Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Một, 2016, 09:55:10 PM



Tiêu đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Một, 2016, 09:55:10 PM
Tên sách: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2008
Số hoá: ptlinh, chuongxedap




Ban biên soạn:
Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Chủ biên)
Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
Thượng tá ĐẬU XUÂN LUẬN
Thượng úy PHAN NGỌC DOÃN
Trung úy NGUYỄN MINH THỦY

Hoàn chỉnh bản thảo:
Trung úy NGUYỄN MINH THỦY


LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một đất nước nằm ở ven biển Thái Bình Dương - cửa ngõ quan trọng của lục địa Đông Nam châu Á. Trải qua bao thế kỷ, bọn xâm lược phong kiến, thực dân và đế quốc nhòm ngó và xâm lăng nhưng dân tộc Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục. Ngay từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã phải bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975...

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một kho tàng di sản vô cùng quý giá, xây đắp nên truyền thống quật cường, bất khuất, lòng yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc. Việc tìm hiểu lịch sử dân tộc vừa là nhu cầu, vừa là trách nhiệm trước lịch sử để tỏ lòng biết ơn đối với công lao to lớn của tổ tiên, vừa là đòi hỏi của thời cuộc để mỗi người dân Việt Nam tự tin hội nhập cùng bạn bè quốc tế với một bản sắc dân tộc mạnh mẽ.

Với ý nghĩa đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức biên soạn và xuất bản "Tủ sách lịch sử Việt Nam". Tủ sách lịch sử Việt Nam gồm nhiều cuốn, mỗi cuốn sách trình bày một cuộc khởi nghĩa cụ thể theo dạng hỏi đáp, ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Hy vọng "Tủ sách lịch sử Việt Nam" nói chung và cuốn sách “Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình" nói riêng sẽ là người bạn đồng hành thân thiết của mỗi bạn đọc trong cuộc hành trình tìm về lịch sử dân tộc.

Mặc dù những người biên soạn đã có nhiều cố gắng, nhưng bộ sách khó tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong được bạn đọc lượng thứ và đóng góp ý kiến.


NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Một, 2016, 09:59:13 PM

Câu hỏi 1: Cho biết tình hình đất nước Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX và tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta?
Trả lời:


Cuối thế kỷ XIX trở đi, chế độ phong kiến Việt Nam ngày càng suy yếu, mâu thuẫn giữa các tập đoàn phong kiến ngày càng gay gắt, dẫn đến cuộc chiến tranh "nồi da nấu thịt", "cốt nhục tương tàn" Trịnh - Nguyễn thảm khốc. Các cuộc khởi nghĩa đàng trong, đàng ngoài xảy ra liên tiếp, dẫn tới sự quật khởi của phong trào Tây Sơn. Vì quyền lợi ích kỷ, năm 1873, Nguyễn Ánh nhờ hai giáo sĩ Tây Ban Nha cứu giúp không thành. Năm 1874, Nguyễn Ánh dựa vào Bá Đa Lộc ký với Chính phủ Pháp hiệp ước: "Ánh nhượng cho Pháp quyền sở hữu cảng Hội An, Côn Đảo, độc quyền buôn bán ở Việt Nam; gửi binh lính, lương thực, tàu chiến và mọi trang bị cho Pháp khi chúng đánh nhau với các nước khác. Pháp giúp Nguyễn Ánh diệt Tây Sơn khôi phục quyền thống trị của nhà Nguyễn"1.

Mục đích đạt được, Nguyễn Ánh phong Bá Đa Lộc là Thái tỷ thái phó bí nhu quận công và cho giáo sĩ Pháp được tự do hoạt động, lưu các sĩ quan Pháp ở lại làm quan trong triều. Bọn này đã hoạt động gián điệp ngay trong lòng nước ta. Chúng chia rẽ giáo - lương, kích động các cuộc nổi dậy, do thám tình hình đất nước, gây cơ sở, làm cho các mâu thuẫn vốn có của dân tộc thêm gay gắt. Mặt khác, Ánh trả thù man rợ những người từng theo Tây Sơn, đàn áp đẫm máu các phong trào nổi dậy, xây dựng một chế độ phong kiến tàn bạo, phản động nhất trong lịch sử nước ta. Mối mâu thuẫn xã hội càng thêm gay gắt. Mọi tiềm năng của dân tộc suy kiệt. Đặc biệt là nửa sau thế kỷ XIX, tình hình càng thêm nghiêm trọng. Tôn ty trật tự xã hội đảo lộn. Vua chúa, quan lại mục nát không còn phẩm giá. Nhiều tên mưu đồ "rước voi giày mả tổ”.

Trong khi đó chủ nghĩa tư bản châu Âu phát triển mạnh. Chúng đua nhau xâm lược các nước phương Đông để tìm kiếm thị trường, vơ vét tài nguyên và nhân công rẻ mạt đem về siêu lợi nhuận cho chính quốc. Việt Nam trở thành miếng mồi béo bở trước lũ sói săn mồi.

Âm mưu xâm lược của thực dân Pháp đối với Việt Nam là lâu dài và liên tục, bắt nguồn từ những năm đầu thế kỷ XVII và ngày càng được đẩy mạnh trắng trợn, song song với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Pháp. Sau một quá trình ráo riết điều tra thám sát tình hình, khi ngấm ngầm, lúc công khai, thông qua hoạt động của bọn gián điệp đội lốt thầy tu và con buôn, sáng ngày mồng 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tại cửa biển Đà Nẵng, công khai phát động chiến tranh xâm lược nước ta.

Lúc này chế độ phong kiến Việt Nam đang đi sâu vào giai đoạn khủng hoảng suy vong, với biểu hiện tập trung và đầy đủ nhất là sự bột phát chiến tranh nông dân, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn, dưới ngọn cờ đào của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Nhưng dựa vào thế lực của tư bản Pháp sẵn sàng nhảy vào mưu lợi, Nguyễn Ánh đã đánh thắng triều đại Tây Sơn để lên ngôi hoàng đế từ năm 1802. Triều Nguyễn2 - chính quyền mới của tập đoàn phong kiến tối phản động, đối lập sâu sắc ngay từ đầu với nhân dân đã được thiết lập trên phạm vi cả nước. Chế độ phong kiến Việt Nam vì vậy ngày càng dấn sâu hơn cái thế suy yếu trầm trọng, lực lượng vật chất và tinh thần của nhân dân ta ngày càng bị sự thống trị của nhà Nguyễn hủy hoại trầm trọng.

Việt Nam lúc đó đã trở thành một miếng mồi ngon đối với các nước tư bản phương Tây nói chung, đặc biệt đối với tư bản Pháp. Đã vậy, khi tiếng súng xâm lược của kẻ thù nổ ra thì giai cấp thống trị lại nhanh chóng phân hóa, một bộ phận bao gồm phần lớn bọn đại phong kiến và quan lại do chính vua Tự Đức cầm đầu quay ra làm tay sai cho chúng để đàn áp và bóc lột nhân dân cả nước. "Giai cấp phong kiến thoạt tiên có mâu thuẫn đối kháng với đế quốc đã trở thành mâu thuẫn không đối kháng và câu kết với đế quốc thành một khối chống lại dân cày, chống lại những người yêu nước"3.

Kết quả là hết vùng này đến miền khác, từ Nam ra Bắc bị giặc Pháp chiếm, triều đình Huế liên tiếp ký hai hòa ước ngày 25 tháng 8 năm 1883 và ngày 6 tháng 6 năm 1884 - thực chất là hàng ước - xác nhận quyền đô hộ lâu dài của tư bản Pháp ở nước ta. Nhà nước phong kiến Việt Nam sụp đổ, nước Việt Nam đã trở thành một xứ thuộc địa nửa phong kiến của chủ nghĩa đế quốc Pháp.
________________________________
1. Lịch sử Việt Nam, tập 2. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1985, tr. 30.
2. Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long. Tiếp theo là các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Việt Nam vào đời Tự Đức.
3. Lê Duẩn, Về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1968, tr. 6.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Một, 2016, 10:02:30 PM

Triều đình Huế đã ký giấy bán nước ta cho giặc Pháp, đó là tội lớn của phong kiến nhà Nguyễn trước dân tộc, trước lịch sử. Nhưng nhân dân ta ở các địa phương không vì hành động phản bội đầu hàng giặc của những người cầm quyền mà chịu hạ vũ khí. Trái lại, phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân ta vượt qua muôn vàn gian khổ do đế quốc và phong kiến tay sai gây nên, vẫn tiếp tục phát triển.

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp diễn ra trong bối cảnh đế quốc Pháp hùng mạnh và xảo quyệt; triều Nguyễn mục nát và ươn hèn; lòng dân ly tán, kinh tế kiệt quệ, nhân dân khốn cùng. Tự Đức chỉ lo làm thế nào để Pháp vừa lòng, không dám kêu gọi kháng chiến, thậm chí còn ra lệnh bãi binh hoặc đàn áp các cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Rõ ràng, nhà Nguyễn là kẻ đã tạo điều kiện cho Pháp xâm lược Việt Nam. "Đó là một tai họa mà một dân tộc có hàng ngàn năm văn hiến phải chịu đựng vô cùng oan ức"1.

Ngay tại triều đình, một nhóm quan lại yêu nước tập hợp xung quanh Tôn Thất Thuyết bí mật chuẩn bị lực lượng để hành động khi thời cơ tới. Biết rõ điều đó, ngày 27 tháng 6 năm 1885, tướng giặc Đờ Cuốc-xi kéo đại đội binh thuyền từ Hải Phòng vào với nhiệm vụ bóp chết lực lượng kháng chiến đang nhen nhóm ở Huế. Trước sự uy hiếp ngày càng lớn và lộ liễu của kẻ thù, Tôn Thất Thuyết đã quyết định nổ súng trước để giành thế chủ động, mặc dù sự chuẩn bị về các mặt cho một hành động vũ trang chưa thật đầy đủ. Đêm mồng 4 rạng sáng mồng 5 tháng 7 năm 1885 (đêm 22 rạng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu), thừa lúc giặc Pháp có phần chủ quan sơ hở, ông đã ra lệnh cho quân lính bất ngờ nổ súng tấn công các căn cứ chiếm đóng của chúng tại kinh thành Huế. Tướng giặc Đờ Cuốc-xi đã phải xác nhận là suốt trong đêm hôm đó bọn chúng đã phải "liên tiếp đương đầu với những đợt tấn công can đảm"2 của quân ta. Nhưng do sự chuẩn bị còn thiếu sót, giặc Pháp lại có ưu thế rõ rệt về vũ khí, cuộc phản công cuối cùng đã thất bại. Kẻ thù sau thời gian hốt hoảng ban đầu đã lấy lại tinh thần, bố trí lực lượng cố thủ trong các căn cứ, chờ tới trời sáng thì phản công lại và tràn vào chiếm luôn Hoàng thành.

Sau khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết phải đưa vua Hàm Nghi chạy ra Bắc để tính chuyện tiếp tục kháng chiến lâu dài. Ngày 13 tháng 7, từ núi rừng miền tây Quảng Trị, lời kêu gọi toàn dân đứng dậy chống Pháp được phát đi rộng rãi đã dấy lên một cao trào yêu nước trên khắp mọi miền đất nước.

Dân tộc Việt Nam có truyền thống kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm. Một số quan trong triều như Trương Công Định đã đứng về phía nhân dân và trở thành lãnh tụ của nghĩa quân. Một số sĩ phu yêu nước không cam tâm nhìn giang sơn chìm đắm trong khói lửa chiến tranh, dưới gót giày của bọn xâm lược đã gióng trống phất cờ chống Pháp, rửa cái nhục “vong quốc nô". Tâm tình của họ không chỉ trên lời thơ cảm khái mà còn bằng lưỡi kiếm, đường gươm diệt thù cứu nước. Họ đã trở thành thủ lĩnh nghĩa quân, những anh hùng của dân tộc Việt Nam quang vinh.

Trong cao trào yêu nước chống xâm lược Pháp của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX, nhân dân Thanh Hóa đã có sự đóng góp to lớn, tô thắm thêm truyền thống chống ngoại xâm lâu dài và oai hùng của dân tộc. Ngay sau khi tiếp nhận Chiếu Cần Vương, dưới sự lãnh đạo của các văn thân sĩ phu yêu nước, nhân dân các địa phương đã hăng hái đứng dậy tập hợp đội ngũ, tổ chức lực lượng, sẵn sàng tiêu diệt giặc khi chúng xâm phạm tới quê hương. Trên phạm vi toàn tỉnh, từ miền biển lên miền núi, từ đồng bằng tới trung du đã nhanh chóng hình thành một mạng lưới các làng xã kháng chiến. Nổi bật trong số đó có Đinh Công Tráng (còn gọi là cai Chàng, lãnh Chàng) người làng Nham Chàng, xã Thanh Tân, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp vẻ vang đó.
_____________________________________
1. Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tr. 16.
2. Nhật lệnh ngày 7 tháng 7 năm 1885 của tướng Đờ Cuốc-xi (dẫn theo "Xứ An Nam từ ngày 5 tháng 7 năm 1885 đến ngày 4 tháng 4 năm 1886" của Pruy-đom).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Một, 2016, 10:28:13 PM

Câu hỏi 2: Cho biết vị trí chiến lược của Thanh Hóa trong phong trào Cần Vương và phong trào kháng Pháp của nhân dân Thanh Hóa?
Trả lời:


So với các tỉnh khác của miền Trung, Thanh Hóa có nhiều điều kiện thuận lợi cho phong trào phát triển sớm và mạnh. Thanh Hóa là một tỉnh lớn với miền đồng bằng rộng rãi, dân cư đông, mật độ dân số cao; trước mặt có miền biển dài rộng nằm trên các trục giao thông chính bắc nam và đông tây; sau lưng có rừng núi bạt ngàn, địa thế hiểm yếu, đã từng là căn cứ của nhiều cuộc kháng chiến và khởi nghĩa trong lịch sử dân tộc.

Vị trí chiến lược quan trọng của Thanh Hóa đã được ghi nhận: "Bờ cõi tỉnh Thanh Hóa bốn mùa cao sâu, mà đường thuỷ, đường bộ thông đến tám cõi trùng hiểm bao bọc phía ngoài, còn phía trong thì bằng phẳng, rộng rãi. Cùng với các tỉnh Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh đều là hạng châu quận có hình thắng ở phương Nam từ xưa. Thiệt là chỗ làm cuống họng cho các tỉnh Bắc Kỳ hiện nay, mà tỉnh Thanh Hóa lại là nơi hình mạnh hướng vào, thế lớn nhóm lên vậy"1.

Hơn nữa, đây vốn là đất quê hương của nhà Nguyễn nên đối với cuộc kháng chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu đã có nhiều văn thân sĩ phu trong tỉnh sẵn sàng Cần Vương cứu nước. vả lại, Tôn Thất Thuyết có thời gian làm quan, rồi lui về dưỡng bệnh tại Thanh Hóa nên đã có cơ hội bắt mối liên lạc với những người có tâm huyết trong tỉnh và có kế hoạch xây dựng cơ sở kháng chiến từ rất sớm. Chính trong thời gian lui về dưỡng bệnh ở tỉnh lỵ Thanh Hóa (1879), Tôn Thất Thuyết đã gặp Tống Duy Tân, sau đó đã đặc cách bổ dụng ông giữ chức đốc học, rồi chánh sứ sơn phòng ở Quảng Hóa (Vĩnh Lộc) để lo liệu việc tuyển quân tích lương, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu nhất định phải bùng nổ2.

Chính vì những lẽ trên mà ngay từ đầu Tôn Thất Thuyết đã rất chú ý tới Thanh Hóa. Ngay sau khi kinh thành Huế bị giặc chiếm, ông đã định đưa vua Hàm Nghi chạy ra Thanh Hóa dựa vào các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để xây dựng cơ sở kháng chiến lâu dài. Nhưng bị bọn Pháp chặn đường, vua Hàm Nghi và tuỳ tùng chỉ ra được tới Hà Tĩnh thì phải dừng lại. Tại sơn phòng Phủ Gia, vùng Âu Sơn (huyện Hương Khê, Hà Tĩnh), vua Hàm Nghi đã ra Chiếu Cần Vương lần thứ hai ngày 19 tháng 9 năm 1885, chỉ thị cho quan lại, binh sĩ và dân chúng: "Khi nào trừ khử được chúng (chỉ giặc Pháp) thì đến gặp trẫm. Trẫm sẽ đóng đô tại tỉnh Thanh Hóa. Đây là một địa điểm quý"3.
__________________________________
1. Thanh Hóa tỉnh chí, Bản dịch chép tay của Phòng tư liệu khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tr. 17.
2. Sau khi nhận chức chánh sứ sơn phòng Quảng Hóa, để che mắt địch và bọn quan lại đầu hàng trong tỉnh, Tống Duy Tân phải mượn tiếng bảo vệ làng xóm chống lại trộm cướp để tuyển mộ trai tráng trong vùng và tiến hành luyện tập sẵn sàng chiến đấu.
3. Chiếu Cần Vương lần thứ hai ngày 11 tháng 8 năm Hàm Nghi thứ 1 (19-9-1885), Nghiên cứu lịch sử số 140, tháng 9 - 10 năm 1971, tr. 54-56.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Một, 2016, 10:29:24 PM

Cũng phải nói rằng không phải bọn quan lại đầu hàng ở tỉnh Thanh Hóa không có những hành động bất lợi cho phong trào. Sau khi nghe tin kinh thành Huế thất thủ và vua Hàm Nghi phải chạy ra Bắc; tổng đốc Nguyễn Thuật và án sát Vương Duy Trinh ngày càng lộ rõ bộ mặt đầu hàng, ngày đêm mong chờ quân Pháp kéo tới. Chúng đã ngăn cản không cho bố chánh Nguyễn Khoa Luận1 tiến hành những chuẩn bị cần thiết để đánh giặc khi chúng kéo tới, như dân quân và súng ống trên mặt thành tỉnh, đắp ụ và mai phục quân trên đường từ Hàm Rồng vào tỉnh lỵ. Đoạn sau đây trích trong bài vè "Tây đến tỉnh Thanh" đã phản ánh thực trạng tư tưởng đầu hàng và tâm lý thất bại của bọn quan lại đứng đầu tỉnh và bè lũ tay chân hồi đó:

"Giặc này mà đụng gươm dao
Mang đồ tiến cống thế nào ta xem.
Thanh Hóa là tỉnh đàn em (!)
Kinh đô đã mất tỉnh xem ra gì!".

Nhưng bất chấp ý định đen tối của bọn chúng, văn thân sĩ phu và nhân dân các địa phương ở Thanh Hóa đã nhất tề vùng dậy, quyết sống mái với quân thù. Một số phong trào khởi nghĩa tiêu biểu thời kỳ này:

1. Phong trào của Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt:

Nếu điểm từ miền biển lên và từ ngoài Bắc vào thì phải nói tới phong trào khởi nghĩa ở huyện Hậu Lộc bùng nổ sớm và mạnh dưới sự lãnh đạo của Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt.

Phạm Bành quê làng Tương Xá (nay thuộc xã Hòa Lộc), đậu cử nhân khoa Giáp Tý (1864). Làm án sát tỉnh Nghệ An, ông từng nổi tiếng thanh liêm và biết quan tâm đến đời sống nhân dân. Năm 1885, khi có Chiếu Cần Vương, ông bỏ quan về quê cùng Hoàng Bật Đạt là bạn và cũng là anh em "cọc chèo" mộ quân khởi nghĩa.

Hoàng Bật Đạt quê làng Bộ Đầu (nay thuộc xã Thuần Lộc). Sau khi đậu giải nguyên năm 1858, ông ra làm giáo thụ huyện Phong Doanh, rồi tri huyện Lương Tài. Khi giặc Pháp kéo ra đánh Bắc Kỳ lần thứ hai, xâm phạm tới Bắc Ninh, ông định đưa quân ra chống cự nhưng không được trên chấp nhận, ông chán nản bỏ quan về quê chuẩn bị lực lượng chống Pháp (4-1884).

Tại quê nhà, Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt đã nhanh chóng thống nhất lực lượng để đánh Pháp có hiệu quả hơn. Nghĩa quân đã làm lễ tế cờ ở nghè Lục Trúc (xã Phú Lộc) vào ngày 16 tháng 1 năm Bính Tuất (1886), sau đó mở rộng hoạt động sang các vùng lân cận, có sự phối hợp với các toán nghĩa quân huyện khác.
___________________________________
1. Nguyễn Khoa Luận người xã Nam Phổ, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Khi làm bố chánh Thanh Hóa, ông có ý định chuẩn bị chống Pháp nhưng bị Nguyễn Thuật và Vương Duy Trinh ngăn cản, nên bỏ quan về quê vào ở chùa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Một, 2016, 10:31:14 PM

2. Phong trào của Nguyễn Đôn Tiết:

Huyện Hoằng Hóa cũng không kém phần sôi nổi, tiêu biểu nhất là phong trào do Nguyễn Đôn Tiết phụ trách. Ông sinh năm 1831 tại làng Thọ Vực (nay thuộc xã Hoằng Đức). Sau khi thi đậu phó bảng khoa Kỷ Mão (1879), ông ra làm tri huyện Thọ Đức, tỉnh Hà Tĩnh được ít lâu thì bọn quan lại thân Pháp trong tỉnh tìm cách mưu hại, giáng xuống làm huấn đạo cùng huyện. Nhận được Chiếu Cần Vương, ông bỏ quan lên đường về quê vào đúng lúc phong trào trong huyện đang sục sôi.

Với uy tín lớn lao của mình, ông nhanh chóng tập hợp đông đảo văn thân sĩ phu và nhân dân trong vùng, như tán tương Lê Trí Thực1, đốc học Lê Khắc Quỳnh2, án sát Nguyễn Xuân3, cử nhân võ Lê Tánh4 và thống nhất được các toán nghĩa quân trong huyện về một mối.


3. Phong trào của Nguyễn Phương:

Cùng lúc đó Nguyễn Phương ở Tĩnh Gia giương cao cờ nghĩa, ra sức tập hợp lực lượng, ráo riết rèn sắm vũ khí sẵn sàng hành động. Ông sinh năm 1832 tại làng Hương La (Phụng Liên), thi đỗ tú tài và làm nghề dạy học. Năm 1885, tham gia phong trào Cần Vương, ông được phong chức tán tương quân vụ chịu trách nhiệm phong trào toàn huyện, có bố chánh Ngô Xuân Quỳnh, đề đốc Nguyễn Quế phụ tá. Tháng 1 năm Bính Tuất (1886), sau khi làm lễ tế cờ ở chợ Nồm (Phụng Liên), nghĩa quân kéo lên núi Ổn Lâm xây dựng căn cứ. Nghĩa quân Nguyễn Phương hoạt động trên một phạm vi rất rộng, bao gồm huyện Tĩnh Gia và một nửa huyện Nông Cống và Quảng Xương, chuyên phục kích chặn đánh các tốp lính Pháp và ngụy đi tuần tiễu, các đoàn xe vận tải lương thực, vũ khí trên các đường giao thông, quấy rối các đồn bốt địch. Nghĩa quân cũng thường xuyên cử người đi vào các huyện miền tây Nghệ An để mua lưu huỳnh và chế thuốc súng.


4. Phong trào của huyện Nông Cống:

Huyện Nông Cống cũng có những phong trào riêng, tuy quy mô nhỏ hơn, phạm vi hoạt động hẹp hơn. Như phong trào của cử nhân Lê Ngọc Toản  người quê Cổ Định (nay là xã Tân Ninh), huyện Triệu Sơn. Nghĩa quân dưới quyền ông đã biết dựa vào Ngân Nưa để xây dựng căn cứ chiến đấu. Ngoài ra còn đội nghĩa quân của Tôn Thất Hàm  cũng đẩy mạnh hoạt động trong vùng, gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất về người và vũ khí.
_______________________________________
1. Lê Trí Thực sau bị Pháp bắt ở xã Phú Khê (Hoằng Hóa) và bị chém.
2. Lê Khắc Quỳnh: chưa rõ tiểu sử.
3. Nguyễn Xuân quê làng Tào Xuyên (xã Hoằng Lý), huyện Hoằng Hóa. Đậu cử nhân, làm quan tới chức án sát tỉnh Quảng Bình (Bình Trị Thiên) thì xin về nghỉ. Hưởng ứng Chiếu Cần Vương, ông phất cờ chống Pháp ngay tại quê nhà. Thất bại, ông tự sát ngày 5 tháng 11 năm Bính Tuất (1886) để khỏi rơi vào tay kẻ thù.
4. Lê Tánh quê làng Tào Xuyên (xã Hoằng Lý), huyện Hoằng Hóa. Đậu cử nhân võ, ông là một võ quan của triều đình Huế. Sau khi tham gia cuộc tấn công giặc Pháp ở Huế, ông theo vua Hàm Nghi ra Bắc, rồi về quê khởi nghĩa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Một, 2016, 10:32:03 PM

5. Phong trào của huyện Quảng Xương:

Huyện miền biển cuối cùng có phong trào mạnh là Quảng Xương. Tại đây, Đỗ Đức Mậu - người làng Đông Đa (nay thuộc xã Quảng Phong) đã kịp thời vận động nhân dân đứng dậy chống xâm lược Pháp và bè lũ tay sai. Ông thi đậu tam trường, ra Thái Bình dạy học và đã tham gia chiến đấu tại đây khi giặc Pháp kéo ra đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai (1882). Sau khi trở về tỉnh nhà và nhận được Chiếu Cần Vương, ông cùng đề đốc Nguyễn Ngọc Lưỡng quê ở Hòa Trường (nay thuộc xã Quảng Phúc) ra sức tập hợp lực lượng, rèn luyện chiến đấu. Trong hoạt động, nghĩa quân của ông đã liên kết các nghĩa quân của Đinh Văn Phiên (lãnh Phiên) ở Quảng Thọ, Nguyễn Văn Nhất (đốc Nhất) ở Quảng Hợp, đồng thời còn phối hợp cả với nghĩa quân các huyện Tĩnh Gia, Hoằng Hóa. Nghĩa quân Quảng Xương đã đánh địch nhiều trận, như các trận Sầm Sơn (thị trấn Sầm Sơn); nghè Gây (nay thuộc xã Quảng Ninh).


6. Phong trào của huyện Hà Trung:

Huyện Hà Trung có Nguyễn Viết Toại (lãnh Toại), Đỗ Văn Quýnh (lãnh Phi), Đông Sơn có Lê Khắc Tháo (Tám Tháo) đều hăng hái mộ quân ứng nghĩa từ ngay sau khi phong trào Cần Vương bùng nổ đến khi về chiến đấu bảo vệ cứ điểm Ba Đình. Cùng thời kỳ này, suốt một vùng tả ngạn sông Mã, từ Yên Định lên Vĩnh Lộc và mở rộng cả tới Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, tiếp giáp với các châu miền núi, nghĩa quân Hùng Lĩnh của Tống Duy Tân - Cao Điển cũng đẩy mạnh hoạt động làm cho giặc Pháp và tay sai nhiều phen khiếp đảm kinh hồn.

Nhìn chung, trên toàn tỉnh lúc đó đã hình thành một hệ thống các làng xã kháng chiến dày đặc. Đặc biệt, từ đầu năm 1886, khi Trần Xuân Soạn được Tôn Thất Thuyết ủy nhiệm phụ trách chung, ông đã lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi phong chức cho các văn thân sĩ phu yêu nước trong tỉnh. Trên hết là các tán lý quân vụ. Mỗi huyện có một hay hai tán tương quân vụ. Dưới tán tương quân vụ, có các bang biện quân vụ ở ngay các xã, các tổng. Trong số các tán tương quân vụ lại chọn một số tham tán để giúp đỡ tán lý hay thay thế khi khuyết. Bên cạnh tán lý và tán tương quân vụ còn có các chức đề đốc, lãnh binh, quản cơ, hiệp quản trực tiếp chỉ huy nghĩa quân chiến đấu, cũng như các đốc vận quân lương phụ trách việc tiếp tế hậu cần cho nghĩa quân.

Nghĩa quân gọi là tráng được tổ chức thành cơ từ 200 người trở lên cho mỗi huyện và lấy tên huyện để gọi. Như Tống Thanh Cơ của Hà Trung, Nông Thanh Cơ của Nông Cống.

Giặc Pháp đã đẩy mạnh khủng bố trên phạm vi toàn tỉnh để hòng bóp chết phong trào. Các làng có phong trào mạnh như Cổ Định (Triệu Sơn), Bồng Trung (Vĩnh Lộc), Hà Ngoại (Hậu Lộc), Bút Sơn (Hoằng Hóa) đều bị triệt hạ. Kẻ thù đã không từ một thủ đoạn man rợ nào. Chúng đã nã súng bắn vào dân chúng làng Vân Đài (nay thuộc xã Quảng Hòa), huyện Quảng Xương, giết hại nhiều người vào giữa ngày mồng 1 Tết năm Bính Tuất. Chúng ra sức bắt bớ chém giết trên quy mô lớn, thủ lĩnh nghĩa quân Hoằng Hóa là Nguyễn Đôn Tiết bị bắt sau trận Bút Sơn đã bị chúng đày ra Côn Đảo, rồi mất ngoài đó. Nhưng bất chấp muôn vàn thủ đoạn ác độc của kẻ thù, nghĩa quân các vùng trong tỉnh vẫn tiếp tục tìm cách duy trì hoạt động và phát triển lực lượng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Một, 2016, 10:37:02 PM

Câu hỏi 3: Cho biết về cuộc đấu tranh của đồng bào miền núi do Hà Văn Mao lãnh đạo - một bộ phận góp phần làm nên nét hùng tráng trong phong trào đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX?
Trả lời:


Sự hùng tráng trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của Thanh Hóa hồi cuối thế kỷ XIX là sự đóng góp to lớn và hiệu quả của đồng bào miền núi từ những ngày đầu đến những ngày cuối cùng.

Miền rừng núi phía tây Thanh Hóa có một vị trí chiến lược quan trọng, phía đông đổ xuống vùng đồng bằng rộng lớn và màu mỡ với dân số đông đúc, phía nam liền với các cánh rừng già chạy thẳng vào Nghệ An, phía bắc theo dòng sông Mã có thể liên lạc với các tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa, phía tây giáp nước Lào. Đây là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc ít người, chủ yếu là ngươi Mường và người Thái.

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước oai hùng, lâu dài và gian khổ của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân Thanh Hóa nói riêng đặc biệt là sự đóng góp tích cực của đồng bào miền núi. Tinh thần yêu nước cùng ý chí đấu tranh của nhân dân các dân tộc ít người miền núi Thanh Hóa càng có dịp phát huy trong cuộc đấu tranh chống xâm lược Pháp hồi cuối thế kỷ XIX. Có thể khẳng định rằng chính nhờ có sự phối hợp chặt chẽ và bền bỉ của phong trào miền núi với phong trào miền xuôi mà cuộc đấu tranh của nhân dân Thanh Hóa đã phát triển được suốt trong nhiều năm và trở thành một trong những đỉnh cao của phong trào cả nước.

Ngay từ trước khi thực dân Pháp kéo tới Thanh Hóa, đồng bào Mường, dưới sự lãnh đạo của Hà Văn Mao đã ráo riết chuẩn bị lực lượng để hành động khi cần thiết. Hà Văn Mao người dân tộc Mường, quê ở Điền Lư, châu Quan Hóa (nay là xã Điền Lư, huyện Bá Thước), tỉnh Thanh Hóa. Ông đã từng giữ chức cai quản, vì vậy còn được gọi là cai Mao nhưng nhờ có tính tình hào nghị, giàu lòng thương dân, lại rất quan tâm đến thời thế, ông được nhân dân trong vùng kính trọng và tin yêu. Năm 1884, khi thực dân Pháp dùng sức mạnh quân sự và chính trị buộc triều đình Huế thừa nhận chế độ thuộc địa của chúng thì ông đã sẵn sàng hành động. Lấy Mường Khô làm trung tâm, cuộc khởi nghĩa của ông nhanh chóng tập hợp đông đảo nhân dân các địa phương trong vùng, từ Mường Kỷ1, Mường Ông2 của Bá Thước đến Mường Danh của Cẩm Thuỷ và các bản làng của Lang Chánh.
_______________________________________
1. Tức Nhân Kỷ, nay thuộc xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước.
2. Nay thuộc xã Thiết Ống, huyện Bá Thước.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Một, 2016, 10:39:18 PM

Để mở rộng ảnh hưởng, Hà Văn Mao còn liên hệ với nhiều lực lượng yêu nước khác lúc đó cũng đang trong thời kỳ nhen nhóm ở núi rừng miền Tây, nhất là với Cầm Bá Thước, thủ lĩnh đồng bào Thái vùng Thường Xuân. Đồng thời còn vươn xuống phối hợp với các lực lượng nghĩa quân các huyện đồng bằng.

Chính nhờ có sự chuẩn bị từ trước như vậy nên ngay sau khi vua Hàm Nghi chạy tới sơn phòng Quảng Trị, ra lời kêu gọi nhân dân toàn quốc nổi dậy chống xâm lược Pháp, đồng bào miền núi Thanh Hóa dưới sự lãnh đạo của Hà Văn Mao đã kịp thời đứng dậy.

Tiếng gọi cứu nước của Hà Văn Mao nhanh chóng được đông đảo nhân dân miền núi và miền xuôi nhiệt liệt hưởng ứng và biến thành hành động cụ thể. Chỉ trong một thời gian ngắn, dựa vào địa thế núi rừng, sông suối hiểm trở và kín đáo, cả một hệ thống đồn luỹ được xây dựng trên vùng đất rộng lớn ven theo bờ sông Mã từ Yên Định (Thiệu Yên) lên Cẩm Thuỷ, tới La Hán (Bá Thước). Có trên mười vị trí đóng quân chốt giữ trên quãng đường đó để ngăn chặn giặc Pháp thọc sâu vào hậu phương của ta. Kể từ dưới đồng bằng lên, trước tiên là đồn tiền tiêu Đan Nê do Trịnh Văn Nghi1 đóng giữ, có nhiệm vụ kiểm soát cả hai mặt đường thuỷ và đường bộ. Tiếp đó là các đồn Mường Cơi (Cẩm Tâm), Mù Cuội (giữa hai xã Cẩm Thạch và Cẩm Thành) thuộc huyện Cẩm Thuỷ. Từ hướng Ngọc Lặc lên có đồn Dấu Tiền thuộc Mường Rặc2. Phía tây bắc đồn Dấu Tiền có đồn Đà Gấm3 rộng ra các cánh rừng chung quanh. Vùng gần Điền Lư tập trung nhiều đồn nhất, bao gồm các đồn Mù Cuội, Bãi Má (Điện Thượng), Biến Chiềng (Điền Lư), Bãi Tráng, Biến Dầu, Biến Ái (Long Vân) và La Hán. Mọi nẻo đường vào Điền Lư đều có đồn trại và các công sự chiến đấu phòng giữ, nhân dân và nghĩa quân đã đào những hố sâu hai bên đường, kéo dài suốt từ làng Én (xã Cẩm Thành, Cẩm Thuỷ) lên tới làng Xịa (xã Điền Lư, Bá Thước) để phục kích địch.

Sau một thời gian ráo riết chuẩn bị, nghĩa quân nhanh chóng bước vào giai đoạn chiến đấu quyết liệt, mặt đối mặt với quân thù. Từ đầu tháng 7 năm 1885, họ đã triển khai các hoạt động vũ trang ở huyện Cẩm Thuỷ. Bọn quan lại đầu hàng Pháp ở tỉnh nghe tin vội phái binh lính lên trấn áp nhưng chúng bị nghĩa quân đánh cho phải rút chạy tan tác.

Nghĩa quân không bị động chờ địch tới tấn công mới phản kích lại mà chủ động tìm địch đánh. Mở đầu là trận đánh đồn Bái Thượng trên bờ sông Chu, thuộc huyện Thọ Xuân cách thị xã Thanh Hóa 60 kilômét về phía tây bắc. Cắm chốt ở đây, thực dân Pháp có thể khống chế miền tây Thanh Hóa, án ngữ con đường từ đồng bằng lên, cắt đứt mọi liên lạc giữa nghĩa quân hai miền trong tỉnh và cả với nghĩa quân Nghệ An. Đêm mồng 8 tháng 11 năm 1885, Hà Văn Mao bí mật đưa quân luồn rừng tới tấn công đồn Bái Thượng, cuối cùng nghĩa quân không chiếm được đồn giặc, nhưng sau trận thử thách đầu tiên đó, họ mở rộng hoạt động trên khắp hai huyện Thọ Xuân và Cẩm Thuỷ.
_________________________________________
1. Còn gọi là cai Văn, quê làng Đan Nê Hạ, xã Yên Quý, huyện Thiệu Yên.
2. Nay thuộc làng Suối, xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc.
3. Nay thuộc xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc. Là nơi tiếp giáp giữa hai huyện Ngọc Lặc và Cẩm Thuỷ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Một, 2016, 10:41:03 PM

Bước vào những tháng cuối năm 1885, phong trào yêu nước chống Pháp của các tỉnh phía bắc miền Trung phát triển mạnh, uy hiếp trầm trọng chế độ thuộc địa của đế quốc Pháp mới dựng lên trong vùng. Để đối phó lại, sau khi chiếm kinh thành Huế ngày 5 tháng 7 năm đó, tướng Đờ Cuốc-xi đã cho đại tá Péc-nô đưa quân ra đánh chiếm Quảng Bình và đại tá Sô-mông dùng tàu chiến chở quân từ Huế đổ bộ ra chiếm Nghệ An, chặn đường không cho vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết và đoàn tuỳ tùng chạy ra Thanh Hóa xây dựng cơ sở kháng chiến lâu dài theo dự kiến từ đầu.

Trong khi đó thì ở phía bắc, từ Ninh Bình, thiếu tá Mi-nhô cũng được lệnh kéo quân vào. Xuất phát từ Ninh Bình ngày 22 tháng 11, đạo quân này tới Thanh Hóa ngày 25 và dừng lại đó mười ngày để thực hiện mục đích chiếm đóng và bình định miền đồng bằng, càn quét miền núi, đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân địa phương. Kế hoạch hành quân của địch nhằm tạo ra hai gọng kìm để bóp nát bộ phận đầu não của phong trào và tiêu diệt lực lượng nghĩa quân ở khu vực quan trọng này. Cứ điểm Điền Lư của Hà Văn Mao nhanh chóng trở thành một trung tâm lớn của phong trào chống Pháp ở trung du và thượng du. Đạo quân chiếm đóng của Pháp bị đặt vào tình thế nguy khốn, vừa phải đối phó chật vật với các cuộc khởi nghĩa vùng đồng bằng, vừa phải dốc lực lượng vào việc mở đường lên miền núi.

Cuối năm 1885, tên trung tá Boa-le-vơ có sự phối hợp của triều đình bù nhìn Đồng Khánh hùng hổ kéo quân lên công phá cứ điểm Điền Lư. Nhưng bọn chúng đã hoàn toàn bất lực trước sức chiến đấu quyết liệt và linh hoạt của nghĩa quân. Bước sang đầu năm 1886, phong trào Cần Vương Thanh Hóa càng phát triển sôi nổi và mạnh mẽ trên cả hai miền đồng bằng và miền núi. Tình hình đó đòi hỏi cấp thiết phải sớm thống nhất lực lượng, liên kết đội ngũ củng cố tổ chức để có thể đối phó với các mưu đồ ác độc của kẻ thù. Cũng chính trong thời gian này, Tôn Thất Thuyết sau khi đưa vua Hàm Nghi ra miền tây Quảng Bình - Hà Tĩnh xây dựng cơ sở kháng chiến trong vùng, đã lên đường sang Trung Quốc với hy vọng tranh thủ sự giúp đỡ của nhà Thanh (12-1886)1.

Cùng đi với ông còn có đô đốc Trần Xuân Soạn, quê làng Thọ Hạc (Đông Thọ), huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Trên đường ra Bắc, khi dừng lại Thanh Hóa, Tôn Thất Thuyết đã gặp nhiều nhà lãnh đạo phong trào yêu nước chống Pháp, trong đó có Hà Văn Mao, để bàn kế hoạch đẩy mạnh cuộc đấu tranh. Sau đó, Tôn Thất Thuyết đã quyết định để Trần Xuân Soạn ở lại trực tiếp chỉ đạo phong trào chung trong tỉnh, tập hợp các cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ ở các địa phương về một mối, thống nhất sự chỉ đạo về phối hợp hoạt động giữa các toán nghĩa quân.

Trên cơ sở đó, phong trào Cần Vương Thanh Hóa có thêm điều kiện để chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, với quy mô lớn hơn, khí thế rầm rộ hơn, trở thành một trong những trung tâm lớn tiêu biểu của phong trào cả nước, với đặc điểm nổi bật là sự phối hợp giữa miền núi và miền đồng bằng càng được thắt chặt thêm một bước so với trước. Lúc này Hà Văn Mao được Trần Xuân Soạn thừa ủy quyền của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phong chức tán lý quân vụ phụ trách phong trào miền núi đã gấp rút tăng cường lực lượng, củng cố cứ điểm Điền Lư, rồi ra sức đẩy mạnh hoạt động. Thực dân Pháp phải xác nhận nghĩa quân Hà Văn Mao "tràn xuống đồng bằng thành một cuộc chiến tranh lớn"2. Vai trò và ảnh hưởng của Hà Văn Mao và Trần Xuân Soạn lúc này rất lớn.
_____________________________________________
1. Sự thật thì lúc này triều đình phong kiến Mãn Thanh đã đầu hàng chủ nghĩa tư bản phương Tây, trong đó có tư bản Pháp, nên chuyến đi "cầu viện" của Tôn Thất Thuyết đã thất bại. Sau đó không có điều kiện về nước, ông đã chết già tại Long Châu (3-1913), thọ 74 tuổi.
2. Sa-brôn, Các cuộc hành quân ở Bắc Kỳ, Paris, 1896, tr. 32.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Một, 2016, 10:43:43 PM

Hoạt động có tiếng vang lớn trong giai đoạn này là cuộc tấn công của nghĩa quân toàn tỉnh vào thành Thanh Hóa đêm ngày 11 rạng sáng ngày 12 tháng 3 năm 1886. Từ chiều hôm 11, lợi dụng hôm sau là ngày phiên chợ tỉnh (mồng 7 tháng 2 năm Bính Tuất), Nguyễn Phương từ Tĩnh Gia dẫn 300 quân cảm tử cải trang làm người đi chợ, giấu khí giới (dao găm, kiếm...) vào các đòn ống1 hay giắt vào các gánh chiếu, gánh mía... kéo vào tỉnh lỵ. Đồng thời các cánh quân của Tống Duy Tân và Cao Điển từ Vĩnh Lộc theo đường Thiệu Hóa kéo xuống; Tôn Thất Hàm từ Nông Cống kéo ra; Đỗ Đức Mậu từ Quảng Xương kéo lên; Hà Văn Mao từ Thọ Xuân kéo về. Trong khi đó, Nguyễn Đôn Tiết đưa quân từ Hoằng Hóa lên chặn giặc bên tả ngạn sông Mã. Đúng vào lúc nửa đêm ngày 11 tháng 3, quân cảm tử xông vào hai cửa Tiền và cửa Tả, giết chết lính gác, rồi đột nhập thành đánh chiếm các nơi. Lính Pháp giữa đêm đột ngột bị dựng dậy, hốt hoảng cầm súng vừa chạy ra đã bị nghĩa quân tiêu diệt tại chỗ. Các công sở của địch cùng lúc bị tấn công, chánh văn phòng tòa sứ Buy-ve và trung úy Phơ-răng-cơ đều trúng đạn bị thương.

Nghĩa quân thừa thắng, đánh cả bọn Pháp lẫn bọn ngụy kéo tới cứu nguy cho chủ, nhiều tên chết, một số chạy trốn tán loạn, số còn lại rút vào đồn cố thủ. Lửa cháy rực trời, trống mõ khua vang, tiếng nghĩa quân hò reo dậy đất, cuộc chiến đấu kéo dài đến gần sáng. Nhưng giặc Pháp có ưu thế về vũ khí cố bám lấy công sự, nghĩa quân không sao tiêu diệt hoàn toàn bọn chúng nên phải rút lui. Tống Duy Tân và Cao Điển rút quân về Yên Định; Nguyễn Phương và Tôn Thất Hàm cũng rút quân về xây dựng căn cứ Ẩn Lâm ở miền nam Nông Cống. Tên thiếu tá Tê-ri-ông tức tối đưa quân từ Nam Định vào cứu nguy cho bọn chúng. Nghĩa quân tuy không chiếm được thành Thanh Hóa nhưng đã tiêu diệt được một lực lượng địch, trận đánh có tác dụng phát động phong trào toàn tỉnh, giặc Pháp và bè lũ tay sai hoảng vía kinh hồn phải xin quân vào tăng cường.

Cùng với việc mạo hiểm đánh úp thành tỉnh, nghĩa quân Thanh Hóa trong đêm hôm đó còn đột phá huyện lỵ Đông Sơn.

Tê-ri-ông đã tiến hành một cuộc hành quân càn quét quy mô lớn trong vòng hơn một tháng từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 26 tháng 4 năm 1886 trên một vùng rộng lớn bao gồm các huyện Thiệu Hóa, Yên Định, Thọ Xuân, Quảng Hóa, Quan Hóa, lan rộng ra cả các vùng Thạch Bi, Mai Châu tỉnh Hòa Bình.

Đây là chiến dịch càn quét lớn nhất của giặc Pháp ở Thanh Hóa vào đầu năm 1886. Nhưng đây cũng là lúc nghĩa quân phục kích chặn đánh nhiều trận lớn, tiêu diệt nặng lực lượng bình định của chúng trên đường hành quân lấn chiếm. Như các trận An Luỹ2 (26-3-1886), làng Si và Thạch Lẫm3 (7-4-1886), buộc chúng cuối cùng phải quay trở lại Quảng Hóa cắm chốt ở đây để án ngữ con đường sông Mã.

Cũng trong thời kỳ này, nghĩa quân Hậu Lộc do Hoàng Bật Đạt chỉ huy đã phối hợp với nghĩa quân Quảng Xương của Đỗ Đức Mậu, Hoằng Hóa của Nguyễn Đôn Tiết, Nông Cống của Tôn Thất Hàm tấn công đánh chiếm huyện Hoằng Hóa (Bút Sơn) vào mờ sáng ngày 24 tháng 5 năm Bính Tuất (6-1886). Trận đánh diễn ra giữa ban ngày, nghĩa quân chiến đấu rất dũng cảm, xung phong hết đợt này tới đợt khác. Nhưng giặc Pháp có ưu thế hơn hẳn về vũ khí, lại có viện binh từ tỉnh lỵ kịp thời về cứu viện nên họ phải rút lui.
_______________________________________
1. Ở Thanh Hóa nông dân thường dùng đòn gánh bằng tre ruột rỗng, gọi là "đòn ống".
2. An Luỹ (còn gọi là An Bình) nay là thôn Bình Yên, xã Định Tường, huyện Thiệu Yên. Tên gọi thông thường là Quán Láo.
3. Nay đều thuộc huyện Thiệu Yên.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2016, 11:29:35 PM

Câu hỏi 4: Hòa nhịp với phong trào chung trong tỉnh của người Kinh và người Mường, phong trào đấu tranh của đồng bào Thái ở miền tây Thanh Hóa cũng phát triển mạnh mẽ. Cho biết về phong trào của đồng bào Thái dưới sự lãnh đạo của Cầm Bá Thước?
Trả lời:


So với phong trào của đồng bào Mường do Hà Văn Mao cầm đầu thì phong trào của đồng bào Thái được nhen nhóm lên chậm hơn. Nhưng ngay sau khi vua Hàm Nghi ra lời kêu gọi chống Pháp xâm lược (13-7-1885) thì đồng bào Thái đã tức thời hưởng ứng, sôi nổi đứng dậy dưới sự lãnh đạo của Cầm Bá Thước. Trong hành động cứu nước kịp thời của mình, họ đã lôi cuốn đông đảo nhân dân các dân tộc trong vùng, cùng với sự phối hợp chặt chẽ với đồng bào Kinh dưới xuôi.

Cầm Bá Thước sinh năm Kỷ Mùi (1859) tại chòm Lùm Nưa1, tổng Trịnh Vạn, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Gia đình ông đời đời làm lang đạo trong vùng. Cha ông là Cầm Bá Tiến từng giữ chức quản cơ triều Nguyễn và về sau được cai quản cả miền núi rừng miền tây Thanh Hóa. Đến Cầm Bá Thước, tháng 9 năm 1883, ông được cử giữ chức bang biện quân vụ hai châu Thường Xuân và Lang Chánh. Năm 1885, khi quyết định khởi nghĩa, ông đã chọn ngay quê hương Trịnh Vạn là nơi ông am hiểu địa hình địa vật và nắm chắc sự ủng hộ của nhân dân làm căn cứ.

Khác với hai cứ điểm Ba Đình và Mã Cao được xây dựng ở đồng bằng và trung du, cứ điểm Trịnh Vạn giống với Điền Lư lại hình thành trên miền rừng núi. Trịnh Vạn2 là một thung lũng rộng khoảng 3 kilômét vuông, nằm sâu trong vùng núi rừng hiểm trở có nhiều núi cao và suối sâu chia cắt. Từ trung tâm Trịnh Vạn có ba ngả đường tỏa đi các nơi: ngả thứ nhất men theo sông tới Cửa Đặt rồi xuôi dòng sông Chu về Bái Thượng; ngả thứ hai xuôi về Hậu Lộc, Thọ Thắng rồi theo sông Luộc về Như Xuân; ngả thứ ba từ Trịnh Vạn tới làng Hang, theo suối Bọng và sông Khao, rồi ngược lên phía bắc. Từ Trịnh Vạn cũng có những con đường hẻm xuyên rừng vào Nghệ An.

Suốt trong mười năm đấu tranh vũ trang của đồng bào Thái, căn cứ Trịnh Vạn luôn luôn giữ vị trí trung tâm của cuộc khởi nghĩa3. Để duy trì cuộc chiến đấu lâu dài và gian khổ, nghĩa quân đã phối hợp với nhân dân trong vùng dựng lên tại đây cả một hệ thống đồn trại kiên cố, trong đó Bù Lẹ là đồn quan trọng nhất. Đồn này nằm trên một ngọn đồi cao khoảng 50 mét giữa thung lũng, phía bắc có dãy núi đá vôi sừng sững chắn giữ, phía đông nam có sông Đặt chở che, còn hai phía đông tây tiếp liến đồng rộng, đều có hào cao, luỹ sâu và bãi chông bảo vệ.

Đồn Bù Lẹ có cả một hệ thống cứ điểm để bảo vệ và hỗ trợ, trước mặt có các đồn Bù Đồn, Đồng Chong; bên kia sông Đặt có đồn làng Tột. Đồng thời, để bảo vệ cẩn mật toàn khu căn cứ Trịnh Vạn, nghĩa quân còn bố trí các đồn trại tỏa rộng trên một vùng rộng lớn Thường Xuân, chốt giữ các ngả đường chính, có tác dụng ngăn chặn đòn đánh địch khi chúng kéo tới. Đồn Hón Đồn (Đồn Sơn) ở ngoài cùng án ngữ con đường từ Bái Thượng vào.
____________________________________
1. Tức mường Chiền Ván, nay thuộc xã Vạn Xuân.
2. Nay thuộc hai xã Vạn Xuân và Xuân Lệ.
3. Trước đây có ý kiến cho rằng Cầm Bá Thước đóng quân ở Sầm Sơn thuộc huyện Quảng Xương. Căn cứ vào thư tịch cũ kết hợp với điều tra thực địa, cho thấy Sầm Sơn (núi Sầm hay núi Khầm) tuy nay chưa xác định được cụ thể vị trí nhưng chắc chắn không thể nằm dưới miền biển, mà phải thuộc vùng rừng núi phía tây Thanh Hóa, có thể mở rộng xuống phía nam giáp Nghệ An, hay nằm sâu bên kia biên giới Việt - Lào. Đây chính là căn cứ khởi nghĩa đầu tiên của Tống Duy Tân. Khi nghe tin Tống Duy Tân phất cờ chống Pháp, Cầm Bá Thước đã kéo quân theo, nhưng căn cứ chính của ông lại ở Trịnh Vạn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Một, 2016, 11:30:59 PM

Đứng vào nơi gặp gỡ của hai đường thủy bộ, trước mặt là sông Chu, sau lưng là núi đá và rừng rậm, đồn Hón Đồn có tác dụng lớn trong việc ngăn chặn những cuộc xâm nhập của địch vào căn cứ. Cách Hón Đồn 5 kilômét về phía tây có đồn Cửa Đặt, cũng ở vào một vị trí quan trọng, vừa là ngã ba đường thuỷ của sông Đặt và sông Chu gặp nhau, vừa là ngã ba đường bộ. Đồn này có nhiệm vụ trấn giữ trực tiếp mặt trước Trịnh Vạn. Dọc theo sông Đặt, trên đường vào Trịnh Vạn nghĩa quân còn đặt một số chốt phục kích, ở phía tây bắc, dọc theo sông suối có các đồn Nhâm Trầm (Xuân Mỹ), Vực Bạch (làng Nhân)... Trên đường từ Nông Cống lên, ven theo bờ sông Lược có các đồn Pà Cầu và Pỏm Pai1. Nằm sâu vào phía sau căn cứ là các đồn Cọc Chẽ, Hòn Bòng có nhiệm vụ bảo đảm việc liên hệ với Nghệ Tĩnh khi cần thiết.

Cầm Bá Thước trực tiếp cầm quân đóng giữ đồn trung tâm Bù Lẹ, đồng thời chỉ đạo hoạt động của các đội nghĩa quân trong toàn căn cứ. Ông đã cử những người cộng sự đắc lực tới phụ trách các đồn quan trọng, như đốc Thận đóng giữ ở Hón Đồn, Lê Trọng Nhung ở Nhân Trầm, Vực Bạch, Tấn Tín ở Cửa Đặt, Vực Thang, Thác Làng.

Lực lượng chính của nghĩa quân, ngoài những người tình nguyện thuộc các dân tộc ít người của các châu Thường Xuân, Như Xuân, Lang Chánh, Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa chiếm phần đông đảo, còn có đồng bào Thái miền tây Nghệ An dưới sự chỉ huy của Lang Văn Thiết và Lang Văn Hạnh, Quản Thông và Quản Thụ2, cũng như còn có một số người Lào ở mạn Sầm Tớ do Tạo Công phụ trách.

Vũ khí của nghĩa quân ngoài một số thô sơ như giáo mác, súng kíp, cung nỏ và tên tẩm độc, cũng có một số súng trường lấy được của giặc Pháp hoặc do Phan Đình Phùng cung cấp. Khi nghĩa quân Cầm Bá Thước đã trở thành một quân thứ của nghĩa quân Nghệ Tĩnh (Thanh thứ) nghĩa quân còn bố trí các giàn đá, lao gỗ, bãi chông ở những nơi ven theo vách núi cao, hay dọc theo bờ vực sâu để bố trí các trận phục kích lợi hại tiêu diệt địch.

Đứng về danh nghĩa, phong trào do Cầm Bá Thước phụ trách là một bộ phận của phong trào chung và do bộ chỉ huy phong trào Cần Vương toàn tỉnh phụ trách. Trần Xuân Soạn là người thay mặt vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết tại Thanh Hóa đã nhiều lần cùng Cầm Bá Thước bàn bạc kế hoạch xây dựng lực lượng và tổ chức chiến đấu.

Sau một thời gian tổ chức, xây dựng và củng cố lực lượng, nghĩa quân Cầm Bá Thước đã đẩy mạnh hoạt động không chỉ trên địa bàn cơ sở, mà còn phối hợp với các cánh nghĩa quân khác trong tỉnh, gây cho địch tổn thất nặng nề về quân sự, cũng như về chính trị.
____________________________________
1. Hai đồn này đều thuộc chèm Pà Cầu, xã Thắng Lộc, huyện Thường Xuân.
2. Lang Văn Thiết và Lang Văn Hạnh quê làng Gia Hội; Quản Thông và Quản Thụ quê làng Kim Sơn, đều thuộc huyện Quỳ Châu, Lang Văn Hạnh sau hàng Pháp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2016, 10:18:48 PM

Câu hỏi 5: Những năm 1872-1874, thực dân Pháp đánh ra Bắc Kỳ, Đinh Công Tráng đã tổ chức đánh Pháp như thế nào? Trình bày diễn biến, kết quả các trận đánh thời kỳ này?
Trả lời:


Thực dân Pháp có dã tâm xâm lược nước ta từ lâu. Dựa vào cam kết của Nguyễn Ánh, chúng đã dùng bọn giáo sĩ và con buôn hoạt động gián điệp, gây cơ sở trong giáo dân, làm cho những mâu thuẫn dân tộc thêm gay gắt, đẩy đất nước ta vào tình cảnh rối ren.

Sau khi bị thực dân Anh gạt ra khỏi Ấn Độ, Pháp lo lắng mất miếng mồi béo bở Việt Nam khiến chúng ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta. Năm 1843, Thủ tướng Pháp Guy-dô tuyên bố: "Nước Pháp cần có hai đảm bảo ở Viễn Đông là: một căn cứ quân sự ở biển Trung Quốc và một thuộc địa ở gần Trung Quốc"1. Viện cớ triều đình Huế ngược đãi giáo sĩ và cự tuyệt không nhận quốc thư của Pháp đòi tự do buôn bán, sáng mùng 1 tháng 9 năm 1858, Pháp gửi tốỉ hậu thư cho Tổng đốc Nam Ngãi rồi tấn công chiếm bán đảo Sơn Trà và chiếm lục tỉnh. Nhân dân Nam Kỳ nổi dậy chiến đấu cùng một số quan triều chủ chiến. Nhưng triều đình nhu nhược chỉ lo dàn xếp giảng hòa, ra lệnh cho các đội nghĩa dũng và quân triều bãi binh. Ai trái lệnh thì trị tội. Giữa lúc phong trào kháng chiến lên cao, Pháp đang lúng túng ở Mê-hi-cô thì triều đình Huế vội vã ký hòa ước.

Năm 1872, tên lái buôn Giăng Đuy-puy có giấy phép của tổng đốc Lưỡng Quảng thay mặt "thiên triều" yêu cầu Huế cho hắn ngược đường sông Hồng. Suốt năm 1872 - 1873, hắn liên tiếp khiêu khích, cướp phá, thậm chí còn đánh đồn canh của ta ở ven sông Hồng. Vua Tự Đức truyền chỉ cho tổng đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương: "Không được khiêu khích sinh sự"2. "Quan lại ở Hưng Yên khám xét binh thuyền của Đuy-puy, bị triều đình phạt giáng cấp"3.

Ngày 21 tháng 8 năm 1873, Tự Đức lại cử phái bộ vào Sài Gòn, yêu cầu Pháp cử người ra Bắc Kỳ dàn xếp vụ Đuy-puy. Do đó, Pháp được đàng hoàng ra Bắc.

Ngày 11 tháng 10 năm 1873, thiếu tá hải quân Gác-ni-ê đem 180 quân ra Hà Nội. Hắn hội quân với Đuy-puy, liên hệ với giám mục Puy-gi-ni-ê tập hợp bọn phản động đội lốt phe đảng nhà Lê tuyển mộ ngụy quân, ngụy quyền. Và ngày 20 tháng 11 năm 1873, giặc đánh thành Hà Nội, thành bị tấn công ba mặt, trong có nội phản. Sau bốn giờ chống đỡ thì thành vỡ. Nguyễn Tri Phương bị thương, rồi hy sinh. Quan triều chạy trốn bỏ mặc 80 lính chết và hơn 3.000 lính bị thương. Trong ba tuần lễ, chúng chiếm xong Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định, Bắc Ninh, Ninh Bình. Ngày 26 tháng 11 năm 1873, tên thiếu úy Ban-ni-dơ A-vơ-ri-cua cùng sáu tên lính Pháp đánh Phủ Lý. Chưa đầy nửa giờ, tri phủ Tôn Thất Hậu trong tay có trên một nghìn lính mà bỏ chạy trốn. Năm giờ sáng ngày 5 tháng 12 năm 1873, tên già Sáu và Thừa Diệu dẫn năm lính Pháp do tên quản Hốt-tơ-phơi chớp nhoáng đánh Ninh Bình. Viên án sát tỉnh này sợ chết, nộp thành cho chúng. Nhiều tên tổng đốc, bố chánh... vừa thấy giặc đã "gối run như chứng phong kinh, mặt xám như hình lôi đả", chỉ có một số văn thân sĩ phu là quyết "quét sạch sành sanh quân thù"4. Họ tổ chức đánh địch ở khắp nơi. Trên các phường phố, các làng ngoại thành Hà Nội như ở Cửa Bắc, Gia Lâm, Hoài Đức đều có nghĩa quân đánh giặc. Gác-ni-ê phải thú nhận "Chiếm thành dễ hơn đóng giữ"5. Trong khi đó triều đình nhà Nguyễn nhai đi nhai lại cái sách lược "thủ để hòa". Căm giận bọn xâm lược hung tàn, bọn vua quan hèn nhát, bọn tay sai bán nước, đốc học Phạm Văn Nghị chiêu mộ nghĩa quân chống giặc ở Nam Định.
_____________________________________
1. Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tr. 31.
2. Sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu, Sài Gòn, 1872, tr. 368-369.
3. Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985. tr. 63.
4, 5. Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985. tr. 64, 65.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2016, 10:20:16 PM

Không thể ngồi nhìn giang sơn chìm đắm, ngay từ những ngày đầu Pháp ra Bắc Kỳ, Đinh Công Tráng đã chiêu mộ trên một trăm nghĩa sĩ lập đồn tại nhà mình, ngày đêm luyện tập, canh phòng nghiêm ngặt. Ngày 6 tháng 10, ông kéo quân xuống Nam Định yết kiến thầy học rồi trở về, gửi thư đi tám tổng trong huyện kêu gọi văn thân làm đại nghĩa. Từ buổi thắng kiện Thừa Diệu, Đinh Công Tráng đã có uy tín lớn nên thư đi tới đâu nghĩa khí bừng lên tới đó. Các nhóm nghĩa dũng được thành lập. Ở Tín Đôn tổng Mỹ Xá có cai Trăm, Đồng Duyên có Bá Mợi, Chi Truật có Tú Tốn, Vĩ Khách có Ngự Mai. Ở Cẩm Du (Bưởi) có nghĩa quân cai Thịnh đông tới hàng trăm người. Mễ Tràng có Bá Nguyên, Bằng Khê có Bá Mỹ, tổng Động Xá có cụ đồ Bùi thôn Nguyễn Trung. Ở Cổ Động có Bang Miết...

Thời kỳ đầu các nhóm văn thân hoạt động riêng lẻ. Nghĩa dũng chủ yếu là tuần đinh, trai tráng tự trang bị vũ khí thô sơ. Lương thực, quân trang dựa vào quyên góp, tự cung tự cấp. Cả chỉ huy và tráng binh đều chưa được huấn luyện đào tạo quân sự. Vì vậy sức mạnh chiến đấu không vững vàng. Có nơi giặc vừa tràn qua, thủ lĩnh đã khiếp sợ, giải giáp vũ khí như Bá Nguyên ở Mễ Tràng... Phong trào tuy nở rộ nhưng phân tán manh mún, dễ tan vỡ.

Trước tình hình đó, Đinh Công Tráng lại về Nam Định yết kiến thầy học. Trở về, ông mời các văn thân toàn huyện họp tại nhà cai tổng Bưởi, bàn bạc thống nhất lực lượng, mở hội thề tử sinh một dạ. Các văn thân tôn Đinh Công Tráng làm thủ lĩnh và lập bốn doanh trại chống giặc tại các làng: Nham Chàng, Bưởi, Lác Chiều, Hương Ngãi.

      "Đạo tây đóng ở làng Chàng
      Đạo đông làng Bưởi quân quan cũng nhiều
      Đạo nam đóng ở Lác Chiều
      Bắc phương Hương Ngãi củng nhiều quan gia".

                                                           (Vè lãnh Chàng)

Đây là các làng giữa đồng chiêm trũng, độc đạo, xung quanh có luỹ tre bao bọc. Nghĩa quân dùng rơm bùn đắp theo luỹ tre thành những làng chiến đấu giữa đồng nước.

Vũ khí, lương thực, quân trang chủ yếu dựa vào quyên góp. Nghĩa quân huấn luyện cấp tốc ngay trong đồn ải.

Đinh Công Tráng quyết định phải đánh thắng địch từ ngay những trận đầu để mở mang thanh thế. Đêm 14 tháng 12 năm 1873, ông mở cuộc tấn công chớp nhoáng vào trại Cần (nay thuộc xã Thanh Tân). Đây là một doanh sở lớn của Kẻ Sở, có hai giáo sĩ Pháp, nhiều tu sĩ, chứa nhiều lương thảo hàng hóa trong kho, do một tiểu đội lính dõng, một trung đội vệ sĩ canh giữ. Nghĩa quân dùng gần năm trăm quân do Đinh Công Tráng trực tiếp chỉ huy bí mật bao vây, bất ngờ tấn công, bắt sống toàn bộ tiểu đội lính, thu toàn bộ vũ khí, giải tán đội vệ sĩ. Lương thực, thực phẩm, hàng hóa thu được gần trăm tấn. Ông chia một phần lương thực cho dân nghèo ăn Tết, phần để lại dự trữ nuôi quân. Nhân dân nức lòng phấn khởi tin theo nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2016, 10:21:44 PM

Thừa thắng Đinh Công Tráng tiếp tục tấn công Kẻ Sở - trung tâm công giáo Bắc Kỳ lúc đó, cách trại Cần chừng 6 kilômét. Khí thế nghĩa quân như triều dâng, thác đổ. Nhân dân các làng cũng gậy gộc kéo đến rất đông. Bọn giặc ở đây có một đại đội lính dõng do ba sĩ quan Pháp chỉ huy, hàng chục giáo sĩ Pháp cùng hàng trăm tu sĩ tín đồ, trong đó có giám mục Puy-gi-ni-ê (cố Phước) - đứng đầu các giáo sĩ hoạt động trên đất Bắc. Tên này cực kỳ nguy hiểm, chuyên gây cơ sở phản động và bày mưu kế cho bọn tướng Pháp ở Hà Nội. Giặc chống trả được một lúc thì hốt hoảng bỏ chạy. Cố Phước phải trốn vào chuồng lợn nhà một giáo dân bốn ngày mới thoát được ra ngoài. Ta hạ đồn, ở lại Kẻ Sở ba ngày để thu vũ khí lương thảo, ổn định dân tình, giáo dục lính dõng rồi tha về.

Trận này ta diệt 20 tên, bắt sống 100 tên, thu nhiều súng các loại, hàng trăm tấn thóc và vải vóc. Nghĩa quân chia cho dân nghèo khoảng một nửa số lương thực. Còn lại đưa về cất giấu tại rừng Chàng.

Sau khi Đinh Công Tráng và nghĩa quân rút đi, cố Phước cho tay chân đến các giáo dân được nghĩa quân chia lúa bắt phải trả lại, nếu không sẽ bị rút phép thông công.

Sau hai trận mở màn đánh vào “dạ dày” của địch thắng lớn, Đinh Công Tráng cho nghĩa quân tạm dừng để rút kinh nghiệm, chỉnh đốn đội ngũ, huấn luyện quân đội, củng cố trận địa hầm hào đồn luỹ cả bốn doanh trại, chuẩn bị đối phó bọn giặc tấn công trả thù.

Phong trào đánh Pháp các nơi cũng lên mạnh. Ngày 19 tháng 12 năm 1873, bộ chỉ huy quân Pháp ở Sài Gòn gửi thêm ra Bắc một trăm tên lính hải quân pháo thủ. Chúng chủ trương tấn công Sơn Tây, tiêu diệt Hoàng Kế Viêm - tổng đốc Tam Tuyên, mở đường chiếm thượng du, làm chủ sông Hồng, thông thương với Vân Nam Trung Quốc.

Hoàng Kế Viêm cử người đi vời quân Cờ Đen - dư đảng của Thái Bình Thiên Quốc do Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy. Lưu tướng quân kéo về phía tây Hà Nội, dán cáo thị kêu gọi giặc Pháp ra hàng và bao vây Bắc Ninh. Gác-ni-ê mời giám mục Phước hội kiến. Ngày 21 tháng 12 năm 1873, chúng đem quân ra cửa tây tấn công ta ở Cầu Giấy. Cuộc chiến đấu diễn ra suốt buổi chiều. Gác-ni-ê bị chém đầu. Nhiều sĩ quan và binh lính Pháp bỏ mạng. Giặc hoang mang dao động. Nhiều viên chỉ huy định bỏ thành. Phong trào kháng chiến khắp nơi lên mạnh. "Viên Bộ trưởng Hải quân và thuộc địa cấp tốc điện cho Sài Gòn phải trao trả lại Hà Nội và không thể chiếm đóng lâu dài ở bất kỳ nơi nào ở Bắc Kỳ"1.

Tin chiến thắng lan truyền khắp nơi. Ở Thanh Liêm, phong trào văn thân càng lên mạnh. Để giải nguy cho Kẻ Sở - một trung tâm giáo hội lớn - nơi đầu não giáo sĩ phản động ở Bắc Kỳ, bọn giặc quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt cứ địa Chàng.
_____________________________________
1. Lịch sử Việt Nam, tập 2. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 65.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2016, 10:22:23 PM

Địch huy động lính tay sai ở Nam Định, Phủ Lý, Duy Tiên, Nam Sang, Bình Lục, Thanh Liêm, Ý Yên, bọn phản động đội lốt tôn giáo ở Tâng (Bang Diệu), Kẻ Sở, Khắc Cần. Chúng bắt giáo dân khỏe mạnh đem theo gậy gộc, giáo mác cùng một trung đội Pháp ở Hà Nội tăng cường cho Kẻ Sở, một tàu chiến giặc chở một trung đội lính lê dương tấn công vào làng Chàng.

Nắm được kế hoạch của địch từ trước, Đinh Công Tráng ra lệnh cho các cứ địa tản quân ra các làng xung quanh, chỉ để lại một lực lượng nhỏ trong thành. Riêng đại bản doanh Chàng, ông đưa dân đi sơ tán, chuyển một bộ phận sang rừng, chỉ để lại một bộ phận rất nhỏ trong làng. Trên núi, căn cứ Chàng treo rất nhiều cờ.

Sáng 16 tháng 1 năm 1874, tàu chiến giặc án ngữ sườn tây làng. Giặc tràn từ Yên Phú sang, Kẻ Sở xuống, từ Kênh Thừa lên ước chừng gần 1.000 tên. Cứ địa Chàng vẫn nổi trống, đàn sáo, nhị để hát chèo. Khung cảnh vẫn bình lặng, thanh bình. Giặc gọi hàng. Trống chèo, đàn hát vẫn nổi lên. Cờ thần, cờ xí, cờ đại của nghĩa quân tung bay. Giặc sợ trúng kế mai phục không dám đánh, chờ đợi và mệt mỏi. Chiều tối, một trung đội lính tiến vào, làng vẫn trống không vắng vẻ, tiếng hát chèo vẫn vang lên ngân nga. Toán giặc run sợ lò dò tiến gần vào thành. Bỗng pháo lệnh nổ vang. Tiếng hô xung phong vang rộ. Giặc hốt hoảng xô vào trong hầm cần bật mìn tự tạo. Các làng bên, chiêng trống nổi lên và tiếng mìn, tiếng súng nổ dữ dội. Chúng đành lùi xa làng để nghe ngóng. Lợi dụng đêm tối, Đinh Công Tráng rút hết quân lên làng Đừng và rừng Chàng. Sáng hôm sau, giặc bao vây dày đặc rồi tràn vào làng lùng bắt nghĩa quân.

Ngày 18 tháng 1 năm 1874, giặc ồ ạt vượt sông Đáy tấn công vào rừng Chàng. Nghĩa quân chặn giặc từ các luỹ tre ven bờ sông rồi theo giao thông hào rút vào đầu ngòi. Giặc đuổi theo, tráng binh áo xanh bỏ chạy. Giặc xua quân truy kích. Tất cả có tới ba bốn trăm tên. Bỗng thần công nổ. Trên núi Đá Rãi vang dậy tiếng hô xung phong. Bay đá đồng loạt đổ xuống. Trên đoạn đường dài một kilômét, đá ào ào, vang động như thác đổ. Giặc hốt hoảng chạy trở lại thì bị nghĩa quân phục sẵn ở hang Phường Chèo, hang Lý Chính, hang Đất, hang Trống khóa đuôi. Nghĩa quân từ núi Rồng bắn ra, từ đầu ngòi bắn vào, từ những hang sườn núi bắn tỉa, đá từ trên đỉnh núi to nhỏ lăn xuống. Giặc hoảng hốt lao ra cánh Dải Cờ lầy lội, cố sống cố chết chạy tháo lui. Nhiều tên bị đá đè ngay chân núi. Nhiều tên bị chết chìm dưới đầm lầy. Trận này giặc chết và bị thương gần trăm tên, trong đó có gần ba mươi lính Pháp. Ta cũng hy sinh trên hai chục nghĩa quân.

Bị thua đau, nhưng giặc quyết tiêu diệt cứ địa Chàng, dập tắt phong trào văn thân Thanh Liêm. Chúng đóng quân tại làng Chàng, tăng quân cho đồn Tâng, Khắc Cần và Kẻ Sở. Tàu chiến tuần tiễu từ đồn Vĩ tới Kiện Khê và đỗ tại cống Chàng.

Thắng lớn, Đinh Công Tráng định tập trung lực lượng đánh đồn Tâng, đuổi giặc khỏi làng Chàng và Khắc Cần nhưng lực lượng địch quá mạnh. Để bảo toàn lực lượng, ông để lại một số ít nghĩa quân ở các doanh trại, còn đại quân rút về tổng Mỹ Xá cùng Tú Tốn. Sau đó nghĩa quân của ông xuống Ý Yên phối hợp với nghĩa quân của Phạm Nhân Nghĩa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2016, 10:23:55 PM

Tưởng nghĩa quân còn đóng ở làng Đừng cách Khắc Cần chừng trên một kilômét, tên chó săn Thừa Diệu dẫn giặc bao vây tiêu diệt làng Đừng đêm 19 tháng 1 năm 1874. Giặc tràn vào làng lùng sục, cướp bóc, hãm hiếp và bắn giết tất cả không từ một ai, kể cả cụ già, trẻ sơ sinh, phụ nữ có thai rồi san bằng nhà cửa làng xóm. cả làng chỉ sót một bà già đến thăm con gái đẻ tại thôn Trung Thứ, xã Thanh Thuỷ và một bé trai 13 tuổi. Từ đó, không còn làng Đừng nữa. Nỗi đau đớn này càng ghi sâu tội ác dã man của lũ cướp nước và tay sai bán nước, tiêu biểu là tên Thừa Diệu.

Ở lại ít hôm, giặc rút khỏi làng Chàng, để lại một số quân tăng cường cho đồn Tâng, Kẻ Sở, Non rồi rút trở về Nam Định, Phủ Lý.

Được Đinh Công Tráng giao nhiệm vụ chỉ huy ở Thanh Liêm, sư So cùng các tướng khác tuyển mộ thêm quân, tích trữ lương thảo, huấn luyện quân đội, xây dựng cứ địa. Đinh Công Tráng hợp quân với Tú Tốn, Phạm Văn Nghĩa chuẩn bị một chiến dịch hoạt động lớn ở vùng Sơn Nam Hạ (Nam Định, Ninh Bình, Phủ Lý). Lúc này nghĩa quân lên tới bảy nghìn người.

Pháp sai đề đốc Định đánh úp nghĩa quân ở An Hòa. Giặc bị đánh tan tác, Định bị bắt sống.

Thừa thắng, Đinh Công Tráng liên tiếp tấn công và thắng giặc ở Tàng Bàng, Mai Độ, giải phóng phủ Bo (Ý Yên), Chợ Dần (Vụ Bản) rồi kéo về đánh chiếm Non, tiến lên giải phóng Phủ Lý. Lê Văn Ba - tên tay sai chỉ huy thành Phủ Lý bỏ chạy về Nam Định. Sau một loạt chiến thắng liên tiếp, vua Tự Đức phong cho Đinh Công Tráng là Hiệp quản.

Phong trào kháng Pháp tại các tỉnh lên cao. Lực lượng nghĩa quân lớn mạnh. Phối hợp với các thủ lĩnh nghĩa quân và quan triều khác, Đinh Công Tráng tiến đánh và giải phóng thành Nam Định (nhiệm sở trấn Sơn Nam Hạ), thành Ninh Bình (nhiệm sở phủ Hoa Lư).

Sau đó, Đinh Công Tráng cùng các tướng lĩnh chuẩn bị tiến sang Thái Bình, Hải Dương thì triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước ngày 15 tháng 3 năm 1874. Hiệp ước mang tên "Hiệp ước Hòa bình liên minh", thực chất là hiệp ước bán nước nhục nhã.

Cơ hội giải phóng Bắc Kỳ đang ở trong tầm tay thì triều đình nhà Nguyễn lại cúi đầu công nhận chủ quyền của Pháp ở Nam Kỳ lục tỉnh, nắm chủ quyền buôn bán thương mại, tự do đi lại truyền đạo. Nhục nhã hơn nữa, triều đình còn phải đền bù chiến phí, hạ lệnh giải giáp nghĩa quân. "Triều đình Huế cho Hoàng Kê Viêm triệt binh lên Sơn Tây, điều quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc lên miền ngược, bắt họ "án binh bất động" đợi triều đình điều động đi đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân"1. Nhân dân khắp nơi phẫn uất, phản đối sự đầu hàng nhục nhã này. Họ vạch mặt, chỉ tên kẻ phá hoại cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
_____________________________________
1. Lịch sử Việt Nam, tâp 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 65.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Một, 2016, 10:25:39 PM

Căm giận hành động hèn nhát hại dân, hại nước đó, Đinh Công Tráng trả lại chức tước cho triều đình ra đi tìm người nghĩa khí liên kết, ấp ủ ý chí chống trời. Câu đối tặng mẹ khi Đinh Công Tráng về chịu tang mẹ đã nói lên khí phách anh hùng đó.

      "Hận vô lập tức thiên thai tứ đồng trượng dương Công Bắc đẩu.
      Sầu bất phi thân vạn trượng giải thôi y thi nghị Nam Tào .


Tạm dịch là:
      Giận vì không bước tới được cửa trời giơ gậy đồng hỏi tội ông Bắc Đẩu.
      Buồn vì không nhảy cao vạn trượng cởi phăng áo ra mà trách mắng ông Nam Tào.

Câu đối ngụ ý mỉa mai căm giận triều đình nhà Nguyễn hèn nhát đã phá hoại cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của đất nước.

Trong khi đó, đất nước liên tiếp chịu cảnh lụt lội mất mùa, nạn đói khủng khiếp, dân nghèo bồng bế nhau đi ăn xin, chết đói đầy đường.

Chính sự suy vi. Triều đình mục nát. Hoàng thân quốc thích tranh loát lẫn nhau. Bọn quan lại thừa cơ đục khoét, bóc lột. Bọn đầu cơ tha hồ xoay xở, thi nhau xoay ăn trên lưng người đói khổ, càng khoét sâu thêm cái xã hội ung nhọt thời Tự Đức. Còn bọn Pháp và tay sai ngày càng làm sâu thêm mâu thuẫn dân tộc, chuẩn bị xâm lược Bắc Kỳ lần thứ hai. Chúng nắm quyền kiểm soát thương chính, tung tiền mua chuộc hoặc li gián quan triều, dò xét quân cơ quốc mật, gây dựng cơ sở nội ứng.

Kết quả, nguyên nhân thắng lợi.

Trong những năm 1872-1874, Đinh Công Tráng đã phát động phong trào chống giặc lan rộng toàn huyện, mở rộng liên kết với Ý Yên, Nam Định, gây cho địch nhiều thiệt hại, giải phóng được thành Ninh Bình, Nam Định, Phủ Bo, Phủ Lý, Chợ Dần, góp phần cùng các nơi khác đẩy địch vào thế bị động lúng túng ở Bắc Kỳ, đến mức "ở bên Pháp Bộ trưởng Hải quân phải điện cho Sài Gòn trao trả Hà Nội và không chiếm giữ bất cứ nơi nào ở Bắc Kỳ"1.

Có được thắng lợi đó là do tinh thần yêu nước căm thù giặc của nhân dân ta và tài chỉ huy quân sự của Đinh Công Tráng. Cụ thể là biết dựa vào uy danh thầy học để kêu gọi văn thân, tập hợp lực lượng. Biết tập trung lực lượng đánh vào Khắc Cần và Kẻ Sở, hai kho hậu cần lớn của địch. Riêng Kẻ Sở còn là trung tâm đầu não của giáo sĩ phản động. Khi giặc mạnh biết chuyển về Ý Yên phối hợp với nghĩa quân Nam Định, tạo thế và lực giải phóng một miền rộng lớn. Riêng trận Chàng, Đinh Công Tráng đã biết lừa giặc vào chỗ hiểm để tiêu diệt.

Việc chia một phần lương thực cướp được ở Trại Cần và Kẻ Sở cho dân nghèo (hầu hết là giáo dân) đã gây được niềm tin vào sự ủng hộ của nhân dân, đồng thời đánh vào âm mưu tuyên truyền "nghĩa quân phá đạo" của bọn phản động.

Dùng rừng Chàng là hậu cứ hỗ trợ tích cực cho các đồn trại đồng bằng là một chủ trương đúng đắn của Đinh Công Tráng lúc này.
___________________________________________
1. Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 65.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2016, 08:08:11 PM

Câu hỏi 6: Trước sự lớn mạnh và lan rộng của phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa, giặc Pháp điên cuồng tìm cách đối phó. Tình hình đó buộc phải gấp rút thống nhất các phong trào trên toàn tỉnh. Hội nghị Bồng Trung đã bàn bạc thống nhất các phong trào như thế nào?
Trả lời:


Các phong trào kháng Pháp ở Thanh Hóa ngày càng nở rộ và phát triển mạnh mẽ. Giặc điên cuồng tìm cách đối phó. Chúng liên tiếp điều động nhiều đạo quân đi sâu vào khu căn cứ nghĩa quân càn đi, quét lại không ngừng. Các cuộc đụng độ ngày càng nhiều và ác liệt hơn, lực lượng nghĩa quân các địa phương không tránh khỏi bị tổn thất. Tình hình đó đòi hỏi phải gấp rút thống nhất lực lượng trên địa bàn toàn tỉnh mới đủ sức đương đầu lại được trước sự phản công ngày càng dồn dập và ác liệt của kẻ thù. Bởi bọn chúng đã qua khỏi thời kỳ choáng váng bị động ban đầu và cũng đang gấp rút đẩy mạnh công cuộc bình định quân sự và thiết lập bộ máy chính trị trong tỉnh Thanh Hóa nói riêng, trong toàn quốc nói chung. Đó chính là hoàn cảnh dẫn tới hội nghị lịch sử Bồng Trung (Vĩnh Lộc) vào giữa năm 1886.

Bước sang năm 1886, phong trào khởi nghĩa ở Thanh Hóa lên mạnh. Nghĩa quân đã làm chủ những vùng nông thôn rộng lớn, luôn luôn quấy rối các đồn bốt và ngăn trở các đường giao thông tiếp tế của giặc Pháp. Nhiều cánh quân tuần tiễu của địch bị phục kích và tiêu diệt. Sự nguy khốn của giặc Pháp cũng làm cho bọn ngụy quyền hoang mang dao động. Cha Sáu, tên tay sai đắc lực đội lốt thầy tu của Pháp, sau khi nhận chức khâm sai tuyên phủ sứ của triều đình bù nhìn Huế, đã kéo quân vào Thanh Hóa, ngày 28 tháng 4 năm 1884, để đàn áp phong trào trong tỉnh.

Vào giữa năm 1886, những người lãnh đạo phong trào yêu nước chống Pháp của Thanh Hóa đã họp ở Bồng Trung (Vĩnh Lộc) để bàn bạc những phương sách mới nhằm đẩy mạnh thêm một bước nữa phong trào chống Pháp trong tỉnh. Tại hội nghị này, căn cứ vào vị trí quan trọng của Thanh Hóa có dân cư đông đúc và giàu truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, đất đai rộng rãi và phì nhiêu, địa thế lại hiểm yếu, những người cầm đầu phong trào đã thống nhất với nhau cần biến gấp Thanh Hóa thành một căn cứ vững chắc cho phong trào chung trong toàn quốc.

Hội nghị đã giao cho Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Đinh Công Tráng cùng với một số tướng lĩnh khác như đề đốc Nguyễn Khế, lãnh binh Nguyễn Viết Toại xây dựng căn cứ Ba Đình nhằm bảo vệ "cửa ngõ" miền Trung và làm bàn đạp tỏa đánh địch ở đồng bằng. Đồng thời, Trần Xuân Soạn và Hà Văn Mao cũng được cử phụ trách việc chỉ đạo xây dựng đồn Mã Cao trở thành một cứ điểm chống Pháp chủ chốt trong tỉnh.

Ba Đình thuộc địa phận huyện Nga Sơn, phía bắc tỉnh Thanh Hóa, liền kề tỉnh Ninh Bình. Gọi là Ba Đình vì miền này gồm ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh ở liền nhau, mỗi làng có một ngôi đình, đứng ở đình làng này sẽ nhìn thấy đình của hai làng bên. Ba làng còn có một ngôi nghè chung. Một bài vè phổ biến ở địa phương đã thâu tóm đặc điểm của vùng này trong mấy câu sau:

      "Xưa Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê
      Ba dân chung một đình nghè,
      Ruộng đồng nổi rộng, giữ nghề canh nông"

                                                        (Vè Ba Đình)


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2016, 08:08:49 PM

Ba Đình cách huyện lỵ Nga Sơn 4 kilômét, tây bắc giáp huyện Hà Trung, đông bắc cách thị xã Thanh Hóa 40 kilômét. Vây quanh Ba Đình có mấy con sông. Sông Hoạt (còn gọi là sông Tống vì chảy suốt huyện Tống Sơn - là tên cũ huyện Hà Trung ngày nay) ở mạn bắc Ba Đình; đoạn cuối sông này gọi là sông Chính Đại đổ ra biển dọc theo địa giới hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình (hay còn có tên là sông Đào vì có lần được đào sâu rộng hơn cho thuyền bè đi lại dễ dàng). Sông Hoạt (còn gọi là sông đào Ninh Bình) rộng độ 20 mét và rất sâu, từ xưa đã là con đường thuỷ quan trọng Nam - Bắc. Nối liền sông Lèn ở phía nam với sông Hoạt ở phía bắc và bao kín căn cứ Ba Đình về phía tây là sông Cầu Choàn (khúc dưới giáp sông Lèn có tên là sông Báo Văn).

Lập căn cứ ở Ba Đình, nghĩa quân có thể kiểm soát con sông đào Ninh Bình, đồng thời có thể dễ dàng kéo quân lên mạn Bỉm Sơn, Đồng Giao không chế đường số 1 - là con đường đi lại yết hầu của địch giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa. Mặt khác, đóng căn cứ tại Ba Đình nghĩa quân còn có thể từ đấy tỏa ra ngăn chặn những hoạt động của các đồn địch ở Tam Cao, Điền Hộ, Phú Điền. Hơn nữa, địa thế Ba Đình lại rất thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ phòng ngự kiên cố. Phía bắc, ngay gần làng Thượng Thọ có núi Thúc; phía đông nam có các núi Xa Liễn (núi sến), Chiêm Ba, Tam Lênh. Ngọn núi Xa Liễn cao nhất vùng này cách Ba Đình một cánh đồng chiêm rộng hơn 3 kilômét, trước đây nghĩa quân Thanh Hóa thường từ núi Xa Liễn tiến ra Nho Quan, Phát Diệm, tấn công địch trong các đồn bốt hoặc chặn đánh địch trên đường số 1.

Ba Đình lại nằm giữa một cánh đồng chiêm trũng giữa hai con sông Hoạt và Chính Đại, cách xa các làng xóm. Những làng Tuân Đạo, Nghi Vịnh, Ngọc Lâu, Phúc Thọ ở phía bắc gần nhất cũng cách Ba Đình một cánh đồng chiêm dài 3 kilômét và chỉ có một con đường độc đạo nhỏ hẹp từ đê sông đào đi vào. Phía nam Ba Đình có con đường hẹp chạy đến làng Nga Bàng. Từ tháng 6, nếu không vít nước sông lại thì khu đồng chiêm bị chìm ngập dưới dòng nước lũ, Ba Đình trở thành hòn đảo chơ vơ giữa cánh đồng nước mênh mông, cách biệt với các làng lân cận, nếu muốn đi lại phải dùng thuyền nan. Tiếp viện cho Ba Đình có thể bằng đường núi vì Ba Đình cách dãy núi Tam Điệp 5 kilômét, hoặc bằng đường sông Mã từ Mã Cao xuống. Khi bị tấn công, Ba Đình cũng có thể theo đường núi rút lên mạn thượng du Thanh Hóa.

Hội nghị còn quyết định Tống Duy Tân, Cao Bá Điển đóng quân ở Phi Lai (xã Hà Thái, Hà Trung) và Trần Xuân Soạn đóng ở phủ Quảng Hóa (Vĩnh Lộc) hỗ trợ cho Ba Đình và giữ mối liên hệ giữa Ba Đình với căn cứ Mã Cao phía sau lưng do Tôn Thất Hàm và Hà Văn Mao giữ. Cùng với việc xây dựng hai căn cứ Ba Đình và Mã Cao, các căn cứ nghĩa quân khác trong tỉnh cũng được củng cố.

Căn cứ Ba Đình cũng có nhược điểm. Cánh đồng chiêm ngập nước thuận lợi cho việc xây dựng một cứ điểm thủ hiểm và gây khó khăn cho địch trong việc xây dựng công sự để thực hiện kế hoạch bao vây công phá, nhưng địa thế xung quanh Ba Đình lại bất lợi cho các cuộc tấn công hỗ trợ của các đội quân bên ngoài. Vì vậy Ba Đình rất dễ dàng trở nên cô lập và đó là nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của cứ điểm này trong vòng vây ngày càng siết chặt của giặc Pháp.

Theo quyết định của hội nghị Bồng Trung thì Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt được phân công xây dựng và chỉ huy căn cứ Ba Đình, về danh nghĩa, Phạm Bành là người lãnh đạo chung, nhưng trụ cột lại là Đinh Công Tráng. Do đó, trong dân gian vẫn lưu truyền câu ca:

      "Đinh Công chủ tướng là quan
      Phạm Bành phó tướng luận bàn quân cơ".

                                                   (Vè Ba Đình)


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2016, 08:10:01 PM

Câu hỏi 7: Cho biết về cách xây dựng, bố trí của căn cứ Ba Đình? Nghĩa quân Ba Đình được tập luyện và phân công hoạt động như thế nào?
Trả lời:


Đinh Công Tráng là một cựu chánh tổng người làng Tràng Xá. Khi giặc Pháp kéo ra đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai (9-1882), ông đã chiến đấu trong đội quân của Hoàng Tá Viêm và đã tham gia trận đánh bại tên Ri-vi-e ở Cầu Giấy ngày 19 tháng 5 năm 1883. Trong quá trình chiến đấu, ông đã từng bị thương và bị bắt hai lần, nhưng ông đều tìm cách trốn thoát để trở về với hàng ngũ kháng chiến. Năm 1885, ông chống Pháp ở vùng hữu ngạn sông Hồng cùng với Đinh Gia Quế, Đinh Hân, Quách Tế Ngân. Năm 1886, phong trào ở đồng bằng Bắc Kỳ bị đàn áp, ông vào Thanh Hóa bắt liên lạc với Trần Xuân Soạn tiếp tục chống Pháp.

Vào vụ gặt chiêm (5-1886), Đinh Công Tráng, Phạm Bành kéo quân về đóng ở núi Sến. Các ông vận động nhân dân dời đi nơi khác vào mùa khô sắp tới. Nhân dân Ba Đình giàu lòng yêu nước đã sẵn sàng dời bỏ nhà cửa để nghĩa quân xây dựng căn cứ. Khi di chuyển, họ để lại thóc lúa, lợn gà cũng như dưa cà mắm muối cho nghĩa quân dùng. Một số nam nữ thanh niên còn tình nguyện ở lại xây dựng căn cứ và chiến đấu. Công việc xây dựng căn cứ Ba Đình là công lao chung của nhân dân hai huyện Nga Sơn và Tống Sơn (nay là Hà Trung). Mỗi làng đã góp 30 cái rọ lớn cao 2 mét (4 thước ta), 100 cây tre tươi còn nguyên cả cành và 10 gánh rơm. Chỉ sau một thời gian ngắn, nghĩa quân và nhân dân đã đào đắp xong các hào luỹ, rồi tháo nước vào trong đồng tạo thành một tòa thành nổi trên mặt nước.

Công sự được xây dựng kiên cố và được ngụy trang rất khéo, khiến địch ngạc nhiên và buộc phải khen ngợi. Căn cứ được bao bọc bởi một vòng thành đất có công sự chiến đấu, chân thành rộng từ 8 đến 10 mét. Trên mặt thành xếp hàng ngàn sọt rơm trộn bùn, cao 2 mét, chỉ chứa những khe hở làm lỗ châu mai và vị trí quan sát. Qua khe hở giữa các sọt, người bên trong có thể thấy người ở ngoài mà người ngoài lại không thấy được người bên trong. Dưới chân thành bên ngoài có cắm nhiều cọc nhọn tà tà mặt nước trên một bề rộng tới 50 mét tạo nên một rừng chông tre làm cho việc tiến vào sát thành trở nên vô vàn khó khăn. Phía ngoài bãi chông là một luỹ tre dày đặc còn nguyên cành lá tươi xanh, che kín toàn bộ công sự.

Sự bố trí rất kín đáo và khéo léo, nếu đứng bên ngoài quan sát thì thấy Ba Đình chỉ như một làng quê bình thường. Địch phải thú nhận: Một luỹ tre kín che giấu hoàn toàn thành luỹ, vì vậy trong buổi đầu chiến dịch, khi các cây tre còn tươi, chúng đã đơn giản tưởng rằng đó chỉ là một làng được phòng thủ theo kiểu An Nam.

Chính nhờ có hàng rào tre này che kín mà trong những ngày đầu nhiều toán trinh sát địch đã không đánh giá chính xác được căn cứ của nghĩa quân. Cuối cùng phía ngoài hàng rào tre, cũng trên một chiều rộng hơn 50 mét, lại có một rừng cọc tre cắm tà tà mặt nước như những mũi tên nhọn chọc thẳng lên trời.

Sự sắp xếp các công sự và các hầm chiến đấu chữ chi bên trong căn cứ cũng làm cho địch khâm phục. Phía trong thành, nghĩa quân đào một đường hào nhỏ, nếu gặp hồ ao hoặc nơi đất trũng sâu thì bắc cầu. Con đường hào này vừa là đường nghĩa quân di chuyển, vừa là đường tiếp tế lương thực, cũng là giao thông hào chiến đấu. Những vị trí xung yếu có công sự kiên cố đều có mái che nghiêng về phía trong rất chắc chắn và không dễ bắt cháy. Như vậy, cách xây dựng chiến luỹ vừa đảm bảo được phương châm tác chiến linh hoạt, vừa có thể giúp nghĩa quân chiến đấu liên tục trong mưa nắng mà không hại sức khỏe.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2016, 08:11:58 PM

Thành được xây dựng dựa vào địa thế ba làng, chứ không theo một hình dáng nhất định; chỗ giáp hai làng Mỹ Khê và Mậu Thịnh, vì dọc đất hẹp, nên nghĩa quân đắp thêm một lần thành bên ngoài cho vững chắc.

Trong thành có ba đồn, xây dựng ngay trên vị trí sẵn có của ba đình làng1 và đều có giao thông hào dẫn ra các công sự chiến đấu. Đồn Thượng ở Thượng Thọ, đồn Trung ở Mậu Thịnh, đồn Hạ ở Mỹ Khê. Ba đồn này có thể hỗ trợ tác chiến cho nhau mỗi khi một đồn bị tấn công, đồng thời vẫn có thể tác chiến độc lập khi hai đồn kia bị hạ. Ngoài ra còn một tiền đồn ở trại Thượng Thọ đóng trên núi Thúc2. Nhận xét cách bố trí công sự bên trong Ba Đình địch phải tỏ lời thán phục: Việc nghiên cứu bên trong Ba Đình chứng tỏ các công sự đã được xây dựng với một kỹ thuật cao. Đường các công sự đã được xây gấp khúc để tạo thành khắp nơi những ổ tác chiến chắc chắn và cả ba làng đều có các công sự bố trí khéo léo để trong trường hợp hai làng đã bị chiếm thì làng kia vẫn có thể dùng làm pháo đài chiến đấu.

Nghĩa quân còn chú ý thu dọn, cất giấu tất cả những vật dễ cháy nên khi chiếm được vị trí, địch đã rất sửng sốt vì thấy tuy đạn đại bác và đạn lửa bắn vào rất nhiều mà nghĩa quân bị thiệt hại rất ít.

Nhưng Ba Đình không chỉ là một cứ điểm thủ hiểm đơn độc, nó còn được bảo vệ khá cẩn mật bằng một hệ thống các đồn tiền tiêu và viễn vọng tiêu bao quanh.

Một căn cứ lớn như Ba Đình được xây dựng xong chỉ trong vòng một tháng, đó chính là nhờ lòng yêu nước căm thù giặc sâu sắc của nghĩa quân và nhân dân địa phương đã làm cho họ phát huy sáng tạo, khẩn trương lao động, cũng như dũng cảm trong chiến đấu. Đặc biệt hơn nữa, căn cứ Ba Đình còn là trung tâm của phong trào chiến đấu rộng rãi trong tỉnh Thanh Hóa, có cả một mạng lưới thôn trang chiến đấu dày đặc bảo vệ mặt ngoài và hỗ trợ cho bên trong.

Nếu như trong những ngày đầu phong trào còn mang tính chất tự phát thì giờ đây đã có tổ chức chặt chẽ hơn. Từng phủ huyện có các tham tán như Nguyễn Phương (Phụng Liên, Văn Trường, Tĩnh Gia), Hoàng Bật Đạt (Hà Sen, Bộ Đầu, Hậu Lộc), các tán tương quân vụ như Lê Trí Thực (Phú Khê, Hoàng Hóa), Đỗ Đức Mậu (Đông Đa, Quảng Xương), Lê Ngọc Toản (Cổ Định, Nông Cống), Tống Duy Tân (Bồng Trung, Vĩnh Lộc), Lê Khắc Tháo (Đông Sơn), Cầm Bá Thước (Trịnh Vạn, Thường Xuân)... Dưới tán tương quân vụ lại có các bang biện quân vụ ở ngay các xã, các tổng, hình thành như vậy cả một hệ thống căn cứ phối hợp khá chặt chẽ với nhau trên một địa bàn rộng lớn hầu như khắp tỉnh Thanh Hóa.
__________________________________
1. Hiện nay đình làng Mỹ Khê là trường cấp 1 Ba Đình, đình làng Mậu Thịnh là nhà kho của hợp tác xã, còn đình làng Thượng Thọ là trại chăn nuôi. Những đình đó cũng mới được xây dựng lại về sau này, các đình cũ đã bị địch phá huỷ ngay sau khi giặc chiếm Ba Đình.
2. Núi Thúc hiện nay chỉ còn lại một ít dấu vết, vì bị nhân dân phá lấy đá dùng vào công việc xây dựng. Theo các cụ bô lão ở Ba Đình, đồn núi Thúc hồi đó còn gọi là "đồn ngoài" hay "đồn hờ".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2016, 08:12:16 PM

Chỉ huy Ba Đình, như chúng ta đã biết, có tán lý Phạm Bành, tham tán Hoàng Bật Đạt, các lãnh binh Đinh Công Tráng, Nguyễn Viết Toại, đề đốc Nguyễn Khế. Lãnh binh Nguyễn Viết Toại chỉ huy đội quân giữ đồn Thượng, Đinh Công Tráng ở đồn Trung, Phạm Bành và đốc Khế ở đồn Hạ. Về danh nghĩa, lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa là Phạm Bành, một vị văn thân có uy tín trong tỉnh. Nhưng trong thực tế thì linh hồn của Ba Đình là Đinh Công Tráng vì ông là người chỉ huy quân sự chính.

Nghĩa quân Ba Đình gọi là tráng, chủ yếu được tuyển mộ ở các huyện Hậu Lộc, Nga Sơn, Hà Trung, nhưng các huyện khác như Quảng Xương, Nông Cống, Hoằng Hóa cũng đã hăng hái lựa chọn những thanh niên khỏe mạnh để đóng góp vào. Trong hàng ngũ nghĩa quân còn có cả những dân tộc ít người như các đồng bào Mường, Dao và Thái. Vũ khí chủ yếu là cung nỏ được nghĩa quân miền núi sử dụng rất thành thạo nên được mệnh danh là thiện đội (đội quân thiện xạ).

Lực lượng nghĩa quân Ba Đình lúc đầu khoảng 300 người, sau đó được bổ sung thêm, cùng với nhân dân địa phương tình nguyện ở lại chiến đấu. Rất nhiều phụ nữ, thanh niên đã xung phong ở lại cùng nghĩa quân làm nhiệm vụ tiếp tế, tải thương. Nghĩa quân chia làm 10 toán, mỗi toán do một hiệp quản chỉ huy. Mỗi người có một miếng vải ghi rõ tên tuổi, quê quán, đơn vị. Tuy vậy, để tránh kẻ gian lợi dụng sơ hở trà trộn vào, mỗi khi có lệnh ra ngoài thành trở về, họ vẫn phải có hiệp quản trực tiếp chỉ huy đến nhận diện mới được vào thành. Nghĩa quân còn phân nhỏ ra thành từng đội để thay nhau chiến đấu. Ngoài cung nỏ, khí giới của nghĩa quân phần lớn là súng hỏa mai, khoa sơn và giáo mác. Cũng có một số đại bác đúc bằng gang, trước kia thường gọi là thần công, khi bắn phải nhét thuốc và đạn vào miệng súng rồi châm mồi. Lương thực, ngoài phần do nhân dân Ba Đình để lại, còn do các phủ huyện gửi về. Trong chiến đấu, cơm nước cho nghĩa quân đều do chị em phụ nữ nấu từ đồn Trung, rồi chuyển ra tận các chiến hào.

Kỷ luật của nghĩa quân hết sức nghiêm minh. Các hiệp quản và người lãnh đạo đều có sổ ghi công để thưởng phạt, ai có công tức thời được biểu dương, người có lỗi thì bị cảnh cáo, những người rời bỏ vị trí hay lùi bước trong chiến đấu bị trừng trị. Để động viên tinh thần chiến đấu giết giặc của quân lính, trong thành thường xuyên có hai gánh hát chèo chia nhau diễn để giải trí cho nghĩa quân trong lúc xa gia đình, vợ con và trong những ngày chiến đấu căng thẳng. Trong những giờ phút quyết liệt nhất, tiếng trống chèo vẫn vang lên cổ vũ tinh thần quân sĩ.

Quan hệ giữa các chỉ huy với nghĩa quân trong chiến đấu vô cùng gắn bó, họ thường tham gia việc tuần tiễu quanh thành. Đặc biệt, tuy tuổi già sức yếu, Phạm Bành vẫn hăng hái cùng nghĩa quân lăn lộn trong chiến đấu. Hình ảnh một vị tướng tóc bạc, mình mặc áo tứ thân nâu, lưng thắt nhiễu đỏ, vai đeo kiếm, vác loa đi thăm từng vị trí, từng công sự dưới làn mưa đạn của quân thù, đã có tác dụng nâng cao thêm tinh thần chiến đấu đoàn kết trong nghĩa quân, vì vậy đã gây cho địch khá nhiều tổn thất.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2016, 08:13:18 PM

Câu hỏi 8: Cho biết về diễn biến và kết quả của cuộc tấn công lần thứ nhất vào căn cứ Ba Đình của giặc Pháp?
Trả lời:


Xây dựng xong căn cứ, nghĩa quân thường từ đó tỏa ra đánh địch. Đồn Pháp đóng gần Ba Đình nhất là Tam Cao, ở ngay địa đầu tỉnh Thanh Hóa, sát đường số 1, do trung úy Gia-nê đóng giữ với 250 lính. Hàng ngày, địch vẫn đi tuần tiễu các miền xung quanh đồn. Đi đến đâu, chúng cũng sục sạo vào các xóm làng để vơ vét lương thực, bắt gà lợn, hiếp tróc phụ nữ, đánh đập dân chúng. Gần Bỉm Sơn, ngay trên đường cái có xóm nhỏ Phố Cát, ở đó có quán bán nước và thức ăn cho khách bộ hành qua lại. Bọn lính tuần tiễu đi qua đó thường nghỉ lại, ăn uống và hạch sách nhân dân.

Đã từ lâu, nghĩa quân Ba Đình muốn diệt đồn Tam Cao để làm chủ con đường số 1. Nhưng vì đồn của chúng xây dựng trên núi cao hiểm trở, lại có hỏa lực mạnh bảo vệ nên nghĩa quân chưa dám hành động. Được biết tin những toán lính tuần tiễu lẻ tẻ của địch thường qua lại Phố Cát, Đinh Công Tráng liền phái đề đốc Lê Văn Kiến mang một trăm quân tới phục kích. Ngay giữa phố, đốc Kiến cho đặt một án thư trên để chuối, dừa, trứng gà và giao cho mấy nghĩa quân tháo vát và dũng cảm ăn mặc giả làm kỳ hào đứng chờ toán địch đến. Đến trưa, khi bọn chúng kéo tới; người giả đóng kỳ hào ra chào đón và mang cho các thức ăn và nước giải khát. Đang lúc đi đường mệt vì đói và khát, tên đội Pháp không chút nghi ngờ, cho lính gác súng một nơi rồi vào uống nước dừa và ăn uống phè phỡn. Vào đúng lúc đó, nghĩa quân phục kích hai bên đường đổ ra xung phong bắn giết. Trận đánh đã diễn ra nhanh gọn, nghĩa quân thu được toàn bộ súng đạn, cả toán địch không tên nào chạy thoát. Đốc Kiến khuyên số lính ngụy bị bắt về quê làm ăn, không được làm tay sai cho địch nữa, họ đều vui vẻ nghe theo. Sau đó, ông còn cảnh giác khuyên nhân dân di chuyển nơi khác để tránh địch khủng bố trả thù, rồi mới thu quân về Ba Đình. Đốc Kiến còn lập mẹo cho một người lính giả cách chạy thoát được trong trận phục kích chạy về đồn báo cho Gia-nê biết toán lính của hắn đã bị nghĩa quân tiêu diệt. Được tin, Gia-nê tức tốc mang 200 quân đến Phố Cát, nhưng đến nơi thì nghĩa quân đã rút lui từ lâu. Hắn tức giận ra lệnh đốt phá dãy phố, rồi trở về đồn. Chiến công ban đầu tuy nhỏ, nhưng đã làm cho nghĩa quân hết sức phấn khởi.

Sau trận đánh Phố Cát, nghĩa quân còn phục kích tiêu diệt nhiều đoàn quân vận tải của địch. Đường giao thông của chúng ở vùng này hầu như bị tê liệt. Những toán quân tuần tiễu, thám báo ở đồn Tam Cao và các đồn xung quanh luôn luôn bị chặn đánh. Địch phải thừa nhận: Bắt đầu từ tháng 10 năm 1886, người ta nhận thấy rằng tất cả những đường giao thông trong vùng đều không còn bảo đảm và những đoàn xe vận tải luôn luôn bị tấn công, nhưng không thể thăm dò vùng này với một lực lượng ít ỏi. Người ta phải đợi đến lúc có thể đưa tới đây những binh đoàn khá mạnh để bẻ gãy mọi trở ngại.

Không những vậy, có lần nghĩa quân lợi dụng ban đêm tấn công đồn Tam Cao, địch phải liều chết cố thủ. Ngày mồng 2 tháng 10 năm 1886, nghĩa quân Ba Đình đột nhập thị xã Ninh Bình làm cho đội lính khố xanh do tên Cát-xê chỉ huy bị thiệt hại nặng. Phối hợp nhịp nhàng với các hoạt động của nghĩa quân Ba Đình, nghĩa quân đóng ở ngoài đã đánh một trận phục kích lớn ở phủ Nho Quan, tỉnh Ninh Bình khiến tên trung úy Phu-giê cùng với một tên đội Pháp và 50 lính đi tuần tiễu bị tiêu diệt. Đồng thời, ở các nơi khác trong tỉnh Thanh Hóa, nghĩa quân đều tăng cường hoạt động. Nghĩa quân với vũ khí thô sơ chưa thể tiến đánh những đồn có hỏa lực mạnh nhưng họ đã bao vây chặn đánh những toán quân lẻ khiến địch ở các đồn bị cô lập và không hỗ trợ cho nhau được.

Trong tình trạng đó, đồn trưởng Tam Cao Gia-nê phải cấp báo ra Hà Nội. Thống soái Gia-mông liền ra lệnh cho trung tá Mét-danh-giê - tư lệnh vùng Thanh Hóa và trung tá Đốt - tư lệnh vùng Nam Định cấp tốc tổ chức một binh đoàn có nhiệm vụ lập lại đầu mối giao thông giữa hai vùng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2016, 08:14:13 PM

Ngày 16 tháng 10 năm 1886, Mét-danh-giê kéo quân từ Thanh Hóa đến Hà Trung, lấy thêm lính rồi liên hệ với Gia-nê để nắm tình hình. Sau đó hắn cùng với Đốt bàn kế hoạch tấn công nghĩa quân. Chúng đều nhận thấy muốn kiểm soát được con đường "cửa ngõ" Thanh Hóa thì trước tiên phải tiến đánh Ba Đình. Nhưng chúng vẫn chưa nắm được tình hình nghĩa quân ở đó. Theo những tin tức đầu tiên chúng nhận được, Ba Đình chỉ là một làng bình thường, có luỹ tre rào kín như trăm ngàn làng mạc khác của Việt Nam mà thôi. Chúng liền tổ chức một đội quân nhỏ tiến về Ba Đình từ phía Cầu Cừ (Hà Trung) với mục đích thăm dò lực lượng và quan sát địa hình, nhưng bị Phạm Bành chỉ huy nghĩa quân bố trí đánh úp buộc phải rút lui. Sau đó, chúng lại tổ chức một cuộc tấn công thăm dò lần thứ hai. Quân của chúng từ Thạch Bằng kéo xuống cánh đồng Mậu Yên. Lần này, gặp phục binh của Nguyễn Viết Toại, chúng bỏ chạy vào rừng. Sau hai trận thăm dò, tuy bị thất bại và chưa nắm được thật rõ lực lượng nghĩa quân, chúng vẫn chủ quan cho rằng có thể nhanh chóng tiêu diệt Ba Đình với sự yểm hộ của đại bác.

Sau khi đã chuẩn bị chu đáo, ngày 18 tháng 12, quân Pháp bắt đầu mở cuộc tấn công thứ nhất vào Ba Đình. Lực lượng của chúng được phân bố như sau: Cánh quân do Mét-danh-giê chỉ huy gồm 167 lính vừa Pháp vừa ngụy, có một cỗ đại bác 80 ly yểm hộ; cánh quân của Đốt có 350 lính.

Sau những đợt đại bác công phá dữ dội, chúng bắt đầu tấn công, ở phía đông bắc, cánh quân của Đốt chia làm 3 mũi tiến đánh đồn tiền tiêu nghĩa quân trên núi Thúc, mũi bên phải do tên đại úy Nuy-giăng chỉ huy; mũi ở giữa và bên trái do Đốt trực tiếp chỉ huy. Nghĩa quân đợi địch đến gần mới bắn xả xuống làm chúng thương vong rất nhiều. Bọn chỉ huy Pháp ra sức đốc thúc bọn lính lội nước bùn tiến lên chiếm vị trí. Nhờ có đại bác, chúng đã phá hủy gần hết các công sự của đồn tiền tiêu, do đó Nguyễn Viết Toại phải ra lệnh cho nghĩa quân vừa đánh vừa rút về đồn Thượng (Thượng Thọ). Địch tuy chiếm được tiền đồn nhưng phải thú nhận bị tổn thất rất lớn.

Từ đồn tiền tiêu, địch tiến lên đánh chiếm Thượng Thọ. Nghĩa quân chờ địch tiến lại thật gần công sự mới bắn làm cho chúng bị chết rất nhiều nên phải dừng lại.

Về phía tây nam, cánh quân của Mét-danh-giê cũng bị thất bại nặng. Đội quân đi đầu của địch do hai trung úy Gia-nê và Túy-phi-ê chỉ huy, mặc dù nước ngập tới vai, vẫn cố sống cố chết xung phong, ở đây, nghĩa quân cũng đợi cho chúng ngoi vào gần vị trí mới nhằm thật trúng mà bắn, khiến chúng bị chết khá nhiều. Tên Gia-nê liều chết vừa tiến gần tới chân hào thì trúng đạn, bị vùi xuống bùn sâu. Một số lính cố theo sát hắn cũng chịu chung một số phận. Nhưng tên Túy-phi-ê, một tay cầm súng, một tay cầm lao, vẫn liều mạng dẫn đầu toán lính tiếp tục xung phong. Dưới làn mưa đạn và tên độc, hắn cùng binh lính cố tìm một con đường giữa rừng cọc tre nhọn cắm tà tà trên mặt nước. Nhưng chúng không thể nào tiến lên được trong nước bùn đầy chông dưới hỏa lực dày đặc của nghĩa quân.

Đang khi tiến thoái lưỡng nan thì Túy-phi-ê trúng đạn bị thương nặng, binh lính của hắn hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Tên đại úy Bơ-le-dơ yểm hộ cho binh lính rút lui cũng bị thương nốt. Sau đó chúng phải dùng đại bác 80 ly bắn chặn nghĩa quân trong thành xông ra truy kích mới tránh khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn. Đốt và Mét-danh-giê đành phải ra lệnh lui quân, cố thủ một nơi để chờ viện binh. Cuộc tấn công lần thứ nhất của giặc Pháp vào căn cứ Ba Đình đã thất bại thảm hại.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2016, 08:16:13 PM

Câu hỏi 9: Các đợt tiến công tiếp theo của quân Pháp vào căn cứ Ba Đình tiếp tục gặp thất bại nặng nề, nghĩa quân đã mưu trí và dũng cảm chiến đấu với vũ khí và đạn dược hiện đại của quân địch như thế nào?
Trả lời:


Hoảng sợ trước những thất bại nặng nề, giặc Pháp chủ trương tập trung binh lực để bao vây tiêu diệt cứ điểm Ba Đình. Mục tiêu của chúng là gấp rút nối liền con đường giao thông giữa hai miền Trung - Bắc để tiến lên hoàn thành bình định miền đồng bằng.

Nhằm mục đích trên, chúng đã điều vào Thanh Hóa những toán lính Pháp đóng trên vùng biên giới phía Bắc, huy động một nửa số lính của các đồn binh Bắc Kỳ và phải cầu cứu để đoàn lính thuỷ đóng tại vùng biển Trung Quốc, kể cả những đội lính Ả-rập đã mãn hạn được phép về nước cũng bị giữ lại để ném vào những cuộc chiến đấu mới.

Vào cuối năm 1886, số quân địch tập trung ở Ba Đình lên tới 2.250 tên, thuộc đủ mọi binh chủng. Chúng còn điều các pháo hạm Ét-tốc, Bốt-săng, A-va-lăng-sơ vào để yểm hộ cho các đường tiếp tế. Đặc biệt, chúng đã phải cố gắng rất nhiều trong việc tập trung pháo binh và cũng đã không từ chối cả những khẩu thần công cổ lỗ do "quan lại An Nam" cung cấp. Ngoài ra, cha Sáu còn cung cấp cho chúng thêm 5.000 phu và ba thuyền lớn để chuyên chở lương thực. Địch cũng đã phải điều tên đại tá Brít-xô, một tên sĩ quan Pháp có nhiều kinh nghiệm trong việc bao vây và công phá thành Puy-ê-bla ở Mê-hi-cô năm 1863 về cầm đầu cuộc đàn áp1. Một ban chỉ huy mặt trận được thành lập và đóng ở làng Tuân Đạo cách Thượng Thọ một cây số.

Như vậy là giặc Pháp đã phải tập trung tại mặt trận Ba Đình một số quân rất lớn (2.488 tên). Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Đông Dương nghĩa quân đã giam chân được một số địch đông và trong một thời gian lâu như vậy. Chính giặc Pháp phải thừa nhận: Trong chiến dịch thu đông 1886-1887, cuộc công hãm Ba Đình là cuộc chiến đấu nghiêm trọng nhất. Cuộc chiến đấu này thu hút nhiều quân nhất và làm cho cấp chỉ huy lo ngại nhất.

Sau khi tìm hiểu tình hình và quan sát vị trí Ba Đình, Brít-xô đã vạch ra một chương trình tổng công kích. Cha Sáu quê ngay ở làng Dừa (Hà Trung) nên nắm rất vững địa thế Ba Đình đã góp nhiều ý kiến cho bọn Pháp trong việc vạch ra kế hoạch đánh phá nghĩa quân. Chiến thuật chủ yếu của chúng là dựa vào những công sự, tiến dần từng bước tới sát vị trí của nghĩa quân, rồi tập trung lực lượng công phá.

Thoạt tiên, chúng cho công binh đào chiến hào dọc theo bờ đê để tránh những luồng đạn của nghĩa quân từ trong bắn ra hoặc từ ngoài bắn vào. Nhưng khó khăn của chúng là nước ngập đồng chiêm cản trở rất nhiều đến việc đào công sự. Theo lời khuyên của cha Sáu, chúng lợi dụng thuỷ triều xuống để xẻ đường tháo nước trong đồng ra, đến khi nước triều lên thì lại bít đê lại, ngăn nước vào đồng, còn ở những chỗ nước quá trũng thì chúng xây những công sự nổi trên bè nứa. Để xây dựng các công sự, địch phải lấy đất cách xa hàng trăm mét và cần rất nhiều tre gỗ. Theo lệnh của chúng, cha Sáu đã mang lính vào các làng xóm gần đấy cưỡng bức nhân dân đi phu gánh đất và vác tre nứa cho chúng.
_____________________________________
1. Theo Chabvol, trong Các cuộc hành quân ở Đông Dương thì Brít-xô trong trận ngày 15 tháng 1 năm 1887 mới có mặt ở Ba Đình.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2016, 08:18:12 PM

Ngày mồng 6 tháng 1 năm 1887, sau những đợt pháo bắn dữ dội, quân Pháp chia làm 3 mũi tấn công Ba Đình. Chỉ huy sở của chúng đặt ở làng Tuân Đạo. Cả ba đạo quân tiến rất chậm, mãi đến 2 giờ chiều mới tới các công sự trên mặt đê. Nhưng từ đây trở vào, cuộc chiến đấu càng thêm ác liệt. Đội quân thứ nhất liều mạng tiến dần đến chiến luỹ của ta vẫn không thể nào vượt qua được luỹ tre gai dày đặc và kiên cố. Chúng phải dùng búa và cốt mìn để phá huỷ luỹ tre nhưng những làn lửa đạn và tên độc từ trong vun vút bắn ra dữ dội gây nhiều thương vong, buộc chúng phải lùi lại phía sau.

Đội quân thứ hai ở giữa có nhiệm vụ phối hợp tiến công bên phía trái của đội quân thứ nhất. Trời mùa đông giá lạnh mà chúng phải dầm mình trong ruộng bùn đầy nước nên tên nào tên nấy đều rét run lên, nhưng vì bị bọn sĩ quan thôi thúc nên vẫn phải xung phong. Khi chúng tiến tới gần hàng rào tre thì bị bắn chặn lại. Hỏa lực của nghĩa quân không lấy gì làm mạnh vì vũ khí chủ yếu là cung nỏ nhưng họ bắn rất trúng, những tên địch trúng tên độc chỉ 5 - 10 phút sau là ngã gục. Phần lớn những lính Pháp dẫn đầu đã bị loại ra vòng chiến.

Đội quân bên trái tấn công mạn Thượng Thọ. Cũng như hai đội trên, dẫn đầu đội này là các công binh mang mìn và một số phu mang sọt tre đựng đất và các vật liệu, dụng cụ để xây dựng công sự. Dựa vào con đê, chúng tiến được đến gần chân thành và định tập trung lực lượng tấn công tiêu diệt đồn tiền tiêu của nghĩa quân ở núi Thúc. Nhưng nghĩa quân đã rút lui trước về đồn chính. Đồn Thượng Thọ do lãnh binh Nguyễn Viết Toại đóng giữ. Theo lệnh của ông, nghĩa quân bình tĩnh đợi địch tới gần mới bắn chéo cánh sẻ chặn lại. Một số người trong đội cảm tử nấp ở bên trong, tay cầm mã tấu, chờ chúng mạo hiểm leo lên thành là nhảy ra tiêu diệt. Một số lớn binh lính trong toán quân dẫn đầu của chúng đã bị chết và bị thương. Lá cờ tam tài của địch được bọn lính lê dương mang cắm trên bờ thành đã bị nghĩa quân chém văng xuống đất cùng với xác những kẻ liều lĩnh.

Để lừa giặc dẫn thân vào chỗ chết, Nguyễn Viết Toại cho cắm lá cờ đỏ trên cành cây đa trong thành vừa tầm mục tiêu của ụ súng nghĩa quân. Quân địch đóng ở phía ngoài tưởng rằng các toán trước đã đột nhập được vào thành nên hăm hở tiến lên theo hướng đó nhưng bị tiêu diệt nặng. Tên trung tá Đốt chỉ huy mặt trận phía bắc phải ra lệnh lui quân. Nhưng cánh quân ở giữa lúc đó đã bị sa lầy, không thể rút lui được an toàn nếu không có viện binh. Ruộng nước bùn sâu, lại bị nghĩa quân bắn rát, nhất là vào những nơi tập trung lính Pháp, nên toán quân cứu viện không thể nào tiến lên được. Trong lúc địch bị lúng túng hoảng hốt, đồng thời cũng là lúc pháo binh của địch chưa dám phát hỏa vì sợ bắn vào nhau, thì đội cảm tử của nghĩa quân đã dũng cảm xung phong ra ngoài thành tiêu diệt thêm một số.

Kết thúc trận đánh này, địch đã bị tổn thất nặng, 4 sĩ quan Pháp bị thương và bị chết cùng một số đông binh linh1.

Sau trận đánh lần này, địch nhận thấy không thể dễ dàng tấn công chiếm lĩnh nhanh chóng trận địa của nghĩa quân. Tên tổng chỉ huy Brít-xô rút kinh nghiệm việc đánh thành Puy-ê-bla ở Mê-hi-cô năm 1863, chủ trương bao vây nghĩa quân chặt chẽ bằng hai phòng tuyến. Tuyến ngoại vi dọc theo bờ đê sông Đào có nhiệm vụ che chở cho quân địch những cuộc tấn công phối hợp của nghĩa quân từ bên ngoài vào. Tuyến tiền tiêu bên trong dùng làm bàn đạp để dần dần thắt chặt vòng vây lại.
_______________________________________
1. Theo lời các cụ bô lão ở Ba Đình kể lại thì địch đã phải dùng tới 10 thuyền ván để chở xác chết và binh lính bị thương trong trận này. Tuy vậy, một số lớn xác chết địch vẫn không lấy được. Về sau nhân dân lấp mỗi hố vài chục tên chung quanh làng, gọi là mả Tây.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2016, 08:20:38 PM

Chúng một mặt đưa nhiều dây thép gai từ Hà Nội vào, mặt khác ra lệnh cho cha Sáu phải ra sức cướp tre gỗ ở các nơi về để chúng lập hai phòng tuyến. Với sự cố gắng của tên tay sai đắc lực này, trong một thời gian ngắn chúng đã có đầy đủ nguyên liệu để xây dựng công sự kiên cố có mái che bên ngoài để có thể vây hãm được cứ điểm lâu dài, đồng thời có thể đứng vững được trước những cuộc tấn công của nghĩa quân từ bên ngoài đánh vào phối hợp. Theo kinh nghiệm của cha Sáu, đối với các đồn tiền tiêu chỉ cần xếp những sọt tre đựng rơm trộn bùn làm bờ tường của công sự cũng đủ chịu đựng sức công phá của hỏa lực nghĩa quân. Những nơi nào đồng chiêm ngập sâu thì chúng xây dựng công sự trên những bè nổi, từ bè này đến bè kia chúng dùng những cọc tre nhọn cắm dưới bùn để ngăn cản nghĩa quân vượt khỏi vòng vây và buộc nhiều đạc ngựa, chuông đồng vào dây thép, ban đêm hễ nghe tiếng động là bắn ra liên hồi. Có một vài chỗ quá sâu, chúng phải dùng thuyền hoặc tàu bọc sắt. Việc lợi dụng thuỷ triều xuống để rút hết nước trong cánh đồng chiêm đã giúp chúng có nhiều thuận lợi trong việc tiến hành xây công sự.

Rút kinh nghiệm đợt tấn công vừa qua, chúng biết rằng nghĩa quân bắn rất trúng. Nhưng vì tầm đạn của họ yếu, nên với hệ thống công sự của tuyến tiền tiêu này chúng có thể tiến sát được vào hàng rào tre để quan sát bên trong Ba Đình. Đồng thời, chúng còn cho chiến thuyền tuần tiễu suốt đêm ngày trên dòng sông Đào.

Tuy vậy, qua đợt tấn công vừa rồi, binh lực của chúng bị hao hụt nhiều, chúng chưa dám chắc lực lượng của chúng đã có thể đè bẹp được nghĩa quân. Cho nên Brít-xô đã nhiều lần điện về bộ tổng chỉ huy xin thêm quân, nhất là xin thêm đại bác để bước vào đợt công phá mới. Ngoài ra, chúng còn ra lệnh cho các đồn ở Thanh Hóa phải tăng cường càn quét bên ngoài, nhằm mục đích vừa gây hoang mang trong nhân dân, vừa giam chân những toán nghĩa quân bên ngoài để hạn chế sự chi viện của họ đối với Ba Đình. Chúng còn ra sức khủng bố gia đình những người lãnh đạo nghĩa quân và không từ một thủ đoạn hèn hạ nào để uy hiếp tinh thần họ. Chúng đã đào hai ngôi mộ ông và cha của Trần Xuân Soạn lấy xương xếp ở giữa đường, rồi sai người đến dọa ông: "Nếu không ra hàng thì hủy hết những mớ xương ấy". Nhưng ông đã không thèm trả lời và chúng liền đem tất cả xương quăng xuống sông1. Tinh thần bất khuất của Trần Xuân Soạn đã cổ vũ rất nhiều nghĩa quân đóng bên ngoài Ba Đình. Họ đã hoạt động khá mạnh để ủng hộ Ba Đình. Trần Xuân Soạn đã cho nghĩa quân dưới quyền gồm 300 người đóng ở Thạch Bằng (Quảng Hóa) và hàng trăm người đóng ở Mã Cao phục kích những toán quân lẻ hoặc chặn đánh các đoàn tiếp tế của địch, một mặt để gây khó khăn cho địch về lương thực ở Ba Đình, mặt khác để hạn chế những hoạt động của chúng ở các đồn lẻ. Ông cũng đã cho quân tấn công vào phòng tuyến ngoại vi của địch. Nhưng các trận tấn công đó không có kết quả mấy, vì phòng tuyến của chúng khá kiên cố, chúng lại có hỏa lực mạnh để yểm hộ. Tuy vậy, việc giao thông và tiếp tế của địch cũng đã gặp rất nhiều khó khăn. Chúng đã phải thú nhận rằng chỉ có những đội liên lạc do cha Sáu tổ chức mới được an toàn, tên này rất xảo quyệt bao giờ cũng tổ chức những toán giao thông ít nhất là hai người, nếu người này bị bắt thì vẫn còn người kia để tiếp tục làm nhiệm vụ. Địch cũng thừa nhận rằng những trận tấn công của Trần Xuân Soạn vào phòng tuyến ngoại vi và những trận phục kích các toán quân lẻ và các đoàn xe tiếp tế của chúng từ ngoài Bắc vào đã làm chúng lo ngại. Nhưng sau đó Trần Xuân Soạn không biết phát huy các kết quả đầu tiên mà chỉ cho nghĩa quân đứng cách xa Ba Đình bắn vào thị uy hoặc dùng kế nghi binh để uy hiếp tinh thần địch. Trong thư gửi lên vua Hàm Nghi, Đinh Công Tráng tỏ ý trách Trần Xuân Soạn đã không tích cực chi viện cho Ba Đình.
_______________________________________
1. Nguyễn Thượng Hiền, Giọt lệ bể dâu trong thơ văn Nguyễn Thượng Hiền (Lê Thước - Vũ Đình Liên dịch, chú thích và giới thiệu), Hà Nội, 1959, tr. 136.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười Một, 2016, 08:20:59 PM

Địch vẫn không bị ngăn trở nhiều trong việc tổ chức bao vây căn cứ và kết quả là Ba Đình đã trở thành một hòn đảo bị cô lập và tách rời khỏi nhân dân. Nắm được nhược điểm đó, địch càng kiên trì kế hoạch bao vây. Mặc cho nghĩa quân khiêu khích, dùng loa thách đánh, xỉ vả thậm tệ, chúng vẫn tiếp tục đào công sự dưới sự yểm hộ của đại bác. Cha Sáu còn bày kế cho chúng dùng những bồ lớn nhồi đầy rơm nhào bùn rồi lăn về phía trước cho quân của chúng tiến sát theo sau và từng ngày, từng giờ vòng vây của chúng xung quanh căn cứ Ba Đình càng thắt chặt lại.

Tuy vậy, địch cũng gặp rất nhiều khó khăn. Quân lính của chúng phải nằm suốt ngày đêm trong các công sự dưới trời mưa rét, lương thực, thuốc men đều thiếu thốn, cho nên sức khỏe của chúng bị sút kém khá nhanh, tỷ lệ đau ốm khá cao. Nỗi kinh sợ lớn nhất của chúng là phải dầm mình dưới bùn lầy trong những ngày mưa dầm gió bấc, hoặc phải chịu đựng những đêm đông rét thấu xương trong những chiến hào đầy muỗi và hôi thối. Tư tưởng bi quan, tinh thần mệt mỏi ngày một lan tràn trong hàng ngũ binh lính địch. Đồng thời, những tin tức bại trận bay về Pháp cũng làm cho dư luận bên đó xôn xao.

Để che giấu những thất bại của chúng, bọn thực dân Pháp ở thuộc địa ra lệnh cho Brít-xô phải tiêu diệt Ba Đình bằng bất cứ giá nào. Để thực hiện được ý đồ đen tối đó, chúng đã gửi cho hắn thêm viện binh và đại bác. Lực lượng của địch lúc này lên tới 78 sĩ quan, 3.530 lính Pháp và ngụy. Có thêm viện binh, Brít-xô tăng cường bắn đại bác, vừa để phá huỷ công sự của nghĩa quân, vừa để bảo vệ cho công binh của chúng đang ngày đêm đào công sự tiến dần vào vị trí. Rồi từ những chiến hào đó, địch chia thành 3 mũi nhọn tiến sát thành luỹ nghĩa quân: hai mũi ở khu vực Mét-danh-giê và một mũi ở khu vực Đốt. Ngày 15 tháng 1, những toán công binh dẫn đầu các mũi nhọn chỉ còn cách độ vài trăm thước thì đến vị trí nghĩa quân.

Nhưng địch vẫn chưa nắm được sự bố trí công sự bên trong vị trí nghĩa quân ra sao. Luỹ tre xanh lá rào kín khu căn cứ vẫn che giấu toàn bộ các công sự bên trong, bề ngoài trông giống một con nhím khổng lồ nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Cho đến lúc đó, chúng cũng chỉ mới phỏng đoán được rằng chiến luỹ dài độ 1.200 mét, rộng độ 400 mét. Nhưng đến đây, địch bắt đầu bị chặn lại vì luồng đạn bắn rát và chính xác của nghĩa quân từ bên trong bắn ra. Chúng chỉ còn biết chúi đầu trong các công sự hay nằm dí sau những sọt rơm trộn bùn. Hễ tên nào liều lĩnh nhô đầu ra khỏi công sự là lập tức bị trúng đạn. Chúng muốn nhặt để chôn cất những xác chết trong những trận đánh đầu tiên đã thối rữa ở chân các hào tre cũng không tài nào làm được. Do đó, mặc dù bọn sĩ quan hết sức đốc thúc dân phu và binh lính, công việc đào công sự tiến triển rất chậm. Không những vậy, thừa lúc đêm tối, để giành phần chủ động nghĩa quân còn bất thần phản công cực kỳ mạnh mẽ từ trong ra. Để đôi phó lại, chúng chỉ còn cách nằm cố thủ trong các công sự hay trong chiến hào và dùng ưu thế của hỏa lực để khống chế nghĩa quân nhưng cũng không tránh khỏi bị nhiều tổn thất nặng nề.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2016, 09:09:38 AM

Câu hỏi 10: Trình bày diễn biến, kết quả những trận đánh của nghĩa quân do Đinh Công Tráng lãnh đạo đối phó với các đợt tấn công của địch vào căn cứ Ba Đình?
Trả lời:


Cả ta và địch đều gấp rút chuẩn bị cho đợt quyết chiến ác liệt. Theo kế của cha Sáu, giặc cho lập những pháo đài nổi bằng rơm bùn để tiến sát Ba Đình. Chúng khép chặt vòng vây, chặn hết các ngả chi viện của ta, thả quân càn quét các làng, cướp của giết người man rợ. Chúng thúc dân phu đào thêm hào, đắp thêm công sự chuẩn bị thuyền bè, xin cấp thêm vũ khí và hai tàu chở xăng dầu để thực hiện một trận chiến: Chặn viện - hỏa công - công thành.

Đinh Công Tráng củng cố hầm hào, công sự, bố trí lực lượng canh phòng ngày đêm nghiêm ngặt, chuẩn bị lương khô. Đinh Công Tráng còn cho người gặp Trần Xuân Soạn yêu cầu hỗ trợ, cử người về các làng vận động nhân dân khua trống mõ quấy rối phía ngoài khiến giặc mất ăn mất ngủ và bắn hao phí đạn dược. Đinh Công Tráng tổ chức các nhóm nghĩa quân lẻ dựa vào đầm lầy, đánh chớp nhoáng các toán quân và sĩ quan địch đi kiểm tra, tuần tiễu, khiến chúng không dám mạo hiểm tới gần cứ địa. Ông chuẩn bị cho một trận đánh lớn thắng lợi giòn giã khi giặc mở đợt tấn công đại quy mô vào Ba Đình rồi rút một cách bất ngờ ngay sau trận đánh đó.

Trận thứ nhất: Giặc tổng công kích từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 1 năm 1887. Sau khi có thêm viện binh, vũ khí và đạn dược, Brít-xô họp các tướng lĩnh tuyên bố: Hiện nay hai pháo hạm A-ra-lăng-sơ và Bốt-săng đang chở dầu tới, đạn sẽ có thêm nhiều. Pháo hạm Et-tôc và Ma-lông cùng các đơn vị pháo còn mười sáu nghìn quả đại bác và súng cối. Bắt đầu từ năm giờ sáng nay, mọi họng súng đều hoạt động. Bắn! Bắn liên tục! Bắn dồn dập! Bắn cho hết đạn thì thôi, bắn cho cái thành đất kia nát vụn không một cỏ cây, một sinh vật nào sống nổi. Khi có lệnh đánh thành chỉ có tiến không có lùi! Kẻ nào lùi bắn bỏ. Sĩ quan bỏ chạy tử bình! - Hắn nhấn mạnh từ "tử hình", có ý cảnh cáo trung tá Đốt ở trận trước đã bỏ chạy.

Giặc nói là làm. Đúng năm giờ sáng ngày 18 tháng 1 năm 1887, Ba Đình đang tĩnh lặng bỗng rền vang như sấm sét. Lửa khạc ra từ bảy trận địa pháo và trên tàu chiến nhoang nhoáng. Đất trời Ba Đình nghiêng ngả như muốn tan vỡ ra từng mảng. Không khí cháy bỏng sôi sục quyện lẫn với ánh nắng trời làm cho không khí trở nên ngầu đục giữa những lớp khói và bụi đất vần vũ bay lên từng đợt. Giặc đã biến buổi bình minh êm ả của thiên nhiên thành buổi bình minh khói lửa chuyển đất long trời. Hai ngày đêm, tiếng rú và tiếng nổ của đại bác rền vang không ngớt. Hai ngày đêm, Ba Đình không thể trở mình được. Ba Đình nín thở trong cơn động đất man rợ. Ban đêm chớp lửa từ những nòng pháo như những thanh kiếm dài rạch nát đất trời. Ba Đình như một chiếc đe thợ rèn vĩ đại, lửa toé ra xé rách màn đêm. Đất trời rung lên bần bật. Brít-xô hy vọng bắn phá bằng pháo hạng nặng suốt 48 giờ cái thành đất kia sẽ tan tành.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2016, 09:10:10 AM

Trên mười lăm năm sáp trận đánh bọn Tây dương kể cả trận Cầu Giấy, giữ thành Sơn Tây, Nam Định và ở quê nhà, chưa bao giờ Đinh Công Tráng gặp một trận pháo kích ác liệt, man rợ như vậy. Đại bác xé tai, nhức óc không lúc nào ngừng. Người ông đầy bụi đất. Ông nhắc đốc Khế chú ý những nơi hiểm yếu. Nếu thành vỡ thì lấy sọt rơm bùn dự trữ đắp lên ngay, không để cho giặc nhìn thấy khoảng thành vỡ mà đổ quân lên. Hoặc có thể lừa giặc xem chúng bắn dồn vào đâu là chính thì làm như ta sơ hở để giặc đổ quân vào đó. Cần giữ chòi canh. Cái nào đổ cho dựng lại ngay. Chặt nhiều chuối đưa về chân thành. Đặc biệt là lá cờ Đại, linh hồn của cứ địa, không một lúc nào ngừng tung bay.

Đại tá Brít-xô không thể đứng yên một chỗ. Phía Ba Đình lửa khói bốc ngụt trời. Song cái thành đất kia vẫn sừng sững không một mảng tường đổ. Grô-phơ, đại úy công binh nói: Mọi loạt đạn đều rất chính xác. Trung tá pháo binh Xten-giơ chỉ huy thật cừ khôi. Thế nhưng cái thành quỷ quái vẫn đứng vững. Thần thoại chăng? Có thật thành kia chỉ xây bằng rơm bùn sọt đất chăng?

Những thùng dầu lửa từ các chiến hạm được dân phu chuyển đến. Bọn lính công binh nối các vòi rồng lại, phun dầu vào các hàng rào ngoại vi. Dầu lênh láng. Một chiếc thuyền chở đầy dầu lửa và chất dễ cháy lao vào phía hàng tre. Rồi lửa bùng lên lan rộng trên mặt đất, mặt nước. Lửa cháy thành một vòng đai từng đoạn, từng đoạn quanh Ba Đình. Trời khô hanh, lửa càng bốc mạnh. Cùng lúc, đại bác lại nổ từng loạt như sấm dậy. Trong Ba Đình lửa khói bốc lên cuồn cuộn lúc đỏ ngòm, lúc ngầu đục. Ngoài Ba Đình lửa cháy tới chân thành. Grô-phơ hết sức thoả mãn về trận công thành trong vòng đai lửa này. Thành đất kia dù cái gì ẩn náu bên trong cũng không chịu nổi những luồng pháo từ trên ập xuống và lửa nóng từ bên ngoài cháy vào. Ba Đình như trong một trận động đất, một núi lửa.

Quân giặc nhung nhúc ngập ngụa các chiến hào. Brít-xô muốn hắn phải là người đầu tiên vào Ba Đình, tận mắt nhìn xác Đinh Công Tráng và đếm xác các tướng Ba Đình. Nhưng khi hướng ống nhòm vào thì kỳ lạ thay! Lá cờ rộng bản dệt bằng cói Nga Sơn vẫn ngạo nghễ tung bay kiêu hãnh. Hắn buốt óc, đã pháo kích bao trận mà lá cờ vẫn vươn mình thách thức. Hàng rào tre cháy trụi, đen thui như lông nhím xù ra như những mũi lao sắp phóng vào mắt hắn. Hết hỏa công nhưng pháo kích vẫn điên cuồng dữ dội. Bụi khói vẫn cuồn cuộn ngút trời nhưng lá cờ vẫn ngạo nghễ. Hai dải lụa màu ghi hai câu đối tung cánh trên nền trời như hai thanh kiếm hộ cờ kiêu dũng.

Brít-xô rít lên ra lệnh bao vây ba chốt chính. Tập trung bắn phá và chiếm thành ngay, ai lùi bắn chết tại chỗ. Sau đợt đại bác cuối cùng, hắn ra lệnh nhất loạt nổ súng rồi tràn qua các hàng rào tre cháy trụi. Nhưng trước mặt chúng là những hàng chông ngập lút đầu người và bờ thành chông tre tụa tủa như gai bồ kết, dày đặc như giàn mướp. Ba tòa thành như con nhím khổng lồ xù lông chờ đối thủ. Thành vẫn im lặng. Im lặng một cách khủng khiếp! Quân giặc vón cục quanh thành. Brít-xô đâm hoảng. Chúng tìm cách vượt rào. Vẫn im lặng. Im lặng một cách đáng sợ. Im lặng đến rợn người!


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2016, 09:10:31 AM

Bỗng trong thành một tiếng pháo lệnh dậy trời. Tiếp theo là tiếng súng, tiếng mõ vang động cả một vùng, làm xáo động cả bầu không khí đang hầm hập khói đạn đại bác và súng trường. Tiếng hò reo như sấm dậy. Hàng loạt tên giặc vừa vượt rào ngã gục xuống. Chúng vứt cả thang, ván gỗ chạy nhào lại, bị trúng chông ngầm giãy giụa kêu khóc. Nước sủi lên ùng ục, đỏ ngầu máu. Hào, rào tre vừa cháy trụi trở thành kẻ phản giáo đâm vào lũ giặc. Chúng trở thành những bia thịt, hỗn loạn dẫm đạp lên nhau bỏ chạy. Grô-phơ một tay đẩy thuyền, một tay gạt bọn lính trở lại bị trúng đạn gục xuống thành thuyền. Cai Vinh phải cõng hắn vượt vòng tên đạn chạy về. Từ Thượng Thọ, quân ta hô to: Mở cổng thành tiêu diệt giặc. Nghĩa quân dùng đoản đao, kiếm, thanh quát lao ra như tên bắn, chém xa xả vào giặc. Lưỡi kiếm căm thù huơ lên chém xuống loang loáng trong ánh nắng. Giặc chạy tán loạn. Bọn sĩ quan bắn gục một vài tên lính để xốc quân trở lại nhưng không thể được. Chúng vẫn cứ chạy, dẫm đạp lên nhau, chen lấn nhau mà chạy, bất chấp lệnh của sĩ quan. Brít-xô - kẻ đã hạ lệnh "ai chạy bắn bỏ" cũng vội vã bỏ chạy. Trung tá Đốt hoảng quá cũng nhảy xuống chiến hào, rơi cả súng lục. Kết cục trận hỏa công - công thành - diệt viện mà Brít-xô rất đắc ý đã thất bại thảm bại. Trung tá Đốt báo cáo: 5 sĩ quan, 280 lính Âu bỏ mạng chưa kể lính triều đình và giáo dũng. Ngót hai vạn quả đại bác, xăng của hai tàu biến thành mây khói.

Brít-xô đã gọi Đinh Công Tráng là một con người đáng gờm. Nhất là cách bố trí quân phòng ngự. Hắn tham gia đã nhiều trận nhưng thật chưa đến mức gay go như Ba Đình. Hắn cho rằng cách phòng ngự của nghĩa quân thật kỳ lạ, độc đáo thì đúng hơn.

Tên Đốt phải công nhận rằng nghĩa quân Ba Đình đã chọn một địa điểm thật đặc biệt. Khi mới nhìn thì thấy đây là một căn cứ mà thủ lĩnh nghĩa quân tự tìm đến cái chết. Đó là một sai lầm nghiêm trọng về quân sự khi phải đối phó với đội quân viễn chinh của Pháp. Nhưng khi đi vào trận đánh thì cách bố trí kỳ lạ, độc đáo đó, tên Đốt mới thấy được nghệ thuật cầm quân của người chỉ huy căn cứ.

Brít-xô nói về Đinh Công Tráng: Đinh Công Tráng là người thế nào? Để tổng quát lại ta phải xem xét ông trong toàn bộ cuộc đời trận mạc và so sánh ông với bọn quan lại triều Nguyễn. Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách thắng mà. Người An Nam có nhiều loại. Quan triều vua chúa thì nhát như thỏ đế. Họ cúi đầu, rụt cổ quy hàng, có bảo họ dâng cả đất nước, thậm chí dâng cả vợ và con gái cho ta họ cũng làm. Nếu cứ như chúng, chỉ mấy phát súng là đã chiếm thành dễ như trở bàn tay. Và những cuộc hành quân chiếm đất của chúng ta chỉ là buổi dạo mát. Nhưng dân An Nam quả là gan góc đáng sợ, nhất là bọn sĩ phu áo dài khăn lượt chỉ biết cầm bút lông nói lời Khổng Tử không hề được học binh thư võ trận, đấu kiếm múa gươm, vậy mà gan dạ mưu trí vô cùng. Đinh Công Tráng chỉ là một người bình dân ở hàng cai tổng, đâu đến tam trường, chưa học binh thư, chưa bày binh bố trận, vậy mà đi đến đâu cũng đứng đầu các hàng quan lại, làm thủ lĩnh. Tráng rèn binh nhanh chóng, kỷ luật nghiêm minh. Tướng sĩ dưới trên tử sinh một dạ. Tráng có kinh nghiệm đắp luỹ can thành độc đáo, sáng tạo, giỏi cả đánh đồn, giữ cứ, chống càn. Trong trận mạc, Tráng xông pha, dũng mãnh, biến hóa khôn lường. Nếu Tráng cũng có vũ khí hiện đại, có người cứng cáp phù trợ vị tất ta đã thắng nổi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2016, 09:10:50 AM

Trận thứ hai: Đánh giặc để rút khỏi Ba Đình đêm 20 tháng 1 năm 1887.

Sau nhiều trận chiến ác liệt, xác giặc không lấy hết bị thối rữa. Từ khi giặc phá cống Hối Cái, nước quanh Ba Đình càng hôi thối hơn. Nước trong thành cũng bị ô nhiễm, Đinh Công Tráng quyết định: Công để rút. Ông nói với các tướng lĩnh: Giặc như đó sa trà cuốn thì ta như cá lặn rồng bay. Lâm trận như thiêu thiên hỏa - Giả trận như vô hình và tấn như tẩu thạch phi sa la như thiên tàn địa ám.

Đêm khuya, Bọn Tây dương đang ngủ ngon giấc. Vào giờ Hợi, từ Giao Thụy có pháo lệnh, rồi Thạch Đàn, Sa Liễn tiếp theo. Kế đó là tiếng reo hò của quân quan Tả Dực và Cao Điền kéo về núi Sến, Thanh Đàn. Súng nổ loạn xạ vào sở chỉ huy của Mét-danh-giê. Cũng lúc đó, Xã Giã đánh vào Ngọc Lân, Tuấn Đạo, Nghi Vịnh. Lửa đuốc cũng rực lên ở Hợp Long, Hoàng Thổ cùng với chiêng trống, thanh la, mõ vang lên cả một vùng. Binh lính giặc bàng hoàng. Đinh Công Tráng truyền lệnh tung binh đánh thẳng vào Tuấn Đạo. Từ Ngọc Lân, Sa Liễn, Xã Giã đánh vào. Từ Thượng Thọ, Đinh Công Tráng đánh ra, Brít-xô bị kẹp giữa hai gọng kìm. Grô-phơ, Đốt, Mét-danh-giê, Mát-xông đều hoảng hốt. Ba cánh quân của nghĩa quân đánh thẳng vào sở chỉ huy giặc rồi như ba con rồng cất cánh bay đi giữa tiếng chuông, tiêng trống vang lừng. Lãnh Phi kịp đón phía Thạch Lôi. Lê Khắc Thảo khép hậu quân. Nghĩa quân vượt sông Hoạt về Mã Cao. Chờ khi đội thứ nhất vào trận, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Lê Toại lãnh đạo đội thứ hai gồm những người sức yếu sẽ rút lui về Hậu Lộc. Lãnh Khê kìm giặc bị hy sinh. Đêm 20 tháng 1 năm 1887, nghĩa quân rút lui theo chiến thuật "hỏa dậy long trầm" thắng lợi, để lại nhiều xác giặc chết, nhất là đầu cầu vải (cầu bắc bằng vải cho nghĩa quân qua sông) sau này gọi là cầu Tây, vì ở đây nhiều Tây chết. Bên ta thương vong một số. Riêng cụ đầu sứ Phan Cư quyết ở lại cứ địa, đốt lửa nhử giặc tử chiến với chúng, quyết chiến đấu tới cùng.

Ngày hôm sau, giặc vào phá thành, khủng bố nhân dân dã man. Đại úy Grô-phơ chỉ huy đốt thành bị thương nặng được phong thiếu tá. Tháng 1 năm 1922, tức là sau 35 năm, Grô-phơ vẫn không hiểu nổi cách bố phòng của Ba Đình, Grô-phơ quyết định trở lại Đông Dương để tận mắt nghiên cứu lại thành này. Y bắt dân Thanh Hóa đắp lại thành, khắc bia ca ngợi chiến công của hắn: Ngày 5 tháng 1 năm 1922, thống chế Grô-phơ - người đã chiến thắng quân đội Đức năm 1914 đã đến thăm nơi này để tưởng nhớ lại những chiến công đầu tiên của đại úy Grô-phơ vào tháng 1 năm 1887 tại Ba Đình.

Biết Đinh Công Tráng là một thủ lĩnh nghĩa quân có uy tín, tài ba - một mối nguy cho lũ bán nước và cướp nước nên kẻ thù quyết tâm truy kích tiêu diệt. Tới Mã Cao, Đinh Công Tráng cùng Hà Văn Mao củng cố hầm hào chuẩn bị đối phó. Biết Đinh Công Tráng rút về Mã Cao, giặc lập tức truy kích để tiêu diệt. Chúng chia thành hai đạo. Một đạo do trung tá Đốt chỉ huy gồm có 31 sĩ quan, 578 lính Pháp, 855 lính ngụy và 1.034 dân phu. Một đạo do trung tá Mét-danh-giê chỉ huy gồm 19 sĩ quan, 308 lính Pháp, 448 lính ngụy và 641 dân phu. Bộ chỉ huy truy kích gồm 9 sĩ quan với lực lượng 11 lính, 72 dân phu, một đại đội công binh do đại úy Grô-phơ chỉ huy.

Ngày 2 tháng 2 năm 1887, cuộc chiến diễn ra, Đinh Công Tráng, Hà Văn Mao chỉ huy bảo vệ cứ địa dũng liệt. Nhưng biết không giữ nổi, nghĩa quân phải rút lui để bảo toàn lực lượng. Tối 2 tháng 2 năm 1887, giặc vào được thành thì nghĩa quân đã rút hết lên Thọ Xuân, Ngọc Lặc. Giặc tiếp tục truy kích, Đinh Công Tráng phải lánh sang Thượng Lào rồi về Nông Cống. Sau đó, ông vào Nghệ An liên hệ với Hương Khê đánh Pháp lâu dài nhưng bị đánh úp bất ngờ. Đinh Công Tráng đã anh dũng hy sinh đêm ngày 5 tháng 10 năm 1887 tại làng Trung Yên, Đô Lương, Nghệ An.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2016, 09:11:47 AM

Câu hỏi 11: Trước tình hình bi đát của giặc Pháp tại Ba Đình, Chính phủ Pháp rất lo lắng chỉ thị cho Brít-xô phải hạ bằng được căn cứ Ba Đình. Cho biết hành động của quân Pháp và cuộc rút lui an toàn của nghĩa quân Ba Đình?
Trả lời:


Trước tình hình liên tục thất bại của Pháp tại Ba Đình như vậy, dư luận nước Pháp lại càng xôn xao. Chính phủ Pháp quyết định: Brít-xô chỉ được báo cáo về Pháp khi đã thắng lợi hoàn toàn. Bản thân Brít-xô cũng đã rất mệt mỏi, chán nản sau những ngày đêm chiến đấu căng thẳng, quyết liệt. Hắn lo sẽ bị đánh gục ở Ba Đình với khí hậu ẩm thấp và bệnh tật trước khi hạ được thành. Để khỏi ngã lòng binh sĩ đang hoang mang, hắn vẫn phải hàng ngày tự mình đi tuần tra xem xét các vị trí và động viên binh sĩ. Mặc dù vậy, tình hình đội quân xâm lược ngày càng thêm bi đát. Số bị thương và đau ốm tăng lên rất nhiều. Những người còn khỏe cũng không khỏi suy nghĩ đến số phận của mình khi thấy đồng đội ốm đau, bị thương mà thuốc men, lương thực đều thiếu thốn. Không khí ở trận địa lại càng khủng khiếp vì các xác chết không được chôn vùi, một số lớn đã trương lên và gây mùi hôi thối ghê tởm. Tình hình lính ngụy và dân phu lại càng bi đát hơn. Bị giặc Pháp đối xử tàn tệ lại luôn được nghĩa quân kêu gọi, một số trong họ - nhất là dân phu đã lợi dụng những đêm tối trời để bỏ trốn.

Nhận thấy không thể nào kéo dài được cuộc vây hãm Ba Đình, Brít-xô nghĩ đến những biện pháp táo bạo nhất để tiêu diệt căn cứ, mặc dù biết rằng sẽ bị tổn thất nhiều. Trong những ngày bao vây, chúng bắt được một số nghĩa quân và sau những cuộc tra tấn dã man đã khai thác được một số tài liệu và tin tức. Nhờ đó, chúng đã vẽ được sơ đồ chiến lũy Ba Đình và lấy được một số tình hình nghĩa quân. Đồng thời, nước trong cánh đồng chiêm đã bị tháo cạn, cuộc tấn công sắp tới vì vậy cũng thuận lợi hơn trước. Lần này, Brít-xô chủ trương thay đổi hướng tiến công ba mũi nhọn và tập trung tấn công vào vị trí bắc Thượng Thọ. Hắn ra lệnh cho pháo binh bắn dữ dội vào đó để phá vỡ chiến lũy và mở đường cho quân tiến. Nhờ có pháo binh, chúng hạn chế được phần nào hỏa lực của nghĩa quân.

Tuy vậy, trận địa của nghĩa quân vẫn không hề nao núng. Nấp kín sau lũy tre dày, nghĩa quân theo dõi nghiêm ngặt những hành động của bọn giặc bên ngoài và những loạt súng bắn trả lại họ tuy thưa nhưng rất chắc và trúng. Trong thư gửi vua Hàm Nghi, Đinh Công Tráng đã báo cáo lại diễn biến chiến sự tại mặt trận Ba Đình như sau: ''Tôi vẫn tiếp tục nấp kín trong đồn để nhằm bắn vào bọn chúng và bọn chúng chết nhiều đến nỗi không còn dám tiến vào đồn nữa". Đặc biệt, ngay trong lúc chiến đấu quyết liệt nhất, người ta vẫn nghe vang lên tiếng trống chèo và tiếng loa vận động ngụy binh, xen lẫn tiếng đạn đại bác nổ dữ dội. Các đồn tiền tiêu của địch không đêm nào không bị nghĩa quân tấn công. Cho nên, nếu ban ngày chúng tiến thêm được một đoạn thì đêm đến chúng lại phải lùi ra để khỏi bị nghĩa quân tiêu diệt. Dưới ánh lửa của những đám cháy, quân Pháp chiếu ống nhòm nhìn vào trong chiến lũy và thấy nghĩa quân vẫn còn đông và sẵn sàng chiến đấu. Tinh thần dũng cảm của họ đã làm cho quân thù hết sức khiếp đảm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2016, 09:12:13 AM

Sáng ngày 20 tháng 1, toán binh tiến sát đến phòng tuyến thứ nhất của chiến lũy tre bao quanh Ba Đình. Sau khi đã nổ rất nhiều mìn để phá vỡ được từng mảng rộng hàng rào tre, chúng liều mạng xông lên, hy vọng sẽ được giáp mặt với nghĩa quân để tiêu diệt họ trong một trận giáp lá cà ác liệt. Nhưng trước mặt chúng là một hào sâu đầy nước cắm chông tre nhọn dày đặc, không thể nào nhổ lên được. Bọn công binh Pháp dùng vòi rồng phun dầu đốt những bụi chông đó. Tiếng tre nổ hòa lẫn với tiếng súng trường và đại bác tạo thành một âm thanh náo động, hỗn độn. Trong khi đó, đạn đại bác, đạn lửa vẫn tới tấp bắn vào tàn phá và đốt cháy Ba Đình. Bọn lính địch tuy bị chết rất nhiều, nhưng bọn chỉ huy vẫn lùa chúng dẫm bừa qua các xác chết để xung phong. Một số trong bọn chúng núp sau những sọt rơm trộn bùn tiến dần vào sát pháo đài. Đại bác, lựu đạn, quả nổ của địch bắn vào chiến lũy trong ngày hôm đó lên tới 16.000 quả.

Cuộc chiến đấu đã bước sang giai đoạn vô cùng ác liệt. Quân địch liều chết để cứu vãn khó khăn của chúng. Về phía nghĩa quân, trong những ngày địch bao vây, họ đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, gan dạ phi thường. Mặc dù bị thương vong nhiều nhưng những người còn lại không một ai chịu rời vị trí chiến đấu. Những đội quân cảm tử được thành lập nhanh chóng để kéo tới bổ sung cho những vị trí bị công phá mạnh nhất. Đại bác, đạn lửa, lựu đạn của địch phá hủy khá nhiều công sự của nghĩa quân nhưng họ đã nhanh chóng tu sửa khôi phục lại. Cuộc vật lộn của họ để xây dựng lại công sự trước hỏa lực mạnh mẽ của quân thù thật là gay go và ác liệt. Máu và mồ hôi của họ đã trộn với đất và bùn để tạo nên bức thành vững chắc mà vũ khí tối tân của địch không dễ gì khuất phục nổi. Nhưng cuối cùng để tránh khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn, nghĩa quân đã được lệnh bí mật lùi vào phía trong để chuẩn bị cho cuộc rút lui khỏi Ba Đình.

Theo thư của Đinh Công Tráng gửi lên Hàm Nghi thì ông chủ trương cố giữ Ba Đình đến cùng và muốn nhân đà địch lúng túng trên mọi chiến trường để phối hợp giữa trong và ngoài mà tiêu diệt chúng. Nhưng Trần Xuân Soạn, sau những trận đánh vào phòng tuyến ngoại vi của địch lại chủ trương rút khỏi Ba Đình để tránh bị tiêu diệt, nên chỉ đưa quân đến gần bắn thị uy hoặc dùng kế nghi binh để uy hiếp địch mà thôi. Do đó, tuy tinh thần chiến đấu của nghĩa quân vẫn được giữ vững và đạn dược, lương thực vẫn còn đủ để chiến đấu thời gian nữa, nhưng Đinh Công Tráng vẫn phải rút lui. Sự phối hợp tấn công giữa trong và ngoài như vậy đã không thực hiện được kết quả. Nghĩa quân Ba Đình cuối cùng đã bị cô lập, nằm trong thế bị bao vây.

Trong những ngày cuối cùng, mặc dù đêm nào nghĩa quân cũng phản công ra, nhưng không thể nào đánh lui được địch vì địch đã chiếm ưu thế tuyệt đối về vũ khí và còn vượt hẳn nghĩa quân cả về số lượng, ít nhất số quân của chúng cũng hơn gấp mười lần số quân của ta. Đồn Thượng Thọ có nguy cơ bị vỡ, các công sự lại luôn luôn bị phá hủy vì đại bác và đạn lửa của địch. Mặt khác, hàng ngàn xác giặc chết không chôn được ngổn ngang ngoài thành ngày một rữa nát, gây mùi hôi thối nồng nặc đã làm cho không khí và nước uống trong vùng bị ô nhiễm, các loại bệnh dịch tả và kiết lỵ chớm nở.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2016, 10:49:50 PM

Trước tình hình đó, Phạm Bành và Đinh Công Tráng họp hội nghị cấp tốc bàn kế hoạch bí mật rút khỏi Ba Đình như sau: Cho người vượt vòng vây trốn ra ngoài báo cho Trần Xuân Soạn cùng phối hợp chi viện cho nghĩa quân rút lui. Trần Xuân Soạn sẽ bí mật đưa quân về đóng tại Nga Thôn, chờ khi nghĩa quân Ba Đình bắt đầu rút sẽ đánh thốc vào vị trí địch để làm lạc hướng và chia cắt lực lượng chúng. Đồng thời, nghĩa quân ở ngoài còn phải chặn đánh các đồn địch xung quanh Ba Đình để giữ chân không cho chúng truy kích nghĩa quân trên đường rút về các thôn xóm.

Nghĩa quân trong chiến lũy sẽ chia làm hai đội. Đội thứ nhất gồm những người khỏe mạnh, dũng cảm do Đinh Công Tráng và Nguyễn Khê chỉ huy, có nhiệm vụ mở một con đường máu theo hướng tây bắc vượt qua sông Đào lên mạn Hà Trung rồi kéo về Mã Cao tiếp tục kháng chiến. Đội thứ hai gồm những người bị thương và ốm yếu do Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Nguyễn Viết Toại chỉ huy, đợi khi nào phía tây bắc đã bước vào cuộc chiến đấu quyết liệt kìm chân giặc về phía ấy thì bí mật bò qua cánh đồng bùn lầy ở phía nam, vượt sông Mã rút về Hậu Lộc, nhanh chóng phân tán trong nhân dân để tranh thủ dưỡng bệnh, nghỉ ngơi một thời gian, sau đó sẽ tìm đường lên Mã Cao. Để rút lui an toàn và ít tổn thất nhất, trước hết đại bộ phận đội thứ nhất sẽ theo Đinh Công Tráng vượt vòng vây ra ngoài, còn lại một bộ phận nhỏ gồm những người cảm tử do đốc Khê chỉ huy có nhiệm vụ chặn địch cho toàn đội quân rút. Đồng thời cũng lấy một số người xung phong ở lại trận địa, vừa giữ vững các vị trí, vừa nổi trống hát chèo như mọi hôm để làm kế nghi binh. Súng thần công và lương thực vì quá nặng không mang đi được sẽ đem chôn giấu hoặc vứt xuống nước để khỏi rơi vào tay địch. Nguyên tắc chung của việc chuẩn bị rút lui là phải thật bí mật, khẩn trương.

Chiều ngày 20 tháng 1 năm 1887, kế hoạch rút lui được phổ biến xuống tận các hiệp quản và nghĩa quân. Mọi người không khỏi nao nao buồn khi phải dời nơi họ đã đổ bao mồ hôi và xương máu để vật lộn sống mái với quân thù. Từng tất đất, từng gốc cây, ngọn cỏ cho đến những ụ súng, những chiến lũy đều ghi dấu chiến công của họ. Cảnh vật ở đây còn nhắc nhở họ nhớ đến sự hy sinh lớn lao của nhân dân địa phương, nhất là nhân dân Ba Đình, đã sẵn sàng dời đi nơi khác giao lại cho họ từ ngôi nhà nhỏ đến từng hạt gạo, hột muối, lọ mắm, vại cà để họ có thể chiến đấu với giặc. Khó xử nhất đối với người chỉ huy là những người xung phong vào toán quân cảm tử ở lại khá đông, vượt quá con số yêu cầu. Cảm động nhất là một số nghệ nhân chèo đã già yếu và một số nghĩa quân bị thương nặng không thể cùng rút lui theo đồng đội đã nhất thiết đòi ban chỉ huy phải đồng ý cho ra các vị trí chiến đấu làm nhiệm vụ nghi binh bảo đảm cho cuộc rút lui được thực hiện.

Đêm hôm đó là 27 Tết, trời tối đen như mực, mưa rét cắt da, nhưng cũng như mọi đêm, trong thành vẫn vang lên giòn giã tiếng trống chèo, tiếng hát, tiếng loa mắng giặc và vận động ngụy binh. Mọi đốm lửa bên phía công sự của giặc Pháp lộ ra đều bị bắn trả quyết liệt. Trên thành, nghĩa quân vẫn canh phòng như mọi ngày. Nhưng trong chiến luỹ, cuộc chuẩn bị rút lui được tiến hành rất khẩn trương. Toán này chôn cất vũ khí, lương thực; toán kia chuẩn bị cơm nắm ăn đường hoặc cùng nhau trao đổi kế hoạch rút lui.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Một, 2016, 10:51:55 PM

Bên ngoài, quân Pháp vẫn chưa hay biết gì về kế hoạch của nghĩa quân. Thường thường chúng bắn phá ban ngày, còn ban đêm thì chỉ lo canh phòng để ngăn chặn nghĩa quân rút lui. Thực ra chúng cũng rất sợ ban đêm, sợ nghĩa quân lợi dụng bóng tối để đột kích bất ngờ, nhất là từ khi những đồn tiền tiêu của chúng ngày càng áp sát chiến lũy. Cho nên chúng thường chúi đầu trong các công sự để vừa an toàn, vừa tránh được mưa rét, mỗi khi có động thì bắn loạn xạ để báo cho pháo binh từ xa bắn vào khống chế nghĩa quân.

Ở bên ngoài, việc thực hiện kế hoạch phối hợp cũng tiến hành thuận lợi. Chập tối, quân của Trần Xuân Soạn ăn mặc giả làm thường dân, từng toán vài ba người từ nhiều ngả đường đã bí mật kéo đến Nga Thôn.

Đợi đêm đã thật khuya - lúc đó vào khoảng canh ba - nghĩa quân Ba Đình có lệnh xuất phát. Lợi dụng mùa đông, trời mưa rét và tối đen như mực, họ lặng lẽ rút lui dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng. Những người dẫn đường đều là những nghĩa quân gan dạ, đã từng nhiều lần vượt phòng tuyến giặc ra ngoài liên lạc với Trần Xuân Soạn. Để khỏi lạc tuyến đường trong đêm tối, họ lần theo đường dây thừng mà đi1. Khi nghĩa quân bắt đầu rút thì đội quân cảm tử của đốc Khê bất thình lình dũng mãnh xung phong tấn công vào đồn địch. Bị tập kích bất ngờ, địch hoảng hốt vớ súng bắn loạn xạ vào nhau chết khá nhiều. Đốc Khê gan dạ, mưu trí, đã cùng đội quân cảm tử xung phong nhiều đợt và kiên quyết giữ vững vị trí đến cùng để chặn địch, bảo đảm cho đồng đội rút lui được an toàn. Bị thương nặng trong chiến đấu, ông vẫn cương quyết ở lại trận địa và bắn tới viên đạn cuối cùng mới chịu hy sinh. Còn phía bên ngoài, khi tiếng súng trong Ba Đình bắt đầu nổ giòn giã thì Trần Xuân Soạn cũng cho nghĩa quân xung phong tấn công các đồn ngoại vi của địch để chia rẽ lực lượng chúng. Cánh quân của Đinh Công Tráng nhờ đó đã vượt qua sông và rút lui lên được mạn bắc Thanh Hóa an toàn.

Lợi dụng lúc mạn tây bắc đang chiến đấu quyết liệt, Phạm Bành dẫn số quân còn lại vượt về làng Gũ (Cụ Thôn, Hà Trung) và được nhân dân địa phương vui mừng đón tiếp, đốt rơm cho nghĩa quân sưởi ấm và hong khô quần áo, dọn bánh chưng, thịt lợn chuẩn bị cho ngày tết mời nghĩa quân ăn. Nhưng Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Nguyễn Viết Toại đã buộc phải quyết định giải tán đội nghĩa binh, vì phần lớn anh em đều ốm yếu và bị thương sau một thời gian chiến đấu ác liệt. Trước khi chia tay với các chiến sĩ thân yêu đã từng chung lưng đấu cật với mình để sống mái với quân thù, các chỉ huy không sao tránh khỏi bùi ngùi và khuyên anh em hãy khôn khéo tránh khỏi sự theo dõi bắt bớ của giặc và giữ toàn khí tiết, để đợi lúc có thời cơ sẽ lại tiếp tục hành động. Sau đó, ngay trong đêm họ đóng những bè chuối hay tìm thuyền nan vượt qua sông trở về Hậu Lộc, từ đó tỏa về quê nhà cho kịp giờ đón giao thừa. Cuộc rút lui của nghĩa quân đã hoàn thành thắng lợi, âm mưu bao vây tiêu diệt nghĩa quân của địch đã thất bại.

Trong cuộc chiến đấu này, địch bị tổn thất lớn, xác chết ngổn ngang khắp các chiến hào. Bô lão trong vùng còn kể lại rằng để che giấu thất bại, chúng đã xếp xác xuống ba chiếc thuyền gỗ lớn che mui kín rồi chở đi nơi khác chôn, về phía nghĩa quân, theo tài liệu của Pháp, chỉ còn khoảng 150 người sống sót. Nhưng theo thư của Đinh Công Tráng gửi lên Hàm Nghi thì cho đến hôm rút lui, nghĩa quân hy sinh và bị thương chỉ khoảng 150 người2, trong đó có đề đốc Nguyễn Khế. Xác của đề đốc Nguyễn Khế, một trong những người chiến sĩ dũng cảm, kiên cường nhất của Ba Đình, sau được tìm thấy tại vị trí cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt nhất.

Tám giờ sáng ngày 21 tháng 1 năm 1887, sau những đợt tấn công dữ dội của đại bác, giặc Pháp mới dám lọt vào Ba Đình, khi tiếng súng của nghĩa quân đã im ắng từ lâu. Trong chiến lũy, địch không tìm thấy chút gì dùng được, từ một hạt gạo nhỏ đến một thanh mã tấu cùn, chỉ còn lại dăm ba nghĩa quân bị thương nặng không rút ra được.
____________________________
1. Có sách viết vì thiếu đay và cói, nghĩa quân đã xé nhỏ cả quần áo để bện thừng.
2. Mát-xông, Hồi ký về xứ An Nam và xứ Bắc Kỳ, tr. 225.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Một, 2016, 08:34:31 PM

Câu hỏi 12: Sau khi chiếm được Ba Đình, giặc Pháp đã ra sức đàn áp những người của nghĩa quân, hãy cho biết sự hèn hạ của bọn thực dân tay sai đối với nghĩa quân và tinh thần đấu tranh kiên cường của nhân dân ta?
Trả lời:


Giặc Pháp sau khi chiếm được Ba Đình đã ra sức khoe khoang chiến công của chúng. Tướng giặc Brít-xô ra lệnh triệt hạ ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh. Hắn còn bắt bọn phong kiến Nam triều đầu hàng xóa bỏ tên ba làng trong bản đồ.

Nhưng “tên Ba Đình không những không thể bị xóa mà còn được nêu bật lên trên bản đồ lịch sử chống Pháp của dân tộc Việt Nam"1.

Sau khi triệt hạ Ba Đình, giặc Pháp lập tức thành lập hai đội quân nhỏ để tiến hành càn quét vùng xung quanh, từ ngày 26 đến ngày 31 tháng 1. Nhưng không hề gặp được nghĩa quân, cuối cùng chúng đành phải để lại một đội để tiếp tục sục sạo khắp các hang hốc thuộc các ngọn núi quanh Ba Đình đến Đò Lèn. Mặt khác, chúng nối lại con đường giao thông Thanh Hóa - Ninh Bình, mà đường dây điện thoại đã bị cắt đứt có chỗ tới 10 kilômét. Chúng lập một đồn ở trên đường số 1 chỗ qua sông Đò Lèn để kiểm soát và bảo vệ con đường giao thông đó.

Không bắt được nghĩa quân, địch điên cuồng tiến hành một cuộc khủng bố trắng. Nguyễn Thượng Hiền kể lại: "Mùa xuân năm Đinh Hợi (1887), nghĩa binh Thanh Hóa đã bị tan, giặc Pháp hàng ngày tung quân ra sục tìm khắp nơi, thấy những người chạy trên đường hay ẩn trong núi đều bắt về cả, tra hỏi biết là nghĩa binh thì đem giết ở phía bắc tỉnh thành. Dân làng Thọ Hạc và những người già yếu thì bị xích tay điệu ra phía nam ngoài thành trên sông Bố Vệ (Cầu Bố), hai bên đầu cầu cắt lính canh giữ, cứ mỗi buổi chiều, viên quan binh Pháp lại đến hạ lệnh quang dần từng người xuống sông, thấy mỗi người chìm xuống nước thì lại vỗ tay vui cười, người nào còn ngoi ngóp vùng vẫy thì bắn luôn cho chết. Cứ như vậy, suốt 3, 4 tháng, nước sông Bố Vệ đỏ ngầu màu máu, không ai còn dám qua lại lối này"2.

Không bắt được Phạm Bành, chúng liền bắt mẹ và con ông giam ở Thanh Hóa để buộc ông phải ra hàng. Vì thương mẹ và con, ông đã giả vờ ra đầu thú để cứu mẹ và con, nhưng ngay sau hôm mẹ và con được tha ông đã uống thuốc độc tự tử để tỏ rõ khí tiết của mình, giữa sự tiếc thương của đồng bào3.
______________________________________
1. Trần Huy Liệu, Lịch sử tám mươi năm chống Pháp, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957, tr. 69.
2. Giọt lệ bể dâu - Sách đã dẫn, tr. 132-138.
3. Phạm Bành mất ngày 18 tháng 3 năm Đinh Hợi (11-4-1887). Nguyễn Đôn Tiết khóc ông:
        "Quân tử nhất sinh tâm khả bạch,
        Tướng quân tùy tử diện dơ hồng".

    Dịch:
        "Quân tử trọn đời lòng vẫn trắng,
        Tướng quân dù chết mặt còn hồng".
    Nguyễn Xuân Ôn, lãnh tụ phong trào chống Pháp ở Nghệ An lúc đó, đã ca ngợi ông như sau:
        "Khoa hoạn Thang châu đệ nhất môn,
        Gia huynh cựu thị cá kim côn.
        Thúy hoa thiên viễn ngô quân tại,
        Huyện thảo đường cao lão mẫu tồn.
        Nghĩ bả dư sinh phò quốc vận,
        Cánh tương nhất tử báo quân ăn.
        Anh hùng thành bại hà tu luận,
        Trực đắc cương thường vạn cổ tôn.

    Dịch:
        Khoa hoạn tỉnh Thanh bậc nhất nhà,
        Anh ông tiếng tốt nức gần xa.
        Phương trời cờ thúy vua ta đỏ,
        Nhà tá còn đây bóng mẹ già.
        Những muốn đem thân phò vận nước,
        Ngờ đâu một chết báo ơn vua.
        Cương thường giữ trọn ngàn đời kính,
        Xá kể anh hùng tiếng được thua.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Một, 2016, 08:38:07 PM

Lãnh binh Nguyễn Viết Toại chưa kịp trốn lên Mã Cao thì địch đã kéo tới làng vây bắt. Người anh hùng chẳng may sa cơ lọt vào tay giặc cũng không chịu khuất phục đầu hàng, ông đã hiên ngang cắn lưỡi tự tử. Nhân dân trong xã vô cùng cảm mến tấm gương yêu nước chống Pháp sáng chói của ông, sau Cách mạng tháng Tám thành công, đã lấy tên ông đặt tên làng1. Tán tương Hoàng Bật Đạt2 tạm lánh về quê nhà ở Hậu Lộc, bị giặc lùng bắt được đem về Thanh Hóa chém, rồi cắm đầu ông trên cây sào dài đưa về bêu ở đầu làng quê ông để uy hiếp tinh thần nhân dân. Một số chỉ huy nghĩa quân ở các huyện cũng bị bắn giết, ở Nông Cống, tán tương Nguyễn Phương tạm lánh ở rừng Như Xuân bị giặc bắt, đã cắn lưỡi tự tử3. Hai con ông, trong đó có đề đốc Nguyễn Quý, cũng hy sinh trong chiến đấu.

Ở Hoằng Hóa, Nguyễn Đôn Tiết4 bị bắt đày đi Lao Bảo và bị chết ở đó, con trai ông là Nguyễn Hiệu Tu trước đó đã hy sinh ở Ba Đình.

Ở Quảng Xương, tán tương Đỗ Đức Mậu ở làng Đông Đa cũng bị địch bắt chém đầu bêu ở đầu làng.

Nhưng bất chấp mọi thủ đoạn đàn áp tàn bạo của chúng, giặc Pháp vẫn không thể dập tắt được tinh thần yêu nước của nhân dân Thanh Hóa. Tên tuổi những chiến sĩ Ba Đình anh dũng vẫn mãi mãi ghi sâu trong lòng nhân dân Thanh Hóa và nhân dân toàn quốc đương thời cũng như về sau. Quân thù đã thú nhận lòng khâm phục của chúng trước tinh thần chiến đấu anh dũng và bất khuất của nghĩa quân Ba Đình. Tướng giặc Mát-xông đã phải ghi lại với những lời đầy cảm phục nhiều tấm gương chiến đấu ngoan cường của nghĩa quân hồi đó: Một ông hiệp quản đã anh dũng chiến đấu đến giờ phút cuối cùng, đến khi bị quân Pháp bắt chỉ xin được tự mình chôn cất thi thể chủ tướng của mình là đề đốc Nguyễn Khế, trước khi chịu chém. Một viên suất đội bị quân Pháp tra hỏi đã trả lời chúng: "Các ngươi đừng mất thì giờ tra hỏi ta làm gì vô ích vì không khi nào ta lại nói những điều có hại cho nước ta. Không may sa vào tay các người, các người muốn làm gì ta thì làm". Một vài nghĩa quân bị thương nặng lọt vào tay giặc, mặc dù bị tra tấn cực kỳ dã man, vẫn không chịu khai nghĩa quân chạy về hướng nào. Mát-xông đã phải kết luận như sau: Chúng tôi vừa kể một vài sự việc trong trăm ngàn sự việc như vậy mà chúng tôi đã được chứng kiến để nêu lên một ý niệm về tính cách của dân tộc Việt Nam và nếu chúng tôi chỉ nói đến sự dũng cảm của các tướng lĩnh thì cũng có thể nói thêm rằng dân chúng và những nghĩa quân bình thường cũng không thua kém các chỉ huy của họ chút nào về lòng dũng cảm và sự coi thường cái chết.

Quân thù đã dùng sắt và lửa để chiếm căn cứ Ba Đình. Nhưng chính chúng đã phải khiếp sợ trước tinh thần yêu nước mạnh mẽ và đã hoàn toàn thất bại trong âm mưu dùng vũ lực để hòng đè bẹp ý chí kháng chiến quyết liệt của nhân dân ta. Nhân dân Thanh Hóa với truyền thống yêu nước chống ngoại xâm oanh liệt của mình đã không chịu khuất phục mà còn phất cao ngọn cờ kháng chiến một thời gian dài về sau, làm cho bè lũ cướp nước và bán nước phải bao phen thất đảm kinh hồn.
____________________________________
1. Xã Lĩnh Toại (lãnh binh Lê Toại), huyện Hà Trung. Nay chia ra làm 4 xã: Hà Lĩnh, Hà Toại, Hà Hải, Hà Phú.
2. Hoàng Bật Đạt sau khi Ba Đình thất thủ đã tạm lánh về quê một thời gian, sau cùng một tùy tướng là lãnh binh Lê Văn Cộc tìm đường sang Trung Quốc. Nhưng bị một tên phản bội báo địch, ông bị vây bắt ở Chi Nê, đưa về giam ở nhà lao Thanh Hóa, sau đó xử chém. Con trai ông là Hoàng Văn Viễn sau tham gia phong trào Đông du của Phan Bội Châu.
3. Sĩ phu có bài thơ khen Nguyễn Phương như sau:
        “Ơn trời hai chữ tú tài,
        Gánh giang sơn nặng một vai với đời
        Xưa nay hào kiệt trên đời
        Cương thường là trọng, công lời kể chi”.

                                                (Bài ngoại mậu kiến liệt truyện)
4. Nguyễn Đôn Tiết còn có một người con là Nguyễn Đôn Dự đậu giải nguyên và tham gia phong trào Đông Du của Phan Bội Châu. Ông Dự cùng với người đỗ đầu xứ Thanh là Nguyễn Tưu, tú tài Trương Như Kiều làng Cổ Định (Nông Cống) chuẩn bị tiền nong để xuất dương; công việc nửa chừng bị lộ, ba ông bị bắt và bị đầy đi Côn Đảo, rồi Lao Bảo và chết ở đây. Đầu xứ Nguyễn Tưu là con thứ hai của Nguyễn Sự Chí, ông này đậu cử nhân khoa Quý Mão (1842), làm tri phủ Lý Nhân (Hà Nam Ninh), sau giữ chức tán tương quân vụ trong nghĩa quân Hùng Lĩnh và là cháu gọi vợ Tống Duy Tân là cô ruột.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Một, 2016, 08:39:56 PM

Câu hỏi 13: Sau khi rút khỏi Ba Đình, nghĩa quân đã hành quân lên Mã Cao. Cho biết về cách bố trí của hệ thống cứ điểm ở Mã Cao và vai trò của nó trong cuộc kháng chiến?
Trả lời:


Sau khi thực hiện trót lọt cuộc rút quân ra khỏi vòng vây dày đặc của quân thù, các chiến sĩ Ba Đình theo đúng kế hoạch đã hành quân cấp tốc về căn cứ Mã Cao. Băng qua một quãng đường dài 40 kilômét thuộc vùng đồng bằng và một phần của vùng trung du Thanh Hóa, nghĩa quân Ba Đình nhờ được nhân dân các địa phương hết lòng ủng hộ, bảo vệ chở che, đưa đường, cấp lương, đã nhanh chóng thực hiện cuộc chuyển quân về địa điểm tập kết.

Giữa năm 1886, tại hội nghị Bồng Trung (Vĩnh Lộc), các văn thân sĩ phu yêu nước tỉnh Thanh Hóa đã quyết định xây dựng hệ thống cứ điểm Ba Đình do Phạm Bành, Đinh Công Tráng phụ trách và hệ thống cứ điểm Mã Cao do Hà Văn Mao phụ trách. Nếu cứ điểm Ba Đình nằm gọn trong vùng đồng chiêm trũng là nơi hội tụ lực lượng nghĩa quân của các huyện vùng đồng bằng và ven biển thì hệ thống cứ điểm Mã Cao ở vùng đồi núi, sông suối lại là nơi tập trung các đội nghĩa quân miền núi và vùng trung du. Hai hệ thống cứ điểm trên nằm cách nhau khoảng 50 kilômét, nối liền hoạt động của những đạo nghĩa quân suốt từ vùng ven biển lên miền núi.

Hệ thống cứ điểm Mã Cao bao gồm nhiều đồn trại nằm sâu trong vùng đồi thấp, cây cối rậm rạp phía tây huyện Yên Định (nay thuộc huyện Thiệu Yên và huyện Thọ Xuân). Đồn Mã Cao là đồn lớn nhất, có nhiều đồn nhỏ bao quanh. Nếu lấy Mã Cao làm trung tâm và tính từ đó thì hệ thống cứ điểm này cách tỉnh lỵ Thanh Hóa 40 kilômét về phía tây bắc, cách huyện lỵ Thọ Xuân 5 kilômét về phía bắc, cách huyện lỵ Yên Định 12 kilômét về phía tây. Nhiêu cứ điểm nằm tựa hẳn vào sông Cầu Chày, một con sông nhỏ chảy luồn qua vùng đồi núi nhấp nhô, dòng sông chảy xiết tạo thành những bờ dốc đứng. Một số cứ điểm khác nằm khuất trong những vùng đất cây cối rậm rạp có đầm lầy bao bọc.

Đồn lớn Mã Cao của hệ thống cứ điểm được dựng trên khu đất Bãi Xưa, cách làng Đa Ngọc (thuộc xã Yên Giang huyện Thiệu Yên) khoảng 400 mét về phía tây, hình sáu cạnh, chu vi 800 mét. Dòng sông Cầu Chày nhận nước từ những dòng suối ở rừng miền tây đổ về, tới đây uốn khúc ven theo chân đồi núi, tạo thành con hào tự nhiên có bờ đất sét pha sỏi rắn chắc cao khoảng 10 mét, rộng khoảng 30-40 mét.

Đồn Mã Cao thu hình trong vòng lượn của dòng sông như hình một cái khuyên tai chắc đỡ ba mặt tây, bắc, đông. Phía nam đồn nhìn ra cánh đồng rộng của huyện Thọ Xuân, bảo vệ mặt này có một chiến lũy hiện nay còn cao khoảng 2,50 mét, hai đầu lũy tiếp giáp với dòng sông. Phía bên trong đồn có lũy chạy dài ba mặt đông, tây bắc, tây nam, trong lũy có hào chạy quanh, chìm sâu trong lũy, còn ở mặt tây hào chạy dài phía ngoài lũy. Ở phía nam, đồn nhìn thẳng ra cánh đồng Khùa.

Để chặn địch tấn công mặt trống trải này, nghĩa quân tổ chức phòng bị khá chu đáo, trên sườn lũy dài 350 mét có những hố chiến đấu, dưới cánh đồng cao có hệ thống hào lũy hình vòng cung dài 260 mét, hai đầu nối liền với bờ sông Cầu Chày. Hào rộng từ 3 đến 4 mét, bên trên có mái che nghiêng chắc chắn và kín đáo, tạo điều kiện cho nghĩa quân vận động chiến đấu dễ dàng trong mọi hoàn cảnh và thời tiết. Lũy cao khoảng 1,50 mét, có bậc lên xuống và lỗ châu mai. Phía ngoài lũy, có bia chông dày đặc kéo dài trên đồng Khùa. Ở mặt bắc và tây có hai ụ súng lớn. Cứ điểm này còn được những lũy tre rậm rạp hai bên bờ sông che kín.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Một, 2016, 08:40:25 PM

Cứ điểm Bãi Xưa giữ vị trí quan trọng nhất, quanh đó còn có nhiều cứ điểm khác nằm ở phía tây và tây bắc, tạo thành một hệ thống đồn trại liên hệ chặt chẽ với nhau.

Chếch sang phía bắc và ngược lên phía tây theo triền sông Cầu Chày là một hệ thống đồn trại. Bên kia sông Cầu Chày về phía bắc là đồn Đồng Tăm nằm trên một đồi đất sỏi thấp, yểm hộ cho Mã Cao. Cách Mã Cao khoảng 500 mét về phía tây bắc là đồn Hồ Sen, vị trí này ở vào một khu đất cao giữa vùng hồ nước và đầm lầy, cây cối um tùm, chung quanh là những đồi đất thấp, bắc giáp làng Đa Nẫm, nam giáp làng Phúc Địa, tây giáp làng Cửa Bao, đông hướng về Mã Cao. Đồn Hồ Sen khuất sâu trong vùng đồi núi rất kín đáo, được sử dụng làm cứ điểm hậu cần. Từ cứ điểm này, nghĩa quân có thể liên lạc, tiếp viện cho các đồn Mã Cao, Thung Voi, Cửa Bao. Nghĩa quân và nhân dân không cần đắp lũy cao hào sâu để củng cố đồn Hồ Sen như các đồn trại khác, nhưng đã biết triệt để khai thác lợi thế của địa hình thiên nhiên trong vùng làm cho địch không sao đánh chiếm được đồn Hồ Sen. Phải đến sau khi nghĩa quân rút khỏi vùng này, chúng mới làm đường vào được đồn Hồ Sen để phá cơ sở hậu cần của nghĩa quân.

Ngược lên phía tây Hồ Sen khoảng 1 kilômét có cứ điểm Cửa Bao, gồm hai đồn Bù Quả và Bù Hàng nằm trên con đường lên Vực Lồi, Ngọc Lặc. Hai đồn nằm đối diện hai bên đường cách nhau 200 mét và đều được xây dựng theo hình vuông, tựa lưng vào rừng. Đồn Bù Quả có chu vi 120 mét, đồn Bù Hàng lớn hơn, chu vi 160 mét. Phía trước đồn Bù Quả, nghĩa quân đắp một lũy cao sát đường đi làm vật chắn đỡ làn đạn của địch và cũng là công sự của nghĩa quân tấn công địch. Để bảo đảm an toàn khi vận động chiến đấu, nghĩa quân đào một con hào nối liền đồn với lũy. Cứ điểm này cách làng Cửa Bao 500 mét, cách Mã Cao, Thung Voi 1 kilômét. Cụm cứ điểm này còn bao gồm cả ngôi đình làng Cửa Bao, một đồn tiền tiêu chặn đường binh lính địch từ phía đông kéo lên. Khi công phá cứ điểm này, địch mới phát hiện: "Cả khu rừng bên cạnh gọi là rừng Cửa Bao cũng đầy những chiến lũy". Từ Cửa Bao lên Vực Lồi có hệ thống hào chiến đấu hai bên dọc đường. Tất cả những đồn trại, hào lũy ở khu vực này tuy quy mô không lớn, nhưng đều đặt vào những vị trí quan trọng trên đường từ Mã Cao lên vùng núi rừng miền tây, bảo vệ mặt sau của cứ điểm chính và sẵn sàng đón đánh địch.

Trong chiến dịch đầu năm 1887, khi địch công phá hệ thống cứ điểm này, chúng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của nghĩa quân tại đây. Chúng đã bị kìm chân ở đây nửa tháng và sau khi nghĩa quân rút đi nơi khác chúng mới phá hủy được các công sự trên.

Cách Mã Cao 3 kilômét về phía tây có đồn Thung Voi ở cánh đồng làng Phúc Cường (nay thuộc xã Xuân Tín, huyện Thọ Xuân). Nền đồn là khu đất cao, bằng phẳng nằm gọn trong vòng uốn khúc của sông Cầu Chày, nơi hai dòng sông gần nhau nhất ở về phía nam. Đồn được che khuất bởi những bãi lau sậy rậm rạp bao quanh. Cách đồn khoảng 300 mét về phía nam có ngọn đồi đất làng Độ và cánh đồng Phái sâu lầy. Nền đồn hình năm canh khá cân đối, chu vi 400 mét bằng nửa đồn Mã Cao, chia thành năm ô, mỗi ô có thành đất bao quanh. Lũy, hào và nhất là dòng sông Cầu Chày sâu thẳm, chảy quanh đồn tạo thành một hệ thống công sự phòng thủ kiên cố. Đặc biệt ở phía nam còn có hai lớp hào, lũy vừa là công sự của nghĩa quân khi chiến đấu, vừa ngăn chặn quân địch đến gần cứ điểm. Lớp lũy thứ nhất cách đồn 100 mét, hiện nay còn cao 1,50 mét, chân rộng 6 mét, mặt rộng 4 mét, trước lũy có hào sâu, lớp hào lũy này dài 25 mét nối liền khoảng cách hẹp nhất của hai dòng sông Cầu Chày. Cách đó 60 mét về phía trước có một cái lũy lớn, hiện nay còn cao 1,50 mét, chân rộng 8 mét, mặt rộng 6 mét, chạy dài 1.200 mét như hai cánh tay dang rộng bảo vệ mặt nam đồn. Trong những trận chống địch công phá cứ điểm, nghĩa quân đã dựa vào những lớp hào này để phát huy sức mạnh chiến đấu của mình, gây cho địch nhiều tổn thất.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Một, 2016, 08:40:52 PM

Hệ thống cứ điểm Mã Cao còn chạy dài về phía tây và dừng lại ở vị trí cuối cùng là đồn Thung Khoai (tên chữ là Thanh Khoái) nằm giữa Thọ Xuân và Ngọc Lặc (nay thuộc xã Quảng Phú, huyện Thọ Xuân), cách đồn Mã Cao hơn 3 kilômét. Khác với Thung Voi, đồn này không dựa vào địa hình hiểm trở của sông Cầu Chày và hào lũy, mà nằm sâu trong một khu rừng hẻo lánh, có cây cối um tùm che khuất và đầm lầy bao quanh. Thung Khoai liên lạc với các vị trí khác bằng những con đường nhỏ, kín đáo xuyên qua đồi núi và rừng dầy. Để ngăn chặn quân địch tấn công cứ điểm, nghĩa quân cắm những bãi chông dày đặc ở đầm lầy và ở chung quanh nơi đóng quân, họ còn dựng những bức phên lớn nghiêng mái ra ngoài có phủ một lớp bùn trộn rơm bên trên để cản đạn địch.

Hệ thống cứ điểm Mã Cao bao gồm nhiều đồn trại, trải rộng trên một vùng đồi núi của miền trung du, tiếp giáp với miền thượng du Thanh Hóa. Sự xuất hiện của hệ thống cứ điểm này bắt nguồn từ sức mạnh của cao trào khởi nghĩa đang lan tỏa mạnh mẽ ở đồng bằng, cũng như ở miền núi. Dưới sự lãnh đạo của Hà Văn Mao, người Mường và người Kinh cùng đoàn kết, chung sức xây dựng hào lũy, cung cấp lương thực, rèn đúc vũ khí, bảo đảm những điều kiện cần thiết cho cuộc chiến đấu quyết liệt chống Pháp xâm lược và bè lũ tay sai của chúng.

Do nhu cầu tập hợp lực lượng và thống nhất kế hoạch hoạt động của nghĩa quân mà hệ thống cứ điểm Mã Cao đã được xây dựng. Trong hoàn cảnh chiến đấu của nghĩa quân lúc bấy giờ, hệ thống cứ điểm Mã Cao tuy có nhiều hạn chế nhưng vẫn phát huy được tác dụng nhất định khi đọ sức với kẻ thù hung hãn, có vũ khí tinh xảo hơn. Các cứ điểm dàn trên một địa bàn rộng, nhưng từng cứ điểm không bị hãm vào thế đứng đơn lẻ, biệt lập mà có quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau, hợp thành một hệ thống liên hoàn, có cứ điểm đóng quân, có cứ điểm hậu cần. Cứ điểm nào cũng đều được xây dựng phù hợp với địa hình núi đồi, sông suối, bãi lầy rừng rậm, triệt để sử dụng lợi thế sẵn có của tự nhiên, giảm bớt công sức xây dựng công sự. Với tinh thần chiến đấu ngoan cường và biết dựa vào các cứ điểm, nghĩa quân đã đánh trả quyết liệt những cuộc tấn công của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Từ khi đảm nhiệm trọng trách xây dựng hệ thống cứ điểm Mã Cao và phối hợp hoạt động với những cánh quân khác, nhất là hỗ trợ mặt trận Ba Đình, Hà Văn Mao càng ra sức xây dựng và không ngừng tăng cường lực lượng nghĩa quân. Nhiều đội quân được hình thành từ các cuộc khởi nghĩa ở địa phương kéo về Mã Cao hoạt động dưới sự chỉ huy của ông, trong đó nổi bật lên những đội quân của quản Khới (làng Thành Hưng, xã Yên Tâm, Yên Định), Trịnh Văn Nghi, tú Vanh (làng Mao Lộc, huyện Yên Định), quản Bông, đội Kiên (người Mường, làng Mé, xã Yên Tâm, Yên Định), đốc Dộp, đốc Khoát (người Mường, xã Quang Trung, Ngọc Lặc). Cũng như ở Ba Đình, tại Mã Cao có rất nhiều phụ nữ tham gia chiến đấu, tiếp tế lương thực, vận chuyển vũ khí, đạn dược, bảo đảm giao thông, liên lạc.

Hệ thống cứ điểm Mã Cao xây dựng xong từ năm 1886, nhưng nhờ bảo đảm được bí mật, nên thực dân Pháp vẫn không hề hay biết gì. Phải tới khi chiếm được Ba Đình (1-1887), nhờ tịch thu được các thư từ của Đinh Công Tráng để lại, chúng mới được biết rằng nghĩa quân đã xây dựng một pháo đài thứ hai trong núi gần làng Mã Cao ở giữa các đồn Phủ Quảng (Quảng Hóa, tức Vĩnh Lộc ngày nay) và Phủ Thọ (Thọ Xuân) của Pháp và nghĩa quân thoát khỏi Ba Đình đều rút về pháo đài thứ hai này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Một, 2016, 08:42:09 PM

Câu hỏi 14: Phát hiện ra hệ thống cứ địa Mã Cao, giặc Pháp đã dồn quân và đạn pháo để tiêu diệt nghĩa quân. Chúng đã vấp phải sự chống trả kiên cường của nghĩa quân. Cho biết về những ngày chiến đấu cuối cùng của nghĩa quân tại cứ điểm Mã Cao?
Trả lời:


Vai trò quan trọng của Hà Văn Mao trong cao trào đấu tranh của nhân dân Thanh Hóa đã nổi bật từ nhiều năm trước. Cho nên vào cuối năm 1886, trên địa bàn Thanh Hóa, địch vừa tập trung quân và các phương tiện chiến tranh để công phá Ba Đình, vừa tìm cách đàn áp nghĩa quân Hà Văn Mao, trước hết là bắt giết vị thủ lĩnh kiên cường của phong trào này. Bước đầu chúng sai tên tri phủ Quảng Hóa kéo một toán lính đến Điền Lư bắt mẹ già và con trai Hà Văn Mao đưa về tỉnh lỵ Thanh Hóa làm con tin để buộc ông ra hàng. Nhưng ông không chịu khuất phục. Tương kế tựu kế, ông bắn tin sẽ ra hàng và hẹn đón mẹ già và con trai tại La Hán. Được tin ấy, tên công sứ Thanh Hóa vội cử đồn trưởng Pháp ở Điền Lư đem 100 quân, do tay sai dẫn đường đưa mẹ và con Hà Văn Mao đến đình La Hán để nhận sự đầu hàng của vị thủ lĩnh nghĩa quân.

Nghĩa quân đã bố trí lực lượng mai phục rất kín đáo. Khi bọn địch tới nơi, chúng được chức dịch và nhân dân địa phương cung kính đón tiếp. Nhưng đi đến đoạn đường hẻm thì bị nghĩa quân từ những nơi phục kích xông ra tiêu diệt.

Sau khi làm thất bại thủ đoạn xảo quyệt của địch, Hà Văn Mao tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân, vừa củng cố cứ điểm Mã Cao, vừa đưa quân đi hoạt động ở nhiều nơi. Tháng 12 năm 1886, nghĩa quân tấn công đồn Thọ Xuân, giết chết tên trung úy Ra-bi-ê chỉ huy đồn. Suốt thời gian từ cuối năm 1886 sang đầu năm 1887, hai đồn Pháp ở Quảng Hóa và Thọ Xuân liên tiếp bị nghĩa quân tấn công, mà địch không hề phát hiện được họ từ đâu tới, sau đó đi đâu và lực lượng ra sao.

Cuối năm 1886 là thời kỳ nghĩa quân Cần Vương ở Thanh Hóa hoạt động rất mạnh và đều khắp cả đồng bằng và miền núi, đe dọa nghiêm trọng chế độ thuộc địa mới dựng lên. Bọn thực dân Pháp tập trung binh lính và vũ khí hòng đàn áp các cuộc khởi nghĩa để sớm ổn định tình hình chính trị. Chiến dịch càn quét của quân đội Pháp ở Thanh Hóa vào thu đông năm 1886-1887 là chiến dịch lớn nhất mà chúng tiến hành ở Việt Nam lúc bấy giờ. Suốt trong thời gian này, nghĩa quân Mã Cao vừa ra sức tiếp viện, hỗ trợ cho cứ điểm Ba Đình, vừa gấp rút chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu quyết liệt chống lại quân đội thực dân Pháp khi chúng kéo tới.

Sau khi mở đường máu rút khỏi cứ điểm đêm 20 tháng 1 năm 1887 (tức vào đêm 27 tháng Chạp năm 1886), nghĩa quân Ba Đình dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng đã nhanh chóng vượt qua nhiều vòng vây ráp, truy lùng của binh lính Pháp và bọn phản động tay sai của chúng, mở một cuộc hành quân từ Ba Đình lên Mã Cao. Trải qua nhiều ngày chiến đấu gian khổ và ác liệt, nghĩa quân Ba Đình tuy có bị hao tổn một phần, nhưng khi tới Mã Cao, họ đã hòa nhập ngay vào nghĩa quân ở đây và khẩn trương chuẩn bị cho những trận chiến đấu mới. Đinh Công Tráng, một thủ lĩnh nghĩa quân giàu kinh nghiệm và ý chí chiến đấu chống Pháp, đã cùng Hà Văn Mao chỉ huy nghĩa quân và nhân dân đào hào thêm sâu, đắp lũy thêm cao và bố trí thêm các công sự phản kích địch. Đồng thời hàng ngũ nghĩa quân cũng sắp xếp lại cho thích hợp với địa hình chiến đấu và vũ khí hiện đại.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Một, 2016, 08:48:05 PM

Sau khi nghĩa quân rút khỏi Ba Đình, thực dân Pháp mới lập lại sự liên lạc giữa tỉnh lỵ Thanh Hóa và Ninh Bình. Để giữ đất và ngăn chặn nghĩa quân hoạt động trở lại, địch lập một đồn lính tại Đò Lèn, trên con đường thiên lý nối liền Ninh Bình với Thanh Hóa, đồng thời, thực hiện kế hoạch đàn áp nghĩa quân trên quy mô lớn. Đại tá Brít-xô bố trí binh lính Pháp làm ba đạo: một đạo do trung tá Đốt chỉ huy kéo ra Bắc, rồi nửa đường ngoặt lên phía tây, qua các huyện Hà Trung, Thạch Thành tới các huyện Quảng Hóa, Yên Định; một đạo do trung tá Mét-danh-giê chỉ huy đi về phía nam, rồi ngược theo hướng tây, theo bờ sông Chu lên huyện Thọ Xuân, rẽ sang huyện Yên Định; hai đạo quân này sẽ gặp nhau ở gần Mã Cao để cùng công phá hộ thống cứ điểm này. Còn đạo quân thứ ba do đại úy Giốp chỉ huy, dùng các thuyền bè chúng cướp được của nhân dân để chở lương thực, pháo binh và đạn dược ngược dòng sông Mã (nhánh sông Đò Lèn) lên ngã ba Bông vào sông Cầu Chày tới vùng Mã Cao để tiếp tế lương thực và vũ khí cho hai đạo quân trên.

Ba đạo quân địch hoạt động trong tình trạng đầy khó khăn nguy hiểm. Chúng hành quân qua những vùng mới lạ, không có bản đồ, không có người dẫn đường đáng tin cậy. Ba đạo quân này lại cách nhau rất xa và bị nhiều con sông ngăn trở. Sau sáu ngày đường, hai đạo quân của Đốt và Mét-danh-giê gặp nhau ở làng Bùi Hạ (xã Yên Giang, huyện Thiệu Yên, Thanh Hóa) vào trưa ngày 2 tháng 2 năm 1887. Chúng lập tức tung quân đi điều tra địa hình hệ thống cứ điểm Mã Cao mà cứ điểm lớn nhất chỉ cách Bùi Hạ 3 kilômét về phía tây.

Thực dân Pháp tập trung vào trận đánh này một số lượng quân lính khá đông, bao gồm 63 sĩ quan, 897 lính Pháp, 2.333 lính tập, 1.747 phu, vượt hơn cả số quân của chúng ở Ba Đình đầu năm 1887 (lúc ấy cả lính Pháp và lính tập có 2.488 tên). Đó là một cố gắng lớn của thực dân Pháp để cứu vãn tình thế nguy ngập của chúng, do phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân Thanh Hóa nổ ra.

Địch tung quân đi trinh sát vị trí của nghĩa quân theo các con đường mòn chạy ngang dọc trong các bụi rậm và rừng cây. Nhưng chúng rất khó phát hiện những cứ điểm của nghĩa quân, vì những vị trí đó chìm sâu trong các thung lũng rậm rạp hoặc rừng dầy, mà chúng lại không hiểu địa hình vùng này. Trước khi đến Bùi Hạ, khi qua phủ Thọ Xuân, tên tri phủ giao cho Mét-danh-giê hai người Việt bị bắt từ mấy hôm trước để làm nhiệm vụ dẫn đường. Họ chính là nghĩa quân, nên cố tình dẫn địch tới những vị trí mạnh nhất của nghĩa quân. Đã vậy các toán quân địch lại rất khó hiệp đồng với nhau, vì bị ngăn cách bởi những cây cao bụi rậm khó phát hiện được hoạt động của nghĩa quân ở các cứ điểm. Cho nên khi hai nghĩa quân vừa dẫn binh lính địch đến sát bờ sông Cầu Chày thì những phát súng bắn từ vị trí tiền tiêu của nghĩa quân cũng nổ giòn. Brít-xô vội chia quân thành ba đạo, tên trung tá Đốt chỉ huy một đạo quân ở phía phải, tên trung tá Mét-danh-giê chỉ huy đạo quân phía trái và tên thiếu tá Đi-ghê chỉ huy đạo quân giữa. Ngoài ra còn có một số toán quân nhỏ vạch cây tìm lối leo lên núi chặn đường rút lui của nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Một, 2016, 08:48:39 PM

Tuy Brít-xô dàn quân và hùng hổ ra lệnh cho binh lính xông vào các lùm cây rậm rạp để phát hiện các vị trí và tấn công nghĩa quân nhưng tình hình chúng lúc đó rất khốn đốn: Tình hình khá nặng nề, vì súng nổ khắp mọi nơi, không thể nào xác định được điểm mạnh, điểm yếu của vị trí. Địch bị ám ảnh bởi cảm giác của một mối hiểm họa khó mà tránh được, cũng như khó mà liệu hiểm họa đó to lớn là nhường nào.

Brít-xô ra lệnh cho đạo quân giữa tiến lên liều chết vượt sông hòng chiếm đồn tiền tiêu bảo vệ lối vào căn cứ. Sau một giờ tiến quân, đội tiền đạo bị chặn lại trước một con hào có thành dốc thẳng và sâu, đầy gai góc và chông tre. Đội tiền đạo của địch phải nằm rạp dưới hào để tránh sự phản công của nghĩa quân lúc này tạm ngừng bắn để quan sát hoạt động của địch. Nhưng khi bọn chỉ huy của chúng cưỡi ngựa lao lên phía trước ra lệnh cho binh lính vượt lên thì từng loạt đạn ở phía con đê sông Cầu Chày sát sườn bên phải của địch và từ một pháo đài nhỏ bên kia hào cách đội tiền đạo khoảng 300 mét hướng về phía địch nổ giòn, một số binh lính và sĩ quan địch trúng đạn. Cũng chính vào lúc đó, hai nghĩa quân dẫn đường nhảy ngay xuống hào, kêu gọi nghĩa quân hãy tiến công quyết liệt, nhanh chóng bắt lấy tên tổng chỉ huy và bộ tham mưu của địch. Địch đã xả súng bắn và hai người đã anh dũng hy sinh. Bọn chỉ huy địch tung quân xông lên. Nghĩa quân chủ động rút vào pháo đài chính (cứ điểm Bãi Xưa) và tập trung lực lượng phản công địch. Tiếng chiêng trống nổi lên vang dội, cờ xí phất cao cổ vũ tinh thần chiến đấu của nghĩa quân. Từ cứ điểm Bãi Xưa, các loại súng của nghĩa quân bắn ra dữ dội, phản công lại những loạt sơn pháo của địch, Brít-xô thúc đạo quân giữa xông vào nhóm cứ điểm Bãi Xưa với nhiệm vụ phát hiện vị trí pháo của nghĩa quân.

Trong khi cuộc chiến đấu đang diễn ra ác liệt ở giữa như vậy thì đạo quân địch ở bên trái đi vòng về phía nam để tăng cường hỗ trợ cho một toán quân trinh sát đang hoạt động ở đó. Còn đạo quân bên phải của trung tá Đốt có nhiệm vụ đi về phía tây để chặn đường rút của nghĩa quân, nhưng bị người dẫn đường cố ý đưa vào rừng già không tìm được lối ra, phải ngủ lại trong rừng, không đến được nơi quy định đúng hẹn để chặn đường rút của nghĩa quân.

Những trận phản công của nghĩa quân diễn ra rất quyết liệt suốt cả buổi chiều ngày 2 tháng 2 năm 1887. Tại cứ điểm chính và các cứ điểm phụ xung quanh, nghĩa quân dựa vào các công sự và với tất cả các loại vũ khí sẵn có trong tay đã ra sức chống cự. Dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng, Hà Văn Mao và các tướng lĩnh khác, nghĩa quân đã kiên cường chống lại quân địch có hỏa lực mạnh hơn. Nhưng cuối cùng nhận thấy không thể cố thủ ở các cứ điểm Bãi Xưa, Hồ Sen và Cửa Bao để tự hãm mình trong thế thụ động bị địch bao vây, bộ chỉ huy nghĩa quân đã quyết định chuyển toàn bộ lực lượng ra khỏi các cứ điểm trên khi trời gần tối. Cuộc chuyển quân đó được thực hiện có tổ chức và rất quyết liệt.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Một, 2016, 08:48:58 PM

Nghĩa quân đi về phía huyện Thọ Xuân, lên Ngọc Lặc, tỏa vào vùng rừng núi bao la miền tây. Mãi đến lúc trời tối, địch mới vào được cứ điểm Bãi Xưa. Trong cứ điểm chỉ còn lại một ít vũ khí đạn dược. Kết thúc trận công phá đầu tiên vào hệ thống cứ điểm này, địch bị tổn thất khá lớn.

Sau những trận phản công quyết liệt ngày 2 tháng 2 năm 1887 tại cứ điểm chính và các cứ điểm phụ cận, nghĩa quân Mã Cao còn tiếp tục những hoạt động phản kích địch tại các cứ điểm Thung Voi, Thung Khoai. Nghĩa quân đóng ở Thung Voi do Đinh Phú Tráng (quê ở làng Chỉ Tín, xã Xuân Tín, huyện Thọ Xuân) chỉ huy đã nhiều lần chặn đánh binh lính địch từ đồn Phúc Đại sang huyện lỵ Thọ Xuân. Có lần, nhân đêm tối, họ đã đột kích đánh giết binh lính địch đóng tại đình làng Chỉ Tín. Nhờ nhân dân giữ bí mật vị trí kín đáo của Thung Voi, trước tháng 2 năm 1887, địch chưa phát hiện được cứ điểm này. Phải đến chiến dịch công phá hệ thống cứ điểm Mã Cao, do những hoạt động của nghĩa quân, địch mới biết nghĩa quân đóng ở Thung Voi và đưa quân tới đàn áp. Địch đổ quân tấn công từ phía nam. Song ở mặt này, các công sự phòng thủ của nghĩa quân rất bền chắc giúp cho sức chiến đấu của họ thêm hiệu quả. Cả hai lần địch tràn đến, chúng đều bị đánh bật ra. Lần thứ ba, rút kinh nghiệm thất bại của hai trận đầu, địch chỉ để lại một cánh quân nhỏ đánh nghi binh ở mặt nam, còn đại bộ phận binh lính dồn vào tấn công mặt đông bắc. Chúng bắt dân làm bè nứa để vượt sông Cầu Chày, xông vào cứ điểm. Nghĩa quân đã mau lẹ tăng cường lực lượng ở mặt xung yếu này. Họ chiến đấu rất dũng cảm, chủ động mở đường rút khỏi cứ điểm để bảo toàn lực lượng.

Những trận chiến đấu cuối cùng ở hệ thống cứ điểm Mã Cao diễn ra ở cứ điểm Thung Khoai. Cũng như đội nghĩa quân đóng tại Thung Voi, đội nghĩa quân đóng ở Thung Khoai đã lập được một số chiến công, trước khi bước vào những trận chiến đấu quyết liệt tháng 2 năm 1887, như trận phục kích địch tại Cầu Trê (Thọ Xuân). Lừa lúc địch sơ hở đề phòng, một toán nghĩa quân chớp nhoáng tấn công đồn Yên Lược, sau đó rút ngay. Địch bỏ đồn đuổi theo tới Cầu Tre thì lọt vào trận địa phục kích, nghĩa quân bất ngờ nổ súng tiêu diệt chúng.

Sau khi chiếm được Thung Voi, địch đưa quân tới vây đánh Thung Khoai. Chúng vừa tập trung quân tại đồi Cây Khế ở phía tây định tấn công cứ điểm này thì đã bị nghĩa quân nấp trong rừng bắn ra. Sức chiến đấu của nghĩa quân cùng với các bãi chông, đầm lầy đã cản bước chúng lại, buộc chúng phải rút lui, bỏ lại một số xác chết. Nhận thấy không thể đánh chiếm Thung Khoai từ phía tây, ngày hôm sau địch tìm đường từ Phúc Đại qua sông Cầu Chày, xuyên làng Mọ để tấn công từ phía đông bắc vào vì ở mặt này chúng dễ chiếm lĩnh những điểm cao gần cứ điểm, lại ít bị đầm lầy ngăn trở. Nhưng nghĩa quân đã anh dũng chống trả những đợt tấn công của địch trước khi rút quân về rừng Ngọc Lặc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 07:34:08 AM

Câu hỏi 15: Sau khi rút khỏi Mã Cao, nghĩa quân đã gặp rất nhiều khó khăn, hãy cho biết về những tháng ngày cuối cùng của nghĩa quân Ba Đình và sự phát triển mới của phong trào Hùng Lĩnh – sự tiếp nối của Ba Đình?
Trả lời:


Sau những trận chiến đấu quyết liệt tại hệ thống cứ điểm Mã Cao, nghĩa quân chia làm hai bộ phận chuyển lên miền tây Thanh Hóa. Đinh Công Tráng đưa một bộ phận vượt núi rừng Thanh Hóa vào Nghệ An để gây dựng phong trào chống Pháp ở đây. Hà Văn Mao đưa một bộ phận trở lại vùng Điền Lư ra sức củng cố lực lượng để duy trì và phát triển cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp.

Đội nghĩa quân Đinh Công Tráng trên đường vào Nghệ An đã dừng lại làng Tang Yên thuộc huyện Đô Lương và chuẩn bị xây dựng đồn lũy. Nhưng tên lý trưởng làng này phản bội nghĩa quân đã báo cho thực dân Pháp biết nơi đóng quân của họ. Ngày 5 tháng 10 năm 1887, lính pháp từ đồn Đô Lương (đồn Lường) kéo đến làng Tang Yên lúc 3 giờ sáng. Đinh Công Tráng cùng hơn 30 nghĩa quân đã hy sinh trong trận chiến đấu cuối cùng này.

Đinh Công Tráng hy sinh, phong trào yêu nước mất một người lãnh đạo kiên cường, quả cảm, giàu nghị lực và mưu trí trong công cuộc xây dựng và tổ chức phong trào nhân dân kháng chiến. Trải qua chặng đường đấu tranh lâu dài từ năm 1873 đến năm 1887, ông đã để lại một tấm gương chói ngời về tinh thần yêu nước nồng nàn, về lòng trung thành mẫu mực và sự hy sinh cao cả vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Ông đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để gánh vác nhiệm vụ lớn lao của mình, từ buổi đầu xây dựng phong trào nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ đến trọng trách của một vị chủ tướng trong cuộc khởi nghĩa Ba Đình, ở đâu ông cũng mang hết tâm trí và sức lực của mình để tổ chức lực lượng nghĩa quân, xây dựng cứ điểm, chỉ huy chiến đấu. Vì vậy, ông đã được nhân dân tin yêu và các thủ lĩnh nghĩa quân mến phục. Vai trò quan trọng, phẩm chất và tài năng xuất sắc của ông khiến bọn thực dân Pháp cũng phải thán phục.

Hà Văn Mao trở lại Điền Lư lần này tiếp tục liên hệ với Cầm Bá Thước ở Thường Xuân để phối hợp hoạt động. Ảnh hưởng của Hà Văn Mao ở miền tây Thanh Hóa vẫn không ngừng mở rộng. Qua vùng lưu vực sông Mã và sông Đà, ông đã liên hệ với nhiều toán nghĩa quân chống Pháp hiện tạm ẩn náu ở Lào và Vân Nam (Trung Quốc). Địch biết được điều này qua nhiều nguồn tin, trong đó có những thư từ trao đổi giữa các toán nghĩa quân mà chúng bắt được. Hơn nữa, chúng cũng biết ở vùng thượng du Thanh Hóa có nhiều toán nghĩa quân hoạt động, đã từng phối hợp với lực lượng nghĩa quân Ba Đình và Mã Cao. Đây là địa bàn hoạt động quen thuộc của Hà Văn Mao và nhiều toán nghĩa quân khác. Vì vậy, mặc dù đã qua một chiến dịch lớn rất ác liệt ở Thanh Hóa cuối năm 1886 đầu năm 1887, sau khi trở về Hà Nội và Sơn Tây không bao lâu, vào đầu tháng 4 năm 1887, tên thiếu tướng Brít-xô (y mới được thăng cấp) đã cấp tốc tổ chức một đạo quân có đại bác yểm hộ và pháo thuyền bảo vệ, xuất phát từ Sơn Tây ngược sông Đà, qua Chợ Bờ, rồi đi xuyên vùng rừng núi đến Mai Châu vào Thanh Hóa. Chúng chia quân đi càn quét và đóng giữ những vị trí quan trọng ở vùng này.

Trước tình thế đó, tháng 5 năm 1887, Hà Văn Mao chỉ huy nghĩa quân tấn công đồn La Hán do Mét-danh-giê đóng giữ. Nghĩa quân còn đánh một trận phục kích khá lớn khi địch kéo đến Điền Lư, sau đó chuyển lên hoạt động ở vùng Nhân Kỷ (còn gọi là Mường Kỷ, nay thuộc hai xã Văn Nho và Kỳ Tân, huyện Bá Thước, Thanh Hóa). Đây là vùng cư trú của đồng bào Thái và Mường có nhiều thung lũng mầu mỡ và kín đáo xen giữa những dãy núi đá vôi, những rừng cây rậm rạp. Biết Hà Văn Mao đã chuyển quân lên Nhân Kỷ, thực dân Pháp liền tổ chức một đạo quân do Mét-danh-giê chỉ huy, kéo đến càn quét vùng này ngày 11 tháng 8 năm 1887. Nghĩa quân đón đánh địch quyết liệt, họ vận động linh hoạt trong địa hình rừng núi hiểm trở, rồi bất ngờ nổ súng. Bị thiệt hại nặng, không thể kéo dài được cuộc càn quét, Mét-danh-giê đành phải rút quân về. Đến tháng 11 năm đó, tên thiếu tá Hen-lơ-boa và đại úy Pát-can lại chỉ huy một đạo quân tấn công Nhân Kỷ lần thứ hai. Lần này, bên cạnh Hà Văn Mao còn có Trần Xuân Soạn cùng phối hợp chỉ huy nghĩa quân phản kích mạnh mẽ những đợt tấn công của địch. Nhưng nghĩa quân bị thiệt hại nặng, sau các đợt tấn công dồn dập của địch, cuối cùng Hà Văn Mao phải rút khỏi Nhân Kỷ trở lại Điền Lư, còn Trần Xuân Soạn thì sang Trung Quốc tìm gặp Tôn Thất Thuyết để bàn kế cứu nước1.

Về Điền Lư, nghĩa quân Hà Văn Mao gặp rất nhiều khó khăn, hàng ngũ tan rã dần, thực dân Pháp và tay sai tăng cường đàn áp. Trước tình hình đó, nhận thấy không thể đưa phong trào đấu tranh tiếp tục phát triển lên được, Hà Văn Mao giải tán nghĩa quân, rồi vào rừng tự sát để khỏi rơi vào tay giặc2.
_________________________________________
1. Sau khi Trần Xuân Soạn sang Trung Quốc thì ở trong nước, vua Hàm Nghi bị giặc Pháp bắt (11-1888), đường biên giới Việt - Trung bị kẻ thù khóa chặt, ông đành ở lại Trung Quốc, rồi mất ở đó vào năm 1923.
2. Hiện nay, mộ ông đặt tại gò làng Mí, xã Điền Lư, huyện Bá Thước. Về cái chết của Hà Văn Mao, một số sách trước đây chép khác. Đại Nam thực lục chính biên (tập 37, tr. 258) chép Hà Văn Mao bị bắt và bị chém ở Thanh Hóa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 07:36:07 AM

Trải qua hơn mười năm khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến đầu hàng, Hà Văn Mao đã có những đóng góp lớn trong việc đề xướng tổ chức phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Ông là một trong những người đầu tiên ở Thanh Hóa phất cao ngọn cờ yêu nước, tập hợp lực lượng quần chúng tổ chức nghĩa quân, xây dựng cứ điểm tại miền núi. Từ đó nghĩa quân đã mở rộng hoạt động xuống miền xuôi, tạo nên mối liên hệ chặt chẽ giữa phong trào vùng thượng du và đồng bằng, trên cơ sở đó phong trào Cần Vương Thanh Hóa phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những đỉnh cao của phong trào cả nước. Nêu cao tấm gương yêu nước chống giặc của ông, ngươi đương thời có câu đối viếng:

"Vũ trụ tổng giai ngô phận sự,
Hào hùng chính tiện thổ man nhân"1.

(Việc trong vũ trụ ta phải gánh,
Người dân miền núi chí hào hùng).

Hệ thống cứ điểm Mã Cao bị phá, thủ lĩnh Hà Văn Mao tự sát, nghĩa quân và nhân dân trong vùng bị giặc Pháp tăng cường đàn áp khủng bố, đó là những tổn thất của phong trào. Nhưng nhân dân miền núi Thanh Hóa vẫn một lòng chống giặc. Vượt qua muôn vàn gian khó, nhiều người khác lại tiếp tục tổ chức công cuộc đánh giặc, giữ mường. Phong trào có lúc đã phát triển trở lại sôi nổi và rộng lớn với những thủ lĩnh mới như Hai Hiền, Cao Nho2... Trong khi đó thì tại vùng Thường Xuân, đội nghĩa quân người Thái dưới sự lãnh đạo của Cầm Bá Thước vẫn giữ vững ý chí quyết chiến, bám trụ quê hương, tiếp tục cuộc đấu tranh vũ trang trong những năm chín mươi của thế kỷ XIX. Chính nhờ vậy mà nghĩa quân Hùng Lĩnh - sự kế tiếp của nghĩa quân Ba Đình trong những năm chiến đấu cuối cùng đã có thể kéo lên vùng này hoạt động, gây dựng lại lực lượng, liên hệ với nghĩa quân vùng hạ lưu sông Đà, lập thêm chiến công mới.
___________________________________
1. Bài ngoạn mậu kiếm liệt truyện, Bản dịch của Trần Lê Hưu, Phòng tư liệu khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
2. Hà Văn Nho, dân tộc Thái, quê ở Nhân Kỷ nay thuộc xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 07:37:15 AM

Câu hỏi 16: Cho biết về các lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa, căn cứ địa Ba Đình và tinh thần kiên cường chống trả giặc Pháp của nghĩa quân Ba Đình?
Trả lời:


1. Lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa

Đinh Công Tráng sinh ngày 14 tháng 1 năm 1842 tại thôn Nham Chàng, xã Thanh Tân, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Cha là Đinh Văn Thành, một danh y nổi tiếng. Thuở nhỏ ông theo học cụ Hoàng giáp Phạm Văn Nghị đi thi đậu tam trường. Đinh Công Tráng từng tham gia nhiều cuộc khởi nghĩa yêu nước ở quê hương Hà Nam và sau đó rút vào Thanh Hóa tham gia xây dựng căn cứ chống Pháp. (Về Đinh Công Tráng, ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn ở các phần sau).

Phạm Bành sinh ngày 23 tháng 5 năm 1830, quê làng Trương Xá, xã Hoà Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ông là em trai bảng nhãn Phạm Thanh. Sau khi đậu cử nhân, Phạm Bành được bổ chức đốc học rồi được thăng án sát Nghệ An. Phong trào Cần Vương lên cao, cùng với nhiều sĩ phu đương thời, ông từ quan về tham gia nghĩa quân và được cử làm phó tướng nghĩa quân Ba Đình.

Hoàng Bật Đạt sinh năm 1842, quê làng Bộ Đầu, xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa. Năm 1864, ông thi đậu giải nguyên được bổ làm giáo thụ huấn đạo huyện Ý Yên (Nam Định), rồi thăng chức tri huyện Lương Tài (Bắc Ninh). Thực dân Pháp xâm lược miền Bắc, ông yêu cầu tuần phủ Bắc Ninh tổ chức chống giặc, nhưng không được chấp nhận. Ông từ quan về quê tập hợp nghĩa quân chống Pháp. Ông được cử làm phó tướng phụ trách quân lương của nghĩa quân Ba Đình.


2. Căn cứ Ba Đình

Căn cứ Ba Đình được xây dựng tại huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội chừng 150 kilômét về phía nam. Ba Đình là một địa bàn quan trọng của vùng Nga Sơn, có địa thế thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ kháng chiến. Đây là một vùng đồng trũng, nước ngập sâu, diện tích hơn 6,5 km2, chiều dài gần 3km, rộng trên 2km, ở giữa cánh đồng của ba làng Thượng Thọ, Mỹ Khê, Mậu Thịnh, nổi lên như một hòn đảo. Xung quanh mỗi làng có lũy tre kín mít. Vào ba làng chỉ có một con đường độc đạo chạy từ đê sông Hoạt, chạy qua phía bắc căn cứ Ba Đình. Trên khu đất tiếp giáp của ba làng, mỗi làng có một ngôi đình lớn, bởi vậy mà gọi khu này là Ba Đình.

Vào tháng 5 năm 1886, nhân lúc đồng ruộng khô ráo, lúa đã gặt xong, nghĩa quân tiến hành xây dựng căn cứ. Nghĩa quân đã cấp tiền cho dân làng, khuyên những người già, trẻ con, đàn bà tản cư sang các làng xung quanh, còn trai tráng ở lại chuẩn bị cuộc chiến đấu. Cùng tham gia xây dựng khu căn cứ với nghĩa quân, dân phu của các làng trong hai huyện Nga Sơn và Hà Trung đã về Ba Đình để đào hào, đắp lũy, xây dựng công trình phòng thủ xung quanh làng. Một con hào chạy bao quanh làng, ngăn cách làng với bên ngoài, hào rộng 4 mét, sâu 3 mét. Tiếp đến là thành đất. Thành dày từ 8-10 mét, mặt thành ngoài cắm chông, cứ 5 mét lại có một cọc nhọn là là trên mặt nước hào. Phía ngoài cùng là một hàng rào tre kín mít. Xung quanh là một bãi chông tua tủa, rộng đến 50 mét. Trên thành có lỗ châu mai đặt thần công bắn ra. Thành có ba cổng chính gọi là ba chốt do ba vị trong sở chỉ huy phụ trách. Giữa ba làng gộp thành một cụm có đường liên lạc với nhau. Toàn bộ công trình được tiến hành xây dựng rất khẩn trương, chỉ trong hơn một tháng là xong. Từ Ba Đình, nghĩa quân có thể khống chế được đoạn đường từ tỉnh lỵ Thanh Hóa đi Hà Nội, lại có thể liên lạc với Lào bằng đường bộ và nhận tiếp tế từ biển vào bằng đường sông có điều kiện chiến đấu lâu dài. Từ vị trí chiến lược này nghĩa quân đã tiêu diệt nhiều đoàn xe và những đội quân của địch.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 07:37:39 AM

3. Tinh thần kiên cường chống trả giặc Pháp

Một chiến lũy lợi hại như căn cứ Ba Đình là cái gai nhức nhối trước mắt thực dân Pháp. Bởi vậy mà chúng quyết tâm tiêu diệt bằng được khu căn cứ. Người Pháp đã tập trung lực lượng mở những cuộc càn quét và bao vây nghĩa quân. Ngày 18 tháng 12 năm 1886, quân Pháp đã mở đợt đại tấn công lần thứ nhất bằng pháo lớn. Kết quả chúng đã phải trả một giá rất đắt, chiếm được mấy làng nhỏ thuộc phòng tuyến thứ nhất nhưng binh lính chết khá nhiều. Sau đợt thua đau này, chúng trở lại với cách bao vây như cũ nhằm ngăn chặn việc tiếp tế từ ngoài vào trong và mọi con đường từ trong ra ngoài. Đồng thời chúng huy động thêm nhiều lực lượng từ nơi khác về để đối phó với nghĩa quân.

Đầu năm 1887, quân Pháp tập trung một lực lượng lớn chuẩn bị tấn công khu căn cứ lần thứ hai. Đợt tấn công này do đại tá Brít-xô làm tổng chỉ huy. Toàn bộ lực lượng gần 3.400 quân lính, trong đó có tới 1.580 lính Pháp; 10 cỗ đại bác 81 ly, 4 cỗ đại bác 95 ly, 4 cỗ đại bác 65 ly và 4 khẩu súng thần công cổ xưa. Lực lượng này đặt dưới sự chỉ huy của 14 sĩ quan cấp tá và 5 sĩ quan cấp úy. Ngoài ra còn 4 pháo hạm từ ngoài biển yểm hộ cho đường tiếp tế của quân Pháp.

Ngày 6 tháng 1 năm 1887, quân Pháp nổ pháo tấn công căn cứ của nghĩa quân Ba Đình. Nhưng khi tiến sát tới chiến lũy, quân giặc đã gặp phải các hàng rào tre và sự chống trả quyết liệt của nghĩa quân nên đành phải rút ra, bỏ lại xác chết của 4 sĩ quan và nhiều binh lính.

Sau lần ấy, người Pháp đã phải bỏ cái mộng xung phong vào chiến lũy của ta, xoay sang chiến thuật khác. Chúng bao vây chặt chẽ, không cho trong đánh ra và đối phó với ở ngoài đánh vào. Đồng thời chúng tập trung pháo lớn bắn vào phía trong căn cứ. Nhờ vậy chúng đã tiến sát dần vào chiến lũy. Ngày 20 tháng 1 năm 1887, chúng cho vòi rồng phun xăng vào các bụi tre và đốt cháy. Ngọn lửa lan nhanh, nghĩa quân không thể dập tắt hết đành phải chuyển sâu vào phía trong. Đại bác của địch lại rót mạnh hơn. Thừa thế, quân Pháp giẫm lên xác lính của chúng tiến sâu vào pháo đài. Đã đến lúc nghĩa quân phải mở một con đường máu để thoát ra. Chập tối hôm ấy, lãnh tụ của nghĩa quân là Đinh Công Tráng hạ lệnh cho nghĩa quân thoát ra ngoài, hợp với lực lượng ở bên ngoài đánh vào. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, một số lớn quân Pháp bị tiêu diệt. 8 giờ sáng hôm sau, quân Pháp lọt được vào trong căn cứ. Để bảo toàn lực lượng, nghĩa quân lại cùng với lãnh tụ Đinh Công Tráng tạm rút về một căn cứ mới là Mã Cao.

Ngay sau khi phá căn cứ Ba Đình, chỉ huy Pháp Brít-xô đã cho triệt hạ ba làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê và đòi Nam triều xóa tên ba làng trên bản đồ. Nhưng giặc Pháp dù có đe dọa, đàn áp dã man đến đâu cũng không dập tắt được tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam. Tuy cuộc khởi nghĩa không thành công nhưng tinh thần dũng cảm và trí sáng tạo của nghĩa quân Ba Đình mãi mãi là niềm kiêu hãnh của dân tộc ta trong lịch sử oanh liệt chống giặc ngoại xâm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 07:40:39 AM

Câu hỏi 17: Đinh Công Tráng đã làm cho giặc Pháp khiếp sợ về sự dũng cảm và mưu trí của ông, chúng đã liên tục bị Đinh Công Tráng làm cho thất bại trong âm mưu xóa bỏ Ba Đình, những đánh giá của chúng về Đinh Công Tráng và căn cứ Ba Đình đã dần thay đổi như thế nào?
Trả lời:


Trong thời kỳ đầu của cuộc khởi nghĩa, nghĩa quân Thanh Hóa đánh nghi binh vào phố Găng, cầu Cừ, Tam Cao và phao tin đánh thành Thanh Hóa. Giặc tưởng Trần Xuân Soạn từ Vĩnh Lộc, Yên Định hợp quân với Tống Duy Tân, Cao Điền, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước đánh thật nên dồn quân về giữ. Trong khi đó Đinh Công Tráng yên trí xây dựng căn cứ ở Ba Đình. Đó là sơ hở lớn nhất của giặc đã khiến chúng ân hận, tức tối.

Tháng 8 năm 1886, xứ Dừa bị nghĩa quân triệt hạ. Cô Phước, cha Sáu phải kêu lên "quân phiến loạn hoàn toàn làm chủ Thanh Hóa". Khi Ba Đình xây dựng xong, Phước, Sáu hoảng hốt coi như bị một cái đinh cắm vào cổ họng địa phận Phát Diệm.

Tháng 9 năm 1886, cố Phước viết thư "chỉ cần một đại đội quân viễn chinh cũng đủ hạ quân phiến loạn ở Ba Đình... Cuộc khởi loạn có nhiều căn cứ kháng chiến nhưng Ba Đình là chính, một khi bị triệt hạ, những căn cứ khác khắc bị diệt gọn trong một vài ngày"1.

Trước tình hình các cuộc khởi nghĩa ở Thanh Hóa đang phát triển sôi nổi, cha Sáu liên tiếp viết thư thúc giục cố Phước xin thống sứ Pháp cấp súng cho giáo dũng Phát Diệm, Thanh Hóa và đem quân chinh phạt Ba Đình. Phước trả lời Sáu:

"... Khi quan thống sứ ra Kẻ Sở dự lễ sắc phong, tôi đã tường trình với ngài về việc quân phiến loạn mở rộng địa bàn hoạt động... Tôi đã xin quan thống sứ cấp thêm súng ống cho dân bổn đạo, nhưng khi về Hà Nội quan đã trả lời là: Nếu nhận lời thỉnh cầu của tôi chỉ gây thêm một cuộc chém giết vô ích... Đó là một lời lẽ khó hiểu khi chúng ta đang cần nhiều tay súng để trấn áp tận gốc quân phiến loạn... Theo tôi, nếu các nhà cầm quyền chưa chịu hành động thì ta cứ hành động trước".

Ngày 24 tháng 10 năm 1886, Phước lại năn nỉ thống sứ Pôn-be. Pôn-be trả lời: "Việc cấp súng cho cha Sáu sẽ có nhưng tôi còn bàn thêm với tướng Vác-nơ, e không được như yêu cầu... Việc chinh dẹp quân phiến loạn, đức cha cứ để bên tướng Vác-nơ toàn quyền sử dụng quân đội của mình, không nên làm vướng chân họ..."2.

Thống soái Gia-mông điều trung tá Đốt vào tiêu diệt Ba Đình, có kèm theo một bức thư: "Một cuộc nổi loạn như Ba Đình sẽ hết sức nghiêm trọng. Phải gấp rút tiêu diệt Ba Đình để chúng ta nhanh chóng đặt một nền bình trị Pháp trên toàn bộ xứ Bắc Kỳ này ăn thông với xứ Trung Kỳ, mà Thanh Hóa là một dẫn chứng không tốt đẹp gì cho chúng ta nếu bên Pháp, Quốc hội bắt phải điều trần. Nếu không được như thế sẽ mất hết cả vùng đất mà chúng ta đã phải kéo dài bao nhiêu năm mới chinh phục nổi"3.

Sau hai ngày đầu chiếm được Nghi Vịnh, Tuấn Đạo, Sên, Sa Loan, Hoàng Thổ, trung tá Mét-danh-giê nói với Đốt: "Đánh Đinh Công Tráng trong cái thành Ba Đình này không khó. Nó mời ta đến vây đánh, lại nằm yên tại chỗ giữa đồng nước mênh mông để cúi đầu chịu đòn. Đúng là một tay mù tịt về quân sự, dám cả gan dàn trận địa trước nòng súng đại bác, khi nó chỉ có súng nạp hậu và gươm đao. Ngày mai ta dàn sẵn trận ra, căng Đinh Công Tráng lẫn lũ nho sĩ ngu dốt kia mà nã cho một hồi đại bác là sập đổ hết thôi. Ta sẽ chơi một bản đại hợp xướng vang dội tới Pa-ri"4.
______________________________________
1, 2. Tiểu thuyết Ba Đình, tr. 223, 130.
3, 4. Tiểu thuyết Ba Đình, tr. 236, 237.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 07:44:03 AM

Trong chiến dịch công phá Ba Đình, tại buổi tiếp kiến với thống soái Gia-mông, cố Phước bực dọc khi nhớ lại những cuộc tiếp xúc với thống sứ Pôn-be trước đây, Phước nói: Cái việc mà quan binh ngày nay mới thấy tầm quan trọng và bắt đầu lo lắng thì từ tháng ba vừa rồi (1886), cha Sáu đã bao lần cấp báo. Các ngài đã coi là thường cho đó chỉ là đám phiến loạn nhỏ, ngay khi giáo phận Dừa bị triệt hạ, tôi từng cho thống sứ Pôn-be biết mức độ nghiêm trong, xin thêm súng đạn và chỉ cần một đại đội lính Pháp cũng đủ đánh tan. Ngài thống sứ cho rằng những người nép dưới chân thánh giá là quá khiêu khích, từ chối cung cấp thêm súng đạn. Khi tôi báo trước cho ngài Pôn-be về cơn bão lửa đó đang bùng lên thì ngài đã bị buốt đầu nặng. Mạch máu ngài đập mạnh, dồn dập. Thần kinh ngài căng lên và chính ngài đã chết vì đứt mạch máu não... Một cái chết bất đắc kỳ tử khi ngài mới 53 tuổi. Ngài Pi-ke sang thay thì Ba Đình không còn nằm trong phạm vi của Thanh Hóa nữa. Nó trở thành vấn đề toàn cõi Đông Dương, thành vấn đề lớn đối với nước đại Pháp chúng ta... Nếu chính phủ Pháp nhận và làm theo kế hoạch mà tôi hân hạnh nhiều lần được trình lên cũng như bàn bạc với các ngài thì không bao lâu nữa xứ Bắc Kỳ sẽ trở thành cái nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông.

Cha Sáu thì nói với đại tá Brít-xô: Nếu dẹp xong Ba Đình coi như phong trào Cần Vương kia sẽ không tồn tại bao lâu nữa. Như thế có nghĩa là sau Ba Đình khó có thể có một cuộc nổi loạn nào có một tầm quan trọng hơn... Nhưng với điều kiện là diệt gọn Ba Đình và không cho Đinh Công Tráng thoát bằng bất cứ giá nào...

Sau những thất bại nặng nề, giặc điều tên đại tá Brít-xô vào Ba Đình và tăng quân số, đạn dược. Thống soái Đa-mông nói với Brít-xô: "Đại tá biết đấy, ngài thống sứ Pi-ke rất lo ngại về sự kiện Ba Đình, điều mà Quốc hội Pháp hết sức chú ý. Đây không còn là một canh bạc đỏ đen mà là cả vận mệnh chúng ta. Bởi rằng, Ba Đình là một cuộc chiến đấu nghiêm trọng nhất, quyết liệt nhất. Bằng mọi cách dù phải hy sinh đến đâu ngài phải triệt hạ bằng được Ba Đình, triệt hạ một cách tàn bạo. Bao vây, phá hủy Ba Đình, bắt sống và giết hết nếu có thể từ Đinh Công Tráng đến tên lính cuối cùng của ông ta. Không cho chúng rút lui, chúng có cánh như chim cũng không cho chúng thoát khỏi Ba Đình"1.

Sau khi nghiên cứu thực địa, Brít-xô nói: "Sao có những bọn ngu ngốc không hiểu nổi tầm quan trọng của cánh đồng nước này với cái thành đất kia, dám báo cáo láo là Ba Đình nằm giữa một vùng đất trũng không có lợi, cô lập và còn gì ngu ngốc hơn khi có kẻ còn cho Ba Đình chỉ là một "công sự dã chiến" với lại là “một làng chiến đấu mang tính chất cụm cứ điểm được che chở bằng một đường hào tiền duyên”. Mời những kẻ đó hãy nhìn tận mắt hơn cái thành đất này. Cứ là từ xa tán láo... "Đường hào tiền duyên" nghĩa là thế nào? Chữ với nghĩa. Ôi, Đinh Công Tráng! Là một người đã từng dự nhiều trận đánh, tôi chân thành cảm phục ông!"2.

Sau khi bị thua đau trong trận ngày 6 tháng 1 năm 1887 và trận Mậu Yên, ngồi nói chuyện với Đốt, Grô-phơ, Mát-xông, tên Brít-xô mệt mỏi bộc lộ tâm trạng của mình: "Các ngài có nghĩ rằng ta sẽ thắng không? Tôi dự trận đã nhiều, gặp lắm đối thủ ngoan cường nhưng chưa đến lúc gay go như bọn trong Ba Đình. Ngay đến cách bố trí phòng ngự của họ cũng thật kỳ lạ, hầu như là độc đáo thì đúng hơn"3.

Mát-xông, sĩ quan tham mưu cho Brít-xô, sau này là nhà sử học nước Pháp, trong nhiều tài liệu đã viết như sau: "Mặc dù quân của chúng ta (Pháp) và bọn cu ly (dân phu của cha Sáu) còn hăng hái, việc bao vây Ba Đình vẫn chậm chạp một cách thất vọng và ai nấy tự hỏi đến bao giờ và như thế nào, những chuyện đó sẽ kết thúc. Tình cảnh chúng ta trước Ba Đình hồi đó đã đến nỗi chúng ta không thể trông cứ điểm ấy đầu hàng, cũng như không thể trông mong bên địch rộng lượng một khi chúng ta bại trận. Việc nghiên cứu Ba Đình khiến chúng tôi (Pháp) hết sức ngạc nhiên vì chứng tỏ các công sự đã được xây dựng với một kỹ thuật cao như thế nào! Các công sự đã được xây dựng theo đường gấp khúc để tạo thành khắp nơi những ổ tác chiến vững chắc"4. "Chúng tôi (Pháp) cũng hết sức kinh ngạc khi nhận thấy sức phá hoại của đại bác hầu như là con số không. Và những người bị bao vây đã thận trọng rời hết tất cả các vật liệu dễ cháy đi nơi khác nhờ các con đường có mái che kín, trong đó họ đã đào sâu các nhà kho và nhà trú. Phần lớn đạn trái pháo cắm xuống đất không nổ. Nổ cũng chỉ gây ra một hố nhỏ mà thôi. Và khi đất bắn lên đã lấp kín cái hố ấy lại. Chắc chắn rằng với lương thực và đạn dược đầy đủ, những kẻ phiến loạn có thể chống cự được nhiều tuần nữa. Và khi mùa nóng nực tới sẽ gây ra cho những người mới đến chúng tôi những bối rối nghiêm trọng"5. Người ta chỉ thấy những mớ hàng rào tre ngổn ngang lộn xộn hay rừng cọc nhọn làm cho thành lũy bề ngoài trông như một con nhím khổng lồ bồng bềnh trên mặt nước.
________________________________________
1, 2. Tiểu thuyết Ba Đình, tr. 356, 384.
3, 4. Tiểu thuyết Ba Đình, tr. 429, 223.
5. Mát-xông, Hồi ký về xứ An Nam và xứ Bắc Kỳ, tr. 224.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 07:45:03 AM

Về Đinh Công Tráng, Mát-xông viết: Cựu chánh tổng Đinh Công Tráng là linh hồn của việc phòng thủ ngoan cường này. Ông ta đã vây hãm Sơn Tây và đã chiến đấu chống ta cùng quân Cờ Đen dưới quyền điều khiển của Lưu Vĩnh Phúc. Và cũng từ trường học này mà ông đã biết tiến hành chiến tranh du kích và vững thêm bằng cách lợi dụng khôn khéo những tài nguyên tại chỗ. Đã bị thương, hai lần bị bắt làm tù binh nhưng lần nào ông cũng tìm cách trốn thoát được. Vào năm 1886, thấy không thể làm gì được ở Bắc Kỳ, ông đã chuyển vào tỉnh Thanh Hóa để nhen nhóm một cuộc nổi dậy ở đấy cùng đề đốc Soạn, người giúp việc cho Tôn Thất Thuyết. Là người có kỷ luật và chính trực, ông biết giữ kỷ luật trong quân ngũ của mình và nghiêm trị những quân đi nhiễu khắp làng. Có óc quan sát và nhẫn nại, ông hiểu biết khá tường tận những binh lính dưới quyền mình cũng như chúng ta để không tiến hành một cuộc tiến công vô ích. Nhưng ông biết chọn lựa tuyệt vời trận địa của mình, chuẩn bị cho một trận địa và dẫn chúng ta vào cạm bẫy mà ông đã giăng sẵn bằng cuộc tháo lui giả vờ. Ông luôn đi đầu lúc hiểm nguy, khôn ngoan khi bàn soạn, quyết đoán khi hành động, biết khơi dậy lòng quả cảm của người khác. Do những điều này, một con người bình dân đã buộc các quan lại kiêu ngạo phải khâm phục1. Chỉ có ông ta, nhờ vào sự thông minh và nghị lực của mình mới có thể kéo dài cuộc phiến loạn như vậy. Nếu được phụ tá tốt hơn, ông còn có thể bắt chúng ta phải thất bại lâu hơn nữa.

Đại úy Mát-xông đã viết cuốn "Hồi ký về xứ An Nam và xứ Bắc Kỳ". Trong lời tựa hắn đã thú nhận: Tướng Brít-xô mà tôi tặng cuốn sách này đã chết ngay sau khi chúng tôi trở về Pháp, kiệt sức do hậu quả thời gian chiến đấu ở Đông Dương mà rõ ràng Ba Đình là chiến cục gay go, ác liệt nhất.

Quân giặc khiếp hãi Ba Đình, đã bàn luận với nhau: Nếu có một "Ba Đình" nữa thì đành phải thủ tiêu mộng xâm lăng nước Nam thôi.

Tổng kết những hoạt động quân sự của Pháp ở Đông Dương, trong cuốn "Lịch sử quân sự Đông Dương” có viết: Trong chiến dịch thu đông năm 1886-1887, cuộc công hãm Ba Đình là cuộc chiến đấu nghiêm trọng nhất. Cuộc chiến đấu này thu hút nhiều quân nhất và làm cho cấp chỉ huy lo ngại nhất.
__________________________________________
1. Ba Đình - Nga Sơn, tr. 14.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 11:08:53 AM

Câu hỏi 18: Trình bày nguyên nhân thắng lợi và thất bại một số bài học kinh nghiệm qua cuộc khởi nghĩa Ba Đình?
Trả lời:


Cuộc khởi nghĩa Ba Đình chỉ tồn tại trong hai năm (1886-1887) nhưng đã để lại một dấu son lịch sử, một bản anh hùng ca hùng tráng về truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung. Nó như một cái gai cắm vào cuống họng kẻ thù, như một lưỡi kiếm chặn ngang cửa ngõ miền Trung, khiến giặc phải tập trung một lực lượng lớn binh lực, hỏa lực, phải hao binh tổn tướng, hao tài tốn của lớn. Nó tạo điều kiện và cổ vũ phong trào nổi dậy chống Pháp ở khắp nơi trong cả nước. Nó đã tạo nên đỉnh cao của phong trào yêu nước, góp phần xứng đáng vào phong trào Cần Vương và để lại những kinh nghiệm, bài học quý cho chúng ta.

Những mặt thành công của khởi nghĩa Ba Đình:

Trong điều kiện địch cơ động và mạnh gấp bội ta về binh hỏa lực, việc xây dựng căn cứ ở đồng bằng Nga Sơn là cực kỳ nguy hiểm, chấp nhận sự đối đầu khốc liệt. Vì thế Đinh Công Tráng đã lựa chọn và xây dựng Ba Đình thành một cứ địa mà giặc Pháp phải thừa nhận là một công trình khoa học. Trên thực tế nó đã triệt tiêu khá lớn khả năng cơ động và sức công phá của đại bác giặc.

Ba Đình nằm giữa đồng nước rộng mênh mông, làng gần nhất cũng cách cứ địa 3 kilômét, xung quanh lại có những ngọn độc sơn để lập các đồn tiền tiêu, viễn tiêu đánh giặc từ ngoại vi. Xa hơn nữa là vùng núi và căn cứ của các cánh nghĩa quân khác như Bồ Giông, Chuông Phi Lai của đốc Kiên, lãnh Phi; Cao Điển, Thạch Bằng của Trần Xuân Soạn; Mã Cao của Hà Văn Mao; Thanh Xá của Cầm Bá Thước; Bồng Trung của Tống Duy Tân. Những căn cứ đó như tấm lá chắn bảo vệ Ba Đình. Khi giặc tấn công vây hãm, nếu Trần Xuân Soạn chỉ huy ngoại viện hữu hiệu thì Đinh Công Tráng cùng nghĩa quân Thanh Hóa sẽ giữ được Ba Đình và tạo nên những thắng lợi to lớn, giòn giã hơn nữa.

Đinh Công Tráng đã triệt để khai thác những yếu tố địa hình, nguyên liệu tại chỗ (tre pheo, rơm bùn) dễ kiếm, rẻ tiền và văn hóa làng, xây dựng nhanh chóng và bí mật một tập đoàn thành lũy vững thủ mạnh công, chiến đấu hiệu quả cao.

Nếu xây thành Ba Đình bằng gạch, đá, vôi, cát thì phải tốn hàng ngàn mét khối đá, hàng ngàn tấn vôi, hàng ngàn mét khối cát; phải mất rất nhiều mìn phá đá, phải hàng vạn người khai thác, vận chuyển, xây dựng trong nhiều năm và ít nhất cũng hàng năm sau vôi vữa mới đông kết, cứng rắn. Mà giặc không thể để cho ta mở công trường hàng vạn người xây dựng nhiều năm trời. Và trận pháo kích gần 2 vạn quả đại bác dồn dập, liên tục hai ngày đêm thành đá sẽ sập đổ, nghĩa quân sẽ không thể sống sót nổi bởi hầm sập, đá văng và mảnh đạn.

Đinh Công Tráng dựa vào văn hóa làng để xây dựng thành lũy, công sự, sở chỉ huy, v.v... vừa tiện lợi, nhanh chóng, vừa bảo vệ được cảnh quan làng xóm, tạo tâm lý cho nghĩa quân trong cứ địa như ở nhà mình, làng mình, v.v... sẽ gắn bó và yên tâm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 11:09:20 AM

Với đội ngũ tướng sĩ quả cảm, Đinh Công Tráng là vị chủ soái dũng cảm, tài giỏi nên chỉ có một thành bằng bùn rơm, tre pheo, tráng binh ít ỏi, vũ khí rất thô sơ (vỏn vẹn bốn khẩu thần công, một số súng trường, hỏa mai, còn lại là cung nỏ, giáo mác, đao kiếm) đã bẻ gãy sáu đợt tấn công lớn của trên ba ngàn lính Âu, hơn ngàn giáo dũng, hơn ngàn lính triều đình, năm nghìn dân phu với 6 tàu chiến, 25 cỗ đại bác, còn lại là súng máy, súng trường và rút lui an toàn thắng lợi. Tài chỉ huy của Đinh Công Tráng thể hiện ở những mặt: Xây dựng cứ địa khoa học, chiến đấu hiệu quả; bố trí trận địa: kéo giặc vào sát thành để đánh nhưng giặc không thể vào thành được. Bố trí Nghi Vịnh, Tuấn Đạo để đơm đó giặc; xử lý rất khéo léo với Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt - hai vị quan, hai vị khoa bảng, hai thủ lĩnh của Thanh Hóa, làm cho họ phải nể phục; xử lý rất nghiêm, thân thiết và tin tưởng tướng sĩ, điều động tướng sĩ trong từng trận đánh linh hoạt, đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời trong từng trận đánh; chuyển bị động thành chủ động.

Trận ngày 6 tháng 1 và ngày 20 tháng 1 năm 1887, đang lúc quyết liệt, Đinh Công Tráng quyết định mở cổng thành đuổi giặc khiến lũ giặc hoảng loạn dẫm đạp lên nhau mà chạy. Sau hai ngày pháo kích dồn dập, giặc tràn vào nhung nhúc sát thành nhưng trong thành vẫn im lặng. Im lặng đến rợn người khiến giặc hoang mang. Bất ngờ pháo lệnh nổ vang, tráng binh bắn ra tới tấp, giặc chết như ngả rạ.

Đêm 20 tháng 1 năm 1887, khi giặc đang ngủ, Đinh Công Tráng dùng thế trận "tam long đằng dượt, vân tan vũ tiêu" đánh thẳng vào giặc mà rút lui. Tới sông Cầu Choàn, giặc chặn viện, không có thuyền, Đinh Công Tráng hạ lệnh lấy thắt lưng nối thành năm cầu vải cho nghĩa quân vượt sông an toàn. Giữ được thành và đánh thắng trận tấn công của giặc là kỳ diệu, nhưng đánh và rút lui vượt vòng vây dày đặc, sông sâu cách trở càng kỳ diệu hơn.

Phép dùng binh của Đinh Công Tráng không ngoài truyền thống đánh giặc của ông cha: Lấy đoản binh chế trường trận, lấy thô sơ chống hiện đại, lấy yếu đánh mạnh. Ông triệt để khai thác tinh thần xả thân vì nghĩa lớn của tướng sĩ, đảm bảo bí mật tuyệt đối và đánh cũng như rút rất bất ngờ, làm cho lũ giặc binh hùng tướng mạnh, vũ khí tối tân thất điên bát đảo và chưng hửng nhiều phen. Bài học quan trọng nhất là ông đã xây dựng được khối đoàn kết tướng sĩ, khơi dậy được truyền thống yêu nước bất khuất của quân dân.

Do những hạn chế về lịch sử, Đinh Công Tráng và các thủ lĩnh nghĩa quân chưa thể có một đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện như cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954) của Đảng ta, nhưng chúng ta đã thấy hình bóng chiến tranh nhân dân trong cuộc khởi nghĩa Ba Đình. Bởi vì nó đã huy động được đông đảo các tầng lớp nhân dân (sĩ phu, quan lại, buôn bán nhỏ, nhà giàu, nông dân) và mọi lứa tuổi (cụ già, trẻ em, nam nữ) làm các nhiệm vụ: Xây dựng cứ địa, đánh giặc, ca hát, hậu cần, lấy tin tức địch, khua trống mõ trợ oai, v.v...

Thật cảm động trước cảnh nhân dân ba làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê đã từ bỏ ruộng vườn, nhà cửa nơi sinh tụ làm ăn thiêng liêng đi tản cư sang các làng bên. Nhân dân các làng bên đã nhường nhà cửa ruộng vườn cho đồng bào tản cư. Hàng vạn người gánh rơm rạ, vác tre pheo cả gốc cả ngọn đến xây dựng cứ địa và tình nguyện vào Ba Đình đánh giặc, rèn đúc vũ khí, hậu cần, ca hát hoặc thông tin liên lạc. Trong cảnh giặc dữ, lửa đạn, bé Chép vẫn lao đi truyền mệnh lệnh chiến đấu. Cô Thắm vợ ba Bát Vĩnh từ bỏ sự giàu sang và tên chồng bán nước, theo nghĩa quân và dũng cảm chống lại tên trung tá Mét-danh-giê hãm hiếp. Cảnh 12 nong cơm cao ngút, những sanh canh, cà muối thôn Quý Chữ do bà chánh hộ Gồm tổ chức thiết đãi 200 nghĩa quân từ phía nam Thanh Hóa qua đó vào ứng nghĩa Ba Đình, v.v... Tất cả những cảnh đó rất gần gụi với khung cảnh những ngày đầu chín năm chống Pháp của nhân dân Hà Nam - quê hương Đinh Công Tráng. Đó là cảnh rào làng kháng chiến; cảnh gánh rơm đốt hầm giặc ở nhà máy chai Nam Định; cảnh vác tre, gộc cắm chông chống quân nhảy dù tại cánh đồng Đại Vương, xã Thanh Tân và đốn những cây đại thụ đắp kè lấp sông Đáy chặn tàu chiến, ca nô ở Đoan Vĩ, xã Thanh Hải. Đặc biệt là cảnh bà con tản cư và đón đồng bào tản cư, cảnh dân làng đón và thiết đãi bộ đội đánh giặc.

Những cảnh đó là sự tiếp nối và lớn rộng lên từ cuộc khởi nghĩa Ba Đình, như mầm cây còn ẩn mình trong lớp vỏ cuối đông để rồi đâm chồi nảy lộc bừng lên khi mùa xuân đến.

Ba Đình trụ vững và bẻ gãy sáu đợt tấn công lớn, ác liệt của địch rồi đánh thẳng vào chúng để rút lui an toàn là một kỳ tích. Đó là thắng lợi của lòng quả cảm và tài trí tuyệt vời của tướng sĩ nghĩa quân. Từ thực tế cuộc chiến đấu bảo vệ cứ địa của Đinh Công Tráng, ta có thể khẳng định: Việt Nam một nước nhỏ yếu về sức mạnh quân sự, vật chất vẫn có thể đánh thắng được giặc Pháp xâm lược có binh hùng tướng mạnh, vũ khí hiện đại nếu như có một đường lối đúng đắn và bộ chỉ huy tài năng đủ sức quy tụ nhân tài và lãnh đạo cả nước chống giặc. Bài học này đã được Đảng ta khẳng định trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ sau này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 11:09:55 AM

Nguyên nhân thất bại:

Việc giữ đồng bằng Nga Sơn tạo nên một lưỡi kiếm chĩa vào Phát Diệm, cắt ngang thế trận tung đồ của giặc, khơi lửa cho cả nước là cần thiết. Nhưng trong điều kiện ta chỉ có vũ khí rất thô sơ, ít ỏi, giặc có binh hùng tướng mạnh, vũ khí hiện đại (tàu chiến, đại bác) mà xây dựng thành lũy giữa đồng bằng có khác nào dàn trận trước mũi đại bác của kẻ thù.

Các thủ lĩnh nôn nóng, nặng về quân sự, chưa chú trọng xây dựng lực lượng chính trị ở các làng. Về quân sự cũng nặng về xây dựng thành lũy, bảo vệ thành lũy, coi nhẹ việc tiêu diệt sinh lực địch. Chưa phát động được cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và gian khổ. Các căn cứ co lại, tuy có đồng nước cản giặc nhưng khi bị bao vây lâu dài và pháo kích liên tục thì trở nên cô lập, bất lợi. Nếu không có cách xây dựng hệ thống chông ngầm nhiều vòng, thành luỹ, hầm hào, công sự sáng tạo vững chắc, bí mật, khoa học và sự chỉ huy giữ thành, rút lui cực kỳ tài giỏi của Đinh Công Tráng, sự chiến đấu ngoan cường của tướng sĩ thì Ba Đình đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

Trong hội nghị ở chùa Trang Các, các văn thân Thanh Hóa quyết định xây dựng thế trận mới. Thế trận hoành đồ cắt đôi thế trận tung đồ của giặc. Trong thế trận này, Ba Đình là căn cứ chủ yếu nằm trong hệ thống các căn cứ khác. Các thủ lĩnh cũng đã biết giặc nhất định sẽ bao vây tiêu diệt Ba Đình. Và như vậy phải có sự chi viện tích cực, hữu hiệu của cánh quân khác. Lúc đó lực lượng bên ngoài sẽ là chính yếu tấn công vào kẻ địch để bảo vệ Ba Đình.

Trong suốt thời kỳ giặc bao vây, tấn công Ba Đình, các cánh nghĩa quân khác như Tống Duy Tân, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước... vẫn án binh bất động, Trần Xuân Soạn ở Thạch Bằng với ba nghìn quân đêm đêm chỉ chi viện ít ỏi hoặc bắn vài loạt đạn từ xa. Do đó, Brít-xô không phải đối phó với quân ứng cứu bên ngoài, càng yên tâm bao vây tiêu diệt Ba Đình. Chỉ đến khi Đinh Công Tráng tấn công vào giặc để rút mới có sự chi viện của Trần Xuân Soạn. Tuy vậy, đoàn thuyền để nghĩa quân qua sông cũng bị giặc chặn lại. Có người dân đã bật khóc khi thấy nghĩa quân đã chọc chủng vòng vây giặc nhưng không có thuyền qua sông trong đêm giá rét. Kẻ thù truy kích tới chắc chắn sẽ bị tiêu diệt. Trước tình hình đó, Đinh Công Tráng đã cho nối các thắt lưng của tráng binh thành 5 chiếc cầu vải. Khi Brít-xô truy kích tới thì nghĩa quân đã qua sông. Như vậy, giặc thất bại khi bao vây, tấn công thành nhưng thành công trong chặn viện. Nếu các cánh quân khác và Trần Xuân Soạn ứng viện hữu hiệu kịp thời thì khởi nghĩa Ba Đình của nhân dân Thanh Hóa đã có những thành công vang dội khác. Cũng nhờ thành lũy hầm hào vững chắc, nghĩa quân ngoan cường, Đinh Công Tráng tài giỏi nên khởi nghĩa Ba Đình mới không bị chìm trong biển máu của bọn thực dân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 11:10:57 AM

Xin trích mật số của Đinh Công Tráng gửi vua Hàm Nghi mà giặc Pháp thu được và phúc thư của Tống Duy Tân gửi giặc.

a. Mật sô': "Đề đốc Soạn cùng ba nghìn quân đóng ở Thạch Bằng với ý định cứu giúp chúng tôi. Từ đó tới Ba Đình chỉ cách nửa ngày đường, mỗi đêm ông ta phái lính bắn từ xa - nơi mà họ bắn lại cách chúng tôi đến 1-2 tổng. Vì thế bọn Pháp tịnh không đáp lại một thứ tấn công như vậy. Trái lại, chúng càng bắn dữ dội vào Ba Đình. Với sự trợ giúp như vậy thì làm thế nào có thể thống nhất giữa những lực lượng bên trong với bên ngoài để có thể đẩy lùi địch đang vây hãm chúng ta".

Qua thực tế chiến đấu rõ ràng là Trần Xuân Soạn và các cánh quân bên ngoài đã không ứng cứu được Ba Đình. Giặc thất bại trong tấn công nhưng thành công trong chặn viện.

b. Phúc thư: Khi giặc tấn công Ba Đình thì Tống Duy Tân phúc thư cho thống sứ Ha-lơ-manh, yêu cầu giặc- "Tạm đặt hạt (của Tống) ra ngoài vòng, đợi sau khi mọi việc yên ổn sẽ xử trí thì may lắm, may lắm!".

Bên cạnh quân đội Pháp còn có lực lượng quân đội của triều đình tay sai, trên một nghìn giáo dũng, năm nghìn dân phu do cha Sáu điều đến. Đặc biệt phản động là những tên như cha Sáu, án sát Vương Duy Trinh, Bát Vĩnh. Tên cha Sáu ngoài việc thành lập các đội quân tuẫn đạo chống lại nghĩa quân, hắn còn bày kế tháo cống Hối Cái cho cạn nước Ba Đình, lập những công sự nổi bằng rơm bùn trên thuyền và bè bương để giặc Pháp tiến sát chân thành. Đây là những tên chó săn rất nguy hiểm góp phần đắc lực vào cuộc công phá Ba Đình của giặc Pháp. Đại tá Brít-xô - kẻ rất kiêu ngạo, coi thường người da vàng và cha Sáu đã phải thừa nhận: "Đội quân viễn chinh có súng ống mạnh, có tướng lĩnh tài ba nhưng nếu không có loại người này, cái loại như cha Sáu và cả cái loại như Vương Duy Trinh thì khó giải quyết chóng vánh vấn đề thuộc địa cũng như Ba Đình..."1.

Suy cho cùng là do điều kiện lịch sử, thời đại; ông vua nhỏ Hàm Nghi, các quan triều chủ chiến, các thủ lĩnh văn thân chưa có được một tầm nhìn mới, chưa đủ tầm vóc vĩ mô chỉ đạo kháng chiến, chưa có được một đường lối chiến lược và năng lực quy tụ cả nước tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện chống lại kẻ thù.
___________________________________________
1. Tiểu thuyết Ba Đình, tr. 395.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 11:14:44 AM

Câu hỏi 19: Cho biết về con người và quê hương của Đinh Công Tráng?
Trả lời:


Đinh Công Tráng sinh ngày 14 tháng 1 năm 1842 tại thôn Nham Chàng, xã Nham Kênh, tổng Cẩm Bối, phủ Lý Nhân (nay thuộc xã Thanh Tân, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam).

Lãnh địa làng nằm ở hai bờ sông Đáy. Bờ tây là cánh đồng bãi cao, tiếp theo là khu ruộng trũng và vùng đất rất lầy thụt sát chân núi hiểm trở chạy tới Ba Sao, Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa. Cửa rừng có nhiều ngọn núi, dãy núi lẻ như tấm cửa đá, thanh long đao và những chàng hiệp sĩ. Phía trong là đầm Chàng, đầm Nam Công. Mỗi đầm rộng chừng một kilômét vuông bùn lỏng như cháo loãng, lầy lội. Nước từ lòng núi liên tục chảy ra đồng, hợp lưu theo một con ngòi nhỏ uốn khúc như rồng bơi đổ ra sông Đáy, chia đôi cánh đồng thành hai nửa. Người ta gọi hai đầm đó là hai bầu sữa mẹ. Trong rừng có nhiều thung lũng, hang động rộng đẹp, gắn liền với những huyền thoại làm cho cảnh vật có hồn, huyền ảo, linh thiêng như: núi Tay Ngai (linh đàm), núi Ba Thang (thang lên trời), Rồng Ông (mình rồng đầu hổ - gắn liền với tích ông Hổ thọt - Sơn Thần), núi Mốc (thanh long đao), núi Rùa (rùa mẹ tìm con), Đá Bàn (bàn cờ tiên), Quèn Võng (võng tiên)...

Rừng Chàng thế con Phúc (con dơi), gọi là Phúc Sơn. Đầu dơi là núi Đá Rãi. Chân và cánh bám vào bờ sông Đáy. Những đêm trăng sáng sông lấp lánh vàng, các làng hai bên bờ mờ mờ xanh; rừng Chàng như một con dơi khổng lồ treo mình vào cành vàng lá ngọc ngắm nhìn chị Hằng Nga. Nơi đây hùng vĩ và thơ mộng như một vùng thánh địa đủ cả linh đài võng tiên, long chầu, hổ phục, bàn cờ bầu rượu, giáo dựng, gươm trần tề chỉnh uy nghiêm của các bậc tiên thánh đế vương. Tương truyền đây là nơi vua Đối ngự1. Trước thời Đinh Công Tráng nơi đây còn là sơn trại của Bách Ngoi, Kà Miêng, Kà Thự - thủ lĩnh một toán nông dân chống lại triều đình.

Bờ đông sông Đáy là làng Chàng và đồng Chàng. Làng Chàng như một cánh cung đã lắp tên. Dây cung là đê sông Đáy, mũi tên là đường ngõ Cái ra Tâng. Cạnh đường phía đông nổi lên một khu đất bằng phẳng, vuông vức, rộng hơn một sào, cao khoảng từ 40 đến 50cm, cỏ dày mọc xanh rì. Dân làng gọi là Thiên An, không ai dám khai phá gieo trồng. Một con ngòi lớn từ giữa huyện ra cống Tâng uốn khúc chia đôi cánh đồng Chàng chảy ra sông Đáy, đối diện với ngòi bên núi. Cửa ngòi nổi lên một gò lớn gọi là mào Rồng. Các cụ gọi hai ngòi này là "Lưỡng Long Phún Thủy" rất tiện cho dẫn thủy nhập điền và giao thông vận chuyển. Tháng ba, tháng tư có mưa rào, cá từ sông Đáy tiến sâu vào rừng và đồng ruộng Thanh Liêm. Đầm Chàng, đầm Nam Công như chậu cá buông. Cống Chàng thành đó cá của huyện.

Với vị trí và địa hình trên, Nham Chàng có thế đất tuyệt kỳ, cảnh quan tuyệt mỹ, đủ cả: Long, Ly, Quy, Phượng, Thiên An, Long Đao, sơn quần thủy tụ rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp toàn diện, chăn nuôi gia súc, đánh bắt cá, khai thác lâm thổ sản, giao thông buôn bán, tụ nghĩa dấy binh mở mang nghiệp lớn. Theo đường sông, đường số 1 có thể thông thương với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, ra Bắc vào Nam. Theo đường rừng có thể tiến sâu vào rừng Bồng Lạng, Thanh Thủy, Ba Sao tới Hòa Bình hoặc vào Ninh Bình, Thanh Hóa. Khi mạnh có thể chiếm giữ đồng bằng, lúc yếu có thể lui vào rừng cố thủ lâu dài. Nham Chàng đã một thời hưng thịnh. Nhưng trước thời Đinh Công Tráng thì dân làng rất nghèo khổ. Nhiều người dân bị chằng trói đánh đập. Nhiều em nhỏ phải đi ở, bị chủ hành hạ khổ sở.

Làng thờ hai vị anh hùng và một thục nữ có công với làng. Những ngày lễ hội rước thánh đáp nghĩa tri ân, giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn và truyền thống bất khuất, dân làng thường tổ chức diễu thuyền trên sông để mô tả cảnh thủy chiến của Quý Minh Đại Vương dẹp tặc binh. Những cảnh đó cùng các chuyện về Liễu Đôi, Đinh Bộ Lĩnh đã kích thích tính hiếu kỳ của Đinh Công Tráng. Cậu thường tổ chức đánh trận giả, bơi lội, phi trâu trên bãi cát, cưỡi trâu lội qua sông theo tích cờ lau tập trận, cưỡi rồng qua sông Hoàng Long.
_______________________________________
1. Theo truyền thuyết, vua Đối là một vị thần có tài đối đáp, thường được Ngọc Hoàng vời lên viết các câu đối trên thiên đình, giải các câu đối hiểm hóc hoặc đối đáp với sứ thần từ các vì tinh tú, từ âm ty địa ngục đến thiên cung. Ngài được phái xuống trần giúp người giải đố. Ngài ngự ở núi Tay Ngai, nằm nghỉ ở Quèn Võng, chơi cờ ở Đá Bàn, nghe hát ở hang Phường Chèo, hang Trống, cầu phúc cho dân ở hang Chùa. Khi có việc thiên cung ngài cưỡi Phượng Hoàng Linh hoặc lên núi Ba Thang bay về trời.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười Một, 2016, 11:15:19 AM

Từ ngày đi học rồi theo cha làm thuốc, Đinh Công Tráng hiểu thêm nhiều điều về lịch sử Thanh Liêm (Hà Nam), Nam Định, Ninh Bình. Đây là nơi đất rộng người đông, đồng ruộng mênh mông, núi rừng trùng điệp, có vị trí rất quan trọng trong chiến tranh giữ nước cũng như trong hòa bình xây dựng. Thiên nhiên ban tặng cho con người biết bao điều kiện để làm ăn sinh sống, nhưng phải biết hợp lực cùng nhau, chống chọi lại kẻ thù hung bạo và bão lụt khủng khiếp. Trong cuộc đấu tranh dai dẳng quyết liệt ấy, con người được tôi luyện cứng cáp, dẻo dai, kiên cường bất khuất, giàu lòng nhân nghĩa, làm nên những kỳ tích lẫy lừng, sản sinh các bậc hiền tài, phát tích đế vương, minh thánh. Xung quanh Nham Chàng dày đặc những dấu tích anh hùng thấm đượm trong các đền đài, miếu mạo, thành quách, lăng tẩm hoặc trong kho tàng truyện kể dân gian.

Cách làng chừng từ 3 đến 5 kilômét về phía nam là rừng Bồng Lạng, căn cứ chống quân Hán của các nữ tướng Hai Bà Trưng, về phía bắc là thành nhà Hồ, căn cứ chống Nguyên, Mông của Phạm Ngũ Lão ở Kiện Khê. Về phía đông là vùng trầm tích văn hóa Liễu Đôi nổi tiếng, giàu nhân văn thượng võ. Tiếp đó là Bảo Cái xã Liêm Cần, quê hương của đức vua Lê Đại Hành từng thắng giặc Tống, bình Chiêm, giữ yên Đại Việt. Xa hơn một chút là căn cứ của Lê Chân, Lý Thường Kiệt, Đinh Lôi, Cao Thị Liên và Đọi Sơn - nơi vua Lê tịch điền khuyến khóa việc nông tang; Thành Cách, Kinh Thanh là mồ chôn lũ giặc Minh. Cách chừng trên 20 kilômét về phía tây nam là Hoa Lư - nơi phát tích nhà Đinh - kinh đô đầu tiên của nước Đại Việt. Phía đông bắc là Thiên Trường, Tức Mạc - nơi phát tích nhà Trần hùng mạnh ba lần đánh bại giặc Nguyên Mông.

Nham Chàng đã từng lung linh bóng thuyền rồng, cờ quạt rợp sông Đáy của vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long và vang dội tiếng quân reo ngựa hý, rầm rập bước chân thần tốc của binh hùng tướng mạnh Quang Trung ra Bắc tiêu diệt giặc Thanh.

Đinh Công Tráng muốn nối chí tiền nhân làm việc có lợi cho dân cho nước. Ông bỏ nghề thầy thuốc ra tranh chức lý trưởng xã Nham Kênh để che chở cho dân, xây dựng xóm làng giàu đẹp, bình yên.

Quê hương - con người - gia đình - thầy học và bạn bè cùng với sự tôi luyện của bản thân đã hun đúc nên tính cách anh hùng của Đinh Công Tráng. Đó là lòng yêu nước thương nòi nồng nàn sâu sắc và tinh thần dũng cảm ngoan cường xả thân vì nghĩa lớn. Khát vọng đó đã đưa ông từ một người dân bình thường thành một lý trưởng, cai tổng giỏi giang, một thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp lỗi lạc - người anh hùng của dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX.

Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của gia đình, quê hương và thầy học, trong bối cảnh suy tàn của nhà Nguyễn, Đinh Công Tráng sớm nhận ra nỗi thống khổ của người dân lao động trước bọn địa chủ, cường hào, ác bá và nạn ngoại xâm. Ông đã đứng về phía họ và trở thành anh hùng của họ.

Ông ra làm lý trưởng để che chở cho dân làng. Thời kỳ này ông đã ra sức xây dựng quê hương giàu đẹp bình yên, đấu tranh chống tham nhũng, bảo vệ dân lành, góp phần gìn giữ kỷ cương phép nước.

Khi kẻ thù như đàn sói đói săn mồi tràn đến, ông lập tức phất cờ đại nghĩa chống giặc, cứu nước, một mình gan góc chống lại ba thế lực, đó là đế quốc Pháp hùng mạnh, tàn bạo; triều đình phong kiến tay sai bán nước và giáo hội phản động xảo quyệt. Thua trận này, bày trận khác, mất nơi này tìm đến nơi khác. Đâu có người nghĩa khí chống giặc là ông tìm đến liên kết. Đâu có giặc là xốc tới tiêu diệt. Ông đánh giặc ròng rã mười lăm năm trời suốt chiều dài gần nửa đất nước (từ Bảo Hà sát biên giới Việt - Trung đến Thanh Hóa, Nghệ An).

Với lòng yêu nước thương nòi nồng nàn, triệt để, ông đã trở thành một trong những người Việt Nam đầu tiên lãnh đạo nhân dân chống lại kẻ thù xâm lược mới: Đó là chủ nghĩa đế quốc, cụ thể là thực dân Pháp xâm lược. Kẻ thù này mãi tới năm 1954 chúng ta mới tống cổ được ra khỏi miền Bắc. Trong cuộc đấu tranh sinh tử đó, ông trở thành một thủ lĩnh nghĩa quân có uy tín, một vị tướng thao lược, một kỹ sư công binh đắp lũy can thành độc đáo, sáng tạo.

Mặc dầu việc xây dựng quê hương còn dang dở, sự nghiệp chống giặc cứu nước chưa thành công nhưng ông đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu trong việc xây dựng làng quê và đánh giặc, giữ nước, xứng đáng là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 10:39:02 PM

Câu hỏi20: Gia đình đã có tác động, ảnh hưởng tích cực đến nhân cách của Đinh Công Tráng từ khi còn nhỏ cho đến khi trở thành thủ lĩnh nghĩa quân như thế nào?
Trả lời:


Đinh Công Tráng sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo thuộc dòng tộc Đinh có từ lâu đời. Thân phụ là Đinh Văn Thành - một danh y nổi tiếng tâm phúc, nhân từ. Khi hành nghề, cụ lấy con bệnh làm trọng, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Người nào đến trước hoặc bệnh nặng chữa trước. Người đến sau, bệnh nhẹ chữa sau. Gia đình nghèo, cụ lấy giá phải chăng. Con bệnh quá nghèo khổ, cụ không lấy tiền. Cụ dặn dò cẩn thận người bệnh phải kiêng cữ gì khi uống thuốc. Cảm sốt nhẹ, cụ bày cho cách lấy lá quanh vườn tự chữa. Nhà giàu, kẻ có chức quyền hống hách, cụ khéo léo nhắc nhở cho bớt thói kiêu căng. Cụ cho rằng, với người bệnh, nhất là người bệnh nghèo, điều quan trọng là làm cho họ tin tưởng và được thầy thuốc an ủi, thông cảm động viên. Cụ được mọi người kính trọng nên ngay từ khi tuổi chưa cao, bà con trong tổng đã gọi là cụ lang, tỏ ý tôn trọng.

Một phú ông ở thôn Bạc lâm bệnh nặng, chạy chữa nhiều nơi không khỏi, tưởng rằng chỉ nằm chờ chết. Còn nước còn tát, gia đình mời cụ lang Thành tới chữa. Sau một thời gian điều trị tận tình, phú ông khỏi bệnh. Như được tái sinh, cảm phục trước lòng tốt và tài năng của thầy thuốc, phú ông gả con gái út đang xuân cho cụ. Lúc này cụ lang đã ngoài bốn mươi tuổi vẫn muộn đường tử tức.

Đinh Công Tráng tướng mạo dĩnh ngộ, khỏe mạnh nhanh nhẹn, khẩu khí rắn rỏi nên cụ lang Thành rất yêu quý và ông đã trở thành người dạy chữ, dạy thuốc, dạy nhân cách đầu tiên của cậu.

Những ngày còn nhỏ, Đinh Công Tráng sáng đi học, chiều chăn trâu cắt cỏ. Ruộng đồng, rừng núi, đầm Chàng trở thành giang sơn hấp dẫn của cậu và đám trẻ trong làng. Tráng nổi lên như một người đứng đầu trong nhóm. Cậu bày đủ thứ trò chơi như đuổi bắt vịt trên sông, đứng trên mình trâu lội qua sông và đánh trận giả. Trẻ trâu làng Chàng thường đánh trận với trẻ làng Bạc, làng Hang hoặc làng Tâng. Và thường là trẻ làng Chàng thắng vì có Tráng chỉ huy. Có điều là khi bắt được "tù binh", cậu không đánh đập như trẻ làng khác, mà thường phạt bằng cách giam đứng trong vòng tròn hoặc trông trâu cho trẻ làng Chàng, hoặc giải thích như người lớn rồi cho về. Thấy bạn nghèo đói hơn mình, cậu thường lấy gạo nhà đem cho.

Lớn lên, Tráng theo học cụ Hoàng giáp Tam đăng Phạm Văn Nghị - một sĩ phu yêu nước. Qua việc giảng bài và việc thầy chiêu mộ 365 sĩ tử vào kinh xin vua Tự Đức cho đi đánh giặc ở Đà Nẵng đã ảnh hưởng rất nhiều đến cậu. Bạn học của Đinh Công Tráng cũng nhiều người nghĩa khí. Đinh Công Tráng học giỏi, khẩu khí khác thường, được thầy yêu, bạn mến. Tuy vậy, cậu cũng chỉ học đến tam trường thì nghỉ về nhà theo cha làm nghề thuốc. Có lẽ vì chán cảnh quan trường mục nát mà Đinh Công Tráng bỏ đường khoa cử, chọn đường trị bệnh cứu người.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 10:39:23 PM

Từ nhỏ, Đinh Công Tráng đã nhiều lần theo hầu cha đi chữa bệnh. Vốn sáng ý, ham học hỏi lại có vốn chữ Hán nên cậu được cha tin cậy truyền nghề một cách trực tiếp. Cụ hướng dẫn tỉ mỉ cách nhận dạng thuốc lúc tươi, lúc khô, cách thu hoạch, sao tẩm, chế biến, bảo quản. Cụ đưa sách cho Tráng đọc trước rồi giảng giải sau. Cụ cho Tráng đi học cách bắt mạch, chẩn đoán bệnh, bốc thuốc, kê đơn.

Tráng cũng có thái độ đối xử với bệnh nhân và sự cẩn trọng như cha. Có con bệnh mê tín nghe theo lời bói lễ lạy rất tốn kém, ông khuyên họ muốn khỏi bệnh phải điều trị bằng thuốc. Nếu cần chỉ nên trầu nước, đèn hương kêu cầu phật thánh, tổ tiên phù hộ. Phật thánh ở trong ta, hiểu được thiện, ác trong từng người. Người tốt sẽ được phù hộ, người ác sẽ bị trừng phạt. Kêu cầu lễ lạy mà làm điều ác sẽ bị trừng phạt. Đinh Công Tráng luôn nhớ lời cha dạy. Thầy thuốc phải lấy y đức làm gốc và phải rất cẩn trọng. Chỉ sơ suất cắt nhầm thuốc, người bệnh có thể chết, dao cầu biến thành máy chém, thầy thuốc biến thành đao phủ giết bệnh nhân.

Cha Tráng là một người rất giỏi môn ngoại khoa và các bài thuốc trị bệnh phong sương, tả và ung nhọt, tinh thông nhâm cầm độn đoán.

Tóm lại, thuở nhỏ Đinh Công Tráng chịu ảnh hưởng tốt của gia đình, thầy học, bạn bè và quê hương. Ở nhà Tráng học được lối sống cần cù giản dị, chất phác của người nông dân, tiếp thu lòng nhân nghĩa, ý thức làm việc cẩn trọng của cha. Tới trường, Tráng học được nghĩa khí cao đẹp của thầy học "Quốc gia lâm nguy thất phu hữu trách". Đối với bạn bè, Tráng là thủ lĩnh tý hon của đám trẻ làng trong các trò chơi kích thích sự khỏe mạnh, lanh lẹ, thông minh.

Những điều đó như mầm mống khỏe mạnh, gieo trên mảnh đất trấn Sơn Nam giàu truyền thống bất khuất, nuôi lớn lên nhân cách của người lý trưởng, cai tổng, người thủ lĩnh nghĩa quân Ba Đình sau này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 10:40:17 PM

Câu hỏi 21: Thầy học và bạn học đã có ảnh hưởng lớn đến nhân cách của Đinh Công Tráng như thế nào?
Trả lời:


Thầy học của Đinh Công Tráng là cụ Phạm Văn Nghị, sinh ngày 24 tháng 12 năm 1805 (tức ngày 4 tháng 11 năm Ất Sửu) tại thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Gia đình cụ Phạm Văn Nghị có truyền thống nho giáo, hiếu học, sống thanh bạch. Cụ đi học từ năm tám tuổi. Thầy dạy không ai là khoa bảng lớn, học vị cao nhất là cử nhân. Cụ vừa học vừa làm gia sư. Cụ kết bạn với danh sĩ Phạm Đức và tú tài Vũ Duy Thanh. Cụ học giỏi, thông minh nhưng thi cử không hanh thông, bốn kỳ thi hương mới đạt cử nhân. Năm ba mươi tám tuổi cụ thi hội, thi đình đậu liền Hoàng giáp thứ hai, chỉ kém Đình nguyên Cửu trường. Người đương thời gọi cụ là Hoàng giáp Tam đăng Phạm Văn Nghị. Phạm Văn Nghị mất ngày 11 tháng 01 năm 1881 (tức ngày 12 tháng Chạp năm Canh Thìn). Sinh thời cụ thành đạt ở nhiều lĩnh vực. Cụ là một vị quan thanh liêm thương dân. Năm 1839, cụ được bổ làm quan tri phủ Lý Nhân (gồm năm huyện Kim Bảng, Thanh Liêm, Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân - tức là cả tỉnh Hà Nam ngày nay). Sau đó cụ làm đốc học tỉnh Nam Định rồi làm doanh điền sứ. Trước thời kỳ này cụ chăm lo việc nông tang, cụ khai khẩn đất hoang, đê điều, học hành và trị an nên được nhân dân kính mến.

Cụ là một nhà giáo tận tụy với sự nghiệp, đào tạo được nhiều bậc hiền tài cho đất nước. Cụ mở một trường học đặc biệt: Dạy cả văn võ (thuở ấy chưa ai mở loại trường này). Học trò của cụ nhiều người đỗ đạt cao, danh vọng lớn như: Tam nguyên Trần Bích San, Nguyễn Khuyến, Song nguyên Đỗ Huy Liệu, tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, Tống Duy Tân, phó bảng Đặng Ngọc Cầu, Lã Xuân Oai, cử nhân Hiệp biện đại học sĩ, đại thần viện cơ mật Phạm Thận Duật, thủ khoa Nguyễn Cao... Nhà cụ có năm con trai thì một người theo nghiệp võ còn lại đều đỗ cử nhân, phó bảng. Nhiều học trò của cụ có chí khí và sự nghiệp lẫy lừng như: Đinh Công Tráng, Phạm Nhân Lý, Đỗ Huy Liệu, Đỗ Hữu Lợi, Hoàng Văn Tuấn, Trần Văn Gia, Lê Văn Tốn đều đỗ đạt cao, sau làm quan rồi làm thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp xâm lược. Nguyễn Khuyến làm Tổng đốc Tam tuyên (gồm Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa). Khi nước mất, triều Nguyễn trở thành tay sai cho giặc, cụ cáo quan tỏ ý bất hợp tác với giặc. Thuở ấy cả nước có ba vị Tam nguyên thì trường của cụ có hai vị, Nam Hà có năm vị Hoàng giáp thì trường của cụ có bốn vị.

Cụ là một sĩ phu yêu nước. Năm 1858, giặc Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) xâm lược Việt Nam, thì ngày 29 tháng 2 năm 1860 (khi cụ đã 56 tuổi), cụ tổ chức đoàn nghĩa dũng gồm 365 người trong đó có 5 cử nhân, 8 tú tài và nhiều học trò vào kinh đô Huế xin vua đánh giặc với bản "Trà Sơn kháng sớ" nổi tiếng. Không được vua Tự Đức chấp nhận, cụ trở về dựng cờ nghĩa. Ngày 10 tháng 12 năm 1873, cụ đánh giặc ở Độc Bộ, bắn tàu giặc, giết chết ba tên lính Âu. Cụ còn cấp vũ khí, binh quyền cho Đinh Công Tráng đánh giặc ở Thanh Liêm. Sau đó cụ về Yên Hòa cùng học trò là Phạm Nhân Lý tổ chức nghĩa quân chống giặc ở Ý Yên.

Ngoài ra, cụ còn là một nhà thơ của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 10:40:43 PM

Bạn học của Đinh Công Tráng có rất nhiều người đỗ đạt cao danh vọng lớn, có nghĩa khí. Nhiều bạn học của ông tham gia trong đội nghĩa dũng vào Huế xin đánh giặc. Một số người trở thành những vị quan có chí cứu nước như:

Trần Bích San (1840-1877): quê Vị Xuyên, Mỹ Lộc, Nam Định, đỗ đầu thi hương, thi hội, thi đình (Tam nguyên), muốn mang tài năng giúp nước, vạch rõ nạn tham nhũng, đề xuất cải tổ giáo dục, tuyển chọn nhân tài, phòng bị đất nước.

Vũ Hữu Lợi (1846-1887): quê Dao Cù, xã Đông Sơn, Nam Ninh, Nam Định. Đỗ tiến sĩ năm 1875, đốc học Nam Định, thương biện Nam Định, tả ty Bộ binh. Năm 1884, nhà Nguyễn đầu hàng Pháp, ông bỏ quan chuẩn bị khởi nghĩa, bị bạn là án sát Nam Định Vũ Văn Báo phản bội, ông bị bắt và bị xử tử vào ngày 30 Tết năm Bính Tuất.

Hoàng Văn Tuấn (1823-1892): quê Đô Hoàng, Ý Yên, Nam Định, đỗ giải nguyên. Năm 1873, Hoàng Văn Tuấn tham gia tập hợp văn thân đánh giặc ra khỏi Thanh Liêm, Phủ Lý, sau bị phát vãng 10 năm.

Trần Văn Gia (1836-1892): quê Hải Trung, Hải Hòa, Nam Định, đỗ cử nhân năm 1868, làm quan nhà Nguyễn. Năm 1884, Trần Văn Gia cáo bệnh về nhà dạy học, sau lên Bắc Giang theo Đề Thám.

Đỗ Huy Liệu (1844-1891): quê Yên Đồng, Ý Yên, Nam Định. Năm 1867, Đỗ Huy Liệu đỗ giải nguyên. Sau vụ đánh úp Huế không thành, ông bỏ về quê. Gia đình tan nát vì bọn phản động trả thù. Nước mất, nhà tan, ông nhẫn nhục nuôi mẹ. Khi mẹ chết ông cũng chết theo.

Lê Văn Tốn: quê Kinh Truật, Liêm Sơn, Thanh Liêm, Hà Nam, theo Đinh Công Tráng đánh giặc. Sau khi bị giặc bắt, trên đường ra pháp trường ông đã ngâm một bài thơ tự sáng tác nói lên khí phách của mình.

Phạm Nhân Lý: quê An Hòa, Ý Yên, Nam Định. Phất cờ khởi nghĩa cùng Đinh Công Tráng và thầy học đánh giặc ở Nam Định, sau vào Ba Đình theo Đinh Công Tráng.

Tống Duy Tân: Đỗ tiến sĩ, sau làm quan Chánh sứ Sơn phòng, là thủ lĩnh nghĩa quân Hùng Lĩnh giai đoạn III của phong trào Cần Vương Thanh Hóa.

Vũ Ngọc Thìn: Em của Vũ Hữu Lợi, vào Ba Đình theo Đinh Công Tráng chống giặc.

Nguyễn Khuyến (1835-1899): quê thôn Vị Hạ, xã Yên Đổ, Bình Lục, Hà Nam. Năm 1871, đỗ đình nguyên (3 lần đỗ đầu) làm quan triều Nguyễn, bất mãn với triều đình, ông không nhận Tổng đốc Tam nguyên, tỏ thái độ bất hợp tác với giặc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 10:42:03 PM

Câu hỏi 22: Khi làm lý trưởng, cai tổng, Đinh Công Tráng đã thể hiện là một vị chức sắc thương dân như thế nào?
Trả lời:


Triều đình nhà Nguyễn ngày càng mục nát. Bọn quan lại địa phương và địa chủ cường hào câu kết với nhau ức hiếp, bóc lột dân lành. Người nghèo cực khổ, điêu đứng. Đinh Công Tráng nhận thấy làm thuốc chỉ chữa được bệnh chứ không trị được lũ ác bá. Muốn bênh vực được người nghèo, che chở cho dân làng cũng phải có vị trí trong xã hội. Vậy nên ông xếp dao cầu ra tranh chức lý trưởng rồi đắc cử cai tổng.

Thời kỳ này ông đã làm được một số việc có lợi cho dân làng. Ông khôn khéo gạt bỏ lũ sâu mọt, đưa người được dân tin cậy vào chính quyền hương lý; lập lại các loại sổ đinh, sổ điền, sổ quỹ; quy định cách thức làm việc và phân công rõ ràng chức trách từng chức dịch.

Dựa vào hội đồng hương lý và hội đồng tộc biểu, ông quy định cụ thể, công khai việc khai thác tận dụng mọi loại đất đai ngoài thổ canh, thổ cư và các mối quan hệ giữa dân làng với nhau, giữa dân với chức dịch.

Ông lập đội tuần phu mạnh đánh cướp giữ làng, sẵn sàng trừng trị kẻ phá hoại, răn đe bọn nhà giàu ức hiếp người nghèo. Tuần phu là những chàng trai khỏe mạnh được luyện tập võ gậy. Ông còn tổ chức cho nam giới từ mười tám tuổi đến bốn mươi lăm tuổi học võ gậy. Hàng năm vào ngày lễ hội có thi đấu, ông quy định khi có trống ngũ liên, tù và rúc liên hồi, mỗi nhà ít nhất phải có một người khỏe mạnh mang theo gậy gộc, giáo mác tới góp sức. Thuở ấy giặc cướp như rươi. Chúng kéo từng đoàn đánh trói người, cướp thóc lúa, trâu bò, nồi niêu. Có khi chúng cướp cả ban ngày. Làng bên thấy vậy không dám đến cứu giúp. Nhưng bọn cướp đi cướp nơi khác về qua khúc sông Chàng cũng bị đánh tơi bời. Chúng phải đem trầu rượu đến lễ thánh, xin phép cho đi qua khúc sông Chàng và hứa nội gia cư, ngoại đồng điền thuộc địa phận làng Chàng không dám xâm phạm. Truyền thống đánh cướp và võ gậy được duy trì đến năm 1947.

Ông tổ chức khơi ngòi từ sông Đáy vào đầm Chàng, chia cánh đồng nơi đây thành hai nửa. Đồng làng cũng có ngòi chạy từ cống Chàng tới cống Tâng. Hai ngòi này tiện lợi cho dẫn thủy nhập điền, vận chuyển phân tro, thóc lúa... Tháng ba mưa rào cá từ sông Đáy vào hai ngòi, đầm và đồng Chàng biến thành chậu cá buông. Cá từ sông Đáy và cánh đồng cả huyện dồn về, cống Chàng trở thành cái đó đơm cá.

Ông cho dân được trồng tre ven đường sau đồng (phía đông) và bờ ngòi (phía nam) làng, cho dân được khai phá cánh đồng lầy thụt Dải Cờ, nhưng hàng năm phải nộp cho làng từ một đến hai phần mười hoa lợi. Như vậy dân có ruộng cấy, có tre làm nhà, đan lát mà làng cũng có thu nhập chút ít cho công quỹ. Đầm Chàng là nơi thả trâu cắt cỏ. Cuối tháng Chạp hoặc tháng Giêng, làng tát đầm, mở hội. Tại núi Đá Rãi, ông đặt lệ hai hoặc ba năm mới được đốn củi một lần. Từ đó gọi là rừng Cấm, cây cối um tùm, chim, thú kéo về làm tổ sinh con. Tre quanh làng mọc thành lũy dày, chim cò kéo về sinh sống, đêm hôm trộm cướp khó vào làng. Trong bia thờ ở đình làng có ghi: Ông xuất mấy ngàn quan tiền của gia đình giao cho vợ cả là Nguyễn Thị Chủ tu sửa đình chùa, tôn lập văn chỉ các tòa nguy nga đường bệ, định lễ nhạc, đắp bồi phong tục thuần hậu. Ông còn mở chợ Chàng giao lưu buôn bán. Thuở ấy trong vùng rất ít chợ. Ông hiến cho làng 8 mẫu ruộng giao cho ba giáp cày cấy, hàng năm dùng vào việc chung.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 10:42:31 PM

Thuở ấy dân tình khốn khổ. Trước công đường, ông cự lại nạn sưu dịch, phù thu lạm bổ nặng nề. Bọn quan lại tuần thú, các làng phải phục dịch đón tiếp tốn kém. Ông tìm cách bỏ lệ đó. Mỗi khi quan lại qua sông Đáy gõ trống "Tong! Tong!", ông cho tuần phu nổi hiệu lục soát rồi vin cớ bây giờ "trộm cướp giả dạng thầy tu" mà bỏ lệ đón tiếp.

Bọn cố Tây lợi dụng sự mê tín của giáo dân mà bãi bỏ thờ phụng tổ tiên, chia rẽ giáo lương, mưu đồ xâm lược. Ông căm ghét bọn chúng. Một lần lên thăm nhà bố vợ là Lý Đồng ở Võ Giang, ông đã bắt giữ một cố Tây ba ngày. Nhà xứ Kẻ Sở phải huy động tay chân mang giáo mác, gậy gộc đến giải vây.

Ông ghét thói gian lận bóc lột dân nghèo. Một lần sang nhà bố vợ ở thôn Mụ, xã Thanh Tâm, thấy vợ mình dùng thủ đoạn lừa gạt tá điền đến nộp tô để bóc lột, ông đã trách mắng vợ. Những năm mất mùa, đói kém, ông tổ chức phát chẩn cho dân nghèo.

Hàng năm vào ngày đại kỳ phúc, ông thường mở lễ hội tôn vinh các bậc anh hùng thờ ở đình làng, tổ chức các trò chơi hoặc thi đấu gậy, cờ tướng, bơi lội, diễu lâu thuyền (theo tích Quý Minh Đại Vương dẹp tặc binh). Những ngày ấy, ông đặt ra lệ mới: Cho đàn bà quyền được tới dự và hưởng cốc bàn trước cả quan viên. Ông giải thích với kỳ hào, kỳ lý rằng: "Đàn bà phải suốt đời phục dịch chồng con, không bao giờ được ra chốn đình trung miếu sở".

Nhờ các việc làm đó, ông được dân làng mến phục, nghe theo, đồng tâm hiệp lực tạo nên sức mạnh đánh cướp, chống tham nhũng.

Cha con Thừa Diệu ở thôn Yên Phú, xã Thanh Hương là một địa chủ cường hào gian ác, lợi dụng chức quyền lộng hành, tham nhũng. Đinh Công Tráng vận động dân làng chống lại. Cuộc đấu tranh âm ỷ lâu dài. Diệu dựa thế quan trên và cố Tây, thách thức ngang ngược dẫn tới cuộc tranh tụng quyết liệt. Diệu vu cho Đinh Công Tráng đóng cống Chàng làm ngập cánh đồng hơn trăm mẫu của hắn. Đinh Công Tráng tố cáo Diệu: Đánh dân trái phép, trốn lậu thuế nhà nước, cướp đoạt ruộng đất làng Chàng, chứa chấp giáo sĩ ngoại bang, chia rẽ giáo lương, mưu đồ bán nước. Cuộc tranh tụng kéo dài. Cuối cùng vào tới Bộ Hình xét xử, biết Diệu nhiều tiền đút lót quan trên lại có thế cố Tây từ trong kinh, ông đi trước và lập kế "Ve sầu thoát xác" để lừa đối thủ. Trên đường vào kinh theo kiện, Diệu thấy mộ Đinh Công Tráng bên đường ở Tam Điệp, hắn bèn hỏi dân tình rồi hý hửng trở về mở tiệc ăn mừng. Trong khi đó Đinh Công Tráng lẳng lặng vào kinh. Diệu bị Bộ Hình xử phạt: Phải trả ruộng cho làng Chàng và "Thượng nhất bách đồ tam thiên lý" (Đánh trăm gậy đày ba ngàn dặm). Nghe tin đó, Diệu trốn vào Kẻ Sở, nhờ cố Pháp (gọi là cha Liêu) cấp giấy và tiền đi đường cho hắn trốn vào Nam.

Thể theo ý dân, Đinh Công Tráng chia đều số ruộng trên theo suất đinh, gọi là ruộng "Phạm sản”. Thắng lợi này làm cho bọn cường hào, địa chủ, quan lại tham nhũng khiếp uy, nông dân thoát ách tô cắt họng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 10:43:05 PM

Sau khi Đinh Công Tráng thất bại ở Ba Đình, hội truyền giáo dựa thế Tây trắng trợn chiếm lại số ruộng trên giao cho tá điền công giáo với mức tô cắt cổ: Mỗi mẫu năm mươi thúng thóc. Đúng như cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết: "Bên cạnh các thế lực phần đời còn có các đấng cứu thế phần hồn nữa. Các đấng này trong khi truyền bá đức nghèo cho người Việt Nam cũng không quên tìm cách làm giàu bằng mồ hôi nước mắt người bản xứ".

Từ khi Đinh Công Tráng làm lý trưởng, cai tổng, xóm làng đã bình yên. Dân làng đỡ khốn khổ vì nạn trộm cướp, bóc lột áp bức của bọn cường hào ác bá và đấu tranh chống tên Thừa Diệu tham nhũng thắng lợi.

Có được kết quả trên trước hết là do Đinh Công Tráng ra làm quan (chỉ là cai tổng) với mục đích che chở bênh vực dân làng, nhất là người nghèo. Với địa vị xã hội và quyền hạn của mình, ông đã thực hiện được một số việc làm tốt đẹp:

Một là, gạt bỏ được bọn sâu mọt, xây dựng được bộ máy chính quyền hương lý có uy lực; Hai là, thực hiện được dân chủ cộng đồng làng xã. Tuy hình thức dân chủ đó chưa được như nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và quy chế dân chủ (Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra) như chúng ta ngày nay nhưng ông đã dựa vào ý dân thông qua hội đồng tộc biểu; Ba là, do điều kiện lịch sử, việc xây dựng làng xóm của ông chưa thể toàn diện và ở mức cao như chúng ta ngày nay nhưng ông đã triệt để khai thác những điều kiện tự nhiên của quê hương để phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp, chú ý xây dựng xóm làng khá toàn diện: kinh tế, trị an, văn hóa xã hội, phong tục tập quán; Bốn là, các việc làm của ông đều kết hợp được lợi ích nhiều mặt, lợi ích trước mắt và lâu dài, lợi ích giữa từng gia đình với cả làng. Một số việc làm khá tiến bộ, gần gũi với những việc đang làm của chúng ta hiện nay.

Việc cho dân trồng tre bên đường, bên bờ ngòi giúp cho bản thân người trồng có lợi, dân làng cũng có lợi, ngoài ra còn tạo cảnh quan môi trường, cân bằng sinh thái và ngăn được trộm cướp, phong cảnh làng xanh đẹp thanh bình. Việc khơi ngòi đồng núi lợi về dẫn thủy nhập điền phục vụ sản xuất nông nghiệp, lợi giao thông vận chuyển, lợi cho việc dẫn cá vào đầm. Như vậy ông đã triệt để khai thác được các nguồn lợi tự nhiên phục vụ dân sinh một cách có tổ chức, có kế hoạch. Việc đặt quyền lợi mới cho phụ nữ được tới dự những ngày đại kỳ phúc và hưởng cốc bàn trước cả quan viên khiến ta liên tưởng tới ngày 8 tháng 3 hiện nay.

Ở thời kỳ ấy, một lý trưởng, cai tổng có tấm lòng thương dân, yêu làng và làm được như vậy quả là đáng quý, đáng ca ngợi và noi theo.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 08:39:17 PM

Câu hỏi 23: Lòng yêu nước thương nòi của Đinh Công Tráng được thể hiện ngay từ khi còn nhỏ và phát triển mạnh mẽ cho đến khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, điều này được thể hiện như thế nào?
Trả lời:


Yêu nước thương nòi là phẩm chất cao quý của các bậc anh hùng. Nhưng ở mỗi thời đại, mỗi con người cụ thể, phẩm chất đó được biểu hiện ở những mức độ khác nhau.

Dưới chế độ phong kiến, lòng yêu nước được thể hiện ở tư tưởng trung quân ái quốc, hôn quân bạo chúa hay thánh đế minh vương, lão quân hay ấu chúa bảo gì nhất nhất quan lại phải theo, không được trái lời. Vua đã xuống chiếu, thần phải tuân chỉ, bất luận đúng hay sai "quân xử thần tử thần bất tử bất trung", vậy nên mới có chuyện Lý Trần Quán tự chôn sống mình vì học trò bắt chúa Trịnh nộp cho Tây Sơn. Ông ta cho việc làm của mình là trung quân ái quốc.

Ngày nay quan niệm của chúng ta yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội, thương nòi là thương nhân dân lao động. Yêu nước đúng đắn, triệt để, tính tích cực của chúng ta là: Đấu tranh để bảo vệ và xây dựng xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta, để xây dựng một xã hội không có áp bức bóc lột, nước mạnh dân giàu, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Do hoàn cảnh lịch sử lúc đó, cũng như những thủ lĩnh khác, lòng yêu nước thương nòi của Đinh Công Tráng không thể như chúng ta ngày nay được nhưng rất nồng nàn sâu sắc, mang yếu tố tích cực, triệt để, gần gũi quan niệm của nhân dân lao động và của chúng ta ngày nay.

Từ thuở còn là cậu bé chăn trâu, Đinh Công Tráng chưa hiểu thế nào là yêu nước thương nòi nhưng chắc chắn cánh Rỉnh, mả Giô, đầm và rừng Chàng mà ông cùng các bạn chăn trâu tập trận, vật võ, bắt sáo, đuổi chim, bơi lội là giang sơn đầy hấp dẫn, yêu thích. Ông đã yêu "đất nước" nhỏ bé và thương những "đồng bào" nhỏ bé ấy. Bạn nào nghèo đói ông thường lấy gạo nhà mình đem cho. Lòng yêu nước, yêu đồng bào thuở thiếu thời của Đinh Công Tráng được bắt nguồn từ những điều bé nhỏ đó.

Tình yêu nước thương dân lớn dần theo năm tháng. Lớn lên ông theo cha làm thầy thuốc, hết lòng cứu chữa bệnh nhân, nhất là những người nghèo khổ. Việc làm này phần nào làm vơi đi nỗi khổ đau của người bệnh và gia đình họ. Thế nhưng thầy thuốc không trị được căn bệnh tham nhũng - ung nhọt của xã hội thời Tự Đức, bảo vệ dân lành nên ông xếp dao cầu ra làm lý trưởng rồi đắc cử cai tổng. Ông cho rằng muốn bảo vệ được dân làng cũng phải có chức quyền, có thế lực mới chống được cường bạo.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 08:39:47 PM

Nhà nước nào cũng có hệ thống quan lại, nhưng khác nhau ở mục đích làm quan. Có kẻ làm quan để vinh thân phì gia, vơ vét của công, bóc lột nhân dân. Có người làm quan để khỏi mang tiếng "dựa cột đầu sai phận bạch đinh", nhưng cũng có người làm quan để che chở mưu lợi cho dân, phò nghiêng chữa lệch cho nước. Thời nào cũng có quan thanh liêm, cương trực, ích quốc, lợi dân; cũng có quan tham bạo, sâu dân, mọt nước. Ngay cả dưới chế độ ta, được Đảng giáo dục rèn giũa mà cũng không ít quan chức, cán bộ, đảng viên dựa vào chức quyền để đục khoét của công, bóc lột, hà hiếp nhân dân dưới nhiều hình thức, thủ đoạn.

Ở thời ấy, Đinh Công Tráng làm lý trưởng, cai tổng để bảo vệ xóm làng, che chở cho dân. Cụ thể là: Dám cự lại quan trên về phù thu lạm bổ; xây dựng đội tuần phu mạnh, đánh cướp, giữ làng; tự bỏ tiền nhà tu bổ đình chùa, lập văn chỉ, đắp bồi văn hiến, khuyến khích đạo học, mở chợ Chàng để lưu thông hàng hóa, thông chế định việc khai thác các loại đất đai tài nguyên; hiến ruộng cho làng cấy cày dùng vào việc công ích; cao hơn cả là tố cáo Thừa Diệu về tội đánh dân trái phép, trốn lậu thuế nhà nước, cướp đoạt ruộng đất của làng, chứa chấp giáo sĩ ngoại bang, mưu đồ bán nước.

Rõ ràng thời kỳ này, lòng yêu nước thương nòi của ông là ra sức xây dựng quê hương giàu đẹp bình yên, chống tham nhũng, bảo vệ dân lành và phép nước. Lòng yêu nước thương nòi thật thiết thực, gắn bó với nhau.

Biết con đường đánh giặc của mình là lâu dài, hiểm nguy nên khi phải rút khỏi Thanh Liêm, ông khuyên các bà vợ đi lấy chồng khác để các bà đỡ thiệt thòi đường con cái, gia đình.

Ông cũng nhìn ra năng lực của họ nên đã trao quyền cho bà Sáu Nhung - người vợ trẻ đẹp, giỏi giang - chuyên lo việc binh lương. Vào Ba Đình, bà trở thành một "nội tướng" có uy tín. Bà lo lương thực, thuốc men ở cứ địa và đội nữ binh bí mật dò xét tin tức địch suốt từ thị xã Thanh Hóa đến Ninh Bình, gây cơ sở ở các làng quanh Ba Đình để che chở nghĩa quân, khua trống mõ trợ oai và quấy rối địch. Đội quân này hoạt động khá hiệu quả làm cho giặc mất ăn mất ngủ, tốn phí đạn dược. Có lần ông nói với bà Sáu Nhung: Nước ta từ xưa đến nay đánh giặc, người đàn bà anh hùng đâu phải hiếm. Kể mấy tên như Bà Trưng, Bà Triệu thì đã đành rồi, nhưng bao nhiêu người khác tài sức tuy có kém hơn mà sử sách không hề nhắc tới thì thật vô lý. Những người lo toan việc nuôi quân vất vả như bà, tôi nghĩ sau này người viết sử cũng phải ghi vào đôi ba dòng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 08:40:22 PM

Biểu hiện cao nhất thể hiện lòng yêu nước thương nòi của Đinh Công Tráng là tinh thần xả thân cứu nước. Trước nạn ngoại xâm, triều đình hèn nhát bán nước, tay sai phản động nhung nhúc, quan lại phân hóa rã rời. Người bỏ chạy, kẻ theo Tây như Trần Tiến Thành. Cũng có người cáo quan về ở ẩn tỏ thái độ bất hợp tác với giặc và triều đình tay sai. Có người dùng ngòi bút của mình vạch mặt kẻ thù, lên án lũ tay sai, ca ngợi nghĩa quân như Nguyễn Đình Chiều:

"Thà cho trước mắt mù mù
Chẳng thà ngồi ngó kẻ thù muôn dân".

Có người khi giặc đến thì vào sinh ra tử, dũng cảm chiến đấu chống giặc, nhưng khi giặc tan, quốc thái dân an lại quan niệm: "Tướng là chim ưng, dân là vịt”. Vậy thì vịt phải làm mồi cho chim ưng ăn là lẽ đương nhiên rồi. Thế là yêu nước thương nòi tách nhau.

Ở Đinh Công Tráng, lòng yêu nước thương nòi cũng mang yếu tố tích cực, đáng để chúng ta và con cháu muôn đời noi theo. Hồi làm cai tổng, ông là một vị quan thanh liêm cương trực, ra sức xây dựng xóm thôn giàu đẹp bình yên, đấu tranh chống bọn cường hào ác bá, quan lại tham nhũng, bảo vệ dân lành, giữ gìn phép nước.

Khi giặc Pháp xâm lược tràn đến quê hương thì ngay lập tức ông chiêu mộ nghĩa quân, kêu gọi văn thân đánh giặc suốt 15 năm trời. Thua trận này bày trận khác, mất nơi này đến nơi khác. Đâu có người nghĩa khí là tìm đến liên kết. Đâu có giặc là tìm đến đánh giặc. Chỉ là một cai tổng binh thư chưa học, võ trận chưa tường, không quân đội, không vũ khí, thành lũy, lương thảo, quân trang, vậy mà ông đã dựng cờ nghĩa đánh lại một kẻ thù to lớn, giàu có, binh hùng tướng mạnh, vũ khí tối tân, lại có triều đình phong kiến tay sai và giáo sĩ phản động hiệp sức. Lá cờ đại nghĩa, lưỡi kiếm diệt thù của ông đã tung hoành ở Thanh Liêm - Hà Nam, Nam Định, Sơn Tây, Bảo Hà, Phú Thọ, Sông Thao rồi về Hà Nội, Hà Đông - Hà Nam, Ninh Bình, Hoà Bình và tỏa sáng ngời ngời ở Ba Đình - Thanh Hóa, lấp lánh ở Thượng Lào - Nghệ An. Ông đã khơi dậy được hùng khí trong lòng nghĩa quân, biến những nông dân nghèo khổ thành những dũng sĩ diệt thù. Ông đã biến rơm bùm, rọ đất, hòn đá, bờ tre, muối ớt, ổi xanh thành vũ khí hữu hiệu chống lại đại bác, thần công của giặc, biến những làng xóm đồng lầy thành pháo đài, thành lũy diệt thù.

Từ trong cuộc đấu tranh vệ quốc đó ta thấy bật lên lòng yêu nước thương nòi triệt để của ông. Thời ấy, trung quân ái quốc là tư tưởng, là ý thức chủ đạo của quan lại, sĩ phu. Đinh Công Tráng cũng nhận thức được điều đó. Nhưng ông không trung quân một cách mù quáng. Ông không trung với vua hèn nhát đầu hàng nên ông trả lại chức tước triều đình, đi tìm người cứu nước khi triều đình ký hiệp ước 1874. Rõ ràng là ông bất tuân lệnh Tự Đức. Nhưng khi Tôn Thất Thuyết thay vua Hàm Nghi thảo hịch Cần Vương thì Đinh Công Tráng sẵn sàng vào Ba Đình ứng chiếu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 08:43:49 PM

Câu hỏi 24: Các nhà văn, các nhà sưu tẩm nghiên cứu lịch sử đã viết rất nhiều về Đinh Công Tráng và cuộc khởi nghĩa Ba Đình, cho biết đôi nét về điều này?
Trả lời:


Vào lúc Tôn Thất Thuyết đang ở Lào Cai, rồi cử người sang Vân Nam cầu viện nhà Thanh, vua Hàm Nghi đang ở Quảng Trị, trung tâm lãnh đạo kháng chiến đang ở hai đầu đất nước, do đó, Ba Đình được các nhà lãnh đạo coi như một bàn xoay để nối hai trung tâm kháng chiến.

Nhà cầm quyền Pháp rất lo sợ sau mỗi thắng lợi to lớn của nghĩa quân Ba Đình, vì những trận chiến đấu ở các địa phương khác sẽ được tập hợp xung quanh Ba Đình thành một phong trào rộng lớn. Trong khi những lực lượng do Nguyễn Quang Bích đang hoạt động tích cực ở Hưng Hóa; khởi nghĩa Bãi Sậy đang phát triển gây mất an ninh cho Pháp chỉ cách Hà Nội 20 kilômét; tình hình Nghệ An, Quảng Bình đang xáo động; Bình Định, Phú Yên đang sôi sục khởi nghĩa, những đạo quân Pháp đáng lẽ phải được chuyển tới nơi đó lại phải hành quân về Ba Đình. Với Ba Đình, cả hai phái kháng chiến và thực dân Pháp đều tung vào cuộc chiến những lực lượng và khả năng to lớn nhất1.

Trong trường hợp nan giải ấy, một bức công hàm từ bên Pháp gửi sang ra lệnh bằng bất cứ giá nào phải chấm dứt chuyện rắc rối ở Ba Đình và nhất là không được gửi về những tin tức ngoài tin báo thắng trận và sự thất bại hoàn toàn của quân phiến loạn hòng tránh cho nước Pháp khỏi kinh hoàng2.

Khi biết tin căn cứ Ba Đình được xây dựng, lực lượng Ba Đình được tổ chức, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương vô cùng lo lắng. Chúng coi Ba Đình là "cục bướu" vô cùng nguy hiểm trong kế hoạch xâm lăng, bình định của chúng. Vì vậy chúng lập tức tập trung binh lực và các phương tiện chiến tranh với những thủ đoạn khác nhau, quyết tiêu diệt bằng được Ba Đình3.

Khởi nghĩa Ba Đình là điểm khởi đầu buộc thực dân Pháp phải từ bỏ ý đồ và kế hoạch tập trung binh lực chuyển sang hình thức thiết lập đồn bốt, tổ chức các vị trí nhỏ ở khắp nơi chống lại phong trào chống Pháp ở mọi nơi, mọi lúc của nhân dân ta.
_______________________________
1. Nguyễn Duy Niên, Khởi nghĩa Ba Đình - tr. 11.
2. Phạm Viết Thường, Khởi nghĩa Ba Đình, tr. 14.
3. Hải Dương - Hồ Khang, Khởi nghĩa Ba Đình, tr. 20.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 08:47:54 PM

Thế trận "Tam long đằng dượt vân tan vũ tiêu" của Đinh Công Tráng trong trận cuối giặc tấn công Ba Đình, từ 3 chốt, nghĩa quân mở cổng thành xông ra như 3 con rồng quẫy khúc xua tan đám mây mù đang vây quanh Ba Đình, làm cho giặc hoảng hốt bỏ chạy1.

Khi sáng rõ, Pháp đuổi theo thì nghĩa quân Ba Đình đã rút lui xa lên miền Yên Định, Vĩnh Lộc. Chúng đành quay lại và lợi dụng kết quả còn lại: Một thành không mà tuyên bố quân Ba Đình đã thua chạy và bị triệt hạ. Tuyên bố là thế, nhưng thực tế thì chúng khiếp hãi Ba Đình, đã bàn luận với nhau: Nếu có "một Ba Đình nữa" thì đành phải từ bỏ mộng xâm lăng nước Nam mà thôi. Cái thành "quái gở" mà bọn xâm lược đụng đầu vào là như vậy. Đạn bắn không vỡ. Lửa đốt không cháy. Có trăm ngàn con mắt nhìn ra ngoài và bắn là trúng2.

Thành đất được đắp toàn tre làm cột và bùn rơm, rạ, khi khô rất vững và rất xốp. Đạn đại bác chỉ găm vào mà không nổ3. Thành có 3 lớp. Ngoài cùng là lũy tre củng cố thêm, chỗ nào trống thì rào thêm cho kín, chỉ trừ lối vào của mấy con đường độc đạo băng qua đồng nước. Từng quãng lũy có lỗ châu mai như những ống ngắm từ trong nhìn ra, đặt nòng súng ở lỗ bắn là trúng, trăm phát trúng trăm. Đó là lý do làm giặc Tây kinh hoàng; kể cả, tre và bùn rơm làm nắp hầm trú ẩn, chỉ huy, kho lương thực, bịch đựng thóc gạo, mọi thứ lương thực, thực phẩm khác.

Ngay đến tận ngày Pháp quyết tâm bằng mọi giá diệt Ba Đình, lũy tre xanh của khu căn cứ vẫn che giấu được tất cả những gì mà địch cần biết về Ba Đình. Chúng chỉ thấy Ba Đình như "một con nhím khổng lồ lềnh bềnh trên mặt nước".

Nghệ thuật xây dựng pháo đài Ba Đình đã góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc và chính nó đã để lại kinh nghiệm quý báu trong việc xây dựng cứ điểm, làng chiến đấu trong các cuộc chiến đấu sau này4.
___________________________________
1-3. Chu Đình Lợi, Khởi nghĩa Ba Đình, tr. 43, 45.
4. Phạm Như Thơm, Khởi nghĩa Ba Đình, tr. 51


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 08:52:12 PM

Sự chỉ đạo phong trào trong toàn tỉnh trên danh nghĩa được thống nhất nhưng thực tế thiếu sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ nhau. Phong trào lại không có hậu phương vững mạnh làm hậu thuẫn. Mặt khác Ba Đình nằm giữa vùng đồng chiêm trũng ngập nước. Vị trí thuận lợi cho xây dựng căn cứ thủ hiểm gây khó khăn cho việc xây dựng công sự, kế hoạch bao vây công phá, nhưng lại hoàn toàn bất lợi khi thiếu sự hỗ trợ bên ngoài. Khi bị vây hãm, những cuộc tấn công phối hợp nhằm chia rẽ lực lượng Pháp từ bên ngoài hầu như rất ít. Ngay cả Hà Văn Mao, Tống Duy Tân, Trần Xuân Soạn ở gần cũng không hề hỗ trợ được gì. Riêng Trần Xuân Soạn có phối hợp ít nhiều, nhưng rất hạn chế. Đến khi nghĩa quân Ba Đình quyết định rút thì mới có sự phối hợp tương đối ăn ý. Như vậy, một cứ điểm chiến đấu nhất thiết phải có lực lượng hỗ trợ mạnh thì mới có thể tránh bị tiêu diệt1.

Khi giặc Tây dương kéo quân đánh Ba Đình, chánh sứ Sơn phòng Tống Duy Tân đã phúc thư cho Thống sứ Ha-lơ-manh, tự ý yêu cầu bọn giặc cướp nước "tạm đặt hạt (của T ống) ra ngoài vòng, đợi sau khi mọi việc yên ổn, sẽ xử trí thì may lắm, may lắm"2.

Thế trận được dàn ra từ Ba Đình đến làng Mã, kể từ tháng 9 năm Bính Tuất. Giặc tung quân lùng bắt Trần Xuân Soạn, đốt phá cướp bóc khắp nơi, nhất là những vùng chúng nghi có nghĩa quân đóng. Mặc dù có gửi một đội quân tới Ba Đình, nhưng Tống vẫn cùng tri phủ Lý Nhân Nguyễn Sự Chi mưu lập căn cứ lâu dài chống giặc ở vùng núi Thanh Hóa. Coi như quan hệ giữa Tống và Ba Đình chỉ có hạn. Đó là điều Đinh Công Tráng băn khoăn và mong kế sách chống giặc chung của phong trào Cần Vương Thanh Hóa phải được thống nhất. Đinh Công Tráng suy tư về thế trận chống giặc cứu nước và về những người cầm đầu phong trào Cần Vương của đất Thanh3.

Từ hàng chục thế kỷ, chúng ta chưa tìm thấy một làng chiến đấu nào như Ba Đình từ hình thức tổ chức, quy mô cấu trúc các hệ thống hào lũy, đồn quân, đến tổ chức lực lượng, chỉ huy và nghĩa quân. Kể ra các căn cứ chiến đấu của một số tướng lĩnh có tên tuổi trong lịch sử cũng không đạt được một quy mô hoàn hảo như Ba Đình. Ba Đình là làng chiến đấu kiểu mẫu số một trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, là biểu hiện tập trung nhất, quật cường nhất, đồng thời là kiểu mẫu cuối cùng của làng chiến đấu chống xâm lược... Hết thảy mọi người khâm phục tài chỉ huy và cường độ chiến đấu của nghĩa quân. Sự trụ lại của Ba Đình trong tình thế như chúng ta biết quả là phi thường4.
_______________________________________
1. Phạm Như Thơm, Khởi nghĩa Ba Đình, tr. 51
2. Trích đoạn cuối thư của Tống Duy Tân trả lời công sứ Pháp tỉnh Thanh Hóa. Thư này có trong gia phả họ Tống và tài liệu của nhóm nghiên cứu lịch sử địa phương Bồng Trung huyện Vĩnh Lộc (xem Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (1858-1900), Nxb Văn học, Hà Nội, 1976, tr. 270).
3. Thái Vũ, Ba Đình, tr. 268.
4. Bùi Thiết, Khởi nghĩa Ba Đình, tr. 57.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 08:54:00 PM

Mỗi khi nói đến phong trào Cần Vương của dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX đều dành phần quan trọng nói tới khởi nghĩa Ba Đình và phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa. Qua nhiều hình thức thể hiện khác nhau, các tài liệu đó đều cho thấy rằng đây là cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn, một trung tâm quan trọng trong phong trào chống Pháp của dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX1.

Riêng Trần Xuân Soạn với cương vị đô đốc tổng chỉ huy phong trào Thanh Hóa như sứ mệnh của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết đã giao phó, trước cục diện của phong trào Thanh Hóa, ông đã tỏ ra thiếu quán xuyến và không đóng được vai trò quan trọng của mình. Sự phối hợp giữa các cánh quân Thanh Hóa không đồng bộ, thiếu chặt chẽ, do đó, Trần Xuân Soạn phải chịu một phần trách nhiệm. Ngay đội quân Quảng Hóa dưới quyền chỉ huy trực tiếp của mình, Trần Xuân Soạn cũng không phát huy được đầy đủ tác dụng của nó để hỗ trợ cho Ba Đình. Điều đó là một hạn chế dẫn đến sự thất bại của Ba Đình.

Sau khi nghĩa quân rút khỏi Ba Đình, thực dân Pháp triệt hạ, xoá tên Ba Đình, nhưng cái tên Ba Đình không những không bị xóa mà còn được nêu bật trên bản đồ lịch sử chống Pháp của dân tộc Việt Nam2.

Điều kiện lịch sử mỗi nước một khác. Tuy nhiên, khi nhắc đến các nghĩa sĩ Ba Đình không thể không liên tưởng đến các nghĩa sĩ Hy Lạp do Lê-ô-ri-đat chỉ huy đã chiến đấu tại eo núi Téc-mô-phin chống lại đạo quân đông hàng vạn người của Hoàng đế Ba Tư Xéc-xét thời cổ đại và các chiến sĩ Xô Viết phòng thủ pháo đài Bơ-rét chống lại quân Đức quốc xã.

Chiến lũy Ba Đình với những chiến sĩ anh hùng đã đem trí tuệ, công lao, xương máu xây nên sự nghiệp muôn đời bất hủ. Sức mạnh và tài năng của những người yêu nước đã làm cho bọn xâm lăng chủ quan, hống hách phải trải qua những ngày đêm khốn đốn, hoang mang tuyệt vọng.

Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 (khi giặc Pháp nổ tiếng súng xâm lược đầu tiên ở Đà Nẵng) đến năm 1886-1887 (khởi nghĩa tại Ba Đình) chưa bao giờ có một cảnh vây hãm thành như Ba Đình. Chưa bao giờ giặc bị thảm hại, thương vong đến hàng nghìn như ở Ba Đình. Và có lẽ lịch sử thế giới chưa bao giờ có chuyện ly kỳ, công phá một đồn lũy - đúng ra là một vùng lầy ngập nước mà "thành quách" chỉ là bùn rơm, tre pheo khiến kẻ thù phải huy động cả một lực lượng hơn bảy nghìn nhân mạng.

Bọn sĩ quan Pháp là đàn sói biển khát máu có súng đạn hiện đại nhưng chúng vẫn lâm vào thế bí, lính bị chết, sĩ quan bị giết chết. Hết đợt tấn công này đến đợt tấn công khác đều bị đẩy lui. Hàng rào tre, thành trì, đất nhão vẫn thi gan dưới mưa đạn. Kẻ thù phải dùng máy bơm cho phun dầu gây hỏa hoạn. Tre cháy xém, tiếng nổ và tiếng súng của hai bên inh tai nhức óc nhưng "con nhím" Ba Đình vẫn nguyên vẹn.

Khởi nghĩa Ba Đình bùng nổ, cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở Thanh Hóa đã ngang nhiên chọn vùng đồng bằng huyện Nga Sơn để lập căn cứ địa công khai, dường như thách thức toàn bộ thế lực trong và ngoài nước.
_____________________________________
1. Phạm Quang Trung, Khởi nghĩa Ba Đình, tr. 63.
2. Trần Huy Liệu, Lịch sử 80 năm chống Pháp, Nxb Văn Sử Địa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 08:55:10 PM

Câu hỏi 25: Tại sao nói Đinh Công Tráng là một trong những người Việt Nam đầu tiên lãnh đạo nhân dân chống kẻ thù xâm lược mới là chủ nghĩa đế quốc?
Trả lời:


"Vạn sự khởi đầu nan". Mọi việc khởi đầu đều khó, ví như lúc mới nhóm lửa. Lúc đầu bếp còn lạnh, củi chưa nóng, ngọn lửa leo lét, chỉ một cơn gió nhỏ lửa cũng tắt. Người nhóm phải khéo léo kiên trì mồi, nhóm, nhưng khi lửa đã cháy to, củi nỏ, than hồng, bếp nóng thì gió càng to lửa càng cháy sáng. Trong bài thơ "Nhóm lửa", Bác Hồ đã diễn tả một cách cụ thể, sinh động điều này. Việc nhóm lửa đã vậy, việc đời thường lúc đầu cũng khó là vậy. Huống hồ đánh giặc. Nhất là đánh một loại kẻ thù xâm lược mới. Đó là chủ nghĩa đế quốc.

Từ buổi vua Hùng dựng nước đến nay, chúng ta phải chống hai loại kẻ thù xâm lược. Đó là phong kiến phương Bắc, ta đánh trên 1.000 năm chống lại Tần, Triệu, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh từ thời vua Hùng đến Quang Trung. Loại kẻ thù thứ hai là chủ nghĩa đế quốc, trực tiếp là đế quốc Pháp rồi Nhật, Mỹ. Ta đánh chúng suốt từ năm 1858 đến năm 1954 mới đuổi được Pháp rồi đến năm 1973 mới tống cổ được Mỹ. Đối với kẻ thù thứ nhất là phong kiến phương Bắc ta có Đinh, Lý, Trần, Lê, v.v... gây nền độc lập cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau nhưng ta và địch cùng một phương thức sản xuất, một hình thái kinh tế xã hội. Kẻ thù dùng sức mạnh của nhà nước phong kiến đánh ta thì ta cũng dùng sức mạnh của nhà nước phong kiến chọi lại.

Từ năm 1858, chúng ta phải chống một loại kẻ thù xâm lược mới. Đó là đế quốc Pháp. Thời kỳ này chủ nghĩa tư bản đã phát triển cao thành chủ nghĩa đế quốc, đua nhau đi chiếm thị trường. Xét về phương thức sản xuất thì đế quốc Pháp hơn ta một bậc. Lúc này Pháp đã là một cường quốc có nhiều thuộc địa.

Chúng dùng sức mạnh của một cường quốc tư bản đánh ta. Lực lượng quân đội của chúng từ huấn luyện, chỉ huy tác chiến, hậu cần, trang bị vũ khí đều là sản phẩm của một nền đại công nghiệp tiên tiến. Chúng có binh hùng tướng mạnh thiện chiến thao lược, vũ khí tối tân như tàu chiến, đại bác... Còn ta chế độ phong kiến đang suy tàn hấp hối, kinh tế suy kiệt, dân chúng đói khổ, vua quan hèn nhát, tham nhũng sa đọa, vũ khí thô sơ lạc hậu, lòng dân ly tán, tay sai và giáo sĩ phản động nhung nhúc.

Đinh Công Tráng là một trong những người Việt Nam đầu tiên chống Pháp trong điều kiện ấy. Nghĩa là chúng mạnh như sóng trào thác lũ, Đinh Công Tráng đánh giặc trong lúc đất nước ta như một con đê đầy tổ mối vừa vỡ toang. Bản thân ông khi khởi binh hoàn toàn là hai bàn tay trắng về mọi mặt. Vậy mà ông dám phất cờ khởi nghĩa đánh giặc. Đánh cả đế quốc Pháp lẫn phong kiến tay sai và giáo sĩ phản động ròng rã 15 năm trời.

Đinh Công Tráng cùng các vị thủ lĩnh khác như Trương Công Định, Phan Đình Phùng là người khỏi đầu đánh Pháp, chưa hiểu địch, chưa tích lũy được kinh nghiệm, lại vào lúc đất nước suy kiệt, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh. Thế lực giữa ta và địch một trời một vực. Thế mà ta dám đánh, đánh bền bỉ kiên cường. Đó là những người đầu tiên, những thuyền đá đầu tiên lao vào chặn dòng nước hung dữ khi đê vừa vỡ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 08:57:44 PM

Câu hỏi 26: Tại sao nói Đinh Công Tráng là một thủ lĩnh nghĩa quân có uy tín, một vị tướng thao lược giỏi về tập hợp lực lượng, xây dựng căn cứ và tài chỉ huy tác chiến?
Trả lời:


Thủ lĩnh nghĩa quân là người phải có đức cả tài cao, uy tín lớn mới có khả năng quy tụ những bậc anh hùng hào kiệt, võ tướng văn quan, tập hợp được đông đảo nghĩa quân và các tầng lớp nhân dân dưới cờ đại nghĩa chiến đấu vì mục đích cao cả cứu nước, cứu dân khỏi họa ngoại xâm.

Người làm tướng phải trí dũng vẹn toàn, am tường binh pháp trận đồ, giỏi tổ chức rèn luyện quân sĩ, tài chỉ huy chiến trận trên mọi địa hình, trong mọi tình huống.

Có người làm được thủ lĩnh nhưng không hoặc không thể cầm quân đánh giặc được. Ngược lại, có nhiều tướng tài ba thao lược, bách chiến bách thắng nhưng không làm thủ lĩnh được. Chỉ một số người làm được cả hai cương vị trên, cả thủ lĩnh và tướng lĩnh. Đinh Công Tráng là một trong số những người làm được việc đó. Thuở ấy bậc đại quan, đại khoa thường được tôn lập làm thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa chống giặc. Vì họ là những người đã có uy tín lớn, ảnh hưởng lớn của cả một vùng. Đội Phán cầm quân đánh Pháp đã phải tìm đến và vời Phan Đình Phùng - quan Ngự sử triều đình làm thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Hương Khê.

Đinh Công Tráng khi phất cờ tụ nghĩa chỉ là một cai tổng đậu đến tam trường (vẫn là một người bình dân) thì sao đủ uy danh tụ nghĩa bằng các bậc đại khoa như Phan Đình Phùng, thủ khoa Huân, đại quân như Trương Công Định, Nguyễn Thiện Thuật. Vậy mà ngay từ đầu ông đã được văn thân tám tổng trong huyện Thanh Liêm tôn phò, dưới cờ nghĩa của ông có cả đại khoa: tiến sĩ Lê Văn Mai, danh nho Tú Tốn, các cai tổng, sư sãi, phú gia địch quốc Thừa Phương, trong quân có lính Cờ Đen, lính Kinh, Mường, Thổ.

Khi giặc tiến đến sông Đáy, ông phải vào Ninh Bình, ở nơi đất khách quê người này ông cũng làm thủ lĩnh. Các ông Nguyễn Tử Tương, Đốc Ngữ đang đứng đầu các cánh quân chống giặc ở Ninh Bình, ông quan lang Tám Đập ở Nho Quan, ông đốc Đinh Trạch ở Nam Định, ông tú Thạch Giản ở Thanh Hóa cũng theo về giúp rập. Ở đây, ông được Tôn Thất Thuyết thay vua Hàm Nghi phong là Bình Tây Đại tướng quân. Còn ông Nguyễn Tử Tương là tán tương quân vụ, Đốc Ngữ là tán lý quân vụ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 08:58:08 PM

Năm 1886, ông lại là chủ soái cứ địa Ba Đình, Thanh Hóa. Còn Phạm Bành thủ lĩnh nghĩa quân Tràng Xá làm tán lý quân vụ, quan huyện Hoàng Bật Đạt thủ lĩnh nghĩa quân Hậu Lộc làm tán tương quân vụ. Dưới quyền ông còn có Phan Cư, cử nhân Lê Khắc Thảo, đốc Khế, lãnh Toại, v.v...

Rõ ràng là ở quê nhà Thanh Liêm hay quê người Ninh Bình, Thanh Hóa, lúc trong tay có nghĩa quân mạnh hay lúc bị giặc đánh bật khỏi quê hương, binh lính ít, ở đâu Đinh Công Tráng cũng được tôn phò là thủ lĩnh. Không có tài cao đức lớn vượt trội hơn người sao được như vậy. Thời ấy quan niệm về dòng dõi, về địa vị xã hội, khoa bảng và đầu óc cục bộ còn nặng nề. Đúng như một tên tướng giặc đã nhận xét: Tráng là một người bình dân nhưng đứng đầu các hàng quan lại... Nếu có người cứng cáp phù trợ, vị tất nước đại Pháp đã thắng nổi.

Đinh Công Tráng chẳng những là một thủ lĩnh có uy tín mà còn là một vị tướng tài ba thao lược. Khi tụ nghĩa khởi binh, Đinh Công Tráng chưa một ngày làm lính, chưa một buổi đến trường học tập võ bị, trong tay không một tấc sắt, một người quân... Vậy mà ông đã chỉ huy nghĩa quân đánh giặc ròng rã 15 năm trời. Lưỡi gươm giết giặc của ông tung hoành ngang dọc như chớp giật đêm giông suốt một vùng rộng lớn gần nửa giang sơn, lập nhiều chiến tích lẫy lừng.

Các trận chiến của ông biến hóa như thần. Vũ khí ít và thô sơ, quân đội chưa được rèn luyện lâu dài, bài bản, không cơ mưu linh hoạt xuất quỷ nhập thần, làm sao bảo tồn được lực lượng. Nếu so sánh lực lượng thì ta và địch như châu chấu đá voi. Tương quan lực lượng chênh lệch như vậy, Đinh Công Tráng không thể lấy lực lượng vật chất của mình đánh bại lực lượng vật chất của địch mà phải khơi dậy lòng yêu nước quật khởi, hùng khí dân tộc, mưu lược và các yếu tố tự nhiên tạo nên sức mạnh vật chất chống lại kẻ thù. Vậy nên, tuy chưa một ngày làm lính mà chỉ huy đánh giặc, ông như một vị tướng thao lược đã được học tập, rèn luyện quy mô, bài bản từ một trường võ bị cao cấp. Ông còn bày kế sách với tổng đốc Tam Tuyên Hoàng Kê Viêm. Tôn Thất Thuyết phải đến gặp Đinh Công Tráng bàn kế cứu nước khi nước nhà đã coi như vào tay giặc, rồi vời ông vào cứ địa Ba Đình, làm chủ soái. Tài năng của ông biểu hiện ở các mặt như sau:

1. Chiêu mộ quân sĩ, tổ chức quân đội

Lúc đầu khởi binh ông đã dựa uy danh của thầy học là Hoàng giáp Tam đăng Phạm Văn Nghị để thư đi tám tổng kêu gọi văn thân, chiêu mộ nghĩa quân. Sau khi đánh giặc ở Sơn Tây, Hà Nội, trở về quê hương ông đã dựng kế phá bùa độc yên lòng dân, tụ nghĩa quân. Kế này đã phá tan độc kế của kẻ thù. Nghĩa quân các nơi kéo về như nước, gạo thóc quân trang đổ về như củi lụt. Có quân rồi ông chia thành các đạo vệ binh, tả quân, hữu quân, kỵ binh, biên chế theo các đội: lính Cờ Đen, Kinh, Mường, Thổ; có chỉ huy sắc phục riêng. Ngoài các đơn vị tác chiến còn một hậu cứ chuyên rèn luyện binh lính để bổ sung cho các đội quân. Riêng ở cứ địa Ba Đình, ông đặc biệt chú trọng đội nữ binh do bà Sáu Nhung phụ trách để gây dựng cơ sở che chở nghĩa quân, khua trống mõ trợ oai khi lâm trận và quấy rối địch ban đêm để giặc bắn hao phí đạn. Đặc biệt là đơn vị này lo toan lương thảo, thuốc thang, phao tin giả, nắm tin tức địch. Trong thực tế, đội quân tóc dài này hoạt động rất hữu hiệu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 08:58:51 PM

2. Xây dựng căn cứ

Ở Thanh Liêm, Sơn Tây và Ba Đình, Đinh Công Tráng đều triệt để khai thác địa hình tự nhiên để xây thành đắp lũy, nhanh chóng, đỡ tốn kém, ngăn được giặc từ xa, chống được đạn pháo của giặc. Cụ thể là: Dựa vào lũy tre bao quanh làng để đắp lũy, xung quanh là đầm nước, biến các đồng nước, lũy tre thành những đạo quân ngăn giặc. Ở Ba Đình, ông dùng rơm trộn bùn nhồi vào sọt tre xây thành. Với nguyên liệu này, khi thành còn mềm nhũn đã có tác dụng ngăn đạn pháo giặc hơn cả thành đá. Với cách xây dựng này, lũy tre, đầm nước, rơm bùn đã trở thành những đạo quân hùng mạnh.

3. Chỉ huy tác chiến

Quân ít, vũ khí thô sơ chống lại giặc đông, vũ khí hiện đại, phải dùng mưu lược là chính. Trong mọi trận đánh, ông đều kết hợp được các yếu tố địa hình, thành luỹ, tinh thần nghĩa quân, nhân dân trợ oai với mọi loại vũ khí (súng đạn, chông tre, muối ớt, ổi xanh, móc câu, v.v...). Ông luôn gây cho giặc những yếu tố bất ngờ để vô hiệu chúng.

Trong trận giả gái đánh giặc: Ông cho một số nghĩa quân đóng giả các cô gái đi chợ. Lũ Tây dương nổi máu dê đuổi theo. Các cô giả vờ chạy luống cuống, quỳ lạy van xin để giặc tưởng rằng nhất định chúng sẽ tha hồ tận hưởng khoái lạc. Để thỏa mãn dục vọng và tiện lợi khi hãm hiếp, chúng vứt súng ở vệ cỏ, đuổi theo túm lấy các cô gái. Tới chỗ phục binh, các cô bất ngờ hất đổ ổi xanh hô "xung phong", vung đòn gánh quật. Nghĩa quân phục sẵn lao lên ném muối ớt, dùng đoản đao giết giặc. Những tên xâm lược mũi lõ bỗng nhiên thành bị thịt để các nghĩa quân như mãnh hổ xé xác. Đó là thế trận "tiên giả hậu công" hợp đồng tác chiến, với kế này giặc như những con hổ tự ra khỏi núi, tự nhổ nanh vuốt.

Ở đồn Bưởi, ông lại đánh một trận không dùng lính mà hiệu quả rất cao. Đó là kế dạ thủy ngư kết hợp với kế Khổng Minh lừa Tư Mã Ý. Biết không giữ nổi đồn, ông bí mật rút đi nhưng cổng thành trấn giữ vững chắc. Trong thành cờ xí la liệt, khói bếp vẫn bay, vẫn có ngựa hí, trống kêu và súng nổ. Ông đốt những đống rơm cho khói bốc lên, buộc dùi trống vào chân chó. Chó giãy đạp chân thì trống kêu. Ngựa buộc vào cột cò, khi khua chân gõ móng thì cò phất. Ông chắp những đoạn hương dài đang cháy vào pháo cối. Hương cháy bén ngòi thì pháo nổ. Giặc tưởng trong thành đóng quân nên bao vây 2 ngày, quyết tiêu diệt nghĩa quân. Ở cổng thứ chín, ông đặt địa lôi, ở các ao ông đặt các vòng câu và chông tre. Cổng bị phá thì địa lôi nổ, giặc nhảy xuống ao bên đường đâm phải chông ngầm, mắc vào lưỡi câu mà chết. Trận này ông không dùng một người lính mà giặc bắn như đổ đạn đi và chết khá nhiều.

Ở trại Thong, ông lại dùng kế ngược lại. Giặc đến vây, trong thành cũng có khói bếp, cờ xí, ngựa hí trống kêu, giặc tưởng cũng như ở Bưởi vội xua quân vào, chẳng ngờ ông phục binh đánh cho tơi bời.

Khi bị thương nặng phải điều trị ở Bình Lương, ông mật kế cho các tướng cai Ký, cai Hành tổ chức đám ma giả và phục binh đánh cho giặc một đòn đau. Đau đến mức chúng bắt Thừa Diệu đổ đầy bạc vào một hình nhân đan bằng tre to bằng thằng Tây mới được tha mạng.

Tóm lại, ông luôn luôn lừa được giặc, dồn chúng vào thế bất ngờ bị động để tiêu diệt chúng. Giặc bắn đạn bạc vào lũy tre ở cứ địa Chàng với ý đồ để nhân dân và nghĩa quân vì tham bạc sẽ tự đào bới phá lũy tre (thành lũy) và tranh nhau mà chém giết nhau. Chúng đâu có ngờ ông lại cho nghĩa quân đánh gốc các cây tre bìa ngoài, nhân ra trồng thêm lũy mới, thế là dùng kế giặc làm kế mình. Vậy là ngoài lũy tre cũ còn trồng thêm được lũy tre mới, lấy được bạc, giữ yên được dân và lính.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 08:59:13 PM

Quyết tiêu diệt Ba Đình, Brít-xô đã dùng thế trận hỏa công, diệt viện, công thành để hủy diệt mọi sinh vật trong chiếc thành đất này. Sau hai ngày đêm liên tục rót hai vạn quả đạn đại bác và phun dầu đốt thành, giặc tưởng rằng Ba Đình sẽ vụn ra từng mảng, tướng sĩ và mọi sinh vật trong thành sẽ bị cháy thui hoặc tan xác. Vậy mà dưới mưa bão đạn đại bác và biển lửa hung tàn, Đinh Công Tráng đã chỉ huy nghĩa quân không để một mảng thành vỡ và im lặng chờ giặc. Im lặng như vùng đất chết, khiến chúng phải bối rối hoang mang. Đột nhiên, đúng thời điểm, giặc leo lên thành thì pháo lệnh nổ vang, thây giặc rụng như sung. Nghĩa quân như mãnh hổ lao ra chém giặc. Các làng bên trống mõ vang rền. Giặc bị đánh trước mặt lại sợ bị vây sau lưng, tướng quân dẫm đạp lên nhau chạy tháo thân, 5 sĩ quan và 280 lính Âu bỏ mạng.

Thường khi rút lui khỏi vòng vây giặc, người ta phải bí mật và đi tránh nơi có giặc. Vậy mà đêm 20 tháng 1 năm 1887, Đinh Công Tráng lại đánh thức giặc dậy, đánh thẳng vào chỉ huy giặc để rút. Thật táo bạo bất ngờ. Đúng giờ, pháo lệnh từ Ngọc Liễn nổ xé trời rồi các làng bên nổ lọng óc. Chiêng trống khắp nơi vang dậy. Ba cánh quân từ cứ địa như ba con rồng lửa lao thẳng vào sở chỉ huy của giặc rồi cất cánh bay đi trong biển đêm vang rền súng nổ và trống mõ. Giặc hốt hoảng bắn loạn xạ. Nghĩa quân rút khỏi cứ địa an toàn.

Do tương quan lực lượng chênh lệch về mọi mặt, Đinh Công Tráng chưa thể có những trận đánh lớn, những chiến dịch như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung. Song với lối đánh nhỏ như vậy, ông đã làm cho giặc nhiều phen bạt vía, gây cho chúng những tổn hại nặng nề về người và của, phủ soái Pháp phải ra lệnh tảo thanh sông Đáy, nhổ gai Ba Đình. Brít-xô chỉ huy đánh Ba Đình được phong tướng, nhưng chết vì kiệt sức.

Khi cầm quân đánh giặc, Đinh Công Tráng không phải là một võ quan cao cấp như Trương Công Định, không là đại khoa như quan Ngự sử Phan Đình Phùng. Ông chỉ là một cai tổng, vậy mà chỉ huy chiến trận chẳng khác nào những võ quan cao cấp, thao lược tài ba.

Không là một thủ lĩnh nghĩa quân có uy tín, một vị tướng thao lược, làm sao Đinh Công Tráng có thể tập hợp được dưới cờ đại nghĩa của mình các quan ngự sử triều đình, quan huyện, quan lang, cai tổng, tướng Cờ Đen, tướng sĩ, danh nho, sư sãi, phú hộ, lính Cờ Đen, lính Kinh, Mường, Thổ và liên quân Thanh Hóa - Hà Nam suốt mười lăm năm trời. Đúng là:

"Một lưỡi gươm thiêng, giết giặc, trừ gian, thân dẫu nát tiếng thơm tồn muôn thuở.
Ba vuông cờ nghĩa, cứu dân, giữ nước, nhà dẫu tan tiết rỡ tỏ ngàn năm".


Tiếc rằng, thuở ấy vua Tự Đức đã ra lệnh giải giáp các toán nghĩa quân, trách phạt các quan chống giặc và các vua sau còn sai phái các quan lại cầm quân phối hợp với giặc đánh phá, tiêu diệt các cuộc khởi nghĩa và cứ địa Ba Đình của Đinh Công Tráng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2016, 09:01:20 PM

Câu hỏi 27: Trong quá trình khởi nghĩa, có thể nói Đinh Công Tráng, như một người kỹ sư công binh tài ba tổ chức đắp lũy can thành độc đáo, sáng tạo. Hãy chứng minh nhận định trên?
Trả lời:


Tính chất của từng cuộc chiến tranh và các lực lượng tham chiến có thể khác nhau, nhưng nó là sự tồn vong của cả hai bên. Vì vậy đôi bên đều phải huy động cao nhất lực lượng vật chất, bao gồm: Con người, của cải, thành lũy, vũ khí, v.v... và lực lượng tinh thần gồm đường lối chiến lược, chiến thuật, chính trị, ngoại giao binh vận, tinh thần tướng sĩ và nhân dân, mưu lược trong từng trận đánh, từng chiến dịch trong suốt cuộc chiến tranh. Lực lượng chiến đấu trực tiếp phải được bảo tồn và phát triển về mọi mặt. Để đảm bảo điều đó phải có nhiều yếu tố, trong đó yếu tố thành lũy là rất quan trọng.

Căn cứ vào yêu cầu của thành lũy, căn cứ vào nguyên liệu, thời gian và chi phí cho xây dựng thành, căn cứ vào lực lượng, vũ khí giữa ta và địch thì các làng chiến đấu ở Thanh Liêm và cứ địa Ba Đình của Đinh Công Tráng độc đáo và sáng tạo, vừa thể hiện ý chí quyết tâm đánh giặc vừa thể hiện cái tài của người làm tướng.

Một là, nó triệt để sử dụng yếu tố tự nhiên ở từng vùng, tạo nên những đạo quân vô hình và ngăn giặc hữu hiệu ở hậu cứ rừng Chàng, "đạo quân" ấy là sông Đáy, ruộng trũng, núi đá, đầm lầy. Đinh Công Tráng chỉ mất chút ít công sức đào hào ven núi, trồng tre và cây có gai làm lũy. Ở các làng đồng chiêm trũng Thanh Liêm thì đồng trũng, lũy tre, rơm bùn cũng là những "đạo quân" cản giặc. Ở Ba Đình, Thanh Hóa thì cả một đồng nước sâu và ruộng mênh mông cùng lũy tre ngăn giặc. Rơm bùn, rọ đất là thành lũy chống đạn pháo và lửa cháy, bảo vệ nghĩa quân và lương thảo. Cứ địa còn nằm trong thế trận chung, xung quanh có nhiều độc sơn làm vọng gác, nhiều dãy núi làm tường thành che đỡ đạn từ xa. Nếu được phối hợp chặt chẽ với Mã Cao, Thạch Bằng sẽ tạo thành những vòng ngoài khi giặc tấn công. Con mắt quân sự của Đinh Công Tráng đã giúp ông khai thác triệt để yếu tố thiên nhiên và thế trận chung.

Hai là, ông đã xây dựng được thành lũy lòng dân vô hình nhưng hữu hiệu. Đó là đội nữ binh gây dựng cơ sở ở các làng. Như vậy, xét cho cùng đó cũng là thứ lũy thép ngầm đánh giặc ở các mặt: Nắm được tin giặc để đối phó, ví dụ: Nhờ anh Khâm (giáo dân bị điều đến làm phu) báo tin mà nghĩa quân bố trí bẻ gãy đợt tấn công của kẻ thù. Nhờ cô Thắm (vợ Bát Vĩnh - tên tay sai tin cậy của Mét-danh-giê) mà nghĩa quân được bảo vệ nhiều lần, phao tin gây cho giặc hoang mang, đánh lạc hướng chú ý của giặc (phao tin đánh thị xã Thanh Hóa để nghĩa quân bí mật xây thành). Che chở nghĩa quân: Anh Trí (một nghĩa quân) đã được cô Thắm và nhân dân cứu thoát khi giặc truy đuổi, khua trống mõ ban đêm để giặc hoang mang bắn như đổ đạn đi và khi giặc tấn công thì khua trống, giặc tưởng bị đánh sau lưng phải vội vã rút lui. Đêm 20 tháng 1 năm 1887, nghĩa quân rút khỏi Ba Đình, các làng xung quanh khua trống mõ, giặc không hiểu thế nào mà đối phó, giúp nghĩa quân rút lui an toàn.

Ba là, nguyên liệu xây thành và cách xây thành thật độc đáo, sáng tạo. Đó là dùng rơm bùn nhồi vào sọt đất xếp tựa vào lũy tre, tạo nên thành lũy chống được đạn pháo giặc. Bùn rơm là thứ rất dễ kiếm. Sọt tre dễ đan. Lũy tre có sẵn. Đó là thứ nguyên liệu dễ kiếm, dễ làm, ai cũng xây được. Thành xây bằng rơm bùn nhồi sọt đất, đạn súng máy bắn vào bị găm lại, đạn đại bác không phá mạnh vì rơm và bùn nhão quấn lại. Có sọt rơm nào vỡ thì ngay trong lúc lâm trận nghĩa quân vẫn có thể đưa sọt khác lên thay thế. Các công sự, hào, hầm chứa lương bằng rơm bùn vừa có tác dụng chống phá vừa chống lửa cháy, bảo vệ được nghĩa quân và lương thảo. Chính vậy mà trận pháo kích ngót 2 vạn quả đạn đại bác suốt 2 ngày đêm và lửa xăng thiêu đốt mà thành không vỡ, quân không chết, lương không mất, giúp nghĩa quân giáng cho chúng một đòn chí tử: tướng và quân giặc chết ngổn ngang, dẫm đạp lên nhau mà chạy.

Đinh Công Tráng đã khơi dậy được hùng khí dân tộc, xây dựng được chiến lũy lòng dân mới giữ được thành. Nếu không thì thành nào cũng vỡ. Thành Hà Nội kiên cố là vậy, tướng tài quân đông mà cả hai lần giặc chỉ đánh bốn tiếng là tướng chết quân tan, thành bị rơi vào tay giặc.

Cái sáng tạo của Đinh Công Tráng là đã triệt để khai thác địa hình thiên nhiên và lòng người, đặc biệt là biết dùng rơm bùn, một thứ đơn giản, dễ kiếm để chống lại sắt thép lửa đạn, vũ khí hạng nặng của địch làm cho giặc hao tiền tốn của mà không phá được thành, không diệt được nghĩa quân khiến kẻ thù của ông - tướng giặc Brít-xô cũng phải khâm phục.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.
2. Trần Huy Liệu, Lịch sử 80 năm chống Pháp, Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957.
3. Vè yêu nước chống đế quốc Pháp xâm lược, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1967.
4. Phan Trần Chúc, Ba Đình - truyện ký, Hà Nội, 1951.
5. Phong trào văn thân khởi nghĩa, Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957.
6. Cách mạng cận đại Việt Nam, Ban nghiên cứu Sử Địa, Hà Nội, 1955.
7. Tạp chí Lịch sử quân sự.
8. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử.

Hết