Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Một, 2016, 09:53:44 PM



Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Một, 2016, 09:53:44 PM

        - Tên sách: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2006
        - Số hoá: ptlinh, UyenNhi05.

        Chỉ đạo biên soạn:

        Đại tá PHẠM QUANG ĐỊNH
        Đại tá PHẠM BÁ TOÀN
        Đại tá NGUYỄN ĐỨC HÙNG

        Tổ chức:

        Đại tá KIỀU BÁCH TUẤN

        Biên soạn:

        Đại tá TRỊNH NGỌC NGHI


LỜI NÓI ĐẦU

        Thắng lợi hoàn toàn và triệt để của 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc là thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân mang đầy đủ tính triệt để và tính khoa học sâu sắc.

        Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã tiến hành một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện và lâu dài trong đó đã tạo nên bước phát triển với của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam.

        Nghệ thuật quân sự Việt Nam bao gồm nghệ thuật chỉ đạo điều hành chiến tranh của cơ quan lãnh đạo tối cao, nghệ thuật tác chiến ở tầm chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến đấu. Phương châm chiến lược của ta là đánh lâu dài, giành thắng lợi từng bước và khi có điều kiện chín muồi thì giành thắng lợi một cách mau lẹ, càng sớm càng tốt.

        Trên cơ sở đánh lâu dài, quân và dân ta đã luôn cố gắng vượt bậc, liên tục chiến đâu tiêu diệt địch giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm thay đổi dần lực lượng đối sánh giữa ta và địch, có lợi cho ta.  Bản chất của quân sự là chiến đấu. Trong chiến tranh giải phóng, quân dân ta đã đánh hàng ngàn trận.

        Trình độ nghệ thuật tác chiến với nội dung chính là cách đánh được nâng lên một tầm cao mới về chất. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thừa kế nhuần nhuyễn nghệ thuật quân sự truyền thống của cha ông, vận dụng cách đánh du kích hệt hợp với cách đánh chính quy, đánh tiêu hao kết hợp với đánh tiêu diệt; vận dụng nhiều cách đánh phong phú sáng tạo đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, đánh ở trước mặt và đánh sau lưng địch, huy động mọi sức mạnh của toàn dân để giành chiến thắng.

        Trong hàng ngàn trận đánh lớn nhỏ đó, mỗi trận đánh không chỉ là một chiến công góp vào rừng hoa chiến công của cả dân tộc, mà còn để lại nhiều kinh nghiệm quý báu góp vào kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam.

        Kinh nghiệm dù nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn - nó khẳng định nghệ thuật dám đánh, biết đánh và biết thắng của quân và dân ta. Tinh thần dám đánh, quyết đánh, ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của dân tộc ta trong chiến tranh giải phóng vẫn còn nóng hổi tính thời sự trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quôc xã hội chủ nghĩa. 

        Vì vậy, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức biên soạn cuốn “Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu”. Cuốn sách biên soạn dựa trên các tài liệu tổng kết kinh nghiệm chiến đấu của các đơn vị, địa phương, bao gồm hơn một trăm trận đánh trong không chiến chống thực dân Pháp. 

        Qua những trận chiến đấu, bạn đọc không chỉ ôn lại lịch sử chiến đấu và chiến thắng của các đơn vị, địa phương, mà còn hiểu rõ hơn nghệ thuật quân sự vận dụng trong những trận chiến đấu ấy. Điều đó giúp khẳng định rằng nếu có ý chí quyết thắng cao thì trước bất kỳ đối tượng tác chiến nào, chúng ta sẽ tìm ra cách đánh thích hợp  sẽ đánh thắng.

        Cuốn sách được biên soạn lần đầu, không tránh khỏi những hạn chế. Mong bạn đọc góp phê bình giúp cho việc biên soạn phục vụ bạn đọc tốt hơn.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN       


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Một, 2016, 09:56:37 PM
       
TRẬN UÔNG BÍ - BÍ CHỢ CỦA DU KÍCH CHIẾN KHU TRẦN HƯNG ĐẠO (1.7.1945)

        Trận tập kích của du kích cách mạng chiến khu Trần Hưng Đạo do Nguyễn Bình chỉ huy vào quân địch giừ đồn Uống Bí và trại huấn luyện sĩ quan Đại Việt ở Bí Chợ (tây bắc tỉnh Quảng Yên, nay là tỉnh Quảng Ninh), nhằm tiêu diệt và làm tan rã quân địch, phát triển lực lượng của chiến khu, củng cố cơ sở cách mạng ở địa phương.  

        Sau ngày 4 tháng 3 năm 1945, bọn Đại Việt được Nhật giúp đỡ đã lập trại huấn luyện, đào tạo sĩ quan của Đảng Đại Việt Trại thường xuyên có 70 học viên, một số thanh niên, học sinh nghèo thất nghiệp ở Hải Phòng về, còn hầu hết là thanh niên của Đảng Đại Việt. Trang bị có một đại liên, hai trung liên, bốn tiểu liên và khoảng 200 súng trường. Lúc lượng địch ở đồn Uông Bí có khoảng 30 bảo an binh, được trang bị vũ khí đầy đủ.

        Thực hiện kế hoạch giữa Việt Minh ở Uông Bí và lãnh đạo chiến khu Trần Hưng Đạo, ngày 28 tháng 6 năm 1945, năm chiến sĩ của chiến khu Trần Hưng Đạo, trang bị súng ngắn, mang sắc phục lính bảo an do Nguyễn Quý Đôn chỉ huy rời căn cứ đến gặp Nguyễn Bình ở cửa sông Uông Bí. Nguyễn Bình bổ sung nhiệm vụ đánh đồn Uống Bí cho Nguyễn Quý Đôn và giới thiệu với Cai Dung, một cơ sở của cách mạng với lực lượng đồn.

        Cai Dung đưa đội du kích vào đồn Uống Bí. Sau khi nắm tình hình, giao nhiệm vụ cho các đội viên lấy vũ khí, phát hiện quân Nhật diệt ngay không cho chúng thoát.

        Khoảng 23 giờ ngày 30 tháng  Nguyễn Quý Đôn gặp hơn 30 lính bảo an, tuyên truyền, thuyết phục, nhùng người lầm đường chống lại Tổ quốc, dân tộc và kêu gọi anh em ủng hộ cách mạng, tham gia chống Nhật cứu nước, cứu nhà.

        Sáng ngày 1 tháng 7, đội du kích khôn khéo bám sát những tên Nhật, diệt toàn bộ số quân Nhật trong đồn và trong nhà máy, thu hơn 60 súng trường, ba súng máy cùng nhiều đạn dược, nhận chín người lính khố đỏ tình nguyện tham gia du kích và rời khỏi đồn mang theo chiến lợi phẩm về chiến khu.  

        Cùng ngày, 10 du kích chiến khu do Nguyễn Bình trực tiếp chỉ huy từ trại Sấu tiến vào trại thanh niên Đại Việt ở Bí Chợ. Theo kế hoạch, khi du kích tập kết ở ngã ba đường 18 rẽ vào trại thì được Bùi Sinh, một nhân mối của ta đón vào khu vườn của trại. Ở đây Bùi Sinh và Nguyễn Văn Mộc vào đồn lấy súng trang bị đủ cho du kích.

        Ngày 29 tháng 6, khi Bùi Sinh từ chiến khu trở về đê đêm 30 tháng 6 đón đội du kích của Nguyễn Bình thì bị lộ, phải tìm Nguyễn Văn Mộc bàn cách đối phó. Buổi chiều, khi tên quan hai Nhật về đến trại thì nhận được lệnh phải đi Hòn Gai ngay nên trận đánh không thay đổi.

        Theo hiệp đồng, 23 giờ ngày 29 tháng 6, Bùi Sinh ra cách đồn 3 kilômét đón du kích, nhưng trời mưa to, đêm tối một nửa tiểu đội bị lạc. gần sáng. Nguyễn Bình quyết định với lực lượng hiện có vẫn đánh chiếm trại.

        Khi du kích vừa nhận vũ khí xong cũng là lúc kẻng báo thức. Nguyễn Bình phát lệnh tiến công, Các chiến sĩ du kích xông vào nhà hai tầng, chia nhau đánh chiếm từng phòng. Bị tiến công bất ngờ, địch không kịp phản ứng. Toàn bộ quân địch bị ta bắt. Ta thu hơn 100 khẩu súng các loại, cùng toàn bộ quân trang, đạn dược.

        Số học sinh Đại Việt được giải thích về chủ trương và chính sách kháng Nhật của Việt minh, tuyên bố giải tán trại, kêu gọi mọi người theo cách mạng. Có bốn người theo cách mạng, số còn lại xin về quê làm ăn.

        Chiến thắng Uông Bí - Bí Chợ tiếp tục tạo thế, tạo lực mới cho chiến khu Trần Hưng Đạo, mở hướng phát triển về Quảng Yên, Hòn Gai, Kiến An và Hải Phòng. Cơ sở cách mạng có điều kiện phát triển mạnh mẽ.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Một, 2016, 09:58:49 PM
     
TRẬN QUẢNG YÊN CỦA DU KÍCH CHIẾN KHU ĐÔNG TRIỀU(20.7.1945)

        Trận tập kích hạ đồn bảo an, đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) của du kích chiến khu Đông Triều nhằm tiêu diệt địch, giành chính quyền về tay nhân dân.

        Quảng Yên ở cửa ngõ của Bắc Bộ, có cửa Nam Triệu, đảo Cát Bà và vùng chiến lược Phả Lại. Các đường chiến lược số 5, số 18, số 13 và các đường sông Thái Bình, sông Kinh Thầy nối Quảng Yên với biển và vùng núi Đông Bắc.  

        Quảng Yên có tầm quan trọng đối với căn cứ địa Việt Bắc. Đối với địch, các phòng tuyến đường 18, đường 13 của Quảng Yên là tuyến ngvài bảo vệ đường số o và ngăn chặn quân ta từ rừng núi tiến về đồng bằng ven biển.  

        Do vị trí chiến lược của Quảng Yên nên địch bố trí ở đây đến 500 lính bảo an. Huyện Yên Hùng là vành đai bao quanh thị xã Quảng Yên cũng được bảo vệ chu đáo. Dinh tỉnh trưởng, huyện trưởng có một đại đội lính bảo vệ.  Ngoài ra, còn có lính bảo vệ tỉnh lỵ, huyện và châu lỵ và bộ máy cảnh sát, mật vụ dày đặc.

        Quảng Yên có phong trào cách mạng mạnh, hầu hết các thị trấn, thị xã đều có đội tự vệ cứu quốc. Riêng làng Phong Cốc phần lớn nhân dân tham gia các tổ chức của quần chúng cách mạng tích cực chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

        Tham gia trận đánh có Trung đội Hoàng Văn Thụ, Trung đội Hoàng Hoa Thám, hai tiểu đội của Trung đội Ký Con và một tiểu đội trinh sát Ngoài ra còn có du kích, tự vệ và nhân dân Quảng Yên, huyện Yên Hưng, cùng một số binh lính địch được cách mạng giác ngộ làm nội ứng.

        Để tiêu diệt địch, chỉ huy trận đánh tổ chức:

        - Hai tiểu đội của Trung đội Ký Con do Lê Phú chỉ huy bố trí ở phà Rừng, chặn địch tiếp viện từ Hải Phòng, Núi Đèo sang, tước khí giới đồn bảo an Yên Hưng, chiếm kho thóc và kho vải ở sở Mới.

        - Trung đội Hoàng Văn Thụ và Hoàng Hoa Thám do tự vệ địa phương dẫn đường, bí mật đột nhập vào thị xã, chiếm dinh tỉnh trưởng và các công sở, bao vây khu Văn Miếu và Vân Đồn của bảo an, phối hợp với nhân mối đột nhập chiếm kho vũ khí.

        - Các đội vũ trang tuyên truyền đi các phố, các làng tuyên truyền và lùng bắt bọn phản động chống phá cách mạng.

        18 giờ ngày 20 tháng 7, một đội vũ trang nhỏ đột nhập vào nhà riêng của tên Tiếp - chỉ huy bảo an bắt y nộp vũ khí. Cùng lúc đó, các trung đội Hoàng Văn Thụ, Hoàng Hoa Thám và tự vệ địa phương cắt đứt đường dây liên lạc giữa Quảng Yên với Núi Đèo, Hải Phòng và các vị trí khác của quân Nhật ở các vùng lân cận. Sau đó đột nhập vào thị xã, đánh chiếm dinh tỉnh trưởng, tòa án, kho bạc, bưu điện . . . , phá nhà lao, giải tán chính quyền tỉnh Quảng Yên và huyện yên Hưng.

        Ngụy quyền và binh lính vội vã đầu hàng, nộp vũ khí. Ta thu toàn bộ vũ khí và trang bị đưa xuống thuyền chuyển về chiến khu.  

        Rạng sáng ngày 21 tháng 7, được tin mất tỉnh lỵ Quảng Yên, quân Nhật ở Hải Phòng theo đường thủy kéo sang chiếm lại nhưng bị một Trung đội của Ký Con bố trí ở sở Mới, Phà Rừng đánh địch bật trở lại. Trận đánh kết thúc, ta chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên và huyện Yên Hưng, buộc toàn bộ lực lượng bảo an phải đầu hàng. Ta thu 500 súng các loại hàng tấn đạn dược và nhiều đồ dùng quân sự. Tỉnh lỵ Quang Yên và huyện Yên Hưng hoàn toàn giải phóng.

        Lần đầu tiên trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, quân cách mạng đã đánh chiếm và giải phóng một tỉnh lỵ, thu nhiều vũ khí quân dụng; tạo điều kiện phát triển lực lượng vũ trang và mở rộng chiến khu Đông Triều, lam bàn đạp tiến về Hải Phòng, Hòn Gai trong những ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Một, 2016, 10:00:46 PM

TRẬN QUỲNH LƯU CỦA MỘT TRUNG ĐỘI GIẢI PHÓNG QUÂN VÀ DU KÍCH CHIẾN KHU (11. 8.1945)

        Trận phục kích của du kích chiến khu Quỳnh Lưu (huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình), chống quân Nhật càn quét nhằm bảo vệ khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu gồm các xã: Sơn Hà, Sơn Lai, Quảng Lạc, Phú Long và Quỳnh Lưu. Trung tâm của chiến khu Quang Trung (thuộc tỉnh Hòa Bình - Ninh Bình - Thanh Hóa). 

        Sau khi đảo chính Pháp, quân Nhật tăng quân, tiến hành nhiều cuộc càn quét, đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta. Xung quanh chiến khu, về phía tây bắc, quân Nhật đóng ở Chi Nê, Nho Quan khoảng một tiểu đoàn; phía đông nam, chúng đóng ở Đồng Giao, chợ Ghềnh khoảng một tiểu đoàn; phía đông ở thị xã Ninh Bình một tiểu đoàn.

        Trung đội giải phóng quân có ba tiểu đội (41 người).  Trang bị 11 súng trường, sáu súng kíp, một trung liên, một tiểu liên còn lại là mã tấu do Lương Nhân làm Trung đội trưởng.

        Vào chiến đấu được tự vệ Nho Quan, Gia Viễn, Quỳnh Lơu, Phúc Lai phối hợp đánh địch.  9 giờ ngày 11 tháng 8, khi trung đội giải phóng và du kích vừa triển khai thế trận xong thì hai xe vận tải chở khoảng một đại đội quân thật từ huyện lỵ Nho Quan theo đường 9 tiến vào căn cứ.

        Hai xe đi qua cầu đến gốc đa Đôi dừng lại. Một số tên Nhật đứng trên xe, còn đại bộ phận hùng hổ lùng vào thôn Hội, thấy cảnh vườn không, nhà trống, chúng đốt nhà rồi vòng ra sông Quỳnh. Cầu tre bị phá chúng tìm thấy ba chiếc thuyền nan chìm dưới nước và dùng để vượt sông. Tên chỉ huy dẫn một tốp lên ba chiếc thuyền sang trước.

        Đợi thuyền quân thật tới tầm hỏa lực, tiểu đội giải phóng quân và du kích mai phục ở khu vực Vườn Hồ đồng loạt nổ súng, tên chỉ huy trúng đạn lăn xuống sông, địch vừa bắn trả vừa vớt xác tên chỉ huy; ít phút sau, thêm một tên nữa đền mạng trên thuyền. Bọn còn lại vội vã quay thuyền về bắc sông Quỳnh.

        Số địch còn lại trên bờ cùng lính dưới thuyền đưa xác hai tên bị chết chạy về bãi xe.  Khi ta đánh địch ở Vườn Hồ, các lực lượng giải phóng quân, tự vệ mai phục ở đồi Riềng và đồi Đô cũng nổ súng vào tốp lính Nhật đứng trên các xe.

        Bị đánh bất ngờ, mấy tên Nhật chưa kịp nằm xuống đã trúng đạn, kẻ bị thương, đứa chết, những tên sống sót vội nhảy xuống nấp sau bánh xe. 30 phút sau, số quân Nhật ở sông Quỳnh chạy tới, dùng hỏa lực kiềm chế để quay xe chạy về huyện lỵ Nho Quan.

        Trong lúc quân Nhật ở cây đa Đôi triển khai hỏa lực bắn trả lực lượng ta ở hai bên đường thì các du kích chặt cây ở các đồi quăng xuống đường và phá hỏng cầu sông Sanh và cầu Rịa cản xe giặc. Sau khi vượt qua trận địa đồi Đô, quân Nhật liên tục phải đối phó với các lực lượng vũ trang ta mai phục hai bên đường đánh tỉa nên vừa rút vừa phải đối phó rất vất vả.

        Quá trưa, chúng tới Rịa tại đây bị quân ta tắt đường truy kịp tiếp tục tiến công, buộc địch phải chiếm điểm cao bên trái đường, dùng hỏa lực đánh mạnh cho xe rẽ sang đường đi Kim Tân và xin viện binh từ Nho Quan tới giải vây.

        Trận đánh kết thúc, bảy quân địch chết, 12 tên bị thương, thu bảy súng các loại. Chiến thắng Quỳnh Lưu vừa thể hiện quyết tâm cao, sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang, tự vệ và quần chúng nhân dân, địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp để tiêu diệt quân địch; vừa thể hiện sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật chiến tranh du kích lấy ít đánh nhiều, lấy thô sơ chống hiện đại; luôn biết tạo lập thế trận bất ngờ, hiểm hóc để đánh và thắng địch.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Một, 2016, 10:04:25 PM

TRẬN THÁI NGUYÊN CỦA CHI ĐỘI 3 GIẢI PHÓNG QUÂN (7-26.8.1945)

        Trận bao vây, tiến công của Chi đội 3 giải phóng quân (gồm ba đại đội bộ binh và một trung đội hỏa lực, khoảng 450 người) được lực lượng chính trị và một Đại đội tự vệ huyện Phú Bình, một Trung đội tự vệ huyện Phổ Yên, lực lượng tự vệ thị xã và du kích các xã thuộc huyện Đồng Hỷ phối hợp đánh vào 120 quân Nhật và 400 bảo an binh, được trang bị súng máy, súng trường, lựu đạn, kiếm, phòng thủ tại thị xã Thái Nguyên.

        Thị xã Thái Nguyên, cửa ngõ phía nam của chiến khu Việt Bắc, có diện tích khoảng 1 kilômét vuông; xung quanh có các đồi: Chánh Sứ, Văn Miếu, Nhà Thương. Riêng đồi Chánh Sứ quân Nhật tổ chức phòng ngự kiên cố, án ngữ một đoạn sông Cầu và toàn bộ cửa ngõ phía bắc thị xã. 

        Ngày 16 tháng 8 năm l94 tại Tân Trào, đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp giao nhiệm vụ và chỉ huy Chi đội 3 tiến về phía nam, phối hợp với lực lượng vũ trang và chính trị tỉnh Thái nguyên tiến công quân Nhật và tay sai, giải phóng thị xã.

        Giữa đêm 19 tháng 8, khi tự vệ và du kích Phú Bình đánh chiếm được nhà máy đèn, các đơn vị của Chi đội 3 bắt đầu hình thành ba hướng hành quân vào chiếm lĩnh trận địa.

        2 giờ ngày 20 tháng 8, một tiểu đội quân giải phóng được tự vệ thị xã dẫn đường đánh chiếm nhà máy nước, bắt năm lính bảo an, thu năm súng. Sau đó chiếm giữ nhà máy nước, sẵn sàng phối hợp với các lực lượng đánh chiếm đồi Chánh Sứ.

        5 giờ 30 phút, ta gửi tối hậu thư cho tỉnh trưởng Bùi Huy Lượng và huyện trưởng Dương buộc phải đầu hàng. Trước khí thế đấu tranh của nhân dân, lại bị bao vây chặt, cả tỉnh trưởng và huyện trưởng cùng với bảo an binh ở trại lính Tây cũ hạ vũ khí đầu hàng giải phóng quân.

        7 giờ 30 phút, ta nổ súng tiến công quân Nhật; đến 8 giờ, ta gửi tối hậu thư qua tỉnh trưởng Bùi Huy Lượng yêu cầu quân Nhật ngừng chống trả và trao vũ khí cho quân đội cách mạng.

        Đến 14 giờ, địch không trả lời. 15 giờ, đại đội do Đàm Quang Trung chỉ huy được lệnh dùng các loại hỏa lực bắn vào đồn quân Nhật. Chúng chống trả quyết liệt.

        Chiều 20 tháng 8, nhân dân thị xã và huyện Đồng Hỷ mít tinh, xóa bỏ chính quyền của địch, thành lập ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Thái Nguyên. Chính quyền thị xã, huyện Đồng Hỷ và các xã, thôn, phố cũng được thành lập.

        Từ 21 đến 23 tháng 8, ta vừa củng cố chiến lũ trên đường phố, xiết chặt vòng vây quân Nhật vừa nổ súng tiến công, địch ngoan cố chống cự. Ngày 23 tháng 8, ta sử dụng một tổ có badôca do Sùng Hải chỉ huy áp chế địch để tổ đột kích do Vũ Ngọc Lê chỉ huy phá cửa vào nhà tiêu diệt tiểu đội địch trong biệt thự Gôchie1.

        Cùng ngày, theo lệnh của Chính phủ Cách mạng lâm thời, đồng chí Võ Nguyên Giáp và phần lớn lực lượng của Chi đội 3 tiến về Hà Nội, chỉ để lại một bộ phận cùng lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục diệt địch. 

        Ngày 24 tháng 8, một phái đoàn gồm đại diện của ta và của Nhật từ Hà Nội lên Thái Nguyên báo cho quân Nhật ở đây biết bộ chỉ huy quân Nhật ở Hà Nội đã nhận những điều kiện của Chính phủ ta và lệnh cho quân Nhật ở Thái Nguyên nộp vũ khí cho lực lượng cách mạng. 

        Viên quan ba đại diện cho quân Nhật ở Thái nguyên đã gặp ta và đề nghị xin nộp vũ khí ở tất cả các đồn lẻ: riêng ở thị xã xin hoãn lại chờ lệnh cấp trên và “án binh bất động”.

        Ta chấp nhận đề nghị đó, cung cấp lương thực, thực phẩm, nước uống cho quân Nhật trong đồn, cho phép lính Nhật được đi lại trong thị xã nhưng không mang theo vũ khí.

        Đồng chí Lê Trung Đình được giao nhiệm vụ cùng viên quan hai Nhật xuống giải giáp quân Nhật ở Phú Bình, sau đó giải giáp quân thật ở hai đồn Phấn Mễ và Đại Từ. 

        Ngày 25 tháng 8, ta và Nhật thúc hiện các điều khoản đã được thỏa thuận.

        Ngày 26 tháng 8, thị xã Thái Nguyên hoàn toàn giải phóng.

        Trận tiến công quân Nhật ở thị xã Thái Nguyên giành thắng lợi giòn giã, ta tiêu diệt một số quân Nhật (trong đó có trung úy Hancôđi, buộc quân địch ở thị xã và các đồn lẻ phải hạ vũ khí, bức hàng toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền; thu 600 khẩu súng các loại, bốn xe Ô tô, 300 tấn gạo...

        Đây là trận đánh lớn của Giải phóng quân Việt Nam, lần đầu tiên đánh quân Nhật ở một tỉnh lỵ miền núi có vị trí chiến lược quan trọng, góp chiến công đầu vào thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, giành chính quyền trong cả nước .

-----------------------
        1. Ở phía sau trụ sở báo Thái Nguyên hiện nay


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Một, 2016, 10:07:10 PM

TRẬN BIỂN HÒN GAI CỦA ĐẠI ĐỘI KÝ CON (7-11.9.1945)

        Trận tiến công của Đại đội Ký Con do Lê Phú chỉ huy đánh chiếm tàu chiến Crayxắc và tàu Ôđaxiơ của quân Pháp trên biển Hòn Gai ngày 7 và ngày 11 tháng 9 năm 1945, nhằm tiêu diệt địch, thu phương tiện chiến tranh của chúng.

        Tàu Crayxắc thuộc thủy đội hải quân Pháp tại Hải Phòng. Sau khi giành chính quyền (tháng 8 năm 1945 tàu phải rời bến Hải Phòng ra đảo Long Châu.

        Ngày 7 tháng 9, tàu Crayxắc được lệnh vào vịnh Hạ Long, tiến sát vào biển Hòn Gai. Tàu được trang bị một pháo 37mm nòng ngắn, ba đại liên, hai trọng liên 12,7mm, một khẩu badôca và một số tiểu liên, súng trường.

        Tàu Ôđaxiơ là loại tàu vừa chạy máy, vừa chạy buồm thuộc binh đoàn Móng Cái của Pháp trú ở đảo Cái Bầu, trên tàu có bốn sĩ quan và thuỷ thủ. Trang bị một đại liên, một badôca, năm tiểu liên, một số lựu đạn và một máy vô tuyến.

        Đại đội Ký Con do Lê Phú chỉ huy được lệnh của Nguyễn Bình. Chủ tịch ủy ban liên tỉnh duyên hải Đông Bắc ra Hòn Gai bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, đang đứng trước nhùng thử thách mới hết sức phức tạp. 

        Ở Hòn Gai ta có hai tàu thủy: tàu Bạch Đằng do thuyền trưởng Đạm chỉ huy, là loại tàu kéo của Pháp, chạy bằng hơi nước. Trang bị một đại liên, xung quanh có các bao cát chồng lên làm công sự chiến đấu. Tàu Giao Chỉ hai tầng, vỏ gỗ, chạy bằng hơi nước chở khách liên tuyến Hải Phòng - Hòn Gai - Cửa Ông.

        Chiều 6 tháng 9, Đại đội Ký Con rời trại Buê ngày 7 tháng 9 đổ bộ lên thị xã Hòn Gai. Vừa đến nơi, được tin tàu chiến Pháp từ đảo Vạn Hoa đang vào bến Hòn Gai. 

        Để tiêu diệt địch, chi huy trận đánh sử dụng các tiểu đội 1, 2 Trung đội 1 do Trung đội trưởng Hoàng Vinh chỉ huy xuống tàu Bạch Đằng. Tiểu đội 3 Trung đội 1 do Trung đội phó Bùi Sinh chỉ huy xuống tàu Giao Chỉ, hình thành gọng kìm đuổi theo tàu Crayxắc.

        7 giờ 30 phút ngày 7 tháng 9, ta phát hiện tàu Crayxắc và ra tín hiệu cho tàu dừng lại, nhưng tàu vẫn chạy. Lê Phú, Bùi Sinh và các chiến sĩ mượn một ca nô của dân đuổi theo tàu Crayxắc. Ta cho ca nô áp sát mạn tàu Crayxắc. Địch đẩy ta ra xa, giữa lúc ta và địch giằng co, Bùi Sinh cùng một số chiến sĩ bất ngờ nhảy sang tàu địch. 

        Trong lúc binh lính đang phải sang ca nô của ta, hai tàu Bạch Đằng và Giao Chỉ đã kịp thời áp mạn tàu địch. Hai tiểu đội của Hoàng Vinh từ tàu Bạch Đằng sang tàu Crayxắc. Và hai tên chỉ huy tàu cuối cùng cũng phải rời tàu Crayxắc khi tiếng súng cảnh báo họ không nên đùa với mạng sống của họ. 15 sĩ quan và thủy binh Pháp bị ta bắt gọn. Ta giải phóng cho số thủy thủ người Việt buộc phải làm cho tàu Crayxắc.

        Lo lắng vì mấy ngày chưa thấv tàu Crayxắc trở về. Chúng phái tàu Ôđaxiơ tử Cái Bàu về Hòn Gai để tìm tàu Crayxắc. Ngày 11 tháng 9 năm 1945, tàu Ôđaxiơ tiến vào biển Hòn Gai.

        Phát hiện tàu Crayxắc bị bắt, tàu Ôđaxiơ quay đầu tháo chạy, nhưng đã muộn. Toàn bộ sĩ quan và binh lính Pháp phải giơ tay xin hàng.

        Hai lần đấu chiến với hải quân Pháp, ta đã bắt hai tàu Crayxắc và ôđaxiơ, 24 sĩ quan và thủy binh Pháp, Mỹ.  Thu một khẩu 37mm, năm đại liên Mỹ, một trọng liên 12,7mm, một badôca và nhiều loại vũ khí cỡ nhỏ và các trang bị trên tàu.

        Trận đánh thể hiện lòng dũng cảm hiệp đồng chặt chẽ, chiếm nhanh hai tàu địch của Đại đội Ký Con. Nó chứng tỏ sức mạnh và quyết tâm bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám của quân và dân Hải Phòng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Một, 2016, 10:09:49 PM

TRẬN HẢI PHÒNG CỦA DÂN VÀ QUÂN THÀNH PHỐ CẢNG (20-26.11.1946)

        Trận chiến đấu của Trung đoàn 41 Vệ quốc đoàn (sau đổi thành Trung đoàn 42), Đại đội thủy quân Bạch Đằng, Đại đội tự vệ Yết Kiêu và 21 đại đội tự vệ của 13 khu phố nội thành, dưới sự chỉ đạo, chỉ huy thống nhất của ủy ban bảo vệ thành phố Hải Phòng.

        Theo Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, quân Pháp được ra miền Bắc thay thế quân Tưởng Giới Thạch giải giáp quân Nhật. Với quyết tâm cướp nước ta một lần nữa, ngay khi đổ quân lên Hải Phòng, địch nhanh chóng chiếm nhiều vị trí quan trọng nhơ nhà máy chai, nhà máy bát, nhà máy phốt phát, nhà máy nước. . . Đồng thời liên tục tăng quân, ráo riết gây rối, lấn chiếm, mở rộng các khu vực chiếm đóng của chúng.

        Đến tháng 10 năm 1946, quân Pháp ở Hải Phòng đã lên đến hơn 3.000 tên, trong đó có trung đoàn lê dương số 3 (thiếu một tiểu đoàn), trung đoàn pháo binh thuộc địa Ma rốc số  (thiếu một tiểu đoàn), một trung đoàn thiết giáp, cùng một bộ phận hải quân và không quân.

        Với lực lượng quân sự mạnh, địch luôn gây nên những sự kiện nghiêm trọng, hòng tạo cớ để nổ súng chiếm toàn bộ Hải Phòng.

        Trước những hành động khiêu khích của địch. Ta chủ trương tự kiềm chế, chấp hành nghiêm các điều khoản của hiệp định, tranh thủ thời gian củng cố và xây dùng lực lượng, sẵn sàng chiến đấu.

        Ngày 20 thảng 11 năm 1946, tướng Valuy tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương lệnh cho Moócliê ”thiết lập quyền kiểm soát thuế quan ở cảng Hải Phòng”. Ngay sau đó, địch cho tàu chiến đến bến Tam Bạc; bộ binh, xe tăng, bao vây bưu điện nha đốc lý, kho bạc, sở cảnh sát Trung ương, buộc ta phải giao lại các vị trí cho chúng, nếu không những sẽ tiến công tiêu diệt.

        Ta kiên quyết giữ các vị trí, sẵn sàng đánh trả địch. Chúng cho xe tăng chạy trên đường phố khiêu khích, thì uy ta, đồng thời cho một đại đội bộ binh cùng xe tăng, thiết giáp bao vây nhà ga Hải Phòng.

        Trước hành động khiêu khích của địch, ủy ban bảo vệ thành phố ra lệnh “Chuẩn bị chiến đấu”.  Được lệnh, các đơn vị của ta triển khai đội hình chiến đấu, nổ súng đánh địch. Nhân dân hăng hái chặt cây, dựng chiến lũy, làm vật cản, bố trí mìn đánh địch. 

        Những trận chiến đấu ở nhà hát lớn thành phố, buu điện, ngân hàng, kho bạc, sở cảnh sát Trung ương, sở hải quan, nhà ga xe lửa, trụ sở công an xung phong, nha đốc lý trụ sở ủy ban . . . diễn ra rất quyết liệt, liên tục suốt ngày đêm, tiêu diệt nhiều địch.

        Hiệp đồng với lực lượng Vệ quốc đoàn, tự vệ Khu 3 phối hợp với tự vệ hỏa xa phá cầu Quay và dùng đại liên súng cối kiềm chế địch ở Thượng Lý. Tự vệ các khu 6, 7 phối hợp với Đại đội 2 Tiểu đoàn 89 và Đại đội Ký Con bao vây nhà ga và chặn đánh quân tiếp viện. 

        Tự vệ Khu 10 Cửa Cấm. Khu 11 Đông Khê, Khu 12 Gia Viễn: Lạc Viên cùng bộ đội giữ vừng mặt trận phía Đông thành phố, gây cho địch nhiều thiệt hại.

        Phối hợp với mặt trận nội thành, ủy ban bảo vệ thành phố đã chỉ đạo cho lực lượng vũ trang huyện Hải An tiến công địch trong sân bay buộc chúng phải bỏ chạy dưới sự chi viện của pháo binh.

        Trận chiến đấu kéo dài từ ngày 20 đến ngày 26, ta và địch giành giật nhau từng mục tiêu, trên khắp các hẻm, ngách phố. Lực lượng vũ trang Hải Phòng đã diệt 137, làm bị thương 27 tên địch. Ta thu hai trung liên, năm tiểu liên, chín các bin, 10 súng trường, phá hủy một xe tăng. 

        Bảy ngày chiến đấu ngoan cường của quân và dân thành phố Hải Phòng đã góp phần đánh bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân Pháp nhằm tiêu diệt chính quyền và lực lượng vũ trang non trẻ của ta, tái chiếm Hải Phòng, tạo đầu cầu mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Một, 2016, 10:13:26 PM
             
TRẬN TRƯỜNG BƯỞI CỦA MỘT ĐẠI ĐỘI THUỘC TIỂU ĐOÀN 145 (19.12.1946)

        Trận tập kích của một đại đội tăng cường thuộc Tiểu 1 đoàn 14 được một bộ phận tự vệ phối hợp chiến đấu vào 250 quân Pháp đóng giữ ở trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An thuộc phường Thụy Khuê, quận Ba Đình thành phố Hà Nội).

        Theo kế hoạch, đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, mở đầu toàn quốc kháng chiến, ta đồng loạt tiến công một số vị trí quân Pháp. Để tiêu diệt địch ở trường Bưởi, ta tiến công chủ yếu từ đường Thủ Khoa Huân (nay là đường Thụy Khuê) qua cổng chính vào. Hướng thứ yếu dùng thuyền bơi vòng ra Hồ Tây quặt vào sau trường, đánh từ phía bắc xuống.

        Trên hướng chủ yếu quân ta ném lựu đạn, bắn súng, giết hai lính gác rồi xông vào sân trường. Hướng thứ yếu quân ta bí mật, đổ bộ bất ngờ vào sau trường. Tuy vậy, hai toán cách xa, không liên lạc được với nhau.

        Bị tập kích bất ngờ, tất cả quân địch lên tầng hai và tầng ba ném lựu đạn và bắn xuống. Ta không tiến lên được, định đốt kho đạn, kho xăng nhưng địch đã chuyển đi nơi khác. Ta và địch đối chiến khoảng một giờ rồi rút.

        Trận tập kích quân địch ở trường Bưởi để lại nhiều kinh nghiệm quý về nắm địch, chọn mục tiêu tiến công hợp với sức ta; về giữ bí mật, tạo bất ngờ trong tập kích quân địch trong thành phố.


TRẬN PASTƠ CỦA ĐẠI ĐỘI 14 (THIẾU MỘT TRUNG ĐỘI) (19.12.1946)

        Trận tập kích của Đại đội 14 (thiếu một trung đội) và 1 một tiểu đội quyết tử của Tiểu đoàn 212 do Đại đội trưởng Lê Tập chỉ huy vào hai tiểu đội quân địch giũ Viện Pastơ (nay là Viện Vệ sinh dịch tễ), nhằm tiêu diệt địch, làm chậm bước tiến quân lấn chiếm của địch.  

        Sau hiệu lệnh nổ súng của toàn thành phố. Ở các vị trí đồn trú, địch triển khai lực lượng đối phó. Tại Viện Pastơ, địch triển khai lực lượng theo hàng rào phía bắc nhà. Phát hiện bộ đội ta triển khai lực lượng, chúng dùng đại liên, trung liên và các hỏa lực khác bắn vào đội hình quân ta đang từ vườn hoa Pastơ tiến vào.

        Trên các hướng bắc, tây bắc quân ta bị chặn lại hàng giờ đồng hồ. Trong tình thế khó khăn Tiểu đội trưởng Ngô Thế Dụ phát hiện có một miệng cống ngầm dẫn vào sân phía tây của dinh thự. Lập tức đồng chí chui vào rồi ra dẫn anh em theo đường cống ngầm vào bên trong, đồng loạt ném lựu đạn vào quân địch, diệt nhiều tên. Số địch còn lại chạy thoát về khu nhà thương Đồn Thủy.

        Quân ta làm chủ Viện Pastơ, thu dọn một số chiến lợi phẩm rồi lui quân.

        Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về giữ bí mật, tạo bất ngờ; về tiến công địch từ nhiều hướng; về lợi dụng cấu trúc của hệ thống ngầm trong thành phố. . .


TRẬN HÀNG ĐẬU CỦA CÁC TRUNG ĐỘI TỰ VỆ CÔNG NHÂN, VỆ QUỐC ĐOÀN, CÔNG AN XUNG PHONG (19.12.1946)

        Trận phòng ngự chặn địch của các trung đội tự vệ công nhân, Vệ quốc đoàn, Công an xung phong chặn đánh xe tăng, xe bọc thép và bộ binh Pháp trên đường phố Hàng Đậu (thành phố Hà Nội), nhằm tiêu diệt địch, không cho chúng nối thông đường với cầu Long Biên sang Gia Lâm.

        Ngay sau khi hiệu lệnh nổ súng mở đầu toàn quốc kháng chiến 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946), quân Pháp ở đầu cầu Long Biên dùng hỏa lực trên xe bọc thép bắn vào nhà số 1 phố Hàng Đậu, khống chế toàn bộ khu vực đầu cầu 15 phút sau, địch từ thành Hoàng Diệu theo đường Phan Đình Phùng ra chiếm phố Hàng Đậu, cầu Long Biên.

        Khi chúng đến tháp nước tròn thì bị Trung đội Công an xung phong chặn đánh, đốt cháy một xe bọc thép của địch. Tự vệ ở các phố Hàng Than: Hàng Đậu dùng hỏa lực chi viện cho các chiến sĩ công an đánh địch.  Sau một giờ chiến đấu, các chiến sĩ công an phải lui về phố Gầm Cầu.

        Địch tiến vào phố Hàng Đậu, nhưng bị vật cản chặn đường không tiến nhanh được, xe bọc thép trúng mìn, lính trên xe xuống đường bị ta tiêu diệt. Trong khi cánh quân thứ nhất bị ta chặn đánh ở phố Hàng Đậu địch phải sử dụng cánh quân thứ hai sau khi giải vây cho nhà máy điện, nhà máy nước, định ra chiếm Ô Yên phụ nhưng phải theo đê tiến đến đầu cầu Long Biên để hợp lực với cánh quân thứ nhất mở thông đường Hàng Đậu.

        Tự vệ cùng với Vệ quốc đoàn chặn đánh quyết liệt quân địch ở bờ sông và đầu đường Trần Nhật Quật. Tổ đánh bom ba càng phối hợp với tổ trung liên đặt mìn làm nổ tung đốc cầu. Quân địch dao động phải cụm lại dọc cầu dùng hỏa lực chi viện. Quân ta từ số 1 Hàng Đậu bắn vào quân địch ở đốc cầu.

        Phát hiện hỏa điểm lợi hại này, địch dùng hỏa lực trên xe thiết giáp chi viện cho bộ binh xông vào nhà số 1 . Lập tức quả mìn đặt ở hõm cây bàng cạnh sân nổ, nhiều quân địch bỏ mạng.  Địch chiếm được nhà số 1 .

        Lúc này đạn của ta gần hết, các tổ tự vệ không liên lạc được với nhau. Một số tổ tự động rút về Yên Phụ. Một số tổ rút về Hàng Khoai. Chỉ còn lại một tổ ở lại quấy rối địch trên đường Hàng Đậu. Lực lượng Vệ quốc đoàn ở bờ sông rút về Yên Phụ.

        Sau hơn ba giờ tiến công hai cánh quân địch mới kiểm soát được phố Hàng Đậu, chiếm được đầu cầu Long Biến, phong tỏa được đường Yên Phụ. Nhưng chúng phải trả giá với 10 tên lính Pháp chết và nhiều tên bị thương, ba xe bọc thép và một xe Jeép bị phá hủy.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Một, 2016, 10:17:06 PM
   
TRẬN BẮC BỘ PHỦ CỦA ĐẠI ĐỘI 1 TIỂU ĐOÀN 101 (19-20.12.1946)

        Trận phòng ngự của Đại đội 1 Tiểu đoàn 101 đánh vào 1300 quân Pháp được 18 xe tăng yểm trợ, tiến công quân ta bảo vệ Bắc Bộ phủ (số 2 Ngô Quyền, Hà Nội).  

        Chuẩn bị cho trận chiến đấu bảo vệ Bắc Bộ phủ, ủy ban kháng chiến, Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội và Liên khu 1 đã chỉ đạo tiểu đoàn và Đại đội 1 làm kế hoạch chiến đấu, chuẩn bị và bố trí lực lượng, đào hào, đắp lũy chôn bom, bí mật tập dượt theo phương án đánh địch.

        Đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, địch từ thành Hoàng Diệu theo đường Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ), Tràng Thi, Tràng Tiền, tiến đánh Bắc Bộ phủ. Trên đường tiến quân, địch liên tục bị ta chặn đánh nên tốc độ tiến chậm lại.

        3 giờ ngày 20 tháng 12, địch bắt đầu đột phá vào Bắc Bộ phủ. Một chiến sĩ cảm tử của ta ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch, diệt một chiếc. Một chiến sĩ khác đâm bom ba càng vào chiếc thứ hai, bom không nổ. Cả hai chiến sĩ hy sinh, nhưng địch hoảng sợ phải lui quân.

        Dựa vào lực lượng đông, có xe tăng, pháo binh và được không quân chi viện. Địch liên tục mở các đợt tiến công vào Bắc Bộ phủ. Quân ta dựa vào chiến hào, tường nhà đánh lui tất cả sáu đợt tiến công của địch.  

        Không chiếm được mục tiêu, bị tiêu diệt nhiều, địch không dám tiến công tiếp mà cho máy bay bắn phá dữ dội cho đến tối khi ta đã lui quân để bảo toàn lực lượng.  

        Chiếm được Bắc Bộ phủ, địch đã phải trả một giá quá đắt: 122 lính lê dương bị diệt, bốn xe bọc thép và xe tăng, một xe gíp, ba xe vận tải bị phá. Quân ta hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


TRẬN TRỤ SỞ BỘ QUỐC PHÒNG CỦA MỘT TRUNG ĐỘI THUỘC ĐẠI ĐỘI 3 TIỂU ĐOÀN 77 (21.12.1946)

        Trận phòng ngự của một trung đội thuộc Đại đội 3 Tiểu  đoàn 77 và hai tiểu đội tự vệ khu Đại học đánh trả quân Pháp tiến công vào trụ sở Bộ Quốc phòng ở trường Nữ sinh Đồng Khánh (nay là trường Trơng Vương) ở số nhà 28 Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.  

        Sáng ngày 21 tháng 1 năm 1946, quân Pháp đồng thời tiến công đánh chiếm cả trụ sở Bộ Quốc phòng và trại Vệ quốc đoàn Trung ương.

        8 giờ, xe tăng địch từ phố Lý Thường Kiệt dùng pháo và súng máy 12,7mm bắn vào nhà, tiếp đó bộ binh xung phong vào các mục tiêu. Từ các vị trí được chuẩn bị, trung liên ta bắn chặn diệt một số tên. Bị đánh bất ngờ, một số tháo chạy, một số lợi dụng bờ tường bắn trả.

        Cùng thời gian, xe thiết giáp địch áp sát bờ rào đường Hàng Bài bắn vào các cửa sổ nhà chính. Quân ta từ trên tầng 2 ném lựu đạn và chai xăng Chếp xuống, buộc xe địch phải dạt ra giữa đường phố. Chúng đưa hỏa khí vào một nhà đối diện bắn mạnh vào các tổ súng trường của ta rồi cho bộ binh xung phong. Chờ địch đến gần, quân ta dùng lựu đạn và súng trường diệt nhiều địch, buộc chủng phải tháo lui.

        11 giờ, địch không đột phá nổi nên phải lùi ra xa và dùng hai máy bay đến thả bốn quả bom phá sập dãy nhà ngang và một góc phía bắc nh.à chính.

        Ta kiên trì chặn địch, chúng không đột phá nổi. Hơn 11 giờ, địch mở tiếp đợt xung phong, nhưng bị ta đánh lui. Lúc này ta chỉ còn khoảng hai tiểu đội chặn địch. Cầm cự thêm một thời gian, khoảng 1 giờ các chiến sĩ còn lại rút theo đường Mai Hắc Đế (nay là phố Bà Triệu) ra ngoài.  

        Trận đánh kết thúc, khoảng 60 tên địch bị diệt, ta thương vong hai tiểu đội. Tuy lực lượng ta ít những đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao, tiêu diệt nhiều địch, không cho chúng đánh chiếm trụ sở Bộ Quốc phòng.  


TRẬN TRẠI VỆ QUỐC ĐOÀN TRUNG ƯƠNG CỦA ĐẠI ĐỘI 3 (THIẾU MỘT TRUNG ĐỘI) THUỘC TIỂU ĐOÀN 77 (21.12.1946)

        Trận phòng ngự của Đại đội 3 (thiếu một trung đội) 1 thuộc Tiểu đoàn 77 đánh trả quân Pháp tiến công vào trại Vệ quốc đoàn Trung ương, một trại lính khố xanh do Pháp xây dựng hồi Pháp thuộc.

        Sau ngày Nhật đảo chính Pháp gọi là trại bảo an binh. Sau Tổng khởi nghĩa ta lấy làm trại Vệ quốc đoàn Trung ương, ở số nhà 40 phố Hàng Bài, nay thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.  

        Từ 7 giờ ngày 21 tháng 12, địch bắn phá mãnh liệt vào trại. 8 giờ, bốn xe tăng và xe thiết giáp cùng chở bộ binh tiến theo đường Trần Hưng Đạo đến gần và triển khai thành hai bộ phận:

        Bộ phận chính rẽ sang phố Hàng Bài và chiếm rạp chiếu bóng Magéttích, đặt súng máy bắn mãnh liệt vào chính diện trại Vệ quốc đoàn Trung ương chi viện cho bộ binh xung phong từ hướng đông sang. Bộ phận thứ yếu chiếm phía nam nhà Vinh Thụy, bắn vào phía nam trại, chi viện cho bộ binh xung phong.

        Từ 8 giờ đến 11 giờ, dựa vào chiến hào và công sự đào sát tường rào, các trung đội của ta đã đánh lui ba đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên.

        Không đột phá được, địch lui ra xa và cho máy bay đến ném hai quả bom vào khu nhà phía bắc - nhà sập, nhưng quân ta đang ở trong công sự nên không bị tổn thất.  

        Sau trận bom, địch cho xe tăng húc đổ cổng chính tiến vào sân. Nhưng cả hai trung đội của ta đã rút theo đường chuẩn bị sẵn về phía sau. 50 tên địch bị tiêu diệt.  

        Trận phòng ngự giữ trại Vệ quốc đoàn để lại cho ta kinh nghiệm về giữ gìn lực lượng khi địch chuẩn bị hỏa lực; về đánh địch trước tiền tuyến phòng ngự của ta; về tổ chức lui quân bí mật, an toàn để bảo tồn lực lượng tiếp tục chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Một, 2016, 10:19:54 PM

TRẬN TRỤ SỞ BỘ TỔNG THAM MƯU CỦA MỘT TRUNG ĐỘI THUỘC ĐẠI ĐỘI 1 TIỂU ĐOÀN 77 (23.12.1946)

        Trận phòng ngự của một trung đội thuộc Đại đội 1 Tiểu -1 đoàn 77 do Trung đội trưởng Trần Thành chỉ huy đánh quân viễn chinh Pháp tiến công vào trận địa phòng ngự ở trụ sở Bộ Tổng tham mưu (số nhà 16 nay là 18 phố Nguyễn Du), quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội. 

        Khoảng 8 giờ ngày 23 tháng 12, địch bắt đầu bắn pháo chuẩn bị. Súng cối liên tiếp bắn vào trụ sở Bộ Tổng tham mưu. Tiếp đó, địch sử dụng bốn xe tăng và xe bọc thép cùng vời bộ binh tiến công ta trên hai hướng:

        Hướng thứ yếu từ phía đông, một đại đội bộ binh có xe tăng dẫn đầu tử đường Nguyễn Công Trứ, đường Lê Văn Hưu đánh sang. Hướng này bị bộ đội ta và dân quân tự vệ chặn lại không tiến lên được.

        Hướng chủ yếu ở phía tây địch cho bốn xe tăng và xe bọc thép cùng một đại đội lê dương tiến công chiếm lại nhà 63 Hàng Kèn (Bà Triệu) và bắn mạnh vào các nhà bên cạnh. Các chiến sĩ ta cơ động dưới chiến hào dùng súng, lựu đạn thủ pháo tiêu diệt địch. Ta liên tục cơ động nghi binh nên địch lầm tưởng ta nhiều quân.

        Địch sử dụng súng cối và súng máy 12,7mm, 13,2mm bắn phá dồn dập vào trận địa ta. Nhờ có nhiều chiến hào và công sự nên ta ít thương vong.

        Tiếp đó, địch cho xe tăng dẫn đầu bộ binh tiến đến ngã năm dốc Hàng èn xung phong vào vị trí phòng thủ của ta trên đường Nguyễn Du. Được khoảng 30 mét, gặp hố và công sự của ta địch phải dừng lại.

        Trung đội trưởng Trần Thành xông lên và đâm bom ba càng. Chiếc xe đứt xích dừng lại, Trần Thành bị thương ở tay định bò về cổng nhà Bộ Tổng tham mưu. Khoảng 20 tên địch xông lên định bắt sống. Trần Thành nằm quay đầu lại phía địch cho nổ một lúc hai quả lựu đạn vào quân địch đang xông tới.  Trần Thành anh dũng hy sinh.

        11 giờ, ta dồn lực lượng về bảo vệ trụ sở Bộ Tổng Tham mưu, một bộ phận nhỏ địch lọt vào ngôi nhà gỗ ở phía tây sân định tiến đánh ngôi nhà lớn hai tầng. Các chiến sĩ ta dùng hỏa lực, thường xuyên di chuyển vị trí bắn kiên quyết giữ ngôi nhà lớn, giết thêm nhiều địch, chặn đứng được chúng.

        Trời tối, địch phải lui quân. Ta củng cố các vị trí phòng ngự chuyển thương binh về phía sau. Khoảng 21 giờ, quân ta rút khỏi trận địa.

        Trận đánh kết thúc, 45 tên lính Pháp bị diệt và bị thương, một xe tăng bị phá hỏng. Sau trận đánh ta thấy: để bảo vệ được các dinh thự trong thành phố. ta phải tổ chức trận địa phòng ngự trên một khu vực tương đối rộng, có phán đoán hướng tiến công của địch; tổ chức trận địa phòng ngự có chiều sâu trên ba tuyến và kiên quyết đánh bại địch ở tiền duyên trên đường phố.


TRẬN NHÀ DẦU SEN (SHELL) CỦA ĐẠI ĐỘI 27 VÀ LỰC LƯỢNG TỰ VỆ CHIẾN ĐẤU (25.12.1946)

        Trận tập kích của Đại đội 27 (thiếu một trung đội) và 1 hai trung đội tự vệ chiến đấu, công nhân hỏa xa, một tiểu đội quyết tử, được tăng cường một khẩu 12,7 mm. một khẩu pháo 37mm, do Tiểu đoàn trưởng An Giao trúc tiếp chỉ huy, nhằm tiêu diệt địch, chiếm một số vị trí vòng ngoài của địch ở nhà dầu Sen (Shell).

        21 giờ ngày 24 tháng 12 bộ đội hành quân chiếm lĩnh thành hai mũi tiến đánh địch ở nhà dầu Sen. Trung đội 10 và một tiểu đội quyết tử vượt qua chợ Khâm Thiên, vòng qua bãi trống tiến sát phía nam nhà dầu. Trung đội 51, một trung đội tự vệ, một tiểu đội quyết tử theo đường nhỏ giữa ao tiến sát phía tây nhà dầu. Khẩu 37mm và khẩu 12,7mm bố trí phía tây nhà dầu nhằm vào hai bốt gác và sân trước nhà dầu Sen.

        Trên hướng thứ yếu: Mũi một gồm hai tiểu đội tự vệ hỏa xa cùng một tiểu đội vệ quốc đoàn từ hướng bắc tiến công vào quán cơm. Mũi hai có một tiểu đội đánh vào nhà ga để quấy rối, chặn không cho địch đánh vào sau lưng mũi một.

        0 giờ 30 phút ngày 25 tháng 12: pháo 37mm và 12,7 mm bắn vào bốt gác địch, phá được bốt gác thứ nhất,  hai trọng liên bắn vào nhà dầu. Tiểu đội quyết tử ở đầu mũi phía nam xung phong.

        Hỏa lực của địch bắn chặn quyết liệt, ta phải dừng lại. Pháo và trọng liên diệt tiếp lô cốt thứ hai. Mũi phía nam vượt rào và tiến vào sân sau nhà dầu. Hỏa lực địch từ trên các nhà cao quán cơm Hỏa Xa bắn vào quân ta ở sân này.

        Trên hướng thứ yếu phía bắc, các tổ áp sát tường rào, được lệnh nổ súng, nhanh chóng ném lựu đạn và vượt rào đánh vào ba nhà. Hỏa lực địch từ trên chiếc xe thiết giáp bắn mạnh về phía ta.

        Phát hiện xe thiết giáp đang bắn, quân ta ném lựu đạn và chiếm xe dùng 12,7mm bắn vào cửa sổ ngôi nhà quán cơm ta chưa chiếm được đang dùng hỏa lực bắn ra, tiếp đó bắn vào hai bốt gác đầu cầu. 

        Biết ta đã chiếm được quán cơm và xe thiết giáp, lực lượng đánh địch ở nhà dầu đã xung phong vào nhà 5 gian.  Địch tháo chạy theo đường xe lửa về nhà ga. Ta chiếm được nhà dầu, thu một số vũ khí.

        Ở cánh bắc, sau khi chiếm được Xe thiết giáp, nghe có  tiếng súng từ phía nhà chè Phú Xuân. Biết địch không phản kích, quân ta định tháo khẩu 12 mm trên xe, nhưng không biết tháo, phải gài quả lựu đạn phá hủy xe và súng rồi rút quân.

        Trận đánh kết thúc, ta loại khỏi vòng chiến đấu 20 tên lính Pháp, phá một xe thiết giáp. Thu một số vũ khí các loại.

        Trận đánh địch ở nhà dầu Sen là một trận tiến công đạt hiệu quả tốt; để lại nhiều kinh nghiệm quý về xác định mục tiêu, về nắm địch, về đánh giá đúng giá trị chiến thuật của các ngôi nhà cao, đường sá trong thành phố, về tổ chức tiến công địch từ nhiều hướng, trong đó có hướng hình; về triệt để tận dụng yếu tố bí mật bất ngờ và có phương án đánh địch rút chạy.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:08:27 AM

TRẬN Ô CẦU DỀN CỦA ĐẠI ĐỘI 3 TIỂU ĐOÀN 77 (26-28.12.1946)

        Trận phòng ngự của Đại đội 3 Tiểu đoàn 77 đánh vào lực lượng bộ binh và xe tăng quân Pháp tiến công vào trận địa ở Ô Cầu Dền không cho chúng mở thông đường La Thành, tạo bàn đạp tiến xuống ngã tư Trung Hiền. 

        Sáng sớm ngày 26 tháng 12, các máy bay Moran ném bom dọc phố Duy Tân và Nam Bộ, trọng điểm là chiến lũy Ô Cầu Dền làm nhiều căn nhà đổ sập.

        Tiếp đó, một xe tăng và một xe bọc thép dẫn khoảng 100 lính Pháp từ phố Duy Tân xuống, vừa đi chúng vừa bắn vào hai bên phố và bắn pháo 37mm vào chiến lũy.

        Cùng lúc đó địch ở nhà Vạn Vân, trường Duy Tân, nhà sữa Minh Ngọc dùng đại liên bắn dữ dội về phía ta.

        Từ trận địa, quân ta kiên quyết đánh trả, địch không tiến lên được. Chúng cho xe tăng vòng ra chiếm ngã ba Đại Cồ Việt - Lê Bình, dùng pháo trên xe và súng 12,7 mm bắn vào bên sườn chiến lũy và đình TÔ Hoàng nơi có khẩu trung liên của ta.

        Đến 17 giờ, không đột phá được trận địa, địch phải lui về sau với 10 tên lính bị tiêu diệt và nhiều tên khác bị thương. Đêm đó ta củng cố lại trận địa, xếp thêm bao cát thành ụ chiến đấu. 

        Ngày 27 tháng 1 khi địch tiến công, rút kinh nghiệm trận đánh hôm trước, ta tổ chức lực lượng kiềm chế các ổ đại liên của địch. Một số địch chiếm các ụ trên nhà cao băn về phía ta, bị ta đánh trả chúng phải rút chạy. 

        Ngày 28, địch cho xe tăng, xe bọc thép đi đầu bắn phá, bộ binh đi sau, tới gần cửa Ô chúng phải đi chậm lại vì sợ mìn. Từ sau chiến lũy và trên các nhà cao quân ta nổ súng, ném lựu đạn diệt một số tên.

        Xạ thủ badôca bắn ba phát đạn diệt một xe tăng một xe bọc thép, địch hoảng hốt bỏ chạy. Ta thừa thắng xuất kích chiếm nhà thờ Vũ Tạo, nhà sữa Minh Ngọc, diệt ổ đại liên ở ngã ba Đại Cồ Việt - Lê Bình, đánh vào trường Duy Tân, đốt cháy hai xe tải, diệt khoảng 20 tên lính Pháp.

        Ba ngày kiên cường chiến đấu, quân ta giữ vững trận địa Ô Cầu Dền đến ngày 15 tháng 1 năm 1947.  Nhờ tổ chức một khu vực phòng ngự vừng chắc lấy chiến lũy Ô Cầu Dền làm điểm tựa mà ta đã chặn được bộ binh cơ giới - một ưu thế của địch, diệt được nhiều xe, đánh bại nhiều đợt tiến công trong nhiều ngày của quân Pháp.

        Những kinh nghiệm về tăng cường hầm hố ẩn nấp, làm giao thông hào để cơ động lực lượng đã giảm thiểu thương vong; dùng lực lượng nhỏ thường xuyên tập kích, quấy rối địch là biện pháp giữ trận địa tích cực.


TRẬN HÀNG BỘT - Ô CHỢ DỪA CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 523 (30.12.1946)

        Trận phòng ngự của Tiểu đoàn bộ binh 523 được một 1 đại đội tự vệ phối hợp chiến đấu đánh quân Pháp có phi pháo, xe tăng yểm trợ tiến công vào trận địa ở Hàng Bột - Ô Chợ Dừa nhằm ngăn chặn quân địch tiến công, không cho chúng nhanh chóng chiếm toàn bộ thành phố trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. 

        5 giờ ngày 30 tháng 12 năm 1946, địch dùng phi pháo đánh phá các dãy phố Hàng Bột, Khâm Thiên, Ô Chợ Dừa.  Bom nổ trúng hầm chỉ huy của Liên khu 2 và Tiểu đoàn 523 làm ta bị thương một số - Sở chỉ huy phải dời về ấp Thái Hà.

        Tiếp đó, khoảng 300 quân Pháp cùng với bốn xe tăng hai xe thiết giáp và xe ủi, xe tải chở quân từ nhà Gian Đa (Jean Dare) tiến vào Hàng Bột.

        Đại đội 29 và tự vệ chặn địch ở Văn Miếu. Từ các nhà hai bên phố, các công sự, ụ chiến đấu ta dùng súng trường và lựu đạn, diệt địch.  Địch dùng hỏa lực trên xe tăng, thiết giáp bắn phá dữ dội vào các nhà dọc phố. Ta không giữ được. 10 giờ phải rút. 

        Địch dùng xe ủi phá các baricát, nhưng đến baricát thứ hai ở ngã ba Đoàn Thị Điểm - Hàng Bột thì bị ta đánh trả quyết liệt. Xe tăng, xe cơ giới dừng lại, không tiến lên được. Địch cho một bộ phận từ nhà Tiền1  theo bãi Xếp Tô2 tiến xuống Thịnh Hào. Ta không giữ được Thịnh Hào phải lui về Giảng Võ.

        Địch cho một bộ phận từ Thịnh Hào xuống chiếu cuối phố Hàng Bột rồi từ đó đánh quặt lên, đồng thời cho một bộ phận đánh sang Khâm Thiên - Ô Chợ Dừa. phi pháo các loại của địch bắn phá dữ dội vào ngã năm, một bộ phận của ta xuống hầm trú ẩn bị địch bao vây không biết nên bị tổn thất.

        Ta phải rút qua xóm Thổ Quan về Nam Đồng. Cùng thời gian này, địch đánh chiếm phố Khâm Thiên và khép vây tại Ô Chợ Dừa. Cả hai cánh bị chặn lại ở baricát ở Ô Chợ Dừa của ta. 

        Sau khi chiếm Hàng Bột, ở Ô Chợ Dừa địch chỉ để lại một bộ phận đóng giữ các nhà cao ở ngã năm Ô Chợ Dừa còn đại bộ phận rút về trước khi trời tối. Một ngày chiến đấu trên cả hai hướng Khâm Thiên, Hàng Bột địch bị diệt 30 tên.

        Nhờ biết dựa vào địa hình cụ thể và kiến trúc hai bên phố, đắp baricát, tổ chức thế trận liên hoàn; có dự kiến đánh địch vu hồi và cơ động chặn địch từng bước mà ta đã chặn được bước tiến của địch, tiêu diệt nhiều tên lính Pháp. 

--------------------
        1. Nay là nhà máy in Tiến Bộ.

        2. Nay là sân vận động Hàng Đẫy - Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:11:42 AM

TRẬN KIM LIÊN CỦA MỘT TRUNG ĐỘI THUỘC ĐẠI ĐỘI 27 TIỂU ĐOÀN 523 (31.12.1946)

        Trận phòng ngự của một trung đội thuộc Đại đội 271 Tiểu đoàn 523 Vệ quốc đoàn vào 200 quân Pháp được hai xe tăng, bốn xe thiết giáp và không quân yểm trợ ở thôn Kim Liên (nay là phường Kim Liên, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội).

        5 giờ ngày 31 tháng 12, địch pháo hỏa chuẩn bị vào các chốt của ta, xe tăng bắn phá vào baricát ở chốt 2.

        8 giờ, một đại đội địch theo sau xe tăng tiếp cận trận địa. Quân ta ở chốt 2 dựa vào baricát và chiến hào đợi địch đến diệt một số tên. Một xe tăng trúng mìn của ta đứt xích.

        Không đột phá được, địch lui ra xa, dùng pháo cối bắn phá và xung phong lần thứ hai. Cuộc tiến công bị đánh bại, chúng tiếp tục lui ra và bắn phá dữ dội vào trận địa.

        14 giờ, địch tiến công tiếp lần thứ ba, lần này chúng chia làm hai mũi đánh vào hai chốt. Nhưng cả hai hướng tiến công địch đều bị chặn lại.

        16 giờ, địch cho xe lội nước chở quân vượt hồ Bảy Mẫu vu hồi đánh vào chốt 1. Các lực lượng của ta vẫn bám trụ kiên cường chặn địch. Thất bại liên tiếp, địch cho hai máy bay đến bắn phá ác liệt vào cả chốt 1 và chốt 2. 

        Để giữ vững trận địa ở Kim Liên, Tiểu đoàn 56 ở nhà thương Vọng đưa một trung đội lên tăng cường sức chiến đấu cho lực lượng ở chốt. Địch dùng máy bay, pháo bắn phá, ngăn chặn quân ta không tiến lên được.  Trước tình hình xe lội nước của địch vu hồi và chúng dùng phi pháo oanh tạc dữ dội, quân ta buộc phải rút về phía Trung Tự.

        Một ngày tiến công vào trận địa ta, 17 tên địch bị diệt, nhiều tên bị thương, một xe tăng bị hỏng.  Nhờ chọn địa hình có lợi xây dựng trận địa chốt với công sự bốn mặt theo kiểu điểm tựa và dựa vào các baricát và các chiến hào, công sự vừng chắc mà ta đã chặn được nhiều lần tiến công của địch, giừ được trận địa suốt một ngày.

        Nhưng trong trận này, ta không dự kiến được địch vu hồi theo hồ Bảy Mẫu, vòng qua chốt 2 đánh thẳng vào chốt 1, phá vỡ thế trận phòng ngự của ta. Đây là những kinh nghiệm quý giá trong những ngày sơ khai vận dụng chiến thuật phòng ngự của quân đội ta.


TRẬN ĐỘI CẤN CỦA HAI TRUNG ĐỘI THUỘC TIỂU ĐOÀN 145 (3.1.1947)

        Trận phòng ngự của hai trung đội thuộc Tiểu đoàn 141 đánh trả hai đại đội được bốn xe tăng hai xe bọc thép của quân Pháp, có phi pháo yểm trợ đánh chiếm đường Đội Cấn một trong năm con đường từ trung tâm thành phố Hà Nội ra hướng tây.

        5 giờ ngày 3 tháng 1 năm 1947, địch bắt đầu tiến công ra các đường Thủ Khoa Huân, Hoàng Hoa Thám và Đội Cấn.  Trên đường Đội Cấn, máy bay địch oanh tạc suốt dãy phố, phá hủy nhiều nhà cửa. Tiếp đó, xe tăng, xe bọc thép dẫn bộ binh địch tiến vào.

        Dựa vào trận địa và kiến trúc nhà cửa phức tạp của đường phố, quân ta chặn đánh địch quyết liệt. Một chiến sĩ quyết tử ôm bom ba càng đâm vào xe tăng địch. Bom không nổ, chiến sĩ hy sinh.

        Ngay lập tức một chiến sĩ khác ôm bom xông lên phá được xe tăng quân địch bị đánh mạnh không dám sục sạo. Quân ta trụ bám từng nhà, dựa vào chiến lũy, công sự và từ các nhà cao ném lựu đạn, kết hợp với lực lượng mai phục xung phong ra diệt địch.

        Đến 13 giờ, địch cho một mũi từ phố Sơn Tây tiến qua làng Vạn Phúc, đánh vào nhà thờ Liễu Giai, vu hồi đến giữa phố, kết hợp với quân địch trên đường Đội Cấn bắn mạnh vào hai bên phố uy hiếp quân ta.

        Tại làng Vạn Phúc, ta dựa vào làng mạc, ao, hồ, chiến đấu chặn địch, diệt nhiều tên. Do lực lượng ta và địch quá chênh lệch, đến 14 giờ 30 phút ta rút khỏi trận địa. 

        Một ngày chiến đấu trên những con đường ra phía tây thành phố, chủ yếu là đường Đội Cấn, ta diệt 116 tên, làm bị thương nhiều tên lính Pháp, phá hủy một xe tăng, hai xe vận tải, phá hỏng một xe thiết giáp; thu nhiều súng đạn.

        Nét nổi bật trong trận Đội Cấn là ta đã phán đoán đúng kế hoạch tiến công của địch để bố trí lực lượng, chuẩn bị cách đánh thích hợp, chuẩn bị trận địa chu đáo để tăng khả năng diệt địch, hạn chế thương vong của ta trước hỏa lực phi pháo mạnh của chúng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:13:38 AM

TRẬN Ô CHỢ DỪA  NAM ĐỒNG CỦA ĐẠI ĐỘI 4 TIỂU ĐOÀN 56 (6.1.1947)

        Trận phòng ngự của Đại đội 4 Tiểu đoàn 6 nhằm chặn 1 quân Pháp tiến công đánh chiếm khu vực Ô Chợ Dừa - Nam Đồng (nay thuộc quận Đống Đa, thành phố Hà Nội). 

        3 giờ 30 phút ngày 6 tháng 1, địch bí mật tiếp cận, bất ngờ bao vây, tiến công ta ở làng Giảng Võ trước.

        6 giờ 30 phút, chúng cho xe tăng phi pháo bắn phá các baricát ở Ô Chợ Dừa và dọc đường. Tiếp đó, súng máy của địch từ các nhà cao tầng xung quanh bắn mạnh chi viện cho xe ủi đất đến phá baricát.

        Các chiến sĩ ta chờ địch đến gần, ném lựu đạn, chai xàng Chếp và bắn súng cối, trung liên, súng trường nhiều người dùng cả mã tấu tiêu diệt địch, đánh lui mấy đợt tiến công của chúng. Vì địch đông, có hỏa lực mạnh, liên tục tiến công nên ta phải vừa đánh vừa lui quân để bảo toàn lực lượng.

        Trưa 6 tháng 1, địch chiếm được một quãng phố bên phải.  Trung đội 2 bên trái đường được lệnh cụm lại chặn địch tiến sang đường và liên lạc với. lực lượng ta trong nhà thờ Nam Đồng; Trung đội 3 chặn địch tiến về phía Nam Đồng - Ngã Tơ Sở.

        Các trung đội 2 và 3 đã dũng cảm chiến đấu diệt được nhiều địch, chặn không cho chúng sang dãy phố bên trái.  Chiều 6 tháng 1 năm 1947, địch phải lui về đông bắc Ô Chợ Dừa. Quân địch tiến công Giảng Võ cũng buộc phải lui quân.

        Trận đánh thắng lợi cho thấy: chất lượng chiến đấu của bộ đội là một nhân tố rất quan trọng quyết định việc đánh bại địch tiến công.


TRẬN GIẢNG VÕ CỦA ĐẠI ĐỘI 2 TIỂU ĐOÀN 56 (6.1.1947)

        Trận phòng ngự của Đại đội 2 Tiểu đoàn 56 chống lại 1 quân Pháp được xe tăng, phi pháo yểm trợ tiến công vào làng Giảng Võ, nhằm tiêu diệt địch, không cho địch mở rộng phạm vi kiểm soát ra ngoại ô.

        3 giờ 30 phút ngày 6 tháng 1 năm 1947, lợi dụng mưa phùn và rét, được Việt gian dẫn đường, một đại đội bộ binh địch theo đường Cát Linh - Giảng Võ, một đại đội theo đường từ Ô Chợ Dừa sang Giảng Võ, bí mật tiếp cận bao vây quân ta ở làng Giảng Võ.

        Do không tổ chức nắm địch từ xa nên ta không phát hiện địch sớm. Mờ sáng, khi địch bắt đầu bắn cối vào làng thì hai xe tăng của chúng đã xuất hiện ở cổng làng. 

        Tuy bị bất ngờ nhưng đại đội vẫn kịp thời triển khai lực lượng chặn đánh quân địch. Từ các vị trí chiến đấu quân ta chờ địch đến gần mới nổ súng và ném lựu đạn.  Đợt xung phong đầu tiên của địch bị đánh lui.

        Địch chấn chỉnh lại đội hình, bắn pháo rồi xung phong.  Vì chưa làm được công sự, chiến hào nhiều nên trận chiến đấu càng kéo dài, quân ta càng thương vong nhiều hơn.  Trước tình thế địch đã vây chặt làng từ bốn mặt, Đại đội trưởng Vũ Công Định quyết tâm mở một đường rút lui ở phía nam để bảo toàn lực lượng.

        Sau một ngày chiến đấu, 30 tên địch bị diệt.  Trận Giảng Võ để lại nhiều kinh nghiệm xương máu cho người chỉ huy về chuẩn bị kế hoạch đánh địch ở vị  trí trú quân; về xử trí tình huống khi bị địch tiến công bất ngờ, chuyển từ bị động về chủ động, đó là những phẩm chất cao quý mà người lãnh đạo và chỉ huy chiến đấu cần có.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:16:55 AM

TRẬN NHÀ THƯƠNG VỌNG CỦA ĐẠI ĐỘI 68 TIỂU ĐOÀN 64  TỰ VỆ, CỨU THƯƠNG (15.1.1947)

        Trận phòng ngự của Đại đội 68 Tiểu đoàn 64 cùng ba trung đội tự vệ và khoảng 100 cứu thương, cấp dưỡng dồn từ các trận địa phía trước về, đánh hai tiểu đoàn quân Pháp có xe tăng, xe bọc thép yểm trợ tiến công chiếm nhà thương Vọng (nay là Bệnh viện Bạch Mai), nhằm tiêu diệt địch, ngăn chặn chúng tiến công chiếm các mục tiêu của ta.

        5 giờ ngày 15 tháng 1 năm 1947, địch dùng pháo, cối và máy bay đánh phá ác liệt vào khu nhà thương Vọng. Tiếp đó, một đoàn tám chiếc xe tăng và xe thiết giáp, cùng nhiều xe vận tải chở khoảng 300 quân Xênêgan mặc giả thường dân đến cách bệnh viện khoảng 300 mét, bắt dân đi đầu và triển khai lực lượng tiến công.

        Ta dùng súng bắn chỉ thiên để dân chạy tản ra. Địch dùng súng máy bắn vào dân chạy.

        Địch tiếp tục tiến công. Ta chờ chúng đến gần bất ngờ dùng khẩu đại liên ở chòi canh cổng bệnh viện bắn mạnh diệt nhiều địch, số còn lại tháo chạy. Địch tổ chức lại đội hình, tiếp tục xung phong và bị ta bắn chặn. Đến 10 giờ. Ta đánh lui sáu đợt xung phong của chúng, diệt và làm bị thương nhiều địch.

        11 giờ, địch bắn sập chòi ta đặt khẩu đại liên ở cổng.  Ta nhanh chóng xếp gạch và bố trí lại khẩu đại liên để chặn địch.

        Trước tình hình chiến đấu quyết liệt, ban chỉ huy tiểu đoàn đã lệnh bộ phận nữ cứu thương, cấp dưỡng theo lạch nước rút về hướng sân bay Bạch Mai. ở hướng bắc, địch vẫn bị chặn lại.

        Một cánh quân có tám xe tăng, xe bọc thép và 15 xe tải chở khoảng 500 quân, sau khi đánh chiếm Vĩnh Tuy từ sáng và chiếm ngã tư Trung Hiền vào trưa, địch tiến theo đường Đại La và 14 giờ đến Vọng đánh vào phía sau quân ta.  Địch từ hai phía giáp công vào trận địa, cánh bắc yếu hơn bị ta đánh chặn nhiều lần.

        Địch dùng pháo trên tăng diệt được hai ổ đại liên của ta ở cổng bệnh viện rồi cho xe tăng húc đổ tường, đột phá vào đông nam bệnh viện. Tổ cảm tử dùng bom ba càng diệt một xe tăng địch. Các chiếc xe tăng khác xông lên. Ta trụ bám từng nhà để chặn địch.

        Khoảng 18 giờ, ta rút quân về hướng Không Trung, sân bay Bạch Mai. Khoảng một trung đội rút xuống hầm ngầm của bệnh viện, đến nửa đêm lên khỏi hầm đánh địch và rút khỏi trận địa. 

        Ta đã đánh lui khoảng hai tiểu đoàn địch tiến công, diệt khoảng 200 tên linh Pháp, giừ vững trận địa một ngày.  Trận nhà thương Vọng cho ta kinh nghiệm: Dù ở phía sau cũng phải tổ chức phòng ngự sẵn sàng đánh địch. Hết sức đề phòng địch tập hậu. Việc bố trí các hỏa khí diệt địch phải có cả trên cao dưới thấp và có vị trí dự bị. . .


TRẬN VĨNH TUY CỦA TRUNG ĐỘI  QUỐC ĐOÀN VÀ ĐẠI ĐỘI TỰ VỆ (15.1.1947)

        Trận phòng ngự của Trung đội Vệ quốc đoàn và một đại đội tự vệ chống lại một đại đội quân Pháp được xe tăng, xe bọc thép và phi pháo yểm trợ tiến công định chiếm Vĩnh Tuy, nhằm tiêu diệt, hạn chế địch mở rộng vùng chiếm đóng ra ngoại ô.

        4 giờ ngày 13 tháng 1 năm 1947, địch dùng ca nô chở một trung đội, tắt máy thả trôi theo dòng sông Hồng bí mật đổ quân lên ém sẵn ở bãi ngô bờ sông thuộc Vĩnh Tuy, nhưng ta không phát hiện được.

        5 giờ, địch bắn pháo cối vào cáe khu vực từ nhà thương Vọng, Ô Cầu Dền, Ba Hàng đến Vĩnh Tuy. Tiếp đó khoảng một đại đội quân Pháp được xe tăng, xe bọc thép y.ếm trợ thành hai mũi tiến xuống Vnh Tuy. Một mũi theo đường từ Lò Lợn qua Lương Yên.  Một mũi từ Ô Đống Mác xuống Thanh Lương.

        Tại Thanh Nhàn và Lương Yên, ta chặn đánh quyết liệt, địch không tiến xuống được phải lui về Lò Lợn và Đống Mác. Ta diệt khoảng 20 tên địch, thu bốn khẩu súng các loại. 

        Sau khi củng cố lực lượng, 9 giờ, một mũi có xe tăng thiết giáp dẫn đầu đánh vào chiến luỹ Ba Hàng. Cùng thời gian, số quân ém ở bãi ngô, bất ngờ tiến công vào đội của Tiểu đoàn 212 đóng ở Vĩnh Truy. Một bộ trung đội  khác từ Lạc Trung đánh xuống bị tự vệ và bộ đội ta chặn đánh quyết liệt, nhưng cả ba mặt đều có địch, địa hình trống trải, hỏa lực địch mạnh, ta không giữ được Vĩnh Tuy phải rút về Thanh Trì, Nam Dư, một bộ phận rút về Chợ Mơ, cùng các đơn vị của Tiểu đoàn 77 tiếp tục chặn đánh địch.

        Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm về cảnh giác trước các thủ đoạn chiến đấu của địch; về bố trí lực lượng tổ chức thế trận chặn địch từng bước tránh thương vong do phi pháo đánh phá; về phá hoại đường sá làm vật cản chống cơ giới của địch.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:20:05 AM

TRẬN GIA LÂM (16.1.1947)

        Trận tập kích của các đại đội 1 và 4 bộ đội địa phương  tỉnh Bắc Ninh vào quân địch ở sân bay Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc thành phố Hà Nội). 

        Đêm ngày 16 tháng 1 năm 1947, lực lượng chiến đấu chia làm bốn mũi bí mật tiến vào mục tiêu đã định: Khi trung đội đánh quân địch ở Khu B tiếp cận gần hàng rào thì bị lộ, buộc ta phải nổ súng tiến công.

        Do ta dùng lựu đạn, chai xăng Chếp đánh địch nên lửa cháy sáng rực sân bay, địch quan sát rõ quân ta và bắn trả. Chỉ huy trận đánh buộc phải ra lệnh không dùng chai xăng Chếp đánh máy bay, chỉ dùng súng và lựu đạn diệt máy bay địch.

        Song các mũi vào đánh không đều. Khu A, bộ đội vào được nhưng bị địch dùng xe tăng ra phản kích nên ném lựu đạn rồi lui quân. Các đơn vị đánh địch ở các khu C, D đến chậm không vào được cũng phải rút. 

        Sau 30 phút chiến đấu, ta phá hủy và phá hỏng 12 máy bay, loại khỏi vòng chiến đấu 30 tên địch. 

        Để tập kích địch trong sân bay thắng lợi, phải rèn luyện từ việc tiếp cận, luồn sâu vào sân bay, phải hiệp đồng chặt chẽ giữa các mũi, các hướng, phải nghiên cứu cách sử dụng vũ khí và có kế hoạch đánh địch phản kích cụ thể, tỷ mỉ.


TRẬN NAM DƯ HẠ CỦA TIỂU ĐOÀN 212 (18.1.1947)

        Trận phòng ngự của Tiểu đoàn 212 (thiếu một đại đội), được hai khẩu pháo 37mm và hai trung đội dân quân phối thuộc chiến đấu, đánh vào 250 quân Pháp, có hai xe tăng và hai ca nô chi viện tiến công vào làng Nam Dư Hạ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) nhằm tiêu diệt địch, hạn chế địch mở rộng vùng chiếm đóng. 

        Mờ sáng ngày 18 tháng 1 năm 1947, lợi dụng trời chạng vạng tối, địch từ Lò Lợn qua Vĩnh Tuy, chia thành hai mũi thủy bộ tiến xuống đánh úp ta ở Nam Dư.

        Mũi trên bộ có hai xe tăng dẫn đầu khi qua làng Thanh Trì bị dân quân chặn đánh, địch không vào được làng. 14 giờ, địch chia làm hai mũi theo đường làng và theo đê xuống Nam Dư Hạ. Một đại đội ta ở đây cùng tự vệ sẵn sàng đánh địch.

        Gặp ụ chắn trên đê, xe tăng địch vòng xuống rê đê để vượt qua. Nhưng chúng bị khẩu 37mm của ta đặt trên đê bắn ngắm trực tiếp, một xe tăng bốc cháy. Dưới sông hai ca nô của địch định đổ quân lên tập hậu. Nhưng khẩu pháo 37mm thứ hai bố trí sát mép nước bẳn chìm một chiếc. Chiếc còn lại quay đầu tháo chạy. Bị thiệt hại nặng, địch phải rút về Vĩnh Tuy.

        Trận đánh kết thúc, 50 tên lính Pháp bị diệt, một xe tăng bị phá hủy, một ca nô bị bắn chìm.

        Nhờ biết lợi dụng địa hình, địa vật tổ chức ngăn chặn địch; biết tận dụng tính năng kỹ thuật của pháo, bố trí trận địa thích hợp; biết hiệp đồng chặt chẽ giữa.bộ binh và pháo binh mà ta đã diệt được nhiều địch, bắn cháy xe tăng, bắn chìm ca nô, đánh bại tiến công của địch.


TRẬN TỨ TỔNG - NHẬT TÂN CỦA MỘT ĐẠI ĐỘI THUỘC TIỂU ĐOÀN 145  (25.1.1947)

        Trận phòng ngự của một đại đội thuộc Tiểu đoàn 145  đánh vào quân Pháp được xe tăng, ca nô tiến công vào Tứ Tổng - Nhật Tân Từ Liêm, Hà Nội), nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ đoạn vành đai ngoại thành cuối cùng ta còn kiểm soát.

        6 giờ ngày 25 tháng 1 năm 1947, quân Pháp từ hai hướng đồng thời khép về Nhật Tân. Hướng thứ nhất từ Nghĩa Đô, Trích Sài, Xuân Tảo đánh lên. Hướng thứ hai từ Yên Phụ đánh vào Tứ Tổng - Nhật Tân. Kết hợp với hai hướng tiến công đường bộ, địch dùng ca nô đổ khoảng 150 quân lên bãi sông Hồng, chiếm đê khống chế phía bắc Nhật Tân.

        Do ta không tổ chức cho dân Tứ Tổng sơ tán trước nên khi địch đánh vào làng, dân chạy tán loạn, địch bắn chết và bị thương hơn 100 người. Lực lượng Việt gian, chỉ điểm trà trộn trong dân chạy lên Nhật Tân, tổ chức một lực lượng quay lại chặn đường rút của đơn vị từ Tứ Tổng về nhật Tân.

        Địch tổ chức ba mũi đánh vào Nhật Tân, quân ta đánh tra quyết liệt, nhưng không chống lại được quân địch, buộc ta phải phá vây rút về Phú Gia. Địch chiếm được Tứ Tổng - Nhật Tân và Nhật Tân - Nghĩa Đô, vành đai cuối cùng ở ngoại thành.

        Trận đánh kết thúc, 140 tên địch bị tiêu diệt.  Trận đánh cho thấy phải chấp hành nghiêm mệnh lệnh của cấp trên (ngày 23 tháng 1 Mặt trận đã lệnh cho Tiểu đoàn 145 đưa một đại đội về giữ Nhật Tân, nhưng đại đội này chưa thực hiện); phải tổ chức tản cơ cho dân chu đáo và phải chú ý đánh địch vu hồi đường thủy. 


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:23:16 AM

TRẬN XUÂN TẢO –TRÍCH SÀI CỦA MỘT ĐẠI ĐỘI THUỘC TIỂU ĐOÀN 145 (25.1.1947)

        Trận phòng ngự của một đại đội thuộc Tiểu đoàn 145 chống lại quân Pháp tiến công chiếm Xuân Tảo - Trích Sài (huyện Từ Liêm, Hà Nội), nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ đoạn vành đai ngoại thành cuối cùng ta còn kiểm soát.

        5 giờ ngày 25 tháng 1 năm 1947, một đại đội địch có xe tăng yểm trợ từ Nghĩa Đô, Bưởi tiến vào Xuân Tảo. Cùng lúc đó một mũi địch dùng ca nô chở khoảng 50 bộ binh vượt Hồ Tây đổ bộ lên Trích Sài.

        Tại Xuân Tảo ta vừa đánh vừa rút lên Đông Khu. Tại Trích Sài, một trung đội của ta chặn đánh rất quyết liệt sau đó lui quân về Cáo Đỉnh. Địch vào Xuân Tảo, trung đội ở Đông Khu phối hợp cùng với trung đội ở Cáo Đỉnh phản kích từ hai đầu khép lại làm cho địch lúng túng phải tháo chạy. Ta diệt 30 tên địch.

        Sau khi chiếm Trích Sài, quân địch tiến đánh Xuân Tảo. Ta đánh trả nhưng không giữ được phải lui về Cáo Đỉnh. Địch tiếp tục đánh chiếm Nhật Tân. Đoạn vành dai cuối cùng ở ngoại thành: Nhật Tân - Nghĩa Đô bị địch chiếm.

        Chiếm được Xuân Tảo - Trích Sài nhùng địch phải trả giá rất đắt, 140 tên bị tiêu diệt chủ yếu ở Xuân Tảo - Trích Sài. 

        Nhờ phán đoán đúng thủ đoạn tiến công của địch, kịp thời điều chỉnh thế trận phòng ngự; vận dụng cách đánh mưu trí, linh hoạt, hiệp đồng chặt chẽ, phản kích đúng thời cơ mà ta đánh địch đạt hiệu quả cao.

TRẬN NHÀ SÔVA1 CỦA ĐẠI ĐỘI 14 TIỂU ĐOÀN 103 (6.2.1947)

        Trận chiến đấu phòng ngự của Đại đội 14 Tiểu đoàn 103 Trung đoàn Thủ đô chống lại cuộc tiến công của hơn một đại đội quân Pháp có xe tăng, xe bọc thép phối hợp với quân ở nha giao thông công chính, nhà Bác Cổ đánh vào nhà Sô Va.

        Sáng ngày 6 tháng 2 năm 1947, địch dùng pháo binh bắn phá dừ dội vào nhà Sô Va và các khu vực xung quanh.  Cùng lúc đó địch chia thành hai mũi theo đường Trần Quang Khải tiến vào nhà Sô Va.

        Mũi thứ nhất khoảng 100 quân, bố trí trên đê sông Hồng, dùng hỏa lực chế áp nhà Sô Va, kho thuế quan, yểm trợ cho bộ binh vượt đường đánh chính diện vào nhà Sô Va. Chờ cho địch đến gần, quân ta ném lựu đạn, bắn vào quân địch, diệt một số tên, địch không đến được gần nhà, phải rút về đê.

        Mũi thứ hai, hơn một trung đội, có xe tăng dẫn đầu, từ đường Trần Quang Khải đánh vào kho thuế quan. Một bộ phận của Trung đội 2 đi đánh địch về muộn đã bí mật tiếp cận đánh vào sườn địch. Bị đánh bất ngờ, thương vong một số chúng lùi ra dùng xe tăng bắn phá.

        Từ đó đến chiều, địch tổ chức nhiều đợt tiến công vào nhà Sô Va. Lợi dụng thế cao, ta dùng hỏa lực trên gác, dưới nhà tiêu diệt nhiều địch, đánh bại các đợt tiến công của chúng. Không chiếm được nhà, địch phun xăng đốt các loại vật cản và chiếm được tầng 1. Các chiến sĩ ta trên gác quyết giữ cầu thang và cho người về báo cáo với tiểu đoàn.  Nhận được tin, chỉ huy tiểu đoàn tổ chức lực lượng phản kích, đánh bật địch ra khỏi trận địa.

        17 giờ, trận đánh kết thúc, ta khôi phục trận địa tại nhà Sô Va. Ta diệt và làm bị thương 40 tên địch, phá hủy một xe bọc thép, một xe vận tải, thu một tiểu liên, một súng trường, hai hòm đạn.

        Trận nhà Sô Va cho thấy, khi phòng ngự trong thành phố phải tận dụng các kiến trúc sẵn có, tổ chức phòng ngự nhiều tầng, cả trên cao, dưới thấp, nhiều hướng, luôn củng cố công sự vững chắc để chống được bom, pháo của địch phải thực hiện đánh gần, đồng loạt, bất ngờ; sẵn sàng đánh gần với địch trong từng gian nhà, tầng nhà, góc phố.

--------------------
        1. Nhà sô va sau là trường phổ thông cơ sở Trần Nhật Duật (rồi trường Nguyễn Huệ), trước đây là một cơ sở của công ty vận tải Sauvage, kháng chiền bùng nổ, chủ nhà bỏ đi, ta lấy nhà này tổ chức thành vị trí phòng ngự.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:27:57 AM

TRẬN HÀNG THIẾC CỦA TRUNG ĐỘI TÔ HIỆU TIỂU ĐOÀN 102 (7-9.2.1947)

        Trận phòng ngự của Trung đội Tô Hiệu Tiểu đoàn 102 1 Trung đoàn Thủ đô đánh quân Pháp được xe tăng, phi pháo yểm trợ tiến công vào trận địa phòng ngự của ta ở Hàng Thiếc, một vị trí cửa ngõ phía tây Liên khu 1. 

        Sáng ngày 7 tháng 2 năm 1947, địch dùng phi pháo bắn phá dữ dội vào các phố từ Hàng Quạt, Hàng Nón trở lên. . . , trọng điểm là phố Hàng Thiếc .

        8 giờ, hai trung đội lính lê dương, có hai xe tăng dẫn đầu theo phố Cửa Đông, cùng với quân đóng ở Hàng Nón, Hàng Hòm chia làm ba mũi: Một mũi có một trung đội theo Đường Thành, Hàng Nón đánh thọc vào đầu phía nam Hàng Thiếc. Một mũi có hai xe tăng, một trung đội bộ binh tlleo Cửa Đông, Hàng Da, Bát Đàn đánh vào đầu phía bắc Hàng Thiếc. Mũi thứ ba, từ Cửa Đông theo đường Phùng Hưng, Hàng Vải, Hàng Bút đánh vào phố Thuốc Bắc để phối hợp với hai mũi trên.

        Trước sức tiến công của địch, bộ đội ta trên các hướng chờ chúng đến gần mới nổ súng diệt từng tốp, chặn từng bước tiến của địch. Nhiều nơi ta và địch giành giật nhau từng góc nhà, bờ tường, từng cầu thang, giữ vững trận địa. 

        17 giờ, trung đội được lệnh rút sang dãy phố lẻ để bảo tồn lực lượng. củng cố tuyến phòng thủ mới, tiếp tục đánh địch.

        Ngày 8, 9 tháng 2, từ bên dãy số chẵn, địch nhiều lần đánh sang nhưng đều bị đánh lui ngay trên mặt đường, không bám sang được dãy số lẻ. Địch thường xuyên xả súng bắn về phía ta, phun cả xăng sang để đốt nhưng cũng không tiến được. Cuối cùng chúng phải dừng tiến công.

        Ba ngày chiến đấu, ta diệt và làm bị thương 40 tên địch.

        Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm về xây dựng quyết tâm chiến đấu cao; về phát huy lối đánh gần, kết hợp cơ động lực lượng với cơ động hỏa khí để tiêu diệt địch; về luôn cảnh giác, có phương án đánh địch luồn lách; về sử dụng lực lượng ít nhưng biết phát huy hiệu quả của hiệp đồng chiến đấu từ từng tổ đến tiểu đội, từ ụ chiến đấu đến khu phố và các đơn vị bạn.


TRẬN THÔN CAM CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG (8. 2.1947)

        Trận phòng ngự của một trung đội bộ đội địa phương và 1 một trung đội tự vệ đánh trả quân Pháp càn quét vào thôn Cam, xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội), nhằm tiêu diệt địch bảo vệ làng chiến đấu. 

        4 giờ ngày 8 tháng 2 năm 1947, pháo địch bắn dữ dội vào làng. Cùng lúc đó khoảng một trung đoàn bộ binh có 10 xe tăng, xe bọc thép, một số ca nô thành hai hướng tiến công vào làng.

        Hướng chủ yếu, địch từ đường số 5 đánh vào chính diện thôn. Được xe tăng chi viện, địch thành hai mũi từ hướng tây nam và nam tiến vào làng.

        Qua ấp Bình Minh, chúng cho một bộ phận chiếm một số gò cao cách rìa làng từ 100 đến 400 mét về phía đông nam, dùng trung liên chi viện cho bộ binh tiến công. Quân ta bí mật chờ địch đến gần, tử các lũy tre làng bộ đội và tự vệ ném lựu đạn, bắn súng diệt một số tên.

        Sau nhiều lần tiến công vào làng không thành, địch phải rút ra xa, dùng pháo cối bắn mạnh vào làng.  Hướng thứ yếu, địch dùng ca nô theo sông Đống đổ khoảng một đại đội lên đê, dùng hai khẩu 12,7mm đặt trên xe Jeép khống chế vào các thôn Vàng, Hội, Lời, Lở; dùng hỏa lực chặn các ngả vào thôn Cam từ hướng bắc và tây bắc.

        Buổi chiều, địch dùng máy bay liên tục ném bom bắn phá. Nhiều nhà cửa bị cháy, công sự, hầm hào sụt lở, các lũy tre bị phá vỡ nhiều chỗ. Lợi dụng những lũy tre bị thủng, chúng chia thành nhiều mũi sục vào làng.

        Dựa vào các đường ngang, ngõ tắt, bờ ao, bụi tre, từng tổ, từng chiến sĩ kiên quyết chặn địch. Hết đạn, bộ đội và du kích phải rút sang Tô Khê - Đặng Xá. Một bộ phận quân ta bị địch vây chặt ở ổ đề kháng cuối cùng giữa làng. Tất cả tự vệ bộ đội và nhân dân dùng dao, liềm, gậy gộc, thuổng cuốc đánh địch, diệt và làm bị thương nhiều tên. Với quân số áp đảo, địch tràn vào làng bắn giết, đốt khoảng 150 ngôi nhà, đình, chùa, miếu mạo.

        Đại đội bộ đội địa phương ở Tô Khê được lệnh chi viện chiến đấu cho quân ta ở thôn Cam, nhưng bị hỏa lực của địch ở đê và máy bay đánh chặn không tiến sang được.  Trời tối dần, địch rút quân, 40 tên địch bị chết và bị thương.

        Trận thôn Cam giúp ta hiểu thêm về tổ chức phòng ngự ở làng mạc; phải tổ chức đánh địch từ xa, lấy đánh gần là chính; phải tăng cường đánh địch bằng chông, mìn, cạm bẫy ...


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:32:29 AM

TRẬN ĐỒNG XUÂN CỦA TIỂU ĐOÀN 101 (14.2.1947).

        Trận phòng ngự của Tiểu đoàn 101 (biên chế có bốn Trung đội bộ binh; ba khẩu trung liên, 15 khẩu tiểu liên, 11 khẩu súng ngắn, 60 khẩu súng trường. Số còn lại trang bị lựu đạn, dao găm, mã tấu, chai xăng Chếp, chai vôi sỏi) chống lại tiến công của quân Pháp chiếm khu chợ Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; nhằm ngăn chặn từng bước, tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ trung tâm chỉ huy của Liên khu 1 .

        Sau khi đánh chiếm nhà Sô Va, trường Ke, Hàng Thiếc không thành công, địch chuyển hướng tiến công đánh chiếm khu vực chợ Đồng Xuân để từ đây tiến đánh sở chỉ huy Liên khu 1 và cắt Liên khu 1 làm đôi. 

        Sáng ngày 14 tháng 2 năm 1947, địch tập kích bất ngờ hai vị trí tiền tiêu của ta ở Hàng Giấy và chùa Huyền Thiên. Ta đánh trả nhưng không giữ được, phải rút.

        5 giờ, địch cho phi pháo bắn phá ác liệt vào Liên khu 1, đặc biệt là khu chợ Đồng Xuân. Sở chỉ huy Tiểu đoàn 101 trúng đạn cối của địch. Một số cán bộ tiểu đoàn và chiến sĩ thương vong.

        Khoảng một giờ bắn phá liên tục. địch chuyển làn từ các hướng xe tăng dẫn bộ binh tiến công vào trận địa ta.  Từ các góc nhà, góc phố bộ đội ta tiêu diệt nhiều địch, ngăn chặn, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của chúng.  Sau mỗi lần tiến công thất bại, địch lại lùi ra xa, dùng phi pháo đánh phá dữ dội, tiếp đó bộ binh được xe tăng dẫn dắt tiến vào.

        Từ các công sự, chiến hào, góc nhà quân ta bắn dọc phố, bắn lướt sườn, từng tổ xuất kích nhỏ đánh vào bên sườn, phía sau đội hình tiến công, đánh bại nhiều đợt xung phong của địch. Đến tối, các đơn vị được lệnh rút về dãy số lẻ phố Hàng Chiếu, Hàng Mã, tuyến phòng ngự dự bị của tiểu đoàn. Lúc này ta và địch cách nhau mặt đường Hàng Chiếu. Địch chiếm dãy số chẵn (phía bắc), ta giữ dãy số lẻ (phía nam) .

        20 giờ, ta bất ngờ đồng loạt nổ súng phản kích vào các vị trí địch. Chúng hoảng loạn chống lại. Đến 24 giờ, địch buộc phải rút về phía sau, ta khôi phục trận địa phòng ngự dự bị.

        Với lực lượng khoảng một đại đội, ta đã kiên cường chống lại khoảng 400 lính lê dương có xe tăng, đại bác, máy bay yểm trợ. Sau một ngày, địch mới chiếm được chợ Đông Xuân, tiến được đến bên số chẵn phố Hàng Chiếu, nhưng phải trả giá đắt với 200 quân thương vong. 

        Trận Đồng Xuân để lại nhiều kinh nghiệm quý về tổ chức thế trận liên hoàn từng khối phố, dãy phố, từng khu vực; về tổ chức phòng ngự nhiều mặt (hình vòng): về chọn hướng phòng ngự chủ yếu, mục tiêu phòng ngự chủ yếu; về tổ chức chốt cố thủ, nơi quyết chặn địch; về phản kích đánh địch khi chúng đứng chân chưa vững; đặc biệt là về công tác tơ tưởng trong suốt quá trình chiến đấu phòng ngự.


TRẬN TÚ THUỶ CỦA MỘT ĐẠI ĐỘI THUỘC TRUNG ĐOÀN 95 (14.3.1947)

        Trận tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc  của một đại đội được chọn từ cán bộ tiểu đội trưởng trở lên, do Trung đoàn trưởng Vi Dân trực tiếp chỉ huy vào một trung đội (50 quân) do bốn sĩ quan Pháp chỉ huy ở đồn Tú Thủy (đông bắc thị trấn An Khê 16 kilômét) thuộc xã Tú Thủy, huyện An Khê, tỉnh Gia Lai - một vị trí quan trọng trong hệ thống cứ điểm liên hoàn của địch ở vành đai An Khê.

        01 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1947, đơn vị làm lễ tuyên thệ rồi hành quân về Tú Thủy. 3 giờ đến vị trí tập kết. 4 giờ, chiếm lĩnh xong. 4 giờ 30 phút, nhân khi một tiểu đội địch xếp hàng đi ra ngoài, lợi dụng lúc chúng mở cổng, đội cảm tử chín người xông thẳng vào đồn, dùng mã tấu đâm chém bọn địch đang tập trung.

        Sau phút bất ngờ, địch tập trung hỏa lực từ các lô cốt bắn ra, đội cảm tử lần lượt hi sinh, trung đội xung phong bị chặn lại ở đường hào thứ hai. Bên ngoài nhân dân đánh trống, thanh la, hò reo cổ vũ bộ đội. Địch dựa vào công sự đẩy lùi các đợt tiến công của ta. Đến thứ ba, Vi Dân hy sinh trước cổng đồn. Ban chỉ huy quyết định rút quân.

        Trận đánh cho ta kinh nghiệm về tiến công địch trong  công sự vững chắc, nhất là về chuẩn bị chiến đấu, trong đó công nắm chắc tình hình địch và địa hình, đặc biệt là xác định cách đánh thích hợp.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:34:31 AM

TRẬN CỰ ĐÀ CỦA TRUNG ĐỘI 517 ĐẠI ĐỘI 2 (27.3.1947)

        Trận phòng ngự của Trung đội 517 Đại đội 2 quận 5 Hà Nội đánh quân Pháp tiến công vào trận địa tại thôn Cự Đà, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây), nhằm tiêu diệt địch, không cho chúng mở rộng khu vực chiếm đóng, bảo vệ căn cứ. 

        Sáng ngày 27 tháng 3 năm 1947, một đại đội quân Pháp và lê dương có xe tăng yểm trợ, từ thị xã Hà Đông theo đường 70 qua Đa Sĩ, Mậu Lương, Hữu Từ, Hữu Trung xuống Cự Đà.

        9 giờ, các tiểu đội của trung đội đã rút về Khúc Thủy, chỉ còn cán bộ trung đội ở lại bàn giao trận địa cho Đại đội 3. Trung đội còn lại năm người, vũ khí có 11 quả lựu đạn, một khẩu Ten với một băng đạn. 10 giờ, địch tràn vào làng, khắp nơi tiếng súng của địch, của du kích và bộ đội nổ ran.

        Một trung đội địch tiến vào nhà chỉ huy trung đội, bị diệt một số tên, chúng hoảng sợ rút ra ngoài, dùng hỏa lực bắn mạnh vào ngôi nhà và các khu vực xung quanh, nhưng các chiến sĩ ta vẫn kiên cường chờ địch.  Sau khi bắn phá, địch tiến công lần thứ hai không thành. Chúng tăng cường một trung đội lính lê dương, tiếp tục tiến công nhưng đều bị đánh bật trở lại. Cay cú, chúng lùi ra xa, dùng rơm rạ, đồ gỗ, đổ xăng rồi đốt. Hai chiến sĩ lên sân thượng để tránh khói, kiên quyết chờ địch lên với một quả lựu đạn cuối cùng.

        17 giờ, một trung đội thuộc Đại đội 3 lên giải vây cho Trung đội 17, nhưng không vào được Cự Đà.  Chiều tối địch rút khỏi Cự Đà. Sau một ngày chiến đấu quyết tử ta diệt 40 tên địch, làm bị thương 17 tên khác.  Trận đánh quy mô nhỏ, nhưng ý nghĩa lớn. Sau chiến thắng Cự Đà của ta, địch phải kết thúc sớm cuộc hành quân lớn vào khu vực này.


TRẬN KIẾN AN CỦA QUÂN DÂN THỊ XÃ (25.4.1947)

        Trận chiến đấu bảo vệ thị xã của quân và dân thị xã Kiến An do Trần Thành Ngọ chỉ huy chống cuộc tiến công chiếm thị xã của quân đội Pháp, làm cho địch thiệt hại đáng kể về sinh lực và phương tiện chiến tranh. 

        Hải Phòng - một vị trí chiến lược quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với quân đội viễn chinh Pháp, là cái “cuống nhau’ nuôi sống lực lượng Pháp trên chiến trường Bắc Bộ.  Chính vì vậy, trong khi đang sử dụng bảy tiểu đoàn quân Pháp càn quét khu vực Đường 18 - Đông Triều - Chí Linh, chúng đành bỏ dở cuộc hành quân, vội vã quay về bảo vệ Hải Phòng.

        Sau khi có thêm viện binh, Pháp điều hai trung đoàn thuộc địa số 23 và số 2 đánh chiếm thị xã Kiến An và Đồ Sơn, lập phòng tuyến sông Văn Úc để bảo vệ Hải Phòng và hành lang đường số 5.

        Đầu năm 1947, lực lượng vũ trang của ta tập trung ở Kiến An gồm có Đại đội 4 thuộc Tiểu đoàn 90, lực lượng tự vệ và một đơn vị “quyết tử” của thị xã. Trong mỗi tiểu khu có từ một tiểu đội đến một trung đội tự vệ; ở các xã ven thị thuộc huyện An Lão, mỗi xã có hàng trăm tự vệ và một trung đội du kích bán thoát ly.

        Chuẩn bị cho trận chiến đấu sắp tới khắp nơi du kích cùng nhân dân rào làng, đào Công sự, tăng cường canh gác, chuẩn bị sẵn các phương án đánh giặc nếu chúng đến.

        Để bảo vệ thị xã, chỉ huy trận đánh giao nhiệm vụ cho các đơn vị:

        Tiêu đoàn tự vệ tỉnh là lực lượng chủ yếu bảo vệ. thị xã biên chế 300 người, làm nhiệm vụ chốt chặn đường số 10 không cho địch từ Hải Phòng sang, khi địch đột nhập thị xã phải tổ chức ngăn chặn, quấy rối, tiêu hao sinh lực địch, không cho chúng chiếm núi Phù Liễn.  Tiểu đoàn tự vệ Quang Trung bảo vệ tây bắc thị xã, phối hợp với tiểu đoàn tự vệ phân tán lực lượng, tiêu hao địch.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:35:14 AM

        Đại đội 4 Vệ quốc đoàn, quân số 150 người, trang bị đầy đủ chốt giữ hai khu vực núi Phù Liễn, đánh địch bảo vệ sở chỉ huy. Ngoài ra có 12 trung đội tự vệ cùng tham gia chiến đấu trong thị xã, quân số hàng trăm người.

        5 giờ 30 phút ngày 25 tháng 4 năm 1947, pháo địch từ Hải Phòng được chỉ điểm của máy bay trinh sát bắn vào núi Thiên Văn, núi Phù Liễn, ngã năm và nội thị Kiến An nhằm chế áp các đài quan sát và lực lượng cơ động của ta.

        Cùng thời gian này, địch tổ chức cho cánh quân thứ nhất từ Hải Phòng theo đường 5 rẽ vào đường 208 đến Rễ (An Dương), chia làm hai mũi: Mũi chính theo đường số 10 đến Trạm Bạc. Mũi thứ yếu theo đường 208 đến gần bến đò thị xã Kiến An.

        Sau đó, chúng chia làm nhiều toán tiến vào thị xã.  Cánh quân thứ hai có vai trò là hướng tiến công chủ yếu tiến vào thị xã bằng tàu chiến, ca nô từ của sông văn ục đổ bộ lên cống Cao Mật, bến đò Khum, bến phà Tiên Cựu, bến Đồn Soi (An Lâo) rồi chia thành hai mũi:

        Mũi thứ nhất từ phà Tiên Cầu theo đường số 10 đến Quân Đâu Kiên, hội quân với toán canh giới từ bến Đồn Soi hành quân lên tiến đánh vào làng Hoàng Xá; tiếp đó đánh Phù Liễn, hợp điểm tại ngã năm thị xã, sau đó bao vây tiến công vào ban chỉ huy mặt trận Hải Kiến đặt tại trại lính khố đỏ.

        Mũi thứ hai từ Phù Liễn đánh thốc xuống bao vây vị trí chỉ hur mặt trận trong nội thị Kiến An .

        Phối hợp với cánh quân thứ hai có cánh quân thứ ba từ Vĩnh Niệm vượt sông Lạch Trạy tiến theo đường 10 thu hút lực lượng ta ở hướng Cầu Niệm, Quán Trữ. 

        Cánh quân thứ tư vượt sông qua Cầu Rào, bến đò Đạt thành hai mũi tiến vào ngã năm thị xã Kiến An. 

        Phát hiện địch tiến công, Ban chỉ huy mặt trận Hải Kiến lệnh cho các đơn vị chuẩn bị đánh địch. 8 giờ ngày 2 tháng 4, ban chỉ huy từ thôn Đông Tử vào hầm bí mật ở núi Phù Liễn chỉ huy trận đánh. Ít phút sau, trên cả ba hướng ta đều nổ súng diệt địch. Bị ta chặn trên các đường chính, chúng không sục vào các làng mà chủ yếu hướng tới thị xã Kiến An.

        12 giờ ngày 25 tháng 4, hướng An Lão bị vỡ, thị xã Kiến An bị bao vây, chỉ huy trưởng mất liên lạc với các đơn vị, không nắm được tình hình, các đơn vị tự đánh, tự lui. Lúc này chỉ huy còn hai đại đội đã quyết định tổ chức phòng ngự bảo vệ trận địa ở núi Phù Liễn và ban chỉ huy, cố giữ đến tối để phá vây rút ra ngoài về thôn An Tràng.

        13 giờ địch tập trung hỏa lực pháo binh bắn dồn dập vào núi Phù Liễn, núi Thiên Văn. Sau đó từ các hướng tiến công lên núi Phù Liễn và núi Thiên Văn.  Ở hướng Cầu Rào, liên đoàn cảnh vệ Hải Kiến và tiểu đoàn tự vệ của liên huyện Hải An - Kiến Thụy, dựa vào làng chiến đấu, được dân quân du kích giúp đỡ đã đánh địch quyết liệt, chặn được cánh quân của chúng, không cho địch hợp điểm tại Kiến An.

        Trên núi Kha Lâm, Thiên Văn, trận chiến đấu diễn ra quyết liệt Đại đội 4 Vệ quốc đoàn đã nhiều lần bẻ gãy các đội xung phong của địch, diệt nhiều tên. Địch tập trung hỏa lực bắn lên núi, làm cháy rừng thông, núi Thiên Văn thành một vầng lửa, nhưng cán bộ chiến sĩ đại đội vẫn quyết tâm giữ trận địa.

        15 giờ, các đơn vị trong thị xã hết đạn, phải vừa đánh vừa lui qua núi Kha Lâm, núi Voi để sang Kiến Thụy.  Cùng thời gian trên, địch tập trung hỏa lực đánh vào núi Phù Liễn trận chiến đấu diễn ra ác liệt, các chiến sĩ ta giữ từng tấc đất, từng đoạn hào. Nhưng Chỉ huy phó mặt trận Lê Quốc Uy hy sinh, Đại đội trưởng Lê Đức Nguyên bị thương, đại đội tiếp tục cầm cự với địch đến tối mở đường về Kiến Thụy.

        16 giờ, địch hợp điểm tại ngã năm vào thị xã, tập trung lực lượng bao vây ban chỉ huy mặt trận. Ở đây, lực lượng bảo vệ và cán bộ chỉ huy đã dũng cảm chiến đấu bảo vệ các cửa hầm, nhưng trước lực lượng địch ngày càng đông, chúng lại dùng lựu đạn cay gây ngạt đánh vào cửa hầm nên sau một thời gian quyết chiến với giặc, một số đồng chí vượt ra ngoài được, Chỉ huy trưởng Trần Thành Ngọ bị trọng thương nhưng quyết không để bị bắt đã cùng các chiến sĩ chiến đấu và hy sinh tại cửa hầm. 

        Trận đánh kết thúc, 360 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Trận đánh đã để lại nhiều bài học quý về tổ chức trận địa, vận dụng cách đánh địch, về sử dụng lực lượng nhất là cán bộ chủ chốt, về tổ chức chỉ huy chống địch càn quét, đánh chiếm thị xã trong những tháng đầu toàn quốc kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:37:25 AM

TRẬN KHAU CHỪN - VÀNG CHỪN CỦA DU KÍCH XÃ CAO HÒA (14.10.1947)

        Trận tập kích tài tình, táo bạo của Tiểu đội du kích xã 1 Cao Hòa do Nguyễn Văn Sù chỉ huy diệt quân Pháp trên đường số 3 ở kilômét 23 (đoạn Bắc Cạn - Chợ Mới), gây nhiều tổn thất cho địch.

        Đoạn kilômét 23 chạy qua xã Cao Hòa (nay là xã Cao Kỳ, huyện Bạch Thông), địa hình khá hiểm trở, hai bên rừng cây rậm rạp, có nhiều “cua” gấp dọc triền núi đá Khau Chừn, các mỏm hơi nghiêng ra mặt đường rất chênh vênh. Trên các vách đá có nhiều hang, hốc nhỏ, giấu quân kín đáo. 

        Ngày 7 tháng 10, quân Pháp bắt đầu cuộc hành binh lớn lên Việt Bắc. 14 giờ cùng ngày, 300 lính dù của binh đoàn đổ bộ đường không Sôvanhắc nhảy dù chiếm Chợ Mới, xây dựng thành cứ điểm lớn khống chế con đường huyết mạch Thái Nguyên - Cao Bằng. Từ đây, hàng ngày địch tỏa ra xung quanh lùng sục đảm bảo an toàn cho vị trí đóng quân.

        Ngày 14 tháng 10, khoảng hai đại đội quân Pháp hành quân từ Chợ Mới lên Bắc Cạn. Chúng chia thành hai tốp, mỗi tốp một đại đội. Do thường xuyên bị phục kích nên địch hành quân thận trọng.

        Đại đội du kích tập trung xã Cao Hòa do Nguyễn Văn Sù làm đại đội trưởng, có một trung đội thường trực chiến đấu, ém quân ở Nguôi Phai (nay thuộc xã Cao Kỳ). Trang bị có bốn súng kíp, ba súng khai hậu, hai súng Dóp 5 thu được của địch mỗi du kích được trang bị năm đến sáu quả lựu đạn do công binh xưởng của ta chế tạo. 

        6 giờ ngày 14 tháng 10, được tin địch từ Chợ Mới lên, Bắc Cạn. Chỉ huy đại đội quyết định phục kích quân địch nhằm cản trở cuộc hành quân, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch tại khu vực núi đá Khau Chừn - Vàng Chừn (đoạn kilômét 23).

        Lực lượng tham gia đánh địch được tổ chức thành ba tổ: Tổ 1 chặn đầu; tổ 2 khóa hậu; tổ 3 đánh giữa đội hình địch.  7 giờ, tiểu đội hành quân chiếm lĩnh trận địa, chờ địch .

        Khoảng 14 giờ, hai đại đội địch từ Chợ Mới đến Bắc Cạn. Đại đội đi đầu đến trận địa của ta, các đội viên trên vách núi nghe tiếng ngựa hý, tiếng ồn ào. Đợi quân địch lọt hẳn vào trận địa, đồng chí Sù đập kíp lựu đạn và thả xuống mặt đường làm lệnh phát hỏa. Trên đoạn đường ngót 100 mét, tiếng lựu đạn rền vang. Sau ít phút bị bất ngờ, địch cố sống chạy vượt ra ngoài trận địa.  Khoảng l giờ, trận đánh kết thúc, 15 tên địch bị diệt và một số bị thương.

        Đây là trận đánh đầu tiên của du kích Cao Hòa thực hiện “Chỉ thị cần kíp” của Trung ương Đảng và chỉ thị của Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Cạn về nhiệm vụ tác chiến trong những ngày đầu địch tiến công lên Việt Bắc Thu Đông 1947.


TRẬN VÀNG CHỪN CỦA ĐẠI ĐỘI DU KÍCH CAO HOÀ (19.l0.1947)

        Để góp vào chiến công chung - đánh địch tiến công lên Việt Bắc - Thu Đông 1947, du kích xã Cao Hòa đã tổ chức trận phục kích bằng địa lôi, diệt một tốp xe địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        Vàng Chừn là đoạn đường ở kilômét 23 trên đường số 3 (từ Bắc Cạn xuống) chạy qua địa bàn xã Cao Hòa (nay là xã Cao Kỳ, huyện Bạch Thông). Đây là đoạn đường cua theo sườn núi, một bên là vực Vàng Chừn, có nhiều khe đá, dốc đứng, từ dưới đường khó có thể leo lên được núi đá. 

        Sau khi chiếm đóng Bắc Cạn và Chợ Mới. Để kiểm soát giao thông và triệt đường tiếp tế quan trọng của ta, địch thường tổ chức các cuộc hành quân bằng bộ binh từ Chợ Mới lên thị xã Bắc Cạn. Do bị ta phục kích nhiều, nên những cuộc hành quân quan trọng, địch thường bắt đồng bào ta đi cùng để nếu bị phục kích, hạn chế thiệt hại của chúng.

        Đại đội du kích xã Cao Hòa có một trung đội du kích thường trực chiến đấu.

        Tiểu đội trực tiếp đánh địa lôi do Nguyễn Văn Lú làm Tiểu đội trưởng. Tiểu đội được trang bị ba quả địa lôi cải tiến từ đầu đạn pháo, nặng 25kg, 30 quả lựu đạn, một khẩu Dóp  và bốn súng kíp. Được tổ quân giới của công trường 50 đến hướng dẫn cách sử dụng địa lôi ngay tại trận địa phục kích.

        Để thực hiện tốt nhiệm vụ, lực lượng tham gia trận đánh được chia thành bốn tổ chiến đấu và một tổ quan sát: Tổ địa lôi số 1 bố trí ở cuối đoạn “cua” đường có nhiệm vụ đánh chiếc xe thứ tư. Tổ địa lôi số 2 bố trí ở đoạn giữa “cua”, đánh chiếc xe thứ năm. Tổ địa lôi số 3 bố trí ở đầu “cua”, đánh chiếc xe thứ sáu. Tổ lựu đạn bố trí ở giữa tổ 2 và 3, có nhiệm vụ đánh địch bảo vệ cho các tổ đánh địa lôi rút lui, hoặc đánh địch khi có lệnh xung phong.

        Đài quan sát có nhiệm vụ khi địch vào trận địa đúng kế hoạch hiệp đồng, dùng mõ báo cho nổ địa lôi diệt địch.  Trưa 19 tháng 10, nhận được thông báo có sáu xe địch hành quân từ Bắc Cạn xuống Chợ Mới. Từ bản Hùa Phai, tiểu đội lên đường đánh địch.

        15 giờ, địch đến cánh đồng Tổng Sâu dừng lại, dùng cối và súng máy bắn lên núi Khau Chừn. Sau đó, lính dõng lên dọn các cây ngả chắn đường. Dọn xong chúng ngồi đợi ngay ở vị trí quả địa lôi của tổ 1 và cử ba tên quay lại đón đoàn xe tiếp tục hành quân.

        Từ đài quan sát ta phát hiện ba xe đi đầu chở một số lính và một số lớn nhân dân nên cho đi qua. Hai chiếc tiếp theo vừa đến trận địa. Nghe ba tiếng mõ, đồng chí Nguyễn Văn Hổ điểm hỏa, địa lôi nổ; tiếp đó, các quả địa lôi số 2, số 1 tiếp tục nổ phá hủy một số xe và diệt một số lính địch.

        Sau năm phút chiến đấu, khoảng 60 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Ta thu tám thùng đựng xăng và một số quân trang, quân dụng khác.

        Chiến thắng Vàng Chừn động viên mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của dân quân du kích và nhân dân xã Cao Hòa, quân và dân Bắc Cạn; củng cố lòng tin của các dân tộc vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:39:28 AM

TRẬN LÃO HOÀNG CỦA DU KÍCH XÃ CHÍ ĐÁM (24.10.1947)

        Trận phục kích của du kích xã Chí Đám huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ phối hợp với lực lượng vũ trang Khu 10 đánh địch cơ động trên sông Lô, góp vào chiến công chung cùng các lực lượng tham gia chiến dịch bẻ gãy gọng kìm phía tây của quân Pháp trong chiến dịch Việt B ắc Thu Đông 1947 .

        Thôn Lão Hoàng nằm sát bờ sông Lô, vùng đất trung du có nhiều cây lau sậy, tre mọc trên các đồi, núi có độ cao trung bình 40 đến 50 mét, có núi Đán cao đột xuất 204 mét. Sát bờ sông có các cây si, cây đa, cây gạo rất to, có thể lợi dụng để quan sát địch dưới sông. Phía nam thôn, sông Lô chảy sát và ôm lấy một phần thôn.

        Đội du kích xã Chí Đám có 36 người do Phùng Văn Sửu chỉ huy. Trang bị năm khẩu tiểu liên Ten và 50 quả lựu đạn, còn lại là súng kíp, mã tấu, chông, mìn.  Đội nhận lệnh cùng bộ đội xây dựng trận địa phục kích từ thôn Chí Đám đến thôn Ngọc Chúc, trận địa chính ở thôn Lão Hoàng.

        Đội hình chiến đấu được tổ chức thành ba bộ phận: chủ yếu chặn đầu, khóa đuôi (trận địa do bộ đội xây dựng).  Đội du kích xã được chia thành hai bộ phận: một bộ phận tham gia đánh địch trên hướng chính diện, một bộ phận nghi binh lừa địch.

        Bộ phận chiến đấu được trang bị ba khẩu tiểu liên, một số lựu đạn, chông, mìn, cạm bẫy, có nhiệm vụ phối hợp với hai trung đội bộ đội trên hướng chủ yếu, sẵn sàng hiệp đồng với các bộ phận khác tiêu diệt địch giữ vững trận địa. 

        Bộ phận làm nhiệm vụ nghi binh lừa địch có nhiệm vụ làm thủy lôi giả bằng quả bưởi và nùn rơm, bố trí thành hai khu vực, tại bến Bà Tam kéo ngang qua sông sang bãi Chảy thôn Hữu Đô.

        Du kích dùng rơm cuộn to cùng thủy lôi thật và một số quả bưởi thả nổi giữa sông, buộc tàu địch phải dạt vào bờ thôn Lão Hoàng, tạo điều kiện cho pháo binh bắn thẳng; tổ chức một tiểu đội du kích trang bị hai khẩu tiểu liên làm nhiệm vụ lừa địch ở trên tàu và máy bay trinh sát ở Hữu Đô (đối diện với thôn Lão Hoàng); bố trí năm bãi nghi binh, mỗi bãi cách nhau 50 mét, dùng củi, nứa đốt cho cháy gây nổ để thu hút máy bay địch về những bãi đó và buộc tàu địch phải dạt sang bờ phía thôn Lão Hoàng để pháo binh tiêu diệt. 

        Khoảng 14 đến 1 giờ ngày 24 tháng 10 năm 1947, đoàn tàu địch có năm chiếc được máy bay yểm trợ từ Tuyên Quang về lọt vào trận địa, khẩu pháo cao xạ 37mm bắn ba phát trúng chiếc ca nô đi đầu, làm nó chìm ngay. 

        Tiếp đó, ta chuyển bắn vào chiếc LCT, tàu trúng đạn bốc cháy kèm theo những tiếng nổ lớn, tàu chết máy và dạt vào bờ phía xã Hữu Đô rồi chìm dần cùng với số địch còn lại trong tàu; số địch nhảy xuống sông sống sót vội bơi lên bờ.

        Ngay khi ta nổ súng chiếc ca nô đi sau vội quay mũi chạy trở lại Tuyên Quang. Hai chiếc còn lại cập bờ, đổ quân tiến công vào thôn Lão Hoàng. Quân ta ở trận địa phục kích bẻ gãy nhiều đợt tiến công của chúng, nhiều tên chết ngay tại bờ sông.

        17 giờ 30 phút, địch phải bỏ ý đồ tiến công, thu quân lên tàu chạy xuôi tới thôn Ngọc Chúc bị lực lượng chặn đầu với một khẩu pháo cao xạ 75mm và một khẩu sơn pháo 75mm bắn trọng thương, phải chạy về bên xã Hữu Đô. 

        Sau hơn hai giờ chiến đấu, quân ta bắn chìm hai tàu chiến và làm bị thương nặng hai chiếc khác, gần 250 tên địch bị diệt, phá hủy nhiều vũ khí, đạn dược, bắt một sĩ quan Pháp.

        Chiến thắng địch ở Lão Hoàng đã góp cùng chiến công chung ở sông Lô của các lực lượng vũ trang mặt trận Sông Lô, bẻ gãy gọng kìm phía tây của quân Pháp trong chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:41:44 AM

TRẬN BẢN SAO - BÔNG LAU CỦA TIỂU ĐOÀN 249 TRUNG ĐOÀN 28 LẠNG SƠN VÀ ĐẠI ĐỘI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG THẤT KHÊ (30-10-1947)

        Trận phục kích trên đường số 4 đoạn từ đèo Bông Lau đến cầu Bông Lau (từ điểm cao 459 đến điểm cao 420) của Tiểu đoàn 249 (gồm ba đại đội bộ binh, một đại đội trợ chiến; trang bị một đại liên, bốn trung liên, một cối 60mm, còn lại là súng trường, lựu đạn và Đại đội bộ đội địa phương huyện Thất Khê đánh vào đoàn xe vận tải của địch, tiêu diệt lực lượng, phá hủy phương tiện chiến tranh, góp phần cùng quân và dân Việt Bắc đánh bại cuộc tiến công mùa đông của quân Pháp vào căn cứ địa cách mạng. 

        Đoạn đường số 4 từ Bản Sao đến Bông Lau nhiều đèo dốc, quanh co, gấp khúc, có chỗ gập lại nhơ chữ U, rất hiểm trở, xe cơ giới qua đây thường phải giảm tốc độ làm đội hình hành quân dễ ùn tắc. Hai bên cây cối rậm rạp, tiện giấu quân. Sườn núi hai bên đường có thể bố trí hỏa lực nhiều tầng, bắn chéo, bắn thẳng xuống đường, bắn lên các mỏm trên điểm cao. . . khống chế toàn bộ khu vực phục kích. 

        19 giờ ngày 29 tháng 10 năm 1947, từ Bản Ca các đơn vị hành quân theo đường mòn, vượt qua các khe suối của dãy Khau Pia vào chiếm lĩnh trận địa. 5 giờ ngày 30 tháng 10, các đơn vị đã sẵn sàng đánh địch.

        17 giờ ngày 30 tháng 10, một đoàn xe 33 chiếc (gồm GMC, Đốt, Háptơrắc) của trung đoàn Ma rốc thứ năm (5è RTM) chở binh lính, vũ khí, trang bị từ Cao Bằng chạy về Lạng Sơn lọt vào trận địa.

        Bộ phận chặn đầu do thiếu kinh nghiệm nên không kịp điểm hỏa để chiếc đi đầu chạy thoát. Khi chiếc thứ hai đến, mìn nổ, bị lật nghiêng sang mép đường, buộc đoàn xe phải dừng lại. Ngay lúc đó, khẩu badôca bắn cháy chiếc thứ ba.

        Bị đánh bất ngờ, quân địch hốt hoảng nhảy xuống đường tìm cách đối phó. Trong lúc chúng đang rối loạn, các loại hỏa lực của ta từ các hướng bắn vào đội.hình địch. ở vào thế bất lợi, lái bi đánh phủ đầu, địch chống cự yếu dần. Chớp thời cơ, tiểu đoàn ra lệnh cho các đơn vị xung phong xuống đường tiêu diệt quân địch. Được hỏa lực chi viện đắc lực, các chiến sĩ ta từ hướng chính và hướng đối diện xông thẳng vào các xe tìm diệt địch. Những tên sống sót lẩn trốn đều bị bắt.

        Phát hiện có tiếng súng 12,7mm và đại liên địch bắn vào trận địa ta, Đại đội phó Đại đội 185 đã chỉ huy một tổ tiếp cận địch, nhưng do vừa tiến vừa bắn nên địch phát hiện và dùng hỏa lực ngăn chặn không tiến lên được. Chủ động hiệp đồng đánh địch, một tổ khác đã nhanh chóng lợi dụng địa hình, bí mật vu hồi theo đường tắt về sau địch, dùng lựu đạn tiêu diệt hỏa điểm.

        Sau hơn một giờ chiến đấu, ta diệt 94 lính âu Phi,  lính ngụy bắt 101 tên, thu 600 chiếc dù và toàn bộ vũ khí, phá 27 xe.

        Trận phục kích lớn đầu tiên trên đường số 4 thắng lợi . .  đã góp phần vào chiến công chung đánh bại cuộc tiến công mùa đông của quân Pháp vào căn cứ địa Việt Bắc; mở ra nhột giai đoạn mới - giai đoạn xây dựng các đơn vị đánh tập trung, đánh tiêu diệt. Sau trận đánh, lòng tin vào cách mạng của nhân dân được củng cố, tạo đà cho hoạt động du kích chiến tranh trên đường số 4 phát triển.


TRẬN HÙNG TIẾN CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG (9-11-1947)

        Trận chống càn của du kích xã Hùng Tiến (nay là xã Vĩnh Lại), huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ chống lại một tiểu đoàn quân Pháp, được pháo binh yểm hộ càn quét vào xã nhằm ngăn chặn, tiêu hao lực lượng địch, bảo vệ nhân dân và cơ sở cách mạng.

        Hùng Tiến là một xã đồng bằng của huyện Lâm Thao có các thôn Văn Điển, Trịnh Xá, Vĩnh Lại.(Sau năm 1947 đổi thành xã Lê Tính, đến năm 1964 đổi thành xã Vĩnh Lại). Xã có một trung đội du kích (95 người), do Lê Tính là Trung đội trưởng. Trang bị ba khẩu súng trường, 65 quả lựu đạn, còn lại là giáo mác, mã tấu và một ít vũ khí tự tạo.

        Thực hiện chủ trương của Huyện ủy và Ban chỉ huy quân sự huyện, du kích và nhân dân xã khẩn trương tổ chức xây dựng trận địa, bố trí vật cản, rào làng chiến đấu, bám đất, bám dân đánh giặc giữ làng.  Để chống lại cuộc càn, trung đội tổ chức đội hình đánh địch trên ba hướng:

        - Hướng nam của xã bố trí Tiểu đội du kích (13 người),  do Trung đội trưởng Lê Tính trực tiếp chỉ huy, chuẩn bị trận địa phía nam thôn đánh địch tiến công trên hướng chủ yếu, đồng thời sẵn sàng chi viện cho Tiểu đội 2 đánh địch ngược sông Hồng lên.

        - Hướng đông nam xã bố trí Tiểu đội 2 (11 người), chuẩn bị trận địa phía đông nam xã, sẵn sàng đánh địch vượt ngã ba sông và từ Việt Trì lên, sẵn sàng chi viện cho Tiểu đội 1 đánh địch từ phía nam vào thôn.

        - Hướng tây nam bố trí Tiểu đội 3 (11 người), chuẩn bị trận địa phía tây nam, phối hợp với các tiểu đội 1 và 2 đánh địch khi chúng tiến công vào thôn, sẵn sàng cơ động - lực lượng chi viện cho các tiểu đội bạn chiến đấu. 

        5 giờ 30 phút ngày 9 tháng 11, quán Pháp dùng một đại đội cối và đại liên vượt sông Đà chiếm bãi Gót Nung triển khai trận địa hỏa lực chuẩn bị tiến công. 7 giờ, chúng dùng cối bắn mạnh vào Hùng Tiến. Cùng thời gian này, một tiểu đoàn bộ binh địch vượt sông, triển khai đội hình tiến công ở bãi Gót Nung.

        7 giờ 30 phút, được hỏa lực chi viện, địch chia làm hai mũi đánh vào Hùng Tiến. Mũi một do hai đại đội bộ binh vượt sông Thao đánh vào hướng Tiểu đội du kích 1 . Mũi hai do một đại đội bộ binh vượt sông Thao đánh vào trận địa của Tiểu đội du kích 2.  Ngay khi quân địch vào gần bờ, các tiểu đội đã nổ súng làm 3 thuyền của địch bị chìm.

        Bị đánh bất ngờ và thiệt hại, địch dùng hỏa lực bắn mạnh vào thôn đồng thời cho bộ binh ồ ạt tràn lên bờ, tiến công vào các trận địa của Tiểu đội 1 và 2. Dựa vào công sự, các tiểu đội 1 và 2 kiên quyết chặn địch.  Tiểu đội 3 nhanh chóng cơ động chi viện cho Tiểu đội 1 chiến đấu .

        Nhờ lực lượng đông và hỏa lực mạnh, địch nhanh chóng vượt qua trận địa của du kích và chiếm được làng. Mặc dù mất trận địa chính, nhưng du kích vẫn len lỏi trong làng quần nhau với địch, làm chậm bước tiến của chúng. Quá trình chiến đấu, địch bắt được Trung đội trưởng Lê Tính, chúng dụ dỗ, tra tấn nhưng không khuất phục được, sáng ngày 10 tháng 11 năm 1947, quân địch giết hại người trung đội trưởng du kích dũng cảm.

        Trận đánh kết thúc, ta bắn chìm ba thuyền; loại khỏi vòng chiến đấu tám tên địch.

        Trận đánh đã kìm chân, làm chậm bước tiến của địch về hướng Hạc Trì, tạo điều kiện cho cấp trên chuẩn bị lực lượng tiến công chúng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:44:03 AM

TRẬN PHỦ THÔNG CỦA ĐẠI ĐỘI 395 VÀ TRUNG ĐỘI DU KÍCH THỊ XÃ BẮC CẠN (30.11.1947)

        Trận tập kích của Đại đội 39 Trung đoàn 72 và Trung 1 đội du kích thị xã Bắc Cạn tiêu diệt quân địch ở đồn Phủ Thông đã góp phần phá cuộc tiến công mùa đông của quân Pháp lên Việt Bắc.

        Giữ đồn Phủ Thông có một đại đội lính Pháp và lê dương thuộc trung đoàn lê dương số 3 (3è REI), quân số khoảng 100 đến 120 tên. Trang bị sáu khẩu súng máy, hai khẩu súng cối, còn lại là tiểu liên và súng trường. Xung quanh đồn có tường dày 80 xăngtimét, cao 1,5 mét, hai bên tường được ghép bằng các thân cây gỗ, tre. Trong tường có các lỗ châu mai. Đồn có một cổng đi thẳng ra chợ Phủ Thông. Trong đồn có một nhà gạch, còn lại là các lều bạt bố trí rải rác. 

        Đại đội 395 có hai trung đội tham gia trận đánh, vũ khí có một súng máy, còn lại là súng trường, dao, kiếm, mỗi người có hai quả lựu đạn. Trung đội du kích thị xã có ba tiểu đội quân số 30 người, trang bị một khẩu trung liên, năm khẩu súng trường, còn lại là lựu đạn và gậy tre vót nhọn.  Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình địch - ta, địa hình, đại đội hạ quyết tâm tổ chức tiến công địch từ hai hướng. 

        Hướng chủ yếu gồm một trung đội của Đại đội 395, được tăng cường hai tiểu đội du kích thị xã Bắc Cạn và một khẩu súng máy; đột kích từ phía sau vào đồn Phủ Thông. 

        Hướng thứ yếu gồm một trung đội bộ đội chủ lực, được tăng cường một tiểu đội du kích và một khẩu súng máy; đột kích chính diện vào cổng đồn và sườn tây nam đồn. 

        21 giờ ngày 30 tháng 1 1 năm 1947, từ rừng Địa Cắt (xã Vi Hương), các đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị tiến công.

        23 giờ 30 phút, sau tín hiệu nổ súng, bộ đội xung phong diệt địch. Trên hướng chủ yếu, quân ta đồng loạt ném lựu đạn vào đồn. Tiếp đó, nhanh chóng vượt qua tường, đoạt vũ khí địch đánh địch. Sau ít phút chiến đấu, ta chiếm được hai phần ba đồn, tiếp tục lùng sục diệt địch và thu thêm súng đưa ra ngoài cho đồng đội.

        Ở hướng thứ yếu, tiểu đội đột kích đã đồng loạt ném lựu đạn vào đồn rồi vượt tường, vượt cổng xung phong vào đồn. Địch bắn trả ác liệt, bộ đội ta không vào được đồn.

        Sau một giờ chiến đấu, chỉ huy cho lui quân nhưng chỉ những người ở ngoài đồn nhận được lệnh, người đang đánh địch trong đồn không nhận được nên tiếp tục chiến đấu.  Khi đạn và lựu đạn hết, bộ đội lui quân về vị trí hiệp đồng.  Ta diệt được 15 tên địch, làm bị thương nhiều tên khác, thu hai súng máy, một súng trường.

        Đánh giá thắng lợi của trận Phủ Thông, báo Vệ quốc quân số ra ngày 15 tháng 2 năm 1948 viết: “Trận Phủ Thông là trận xung phong sát địch gương mẫu. Trong đó, các chiến sĩ đã anh dũng thực hiện cướp súng giặc giết giặc. Gan dạ của họ đã làm cho địch bạt vía, kinh hồn và thấy ràng: Trên núi rừng Việt Bắc chỗ nào cũng có thể là mồ chôn của chúng”.


TRẬN SĂNG KHEO - NÀ KENG CỦA ĐẠI ĐỘI 670 (3.12.1947)

        Thực hiện quyết tâm: “Tích cực đánh địch bằng mọi hình thức, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đập tan âm mưu xảo quyệt và cuộc hành quân Lêa của Pháp lên căn cứ địa Việt Bắc” của cấp trên, Đại đội 670 Trung đoàn 74 Cao Bằng được dân quân, du kích phối hợp đã phục kích địch ở Sằng Kheo - Nà Keng thắng lợi.

        Đoạn quốc lộ 4A nối hai bản Sằng Kheo và Nà Keng cách Đông Khê 5 kilômét về phía bắc, tương đối hiểm trở, có chỗ vách đứng cao 2 đến 3 mét. Xen kẽ giữa các mỏm đồi nhô ra sát đường có những bãi rộng hàng trăm mét vuông, nhiều gò đống mấp mô.

        Do phải thường xuyên tiếp tế lương thực, thực phẩm và phương tiện chiến tranh cho Cao Bằng, nên việc bảo vệ các đoàn vận chuyển trên đường 4A đề phòng ta phục kích được địch đặc biệt chú ý.

        Đại đội 670 có ba trung đội bộ binh, được trang bị hai trung liên, hai tiểu liên, còn lại là súng trường, súng khai hậu và một số lựu đạn. Vào chiến đấu, đơn vị được một trung đội dân quân tập trung của huyện Thạch An phối thuộc, vũ khí của trung đội chủ yếu là súng khai hậu và một số ít súng kíp.

        Nắm được quy luật hoạt động của địch, đại đội tổ chức lực lượng thành ba bộ phận: Bộ phận chủ yếu gồm Trung đội 3, trung đội dân quân và hai tiểu đội của Trung đội 2, bố trí diệt địch ở khu vực chủ yếu. Bộ phận chặn đầu và khóa đuôi gồm Trung đội 1 và một bộ phận của trung đội dân quân. Bộ phận hỏa lực gồm hai khẩu trung liên và khẩu thần công.

        Trưa ngày 2 tháng 12 năm 1947, được trinh sát báo khoảng 9 giờ có một đoàn xe địch từ Đông Khê lên Cao Bằng. Buổi chiều đơn vị từ bản Căm xã Thị Ngân đến bản Lũng Lăng tiếp tục nắm địch.

        6 giờ ngày 3 tháng 12, đơn vị vào chiếm lĩnh trận địa và sẵn sàng đánh địch.

        Khoảng 8 giờ ngày 3 tháng 12, một trung đội địch hành quân từ Đông Khê lên, chúng thận trọng dò xét từng dấu hiệu khả nghi có ta phục kích. Khi tên lính đi sau cùng vào trận địa, Đại đội phó Nông Trung Ngọc lệnh nổ súng. Từ các hướng, quân ta bắn dồn dập vào đội hình địch.

        Địch dùng hỏa lực bắn trả ác liệt. nhưng không phát hiện chính xác được ta nên hiệu quả bắn thấp. Trong khi đó ta bắn tiết kiệm đạn, bắn phát nào chắc phát ấy. Trận đánh kéo dài khoảng 20 phút, ta loại khỏi vòng chiến đấu 11 tên địch. Trận đánh thắng lợi, góp phần cổ vũ phong trào chiến tranh du kích ở địa phương.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:46:24 AM

TRẬN THÔN MỸ CỦA ĐẠI ĐỘI 524 (31.12.1947)

        Trận phục kích của Đại đội 524 Tiểu đoàn bộ binh 111 tỉnh Yên Bái đánh quân địch hành quân từ Trấn Yên vào Nghĩa Lộ nhằm tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí. 

        Thôn Mỹ thuộc xã Chấn Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, nằm trên trục đường 13A từ Yên Bái đi Nghĩa Lộ. Đây là một thung lũng hẹp, tương đối bằng, phía đông có một số mỏm đồi thấp ôm sát mặt đường. 

        Đại đội 524 Tiểu đoàn 115 do Nguyễn Tiến Vinh làm Đại đội trưởng, quân số 65 người, biên chế thành ba trung đội vào chiến đấu được tăng cường 10 du kích của xã.  Trang bị gồm một khẩu sơn pháo, hai khẩu trung liên, 35 súng trường, ba súng khai hậu, hai súng kíp và 1 mã tấu. 

        Thực hiện trận phục kích, đại đội tổ chức thành ba bộ phận: Bộ phận chặn đầu do một trung đội bộ binh và một tổ du kích đảm nhiệm. Bộ phận chủ yếu do một trung đội bộ binh tăng cường một tiểu đội bộ binh đảm nhiệm. Bộ phận khóa đuôi do một trung đội bộ binh (thiếu một tiểu đội) và một tổ du kích đảm nhiệm.

        22 giờ ngày 30 tháng 12, đại đội vào chiếm lĩnh trận địa; chuẩn bị công sự chiến đấu.

        13 giờ ngày 31 tháng 12, Đại đội trưởng biết có 75 tên địch từ Trấn Yên vào Nghĩa Lộ đang tiến vào trận địa.  Khoảng 20 phút sau, chúng đến giữa thôn Mỹ và dừng lại nghỉ. Giữa lúc địch đang đứng ngồi lộn xộn, quân ta từ các hướng nổ súng tiến công. Bị đánh bất ngờ, một số tên chết, số còn lại hô nhau chạy. Thấy địch bỏ chạy không kịp nổ súng, Đại đội trưởng lệnh tạm ngừng bắn và kêu gọi địch đầu hàng trở về với gia đình, với kháng chiến. Một số tên giơ tay hàng, những tên ngoan cố chống cự bị ta tiêu diệt.

        Sau 15 phút chiến đấu, 20 tên địch bị diệt, 20 tên bị bắt. Ta thu hai trung liên, một tiểu liên, một khẩu phóng lựu, 33 khẩu súng trường và một số đồ dùng quân sự.  Trận phục kích thắng lợi đã động viên nhân dân và du kích các xã xung quanh tạo cơ sở cho việc tăng cường bám trụ, xây dựng làng xã chiến đấu và tiêu diệt sinh lực địch.


TRẬN BÓ CỦNG - LŨNG VÀI CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 223 (08-01-1948)

        Trận phục kích của Tiểu đoàn 223, có sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương, đánh vào đoàn xe của địch trên đường 4 nhằm tiêu diệt địch, phá hành lang vận chuyển tiếp tế của chúng trên tuyến biên giới. 

        Đoạn đường từ Bó Củng đến Lũng Vài thuộc huyện Thoát Lãng, tỉnh Lạng Sơn dài khoảng 6 kilômét; đường hẹp, nhiều đoạn gấp khúc theo sườn núi; một bên đường vách đứng. một phía là khe sâu. Cơ giới khó vượt qua các “cua tay áo” thường phải đi chậm, nếu bị đánh dễ ùn tắc. 

        Nhìn chung địa hình trên đoạn Bó Củng - Lũng Vài tiện cho ta triển khai lực lượng bí mật, dễ bố trí hỏa lực, giữ bí mật, tạo bất ngờ; nhưng đội hình chiến đấu phải bố trí dài, thông tin liên lạc khó khăn.

        Tiểu đoàn 223 gồm các đại đội 140, 141, 143; vũ khí có một khẩu badôca, hai khẩu đại liên, còn lại là súng trường và lựu đạn.

        Đêm 6 tháng 1 năm 1948, đơn vị từ xã Văn Mịch hành quân vào chiếm lĩnh trận địa, mai phục sẵn sàng đánh địch.

        14 giờ ngày 8 tháng 1, bốn xe vận tải của địch đi qua trận địa Đại đội 143, tới Bó Củng, chúng dừng lại kiểm tra cầu không phát hiện được ta tiếp tục hành quân. 

        14 giờ 10 phút, chúng đến Lũng Vài, khoảng 60 tên địch xuống lùng sục sau đó dỡ nhà dân lấy làm củi. Đang dỡ nhà, một tên trông thấy dây giật địa lôi của ta. Địch nhanh chóng triển khai chiến đấu, sau đó ba tên xông lên núi. Một chiến sĩ của ta bắn chết một tên địch, số còn lại chạy xuống đường.

        Địch dùng hỏa lực bắn mạnh và cho bộ binh xung phong vào trận địa ta. Đại đội 141 chặn đánh địch, nhưng do hỏa lực của ta hạn chế nên chúng chiếm được một phần trận địa của Trung đội 5 và phát triển lên. Bị Trung đội 6 chặn đánh, buộc chúng phải lui xuống. Ta thu một khẩu các bin. Tiếp đó, địch ba lần xung phong vào trận địa, nhưng đều bị đánh bật ra, 10 tên bị chết.

        14 giờ 50 phút, địch thu quân và tiến về Thất Khê.  Đoàn xe đi chậm và lọt vào trận địa của Đại đội 141. Khi ta nổ súng, trinh sát địch hốt hoảng bỏ chạy, xe địch vừa lùi lại vừa bắn. Khi đến trận địa của Trung đội 5, bộ đội ta xung phong, ném lựu đạn lên xe, nhưng không diệt được xe địch.

        15 giờ 5 phút, bốn xe địch chạy gần đến Lũng Vài, Đại đội 140 giật địa lôi nhưng không diệt được xe địch. Địch vừa chống trả, vừa cố lùi về Na Sầm, tới lô cốt Lũng Vài bị Trung đội 1 Đại đội 140 giật địa lôi diệt một xe. Bộ đội xung phong xuống đường đuổi theo xe địch, ném lựu đạn vào xe.

        Bị đánh liên tiếp, địch vừa chống trả vừa chạy về Bó Củng.  Khi chiếc đi đầu đến vị trí chôn địa lôi của Đại đội 143, chiến sĩ ta giật nhưng địa lôi không nổ. Đại đội trưởng ra lệnh tập trung hỏa lực bắn vào đội hình địch. Xe địch qua cầu nhưng không vượt được dốc.

        Đến đoạn đường ngoặt, một xe trúng đạn phải dừng lại. Địch dùng 12,7mm, đại liên bắn vào trận địa hỏa lực của Đại đội 143.  Đại đội 143 được lệnh xung phong, Trung đội phó Phạm Vân Quyển chỉ huy hai tiểu đội lợi dụng địa hình vượt qua làn đạn địch, chiếm vị trí có lợi đánh vào địch đang bắn 12,7mm; chiếm được xe, thu vũ khí và bắt được một tên Pháp. Cùng lúc đó, hai xe địch từ Thất Khê xuống, đến trận địa của Trung đội 7, bị trúng địa lôi của ta hỏng phải nằm lại. Tiếp đó, địch đưa bảy xe từ Na Sầm lên ứng cứu cho quân đang bị đánh.

        20 giờ 30 phút, tiểu đoàn được lệnh thu dọn chiến trường và lui quân.

        Sau 6 giờ chiến đấu liên tục, ta diệt gần hai trung đội địch (có hai sĩ quan Pháp); phá hỏng bốn xe, thu một khẩu 12,7mm, một khẩu trung liên, hai khẩu súng cồl, ba khẩu các bin và nhiều đạn dược.

        Trận đánh thắng lợi, đẩy địch vào thế bế tắc trong bảo vệ hành lang vận chuyển chiến lược trên tuyến biên giới. Sau trận đánh, tiểu đoàn được Bác Hồ gửi thơ khen và được Bộ Tổng chỉ huy tặng danh hiệu “Tiểu đoàn Lũng Vài”.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:47:33 AM
       
TRẬN HÙNG THẮNG CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG (25.2.1948)

        Trận chống càn của du kích xã Hùng Thắng, huyện Tiên Lãng, tỉnh Kiến An (nay thuộc thành phố Hải Phòng), do Phạm Văn Tiệp chỉ huy đánh vào hai tiểu đoàn Âu Phi thiện chiến, nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ làng xã. 

        Ngay khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai, xã Hùng Thắng đã tích cực xây dựng lực lượng, đến cuối năm 1947, xã có 64 du kích và sáu trung đội dân quân; tổng số trên 300 người. Lực lượng vũ trang của xã đã nhiều lần đánh bại các cuộc hành quân càn quét quy mô trung đội, đại đội của địch, đã tích lũy được một số kinh nghiệm chiến đấu bảo vệ quê hương. 

        Tối 23 tháng 2, được tin địch tập trung quân ở núi Đối, Kim Sơn, bến Đáy, chuẩn bị càn vào Hùng Thắng mà mục đích chủ yếu là xóa làng chiến đấu Chử Khê, cấp ủy và ủy ban, xã đội đã họp bàn kế hoạch chiến đấu, tổ chức sơ tán cho dân.

        Quyết tâm của cấp ủy, chính quyền và xã đội là dựa vào công sự, làng chiến đấu Chử Khê, kiên quyết bám trụ đánh địch, ngăn chặn chúng. Nếu địch vào được làng thì du kích lùi về giữa thôn, đánh địch đến cùng.

        Để thực hiện quyết tâm trên, chỉ huy trận đánh bố trì Tiểu đội du kích 2, trang bị bốn khẩu súng trường và hai quả mìn bố trí ở đầu thôn, tây nam Chử Khê. Tiểu đội trang bị hai khẩu súng trường, còn lại là mìn và lựu đạn bố trí hướng đông bắc.

        8 giờ ngày 25 tháng 2, địch từ Thái Hòa sang lọt vào cổng, du kích giật mìn và nổ súng diệt một số tên. Bị đánh bất ngờ địch lùi ra, dùng cối bắn vào thôn. 

        9 giờ địch tiến công lần thứ hai, du kích giật mìn và ném lựu đạn, một số tên chết, số còn lại xông tới. Các chiến sĩ du kích vừa đánh địch vừa rút về tuyến 2, dựa vào từng căn nhà, bờ tường dùng lựu đạn, mã tấu diệt địch; cướp súng địch tiếp tục đánh trả chúng. Bị thiệt hại, địch điên cuồng dùng hỏa lực, binh lực tiếp tục tiến công. Du kích lui về tuyến 3. Địch tiếp tục dùng cối bắn mạnh vào khu vực du kích vừa lui về.

        Riêng tiểu đội vũ trang tuyên truyền khi địch đánh vào làng không kịp tổ chức chiến đấu, rút xuống hầm bí mật, bị địch phát hiện, chúng phá hầm, bắn chết bốn người, lấy sáu khẩu súng trường. Trong khi địch gọi hàng, đồng chí Gõ bình tĩnh tiến lên khỏi hầm, bất ngờ dùng lựu đạn đập vào mặt một tên địch và chạy. Không kịp đối phó, địch nằm rạp tránh lựu đạn, sau đó đuổi theo, nhưng không kịp vì Gõ đã len lỏi sang các nhà khác. Ba cán bộ tuyên truyền nhân lúc địch đuổi theo đồng chí Gõ đã lên khỏi hầm rút lui an toàn.

        Ở hướng bắc, du kích chặn đánh, nhưng do lực lượng địch đông, du kích vừa chiến đấu, vừa lui dần về tuyến 2 và 3. Địch ào ạt đánh tới. Du kích nhất loạt dùng những quả lựu đạn cuối cùng, chớp thời cơ chúng đang hốt hoảng, vượt ra ngoài vòng vây về vị trí an toàn. 

        17 giờ, địch rút khỏi thôn Chử Khê và xã Hùng Thắng, mang theo 42 tên chết và 45 tên bị thương.  Để giữ làng thắng lợi, tiêu diệt được địch, lãnh đạo và nhân dân Hùng Thắng đã hết sức tận dụng và cải tạo địa hình, địa vật sẵn có; bố trí hệ thống vật cản, chông mìn, cạm bẫy dày đặc và có trọng điểm; chú trọng ngụy trang, nghi binh, bảo đảm bí mật, tạo bất ngờ; chủ động bố trí lực lượng đánh địch từ ngoài làng để vừa tiêu hao địch, vừa dụ địch vào thế trận của ta.

        Trong chỉ huy chiến đấu, ta vừa chủ động linh hoạt tiến công địch, vừa tích cực chặn địch từ xa kết hợp với vu hồi tập kích vào đội hình địch khi có thời cơ. Những kinh nghiệm xây dựng làng chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp đến nay vẫn còn nguyên giá trị.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:48:27 AM

TRẬN BẢN NẰM CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 48 (16.3.1948)

        Trận phục kích của Tiểu đoàn 48 được tăng cường một 1 đại đội độc lập Bắc Sơn và du kích địa phương đánh vào một đoàn xe của quân Pháp ở dốc Bản Nằm trên đường 4A, nhằm tiêu diệt địch, triệt phá vận chuyển tiếp tế trên tuyến hành lang biên giới của chúng. 

        Bản Nằm thuộc xã Kháng Chiến, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Đoạn đường qua Bản Nằm rộng ba đến bốn mét, hai bên có ruộng bậc thang, dốc từ tây sang đông và trống trải. Đông và đông bắc, cách khoảng 200 mét có điểm cao 262. Từ điểm cao quan sát được toàn bộ khu vực Bản Nằm, tổ chức hỏa lực khống chế được mặt đường.  Phía tây là bình độ 200 của điểm cao 304 chạy sát đường, rừng cây kín đáo, tiện triển khai lực lượng, giấu quân được bí mật .

        Tiểu đoàn bộ binh độc lập 48 có ba đại đội bộ binh và một đại đội trợ chiến. Vũ khí trang bị rất thiếu, toàn tiểu đoàn có một khẩu badôca, một khẩu súng cối 60mm và hai khẩu đại liên, còn lại chủ yếu là súng khai hậu và mã tấu. 

        Đại đội độc lập Bắc Sơn và du kích địa phương là cón em các dân tộc ít người, tinh thần diệt giặc cao, nhưng mới chỉ đánh du kích phân tán, chưa quen đánh phối hợp với bộ đội hủ l trang bị chủ yếu là súng trường, lựu đạn, mã tấu.

        5 giờ 30 phút ngày 16 tháng 3 năm 1948, một đoàn xe địch gồm bảy chiếc chở khoảng 180 quân (có 80 lính Pháp, còn lại là lính khố đỏ, lính dõng), vũ khí có hai khẩu 12,7mm, hai đại liên, hai súng cối, còn lại là tiểu liên, hành quân từ Thất Khê xuống lọt vào trận địa của tiểu đoàn. 

        Do một chiến sĩ ta sơ suất làm cướp cò, súng nổ. Địch dừng xe, dùng 12,7mm bắn sang hai bên đường. Tiểu đoàn ra lệnh nổ súng, badôca, đại liên, súng trường đồng loạt bắn vào đội hình địch.

        Ngay viên đạn đầu, badôca đã bắn trúng xe chỉ huy, diệt toàn bộ quân địch trên xe, trong đó có hai sĩ quan Pháp. Xe đi đầu của địch dùng súng máy 12,7mm, đại liên, súng cối bắn mạnh vào trận địa ta. Bộ binh địch xuống đường, triển khai chiến đấu chống trả quyết liệt ở hướng đông bắc, ta giật nổ ba quả địa lôi, diệt một số địch.

        7 giờ 30 phút, đại liên của ta hết đạn. Tiểu đoàn ra lệnh lui quân. Nhưng do đang hăng hái đánh địch và hỏa lực bắn mạnh nên các đơn vị không nhận được lệnh lui quân.  8 giờ 50 phút, địch cho máy bay từ Lạng Sơn đến bắn phá vào trận địa của ta. Do chuẩn bị công sự tốt nên lực lượng ta giữ vững được trận địa.

        9 giờ, năm xe địch từ Thất Khê xuống tiếp viện. Tới Bản Trại, một xe trúng địa lôi của ta bị đổ, bốn xe còn lại tiếp tục chạy về phía trận địa ta. Vừa đến bộ phận khóa đuối, địch dùng pháo 37mm và súng cối bắn chi viện cho bộ binh thành hai mũi xông vào trận địa của ta. 

        Mũi thứ nhất vu hồi đánh vào trận địa hỏa lực để bảo vệ đội hình, không cho ta dùng hỏa lực diệt chúng. Mũi thứ hai tiến theo tây nam đường, định bao vây và đánh vào sau lưng bộ phận chủ yếu của ta. Ta đánh trả quyết liệt, buộc địch phải lui.

        9 giờ 50 phút, bốn xe địch từ Na Sầm lên tiếp viện.  Địch chia thành ba mũi tiến công vào trận địa ta, nhưng bị ta đánh mạnh nên không tiến lên được; sau khi chiếm được vị trí của tiểu đoàn, địch dùng pháo binh, súng cối bắn mạnh vào khu vực giấu quân của bộ phận chủ yếu.  Lợi dụng thời cơ không có máy bay địch hoạt động, ta tổ chức lui quân.

        Sau nhiều giờ chiến đấu, ta diệt 88 tên địch (có sáu sĩ quan), làm bị thương 54 tên; phá hủy bảy xe, một khẩu pháo 20mm, một khẩu 12,7mm, bốn đại liên và nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng.

        Trận Bản Nằm đã góp phần cắt đứt đường vận chuyển tiếp tế cô lập các cứ điểm của địch trên tuyến phòng thủ biên giới Việt Bắc của chúng, củng cố lòng tin của nhân dân địa phương vào thắng lợi của cách mạng, của cuộc kháng chiến chống Pháp.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:49:15 AM

TRẬN CẠM NGẦN - NÀ KENG CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 73 (4-7.4.1948)

        Trận phục kích của Tiểu đoàn 73 Trung đoàn 74 Liên 1 khu 1 từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 4 năm 1948 là trận mở màn đợt hoạt động hè năm 1948 của liên khu. Nhờ tận dụng được lợi thế của địa hình, vận dụng cách đánh linh hoạt, khoét sâu được chỗ yếu của địch, tiểu đoàn đã đánh thiệt hại nặng hai đoàn xe của địch vận chuyển trên đường 4A.

        Đoạn đường từ Cạm Ngần đến Nà Keng (thuộc huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng) nhiều đèo dốc quanh co, góc cua hẹp; hai bên đường chủ yếu là núi đá, nhiều hang hốc, cây cối rậm rạp. Trên đường có nhiều cầu và ngầm; các suối đều nhỏ và nông, khi cầu hỏng có thể làm ngầm để xe qua lại.

        Nhìn chung, địa hình thuận lợi cho việc chọn trận địa phục kích, giấu quân được bí mật, bố trí binh hỏa lực thuận lợi, dễ cải tạo địa hình làm công sự trận địa. Tuy vậy do vách núi đứng và cao, cây cối rậm rạp nên hạn chế quan sát và phạm vi bắn, thông tin liên lạc khó khăn. 

        Nhận nhiệm vụ, Tiểu đoàn 73 sử dụng hai đại đội (671 và 674), một trung đội trợ chiến, một trung đội chống chiến xa. Vũ khí có 10 súng máy, bốn tiểu liên và 11 súng trường, 24 quả địa lôi và 14 quả lựu đạn; phục kích quân địch vận chuyển tiếp tế trên đoạn đường 4. 

        16 giờ ngày 3 tháng 4, Đại đội 674 và trung đội chống chiến xa hành quân bí mật, chiếm lĩnh trận địa an toàn.  Đại đội 61, sau khi tập đồn Kích Nậm, quay về vào vị trí mai phục quân địch. Riêng trung đội trợ chiến do cự ly cơ động gần, trận địa bố trí sát đường, nên khi địch sắp đi qua mới chiếm lĩnh để bảo đảm bí mật.

        Sáng 4 tháng 4, một đoàn xe vận tải của địch từ Thất Khê đi Cao Bằng. Đi đầu là xe bọc thép và một xe chở quân hộ tống đoàn xe, chạy cách đoàn xe chính 400 mét.  Đoàn xe chính gồm 60 chiếc, các xe cách nhau từ 40 đến 50 mét. Cứ 5 đến 6 xe chở hàng lại có một xe chở quân hộ tống. Trên xe có cối 81mm, trọng liên 12,7mm, đại liên . . .

        10 giờ, đoàn xe lọt vào trận địa của trung đội trợ chiến.  Được lệnh nổ súng, một loạt đạn 12,7mm dài trúng xe làm một số tên chết và bị thương. Xe dừng lại, địch từ trên xe nhảy xuống hai bên đường triển khai đội hình chiến đấu, dùng 12,7mm, súng cối 81mm và các loại súng bộ binh bắn xối xả vào trận địa ta khoảng 15 phút. Thấy ta không bắn lại tưởng ta rút, địch lên băng bó cho những tên bị thương và thu tử sĩ. Chờ cho địch lên đông, ta lại bắn mấy loạt diệt thêm một số tên.

        Khoảng 20 phút, địch cho từng tốp khoảng 3 đến 4 tên lên khiêng cáng những tên bị thương và chết. Khi xe tập trung lên để đi tiếp, ta bắn mạnh vào các xe chở lính, địch phải dừng lại, tổ chức đánh trả.

        Khoảng 11 giờ 30 phút, địch cho hai máy bay từ hướng Thất Khê tới dùng hỏa lực đánh vào trận địa ta. Pháo địch tử Đông Khê và cối bắn xối xả vào trận địa. Tiếp đó, chúng cho bộ binh chia làm hai mũi đánh vào cạnh sườn đơn vị.  Khi địch đến chân núi, các tiểu đội bố trí sẵn ở đây nổ súng, buộc địch phải quay lại mặt đường.  Trận chiến đấu kéo dài suốt chặng đường khi chúng qua Lũng Mười, Tông Và, Lũng Nhọc. Đến 19 giờ 55 phút, ta ngừng bắn.

        Nắm được quy luật của địch là mỗi đoàn xe lên thường nghỉ lại Cao Bằng hai ngày, bảo dưỡng xe rồi quay trở về, tiểu đoàn tổ chức đánh đoàn xe của địch khi chúng quay về.

        13 giờ ngày 6 tháng 4, địch dùng hai xe bọc thép trinh sát từ Cao Bằng về Đông Khê. 14 giờ, địch tới trận địa của Đại đội 671 ở Khui Đăm. Đại đội nổ súng nhưng không diệt được xe. Địch đi qua nhưng Đại đội 674 không nổ súng để giữ bí mật trận địa. 

        Ngày 7 tháng 4, đoàn xe về Đông Khê, số lượng gần 100 xe vận tải có một đại đội bộ binh hộ tống. 11 giờ 30 phút, đoàn xe địch tới Nà Keng. Trung đội 353 chặn đánh gần một giờ, diệt và làm bị thương nhiều địch. Qua được Nà Keng tới Sằng Kheo lại bị Trung đội 32 chặn đánh tiêu hao thêm một số tên.

        14 giờ đoàn xe mới vượt qua được trận địa của Trung đội 352, ta kết thúc trận đánh.

        Qua hai ngày chiến đấu, ta đánh thiệt hại nặng hai đoàn xe vận chuyển; làm bị thương trên 100 tên địch, phá hủy tại chỗ bảy xe, làm hỏng 50 xe vận tải, thu một khẩu pháo 37mm và một số đồ dùng quân sự.

        Trận đánh thắng lợi để lại nhiều kinh nghiệm quý về chọn cách đánh; về vận dụng thủ đoạn chiến đấu phù hợp với nhiệm vụ và so sánh lực lượng địch - ta; về chọn trận địa phục kích hiểm hóc bí mật, tạo được bất ngờ...


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:50:26 AM

TRẬN NA KHƯA CỦA ĐẠI ĐỘI 1 TIỂU ĐOÀN 48 (24.4.1948)

        Trận tập kích của Đại đội 1 Tiểu đoàn bộ binh 48 bộ đội địa phương Hà Tĩnh vào 45 quân của tiểu đoàn 103 dù (ngụy Lào) giữ đồn Na Khua án ngữ đường 13 thuộc Tà Xẻng Nậm Thon, huyện Hiu Bun, tỉnh Bô Li Khăm Xay (Lào) nhằm tiêu diệt địch, mở rộng vùng giải phóng, tạo lòng tin trong nhân dân vào thắng lợi của cách mạng. 

        18 giờ ngày 23 tháng 4, các mũi bắt đầu tiềm nhập, đến 5 giờ ngày 24 tháng 4, các mũi đã vào vị trí chiếm lĩnh bí mật, an toàn. Khi các mũi tiềm nhập vượt qua hàng rào, trong đồn có hai tên lính mang đèn pin cùng hai con chó đi kiểm tra xung quanh đồn.

        Khi chúng soi đèn và hai con chó chạy về hướng tiến công thứ yếu, lập tức đồng chí Tính ném hai miếng lương khô cho hai con chó, chúng vồ lấy và chạy về phía hai tên lính. Chớp thời cơ, mũi này nổ súng diệt hai tên gác và hai con chó, đồng thời lấy đó làm hiệu lệnh tiến công.

        Tuy bị đánh bất ngờ, nhưng quân địch đã kịp xuống hào, dựa vào công sự ngăn chặn ta tiến công. Chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh cho cối 82mm bắn chi viện, đạn cối rơi trúng vị trí chỉ huy, đài 15W và khẩu ĐKZ, tạo điều kiện để bộ binh xông lên tiêu diệt địch.

        Sau 40 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, diệt 21 tên, bắt tên tiểu đoàn phó tiểu đoàn 103 chỉ huy đồn, thu một ĐKZ 57mm, 15 súng các bin, bốn súng AR- 15 (?), 50 quả mìn Claymo và một số quân trang, quân dụng khác.

        Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về hành động chiến đấu bí mật, về nghi binh lừa địch, tạo bất ngờ và hành động quyết đoán, mau lẹ của người chỉ huy.


TRẬN POỌNG NƯA CỦA ĐẠI ĐỘI BỘ BINH 57 (8.6. 1948)

        Trận tập kích của Đại đội bộ binh 57 Tiểu đoàn 337 (do 1 Võ Tá Lân chỉ huy, được tăng cường một trung đội của Đại đội bộ binh 40, một tiểu đội du kích huyện Quan Hóa) vào khoảng 50 đến 60 thôn binh do 3 đến 5 tên Pháp chỉ huy giữ đồn Poọng Nưa (thuộc xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa) nhằm tiêu diệt địch, thu vũ khí, xây dựng lòng tin của đồng bào dân tộc ít người với bộ đội. 

        2 giờ 45 phút ngày 8 tháng 6, các đơn vị đã vào đến tuyến xuất phát xung phong, có bộ phận cạch hàng rào 3 mét, sẵn sàng nổ súng diệt địch.

        3 giờ, được lệnh nổ súng, các loại hỏa lực của đại đội đồng loạt nhả đạn vào các mục tiêu trong đồn. Bị tập kích bất ngờ, địch chưa kịp đối phó, các chiến sĩ của ta được hỏa lực chi viện nhanh chóng ném lựu đạn vào các vọng gác diệt tại chỗ một số tên địch.

        Sau ít phút lúng túng, địch bắt đầu chống trả quyết liệt Trung đội 32 nhanh chóng dùng lựu đạn diệt hỏa điểm súng máy, tổ cảm tử nhanh chóng thọc thẳng vào các khu nhà để tiến sâu vào đồn địch, nhưng do hỏa lực địch bắn mạnh nên không tiến lên được.

        Tiểu đội trưởng thọc sâu bị thương, lựu đạn hết, các chiến sĩ dùng giáo mác, kiếm đánh địch nhưng không có hiệu quả. Địch chuyển từ nhà này sang nhà khác và bắn mạnh vào đội hình của Trung đội 32, đơn vị không phát triển được. 

        Trung đội bộ binh 30 được hỏa lực chi viện đồng loạt xung phong nhưng bị hỏa lực địch ngăn chặn, quân ta phải dừng lại ngoài hàng rào. Tổ cảm tử men theo sông vòng về phía sau đánh địch trong khu nhà.

        Phát hiện ta đánh vào vườn phía sau, một số tên vội lùi về phía sau để chống cự. Trung đội 30 nhanh chóng chiếm được một số nhà. Đạn nổ, nhà cháy sáng, địch phát hiện được đội hình ta, chúng tập trung hỏa lực đánh chặn, ta thương vong một số cán bộ, chiến sĩ. Cùng lúc đó, súng FM bắn trúng hai hỏa điểm của địch, nhưng không diệt được mục tiêu, cả ba khẩu súng máy của ta bị tắc.

        Trung đội 28 xung phong đánh chiếm được một số nhà, nhưng bị hỏa lực bắn vào đội hình làm bị thương một số, không đủ sức phát triển tiếp.

        5 giờ, trời gần sáng, số quân thương vong nhiều, vũ khí hỏng, lựu đạn hết, sức chiến đấu của đơn vị giảm sút. Đại đội quyết định lui quân.

        Sau 2 giờ chiến đấu, ta diệt 12, làm bị thương 20 tên địch, trong đó có hai tên lính Pháp; phá một khẩu súng máy, đốt cháy một nhà có nhiều súng, đạn của địch. 

        Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về tổ chức hiệp đồng giữa hỏa lực và bộ binh; về nắm các thủ đoạn của địch trong quá trình chiến đấu; về hành động đánh địch của cán bộ chiến sĩ khi tập kích vào đồn địch do quân địa phương đóng giữ.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:53:35 AM

TRẬN PHỦ THÔNG CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 11 (25.7.1948)

        Trận tập kích đồn Phủ Thông nằm trong chiến dịch1  Đường số 3. Đây là trận cường tập quy mô tiểu đoàn duy nhất trên địa bàn Bắc Cạn trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Trận đánh vừa thực hiện nhiệm vụ của chiến dịch, vừa tập dượt chiến thuật “công kiên” của quân đội ta.

        Đồn Phủ Thông được xây dựng trên một mỏm của núi Nà Cọt, có độ cao 198 mét, thuộc xã Phương Thông, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Cạn. Đồn do một đại đội bộ binh và một trung đội trợ chiến thuộc tiểu đoàn 3 trung đoàn Âu Phi chiếm giữ (3è REI). Quân số khoảng 150 tên. Vũ khí có một khẩu 12,7mm, ba khẩu cối 81 và 60mm, một khẩu đại liên, 10 khẩu trung liên, một số tiểu liên và súng trường. 

        Bao quanh đồn là tường đất dày một mét, cao hai mét, trong và ngoài tường ghép gỗ và có các lỗ châu mai. Bốn góc có các lô cốt lớn xây cao hai tầng bằng gạch, đá dày 40 xăngtimét. Giữa đồn là nhà chỉ huy xây bằng gạch. Nhà lính, nhà kho, nhà an được xây bằng gạch hoặc đắp tường đất dàv xung quanh. Tường có lỗ để thả lựu đạn và bắn ra ngoài.  Địch đào hầm ngầm từ nhà chỉ huy, nhà lính thông đến các lô cốt ở các góc đồn. Từng đoạn có lỗ châu mai bắn quét trên mặt đất.

        Ngoài tường có ba lớp rào tre, nứa mỗi lớp cách nhau ba mét, lớp trong cùng cách tường khoảng 10 mét.  Để bảo đảm an toàn, ban ngày địch phải hai đến ba tổ tuần tiễu dọc đường số 3 và đường đi Chợ Rã; ban đêm gác ở các lô cốt, cổng ra vào và các chòi canh. Thỉnh thoảng đích cho một trung đội sục vào các làng như Vi Hương, Phương Thông.

        Đồn Phủ Thông án ngữ, bảo vệ Bắc Cạn từ phía bắc,  giữ liên hệ với thủ phủ ở Chợ Rã, uy hiếp Na Rì từ phía tây và bảo vệ đoạn quốc lộ số 3 đi Bắc Cạn.  Tiểu đoàn 11 do Tiểu đoàn trưởng Vũ Yên chỉ huy, có các đại đội 122, 120, 124 và một đại đội trợ chiến. Vũ khí có một khẩu 37mm, một khẩu 12,7mm, một badôca, một khẩu cối 60mm, hai khẩu cối 50,8mm, bảy khẩu trung  liên, còn lại là súng trường, mỗi người có 4 đến 5 quả lựu đạn. Vào chiến đấu được tăng cường một đại đội pháo binh  (hai khẩu 75mm, một khẩu 37mm) của Tiểu đoàn 410.   

        Trên cơ sở quyết tâm chiến đấu, tiểu đoàn tổ chức lực  lượng thành hai bộ phận: bộ phận trợ lực gồm đại đội pháo  binh và một đại đội bộ binh, bộ phận xung phong gồm hai  đại đội bộ binh 122, 124 và đại đội trợ chiến. 

        17 giờ ngày 24 tháng 7 năm 1948, tiểu đoàn ra lệnh bộ  phận xung phong xuất phát; 24 giờ, tới vị trí chiếm lĩnh; 3 giờ ngày 2 triển khai đội hình chiến đấu xong. 

        12 giờ ngày 2õ tháng 7, bộ phận trợ lực bắt đầu hành quân, 18 giờ 15 phút chiếm lĩnh trận địa xong, sẵn sàng chiến đấu.

        18 giờ 35 phút ngày 25 tháng 7, pháo binh bắt đầu bắn. Sau những quả đầu sửa bắn, pháo binh bắt đầu bắn cấp tập. Đến 19 giờ 10 phút, pháo bắn một quả đạn nổ trên không báo hiệu pháo binh bắn xong. Sau đó bắn thêm 10 quả đạn vào đồn. Phối hợp với pháo binh, 18 giờ 40 phút, Đại đội 126 dùng hỏa lực bắn vào nhà số 1, lô cốt góc tây bắc.

        Trong khi pháo bắn, bộ binh lợi dụng địa hình triển khai đội hình xung phong bên ngoài hàng rào. Riêng Đại đội 122 thấy pháo trúng phía tây nhiều nên đại đội cho triển khai ở hướng này.

        Sau phút, địch bắt đầu phản ứng; trung, đại liên ở hướng tây và nam bắn mạnh về đồi H và I, nơi pháo binh ta bố trí. Tổ địch vận của ta bố trí cùng đại đội trợ chiến ở đồi A dùng loa gọi to nên lộ vị trì, địch tập trung hỏa lực bắn mạnh về phía này. 

        19 giờ 20 phút, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh xung phong.  Từ các hướng bộ đội vượt rào, vượt tường lần lượt đánh chiếm các ụ súng, lô cốt. Cùng lục đó, một trung đội của Đại đội 120 nhanh chóng đánh chiếm khu chợ và phố Hoa kiều. Sau 15 phút, trung đội làm chủ được các mục tiêu.  Củng cố đội hình chờ lệnh trên.

        Sau khi ta mở cửa vào đồn, địch dựa vào các ụ súng chống cự quyết liệt. Khi ta diệt được các hỏa lực chủ yếu và phát triển tiến công mạnh, những tên còn sống chạy về góc tây bắc, dựa vào nhà số 2 và lô cốt góc, hầm ngầm chống cự quyết liệt. Hỏa lực ngầm bố trí sát mặt đất làm ta bị thương ở chân nhiều. Chúng tập trung hỏa lực bắn mạnh vào khoảng giữa các nhà 7 - 8; 8 - 4; 2 - 4. Địch ở góc tây bắc còn giữ được lô cốt và nhà ngoan cố chống cự. 

        22 giờ ta và địch hình thành ranh giới các khu vực chiếm giữ. Địch không ra phản kích, ta tiến công nhiều lần nhưng không thành công. Ta và địch ở thế cầm cự.  Trong khi bộ đội xung phong theo kế hoạch thì Tiểu đoàn trưởng tiến theo Đại đội 122. Chính trị viên đi cùng Đại đội 120 nên không liên lạc được với nhau, chỉ huy gặp khó khăn.

        Thấy tình hình kéo dài trận chiến đấu không có lợi, 23 giờ, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh lui quân.

        Sau sáu giờ liên tục chiến đấu, tiểu đoàn loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên địch, phá hủy nặng hệ thống công sự, trận địa, nhà ở trong đồn.Ta thu năm khẩu trung liên, bốn tiểu liên, 10 súng trường . . .

        Trận Phủ Thông, một trong những trận công kiên có hỏa lực chuẩn bị quy mô cấp tiểu đoàn đầu tiên. Nó là trận tập dượt của quân đội ta nhằm chống lại chiến thuật phòng ngự cứ điểm của quân Pháp. Nó là mốc son đánh dấu bước trưởng thành về nghệ thuật tác chiến hiệp đồng bộ binh với pháo binh của quân đội ta.

--------------------
        1. Đây là trận tập kích lần thứ 3. Lần 1 vào ngày 30 tháng 11 năng 1947; lần 2 vào ngày 20 tháng 2 năm 1948; lần 4 vào ngày 14 tháng 8 năm 1948.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:56:53 AM

TRẬN RẠCH GIÁ - SÓC XOÀI CỦA LIÊN TRUNG ĐOÀN 124, 126 VÀ ĐẠI ĐộI 17 (4.8.1948).

        Trận phục kích của liên Trung đoàn 124, 126 và Đại 1 đội 1097 Quân khu 9 vào Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 43 Long Xuyên trên liên tỉnh lộ 8A đoạn từ Rạch Giá đến Sóc Xoài nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, cắt đứt giao thông, bao vây bức hàng, bức rút một số đồn bốt, mở rộng căn cứ kháng chiến, gây ảnh hưởng chính trị, thu vũ khí của ớ!ch để xây dựng và phát triển lực lượng ta.

        Để tiêu diệt địch, chỉ huy trận đánh sử dụng Trung đoàn 124 làm nhiệm vụ chặn đầu và khóa đuôi. Trung đoàn 126 (thiếu Đại đội 1092) và Đại đội 1097 làm nhiệm vụ diệt địch chính diện từ hướng phía tây cầu số 2 đến hướng phía đông cầu số 3, hiệp đồng với lực lượng chặn đầu khóa đuôi tiêu diệt toàn bộ quân địch. 

        Theo kế hoạch, đêm 1 tháng 8, Đại đội 1092 dùng cối 81mm kết hợp súng bắn thẳng tập kích hỏa lực vào đồn Tri Tôn ở kilômét 2 trên liên tỉnh lộ 8A. Kết hợp với tập kích hỏa lực, ta phóng lửa đốt cháy các nhà lá xung quanh đồn và phát loa binh vận kêu gọi địch đầu hàng. 

        3 giờ ngày 2 tháng 8, các đơn vị vào chiếm lĩnh trận địa và làm công sự, ngụy trang, sẵn sàng đánh địch.  8 giờ 30 phút ngày 4 tháng 8, địch dùng pháo 105mm ở Rạch Giá bắn dọc liên tỉnh lộ SA, có một số quả đạn nổ sau trận địa phục kích của ta.

        10 giờ 20 phút, đài quan sát báo có 11 xe Ô tô và ba tàu sắt từ hướng thị xã Rạch Giá chạy lên. 10 giờ 30 phút, tốp đi đầu có chín chiếc qua cầu số 2, lọt vào trận địa. Khi chiếc xe đi đầu đến cách cầu số 3 chưa đầy 100 mét, Đại đội trưởng Đại đội 1091 cho nổ địa lôi diệt chiếc xe đi đầu và trọng liên 12,7mm, 13,2mm cùng các loại đi cùng bộ binh bắn vào quân địch trên xe. Chiếc xe đi đầu trúng địa lôi lật ngang, số lính trên xe văng xuống đất và chết ngay tại chỗ.

        Hiệp đồng với lực lượng chặn đầu, Đại đội 1090 nổ súng khóa chặt phía sau, chặn đường rút về thị xã Rạch Giá của địch.

        Giữa lúc địch đang rối loạn, các đại đội trên hướng chủ yếu tổ chức xung phong.

        Lúc này ba tàu địch đi cuối đội hình chưa lọt vào trận địa đã dùng 12,7mm, đại liên bắn chi viện cho bộ binh đánh vào lực lượng Đại đội 1090 chốt giữ cầu số 2.  Phối hợp với Đại đội 1090, lực lượng đánh tàu dùng badôca 12,7mm và 13,2mm bắn vào tàu địch trên sông, bẻ gãy các đợt xung phong của địch từ cầu số 2 lên. 

        Từ 10 giờ 45 phút, lực lượng đối diện từ phía bắc dùng hỏa lực đánh vào các xe Ô tô và quân địch ở mép lộ phía bắc, chi viện cho Trung đoàn 126 và Đại đội 1097. Sau 30 phút chiến đấu, toàn bộ quân địch lọt vào trận địa bị tiêu diệt.

        Lúc này, lực lượng khóa đuôi ở cầu số 2 vẫn tiếp tục nổ súng đánh địch.  Sau hai lần xung phong, địch đều bị ta chặn đứng; 11 giờ, địch từ tàu sắt nhảy lên bờ, kết hợp với địch còn lại ở hai xe tiến công vào chốt của ta.  11 giờ 20 phút, chỉ huy trận đánh chỉ thị Đại đội 1097 cho một lực lượng xuống chi viện cho Đại đội 1090, đến 11 giờ 35 phút ta tiêu diệt một số địch, số còn lại lên xe chạy về thị xã.

        Trận đánh kết thúc, 72 tên địch bị diệt, một số tên bị bắt; ta thu 8 súng các loại, phá chín xe Ô tô. 

        Trận Rạch Giá - Sóc Xoài thành công nhờ nắm chắc địa hình, quy luật hoạt động và thủ đoạn đối phó của địch; biết dựa vào dân, kết hợp chặt chẽ với chính quyền và đoàn thể quần chúng ở địa phương để làm tốt công tác bảo đảm chiến đấu.


TRẬN BẾN MU CỦA TRUNG ĐỘI DU KÍCH XÃ VÕ MIẾU1 (6.8.1948)

        Trận tập kích của Trung đội du kích xã Võ Miếu, huyện  Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ vào quân địch ở đồn Bến Mu nhằm giải phóng dân và thu hồi tài sản của dân do địch cướp bóc.

        Bến Mu thuộc xóm Chòi xã Khả Cửu, huyện Thanh Sơn. Phía bắc giáp xã Võ Miếu, phía tây bắc giáp các xã Vĩnh Tiến, Long Cốc, hướng đông giáp xã Tân Minh, Tân Lập, phía tây nam giáp huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình. 

        Địa hình xã Khả Cửu chủ yếu là núi cao, rừng rậm, xen kẽ có những con suối và sông Giầy nên rất hiểm trở.  Tháng 5 năm 1948, địch từ đồn Cửa Hẹ thuộc xã Tân Minh kéo vào càn quét xã Khả Cửu. Tiếp đó, địch đem quân đến đóng tại nhà Hà Văn Ý (tức Bá Tứ) một tên quan giàu và có thế lực nhất vùng, để tiến hành xây đồn Bến Mu ở xóm Chòi xã Khả Cửu (còn gọi là đồn Bá Tứ). 

        Giữ đồn có 26 lính dõng. Vũ khí có một súng ngắn, 26 súng trường, trong đó có một khẩu phóng lựu.  Trung đội du kích xã Võ Miếu có 32 người. Trang bị một khẩu súng trường cướp được của giặc, còn lại là giáo mác và các chai xăng tự tạo.

        Để tiêu diệt địch trong đồn, trung đội chọn hướng nam làm hướng tập kích vào đồn. Lực lượng chiến đấu được tổ chức thành hai bộ phận:

        - Bộ phận phục kích gồm năm người.

        - Bộ phận tập kích gồm 27 người.

        Theo kế hoạch, khi trời tối các bộ phận triển khai làm nhiệm vụ. Lúc bộ phận tập kích vượt sông thì vưởng vào dây rừng làm nổ một quả mìn, nhưng địch cho rằng do thú rừng kiếm ăn làm mìn nổ.

        Nghe mìn nổ, lực lượng nội ứng của ta bí mật ra gặp du kích cung cấp tin tức cần thiết, vì vậy đã tháo gỡ được năm quả mìn còn lại. Lợi dụng đêm tối toàn đội nhanh chóng theo đường mòn vào khu nhà Bá Tứ. 

        Được lệnh, tổ xung kích dùng dao bầu diệt tên lính gác đứng dưới cầu thang, tạo điều kiện cho cả đội bám sát dưới sàn nhà và dãy nhà ngang (nơi có dân và bọn tay sai đang ở) tiếp tục theo cầu thang và cứ hai người một công kênh nhau lên gác sàn nhà để tiêu diệt địch.

        Do sơ suất khi trừng trị vợ chồng Bá Tứ để chúng kêu la, đánh động, địch phát lệnh báo động, nhưng do bị đánh bất ngờ, chúng rối loạn và tháo chạy, vừa rút chạy vừa bắn loạn xạ, đa số địch kịp chạy vào rừng và theo đường mòn về đồn Cửa Hẹ. Một số tên nhảy từ trên sàn nhà xuống bị ta tiêu diệt ngay..

        Ta dùng loa gọi địch ra hàng và hướng dẫn nhân dân đem theo tài sản thoát ra ngoài. Được sự giúp đỡ của lực lượng nội ứng, ta tiêu diệt thêm một tên tề lợi hại định trà trộn vào dân tẩu thoát.

        Trận đánh diễn ra trong vòng 20 phút, ta đã phá tan vị trí đóng quân của địch, tiêu diệt ba tên lính, ba tên tề lợi hại, thu sáu súng trường cùng nhiều đạn dược, lựu đạn và một số mìn của địch, thu hồi lại lương thực, thực phẩm, giải phóng dân.

        Kết quả của trận đánh đánh dấu sự trưởng thành của du kích xã Võ Miếu trong chiến đấu.

---------------
        1. Nay là xã Văn Miếu.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 04:59:36 AM

TRẬN MỘC HÓA CỦA TIỂU ĐOÀN 307 QUÂN KHU 8 (16-18.8.1948)

        Trận tiến công của Tiểu đoàn 307 (có các đại đội 931, 932, 933) và các đại đội 1072, 1075; một trung đội của Đại đội 1080 thuộc Trung đoàn 120 Quân khu 8, do Nguyễn Chánh chỉ huy, đánh đồn Mộc Hóa, một vị trí được xây dựng khá kiên cố án ngữ đoạn đường từ thị trấn Mộc Hóa ra sông Vàm Cỏ Tây; buộc địch phải ra ứng cứu để diệt viện ở khu vực xã Bình Hiệp thuộc huyện Mộc Hóa, tỉnh Tân An, nhằm giải phóng hoàn toàn huyện Mộc Hóa, củng cố và hoàn thiện chiến khu Đồng Tháp Mười. 

        Theo kế hoạch 22 giờ ngày 16 tháng 8, Đại đội 1072 nổ súng đánh địch ở đồn Mộc Hóa. Sau hai lần xung phong không thành, đại đội được lệnh chuyển sang vây ép, thực hiện tiêu hao, tạo thời cơ hoặc bức hàng, bức rút đồn Mộc Hóa. 

        Bị bao vây, địch dùng lực lượng nhỏ nống ra, bị ta tiêu  diệt một số tên. 11 giờ ngày 17 tháng 8, máy bay địch đến bắn phá, cùng lúc đó chúng dùng xuồng chuyển tử sĩ và thương binh theo mương, rạch về tuyến sau. Chớp thời cơ, Đại đội 931 chuyển đội hình đang đón đánh địch từ biên giới xuống để đánh địch từ Mộc Hóa lên. Khi địch đến bến ông Tồn bị quân ta bố trí hai bên bờ đồng loạt nổ súng tiêu diệt 23 tên, bắt sáu tên.

        Sáng 18 tháng 8, địch sử dụng một tiểu đoàn theo lộ Kông Pông Rồ xuống biên giới. Đến bắc cầu Sư Địa, chúng triển khai đội hình, dùng một bộ phận chốt cầu Sơ Địa. 15 giờ, địch tiến về huyện lỵ Mộc Hóa. Chờ toàn bộ địch lọt vào trận địa, Tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa ra lệnh tiến công. Từ hai bên đường, quân ta đồng loạt nổ súng vào quân địch.  Bị đánh bất ngờ, địch tổ chức chống đỡ yếu ớt. Thừa thắng, quân ta chia cắt địch thành nhiều mảng, bao vây, cô lập tiêu diệt toàn bộ quân địch.

        Trận đánh kết thúc, hơn 300 tên địch bị diệt; ta thu hơn 300 khẩu súng các loại Tuy không diệt được đồn Mộc Hóa, nhưng ta đã thắng lớn ở trận phục kích đánh quân tiếp viện cho Mộc Hóa.

        Chiến thắng Mộc Hóa khích lệ tinh thần thi đua giết giặc lập công của các đơn vị; nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy, vận dụng sáng tạo các hình thức chiến thuật của cán bộ, chiến sĩ ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp.


TRẬN PHÚ LÂM CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG VÀ BỘ ĐỘI TÂY TIẾN (30.10.1948)

        Trận chống càn của đội du kích Phú Lâm, được một bộ phận của bộ đội Tây Tiến phối hợp ở Yên Lương - Phú Lâm thuộc vùng Quyết Thắng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đánh vào một tiểu đoàn địch có phản động địa phương dẫn đường, nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ thôn bản. 

        Từ giữa năm 1948, quân Pháp tăng cường tuyên truyền cho việc lập “Xứ Mường tự trị”, chúng đẩy mạnh lập tề, liên tục hành quân càn quét, ráo riết phá hoại công cuộc kháng chiến của ta.

        Ở Phú Lâm, các lang đạo phản động thường xuyên dẫn quân Pháp về đánh phá, chỉ trong 10 ngày giữa tháng 10, quân Pháp đã tổ chức bốn cuộc càn vào vùng này.

        Được nhân dân nuôi dưỡng và bộ đội giúp đỡ, đội du kích Phú Lâm phát triển được 40 người, trang bị hàng chục khẩu súng trường, hàng trăm quả mìn và lựu đạn, sẵn sàng đánh địch bảo vệ bản làng.

        Ngày 29 tháng 10, một trung đội địch hùng hổ tiến vào càn quét Yên Lương, Phú Lâm . Khi chúng trên đường đến đồn Dạng Võng bị du kích Phú Lâm phục kích diệt ba tên, địch phải bỏ chạy về đồn Vụ Bản.

        Quyết tâm diệt lực lượng kháng chiến của ta, rạng sáng 30 tháng 10, một tiểu đoàn địch được phản động dẫn đường chia làm hai cánh ồ ạt tiến vào Yên Lương, Phú Lâin.

        Khi địch vừa tới đầu thôn Phú Lâm, ta nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch hoảng sợ dạt sang hai bên bìa rừng và sa vào bãi chông, mìn làm một số tên chết, một số bị thương, địch vội vàng tháo chạy về xóm Rẫy.

        Một cánh quân khác từ Vụ Bản tiến vào Yên Lương, đến đầu thôn bị du kích chặn đánh, địch triển khai đội hình chống đỡ, dẫm phải mìn, chông, một số chết và bị thương, số còn lại kéo vào làng. Chớp thời cơ du kích nổ súng, ném lựu đạn vào quân địch, diệt thêm một số tên. Cứ như vậy, địch đến đâu cũng bị đánh, bị vấp mìn, bỏ lại hàng chục xác chết. 

        Sau một ngày chiến đấu, khoảng 200 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Ta thu nhiều vũ khí, đạn dược. Với thắng lợi của trận đánh, Phú Lâm được đón nhận cờ thưởng luân lưu của Liên khu 3 và bằng khen của ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Hòa Bình.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:00:33 AM

TRẬN SƠN ĐÔNG CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG VÀ BỘ ĐỘI CHỦ LỰC TỈNH VĨNH YÊN (15.11.1948)

        Trận đánh của du kích xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên (nay là tỉnh Vĩnh Phúc) chống lại cuộc càn của 200 lính Âu Phi, lính bảo hoàng, lính hương dũng vào xã Sơn Đông nhằm từng bước chặn địch cướp phá của cải của nhân dân, bảo vệ vùng kháng chiến của ta. 

        Xã Sơn Đông ở phía nam huyện Lập Thạch, có các thôn Quán Tử, Phú Thị, Phú Hậu và Đông Mật. Địa hình xã thấp dần từ bắc xuống nam, nhiều đồi gò xen lẫn các cánh đồng chiêm trũng.

        Trung đội du kích xã có 40 người, biên chế thành ba tiểu đội chiến đấu, mỗi tiểu đội chín người. Ngoài ra còn có các tổ quân báo (hai người); tổ bom mìn (ba người); tổ phục vụ nuôi quân (sáu người). Mỗi tiểu đội có ba khẩu súng trường, riêng Tiểu đội 3 được trang bị một khẩu khai hậu.  Mỗi du kích có từ hai đến ba quả lựu đạn, hai quả mìn muỗi, còn lại là dao găm, mã tấu.

        Thực hiện chủ trương của huyện ủy: Động viên một bộ phận nhân dân tạm thời sơ tán ra vùng tự do, lực lượng còn lại bám làng, tranh thủ sản xuất; huy động thanh niên, phụ nữ tích cực tu sửa chiến hào, hầm hố giúp du kích xã chuẩn bị chiến đấu. Khi đích càn quét, trung đội du kích xã được tăng cường một trung đội bộ đội chủ lực tỉnh, một tiểu đội du kích, tổ chức ngăn chặn địch càn quét cướp phá, bảo vệ làng kháng chiến của ta. 

        Chuẩn bị chống địch càn vào xã, chỉ huy xã đội tổ chức lực lượng thành các bộ phận:

        - Bộ phận chiến đấu phía trước gồm năm bộ đội, hai du kích huyện tăng cường và ba du kích xã; triển khai ở khu vục gốc đa đền Phú Hậu; nhiệm vụ là quan sát phát hiện địch, đánh chặn địch từ xa, tạo điều kiện cho các bộ phận phía sau chuẩn bị chiến đấu.

        - Bộ phận đánh địch trên hướng chủ yếu gồm: Tiểu đội du kích 1; hai bộ đội chủ lực và tiêu đội du kích huyện tăng cường, tổ quân báo, tổ bom mìn, triển khai ở khu vực vườn hồng, bố trí bãi mìn dọc hai bên đường lớn và những lối vào làng. Nhiệm vụ là nắm thời cơ, kiên quyết đánh gần tiêu diệt, tiêu hao quân địch từ ngã ba phía bắc thôn Phú Hậu đến thôn Phú Thị.

        - Bộ phận đánh địch trên hướng thứ yếu do hai tiểu đội du kích xã và một tiểu đội bộ đội chủ lực tỉnh đảm nhiệm; bố trí trong khu vực các xóm Nam Hải và Bắc Sơn thôn Đông Mật. Nhiệm vụ là hiệp đồng với lực lượng chủ yếu đánh địch từ đường lớn vào thôn Phú Hậu, sẵn sàng đánh địch vu hồi từ Phú Hậu lên.

        - Bộ phận đánh địch phía sau do một tổ bộ đội chủ lực tỉnh đảm nhiệm.

        9 giờ ngày 15 tháng 11 năm 1948, khoảng 200 lính Âu Phi, lính bảo hoàng, lính hương dũng lợi dụng địa hình, bí luật từ xã Khải Xuân huyện Vĩnh Tường vượt sông Đáy sang thôn Phú Hậu. Lực lượng đi đầu vào đến làng bị vướng mìn làm đội hình rối loạn. Chớp thời cơ, tổ đánh địch phía trước đồng loạt nổ súng, buộc nhiều tên địch phải tháo chạy.

        Phát hiện lực lượng ta, địch tập trung hỏa lực bắn vào thôn Phú Hậu. Lực lượng chiến đấu phía trước bám công sự, chiến hào vừa ngăn chặn địch, vừa cơ động từng bước để bảo toàn lực lượng.

        9 giờ 30 phút, địch cho hai ca nô chở quẩn từ Việt Trì ngược sông Lô đổ bộ lên ngã ba phía bắc thôn Phú Hậu và nam thôn Phú Thị, chia cắt các thôn, vu hồi từ phía nam vào để bao vây tiêu diệt lực lượng ta.

        9 giờ 40 phút, địch chiếm ngã ba đường và phía bắc thôn Phú Hậu, đón đánh ta từ phía nam rút về, nhưng bị sa vào bãi mìn một số tên chết và bị thương. Cùng lúc, du kích và bộ đội tập trung hỏa lực bắn vào đội hình địch mới đổ bộ lên bờ. Các mũi tiến công của địch bị động chống đỡ, nhờ có lực lượng đông, được chi viện hỏa lực mạnh, các mũi càn của địch tiếp tục đánh vào các trận địa của ta. 

        Riêng địch ở thôn Phú Thị và Đông Mật bị bắn lướt sườn, lại phải đối phó phía chính diện nên không tiến lên được, địch buộc phải tập trung lực lượng đánh vào phía bắc thôn. Trận chiến đấu giằng co đến 11 giờ 3 phút, địch tiếp tục tăng cường lực lượng để đánh vào bên sườn ta.

        Do so sánh lực lượng quá chênh lệch nên du kích được lệnh rút khỏi trận địa để bảo toàn lực lượng. Sau hơn 2 giờ chiến đấu 35 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu.  Trận chiến đấu đã diệt được nhiều địch, bảo vệ được xóm làng, giữ vững cơ sở kháng chiến.

        Thành công nổi bật của trận chống càn là do chi bộ đảng và chính quyền địa phương luôn có sự chăm lo, củng cố xây dựng sức chiến đấu cho lực lượng du kích; có kế hoạch xây dựng làng xã chiến đấu thành thế liên hoàn, ngày càng vững chắc; biết phát huy sức mạnh đoàn kết chiến đấu giữa du kích địa phương với bộ đội chủ lực - kết hợp sử dụng các loại vũ khí để tiêu hao, tiêu diệt địch.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:01:35 AM

TRẬN CÔ NỤ CỦA DU KÍCH XÃ CHÍNH NGHĨA1 (25.11.1948)

        Trận chống càn của du kích xã Chính Nghĩa, huyện  Hạc Trì (nay là thành phố Việt Trì), tỉnh Phú Thọ tại xóm Cô Nụ, cùng với bộ đội chủ lực chống lại cuộc càn Onđine của quân Pháp nhằm phá cơ sở kinh tế, chính trị, quân sự, thu hẹp vùng tự do của ta.

        Xóm Cô Nụ, nằm trên một quả đồi thấp thuộc thôn Tiên Cát, xã Chính Nghĩa. Đây là một vùng đồi trung du, xen giữa các quả đồi có một số vạt ruộng cấy lúa, ao hồ, đường mòn tiện cơ động. Các quả đồi Cô Nụ, đồi Bứa, đồi Chùa Dưới, đồi Chùa Trên, đồi Chạn thuận tiện cho việc đào công sự, chiến hào, nhất là đồi Cô Nụ có ưu thế về độ cao, tiện bố trí binh lực, hỏa lực đánh địch từ xa khi chúng triển khai lực lượng càn vào các thôn trong xã. 

        Thực hiện kế hoạch lập phòng tuyến sông Đà để chặn tiếp tế của ta từ Liên khu 3, Liên khu 4 lên Việt Bắc; từ ngày 7 tháng 11 năm 1948, Pháp tập trung lực lượng mở cuộc hành quân Onđine tiến vào Việt Trì, Bạch Hạc, Lập Thạch, . . . (khoảng 800 lính Âu Phi) ; ngoài ra còn có một số đơn vị ngụy binh, mật thám tham gia chỉ điểm, bắt cóc cán bộ địa phương.

        Hai ngày sau khi đổ quân, địch dùng 200 quân càn quét và lập bốt La Phù, Thanh Thủy.  Số còn lại đóng đồn ở ga Việt Trì, ở bốt Toa Đen làm bàn đạp lấn ra các xã lân cận như Chính Nghĩa, Minh Khai, Trưng Vương.

        Lực lượng du kích của xã Chính Nghĩa có 350 người, tổ chức thành bốn trung đội (Trung đội cơ động 60 người, Trung đội nữ du kích Minh Hà 40 người, Trung đội du kích Thọ Sơn 150 người và Trung đội Tiên Cát 100 người).  Trang bị có bảy khẩu súng trường, 1.350 quả lựu đạn, 506 quả mìn các loại. .

        Ngoài lực lượng du kích còn có một đại đội độc lập (sau này về Đại đoàn 308), một đại đội độc lập của Liên khu 10 đứng chân trên địa bàn sẵn sàng chi viện chiến đấu cho các địa phương khi địch càn quét. Thực hiện nhiệm vụ chặn địch, Trung đội du kích cơ động xã bố trí ở đồi Cô Nụ đánh địch từ ba hướng (đồi Chùa Dưới, đồi Bứa, đồi Chạn) tới. Trung đội du kích thôn Tiên Cát ở đồi Chùa Dưới. Trung đội du kích thôn Thọ Sơn ở đồi Bứa - Cống Tây. Trung đội du kích nữ Minh Hà ở đồi Thi Đua và đồi Chạn. Bộ đội chủ lực ở đồi Chùa Trên, đồi Chạn và xóm Anh Dũng. Các trung đội có nhiệm vụ sử dụng bom, mìn, lựu đạn tiêu diệt địch khi chúng vào trận địa.

        14 giờ ngày 24 tháng 11 , địch triển khai càn vào xã Chính Nghĩa trước mắt đánh chiếm đồi CÔ Nụ.  Khoảng 22 giờ, hai trung đội địch chia thành hai hưởng tiến vào đồi Bứa, đồi Chùa Trên nhằm thăm dò lực lượng và Phản ứng của ta. Bị lực lượng tiền tiêu chặn đánh, địch chống cự một lúc rồi chạy về đồn.

        1 giờ 15 phút ngày 25 khoảng một đại đội địch theo đường số 2, vượt đồi Chùa Dưới đánh vào đồi Cô Nụ. Cùng thời gian một đại đội khác vượt qua đồi Bứa, Cống Tây tiến vào đồi Cô Nụ. ở khoảng tiếp giáp đồi Chùa Trên với đồi Chạn cũng xuất hiện gần một đại đội địch. Nhơ vậy, trên ba hướng khoảng một tiểu đoàn 400 tên) tiến công vào đồi Cô Nụ.

        Khoảng 2 giờ, địch đi vào trung tâm bãi bom, mìn của ta. Được lệnh nổ súng, từ các hướng đồng loạt bom, mìn nổ. Bị đánh bất ngờ, đội hình địch rối loạn, một số sa hầm chông, một số bị tiêu diệt.

        3 giờ 15 phút, chủ lực ta cùng các tổ du kích chốt chặn ở tiền tiêu cơ động đến kết hợp với lực lượng ở đồi Cô Nụ diệt một số địch. Bị ta bao vây, địch phải mở đường rút chạy. Từ thế trận phục kích, quân ta chuyển sang truy kích diệt một số tên.

        Đến rạng sáng, trận đánh kết thúc, 90 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Ta thu một súng.  Chiến thắng trận Cô Nụ cổ vũ tinh thần đánh giặc giữ làng của quân dân Hạc Trì, góp phần bảo vệ vùng giải phóng, để lại những kinh nghiệm quý về chốt chặn địch và chuyển hóa thế trận đánh địch khi thời cơ có lợi.

-------------------
        1. Nay là phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tình Phú Thọ.   


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:03:02 AM

TRẬN ĐẠI MỖ CỦA MỘT ĐẠI ĐỘI THUỘC TIỂU ĐOÀN 77 (28. 11.1948 )

        Trận tập kích của một đại đội thuộc Tiểu đoàn 77 Trung đoàn 48, được bộ đội địa phương và nhân mối phối hợp chiến đấu, đánh vào 40 lính dõng, trang bị một trung liên, 32 súng trường, giữ đồn Đại Mỗ (thuộc xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội), nhằm tiêu diệt địch, phá kìm kẹp nhân dân ngăn chặn ta vào hoạt động trong thành phố.

        8 giờ ngày 28 tháng 11 năm 1948, đại đội từ khu tự do của ta ở Chương Mỹ vào vùng tạm chiếm. 22 giờ, đơn vị triển khai ở khu vực chợ trước mặt đồn. 23 giờ, Trung đội 2 bắt đầu bí mật phá hàng rào, luồn vào sát nhà chỉ huy phối hợp với nhân mối diệt chỉ huy đồn.

        Địch đưa trung liên lên mái nhà bắn trả. Nhờ dự kiến phương án có tình huống này, ta lập tức sử dụng hỏa lực kiềm chế địch, đồng thời công kênh nhau lên mái nhà bắt tên chỉ huy Đào Văn Loan (bếp Tí). Do Đào Văn Loan bị thương nặng nên bảo vệ của y đưa lên trốn trên mái nhà ngủ số 1, mang theo khẩu trung liên, nhưng ta không phát hiện được.

        Khi Trung đội 2 tiến vào đồn, nhân mối mở cửa cho Trung đội 1 tiến vào. Số lính dõng trong nhà ngủ chạy ra bị tiêu diệt một số tên, số còn lại khiếp sợ xin hàng.  Quân ta tước vũ khí và bắt tù binh, thu dọn chiến lợi phẩm rồi rút. Trận đánh kết thúc, 14 tên địch bị diệt; 21 tên bị bắt; ta thu 30 súng trường, một tiểu liên, một súng ngắn, cùng nhiều chiến lợi phẩm khác. 

        Để tiêu diệt được đồn Đại Mỗ, trước hết quân ta phải dựa vào cơ sở nhân dân. Biết vận dụng cách đánh tập kích phù hợp, kết hợp chặt chẽ việc kỳ tập có nhân mối bên trong với cường tập. Thực hiện chuẩn bị chu đáo, chỉ huy sâu sát, xử trí khôn khéo.


TRẬN NÀ TẼN CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 73 (10 .12.1948)

        Trận phục kích của Tiểu đoàn 73 Trung đoàn 74 Cao Bằng nhằm tiêu hao quân địch, quấy rối, cắt giao thông, tiếp tế của quân Pháp trên đường 4A từ Đông Khê lên Cao Bằng.

        Bản Nà Tẽn thuộc xã Chu Trinh, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Đoạn đường 4A chạy qua Nà Tẽn, phía đông có dãy núi đất, chân núi sát mặt đường và dốc đứng. Trên sườn núi cây cối mọc lúp xúp, tạo điều kiện cho giấu quân và triển khai lực lượng được bí mật, phát huy được sức mạnh các loại hỏa khí, nhất là lựu đạn và các loại súng bộ binh. 

        Tiểu đoàn 73 có các đại đội bộ binh 671, 672, 674 và Đại đội trợ chiến 675, vũ khí có bảy khẩu súng máy, hai khẩu trung liên Ren, còn lại là súng trường và vũ khí tự tạo.  Nắm được quy luật hoạt động của địch, tiểu đoàn tổ chức lực lượng thành ba bộ phận:

        - Bộ phận xung kích gồm các đại đội 671, 672, 674 triển khai đội hình theo chiều dài của trận địa, diệt địch bằng hỏa lực của các loại súng bộ binh và lựu đạn khi chúng bị chặn lại trước trận địa.

        - Bộ phận chặn đầu và khóa đuôi, do hai trung đội của các đại đội bộ binh 674 và 671 đảm nhiệm. 

        - Bộ phận hỏa lực có Đại đội trợ chiến 675 bố trí tại các mỏm nhô ra của dãy núi đất phía tây quốc lộ số 4, dùng hỏa lực tiêu diệt địch, khi được lệnh xung phong cùng xung kích diệt địch thu vũ khí.

        Khoảng 15 giờ ngày 9 tháng 12 năm 1948, từ các bản Nà Chia, Phai Siêng, tiểu đoàn hành quân vào chiếm lĩnh trận địa .

        9 giờ 30 phút ngày 10 tháng 12, một tốp xe chở hơn 100 quân (sáu chiếc) từ Cao Bằng xuống, nhưng các xe cách nhau quá xa, nên đơn vị không đánh được và quyết định chờ đoàn xe quay về.

        14 giờ, đúng như dự đoán, đoàn xe quay về nhưng lại chỉ có hai chiếc chở khoảng 40 tên. Thấy tiếp tục chờ khó giữ được bí mật nên tiểu đoàn quyết định diệt địch trên hai chiếc xe này.

        Được lệnh nổ súng, cả trận địa đồng loạt bắn vào đoàn xe. Bộ đội vừa ném lựu đạn, vừa hô xung phong uy hiếp địch. Bị đánh bất ngờ, chiếc đi đầu lao xuống ruộng bên cạnh cầu trước bản Nà Tẽn, quân địch hốt hoảng nhảy ra khỏi xe. Cùng lúc ấy, chiếc xe đi sau cũng bị trúng đạn lao xuống vệ đường, nhiều tên chết ngay tại chỗ. Những.tên sống sót vội tìm đường chạy trốn. Những tên ngoan cố nấp bên xe chống cự bị lựu đạn và hỏa lực của ta tiêu diệt.

        Sau 5 phút có lệnh xung phong, lực lượng xung kích đồng loạt xuống đường, diệt nốt không tên còn lại; thu vũ khí, phá xe và lui quân an toàn. Trận đánh kết thúc, ta diệt hai trung đội địch, bắt một tên, thu hai trung liên, bốn tiểu liên, hai súng trường, một súng ngắn; phá hai xe vận tải.

        Trận phục kích diệt gọn hai trung đội địch ngay sát thị xã Cao Bằng càng làm cho địch thêm hoang mang, lo sợ; đồng thời củng cố, nâng cao lòng tin của nhân dân vào thắng lợi của cách mạng, của kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:05:16 AM
       
TRẬN HÓI MÍT CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 319 (12.1.1949)

        Trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 319 Trung đoàn 1101 , được tăng cường một đại đội trợ chiến, một đội phóng bom của công binh vào đoàn tàu bọc thép quân đội Pháp ở Hói Mít thuộc xã Lộc Hải, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên (nằm trên đường sắt Đà Nẵng - Huế, cách ga Lăng Cô khoảng 2 kilômét về phía nam) nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực, phá hủy đoàn tàu, thu và phá hủy vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng; phá kế hoạch vận chuyển tiếp tế của địch; bồi dưỡng lực lượng ta; phối hợp với chiến trường toàn miền, phá kế hoạch càn quét, bình định của địch, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị ở các địa phương.

        18 giờ ngày 11 tháng 1, đơn vị hành quân chiếm linh trận địa. 7 giờ ngày 12 tháng 1, binh lính địch đẩy một Ô tô ray đi kiểm tra đường sắt.

        15 giờ 10 phút, trinh sát đoàn tàu đã chui qua hầm số 3 (bắc đèo Hải Vân). Bộ đội sẵn sàng xuất kích.  l giờ 40 phút đoàn tàu kéo 17 toa bọc sắt từ từ đi vào trận địa. Chỉ huy địch ở toa số 2, các toa số 1, 6, 13, 16, 17 chở đầy lính, một số linh nằm trên nóc toa, súng chĩa ra hai bên đường. Các toa còn lại chở vũ khí, toa số 8 chở khẩu pháo 75mm.

        15 giờ 43 phút, đoàn tàu lọt vào trận địa. Tổ công binh phía bắc cho nổ bom, phá tung đoạn đường sắt, chặn đầu đoàn tàu địch. Tiếp đó, quả bom khóa đuôi cũng nổ làm lật tà vẹt sang một bên. Đoàn tàu từ từ dừng lại, các trận địa hỏa lực của ta bắn vào đội quân áp tải.

        15 giờ 47 phút, bộ binh được lệnh xung phong đánh vào các toa được phân công. Sau mấy phút bị bất ngờ, địch dựa vào quân đông, hỏa lực mạnh và các toa bọc sắt kiên cố ngăn chặn ta tiến công. Các chiến sĩ ta lợi dụng thân tàu, dùng lựu đạn đánh chiếm từng toa.

        Được hỏa lực chi viện mạnh, Đại đội 1 đánh chiếm được toa chỉ huy. 16 giờ 42 phút, đại bộ phận quân địch trên tàu bị tiêu diệt, số còn lại lao xuống phá Lăng Cô hoặc chạy lên núi.  

        3 giờ ngày 13 tháng 1, đơn vị mới giải quyết xong chiến lợi phẩm, do không đủ thời gian về căn cứ trong đêm nên Tiểu đoàn trưởng cho bộ đội tạm rút về núi Trầm (gần cửa biển Tư Hiền) để đêm sau vượt đường số 1 về chiến khu Phú Lộc.

        Bị đòn đau, địch điều quân ứng chiến từ Huế vào và tử Đà Nẵng ra ứng cứu. Được gián điệp chỉ điểm, chúng huy động máy bay, tàu thủy bắn phá dùng bộ binh chốt chặn các ngả đường lên chiến khu. Ngoài khơi hai tàu chiến của Pháp thay nhau chặn cửa ] Hiền. Bộ binh và xe tăng rải quân chặn dọc đường 1 từ Lăng Cô đến cầu Hai, một tiểu đoàn bộ binh bố trí phía nam núi Trầm đón lõng Tiểu đoàn 319.  

        Suốt 4 ngày (13 đến ngày 16 tháng 1), bộ đội ta giấu mình trong các bụi cây, hốc đá, luồn lách đối phó với địch.  Đêm đêm nhân dân Mỹ Lợi dùng thuyền nan vượt sự phong tỏa của địch tiếp tế từng lon gạo, củ sắn cho bộ đội.  

        21 giờ ngày 16 tháng 1, gió mùa đông bắc thổi mạnh, trời rét, địch co cụm đề phòng ta tập kích. Lợi dụng lúc chúng sơ hở và được nhân dân dẫn đường, tiểu đoàn vượt qua phía tây về căn cứ Phú Lộc an toàn.

        Trận đánh thắng lợi, 300 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu; ta thu 10 khẩu trung liên, 30 tiểu liên, 180 súng trường, phá một khẩu pháo 75mm, một đầu máy và 17 toa xe; phá hủy, cất giấu, phân tán 80 tấn vũ khí, đạn dược.

        Nhờ chuẩn bị chiến đấu tốt, trinh sát nắm chắc quy luật hoạt động của địch, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, có kế hoạch chiến đấu phù hợp, giữ được bí mật, tạo được bất ngờ và giữ được mối quan hệ chặt chẽ với dân mà Tiểu đoàn 319 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


TRẬN CHỢ CHÈ CỦA ĐẠI ĐỘI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG HUYỆN LỆ THỦY (24.1.1949)

        Trận tập kích của một tiểu đội (bảy người) thuộc Đại 1 đội bộ binh 1 bộ đội địa phương huyện Lệ Thủy (do Đại đội trưởng Lương Hữu Sắt chỉ huy) vào ngụy binh giữa ban ngày ở chợ Chè, xã Sào Nam (nay là xã Hồng Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, nằm sâu trong vùng địch hậu) nhằm tiêu diệt địch, gây thanh thế cho lực lượng ta, trấn áp bọn phản động trong vùng địch hậu.  

        Tối 23 tháng 1, du kích đưa bảy bộ đội vào nhà ông Cảnh (một cơ sở của xã Sào Nam) làm công tác cải trang, kiểm tra lại vũ khí, trang bị.

        Tảng sáng ngày 24 tháng 1, bộ đội trong bộ quần áo hóa trang, được du kích dẫn đường vào vị trí tập kết sát phía sau chợ.

        7 giờ, liên lạc báo có sáu tên bảo vệ quân mang năm khẩu súng, đang ở trong chợ, chỉ huy trận đánh ra lệnh tiến vào chợ, từng người tìm cách áp sát từng tên lính.  Khi lực lượng ta đã áp sát mục tiêu, chỉ huy nổ súng diệt tên cai phát lệnh tiến công, nhưng súng không nổ.  Tên cai quay lại, hai người vật nhau; bốn người còn lại cùng hét lớn “đánh cho nó chết” rồi lao vào đánh và cướp súng địch. Bị đánh bất ngờ, địch lúng túng, không kịp chống trả, ta quật ngã bốn tên, thu bốn súng và toàn bộ đạn. Thấy đại đội trưởng đang quần nhau với địch, một người lao tới, phóng một nhát dao găm vào tên địch, thu một khẩu tiểu liên.

        Trận đánh diễn ra trong 15 phút. Ta giành quyền làm chủ, tuyên truyền cho đồng bào rõ mục đích ý nghĩa trận đánh và nhanh chóng rút khi chợ đang đông. Còn năm tên địch bị bắt, một tên bị thương, ta giáo dục và thả tại chỗ, thu năm súng và toàn bộ đạn dược.

        Chợ Chè là một trận đánh hay, hiệu suất chiến đấu cao, phục vụ tốt cho mục đích chính trị của địa phương; gây cho địch hoang mang, đồng bào vùng địch hậu phấn khởi, tin tưởng vào Việt Minh, vào kháng chiến nhất định thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:06:34 AM

TRẬN VẬT LẠI CỦA DÂN QUÂN DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG (19.2.1949)

        Trận chống càn của dân quân, du kích Vật Lại và hai  tiểu đội bộ đội tỉnh đánh vào 2.000 quân địch tiến công vào làng Vật Lại, xã Phú Mỹ, huyện Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây), nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ làng kháng chiến. 

        Cay cú sau nhiều lần tiến công vào Vật Lại thất bại, địch ra sức chuẩn bị cho cuộc tiến công vào đây nhằm phá các làng kháng chiến, bắt lính, vơ vét của cải của dân, lập tề và ngụy quyền tay sai. Ngày 18 tháng 2 năm 1949, địch tử Trung Hà chiếm Ngọc Nhị, Khu Thụy, cắt đường rút quân của ta qua Vật Yên vào căn cứ kháng chiến, chuẩn bị cho tiến công chiếm lại Vật Lại từ phía tây nam. 

        Qua ba lần đánh địch càn quét vào làng thắng lợi, quân và dân Vật Lại càng quyết tâm bảo vệ làng, phát động nhân dân ta bổ sung hào, lũy, tích cực sản xuất kịp thời vụ. 

        Lực lượng dân quân du kích được tăng cường, đưa hai phần ba số đảng viên vào du kích. Ngoài trung đội 42 người do Phùng Văn Thực chỉ huy, “đội du kích quyết tử” 13 người do Chu Danh Lợi làm đội trưởng, còn có 200 dân quân và các tổ cứu thương. Vũ khí có năm súng trường, chín súng chim; mỗi du kích có ba quả lựu đạn, một kiếm hoặc mã tấu; mỗi dân quân có hai lựu đạn, một giáo hoặc một mã tấu.

        Phối hợp với dân quân du kích Vật Lại có hai tiểu đội thuộc Tiểu đoàn 264 bộ đội tỉnh; trang bị 11 súng trường, một súng phóng lựu và 30 quả lựu đạn.

        7 giờ ngày 19 tháng 2 năm 1949, Pháp cho khoảng 100 xe cơ giới chở lính Âu Phi từ Sơn Tây lên chiếm dọc đường 11A từ phố huyện Quảng Oai đến ngã ba Đồng Bảng, phối hợp với quân từ Trung Hà xuống, từ Khu Thụy lên, có tám xe tăng (khoảng 2.000 tên), chiếm đồi Đăm, đồi Chùa, rừng Tiễn, Cổ Trông, Mả Lát, bao vây Vật Lại. 

        7 giờ 40 phút, chúng cho máy bay đến ném bom vào làng. Sau đó pháo từ Sơn Tây, Trung Hà, bắn dữ dội vào các chiến lũy của các xóm Giải, xóm Sui, xóm Vôi, xóm Lão, làm cháy trụi nhiều nhà.

        8 giờ 30 phút, địch từ các hướng hò hét tiến vào phá các chiến lũy. Dựa vào công sự, hầm hào, các chiến sĩ ta đã mưu trí đánh lui các đợt tiến công của địch. Từ 8 giờ 30 phút đến 11 giờ, trên cả ba hướng địch chết ngổn ngang trên đường, ven lũy.

        Từ 12 giờ đến 15 giờ 30 phút, chiến sự diễn ra khắp các xóm Sui, xóm Giải, xóm Lão, xóm Vôi. Nhiều cuộc đánh gần bằng lựu đạn, mã tấu, giáo mác làm cho địch tiến rất chậm.

        16 giờ, địch từ bốn xóm đánh dồn vào xóm Lọc. Đội “du kích quyết tử” cùng bộ đội và du kích đánh lui nhiều đợt tiên công của chứng. Đến khi hết đạn, lực lượng rút xuống hần bí mật. Một tổ du kích và 10 dân quân bị bao vây, vừa đánh địch vừa lui về hầm bí mật, nhưng hầm bí mật nhân dân đã xuống chật. Cả tổ quyết dùng mã tấu, giáo mác đánh địch.

        Không chiếm được nhà, địch dùng badôca bắn sập nhà, 12 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Đội trưởng Chu Danh Lợi bị gãy một tay nhưng vẫn cướp súng địch, bắn gục hàng chục tên địch.

        17 giờ 30 phút, địch chiếm được Vật Lại. Sợ bị tập kích bất ngờ, chúng rút ra ngoài làng trụ lại. Dân quân du kích hướng dẫn nhân dân bí mật sơ tán sang Vật Yên an toàn. 

        Sáng ngày 20 tháng 2, địch vào làng chỉ còn lại vườn không nhà trống, chúng điên cuồng đốt phá, lửa khói nghi ngút liên tục mấy ngày liền.  Một ngày chiến đấu quyết liệt, ta đã loại khỏi vòng chiến 120 tên lính Pháp.

        Chiến công của quân và dân Vật Lại chứng tỏ sức mạnh đoàn kết quân dân, ý chí quyết đánh, trí tuệ biết đánh đã chiến thắng kẻ thù có trang bị hiện đại và được xe tăng, phi pháo yểm trợ đắc lực.

        Từ đây, Vật Lại chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng cơ sở trong lòng địch, tổ chức nhân dân đấu tranh chính trị, kinh tế, kết hợp với hoạt động vũ trang, tiến lên cùng với bộ đội chủ lực phản công địch, giải phóng quê hương.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:07:27 AM
       
TRẬN ĐIỀN XÁ CỦA CÁC TIỂU ĐOÀN 426, 215 VÀ MINH HỔ (4.3.1949)

        Mở màn chiến dịch Đông Bắc II, bộ đội chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương Liên khu Việt Bắc, phục kích tiêu diệt quân địch ở Điền Xá.

        Xã Điền Xá thuộc huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Yên (nay là tỉnh Quảng Ninh). Đường 4B chạy qua khu vực Điền Xá, đoạn từ Khe Chầy đến Khe Vàng đường hiểm trở, nhiều đoạn gấp khúc. Phía nam có dãy núi cao, trên núi cây cối rậm rạp thuận lợi cho giấu quân bí mật; triển khai lực lượng ở sườn núi thì rất lợi cho việc phát huy sức mạnh của các loại hỏa lực. Địch hành quân tới đoạn này nếu bị phục kích dễ bị chia cắt, khó co cụm chống đỡ.  

        Tham gia trận đánh có Tiểu đoàn 426 Trung đoàn 59, Tiểu đoàn 2 1 5 Trung đoàn 98 và Tiểu đoàn Minh Hổ thuộc Trung đoàn độc lập Hải Ninh.

        Tiểu đoàn 426 có bốn đại đội bộ binh và các đơn vị trực thuộc. Vũ khí có 12 súng máy, 270 súng trường, ba súng phóng lựu AT, lựu đạn và một số dao, kiếm.  Tiểu đoàn 215 có hai đại đội bộ binh, một đại đội trợ chiến, quân số 250 người. Vũ khí có một khẩu 12,7mm, một khẩu cối 60mm, sáu trung liên, ba khẩu badôca, 80 súng trường và lựu đạn.

        Tiểu đoàn Minh Hổ có hai đại đội bộ binh, quân số 221 người. Vũ khí có một khẩu 12, 7mm, ba khẩu trung liên, súng trường và lựu đạn.

        Chỉ huy trận đánh tổ chức đội hình thành hai bộ phận:

        - Bộ phận đánh xe tiếp tế gồm Tiểu đoàn 426 và Tiểu đoàn 21.

        - Bộ phận kiềm chế, chặn viện do Tiểu đoàn Minh Hổ đảm nhiệm.

        9 giờ ngày 28 tháng 2, Tiểu đoàn 215 xuất quân, đến 11 giờ 30 phút Tiểu đoàn 426 xuất phát, nhưng do phải chờ lấy gạo, sau đó gạo lại không có nên cả hai tiểu đoàn đến 12 giờ 30 phút cùng ngày mới xuất phát được. Lúc 1 giờ ngày 4 tháng 3 năm 1949, bộ đội tới trận địa chuẩn bị chiến đấu.

        7 giờ ngày 4 tháng 3, một đoàn xe tải 16 chiếc và một xe Jeép từ Khe Tù lên tiếp viện cho Đình Lập, trên xe chở 62 tên lính Pháp và lính Bắc Phi trong đó có nhiều tên sĩ quan, đội, sếp và lính chuyên môn kỹ thuật, một trung đội lính bảo vệ do thiếu úy Bay chỉ huy áp tải.  

        7 giờ 20 phút, xe đi đầu lọt vào trận địa của Tiểu đoàn 215; tiếp đó cả 17 chiếc lọt vào trận địa phục kích của ta.  Tổ chặn đầu nổ súng phát lệnh cho cả trận địa, chiếc đi đầu trúng đạn, nhưng vẫn cố chạy về Đình Lập. Được lệnh, toàn bộ hỏa lực của ta tập trung bắn vào đội hình xe địch.

        Bị đánh bất ngờ, quân địch trên xe vội nhảy xuống đường chạy tán loạn. Bộ đội ta đồng loạt xung phong cướp súng giặc, bắt tù binh.

        Đến 7 giờ 45 phút, ta hoàn toàn làm chủ i,rận địa. Bộ đội đang thu dọn chiến lợi phẩm, vũ khí. quân dụng, thì được lệnh sẵn sàng chiến đấu đánh quân tăng viện. .  

        Đoàn xe địch 10 chiếc chở lính và một xe chỉ huy từ Tiên Yên đến tăng viện. Bộ phận đánh quân viện được lệnh kiên quyết chặn địch lại bảo đảm cho bộ đội làm chủ trận địa.

        Khi chiếc xe chỉ huy vừa tới khu vực của bộ phận khóa đuôi thì bị súng 12,7mm của bộ phận này bắn chết gần hết. Đoàn xe dừng lại dàn quân đánh trả, nhưng đã bị ta chặn đánh quyết liệt, địch không tiến lên được.

        Sau 15 phút chiến đấu, ta tăng cường hai trung liên lên chiếm vị trí phối hợp với khẩu 12,7mm và cối 60mm tập trung hỏa lực chặn viện, để đội hình chủ yếu làm chủ trận địa và lui quân an toàn.

        Sau một giờ chiến đấu, ta phá hủy 15 xe địch, diệt 80 quân, có nhiều lính Pháp và Bắc Phi, bắt 23 tên. Ta thu một khẩu trung liên, hai khẩu tiểu liên và nhiều đạn dược.  Trận mở màn chiến dịch Đông Bắc II giành thắng lợi lớn, tạo đà cho chiến dịch phát triển thuận lợi, củng cố lòng tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến của nhân dân Đông Bắc.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:10:28 AM

TRẬN BẢN TRẠI CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 29 (16.3.1949)

        Trận tiến công đồn Bản Trại của Tiểu đoàn 29 là trận công kiên đầu tiên trên mặt trận Đường số 4 nhằm đập gãy một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ của địch ở con đường chiến lược này. 

        Đồn Bản Trại ở trong địa bàn xã Chiến Thắng, huyện Thất Khê, tỉnh Lạng Sơn (tây bắc điểm cao 262). Xung quanh đồn cây cối mọc thấp, sườn đông và đông bắc độ dốc thoải dần. Phía đông bắc, sát sông Kỳ Cùng có một mỏm đồi cao tương đương với đồn Bản Trại. Địa hình ở hướng này hẹp, khó triển khai binh, hỏa lực. Phía tây và tây nam địa hình rộng, tiện triển khai lực lượng nhưng bị đường số 4 cắt ngang.

        Đồn Bản Trại do đại đội 8 (khoảng 70 tên) thuộc trung đoàn lê dương số 3 (3è REI) đóng giữ. Vũ khí có hai khẩu badôca, một khẩu súng cối 60mm, một đại liên, hai trung liên, 12 tiểu liên, còn lại là súng trường.

        Binh lực bố trí thành ba điểm: phía bắc, đông bắc điểm cao 262 và một đồi nhỏ gần cầu Bản Trại. Đồn chia làm hai khu vực: Khu A và B.

        Khu A có hai trung đội và chỉ huy đại đội, bố trí trên ba mỏm phía tây bắc điểm cao 262.  Bao quanh đồn là tường đất cao 2 mét, dày 1 mét và ba hàng rào dây thép gai và rào tre. Hướng đông nam, có bãi mìn chống bộ binh. Trong khu A có lô cốt lớn cao 3 mét, năm ụ súng máy. Đồn có nhà chỉ huy, nhà ở của binh lính; nhà làm việc; nhà bếp và kho đạn.

        Khu B có một trung đội bố trí trên đồi ngay đầu cầu Bản Trại, sát đường 4, cách khu A khoảng 150 mét. Trong khu B có lô cốt và nhà lính xây bằng gạch.

        Đề phòng ta tiến công, ban ngày địch phái lực lượng nhỏ điều tra, lùng sục các bản xung quanh để nắm hoạt động của ta, khống chế nhân dân; ban đêm chúng tổ chức canh gác cẩn mật.

        Tiểu đoàn bộ binh 29 của Bộ Tổng chỉ huy có các đại đội 157, 159, 161 và Đại đội trợ chiến 163. Vũ khí có hai khẩu cối 81mm, hai khẩu 12,7mm, sáu khẩu badôca, ba khẩu đại liên, bảy khẩu trung liên, bảy khẩu áT, một súng phóng lựu và 210 khẩu tiểu liên và súng trường. 

        Nhận nhiệm vụ công đồn Bản Trại, tiểu đoàn được tăng cường một trung đội bộ đội địa phương huyện Tràng Định, hai trung đội công binh, hai khẩu pháo 75mm và một tiểu đội phóng bom.

        Để diệt đồn, tiểu đoàn tổ chức lực lượng tiến công trên hai hướng:

        - Hướng chủ yếu do Đại đội 157, được tăng cường một trung đội công binh, một tiểu đội phóng bom, một tiểu đội phóng lựu có nhiệm vụ đánh chiếm và tiêu diệt địch ở khu A. 

        - Hướng thứ yếu do Đại đội 159 (thiếu hai tiểu đội), có nhiệm vụ tiến công đánh chiếm và tiêu diệt địch ở khu B.  Một trung đội của Đại đội 161 đánh địch cảnh giới ở điểm cao 26 - Hai tiểu đội của Đại đội 159 nghi binh thu hút địch.  Đại đội 11 làm lực lượng dự bị.

        Đại đội trợ chiến cùng với pháo binh diệt lô cốt, hỏa điểm, chi viện cho bộ binh mở cửa và xung phong, sẵn sàng đánh địch từ Thất Khê đến tăng viện. 

        23 giờ ngày 15 tháng 3 năm 1949, các đơn vị chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, săn sàng nổ súng diệt đồn.  23 giờ 48 phút, ta nổ súng tiến công địch trong đồn Bản Trại. Pháo của ta bắn vào lô cốt lớn ở khu A, các chiến sĩ công binh đánh bộc phá mở cửa. Địch trong đồn. sau mấy phút bị bất ngờ, lợi dụng công sự chống trả quyết !iệt. 

        23 giờ 54 phút, Đại đội 159 mở được cửa vào khu B, các chiến sĩ xung kích xông vào đồn; sau 5 phút tiêu diệt phần lớn quân địch. Số sống sót chạy sang khu A, nhưng bị một bộ phận của Đại đội 19 truy kích tiêu diệt. 

        Trên hướng chủ yếu, sau khi diệt các lô cốt, các ụ súng, Đại đội 157 tập trung lực lượng đánh vào khu A. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt. Đến 0 giờ 5 phút ngày 16 tháng 3, các mũi xung kích của ta mới áp sát được chân tường đồn địch và lối ra vào hướng đông bắc.

        0 giờ 10 phút, pháo ta ngừng bắn, bộ binh từ các hướng xông vào đồn địch. Hỏa lực địch bắn mạnh ngăn chặn, nhưng bị badôca và đại liên của ta bắn ghìm đầu địch xuống. Một cuộc giáp chiến ác liệt giữa các chiến sĩ của các đại đội 157, 159 và một bộ phận của Đại đội 161 với quân địch trong đồn. 

        0 giờ 20 phút, ta làm chủ khu A, số địch còn sống sót phải đầu hàng.  Sau 37 phút tiến công, ta tiêu diệt 51 tên (có 24 lính Pháp), bắt 22 tên (có 12 lính Pháp); thu hai badôca, một súng cối 60mm,  hai đại liên, 49 tiểu liên, súng trường và nhiều quân trang, quân dụng khác.

        Trận Bản Trại thắng lợi, ta đã chặt đứt một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ của địch ở đường số 4, góp phần vào việc củng cố, xây dựng và dìu dắt lực lượng vũ trang địa phương thêm trưởng thành, lớn mạnh. 


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:11:43 AM

TRẬN THU CÚC CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG (9.4.1949)

        Trận tập kích tiêu diệt đích ở đồn Thu Cúc của lực lượng du kích xã Thu Cúc, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ được tăng cường đội công tác thuộc Tiểu đoàn 15, Trung đoàn Sông Lô nhằm tiêu diệt địch, phá đồn, bắt tù binh thu vũ khí.

        Sau khi chiếm Sơn La - Lai Châu, quân Pháp theo đường 24 về hướng Thanh Sơn, chúng chiếm Thu Cúc xây dựng đồn binh nhằm án ngữ, cắt giao thông liên lạc của các lực lượng ta với Khu 10. 

        Giữ đồn Thu Cúc có 60 quân tề, ngụy do một sĩ quan Pháp chỉ huy. Đồn được xây dựng chủ yếu bầng gỗ, đất chia làm hai khu. Khu 1 là lính, có một đại liên, một trung liên và một số súng trường. Khu 2 là tề ngụy, có một số đưa cả vợ con vào ở; trang bị bốn trung liên, ba tiểu liên, còn lại là súng trường. Cách đồn khoảng 500 mét về phía nam có một sân bay dã chiến chủ yếu dùng tiếp tế, tải thương khi cần thiết.

        Nhận nhiệm vụ diệt đồn, chỉ huy xã đội sử dụng 10 du kích xã, bốn đội viên đội công tác của Tiểu đoàn 15, kết hợp với một trung đội lính ngụy trong đồn được giác ngộ làm nội ứng; tổ chức thành ba bộ phận:

        - Bộ phận chủ yếu gồm hai tổ du kích xã, phối hợp với tổ công tác của bộ đội; được tăng cường ba khẩu trung liên. Nhiệm vụ là bí mật luồn sâu, đột nhập vào cổng sau đồn, áp sát nhà chỉ huy, khi được lệnh nhanh chóng diệt tên chỉ huy đồn; cùng các bộ phận vây ngoài nhanh chóng chiếm ngay các vị trí có lợi, uy hiếp và gọi hàng, chiếm đồn, bắt tù binh, thu vũ khí, hỗ trợ nhân dân địa phương phá đồn địch.

        - Bộ phận thứ yếu sử dụng số binh lính được giác ngộ, bao vây chặt khu tề ngụy, tiêu diệt những tên ngoan cố chống lại, bắt bọn tề ngụy và binh lính còn lại, thu vũ khí.

        Bộ phận bao vây đồn gồm một tổ du kích và một tiểu đội nội công. Nhiệm vụ là bí mật bao vây đồn, sẵn sàng khống chế hỏa lực địch, tạo điều kiện cho bộ phận luồn sâu đánh vào bên trong, hiệp đồng với bộ phận chủ yếu đánh chiếm đồn, bắt tù binh, thu vũ khí.

        5 giờ ngày 9 tháng 4 năm 1949, bộ phận chủ yếu được lực lượng nội ứng dẫn đường, bí mật luồn sâu vào sát nhà ngủ của tên quan ba Pháp chỉ huy đồn. Được lệnh, du kích tiêu diệt tên chỉ huy, khống chế toàn bộ lính ngụy trong đồn. Đội trưởng du kích ra lệnh tập trung toàn bộ bọn tề ngụy buộc chung phải đầu hàng, nộp vũ khí. Một số tên ngoan cố bị lực lượng nội ứng tước vũ khí trước khi hành động.

        Sau ít phút chiến đấu, ta diệt một tên quan ba Pháp, bắt 60 tên tề ngụy, thu một khẩu đại liên, ba khẩu trung liên, ba khẩu tiểu liên, 40 súng trường và nhiều trang bị khác.

        Trận Thu Cúc thắng lợi giòn giã, bên cạnh quyết tâm chiến đấu cao của lực lượng du kích và bộ đội, còn có nguyên nhân rất quan trọng là sự kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu và địch vận. Do vậy chỉ trong ít phút chiến đấu, ta đã chiếm được đồn trại, bắt toàn bộ binh lính trong đồn, thu nhiều vũ khí và trang bị của địch. Ta an toàn.


TRẬN DỐC VỰC CỦA TRUNG ĐỘI DU KÍCH XÃ ĐỒNG LƯƠNG (4.4.1949)

        Trận phục kích của Trung đội du kích xã Đồng Lương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, tiêu hao một trung đội quân Pháp, bảo vệ được căn cứ kháng chiến. 

        Để mở rộng phạm vi chiếm đóng, địch sử dụng một đại đội Âu Phi chiếm điểm cao 35, xây đồn nhằm khống chế hoạt động của ta cả đường bộ, đường sông, sẵn sàng tiến công huyện ly Cẩm Khê theo đường số 24. 

        Chiếm được điểm cao 35, hàng ngày địch cho khoảng một trung đội hành quân qua dốc Vực, tiến vào tây xã Đồng Lương càn quét, cướp phá của cải, phát hiện lực lượng vũ trang ta.

        Trung đội du kích xã Đồng Lương có 34 người, vũ khí có ba khẩu súng trường, 60 quả lựu đạn, một số giáo, mác.  Nắm được quy luật hoạt động của địch, trung đội sử dụng 10 người, mai phục ở dốc Vực, dùng một quả đạn pháo 105mm cải tạo thành địa lôi, chôn ở dốc Vực, khi địch đến cho đạn nổ, kết hợp với ném lựu đạn tiêu diệt địch, thu vũ khí.

        03 giờ ngày 14, trung đội chiếm lĩnh trận địa chờ địch.  Mờ sáng, một trung đội địch theo thường lệ vào làng quấy phá, lấy của cải và vật liệu về xây dựng bốt. Khi tên địch thứ hai bước đến chỗ đặt địa lôi. đồng chí Chiến chỉ huy trận đánh ra ám hiệu cho đồng chí Thiện giật cho địa lôi nổ. Khi địa lôi nổ, quân ta ném lựu đạn và bắn vào đội hình địch, yểm hộ cho hai đồng chí giật địa lôi rút về vì trí an toàn.

        Bị đánh bất ngờ, địch dùng pháo bắn vào dốc Vực, nhưng các du kích của ta đã về vị trí an toàn. Địch bị loại khỏi vòng chiến đấu 11 tên.

        Trận đánh thắng lợi đã động viên phong trào du kích chiến tranh trong huyện phát triển; bảo vệ được căn cứ kháng chiến của du kích và nhân dân.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:13:11 AM

TRẬN NÀ DANH CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 73 TRUNG ĐOÀN 74 (18.4.1949)

        Trận Nà Danh được thực hiện trong chiến dịch Cao - Bắc - Lạng, nhằm tiêu hao sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh của địch, góp chiến công chung vào thắng lợi của chiến dịch.

        Đoạn đường 169 từ bản Sộc Sòn đến bản Nà Danh dài khoảng 1,5 kilômét; chạy qua cánh đồng bằng phẳng và rộng. Hại bên cánh đồng là những dãy núi đá xen kẽ đồi đất, có độ cao trên 500 mét, cây cối rậm rạp, kín đáo, tiện giấu quân và bố trí trận địa hỏa lực.

        Địch chiếm đóng Phục Hòa - Tà Lùng giáp Thủy Khẩu (Trung Quốc) . Khi tiếp tế cho Phục Hòa - Tà Lùng, địch phải sử dụng tỉnh lộ 169 từ Đông Khê đi Phục Hòa, do đó chúng phải bảo vệ chặt chẽ không kém quốc lộ 4A. Ngã ba quốc lộ số 4 và tỉnh lộ 169 có cứ điểm Đông Khê án ngữ, trực tiếp chi viện bằng hỏa lực và ứng cứu bằng bộ binh khi địch hành quân tiếp tế bị ta tiến công.

        Tiểu đoàn 73 Trung đoàn 74 Cao Bằng có các đại đội: 671, 673, 674 và 675; vào chiến đấu được tăng cường Đại đội 670 bộ đội địa phương huyện Thạnh An, các đơn vị đều được thành lập và chiến đấu tại Cao Bằng nên quen thuộc địa hình, được nhân dân ủng hộ và nắm được quy luật của địch hành quân, cùng với các thủ đoạn đối phó của chúng. 

        16 giờ ngày 18 tháng 4 năm 1949, tiểu đoàn từ xã Thị Ngân hành quân chiếm lĩnh trận địa, mai phục quân địch. 

        9 giờ ngày 20 tháng 4, một tiểu đội lính Âu Phi từ bốt Khau Mạ đi qua trận địa phục kích của tiểu đoàn về hướng Đông Khê. Trận địa vẫn giữ được bí mật. 

        Khoảng 13 giờ ngày 20, có tiếng Ô tô vọng về trận địa, sau đó khoảng 10 phút, một chiếc xe tăng có một tiểu đội lính đi trước, hai tiểu đội đi sau tiến vào trận địa. Đi sau bộ phận này khoảng 200 đến 300 mét là hai xe tải chở lương thực, thực phẩm, mỗi xe được một trung đội lính đi trước, đi sau và hai bên bảo vệ.

        Khi toàn bộ đội hình quân địch lọt vào trận địa, được lệnh, toàn bộ hỏa lực của năm đại đội từ hai bên sườn núi bắn vào đội hình của địch.  Ngay từ đầu, nhiều tên địch đã bị diệt, số còn lại, hốt hoảng lợi dụng các rãnh nước, bờ ruộng hai bên đựờng chống cừ, nhưng bị hỏa lực của các đơn vị lần lượt tiêu diệt. Chiếc xe tăng vừa đi vừa bắn trọng liên 12, 7mm nhưng bộ đội ta đã áp sát hỏa lực nên ít tác dụng.

        Sau 5 phút chống cự, khẩu 12,7mm bị diệt. Sau 8 phút chiến đấu, tiểu đoàn diệt và làm bị thương 130 tên, bắt sáu tên; thu hai súng cối 81mm, hai trọng liên, bảy trung liên, 88 tiểu liên và súng trường; phá hủy một xe tăng, hai xe tải. 

        Trận Nà Danh - một trận đánh táo bạo, tận dụng triệt để yếu tố bí mật, bất ngờ và sự chủ quan, sơ hở của địch, tiêu diệt gọn quân địch ngay cạnh cứ điểm Đông Khê trong thời gian rất ngắn, khiến địch không kịp tăng viện ứng cứu. Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý trong phục kích ở địa hình rừng núi.


TRẬN TÂY MỖ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG (21.5.1949)

        Trận chống càn của một tiểu đội du kích tập trung (12  người), hai tiểu đội dân quân, trang bị hai khẩu tiểu liên Ten, ba khẩu súng ngắn, năm khẩu súng trường, còn lại là lựu đạn, dao găm, mã tấu; ngoài ra có một tiểu đội bộ đội địa phương (12 người) trang bị súng ngắn và tiêu liên làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn cán bộ cấp trên đang công tác tại địa phương; chống lại hai tiểu đoàn bảo an, một đại đội commăngđô tiến công càn quét vào thôn Tây Mỗ, xã Hữu Hưng huyện Liêm Bắc, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ căn cứ kháng chiến. 

        5 giờ ngày 21 tháng 5 năm 1949, địch chia thành hai cánh quân xuất phát từ Lai Xá và Hà Đông phối hợp với địch ở Cầu Ngà và Đại Mỗ đánh phá căn cứ kháng chiến Tây Mỗ.

        Nhờ phát hiện sớm hành động của địch, lực lượng vũ trang địa phương dựa vào các lũy tre làng, hầm hào chuẩn bị sẵn triển khai chiến đấu theo phường án được tập dượt. 

        6 giờ 30 phút, địch bắt đầu tiến vào làng. Trên các hướng,  quân ta để địch vào gần phía cổng xóm mới giật mìn, ném lựu đạn diệt nhiều tên sau đó bí mật rút xuống hầm để bảo toàn lực lượng.

        Địch tiến đến đâu đều bị chặn đánh. Vào nhà tìm du kích thì chỉ thấy phụ nữ, người già và trẻ em.  Trận đánh kéo dài đến 17 giờ, chúng phải lui quân mang theo 32 tên chết và 40 tên bị thương. 

        Trận đánh thắng lợi để lại nhiều kinh nghiệm quý về tổ chức làng chiến đấu, về chọn cách đánh thích hợp vớ tương quan lực lượng địch - ta; về dựa vào dân dưới sự lãnh đạo của Đảng để đánh giặc, bảo vệ làng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:15:00 AM

TRẬN CỔ LŨNG CỦA TIỂU ĐOÀN 335 (25.7.1949)

        Trận tập kích của Tiểu đoàn 335 Trung đoàn 77 (ba đại đội) được tăng cường Đại đội bộ binh 138 thuộc Tiểu đoàn miền Tây đánh vào quân ngụy do 20 sĩ quan Pháp chỉ huy giữ đồn Cổ Lũng (Bá Thước) miền tây Thanh Hóa nhằm tiêu diệt địch, khai thông tuyến vận chuyển từ Bá Thước đi Vạn Mai, tỉnh Hòa Bình.

        Để hoàn thành nhiệm vụ của trên giao, trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 335 và Đại đội 138 tiến công đồn Cổ Lũng; ngoài ra còn sử dụng các đại đội bộ binh 72, 78 và một trung đội phục kích đón lõng địch từ Cổ Lũng chạy về Toàn Thắng và chặn địch trên đường Ngọc Lậu đi Cổ Lũng không cho chúng tiếp viện và tăng cường lực lượng cho Cổ Lũng. 

        18 giờ ngày 24 tháng 7, các đơn vị làm nhiệm vụ công đồn vận động từ làng Cốc đến làng Mô, bắt liên lạc và hiệp đồng chiến đấu tại thực địa.

        Từ 1 giờ 3 phút, Đại đội 113 và Đại đội 138 liên lạc được với nhau. 1 giờ 55 phút, các trung đội đã vào hàng rào thứ hai. Được lệnh, toàn đơn vị xung phong, nhưng bị hỏa lực của địch bắn mạnh, một số thương vong, một số phải nằm tại chỗ. tổ mang bom đều hy sinh, bom không nổ, hỏa lực của ta bắn nhiều nhưng kém hiệu quả, các mũi tiến công đều phải dừng lại.

        2 gìơ 10 phút ngày 25 tháng 7, các đơn vị đánh đồn bị thiệt hại. Các khẩu cối ở đồi Thung theo lệnh của Tiểu đoàn trưởng bắn sáu viên, chia thành hai đợt để thu quân.  Chỉ huy tiểu đoàn nhận được báo cáo của Đại đội 113 là đơn vị bị cối của ta bắn vào đội hình, nhưng không thể ngừng bắn được vì ta mất liên lạc với đại đội hỏa lực. 

        Tiếp đó, chỉ huy tiểu đoàn lệnh cho các trung đội 5, 6 của Đại đội 3 lên tiếp ứng. Khi tiến sát hàng rào thứ ba, ta bắn hai quả AT phá được lô cốt số 2. Tổ bom bò sát vào lô cốt, địch ném lựu đạn, cả tổ bị thương, không lên được. Chỉ huy tiểu đoàn vào sát đồn chỉ huy Đại đội 113 và lệnh cho Trung đội 6 tiến sát lô cốt, nhưng đến hàng rào thứ ba địch bắn mạnh, ta thương vong nhiều. Tổ AT bắn sáu quả (chỉ hai quả nổ) phá được lô cốt, diệt được hai tên địch. 

        Sau 4 giờ chiến đấu, tiểu đoàn không hạ được đồn, loại khỏi vòng chiến đấu hai tên lính Pháp, ba tên ngụy.  Trận chiến đấu chưa đạt hiệu suất chiến đấu theo yêu cầu, do nhiều nguyên nhân, trong đó nổi lên công tác chuẩn bị tư tưởng, chuẩn bị chiến trường; tổ chức hiệp đồng giữa các cấp; tổ chức chỉ huy, sử dụng lực lượng; đặc biệt là việc xác định cách đánh thiếu rõ ràng.


TRẬN BẰNG KHẨU CỦA TIỂU ĐOÀN 55 TRUNG ĐOÀN 72 (13.8.1949)

        Phát triển thắng lợi của mặt trận Đường số 3, Tiểu 1 đoàn 55 được lệnh truy kích địch rút quân khỏi Bắc Cạn, sau bốn ngày liên tục bôn tập, đã tập kích quân địch ở sân bay Bằng Khẩu, tiếp đó đánh địch rút chạy, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

        Bằng Khẩu một thị trấn nhỏ nằm trong thung lũng có diện tích khoảng 3 kilômét vuông, thuộc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Cạn (nay thuộc tỉnh Lạng Sơn). Ở đây địch lợi dụng đỉnh núi để đóng đồn và cải tạo đồi đất ở phía bắc Bằng Khẩu để làm sân bay.  Lực lượng địch giữ Bằng Khẩu khoảng 450 quân .(250 Âu Phi thuộc trung đoàn lê dương số 3 (3è REI), 200 ngụy binh), chúng đóng ở ba vị trí:

        - Đồi sân bay khoảng 130 quân, một khẩu pháo 75mm, một khẩu cối 81mm, hai khẩu cối 60mm và nhiều đại liên, tiểu liên. Sân bay dài 350 mét, rộng 150 mét, xung quanh có hai lớp rào dây thép gai; có mìn, lựu đạn bố trí xen kẽ .

        - Đồn Bằng Khẩu nằm ở bắc điểm cao 547; xung quanh có tường đất cao 1,5 mét, dày 0,8 mét. Bốn góc có ụ súng bên trong có hào giao thông nối nhà chỉ huy với các ụ súng và trận địa hỏa lực. Ngoài cùng là hàng rào dây thép gai nối với hàng rào sân bay: Có cổng ra đường 3B và cổng sang sân bay. Ngoài số quân đóng trong đồn, địch thường cử một tiểu đội và một khẩu đại liên luân phiên giữ điểm cao 547 để bảo vệ đồn chính và kiểm soát đường 3B. 

        -Vị trí Bản Mới có khoảng 200 tên Hoa kiều và thổ phỉ được trang bị súng máy, tiểu liên, súng trường. Xung quanh bản cố các ụ súng, hào chiến đấu, hàng rào dây thép gai như đồn binh Pháp.

        Ba vị trí sân bay, đồn Bằng Khẩu, Bản Mới tạo thành thế liên hoàn hỗ trợ cho nhau. Trước đó, ta đã ba lần tập kích nhưng chưa lần nào làm chủ được đồn.  Tiểu đoàn 55 có các đại đội bộ binh 924, 925, 653 và một trung đội trợ chiến, quân số 229 người; trang bị hai đại liên, hai súng cối 60mm, tám trung liên, còn lại là tiểu liên và súng trường.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:15:58 AM

        Khi địch rút khỏi Bắc Cạn, Bộ tư lệnh Liên khu giao cho Trung đoàn 72 truy kích tiêu diệt đích, trung đoàn giao nhiệm vụ này cho Tiểu đoàn  các đơn vị khác tiếp tục truy quét địch, tiễu phỉ. Vào chiến đấu, tiểu đoàn được tăng cường một đại đội (thiếu) bộ đội địa phương Ba Bể (40 người) .

        Sáng ngày 13 tháng 8 năm 1949, tiểu đoàn hành quân theo đường mòn bám địch. Sau bốn ngày liên tục bôn tập, 16 giờ ngày 16 tháng 8, tiểu đoàn đến vị trí tạm dừng, gặp trinh sát trung đoàn phái đi trước nắm tình hình địch và được biết địch rút khỏi Ngân Sơn đang xếp những hàng nặng lên xe. 

        Nhận thấy đây là thời cơ tốt nhất để tập kích tiêu diệt quân địch, tiểu đoàn hạ quyết tâm: Bí mật triển khai lực lượng sát địch, gỡ vật cản trở cửa mở rồi bất ngờ nổ súng tiêu diệt địch ở sân bay và Bản Mới, đồng thời sử dụng một bộ phận lực lượng kiềm chế chia cắt địch ở sân bay với đồn. Mục tiêu tiến công chủ yếu là sân bay, mục tiêu tiến công thứ yếu là Bản Mới. Tập kích xong, có thể tập trung lực lượng diệt đồn hoặc truy kích nếu địch rút chạy. 

        Thực hiện quyết tâm của tiểu đoàn, Đại đội 92 được tăng cường trung đội trợ chiến của tiểu đoàn, tiến công địch trên hướng chủ yếu, diệt địch ở sân bay, kiềm chế địch ở đồn Bằng Khẩu; Đại đội 924, tiến công ở hướng thứ yếu tiêu diệt thổ phỉ phản động ở Bản Mới; Đại đội 653 và đại đội bộ đội địa phương làm dự bị của tiểu đoàn. 

        21 giờ 30 phút ngày 16 tháng 8, các đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa.

        Lúc 1 giờ 10 phút ngày 17 tháng 8, các cửa mở cắt dây thép gai và gỡ mìn xong.

        1 giờ 30 phút, tiểu đoàn nổ súng tiến công. Đại liên, AT bắn vào các hỏa điểm địch, cối 60mm bắn vào nhà ở của lính địch. Trên các hướng, bộ đội ta nhanh chóng vượt qua cửa mở, dùng lựu đạn, thủ pháo phá xe, diệt bộ binh địch. 

        Sau ít phút lúng túng ban đầu, địch tổ chức chống trả quyết liệt. Trên cả hai hướng, một bộ phận xung kích bị địch ngăn chặn không vào được bên trong sân bay số còn lại cũng bị hỏa lực ngăn chặn không phát triển và không liên lạc được với nhau.

        Đến 1 giờ 45 phút, địch sử dụng 70 đến 80 tên phản kích ra cả hai hướng buộc Đại đội trưởng 925 phải lệnh cho đại đội vừa đánh vừa rút ra ngoài. Sau khi củng cố đội hình, Đại đội 926 tiếp tục xung phong vào sân bay. Địch tập trung hỏa lực bịt cửa mở, xung kích ta không tiến vào được.

        Đến 4 giờ 30 phút, tiểu đoàn ra lệnh cho Đại đội 925 lùi về tây nam Bản Mới.  Thấy súng nổ, địch ở đồn Bằng Khẩu dùng hỏa lực bắn mạnh về phía đông đường, đồng thời cho một trung đội ra phản kích vào sườn ta. Bộ phận kiềm chế dùng hỏa lực chặn địch, buộc chúng phải nằm lại.

        Ở hướng thứ yếu, Đại đội 924 mở xong cửa lùi về sau  chờ lệnh nổ súng. Khi hướng chủ yếu nổ súng, Đại đội 924 vượt qua cửa mở, tiến sâu vào bên trong, chiếm được một nửa bản. Khi hai hướng sắp liên lạc được với nhau thì bị địch cơ động ra chiến hào chặn lại.

        Đến 2 giờ 30 phút ngày 17 tháng 8, Đại đội 924 lùi về vị trí xuất phát xung phong.  Khi các đại đội của ta lui ra ngoài, thấy địch ở đồn Bằng Khẩu và sân bay có biểu hiện rút chạy, tiểu đoàn hạ quyết tâm, tổ chức lại đội hình, tiếp tục tiến công địch.  Ngay sau đó, tiểu đoàn nhanh chóng tổ chức lại đội hình.  6 giờ ngày 17 tháng 8, các đơn vị vào chiếm lĩnh trận địa. Địch phát hiện, chúng dùng pháo, cối, 12,7mm bắn mạnh vào đội hình của ta. Đến 7 giờ 20 phút, tiểu đoàn chiếm lĩnh trận địa xong.

        7 giờ 35 phút, địch bắt đầu lui quân, vừa đi chúng vừa bắn mạnh về phía ta. Các xe cách nhau khoảng 40 đến 45 mét. Khi chiếc xe đi đầu tới nam phố Bằng Khẩu, quân ta nổ súng. Các loại hỏa lực của ta bắn mạnh vào quân địch.  Địch dừng lại triển khai khoảng 150 quân ở sườn đông nam sân bay, dùng hỏa lực đánh mạnh vào trận địa ta khoảng 15 phút.

        8 giờ, địch tiếp tục hành quân dưới sự yểm trợ của hỏa lực bộ binh. Tiểu đoàn dùng một phần hỏa lực chế áp địch, còn lại tập trung diệt địch trên các xe.

        9 giờ, địch dùng hai máy bay tới quần lượn và dùng 12,7mm bắn mạnh vào trận địa ta. Được máy bay chi viện, địch dùng hỏa lực bắn mạnh vào đội hình ta, đồng thời cho xe nhanh chóng vượt qua trận địa. Các đại đội 925, 653 dùng đại liên, trung liên bắn máy bay địch, yểm hộ cho bộ binh ta chiến đấu.

        9 giờ 15 phút, chiếc xe cuối cùng của địch vượt được qua trận địa của ta. Trận đánh kết thúc. Ta diệt 50 tên và làm bị thương nhiều địch; phá hủy tại chỗ 14 xe vận tải, làm hỏng 30 chiếc khác, phá bốn khẩu trung liên; thu một số vũ khí, đạn dược.

        Mặc dù chưa tiêu diệt được nhiều địch, nhưng trận đánh đã để lại nhiều kinh nghiệm quý về tổ chức chuẩn bị chiến đấu, động tác chỉ huy của cán bộ phân đội các cấp trong truy kích quân địch.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:17:37 AM

TRẬN BÔNG LAU - LŨNG PHÂY CỦA TRUNG ĐOÀN 174 VÀ DU KÍCH YÊN NHÂN (3.9.1949)

        Trận Bông Lau - Lũng Phầy lần thứ tư của Trung đoàn 174, một trận phục kích quy mô lớn nhất trên đường số 4 trong kháng chiến chống Pháp, với thắng lợi vang dội, đã góp phần làm cho con đường số 4 trở thành “con đường lửa”.

        Đường số 4 chạy dọc biên giới Việt - Trung từ Tiên Yên qua Lạng Sơn về đến Cao Bằng. Đây là con đường chiến lược quan trọng của quân Pháp lên khu Bắc và là hành lang ngăn chặn ảnh hưởng của cách mạng Trung Quốc với cách mạng Việt Nam.

        Đèo Bông Lau nằm trên trục đường từ Đông Khê đến Thất Khê. Từ Thất Khê đến đèo Bông Lau lên dốc, từ đèo Bông Lau về Đông Khê xuống dốc. Mặt đường qng 3 đến 4 mét. Đoạn đèo Bông Lau đường quanh co, gấp khúc, cua hẹp, độ dốc lớn. Đoạn đường 4 kilômét từ đèo Bông Lau về Thất Khê rất hiểm trở.

        Xung quanh đèo Bông Lau có các bản: Lũng Chà, Lũng Vạc, Khui Nà, Khui Chủ, Bản Bó, Cóc Sồm, Lũng Phẩy, đũng Chóc.

        Dãy núi phía đông có điều kiện bố trí hỏa lực nhiều tầng, khống chế được toàn bộ mặt đường đối diện. Chân núi và khe suối rậm rạp tạo điều kiện cho ta giấu quân bí mật, nhưng phải làm sẵn các bậc lên mặt đường.  Khi địch hành quân bằng cơ giới, lúc lên đèo, gián cách các xe gần lại, đường hẹp nên nếu bị đánh, chỉ cần một xe hỏng là đoàn bộ đội hình ùn tắc, không thể triển khai hỏa lực chống trả.

        Để cung cấp lương thực, thực phẩm, vũ khí đạn dược cho khu Bắc, cứ 5 đến 7 ngày có một đợt vận chuyển từ Lạng Sơn đi Cao Bằng. Bảo đảm an toàn cho các đoàn xe vận chuyển dọc đường 4, địch rải quân chốt giữ các điểm quan trọng, cứ 6 đến 8 kilômét địch bố trí một bộ phận. 

        Các cứ điểm bảo vệ trực tiếp cho Bông Lau có: Thất Khê, đồn Bông Lau, đồn Dốc Nà (Lũng Phẩy mới),Đông Khê.  Trong đó, các cụm cứ điểm Đông Khê, Thất Khê là có đến 400 quân và có trận địa pháo.

        Trung đoàn 174 có ba tiểu đoàn của ba tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn và một số đại đội trực thuộc; Tiểu đoàn 55 đang tiếp quản thị xã Bắc Cạn. Tham gia trận đánh có các tiểu đoàn 53 và 23 (mỗi tiểu đoàn có ba đại đội bộ binh và một đại đội trợ chiến); một đại đội trợ chiến, một đại đội pháo binh và một đại đội công binh Vũ khí có một khẩu pháo 70mm, một khẩu 37mm, ba khẩu trọng liên 12,7mm, sáu khẩu đại liên, 27 khẩu trung liên FM, tám khẩu badôca, ba khẩu cối 81mm, ba khẩu cối 60mn, bốn khẩu phóng lựu. . .

        Thực hiện nhiệm vụ được giao, trung đoàn quyết tâm dùng toàn bộ lực lượng, bí mật giấu quân sát hai bên đường, thành thế bao vây: Khi địch lọt vào tràn địa, tập trung hỏa lực chế áp, tiêu diệt một phần sinh lực địch; đồng thời dùng một bộ phận đánh chiếm Khau Pia. Khi hỏa lực chuyển bắn, xung kích thành nhiều mũi xung phong bao vây, chia cắt, tiêu diệt quân địch. Diệt địch từ kilômét 58 đến đỉnh đèo.

        Tiểu đoàn 23, được tăng cường một đại đội pháo binh, một trung đội công binh của trung đoàn, làm lực lượng đánh địch trên khu vực diệt địch chủ yếu.  Tiểu đoàn 3, được tăng cường một đại đội trợ chiến và một trung đội công binh trung đoàn, làm nhiệm vụ xung kích thứ yếu; diệt địch từ kilômét 58 đến bản Bó. 

        14 giờ ngày 1 tháng 9, từ Văn Mịch trung đoàn hành quân tới Khui Na, triển khai vào vị trí phục kích. 

        7 giờ 30 phút ngày 2 tháng 9, lợi dụng trời còn sương mù, Trung đoàn trưởng cho các đơn vị tập luyện theo phương án chiến đấu, sau đó về vị trí mai phục địch. 

        7 giờ ngày 3 tháng 9, địch từ các cứ điểm Thất Khê, Bông Lau, Dốc Nà bắn cối báo hiệu cho nhau có xe vận chuyển lên.

        9 giờ đến 10 giờ, pháo từ Thất Khê, Bông Lau bắn mạnh vào các mỏm của Khau Pia, nơi các lần phục kích trước, ta giấu quân ở đây. Tiếp đó địch cho hai trung đội lên chiếm một số mỏm của Khau Pia.

        11 giờ 10 phút, một xe tăng, hai xe bọc thép, một xe Jeép và sáu xe tải chở khoảng 100 quân đi vào trận địa.  Phán đoán đây là bộ phận đi đầu, Trung đoàn trưởng lệnh không nổ súng.

        13 giờ 46 phút, một xe tăng, hai xe bọc thép dẫn đầu, tiếp theo là 30 xe tải tiến vào trận địa. Trung đoàn trưởng lệnh: bộ đội ra vị trí chiến đấu. Khi cả đoàn xe lọt vào trận địa nhưng đài quan sát báo cáo còn 20 xe đang ở phía sau lên, Trung đoàn trưởng quyết định đánh đoàn xe đi sau. 

        13 giờ 55 phút, chiếc đi đầu hỏng, địch triển khai đội hình đề Phòng phục kích để chữa xe nên ta chưa lệnh nổ súng.

        14 giờ 1 phút, xe chữa xong, cuộc hành quân của địch tiếp tục 14 giờ 30 phút, chiếc đi đầu vừa tới đỉnh đèo. Các loại hỏa lực của ta đồng loạt bắn vào đoàn xe và các mỏm của Khau Pia. Do khẩu 12,7mm chặn đầu bị hóc đạn nên tám xe của địch vượt ra khỏi trận địa. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 23 nhanh chóng sử dụng khẩu badôca chặn chiếc thứ chín lại. Toàn bộ đoàn xe sau của địch nằm cả trong trận địa.

        Từ các hướng quân ta dùng hỏa lực lần lượt tiêu diệt địch, nhanh chóng đánh ra đường. Cả đoạn đường dài gần 2,5 kilômét lửa khỏi mù mịt. Cùng lúc đó bộ phận đánh địch ở Khau Pia nhanh chóng đánh chiếm các vị trí địch cảnh giới.

        Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, kéo dài 22 phút, ta diệt 94 tên, làm bị thương hơn 100 tên khác, bắt 23 tên; phá 86 xe các loại; thu hai khẩu 12,7mm, ba đại liên, một súng máy, nhiều tiểu liên, súng trường và nhiều quân trang, quân dụng.

        Chiến thắng Bông Lau - Lũng Phẩy, góp phần cùng với các chiến thắng trước đó trên đường số 4, chặt đứt hoàn toàn con đường này - con đường huyết mạch của quân Pháp ở khu Bắc đã trở thành “con đường lửa” đối với thực dân Pháp.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:19:46 AM

TRẬN TAM HƯNG CỦA DÂN QUÂN DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG (19.9.1949)

        Trận chống càn của dân quân du kích xã Tam Hưng, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Đông (nay là tỉnh Hà Tây), nhằm đánh vào địa phương quân và một số quân Pháp được pháo binh chi viện, giữ làng xóm.

        Sau nhiều cuộc tiến công vào Tam Hưng thất bại, đêm ngày 18 tháng 9 năm 1949, địch huy động hàng trăm tên từ hướng đồn Thạch Bích (Bích Hòa) vào bao vây Tam Hưng.

        Nhờ nắm chắc tình hình và quy luật hoạt động của địch, chỉ huy trận đánh đã sử dụng gần 400 du kích, trang bị chủ rếu là gậy gộc, giáo mác, chông, mìn; và mỗi trung đội có hai đến ba khẩu súng trường bố trí lực lượng sau các lũy tre làng thuộc các thôn Đại Định, Tệ Quả; các làng Hưng Giáo, Song Khê, Lê Dương, sẵn sàng đón đánh địch. 

        7 giờ ngày 19, sau khi dội pháo vào Tam Hưng, địch từ nhiều hướng, nhiều mũi tiến công vào hai khu “tiền tiêu’ và “chiến đấu cơ bản” của xã. ở khu “tiền tiêu”. Trung đội du kích Đại Định chờ địch đến gần mới nổ súng và ném lựu đạn diệt bốn tên, làm bị thương năm tên khác.

        Phối hợp với du kích Đại Định, du kích và dân quân Tệ Quả, Song Khê, Hưng Giáo, Lê Dương đánh bại nhiều đợt tiến công của địch vào làng.

        Bị ta chặn ở các hướng, địch lui ra co cụm, gọi pháo từ Thạch Bích, Hà Đông. . . bắn vào Tam Hưng. Trong khi địch đang hoang mang, chị em phụ nữ các thôn tìm mọi cách kêu gọi binh lính địch bỏ ngũ về với nhân dân, không làm tay sai cho địch bắn giết đồng bào.

        Đến chiều, sau khi được tăng cường lực lượng và được pháo binh bắn phá yểm trợ, địch tiếp tục tiến vào Tam Hưng. Trước thế địch áp đảo, du kích vừa chiến đấu, vừa lui dần về các hầm bí mật để bảo toàn lực lượng. 

        Cùng lúc đó, du kích ở các làng Song Khê, Tệ Quả, Đại Định, Lê Dương chia thành từng tổ tập kích, bắn tỉa tiêu diệt một số tên địch. Du kích Bùi Xã, Văn Khê tổ chức bí mật vận động đánh tạt sườn quân địch đang lùng sục ở Song Khê.

        Trận chiến đấu của du kích cứ lúc ẩn, lúc hiện, lúc đầu làng, khi cuối xóm, lúc trong làng đánh ra, khi ngoài làng đánh vào, làm địch trụ lại cũng sợ nên phải bỏ dở cuộc càn, rút quân về Thạch Bích trước lúc trời tối, mang theo 46 tên chết và bị thương, sau khi bắn chết năm người dân, đốt 48 ngôi nhà, giết hàng chục trâu bò của nhân dân. 

        Ngay sau trận đánh, cấp ủy, chính quyền, xã đội đến từng nhà, từng xóm động viên nhân dân khắc phục hậu quả do địch gây ra, tổ chức du kích củng cố lại công sự, hầm hào sẵn sàng đánh địch. Các tổ chức phụ nữ, thanh niên giúp dân nhanh chóng ổn định đời sống.


TRẬN QUỲNH LƯU CỦA QUÂN VÀ DÂN ĐỊA PHƯƠNG (5-7.10.1949)

        Trận chống càn của Đại đội 120 (bộ đội địa phương huyện Quỳnh Lưu), một trung đội của Đại đội 55 Trung đoàn 57 Liên khu 4 và lực lượng dân quân du kích trên địa bàn đánh vào 1.000 quân địch (400 lính Pháp, 100 lính Âu Phi, 500 quân ngụy) đổ bộ lên Lạch Quèn,Lạch Cờn, huyện Quỳnh Lưu nhằm tiêu hao, tiêu diệt phá kế hoạch đóng quân dài ngày, đánh phá hậu phương, ngăn chặn chi viện sức người sức của từ Khu 4 cho chiến trường chính .

        4 giờ 30 phút ngày 5 tháng 10, địch dùng năm tàu chiến, một số tàu há mồm và năm ca nô đổ quân lên bờ biển.

        Hướng chủ yếu chia làm hai mũi:

        - Mũi thứ nhất, khoảng 500 quân (300 quân Pháp Âu Phi và 200 quân ngụy) đổ bộ lên bãi ngang Ngọc Long, một bộ phận chiếm bến đò Phú Đức, còn đại bộ phận tiến lên Văn Hải, qua Bút Luyện,Yên Trường và hội quân ở Quỳnh Đôi.

        - Mũi thứ hai khoảng 120 quân Pháp và Âu Phi đổ bộ lên bãi Ngang ở bắc núi Rồng, tiến vào xã Phú Sơn. Địch bố trí sở ch huy cuộc càn trên đỉnh núi Rồng.

        Hướng thứ yếu khoảng 400 quân (100 quân Pháp, Âu Phi và 300 quân ngụy) đổ bộ lên phía nam núi Thằn Lằn, càn qua Ngọc Huy.

        Tại Ngọc Huy, dân quân du kích tổ chức đánh địch, loại khỏi vòng chiến đấu bốn tên, buộc chúng phải hành quân thận trọng.  Nhờ có tiếng súng ở Ngọc Huy mà lực lượng vũ trang các xã vùng Hoàng Mai biết địch đã lên Lạch Cỡn. 

        Ngay sau khi đổ bộ lên bờ, địch tổ chức càn quét, đốt phá, giết người, cướp của, nhưng chúng tiến đến đâu cũng bị bộ đội địa phương và dân quân du kích chặn đánh. 

        Bằng lối phục kích, tập kích, với các vũ khí có trong tay, quân và dân các địa phương đã liên tục đánh địch, buộc chúng phải lên tàu há mồm rút ra biển vào 18 giờ ngày 7 tháng 10 năm 1949.

        Sau ba ngày liên tục chiến đấu, ta diệt 113 tên địch (có 63 tên Pháp, 50 tên ngụy), làm bị thương nhiều tên khác; thu hai khẩu tiểu liên Ten, hai súng trường.  Địch giết hại 151 , làm bị thương 51 người, bắt đi 108 dân thường vô tội; đốt phá 674 ngôi nhà, 135 chiếc thuyền. 

        Mặc dù bị bất ngờ và phải chống chọi với quân địch đông, vũ khí trang bị hiện đại, thủ đoạn xảo quyệt; nhưng sau ba ngày chiến đấu ngoan cường, quân và dân Quỳnh Lưu đã làm thất bại âm mưu đóng quân dài ngày mở rộng phạm vi chiếm đóng của địch.

        Thắng lợi đó thể hiện quyết tâm chiến đấu bảo vệ quê hương, tinh thần vượt qua ác liệt hy sinh để khắc phục mọi hạn chế của mình, tận dụng và phát huy mọi lợi thế của chiến tranh nhân dân địa phương để tổ chức đánh địch ngoan cường, khéo léo và sáng tạo; liên tục bẻ gãy các cuộc tiến công của địch, làm thất bại ý đồ tiến công của chúng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:21:03 AM

TRẬN CHÂU SƠN CỦA TIỂU ĐOÀN 426 (18.10.1949)

        Sau thắng lợi của trận Điền Xá, chỉ huy mặt trận Đông bắc II quyết định sử dụng Tiểu đoàn 426 phục kích quân địch ở Châu Sơn, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá xe tăng - xe bọc thép và pháo lớn của chúng. 

        Xã Châu Sơn, huyện Đình Lập, tỉnh Quảng Yên (nay thuộc tỉnh Lạng Sơn) nằm trên đường 4B đoạn từ Đình Lập đi Tiên Yên.

        Đoạn đường qua xã Châu Sơn (từ Khe Lạnh đến Khe Môn, rất hiểm trở, nhiều đoạn cua gấp. Phía nam có núi cao, rừng rậm, xen kẽ có đồi trọc, nhiều đoạn có vách đứng cao 3 đến 6 mét, giấu quân bảo đảm bí mật hoặc dùng hỏa lực khống chế mặt đường, phục kích đánh địch thuận lợi.  Phía bắc đường có suối sâu chảy theo mép đường ngăn cách giữa đường với rừng phía bắc. Nếu bị chặn hai đầu thì cơ giới không có đường vòng tránh, bộ binh bị hỏa lực kiềm chế khó xung phong lên hai bên đường. 

        Nhận lệnh chiến đấu, Tiểu đoàn 426 sử dụng các đại đội 1485 và 1487 phục kích quân địch. Vũ khí có bảy khẩu trung liên, bốn khẩu badôca, 14 khẩu AT, còn lại là súng trường. Phối hợp chiến đấu với Tiểu đoàn 426 có một đại đội của Tiểu đoàn Minh Hổ và một Tiểu đội du kích xã Cường Lợi.

        Chỉ huy trận đánh tổ chức đội hình thành ba bộ phận:

        - Bộ phận xung kích gồm Đại đội 1485 và một trung đội của Đại đội 1487, tổ chức thành các tổ bố trí ở sườn nam đường trên vách núi, dùng hỏa lực khống chế mặt đường, liệt địch trong trận địa; khi có lệnh xung phong ra mặt đường tiêu diệt địch, phá xe, thu vũ khí.

        - Bộ phận chặn địch gồm: Đại đội 1487 sử dụng một trung đội bố trí ở Quang Hòa và Khe Bó sẵn sàng đánh địch từ Bình Liêu xuống, bảo vệ lực lượng đánh địch trong trận địa. Một trung đội bố trí ở Đồng Khoang chặn địch tử Đình Lập tới, bảo vệ đường lui quân của ta. Đại đội địa phương của Tiểu đoàn Minh Hổ bố trí ở bản Chuồn, một trung đội sẵn sàng đánh địch ở Cường Lợi; một trung đội bố trí ở Đồng Khoang bảo vệ đường lui quân của ta.  Tiểu đội du kích chốt chặn đường vào bản Xúm, bảo vệ cạnh sườn cho Tiểu đoàn 426 và bảo vệ đường về vị trí tập kết của ta.

        Bộ phận hỏa lực gồm tổ AT, tổ badôca, tổ trung liên và một tiểu đội bộ binh, bố trí bắc đường gần giữa trận địa, có nhiệm vụ tiêu diệt chiếc xe đi đầu, sau đó dùng hỏa lực tiêu diệt địch.

        8 giờ ngày 13 tháng 4, từ Trại Thám tiểu đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị chiến đấu.

        14 giờ ngày 17 tháng 4, đơn vị đến vị trí tập kết. 16 giờ cùng ngày, bộ đội chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị công sự, sẵn sàng chiến đấu.

        8 giờ ngày 18 tháng 10, địch cho một tốp đi tuần đường. Đến Châu Sơn chúng chốt lại ở điểm cao giữa trận địa. 9 giờ 40 phút, có hai xe tăng đi đầu và một xe thiết giáp chở quân vào trận địa.

        Tiểu đoàn nhận định nếu chờ đoàn xe tiếp tế thì lực lượng địch hộ tống sẽ rất lớn, chúng đề phòng cẩn mật nên sẽ khó khăn trong việc diệt được một tốp trong đội hình địch.

        Chờ chiếc xe tăng đi đầu đến gần, các chiến sĩ giữ badôca, AT nổ súng. Bị đánh bất ngờ, chiếc xe thứ nhất đổ nghiêng sang vệ đường, chiếc thứ hai không kịp dừng lại chạy sát đến chiếc thứ nhất. Quân địch trên xe bị các hỏa lực của ta tiêu diệt gần hết.

        Sau 15 phút chiến đấu, ta diệt 32 tên (có 12 lính Pháp); thu một khẩu 12,7mm, ba khẩu trung liên, nhiều súng trường, phá hỏng một khẩu pháo 37mm và bắn bị thương cả ba xe.

        Chiến thắng Châu Sơn kết thúc chiến dịch Đông Bắc II trong thế chủ động, thế thắng; tăng thêm niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến cho quân và dân vùng Đông Bắc Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:22:54 AM

TRẬN CHỐNG CÀN CỦA BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG VÀ DU KÍCH YÊN NHÂN (3 - 4.11.1949)

        Ngày 18 tháng 8 năm 1949, thực dân Pháp dùng 3.000 quân mở cuộc hành binh Canigu (Caunigou) đánh chiếm toàn bộ các tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên, sau đó càn quét ác liệt ra các vùng xung quanh để mở rộng địa bàn chiếm đóng, xây dựng đồn bốt, bắt lính, lập tề. 

        Dựa vào làng chiến đấu đã được chuẩn bị, trong các ngày 3 và 4 tháng 11, bộ đội địa phương và du kích Yên Nhân đã bẻ gãy nhiều đợt tiến công của một tiểu đoàn địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng, bảo vệ được nhân dân, giữ vững làng chiến đấu.

        Thôn Yên Nhân ở phía nam xã Tiền Phong, thuộc huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên (nay là tỉnh Vĩnh Phúc), có chiều dài khoảng 1.000 mét; rộng 800 mét. Thôn được ngăn cách với các thôn khác bởi các thửa ruộng. Xung quanh thôn được bao bọc bởi các lũy tre dày xen lẫn những cây xoan và những bụi chuối rất kín đáo, có thể lợi dụng để cấu trúc thành hàng rào ngăn chặn địch vào làng.

        Bên ngoài lũy tre có hào giao thông rộng 2 mét, sâu 1 mét.  Xã Tiền Phong nằm lọt giữa bốn căn cứ lớn của địch ở Phúc Yên, Ba Đê (Vĩnh Ngọc), Phù Lỗ, Thạch Đà. Từ các căn cứ này, địch thường xuyên mở các cuộc càn quét, khủng bố nhân dân xung quanh, tiêu diệt lực lượng vũ trang của ta, chiếm đất đai, xây dựng hệ thống đồn bốt dọc sông Hồng, bắt lính, lập tề.

        20 giờ ngày 2 tháng 11 năm 1949, địch tập trung 500 quân ở các căn cứ Phù Lỗ, Ba Đê, Thạch Đà, chuẩn bị càn quét vào xã Tiền Phương. Vũ khí của địch có một đại liên, tám trung liên, một cối 60mm, còn lại là tiểu liên, súng trường. 

        Thấy địch chuẩn bị càn vào Tiền Phong, xã đội trưởng và tiểu đội trưởng bộ đội địa phương về tăng cường đã họp và hạ quyết tâm:

        Tổ chức các tổ du kích hướng dẫn nhân dân sơ tán về khu du kích của ta ở phía nam xã Hiệp Lực (Tráng Liệt) và Dân Chủ (Đại Đồng), thực hiện “vườn không, nhà trống”. 

        Bộ đội địa phương gồm 20 đồng chí được tăng cường cùng du kích thành lập các tổ chức chiến đấu trong làng.  Mỗi tổ có hai người bố trí sau các bãi mìn, thực hiện cách đánh “chim sẻ” tiêu diệt địch.

        Làng được chia thành hai khu vực, ranh giới là con đường chạy từ bắc xuống nam. Mỗi khu do một tiểu đội du kích và một tiểu đội bộ đội địa phương đảm nhiệm, do tiểu đội trưởng bộ đội địa phương chỉ huy.

        Tại bảy cổng vào làng, mỗi cổng có một tổ du kích được trang bị mìn, lựu đạn để tiêu hao, ngăn chặn địch vào làng.  Các đường mòn trong làng có các tổ du kích do cán bộ thôn chỉ huy đặt mìn, bố trí cạm bẫy ngăn cản bước tiến của địch. Sau đó lui về khu vực quyết chiến điểm. 

        6 giờ ngày 3 tháng 11, địch từ căn cứ Phúc Yên qua xã Lâm Hộ tiến vào xã Tiền Phong. Đồng thời quân địch từ các căn cứ Ba Đê, Phù Lỗ tiến vào bao vây ba xã xung quanh Tiền Phong là Nam Hồng, Toàn Thắng, Kim Chung, đến địa phận Tiền Phong, địch chia thành hai hướng: Hướng thứ nhất tiến theo trục đường sang thôn Trung Hậu và Gio Nhân. Hướng thứ hai theo đường 23B tiến vào Yên Nhân.

        7 giờ, địch chia thành hai mũi, bao vây làng Yên Nhân.

        Mũi thứ nhất có một đại đội bộ binh; trang bị đại liên, súng cối. Chúng bố trí một bộ phận nghi binh ở cổng bắc, còn đại bộ phận theo rìa làng xuống đông nam, lợi dụng cổng đông và đông nam làm điểm đột nhập.

        Mũi thứ hai, có hai trung đội bộ binh vòng theo hướng tây, tây bắc, lợi dụng cổng tây bắc làm cửa mở để vào làng. 

        7 giờ 15 phút, địch nghi binh và mở cửa vào làng. Sau khi phá được cổng đông bắc, một trung đội tiến vào cổng.  Tổ du kích cho nổ mìn, diệt bốn tên; đồng thời các tổ dùng súng trường bắn chéo cánh sẻ vào đội hình địch, diệt thêm một số tên. Địch lùi ra xa, dùng đại liên, súng cối bắn vào làng. Nhờ có lũy tre và công sự kiên cố nên quân ta không bị thương vong; vẫn bình tĩnh chờ địch tới gần mới nổ súng.

        Địch dùng hỏa lực bắn vào làng, trước khi cho quân tiến vào. Chờ địch tiến đến chỗ chôn mìn, ta cho mìn nổ làm một số tên chết và một số bị thương.

        Cứ như vậy, trận chiến đấu .kéo dài suốt 3 giờ, địch phải điều cả bộ phận nghi binh ngoài làng về tăng cường sức chiến đấu nhưng vẫn không vào được làng.  Bộ đội và du kích lúc lợi dụng rìa làng, lúc lợi dụng địa hình để bảo toàn lực lượng đánh lâu dài.

        17 giờ 30 phút, sau nhiều đợt tiến công không thành, chúng lui ra và trụ lại ở hai vị trí. Bộ phận chủ yếu ở Yên Nhân; một bộ phận nhỏ ở xóm đông bắc.

        19 giờ 30 phút, chỉ huy xã đội cho một tổ đến tập kích hỏa lực vào quân địch ở xóm phía đông bắc. 

        4 giờ ngày 4 tháng 11, trước tình hình thiếu mìn, lựu đạn để cấp cho mọi người chiến đấu, xã đội chủ trương chỉ để hai tổ chiến đấu mang theo vũ khí trở lại Yên Nhân cùng các tổ còn lại trong làng diệt địch.

        Sau hai giờ chiến đấu, mìn và lựu đạn đều hết. Quân ta được lệnh rút xuống hầm bí mật về căn cứ du kích.  Sau hai ngày chiến đấu, bộ đội cùng du kích diệt 45 tên địch, làm bị thương 36 tên.

        Trận đánh thắng lợi, để lại những kinh nghiệm quý về chuẩn bị chiến đấu, vận dụng linh hoạt cách đánh du kích, mặc dù lực lượng ta ít vẫn đánh lui nhiều đợt tiến công của địch được trang bị hiện đại.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:27:33 AM

TRẬN BẠCH MAI CỦA TIỂU ĐOÀN 108 (17.1.1950)

        Trận tập kích của 32 cán bộ, chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 108, được một số trinh sát và du kích địa phương giúp đỡ do Hà Giáp chỉ huy nhằm phá hủy máy bay và phương tiện chiến tranh của địch ở sân bay Bạch Mai (thành phố Hà Nội).

        Chuẩn bị cho trận đánh, Tiểu đoàn 108 chọn 32 người trong 400 cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn; tổ chức thao trường giống như sân bay để tập luyện cách tiềm nhập, cách đặt mìn vào máy bay, cách điểm hỏa, cách lui quân sau khi đặt mìn... Quân giới dùng chai cho thuốc nổ vào rồi tra dây cháy chậm, kíp nổ và kíp điểm hỏa, ngoài chai cuốn thêm dây mây để tăng sức công phá và tiện bảo quản trong quá trình vận chuyển.

        14 giờ ngày 17 tháng 1 năm 1950, đơn vị đánh phá sân bay từ thôn Xà Kiều (Ứng Hòa, Hà Tây), phân thành từng tốp 3 đến 4 người bí mật vượt qua sự canh gác cẩn mật của địch, thành ba mũi tiềm nhập vào sân bay. 

        0 giờ 45 phút ngày 18 tháng 1, ta gài xong mìn vào chiếc máy bay cuối cùng. Cùng thời gian, một chiến sĩ sau khi đặt mìn vào máy bay, nhảy xuống bị ngã, phát ra tiếng động. Địch bắn một loạt tiểu liên. Trong khi đó, mũi đánh kho xăng vẫn tiếp tục đặt mìn.

        Khi hơn 30 người của ta rút ra cách sân bay khoảng 100 mét thì mìn hẹn giờ lần lượt nổ, kho xăng bốc cháy sáng rực khu nam Hà Nội. Còi báo động thành phố vang lên. Pháo bắn dồn dập xuống xung quanh sân bay. Xe tăng, xe bọc thép, Ô tô cảnh sát của địch chia nhau bịt các ngả đường phố.  Ta rút ra an toàn ở một làng ngoại thành rồi rút tiếp ra khu tự do vào sáng ngày 18 tháng 1 năm 1950, trừ một người bị thương khi rút ra ta không biết.

        Kết quả, ta phá hủy và đốt cháy 25 máy bay, 60 vạn lít xăng, 32 tấn vũ khí và trang bị khác của địch.  Sau trận đánh, địch khủng bố dữ dội dân làng Đại Kim và Định Công. Đảng viên, cán bộ, nhân dân ta đã kiên cường đấu tranh giữ vững cơ sở và phong trào. 


TRẬN NGỌC BÀI CỦA DU KÍCH XÃ NGỌC LIỆP VÀ BỘ ĐỘI HUYỆN QUỐC OAI (26.2.1950)

        Trận kỳ tập của du kích xã Ngọc Liệp và bộ đội địa  phương huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là tỉnh Hà Tây) đánh địch ở đồn Ngọc Bài nhằm tiêu diệt, phá ách kìm kẹp của địch đồi với nhân dân địa phương, mở thông đường với khu căn cứ Lương Sơn (Hòa Bình). 

        Đồn Ngọc Bài cùng với các vị trí địch ở Hạ Bằng, Hòa Lạc, Chi Quan, Gột, Bương, Khổng Mục lập thành phòng tuyến bao vây, chặn đường liên lạc của ta từ khu căn cứ Lương Sơn vào vùng địch hậu ngoại thành Hà Nội.

        Đồn được xây dựng khá vững chắc, xung quanh có tường xây cao 2 mét, dày 0,8 mét, bên ngoài có rào tre; bốn góc có bốn lô cốt kiên cố, giữ đồn có gần một đại đội Âu Phi, được trang bị hai khẩu trung liên, bốn khẩu tiểu liên, 30 súng trường và nhiều lựu đạn.

        Đội du kích xã Ngọc Liệp trang bị chủ yếu là súng trường, lựu đạn, mìn và dao găm. Đội đã tham gia đánh địch ở Giá (Hoài Đức), Gột (Chương Mỹ) và tham gia nhiều trận chống càn ở địa phương.

        Thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt địch, chỉ huy trận đánh tổ chức lực lượng thành bốn bộ phận: Đội 1 có 20 người làm nhiệm vụ chặn viện binh của địch. Đội 2 có 12 người làm nhiệm vụ nghi binh, kiềm chế địch ở lô cốt cố thủ, bắt những tên địch lẩn trốn. Đội 3 có 44 người làm nhiệm vụ xung kích, tổ chức bốn tổ: tổ 1 có 10 người, đánh địch ở lô cốt 3 tầng; tổ 2 có 12 người bí mật đột nhập vào đình Ngọc Bài diệt chỉ huy địch; tổ 3 có 10 người đánh vào nhà 3 gian và nhà 5 gian, tước vũ khí của ngụy binh; tổ 4 gồm 12 người làm nhiệm vụ đánh địch ở Tả Mạc Đình, bắt ngụy binh. Đội 4 gồm 30 người, làm nhiệm vụ dự bị. 

        17 giờ ngày 25 tháng 2 năm 1950, các bộ phận hành quân đến vị trí tập kết. 24 giờ, chỉ huy trận đánh nhận được tin địch có sự thay đổi nên tiến hành điều chỉnh đội hình và bổ sung một số nội dung trong quyết tâm đánh địch. 

        1 giờ 30 phút, các bộ phận áp sát các vị trí địch. Theo kế hoạch đã hiệp đồng, nhân mối của ta từ trong đồn ra đón bộ đội vào đồn, lấy được một khẩu FM của địch vác xuống cầu thang nhưng bị ngã, gây tiếng động, bị địch phát hiện.

        Thấy bị lộ, ta ra lệnh nổ súng diệt địch. Được lệnh, từ các hướng quân ta nổ súng, ném lựu đạn vào địch. Trận đánh kéo dài đến 2 giờ 30 phút. Ta diệt 20 tên, bắt 19 tên, thu hai khẩu trung liên, một tiểu liên, 21 súng trường. 

        Trận đánh thắng lợi, ta nối được vùng căn cứ Lương Sơn với vùng địch hậu, tạo điều kiện cho nhân dân vận chuyển hàng ngàn tấn thóc ra vùng tự do phục vụ bộ đội đánh giặc.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:36:41 AM

TRẬN THANH NÊ CỦA DU KÍCH VÀ DÂN QUÂN XÃ TÁN THUẬT1 (3.3.1950)

        Trận chống càn của du kích và dân quân xã Tán Thuật đánh địch càn quét vào làng Thanh Nê, xã Tán Thuật, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình nhằm tiêu hao, tiêu diệt địch, bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân trong xã.

        Sau khi chiếm các huyện phía bắc tỉnh Thái Bình, ngày 28 tháng 2 năm 1950, Pháp điều khoảng 2.000 quân từ Hải Dương, Hưng Yên sang tiếp tục mở.rộng vùng chiếm đóng xuống các huyện phía nam.

        Ngày 3 tháng 3, địch chia quân thành ba mũi càn quét các huyện Thụy Anh, Thái Ninh, Kiến Xương và Tiền Hải. Trên hướng Kiến Xương và Tiền Hải, chúng sử dụng 100 lính Âu Phi và nhiều lừa, ngựa thồ được sự yểm trợ của pháo binh từ thị xã và hỏa lực súng cối đi cùng càn quét, giết chóc, tàn phá xóm làng, truy tìm du kích và chủ lực của ta để tiêu diệt. 

        Được trên thông báo địch sẽ càn quét vào Tán Thuật, chỉ huy xã đã tổ chức dân quân, du kích hướng dẫn nhân dân sơ tán người già, trẻ nhỏ; cất giấu lương thực, thực phẩm đề phòng địch tàn phá. Lực lượng ta hoạt động tại làng có một đại đội du kích, một đại đội dân quân xã.  Trang bị có một khẩu súng cối, ba khẩu súng trường, mỗi du kích có hai quả lựu đạn. Đại đội du kích có một số mìn.  Lực lượng du kích chủ yếu tự trang bị kiếm, gươm, giáo, mác... ai có thứ gì dùng thứ đó.

        Để chống địch càn quét và bảo vệ làng, chỉ huy trận đánh tổ chức lực lượng thành các bộ phận:

        Trung đội 1 của đại đội du kích và Trung đội 1 của đại đội dân quân bố trí ở xóm Chính Trung, bảo vệ cổng phía tây của làng, tổ chức một tổ giữ ụ chiến đấu trước cổng làng.

        Trung đội 2 của đại đội du kích và Trung đội 2 của đại đội dân quân bố trí ở xóm Đông Trung và đưa một tổ ra ụ chiến đấu phía trước cổng làng.

        Trung đội 3 của đại đội du kích và Trung đội 3 của đại đội dân quân bố trí ở xóm Đông Trung và cũng đưa một tổ ra ụ chiến đấu phía trước cổng làng.

        Trung đội 4 của đại đội du kích và Trung đội 4 của đại đội dân quân bố trí trong xóm Nhật Thành và xóm Đông Trung, sẵn sàng chi viện cho các bộ phận đánh đích ở các cổng chính và đánh địch theo sông Kiên Giang đến cổng vào phía sau.

        Sau khi pháo binh từ thị xã và súng cối địch từ phía tây bắn vào làng, 8 giờ 4 phút ngày 3 tháng 3, địch triển khai lực lượng trên đường 39 thành ba mũi, theo ba trục đường đến ba cổng làng (mũi thứ nhất vào cổng phía tây, mũi thứ hai vào cổng giữa, mũi thứ ba vào công phía đông).

        Trên các hướng, đợi địch tiến vào gần, du kích nổ súng, cho nổ mìn diệt một số tên, một số tên bị sa xuống hầm chông bị thương, buộc chúng phải lui ra đường 39 và dùng cối từ phố Nê bắn mạnh vào làng, đồng thời pháo địch cũng từ thị xã Thái Bình bắn vào làng làm chết hai người dân.  Khi địch tập trung ở phố Nê, xã đội cho bộ phận súng cối tập kích vào đội hình địch, diệt ba tên. 

        Từ 13 giờ 15  phút đến 14 giờ 17 phút, địch tiến công vào làng năm lần nhưng đều không thành, địch lui ra đường đánh vào làng An Bồi 1, chỉ để lại một đại đội đóng ở phố Nê qua đêm.

        Sau một ngày đánh địch, dân quân du kích đã diệt bốn tên, làm bị thương năm tên.

        Thực tế chiến đấu ở Thanh Nê cho thấy: Làng kháng chiến cần được xây dựng vững chắc, liên hoàn, kết hợp được các bãi vật cản (chủ yếu là chông, mìn) với các lũy tre buộc địch phải tiến công theo trục đường chính, tạo điều kiện cho du kích phát huy tác dụng đánh giặc của vũ khí thô sơ để ngăn chặn, bẻ gãy các đợt tiến công của địch. 
 

TRẬN THÔN DƯƠNG CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG (17. 6. 1950).

        Trận phục kích của du kích thôn Dương, xã Yên Dương, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định được trang bị 200 quả lựu đạn, 31 quả mìn cùng dao găm, mã tấu, cùng một tiểu đội của Đại đội 61 huyện ý Yên đánh vào quân địch càn vào làng nhằm tiêu diệt chúng, bảo vệ xóm làng. 

        Sau cuộc hành quân “Đa vít 3”, địch rải quân củng cố các bốt Cầu Tào, Cát Đằng, Đình Tuấn... và ngày 17 tháng 6 năm 1950, địch cho một tiểu đoàn hỗn hợp chia thành ba mũi từ các bốt Cầu Tào, Cát Đằng trên đường 10; phố Cháy, Cầu Ngăm trên đường 12 và một số quân từ Ninh Bình kéo ra đánh vào Yên Dương với ý đồ cất vó các đơn vị bộ đội địa phương đang ở đây.

        Quyết tâm chống giặc, nhân dân đã góp hàng trăm ngày công, hàng ngàn viên gạch, cây tre, xây dựng hàng trăm mét hào, tường bao, quanh từng khu nhà, từng xóm, tạo thành thế liên hoàn vừng chắc, dễ cơ động chi viện cho nhau trong chiến đấu.

        Để bảo vệ dân, trung đội dân quân vừa chủ động sơ tán người già, trẻ nhỏ, phụ nữ ra khỏi khu vực trọng điểm, vừa khẩn trương triển khai lực lượng ở các xóm Đông, Tây và đình chợ; bố trí mìn kết hợp với lựu đạn trên các đường chính từ đình chợ về các xóm. Trong làng du kích buộc dây lnìn vào các vật hấp dẫn với quân địch.

        8 giờ ngày 17 tháng 6, địch bắt đầu tiến vào khu vực càn quét. Khoảng 9 giờ, địch từ xóm Nam tiến vào đình chợ. Chúng tụ tập trước đình chợ, trông chiếc trống nằm lăn lóc dưới nền gạch, một tên dang chân đá mạnh vào trống, chiếc trống văng ra kéo theo một loạt tiếng nổ làm nhiều tên địch chết ngay tại chỗ. Số còn lại hoảng loạn chạy dạt vào bờ tường, vướng phải rào gai kéo theo một chuỗi mìn nổ liên tiếp làm cho một số tên địch thiệt mạng. 

        Địch bắt đầu phải thận trọng tìm cách đối phó. Nhưng chúng vẫn phải càn vào ngõ ngách và nhơ vậy vẫn tiếp tục bị mìn do du kích và nhân dân gây nổ tiêu diệt.  Trước tình thế càng càn, càng bị thương vong nhiều hơn nên địch phải kết thúc cuộc càn, rút quân ra phía đường 10, mang theo 50 tên chết và 50 tên bị thương. 

        Nhờ chuẩn bị chu đáo, có kế hoạch chiến đấu cụ thể, tổ chức gài mìn và đánh địch khôn khéo, ta đã ngăn chặn được các mũi tiến quán của địch, bảo vệ được lực lượng du kích, bộ đội và nhân dân địa phương.

--------------
        1. Nay là xã An Bồi.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:37:58 AM

TRẬN GIỘC PHÁT CỦA DU KÍCH XÃ YÊN KỲ1 (28.8.1950)

        Trận phục kích tại Giộc Phát của du kích xã Yên Kỳ,  huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ nhằm chống địch càn quét vào vùng tự do, căn cứ kháng chiến; bảo vệ an toàn cho các cơ quan của Trung ương và tỉnh đang ở trên địa bàn xã.

        Yên Kỳ một xã có rừng núi rậm rạp, hiểm trở, nhiều khe suối, nhiều thung lũng hẹp với các cánh rừng chạy từ Mỏ Phấn (Ba Quanh) đến Đoan Hùng, Tuyên Quang. 

        Cuối tháng 8 năm 1950, ta chuẩn bị mở chiến dịch Tây Bắc. Để phá chuẩn bị của ta, đánh phá cơ sở kháng chiến, triệt phá giao thông lên Tây Bắc, phá cơ sở kinh tế, Pháp mở cuộc hành quân “Cái Kén” lên Phú Thọ.  Ngày 28 tháng 8 địch sử dụng 2.000 quân, được phi pháo yểm trợ tiến theo hai hướng:

        - Hướng thứ nhất từ Trung Hà - Hưng Hóa tiến lên Lâm Thao, thị xã Phú Thọ rồi càn vào Thanh Ba, Hạ Hòa.

        - Hướng thứ hai từ Việt Trì theo sông Thao, đường số 2 lên Hạ Hòa, Thanh Ba.

        Trung đội du kích xã Yên Kỳ có 40 người, biên chế thành ba tiểu đội. Trang bị mỗi tiểu đội có từ 3 đến 5 khẩu súng trường, mỗi người có từ 3 đến 5 quả mìn muỗi, còn lại là giáo mác. Ngoài lực lượng cơ động, xã còn có một tiểu đội lão du kích 12 người.

        Thực hiện kế hoạch đánh địch, xã tổ chức cho người già và trẻ em sơ tán, mỗi nhà chỉ có một người ở lại khi có lệnh sơ tán tiếp, thực hành triệt để “vườn không, nhà trống”.  Khi địch đến, tất cả vào làng chiến đấu. Các vọng gác làm nhiệm vụ liên tục ngày đêm.

        Các cơ quan, lãnh đạo tỉnh, kho tàng, ngân hàng, nhà in, ty công an. . . sơ tán về các xóm Cây Săng, Ngọn Ngòi, Giộc Phát, Cai Đình, Cao Điền và huyện Đoan Hùng.  Các lực lượng cơ động, canh gác triển khai chuẩn bị đánh địch tại chỗ. Dọc đường từ Hanh Cù vào Ba Quanh, tiểu đội lão du kích đặt bẫy, làm bãi vật cản cả cơ giới và bộ binh khi chúng tiến vào Yên Kỳ.

        2 giờ ngày 28 tháng 8, địch càn vào Yên Kỳ theo hai hướng:

        - Hướng thứ nhất khoảng một tiểu đoàn địch (400 tên) từ Hanh Cù tiến vào Ba Quanh. Tổ trinh sát đi trước của địch bắt được một du kích của ta ở vọng gác thứ nhất, chúng tiếp tục tiến vào vọng gác thứ hai.

        Địch bí mật vào vọng gác thứ hai định quật ngã đồng chí Hiền, nhưng đồng chí Hiền đã nhanh trí đạp ngã hai tên và nhào xuống suối thoát khỏi tay địch, lúc này du kích phát hiện địch và triển khai theo kế hoạch đánh chúng. 

        8 giờ 30 phút, địch dừng lại Đồng Săng, máy bay tiếp tục chi viện và thả đồ ăn cho chúng. Cùng thời gian này, trên điều các đại đội 209 và 165 của tỉnh đội về đánh địch ở Giộc Phát. Đại đội 165 phục kích địch tại bờ mương, Đại đội 209 đánh địch từ Đồng Săng vào Giộc Phát. 

        - Hướng thứ hai khoảng một đại đội (200 tên) từ Đông Lĩnh - Thái Ninh qua đồi chè vào bờ mương, gặp Đại đội 165 bị chặn đánh, chúng không vào được Giộc Phát. Ở Đồng Săng, Đại đội 209 nghe tiếng súng nổ biết địch đang từ Đồng Săng vào Giộc Phát, nên nhanh chóng triển khai đánh địch.

        Địch phát hiện, bắn mạnh vào đội hình, Đại đội 209 vừa triển khai, vừa chiến đấu giành giật với địch từng quả đồi khe núi. Lợi dụng địa hình có lợi các đại đội 165, 209 ngăn chặn hiệu quả các đợt tiến công của địch.

        12 giờ, trận đánh kết thúc, bốn lính Âu Phi bị loại khỏi vòng chiến đấu.  Trận chống càn thắng lợi bảo đảm an toàn cho cơ quan Bộ tư lệnh Liên khu 10, Tỉnh ủy, ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh, các cơ quan nhà nước và căn cứ kháng chiến.

------------------
        1. Xã Yên Kỳ trong chống Pháp gọi là xã Đức Thịnh, gồm ba thôn Yên Kỳ, Cao Điền, Giộc Phát.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 05:39:18 AM

TRẬN PHAN TÂY HỒ CỦA ĐẠI ĐỘI 24 VÀ DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG (5.3.1951)

        Trận chống càn của Đại đội địa phương huyện Tiên Lữ,  tỉnh Hưng Yên, được đại đội du kích và nhân dân xã Phan Tây Hồ phối hợp chiến đấu, nhằm đánh vào cuộc càn của hai tiểu đoàn âu Phi thuộc binh đoàn cơ động số 3 (GM3) của Pháp, tiêu hao địch, hạ uy thế đội quân nhà nghề của Pháp.

        Cuối năm 1951, sau khi triệt phá hầu hết các khu du kích ở Tiên Lữ, khu du kích kháng chiến Phan Tây Hồ được địch coi là một trọng điểm cần xóa bỏ. Thực hiện ý đồ đó địch sử dụng một bộ phận của GM3, được các lực lượng từ các đồn bốt lân cận như Đình Cao, Dục, La Tiên, Xuôi, Vượng phối hợp tiến công nhằm triệt phá khu du kích. 

        Đại đội 24 bộ đội huyện Tiên Lữ có ba trung đội, quân số 137 người. Trang bị vũ khí đủ. Du kích Phan Tây Hồ có 81 người, đều đã trải qua chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bám đất giữ làng, chống địch càn quét.

        Chuẩn bị cho cuộc càn, ngày 4 tháng 3 năm 1951, Pháp cho máy bay trinh sát bay rất thấp quanh xã Phan Tây Hồ để thăm dò lực lượng ta.

        Rạng sáng 5 tháng 3 địch cho một trung đội từ Thụy Lôi qua Quán Thu, Quán Đễ tiến vào thăm dò lực lượng ta. Phán đoán được âm mưu của địch, ta sử dụng lực lượng bao vây chặn đánh; chỉ cử một lực lượng nhỏ của Đại đội 24 ở Đồng Lạc dùng súng máy bắn ra.

        7 giờ, từ các hướng, các mũi địch thực hành bao vây Phan Tây Hồ. Pháo lớn từ La Tiến, Triều Dương, Chùa Bản chi viện cho bộ binh tiến công.

        Do phán đoán đúng hướng chính diện địch sẽ đánh, tại thôn Hoàng Xá, ta bố trí một lực lượng nhỏ cả bộ đội và du kích chặn địch từ xa. Sau khi diệt một số tên, ta mới rút vào làng. Tại Hoàng Xá, quân ta đã chặn đánh từng bước, trận chiến đấu kéo dài từ 8 giờ đến 14 giờ, địch tổ chức tiến công bốn lần nhưng đều thất bại.

        Ở Giai Lệ, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra rất quyết liệt bộ đội cùng du kích bám chiến hào, công sự, tiêu diệt nhiều địch. Suốt hai giờ đồng hồ, địch dồn lực lượng, ba lần tiến vào nhưng đều thất bại. Lần thứ tư chúng phải dồn lực lượng, thực hiện tiến công từ nhiều hướng, nhiều mũi; đến 17 giờ 10 phút, trước tương quan lực lượng địch áp đảo, bộ đội và du kích phải rút xuống hầm bí mật để bảo toàn lực lượng.

        Chiếm được các thôn, địch tàn sát, tra tấn rất dã man nhân dân để tìm bộ đội và du kích, nhưng không thực hiện được.

        Trận đánh kết thúc, 320 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu.

        Trận chống càn thắng lợi chứng minh sức mạnh đoàn kết, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, hỗ trợ được cho nhau của bộ đội và du kích; việc biết dựa vào dân, vào làng kháng chiến đã nhân sức mạnh của lực lượng vũ trang địa phương để chiến thắng mọi thủ đoạn tiến công càn quét của địch.


TRẬN VĂN LANG CỦA TIỂU ĐOÀN 38 (16.3.1951)

        Trận phục kích của Tiểu đoàn 38 bộ đội địa phương tỉnh Thái Bình đánh vào một trung đội tăng cường từ bốt Diền hành quân theo trục đường 233, tại xã Văn Lang, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình nhằm buộc địch phải đưa lực lượng ra đối phó, đồng thời mở rộng căn cứ du kích của ta.

        Để bảo vệ an toàn cho trục đường 223, 224, hàng ngày địch sử dụng từ một trung đội đến một đại đội thiếu tuần tiễu từ Tịnh Xuyên qua Diền, huyện ly Duyên Hà đến Trạm Chay nhằm phát hiện lực lượng ta, cướp bóc của cải của nhân dân.

        Tiểu đoàn 38 mới được thành lập, có ba đại đội bộ binh, được trang bị vũ khí mới và có thêm phân đội trợ chiến với hai khẩu đại liên, hai khẩu cối 60mm, hai khẩu badôca. 

        Lực lượng du kích xã Văn Lang có 60 người, có một tiểu đội cơ động, được trang bị súng trường, giáo mác và lựu đạn. 

        Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ tổ chức trận phục kích tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch, góp phần phá kế hoạch càn quét của chúng, đồng thời rèn luyện nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến tập trung, hỗ trợ lực lượng du kích địa phương hoạt động. Tiểu đoàn chủ trương phối hợp với du kích địa phương tổ chức trận địa phục kích tại Văn Lang, đánh địch trên cả hai hướng: đường 223 và đường 24 ở khu vực cầu Đót và cầu Ngân.

        Để hoàn thành nhiệm vụ, tiểu đoàn tổ chức lực lượng thành các bộ phận:

        - Đại đội 55 phục kích ở cầu Đót, tiêu diệt địch trên đường 223, từ Diền lên Duyên Hà.

        - Đại đội 51 phục kích ở cầu Ngân, tiêu diệt địch hành quân trên đường 224 lên Trạm Chay.

        - Đại đội 63 được tăng cường Trung đội bộ đội huyện Duyên Hà và 20 du kích xã làm nhiệm vụ chặn viện và làm dự bị của tiểu đoàn.

        - Đơn vị trợ chiến bố trí phía nam thôn Hiếu Nạp, chi viện hỏa lực cho cả hai hướng đánh địch. 

        2 giờ ngày 16 tháng 3, đơn vị chiếm lĩnh trận địa. 4 giờ hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, sẵn sàng đánh địch.  8 giờ 20 phút, khoảng 100 tên địch theo đường 223 tiến về cầu Đót Đại đội 5 được lệnh sẵn sàng đánh địch. 

        9 giờ 2 phút, đội hình địch lọt vào trận địa. Đại đội trưởng nổ súng phát lệnh đánh địch. Các bộ phận dùng hỏa lực bắn tập trung vào đội hình địch đang hành quân.  Bị đánh bất ngờ, địch chống cự không nổi, phần lớn dạt sang phía tây đường. Chớp thời cơ, bộ phận xung kích xung phong diệt địch. Bị quân ta bám sát, địch hoảng sợ, một số đầu hàng, một số liều mạng chạy tắt cánh đồng ra bờ sông Sa Lùng về phía cầu Ngân, bị Đại đội 1 tiêu diệt và bắt gọn. Một số thấy cả hai hướng bị đánh, tản ra cánh đồng trốn thoát.

        9 giờ 50 phút, trận đánh kết thúc. Ta diệt và bắt 40 tên địch (có hai tên lính Pháp), thu toàn bộ vũ khí.

        Trận đầu ra quân sau ngày thành lập giành thắng lợi đã cổ vũ tinh thần thi đua giết giặc lập công ủa toàn đơn vị và lực lượng vũ trang địa phương. Lãnh đạo tỉnh và chỉ huy tiểu đoàn có thêm kinh nghiệm về tổ chức chỉ huy các trận đánh quy mô tiểu đoàn.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:10:24 AM

TRẬN MỘC HẠ CỦA ĐẠI ĐỘI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TỈNH SƠN LA VÀ TRUNG ĐỘI 78 BỘ ĐỘI HUYỆN MỘC CHÂU (28.3-12.4.1951)

        Trận chống càn của Đại đội bộ đội địa phương tỉnh Sơn La, Trung đội 78 bộ đội huyện Mộc Châu và du kích đánh hai tiểu đoàn địch càn vào căn cứ kháng chiến Mộc Hạ, nhằm tiêu hao một bộ phận quân địch, giữ vững căn cứ kháng chiến.

        Khu tự do Mộc Hạ ở đông bắc huyện Mộc Châu, gồm bốn xã: Mộc Hạ, Hương Càn, Quy Hương và Đoàn Kết (nay là các xã: Quy Hương, Song Khua, Cộng Hòa, Mường Tè, Mường Men, Chiềng Khoa, Chiềng Yên, Quang Minh và Tô Múa).

        Trên địa bàn Mộc Hạ có các đường giao thông liên xã, liên bản, đáng chú ý nhất là con đường nối từ Mường Khoa (xã Chiềng Khoa) qua Tô Múa, Mường Tè đến Quang Vinh (giáp sông Đà).

        Phát hiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Sơn La họp lần thứ nhất từ 30 tháng 3 đến 2 tháng 4 năm 1951 tại Mộc Hạ, ngày 28 tháng 3, địch tập trung quân tại Mộc Ly và Vạn Yên, hình thành hai gọng kìm đánh xuống vùng tự do Mộc Hạ. 

        Ngày 29 tháng 3, khoảng một tiểu đoàn địch từ Mộc Ly  tiến xuống Suối Rút. Sau đó chia làm hai mũi: 

        - Một mũi theo sông Đà lên Nà Bại và tiến về Bó Bụt. Tại đây, đại đội bộ đội địa phương tỉnh đã đánh chặn địch, các đại biểu dự Đại hội Đảng bộ tỉnh đã cùng bộ đội và du kích đánh lui nhiều đợt tiến công của chúng, đồng thời sơ tán, cất giấu tài liệu. Địch đánh vào cơ quan của ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, bắt một số nhân viên của ủy ban và lấy một số tài liệu, sau đó lui về đóng ở Nà Bại. 

        - Mũi hai tiến dọc đường 41 lên Mường Men, sau đó chia ra đóng ở bản Pang, Tô Ngùi. Đi tới đâu địch cũng vơ vét của cải đốt phá nhà cửa của nhân dân.

        Từ ngày 28 tháng 3 đến ngày 12 tháng 4, trên đất Mộc Hạ đã diễn ra hơn 30 trận chiến đấu lớn nhỏ, điển hình là các trận phục kích địch ở bản Pang (3-4) diệt 20 tên địch và ở Tô Múa (7-4) diệt 30 tên.

        Bị thất bại liên tiếp, địch phải kết thúc cuộc càn, gần 100 tên địch (có 10 tên lính Pháp) bị diệt.

        Trận đánh đã phá được cuộc càn, bảo vệ được lực lượng và Đại hội Đảng bộ tỉnh, giữ được căn cứ cách mạng.


TRẬN NHÂN LANG CỦA TIỂU ĐOÀN 38 (8.4.1951)

        Trận kỳ tập của Tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Thái  Bình vào quân địch ở đồn Nhân Lang, xã Tân Tiến, huyện Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình nhằm tiêu diệt địch, tạo điều kiện xây dựng lực lượng vũ trang địa phương phát triển.

        Đồn Nhân Lang án ngữ ngã ba sông Luộc với sông Tiên Hưng. Bao quanh đồn có ba hàng rào tre, có hệ thống hào sâu từ 1,5 đến 1,8 mét, liên hoàn và thông ra sông Luộc. Giữ đồn có 50 tên ngụy được trang bị vũ khí đầy đủ.

        Tiểu đoàn 38 có ba đại đội bộ binh; một phân đội trợ chiến trang bị hai khẩu cổi 60mm, hai khẩu đại liên, ba khẩu badôca, mỗi tiểu đội có một khẩu trung liên; vào chiến đấu được tăng cường một tiểu đội bộ đội huyện và một số du kích xã.

        Thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt địch, tiểu đoàn sử dụng lực lượng thành các bộ phận:

        - Bộ phận tiến công trên hướng chủ yếu do Đại đội Quang Trung được tăng cường một tiểu đội bộ đội huyện và một tiêu đội du kích xã đảm nhiệm.

        - Bộ phận chặn viện 1 do Đại đội Đề Thám, được tăng cường một tiểu đội du kích xã đảm nhiệm, đánh địch từ  Quỳnh Lang sang ứng cứu cho đồn Nhân Lang. 

        - Bộ phận chặn viện 2 do Đại đội 63, được tăng cường một tiểu đội du kích xã đảm  nhiệm, đánh địch từ Đào Thành sang ứng cứu cho đồn Nhân Lang. 

        - Bộ phận hỏa lực bố trí phía tây nam thôn Nhân Lang, dùng hỏa lực bắn kiềm chế địch ở bắc và nam Nhân Lang.

        14 giờ ngày 8 tháng 4, các đơn vị chặn viện và hỏa lực của tiểu đoàn cải trang cùng nhân dân, du kích vào các thôn Đôn Nông, thôn Phan, thôn Nhân Lang nghiên cứu địa hình và chiếm lĩnh trận địa.

        Từ 15 giờ 30 phút, cán bộ trung đội và Đại đội Quang Trung cải trang cùng nhân dân và du kích ra làm đồng, xác định vị trí vào chiếm lĩnh của mình.

        17 giờ 10 phút, các hướng chiếm lĩnh xong chờ lệnh nổ súng.

        17 giờ 20 phút, cán bộ địch vận báo cáo đã bắt liên lạc được với nhân mối theo kế hoạch hiệp đồng. 

        17 giờ 30 phút, nhận được các tín hiệu hiệp đồng theo kế hoạch, tiểu đoàn ra lệnh nổ súng. Phân đội xung kích lập tức tràn qua cửa đồn chia thành từng tổ vừa khống chế, vừa bao vây nhà ăn, vừa bắn uy hiếp các lô cốt địch.  Đại đội Đề Thám và Đại đội 63 nhanh chóng đánh chiếm trận địa và sẵn sàng đánh địch ứng cứu.

        Địch trong nhà ăn, nghe tiếng súng nổ phản ứng không kịp, thấy súng nổ tứ phía, bộ đội và du kích tràn vào đồn, chiếm các vị trí quan trọng và tiếng loa gọi hàng cứu mạng họ nên tất cả giơ tay xin hàng.

        17 giờ 35 phút, trận đánh kết thúc, hai tên địch bị diệt, 50 tên bị bắt; ta thu toàn bộ vũ khí.

        Trận đầu tiên Tiểu đoàn 38 thực hiện nội công, ngoại kích giành thắng lợi giòn giã, chặt đứt một mắt xích quan trọng trong hệ thống đồn bốt dọc bờ nạm sông Luộc. Những vị trí còn lại, địch không dám hoành hành như trước.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:14:53 AM
         
TRẬN CỐNG KEN CỦA ĐẠI ĐỘI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG HUYỆN KIẾN XƯƠNG VÀ DU KÍCH XÃ MINH TÂN (28.4.1951)

        Trận vận động phục kích của Đại đội bộ đội địa Phương huyện Kiến Xương và du kích xã Minh Tân đánh quân địch từ bốt Thân Thượng hành quân tiến về sông Kem cách cống Kem 50 mét về phía bắc (thuộc địa bàn xã Minh Tân và xã Vũ Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình), nhằm tiêu diệt địch, phá kế hoạch xây dựng lực lượng ngụy trên địa bàn các huyện phía nam sông Trà Lý.

        Bốt Thân Thượng ở xã Nguyên Bình, là trung tâm huấn luyện ngụy quân của thực dân Pháp ở Thái Bình.  Trung tâm này chịu sự chỉ đạo từ Bùi Chu (Nam Định).  Do đường lớn từ Thái Bình sang Nam Định thường xuyên bị ta đánh, nên mỗi khi chỉ huy bốt Thân Thượng sang Bùi Chu, chúng thường đi theo đê sông Kem, qua đò Lưu Đông sang Bùi Chu và thường có từ một đến hai tiểu đội đi theo bảo vệ.

        Nắm được quy luật hoạt động của địch, đại đội sử dụng hai trung đội và một trung đội du kích xã Minh Tân, làm nhiệm vụ phục kích và tăng cường một khẩu trung liên cho trận đánh.

        6 giờ 30 phút, trinh sát phát hiện địch từ bốt Thân Thượng theo đê sông Kem đi về hướng cống Kem, lực lượng 18 tên có hai tiểu liên và 15 súng trường, tên chỉ huy mang súng ngắn.

        10 giờ 30 phút, phát hiện địch trở lại bến đò phía nam, lực lượng như lúc đi. Nhận được báo cáo địch trở lại, đại đội trưởng lệnh các bộ phận về vị trí chiến đấu theo phương án dự định.

        10 giờ 45 phút, địch vượt qua cống Kem lọt vào trận địa phục kích của ta. Trung đội trưởng Lê Hải An ra lệnh cho bộ phận khóa đuôi nổ súng. Bị đánh bất ngờ phía sau đội hình, địch quay lại đối phó, nhưng bị khẩu trung liên bắn mạnh dọc đội hình nên chúng thúc nhau chạy về phía bốt Thân Thượng.

        Nghe tiếng súng nổ, các bộ phận của ta nhanh chóng cơ động ra đê, vừa cơ động vừa diệt địch.

        Bị đánh cả phía trước, phía sau, bên sườn, địch phải chạy ra phía sông, dựa vào cống Kem chống trả.  Trước sức mạnh tiến công của ta, địch hò nhau định nhảy xuống sông bơi sang bờ vào làng Nguyệt Lâm để chống trả và chạy thoát.

        Phát hiện hành động của địch, bộ phận chặn đường đã cho năm chiến sĩ vượt sông, từ làng Nguyệt Lâm bắn xuống sông. Không còn đường thoát, tất cả địch xin hàng.  

        11 giờ trận đánh kết thúc, 18 tên địch bị bắt (trong đó có tên quan ba Trịnh Quang Thanh chỉ huy bốt Thân Thượng, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn ngụy); thu một súng ngắn, 15 súng trường, hai tiểu liên và toàn bộ kế hoạch mở rộng tiểu đoàn ngụy thành trung đoàn mà Trịnh Quang Thanh nhận từ Bùi Chu về.

        Thắng lợi của trận đánh nhờ biết phát huy sức mạnh của chiến tranh du kích, dựa vào dân để nắm địch chính xác, tổ chức được mạng lưới quân báo nhân dân rộng rãi, có chất lượng cao và bảo đảm độ tin cậy tốt; nhờ hạ quyết tâm, làm kế hoạch chiến đấu trên cơ sở đánh giá đúng địch - ta, địa hình và dự kiến được các tình huống có thể xảy ra để có phương án xử trí hợp lý nhất.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:15:58 AM

TRẬN PHAN XÁ - TỐNG XÁ CỦA ĐẠI ĐộI 20 (25.9.1951)

        Trận chống càn của Đại đội 20 bộ đội địa phương tỉnh Hưng Yên phối hợp với du kích và nhân dân địa phương đánh lực lượng cơ động của binh đoàn 1 (GM1) càn vào khu vực Phan Xá - Tống Xá (nay là xã Tống Phan), huyện Phù Cừ nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ khu du kích. 

        Ngày 25 tháng 9 năm 1951, địch sử dụng các binh đoàn cơ động 1, 2, 3, được phi pháo chi viện mở cuộc hành quân “Trái chanh” càn quét vào các huyện Ân Thi, Tiên Lữ, Phù Cừ thuộc tỉnh Hưng Yên; Bình Giang, Thanh Miện, Ninh Giang thuộc tỉnh Hải Dương, nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực ta, triệt phá các căn cứ du kích, lập lại hội tề, dõng, củng cố thế chiếm đóng của chúng.

        Tại thời điểm này, ở huyện Phù Cừ có các đại đội 20, 22, 27 chủ lực của tỉnh hoạt động. Đại đội 20 có ba trung đội (1, 2, 3), mỗi trung đội có hai khẩu trung liên, hai khẩu cối 60mm, còn lại là tiểu liên và súng trường. Vào chiến đấu, Đại đội 20 được Trung đội bộ đội địa phương huyện Ân Thi phối hợp đánh địch.

        22 giờ ngày 24 tháng 9, Đại đội 20 từ Ngũ Lão về Phan Xá - Tống Xá chuẩn bị chống địch càn quét. Các trung đội 1, 2 và Trung đội ân Thi bố trí ở Tống Xá, Trung đội 3 ở Phan Xá.

        2 giờ ngày 25 phút, chuẩn bị chiến đấu xong, đại đội trưởng nhận được tin: khoảng 1. 000 tên địch đang tiến gần tới khu vực đại đội đứng chân. Trước hành động của địch, đại đội trưởng lệnh cho các trung đội củng cố vững chắc công sự, triệt để giữ bí mật, khi địch đến thì thực hành đánh gần, tập trung hỏa lực tiêu diệt địch, tiết kiệm đạn, bảo toàn lực lượng và bảo vệ nhân dân. Du kích các thôn chia thành từng tổ nhỏ cùng bộ đội đánh địch giữ làng.

         22 giờ ngày 24 tháng 9, lực lượng chủ yếu của binh đoàn số 1 được phản động địa phương dẫn đường từ Hạ Cát tiến sang Tống Xá. Cổng làng đóng, địch quyết định phá cổng, khi cổng vừa bị phá tung thì hai khẩu trung liên ở hai bên sườn (cách cổng 20 mét) đồng loạt nhả đạn. Quân địch bị diệt một số, chúng vội vã quay lại Hạ Cát, dạt ra cánh đồng và dùng hỏa lực bắn dồn dập vào làng. 

        Một mũi khác từ Từa, Ca Xá tiến vào phía bắc Tống Xá Được lệnh nổ súng, Trung đội 3 và Trung đội Ân Thi cùng du kích xông ra diệt địch.

        Phát hiện một khẩu đại liên địch từ chùa Hạ Cát bắn sang Tống Xá, Phan Xá, Trung đội trưởng Trung đội 3 dẫn một tiểu đội bí mật vòng sang diệt khẩu đại liên và đánh vào sau đội hình địch.

        Trước lực lượng địch ngày càng đông và được pháo binh chi viện, đại đội trưởng cho bộ đội rút dần vào làng, dựa vào công sự tiếp tục chiến đấu. Quân địch dồn lực lượng lên, tổ chức nhiều đợt tiến công vào làng nhưng đều bị ta đánh bật trở lại.

        Khoảng 11 giờ, hai máy bay địch đến ném bom napan vào làng, cả hai thôn chìm trong khói lửa. Nhưng mặc cho nhà cháy, trâu, bò, lợn, gà bị địch giết, nhân dân vẫn nấu cơm tiếp tế cho bộ đội đánh giặc; động viên bộ đội và du kích kiên quyết bám trụ đánh giặc giữ làng. 

        12 giờ, địch chiếm được xóm 1 của Tống Xá (do Trung đội Ân Thi phát hiện chậm nên không giữ được xóm), Trung đội 2 được tin địch đột nhập xóm 1 đã về cùng Trung đội 1 giữ hai xóm dưới.

        Từ 13 giờ đến tối, tại Phan Xá và Tống Xá, chiến sự tiếp diễn quyết liệt. Địch nhiều lần tiến vào làng nhưng đều bị đánh bật trở lại.

        18 giờ, địch thấy không thể vào làng được nên dùng quân bao vây và cho pháo bắn vào làng. Lợi dụng đêm tối, được du kích dẫn đường, đại đội bí mật vượt vòng vây và lui quân an toàn sang Thái Bình. 

        Sau một ngày chiến đấu, ta diệt khoảng 500 tên địch, bắt 20 lính Âu Phi, thu một đại liên, sáu trung liên.  Trận chống càn thắng lợi cho thấy, nếu ta nắm vững ý định, thủ đoạn của địch, bám nắm chắc hành động của chúng để sẵn sàng đối phó thì có thể chuyển từ bị động sang chủ động, bất ngờ nổ súng trước, gây cho địch lúng túng đối phó.

        Trận đánh cũng cho thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang, sự giúp đỡ đắc lực của nhân dân sẽ tạo nên sức mạnh đánh thắng địch.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:18:28 AM

TRẬN GIANG MA CỦA ĐẠI ĐỘI 965 (30.9.1951)

        Trận tập kích quân địch ở đồn Giang Ma của Đại đội 965 bộ đội địa phương huyện Phong Thổ, tỉnh La Châu nhằm tiêu diệt quân địch, chặt đứt một mắt xích trong hệ thống phòng thủ của chúng ở phía nam huyện Phong Thổ.

        Khu vực Giang Ma nằm trên trục đường 4Đ đoạn (từ Bình Lư tới Tam Đường) . Đây là một khu đồi rộng liên tiếp thoáỉ dầr về phía nam, có chỗ tương đối bằng phẳng, xung quanh, là rừng cây thấp. Đường sá trong khu vực kém phát triển, chủ yếu có trục đường 4Đ từ thị trấn Phong Thổ qua đèo Giang Ma, đi Cam Đường (Lào Cai). 

        Sau thất bại ngày 5 tháng 7 ở Sa Pa, khoảng một tiểu đoàn lính hỗn hợp thiếu (trong đó có 7 tên Âu Phi) lui về chiến khu vực đèo Giang Ma, xây dựng đồn trên ba mỏm A, B, C. Mỗi khu vực có khoảng 50 tên chiếm giữ. Hỏa lực có một khẩu súng máy, ba khẩu cối 60mm, sáu khẩu trung liên, còn lại là súng trường.  Dựa vào địa hình có lợi, địch xây dựng nhiều công sự.  Ở các khu; lực lượng trong đồn bố trí chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau tốt.

        Đại đội 965 quân số còn 38 người, biên chế thành ba trung đội. Trang bị một khẩu cối 60mm, ba khẩu tiểu liên, 19 khẩu súng trường các loại.

        Thực hiện nhiệm vụ, đại đội tập trung lực lượng đánh địch trên ba hướng:

        - Hướng chủ yếu do Trung đội 1 được tăng cường một tiểu đội ở sườn đông nam, tiến công vào khu A, diệt chỉ huy tiểu đoàn cùng phương tiện thông tin liên lạc. 

        - Hướng thứ yếu do Trung đội 2 được tăng cường một trung đội du kích bố trí ở đông bắc mỏm B, có nhiệm vụ diệt địch ở khu B và sẵn sàng chi viện cho Trung đội 1 đánh chiếm khu A.

        Hướng khác do Trung đội 3 được tăng cường một trung đội du kích, có nhiệm vụ chi viện cho các trung đội 1 và 2 đánh địch khi cần thiết.

        23 giờ ngày 29 tháng 9, đại đội trưởng ra lệnh vào chiếm lĩnh trận địa. Sau khi trinh sát diệt bốn tên lính gác cổng đồn, các hướng được lệnh nổ súng tiến công.  Trên hướng chủ yếu, Trung đội 1 đang tiến vào khu nhà bạt của bọn chỉ huy thì bị trung liên địch bắn chéo đội hình, bộ đội buộc phải dừng lại. Đại đội trưởng nhanh chóng lệnh cho chiến sĩ trung liên chế áp và dùng cối 60mm diệt hỏa điểm địch, tiếp đó chỉ thị cho Trung đội 1 hình thành ba mũi nhanh chóng hiệp đồng với tiểu đội trinh sát tiêu diệt địch ở khu A.

        4 giờ 50 phút, hướng Trung đội 2 làm chủ được khu B, phát triển sang khu C chi viện cho Trung đội 3 và tiếp tục lùng sục tiêu diệt hết quân địch ở khu B.  5 giờ 55 phút, đại đội làm chủ hoàn toàn các khu A, B, C, tiêu diệt 47 tên (bảy tên Âu Phi, 40 tên lính dõng). Ta thu 15  khẩu súng các loại và một số quân trang, quân dụng. 

        Trận tiêu diệt được một đồn trong hệ thống phòng thủ của địch ở phía nam huyện Phong Thổ, đã đánh dấu một bước trưởng thành của lực lượng vũ trang địa phương trong kháng chiến chống thực dân Pháp.


TRẬN KHAI QUANG CỦA ĐẠI ĐỘI 468 HUYỆN TAM DƯƠNG (21.12.1951)

        Trận phục kích của Đại đội bộ đội địa phương 468 huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc và một tiểu đội du kích xã Khai Quang đánh vào bộ phận tuần đường (khoảng 40 tên, có ba tên lính Pháp) bảo đảm an ninh lộ trình trên quốc lộ số 2, đoạn từ Vĩnh Yên đến Thanh Giã, nhằm tiêu diệt địch, tạo điều kiện cho quần chúng đấu tranh.

        Xã Khai Quang cách thị xã Vĩnh Yên 2 kilômét về phía đông nam, thuộc huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.  Thực hiện chủ trương của huyện ủy, đại đội chọn trận địa ở đầu làng Vĩnh Thịnh, bố trí trận địa bằng độn thổ, tận dụng yếu tố bất ngờ để tiêu diệt địch.

        Đội hình chiến đấu tổ chức thành bốn bộ phận: Bộ phận chặn đầu sử dụng một tiểu đội bộ binh, một du kích, được trang bị một khẩu trung liên. Bộ phận diệt địch chủ yếu sử dụng một tiểu đội bộ binh, một du kích trang bị một khẩu trung liên. Bộ phận khóa đuôi sử dụng một tiểu đội bộ binh và một du kích. Bộ phận đối diện sử dụng một tiểu đội bộ binh, trang bị một trung liên. Lực lượng dự bị do hai tiểu đội du kích đảm nhiệm. Lực lượng còn lại của đại đội và du kích làm nhiệm vụ chặn viện và cảnh giới.

        16 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12, đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị chiến đấu. 4 giờ ngày 21 tháng 12, các bộ phận sẵn sàng đánh địch.  6 giờ 40 phút ngày 21, khoảng 40 tên địch do ba lính Pháp chỉ huy tiến dần vào trận địa.

        Khi tên đi đầu cách bộ phận chặn đầu 100 mét, đột nhiên phát hiện dấu vết lạ khiến cả toán tuần đường nhốn nháo, có tên tìm chỗ ẩn nấp. Tranh thủ thời cơ, chỉ huy trận đánh ra lệnh nổ súng, nhưng trung liên không bắn được. Đồng chí Sơn vội dùng tiểu liên bóp cò hai loạt không kịp ngắm. Bị đánh bất ngờ, địch la hét và triển khai chiếm vệ đường để bắn trả. 

        Nghe tiếng súng nổ, bộ phận khóa đuôi bật hầm lên đánh địch. Một số tên chạy ngang trước mặt tổ khóa đuôi, chiếm khu ruộng cao có mấy ngôi mộ bắn trả mãnh liệt.  Tổ khóa đuôi xung phong vào đội hình địch, bắt một tên lính ngụy đang luống cuống ở ven đường.  Do hiệp đồng thiếu chặt chẽ nên khi bộ phận chủ yếu xung phong ra đến mặt đường thì bị địch co cụm chống trả.

        Trước tình huống chiến đấu bất lợi, chỉ huy trận. đánh lệnh cho bộ đội lui quân. Nhờ địa hình thuận lợi nên đơn vị lui quân an toàn.

        Sau 20 phút chiến đấu, ta mặc dù không diệt được địch, nhưng đã bắt được một tên lính ngụy. Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về chuẩn bị chiến đấu; về chỉ huy hiệp đồng giữa các bộ phận; về xử trí tình huống trong quá trình đánh địch; về giữ bí mật, ngụy trang trận địa phục kích .


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:20:09 AM

TRẬN CĂNG – ESEPÍC CỦA TIỂU ĐOÀN 86 BÌNH THUẬN VÀ LỰC LƯỢNG THỊ ĐỘI PHAN THIẾT (28.12.1951)

        Trận tập kích của Tiểu đoàn 86 Bình Thuận và lực  lượng thị đội Phan Thiết, do Tiểu đoàn trưởng Sơn Diệp chỉ huy, được 500 dân công phục vụ đánh vào quân địch trong căn cứ quân sự Căng - ésepíc nhằm phá kế hoạch đào tạo hạ sĩ quan, sĩ quan làm tay sai cho Pháp, bồi dưỡng lực lượng ta.

        Căng - ésepíc là trường cao đẳng thể dục thể thao Đông Dương cũ của Pháp. Tháng 2 năm 1946, Pháp từ Nam Bộ ra chiếm Phan Thiết lập căn cứ quân sự tại đây để bảo vệ tây nam thị xã Phan Thiết, khống chế vùng căn cứ kháng chiến của ta.

        Giữ Căng - ésepíc Phan Thiết có một đại đội Âu Phi (khoảng 60 tên), khoảng 175 học viên và huấn luyện viên là sĩ quan và hạ sĩ quan, một trung đội hỗ trợ và hai khẩu pháo 75mm. Xung quanh trường có hàng rào dây thép gai bảo vệ.

        Tiểu đoàn 86 có bốn đại đội (A, B, xung kích, trợ chiến).  Trang bị mỗi đại đội có vài khẩu trung liên, tiểu liên, còn lại là súng trường.

        Để tiêu diệt địch, tiểu đoàn dùng một lực lượng cải trang, bí mật đột nhập vào bên trong, bất ngờ nổ súng tiêu diệt địch, phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu.

        17 giờ ngày 28 tháng 12 năm 1951, tại bưng Kò Ke thuộc xã Hàm Kiệm, tiểu đoàn làm lễ xuất quân. 23 giờ, đơn vị bắt đầu đột nhập vào căn cứ.

        Một bất ngờ là trong đêm ta tập kích, địch có thêm trung đội Patigiăng và trung đội Commăngđô đi càn mới về nằm dọc hành lang nhà ở của học viên. Vì vậy, đội quyết tử chưa kịp lên thang gác thì đã phải nổ súng diệt địch. Bị đánh bất ngờ, địch không kịp chống trả, một số tên vừa thức giấc đã bị tiêu diệt. Trận chiến trên gác hai với địch diễn ra quyết liệt. Đội quyết tử khống chế cầu thang, dùng tiểu liên bắn vào các phòng, dùng dao găm, mã tấu, lựu đạn diệt địch.

        Sau hơn nửa giờ chiến đấu, ta tiêu diệt toàn bộ địch đi càn về và số học viên sĩ quan ở nhà hai tầng.  Cùng lúc đó, Đại đội B nhanh chóng diệt địch ở khu nhà trên, sau 20 phút, ta hoàn toàn làm chủ khu vực này.  Bộ phận đánh địch ở trận địa pháo ngay từ phút đầu đã diệt một số địch, số còn lại chúng bỏ chạy tán loạn. Ta phá hủy hai khẩu pháo 75mm.

        Địch từ Phan Thiết cho hơn 30 xe chở đầy lính ra ứng viện, khi tới khu “mả lính” bị Đại đội A và lực lượng thị đội phục kích phá hai xe thiết giáp và diệt 27 tên. Mãi 4 giờ ngày 29 tháng 12 quân ứng viện mới tới nơi khi chiến trường còn lại là 150 tên địch thương vong (có 84 sĩ quan) .

        Ta thu 150 súng trường, một tiểu liên, tám trung liên, một máy thông tin, rất nhiều đạn và lựu đạn.  Trận đánh thắng lợi để lại những kinh nghiệm quý về chọn hướng đột phá đúng chỗ yếu, đánh vào nơi hiểm yếu, tạo thuận lợi cho đánh nhanh diệt gọn; về chỉ huy sâu sát, linh hoạt. Chiến sĩ chiến đấu dũng cảm, sáng tạo khắc phục khó khăn và hạn chế của ta, góp phần quyết định trận đánh thắng lợi.


TRẬN TAM PHÚC - NGŨ KIÊN – TỬ TRƯNG - YÊN ĐỒNG CỦA BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG VÀ DU KÍCH VĨNH PHÚC (7.3.1952)

        Trận chống càn của hai tiểu đoàn, một lại đội trợ chiến  của Trung đoàn 176, Tiểu đoàn 433, một trung đội trợ chiến của Trung đoàn 238, Đại đội 460, 465 bộ đội địa phương tỉnh, Đại đội Trần Phú huyện Yên Lạc, Đại đội Lê Xoay huyện Vĩnh Tường, được trang bị ĐKZ 75mm, cối 81mm, đại liên, còn lại là súng trường, với sự phối hợp chiến đấu của 12 du kích xã Tứ Trưng, 59 du kích xã Ngũ Kiên, 36 du kích xã Yên Đồng, 29 du kích xã Tam Phúc; chống lại cuộc càn của ba tiểu đoàn Âu Phi, một tiểu đoàn lính dù, bốn đại đội biệt kích và khoảng 100 tên phản động ở các đồn An Các, Giã Bàng, Màn Để, Mai Khê, Minh Tân, được phi pháo yểm trợ càn vào các xã Tam Phúc - Ngũ Kiên - Tứ Trưng - Yên Đồng, thuộc các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc (nơi có phong trào du kích phát triển và chủ lực đứng chân), nhằm tiêu diệt lực lượng ta, lập lại hội tề, bảo an, hương dũng.

        5 giờ 30 phút ngày 7 tháng 3, địch dùng hỏa lực từ các đồn Thượng Lập, Vĩnh Thịnh Quảng Cư, Hợp Thịnh, Minh Tân đồng loạt trút đạn xuống bốn xã. 6 giờ 15 phút, pháo binh ngừng bắn, máy bay ném bom, máy bay trinh sát quần đảo trên không phận các xã Tam Phúc, Yên Đồng, Ngũ Kiên, Tứ Trưng. Tiếp đó, bộ binh từ các hướng triển khai đội hình tiến công vào các thôn Văn Trưng, Yên Nghiệp, Xóm Mới, Phù Lập, Phúc Lập.

        8 giờ 30 phút, theo hiệp đồng, các lực lượng của ta đồng loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ, đội hình địch rồi loạn. Chớp thời cơ, các lực lượng của ta đồng loạt xuất kích, đánh mạnh vào đội hình địch; thấy không chống đỡ nổi, địch bỏ chạy. 

        Trên hướng vu hồi, đợi địch vào tầm bắn hiệu quả, toàn bộ các hỏa khí đồng loạt bắn vào đội hình địch. Trong khi địch đang rồi loạn, lực lượng độn thổ mai phục ngoài đồng bật lên khỏi hầm bắn vào đội hình địch. Trong lần tiến công này, ta bắt được một tổ máy bộ đàm, liền buộc chúng phải liên lạc chỉ điểm cho pháo binh của chúng ở vòng ngoài bắn vào nơi địch đang co cụm. Sau đó địch tiến công nhiều lần nhưng đều bị ta đánh bại, không vào được làng.

        Trên hướng Quảng Cư, địch đánh vào Phù Lập, Phúc Lập, Phù Cốc để thu hút và chia cắt lực lượng ta. Bị ta đánh, địch không tiến vào được.

        9 giờ, địch dùng pháo, xe tăng bắn mạnh vào bốn xã.  Sau đó, chúng cho máy bay ném bom lần hai, chuẩn bị cho đợt tiến công tiếp theo.

        9 giờ 30 phút, từ các hướng địch theo trục kênh 10 triển khai tiến công. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Ta kiên quyết đánh trả, buộc địch phải rút ra bờ kênh, củng cố lực lượng, chờ viện binh đến tiếp tục tiến công.  Ở thôn Vĩnh Trưng, địch tổ chức nhiều mũi tiến công.  10 giờ l5 phút, một mũi tiến công của địch bám được vào hào giao thông, các du kích dũng cảm chặn địch, buộc chúng phải bỏ chạy, năm đồng chí đã anh dũng hy sinh. 

        Hướng Vĩnh Thịnh, Quảng Cư, địch dùng hỏa lực bắn vào các thôn nhằm phá hoại công sự trận địa, tiêu hao lực lượng ta. Du kích cùng Đại đội Lê Xoay đã triển khai chờ địch. Khi chúng vào tầm bắn hiệu quả, các loại hỏa lực tập trung bắn vào đội hình, nhưng địch vẫn liều mạng xông lên. Từ trong chiến hào, quân ta đồng loạt dùng hỏa lực, lựu đạn, pháo tay diệt địch, buộc chúng phải lui ra, chờ tăng viện..

        Từ 10 giờ 30 phút đến 13 giờ, địch dùng hỏa lực từ các đồn vòng ngoài và xe tăng từ bờ sông Hồng bắn vào các xã chi viện cho bộ binh tiếp tục tiến công. Quân ta lợi dụng công sự, hào cơ động chặn địch, thực hiện vu hồi vào cạnh sườn, phía sau đánh địch, hỗ trợ cho nhau giữ vững trận địa.

        Sau hơn 10 giờ chiến đấu, các đơn vị được lệnh cơ động về Yên Đồng củng cố lực lượng; chuẩn bị tiếp tục chiến đấu. Địch dùng xe thu xác đồng bọn về các đồn lân cận. Ta bổ sung trang bị, xây dựng lại trận địa, chờ lệnh mới. 

        Trận đánh kết thúc, địch bị diệt và bị bắt 37 tên, chủ yếu là lính Âu Phi; 135 tên bảo an, hương dũng, điệp ngầm và bọn phản động bị bắt. Ta thu 248 khẩu súng các loại.

        Trận chống càn thắng lợi, góp phần làm thất bại kế hoạch mở rộng vùng chiếm đóng của địch, củng cố lòng tin của nhân dân địa phương vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:22:16 AM

TRẬN ĐƯỜNG 74 CỦA TRUNG ĐOÀN 95, TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 320 QUẢNG TRỊ VÀ ĐẠI ĐỘI 348 HUYỆN GIO LINH (18.3.1952)

        Trận phục kích của Trung đoàn 95 (có các tiểu đoàn 227, 302, 310), được mặt trận tăng cường Tiểu đoàn 320 Quảng Trị, Đại đội 348 Gio Linh, bốn đại đội hỏa lực (79, 94, 201, 202), hai khẩu súng máy phòng không 12,7mm, sáu khẩu cối 82mm, tám quả bộc lôi lớn, ba quả bom loại 50 kilôgam; đại đội vệ binh; một phân đội trinh sát và được du kích các xã Linh Châu, Linh An, Linh Bình phối hợp; đánh vào tiểu đoàn 27 Âu Phi và tiểu đoàn 7 Việt bảo đoàn, một số xe cơ giới trên đường 44 thuộc các làng Ninh Xá, Phú Thọ, Lạc Sơn; nhằm tiêu diệt, không cho địch tăng cường lực lượng chốt giữ Nam Đông, buộc chúng bị động đối phó nhiều nơi, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang địa phương độc lập tác chiến, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh ở địa phương. 

        Ngày 15 tháng 3, trung đoàn từ khu vực Thạch Bàn (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình) vào khu vực chiến đấu. 5 giờ ngày 18 tháng 3, các đơn vị sẵn sàng nổ súng đánh địch.  Theo kế hoạch, khoảng 24 giờ ngày 17 tháng 3, ta phóng bom và bắn cối 82mm vào căn cứ Nam Đông làm bị thương một số tên.

        Từ 4 giờ ngày 18 tháng 3, địch cơ động lực lượng phương tiện từ Đông Hà ra tập trung tại đập huyện (nay là cầu Trúc Khê), chuẩn bị ứng cứu, giải tỏa.  10 giờ 30 phút, địch để lại một lực lượng chốt ở quận lỵ Gio Linh, đưa tiểu đoàn 27 Âu Phi, tiểu đoàn 7 Việt bao đoàn và một số xe thiết giáp tiến theo đường 74 lên Nal Đông. Trung đoàn trưởng lệnh các đơn vị chuẩn bị xuất kích. Được lệnh, các đơn vị xung phong tiêu diệt địch. 

        Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, tạ tiêu diệt một số xe bọc thép và bộ binh địch. Trước sức tiến công của ta, một số địch chạy vào rừng lên hướng Nam Đông, một số co cụm ở Bàu Đựng chờ tăng viện.

        Sau đợt một, địch cho máy bay đánh phá dọc đường 74, tập trung nhất là khu vực Bàu Đựng, làm một số đơn vị tổn thất phải lui về làng Tân Văn củng cố. 

        Khoảng 16 giờ, sau khi củng cố lực lượng, trung đoàn trưởng ra lệnh tiến công đợt hai. Các đơn vị xuất kích tiêu diệt thêm một số địch. Nhưng do một số đơn vị xuất kích chậm hoặc lạc hướng, nên địch theo đường 73 về Đông Hà. 

        Trận đánh kết thúc, 312 tên địch bị diệt, 24 lính Âu Phi bị bắt, 15 xe bị phá hủy. Ta thu một khẩu 12,7mm, ba khẩu đại liên, bảy khẩu trung liên, một khẩu pháo 40mm, 82 khẩu súng bộ binh các loại, 10 vạn viên đạn các cỡ.  Trận phục kích diệt viện của các đơn vị trên đường 74 đã mở ra một cách đánh mới, thích hợp với lực lượng vũ trang ba thứ quân để tiêu diệt địch ngoài công sự, nâng cao hiệu suất chiến đấu.


TRẬN PHÚC LÂM  NHƯ THIẾT CỦA TIÊU ĐOÀN 61 (10. 4.1952)

        Thực hiện kế hoạch tác chiến của Tỉnh đội Bắc Giang, Tiểu đoàn 61 tổ chức trận phục kích trên đường 1A, đoạn Phúc Lâm - Như Thiết, nhằm tiêu diệt quân địch ở địa bàn trống trải, nơi địch bố phòng cẩn mật. 

        Đoạn đường Phúc Lâm - Như Thiết dài 4 kilômét chạy giữa làng Hùng Lãm (xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang), chia làng thành hai phần bắc và nam đường. Phần bắc có xóm Giữa và xóm Bùng, phần nam có xóm Chùa, xóm Nguồn và xóm Sến. Các xóm cách đường từ 50 đến 100 mét. Giáp đường là ruộng màu, cao dần về phía đường.

        Đầu năm 1952, do ta tăng cường phục kích bằng mìn trên đường 1A, nên địch tổ chức đối phó chặt chẽ. Ở Phúc Lâm - Như Thiết, hàng ngày địch tổ chức hai đợt dò mìn từ hai phía Bắc Giảng xuống và Phúc Lâm lên. Điểm gặp nhau ở cây đa cách Như Thiết 500 mét về phía đông.  Đợt dò mìn ở Phúc Lâm lên thường có từ 45 đến 50 tên lính Âu Phi, bảo hoàng và lính dõng. Vũ khí có một trung liên, năm tiểu liên, còn lại là súng trường Mát và hai máy dò mìn.

        Từ ngày 31 tháng 3, địch tăng cường cho đội này hai trung liên và bố trí khoảng 25 quân, khi địch đi dò mìn, bộ phận này phục sẵn ở Hoàng Mai, sẵn sàng đánh vào cạnh sườn đội hình của ta nếu toán dò mìn bị phục kích. 

        Tiểu đoàn 61 có các đại đội 555, 511, 198, 521, 219; quân số 217 người. Trang bị có bốn đại liên, 13 trung liên, hai cối 61mm, ba cối 60mm, 21 tiểu liên, còn lại là súng trường. Tham gia chiến đấu có 70 du kích các xã Hồng Phong, Hồng Thái, Quang Châu thuộc các huyện Việt Yên và Yên Dũng.

        Để tiêu diệt địch, tiểu đoàn tổ chức thành các mũi:

        - Mũi điểm, sử dụng các đại đội 511, 555 (mỗi đại đội thiếu một trung đội), 198, 521 .

        - Mũi diện, sử dụng các trung đội còn lại của các đại đội 511, 555. Khi trận địa chính nổ súng, mũi diện đánh mạnh vào quân địch ở vị trí kế đường 13 để thu hút pháo địch ở thị xã Phủ Lạng Thương, tạo điều kiện cho trận địa chính nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ. 

        Bộ phận chặn viện có một trung đội của Đại đội 555, một trung đội của Đại đội trợ chiến 219, một tiểu đội của Đại đội 521; được trang bị hai khẩu đại liên, một khẩu cối 81mm, ba khẩu cối 60mm; có nhiệm vụ chặn viện, sử dụng hỏa lực chế áp địch, phân tán lực lượng của chúng. 

        Sau một thời gian chuẩn bị chiến trường, 19 giờ 30 phút ngày 9 tháng 4 năm 1952, từ Nội Cách, tiểu đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa.

        3 giờ 30 phút ngày 10 tháng 4, các đơn vị bố trí mìn xong, mai phục chờ địch.

        6 giờ 50 phút, 75 quân địch từ Phúc Lâm bắt đầu xuất phát. Khác với thường .lệ, lần này cả hai toán (50 và 25 tên), nhập làm một và đi vào trận địa của ta. Cách điểm xuất phát 300 mét, chúng chia làm ba mũi, 10 tên rẽ xuống nam đường 1A, 10 tên đi lên bắc đường rải quân quan sát, rồi tiến vào làng lùng sục.

        7 giờ 15 phút, đội hình địch lọt vào trận địa phục kích của ta. Đại đội 511, dùng bộc phá phát lệnh nhưng không nổ, Phải dùng lựu đạn thay thế. Cả tiểu đoàn bật dậy khỏi hầm xông lên, nổ súng diệt địch rồi xung phong. Địch vừa bắn trả, vừa co cụm xuống rãnh đường sắt, dùng trung liên từ dốc Đỏ và gốc cây bàng bắn mạnh vào đội hình ta. 

        Từ các hướng, quân ta lợi dụng địa hình vừa nổ súng tiêu diệt địch, vừa gọi hàng; tiêu diệt cả địch đi tuần đường, lẫn diệt địch ở tháp canh Như Thiết. Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, địch dùng ba xe tải chở quân từ Phúc Lâm lên ứng chiến, dùng pháo từ Phủ Lạng Thương bắn chi viện. Ba xe tải vừa đến ngã tư Hoàng Mai thì bị cối 81mm và 60mm của ta bắn mạnh, buộc phải dừng lại triển khai đội hình tại đó. Riêng mũi 20 tên địch chặn đường rút của ta tiến đến xóm Chùa, bị Đại đội 511 và lực lượng dự bị của ta ở bắc Hoàng Mai chặn đánh, phải chạy về ngã tư Hoàng Mai.

        9 giờ 30 phút ngày 10 tháng 4, trận đánh kết thúc. Ta diệt tại chỗ 44 tên, bắt 22 tên địch; thu một khẩu trung liên, 24 súng trường, một tiểu liên, hai máy dò mìn và nhiều đạn dược .

        Trận phục kích đạt hiệu suất cao, tạo điều kiện cho nhân dân dũng cảm đấu tranh với địch để về làng cũ làm ăn, phá kế hoạch dồn dân của Pháp ở địa phương. 


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:28:19 AM

TRẬN BẮC NINH CỦA TRUNG ĐOÀN 98 VÀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG (14.4 - 12.5.1952)

        Giữa tháng 4 đầu tháng 5 năm 1952, quân Pháp mở Cuộc hành quân mang tên “poóctô - Pôlô Tuyếccô” càn vào địa bàn tỉnh bắc Ninh. Qua 19 ngày đêm chiến đấu ta đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch; nhưng bộ đội chủ lực và du kích của ta cũng bị tổn thất nặng nề. Trận chống càn để lại những kinh nghiệm quý báu về lãnh đạo, chỉ đạo tác chiến chống địch càn quét của lãnh đạo và chính quyền địa phương nói chung, của lực lượng vũ trang nói riêng trên địa bàn.

        Bắc Ninh, một tỉnh trung du Bắc Bộ, có các huyện: Thuận Thành, Gia Lương, Tiên Du, Quế Dương, Võ Giàng, Yên Phong, Gia Lâm và phủ Từ Sơn, thị xã Bắc Ninh1

        Cuộc hành quân lớn của địch càn quét toàn bộ nạm huyện phía đông đường số 1 gồm: Tiên Du, Quế Dương, Võ Giàng, Thuận Thành, Gia Lương. Bắc Ninh địa hình tương đối bằng phẳng, rải rác ở các huyện có đồi xen kẽ nhưng tập trung ở các khu: núi Chè, núi Khám (Tiên Du); núi Và, núi Sơn Động (Võ Giàng); núi Hữu Băng, núi Đông Du (Quế Dương); núi Thiên Thai (Gia Lương).  Là cửa ngõ của Việt Bắc, là yết hầu của Hà Nội nên Bắc Ninh luôn có vị trí quan trọng cả đối với ta và đối với địch.

        Chiếm đóng Bắc Ninh, Pháp xây dựng nhiều đồn bốt và tổ chức hệ thống tề điệp, bảo an dày đặc. Trước cuộc càn quét, quân địch ở trên địa bàn còn hơn một trung đoàn, một số trận địa pháo 105mm, 75mm.

        Thực hiện cuộc càn, địch sử dụng tới năm binh đoàn (GM), hai tiểu đoàn pháo binh (48 khẩu 105mm), hai tiểu đoàn thiết giáp và hàng trăm xe cơ giới. Phối hợp với lực lượng càn quét còn có ba đội GAMO2. Quá trình thực hiện cuộc càn quét, chúng còn được không quân ở sân bay Gia Lâm chi viện tối đa.  Tham gia chống địch càn quét có Trung đoàn 98 Đại đoàn 316, Tiểu đoàn 433 Trung đoàn 238 chủ lực khu và Tiểu đoàn 18 bộ đội chủ lực tỉnh, cùng với dân quân, du kích tỉnh Bắc Ninh.

        Trung đoàn 98 có các tiểu đoàn bộ binh 215, 439, 938.  Tiểu đoàn 433 nguyên là Tiểu đoàn Thiên Đức, chủ lực của tỉnh mới được khu đưa về hoạt động ở Bắc Ninh; tiểu đoàn có ba đại đội bộ binh, một đại đội trợ chiến. Tiểu đoàn 18 chủ lực tỉnh có ba đại đội bộ binh và một đại đội trợ chiến, một trung đội công binh, quân số 689 người. Mỗi huyện có một đại đội bộ đội địa phương. Lực lượng dân quân du kích trên địa bàn khá mạnh, trung bình mỗi xã có lột trung đội du kích. Mỗi thôn có từ một đến hai tiểu đội dân quân. Hầu hết dân quân, du kích đều được trang bị tiểu liên, súng trường, lựu đạn và các loại vũ khí tự tạo. 

        Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của trên giao, Tỉnh ủy và Chỉ huy tỉnh đội Bắc Ninh đề ra phương châm: Phối hợp chặt chẽ giữa tập trung lực lượng cỡ tiểu đoàn trở lên, đánh tiêu hao, tiêu diệt của bộ đội chủ lực với phân tán nhỏ lẻ, đánh tiêu hao của bộ đội địa phương và dân quân du kích, lấy du kích chiến làm chính. Tránh đánh chính diện, đánh cố thủ, chú trọng đánh những cánh quân lẻ, đánh bên sườn và phía sau đội hình địch. Tích cực tập kích sở chỉ huy, trận địa pháo, đánh giao thông phía sau. Đánh lúc địch mệt mỏi, lúc địch chuẩn bị rút lui hoặc đang rút lui.

        Căn cứ vào địa hình, dự kiến hành động của địch, lực lượng ta và các khu du kích; Tỉnh ủy chia chiến trường thành hai khu: Bắc phần và Nam phần, trong đó dự kiến địa bàn Nam phần là nơi càn quét chủ yếu của địch. 

        Ở Nam phần, sử dụng Trung đoàn 98, lúc đầu bố trí ở Nghi An, Nghi Khúc (Thuận Thành), khi tác chiến tùy tình hình sẽ điều chỉnh, cơ động đánh địch trong phạm vi Nam phần; sẵn sàng phối hợp với lực lượng ở Bắc phần đánh địch. Đại đội 603 Tiểu đoàn 18 cùng với Trung đoàn 98 và bộ đội địa phương, dân quân du kích đánh địch; lúc đầu bố trí một phần ở Nghi An, còn lại bố trí ở Hà Mai, Trí Quả, đánh địch từ hướng Cầu Đường vào Thuận Thành. Đại đội 121 bộ đội địa phương huyện Thuận Thành, bố trí một trung đội ở Nguyệt Đức, một trung đội ở khu vực Dâu, một trung đội ở khu vực Hoài Đức, có nhiệm vụ cơ động đánh địch trong huyện, sẵn sàng đánh địch ở Giả Lương. Đại đội 80 bộ đội địa phương Gia Lương bố trí một trung đội ở khu vực Thùa, một trung đội ở An Thịnh, Trung Kênh, một trung đội ở Minh Tân, An Cấp.

        Ở Bắc phần, sử dụng các tiểu đoàn 433 và 18, và ba đại đội bộ đội địa phương huyện và dân quân, du kích tại chỗ bố trí ở Tân Chi, Hán Quảng và ở Hán Đà, Chi Lăng là lực lượng chính đánh địch ở Bắc phần.

        Bộ đội địa phương các huyện đảm nhiệm đánh địch trong huyện mình, sẵn sàng cơ động chi viện cho các huyện bạn.

        Ngày 13 tháng 4 năm 19o2, địch điều các binh đoàn cơ động chiếm năm huyện phía đông đường số 1 : GM 1 ở Phả Lại; các GM 2, GM 7 ở Yên Viên, Đống; GM 3 ở Cẩm Giàng và hai tiểu đoàn ở Từ Sơn.

        Đêm 13 tháng 4, bộ đội địa phương tiêu diệt các đồn Thiết Bình, bao vây các đồn Tiếu, Á Lữ (Thuận Thành), bốt Thiên Thai (Gia Lương), Nghĩa Lộ (Văn Lâm). 

        Rạng sáng ngày 14 tháng 4, trận càn Poóctô bắt đầu, địch từ hai hướng chia làm nhiều mũi tiến công vào Thuận Thành.

        Hướng thứ nhất GM7 (3.000 quân và 60 xe cơ giới) từ Yên Viên tiến dọc sông Đống, đến Tiếu gặp ta đang công đồn, liền vào giải vây. Sau đó GM7 chia làm hai mũi: một mũi xuôi theo đê tiến chiếm Á Lữ, Lạc Thổ; một mũi xuôi theo đê tiến vào các xã Xuân Lâm, Trí Quả, Hạnh Phúc. Các mũi này bị ta tiến công, chặn đánh quyết liệt. 

        Hướng thứ hai: do GM3 đảm nhiệm từ Cẩm Giàng chia làm hai mũi bao vây tiến công Thuận Thành từ phía đông và phía nam. Mũi chủ yếu tiến theo trục đường 38 lên Đông Côi, vừa đi vừa càn quét sâu vào các làng hai bên đường. Khi địch đến Nghi An, Trạm Trai bị Trung đoàn 98 chặn đánh quyết liệt. Địch liên tiếp mở các cuộc tiến công từ 10 giờ sáng đến tối văn không vào được làng. Mũi thứ yếu từ Nghĩa Lộ càn qua Pheo vào các xã Song Liễu, Ngũ Thái Mũi này đã bị dân quân du kích chặn đánh ở các thôn xóm.

--------------------
        1. Tên các huyện của năm 1952. 

        2. Đệ nhị đoàn hành chính quân chủ lưu động, mỗi đội quân số tương đương một đại đội bộ binh do quận trưởng chỉ huy.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:31:11 AM

        Tiếp đó trong các ngày từ 15 đến 17 tháng 4, địch liên tục càn vào các khu vực nghi có bộ đội chủ lực của ta.  Trung đoàn 98 trú quân ở Chi Lăng bị máy bay đánh phá  phải rời về Dũng Vĩ, Thịnh Liên, Trung Màu (Tiên Du), chuẩn bị tập kích địch ở đồn Vân Khám, Vân Trình. Khắp nơi bộ đội địa phương và dân quân du kích phân tán nhỏ lẻ gây cho địch nhiều tổn thất. Ngày 17, địch phải kết thúc cuộc càn.

        Ngay sau đó, ngày 18 tháng 4, địch thực hiện cuộc càn Pô lô. Tướng Cônhi trực tiếp chỉ huy cuộc càn này.  Cônhi tập trung toàn bộ lực lượng bao vây càn quét, diệt chủ lực ta ở Tiên - Quế - Võ. GM3 được điều từ Kẻ Sặt lên chốt ở đường 18 từ Đại Tráng xuống phố Mới nhằm vây ta từ phía bắc và cắt Tiên - Quế - Võ với Yên Dũng.  Phía tây GM2 bố trí dọc đường số 1 từ Đường tới Vĩnh Kiều (Từ Sơn). Phía nam GM7 rải dọc từ Lạc Phổ xuống Sen Hồ. Phía đông GML giữ Phả Lại, án ngữ sông Thái Bình.

        Từ đêm ngày 17 tháng 4, địch tăng cường cho các đồn Vân Trình, Vân Khám một đại đội bộ binh, triển khai các trận địa ở Đống, Lim, Bắc Ninh, Đình Tổ. Ở Nam phần, địch cho bộ binh và 10 xe thiết giáp càn vào Gia Lương đê nghi binh, phân tán lực lượng ta.

        Nhận thấy triển khai lực lượng quá gần địch, Trung đoàn 98 lệnh Tiểu đoàn 439 di chuyển trận địa phòng ngự lên Dũng Vĩ. Tiểu đoàn 433 và Đại đội 511 bộ đội địa phương Tiên Du phòng ngự cùng Trung đoàn 98. 

        5 giờ ngày 18 tháng 4, GM2 tiến công vào Tiên Du từ ba hướng. Trong khi GM2 càn vào những nơi còn lại của Tiên du thì GMI, GM3, GM7 đồng thời bao vây càn vào Quế Dương.

        Trước tình hình vòng vây của địch ngày càng xiết chặt, đêm ngày 18 tháng 4, Trung đoàn 98 quyết định rút về căn cứ Chi Lăng, tạo thời cơ vượt đường 18 sang căn cứ Yên Dũng. Nhưng khi qua Nghĩa Chỉ, Trung đoàn 98 bị địch chặn buộc phải mở đường mặc dù biết sẽ tổn thất lớn, mãi gần sáng mới về tới Chi Lăng. Tại đây trung đoàn quyết định đêm 19 tháng 4 bí mật lên bắc đường 18, nhưng tổ chức hành quân không tốt, vì vậy đại bộ phận trung đoàn lại phải quay về Chi Lăng. Đêm 19 tháng 4, địch kết thúc cuộc càn pô lô.

        Không dừng lại, ngày 20 tháng 4, địch mở tiếp cuộc càn Tuyếccô, tập trung lực lượng kiên quyết tiêu diệt toàn bộ quân chủ lực của ta trong vòng vây. Chúng tăng thêm pháo ở phố Mới, sử dụng toàn bộ pháo ở Bắc Ninh và Đình Bảng chi viện cho cuộc hành binh, dùng máy bay chi viện tối đa cho lực lượng càn quét.

        6 giờ ngày 20, GM2 từ Quảng Lâm chiếm thị thôn.  GM3 từ Mô Đạo, Đông Sơn càn vào La Miệt, Phương Lưu, Yêu Giã. GM1 từ Bồng Lai, Vũ Dương tiến vào Quế Ô, Đỗ Đàn, Tập Ninh. Bộ binh địch tiến vào các làng sau những đợt bom pháo dữ dội. .Tới đâu chúng cũng bị bộ đội và du kích chặn đường gây thương vong cho chúng. Những trận chiến đấu diễn ra trên cánh đồng La Miệt, Phương Lưu, Yên Giã, Đa Gấu, v.v. . . gây cho địch tổn thất lớn. 

        Tối ngày 20 tháng 4, Trung đoàn 98 quyết định rút sang Yên Dũng một lần nữa. Nhưng đội hình lại lọt vào trận địa hỏa lực giăng sẵn của địch giữa Mộ Đạo, Đông Dương. Một bộ phận nhỏ của trung đoàn vượt được, còn lại phải trở lại Chi Lăng.

        Ngày 21 tháng 4, sau khi đã củng cố lực lượng, địch dùng pháo binh, không quân chà xát nhiều lần và 14 giờ, các mũi bắt đầu tiến quân. Trên tất cả các hướng, lực lượng vũ trang địa phương cùng bộ đội chủ lực đã đánh bật hàng chục lần tiến công của địch, diệt nhiều tên, giữ vững trận địa.

        Ngày 22 tháng 4, địch bắn hàng nghìn quả pháo, cối; thả hàng chục quả bom, kể cả bom napan. Sau hỏa lực chuẩn bị, bộ binh từ bốn hướng ào ạt tiến vào căn cứ.  Quân ta anh dũng chiến đấu diệt nhiều địch. Đến chiều tối đồng chí Tham mưu trưởng hy sinh, ta hết đạn.  Những bộ phận còn lại giấu súng rút xuống hầm bí mật, một số phân tán trong dân, một số vượt sông Gia Lương.  Địch chiếm toàn bộ căn cứ Chi Lăng.

        Chiếm được căn cứ, chúng tìm phá các hầm bí mật, bắt dân, cướp của, đốt phá, hãm hiếp phụ nữ. Căn cứ Chi Lăng bị tàn phá rất nặng nề.  Các ngày 23, 24, 25, 26 tháng 4, địch càn đi quét lại nhiều lần vùng Tiên - Quế - Võ tìm hầm bí mật, lùng bắt cán bộ và bộ đội, cướp tài sản, phá mùa màng của dân.  Những thôn có tiếng súng, chúng triệt phá trắng. Đồng thời chúng tái lập bộ máy chính quyền tay sai. 

        Tiếp đó từ ngày 28 tháng 4 đến ngày 2 tháng 5, địch sử dụng các GM 1, 3, 7 càn vào Gia Lương. Kịp thời rút kinh nghiệm ở Bắc phần, các đại đội 603, 850 và dân quân du kích phân tán nhỏ lẻ, phát triển lối đánh du kích diệt nhiều địch.Ngày 2 tháng 5, thấy càn vào Gia Lương ít hiệu quả mà tổn thất nhiều, địch kết thúc cuộc càn vào Bắc Ninh. 

        Qua 19 ngày chiến đấu, quân và dân Bắc Ninh đã đương đầu với năm binh đoàn cơ động tinh nhuệ được trang bị hiện đại của địch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Địch giết và làm bị thương 117 dân, bắt hơn 1.000 thanh niên vào lính, làng chiến đấu bị triệt phá nặng nề, hơn 20 làng bị xóa trắng. Địch đốt 3.170 ngôi nhà, phá hơn 2.000 mẫu lúa và hoa màu, hàng nghìn trâu, bò, gà, lợn bị chúng cướp hoặc giết chết. 

        Trận chống càn của Trung đoàn 98 và lực lượng vũ trang địa phương Bắc Ninh để lại nhiều bài học quý về chỉ đạo tác chiến của các lực lượng trên địa bàn; về mối quan hệ giữa cấp ủy đảng và chính quyền địa phương với bộ đội chủ lực; về thực hiện phương châm chống địch càn quét; về công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tơ tưởng cho lực lượng vũ trang địa phương; về bảo vệ tính mạng, tài sản của dân khi nắm được kế hoạch địch càn quét lớn.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:34:26 AM

TRẬN HOẰNG YẾN CỦA ĐẠI ĐỘI 135 VÀ DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG (7.6.1952)

        Trận đánh của Đại đội 135 bộ đội địa phương huyện Hoằng Hóa và du kích xã Hoằng Yến tiến công đại đội biệt kích đột nhập vào xã Hoằng Yến, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ hậu phương, giữ vững sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến. 

        3 giờ 30 phút ngày 7 tháng 6, một đại đội (có một phần tư là lính Âu Phi) được hai tàu chiến, một xà lan, một xuồng chiến đấu đổ bộ lên bờ, chia làm ba mũi càn sâu vào đất liền.

        Phát hiện có địch, một tổ du kích vận động tới thôn Phúc Ngư thì gặp địch, các chiến sĩ ta ném lựu đạn diệt một số tên. Cùng lúc đó, du kích các làng bên cạnh đặt mìn, chông phục kích địch, một số ở lại chiến đấu, một số vận chuyển thương binh.

        4 giờ 30 phút, được tin có địch, Đại đội 135 bộ đội địa phương huyện vận động tới nắm tình hình và phối hợp chiến đấu với du kích. Địch tập trung hỏa lực đánh vào các xóm 14, 16.

        Lúc 6 giờ 30 phút, ta sử dụng hai tiểu đội bộ đội địa phương vào các xóm quần nhau với giặc, diệt một số tên. Địch đưa tiếp lực lượng ở hai cánh khác về các xóm 14, 16. So sánh lực lượng ta và địch quá cliênh lệch, ta phải rút khỏi các xóm 14, 16. 

        14 giờ 30 phút, địch xuống xà lan rút về căn cứ. Sau một ngày chiến đấu, bộ đội và du kích loại khỏi vòng chiến đấu 28 tên địch.

        Trận đánh thắng lợi để lại nhiều kinh nghiệm quý về vận dụng cách đánh của bộ đội địa phương và du kích tiêu diệt địch; đồng thời cũng đặt ra cho lãnh đạo, chính quyền địa phương và lực lượng vũ trang về việc kết hợp đánh địch với bảo vệ dân, bảo vệ tài sản của đồng bào trong khu vực đánh địch.


TRẬN PÁC MA CỦA TIỂU ĐOÀN 910 (23-24.10.1952)

        Trận vận động tập kích quân địch ở đồn Pác Ma1 của Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148 (nay là Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 148 Sư đoàn 316), nhằm tiêu diệt địch, phá vỡ phòng tuyến sông Đà của địch.

        Sau khi gặp trinh sát ta ở Na Cút, ngày 21 tháng 10, tiểu đoàn Tabo thứ 17 phái một đại đội ra chiếm Pác Ma.  Ngay tối hôm đó, đại đội này bị Tiểu đoàn 910 đánh tan.  Sáng ngày 22 tháng 10, chúng đưa cả tiểu đoàn ra chiếm lại Pác Ma.

        Tiểu đoàn Tabo thứ 17 có bốn đại đội bộ binh (ba đại đội lính Ma rốc, một đại đội lính ngụy Thái) và một đại đội trợ chiến. Ngoài vũ khí trang bị cá nhân, chúng còn có bốn khẩu cối, tám khẩu đại liên.

        Chiếm Pác Ma, địch cho lực lượng giữ đồi A, B, C, D, khống chế con đường độc đạo ra sông Đà. Bố trí lực lượng địch ở đồi A gồm hai trung đội lính Ma rốc, một trung đội ngụy Thái; đồi B gồm hai trung đội Ma rốc, một trung đội trợ chiến, một trung đội ngụy Thái; đồi C gồm một đại đội Ma rốc, hai trung đội trợ chiến và chỉ huy tiểu đoàn địch; đồi D có một trung đội Ma rốc. Ngoài ra còn một trung đội Ma rốc và một trung đội ngụy Thái đóng ở bản Pác Ma và trên đường đi bản Mứn.

        Tiểu đoàn 910 có các đại đội bộ binh 220, 221, 226 và Đại đội trợ chiến 634, một trung đội ĐKZ 57mm. Vũ khí có hai khẩu ĐKZ 57mm, một khẩu cối 81mm, một khẩu cối 82.mm, hai khẩu cối 60mm, ba khẩu đại liên, mỗi trung đội có hai khẩu trung liên, còn lại tiểu liên, súng trường và lựu đạn.

        Để tiêu diệt địch ở Pác Ma, tiểu đoàn sử dụng lực lượng tập kích quân địch ở các mục tiêu:

        - Một tổ đi trước bí mật diệt vọng gác.

        - Trung đội 6 (Đại đội 221) đánh địch ở đồi A.

        - Trung đội 7 và Trung đội 8 (Đại đội 221) nhanh chóng phát triển đánh chiếm đồi B, đồi C trong khi Trung đội 6 đánh đồi A.

        - Trung đội 4 (Đại đội 220) chặn đường địch rút chạy qua bản Pác Ma.

        - Trung đội 2 và 3 (Đại đội 220), đánh vào bản Pác Ma, sau khi hoàn thành nhiệm vụ phối hợp với Đại đội 221 đánh chiếm đồi C .

        - Trung đội ĐKZ 57mm và đại liên đi cùng Trung đội 6.  Sau khi Trung đội 6 chiếm xong đồi A, dùng hỏa lực chi viện tiêu diệt địch ở đồi B, đồi C.

        - Cối 81, 82mm bố trí ở chân đồi A, đồi E (bên suối) bắn lên đồi C và bắn chặn quân địch rút lui.

        18 giờ ngày 23, tiểu đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa. 2 giờ ngày 24, được lệnh nổ súng, Trung đội 6 nhanh chóng đánh chiếm đồi A. Sau 5 phút chiến đấu, ta chiếm được một nửa quả đồi. Địch chống đỡ yếu ớt rồi bỏ chạy sang đồi B: Cùng lúc đó các đơn vị hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, được hỏa lực cối, đại liên chi viện hiệu quả, các đơn vị nhanh chóng chiếm các mục tiêu được phân công:

        Đến 4 giờ 30 phút, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, diệt 72 tên (đa số là lính Ma rốc), bắt 20 tên. Ta thu hai khẩu đại liên, hai khẩu cối 81mm và nhiều tiểu liên súng trường.

        Chiến thắng Pác Ma đã góp phần chọc thủng phòng tuyến sông Đà của địch, tạo thuận lợi cho hướng thọc sâu giành thắng lợi trong đợt hai chiến dịch Tây Bắc.

-----------------------
        1. Thuộc bản Pác Ma, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:37:22 AM

TRẬN LÊ ĐÔNG CỦA DU KÍCH XÃ PHÚC LAI (9.11.1952)

        Trận phục kích của đội du kích xã Phúc Lai1 (có 80 người, trang bị 15 súng trường, 30 quả mìn, 10 quả địa lôi và một số giáo mác) vào lực lượng cơ giới của địch theo đường 11B qua địa bàn của xã cơ động lên Yên Bái, tiêu diệt một số địch, bảo vệ được nhân dân an toàn. 

        Đoạn kilômét 9 đường 11B nằm trong địa phận xã Phúc Lai, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Hai bên đường chủ yếu là rừng cây-tre nứa rậm rạp, thuận lợi cho bố trí lực lượng phục kích bí mật. Nối với đường 11B có nhiều đường mòn đi vào các thôn xóm, thuận lợi cho tác chiến du kích.

        Thực hiện nhiệm vụ trên giao, xã sử dụng một trung đội du kích được trang bị súng, mìn; chọn trận địa phục kích trên đường 11B, đoạn qua địa phận xã, thực hành đánh địch, ngăn chặn và tiêu diệt khi chúng vào làng.

        Để tiêu diệt được địch, trung đội tổ chức thành hai tổ:

        - Tổ 1 gồm 16 người, chia thành các bộ phận: đặt mìn (ba người), bảo vệ (ba người), trinh sát (ba người), thông tin (bảy người); có nhiệm vụ phục kích địch tại kllômét 9. 

        - Tổ 2 có 14 người, chia thành các bộ phận: giật mìn (ba người), phục kích cách bãi mìn 30 mét (11 người); có nhiệm vụ chặn đánh địch khi chúng vào làng. 

        10 giờ ngày 9 tháng 11, địch cho một bộ phận cơ giới từ thị trấn Đoan Hùng theo đường 11B đi Yên Bái. Khi địch đến trận địa phục kích của ta, chúng phát hiện được bãi mìn, triển khai đội hình chiến đấu, đồng thời địch cho quân kiểm tra và đánh dấu có mìn để toán sau biết, sau đó tiếp tục hành quân. Đúng lúc đó một dân quân nổ súng diệt tên chỉ huy. Bị đánh bất ngờ, địch nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu.

        Do bãi mìn không phát huy tác dụng nên tổ 1 lui về phối hợp cùng tổ 2 sẵn sàng đánh địch. Địch dùng súng cối bắn chặn, đồng thời cho lực lượng truy đuổi theo du kích. 

        10 giờ 40 phút, tại cầu Kè (xóm Kè, xã Lê Đông du kích đã bố trí sẵn mìn, công sự trận địa chờ địch. Khi quân Pháp đến cầu, chúng dừng lại xem cầu gỗ bắc qua ngòi Ruổi. Chớp thời cơ, du kích đồng loạt nổ súng diệt một số tên. Số địch còn lại dàn đội hình đối phó, nhưng chúng sa vào bãi mìn, mìn nổ làm chết và bị thương một số tên khác.

        Trước ruộng lầy, rừng rậm lại bị tiến công, địch đã vội vàng rút chạy, ý định vào làng tìm diệt du kích tan vỡ.  Trận đánh kết thúc, 11 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Du kích bảo vệ được làng, được dân, không để địch cướp phá.


TRẬN BẾN NHỐNG CỦA ĐỘI “CẢM TỬ” TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 42 (17.1.1953)

        Trận tập kích của đội “cảm tử” thuộc Trung đoàn bộ binh 42 khu Tả Ngạn do Trịnh Công Phương chỉ huy, đánh vào thủy đội gồm một tàu LCT và ca nô neo đậu ở bến Nhống (Long Khê), thị trấn Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. 

        Ninh Giang một cứ điểm lớn của địch, nằm trên đường bờ bắc sông Luộc với đường 17 nối thị xã Hải Dương và vùng bắc Thái Bình, là nơi địch thường tập kết lực lượng để hành quân càn quét các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình bằng cả đường bộ và đường thủy. Ở bến sông thường có một tàu tuần tiễu LSSR và hai ca nô.

        Đầu tháng 1 năm 1953, địch tăng cường lực lượng càn quét các huyện bắc sông Luộc, nên chúng tăng cường về bến Nhống một thủy đội, gồm một tàu LCT và bốn đến sáu ca nô.  Thực hiện kế hoạch đánh tàu LCT, đầu tháng 11 năm 1952, trung đoàn chọn một số cán bộ chiến sĩ được rèn luyện qua chiến đấu thành lập đội “cảm tử” do Trịnh Công Phương chỉ huy. Sau khi nhận nhiệm vụ, đội về thôn Duyên Nội, huyện Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình tập luyện tlleo phương án đánh địch.

        19 giờ ngày 17 tháng 1 năm 1953, đội từ vị trí tập kết vượt qua các bốt địch, hạ thuyền, gói buộc thuốc nổ, bí mật theo dòng sông tiếp cận mục tiêu.

        Lợi dụng tiết trời tháng Chạp giá rét, sương đêm dày đặc toàn đội lặng lẽ tiến vào tàu LCT đang đậu trên sông. Phát hiện tàu địch, tổ dự bị do đồng chí Năng chỉ huy được lệnh bơi sang bờ đối diện chờ anh em theo kế hoạch. Ba người Phương, Bi, Rợi tiếp tục vượt qua các mũi ca nô đẩy khối thuốc nổ về phía đuôi tàu, vòng dây liên kết và cố định khối thuốc nổ vào động cơ và chân vịt kiểm tra lần cuối rồi ra lệnh cho đồng đội giật nụ xòe và nhanh chóng rời tàu. 

        Ít phút sau, khối bộc phá nổ, làm cả tàu LCT và bốn ca nô chìm cùng toàn bộ vũ khí, trang thiết bị trên tàu (trong đó có hai khẩu 75mm, một khẩu 40mm, bốn khẩu 20mm và các loại vũ khí khác); 60 tên trên tàu và ca nô bị diệt.  Cả đội cảm tử về vị trí an toàn.

        Trận đánh lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều của đội “cảm tử” thuộc Trung đoàn 42 thể hiện quyết tâm cao, mưu trí, táo bạo, khổ công luyện tập, khắc phục khó khăn chấp hành mệnh lệnh; tổ chức chiến đấu tốt, trinh sát nắm chắc địch, chuẩn bị mọi mặt tỷ mỹ, công phu; cách đánh sáng tạo; quan hệ mật thiết với nhân dân. Đây là những nhân tố quyết định thắng lợi trận đánh.

----------------------
        1. Thời điểm diễn ra trận đánh xã Phúc Lai mang tên Lê Đồng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:39:30 AM

TRẬN SÔNG QUAO CỦA ĐẠI ĐỘI XUNG KÍCH BÌNH THUẬN (19.1.1953)

        Trận tập kích của Đại đội xung kích tỉnh Bình Thuận 1 (năm trung đội bộ binh) được tăng cường một trung đội đặc công, 200 dân công, vào một đại đội quân ngụy (chủ yếu là người dân tộc) do bốn tên Pháp chỉ huy, có cối 81mm, đại liên, trung liên và các loại súng bộ binh khác, có hệ thống hầm ngầm lô cốt kiên cố, có tường bao quanh, có cửa bắn ra các hướng, xung quanh đồn có hàng rào kẽm gai; nhằm tiêu diệt địch, xây dựng khu căn cứ du kích miền tây Hàm Thuận, cắt đứt giao thông của địch trên đường số 8.

        20 giờ ngày 18 tháng 1, các đơn vị vào tiếp cận mục tiêu theo kế hoạch, nhưng do mang vác nặng, địa hình trống trải, địch canh phòng chặt chẽ nên các mũi đặc công tiếp cận chậm hơn dự định.

        Đến 4 giờ 30 phút ngày 19, mới có hai mũi hướng chủ yếu vào đặt bộc phá ở lô cốt “mẹ” và dãy nhà lính. Địch phát hiện lực lượng ta, buộc ta phải đánh bộc phá làm hiệu lệnh tiến công. Được lệnh, các mũi nhanh chóng tiến đánh các mục tiêu.

        Sau ít phút bị tiến công, địch củng cố, dựa vào công sự chống cự. Mũi 4 của ta gặp khó khăn, các mũi khác chững lại. Đúng lúc đó: kèn dung trận vang lên; các mũi, các hướng bộ binh đồng loạt xung phong vào cùng đặc công chiếm các mục tiêu.

        Vừa tiến công, vừa gọi hàng, vừa khai thác tù binh, biết vị trí hầm ngầm của địch, ta dùng lựu đạn, thủ pháo đánh vào hầm ngầm, quân địch còn lại co cụm chống cự. Ta dùng lựu đạn, thủ pháo diệt địch và lực lượng bộ binh tiến công cả bốn hướng, nhanh chóng dứt điểm.

        Nhân khi khẩu đại liên của địch bị hóc, các chiến sĩ của ta ào ạt xông lên diệt địch, chiếm các lô cốt, gọi hàng. Bộ phận bố trí ở nam cầu sông Quao cũng tiến vào phối hợp cùng đơn vị truy quét, bắt tù binh, thu vũ khí, giải quyết thương binh, tử sĩ.  Toàn bộ quân địch ở đồn sông Quao bị tiêu diệt (30 tên, có 3 tên lính Pháp). Ta thu một cối 81mm, một đại liên, chín trung liên và hơn một trăm súng tiểu liên và súng trường; năm súng thông tin, cùng toàn bộ quân trang quân dụng.

        Trận sông Quao đã kết hợp tốt cách đánh của bộ binh với đặc công, có sự phân công rõ ràng, hiệp đồng chặt chẽ; chỉ huy xử trí tình huống khẩn trương, chính xác; vừa đánh vừa làm công tác địch vận, khai thác tù binh để tìm ra hầm ngầm, tiêu diệt chỉ huy địch, góp phần quyết định thắng lợi trận đánh.


TRẬN KIẾN AN CỦA TIỂU ĐOÀN TỈNH KIẾN AN VÀ ĐẠI ĐỘI 196 HUYỆN TIÊN LÃNG (21.1.1953)

        Trận tập kích quân địch ở thị xã Kiến An của Tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Kiến An và Đại đội 196 bộ đội huyện Tiên Lãng, được du kích cơ sở vùng ven An Lão dẫn đường; nhằm tiêu diệt địch, phối hợp với chiến trường Thượng Lào, đẩy mạnh chiến tranh du kích và phát triển cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm. 

        Thị xã Kiến An bị địch chiếm đóng từ tháng 4 năm 1947. Giữ địa bàn quan trọng này có 17 đại đội lính Âu Phi và lính ngụy, bố phòng ở 17 vị trí lớn nhỏ xung quanh thị xã.

        Tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Kiến An có các đại đội 53, 195, 295, vào chiến đấu được tỉnh tăng cường Đại đội địa phương 196 huyện Tiên Lãng. Trang bị có 18 khẩu trung liên, 56 khẩu tiểu liên, 500 quả lựu đạn, 300 thủ pháo, 500 kilôgam thuốc nổ, bốn thùng dầu.
 
        Để thực hiện nhiệm vụ đánh địch, tiểu đoàn tổ chức lực lượng thành các bộ phận:

        - Đại đội 295 tập kích phá cụm kho Quỹ Tức ở chân núi Cột Cờ và điểm cao 75.

        - Đại đội 196 và một trung đội của Đại đội 295 đánh chiếm khu vực điểm cao 137; tập kích địch, phá kho tàng ở bắc điểm cao 75, đông bắc sân bay.

        - Đại đội 15 tập kích địch ở đền Sùng, diệt đại đội Commăngđô; sử dụng một trung đội tiến công dinh tỉnh trường .

        - Đại đội 3, một trung đội tập kích ty công an ở chân núi Thiên Văn; một trung đội kiềm chế địch ở cầu Nguyệt.  Một trung đội của Đại đội 196 bảo vệ thuyền và bến vượt sông Văn Úc.

        - Tổ quân báo đi cùng Đại đội 295, phá nhà máy điện, diệt lô cốt ở ngã năm thị xã.

        19 giờ 30 phút ngày 20 tháng 4, các đơn vị vượt sông Văn Úc bí mật vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công. 1 giờ ngày 21 tháng 4, các đơn vị vào chiếm lĩnh xong, chờ lệnh nổ súng. Riêng Đại đội 53 đánh ty công an chiếm lĩnh xong trước 1 giờ, chờ lâu không thấy lệnh nổ súng đã tự động cho bộ đội rút ra vị trí tập trung.

        1 giờ 55 phút, tỉnh đội trưởng ra lệnh nổ súng. Tiếp sau hiệu lệnh bằng tiếng bộc phá là hàng loạt tiếng nổ ở kho Quỹ Tức, đền Sùng, ngã năm, cả thị xã dậy vang tiếng súng nổ từ các căn cứ địch.

        Ở trại pháo thủ, ngay quả bộc phá đầu tiên ta đã diệt gọn chỉ huy địch. Các chiến sĩ ta xung phong ném lựu đạn, thủ pháo diệt lính bảo vệ và phá hủy kho tàng, Ô tô, xe tăng trong căn cứ. Hầu hết địch bị diệt, số còn lại đầu hàng.  Ở kho Quỹ Tức, chiến sĩ ta đột nhập đặt bộc phá vào từng kho, phá hủy các kho đạn và kho quân trang của địch. Số lính bảo vệ không đủ sức chống cự, phần bị tiêu diệt, phần phải đầu hàng.

        Ở khu đền Sùng, ta phải đánh hai quả bộc phá liên tiếp mới làm sập được hai nhà địch bố trí hỏa lực, diệt khoảng 20 tên. Số địch sống sót hoảng loạn bỏ chạy, một số xin hàng.

        Mũi đánh vào dinh tỉnh trưởng khi nghe tiếng bộc phá nổ, bộ đội ta xông thẳng vào dinh diệt lính gác dùng thủ pháo đánh từng căn nhà, bắt sống tỉnh trưởng, một số sĩ quan, công chức ngụy quyền; thu vũ khí, tài liệu rồi rút khỏi trận địa. Khi tới đầu phố thì gặp địch chạy từ đền Sùng về, ta nổ súng làm bị thương hai tên. Tỉnh trưởng và một số tù binh cho rằng địch đến giải vây nên chống cự và tìm cách bỏ chạy. Ta phải diệt tên tỉnh trưởng và một số tù binh chạy trốn. 

        Đại đội 3 (đánh ty công an) tự động rút về tới vị trí tập trung thì nghe hiệu lệnh nổ súng, xin trở lại đánh địch nhưng tỉnh đội trưởng không đồng ý. Trong khi địch đang hoang mang, tỉnh đội trưởng ra lệnh cho bộ phận kiềm chế địch ở cầu Nguyệt tiêu diệt. Nhưng chỉ huy bộ phận này đã tự động cho bộ đội rút trước nên không thực hiện được mệnh lệnh.

        2 giờ 40 phút, các đơn vị rút khỏi trận địa. Do tổ chức không tốt, lại chủ quan nên khi qua sông lộn xộn, trời lại sáng, địch đưa hai tiểu đoàn ra truy kích, ta phải trụ lại ở thôn Đại Điền. Địch vây thôn, cuộc chiến đấu giằng co kéo dài đến tối. Địch không chiếm được thôn nên rút ra chuẩn bị ngày hôm sau tiến công tiếp.

        Do tương quan lực lượng ta và địch quá chênh lệch, cán bộ tiểu đoàn quyết định thả tù binh, phân tán thương binh về cơ sở trong dân, cất giấu chiến lợi phẩm, tổ chức thành những toán nhỏ vượt sông Văn Úc về căn cứ trong đêm.

        Sau một ngày chiến đấu, 408 tên bị diệt, 91 tên bị bắt.  Ta phá 10 xe tăng, 300 Ô tô các loại, bốn khẩu pháo, đánh sập 60 gian nhà kho, phá 30.000 tấn vũ khí, đạn dược; đốt cháy 50.000 lít xăng dầu; thu 15 trung liên, 112 tiểu liên, 7 các bin, 71 súng trường.

        Tỉnh ủy, tỉnh đội chọn thị xã Kiến An làm mục tiêu tiến công là một quyết định táo bạo, chính xác, đem lại thắng lợi lớn cả về quân sự, chính trị. Việc đánh giá không hết phản ứng của địch, tổ chức lui quân không chu đáo dẫn đến tổn thất làm hạn chế thắng lợi đã giành được.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:44:03 AM

TRẬN LƯƠNG TRUNG CỦA ĐẠI ĐỘI 98 (23.2.1953)

        Trận chống càn của Đại đội 98 bộ đội địa phương huyện, được 50 du kích địa phương phối hợp đánh quân địch càn quét ở thôn Lương Trung, xã Quảng Tiến, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ hậu phương kháng chiến của ta. 

        4 giờ ngày 23 tháng 2, địch dùng ba tàu chiến và năm ca nô cập bến xã Quảng Tiến đổ bộ lên bờ, chúng chia thành hai cánh quân. Cánh thứ nhất gồm một tàu chiến, hai ca nô đổ 60 quân (có một nửa là lính Âu Phi) lên Trường Lệ, bố trí khống chế dọc con đường từ dốc núi đến nhà thờ và kiểm soát đường số 8, đường từ Trường Lệ đi Quảng Tiến. Cánh thứ hai gồm hai tàu chiến, ba ca nô đổ 150 quân (có một nửa là lính Âu Phi) lên nhà thờ Lương Trung.

        Cùng thời gian trên, Trung đội trưởng Trung đội 18 và du kích đi tuần tra phát hiện địch đang đổ bộ lên bãi cát Lương Trung đã ném một quả lựu đạn làm tín hiệu báo động. Nghe tiếng lựu đạn nổ, Trung đội 18 và du kích nhanh chóng triển khai đánh địch ở bờ biển vào thôn lương Trung.

        Sau khi báo động, trung đội trưởng báo cáo chỉ huy đại đội và điều hỏa lực ra bố trí theo kế hoạch.  Đổ quân xong, địch chia thành hai toán tiến vào Lương Trung. Toán thứ nhất đến thôn Dung bị lực lượng ta dùng lựu đạn diệt bảy tên. Địch tiếp tục tiến vào, ta dùng súng cối diệt một số tên. Toán thứ hai tiến lên xóm Thiện, du kích giật mìn nhưng không nổ, địch đuổi theo bị trung liên của ta diệt một số tên, số còn lại chạy vào nhà thờ Lương Trung, ta truy kích diệt thêm một số tên.

        Dự kiến địch rút lui, ta đưa khẩu trung liên ra cồn cát để đánh, nhưng gặp toán thứ hai của địch từ nhà thờ ra để lên xóm Thiện, chúng bao vây và nổ súng làm ta bị thương hai người, trung đội trưởng phải điều khẩu cối tới gần bắn bốn quả giải vây cho tổ trung liên. 

        Phát hiện được lực lượng ta, địch cho máy bay ném bom napan vào trận địa và đưa hai khẩu đại liên và trung liên ra trước cửa nhà thờ bắn uy hiếp ta và cùng toán địch ở xóm Thiện kéo về xóm Lập, nhưng bị du kích xóm Lập diệt một số. Hai bên giao chiến một thời gian thì địch đổ bộ cánh thứ ba vào xóm Hòa yểm trợ cho lực lượng địch đang bị ta bao vây ở xóm Hòa rút xuống tập trung ở bờ biển.

        Phát hiện địch rút quân, ta cho một tiểu đội ra ngăn chặn, chúng liền chia làm hai mũi vây lại ta. Thấy địa thế không lợi, hơn nữa hỏa lực của địch trên núi Sầm Sơn uy hiếp mạnh, buộc ta phải lui vào trong.

        Địch ở xóm Thiện bị ta diệt một số, số bị thương chúng chuyển ra bãi cát bị ta dùng cối tập kích diệt thêm một số tên, buộc chúng phải xuống tàu.

        12 giờ 30 phút, trận đánh kết thúc, địch chết 31, bị thương 16 tên.

        Trận đánh thắng lợi nhờ chuẩn bị chiến đấu chu đáo, tỷ mỹ; đánh giá địch đúng, cảnh giác cao, có quyết tâm chiến đấu và kế hoạch di dân, phòng gian giữ bí mật tốt nên đã hạn chế được thương vong của ta.


TRẬN LIÊN SƠN CỦA ĐẠI ĐỘI 14 (11.3.1953)

        Trận chống càn của Đại đội 14 (với quân số 180 người, 1 trang bị hai khẩu cối 82mm, ba khẩu cối 60mm, ba khẩu trung liên), bộ đội địa phương huyện Nga Sơn, được du kích các xã Liên Sơn, Kiên Giáp, Nhân Phú phối hợp chiến đấu đánh trả ba tiểu đoàn quân Pháp càn quét vào ba xã: Liên Sơn, Kiên Giáp, Nhân Phú thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nhằm tiêu hao lực lượng góp phần phá cuộc càn của địch, bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân, giữ vững địa bàn.

        5 giờ ngày 11 tháng 3, địch bắt đầu hành quân. 5 giờ 30 phút; chúng gặp tổ cảnh giới và tổ trung liên của Trung đội  ta nổ súng diệt một số tên. Địch vừa rút vừa bắn đạn cối cấp tập vào trận địa Trung đội 2. Phát hiện khẩu trung liên của trung đội bị hỏng, địch tiến vào nhưng bị vấp mìn, một số tên chết và bị thương.

        Một tiểu đội bộ binh cùng du kích Yên Hà để địch tiến vào gần, nổ súng diệt một số tên, sau đó rút. Địch vừa tiến, vừa dùng cối bắn chặn làm bộ phận này tổn thất, chỉ còn một người rút về.

        Phát hiện địch đánh vào hướng Trung đội 2, Trung đội 3 cơ động trung liên ra sông ngăn chặn địch, diệt một số tên. Lúc này cối 82mm và 60mm của ta bắn 20 quả đạn. chỉ nổ được bốn quả, diệt một số địch.  Trận chiến đấu kéo dài hết ngày 11 tháng 3, ta và địch giành giật nhau từng căn nhà, từng thôn xóm.

        Cuối ngày, 48 tên địch bị diệt, nhiều tên khác bị thương.  Nét nổi bật của trận chống càn Liên Sơn là luôn nắm chắc hành động của địch, bố trí thế trận hiểm hóc, có cách đánh thích hợp, vận dụng các thủ đoạn chiến đấu linh hoạt, khéo nghi binh lừa địch, tạo được bất ngờ.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:46:34 AM

TRẬN NGA SƠN CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG (26 - 28.3.1953)

        Trận chống càn của Đại đội 57 (quân số 200 người, trang bị hai khẩu cối 82mm, bốn khẩu cối 60mm và 180 khẩu súng trường, tiểu liên, trung liên), Đại đội 109 (quân số 180 người, trang bị hai khẩu cối 82mm, ba khẩu cối 60mm, 150 khẩu súng trường, tiểu liên, trung liên), được sự phối hợp của du kích các xã (mỗi xã từ 150 đến 200 người) tổ chức thành các trung đội trong các thôn xóm (trang bị bốn đến năm súng trường, mìn chống tăng, chống bộ binh), chống lại binh đoàn số 4 khoảng 3.000 tên) phối hợp với lực lượng tại chỗ càn vào huyện lỵ Nga Sơn; nhằm ngăn chặn, tiêu diệt địch, đánh bại cuộc càn lớn của chúng, bảo vệ làng, xã, tính mạng, tài sản của nhân dân, giữ vững vùng tự do và cơ sở cách mạng, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất.

        Hai ngày 24 và 25 tháng 3, địch cho pháo binh từ Phát Diệm, Mai An Tưn cùng không quân đánh phá các khu vực Kiên Giấy, Duyên Trường, Liên Sơn, Đô Bái, Đồi Hồ nhằm phát hiện lực lượng ta.

        6 giờ ngày 26 tháng 3, pháo địch ở Bình Ca, Phát Diện, Mai An Tưn tiếp tục bắn phá các khu vực trên. 7 giờ, bộ phận cảnh giới ở làng Ngoại Thôn nghe tiếng gầm rú của xe tăng và phát hiện địch đã xuất hiện. Hướng chủ yếu khoảng 2.000 tên với tám xe tăng (bốn chiếc đi đầu, bốn chiếc đi giữa đội hình bộ binh).

        7 giờ 15 phút, địch đánh vào làng Ngoại Thôn, bị lọt vào trận địa phục kích của ta. Một xe tăng vướng mìn bị đứt xích phải nằm tại chỗ. Cùng lúc bộ đội và du kích trong làng nổ súng diệt một số tên, số còn lại cùng ba xe tăng lui ra rìa làng bắn pháo vào làng Ngoại Thôn. 

        Trên hướng chủ yếu, bộ phận nghi binh thu hút địch ở tây bắc Ngoại Thôn vừa ném lựu đạn, vừa rút vào trong làng. Thấy lực lượng ta ít, chống trả yếu, địch hò hét tiến công vào làng. Khi địch vào đúng ý định, xã đội trưởng lập tức ra lệnh đồng loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch dạt sang bên đường chống cự liền bị vấp mìn, nhiều tên chết và bị thương, số còn lại lợi dụng rìa làng chống trả, cho xe tăng vào kéo xe và mang hết đạn về khu vực Điều Hộ. 

        Cùng thời gian trên, ở các hướng khác, các đại đội 7, 109, và lực lượng du kích địa phương lợi dụng địa hình, địa vật liên tục đánh địch, tiêu diệt nhiều tên. Trận đánh kéo dài đến 6 giờ 30 phút ngày 27 tháng 3 năm 1953, địch buộc phải co về Điều Hộ nhưng chúng vẫn thường xuyên bị tập kích, phục kích diệt nhiều tên. Ngày 9 tháng 4, địch bí mật chuồn về Điều Hộ, Quảng Công, Ninh Bình, kết thúc cuộn hành quân càn quét.

        Sau ba ngày chống càn, ta loại khỏi vòng chiến đấu 208 tên, bắt 34 tên; bắn hỏng một xe tăng, bắn chìm một ca nô; thu nhiều súng đạn, máy 15W, nhiều đồ dùng quân sự và lương thực, thực phẩm.

        Địch đốt phá 291 ngôi nhà, phá hơn 100 mẫu ruộng lúa ngô và hoa màu cướp đi hàng trăm trâu, bò lợn, gà.

        Trận Nga Sơn để lại nhiều kinh nghiệm quý vế sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng địa phương; về sự chỉ huy thông nhất của chính quyền các cấp; sự kết hợp chặt chẽ, hiệp đồng giữa bộ đội huyện với du kích từng thôn xóm đã tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh bại cuộc càn lớn của địch. 


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:48:13 AM

TRẬN BẢN NGÀ CỦA TRUNG ĐOÀN 174 ĐẠI ĐOÀN 316 (1.4.1953)

        Trận phòng ngự của Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 nhằm chặn địch từ Yên Châu lấn chiếm xuống Mộc Châu, tại bản Ngà, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. 

        Từ bản Ngà lên Yên Châu, Chiềng Đông khoảng 10 kilômét, qua nhiều bản và nhiều ruộng bậc thang. Hai bên đường cây cối rậm rạp. Một số điểm cao hai bên đường có thể tận dụng để bố trí lực lượng phòng ngự chặn địch. 

        Sau chiến dịch Tây Bắc, bộ đội chủ lực của ta rút về hậu phương củng cố lực lượng. Thừa cơ, địch bắt đầu tái thiết các cứ điểm đã mất. Ngày 31 tháng 3, chúng đánh lấn xuống khu vực bản Ngà, lùng sục nơi đóng quân của các tiểu đoàn 1 và 9 thuộc Trung đoàn 174. 

        Trung đoàn 174 có ba tiểu đoàn (1, 5, 9), mỗi tiểu đoàn có ba đại đội bộ binh và một đại đội trợ chiến.  Nhận nhiệm vụ ở lại Tây Bắc, trung đoàn tiến hành tập huấn cán bộ, huấn luyện chiến sĩ; nắm địch, chuẩn bị phương án chiến đấu.

        Để tiêu diệt địch lấn chiếm, trung đoàn bố trí Tiểu đoàn 9 ở tây nam đường 41 cách Yên Châu 10 kilômét, khi địch lọt vào trận địa, bất ngờ đánh vào cuối đội hình, dùng bộc phá đánh vào Ô tô của chúng. Tiểu đoàn 1 bố trí ở bản Bướm, đánh vào giữa đội hình quân địch, hất địch xuống suối Sập, phối hợp với Tiểu đoàn 9 diệt địch. Tiểu đoàn 5 bố trí ở xóm Còn, chặn đầu địch và làm lực lượng dự bị của trung đoàn.

        Tối 31 tháng 3, trung đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa, làm công sự hỏa lực, đồng thời phái Tiểu đoàn 5 lên hoạt động ở bản Càng, bản Tủm. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 9 cử một trung đội của Đại đội 316 sang triển khai phía bắc đường 41 để khi địch xuống sẽ đánh vào cạnh sườn đội hình tiến công của chúng.

        5 giờ 30 phút ngày 1 tháng 4, địch bắn súng cối vào hướng trận địa phòng ngự của Đại đội 1. Lúc 6 giờ, địch từ Tà Vài chia làm hai bộ phận đánh vào trận địa phòng ngự của ta. Bộ phận thứ nhất đánh vào trận địa Tiểu đoàn 9, bộ phận thứ hai đánh vào trận địa Tiểu đoàn 1. 

        7 giờ, ở hướng Tiểu đoàn 9, địch chia làm hai mũi từ điểm cao 380 tiến xuống bản Lọng, giáp trận địa Tiểu đoàn 9.  Mũi một khoảng hai đại đội vượt qua đỉnh đồi tiến vào sau trận địa đại liên, có một bộ phận ra suối Sập cảnh giới.  Tiếp đó, địch sục lên, chạm phải một trung đội của Đại đội 317.

        Quân ta nổ súng, thấy lực lượng ta ít, địch vẫn chủ quan tiến lên đồi có vị trí chỉ huy của Tiểu đoàn 9. Chỉ huy tiểu đoàn phải di chuyển sang đồi đang triển khai súng cối. Tiểu đoàn trưởng lệnh cho súng cối 81mm bắn 100 quả vào nơi địch tập trung, sau đó cho Đại đội 317 xuất kích đánh địch; lệnh cho một trung đội của Đại đội 315 đánh vào sau đội hình địch, một trung đội của Đại đội 317 chiếm điểm cao chặn địch, trung đội thứ hai của Đại đội 317 đánh chiếm điểm cao nơi tiểu đoàn đặt chỉ huy, cùng các lực lượng khác chia cắt địch.

        Do hỏa lực của tiểu đoàn hướng cả ra đường nên không phát huy được sức mạnh.  Tiểu đoàn lệnh cho một trung đội của Đại đội 3 17 theo suối Sập đánh thẳng vào đội hình địch, làm địch rối loạn.

        Cùng lúc đó, mũi thứ hai của địch đánh vào Đại dội 316. Đại đội trưởng chỉ huy hỏa lực đánh mạnh vào đội hình địch, tiêu hao một số, số còn lại chạy xuống chân đồi.

        Địch tổ chức xung phong lần thứ hai, nhưng bị ta chia nhỏ, bám đánh liên tục, làm chúng phải đối phó lúng túng. Trận chiến đấu kéo dài đến 12 giờ 30 phút, địch bị thiệt hại nặng buộc phải rút chạy và cho máy bay ném bom, bắn phá vào trận địa.

        Ở hướng Tiểu đoàn 1, lúc 6 giờ 30 phút, một bộ phận địch tiến vào trận địa của Đại đội 674, chúng vượt lên chiếm các điểm cao. 9 giờ 55 phút, chúng tiến xuống bản Bướm ngoài, theo suối tiến vào bản Bướm trong. Đại đội 674 dùng một trung đội ra đánh địch. Chúng chống cự yếu ớt rồi rút ra bản Bướm ngoài. Ta tiếp tục bám đánh, chúng chống cự một lúc, sau đó rút về phía tây bắc. 

        Trên hướng Đại đội 673, sau khi chiếm được điểm cao, địch tập trung lực lượng đánh vào trận địa. Khi địch xung phong bị trung liên đại đội bắn chặn, một số chết, một số bị thương, buộc địch rút xuống suối chạy về bản Ngà. 

        Lực lượng địch bố trí ở điểm cao tây nam bản Bướm ngoài dùng hỏa lực bắn vào Đại đội 674. Tiểu đoàn trưởng lệnh dùng súng cối 82mm đánh địch, đồng thời cho một trung đội xuất kích theo suối đánh vào quân địch ở bản Bướm ngoài. Sau khi súng cối của ta diệt một số đại liên của địch, chúng phải rút chạy.

        Khoảng 13 giờ, trận đánh kết thúc. Ta loại khỏi vòng chiến khoảng 200 tên (phần lớn là lính Âu Phi), bắt năm tên, thu 15 súng các loại.

        Trận đánh thắng lợi, ta đã chặn được địch lấn chiếm lại Mộc Châu, bảo vệ được vùng giải phóng, tạo điều kiện cho các lực lượng chuẩn bị chiến dịch Thượng Lào được thuận lợi.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:50:43 AM

TRẬN LIÊN THÀNH CỦA ĐẠI ĐỘI XUNG KÍCH VÀ ĐẠI ĐỘI B (6.4.1953)

        Trận hóa trang tập kích của Đại đội xung kích và Đại đội B tỉnh đội Bình Thuận vào quân Pháp ở khách sạn Liên Thành (nay là nhà khách ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận), nhằm tiêu diệt hạ sĩ quan, sĩ quan Pháp, phá kế hoạch tổ chức càn quét của địch.

        Thực hiện nhiệm vụ trên giao, ban chỉ huy hai đại đội chọn mỗi đơn vị lấy 10 người làm nhiệm vụ tiêu diệt địch.  Sau một thời gian nghiên cứu chuẩn bị, 6 giờ ngày 5 tháng 4 năm 1953, đơn vị hành quân vào vị trí giấu quân, hóa trang. 17 giờ 50 phút, đội gồng gánh lên đường “làm phận sự”.

        19 giờ 15 phút, từng người đã vào đúng vị trí đánh địch; thấy địch đang ăn uống, cười đùa, không chú ý người ra vào, chớp thời cơ thuận lợi, hai đồng chí Khải và Tán dùng tiểu liên đồng loạt nổ súng vào quân địch.

        Bị đánh bất ngờ, chúng không kịp đối phó, nhiều tên chết tại chỗ, Một số tên chạy vào phòng giữa, tìm đường chạy thoát. Ở phòng phía sau, tổ hai người Lộc và Phước dùng lựu đạn, tiểu liên diệt gần hết quân địch đang chơi bia, số còn lại chạy ra phòng giữa kêu la. Phía trước, phía sau quân ta phối hợp nhịp nhàng, vây chặt địch trong các phòng, dùng lựu đạn, tiểu liên tiêu diệt toàn bộ quân địch.

        Được lệnh cả tổ lui quân, khi ra đường gặp một số lính đang đứng ngơ ngác, ta diệt một số, sau đó vừa chạy vừa la “Việt Minh về Đức Thắng đông lắm, đồng bào chạy mau lên”. Nghe có Việt Minh về, sợ đánh nhau to nên đồng bào chạy ra đường. Còi báo động inh ỏi, dân chạy, lính chạy, cảnh sát chạy náo loạn cả đoạn đường Minh Mạng (Lý Tự Trọng). 

        Sau 5 phút đánh địch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 57 tên (42 chết, 15 bị thương). Trận đánh đầu tiên vào thị xã của lực lượng vũ trang Bình Thuận, làm cho địch không thực hiện được kế hoạch càn quét của chúng.


TRẬN NẬM MẠ CỦA TRUNG ĐỘI 28 ĐẠI ĐỘI BỘ BINH 815 (29.4.1953)

        Trận phục kích của Trung đội 28 Đại đội bộ binh 815 tỉnh đội Lai Châu đánh địch cơ động theo đường sông Đà ở khu vực xã Nậm Mạ; nhằm tiêu diệt địch, động viên tinh thần kháng chiến của nhân dân địa phương.

        Đoạn sông Đà chảy qua khu vực xã Nậm Mạ rộng khoảng 60 mét, sâu 4 đến 6 mét. Tuy sông quanh co, nhưng nước chảy không xiết. Trước khi qua thác Nậm Mạ, các loại thuyền bè, ca nô đều phải giảm tốc độ để xuống thác.

        Trung đội 28 có ba tiểu đội, trang bị một khẩu trung liên, mỗi tiểu đội ba khẩu tiểu liên, còn lại là súng trường, 30 quả lựu đạn và 10 kilôgam thuốc nổ TNT.  Nhận nhiệm vụ chiến đấu, trung đội nghiên cứu kỹ quy luật hoạt động của địch, địa hình, chọn trận địa đánh địch ở khu vực xã Nậm Mạ, tổ chức đội hình đánh địch thành ba bộ phận:

        Bộ phận chặn đầu do một tổ bốn người của Tiểu đội 3 đảm nhiệm, bố trí cách bộ phận chủ yếu về phía Nậm Mạ 100 mét; bí mật bố trí bộc phá trên sông, khi địch đến cho nổ bộc phá và dùng hỏa lực chặn địch, không cho chúng cơ động về Nậm Mạ.

        Bộ phận diệt địch chủ yếu do 17 người của các tiểu đội 1, 2 đảm nhiệm; bố trí ở bình độ 600 của điểm cao 1426 (bờ tây sông Đà); làm một bẫy đá, một bẫy lựu đạn, một bộ phóng nổ ở bình độ 400 giữa các điểm cao 1426 và 1329; hiệp đồng chặt chẽ với bộ phận chặn đầu, khóa đuôi diệt địch ở khu bãi bồi, bắt tù binh, thu vũ khí; cử một tổ cảnh giới sẵn sàng đánh địch từ hướng Nậm Mạ tới. 

        Bộ phận khóa đuôi do ba người của Tiểu đội 3 đảm nhiệm, bố trí cách bộ phận chủ yếu 70 mét về phía thị xã, có nhiệm vụ quan sát phát hiện địch cơ động từ thị xã Lai Châu tới, báo cáo kịp thời; hiệp đồng chặt chẽ với các bộ phận tiêu diệt địch.

        17 giờ ngày 26 tháng 4, trung đội từ Tả Sìn Thàng hành quân chiếm lĩnh trận địa. 5 giờ ngày 28 tháng 4, mọi công tác chuẩn bị chiến đấu xong, đơn vị sẵn sàng đánh địch. Cả ngày 28, địch không hành quân, đơn vị kiên trì chờ đợi.

        7 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4, bộ phận khóa đuôi nghe được tiếng máy ca nô từ thị xã đến. Đội hình địch rõ dần trên sông, lực lượng khoảng một đại đội, có hai trung đội Âu Phi và một trung đội lính dõng cơ động trên năm chiếc thuyền và một ca nô; hành quân thành một hàng dọc, mỗi thuyền cách nhau chừng 9 đến 10 mét. Trên ca nô có một khẩu đại liên và một khẩu ĐKZ.

        Khi thuyền đi đầu gặp vật cản, địch dững lại để gỡ. Cùng lúc đó, bộ phận chặn đầu nổ khói bộc phá 3 kilôgam, lật nhào chiếc thuyền của địch. Đồng thời, toàn bộ lực lượng của ta nổ súng vào đội hình của chúng.  Bị đánh bất ngờ, địch không điều khiển được các thuyền còn lại. Thuyền lật, lính phải bơi vội vào bãi sông tìm nơi ẩn nấp.

        Trong lúc địch đang rối loạn, các loại hỏa lực tập trung bắn mạnh vào đội hình của chúng. Các bẫy đá, bẫy lựu đạn, bệ phóng nổ phát huy tác dụng đánh địch bám vào bờ. Nhân lúc chiếc ca nô bị hỏng trôi trên sông, các hỏa lực của ta bắn mạnh diệt một số tên.Chớp thời cơ, các bộ phận xuất kích tiêu diệt địch còn lại trên trận địa. 

        10 giờ 10 phút, trận đánh kết thúc. Ta diệt 30 tên, làm bị thương chín tên địch; bắn chìm năm thuyền và bắn hỏng một ca nô; thu một súng trung liên, bốn súng trường. 

        Nhờ chuẩn bị chiến đấu nhanh, chu đáo, vận dụng các hình thức chiến thuật phù hợp, có kế hoạch đánh địch chặt chẽ; biết kết hợp sáng tạo các loại vũ khí thô sơ với vũ khí trang bị trong biên chế mà trận chiến đấu đạt hiệu suất cao.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:53:45 AM

TRẬN KRÔNG NÔ CỦA TIỂU ĐỘI DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG (19.5.1953)

        Trận phục kích của Tiểu đội du kích xã Trông Nô (bảy người, trang bị ba khẩu tiểu liên, bốn súng trường, một quả mìn ĐH 10, 15 quả lựu đạn) vào một trung đội lính ngụy, trang bị một máy PRC25, máy dò mìn, hai khẩu trung liên, sáu khẩu M79, còn lại là tiểu liên; nhằm tiêu diệt địch hành quân trên đường 21 Bis (nay là đường quốc lộ 27) chạy từ tây bắc xuống đông nam thuộc xã Trông Nô, phía nam huyện Lắc, tỉnh Đắc Lắc, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng địa phường phát triển, từng bước xây dựng lực lượng du kích lớn mạnh. 

        5 giờ ngày 19 tháng 5, tiểu đội du kích có mặt tại vị trí tập kết quy định. 8 giờ 30 phút, hai xe đi tuần của địch đi qua đoạn phục kích của ta. Khi xe tuần đường vừa đi khuất,  chỉ huy trận đánh lệnh cho các tổ nhanh chóng vận động ra chiếm linh trận địa, sẵn sàng nổ súng.

        9 giờ 30 phút, ta phát hiện một đoàn xe địch bảy chiếc tiến vào trận địa phục kích của ta. Đi đầu là hai chiếc chở quân, tiếp đến là bốn chiếc xe con và một xe chở lính nữa đi sau cùng. Sau khi nhận định tình hình, chỉ huy trận đánh quyết định chặn đánh ba xe đi sau.

        9 giờ 45 phút, đoàn xe tiến vào trận địa phục kích. Khi chiếc xe thứ năm vừa đến chỗ quả mìn ĐH 10 của ta, một tiếng nổ bùng lên, chiếc xe của địch trúng mìn lật sang một bên đường, lăn xuống suối cạn bốc cháy. Cả tiểu đội đồng loạt nổ súng và dùng lựu đạn đánh vào hai xe đi sau của địch, chúng không kịp phản ứng và bị tiêu diệt. 

        Nghe tiếng súng nổ, hai xe chở lính dừng lại và dùng súng phóng lựu M79 và đại liên bắn mạnh vào trận địa của ta. Để bảo toàn lực lượng, ta kết thúc trận đánh. Ta loại khỏi vòng chiến đấu 25 tên địch (trong đó có tên trung tá trung đoàn trưởng trung đoàn 44 sư đoàn 23 ngụy), phá hủy ba xe Ô tô (một xe tải, hai xe Jeép) và nhiều vũ khí đạn dược .

        Nét nổi bật của trận phục kích là người chỉ huy đã linh hoạt, chủ động lựa chọn phương án đánh địch; xử trí kịp thời các tình huống diễn ra trong chiến đấu. 


TRẬN ĐỖ XÁ CỦA ĐẠI ĐỘI 91 (31.7.1953)

        Trận tập kích của Đại đội 91 bộ đội địa phương tỉnh (Nam Định vào trung tâm chỉ huy của hai binh đoàn cơ động số 5 và số 7 (lực lượng chủ lực tinh nhuệ) của quân đội Pháp khi chúng thực hiện cuộc hành quân “Thánh tử vì đạo” tại thôn Đỗ Xá, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định; nhằm tiêu diệt địch, cùng các lực lượng khác phá kế hoạch hành quân của chúng. 

        Ngày 31 tháng 7 năm 1953, các binh đoàn cơ động số 5, 7 do thiếu tướng Ghi lít chỉ huy, được phi pháo yểm trợ tiến hành cuộc hành quân mang tên “Thánh tử vì đạo” càn quét vào các huyện phía nam tỉnh Nam Định.

        Trên đường 21, sau gần một ngày hành tiến, chúng mới vượt qua được cầu Voi thuộc xã Nam Trực. Khoảng 18 giờ, hầu hết các xe đến Đỗ Xá thì bị ùn tắc, phần lớn đội hình địch buộc phải nằm cụm lại qua đêm giữa cầu Voi và Vũ Lão.  Đại đội 91 có 30 người, trang bị chín tiểu liên, 12 súng trường, hai súng ngắn, khoảng 80 quả lựu đạn và một số dao, kiếm. Đơn vị đang củng cố lực lượng tại chùa Nam Trung (cách Đỗ Xá khoảng 1 kilômét), nhận nhiệm vụ đánh vào đội hình địch, sau đó rút về căn cứ chuẩn bị lực lượng chống càn.

        Thực hiện ý định của trên, đại đội hạ quyết tâm sử dụng hai trung đội triển khai thành tuyến ngang trên 100 mét song song với đường 21 . Một trung đội do Đại đội trưởng Trần Xuân Soạn chi huy đánh thẳng vào khu chỉ huy, khu xe máy, diệt địch co cụm và phá hủy phương tiện cơ động của địch.

        19 giờ 30 phút ngày 31 tháng 7, đại đội bí mật hành quân tiếp cận địch. 20 giờ, phía Trung đội 2, bộ đội đang triển khai thì gặp địch đi sục sạo. Chúng phát hiện được ta, buộc ta phải nổ súng ngay, bộ đội vừa bắn vừa ném lựu đạn diệt các tốp địch gần đó. Một chiếc xe lớn trúng đạn bốc cháy. Cùng lúc, cả Trung đội 1 nhanh chóng lao lên đánh vào đội hình địch.

         Hướng Trung đội 2, bộ đội  vượt qua đường chiếm vị trí có lợi bắn vào quân địch từ phía đông. Một số quân địch bị diệt, một số hốt hoảng chạy tạt xuống ruộng. Trên đường một số xe địch bốc cháy, tiếng lựu đạn xen lẫn tiếng súng ầm vang. Lợi dụng ánh lửa, các chiến sĩ ta ném lựu đạn vào từng tốp địch đang cụm lại.  Bị đánh bất ngờ, địch đối phó lúng túng.

        Hơn 10 phút sau, địch mới dùng pháo bắn vào hai bên đường. Khi trận đánh kết thúc, 162 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, trong đó có tướng Ghi lít; nhiều xe quân sự bị phá. Cuộc hành quân của địch phải chậm lại bốn ngày theo kế hoạch.  Chiến thắng Đỗ Xá tạo đà cho lực lượng vũ trang tỉnh phát triển và mở rộng, tiến lên dồn ép, tiêu diệt địch, giải phóng quê hương.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 12:55:54 AM
       
TRẬN NHƯỢNG BẠN CỦA DÂN QUÂN ĐỊA PHƯƠNG (4.9.1953)

        Trận chống càn của một trung đội và 18 tiểu đội du kích (quân số 120 người, trang bị mìn, lựu đạn, giáo mác và một số súng trường) đối phó với hai đại đội Âu Phi và ngụy quân, trang bị súng bộ binh, có hỏa lực đại liên, cối 60mm và 80mm tăng cường, đổ bộ vào bờ biển xã Nhượng Bạn (nay là xã Cẩm Nhượng) huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh.

        4 giờ ngày 4 tháng 9, lợi dụng sương mù, địch đổ bộ vào địa phận xã Nhượng Bạn trên ba hướng, bao vây xung quanh xã, đồng thời bí mật dùng một ca nô chở một trung đội theo Của Lạch lên xóm Cồn Bè, Thiên Tri kết hợp với các cánh quân trên bộ đánh vào thôn Võ Sĩ rồi vòng xuống phía nam xã.

        Phát hiện được địch, chỉ huy xã đội chỉ thị cho trung đội dân quân tập trung cơ động dựa vào thế trận đã bố trí sẵn, hiệp đồng với du kích các xóm tại chỗ diệt địch.  Lợi dụng địa hình quen thuộc, phát huy thế trận của du kích chiến tranh, từng tổ dân quân du kích bám trụ địa bàn, quần lộn với địch, lúc đánh chính diện, khi tập kích phía sau, lúc lại đánh bên sườn làm cho địch lúng túng, bị động.

        Bị đánh bất ngờ và thiệt hại nhiều, địch dùng hỏa lực bắn phá các xóm và tăng thêm lực lượng bao vây chặt trung đội cơ động của xã. Trên các hướng, các tổ du kích đã dũng cảm chiến đấu, tiêu diệt nhiều địch, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh.

        Đến 13 giờ ngày 4 tháng 9, ta diệt 30 tên địch, làm bị thương nhiều tên, thu nhiều súng đạn, buộc địch phải kết thúc cuộc càn. Ta có 80 dân thường bị địch giết hại; 150 ngôi nhà, 150 thuyền, lưới đánh cá bị địch đốt phá và cướp bóc.


TRẬN KHỞI NGHĨA CỦA CÁC ĐẠI ĐỘI 295, 196 VÀ DÂN QUÂN ĐỊA PHƯƠNG (24.9.1953)

        Trận chống càn của các đại đội 295, 196 và dân quân địa phương đánh địch càn vào xã Khởi Nghĩa, huyện Tiên Lãng, tỉnh Kiến An (nay là thành phố Hải Phòng), giữ vừng làng xóm, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

        Tháng 8 năm 1953, được tin địch chuẩn bị mở cuộc càn lớn vào Tiên Lãng, huyện ủy quyết định thành lập Ban chỉ đạo chống càn và điều Đại đội 295 từ Chấn Hưng về Khởi Nghĩa cùng Đại đội 196 chuẩn bị đánh địch.  

        Tại xã Khởi Nghĩa, chỉ huy trận đánh bố trí: Trung đội 1 của Đại đội 196 và Trung đội 2 của Đại đội 295 ở thôn An Tử; phía tây thôn An Dụ bố trí một tiểu đội du kích tập trung sẵn sàng đánh địch từ phía đường Rồng; tăng cường Tiểu đội 2 Trung đội 2 Đại đội 295 cho hướng An Dụ sẵn sàng đánh địch; đưa một trung đội hỏa lực có hai đại liên, hai trung liên ém sẵn sát hàng rào chi viện hỏa lực cho bộ binh đánh địch. Ngoài ra du kích các xã tăng cường cho các đơn vị để vận chuyển thương binh, chặn địch trên hướng đường Rồng. Trên hướng Đại đội 196 chốt giữ, Đại đội trưởng điều Tiểu đội 2 kết hợp với đội du kích xã tăng cường cho hướng Cương Nha.

        Địa phương triệt để sơ tán các cụ già, trẻ em và những người không ở lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu, cất giấu lương thực dự trữ, dụng cụ sản xuất nhằm giảm thiệt hại đến mức thấp nhất cả người và của.

        Sáng 24 tháng 9, địch dùng 200 lính Âu Phi và lính dù từ huyện lỵ càn vào Khởi Nghĩa, toán đầu bị ta phục kích diệt gọn. Địch huy động tiểu đoàn từ huyện lỵ lên, một tiểu đoàn Âu Phi từ Kiến An sang theo đường 10 qua sông Mới tràn xuống, một tiểu đoàn gồm 400 tên từ tàu chiến trên sông Thái Bình đổ bộ lên, hình thành năm mũi bao vây chặt xã Khởi Nghĩa.

         Mũi một do một tiểu đoàn Âu Phi đảm nhiệm; mũi hai gồm 400 tên từ tàu chiến đổ bộ lên; mũi ba gồm 500 tên từ huyện lỵ đánh vào Cương Nha; mũi bốn gồm 300 quân từ bốt Trung Lăng vào thôn Hà Đới, Ninh Tuy; mũi năm gồm 500 quân theo đường 25 đánh vào thôn An Tử, Ninh Duy. Trên không bốn máy bay B24, B26 thay nhau ném bom bắn phá xuống xã Khởi Nghĩa.

        Từ các hướng địch hò hét xông vào làng, bắn xối xả vào các xóm. Bộ đội và dân quân vẫn bình tĩnh đợi giặc vào thật gần mới đồng loạt nổ súng, ngay từ loạt đạn đầu hàng chục quân địch chết tại chỗ. Cậy quân đông, nhiều đạn, địch liên tiếp tiến công vào các làng, quân và dân ta đã đánh địch quyết liệt, liên tục bẻ gãy  các đợt xông lên của địch.

        10 giờ, sau những loạt bom phá, bom napan dội xuống, pháo binh dồn dập bắn vào các thôn An Tử, An Dụ, địch lại hung hãn xông lên. Được lệnh của trên, Trung đội 2 sử dụng hai đại liên, hai tiểu liên và hai súng cối luồn càn, đánh cắt ngang tiểu đoàn Âu Phi làm cho chúng hoảng loạn, phải phân tán lực lượng thành những cụm nhỏ để các đơn vị của ta tiêu diệt.

        Khoảng 1 giờ, một bộ phận khá lớn của tiểu đoàn Âu Phi chiếm được gần một nửa thôn An Tử; ta và địch giành giật nhau từng căn nhà, bức tường, ngõ xóm; bộ đội, du kích bất ngờ xông ra giáp lá cà với địch bằng các loại vũ khí có trong tay: giáo, mác, cuốc, thuổng, gậy gộc.  

        17 giờ, dân quân du kích phải chuyển các thương binh vào các căn nhà sau những trận bom để băng bó, cấp cứu và chôn cất liệt sĩ.

        Đêm đến, địch rút khỏi thôn An Tử, chốt trên các ngả đường quanh xã. Được nhân dân và dân quân du kích giúp đỡ, khoảng 24 giờ, các đại đội 295 và 196 được lệnh vượt sông Thái Bình sang Khu Trì (xã Quang Vinh huyện Vĩnh Bảo) an toàn.

        Sau một ngày đánh địch càn quét, 137 tên địch bị tiêu diệt, hàng chục tên khác bị thương. Ta thu 40 súng tiểu liên và súng trường, một súng cối 60mm, bắn rơi một máy bay.

        Các thôn An Tử, An Dụ bị bom pháo giặc tàn phá nặng nề, 70 phần trăm nhà cửa của dân trong các thôn bị đổ nát hay đốt cháy.

        Chống càn - một hình thức đấu tranh tổng hợp, trong đó đấu tranh vũ trang là chủ yếu. Trong cuộc đấu tranh gian khổ, ác liệt, hy sinh đó, lãnh đạo của cấp ủy Đảng, điều hành của chính quyền địa phương là yếu tố quyết định đánh bại địch trên mọi lĩnh vực.

        Về quân sự, phải vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, kết hợp đánh địch trên diện rộng với đánh đích có trọng điểm nhằm tiêu hao, tiêu diệt lực lượng địch, bẻ tãy ý định càn quét của chúng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:01:21 AM

TRẬN PHỤNG XÁ CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG (27 - 29.9.1953)

        Trận chống càn của du kích Phụng Xá xã Vạn Phúc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, đánh bốn tiểu đoàn quân Pháp càn vào xã, nhằm thực hiện bám đất giữ làng, chống địch càn quét.

        Thu Đông 1953, được lực lượng vũ trang hỗ trợ, nhân dân Phụng Xá vùng lên phá tề, trừ gian; các đoàn thể quần chúng được kiện toàn, nông hội được củng cố.

        Lực lượng du kích của xã có ba tiểu đội và một tiểu đội bộ đội địa phương huyện Ninh Giang phối hợp chiến đấu. Vũ khí có 24 khẩu súng trường, mỗi người có hai quả lựu đạn, mỗi tiểu đội có 10 quả mìn, 15 bàn chông.

        Lúc 1 giờ ngày 27 tháng 9, Pháp tập trung bốn tiểu đoàn chia làm hai hướng tiến công vào xã Vạn Phúc. 7 giờ 30 phút, toán quân đi đầu của cánh quân thứ nhất lọt vào khu vực bố trí mìn. Lập tức Tiểu đội 1 tập trung bắn vào quân địch. Bị bất ngờ chúng tản ra, một số bị thụt vào hố chông, số còn lại bị lực lượng đối diện bố trí ngoài đê bắn, địch hốt hoảng lui lại, một tên bị sa xuống hầm chông, năm tên khác lại cứu va phải mìn, bốn tên chết và một số bị thương.

        8 giờ 30 phút, địch biết chỉ còn có du kích, chúng bao vây diệt du kích của ta, nhưng du kích vừa chặn địch vừa lui về tuyến hai, lợi dụng các vật cản tự nhiên và hào giao thông chặn các đợt tiến công của địch.  Bị thiệt hại chúng phải lui ra gọi pháo chi viện và chờ tăng viện tới mới tiến công.

        19 giờ, địch ồ ạt xông vào làng Bình Hoàng, du kích chống trả nhưng địch đông, được xe tăng và pháo binh chi viện, nên phải lui về bố trí xung quanh nhà thờ Bình Hoàng, tiếp tục đánh địch. 12 giờ địch chiếm được Bình Hoàng, du kích rút về tuyến 4 dựa vào bờ hào, rặng tre ngăn chặn địch. Trận chiến đấu giữa ta và địch kéo dài đến 8 giờ ngày 29 tháng 9; 50 tên địch bị tiêu diệt, bị thương hai tên.

        Nhờ thống nhất chỉ đạo, chỉ huy giữa bộ đội và du kích; tích cực chủ động lợi dụng địa hình, địa vật đánh địch cả trong và ngoài làng; dân quân, du kích thạo sử dụng chông, mìn và súng chiến đấu; kết hợp chặn địch chính diện với đánh bên sườn, phía sau mà ta đã giữ vững được trận địa ba ngày, tiêu diệt được nhiều địch. 


TRẬN YÊN NHÂN CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG VÀ BỘ ĐỘI HUYỆN YÊN LÃNG (17.10.1953)

        Trận chống càn của du kích thôn Yên Nhân, xã Tiền Phong và bộ đội địa phương huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc chống lại cuộc hành quân càn quét của một tiểu đoàn Âu Phi và một đại đội ngụy, được xe tăng chi viện nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ xóm làng. 

        Đội du kích thôn Yên Nhân có 47 người do Hoàng Văn An chỉ huy, bước vào trận chống càn được tăng cường một tiểu đội bộ binh và một tiểu đội súng cối 60mm (14 người) bộ đội huyện Yên Lãng. Trang bị có hai khẩu cối 60mm, bốn khẩu trung liên, bốn khẩu tiểu liên, 16 súng trường, 90 quả mìn, 80 quả lựu đạn và một số:vũ khí tự tạo khác. 

        Để chống địch càn quét, trung đội xây dựng trận địa phòng ngự tại thôn yên Nhân. Hướng phòng ngự chủ yếu từ cổng Cầu đến cổng Đông. Hướng thứ yếu từ cổng Vọt đến cổng Cầu. Lực lượng chiến đấu được tổ chức thành ba bộ phận:

        Bộ phận thứ nhất có 26 người (18 du kích, tám bộ đội địa phương), do Đoàn Văn Thuần chỉ huy. Trang bị một khẩu cối 60mm, hai khẩu trung liên, hai khẩu tiểu liên, tám khẩu súng trường, 30 quả mìn, . . . làm nhiệm vụ tiêu diệt địch trên hướng chủ yếu.   

        Bộ phận thứ hai có 20 người (15 du kích, năm bộ đội địa phương), do Nguyễn Văn Đẩu chỉ huy. Trang bị một khẩu cối 60mm, một khẩu trung liên, một khẩu tiểu liên, sáu khẩu súng trường, 70 quả mìn, lựu đạn..., đảm nhiệm tiêu diệt địch trên hướng thứ yếu.

        Bộ phận thứ ba có 15 người 14 du kích, một bộ đội địa phương), do Hoàng Văn An chỉ huy. Trang bị một khẩu trung liên, một khẩu tiểu liên, hai khẩu súng trường. . . , đảm nhiệm tiêu diệt địch từ cổng Cầu đến cổng Đông. 

        Tổ trinh sát có bốn người do Nguyễn Thị Xuân chỉ huy. 

        5 giờ ngày 17 tháng 10, địch dùng pháo 105mm từ Thanh Tước và Thường Lệ bắn mạnh vào thôn Yên Nhân.  5 giờ 30 phút, một tiểu đoàn lính Âu Phi và một đại đội ngụy được tám xe tăng và xe cơ giới yểm trợ tiến về xã Tiền Phong. Khi qua bốt Thường Lệ, địch chia thành ba mũi tiến vào Hạ Lôi, Tiền Phong, ấp Hạ.

        Khoảng 6 giờ, mũi thứ hai đến gần chùa Trung Hậu, một xe tăng trúng mìn bốc cháy, đội hình ùn lại, ta diệt bốn tên, bắn bị thương năm tên.

        Trận chiến đấu kéo dài đến 19 giờ, ta và địch giành giật nhau từng góc làng, ngõ xóm. Nhiều lần địch chiếm được một phần trận địa của từng bộ phận, nhưng bị du kích kết hợp với bộ đội vu hồi đánh bật chúng trở lại.

        Sau bảy lần được pháo chi viện, tiến công không thành, đến 20 giờ địch rút khỏi thôn Yên Nhân về phía chùa Trung Hậu để củng cố lực lượng. Lợi dụng trời tối, ta tập kích diệt thêm tám tên, trong đó có một tên quan tư Pháp. Ngay trong đêm đó du kích các thôn thường xuyên nổ súng quấy rối làm cho địch mất ăn, mất ngủ.

        5 giờ ngày 18 tháng 10, do bị thương vong nhiều, địch phải kết thúc cuộc càn lui về căn cứ dưới sự chi viện hỏa lực của trận địa pháo ở Thanh Tước.

        Sau hơn một ngày đêm chiến đấu, du kích và bộ đội được nhận dân giúp đỡ đã diệt 71 tên địch, phá hủy hai xe tăng, một xe thiết giáp, thu một trung liên. Địch đốt 259 ngôi nhà; cướp 29 trâu bò và một số lợn, gà của dân. 

        Trận đánh thắng lợi, đánh dấu sự trưởng thành về tổ chức chỉ huy, hiệp đồng chiến đấu giữa bộ đội và du kích địa phương, góp phần phá kế hoạch càn quét triệt để phá cơ sở cách mạng, cất vó chủ lực của quân đội Pháp.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:03:14 AM

TRẬN QUÁN TIÊN CỦA ĐẠI ĐỘI BỘ BINH 468 (20.10.1953)

        Trận độn thổ phục kích của bộ đội địa phương, có sự phối hợp của du kích nhằm tiêu diệt quân địch đi dò mìn và tuần tiễu bảo đảm an ninh quốc lộ số 2 tại Quán Tiên, xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

        Để bảo đảm an ninh đoạn đường từ bốt Cầu Oai lên, từ bốt Hội Thượng ra và từ bốt Hạ vào, hàng ngày thường có khoảng hai tiểu đội (chủ yếu từ bốt Hạ và bốt Hội Thượng đến), trang bị hai khẩu trung liên, năm khẩu tiểu liên, tám khẩu súng trường, một khẩu phóng lựu và một máy dò mìn đi tuần đường, chúng thường hội quân ở Quán Tiên.

        Đại đội 468 bộ đội địa phương huyện Tam Dương có 160 người. Trang bị bốn trung liên, còn lại là súng trường và một số mìn, thuốc nổ các loại. Vào chiến đấu, đại đội được tăng cường 10 du kích xã Hợp Thịnh.  Thực hiện nhiệm vụ của huyện ủy giao, đại đội chọn phương pháp độn thổ phục kích địch ở Quán Tiên.

        Lực lượng bố trí cụ thể: Trung đội do Đào Văn. Lạc chỉ huy bố trí dọc đường số 2 từ Quán Tiên lên chùa Cói. Trung đội (thiếu) do Phùng Quang Hào chỉ huy bố trí thành các tổ phân tán trên các hướng: một tổ có một trung liên, một tiểu liên bố trí ở nghĩa trang Đồng Cói; một tổ ba người, có một tiểu liên, hai súng trường bố trí ở cầu Mòng; một tổ năm người, có một khẩu cối 60mm bố trí ở đầu sông cụt; tổ còn lại sáu đồng chí, có ba khẩu tiểu liên, ba khẩu súng trường, có nhiệm vụ chặn đầu và phát lệnh cho toàn trận địa nổ súng.

        19 giờ ngày 19 tháng 10, đơn vị bắt đầu hành quân đến vị trí tập kết và vào chiếm lĩnh xong lúc 21 giờ. Đến 2 giờ ngày 20, mọi công tác chuẩn bị chiến đấu hoàn thành.

        5 giờ ngày 20, có 5 đến 7 tên hương dũng, trang bị súng trường ở bốt Hội Thượng ra chiếm trận địa, đến Quán Tiên chúng dừng lại, chờ bọn ở bốt Hạ đến phối hợp dò mìn. 7 giờ 30 phút, có khoảng 25 đến 30 tên từ bốt Hạ lên, một số đi trên quốc lộ 2 mang theo máy dò mìn, số còn lại khoảng 15 đến 20 tên trang bị một trung liên ba tiểu liên, một súng phóng lựu, còn lại là súng trường đi bên bờ kênh bảo vệ sườn phía đông cho tốp dò mìn.

        Khi hai lực lượng địch gặp nhau ở Quán Tiên, chúng triển khai hỏa khí trên thành cống, ngay trên hố phục kích của ta, nhưng không phát hiện được gì.  7 giờ 50 phút, có tiếng súng nổ trong trận địa do địch nghi ta phục kích.

        8 giờ, được lệnh nổ súng, các lực lượng ta bật nắp hầm xông lên quật ngã nhiều tên địch: Một số địch hốt hoảng vứt súng bỏ chạy tán loạn. Trong chớp nhoáng ta làm chủ hoàn toàn trận địa, bắt tù binh, thu vũ khí, sau đó rút về khu du kích Yên Lạc.

        Trận chiến đấu diễn ra trong vòng 30 phút, ta diệt 10 tên, bắt chín tên địch, thu một trung liên, bốn tiểu liên, năm súng trường.

        Trận Quán Tiên thắng lợi đã tiếp tục phát huy và thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích ở địa phương đang trên đà phát triển.


TRẬN BỈM SƠN CỦA ĐẠI ĐỘI 57 (25 - 27.10.1953)

        Trận chống càn của Đại đội 57 bộ đội địa phương tỉnh Thanh Hóa, có ba trung đội bộ binh, hai tiểu đội trợ chiến, được du kích địa phương phối hợp chiến đấu, đánh quân Pháp càn quét vào các xã Tống Giang, Hoạt Giang (Bỉm Sơn, bắc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa); nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ hậu phương Thanh Hóa với Liên khu 3 và các chiến trường ở Bắc Bộ.

        Ngày 25 tháng 10 năm 1953, quân Pháp cho hai tiểu đoàn bộ binh chia làm ba mũi tiến vào Chuối Bộ, đồi Lê và đồi Chín Giếng. 12 giờ, một đại đội sục vào ga Bỉm Sơn, 17 giờ chúng rút ra sông Cạn và dùng đại bác bắn dữ dội vào Cổ Đạm và Nghĩa Môn.

        Tối 25 tháng 10, Đại đội 7 và du kích dùng mìn phá sập cầu Tống Giang.

        21 giờ ngày 26, địch cho 14 tên càn vào Cổ Đạm, bị trúng mìn của du kích, chúng bỏ chạy tán loạn. Chớp thời cơ, Đại đội ô7 cơ động diệt bốn tên, làm bị thương ba tên khác.  Ngày 27, chúng cho pháo bắn vào xã Tống Giang. Lúc 12 giờ, địch sử dụng một tiểu đoàn, được 18 xe bọc thép, xe tăng yểm trợ chia làm hai mũi tiến vào Bỉm Sơn và Thổ Khôi.

        Cả hai mũi bị Đại đội 57 và du kích địa phương đánh trả quyết liệt. Mũi tiến vào Thổ Khôi bị diệt 15 tên. Địch tiếp ứng một đại đội có xe tăng đi cùng tiến đến cầu Tống Giang bị Đại đội 57 chặn đánh, một số tên bị diệt. 14 giờ trận đánh kết thúc, địch rút ra bờ sông, sau đó về Ninh Bình.

        Qua hai ngày chiến đấu, ta diệt 41 tên, làm bị thương 70 tên, phá hủy sáu xe tăng, xe bọc thép.

        Trận phòng ngự chống càn của Đại đội 57 và du kích đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân; chủ động rào làng chiến đấu, xây dựng vật cản; tận dụng và phát huy được sức mạnh của các loại vũ khí; bố trí lực lượng phù hợp; chỉ huy và thực hành chiến đấu dũng cảm, linh hoạt, do đó đạt hiệu suất chiến đấu cao, thương vong ít.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:04:33 AM

TRẬN TAM ĐƯỜNG CỦA CÁC ĐẠI ĐỘI 965, 513 (9 - 10.11.1953)

        Trận tập kích quân địch ở đồn Tam Đường của Đại đội bộ binh 965 tỉnh Lào Cai và Đại đội 13 Tiểu đoàn 183 Liên khu Việt Bắc nhằm tiêu diệt quân địch ở đồn Tam Đường, cô lập địch ở phía nam, uy hiếp địch ở phía bắc, tiến tới giải phóng huyện Phồng Tô (tỉnh Lào Cai, nay là huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu). 

        Địch xây dựng đồn Tam Đường trên một khu vực cao, có khả năng quan sát và khống chế các khu vực xung quanh, án ngữ trục đường chính từ Lào Cai đi Lai Châu.  Phía bắc và nam đồn có nhiều núi cao, rừng rậm, tiện giấu quân và tiếp cận đánh địch. Xung quanh đồn có tường xếp bằng đá, cao 1 mét, dày 0,8 mét. Công sự trong đồn là hầm đất có giao thông hào nối liền các hố bắn xếp bằng đá.

        Giữ đồn có các đại đội 1, 2 của quân phỉ; hai trung đội lính dõng (khoảng 250 tên). Trang bị có một khẩu cối 82mm, sáu khẩu cối 60mm, bốn khẩu đại liên, tám khẩu trung liên, còn lại là súng trường và tiểu liên. Tại đồi A có hai trung đội, đồi F có một trung đội của đại đội 1 chốt giữ’ Các đồi B, C, D, E do lực lượng của đại đội 2 giữ. Hai trung đội lính dõng giữ hai bản Tả Sìn Chải và Teo Sìn Chải. 

        Thực hiện nhiệm vụ trên giao, chỉ huy trận đánh tổ chức đội hình thành các bộ phận:

        - Đại đội 96 được tăng cường một tiểu đội du kích Hồ Thầu, có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở bản Teo Sìn Chải vào ngày 9 tháng 12, tiếp đó tập kích diệt địch ở đồi A vào ngày 10 tháng 12, ép địch ở đồi F đầu hàng, làm chủ hoàn toàn phía bắc đường.

        - Đại đội 513 được tăng cường một tiểu đội du kích Hồ Thầu, có nhiệm vụ tập kích tiêu diệt địch ở bản Tả Sìn Chải vào sáng ngày 9 tháng 12; tiếp đó tập kích địch ở đội B vào sáng ngày 10 tháng 12; cùng các bộ phận khác buộc địch ở các đồi C D, E đầu hàng, làm chủ hoàn toàn phía nam đường từ Lào Cai đi Lai Châu.

        - Đội công tác có nhiệm vụ hỗ trợ hai đơn vị tập kích địch ở hai bản. Sau khi làm chủ hai bản, đội giải thích cho nhân dân về việc bộ đội giải phóng bản, giải phóng đồng bào, hướng dẫn nhân dân sơ tán tránh thương vong. Đồng thời vận động nhân dân ủng hộ lương thực, thực phẩm nuôi quân và kêu gọi con em mang vũ khí trở về với nhân dân, với cách mạng.

        - Tổ đặc nhiệm gồm bốn trinh sát có nhiệm vụ bắt tên Hoàng Chi và làm hiệu lệnh nổ súng.

        2 giờ ngày 9 tháng 12, các đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa.

        5 giờ 30 phút ngày 9 tháng 12, các đại đội 965 và 513 nổ súng diệt địch. Do trời tối, sương mù dày đặc, địch lợi dụng công sự ẩn nấp chống lại. Nhưng ta tiến công mạnh nên sau 30 phút, địch phải rút chạy ra cánh đồng về đồn.  8 giờ 30 phút, ta làm chủ hai bản; tiêu diệt 10, bắt và gọi hàng 10 tên địch, thu 25 súng trường, lương thực thực phẩm thu được khoảng sáu xe Ô tô. Biết ta chiếm được bản, địch dùng phi pháo đánh phá, làm cháy một nhà dân.

        14 giờ 30 phút, trung đội phỉ do Lò Văn Xuân chỉ huy từ xã Nậm Noọng về chi viện, bị tổ chốt của ta chặn đánh diệt hai tên, chúng phải trở lại nơi xuất phát. 22 giờ, các đại đội vào chiếm lĩnh trận địa tập kích các đồi A và B. Nhờ có Sùng A Sa (lính dõng đầu hàng) dẫn đường nên cả hai đại đội chiếm lĩnh vị trí an toàn, bí mật.

        4 giờ 30 phút ngày 10 tháng 12, tổ đặc nhiệm nghi binh kéo địch về một hướng, vào giao thông hào bắt chí huy đồn Hoàng Chi khi hắn vừa đi kiểm tra về và đưa ra ngoài. Sau đó một chiến sĩ đặc nhiệm hô lớn: “Hoàng Chi bỏ trốn, anh em bỏ súng về với vợ con mình thôi”, rồi ném lựu đạn làm hiệu lệnh. Bộ đội đồng loạt xung phong. Địch chống cự lẻ tẻ, một số bỏ chạy bị ta tiêu diệt và bắt. Ta làm chủ hoàn toàn các đồi A và B. 

        Ngay sau khi làm chủ các đồi A và B, ta triển khai bao vây các đồi C, D, E, F; kết hợp kêu gọi địch ra hàng với dùng hỏa lực cối, đại liên đặt trên các mỏm đồi A, B bắn vào các đồi còn địch. Trước sức mạnh của ta, địch lần lượt ra hàng và về khu tập trung theo chỉ dẫn của bộ đội, ta làm chủ đồn Tam Đường.

        Chiều cùng ngày, trung đội phỉ Lò Văn Xuân ở Nậm Noọng cũng hạ vũ khí đầu hàng và nộp cho ta bảy kiện hàng còn nguyên vẹn.  Sau hai ngày chiến đấu, ta diệt 33 tên; bắt và gọi hàng gần 200 tên, thu một khẩu cối 82mm, một khẩu cối 60mm, 12 khẩu đại liên và trung liên, hơn 100 súng trường các loại và khoảng bảy Ô tô lương thực.

        Chiến thắng Tam Đường đã phá vỡ một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng ngự của địch ở huyện Phồng Tô, cô lập hoàn toàn địch ở phía nam, tạo đà cho bộ đội địa phương và du kích giải phóng quê hương.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:07:15 AM

TRẬN PÓ LUM CỦA ĐẠI ĐỘI 96 (12.11.1953)

        Trận phục kích của đại đội 96 bộ đội địa phương tỉnh 1 Yên Bái vào toán phỉ (34 tên) tuần tra, lùng sục vào các bản cướp bóc của cải của dân, phát hiện lực lượng ta. 

        Bản Pó Lum thuộc xã Hố Mít, huyện Than Uyên, tỉnh Yên Bái, trên đoạn đường từ Pắc Ta đi Phiềng Phát. Tại đây hai bên đường là những dãy đồi nối tiếp nhau, xen kẽ có những vạt rừng già  rậm rạp; nhiều chỗ lượn hình cánh cung, một bên có ruộng bậc thang, tiếp đến là suối nhỏ, tiện quan sát, giấu quân, cơ động lực lượng. 

        Đại đội bộ binh 96 có bốn trung đội, nhưng khi chiến đấu chỉ có hai trung đội tham gia, còn hai trung đội đang đi làm nhiệm vụ khác.

        Đại đội tổ chức thành ba bộ phận: Bộ phận chặn đầu bảy người, có một khẩu trung liên, do Đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy. Bộ phận khóa đuôi bảy người, có một khẩu trung liên, do Trung đội trưởng Hà Kim Oanh chỉ huy. Bộ phận diệt địch chủ yếu có 10 người với hai trung liên do Kim Khôi chỉ huy.

        1 giờ ngày 12 tháng 11, đại đội hành quân chiếm lĩnh trận địa. 9 giờ, có 34 tên địch từ Phiềng Phát lên, trang bị một trung liên, năm tiểu liên, còn lại là súng trường.

        Để địch lọt hết vào trận địa, đồng chí Hà Kim Oanh ra lệnh nổ súng. Tất cả hỏa khí của đại đội bắn vào đội hình địch. Bị đánh bất ngờ, chúng đối phó lúng túng. Chớp thời cơ các chiến sĩ từ các hướng, các mũi, các vị trí chiến đấu ném lựu đạn xuống đường và nhanh chóng xông ra đường diệt những tên địch còn lại.

        Sau 10 phút chiến đấu, được tin ở phía Pó Lum, Pắc Ta có tiếng súng nổ, phán đoán thấy địch có thể từ Pó Lum, Pắc Ta lên ứng cứu, Đại đội trưởng ra lệnh thu dọn chiến trường và lui quân.

        Trận đánh diễn ra nhanh, ta diệt 29 tên địch, thu năm tiểu liên, ba súng trường, hai máy vô tuyến điện và một số tài liệu.

        Trận phục kích diệt phỉ của Đại đội 96 để lại nhiều kinh nghiệm tốt về khắc phục khó khăn,  đoàn kết, chủ động đánh địch của lực lượng vũ trang địa phương.


TRẬN YÊN DŨNG CỦA TIỂU ĐOÀN 28 (20 - 27.11.1953)

        Được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Bắc Giang, từ 20 đến 27 Tháng 11năm 1953, Tiểu đoàn 28 (thiếu một đại đội) và các đại đội 259, 239 Yên Dũng đã đánh lui nhiều đợt càn quét của bốn trung đoàn địch có xe tăng, pháo binh, tàu chiến, máy bay yểm trợ; diệt nhiều địch, phá nhiều phương tiện chiến tranh; bảo vệ được nhân dân và giữ vững khu du kích, phá cuộc tiến công ra vùng tự do của quân Pháp.

        Yên Dũng, một huyện trung du của tỉnh Bắc Giang, có vị trí quan trọng, là khu đệm giữa vùng tự do và vùng bị địch tạm chiếm, đồng thời là cửa ngõ của ta vào khu căn cứ Bắc Ninh, tả ngạn Liên khu 3. Yên Dũng có nhiều đồi núi xen kẽ và bị nhiều sông sâu, gấp khúc chia cắt như sông Thương, sông Lục Nam, sông Cầu. Yên Dũng nằm giữa các đường lớn như 1A, 13, 17 và 18. Đường sá thuận lợi cho cơ động lực lượng về mùa khô. 

        Nhằm tiêu diệt chủ lực và du kích, phá cơ sở cách mạng, tạo điều kiện củng cố phòng tuyến, lấy lại tinh thần cho binh sĩ đang đóng quân tại địa bàn; từ cuối tháng 10 năm 1953, Pháp tăng cường binh đoàn cơ động số 5 lên đóng ở đường 13 (từ Phủ Lạng Thương đi Thái Đào, Đồi Ngô). Ngày 20 tháng 11, binh đoàn cơ động số 2 được đưa lên phối hợp với các binh đoàn đang hoạt động tại đây mở cuộc hành quân càn quét khu vực Yên Dũng. 

        Để yểm trợ cho cuộc càn, địch sử dụng chín đại đội pháo 105mm, 155mm, 75mm cùng với các trận địa pháo ở Phả Lại, Đáp Cầu, Phủ Lạng Thương, Cầu Lồ, Nội Doi; cùng với 150 xe tăng, xe bọc thép, 33 tàu chiến, ca nô các loại hiệp đồng với các hướng, các mũi tiến công và chuyển quân càn quét.

        Tiểu đoàn 28 Bắc Giang có các đại đội 231 và 235, được các đại đội 239, 29 Yên Dũng phối thuộc chiến đấu. Vũ khí có năm đại liên, còn lại là súng trường lựu đạn.

        Sáng 20 tháng 1 1 năm 19ô3, Pháp sử dụng tiểu đoàn 1 dù và hai tiểu đoàn quân ngụy từ Bắc Ninh hành quân lên Đáp Cầu tiến vào Yên Lư. Bị chặn đánh, chúng cho quân chiếm các điểm cao tại Văn Cao, Văn Giáp, Bình An, Tiên Điền.

        Phối hợp với cánh quân trên còn có cánh quân (khoảng 500 tên, có 80 xe tăng) từ Đáp Cầu tiến vào Nội Doi và đến 17 giờ, cánh quân này rút về Đáp Cầu. Cùng thời gian này, một cánh quân khác do một tiểu đoàn ngụy từ đường 1A qua Hoàng Mai xuống Vân Cốc, đến 13 giờ chúng rút về thị xã Bắc Giang.

        Trong ngày, các mũi tiến quân càn quét của địch vào Thôn Ngõ, Trước Lường (Dĩnh Kê) vào tả ngạn và hữu ngạn sông Thương để thăm dò lực lượng ta, chiếm giữ một số vị trí để yểm trợ cho cuộc tiến quân, nhưng đi đến đâu cũng bị lực lượng vũ trang và bộ đội địa phương chặn đánh.

        Qua một ngày chống địch càn quét trên các hướng, Huyện ủy chủ trương phân tán cán bộ cơ quan về xã Trì Yên; về chỉ đạo, do chưa phán đoán được mục đích, tính chất và chiến thuật của cuộc càn, nên chưa chỉ đạo cụ thể.

        Ngày 23 tháng 1 1, sau khi đánh chiếm được toàn bộ huyện Yên Dũng, địch tập trung càn quét, hợp vây ở Xuân Phú, Đông Loan và một số nơi ở ngoài; thực hiện vừa càn quét khu vực hợp vây, vừa rút quân từng bộ phận, đồng thời điều thêm một bộ phận nhỏ từ phía sau lên thay thế.  Hoạt động của bô phận này chủ yếu là gài mìn ngăn chặn ta tiến công khi chúng rút lui.

        Trước sức tiến công ồ ạt của địch, lực lượng vũ trang địa phương một mặt vượt ra ngoài khu vực địch hợp vây, lợi dụng lợi thế của các làng chặn đánh địch, một số nơi địch không vào được làng.

        Từ ngày 24 đến 28 tháng 11 năm 1953, địch chuyển sang giai đoạn hai của cuộc càn quét: Chúng tiến hành đánh phá một số nơi trong huyện mà chúng cho là có lực lượng ta. Có nơi chúng chà đi xát lài nhiều lần nhằm triệt phá căn cứ du kích, làng chiến đấu của ta. 

        Chủ động đánh trả quân địch, đêm 24 tháng 11, Đại đội 235 tập kích địch ở Lũ Phú, Đại đội 231 tập kích địch ở Trại Kế, Đại đội 239 Yên Dũng tập kích địch ở Chợ Rào. Sáng ngày 25 tháng 11, các đại đội 235, 239, 231 tiếp tục đánh địch ở Trại Kế, Chùa Cao, Lũ Phú. Các đơn vị, bộ phận đã chiến đấu dũng cảm, diệt được địch, đánh lui nhiều đợt tiên công của địch, bảo vệ được lực lượng, trận địa.  Sau bảy ngày chiến đấu, ta tiêu diệt và làm bị thương khoảng 300 tên địch; phá hủy hai xe tăng, hai Ô tô, hai pháo 75mm.

        Nhân dân bị địch giết hại 70 người, 7 người bị thương, 50 người bị bắt. Chúng đốt cháy 1.000 nhà tranh, 200 nhà ngói, cướp khoảng 100 con trâu và giết 200 con, đốt 20  tấn thóc.

         Trận chống càn thắng lợi đã bảo vệ làng xóm, bảo vệ được căn cứ du kích Yên Dũng, để lại những kinh nghiệm quý về nắm địch, về tổ chức chỉ huy chống càn, về vận dụng cách đánh khi địch sử dụng lực lượng mạnh hơn ta gấp bội càn quét tìm diệt .lực lượng vũ trang và phá căn cứ du kích của ta.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:10:18 AM

TRẬN PHƯƠNG ĐIẾM – ĐƯỜNG 17 CỦA TRUNG ĐOÀN 42 (6.12.1953) .

        Trận “đánh điểm diệt viện” của Trung đoàn bộ binh 42, khu Tả Ngạn, được đại đội địa phương huyện Tứ Kỳ và du kích các xã phối hợp chiến đấu, nhằm diệt địch ở Phương Điếm - Đường 17 (nay thuộc xã Phương Hưng, cách thị xã Hải Dương 10 kilômét về phía nam). 

        Phương Điếm là một cứ điểm mạnh, có lô cốt, boong ke, án ngữ đường 17, tuyến giao thông huyết mạch của địch nối tuyến bắc nam sông Luộc, đồng thời bảo vệ phía nam thị xã Hải Dương và đường chiến lược số 5. 

        Giữ Phương Điếm có đại đội Âu Phi 12 . (12 thuộc ¾ RTM) có 80 tên do quan ba Canuýt chỉ huy. Ngày 5 tháng 12 năm 1953, địch tăng cường một đại đội ngụy (100 tên) do Cađăng chỉ huy, bố trí ở các công sự vòng ngoài của Phương Điếm. 

        Phương Điếm được bố phòng cẩn mật, với hệ thống đồn binh, lô cốt gạch và lô cốt boong ke đan xen cùng với hệ thống vật cản dày đặc, liên kết bốn lô cốt bốn góc có tường gạch dày 0,8 mét cao 2,5 mét, có các lỗ bắn ra xung quanh, chân tường đắp đất dày 1,5 mét, bên ngoài tường có hào rộng từ 8 đến 10 mét, sâu 2 đến 2,5 mét. Bên ngoài hào có  tám lớp rào dây thép gai, mỗi lớp rộng 1,5 đến 4 mét, cách nhau 5 đến 20 mét. Trong đồn có một khẩu cối 120mm, một khẩu pháo 20mm và một khẩu 12,7mm. 

        Trung đoàn 42 có các tiểu đoàn 664, 652, 234 (thiếu một đại đội), các đại đội hỏa lực, trinh sát, thông tin.  Mỗi tiểu đoàn trung bình có 400 quân, ba đại đội bộ binh, một đại đội trợ chiến. Hỏa lực có bốn khẩu cối 82mm, bốn khẩu cối 60mm, bốn đại liên, hai đến ba khẩu PIAT, 16 trung liên, còn lại là súng trường. Ngoài ra còn có 500 kilôgam bộc phá trang bị cho Tiểu đoàn 64, sẵn sàng tiêu diệt cứ điểm .

        Đại đội hỏa lực của trung đoàn có một khẩu SKZ 120mm, bốn khẩu ĐKZ 57mm, hai khẩu 12,7mm.  Vào chiến đấu, trung đoàn được tăng cường đại đội bộ đội địa phương huyện Tứ Kỳ; dân quân các xã được huy động làm nhiệm vụ dẫn đường, tải thương, phục vụ chiến đấu.

        Thực hiện nhiệm vụ, trung đoàn sử dụng lực lượng như sau:

        - Bộ phận cường tập đồn Phương Điếm do Tiểu đoàn 664, được tăng cường đại đội hỏa lực và một bộ phận trinh sát, thông tin của trung đoàn đảm nhiệm.

        - Bộ phận phục kích đánh viện trên đường 17 do hai tiểu đoàn 652 và 234 cùng đại đội bộ đội địa phương huyện Tứ Kỳ đảm nhiệm.

        19 giờ ngày 5 tháng 12, các bộ phận theo hiệp đồng đến vị trí tám dừng, chuẩn bị vào dò gỡ mìn, cắt và chống rào.

        19 giờ 30 phút, đột nhiên địch báo động, trung liên, đại liên, cối 120mm, bắn vu vơ ra xung quanh. Các bộ phận bí mật theo dõi hành động của địch.

        20 giờ, các mũi bắt đầu tiếp cận, dò gỡ mìn, phá gỡ vật cản, bí mật đặt bộc phá vào các hàng rào bên trong sát địch. Các bộ phận phía sau nhích đội hình lên vị trí tiến công.

        3 giờ 45 phút ngày 6 tháng 12, hướng thứ yếu đặt xong quả bộc phá cuối cùng. Nhưng do nghe không rõ lời đại đội trưởng báo cáo tiểu đoàn và đề nghị lệnh phát hỏa nên chiến sĩ bộc phá phụ trách rào hàng số 6 chạy lên giật nụ xòe; bộc phá phá hàng rào số 6 nổ, các hàng rào khác cũng đồng loạt nổ theo.

        Từ các hướng bộ đội nhanh chóng vượt qua cửa mở đánh chiếm đầu cầu. Địch từ trong các lô cốt ụ súng và trên một số nóc nhà bắn trả quyết liệt. Bộ đội ta được hỏa lực yểm trợ nhanh chóng dùng lựu đạn, bộc phá đánh vào các trận địa hỏa lực, phá các lô cốt, lần lượt chiếm các mục tiêu quy định.

        Đến 4 giờ 20 phút ngày 6 tháng 12, quân ta làm chủ chiến trường, tiếp tục truy quét tàn quân của địch. Trời sáng, máy bay địch đến chi viện, bộ phận cảnh giới không bắn trả mà lại rút nên dân công cũng rút theo, hạn chế kết quả thu chiến lợi phẩm.

        6 giờ ngày 6 tháng 12, ta lui quân xong, quân địch chạy trốn và số còn sống sót trong cứ điểm quay lại chiếm đồn.

        Cùng thời gian trên, địch cho pháo bắn mạnh hai bên đường 17 và xung quanh đồn Phương Điếm. 7 giờ, khoảng một tiểu đoàn địch có bốn xe tăng hộ tống và 10 xe cơ giới từ thị xã Hải Dương theo đường 17 xuống Phương Điên.  9 giờ 30 phút, cả tiểu đoàn địch lọt vào trận địa. Đại đội 17 dùng ĐKZ bắn chiếc xe tăng đi đầu, các đại đội từ các hướng vừa dùng hỏa lực chế áp, vừa nhanh chóng tiếp cận, thực hiện bao vây, chia cắt quân địch. Sau 30 phút chiến đấu, gần 200 tên địch bị tiêu diệt. Trận đánh kết thúc. 

        Bằng cách đánh điểm kéo địch ra để tiêu diệt, trung đoàn đã loại khỏi vòng chiến 330 tên, bắt 88 tên; thu ba khẩu badôca, bốn khẩu đại liên, hai khẩu cối 81mm, 18 khẩu trung liên, 130 khẩu tiểu liên, phá hai xe tăng, sáu xe cơ giới, một khẩu cối 120mm, một khẩu pháo 20mm, một khẩu 12,7mm.

        Trận Phương Điếm - một trận đánh Trung đoàn 42 vận dụng khá thành công hình thức “đánh điểm, diệt viện”; trong đó dùng cường tập để tiến công cứ điểm, dùng vận động phục kích để tiêu diệt quân viện. Trận đánh thành công đã chặt đứt một mắt xích quan trọng bảo vệ nam thị xã Hải Dương.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:11:54 AM

TRẬN ĐÔNG HƯNG CỦA BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG THÁI NINH VÀ DU KÍCH XÃ TRỪNG HOÀI (27 - 28.12.1953)

        Trận tập kích của Trung đội 2 Đại đội 24 bộ đội địa phương huyện Thái Ninh và du kích xã Trừng Hoài (trang bị một khẩu cối 60mm, một khẩu trung liên, bốn khẩu tiểu liên, 39 súng trường; du kích có bốn khẩu súng trường, mỗi chiến sỹ hai quả lựu đạn, . . .)  nhằm đánh vào một trung đội địch nghỉ tập trung trong một nhà dân ở- xóm Đông Hưng, thôn Thuyền Quan, xã Trừng Hoài (nay là xã Thái Sơn và xã Thái Hà, huyện Thái Thụy, Thái Bình). 

        17 giờ 30 phút ngày 27 tháng 9 năm !953, tiểu đoàn địch ở bắc sông Trà Lý càn đến thôn Thuyền Quan, xã Trừng Hoài.  Trời tối chúng buộc phải dừng lại ở thôn Thuyền Quan.  Tại xóm Đông Hưng, địch bố trí một trung đội phía trước để phát hiện, ngăn chặn ta từ hướng xã Phúc Khê và các thôn Kim Thành, Thanh Miếu đánh sòng. 

        Bám nắm được địch, đại đội quyết định sử dụng Trung đội 2, cùng với du kích xã tập kích địch ở Đông Hưng.  24 giờ ngày 27 tháng 12, Trung đội. 2 từ vị trí tập kết tiến vào Đông Hưng. Sau khi kiểm tra tình hình địch lần cuối, trung đội bộ đội và du kích chia thành ba mũi bí mật bao vây ngôi nhà.

        2 giờ 10 phút ngày 28 tháng 12, cả ba mũi đã bao vây, áp sát ngôi nhà địch đang ở. Do sơ suất khi tiếp cận, một chiến sĩ ta vấp ngã, lính gác phát hiện có lực lượng ta, hốt hoảng kêu lên và bỏ chạy.

        Ngay lập tức trung đội trưởng bắn theo tên lính gác và ra lệnh các mũi dùng lựu đạn, thủ pháo diệt địch. Các mũi ném lựu đạn rồi xông vào nhà, khi đó chỉ còn hai tên địch sống sót xin hàng, 27 tên bị tiêu diệt.

        Ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ, trung đội nhanh chóng rời khỏi Đông Hưng, nhưng khi qua cánh đồng vào thôn Phúc Tiền, bị hỏa lực của địch ở xóm Nam Cường bắn ra nổ gần đội hình ta, trung đội trưởng bị thương nhẹ, nhưng vẫn chỉ huy đơn vị về Phúc Tiền an toàn. 

        Trận đánh thắng lợi để lại cho ta nhiều kinh nghiệm về chủ động, tích cực bám nắm địch; về chọn mục tiêu đánh phù hợp với khả năng của đơn vị, bảo đảm chắc thắng.


TRẬN HẢI YẾN CỦA TIỂU ĐOÀN 664 (17.1.1954)

        Trận tập kích của Tiểu đoàn 664 và Trung đoàn 421 vào quân địch hành quân càn quét, tạm dừng tại làng Hải Yến (làng Hời), huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, góp phần đánh bại cuộc càn của chúng.

        Từ ngày 7 tháng 1 năm l954, Pháp mở cuộc hành quân càn quét vào các huyện Phù Cừ, Tiên Lữ (Hưng Yên, Thanh Miện, NInh Giang (Hải Dương).

        12 giờ ngày 16 tháng 1, tiểu đoàn 13 BVN trụ lại Hải Yến, tiểu đoàn Mường số 1 trụ lại Triều Dương, tiểu đoàn Âu Phi số 1 ở xung quanh Triều Dương.

        Tiểu đoàn 64 có các đại đội bộ binh 46, 53, 9 (được trang bị trung liên, tiểu liên và súng trường) và Đại đội trợ chiến 63, trang bị bốn khẩu đại liên, hai khẩu 81mm một khẩu 12,7mm và hai khẩu chống tăng PIAT. Vào chiến đấu, tiểu đoàn được tăng cường hai khẩu ĐKZ57MM, hai khẩu cối 81mm của trung đoàn.

        Để hoàn thành nhiệm vụ, tiểu đoàn tổ chức đội hình thành các bộ phận:

        - Bộ phận tiến công trên hướng chủ yếu do Đại đội 9, được tăng cường một khẩu ĐKZ57MM, hai khấu PIAT đảm nhiệm từ bắc làng đánh thẳng vào khu nhà gạch, xen kẽ có vài nhà cao tầng (dự kiến có thể sở chỉ huy của địch ở đây) . 

        - Bộ phận tiến công trên hướng thứ yếu 1, do Đại đội 53 được tăng cường một khẩu ĐKZ 57mm. đánh địch dọc đường 200 .

        - Bộ phận tiến công trên hướng thứ yếu 2, do một trung đội của Đại đội 6 đảm nhiệm, tiến công từ phía đông làng vào đội hình địch.

        - Đội dự bị của tiểu đoàn do Đại đội 6 (thiếu một trung đội) đảm nhiệm. .

        - Bộ phận kiềm chế pháo binh địch ở Triều Dương và Chùa Bản, mỗi nơi dùng hai khẩu cối 81mm. 

        23 giờ ngày 16 tháng 1, các đơn vị từ vị trí tập kết vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công.

        4 giờ 5 phút ngày 17 tháng 1, tiểu đoàn ra lệnh nổ súng tiến công. Nhưng Đại đội trưởng Lê Huy Vinh đang dẫn một tiểu đội tiến về nhà gạch và bất ngờ bị trung liên địch bắn bị thương. Nghe tiếng súng, từ các hướng ta nổ súng dồn dập đánh vào các mục tiêu được phân công.

        Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, ta và địch giành giật nhau từng căn nhà, ngõ xóm. Đến 5 giờ, các mũi bắt được liên lạc với nhau ở khu đường ngang, kiểm soát hầu hết khu nhà gạch, trừ nhà 18 địch vẫn cố thủ. Tiểu đoàn quyết định đưa một tiểu đội dự bị của Đại đội ô6 và một quả bộc phá 5 kilôgam vào phá nhà. Sau tiếng nổ của quả bộc phá, nhà 18 bị sập, toàn bộ địch bị tiêu diệt.

        5 giờ 15 phút, trời sáng dần, nhận thấy cơ bản quân địch ở Hải Yến đã bị tiêu diệt, tiểu đoàn ra lệnh lui quân.  Sau hơn một giờ chiến đấu, địch chết và bị thương 250 tên, bị bắt 60 tên. Ta thu một ĐKZ 57mm, hai cối 81mm, một cối 60mm, ba đại liên, 9 tiểu liên.

        Nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh, quyết tâm cao, dũng cảm, cơ động linh hoạt, có cách đánh phù hợp với quân địch tạm dừng, tích cực, chủ động hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng du kích là nét nổi bật của trận Hải Yến. 

        Thắng lợi của trận đánh đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần của quân và dân nam bắc sông Luộc và góp nhiều kinh nghiệm quý trong đánh địch tạm dừng khi chúng càn quét ở đồng bằng tả ngạn sông Hồng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:14:11 AM

TRẬN MĂNG ĐEN CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 108 (27 - 28.1.1954)

        Trận tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc của Trung đoàn 108 Quân khu 5 mở màn chiến dịch Bắc Tây Nguyên, Xuân Hè 1954, nhằm tiêu diệt địch, phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ, cùng các lực lượng giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum. 

        Măng Đen là cứ điểm mạnh nằm trong tuyến phòng thủ Bắc Tây Nguyên, cách thị xã Kon Tum 50 kilômét về phía bắc. Cứ điểm có hai khu. Khu A do hai đại đội lê dương đóng giữ. Khu B do một đại đội quân ứng chiến địa phương đóng giữ. Trong cứ điểm, các lô cốt, ụ súng được nối với nhau bằng đường hào nổi, ở giữa có lô cốt ‘ “mẹ” bằng bê tông cốt thép và hầm ngầm, có giao thông hào nối liền các lô cốt và các nhà với nhau. Nhà lợp tôn, âm xuống đất khoảng 1 ‘mét xung quanh có nhiều hàng rào dây thép gai rộng từ 30 đến 90 mét và một bức tường bao quanh khu A.

        Trung đoàn 108 có ba tiểu đoàn bộ binh (19, 79, 50) và các đơn vị trực thuộc. Sau khi nhận nhiệm vụ, hạ quyết tâm, trung đoàn sử dụng: Tiểu đoàn 19 (được tăng cường một đại đội bô binh, được hỏa lực của chiến dịch chi viện) làm nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu (vào khu A).  Tiểu đoàn 79 có nhiệm vụ tiến công trên hướng thứ yếu (vào khu B).

        Ngày 20 tháng 1 năm 194, quân Pháp mở cuộc hành quân Átlăng nhằm làm giảm sức ép cho mặt trận .Trung - Hạ Lào. Mở màn chiến dịch phản công, Khu 5 chủ trương tiêu diệt cùng một lúc cả ba cứ điểm Măng Đen, Mang Búk và Komp Rẫy, đập tan toàn bộ cụm phòng ngự hướng Đông Bắc Kon Tum của địch. 

        15 giờ ngày 27 tháng 1, trung đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công. 23 giờ 30 phút, khi tiếp cận, Tiểu đoàn 79 vấp mìn, nghe tiếng mìn nổ, các mũi hiệp đồng nổ súng.  Trên hướng chủ yếu các loại hỏa lực cối, ĐKZ bắn chế áp phá hủy công sự; đại liên kiềm chế hỏa lực địch trên các cửa mở, các tổ bộc phá đưa vào phá rào, tiếp đó các hướng liên tục phá rào, chiếm đầu cầu.

        Trên hướng Tiểu đoàn 19, Đại đội 213 (hướng chủ yếu) liên tục xông lên phá rào dưới làn đạn ngăn chặn quyết liệt của địch. Rào phá đến đâu, chiến sĩ bộc phá và tổ đánh chiếm đầu cầu nối tiếp nhau đánh chiếm đến đó. Bộc phá phá vỡ từng mảng tường, nhưng địch tập trung chống cự làm ta thương vong một số.

        Trên hướng thứ yếu, Đại đội 212 Tiểu đoàn 19 đã nhanh chóng nổ súng diệt ngay lô cốt, sau 9 phút đã mở xong các lớp rào, Đại đội trưởng đưa quả bộc phá 20 kilôgam lên đánh lô cốt B và đột nhập vào bên trong. 

        2 giờ ngày 28 tháng 1, Đại đội 213 vẫn chưa mở được cửa, mặc dù đã tăng cường thêm chiến sĩ bộc phá của thê đội 2 (dự bị) nhưng vẫn chưa giải quyết được lô cốt A, Đại đội trưởng bị thương.

        Trước tình hình đó, Tiểu đoàn trưởng đã chuyển Đại đội 212 sang hướng thứ yếu, chuyển hướng thứ yếu thành hướng chủ yếu. Các tổ đột kích được tổ chức lại, kiên quyết giữ vững đầu cầu, phát triển nhanh vào trong cứ điểm, đánh sang khu A.

        Trước những diễn biến gay go và phức tạp, trung đoàn cho Đại đội 215 Tiểu đoàn 50 (dự bị) vào chiến đấu để Tiểu đoàn 19 mở cửa mới.

        Trận chiến đấu trên các hướng diễn ra quyết liệt, các lô  cốt của địch lần lượt bị tiêu diệt. Cuối cùng địch vẫn giữ  được lô cốt A và lô cốt mẹ. Ta tiến hành bao vây chặt và kêu gọi địch đầu hàng. Không còn con đường nào khác,  chúng phải đầu hàng để cứu mạng sống. 

        Sau gần 8 giờ chiến đấu, ta diệt gần 100 tên, bắt hai đại đội địch, thu gần 300 súng các loại. Tiểu đoàn 19 bị tổn thất phải lui về sau củng cố, các tiểu đoàn 79 và 50 tiếp tục phát triển tiến công về Đắc Tô, Đắc Lây theo lệnh của trung đoàn và bộ chỉ huy chiến dịch.

        Trận Măng Đen để lại nhiều kinh nghiệm quý về xây dựng quyết tâm, chuẩn bị tinh thần cho bộ đội; về chọn thời cơ nổ súng, về xác định mục tiêu và sử dụng lực lượng hợp lý; về giữ bí mật, tạo bất ngờ; về tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, linh hoạt và ý thức hiệp đồng chặt chẽ trong suốt quá trình chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:14:55 AM

TRẬN THÂN THƯỢNG CỦA TIỂU ĐOÀN 53 (28.1.1954)

        Trận kỳ tập của Tiểu đoàn 53 bộ đội địa phương tỉnh Thái Bình phá đồn địch ở Thân Thượng, thuộc tổng Nam Huấn (nay là xã Quang Bình, huyện Kiến Xương), tỉnh Thái Bình nhằm tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân khỏi khu tập trung của địch.

        Sau ba năm, bằng mọi thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, khủng bố, đe dọa, nhất là sau trận càn Giécphô tháng 11 năm 1953, địch đã dồn gần bốn vạn người vào sống trong khu tập trung Thân Thượng.

        Thân Thượng, là đồn binh quan trọng án ngữ cửa ngõ ra vào Thái Bình, khống chế đường 39B đi Kiến Xương, Tiền Hải, như một cái chốt cắm giữ căn cứ du kích Vũ Tiên, Kiến Xương của ta. Nhổ được đồn Thân Thượng sẽ nối thông đường 39B, nối liền khu du kích, phá âm mưu lập khu tập trung của địch.

        Đồn Thân Thượng được bao quanh bằng các ao, bồ, sông ngòi, có lũy cao, hào sâu. Phía trước là hai bức tường song song với nhau dài 300 mét, có lỗ châu mai. Giữa hai bức tường là hào sâu, bên ngoài tường là hàng rào dây thép gai đến tận mép sông Chuồn. Dưới sông địch thả các loại mìn. Bên trong hàng rào là các ao hồ, mặt hồ thả chông nổi bằng nứa, đáy hồ cắm chông sắt. Ba mặt rào dây thép gai, xen kẽ rào tre ken dày. Lực lượng giữ đồn có 157 tên, chủ yếu là lính bảo an, vệ sĩ, dân vệ, do Nguyễn Văn Dậu làm đồn trưởng.

        Tiểu đoàn 53 có các đại đội bộ binh 153, 146, 125 và một phân đội trợ chiến, trang bị hai khẩu badôca, hai khẩu cối 60mm, hai khẩu đại liên; trung liên được trang bị tới tiểu đội bộ binh. Vào chiến đấu, tiểu đoàn được tăng cường Đại đội 25 bộ đội huyện Kiến Xương; Đại đội 50 bộ đội huyện Vũ Tiên và du kích xã làm nhiệm vụ dẫn đường, nắm địch, quấy rối các đồn bốt xung quanh, đánh địch ứng viện.

        Thực hiện nhiệm vụ trên giao, chỉ huy tiểu đoàn tổ chức lực lượng thành các bộ phận:

        - Mũi đột kích chủ yếu do các chiến sĩ nhanh nhẹn, dũng cảm của Đại đội 13 đảm nhiệm, bộ đội cải trang trà trộn vào người đi chợ, bí mật tiếp cận, bất ngờ đột phá qua cổng vào bên trong diệt địch.

        - Mũi tiến công thứ yếu do Đại đội 146 đảm nhiệm, bộ đội cải trang làm lính bảo an, dân vệ ém sẵn ở đình Ngái, khi được lệnh tiếp cận phía đông bắc Thân Thượng, cùng Đại đội 153 đánh vào đồn diệt địch.

        - Hướng đón lõng do Đại đội 125 đảm nhiệm, bộ đội ém sẵn tại thôn Thái Công, đánh địch chạy ra cầu Đá và chợ Bặt.

        - Đại đội 2 làm nhiệm vụ bao vây, quấy rối, kiềm chế địch ở bốt Ngái, chặn địch ở Kiến Xương lên.  Đại đội 50 đánh địch ở Phủ Sóc xuống chi viện; quấy rối, kiềm chế địch ở bốt Đông Quý, đón lõng địch ở thôn Ba tây bắc Thân Thượng.

        Sáng 27 tháng 1, ta cho một du kích mang lá thư mật bỏ ở cổng đồn. Trong thư nói đêm 27 tháng 1 bộ đội đánh bốt Thân Thượng. Xem thư, địch tổ chức tuần tra, canh gác cẩn mật suốt đêm. Khi mệt mỏi mà không thấy ta đánh, chúng sinh ra chủ quan.

        Sáng 28 tháng 1, Đại đội 146 cải trang thành lính bảo hoàng ém sẵn ở đình Ngái. 4 giờ, Đại đội 25 bí mật ém quân ở Thái Công. Cùng thời gian trên, các đại đội 50, 25 đã ém quân ở vị trí quy định. 8 giờ, Đại đội 153 lần lượt lọt vào chợ. Đi cùng mũi này có Tiểu đoàn trưởng. 8 giờ 4 phút, Tiểu đội trưởng Lung hóa trang vào, bất chợt gặp một tên lính người cùng làng, hắn nhận ra và kêu “Việt Minh”. Địch xúm lại, Tiểu đội trưởng Lung chạy xuống gầm cầu để tránh thương vong cho dân, đồng thời báo cho Tiểu đoàn trưởng biết có tình huống bất trắc xảy ra. Hai tên địch chạy theo, ôm choàng Lung, lựu đạn nổ và anh đã anh dũng hy sinh, hai tên địch chết tại chỗ.

        Sau tiếng lựu đạn nổ, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh nổ súng, bộc phá phá sập lô cốt, cả phân đội đột kích xông lên qua cổng đồn. Địch dồn lên, gác hai nhà tầng chống cự quyết liệt. Ta đánh chiếm tầng dưới, địch hốt hoảng chạy lên  tầng 2, tổ đồng chí Lộc yểm trợ, tổ Nuôi xung phong  đánh lên, bắt một số địch.

        9 giờ 5 phút, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh dùng bộc phá đánh sập cửa, bộ đội xung phong vào tiêu diệt những tên sống sót trên tháp canh, địch dùng tiểu liên chống trả, bị ta tiêu diệt. Bên ngoài, một số tên địch vứt súng, trà trộn vào dân chạy trốn.

        Ở hướng đình Ngái, Đại đội 146 phối hợp với Đại đội 153 nhanh chóng chiếm sở chỉ huy.

        Ở Thái Công, Đại đội 125 diệt địch chạy ra, bắt sống một số tên.

        Địch ở bốt Ngái và Đông Quý bị Đại đội 50 và 25 quấy rối nên không chi viện cho Thân Thượng được.  9 giờ 15 phút, trận đánh kết thúc, 50 tên bị diệt, 58 tên bị bắt. Ta thu ba trung liên, hai tiểu liên, 111 súng trường, một súng ngắn, một máy vô tuyến điện, 85 hòm đạn và nhiều quân dụng, giải phóng bốn vạn dân. 

        Hạ đồn Thân Thượng, ta đã phá vỡ ý đồ của địch xây dựng khu tập trung thí điểm để nhân ra toàn tỉnh.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:15:53 AM

TRẬN PHẠM XÁ CỦA BỘ ĐỘI VÀ DU KÍCH KIM THÀNH (31.1.1954)

        Trận phục kích của bộ đội và du kích huyện Kim Thành tại ga Phạm Xá (cách Hải Phòng 30 kilômét) do Huyện đội phó Nguyễn Văn Thòa chỉ huy, đánh đoàn xe lửa chở quân Pháp từ Hải Phòng đang trên đường tới Hải Dương; nhằm tiêu diệt quân địch, chia lửa với chiến trường chính Điện Biên Phủ.

        Để bảo vệ ga Phạm Xá, địch đóng hai đồn cách nhau khoảng 600 mét. Phía đông ga là bốt Phạm, do một đại đội ngụy chiếm giữ. Vũ khí có đại liên, tiểu liên và súng trường. Phía tây là đồn Măng, do một trung đội ngụy và một trung đội địa phương quân canh giữ.

        Để tăng cường bảo vệ đường vào ban đêm, địch bố trí hai hệ thống đèn pha chiếu ngược chiều nhau. Phía nam đường sắt có hai hàng rào dây thép gai kiểu mái nhà, có gài các loại mìn chống bộ binh M2A1, MI6A2 và treo các ống bơ gây tiếng động. Ngoài hàng rào có hào rộng 3 mét, sâu 1,5 mét chạy từ xóm Măng tới ga. Ngày đêm địch tuần tra chặt chẽ từ bốt Phạm tới đồn Măng và ngược lại.

        Trung đội đánh mìn thuộc Huyện đội Kim Thành, do Huyện đội phó Nguyễn Văn Thòa trực tiếp chỉ huy, có công binh làm nòng cốt và hướng dẫn kỹ thuật. Lực lượng làm công tác chuẩn bị có 20 người, khi đánh địch có năm người, 15 người còn lại bố trí bên bờ sông Rang (cách trận địa 1.200 mét) sẵn sàng chi viện. Lực lượng tham gia trận đánh được trang bị tiểu liên. Toàn đội có 100 kilôgam thuốc nổ, năm kíp điện, 300 mét dây dẫn và 50 quả pin 1,5 von.

        Sau khi trinh sát, trung đội quyết định chôn mìn giữa hai đường ray ở cột đèn thứ ba tính từ trạm bẻ ghi ga Phạm Xá về hướng Hải Dương. Trạm gây nổ đặt ở khúc ngoặt đường ra chùa Phạm, cách vị trí đặt mìn khoảng 300 mét.

        Đêm 9 tháng 11 năm 1954, trung đội từ căn cứ Thanh Hà vào chuẩn bị đánh mìn.

        4 giờ ngày 15 tháng 1 , mọi công việc chuẩn bị chiến đấu hoàn thành. Trời rét nhưng toàn tổ thay nhau giấu mình dưới hầm đợi đoàn tàu địch.

        Hàng ngày địch vẫn cho quân đi dò, thuốn nền đường, dò xét, cày xới ven đường nhưng không phát hiện được vị trí đặt mìn của ta. Các đoàn tàu chở hàng, chở khách vẫn chạy bình thường.

        10 giờ 2 5 phút ngày 3 1 tháng 1, một đoàn tàu chở đầy quân Pháp tiến vào ga, lướt nhanh trên đường, không dừng lại.

        10 giờ 30 phút, đoàn tàu đến điểm đặt mìn, mạch điện đóng, khối thuốc nổ 100 kilôgam nổ làm rung chuyển cả khu vực, một số toa bị lật, một số toa xô chồng lên nhau. Quân địch một số chết, một số bị thương, số còn lại la hét bắn như đổ đạn ra các phía. Tổ đánh mìn bật nắp hầm, yểm hộ lẫn nhau rút lui. Do ngồi lâu trong hầm chật chội, ngập nước nên đồng chí Thòa một chân tê dại không chạy được, phải bò lên quãng đường cao, ngăn chặn địch, yểm trợ cho tổ rút.

        Phát hiện thấy quân ta, địch tập trung hỏa lực bắn dồn dập và xua quân đuổi theo. Lợi dụng địch đang nhốn nháo, quân ta ở chùa Phạm và bên bờ sông Rang bắn vào đội hình địch, yểm trợ cho lực lượng ta rút về căn cứ an toàn.  Trận đánh mìn đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, phá bốn toa xe, lật đổ bốn toa và đầu máy, làm gián đoạn vận tải bốn ngày.

        Trận đánh thắng lợi đã phối hợp nhịp nhàng với chiến thắng Tây Bắc, góp phần thúc đẩy phong trào du kích đường 5 phát triển.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:17:00 AM

TRẬN NHÂN KIỆT CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG (6-7.2.1954)

        Trận chống càn của du kích thôn Nhân Kiệt xã Vạn Thắng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Đường chống lại binh đoàn cơ động số 3 (GM3) càn vào thôn, nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ xóm làng.

        Ngày 6 tháng 2 năm 1954, địch dùng lực lượng GM3, có tám xe tăng yểm trợ, được phi pháo chi viện tiến công đánh chiếm bắc Bình Giang. Khi đến cánh đồng Nhân Kiệt, địch chiếm khu Mả Giàu, chùa Cả làm bàn đạp tiến công vào thôn Nhân Kiệt hòng triệt phá làng kháng chiến, xua giãn lực lượng ta, bảo vệ cho tuyến hành lang đường 5 của chúng.

        Lực lượng du kích thôn Nhân Kiệt có 46 người (34 nam, 12 nữ), bốn người là cán bộ chỉ huy xã, thôn đội. Trong thôn, mỗi du kích có ba hầm bí mật, ngoài ra còn có sẵn hầm bí mật cho bộ đội đến phối hợp chiến đấu. Lương thực thường xuyên dự trữ trong hầm từ bốn đến sáu ngày. 

        Khi địch tiến công vào Nhân Kiệt, lực lượng du kích có năm tiểu đội và một tiểu đội bộ đội huyện phối hợp chiến đấu Vũ khí có hai trung liên, ba tiểu liên, 40 súng trường, mỗi người hai quả lựu đạn và mỗi tiểu đội có 10 quả mìn muỗi. Tiểu đội bộ đội huyện phân tán vào các tiểu đội du kích cùng tham gia chiến đấu. Mỗi tiểu dội bố trí ở một xóm.  Tiểu đội 1 được tăng cường hai trung liên, bố trí tại xóm 4, có nhiệm vụ ngăn chặn, tiêu diệt địch tập hậu từ chùa Cả vào.

        Tiểu đội 2 bố trì tại xóm 5, đánh địch tiến công từ quán Năm Gian và Mả Giàu vào.

        Tiểu đội 3 bố trí tại xóm 3, sẵn sàng xuất kích diệt địch khi chúng tập kết ở khu Mả Giàu và đình làng.  Tiểu đội 5 bố trí tại xóm 2, ngăn chặn địch tập hậu từ cống Đường Di vào.

        Tất cả các cổng làng đều đóng chặt, rấp cành tre, gài chông, mìn, cạm bẫy.

        5 giờ ngày 6 tháng 2 năm 1954, pháo địch ở Sặt, Ghẽ bắn mạnh vào Nhân Kiệt. 6 giờ, địch cho tám xe tăng dẫn bộ binh chiếm Mả Giàu, chùa Cả.

        7 giờ, địch tiến công từ chùa Cả vào xóm 4, bị Tiểu đội 1 bất ngờ nổ súng vào đội hình khi đang ở cánh đồng trống, chúng buộc phải chờ xe tăng lên mở đường tiếp tục tiến. Nhưng xe tăng bị hồ ao, hào sâu ngăn chặn không tiến lên được, phải dừng lại dùng hỏa lực chi viện.  Du kích và bộ đội lợi dụng bờ tre, giao thông hào ngăn chặn các đợt xung phong của địch có xe tăng yểm trợ, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

        7 giờ 20 phút, địch tiếp tục mở đợt tiến công tiếp vào Nhân Kiệt, nhưng bị ta đánh bại. Đột phá chính diện không được, địch chuyển sang xóm 1 và xóm 3, nhưng vẫn bị bộ đội và du kích tập trung chặn đánh, chúng không vào được làng. Cứ như vậy, du kích cùng bộ đội lợi dụng địa hình làng mạc quen thuộc luồn qua các nhà, khóm tre, bờ ao, khi ẩn khi hiện, lúc đánh vào bên sườn, khi đánh vào sau lưng, làm cho chúng luôn bị động đối phó.

        Với sức mạnh tiến công của bộ binh và xe tăng, gần trưa địch chiếm được Nhân Kiệt khi du kích và bộ đội rút xuống hầm bí mật để bảo toàn lực lượng. Đêm ngày 6 tháng 2, địch đóng lại Nhân Kiệt, lực lượng ta ở Nhân Kiệt định phối hợp với du kích thôn Tuấn tập kích, nhưng do trời mưa to không tiến hành được.

        7 giờ ngày 7 tháng 2, địch cho một đại đội từ Nhân Kiệt tiến sang thôn Tuấn. Lực lượng ta bố trí sẵn đã bẻ gãy nhiều đợt tiến công của chúng. Tiến công không thành, tìm du kích không thấy, đến 13 giờ, địch bỏ cuộc hành quân rút về căn cứ, mang theo 65 tên lính tử trận và nhiều tên khác bị thương.

        Nét nổi bật của trận chống càn Nhân Kiệt là cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương cùng lực lượng vũ trang xây dựng được thế trận làng chiến đấu vững chắc, liên hoàn, hiểm hóc; là vận dụng cách đánh sáng tạo, dựa vào ,thế trận chuẩn bị từ trước để đánh địch liên tục, chiến tháng vẻ vang.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:19:47 AM

TRẬN NGUYÊN XÁ CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG (20 - 24.2.1954)

        Trận chống càn của du kích xã Nguyên Xá (còn gọi là làng Nguyễn), huyện Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình đánh binh đoàn cơ động số 8 Âu Phi, được máy bay, pháo binh chi viện; nhằm tiêu diệt địch, giữ vững làng kháng chiến.

        Chiều 18 tháng 2 năm 1954, binh đoàn cơ động số 8 được phi pháo chi viện từ thị xã Thái Bình theo đường 10, rải quân chốt từ Đồng Nằm đến cầu Nguyễn, càn quét khai thông quốc lộ 10, giải vây cho các đồn bốt trong vùng đang bị ta vây ép, đồng thời đánh phá làng kháng chiến Nguyên Xá.

        Lực lượng vũ trang Nguyên Xá có 80 du kích tập trung, mỗi thôn có một trung đội dân quân, tổng số khoảng 120 người; trang bị một khẩu trung liên, một tiểu liên, 40 súng trường, còn lại là mã tấu, lựu đạn.

        Khi địch triển khai lực lượng từ Đồng Nằm đến cầu Nguyễn, lực lượng vũ trang địa phương được triển khai theo phương án tác chiến, kết hợp với lực lượng cơ động bỏ trí bên ngoài các xóm lân cận để đánh vào bên sườn, phía sau quân địch và giữ làng.

        Chiều 20 tháng 2 năm 1954, địch dùng một tiểu đội đánh thăm dò vào, xóm Nguyễn Trãi. Bị du kích đánh trả, phải bỏ chạy mang theo ba xác chết.

        4 giờ ngày 21 tháng 2, địch dùng hỏa lực bắn dồn dập vào làng. Sau đó cho một trung đội chia làm hai mũi tiến vào làng. Nhưng vừa bị du kích đánh, chúng bắn trả một hồi rồi bỏ chạy.

        Sáng ngày 22 tháng 2, địch thay đổi hướng tiến công, chúng cho hai đại đội bộ binh, chia làm hai mũi tiến vào Nguyên Xá, bị ta dử vào bãi mìn, chông, sa cạm bẫy, một số chết, một số bị thương, buộc chúng phải tháo chạy.

        1 giờ ngày 23, địch cho một đại đội bộ binh lợi dụng đêm tối bí mật bao vây thôn Đà Giang, một đại đội tiến đánh Đông Khê, còn đại bộ phận bí mật vu hồi hướng Nam Ninh. Nhưng ở tất cả các hướng địch đều bị du kích “xuất quỷ nhập thần” chặn đánh. Dân quân, du kích tích cực bám trận địa, đào hào, đắp lũy chuẩn bị chiến đấu tiêu diệt địch.

        4 giờ ngày 24, địch tập trung hơn 2.000 quân, được phi pháo, xe tăng yểm trợ tiến công theo hai hướng, chia làm nhiều mũi nhỏ, dàn theo đường 10, đường 39, Đông Khê, Bắc Lạng tiến vào xã; bộ phận còn lại vòng phía sau qua thôn Phạm, thôn Cốc thọc sườn vào Nam Ninh. 

        Sau những loạt pháo dừ dội chuẩn bị, địch ồ ạt tiến vào làng. Tổ du kích 12 người bố trí ở lại đợi địch đến gần, bắn tỉa diệt một số tên, sau đó rút xuống hầm bí mật. Thấy im tiếng súng, địch hò nhau đẩy cổng Phan Thanh, cổng đổ, mìn nổ, thêm một số tên bị diệt.

        Tìm mọi biện pháp, cuối cùng địch cũng vào được làng, nhưng đến đâu chúng cũng bị đánh. .

        15 giờ ngày 24, địch phải rút khỏi làng, mang theo 88 tên chết và bị thương.

        Trận chống càn Nguyên Xá thắng lợi đã đánh một đòn đau vào âm mưu của địch định dùng lực lượng chủ lực cơ động càn quét hòng tiêu diệt chủ lực ta, giải vây cho các lực lượng chiếm đóng, tái lập tề, bắt thanh niên đi lính, khai thông huyết mạch số 10.

        Thất bại cuộc càn của địch càng làm cho quân lính giữ các đồn bốt quanh vùng hoảng sợ đẩy địch ngày càng lún sâu vào bị động, lúng túng.


TRẬN GIA LÂM CỦA ĐẠI ĐỘI 26 BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG HÀ NỘI VÀ DU KÍCH HUYỆN GIA LÂM (3.3.1954)

        Trận tập kích của Đại đội 26 bộ đội địa phương Hà Nội và du kích huyện Gia Lâm vào khu vực để máy bay ở sân bay Gia Lâm (huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh; nay thuộc thành phố Hà Nội); nhằm phá hủy máy bay và cơ sở vật chất kỹ thuật của địch, gây khó khăn trong vận chuyển tiếp tế của địch cho Điện Biên Phủ.

        Đêm ngày 2 tháng 3 năm 1954, đơn vị hành quân từ Khoái Châu (Hưng Yên) về tập kết ở Thạch Cầu. 19 giờ ngày 3 tháng 3 năm 1954, các bộ phận bí mật tiếp cạn mục tiêu được phân công. 22 giờ, các tổ đánh phá máy bay tiến vào các mục tiêu. Do bị lộ, ta phải chuyển từ phương án bí mật phá hủy sang đánh địch, phá hủy máy bay, kho xăng rồi rút ra ngoài. Trận đánh diễn ra khoảng 5 phút, quân ta phá hủy 18 máy bay, một kho xăng, diệt 16 tên địch.

        Trận đánh thắng lợi để lại nhiều kinh nghiệm quý về xây dựng cơ sở quần chúng; về tổ chức nắm địch, địa hình, về chuẩn bị bộ đội và cơ sở vật chát cho trận đánh; về xây dựng phương án và thực hành tập kích vào một căn cứ quân sự lớn của địch trong khi chúng canh phòng cẩn mật.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:22:15 AM

TRẬN CÁT BI CỦA BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG KIẾN AN (7.3.1954)

        Trận tập kích của bộ đội địa phương tỉnh Kiến An được các cơ sở địa phương Kiến Thụy, Tiên Lãng, Hải An giúp đỡ đánh vào sân bay Cát Bi thuộc huyện An Hải, tỉnh Kiến An (nay là thành phố Hải Phòng), nhằm tiêu diệt địch, phối hợp tác chiến cùng chiến trường Điện Biên Phủ.

        Sân bay Cát Bi là một trong những sân bay lớn nhất Đông Dương, được thiết bị hiện đại và bố phòng nghiêm mật.  Lực lượng bảo vệ sân bay gồm 3.000 quân với ba tiểu đoàn Bắc Phi và một tiểu đoàn lê dương, một tiểu đoàn ngụy, một tiểu đoàn công binh và đội tham mưu chỉ huy sân bay. Ngoài ra còn có hàng trăm phi công và nhân viên phục vụ cùng 50 cố vấn Mỹ. Trang bị có 25 trọng liên, 15 cối 81mm. Trong sân bay thường xuyên có khoảng 200 máy bay các loại đỗ thành hàng ngang, hàng dọc trên các đường băng chính, phụ, khu sửa chữa, chiếc nọ cách chiếc kia khoảng 50 mét.  Từng khu có lính bảo vệ suốt ngày đêm.

        Xung quanh sân bay có sáu hàng rào các loại, 77 lô cốt, tháp canh kiên cố, bố trí ở các vị trí quan trọng khắp sân bay; có 22 vị trí chiến đấu bên trong hàng rào thứ nhất từ ngoài vào, 38 vị trí rải ra giữa các hàng rào bên trong và trong sân bay, năm vị trí rải dọc đường 14 từ cầu Rào đến Quý Kim để bảo vệ vị trí xa.

        Ngoài ra còn có 13 khẩu trọng liên bố trí thành một cụm phòng không bảo vệ sân bay.

        Các đội tuần tra bằng xe cơ giới có chó nghiệp vụ lùng sục quanh sân bay, cứ 30 phút một lần. Ở các làng xã vòng ngoài còn có lực lượng tề, dõng địa phương, lực lượng của phòng nhì ở Cây Xanh, Đồng Xá chuyên điều tra phá cơ sở ta. Ngoài ra, địch còn thường xuyên càn quét sâu vào các thôn ở Kiến Thụy để lập tề, tạo vành đai ngăn cách sân bay với vùng tự do Tiên Lãng của ta.

        Chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, khu Tả Ngạn chỉ thị cho Tỉnh đội Kiến An tổ chức lực lượng đánh vào sân bay Cát Bi để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ.

        Thực hiện nhiệm vụ của cấp trên giao, Tỉnh đội trưởng sử dụng 32 người, chọn từ Đại đội 295, Đội quân báo 208... tổ chức thành đội chiến đấu do Minh Khánh (Lê Thừa Giao) chỉ huy. Ta tổ chức thành hai mũi: mũi một có 17 người, mũi hai 15 người. Từng mũi tổ chức thành các tổ ba người, trang bị súng, lựu đạn, dao găm, mỗi người ba quả bộc phá. 

        Ngoài ra tỉnh sử dụng Đại đội 198 phá đường 14, Châu Điệp từ Hải Ninh xuống, từ đồn Riềng lên, không cho địch chặn đường vào ra của ta ở Hòa Nghĩa. Đại đội trợ chiến 29 và đội đánh thủy lôi được trang bị hai badôca và thủy lôi tự tạo đánh địch trên sông Văn Úc. 

        18 giờ ngày 5 tháng 3 năm 1954, lực lượng đánh địch từ Chử Khê, Hùng Thắng, Tiên Lãng vượt sông Văn Úc vào đóng quân ở Hợp Lễ, Hòa Nghĩa.

        19 giờ 45 phút ngày 6 tháng 3, đội từ Hòa Nghĩa hành quân tiếp cận mục tiêu.

        0 giờ ngày 7 tháng 3 mũi một đã ém quân cách máy  bay địch khoảng 50 mét, nhưng mũi hai khi vượt hàng rào thứ  năm thì gặp hồ rộng, nước sâu, bèo tốt không qua được, phải quay lại theo đường của mũi một vào trong sân bay. 

        0 giờ 45 phút ngày 7 tháng 3, các mũi đã triển khai xong.

        1 giờ, một tiểu đội Âu Phi đi tuần đến trước mũi một.  Nếu để địch phát hiện ra ta sẽ mất yếu tố bất ngờ, nên chỉ huy trận đánh ra lệnh nổ súng tiêu diệt đội tuần tiễu, đồng thời là hiệu lệnh tiến công. Được lệnh, các chiến sĩ ta xông vào khu để máy bay, dùng bộc phá phá hủy từng chiếc một. Hàng loạt tiếng nổ làm chấn động cả một vùng, lửa cháy sáng rực trời. Chiến sĩ ta thừa thắng đánh hết mục tiêu này đến mục tiêu khác.

        Sau 15 phút chiến đấu, sáu lính âu Phi bị diệt, 59 máy bay bị phá hủy.

        Trận đánh thắng lợi, đơn vị được Chủ tịch Hồ Chí Minh điện khen và tặng danh hiệu: “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”, được Chính phủ tặng nhiều huân chương các loại.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:24:07 AM

TRẬN THẠCH ĐÀ CỦA TIỂU ĐOÀN 185 (11.4.1954)

        Trận công kiên đồn Thạch Đà nằm trong chiến dịch Xuân Hè của chiến trường Vĩnh Phúc năm 1954 nhằm phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ. 

        Đồn Thạch Đà được quân Pháp xây dựng ở ngã tơ đê trong địa bàn xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, nhằm ngăn chặn khu du kích phát triển và khống chế đường giao thông.

        Xung quanh đồn có tám hàng rào dây thép gai các loại (mái nhà, rào đơn, cũi lợn...). Ngoài tám hàng rào dây thép gai, phía con đê cụt bờ sông Hồng vào còn có ba lớp rào tre. Giữa các hàng rào địch đào một hào rộng 1 mét, sâu 1 mét, dưới cắm chông, phía nam đê cụt, gần lô cốt số 2 địch xẻ hào cắt ngang cho nước đầm và đồng thông với nhau, ngăn chặn ta từ hướng sông Hồng tiến vào ngã tư đê.

        Trong đồn địch xây dựng hai lô cốt chính, lô cốt số 1 cao 1,7 mét, rộng 4 mét, tường dày 1,65 mét. Các lô cốt có lô châu mai bắn ra bốn phía. Phía đông có một nhà mái bằng địch lợi dụng cải tạo như một lô cốt. Ngoài các lô cốt còn có các ụ súng bố trí ở hai sườn ngã tư đê. Nối các lô cốt và các ụ súng có hào giao thông, xây bằng gạch, trên nắp đổ bê tông cốt thép, đắp đất dày 1 mét. Các dãy nhà trong đồn bố trí theo hình tam giác, xen kẽ các lô cốt. 

        Giữ đồn Thạch Đà có hơn 40 tên, vũ khí có hai đại liên, bốn trung liên, một cồl 81mm, một cối 60mm, còn lại là tiểu liên, súng trường. Trong mỗi lô cốt có khoảng một tiểu đội bộ binh, một khẩu đại liên, một khẩu trung liên. Trận địa cối ở sân đồn. Mỗi ụ súng có 3 đến 5 tên địch, trang bị tiểu liên và súng trường.

        Tiểu đoàn 185 Trung đoàn 246 có ba đại đội bộ binh 40, 42, 80 và Đại đội 88 hỏa lực. Phối hợp với Tiểu đoàn 185 công kiên đồn Thạch Đà có Tiểu đoàn Thiên Đức chặn viện từ Phúc Yên về Thạch Đà theo đường 40. Hai khẩu cối 82mm kiềm chế pháo địch ở Phúc Yên.

        Để tiêu diệt đồn, chỉ huy trận đánh tổ chức lực lượng thành ba bộ phận:

        - Bộ phận điểm do Đại đội 80, được tăng cường hai khẩu cối 60mm, hai khẩu trung liên, bố trí phía nam đồn, có nhiệm vụ đánh chiếm lô cốt 1 và 2, các ụ súng 1, 2 và các dãy nhà A, B, C, cùng với các đoạn giao thông hào nối các mục tiêu này.

        - Bộ phận diện do Đại đội 40, được tăng cường một khẩu badôca, ba khẩu trung liên bố trí dọc phía đông đồn, có nhiệm vụ đánh chiếm lô cốt 3, một nhà của dãy B, một nhà của dãy C, các ụ súng 3, 4,  Bộ phận hỏa lực do Đại đội 88 đảm nhiệm, bố trí ở bờ quai phía tây nam đồn, dùng hỏa lực chế áp địch, tạo điều kiện cho bộ binh diệt đồn.

        - Đại đội 42 được tăng cường ba trung liên, phối hợp với trung đội du kích địa phương kiềm chế và đánh chiếm bốt quận khi Tiểu đoàn 18 đánh đồn Thạch Đà. 

        18 giờ ngày 11 tháng 4 năm 1954, từ làng Trung Hà, tiểu đoàn hành quân vào chiếm lĩnh trận địa.  21 giờ 30 phút, các bộ phận triển khai xong. Bộ phận điểm đã cắt được năm hàng rào và đặt bộc phá vào hàng rào thứ sáu. Bộ phận diện đã cắt được bốn hàng rào.

        0 giờ 35 phút ngày 2 tháng 4, tiểu đoàn ra lệnh tiến công. Badôca, ĐKZ bắn trúng lô cốt số 1. Các tổ bộc phá tiến hành mở cửa. Sau 10 phút bộ phận điểm báo cáo chuẩn bị đánh lô cốt số 2. Cùng lúc đó cối 81mm, đại liên, trung liên địch bắn mạnh vào đội hình ta.  Tiểu đoàn ra lệnh đánh lô cốt số 2, sau 5 phút binh hỏa lực rút, chỉ để lại badôca. Bộ phận diện vẫn tiếp tục phá rào.

        0 giờ 50 phút, địch đối phó quyết liệt; pháo ở Phúc Yên bắn vào các bộ phận điểm và diện.

        Lúc 1 giờ, bộ phận diện chiếm được ụ súng số 5 phát triển đến gần lô cốt số 3, phá được hàng rào ngăn lô cốt số 3 nhưng bên trong vẫn còn nhiều hàng rào. Bộ phận điểm chỉ còn một hàng rào nhưng chưa phá được.  Chính trị viên tiểu đoàn đến bộ phận điểm động viên.  Pháo địch bắn mạnh làm Chính trị viên tiểu đoàn và Chính trị viên Đại đội 86 hy sinh. Cả hai bộ phận đều hết bộc phá, hai khẩu trung liên hết đạn. Tiểu đoàn lệnh cho badôca tăng cường cho bộ phận điểm, cho liên lạc đi báo cho ĐKZ, cối 60mm, đại liên quay lại trận địa nhưng không tìm được.

        Hỏa lực địch trong đồn tiếp tục bắn mạnh ra ngoài.  Pháo địch từ các nơi bắn về dữ dội, liên lạc giữa chỉ huy tiểu đoàn với các bộ phận bị mất. Trung liên không bắn được, badôca hết đạn. Chỉ huy mặt trận cử người thay thế Chính trị viên tiểu đoàn nhưng vừa đến trận địa lại hy sinh.

        Trận chiến đấu tiếp tục đến 4 giờ. Tiểu đoàn thấy hỏa  lực hết đạn, bộc phá hết, quân số thương vong nhiều nên báo cáo chỉ huy mặt trận cho rút quân.

        Sau 4 giờ đánh địch, ta diệt được 11 tên và làm bị thương sáu tên địch. 

        Trận Thạch Đà đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu về công tác tổ chức, chuẩn bị chiến đấu, chỉ huy mở cửa, đột phá tiền duyên trong chiến đấu công kiên.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:26:01 AM

TRẬN BẦN YÊN NHÂN - NHƯ QUỲNH CỦA TRUNG ĐOÀN 42 (21.4.1954)

        Trận vận động phục kích của Trung đoàn 42 Liên khu 3 do Nguyễn Như Thiết chỉ huy, đánh tiểu đoàn Âu Phi thuộc binh đoàn cơ động số 3 (GM3) trên đường từ Bần Yên Nhân đến Như Quỳnh thuộc huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên; nhằm tiêu diệt một bộ phận địch, làm ngừng trệ vận chuyển binh khí, kỹ thuật của chúng tiếp tế cho các chiến trường khác, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địa phương.

        Sau nhiều lần bị ta phục kích, diệt nhiều tên trên đường 5, hàng ngày địch phái một tiểu đoàn của GM3 có xe tăng hộ tống tuần đường từ Bần Yên Nhân lên Nhạc Lộc, bắt liên lạc với quân địch tử Như Quỳnh xuống. Sau khi bố trí các bộ phận cảnh giới, chủ lực địch rút về Bần Yên Nhân, tối cho xe đến đón.

        Trung đoàn 42 (thiếu một tiểu đoàn), vào chiến đấu được tăng cường đại đội địa phương huyện Phù Cừ và một số du kích huyện Văn Lâm. Hỏa lực có bốn trung đội ĐKZ (tám khẩu), ba trung đội cối 81mm (sáu khẩu ba trung đội đại liên (chín khẩu) và hai khẩu PIAT. Ngoài ra, còn có hai đại đội địa phương huyện Văn Giang, Yên Mỹ và một trung đội cối 81mm phối hợp chiến đấu, kiềm chế pháo địch ở Lực Điền, Bần Yên Nhân, Nhơ Quỳnh. 

        Để tiêu diệt địch, chỉ huy trận đánh tổ chức lực lượng thành các bộ phận:

        - Bộ phận tiến công trên hướng chủ yếu do Tiểu đoàn 698 đảm nhiệm, được tăng cường ba khẩu ĐKZ 57mm, ba khẩu đại liên, bố trí tại các thôn Đồn Tỉnh, Xuân Cầu, Thọ Vực.

        - Bộ phận chặn đầu do Tiểu đoàn 652 (thiếu các đại đội 15, 61) đảm nhiệm, được tăng cường hai trung đội của Đại dội 76, có một khẩu ĐKZ 57mm, hai khẩu đại liên, một khẩu trung liên, bố trí ở các thôn Mộc Ty, Nghĩa Trại. Khi chặn được địch, sử dụng đại bộ phận lực lượng thọc xuống đầu thôn Trại Túc, Nhạc Lộc, phối hợp với hướng chủ yếu diệt địch.

        - Bộ phận khóa đuôi gồm Đại đội 61 (thiếu một trung đội) Tiểu đoàn 652 và một trung đội địa phương Phù Cừ đảm nhiệm, được tăng cường năm khẩu ĐKZ 57mm, bốn khẩu đại liên, bố trí ở các thôn Đông Dương, Khúc Lộc Một trung đội của Đại đội 61 và một khẩu ĐKZ 57mm “độn thổ” ở Chằm Chư; một trung đội và một khẩu ĐKZ ém sẵn trong làng Dụ Trang.

        - Bộ phận đánh bên sườn do Đại đội 15 Tiểu đoàn 652 đảm nhiệm, được tăng cường hai khẩu PIAT. Hai trung đội bố trí ở xóm Chí Trung, thôn Đình Dù. Một trung đội bố trí ở xóm Chi thôn Ngõ Miếu (Quang Trung), phối hợp với các bộ phận tạo thành thế bao vây, chia cắt, không cho địch chạy thoát.

        - Lực lượng dự bị do hai trung đội địa phương Phù Cừ đảm nhiệm, bố trí ở thôn Đình Tỉnh.

        - Phân đội cối 81mm chia làm hai bộ phận: Một bộ phận (hai khẩu) bố trí ở thôn Đại Tài, khi được lệnh bắn dồn dập vào quãng đường Mộc Ty, Trại Túc yểm hộ cho các lực lượng vận động ra tiêu diệt địch. Bộ phận thứ hai gồm bốn khẩu bố trí ở Vĩnh An, Đào Xá, khi được lệnh bắn mạnh vào đường 5 (đoạn từ Dụ Trang đến ngã ba Lạc Đạo).

        - Bộ phận phòng không do một trung đội của Đại đội 76 đảm nhiệm, được tăng cường ba khẩu đại liên, bố trí ở các xóm Xuân Cầu, Đồng Tỉnh, Thủ Pháp; có nhiệm vụ bắn máy bay bay thấp, bảo vệ bộ binh xung phong tiêu diệt địch. 

        19 giờ ngày 20 tháng 4, từ vị trí tập kết, các đơn vị vào chiếm lĩnh trận địa chuẩn bị chiến đấu.

        6 giờ 15 phút, địch từ Bần Yên Nhân đã ra khỏi vị trí, số quân khoảng 180 tên, đầu là một xe tăng. 6 giờ 55 phút, địch ở Bần Yên Nhân có bốn xe tăng và 300 quân, 7 giờ 25 phút, bộ binh cơ giới địch lọt vào trận địa ta khoảng 400 tên. 7 giờ 35 phút, trung đoàn ra lệnh tiến công. Khối bộc phá 15 kilôgam nổ phát lệnh cho toàn trận địa nổ súng đánh địch.

        Từ các hướng, hỏa lực của ta dồn dập bắn vào quân địch trên đường. Địch dùng đại liên bắn vào đội hình Đại đội 1, Đại đội 8 đang xung phong.

        Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, được hỏa lực chi viện, quân ta lần lượt tiêu diệt hết bộ phận địch này đến bộ phận khác.

        Trước sức mạnh tiến công của ta, quân địch nhốn nháo, tháo chạy hỗn loạn. Ta truy kích diệt một số, số còn lại xin hàng.

        8 giờ 10 phút ngày 21 tháng 4, trận đánh kết thúc. Ta diệt 179, làm bị thương 64 tên. Ta băng bó và thả tại chỗ 20 tên, bắt 108 tên (có một quan hai); thu hai súng ĐKZ 57mm, hai đại liên, một cối 60mm, 12 trung liên, sáu các bin, 70 súng trường, sáu badôca, 13 súng ngắn; phá hủy một súng ĐKZ 57mm, một xe tăng, một xe Jeép; giải thoát 104 người dân bị bắt.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:35:43 AM

TRẬN VÂN Ổ CỦA TIỂU ĐOÀN 185 TRUNG ĐOÀN 246 (29.4.1954)

        Trận công kiên đồn Vân ổ mở đầu đợt hoạt động mới của Tiểu đoàn 185 nhằm tiêu diệt, góp phần làm tan rã hệ thống đồn bốt của quân Pháp ở vùng địch hậu Vĩnh Phúc.  Đồn Vân Ổ được xây dựng vào tháng 3 năm 1950 trên địa bàn xã Vân Xuân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, án ngữ trên đường từ Am Cát đi Minh Tân. 

        Bao quanh đồn là các hàng rào dây thép gai. Từ ngoài vào giữa hàng rào thứ nhất và thứ hai có hào rộng 10 mét, sâu 2 mét, trong hào có nước sâu 1 mét. Bên trong hàng rào trong cùng có một hào rộng 4 mét, sâu 2 mét.  Giữa đồn có lô cốt cao 3 mét, có một tầng ngầm. Lô cốt xây bằng gạch, chân tường dày 2 mét, phía trên dày 1,6 mét, lỗ châu mai được thiết kế ba tầng. Trên đỉnh lô cốt có đèn pha chiếu sáng ra xung quanh.

        Ngoài lô cốt mẹ, có năm lô cốt con, một nhà mái bằng, hai nhà ở của chỉ huy. Từ lô cốt mẹ có các hào ngầm nối với các lô cốt  6; nối các nhà A và B sang lô cốt số 2. Từ lô cốt số 3 vào là nhà của vợ con lính ngụy. 

        Các lô cốt con cấu trúc giống nhau, thường cao 2 mét, có một tầng ngầm dưới đất. Hai khẩu đại liên ở lô cốt số 1 có tầm bắn rộng, có thể chi viện cho các hướng khi bị tiến công.

        Tiểu đoàn bộ binh 185 có các đại đội 40 và 86, một đại đội hỏa lực. Vũ khí có hai khẩu ĐKZ, hai khẩu badôca, hai khẩu cối 60mm, hai khẩu đại liên, còn lại là trung liên và súng trường, tiểu liên. Vào chiến đấu, tiểu đoàn được tăng cường hai khẩu cối 82mm, một trung đội bộ binh của Tiểu đoàn 433 Trung đoàn 238 Liên khu Việt Bắc và một tiểu đội du kích địa phương trang bị hai tiểu liên, 10 súng trường.

        Để tiêu diệt địch ở đồn Vân Ổ, tiểu đoàn tổ chức lực lượng thành bốn bộ phận:

        - Bộ phận điểm do Đại đội 86, được tăng cường một khẩu badôca, đột phá đánh chiếm lô cốt số 2, sau đó chia thành ba mũi: một mũi đánh chiếm nhà A, bắt liên lạc với bộ phận diện, đánh chiếm nhà B; mũi thứ hai đánh chiếm nhà C; mũi thứ ba lợi dụng giao thông hào đánh chiếm lô cốt số 3, phát triển sang lô cốt số 4.

        - Bộ phận diện do Đại đội 40, được tăng cường một khẩu badôca, đột phá diệt các lô cốt số 5, 6 và địch ở dãy nhà B; yểm trợ cho bộ phận đánh chiếm lô cốt số 1 .  Bộ phận kiềm chế gồm hai tiểu đội bộ binh của Tiểu đoàn 433 kiềm chế địch ở Minh Tân; một tiểu đội bộ binh của Tiểu đoàn 433 chặn địch ở An Cát; tiểu đội du kích chặn địch ở Đông Mẫn về Vân Ổ.

        - Bộ phận hỏa lực do Đại đội 88 được trang bị hai khẩu ĐKZ, hai khẩu cối 60mm, hai khẩu đại liên, tập trung diệt địch ở các lô cốt, tiêu diệt các hỏa điểm của địch, yểm hộ cho các bộ phận đánh chiếm mục tiêu.

        18 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1954, tiểu đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa.

        0 giờ 30 phút ngày 30, các bộ phận triển khai xong, tổ chức cắt rào, gỡ mìn. . Bộ phận diện cắt được ba lớp và bố trí hỏa lực đúng kế hoạch.

        1 giờ 15 phút, chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh nổ súng tiến công. Các hỏa lực của ta bắn mạnh vào trận địa, địch chống cự quyết liệt, vừa quét đèn pha vừa bắn mạnh ra ngoài. Từ các hướng, các bộ phận dùng hỏa lực kiềm chế địch để bộ phận mở cửa phá rào, mở đường vào đồn.  Trên hướng diện, ta mở cửa thuận lợi, bộ phận đánh chiếm đầu cầu nghi binh lừa địch, nhanh chóng tiếp cận lô cốt số 5, dùng bộc phá phá lô cốt, sau đó phát triển sang lô cốt số 1 và lô cốt số 6.

        Trên hướng điểm ta gặp khó khăn Đại đội 86 quyết định chuyển nỗ lực chủ yếu sang hướng dự bị. Lợi dụng giao thông hào của địch, bộ đội bí mật mở cửa, chiếm lô cốt số 3, đồng thời đưa hỏa lực vào yểm trợ cho các bộ phận đánh chiếm các mục tiêu.

        Sau khi bắt liên lạc được với bộ phận diện ở lô cốt số 1, bộ phận điểm chuyển sang đánh chiếm dãy nhà A, gọi địch ra hàng. Địch không chống cự nhưng cũng không ra hàng.  Chỉ huy ra lệnh dùng bộc phá đánh sập nhà A và đoạn hào làm hầm ngầm, bắt một số tù binh, sau đó đánh chiếm các lô cốt số 2, số 6.

        Sau 45 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt bảy tên, bắt 39 tên; thu hai đại liên, hai trung liên, 22 súng trường.

        Trận Vân Ổ thắng lợi, rút ra được nhiều kinh nghiệm quý về huấn luyện bộ đội, về công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tơ tưởng, về chỉ huy đánh địch trong tung thâm.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:37:05 AM

TRẬN TẰNG MY CỦA DU KÍCH XÃ NAM HỒNG (20.5.1954)

        Trận chống càn của 24 du kích thôn Tằng My, được hai tiểu đội bộ đội huyện tăng cường, do Xã đội trưởng Nguyễn Bá Thiên chỉ huy đánh quân địch có xe tăng yểm trợ càn vào thôn, nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ làng kháng chiến. 

        Thôn Tằng My thuộc xã Nam đồng, huyện Đông Anh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay thuộc thành phố Hà Nội).  Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền địa phương, lực lượng vũ trang nhân dân xã đã đào hào, đắp lũy xây dựng làng chiến đấu. Trong làng, giao thông hào nối liền các thôn, nhiều địa đạo được xây dựng bí .  mật. Xung quanh làng có nhiều lũy tre, mây bao bọc cao 1,2 đến 1,5 mét, dày 2 đến 3 mét, bên trong có hào giao thông, hào chiến đấu, hào chống tăng sâu 1 mét, rộng 2,5 đến 3 mét. Trong các ngõ ngang dọc bố trí sẵn chông, mìn cạm bẫy tạo thành thế trận liên hoàn trong cụm làng chiến đấu của xã.

        Đội du kích Nam Hồng lúc đông nhất lên tới 500 người, trong quá trình chiến đấu đã hy sinh 165 người, đi bộ đội 120 người, còn lại 170 người. Về trang bị, cứ 3 đến 5 người có một khẩu súng trường, mỗi người có 2 đến 3 quả lựu đạn, số còn lại chủ yếu dùng dao găm, mã tấu. 

        Tối 19 tháng ó năm 19ô4, địch tập trung lính Âu Phi và ngụy quân, có xe tăng yểm trợ ở các bốt Phù Lỗ, Đông Anh, Vạn Lộc chuẩn bị cùng lực lượng cơ động hành quân càn quét.

        Huyện ủy nhận định rằng địch sẽ mở cuộc càn quét vào các xã phía tây quốc lộ số 3, trong đó Nam Hồng sẽ là một trong những trọng điểm và hạ quyết tâm: Tăng cường cho xã Nam Hồng hai tiểu đội bộ đội huyện (có một khẩu trung liên), nhanh chóng củng cố thế trận làng xã chiến đấu. Kiên quyết chống địch càn quét, giữ vững làng, giữ vừng khu căn cứ du kích; tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. 

        Nhận chỉ thị của trên, xã đội trưởng tổ chức lực lượng du kích và bộ đội địa phương thành sáu tổ, mỗi tổ sáu người (bốn du kích và hai bộ đội), bố trí đội hình chiến đấu, sẵn sàng đánh địch khi chúng càn vào xã. 

        6 giờ 30 phút ngày 20 tháng 5, bộ binh địch được xe tăng đi cùng chiếm đường và dùng hỏa lực đánh phá làng, chia cắt thôn Tằng My để dễ bề đánh chiếm.  7 giờ, một cánh quân đánh vào bắc thôn Tằng My. Chờ địch đến cách lũy tre làng vài mét, từ trong công sự, chiến hào, quân ta ném lựu đạn, bắn hạ nhiều tên. Bị đánh bất ngờ, địch gọi pháo từ Đông Anh, Phù Lỗ bắn phá khoảng 20 phút, sau đó mới tiếp tục tiến công.

        Ở phía nam và đông nam làng, do lực lượng ta mỏng nên địch vào được làng. các tổ du kích chặn đánh chúng quyết liệt Tại Giếng Mối, du kích diệt được tên chỉ huy và  sáu tên địch, buộc chúng phải chạy khỏi làng. Trong khói lửa bom đạn, các em nguyễn Bá Cấp (13 tuổi), Nguyễn Văn Tạo ( 14 tuổi) theo đường hầm trong thôn tiếp tế lựu đạn, đạn cho bộ đội và du kích đánh giặc. 

        Từ 9 giờ đến 16 giờ. địch dùng phi pháo bắn phá ác liệt vào làng.

        14 giờ, địch đưa thêm lực lượng có cả xe tăng, được hỏa lúc chi viện trực tiếp chọc thẳng vào làng. Theo kế hoạch, du kích rút sâu vào làng chờ địch. Khi chúng vào sâu lọt vào ổ phục kích của ta, du kích kịp thời nổ súng và ném lựu đạn làm bảy tên chết nhiều tên khác bị thương.

        17 giờ, địch tập trung quân phá cổng làng và xông vào khu nhà gạch, nhưng du kích và bộ đội địa phương đã xuống hầm bí mật rút ra ngoài tìm cách đánh từ ngoài vào. Trời tối, sợ bị tập kích, địch rút khỏi làng.  Sau một ngày chiến đấu liên tục, mưu trì, du kích và  bộ đội địa phương đã diệt được 46 tên, làm bị thương 18 tên; thu một số súng đạn và đồ dùng quân sự; giữ được làng xã chiến đấu.

        Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về cấp ủy địa phương phát động phong trào toàn dân đánh giặc, bảo vệ quê hương; về xây dùng làng chiến đấu trong cụm làng xã chiến đấu liên hoàn ngày càng hoàn thiện; về vận dụng cách đánh thích hợp; về hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ đội và du kích: về thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy đánh địch trong thế trận chiến tranh nhân dân địa phương ở một địa bàn bàn thủ đô lúc đó.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:39:28 AM

TRẬN ĐẮC PƠ CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 96 (24.6.1954)

        Trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 96 Liên khu 5 (có các tiểu đoàn 40, 79 và hai đại đội cối, ĐKZ); được tăng cường một đại đội của Trung đoàn 120 và khoảng 3.000 dân công làm nhiệm vụ tiếp tế đạn, gạo, tải thương; do Nguyễn Minh Châu chỉ huy nhằm đánh vào binh đoàn 100 (GM100) quân Pháp đang rút khỏi An Khê, trên đường 19, cách cầu Đắc Pơ khoảng 400 mét thuộc xã Hà Tam, huyện An Khê, tỉnh Gia Lai. 

        Từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 6 năm 1954, trên cả hai hướng Lây Ku xuống và từ An Khê lên, địch tung các lực lượng nhỏ ra thăm dò, sục sạo sâu vào hai bên đường. Các cứ điểm Kà Tung, Xà Luồng, Hà Tam, Măng Giang đưa quân ra kiểm soát, thăm dò dấu vết và bảo vệ đường. Máy bay trinh sát quần lượn suốt ngày đêm. Đêm 23 tháng 6, địch ở An Khê và các cứ điểm xung quanh nổ súng liên tiếp .

        24 giờ ngày 23 tháng 6, trung đoàn nhận được tin địch ở PLây Ku ra lệnh cho GM42 hành quân ngay xuống ngã ba Plây Bon để sáng 24 tháng 6 xuống đến đồn điền LMáT.

        Như vậy, đối tượng phục kích của trung đoàn sẽ là GM 100 . Từ nhận định đó, trung đoàn lệnh cho các đơn vị vào chiếm lĩnh vị trí phục kích theo kế hoạch.  10 giờ, cả đoàn xe vài trăm chiếc đã dừng lại Kà Tung.  Trung đoàn hạ quyết tâm chặn đánh cả đoàn xe; đánh không hết sẽ tiếp tục truy kích, tập kích; nếu ngày 24 chưa diệt hết thì đánh tiếp vào những ngày sau và sẵn sàng đánh GM42 khi chúng xuống đón GM100. 

        12 giờ, địch tiếp tục hành quân, nhưng càng đến gần cầu Đắc Pơ đường càng hẹp, nên địch thúc nhau vượt nhanh qua đoạn đường nguy hiểm này. Cùng thời gian, trung đoàn lệnh cho bộ phận chủ yếu và bộ phận chặn đầu sẵn sàng nổ súng.

        13 giờ 30 phút, bộ phận tiền vệ của tiểu đoàn 520 ngụy vượt qua cầu Đắc Pơ cùng với 4 đến 5 xe công trình và 3 đến 4 xe thiết giáp thì Đại đội 68 của Tiểu đoàn 40 nổ súng và lăn những tảng đá lớn xuống đường chặn cả đoàn xe lại.  Cốí và ĐKZ của trung đoàn và các tiểu đoàn nhằm vào các cụm xe cơ giới của địch nhả đạn, khiến nhiều chiếc bốc cháy. Quân địch bị đánh bất ngờ, những tên ở mặt đường xô đẩy nhau, dựa vào thành xe ép vào vách đồi để tránh hỏa lực ta.

        Đại đội 3 và hai trung đội của Đại đội 68 xung phong xuống mặt đường, một số quân địch hốt hoảng chạy về phía nam đường, nhưng quân ta đã ép sẵn và gọi hàng, bắt toàn bộ. Số chạy về phía nam bị bộ phận đối diện diệt và bắt 200 tên.

        Khi tiếng súng của bộ phận chặn đầu nổ, hai đại đội thuộc Tiểu đoàn 79 cũng xuất kích đánh trúng tiểu đoàn đi đầu và ban chỉ huy GM100.

        Địch chống cự quyết liệt, chúng dựa vào xe tăng và xe bọc thép để ngăn chặn các mũi xung kích của ta từ bắc đánh ra, một số chạy lên sườn đồi bị lực lượng ta đánh tạt sườn và dùng hỏa lực khống chế để các đại đội 223 và 224 của ta vận động.

        Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, đến 15 giờ 30 phút, cơ bản toàn bộ đội hình quân địch lọt vào trận địa phục kích đã bị tiêu diệt và chạy tán loạn, xe tăng, xe thiết giáp, xe kéo pháo, xe tải cháy ngổn ngang.  Quân địch từ phía sau dồn lên nhưng không có chỉ huy và bị hỏa lực ta chế áp, địa hình trống trải nên chúng thúc nhau co cụm để chờ cứu viện (vì địch vẫn còn xe tăng, pháo và vẫn được máy bay chi viện).

        Sau khi củng cố và được phi pháo chi viện, địch bắt đầu phản kích vào trận địa của Đại đội 223. Quân ta để địch đến gần, dùng trung liên, lựu đạn và cối 60mm bắn ngay vào từng tốp địch, gây thương vong cho chúng. 

        16 giờ, địch lại xung phong vào trận địa của Đại đội 223 lần thứ hai. Quân ta đã kiên cường đánh trả, và xung phong xuống mặt đường thu súng, lựu đạn địch để đánh tiếp.

        Đến 16 giờ 30 phút, địch tổ chức một đại đội có thiết giáp và được súng máy chi viện phản kích lần thứ ba. Lúc này bộ phận dự bị của trung đoàn đã đến kịp và hiệp đồng với Đại đội 228 đánh bại tiến công của địch:

        Tiếp đó trung đoàn tổ chức truy kích địch, đến 12 giờ ngày 25 tháng 6 trận đánh kết thúc, khoảng 500 tên bị diệt, 600 tên bị thương, 800 tên bị bắt. Ta phá hàng trăm xe, thu 229 xe (có một xe tăng), 18 khẩu pháo 150mm và nhiều súng đạn, quân trang quân dụng.

        Thành công nổi bật của trận Đắc Pơ là đánh giá đúng về so sánh lực lượng địch - ta; hạ quyết tâm chính xác, táo bạo, mưu trí, dũng cảm tiêu diệt, bắt nhiều địch, thu nhiều vũ khí quân trang, quân dụng. Có được thắng lợi đó là nhờ chọn được trận địa hiểm, bộ đội quyết đánh và biết đánh.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 01:41:10 AM

TRẬN VŨ HẠ CỦA ĐẠI ĐỘI 24 (13.7.1954)

        Trận phục kích của Đại đội 24 bộ đội địa phương huyện Thái Ninh nhằm đánh vào hai trung đội địch ở bốt Đồng Bằng hành quân bảo vệ đường cơ động từ Thụy Anh và Phụ Dực đi Hải Phòng tại thôn Vũ Hạ, xã An Vũ, huyện Phụ Dực (nay là huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). 

        Đại đội 24 đang hoạt động ở Vĩnh Bảo (Hải Phòng) được lệnh tách khỏi đội hình chiến đấu của Tiểu đoàn 670; 4 giờ ngày 10 tháng 7 năm 1954 có mặt tại thôn Vọng Lỗ, xã An Dục, huyện Phụ Dực nhận nhiệm vụ mới. Tại thôn Vọng Lỗ, đại đội được Tỉnh đội Thái Bình giao nhiệm vụ tổ chức vây địch ở bốt Đồng Bằng không cho chúng rút chạy, nếu địch rút chạy phải chủ động tổ chức đánh địch. 

        Theo tin nhận được, ngày 13 tháng 7 địch tổ chức kiểm tra, chuẩn bị đường rút quân khỏi bốt Đồng Bằng, lực lượng từ 1 đến 2 trung đội. Căn cứ vào tình hình địch, địa hình và tình hình đơn vị, chỉ huy trận đánh quyết định chọn đoạn đường 10 từ ngã tư Vũ Hạ kéo về bốt Đồng Bằng khoảng 600 mét, cách bốt Đồng Bằng khoảng 400 mét và tổ chức đội hình thành các bộ phận: Chặn đầu và đánh chính diện, bộ phận chủ lực, bộ phận khóa đuôi, bộ phận vây hãm và kiềm chế bốt địch.

        3 giờ ngày 13 tháng 7 năm 1954, các bộ phận triển khai xong và chuẩn bị đánh địch.

        9 giờ 10 phút, một tiểu đội địch đi trước cảnh giới, tới nghĩa trang, chúng kéo vào kiểm tra rồi ra đường 10, ngồi tụm lại đó.

        9 giờ 50 phút, từ bốt Đồng Bằng, khoảng hai trung đội địch đi ra, khi đến chỗ tiểu đội đi trước đang ngồi đợi tiểu đội này nhập vào đội hình đi tiếp. 10 giờ 35 phút, đội hình tới Vũ Hạ, trung đội đi trước rẽ theo đường 218 và đi vào các ngõ của thôn Vũ Hạ, lúc này trung đội đi sau tới ngã tư Vũ Hạ.

        Khi địch từ đường 218 tạt vào thôn Vũ Hạ, Đại đội trưởng ra lệnh Trung đội 1 nổ súng. Bị đánh bất  ngờ, quân địch chạy trở lái đường 218, nhưng lại bị ta chặn đánh, chúng vội kéo xuống cánh đồng để về tới bốt, bỏ lại hai xác chết.  Nghe tiếng súng nổ, cối 60mm cơ động ra bờ mương bắn quân địch đang trên đường 10, Trung đội 2 bật ra khỏi hầm, chiếm lĩnh trận địa, thực hành bao vây, chia cắt tiêu diệt từng tốp địch.

        10 giờ 50 phút, quan sát thấy địch trên đường đã bị tiêu diệt hết, Đại đội trưởng ra lệnh lui quân.  Trận đánh diễn ra khoảng 15 phút , địch bị diệt 31, bị bắt hai tên.

        Thành công nổi bật của trận đánh là bộ đội biết dựa vào dân và du kích tại chỗ để nắm tình hình, tổ chức thực hiện nhiệm vụ trong thời gian ngắn; chuẩn bị chiến đấu chu đáo, biết tận dụng địa hình và có biện pháp ngụy trang, giữ bí mật, tạo bất ngờ; chỉ huy, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ.


TRẬN BỒ BỒ CỦA TIỂU ĐOÀN 20 (18 - 19.7.1954)

        Trận tập kích của Tiểu đoàn 20 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam vào quân địch ở cứ điểm Bồ Bồ thuộc xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nhằm phá căn cứ bàn đạp của địch tiến công vào các căn cứ du kích của ta, tạo điều kiện cho phong trào du kích chiến tranh phát triển.

        Ngày 16 tháng 7 năm 1954, quân Pháp ở Đà Nẵng dùng chiến đoàn 1 mở cuộc hành quân “Con Báo” đánh chiếm lại cứ điểm Bồ Bồ và toàn bộ dãy núi Đất Sơn, xây dựng thành bàn đạp để mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá các vùng du kích xung quanh, giải tỏa cho Đà Nẵng; giải vây và tiếp tế cho Ái Nghĩa, Phong Thử, Bình Long đang bị bộ đội, du kích bao vây, khống chế.

        Chiều ngày 16 tháng 7, địch chiếm núi Đất Sơn và bố trí sở chỉ huy, trung tâm thông tin ở điểm cao Bồ Bồ.  Tiểu đoàn 20 có các đại đội 203, 204, 206. Nhận nhiệm vụ chiến đấu, tiểu đoàn được tăng cường Đại đội bộ binh 64, Đại đội hỏa lực 22, một phân đội của Đại đội trinh sát 15 và Đại đội 61 bộ đội địa phương huyện Điện Bàn. Trang bị có ba khẩu cối 81mm, 12 khẩu cối 60mm, sáu khẩu SKZ 60mm, một khẩu súng máy phòng không 12,7mm, bốn khẩu đại liên, còn lại là tiểu liên và súng trường.  Huyện đội Điện Bàn huy động 500 du kích và 650 dân công làm nhiệm vụ chặn viện, đón bắt tù binh và phục vụ chiến đấu.

        Để hoàn thành nhiệm vụ, tiểu đoàn sử dụng Đại đội 204, Đại đội 61, một tiểu đội trinh sát tiến công trên hướng chủ yếu (từ tây bắc thôn Tú Sơn đến điểm cao Bồ Bồ); Đại đội 206 có một tiểu đội trinh sát tiến công trên hướng quan trọng thứ nhất (từ phía tây đánh chiếm điểm cao Giồng Ngang); Đại đội 206 có một tiểu đội trinh sát tiến công trên hướng quan trọng thứ hai; Đại đội 64 làm dự bị chung và một trung đội của Đại đội 61 làm dự bị cho hồng chủ yếu; Đại đội hỏa lực bố trí trận địa cối, SKZ ở tây bắc Bồ Bồ; một số khẩu súng SKZ và đại liên tăng cường cho các mũi tiến công.

        19 giờ ngày 18 tháng 7, các đơn vị vào chiếm vị trí xuất phát tiến công.

        0 giờ 30 phút ngày 19, các loại hỏa lực bắn vào sở chỉ huy, trung tâm thông tin, trận địa pháo, bãi xe, các cụm bộ binh địch. Sau 10 phút hỏa lực bắn, từ các hướng quân ta nhanh chóng đánh chiếm các lô cốt, công sự vòng ngoài, thực hiện thọc sâu, chia cắt từng cụm quân địch để tiêu diệt.

        Sau 50 phút chiến đấu, các mũi đã làm chủ hai phần ba trận địa, phần lớn địch bị tiêu diệt, số còn lại lợi dụng gầm xe, ụ pháo chống cự quyết liệt. Tiểu đoàn trưởng Lê Văn Bàng chỉ huy hướng chủ yếu đánh mạnh vào các cụm quân địch, trong khi vận động anh bị thương rồi hy sinh. 

        Trước tình thế khó khăn, ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định đưa dự bị vào phối hợp với các mũi tiêu diệt các cụm quân địch còn lại. Trước sức tiến công mạnh của ta, số địch còn lại bị tiêu diệt một số, một số chạy xuống sườn đồi bị du kích bắt, trong đó có tên đại tá chỉ huy chiến đoàn.  Sau hơn 2 giờ chiến đấu, tiểu đoàn loại khỏi vòng chiến hơn 400 tên địch, phần lớn là linh Âu Phi, bắt 293 tên, trong đó có một đại tá và nhiều sĩ quan các cấp. Ta thu bảy súng 12,7mm, năm súng cối, năm đại liên; nhiều trung liên, tiểu liên và súng trường; phá hủy 53 xe, trong đó có năm xe tăng, năm khẩu pháo.

        Trận Bồ Bồ để lại nhiều kinh nghiệm quý về nắm địch, về sử dụng lực lượng; về tổ chức hiệp đồng giữa đơn vị và địa phương, giữa các đơn vị chiến đấu và phục vụ chiến đấu; về chỉ huy sâu sát và xử trí tình huống kịp thời và chính xác.

HẾT