Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 08:49:44 PM



Tiêu đề: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 08:49:44 PM
        
        - Tên sách: 10/5/1972 Ngày dài không chiến

        - Tác giả: Nguyễn Công Huy

        - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân

        - Năm xuất bản: 2016

        - Số hóa: Giangtvx

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/00%20Bia%20ngay%20dai_zpslsqsy4zo.jpg)

        Mục lục

        - Lời nói đầu   
        - Chuyện của ngày hôm trước   
        - Ngày dài không chiến   
        - Bên lề cuộc chiến   
        - Những người đọ cánh   
        - Gặp người trong cuộc   
        - Vĩ thanh   
        - Danh sách các chỉ huy, dẫn đường và 180 phi công liên quan đến những trận không chiến ngày 10-5-1972



       Luôn tưởng nhớ và kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của các phi công đã vĩnh viễn "xếp lại đôi cánh của mình" trong những trận không chiến, dũng cảm hy sinh vì sự bình yên cho bầu trời và mặt đất thân yêu của Tổ quốc Việt Nam!

        

        
LỜI NÓI ĐẦU

        Trong suốt cuộc chiến tranh chống Không quân Mỹ đánh phá ra miền Bắc Việt Nam đã diễn ra rất nhiều cuộc không chiến giữa máy bay của Không quân Việt Nam và máy bay của Không quân, Hải quân Mỹ. Trong những cuộc không chiến ác liệt ấy, có thắng, có thua và có cả những trận bất phân thắng bại... Nhưng ngày 10-5-1972 là ngày chiếm giữ nhiều kỷ lục nhất vì đó là ngày có nhiều trận không chiến nhất, kéo dài nhất, ngày mà cả hai bên có nhiều lực lượng tham chiến nhất, ngày có nhiều chủng loại máy bay tham gia nhất, ngày ác liệt nhất, và theo thống kê của cả hai phía thì là ngày có số máy bay bị bắn hạ trong các trận không chiến cũng nhiều nhất...

        Không quân Mỹ đã huy động 22 chủng loại với hàng trăm máy bay. Không quân ta cũng sử dụng lực lượng của cả bốn Trung đoàn Không quân tiêm kích với tất cả các chủng loại máy bay tiêm kích để nghênh chiến. Các tài liệu của phía Mỹ gọi ngày 10-5-1972 là "Một ngày trong cuộc chiến kéo dài" - cuộc chiến tranh trên không ở miền Bắc Việt Nam (One day in a long war - May 10, 1972, Air War, North Vietnam). Ngoài ra, họ còn chiếu trên kênh truyền hình History Channel (kênh chuyên về đề tài lịch sử) một loạt phim về các trận không chiến ngày 10-5-1972 với tiêu đề "Ngày đẫm máu" (The Bloodiest Day).

        Tác giả cuốn sách này là một trong số các phi công đã trực tiếp tham gia chiến đấu trong ngày hôm đó. Sau hơn 40 năm kể từ khi cuộc chiến tranh kết thúc, nay có điều kiện nhìn nhận lại, tác giả muốn trình bày để các bạn đọc hiếu rõ thêm về cái ngày lịch sử ấy.

        Xin kính cẩn nghiêng minh trước anh linh của các phi công đã "xếp lại đôi cánh của mình" trong những trận không chiến ngày 10-5-1972 vì sự bình yên của bầu trời và mặt đất thân yêu của Tố quốc Việt Nam.

        Xin cám ơn các đồng đội đã giúp đỡ, động viên tác giả triển khai và hoàn thành cuốn sách này.

        Có thể trong quá trình biên soạn còn có những thiếu sót. Rất mong được bạn đọc nhận xét, góp ý.

        Trân trọng cảm ơn!


TÁC GIẢ        




Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2016, 08:19:41 AM

CHUYỆN CỦA NGÀY HÔM TRƯỚC

        Tuy cường độ các trận đánh của Không quân và Hải quân Mỹ ra miền Bắc có giảm, song căn cứ vào những dấu hiệu căng thẳng từ cuối năm 1971 thì có thể đoán được năm 1972 sẽ là một năm rất ác liệt, đặc biệt là sau sự kiện "Mùa hè đỏ lửa" ở Quảng Trị.

        Có thể điểm qua tình hình năm 1972 như sau: Trên chính trường Mỹ, năm 1972 Tổng thống Mỹ Ních-xơn tái tranh cử, chịu nhiều sức ép lớn phải thực hiện lời hứa trước cử tri Mỹ về việc rút quân Mỹ ra khỏi chiến trường Việt Nam trong danh dự. Hơn ai hết Ních-Xơn (Nixon) hiểu rõ sức ép này và ngay từ khi ngồi vào Nhà Trắng, đã phải chuyển chiến lược can dự trực tiếp sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", thực chất là rút dần quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam trong danh dự, nhưng phải hỗ trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn đủ sức chống lại Quân giải phóng.

        Với mục tiêu đó, quân số từ hơn nửa triệu quân lúc cao nhất, cho đến mùa xuân năm 1972, Mỹ chỉ còn để lại 95.000 quân đóng ở miền Nam Việt Nam. Các đơn vị Không quân Mỹ đóng ở miền Nam Việt Nam cũng rút xuống chỉ còn ba phi đoàn F-4 và một phi đoàn A-37, với tổng số 76 chiếc máy bay.

        Lực lượng Không quân Mỹ ở Thái Lan cũng chỉ còn 161 chiếc F-4, 52 chiếc "Pháo đài bay" B-52, 16 chiếc F-105.

        Tại căn cứ trên đảo Guam, có 31 chiếc B-52.

        Ngoài khơi trên Biển Đông, Hải quân Mỹ vẫn có hai tàu sân bay là USS Coral Sea và USS Hancock, mỗi chiếc chở 70 máy bay.

        Tuy nhiên, chiến lược này của Mỹ bộc lộ một điều rằng, tất cả hoàn toàn không đạt được mục đích đã đặt ra vì các vị trí chiến lược của chính quyền miền Nam Việt Nam vẫn liên tục bị tấn công. Phía Quân giải phóng rõ ràng đã chuyển sang tổng tiến công cùng với sự chi viện rất lớn từ miền Bắc, thông qua "đường mòn Hồ Chí Minh".

        Trước nguy cơ mất miền Nam Việt Nam, các thế lực của "phái diều hâu" Mỹ đã gây áp lực cho Tổng thống Ních-xơn buộc phải có hành động mạnh mẽ đế ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc Việt Nam và bảo vệ chính quyền miền Nam Việt Nam.

        Nhưng Tổng thống Mỹ đã trót hứa với cử tri về kê hoạch rút quân rồi!

        Tổng thống Ních-Xơn đau đầu trước sự đối mặt nghiệt ngã, cố tìm lấy một giải pháp.

        Trong cuốn hồi ký "No more Vietnam", Ních-Xơn đã viết:

        "Chỉ có hai đòn chiến lược may ra mối có thể cứu vãn được thất bại tại Việt Nam. Hoặc là ném bom tổng lực hệ thống đê điều ở Bắc Việt Nam, hành động có thể gây ra lũ lụt, giết chết hàng chục ngàn dân thường, hoặc là chúng ta phải sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật giống như Tổng thống Ai- xen-hao (Eisenhower) năm 1954 (khi ông ta phải cân nhắc sử dụng bom hạt nhân để cứu vãn sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ). Tôi không nghiêng về phương án sử dụng vũ khí hạt nhân và tôi cũng kiên quyết không oanh kích hệ thông đê điều, cả hai giải pháp ấy đều có thể gây ra phản ứng cả ở trong và ngoài nước, phá hỏng chính sách đối ngoại của chúng ta trên tất cả các mặt trận... ".

        Giải pháp thứ ba được đưa ra là ném bom ồ ạt vào thành phố Hà Nội cũng bị Tổng thống Ních-Xơn bác bỏ. Vậy lối thoát là ở đâu? Có thể tìm thấy ánh sáng ở phía cuối đường hầm hay không? Câu hỏi đặt ra thật khó có câu trả lời thỏa đáng.

        Trong tình thế lúng túng, bế tắc như "gà mắc tóc" ấy, ngày 4 tháng 5 năm 1972, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, Đô đốc Tô-mátx Mo (Thomas Moore) đã đưa ra kế hoạch "oanh kích các mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam và phong tỏa bằng mìn tại các cảng biển của Bắc Việt Nam"...

        Cùng ngày 4 tháng 5 năm 1972, Cố vấn An ninh Quốc gia Hen-ri Kít-xinh-giơ (Henry Kissinger) sau khi tạm kết thúc các cuộc hòa đàm cùng ông Lê Đức Thọ tại Pa-ri mà chưa đạt được kết quả như mong muốn, đã trở về Oa-sinh-tơn. Đồng thời, cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Ních-Xơn với Tổng Bí thư L. Bre-giơ-nhép (Brezhnev) tại Mát-xcơ-va cũng bị thất bại. Ních-Xơn đã bị các tướng lĩnh của "phái diều hâu" thuyết phục và đã chấp nhận phương án phong tỏa bằng mìn tất cả các cảng biển của Bắc Việt Nam nhằm ngăn chặn sự lưu thông qua lại và các hoạt động của Hải quân Bắc Việt Nam, cắt đứt mọi nguồn viện trợ từ Bắc vào Nam. Các đường giao thông trên bộ cũng sẽ bị đánh phá, cắt đứt với những khả năng lớn nhất. Không quân và Hải quân Mỹ sẽ tiếp tục oanh kích các mục tiêu quân sự trên đất Bắc Việt Nam.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 02:03:31 AM

        Thực chất, đây chính là sự thất bại của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và cùng với sự lúng túng, Mỹ bắt buộc phải triển khai chiến lược "tái Mỹ hóa một phần chiến tranh Việt Nam" một cách bị động.

        Để thực hiện ý đồ dùng lực lượng Không quân và Hải quân bao vây, cô lập miền Bắc và chặn đứng sự viện trợ từ ngoài vào cùng sự chi viện cho miền Nam, Mỹ đã điều động thêm hai tàu sân bay cùng 58 tàu chiến thuộc Hạm đội 7 vào Vịnh Bắc Bộ, nâng tống số tàu sân bay của Mỹ ở khu vực này lên sáu chiếc. Máy bay chiến thuật, ngoài hơn 100 chiếc F-4 thế hệ mới đã đóng quân sẵn tại Thái Lan, Không quân Mỹ còn điều động hơn 350 chiếc F-4E từ căn cứ Bắc Ca-rô-li-na và toàn bộ Không đoàn chiến thuật số 49 với 72 chiếc F-4D từ căn cứ Niu Mê-hi-cô (New Mexico) đến căn cứ Ta-khơ-li (Takhli). Vậy là tổng số máy bay chiến thuật đã được huy động tới 1.077 chiếc và 200 máy bay chiến lược B-52 (gồm 150 chiếc đóng tại căn cứ Guam và 50 chiếc điều đến Thái Lan)...

        Để tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần này, Mỹ có những thay đổi về trang bị và thủ đoạn tác chiến so với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, trong đó nổi bật là sử dụng đồng nhất chủng loại máy bay chiến thuật tham gia tiến công F-4 các loại c, B, J, R của Không quân và F-8, A-7 của Không quân Hải quân, vũ khí không đối đất, không đối không cũng được cải tiến, nhất là đưa loại vũ khí chính xác đánh vào một loạt cầu cống, nhà máy, kho tàng chiến lược của ta. Tàu tên lửa cũng được đưa lên rất cao, ngang với cửa biển Diêm Điền, Thái Bình để từ đó khống chế các máy bay MiG ra hướng biển. Có những quả tên lửa từ hạm tàu bắn vào tới gần Hải Dương khi máy bay MiG cất cánh lên độ cao 4.000 mét. Đồng thời, Mỹ cũng dùng biện pháp chế áp điện tử mạnh trên các tần số hoạt động của ra-đa cảnh giới, dẫn đường, ra-đa trên máy bay của MiG, ra-đa điểu khiển tên lửa và cả các tần số liên lạc đối không của máy bay ta.

        Về phía ta, tất cả đã sẵn sàng cùng với quyết tâm giành thắng lợi trong những chiến dịch mang tính chất quyết định. Sự chỉ đạo chiến lược cùng các yêu cầu của Bộ Tổng Tư lệnh tối cao đối với các lực lượng trong đó Quân chủng Phòng không - Không quân làm nòng cốt, phải chuẩn bị tốt tâm thế, lực lượng và thế trận để sẵn sàng đánh bại mọi đợt đánh phá của Không quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là các đợt đánh phá bằng máy bay B-52.

        Các cơ quan, trường học, trẻ em lại tiếp tục sơ tán khỏi Hà Nội và Hải Phòng (khoảng 50 vạn người dân rời khỏi Hà Nội và 21 vạn người rời khỏi Hải Phòng).

        Ngay từ cuối năm 1971, các máy bay MiG-21MF đã được lắp ráp và các phi công của Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 cơ bản đã hoàn thành chương trình bay chuyển loại sử dụng loại máy bay này, sau đó, Trung đoàn cơ động vào sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa với nhiệm vụ chính là đánh máy bay Mỹ ở vùng trời khu Bốn, đồng thời còn bổ sung thêm nhiệm vụ đánh đêm.

        Đầu năm 1972, thêm một Trung đoàn Không quân tiêm kích nữa ra đời. Đó là Trung đoàn Không quân tiêm kích 927, căn cứ chính đóng tại sân bay Đa Phúc.

        Vậy là đến năm 1972, Không quân phân dân Việt Nam đã có bốn Trung đoàn Không quân tiêm kích với ba loại máy bay tiêm kích chiến đấu là MiG-17, MiG-19 và MiG 21.

        Đó là chưa kể đến lực lượng Không quân ném bom, vận tải quân sự và trực thăng...

        Bố trí vị trí đóng quân của các Trung đoàn Không quân tiêm kích như sau:

        Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 sử dụng máy bay MiG-21, đóng tại sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa với nhiệm vụ đánh địch ở khu Bốn và làm nhiệm vụ đánh đêm.

        Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 lấy sân bay Kép làm căn cứ, sử dụng máy bay MiG-17 làm nhiệm vụ đánh địch, bảo vệ vùng trời phía Đông và Đông Bắc.

        Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 đóng quân tại Yên Bái, sử dụng máy bay MiG-19, có nhiệm vụ đánh địch, bảo vệ vùng tròi phía Tây và Tây Bắc.

        Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 sử dụng máy bay MiG-21, lấy căn cứ chính là sân bay Đa Phúc, phối hợp đánh địch cùng các Trung đoàn Không quân tiêm kích bạn, bảo vệ vùng trời Thủ đô.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: tungngth trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:11:51 AM
    Trên tay tôi là những trang sách còn thơm mùi giấy mực. Trân trọng công phu của tác giả, với lối viết mới (phỏng vấn những người trong cuộc...), cách nhìn toàn diện từ hai phía... văn phong cô đọng, súc tích đã cho người đọc hình dung được những trận quyết chiến trên không, phương tiện chiến đấu và đặc tả những con người của chiến trận. Xin một lần nữa chân thành cảm ơn tác giả đã đưa lịch sử trở lại cho lớp hậu sinh, với tất cả tính chất khốc liệt, tàn nhẫn nhưng cũng rất hào hùng như nó vốn thế!
   Nhân đây cũng xin có vài lời về phần tác quyền. Tuy tác giả rất "ga-lăng", sách mới phát hành cuối tháng 10, nhưng đã đồng ý số hóa free! Đây là điều khác hẳn với thông lệ xuất bản (sau 1 thời gian dài xuất bản sách giấy mới làm vậy, hoặc ebook phải trả tiền nếu xuất bản song hành) và khác hẳn với tác giả khác tổ chức P.A. rầm rộ, họp hành quan trọng trong Nam ngoài Bắc với tác phẩm nhấn mạnh đến "cái tôi" của mình...! Như tôi đã có lần đề cập, bản lĩnh, phẩm cách của con người thể hiện qua hành xử:"phong độ là nhất thời, nhưng đẳng cấp là mãi mãi" (Sir Alex Fegurson)!
   Nhưng nói đi cũng phải nói lại, về phần độc giả cũng cần có sự trân trọng "con chữ, con nghĩa", đứa con tinh thần của tác giả! Nhiều khi chúng ta (có cả bản thân tôi) quen "xài chùa" mà chẳng mấy khi áy náy nghĩ về công thai nghén, mang nặng đẻ đau mới có những tác phẩm hay để người đọc thưởng thức và suy ngẫm! Có lẽ, bản số hóa nên thư thư 1 chút, bởi nghĩ cho mình thì dễ, nghĩ cho người mới khó!
   Tôi xin giới thiệu 1 địa chỉ phát hành sách tại số 83 phố Lý Nam Đế (cạnh Thư viện Quân đội). Xin nói thêm rằng giá sách rất vừa phải (có chiết khấu), ngược hẳn với giá trị nội dung! Thêm 1 lần nữa phải so sánh với cuốn sách P.A. có giá trên trời!
    Về nội dung cuốn sách, xin phép được suy ngẫm và đối chiếu với một số tác phẩm tiếng nước ngoài do những người trong cuộc viết, trước khi mạn đàm cùng tác giả.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 04:52:08 PM

        Một số tác giả Mỹ cho rằng, đến thòi điểm đầu năm 1972, Không quân Việt Nam có 85 chiếc MiG-15 và MiG-17, 32 chiếc MiG-19, 75 chiếc MiG-21 (trong đó có một số là MiG-21 đời mới - loại MiG-21F96 mà phía NATO gọi là Fishbed J). Một tài liệu khác lại cho rằng, Không quân Việt Nam có 265 chiếc MiG, với 140 chiếc MiG-17, 31 chiếc MiG-19 và 94 chiếc MiG-21.

        Lực lượng Phòng không cũng được bổ sung thêm tên lửa SAM-2. Các số liệu do tình báo Mỹ cung cấp cho rằng, tại thời điểm đầu năm 1972, lực lượng tên lửa của miền Bắc Việt Nam có hơn 200 bộ khí tài tên lửa SAM, với 35 trận địa lớn cùng hàng ngàn trận địa pháo Phòng không các loại bố trí xung quanh thành phố Hà Nội và Hải Phòng.

        Sau khi Tổng thống Mỹ Giôn-xơn (Johnson) buộc phải tuyên bố kết thúc "Chiến dịch Sấm Rền" và ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 20 trở vào (giai đoạn này được gọi là "Giai đoạn ném bom hạn chế") thì Không quân ta tranh thủ những ngày yên tĩnh ít ỏi trong chiến tranh, tăng cường huấn luyện để nâng cao trình độ bay ngày, bay đêm, trình độ đánh chặn trong thời tiết phức tạp... cho các phi công, luyện tập các phương án dẫn dắt, công tác hiệp đồng chiến đấu cho các thành phần trực ở Sở chỉ huy.

        Như vậy, bước sang năm 1972, Không quân Việt Nam đã sẵn sàng ở trình độ tổ chức và kỹ năng chiến đấu cao hơn hẳn những năm trước. Lớp phi công chúng tôi, tuy tuổi đời chỉ từ 24 đến 26 tuổi với số giờ bay của mỗi người trên MiG-21 chưa quá 250 giờ nhưng cũng đã chuẩn bị trong tư thế như những mũi tên đặt trên dây cung, chỉ chờ thời điểm lao về phía trước, lao vào những nơi hiểm nguy với những trận không chiến ác liệt sẽ xảy ra trong năm 1972, năm có ý nghĩa quyết định đến cục diện chiến tranh Việt Nam.

        Tuy cường độ các trận đánh của Không quân và Hải quân Mỹ ra miền Bắc có giảm, song căn cứ vào những dấu hiệu căng thẳng từ cuối năm 1971 thì có thể đoán được năm 1972 sẽ là một năm rất ác liệt, đặc biệt là sau sự kiện "Mùa hè đỏ lửa" ở Quảng Trị.

        Để giải tỏa áp lực tấn công của Quân giải phóng miền Nam trong chiến dịch hè năm 1972, Hoa Kỳ quyết định mở "Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ", ném bom miền Bắc Việt Nam, thả thủy lôi phong tỏa cảng Hải Phòng nhằm làm kiệt quệ miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam, làm lung lay ý chí chiến đấu của các cấp lãnh đạo và nhân dân Việt Nam, cứu nguy cho chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ.

        Tổng thông Mỹ Ních-xơn đã lên truyền hình tuyên bố về tình hình chiến sự tại Đông Nam Á, đưa ra các giải pháp cho cuộc chiến và nói: "Tôi buộc phải đi đến một tính toán mà tôi sẽ nói ngay sau đây. Tất cả các cảng biển của Bắc Việt Nam sẽ bị phong tỏa bằng mìn để ngăn chặn lưu thông qua lại và các hoạt động của Hải quân Bắc Việt Nam. Các lực lượng Hoa Kỳ sẽ hoạt động trong vùng thềm lục địa và vùng biển của Bắc Việt Nam để cắt đứt mọi nguồn viện trợ... Mọi đưòng tàu hỏa và giao thông sẽ bị cắt đứt bằng những khả năng lớn nhất có thể, Không quân và Hải quân tiếp tục oanh kích các mục tiêu quân sự trên đất Bắc Việt Nam... ".

        Chí 47 phút sau bài phát biểu của Tổng thông Ních-xơn, Lầu Năm Góc đã ban bố bắt đầu "Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ" (lúc đầu, nó được gọi là "Chiến dịch Rolling Thunder Alpha, nhưng sau đó đổi thành Lai-nơ-bếch-cơ 1).

        Lai-nơ-bếch-cơ theo tiếng Anh là tên gọi các cầu thủ chơi ở vị trí tiền vệ. Đấy là những cầu thủ đóng vai trò rất quan trọng, đứng ngay sau các cầu thủ ở vạch giữa sân, khi nhận được bóng là lập tức tổ chức tấn công về phía sân đổì phương. Vì Ních-Xơn là fan hâm mộ số một của bóng đá Mỹ nên ông ta đã đặt tên Lai-nơ-bếch-cơ cho chiến dịch có ý nghĩa chiến lược quan trọng với mong muốn các Không đoàn máy bay Mỹ sẽ có những đòn đánh lớn vào sâu lãnh thổ miền Bắc Việt Nam và kết thúc chiến tranh có lợi cho cả hai phía.
 
        "Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 1" (còn gọi là "Cuộc hành quân Lai-nơ-bếch-cơ 1") mở đầu chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai (6-4-1972 - 15-1-1973) được chia thành hai bước:

        Bước một: (6/4 - 8/5) leo thang nhanh, đánh phá ồ ạt bằng Không quân và Hải quân.

        Bước hai: (9/5 - 22/10) phong tỏa toàn bộ các cảng sông, vùng ven biển miền Bắc Việt Nam bằng thủy lôi, bom từ trường, kết hợp với đánh phá bằng Không quân và Hải quân.

        Trong chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 1, Mỹ đã huy động số lượng lớn vũ khí, kỹ thuật hiện đại (máy bay ném bom chiến lược B-52, pháo hạm, bom la-de, thủy lôi MK-52... ), tiến hành 44.000 phi vụ, ném 137.000 tấn bom xuổng các mục tiêu quân sự và dân sự, phá hủy nhiều khu dân cư, đường giao thông, kho tàng, sân bay, bến cảng... theo các đợt: đợt một mang tên "Chiến thuật nhảy cóc", đợt hai là "Vùng 6", đợt ba là "Không kích mở rộng" và đợt bốn là "Kéo giãn đối phương".

        Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 1 chính thức kéo dài từ ngày 9 tháng 5 năm 1972 đến ngày 23 tháng 10 năm 1972 với lực lượng tham gia chính là các phi đoàn máy bay thuộc Bộ Tư lệnh Không quân số 7 và Bộ Tư lệnh Đặc nhiệm 77 của Hải quân Mỹ. Tham gia chiến dịch còn có máy bay ném bom chiến lược B-52 của Bộ Tư lệnh Không quân chiến lược.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 11:53:16 AM

        Có thể điểm lại sơ bộ từng đợt trong chiến dịch này như sau: "Chiến thuật nhảy cóc" mở đầu chiến dịch vào ngày 6 tháng 4. Không lực Hoa Kỳ huy động hơn 150 lần chiếc máy bay, trong đó có 18 lần chiếc máy bay B-52 phối hợp với các pháo hạm ném bom, bắn phá các kho tàng, chân hàng và trận địa tên lửa của ta tại Quảng Bình, Vĩnh Linh...

        Sang ngày 7 tháng 4, Không lực Hoa Kỳ tổ chức nhiều trận không kích lớn vào các đơn vị Phòng không của ta tại Vĩnh Linh và Quảng Bình. Đợt tấn công đầu tiên của Không lực Hoa Kỳ kết thúc vào ngày 10 tháng 4.

        Đêm mồng 9 rạng ngày 10 tháng 4, 50 lần chiếc máy bay trong đó có 12 chiếc B-52 ném bom khu vực Vinh - Bến Thủy.

        Ngày 13 tháng 4, 64 lần chiếc máy bay cường kích và sáu chiếc B-52 đánh cầu Hàm Rồng và sân bay Thọ Xuân.

        3 giờ sáng ngày 16 tháng 4, Không lực Hoa Kỳ tổ chức một trận đánh quy mô vào Hải Phòng, sử dụng 261 phi vụ chiến thuật và chín phi vụ B-52 giội bom xuống thành phố.

        Trong các trận đánh vào tháng 4 năm 1972 ở miền Bắc, Không quân Mỹ sử dụng phổ biến các loại máy gây nhiễu điện tử có công suất lớn: ALQ gây nhiễu ra-đa điều khiển tên lửa đất đối không, ALR-18 gây nhiễu ra-đa của MiG-21, ALQ-76 và
 
        QTR-13 gây nhiễu ra-đa pháo Phòng không... Các máy bay thế hệ mới được sử dụng có F-4D và E thay cho F-4C, F-105G thay cho F-105F, Ạ-6 và A-7 thay cho A-4. Các kỹ thuật điều khiển vũ khí hiện đại có hệ thống điều khiển ném bom bằng la-de ZOT và KNIGHT. Các loại tên lửa chống ra-đa mới cũng được đưa vào sử dụng như AGM-78, AGM-88.

        Về chiến thuật, Không quân Mỹ không leo thang theo từng địa điểm từ Nam ra Bắc mà đánh theo lối "nhảy cóc" từ Quảng Bình ra Vinh, Thanh Hóa ( bỏ qua Hà Tĩnh) đến Hải Phòng, Hà Nội (bỏ qua đồng bằng Bắc Bộ).

        Từ ngày 6 tháng 4 đến 8 tháng 5, Không quân và Hải quân Mỹ đã không kích 857 điểm trên miền Bắc, trong đó có 345 mục tiêu giao thông, 215 mục tiêu dân sự, 85 mục tiêu quân sự.

        Sáng ngày 9 tháng 5, Phân hạm đội tuần dương và khu trục số 11 thuộc Hạm đội 7 bắt đầu chiến dịch rải thủy lôi ngăn chặn, cô lập bờ biển miền Bắc Việt Nam với 7.963 quả ở 43 khu vực bến cảng, cửa sông và mười tỉnh ven biển từ Quảng Bình đến Quảng Ninh, tập trung nhiều nhất ở các khu vực Hải Phòng, Cửa Hội, Hòn La và cửa sông Gianh.

        Về "vùng 6" - đó là mật danh của Không quân Mỹ chỉ không phận Hà Nội và các vùng lân cận có bán kính 50 dặm. Ngày 10 và 11 tháng 5, Không quân Mỹ tổ chức các trận đánh quy mô lớn vào Hà Nội và các vùng lân cận quanh Hà Nội.
 
        Song song với cuộc không kích vào Hà Nội, Không quân Mỹ còn tổ chức các đợt tấn công vào các đầu mối giao thông quan trọng ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ.

        Đầu tháng 7 năm 1972, Không quân và Hải quân Mỹ tổ chức sáu trận đánh lớn vào Hà Nội.

        Về đợt "không kích mở rộng": Từ tháng 8 đến tháng 9 năm 1972, Không quân Mỹ giảm bớt cường độ và các đợt đánh phá vào "vùng 6" và mở rộng đánh phá các tuyến giao thông quan trọng ở phía Bắc, phía Nam của Hà Nội (Quốc lộ 1) và phía Đông (Quốc lộ 5, Quốc lộ 10).

        Trọng điểm không kích trong thời gian này là các cầu, phà đầu mối (sông Hóa, Bắc Giang, Đáp Cầu, Tân Đệ, Phú Lương, Ninh Bình, Hàm Rồng...), các chân hàng, kho hàng (Hải Phòng, Đồng Mỏ, Đông Anh), các trận địa tên lửa Phòng không, các sân bay, các nhà ga đầu mối trên các tuyến đường sắt Hà Nội - Thanh Hóa - Vinh, Hà Nội - Đồng Đăn£, Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Yên Bái và các kho xăng dầu.

        Trong đợt không kích "mở rộng" này, vào cuối tháng 9, Không quân Mỹ điều hai Đại đội gồm 48 máy bay cường kích F-111A thuộc Liên đội Không quân chiến thuật số 47 đến căn cứ Ta-khơ-li (Thái Lan) có nhiệm vụ phối hợp với các máy bay tầm thấp A-6, A-7 của Hải quân để tiêu diệt các trận địa tên lửa Phòng không SAM...
 
        Đến "đợt kéo giãn đối phương".

        Ngày 8 tháng 10, tại Hội nghị Pa-ri, phía Việt Nam đưa ra "Dự thảo Hiệp định hòa bình". Phái đoàn Mỹ đã cùng thảo luận, chỉnh sửa dự thảo này trong ba ngày và đi đến thỏa thuận sẽ ký tắt Hiệp định vào ngày 23 tháng 10 tại Hà Nội, ký chính thức vào ngày 26 tháng 10 tại Pa-ri. Trước đó Mỹ đã chấm dứt ném bom miền Bắc từ ngày 18 tháng 10. Ngày 20 tháng 10, Mỹ đề nghị lùi thời gian biểu lại năm ngày. Ta chấp nhận. Đến ngày 23 tháng 10, Tổng thống Ních-Xơn tuyên bố đơn phương ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam nhưng không phải là tất cả mà chỉ từ vĩ tuyến 20 trở ra.

        Cùng ngày, Tổng thống Ních-Xơn cũng gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề nghị có thêm một cuộc gặp nữa ở Pa-ri vì có nhiều vấn đề kỹ thuật xuất hiện. Vấn đề đó chính là bốn điều kiện mà Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đòi phải đáp ứng để ký kết hiệp định:

        1.   Không có Chính phủ liên hiệp.

        2.   Quân miền Bắc phải rút khỏi miền Nam.

        3.   Tôn trọng tính trung lập của khu phi quân sự.

        4.   Giải quyết những bất đồng chính trị còn lại giữa hai miền mà không có sự can thiệp của nước ngoài.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 05:54:04 PM
 
        Từ ngày 23 tháng 10, Không quân Mỹ tập trung đánh phá các tuyến giao thông ở các tỉnh từThanh Hóa trở vào. Các khu vực trọng điểm: Tân Kỳ, Triều Dương, Đô Lương (trên tuyến đường 15) thường xuyên bị B-52 oanh kích.

        Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam đã phải đứng trước hai sự lựa chọn, hoặc co các đơn vị tên lửa về quanh Hà Nội và Hải Phòng, hoặc phòng thủ Hà Nội từ xa. Cuối cùng, việc điều động, sắp xếp lại lực lượng đã diễn ra với các biện pháp điều động binh lực Phòng không.

        Về hình thức, có vẻ như phía Mỹ đã đạt được mục đích kéo giãn đối phương - giãn các lực lượng tên lửa Phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam ra xa khu vực Hà Nội và Hải Phòng.

        Cũng trong thòi gian này, Không quân Mỹ một mặt tiếp tục oanh kích các mục tiêu đường giao thông, nhà ga, cầu phà, bến cảng, kho hàng... ở phía Nam vĩ tuyến 20, mặt khác, tích cực chuẩn bị cho chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 2.
 

NGÀY DÀI KHÔNG CHIẾN

        Chỉ 47 phút sau bài phát biểu của Tổng thống Ních-xơn, vào lúc 9 giờ sáng ngày 9 tháng 5 năm 1972, Lầu Năm Góc đã phát lệnh bắt đầu "Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 1". Đó chính là sự khởi đầu cho những trận không chiến ác liệt của tháng 5 lịch sử.

        Chuẩn bị bước vào Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 1, Không quân và Hải quân Mỹ đã tiến hành một loạt các biện pháp nhằm nâng cao khả năng chiến đấu của các đơn vị sẽ tham chiến ở miền Bắc Việt Nam. Điển hình ngay từ đầu là các khóa huấn luyện theo chương trình nâng cao cho các phi công Mỹ, đặc biệt là các phi công của Hải quân (gọi là chương trình TOP GUN). Sau khóa huấn luyện này, các phi công Mỹ rất muốn thử sức với các phi công MiG của miền Bắc Việt Nam để đánh giá kết quả qua quá trình huấn luyện nâng cao.

        Ngoài chương trình nâng cao trình độ chiến đấu cho các phi công, các máy bay chiến đấu của Không quân Mỹ cũng được trang bị loại tên lửa mới AIM-7E-2 Sparrow và AIM-9G Sidewinder (tiếp sau đó là phiên bản cải tiến AIM-9J). Trên các máy bay F4-E cũng được nghiên cứu, lắp thêm bộ phận "cánh tà trước" (Leading edge Slats on the Wing) để tăng tính năng khí động học khi cơ động ngang. Khi đã được lắp "cánh tà trước", những chiếc F-4 trở nên nguy hiểm hơn vì chúng vòng mặt bằng rất gấp và không bị mất tốc độ. Chúng có thể quần nhau trong các trận không chiến ở mặt phẳng ngang không kém cạnh gì MiG-17 và MiG-19. Ngoài ra, trên một số máy bay F-4 còn được lắp cả hệ thông tác chiến điện tử AXP-80 "Electronic Device code-named Combat Tree" có khả năng thu được tần số thu phát của hệ thống phân biệt địch ta SRO-2 và SRZO-2 cùng với hệ thống COD-57 của các máy bay MiG.

        Hệ thống AXP-80 Combat Tree có khả năng nhanh chóng xác định thời điểm cất cánh và vị trí của các máy bay MiG. Nó đã trợ giúp cho các phi công Mỹ rất nhiều trong các cuộc đụng độ với phi công Việt Nam.

        Chiến thuật và thủ đoạn đánh phá của Mỹ cũng thay đổi. Không quân và Hải quân Mỹ áp dụng mọi thủ đoạn trong gây nhiễu điện tử, sử dụng các vũ khí cải tiến, bom thông minh: bom dẫn đường la-de, bom dẫn bằng quang học - điện tử... rồi sử dụng hệ thông nhiễu tích cực, nhiễu tiêu cực dày đặc.
 
        Để đối phó với các máy bay tiêm kích của Việt Nam, chúng tăng tỉ lệ yểm trợ trong đội hình, cứ một chiếc máy bay ném bom thì phải bố trí hai, ba chiếc tiêm kích đi bảo vệ cả khi bay vào đánh phá và khi thoát li khỏi trận oanh kích bay ra. Đội hình bay cũng thay đổi: sử dụng đội hình nhỏ hơn và bay vào từ nhiều hướng khác nhau với các độ cao khác nhau...

        Với những sự chuẩn bị kỹ lưỡng như vậy, Mỹ tin tưởng sẽ tiến hành chiến dịch một cách suôn sẻ.

        Ngày 10-5-1972 là ngày đầu tiên bước 2 của "Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 1".

        Vào nửa đêm ngày 9 tháng 5 năm 1972, rạng sáng ngày 10 tháng 5 năm 1972, sáu chiếc tàu chiến của lực lượng đặc nhiệm Hải quân Mỹ do Chuẩn Đô đốc Uy-li-am Mách (Wiliam Mack) chỉ huy với đầy đủ súng đạn đã lặng lẽ tiến về phía bờ biển miền Bắc Việt Nam, đó là các tàu tuần dương hạm Oklahoma City (chiếc tàu từng bị phi công Nguyễn Văn Bảy B ném bom trọng thương), tàu Providence, tàu Newport News cùng ba tàu khu trục Fox, Hanson và Buchanan. Sau đó vài tiếng đồng hồ, hai tàu sân bay USS Constellation và Uss Kitty Hawk (tải trọng của mỗi tàu là 70.000 tấn) cùng với tàu sân bay Uss Coral Sea (tải trọng 49.000 tấn) chở các máy bay F-4, A-6, A-7 đưa ra vị trí chuẩn bị cất cánh.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2016, 04:34:57 PM

        Ngày đầu tiên bước hai của chiến dịch, phía Mỹ tiến hành cùng lúc hai chiến dịch: Lai-nơ-bếch-cơ 1 và Operation Custom Tailor trên quy mô lớn, với 414 lần chuyến cất cánh của lực lượng máy bay chiến thuật thuộc Bộ Tư lệnh Không quân số 7 và Bộ Tư lệnh đặc nhiệm 77 của Hải quân Mỹ để đánh phá các mục tiêu quanh khu vực Hải Phòng và các mục tiêu phía đông nam Thủ đô Hà Nội.

        Không quân Mỹ huy động 120 máy bay tham gia tấn công, trong đó có 16 máy bay F-4 và năm chiếc F-105 bay vào trước để làm nhiệm vụ chế áp lực lượng Phòng không và máy bay MiG. Lực lượng khác gồm 20 chiếc F-4 và năm chiếc F-105 khác tham gia đánh nhà ga Yên Viên, ngoài ra còn có 88 chiếc máy bay các loại tham gia nhiệm vụ hỗ trợ. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Không quân và Hải quân Mỹ trong ngày 10 tháng 5 năm 1972 là phải đánh sập bằng được cây cầu Long Biên bắc qua sông Hồng - cây cầu như một chứng nhân lịch sử, đứng ngạo nghễ trong suốt bảy năm trời mà Không quân Mỹ không thể nào đánh sập được.

        Trước ý đồ của Không quân và Hải quân Mỹ, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân quyết định đánh hiệp đồng cả ba loại MiG (MiG-17, MiG-19, MiG-21) của bốn Trung đoàn Không quân tiêm kích (Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, Trung đoàn Không quân tiêm kích 923, Trung đoàn Không quân tiêm kích 925, Trung đoàn Không quân tiêm kích 927) cùng với lực lượng tên lửa, pháo Phòng không. Các lực lượng sẽ triển khai để đánh các tốp máy bay cường kích của Không quân và Hải quân Mỹ ở cả ba hướng: hướng Đông để bảo vệ Hải Phòng, hướng Đông Bắc bảo vệ cầu Long Biên cùng các mục tiêu nằm trên đường 1, hướng Bắc và hướng Tây bảo vệ đập Bái Thượng cùng sân bay Yên Bái.

        Lực lượng trực chỉ huy ở các Sở chỉ huy và trực ban chiến đấu của các Trung đoàn Không quân tiêm kích gồm:

        Kíp trực chỉ huy tại Sở chỉ huy Không quân gồm: Tư lệnh Đào Đình Luyện, Phó Tư lệnh Trần Hanh, Phó Tư lệnh Trần Mạnh và Phó Chính ủy Hồ Luật. Kíp trực ban dẫn đường gồm: Lê Thành Chơn, Khổng Đức Thi, Đỗ Cát Lâm, Lê Viết Diện.

        Tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, trực chỉ huy là Trung đoàn trưởng Nguyễn Ngọc Độ. Trực ban dẫn đường là Tạ Quốc Hưng. Các phi công trực ban chiến đấu trên sân bay gồm Đặng Ngọc Ngự, Nguyễn Văn Ngãi, Nguyễn Công Huy, Cao Sơn Khảo.

        Tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 923, trực chỉ huy là Trung đoàn phó Lâm Văn Lích. Trực ban dẫn đường là Phạm Từ Tịnh, Tống Bá Nhưỡng, Đặng Văn Hảo (A). Các phi công trực ban chiến đấu trên sân bay gồm Nguyễn Văn Thọ, Tạ Đông Trung, Đỗ Hạng, Trà Văn Kiếm, Vũ Văn Đang, Nguyễn Công Ngũ, Trịnh Văn Quy, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Xuân Hiển, Lương Quốc Bảo, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Hùng Vân, Ngô Sơn, Nguyễn Phú Ninh, Trương Công Thành, Trần Cao Thăng, Hán Vĩnh Tưởng, Hoàng Mai Vượng, Nguyễn Văn Nhượng.

        Tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 925, trực chỉ huy là Trung đoàn phó Hồ Văn Quỳ. Trực ban dẫn đường là Lưu Văn Cộng, Triệu Sĩ Việt. Các phi công trực ban chiến đấu trên sân bay gồm Hoàng Cao Bổng, Phạm Cao Hà, Nguyễn Văn Cương, Lê Văn Tưởng, Phạm Ngọc Tâm, Phạm Hùng Sơn (C), Nguyễn Văn Phúc, Lê Đức Oánh.

        Tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 927, trực chỉ huy là Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Nhị. Trực ban dẫn đường là Vũ Đức Bình, Nguyễn Văn Được. Các phi công trực ban chiến đấu trên sân bay gồm Nguyễn Đức Soát, Ngô Duy Thư, Nguyễn Văn Nghĩa, Hạ Vĩnh Thành, Lê Thanh Đạo, Vũ Văn Hợp.

        Việc phân công dẫn dắt các biên đội chiến đấu như sau:

        Kíp trực dẫn đường tại Sở chỉ huy Không quân là Khổng Đức Thi dẫn lực lượng MiG-21 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 trực ở sân bay Đa Phúc, Lê Thành Chơn dẫn các máy bay MiG-21 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 trực trên sân bay Kép và các máy bay MiG-19 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 trực trên sân bay Yên Bái, Đỗ Cát Lâm dẫn các máy bay MiG-17 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 trực trên sân bay Gia Lâm.

        Kíp trực dẫn đường tại Sở chỉ huy Kép thì Tống Bá Nhưỡng dẫn lực lượng MiG-21 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 trực ở sân bay Kép, Đặng Văn Hảo (A) dẫn lực lượng MiG-17 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 trực tại sân bay Kép, Phạm Từ Tịnh (người của Ban dẫn đường) dẫn các máy bay MiG-21 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 trực chiến trên sân bay Kép.

        Kíp trực dẫn đường tại Sở chỉ huy Đa Phúc thì Vũ Đức Bình (người của Ban dẫn đường) và Nguyễn Văn Được sẽ dẫn lực lượng máy bay MiG-21 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 trực trên sân bay Đa Phúc.

        Kíp trực dẫn đường tại Sở chỉ huy Yên Bái thì Lưu Văn Cộng và Triệu Sĩ Việt sẽ dẫn lực lượng máy bay MiG-19 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 trực ban chiến đấu trên sân bay Yên Bái.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2016, 10:57:56 AM

        Như vậy, tại Sở chỉ huy Đa Phúc và Kép được bố trí các kíp trực dẫn đường hỗn hợp, có trợ lý dẫn đường của Ban dẫn đường và của cả các trung đoàn, nhưng được phân công dẫn cụ thể đối với từng loại máy bay ta.

        Tuy nhiên, thủ trưởng trực chỉ huy thường trực tiếp yêu cầu ai sẽ chịu trách nhiệm dẫn chính trong từng trận đánh.

        Tại các Đại đội ra-đa C-26 ở cầu Diễn, C-53 ở Đại Thanh và C-42 ở Phi Mô đều có các trực ban dẫn đường trên hiện sóng của Ban dẫn đường trực là Hoàng Kế Thiện, Phạm Thanh Soát, Vương Kính, Trần Đức Thủy và Nguyễn Dũng, của Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 là Lê Thiết Hùng, của Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 là Hoàng Hải, Nguyễn Đăng Điển, Nguyễn Văn Hưng theo yêu cầu của từng Sở chỉ huy trong từng trận. Còn các đài của C-30 ở Thanh Cù (Phú Thọ) phục vụ cho Sở chỉ huy Yên Bái thì vẫn bị trục trặc, chưa khắc phục được triệt để. Vì vậy, kíp trực dẫn đường tại Sở chỉ huy Yên Bái gặp rất nhiều khó khăn.

        Trong ngày, phụ thuộc vào tình hình chiến đấu và những diễn biến cụ thể từng trận đánh, từng giai đoạn, lực lượng phi công và dẫn đường sẽ được trực bổ sung, thay thế cho phù hợp.

        Vào lúc 4 giờ sáng, tại khách sạn Mê-trô-pôn, một nhóm các nhà báo quốc tế được đánh thức dậy để di chuyển xuống Hải Phòng, nơi dự kiến có thể ghi nhận các hình ảnh về các trận đánh phá của máy bay Hải quân Mỹ xuống Hải Phòng và tham dự buổi họp báo về việc tố cáo Mỹ thả mìn phong tỏa cảng Hải Phòng. Trong số các nhà báo quốc tế có hai nhà báo Pháp là Theo-ô-đo Rông-cô (Theodore Ronco) và Clôt Giuy-liêng (Claude Julien) của tờ L' Humanité và tờ Le Monde. Đây chính là các nhân chứng sống chứng kiến máy bay Mỹ đánh phá các mục tiêu dân sự.

        Lúc 8 giờ sáng, các phi đội tấn công đầu tiên cất cánh từ tàu sân bay Uss Constellation và Uss Kitty Hawk hướng về Hải Phòng. Sau đó 20 phút là các biên đội từ các tàu USS Coral Sea và Uss Okinawa cất cánh để tiến hành chiến dịch tấn công mang mật danh "Alpha Strike". Trong trận này, các máy bay Mỹ đã đeo bom CBU để ném bom sân bay Kiến An và các trận địa tên lửa Phòng không.

        Trong khi đó, tại các căn cứ Không quân ở Thái Lan, phi đoàn Không quân chiến thuật Mỹ đã chuẩn bị cất cánh từ sáng sớm để tấn công các mục tiêu nằm sâu trong lãnh thổ miền Bắc Việt Nam.

        7   giò 53 phút, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân cho Trạm ra-đa C-53 mở máy và sau đó phát hiện được các tốp máy bay địch từ phía Đông cửa Trà Lý 100 kilômét bay đến đảo Long Châu và từ đảo Long Châu bay vào phía Uông Bí.

        8   giờ 40 phút, biên đội MiG-17 của Vũ Văn Đang, Nguyễn Công Ngũ, Trịnh Văn Quy, Nguyễn Văn Lâm trực chiến trên sân bay Kép được lệnh chuyến cấp, cất cánh và trực ban dẫn đường Đặng Văn Hảo đã dẫn biên đội vào khu trực ban chiến đấu ở Phả Lại sẵn sàng đánh địch, bảo vệ cầu Lai Vu nhưng không gặp địch nên quay về sân bay Kép hạ cánh lúc 9 giờ 15 phút.

        8 giờ 52 phút, biên đội MiG-21 của Đặng Ngọc Ngự, Nguyễn Văn Ngãi thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 trực trên sân bay Kép mới xuất kích chiến đấu được do thứ tự điều hành chuyển cấp, mở máy và cất cánh giữa hai loại MiG-17 và MiG-21 ở Kép không rõ ràng, muộn hai phút so với dự tính. Trong lúc đó, địch đã vào qua Uông Bí, Lục Nam. Khi biên đội mới rời đất và thu càng thì biên đội hai chiếc F-4 tuần tiễu ở độ cao 5.000 mét bay ngang qua sân bay Kép đã phát hiện được biên đội của Đặng Ngọc Ngự và Nguyễn Văn Ngãi đang cất cánh liền lao xuống tấn công. Chiếc F-4 bay số 2 đã tiếp cận biên đội của MiG-21 và phóng hai quả tên lửa AIM-9G, quả tên lửa thứ hai lao trúng chiếc máy bay của Nguyễn Văn Ngãi lúc đó mới đang ở độ cao chừng 15 - 20 mét. Nguyễn Văn Ngãi hy sinh ngay ở đầu đường băng.

        Khi ấy, Đặng Ngọc Ngự đã lên đến độ cao 200 - 300 mét với tốc độ 750 - 800 km/h được biên đội của Lê Thanh Đạo, Vũ Văn Hợp đang ngồi trong buồng lái chờ cất cánh thông báo có F-4 đang đuổi theo phía sau. Nhờ có trực ban dẫn đường Tông Bá Nhưỡng ở sở chỉ huy trợ giúp, Đặng Ngọc Ngự nhanh chóng cơ động tránh tên lửa, thoát khỏi thế bị động. Biên đội F-4 phóng liên tiếp bốn quả tên lửa nhưng Đặng Ngọc Ngự đều cơ động tránh được. Sau khi vòng ra đến triền núi phía Bắc của dãy Yên Tử, ngay lúc ấy, anh lại phát hiện được thêm biên đội hai chiếc F-4 khác đang bay đối đầu ở cự li 4 - 6 kilômét. Anh tăng tốc độ, cơ động để chiếm vị trí có lợi. Khi ấy, hai chiếc F-4 kia cũng phát hiện được Đặng Ngọc Ngự liền vòng gấp vào phía trái bám theo.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2016, 10:58:30 AM

        Hai chiếc F-4 cơ động theo chiến thuật tách đội hình, đan chéo: một chiếc lên cao, một chiếc xuống thấp. Đặng Ngọc Ngự rơi vào thế một mình đối đầu hai chiếc F-4. Anh làm động tác giả tỏ vẻ bám theo chiếc bên dưới, khi đó,_chiếc F-4 bay phía trên cao liền đổi hướng, bám theo anh. Anh lập tức vòng gấp để bám theo chiếc ấy. Chiếc bay phía dưới tức thì quay lại để bám theo anh. Bấy giờ, Đặng Ngọc Ngự liền nhanh chóng đổi hướng, quay ngoắt lại bám theo chiếc bay phía dưới, đưa nó vào vòng ngắm, khi đến cự li 1.200 mét, ở độ cao 1.500 mét, với tốc độ bay là 1.100 km/h, anh ấn nút phóng quả tên lửa bên trái. Máy bay hơi rung nhẹ. Quả tên lửa không đối không R-3S đã rời khỏi bệ. Anh kéo máy bay mình thoát li và bám sang chiếc F-4 còn lại. Đến cự li 1.200 mét, anh ấn nút phóng quả tên lửa thứ hai bên phải nhưng quả tên lửa này không đi. Đặng Ngọc Ngự kéo máy bay thoát li về hạ cánh ở sân bay Đa Phúc lúc 9 giờ 12 phút.

        8   giờ 55 phút, Sở chỉ huy Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 cho biên đội MiG-17 của Đỗ Hạng, Nguyễn Xuân Hiển thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 cất cánh từ sân bay Kép lên đỉnh sân bay để yểm hộ cho Đặng Ngọc Ngự về hạ cánh. Sau khi Đặng Ngọc Ngự hạ cánh an toàn ở Đa Phúc, biên đội của Đỗ Hạng, Nguyễn Xuân Hiển cũng về Kép hạ cánh lúc 9 giờ 23 phút.

        Sau đó gần một tiếng đồng hồ, ở hướng Tây Bắc, 84 chiếc F-4 và năm chiếc F-105, với đội hình có cả máy bay ném bom, máy bay làm nhiệm vụ yểm trợ, tìm diệt MiG, trinh sát, cứu nguy, trực thăng... bay qua phía Bắc Lào và Thái Lan thẳng hướng vào miền Bắc Việt Nam với ý đồ đánh đập Bái Thượng và sân bay Yên Bái.

        9   giờ 05 phút, Sở chỉ huy Binh chủng cho biên đội MiG-17 của Lương Quốc Bảo, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Hùng Vân, Ngô Sơn thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 trực ban chiến đấu tại sân bay Gia Lâm nhận lệnh xuất kích chiến đấu, vòng trực trên đỉnh sân bay để bảo vệ các sân bay Kép, Gia Lâm và Đa Phúc, không phát hiện được địch, biên đội hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm lúc 9 giờ 37 phút.

        9 giờ 36 phút, Sở chỉ huy Binh chủng cho biên đội MiG-17 của Nguyễn Văn Thọ, Tạ Đông Trung, Nguyễn Văn Nhượng, Trà Văn Kiếm thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 xuất kích chiến đấu từ sân bay Hòa Lạc, vòng trực trên đỉnh sân bay để bảo vệ sân bay Hòa Lạc và Đa Phúc nhưng không phát hiện được địch, sau đó cho cơ động về hạ cánh tại sân bay Kép lúc 10 giờ 18 phút.

        Cùng thời điểm 9 giờ 36 phút, sở chỉ huy Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 cho biên đội MiG-19 của Phạm Ngọc Tâm, Phạm Hồng Sơn (C), Nguyễn Văn Phúc, Lê Đức Oánh thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 trực ban chiến đấu ở đầu Nam sân bay Yên Bái xuất kích chiến đấu. Kíp trực dẫn đường Lưu Văn Cộng và Triệu Sĩ Việt dẫn biên đội lên chờ tại đỉnh sân bay ở độ cao 3.000 mét.

        Biên đội vòng trên đỉnh sân bay đến vòng thứ ba thì phát hiện được tốp F-4 ở cự li 6 kilômét, độ cao 1.500 mét. Tốp F-4 cũng phát hiện được biên đội MiG-19. Hai bên đã lao vào cuộc không chiến ngay trên đỉnh sân bay Yên Bái. Phi công Phan Trọng Vân tại Đài chỉ huy bay liên tục chỉ huy cho các số cơ động vào bám địch.

        Do cự li quá gần, góc vào lớn nên Phạm Ngọc Tâm bắn không trúng mục tiêu. Phạm Hồng Sơn (C) cũng bắn ba loạt nhưng cũng không trúng mục tiêu và khi phát hiện lượng dầu trên máy bay mình còn ít, anh quyết định quay về hạ cánh.

        Số 3 và số 4 của biên đội MiG là Nguyễn Văn Phúc và Lê Đức Oánh bám theo hai chiếc F-4 với tốc độ lớn, có thời điểm bay lên ngang với bọn chúng mà chúng không biết.

        Nguyễn Văn Phúc bám theo chiếc F-4, vòng từ đầu Bắc xuống đầu Nam sân bay và cắt bán kính từ trên xuống, nhanh chóng rút ngắn cự li, đưa nó vào vòng ngắm và bắn ba loạt pháo 30 mm nối nhau từ đuôi lên giữa thân mục tiêu. Chiếc F-4 này lập tức bị chẻ ra làm đôi, bốc cháy dữ dội trước sự chứng kiến tận mắt của quân và dân Yên Bái. Do cự li quá gần với mục tiêu, Nguyễn Văn Phúc phải kéo quá tải đến hơn mười mới thoát li an toàn.

        Trong khi yểm hộ cho Nguyễn Văn Phúc công kích thì Lê Đức Oánh phát hiện thấy một tốp F-4 ở phía sau, anh quyết định quay lại phản kích. Cùng lúc đó, hai chiếc F-4 phía sau đã bắn máy bay của Lê Đức Oánh, máy bay bốc cháy. Lê Đức Oánh nhảy dù không thành công, anh hy sinh ngay dưới chân núi Lả.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2016, 10:14:15 AM

        Trận không chiến của biên đội MiG-19 kéo dài đến 20 phút. Các máy bay MiG đã gần hết dầu, phải quay về hạ cánh lúc 10 giờ 36 phút. Phạm Ngọc Tâm và Nguyễn Văn Phúc về hạ cánh an toàn, nhưng khi Phạm Hồng Sơn (C) về hạ cánh thì máy bay đã hết dầu, động cơ bị chết máy. Phạm Hồng Sơn (C) tiếp đất ở 2/3 đường băng. Máy bay lao ra ngoài nhưng phi công an toàn.

        9    giờ 39 phút, biên đội MiG-21 của Nguyễn Công Huy, Cao Sơn Khảo thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 trực ban chiến đấu trên sân bay Đa Phúc nhận lệnh xuất kích chiến đấu. Trực ban dẫn đường Khổng Đức Thi dẫn biên đội bay vào khu vực Sơn Dương - Tuyên Quang để thu hút địch.

        Sau khi cất cánh, biên đội bay ở độ cao 2.000 mét. Lúc 9 giờ 53 phút, Sở chỉ huy cho lấy độ cao lên 6.000 mét. Do bị nhiễu nặng, không liên lạc qua đối không được, Sở chỉ huy lệnh cho chuyển sang rãnh liên lạc số 5, nhưng rồi cũng vẫn bị nhiễu. Sự liên lạc giữa Sở chỉ huy với biên đội và trong biên đội trở nên rất khó khăn.

        Khi ấy, có một tốp F-4 cũng đang ở trong khu vực Tuyên Quang đã phát hiện biên đội của Nguyễn Công Huy và Cao Sơn Khảo. Các máy bay F-4 đã tiếp cận từ độ cao thấp, ở thế đối đầu và phóng hai quả tên lửa AIM-7E-2 về phía biên đội MiG.

        Khi phát hiện được các máy bay F-4 bay đối đầu và thấy dưới cánh của chúng có những chớp lửa màu xanh. Nguyễn Công Huy biết rằng chúng đã phóng tên lửa liền ra khẩu lệnh: "Vứt thùng dầu phụ! Cơ động!" và bật tăng lực để cơ động nhưng vì nhiễu đối không nặng nên không biết số 2 Cao Sơn Khảo có nhận được khẩu lệnh hay không..

        Có lẽ, từ thời điểm đó, biên đội không thể liên lạc được với nhau nữa và cũng đã thất lạc nhau.

        Trong lúc quan sát tìm kiếm mục tiêu và số 2 của mình, Nguyễn Công Huy thấy có vệt tên lửa từ bên trái phía sau bay vọt lên. Nhìn theo hướng ấy, thấy có một máy bay đang bay. Nguyễn Công Huy nghĩ rằng đấy là Cao Sơn Khảo nên hô: "Cơ động gấp!" nhưng không thấy phản ứng gì và quả tên lửa đã găm ngay vào mục tiêu. Chiếc máy bay ấy bùng cháy. Rồi lại thấy những vệt tên lửa bắn theo chiếc máy bay vừa phóng tên lửa. Nguyễn Công Huy lại hô: "Cơ động gấp!". Không có phản ứng. Chiếc máy bay vừa bắn kia lại bốc cháy. Nguyễn Công Huy liên tục hô: "Nhảy dù!" nhưng cả lần trưóc lẫn lần sau đều không thấy động tĩnh gì.

        Ngay lúc đó, Nguyễn Công Huy phát hiện thấy biên đội bốn chiếc F-4 ở phía sau hướng khoảng 160 độ, bay theo từng đôi một đang vòng bám theo mình. Nguyễn Công Huy vòng lại quần với tốp F-4. Sau hơn một vòng quần thảo không có kết quả, cả hai phía đều mất mục tiêu. Rồi bỗng nhiên xuất hiện một chiếc F-4 bay rẹt từ trái sang phải, đang kéo lên lấy độ cao. Nguyễn Công Huy nhanh chóng kéo máy bay của mình bám theo, đưa nó vào vòng ngắm, giữ ổn định và ấn nút phóng quả tên lửa rồi lật úp máy bay, kéo xuống thoát li nên không nhìn thấy điểm nổ và không rõ kết quả của lần công kích ấy.

        Khi được Sở chỉ huy cảnh báo: "Chú ý cảnh giới bên phải!", Nguyễn Công Huy liếc sang phía phải và phát hiện đằng sau mình ở khoảng cách chừng bốn kilômét có hai chiếc F-4 khác đang phóng tên lửa về phía mình. Nguyễn Công Huy nhanh chóng lật úp máy bay, vòng lại đối đầu với hai chiếc F-4, bay vút qua hai chiếc F-4 này, thoát li khỏi trận chiến, hạ thấp độ cao, bay sát sườn dãy núi Tam Đảo ở độ cao thật thấp về sân bay Đa Phúc. Khi về đến khu vực Đại Lải, nghe Sở chỉ huy thông báo có một tốp F-4 bay từ Hòa Lạc sang Đa Phúc phong tỏa, chế áp sân bay thì Nguyễn Công Huy quyết định đổi hướng, bay về sân bay Kép hạ cánh lúc 10 giờ 25 phút với lượng dầu còn rất ít. Khi đưa máy bay vào vị trí đỗ, các đồng chí thợ máy đã đếm được vài chục lỗ thủng to, nhỏ trên thân máy bay của Nguyễn Công Huy.

        Về phía số 2 Cao Sơn Khảo thì kể từ lúc 9 giò 57 phút Nguyễn Công Huy hoàn toàn không liên lạc gì được với Cao Sơn Khảo nữa, nhưng chắc chắn là Cao Sơn Khảo đã bắn rơi chiếc F-4 bay phía trước anh rồi sau đó anh mới bị bọn F-4 khác bắn cháy. Cao Sơn Khảo đã nhảy dù nhưng không thành công, anh hy sinh sau khi tiếp đất.

        9 giờ 53 phút, biên đội MiG-21 của Nguyễn Đức Soát, Ngô Duy Thư, Nguyễn Văn Nghĩa, Hạ Vĩnh Thành thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 trực ban chiến đấu tại sân bay Đa Phúc nhận lệnh xuất kích lên khu trực chiến ở vùng Đại Từ nhưng không gặp địch, quay về hạ cánh tại Đa Phúc lúc 10 giờ 25 phút.

        9 giờ 54 phút, biên đội MiG-17 của Vũ Văn Đang, Nguyễn Công Ngũ, Trịnh Văn Quy, Nguyễn Văn Lâm thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 nhận lệnh xuất kích chiến đấu từ sân bay Kép ra khu trực chiến ở Hiệp Hòa - Bố Hạ, cũng không gặp địch, về sân bay Kép hạ cánh lúc 10 giờ 23 phút.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2016, 10:14:41 AM

        10 giờ 02 phút, biên đội MiG-19 của Hoàng Cao Bống, Phạm Cao Hà, Nguyễn Văn Cương, Lê Văn Tưởng thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 trực ban chiến đấu tại đầu Bắc sân bay Yên Bái nhận lệnh xuất kích chiến đấu để yểm hộ cho các máy bay vừa thoát li khỏi không chiến về hạ cánh. Bọn F-4 bất ngờ kéo đến. Tình hình rất phức tạp vì khi đó vừa có biên đội máy bay ta trên trời và vừa có máy bay ta trở về sau trận không chiến vào hạ cánh trong trạng thái cạn dầu nên Đài chỉ huy cất hạ cánh phải làm việc hết sức căng thẳng.

        Biên đội MiG-19 gặp địch với góc gần như 90 độ. Toàn biên đội vòng thật gắt để cắt vào sau đội hình của top F-4. Số 4 của biên đội Lê Văn Tưởng vì bay ở phía sau, có cự li xa hơn nên đã vòng một vòng gọn đến kinh ngạc, cắt vào tốp F-4, tóm luôn chiếc bay sau cùng, đưa nó vào vòng ngắm và nã ngay hai loạt đạn, trúng cánh bên phải, khiến nó rơi cắm đầu xuống phía Tây Nam sân bay. Số F-4 còn lại vẫn tiếp tục vòng bám các máy bay MiG. Nguyễn Văn Cương cũng đã tạo được cơ hội nổ súng vào F-4, nhưng không có kết quả.

        Trận không chiến kéo dài 18 phút. Sở chỉ huy lệnh cho biên đội thoát li về hạ cánh. Hoàng Cao Bổng và Nguyễn Văn Cương về hạ cánh bình thường, nhưng khi tới lượt Phạm Cao Hà vào hạ cánh thì Sở chỉ huy thông báo có F-4 phía sau nên đã phải quay lại phản kích rồi mối tiếp tục hạ cánh. Toàn biên đội hạ cánh lúc 10 giờ 37 phút.

        Riêng Lê Văn Tưởng, khi về hạ cánh thì máy bay đã hết dầu từ độ cao 1.400 mét. Anh phải hạ cánh bắt buộc, máy bay lao ra ngoài đầu Bắc đường băng sân bay và anh đã hy sinh.

        10 giờ 10 phút, biên đội MiG-17 của Đỗ Hạng, Nguyễn Xuân Hiển thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 nhận lệnh xuất kích từ sân bay Kép vòng trực trên đỉnh sân bay, không phát hiện được địch, về hạ cánh tại sân bay Kép lúc 10 giờ 36 phút.

        12 giờ 55 phút, biên đội MiG-17 của Nguyễn Văn Thọ, Tạ Đông Trung, Đỗ Hạng, Trà Văn Kiêm thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 trực ban chiến đấu tại sân bay Kép nhận lệnh xuất kích chiến đấu. Trực ban dẫn đường Đặng Văn Hảo dẫn biên đội bay về khu vực Tứ Kỳ để bảo vệ cầu Lai Vu.

        Dọc đường bay về khu vực Bắc Giang trên độ cao thấp, Sở chỉ huy liên tục thông báo tình hình địch và nhắc nhở biên đội nhớ chỉ đánh ở độ cao thấp vì ở phía trên đã có MiG-21 đánh. Bay đến gần Phả Lại, Sở chỉ huy thông báo ỏ phía nam Hải Dương có địch đang ở cự li 20 kilômét. Khi biên đội bay qua Phả Lại, bật tăng lực để kéo lên lấy độ cao thì Nguyễn Văn Thọ phát hiện được một tốp bốn chiếc A-7 ở hướng Đông Nam đang bay vào. Sau khi lên đến độ cao 1.500 mét, Nguyễn Văn Thọ thấy rõ bốn chiếc A-7 tách thành hai tốp sau khi đã cắt bom. Nguyễn Văn Thọ quyết định cắt bám vào tốp bay sau, tóm chiếc đi sau cùng. Khi chiếc A-7 vừa cải bằng thì anh nhanh chóng đưa nó vào vòng ngắm, tính toán góc bắn đón và ấn cò súng. Đạn pháo trùm lên đầu chiếc máy bay A-7, nó lật ngửa, chúi xuống. Nguyễn Văn Thọ kéo máy bay mình vòng thoát li phải và phát hiện thấy tốp tám chiếc F-4 đang bay từ phía biển vào. Nguyễn Văn Thọ xông thẳng vào đội hình của F-4 nhưng tốp F-4 này không tham chiến, bay thẳng ra biển.

        Khi Nguyễn Văn Thọ quay lại quan sát thì thấy bốn chiếc F-4 khác đang bám sau máy bay của Đỗ Hạng, Tạ Đông Trung và phóng tên lửa. Anh hô: "Cơ động gấp!" nhưng chỉ có Tạ Đông Trung là cơ động kịp, còn máy bay của Đỗ Hạng thì bị trúng tên lửa, bốc cháy. Đỗ Hạng nhảy dù, thoát khỏi máy bay, nhưng ngay sau đó, bọn F-4 đã lao đến dùng súng trên máy bay bắn vào dù của Đỗ Hạng. Đỗ Hạng rơi xuống Toại An, Đông Kỳ, Tứ Kỳ, Hải Dương và đã hy sinh.

        Tạ Đông Trung sau khi cơ động tránh tên lửa xong, vọt lên để yểm hộ cho số 1 Nguyễn Văn Thọ thì tóm được một chiếc A-7 khi nó đang hạ thấp độ cao chạy ra biển. Tạ Đông Trung vừa đuổi theo vừa bắn. Khi đến sát bờ biển thì anh quyết định không đuổi theo nữa, quay lại và bay dọc sông Thái Bình về hạ cánh ở sân bay Kép lúc 13 giờ 23 phút, máy bay cũng hết đạn.

        Sau khi số 3 của biên đội là Đỗ Hạng hy sinh, số 1 Nguyễn Văn Thọ quay lại yểm trợ cho Trà Văn Kiếm. Biên đội hai chiếc MiG-17 quần nhau với tốp máy bay F-4. Nguyễn Văn Thọ bám theo một chiếc F-4, dù ở cự li quá gần anh vẫn quyết định nổ súng bằng kiểu bắn đón theo những li giác của vòng ngắm. Đạn nổ phía trước chiếc F-4 này, anh chỉnh lại và tiếp tục bóp cò súng nhưng đã hết đạn. Ngay lúc ấy, Nguyễn Văn Thọ thấy máy bay của mình bị rung mạnh, không thể điều khiển được nữa, biết máy bay của mình đã bị tốp F-4 bắn trúng, Nguyễn Văn Thọ đã nhảy dù ở độ cao 1.000 mét. Đề phòng bọn F-4 bắn dù như trường hợp của Đỗ Hạng, Nguyễn Văn Thọ chỉ mở dù ở độ cao 500 mét. Dù mở, khi còn đang lơ lửng trên không trung, Nguyễn Văn Thọ vẫn quan sát thấy Trà Văn Kiếm đang quần nhau với lũ F-4. Nguyễn Văn Thọ tiếp đất an toàn ỏ Ngọc Kỳ, Tứ Kỳ, Hải Dương.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 01:21:55 PM

        Thời điểm đó, Trà Văn Kiếm tiếp tục quần nhau vối các máy bay của Hải quân Mỹ cho dù mình đang ở thế "đơn thương độc mã". Số lượng máy bay Mỹ thì nhiều, chúng liên tục phóng tên lửa về phía máy bay của Trà Văn Kiếm. Một chiếc F-4 áp sát chiếc máy bay của Trà Văn Kiếm ở hướng đối đầu, định bắn uy hiếp nhưng không ngờ Trà Văn Kiếm đã chủ động nổ súng trước. Bị bất ngờ, chiếc F-4 lao ngược lên theo phương thẳng đứng, cho rằng chiếc MiG-17 kia không thể theo kịp, nhưng Trà Văn Kiếm đã kéo máy bay mình bám theo và cùng cơ động theo phương thẳng đứng. Có lúc, hai máy bay gần như áp sát nhau, hai bên nhìn rõ được mặt nhau. Trà Văn Kiếm rất khéo léo, nhiều lúc đưa máy bay mình bám được phía sau và nổ súng liên tiếp. Lúc này, chiếc F-4 dùng thủ đoạn kéo lên đột ngột rồi thả giảm tốc, chiếc MiG-17 không kịp giảm tốc độ theo, vọt lên phía trước, lập tức chiếc F-4 bám theo luôn và phóng tên lửa không đối không AIM-9G. Máy bay của Trà Văn Kiếm bị tên lửa bắn trúng, anh không nhảy dù được đã cùng máy bay rơi xuống vùng đất tây nam Thanh Hà và anh dũng hy sinh.

        12 giờ 40 phút, Không quân của Hải quân Mỹ có đợt hoạt động lớn, tập trung đánh vào khu vực cầu Lai Vu và Phú Lương trên Quốc lộ 5.

        12 giờ 47 phút, một tốp 24 chiếc máy bay đang bay vào từ phía đông Thanh Hóa.

        12 giò 57 phút, biên đội MiG-21 của Lê Thanh Đạo, Vũ Văn Hợp thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 nhận lệnh xuất kích chiến đấu từ sân bay Kép. Trực ban dẫn đường của Binh chủng Lê Thành Chơn dẫn biên đội bay lên hướng Bắc sau đó vòng xuống phía Nam. Địch bay vào đến khu vực bắc Hải Dương. Khi biên đội đang bay ở hướng 200 độ thì nhận được thông báo: "Mục tiêu bên trái 30 độ, cự li 30 kilômét đang bay hướng đổi đầu!". Lê Thanh Đạo lệnh cho biên đội vứt thùng dầu phụ và tăng cường quan sát, cảnh giới. Số 1 Lê Thanh Đạo phát hiện mục tiêu bên trái 30 độ, cự li 25 kilômét. Số 2 Vũ Văn Hợp báo cáo có F-4 bên trái đối đầu, xin phép vào công kích. Bọn F-4 phát hiện có MiG liền tách tốp để đối phó. Đó là chiến thuật chiếc vòng xuống thấp, chiếc vòng lên cao, bay đan chéo, buộc MiG cũng phải tách theo và F-4 sẽ lợi dụng về ưu thế độ cao, ưu thế tốc độ để quay lại bám chiếc MiG khi không có lực lượng yểm trợ từ phía đồng đội nữa.

        Nắm vững thủ đoạn của đối phương, Lê Thanh Đạo quyết định chớp thời cơ bám theo chiếc số 1 của địch và lệnh cho số 2 Vũ Văn Hợp bám chiếc số 2 của địch. Vũ Văn Hợp ép độ nghiêng, cắt bám theo chiếc F-4 số 2 và đến cự li 1.800 mét, khi điểm ngắm ổn định, âm lượng của đầu tên lửa nghe tốt, Vũ Văn Hợp nhanh chóng ấn nút phóng quả tên lửa R-3S bên trái. Máy bay rung nhẹ khi quả tên lửa vọt ra khỏi bệ phóng. Vũ Văn Hợp quan sát thấy quả tên lửa hơi lệch về phía bên phải, định tiếp tục phóng nốt quả thứ hai thì ngay đó đã thấy chiếc F-4 cháy bùng. Vũ Văn Hợp hô: "Cháy rồi!" và kéo máy bay thoát li về sân bay Kép
hạ cánh lúc 13 giờ 18 phút.

        Trong khi đó, Lê Thanh Đạo vẫn tiếp tục truy đuổi chiếc F-4 số 1. Khi chiếc này vừa cải bằng thì Lê Thanh Đạo nhanh chóng đưa nó vào vòng ngắm, ổn định điểm ngắm và phóng tên lửa. Quả tên lửa không đối không R-3S lao ra hơi lệch phải. Lê Thanh Đạo chuẩn bị phóng quả thứ hai thì đã thấy chiếc F-4 kia bốc cháy liền kéo máy bay mình thoát li và về hạ cánh ở sân bay Kép cũng vào lúc 13 giò 18 phút.

        Chiến công của biên đội Lê Thanh Đạo, Vũ Văn Hợp trong trận đánh này được ghi nhận là trận đánh nhanh và hiệu quả cao vì thời gian tính từ khi cất cánh đến khi phát hiện địch mất đúng sáu phút. Hai máy bay ta đã bắn hạ hai máy bay địch tại chỗ chỉ vói hai quả tên lửa trong thời gian 1 phút 30 giây.

        13 giò 06 phút, Sở chỉ huy Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 cho biên đội MiG-17 của Trịnh Văn Quy, Nguyễn Văn Lâm thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 nhận lệnh xuất kích chiến đấu lên đỉnh sân bay, vòng trên đỉnh để yểm trợ cho biên đội của Lê Thanh Đạo, Vũ Văn Hợp hạ cánh. Khi biên đội của Lê Thanh Đạo, Vũ Văn Hợp hạ cánh an toàn thì biên đội của Trịnh Văn Quy, Nguyễn Văn Lâm vẫn tiếp tục vòng trên đỉnh sân bay, nhưng không gặp địch. Biên đội của Trịnh Văn Quy, Nguyễn Văn Lâm quay về hạ cánh tại sân bay Kép lúc 13 giò 29 phút.

        13 giờ 10 phút, Biên đội MiG-21 của Hoàng Quốc Dũng, Bùi Thanh Liêm thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 trực ban chiến đấu tại sân bay Đa Phúc, nhận lệnh xuất kích chiến đấu, bay về khu vực Nhã Nam nhưng không gặp địch, quay về hạ cánh tại Đa Phúc lúc 13 giò 54 phút.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 01:22:17 PM

        13 giờ 32 phút, biên đội MiG-17 của Vũ Văn Đang, Nguyễn Xuân Hiển thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 trực ban chiến đấu tại sân bay Kép nhận lệnh xuất kích vòng trên đỉnh sân bay, không gặp địch, quay về hạ cánh trên sân bay Kép lúc 13 giờ 58 phút.

        16 giờ 30 phút, biên đội MiG-17 của Lương Quốc Bảo, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Hùng Vân, Ngô Sơn thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 trực ban chiến đấu tại sân bay Gia Lâm xuất kích về khu vực Thanh Miện, Hải Dương nhưng không gặp địch, cả biên đội quay về hạ cánh ở sân bay Gia Lâm lúc 17 giờ 18 phút.

        16 giờ 49 phút, biên đội MiG-21 của Nguyễn Đức Soát, Ngô Duy Thư thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 nhận lệnh xuất kích chiến đấu từ sân bay Đa Phúc bay về khu vực Ân Thi vòng tại đó, không gặp địch, quay về sân bay Đa Phúc hạ cánh lúc 17 giờ 20 phút.

        17 giờ 00 phút, biên đội MiG-17 của Nguyễn Phú Ninh, Trương Công Thành, Trần Cao Thăng, Hán Văn Quảng thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 nhận lệnh xuất kích chiến đấu từ sân bay Kép bay xuống khu vực Kiến An, không gặp địch, quay về sân bay Kép hạ cánh lúc 17 giờ 30 phút.

        17 giờ 05 phút, biên đội MiG-21 của Nguyễn Văn Nghĩa, Hạ Vĩnh Thành thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 trực ban chiến đấu tại sân bay Đa Phúc nhận lệnh xuất kích về khu vực Hưng Yên nhưng không gặp địch, quay về hạ cánh ở sân bay Đa Phúc lúc 17 giò 35 phút.

        17 giờ 08 phút, biên đội MiG-17 của Hán Vĩnh Tưởng, Hoàng Mai Vượng thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 nhận lệnh xuất kích chiến đấu từ sân bay Kép bay lên khu vực trên đỉnh sân bay nhưng không gặp địch, quay về hạ cánh tại sân bay Kép lúc 17 giờ 37 phút.

        17 giờ 20 phút, biên đội MiG-21 của Đỗ Văn Lanh, Vũ Văn Hợp thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 nhận lệnh xuất kích chiến đấu từ sân bay Kép bay lên khu vực Đồng Mỏ, Lạng Sơn, không gặp địch, quay về hạ cánh tại sân bay Kép lúc 17 giờ 48 phút.

        Như vậy, trong ngày 10 tháng 5 năm 1972, Không quân và Hải quân Mỹ đã huy động hàng trăm máy bay gồm 22 loại máy bay (tiêm kích, cường kích, tác chiến điện tử, trực thăng, trinh sát, tiếp dầu trên không) để tham gia vào ngày không chiến dài nhất và quy mô nhất trong chiến tranh Việt Nam. Tổng cộng, có 414 lần chiếc xuất kích, trong đó oanh kích miền Bắc Việt Nam là 338 lần (với 88 lần chiếc của Không quân và 250 lần chiếc của Hải quân) bao gồm cả các phi đội cất cánh từ bốn tàu sân bay của Mỹ ngoài khơi Việt Nam. Riêng Không đoàn tiêm kích chiến thuật số' 8 đã xuất kích 40 chiếc (10 biên đội). Phía Không quân Việt Nam đã sử dụng ba loại máy bay tiêm kích (MiG-17, MiG-19, MiG-21) của bốn Trung đoàn Không quân tiêm kích (921, 923, 925, 927), tổ chức dẫn 22 tốp xuất kích chiến đấu với 64 lần chiếc (gồm 12 tốp MiG-17 với 38 lần chiếc, hai tốp MiG-19 vói tám lần chiếc và tám tốp MiG-21 với 18 lần chiếc). Trong số 64 lần chiếc xuất kích, có gần 20 phi công MiG-17 và MiG-21 xuất kích ba lần và hai lần ngay trong ngày là các phi công Vũ Văn Đang, Đỗ Hạng, Nguyễn Xuân Hiển, Nguyễn Văn Lâm, Trịnh Văn Quy, Lương Quốc Bảo, Nguyễn Văn Hùng, Trà Văn Kiếm, Nguyễn Công Ngũ, Ngô Sơn, Nguyễn Văn Thọ, Tạ Đông Trung, Nguyễn Hùng Vân, Vũ Văn Hợp, Nguyễn Văn Nghĩa, Nguyễn Đức Soát, Hạ Vĩnh Thành, Ngô Duy Thư. Trong 22 tốp xuất kích chiến đấu, có sáu tốp ta gặp đối phương và những trận không chiến ác liệt đã diễn ra. Không quân Việt Nam đã bắn hạ sáu máy bay Mỹ và phía Không quân Việt Nam cũng có sáu chiếc MiG bị rơi (năm phi công hy sinh).

        Tối 10 tháng 5 năm 1972, Bộ trương Bộ Quôc phòng - Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp nghe Tư lệnh Không quân Đào Đình Luyện báo cáo về những trận không chiến ác hệt và kéo dài suốt trong ngày 10 tháng 5 năm 1972. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khen ngợi tinh thần dũng cảm và chiến đấu mưu trí của các phi công MiG và chỉ đạo: "Bộ đội Không quân cần tiếp tục chủ động tấn công, bí mật bất ngờ, đánh chắc thắng... ", đồng thời phê phán tư tưởng "một đổi một" mới nảy sinh là không đúng đắn, cần loại trừ ngay...


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Một, 2016, 10:13:02 AM

        Ngày 10 tháng 5 năm 1972 đã trở thành ngày chiếm giữ nhiều kỷ lục nhất: ngày có nhiều trận không chiến nhất, kéo dài nhất, ác liệt nhất, ngày có nhiều lực lượng tham chiến nhất, ngày có nhiều chủng loại máy bay tham gia nhất, ngày bắn rơi nhiều máy bay nhất kể cả hai phía...

        Các tài liệu phía Mỹ gọi ngày này là "một ngày trong cuộc chiến kéo dài", ngày 10-5-1972 - cuộc chiến tranh trên không ở miền Bắc Việt Nam (One day in a long war - 10 May, 1972, Air War, North Vietnam), hoặc còn gọi ngày này là "Ngày đẫm máu" (The Bloodiest Day)...

        Có thể nói, ngày 10 tháng 5 là ngày điển hình về sự căng thẳng trong cả tháng 5. Nhìn chung, tháng 5 là tháng Không quân ta tổ chức đánh địch nhiều ngày nhất. Tính ra có đến 25/31 ngày. Tất cả ba loại tiêm kích MiG-17, MiG-19, MiG-21 đều tham gia chiến đấu. Không quân ta đã xuất kích 125 tốp với 325 lần chiếc, trong đó có 31 tốp gặp địch, bắn rơi 16 chiếc F-4, một chiếc F-105, hai chiếc A-7. Ta hy sinh 11 phi công và có sáu phi công nhảy dù an toàn.

        Cụ thể với từng loại máy bay tiêm kích của ta như sau:

        MiG-17 xuất kích 37 tốp ngày với 117 lần chiếc và một tốp đêm một lần chiếc. Có bốn tốp ngày gặp địch, bắn rơi ba chiếc F-4, một chiếc A-7. Ta hy sinh năm phi công là các anh: Nguyễn Văn Bảy B, Đỗ Hạng, Trà Văn Kiếm, Vũ Văn Đang, Nguyễn Văn Điển. Có một phi công nhảy dù an toàn là Nguyễn Công Ngũ.

        MiG-19 xuất kích 21 tốp ngày với 73 lần chiếc. Có chín tốp gặp địch, bắn rơi bảy chiếc F-4. Ta hy sinh hai phi công là Lê Văn Tưởng và Lê Đức Oánh. Có ba phi công nhảy dù an toàn là Phạm Ngọc Tâm, Nguyễn Thăng Long và Vũ Chính Nghị.

        MiG-21 xuất kích 66 tốp ngày với 134 lần chiếc. Có 18 tốp gặp địch, bắn rơi bảy chiếc F-4, một chiếc F-105, một chiếc A-7. Ta hy sinh bốn phi công là các anh: Võ Sĩ Giáp, Nguyễn Văn Ngãi, Cao Sơn Khảo, Nguyễn Văn Lung. Có hai phi công nhảy dù an toàn là Nguyễn Văn Lập và Ngô Văn Phú.

        Phía trước thời gian còn dài, nhiều cuộc không chiến ác liệt còn đang chờ đợi, nhưng cho dù có gian nan, vất vả và hy sinh đến đâu chăng nữa thì các phi công tiêm kích của Không quân nhân dân Việt Nam cũng đã sẵn sàng nghênh đón, sẵn sàng đi đến cùng cho tới kết cục cuộc chiến thắng lợi...


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Một, 2016, 10:13:55 AM

BÊN LỀ CUỘC CHIẾN

        Trong suốt một giai đoạn dài của cuộc chiến tranh, đã có những mục tiêu bị đánh phá liên tục nhưng vẫn không hề suy chuyển, vẫn đứng ngạo nghễ như cái gai đâm vào mắt kẻ thù... Rồi lại còn những loại vũ khí của đối phương mà kẻ địch chưa hề hiếu hết tính năng của nó, khiếp sợ nó và phải tìm mọi cách, bằng mọi giá để nghiên cứu về nó... Một trong những mục tiêu ấy là cây cầu Long Biên, và một trong các loại vũ khí lợi hại chính là loại máy bay tiêm kích MiG-21...

        Một trong những tuyến đường huyết mạch quan trọng trong mạng lưới giao thông của miền Bắc Việt Nam, nối Thủ đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng, đó là Quốc lộ 5. Suốt giai đoạn dài của cuộc chiến tranh dùng Không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam, Mỹ rất chú trọng đến việc đánh phá, hủy diệt những tuyến đường giao thông huyết mạch, đặc biệt là những cây cầu bắc trên những tuyến đường ấy. Tuyến đường 5 không phải là ngoại lệ. Nhiều cây cầu đã bị đánh sập, nhưng có những cây cầu dù bị đánh phá hàng trăm lần, dù hàng trăm ngàn tấn bom đạn trút xuống nhưng vẫn không làm nó suy chuyển. Nó vẫn đứng uy nghi, ngạo nghễ, vẫn như sự thách thức và hệt như cái gai đâm vào mắt kẻ thù, làm cho chúng càng điên cuồng, tìm mọi cách để xóa sổ nó.

        Vào ngày 10 tháng 5 năm 1972, một trong những mục tiêu mà Mỹ quyết diệt cho bằng được, đó chính là cây cầu Long Biên.

        Cầu Long Biên là cây cầu thép đầu tiên bắc qua sông Hồng nối quận Hoàn Kiếm với huyện Gia Lâm (quận Long Biên ngày nay). Nó được Pháp xây dựng từ năm 1898 đến năm 1902 và thời đó được đặt tên là cầu Đu-me (Doumer) theo tên của Toàn quyền Đông Dương Pôn Đu-me (Paul Doumer). Dân gian thì gọi là cầu Sông Cái hay cầu Bồ Đề (vì nó được bắc qua bến Bồ Đề của huyện Gia Lâm).

        Xin được nói tỉ mỉ một chút về cây cầu này bởi nó chính là chứng nhân của lịch sử qua mấy cuộc chiến tranh, đồng thời nó cũng là biểu tượng của kỹ thuật công nghệ những năm đầu thế kỷ XX, của sự trường tồn, của vẻ đẹp và các giá trị quá khứ cũng như hiện tại.

        Dự án xây dựng cầu Long Biên được quan Toàn quyền Đông Dương thông qua ngày 4 tháng 6 năm 1897 và đã tiến hành đấu thầu xây dựng. Có đến sáu công ty xây dựng cầu đường lớn của Pháp tham dự. Mỗi nhà thầu được đưa ra hai dự án gọi là "dự án A" và "dự án B". Ồng Phu-rét (Fourès) - Thông sứ Bắc Kỳ được cử làm "Chủ tịch Hội đồng thẩm định các dự án". Cuối cùng, Hội đồng mở thầu đã chọn "dự án B" của công ty Daydé & Fillé ở Creil với giá 5.390.794 phờ-răng Pháp. Cây cầu có kiểu dáng độc đáo do hãng Daydé & Fillé thiết kế. Nó giống với kiểu dáng của cây cầu Tôn-bi-ắc (Tolbiac) ở Quận 13, Pa-ri trên tuyến đường sắt Pa-ri - Oóc-lê-ăng, Pháp.

        Ngày 13 tháng 9 năm 1898, viên đá đầu tiên được đặt ở mố cầu bên bờ tả ngạn trong lễ khởi công là một quyết tâm ghê gớm của viên Toàn quyền Đông Dương - Pôn Đu-me. Ngay cả những người Pháp dự lễ động thổ hôm ấy, từ tướng Bi-sốt (Bichot) - Tổng chỉ huy quân đội, rồi Đô đốc Bô-mông (Beaumont) - Tư lệnh Hạm đội, đến binh lính Pháp, nhiều người vẫn tỏ ý hoài nghi rằng cây cầu Long Biên không thể ra đời một cách ngoạn mục được. Họ cho rằng đấy là sự điên rồ. Bởi vì, sông Hồng rộng như một eo biển, lại sâu đến 20 mét nước, khi mùa mưa lũ thì nước còn dâng cao thêm tới hơn tám mét làm cho các hệ thông đê điều bị vỡ tứ tung. Lòng sông thì lại luôn biến chuyển trong sự chuyển động hết bên lở lại đến bên bồi. Nó cũng được ví như con ngựa bất kham. Vậy thì làm sao mà bắc được cây cầu trên dòng nước hung dữ, đục ngầu ấy được? Đúng là quá sức tưởng tượng!

        Nhưng hơn 3.000 công nhân bản xứ đã được tuyển mộ và một đội ngũ khoảng 40 giám đốc, kỹ sư, chuyên gia và đốc công người Pháp điều hành công việc dưới sự chỉ huy của người có thể gọi là "người cha của cây cầu", người lừng danh thế giới bởi tháp Ép-phen hoành tráng giữa Thủ đô Pa-ri tráng lệ đã mang tên ông...

        Người ta đã phải dùng đến 30.000 mét khối đá và kim loại (5.600 tấn thép cán, 137 tấn gang, 165 tấn sắt, bảy tấn chì), hàng ngàn tấn xi-măng Hải Phòng, hàng ngàn tấn vôi Huế, hàng ngàn mét khối gỗ Thanh Hóa...


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Một, 2016, 10:14:38 AM

        Việc thi công những trụ đỡ cho cây cầu sắt lúc ấy đã vấp phải khó khăn chưa từng thấy ở một xứ sở như Bắc Kỳ. Toàn bộ những mố đá, những trụ giữa lòng sông, nền móng phải thi công bằng phương pháp khí nén. Chỗ sâu trung bình thấp nhất là 35 mét kể từ mực nước thấp nhất của dòng sông vào mùa khô là một sự thách thức cho công nghệ xây dựng và lòng dũng cảm.

        Những người thợ cầu An Nam nhỏ thó, mảnh khảnh ngồi vào trong những "két sắt", được thả xuống nước như những chiếc tàu ngầm. Lúc đầu, họ còn được hít thở khí tự nhiên, rồi càng xuống sâu dưới đáy sông, họ phải vào vùng khí nén, ngồi trong đó moi đất để đặt những viên đá làm trụ. Căn buồng khí nén ấy cứ dần sâu trong lòng sông nước, xuống đến 20 mét, 30 mét, 35 mét với áp lực lớn, tăng tói ba at-môt-phe. Đó là một công việc vô cùng cực nhọc và nguy hiểm. Sau bốn giò làm việc, họ phải lên bờ để đảm bảo an toàn lao động và nghỉ lấy sức. Họ được chăm sóc chu đáo ở các lều bạt, lán trại của công trường, thậm chí có cả nhân viên mát-xa và bác sĩ phục vụ.

        Khi trụ cầu hoàn thành tới đâu là dầm thép được lao lắp tới đó. Tất cả các cấu kiện được liên kết bằng đinh tán thủ công rất độc đáo và đều do những người thợ sắt An Nam khéo léo đảm nhiệm.

        Sau đúng ba năm chín tháng thi công không rủi ro, không chậm trễ (kế hoạch dự trù là năm năm), ngày 28 tháng 2 năm 1902, "tháp Ép-phen nằm ngang" vắt qua sông Hồng nối liền huyết mạch giao thông từ Hà Nội đi Hải Phòng, Lạng Sơn và các tỉnh phía Bắc đã khánh thành.

        Tổng số tiền thực chi là 6.200.000 phờ-răng Pháp. Khi ấy, nó là cây cầu dài thứ hai trên thế giới, chỉ sau cầu Brúc-lin (Brooklyn) bắc qua sông Đông ở Niu Yoóc, Mỹ. Ngày hôm ấy, hòa trong dòng người nô nức kéo về để chiêm ngưỡng cây cầu, vua Thành Thái cũng đến dự và hôm ấy, đoàn tàu đầu tiên nối liền Hà Nội - Hải Phòng cũng đã chuyển bánh trong niềm hân hoan của bao người.

        Chuyến tàu ấy cũng là chuyến tàu chở viên Toàn quyền Đông Dương Pôn Đu-me xuống Hải Phòng để lên tàu biển trở về Pháp sau khi hoàn thành vẻ vang sứ mạng xây dựng hệ thống giao thông đường sắt ở Bắc Kỳ.

        Hiện nay, trên đầu cầu vẫn còn tấm biển kim loại có khắc chữ "1898 - 1902 - Daydé & Fille - Paris".

        Cây cầu tính cả cầu chính và đường lên hai bờ có độ dài 3.500 mét. cầu chính bằng sắt từ Hà Nội đến Gia Lâm dài 1.682 mét, có 19 nhịp nối với nhau bằng những dầm sắt, chín khung khổng lồ, mỗi khung 61 mét. Hai cánh cung cách nhau 75 mét chia ra những cánh tay dài 36 mét nâng những tấm dầm thép nặng hàng tấn. cầu sắt đặt trên 18 trụ và hai đầu cầu khung thép, giữa là đường xe lửa, hai bên là đường đi bộ. Từ trên nhìn xuống, cây cầu có bình diện hình chữ nhật khoảng 100.000 mét vuông, từ dưới bãi bồi nhìn lên thì ta tưởng tượng như đấy là cả một mạng lưới đăng ten giăng mắc trên vòm trời.

        Từ khi có cây cầu nối hai bờ sông Hồng, việc đi lại, hoạt động thật nhộn nhịp suốt ngày đêm. Có lẽ rất nhiều người đã thuộc lòng những câu thơ:

"Hà Nội có cầu Long Biên
Vừa dài, vừa rộng bắc trên sông Hồng
Tầu xe đi lại thong dong
Bộ hành tấp nập gánh gồng ngược xuôi..."

        Cây cầu đã chứng kiến bao nỗi thăng trầm của người dân đất ngàn năm văn vật. Cứ từ 2 giờ sáng, ngày nắng cũng như ngày mưa đã nghe thấy tiếng kẽo kẹt của những gánh hàng đè nặng trên vai những người phụ nữ gồng gánh đủ những thứ rau quả mang từ phía Gia Lâm vào nội thành. Rồi dần dần, chợ mọc lên buôn bán mỗi ngày một sầm uất hơn. Hàng hóa từ phía Hà Nội cũng tỏa đi, hàng hóa từ mọi nơi cũng đổ về làm thay đổi bộ mặt của thành phố. Chợ và chợ vây quanh hai bên chân cầu của hai bên bờ, họp suốt cả ngày, thâu đêm suốt sáng.

        Có lẽ, cái "Tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh" cũng hình thành từ đây. Dân tứ chiếng về quần tụ, sinh sống, buôn bán quanh cây cầu. Dân số của Hà Nội từ 8.000 người tăng vọt lên đến 20.000 người và cứ thế ngày càng tăng...


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Một, 2016, 04:32:19 PM

        Cây cầu không chỉ chứng kiến việc giao thông, thông thương của hai bên bờ sông của cả mấy vùng Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh mà còn chứng kiến bao xác người chết la liệt của nạn đói năm 1945, nằm vắt ngang cả phần đường dành cho người đi bộ trên cầu, rồi cảnh vượt sông ngoạn mục có một không hai trong thời kỳ "sống mãi với Thủ đô" năm 1947, rồi gồng mình chịu hàng trăm hàng ngàn tấn bom đạn của máy bay Mỹ ném xuống nhằm cắt đứt huyết mạch giao thông gần như độc đạo vào thời bấy giờ đến cảng Hải Phòng...

                Và trong ngày 10 tháng 5 năm 1972, một trong những nhiệm vụ quan trọng của các biên đội máy bay Mỹ là phải quyết đánh sập cây cầu, đánh sập biểu tượng kiên cường của người dân Thủ đô và cả nước.

        Để bảo vệ cây cầu, bộ đội Công binh và Phòng không Việt Nam đã xây dựng hai trận địa pháo Phòng không cao 11,5 mét trên bãi cát nổi giữa sông Hồng (còn có tên gọi là bãi giữa) để vẫn có thể bắn máy bay Mỹ kể cả khi có lũ cao nhất.

        Bộ đội Phòng không Việt Nam đã dùng máy bay trực thăng cẩu pháo và khí tài chiếm lĩnh trận địa. Ngoài ra, còn có cả lực lượng Phòng không Hải quân gồm hỏa lực của các tàu tuần tiễu cùng tham gia bảo vệ cầu.

        Các điểm cao trên thành cầu cũng trở thành các ụ pháo cao xạ để bắn máy bay Mỹ trong thời gian chiến tranh.

        Một điều không ngờ là chính thiết kế của cây cầu khi dùng các thanh sắt giằng đã giúp cây cầu trụ vững sau những trận mưa bom của Không quân Mỹ. Nếu muôn phá sập hoàn toàn cây cầu thì các phi công Mỹ phải ném bom trúng vào các mối nốì có diện tích chỉ vài xăng-ti-mét vuông từ độ cao hàng ngàn mét dưới hỏa lực Phòng không dày đặc. Đấy mới là ác mộng!

        Mà giả dụ, có đoạn nào bị trúng bom đạn thì công việc nối những thanh sắt này cũng nhanh chóng và dễ dàng hơn cầu bê tông rất nhiều...

        Tính ra, trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam lần thứ nhất (từ năm 1965 đến năm 1968), cây cầu Long Biên đã bị ném bom mười lần, bị hỏng bảy nhịp và bốn trụ lớn. Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai của Không lực Hoa Kỳ (năm 1972), cây cầu Long Biên bị ném bom bốn lần, phá hỏng 1.500 mét cầu và hai trụ cầu lốn bị cắt đứt. Những bàn tay khéo léo và ý chí can trường của những người thợ cầu đã nhanh chóng hàn gắn, khắc phục, nhằm hồi phục sự sống cho cây cầu. Các nhịp của cây cầu bị bom đánh đổ đã được thay bằng các dầm bán vĩnh cửu, có khẩu độ ngắn, đặt trên các trụ mới.

        Cây cầu vẫn nối hai bờ sông và các hoạt động vẫn diễn ra đều đặn ngày ngày...

        Cho dù ngày 10 tháng 5 năm 1972, đích thân Đại tá Không đoàn trưởng Các Min-lơ (Carl Miller) cùng Đại tá Không đoàn phó Ri-sác Hon (Richard Horne) trực tiếp bay dẫn đội, chỉ huy việc đánh cầu hay bất kỳ một ai đó cũng thế thôi, không thể nào đánh sập được cây cầu Long Biên ấy, không thể đánh sập được ý chí của người Việt Nam...

*

*      *

        Vào thời điểm cuối năm 1972, Không quân Mỹ đã đánh giá hệ thống Phòng không ở miền Bắc Việt Nam là một trong những hệ thống tốt nhất trên thế giới và với thời gian thử thách trong chiến tranh thì nó còn gấp đôi bất kỳ hệ thống Phòng không nào khác trên thế giới.

        Mỹ xác định ba thành tố chủ chốt trong hệ thống này là: tên lửa Phòng không SAM-2, mạng lưới các trạm ra-đa cùng hệ thống điều khiên mặt đất và loại máy bay MiG-21.

        Đặc biệt, sự kết hợp giữa những đài điều khiển mặt đất và MiG-21 đã cho phép tận dụng tối đa ưu điểm về tốc độ ở độ cao lớn của loại tiêm kích này. Những biên đội MiG-21 thường bất ngờ xuất hiện ỏ phía sau đội hình máy bay Mỹ, tấn công chớp nhoáng và nhanh chóng thoát li trước khi máy bay Mỹ kịp phản ứng, trước khi phi công Mỹ hiểu điều gì đã xảy ra.

        Tất nhiên, người Mỹ nắm lợi thế lớn về số lượng, trung bình là sáu chọi một trong giao chiến. Nhưng chỉ một biên đội hai chiếc MiG-21 với sự hỗ trợ của ra-đa mặt đất và MiG-17 hoạt động ở tầm thấp, cũng có thê gây rối loạn cho đội hình máy bay ném bom và cường kích có hộ tống của Mỹ bằng cách bắn hạ hai hoặc ba chiếc trong số đó với chỉ một lần tấn công và thoát li ở tốc độ siêu âm.

        Theo nghiên cứu của chuyên gia Rốp Ảng (Rob Young) tại Trung tâm tình báo Hàng không và Vũ trụ quốc gia của Mỹ thì có một số thời điểm, vào giai đoạn các tháng 6 và 7 năm 1972, MiG-21 có thể đạt tỉ lệ giành chiến thắng là chín trên một.

        Đại tá Giôn Mết-đơn (John Madden), một trong những phi công săn MiG hàng đầu của Không quân Mỹ, đã đánh giá: "Họ (phi công Việt Nam) là những đối thủ rất sừng sỏ, vói rất nhiều ngón nghề và chiêu thức... Họ thường xuyên dựng lên những cái bẫy và chỉ nhờ vào số lượng máy bay mà chúng tôi mới có thể chiếm được ưu thế trước họ".


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Một, 2016, 04:35:06 PM

        Đúng vậy, trong chiến tranh Việt Nam, MiG-21 từng là nỗi khiếp sợ của các phi công Mỹ khi xâm phạm vùng trời miền Bắc Việt Nam bởi loại máy bay tiêm kích MiG-21 đã trở thành huyền thoại. Huyền thoại không chỉ vì tuổi thọ của loại máy bay tiêm kích này lâu đến kỷ lục (chuyên đầu tiên bay vào năm 1955), hay là máy bay phản lực được sản xuất nhiều nhất trong lịch sử Hàng không, hay là máy bay chiến đấu được sản xuất nhiều nhất từ sau Chiến tranh Thê giới thứ hai, mà chính vì với bàn tay và trí tuệ của con người Việt Nam, các máy bay MiG-21 đã lập được hàng loạt kỷ lục mà trên thế giới này chưa nơi nào lập được. Đó là bắn rơi máy bay tác chiến điện tử EB-66, bắn rơi máy bay ném bom chiến lược "pháo đài bay bất khả xâm phạm" B-52 và trong gần bảy năm chiến tranh, MiG-21 đã tham gia hàng trăm trận không chiến, các phi công MiG-21 của Việt Nam đã bắn hạ 174 máy bay các loại của Không quân, Hải quân Mỹ. Tổng cộng có 56 phi công MiG-21 bắn rơi máy bay Mỹ, trong đó có 18 người bắn rơi từ 4 chiếc trở lên, có 28 phi công

        MiG-21 được tuyên dương danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đặc biệt, phi công Nguyễn Văn Cốc - người phi công duy nhất trên thế giới dùng MiG-21 đã bắn rơi chín máy bay Mỹ.

        Các phi công MiG-21 nổi tiếng của Không quân Việt Nam là:

        -   Nguyễn Văn Cốc - bắn rơi chín chiếc.

        -   Phạm Thanh Ngân - bắn rơi tám chiếc.

        -   Nguyễn Hồng Nhị - bắn rơi tám chiếc.

        -   Mai Văn Cương - bắn rơi tám chiếc.

        -   Đặng Ngọc Ngự - bắn rơi bảy chiếc.

        -   Nguyễn Đức Soát - bắn rơi sáu chiếc.

        -   Nguyễn Ngọc Độ - bắn rơi sáu chiếc.

        -   Nguyễn Nhật Chiêu - bắn rơi sáu chiếc.

        -   Vũ Ngọc Đỉnh - bắn rơi sáu chiếc.

        -   Lê Thanh Đạo - bắn rơi sáu chiếc.

        -   Nguyễn Tiến Sâm - bắn rơi sáu chiếc.

        -   Nguyễn Văn Nghĩa - bắn rơi sáu chiếc.

        Công bằng mà nói, mới đầu, các phi công Mỹ không đánh giá cao về MiG-21. Họ chỉ so sánh qua các tính năng kỹ chiến thuật giữa MiG-21 và F-4. So sánh như vậy thì thấy F-4 có nhiều ưu điểm vượt trội hơn MiG-21, nhưng qua các trận không chiến thì họ đã phải thay đổi cách nhận xét.

        Máy bay MiG-21 (tên ký hiệu của NATO là Fishbed) là một máy bay tiêm kích phản lực, được thiết

        kế bởi Phòng thiết kế Mi-coi-an (Mikoyan) tại Liên bang Xô-viết. Tổng công trình sư đầu tiên của Phòng thiết kế này là ông Ác-tem Mi-coi-an (Artem Mikoyan). Động cơ của máy bay do ông Mi-khai-in Gu-re-vích thiết kế. Vì thế, máy bay MiG mang tên hai ông: M - nghĩa là Mi-coi-an, i - nghĩa là "và", G - nghĩa là Gu-re-vích.

        Máy bay tiêm kích phản lực MiG-21 là mẫu máy bay nối tiếp trong chuỗi những máy bay tiêm kích phản lực của Liên Xô, bắt đầu từ máy bay cận âm MiG-15, MiG-17 và trên tốc độ âm thanh một chút MiG-19. Một số thiết kế thử nghiệm đạt tốc độ Mach 2 của Liên Xô đều dựa vào khe hút không khí ở đầu mũi với cánh đuôi sau, như Sukhôi Su-7, hay kiểu cánh tam giác, trong đó, MiG-21 là thiết kế thành công nhất.

        Nguyên mẫu E-5 của MiG-21 thực hiện bay lần đầu tiên vào năm 1955 và thực hiện chuyến bay trước công chúng lần đầu tiên trong "Ngày Hàng không Xô-viết" tại sân bay Tu-si-nô Mát-xcơ-va vào tháng 6 năm 1955. Nguyên mẫu cánh tam giác đầu tiên có tên gọi là Ye-4 (hay E-4) bay vào ngày 14 tháng 6 năm 1956 và chiếc MiG-21 thành phẩm đầu tiên bắt đầu phục vụ vào năm 1959. Với một cấu hình cánh tam giác, MiG-21 là máy bay đầu tiên của Liên Xô thành công trong việc kết hợp giữa tính năng của máy bay tiêm kích và đánh chặn trong cùng một máy bay.

        MiG-21 có khả năng đạt đến vận tốc Mach 2, vận tốc này vượt qua tốc độ tối đa của nhiều kiểu máy bay chiến đấu hiện đại sau này. Tổng cộng đã có hơn 12.000 chiếc MiG-21 được chế tạo tại Liên Xô. Chúng được sản xuất tại ba nhà máy: ở GAZ 30 tại Mát-xcơ-va (hay còn gọi là Znamiya Truda), tại GAZ 21 ở Gorky và tại GAZ 31 ở Tbilisi. Kiểu "MiG" được sản xuất cũng khác nhau theo từng nhà máy. Nhà máy ở Gorky chế tạo MiG-21 một chỗ ngồi cho quân đội Xô-viết. Nhà máy ở Mát-xcơ-va chế tạo MiG-21 một chỗ ngồi cho xuất khẩu và nhà máy ở Tbilisi chế tạo MiG-21 hai chỗ ngồi (máy bay dùng cho huấn luyện, được gọi là ƯMiG-21) cho cả xuất khẩu và quân đội Xô-viết. Tuy nhiên, có ngoại lệ, MiG-21R và MiG-21bis dành cho xuất khẩu và cho Liên Xô cũng được chế tạo tại Gorky. 17 chiếc MiG-21 một chỗ ngồi cũng được chế tạo tại Tbilisi (MiG-2lF).

        MiG-2lMF được chế tạo đầu tiên tại Mát-xcơ-va và sau đó là Gorky và MiG-21U (UMiG-21) được chế tạo tại Mát-xcơ-va cũng như tại Tbilisi.

        Như vậy, mỗi nhà máy chế tạo MiG-21 với số lượng như sau :

        -   5.278 chiếc (hay 5.765 chiếc) tại Gorky.

        -   5.203 chiếc tại Mát-xcơ-va.

        -   1.677 chiếc tại Tbilisi.

        (Ngoài ra còn có 194 chiếc được sản xuất tại Tiệp Khắc).


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Một, 2016, 02:14:48 PM

        MiG-21 xung trận lần đầu là trong cuộc chiến tranh Ấn Độ - Pa-kít-xtan, khi nó được nằm trong biên chế của Không quân Ân Độ. Đối thủ chính của nó là loại máy bay F-86F của Không quân Pa-kít-xtan - một mẫu máy bay chiến đấu phản lực thế hệ đầu tiên được Mỹ sử dụng trong chiến tranh Triều Tiên. Tuy nhiên, nhìn chung trong cả cuộc chiến, MiG-21 không có vụ không chiến đáng kể nào.

        Phải đến chiến tranh Việt Nam, MiG-21 mới trở thành mối đe dọa thường trực, nỗi khiếp sợ thực sự của các phi công Mỹ khi xâm phạm vùng trời miền Bắc Việt Nam và khiến Mỹ đã phải tìm mọi cách để có thể sở hữu loại máy bay này nhằm nghiên cứu cách khắc chế nó.

        Đối thủ chính của MiG-21 ở Việt Nam là F-4 Phantom của Mỹ cũng được nghiên cứu chế tạo thành công năm 1958. Khác với F-4 là tiêm kích hạng nặng tầm xa, MiG-21 là tiêm kích hạng nhẹ tầm ngắn, dùng cho tác chiến trên chiến tuyến không xa sân bay căn cứ (trọng lượng cất cánh tiêu chuẩn của MiG-21 là dưới tám tấn, chỉ bằng một nửa của F-4). Theo mục đích thiết kế, đối thủ của F-4 phải là MiG-21 tiên tiến hơn chứ không phải MiG-21 đơn thuần (tuy nhiên, tại thời điểm đó Việt Nam chưa được viện trợ loại máy bay này. Phải tới cuối 1965, đầu 1966, Không quân nhân dân Việt Nam mới bắt đầu nhận được những biến thể MiG-2lF-13, M1G-21PF).

        Do mục đích thiết kế khác nhau nên MiG-21 và F-4 có những ưu, nhược điểm khi so sánh với nhau.

        Về trang bị, MiG-21 có kích thước và tầm bay nhỏ hơn F-4, tải trọng vũ khí thấp hơn (2.000 kilôgam so với 8.500 kilôgam), ra-đa cũng kém hơn. Bộ vũ khí cũng yếu hơn nhiều so với F-4, gồm hai (về sau tăng lên bốn) tên lửa không đối không tầm trung R-3S tự dẫn hồng ngoại và pháo 23-30 milimét (một số phiên bản không có pháo), trong khi F-4 trang bị với tám tên lửa. Cự ly ngắm bắn bằng ra-đa của MiG-21 nhỏ (không quá 10-12 kilômét đối với mục tiêu là tiêm kích so với 30-40 kilômét của F-4), dấu hiệu mục tiêu trên màn hình trong buồng lái khó nhìn, tầm quan sát từ buồng lái không đủ (MiG-21 là tiêm kích đánh chặn tầm ngắn nên sức mạnh ra- đa không được chú trọng). Tuy nhiên, F-4 cũng có điểm yếu: ra-đa trên F-4 dù có cự li phát hiện và bao quát lớn nhưng chống nhiễu địa vật tương đối kém, mặt khác, tên lửa không đối không tầm trung AIM-7 Sparrow có chất lượng đầu dò khá thấp nên rất khó bắn trúng nếu máy bay đối phương cơ động nhanh. Do vậy, ưu thế không chiến tầm xa của F-4 có thể bị vô hiệu hóa nếu đối phương có chiến thuật hợp lí. Theo thống kê của Mỹ, đã có 612 quả AIM-7 được phóng ở Việt Nam nhưng chỉ hạ được 59 mục tiêu (tỉ lệ bắn hạ đạt 9%) trong đó chỉ có hai quả bắn trúng mục tiêu ở cự li ngoài 15 kilômét.

        Về tính năng máy bay: Tốc độ cao nhất 2.175 - 2.300 km/h, trần bay thực tế 18.000 - 19.000 mét của MiG-21 không thua kém đổi thủ F-4. Tải lên cánh cao và tốc độ góc khi lượn vòng của F-4 thấp hơn một chút (đặc biệt ở tốc độ trung bình), hạn chế quá tải khi khai thác của MiG-21 trội hơn (F-4 chỉ có 6,0 so với của MiG-21 PF là 8,0). MiG-21 cũng có ưu thế về hiệu suất nâng (tỉ lệ sức đẩy của động cơ với trọng lượng máy bay) với trọng lượng cất cánh tiêu chuẩn (F-4B có chỉ tiêu này là 0,74, còn MiG-2lPF là 0,79). Một phân tích của Không quân Mỹ vào tháng 12 năm 1966 đánh giá rằng, nếu không chiến xảy ra ở độ cao lớn, trên 6.500 mét thì MiG-21 sẽ giành chiến thắng trước F-4 với tỉ lệ 1 đổi 3, do MiG-21 được tối ưu hóa đế tác chiến ở độ cao lớn - nơi nó sẽ săn tìm những máy bay ném bom của Mỹ.

        Về chi phí, F-4 có đội bay hai người so với MiG-21 có một người, có nghĩa rằng, nếu bị bắn hạ thì tổn thất về phi công của F-4 sẽ cao gấp đôi. Chi phí chế tạo mỗi chiếc F-4 cũng cao gấp năm lần so với MiG-21 (nghĩa là cứ mỗi chiếc F-4 phải đổi được năm chiếc MiG-21 thì tổn thất tài chính mới là ngang bằng).

        Bộ chỉ huy Không quân và Hải quân Mỹ tin rằng F-4 với vũ khí mạnh hơn, ra-đa hiện đại hơn, tính năng tốc độ và tăng tốc cao cùng với những biện pháp chiến thuật mới sẽ đảm bảo cho F-4 Phantom chiếm ưu thế. Nhưng khi đối đầu với

        MiG-21 gọn nhẹ hơn, F-4 bắt đầu chịu thất bại liên tiếp. Đặc biệt, sau khi ngừng các phi vụ ném bom trong "Chiến dịch Sấm Rền" vào năm 1968, tỉ lệ giành chiến thắng trong không chiến của các máy bay Mỹ rất thấp khi phải chiến đấu chống lại những máy bay nhỏ, nhanh nhẹn như những chiếc MiG. Chính vì vậy dần dần đã dẫn đến việc Không quân Hoa Kỳ phải thành lập chương trình huấn luyện không chiến khác biệt như trong trường huấn luyện TOP GUN. Chương trình này mục đích là sử dụng những máy bay nhỏ, nhanh nhẹn đóng giả làm MiG-17 và MiG-21 làm mục tiêu huấn luyện cho các phi công Mỹ. Họ đã sử dụng hai loại máy bay có tốc độ cận âm là A-4 Skyhawk và F-5 Tiger 2 để thực hiện công việc này.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Một, 2016, 02:16:16 PM

        "Vùng 51" là vùng địa danh tuyệt mật trên sa mạc Nê-va-đa nổi tiếng với những chương trình vũ khí hàng không bí mật của quân đội Mỹ, nơi ra đời những mẫu máy bay với công nghệ cách mạng như U-2, SR-71, F-117A...

        Nhưng nó còn có một vai trò khác ít được biết đến, đó là nơi thử nghiệm, đánh giá những mẫu máy bay chiến đấu của Liên Xô, trong đó đáng chú ý nhất là dự án đánh giá loại tiêm kích MiG-21 cuối những năm 1960.

        Mỹ rất mong muốn làm sao để có thế sở hữu được chiếc MiG-21, để nghiên cứu cách khắc chế nó ở "Vùng 51" trên sa mạc Nê-va-đa.

        Và rồi, Mỹ đã mừng như "chết đuối vớ được cọc" khi bất ngờ nhận được sự giúp đỡ giá trị từ đồng minh của mình là Ít-xa-ren cho mượn chiếc MiG-21 còn nguyên vẹn trong khoảng thời gian ngắn, từ 23 tháng 1 đến 8 tháng 4 năm 1968 sau khi đánh cắp được chiếc này từ I-rắc.

        Tới đây, có lẽ cũng phải diễn giải một chút về vụ đánh cắp MiG-21 và việc giúp Mỹ trong chiến tranh Việt Nam của Ít-xa-ren.

        Quân đội ít-xa-ren vốn có truyền thống rất coi trọng việc hiểu rõ những loại vũ khí mà đối phương đang sử dụng.

        Một trong những người đầu tiên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc này là tướng Đan Tôn-cao-xki (Dan Tolkowsky) - người đã xây dựng nên Không quân Ít-xa-ren. Những thế hệ tướng lĩnh sau đó của Ít-xa-ren tiếp tục đặt ưu tiên rất cao trong việc nắm rõ những điểm mạnh, điểm yếu của vũ khí đối phương.

        Vào tháng 3 năm 1963, Giám đốc Cục tình báo Hải ngoại của Ít-xa-ren là Mossad đã đặt vấn đề với các sĩ quan cấp cao của quân đội nước này về các mục tiêu mình muốn thực hiện.

        Tướng Mo-đờ-cai Hốt (Mordecai Hod) - Tư lệnh Không quân ít-xa-ren bày tỏ mong muốn cơ quan này có thể chiếm được một chiếc MiG-21.

        Đây không phải là việc dễ dàng. Cả Mossad và Aman - Cục tình báo quân sự Ít-xa-ren đã tìm mọi cách mua chuộc những phi công lái MiG-21 của Ai Cập, Xi-ri và I-rắc với cái giá một triệu USD nếu họ đồng ý đào ngũ cùng với máy bay của mình. Song, những nỗ lực ban đầu của Mossad và Aman đều thất bại. Một số đặc vụ đã bị phát hiện và bị hành quyết.

        Tuy nhiên, cuối cùng thì người Ít-xa-ren cũng gặp may khi một nữ đặc vụ Mossad ở I-rắc đã xây dựng được mối quan hệ "trên mức bình thường" với một phi công MiG-21 tên là Mu-nia Rét-pha (Munir Redfa).

        Mu-nia Rét-pha đồng ý tham gia phi vụ của Mossad mang tên "Chiến dịch Kim Cương" với điều kiện mọi thành viên trong gia đình của mình phải được đưa ra khỏi I-rắc.

        Mossad đã sắp xếp một chuyến đi bí mật cho Mu-nia đến Ít-xa-ren để trực tiếp thảo luận chi tiết kế hoạch đào thoát với tướng Mo-đờ-cai Hốt.

        Trong chuyến đi này, Mu-nia đặc biệt ấn tượng về những thông tin mà tình báo It-xa-ren nắm được về hoạt động của Không quân I-rắc. Họ biết rõ tên từng người trong căn cứ, cả những người I-rắc và Liên Xô, cả cách bố trí bên trong căn cứ đến lịch bay huấn luyện...

        Mossad cũng đã lần lượt đưa nhiều thành viên trong gia đình Mu-nia rời khỏi I-rắc, với lí do đi du lịch hay đi chữa bệnh và vào ngày Mu-nia thực hiện chuyến bay đào tẩu thì những thành viên còn lại của gia đình Mu-nia sẽ được rời Bát-đa để đi cắm trại rồi sẽ được đưa sang I-ran và từ đó bay sang Ít-xa-ren. Những người này hoàn toàn không biết gì về chuyến đi của họ, kể cả vợ của Mu-nia.

        Ngày 16-8-1966, Mu-nia có lịch thực hiện một bài bay huấn luyện tầm xa. Theo đúng kế hoạch đã được vạch ra trước đó, Mu-nia bay về hướng Ít-xa-ren với những đường bay dích-dắc để tránh bị ra-đa của I-rắc và Gioóc-đa-ni theo dõi. Ít-xa-ren đã cử một phi đội máy bay Mirage đón và hộ tống Mu-nia về căn cứ Không quân nằm bên trong sa mạc Negev. Hạ cánh xong thì chiếc MiG-21 này cũng cạn sạch nhiên liệu.

        Về phía Ít-xa-ren, lợi ích từ việc chiếm được chiếc MiG-21 được thể hiện rất rõ ngay sau đó. Ngày 7-4-1967, trong một trận không chiến với Không quân Xi-ri, khi MiG-21 đối mặt với những chiếc Mirage IIIC của Không quân Ít-xa-ren, máy bay Ít-xa-ren đã bắn rơi sáu máy bay MiG-21 của Xi-ri mà không chịu tổn thất nào.

        Sau khi Ít-xa-ren cho Mỹ mượn chiếc MiG-21 trong thời gian ngắn, nó ngay lập tức được đưa đến "Vùng 51" để thử nghiệm và đánh giá.

        Tổng cộng, Không quân Mỹ đã thực hiện 102 chuyến bay với MiG-21 trước khi trả nó cho Ít-xa-ren. Chỉ có 11 phi vụ bị hủy do trục trặc kỹ thuật. Một số vụ có nguvên nhân được cho là do kỹ thuật viên Mỹ chưa kịp làm quen với MiG-21.

        Từ những cuộc bay thử nghiệm ở "Vùng 51", các phi công Mỹ đã sững sờ vì những điều "chưa có trong tiền lệ" của MiG-21 với những phát hiện bất ngờ và dựa trên kết quả của những phi vụ bay thử nghiệm trên MiG-21, Không quân Mỹ đã đề ra những biện pháp riêng cho từng loại máy bay chiến đấu của mình khi phải đối mặt với MiG-21.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:47:51 AM

        Cụ thể, F-104 được khuyến cáo là nên tránh cận chiến kéo dài với MiG-21 mà thay vào đó là nên dùng chiến thuật áp sát và tấn công nhanh rồi sau đó thoát li ngay khỏi cuộc chiến.

        Trong trường hợp gặp bất lợi khi đang giao chiến, F-104 nên tìm cách thoát ra bằng cách hạ độ cao xuống dưới 4.500 mét và tăng tốc độ lên đến 1.200 km/h.

        Còn F-lll, F-105 và F-100 thì được khuyến cáo nên tránh đối đầu trực tiếp với MiG-21 vì khả năng vận động kém hơn nhiều.

        Trong trường hợp buộc phải giao chiến, các phi công được hướng dẫn là nên khai hỏa và sau đó cần tăng tốc độ vượt qua vận tốc giới hạn của MiG-21 và thoát li ngay.

        Loại F-5 là loại chiến đấu cơ của Mỹ có đặc tính gần giống với MiG-21 nhất, đặc biệt là trong cận chiến, nó có thể đóng vai trò mô phỏng MiG-21 trong huấn luyện đến mức vận tốc dưới Mach (M) 1,2.

        Các phi công bay trên loại F-4 thì được khuyến cáo nên giao chiến với MiG-21 ở độ cao dưới 4.500 mét, tiếp cận ở góc mù phía sau của MiG-21 và duy trì tốc độ tối thiểu ở 830 km/h.

        MiG-21 có khả năng ngoặt tức thời nhanh hơn F-4, nhưng cũng nhanh mất tốc độ hơn, vì vậy, theo hướng dẫn, F-4 cần tránh cận chiến kéo dài với MiG-21. Thay vào đó, nên thoát khỏi tình huống cận chiến, duy trì vận tốc và tìm cơ hội khác để tấn công.

        Tuy nhiên, lợi ích lớn nhất chương trình này đem lại cho Mỹ không nằm ở những thông tin họ có được về MiG-21 mà lại là ở việc khiến Không quân và Hải quân Mỹ nhận thức lại tầm quan trọng của việc hiểu rõ vũ khí đối phương và huấn luyện không chiến mô phỏng thực tế.

        Trong thời gian chiến tranh Triều Tiên và trước chiến tranh Việt Nam, huấn luyện không chiến với những máy bay đắt tiền như loại F-4 bị coi là nguy hiểm và phí phạm.

        Những bài tập giao chiến trên không, đặc biệt là cận chiến bị hạn chế và nếu có thì cả "quân xanh" và "quân đỏ" đều tác chiến giống nhau, sử dụng cùng loại phương tiện, cùng chiến thuật.

        Vì vậy, phi công Mỹ gặp rất nhiều khó khăn khi đối đầu với MiG tại Việt Nam, với tính năng và chiến thuật xa lạ đối với họ.

        Kết quả thử nghiệm và đánh giá MiG-21 đã góp phần quan trọng dẫn đến sự ra đời của hai chương trình huấn luyện không chiến nâng cao của Không quân và Hải quân Mỹ.

        Chương trình TOP GUN của Hải quân ra đời vào năm 1969 và Red Flag của Không quân vào năm 1973. Cả hai đều nhấn mạnh việc mô phỏng giống thực tế không chiến nhất có thể.

        Đóng vai trò "quân xanh" là những phi công dày dạn kinh nghiệm, sử dụng máy bay Mỹ nhưng mô phỏng chiến thuật, công nghệ của đối phương nhằm đào tạo cho các phi công cách thức giao chiến với đối phương nếu có chiến tranh nổ ra.

        Những thay đổi triệt để trong công tác huấn luyện này có vai trò quyết định cho việc giành ưu thế trên không của Mỹ trong những cuộc chiến sau đó.

        Tuy nhiên, những nỗ lực như vậy cũng không thể giúp Không quân Mỹ tránh được thất bại đau đớn trước MiG-21 ở Việt Nam.

        Tiêm kích đánh chặn MiG-21 được xem là dòng máy bay chiến đấu thành công nhất của Liên Xô trong Chiến tranh lạnh. Nó được xuất khẩu rộng rãi. Tuy có công nghệ kém hơn so với những máy bay chiến đấu mà nó đối mặt, nhưng giá thành sản xuất rẻ và chi phí bảo dưỡng thấp đã khiến MiG-21 được ưa chuộng trong quân đội của nhiều quốc gia của khối Đông Âu và trên toàn thế giói.

        Nó được hơn 50 quốc gia sử dụng và từng được sử dụng rộng trong các cuộc xung đột ở Trung Đông trong thập niên 1960 và 1970 bởi Không quân các quốc gia Ai Cập, Xi-ri và I-rắc nhằm chống lại Ít-xa-ren. Không quân Ấn Độ cũng sử dụng MiG-21 trong chiến tranh Ấn Độ - Pa-kít-xtan. Trong thời gian 1991 - 1995, Quân đội nhân dân Nam Tư (JNA) và lực lượng người Séc đã sử dụng những chiếc MiG-21M khi diễn ra chiến tranh Slô-vê-ni-a, chiến tranh giành độc lập Croát-ti-a và chiến tranh Bốt-xni-a và lần nữa trong chiến tranh Cô-xô-vô 1999 và Operation Allied Force (Chiến dịch Sức mạnh đồng minh - khi NATO ném bom Nam Tư 1999). Tại châu Phi, MiG-21 cũng đã được sử dụng trong nội chiến Ăng-gô-la. Những phi công của Không quân Cuba đã lái những chiếc MiG-21 tại Ăng-gô-la trong chiến tranh. Những chiếc MiG-21 Ăng-gô-la và Cuba thường chạm trán với những chiếc Mirage của Không quân Nam Phi...

        Tới nay, cho dù ở đâu đó, MiG-21 có thể được xem như đã lỗi thời nhưng thực tế lực lượng Không quân của nhiều nước trên thế giới vẫn còn đang sử dụng loại máy bay này, ví dụ như Ăng-gô-la, Ác-mê-ni-a, A-déc-bai-dan, Croatia, Cuba, Ai Cập, Ê-ti-ô-pi-a, Ấn Độ, I-ran, Lào, Li-bi, Mông cổ, Mô-dăm-bích, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Tuốc-mê-nít-xtan, Y-ê-men ...


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 04:03:31 PM
           
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/b%20-%200020%20-%20Copy_zpsjqekxkbo.jpg)
Cầu Long Biên - chứng nhân của nhiều trận chiến đấu trong chiến tranh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/b%20-%200020_zpsccbro6j2.jpg)        
Cây cầu Long Biên được đánh dấu là mục tiêu phá hủy bằng được trong ngày 10.5.1972

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/b%20-%200021%20-%20Copy_zps3wydwfvj.jpg)
Sân bay Yên Bái - một trong những khu vực xảy ra các trận không chiến ác liệt trong ngày 10-5-1972

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/b%20-%200021_zpshpqqgh4y.jpg)
MiG 17 – một thời oanh liệt


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2016, 04:09:06 PM
         
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/b%20-%200022%20-%20Copy_zpsijm69fz8.jpg)
MiG-19 - xuất quân đánh thẳng trận đầu

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/b%20-%200022_zpsgkmpm0dd.jpg)
Giảng bình sau trận đánh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/b%20-%200023%20-%20Copy_zpsukaz1rai.jpg)
MiG-21 – huyền thoại trong chiến tranh giải phóng của Việt Nam
        
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/b%20-%200023_zpswldzakdx.jpg)
Mỗi ngôi sao ghi nhận một chiến công

        Cuối năm 2015, MiG-21 chính thức ngừng hoạt động trong Không quân Việt Nam, chấm dứt 50 năm phục vụ của loại máy bay này tại Việt Nam.

        Qua gần bảy năm chiến tranh ở Việt Nam, MiG-21 đã như "thanh gươm báu" trong tay các phi công Việt Nam, đã tung hoành "tả xung hữu đột", giành được thế thượng phong trong hàng trăm trận không chiến lớn nhỏ và đã đem lại chiến thắng huy hoàng rất đỗi tự hào. MiG-21 từng tham chiến trong nhiều cuộc chiến tranh ở nhiều nước trên thế giới, nhưng phải nói rằng, chỉ ở Việt Nam, các phi công Việt Nam với tài năng, với lòng quả cảm phi thường mới viết nên những trang sử chói lọi cho MiG-21, mới biến nó thành huyền thoại của bầu tròi, mới làm cho nó nổi tiếng, rạng danh là máy bay tiêm kích chiến đấu hiệu quả nhất trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh... và cho đến bây giờ, MiG-21 cũng vẫn có thể chiên đấu chống lại các máy bay hiện đại của đối phương mặc dù nó đã lỗi thời.

        Vấn đề quan trọng nhất là nó được nằm trong tay ai và chiến đấu vì cái gì!...



Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Hai, 2016, 11:00:14 AM

NHỮNG NGƯỜI ĐỌ CÁNH

        Số phận của từng con người cũng tựa như những "miếng ghép của cuộc sống". Nó rất đa dạng. Có những "miếng ghép" có thế cảm nhận được ngay. Có những "miếng ghép" tận sau này mới cảm nhận được. Thậm chí, có những "miếng ghép" mãi vẫn là bí ẩn... Và còn biết bao điều bất ngờ khác nữa...

        Phải mất nhiều năm sau chiến tranh tôi mới có cơ hội để được suy ngẫm một cách thấu đáo những gì mình từng trăn trở, và cũng là đến lúc đó mới có cơ hội nắm bắt được những gì mình cần biết qua sự bùng nổ của thông tin, nhất là qua mạng Internet.

        Bao năm rồi, tôi vẫn canh cánh bên lòng về những trận không chiến ngày 10 tháng 5 năm 1972. Tôi cho rằng, một khi mình đã từng là người tham gia chiến đấu trong ngày hôm ấy thì mình phải hiểu rõ hơn về nó. Dần dà, tôi đã tập hợp lại được các tư liệu, các sự kiện liên quan đến ngày hôm đó và muốn trình bày lại một cách tương đối tổng thể, đặc biệt là về những con người cả hai phía trong ngày hôm ấy. Đương nhiên, không thể nào lần tìm được cả hàng trăm con người, nhưng biết được đến đâu cũng là hay đến đó, rồi dần dần sẽ bổ sung sau vậy. Sau đây, tôi sẽ cung cấp một số thông tin về các phi công của cả hai bên trực tiếp tham gia các trận không chiến trong ngày 10-5-1972 để bạn đọc hiểu rõ thêm, dù là chưa đầy đủ.

        Với 414 lần chiếc xuất kích trong ngày của Không quân và Hải quân Mỹ gồm hàng trăm máy bay (22 loại, từ tiêm kích, cường kích, tác chiến điện tử, trực thăng, trinh sát, tiếp dầu trên không... ), tức là hàng trăm phi công tham gia thì quy mô của cuộc không chiến không hề nhỏ. Các máy bay của Không quân Mỹ chủ yếu cất cánh từ Thái Lan, trên các sân bay Ubon, Udon, Ta-khơ-li, Korat và Utapao hướng đánh vào Hà Nội, cầu Long Biên, ga Yên Viên.

        Các máy bay của Hải quân Mỹ thì cất cánh từ bốn tàu sân bay: Kitty Hawk, Constellation, Coral Sea và Okinawa, hướng đánh vào Hải Phòng, Hải Dương và các cây cầu ở các khu vực này.

        Trên tàu sân bay USS Kitty Hawk (CVA-63) có 22 chiếc F-4J, 21 chiếc A-7E, 12 chiếc A-6A và B, ba chiếc KA-6D, bốn chiếc RA-5C, bốn chiếc E-2B, hai chiếc EKA-3B, bốn chiếc SH-3G, năm chiếc HH-3A.

        Tàu sân bay uss Constellation (CVA-64) thì chở 24 chiếc F-4J, 22 chiếc A-7E, 12 chiếc A-6A, bốn KA-6D, bốn chiếc RA-5C, hai chiếc EKA-3B, bốn E-2B, ba chiếc SH-3G.

        Tàu sân bay Uss Coral Sea (CVA-43) chở 23 chiếc F-4B, 22 chiếc A-7E, 13 chiếc A-6A và B, ba chiếc KA-6D, ba chiếc EKA-3B, hai chiếc RF-8G, bốn chiếc SH-3G.

        Tàu sân bay Uss Okinawa (LPH-3) chở ba chiếc HH-3A, 14 chiếc CH-46D, sáu chiếc CH-53D và ba chiếc UH-1E.

        Tổng chỉ huy lực lượng Không quân là Đại tướng Giôn Vốc (John Vogt) - Tư lệnh Tập đoàn Không quân số 7.

        Chỉ huy lực lượng của Hải quân là Chuẩn Đô đốc Uy-li-am Mách ( William Mack).

        Tư lệnh Tập đoàn Không quân số 7, Đại tướng Giôn Vốc sinh ngày 18 tháng 3 năm 1920, gia nhập Không quân Mỹ từ năm 1941, là người trải qua con đường học vấn rất ấn tượng, tốt nghiệp các trường đại học nối tiếng như Yale, Columbia và Harvard. Giôn Vốc đã lấy bằng thạc sĩ tại Đại học Columbia, sau đó theo học chuyên ngành Quan hệ Quốc tế tại Đại học Harvard.

        Từ tháng 4 đến tháng 12 năm 1942, Vốc phục vụ như là một phi công chiến đấu tại Phi đội không quân tiêm kích 63 (Fighter Squadron), thuộc Liên đoàn 56 (Fighter Group). Tháng 1 năm 1943, Vốc đã cùng phi đội của mình đến Anh và hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu với tư cách chỉ huy đội bay. Tháng 5 năm 1944, vốc trở thành Phi đội trưởng Phi đội 360 (Fighter Squadron), thuộc Liên đoàn 356 (Fighter Group) và thực hiện nhiệm vụ chiến đấu thứ hai; tham gia trong các chiến dịch Air Offensive, Europe, Rhineland và Normandy Invasion. Vốc đã bắn rơi tám máy bay đối phương trong chiến đấu trên không.

        Từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 7-1946, Vốc giữ chức Chỉ huy trưởng căn cứ Không quân thứ nhất và căn cứ lục quân Ibura tại Recife, Bra-xin cho đến khi trở về Hoa Kỳ.

        Giôn Vốc phục vụ nhiều năm tại Phân ban tác chiến và kế hoạch, Bộ Tư lệnh Không quân Mỹ.

        Chính Kít-xinh-giơ, người lần đầu tiên gặp tướng Vốc tại Đại học Harvard vào những năm 50 của thế kỷ trước đã tiến cử ông ta với Ních-Xơn.

        Ngay từ năm 1954, khi Pháp có nguy cơ thất thủ tại Điện Biên Phủ, Vốc đã được Bộ Tư lệnh Không quân Mỹ cử sang Pa-ri để bàn bạc với Bộ chỉ huy Không quân Pháp về các kế hoạch can dự của Không quân Mỹ vào Đông Dương.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Hai, 2016, 11:01:48 AM

        Năm 1965, khi bắt đầu "Chiến dịch Sấm Rền", tướng Vốc lúc đó làm việc trong văn phòng Bộ Quốc phòng, trực tiếp giúp Mắc Na-ma-ra và Pôn Nít-dơ (Paul Nitze) (khi đó là Bộ trưởng Hải quân và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ) khởi thảo danh mục các mục tiêu đánh phá cho Không quân Mỹ, sau đó một thời gian dài là Phó Tư lệnh Không quân Thái Bình Dương.

        Năm 1972, Tổng thống Ních-Xơn đã bổ nhiệm tướng Giôn Vốc làm Tư lệnh Tập đoàn Không quân số 7, nơi Vốc trực tiếp chỉ huy "Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 1 và 2", những chiến dịch cuối cùng của Không quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

        Trước khi lên đường sang Sài Gòn nhận nhiệm vụ, tướng Vốc đã gặp Tổng thống Ních-Xơn và Cố vấn an ninh Hen-ri Kít-xinh-giơ tại tòa nhà điều hành cạnh Nhà Trắng. Tại cuộc gặp này, Ních-Xơn nhắc lại quyết tâm rút bộ binh Mỹ khỏi Việt Nam như đã hứa với cử tri Mỹ, nhưng yêu cầu tướng Giôn Vốc phải tiến hành mọi biện pháp để giữ được miền Nam Việt Nam. Tướng Vốc hứa sau khi tiếp thu công việc và nắm vững tình hình các đơn vị thì sẽ hành động quyết liệt.

        Sau chiến tranh Việt Nam, vào tháng 10 năm 1973, tướng Vốc được bổ nhiệm làm Tư lệnh Không quân Thái Bình Dương.

        Tháng 6 năm 1974, tướng Giôn Vốc được bổ nhiệm là Tư lệnh Không quân Mỹ ở châu Âu.

        Tướng Giôn Vốc về nghỉ hưu năm 1975 và mất  ngày 16 tháng 4 năm 2010.

        Chuẩn Đô đốc Uy-li-am Pết-đơn Mách (William Paden Mack) sinh ngày 6 tháng 8 năm 1915, từng tốt nghiệp Học viện Hải quân vào năm 1937 và là Chỉ huy trưởng của Học viện Hải quân Hoa Kỳ ở Annapolis, Maryland từ 16 tháng 6 năm 1972 cho đến khi nghỉ hưu vào tháng 8 năm 1975.

        Sau này, Uy-li-am Mách đã trở thành một nhà văn và mất ngày 15 tháng 1 năm 2003.

        Để đánh sập cây cầu Long Biên vào ngày này, Mỹ đã sử dụng 20 chiếc F-4, năm chiếc F-105 và Đại tá Không đoàn trưởng Các Min-lơ cùng Đại tá Không đoàn phó Ri-sác Hon trực tiếp bay dẫn đội, chỉ huy việc đánh cầu.

        Đại tá Không đoàn trưởng Các Min-lơ sinh năm 1930 ở Bớc-minh-ham, Alabama, tốt nghiệp trung học vào năm 1948 và tốt nghiệp trường Đại học Alabama năm 1951 với bằng cử nhân quản trị kinh doanh. Các Min-lơ tiếp tục lấy bằng tiến sĩ Luật năm 1961 từ Đại học Saint Mary ở San Antonio, Tếch-dát. Các Min-lơ cũng đã tốt nghiệp Đại học chỉ huy Không quân và Tham mưu cao cấp vào năm 1962 và trường Cao đẳng công nghiệp của các lực lượng trang bị năm 1970.

        Các Min-lơ gia nhập Không quân Hoa Kỳ tháng 6 năm 1951. Sau khi hoàn thành khóa đào tạo cơ bản, Min-lơ tham dự lớp huấn luyện phi công tại Bartow Air Base, Phờ-lo-ri-đa. Tháng 9 năm 1952 tốt nghiệp, nhận quân hàm Trung úy, sau đó tiếp tục hoàn thành lớp đào tạo phi hành đoàn chiến đấu F-84 tại căn cứ Không quân Luke, Arizona.

        Tháng 1 năm 1953, Các Min-lơ được điều về chỉ huy Không đoàn 474 (Tactical Fighter Wing) tại căn cứ Không quân Kunsan, Hàn Quốc và trở thành sĩ quan hoạt động của Không đoàn 430 (Tactical Fighter Wing) tháng 5 năm 1953. Các Min-lơ tham gia chiến tranh Triều Tiên với 57 phi vụ, trước khi tham gia chiến tranh ở Việt Nam.

        Tháng 12 năm 1953, Min-lơ được giao nhiệm vụ chỉ huy đào tạo Không quân và phục vụ tại Phi đoàn đào tạo chiến đấu 3645 tại căn cứ Không quân Laughlin, Tếch-dát. Tháng 2 năm 1957, được điều đến căn cứ Hondo, Tếch-dát, một trường đào tạo phi hợp đồng dân sự và là sĩ quan huấn luyện quân sự cho một phi đội Hàng không thiếu sinh quân.

        Tháng 3 năm 1958, Min-lơ được chuyển đến căn cứ Randolph, Tếch-dát làm Giám đốc của đoàn Tiêu chuẩn T-33. Tháng 8 năm 1961, Min-lơ theo học Đại học Không quân và Tham mưu cao cấp tại căn cứ Maxwell, Alabama.

        Sau khi hoàn thành việc học của mình, Min-lơ tham gia Bộ Tham mưu Không quân đồng minh chiến thuật thứ tư, một tổ chức quân sự của NATO tại căn cứ Ramstein, Đức vào tháng 6 năm 1962, từng là sĩ quan điểu hành các hoạt động cho Phó Tham mưu trưởng.

        Tháng 7 năm 1966, Min-lơ được điều đến Không đoàn chiến thuật 31 tại căn cứ Homestead, Phờ-lo-ri-đa. Không đoàn 31 được triển khai tới căn cứ Không quân Tuy Hòa của quân đội Sài Gòn vào tháng 10 năm 1966. Khi đó, Min-lơ là Giám đốc của các hoạt động và đào tạo.

        Tháng 1 năm 1968, Min-lơ được điều trở lại Ramstein với tư cách là trợ lí Giám đốc đánh giá chiến thuật và sau đó là trợ lí Giám đốc của không lưu tại Bộ chỉ huy Không quân 17.

        Tháng 7 năm 1969, Min-lơ tham gia trường Đại học công nghiệp của các lực lượng trang bị ở Oa-sinh-tơn. Tháng 7 năm 1970, được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành của Không đoàn Vũ khí 57 và là chỉ huy của Trường Vũ khí chiến thuật tại căn cứ Nellis, Nê-va-đa.

        Năm 1971, Min-lơ trở lại Tây Nam Á với cương vị là Phó chỉ huy của Không đoàn chiến thuật số 8 tại căn cứ Không quân Hoàng gia Udon, Thái Lan và trở thành Chỉ huy trưởng vào tháng 2 năm 1972.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 04:39:45 PM

        Khi chỉ huy Không đoàn chiến thuật số 8, Min-lơ đã lái máy bay F-4 với nhiệm vụ tấn công trong chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ vào miền Bắc Việt Nam. Min-lơ gia nhập Đồng minh không lực miền Nam châu Âu (AIRSOUTH), một trụ sở quân sự NATO ở Naples, Ý vào tháng 1 năm 1973. Tháng 11 năm 1973, Min-lơ được điều đến Hancock Field làm chỉ huy của vùng NORAD 21 với trách nhiệm bổ sung là chỉ huy Sư đoàn Không quân 21. Cũng trong năm 1973 này, Min-lơ được phong quân hàm Thiếu tướng. Tháng 1 năm 1974, tướng Min-lơ là Tư lệnh phó Không đoàn chiến thuật đồng minh của NATO ở Vicenza, Ý. Tổng cộng, Các Min-lơ đã tham gia 524 trận. Riêng ở chiến tranh Việt Nam là 189 trận bay trên F-4 và 278 trận bay trên F-100.

        Đại tá Không đoàn phó Ri-sác Hon sinh ngày 2 tháng 3 năm 1931, quê ở thành phố Portland, tiểu bang Oregon. Sau khi tốt nghiệp Đại học Oregon, Ri-sác Hon gia nhập Không quân vào năm 1952. Vào ngày 27 tháng 4 năm 1972, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Hon đã dẫn đầu cuộc oanh kích đánh sập cây cầu Hàm Rồng - cây cầu từng gây tổn thất cho 36 phi công Mỹ trong suốt bốn năm với những cuộc tấn công thất bại. Trong 30 năm cuộc đời binh nghiệp của mình, Hon từng thực hiện 335 phi vụ với máy bay F-4, đã được tặng thưởng bốn huy chương cao quý, mười huy chương Dũng cảm, huân chương ưu tú, huy chương đồng, 23 huy chương Không quân và bảy huy chương đồng khác, trong đó có cả huy chương của quân đội Sài Gòn và Nam Hàn. Trong đợt nhiệm vụ thứ hai của mình tại Việt Nam, Đại tá Hon được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó của Không đoàn Không kích Chiến thuật số 8 tại Udon, căn cứ Không quân Hoàng gia Thái Lan. Năm 1982, Đại tá Hon hoàn thành sự nghiệp của mình với tư cách là Phó Tư lệnh thứ ba của Không quân. Đại tá Ri-sác Hon về nghỉ hưu tại Reno, Nê-va-đa và qua đời ngày 3 tháng 1 năm 2015.

        Vào lúc 8 giờ 52 phút ngày 10 tháng 5 năm 1972, khi biên đội hai chiếc MiG-21 của Đặng Ngọc Ngự và Nguyễn Văn Ngãi thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 cất cánh từ sân bay Kép lên thì bị biên đội hai chiếc F-4J (Silver Kite) của Đại úy Ot-xtin Hao-kin (Austin Hawkins) và Đại úy Cơ-títx Đô (Curtis Dose) thuộc Phi đoàn VF-92, tàu sân bay Uss Constellation đang làm nhiệm vụ bay tuần tiễu ngang sân bay Kép ở độ cao 5.000 mét phát hiện, lao xuống tấn công.

        Chiếc F-4 bay số 2 của Đại úy Cơ-títx Đô và Thiếu tá Giêm Mắc Đê-vít (James Mc Devitt) điều khiển đã bám theo máy bay của Nguyễn Văn Ngãi phóng hai quả tên lửa AIM-9G. Quả tên lửa thứ hai đã lao trúng máy bay của Nguyễn Văn Ngãi khi anh mới lên đến độ cao 15-20 mét. Nguyễn Văn Ngãi không kịp nhảy dù, máy hay rơi xuống phía đầu đường băng và đã hy sinh.

        Sau này, tôi được biết, Đại úy Ôt-xtin Hao-kin sinh ngày 8 tháng 8 năm 1942, ở Phờ-lo-ri-đa là một phi công phản lực kỳ cựu, phục vụ trong lực lượng Hải quân Hoa Kỳ 21 năm. Vào ngày 21 tháng 4 năm 1985, Ốt-xtin Hao-kin là sĩ quan điều hành của đơn vị trù bị Không quân của Hải quân tại trạm Point Mugu đã bị thiệt mạng khi chiếc máy bay hạng nhẹ của Ôt-xtin Hao-kin bị rơi ở miền Bắc Xan Đi-ê-gô. Chiếc máy bay một động cơ này bị tai nạn trong lúc trời mưa.

        Cơ-títx Đô hiện đã về hưu với quân hàm Trung tá Hải quân, từng nhận Huân chương Danh dự và 13 Huy chương khác trong Không quân Hải quân Hoa Kỳ. Trung tá Cơ-títx Đô cùng với cha của mình là Đại úy Rô-bớc Đô (Robert G. Dose) là cặp cha con duy nhất ghi được chiến công bắn rơi máy bay đối phương.

        Riêng về phi công Thiếu tá Giêm Mắc Đê-vít thì tôi hoàn toàn không có thông tin.

        Lúc 9 giờ 36 phút ngày 10 tháng 5 năm 1972, biên đội bốn chiếc tiêm kích MiG-19 của Phạm Ngọc Tâm, Phạm Hùng Sơn (C), Nguyễn Văn Phúc, Lê Đức Oánh thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 trực ở đầu nam sân bay Yên Bái đã xuất kích chiến đấu và 20 phút sau, biên đội bốn chiếc tiêm kích MiG-19 của Hoàng Cao Bổng, Phạm Cao Hà, Nguyễn Văn Cương, Lê Văn Tưởng trực ở đầu bắc sân bay Yên Bái cũng xuất kích. Cả hai biên đội cùng vòng trực trên đỉnh sân bay.

        Hai biên đội MiG-19 đã gặp lực lượng 32 chiếc máy bay F-4 của Không đoàn tiêm kích chiến thuật số 432 của Mỹ do Thiếu tá Rô-bớc An-phơ-rết Lót (Robert Alfred Lodge) và Đại úy Râu-gơ Lót-trơ Roger c. Locher) dẫn đầu.

        Các trận tao ngộ chiến đã xảy ra.

        Phi công tiêm kích Nguyễn Văn Phúc đã bám được chiếc F-4D của Thiếu tá Rô-bớc An-phơ-rết Lót, nổ liên tiếp hai loạt đạn. Chiếc F-4D trúng đạn, khựng lại rồi đổ vào xoáy ốc. Nó tiếp tục nhận được loạt đạn thứ ba, bị gãy đôi và bốc cháy.

        Thiếu tá Rô-bóc An-phơ-rết Lót thiệt mạng, còn Đại úy Râu-gơ Lót-trơ kịp nhảy dù.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 04:40:16 PM

        Tôi không có được thông tin về Thiếu tá Rô-bớc An-phơ-rết Lót, còn Đại úy Râu-gơ Lót-trơ thì sinh ngày 13 tháng 9 năm 1946 tại Sabetha, bang Kan-dát. Lót-trơ gia nhập lực lượng Không quân năm 1969, tốt nghiệp Trường đào tạo phi công - hoa tiêu, bay trên loại máy bay F-4 tại căn cứ Davis Monthan ở Arizona, sau đó được điều đến Phi đội 555, Không đoàn 432 TFW. Lót và Lót-trơ là những phi công giàu kinh nghiệm trong khu vực Đông Nam Á. Khi máy bay bị bắn, Lót-trơ đã báo cho phi công chính rằng động cơ bên phải của máy bay đã phát nổ. Lót và Lót-trơ đã thảo luận các lựa chọn của họ. Áp suất thủy lực tụt dần. Khi Lót để chế độ lái tự động, máy bay không đáp ứng. Phía sau của máy bay đang bốc cháy, máy bay thì gầm rú, quay cuồng và khói ùa vào đầy buồng lái. Lót-trơ nói với Lót rằng máy bay càng lúc càng nóng và tốt hơn hết là nhảy dù. Lót nhìn qua vai phải của Lót-trơ và nói: "Tại sao không bung dù đi?". Khoảng thời gian ba tuần trước đó, Rô-bóc Lót đã từng nói với các đồng nghiệp trong phi đoàn giống như nhiều lần đã nói trước đây rằng sẽ không cho phép mình bị bắt vì biết quá nhiều về thông tin mật và nhạy cảm. Lót-trơ đã nhảy dù thành công nhưng không bao giờ nhìn thấy chiếc dù của Thiếu tá Rô-bớc Lót. Chiếc dù của Lót-trơ bị mắc kẹt vào cây nên Lót-trơ không thể giấu dù của mình được. Sau khi lấy ra vài vật dụng cần thiết từ gói trang bị sống còn, cho vào áo cứu hộ (gồm súng ngắn, hai lít nước, hộp cứu thương, thuốc chống côn trùng, màn chống muỗi và một con dao) và ngụy trang đường mình đi rồi leo lên phía đông của đỉnh núi và rồi lại trốn trong bụi cây bên sườn phía Tây. Trong ba ngày, Lót-trơ nghe chừng như có một đội tìm kiếm của người địa phương đang đập vào các bụi rậm ở phía đông sườn núi. Lót-trơ chui ẩn vào bụi cây và rồi lại quay trở lại đỉnh núi... Lót-trơ quyết định cơ hội tốt nhất cho mình để được cứu hộ là băng qua rừng, địa hình đồi núi và vùng trồng trọt ở thung lũng sông Hồng, bơi qua sông, tìm cách đến vùng núi thưa thớt dân cư ở phía Nam. Lót-trơ đã lang thang trong rừng 23 ngày. Lót-trơ không dám sử dụng thiết bị cứu hộ phát thanh URC-64 của mình, chỉ dám di chuyển trong khoảng 19 kilômét mỗi ngày vào thời điểm ban đêm và rạng sáng, tránh người địa phương và tránh xa đất liền. Có lần, Lót-trơ suýt chạm trán với một người dân Việt Nam vào buổi sáng tinh mơ, nhưng đã kịp lẩn tránh. Lót-trơ đã phải trốn ngoài cánh đồng, lấy lá cây và rơm rạ phủ kín người, nằm im ở đó cả ngày.

        Suốt 23 ngày lang thang trong rừng, Lót-trơ phải tự tìm lá cây, củ rừng và những thứ có thể ăn được, uống được để nuôi sống mình. Cũng trong 23 ngày ấy, Lót-trơ đã sút 14 kilôgam.

        Ngày 1 tháng 6, Lót-trơ đã liên lạc được với một chiếc F-4 đang bay trên trời, kịp báo vị trí của mình. Một nhiệm vụ cứu nạn được đặt ra cho một số máy bay A-1E HH-53, F-4 và F-105 để giải cứu Lót-trơ nhưng đã bị lực lượng Phòng không và MiG đánh bạt. Sang ngày 2 tháng 6, tướng Giôn Vốc sau khi tham khảo ý kiến với chỉ huy quân đội MACV là tướng Phờ-rê-đê-rích Ưây-an (Frederick c. Weyand), đã hủy bỏ cuộc tấn công Hà Nội, huy động tất cả các nguồn lực sẵn có, với hơn 150 máy bay để giải cứu Đại úy Lót-trơ. Các lực lượng đặc nhiệm trực tiếp của 119 máy bay bao gồm hai chiếc HH-53 - máy bay trực thăng cứu hộ, máy bay ném bom và một số F-4 hộ tông, EB-66s, A-lEs, F-105G và máy bay tiếp dầu KC-135. Đến trưa ngày 2 tháng 6 thì Lót-trơ được cứu thoát ở vị trí cách Yên Bái năm dặm (tám kilômét) bằng máy bay trực thăng HH-53 và được chơ về sân bay Udon.

        Trước đó, tổ bay của Lót-trơ tuyên bố bắn trúng ba chiếc máy bay MiG của đôi phương và Lót-trơ trở thành phi công Mỹ có quãng thòi gian từ khi bị bắn rơi cho đến khi được cứu thoát là dài nhất, với một chiến dịch giải cứu dài nhất.

        Đại úy Lót-trơ đã thực hiện phi vụ thứ 407 trong chiến tranh.

        Sau khi trở về Mỹ, Lót-trơ đã tham dự khóa đào tạo phi công và được giao lái F-4 với vị trí phi công chính. Lót-trơ bay F-4 ở Niu Mê-hi-cô, Mê-hi-cô, A-lát-xca và Phờ-lo-ri-đa trước khi chuyển sang bay huấn luyện trên loại máy bay F-16, giữ chức vụ hướng dẫn và chỉ huy bay. Sau đó, Lót-trơ đóng một vai trò quan trọng trong những ngày đầu của "Chương trình đen" siêu bí mật sản xuất ra các máy bay chiên đấu tàng hình Lockheed F-117 Nighthawk.

        Râu-gơ Lót-trơ nghỉ hưu năm 2010 ở Sabetha, Kan-dát.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2017, 04:54:40 PM

        Biên đội bốn chiếc của Hoàng Cao Bổng, Phạm Cao Hà, Nguyễn Văn Cương, Lê Văn Tưởng thì quần nhau với tốp F-4 của Không quân Mỹ đang làm nhiệm vụ yểm hộ tốp cường kích ném bom la-de (mật danh là Cleveland). Số 4 Lê Văn Tưởng đã cắt một đường bay siêu gọn, bám ngay sau chiếc F-4 do Đại úy Giép-phờ-rây Lin-đơn Ha-rít (Jeffrey Lyndon Harris) và Đại úy Đen-nít Et-uôt Uyn-kin-xơn (Dennis Edward Wilkinson) điều khiển, nện hai loạt đạn trúng cánh bên phải của chiếc F-4E này, bắt nó cắm đầu xuống phía tây nam sân bay Yên Bái.

        Cả hai phi công bay trên chiếc F-4 này không nhảy dù được và đã chết trận.

        Giép-phờ-rây Lin-đơn Ha-rít sinh ngày 28 tháng 5 năm 1943 và tử trận ngày 10 tháng 5 năm 1972.

        Đen-nít Ét-uốt Uyn-kin-xơn sinh ngày 23 tháng 7 năm 1944, tử trận ngày 10 tháng 5 năm 1972.

        Lúc 9 giờ 39 phút, biên đội hai chiếc MiG-21 của Nguyễn Công Huy và Cao Sơn Khảo thuộc Trung đoàn Không quản tiêm kích 921 trực ban chiến đấu trên sân bay Đa Phúc nhận lệnh xuất kích chiến đâu, bay về khu vực Tuyên Quang làm nhiệm vụ nghi binh và yểm trợ cho lực lượng MiG-19 đang làm nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu ở Yên Bái, Tuyên Quang, đã gặp địch và trận không chiến không cân sức đã xảy ra.

        Trong trận không chiến này, chiếc F-4 do Trung úy Giôn-Mác-cơ (John D. Markle) và Đại úy Xti-vơn Íp-vơ (Steven D. Eaves) thuộc Phi đội 555, Không đoàn 432 TFW điều khiển đã bắn trúng máy bay của Cao Sơn Khảo.

        Tôi hoàn toàn không có thông tin về hai phi công này.

        12 giờ 55 phút, biên đội bốn chiếc tiêm kích MiG-17 của Nguyễn Văn Thọ, Tạ Đông Trung, Đỗ Hạng, Trà Văn Kiếm thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 xuất kích từ sân bay Kép vòng về phía Hải Dương thi gặp lực lượng lớn máy bay của Hải quân Mỹ gồm A-7 và F-4.

        Trong trận không chiến, sau khi phi công Đỗ Hạng bị bắn rơi, bị bắn rách dù và hy sinh thì phi công Trà Văn Kiếm cũng quần nhau tơi bời với F-4 do Đại úy Ran-đờ Cơn-ninh-ham (Randal H Cunningham) và Trung úy Uy-li-am Đơ-rítx-côn (William p. Drisscoll) thuộc Phi đội VF-96, tàu sân bay Uss Constellation điều khiển.

        Máy bay của Trà Văn Kiếm bị trúng tên lửa A1M-9G, bị thương nhẹ, nhưng do thất tốc, lao xuống đất và Thiếu úy Trà Văn Kiếm đã hy sinh.

        Đại úy Cơn-ninh-ham thì cứ lầm tưởng Trà Văn Kiếm là phi công huyền thoại Nguyễn Tom1 vi các động tác trong không chiến của Trà Văn Kiếm rất điêu luyện. Trên đường trở về tàu sân bay Cơn-ninh-ham đã bị tên lửa Phòng không SAM bắn rơi, cả hai phi công trên chiếc F-4 đều nhảy dù và được cứu thoát.

        Đại úy Cơn-ninh-ham (có biệt danh là Randy "Duke" Cunningham) sinh ngày 8 tháng 12 năm 1941 tại Lốt Ăng-giơ-lét, bang Ca-li-phoóc-ni-a.

        Sau khi nhận bằng cử nhân vào năm 1964 và thạc sĩ trong ngành giáo dục năm 1965 của trường Đại học Missouri, bang Missouri, Cơn-ninh-ham bắt đầu sự nghiệp của mình như là một nhà giáo dục và một huấn luyện viên tại Trung học Hinsdale. Là một huấn luyện viên bơi lội, Cơn-ninh-ham đã từng đào tạo được hai vận động viên đoạt Huy chương Vàng và Bạc Olympic.

        Cơn-ninh-ham đã tốt nghiệp khóa huấn luyện nâng cao TOP GUN trước khi được điều đến Phi đội VF-96, tàu sân bay Uss Constellation, Hải quân Mỹ. "Duke" Cơn-ninh-ham đã trở thành một trong những phi công Hải quân Mỹ được vinh danh trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

        Trong chiến tranh, Cơn-ninh-ham xuất kích 300 phi vụ, được ghi nhận bắn rơi năm chiếc MiG (bốn chiếc MiG-17 và một chiếc MiG-21), vì vậy, Cơn-ninh-ham cùng với phi công Đò-rítx-côn trở thành cặp phi công Aces (át chủ bài) đầu tiên và duy nhất của Hải quân Mỹ.

        Cơn-ninh-ham đã nhận được Huy chương cao quý của Hải quân Mỹ là Navy Cross, hai Huân chương Danh dự, 15 Huy chương Không quân và Huy chương Dũng cảm.

        Sau chiến tranh Việt Nam, "Duke" Cơn-ninh-ham quay lại làm giáo viên tại Trung tâm huấn luyện phi công TOP GUN, sau đó là với VF-154. Sau đợt nhiệm vụ tại Lầu Năm Góc, Cơn-ninh-ham lại trở về VF-154. Năm 1987, Cơn-ninh-ham được bổ nhiệm làm Tư lệnh một Không đoàn.

---------------------
        1. Nỗi ám ảnh về các phi công xuất sắc của Không quân Việt Nam khiến phi công Mỹ đồn tai nhau về một phi công “át" có tên là Đại tá Toon (có người gọi là Tom) và gán cho cái họ rất phổ biến ở Việt Nam là họ Nguyễn. Trên thực tế, Đại tả Nguyễn Tom chỉ là một nhân vật tưởng tượng.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2017, 05:20:31 PM

        Trong những năm 1990, Cơn-ninh-ham còn nổi tiếng là một bình luận viên truyền hình trên kênh lịch sử với chương trình "Các trận không chiến nổi tiếng nhất". Thậm chí, trong chiến tranh Vùng Vịnh, Cơn-ninh-ham còn tham gia bình luận trực tiếp trên máy bay của Hải quân Mỹ tham chiến. Sự nghiệp chính trị của Cơn-ninh-ham bắt đầu với việc giành được ghế nghị sĩ của Đảng Cộng hòa quận 44, một trong bốn quận của thành phố Xan Đi-ê-gô vào năm 1990, nhưng rồi vào những năm sau đó không được thuận lợi. Sau khi nghỉ hưu năm 1987 với quân hàm trung tá, Cơn-ninh-ham đã trở thành Hiệu trưởng Trường Quốc gia Hàng không và bắt đầu tiếp thị công ty Hàng không của riêng mình - Doanh nghiệp TOP GUN.

        Phi công ngồi buồng sau trên máy bay của Cơn- ninh-ham là Trung úy nhất Uy-li-am Đò-rítx-côn sinh ngày 5 tháng 3 năm 1947, đã tốt nghiệp ngành kinh tế của Trường Đại học Stonehill, North Easton, Ma-sa-chu-sét năm 1966 và lấy bằng thạc sĩ quản trị tại Đại học Nam Ca-li-phoóc-ni-a. Đờ-rítx-côn gia nhập lực lượng Hải quân Mỹ năm 1968 và trở thành phi công dẫn đường (RIO) trên máy bay F-4. Trong ngày 10-5-1972, sau trận không chiến với MiG-17 của Không quân Việt Nam, khi quay trở về căn cứ của mình, máy bay của Cơn-ninh-ham và Đờ-rítx-côn đã bị bắn rơi trên biển. Cơn-ninh-ham và Đờ-rítx-côn nhảy dù và được cứu thoát. Cùng vói Cơn-ninh-ham, Đờ-rítx-côn đã được công nhận là hai phi công Aces (át chủ bài) duy nhất của Hải quân Mỹ. Uy-li-am Đờ-rítx-côn đã được tặng thưởng Huy chương của Hải quân Mỹ Navy Cross. Sau chiến tranh, Uy-li-am Đờ-rítx-côn trở thành giáo viên bay tại Trường Naval Fighter Weapons, đào tạo phi công chiến đấu của Hải quân (TOP GUN), rồi trở thành giáo viên bay trên F-14 Tomcat của Phi đoàn 124 (VF-124), Phi đoàn thay thế của Hạm đội F-14 cho Hạm đội Thái Bình Dương tại NAS Miramar (hay là MCAS Miramar), ở Xan Đi-ê-gô. Uy-li-am Đờ-rítx-côn về hưu năm 1982 với quân hàm Trung tá, nhưng vẫn trong lực lượng trù bị Hải quân Hoa Kỳ, bay F-4 Phantom II và sau đó là F-14 Tomcat trong Phi đoàn máy bay chiến đấu của trù bị Hải quân tại NAS Miramar. Đờ-rítx-côn hiện đang làm việc trong lĩnh vực bất động sản tại Xan Đi-ê-gô mặc dù vẫn tiếp tục phục vụ trong vai trò một nhà tư vấn về các vấn đề Hàng không quân sự.

        Lúc 12 giờ 57 phút ngày 10 tháng 5 năm 1972, biên đội hai chiếc MiG-21 của Lê Thanh Đạo và Vủ Văn Hợp thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 từ sân bay Kép xuất kích chiến đấu bay về khu vực cầu Lai Vu đã phát hiện được tốp F-4 và hai bên cùng lao vào cuộc không chiến. Trong trận không chiến này, cả Lê Thanh Đạo và Vũ Văn Hợp đều bắn rơi máy bay địch.

        Chiếc F-4 bị Lê Thanh Đạo bắn rơi do Trung tá Ha-ri Li Bơ-lách-bơn (Harry Lee Blackburn) và Trung úy Xtê-phơn An-tô-ni Rút-lóp (Stephen Anthony Rudllof) thuộc Phi đoàn VF-92, tàu sân bay Uss Constellation điều khiển.

        Cả hai phi công này đều nhầy dù và đều bị bắt làm tù binh.

        Trung tá Ha-ri Li Bơ-lách-bơn sinh ngày 28 tháng 12 năm 1935 tại Highland Springs, tiểu bang Vơ-gi-ni-a. Ngày 10 tháng 5 năm 1972, Ha-ri Li Bơ-lách-bơn cùng với phi công dẫn đường X-tê-phơn An-tô-ni Rút-lóp bay trên chiếc F-4J làm nhiệm vụ chế áp pháo Phòng không trên không phận gần Hải Dương thì bị MiG-21 bắn rơi.

        Xtê-phơn An-tô-ni Rút-lóp là Trung úy Hải quân Hoa Kỳ, quê quán tại Brúc-lin, tiểu bang Niu Yoóc, gia nhập lực lượng Hải quân Hoa Kỳ vào tháng 9 năm 1964. Xtê-phơn An-tô-ni Rút-lóp là phi công dẫn đường cho máy bay F-4J, ngồi buồng sau, bay cùng Ha-ri Li Bơ-lách-bơn vào không phận miền Bắc Việt Nam, bị MiG-21 bắn rơi. Xtê-phơn An-tô-ni Rút-lóp nghỉ hưu vào tháng 11 năm 1984 với cấp bậc trung tá và hiện sống ở Niu Yoóc.

        So sánh về số lần xuất kích của cả hai bên trong ngày 10 tháng 5 năm 1972 có thể thấy: phía Không quân và Hải quân Mỹ có 414 lần chiếc xuất kích, còn phía Không quân Việt Nam thì có 64 lần chiếc xuất kích. Phía Mỹ có hàng trăm phi công của Không quân và Hải quân tham gia. Phía Không quân Việt Nam có 40 phi công của bốn Trung đoàn Không quân tham gia, nhưng lực lượng trực tiếp tham chiến trong các trận không chiến chỉ có 18 phi công. Với sự chênh lệch quá lớn như vậy mà số lượng máy bay bắn hạ của hai bên được coi là như nhau, điều đó đã chứng minh được sự lớn mạnh của Không quân Việt Nam và đặc biệt trong các trận không chiến đã có sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các loại MiG cùng với hỏa lực của lực lượng Phòng không. Đây là ngày có tần suất cất cánh cao nhất của các lực lượng MiG. Nó chứng tỏ sự điều hành, chỉ huy từ các sở chỉ huy rất nhịp nhàng và hiệu quả. Nếu không có sự điều hành, chỉ huy, dẫn dắt từ các Sở chỉ huy với tài năng của những người chỉ huy và dẫn đường cùng tất cả các thành phần khác thì khó có được những chiến công như vậy. Với Không quân, đúng là chỉ có "đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể", mới có thể giành thắng lợi.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2017, 10:59:58 AM

        Nếu không có các đồng chí thợ máy, kỹ thuật chuẩn bị cho máy bay luôn ở trạng thái tốt, sẵn sàng cất cánh chiến đấu, nếu không có các thành phần tham gia thuộc ngành hậu cần đảm bảo các cơ sở vật chất chăm sóc sức khỏe như các bác sĩ, anh chị em nuôi quân, sân đường..., nếu không có các sĩ quan quân báo, tác chiến, dẫn đường, thông tin, báo vụ, tiêu đồ xa, tiêu đồ gần... căng mình suốt đêm ngày hoàn thành tốt nhất công việc của mình thì chúng tôi - những người phi công chiến đấu chắc không thể cất cánh lên trời và lại càng không thể làm nên chiến thắng được.

        Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các đồng chí trong Trung đoàn, Quân chủng đã góp sức cho chúng tôi vượt qua được mọi gian nguy trong chiến trận và trở về với tư cách người chiến thắng.

        Xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các phi công đã vĩnh viễn từ giã bầu tròi, đã xếp lại "những đôi cánh của mình" trong các trận không chiến, hy sinh vẻ vang vì sự nghiệp chung, vì sự bình yên của bầu tròi và mặt đất thân yêu. Chúng tôi luôn nhắc và luôn nhớ tới các anh, luôn thấy các anh bay trong đội hình để giữ đất giữ trời, giữ biển đảo của Tổ quốc Việt Nam.

        Các anh là Bất Tử!...

        Những chỉ huy, những phi công tham gia trong ngày 10 tháng 5 năm 1972 ấy sau này đã có nhiều người được phong tặng, truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Rất nhiều người cũng đã từng giữ những vị trí trọng trách trong Quân chủng, trong Quân đội nhân dân Việt Nam và trong các cơ quan dân sự.

        Xin được cung cấp một số thông tin về những người chỉ huy, dẫn đường và một số phi công từng tham gia trong ngày 10 tháng 5 năm 1972 ấy.

        Tư lệnh Đào Đình Luyện sinh ngày 5 tháng 11 năm 1929 tại Quỳnh Hội, Quỳnh Phụ, Thái Bình, nhập ngũ tháng 8 năm 1945. Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã tham gia các chiến dịch lớn như Việt Bắc, Điện Biên Phủ. Tháng 2 năm 1956, ông được cử làm Đoàn trưởng Đoàn học viên bay tại Trung Quốc. Tháng 2 năm 1964, khi thành lập Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 với biệt danh là "Trung đoàn Sao Đỏ", ông được bổ nhiệm chức vụ Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn. Với cương vị Trung đoàn trưởng, ông đã tổ chức và dẫn đầu đội hình Trung đoàn 921 chuyển sân từ sân bay Mông Tự, Trung Quốc về hạ cánh tại Nội Bài ngày 6 tháng 8 năm 1964 và ngay sau đó đã tổ chức cho Trung đoàn hoàn thành công tác chuẩn bị chiến đấu, đánh thắng các trận không chiến đầu tiên với Không quân và Hải quân Mỹ, mở "mặt trận trên không" thắng lợi. Trong những năm chiến tranh, ông giữ nhiều cương vị chủ chốt của bộ đội Không quân. Tháng 4 năm 1966, ông được bổ nhiệm là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Không quân, thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân. Đến tháng 5 năm 1967 là Phó Tư lệnh, tháng 10 năm 1969 là Tư lệnh Binh chủng Không quân thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân .

        Tháng 5 năm 1977, khi Quân chủng Phòng không - Không quân tách thành hai quân chủng, ông được bổ nhiệm là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng Không quân. Tháng 8 năm 1982, ông sang học tại Học viện Bộ Tổng tham mưu Hồng quân Liên Xô mang tên Nguyên soái Cờ-li-ment Vô-rô-si-lôp (Kliment Voroshilov). Tháng 3 năm 1986 là Phó Tổng Tham mưu trưởng. Tháng 4 năm 1989 là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông nghỉ hưu năm 1996 với quân hàm thượng tướng và là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Ông từ trần năm 1999. Ngày 1 tháng 12 năm 2014, ông được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Phó Tư lệnh Trần Mạnh sinh ngày 1 tháng 5 năm 1928 tại xã Vĩnh Lai, An Nhơn, Bình Định, nhập ngũ tháng 12 năm 1946. Trong kháng chiến chống Pháp, ông từng là Chính trị viên Tiểu đoàn 308 lừng danh (như Tiểu đoàn 307) rồi trở thành Chính ủy Trung đoàn Bộ binh thuộc Sư đoàn 330. Năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc và được chọn đi học lái máy bay MiG-17 tại Trung Quốc. Khi thành lập Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, ông được bổ nhiệm là Trung đoàn phó. Tháng 6 năm 1966, ông được bổ nhiệm Trung đoàn trưởng thay cho Đào Đình Luyện. Năm 1969, ông được bổ nhiệm là Phó Tư lệnh Binh chủng Không quân. Năm 1974 là Tham mưu phó Quân chủng Phòng không - Không quân. Năm 1976 là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam. Năm 1977 là Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân.

        Trên cương vị chỉ huy các cấp của Không quân, ông thể hiện là vị chỉ huy Không quân tài năng. Bên cạnh công tác chỉ huy chiến đấu thắng lợi, ông còn có nhiều đóng góp trong xây dựng lực lượng, tổng kết về lí luận. Nhiều phi công ưu tú đã đánh giá cao sự đóng góp của ông trong công tác tổng kết, hình thành chiến thuật, cách đánh của MiG-21 trong điều kiện của Việt Nam. Năm 1981, ông được bổ nhiệm là Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam, là một trong những người đặt viên gạch đầu tiên hình thành Hàng không Quốc gia Việt Nam. (Chi tiết về cuộc đời ông đã được tác giả Nguyễn Công Huy viết trong cuốn "Người tìm chìa khóa vàng", Nhà xuất bản Văn học, 2015). Ông về hưu năm 1990 với quân hàm Thiếu tướng. Ông mất năm 1992.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2017, 11:00:19 AM

        Phó Tư lệnh Trần Hanh sinh ngày 28 tháng 11 năm 1932 tại Lộc Vượng, Mỹ Lộc, Nam Định, nhập ngũ tháng 9 năm 1949, là học viên đoàn bay đầu tiên của Không quân Việt Nam tại Trung Quốc. Ông trực chiến lần đầu vào ngày 6 tháng 8 năm 1965, ngay sau khi Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 chuyển máy bay về nước. Trong chiến tranh, ông xuất kích chiến đấu trên cả hai loại máy bay MiG-17 và MiG-21, bắn rơi chiếc F-105D Thần Sấm đầu tiên trong chiến tranh trên không ở miền Bắc Việt Nam, ngay trong trận đầu gặp địch. Ông là phi công đầu tiên trên thế giới đã dùng MiG-17 bắn rơi máy bay F-105. Năm 1966, ông và một số phi công MiG-17 khác đã chuyển loại sang bay MiG-21.

        Trong và sau chiến tranh, ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Quân chủng Phòng không - Không quân và Bộ Quốc phòng, như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 năm 1969, Phó Tư lệnh Không quân Việt Nam tháng 3 năm 1972, Tư lênh Quân chủng Không quân năm 1986, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1989, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng năm 1996. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, ông được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1984 ông được phong quân hàm Thiếu tướng và năm 1989 được phong quân hàm Trung tướng. Ông từng là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam và hiện nay là Trưởng ban liên lạc Cựu chiến binh Không quân. Ông về hưu với quân hàm Trung tướng và hiện sống tại Hà Nội.

        Trung đoàn trưởng Nguyễn Ngọc Độ sinh ngày 1 tháng 11 năm 1934 tại Thanh Bình, Thanh Chương, Nghệ An, nhập ngũ tháng 6 năm 1953 và được cử đi học lái MiG-17 thuộc đoàn học bay số 1 tại trường Không quân số 3 ở Liêu Ninh Trung Quốc. Ông về nước tháng 8 năm 1964 và trực chiến lần đầu vào ngày 30 tháng 5 năm 1965. Ông từng xuất kích chiến đấu nhiều lần trên MiG-17. Năm 1966, ông chuyển loại lên bay MiG-21.

        Trong chiến tranh, ông đã xuất kích 66 lần, tham gia sáu trận không chiến, bắn tám quả tên lửa, hạ sáu máy bay Mỹ (hai chiếc F-105, ba chiếc F-4, một chiếc RF-101), ngoài ra còn chỉ huy biên đội bắn rơi ba chiếc khác, ông lần lượt giữ nhiều cương vị lãnh đạo của Không quân Việt Nam như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371 và 372, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, Chủ nhiệm Khoa Không quân, Học viện Quân sự cấp cao Bộ Quốc phòng. Ngày 25 tháng 8 năm 1970, ông được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tháng 12 năm 1985, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Ông về hưu năm 2000 và hiện sống tại Hà Nội.

        Trung đoàn phó Lâm Văn Lích sinh năm 1932 tại Định Thành, Gia Rai, Bạc Liêu, nhập ngũ tháng 9 năm 1950 tại Đại đội 554, địa phương quân tỉnh Bạc Liêu. Sau khi tập kết ra Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1955, ông được chọn đi học lái máy bay chiến đấu tại trường Không quân số 3 ở tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc. Ngày 6 tháng 8 năm 1964, ông đã bay trong biên đội của Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện, chuyển sân từ Mông Tự về hạ cánh tại sân bay Đa Phúc. Ồng được bổ nhiệm là Chủ nhiệm xạ kích đầu tiên của Trung đoàn Không quân tiêm kích 921.

        Trong chiến tranh, ông đã xuất kích nhiều lần, bắn rơi ba máy bay Mỹ (một chiếc F-4, hai chiếc AD-6). Sau chiến tranh, ông tiếp tục phục vụ trong Quân chủng Phòng không - Không quân và giữ nhiều trọng trách quan trọng, như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 923, Phó Tư lệnh Sư đoàn, Hiệu trưởng trường Không quân 910, Hiệu phó trường Trung Cao Không quân. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, ông được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sau này, ông chuyển về thành phố Hồ Chí Minh công tác với cương vị Tổng Giám đốc Tổng công ty xe đạp, xe máy thành phố. Ông nghỉ hưu năm 1994 với quân hàm Đại tá tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất năm 2014.

        Trung đoàn phó Hồ Văn Quỳ sinh năm 1935 tại Bình Hải, Thăng Bình, Quảng Nam, nhập ngũ tháng 3 năm 1954. Sau khi nhập ngũ, ông được chọn đi học lái máy bay MiG-17 thuộc đoàn bay đầu tiên tại Trung Quốc. Trong chiến tranh, ông đã xuất kích chiến đấu 120 lần, có 40 trận gặp địch, nổ súng 12 lần và bắn rơi ba máy bay Mỹ (hai chiếc F-1, một chiếc F-105). Trận đầu ông lập công, bắn rơi máy bay Mỹ là vào ngày 4 tháng 6 năm 1965. Năm 1969, ông chuyển loại sang bay MiG-19. Ông đã được bổ nhiệm chức vụ Phó Trung đoàn trưởng, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 925.

        Sau chiến tranh, ông đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng trong Quân chủng Không quân, như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 925, Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370. Năm 1990, ông chuyển sang công tác tại Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam, là Tổng Giám đốc Cụm cảng Hàng không miền Trung. Ông về nghỉ hưu năm 2000 với quân hàm Đại tá. Ngày 10 tháng 8 năm 2015, ông được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hiện ông sống tại thành phố Đà Nẵng.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2017, 03:17:48 PM

        Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Nhị sinh ngày 22 tháng 12 năm 1936 tại Hoài Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định, nhập ngũ tháng 5 năm 1952. Sau khi tập kết ra Bắc, ông được chọn gửi đi học lái MiG-21 đoàn bay đầu tiên ở Liên Xô từ năm 1961 đến năm 1965. Tốt nghiệp về nước, ông đã tham gia trực ban chiến đấu từ ngày 25 tháng 1 năm 1966 và cất cánh đánh thắng trận đầu bằng MiG-21 vào ngày 4 tháng 3 năm 1966, bắn rơi chiếc máy bay trinh sát không người lái đầu tiên khi nó bay ở độ cao 18.000 mét. Trong chiến tranh, ông xuất kích chiến đấu hơn 100 lần, bắn rơi tám máy bay Mỹ (ba chiếc F-4, ba chiếc F-105, một chiếc F-8 và một máy bay trinh sát không người lái). Ngày 18 tháng 6 năm 1969, ông được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Trong và sau chiến tranh, ông đã trải qua nhiều cương vị chỉ huy quan trọng trong Quân chủng Phòng không - Không quân, như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 927, Phó Tư lệnh Sư đoàn Không quân 371, Tư lệnh các Sư đoàn Không quân 372, 370, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam, Chủ tịch, Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Ở cương vị nào, ông đều thể hiện là người cán bộ chỉ huy, quản lí quyết đoán, có tầm nhìn chiến lược. (Chi tiết về cuộc đời ông đã được tác giả Nguyễn Công Huy viết trong cuốn "Thanh kiếm bầu trời", Nxb Lao động, 2012). Ông nghỉ hưu năm 1998 với quân hàm Thiếu tướng và hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh.

        Sĩ quan dẫn đường Lê Thành Chơn sinh tháng 3 năm 1937 tại Tân Mỹ, Chợ Mới, An Giang, nhập ngũ năm 1952. Năm 1959, ông được chọn đi học lái máy bay tại trường Không quân Việt Nam. Từ năm 1960, ông học ngành dẫn đường - tiêu đồ gần (đánh dấu đường bay trên bàn tiêu đồ dẫn đường trong Sở chỉ huy) tại trường Hàng không Nam Uyển, Bắc Kinh, Trung Quốc và thực tập công tác dẫn đường tại Sư đoàn Không quân số 5 - sân bay Hàng Châu, Triết Giang, Trung Quốc. Ông là sĩ quan tiêu đồ đầu tiên và duy nhất của Không quân nhân dân Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài. Do hoàn thành tốt nhiệm vụ, ông được chọn sang học dẫn đường tại sở chỉ huy. Ông tham gia dẫn trận đầu tiên vào ngày 6 tháng 11 năm 1965 cho biên đội MiG-17 của Trần Hanh, Ngô Đoàn Nhung, Phạm Ngọc Lan, Trần Minh Phương bắn rơi một chiếc CH-47.

        Trong thời gian chiến tranh, ông cùng kíp trực tham gia dẫn khoảng 80 trận, tạo điều kiện cho các phi công MiG bắn rơi 60 máy bay các loại của Mỹ. Ông là một trong những sĩ quan dẫn đường giỏi, góp phần rất quan trọng trong các trận đánh thắng của Không quân nhân dân Việt Nam. Năm 1967, ông là Trưởng ban dẫn đường Sư đoàn Không quân 372. Năm 1983, ông chuyển ngành về Ban Tổ chức Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2007, ông về nghỉ hưu với quân hàm Thượng tá và hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về Không quân và không chiến, như các tập ký: "Anh hùng trên chín tầng mây", "Đọ cánh với pháo đài bay B-52", "Hoàng tử của bầu trời", "Người anh hùng chưa được tuyên dương", "Bầu trời ước vọng", "Tầm cao"... và những tiểu thuyết: "Khối mây hình lưỡi búa", "Đối mặt", "Huyền thoại đất phương Nam", "Canh năm", "Xuyên mây"... và một số sách, kịch bản phim truyện, phim tài liệu khác.

        Sĩ quan dẫn đường Tạ Quốc Hưng sinh năm 1940 tại ứng Hòa, Hà Tây (nay là Hà Nội), nhập ngũ tháng 7 năm 1963, được chọn đi học lớp chỉ huy, tham mưu - dẫn đường tại trường Hàng không cao cấp số 1 ở Nam Uyển, Bắc Kinh, Trung Quốc từ năm 1964 đến năm 1966. Sau khi tốt nghiệp, ông được điều về làm sĩ quan dẫn đường tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 từ năm 1966 cho đến hết chiến tranh. Từ cuối năm 1967, ông thường xuyên đi cơ động, trực ban dẫn đường tại các Sở chỉ huy X-3 Quảng Bình, B-l Thọ Xuân, B-2 Vinh, B-3 Sở chỉ huy tiền phương ở Đô Lương, Nghệ An, B-8 Sở chỉ huy tiền phương ở Lệ Thủy, Quảng Bình...

        Trong thời gian trực ban dẫn đường tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, ông tham gia dẫn độc lập trên 40 trận, góp phần giúp các phi công trong các trận không chiến bắn rơi hơn 30 máy bay Mỹ. Sau chiến tranh, ông về công tác tại Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân. Năm 2001, ông về hưu với quân hàm Đại tá và hiện ông sống tại Hà Nội.

        Sĩ quan dẫn đường Đỗ Cát Lâm sinh năm 1943 tại Phước Quang, Tuy Phước, Bình Định, nhập ngũ năm 1961 tại trường Không quân Việt Nam. Năm 1963, ông được chọn đi học ngành dẫn đường Sở chỉ huy tại trường Hàng không Nam Uyển, Bắc Kinh, Trung Quốc. Sau khi về nước, ông dẫn trận không chiến đầu tiên là ngày 29 tháng 9 năm 1966 cho phi công Nguyễn Văn Biên bắn rơi chiếc máy bay trinh sát không người lái. Trong chiến tranh Việt Nam, Đỗ Cát Lâm tham gia dẫn khoảng 30 trận không chiến, tạo điều kiện cho các phi công bắn rơi 27 máy bay các loại của Mỹ.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2017, 03:18:21 PM

        Kết thúc chiến tranh, ông được cử đi học Khoa dẫn đường của Học viện Chỉ huy - Tham mưu mang tên nhà du hành vũ trụ Gagarin, Liên Xô, tốt nghiệp năm 1978. Năm 1981, ông được bổ nhiệm là Phó Tham mưu trưởng - Trưởng ban dẫn đường Sư đoàn Không quân 370 rồi sau đó là Sư đoàn Không quân 372. Năm 1990, ông chuyên ngành sang Hàng không dân dụng, được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Quản lí bay miền Trung. Ông nghỉ hưu năm 2004 với quân hàm Trung tá và hiện sống tại thành phố Đà Nẵng.

        Sĩ quan dẫn đường Lê Thiết Hùng sinh tháng 12 năm 1938 tại Đại Thành, Phụng Hiệp, Hậu Giang, nhập ngũ tại tỉnh đội Sóc Trăng. Sau khi tập kết ra Bắc, ông được chọn đi học lái máy bay tại trường Không quân Việt Nam. Năm 1960, ông chuyển sang học dẫn đường Sở chỉ huy ở Bạch Mai và "Công trường 300" Mỏ Chén, Sơn Tây. Sau khi tốt nghiệp, được biên chế về Tiểu ban dẫn đường Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 và được giao dẫn trên hiện sóng của sở chỉ huy Trung đoàn. Trận đầu tiên ông tham gia dẫn chiến đấu là vào đêm 3 tháng 2 năm 1966, tạo điều kiện cho phi công Lâm Văn Lích bắn rơi hai chiếc AD-6 trên vùng trời Tân Lạc - Suối Rút.

        Trong chiến tranh, ông tham gia dẫn khoảng 110 trận không chiến, tạo điều kiện cho các phi công MiG bắn rơi 91 máy bay các loại của Mỹ. Ông liên tục trực tại đài ra-đa dẫn đường trên hiện sóng, cho dù nơi ấy có nhiều nguy cơ bị tên lửa Shrike bắn trúng. Sau chiến tranh, ông là Trưởng ban dẫn đường Sư đoàn Không quân 372. Năm 1977, ông là Tham mưu trưởng Trung đoàn Không quân 917, sau đó là Trung đoàn 918. Năm 1988, ông chuyển sang công tác tại Chi cục Di dân và phát triển vùng kinh tế mới thuộc sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1999, ông về hưu với quân hàm Trung tá và hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh.

        Sĩ quan dẫn đường Vũ Đức Bình sinh năm 1936 tại Thái Bình, nhập ngũ tháng 4 năm 1955. Sau khi nhập ngũ, Vũ Đức Bình được cử đi học bay tại Trường bay Cát Bi. Năm 1965, Vũ Đức Bình được tuyển chọn đi học ngành dẫn đường sau đó thuộc biên chế của Ban dẫn đường Binh chủng Không quân. Ông từng dẫn đường cho lực lượng máy bay An-2 đánh tàu biệt kích của Mỹ. Sĩ quan dẫn đường Vũ Đức Bình được điều về công tác tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 927. Ngày 10 tháng 5 năm 1972, Vũ Đức Bình được phân công dẫn lực lượng MiG-21 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 trực chiến tại sân bay Đa Phúc.

        Sau chiến tranh, sĩ quan dẫn đường Vũ Đức Bình từng đảm nhận chức vụ Tham mưu phó Trung đoàn, rồi Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 935. Năm 1984, sĩ quan dẫn đường Vũ Đức Bình về nghỉ hưu với quân hàm Trung tá và hiện sống tại Biên Hòa, Đồng Nai.

        Sĩ quan dẫn đường Lưu Văn Cộng sinh ngày 1 tháng 9 năm 1941 tại Tự Khoát, Vũ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội, nhập ngũ tháng 4 năm 1959. Sau khi nhập ngũ, Lưu Văn Cộng được biên chế vào lực lượng pháo cao xạ, thuộc Trung đoàn 250, Sư đoàn Phòng không 367 trong vòng gần một năm rồi được đi học lớp hạ sĩ quan. Học xong, Lưu Văn Cộng được điều về Trung đoàn Phòng không 240 với nhiệm vụ bảo vệ nhà máy dầu Thượng Lý và nhà máy xi măng Hải Phòng. Năm 1960 và 1961 Lưu Văn Cộng được cử đi học ở Trường văn hóa ở Ô Cách và Trường văn hóa quân đội, tới năm 1964 thì được cử đi học ngành dẫn đường tại Trung Quốc.

        Tốt nghiệp về nước năm 1966, sĩ quan dẫn đường Lưu Văn Cộng được điều về Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân. Năm 1969, Lưu Văn Cộng từng trực ở sở chỉ huy X-3, Quảng Bình để dẫn đánh trong chiến trường khu Bốn. Năm 1971, sĩ quan dẫn đường Lưu Văn Cộng được điều về Trung đoàn Không quân tiêm kích 925. Ngày 10 tháng 5 năm 1972, sĩ quan dẫn đường Lưu Văn Cộng cùng với sĩ quan dẫn đường Triệu Sĩ Việt đã dẫn các biên đội MiG-19 lên không chiến tại đỉnh sân bay Yên Bái. Sau chiến tranh, Lưu Văn Cộng từng đảm nhận chức Phó phòng dẫn đường của Quân chủng Phòng không - Không quân. Ông về nghỉ hưu năm 1989 với quân hàm Trung tá và hiện sống tại Hà Nội.

        Phi công tiêm kích MiG-21 Đặng Ngọc Ngự sinh ngày 1 tháng 11 năm 1939 tại Xuân Thủy, Xuân Trường, Nam Định, nhập ngũ ngày 23 tháng 3 năm 1959. Ông được chọn gửi đi học lái máy bay thuộc đoàn bay MiG-21 khóa 1 tại Liên Xô từ năm 1961 đến năm 1966. Sau khi về nước, ông trở thành phi công chiến đấu MiG-21 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 921. Ngày đầu tiên ông tham gia trực ban chiến đấu là ngày 1 tháng 7 năm 1966.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2017, 03:54:26 PM

        Trong chiến tranh, ông đã xuất kích chiến đấu hơn 100 lần, tham gia chiến đấu 14 trận, chín lần nổ súng, bắn rơi bảy máy bay Mỹ (ba chiếc F-4, một chiếc F-105, ba máy bay trinh sát không người lái). Trong trận không chiến ngày 8 tháng 7 năm 1972, khi đã là Đại đội trưởng Đại đội 7 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, ông dẫn đầu biên đội hai chiếc MiG-21 chiến đấu với tốp đông máy bay F-4 và đã anh dũng hy sinh trên vùng trời Hòa Bình. Ông được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Đà Bắc, Hòa Bình sau đó được chuyển về nghĩa trang liệt sĩ Trần Hưng Đạo huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Ngày 11 tháng 1 năm 1973, Đại úy phi công tiêm kích MiG-21 Đặng Ngọc Ngự được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tháng 12 năm 2009, đồng đội và gia đình đã đưa di hài của ông về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ quê nhà.

        Phi công tiêm kích MiG-21 Nguyễn Văn Ngãi sinh ngày 14 tháng 1 năm 1947 tại Phú Mỹ, Ngọc Mỹ, Quốc Oai, Hà Tây (nay là Hà Nội), nhập ngũ tháng 12 năm 1966. Từ năm 1966 đến năm 1967, Nguyễn Văn Ngãi là chiến sĩ dự khóa bay và từ năm 1967 đến năm 1970, được cử đi học bay ở Liên Xô. Sau khi tốt nghiệp về nước, Nguyễn Văn Ngãi là phi công tiêm kích chiến đấu MiG-21 thuộc Đại đội 7, Trung đoàn Không quân tiêm kích 921. Ngày 10 tháng 5 năm 1972, phi công Nguyễn Văn Ngãi đã anh dũng hy sinh trong chuyến bay xuất kích chiến đấu ở sân bay Kép. Thiếu úy phi công tiêm kích MiG-21 Nguyễn Văn Ngãi được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Năm 2009, gia đình và đồng đội đã chuyến di hài của phi công Nguyễn Văn Ngãi về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Quốc Oai.

        Phi công tiêm kích MiG-21 Nguyễn Công Huy sinh ngày 18 tháng 5 năm 1947 tại Thắng Lợi, Thường Tín, Hà Tây (nay là Hà Nội), nhập ngũ tháng 7 năm 1965, được chọn đi học lái máy bay tiêm kích MiG-21 tại Liên Xô, thuộc khóa 3 từ năm 1965 đến năm 1968. Sau khi tốt nghiệp, Nguyễn Công Huy được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 921. Trong chiến tranh, phi công Nguyễn Công Huy đã xuất kích nhiều lần, tham gia nhiều trận không chiến. Ngày 26 tháng 6 năm 1972, trong trận không chiến, phi công Nguyễn Công Huy đã bắn rơi một chiếc F-4.

        Sau chiến tranh, Nguyễn Công Huy lần lượt đảm nhận nhiều cương vị chỉ huy trong Không quân, như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 931, Chủ nhiệm dẫn đường Sư đoàn Không quân 371, Chủ nhiệm bay Sư đoàn Không quân 371, Tham mưu phó Sư đoàn rồi Phó Sư đoàn trưởng phụ trách công tác huấn luyện, Phó Sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng Sư đoàn Không quân 371. Từ năm 1974 đến năm 1978, Nguyễn Công Huy được cử đi học tại Học viện Chỉ huy - Tham mưu Không quân Liên Xô mang tên nhà du hành vũ trụ Yuri Gagarin. Năm 1989, Nguyễn Công Huy được phong hàm Đại tá. Năm 1993, Nguyễn Công Huy chuyển ngành sang Hàng không dân dụng và giữ chức Phó Tổng giám đốc Cụm cảng Hàng không miền Bắc.

        Nguyễn Công Huy là tác giả của nhiều tập thơ, sách và sách dịch, như: "Tiêm kích sông bằng chiến trận", Nxb Quân đội nhân dân, 2002; "Những phi đội bay về phía Tây", Nxb Quân đội nhân dân, 2003; "Nghịch lí thế kỷ XX", Nxb Lao động, 2004; "Tôi từng là phi công tiêm kích", Nxb Văn học, 2008; "Vũ Xuân Thiều phi công cảm tử", Nxb Lao động, 2012; "Thanh kiếm bầu trời", Nxb Lao động, 2012; "Đi xa ngoảnh lại", Nxb Văn học, 2013; "Chiến mã trên không", Nxb Văn học, 2014; "Người tìm chìa khóa vàng", Nxb Văn học, 2015... trong đó có các tác phẩm viết về các phi công nổi tiếng như Vũ Xuân Thiều, Nguyễn Hồng Nhị, Đỗ Văn Lanh, Trần Mạnh... Nguyễn Công Huy về nghỉ hưu năm 2007, hiện sống tại Hà Nội.

        Phi công tiêm kích MiG-21 Cao Sơn Khảo sinh ngày 10 tháng 1 năm 1945 tại Đô Quan, Yên Khang, Ý Yên, Nam Định. Cao Sơn Khảo nhập ngũ tháng 8 năm 1965, được chọn đi học bay ở Trung đoàn Không quân 910 (Trường Không quân 910) từ năm 1965 đến năm 1968. Từ năm 1968 đến năm 1970, Cao Sơn Khảo là phi công tiêm kích MiG-17 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Từ năm 1970 đến năm 1972 Cao Sơn Khảo là phi công tiêm kích MiG-21 thuộc Đại đội 1 Trung đoàn Không quân tiêm kích 921.

        Phi công tiêm kích MiG-21 Cao Sơn Khảo đã bắn rơi một chiếc F-4 và đã được tặng thưởng một Huân chương Chiến công hạng Ba. Ngày 10 tháng 5 năm 1972, phi công tiêm kích Cao Sơn Khảo đã anh dũng hy sinh trong trận không chiến với các máy bay F-4 của Mỹ ở vùng trời Yên Bái, sau khi bắn rơi một chiếc F-4. Trung úy phi công tiêm kích MiG-21 Cao Sơn Khảo được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Năm 2004, di hài của phi công tiêm kích Cao Sơn Khảo đã được chuyển về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ quê nhà.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2017, 03:55:32 PM

        Phi công tiêm kích MiG-21 Lê Thanh Đạo sinh ngày 20 tháng 9 năm 1944 tại Thụy Phương, Từ Liêm, Hà Nội, nhập ngũ tháng 7 năm 1963. Sau khi nhập ngũ, Lê Thanh Đạo được cử đi học lái máy bay MiG-21 thuộc đoàn bay MiG-21 khóa 3, tại Liên Xô. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG-21 Lê Thanh Đạo trực ban chiến đấu lần đầu tiên vào ngày 9 tháng 6 năm 1968. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích MiG-21 Lê Thanh Đạo xuất kích 60 lần, gặp địch 13 lần, tám lần nổ súng, bắn rơi sáu máy bay Mỹ (sáu chiếc F-4).

        Sau trận không chiến ngày 10 tháng 5 năm 1972, trong một trận không chiến khác, phi công tiêm kích Lê Thanh Đạo đã nhảy dù và được bà con dân tộc Dao cứu sống. Sau một thời gian điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Lê Thanh Đạo lại trở về Trung đoàn bay hồi phục trên MiG-21. Ngày 11 tháng 1 năm 1973, phi công tiêm kích MiG-21 Lê Thanh Đạo được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sau chiến tranh, phi công tiêm kích Lê Thanh Đạo chuyển sang công tác tại Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và được bầu vào chức Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Việt Nam, rồi sau đó được bầu làm Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, rồi Phó Ban Dân vận Trung ương. Phi công tiêm kích MiG-21 Lê Thanh Đạo về nghỉ hưu năm 2006 với quân hàm Đại tá và hiện sống tại Hà Nội.

        Phi công tiêm kích MiG21 Vũ Văn Hợp sinh ngày 22 tháng 6 năm 1948 tại Yên Thắng, Yên Mô, Ninh Bình, nhập ngũ tháng 2 năm I960. Từ năm 1965 đến năm 1967, Vũ Văn Hợp là chiến sĩ dự khóa bay. Từ năm 1967 đến năm 1970, Vũ Văn Hợp học lái máy bay MiG21 tại Liên Xô. Tốt nghiệp về nước năm 1970, phi công tiêm kích MiG21 Vũ Văn Hợp được biên chế vào Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, rồi thuộc Đại đội 9 Trung đoàn Không quân tiêm kích 927. Vũ Văn Hợp đã bắn rơi một máy bay F4, đã được tặng thưởng hai Huân chương Chiến công hạng Ba và một Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba. Ngày 8 tháng 7 năm 1972, phi công tiêm kích MiG21 Vũ Văn Hợp đã anh dũng hy sinh trong trận không chiến không cân sức giữa biên đội hai chiếc MiG21 với các máy bay Mỹ ở vùng trời Hòa Bình. Thiếu úy phi công tiêm kích MiG21 Vũ Văn Hợp được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, Hòa Bình. Tháng 12 năm 1999, di hài phi công tiêm kích Vũ Văn Hợp đã được chuyển về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ tại quê nhà.
       
        Phi công tiêm kích MiG21 Nguyễn Đức Soát sinh ngày 24 tháng 6 năm 1946 tại Nam Phong, Phú Xuyên, Hà Tây (nay là Hà Nội), nhập ngũ ngày 5 tháng 7 năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Nguyễn Đức Soát được chọn đi học lái máy bay MiG21 thuộc đoàn bay MiG21 khóa 3 tại Liên Xô, tốt nghiệp về nước năm 1968. Phi công tiêm kích MiG21 Nguyễn Đức Soát trực ban chiến đấu lần đầu tiên là vào ngày 2 tháng 6 năm 1968. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích MiG21 Nguyễn Đức Soát đã xuất kích 53 lần. bảy lần gặp địch, bắn tám quả tên lửa. hạ sáu máy bay Mỹ (bốn chiếc F4, một chiếc A7, một máy bay trinh sát không người lái), ngoài ra còn chỉ huy biên đội bắn rơi ba chiếc khác. Ngày 11 tháng 1 năm 1973, phi công tiêm kích MiG21 Nguyễn Đức Soát được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong giai đoạn cuối năm 1972 ác liệt, Nguyễn Đức Soát là Đại đội trưởng Đại đội 3 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 927. Sau chiến tranh, Nguyễn Đức Soát lần lượt giữ các chức vụ, cương vị quan trọng trong Không quân và Bộ Quốc phòng, như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 927, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 372, Tư lệnh Quân chủng Không quân, Tư lệnh Quân chủng Phòng không  Không quân, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
         
        Khi đã giữ cương vị Sư đoàn trưởng, rồi Phó Tư lệnh Không quân, phi công tiêm kích Nguyễn Đức Soát vẫn tiếp tục bay trên các loại máy bay SU22M4 và SU27. Nguyễn Đức Soát đã tốt nghiệp Học viện Chỉ huy  Tham mưu Không quân Liên Xô mang tên Yuri Gagarin năm 1980, tốt nghiệp Học viện Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Liên Xô mang tên Nguyên soái Vôrôsilôp năm 1984 và bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 2002 tại Học viện Quốc phòng Việt Nam. Phi công tiêm kích MiG21 Nguyễn Đức Soát về nghỉ hưu năm 2008 với quân hàm Trung tướng và hiện sống tại Hà Nội. Sau khi nghỉ hưu, Trung tướng Nguyễn Đức Soát vẫn tích cực hoạt động trong các công tác xã hội, là người sáng lập và giữ chức Chủ tịch Hội hỗ trợ khắc phục hậu quả bom mìn Việt Nam.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2017, 02:52:01 PM
       
        Phi công tiêm kích MiG21 Ngô Duy Thư sinh năm 1947 tại Nam Dương, Nam Trực, Nam Định. Trú quán tại Trường Thịnh, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Nhập ngũ tháng 7 năm I960, Ngô Duy Thư được cử đi học lái máy bay ở Liên Xô từ năm 1965 đến năm 1968. Từ năm 1968 đến năm 1970, là phi công tiêm kích MiG17 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Năm 1970, Ngô Duy Thư chuyển loại lên MiG21 và được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 cho đến năm 1972. Khi Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 thành lập, Ngô Duy Thư được chuyển biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 927. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích Ngô Duy Thư đã từng xuất kích nhiều lần trên cả MiG17 và MiG21, bắn rơi ba máy bay Mỹ (hai chiếc F4, một chiếc F105), đã được khen thưởng hai Huân chương Chiến công hạng Nhì, hạng Ba. Sau chiến tranh, Ngô Duy Thư được cử sang Liên Xô học tại Học viện Chỉ huy  Tham mưu Không quân mang tên nhà du hành vũ trụ Yuri Gagarin, tốt nghiệp năm 1978, được nhận quân hàm Đại úy và được bổ nhiệm làm Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn Không quân 921. Ngày 29 tháng 11 năm 1978, Đại úy Ngô Duy Thư đã hy sinh trong chuyến bay huấn luyện tại vùng trời Bắc Ninh. Phi công tiêm kích MiG21 Ngô Duy Thư được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Hòa Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, sau đó đã được chuyển về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Ngày 9 tháng 10 năm 2014, Đại úy phi công tiêm kích MiG21 Ngô Duy Thư được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
         
        Phi công tiêm kích MiG21 Nguyễn Văn Nghĩa sinh ngày 3 tháng 5 năm 1946 tại Đức Thanh, Mộ Đức, Quảng Ngãi. Là học sinh miền Nam tập kết ra Bắc, Nguyễn Văn Nghĩa đã học tập tại các trường học sinh miền Nam số 28 và 13 ở miền Bắc. Nguyễn Văn Nghĩa nhập ngũ tháng 7 năm 1965, được cử đi học lái máy bay MiG21 thuộc đoàn bay MiG21 khóa 3 tại Liên Xô từ năm 1965 đến năm 1968. Sau khi tốt nghiệp về nước, được biên chế vào Trung đoàn Không quân tiêm kích 921. Phi công tiêm kích MiG21 Nguyễn Văn Nghĩa trực ban chiến đấu từ ngày 2 tháng 6 năm 1968. Đầu năm 1972, khi thành lập Trung đoàn Không quân tiêm kích 927, Nguyễn Văn Nghĩa được chuyển về biên chế của Trung đoàn Không quân tiêm kích 927, tham gia chiến đấu trong đội hình của Trung đoàn Không quân tiêm kích 927. Tổng cộng, phi công tiêm kích MiG21 Nguyễn Văn Nghĩa đã xuất kích 35 lần, có bảy lần gặp địch, sáu lần nổ súng, bắn bảy quả tên lửa, hạ năm máy bay Mỹ (bốn chiếc F4, một máy bay trinh sát không người lái). Ngày 3 tháng 9 năm 1973, phi công tiêm kích MiG21 Nguyễn Văn Nghĩa được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tháng 5 năm 1975, Nguyễn Văn Nghĩa vinh dự dẫn đầu biên đội MiG21 lần đầu tiên hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng và ngày 15 tháng 5 năm 1975 đã bay trong đội hình MiG21 duyệt binh mừng chiến thắng trên thành phố mang tên Bác.

        Sau chiến tranh, phi công tiêm kích Nguyễn Văn Nghĩa lần lượt giữ nhiều trọng trách trong Quân chủng Phòng không  Không quân, như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 935, Phó Sư đoàn trưởng  Tham mưu trưởng các Sư đoàn Không quân 376, 370. Từ tháng 8 năm 1987 là Phó Tư lệnh về Chính trị của Sư đoàn Không quân 370. Tháng 12 năm 1991, Nguyễn Văn Nghĩa chuyển ngành sang Hàng không dân dụng, giữ chức vụ Hiệu trưởng trường Hàng không Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2007, phi công tiêm kích MiG21 Nguyễn Văn Nghĩa về hưu với quân hàm Đại tá và hiện đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
       
        Phi công tiêm kích MiG21 Hạ Vinh Thành sinh ngày 15 tháng 8 năm 1947 tại Đáp cầu, thành phố Bắc Ninh, trú quán tại Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội, nhập ngũ năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Hạ Vĩnh Thành được tuyển chọn đi học lái máy bay tại Liên Xô. Từ năm 1965 đến năm 1968, Hạ Vĩnh Thành học bay trên loại MiG17. Tốt nghiệp về nước năm 1968, phi công tiêm kích Hạ Vĩnh Thành được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Năm 1970, Hạ Vĩnh Thành được chọn chuyển loại lên MiG21 và phục vụ tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 927.
        Trong chiến tranh, phi công tiêm kích MiG21 Hạ Vĩnh Thành đã xuất kích chiến đấu nhiều lần, bắn rơi một máy bay F4 Mỹ. Năm 1990, Hạ Vĩnh Thành chuyển sang ngành Hàng không dân dụng và là phi công lái máy bay Hàng không dân dụng thuộc Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam. Phi công tiêm kích Hạ Vĩnh Thành về nghỉ hưu năm 2007 với quân hàm Trung tá và hiện sống tại Hà Nội.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2017, 03:27:18 PM
       
        Phi công tiêm kích MiG21 Đỗ Văn Lanh sinh tháng 10 năm 1948 tại Ninh Khánh, Gia Khánh (nay là thành phố Ninh Bình), tỉnh Ninh Bình, nhập ngũ tháng 8 năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Đỗ Văn Lanh được chọn đi học lái máy bay MiG17 ở Trường Không quân ở Tường Vân, Trung Quốc từ năm 1965 đến năm 1968. Sau khi tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG17 Đỗ Văn Lanh được biên chế về Đại đội 1 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Năm 1970, Đỗ Văn Lanh cùng một số phi công xuất sắc của Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 được chọn chuyển loại lên máy bay MiG21 và được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 921. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích Đỗ Văn Lanh đã xuất kích nhiều lần trên cả hai loại máy bay MiG17 và MiG21, đã bắn rơi bốn máy bay Mỹ (bốn chiếc F4). Đặc biệt, phi công tiêm kích MiG 21 Đỗ Văn Lanh đã lập kỳ tích, đó là ngày 24 tháng 5 năm 1972, sau khi chiến đấu trở về, máy bay bị hết dầu, tắt máy trên không, cự li đến sân bay còn 50 kilômét nữa, nhưng phi công tiêm kích Đỗ Văn Lanh đã bình tĩnh đưa chiếc MiG21 của mình về hạ cánh an toàn trên sân bay Đa Phúc. Ngày 21 tháng 6 năm 1972, khi bay trên bầu trời Việt Trì, máy bay của Đỗ Văn Lanh trúng đạn địch bị thương, chấn động lớn, không tăng được tốc độ vì không thể bật tăng lực được, nhưng Đỗ Văn Lanh vẫn yểm hộ cho số 1 vào công kích sau đó cũng lao vào chiến đấu và bắn rơi một chiếc F4. Ngày 11 tháng 1 năm 1973, phi công tiêm kích MiG21 Đỗ Văn Lanh được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 9 tháng 7 năm 1980, phi công tiêm kích MiG21 Đỗ Văn Lanh đã hy sinh trong chuyến bay huấn luyện ở vùng trời Thái Nguyên. Trung tá phi công tiêm kích MiG21 Đỗ Văn Lanh được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. (Chi tiết về cuộc đời của người phi công tiêm kích MiG21 Đỗ Văn Lanh đã được tác giả Nguyễn Công Huy viết trong cuốn "Chiến mã trên không", Nxb Văn học, 2014).
       
        Phi công tiêm kích MiG21 Hoàng Quốc Dũng sinh ngày 10 tháng 8 năm 1945 tại Ngân Câu, Điện Bàn, Quảng Nam, nhập ngũ tháng 6 năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Hoàng Quốc Dũng được tuyển chọn đi học lái máy bay tại Liên Xô. Thời gian đầu, Hoàng Quốc Dũng học bay trên loại máy bay Iak18, tiếp đến là bay trên loại máy bay MiG17, từ năm 1967 đến năm 1968 bay trên loại máy bay MiG21. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG21 Hoàng Quốc Dũng được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 921. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích MiG21 Hoàng Quốc Dũng đã xuất kích chiến đấu nhiều lần, bắn rơi một máy bay F4. Chiều ngày 27 tháng 4 năm 1972, biên đội Hoàng Quốc Dũng, Cao Sơn Khảo trực ban chiến đấu trên sân bay Thọ Xuân  Thanh Hóa nhận lệnh xuất kích chiến đấu về phía Hòa Bình, Vụ Bản, bay ở độ cao 5.000 mét đã phát hiện được hai chiếc F4 tại khu vực đập Bái Thượng. Số 1 Hoàng Quốc Dũng báo cáo Sở chỉ huy và cả biên đội MiG21 đã lật máy bay, lộn xuống bám theo biên đội F4, tiến hành công kích. Trung úy Hoàng Quốc Dũng chỉ bằng một quả tên lửa đã bắn hạ chiếc F4B. Đây là chiếc F4B đầu tiên của Hải quân Mỹ bị MiG bắn hạ trong giai đoạn hai của cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân Mỹ ra miền Bắc Việt Nam. Từ năm 1972 đến năm 1977, phi công tiêm kích Hoàng Quốc Dũng được cử đi học tại Học viện Chỉ huy  Tham mưu Không quân Liên Xô mang tên nhà du hành vũ trụ Yuri Gagarin. Sau chiến tranh, Hoàng Quốc Dũng đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong Không quân, như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, Phó Chủ nhiệm khoa rồi Chủ nhiệm khoa Không quân, sau đó là Chủ nhiệm khoa Phòng không  Không quân, rồi Phòng không  Không quân  Hải quân của Học viện Quân sự cao cấp, Bộ Quốc Phòng. Phi công tiêm kích MiG21 đã bảo vệ và nhận hàm thạc sĩ, rồi phó tiến sĩ và tiến sĩ từ năm 1995 đến 1996. Phi công tiêm kích Hoàng Quốc Dũng về nghỉ hưu năm 2009 với quân hàm Đại tá và hiện sống tại Hà Nội.
         
        Phi công tiêm kích MiG21 Bùi Thanh Liêm sinh ngày 30 tháng 6 năm 1949 tại Lương Yên, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, nhập ngũ tháng 2 năm 1966. Sau khi nhập ngũ, Bùi Thanh Liêm được tuyển chọn đi học lái máy bay MiG21 ở Liên Xô từ năm 1967 đến năm 1970.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Một, 2017, 10:24:21 PM

        Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG21 Bùi Thanh Liêm được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 từ năm 1970 đến năm 1974. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích MiG21 Bùi Thanh Liêm đã xuất kích nhiều lần. Trong trận không chiến ngày 17 tháng 6 năm 1972, phi công tiêm kích Bùi Thanh Liêm đã bắn rơi chiếc F4E đầu tiên và trong chiến tranh, Bùi Thanh Liêm đã bắn rơi hai máy bay Mỹ (một chiếc F4 và một máy bay trinh sát không người lái). Sau chiến tranh, từ năm 1974 đến năm 1978, phi công tiêm kích Bùi Thanh Liêm được cử đi học tại Học viện Chỉ huy  Tham mưu Không quân Liên Xô mang tên nhà du hành vũ trụ Yuri Gagarin. Từ năm 1978 đến năm 1980, Bùi Thanh Liêm học bay vũ trụ và được chọn là Phi công vũ trụ số 2 của Việt Nam. Bùi Thanh Liêm cùng nhà du hành vũ trụ Phạm Tuân đã dự khóa huấn luyện phi công vũ trụ tại thành phố" Ngôi Sao, ngoại ô thủ đô Mátxcơva. Ngày 22 tháng 8 năm 1981, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 Bùi Thanh Liêm đã hy sinh trong chuyến bay huấn luyện ở vùng trời Đồ Sơn, Hải Phòng. Thiếu tá phi công tiêm kích MiG21 Bùi Thanh Liêm được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Đồ Sơn, Hải Phòng.
       
        Phi công tiêm kích MiG19 Phạm Ngọc Tâm sinh năm 1943 tại Mỹ Hiệp, Phù Mỹ, Bình Định, nhập ngũ tháng 8 năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Phạm Ngọc Tâm được tuyển chọn đi học lái máy bay MiG19 tại Trung Quốc từ năm 1965 đến năm 1968. Sau khi tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG19 Phạm Ngọc Tâm được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 925, là Đại đội phó bay thuộc Đại đội 1. Phi công tiêm kích MiG19 Phạm Ngọc Tâm đã bắn rơi một máy bay F4 của Mỹ. Ngày 27 tháng 6 năm 1972, Phạm Ngọc Tâm đã anh dũng hy sinh trong trận không chiến với các máy bay Mỹ trên vùng trời Gia Lâm, Hà Nội. Trung úy phi công tiêm kích MiG19 Phạm Ngọc Tâm đã được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Thạch Bàn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Sau đó, di hài của phi công tiêm kích MiG19 Phạm Ngọc Tâm đã được chuyển về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội (đặt tại xã Kim Sơn).
       
        Phi công tiêm kích MiG19 Phạm Hùng Sơn (C) sinh ngày 23 tháng 9 năm 1946 tại Thượng Hội, Tân Hội, Đan Phượng, Hà Tây (nay là Hà Nội), nhập ngũ năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Phạm Hùng Sơn được tuyển chọn và cử đi học lái máy bay MiG19 tại Trung Quốc từ năm 1965 đến năm 1969. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG19 Phạm Hùng Sơn được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 925. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích MiG19 đã xuất kích chiến đấu nhiều lần, bắn rơi một chiếc F4 của Mỹ. Sau chiến tranh, phi công tiêm kích Phạm Hùng Sơn được cử đi học ở Học viện Chỉ huy  Tham mưu Không quân mang tên nhà du hành vũ trụ Yuri Gagarin (Liên Xô) từ năm 1978 đến năm 1982. Tốt nghiệp về nước, Phạm Hùng Sơn từng công tác tại Trung đoàn Không quân 923 với cương vị Trung đoàn phó huấn luyện, rồi giữ chức vụ Trung đoàn phó  Tham mưu trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 940. Năm 1992, phi công tiêm kích Phạm Hùng Sơn nhận quyết định thôi bay, về công tác tại Học viện Phòng không  Không quân, và năm 1993 thì công tác tại Học viện Quốc phòng.
        Phi công tiêm kích MiG19 Phạm Hùng Sơn (C) về nghỉ hưu năm 2007 với quân hàm Đại tá và hiện sống tại Hà Nội.
       
        Phi công tiêm kích MiG19 Nguyễn Văn Phúc sinh năm 1946 tại Yên Ninh, Ý Yên, tỉnh Nam Định, nhập ngũ tháng 8 năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Nguyễn Văn Phúc được chọn đi học lái máy bay MiG19 tại Trung Quốc từ năm 1965 đến năm 1969. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG19 Nguyễn Văn Phúc được biên chế thuộc Đại đội 1, Trung đoàn Không quân tiêm kích 925, có thành tích bắn rơi một máy bay F4 của Mỹ. Ngày 11 tháng 6 năm 1972, phi công tiêm kích MiG19 Nguyễn Văn Phúc đã anh dũng hy sinh trong trận không chiến giữa biên đội bốn chiếc MiG19 với các máy bay Mỹ trên vùng trời Hà Tây. Thiếu úy phi công tiêm kích MiG19 Nguyễn Văn Phúc đã được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).
       
        Phi công tiêm kích MiG19 Lê Đức Oánh sinh năm 1944 tại Đức Nhân, Đức Thọ, Hà Tĩnh, nhập ngũ tháng 7 năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Lê Đức Oánh được cử đi học lái máy bay MiG19 ở Trung Quốc từ năm 1965 đến năm 1969. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích Lê Đức Oánh được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 925. Ngày 10 tháng 5 năm 1972, phi công tiêm kích MiG19 Lê Đức Oánh đã anh dũng hy sinh trong trận không chiến giữa biên đội bốn chiếc MiG19 với các máy bay Mỹ trên vùng trời Yên Bái. Thiếu úy phi công tiêm kích MỈG19 Lê Đức Oánh được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Một, 2017, 10:25:19 PM
       
        Phi công tiêm kích MiG19 Hoàng Cao Bổng sinh ngày 17 tháng 8 năm 1942 tại Nam Chính, Tiền Hải, Thái Bình, trú quán ở Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội, nhập ngũ tháng 2 năm 1964. Sau khi nhập ngũ, Hoàng Cao Bổng được biên chế về Lữ đoàn 330 thuộc Quân khu 3 và được chọn đi học để trở thành sĩ quan pháo binh. Qua đợt khám sức khỏe, Hoàng Cao Bổng đã được tuyển đi học lái máy bay, được biên chế về Đoàn Nam 17, được cử đi Cẩm Châu, Trung Quốc học bay trên MiG17, sau đó đi Quế Lâm. Giai đoạn bay MiG19 thì học bay tại Thiên Tân. Năm 1969, tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG19 Hoàng Cao Bổng được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 925. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích Hoàng Cao Bổng đã xuất kích chiến đấu nhiều lần. Anh từng bắn rơi một máy bay F4 của Mỹ. Năm 1980, phi công tiêm kích Hoàng Cao Bổng chuyển loại sang bay MiG21 và thuộc Trung đoàn Không quân 929 với chức vụ Trung đoàn phó  Tham mưu trưởng Trung đoàn. Tháng 7 năm 1981, Hoàng Cao Bổng chuyển công tác về Bộ Tham mưu Không quân với cương vị Phó ban rồi Trưởng ban Huấn luyện chiến dịch. Cuối năm 1984, Hoàng Cao Bổng thuộc Đoàn chuyên gia Không quân ở Cămpuchia. Năm 1988 về Trường dự bị bay với cương vị Hiệu phó. Đến 1990 thì giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường dự bị bay. Năm 1999, phi công tiêm kích Hoàng Cao Bổng về nghỉ hưu với quân hàm Đại tá và hiện sống tại Hà Nội.
       
        Phi công tiêm kích MiG19 Phạm Cao Hà sinh ngày 12 tháng 8 năm 1947 tại Khánh Tiên, Yên Khánh, Ninh Bình, trú quán tại Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội, nhập ngũ năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Phạm Cao Hà được biên chế về Sư đoàn Phòng không 351, huấn luyện sử dụng cối 120mm, chuẩn bị đi chiến trường B. Trải qua đợt khám tuyển sức khỏe, Phạm Cao Hà được chuyển sang Không quân và ngày 14 tháng 9 năm 1965 đã lên đường sang Bắc Kinh rồi Cẩm Châu (Trung Quốc) học bay MiG19. Năm 1969, tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG19 Phạm Cao Hà được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 925. Năm 1976, Trung đoàn chuyển quân vào Đà Nẵng, rồi đóng quân tại sân bay Phù Cát. Năm 1978, phi công tiêm kích MiG19 Phạm Cao Hà cơ động vào sân bay Biên Hòa tham dự cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Năm 1980, khi giải thể Trung đoàn Không quân tiêm kích 925, Phạm Cao Hà chuyển sang Trung đoàn Không quân 929 với cương vị Trung đoàn phó. Cùng năm, Phạm Cao Hà sang bay chuyển loại Su22 tại Liên Xô, trở về được biên chế vào Trung đoàn Không quân 923 với chức danh Trung đoàn phó. Năm 1983, phi công tiêm kích Phạm Cao Hà nhận quyết định thôi bay, biên chế về bộ phận Tìm kiếm cứu nạn của Quân chủng. Năm 1990 ông là Hiệu phó Trường dự bị bay và văn hóa, rồi là Hiệu trưởng Trường dự bị bay  Sơ cấp kỹ thuật  nghiệp vụ Không quân. Năm 2001, sau khi sáp nhập với trường Trung học Phòng không thì Phạm Cao Hà giữ chức Hiệu phó của trường. Năm 2005, phi công tiêm kích MiG19 Phạm Cao Hà về nghỉ hưu với quân hàm Đại tá và hiện sông tại Hà Nội.
       
        Phi công tiêm kích MiG19 Nguyễn Văn Cương sinh ngày 6 tháng 2 năm 1947 tại Nghĩa Hưng, Nam Hà, nhập ngũ năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Nguyễn Văn Cương được tuyển chọn, cử đi học lái máy bay MiG19 ở Trung Quốc từ năm 1965 đến năm 1969. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG19 Nguyễn Văn Cương được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 925. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích MiG19 Nguyễn Văn Cương đã xuất kích chiến đấu nhiều lần. Năm 1979, Nguyễn Văn Cương được cử đi học chuyển loại, bay trên loại máy bay Su22, biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Nguyễn Văn Cương từng đảm nhận nhiều trọng trách trong Quân chủng Không quân, như Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 923, Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 372. Phi công tiêm kích MiG19 Nguyễn Văn Cương về nghỉ hưu với quân hàm Đại tá và hiện sống tại thành phố Đà Nẵng.
       
        Phi công tiêm kích MiG19 Lê Văn Tưởng sinh tháng 2 năm 1948 tại An Phú, Trâu Quỳ (nay là Tổ dân phố An Đào, thị trấn Trâu Quỳ), huyện Gia Lâm, Hà Nội, nhập ngũ tháng 7 năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Lê Văn Tưởng được chọn cử đi học lái máy bay MiG19. Lê Văn Tưởng ở Trung Quốc từ năm 1965 đến năm 1969. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG19 được biên chế vào Đại đội 1 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 925. Anh đã bắn rơi một máy bay F4 của Mỹ, được tặng thưởng một Huân chương Chiến công hạng Ba, một Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba. Ngày 10 tháng 5 năm 1972, phi công tiêm kích MiG19 Lê Văn Tưởng đã anh dũng hy sinh trong chuyến bay chiến đấu của biên đội bốn chiếc MiG19 với các máy bay Mỹ trên bầu trời Yên Bái, sau khi bắn rơi một chiếc F4. Thiếu úy phi công tiêm kích MiG19 Lê Văn Tưởng được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Cổ Phúc, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, sau đó được chuyển về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Gia Lâm, Hà Nội (đặt tại xã Kim Sơn).


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Một, 2017, 04:05:30 PM
       
        Phi công tiêm kích MiG17 Nguyễn Văn Thọ sinh ngày 16 tháng 10 năm 1943 tại Mỹ Hòa, Phù Mỹ, Bình Định. Nhập ngũ ngày 21 tháng 7 năm 1961. Nguyễn Văn Thọ được tuyển chọn đi học lái máy bay tại Trường Không quân Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1965. Sau khi tốt nghiệp, phi công Nguyễn Văn Thọ được chọn làm giáo viên bay loại Yak18 tại Trung đoàn 910. Năm 1965 đến năm 1966, phi công Nguyễn Văn Thọ được chọn chuyển loại lên máy bay MiG17 và được điều động về Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích MiG17 Nguyễn Văn Thọ đã xuất kích chiến đấu nhiều lần, bắn rơi một chiếc AD6 của Mỹ trong trận ngày 19 tháng 4 năm 1967. Ngày 10 tháng 5 năm 1972, biên đội bốn chiếc MiG17 của Nguyễn Văn Thọ, Tạ Đông Trung, Đỗ Hạng, Trà Văn Kiếm đã chiến đấu dũng cảm với đội hình lớn máy bay của Hải quân Mỹ, góp phần cản phá thành công đợt tấn công ác liệt của Hải quân Mỹ. Tháng 9 năm 1972, phi công tiêm kích MiG17 Nguyễn Văn Thọ cùng với sáu phi công xuất sắc khác được chuyển loại lên bay MiG21 tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 927. Sau chiến tranh, phi công tiêm kích Nguyễn Văn Thọ đã đảm nhiệm một số vị trí chỉ huy trong Không quân, như Trung đoàn trưởng các Trung đoàn Không quân 929 và 935, thanh tra bay Quân chủng Không quân. Phi công tiêm kích Nguyễn Văn Thọ nghỉ hưu với quân hàm Đại tá và hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
         
        Phi công tiêm kích MiG17 Tạ Đông Trung sinh ngày 1 tháng 1 năm 1948 tại phố Ngọc Lâm, huyện Gia Lâm (nay là quận Long Biên), Hà Nội, nhập ngũ ngày 15 tháng 4 năm 1966. Sau khi nhập ngũ, Tạ Đông Trung được chọn đi học bay ở Liên Xô từ năm 1966 đến năm 1969 trên loại máy bay MiG17. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG17 Tạ Đông Trung được biên chế về Đại đội 6, Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 từ năm 1969 đến năm 1975. Từ năm 1975 đến năm 1977, phi công tiêm kích Tạ Đông Trung chuyển sang bay loại máy bay cường kích A37 thu được của địch và trong thời gian này, phi công Tạ Đông Trung đã tham gia trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Tính từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 10 năm 1977, phi công Tạ Đông Trung đã cùng đồng đội đánh 11 trận, diệt hai sở chỉ huy Trung đoàn, phá hủy ba trận địa pháo, đánh trúng hai vị trí hành quân lấn chiếm của địch, diệt hàng trăm tên địch, chi viện đắc lực cho bộ binh ta đánh địch. Ngày 1 tháng 10 năm 1977, lần thứ hai xuất kích chiến đấu trong ngày, phi công Tạ Đông Trung bay ở vị trí số 2 của biên đội bốn chiếc. Trong quá trình chiến đấu, máy bay số 1 hỏng nên phải quay về. Tạ Đông Trung lên dẫn đội tiếp tục vào chiến đấu. Khi hạ thấp độ cao, bổ nhào để ném bom chính xác hơn thì máy bay của Tạ Đông Trung và Nguyễn Thế Hùng đã bị địch bắn bị thương nặng, buộc phải nhảy dù trên đất Campuchia. Địch bao vây định bắt sống, nhưng hai phi công đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, hơi thở cuối cùng, quyết không để lọt vào tay địch, nêu tấm gương sáng ngời về hành động dũng cảm ngoan cường và khí tiết bất khuất của người phi công cách mạng. Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Thượng úy phi công tiêm kích MiG17 Tạ Đông Trung đã được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
       
        Phi công tiêm kích MiG17 Đỗ Hạng sinh năm 1943 tại An Nhuệ, Cát Khánh, Phù Cát, Bình Định, nhập ngũ tháng 7 năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Đỗ Hạng được chọn đi học bay MiG17 ở Liên Xô từ năm 1965 đến năm 1968. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG17 Đỗ Hạng được biên chế về Đại đội 6 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Ngày 10 tháng 5 năm 1972, phi công tiêm kích MiG17 Đỗ Hạng đã anh dũng hy sinh trong trận không chiến giữa biên đội bốn chiếc MiG17 với 12 máy bay F4 Mỹ ở vùng trời Hải Dương. Thiếu úy phi công tiêm kích MiG17 Đỗ Hạng đã được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Đông Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và năm 1990, di hài phi công tiêm kích MiG17 Đỗ Hạng được chuyển về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ quê nhà.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Một, 2017, 04:07:09 PM
       
        Phi công tiêm kích MiG17 Trà Văn Kiếm sinh năm 1946 tại Ninh Lộc, Ninh Hòa, Khánh Hòa, nhập ngũ tháng 12 năm 1965. Từ năm 1965 đến năm 1966 là chiến sĩ dự khóa bay. Năm 1966 đến năm 1969, Trà Văn Kiếm được chọn đi học bay ở Liên Xô trên MiG17. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG17 Trà Văn Kiếm được biên chế về Đại đội 6 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Ngày 10 tháng 5 năm 1972, dù là lần đầu tiên xuất kích chiến đấu, phi công trẻ tuổi Trà Văn Kiếm đã quần nhau vối các máy bay tiêm kích của Hải quân Mỹ, tỏ ra có kỹ thuật không chiến rất điêu luyện, cơ động theo các mặt phẳng ngang, mặt phẳng đứng ngang ngửa với F4, thậm chí, có nhiều lần còn bám được phía sau F4 và nổ súng mãnh liệt. Phi công Đại úy Cơnninhham, một phi công nổi tiếng của Hải quân Mỹ bay trên chiếc F4 kia còn lầm tưởng Trà Văn Kiếm là người phi công huyền thoại Nguyễn Tom của Không quân Việt Nam. Trong trận không chiến không cân sức ấy, phi công tiêm kích MiG17 Trà Văn Kiếm đã anh dũng hy sinh trên vùng trời Hải Dương. Thiếu úy phi công tiêm kích MiG17 Trà Văn Kiếm được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Thanh Bình, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Nàm 2005, di hài của phi công tiêm kích MiG17 Trà Văn Kiếm đã được chuyển về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ quê nhà.
       
        Phi công tiêm kích MiG17 Vũ Văn Đang sinh năm 1943 tại Sơn Khê, Thái Thịnh, Kinh Môn, Hải Dương, nhập ngũ tháng 8 năm 1960. Từ năm 1960 đến năm 1962, Vũ Văn Đang học ở trường Văn hóa Quân đội rồi được chọn đi học bay ở Liên Xô. Từ năm 1964 đến năm 1966, công tác ở Trung đoàn Không quân 919, sau đó Vũ Văn Đang học bay ở trường Không quân Việt Nam 910. Tốt nghiệp, phi công tiêm kích MiG17 Vũ Văn Đang được biên chế vào Đại đội 2 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Ngày 23 tháng 5 năm 1972, phi công tiêm kích MiG17 Vũ Văn Đang đã anh dũng hy sinh trong trận không chiến giữa biên đội bốn chiếc MiG17 với tám máy bay F4 Mỹ trên vùng trời Bắc Giang, sau khi bắn rơi một chiếc F4. Phi công tiêm kích MiG17 Vũ Văn Đang được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
         
        Phi công tiêm kích MiG17 Trịnh Văn Quy sinh ngày 10 tháng 2 năm 1944 tại Quế Lâm, Đoan Hùng, Phú Thọ. Trú quán tại Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội, nhập ngũ tháng 2 năm 1964. Sau khi nhập ngũ, Trịnh Văn Quy được biên chế về Sư đoàn Bộ binh 308 cho đến tháng 5 năm 1965 thì chuyển về Không quân sau khi được tuyển chọn để học lái máy bay. Từ tháng 7 năm 1965 đến tháng 4 năm 1968, Trịnh Văn Quy được cử sang học bay MiG17 tại Liên Xô. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG17 Trịnh Văn Quy lại tiếp tục sang trường Không quân ở Tường Vân, Trung Quốc bay nâng cao kỹ thuật trong vòng sáu đến bảy tháng rồi trở về, được biên chế vào lực lượng chiến đấu của Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Từ năm 1969 đến năm 1979, phi công tiêm kích Trịnh Văn Quy phục vụ tại Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Sau đó, Trịnh Văn Quy chuyển sang làm giáo viên bay MiG17 tại trường Không quân Nha Trang, Trung đoàn Không quân 940. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích MiG17 Trịnh Văn Quy đã xuất kích chiến đấu nhiều lần. Đặc biệt, trong ngày 1051972, biên đội của Trịnh Văn Quy đã xuất kích chiến đấu ba lần trên một ngày. Năm 1981, phi công tiêm kích MiG17 Trịnh Văn Quy về công tác tại Cục Huấn luyện  Nhà trường, thuộc Quân chủng Phòng không  Không quân. Phi công tiêm kích MiG17 Trịnh Văn Quy nghỉ hưu năm 1993 vối quân hàm Thượng tá và hiện sống tại Hà Nội.
       
        Phi công tiêm kích MiG17 Nguyễn Văn Lâm sinh ngày 20 tháng 6 năm 1945 tại Phùng Hưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Trú quán tại Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Hà Nội, nhập ngũ năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Nguyễn Văn Lâm được cử sang Liên Xô học lái máy bay để trở thành phi công tiêm kích chiến đấu từ năm 1965 đến tháng 1 năm 1968. Trở về nước trong đoàn 12 người tốt nghiệp trước thời hạn, phi công tiêm kích MiG17 Nguyễn Văn Lâm được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích MiG17 Nguyễn Văn Lâm đã xuất kích chiến đấu nhiều lần trên MiG17. Năm 1975, phi công Nguyễn Văn Lâm chuyển sang bay loại máy bay chiến lợi phẩm A37. Năm 1976 anh chuyển về trường Không quân Nha Trang làm giáo viên bay. Năm 1984, chuyển về làm việc tại Quân chủng Phòng không  Không quân và năm 1986 làm giáo viên khoa Không quân của Học viện Chính trị. Phi công tiêm kích MiG17 Nguyễn Văn Lâm nghỉ hưu năm 2000 với quân hàm Đại tá và hiện sống tại Hà Nội.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Một, 2017, 02:50:10 PM
       
        Phi công tiêm kích MiG17 Lương Quốc Bảo sinh ngày 10 tháng 6 năm 1946 tại Lê Lợi, Kiến Xương, Thái Bình, nhập ngũ năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Lương Quốc Bảo được tuyển chọn đi học lái máy bay chiến đấu và được đào tạo tại trường Không quân ở Trung Quốc. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG17 Lương Quốc Bảo được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích Lương Quốc Bảo từng xuất kích chiến đấu nhiều lần. Năm 1975, Lương Quốc Bảo chuyển sang Trung đoàn Không quân 937, bay trên loại máy bay chiến lợi phẩm A37 tại sân bay Cần Thơ. Đến năm 1979, anh đã dẫn một lực lượng A37 ra trực chiến tại sân bay Đa Phúc. Năm 1980, Lương Quốc Bảo bay chuyển loại trên máy bay Su22 tại Liên Xô và được biên chế về Sư đoàn Không quân 372. Anh từng là học viên của Học viện Quốc phòng năm 1984 (đợt 1) và tới năm 1995 quay lại học (đợt 2) và lấy bằng tốt nghiệp Học viện. Sau chiến tranh, phi công tiêm kích Lương Quốc Bảo từng đảm nhiệm nhiều trọng trách trong Không quân, như Chính trị viên Phi đội, Phó chủ nhiệm chính trị Trung đoàn, Phụ trách Trung đoàn (như cương vị Trung đoàn trưởng), Sư đoàn phó Sư đoàn Không quân 372, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370, Trưởng phòng quản lí điều hành bay Quân chủng Phòng không  Không quân, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không  Không quân... Phi công tiêm kích MiG17 Lương Quốc Bảo về nghỉ hưu năm 2008 với quân hàm Đại tá và hiện sống tại Hà Nội.
       
        Phi công tiêm kích MiG17 Trần Cao Thăng sinh ngày 3 tháng 9 năm 1944 tại Đức Lý, Lý Nhân, Hà Nam, nhập ngũ năm 1963. Sau khi nhập ngũ, Trần Cao Thăng được biên chế về Trung đoàn 102, Sư đoàn Bộ binh 308 rồi được cử đi học trường Sĩ quan Lục quân. Sau khi tốt nghiệp, Trần Cao Thăng giữ chức Trung đội trưởng của Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320. Tại đây, Trần Cao Thăng được khám tuyển và được tuyển vào Không quân. Trần Cao Thăng học lái máy bay từ năm 1965 đến 1968 tại Liên Xô. Tháng 5 năm 1968, tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG17 Trần Cao Thăng được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 rồi được cử sang trường Không quân Việt Nam 910 bay đề cao và trở về nước vào cuối năm 1968. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích Trần Cao Thăng từng xuất kích chiến đấu nhiều lần. Năm 1975, Trần Cao Thăng chuyển loại bay trên các máy bay chiến lợi phẩm tại sân bay cần Thơ. Năm 1989 chuyển về công tác tại trường Trung cao Không quân. Sau chiến tranh, phi công tiêm kích Trần Cao Thăng từng giữ nhiều chức vụ với những trọng trách trong Không quân, như Chính trị viên Phi đội quyết thắng, Chủ nhiệm Chính trị, Phó Chính ủy Trung đoàn, Tham mưu phó Sư đoàn, Hệ trưởng Hệ bổ túc rồi Trưởng phòng Tham mưu  Hành chính của Học viện Không quân... Phi công tiêm kích MiG17 Trần Cao Thăng về nghỉ hưu năm 2000 với quân hàm Đại tá và hiện sông tại Hà Nội.
       
        Phi công tiêm kích MiG17 Ngô Sơn sinh ngày 15 tháng 6 năm 1942 tại Phan Sào Nam, Phù Cừ, Hưng Yên, nhập ngũ tháng 2 năm 1961. Sau khi nhập ngũ, Ngô Sơn được tuyển chọn đi học lái máy bay chiến đấu tại Liên Xô. Anh tốt nghiệp bay trên loại máy bay tiêm kích MiG17 vào năm 1968. Trở về nước, phi công tiêm kích MiG17 Ngô Sơn được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích Ngô Sơn đã xuất kích chiến đấu nhiều lần, đã bắn rơi một máy bay trinh sát không người lái của Mỹ. Sau chiến tranh, phi công tiêm kích Ngô Sơn từng giữ những trọng trách trong Không quân, như Trưởng ban Huấn luyện Chiến dịch, Phòng Tác chiến, Bộ Tham mưu Quân chủng, rồi Tham mưu phó các Sư đoàn Không quân 372, Sư đoàn Không quân 371. Phi công tiêm kích Ngô Sơn về nghỉ hưu năm 1993 với quân hàm Đại tá và hiện sống tại Hà Nội.
       
        Phi công tiêm kích MiG17 Hán Vĩnh Tưởng sinh ngày 12 tháng 8 năm 1945 tại Tam Nông, Phú Thọ, nhập ngũ tháng 8 năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Hán Vĩnh Tưởng được chọn đi học lái máy bay MiG17 tại trường Không quân đóng tại Tường Vân, Trung Quốc cho đến tháng 4 năm 1968. Sau khi tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG17 Hán Vĩnh Tưởng được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Tháng 9 năm 1972, phi công tiêm kích MiG17 Hán Vĩnh Tưởng cùng với năm phi công MiG17 xuất sắc khác được chọn bay chuyển loại trên MiG21 và được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 927. Trong chiến tranh, phi công tiêm kích Hán Vĩnh Tưởng đã xuất kích nhiều lần trên MiG17 và MiG21, đã bắn rơi ba máy bay của địch (hai chiếc F4 và một chiếc máy bay trinh sát không người lái). Sau chiến tranh, phi công tiêm kích Hán Vĩnh Tương lần lượt giữ nhiều trọng trách quan trọng trong Quân chủng Phòng không  Không quân, như Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn Không quân tiêm kích 927, Trung đoàn phó chính trị Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, Chủ nhiệm Chính trị và Chính ủy Sư đoàn Không quân 371, Phó Tư lệnh chính trị Quân chủng Không quân và Quân chủng Phòng không  Không quân. Phi công tiêm kích Hán Vĩnh Tưởng về nghỉ hưu năm 2005 với quân hàm Trung tướng và hiện sống tại Hà Nội. Ngày 10 tháng 8 năm 2015, Trung tướng Hán Vĩnh Tưởng được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Một, 2017, 02:51:49 PM
        
        Phi công tiêm kích MiG17 Hoàng Mai Vượng sinh tháng 8 năm 1947, tại Song Hậu (nay là xóm 10)., Diễn Thịnh, Diễn Châu, Nghệ An, nhập ngũ tháng 5 năm 1965. Sau khi nhập ngũ, Hoàng Mai Vượng được cử sang Liên Xô học bay MiG17 cho đến năm 1969. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích Hoàng Mai Vượng được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 cho đến năm 1975. Năm 1975, phi công tiêm kích Hoàng Mai Vượng chuyển sang bay trên máy bay chiến lợi phẩm và trở thành phi công cường kích A37, là Biên đội trưởng thuộc Phi đội 8, Trung đoàn Không quân 937. Phi công tiêm kích Hoàng Mai Vượng đã bắn rơi một máy bay trinh sát không người lái của Mỹ, đã tham gia ném bom sân bay Tân Sơn Nhất trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã được khen thưởng một Huân chương Chiến công hạng Ba, một Huân chương Giải phóng hạng Nhất. Ngày 15 tháng 7 năm 1975, phi công Hoàng Mai Vượng đã hy sinh trong chuyến bay tuần tiễu chiến đấu trên vùng trời Côn Đảo. Ngày 9 tháng 7 năm 2014, Trung úy phi công tiêm kích MiG17 Hoàng Mai Vượng đã được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
        
        Phi công MiG17 Nguyễn Xuân Hiển sinh ngày 27 tháng 8 năm 1946 tại Tam Khương, Thanh Trì, Hà Nội, Nhập ngũ tháng 2 năm 1966. Sau khi nhập ngũ, Nguyễn Xuân Hiển được tuyển chọn, cử đi học bay MiG17 tại Liên Xô từ năm 1966 đến năm 1969. Tốt nghiệp về nước, phi công tiêm kích MiG17 Nguyễn Xuân Hiển được biên chế về Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 cho đến năm 1973. Ngày 1051972, phi công tiêm kích MiG17 Nguyễn Xuân Hiển đã xuất kích ba lần. Từ năm 1973 đến năm 1975, Nguyễn Xuân Hiển là Trợ lí Phòng Tham mưu của Sư đoàn Không quân 371. Từ năm 1975 đến năm 1977, Nguyễn Xuân Hiển trở thành phi công trinh sát trên loại máy bay U17, thuộc Trung đoàn Không quân 917, Sư đoàn Không quân 372. Từ năm 1977 đến năm 1981, Nguyễn Xuân Hiển là phi công thử nghiệm thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng Không quân, bay thử nghiệm loại máy bay TL1 do Viện kỹ thuật Không quân chế tạo. Từ năm 1981 đến năm 1987, Nguyễn Xuân Hiển là phi công vận tải quân sự trên loại máy bay An26 thuộc Trung đoàn Không quân 918. Năm 1987, phi công Nguyễn Xuân Hiển chuyển ngành sang Hàng không dân dụng. Sau chiến tranh, phi công Nguyễn Xuân Hiển từng giữ những trọng trách trong Không quân và Hàng không, như Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân vận tải quân sự 918, Phó Tổng giám đốc rồi Tổng giám đốc Cụm cảng Hàng không miền Bắc, Phó Cục trưởng Cục Hàng không dân dụng Việt Nam, Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Phi công tiêm kích MiG17 Nguyễn Xuân Hiển mất năm 2013.


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Một, 2017, 05:42:04 PM
         
GẶP NGUỜI TRONG CUỘC
       
        Nhiều năm sau chiến tranh, tôi đã có dịp gặp lại những người từng tham gia chiến đấu trong ngày 10 tháng 5 năm 1972 ấy. Cứ tưởng ai đó sẽ quên, nhưng ký ức trong họ vẫn còn nguyên vẹn. Nó tựa như một lớp bụi tro phủ ngoài lớp than hồng, nghe chừng như đã nguội, nhưng chỉ cần chút gió nhẹ khẽ thổi qua, lớp tro tàn bay đi thì than hồng lại lộ ra, lại rực cháy. Chỉ có điều, mọi ý nghĩ, mọi cảm nhận trở nên sâu lắng hơn, trầm tĩnh hơn mà thôi... Tôi ngắm nhìn lại các khuôn mặt từng một thời xông pha trận mạc, từng tung hoành khắp các phương trời, vượt qua đạn bom, nếm đủ mọi trải nghiệm khốc liệt của chiến tranh mà sao thấy quá đỗi thân thương. Những mái đầu đều đã nhuốm bạc, nếp nhăn đầy trên má, da thì lấm tấm những vết nám đồi mồi, nhưng chẳng ai quên cái ngày ấy, nó như vừa mới xảy ra ngay hôm qua mà thôi...

        Trịnh Văn Quy, cựu phi công tiêm kích MiG17 hồi tưởng:
       
         - Cái ngày 10 tháng 5 năm 1972 ấy đúng là ác liệt thật! Nói chung, cả giai đoạn ấy là giai đoạn ác liệt, nhưng ngày 105 là ngày ghê gớm, căng thẳng đến tột độ. MiG17 của bọn tôi chịu tổn thất nhiều. Nó không như MiG21 của các anh, thoát li khỏi chiến trận dễ dàng vì có tốc độ lớn. Bọn tôi thì tốc độ nhỏ, phải quần nhau nên nhiều khi muốn thoát li mà không thoát li nổi. Mà bọn Mỹ thời gian ấy đã tìm được phương pháp hóa giải cách đánh của MiG17 nên bọn tôi lại càng gặp khó khăn nhiều hơn. Chỉ khi nào về hạ cánh thì mới biết là mình còn sống. Đến cuối ngày trực, nhìn thấy nhau mới biết là những ai còn tồn tại. Đúng là trong chiến tranh, trong chiến trận, cái cảm giác sống từng ngày ấy nó rõ lắm...
       
         - Đúng vậy!  tôi nói, MiG21 bọn tôi quả là vào trận và thoát li khỏi trận có dễ hơn các anh chút đỉnh thật. Cũng chính vì thế mà mỗi lần MiG17 bắn rơi được một máy bay, nhất là lại là F4 nữa thì đáng trân trọng lắm, nó lớn lao lắm. Loại MiG nào bắn hạ được máy bay của Mỹ thì chiến công cũng đều vẻ vang, nhưng với tôi thì MiG17 của các anh vẻ vang hơn nhiều. Càng khó khăn bao nhiêu thì thắng lợi càng huy hoàng bấy nhiêu mà!...
       
        Phạm Cao Hà, cựu phi công tiêm kích MiG19 tâm sự:
       
         - Ngày ấy, khi biên đội của tôi vào cấp, chưa cất cánh, tôi nhìn về phía Yên Bình thì thấy một chiêc MiG21 bị bắn. Sau mới biết đấy là máy bay của anh Cao Sơn Khảo. Biên đội của anh Phạm Ngọc Tâm quần nhau với lũ F4 ở trên đinh sân bay rồi bọn tôi lên thì tôi thấy Phúc bắn được một chiếc. Trận chiến căng thẳng thật. Khi biên đội của chúng tôi thoát li khỏi không chiến, lúc tôi trên đường xuống hạ cánh thì thấy một chiếc xông ra ngoài đường băng, gãy cánh. Đấy là máy bay của anh Sơn c. Khi tôi xuống đến độ cao chừng 150  170 mét thì nghe thấy tiếng anh Vân hô: "Máy bay nào đang vào hạ cánh có địch bám theo sau đấy!". Tôi nghĩ chắc chắn là mình rồi. Tôi vội thu càng, tăng cửa dầu nhưng không dám thu cánh tà ngay, tăng tốc độ và quay lại, thấy một thằng F4 ở phía sau. Tôi kéo gấp máy bay để đối đầu thì nó cũng quay gấp lại, tăng tốc bỏ chạy. Tôi đuổi theo. Nó lao xuống thấp, tăng hết tốc lực, khói sau đuôi đen sì. Máy bay tôi dần tụt lại sau, không theo kịp. Tôi nghĩ, mình mà có tên lửa K13 (tên lửa không đối không) thì thằng này chắc toi. Tôi đuổi đến Yên Châu thì quay về vì lượng dầu chỉ còn có 100 lít. Tôi xin hạ cánh trực tiếp. Tiếp đất xong thì thấy một máy bay đã nằm ngoài đường băng, ngay đường đê đi Cổ Phúc. Đấy là máy bay của Tưởng và anh đã hy sinh sau cú hạ cánh ấy. Ngày 10 tháng 5 ấy đúng là ngày thật căng thẳng, thật ác liệt vì phải quần nhau với địch quá lâu. Bọn địch thì lại chủ động tìm cách tiêu diệt mình, nó có những tốp như khiêu khích, nhử mình lên để bọn khác xông vào diệt. Chẳng những hôm 10 tháng 5 mà những ngày sau đó đều thế... Mà thật xót xa khi đồng đội mình hy sinh nhiều. Thì đấy, hai biên đội bốn chiếc của bọn tôi, mất đến ba còn gì... Mãi tận sau này tôi được biết, từ năm 1967, Mỹ đã tiến hành chiến dịch tiêu diệt MiG với tên gọi "Chiến dịch Bolo". Chúng đã có chương trình TOP GUN cho Hải quân, rồi RedFlag cho Không quân... Giai đoạn ấy chúng muốn kiểm nghiệm kết quả của chương trình TOP GUN. Các máy bay F4 lúc bấy giờ cũng đã được cải tiến, lắp thêm cánh tà trước nên tính năng khí động học tốt hơn, được trang bị loại tên lửa mới cả súng Cannon 20 ly để không chiến ở cự ly gần. Một số máy bay F4 được trang bị thiết bị điện tử thuộc hệ thống AXP80 Combat Tree, có khả năng xâm nhập vào hệ thống liên lạc đối không và hệ thống phân biệt địch, ta SRO2, SRZO2 và SOD57 của MiG. Nó có khả năng nhanh chóng xác định thời điểm cất cánh và vị trí của các máy bay MiG, nó giúp cho bọn tìm diệt MiG (MIG CAP) với hiệu quả lớn lắm đấy. Không biết các biên đội của các anh thế nào chứ tôi với Khảo thì bị nhiễu đối không đến kinh khủng. Chuyển sang liên lạc ở rãnh phụ thì chỉ mấy phút sau là bọn chúng đã lại phát hiện, lại gây nhiễu rồi. Chính vì thế mà biên đội chúng tôi chẳng thế liên lạc được với nhau và Sở chỉ huy cũng không thể chỉ huy, giúp đỡ liên tục được. Ngày hôm ấy, bọn tôi cũng mất hai phi công đấy thôi. Mà thực ra, với MiG19 hôm ấy thì chỉ có Phúc và Oánh là bị bắn. Oánh thì do chốt khóa dù gài không chặt nên hy sinh một cách vô lí. Tưởng thì là do hạ cánh bị tai nạn chứ đâu phải thằng Mỹ diệt ba người đâu. Dầu sao đấy cũng là một ngày căng thẳng...


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Một, 2017, 05:43:20 PM
       
        - Ừ, đúng là một ngày căng thẳng và ác liệt thật!...
       
        Hoàng Cao Bổng, cựu phi công tiêm kích MiG19 khi nhắc đến ngày này thì kể:
       
         - Lê Văn Tưởng về hạ cánh thì tiếp đất ở tận chỗ cất cánh, tức là tận đầu đằng kia của đường băng, tốc độ lớn lắm, vừa tiếp đất xong thì nghe nổ bum bùm mấy tiếng. Mấy chiếc lốp nổ mà. Sau đó xông ra ngoài đất luôn. Chạy hết đường bảo hiểm ở đầu Bắc có mấy trăm mét thì là đường đi Cô Phúc rồi còn gì. Vậy là Tưởng lao vào đấy và hy sinh. Giá như Tưởng nhảy dù được thì chỉ mất máy bay thôi chứ không mất phi công. Trước đó thì Sơn c đã hạ cánh bắt buộc hỏng một máy bay rồi... Những ngày ấy là những ngày mới được tham chiến nên còn bỡ ngỡ lắm, đã làm gì có kinh nghiệm chiến đấu, trong khi bọn Mỹ thì có chủ trương diệt ta đàng hoàng. Bọn tôi vòng tại chỗ trên đỉnh sân bay nên cũng là ở vào thế bị động. Bọn địch thì từ xa lao vào đánh xong lại vọt ra xa rồi dùng bọn nhử mồi để chúng tôi đuổi để cho bọn khác từ xa lao vào tấn công. Biên đội bốn chiếc thực ra là cồng kềnh, cơ động kém. Sau mấy trận ấy, chúng tôi về rút kinh nghiệm, chỉ bay biên đội hai chiếc và học theo cách đánh của MiG21 là nửa đánh chặn nên thoáng hơn nhiều.
       
        - Trận ấy các anh có bị nhiễu đối không không?
         
        - Trận ấy thì không bị, mãi thời gian sau này mới bị, nhưng hôm ấy, Đài chỉ huy ở sân bay nói nhiều quá nên không dành được nhiều thời gian cho sự chỉ huy trong biên đội.
       
        - Vậy đấy! Hôm đó thì biên đội tôi bị nhiễu đối không từ rất sớm nên tôi và Khảo không liên lạc được với nhau, với cả sở chỉ huy cũng vậy. Anh nói bọn F4 luôn có thằng nhử mồi là đúng đấy. Cái thằng bay qua tôi rồi kéo lên ấy cũng không phải là ngoại lệ đâu. Nó có ý đồ cả. Tôi nhanh chóng lấy điểm ngắm rồi phóng tên lửa và thoát ly luôn nên mới tránh được mấy quả tên lửa bắn tôi ngay sau lúc ấy đấy. Nếu tôi cứ giữ ổn định hướng bay để xem kết quả của mình thế nào thì chắc cũng "bị" rồi. Nhiều lần tôi ngồi tâm sự với anh Lê Hải thì anh ấy đều nói: "Trong trận không chiến, luôn luôn phải nghĩ rằng đằng sau mình lúc nào cũng có thằng sẵn sàng bắn mình. Mà phải cảnh giác nhất với cái thằng tự dưng lại xông lên trước mình, bay như thằng ngu ngơ. Đấy chính là con mồi đấy. Mình mà theo nó là thằng khác bay sau sẽ đập mình luôn!". Tôi cứ nghĩ có khi Cao Sơn Khảo cũng rơi vào tình cảnh ấy, mải miết diệt con mồi thì cuối cùng chính mình cũng bị... Các biên đội của các anh còn về hạ ở sân căn cứ của mình, chứ bọn tôi đánh xong là tan tác, mỗi người hạ mỗi nơi cả..
       
        - Ngày ấy quả là ngày căng thẳng và ác liệt thật!...
         
        Phạm Hùng Sơn, cựu phi công tiêm kích MiG19 nói:
       
         - Ngày 10 tháng 5 năm 1972 là ngày tôi xáp trận đầu tiên, lần đầu tiên quần nhau với địch. Trước đó hai ngày, vào ngày 8 tháng 5 biên đội của tôi gồm Phạm Ngọc Tâm số 1, tôi số 2, Phùng Văn Quảng số 3, Nguyễn Mạnh Tùng số 4 đã xuất kích từ đầu nam sân bay Yên Bái lên yểm hộ cho biên đội của các anh Nguyễn Ngọc Tiếp, Nguyễn Đức Tiêm, Nguyễn Hồng Sơn A, Nguyễn Hùng Sơn B sau không chiến về hạ cánh. Tuy nhiên, lần ấy bọn tôi không gặp địch. Chỉ đến ngày 10 tháng 5 là chúng tôi mới gặp địch, mới quần nhau với chúng thôi. Tuy lần đầu tiên gặp địch, nhưng bọn tôi hăng lắm, không hề có cảm giác sợ hãi, chỉ nghĩ ràng nó vào đánh mình thì mình phải đánh lại, phải giữ bằng được sự an toàn cho các mục tiêu mà mình phải bảo vệ. Lúc biên đội tôi về hạ cánh thì tôi phải quay lại phản kích vì có F4 bám sau. Tôi phản kích, đuổi thằng F4 đến Mộc Châu mới quay lại. Khi vào hạ cánh, ở độ cao 2.000 mét thì máy bay tôi hết dầu, chết máy. Sở chỉ huy lệnh cho tôi nhảy dù. Tôi lại nghĩ, mình đã trên đỉnh sân bay, độ cao có, với lại tiếc máy bay lắm, chưa chi đã vứt bỏ nó thì sao đành, thế là tôi quyết định hạ cánh bắt buộc trên sân bay. Lê Văn Tưởng cũng nhận được lệnh nhảy dù, nhưng chắc trùng ý nghĩ vói tôi nên cũng về hạ cánh bắt buộc đấy chứ. Có điều, Tưởng vào cao quá, khi tiếp đất xong lại bị nhảy cóc, lần tiếp sau thì quá xa mà lại bị nổ lốp nữa vì thế mới xông ra tận đường đi cổ Phúc, đâm vào đó và hy sinh. Tiếc thương thế đấy. Tới ngày 23 tháng 5 năm 1972 thì biên đội của tôi gồm Hoàng Cao Bông, Vũ Chính Nghị, Nguyễn Hồng Sờn A và tôi xuất kích lần thứ hai vào buổi chiều. Nguyễn Hồng Sơn A và tôi trong trận này đã bắn rơi hai chiếc F4, mỗi người nện rơi một chiếc. Mà trong trận này, bọn tôi bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 3.600 đấy. Biên đội của chúng tôi đã được cấp trên khen thưởng và hai anh em tôi, mỗi người được nhận một Huy hiệu Bác Hồ..., nhưng muốn nói gì thì nói, ngày 1051972 vẫn là ngày căng thẳng đến ghê gớm. Ngày ghê nhất trong cuộc không chiến đấy!...


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Một, 2017, 12:58:03 AM
       
        Lê Thanh Đạo, cựu phi công tiêm kích MiG21 kể:
       
         Trận ngày 10 tháng 5 năm 1972 không phải là trận đầu của tôi. Trận đầu của tôi là vào ngày 18 tháng 12 năm 1971 cơ, nhưng trận ấy đánh như là trong diễn tập ấy mà. Tôi không trực vào ngày ấy mà là anh Phạm Phú Thái. Vì anh Thái đi nhận nhiệm vụ khác nên tôi ra trực thay cho anh Thái. Biên đội của tôi và Võ Sĩ Giáp được lệnh xuất kích chiến đấu. Trong trận ấy, hai anh em chúng tôi phát hiện được một thằng F4 và đã quyết định công kích. Tôi nện một quả tên lửa, nó rơi ngay và anh em chúng tôi thoát li về sân bay hạ cánh. Chẳng có gì căng thẳng cả. Nhưng ngày 10 tháng 5 năm 1972 thì căng thẳng hơn gấp nhiều lần, căng thẳng kinh khủng vì ngay từ sáng sớm chúng đã đánh sân bay rồi. Rồi mình lại tận mắt chứng kiến bọn F4 nó bắn biên đội Ngự, Ngãi khi đang cất cánh nữa. Tôi với Hợp ngồi trực trong buồng lái ở ngay ngoài đầu sân bay mà, thấy rõ lắm, điên tiết lắm, nghĩ phải trả thù cho bằng được. Căng thẳng thì rất căng thẳng nhưng không sợ. Phải nói thẳng, với cánh phi công bọn mình có lẽ chỉ sợ khi nhận được thông báo mục tiêu mà mình chẳng phát hiện được nó ở đâu cả, chứ khi đã phát hiện được mục tiêu rồi thì còn gì mà sợ nữa, đúng không? Nhưng mà bọn phi công Mỹ thì sợ đấy!
       
        Lê Thành Chơn, cựu sĩ quan dẫn đường của Binh chủng Không quân thời ấy nhớ lại:
       
         Ngày ấy dữ dội lắm! Lúc sáng thì thời tiết không tốt lắm, nhất là ở khu vực sân bay Kép. Chỉ mỗi khu vực sân bay Kiến An là ổn định từ sáng và tốt cả ngày. Tầm gần 10 giờ trưa thì trời bỗng bừng sáng, đảm bảo đủ mọi điều kiện cho các chuyến bay. Trên sân bay Kép, các bạn z (Triều Tiên) đã về nước. Lực lượng của Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 trực chiến tại đấy. Có cả lực lượng của các Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 và 927 cũng ở đó nữa. Tinh thần chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của phi công ta rất cao. Tôi ngồi dẫn ở Sở chỉ huy hầu như suốt cả ngày. Đầu tiên thì dẫn cho lực lượng của Trung đoàn Không quân tiêm kích 927, sau rồi cho 923, tiếp lại dẫn cho 921 rồi 925. Nghĩa là hầu như không rời "bàn tròn" lúc nào (bàn tròn là bàn trực dẫn đường và chỉ huy trong Sở chỉ huy). Không kịp cả ăn cơm trưa nữa vì cứ báo động chuyển cấp liên tục. Dữ dội thật! Tôi rất ấn tượng với lực lượng MiG19 của Trung đoàn Không quân tiêm kích 925. Ngày ấy là ngày xuất quân lần thứ hai thôi mà đánh rất hay. Nói chung, các lực lượng của ta chiến đấu đều tuyệt cả.
       
        Lưu Văn Cộng, cựu sĩ quan dẫn đường của Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 nhớ lại:
       
         Ngày 10 tháng 5 năm 1972 thì Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 mới xuất quân chiến đấu là ngày thứ hai thôi. Giai đoạn ấy, thằng Mỹ chưa hiểu hết được tính năng của MiG19 nên có lúc đối phó còn lúng túng, đang trong thời kỳ thăm dò nên còn chưa đưa ra được biện pháp chống đối. Sau này thì chúng mới tìm ra thủ đoạn đánh trả nên chúng tôi mới gặp những khó khăn đáng kể, nhưng ngày hôm ấy, ta vừa ra quân thắng lợi hôm 8 tháng 5 xong nên còn đang phấn khích lắm, tất cả các thành phần đều hăng hái, không khí chiến đấu cứ hừng hực. Rủi thế nào mà các đài rađa của C30 ở Thanh Cù (Phú Thọ) lại bị trục trặc, mãi không khắc phục được nên tôi và anh Triệu Sĩ Việt gặp khó khăn kinh khủng, đành phải dẫn qua rađa Po12. Anh thì anh biết thừa tính năng của Po12 rồi, nó chỉ cho biết khu vực có địch thôi chứ nào biết được cụ thể vị trí địch ở đâu đâu. Thế là đành "dẫn mò"  nói theo cách của dẫn đường bọn tôi là thế. "Dẫn mò" qua tiêu đồ xa  tiêu đồ 9/9 ấy. Cứ phải thông báo liên tục về khu vực có địch cho tới khi phi công phát hiện mục tiêu. Căng thẳng lắm! Ngày hôm ấy đúng là ngày căng thẳng thật sự. Căng thẳng ở đủ mọi khía cạnh!
       
        Tạ Quốc Hưng, cựu sĩ quan dẫn đường của Trung đoàn Không quân 921:
       
         Hồi ấy trực dẫn đường ở Sở chỉ huy chủ yếu là tôi và anh Trần Đức Tụ. Anh Trần Đức Tụ dịp đó lại đang trực trong Bl (sân bay Thọ Xuân, Thanh Hóa). Ngoài này còn mỗi mình tôi. Ngày hôm ấy, các lực lượng của các trung đoàn Không quân tiêm kích của mình đều được sử dụng hết, đều xuất kích chiến đấu hết. Nếu so sánh giữa lực lượng của mình và của bọn Mỹ thì thấy chênh lệch quá lớn. Cứ so sánh đơn thuần như thế thì mình không thể nào đánh được và có lẽ cũng chẳng dám xuất kích nữa. Nhưng mình đã đánh những trận đánh thật ngang ngửa với thằng Mỹ. So sánh kết quả trận đánh trong ngày có thể thấy Không quân ta đã lớn mạnh, dần dần đã xứng tầm, đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ. Cũng phải thấy các cán bộ chỉ huy của ta đã rất thông minh, linh hoạt, tìm được cách đánh, cách ứng phó với chiến thuật của Mỹ cho phù hợp với chiến trường Việt Nam và cách đánh riêng của Không quân Việt Nam. Cái giỏi của ta là như thế! Còn nói gì về ngày ấy nữa ư?  Đấy là một ngày thật dài và nhiều trận không chiến căng thẳng đã xảy ra. Đấy là một ngày đối chọi về trí tuệ của những người chỉ huy và của các phi công ở cả hai bên. Kết quả trận đánh đã cho thấy, ta đã lớn mạnh lên rất nhiều!...


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Một, 2017, 12:58:29 AM
       
        Hơn 40 năm sau chiến tranh, vào dịp trung tuần tháng 4 năm 2016, tôi có được cơ hội gặp các phi công Mỹ từng tham chiến trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam  những đối thủ "không đội trời chung" của chúng tôi một thời, như Sácli Tút (Charlie Tutt), Chuẩn Đô đốc Kennét Pit Píttigơru (Kenneth Pete Pettigrew), Chuẩn Đô đốc Giôn Cơ (John E. Kerr), Đại tá Rích Hácnách (Rick Hartnack), Đại tá Ken IUynh (Kent Ewing), Đại tá Cơlin Giônxơn (Clint Johnson), Đại tá Đếp Xkilinh (Dave Skilling), Đại tá Giách Enxtrơ (Jack Ensch), Đu Líttơ (Doug Little), Gim Hugơuôp (Jim Hoogerwerf)..., đặc biệt là cả Trung tá Cơtítx Đô  người từng có mặt trong ngày 1051972 và đã bắn rơi phi công Nguyễn Văn Ngãi ở sân bay Kép.
       
        Chúng tôi ngồi trao đổi với tư cách các cựu binh phi công gặp nhau. Trung tá Cơtítx Đô vẫn nhớ toàn bộ trận đánh, trình bày lại từ đầu đến cuối và muôn đi thăm lại nơi từng diễn ra trận đánh ấy, đồng thời muốn đến thắp nhang cho người phi công mà Cơtítx Đô đã bắn rơi, đã hy sinh trong ngày hôm ấy.
       
        Cơtítx Đô đã được gặp người chị gái và một người cháu của phi công Nguyễn Văn Ngãi cùng các phi công cùng trang lứa của Nguyễn Văn Ngãi là Nguyễn Khánh Duy. Lê Văn Hoàn... trong một chương trình do VTV4 tổ chức.
         
        Cơtítx Đô cũng đã được bố trí về thăm gia đình liệt sĩ phi công Nguyễn Văn Ngãi, được đưa ra nghĩa trang để thắp hương viếng phi công Nguyễn Văn Ngãi và được ăn bữa cơm trưa cùng với gia đình. Cơtítx Đô thực sự cảm động khi chứng kiến cách đối xử đầy tính nhân văn, đạo lý và nghĩa tình của gia đình phi công Nguyễn Văn Ngãi và của những con người Việt Nam mà ông được gặp.
       
        Tôi hỏi Trung tá thực sự về cảm tưởng khi bay ra bầu trời miền Bắc Việt Nam, thì thực sự không ngần ngại, ông trả lời ngay: "Sợ! Rất sợ! Tôi luôn luôn sợ!".
       
        Đúng thực! Không sợ mới là lạ! Hệ thống hỏa lực Phòng không của ta dày đặc và hiệu quả như thế, MiG21 của ta hoạt động thoắt ẩn thoắt hiện vối những đòn đánh táo bạo, bất ngờ như vậy không sợ sao được!
       
        Rồi ông cũng hỏi tôi: "Nếu giữa MiG21 và F4 đế lựa chọn thì ông sẽ bay loại nào?". Tôi trả lời ngay tắp lự: "MiG21! Bởi đấy không chỉ là loại vũ khí lợi hại chúng tôi từng sử dụng, từng đánh thắng, mà còn là tình yêu của tôi nữa! Mấy chục năm trời tôi gắn bó với nó như với người bạn tri âm tri kỷ. Nó cũng tựa như con chiến mã theo tôi suốt những năm tháng chiến tranh, cùng vào sinh ra tử, từng hứng chịu những vết thương trong chiến trận. Nó không phải là cục sắt biết bay, là vật vô tri vô giác đâu. Nó có hồn!. Rất có hồn! Nhờ có nó mà chúng tôi đã giành thắng lợi trong nhiều cuộc không chiến. Nhờ có nó mà chúng tôi đã vượt qua "cổ họng" của cuộc chiến tranh với tư thế người chiến thắng!".
       
        Những cuộc chiến trên đất nước ta đã lui về dĩ vãng, nhưng nhiều nơi trên thế giới vẫn còn bom rơi đạn nổ, máu vẫn chảy và nhiều người dân vô tội vẫn phải hứng chịu những cái chết vô lý. cầu mong cho thế giới luôn được sống trong hòa bình, không còn chiến tranh, để bầu tròi luôn xanh trong, không bao giờ bị vẩn đục bởi khói đạn khói bom, để không bao giờ còn những giọt nước mắt đau khổ lăn trên mặt những người mẹ, những người vợ, những người chị, những người em gái và con cháu của tất cả chúng ta...


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Một, 2017, 08:48:13 PM
         
        VĨ THANH
       
        Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, nhưng tôi vẫn luôn nhớ về nó, nhớ về cái ngày 10 tháng 5 năm 1972, nhớ về tất cả những trận không chiến mình từng tham gia, nhớ về những trận không chiến đồng đội mình từng đối mặt với lực lượng kẻ thù đông gấp bội phần. Tôi thường hay mơ mình cất cánh lên trời trong đội hình cùng các đồng đội và cũng thường hay mơ, hay nói chuyện với những người đã ngã xuống trong các trận không chiến. Họ như vẫn đang còn sống, vẫn đùa vui, hóm hỉnh, thậm chí cả những tính cách khi nổi giận, hoặc khi vui bất chợt...
       
        Tôi không thể quên được những người đã cùng tôi lặn lội, chìm nổi trong những tháng năm ấy, đặc biệt là những người đã hy sinh chính bản thân mình cho bầu trời mãi được yên bình. Đừng bao giờ quên và lại càng không được lãng quên những gì mà bao lớp người đi trước đã ngã xuống để giành giật lại cho những thế hệ sau. Tôi muốn nhắn nhủ lại qua những lời tâm sự trong bài thơ "Nói với con":
         
                                                   Bố đưa con đến dưới tượng đài
                                                   Nơi tưởng niệm những anh hùng, liệt sĩ
                                                   Nơi có biết bao người yên nghỉ
                                                   Người có tên và cả vô danh
                                                   Trên đầu con thăm thẳm cao xanh
                                                   Chan hòa nắng, thanh bình, yên ả
                                                   Cây óng biếc, mượt mà sắc lá
                                                   Giữa không gian tĩnh lặng đến không ngờ
                                                   Con biết chăng, mảnh đất này năm xưa
                                                   Bom đạn xới, bập dầm trong khói lửa
                                                   Những ngày ấy, sục sôi bao trang lứa
                                                   Rất nhiều người cùng trạc tuổi như con
                                                   Dám gạt đi mọi ước muốn cá nhân
                                                   Chấp nhận hy sinh để giữ yên Đất Mẹ
                                                   Nếu không có những người như thế
                                                    (Có tên và không tên trên bảng đá này)
                                                   Thì cả con, cả bố hôm nay
                                                   Đâu được đứng dưới tượng đài chiến thắng
                                                   Bố muốn nói với con điều sâu lắng
                                                   Học đi con!
                                                   Học nữa! Để LÀM NGƯỜI!...

         
        Trong số những chỉ huy, dẫn đường, phi công tham gia trong ngày 10 tháng 5 năm 1972 ấy, có rất nhiều người đã và sau này được phong tặng, truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, như Trần Hanh, Lâm Văn Lích, Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Ngọc Độ, Đặng Ngọc Ngự, Lê Thanh Đạo, Nguyễn Đức Soát, Nguyễn Tiến Sâm, Nguyễn Văn Nghĩa, Ngô Duy Thư, Tạ Đông Trung, Hoàng Mai Vượng, Đào Đình Luyện, Hán Vĩnh Tưởng...
       
        Tới nay, nhiều người đã "ra đi" vì tuổi tác, vì bệnh tật, như các ông Đào Đình Luyện, Trần Mạnh, Hồ Luật, Lê Viết Diện, Nguyễn Xuân Hiển, Lâm Văn Lích...
       
        Những người còn lại thì ở rải rác khắp nơi, khắp mọi miền của Tổ quốc, mỗi người một thân phận nhưng chắc rằng, họ không thể không nhớ những trận không chiến đã xảy ra trong ngày 10 tháng 5 năm 1972 bởi chính họ đã từng tham gia, từng là nhân chứng. Có thể, ai đó cũng đã có dự định hoặc đã viết về ngày này. Có thể, có những điều trùng lặp với những ý nghĩ của tôi hoặc cũng có thể khác đi, nhưng tôi tin rằng, ai cũng có phần tự hào vì mình đã từng đóng góp được chút gì đó cho quê hương, đất nước, cho bầu trời mãi xanh trong, không còn bị vẩn đục bởi khói đạn bom và những tiếng rít chết chóc, ghê rợn...


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Một, 2017, 08:48:40 PM
         
        Riêng với người bay số 2 cho tôi, phải mất nhiều năm sau chiến tranh tôi mới có dịp về quê anh Cao Sơn Khảo vào đúng ngày 10 tháng 5. Hôm ấy, tôi và anh Hà Quang Hưng  người cùng Đoàn bay MiG21 khóa 3 với tôi và cũng là đồng hương Ý Yên với anh Cao Sơn Khảo lần tìm đến nhà anh Cao Xuân Hưu  anh trai của Cao Sơn Khảo. Vừa thấy tôi, chắc do linh tính mách bảo, anh Cao Xuân Hưu hỏi ngay:
       
           Chú là chú Huy phải không?
       
           Vâng, em là Huy ạ!
       
        Vậy là anh Hưu khóc òa lên:
       
         Bao nhiêu năm nay tôi cứ mong gặp chú mà tận bây giờ mới gặp được! Ôi, chú Khảo ôi!...
        Mắt tôi cũng mọng nước nhưng tôi ghìm lại được, phải cắn chặt môi để tiếng khóc không bật ra.
        Anh Cao Xuân Hưu dắt anh em chúng tôi vào nhà, thắp hương cho anh Cao Sơn Khảo rồi cùng nhau ra nghĩa trang viếng mộ anh Cao Sơn Khảo.
       
        Mấy anh em ra nghĩa trang. Khi đến mộ của Cao Sơn Khảo thì tôi không kìm nổi mình nữa. Tiếng nấc cứ thê bật ra và tôi cũng để mặc cho những dòng nước mắt của mình trào tuôn, không giữ gìn gì nữa. Tôi đã khóc như chưa bao giờ được khóc...
       
        Trong làn khói hương nhạt nhòa, tôi như thấy lại được bóng hình của Cao Sơn Khảo. Giàn giụa nước mắt, tôi ngước nhìn lên trời xanh. Không còn những điểm nổ, không tiếng gầm rít của các loại máy bay... Bầu trời hoàn toàn yên tĩnh... Gió khẽ lay động những hàng cây quanh nghĩa trang. Mùi khói hương quyện lẫn với mùi hoa đại đang nở rộ trong nghĩa trang tạo thành mùi hương lạ lùng. Tôi nôn nao, bâng khuâng trong những cung bậc thăng trầm của cảm xúc...
        Trước trận ngày 10 tháng 5 thì Cao Sơn Khảo không phải là số 2 của tôi. Trong tháng 4, Cao Sơn Khảo thường đi với Hoàng Quốc Dũng. Trận không chiến ngày 27 tháng 4, trên vùng trời Thanh Hóa, biên đội Hoàng Quốc Dũng, Cao Sơn Khảo đã đánh một trận thắng ngoạn mục trong thời gian rất ngắn.
       
        Hôm ấy, vào lúc 16 giờ 21 phút, trạm rađa phát hiện được một tốp tám chiếc bay từ biển vào phía đông nam Thanh Hóa 80 kilômét, hướng về cửa Lạch Trường. Hoàng Quốc Dũng và Cao Sơn Khảo đang trực ban chiến đấu trên sân bay Thọ Xuân nhận lệnh xuất kích lấy hướng về phía Hòa Bình  Vụ Bản. Khi lên đến độ cao 5.000 mét và quay về phía Nam, được Sở chỉ huy thông báo tình hình địch, Hoàng Quốc Dũng đã nhanh chóng phát hiện được biên đội hai chiếc F4 bay ở phía dưới. Hoàng Quốc Dũng phân công cho Cao Sơn Khảo đánh chiếc F4 bay phía bên trái còn mình thì đánh chiếc bên phải rồi lập tức lật máy bay lộn xuống bám sau biên đội F4. Đến cự ly 1.500  1.700 mét vì tốc độ hơn 1.000 km/h, Hoàng Quốc Dũng ấn nút phóng tên lửa. Quả tên lửa không đối không vọt ra khỏi bệ phóng, bay hơi ngoằn ngoèo rồi lao thẳng về phía mục tiêu. Hoàng Quốc Dũng kéo máy bay mình lên cao, thoát ly và quan sát định lao xuống bắn tiếp quả thứ hai, nhưng đã thấy chiếc máy bay F4 bốc cháy. Hoàng Quốc Dũng bay về sân bay Đa Phúc hạ cánh lúc 16 giờ 48 phút.
       
        Cao Sơn Khảo sau khi nhận lệnh đánh chiếc bên trái, lật máy bay mình, lộn xuống để bám theo, nhưng vì tốc độ nhỏ hơn nên cự ly với thằng F4 bị xa, không kịp tiếp cận nên quyết định không đuổi theo và cũng quay về hạ cánh tại sân bay Đa Phúc lúc 16 giờ 57 phút.
       
        Trận không chiến này, biên đội Hoàng Quốc Dũng, Cao Sơn Khảo đã bắn rơi chiếc F4B đầu tiên của Hải quân Mỹ trong giai đoạn hai của cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân ra miền Bắc Việt Nam.
       
        Cao Sơn Khảo còn bay số 2 với Hoàng Quốc Dũng một thời gian nữa rồi trước ngày 10 tháng 5 thì lại biên chế sang đi số 2 cho tôi. Một thời gian ngắn ở với nhau thôi, nhưng Cao Sơn Khảo cũng đã kịp dạy cho tôi cách chơi bóng bàn bằng vợt dọc. Chàng trai Ý Yên ấy đánh vợt dọc rất hay, rất linh hoạt và hiệu quả.
       
        Rồi cũng từ đó, hằng năm cứ đến ngày 10 tháng 5 thì tôi lại cùng các anh Hà Quang Hưng, Hoàng Quốc Dũng, Nguyễn Văn Quang và một số người khác về nhà anh Cao Xuân Hưu để thắp hương viếng anh Cao Sơn Khảo, để lại được ngồi hàn huyên với gia đình, được ôn lại một thời đã qua và thấy được những biến đổi của thời đang sống...
       
        Cũng nhiều năm sau chiến tranh, càng gần đến cái "ngày dài không chiến" ấy thì tôi lại càng như nghe thấy những tiếng nổ, tiếng rít ghê rợn, liên tục, dày đặc và cảm thấy căn phòng của mình ngột ngạt, rung chuyển đến kinh khủng...
       
        Bất giác, tôi mở cửa, bước ra ngoài. Bầu trời đầy nắng và chan hòa gió. Gió lật tung các tán lá cây. Những chùm hoa phượng đỏ rực rỡ. Và tiếng ve râm ran khắp nơi... Lại nhớ đến những câu thơ: "Tiếng ve ran như tiếng gọi cuộc đời Hoa phượng đỏ như chưa hề đỏ thế Yêu cho hết lòng yêu đâu phải dễ Ôi gió hè cứ quạt mãi hoa lên..."
       
        Mỗi khi tháng 5 đến! Nhất là ngày 10 tháng 5 cũng đến gần rồi. Ây là gần đến ngày giỗ của Cao Sơn Khảo  người bay số 2 cho tôi năm nào rồi.
       
        Tôi lại chuẩn bị cùng mấy anh em nữa về Ý Yên để thắp nhang viếng Cao Sơn Khảo...


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Một, 2017, 08:58:37 PM
         
        DANH SÁCH CÁC CHỈ HUY DẪN ĐƯỜNG VÀ PHI CÔNG LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG TRẬN KHÔNG CHIẾN NGÀY 10/5/1972
       
        TRỰC CHỈ HUY CÁC CẤP
       
        Tư lệnh Đào Đình Luyện.
        Phó Tư lệnh Trần Mạnh.
        Phó Tư lệnh Trần Hanh.
        Phó Chính ủy Hồ Luật.
       
        Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 921 Nguyễn Ngọc Độ.
        Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 923 Lâm Văn Lích.
        Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 925 Hồ Văn Quỳ.
        Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 927 Nguyễn Hồng Nhị.
         
        TRỰC BAN DẪN ĐƯỜNG CÁC CẤP
       
           Lê Thành Chơn
           Khổng Đức Thi
           Đỗ Cát Lâm
           Lê Viết Diện
           Đặng Văn Hảo (A)
           Tạ Quốc Hưng
           TỐng Bá Nhưỡng
           Phạm Từ Tịnh
           Vũ Đức Bình
           Nguyễn Văn Được
           Lưu Văn Cộng
           Triệu Sĩ Việt
           Hoàng Kế Thiện
           Phạm Thanh Soát
           Vương Kính
           Trần Đức Thủy
           Nguyễn Dũng
           Lê Thiết Hùng
           Nguyễn Hoàng Hải
           Nguyễn Đăng Điển
           Nguyễn Văn Hưng
         
        PHI CÔNG
       
        Phi công tiêm kích MiG17:

       
           Vũ Văn Đang
           Nguyễn Công Ngũ
           Trịnh Văn Quy
           Nguyễn Văn Lâm
           Đỗ Hạng
           Nguyễn Xuân Hiển
           Lương Quốc Bảo
           Nguyễn Văn Hùng
           Nguyễn Hùng Vân
           Ngô Sơn
           Nguyễn Văn Thọ
           Tạ Đông Trung
           Nguyễn Văn Nhượng
           Trà Văn Kiếm
           Nguyễn Phú Ninh
           Trương Công Thành
           Trần Cao Thăng
           Hán Vĩnh Tưởng
           Hoàng Mai Vượng
       
        Phi công tiêm kích MiG19:
       
           Phạm Ngọc Tâm
           Phạm Hồng Sơn (C)
            Nguyễn Văn Phúc
           Lê Đức Oánh
           Hoàng Cao Bổng
           Phạm Cao Hà
           Nguyễn Văn Cương
           Lê Văn Tưởng
       
        Phi công tiêm kích MiG21
       
           Đặng Ngọc Ngự
           Nguyễn Văn Ngãi
           Nguyễn Công Huy
           Cao Sơn Khảo
           Hoàng Quốc Dũng
           Bùi Thanh Liêm
           Nguyễn Đức Soát
           Ngô Duy Thư
           Nguyễn Văn Nghĩa
           Hạ Vĩnh Thành
           Lê Thanh Đạo
           Vũ Văn Hợp
           Đỗ Văn Lanh
       
        CÁC PHI CÔNG TRỰC TIẾP THAM GIA CÁC TRẬN KHÔNG CHIẾN
       
           Nguyễn Văn Thọ
           Tạ Đông Trung
            Đỗ Hạng
           Trà Văn Kiếm
           Phạm Ngọc Tâm
           Phạm Hồng Sơn (C)
           Nguyễn Văn Phúc
           Lê Đức Oánh
           Hoàng Cao Bổng
           Phạm Cao Hà
           Nguyễn Văn Cương
           Lê Văn Tưởng
           Đặng Ngọc Ngự
           Nguyễn Văn Ngãi
           Nguyễn Công Huy
           Cao Sơn Khảo
           Lê Thanh Đạo
           Vũ Văn Hợp


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 04:44:52 PM
           
CÁC CHỈ HUY, DẪN ĐƯỜNG VÀ PHI CÔNG THAM CHIẾN NGÀY 10/5/1972

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/01%20T%20lenh%20Dao%20Dinh%20Luyen_zpsg2teat52.jpg)
Tư lệnh Đào Đình Luyện

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/02%20Pho%20tu%20lenh%20Tran%20Mnh_zpsjdmk6zlp.jpg)
Phó tư lệnh Trần Mạnh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/03%20Pho%20tu%20lenh%20Tran%20Hanh_zpsg6xlhfto.jpg)
Phó tư lệnh Trần Hanh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/04%20Pho%20chinh%20uy%20H%20Lut_zps0pywjwtb.jpg)
Phó chính ủy Hồ Luật


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 05:03:44 PM
         
   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/05%20Trung%20doan%20trng%20trung%20doan%20khong%20quan%20921%20Nguyn%20Ngc_zpsqo8wvway.jpg)
Trung đoàn trưởng trung đoàn không quân 921 Nguyễn Ngọc Độ


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/06%20Trung%20oagraven%20phoacute%20trung%20oagraven%20khocircng%20quacircn%20923%20Lacircm%20Vn%20Liacutech_zpsvfbq7hy9.jpg)
Trung đoàn phó trung đoàn không quân 923 Lâm Văn Lích


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/07%20Trung%20oagraven%20phoacute%20trung%20oagraven%20khocircng%20quacircn%20925%20H%20Vn%20Qu_zpsbjlghf9u.jpg)
Trung đoàn phó trung đoàn không quân 925 Hồ Văn Quỳ


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/08%20Trung%20oagraven%20trng%20trung%20oagraven%20khocircng%20quacircn%20927%20Nguyn%20Hng%20Nh_zpsgrn5ifho.jpg)
Trung đoàn trưởng trung đoàn không quân 927 Nguyễn Hồng Nhị


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 05:16:38 PM
             
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/09%20S%20quan%20dn%20ng%20Lecirc%20Thagravenh%20Chn_zpsmenixghu.jpg)
Sĩ quan dẫn đường Lê Thành Chơn



(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/10%20S%20quan%20dn%20ng%20%20Caacutet%20Lacircm_zpsbtu8bk9u.jpg)
Sĩ quan dẫn đường Đỗ Cát Lâm


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/11%20S%20quan%20dn%20ng%20T%20Quc%20Hugraveng_zpsoz2d64na.jpg)
Sĩ quan dẫn đường Tạ Quốc Hùng


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/12%20S%20quan%20dn%20ng%20Lu%20Vn%20Cocircng_zpsvijwlbxr.jpg)
Sĩ quan dẫn đường Lưu Văn Công


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 05:40:43 PM
         
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/13%20S%20quan%20dn%20ng%20V%20c%20Bigravenh_zpsfm3oagze.jpg)
Sĩ quan dẫn đường Vũ Đức Bình


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/14%20S%20quan%20dn%20ng%20Lecirc%20Thit%20Hugraveng_zps6hk8d5yg.jpg)
Sĩ quan dẫn đường Lê Thiết Hùng


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/15%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20Nguyn%20Vn%20Th_zpsvwxekic2.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Nguyễn Văn Thọ


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/16%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20T%20ocircng%20Trung_zpsuk7eriio.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Tạ Đông Trung


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 05:52:15 PM
       
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/17%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20%20Hng_zpsotu9ncqj.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Đỗ Hạng


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/18%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20Tragrave%20Vn%20Kim_zpszcvfjd6a.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Trà Văn Kiếm


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/19%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20Trnh%20Vn%20Quy_zps56dgkkdj.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Trịnh Văn Quy


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/20%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20V%20Vn%20ang_zpsfrt21gpt.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Vũ Văn Đang


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2017, 05:57:31 PM
       
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/21%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20Ngocirc%20Sn_zpsmgjefxma.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Ngô Sơn


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/22%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20Nguyn%20Vn%20Lacircm_zpss2qxdv70.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Nguyễn Văn Lâm


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/23%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20Lng%20Quc%20Bo_zpsjhrg0dgd.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Lương Quốc Bảo


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/To%20Quoc%20noi%20dau%20song/24%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20Nguyn%20Xuacircn%20Hin_zpsbd6bn0zd.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Nguyễn Xuân Hiển


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2017, 02:30:18 PM
       
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/25%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20Trn%20Cao%20Thng_zps8jnhzgzx.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Trần Cao Thắng


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/26%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20Haacuten%20Vnh%20Tng_zps4qtlst2g.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Hán Vĩnh Tường


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/27%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20Hoagraveng%20Mai%20Vng_zpsmqmp7ksd.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Hoàng Mai Vượng


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/28%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2017%20Phm%20Ngc%20Tacircn_zpsmwttcfhu.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 17 Phạm Ngọc Tân


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2017, 02:35:14 PM
         
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/29%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2019%20Phm%20Hugraveng%20Sn_zpsxu35e5mu.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 19 Phạm Hùng Sơn


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/30%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2019%20Nguyn%20Vn%20Phuacutec_zpsoxp3heqg.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 19 Nguyễn Văn Phúc


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/31%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2019%20Lecirc%20c%20Oaacutenh_zpsq9yqejhr.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 19 Lê Đức Oánh


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/32%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2019%20Hoagraveng%20Cao%20Bng_zpsqgfo1yys.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 19 Hoàng Cao Bổng


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2017, 02:41:26 PM
         
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/33%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2019%20Phm%20Cao%20Hagrave_zpsq4nc9ybo.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 19 Phạm Cao Hà


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/34%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2019%20Nguyn%20Vn%20Cng_zpsp7exqimq.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 19 Nguyễn Văn Cương


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/35%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2019%20Lecirc%20Vn%20Tng_zpszmfcbyvo.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 19 Lê Văn Tường


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/36%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20ng%20Ngc%20Ng_zpsgb3piae7.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Đặng Ngọc Ngự


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2017, 02:45:42 PM
     
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/37%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20Nguyn%20Vn%20Ngatildei_zpsk9v36trl.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Nguyễn Văn Ngãi


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/37%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20Nguyn%20Xuacircn%20Huy_zps33fiwgwq.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Nguyễn Xuân Huy


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/39%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20Cao%20Sn%20Kho_zps8zio7xow.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Cao Sơn Khảo


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/40%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20Nguyn%20c%20Soaacutet_zpsr1twcdas.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Nguyễn Đức Soát


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2017, 02:51:39 PM
     
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/41%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20Ngocirc%20Duy%20Th_zpsebh6vhtn.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Ngô Duy Thư


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/42%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20H%20Vnh%20Thagravenh_zpsf0etsty4.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Hạ Vĩnh Thành


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/42%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20Nguyn%20Vn%20Ngha_zpspk3buqmh.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Nguyễn Văn Nghĩa


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/44%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20Lecirc%20Thanh%20o_zpsevyhrrf2.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Lê Thanh Đạo


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2017, 02:55:41 PM
       
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/45%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20V%20Vn%20Hp_zpstbigvaqu.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Vũ Văn Hợp


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/46%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20%20Vn%20Lanh_zpsukaflduf.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Đỗ Văn Lanh


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/47%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20Bugravei%20Thanh%20Liecircm_zpsi7p0fieb.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Bùi Thanh Liêm


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/48%20Phi%20cocircng%20tiecircm%20kiacutech%20MiG%2021%20Hoagraveng%20Quc%20Dng_zpsz9ypo62b.jpg)
Phi công tiêm kích MiG 21 Hoàng Quốc Dũng


Tiêu đề: Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2017, 03:48:10 PM
     
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN

        1. Những trận không chiến trên bầu trời Việt Nam (1965-1975) nhìn từ hai phía, Nxb Quân đội nhân dân, 2013.

        2. Các đơn vị và cá nhân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dãn thuộc Quân chủng Phòng không - Không quản, Nxb Quân đội nhân dân, 2002.

        3. Nhớ ơn các liệt sĩ Không quản nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, 2010.

        4. Kỷ yếu các cựu học viên bay năm 1965, in năm 2010.

        5. 60 năm Không quân nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, 2015.
        6. Lịch sử Sư đoàn Không quân 371, Nxb Quân đội nhân dân, 2007.

        7. Lịch sử Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, Nxb Quân đội nhân dân, 2014.

        8. Lịch sử Trung đoàn Không quân tiêm kích 927, Nxb Quân đội nhân dân, 2012.

        9. Lịch sử ngành dẫn đường Không quân, Nxb Quân đội Nhân dân, 2007.

        10. Sự kiện và nhân chứng, số 174, tháng 6-2008.

        11. Các tư liệu qua Internet.

HẾT