “dinh Độc Lập”. Nhưng trung đoàn 64 đến nơi, đơn vị bạn đã chiếm xong dinh tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh và nội các bù nhìn Vũ Văn Mẫu đã tuyên bố đầu hàng cách mạng không điều kiện. Ban chỉ huy trung đoàn 64 cho một đại đội đánh chiếm khu cư xá sĩ quan Mỹ. Quá trình phát triển chiến đấu ở đây, bốn chiến sĩ trung đoàn 64 đã anh dũng ngã xuống, mười hai chiến sĩ khác bị thương. Đó là những giọt máu cuối cùng của cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn đổ xuống đường phố Sài Gòn, góp phần cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

        Trải qua 10 ngày đêm chiến đấu đầy gian khổ, ác liệt, hy sinh (kể từ ngày trung đoàn 174 nổ súng đánh chiếm Trà Võ, cắt đường 22 và quốc lộ 1), Quân đoàn đã tiêu diệt, bắt sống, gọi hàng 19 nghìn tên địch (không kể lực lượng địch ở trại Quang Trung). Tiêu diệt 1 sư đoàn, 1 thiết đoàn xe tăng, 3 liên đoàn biệt động quân; tiêu diệt và làm tan rã lữ đoàn dù số 4, trại huấn luyện Quang Trung 2 vạn tên và 14 tiểu đoàn bảo an, 1 liên đoàn công binh. Quân đoàn đã tiêu diệt và làm tan rã lực lượng cảnh sát, dân vệ quận Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ (Tây Ninh), Củ Chi, Hóc Môn (Gia Định), Phú Hòa (Bình Dương). Quân đoàn đánh chiếm và làm chủ Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng, Đồng Dù, Hóc Môn, Thành Quan Năm, trung tâm huấn luyện Quang Trung, sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tổng tham mưu, quận 3 Sài Gòn.

        Tại hội nghị tồng kết của Quân đoàn tháng 6 năm 1975, Đại tướng Văn Tiến  Dũng, ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh chiến địch Hồ Chí Minh đã đánh giá và biểu dương: “Quân đoàn 3 đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, có thể nói là hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt xuất sắc”.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:20:39 AM

KẾT LUẬN

        Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của Bác Hồ, dược nhân dân địa phương hết lòng giúp đỡ, từ những đơn vị nhỏ bé ban đầu, lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó trên một địa bàn chiến lược quan trọng của Tổ quốc. Với chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột tháng 3 năm 1975 và những trận vang dội tiếp theo, lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là quét sạch quân thù, giải phóng Tây Nguyên, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975 giành toàn thắng trong cả nước, kết thúc vẻ vang sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta.

        Chặng đường đã qua là chặng đường đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, nhưng cũng là một chặng đường lịch sử đầy thắng lợi, tự hào của Tây Nguyên. Như đại bàng băng qua bão tố để đi tới chân trời tươi sáng, quân và lân Tây Nguyên đã vượt qua bao hy sinh, thử thách để giành lấy đỉnh cao của thắng lợi huy hoàng.

        Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã thể hiện lòng trung thành vô hạn của mình đối với Đảng, đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.

        Trong quá trình chiến đấu và xây dựng, các lực lượng vũ trang nhàn dân Tây Nguyên luôn luôn quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo đường lối chính trị, đường lối quân sự phương châm và phương pháp tiến hành chiến tranh của Đảng vào điều kiện cụ thể của chiến trường. Luôn luôn kết hợp giữa khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược; đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị và binh vận; kết hợp ba thứ quân, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ; thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ; nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài đồng thời biết tạo thời cơ và nắm vững thời cơ cùng quân và dân cả nước mở những trận tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện Tổng tiến công vả nổi dậy đè bẹp quân địch để giành thắng lợi cuối cùng.

        Trong quá trình tiến hành chiến tranh, lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã quán triệt và thể hiện sâu sắc tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng, luôn luôn gắn liền chiến đấu với xây dựng, vừa đẩy mạnh hoạt động quân sự, vừa ra sức tăng gia sản xuất tự túc lương thực, giữ vững hành lang chiến lược và xây dựng hậu phương tại chỗ của chiến trường. Quá trình ấy đã thể hiện rõ quy luật phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên là luôn luôn giữ vững và phát huy quyền chủ động tiến công trên chiến trường, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành.

        Trên địa bàn chiến lược hệ trọng này, Mỹ - ngụy đã tập trung mọi cố gắng quyết giành ưu thế. Chúng đã sử dụng nhiều loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại với khối lượng tập trung lớn, từ máy bay chiến lược B 52 được sử dụng khá sớm trong chiến dịch Plây Me (1965), bom 7 tấn ở bắc Công Tum (1971) bom điều khiển bằng tia la-de (1972)... đến các loại pháo và xe tăng hạng nặng. Chúng cũng điều lên Tây Nguyên nhiều đơn vị sừng sỏ thiện chiến như sư đoàn kỵ binh không vận số 1 - “sáng kiến vĩ đại” của Mác Na-ma-ra, sư đoàn bộ binh số 25 “Tia chớp nhiệt đới”, sư đoàn bộ binh số 1 lữ đoàn dù 173 “Thiên thần mũ đỏ”, sư đoàn dù 101... cùng nhiều đơn vị thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược của quân ngụy. Tây Nguyên cũng là chiến trường được địch chọn làm nơi thí điểm nhiều âm mưu chiến lược và thủ đoạn chiến thuật mới.

        Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra ở Tây Nguyên rất quyết liệt và liên tục. Đó là một cuộc đọ sức gay gắt và toàn diện. Việc đánh bại quân dịch ở Tây Nguyên, giải phóng địa bàn chiến lược quan trọng của Tổ quốc là một sứ mệnh lịch sử đặt ra cho nhân dân và lực lượng vũ trang Tây Nguyên. Để hoàn thành nhiệm vụ chính trị to lớn đó, đòi hỏi lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyyên không những cần có quyết tâm cao, tinh thần chiến dấu dũng cảm mà còn phải có trình độ tác chiến và nghệ thuật đánh địch giỏi.

        Tây Nguyên đã khắc phục mọi khó khăn, ra sức xây dựng khối chủ lực tập trung tác chiến hiệp đồng binh chủng, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích. Bộ đội chủ lực là nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, vì nó là những đơn vị tập trung, tinh nhuệ, thiện chiến, có sức mạnh chiến dấu lớn. Trong suốt chặng đường đã đi, kể cả những lúc chiến trường gặp nhiều khó khăn nhất, Tây Nguyên vẫn luôn luôn kiên trì, tập trung mọi cố gắng để xây dựng khối chủ lực theo phương hướng tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng, không ngừng nâng cao trình độ và chất lượng đánh tiêu diệt lớn, đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển của cuộc chiến tranh giải phóng. Sau khi giải phóng địa bàn Tây Nguyên, từ những đơn vị chiến đấu tại chỗ, lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã nhanh chóng chuyển thành quân đoàn chủ lực cơ động của Bộ. Và, ngay sau khi vừa ra đời, Quân đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đây là một quá trình xây dựng rất công phu, gian khổ, đồng thời cũng là một thành công quan trọng trong việc thực hiện phương châm: vừa xây dựng vừa chiến đấu, xây dựng để chiến đấu, chiến đấu để xây dựng của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:21:00 AM

        Để tiêu diệt các bình đoàn chủ lực của địch, Tây Nguyên đã tổ chức và tiến hành nhiều chiến dịch. Do đặc điềm của địa hình Tây Nguyên và do quân địch ở xa hậu phương chiến lược của chúng, nên trong chiến dịch, ta có điều kiện chia cắt, vây hãm, nhử đích vào bẫy, vào thế của ta để tiêu diệt. Nghệ thuật chiến dịch ở Tây Nguyên được hình thành trên cơ sở đó. Ta thường kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, phối hợp chặt chẽ hoạt động của ba thứ quân đánh địch bằng cách lừa nhử, chia cắt căng kéo, vây hãm kết hợp với đột phá, tạo ra hình thế mỏng yếu trong thế trận của địch, làm đảo lộn thế trận của chúng để tiêu diệt và làm tan rã đích, mở rộng địa bàn, giải phóng nhân dân. Nét nổi bật cửa nghệ thuật chiến dịch ở Tây Nguyên lả nghệ thuật đánh địch bằng mưu và bằng thế.

        Trong việc giành thắng lợi về chiến dịch thì chiến thuật có một vị trí quan trọng, vì vậy ngoài việc nghiên cứu nghệ thuật chiến dịch, Đảng uy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên rất coi trọng nghiên cứu phát triển chiến thuật. Tây Nguyên vận dụng hai chiến thuật cơ bản tương đối tốt là đánh địch trong công sự vững chắc và đánh địch trong vận động tiến công. Hai chiến thuật này trong quá trình vận dụng luôn luôn được rút kinh nghiệm, bổ sung và phát triển, nâng lên trình độ đánh tiêu diệt tương đối cao.

        Khi trình độ đánh tiêu diệt của bộ đội đã được nâng cao và diễn ra một cách phổ biến, liên tục thì bộ mặt chiến trường thay đổi rõ rệt, thế tiến công của ta càng phát triển mạnh mẽ, vùng giải phóng càng được mở rộng liên hoàn và không ngừng được củng cố.

        Trong cuộc chiến đấu giáp mặt với quân thù trên chiến trường, hơn ai hết, các chiến sĩ là người đầu tiên đón nhận và có phản ứng nhạy bén trước mọi thủ đoạn mới cửa địch. Vượt khó nên khôn, qua thực tiễn chiến đấu mà trưởng thành, bộ dội Tây Nguyên đã vận dụng sáng tạo linh hoạt và tìm ra nhiều cách đánh phong phú, bẻ gãy các thủ đoạn của địch để giành thắng lợi trên chiến trường. Từ những mầm mống đầu tiên xuất hiện trong các trận đánh của bộ đội, Mặt trận đã kịp thời đúc kết kinh nghiệm, không ngừng bổ sung qua thực tiễn và đã trở thành các chiến thuật hoàn chỉnh.

        Tây Nguyên còn được thể nghiệm là một chiến trường tác chiến hiệp đồng binh chủng sớm. Từ năm 1968, Bộ tư lệnh Mặt trận đã mạnh dạn chỉ đạo sử dụng các loại pháo cơ giới. Năm 1972 đã sử dụng rộng rãi pháo mặt đất, pháo cao xạ và xe tăng, xe bọc thép. Nhờ vậy đã đẩy mạnh được tác chiến quy mô lớn, đẩy nhanh việc hình thành nghệ thuật chiến dịch của các binh đoàn chủ lực, phát triển thế trận tiến công và trình độ đánh tiêu diệt, đẩy mạnh được nhiệm vụ giải phóng đất đai, xây dựng và mở rộng căn cứ.

        Trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang ở chiến trường, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận đặc biệt coi trọng và thường xuyên giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt sâu sắc đường lối cách mạng của Đảng và nhiệm vụ của chiến trường, luôn luôn gắn chặt nhiệm vụ giải phóng miền Nam, giải phóng Tây Nguyên với nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và nghĩa vụ quốc tế. Trên cơ sở đó, xây dựng sự nhất trí cao độ về chính trị, củng cố và nâng cao ý chí, quyết tâm, giữ vững và phát huy bản chất tốt dẹp của quân đội ta.

        Đảng úy và Bộ tư lệnh, Mặt trận luôn luôn chăm lo xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo của chi bộ, cấp ủy đảng và trình độ tổ chức chỉ huy của đội ngũ cán bộ, xem đó là khâu quyết định trong việc thực biện thắng lợi đường lối nhiệm vụ của Đảng trên chiến trường. Nhở đó, suốt cuộc kháng chiến chổng Mỹ, lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã đoàn kết gắn bó với đảng bộ và đồng bào địa phương, vượt qua muôn vàn thử thách ác liệt, trụ bám địa bàn, không ngừng giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến trường, càng đánh càng trưởng thành và đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

        Hoạt dộng trên một địa bàn đất rộng người thưa, núi rừng hiểm trở, nền kinh tế chưa phát triển, đời sồng nhân dân còn nhiều khó khăn, lại ở xa hậu phương chiến lược và cuộc chiến đấu giữa ta với địch diễn ra rất quyết liệt, trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, biết bao câu hỏi và sự việc mới mẻ, khó khăn đã dặt ra cho các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên. Phát huy tinh thần tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng quân đội, lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã luôn luôn chủ động đón nhận và sẵn sàng làm tất cả một công việc cần thiết để xây dựng lực lượng, vươn lên chiến thắng kẻ thù.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:21:58 AM

        Cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên đã không ngừng rèn luyện, xây dựng cho mình một bản lĩnh vững vàng, một tinh thần tích cực, chủ động về mọi mặt và có ý chí, nghị lực khắc phục khó khăn, cải tạo hoàn cảnh, tự làm mọi việc để giữ vững và từng bước cải thiện dời sống, đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển của cuộc chiến đấu.

        Ngoài nhiệm vu huấn luyện và tác chiến, bộ đội còn sản xuất lương thực, thực phẩm, làm công tác vận chuyển, mở mang đường sá, thiết bị chiến trường, cáng thương, dẫn khách ra vào, hướng dẫn, giúp đỡ đảng bộ và chính quyền địa phương xây dựng cơ sở, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang quần chúng. Các đơn vị còn tự lo liệu mọi công việc trong cuộc sống hàng ngày như làm nhà, gặt hái, xay giã, chế biến lương thực, thực phẩm, khâu vá, rèn nông cụ... Công việc quanh năm của bộ đội Tây Nguyên diễn ra như một vòng quay khép kín, chiến đấu ở phía trước về là bắt tay vào đốt rẫy, gieo trồng, làm cỏ, xây dựng lán trại, huấn luyện quân sự, học tập chính trị, làm đường sá, gùi gạo đạn... chuẩn bị cho chiến dịch, rồi lại bước vào chiến đấu.

        Các đơn ví bộ đội từ các nơi vào sống và chiến đấu ở Tây Nguyên đều phải trải qua một giai đoạn vật lộn đầy gian nan, thử thách để thích nghi với hoàn cảnh mới của chiến trường. Nhưng rồi, càng ở lâu càng thiết tha gắn bó và yêu mến Tây Nguyên, càng tự hào về sự trưởng thành toàn diện và nhanh chóng của mình. Dù rời khỏi chiến trường, các đơn vị vẫn giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp và những kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình chiến đấu gian khổ nhưng rất giàu tình cảm và kỷ niệm ở Tây Nguyên.

        Nhiệm vụ, hoàn cảnh và đặc điểm của chiến trường đã rèn luyrện cho người chiến sĩ Tây Nguyên những đức tính đáng quý. Đó là sự cần cù, nhẫn nại, chịu thương chịu khó, tiết kiệm, khiêm tốn, giản dị, rất mực yêu thương đồng chí, đồng bào và luôn luôn có ý chí, nghị lực vượt qua gian lao, thử thách để vươn lên chiến thắng kẻ thù.

        Để khẳng định và phát huy truyền thống đó, ngày 26 tháng 3 năm 1976, nhân dịp kỷ niệm một năm ngày thành lập Quân đoàn, tại Thủ Dầu Một, hội nghị Đảng ủy Quân đoàn 3 đã đúc kết lại khái quát .truyền thống chiến đấu vẻ vang của các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên bằng 12 chữ vàng: “Quyết thắng, sáng tạo, đoàn kết, thống nhất, nghiêm túc, tự lực”.

        Quân đoàn 3 đã có vinh dự kế tục truyền thống tốt đẹp của các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên. Truyền thống 12 chữ vàng đó là tinh hoa được xây đắp trong quá trình đấu tranh để tồn tại và chiến thắng kẻ thù. Nó là sản phẩm được xây dựng bằng mồ hôi, xương máu và không ngừng được phát huy phát triển qua thực tiễn chiến trường. Truyền thống ấy cũng chính là di sản tinh thần quý giá của những người đã mất, của những người đã từng chiến đấu và chiến tháng để lại cho lớp đàn em mai sau đang kế tục sự nghiệp chiến đấu và lao động dựng xây trên dải đất cao nguyên miền Tây của Tổ quốc.

        Truyền thống vẻ vang của các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên bắt nguồn từ bản chất và truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng: “Trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Truyền thống đó được vận dụng và phát huy trong hoàn cảnh cụ thể ở chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. cứu nước vĩ đại.

        Tây Nguyên nằm trong thế trận chung của cả nước, mỗi gian nan, vật lộn, mỗi thắng lợi, trưởng thành của Tây Nguyên đều gắn liền với bối cảnh chung của cách mạng cà nước. “Tây Nguyên luôn luôn gắn bó với cả nước và cả nước đã kề vai sát cánh với Tây Nguyên chiến đấu lâu dài và anh dũng, biến Tây Nguyên thành căn cứ địa thần thánh của cách mạng ở miền Nam”1.

        Trong quá trình tiến hành chiến tranh, lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên luôn luôn nhận dược sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và sự chỉ dạo chặt chẽ kịp thời của Bộ Tổng tư lệnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã dành cho đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên sự săn sóc ân cần và tình thương yêu ấm áp. Người vẫn hằng dõi theo từng bước đi, nhịp thở của chiến trường và đã nhiều lần gửi thư động viên, có vũ quân và dân Tây Nguyên tiến lên giành thắng lợi. Ánh sáng và niềm tin yêu của Đảng, của Bác là nguồn sức mạnh để quân và dân Tầy Nguyên vững bước vượt qua mọi thác ghềnh, vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.

--------------------------
        1. Trích bài nói của đồng chí Lê Duẩn trong cuộc mít tinh do tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Lắc tổ chức ngày 11 tháng 4 năm 1978 tại thị xã Buôn Ma Thuột. Báo Nhân dân số 8731, ngày 23 tháng 4 năm 1978.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:22:41 AM

        Tây Nguyên còn luôn luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao và quan tâm giúp đỡ của Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5.

        Tấm lòng hậu phương và nguồn chi viện sức người, sức của vô tận của miền Bắc xã hội chủ nghĩa; thế trận hiệp đồng chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân các nước Đông Dương, mà trực tiếp là chiến trường Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia; sự phối hợp nhịp nhàng, chia lửa với Tây Nguyên của các chiến trường đồng bằng Khu 5, Nam Bộ, Trị - Thiên... đã góp phần vô cùng quan trọng để quân và dân Tây Nguyên giành thắng lợi.

        Mỗi viên đạn, hạt muối. kiện hàng... từ hậu phương lớn gửi vào tiếp sức cho chiến trường gắn liền với bao mồ hôi, xương máu của cán bộ và chiến sĩ đoàn Trường Sơn. Những chiến sĩ vô danh ấy đã góp phần không nhỏ vào thẳng lợi của Tây Nguyên và các chiến trường.

        Trong những năm tháng chiến gian khổ, quyết liệt, Tây Nguyên luôn luôn nhận được sự chi viện, động viên thắm tình kết nghĩa của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Tây Bắc, Việt Bắc anh em. Nhiều con, em các dân tộc ít người, quanh năm quen sống trên các triền núi cao ở địa đầu phía bắc Tổ quốc, chưa một lần rời bản, xa quê đã nghe theo tiếng gọi chống Mỹ, cứu nước thiêng liêng của Đảng, hành quân xa ngàn dặm vào tham gia chiến đấu trên quê hương kết nghĩa Tây Nguyên.

        Thắng lợi giành được trên chiến trường Tây Nguyên còn quyết định bởi ý chí cách mạng kiên cường và sự đóng góp hy sinh không bờ bến của đảng bộ lực lượng vũ trang địa phương và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Thấm nhuần sâu sắc chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã dũng cảm vượt qua mọi gian kho, thiếu thốn và ác liệt, kề vai sát cánh cùng các lực lượng vũ trang kiên trì chiến đấu cho tới thắng lợi cuối cùng. Lòng dân Tây Nguyên là pháo đài vững chắc, là chiếc nôi nuôi dưỡng để lực lượng vũ trang đứng vững và chiến thang trên chiến trường.

        Tinh thần đoàn kết keo sơn, chung sức chung lòng tất cả vì thắng lợi của cách mạng và tình yêu thương son sắt, thủy chung giữa lực lượng vũ trang với đảng bộ, chính quyền và nhân dân Tây Nguyên là một trong những nhân tố cực kỳ quan trọng đã làm nên thắng lợi. Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên, mà Quân đoàn 3 là người kế tục, nguyện nâng niu, giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu đó, mãi mãi ghi lòng tạc dạ công ơn to lớn của đảng bộ và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

        Thắng lợi vẻ vang trên còn do tinh thần chiến đấu anh dũng tuyệt vời và sự hy sinh to lớn của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ nhiều thế hệ, nhiều dân tộc từ mọi miền đất nước theo tiếng gọi thiết tha của Tổ quốc đã về đây cùng sống và chiến đấu. Họ sẵn sàng ăn lá rừng, uống nước suối, chịu đựng thiếu thốn, bệnh tật và bom đạn ác liệt cống hiến sức lực và tuổi thanh xuân tươi đẹp của mình cho sự nghiệp giải phóng và tương lai tươi sáng của Tây Nguyên. Biết bao người con ưu tú đã anh dũng hy sinh, hiến trọn đời mình cho độc lập, tự do muôn đời của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhan dân, vì nghĩa vụ thiêng liêng đổi với dân tộc và nghĩa vụ quốc tế cao cả.

        “Tổ quốc và nhân dân đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ, những người con trung hiếu mẫu mực của nhân dân, gương trung liệt nghìn thu sáng mãi!”1.

        Năm tháng qua đi, lịch sử tiến nhanh về phía trước. Một chặng đường đầy sóng gió và hiển hách chiến công chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Tây Nguyên đã đi vào quá chứ. Những chiến thắng sôi động, những tên người, tên đất mới mẻ hôm qua, giờ đây đã đi vào lịch sử. Những cánh rừng, ngọn núi ngùn ngụt lửa đạn, những chiến địa loang máu giặc đã trở thành nông trường, nhà máy... Những địa danh gợi lên biết bao kỷ niệm: “Cầu Lầy”, “Bãi C1”, “Cây đa gió lộng”, “Cổng trời”, “Dốc Hồ Minh Nhật”... và biết bao câu ca dí dỏm, thông minh của chiến sĩ, phân ánh từng chặng đường gian khổ mà rất đỗi lạc quan của chiến trưởng sẽ không bao giờ phai mờ trong ký ức của cán bộ và chiến sĩ.

        Những chiến công bất diệt, những phẩm chất, truyền thống và những bài học lớn của Tây Nguyên sẽ còn sống mãi và âm vang trong lịch sử như một bài ca không tắt. Nó là mạch nước ngầm chảy mãi, bồi đắp cho lớp lớp thế hệ hiện tại và mai sau.

--------------------------
        1. Trích diễn văn của đồng chí Lê Duẩn đọc tại mít tinh mừng thắng lợi vĩ đại của cách mạng nước ta, ngày 15 tháng 5 năm 1976.


Tiêu đề: Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:25:09 AM
         
        Trong đội ngũ lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên, giờ đây nhiều đồng chí đã trưởng thành lên những cương vị mới: các cán bộ lãnh đạo, các vị tướng lĩnh, cán bộ cao cấp trong quân dội. Nhiều đồng chí đã chuyển ra hoạt động trên các lĩnh vực và địa phương khác nhau. Không ít đồng chí đã hiến trọn tuổi thanh xuân của mình trong hai cuộc trường chinh của dân tộc và biết bao lớp lớp chiến sĩ đi đầu đánh Mỹ, diệt ngụy trên chiến trường năm xưa đã trở lại ruộng đồng, công trường, nhà máy trên mọi miền đất nước. Dù ở cương vị công tác nào và ở vùng quê nào, Tây Nguyên vẫn hiện lên gần gũi thân thương:

                            “Tây Nguyên, đi một lần qua đó
                             Suốt cuộc đời nghĩ lại vẫn thương nhau”
1.

        Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, dân tộc ta bước vào một giai đoạn cách mạng mới, theo tiếng gọi của Đảng, hàng trăm cán bộ và chiến sĩ thuộc Binh đoàn Tây Nguyên đã rời đồng bằng, đô thị, khoác ba lô ngược đường 19, 21… trở về với các buôn làng Tây Nguyên, chung tay xây dựng cuộc sống mới trên dải đất vừa sạch bóng quân thù. Lại một lần nữa họ từ giã gia đình quê hương ra đi sau bao năm chiến tranh xa cách, tiếp tục cống hiến sức lực của mình vì ấm no, hạnh phúc và tương lai tươi sáng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Như dũng sĩ năm xưa trong trận đánh, họ lại xông xáo đi đầu trên mặt trận xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu đầy phức tạp khó khăn và không kém phần thử thách. Tình sâu nghĩa nặng với Tây Nguyên, truyền thống đoàn kết, quyết thắng, sáng tạo... của chiến trường xưa đang tiếp sức cho họ hoàn thành nhiệm vụ trên mặt trận mới.

        Tây Nguyên là niềm tự hào của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược hết sức quan trọng về kinh tế và quốc phòng. Lớp lớp thế hệ trẻ từ mọi miền đất nước sẽ về đây khai phá, dựng xây làm giàu cho Tổ quốc. Bước chân của họ sẽ đặt lên nền đất cũ chiến hào - nơi những người thân của họ đã từng sống, chiến đấu và nhiều người đã anh dũng ngã xuống.

        Trên mảnh đất này, cái quá khứ anh hừng trong chiến tranh giải phóng Tổ quốc đang tiếp sức cho hiện tại xây dựng và bảo vệ đất nước. Hoàn cảnh mới đã khác. nhưng trên con đường lao động sáng tạo cũng như trong chiến đấu bảo vệ biên cương, nhiều khó khăn, thử thách mới đang đặt ra. Bài học về ý chí, nghị lực cách mạng, dũng khí tiến công và truyền thống quyết thắng, sáng tạo, tự lực vẫn có giá trị lớn đổi với họ.

        … “Cả trăm nghìn người đã ngã xuống trên miền đất thân thương này của Tổ quốc, nếu không làm cho rừng núi Tây Nguyên trở nên tươi đẹp, giàu có, vững mạnh thì chúng ta có tội biết bao với các liệt sĩ, với những bà mẹ đã cống hiến những đứa con yêu quý cửa mình. Chúng ta tin chắc, ngày mai, hàng trăm nghìn thanh niên trai, gái sẽ nối gót lớp trẻ hôm nay đến đây tiếp tục sự nghiệp xây dựng và khai phá ở Tây Nguyên, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự vững mạnh muôn đời của Tổ quốc Việt Nam”2.

        Ngày nay trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Tây Nguyên vẫn giữ một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng. Tây Nguyên sẽ mãi mãi là pháo đài vững chắc, là căn cứ hùng mạnh và bất khả xâm phạm của Tồ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

        Được vinh dự kế tục truyền thống tốt đẹp và lịch sử chiến đấu vé vang của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên, lớp lớp cán bộ và chiến sĩ trong đội ngũ Quân đoàn 3 hôm nay đang ra sức: “Xây dựng Quân đoàn 3 thành một quân đoàn chính quy hiện đại, có sức cơ động nhanh, đột kích mạnh, sẵn sàng chiến dấu cao và chiến đấu giỏi, sản xuất, đoàn kết và vận động nhân dân giỏi - là một trong những quân đoàn mẫu mực của Quân đội nhân dân Việt Nam”3.

        Nối tiếp những chiến công hiển hách năm xưa, Quân đoàn đã chiến đấu anh dũng và lập công xuất sắc trên mặt trận Tây Nam, bảo vệ vững chắc biên giới của Tổ quốc. Trong nghĩa vụ quốc tế của mình, với sức cơ động nhanh, đột kích mạnh và tinh thần chiến đấu ngoan cường, Quân đoàn và các đơn vị bạn đã sát cánh chiến đấu cùng với quân và dân Cam-pu-chia anh hùng, tiêu diệt tận gốc chế độ độc tài, phát xít tay sai Bắc Kinh của bè lũ Pôn Pốt - Iêng Xa-ry, đưa dân tộc Cam-pu-chia thoát khỏi nguy cơ diệt chủng.

        Dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 đang ra sức bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, nâng cao sức mạnh chiến đấu, giữ vững và phát huy truyền thống quý báu, sẵn sàng cùng toàn quân và toàn dân ta đập tan mọi mưu đồ khiêu khích và xâm lược của chủ nghĩa bành trướng và bá quyền nước lớn Trung quốc câu kết với chủ nghĩa đế quốc quốc tế bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, làm tròn mọi nghĩa vụ quốc tế, nguyện mãi mãi xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng và nhân dân.

Viết xong vào dịp kỷ niệm lần thứ 5        
Ngày thành lập Quân đoàn             
(26/3/1975 – 26/3/1980)             

--------------------------
        1. Thơ chiến sĩ.

        2. Trích bài nói của đồng chí Lê Duẫn trong cuộc mít tinh do tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Lắc tổ chức ngày 11 tháng 4 năm 1978 tại thị xã Buôn Ma Thuột. Báo Nhân dân số 8731, ngày 23 tháng 4 năm 1978.

        3. Trích nghị quyết Đảng ủy Quân đoàn 3 về phương hướng và nhiệm vụ xây dựng Quân đoàn, tháng 3 năm 1976.

HẾT