Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 03:01:09 AM



Tiêu đề: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 03:01:09 AM

        - Tên sách: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam 1964-1973
        - Tác giả: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
        - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân.
        - Năm xuất bản: 2009.
        - Số hóa: I_Vy, dongadoan.

        * CHỈ ĐẠO NỘI DUNG:

                Thiếu tướng, TS Phạm Văn Thạch
                Đại tá, PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà
                Đại tá, PGS, TS Hồ Khang

        * CHỦ BIÊN:

                Đại tá Hán Văn Tâm

        * BIÊN SOẠN:

                Đại tá Hán Văn Tâm
                Trung tá Lê Đức Hạnh
                Thiếu tá Phùng Thị Hoan

LỜI NÓI ĐẦU

        Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến tranh, các quốc gia không chỉ huy động tiềm lực trong nước mà còn tìm kiếm đồng minh, tập hợp lực lượng từ bên ngoài và huy động mọi khả năng để chống lại đối phương. Nhân loại đã chứng kiến sự hình thành và tan rã nhiều liên minh chính trị, quân sự, kể cả trong các cuộc chiến tranh xâm lược cũng như trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

        Từ thời cổ đại, Sparta và Aten đã lôi kéo các thành bang Hy Lạp vào các khối liên minh của mình để tiến hành các cuộc chiến tranh nhằm giành quyền thống trị toàn bộ lãnh thổ Hy Lạp. Vào thời Trung cổ, các liên minh Ôxtơrôgốt (Đông Gốt), Vidigốt (Tây Gốt), Văngđan, Frăng, Ăngglô - Xắcxông... đã đem lại sức mạnh cho các bộ lạc Giécmanh làm nên những cuộc thiên di vĩ đại và lập ra hàng loạt vương quốc ở Tây Âu. Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, các liên minh chính trị, quân sự được lập ra với quy mô ngày càng lớn. Nếu như các nước thực dân, đế quốc lập ra các liên minh chính trị, quân sự để tranh giành khu vực ảnh hưởng, tranh giành nguồn nguyên liệu và thị trường hàng hoá, hòng áp đặt sự thống trị lên các quốc gia bị xâm lược, đe dọa hoà bình, an ninh của các dân tộc thì các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng đấu tranh giành độc lập dân tộc liên minh lại để chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân, vì nền độc lập dân tộc, hoà bình và tiến bộ xã hội.

        Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước đế quốc, do đế quốc Mỹ đứng đầu, đã lập ra hàng chục khối liên minh ở khắp các châu lục và gây ra hàng trăm cuộc chiến tranh lớn, nhỏ trên thế giới. Trong số hơn 100 cuộc chiến tranh cục bộ và xung đột vũ trang do các nước đế quốc phát động và tiến hành đến giữa thập niên 70 thế kỷ XX, có tới 30% trường hợp được tiến hành với sự tham gia của quân đội đồng minh các nước đế quốc . Tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã lôi kéo được 39 quốc gia và vùng lãnh thổ trực tiếp hoặc gián tiếp đứng về phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn chống lại nhân dân Việt Nam; trong đó một số nước trực tiếp đưa quân vào chiến trường miền Nam Việt Nam là Hàn Quốc , Thái Lan, Ôxtrâylia, Philíppin và Niu Dilân (thứ tự này được xác định theo số quân từ cao xuống thấp của các nước tham gia chiến tranh Việt Nam).

        Ngày nay, quan hệ giữa các nước đồng minh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, cũng như của chính nước Mỹ với Việt Nam, đã từng bước được cải thiện và phát triển ngày càng sâu rộng. Cùng với sự phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác, nhiều vấn đề xung quanh việc quân đồng minh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam vẫn được đặt ra. Cũng như nhiều người Mỹ cho rằng, việc chính quyền Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh chống Việt Nam là một sai lầm, không ít người ở các nước đồng minh Mỹ vẫn thường đặt câu hỏi: Tại sao trước đây Chính phủ nước họ lại cử lực lượng quân đội tham gia vào cuộc chiến tranh đó? Sự tham chiến đó đã đem lại những gì cho đất nước họ và để lại những hậu quả gì cho Việt Nam?...

        Nhằm góp phần làm sáng tỏ các vấn đề trên, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức nghiên cứu, biên soạn công trình "Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam (1964-1973)". Sau khi phân tích chính sách liên minh quân sự của đế quốc Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nguyên nhân, bối cảnh Mỹ lôi kéo quân đồng minh tham gia chiến tranh Việt Nam, các tác giả tập trung phản ánh quá trình tham gia chiến tranh Việt Nam của quân đội các nước Hàn Quốc, Thái Lan, Ôxtrâylia, Philíppin và Niu Dilân trên chiến trường miền Nam; bao gồm thời gian tham gia, thành phần lực lượng, địa bàn hoạt động và tính chất nhiệm vụ của từng đơn vị quân đồng minh trên chiến trường. Bên cạnh các nội dung trên, cuốn sách còn phản ánh tác động của việc tham gia chiến tranh Việt Nam đối với đời sống chính trị - xã hội của các nước đồng minh Mỹ và quan hệ của các nước đó với Việt Nam sau chiến tranh.

        Do tư liệu liên quan đến đề tài chưa thu thập được nhiều và tản mạn nên cuốn sách này khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Rất mong được đông đảo bạn đọc đóng góp ý kiến để cuốn sách được hoàn chỉnh hơn trong lần xuất bản sau.

        Nhân dịp cuốn "Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam 1964-1973" ra mắt bạn đọc, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xin chân thành cảm ơn các trung tâm lưu trữ trong và ngoài quân đội đã cung cấp tư liệu trong quá trình nghiên cứu, cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã cộng tác xuất bản công trình này.

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM       


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 03:04:57 AM

Chương một

CHÍNH SÁCH LIÊN MINH QUÂN SỰ CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
VÀ VIỆC LÔI KÉO ĐỒNG MINH THAM GIA
CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM

        1. CHÍNH SÁCH LIÊN MINH QUÂN SỰ CỦA ĐẾ QUỐC MỸ TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI.

        Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, trên trường quốc tế đã diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc; đặc biệt là sự thay đổi căn bản so sánh lực lượng giữa hai hệ thống xã hội theo hướng ngày càng có lợi cho hệ thống xã hội chủ nghĩa. Tình hình đó đã đặt chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ trước những thách thức mới, buộc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược nói chung và chính sách liên minh quân sự nói riêng.

        Mặc dù bị tàn phá nặng nề, nhưng sau chiến tranh, Liên Xô vẫn giữ được vị thế một cường quốc với những tiềm năng to lớn. Trên lĩnh vực quân sự, Hồng quân Liên Xô không chỉ nổi lên như một đội quân giữ vai trò quyết định trong việc đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật, giải phóng đất nước, giúp nhân dân nhiều nước Đông Âu, khu vực Ban Căng và cả ở Trung Âu thoát khỏi ách phát xít mà còn tỏ rõ là một quân đội chính quy, hùng mạnh, có đầy đủ các quân chủng, binh chủng, được trang bị những loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại. Về kinh tế, Liên Xô cơ bản vẫn bảo toàn được nền công nghiệp nhờ di chuyển các cơ sở sản xuất sang phía Đông. Uy tín và ảnh hưởng chính trị của Liên Xô trên trường quốc tế được nâng lên rõ rệt; nhiều nước mới được giải phóng đã lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội từ chỗ chỉ có một nước đã trở thành một hệ thống thế giới, làm chỗ dựa vững chắc cho các dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng. Chỉ một thời gian ngắn sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hơn 100 nước được giải phóng khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân; hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc bị tan rã. ở các nước tư bản chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân cũng phát triển với quy mô chưa từng thấy.

        Trong khi hệ thống xã hội chủ nghĩa được xác lập và đứng trước những triển vọng tốt đẹp thì hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa lại lâm vào tình trạng hết sức khó khăn; không chỉ các nước bại trận là Đức, Italia, Nhật Bản bị điêu tàn, suy sụp mà ngay cả những nước trong phe đồng minh thắng trận như Anh, Pháp cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề nan giải, cả ở trong nước cũng như ở các thuộc địa. Duy chỉ có Mỹ không những không bị chiến tranh tàn phá mà còn trở thành nước giàu mạnh nhất, chiếm ưu thế tuyệt đối về mọi mặt trong các nước tư bản chủ nghĩa. Về kinh tế, do đứng trung lập trong thời kỳ đầu chiến tranh, giữ vai trò "lái súng" nên riêng việc buôn bán vũ khí cho các nước tham chiến đã đem lại cho tư bản Mỹ 114 tỷ đô la lợi nhuận1. Sau chiến tranh, Mỹ có một nền công nghiệp và nông nghiệp phát triển cao: công nghiệp Mỹ chiếm quá nửa tổng sản lượng công nghiệp của cả thế giới tư bản; sản lượng nông nghiệp gấp 2 lần sản lượng của cả Anh, Pháp, Đức, Italia và Nhật Bản cộng lại; tổng sản phẩm quốc dân tăng 154% so với trước chiến tranh. Về tài chính, Mỹ có khối lượng vàng dự trữ lớn nhất thế giới, chiếm gần ba phần tư khối lượng vàng của thế giới tư bản. Mỹ là nước chủ nợ duy nhất trên thế giới trong những năm đầu sau chiến tranh, trong khi Anh và Pháp là những con nợ lớn của Mỹ. Đặc biệt, về quân sự, Mỹ từ vị trí thứ 17 trước chiến tranh và sau chiến tranh đã vươn lên hàng đầu, có lực lượng hải quân và không quân vượt xa các nước khác. Mỹ lại nắm độc quyền về vũ khí nguyên tử và máy bay mang vũ khí hạt nhân chiến lược.

        Với thế và lực nổi trội, Mỹ trở thành một siêu cường trên thế giới. Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, ngày 9 tháng 8 năm 1945, Tổng thống Mỹ Truman đã ngạo mạn tuyên bố: "Chúng ta có thể nói rằng chúng ta là một nước hùng mạnh nhất thế giới sau chiến tranh, một nước có thể là hùng mạnh nhất trong toàn bộ lịch sử"2.

-------------------
         1. Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003, tr. 285

        2. Báo Le Monde (Pháp), ngày 11 tháng 8 năm 1945.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 03:06:01 AM

        Trong lịch sử thế giới, khi một cường quốc có thế và lực hùng mạnh như vậy, cường quốc ấy tất có mưu mô giành lấy ngôi vị bá chủ thế giới cho mình. Uyliam Z. Phôstơ, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Mỹ viết: "Đó là bản tính thú vật của chủ nghĩa tư bản. Không thể tưởng tượng được rằng, bất cứ một nước tư bản chủ nghĩa nào thấy mình có một địa vị tương đối thuận lợi như Mỹ hiện nay mà không táo bạo tìm cách giành ngôi bá chủ thế giới, đúng như nước Mỹ đang làm bây giờ"1. Chính Tổng thống Mỹ Truman, trong thông điệp tháng 12 năm 1945 về vấn đề tổ chức lại lực lượng vũ trang, đã ngộ nhận rằng, Mỹ là người chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và chiến thắng đó đã đặt "nhân dân Mỹ trước yêu cầu thường xuyên và nóng bỏng là lãnh đạo thế giới"2.

        Trong bản báo cáo kết thúc chiến tranh năm 1945, Tham mưu trưởng quân đội Mỹ, Tướng J. K. Mácsan, trong khi tiếp tục khẳng định tham vọng bá chủ toàn cầu đã công khai bày tỏ quan điểm thực hiện tham vọng đó bằng sức mạnh: "Học thuyết bảo vệ nửa trái đất mà chúng ta theo đuổi cho đến nay không thể tiếp tục coi là cơ sở an ninh của chúng ta. Giờ đây chúng ta cần quan tâm đến hoà bình trên toàn thế giới. Mà hoà bình chỉ có thể giữ gìn bằng sức mạnh"3.

        Tham vọng "lãnh đạo thế giới" theo quan điểm "dựa trên sức mạnh" đã ăn sâu vào giới cầm quyền Mỹ.

        Ngày 5 tháng 4 năm 1947, trong khi công bố "Học thuyết" của mình, Tổng thống Truman giải thích rõ chính sách của Mỹ: "Giờ đây thế giới nhìn chúng ta (nước Mỹ - TG) như một người đứng đầu. Các sự kiện đang thúc đẩy chúng ta nắm lấy vai trò này. Sức mạnh của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có nghĩa là đất nước phải duy trì sức mạnh quân sự tương xứng với trách nhiệm này"4. Thực chất của quan điểm "dựa trên sức mạnh" là, chủ nghĩa đế quốc, do Mỹ đứng đầu, phải giành ưu thế quân sự đối với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa để vào thời điểm nhất định sẽ đe dọa gây chiến tranh, buộc các nước xã hội chủ nghĩa phải chấp nhận những điều kiện do Mỹ đưa ra. Giới cầm quyền Mỹ coi sức mạnh quân sự bao gồm cả những lực lượng và phương tiện hiện có cũng như sẽ được triển khai, căn cứ vào khả năng của các nước đồng minh khi nổ ra chiến tranh. Các nhà chiến lược quân sự Mỹ thừa hiểu rằng, khi gây chiến tranh, họ không có nhiều thời gian để động viên nguồn lực của mình, do vậy họ chỉ có thể tác chiến bằng những lực lượng và phương tiện hiện có vào thời điểm bắt đầu nổ ra chiến tranh.

        Với quan điểm "dựa trên sức mạnh", coi vũ lực là công cụ quan trọng để đạt các mục tiêu chính trị, Mỹ khẩn trương triển khai chính sách liên minh quân sự theo hướng mới, hình thành các khối liên minh chính trị - quân sự và thiết lập hệ thống căn cứ quân sự trên khắp các châu lục, bắt đầu từ "sân sau" của mình là châu Mỹ Latinh. Ngay từ tháng 5 năm 1946, Tổng thống Mỹ Truman đã đề xuất quan điểm thống nhất toàn bộ quân đội các nước Mỹ Latinh dưới sự chỉ huy của Mỹ để "tiếp tục phát triển phòng thủ". Điều đó có nghĩa là quân đội các nước Mỹ Latinh có thể được sử dụng dưới sự chỉ huy của Mỹ ở ngoài lục địa châu Mỹ. Quan điểm này bị dư luận phản đối quyết liệt, buộc Mỹ phải che đậy ý đồ của mình bằng quan điểm phối hợp phòng thủ châu lục trong khuôn khổ Hiệp ước tương trợ liên Mỹ (RIO, ký ngày 2 tháng 9 năm 1947 tại Riô đờ Gianerô).

----------------------         
         1. Uyliam Z, Phôstơ, Đại cương lịch sử chính trị châu Mỹ, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 248.

         2. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, NATO trong thời kỳ chiến tranh lạnh (1949-1991), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 29.

         3. Giulian Lidơ, NATO - Lược sử và học thuyết, Nxb Sách chính trị, Mátxcơva, 1964, tr. 29 (bản tiếng Nga).

         4. Petrốp N, Xôcôlốp N, Vlađimirốp I, Katin P. Mỹ và NATO: nguồn gốc nguy cơ chiến tranh, Nxb Quân sự, Mátxcơva, 1979, tr. 36 (bản tiếng Nga).


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 03:07:20 AM

        Nòng cốt của toàn bộ hệ thống liên minh chính trị - quân sự đế quốc, công cụ chủ yếu để thực hiện chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai là khối Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Khi thành lập, ngày 4 tháng 4 năm 1949, NATO chỉ gồm Mỹ, Canađa và 10 nước Tây Âu (Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Hà Lan, Ailen, Lúcxămbua, Na Uy, Bồ Đào Nha, Anh và Italia). Sau đó, Mỹ tìm đủ mọi cách để lôi kéo các nước đế quốc chủ chốt vào khối NATO. Mỹ và các nước thành viên NATO gọi khối này là một tổ chức phòng thủ, nhưng thực tế đây là một liên minh đế quốc mang tính chất hiếu chiến, bởi nó chứa đựng những điều khoản cho phép Mỹ có thể lợi dụng để tấn công Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa1.

        Vào thời điểm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai và những năm đầu sau chiến tranh, các nhà hoạch định chính sách đối ngoại và chiến lược Mỹ tập trung nỗ lực củng cố địa vị của chủ nghĩa đế quốc ở Tây Âu và lôi kéo các nước tư bản ở khu vực này vào quỹ đạo chung của chủ nghĩa đế quốc, dưới cái ô bảo trợ của Mỹ. Nhưng, từ cuối những năm 40 - đầu những năm 50 thế kỷ XX, sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, đặc biệt là sự ra đời nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và những thắng lợi ngày càng to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia và Lào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đã buộc Mỹ phải tìm mọi biện pháp để cứu vãn địa vị của chủ nghĩa đế quốc ở Đông Nam Á nói riêng và vùng Viễn Đông nói chung, kể cả biện pháp tăng cường can thiệp trực tiếp vào khu vực này.

        Khi Chiến tranh thế giới thứ hai còn đang tiếp diễn, các tập đoàn tư bản độc quyền Mỹ đã muốn mở rộng bành trướng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đẩy lùi ảnh hưởng của các cường quốc thực dân châu Âu đang bị suy yếu để giành bá quyền kinh tế, kiểm soát nguồn tài nguyên thiên nhiên và thị trường tiêu thụ giàu tiềm năng nhất thế giới này. Mỹ đã tích cực ủng hộ và chi viện "hào phóng" cho các thế lực chống Cộng, nhất là Quốc dân đảng Trung Hoa, để làm chỗ dựa cho việc bảo vệ quyền lợi của mình ở khu vực này. Song, mọi nỗ lực của các tập đoàn tư bản độc quyền và Chính phủ Mỹ đã không đem lại những kết quả như họ mong muốn, cả về chính trị cũng như quân sự. Những chế độ được dựng lên ở châu Á bằng tiền của của Mỹ tỏ rõ sự bất lực trước làn sóng cách mạng đang dâng lên ngày càng mạnh mẽ ở các nước này và trong khu vực. Thực tế đó làm cho các nhà chiến lược Mỹ nhận thấy Mỹ càng cần trực tiếp gánh lấy "trách nhiệm" đối với các nước châu Á và Tây Thái Bình Dương, tức là trực tiếp can thiệp quân sự và chính trị vào công việc nội bộ của các nước này. Mỹ quyết định giúp Nhật Bản khôi phục tiềm lực kinh tế, đồng thời bắt đầu quan tâm đến việc thành lập một liên minh chống Cộng tại các quốc gia châu Á.

-----------------        
        1. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, NATO trong thời kỳ chiến tranh lạnh (1949-1991), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 54-55.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 03:08:32 AM

        Tháng 11 năm 1948, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ thông qua một quyết định tối mật về việc ký một hoà ước "mềm" với Nhật Bản nhằm tiến tới tái vũ trang và biến nước này thành trụ cột của "hệ thống an ninh chống Cộng" ở Viễn Đông. Tiếp đó, năm 1949, Quốc hội Mỹ thông qua luật viện trợ hợp tác phòng thủ với "thiện chí" giúp "các nước tự do và các dân tộc tự do ở Viễn Đông" thành lập một tổ chức tương trợ và hợp tác1. Trên cơ sở đạo luật này, tháng 6 năm 1950, ủy ban đối ngoại Quốc hội Mỹ đã kiến nghị thành lập một khối quân sự kiểu NATO ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương với sự tham gia của Anh, Pháp, Mỹ, Canađa, Singapo, Ôxtrâylia và Niu Dilân2. Song, do xung đột quyền lợi giữa Nhật Bản với các nước Ôxtrâylia và Niu Dilân, do giữa Mỹ và các nước Tây Thái Bình Dương không tìm được tiếng nói chung về vấn đề Nhật Bản nên khối quân sự đó đã không ra đời; thay vào đó là hàng loạt các hiệp ước hai bên và ba bên được ký kết: Hiệp ước hợp tác phòng thủ Mỹ - Philíppin, Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật, Mỹ - Cộng hoà Triều Tiên, Mỹ - Ôxtrâylia và Niu Dilân (ANZUS)3,...

        Cũng cần nói rõ thêm, về hình thức, ANZUS là một liên minh quân sự ba bên, song nó có quan hệ chặt chẽ với các khối liên minh khác của chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là với NATO, SEATO và ANZUK4. Việc ký hiệp ước ANZUS (ngày 1 tháng 9 năm 1951) đánh dấu một bước ngoặt lớn trong chính sách đối ngoại của Ôxtrâylia và Niu Dilân. Giới cầm quyền các nước này chính thức thừa nhận vai trò chủ đạo của Mỹ trong thế giới tư bản nói chung, trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng. Đối với Mỹ, hiệp ước ANZUS mở đường cho Mỹ thâm nhập sâu rộng vào khu vực ảnh hưởng của thực dân Anh trước đây với những nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có; đồng thời là một bước quan trọng tiến tới tập hợp các nước châu Á - Thái Bình Dương vào một liên minh chính trị - quân sự của đế quốc Mỹ nhằm chống lại các nước xã hội chủ nghĩa, chống phong trào cách mạng, phong trào giải phóng dân tộc của các nước Đông Nam Á và khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

        Theo Điều 4 của Hiệp ước ANZUS, các nước tham gia Hiệp ước coi một cuộc tấn công quân sự vào bất kỳ một nước đồng minh nào cũng sẽ là "mối đe dọa nền hoà bình và an ninh của chính mình" và do đó "sẽ hành động chống lại nguy cơ chung phù hợp với quy định của hiến pháp mỗi nước". Có thể nói, ANZUS là một liên minh thuần tuý chính trị - quân sự của các nước đế quốc; trong văn bản Hiệp ước hoàn toàn không đề cập gì đến các vấn đề hợp tác kinh tế hoặc văn hoá. Các đồng minh ANZUS của Mỹ là những nước ủng hộ tích cực cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Đông Dương và đây là một trong những hoạt động chủ yếu của khối trong những năm 60-70 thế kỷ XX. ANZUS không có cơ quan thường trực giữa các kỳ họp của cơ quan tối cao mà chỉ có các kỳ họp của Hội đồng bộ trưởng ngoại giao các nước thành viên (Hội đồng ANZUS). Nội dung các kỳ họp của Hội đồng ANZUS (tổ chức mỗi năm 1 lần luân phiên ở thủ đô các nước thành viên) được giữ bí mật nghiêm ngặt bởi chủ yếu là thảo luận và thông qua các chương trình hành động quân sự theo ý đồ chiến lược của Mỹ ở các khu vực Đông Nam Á, châu Đại Dương và Ấn Độ Dương. Vai trò của ANZUS trong chiến lược châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ giảm đi đáng kể sau khi khối SEATO ra đời (tháng 9 năm 1954). Nhưng từ đầu những năm 1960, khi SEATO tỏ ra không đáp ứng được yêu cầu của Mỹ trong các hoạt động quân sự ở Việt Nam và Lào, khi nội bộ SEATO bất đồng gay gắt do Pháp phản đối ý đồ của Mỹ muốn sử dụng SEATO để can thiệp tập thể vào Việt Nam và Lào, ANZUS lại nổi lên giữ vai trò tích cực trong các chương trình hành động quân sự của Mỹ ở khu vực; đặc biệt là trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

        Ngày 8 tháng 9 năm 1954, tại Manila (Philíppin), các nước Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Philíppin, Thái Lan và Pakistan đã ký các văn kiện cơ bản của khối SEATO, gồm Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á (còn gọi là Hiệp ước Manila) và Hiến chương Thái Bình Dương (có hiệu lực từ tháng 2 năm 1955). Khối SEATO được coi là chỗ dựa chủ yếu để giữ cho quân cờ đôminô Nam Việt Nam không bị sụp đổ.

-----------------
         1. Môrôdốp S.N, ANZUS - liên minh xâm lược, Mátxcơva, 1969, tr. 9-10 (bản tiếng Nga).

         2. Chaudhri M, Pakistan and Regional Pacts, Karachi, 1958, p. 74.

         3. Viết tắt từ các chữ cái đầu tên tiếng Anh của các nước Ôxtrâylia, Niu Dilân và Mỹ.

         4. Viết tắt từ các chữ cái đầu tên tiếng Anh của các nước Ôxtrâylia, Niu Dilân và Anh.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 03:55:27 AM

        Những người sáng lập Tổ chức Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á cố tìm cách che đậy mục đích và hành động xâm lược của các nước đế quốc bằng những lời lẽ có vẻ rất thiện chí như "phòng thủ tập thể", "bảo vệ hoà bình và an ninh"... Họ tuyên bố mục đích chính của các nước thành viên là "duy trì, tăng cường khả năng của từng nước và khả năng tập thể chống lại một cuộc tấn công vũ trang, ngăn ngừa và chiến đấu chống lại mọi hoạt động lật đổ do bên ngoài điều khiển chống lại toàn vẹn lãnh thổ và sự ổn định về chính trị của họ". Với lớp hoả mù "phòng thủ" đó, bất kỳ một phong trào đấu tranh nào của nhân dân các nước cũng có thể bị coi là "hoạt động phá hoại được điều khiển từ bên ngoài" và là cái cớ cho các nước đế quốc can thiệp vũ trang.

        Tuy nhiên, chỉ cần nhìn vào thành phần các nước tham gia Hiệp ước cũng đủ thấy đây không phải là một tổ chức an ninh chung châu Á, như nhà bình luận chính trị Mỹ Oantơ Lípman đã chỉ rõ: "Muốn giải quyết vấn đề hoà bình Đông Nam Á phải có những điều kiện làm cho tất cả các nước Đông Nam Á tham gia được, để nhằm mục đích chung là chống ngoại xâm"1.

        Mục đích và tính chất đích thực của khối SEATO được thể hiện rõ trong bản Hiến chương Thái Bình Dương, trong đó khái niệm "xâm lược" được hiểu là "xâm lược của cộng sản"2. Các nước thành viên Hiệp ước đã vi phạm luật pháp quốc tế khi tự cho mình quyền can thiệp vào công việc của các nước châu Á, kể cả các nước không tham gia Hiệp ước. Theo các hiệp định ký năm 1954 ở Giơnevơ về vấn đề Đông Dương, các nước Đông Dương không được tham gia vào bất kỳ khối quân sự nào; vì vậy Nam Việt Nam, Lào và Campuchia không tham gia Hiệp ước. Nhưng Điều 8 bản Hiệp ước lại chỉ ra "khu vực Hiệp ước" bao gồm tất cả lãnh thổ các nước châu Á tham gia Hiệp ước cũng như toàn bộ vùng Thái Bình Dương và Tây Nam, trừ vùng Thái Bình Dương ở phía bắc vĩ tuyến Bắc 21030. Như vậy, phạm vi hoạt động của SEATO bao gồm cả Nam Việt Nam, Lào và Campuchia cũng như Ấn Độ, Miến Điện và Inđônêxia, bất kể các nước này có tán thành hay không. Đó là chưa kể Hiệp ước còn cho phép "có thể bổ sung điều khoản này nhằm đưa vào khu vực Hiệp ước lãnh thổ của nước nào sẽ tham gia Hiệp ước"3.

        Theo Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á, các bên tham gia Hiệp ước "cam kết hành động" trong trường hợp xảy ra "một cuộc xâm lược vũ trang trong khu vực Hiệp ước nhằm chống lại bất cứ nước nào tham gia hiệp ước"4. Đương nhiên, "hành động" mà Hiệp ước nói đến chỉ có thể là hành động can thiệp quân sự bởi nó nhằm "chống lại một cuộc tiến công vũ trang... và chiến đấu chống lại mọi hoạt động lật đổ do bên ngoài điều khiển chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và sự ổn định về chính trị" của các nước tham gia Hiệp ước. Tuy nhiên, Điều 4 bản Hiệp ước quy định, một hành động chỉ được thừa nhận là "một cuộc xâm lược vũ trang trong khu vực Hiệp ước nhằm chống lại bất cứ nước nào tham gia Hiệp ước hoặc chống lại bất cứ quốc gia nào hoặc lãnh thổ nào" khi "các nước tham gia Hiệp ước nhất trí thoả thuận nêu ra"5. Do vậy, mặc dù Việt Nam, Lào và Campuchia được SEATO "bảo hộ", nhưng mùa Xuân 1961, khi âm mưu của đế quốc Mỹ sử dụng quân ngụy Lào để đàn áp phong trào cách mạng nước này đứng trước nguy cơ thất bại, các lực lượng yêu nước Lào mở rộng tiến công địch ở nhiều nơi, giải phóng nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn với các địa bàn chiến lược như Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Nakay..., kiểm soát tới 60% lãnh thổ với hơn 1 triệu dân, Mỹ đã không thể huy động lực lượng quân đội các nước SEATO can thiệp vào Lào vì bị Anh và Pháp phản đối, không có sự "nhất trí thừa nhận" Lào bị xâm lược vũ trang.

---------------
         1. Hiệp ước xâm lược Đông Nam Á, cuộc phiêu lưu mới của đế quốc Mỹ, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1954, tr. 6.

         2. Giưlin P. A, Briul R, (đồng chủ biên), Chính sách liên minh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, Sđd, tr. 296.

         3, 4, 5. Lê Sơn, Bộ mặt thật các khối quân sự của bọn đế quốc, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962, tr. 37-39.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 03:57:52 AM

        Từ thực tế đó, để sau này không bị ràng buộc bởi Điều 4 Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á khi đưa quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh vào miền Nam Việt Nam, Mỹ đã sớm dọn đường bằng cách ký với các nước Philíppin, Thái Lan, Ôxtrâylia, Niu Dilân... hàng loạt các hiệp ước song phương, xác định "nghĩa vụ riêng" của mỗi nước đối với "khu vực Hiệp ước". Ngoài ra, tại kỳ họp thứ 8 của Hội đồng SEATO (diễn ra tại Pari, tháng 4 năm 1963), Mỹ đã ép các nước SEATO sửa đổi nguyên tắc thông qua nghị quyết của khối; theo đó, tuy mỗi nước thành viên có quyền phủ quyết, nhưng nghị quyết vẫn được coi là có hiệu lực nếu được 5 nước tán thành và không nước nào trong 3 nước còn lại công khai phản đối; nước không bỏ phiếu tán thành có thể không tham gia những hoạt động theo yêu cầu của nghị quyết, tức là không bị ràng buộc bởi nghị quyết mà họ không tán thành. Quy định mới này cho phép Mỹ tự do thực hiện âm mưu xâm lược của mình trong khi vẫn có thể nhân danh "tập thể" khối, kể cả trong trường hợp không có sự "nhất trí thoả thuận" của tất cả các nước thành viên SEATO.

        Có thể dẫn lời nhà sử học người Mỹ Phleming để nói về hiểm họa của khối SEATO đối với các nước châu Á: "Châu Á bị áp đặt khối SEATO, một khối khiến họ lo ngại rằng họ có thể bị lôi kéo vào chiến tranh nhiều hơn là đem lại cho họ cảm giác an ninh"1.

        Tại khu vực Trung Cận Đông, năm 1955, theo sáng kiến của Mỹ, Anh cùng Irắc, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan và Iran ký Hiệp ước Liên minh phòng thủ chung - Hiệp ước Bátđa. Tuy Mỹ không chính thức tham gia khối này nhưng là người bảo trợ chính cho nó; vì vậy, mục đích của Hiệp ước Bátđa cũng không nằm ngoài ý đồ chống Liên Xô, đàn áp các lực lượng tiến bộ và phong trào giải phóng dân tộc.

        Lập các khối liên minh chính trị - quân sự, dùng lãnh thổ các nước đồng minh để xây dựng căn cứ bao vây các địa bàn chiến lược, làm bàn đạp tấn công các nước xã hội chủ nghĩa và huy động lực lượng các nước đồng minh trực tiếp tham gia các cuộc chiến tranh do Mỹ phát động là một chính sách bất di bất dịch của đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ không dễ dàng huy động quân đội các nước đồng minh của mình trực tiếp tham gia các cuộc chiến tranh, bởi vì ngoại trừ NATO là khối liên minh duy nhất có lực lượng vũ trang thống nhất, còn tất cả các liên minh khác của chủ nghĩa đế quốc đều không có lực lượng vũ trang chung. Muốn huy động quân đội các nước đồng minh trực tiếp tham gia chiến tranh, Mỹ phải sử dụng các biện pháp như thông qua Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc hoặc thoả thuận riêng với từng nước.

        Bên cạnh các khối liên minh chính trị - quân sự, Oasinhtơn còn lập ra các nhà nước do các thế lực sôvanh, hiếu chiến và chịu sự chi phối của Mỹ nắm quyền; dựng lên các chính quyền bù nhìn, tay sai ở nhiều nước trên thế giới. ở châu Á, ngoài việc lập ra các chính quyền tay sai ở Nam Triều Tiên, Đài Loan, Nam Việt Nam, Mỹ còn đi ngược lại Tuyên cáo Pôxđam, tìm cách phục hồi lực lượng quân sự Nhật Bản, biến nước Nhật thành căn cứ quân sự và là đồng minh của Mỹ ở Viễn Đông để "ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản" ở khu vực.

        Theo Tuyên cáo Pôxđam (tháng 8 năm 1945), Nhật Bản phải để lực lượng đồng minh tiến hành những biện pháp triệt để nhằm loại bỏ chủ nghĩa quân phiệt, xoá bỏ guồng máy chiến tranh của Nhật Bản trong một thời gian ngắn. Nhưng, ngay sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Mác Áctơ - Tổng tư lệnh các lực lượng đồng minh chiếm đóng Nhật, đã tiến hành tái vũ trang Nhật Bản dưới hình thức thành lập Đội quân Cảnh sát quốc gia gồm 75.000 người (ngày 8 tháng 7 năm 1950).

-----------------
         1. Đời sống quốc tế, số 4-1962, tr. 116 (bản tiếng Nga).


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 03:59:00 AM

        Ngày 8 tháng 9 năm 1951, bất chấp sự phản đối của Liên Xô, Tiệp Khắc và Ba Lan, Mỹ đã ký hoà ước riêng rẽ với Nhật Bản. Bản "hoà ước" không đề cập gì việc nước ngoài rút lực lượng và hủy bỏ các căn cứ quân sự ở Nhật Bản như Tuyên cáo Pôxđam quy định; trái lại còn cho phép Nhật Bản được ký kết liên minh quân sự với nước ngoài, duy trì các căn cứ quân sự của Mỹ ở Nhật Bản và xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang Nhật. Cũng trong ngày 8 tháng 9 năm 1951, dựa vào hình thức pháp lý của "hoà ước" công nhận chủ quyền của Nhật Bản, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đin Akisơn và Thủ tướng Nhật Bản Yôsida đã ký một hiệp ước liên minh quân sự với tên gọi "Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật". Điều 1 của Hiệp ước ghi rõ: "Nhật Bản thoả thuận cho Mỹ và Mỹ chấp nhận quyền duy trì các lực lượng hải, lục, không quân của Mỹ ở Nhật Bản và ở các vùng phụ cận nước Nhật. Những lực lượng đó có thể dùng để đóng góp vào việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế ở Viễn Đông cũng như để bảo vệ nền an ninh của Nhật Bản chống lại mọi cuộc xâm lược từ bên ngoài... để giúp Nhật Bản dập tắt những cuộc bạo động và những rối loạn bên trong nước Nhật do sự xúi giục hay do sự can thiệp của một hay nhiều nước ngoài gây ra"1. Chỉ riêng điều này đã đủ thấy âm mưu của Mỹ muốn đóng quân không thời hạn trên đất Nhật, biến nước này thành một bàn đạp chiến lược ở Đông Bắc Á, bao vây, uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa ở khu vực và đàn áp phong trào dân chủ ở trong nước Nhật.

        Như vậy, chỉ trong vòng 10 năm sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ đã lập ra một hệ thống liên minh chính trị - quân sự dày đặc trên thế giới với khoảng 800 căn cứ quân sự được thiết lập trên 35 nước và khu vực hải ngoại2. Với hệ thống liên minh và căn cứ quân sự đó, một mặt Mỹ âm mưu sử dụng lực lượng quân sự của các nước đồng minh cho mục đích xâm lược, chống phá cách mạng thế giới; mặt khác trực tiếp đưa quân đội của mình đến đóng căn cứ tại các nước đồng minh, tạo nên những bàn đạp bao vây và tiến công ngay sát nách Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Những bàn đạp này chạy suốt từ Bắc Mỹ sang Bắc Âu, Tây Âu, vòng xuống Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, qua Đông Nam Á lên tới Đông Bắc Á.

        Trong quá trình lôi kéo các nước vào hệ thống liên minh quân sự, đế quốc Mỹ sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, từ tuyên truyền, mua chuộc bằng viện trợ kinh tế đến gây sức ép bằng chính trị, ngoại giao; trong đó phổ biến nhất là các biện pháp tuyên truyền kích động chiến tranh và lôi kéo bằng viện trợ kinh tế. Bộ máy tuyên truyền của Mỹ đã tập trung thổi phồng "nguy cơ chủ nghĩa cộng sản" từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Họ tuyên truyền rùm beng rằng: "chủ nghĩa đế quốc" Liên Xô là sự kế tục chính sách đế quốc của Sa Hoàng, còn các nước xã hội chủ nghĩa có âm mưu thiết lập sự thống trị của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, dùng bạo lực để "xuất khẩu cách mạng". Theo luận điệu của các lý luận gia của chủ nghĩa đế quốc, mọi phong trào cách mạng, phong trào dân chủ cũng như phong trào giải phóng dân tộc diễn ra trên thế giới đều là "chiến tranh phá hoại", do chủ nghĩa cộng sản gây ra.

        Với bản chất xã hội của mình, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa không bao giờ có ý định xâm lược, can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác cũng như không "xuất khẩu cách mạng", như các nhà lý luận của các nước tư bản thường rêu rao, vu khống. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mối quan tâm hàng đầu của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và các nước mới được giải phóng cũng như nhiều nước tư bản là tập trung nỗ lực vào việc khôi phục nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, giải quyết những hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, chứ không phải đi xâm chiếm lãnh thổ nước khác. Liên Xô là nước gánh chịu tổn thất chiến tranh nhiều nhất với khoảng một nửa tổng thiệt hại của cả thế giới. Trong tổng số hơn 56 triệu sinh mạng bị chiến tranh cướp đi, riêng Liên Xô đã mất gần 30 triệu; về vật chất có tới 6 triệu ngôi nhà, khoảng 17.700 thành phố, 70.000 làng xã, một phần tư nền công nghiệp, 100.000 hợp tác xã bị phá hủy. Các nước Đông Âu chỉ còn một phần ba tiềm lực kinh tế so với trước chiến tranh. Trong bối cảnh đó, Liên Xô cũng như các nước Đông Âu càng không thể nghĩ đến việc gây chiến tranh với nước khác.

-----------------
         1. Phạm Giảng, Lịch sử quan hệ quốc tế từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến chiến tranh Triều Tiên (giai đoạn 1939-1952), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 395-396.

         2. Nguyễn Anh Dũng, Về chiến lược quân sự toàn cầu của đế quốc Mỹ (1946-1990), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990, tr. 19.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:01:08 AM

        Trong khi đó, Mỹ trù tính phát động Chiến tranh thế giới thứ ba để chống lại Liên Xô. Các nhà tư tưởng cực hữu của thế giới tư bản không che giấu mục đích của Chiến tranh thế giới thứ ba là tiêu diệt Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản: "Mục tiêu đích thực của Chiến tranh thế giới thứ ba không chỉ nhằm đánh tan nước Nga mà còn nhằm đánh bại cái mà nó bảo vệ, nhất là hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa"1. Trong kế hoạch chiến tranh chống Liên Xô (kế hoạch "Dropshot", do ủy ban tham mưu trưởng liên quân Mỹ soạn thảo năm 1949 theo chỉ thị của Tổng thống Truman), chính quyền Mỹ nhấn mạnh: "Nguy cơ nghiêm trọng nhất đe dọa an ninh nước Mỹ là... chính bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa" và do đó, mục tiêu chủ yếu của cuộc chiến tranh là "tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa bônsêvích" bằng cách dùng sức mạnh quân sự đánh bại Liên Xô và đồng minh của nó, phục hồi chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân, dựa vào khối Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO, thành lập tháng 4 năm 1949) để thiết lập quyền thống trị thế giới của Mỹ2. Theo kế hoạch "Dropshot", Mỹ dự định lôi kéo tất cả các nước tư bản ở châu Âu, châu Á và châu Mỹ Latinh để tấn công Liên Xô vào năm 1957. Xét về quy mô, số nước tham gia và không gian chiến tranh, cuộc chiến tranh chống Liên Xô được các chiến lược gia Hoa Kỳ coi như cuộc Chiến tranh thế giới thứ ba; trong đó có sử dụng không hạn chế tất cả phương tiện chiến tranh, trước hết là vũ khí hạt nhân, thứ vũ khí được coi là chỗ dựa chủ yếu của đế quốc Mỹ. Trong khi soạn thảo kế hoạch chiến tranh, các cơ quan tham mưu quân sự Mỹ xác định không thể để cho lục địa Bắc Mỹ bị bom đạn cày xới, do đó các hoạt động chiến sự sẽ diễn ra trên lãnh thổ các nước khác, chủ yếu là ở châu Âu.

        Ngoài việc ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật, dựng lên "nguy cơ" từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa như trên, Mỹ còn đưa ra học thuyết Đôminô khi Tổng thống Mỹ Truman biện minh cho việc Mỹ viện trợ quân sự cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ năm 1947 nhằm giữ vùng Trung Đông trong vòng ảnh hưởng của Mỹ. Thuyết Đôminô cho rằng, sự sụp đổ của một quốc gia không cộng sản sẽ đẩy nhanh sự sụp đổ của các chính phủ không cộng sản ở những nước láng giềng. Ngay sau khi ra đời, thuyết Đôminô đã được vận dụng để Mỹ và NATO khôi phục sức mạnh quân sự của Tây Đức với lý do sự yếu kém của nước này sẽ tạo ra "lỗ hổng quyền lực" ở châu Âu, tạo điều kiện cho chủ nghĩa cộng sản mở rộng ra toàn bộ châu lục. Đối với châu Á, thuyết Đôminô bao gồm cả mặt chiến lược lẫn kinh tế bởi đây là khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, thứ mà Mỹ rất cần và là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc ở khu vực này. Cũng theo lôgích của thuyết Đôminô, năm 1949, khi cách mạng Trung Quốc thành công, mặc dù còn phải tập trung đối phó với tình hình ở châu Âu, nhưng Mỹ đã lập tức đưa ra quyết định chính thức không cho xuất hiện thêm bất kỳ một quốc gia cộng sản mới nào nữa ở châu Á. Đối với Đông Dương, tháng 4 năm 1950, Bộ tham mưu liên quân Mỹ lập luận rằng "việc mất Đông Dương chắc chắn đưa đến việc mất các quốc gia lục địa Đông Nam Á"; và với việc đó, Nga sẽ kiểm soát "tiềm lực chiến tranh của châu Á"; không những "các nguồn chính của một số nguyên liệu chiến lược" sẽ bị mất mà còn mất cả các đường giao thông nữa3. Oasinhtơn còn cho rằng, Đông Dương là một quân cờ đôminô trong chiến lược toàn cầu của Mỹ và khẳng định việc mất Đông Dương "sẽ đưa đến một sự khuất phục tương đối nhanh chóng hoặc một sự liên kết với chủ nghĩa cộng sản của các nước còn lại của nhóm đó. Hơn nữa, một sự liên kết với chủ nghĩa cộng sản của phần còn lại của Đông Nam Á, Ấn Độ và lâu dài hơn, cả Trung Đông... chắc chắn sẽ diễn ra tiếp theo... như vậy sẽ gây nguy hại cho sự ổn định và an ninh của châu Âu"4. Chính vì vậy mà Mỹ ủng hộ, chi viện rất hào phóng cho thực dân Pháp xâm lược Việt Nam; đồng thời tích cực chuẩn bị cho sự can thiệp trực tiếp, khi cần thiết, nhằm giữ cho bằng được quân cờ đôminô quan trọng này ở Đông Dương.
-----------------
         1. Kieffer J, Strategy for Survival, New York, 1953, p. 277.

         2. "Dropshot" - The American Plan for World War III Against Russia in 1957, New York, 1973, p. 247.

         3, 4. Gabrien Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1989, tr. 96-97.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:02:08 AM

        Song song với việc tuyên truyền chống Cộng, Mỹ sử dụng rộng rãi viện trợ kinh tế để lôi kéo các nước vào các khối liên minh chính trị - quân sự của mình. Đây là biện pháp rất hữu hiệu bởi, như trên đã nêu, sau chiến tranh, nền kinh tế của tất cả các nước tư bản đều suy sụp, đất nước bị tàn phá nên rất cần nguồn tài chính của Mỹ - nước duy nhất giàu mạnh lên nhờ chiến tranh.

        Ngày 5 tháng 6 năm 1947, phát biểu trước các sinh viên Đại học Havớt, Ngoại trưởng Mỹ J. Mácsan đưa ra một kế hoạch "viện trợ" kinh tế trên quy mô lớn cho các nước tư bản châu Âu bị tàn phá trong chiến tranh thế giới vừa qua. Mục tiêu chiến lược của "Kế hoạch Mácsan" là chuẩn bị cơ sở kinh tế - xã hội cần thiết cho việc thành lập các khối liên minh chính trị - quân sự của chủ nghĩa đế quốc, trước hết là của các nước đế quốc hàng đầu ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Nói cách khác, đế quốc Mỹ muốn thông qua công cụ "viện trợ" kinh tế để buộc các nước đế quốc khác phải phụ thuộc vào Mỹ, cả về chính trị và quân sự. Chưa đầy một năm sau, hàng chục nước tư bản Tây Âu đã nhận được "viện trợ" của Mỹ theo "Kế hoạch Mácsan" như Anh, Pháp, Áo, Bỉ, Lúcxămbua, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Aixơlen, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Bồ Đào Nha, Cộng hoà liên bang Đức,...

        Khi "Kế hoạch Mácsan" đã được triển khai tương đối rộng, Tổng thống Mỹ Truman ký "Đạo luật về viện trợ cho các nước ngoài". Đạo luật này quy định, các nước tham gia "Kế hoạch Mácsan" phải ký các hiệp ước song phương với Mỹ với những điều kiện nhận viện trợ hết sức chặt chẽ. Nước nhận viện trợ không được phép tự do sử dụng nguồn này mà phải phù hợp với lợi ích chung của các nước và lợi ích của Mỹ. Nếu sử dụng viện trợ trái với lợi ích của Mỹ, Mỹ có thể đình hoãn hoặc cắt đứt viện trợ. Các nước nhận viện trợ còn cam kết bảo đảm cho công dân và các công ty độc quyền Mỹ những ưu đãi về khai thác tài nguyên và xuất nhập cảng như công dân của nước nhận viện trợ. Mỹ lập ra danh mục những mặt hàng cấm vận buôn bán với Liên Xô và các nước Đông Âu và buộc các nước vay nợ của Mỹ phải thực hiện chính sách cấm vận của Mỹ. Điều quan trọng là các nước tham gia "Kế hoạch Mácsan" phải dành phần lớn số tiền được "viện trợ" cho các chi phí quân sự, phải liên minh quân sự với Mỹ và để Mỹ đặt các căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước mình.

        Rõ ràng, trên danh nghĩa, "Kế hoạch Mácsan" là kế hoạch phục hồi kinh tế châu Âu; song, thực chất đây là sự bí mật chuẩn bị cơ sở cho một liên minh chính trị -quân sự của chủ nghĩa đế quốc, như R. Osgood, một trong những nhà lý luận nổi tiếng của Mỹ nhận xét: "Trong chương trình phục hồi châu Âu (được biết đến với tên gọi "Kế hoạch Mácsan"), Mỹ hướng nỗ lực chủ yếu vào xây dựng thế mạnh và tiến hành thành công Chiến tranh lạnh"1.

        Ngày 25 tháng 6 năm 1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Ngay ngày hôm sau, Tổng thống Mỹ một mặt ra lệnh cho quân đội Mỹ tham gia ngay vào cuộc chiến, mặt khác sử dụng Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc để hợp pháp hoá những hành động quân sự của mình ở Triều Tiên. Với mục đích đó, lợi dụng sự vắng mặt của Liên Xô ở Hội đồng Bảo an, Mỹ đưa vấn đề Triều Tiên ra trước Hội đồng Bảo an và dựa vào đa số thông qua Nghị quyết lên án Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên "xâm lược Cộng hoà Triều Tiên". Sau khi ra Nghị quyết kêu gọi các nước thành viên Liên Hợp quốc giúp đỡ "Cộng hoà Triều Tiên đẩy lùi xâm lược", ngày 7 tháng 7, Hội đồng Bảo an ra Nghị quyết xác định quân đội 16 nước2 (trong đó 9 nước thuộc khối NATO vừa mới được thành lập), do tướng Mỹ Mác Áctơ làm Tổng tư lệnh, được đưa vào chi viện cho quân đội Cộng hoà Triều Tiên là "quân đội Liên Hợp quốc". Với việc đưa "quân đội Liên Hợp quốc" vào tham chiến, phía Mỹ - Cộng hoà Triều Tiên nhanh chóng vượt qua vĩ tuyến 38, đánh chiếm Bắc Triều Tiên. Để hợp pháp hoá hành động đánh chiếm Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Mỹ xoay sang lợi dụng đa số ở Đại hội đồng (vì lúc này Liên Xô đã trở lại hoạt động ở Hội đồng Bảo an nên có thể sử dụng quyền phủ quyết chống lại âm mưu của Mỹ) thông qua Nghị quyết cho phép "quân đội Liên Hợp quốc" "tiến hành những biện pháp thích hợp để bảo đảm một tình hình ổn định trên toàn bộ Triều Tiên"3. Thế nhưng "quân đội Liên Hợp quốc" đã hành động vượt quá khuôn khổ bán đảo Triều Tiên, tiến đến tận vùng biên giới giáp với Trung Quốc. Điều đó đồng nghĩa với việc an ninh của Trung Quốc bị đe dọa. Trước tình hình đó, Trung Quốc quyết định đưa Chí nguyện quân vào Triều Tiên, đẩy lui quân Mỹ và Cộng hoà Triều Tiên trở lại Nam vĩ tuyến 38. Lúc này, nhiều tướng lĩnh Mỹ đề nghị mở rộng cuộc chiến tranh Triều Tiên thành cuộc Chiến tranh thế giới thứ ba nhưng Tổng thống Truman không chấp nhận và quyết định đàm phán hoà bình. Ngày 27 tháng 7 năm 1953, chiến tranh Triều Tiên kết thúc, Hiệp định đình chiến Triều Tiên được ký kết với việc cấm nước ngoài tăng nhân viên quân sự cũng như vũ khí, đạn dược vào Triều Tiên; đồng thời sẽ tiến hành hiệp thương về việc rút tất cả quân đội nước ngoài khỏi Triều Tiên. Như vậy, mặc dù đã đưa hơn bốn mươi vạn quân Mỹ và đồng minh vào tham gia chiến tranh Triều Tiên nhưng rốt cuộc Mỹ vẫn phải chấp nhận chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược trên bán đảo này.

---------------
         1. Giulian Lidơ, NATO - lược sử và các học thuyết, Sđd, tr. 29.

         2. 16 nước gồm: Mỹ, Anh, Ôxtrâylia, Canađa, Niu Dilân, Thổ Nhĩ Kỳ, Bỉ, Lúcxămbua, Côlômbia, Êtiôpia, Pháp, Hy Lạp, Hà Lan, Thái Lan, Philíppin và Liên bang Nam Phi.

         3. Phạm Giảng, Lịch sử quan hệ quốc tế từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến chiến tranh Triều Tiên (giai đoạn 1939-1952), Sđd, tr. 374.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:03:44 AM

        Tuy không gây ra cuộc Chiến tranh thế giới thứ ba, nhưng qua cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ đã đẩy cuộc chiến tranh lạnh phát triển lên một bước mới. Tổng thống Mỹ ra lệnh tăng cường "phòng vệ" Đài Loan, ráo riết chuẩn bị tái vũ trang Nhật Bản, tăng cường viện trợ cho thực dân Pháp để tiếp tục tiến hành cuộc chiến ở Đông Dương. Trong khi lôi kéo các nước đồng minh vào cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ tranh thủ tăng cường và mở rộng khối quân sự Bắc Đại Tây Dương, đồng thời đẩy mạnh chạy đua vũ trang. Trong ba năm chiến tranh Triều Tiên, Mỹ đã thử thành công bom nhiệt hạch (thermo nucléaire, ngày 1 tháng 11 năm 1952), tăng lực lượng vũ trang lên 3 triệu quân, chi phí quốc phòng tăng từ 13 tỷ năm 1950 lên 50,4 tỷ năm 19531.

        Tiếp theo việc Liên Xô thử thành công bom nguyên tử làm mất độc quyền vũ khí hạt nhân của Mỹ, cuộc chiến tranh Triều Tiên đã chứng minh chiến lược "Ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản" hoàn toàn không phù hợp với thực tế. Tình hình đó buộc giới hiếu chiến Mỹ phải tìm kiếm một chiến lược quân sự mới hữu hiệu hơn hòng thực hiện âm mưu bá chủ toàn cầu.

        Sau khi thay Truman làm chủ Nhà Trắng, Aixenhao đưa ra chiến lược "Trả đũa ồ ạt" và chiến lược này được thực hiện trong suốt hai nhiệm kỳ tổng thống của Aixenhao (1953-1960). Aixenhao giải thích khá rõ nguyên nhân và mục đích của chiến lược "Trả đũa ồ ạt": "Chính sách của Mỹ phải đi đôi với một chính sách liên minh. Lực lượng của chúng ta có hạn. Chúng ta không thể cung cấp tất cả các lực lượng bộ binh, hải quân và không quân cho cả thế giới tự do. Vai trò lôgích của các đồng minh của chúng ta là làm thế nào nhờ sự giúp đỡ của chúng ta họ có đủ những gì cần thiết để đảm bảo nền an ninh của họ tại chỗ, đặc biệt là những lực lượng bộ binh..."2. Mục đích "giúp đỡ" của Mỹ không hẳn là để đảm bảo nền an ninh của các đồng minh mà chủ yếu là để Mỹ "không cần phải duy trì một lực lượng thông thường lớn" mà vẫn có thể làm sen đầm khắp thế giới3.

        "Trả đũa ồ ạt" có nghĩa là bắn cấp tập tên lửa hạt nhân đánh đòn phủ đầu vào các mục tiêu chiến lược của đối phương hoặc đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân. Khi còn tạm thời nắm ưu thế về vũ khí hạt nhân, Mỹ muốn tiếp tục sử dụng sức mạnh quân sự của mình và của các nước đồng minh trong các quan hệ quốc tế; dùng thứ vũ khí hủy diệt này làm chiếc ô che chắn cho các đồng minh và hù dọa các nước xã hội chủ nghĩa. Nội dung chủ yếu của chiến lược "Trả đũa ồ ạt" là Mỹ phải nắm được ưu thế chiến lược bằng cách triển khai ở mức độ hạn chế những lực lượng thực hiện "mục đích chung", tức là những lực lượng thông thường sẵn sàng chiến đấu ở nước ngoài trên tuyến tiền tiêu thật xa, có lực lượng hạt nhân Mỹ sẵn sàng yểm trợ bất cứ lúc nào; xây dựng những liên minh khu vực và liên minh song phương mạnh mẽ với vai trò áp đảo của lục quân, hải quân và không quân Mỹ; tạo khả năng cho các nước đồng minh dựa vào viện trợ quân sự và kinh tế đầy đủ của Mỹ có thể tự đối phó hiệu quả với những cuộc xung đột cường độ thấp.

        Triển khai chiến lược toàn cầu mới, Mỹ tập trung tiền của phát triển lực lượng hạt nhân chiến lược. Với bộ ba vũ khí hạt nhân chiến lược là tên lửa vượt đại châu, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa chiến lược và máy bay ném bom chiến lược, Mỹ dự tính sẽ tiến hành một cuộc chiến tranh hạt nhân tổng lực; trong "chớp nhoáng" sẽ đánh đòn phủ đầu bất ngờ vào đối phương, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng đánh trả bằng đòn hạt nhân của đối phương, đè bẹp ý chí của đối phương và giành chiến thắng. Cùng với việc tăng cường phát triển lực lượng hạt nhân chiến lược, đế quốc Mỹ không ngừng củng cố và mở rộng các khối liên minh chính trị - quân sự với các nước đồng minh. ở khu vực Mỹ Latinh, tuy năm 1959, Cu Ba rút khỏi Tổ chức Hiệp ước tương trợ liên Mỹ nhưng Mỹ vẫn duy trì và thao túng được liên minh này. Tương tự, ở Trung Đông, mặc dù năm 1958, cách mạng Iran thành công, Hiệp ước liên minh phòng thủ chung - Hiệp ước Bátđa chỉ còn 4 nước nhưng Mỹ vẫn chi phối được khối này và đổi tên thành Hiệp ước Trung tâm (CENTO). Riêng khối NATO không ngừng được mở rộng và củng cố, trở thành trụ cột sức mạnh quân sự của chủ nghĩa đế quốc: năm 1952, NATO lôi kéo thêm 2 nước vùng Địa Trung Hải là Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ; đến năm 1955 lại kết nạp thêm Cộng hoà liên bang Đức - một nước tư bản chủ nghĩa có nền kinh tế phát triển và đang quân sự hoá mạnh mẽ. Ngoài các liên minh tay đôi đã ký với Nhật Bản, Cộng hoà Triều Tiên, Đài Loan, Thái Lan, Philíppin ở khu vực châu Á, Mỹ còn ký kết thêm những liên minh tay đôi với Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Việt Nam để tạo ra những trận địa mới uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa.

-----------------
         1. Phạm Giảng, Lịch sử quan hệ quốc tế từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến chiến tranh Triều Tiên (giai đoạn 1939-1952), Sđd, tr. 384.

         2, 3. Nguyễn Anh Dũng, Về chiến lược quân sự toàn cầu ..., Sđd, tr. 14, 15.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:04:45 AM

        Sau 3 năm theo đuổi cuộc chiến tranh Triều Tiên, đưa quân đội các nước đồng minh vào trực tiếp tham chiến mà không đạt được một kết quả nào trong chiến lược toàn cầu của mình, đế quốc Mỹ vẫn tỏ ra hung hăng trong việc thực hiện chính sách sen đầm quốc tế, can thiệp ngày càng thô bạo vào công việc nội bộ của các nước. Tháng 6 năm 1954, Mỹ giật dây thế lực phản động ở Goatêmala tiến hành đảo chính lật đổ Chính phủ dân chủ của nước này. Đối với khu vực Trung Cận Đông, tháng 3 năm 1957, Mỹ ngang nhiên công bố quyền sử dụng quân đội chống lại bất cứ nước nào ở khu vực này nếu nước đó tỏ ra "chịu sự kiểm soát của cộng sản quốc tế". Bất chấp sự đe dọa của đế quốc Mỹ, ngày 14 tháng 7 năm 1958, cuộc cách mạng dân chủ bùng nổ ở Irắc, Chính phủ mới của nước Cộng hoà Irắc tuyên bố rút khỏi khối xâm lược Bátđa. Trong khi đế quốc Mỹ còn đang lúng túng đối phó với tình huống này thì ngày 1 tháng 1 năm 1959, cách mạng Cu Ba giành thắng lợi ngay tại "sân sau" của đế quốc Mỹ. Tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trên mảnh đất chỉ cách bang Phloriđa ở đông nam nước Mỹ chưa đầy 100 dặm và trở thành thành viên của cộng đồng xã hội chủ nghĩa, nước Cộng hòa Cu Ba đã đem lại một luồng sinh khí mới cho phong trào giải phóng dân tộc ở Mỹ Latinh và châu Phi. Song, vào nửa cuối những năm 1950, Mỹ cho rằng điểm nóng cách mạng quan trọng đang đe dọa "thế giới tự do" của chủ nghĩa đế quốc chính là cuộc cách mạng ở Việt Nam. Chính vì vậy, đế quốc Mỹ cố gắng tìm mọi cách hòng dập tắt cho bằng được điểm nóng này để tránh một "hiệu ứng đôminô" cho chiến lược toàn cầu của mình.

        Bên cạnh đó, dưới góc độ chiến lược toàn cầu, chiến lược quân sự "Trả đũa ồ ạt" đã tỏ ra không có hiệu quả trong việc chống phá cách mạng thế giới, buộc chính quyền Mỹ phải xem xét lại chiến lược quân sự toàn cầu.

        Ngay từ năm 1956, tướng M. Taylo - Tham mưu trưởng lục quân Mỹ đã đề nghị thi hành một chiến lược quân sự mới với tên gọi "Phản ứng linh hoạt" và năm 1961, chiến lược này được chính thức thông qua. Theo tác giả của chiến lược "Phản ứng linh hoạt", tên gọi đó nói lên rằng lực lượng quân đội Mỹ "cần có khả năng phản ứng lại bất kỳ một tiếng kêu gọi nào và hành động thành công trong bất kỳ tình huống nào" và "... trong chiến tranh sau này, bộ đội tham gia chiến tranh hạn chế sẽ có tác dụng tích cực, còn lực lượng trả đũa bằng vũ khí nguyên tử chỉ có tác dụng tiêu cực. Hồi đầu, người ta luôn luôn cho rằng bộ đội lục quân ở châu Âu và Viễn Đông là lá chắn của Mỹ, còn thanh kiếm nguyên tử tiến hành những đòn công kích hủy diệt. Hiện nay, nhiệm vụ của nó đã hoàn toàn thay đổi. Lực lượng trả đũa bằng vũ khí nguyên tử đã trở thành lá chắn phòng ngự để đẩy lùi sự uy hiếp bằng tiến công nguyên tử của kẻ địch, còn bộ đội tiến hành chiến tranh hạn chế là một thanh kiếm linh hoạt để đâm chém và công kích. Vì vậy, chất lượng của thanh kiếm này có một ý nghĩa mới to lớn hơn"1.

        Điểm khác biệt cơ bản của chiến lược "Phản ứng linh hoạt" so với chiến lược "Trả đũa ồ ạt" là bên cạnh việc ra sức chuẩn bị cho chiến tranh hạt nhân quy mô toàn cầu, chiến lược mới dự tính các bước phát triển tình thế xung đột từ đàm phán "dựa trên sức mạnh" đến "ngưỡng khủng hoảng", sau "ngưỡng" đó là một cuộc chiến tranh thế giới bằng vũ khí hạt nhân. Chính các tác giả của chiến lược "Phản ứng linh hoạt" cũng không mong muốn bước qua ngưỡng này, mặc dù không loại trừ nó hoàn toàn, bởi như vậy sẽ đe dọa sự tồn tại của chính thế giới tư bản. Vì vậy, phải sử dụng rộng rãi lực lượng quân đội Mỹ và quân đội các nước đồng minh tiến hành các cuộc "chiến tranh hạn chế" kết hợp với các biện pháp khác như chính trị, kinh tế, tư tưởng... Chiến tranh hạn chế, theo các tác giả của chiến lược "Phản ứng linh hoạt", có thể là "chiến tranh đặc biệt" hoặc "chiến tranh cục bộ", tuỳ theo cách sử dụng lực lượng chiến lược. Nếu như trong "chiến tranh đặc biệt", quân ngụy được sử dụng làm lực lượng chiến lược chủ yếu, còn quân Mỹ giữ vai trò cố vấn thì trong "chiến tranh cục bộ", quân viễn chinh làm lực lượng nòng cốt.

-----------------
         1. Nguyễn Anh Dũng, Về chiến lược quân sự toàn cầu ..., Sđd, tr. 24.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:05:34 AM

        Chiến lược quân sự mới của đế quốc Mỹ vô cùng nguy hiểm bởi nó tiềm ẩn nguy cơ bất kỳ một cuộc xung đột vũ trang nào cũng có thể trở thành xung đột hạt nhân. Tuy nhiên, chiến lược "Phản ứng linh hoạt" cũng xác định, khi quyết định hình thức sử dụng lực lượng vũ trang nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược toàn cầu cần phải căn cứ vào so sánh lực lượng và có sự kiềm chế nhất định. Vì vậy, giới quân sự Mỹ đánh giá cao vai trò của các cuộc "chiến tranh hạn chế" và "chiến tranh cục bộ"; coi đây là phương tiện để đạt những mục tiêu nhất định trong việc chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và đàn áp phong trào giải phóng dân tộc. Tính chất hiếu chiến, chống cộng của chiến lược "Phản ứng linh hoạt" được thể hiện rõ qua các nguyên tắc cơ bản của nó:

        - Nguyên tắc "hủy diệt chắc chắn" đòi hỏi Mỹ phải giành ưu thế đối với Liên Xô về vũ khí tên lửa hạt nhân chiến lược và vũ khí thông thường, cả về số lượng và chất lượng. Điều này sẽ làm cho phạm vi ảnh hưởng cả về chính trị, quân sự và ngoại giao của chủ nghĩa đế quốc được mở rộng và so sánh lực lượng quân sự thay đổi có lợi cho Mỹ.

        - Nguyên tắc "hai cuộc chiến tranh rưỡi", phải bảo đảm sự phát triển lực lượng vũ trang Mỹ sao cho giới cầm quyền Mỹ có khả năng tiến hành hai cuộc chiến tranh lớn, kể cả có sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật, ở châu Âu và châu Á; đồng thời thực hiện các cuộc "can thiệp nhỏ" ở châu Phi, Cận Đông hoặc Mỹ Latinh.

        - Nguyên tắc "căn cứ tiền duyên" của các lực lượng vũ trang, mở rộng hệ thống căn cứ quân sự toàn cầu của Mỹ. Tại các căn cứ quân sự và các cụm hải quân chiến dịch ở những vùng biển nhất định sẽ có không quân ném bom chiến lược và chiến thuật cũng như tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hạt nhân và lực lượng can thiệp. Các lực lượng này cần sẵn sàng bất ngờ đánh đòn hạt nhân vào Liên Xô hoặc đánh vào vòng ngoài của hệ thống xã hội chủ nghĩa trong trường hợp chiến tranh hạn chế.

        - Nguyên tắc "đẩy mạnh chính sách liên minh quân sự", điều chỉnh khối NATO cũng như toàn bộ hệ thống liên minh quân sự cho phù hợp với tình hình chiến lược quân sự mới; phối hợp hành động tốt hơn nữa, nâng cao hiệu quả hoạt động quân sự và ngoại giao của hệ thống này nhằm chống lại tiến trình cách mạng thế giới.

        - Nguyên tắc "đảo chính phản cách mạng đồng bộ" là nguyên tắc đảm bảo sử dụng một cách có kế hoạch và phân loại cụ thể tất cả các phương tiện và biện pháp phá hoại ngầm, kể cả biện pháp quân sự, để phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển, cũng như chống phá phong trào giải phóng dân tộc nhằm làm suy yếu tính thống nhất của họ và tạo điều kiện để phục hồi chế độ tư bản và áp đặt chủ nghĩa thực dân mới.

        Những nguyên tắc cơ bản trên đây cùng những nguyên tắc khác của chiến lược "Phản ứng linh hoạt" cho thấy nó không hoàn toàn thay thế chiến lược "Trả đũa ồ ạt" mà chỉ là một sự bổ sung, điều chỉnh chiến lược quân sự toàn cầu của đế quốc Mỹ cho phù hợp với tình hình mới, đặc biệt là với sự thay đổi so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng trên phạm vi toàn thế giới. Chiến lược quân sự mới của đế quốc Mỹ không chỉ tác động mạnh mẽ đến sự phát triển lực lượng vũ trang của Mỹ và các nước đồng minh mà còn có ảnh hưởng nhất định đến việc lựa chọn các phương thức tiến hành chiến tranh.

        Đế quốc Mỹ triển khai thực hiện chiến lược "Phản ứng linh hoạt" đúng vào lúc cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam bắt đầu bước sang giai đoạn mới. Những người đứng đầu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đứng trước sự lựa chọn một trong hai con đường: từ bỏ việc ủng hộ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, thi hành Hiệp định Giơnevơ hoặc tiếp tục can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam bằng chiến tranh để củng cố chế độ tay sai, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Với bản chất hiếu chiến và tin tưởng rằng chiến lược "Phản ứng linh hoạt" sẽ bảo đảm cho Mỹ ứng phó kịp thời và giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh hạn chế, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc quyết định tiếp tục thực hiện cam kết với Ngô Đình Diệm để "làm cho mọi người biết rằng chúng ta (Mỹ - TG) sẽ trả bất cứ giá nào, gánh vác bất cứ gánh nặng nào, đương đầu với bất cứ sự gian khổ nào, ủng hộ bất cứ bạn bè nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào, để bảo đảm sự sống còn và thắng lợi của thế giới tự do"1.

        Để tiếp tục thực hiện cam kết với Ngô Đình Diệm, hay đúng ra là lo sợ một "hiệu ứng đôminô" ở khu vực Đông Nam Á, Mỹ quyết định tiếp tục can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam bằng chiến tranh. Sau khi được Kennơđi cử sang miền Nam Việt Nam nắm tình hình, Phó tổng thống Giônxơn đề xuất chủ trương gửi quân chiến đấu Mỹ sang miền Nam Việt Nam và nhấn mạnh rằng nếu mất miền Nam Việt Nam, người Mỹ sẽ thấy rằng đột nhiên mình phải chiến đấu ngay tại các bãi biển ở Waikiki, do đó "Cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản phải tập trung vào vùng Đông Nam Á với tất cả sức mạnh và lòng quyết tâm hoặc nước Mỹ hiển nhiên phải thả tay ở Thái Bình Dương và chấp nhận phòng thủ ngay chính trên các bờ biển của chúng ta"2. Các đời tham mưu trưởng liên quân Mỹ cũng thường mở đầu các kế hoạch chiến tranh của mình bằng những luận điệu thổi phồng thuyết Đôminô. Họ coi miền Nam Việt Nam là "trung tâm mấu chốt" trong cuộc đối đầu toàn cầu giữa Mỹ và chủ nghĩa cộng sản. Trong cuộc đối đầu đó, nếu Mỹ thành công thì sẽ ổn định được toàn bộ tình hình ở Đông Nam Á, ngược lại sẽ làm xói mòn quan điểm chống cộng của người Mỹ ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh.

        Nói tóm lại, chính sách liên minh quân sự là một nội dung quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ. Thực hiện chính sách đó, Mỹ đã lập ra một hệ thống các khối và căn cứ quân sự dày đặc trên thế giới; trực tiếp đưa quân đội của mình đến đóng căn cứ tại các nước đồng minh, tạo nên những bàn đạp bao vây, uy hiếp Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, các nước đồng minh Mỹ trong các khối quân sự còn có nghĩa vụ tham gia các cuộc chiến tranh do Mỹ phát động. Chuẩn bị chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ lập ra khối SEATO nhằm xây dựng căn cứ và bàn đạp cho Mỹ tấn công Việt Nam; đồng thời Mỹ có thể huy động lực lượng quân đội các nước cho cuộc chiến tranh khi cần thiết.

-----------------
         1. Nguyễn Anh Dũng, Về chiến lược quân sự toàn cầu ..., Sđd, tr. 29.

         2. Nigel Cawthorne, Chiến tranh Việt Nam được và mất (Hay những bài học từ cuộc chiến tranh Việt Nam), Nxb Đà Năng, 2007, tr. 42.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:11:42 AM

        2. ÂM MƯU CỦA ĐẾ QUỐC MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ CHỦ TRƯƠNG SỬ DỤNG QUÂN ĐỘI CÁC NƯỚC ĐỒNG MINH THAM GIA CHIẾN TRANH VIỆT NAM.

        Sự phát triển của tình hình cách mạng ở châu Âu và châu Á cuối thập niên 40 thế kỷ XX đã khiến Mỹ phải xem xét lại chiến lược quân sự toàn cầu, dẫn đến sự dính líu ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Đông Dương.

        Văn kiện mang ký hiệu NSC.51 của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ được Tổng thống Truman phê chuẩn ngày 30 tháng 12 năm 1949 nhấn mạnh sự cần thiết phải ngăn chặn "sự bành trướng của cộng sản" ở Đông Dương, phải tiếp tục cuộc chiến tranh ở nơi đây bằng cách trợ giúp về chính trị, viện trợ kinh tế và quân sự cho thực dân Pháp. Đồng thời, Mỹ muốn trực tiếp viện trợ quân sự cho chính quyền bù nhìn và quân ngụy; mặt khác, Mỹ bắt đầu dọn đường cho con bài chính trị khác đã được chuẩn bị là Ngô Đình Diệm. Trước khi Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam và Đông Dương được ký kết, đế quốc Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam Việt Nam làm Thủ tướng chính phủ bù nhìn thay Bửu Lộc, thân Pháp. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, đế quốc Mỹ tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ, nhảy vào miền Nam thay Pháp, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ. Mỹ xây dựng chính quyền Ngô Đình Diệm thành một bộ máy cai trị quân phiệt, đàn áp dã man nhân dân miền Nam bằng các chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng", bằng luật 10-59. Chính quyền Ngô Đình Diệm thực sự điển hình cho chế độ tay sai thực dân kiểu mới của Mỹ.

        Từ cuối năm 1959 đầu năm 1960, phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam phát triển mạnh, phá tan từng mảng lớn chính quyền cơ sở của địch, đẩy chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm đến nguy cơ sụp đổ; chỗ dựa của đế quốc Mỹ trong việc áp đặt chủ nghĩa thực dân mới bị lung lay. Trước tình hình đó và tin tưởng vào khả năng giành phần thắng trong các cuộc chiến tranh hạn chế theo quan điểm chiến lược "Phản ứng linh hoạt", Nhà Trắng và Lầu Năm Góc quyết định tiến hành cuộc "Chiến tranh đặc biệt" chống nhân dân Việt Nam và bắt đầu tính đến việc đưa quân viễn chinh Mỹ và quân các nước đồng minh vào chiến trường miền Nam Việt Nam.

        Dưới con mắt của những người quyết định chính sách Mỹ, Việt Nam cũng giống như Triều Tiên, là một nơi thử thách mà "thế giới tự do" phải biết dùng sức mạnh của mình để chống lại "sự bành trướng mãnh liệt của cộng sản". Nếu như chiến tranh Triều Tiên là một nỗ lực của Mỹ và các nước đồng minh Mỹ chống lại "sự xâm lấn của cộng sản Bắc Triều Tiên và Trung Quốc"; thì trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ và đồng minh cũng phải nỗ lực chống lại "cuộc xâm lấn của Bắc Việt Nam với sự giúp đỡ của cộng sản Liên Xô và Trung Quốc". Để thực hiện nỗ lực đó, suốt năm 1961, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã bàn luận nhiều phương án đưa quân viễn chinh vào Việt Nam, từ việc Mỹ đơn phương can thiệp đến huy động quân của nhiều nước trong khối SEATO.

        Đầu năm 1961, Tổng thống Kennơđi cho phép tăng thêm 100 cố vấn cho Phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) và điều sang Việt Nam 400 quân thuộc lực lượng đặc biệt để huấn luyện "chống nổi dậy"1. Tại miền Nam Việt Nam, Mỹ - Diệm khẩn trương triển khai kế hoạch bình định, lấy việc lập "ấp chiến lược" làm trọng tâm; tiến hành các chương trình kinh tế để "gây ảnh hưởng ngắn hạn và góp phần vào sự tồn tại lâu dài về kinh tế của Nam Việt Nam"2; phong tỏa vùng biển, bịt chặt biên giới nhằm chống việc xâm nhập từ miền Bắc vào miền Nam; tiến hành các hoạt động chiến tranh bí mật phá hoại miền Bắc Việt Nam3; ra sức củng cố hệ thống ngụy quyền các cấp; cải thiện quan hệ giữa Chính phủ Sài Gòn với Chính phủ các nước khác trong khu vực, đặc biệt là với Chính phủ Campuchia. Ngày 11 tháng 5 năm 1961, Kennơđi chính thức phát động "Chiến tranh đặc biệt" với việc chuẩn y Bị vong lục về hành động an ninh quốc gia số 52. Theo văn kiện này, mục tiêu và hành động của Mỹ ở miền Nam Việt Nam là nhằm "ngăn chặn cộng sản thống trị Nam Việt Nam... để xúc tiến với nhịp độ ngày càng nhanh một loạt những hoạt động hỗ trợ lẫn nhau có tính chất quân sự, chính trị, kinh tế, tâm lý và không công khai nhằm thực hiện mục tiêu nói trên"4. Bị vong lục số 52 yêu cầu Bộ Quốc phòng Mỹ nghiên cứu số lượng, thành phần các lực lượng quân sự cần sử dụng cho các mục tiêu trên.

        Để thăm dò khả năng triển khai quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình của các nước đồng minh châu Á và lôi kéo họ vào cuộc chiến, Kennơđi phái Phó tổng thống L. B. Giônxơn sang thăm các nước Philíppin, Đài Loan, Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan và miền Nam Việt Nam. Tại Sài Gòn, Giônxơn và Ngô Đình Diệm ký Thông cáo chung với nội dung chủ yếu là Mỹ cam kết tăng thêm viện trợ quân sự, kinh tế và cố vấn cho Nam Việt Nam; chính quyền Sài Gòn cần tăng cường và mở rộng lực lượng vũ trang và bán vũ trang; lập nhóm chuyên viên kinh tế, tài chính, quân sự cao cấp của hai bên để xây dựng kế hoạch hành động chung giữa Chính phủ Mỹ và Chính phủ Sài Gòn; Mỹ hoan nghênh các nước khác viện trợ và hợp tác với Chính phủ Ngô Đình Diệm; triển khai mạnh mẽ chương trình lập "ấp chiến lược" ở miền Nam Việt Nam5. Việc "Mỹ hoan nghênh các nước khác viện trợ và hợp tác với Chính phủ Ngô Đình Diệm" thực chất là sự vận động các nước đồng minh SEATO và đồng minh khác tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tranh Việt Nam.

-----------------
         1. George C. Herring, Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 101.

         2. Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tập 1, Hà Nội, 1971, tr. 121.

         3. Chiến tranh phá hoại miền Bắc được Mỹ gắn cho mật danh "Chương trình hành động bí mật".

         4. Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tlđd, tr. 121.

         5. Hồi ký Giônxơn, Thông tấn xã Việt Nam phát hành, Hà Nội, 1972, tr. 33.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:13:01 AM

        Từ giữa năm 1961, Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai thực hiện kế hoạch bình định miền Nam, dự tính đến cuối năm 1962 sẽ cơ bản "bình định" xong bằng cách dồn dân vào các "ấp chiến lược" để triệt phá cơ sở cách mạng ở nông thôn; gấp rút tăng cường phát triển quân đội Sài Gòn gồm lực lượng vũ trang và bán vũ trang; thiết lập hệ thống cứ điểm chốt chặn ở biên giới và tuyến quân sự tạm thời, tăng cường tuần tra, kiểm soát vùng biển để ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam; tung gián điệp, biệt kích ra miền Bắc và thực hiện nhiều thủ đoạn chiến tranh tâm lý chống phá miền Bắc; đồng thời liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá ác liệt cơ sở cách mạng miền Nam.

        Nắm vững âm mưu và hành động của địch, quân và dân miền Nam thực hiện chủ trương của Đảng đẩy mạnh tiến công quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị ở cả nông thôn, đô thị và rừng núi, làm cho quân đội Sài Gòn mất dần thế chủ động, kế hoạch bình định của Mỹ - ngụy không thể thực hiện theo đúng ý đồ của chúng.

        Trước tình hình đó, đầu tháng 10 năm 1961, cả Hội đồng tham mưu trưởng liên quân và Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đều xem xét lại việc đưa quân chiến đấu vào miền Nam trên quy mô lớn hơn. Hội đồng an ninh quốc gia đề nghị nên sử dụng một lực lượng 25.000 quân của các nước thành viên SEATO để giữ biên giới Việt Nam và Lào, trong khi đó Hội đồng tham mưu trưởng liên quân lại cho rằng nên sử dụng lực lượng này để bảo vệ khu vực cao nguyên miền Trung. Trong khi chính quyền Mỹ chưa có một quyết định chính thức thì Ngô Đình Diệm yêu cầu Mỹ tăng thêm viện trợ và xem xét việc đưa một sư đoàn quân đội Trung Hoa dân quốc sang miền Nam Việt Nam. Ngày 18 tháng 10 năm 1961, Chính phủ Mỹ cử hai thành viên Hội đồng an ninh quốc gia là S. Taylo và W. Rôstâu dẫn đầu một phái đoàn chuyên gia quân sự và dân sự sang miền Nam Việt Nam để nghiên cứu tình hình tại chỗ và đề xuất các phương án hành động tiếp theo của Mỹ.

        Ngày 3 tháng 11 năm 1961, phái đoàn này gửi về Oasinhtơn bản báo cáo với 3 phương án:

        1. Đưa vào miền Nam Việt Nam ba sư đoàn quân Mỹ để "đánh bại Việt cộng".

        2. Đưa tượng trưng một số quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam, vừa nhằm "xác lập sự có mặt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam", vực dậy tinh thần của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn đang sa sút mạnh, vừa để tạo điều kiện cho việc tăng viện quân chiến đấu Mỹ khi cần thiết.

        3. Tăng thêm viện trợ, bao gồm cả vũ khí, phương tiện chiến tranh và đẩy mạnh công tác huấn luyện cho quân đội Sài Gòn.

        Cùng với 3 phương án trên, phái đoàn chuyên gia của Hội đồng an ninh quốc gia cũng kiến nghị một loạt biện pháp cấp bách, trong đó có các biện pháp "dọn đường" cho việc đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam:

        - Cử các cố vấn hành chính sang tham gia vào bộ máy chính quyền Sài Gòn.

        - Cùng Chính phủ Sài Gòn tiến hành các biện pháp cần thiết để cải thiện mạng lưới tình báo quân sự, chính trị trong nội bộ chính quyền và quân đội.

        - Mở cuộc điều tra sâu rộng ở khắp các tỉnh trên toàn miền Nam để phân loại các đối tượng phục vụ cho "công tác chống nổi loạn" và cung cấp thêm cơ sở cho việc đề ra các biện pháp hữu hiệu hơn.

        - Tăng cường viện trợ, vũ khí, trang bị và huấn luyện cho lực lượng bảo an, dân vệ để lực lượng này đủ sức làm nhiệm vụ "diện địa" thay thế các đơn vị chính quy, tạo điều kiện cho các đơn vị chính quy tăng cường các cuộc hành quân.

        - Giúp Chính phủ Sài Gòn giám sát và kiểm soát vùng biển và các đường thủy nội địa bằng cách cung cấp cố vấn, nhân viên điều hành và phương tiện cần thiết cho nhiệm vụ này.

        - Tổ chức lại và tăng thêm biên chế Phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ.

        - Đưa vào miền Nam Việt Nam một lực lượng quân sự đặc nhiệm từ 6.000 đến 8.000 quân hoạt động dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Mỹ để tạo ra sự có mặt về quân sự, hỗ trợ cho các hoạt động quân sự và khi cần có thể mở các cuộc hành quân mang tính chất tiến công. Ngoài ra, lực lượng đặc nhiệm này còn đóng vai trò "như một bộ phận đi trước của lực lượng Mỹ sẽ được đưa vào nếu như dùng đến các kế hoạch khẩn cấp của Tổng Tư lệnh Thái Bình Dương hoặc của khối SEATO" .

        - Tăng thêm viện trợ để hỗ trợ thích đáng chương trình "chống nổi loạn mở rộng".


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:13:29 AM

        Bên cạnh các biện pháp cấp bách trên đây, phái đoàn Taylo - Rôstâu còn kiến nghị một "Chương trình tham gia có giới hạn" về mặt quân sự của Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Nội dung cơ bản của chương trình này là Mỹ sẽ cử sang Nam Việt Nam các cố vấn cấp cao cho các cơ quan chính phủ và các bộ chủ chốt; tăng cường nhân viên huấn luyện trong tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội...; đưa vào Nam Việt Nam một số đơn vị yểm trợ như công binh, hậu cần, máy bay lên thẳng trong khuôn khổ lực lượng đặc nhiệm Mỹ; đưa thêm các đội lực lượng đặc biệt Mỹ vào cùng lực lượng đặc biệt Sài Gòn tăng cường cho vùng biên giới; đẩy mạnh các hoạt động tiến công bí mật ra miền Bắc Việt Nam và Lào, nếu tình hình ở Nam Việt Nam tiếp tục xấu đi, Mỹ sẽ ném bom miền Bắc để gây áp lực.

        Trên cơ sở những kiến nghị trên đây, Kennơđi lựa chọn sự cam kết có mức độ với chính quyền Diệm về viện trợ và cố vấn. Đầu năm 1962, Phái đoàn cố vấn và viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) được tổ chức lại lớn hơn, thành Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ (MACV), có trụ sở ở Sài Gòn và do tướng Pôn Hắckin làm Tư lệnh. Dưới sự chỉ huy và điều hành của MACV, số lượng cố vấn và các đơn vị yểm trợ Mỹ được đưa vào miền Nam không ngừng tăng lên. Nếu như đến tháng 12 năm 1961, số "cố vấn" Mỹ ở miền Nam mới chỉ là 3.025 người thì đến cuối năm 1962 đã tăng lên 9.000 tên1; "cố vấn" được bố trí đến cấp tiểu đoàn, cùng tham gia với các đơn vị quân đội Sài Gòn trong các trận đánh. Cũng trong thời gian đó, viện trợ quân sự Mỹ cho quân đội Sài Gòn tăng hơn gấp đôi, có cả xe thiết giáp và hơn 300 máy bay quân sự.

        Cũng như Kennơđi và Aixenhao, sau khi lên làm Tổng thống nước Mỹ thay Kennơđi bị ám sát tháng 11 năm 1963, Giônxơn chưa muốn đưa lực lượng quân đội quy mô lớn vào miền Nam Việt Nam. Ông ta và các cố vấn thân cận sợ rằng việc đưa quân viễn chinh quy mô lớn vào Việt Nam sẽ khiến cho quân đội Sài Gòn ỷ lại và do đó sẽ không thể tự đảm đương được nhiệm vụ của mình. Mặt khác, việc đưa quân Mỹ quy mô lớn vào Việt Nam sẽ tạo ra những làn sóng phản đối trên toàn thế giới; đồng thời có thể gây nên những rối loạn lớn ở trong nước, đe dọa chương trình lập pháp của Giônxơn và cuộc tranh cử Tổng thống của ông ta. Chính vì vậy, trong một bài phát biểu vận động tranh cử, Giônxơn tuyên bố: "Tôi đã không nghĩ rằng chúng ta sẵn sàng để cho con em Mỹ đánh thay các con em châu Á".

        Về phía chính quyền Sài Gòn, khi chế độ độc tài gia đình trị họ Ngô còn đứng được, Ngô Đình Diệm không muốn Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam mà chỉ muốn nhận viện trợ tiền của, vũ khí và cố vấn. Bức điện mật của Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn gửi cho Bộ trưởng ngoại giao Mỹ Đin Raxcơ ngày 12 tháng 5 năm 1961 cho biết, "tại các cuộc thảo luận giữa Diệm và Phó tổng thống Giônxơn về việc đưa các lực lượng Mỹ vào Việt Nam, Diệm nói với Phó tổng thống Giônxơn rằng hắn ta không muốn quân chiến đấu Mỹ đánh nhau ở Nam Việt Nam... trừ phi trong trường hợp miền Bắc xâm lược công khai"2. Sau khi Ngô Đình Diệm bị sát hại, người được Mỹ lựa chọn thay thế Diệm là Dương Văn Minh. Tuy nhiên, chủ trương trung lập và ý muốn Mỹ xuống thang, thành lập một chính phủ liên hiệp ở miền Nam Việt Nam của Dương Văn Minh không làm hài lòng Giônxơn nên ông ta cũng phải ra đi. Sau khi lên thay Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh lập tức tuân lệnh Oasinhtơn và tuyên bố công khai tiến công đánh bại "âm mưu cộng sản" ở Đông Nam Á.

        Một nguyên nhân khác nữa khiến Mỹ chưa thể quyết định đưa quân chiến đấu vào Việt Nam là sự phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ. Thách thức lớn đầu tiên đối với chính sách chiến tranh của Giônxơn, nếu như chưa nói đến làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam và sự phản đối ngày càng mạnh mẽ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới, lại xuất phát từ Liên Hợp quốc, từ trong lòng nước Mỹ, kể cả trong chính giới cấp cao.

-----------------
         1. George C. Herring, Cuộc chiến tranh dài ngày nhất..., Sđd, tr. 112.

         2. Giôdép A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H-1985, tr. 62.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:15:41 AM

        Tổng thư ký Liên hợp quốc U Than đã phản ứng nhanh chóng trước việc Mỹ can thiệp quân sự vào Đông Nam Á; ông kêu gọi Oasinhtơn chấm dứt hành động này, thương lượng một giải pháp công bằng và yêu cầu Giônxơn công khai những sự việc thực tế về Việt Nam cho nhân dân Mỹ. Gioócgiơ F. Kennan - nguyên Đại sứ Mỹ ở Liên Xô phản đối sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam bằng cách bác bỏ những luận điểm biện minh cho cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam; ông bác bỏ thuyết Đôminô khi cho rằng một chế độ cộng sản ở Nam Việt Nam sẽ theo đuổi một đường lối khá độc lập giữa Liên Xô và Trung Quốc. Các thượng nghị sĩ ởnet Grunin của bang Alaxka và Uâynơ Moócxơ của bang Origơn đã bỏ phiếu chống lại "Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ". Grunin còn cho biết ông đã nhiều lần đòi Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam: "Tôi đã tuyên bố và tuyên bố lại quan điểm của tôi rằng đây (chiến tranh xâm lược Việt Nam - TG) không phải là chiến tranh của chúng ta. Chúng ta hoàn toàn lầm lạc trong việc nhặt lấy gánh nặng sau khi người Pháp đã chịu những tổn thất choáng váng với hàng chục nghìn thanh niên Pháp chết, với những chi tiêu to lớn trong đó Mỹ đã đóng góp phần rất lớn"1.

        Trước những làn sóng phản đối chiến tranh quyết liệt đó, bề ngoài, Giônxơn tỏ ra dứt khoát "không đưa con em Mỹ đi đánh thay các con em châu Á", nhưng trước sự suy sụp, khủng hoảng ngày càng trầm trọng của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, phe hiếu chiến Mỹ đã thuyết phục và chuẩn bị cho ông làm điều ngược lại. Họ tìm mọi cách "chứng minh" sự "xâm lược công khai" của miền Bắc. Cách làm phổ biến của phái hiếu chiến Mỹ trong những năm chiến tranh xâm lược Việt Nam là lừa dối, một "sự lừa dối hào nhoáng", như cách nói của một quân nhân Mỹ. Họ tự lừa dối nhau trong giới cầm quyền, lừa dối nhân dân Mỹ và dư luận quốc tế. Điển hình của sự lừa dối đó là "sự kiện Vịnh Bắc Bộ". Với kịch bản đã được chuẩn bị kỹ lưỡng về việc 3 chiếc tàu ngư lôi của Bắc Việt Nam tiến công tàu Mađốc của Mỹ đang làm nhiệm vụ tuần tra theo kế hoạch Desoto, phái hiếu chiến ở Oasinhtơn đã ép được Quốc hội Mỹ thông qua nghị quyết cho phép Tổng thống, với tư cách là Tổng tư lệnh, "có những biện pháp cần thiết nhằm đẩy lùi bất kỳ cuộc tiến công vũ trang nào chống lại các lực lượng của Mỹ và nhằm ngăn chặn sự xâm lược khác nữa"2. Như vậy, việc đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam đã được "dọn đường" khá bài bản.

        Đối với các nước đồng minh, ngày 23 tháng 4 năm 1964, Tổng thống Giônxơn chính thức kêu gọi họ nên có "thêm nhiều ngọn cờ" để "hỗ trợ cho một nước bạn đang gặp nguy khốn". Những đồng minh mà Mỹ hướng tới trong lời kêu gọi này đương nhiên không chỉ gồm những đồng minh trong khối SEATO bởi ngoài Mỹ, khối này còn 7 nước, trong đó chỉ có 3 nước châu Á. Lời kêu gọi của Tổng thống Giônxơn đã không nhận được sự hưởng ứng mặn mà của nhiều nước đồng minh; thậm chí Inđônêxia, một đồng minh thân cận của Mỹ ở Đông Nam Á, đã kiên quyết từ chối viện trợ Mỹ để đổi lấy việc nước này đưa quân sang miền Nam Việt Nam. Trước chuyến thăm Inđônêxia của Tổng thống Mỹ vào đầu năm 1964, Tổng thống Inđônêxia Xuháctô tuyên bố: "Phó tổng thống Hămphrây sẽ đến Giacácta trong vài ngày nữa. Tôi biết ông ta muốn gì. Ông ta muốn tôi đưa một sư đoàn sang Việt Nam và để trả lại, ông ta sẽ cho tôi viện trợ Mỹ. Chúng tôi rất cần sự viện trợ đó. Nhưng..., ngay dù cho ông ta cho tôi hàng triệu đô la viện trợ Mỹ, tôi cũng sẽ không cho một người lính Inđônêxia nào sang Việt Nam"3.

        Những nước buộc phải hưởng ứng lời kêu gọi "thêm nhiều ngọn cờ" thì ngay sau những hành động có tính chất tượng trưng là chủ yếu, Chính phủ đã phải hứng chịu sự chỉ trích và phản đối gay gắt của các tầng lớp nhân dân. Ngay cả khi Chính phủ Philíppin, dưới sức ép của Mỹ, chỉ đưa một số nhân viên y tế và công nhân làm đường sang Nam Việt Nam nhưng cũng không được nhân dân đồng tình. Sự phản đối của quần chúng mạnh mẽ đến mức Tổng thống Phécđinăng Máccốt phải hứa trong cuộc vận động bầu cử rằng một trong những hành động đầu tiên của ông nếu tái đắc cử sẽ là gọi các lực lượng trên về nước, và ông đã thực hiện đúng lời hứa của mình. Hưởng ứng lời kêu gọi "thêm nhiều ngọn cờ", Chính phủ Ôxtrâylia chỉ gửi một lực lượng tượng trưng để giúp chính quyền Sài Gòn trong các chương trình phát triển nông thôn. Mặc dù Chính phủ đã có lời giải thích rằng, Ôxtrâylia phải tham gia chiến dịch "thêm nhiều ngọn cờ" vì công cuộc phòng thủ của Ôxtrâylia phụ thuộc vào Mỹ, song quần chúng vẫn biểu tình phản đối quyết liệt...

        Thực ra, đây không phải là lần đầu tiên nhân dân các nước phản đối sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Ngay khi các chữ ký trong bản Hiệp ước SEATO còn chưa ráo mực, làn sóng phản đối chính sách xâm lược của đế quốc Mỹ đã lan khắp lục địa châu Á. Thêm vào đó, bản thân Hiệp ước SEATO chưa đủ cơ sở pháp lý cho việc Mỹ huy động quân đội các nước đồng minh vào các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang do Mỹ tiến hành; vì vậy, Mỹ phải dựa vào các hiệp ước song phương đã ký với các đồng minh châu Á để ép buộc họ ủng hộ Mỹ; đồng thời ký các hiệp ước và thoả thuận mới để mở đường cho các hành động can thiệp quân sự sau này. Đối với Philíppin, Mỹ đã tạo được chỗ đứng vững chắc nhờ bản Hiệp ước về cơ sở quan hệ giữa Mỹ và Philíppin ký năm 1946 và các hiệp ước quân sự ký năm 1947. Theo các hiệp ước đó, Philíppin chuyển cho Mỹ quyền sử dụng 23 khu vực trên lãnh thổ Philíppin trong thời hạn 99 năm để bố trí các căn cứ quân sự; quân đội Philíppin trên thực tế sẽ do các cố vấn Mỹ kiểm soát; các cố vấn quân sự Mỹ có nhiệm vụ biến quân đội Philíppin thành công cụ đàn áp phong trào giải phóng dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Philíppin4. Để tháo gỡ sự ràng buộc bởi điều kiện "nhất trí thoả thuận" của các nước tham gia Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á, ngày 6 tháng 3 năm 1962, Mỹ ký với Thái Lan bản hiệp ước quân sự, trong đó Mỹ cam kết viện trợ quân sự cho Thái Lan mà không cần thoả thuận trước với tất cả các nước trong khối SEATO.

-----------------
         1, 2. Giôdép A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd, tr. 104, 95.

         3. Giôdép A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd, tr. 48.

         4. The Daily World, 7.VI, 1975


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:17:27 AM

        Ngoài các nước trong khối SEATO, Cộng hoà Triều Tiên là một trong những đồng minh tin cậy nhất của Mỹ ở khu vực châu Á. Mỹ đã bí mật ký với nước này một hiệp ước quân sự, theo đó, trong thời gian từ 2 đến 3 năm, Mỹ có trách nhiệm sẽ giúp Cộng hoà Triều Tiên xây dựng một đội quân nhà nghề được trang bị và huấn luyện theo mô hình của quân đội Mỹ. Tiếp đó, tháng 1 năm 1950, hai nước đã ký "Hiệp ước tương trợ và phòng thủ chung", quy định quy mô và cách thức sử dụng viện trợ quân sự của Mỹ cho Cộng hoà Triều Tiên. Cuối năm 1953, chỉ vài tháng sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, Mỹ đã ký với Chính phủ của Lý Thừa Vãn "Hiệp ước tương trợ an ninh", cho phép quân đội Mỹ được duy trì lực lượng lâu dài tại Cộng hoà Triều Tiên. Ngoài các hiệp ước trên, từ năm 1954 đến năm 1960, Mỹ còn ký với Cộng hoà Triều Tiên hàng loạt hiệp ước, hiệp định hợp tác kinh tế và thương mại nhằm phục vụ cho các mục tiêu chính trị, quân sự và kinh tế của Mỹ. Trên cơ sở các hiệp định, hiệp ước đã ký, Mỹ từng bước biến Cộng hoà Triều Tiên không chỉ trở thành thị trường tiêu thụ hàng hoá, nơi đầu tư béo bở của các tập đoàn, công ty Mỹ mà còn trở thành căn cứ chiến lược quân sự ở khu vực Nam Á và Đông Nam châu Á.

        Cũng xuất phát từ những toan tính chiến lược của mình, chỉ ít lâu sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ đã tìm cách biến Nhật Bản từ một đối thủ trở thành đồng minh chiến lược rất tin cậy. Năm 1951, Mỹ đã ký riêng rẽ với Nhật Bản một hoà ước và một hiệp ước liên minh quân sự để hợp pháp hoá việc quân đội Mỹ đóng trên đất Nhật không thời hạn, biến nước Nhật thành một bàn đạp chiến lược của Mỹ ở Đông Bắc Á, bao vây, uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa trên lục địa châu Á.

        Song song với việc ký kết các hiệp ước, hiệp định "hợp tác an ninh" trên đây, Mỹ còn dành cho các nước đồng minh châu Á những khoản viện trợ đáng kể, nhất là viện trợ quân sự, để cột chặt các nước này vào quỹ đạo của Mỹ và Mỹ sẽ dễ bề sai khiến trong trường hợp cần thiết.

        Philíppin là một trong những nước châu Á sớm có quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ và nhận nhiều "viện trợ" quân sự của Mỹ. Trên cơ sở một loạt hiệp ước quân sự được ký kết giữa hai nước từ sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, đến giữa năm 1950, Mỹ đã đưa vào Philíppin số vũ khí, trang bị trị giá 136,5 triệu đô la1; bao gồm cả các loại tàu chiến và máy bay hạng nhẹ. Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, tháng 6 năm 1950, Tổng thống Mỹ Truman đưa Philíppin vào khu vực "trực tiếp bị đe dọa" bởi chủ nghĩa cộng sản và do đó cũng là nước được ưu tiên nhận "viện trợ" Mỹ. Trong những năm 1950, trung bình mỗi năm Philíppin được Mỹ "viện trợ" trên 200 triệu đô la, chủ yếu là dành cho việc xây dựng quân đội, huấn luyện chiến đấu "chống nổi dậy".

        Đối với Cộng hoà Triều Tiên, trong bài diễn văn đọc trước Quốc hội nước này ngày 19 tháng 6 năm 1949, cố vấn Bộ ngoại giao Mỹ Đalét tuyên bố: "Nước Mỹ sẵn sàng cung cấp mọi viện trợ cần thiết về tinh thần và vật chất cho Cộng hoà Triều Tiên đang anh dũng đấu tranh với chủ nghĩa cộng sản"2 bởi "Triều Tiên là một trong những khu vực quan trọng mà Mỹ phải có trách nhiệm trực tiếp, đó không chỉ là nơi cung cấp các nguồn nguyên liệu thiết yếu mà còn là địa bàn quân sự chiến lược, từ đó Mỹ có thể áp đảo, khống chế, thậm chí tiến công Liên Xô và Trung Quốc"3. Nhằm đảm bảo vũ khí trang bị cho quân đội Cộng hoà Triều Tiên, trong hai năm 1949 và 1950, Quốc hội Mỹ đã thông qua khoản viện trợ 185 triệu đô la cùng hàng nghìn tấn vũ khí, trang bị cho quân đội nước này4. Trong những năm 50 thế kỷ trước, viện trợ Mỹ không ngừng đổ vào Cộng hoà Triều Tiên.

        Ngoài Cộng hoà Triều Tiên và Philíppin, Thái Lan cũng là nước châu Á được Mỹ đặc biệt "quan tâm" trong vấn đề viện trợ quân sự. Sau khi ký Hiệp ước quân sự Mỹ - Thái Lan, viện trợ quân sự của Mỹ cho Thái Lan ngày một gia tăng; nhất là trong những năm 1962-1963, khi Mỹ và Thái Lan can thiệp vũ trang vào Lào và từ năm 1968 đến năm 1972, khi quân đội Thái Lan tăng cường "giúp đỡ" quân đội Sài Gòn. Nếu như trong 10 năm (1951-1961), tổng số viện trợ quân sự của Mỹ cho Thái Lan là 298,9 triệu đô la, thì trong 10 năm tiếp theo, từ 1962 đến 1972, con số đó lên đến 756,6 triệu đô la5. Theo Ănggơ, từng là Đại sứ Mỹ tại Băng Cốc, nếu như trong những năm 50 thế kỷ XX, viện trợ quân sự của Mỹ cho Thái Lan không chỉ nhằm hiện đại hoá lực lượng vũ trang mà còn nhằm phát triển kinh tế thì từ giữa thập niên 60, viện trợ quân sự Mỹ dưới dạng cung cấp vũ khí, trang bị, huấn luyện quân đội và cử cố vấn quân sự Mỹ sang Thái Lan chủ yếu là nhằm bảo đảm cho các lực lượng Thái Lan tham gia chiến tranh Việt Nam cũng như giúp Chính phủ Thái nâng cao khả năng "tiến hành đấu tranh có hiệu quả chống lực lượng khởi nghĩa trong nước và đánh trả cuộc xâm lược từ bên ngoài khi cần thiết"6.

        Sẽ thiếu khách quan nếu chỉ thấy việc hàng nghìn binh lính các nước đồng minh Mỹ bị đẩy vào lò lửa cuộc chiến tranh Việt Nam là hoàn toàn do chính sách lôi kéo đồng minh với các biện pháp tuyên truyền, gây sức ép và "viện trợ" của đế quốc Mỹ. Sự "trung thành" của giới cầm quyền các nước đồng minh với người "bảo trợ", những toan tính chiến lược của họ và cả những khó khăn trong nước về kinh tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai cũng là những nhân tố khiến Chính phủ một số nước đồng minh Mỹ đi đến quyết định hưởng ứng lời kêu gọi "thêm nhiều ngọn cờ" của Tổng thống Mỹ, cử quân đội sang chiến trường miền Nam Việt Nam.

-----------------
         1. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lược sử quân đội các nước Đông Nam Á, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 331.

         2. Nguyễn Huy Quý, Cuộc chiến tranh Triều Tiên và công cuộc bảo vệ hòa bình ngày nay, tạp chí Lịch sử Quân sự, 3-2003, tr. 62.

         3, 4. Đấu tranh vũ trang của nhân dân châu Á vì nền độc lập và tự do, Nxb Quân sự, Mátxcơva, 1984, tr. 129, 130 (bản tiếng Nga).

         5. "Congressional Record". Vol. 119, N0 120, July 27, 1973, p. E5146.

         6. Political Situation in Thailand. Hearings before the Subcommittee on Asian and Pacific Affers, Wash, 1974, p. 613


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:18:34 AM

        Đi đầu trong chiến dịch "thêm nhiều ngọn cờ" này phải kể đến Cộng hoà Triều Tiên. Từ cuối cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam, tháng 1 năm 1954, Tổng thống đầu tiên của Cộng hoà Triều Tiên Lý Thừa Vãn đã ngỏ ý Cộng hoà Triều Tiên sẵn sàng đưa một sư đoàn sang Việt Nam giúp thực dân Pháp. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, ngay từ tháng 11 năm 1961, người đại diện Chính phủ Cộng hoà Triều Tiên đã tuyên bố: "Chính phủ chúng tôi... dự kiến trong thời gian gần nhất sẽ thành lập và đưa sang Việt Nam một đội cố vấn quân sự gồm những tướng lĩnh có kinh nghiệm và đã từng trải qua cuộc chiến tranh Triều Tiên"1. Trong chuyến thăm Mỹ nhân dịp Tổng thống Kennơđi chính thức nhậm chức, người kế nhiệm Lý Thừa Vãn là Pắc Chung Hy cho biết, nếu Mỹ đồng ý hỗ trợ hậu cần cho quân viễn chinh Cộng hoà Triều Tiên thì nước này sẵn sàng đưa một số đơn vị chiến đấu sang Việt Nam. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Mỹ chưa "mặn mà" với "nhã ý" của Cộng hoà Triều Tiên vì việc đưa quân vào Nam Việt Nam trực tiếp tham chiến vẫn đang gây nhiều tranh cãi ở Mỹ.

        Sự "hăng hái" của Chính phủ Cộng hoà Triều Tiên trong việc "giúp đỡ" Mỹ - chính quyền Sài Gòn không phải không có mục đích. Trước hết, đó là vì địa vị trong nước và quốc tế của giai cấp nắm quyền ở Cộng hoà Triều Tiên chưa được củng cố, luôn tiềm ẩn nguy cơ bất ổn; vì vậy họ muốn khẳng định quan hệ đồng minh chặt chẽ với Mỹ, dựa vào Mỹ để bảo vệ quyền lợi giai cấp của mình. Mặt khác, họ cũng muốn tranh thủ viện trợ của Mỹ để tạo ra một diện mạo phát triển kinh tế phồn thịnh. Quả thực, nhờ có các khoản đầu tư và viện trợ (kể cả viện trợ quân sự) của Mỹ, nền kinh tế Cộng hoà Triều Tiên đã có bước phát triển nhất định. Tuy nhiên, cái giá phải trả cho sự "phồn thịnh" của nền kinh tế nước này là sự phụ thuộc về chính trị, quân sự của nước này vào đế quốc Mỹ.

        Việc các nước đồng minh khác của Mỹ như Thái Lan, Philíppin, Ôxtrâylia và Niu Dilân đưa quân chiến đấu sang miền Nam Việt Nam, ngoài những mục đích tương tự như Cộng hoà Triều Tiên còn có nguyên nhân là phải thực hiện nghĩa vụ đồng minh đối với Mỹ trong khối SEATO. Tuy nhiên, do sự phản đối mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân trong nước và ngay cả trong nội bộ lãnh đạo nên một số nước chỉ tham gia với ý nghĩa tượng trưng.

        Nhìn lại chính sách liên minh quân sự của đế quốc Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai có thể nói, đây là một trong những công cụ được Mỹ sử dụng nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Đặc điểm nổi bật của chính sách này là Mỹ muốn dùng sức mạnh quân sự để giành quyền lãnh đạo thế giới. Nói theo cách nói của nhà sử học người Mỹ Gabrien Côncô, đó là "Mỹ cam kết tạo ra từ sự hỗn loạn của Chiến tranh thế giới thứ hai và từ di sản của những hệ thống thuộc địa một cơ cấu thế giới nhất thể hoá mà chủ yếu là tư bản chủ nghĩa"; do vậy "Mỹ hành động không phải vì ý muốn bảo vệ đất nước chống lại bất cứ mối đe dọa cụ thể nào mà vì Mỹ muốn tạo ra ở nơi khác một trật tự có thể kiểm soát được, sẵn sàng đáp ứng một cách có lợi các mục tiêu và lợi ích của Mỹ, vượt xa những nhu cầu xã hội trong nước"2.

        Việt Nam không phải là "mối đe dọa cụ thể nào" đối với Mỹ nhưng là mối đe dọa, theo quan điểm của thuyết Đôminô, đối với tham vọng bá chủ toàn cầu của Mỹ; chính vì vậy, sau khi thực dân Pháp thất bại ở Việt Nam, Mỹ liền nhảy vào Nam Việt Nam, dựng lên ở đây một chính quyền bù nhìn và quân đội tay sai hòng biến miền Nam Việt Nam thành con đê ngăn chặn "làn sóng cộng sản" lan tràn xuống Đông Nam Á, làm bàn đạp tấn công chống phá chủ nghĩa xã hội. Sau hơn 10 năm được Mỹ nuôi dưỡng, huấn luyện và chỉ huy, chính quyền và quân đội Sài Gòn đã tỏ rõ không đủ sức đảm đương sứ mệnh mà Mỹ gửi gắm, buộc Mỹ phải đưa quân viễn chinh vào miền Nam trực tiếp tham chiến.

        Đây không phải là lần đầu tiên Mỹ huy động lực lượng quân đội đồng minh tham gia cuộc chiến tranh do Mỹ phát động. Chỉ ít năm sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ đã thành công trong việc triển khai thực hiện chính sách liên minh quân sự; nhờ huy động được 15 nước đồng minh tham gia chiến tranh Triều Tiên, Mỹ đã nhanh chóng ngăn chặn được sức tiến công vũ bão của liên quân Triều - Trung. Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam được Mỹ phát động và tiến hành trong những điều kiện và bối cảnh hoàn toàn khác với cuộc chiến tranh Triều Tiên, việc lựa chọn thời điểm và phương thức đưa quân viễn chinh vào tham chiến cũng khác. Song mục đích của việc đưa quân chiến đấu Mỹ và đồng minh vào tham chiến vẫn là hy vọng nhanh chóng giành thắng lợi, "chia sẻ trách nhiệm" với Mỹ, giảm tổn thất về người cho quân đội Mỹ và một mục tiêu không kém phần quan trọng là vực dậy tinh thần đang suy sụp nghiêm trọng của quân đội và chính quyền Sài Gòn.

-----------------
         1. Song Jeong Nam, Hàn Quốc tham chiến tại Việt Nam, động cơ và bối cảnh, Tham luận khoa học tại Hội thảo Việt Nam học lần thứ II tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, 2004, tr. 4.

         2. Gabrien Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, tr. 92.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:19:12 AM

*

*        *

        Ấp ủ tham vọng bá chủ toàn cầu, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ triển khai chính sách liên minh quân sự trên phạm vi toàn thế giới. Chỉ một thời gian ngắn sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ đã lập ra một hệ thống liên minh chính trị - quân sự, xây dựng các căn cứ và triển khai lực lượng quân sự trên khắp thế giới, tạo thành các vành đai chiến lược bao vây Liên Xô và nhằm vào các nước xã hội chủ nghĩa.

        Mỹ ra sức tuyên truyền bao biện cho chính sách liên minh quân sự của mình là nhằm ngăn chặn "nguy cơ chủ nghĩa cộng sản" từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng trên thực tế, mục tiêu chính sách liên minh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, là nhằm chống lại hệ thống xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc và dân chủ trên thế giới. Bằng chứng là Mỹ và NATO từng lên kế hoạch phát động Chiến tranh thế giới thứ ba tấn công tiêu diệt Liên Xô - trở lực chính đối với đế quốc Mỹ trong việc thực hiện âm mưu bá chủ toàn cầu. Nhưng, việc Liên Xô thử nghiệm thành công bom nguyên tử (tháng 10 năm 1949) đã làm tiêu tan kế hoạch phiêu lưu quân sự chống Liên Xô của Mỹ. Thất bại trong ý đồ phát động chiến tranh thế giới mới theo chiến lược

        "Ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản", đế quốc Mỹ chuyển sang tiến hành các cuộc chiến tranh khu vực.

        Cuộc chiến tranh đầu tiên do đế quốc Mỹ phát động nhằm "Ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản" ở châu Á là chiến tranh Triều Tiên. Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ đã huy động được 15 nước cùng tham gia với Mỹ đứng về phía Cộng hoà Triều Tiên; trong đó chủ yếu là các nước đồng minh NATO như Mỹ, Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Lúcxămbua, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Canađa. Quả thực, lực lượng đồng minh đã góp phần quan trọng cùng quân đội Mỹ và Cộng hoà Triều Tiên đẩy lùi cuộc tiến công vũ bão của liên quân Trung - Triều. Đây cũng là một thực tiễn quan trọng làm cơ sở cho việc tiếp tục tăng cường mở rộng chính sách liên minh quân sự của đế quốc Mỹ. Chuẩn bị tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ không chỉ dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, cung cấp tiền của, vũ khí cho bè lũ tay sai xây dựng một quân đội vào loại hùng mạnh trong khu vực mà còn lôi kéo một số nước lập ra khối liên minh xâm lược SEATO (tháng 9 năm 1954) để khi cần thiết có thể sử dụng cho cuộc chiến tranh Việt Nam.

        Thời điểm cần thiết đó là khi chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn; chính quyền và quân đội Sài Gòn tỏ ra không thể tự đảm đương nổi nhiệm vụ của mình; Mỹ quyết định mở rộng quy mô, tăng cường độ chiến tranh và kêu gọi các nước đồng minh góp "thêm nhiều ngọn cờ" cho Mỹ - chính quyền Sài Gòn. Chủ trương mở rộng quy mô, tăng cường độ chiến tranh của đế quốc Mỹ đã gặp sự phản đối quyết liệt cả ở nước Mỹ và trong các nước đồng minh. Song, bằng nhiều biện pháp khác nhau, từ tuyên truyền, cung cấp viện trợ đến vận động, gây sức ép, tất cả 39 nước và vùng lãnh thổ được Mỹ "kêu gọi" đã ủng hộ Mỹ - chính quyền Sài Gòn. Trong đó, các nước Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Philíppin và Thái Lan đã trực tiếp đưa lực lượng quân đội sang miền Nam Việt Nam chiến đấu hoặc phục vụ, bảo đảm chiến đấu; các nước còn lại chỉ tham gia dưới hình thức viện trợ phi quân sự và thực sự chỉ mang ý nghĩa tượng trưng là chủ yếu.

        Sự tham gia và ủng hộ của các nước đồng minh đã phần nào giúp cho chính quyền Mỹ đánh lừa được dư luận trong nước và quốc tế; đồng thời ít nhiều vực dậy được tinh thần của chính quyền và quân đội Sài Gòn, góp phần giảm bớt khó khăn cho quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:20:22 AM
       
Chương 2

HOẠT ĐỘNG CỦA QUÂN ĐỘI CÁC NƯỚC ĐỒNG MINH MỸ
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM VIỆT NAM

        I. QUÂN ĐỘI CỘNG HOÀ TRIỀU TIÊN

        1. Quan hệ quân sự Mỹ - Cộng hoà Triều Tiên và quân đội Cộng hoà Triều Tiên từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 60 thế kỷ XX.

        Ngày 15 tháng 8 năm 1945, nước Nhật quân phiệt đầu hàng đồng minh, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Căn cứ vào hiệp định được ký kết giữa Liên Xô và Mỹ trước ngày Nhật Bản đầu hàng, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quân Mỹ đã đổ bộ vào Cộng hoà Triều Tiên.

        Sau khi chiếm đóng Cộng hoà Triều Tiên, Mỹ tuyên bố thành lập chính quyền quân quản, giải tán các ủy ban địa phương, cấm tất cả các đảng phái và các tổ chức xã hội hoạt động, thành lập Nghị viện dân chủ với tính chất là một cơ quan tư vấn, do Lý Thừa Vãn đứng đầu. Nguyện vọng hoà bình, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Triều Tiên và cam kết của đồng minh tôn trọng chủ quyền độc lập của Triều Tiên đã bị cản trở do ý đồ can thiệp từ bên ngoài.

        Tháng 9 năm 1947, phía Mỹ đơn phương đưa vấn đề Triều Tiên ra thảo luận ở Liên Hợp quốc. Sau các cuộc thảo luận, Liên Hợp quốc đã quyết định thành lập một"ủy ban lâm thời" về vấn đề Triều Tiên, ủy ban này được giao quyền giám sát cuộc bầu cử thành lập Chính phủ toàn Triều Tiên. Trên thực tế, ủy ban lâm thời về vấn đề Triều Tiên của Liên Hợp quốc do Mỹ thao túng. Do vậy, nghị quyết này của Liên Hợp quốc đã bị Liên Xô lên án, các đảng phái dân chủ, đoàn thể xã hội Triều Tiên cũng phản đối. Mặc dù vậy, ngày 10 tháng 5 năm 1948, phía Mỹ đã đơn phương tổ chức bầu cử riêng rẽ ở Cộng hoà Triều Tiên dưới sự giám sát của ủy ban lâm thời Liên Hợp quốc về vấn đề Triều Tiên. Ngày 15 tháng 8, Đại Hàn dân quốc (Cộng hoà Triều Tiên) được thành lập, do Lý Thừa Vãn làm Tổng thống, lấy Hán Thành (Sơun) làm thủ đô.

        Trước tình hình đó, tháng 8 năm 1948, Đảng Lao động cùng các đảng phái dân chủ, đoàn thể xã hội đã tổ chức bầu cử ở Bắc Triều Tiên. Ngày 9 tháng 9 năm 1948, Bắc Triều Tiên tuyên bố thành lập nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, lấy Bình Nhưỡng làm thủ đô.

        Tuân thủ các cam kết đã đạt được trong Hội nghị Yanta giữa các cường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tháng 9 năm 1949, quân đội Liên Xô rút khỏi Bắc Triều Tiên. Quân đội Mỹ cũng rút khỏi Cộng hoà Triều Tiên từ tháng 6 năm 1949, nhưng vẫn để lại một đoàn cố vấn quân sự có khoảng 500 sĩ quan và nhân viên quân sự, làm nhiệm vụ kiểm soát và điều hành bộ máy Chính phủ Cộng hoà Triều Tiên, đồng thời nghiên cứu và lên kế hoạch tiến công xâm lược Bắc Triều Tiên. Theo các tài liệu do quân đội Bắc Triều Tiên thu giữ được trong đợt tiến công vào Hán Thành (diễn ra từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 6 năm 1950), ngay từ đầu năm 1949, Mỹ và Cộng hoà Triều Tiên đã lên kế hoạch tiến công Bắc Triều Tiên. Phương án đầu tiên của kế hoạch này là dùng lực lượng lục quân đánh qua vĩ tuyến 38, đồng thời tiến hành các chiến dịch đổ bộ vào bờ biển phía Đông và Tây của Bắc Triều Tiên. Phương án này dự định thực hiện vào tháng 7, tháng 8 năm 1949. Đến mùa hè năm 1950, phương án trên bị hủy bỏ, thay vào đó, các cố vấn quân sự Mỹ đưa ra phương án mới với ý đồ tập trung binh lực quân đội Cộng hoà Triều Tiên đột phá toàn bộ tuyến phòng ngự của quân đội Bắc Triều Tiên ở vĩ tuyến 381. Điểm nhấn của phương án mới là quân đội Mỹ sẽ can thiệp mạnh mẽ vào cuộc xung đột.

-----------------
         1. Đấu tranh vũ trang của nhân dân châu Á vì nền độc lập và tự do, Sđd, tr. 130.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:21:29 AM

        Như vậy, cam kết của các nước đồng minh tôn trọng độc lập và thống nhất của Triều Tiên đã không được thực hiện. Đất nước Triều Tiên bị chia cắt. Vì coi Triều Tiên là địa bàn quan trọng của bàn cờ chiến tranh trên phạm vi toàn thế giới, giới cầm quyền Mỹ đã khuyến khích và tài trợ cho các hoạt động chống Cộng ở Cộng hoà Triều Tiên. Ngày 19 tháng 6 năm 1949, trong bài diễn văn đọc trước Quốc hội Cộng hoà Triều Tiên sau chuyến thị sát 2 ngày tại khu vực vĩ tuyến 38, cố vấn Bộ ngoại giao Mỹ Đalét tuyên bố: "Nước Mỹ sẵn sàng cung cấp mọi viện trợ cần thiết về tinh thần và vật chất cho Cộng hoà Triều Tiên đang anh dũng đấu tranh với chủ nghĩa cộng sản"1. Tiếp đó, tháng 1 năm 1950, không giấu giếm tham vọng của Mỹ đối với bán đảo Triều Tiên, Ngoại trưởng Mỹ Đin Akisơn một lần nữa công khai khẳng định "Triều Tiên là một trong những khu vực quan trọng mà Mỹ phải có trách nhiệm trực tiếp, đó không chỉ là nơi cung cấp các nguồn nguyên liệu thiết yếu mà còn là địa bàn quân sự chiến lược, từ đó Mỹ có thể áp đảo, khống chế, thậm chí tiến công Liên Xô và Trung Quốc"2.

        Với ý đồ bao vây, kiềm chế các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước khu vực Đông Nam Á và Nam Á, Mỹ đã từng bước biến Triều Tiên thành bàn đạp tiến công, bao vây phong trào cách mạng thế giới, thành một mắt xích trọng yếu trong chiến lược toàn cầu của họ. Quá trình "Mỹ hoá" Cộng hoà Triều Tiên thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai được Nhà Trắng đồng thời thực hiện trên nhiều lĩnh vực, trong đó chính trị và quân sự là 2 mũi đột phá chủ yếu. Trong lĩnh vực quân sự, sau khi dựng lên nước Đại Hàn dân quốc, Mỹ đã bí mật ký với nước này một hiệp ước quân sự. Theo đó, trong thời gian từ 2 đến 3 năm, Mỹ có trách nhiệm sẽ giúp Cộng hoà Triều Tiên xây dựng một đội quân nhà nghề được trang bị và huấn luyện theo mô hình của quân đội Mỹ.

        Trên cơ sở Hiệp ước đã ký, cuối năm 1948, Mỹ mở trường đào tạo sĩ quan cho quân đội Cộng hoà Triều Tiên. Học viên trường này do Mỹ trực tiếp tuyển chọn, chủ yếu là những sĩ quan, quân nhân đã từng phục vụ trong quân đội Nhật, ngụy quân Mãn Châu trong đội quân Quan Đông, hoặc con em của một số công chức Cộng hoà Triều Tiên có quan điểm thân Mỹ. Tháng 3 năm 1949, được Mỹ hậu thuẫn, Quốc hội Cộng hoà Triều Tiên đã ban hành lệnh Tổng động viên, kêu gọi thanh niên nhập ngũ, lấy cớ là để chống lại "Mối hiểm họa quân sự từ phía Bắc". Lệnh tổng động viên thực sự đã góp phần quan trọng biến phần phía Nam bán đảo Triều Tiên thành cỗ máy chiến tranh, lực lượng quân đội vì thế cũng không ngừng gia tăng. Đến giữa năm 1949, chỉ tính riêng lực lượng lục quân, Cộng hoà Triều Tiên đã có tới 8 sư đoàn. Ngoài lực lượng lục quân, Cộng hoà Triều Tiên còn tổ chức thêm 5 lữ đoàn địa phương quân và một số đơn vị đặc nhiệm với tổng số quân là 50.000 người. Cùng với việc tăng nhanh lực lượng lục quân, phòng không - không quân và hải quân Cộng hoà Triều Tiên thời kỳ này cũng có bước gia tăng đột biến. Quân chủng phòng không - không quân có khoảng 3.000 sĩ quan, binh sĩ, 40 máy bay chiến đấu, 3 sư đoàn pháo phòng không. Quân chủng hải quân có 15.000 sĩ quan và thủy thủ, với 71 tàu chiến các loại, 1 trung đoàn thủy quân lục chiến, hàng chục đội tàu tuần tra ven sông và ven biển. Phần lớn vũ khí, khí tài của 2 quân chủng này đều do Mỹ trang bị. Nhiều sĩ quan được đào tạo tại Mỹ hoặc do Mỹ đào tạo tại các căn cứ quân sự của họ ở nước ngoài.

-----------------
         1. Nguyễn Huy Quý, Cuộc chiến tranh Triều Tiên và công cuộc bảo vệ hòa bình ngày nay, tạp chí Lịch sử Quân sự, 3-2003, tr. 62.

         2. Đấu tranh vũ trang của nhân dân châu Á vì nền độc lập và tự do, Sđd, tr. 129.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:22:17 AM

        Cho đến thời điểm trước khi nổ ra cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), quân đội Cộng hoà Triều Tiên đã có tới 168.000 sĩ quan và binh sĩ, hàng chục phi đội máy bay chiến đấu và tàu chiến. Tất cả các đơn vị quân đội Cộng hoà Triều Tiên từ cấp đại đội trở lên, đều được huấn luyện theo điều lệnh và phương thức tác chiến của quân đội Mỹ, chịu sự chỉ huy và điều hành gián tiếp của các cố vấn và chuyên gia quân sự Mỹ.

        Nhằm đảm bảo vũ khí trang bị cho quân đội Cộng hoà Triều Tiên, trong 2 năm (1949-1950), Quốc hội Mỹ đã thông qua khoản viện trợ 185 triệu đô la, cùng hàng nghìn tấn vũ khí, trang bị cho quân đội nước này. Chỉ tính riêng năm 1949, Mỹ đã chuyển giao cho quân đội Cộng hoà Triều Tiên 140.000 súng trường các loại, 2.000 vũ khí chống tăng Badôca, 4.900 xe vận tải quân sự, hàng trăm xe tăng, máy bay, cùng hàng nghìn khẩu pháo, cối từ 38 tới 105mm. Con số này còn tăng lên gấp nhiều lần vào những năm chiến tranh1.

        Kết thúc chiến tranh, phía Bắc Triều Tiên đã thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản của Hiệp định đình chiến Bàn Môn Điếm: thực hiện đình chỉ chiến sự, rút toàn bộ quân đội sang bên kia vĩ tuyến 38 và chờ một hội nghị chính trị để giải quyết vấn đề hoà bình trên bán đảo Triều Tiên. Tuy nhiên, do âm mưu chiếm đóng lâu dài của Mỹ, Hội nghị chính trị cấp cao về vấn đề thống nhất hai miền Triều Tiên đã không được thực hiện. Cuối năm 1953, tức là chỉ vài tháng sau khi chiến tranh kết thúc, Mỹ đã ký với Chính phủ của Lý Thừa Vãn "Hiệp ước tương trợ an ninh", cho phép quân đội Mỹ được ở lại lâu dài tại Cộng hoà Triều Tiên. Tiếp đó, nhằm quân phiệt hoá phần phía Nam bán đảo Triều Tiên, từ năm 1954 đến năm 1960, Mỹ đã ký với Cộng hoà Triều Tiên hàng loạt hiệp ước bất bình đẳng phục vụ cho các mục tiêu chính trị, quân sự và kinh tế của Mỹ.

        Năm 1957, Mỹ ký với Cộng hoà Triều Tiên Hiệp định thương mại. Hiệp định này cho phép hàng hoá Mỹ được phép thâm nhập ồ ạt vào thị trường Cộng hoà Triều Tiên với biểu thuế thấp. Năm 1960, ký Hiệp định đầu tư nước ngoài, buộc Cộng hoà Triều Tiên phải dành "đặc quyền" cho các nhà đầu tư Mỹ...

        Với các hiệp định, hiệp ước đã ký, Mỹ từng bước biến Cộng hoà Triều Tiên không chỉ trở thành thị trường tiêu thụ hàng hoá, nơi đầu tư béo bở của các tập đoàn, công ty Mỹ mà còn trở thành địa bàn quân sự chiến lược, từ đó họ không chỉ "khống chế" nước này, mà còn không ngừng mở rộng ảnh hưởng của mình sang khu vực Nam Á và Đông Nam Á.

        Đối với Cộng hoà Triều Tiên, nhờ có các khoản đầu tư và viện trợ (kể cả viện trợ quân sự) của Mỹ, nền kinh tế nước này đã có những bước phát triển. Nếu như vào thời kỳ trước chiến tranh (1950-1953), Cộng hoà Triều Tiên vẫn còn là một trong những nước nghèo nhất thế giới, thì đến thời kỳ sau chiến tranh, đặc biệt là vào đầu những năm 60, nhờ sự viện trợ của Mỹ, thu nhập đầu người của nước này đã có những bước cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, cái giá phải trả cho sự "phồn thịnh" đó của nền kinh tế nước này là sự phụ thuộc vào cỗ máy chiến tranh xâm lược của Mỹ. Việc quân đội Cộng hoà Triều Tiên tham gia chiến tranh Việt Nam là một minh chứng cho điều đó.

        Về hệ thống tổ chức, biên chế quân đội Cộng hoà Triều Tiên, trước tháng 9 năm 1945, chỉ có Đội cảnh bị quốc gia do thanh niên tổ chức tự phát. Ngày 9 tháng 9 năm 1945, quân Mỹ đổ bộ vào Nhân Xuyên giải tán Đội cảnh bị quốc gia và thành lập các trung tâm huấn luyện quân sự do Mỹ tài trợ và đào tạo. Tháng 4 năm 1946, Mỹ tổ chức các đại đội ở cấp tỉnh do các sĩ quan Cộng hoà Triều Tiên chỉ huy. Đến tháng 12, thành lập Bộ tư lệnh cảnh bị quốc phòng Cộng hoà Triều Tiên (tiền thân của Bộ Quốc phòng). Lấy cớ "tăng cường khả năng phòng thủ" nhằm chống lại âm mưu xâm lược của Bắc Triều Tiên, ngày 12 tháng 8 năm 1948, Bộ tư lệnh các quân chủng trong Bộ Quốc phòng Cộng hoà Triều Tiên được thành lập. Vào thời điểm này, lục quân có 80.000 người, tổ chức thành 5 lữ đoàn, 1 trung đoàn độc lập. Hải quân có khoảng 6.800 người và không quân có hơn 2.000 người. Đến đầu năm 1950, con số này đã tăng lên gần gấp đôi: lục quân 150.000 (kể cả lực lượng đặc nhiệm và lực lượng địa phương), không quân gần 3.000, hải quân 15.000 người.

-----------------
         1. Đấu tranh vũ trang của nhân dân châu Á vì nền độc lập và tự do, Sđd, tr. 130.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:22:59 AM

        Ngày 25 tháng 6 năm 1950, cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Cộng hoà Triều Tiên đã tăng quân ồ ạt nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho cuộc chiến.

        Thời kỳ sau chiến tranh, do bị cuốn vào cuộc chạy đua vũ trang trong chiến lược "Trả đũa ồ ạt" và "Phản ứng linh hoạt" của Mỹ, quân số quân đội Cộng hoà Triều Tiên không những không giảm đi mà còn có chiều hướng gia tăng. Vào thời điểm ngay sau khi Cộng hoà Triều Tiên quyết định đưa quân sang Việt Nam tham chiến (năm 1965), tổng quân số quân đội Cộng hoà Triều Tiên có khoảng 778.497 người2, trong đó lục quân có 729.030, hải quân 18.000; không quân 31.497.

        Trong quân đội Cộng hoà Triều Tiên, binh sĩ thực hiện chế độ nghĩa vụ 3 năm, phần lớn họ đều xuất thân từ gia đình nông dân (70-80%), công nhân và người buôn bán nhỏ ở thành thị (10%). Đối tượng là học sinh phổ thông trung học trở lên và thanh niên ở các thành phố lớn chiếm tỷ lệ rất nhỏ (chủ yếu ở các đơn vị kỹ thuật); binh sĩ có trình độ văn hoá cấp 1 chiếm tỷ lệ cao, số chưa biết đọc, biết viết cũng còn khá nhiều3. Hạ sĩ quan, chủ yếu là những người tình nguyện tham gia quân đội hoặc đã từng phục vụ trong quân đội lâu năm, thường có tuổi đời khá cao, chế độ lương bổng được hưởng gần như sĩ quan cấp thiếu úy, trung úy. Sĩ quan cấp úy có tới 70% xuất thân từ thành phần tiểu tư sản thành thị; một số là sinh viên, trí thức, học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học bị điều động vào quân đội, số còn lại thuộc hệ thống đào tạo sĩ quan chính quy, xuất thân từ các gia đình có thế lực. Sĩ quan cấp tá, có quyền lợi khác hẳn với sĩ quan cấp úy. Phần lớn họ đều xuất thân từ tầng lớp trung lưu thành thị, một số ít xuất thân từ thành phần địa chủ, tư sản mại bản - tầng lớp có đời sống cao nhất ở Cộng hoà Triều Tiên vào thời điểm đó. Một số sĩ quan thậm chí còn có các cơ sở kinh tế lớn như các công ty, tập đoàn... Hầu hết trong số họ đã tốt nghiệp các trường sĩ quan, đại học quân sự tại Cộng hoà Triều Tiên hoặc đã được đào tạo tại Mỹ. Có nhiều người đã từng phục vụ trong quân đội Nhật, quân đội Tưởng Giới Thạch trước đây, quyền lợi của họ gắn chặt với giai cấp thống trị, thân Mỹ và chống Cộng quyết liệt. Sĩ quan cấp tướng chủ yếu xuất thân từ thành phần địa chủ, tư sản mại bản, hầu hết đã phục vụ trong quân đội Nhật, quân đội Tưởng và tham gia quân ngũ từ khi mới thành lập quân đội Cộng hoà Triều Tiên. Tuy đều thân Mỹ và có tư tưởng chống Cộng quyết liệt nhưng cũng có không ít tướng lĩnh có xu hướng chống đối, tranh giành quyền lực với Pắc Chung Hy.

-----------------
         1. The Korean War, Korean Institute of Military History, Republic of Korea, 1999, p. 692.

         2, 3. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Sơ lược tình hình chung về quân đội Nam Triều Tiên năm 1967, Tài liệu Thư viện Trung ương quân đội, tr. 12, 24.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:24:52 AM

        2. Quá trình triển khai và hoạt động của các đơn vị quân đội Cộng hoà Triều Tiên trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1964-1973).

        Trong số các nước đồng minh của Mỹ đưa quân sang Việt Nam tham chiến, Cộng hoà Triều Tiên là nước tham gia tích cực nhất, có số quân đông nhất và được Mỹ đánh giá là tác chiến có hiệu quả nhất.

        Không phải đến tận thời điểm Tổng thống Mỹ chính thức phát động chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ" Cộng hoà Triều Tiên mới có ý định đưa quân sang Việt Nam tham chiến. Đầu năm 1954, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đang bước vào hồi quyết định nhất, Mỹ bắt đầu tính đến khả năng trực tiếp đưa quân tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam. Theo dõi sát những diễn biến tại khu vực Đông Dương, cuối tháng 1 năm 1954, với tư cách là một đồng minh của Mỹ trong "thế giới tự do", Tổng thống Cộng hoà Triều Tiên Lý Thừa Vãn gợi ý với phía Mỹ sẵn sàng đưa một sư đoàn sang Việt Nam nhằm giúp Pháp đẩy lui "thế thượng phong" của lực lượng Việt Minh. Đề nghị trên của Cộng hoà Triều Tiên đã không được chấp nhận. Tổng thống Mỹ Aixenhao lập luận rằng: "Trong khi quân Mỹ đang phải đóng tại Cộng hoà Triều Tiên để bảo vệ phên dậu cho họ, thì quân Cộng hoà Triều Tiên lại bị điều đi khỏi bán đảo Triều Tiên để giải quyết những giao tranh tại nơi khác. Đó là điều không thể chấp nhận được". Kế hoạch đưa quân sang Việt Nam của Cộng hoà Triều Tiên vì thế cũng bị gác lại. Mặc dù vậy, Tổng thống Lý Thừa Vãn vẫn chưa từ bỏ ý định đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam. Năm 1955, Cộng hoà Triều Tiên chính thức công nhận Chính phủ Việt Nam cộng hoà và thường xuyên tiến hành các cuộc trao đổi quân sự. Điều đó đã tạo tiền đề thuận lợi để Chính phủ Cộng hoà Triều Tiên thực hiện ý định đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam và tích cực ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ.

        Năm 1961, Trung tướng Pắc Chung Hy tiến hành đảo chính quân sự lật đổ Chính phủ hiện thời và trở thành Tổng thống Cộng hoà Triều Tiên. Ngay sau đó, Pắc Chung Hy đã vấp phải sự phản đối gay gắt của các đảng phái chính trị và các tầng lớp nhân dân Cộng hoà Triều Tiên về tính hợp hiến của chiếc ghế mà ông đang chiếm giữ. Không những vậy, ông còn phải đối mặt với tình trạng đói nghèo, lạc hậu đã kéo dài nhiều năm tại Cộng hoà Triều Tiên. Tuy nhiên, không phải vì thế mà Tổng thống Pắc Chung Hy từ bỏ ý định đưa quân sang tham chiến tại Nam Việt Nam. Tháng 6 năm 1961, ngay sau khi thành lập chính phủ mới, Pắc Chung Hy đã cử một phái đoàn quân sự do tướng Sim Hông Sơn dẫn đầu, sang miền Nam Việt Nam để tìm hiểu tình hình chiến sự. Tiếp đó, tháng 11 năm 1961, tại Hội nghị cấp bộ trưởng giữa Việt Nam cộng hoà và Cộng hoà Triều Tiên, Lee Hu Rak - Trưởng ban thư ký ủy ban tái thiết quốc gia, chính thức bày tỏ ý định đưa quân Cộng hoà Triều Tiên sang chiến đấu tại Nam Việt Nam. Ông nói: "Chính phủ chúng tôi tuyệt nhiên không bỏ qua khủng hoảng tại Việt Nam. Chúng tôi dự kiến trong thời gian gần nhất sẽ thành lập và đưa sang Việt Nam một đội cố vấn quân sự gồm những tướng lĩnh có kinh nghiệm và đã từng trải qua cuộc chiến tranh Triều Tiên"1.

        Cũng trong tháng 11, Pắc Chung Hy đến thăm Mỹ nhân dịp Tổng thống Kennơđi chính thức nhậm chức. Trong hai phiên hội đàm cấp cao với các quan chức Mỹ, Pắc Chung Hy đã chính thức đề nghị phía Mỹ tăng cường giúp Cộng hoà Triều Tiên phát triển kinh tế, đồng thời dùng các biện pháp để ổn định tình hình trong nước. Trong các cuộc hội đàm đó, ông ta còn nhiều lần đề cập đến việc Cộng hoà Triều Tiên hiện đang có gần 1 triệu quân thiện chiến, nếu Mỹ đồng ý hỗ trợ hậu cần cho quân viễn chinh Cộng hoà Triều Tiên thì nước này sẵn sàng đưa một số đơn vị chiến đấu sang Việt Nam. Kết thúc chuyến thăm, Pắc Chung Hy đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của Tổng thống Kennơđi về kế hoạch phát triển kinh tế và kế hoạch ổn định tình hình chính trị trong nước. Tuy nhiên, đề nghị của Cộng hoà Triều Tiên về việc đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam chỉ mới được Mỹ đưa vào các biên bản ghi nhớ. Sở dĩ vào thời điểm đó Mỹ không mấy "mặn mà" với đề nghị này của Cộng hoà Triều Tiên là do cho đến lúc ấy, Tổng thống Kennơđi vẫn đang giữ thái độ dè dặt về việc đưa quân vào Nam Việt Nam trực tiếp tham chiến. Mặt khác, Mỹ vẫn coi Việt Nam là một vấn đề đơn giản và nếu cần, chỉ một mình Mỹ cũng đủ giành thắng lợi ở Việt Nam.

-----------------
         1. Song Jeong Nam, Hàn Quốc tham chiến tại Việt Nam, động cơ và bối cảnh, Tlđd, tr. 4.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:25:22 AM

        Ba năm sau, khi ảo tưởng về một sức mạnh siêu cường của Mỹ trên chiến trường Việt Nam không còn, ngày 9 tháng 5 năm 1964, Đại sứ Mỹ tại Cộng hoà Triều Tiên đã phải chuyển bức thư của Tổng thống Giônxơn gửi Pắc Chung Hy, yêu cầu Cộng hoà Triều Tiên gửi quân sang Việt Nam giúp Mỹ. Theo yêu cầu của Mỹ, Tổng thống Pắc Chung Hy đã cử một phái đoàn khảo sát gồm 15 người sang Nam Việt Nam để nghiên cứu tình hình. Tiếp đó, đầu tháng 9 năm 1964, sau khi được Quốc hội tán thành với số phiếu 100%, Tổng thống Pắc Chung Hy ra lệnh cho Bộ Quốc phòng xúc tiến kế hoạch đưa một phái bộ viện trợ quân sự Cộng hòa Triều Tiên, thường gọi là "đơn vị Bồ Câu", với hơn 2.000 người, gồm lính công binh, nhân viên y tế, võ sư Taekwondo... sang Việt Nam. Ngày 25 tháng 2 năm 1965, bộ phận đầu tiên của lực lượng này là một bệnh viện dã chiến, với gần 200 nhân viên, cả quân và dân y, đã tới Biên Hoà. Các đơn vị còn lại như: tiểu đoàn công binh, đại đội vận tải, tiểu đoàn an ninh,... lần lượt có mặt tại Nam Việt Nam vào tháng 3 năm 1965. Như vậy, cho đến thời điểm này, Cộng hoà Triều Tiên vẫn chưa đưa các đơn vị chiến đấu sang Nam Việt Nam.

        Sau "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ", để "Mỹ hóa" cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ một mặt ồ ạt đưa quân viễn chinh vào Việt Nam, mặt khác thúc ép các nước đồng minh như: Ôxtrâylia, Niu Dilân, Thái Lan, Philíppin nhanh chóng "thực hiện" các cam kết với Mỹ, đưa quân vào trực tiếp tham chiến tại Việt Nam.

        Với Cộng hoà Triều Tiên, mặc dù trong chuyến thăm Mỹ tháng 5 năm 1965, Tổng thống Pắc Chung Hy đã cơ bản nhất trí việc triển khai một sư đoàn quân Cộng hoà Triều Tiên vào Việt Nam và bản thân ông cũng đã chuẩn bị cho vấn đề này từ nhiều tháng trước đó, nhưng khi biết Mỹ đang "quá cần" sự tham gia của quân đội các nước đồng minh, Pắc Chung Hy đã không ngần ngại đưa ra các điều kiện "mặc cả" với Mỹ. Ngày 23 tháng 6 năm 1965, trong cuộc họp cấp cao giữa Mỹ và Cộng hoà Triều Tiên, Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hoà Triều Tiên Kim Sung Eun đã đưa ra bản đề nghị 10 điểm và yêu cầu Mỹ phải đáp ứng trước khi họ đưa sư đoàn lính chiến tới Việt Nam:

        1- Mỹ phải giữ nguyên số quân hiện có của họ đang đóng tại Cộng hoà Triều Tiên.

        2- Trang bị 100% cho 3 sư đoàn dự bị, 17 sư đoàn lính thường trực và sư đoàn lính thủy đánh bộ Cộng hoà Triều Tiên.

        3- Giữ nguyên mức viện trợ của Mỹ cho Cộng hoà Triều Tiên như trước đây.

        4- Mỹ phải thông báo trước cho phía Cộng hoà Triều Tiên về nhiệm vụ, khu vực đảm trách, nguyên tắc đảm bảo hậu cần cho các đơn vị quân Cộng hoà Triều Tiên khi sang Việt Nam.

        5- Thành lập tổ công tác Hàn - Mỹ để xem xét vấn đề tổ chức các đơn vị quân Cộng hoà Triều Tiên tại Việt Nam.

        6- Mỹ có trách nhiệm phải trang bị các phương tiện thông tin liên lạc, phương tiện đi lại cho các đơn vị quân Cộng hoà Triều Tiên tại Việt Nam cũng như giữa Cộng hoà Triều Tiên với Bộ tư lệnh Cộng hoà Triều Tiên tại Nam Việt Nam.

        7- Cung cấp và chi trả đầy đủ các khoản lương, phụ cấp, tiền ốm đau và tử tuất cho sĩ quan và binh sĩ Cộng hoà Triều Tiên giống như cho sĩ quan và binh sĩ Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Mỹ có trách nhiệm phải trang bị đầy đủ vũ khí, trang bị cho lực lượng quân Cộng hoà Triều Tiên tham chiến tại Việt Nam.

        9- Cung cấp toàn bộ phương tiện đi lại để đưa lính Cộng hoà Triều Tiên tới Việt Nam cũng như từ Việt Nam về Cộng hoà Triều Tiên sau khi hết thời gian phục vụ.

        10- Cung cấp cho Cộng hoà Triều Tiên 4 máy bay vận tải C-123 để làm nhiệm vụ vận tải giữa Cộng hoà Triều Tiên và Nam Việt Nam1.

----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, Department of Army, Washington D.C 1975, p. 113-115, 118.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:26:42 AM

        Trước những yêu cầu đó, Mỹ không phải không có những "con át chủ bài" để buộc Cộng hoà Triều Tiên phải nhượng bộ. Ngay sau khi Cộng hoà Triều Tiên đưa ra đề nghị 10 điểm, Mỹ đã có phản ứng ngay lập tức bằng việc đe dọa sẽ rút 2 sư đoàn quân Mỹ với gần 50.000 quân đang làm nhiệm vụ bảo vệ "phên dậu" cho Cộng hoà Triều Tiên để đưa tới Việt Nam, với lời giải thích: "Nếu Mỹ phải gửi quân với quy mô lớn sang Việt Nam thì số quân thường trực của họ hiện nay không đủ, vì vậy việc rút toàn bộ lực lượng quân Mỹ đang đóng tại Cộng hoà Triều Tiên để đưa sang Việt Nam là điều không tránh khỏi"1.

        Tuyên bố của Mỹ ngay sau đó đã có tác dụng. Sau nhiều vòng đàm phán, cuối cùng Cộng hoà Triều Tiên đã chấp thuận các yêu cầu của Mỹ. Tháng 8 năm 1965, hai nước đã ký một hiệp ước, theo đó Mỹ chỉ chấp nhận đáp ứng một số yêu cầu trong đề nghị 10 điểm của Cộng hoà Triều Tiên trước đây:

        1- Mỹ có trách nhiệm trang bị đầy đủ cho số lính Cộng hoà Triều Tiên sang tham chiến ở Việt Nam.

        2- Giúp Cộng hoà Triều Tiên về tài chính để hiện đại hoá 18 sư đoàn quân chính quy trên các lĩnh vực: thông tin liên lạc, pháo binh, giao thông vận tải,...

        3- Mỹ sẽ đảm bảo cung cấp và chi trả đầy đủ các khoản lương, phụ cấp, tiền ốm đau, tử tuất cho sĩ quan và binh sĩ Cộng hoà Triều Tiên như cho sĩ quan và binh sĩ các nước châu Á khác tham chiến tại Việt Nam.

        4- Tăng mức viện trợ quân sự của Mỹ cho Cộng hoà Triều Tiên lên 7 triệu đô la so với năm 1964.

        Sau khi ký Hiệp ước, ngày 19 tháng 8 năm 1965, Nghị viện Cộng hoà Triều Tiên đã thông qua đạo luật cho phép triển khai Sư đoàn "Thủ đô" tới miền Nam Việt Nam (khi đến Việt Nam, sư đoàn này có phiên hiệu là Sư đoàn "Mãnh hổ").

        Sư đoàn "Mãnh hổ" thành lập ngày 20 tháng 6 năm 1949, lúc đầu là Sư đoàn phòng vệ Thủ đô Hán Thành, sau đổi thành Sư đoàn Thủ đô. Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, Sư đoàn đã tham gia nhiều chiến dịch lớn tại các khu vực rừng núi Triều Tiên và được coi là một trong những sư đoàn thiện chiến nhất trong chiến tranh Triều Tiên.

        Khi tới Việt Nam, Sư đoàn "Mãnh hổ" có 18.111 quân (nhiều hơn các sư đoàn khác gần 5.000 quân). Sở chỉ huy đóng tại thung lũng Vân Canh, tỉnh Bình Định, do Thiếu tướng Lee Hyung Hyun làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lee Pong Joon làm Phó tư lệnh. Theo thoả thuận giữa Bộ Quốc phòng Cộng hoà Triều Tiên và Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV), khi tới Nam Việt Nam, Sư đoàn "Mãnh hổ" có nhiệm vụ trấn giữ toàn bộ khu vực phía bắc Vùng II chiến thuật, là vùng mà phía Mỹ coi là địa bàn chiến lược quan trọng. Vùng đất này chạy dài từ biển Đông đến giáp với Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia; nếu làm chủ được khu vực này không những sẽ tạo được thế chia cắt, cô lập chiến trường miền Nam Việt Nam với miền Bắc Việt Nam mà còn làm chủ được trục đường 19, bắt đầu từ Quy Nhơn (Bình Định) qua An Khê lên Plâycu (Gia Lai), kéo dài đến biên giới Campuchia. Con đường này không chỉ đóng vai trò như tuyến vận tải huyết mạch nuôi sống toàn bộ tập đoàn phòng ngự của Mỹ - quân đội Sài Gòn ở bắc Tây Nguyên, mà còn là con đường cơ động chiến lược quan trọng bậc nhất ở trung tâm Đông Dương.

        Sư đoàn "Mãnh hổ" có 2 trung đoàn bộ binh số 1 và 26; 1 trung đoàn kỵ binh thiết giáp; 3 tiểu đoàn pháo 105mm; 1 tiểu đoàn pháo 155mm; 1 tiểu đoàn công binh; 7 đại đội yểm trợ gồm: đại đội quân y, trinh sát, thông tin, quân cảnh, hậu cần, thiết giáp, dự bị, ngoài ra còn có một phi đội không quân.

        Trung đoàn kỵ binh thiết giáp gồm 3 tiểu đoàn (2 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn cơ giới), do Đại tá Shin Myung Se làm Trung đoàn trưởng, tới miền Nam Việt Nam ngày 14 tháng 10 năm 1965, đóng quân trong 28 đồn tại khu vực Bình Khê, Tuy Phước, Vân Canh, Quy Nhơn (Bình Định). Hầu hết hạ sĩ quan và binh sĩ trong trung đoàn này đều xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản thành thị, có trình độ văn hoá tiểu học hoặc trung học, tuổi trung bình từ 19 đến 21. Sĩ quan trung cấp cao cấp hầu hết đã phục vụ trong các đơn vị thiết giáp của Nhật trước đây. Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, Trung đoàn kỵ binh thiết giáp đã bị đánh thiệt hại nặng, có 1 tiểu đoàn bỏ chạy sang Bắc Triều Tiên.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op. cit., p. 113-115, 118.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:27:47 AM

        Trung đoàn bộ binh số 1 gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, do Đại tá Kim Zeong Yung làm Trung đoàn trưởng, tới Việt Nam ngày 29 tháng 10 năm 1965, đóng quân tại Núi Bà, Phù Cát (Bình Định). Binh sĩ của trung đoàn này phần lớn là con em nông dân, số ít xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản thành thị. Học lực phần lớn là tiểu học. Tuổi đời từ 20 đến 25. Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, trung đoàn này được mệnh danh là "trung đoàn thép".

        Trung đoàn bộ binh 26 gồm 3 tiểu đoàn bộ binh (tổng quân số là 3.731 người), do Đại tá Park Won Shik làm Trung đoàn trưởng, tới Việt Nam vào ngày 16 tháng 4 năm 1966, đóng quân tại Tuy An, Sông Cầu, Đồng Xuân (bắc Phú Yên). Tuổi đời trung bình của hạ sĩ quan và binh sĩ trong trung đoàn là 24.

        Song song với việc triển khai các đơn vị của sư đoàn, nhằm tăng cường lực lượng cho cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất (1965-1966) của Mỹ - quân đội Sài Gòn, tháng 9 năm 1965, Cộng hoà Triều Tiên quyết định đưa thêm Lữ đoàn thủy quân lục chiến "Rồng xanh" tới Việt Nam.

        Lữ đoàn "Rồng xanh" thành lập ngày 14 tháng 2 năm 1951, đến tháng 7 năm 1953 sáp nhập vào Trung đoàn 2 Sư đoàn lính thủy đánh bộ 1 Cộng hoà Triều Tiên. Khi sang Việt Nam, lữ đoàn có hơn 5.000 quân, gồm 4 tiểu đoàn bộ binh (1, 2, 3 và 5), do Thiếu tướng Lee Bong Chool làm Lữ đoàn trưởng và Đại tá Zeung The Sop làm Tham mưu trưởng. Khác với nhiều đơn vị khác trong quân đội Cộng hoà Triều Tiên, Lữ đoàn "Rồng xanh" có thành phần tổ chức khá đặc biệt, toàn bộ binh sĩ của lữ đoàn đều được điều động từ các đơn vị khác tới trước khi đưa sang Việt Nam; đa số binh sĩ đều theo đạo Tin lành, chỉ có không tới 1 phần 10 theo đạo Phật và các đạo khác. Tại Việt Nam, lữ đoàn này được coi là lực lượng "đặc biệt" trong quân đội Nam Triều Tiên bởi tính thiện chiến, sự tàn ác và hung bạo của nó.

        Tháng 10 năm 1965, toàn bộ các đơn vị của Lữ đoàn "Rồng xanh" đã có mặt tại Cam Ranh. Tháng 12 năm 1965, sau khi phát hiện Trung đoàn 95 Quân khu 5 đang hoạt động tại khu vực Tuy Hoà (Phú Yên), Bộ tư lệnh quân Mỹ tại Vùng II chiến thuật và Bộ tư lệnh lâm thời quân đội Nam Triều Tiên tại Nam Việt Nam quyết định điều Lữ đoàn "Rồng xanh" về khu vực này, nhằm "khống chế" ảnh hưởng, tiến tới bao vây và tiêu diệt toàn bộ Trung đoàn 95. Ngoài mục đích trên, việc Lữ đoàn "Rồng xanh" được điều về Tuy Hoà còn nhằm kiểm soát một vùng đất đai rộng lớn, một vựa lúa trọng yếu của khu vực, hiện đang nằm dưới sự kiểm soát của Quân giải phóng,... Tại Tuy Hoà, lực lượng của Lữ đoàn "Rồng xanh" được triển khai trong 12 đồn bốt; mỗi đồn thường là một đại đội, chỉ có vài đồn biên chế 1 hoặc 2 trung đội.

        Cuối năm 1966, bị thiệt hại nặng trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai càng lâm vào thế bị động lúng túng. Chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của quân đội Mỹ nhằm "bẻ gãy xương sống của Việt cộng" không đạt được hiệu quả, đế quốc Mỹ buộc phải thừa nhận "cuộc chiến tranh ở Việt Nam là lâu dài và khó khăn chưa thể lường hết được"1.

        Với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, đế quốc Mỹ tiếp tục tăng quân vào miền Nam, leo thang đánh phá miền Bắc hòng đạt được mục tiêu chiến lược đã đề ra. Trong cuộc họp ở Hônôlulu cuối tháng 4 năm 1966, giới quân sự hàng đầu của Mỹ vẫn quả quyết rằng, muốn đánh bại quân chủ lực "Việt cộng", quân Mỹ và đồng minh cũng như quân đội Sài Gòn phải làm 2 việc: tập trung lực lượng, phương tiện nhiều hơn nữa đánh phá mạnh mẽ, triệt để cơ quan đầu não của Mặt trận dân tộc giải phóng ở miền Đông Nam Bộ và một số tỉnh trọng điểm ở miền Trung Trung Bộ, Tây Nguyên; đồng thời tiến hành đồng bộ, toàn diện "chương trình bình định mới" ở các vùng nông thôn nhằm "tái thiết hương thôn", thực hiện "cuộc cách mạng kinh tế - xã hội", kiên quyết chống "đói nghèo, bệnh tật, dốt nát". Đó chính là chương trình "chiến tranh trên 2 mặt trận" hay còn gọi là chiến lược "hai gọng kìm" mà Lầu Năm Góc vạch ra và được Bộ chỉ huy Mỹ - quân đội Sài Gòn thực hiện triệt để trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966-1967)

        Để thực hiện mưu đồ trên, bên cạnh việc triển khai ồ ạt các đơn vị quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc còn liên tục thúc ép các nước đồng minh nhanh chóng triển khai thêm lực lượng vào chiến trường này nhằm hỗ trợ cho quân đội Mỹ giành lại thế chủ động trong chiến dịch phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai. Dưới sức ép của Mỹ, tháng 9 năm 1966, Cộng hoà Triều Tiên quyết định đưa thêm Sư đoàn 9 (Sư đoàn "Bạch mã") sang Việt Nam.

----------------
         1. Võ Nguyên Giáp, Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng và Hồ Chủ tịch. Thi đua lập công quyết tâm đánh giặc, tạp chí Quân đội nhân dân, số tháng 8 năm 1966.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:28:18 AM

        Khi sang Việt Nam Sư đoàn Bạch mã (có khoảng 23.000 quân, kể cả các đơn vị yểm trợ) gồm 3 trung đoàn bộ binh (28, 29 và 30). Trung đoàn 28 đóng quân ở Tuy Hoà (Phú Yên), Trung đoàn 29 đóng quân ở Ninh Hoà (Khánh Hoà), Trung đoàn 30 đóng quân ở Nha Trang (Khánh Hoà). Mưu đồ của Mỹ triển khai toàn bộ lực lượng của Sư đoàn "Bạch mã" tại 3 tỉnh duyên hải nam Vùng II chiến thuật, là nhằm không chỉ để khống chế quốc lộ 1 mà còn kiểm soát được toàn bộ dân cư dọc các tuyến quốc lộ chạy dài từ Tuy Hoà xuống đến Phan Rang, từ Tuy Hoà đến Quy Nhơn và cả khu vực miền núi phía nam tỉnh Bình Định. Ngoài 3 trung đoàn kể trên, Sư đoàn "Bạch mã" còn có 4 tiểu đoàn pháo (30, 51, 52 và 966), 1 tiểu đoàn công binh, 7 đại đội (gồm đại đội thiết giáp, trinh sát, thông tin, quân cảnh, quân y, hậu cần, đại đội dự bị và 1 phi đội không quân). Toàn bộ lực lượng của sư đoàn đóng rải rác trên 50 đồn bốt thuộc 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà.

        Đến cuối năm 1966, tổng số quân Nam Triều Tiên có mặt tại Việt Nam đã lên hơn 45.000 quân, một con số vượt xa số quân của các nước đồng minh khác có mặt trên chiến trường Nam Việt Nam.

        Khi các đơn vị đầu tiên quân đội Nam Triều Tiên vừa tới Nam Việt Nam, Thiếu tướng Chae Myung Shin - Tư lệnh lực lượng quân đội Nam Triều Tiên tại Việt Nam, có sở chỉ huy đóng tại số 12 Trần Quốc Toản (Sài Gòn), đã khẳng định với tướng Oétmolen - Tư lệnh lực lượng quân Mỹ tại Việt Nam, rằng: "Trong thời gian chỉ huy lực lượng quân đội Nam Triều Tiên tại Việt Nam, ông không chỉ có trách nhiệm giành thắng lợi trong cuộc chiến đầy cam go với cộng sản, mà còn có nghĩa vụ phải tuân thủ một cách nghiêm chỉnh mọi mệnh lệnh của cấp trên"1. Với cách nói mập mờ và mang tính nước đôi như vậy, Chae Myung Shin đã khiến Oétmolen ngầm hiểu rằng, Cộng hoà Triều Tiên đồng ý để Mỹ điều hành toàn bộ lực lượng của họ tham chiến tại Việt Nam, không chỉ về mặt tác chiến mà cả hành chính. Ngay sau khi nhận được thông điệp miệng của tướng Chae Myung Shin, ngày 2 tháng 7 năm 1965, trong một điện văn gửi Đô đốc U. G Sáp - Tổng tư lệnh lực lượng quân Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương (CINCPAC), Oétmolen đã trình bày rõ quan điểm của mình về cách thức tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các đơn vị quân Nam Triều Tiên sau khi họ tới Việt Nam. Theo Oétmolen, nếu vào cuối năm 1965, tức là trước khi thành lập Bộ chỉ huy lực lượng dã chiến I của Mỹ tại Việt Nam (Field Force I Vietnam - FFVI), Cộng hoà Triều Tiên chỉ mới triển khai một trung đoàn của họ vào Việt Nam, thì MACV có quyền điều hành toàn bộ lực lượng này; còn khi lực lượng Nam Triều Tiên tại Việt Nam đã lên tới cấp sư đoàn, thì quyền chỉ huy các trung đoàn sẽ được giao cho các sư đoàn Nam Triều Tiên, nhưng các sư đoàn này vẫn phải nằm dưới sự điều hành trực tiếp của FFVI. Theo Oétmolen, với cách tổ chức và điều hành như vậy, Mỹ sẽ có toàn quyền điều động các sư đoàn Nam Triều Tiên, hoặc bất kỳ một đơn vị trực thuộc nào, khi chiến sự đòi hỏi, mà không cần phải chờ ý kiến hoặc quyết định của phía Cộng hoà Triều Tiên. Như vậy sẽ đảm bảo được tính chính xác và kịp thời trong chiến đấu.

        Cuối năm 1965, với việc Cộng hoà Triều Tiên liên tiếp đưa 2 đơn vị chiến đấu là Sư đoàn "Mãnh hổ" và Lữ đoàn lính thủy đánh bộ "Rồng xanh" sang Việt Nam, tổng quân số lực lượng Cộng hoà Triều Tiên tại Việt Nam đã lên tới hơn 20.000 quân. Trong hai tháng 9 và 10 năm 1965, tướng Chae Myung Shin và Oétmolen đã tiến hành nhiều cuộc hội đàm với sự tham gia của cả Cao Văn Viên - Tổng tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam cộng hoà. Trong các cuộc hội đàm, các bên chỉ chủ yếu tập trung thảo luận các vấn đề có liên quan đến tình hình chiến sự; cách bố trí lực lượng trên các chiến trường,... Cả tướng Chae Myung Shin và Oétmolen đều không một lần đề cập đến việc "phân chia" quyền chỉ huy lực lượng quân đội Nam Triều Tiên tại Việt Nam. Vì thế cũng không có một thoả thuận thành văn nào được đưa ra. Cuối tháng 10 năm 1965, Hội đồng chính sách viện trợ quân sự "thế giới tự do" (cơ quan hành chính lâm thời quân đội các nước đồng minh Mỹ tham chiến tại Việt Nam) đã đưa ra một bản dự thảo quy chế điều hành chung, trong đó nói rõ tướng Oétmolen sẽ nắm quyền điều hành tác chiến đối với tất cả các lực lượng đồng minh Mỹ tham chiến tại Việt Nam, bao gồm cả lực lượng của Cộng hoà Triều Tiên. Ngày 23 tháng 10 năm 1965, Oétmolen đã nêu quy chế trên với Cao Văn Viên và Chae Myung Shin. Ngay lập tức, tướng Chae Myung Shin tuyên bố, ông không thể ký vào bản dự thảo ấy, với lý do chưa được ủy thác và chưa có ý kiến của Bộ Quốc phòng Cộng hoà Triều Tiên. Mặc dù vậy, ông cam kết, trong khi các bên chưa tìm ra được một quy chế thích hợp, ông sẽ tuân thủ nghiêm ngặt các điều khoản của dự thảo. Trong khi phía Mỹ còn đang lúng túng tìm cách giải quyết, thì ngày 16 tháng 11 năm 1965, Cộng hoà Triều Tiên đưa ra một bản dự thảo quy chế riêng của mình, yêu cầu phía Mỹ phải để cho họ được thành lập "Bộ tư lệnh độc lập quân đội Cộng hoà Triều Tiên tại Việt Nam". Ngay sau đó, dự thảo trên đã bị Oétmolen bác bỏ, với lời nhắc nhở tướng Chae rằng, tất cả các thoả thuận miệng trước đây về việc chỉ huy, điều hành quân đội các nước đồng minh vẫn còn nguyên giá trị.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 136.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:29:21 AM

        Các cuộc thảo luận nhằm phân định quyền chỉ huy lực lượng Nam Triều Tiên tham chiến tại Việt Nam còn diễn ra nhiều tuần sau đó. Tuy nhiên, cuối cùng, hai bên cũng đã đi đến một thoả thuận chung mang tính dung hoà hơn. Về nội dung, thoả thuận này không khác nhiều so với thoả thuận miệng của tướng Chae trước đây, nghĩa là FFVI vẫn có quyền chỉ huy và điều hành tác chiến lực lượng quân đội Nam Triều Tiên tại Việt Nam. Có điều, trong những trường hợp cụ thể, phía Nam Triều Tiên có quyền được đưa ra và thực hiện các quyết định riêng của mình. Ngoài ra, tướng Chae còn đề nghị phía Mỹ không nên chuẩn hoá vấn đề trên thành các hiệp định, hiệp ước, bởi theo ông, nếu không như vậy, vô hình chung người ta sẽ hiểu Nam Triều Tiên là "nước chư hầu", còn quân đội của họ chỉ là "đội quân đi đánh thuê" cho Mỹ.

        Thực ra, trước khi buộc phải chấp thuận giao quyền chỉ huy lực lượng Nam Triều Tiên tại Nam Việt Nam cho Mỹ, Cộng hoà Triều Tiên rất muốn thành lập một Bộ tư lệnh độc lập vì những lý do:

        Thứ nhất, với một bộ phận không nhỏ người Nam Triều Tiên, họ coi đây là một cơ hội hiếm có được đưa quân "đi giúp" một nước châu Á khác. Nếu thành công, đó sẽ là một minh chứng về sự cao cả và tinh thần thượng võ của dân tộc Đại Hàn.

        Thứ hai, đối với chính quyền Pắc Chung Hy, việc đưa quân sang tham chiến tại miền Nam Việt Nam không chỉ đơn thuần là việc thực hiện nghĩa vụ của một đồng minh đối với Mỹ, họ còn muốn chứng minh với Mỹ và các nước thế giới tự do rằng, đã đến lúc Nam Triều Tiên đủ sức đưa quân đội ra nước ngoài với tư cách là một nước châu Á đi giúp một nước châu Á khác, chứ không phải là sự phụ thuộc hay a dua theo Mỹ. Một số chính trị gia Nam Triều Tiên còn cho rằng, việc Nam Triều Tiên đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam đang là một sự kiện chính trị thu hút sự chú ý của nhiều nước trên thế giới. Vì vậy, với tư cách của một dân tộc đang trỗi dậy, Nam Triều Tiên phải giành thắng lợi tại Việt Nam. Đó không chỉ là trách nhiệm đối với Mỹ, mà còn là danh dự của cả dân tộc Đại Hàn.

        Lý do cuối cùng khiến Nam Triều Tiên không muốn đặt quân đội của mình dưới sự kiểm soát hoặc điều hành của Mỹ là vì ý thức tự tôn dân tộc. Nam Triều Tiên cho rằng, đã nhiều năm họ phải nhận viện trợ của Mỹ, quân đội của họ cũng được xây dựng và tổ chức theo mô hình của Mỹ. Vì vậy, đây chính là cơ hội để chứng minh tính hiệu quả cũng như sự sáng tạo, những gì mà Nam Triều Tiên nhận được từ Mỹ trong mấy chục năm qua.

        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, địa bàn Khu 5, dải đất chạy dài từ Thừa Thiên - Huế đến tận Nha Trang (Khánh Hoà) ôm trọn cả hai Vùng chiến thuật I và II của địch. Phần lớn đất đai Khu 5 là rừng núi và cao nguyên. Từ dãy Bạch mã kéo dài đến hết cực Nam Trung Bộ là dãy Trường Sơn Nam. Trường Sơn Nam được ví như "cột sống" của toàn bộ Khu 5. Từ "cột sống" đó hình thành hai sườn rõ rệt. Sườn phía Tây gồm nhiều vùng đồi liên kết với nhau thành các cao nguyên. Các cao nguyên này có diện tích bằng một phần hai Khu 5 và bằng một phần năm diện tích của cả nước, độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 700-800 mét, thấp dần qua biên giới Việt Nam - Campuchia - Lào đến hạ lưu sông Mê Công, liên kết các cao nguyên vùng Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia tạo thành một địa bàn rộng lớn, được ví như mái nhà chung của 3 nước Đông Dương. Do có vị thế chiến lược và địa hình đó nên trong lịch sử, cả thực dân Pháp, đế quốc Mỹ cũng như quân đội Sài Gòn đều cho rằng: chiếm được Tây Nguyên là khống chế được cả miền Nam Việt Nam và Đông Dương.

        Trong khi đó, khu vực đồng bằng ven biển Khu 5 tựa lưng vào Tây Nguyên, có nhiều thành phố, thị xã, sân bay, hải cảng với hệ thống giao thông tương đối phát triển, là nơi tập trung nhân lực và vật lực của các địa phương trên địa bàn Khu 5. Đây là nơi có khả năng khai thác tiềm lực tại chỗ phục vụ cho kháng chiến.

        Đối với địch, vùng đồng bằng ven biển Khu 5 là đầu cầu quan trọng để triển khai phương tiện và bảo đảm hậu cần, kỹ thuật chống phá phong trào cách mạng; là bàn đạp tiến công tiêu diệt các cơ quan đầu não và lực lượng vũ trang ta ở các khu căn cứ. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã thiết lập tại đây hệ thống căn cứ quân sự và hậu cần đảm bảo không chỉ cho Khu 5 mà còn cho cả chiến trường Đông Dương, trong đó có những căn cứ quân sự liên hợp hải - lục - không quân như Đà Nẵng, Cam Ranh. Những căn cứ quân sự ấy còn là bàn đạp để Hạm đội 7 của Mỹ khống chế vùng biển Đông và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:30:39 AM

        Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, Khu 5 còn là chiến trường tiếp giáp với hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là vùng tự do rộng lớn, bao gồm các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và nửa phía nam Quảng Nam, nơi có phong trào cách mạng, phong trào du kích phát triển mạnh mẽ, đồng thời đó còn là tiền tuyến của địch, vì vậy Mỹ - Diệm tập trung mọi tiềm lực và thủ đoạn nhằm biến cả vùng này thành "vùng chết". Do vị trí chiến lược của Khu 5, từ cuối năm 1965, hòng cứu vãn sự thất bại của chiến lược Chiến tranh đặc biệt, kiềm chế sự phát triển của phong trào cách mạng miền Nam và giành lại thế chủ động trên chiến trường, đế quốc Mỹ đã xác định Khu 5 là một trong hai trọng điểm đánh phá trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của chúng. Nhằm tránh nguy cơ bị ta làm chủ vùng đắc địa Khu 5, địch chủ trương mở các cuộc hành quân lớn nhằm tiêu diệt chủ lực ta, đánh chiếm và "bình định" vùng đồng bằng ven biển ba tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên, mà trọng điểm là Bình Định.

        Thực hiện các mục tiêu trên, địch tập trung phần lớn các đơn vị chủ lực Mỹ - quân đội Sài Gòn và đồng minh thành một khối cơ động lớn. Trong vòng chưa đầy 3 tháng (từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1965), Mỹ đưa thêm vào Khu 5 ba sư đoàn và 1 trung đoàn quân Mỹ, 1 sư đoàn và 1 lữ đoàn quân Nam Triều Tiên, đưa tổng số quân Mỹ và đồng minh trên chiến trường này lên tới 129.000 quân, chiếm gần 70% tổng số quân Mỹ và đồng minh trên toàn chiến trường Nam Việt Nam. Nếu tính bình quân trên đầu người thì Khu 5 là nơi có tỷ lệ quân Mỹ và đồng minh cao nhất trên toàn miền Nam.

        Do được đánh giá là lực lượng thiện chiến và có kinh nghiệm trong chiến tranh du kích, nên ngay từ khi sang Việt Nam, toàn bộ các đơn vị chiến đấu quân đội Nam Triều Tiên như Sư đoàn "Mãnh hổ", Sư đoàn "Bạch mã" và Lữ đoàn lính thủy đánh bộ "Rồng xanh" đã được triển khai tại Khu 5 (chủ yếu tập trung tại Vùng II chiến thuật)1.

        Việc Mỹ quyết định tập trung toàn bộ lực lượng chiến đấu quân Nam Triều Tiên vào chiến trường Khu 5 không chỉ đơn thuần xuất phát từ lý do quân Nam Triều Tiên có kinh nghiệm trong chiến tranh du kích, hay nhằm tập trung lực lượng giành lại thế chủ động, tiến tới làm chủ địa bàn chiến lược Khu 5. Phía sau quyết định này là cả một ý đồ vừa có tính chiến thuật, vừa có tính chiến lược. Ngay sau khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam Việt Nam, đã có nhiều phương án được Bộ chỉ huy quân sự Mỹ MACV đưa ra. Ngày 9 tháng 5 năm 1965, Tư lệnh lực lượng quân Mỹ, tướng Oétmolen, đề xuất với Oasinhtơn cách thức sử dụng lực lượng chiến đấu trên bộ dưới sự yểm trợ của không quân nhằm đối phó với hoạt động của Quân giải phóng. Theo Oétmolen, kế hoạch này gồm 3 giai đoạn: Thứ nhất, tìm mọi cách để đảm bảo an toàn lực lượng trong các khu vực căn cứ; thứ hai, tổ chức những cuộc hành quân tuần tiễu có tính chất tiến công; thứ ba, tổ chức những cuộc hành quân "tìm diệt"2. Ba giai đoạn trên phải được tiến hành tuần tự, phụ thuộc vào khả năng "tiếp cận" chiến trường của quân Mỹ.

        Thế nhưng, diễn biến tình hình ở chiến trường miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ đã không cho phép Mỹ thực hiện kế hoạch trên một cách bài bản. Trong bức điện gửi về Oasinhtơn ngày 3 tháng 6 năm 1965, Đại sứ Taylo thông báo: Thời gian không còn kịp nữa, khả năng sụp đổ của quân đội Sài Gòn đã rõ ràng. Tướng Pônnítdơ - Bộ trưởng Hải quân Mỹ, sau chuyến thị sát tình hình ở miền Nam Việt Nam, đặc biệt là tại Vùng II chiến thuật, đã nhận định rằng: tình hình ở Đà Nẵng có tính cách nguy ngập nhất... Việt cộng đã kiểm soát hầu hết vùng nông thôn, thậm chí tới cả hàng rào sân bay Chu Lai, tương tự như vậy Phú Bài hoàn toàn bị Việt cộng bao vây... 3.

        Trước tình thế ấy, Mỹ buộc phải chọn giải pháp đưa toàn bộ lực lượng quân Nam Triều Tiên vào Khu 5. Theo nhận định và phân tích của các quan chức quân sự cấp cao Mỹ tại Việt Nam lúc bấy giờ, chỉ bằng cách ấy, Mỹ mới có thể "chạy đua" được với thời gian và có thể bỏ qua được giai đoạn 1 và 2, bắt tay ngay vào giai đoạn 3, một giai đoạn mà ngay cả quân Mỹ cũng chỉ mới coi là "thử nghiệm trong khuôn khổ của chiến tranh diện địa"4, một giai đoạn mà ở đó, binh lính Mỹ hoàn toàn chưa có kinh nghiệm tác chiến ở một khu vực chiến trường như Khu 5. Vì vậy, giải pháp bố trí lực lượng chiến đấu Nam Triều Tiên trên đây sẽ là một bảo đảm cho quân Mỹ không phải chịu những tổn thất và mất mát quá lớn trước những đòn tiến công của đối phương.

-----------------
         1. Gồm các tỉnh: Kon Tum, Plâycu, Phú Bổn, Bình Định, Phú Yên, Đắc Lắc, khánh Hòa, Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Lâm Đồng và Bình Thuận.

         2, 3. Maicơn Mắclia, Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 100, 101.

         4. Bộ Tư lệnh Quân khu V - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Vành đai diệt Mỹ trên chiến trường Khu 5 - một sáng tạo chiến lược của chiến tranh nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 587.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:31:41 AM

        Ngay sau khi được triển khai tại Khu 5, các đơn vị quân Nam Triều Tiên đã tiến hành hàng loạt các cuộc hành quân "tìm diệt". Cuộc hành quân lớn đầu tiên của lực lượng này trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất diễn ra vào sáng ngày 19 tháng 1 năm 1966. Lữ đoàn Rồng xanh phối hợp với Trung đoàn 47, Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn, Lữ đoàn dù 101 Mỹ mở cuộc hành quân Van Bơren (Van Buren) đánh phá các xã phía bắc sông Đà Rằng và vùng ven biển huyện Tuy Hoà nhằm tiêu diệt Trung đoàn 10 Quân giải phóng, triệt phá vùng giải phóng nam Phú Yên.

        Trước khi mở cuộc hành quân, từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 1 năm 1966, cùng với các đơn vị quân Mỹ, quân đội Sài Gòn, 2 tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên đã tập trung đánh phá các xã phía bắc sông Đà Rằng thuộc huyện Tuy Hoà và các xã miền đông Tuy Hoà 1, chủ yếu là 2 xã Hoà Xuân và Hoà Hiệp. Đây là những cuộc càn có tính chất chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị bàn đạp.

        Sau khi triển khai xong lực lượng, sáng 19 tháng 1, quân địch cùng một lúc ồ ạt mở các cuộc tiến công. Lữ đoàn lính thủy đánh bộ "Rồng xanh" từ căn cứ Đông Tác và các bàn đạp ở Hảo Sơn, núi Hiềm hình thành nhiều mũi tiến công vào các xã Hoà Tân, Hoà Vinh, Hoà Đồng, Hoà Thịnh. Tại đây, lính Nam Triều Tiên lùng sục vào thôn xóm, đốt phá nhà cửa, tàn sát nhân dân, 90% nhà cửa và hơn 50% tổng số trâu bò, hơn 1 vạn hécta lúa và hoa màu ở vùng giải phóng Tuy Hoà 1, xã Hoà Thịnh, Hoà Mỹ, Hoà Phong và một phần của các xã Hoà Bình, Hoà Tân bị tàn phá nặng nề. Chỉ trong một buổi sáng, quân Nam Triều Tiên đã bắn chết 300 đồng bào ở Đa Ngư, Phú Lạc (Hoà Hiệp). Ngày 9 tháng 2 năm 1966, chúng bắn chết 300 người ở xã Hoà Mỹ. Ngày 19 tháng 2, chúng giết 117 đồng bào ở xã Hoà Phong. Trong hai tháng 1 và 2 năm 1966, Lữ đoàn "Rồng xanh" đã thảm sát 1.583 đồng bào ở huyện Tuy Hoà1.

        Trước hành động man rợ của địch, một số đồng bào buộc phải chạy lên núi, số đông còn lại bị đưa vào vùng địch kiểm soát. Nhưng du kích, bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực kiên cường bám trụ, kiên quyết chặn đánh các cuộc lùng sục của địch. Đêm 20 tháng 1, các lực lượng vũ trang Thạnh Phú (Hoà Mỹ) tập kích diệt gọn một đại đội lính thuộc Lữ đoàn "Rồng xanh". Ngày 26 tháng 1, du kích thôn Phú Phong (Hoà Đồng) chặn đánh bẻ gãy năm đợt tiến công của một tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên. Trong tháng 2, địch tiếp tục đánh vào Hoà Thịnh, quân và dân Phú Yên đã kiên cường chiến đấu, diệt 230 lính Mỹ và 60 lính Nam Triều Tiên trong các trận đánh ở Mỹ Cảnh, Bến Đá, Suối Phẫu,...

        Suốt 3 tháng, quân và dân Phú Yên đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, kết hợp đánh nhỏ và đánh vừa, bẻ gãy các cuộc tiến công của địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 tên, bằng một phần ba lực lượng địch tham gia càn quét. Cuối tháng 4 năm 1966, địch buộc phải chấm dứt cuộc hành quân. Vùng giải phóng ở Phú Yên căn bản được giữ vững.

        Cũng trong những tháng đầu năm 1966, nhằm tiêu diệt lực lượng Sư đoàn 3 Quân giải phóng đang đứng chân ở Bình Định, làm chủ đường chiến lược 19 - con đường huyết mạch từ Quy Nhơn đi Tây Nguyên, địch huy động 20.000 quân, gồm 21 tiểu đoàn, trong đó có các tiểu đoàn thuộc Sư đoàn "Mãnh hổ", liên tiếp mở 3 cuộc hành quân: "Kẻ nghiền nát" (Masher) từ ngày 28 tháng 1 đến ngày 5 tháng 2 năm 1966; "Cánh trắng I" (White Wing I) từ ngày 7 tháng 2 đến ngày 14 tháng 2 năm 1966; "Cánh trắng II" (White Wing II) từ ngày 14 tháng 2 đến ngày 6 tháng 3 năm 1966.

        Ngày 28 tháng 1 năm 1966, khoảng 2 vạn quân Mỹ, quân Sài Gòn và Nam Triều Tiên, do tướng Kina - Sư đoàn trưởng Sư đoàn kỵ binh không vận, trực tiếp chỉ huy, bắt đầu đánh ra khu vực Bồng Sơn (bắc Bình Định) mà trọng điểm là khu vực Chợ Cát. Đồng thời, một tiểu đoàn dù quân đội Sài Gòn chiếm đèo Bình Đê, Chương Hoà, lập tuyến ngăn chặn đảm bảo an toàn cho đội hình tiến công ở phía Bắc.

        Tại khu vực Chợ Cát, khi toán quân đầu tiên của địch vừa đổ xuống đã bị Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 22 và du kích xã Hoài Hảo bao vây tiêu diệt. Mỹ tiếp tục cho trực thăng đổ quân đánh vào sau lưng đội hình của ta. Nhưng với kinh nghiệm rút ra qua các trận trước đây, Tiểu đoàn 9 đã bố trí đội hình theo hình tam giác; mỗi điểm lại bố trí hỏa lực thành nhiều tầng nên khi máy bay địch vừa hạ cánh đã vấp phải lưới lửa phòng không của các đại đội 91 và 94. Trận chiến diễn ra quyết liệt giữa các lực lượng vũ trang ta và quân Mỹ trên bãi cát gần thôn Cự Tài, ta tiêu diệt và làm bị thương gần một nửa tiểu đoàn Mỹ.

-----------------
         1. Bộ Tư lệnh Quân khu V, Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, Tập 2, Đà Nẵng, 1989, tr. 246.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:32:09 AM

        Ở khu vực Gia Hựu, Chương Hoà, những trận đánh quyết liệt của tiểu đoàn 7 và du kích với quân địch diễn ra suốt buổi sáng ngày 28 tháng 1. Sau khi dùng trực thăng và xe bọc thép không đột phá được trận địa ta, một tiểu đoàn Mỹ và 2 tiểu đoàn quân đội Sài Gòn đã bắt nhân dân ta đi trước làm bia đỡ đạn cho chúng. Mặc dù vậy, trong ngày thứ nhất của cuộc chiến đấu, quân và dân Bình Định đã diệt hơn 500 tên địch, bắn rơi và bắn hỏng 20 máy bay lên thẳng. Trong các ngày 29, 30, 31 tháng 1, Sư đoàn kỵ binh không vận Mỹ tiếp tục đổ quân xuống vùng Chợ Cát, Cự Tài, Hội Phú, Gia Hựu, Tường Sơn,... Ý định của chúng là tập trung lực lượng đánh chiếm khu vực Chợ Cát làm bàn đạp, rồi chiếm Tam Quan, phối hợp với quân ngụy ở Bình Đê, Chương Hoà hình thành thế bao vây chia cắt, tiến công, tiêu diệt Sư đoàn 3 của ta ở Hoài Nhơn. Nhưng chúng đã bị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích các địa phương liên tục ngày đêm bám đánh, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực.

        Qua bốn ngày chiến đấu quyết liệt, ta diệt trên 1.000 tên địch, bắn rơi 50 máy bay các loại. Riêng quân Nam Triều Tiên đã bị ta đánh thiệt hại nặng ở đèo Nhông và quận lỵ Phù Mỹ. Thất bại trong cuộc hành quân "Kẻ nghiền nát", ngày 7 tháng 2 năm 1966, tiếp đó là ngày 14 tháng 2 năm 1966, địch mở tiếp 2 cuộc hành quân quy mô lớn là "Cánh trắng I" đánh vào thung lũng An Lão và "Cánh trắng II" đánh vào thung lũng Kim Sơn huyện Hoài Ân. Cả 2 cuộc hành quân của địch đều bị các lực lượng vũ trang Bình Định đánh bại.

        40 ngày đêm chiến đấu quyết liệt của quân và dân bắc Bình Định đã bẻ gãy các cuộc hành quân của địch. Quân địch không những không thể "tìm diệt" được chủ lực ta, mà ngược lại đã bị ta tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực. Lực lượng tinh nhuệ của Mỹ là Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 lần đầu tiên ra quân ở đồng bằng Khu 5 bị thất bại. Chiến thắng của quân và dân bắc Bình Định đã đánh bại một mũi tiến công chủ yếu trong kế hoạch phản công mùa khô lần thứ nhất của địch trên chiến trường Nam Việt Nam, góp phần buộc Mỹ - quân đội Sài Gòn phải chấm dứt cuộc phản công chiến lược trước 2 tháng so với kế hoạch dự tính ban đầu.

        Thất bại trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất, mùa Hè năm 1966, địch tiếp tục tăng quân, tăng binh khí kỹ thuật, ráo riết chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966-1967). Ý đồ của Mỹ trong cuộc phản công chiến lược lần này là cố giành một thắng lợi quân sự trên chiến trường, tạo một bước ngoặt, tiến tới giành thắng lợi quyết định trên chiến trường Nam Việt Nam, dự tính vào giữa (hoặc cuối) năm 1967.

        Để thực hiện ý đồ trên, từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1966, Mỹ đã đưa thêm vào chiến trường miền Nam Việt Nam 2 sư đoàn bộ binh số 4 và số 9; 3 lữ đoàn 196, 198, 199; Trung đoàn 25 Sư đoàn lính thủy đánh bộ 5, Trung đoàn kỵ binh thiết giáp số 11; Sư đoàn "Bạch mã" Nam Triều Tiên và hơn 2.000 lính Philíppin. Đến cuối tháng 12 năm 1966, quân Mỹ và quân đồng minh ở miền Nam Việt Nam đã lên tới 40 vạn, tăng gấp đôi so với tháng 12 năm 1965. Toàn bộ lực lượng địch tham gia cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ 2 lên tới gần 1 triệu quân, 3.500 máy bay, 2.300 xe tăng và xe bọc thép, 1.600 đại bác1.

        Từ bài học thất bại trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất, lần này địch nâng gọng kìm "Bình định" lên ngang gọng kìm "Tìm diệt". Trên chiến trường Khu 5, đến đầu tháng 8 năm 1966, cục diện giữa ta và địch ở trong một hình thái cài răng lược hết sức phức tạp.

        Tháng 8 năm 1966, Sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ vào Tây Nguyên; tháng 10 năm 1966, Sư đoàn "Bạch mã" Nam Triều Tiên vào Khánh Hoà và Ninh Thuận. Tiếp theo, Trung đoàn 25 Sư đoàn 5 lính thủy đánh bộ Mỹ vào Quảng Nam thay vị trí của Sư đoàn lính thủy đánh bộ 3 được điều ra khu vực đường 9. Đến cuối năm 1966, tổng số quân Mỹ, quân đội Sài Gòn và đồng minh tại Khu 5 lên tới 354.000, trong đó, quân Mỹ là 160.000 (chiếm hơn 40% tổng số quân Mỹ có mặt tại Việt Nam); quân Nam Triều Tiên 43.000 (chiếm hơn 95% tổng số quân Nam Triều Tiên).

-----------------
        1. Bộ Tư lệnh Quân khu V, Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, Tập 2, Sđd, tr. 286.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:32:42 AM

        Riêng với quân đội Nam Triều Tiên, tháng 8 năm 1966, địch điều thêm Lữ đoàn "Rồng xanh" từ Phú Yên ra thay thế cho các đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ ở khu vực Bình Sơn, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Tại đây, lực lượng "Rồng xanh" liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, tiến hành những cuộc thảm sát đẫm máu. Có không ít gia đình bị chúng dồn vào trong nhà rồi đóng cửa thiêu cháy. Binh lính Nam Triều Tiên còn dồn một lúc hàng chục người xuống hầm rồi dùng bình phun hơi độc, tàn sát hết sức dã man. Chúng còn hãm hiếp phụ nữ rồi mổ bụng moi gan. ở xã Bình Hoà (huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi), chỉ trong buổi sáng ngày 6 tháng 10 năm 1966, lính Nam Triều Tiên đã tàn sát hơn 400 người (riêng thôn An Phước bị giết 295 người), trong đó có tới 22 phụ nữ đang mang thai, 22 trẻ em từ 7 ngày đến một tuổi.

        Căm thù trước những tội ác dã man của lính Nam Triều Tiên, Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã kêu gọi lực lượng vũ trang và bán vũ trang trong tỉnh đứng lên trừng trị bọn lính ác ôn Nam Triều Tiên.

        Hưởng ứng lời kêu gọi của Tỉnh ủy, ngày 11 tháng 11 năm 1966, Tiểu đoàn 40 Trung đoàn 1 tiến công tiêu diệt một đại đội lính Nam Triều Tiên ở Trung Linh (Bình Sơn). Ngày 19 tháng 11 năm 1966, Tiểu đoàn 60 Trung đoàn 1 diệt một đại đội khác ở đồi Mã Tổ (Sơn Tịnh). Ngày 10 và ngày 23 tháng 1 năm 1967, quân Nam Triều Tiên bị đánh thiệt hại nặng ở An Điềm và Bình Lãnh. Trong các ngày 19 tháng 1 và 1 tháng 2 năm 1967, Tiểu đoàn 48 bộ đội địa phương Quãng Ngãi đập tan hai cuộc càn quét của lính Nam Triều Tiên, diệt gọn 2 đại đội, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội khác ở Bình Phước và Tịnh Hoà. Chiến tranh nhân dân phát triển rộng khắp, nhân dân cùng du kích các xã thuộc các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh đã làm nhiều hầm chông, mìn bố trí tại các vị trí địch có thể càn vào. Hàng trăm lính Nam Triều Tiên đã phải đền tội do chông mìn của nhân dân và du kích.

        Hoảng hốt trước những đòn đánh trả của ta, giữa tháng 2 năm 1967, Lữ đoàn "Rồng xanh" buộc phải co về cố thủ trong các vị trí được bố phòng kiên cố. Ngày 15 tháng 2, Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 Quân giải phóng tiến công cụm quân Nam Triều Tiên cố thủ trên đồi Quang Thạnh (xã Kim Sơn huyện Sơn Tịnh). Trận đánh diễn ra quyết liệt do địch đóng trên đồi cao và tổ chức trận địa phòng ngự kiên cố, có chiều sâu. Sau 3 ngày chiến đấu, cứ điểm Quang Thanh bị tiêu diệt, hơn 400 lính Nam Triều Tiên đã bị tiêu diệt, số lính còn lại ở các cứ điểm Khánh Mỹ, Hòn Ngang, Hòn Dọc phải tháo chạy.

        Thất bại liên tiếp trong các trận càn quét "bình định" quy mô nhỏ ở tỉnh Quảng Ngãi, ngày 13 tháng 3 năm 1967, Sư đoàn "Mãnh hổ" mở cuộc hành quân càn quét quy mô lớn mang tên "Đống Đa" vào địa bàn ba huyện Tuy An, Đồng Xuân, Sông Cầu (tỉnh Phú Yên). Tại huyện Tuy An, quân Nam Triều Tiên đã tàn sát 532 người, đốt hàng trăm ngôi nhà, nhiều thôn xóm ở đây trở thành vùng trắng... Chỉ trong thời gian ngắn, địch đã dồn 60 nghìn dân thuộc ba huyện trên vào các "ấp tân sinh", "ấp đời mới"... được xây dựng xung quanh các căn cứ, các trung tâm quận lỵ của địch... Tại đây, nhân dân phải sống trong cảnh thiếu thốn mọi mặt, bị o ép về tinh thần, bệnh tật phát sinh nhiều, hàng trăm người đã bị cướp đi sinh mạng.

        Để chặn đứng bàn tay tội ác của địch, Tỉnh ủy và Tỉnh đội Phú Yên đã chỉ thị cho lực lượng vũ trang ba thứ quân chủ động bám đánh địch, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm, đánh để giải toả tâm lý ngại tác chiến với quân Nam Triều Tiên và làm hậu thuẫn cho nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kìm. Mở đầu cho phong trào "đánh quân Nam Triều Tiên", đêm 16 tháng 5 năm 1967, Đại đội đặc công 202 của tỉnh Phú Yên bất ngờ tập kích cứ điểm quân Nam Triều Tiên trên đồi Ông Trợ thuộc An Định huyện Tuy An. Sau khoảng nửa giờ chiến đấu, Đại đội 202 đã làm chủ trận địa, diệt và làm bị thương 150 tên địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Trận thắng này không chỉ là đòn đau đánh vào uy danh của quân Nam Triều Tiên, tạo sự tin tưởng cho các tầng lớp nhân dân Phú Yên, trực tiếp là nhân dân ba huyện Tuy An, Đồng Xuân, Sông Cầu, mà còn mở ra đợt hoạt động mới "đánh quân Nam Triều Tiên", phát triển rộng khắp trên các địa phương, góp phần làm thất bại kế hoạch "bình định" của quân Mỹ - ngụy Sài Gòn trong mùa khô lần thứ hai ở tỉnh Phú Yên và các tỉnh miền Nam Việt Nam.

        Sau gần 2 năm có mặt tại Việt Nam, các đơn vị lính Nam Triều Tiên đã tiến hành hơn 200 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên, mở hàng nghìn cuộc hành quân quy mô nhỏ vào các tỉnh Khu 5. Chỉ tính từ tháng 11 năm 1966 đến tháng 7 năm 1967, Sư đoàn "Mãnh hổ" đã mở 3 cuộc hành quân lớn là "Mãnh hổ 6", "Mãnh hổ 8" và "Cầu vồng"; Lữ đoàn "Rồng xanh" mở 9 cuộc hành quân, trong đó phải kể đến các cuộc hành quân: "Tìm diệt", "Tung lưới", "Rồng thét", "Hải cẩu"...; Sư đoàn "Bạch mã" chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1966, đã liên tiếp mở 12 cuộc hành quân.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:33:25 AM

        Nhìn chung, các cuộc hành quân do quân Nam Triều Tiên tiến hành trong hai năm 1966 và 1967 thường phổ biến ở quy mô nhỏ và vừa. Lực lượng sử dụng thường từ 1 tiểu đoàn đến 1 trung đoàn, như cuộc hành quân "Rồng giận dữ" của Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn "Rồng xanh" từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 6 năm 1967 ở Quảng Ngãi, cuộc hành quân "Đầu ngựa" của Trung đoàn 28 Sư đoàn "Bạch mã" ngày 5 tháng 6 năm 1967 ở nam Tuy Hoà, cuộc hành quân "Đốcsưri" của Trung đoàn 26 Sư đoàn "Mãnh hổ" ngày 26 tháng 6 năm 1967 ở tây nam Quy Nhơn... Các cuộc hành quân càn quét của quân Nam Triều Tiên chủ yếu nhằm "bình định", dồn dân vào các trại tập trung, khôi phục và bảo vệ các tuyến giao thông và bảo vệ vòng ngoài các căn cứ quân sự của Mỹ.

        Điều đặc biệt là tính tàn bạo, dã man của binh lính Nam Triều Tiên gây ra cho nhân dân ở những địa bàn chúng đến. Trong 2 năm, quân Nam Triều Tiên đã giết hại và làm bị thương hơn 50.000 người ở các tỉnh Khánh Hoà, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi. Ngoài ra, các đơn vị thuộc Trung đoàn 30, Sư đoàn "Bạch mã" còn gây không ít khó khăn, tổn thất cho quân và dân Khu 6, đặc biệt là ở Ninh Thuận...

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 của quân và dân miền Nam Việt Nam giành được thắng lợi hết sức to lớn, làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Quân Mỹ - quân đội Sài Gòn và Nam Triều Tiên đều bị tổn thất nặng nề. Xu hướng xuống thang chiến tranh của Mỹ đã lộ rõ. Địch đã phải co về phòng ngự bị động ở chiến trường miền Nam Việt Nam, buộc phải ngừng ném bom và bắn phá miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Pari. Ý chí xâm lược của Lầu Năm Góc đã bị lung lay tận gốc.

        Trong và sau năm 1968, số lượng cũng như cường độ các cuộc hành quân càn quét do các đơn vị lính Nam Triều Tiên tiến hành đã giảm đi rõ rệt. Tâm lý lo lắng thất bại ngày càng phát triển trong binh lính. Tư tưởng hoà hoãn, trung lập không chỉ xuất hiện ở Lữ đoàn "Rồng xanh", một lữ đoàn bị đánh thiệt hại nặng trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, mà còn xuất hiện ở nhiều đơn vị thuộc các sư đoàn "Mãnh hổ" và "Bạch mã". Một số đơn vị Nam Triều Tiên lui vào thế "án binh bất động", không tổ chức hoặc chống lệnh không tham gia vào các cuộc hành quân, thậm chí từ chối không đi cứu viện, yểm trợ cho quân Mỹ, quân đội Sài Gòn trong các cuộc hành quân. Binh lính Nam Triều Tiên thậm chí không dám rời công sự, cố thủ trong đồn bốt, chỉ tập trung chăm lo phòng thủ để bảo toàn tính mạng. Tâm lý lo sợ tham chiến và mong chờ ngày về nước xuất hiện ở nhiều đơn vị. Cá biệt, có đơn vị thuộc Sư đoàn "Mãnh hổ" đóng tại Bình Định, khi Quân giải phóng tiến công quân Mỹ, binh lính của họ chỉ đứng quan sát mà không hề có một động thái phản ứng nào. ở một số nơi, binh lính Nam Triều Tiên còn trực tiếp hoặc viết giấy thông báo với nhân dân nơi chúng đóng quân. "Nếu Việt cộng không đánh chúng tôi, chúng tôi cũng sẽ không bao giờ tham chiến"1.

        Tại Quảng Đà, qua công tác binh vận của nhân dân và các lực lượng vũ trang, 2 đồn của Lữ đoàn "Rồng xanh" đóng ở Cẩm Hà và La Nghi đã hoàn toàn "án binh bất động" trong nhiều tháng liền. Tại Bình Khê (Bình Định), khi lực lượng du kích tiến hành diệt ác ôn giữa ban ngày chỉ cách đồn của Sư đoàn "Mãnh hổ" khoảng 100 mét, nhưng quân Nam Triều Tiên không can thiệp...

        Nhìn chung, từ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của quân và dân ta, thái độ hung hăng, hiếu chiến của các đơn vị quân Nam Triều Tiên đã giảm đi rõ rệt. Tuy nhiên, không phải vì thế mà các cuộc hành quân "tìm diệt" và "bình định" của lực lượng này đã chấm dứt. Trong năm 1968, quy mô và cách thức tiến hành các cuộc hành quân của quân Nam Triều Tiên tại chiến trường Khu 5 hầu như không thay đổi, lực lượng này tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong các cuộc hành quân tìm diệt quy mô cấp tiểu đoàn. Ngoài ra, Sư đoàn "Mãnh hổ" còn mở một số cuộc hành quân quy mô cấp sư đoàn, như cuộc hành quân mang tên "Mãnh hổ 9", diễn ra từ ngày 11 tháng 12 năm 1967 đến ngày 30 tháng 1 năm 1968 và "Mãnh hổ 10", diễn ra từ ngày 16 tháng 2 đến ngày 1 tháng 3 năm 1968, tại tỉnh Bình Định. Trong các cuộc hành quân này, quân Nam Triều Tiên đã gây tổn thất nặng nề cả về người và của cho nhân dân và các lực lượng vũ trang tỉnh Bình Định. Binh lính Nam Triều Tiên đã không từ bỏ một thủ đoạn dã man nào đối với người dân. Chúng không chỉ đốt nhà, cướp của, hãm hiếp phụ nữ và tàn sát người dân một cách bừa bãi, mà còn cắt tai hàng trăm người bị chúng tình nghi có thân nhân là cộng sản.

        Suốt năm 1969 và những năm tiếp theo, hoạt động của quân Nam Triều Tiên tại chiến trường Khu 5 chủ yếu tập trung vào nỗ lực "bình định" vùng duyên hải miền Trung, từ Phan Rang (Ninh Thuận) đến bắc Quy Nhơn và tỉnh Bình Định, củng cố và kiện toàn bộ máy tổ chức của các đơn vị nhằm "xốc lại" tinh thần chiến đấu cho sĩ quan và binh sĩ. Các cuộc hành quân trong năm 1969 thường diễn ra trên quy mô nhỏ, có vài cuộc hành quân quy mô lớn nhưng chỉ ở cấp trung đoàn hoặc nhỏ hơn. Thời gian cho một cuộc hành quân cũng ngắn và mục tiêu cũng hạn chế hơn. Nhịp độ này được duy trì và giảm dần cho tới khi những đơn vị quân Nam Triều Tiên đầu tiên bắt đầu rút khỏi Khu 5 vào cuối năm 1970 và hoàn toàn rút hết vào tháng 3 năm 1973.

-----------------
         1. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Sơ lược tình hình chung về quân đội Nam Triều Tiên năm 1967, Tlđd, tr. 9.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:34:12 AM

        3. Đánh giá về hoạt động tác chiến và hậu quả do quân Nam Triều Tiên gây ra trên chiến trường Khu 5.

        Trong cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, các đơn vị quân đội Nam Triều Tiên đã đóng góp một phần không nhỏ vào nỗ lực chiến tranh của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Trên chiến trường Khu 5, lực lượng này có một vị trí hết sức đặc biệt và đã "chia sẻ" tới gần 40%1 về nhân lực chiến tranh cho Mỹ. Trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, các đơn vị Nam Triều Tiên đã thực sự trở thành lực lượng "xương sống" của các cuộc hành quân "bình định" và "tìm diệt".

        Theo con số thống kê của Chính phủ Nam Triều Tiên, trong thời gian 8 năm 5 tháng (từ tháng 9 năm 1964 đến tháng 3 năm 1973) tham chiến tại Việt Nam, quân đội Nam Triều Tiên đã tiến hành và tham gia tiến hành 1.170 cuộc hành quân quy mô lớn (cấp đại đội trở lên) và trên 556.000 cuộc hành quân quy mô nhỏ (từ cấp trung đội trở xuống), kể cả các cuộc phục kích, gây tổn thất nặng nề cả về người và của cho nhân dân các tỉnh Khu 5. Quân Nam Triều Tiên cũng đã "bình định" được một dải bờ biển từ đông Cam Ranh đến Quy Nhơn với diện tích khoảng 7.438km2, nơi có khoảng 870.000 (khoảng 5% tổng số dân của Nam Việt Nam)2 người dân đang sinh sống.

        Mặc dù được Mỹ đánh giá là lực lượng tác chiến khá hiệu quả so với lực lượng các nước đồng minh khác tham chiến ở Nam Việt Nam, song trong mắt các sĩ quan Mỹ, đặc biệt là những sĩ quan cấp cao đã từng trực tiếp chỉ huy và điều hành lực lượng quân đội Nam Triều Tiên tại Việt Nam, thì lực lượng này không phải là một đội quân như họ từng mong muốn, uy tín và khả năng tác chiến của các đơn vị này đã giảm dần theo thời gian.

        Trong bản "Báo cáo hết nhiệm kỳ" tại Việt Nam, trung tướng R. Lasơn, Tư lệnh lực lượng dã chiến I (1965-1968)3 đã đưa ra nhận xét: các đơn vị Nam Triều Tiên có kinh nghiệm trong chiến tranh du kích, chiến đấu ngoan cường và hiệu suất cao, nhưng do tham vọng quá mức và tính tự cao dân tộc, họ đã trở thành những con người cứng nhắc. Đặc tính này làm cho không riêng phía Mỹ, mà cả phía quân đội Việt Nam cộng hoà cũng khó bề hợp tác. Không ít mâu thuẫn đã nảy sinh, có khi cả trên chiến trường, do căm tức vì bị phân biệt đối xử, lính Nam Triều Tiên đã có lúc bắn lên cả máy bay Mỹ, bắn đại bác vào đội hình Mỹ. Trong các cuộc hành quân phối hợp, binh lính Nam Triều Tiên luôn đánh giá thấp khả năng tác chiến của quân Mỹ...

        Đối với quân đội Việt Nam cộng hoà, quân Nam Triều Tiên luôn tỏ ra tự cao, kiêu căng, miệt thị, không tin vào lòng trung thành của binh lính quân đội này, nên thường xảy ra các vụ ẩu đả, không muốn gần gũi, không muốn hành quân phối hợp, không chịu đi ứng cứu khi cần thiết. Đã có nhiều vụ quân Nam Triều Tiên khiêu khích bắn bừa vào lực lượng bảo an dân vệ. Do đó, quân đội Sài Gòn rất căm ghét quân Nam Triều Tiên, một phần là do quan hệ đối xử, nhưng phần chủ yếu là do quân Nam Triều Tiên tàn ác, đốt nhà, hãm hiếp phụ nữ, bắn giết nhân dân một cách bừa bãi, trong đó có cả các thân nhân binh lính và sĩ quan quân đội Sài Gòn. Có một số lính Sài Gòn đã tìm cách bắn giết lại để trả thù, như đại đội bảo an và 2 trung đội dân vệ ở Bình Định chặn đường đánh quân Nam Triều Tiên, hoặc có trường hợp quân ngụy bắn vào nơi đồn trú của quân Nam Triều Tiên đang đóng ở Phù Cát...

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 148.

         2. Ku Su Jeong, Sự can dự của quân đội Hàn Quốc trong cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ khoa học, tr. 121

         3. Lực lượng dã chiến I sở chỉ huy đóng tại Nha Trang, Bộ Tư lệnh lực lượng dã chiến có nhiệm vụ điều hành hoạt động tác chiến của lực lượng quân Mỹ và đồng minh (chủ yếu là quân Nam Triều Tiên) tại vùng II chiến thuật từ tháng 11 năm 1965 đến ngày 30 tháng 4 năm 1971


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:34:53 AM

        Tướng R. Lasơn cho rằng, để khắc phục tình trạng trên và có thể hợp tác một cách có hiệu quả với quân Nam Triều Tiên, chỉ có một cách duy nhất là phải tìm cách tâng bốc và cổ súy cho tính tự cao của quân Nam Triều Tiên. Nhưng theo ông ta, việc "tâng bốc" cũng chỉ nên dừng trong phạm vi cho phép, không nên "tâng bốc" quá mức, vì nếu không sẽ làm cho "cái tật" vốn có nay có thêm cơ hội để phát triển1.

        Tướng R. Piơ, người kế nhiệm tướng Lasơn từ tháng 3 năm 1968 đến tháng 3 năm 1969 thì cho rằng, ngoài những "thuộc tính cố hữu" trên, khi tác chiến, quân Nam Triều Tiên thường đòi hỏi quá nhiều, vì vậy muốn cho họ chiến đấu có hiệu quả, không còn cách nào khác là phải đáp ứng thật đầy đủ các yêu cầu mà họ đề ra như: chi viện thêm xe tăng, trực thăng, pháo binh, thậm chí đôi lúc phải cư xử với họ như "kẻ cả". Piơ thừa nhận, bằng cách ấy ông đã cải thiện được mối quan hệ chiến đấu với các đơn vị quân Nam Triều Tiên và cũng chính cách ấy đã giúp ông "hoàn thành" được nhiệm vụ, trên cương vị là Tư lệnh lực lượng dã chiến I tại miền Nam Việt Nam.

        Khác với quan điểm của hai người tiền nhiệm, Trung tướng Côlin thì cho rằng, trong hoạt động tác chiến, các đơn vị quân Nam Triều Tiên phụ thuộc quá nhiều vào sự yểm trợ của không quân và pháo binh. Nếu thiếu đi hai sự yểm trợ đó, cả 2 sư đoàn quân Nam Triều Tiên chỉ có khả năng tác chiến bằng 1 lữ đoàn thiện chiến của Hoa Kỳ. Tồi tệ hơn, khi đã có sự yểm trợ đầy đủ, các đơn vị quân Nam Triều Tiên lại không thể tiến hành được các cuộc hành quân theo khả năng mà lẽ ra họ phải làm được.

        Kế nhiệm tướng Côlin, Thiếu tướng Brao vốn là Phó tư lệnh, sau này làm Tư lệnh lực lượng dã chiến I, kiêm Tổng tư lệnh Bộ tư lệnh viện trợ Khu vực II trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1971, đã đưa ra nhận xét về lực lượng quân Nam Triều Tiên tại Vùng II chiến thuật như sau: "... Quân Nam Triều Tiên mất quá nhiều thời gian để lên kế hoạch cho một cuộc hành quân cấp trung đoàn hoặc sư đoàn. Khi kế hoạch đã lập xong, thời gian dành cho một cuộc hành quân lại quá ngắn và mục tiêu cũng rất hạn chế..., binh lính Nam Triều Tiên luôn cứng nhắc trong tác chiến, họ chỉ biết trung thành với kế hoạch và nhiệm vụ được giao, ít sáng tạo, ít linh hoạt trước những tình thế mới nảy sinh. Điều này không chỉ đúng trong các cuộc hành quân độc lập, mà còn đúng trong cả các cuộc hành quân phối hợp với quân Mỹ hay quân đội Việt Nam cộng hoà... Chính vì sự cứng nhắc đến quá mức đó, đôi khi đã làm họ mất đi những thành công, thậm chí phải trả giá quá đắt cho những thắng lợi quá bé..."2 Cuối cùng, Brao nhận xét: có hai nguyên nhân dẫn đến việc các đơn vị quân Nam Triều Tiên tác chiến ngày càng kém hiệu quả trên chiến trường Nam Việt Nam. Thứ nhất, có thể người Mỹ đã đặt kỳ vọng quá lớn vào họ, quá tin vào khả năng và trình độ tác chiến trong chiến tranh du kích của các đơn vị quân Nam Triều Tiên. Mặc dù quân đội Nam Triều Tiên là lực lượng có sở trường và kinh nghiệm trong chiến tranh du kích, nhưng những gì họ có được trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đã không còn phù hợp, hoặc ít nhất không thể phát huy được trong điều kiện và hoàn cảnh của cuộc chiến tranh Việt Nam. Chiến tranh ở Việt Nam khác xa với cuộc chiến tranh Triều Tiên diễn ra hơn 10 năm trước đây. ở Việt Nam, chiến tranh không có chiến tuyến. Vùng kiểm soát của hai phía đan xen vào nhau, không có ranh giới giữa hậu phương và tiền tuyến như người ta từng hiểu. Đó còn là cuộc chiến mà không ai có thể biết trước đối phương sẽ tiến công vào lúc nào. Thứ hai, không thể phủ nhận được rằng, Nam Triều Tiên đã đưa sang Việt Nam những người lính ngày càng kém phẩm chất cả về trình độ tác chiến lẫn tinh thần kỷ luật3...

        Đánh giá của các tướng lĩnh Mỹ nhìn chung đúng với những gì quân Nam Triều Tiên đã làm tại Việt Nam. Tuy nhiên, khi kết luận về nguyên nhân tác chiến ngày càng kém hiệu quả của các đơn vị quân Nam Triều Tiên, họ lại chỉ mới đưa ra được những yếu tố đơn thuần mang tính bề ngoài mà chưa đưa ra được, hoặc không muốn đưa ra những yếu tố có tính căn nguyên. Đó là động cơ chiến đấu của những người lính Nam Triều Tiên.

-----------------
         1, 2, 3. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 149 - 150, 153, 154.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:35:53 AM

        Trước khi sang Việt Nam, đời sống ở Cộng hòa Triều Tiên rất khổ cực, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm đã đẩy hàng vạn thanh niên phải tình nguyện vào quân đội. ở Cộng hòa Triều Tiên, theo quy định của pháp luật, phần lớn thanh niên đến tuổi 21 đều phải thực hiện nghĩa vụ quân sự trong 3 năm. Tuy nhiên, do chế độ hà khắc cộng với lương bổng quá thấp, nên trong những năm 60, nhất là từ khi Pắc Chung Hy quyết định đưa quân sang Việt Nam tham chiến, phong trào trốn quân dịch đã trở nên phổ biến trong thanh niên. Dù quân dịch hay tình nguyện, phần lớn binh sĩ đều sợ chiến tranh, không muốn sang Việt Nam chiến đấu, kể cả một số sĩ quan từ thiếu tá trở xuống đã tìm mọi cách để được ở lại hậu phương. Một số binh sĩ đã chống lệnh sang Việt Nam bằng cách trốn sang Nhật. Có không ít sĩ quan đã công khai nói rằng: "Chúng tôi thà bỏ quê hương mà đi còn hơn là bỏ xác tại chiến trường Việt Nam". Gia đình có con đến tuổi quân dịch, hoặc một số binh sĩ đang tại ngũ đã tìm cách đút lót cho chính quyền địa phương hoặc chỉ huy đơn vị để khỏi bị đưa sang Việt Nam. Số binh sĩ đào ngũ để tránh bị đưa sang Việt Nam ngày một nhiều. Sư đoàn "Bạch mã" có tới hàng trăm lính đào ngũ trong thời gian huấn luyện trước khi sang Việt Nam. Theo nguồn tin của quân đội Cộng hòa Triều Tiên, trong năm 1965, Cộng hòa Nam Triều Tiên có 10.842 lính đào ngũ để khỏi bị đưa sang Việt Nam, đến năm 1966 con số này là 16.000. Tháng 4 năm 1967, có 43 sĩ quan thủy quân lục chiến Cộng hòa Triều Tiên làm đơn phản đối việc kéo dài thời hạn phục vụ trong quân đội, mặc dù họ được thăng cấp để đưa sang Việt Nam ...

        Khi bị đưa sang Việt Nam, phần lớn binh sĩ vẫn còn mơ hồ về động cơ chiến đấu. Trong cuốn "Ký ức chiến tranh", Đại tướng Kim Jin Sun đã không ngần ngại viết ra rằng: "Chiến đấu vì cái gì? là suy nghĩ của rất nhiều lính Nam Triều Tiên tham chiến ở Việt Nam thời đó. Đối với họ, chiến tranh Việt Nam chẳng qua là một cuộc đánh lộn ở nhà người, vì vậy chỉ cần kiếm được chút tiền và vượt qua một năm an toàn là được... Người lính chỉ có thể chiến đấu đến cùng khi họ biết rõ họ đang sống và chết vì cái gì. Nhưng ở Việt Nam họ chẳng có nhân duyên, cũng chẳng có thù oán gì. Nếu có thì chẳng qua cũng chỉ là những lời hô hào ngăn chặn "sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản". Điều này đối với người lính rất khó lọt tai và còn quá xa lạ... Những người lính Cộng hòa Triều Tiên tham chiến ở Việt Nam đều do mệnh lệnh cấp trên hoặc vì mấy đồng lương thưởng, vì vậy làm sao và chẳng tội gì họ phải bỏ mạng tại một chiến trường xa cách quê hương"1.

        Như vậy, rõ ràng động cơ chiến đấu là nguyên nhân chính dẫn đến việc binh lính Cộng hòa Triều Tiên chiến đấu ngày một kém hiệu quả trên chiến trường Việt Nam, chứ không phải Chính phủ nước này đưa những người lính kém phẩm chất, hay do chiến trường Việt Nam quá xa lạ với họ. Nếu có thì chính chiến trường Việt Nam và những thất bại liên tiếp của quân Nam Triều Tiên trong nhiều năm, đã làm cho tinh thần chiến đấu của họ ngày một giảm sút và dần rơi vào thế bị động. Một nữ phóng viên chiến tranh Nhật Bản nhận xét: "Tinh thần binh lính Sư đoàn Mãnh hổ sau một thời gian tham chiến tỏ ra thấp kém, họ luôn hoang mang lo sợ, hầu như đêm nào cũng không dám ra ngoài"2.

        Trong thời gian tham chiến tại chiến trường Khu 5 miền Nam Việt Nam, tất cả các đơn vị quân Nam Triều Tiên đều đã tuân thủ một nguyên tắc chiến thuật được coi là bất di bất dịch đối với tất cả các loại hình và quy mô các cuộc hành quân. Đó là chiến thuật hàng ngang có chiều sâu. Chiến thuật này được Mỹ huấn luyện và được áp dụng rộng rãi không chỉ trong các đơn vị quân đội Nam Triều Tiên mà trong cả các đơn vị quân đội đồng minh Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Nguyên tắc cơ bản của chiến thuật này là các lực lượng tham gia tác chiến phải tổ chức bọc lót cho nhau tạo thành một khối gồm nhiều tầng, nhiều lớp.

        Khi tổ chức các cuộc hành quân, các đại đội (nếu hành quân ở cấp đại đội) quân Nam Triều Tiên thường xuất quân đến mục tiêu theo đội hình trung đội hàng ngang, mỗi trung đội cách nhau từ 150 đến 200 mét, tuỳ theo từng loại địa hình. Trong các cuộc hành quân đó bao giờ cũng có 1 trung đội ở phía sau làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho bộ phận chỉ huy. Khi cần thiết, lực lượng này sẽ đóng vai trò là lực lượng phản ứng nhanh của cuộc hành quân. Các trung đội còn lại được triển khai theo đội hình chữ V, hoặc đội hình chiếc nêm lật ngược. Trong mỗi trung đội, các tiểu đội đi đầu có nhiệm vụ bọc lấy cánh trái và cánh phải, tiểu đội còn lại tiến hành lục soát hoặc tổ chức tiến công tuỳ theo mục đích của cuộc hành quân.

-----------------
         1. Kim Jin Sun, Ký ức chiến tranh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 92.

         2. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Sơ lược tình hình chung về quân đội Nam Triều Tiên năm 1967, Tlđd, tr. 11.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:36:30 AM

        Địa bàn do các đơn vị quân Nam Triều Tiên đảm nhiệm thường nhỏ hơn nhiều so với các đơn vị quân Mỹ hoặc quân đội Sài Gòn cùng cấp. Chính vì vậy, các cuộc lục soát do lực lượng này tiến hành thường rất kỹ lưỡng, tỉ mỉ và diễn ra rất ác liệt, tàn bạo. Khi một làng bị lục soát, công việc đầu tiên mà quân Nam Triều Tiên tiến hành là gom toàn bộ dân trong làng vào một nơi để khai thác tin tức. Thường dân bị chia theo tuổi tác và giới tính. Phụ nữ và trẻ em thường bị chia thành 2 nhóm riêng để điều tra. Nam giới bị thẩm vấn riêng. Khi khai thác thông tin, bên cạnh các biện pháp quân sự rất tàn ác, quân Nam Triều Tiên cũng thường dùng vật chất để mua chuộc.

        Trong chiến đấu, ngoài biện pháp dùng chiến thuật hàng ngang có chiều sâu, các đơn vị quân Nam Triều Tiên còn sử dụng khá linh hoạt các đòn chiến tranh tâm lý. Đóng quân ở đâu, quân Nam Triều Tiên cũng tìm cách mua chuộc lòng dân bằng nhiều hình thức như: làm đường, xây dựng trường học, bệnh xá, tổ chức cắt tóc, khám chữa bệnh miễn phí cho dân, tặng quà nhân ngày sinh nhật, lễ, tết... Thủ thuật lấy lòng dân của quân Nam Triều Tiên là bắt rễ vào người già rồi mới mua chuộc trẻ em và thanh niên. Nham hiểm hơn, chúng còn tổ chức kết nghĩa giữa các đơn vị quân Nam Triều Tiên với các địa phương nơi đóng quân (tiểu đoàn thiết giáp 2 Sư đoàn "Mãnh hổ" kết nghĩa với làng Đa Ngư huyện Bình Khê tỉnh Bình Định, kết nghĩa thành phố Quy Nhơn với thành phố Nhân Xuyên...). Ngoài ra, chúng còn tổ chức hội kính lão, nhận các cụ già làm cha, mẹ nuôi, kết nghĩa anh em với thanh niên, nhận đỡ đầu cho các trẻ mồ côi,...

        Bên cạnh các thủ đoạn trên, quân Nam Triều Tiên còn tổ chức rải truyền đơn (trong cuộc hành quân "Mãnh hổ 6", hơn 600.000 truyền đơn đã được rải); dùng trực thăng gọi loa xuyên tạc bản chất cuộc chiến và khuếch trương sứ mạng của quân đội Nam Triều Tiên tại Việt Nam...

        Đặc điểm nổi bật nhất trong hoạt động tác chiến của quân Nam Triều Tiên trên chiến trường Nam Việt Nam là tính hung bạo và tàn ác.

        Trong cuốn "Ký ức chiến tranh", Đại tướng Kin Jin Sun - một cựu sĩ quan Sư đoàn "Mãnh hổ" từng tham chiến tại chiến trường Khu 5, viết: "Tham chiến ở Việt Nam, chúng tôi lấy biện pháp giết người đáng lên án nhất để làm cân bằng tâm trạng mệt mỏi, sợ hãi, buồn chán, đói khát, cô đơn luôn chế ngự... Tính ác của con người cũng không khác nỗi sợ hãi là mấy, chỉ cần bị cái ác chi phối một lần là khó mà thay đổi được, tất cả đều sẽ trở thành những người ca ngợi và cổ vũ cái ác. Vì vậy mà trên chiến trường, chúng tôi mới có những hành vi không thể nào hiểu nổi. Đã bắn giết bằng những cách dã man rồi lại còn hành hạ thi thể của người đã chết. Binh lính Nam Triều Tiên đã lật thi thể những người lính giải phóng để tìm kiếm vật dụng cá nhân và nhổ cả những chiếc răng trong miệng xác chết nữa. Thậm chí còn lấy cả nịt ngực trên thân thể của những phụ nữ đã chết. Đó là bản năng tàn ác của loài cầm thú đã nhập vào chúng tôi... Với tôi, tôi đã từng đi săn. Nhưng không có khoái cảm nào tuyệt vời bằng khoái cảm giết người trên chiến trường. Khi nhìn thấy đối phương bị giết, chúng tôi có cảm giác hân hoan khó tả. Vì thế, chúng tôi có thể đặt chân lên xác chết mà chụp ảnh, có thể ngồi lên cái xác đó vừa ăn uống vừa nói chuyện vui vẻ..."1.

        Tóm lại, trong thời gian tham chiến ở Việt Nam, song song với các cuộc hành quân càn quét, quân Nam Triều Tiên đã ra sức mở rộng các hoạt động chiến tranh tâm lý và hoạt động mị dân, nhằm xuyên tạc bản chất của cuộc chiến tranh, đề cao vai trò của Mỹ và các nước "thế giới tự do", xoa dịu lòng căm phẫn của nhân dân trước những tội ác mà họ gây ra. Mặc dù đã dùng đến những biện pháp quân sự dã man nhất, những đòn chiến tranh tâm lý tinh vi và xảo quyệt nhất, song các đơn vị quân Nam Triều Tiên đã không tránh được những thất bại. Chúng đã bị quân và dân ta, đặc biệt là các lực lượng vũ trang Khu 5 đánh trả quyết liệt, buộc phải thu hẹp diện bình định và giảm bớt những hành động tàn bạo. Cuối cùng, toàn bộ số quân có mặt tại chiến trường miền Nam Việt Nam đã buộc phải rút về nước.

-----------------
         1. Kim Jin Sun, Ký ức chiến tranh, Sđd, tr. 90 - 91.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:37:13 AM

        II. QUÂN ĐỘI HOÀNG GIA THÁI LAN

        1- Quan hệ quân sự Mỹ - Thái Lan từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 60 thế kỷ XX.


        Tại khu vực Đông Nam Á, Vương quốc Thái Lan là nước duy nhất giữ được nền độc lập nhờ việc thi hành cải cách theo phương Tây cùng việc thi hành chính sách ngoại giao mềm dẻo, mở cửa với các cường quốc Âu - Mỹ. Từ cuối thế kỷ XIX, Thái Lan trở thành "nước đệm" giữa thế lực thực dân Anh ở phía Tây (với các thuộc địa Mianma, Malaixia,... và thực dân Pháp ở phía Đông (xứ Đông Dương thuộc Pháp). Tháng 9 năm 1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan. Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Năm 1940, khi Nhật Bản kéo vào Đông Dương, Chính phủ Thái Lan đưa ra chính sách nghiêng theo Nhật. Tháng 12 năm 1941, Nhật đưa quân vào Thái Lan và đòi quyền quá cảnh để quân đội của họ mở các cuộc tiến công vào Miến Điện và Mã Lai thuộc Anh. Quân đội Hoàng gia Thái Lan chỉ tổ chức kháng cự một cách yếu ớt và mang tính tượng trưng. Ngày 11 tháng 12 năm 1941, Chính phủ Thái Lan ký hiệp ước liên minh với Nhật và trở thành đồng minh của Nhật. Tháng 1 năm 1942, Thái Lan tuyên chiến với Anh, Mỹ. Nhờ có sự giúp đỡ của Nhật, Thái Lan đã giành lại những quyền lợi bị mất cho Anh và Pháp. Tháng 10 năm 1942, Thái Lan tuyên chiến với Pháp, giành được một số vùng đất ở phía Tây Campuchia và Lào. Ngày 30 tháng 1 năm 1943, Hiệp ước Pháp - Thái Lan được ký kết. Theo đó, Pháp thừa nhận phần đất phía hữu ngạn sông Mê Công và miền Tây Campuchia thuộc quyền quản lý của Thái Lan. Tương tự như vậy, Thái Lan cũng đã giành được 4 bang của Mã Lai từ tay thực dân Anh là Kedah, Kelantan Trengganu và Perlis.

        Ngày 28 tháng 8 năm 1945, chỉ ít ngày sau khi Nhật đầu hàng đồng minh, Chính phủ Thái Lan gửi công hàm tuyên bố hủy bỏ tuyên chiến trước đây với Anh và Mỹ. Chính phủ Anh phản đối với lý do Thái Lan đã liên minh với Nhật chống lại Anh và lực lượng đồng minh trước đây, đồng thời đưa ra yêu sách đòi Thái Lan phải trả lại những vùng đất mà họ đã chiếm từ tay Anh vào năm 1943. Trái với quan điểm của Anh, Mỹ cho rằng: Thái Lan không phải là nước đứng trong trục phát xít, không phải là lực lượng chống đối lại đồng minh mà chỉ là một nước bị Nhật chiếm đóng. Trong thời gian xảy ra chiến tranh, Chính phủ và quân đội Thái Lan bị Nhật cưỡng ép và trên thực tế, quân đội Thái chỉ tham chiến với lực lượng đồng minh một cách "hình thức"1. Như vậy, từ chỗ đối đầu với Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nay Thái Lan lại trở thành đồng minh của Mỹ. Chính sách đối ngoại "uyển chuyển" của Thái Lan thời kỳ sau chiến tranh không chỉ tạo điều kiện cho nước này bước ra khỏi chiến tranh với những thiệt hại nhỏ nhất, mà còn thủ tiêu được những hậu quả do việc hợp tác, liên minh với Nhật gây ra.

        Mặc dù vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế Thái Lan vẫn lâm vào tình trạng hết sức khó khăn. Các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp rơi vào tình trạng đình đốn vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu sản xuất. Đời sống người lao động nói chung, đặc biệt là nông dân vẫn gặp nhiều khó khăn. Tình trạng tham nhũng tràn lan, kể cả trong hàng ngũ các sĩ quan quân đội và cảnh sát. Ngân sách Nhà nước rơi vào tình trạng thâm hụt nghiêm trọng... Tất cả những điều ấy đã tác động xấu đến tình hình chính trị Thái Lan. Phong trào đấu tranh đòi dân chủ và dân sinh của các tầng lớp nhân dân phát triển mạnh. Trong những năm 1947-1948, lực lượng nổi dậy ở miền Nam Thái Lan đã đứng lên cướp chính quyền ở nhiều tỉnh, thành phố. Quân đội Chính phủ đã phải dùng các biện pháp quân sự mạnh, kể cả dùng máy bay ném bom để đàn áp lực lượng nổi dậy. Nội các Chính phủ Thái Lan bị chia rẽ sâu sắc vì các cuộc tranh giành quyền lực. Tình hình đó cũng diễn ra trong nội bộ quân đội, đặc biệt là giữa lực lượng hải quân và lục quân. Do không có đại diện trong Chính phủ, lực lượng hải quân đã tiến hành nổi dậy chống Chính phủ. Lần thứ nhất vào tháng 2 năm 1949, hải quân cho tàu chiến chạy dọc theo sông Mênam bắn phá vào doanh trại lục quân và tiến về Băng Cốc, chiếm trường Đại học Chính trị và Nhân văn. Lần thứ hai, vào ngày 26 tháng 6 năm 1951, lực lượng lính thủy đánh bộ bắt và giam giữ Thủ tướng Chính phủ Phibun trong buổi lễ đón nhận chiếc tàu chiến Maháttan do Mỹ viện trợ nhằm đòi tăng thêm quyền lực cho hải quân.

-----------------
         1. Thailand: A short history, Yale University Press, 1984, p. 126.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:38:42 AM

        Trong lúc đất nước đang phải trải qua thời kỳ hết sức khó khăn cả về kinh tế, chính trị và xã hội thì những nhân tố quốc tế mới đã tác động mạnh vào tình hình và xu thế phát triển của Thái Lan.

        Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thực hiện chính sách bành trướng và "Ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản", Mỹ không ngừng mở rộng ảnh hưởng của mình sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trên con đường tìm kiếm bá quyền, Mỹ luôn coi việc tìm kiếm, lôi kéo đồng minh là yếu tố tiên quyết và là chỗ dựa vững chắc cho những thắng lợi của họ. Chính bởi lẽ đó, ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, lo sợ trước khả năng xuất hiện một nước Thái Lan độc lập, yêu hòa bình và tiến bộ sẽ là trở ngại trong việc thi hành chiến lược quân sự toàn cầu của mình, Mỹ một mặt tìm mọi cách lôi kéo Chính phủ Thái Lan đương thời, mặt khác liên kết với những lực lượng chống đối bên trong Thái Lan nhằm lật đổ Chính phủ tiến bộ do Thủ tướng Pridi đứng đầu.

        Ngày 9 tháng 6 năm 1946, lợi dụng việc vua Ananda Makidon qua đời một cách bí hiểm, Pridi bị lực lượng chống đối quy cho tội ám hại nhà vua và buộc ông phải từ chức. Chính phủ mới do Tamrong đứng đầu tiếp tục con đường của Pridi vạch ra. Đêm 8 tháng 11 năm 1947, nhóm quân sự do Phibun cầm đầu được Mỹ ủng hộ tiến hành đảo chính quân sự, lật đổ Tamrong. Chính phủ mới thẳng tay đàn áp phong trào yêu nước, đòi trung lập của nhân dân Thái Lan, xóa bỏ Hiến pháp cũ, xây dựng Hiến pháp mới. Hiến pháp mới trao cho nhà vua quyền lực tối cao. Cũng trong thời gian này, phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước Đông Dương đang trên đà phát triển và giành những thắng lợi quan trọng.

        Trước những tác động thuận - nghịch của tình hình trong nước và quốc tế như đã trình bày ở trên, Chính phủ Phibun đã chọn con đường dựa vào sức mạnh kinh tế, quân sự của các cường quốc tư bản, trước nhất là Mỹ, để vượt qua những khó khăn trước mắt và cho sự phát triển lâu dài của đất nước.

        Với cách lựa chọn như vậy, trong những năm đầu thập niên 50 thế kỷ XX, Thái Lan đã ký với Mỹ hàng loạt hiệp ước như: Hiệp ước kinh tế - kỹ thuật (tháng 9 năm 1950), Hiệp ước tương trợ quân sự (ngày 17 tháng 10 năm 1950). Cũng trong năm 1950, Tổng thống Mỹ Truman đã phê chuẩn một khoản viện trợ 10 triệu đô la cho Thái Lan. Cuối năm 1951, cơ quan đại diện an ninh và hợp tác Mỹ - Thái được thành lập nhằm thúc đẩy chương trình "Viện trợ kinh tế, kỹ thuật và quân sự". Năm 1954, Chính phủ Thái Lan đã ký Hiệp ước Manila và trở thành thành viên của Khối quân sự Đông Nam Á (SEATO) do Mỹ đứng đầu. Những năm sau đó, Thái Lan còn ký với Mỹ nhiều hiệp định, hiệp ước khác nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng. Dựa vào sự hợp tác và các nguồn viện trợ của Mỹ, từ cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 thế kỷ XX, tình hình ở Thái Lan đã có những thay đổi căn bản.

        Trên lĩnh vực kinh tế, từ một nước nông nghiệp lạc hậu với tỷ trọng công nghiệp chỉ chiếm hơn 4%, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 80 đô la Mỹ/năm, đến giữa những năm 60, nền kinh tế Thái Lan đã có những bước đột phá quan trọng. Các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể trong nền kinh tế quốc dân, đời sống nhân dân được nâng cao, tỷ lệ lạm phát chỉ ở mức 2%/năm1 ...

        Trên lĩnh vực quân sự, nhờ có các nguồn viện trợ và cố vấn quân sự Mỹ, quân đội Thái Lan bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển mới. Trong một thời gian ngắn, từ chỗ chỉ là một quân đội với lực lượng bộ binh là chủ yếu, được trang bị rất thô sơ và chức năng chủ yếu là chống nổi dậy, đến đầu những năm 50 thế kỷ XX, quân đội Thái Lan đã trở thành một quân đội mạnh trong khu vực với đầy đủ các binh chủng, quân chủng, được trang bị các loại vũ khí tương đối hiện đại của Mỹ. Sau thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, do bị tác động bởi Học thuyết "Đôminô" của Mỹ, Chính phủ Thái Lan đầu tư mỗi năm hàng tỷ bạt cho phát triển quân đội, đặc biệt là cho lực lượng không quân và hải quân. Đến năm 1956, không quân Thái Lan đã có tới 344 máy bay quân sự các loại, hải quân có tới 27 hải đội với hàng trăm tàu chiến. Bên cạnh đó, nhiều sân bay, quân cảng mới cũng được xây dựng như: Sân bay Takli, căn cứ không quân Don Muang; quân cảng Ban Pak Nam, Songkhla...
-----------------
         1. Pheđôrốp v.A, Quân đội và thể chế chính trị ở Thái Lan (1945-1980), Sđd, tr. 53.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:41:46 AM

        Vào giữa thập niên 60 thế kỷ XX, khi Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, Thái Lan xóa bỏ hoàn toàn chính sách trung lập và không can thiệp vốn là truyền thống của nhân dân Thái Lan trước đây, đồng thời tích cực tham gia vào các quyết sách của Mỹ về vấn đề Việt Nam. Việc Thái Lan quyết định nghiêng hẳn về Mỹ xuất phát từ 3 nguyên nhân: Thứ nhất, Thái Lan bị ràng buộc bởi Hiệp ước Manila, mà họ là một thành viên; thứ hai, họ muốn có vai trò và trách nhiệm nhiều hơn trong việc "phòng thủ" Đông Nam Á, vì Thái Lan là nước bị tác động mạnh bởi Học thuyết "Đôminô". Đối với Thái Lan, việc tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam còn là cơ hội để tranh thủ các nguồn viện trợ của Mỹ, phục vụ cho việc phát triển đất nước và hiện đại hoá quân đội; thứ ba, Thái Lan cho rằng, nếu Mỹ giành thắng lợi trong cuộc chiến tại Việt Nam, thì sau đó, với tư cách là một nước đồng minh thắng trận, họ sẽ có tiếng nói và vị thế mạnh hơn trong khu vực1...

        Xuất phát từ mục tiêu và cách nhận thức như vậy, trong những năm 60 thế kỷ XX, quan hệ giữa Thái Lan và Mỹ càng được thắt chặt. Ngày 6 tháng 3 năm 1962, sau cuộc họp cấp bộ trưởng ngoại giao Mỹ - Thái Lan để bàn về tình hình khu vực Đông Nam Á và nền an ninh của Thái Lan, Ngoại trưởng Mỹ Đin Raxcơ và Bộ trưởng ngoại giao Thái Lan Thanat Khoman ra tuyên bố chung, trong đó khẳng định: "Mỹ coi việc bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Thái Lan là vấn đề sống còn đối với quyền lợi quốc gia và với nền hòa bình thế giới. Vì vậy, nước Mỹ có trách nhiệm giúp đỡ Thái Lan, một đồng minh chiến lược, là người bạn gần gũi ở khu vực Đông Nam Á. Về vấn đề an ninh và quốc phòng Thái Lan, hai bên cho rằng, hai nước cần nỗ lực hơn nữa nhằm nâng cao khả năng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang Thái Lan nhằm đối phó một cách có hiệu quả với lực lượng nổi dậy từ bên trong và với sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản từ bên ngoài. Về phần mình, Chính phủ Mỹ sẵn sàng đóng góp để thực hiện những nỗ lực chung ấy thông qua việc mở rộng và tăng cường các khoản viện trợ quân sự cho Thái Lan"2. Bên cạnh những vấn đề về an ninh - quốc phòng, hai bên còn thỏa thuận hàng loạt vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội...

        Sau khi ra tuyên bố chung, hai nước đã ký nhiều hiệp định, trong đó phải kể đến hiệp định tương trợ quân sự song phương. Những năm sau khi ký hiệp ước, khối lượng viện trợ quân sự của Mỹ cho Thái Lan tăng lên đáng kể. Theo số liệu thống kê, trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1971, viện trợ quân sự của Mỹ cho Thái Lan lên tới 756,6 triệu đô la Mỹ, tăng hơn gấp hai lần so với giai đoạn từ năm 1951 đến năm 19603. Phần lớn nguồn viện trợ này được dùng để hiện đại hóa quân đội, chủ yếu tập trung vào việc mua sắm vũ khí, đào tạo nâng cao trình độ tác chiến cho đội ngũ sĩ quan quân đội Thái Lan, đặc biệt là số binh sĩ chuẩn bị đưa sang Việt Nam tham chiến. Dựa vào các nguồn viện trợ quân sự của Mỹ trong những năm 60, quân số thuộc lực lượng vũ trang Thái Lan đã tăng lên đáng kể và thường xuyên duy trì ở mức cao, từ 230.000 đến 250.000, trong đó có 150.000 quân chính quy, 13.000 quân đặc nhiệm, trên 65.000 quân cảnh. Ngoài ra còn có khoảng 40.000 quân thuộc lực lượng bán vũ trang và trên 20.000 quân dự bị4.

        Cũng trong khuôn khổ của Hiệp ước quân sự Mỹ - Thái, Thái Lan còn chấp nhận để Mỹ xây dựng các căn cứ quân sự phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và Đông Dương. Năm 1964, Mỹ bắt đầu xây dựng sân bay quân sự Takli ở tỉnh Nakhom Saoan, cách thủ đô Băng Cốc 250km. Sau "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" tháng 8 năm 1964, với ý đồ tăng cường và mở rộng cuộc chiến tranh tại Việt Nam, Mỹ ồ ạt cho xây dựng thêm hàng loạt căn cứ không quân, hải quân và hậu cần tại Uđôn, Ubôn, Còrạt, Utapao... Bên cạnh việc chấp nhận để cho Mỹ xây dựng các căn cứ quân sự, Thái Lan cho phép Mỹ đưa hàng nghìn quân vào đồn trú tại nước này.

        Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn quyết định đưa hàng nghìn binh sĩ sang tham chiến tại miền Nam Việt Nam.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 25.

         2. SEATO: The failure of an alliance strategy, Singapore University Press, 1983, p. 232.

         3. Pheđôrốp v.A, Quân đội và thể chế chính trị ở Thái Lan (1945-1980), Nxb Nauka, Mátxcơva, 1982, tr. 45 (bản tiếng Nga).

         4. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lược sử quân đội các nước Đông Nam Á, Sđd, tr. 386-387.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:42:44 AM

        2. Quá trình tham chiến của các đơn vị quân đội Thái Lan trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam

        Cuối năm 1963, tình hình chiến sự trên chiến trường miền Nam Việt Nam ngày càng trở nên bất ổn và không có lợi cho cả Mỹ lẫn chính quyền Việt Nam cộng hoà. Kế hoạch Stalây - Taylo, kế hoạch khởi đầu cho việc triển khai chiến lược "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam Việt Nam dự định trong vòng 18 tháng (kể từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1962) cơ bản bình định xong miền Nam Việt Nam, bằng cách triển khai mạnh mẽ việc dồn dân tập trung vào 16.000 "ấp chiến lược" để triệt phá cơ sở cách mạng ở nông thôn, đã hoàn toàn bế tắc. Trong lúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang ngày càng trở nên nóng bỏng thì ngày 1 tháng 11 năm 1963, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm bị giết, tiếp đó là Tổng thống Mỹ Kennơđi cũng bị ám sát.

        Trong bối cảnh ấy, người kế nhiệm Tổng thống Kennơđi là Giônxơn quyết định chấp nhận giải pháp đưa quân vào Việt Nam, đồng thời chính thức kêu gọi các nước đồng minh ủng hộ chính sách "quốc tế hoá" cuộc chiến tranh Việt Nam bằng việc phát động chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ". Sau khi Tổng thống Giônxơn chính thức phát động chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ", bằng nhiều biện pháp kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao..., trong vòng 6 năm (từ 1964 đến 1970), Mỹ đã lôi kéo được 39 quốc gia và vùng lãnh thổ trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

        Cũng như nhiều nước đồng minh khác của Mỹ trong khối SEATO, hưởng ứng chính sách quốc tế hóa cuộc chiến Việt Nam của Mỹ, ngày 29 tháng 9 năm 1964, Chính phủ Thái Lan quyết định đưa một đội tiền trạm gồm 10 phi công và 6 nhân viên kỹ thuật thuộc lực lượng không quân Hoàng gia Thái Lan tới Nam Việt Nam để giúp lực lượng không quân Việt Nam Cộng hòa vận hành và bảo trì một số máy bay vận tải, đồng thời huấn luyện chuyển loại cho các phi công Nam Việt Nam sử dụng máy bay chiến đấu. Tiếp đó, tháng 8 năm 1965, Thái Lan đưa thêm một số quân nhân thuộc lực lượng hải quân tới giúp lực lượng hải quân Nam Việt Nam sử dụng một số tàu tuần tiễu và tàu đổ bộ do Mỹ trang bị. Thời gian sau đó, theo thỏa thuận giữa Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV) và Chính phủ Thái Lan, Thái Lan đưa thên một số phi công và nhân viên kỹ thuật sang Việt Nam. Bước sang năm 1966, do những bất ổn của tình hình chính trị trong nước, đặc biệt là các cuộc nổi dậy của lực lượng ly khai ở miền Nam Thái Lan, Chính phủ Thái Lan quyết định không đưa thêm quân tới Việt Nam. Như vậy, đến tháng 10 năm 1966, lực lượng quân đội Thái Lan tham chiến tại Việt Nam có khoảng hơn 100 người, lực lượng này chủ yếu làm nhiệm vụ giúp các đơn vị không quân và hải quân quân đội Việt Nam Cộng hòa vận hành và bảo trì một số máy bay, tàu chiến do Mỹ trang bị.

        Cuối năm 1966, sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam trong chiến dịch phản công mùa khô 1965-1966 và cả trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, giới cầm quyền Mỹ càng trở nên lúng túng, nội bộ bị phân hóa. Những ý kiến bất đồng về cách giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam nổi lên gay gắt. Trước tình hình đó, nhằm giành lại thắng lợi có tính chất quyết định trong năm 1967, Oasinhtơn đưa ra hàng loạt giải pháp, trong đó có việc kêu gọi các nước đồng minh Mỹ tại châu Á tăng cường "nỗ lực chung" trong việc giải quyết cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam. Tại hội nghị bất thường Hội đồng quân sự SEATO, tổ chức cuối năm 1966 tại Manila, đại diện phía Mỹ đưa ra một bản nhận xét tổng quan về tình hình chiến sự tại Việt Nam, về khả năng tiến công của "quân đội cộng sản Bắc Việt", đồng thời kêu gọi các nước trong khối cần phải có những giải pháp cụ thể và tích cực hơn nữa nhằm tháo gỡ những khó khăn tại Việt Nam nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung. Ý định của Mỹ là muốn lôi kéo các nước trong "Thế giới tự do" tăng cường lực lượng chiến đấu sang Việt Nam để cùng họ "chia sẻ trách nhiệm".

        Hưởng ứng lời kêu gọi của Mỹ, ngày 3 tháng 1 năm 1967, Chính phủ Thái Lan công khai tuyên bố kế hoạch sẽ triển khai 1 tiểu đoàn, hoặc 1 trung đoàn bộ binh quân Thái sang chiến trường Việt Nam. Lý do mà Chính phủ Thái Lan đưa ra cho quyết định này là: "Thái Lan là nước nằm cạnh Việt Nam và sẽ là mục tiêu tiến công tiếp theo của cộng sản... Vì vậy, Thái Lan nhận thấy cần phải gửi các đơn vị quân đội đi giúp chống lại sự xâm lược của cộng sản khi mà nó còn cách xa đất nước chúng ta... Nếu chúng ta đợi cho đến khi hỏa hoạn tới tận cửa nhà mới tìm biện pháp để dập tắt thì lúc đó đã quá muộn...1

        Sau khi Thái Lan đưa ra kế hoạch trên, Bộ tư lệnh lục quân Mỹ trên chiến trường Thái Bình Dương (USARPAC) yêu cầu Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV) và Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Thái Lan (MACT) tập trung thảo luận các vấn đề có liên quan đến việc triển khai quân tại Việt Nam như: vấn đề về tổ chức, huấn luyện, trang bị, phối hợp tác chiến... Kết thúc các cuộc thảo luận kéo dài trong nhiều tháng, mặc dù còn tồn tại không ít bất đồng, nhưng cuối cùng các bên cũng đã đi đến thỏa thuận. Theo đó, Mỹ chấp thuận để Thái Lan triển khai khoảng hơn 3.300 quân sang Việt Nam. Toàn bộ lực lượng này chịu sự điều hành tác chiến của Sư đoàn 9 quân đội Mỹ; phía Thái Lan được phép thành lập Ban Tham mưu tác chiến riêng để chỉ huy hoạt động của quân Thái trong việc đảm bảo an ninh khu vực đóng quân2. Về cơ cấu tổ chức, hai bên đồng ý tổ chức lực lượng này thành 1 đại đội chỉ huy, 1 đại đội hậu cần, 1 trung đội thông tin liên lạc, 1 đại đội quân y, 1 trung đội thiết xa vận M113, 1 trung đội chiến tranh tâm lý; 1 trung đội hỏa lực, 4 đại đội bộ binh, 1 đại đội công binh... Về trang bị vũ khí, khí tài, phía Mỹ đảm bảo cung cấp một số trang thiết bị cần thiết cho hoạt động tác chiến và gần 1.000 khẩu súng bộ binh M12 cho các đơn vị quân Thái Lan trong thời gian hoạt động tại Nam Việt Nam.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 27, 32.

         2. Năm 1968, Ban tham mưu tác chiến quân đội Thái Lan tại Việt Nam được nâng lên thành Bộ tư lệnh lực lượng quân đội Hoàng gia Thái Lan tại Việt Nam, có sở chỉ huy đóng tại số 12 Trần Quốc Toản, Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:43:50 AM

        Trong lúc mọi công việc đang trong giai đoạn hoàn tất thì ngày 5 tháng 7 năm 1967, phía Thái Lan thông báo trì hoãn kế hoạch triển khai Trung đoàn tình nguyện quân đội Hoàng gia Thái Lan sang Việt Nam. Lý do mà Chính phủ Thái đưa ra là họ phải "sử dụng trung đoàn này vào cuộc chiến chống lại lực lượng cộng sản nổi dậy ở miền Đông Nam Thái Lan. Hơn nữa, họ muốn lực lượng này có thêm kinh nghiệm chiến đấu trước khi đưa sang Việt Nam"1. Trong bối cảnh khi Mỹ đang tập trung mọi nỗ lực để lôi kéo thêm lực lượng đồng minh vào tham chiến tại Việt Nam, thì tuyên bố của Thái Lan bị coi là điều nguy hại và sẽ tác động không nhỏ đến quan hệ quân sự Mỹ - Thái nói riêng và với các nước trong khối SEATO nói chung. Không những thế nó còn tạo ra một tiền lệ không tốt đối với các nước đang có ý định đưa quân vào tham chiến tại Việt Nam2. Chính bởi lẽ đó, phía Mỹ đã đưa ra hàng loạt lý do buộc Thái Lan phải thực hiện việc triển khai quân theo đúng cam kết. Lý do mà phía Mỹ đưa ra là: Thứ nhất, phía Mỹ đã hoàn tất các công việc chuẩn bị để tiếp nhận số quân Thái sang tham chiến tại Việt Nam, các trang thiết bị, vũ khí cho lực lượng này đã được đưa về căn cứ quân sự Bàu Cát của Mỹ tại Việt Nam. Thứ hai, phía Mỹ đã lên kế hoạch cho một số cuộc hành quân, trong đó có sự phối hợp của quân đội Thái Lan. Vì vậy, việc Thái Lan trì hoãn triển khai quân tới Việt Nam sẽ đồng nghĩa với việc phải hủy bỏ tất cả các cuộc hành quân trên. Điều đó sẽ gây nên những hậu quả khôn lường. Trước những lập luận của phía Mỹ, Thái Lan đồng ý triển khai lực lượng này tới Việt Nam theo đúng thỏa thuận.

        Thực hiện kế hoạch trên, ngày 11 tháng 7 năm 1967, đại đội công binh (đơn vị đầu tiên của Trung đoàn "Mãng xà vương") rời Băng Cốc tới Việt Nam. Sau khi cập cảng Sài Gòn, chiều ngày 15 tháng 7, đơn vị này được điều về căn cứ quân sự Bàu Cát, nơi đứng chân của Sư đoàn bộ binh số 9 quân đội Mỹ. Tại đây, họ bắt tay vào xây dựng căn cứ đóng quân. Tiếp đó, trong các ngày từ 19 đến 23 tháng 9 năm 1967, lực lượng chủ yếu của Trung đoàn "Mãng xà vương" gồm các tiểu đoàn bộ binh, các đơn vị hỏa lực, hậu cần, thông tin - kỹ thuật... lần lượt đến Nam Việt Nam. Đơn vị cuối cùng là trung đội thiết xa vận tới Việt Nam vào ngày 28 tháng 11.

        Trong thời gian tham chiến tại Việt Nam (từ tháng 7 năm 1967 đến ngày 15 tháng 8 năm 1968), các đơn vị của Trung đoàn "Mãng xà vương" cùng quân đội Việt Nam Cộng hòa và lực lượng Sư đoàn 9 quân đội Mỹ tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét và bình định. Ngày 18 tháng 10 năm 1967, Trung đoàn "Mãng xà vương" mở cuộc hành quân quy mô lớn và riêng rẽ đầu tiên mang mật danh "Narasuan" vào khu vực Nhơn Trạch (tỉnh Đồng Nai). Trong cuộc hành quân này, quân Thái Lan đã đốt phá tài sản, giết hại hàng trăm người dân vô tội, phá hoại hệ thống cơ sở hạ tầng tại Nhơn Trạch, gây cho ta không ít khó khăn. Tháng 8 năm 1968, Trung đoàn "Mãng xà vương" rút về nước, thay vào đó là Sư đoàn "Báo đen" thuộc Quân đội Hoàng gia Thái Lan.

        Trong khi các đơn vị của Trung đoàn "Mãng xà vương" còn chưa triển khai hết tới Việt Nam thì giữa năm 1967, Chính phủ Thái Lan một lần nữa đơn phương cân nhắc khả năng triển khai thêm quân tới Việt Nam. Trong báo cáo gửi Đại sứ Mỹ tại Băng Cốc ngày 8 tháng 9 năm 1967, Chính phủ Thái Lan công khai ý định sẽ điều thêm 1 hoặc 2 lữ đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh và các đơn vị yểm trợ với tổng quân số lên tới khoảng hơn 10.000 người, tới Việt Nam vào đầu năm 1968, nếu được Mỹ đồng ý. Sau khi nhận được đề nghị của phía Thái Lan. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ yêu cầu Bộ tham mưu liên quân Mỹ và Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Thái Lan đánh giá tính khả thi và quy mô triển khai thêm quân Thái tới Việt Nam. Trên cơ sở phân tích toàn diện tình hình an ninh, chính trị và tiềm lực hiện có của quân đội Hoàng gia Thái Lan, cuối 1967, MACT đưa ra kết luận: căn cứ vào tình hình hiện nay tại Thái Lan, Thái Lan có thể đưa thêm sang Việt Nam khoảng 5.000 đến 10.000 quân mà không gây ảnh hưởng gì lớn cho tình hình an ninh nội bộ cũng như quân đội nước này.

-----------------
         1, 2. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 27, 32.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:46:42 AM

        Căn cứ kết luận của MACT, từ ngày 3 tháng 11 năm 1967, đại diện các bên gồm: Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam và Thái Lan tổ chức nhiều cuộc họp hỗn hợp nhằm tập trung thảo luận hàng loạt vấn đề có liên quan đến việc triển khai và hoạt động của quân Thái Lan tại Việt Nam. Kết thúc các cuộc thảo luận kéo dài và còn tồn tại nhiều bất đồng, cuối cùng, Mỹ và Thái Lan cũng đã đạt được thỏa thuận chung. Theo đó, Mỹ cam kết:

        1- Sẽ cung cấp đầy đủ trang thiết bị, vũ khí cho các đơn vị quân Thái Lan sang tham chiến ở Việt Nam, toàn bộ số vũ khí đó sẽ được phía Thái Lan giữ lại sau khi rút khỏi Việt Nam.

        2- Mỹ chịu trách nhiệm chi trả tất cả các chi phí cho các khoá huấn luyện quân Thái trước khi đưa tới Việt Nam (kể cả các loại phương tiện để đưa các đơn vị quân Thái Lan tới Việt Nam).

        3- Chính phủ Mỹ cam kết sẽ cung cấp tài chính cho quân đội Hoàng gia Thái Lan duy tu, bảo dưỡng vũ khí trang bị, kể cả vũ khí trang bị thuộc sở hữu của quân đội Thái Lan.

        4- Mỹ hứa sẽ đẩy nhanh công cuộc hiện đại hoá lực lượng vũ trang Thái Lan trong thời gian ngắn, bằng vũ khí công nghệ Mỹ, tăng cường viện trợ quân sự cho Thái Lan lên 75 triệu đô la trong năm 1968-1969, tiếp nhận một số lượng lớn sĩ quan Thái sang đào tạo ở Mỹ.

        5- Mỹ đồng ý triển khai một đại đội tên lửa Hawk, do quân Mỹ điều khiển, trên đất Thái Lan nhằm góp phần vào việc huấn luyện quân đội sử dụng loại vũ khí này. Phía Mỹ còn cam kết sẽ cung ứng đầy đủ các phụ kiện cho đại đội này và sẽ trả cho Thái Lan một khoản chi phí nhất định liên quan đến việc triển khai đại đội tên lửa Hawk trên đất Thái.

        6- Về vấn đề lương và tử tuất cho sĩ quan và binh sĩ Thái Lan tham chiến tại Việt Nam, phía Mỹ đồng ý sẽ trả tử tuất 1 lần cho tất cả sĩ quan và binh sĩ Thái Lan tử trận tại Việt Nam, giống như cho sĩ quan và binh sĩ Hàn Quốc và trả thêm một khoản phụ cấp cho cho sĩ quan và binh sĩ Thái Lan chiến đấu tại Việt Nam.

        Sau khi đạt được các thỏa thuận, với tư cách là một đồng minh thân cận của Mỹ, tháng 7 năm 1968, Thái Lan chấp nhận triển khai Sư đoàn "Báo đen" sang Việt Nam, thay cho Trung đoàn "Mãng xà vương".

        Trong thời gian tác chiến tại chiến trường Nam Việt Nam, các đơn vị Sư đoàn "Báo đen" quân đội Thái Lan chủ yếu được triển khai ở Vùng III chiến thuật. Đây là địa bàn được coi là ít xung yếu, địa hình tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đồng bằng. ở đó, cường độ hoạt động của các sư đoàn chủ lực Quân giải phóng cũng thấp hơn nhiều so với những khu khác, chẳng hạn như ở Vùng II chiến thuật, nơi các đơn vị quân đội Nam Triều Tiên đóng quân và tác chiến. Mặt khác, nhiệm vụ chủ yếu của các đơn vị Thái Lan là phối hợp tác chiến với Sư đoàn 9 quân đội Mỹ trong các cuộc hành quân "quét và giữ", đảm bảo an ninh cho các khu vực đóng quân. Vì vậy, mức độ rủi ro cũng tương đối thấp. Tuy nhiên, trong thời gian tham chiến tại Việt Nam, quân Thái Lan cũng mở nhiều cuộc hành quân riêng rẽ quy mô cấp phân đội, gây cho ta không ít khó khăn. Trong số các cuộc hành quân đó, trước hết phải kể đến cuộc hành quân tại khu vực Bến Cam (huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai) diễn ra từ ngày 24 tháng 11 đến ngày 4 tháng 12 năm 1969, do các tiểu đoàn 2, 3, Lữ đoàn 2, Sư đoàn "Báo đen" tiến hành. Đây được coi là cuộc hành quân thành công nhất của quân đội Thái Lan trên chiến trường Nam Việt Nam.

        Song song với các cuộc hành quân "quét và giữ", các đơn vị Sư đoàn "Báo đen" còn tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý. Đóng quân ở đâu, quân Thái Lan cũng tìm cách mua chuộc lòng dân bằng nhiều hình thức như: làm đường, tổ chức khám chữa bệnh miễn phí cho dân... Bên cạnh các thủ đoạn trên, quân Thái Lan còn tổ chức rải truyền đơn kêu gọi đầu hàng, xuyên tạc bản chất cuộc chiến tranh và đề cao sứ mạng của quân đội Mỹ và Thái Lan tại Việt Nam...

        Về nguyên tắc chiến thuật, trong thời gian tham chiến tại Việt Nam, do đặc điểm địa bàn hoạt động của Sư đoàn "Báo đen" chủ yếu là đồng bằng, đối tượng tác chiến là lực lượng du kích và bộ đội địa phương; vì vậy, tất cả các đơn vị quân Thái Lan thường đều tuân thủ một nguyên tắc được coi là bất di bất dịch đối với tất cả các loại hình và quy mô các cuộc hành quân, đó là chiến thuật hàng ngang có chiều sâu. Chiến thuật này được Mỹ huấn luyện và được áp dụng rộng rãi không chỉ trong các đơn vị quân đội Thái Lan mà trong cả các đơn vị quân đội đồng minh Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Nguyên tắc cơ bản của chiến thuật này là các bộ phận tham chiến phải tổ chức bọc lót cho nhau tạo thành một khối nhiều tầng, nhiều lớp. Địa bàn hành quân do các đơn vị quân Thái Lan tiến hành thường nhỏ, hình thức tác chiến chủ yếu là các cuộc phục kích ban đêm bằng các phân đội.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:47:15 AM

        Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 của quân và dân miền Nam Việt Nam, chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam bị phá sản hoàn toàn, Mỹ buộc phải thay bằng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Xu hướng xuống thang chiến tranh của Mỹ đã lộ rõ. Địch phải co về phòng ngự bị động ở miền Nam Việt Nam, buộc phải ngừng ném bom và bắn phá miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Pari. Ý chí xâm lược của Lầu Năm Góc đã bị lung lay tận gốc. Tất cả các nhân tố đó đã tác động không nhỏ đến ý chí chiến đấu của các đơn vị quân Thái Lan đang tham chiến tại Việt Nam. Bước sang năm 1969 và những năm tiếp theo, hoạt động của quân Thái Lan tại chiến trường Việt Nam giảm cả về mức độ và quy mô. Các cuộc hành quân thường diễn ra trên quy mô nhỏ, có một số cuộc hành quân quy mô lớn nhưng chỉ dừng lại ở cấp tiểu đoàn hoặc nhỏ hơn. Thời gian cho một cuộc hành quân ngắn và mục tiêu cũng hạn chế hơn. Nhịp độ này được duy trì và giảm dần cho tới khi những đơn vị quân Thái Lan bắt đầu rút khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam.

        Thất bại của Mỹ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 cũng đã tác động mạnh mẽ đến các quyết sách của Thái Lan về vấn đề Việt Nam. Ngày 11 tháng 12 năm 1969, báo chí Băng Cốc đưa tin nhiều nghị sĩ Quốc hội Thái Lan yêu cầu Chính phủ phải rút quân về nước. Lý do mà họ đưa ra là: Mỹ đang thực thi chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", quân Mỹ và một số nước đồng minh khác như Philíppin, Cộng hòa Triều Tiên đang thực hiện việc rút quân về nước. Mặt khác, tình hình Thái Lan đang gặp nhiều khó khăn cả về kinh tế lẫn an ninh. Tuy nhiên, chỉ sau đó vài ngày, Thủ tướng Thái Lan lại đưa ra một tuyên bố hoàn toàn trái ngược, rằng: "Thái Lan sẽ không rút bất kỳ một binh sĩ nào khỏi Việt Nam và chưa bao giờ nghĩ đến việc rút quân khỏi Việt Nam. Trong thời điểm hiện tại, hoạt động của quân Thái tại Việt Nam được coi là có lợi hơn so với việc rút khỏi Việt Nam. Nếu chúng ta dự tính rút quân khỏi Việt Nam thì chúng ta nên tham khảo ý khiến Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, vì chúng ta đã đưa quân sang đây theo yêu cầu của họ. Đúng là có vài nước đồng minh đang thực hiện việc rút quân, nhưng chúng ta thì khác..."1. Cuối tháng 12 năm 1969 và sau đó là vào tháng 3 năm 1970, trước sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân và các tầng lớp tiến bộ Thái Lan, đặc biệt là áp lực của các nghị sĩ Quốc hội, Thủ tướng Thái Lan buộc phải tuyên bố: "Chính phủ Thái Lan và Mỹ đang xem xét khả năng rút quân Thái khỏi Việt Nam..., và trong tình hình hiện nay, khi dân chúng đã cảm thấy vấn đề trở nên hết sức nghiêm trọng, thì Chính phủ không còn cách nào khác là phải làm một một cái gì đó để giảm bớt áp lực tình hình"2. Mặc dù Chính phủ Thái Lan đưa ra kế hoạch rút toàn bộ quân Thái về nước vào đầu năm 1970, nhưng đến tháng 12 năm đó, kế hoạch này mới bắt đầu được thực hiện và tới năm 1973, những người lính cuối cùng của quân đội Thái Lan mới rút khỏi Việt Nam.

-----------------
         1, 2. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 49.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:48:52 AM

       3. Hậu quả của việc Thái Lan đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam

        Sau khi toàn bộ quân Thái Lan rút khỏi Việt Nam, Mỹ và Thái Lan ký nhiều hiệp ước, thoả thuận về việc rút quân Mỹ khỏi Thái Lan và trao lại cho Thái Lan quyền sử dụng các căn cứ không quân, hải quân do Mỹ đầu tư xây dựng trong những năm 60 như: căn cứ không quân Utapao, căn cứ hải quân Don Muang; quân cảng Ban Pak Nam... Việc rút quân đội và chấm dứt hoạt động tại các căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Lan không làm giảm mức viện trợ quân sự của Mỹ cho Thái Lan. Năm 1975, mức viện trợ này vẫn duy trì là 42,3 triệu đô la Mỹ, đến năm 1978, tăng lên tới 103 triệu đô la Mỹ. Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn tích cực mở rộng hợp tác quân sự với Mỹ trong nhiều vấn đề, đặc biệt là đào tạo và mua bán vũ khí... Sự hợp tác này tăng lên sau sự kiện chính quyền Khơme đỏ ở Campuchia bị lật đổ năm 1979.

        Giới chức Mỹ cho rằng, việc Thái Lan ủng hộ các chính sách của Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam và quyết định đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam là "một cứu cánh không chỉ về kinh tế, quân sự mà cả tâm lý cho nước Mỹ"1. Bên cạnh đó, nó cũng mang lại cho Thái Lan không ít lợi ích.

        Trên bình diện kinh tế, trong 10 năm (1960-1970), Mỹ đã viện trợ cho Thái Lan hàng trăm triệu đô la. Nền kinh tế Thái Lan cũng vì thế mà có những bước phát triển đáng kể. Hàng trăm nhà máy, công trình phục vụ lợi ích quân sự và dân sinh đã mọc lên, thu hút hàng vạn công nhân. Trong thời gian Mỹ tiến hành xây dựng các căn cứ quân sự trên đất Thái Lan, hệ thống đường sá, cầu cống, mạng lưới thông tin liên lạc... xung quanh các căn cứ được nâng cấp và xây mới. Sự hiện diện của các căn cứ quân sự, các tổ hợp công nghiệp quốc phòng cùng hàng chục nghìn lính Mỹ trên đất Thái Lan đã tạo ra hàng vạn việc làm mỗi năm cho các công dân Thái Lan. Ngoài ra, mỗi tháng bình quân có khoảng 6.000 lính Mỹ sang Thái Lan nghỉ dưỡng cũng góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy sự phát triển của các ngành du lịch và dịch vụ ở nước này...

        Tóm lại, trong thời gian Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nền kinh tế phục vụ chiến tranh của Thái Lan đã đóng góp hơn 50%2 tổng thu nhập quốc dân. Sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực mới trong nền kinh tế đã tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa ở Thái Lan trong những năm sau này. Ngoài ra, sự hiện diện của người Mỹ trên đất Thái và các hiệp định kinh tế Mỹ - Thái còn tạo điều kiện cho Thái Lan "mở cửa" ra thế giới phương Tây, tác động quan trọng đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, giúp vương quốc Thái Lan bước lên vũ đài quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước tư bản châu Âu và các nước khác3.

        Trên bình diện an ninh - quốc phòng, trong thời gian từ năm 1960 đến năm 1970, Mỹ viện trợ cho quân đội Thái Lan gần 1 tỷ đô la Mỹ, chiếm hơn 60%4 tổng ngân sách quốc phòng của nước này. Ngoài ra còn có hàng trăm triệu USD khác được đầu tư vào các công trình quân sự và chi trả cho các đơn vị quân Thái Lan tham chiến tại Việt Nam... Nhờ có các khoản viện trợ đó, quân đội Thái Lan đã có những bước phát triển vượt bậc, từ chỗ chỉ là một quân đội với lực lượng bộ binh là chủ yếu, được trang bị rất thô sơ và chức năng chủ yếu là chống nổi dậy, đã trở thành một quân đội mạnh trong khu vực với đầy đủ các binh chủng, quân chủng, được trang bị các loại vũ khí tương đối hiện đại. Quan trọng hơn, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, do bị chi phối bởi ý thức hệ đối đầu Đông - Tây và sự "ám ảnh" của Học thuyết "Đôminô", Thái Lan coi sự hiện diện của các căn cứ quân sự và hàng vạn lính Mỹ trên đất nước mình là chiếc ô bảo hộ quan trọng để Thái Lan "không bị cộng sản thôn tính", đồng thời là công cụ hữu hiệu để răn đe và đối phó với lực lượng ly khai ở miền Nam Thái Lan, đảm bảo cho Thái Lan có được một nền an ninh - chính trị, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ trong một thời gian tương đối dài5.

        Cách nhìn của giới chức Mỹ hoàn toàn phù hợp với quy luật "Vốn - Lãi" (Capital and Benefit) của các nhà tư bản phương Tây nói chung và của Mỹ nói riêng. Tuy nhiên, nếu xét trên một bình diện sâu và rộng hơn thì việc Thái Lan ủng hộ các chính sách của Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam và quyết định đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam đã mang lại cho nước này không ít khó khăn.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 48.

         2, 3. En cyclopedia of the Vietnam war, Stanley I. Kutler 1991, p. 142-153.

         4, 5. En cyclopedia of the Vietnam war, op. cit, p. 542-543.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:49:27 AM

        Về kinh tế, trong những năm 50-60 thế kỷ XX, thông qua các hiệp định kinh tế thương mại, dòng vốn đầu tư của Mỹ vào Thái Lan tăng lên nhanh chóng, tư bản Mỹ chiếm tới hơn 80% tổng số tiền Thái Lan vay của nước ngoài. Các công ty, tập đoàn công nghiệp lớn của Mỹ gần như nắm quyền khống chế đối với các ngành công nghiệp trọng điểm của Thái Lan như: công nghiệp luyện thiếc, khai thác dầu mỏ, ô tô, cao su, luyện kim, chế biến nông sản... Ngoài ra, Mỹ còn thông qua Ngân hàng Xây dựng và Phát triển quốc tế để thao túng ngành bán buôn và bán lẻ nông sản, ngành ngân hàng, bảo biểm... của Thái Lan. Vì vậy, chỉ tính riêng trong 3, năm, từ năm 1958 đến năm 1961, lợi nhuận thu được của Mỹ từ Thái Lan lên tới gần 1 tỉ đô la, tức là nhiều hơn gấp đôi số tiền mà Mỹ đã viện trợ cho Thái Lan trong cùng thời gian ấy. Điều đáng nói là hầu hết dòng vốn đầu tư của Mỹ vào Thái Lan chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực du lịch và dịch vụ, làm cho nền kinh tế Thái Lan trở nên mất cân đối nghiêm trọng. Không những vậy, dưới vỏ bọc của các hiệp định kinh tế, Mỹ đã biến Thái Lan thành thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp, nông nghiệp của Mỹ, khiến nhiều ngành kinh tế vốn được coi là mũi nhọn của Thái Lan lâm vào tình trạng đình đốn, suy thoái. Chẳng hạn, Thái Lan là nước xuất khẩu thuốc lá và gạo lớn trong khu vực, thế nhưng hằng năm phải tiêu thụ cho Mỹ hàng chục triệu đô la hai loại nông sản này. Vì thế, ngành công nghiệp thuốc lá và sản xuất lúa gạo Thái Lan trong một thời gian dài không phát triển được, nhiều nhà máy phải đóng cửa, số lượng công nhân thất nghiệp ngày một tăng, giá cả sinh hoạt tăng nhanh làm cho đời sống của đại bộ phận nhân dân lao động Thái Lan ngày càng trở nên khó khăn. Trong khi nền kinh tế đang dần bị phụ thuộc vào Mỹ và gặp không ít khó khăn thì Thái Lan còn bị lôi cuốn vào vòng chạy đua vũ trang của khối Đông Nam Á. Ngân sách quân sự của Thái Lan trong những năm 60 thường chiếm tỷ lệ tương đối cao so với ngân sách chung...

        Ở trong nước, việc Chính phủ Thái Lan theo Mỹ đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam đã để lại cho nước này không ít hậu họa. Trong thời gian tham chiến tại Việt Nam, có hàng ngàn binh sĩ Thái Lan bị chết, hàng chục nghìn người khác bị thương và phải chịu hậu quả của chất độc màu da cam. Và cũng như ở Mỹ, "Hội chứng chiến tranh Việt Nam" đang dày vò hàng vạn cựu binh Thái Lan. Ở đó, họ đang phải sống trong nỗi ám ảnh và sợ hãi, mặc dù chiến tranh đã đi qua hơn một phần ba thế kỷ và có không ít người đã phải tìm đến cái chết để giải thoát nỗi ám ảnh và sợ hãi đó. Việc Thái Lan đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam tuy làm cho mối quan hệ Mỹ - Thái Lan được thắt chặt hơn, nhưng đằng sau mối quan hệ đó, Thái Lan đã phải lệ thuộc ngày càng nhiều vào Mỹ. Vào giữa thập niên 70 thế kỷ XX, sau khi Mỹ rút quân và đóng cửa các căn cứ quân sự ở Thái Lan, tình hình chính trị nước này luôn ở trong tình trạng bất ổn. Các cuộc đấu đá tranh giành quyền lực của các đảng phái bắt đầu nổi lên; lực lượng ly khai ở miền Nam Thái Lan tiến hành các hoạt động quân sự chống đối Chính phủ Trung ương, đe dọa nghiêm trọng đến tình hình an ninh ở nước này... Các ngành dịch vụ, du lịch, đặc biệt là ngành công nghiệp phục vụ chiến tranh, rơi vào tình trạng đình đốn... Tất cả những điều đó đã tạo nên làn sóng phản đối mạnh mẽ của nhân dân Thái Lan, đòi Chính phủ phải xem xét lại chính sách bang giao đối với Mỹ và yêu cầu Thái Lan rút ra khỏi khối SEATO, thi hành chính sách hòa bình, hợp tác và hữu nghị với các nước láng giềng.

        Như vậy, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thông qua hàng loạt các biện pháp như chính trị, kinh tế, quân sự..., Mỹ đã lôi kéo được hàng vạn quân Thái Lan sang Việt Nam tham chiến. Nếu chỉ xét trên một bình diện nào đó thì việc Thái Lan đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam là có lợi cho họ, bởi lẽ thông qua đó họ không những thực hiện được trách nhiệm của một đồng minh đối với Mỹ, mà còn tranh thủ được sự giúp đỡ nhiều mặt của Mỹ để cải thiện nền kinh tế và hiện đại hoá được quân đội của chính nước mình.

        Tuy nhiên, nếu xét trên tổng thể thì việc làm đó chủ yếu phục vụ cho các quyền lợi của Mỹ. Nhờ lôi kéo được các nước đồng minh, đặc biệt là đồng minh châu Á, trong đó có Thái Lan, đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam, Mỹ đã phần nào đánh lừa được dư luận cả trong và ngoài nước. Hơn thế nữa, nước Mỹ đã trút được một phần không nhỏ gánh nặng chiến tranh (cả về kinh tế lẫn sinh mạng) lên vai các nước đồng minh. Chỉ riêng về mặt kinh tế, nhờ lôi kéo được hàng chục nghìn lính đồng minh đến Việt Nam chiến đấu thay cho lính Mỹ, nước Mỹ đã tiết kiệm được hàng tỉ đô la, bởi theo cách tính của họ, việc chi trả cho một lính đồng minh cả lúc sống lẫn lúc chết rẻ hơn gấp nhiều lần so với một lính Mỹ cùng cấp. Điều quan trọng hơn là thông qua việc giúp đỡ các nước này hiện đại hoá quân đội, Mỹ đã tạo được chuỗi đồng minh dày đặc, như những chiến tuyến quân sự nhiều tầng, nhiều lớp, từ gần tới xa bao quanh Việt Nam, nơi mà họ vẫn coi là quân cờ "đôminô" đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á và cả châu Á.

        Chiến tranh đã khép lại hơn 30 năm, nhưng những đau thương, mất mát vẫn còn tồn tại trên đất nước Việt Nam. Có một điều ai cũng nhận thấy rằng, trách nhiệm này trước hết thuộc về Mỹ, nhưng trong đó cũng có một phần không nhỏ thuộc về các đơn vị quân đội Thái Lan từng tham chiến tại Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:51:18 AM

        III. QUÂN ĐỘI ÔXTRÂYLIA

        1. Quá trình đàm phán giữa Ôxtrâylia và Mỹ về việc đưa quân sang tham chiến tại miền Nam Việt Nam


        Là đồng minh thân cận của Mỹ, Ôxtrâylia tham gia tương đối sớm vào cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại miền Nam Việt Nam. Từ năm 1950, sau khi Pháp dựng lên Chính phủ bù nhìn Bảo Đại, Chính phủ Ôxtrâylia đã tuyên bố ủng hộ Chính phủ này, vì đây là thể chế chính trị được Mỹ hậu thuẫn.

        Khi Pháp buộc phải chấp nhận thất bại, rút quân khỏi Đông Dương theo Hiệp định Giơnevơ, Mỹ thay chân Pháp, bắt đầu viện trợ trực tiếp cho chính quyền Ngô Đình Diệm và chịu trách nhiệm đào tạo, huấn luyện quân đội Nam Việt Nam. Tháng 9 năm 1957, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, Ngô Đình Diệm, thăm Ôxtrâylia. Tại cuộc gặp gỡ với Tổng thống Ngô Đình Diệm, Thủ tướng Ôxtrâylia đã tái khẳng định sự ủng hộ của Ôxtrâylia đối với chính quyền Nam Việt Nam. Cùng với Niu Dilân, Ôxtrâylia đã tham gia vào Hiệp ước Anh - Mỹ (năm 1950), sau đó là khối quân sự ANZUS (ngày 1 tháng 9 năm 1951), nhằm ngăn chặn sự phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa, chống lại phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương. Dựa vào các hiệp ước trên, cùng với áp lực của Mỹ, Ôxtrâylia ngày càng can thiệp sâu và trực tiếp vào cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam để chống lại cái gọi là "cơn lũ cộng sản đang lan tràn ở Đông Nam Á".

        Trước khi Tổng thống Mỹ Giônxơn phát động chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ", Ôxtrâylia đã có những hoạt động yểm trợ tích cực cho quân đội Mỹ và Sài Gòn. Ngày 24 tháng 5 năm 1962, Bộ trưởng quốc phòng Ôxtrâylia tuyên bố ý định của Chính phủ nước này sẽ đưa 30 cố vấn quân sự sang Nam Việt Nam. Không lâu sau, ngày 3 tháng 8 năm 1962, một đơn vị huấn luyện của Lục quân Ôxtrâylia gồm 30 sĩ quan và hạ sĩ quan, là những chuyên viên về chiến tranh du kích ở rừng rậm đã được đưa sang Vùng I chiến thuật để làm cố vấn huấn luyện cho quân đội Sài Gòn1, trong đó có các thành viên đầu tiên của Đội "Đặc vụ đường không Ôxtrâylia" (Special Air Service - SAS).

        Ngày 22 tháng 11 năm 1963, Giônxơn trúng cử Tổng thống Mỹ, ra tuyên bố tiếp tục mở rộng cuộc chiến ở Nam Việt Nam và ngày 23 tháng 4 năm 1964 chính thức phát động chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ", kêu gọi các nước đồng minh ủng hộ chính sách "Quốc tế hoá" cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ bằng cách viện trợ và đưa quân đến Nam Việt Nam để "giúp đỡ một đồng minh đang lâm nguy"2.

        Hưởng ứng lời kêu gọi trên, ngày 8 tháng 6 năm 1964, Bộ quốc phòng Ôxtrâylia tuyên bố sẽ gia tăng lực lượng tại Nam Việt Nam. Tháng 6 năm 1964, Ôxtrâylia tiếp tục đưa sang một toán không quân gồm 6 máy bay vận tải Caribô (Caribou) với 74 nhân viên bảo dưỡng và điều hành bay3. Toán không quân này được sáp nhập vào lực lượng không quân Đông Nam Á, nhằm yểm trợ về hậu cần cho các đơn vị quân đội Sài Gòn đóng rải rác ở các nơi. Qua một thời gian hoạt động, lực lượng không quân vận tải Ôxtrâylia được Mỹ đánh giá cao vì đã liên tục giữ được tỷ lệ sẵn sàng hành quân và khối lượng hàng hóa vận chuyển trên mỗi chuyến bay cao hơn các đơn vị không quân vận tải Mỹ tương đương.

        Tuy nhiên, sự yểm trợ của Ôxtrâylia không chỉ dừng lại ở viện trợ quân sự. Bắt đầu từ tháng 7 năm 1964, một toán công binh dân sự gồm 12 người đã được đưa sang Nam Việt Nam để hỗ trợ cho chính quyền Sài Gòn thực hiện chương trình "bình định phát triển nông thôn". Cuối năm 1964, Ôxtrâylia tiếp tục đưa sang tổ phẫu thuật đầu tiên, hoạt động tại tỉnh Long Xuyên. Tổ phẫu thuật thứ hai đến vào tháng 1 năm 1965 và được bố trí tại tỉnh Biên Hòa4.

        Sau những tham gia bước đầu có phần khiêm nhường đó, Ôxtrâylia tiếp tục gia tăng sự can thiệp vào Nam Việt Nam theo Kế hoạch Côlômbô5 và qua những cuộc thương lượng song phương.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 88.

         2. Pimlott J., Việt Nam - những trận đánh quyết định, Trung tâm thông tin khoa học - công nghệ - môi trường Bộ Quốc phòng, 1997, tr. 54.

         3, 4. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 88.

         5. Kế hoạch Côlômbô về hợp tác và phát triển ở vùng Nam và Đông Nam Á được Mỹ, Anh, Ôxtrâylia... soạn thảo, là cơ sở hình thành Hiệp hội hợp tác và phát triển vùng Đông Nam Á vào năm 1951, trụ sở đặt tại Côlômbô, Xrilanca. Thành viên của Hiệp hội gồm 6 nước: Ôxtrâylia, Canada, Anh, Nhật Bản, Niu Dilân, Mỹ và 18 nước "đang phát triển". Mục đích của tổ chức này là giúp các nước "đang phát triển" qua các hiệp ước song phương giữa các thành viên về việc cung cấp vốn, chuyên viên kỹ thuật, huấn luyện và trang bị.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:53:50 AM

        Trước sự thúc ép của Mỹ, chính quyền Ôxtrâylia đã buộc phải dự tính việc gia tăng lực lượng quân sự tại Nam Việt Nam, nhằm chia sẻ trách nhiệm với Mỹ. Ngày 10 tháng 11 năm 1964, Thủ tướng Ôxtrâylia Rôbớt Mengíc tuyên bố sẽ gia tăng lực lượng quân đội Hoàng gia Ôxtrâylia từ 22.570 lên 37.500 quân1. Động thái tăng quân này được Chính phủ Ôxtrâylia giải thích là nhằm chuẩn bị đối phó với chiến tranh Việt Nam. Những tính toán trên đã đưa Ôxtrâylia vào con đường tham gia trực tiếp cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại miền Nam Việt Nam.

        Theo đề nghị của Tổng thống Mỹ và Tổng thống chính quyền Sài Gòn, ngày 18 tháng 12 năm 1964, Chính phủ Ôxtrâylia tuyên bố sẽ đưa thêm 200 cố vấn quân sự và lực lượng bộ binh sang Nam Việt Nam. Tiếp theo lời tuyên bố trên, ngày 29 tháng 4 năm 1965, Thủ tướng Ôxtrâylia tuyên bố sẽ gửi một tiểu đoàn bộ binh cùng với một đơn vị thiết giáp, thông tin và một đại đội hậu cần đến Nam Việt Nam. Phía Oasinhtơn đề nghị Ôxtrâylia phụ trách thêm nhiệm vụ huấn luyện cho lực lượng địa phương quân đội Sài Gòn. Thủ tướng Ôxtrâylia tỏ ra ngần ngại, nhưng đưa ra phương án sẽ ghép lực lượng huấn luyện (rút xuống còn khoảng 100 người) vào tiểu đoàn bộ binh khi đưa sang Việt Nam.

        Vì việc đưa lực lượng quân sự Ôxtrâylia sang tham chiến tại Nam Việt Nam là một vấn đề nhạy cảm và tương đối phức tạp nên các cuộc thảo luận về vấn đề này được tiếp tục tiến hành ở nhiều cấp khác nhau.

        Theo yêu cầu của tướng Mỹ Taylo, ngày 29 tháng 4 năm 1965, Đô đốc Sáp đã hội đàm với Đại sứ Ôxtrâylia tại Sài Gòn. Diễn tiến của cuộc thảo luận cho thấy, chính quyền Ôxtrâylia dự tính, trong vòng hai tuần tới sẽ đưa đến Sài Gòn một toán nhỏ nhân viên thiết kế quân sự để làm việc với Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Nam Việt Nam (MACV) về những thỏa thuận tiếp vận và hành chính trước khi đưa tiểu đoàn bộ binh sang. Quân số tiểu đoàn sẽ gồm khoảng 900 người, trong đó 100 người là nhân viên tiếp vận và hành chính. Toàn bộ lực lượng này sẽ đến Nam Việt Nam vào tuần đầu của tháng 6 năm 1965 bằng cả đường biển và đường không. Quan điểm của Chính phủ Ôxtrâylia là nên đặt tiểu đoàn này dưới quyền kiểm soát của tướng Oétmolen và chỉ thực hiện nhiệm vụ phòng thủ khu vực căn cứ, tuần tra vùng tiếp giáp với khu vực căn cứ, đồng thời làm lực lượng dự bị cơ động, mà không đảm nhận trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ đối với các vùng đông dân và cũng không dính líu vào các cuộc hành quân "tìm diệt" của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn.

        Các kế hoạch trên được hoàn tất vào tháng 5 năm 1965, nhưng nội dung triển khai quân Ôxtrâylia sang Nam Việt Nam có khác hơn so với đề nghị trước đây. Chính phủ Ôxtrâylia sẽ đưa sang một lực lượng đặc nhiệm 1.400 người, gồm một bộ phận thuộc Bộ chỉ huy lục quân Ôxtrâylia miền Viễn Đông, Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia được tăng cường, Đoàn truyền tin 79, một đại đội yểm trợ hậu cần và cả 100 cố vấn chiến tranh du kích để yểm trợ cho các toán huấn luyện ban đầu. Giữa tháng 6 năm 1965, lực lượng đặc nhiệm này đến Nam Việt Nam và được phối thuộc vào Lữ đoàn không vận 173 Mỹ2.

        Khi đơn vị đầu tiên vừa mới ổn định xong thì chính quyền Ôxtrâylia lại bắt đầu nghiên cứu, xem xét việc gia tăng quân số cho lực lượng đặc nhiệm. Ngày 7 tháng 8 năm 1965, Chính phủ Ôxtrâylia phê chuẩn việc gia tăng quâ số cho Lực lượng đặc nhiệm của quân đội Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam gồm 1 tiểu đoàn bộ binh cùng các phân đội pháo binh, thiết giáp, công binh, trực thăng vũ trang, máy bay chiến đấu hạng nhẹ và lực lượng hậu cần.

        Thông qua các đại sứ quán tại Sài Gòn, Đại sứ Mỹ và Ôxtrâylia đã tiến hành các cuộc hội đàm bí mật vào tháng 12 năm 1965 và tháng 1 năm 1966. Vì lo sợ bị nhân dân Ôxtrâylia sẽ chỉ trích việc gia tăng lực lượng tại Nam Việt Nam, nên chính quyền Ôxtrâylia đã không dám công khai kế hoạch này. Tuy nhiên, ngày 6 tháng 3 năm 1966, Chính phủ Ôxtrâylia đã chính thức thông báo họ sẽ tăng lực lượng quân sự tại Nam Việt Nam từ 1 tiểu đoàn lên 2 tiểu đoàn với 1 sở chỉ huy, 1 phi đội không quân đặc biệt cùng các đơn vị thiết giáp, pháo binh, công binh, truyền tin, tiếp liệu, vận chuyển, tải thương dã chiến, quân cụ và xưởng sửa chữa. Đồng thời, chính quyền Ôxtrâylia cũng đề nghị phía Mỹ giao nhiệm vụ cho phi đội Caribô và 8 trực thăng loại UH1B yểm trợ trực tiếp cho Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia. Kế hoạch tăng viện này đã nâng quân số Ôxtrâylia ở miền Nam Việt Nam lên gần 4.500 người3.

-----------------
         1. http://www.vvaa.org.au/index.htm, Vietnam veterans Association of Australia.

         2, 3.Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 89-90.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:55:03 AM

        Trước lời đề nghị của Chính phủ Ôxtrâylia, tướng Oétmolen đưa ra quyết định có tính chất thăm dò về địa điểm đóng quân của Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia là ở Bà Rịa - tỉnh lỵ của Phước Tuy và đặt đơn vị này dưới quyền kiểm soát của Tư lệnh Lực lượng dã chiến II của quân đội Mỹ đóng tại Vùng III chiến thuật. Theo Oétmolen, sự sắp xếp này sẽ hình thành một cụm lực lượng lớn trong khu vực quốc lộ 15, vốn là một tuyến giao thông quan trọng và đồng thời cũng giữ cho Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia tránh xa hẳn biên giới với Campuchia. Vì Ôxtrâylia đang có quan hệ ngoại giao với Campuchia nên họ yêu cầu Mỹ đảm bảo không sử dụng các đơn vị Ôxtrâylia vào những cuộc hành quân dọc theo biên giới với Campuchia. Phần yểm trợ pháo binh khi cần thiết sẽ do Bộ tư lệnh dã chiến II cung cấp. Ngoài ra, 8 chiếc trực thăng UH1B cũng được quyết định đặt dưới quyền chỉ huy của Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia. Tuy nhiên, yêu cầu để Lực lượng đặc nhiệm kiểm soát các đơn vị Caribô của Ôxtrâylia không được Mỹ chấp thuận mà chỉ được phép cung cấp máy bay tăng cường khi cần thiết.

        Trong hai tuần đầu tháng 3 năm 1966, nhân viên tham mưu của MACV cùng với nhân viên toán thiết kế liên quân Mỹ - Ôxtrâylia đã nghiên cứu, xem xét những thỏa thuận hoạt động quân sự mới và lập kế hoạch triển khai Lực lượng đặc nhiệm. Ngày 17 tháng 3, hai bên ký kết thỏa thuận mới (thay thế thỏa thuận ký ngày 5 tháng 5 năm 1963), xác nhận sứ mạng của Lực lượng đặc nhiệm trong tỉnh Phước Tuy. Khu vực hoạt động trong tỉnh là vùng chạy dài theo quốc lộ 15 và phần phía đông của Đặc khu rừng Sác. Tiếp đó, Mỹ và Ôxtrâylia cũng đạt được một thỏa thuận về tài chính, theo đó Ôxtrâylia đồng ý bồi hoàn cho chính quyền Mỹ phần chi phí yểm trợ dành cho quân đội Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam.

        Ngày 12 tháng 4 năm 1966, bộ phận tiền trạm của Lực lượng đặc nhiệm thứ nhất Ôxtrâylia đã đến Nam Việt Nam. Bộ phận chính tiếp tục được đưa sang thành nhiều đợt trong tháng 5. Đến ngày 4 tháng 6 năm 1966, quá trình triển khai toàn bộ Lực lượng đặc nhiệm số 1 Ôxtrâylia ở Núi Đất đã hoàn thành. Sau một thời gian huấn luyện ngắn, quyền kiểm soát các cuộc hành quân của lực lượng này được chuyển từ Bộ tư lệnh Lực lượng Ôxtrâylia tại Việt Nam sang Bộ tư lệnh Lực lượng dã chiến II của quân đội Mỹ.

        Trong khi đó, hai bên còn tiến hành một cuộc thảo luận về đề nghị của phía Mỹ muốn đưa một phi đội gồm 12 chiếc Caribô của Ôxtrâylia đến Nam Việt Nam để bù đắp vào số máy bay sẽ thiếu hụt do các kế hoạch triển khai lực lượng của Mỹ gây ra. Tướng Oétmolen dự tính sẽ sử dụng đơn vị này vào việc yểm trợ cho các cuộc hành quân trên bộ của quân đội Sài Gòn, quân đội Nam Triều Tiên và quân đội Mỹ; đồng thời sẽ trực tiếp tham gia các cuộc hành quân "tìm diệt" ở địa bàn đảm trách. Không quân Mỹ sẽ nắm quyền kiểm soát các cuộc hành quân của phi đội này. Đồng thời, nếu chính quyền Ôxtrâylia chấp nhận được về mặt ngoại giao, tướng Oétmolen sẽ cho sử dụng phi đội này để chống lại các mục tiêu cộng sản ở Lào. Ngày 6 tháng 5 năm 1966, Đô đốc Sáp đã đệ trình đề nghị này lên Bộ tham mưu liên quân Mỹ. Bộ Ngoại giao Mỹ tỏ ra sốt sắng với lời đề nghị này và đã có những bước tiếp xúc với Đại sứ quán Ôxtrâylia tại Oasinhtơn để xác nhận khả năng triển khai phi đội không quân Caribô. Tuy nhiên, kế hoạch trên không thực hiện được bởi nó không nhận được sự chấp thuận từ Chính phủ Ôxtrâylia vì lý do quan hệ ngoại giao với Chính phủ Lào.

        Theo dự tính của Tư lệnh lực lượng Ôxtrâylia tại Việt Nam, cuối năm 1967, Lực lượng đặc nhiệm sẽ được bổ sung thêm tiểu đoàn thứ 3, nhưng ở Ôxtrâylia đang chuẩn bị bầu cử Quốc hội, nên việc gia tăng lực lượng quân sự tại Nam Việt Nam không thể thực hiện được như dự tính ban đầu. Tuy không đưa được tiểu đoàn thứ ba sang bổ sung cho Lực lượng đặc nhiệm, nhưng Chính phủ Ôxtrâylia vẫn quyết định đưa tổ phẫu thuật thứ ba tới Sài Gòn vào ngày 29 tháng 11 năm 1966. Tổ phẫu thuật mới này gồm 13 nhân viên, được chỉ định sẽ phục vụ tại Vũng Tàu, nâng con số nhân viên y tế của Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam lên 37 người1.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 96.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:56:22 AM

        Sau cuộc bầu cử, chính quyền Ôxtrâylia đã nhanh chóng gia tăng sự can thiệp quân sự tại Nam Việt Nam. Theo yêu cầu của Tham mưu trưởng lực lượng Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam, muốn đưa thêm thành phần bổ sung cho lực lượng đặc nhiệm, bao gồm cả ba quân chủng: tàu Hôbơt (Hobart) tàu khu trục có gắn tên lửa điều khiển của hải quân Hoàng gia Ôxtrâylia; một toán người nhái thuộc hải quân Hoàng gia; 1 phi đội gồm 8 máy bay loại B57 (Canbêra); 1 đơn vị dân sự vụ 80 người và 916 quân bổ sung cho các đơn vị lục quân Ôxtrâylia hiện có tại Nam Việt Nam. Lời đề nghị này được tư lệnh 3 quân chủng và Bộ Quốc phòng Ôxtrâylia tán thành với một quan điểm hiếu chiến: Ôxtrâylia sẽ là nước đầu tiên, ngoài Mỹ, tham gia chiến tranh Việt Nam với một lực lượng gồm đủ ba quân chủng, lục quân, không quân và hải quân1. Và, với một lực lượng hùng hậu như vậy, họ tin tưởng rằng, quân đội Ôxtrâylia đã, đang và sẽ chiến đấu có hiệu quả hơn bất kỳ một lực lượng nào khác ở Nam Việt Nam!

        Về bộ binh, quân số 916 người tăng cường (thuộc lục quân Ôxtrâylia) sẽ được sáp nhập vào các đơn vị đã có mặt tại Nam Việt Nam. Trong số đó, 466 người là phần bổ sung theo yêu cầu tổ chức và trang bị của các đơn vị đã có sẵn; 450 người còn lại là thành phần tăng cường tác chiến cho Lực lượng đặc nhiệm thứ nhất của Ôxtrâylia. Mỹ hoan nghênh quan điểm tăng cường quân số của Ôxtrâylia và đồng ý với yêu cầu của Chính phủ nước này về việc để tàu chiến Hôbơt của hải quân Hoàng gia Ôxtrâylia và phi đội Canbera được triển khai chung với các lực lượng nói trên của Mỹ. Theo dự kiến ban đầu, tàu chiến Hôbơt vẫn thuộc quyền chỉ huy của Ôxtrâylia, nhưng về mặt kiểm soát hành quân thì sẽ thuộc lực lượng hải quân Mỹ cho đến khi tìm được tàu chiến tương tự để thay thế. Sau đó, tàu này sẽ được sử dụng về mọi mặt như là một tàu bổ sung cho lực lượng hải quân Mỹ và không bị giới hạn hoạt động. Nhiệm vụ của lực lượng này khi tham chiến tại Việt Nam, như Mỹ và Chính phủ Ôxtrâylia đã thỏa thuận, bao gồm: pháo kích các mục tiêu trên đất liền ở cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam, ngăn chặn lưu thông của lực lượng cộng sản dọc theo bờ biển, bảo vệ các cuộc hành quân, vận chuyển và hoạt động yểm trợ các lực lượng hải quân ngoài khơi. Hai bên cũng nhất trí thỏa thuận việc chỉ huy và kiểm soát phi đội Canbêra sẽ tương tự như thỏa thuận dành cho chiến hạm Hôbơt nói trên. Phi đội này sẽ đóng căn cứ tại nơi có điều kiện thuận lợi cho việc yểm trợ các lực lượng lục quân Ôxtrâylia. Việc bảo dưỡng thường kỳ sẽ được thực hiện tại Việt Nam, còn các cuộc bảo dưỡng và sửa chữa lớn sẽ đưa sang căn cứ Bâttơut, Mailaixia2. Phi đội này cũng sẽ được triển khai với cơ số bom 250kg trong 45 ngày. Các loại bảo đảm hậu cần khác như nhiên liệu, lương khô, tiện nghi, vật liệu công binh và đồ dùng thông thường sẽ được phía Mỹ cung cấp.

        Hội nghị sơ bộ giữa nhóm thiết kế Ôxtrâylia do thiếu tướng không quân Brian A. Eton dẫn đầu và Ban tham mưu của MACV đã diễn ra từ ngày 3 đến 7 tháng 1 năm 1967 tại Sài Gòn. Hai bên đạt được một số thỏa thuận về hậu cần cũng như vấn đề chỉ huy và kiểm soát được xác định như trong các thỏa thuận trước đây. Máy bay Canbêra sẽ đóng tại Phan Rang và được sử dụng như tất cả các máy bay chiến đấu khác của Tập đoàn không quân số 7 Mỹ. Quyền kiểm soát các cuộc hành quân được giao cho Tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 Mỹ, trong khi Tư lệnh lực lượng Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam giữ quyền chỉ huy và kiểm soát về mặt hành chính. Đối với Ôxtrâylia, việc triển khai phi đội Canbera được coi là lý tưởng vì loại máy bay này đã lỗi thời và họ đang dự tính sẽ thay thế bằng loại F111 hiện đại hơn.

        Khi hội nghị bàn đến những vấn đề thuộc về hải quân, đại diện của Mỹ muốn biết chi tiết thêm về năng lực của toán người nhái Ôxtrâylia. Theo quan niệm sử dụng một cách tổng thể, toán người nhái này dự kiến sẽ được sáp nhập vào Bộ tư lệnh lực lượng hải quân Mỹ tại Nam Việt Nam, dưới sự điều hành của Đô đốc Moven G. Vac. Cũng vào thời điểm này, các đại diện Mỹ và Ôxtrâylia tiếp tục gặp nhau tại Philíppin để bàn thảo về kế hoạch triển khai bảo đảm hậu cần, hành chính cho chiến hạm Hôbơt của hải quân Hoàng gia Ôxtrâylia khi tham gia hoạt động tác chiến cùng Hạm đội 7 Mỹ. Về vấn đề này, hội nghị tại Sài Gòn cũng nhất trí quan điểm cho rằng, MACV không cần phải dính líu đến bất cứ thỏa thuận nào liên quan đến tàu chiến Hôbơt, mà giao toàn quyền chỉ huy, kiểm soát cho Tư lệnh lực lượng hải quân Mỹ tại Nam Việt Nam và Hạm đội 7.

        Sau hội nghị, các giới chức Ôxtrâylia tỏ ra hài lòng với những thỏa thuận đạt được khi rời Nam Việt Nam trở về nước, trong khi họ chỉ có một thời gian rất hạn chế để chuẩn bị đưa lực lượng này sang tham chiến.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 96.

         2. Mặc dù đồng ý về những điều thỏa thuận với Chính phủ Mỹ và Ôxtrâylia trong việc bảo dưỡng máy bay, nhưng chính phủ Mailaixia vẫn luôn nhấn mạnh không muốn làm rùm beng về vấn đề này.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:57:48 AM

        Ngày 1 tháng 4 năm 1967, phi đội Canbêra nhận được chỉ thị sẵn sàng hành quân, trong khi căn cứ không quân ở Phan Rang đã quá chật chội. Để chuẩn bị đón phi đội Canbêra sang, trước đó, từ tháng 1 năm 1967, phi đội 5 xây dựng sân bay của Ôxtrâylia đã lên đường đi Nam Việt Nam. Sau hai tháng, phi đội này đã xây dựng xong nhà bảo toàn máy bay cùng các cơ sở vật chất đảm bảo cho phi đội Canbêra.

        Ngày 18 tháng 4 năm 1967, 8 trong số 10 chiếc máy bay ném bom loại Canbêra đã từ căn cứ Bâttơut đến Nam Việt Nam với quân số 300 người, gồm 40 sĩ quan, 90 hạ sĩ quan và 170 binh sĩ1.

        Trước đó, ngày 21 tháng 3, chiến hạm Hôbơt của hải quân Hoàng gia Ôxtrâylia đã bắt đầu tham gia chiến tranh khi thay thế một khu trục hạm của hải quân Mỹ ở ngoài khơi Nam Việt Nam. Việc sử dụng lực lượng tham gia các cuộc hành quân, vấn đề bảo đảm hậu cần, quan hệ chỉ huy cũng như việc sử dụng câu lạc bộ, nhà ăn và cửa hàng bách hóa... được dàn xếp chủ yếu giữa hải quân Ôxtrâylia và hải quân Mỹ.

        Tháng 1 năm 1967, Chính phủ Ôxtrâylia cho biết, 10 phi công trực thăng chống tàu ngầm của hải quân nước này đã có đủ điều kiện để lái loại trực thăng H34 và có thể triển khai ngay lực lượng này tại Nam Việt Nam. Bộ tư lệnh MACV tin rằng, sau 10 giờ bay huấn luyện chuyển tiếp trên loại trực thăng UH1D, các phi công này có thể sáp nhập ngay vào những đơn vị không quân của lục quân Mỹ. Tuy nhiên, đến tháng 4 năm 1967, đề nghị trên mới chính thức được thực thi. 8 phi công và khoảng 30 nhân viên bảo dưỡng, yểm trợ được đề nghị đưa sang để thay thế số quân Mỹ đang hoạt động yểm trợ cho lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia. Chế độ lương bổng và phụ cấp cho toán quân nhân này do Ôxtrâylia đài thọ. Phía Mỹ chịu trách nhiệm cung cấp máy bay và bảo đảm hậu cần. Lực lượng này được sáp nhập vào các đơn vị Mỹ và thay thế quân nhân Mỹ theo tỷ lệ một đổi một.

        Để tạo điều kiện cho công việc quản lý hành chính, Bộ Tham mưu liên quân Mỹ yêu cầu các phi công Ôxtrâylia được đóng quân gần một phi đội của không quân Hoàng gia Ôxtrâylia và tốt nhất là những quân nhân này nên được chỉ định vào các đơn vị không quân Mỹ vẫn thường yểm trợ cho lực lượng Ôxtrâylia. Tướng Oétmolen cũng chỉ ra rằng, các đơn vị trực thăng của quân đội Mỹ không có nhiệm vụ yểm trợ tác chiến cho tất cả các tổ chức hoặc Lực lượng đặc nhiệm và hoạt động của các phi công Ôxtrâylia sẽ tuỳ thuộc vào tình hình chiến thuật thực tế.

        Các cuộc thảo luận sau đó giữa Mỹ và Ôxtrâylia cho thấy, mặc dù Ôxtrâylia mong muốn đưa các phi công về đóng quân cùng các đơn vị đặc nhiệm Ôxtrâylia tại Vũng Tàu để tiện cho việc quản lý hành chính, nhưng họ cũng không chính thức yêu cầu các phi công Ôxtrâylia được hoạt động trong những đơn vị quân đội Mỹ đang làm nhiệm vụ yểm trợ cho lực lượng Ôxtrâylia. Về phía Mỹ, tướng Oétmolen cho rằng, nếu Ôxtrâylia chính thức đề nghị thì các phi công Ôxtrâylia sẽ được thuyên chuyển đến một đại đội trực thăng thuộc Đoàn 12 không quân, tác chiến trong khu vực Biên Hòa (đóng quân tại căn cứ Bến Cát). Từ địa điểm này, họ sẽ yểm trợ cho các đơn vị thuộc Vùng III chiến thuật, nơi các lực lượng bộ binh Ôxtrâylia đồn trú. Khi Đại đội 135 không quân đến Nam Việt Nam sẽ đóng quân ở Núi Đất (cách Vũng Tàu 35km về phía đông bắc), địa điểm của 1 phi đội trực thăng thuộc không quân Ôxtrâylia. Từ Núi Đất, Đại đội không quân 135 sẽ yểm trợ cho Lực lượng đặc nhiệm thứ nhất của Ôxtrâylia và các đơn vị khác. Nếu như Đại đội 135 đến trước các phi công trực thăng thì họ sẽ được chuyển thẳng đến đơn vị này. Lời đề nghị của chính quyền Ôxtrâylia muốn các phi công này được phép lái trực thăng vũ trang cũng được phía Mỹ chấp thuận.

        Sau những thỏa thuận quân sự đạt được với Mỹ, ngày 18 tháng 10 năm 1967, Thủ tướng Ôxtrâylia công bố kế hoạch mới nhằm gia tăng lực lượng Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam thêm 1.700 quân và sẽ đưa quân số từ 6.300 lên hơn 8.000 người. Lực lượng gia tăng gồm có 1 tiểu đoàn bộ binh (tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia), 1 đại đội xe tăng hạng trung (loại Canturian) với 250 người, 1 đơn vị công binh xây dựng 45 người và 125 người tăng cường cho sở chỉ huy lực lượng Ôxtrâylia. Tiểu đoàn bộ binh 3 sẽ triển khai sang Nam Việt Nam vào tháng 12 năm 1967, tiếp đó, lần lượt triển khai các đơn vị khác nếu có phương tiện vận chuyển. Bộ phận không quân bổ sung sang Việt Nam gồm có 8 trực thăng vũ trang, 10 phi công trực thăng, 20 nhân viên kỹ thuật trên không cấp hạ sĩ và binh sĩ cùng với 10 nhân viên bảo dưỡng. Lực lượng này sẽ được sáp nhập vào phi đội 9 trực thăng (thông dụng) thuộc không quân Hoàng gia Ôxtrâylia (đã được triển khai tại Việt Nam 6 tháng trước)2. Hải quân Ôxtrâylia sẽ cung cấp một số phi công trực thăng chống tàu ngầm cùng với nhân viên bảo dưỡng như đã thỏa thuận.

-----------------
        1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 98.

        2. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 99.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:58:38 AM

        Theo kế hoạch trên, lực lượng quân sự bổ sung của Ôxtrâylia sang Nam Việt Nam được thực hiện trong 8 tháng, bắt đầu từ tháng 11 năm 1967. Tổng quân số đưa sang là 1.978 người1 (cao hơn so với dự kiến ban đầu). Tiểu đoàn bộ binh 3 cùng với các thành phần yểm trợ tác chiến và hậu cần sau khi đến Nam Việt Nam (tháng 12 năm 1967), được sáp nhập vào Lực lượng đặc nhiệm thứ nhất Ôxtrâylia ở Vùng III chiến thuật. Đại đội xe tăng và các bộ phận yểm trợ, hậu cần đến Nam Việt Nam vào cuối tháng 2 - đầu tháng 3 năm 1968 với 15 chiếc xe tăng loại Canturian, 11 chiếc khác được bổ sung vào tháng 9. Phi đội trực thăng thuộc lực lượng không quân Hoàng gia Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam được nhận thêm 8 trực thăng trong tháng 7 năm 1968. Sau cùng là một toán 30 người thuộc lực lượng không quân được đưa sang vào tháng 11 năm 1968.

        Về mức độ và loại yểm trợ dành cho lực lượng bổ sung Ôxtrâylia được thực hiện theo đúng như thỏa thuận đã ký kết vào ngày 30 tháng 11 năm 1967. Theo đó, chính quyền Ôxtrâylia sẽ bồi hoàn cho chính quyền Mỹ phần cung cấp yểm trợ (tính theo đầu người). Sự yểm trợ của Mỹ đối với lực lượng Ôxtrâylia bao gồm:

        - Việc xây dựng căn cứ và chi phí vận chuyển ở Việt Nam bằng phương tiện dịch vụ đối với hàng tiếp liệu cho lực lượng Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam;

        - Các phương tiện bảo đảm ăn ở (không bao gồm khu gia đình dành cho thân nhân; cá nhân có nhu cầu phải tự trả tiền phục vụ ăn ở trong khu vực Sài Gòn);

        - Khám chữa bệnh tại Việt Nam (không tính việc đưa đi khám chữa ngoài Việt Nam, trừ trường hợp bị bệnh khẩn cấp được thực hiện cơ bản giống như đối với quân đội Mỹ);

        - Công tác mai táng, bao gồm việc chuyên chở ra bên ngoài Việt Nam;

        - Công tác vận chuyển, bao gồm việc sử dụng các loại xe buýt, xe du lịch, tắc xi hiện có và dịch vụ hàng không do Mỹ điều hành tại Nam Việt Nam;

        - Công tác cơ yếu, chuyển các điện văn chính thức bằng điện đài hoặc phương tiện khác của các đường dây đã được thiết lập;

        - Việc sử dụng các phương tiện quân bưu Mỹ, bao gồm cả việc đóng gói tất cả thư tín cá nhân và công văn từ hạng nhất đến hạng tư;

        - Dịch vụ bán hàng bách hóa và hàng miễn thuế tại Việt Nam;

        - Các dịch vụ đặc biệt, bao gồm việc tổ chức các chuyến nghỉ ngơi và giải trí;

        - Cơ sở văn phòng, trang bị và tiếp liệu cần thiết;

        - Các loại phụ tùng, sản phẩm dầu khí và phương tiện bảo dưỡng dành cho xe cộ, máy bay trong khả năng của các cơ sở và đơn vị quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam.

        Mặc dù trong những năm sau, lực lượng Ôxtrâylia tiếp tục được bổ sung sang Nam Việt Nam, nhưng quân số không đáng kể. Do vậy, cũng có thể coi đây là những thỏa thuận cuối cùng giữa Mỹ và chính quyền Ôxtrâylia về việc gia tăng lực lượng và những điều khoản thi hành của hai bên trong quá trình tham chiến của quân đội Ôxtrâylia tại miền Nam Việt Nam. Như thế, việc Chính phủ Ôxtrâylia gửi quân và các trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật sang Việt Nam vừa mang tính chất bắt buộc nhưng cũng có phần nào đó là tự nguyện bởi nằm trong vòng ảnh hưởng của Mỹ và cũng vì lợi ích thiết thân nên họ không thể không tham gia cuộc chiến tranh này.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 99.

         2. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 23.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 04:59:19 AM

       2. Hoạt động của quân đội Ôxtrâylia tại chiến trường miền Nam Việt Nam trong những năm 1965-1972.

        Đầu tháng 6 năm 1965, Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia đầu tiên được đưa đến Nam Việt Nam gồm Tiểu đoàn bộ binh 1 thuộc Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia được tăng cường Đại đội thông tin 79, đại đội hậu cần và 100 chuyên gia trong lĩnh vực chiến tranh du kích. Lực lượng này lập tức được tăng cường cho Lữ đoàn không vận 173 của Mỹ.

        Những hoạt động đầu tiên của lực lượng này trong năm 1965 chỉ giới hạn trong các cuộc hành quân an ninh địa phương tại tỉnh Biên Hòa (địa điểm đóng quân của Lữ đoàn không vận 173 Mỹ). Sự giới hạn này xuất phát từ những đề nghị rất kiên quyết của chính quyền Ôxtrâylia. Tại thời điểm này, Chính phủ Ôxtrâylia không đồng ý cho quân đội Mỹ sử dụng Lực lượng đặc nhiệm của họ vào các cuộc hành quân tiến công và đánh trả, ngoại trừ việc phòng thủ căn cứ không quân Biên Hòa. Phạm vi hoạt động của Tiểu đoàn bộ binh số 1 Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia được Chính phủ nước này nhất trí có thể tham dự vào các cuộc hành quân trong phạm vi từ 30 đến 35km, do đó, tướng Oétmolen không thể sử dụng lực lượng này một cách rộng rãi hơn. Ví dụ, ngày 30 tháng 7 năm 1965 (một thời gian ngắn sau khi sang Nam Việt Nam), Tham mưu trưởng Lực lượng quân đội Ôxtrâylia ở miền Nam Việt Nam đã không cho phép lực lượng của Tiểu đoàn 1 tham dự vào cuộc hành quân của Lữ đoàn không vận 173 Mỹ. Thay vào đó, Mỹ phải sử dụng 1 tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 2 Sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ để bảo vệ pháo binh của Lữ đoàn và Tiểu đoàn 1 Ôxtrâylia chỉ đóng vai trò dự bị.

        Sau đó không lâu, căn cứ vào tình hình thực tiễn, sự giới hạn này buộc phải hủy bỏ. Ngày 11 tháng 8 năm 1965, Chuẩn tướng O. D. Giắcxơn, sĩ quan cao cấp của quân đội Hoàng gia Ôxtrâylia, sang Nam Việt Nam thông báo cho tướng Oétmolen về sự hủy bỏ này và do vậy, nhiệm vụ của Lực lượng đặc nhiệm cũng có sự thay đổi, không chỉ giới hạn về phòng thủ mà còn có thể tham gia các hoạt động tác chiến, đồng thời mở rộng địa bàn hoạt động, bao gồm cả các tỉnh tiếp giáp với Biên Hòa. Trên cơ sở đó, ngày 15 tháng 8, một thỏa thuận hoạt động quân sự đã được ký kết giữa Chuẩn tướng Giắcxơn và tướng Oétmolen để trao quyền kiểm soát hành quân đối với các lực lượng Ôxtrâylia cho viên Tư lệnh quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam. Theo thoả thuận này, phía Mỹ sẽ chịu trách nhiệm bảo đảm đầy đủ về mặt hành chính và hậu cần cho lực lượng Ôxtrâylia. Trong một thỏa ước về tài chính được ký kết ngày 7 tháng 9, chính quyền Ôxtrâylia đồng ý sẽ hoàn lại cho Mỹ chi phí bảo đảm này.

        Để thực thi nhiệm vụ tác chiến và nới rộng phạm vi hoạt động của quân Ôxtrâylia tại Biên Hòa, ngày 30 tháng 9 năm 1965, Chính phủ Ôxtrâylia tiếp tục đưa sang một lực lượng tác chiến và yểm trợ (157 quân) để tăng cường cho tiểu đoàn bộ binh, gồm một đại đội pháo 105mm (kết hợp với một đại đội pháo tương tự của Niu Dilân), 1 đoàn công binh dã chiến, 1 chi đoàn xe thiết giáp M113 do Mỹ cung cấp, 1 đoàn truyền tin và 1 phi đội không thám. Đến cuối năm 1965, quân số Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam là 1.557 người1. Hiệu quả tác chiến ngày càng cao của lực lượng này đã góp phần thuyết phục Chính phủ Ôxtrâylia thành lập Lực lượng đặc nhiệm số 1 gồm hai tiểu đoàn bộ binh có xe thiết giáp chở quân, công binh, pháo binh và hậu cần hỗ trợ. Quyết định này được công bố vào tháng 3 năm 1966. Các tiểu đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia 5 và 6 được lệnh triển khai sang Nam Việt Nam vào tháng 5 năm 1966, khi Tiểu đoàn 1 về nước. Phước Tuy, một tỉnh ven biển gần Sài Gòn đã được chọn làm nơi đóng quân của Lực lượng đặc nhiệm số 1 của Ôxtrâylia. Nhiệm vụ của quân Ôxtrâylia ở Phước Tuy là tiến hành chiến dịch chống nổi dậy, kết hợp hoạt động quân sự với dân vận nhằm lôi kéo và tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 90.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:00:50 AM

        Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên mà Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia tiến hành tại Nam Việt Nam là tham gia chương trình bình định. Ngay sau khi đến Nam Việt Nam, Chỉ huy trưởng Lực lượng quân đội Ôxtrâylia tại Việt Nam đã chỉ thị cho Lực lượng đặc nhiệm phải tiến hành công tác dân vận thật tốt thì mới có thể thực hiện được chương trình bình định ở đây. Sau một thời gian hoạt động phối hợp với các cơ quan của chính quyền Sài Gòn, từ tháng 7 năm 1966, chương trình "bình định" bắt đầu được tiến hành.

        Giai đoạn đầu, các tổ dân vận, gồm 4 người một tổ, được phái đến các "ấp chiến lược" trong khu vực bao quanh sở chỉ huy của Lực lượng đặc nhiệm số 1 tại huyện Long Đất. Mục tiêu của quân Ôxtrâylia lúc này chỉ đơn giản là phát triển mối quan hệ hài hoà với dân chúng địa phương, mong lấy lòng nhân dân vì đây vốn là vùng căn cứ cách mạng và có phong trào đấu tranh chống Mỹ rất cao. Giai đoạn này kéo dài khoảng hai tuần. Tiếp đó là khảo sát, nghiên cứu thực tế một số "ấp chiến lược" để phác thảo cho dự án "bình định" đang chuẩn bị tiến hành. Sau đó, họ sẽ yêu cầu Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ, Văn phòng dân sự vụ hỗn hợp Mỹ và MACV cung cấp hoặc hỗ trợ vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, để thực hiện công việc này, quân Ôxtrâylia vẫn còn có một ngân quỹ đáng kể để mua vật liệu và trả công lao động. Trong việc thi hành các dự án, trước hết các tổ công tác Ôxtrâylia lập kế hoạch xây dựng công trình và thứ tự ưu tiên. Sau khi kế hoạch được tỉnh trưởng chấp thuận mới tiến hành khởi công. Trong thời gian thực hiện chương trình bình định, Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia đã xây dựng cho chính quyền tỉnh Phước Tuy được 8 lớp học, một trung tâm phục vụ thông tin Việt Nam, một chợ quận, một nhà hộ sinh, 1 trạm xá 3 phòng, một phòng họp của chính quyền quận, nhiều nhà kho, 12 giếng có nắp đậy, một tòa nhà chỉ huy của quận, một trạm kiểm soát của cảnh sát và một số công trình xây dựng vững chắc khác.

        Bên cạnh những nỗ lực bình định cùng với sự trợ giúp về các hoạt động xây dựng cơ sở vật chất cho chính quyền Sài Gòn, phần lớn thời gian còn lại, nhiệm vụ trọng tâm của Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia là tham gia các cuộc hành quân "tìm diệt" cùng với quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn. Trong thời gian 14 tháng trực tiếp tác chiến tại Nam Việt Nam, riêng Lực lượng đặc nhiệm Tiểu đoàn 1 (tăng cường) thuộc Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia được mệnh danh là "Những tay thợ đào"1 đã tham gia vào 19 cuộc hành quân lớn. Đặc biệt, trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của quân Mỹ vào khu vực Tam giác sắt (tháng 1 năm 1966), đơn vị Ôxtrâylia đã "lập được công trạng lớn" khi khám phá ra một hệ thống hầm rộng lớn, có nơi đào sâu 20 mét, mà họ cho là sở chỉ huy của lực lượng cách mạng. Ngoài việc thu được 5 khẩu pháo phòng không sản xuất tại Trung Quốc, quân Ôxtrâylia còn phát hiện được 6.000 tài liệu còn rớt lại của lực lượng cách mạng trước khi rút khỏi căn cứ an toàn2.

        Hiệu suất chiến đấu của lực lượng Ôxtrâylia được thể hiện qua các cuộc hành quân càn quét nổi tiếng ở khu vực Biên Hòa và Phước Tuy trong thời gian còn lại của năm 1966. Tuy nhiên, họ đã gặp phải sự chống trả quyết liệt của quân và dân các tỉnh nói trên.

        Sau trận tập kích của lực lượng vũ trang thị xã Vũng Tàu vào sân bay Vũng Tàu và trung tâm huấn luyện Chí Linh (tháng 3 năm 1966), quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn gấp rút bố trí lại lực lượng để bảo vệ Vũng Tàu và xây dựng nơi đây thành trung tâm hậu cần lớn phục vụ cho cuộc chiến tranh. Tại đây, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn cho san gạt mặt bằng để xây dựng cơ sở hậu cần cho quân Ôxtrâylia, xây dựng trung tâm huấn luyện người nhái ở Cửa Lấp, điều một trung đội chốt giữ đồi Không Tên, di dân thành lập ấp Hải Đăng. Để bảo vệ Vũng Tàu, địch cho một giang đoàn thường xuyên tuần tiễu trên sông Cỏ May ra Phước Tỉnh, dọc sông Dinh ra cảng Rạch Dừa. Trên quốc lộ 15, có các đơn vị đóng chốt ở cầu Cây Khế, cầu Rạch Bà, đồng thời tăng cường kiểm soát người ra vào thị xã Vũng Tàu.

        Với hệ thống phòng thủ chặt chẽ, Mỹ và chính quyền Sài Gòn hy vọng sẽ ngăn chặn được lực lượng kháng chiến đột nhập vào nội ô thị xã. Như vậy, Vũng Tàu không chỉ trở thành hậu cứ quan trọng của quân Mỹ, quân đội Sài Gòn mà còn của cả quân Ôxtrâylia, Niu Dilân.

        Chuẩn bị cho đợt phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966-1967), Lữ đoàn không vận 173 Mỹ được điều về đứng chân ở Long Đất, tỉnh Phước Tuy, để cùng với quân đội Sài Gòn mở những trận càn quy mô lớn trên một diện rộng hòng triệt phá căn cứ kháng chiến của tỉnh, huyện và tiêu diệt lực lượng vũ trang ta giành lại thế chủ động trên chiến trường Bà Rịa - Vũng Tàu.

-----------------
         1. Biệt danh dành riêng cho phần lớn số người đào vàng trong các đơn vị quân đội Ôxtrâylia lúc đầu, cũng như để nói về những hoạt động đào đường hầm của quân Ôxtrâylia trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.

         2. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 93.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:02:19 AM

        Đêm 8 tháng 6 năm 1966, Lữ đoàn không vận 173 cùng với 1 đại đội Nam Triều Tiên, quân đội Sài Gòn, có máy bay, xe tăng và pháo binh yểm trợ, mở trận càn vào căn cứ Minh Đạm nhằm tìm diệt lực lượng cách mạng, đẩy lực lượng vũ trang ta ra xa, chuẩn bị đưa quân Ôxtrâylia vào làm nhiệm vụ "bình định" thí điểm ở Long Đất. Bị quân và dân ta đánh thiệt hại, địch buộc phải rút khỏi căn cứ Minh Đạm.

        Sau cuộc càn, quân Mỹ tiến hành chuyển giao trách nhiệm "bình định" cho Lực lượng đặc nhiệm số 1 Ôxtrâylia do Thiếu tướng Giắcxơn làm Tư lệnh. Ngoài căn cứ chính được triển khai ở Núi Đất (tháng 6 năm 1966), lực lượng này còn có thêm hai căn cứ ở núi Da Quy và Bàu Lùn (Hòa Long - Đất Đỏ). Lực lượng Ôxtrâylia ở Nam Việt Nam tại thời điểm này là 4.525 quân1.

        Khi Lực lượng đặc nhiệm số 1 vào tỉnh Phước Tuy thì một phi đội hoàn chỉnh của Lực lượng đặc vụ đường không Ôxtrâylia (SAS) cũng theo vào để làm "tai mắt" cho lực lượng này ở bên ngoài vùng phụ cận Núi Đất, tiến hành những cuộc tuần tiễu sâu để thu thập thông tin về hoạt động của ta. Phi đội này được tổ chức thành những toán 5 người, gồm trinh sát, toán trưởng, toán phó, báo vụ viên và y tá. Phần lớn các thành viên những toán này vừa mới phục vụ trong rừng nhiệt đối Boócnêôvà có những kinh nghiệm được cho là vô giá. Được tung ra những vùng xa xôi hẻo lánh thuộc tỉnh Phước Tuy, mỗi toán được chọn lựa sao cho thích hợp và được duy trì trong suốt thời hạn một năm. Các toán này thường được chuyên chở bằng trực thăng và thả xuống các vùng nghi có lực lượng ta. Họ được trang phục sao cho dễ hoà đồng vào môi trường xung quanh, trang bị mạnh để có thể tiến hành những cuộc phục kích, hoặc nếu bị phục kích thì có thể tự vệ. Chúng thường được sử dụng cơ động trên những địa hình khó khăn để tránh chạm trán bất ngờ với lực lượng ta; chúng luôn giữ đúng nguyên tắc hoạt động, di chuyển và quan sát ban ngày, ẩn nấp ban đêm; được đánh giá cao về khả năng sẵn sàng chiến đấu và đạt hiệu suất chiến đấu cao.

        Được mệnh danh là chuyên gia số 1 về chiến tranh du kích ở rừng rậm, đầm lầy với những kinh nghiệm trong 12 năm giúp người Anh qua cuộc chiến tranh chống nổi dậy ở Malaixia, lực lượng cố vấn quân sự Ôxtrâylia gồm 100 người giúp quân đội Sài Gòn đã lập trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp, chuyên huấn luyện chiến tranh chống du kích, tác chiến trong rừng rậm cho quân đội Sài Gòn và quân ngụy Campuchia.

        Sau khi triển khai căn cứ ở Núi Đất, Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia kết hợp với quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn bắt đầu mở các cuộc hành quân càn quét sâu vào các vùng căn cứ, vùng giải phóng, ném bom bắn phá thường xuyên nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta, tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng, hỗ trợ cho quân đội Sài Gòn tiến hành "bình định" toàn bộ các vùng nông thôn tỉnh Phước Tuy.

        Ngày 15 tháng 6 năm 1966, một đại đội quân Ôxtrâylia càn quét ở phía đông lộ 2, theo hướng từ căn cứ Lồ Ô ra Mả Mẹ - Mả Con2 đột kích vào căn cứ của Tiểu đoàn 445 bộ đội địa phương tỉnh Bà Rịa - Long Khánh thì bất ngờ gặp và tao ngộ chiến với đội trinh sát. Đại đội 1 Tiểu đoàn 445 bố trí phòng phủ ở ven suối, cách Mả Mẹ - Mả Con một trảng ruộng, nghe tiếng súng nổ, bộ đội lập tức vận động theo bìa rừng ra tiếp ứng, chặn tốp đi đầu, tiêu diệt một số tên địch. Đại đội 2 và Đại đội 3 vận động đánh thọc sườn, diệt thêm một số nữa. Nhưng, ngay sau đó, quân Ôxtrâylia gọi pháo bắn phân tuyến cấp tập vào đội hình Tiểu đoàn 445, gây thương vong lớn, ta phải rút về căn cứ để bảo toàn lực lượng. Đây là trận đầu tiên ta đánh quân Ôxtrâylia kể từ khi chúng triển khai trên địa bàn Bà Rịa - Long Khánh.

        Tiếp đó, ngày 30 tháng 6 năm 1966, một đơn vị quân Ôxtrâylia tổ chức càn vào vùng giải phóng phía tây lộ 2, bị lực lượng vũ trang huyện Long Đất đón đánh ở khu vực Đồng Nghệ, diệt hàng chục tên, thu nhiều vũ khí. Cùng lúc, ở bên trong, quân Ôxtrâylia kết hợp với quân đội Sài Gòn ở khu Long Lễ rình rập, phục kích, xăm hầm bí mật để tìm bắt cán bộ, khủng bố những người chúng nghi là cơ sở cách mạng.

        Trước tình hình đó, Quân ủy Miền cùng với Tỉnh ủy Bà Rịa - Long Khánh chủ trương dùng lực lượng chủ lực Miền phối hợp với lực lượng địa phương tỉnh (Tiểu đoàn 445) kiên quyết đánh phủ đầu quân đồng minh của Mỹ khi chúng vừa triển khai quân ở địa bàn tỉnh Phước Tuy.

-----------------
         1. Bộ tư lệnh quân Ôxtrâylia đóng tại số 12 đường Trần Quốc Toản, Sài Gòn, do tướng Phradơ làm tư lệnh.

         2. Một địa danh của xã Long Tân, phía Tây Nam căn cứ Lồ Ô, Dẫn theo "Lịch sử Tiểu đoàn 445 (1965-2004)", Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 89.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:03:20 AM

        Đêm 17 tháng 8 năm 1966, quân ta tổ chức phục kích tại khu vực Vườn Xoài (xã Long Tân). Lực lượng tham gia trận đánh gồm có Tiểu đoàn 445 địa phương quân tỉnh Bà Rịa - Long Khánh, Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 4 Sư đoàn 5 chủ lực Miền, 1 đại đội dân công nữ gồm 80 người tham gia phục vụ trận đánh. Đội hình phục kích được bố trí trên một tuyến dài 3km. Rạng sáng ngày 18 tháng 8, Đại đội 4 Tiểu đoàn 445 được lệnh đưa 2 khẩu cối 82mm và một khẩu ĐKZ75 pháo kích vào căn cứ quân Ôxtrâylia ở núi Đất. Bị bất ngờ hoàn toàn nên ngay từ những loạt đạn đầu tiên của ta, quân Ôxtrâylia đã bị ta diệt 1, làm bị thương 23 lính thuộc Tiểu đoàn 6. Trúng kế "điệu hổ ly sơn" của ta, 10 giờ 15 phút ngày 18 tháng 8, Đại đội Đenta (Delta) thuộc Tiểu đoàn 6 Lực lượng đặc nhiệm số 1 Ôxtrâylia do Thiếu tá Henri Xmit chỉ huy, gồm 108 binh sĩ chia thành 3 trung đội (10, 11 và 12) cùng với 1 chi đoàn xe bọc thép chia làm ba mũi tiến vào trận địa phục kích của ta. Trời mưa tầm tã nhưng quân ta vẫn kiên trì chờ đợi và giữ bí mật cho đến phút chót. Khi Đại đội Đenta cách trận địa tiền duyên 50 mét, bộ đội được lệnh nổ súng. Chiếc xe tăng đi đầu bị trúng đạn ĐKZ bốc cháy. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, cự ly giữa lực lượng vũ trang ta và quân Ôxtrâylia mỗi lúc một gần. Hai bên trụ lại thành từng cụm. Sau ít phút, lực lượng vũ trang ta đánh dạt được quân Ôxtrâylia vào khu vực quyết chiến. Quân Ôxtrâylia bị sa vào bãi mìn, trong lúc đó mũi khóa đuôi bắt đầu đánh thốc lên, dồn quân Ôxtrâylia vào một chỗ. Khi quân Ôxtrâylia gần hết đạn dược, trực thăng địch bất chấp mưa gió tìm mọi cách tiếp tế thêm. Đội hình của Đại đội Đenta rối loạn, nhưng nhờ có hỏa lực của 1 đại đội xe tăng bắn khống chế nên các đơn vị Ôxtrâylia bắt đầu rút lui dần. Sau đó, quân Ôxtrâylia tổ chức lại từng cụm, cùng lúc các đơn vị pháo binh Ôxtrâylia và Mỹ đã xác định được mục tiêu, dùng pháo màu bắn chỉ điểm để gọi pháo bắn phân tuyến và vội vã rút chạy.

        Sau 4 giờ chiến đấu, lực lượng vũ trang ta được lệnh rút lui. Đại đội dân công tích cực hoạt động giúp đỡ bộ đội chuyển số thương binh về căn cứ an toàn. Trong trận đánh này, lực lượng vũ trang ta đánh thiệt hại nặng Đại đội Đenta Tiểu đoàn 6 quân đội Hoàng gia Ôxtrâylia, diệt 18 và làm bị thương 12 người1. Tổng số hy sinh và bị thương của ta trong trận này là hơn 100 người (Tiểu đoàn 445 và Sư đoàn 5)2. Đây là trận đọ sức lớn nhất giữa lực lượng vũ trang Bà Rịa - Long Khánh với quân đồng minh Mỹ trong suốt thời gian chúng tham chiến ở Nam Việt Nam. Kết cục của quân Ôxtrâylia trong trận Long Tân - Núi Đất được J. Pimlott, cựu binh Ôxtrâylia đã tham chiến tại chiến trường miền Đông Nam Bộ, miêu tả là những "nấm mồ hình vòng cung, mồ chôn Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia tham chiến ở Việt Nam với hình ảnh: 17 lính đặc nhiệm của Trung đội 1 Đại đội Đenta do Trung úy G. Sáp chỉ huy đã tử trận ngay từ loạt chạm súng đầu tiên, nằm thành một hình vòng cung như trong một cuộc diễn tập, trên một địa hình rộng bằng ba sân bóng đá, đã bị bom và pháo tàn phá suốt một ngày đêm, hoang tàn và im lặng..."3.

        Bị đánh đau trong trận Long Tân, quân Ôxtrâylia liên tiếp mở thêm nhiều trận càn với quy mô lớn vào các vùng căn cứ kháng chiến ở khắp ba huyện Châu Đức, Long Đất và Xuyên Mộc.

        Tại địa bàn huyện Châu Đức, quân Ôxtrâylia phối hợp với quân đội Sài Gòn tiến công vào các xã Long Phước. Hàng chục xe tăng, máy bay và dàn pháo Niu Dilân liên tục nhả đạn, cày xới, biến Long Phước thành "vùng trắng" hoang tàn. Trước lực lượng địch áp đảo, bộ đội và du kích cùng đồng bào phải tạm lánh về Hòa Long, Long Điền, Bà Rịa

        Tiếp đó, với sự yểm trợ của hỏa lực pháo Mỹ và Niu Dilân, quân Ôxtrâylia mở trận càn vào Bàu Lâm, Xuyên Mộc nhằm xóa địa bàn đứng chân của các cơ quan kháng chiến tỉnh, huyện tại đây. Được pháo 105mm ở căn cứ Núi Đất bắn yểm trợ, quân Ôxtrâylia chia làm hai cánh theo hai hướng tiến vào. Một cánh quân theo lộ 328 đến Bàu Lâm, một cánh khác theo liên tỉnh lộ 23 lên Xuyên Mộc. Tỉnh ủy Bà Rịa - Long Khánh chỉ đạo lực lượng vũ trang huyện Xuyên Mộc quyết tâm bẻ gãy trận càn, bảo vệ địa bàn đứng chân của các cơ quan đầu não của cách mạng ở căn cứ Bàu Lâm và Xuyên Mộc.

-----------------
         1. Lịch sử Bà Rịa - Vũng Tàu kháng chiến (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 281.

         2. Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Lịch sử Tiểu đoàn 445 (1965-2004), Sđd, tr. 90.

         3. Pimlott J., Việt Nam - những trận đánh quyết định, Sđd, tr. 58.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:04:20 AM

        Bộ đội huyện cùng du kích xã chia ra từng tổ nhỏ để tập kích quân Ôxtrâylia trên liên tỉnh lộ 23 và lộ 238, đồng thời cử một tổ trinh sát điều tra nghiên cứu, chuẩn bị phương án diệt trận địa pháo của quân Mỹ và Niu Dilân ở Núi Đất. Tổ trinh sát tìm cách tiếp cận mục tiêu, dùng mìn ĐH10 và bom bi gài, diệt nhiều quân Mỹ, làm hỏng hai khẩu pháo 105mm, hỗ trợ đắc lực cho lực lượng huyện chống càn thắng lợi.

        Trên liên tỉnh lộ 23, quân Ôxtrâylia có xe tăng yểm trợ tiến quân. Khi xe tăng đến gần, mìn nổ, nhưng do xe tăng đi chệch hướng mìn gài sẵn nên không trúng. Quân Ôxtrâylia bắn trả quyết liệt. Lực lượng vũ trang ta bị tổn thất nặng, nhiều người hy sinh và bị thương.

        Tại hướng đi Bàu Lâm, một cánh quân Ôxtrâylia bị lực lượng vũ trang huyện đánh mìn ở dốc cầu suối Kia, diệt 9 tên. Trên đoạn đường gần Sở cao su Lê Phú, quân Ôxtrâylia lọt vào trận địa mìn, bị cháy một xe tăng, nhiều lính Ôxtrâylia chết và bị thương.

        Bị đánh bất ngờ ở nhiều nơi, cuộc càn của địch thất bại. Sáng ngày hôm sau, các cánh quân Ôxtrâylia phải rút khỏi huyện Xuyên Mộc.

        Trong thời gian này, được quân Mỹ yểm trợ, quân Ôxtrâylia, Niu Dilân và quân đội Sài Gòn tiếp tục bung ra càn quét các địa bàn quan trọng của lực lượng cách mạng ở Bà Rịa như Hắt Dịch, Minh Đạm, đông tây tỉnh lộ 2, Bàu Lâm. Trọng tâm hoạt động của quân Ôxtrâylia, quân đội Sài Gòn ở Bà Rịa là nhằm yểm trợ cho công tác bình định, trọng điểm là địa bàn huyện Long Đất. Sau khi đánh chiếm vùng giải phóng, quân Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn thực hiện gom dân, lập "ấp tân sinh". Trong các ấp này, họ cho xây nhà, đào giếng, cất trường học, bệnh xá... hòng mua chuộc, lừa mị nhân dân.

        Đầu năm 1967, quân Ôxtrâylia quyết tâm bằng mọi cách "bình định" cho được vùng Long Đất, trọng điểm "bình định" của tỉnh Phước Tuy. Quân Ôxtrâylia đã tập trung lực lượng xây dựng tuyến hàng rào bùng nhùng chạy dài từ núi Da Quy đến bờ biển Phước Hải (dài 11km) nhằm cắt đứt đường giao thông liên lạc của tỉnh, huyện, cô lập căn cứ Minh Đạm, thực hiện cho được việc "bình định" vùng Long Đất.

        Tháng 4 năm 1967, Huyện ủy Long Đất họp và đề ra nhiệm vụ cấp bách của lực lượng vũ trang huyện là phải đánh bại âm mưu bình định của quân Mỹ, Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn.

        Được cơ sở mật cho biết hàng rào Ôxtrâylia chưa gài mìn, đêm 1 tháng 5 năm 1967, Huyện ủy đã tập trung toàn bộ lực lượng vũ trang và cán bộ huyện, xã mở đợt phá hàng rào. Chỉ trong một đêm, lực lượng của ta đã dùng đòn xeo ém dây kẽm gai bùng nhùng chất đống lại, sau đó dùng bộc phá nổ tung hàng rào. Chiến thuật "hàng rào" của quân đội Ôxtrâylia đã bị quân và dân Long Đất vô hiệu hóa.

        Ngay sau đó, quân Ôxtrâylia dùng xe cơ giới, trực thăng đến thả dây kẽm gai, dùng phương tiện hiện đại đóng cọc sắt để làm lại hàng rào. Rút kinh nghiệm lần trước, làm đến đâu, quân Ôxtrâylia gài mìn đến đó. Hàng rào được giữ bí mật tuyệt đối, kể cả quân đội Sài Gòn cũng không được biết. Hàng rào dài 11km, từ núi Da Quy đến Phước Hải, bề ngang hàng rào bình quân 50 mét, chỗ rộng 100 mét, hai bên là hai lớp kẽm bùng nhùng chồng nhiều tầng. Giữa hai lớp rào này là rào "chống xung phong" cao 0,5 mét, bên trên giăng kẽm gai thành những ô vuông nhỏ. Bên dưới gài khoảng 70 quả mìn, chủ yếu là mìn E3, dưới mìn có gài thêm một quả lựu đạn tự động M161. Phía ngoài hàng rào, quân Ôxtrâylia cho trực thăng bay quan sát thường xuyên. Chỉ cần phát hiện một thay đổi nhỏ trên địa hình là họ sẽ gọi pháo, máy bay đến bắn phá ngay lập tức.

        Đến tháng 7 năm 1967, hàng rào mìn được hoàn tất. Với chiến thuật "hàng rào mìn" cộng với kinh nghiệm chống du kích ở Malaixia, quân đội Ôxtrâylia sử dụng từng toán nhỏ luồn rừng đánh theo lối biệt kích, phục kích, chụp bắt cán bộ, du kích, ngăn chặn lực lượng kháng chiến vào bám trụ trong dân. Với những biện pháp được đánh giá là "hoàn hảo" này, quân Ôxtrâylia, Mỹ và quân đội Sài Gòn hy vọng chắc chắn sẽ bình định được xã ấp, gom được dân, tiêu diệt phong trào cách mạng.

        Trên thực tế, hàng rào mìn của Ôxtrâylia đã cắt đứt liên lạc giữa ba vùng trong huyện. Căn cứ Minh Đạm bị cô lập. Đường giao thông giữa huyện về tỉnh và ngược lại bị chia cắt. Khó khăn về giao thông liên lạc đã làm cho lực lượng cách mạng bên ngoài gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu lương thực. Cán bộ, chiến sĩ Long Đất phải ăn măng, đào củ, ăn rau rừng thay cơm.

-----------------
         1. Ta thường gọi là hàng rào M16-E3.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:04:47 AM

        Trước tình hình khó khăn trên, Huyện ủy Long Đất quyết định cử cán bộ bằng mọi giá phải vào bám trụ trong dân, xây dựng và củng cố cơ sở cách mạng, đồng thời phát động lực lượng vũ trang huyện nghiên cứu tìm biện pháp đánh bại chiến thuật "hàng rào mìn" của quân Ôxtrâylia.

        Sau một thời gian mày mò, tìm hiểu và không tránh khỏi những hy sinh cảm tử, cán bộ, chiến sĩ huyện Long Đất đã phát hiện được cách tháo gỡ loại mìn nguy hiểm gài trong hàng rào. Huyện đội Long Đất mở lớp tập huấn cách gỡ mìn, lựu đạn cho bộ đội công binh, trinh sát, cán bộ các ban ngành toàn huyện. Trong tháng 9 năm 1967, nhiều tổ được cử đi gỡ mìn, lựu đạn. Có tổ trong một đêm gỡ được trên 200 quả mìn E3. Huyện ủy tiếp tục chỉ đạo mở tiếp các lớp huấn luyện cho cán bộ, du kích các xã và phát động phong trào thi đua gỡ mìn, lưu đạn phá hàng rào.

        Cuối năm 1967, Đảng bộ, quân và dân huyện Long Đất đã vô hiệu hóa hàng rào mìn M16-E3 của quân Ôxtrâylia, nối thông tuyến hành lang từ tỉnh về huyện, xã và ngược lại. Kế hoạch của quân Ôxtrâylia nhằm cô lập căn cứ Minh Đạm với các vùng căn cứ của tỉnh bị phá vỡ. Việc phá được hàng rào mìn của quân và dân huyện Long Đất đã góp phần tích cực vào việc đánh bại âm mưu "bình định" vùng trọng điểm Long Đất của quân đội Mỹ, Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn.

        Không cam chịu thất bại, liên quân Mỹ, Ôxtrâylia, Niu Dilân liên tiếp mở các trận càn lớn vào vùng căn cứ tỉnh ở khu Đông tỉnh lộ 2 (tháng 7 năm 1967), căn cứ Ba Mẫu (tháng 9 năm 1967), căn cứ ở Xuyên Mộc và Phước Bửu (tháng 10 năm 1967), căn cứ Hắt Dịch, Châu Pha (tháng 11 năm 1967),... Những trận càn trên đã gây thiệt hại nặng cho lực lượng cách mạng.

        Cuối năm 1967, đầu năm 1968, chính quyền Ôxtrâylia bắt đầu triển khai lực lượng bổ sung sang Nam Việt Nam với quân số 1.978 người (theo kế hoạch chỉ có 1.700 quân) gồm Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia, phi đội trực thăng, đại đội xe tăng và các bộ phận hậu cần..., đưa tổng quân số Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam lên 7.661 người.

        Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đầu năm 1968 của quân và dân ta trên toàn miền Nam, Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari và xuống thang chiến tranh từng bước. Giữa năm 1969, Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch rút quân, nhưng chiến trường Bà Rịa - Long Khánh lúc này lại là "chân thang", là trọng điểm "bình định" càn quét của nhiều đơn vị Mỹ, Ôxtrâylia, Niu Dilân trước khi chúng xuống tàu về nước. Từ tháng 6 năm 1969, Mỹ tổ chức bố trí, sắp xếp lại lực lượng và tiến hành phản công trên khắp địa bàn. Quân chủ lực Mỹ, quân đội Sài Gòn, Ôxtrâylia và Niu Dilân tổ chức các trận càn quét đánh phá vòng ngoài (các khu căn cứ kháng chiến); lực lượng bảo an, dân vệ lùng sục khu "trung tuyến" (vùng giáp ranh); lực lượng cảnh sát, tề điệp, "phượng hoàng" bình định, đánh phá vòng trong (thôn ấp).

        Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn phối hợp với quân Mỹ và quân Ôxtrâylia hoạt động trên ba địa bàn chính: Trảng Bom, Long Thành, Xuân Lộc và tỉnh lộ 2 nối dài về Bà Rịa với các chiến thuật chủ yếu: biệt kích, phục kích nhỏ kết hợp tập kích lớn bằng hỏa lực. Các phi đội trực thăng đóng vai trò quan trọng trong việc bốc, đổ quân, cơ động nhanh các lực lượng. Bộ binh Mỹ và Ôxtrâylia chia thành từng tốp lùng sục khắp nơi, đồng thời sử dụng "cây nhiệt đới" (máy thu phát tiếng động) rải ở trong rừng để chỉ điểm cho phi pháo, kể cả máy bay B52 đến hủy diệt. Hầu hết các đường mòn trong rừng đều bị gài mìn và phục kích.

        Quân Ôxtrâylia cũng rất xảo quyệt trong chiến thuật phục kích. Vào các buổi chiều khi đi phục kích, cứ một tên cõng một tên khác trên lưng, trùm kín áo mưa (trông như đeo ba lô). Họ cố tình diễu qua các nhà dân ven rừng để nhân dân nhìn thấy "6 người vừa đi đã về đầy đủ". Nhưng, những chiếc ba lô "quỷ quái" ấy đã nằm lại phục kích ngoài bìa ấp. Nhiều cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 445 và bộ đội địa phương vùng Châu Đức - Long Đất - Xuyên Mộc bị thương vong và bị bắt vì thủ đoạn nham hiểm này.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:06:22 AM

        Cũng trong thời gian này, quân Ôxtrâylia còn triển khai thực hiện chiến thuật "ụ ngầm" bao quanh ba xã vùng Đất Đỏ (Phước Thạnh, Phước Thọ, Phước Hòa Long), tạo lá chắn ngăn chặn lực lượng cách mạng từ ngoài vào. Từ đầu năm 1969, quân Ôxtrâylia dùng xe cơ giới ủi phá địa hình xây dựng 36 ụ ngầm, có chiều dài 15km. Các ụ ngầm làm bằng xi măng, hai phần ba ụ ngầm chìm dưới đất. Mỗi ụ ngầm có lỗ châu mai sát mặt đất. Loại ụ lớn có một tiểu đội canh giữ, ụ nhỏ có nửa tiểu đội. Khoảng cách các ụ lớn 300 đến 500 mét, xen giữa các ụ lớn là ụ nhỏ cách nhau 100 đến 200 mét. Các ụ liên lạc với nhau bằng điện thoại. Bao quanh ụ lớn là một phần rào "bùng nhùng", ụ nhỏ là một lớp rào đơn. Tiếp giáp với lớp rào gai của từng ụ là con đường đất rộng khoảng 8 mét để xe tăng cơ động chi viện khi bị tiến công. Bên ngoài đường xe tăng là hệ thống hàng rào kẽm gai có bề dày 20 mét, phía dưới có chôn mìn. Ngoài cùng là vòng cung giao thông hào rộng 1,5 mét, trên bờ cắm chông, gài mìn1. Ban đêm có hệ thống đèn pha sáng rực. Làm xong hệ thống ụ ngầm, quân Ôxtrâylia từng bước quay vào trong xã ấp đẩy mạnh lùng sục, căng dây chia ô, xăm hầm bí mật để phát hiện, tìm diệt cán bộ cách mạng bám trụ bên trong, nhưng hầu hết đều bị du kích các xã đánh trả quyết liệt.

        Ngày 24 tháng 6 năm 1969, quân Ôxtrâylia càn quét vào chòm đầu xã Phước Hòa Long. Đội du kích xã đã mưu trí gài mìn E3, tổ chức bắn tỉa, dồn địch vào bãi mìn, diệt gọn một trung đội Ôxtrâylia. Ngày 4 tháng 7 năm 1969, du kích xã Phước Hòa Long lại đánh địch bằng mìn E3, diệt gọn một trung đội Ôxtrâylia khác. Tại Phước Thọ, ngày 13 tháng 7, du kích xã bám hầm bí mật, bất ngờ dùng lựu đạn đánh thiệt hại nặng một tiểu đội quân Ôxtrâylia đi lùng sục, xăm hầm2.

        Hệ thống ụ ngầm bao quanh ba xã vùng đất đỏ là một thủ đoạn chiến thuật mới của quân Ôxtrâylia, thay thế cho hàng rào mìn M16-E3 đã bị quân và dân Long Đất vô hiệu hóa. Tình huống khó khăn mới lại đặt ra đối với lực lượng cách mạng: đường giao thông liên lạc từ căn cứ huyện vào ba xã bị cắt đứt, lương thực và đồ dùng từ bên trong không chuyển ra ngoài căn cứ được.

        Trước những thủ đoạn mới của quân Ôxtrâylia, Tỉnh ủy Bà Rịa - Long Khánh giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 445 phối hợp với lực lượng vũ trang huyện Long Đất và du kích các xã vùng Đất Đỏ quyết tâm phá ụ ngầm.

        Trận đầu tiên đánh phá ụ ngầm, du kích xã dẫn Tiểu đoàn 445 vào, dùng ĐKZ bắn phá ụ ngầm nhưng không hiệu quả vì ụ chìm dưới đất. Bộ đội bị địch phản pháo, một số chiến sĩ bị thương vong. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 445 cùng lực lượng vũ trang huyện Long Đất đã huấn luyện kỹ thuật đặc công cho bộ đội để phá ụ ngầm. Ngày 21 tháng 9 năm 1969, du kích Phước Thọ dẫn một tổ của Tiểu đoàn 445 vượt qua ấp Phước Sơn vào sát chốt Da Quy, dùng bộc phá phá tan bốn ụ, thu bốn súng3. Lính địch chốt giữ tại đây hoàn toàn bị bất ngờ. Từ chi khu Đất Đỏ, pháo Niu Dilân bắn sát ngay trận địa. Xe tăng Ôxtrâylia từ Da Quy tiến đến bịt kín các nẻo đường từ Đất Đỏ ra. Bộ đội và du kích thương vong nhiều do công tác tiềm nhập chưa an toàn.

        Rút kinh nghiệm trận đầu, lần sau, bộ đội và du kích hoàn toàn dùng kỹ thuật tiềm nhập của đặc công: bí mật cắt rào, bò vào sát các ụ, đặt bộc phá xong, dòng dây ra chập điện. Sau đó dùng bộc phá ống để phá rào. Cách làm đó bảo đảm an toàn tuyệt đối khi tác chiến. Đêm 28 tháng 9, bộ đội và du kích phá tan 5 ụ khác, diệt 19 lính chốt giữ, thu 14 súng và rút lui an toàn4. Kết hợp với mũi quân sự, Huyện ủy Long Đất còn chỉ đạo các chi bộ đẩy mạnh công tác binh vận, làm hoang mang tinh thần lính chốt giữ. Nhiều tên hoảng sợ, ban đêm không dám ngủ trong ụ ngầm. Tuy nhiên, quân Ôxtrâylia cũng hết sức ngoan cố. Bộ đội và du kích đánh sập ụ nào, chúng làm lại ụ đó, đồng thời tăng cường khủng bố, bắt bớ nhân dân xung quanh nếu tình nghi là cơ sở của "Việt cộng". Bên ngoài, chúng tung quân phục kích nhiều nơi chống lực lượng cách mạng đột nhập.

        Tháng 10 năm 1969, Tiểu đoàn 445 và Huyện ủy Long Đất chỉ đạo mở đợt ba tổng công kích phá ụ ngầm. Với 13 khối chất nổ, mỗi khối nặng 5kg, trong một đêm, bộ đội đã phá tan 12 ụ ngầm. Cơ sở mật lãnh đạo nhân dân dùng dụng cụ thô sơ phá tan 4 ụ khác.

        Trước thế tiến công của các lực lượng cách mạng, quân Ôxtrâylia điều một đại đội về đóng chốt tại Phước Hòa Long nhằm tạo tuyến ngăn chặn lực lượng ta từ căn cứ Minh Đạm phát triển vào Đất Đỏ. Hoạt động của quân Ôxtrâylia không thoát được mạng lưới trinh sát nhân dân của cơ sở ở Đất Đỏ.

-----------------
         1. Lịch sử Bà Rịa - Vũng Tàu kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr. 323.

         2. Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Long Đất, Nxb Đồng Nai, 1986, tr. 168.

         3, 4. Lịch sử Bà Rịa - Vũng Tàu kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr. 324.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:07:24 AM

        Có cơ sở ở bên trong, Tiểu đoàn 445 tiếp tục tiến công, tập kích diệt gọn đại đội quân Ôxtrâylia. Khác với quân đội Sài Gòn, quân Ôxtrâylia phản kích rất nhanh khi bị tiến công. Xe tăng của quân đội Ôxtrâylia từ căn cứ Da Quy kéo lên vây chặt vùng đất đỏ, chặn đường rút của Tiểu đoàn 445. Từ chi khu Đất Đỏ và căn cứ Da Quy, pháo của quân đội Niu Dilân dội cấp tập vào trận địa. Pháo sáng treo lơ lửng soi sáng các cánh đồng An Nhứt, Đất Đỏ. Tiểu đoàn nhanh chóng rút khỏi trận địa trước khi quân Ôxtrâylia khép chặt vòng vây, nhưng hai tiểu đội trinh sát đã bị kẹt bên trong chưa ra được. Trước tình thế tiến, lui đều không được, cơ sở mật đã khéo léo đưa hai tiểu đội núp vào trong nọc rơm lớn trước nhà mình. Quân Ôxtrâylia lùng sục khắp nơi nhưng không phát hiện được. Đêm hôm sau, hai tiểu đội vượt vòng vây về căn cứ an toàn.

        Sau ba đợt công kích phá ụ ngầm, Tiểu đoàn 445 và bộ đội địa phương huyện Long Đất phối hợp với du kích các xã phá tan 25 ụ trong số 36 ụ ngầm của địch. Nhờ đó, bộ đội vượt lộ 23, lộ 52 vào vùng đất đỏ dễ dàng hơn; việc xây dựng cơ sở trong ấp được đẩy mạnh. Những khó khăn về lương thực từng bước được tháo gỡ. Trong năm 1969, Tiểu đoàn 445 cùng quân và dân Long Đất đã đánh bại hoàn toàn chiến thuật "ụ ngầm" của quân Ôxtrâylia ở Đất Đỏ, đồng thời sử dụng thành thạo mìn Ôxtrâylia (lấy trong hàng rào mìn) và đạt hiệu quả cao trong việc bảo vệ căn cứ, đánh địch. Quân và dân Bà Rịa - Long Khánh diệt và làm tan rã một bộ phận quân Ôxtrâylia, Mỹ, quân đội Sài Gòn gồm 24.136 tên, diệt gọn 3 đại đội (có 1 đại đội quân Ôxtrâylia), 9 trung đội (có 2 trung đội Ôxtrâylia, 1 trung đội Mỹ), diệt 44 xe tăng và xe cơ giới, bắn hạ 4 máy bay...1.

        Đầu năm 1970, quân Ôxtrâylia lại áp dụng một chiến thuật mới "hàng rào - lá chắn". Dựa vào vòng cung ụ ngầm cũ, ban đêm quân Ôxtrâylia phối hợp với quân đội Sài Gòn dựa vào hệ thống bãi mìn và lính phục kích bao quanh ba xã vùng đất đỏ, theo đội hình lượn sóng (cụm gần, cụm xa). Cứ 3 đến 5 mét có một lính nằm phục kích sử dụng hàng chục quả mìn các loại; cách 10 đến 15 mét có một cụm hỏa lực sẵn sàng "bồi cấp tập" khi có mìn nổ. Ngoài ra, quân Ôxtrâylia còn đặt cả "cây nhiệt đới" ở những chỗ khó phục kích. Sáng sớm, lính được rút hết đi, mìn gỡ... không một ô, ụ, hầm hố nào để lại dấu vết.

        Rút kinh nghiệm từ các chiến thuật trước, quân Ôxtrâylia được đưa vào làm nòng cốt đánh phá cả bên ngoài và bên trong. Từ ngày 10 tháng 2 năm 1970, một tiểu đoàn quân hỗn hợp Mỹ - Ôxtrâylia, có pháo Niu Dilân yểm trợ và hơn 40 xe tăng, đánh liên tục vào căn cứ Minh Đạm. Đi đôi với càn quét, quân Ôxtrâylia và Mỹ tiến hành ủi phá địa hình, mở rộng đường 44 thêm 1 mét, đường 44 hậu thêm 10 mét để có thể cơ động nhanh, phản kích vào căn cứ cách mạng, dùng xe cơ giới ủi phá rừng từ Dinh Cố đến Nước Ngọt. Căn cứ Minh Đạm trở thành mục tiêu bắn phá thường xuyên của quân Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn.

        Máy bay chiến lược B52 xuất kích hàng chục lần chiếc hàng tháng, trút bom xuống Minh Đạm (có cả loại bom 5 tấn). Các khu rừng Phước Lợi, Hội Mỹ, Đất Đỏ bị rải chất độc hóa học tàn phá nhằm hủy diệt địa hình, phá thế bám trụ của lực lượng cách mạng.

        Bên ngoài, quân Ôxtrâylia tung biệt kích chà xát vùng căn cứ huyện, xã và các tuyến hành lang từ căn cứ vào xã, ấp. Ban ngày, từng toán quân Ôxtrâylia "banh lùm, vạch bụi", ban đêm dàn xe tăng và biệt kích làm "lá chắn" phía ngoài Đất Đỏ. Quân Ôxtrâyliacòn cho xây mới hệ thống ụ ngầm dọc lộ 44 và Long Hải, lập cụm dã chiến ở Động Đền (Phước Hải).

        Bên trong "ấp chiến lược", quân Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn ra sức củng cố lại bộ máy tề xã, ấp; bắt ép thanh niên vào lực lượng phòng vệ dân sự, phòng vệ xung kích, từng bước thay thế bảo an, dân vệ canh gác ấp. Bảo an cùng với lính Ôxtrâylia tiến hành "bình định", lùng sục, xăm xét trong ấp dò tìm hầm bí mật. Vùng nào, ấp nào đã nghi ngờ có hầm bí mật, quân Ôxtrâylia lập tức cô lập, căng dây chia ô, dùng cây sắt xăm tìm nắp hầm cho bằng được. Vừa đánh phá dã man, quân Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn vừa tiến hành mị dân bằng nhiều hình thức như xây dựng trường học, trạm xá, xây dựng các võ ca ở đình làng dưới chiêu bài "phục hưng truyền thống làng xã", phát triển mê tín dị đoan để ru ngủ nhân dân.

        Như vậy, rõ ràng mục tiêu đánh phá của quân Ôxtrâylia ở Long Đất vẫn là "bình định" bên trong xã ấp, tách dân với cách mạng, bao vây kinh tế đối với cách mạng. Bên ngoài thì kết hợp bom, pháo (kể cả pháo hạm từ ngoài khơi bắn vào), bộ binh bắn vào Minh Đạm, ủi phá địa hình, tạo vành đai trắng, cô lập căn cứ để diệt lực lượng cách mạng.

-----------------
         1. Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Long Đất, Nxb Đồng Nai, 1986, tr. 174.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:08:50 AM

        Chiến thuật "hàng rào - lá chắn" thực sự nguy hiểm hơn cả "ụ ngầm". Biệt kích Ôxtrâylia nằm án ngữ dày đặc. Các lực lượng vũ trang tỉnh ở khu vực Long Điền, Đất Đỏ đột nhập ấp hầu như không đêm nào vào lọt. Số lượng người bị thương vong, bị bắt ngày một nhiều. Người chết thường không lấy được xác. Có đêm, Huyện ủy Long Đất từ căn cứ Minh Đạm tổ chức 7 mũi đột nhập vào ấp đều bị trúng ổ phục kích của quân Ôxtrâylia. Đêm 15 tháng 1 năm 1970, một đoàn cán bộ huyện trên đường vào Long Điền xây dựng cơ sở đụng biệt kích Ôxtrâylia, 7 người hy sinh, 3 huyện ủy viên mất tích. Đêm 16 tháng 2, Tiểu đoàn 445 phối hợp với cán bộ huyện vào ấp lấy lương thực đụng "lá chắn Ôxtrâylia", hy sinh 12 người. Đêm 27 tháng 2, một đoàn công tác cán bộ của huyện trụ trong thị trấn Long Điền ra căn cứ, bị địch phục kích hy sinh 8 người...

        Trong suốt năm 1970, chiến thuật "hàng rào - lá chắn" của Ôxtrâylia đã gây nên tình hình cực kỳ căng thẳng. Cán bộ, chiến sĩ Long Đất hy sinh tới 245 người. Bên trong, 188 cơ sở, quần chúng yêu nước bị bắt bớ, tù đày, 162 thanh niên bị bắt đi lính1. Lương thực bị thiếu nghiêm trọng. Cán bộ, chiến sĩ phải ăn măng, ăn lá tàu bay mà chiến đấu, cháo loãng chỉ dành cho thương binh.

        Trước tình hình trên, Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 445 và huyện Long Đất tìm biện pháp chống lại "chiến thuật lá chắn" của quân Ôxtrâylia. Được sự giúp đỡ của nhân dân, du kích địa phương, các chiến sĩ Tiểu đoàn 445 đã tìm cách đánh phản phục kích. Với tinh thần xung phong, bộ đội đã cử ra các tổ "cảm tử" đi đầu "làm mồi". Khi đụng địch, tổ cảm tử sẵn sàng hy sinh để lực lượng chính phía sau phát hiện hoả điểm, lợi dụng nơi phục kích của địch, tiến hành dùng hoả lực đánh phản kích diệt địch; sau đó vào thẳng ấp lấy lương thực và phát động quần chúng. Gần sáng, tổ lại theo đường cũ rút về căn cứ an toàn.

        Cách đánh phản phục kích vô cùng táo bạo và dũng cảm đó được phổ biến rộng khắp trong địa phương để áp dụng. Nhiều đêm liền, các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với Tiểu đoàn 445 đánh phản phục kích liên tục. Đêm nào cũng phơi trên sương gió, đêm nào cũng bị tiến công mà không có công sự che chắn. Nhược điểm cơ bản của quân Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn là sợ chết đã bộc lộ. Do vậy, khi bị bắt buộc phải đi phục kích ban đêm, lực lượng này phải đào công sự để ẩn nấp. Điều đó đã giúp cho lực lượng cách mạng biết là có địch để tập kích hoặc cắt vòng đường khác mà đột nhập ấp. Khi lực lượng cách mạng đã ra vào ấp bình thường thì chiến thuật "hàng rào - lá chắn", "ụ ngầm" của quân Ôxtrâylia coi như bị phá sản.

        Để đánh "lá chắn" Ôxtrâylia, bộ đội huyện, du kích xã cùng bộ đội tỉnh bám sát địch, vừa phục kích, tập kích, phản phục kích kết hợp gài mìn trên lộ giao thông, trong rừng, diệt xe cơ giới và bộ binh Ôxtrâylia, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Từ mìn E3 của quân Ôxtrâylia, cán bộ, chiến sĩ huyện Long Đất đã biến thành vũ khí diệt quân Ôxtrâylia. Đây là một sáng tạo, thể hiện ý chí quyết tâm, tư tưởng tiến công, mưu trí của quân và dân huyện Long Đất.

        Ngày 17 tháng 4 năm 1970, quân Ôxtrâylia càn vào căn cứ Minh Đạm, nhưng khi vừa đến chùa Châu Viêm thì sa vào bãi mìn E3, 8 lính Ôxtrâylia thiệt mạng, 14 bị thương2. Quân Ôxtrâylia phải cho trực thăng xuống chở xác đồng bọn và rút lui.

        Phong trào đánh quân Ôxtrâylia bên ngoài, đánh "bình định" bên trong diễn ra sôi nổi trong khắp huyện Long Đất. Trong hai đêm 16 và 17 tháng 4, du kích và nhân dân 3 xã Đất Đỏ cắt phá 862 mét kẽm gai, bẻ 23 trụ sắt quanh "ấp chiến lược". Hai "ấp chiến lược" Phước Thọ, Phước Thạnh bị phá rã hoàn toàn. Ngày 26 tháng 4, du kích Hội Mỹ gài mìn phá hủy 1 xe quân sự địch trên lộ 52 sát đồn Chùa, diệt 5 lính Ôxtrâylia. Sau đó 4 ngày, Tiểu đoàn 445 được cơ sở mật Phước Lợi đưa vào ấp chặn đánh quân Ôxtrâylia đang đi càn. Một trung đội Ôxtrâylia lọt vào trận địa phục kích, 6 lính bị diệt, 14 lính khác bị thương3.

        Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu tập trung cho vùng trọng điểm Long Đất, Tiểu đoàn 445 đã tổ chức nhiều trận tập kích vào quân đội Ôxtrâylia ngay tại Đất Đỏ để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh quần chúng. Đêm 3 tháng 5, có cơ sở dẫn đường, Tiểu đoàn 445 tập kích vào cụm quân Ôxtrâylia đóng tại Đất Đỏ. Quân Ôxtrâylia được sự chi viện của pháo Niu Dilân bắn trả quyết liệt vào trận địa. Tiểu đoàn tổ chức nhiều mũi bao vây, chia cắt địch, diệt gọn một trung đội Ôxtrâylia, tiêu hao một trung đội khác. Trận đánh gây tác động tâm lý lớn. Lực lượng tề ngụy ở Đất Đỏ hoang mang nhốn nháo.

        Sau khi các chiến thuật "ụ ngầm", "hàng rào - lá chắn" bị thất bại, việc "bình định cấp tốc" cũng không có hiệu quả, quân Ôxtrâylia lại quay sang mở các cuộc càn lớn lên căn cứ Minh Đạm nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến.

-----------------
         1. Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Long Đất, Sđd, tr. 177.

         2, 3. Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Long Đất, Sđd, tr. 181.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:10:04 AM

        Giữa tháng 6 năm 1970, quân Ôxtrâylia mở trận càn quy mô lớn vào căn cứ Minh Đạm. Ngày 14 tháng 6, máy bay, pháo Niu Dilân kết hợp với pháo hạm ngoài khơi bắn phá cấp tập vào căn cứ. Dưới chân núi, xe tăng, xe ủi, xe cơ giới Ôxtrâylia triển khai phá ủi địa hình và hộ tống cho bộ binh càn lên núi. Ngay ngày đầu, du kích Long Mỹ đã dùng mìn E3 gài phá hỏng một số xe địch tại sở Bông. Bộ đội huyện tích cực củng cố công sự, bãi mìn E3 trên căn cứ, sẵn sàng đánh địch.

        Ngày 17 tháng 6, quân Ôxtrâylia lên đến suối Ngọc Tuyền. Bộ đội huyện nổ súng chặn đánh, buộc quân Ôxtrâylia phải co lại. Sáng ngày 18 tháng 6, quân Ôxtrâylia tiếp tục dò và dùi từng mũi lên núi (nơi cửa hang). Bộ đội lúc ẩn, lúc hiện nhử địch vào bãi mìn E3 đã bố trí sẵn. Quân Ôxtrâylia sa vào các bãi mìn và lựu đạn ta gài, trên 30 lính bị loại khỏi vòng chiến đấu1. Quân Ôxtrâylia phải dùng nhiều chuyến trực thăng xuống lấy xác.

        Qua ngày 19 tháng 6, quân Ôxtrâylia tiến vào hướng phục kích, bị hỏa lực bộ binh bắn mãnh liệt, dồn chúng vào bãi mìn. Tại đây, một trung đội 28 lính Ôxtrâylia bị thương vong. Sau 6 ngày dốc lực càn quét lên núi Minh Đạm, quân Ôxtrâylia bị tổn thất nặng, buộc phải thu quân xuống núi, chấm dứt cuộc hành quân.

        Thất bại ở Minh Đạm, quân Ôxtrâylia phải quay về ấp cùng với quân đội Sài Gòn làm nhiệm vụ "bình định". Tại vùng Đất Đỏ, quân Ôxtrâylia dùng dây phân từng ô 100 mét vuông, sử dụng cây xăm từ ngoài vào nhà dân, không chừa một ngóc ngách nào để tìm hầm bí mật. Những cuộc lùng sục của quân Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn trong "ấp chiến lược" vẫn không diệt hết được "tai mắt" cách mạng bên trong. Cuối năm 1970, cơ sở Phước Hòa Long đưa lực lượng Tiểu đoàn 445 về phục kích phía ngoài ấp. Một đại đội Ôxtrâylia đi càn đã lọt vào trận địa phục kích. Kết quả, chỉ sau 4 phút chiến đấu, cả đại đội địch bị đánh thiệt hại nặng, ta diệt tại chỗ 45 địch (trong đó có tên trung úy, Đại đội trưởng), bắt 6 tên (có tên thiếu úy, Đại đội phó), thu 48 súng các loại, ba máy PRC25, 2 máy điện thoại, nhiều đồ dùng và lương thực1... Tại Phước Lợi, du kích xã dùng mìn E3 diệt gọn một Tiểu đội lính Ôxtrâylia càn vào căn cứ...

        Sau trận đánh của Tiểu đoàn 445, quân Ôxtrâylia phán đoán được hướng hoạt động của tiểu đoàn. Một mặt, quân Ôxtrâylia tăng cường đánh phá, "bình định" quyết liệt địa bàn Long Đất, mặt khác chúng tung lực lượng để phát hiện, tìm diệt, nhằm xoá sổ Tiểu đoàn 445. Đã có lúc tiểu đoàn lọt vào vòng vây của quân Ôxtrâylia, nhưng nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, tiểu đoàn tiếp tục sát cánh cùng lực lượng vũ trang Xuyên Mộc đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị và vũ trang tiêu diệt địch, phá lỏng thế kìm kẹp của chúng.

        Suốt trong năm 1970, quân Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn liên tục dùng bom phá đánh vào căn cứ Long Đất hòng ngăn chặn lực lượng cách mạng bằng "hàng rào - lá chắn", gây thiệt hại và khó khăn cho phong trào. Nhưng Đảng bộ và quân dân huyện Long Đất vẫn đứng vững trên địa bàn. Bằng phong trào du kích chiến tranh, quân dân huyện Long Đất đã diệt và làm bị thương 1.211 địch (có 527 lính Ôxtrâylia), phá rã hệ thống phòng vệ dân sự của địch với 1.119 tên, bắn rơi 10 máy bay, phá hủy 61 xe cơ giới, xe ủi...2.

        Bước sang năm 1971, quân Ôxtrâylia vẫn tiếp tục thực hiện chiến thuật "hàng rào - lá chắn", nhưng với mức độ hạn chế hơn, chủ yếu là dùng xe tăng và biệt kích để làm hàng rào ngăn chặn lực lượng cách mạng từ căn cứ vào bên trong xã, ấp hoạt động. Sau gần bốn năm được giao nhiệm vụ "bình định" tỉnh Bà Rịa, mà trọng điểm là Long Đất, với những thiệt hại lớn mà kết quả không như mong muốn, quân lính Ôxtrâylia đều mang tâm trạng ngao ngán, chờ về nước. Để từng bước đưa quân đội Sài Gòn thay mình trên chiến trường Long Đất, Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia tích cực huấn luyện chiến thuật "đánh du kích" cho lực lượng bảo an. Tại Bàu Lùn, chính quyền Sài Gòn cho mở trường huấn luyện cấp tiểu đoàn cho lính ngụy Lon Non (Campuchia) do người Ôxtrâylia đào tạo và sử dụng lực lượng này đi thực tập càn quét ở các lộ 23, 44.

        Dưới sự huấn luyện, cố vấn của quân Ôxtrâylia, đầu năm 1971, chính quyền Sài Gòn đưa Tiểu đoàn 302 bảo an chiếm đóng lộ 44 tiền và 44 hậu, điều Liên đoàn bảo an 347 đóng đồn bốt dọc lộ 52, 44 hậu, đồng thời sử dụng lực lượng bảo an bung ra thành từng toán nhỏ, gài mìn theo đường mòn làm lá chắn bên ngoài, từng bước thay thế quân Ôxtrâylia đánh phá vùng đồng bằng và căn cứ Minh Đạm. Năm 1971, ở Long Đất, Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia còn một tiểu đoàn bộ binh được pháo binh Niu Dilân yểm trợ. Ngoài ra, ở đây còn có 11 đại đội bảo an, 1 đại đội của Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn, 3 đại đội và 12 trung đội dân vệ, 110 tề ấp xã, 60 cảnh sát, 20 biệt kích, 153 nhân viên bình định nông thôn, 1 tiểu đoàn lính ngụy Lon Non, 4 đại đội học viên ở Trường huấn luyện Long Hải, 897 phòng vệ dân sự.

-----------------
         1. Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Lịch sử Tiểu đoàn 445 (1965-2004), Sđd, tr. 156.

         2. Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Long Đất, Sđd, tr. 185.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:10:32 AM

        Với những cố gắng cuối cùng trước khi rút quân về nước, tháng 6 năm 1971, quân Ôxtrâylia phối hợp với quân Mỹ và quân đội Sài Gòn quyết tâm mở một trận càn lớn vào căn cứ Minh Đạm. Mục đích của trận càn nhằm: Một là, tiêu diệt cho được cơ quan đầu não kháng chiến huyện Long Đất, sau đó bàn giao lại cho quân đội Sài Gòn chốt giữ trên núi; hai là, bảo đảm an toàn cho hành lang rút quân của Mỹ và quân đồng minh trên lộ 23 và lộ 15.

        Trận càn với quân Mỹ là chủ công, mở đầu bằng những đợt trút bom của máy bay và pháo bắn dồn dập vào căn cứ Minh Đạm. Bộ binh Mỹ được trực thăng đổ xuống núi. Phía dưới đồng bằng, xe tăng Ôxtrâylia và lực lượng quân đội Sài Gòn triển khai càn quét và ủi phá rừng ác liệt.

        Ngày đầu tiên, sau các đợt phi pháo, bộ binh Mỹ tiến hành đánh chiếm cửa hang. Bộ đội huyện bố trí sẵn hoả lực để đánh phủ đầu khi quân Mỹ vừa đổ bộ, sau đó dùng hoả lực tiếp tục khống chế để đánh dạt quân Mỹ vào các bãi mìn đã bố trí, diệt nhiều sinh lực địch.

        Sang ngày thứ tư, địch dùng máy bay chiến lược B52 oanh tạc liên tục từ 12 giờ đến 15 giờ. Thâm độc hơn, lần này Mỹ còn thả các loại bom bi có hơi cay cho lọt xuống hang, buộc lực lượng cách mạng phải rời hang.

        Trong lúc đó, ở dưới đồng bằng chân núi, đội công binh trinh sát huyện bám sát các xe cơ giới của quân đội Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn đang ủi phá rừng. Các chiến sĩ dùng mìn tự tạo ĐH10, mìn E3 bó lại ba quả một, gài theo các đường ủi. Ban ngày địch ủi, ban đêm bộ đội công binh dò từng bụi chồi, từng gốc cây để đặt mìn. Hơn 20 xe tăng, xe ủi của địch bị ta phá hỏng nặng, hạn chế nhiều sức tiến công của chúng. Bộ đội huyện, trinh sát tỉnh và du kích các xã tổ chức nhiều trận tập kích quân Ôxtrâylia và bảo an đang án ngữ dưới đồng bằng. Có trận, bộ đội ta diệt gọn cả một tiểu đội quân Ôxtrâylia.

        Địch liên tục càn quét hết ngày này sang ngày khác. Trước mỗi trận càn, địch dùng phi pháo oanh tạc dữ dội, sau đó cho máy bay đổ quân càn quét, nhưng lần nào chúng cũng bị ta đánh bật ra. Sau 25 ngày dốc lực càn quét, đánh phá, bị thương vong lớn lại không thực hiện được ý đồ, liên quân Mỹ, Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn phải kết thúc cuộc càn.

        Từ đầu năm 1971, đi đôi với chiến thuật bung quân ra ngoài làm "lá chắn", quân Ôxtrâylia còn sử dụng máy bay trực thăng cánh quạt làm dạt cây cối, vạch tìm nơi bám trụ của lực lượng cách mạng, nhất là vùng căn cứ Minh Đạm. Huyện ủy Long Đất chỉ đạo cho toàn lực lượng kiên quyết bắn hạ máy bay, mở nhiều lớp huấn luyện bắn máy bay, xây dựng nhiều ụ phòng không trên căn cứ để bắn hạ các loại máy bay trinh sát hoặc máy bay bắn phá vào Minh Đạm. Huấn luyện xong, huyện mở từng đợt săn máy bay từ 3 đến 5 ngày. Trong tháng 4 năm 1971, cơ quan Huyện ủy đã bắn hạ 1 trực thăng H25; Đại đội 1 Tiểu đoàn 445 hạ 1 máy bay HU1A và phi hành đoàn (4 người) Ôxtrâylia; Đại đội 25 bộ đội huyện bắn hạ 1 HU1A. Đặc biệt, du kích xã Hội Mỹ với súng cá nhân đã bắn hạ được máy bay địch. 7 giờ sáng ngày 4 tháng 4 năm 1971, khi máy bay trinh sát L19 bay sát mặt biển vừa tới Lộc An, 5 du kích xã đã nổ súng. Máy bay L19 bị thương phải gọi điện cấp cứu. Một trực thăng khác tới yểm trợ nhưng cũng bị trúng đạn, rơi xuống biển, 1 phi công Ôxtrâylia chết. Một lúc sau, 4 chiếc trực thăng khác được phái đến nhưng cũng bị bắn trả, làm một chiếc nữa trọng thương. Đội du kích rút về an toàn.

        Kế hoạch của Mỹ và quân Ôxtrâylia lại một lần nữa phá sản. Từ sau đợt này, không một chiếc máy bay nào dám bay ngang qua căn cứ Minh Đạm, kể cả máy bay xuất phát từ đất liền và từ hạm tàu đậu ngoài Biển Đông.

        Tuy nhiên, tại Long Đất, quân Ôxtrâylia vẫn tích cực huấn luyện quân bảo an, đồng thời thực hiện những nỗ lực quân sự cuối cùng; tổ chức càn vào các căn cứ lõm ở Hội Mỹ, Long Mỹ, Phước Hoà Long,... để đánh phá căn cứ cách mạng. Những cố gắng cuối cùng của quân Ôxtrâylia trên chiến trường miền Nam Việt Nam đương nhiên không thể mang lại kết quả khả quan nào. Ngược lại, quân và dân Long Đất đã sử dụng thành thạo biện pháp "gậy ông đập lưng ông", giáng những đòn đích đáng vào quân đồng minh Ôxtrâylia.

        Tháng 9 năm 1971, tại Trảng Dầu (Hội Mỹ), hai đại đội Ôxtrâylia có xe tăng yểm trợ càn vào ủi phá địa hình. Đại đội đi đầu chưa vào đến căn cứ đã đạp trúng mìn E3 do du kích gài sẵn. Gần một trung đội bị loại khỏi vòng chiến đấu. Số còn lại hốt hoảng xông lên lấy xác đồng bọn, tiếp tục trúng mìn E3. Cuộc hành quân cuối cùng của quân Ôxtrâylia trở thành một cuộc chuyển thương với 69 xác chết, trong đó có một trung tá, Tiểu đoàn trưởng1.

        Tính từ năm 1967, các loại mìn E3, mìn Jip, mìn căng dây, lựu đạn,... của quân Ôxtrâylia gài ở Long Đất đã đóng góp không nhỏ cho quân và dân huyện những vũ khí đánh lại quân Ôxtrâylia có hiệu quả cao. Trước những tổn thất không thể làm ngơ (386 tên chết, 2.193 tên bị thương), tháng 11 năm 1971, trước khi rút về nước, quân Ôxtrâylia phải ngậm ngùi cho xe ủi xuống Đất Đỏ đào hố và chôn sâu vào lòng đất bãi mìn M16-E3 do họ làm ra.

        Hơn 4 năm được Mỹ giao cho nhiệm vụ "bình định" tại Long Đất, hơn hai tiểu đoàn Ôxtrâylia đóng quân tại đây đã bị đánh thiệt hại nặng. Tham vọng của quân Ôxtrâylia biến Long Đất thành một vùng bình định an toàn, kiểu mẫu ở miền Đông đã bị quân dân Long Đất đập tan. Dư luận nhân dân tiến bộ trong nước và Quốc hội Ôxtrâylia lên án mạnh mẽ phe hiếu chiến trong Chính phủ đã đẩy nhiều thanh niên Ôxtrâylia vào chỗ chết vô lý, chết do chính vũ khí mình làm ra.

        Những thất bại trên chiến trường Bà Rịa cộng với sự lên án của nhân dân tiến bộ trong nước đã buộc Chính phủ Ôxtrâylia phải "xuống thang". 20 giờ 30 phút ngày 18 tháng 8 năm 1971, Thủ tướng Ôxtrâylia chính thức công bố trước Quốc hội, quyết định rút tất cả lực lượng tác chiến Ôxtrâylia khỏi Nam Việt Nam, bắt đầu từ tháng 12 năm 1971.

-----------------
         1. Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Long Đất, Sđd, tr. 198.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:13:17 AM

        3. Phản ứng của các tầng lớp nhân dân tiến bộ Ôxtrâylia đối với chính sách chiến tranh của Chính phủ và quá trình rút quân về nước.

        Ngay từ khi Chính phủ Ôxtrâylia đưa lực lượng bộ binh sang tham chiến trực tiếp tại Nam Việt Nam, ngày 22 tháng 10 năm 1965, đã có hàng trăm nghìn người dân Xítni xuống đường biểu tình chống chiến tranh. 65 người trong đoàn biểu tình đã bị chính quyền Ôxtrâylia bắt giam. Cũng trong thời gian này, theo báo cáo điều tra của Viện Galớp, chỉ có 56% người dân Ôxtrâylia ủng hộ cuộc chiến tranh của Mỹ và quân đồng minh ở Việt Nam1. Đặc biệt, sau thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 trên toàn miền Nam, Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Pari và xuống thang chiến tranh từng bước, sự nghi ngờ của người dân Ôxtrâylia và người Mỹ về khả năng giành chiến thắng của quân đội họ ở Việt Nam càng có thêm cơ sở thực tiễn. Đó cũng là bước ngoặt đánh dấu sự thay đổi chính sách của Chính phủ Ôxtrâylia đối với cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam. Các lực lượng đối lập và tầng lớp nhân dân tiến bộ trong nước đã tổ chức nhiều hoạt động phản đối việc Chính phủ Ôxtrâylia tiếp tục chính sách can thiệp vào cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Nam Việt Nam.

        Quá trình này đặc biệt gia tăng vào cuối năm 1969, khi Mỹ có những động thái mới cho kế hoạch triển khai lại lực lượng quân viễn chinh tại Nam Việt Nam. Ngày 16 tháng 12 năm 1969, hơn 200 nhân viên bán hàng và 32 lãnh tụ nghiệp đoàn lao động đại diện cho hơn 1,5 triệu cử tri Ôxtrâylia đã thông qua nghị quyết phản đối sự tham gia của quân đội Ôxtrâylia trong cuộc chiến tranh này2.

        Cùng với nghị quyết trên, họ còn ra một nghị quyết khác kêu gọi binh sĩ Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam hãy buông súng xuống và khước từ chiến đấu. Ngày hôm sau, Thư ký Hội đồng thương mại Ôxtrâylia đã chỉ trích nghị quyết này và cho đây là những "lời kêu gào nổi loạn".

        Để xoa dịu dư luận và lực lượng đối lập, ngày 16 tháng 12 năm 1969, Thủ tướng Ôxtrâylia đã đọc một bài diễn văn trên truyền hình, trong đó tuyên bố sẽ có kế hoạch cắt giảm quân trong năm 1970 cùng với quân đội Mỹ và các nước đồng minh khác đang tham chiến tại Nam Việt Nam.

        Cuộc thảo luận công khai đầu tiên giữa Ôxtrâylia và Mỹ về việc rút lực lượng quân đội Ôxtrâylia về nước được tổ chức vào ngày 28 tháng 1 năm 1970. Đây là cuộc gặp gỡ giữa Tham mưu trưởng lực lượng Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam và Phụ tá tham mưu trưởng, Trưởng phòng 5 của MACV để thảo luận về ý định rút quân của Ôxtrâylia. Tham mưu trưởng lực lượng Ôxtrâylia xác nhận không rút hết quân trong tháng 4 hoặc tháng 5 năm 1970 mà sẽ rút dần từng bước. Theo ông ta, sẽ chỉ có một tiểu đoàn được rút về và nhịp độ rút quân trong tương lai sẽ tùy thuộc vào hành động của Mỹ.

        Sau cuộc thảo luận trên, ngày 2 tháng 4 năm 1970, Nha huấn luyện của Bộ Tư lệnh viện trợ Mỹ và Tổng cục Quân huấn, quân đội Sài Gòn đã triệu tập Hội nghị bàn về việc thực hiện đề nghị của Ôxtrâylia nhằm gia tăng sự yểm trợ của Ôxtrâylia cho công tác huấn luyện binh sĩ quân đội Sài Gòn. Những điều khoản cụ thể và chính xác về việc rút quân chưa được quyết định, nhưng vấn đề huấn luyện cho lực lượng địa phương quân và dân vệ trong tỉnh Phước Tuy vẫn được thực hiện. Quan điểm của người Ôxtrâylia là những nỗ lực gia tăng huấn luyện trên sẽ gắn liền với những cuộc rút quân của Ôxtrâylia trong tương lai. Tại thời điểm này, hai bên vẫn chưa thỏa thuận được một cách dứt khoát về lịch trình rút quân cũng như tổng quân số sẽ rút về nước.

        Để phản đối thái độ thiếu dứt khoát của Chính phủ Ôxtrâylia trong vấn đề rút quân khỏi Nam Việt Nam, ngày 8 tháng 5 năm 1970, hơn 70.000 người dân đã tổ chức cuộc biểu tình lớn tại thành phố Menbơn. Ở các thành phố khác cũng diễn ra các cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam. Số người tham gia biểu tình lên tới 120.000 người3.

        Đến ngày 20 tháng 6 năm 1970, tình hình đã trở nên rõ ràng hơn khi chính quyền Ôxtrâylia tuyên bố sẽ không triển khai thêm Tiểu đoàn 8 thuộc Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia sang miền Nam Việt Nam vào cuối năm 1970 như đã dự tính từ trước nhưng chưa quyết định.

        Thay vào đó, Ôxtrâylia sẽ đưa một số nhân viên dân sự sang Nam Việt Nam, đồng thời rút một bộ phận Lực lượng đặc nhiệm ra khỏi Nam Việt Nam. Số quân còn lại ở Nam Việt Nam là 6.062 người. Song song với các bước rút quân, theo thoả thuận giữa Chính phủ Ôxtrâylia và chính quyền Sài Gòn, Ôxtrâylia sẽ viện trợ trực tiếp (khoảng 3,6 triệu đô la Ôxtrâylia) về quốc phòng cho quân đội Sài Gòn. Đây là giai đoạn 1 cuộc rút quân của Ôxtrâylia và những lần rút quân tiếp theo cũng được dàn xếp tương tự.

-----------------
         1. http://www.vvaa.org.au/index.htm, Vietnam veterans Association of Australia.

         2. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 111.

         3. http://www.vvaa.org.au/index.htm, Vietnam veterans Association of Australia.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:14:43 AM

         Trước sức ép của dư luận trong nước, ngày 30 tháng 3 năm 1971, Thủ tướng Ôxtrâylia tuyên bố tiếp tục cắt giảm quân Ôxtrâylia tại Việt Nam, gồm 1 đơn vị xe tăng, 1 phi đội máy bay Canbêra và một số máy bay vận tải. Và đến ngày 18 tháng 8 năm 1971, chính quyền Ôxtrâylia tuyên bố chính thức rằng, họ sẽ rút hết lực lượng tác chiến ra khỏi Nam Việt Nam trong vài tháng tới và chỉ để lại một đội huấn luyện quân sự. Phát biểu trên truyền hình vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 18 tháng 8 năm 1971, Thủ tướng Ôxtrâylia W. Mahon (Wiliam Mahon) xác định sẽ rút hết lực lượng tác chiến Ôxtrâylia khỏi Nam Việt Nam, bắt đầu từ tháng 12 năm 1971.

        Ngày 5 tháng 3 năm 1972, đơn vị hậu cần cuối cùng của quân Ôxtrâylia rời Vũng Tàu. ở Việt Nam chỉ còn lại một đội cố vấn 150 người giữ vai trò huấn luyện và lực lượng này cũng rút khỏi Nam Việt Nam vào ngày 8 tháng 12 năm 1972. Đến đây, sứ mạng tham chiến tại Nam Việt Nam của quân Ôxtrâylia đã chấm dứt hoàn toàn.

        Để bù đắp cho việc rút quân, chính quyền Ôxtrâylia cam kết viện trợ kinh tế một khoản 28 triệu đô la Ôxtrâylia cho các dự án công chính ở Nam Việt Nam trong ba năm. Số tiền này đưa tổng số chi phí tính bằng đô la Ôxtrâylia trong quá trình tham gia tích cực vào cuộc chiến tranh của Mỹ tại Nam Việt Nam lên gần 240 triệu đô la1.

        Quá trình tham gia chiến tranh Việt Nam, quân đội Ôxtrâylia chủ yếu hoạt động trên địa bàn Biên Hoà và sau đó là Bà Rịa - Vũng Tàu (tỉnh Phước Tuy của chế độ Sài Gòn). Trong hoạt động tác chiến, quân đội Ôxtrâylia đã lần lượt áp dụng các hình thức tác chiến hiện đại, từ chiến thuật "hàng rào mìn", "ụ ngầm", chiến thuật "hàng rào - lá chắn" đến những thủ đoạn bình định hết sức tinh vi; đồng thời cũng tỏ ra rất thành thạo trong chiến thuật phục kích, đột kích nhỏ từng toán, đánh biệt kích vào sâu vùng căn cứ của ta, trên các con đường mòn ta thường qua lại và các lối cửa rừng... Khi phát hiện lực lượng ta, tuỳ theo nhiều hay ít, mạnh hay yếu, quân Ôxtrâylia có thể tiến công hoặc gọi pháo đến bắn phá hủy diệt. Đặc biệt, các toán "đặc vụ đường không Ôxtrâylia" (SAS) thường được đánh giá rất cao trong nghệ thuật phục kích. Địch tung những toán SAS gồm 5 người vào hoạt động sâu trong lãnh thổ của ta kiểm soát. Bọn này rất thận trọng khi chọn vị trí phục kích, thường là một con đường mòn trong rừng có dấu hiệu người mới đi qua. Một số lính SAS sẽ nấp ở hai bên đường mòn khoảng 50 mét để phát hiện mục tiêu trong khi số còn lại đặt mìn sát thương Clâymo M18A1 do Mỹ cung cấp. Mỗi quả mìn này có khoảng 700 viên bi thép. Khi bị vướng nổ hoặc điều khiển từ xa, các viên bi sẽ bắn ra thành một vòng cung hình quạt 600 và có tầm hiệu quả đến 50 mét. Mìn thường được ngụy trang và đặt ở vị trí sao cho các vòng cung gối lên nhau để đạt hiệu quả sát thương tối đa. Sau đó, họ chỉ việc ngồi chờ. Các lực lượng vũ trang ta khi hành quân đều có trinh sát đi trước. Toán SAS thường để cho trinh sát đi qua, nhưng khi đoàn quân đến gần thì chúng cho mìn nổ và xả đạn xuống đường mòn. Nếu lực lượng ta quá đông, toán SAS sẽ rút lui về một địa điểm chuẩn bị trước. Nếu tiêu diệt được hoàn toàn lực lượng trinh sát của ta thì toán SAS sẽ tiến hành lục soát các xác chết, lấy vũ khí, tài liệu và trang bị... Những thủ đoạn hiểm độc này của quân Ôxtrâylia gây cho lực lượng cách mạng nhiều khó khăn, đặc biệt trong thời kỳ đầu khi ta chưa có kinh nghiệm đối phó.

        Với những kinh nghiệm qua hơn một thế hệ đã từng tham gia chống chiến tranh du kích, quân Ôxtrâylia luôn tin tưởng là chúng sẽ vận dụng thành công trong cuộc chiến tranh này. Trước khi đến Nam Việt Nam, quân đội Ôxtrâylia đã chiến đấu trong rừng rậm ở đảo Boócnêô khi chống lại đội quân phát xít Nhật. Sau đó, chúng trải qua 12 năm giúp người Anh dập tắt các cuộc nổi dậy của "lực lượng Cộng sản" ở Malaixia. Quân đội Ôxtrâylia không đông, nhưng được huấn luyện rất kỹ để đối phó với chiến tranh du kích trong rừng rậm và sình lầy của châu Á. Hơn thế nữa, lực lượng này phần lớn là những người tình nguyện nên quân đội Ôxtrâylia là một tổ chức được chuyên môn hoá cao độ. Một sĩ quan cao cấp Ôxtrâylia từng làm cố vấn cho lực lượng an ninh Nam Việt Nam đã so sánh quân đội của nước ông ta với quân đội Đức sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Quân đội ấy đã trở nên "cán bộ hoá" đến mức độ một người binh nhì cấp thấp nhất cũng có thể đảm trách được nhiệm vụ của một viên đại úy! Ngay cả tướng Oétmolen cũng không tiếc lời ca ngợi các quân nhân Ôxtrâylia và cho rằng, chính "tính xông xáo, phản ứng mau lẹ, sử dụng tốt hoả lực và lòng dũng cảm truyền thống của người Ôxtrâylia đã tạo nên những thành tích phi thường"2.

        Mặc dù có nhiều kinh nghiệm chống chiến tranh du kích, được "chuyên môn hoá" cao, có vũ khí, trang bị hiện đại, được đánh giá cao và trên thực tế, họ đã đạt được một số kết quả nhất định trong các hoạt động tác chiến và "bình định", hỗ trợ đắc lực cho quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, nhưng cuối cùng quân đội Ôxtrâylia đã phải chịu thất bại trước tinh thần chiến đấu kiên cường của quân và dân miền Nam Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh này, hơn hai tiểu đoàn thuộc quân đội Hoàng gia Ôxtrâylia đã bị quân và dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đánh thiệt hại nặng với 386 người chết, 2.193 người bị thương3, hàng chục máy bay, hàng trăm xe tăng, xe cơ giới và các phương tiện phục vụ cho các hoạt động "bình định" bị phá hủy. Tổng chi phí của Ôxtrâylia cho chiến tranh Việt Nam từ năm 1966 đến năm 1968 là 10,5 triệu đô la Ôxtrâylia, từ năm 1969 đến năm 1972 là 230 triệu đô la Ôxtrâylia4. Thất bại nặng nề trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ và quân đội các nước đồng minh, trong đó có quân đội Ôxtrâylia phải chấp nhận rút quân về nước.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 113.

         2. Pimlott J., Việt Nam - những trận đánh quyết định, Sđd, tr. 54.

         3. http://www.vvaa.org.au/index.htm, Vietnam veterans Association of Australia.

         4. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 113.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:16:06 AM

        IV. QUÂN ĐỘI PHILÍPPIN

        1. Quá trình chuẩn bị đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam (1964-1966).


        Cộng hòa Philíppin, thành viên của Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á (SEATO), là một trong những nước đã tham gia rất sớm vào cuộc chiến ở Đông Dương. Ngay từ năm 1953, một nhóm bác sĩ và nữ y tá đã được đưa đến miền Nam Việt Nam trong một chương trình có mật danh là "Chiến dịch huynh đệ", nhưng dưới danh nghĩa là sự bảo trợ của các tổ chức tư nhân Philíppin. Tuy nhiên, nhóm y tế này cũng chỉ hoạt động ở Việt Nam trong một thời gian ngắn và rút về nước khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam kết thúc.

        Sau khi Mỹ thay chân Pháp xâm lược miền Nam Việt Nam, chính quyền Philíppin lúc này với tư cách là đồng minh thân cận của Mỹ, ngay lập tức đã hưởng ứng lời kêu gọi của Mỹ, tích cực tham gia vào chính sách "quốc tế hóa" chiến tranh của Mỹ nhằm ngăn chặn cái gọi là "chủ nghĩa cộng sản đang lan tràn ở Đông Nam Á". Để hợp pháp hóa việc tham gia chiến tranh Việt Nam, ngày 20 tháng 7 năm 1964, Quốc hội Philíppin đã thông qua đạo luật cho phép Tổng thống gửi thêm viện trợ kinh tế, kỹ thuật cho Việt Nam Cộng hòa. Đạo luật này đã được thực thi chỉ hơn hai tháng sau khi Tổng thống Giônxơn chính thức phát động chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ" bằng việc Philíppin cử đến Nam Việt Nam một nhóm gồm 34 bác sĩ, y tá và chuyên gia phát triển nông thôn1. Nhóm này trên danh nghĩa là một toán nhân viên dân sự, nhưng thực chất đây là những người trong quân đội Philíppin được lựa chọn và huấn luyện rất kỹ trước khi đưa sang miền Nam Việt Nam. Toán dân sự trên đã lần lượt phục vụ đắc lực cho quân đội Mỹ, quân đội và chính quyền Sài Gòn trong những năm 1964-1966.

        Ngoài toán dân sự trên, với tư cách là thành viên của cái gọi là "Chương trình viện trợ thế giới tự do" do Mỹ phát động, 16 sĩ quan quân đội Philíppin cũng được đưa đến Việt Nam vào ngày 16 tháng 8 năm 1964 để trợ giúp công tác cố vấn cho Quân đoàn III quân đội Sài Gòn về chiến tranh tâm lý và dân vận. Nhiệm vụ của nhóm sĩ quan này là phối hợp hoạt động với Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam. Ban đầu, có 12 sĩ quan được giao phụ trách 3 trung đội dân vận và 3 đại đội chiến tranh tâm lý ở các tỉnh Bình Dương, Gia Định và Long An. Trong số 4 người còn lại, một sĩ quan phụ trách chung, một người trong Ban chỉ đạo chiến tranh tâm lý, một người trong Trung tâm hoạt động tâm lý chiến của Quân đoàn III và một người trong Tiểu đoàn 1 chiến tranh tâm lý quân đội Sài Gòn.

        Các hoạt động của nhóm sĩ quan 16 người Philíppin này chủ yếu hướng vào các cấp chính quyền thấp hơn so với quân Mỹ. Họ phối hợp với các sĩ quan tâm lý chiến quân đội Sài Gòn để thực hiện các mục tiêu chiến tranh tâm lý và dân vận trong kế hoạch bình định mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn chuẩn bị thực thi. Trên thực tế, các sĩ quan Philíppin đã có những đóng góp quan trọng vào nỗ lực chiến tranh tâm lý của quân đội và chính quyền Sài Gòn.

        Ngay sau đó, Chính phủ Mỹ và Philíppin bắt đầu thảo luận về việc tăng cường các nỗ lực đóng góp của Philíppin cho Việt Nam Cộng hòa. Các quan chức Philíppin ở Oasinhtơn gợi ý với phía Mỹ rằng, Chính phủ Philíppin sẵn sàng đóng một vai trò lớn hơn ở Nam Việt Nam trong những điều kiện nhất định. Tuy nhiên, các ý kiến trong giới chức Mỹ không thống nhất về tính chất và mức độ tăng viện trợ của Philíppin. Giới quân sự Mỹ cho rằng, Philíppin nên đưa phi công sang giúp không quân của quân đội Sài Gòn; đưa 1 đại đội lực lượng đặc biệt, một số trung đội công binh, quân y, nhân viên kỹ thuật truyền tin, quân khí, vận tải và bảo dưỡng; đưa chuyên viên hải quân và hải quân đánh bộ sang Nam Việt Nam để giúp huấn luyện đội giang thuyền cũng như các hoạt động chống nổi dậy khác. Các quan chức dân sự Mỹ lại cho rằng, Philíppin chỉ nên giúp Việt Nam Cộng hòa các nhân viên y tế, dân vận, chuyên gia nông nghiệp và phân bón. Đổi lại, Mỹ hứa hẹn sẽ tăng viện trợ cho Philíppin với điều kiện Chính phủ Philíppin phải tăng ngân sách quốc phòng.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 53.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:16:32 AM

        Trong thời gian thăm Mỹ, Tổng thống Philíppin Macapagan đã thảo luận trực tiếp với Tổng thống Giônxơn và Bộ trưởng Quốc phòng Mc Namara về vấn đề đưa lực lượng quân sự nước này sang tham chiến ở Nam Việt Nam. Ngay sau đó, Bộ Ngoại giao Mỹ đã chỉ thị cho Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn và Manila gặp Trưởng phái đoàn viện trợ quân sự liên quân Mỹ ở Philíppin và tướng Oétmolen để đối chiếu nhu cầu của Việt Nam Cộng hòa với khả năng hiện có của Philíppin; dự kiến các đơn vị có thể triển khai, thời gian, thứ tự triển khai và các chi tiết về ngân sách viện trợ. Bộ ngoại giao Mỹ cho rằng, Philíppin phải đưa sang khoảng 1.000 người mới phát huy được tác dụng hỗ trợ cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa trong vai trò phục vụ tác chiến và chương trình "bình định" nông thôn.

        Với thái độ hết sức nôn nóng muốn gia tăng số lượng quân đồng minh trên chiến trường miền Nam để chia sẻ trách nhiệm, Oasinhtơn đã xem Philíppin như một trong những lực lượng tích cực nhất trong quá trình lôi kéo các nước tham chiến tại Nam Việt Nam. Tuy nhiên, tướng Oétmolen cũng nhận thấy rằng, nếu cùng một lúc gia tăng lực lượng quân sự vào thời điểm này thì cả Mỹ và các lực lượng đồng minh sẽ gặp một số khó khăn, chủ yếu về hậu cần, trong khi MACV chưa thể đảm đương hết nếu chưa có thêm vật liệu, phương tiện và cả thời gian cần thiết để vạch kế hoạch, phân chia cuộc triển khai quân này thành từng giai đoạn cụ thể.

        Để giải quyết những khó khăn trên, ngày 14 tháng 12 năm 1964, Phái đoàn viện trợ quân sự liên quân Mỹ ở Philíppin đã tổ chức cuộc họp với Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang Philíppin, bàn về việc sử dụng lực lượng vũ trang Philíppin ở Nam Việt Nam. Đại diện của Philíppin đề nghị phía Mỹ đảm bảo chi phí cho toàn bộ các hoạt động của quân đội Philíppin, thay thế toàn bộ trang bị cho lực lượng trên bộ đã triển khai và đồng ý sử dụng binh sĩ Philíppin trong các hoạt động dân vận hoàn toàn mang tính phòng thủ ở khu vực Biên Hòa. Các lực lượng đặc biệt và nhân viên quân y có thể hoạt động ở khu vực Tây Ninh, miễn là không ở quá gần biên giới Campuchia. Các đại diện Philíppin cũng cho biết dự kiến quy mô và cơ cấu lực lượng đặc nhiệm sẽ đưa sang Nam Việt Nam. Ban đầu, Tổng thống Macapagan định đưa một lực lượng chiến đấu sang Việt Nam. Tuy nhiên, tại thời điểm này, Máccốt, thủ lĩnh Đảng Tự do, đã phản đối quyết liệt việc đưa bất kỳ lực lượng chiến đấu nào sang Nam Việt Nam, nên các cuộc thảo luận ban đầu này chỉ tập trung vào các vấn đề về vai trò và lực lượng Philíppin cần thiết cho nhiệm vụ dân vận. Quân số lực lượng đặc nhiệm dự kiến khoảng 2.480 người, bao gồm 1 tiểu đoàn công binh tăng cường, 1 tiểu đoàn bộ binh tăng cường, 1 đại đội phục vụ, nhân viên dân vận, một toán hải quân và một toán binh sĩ không quân.

        Được sự hậu thuẫn của Mỹ, đầu năm 1965, chính quyền Sài Gòn chính thức yêu cầu Philíppin tăng viện trợ. Tuy nhiên, việc đáp ứng yêu cầu này lại bị trì hoãn do Máccốt trúng cử Tổng thống vào mùa thu năm 1965. Sau khi xem xét tình hình, Tổng thống Máccốt vẫn nhất quyết không cho phép đưa lực lượng chiến đấu sang miền Nam Việt Nam mà chỉ ủng hộ việc đưa nhân viên sang làm công tác dân vận. Sau nhiều lần thảo luận, lực lượng đặc nhiệm Philíppin dự định đưa sang Việt Nam chỉ bao gồm một tiểu đoàn công binh xây dựng cùng các toán hoạt động dân vận và y tế. Các lực lượng này tự bảo đảm an ninh trong khu vực đóng quân.

        Trong nửa đầu năm 1965, với sự thúc giục của Tổng thống Máccốt, Dự luật về việc đưa lực lượng dân sự sang Nam Việt Nam cùng khoản viện trợ 35 triệu pê xô (8.950 đô la Mỹ) cho chính quyền Sài Gòn đã được Hạ viện thông qua, nhưng lại bị Thượng viện Philíppin phản đối. Sau nhiều lần bàn cãi, trì hoãn, Dự luật được chuyển cho Hội nghị liên tịch hai viện (từ ngày 4 đến ngày 9 tháng 6 năm 1965) nghiên cứu để đi đến thống nhất. Ngày 18 tháng 6 năm 1965, Tổng thống Máccốt chính thức ký thông qua Dự luật này. Đạo luật trên cho phép đưa sang Việt Nam một lực lượng đặc nhiệm dân vận khoảng 2.000 người, gồm 1 tiểu đoàn công binh, các toán y tế và phát triển cộng đồng nông thôn, 1 tiểu đoàn an ninh, 1 đại đội pháo dã chiến, 1 đại đội đảm bảo hậu cần và một bộ phận chỉ huy sở. Lực lượng này sẽ thực hiện các dự án kinh tế - xã hội đã được cả Philíppin và Nam Việt Nam thương thảo và nhất trí.

        Để đổi lại sự trợ giúp của Philíppin, chương trình viện trợ quân sự của Mỹ cho Philíppin phải đáp ứng được yêu cầu mà Tổng thống Máccốt đưa ra, trong đó có khoản cung cấp 4 tàu tuần tra trên sông để Philíppin thực hiện các hoạt động chống buôn lậu, súng trường M14 và súng máy cho một tiểu đoàn cảnh sát và trang bị cho 3 tiểu đoàn công binh. Số viện trợ này là phần bổ sung vào những cam kết trước đó giữa hai nước về việc Mỹ sẽ viện trợ cho Philíppin 1 tàu khu trục hộ tống và một số tàu tuần tra. Về vấn đề này, Mỹ hứa sẽ xem xét việc trang bị một số trực thăng cho phi đội E5 thuộc lực lượng không quân Philíppin.

        Sau khi được tuyển chọn, ngày 1 tháng 6 năm 1965, một lực lượng gồm 650 sĩ quan và binh sĩ bắt đầu được đưa đến huấn luyện ở trại Macxayxay để chuẩn bị đưa sang Nam Việt Nam. Trong khi đó, các nhóm tình nguyện khác cũng đang tiếp tục lựa chọn, tập hợp để chuyển đến trại huấn luyện này.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:18:24 AM

        Theo kế hoạch ban đầu, toán công tác dân vận dự kiến sẽ triển khai trong vòng 120 ngày sau khi Dự luật về đưa lực lượng dân sự sang Nam Việt Nam được Quốc hội Philíppin thông qua. Thời hạn này được đặt ra trên cơ sở tính toán: 60 ngày dành cho việc vận chuyển thiết bị công binh tới Philíppin, 45 ngày huấn luyện sử dụng và 15 ngày để vận chuyển đơn vị tới Nam Việt Nam. Thời gian chuẩn bị quá dài khiến Tổng thống Philíppin lo ngại rằng, các phe phái chống đối đạo luật sẽ nhân cơ hội đó phản đối việc đưa lực lượng còn lại sang Việt Nam tham gia chiến tranh. Phía Mỹ có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề xoa dịu mối lo ngại của tân Tổng thống Philíppin.

        Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam đồng ý sẽ rút ngắn thời hạn triển khai nếu việc huấn luyện sử dụng trang bị được rút bớt xuống dưới 45 ngày, nhưng hiển nhiên điều này là không thể được.

        Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ thì đề nghị Phái bộ Philíppin sẽ tiến hành mọi việc huấn luyện cá nhân và đơn vị tại Nam Việt Nam. Tuy nhiên, đề nghị này được Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam xem là không thực hiện được và khẳng định rằng, một đơn vị chưa được huấn luyện kỹ càng mà đem triển khai tại Việt Nam thì các lực lượng chiến thuật của Mỹ và các nước đồng minh khác buộc phải bảo đảm an ninh cho họ. Trong khi đó, nhiệm vụ của họ khi triển khai quân tại Việt Nam là phải tham gia trực tiếp vào các cuộc hành quân chiến thuật đó. Ngoài ra, một vấn đề khác mà Bộ tư lệnh quân sự Mỹ tại Việt Nam đưa ra nữa là, nếu toán dân vận Philíppin chưa được huấn luyện mà bị đối phương tiến công thì sẽ phải chịu nhiều tổn thất. Và đương nhiên, điều đó sẽ ảnh hưởng đến nền chính trị trong nước, tác động có hại không chỉ với Philíppin mà cả với Mỹ.

        Bộ tư lệnh Thái Bình Dương đề nghị gửi một nhóm kế hoạch tiền trạm đến trước trong vòng 30 ngày sau khi Dự luật thông qua. Sau đó, bộ phận tiền trạm đến trong vòng 60 ngày và bộ phận chính đến vào cuối giai đoạn. Tổng cộng là, toán dân vận Philíppin sẽ triển khai trong vòng 90 ngày. Đề nghị này được cho là phù hợp và khả thi, nhưng chỉ khi nào thật sự cần thiết phải triển khai toán dân vận Philíppin sớm hơn dự tính mới có thể thực hiện.

        Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề huấn luyện và cách sử dụng trang thiết bị khi đưa lực lượng đặc nhiệm sang Nam Việt Nam, Tổng thống Máccốt đã chấp thuận thời hạn triển khai trong vòng 4 tháng.

        Trong quá trình huấn luyện, quân Philíppin được hai toán huấn luyện cơ động Mỹ trợ giúp đắc lực. Một toán thuộc lực lượng lục quân Mỹ tại Việt Nam giúp huấn luyện sử dụng súng M16 và những chiến thuật cần thiết để hoạt động ở Nam Việt Nam. Toán thứ hai thuộc Tập đoàn quân số 8 lục quân Mỹ tại Cộng hòa Triều Tiên, tiến hành giúp huấn luyện lái xe bọc thép M113 và cách bảo dưỡng loại xe này. Trong giai đoạn huấn luyện tại Philíppin, lực lượng này gặp không ít khó khăn do thiếu kinh phí, trang bị và thường bị gián đoạn bởi các cuộc điều hành và nghi lễ, nhưng việc huấn luyện này tỏ ra rất có hiệu quả và đáp ứng được nhu cầu hoạt động sau này của toán dân vận tại Nam Việt Nam.

        Chi phí của Mỹ cho toán dân vận Philíppin ở Nam Việt Nam lên tới 36 triệu đô la Mỹ, chủ yếu để mua, vận hành và bảo dưỡng những trang thiết bị nặng như xe ủi và xe tải. Về các khoản phụ cấp, Chính phủ Philíppin vẫn chi trả lương bình thường cho các binh sĩ trong toán này, còn phía Mỹ sẽ phải trả phụ cấp hải ngoại cho họ tùy theo cấp bậc. Phụ cấp hàng ngày của các cấp như sau: Chuẩn tướng: 6,00 đô la Mỹ; Đại tá: 6,00; Trung tá: 5,00; Thiếu tá: 4,50; Đại úy: 4,00; Trung úy: 3,50; Thiếu úy: 3,00; Thượng sĩ: 1,50; Trung sĩ: 0,50; Hạ sĩ: 0,20; Binh nhất, Binh nhì: 0,10 đô la Mỹ1.

        Bên cạnh đó, Mỹ còn đồng ý cung cấp thêm vật liệu, phương tiện vận tải và những nhu cầu bảo đảm khác cho lực lượng Philíppin ở Nam Việt Nam:

        Đồ tiếp tế loại I (thực phẩm được cung cấp không vượt quá giá trị thực phẩm cung cấp cho quân Mỹ thông qua hệ thống hậu cần Mỹ). Riêng gạo (800 gram/1 người/1 ngày) và muối (15 gram/1 người/1 ngày) do hệ thống tiếp tế của quân đội Sài Gòn cung cấp. Thức ăn kiêng đặc biệt dành cho người Philíppin và các thứ khác không có trong khẩu phần của binh sĩ Mỹ, do toán dân vận Philíppin tự mua. Phía Mỹ chỉ bảo đảm vận chuyển những thứ này từ các hải cảng của Philíppin tới Nam Việt Nam.

        Toàn bộ đồ tiếp tế loại II và loại IV được cung cấp qua hệ thống hậu cần Mỹ. Những thứ mà toán lực lượng Philíppin và quân đội Sài Gòn thường dùng, nhưng các lực lượng Mỹ ở Nam Việt Nam không sử dụng, được cung cấp qua hệ thống tiếp tế của quân đội Sài Gòn. Những mặt hàng đặc biệt mà chỉ có lực lượng Philíppin chuyên dùng được cung cấp qua hệ thống tiếp tế của Phái bộ Philíppin một cơ số (mức sử dụng trong 45 ngày). Đối với các bộ phận sửa chữa cấp 3, một số trang thiết bị sẽ do hệ thống hậu cần tiếp liệu quân đội Sài Gòn cung cấp.

        Đồ tiếp tế loại III (bao gồm xăng, dầu, mỡ) và loại IV (đạn dược) được cung cấp thông qua hệ thống hậu cần Mỹ.

        Việc bảo dưỡng đến cấp 3 do lực lượng Philíppin đảm nhiệm trong khả năng có thể làm được, nếu vượt quá khả năng của họ hoặc của Quân đội Sài Gòn thì Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ sẽ đảm trách. Những trang thiết bị không còn dùng được, quá hạn sử dụng không thể sửa chữa được do đã sử dụng trong chiến đấu, bị thời tiết làm hư hỏng hoặc vì các lý do khác thì sẽ được quân đội Sài Gòn hoặc quân đội Mỹ có trách nhiệm thay thế.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 57.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:19:11 AM

        Việc đi lại, chuyên chở giữa Việt Nam và Philíppin do Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam đảm nhiệm, ưu tiên dành cho nhân viên phái bộ Philíppin đi công tác có liên quan đến hoạt động của phái bộ. Sau đó là việc vận chuyển người, phương tiện trang bị cũng được áp dụng theo thứ tự và điều kiện như các đơn vị quân đội Mỹ. Quá trình chuyên chở đó bao gồm cả việc luân chuyển nhân viên Philíppin, đưa người chết về nước, việc đi lại của các toán thanh tra có liên quan đến hoạt động của Phái bộ Philíppin tại Nam Việt Nam

        Đồng thời, lực lượng dân vận Philíppin còn được sử dụng các dịch vụ khác của quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam như các phương tiện ăn, ở, câu lạc bộ, sinh hoạt tôn giáo, trao đổi hàng hóa, hàng miễn thuế và bưu điện, kể cả các chương trình giải trí, thư tín,...

        Trong các điều kiện tham chiến của quân đội Philíppin, phía Mỹ sẽ chịu trách nhiệm giúp họ thu hồi tử thi, cung cấp dịch vụ mai táng, trợ cấp phần tử tuất cho nhân viên phái bộ theo đúng như mức quy định tiền tử tuất trả cho quân đội Nam Triều Tiên.

        Sau khi các vấn đề yểm trợ và huấn luyện đã được giải quyết ổn thỏa giữa các bên liên quan, ngày 20 tháng 7 năm 1966, Tướng Eneto Mata - Tham mưu trưởng quân đội Philíppin và 9 sĩ quan khác đã bay sang Sài Gòn để thảo luận với quân đội và chính quyền Sài Gòn, đồng thời kiểm tra thực địa những khu vực dự kiến lực lượng đặc nhiệm Philíppin sẽ hoạt động. Tướng Mata đã nhấn mạnh với tướng Oétmolen rằng, theo đánh giá của Tổng thống Máccốt thì hỏa lực của toán công tác dân vận Philíppin không đủ mạnh, đặc biệt là về súng máy, súng cối hạng nặng và pháo binh. Riêng tiểu đoàn an ninh nếu không có xe thiết giáp thì không thể tiến hành trinh sát vũ trang như các đơn vị tương tự của Mỹ. Do đó, tướng Mata muốn được đảm bảo là sẽ có sự tăng cường nhanh chóng và hiệu quả của các bộ phận tác chiến của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn trong trường hợp xảy ra các cuộc tiến công quy mô lớn vào căn cứ của Phái bộ Philíppin.

        Trên thực tế, trước đó 3 ngày, MACV đã cung cấp cho lực lượng Philíppin 17 xe thiết giáp chở quân, 6 khẩu đại bác 105mm, 8 súng cối 106,7mm, 2 xe tăng M41 và 630 súng trường M16.

        Việc ký kết các thỏa thuận quân sự giữa Philíppin và Mỹ (thỏa thuận Mata - Oétmolen ngày 20 tháng 7 năm 1966) và giữa Philíppin với chính quyền Sài Gòn (ngày 3 tháng 8 năm 1966), đã mở đường cho việc thực hiện các điều khoản của đạo luật.

        Các thỏa thuận này quy định rõ nhiệm vụ của Phái bộ dân sự vụ Philíppin ở Nam Việt Nam sẽ do Hội đồng chính sách viện trợ quân sự "thế giới tự do" xác định. Nhiệm vụ cơ bản của họ sẽ là "trợ giúp Việt Nam Cộng hòa về mặt dân sự bằng cách xây dựng, tái định cư và phát triển các chương trình công cộng, trợ giúp cố vấn kỹ thuật cho các hoạt động kinh tế - xã hội khác"1.

        Khi cân nhắc địa bàn sử dụng Phái bộ dân sự vụ Philíppin ở Nam Việt Nam, MACV dự kiến một số nơi như Long An, Tây Ninh,... Đối với Long An, MACV cho rằng, tỉnh Long An không thích hợp vì sự cách trở của địa hình không cho phép tận dụng khả năng của lực lượng Philíppin. Trong khi đó, Hậu Nghĩa được đánh giá là tỉnh thích hợp hơn để Phái bộ Philíppin đóng quân. Ngoài ra, sự ủng hộ của Tuỳ viên quân sự Philíppin đối với Hậu Nghĩa đã góp phần khiến khu vực xung quanh thị trấn Ba Trại được Phái bộ Philíppin lựa chọn làm nơi đóng quân. Tuy nhiên, ngày 1 tháng 6, tướng Oétmolen lại chỉ thị tiến hành nghiên cứu để chuyển Phái bộ dân sự vụ Philíppin sang tỉnh Tây Ninh. Oétmolen cho rằng, xung quanh Ba Trại đã có Sư đoàn bộ binh 25 "Tia chớp nhiệt đới" Mỹ nên không cần thiết phải sử dụng lực lượng Philíppin ở đây. Hơn nữa, theo Oétmolen, giữa Philíppin và Campuchia đã có quan hệ lịch sử nhất định nên việc đưa lực lượng Philíppin tới khu vực gần biên giới Campuchia là phù hợp hơn. Chính quyền Sài Gòn tỏ ý nghi ngại về gợi ý này. Trung tướng Nguyễn Hữu Có - Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Cộng hòa cho rằng, đưa đơn vị này đến gần Chiến khu C là mạo hiểm, nhưng nói thêm rằng, sẽ rất tốt nếu Phái bộ dân sự vụ Philíppin có thể trợ giúp cho 100.000 tín đồ đạo Cao Đài trung thành, một giáo phái có khuynh hướng chính trị ở tỉnh Tây Ninh.

        Ban đầu, Chính phủ Philíppin phản đối việc thay đổi địa điểm và cử chuẩn tướng Tôbiát, Chỉ huy trưởng Phái bộ dân sự vụ Philíppin tại Việt Nam đến khảo sát tình hình. Tôbiát đã nghe tỉnh trưởng của cả hai tỉnh Hậu Nghĩa và Tây Ninh báo cáo tình hình chi tiết và trực tiếp đi khảo sát trên bộ và trên không ở hai tỉnh nói trên. Đại diện của Sư đoàn 25 và Lực lượng dã chiến II Quân đội Sài Gòn đã thông báo cho Tôbiát về sự hỗ trợ và bảo đảm an ninh cho Phái bộ Philíppin. Tuy nhiên, một trong những lý do khiến Tôbiát quyết định lựa chọn Tây Ninh chứ không phải Hậu Nghĩa là mức độ hoạt động của lực lượng quân giải phóng ở đây ít hơn.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 59.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:20:03 AM

        Sau khi chấp thuận địa điểm, Phái bộ Philíppin đồng ý tự đảm bảo an ninh khi đến Tây Ninh. Tuy nhiên, trong thời gian đầu, các lực lượng Mỹ sẽ đảm bảo an ninh cho toàn khu vực cho đến khi Tiểu đoàn an ninh Philíppin có thể tự đảm đương trách nhiệm này. Sau này, Phái bộ dân sự vụ Philíppin được đảm bảo bằng các cơ cấu an ninh chung trong và xung quanh Tây Ninh, bằng hỏa lực của các trận địa pháo 105mm, 155mm và cả pháo 175mm ở khu vực kế cận trong trường hợp khẩn cấp. Để trấn an Phái bộ Philíppin, Mỹ điều Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 đến đóng tại Tây Ninh.

        Bộ phận đầu tiên của Phái bộ dân sự vụ Philíppin đến Nam Việt Nam vào ngày 28 tháng 6 năm 1966 với nhiệm vụ tiến hành công tác khảo sát thiết kế và vạch kế hoạch lập căn cứ ở Tây Ninh. Ngày 16 tháng 8, bộ phận tiếp theo đến Nam Việt Nam là nhóm kế hoạch tiền trạm, gồm 100 sĩ quan và binh sĩ, có nhiệm vụ phối hợp với một số cơ quan của quân đội Sài Gòn và quân đội Mỹ trong việc tiếp đón, vận chuyển và yểm trợ cho số còn lại sẽ sang Nam Việt Nam. Trong toán kế hoạch tiền trạm còn có 3 tổ công tác bắt đầu thực hiện các hoạt động khám chữa bệnh cho các ấp xung quanh. Trong 7 tuần làm việc, các tổ công tác này đã khám chữa trung bình mỗi tuần cho khoảng 2.000 bệnh nhân. Bộ phận thứ ba đến Nam Việt Nam vào ngày 9 tháng 9 năm 1966, gồm 60 lái xe, chuyên viên bảo dưỡng và nấu ăn.

        Bộ phận cuối cùng của Phái bộ dân sự vụ Philíppin đến Nam Việt Nam ngày 11 tháng 9 năm 1966, gồm tướng Tôbiát cùng Ban tham mưu. Hai ngày sau, 741 binh sĩ mới từ Philíppin sang, được chuyên chở bằng máy bay từ Vịnh Cam Ranh đến căn cứ ở Tây Ninh, nơi đã được chuẩn bị đầy đủ để có thể đón nhận một lực lượng lớn. Tiếp theo đó là một nhóm bác sĩ, y tá và binh sĩ pháo binh. Họ là những người đầu tiên đi máy bay từ Manila đến Tây Ninh qua Sài Gòn vào ngày 26 tháng 9 năm 1966. Hai đội phẫu thuật trong toán này được đưa tới các bệnh viện tỉnh Định Tường ở Mỹ Tho và tỉnh Bình Dương ở Phú Cường. Trong khi đó, một đội y tế nông thôn cũng được đưa đến Ba Trại, tỉnh lỵ của tỉnh Hậu Nghĩa.

        Đến ngày 1 tháng 10 năm 1966, toàn bộ các phương tiện bổ sung cũng được đưa đến Nam Việt Nam, đồng thời việc quản lý hành chính và hoạt động của 20 bác sĩ, y tá và chuyên viên y tế cũng được chuyển giao cho tướng Tôbiát. Đến giữa tháng 10 năm 1966, toàn bộ Phái bộ dân sự vụ Philíppin đã có mặt đầy đủ ở Nam Việt Nam.

        Như vậy, từ ngày 15 đến ngày 19 tháng 10 năm 1966, quân đội Philíppin đã thực hiện một cuộc vận chuyển đường hàng không lớn nhất trong lịch sử Philíppin. Toàn bộ số quân còn lại của Phái bộ dân sự vụ được chở thẳng từ sân bay quốc tế Manila tới sân bay Tây Ninh, gần căn cứ của Phái bộ Philíppin. Theo lệnh của Tổng thống Máccốt, họ phải khởi hành vào lúc sáng sớm. Ý đồ của Tổng thống Philíppin là bộ phận này lên đường càng kín đáo càng tốt, không gây ra sự ồn ào trong dân chúng, cũng như không tạo cơ hội cho các đám đông tụ tập tại khu vực lên máy bay để tổ chức các cuộc biểu tình phản đối việc đưa quân sang Nam Việt Nam. Khi bộ phận cuối cùng này đến Nam Việt Nam, Phái bộ Philíppin có tổng quân số là 2.068 người.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 23.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:20:59 AM

        2. Những hoạt động chủ yếu của Phái bộ dân sự vụ Philíppin (PHILCAG) tại chiến trường miền Nam Việt Nam (1966-1969).

        Theo các thỏa ước đã ký kết với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, nhiệm vụ chủ yếu của PHILCAG (Philíppine Civic Action Group) là tham gia vào các chương trình "bình định" của quân đội Mỹ - quân đội Sài Gòn, bảo vệ các căn cứ đóng quân tại Tây Ninh. Đây là nhiệm vụ chủ yếu của Phái bộ này trong quá trình tham gia chiến tranh Việt Nam. Trên thực tế, PHILCAG đã trở thành một thực thể của cuộc chiến tranh Việt Nam khi Quốc hội Philíppin thông qua đạo luật cho phép chính quyền gửi một lực lượng gồm công binh xây dựng, nhân viên y tế, chuyên gia phát triển nông thôn đến Nam Việt Nam với nhiệm vụ "trợ giúp Việt Nam Cộng hòa bằng cách xây dựng, phục hồi và phát triển công trình công cộng, các phương tiện công ích và nhà cửa, đồng thời làm cố vấn kỹ thuật về các hoạt động kinh tế - xã hội"1. Thực chất, đây chính là chương trình "bình định" nhằm hỗ trợ cho các hoạt động tác chiến của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn vào căn cứ đầu não của lực lượng cách mạng Việt Nam đóng tại Tây Ninh trong chiến dịch "tìm diệt" đang được thực thi ở khu vực này.

        Các đơn vị trực thuộc của PHILCAG, gồm: tiểu đoàn an ninh Philíppin, tiểu đoàn pháo dã chiến 105mm, tiểu đoàn công binh xây dựng, tiểu đoàn quân y và nha khoa, đại đội yểm trợ hậu cần, đại đội phục vụ và sở chỉ huy.

        Trong thời kỳ đầu, hoạt động của PHILCAG tập trung vào việc xây dựng căn cứ nhằm mục đích bảo đảm an ninh cho quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, đồng thời là khu vực xây dựng kiểu mẫu để sau này chuyển giao cho chính quyền sở tại. Chỉ trong một thời gian ngắn, 150 căn nhà lắp ghép đã được PHILCAG dựng lên cùng với 10 km đường, 1 hệ thống thoát nước và một hệ thống đèn điện. Khu căn cứ này được đánh giá là "căn cứ quân sự xa hoa nhất tại Nam Việt Nam". Việc sử dụng khu vực này như thế nào cho hữu ích là vấn đề gây tranh cãi trong giới chức Mỹ tại Sài Gòn. Một số ý kiến cho rằng, khu căn cứ này nên được chuyển giao cho người Việt Nam với chức năng là một căn cứ cho quân đội Sài Gòn. Điều này xem ra không thực tế vì ở Tây Ninh có rất ít quân chính quy đóng quân. Đề nghị thứ hai cho rằng, nên sử dụng khu căn cứ này làm hạt nhân cho một trường học mới hoặc thiết lập trường đại học nông nghiệp tại đây (cả hai phương án đều thiếu tính khả thi vì không đủ kinh phí). Một đề nghị khác của Tham mưu trưởng PHILCAG được chú ý nhiều hơn, đó là, địa điểm này sẽ thích hợp hơn nếu được sử dụng làm một trung tâm huấn luyện dân vận.

        Bên cạnh việc xây dựng căn cứ, từ cuối tháng 9, lực lượng công binh cũng bắt tay vào việc sửa chữa đường sá ở một số thôn xã bên sườn phía đông khu rừng Thanh Điền thuộc huyện Châu Thành, gần khu căn cứ Trảng Lớn của Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 Mỹ, bao gồm cả việc sửa chữa 25 km đường chính trong khu vực tái định cư, trạm y tế, trường học, xây dựng sân chơi và thực hiện các chương trình dân y.

        Theo đề nghị của Tỉnh trưởng Tây Ninh, Phái bộ Philíppin sẽ đảm nhiệm việc thực hiện dự án dồn dân, lập "ấp chiến lược" ở Thanh Điền, bao gồm cả việc phát quang khoảng 4.500 ha đất rừng để sử dụng vào nông nghiệp; khai khẩn 100 ha đất để làm nhà ở và xây dựng 41km đường. Ngoài ra, PHILCAG cũng sẽ xây dựng một cây cầu để nối Thanh Điền và Phước Điền (một "ấp chiến lược" mới được Mỹ và quân đội

        Sài Gòn thiết lập) với quốc lộ 22. Địa điểm tái định cư này dự định sẽ xây khoảng 1.000 ngôi nhà để dồn dân vào ở. Khu rừng Thanh Điền trước đây vốn là căn cứ kháng chiến của lực lượng cách mạng trong hơn 20 năm, là địa điểm đứng chân của Đại đội 40, 2 tiểu đội du kích và một tiểu đội đặc công thuộc lực lượng vũ trang cách mạng Tây Ninh. Sự có mặt của các đơn vị này đã làm cho quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn mất ăn mất ngủ, nhất là khu vực các "ấp chiến lược" thuộc quận Phước Ninh dọc theo quốc lộ 13 ở phía bắc và các xã, ấp thuộc quận Phú Khương dọc theo quốc lộ 22 ở phía đông. Bằng cách phát quang rừng Thanh Điền, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tin rằng sẽ đẩy lực lượng vũ trang cách mạng về phía nam. Lúc đó, sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn có thể sẽ vươn đến sông Vàm Cỏ Đông. Trong khi quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn đang tăng cường lực lượng tiến hành các chiến dịch "tìm diệt" thì việc giao nhiệm vụ phát quang rừng Thanh Điền cho lực lượng PHILCAG được coi là phù hợp với tình hình và khả năng của quân đội Philíppin. Và đó cũng là nhiệm vụ quan trọng thứ hai kể từ khi lực lượng này đến Nam Việt Nam.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 66.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:21:47 AM

        Trước khi chương trình "bình định" được bắt đầu, Lữ đoàn bộ binh 196 Mỹ đã phối hợp với các lực lượng chủ lực, địa phương quân, dân vệ quân đội Sài Gòn mở các cuộc hành quân "tìm diệt" quy mô vừa trong gần 3 tháng (từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1966) nhằm đánh bật lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích Tây Ninh ra khỏi khu rừng. Từ ngày 1 tháng 12 năm 1966, lực lượng công binh và phát triển nông thôn của PHILCAG phác thảo kế hoạch cho các công trình phục vụ chương trình "bình định" và bắt đầu thi công một số hạng mục quy mô nhỏ.

        Để thực thi công trình này, Phái bộ PHILCAG quyết định tổ chức lực lượng đặc nhiệm có tên gọi là "Bayanihan", gồm một đại đội công binh xây dựng tăng cường, một đại đội an ninh tăng cường, một tổ rà phá bom, mìn, một tổ quan sát phía trước của pháo binh và hai tổ dân vận. Trước tiên, lực lượng đặc nhiệm "Bayanihan" tiến hành công tác dọn đường vào vùng dự án từ "ấp chiến lược" Thanh Trung mới được "bình định", sau đó tiến về phía tây dọc theo một con đường mòn mà trước đó các lực lượng vũ trang và dân quân du kích ta thường đi vào rừng. An ninh vòng ngoài cho lực lượng đặc nhiệm Philíppin do 4 đại đội địa phương quân và dân vệ của quân đội Sài Gòn đảm trách. Trong chiến dịch phát quang này, tổ rà phá bom, dọn mìn có nhiệm vụ nặng nề nhất vì hầu như từng tấc đất trong khu vực đều phải dò gỡ mìn, bẫy chông và đạn chưa nổ.

        Mặc dù lực lượng "Bayanihan" được bảo vệ nghiêm ngặt và rất cảnh giác đề phòng, nhưng chúng vẫn liên tục bị lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích tỉnh Tây Ninh tiến công bằng súng cối, lựu đạn và súng bắn tỉa. Trong 6 tháng, lực lượng này bị ta tiến công 8 lần, tiêu diệt 2 tên, 10 tên khác bị thương và nhiều phương tiện bị phá hủy (bao gồm 2 xe ủi đất, 1 xe quân sự, 1 xe lu, 1 xe thiết giáp)1.

        Khi đã phát quang được một diện tích khoảng 4.500 ha đất, lực lượng công binh Philíppin bắt đầu thiết kế đường sá và đất canh tác cho làng "kiểu mẫu". Sau đó, với sự phối hợp của Sở tỵ nạn Tây Ninh, lực lượng công binh Philíppin đã xây dựng những ngôi nhà "kiểu mẫu" và dồn dân vào các địa điểm đã được chuẩn bị sẵn. Đến cuối tháng 3 năm 1967, các hạng mục ở nửa phía đông rừng Thanh Điền trong số 18 hạng mục của dự án đã hoàn tất. Ngày 4 tháng 4 năm 1967, 50 gia đình đầu tiên đã bị chính quyền ngụy ở Tây Ninh dồn đến Thanh Điền.

        Nhằm giúp đỡ lực lượng đặc nhiệm Philíppin thực thi chương trình "bình định" một cách nhanh chóng và hiệu quả, chính quyền ngụy ở Tây Ninh còn thiết lập một toán công tác gồm có lực lượng địa phương quân, dân vệ và các viên chức chính quyền Tây Ninh. Lực lượng này đã góp phần nhanh chóng dồn dân vào làng "kiểu mẫu" do quân Philíppin xây dựng để dễ dàng kiểm soát và tách họ ra khỏi lực lượng cách mạng. Một số tổ chức của Mỹ như CONOS, CARE và cơ quan cứu trợ Thiên chúa giáo cũng vào cuộc để hỗ trợ chương trình "bình định" của PHILCAG bằng cách cung cấp một số đồ dùng cho dân chúng trong ấp. Một số hoạt động kinh tế khác cũng được mở ra từ những nghề thủ công truyền thống của dân làng như nghề mộc, nghề làm nón lá..., nhưng chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp. Khi việc phát quang và san bằng đất đã hoàn tất, mỗi gia đình ở trong ấp còn được chính quyền ngụy và PHILCAG hứa hẹn sẽ có một nửa hécta đất để trồng lúa, được cung cấp hạt giống rau, lợn con và giống lúa IR8 của Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế Rockefeller đã trồng và cho năng suất cao ở Philíppin.

        Chương trình "bình định", dồn dân lập "ấp chiến lược" của PHILCAG còn bao gồm cả việc xây dựng những cơ sở dân sinh mà địch gọi là "Trung tâm cộng đồng". Xung quanh "Trung tâm cộng đồng", PHILCAG cho xây dựng một văn phòng ấp và trung tâm thông tin, một trạm xá và nhà hộ sinh cùng với một trường học 10 phòng. Chính quyền ngụy ở tỉnh Tây Ninh đóng góp vào dự án của lực lượng Philíppin bằng cách xây dựng thêm một khu vực chợ và nhà máy điện; đồng thời thiết lập ngay một cơ cấu chính quyền tại đây ("ấp chiến lược"). Tỉnh trưởng chỉ định xã trưởng và tổ chức các gia đình lại thành một liên gia, mỗi liên gia cắt cử một liên gia trưởng để quản lý và kiểm soát dân chúng. Cuối cùng, Phái bộ dân sự vụ Philíppin còn xây dựng một bức tường có tên gọi là "Hy vọng" ở "Trung tâm cộng đồng" như là một biểu tượng cho tình hữu nghị và gây mối thiện cảm của công chúng địa phương đối với người Philíppin, để nhấn mạnh rằng, họ đến đây không phải đi xâm lược mà là "giúp đỡ nhân dân Việt Nam xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội"! Tuy nhiên, thực chất của dự án chính là một trong những mắt xích quan trọng trong chương trình "bình định" sau các cuộc hành quân "tìm diệt" do quân Mỹ và quân đội Sài Gòn tiến hành nhằm tiêu diệt các căn cứ kháng chiến đầu não của Trung ương Cục miền Nam đang đóng tại Tây Ninh.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L., Allied Participation in Vietnam, op.cit., p. 64.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:22:33 AM

        Ngày 30 tháng 11 năm 1967, các công trình trong "ấp chiến lược" ở Thanh Điền và cầu Hiệp Hòa đã hoàn tất. Các công trình này được lực lượng PHILCAG bàn giao cho chính quyền Sài Gòn trong một buổi lễ đặc biệt vào ngày 1 tháng 12 năm 1967. Bộ trưởng quốc phòng Sài Gòn Nguyễn Văn Vỹ đã đến dự và cắt băng khánh thành "ấp chiến lược" này.

        Một công trình khác được coi là có ý nghĩa tuyên truyền hiệu quả nhất mà Phái bộ dân sự Philíppin thực hiện ở Tây Ninh là họ đã sửa chữa và nâng cấp 35 km đường đi vào chợ Long Hoa ở bên cạnh Tòa thánh Cao Đài. Điều này đã giúp PHILCAG tranh thủ được cảm tình của giáo phái Cao Đài tại Tây Ninh.

        Để phối hợp hoạt động "bình định" có hiệu quả, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thành lập Hội ái hữu Tây Ninh, gồm thành viên chủ chốt là các quan chức chính quyền ngụy ở tỉnh Tây Ninh, chỉ huy trưởng Lữ đoàn bộ binh 196 Mỹ, chỉ huy trưởng PHILCAG. Tuy nhiên, hội này chỉ họp được một vài lần, sau đó không lâu đã bị giải thể do không đáp ứng được tiêu chí, mục đích, yêu cầu khi thành lập và do vậy, Mỹ đã tìm một phương thức phối hợp hành động khác có hiệu quả hơn.

        Mặc dù tồn tại một thời gian ngắn, nhưng Hội ái hữu Tây Ninh đã soạn thảo được một số văn kiện, trong đó nêu rõ trách nhiệm phối hợp hành động và quyền lợi của các hội viên. Bản "thỏa thuận về sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau" giữa Phái bộ dân sự vụ Philíppin tại Việt Nam, Lữ đoàn bộ binh 196 Hoa Kỳ và tỉnh Tây Ninh là cơ sở để xúc tiến thành lập ủy ban dân sự vụ hỗn hợp. Tỉnh trưởng tỉnh Tây Ninh được bầu làm Chủ tịch ủy ban. Các ủy viên gồm có: đại diện cao cấp của PHILCAG, Phó tỉnh trưởng hành chính, 1 đại diện của cơ quan phát triển quốc tế Mỹ, 1 đại diện của Phòng dân sự hỗn hợp Mỹ, Tổng thư ký về tái thiết nông thôn, Trưởng ty thông tin và chiêu hồi, Trưởng ty xã hội, Trưởng ty kinh tế, Trưởng ty y tế, Trưởng ty giáo dục; đại diện Văn phòng 5 Mỹ tại Tây Ninh, Trưởng phòng 5 Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 Mỹ, Trưởng phòng 5 quân đội Sài Gòn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và quận trưởng những quận có liên quan.

        Ban đầu, ủy ban này quy định mỗi tháng họp ít nhất 3 lần, nhưng do cơ cấu tổ chức thành viên của ủy ban như đã nói ở trên quá công kềnh nên rất khó triệu tập. Vì vậy, ủy ban này rất ít khi tổ chức được cuộc họp có đầy đủ các thành viên và không giúp được nhiều cho sự phối hợp hành động giữa PHILCAG và các viên chức chính quyền ngụy tỉnh Tây Ninh. Trên thực tế, PHILCAG thường chọn phương thức tiếp xúc có vẻ thân mật hơn bằng cách gặp trực tiếp các viên chức Việt Nam Cộng hòa để trao đổi khi có công việc cần thiết. Do vậy, sự phối hợp hành động và hợp tác mang tính chất tạm thời và các mối quan hệ thường chỉ là cá nhân giữa sĩ quan Philíppin với viên chức Nam Việt Nam.

        Trong quá trình thực hiện các dự án có vẻ mang tính chất dân sự, lực lượng PHILCAG đã đưa ra một phương pháp "bình định" tương đối mới đối với miền Nam Việt Nam và cách làm đó ít nhiều đã có hiệu quả. Đó là cho in và rải trên 83.000 tờ truyền đơn bằng tiếng Việt, trong đó chứa đựng nội dung của Đạo luật Cộng hòa 4664 (Đạo luật "giúp đỡ Việt Nam") của Quốc hội Philíppin và giải thích lý do người Philíppin có mặt tại Nam Việt Nam cùng các nhiệm vụ "nhân đạo" mà họ sẽ thực hiện. Các tổ dân vận trong vùng nông thôn thì luôn nhấn mạnh về vai trò của lực lượng này là xây dựng chứ không phải tác chiến để lấy lòng dân chúng. Những việc làm trên ít nhiều cũng đem lại kết quả cho quá trình thực hiện hoạt động "bình định" của họ ở khu vực này.

        Các tổ dân vận Philíppin được tổ chức tương đối chặt chẽ và có một cơ cấu nhân viên đủ để đảm trách các hoạt động "bình định" tại bất kỳ một "ấp chiến lược" nào trong một ngày nhất định. Ví dụ, một tổ dân vận Philíppin sẽ đến một ấp và họ xây dựng ở đó nhà tắm, phân phát quần áo cho trẻ em, phân phát dụng cụ học tập cho học sinh và đồ dùng dạy học cho giáo viên, xây dựng trụ sở ấp, nhà hộ sinh, sau đó là trạm xá với các dụng cụ tiểu phẫu thuật và ghế khám bệnh cho nha khoa... Sau khi làm công tác dân vận và phần nào tạo được lòng tin trong một bộ phận nhân dân ở các "ấp chiến lược", tổ dân vận Philíppin tiếp tục thực hiện những công trình xây dựng khác phục vụ cho chương trình "bình định".

        Ngoài các tổ dân vận được phân công xuống từng ấp, còn có một đơn vị cỡ đại đội được cử xuống để bảo vệ từng ấp trong vùng có các tổ dân vận Philíppin hoạt động. Theo PHILCAG, điều đó sẽ giúp cho các đơn vị Philíppin trở nên "gần gũi" hơn đối với dân chúng trong các "ấp chiến lược". Và như vậy, mục đích của người Philíppin phần nào đã đạt được: Những việc làm của các tổ dân vận Philíppin cố gắng làm sao phải có tác dụng tâm lý đến một bộ phận dân chúng trong ấp, làm họ phần nào yên tâm, rằng sự hiện diện của người Philíppin ở đây không phải là đi xâm lược mà chỉ là xây dựng giúp người dân Nam Việt Nam mà thôi!


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:23:18 AM

        Công tác quan trọng nhất của Phái bộ dân sự vụ trong thời gian tham gia chiến tranh Việt Nam chính là việc thực hiện dự án tái định cư (dồn dân lập "ấp chiến lược") ở Thanh Điền. PHILCAG cho rằng, nếu dự án này thực hiện thành công sẽ được Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa áp dụng rộng rãi ở các địa phương khác tại Nam Việt Nam1.

        Mặc dù sứ mạng của Phái bộ Philíppin không bao gồm cả việc tác chiến chống lại các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam Việt Nam, nhưng điều đó không có nghĩa là họ không trực tiếp tham gia các cuộc hành quân của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn vào các khu căn cứ đầu não kháng chiến ta. Nhiệm vụ quan trọng của lực lượng Philíppin ở khu vực này là phải tiến hành một chiến dịch tâm lý chiến nhằm yểm trợ cho chương trình chiêu hồi, lôi kéo một số phần tử thoái hóa, biến chất trong hàng ngũ lực lượng kháng chiến của ta quay sang làm việc cho chính quyền Sài Gòn, đồng thời tích cực khai thác thông tin tình báo phục vụ cho các cuộc hành quân "tìm diệt" của quân đội Mỹ và Sài Gòn. Quy trình của các chiến dịch này thường được thực hiện như sau: khi một toán dân vận đi đến một vùng nào đó,

        tình báo dân sự vụ Philíppin sẽ tìm cách thanh lọc những gia đình có thân nhân đi theo cách mạng. Sau đó, toán dân vận trên sẽ tìm cách lấy lòng các gia đình này, khuyến khích họ ủng hộ "chính nghĩa quốc gia" và thuyết phục thân nhân của họ quay về. Tuy nhiên, các hoạt động trên ít có hiệu quả vì người dân Việt Nam mặc dù có thiện cảm với binh lính Philíppin hơn so với quân đội Mỹ, nhưng về mục đích, tính chất tham gia chiến tranh của họ thì ai cũng rõ nên không dễ dàng khuất phục được nhân dân sống trong các "ấp chiến lược" do địch dựng lên.

        Với chức năng là một lực lượng tham gia chiến tranh nhưng không thực hiện các hoạt động tác chiến, những kế hoạch an ninh sử dụng cho Phái bộ Philíppin chỉ mang tính chất phòng thủ. Các công trình công binh được các lực lượng địa phương quân hoặc dân vệ Nam Việt Nam bảo vệ ở vòng ngoài vào ban đêm, còn ban ngày do các lực lượng an ninh Philíppin đảm trách. Ngoài ra, khi một khu vực được chọn để thực hiện một dự án lớn thì tất cả những ấp lân cận sẽ được quan tâm nhiều hơn và họ sẽ làm công tác dân vận ở đây để tạo được một môi trường thuận lợi trong vùng tiếp giáp với công trình. Mục đích của các hoạt động dân vận này không ngoài việc chiếm được cảm tình của dân chúng để có thể biết trước hoặc được báo động ngay về những hoạt động của các lực lượng vũ trang cách mạng. Hoạt động tác chiến của các đơn vị Philíppin ở Nam Việt Nam chỉ mang tính chất bảo vệ và chỉ hoạt động trong tầm yểm trợ pháo binh của các đơn vị quân đội Sài Gòn và các sĩ quan liên lạc đóng tại trung tâm hành quân chiến thuật tỉnh Tây Ninh cùng các trung tâm hành quân chiến thuật của lực lượng quân đội Mỹ đóng gần đó. Các trung tâm này thường được nối với sở chỉ huy Phái bộ Philíppin bằng một số phương tiện thông tin liên lạc.

        Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng Phái bộ Philíppin không thể chiếm được cảm tình và "sự biết ơn" của người dân địa phương ở tỉnh Tây Ninh. Các lực lượng dân sự vụ Philíppin tưởng như đã là người châu Á thì họ có đầy đủ điều kiện để có thể dễ dàng tìm kiếm được sự thông cảm và nhanh chóng gần gũi với dân chúng Việt Nam vì mục tiêu của người Việt Nam là chống lại người phương Tây. Nhưng thực tế diễn ra không như mong muốn và dự kiến ban đầu của cả Mỹ và Philíppin.

        Hầu hết người dân địa phương Việt Nam ít có cảm tình với Phái bộ dân sự vụ Philíppin, kể cả những người trong bộ máy chính quyền ngụy ở tỉnh Tây Ninh. Báo cáo của Tổ kỹ thuật nông thôn thuộc cơ quan CORDS (Mỹ) cho thấy rằng, người Việt Nam tỏ ra bất bình với một số nhân viên Philíppin bởi họ có một số hành vi không đứng đắn trong "buôn bán chợ đen và quyến rũ phụ nữ". Nhiều nhân vật lãnh đạo trong chính quyền tỉnh Tây Ninh cũng đã bày tỏ quan điểm tương tự như trên. Trong một cuộc đối thoại kín vào tháng 7 năm 1967, Tỉnh trưởng Tây Ninh đã phê phán mức độ hành vi vi phạm đạo đức của người Philíppin và nêu ra một số báo cáo mới nhận được về chuyện binh lính Philíppin đem bán hàng miễn thuế và hàng ăn cắp ở chợ đen tại địa phương. Tỉnh trưởng tỉnh Tây Ninh cũng nhấn mạnh rằng, người Việt Nam xưa nay vốn xem người Philíppin xuất thân từ một nền văn hóa thấp kém hơn, không thể tương xứng với nền văn hóa lâu đời của đất nước Việt Nam. Quan điểm này được hầu hết các quan chức chính quyền Sài Gòn cũng như dân chúng miền Nam Việt Nam chia sẻ, dù thái độ này chưa được bày tỏ công khai. Đó là những lý do chủ yếu đã dựng nên bức tường ngăn cản sự hợp tác giữa các viên chức ngụy quyền trong tỉnh và các sĩ quan Philíppin.

-----------------
         1. Việc phát quang một phần khu rừng ở Thanh Điền gần giống với chiến dịch "Lưỡi cày La Mã" (Rome Plovy) mà Mỹ đã tiến hành ở nơi khác, nhưng điểm khác biệt với Mỹ là: sau khi phát quang xong, lực lượng công binh sẽ xây dựng một "làng kiểu mẫu" ở đó.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:24:36 AM

        Trước những thủ đoạn xâm lược mới và tinh vi của Mỹ, ngay từ khi Mỹ và các nước đồng minh ồ ạt đưa quân sang miền Nam Việt Nam nhằm chia sẻ trách nhiệm và "quốc tế hoá" chiến tranh Việt Nam, Đảng ta đã xác định đây là kẻ thù chính và chủ yếu của nhân dân ta trong giai đoạn này. Đối với quân và dân tỉnh Tây Ninh, Trung ương Cục đã chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương tỉnh phối hợp với các đơn vị quân chủ lực đóng quân trên địa bàn tỉnh phải kiên quyết vạch trần bộ mặt thật, mục đích về sự tham chiến của lực lượng đồng minh Mỹ nói chung và Phái bộ Philíppin tại tỉnh Tây Ninh nói riêng. Ngay khi vừa đặt chân đến Nam Việt Nam, lực lượng PHILCAG đã bị những tổn thất đầu tiên do lực lượng bộ đội địa phương của tỉnh Tây Ninh phục kích trên đường Trà Võ - Tây Ninh. Trong trận này, 7 binh sĩ Philíppin đã bị thương do mìn Claymo.

        Trong quá trình lực lượng Philíppin thực hiện dự án Thanh Điền, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Tây Ninh đã tổ chức nhiều cuộc tiến công quy mô vừa và nhỏ đánh vào các cụm quân Philíppin. Nhằm chống lại các hoạt động "bình định" của quân Philíppin, trong 6 tháng đầu năm 1967, lực lượng vũ trang Tây Ninh đã mở nhiều đợt tiến công vào căn cứ của quân Philíppin, thâm nhập vào kho thiết bị ở Hiệp Hoà; thực hiện các cuộc tập kích nhỏ vào lực lượng bảo vệ dự án ấp Thanh Điền, diệt 2 lính Philíppin, 10 tên khác bị thương, phá hủy 2 xe ủi đất và 1 xe thiết giáp..., góp phần phá vỡ kế hoạch "bình định" của lực lượng Philíppin. Bên cạnh đó, ta cũng mở các chiến dịch tuyên truyền vận động để binh sĩ Philíppin thấy rõ sự thật về cuộc chiến tranh xâm lược do Mỹ tiến hành ở Việt Nam là phi nghĩa và cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống Mỹ, lật đổ chế độ Sài Gòn là hoàn toàn chính nghĩa.

        Chỉ nửa tháng sau khi địch cắt băng khánh thành "dự án Thanh Điền", ngày 16 tháng 12 năm 1967, lực lượng vũ trang địa phương huyện Châu Thành và dân quân du kích đã tổ chức một cuộc tiến công quy mô vừa vào ấp Thanh Điền, mở chiến dịch tuyên truyền vận động, kêu gọi nhân dân ở đây không bị lừa bịp bởi các thủ đoạn "bình định" mới không kém phần tinh vi của địch, đưa một bộ phận nhân dân ra khỏi ấp, đặt mìn phá hủy trụ sở ấp và một số "nhà kiểu mẫu". Dự án Thanh Điền còn tiếp tục bị các lực lượng du kích của ta tiến công, nên kế hoạch triển khai chương trình "bình định" rất khó thực hiện theo đúng tiến độ Phái bộ dân sự vụ Philíppin đã đề ra.

        3. Các cuộc thương lượng giữa Mỹ và Philíppin về sự gia tăng lực lượng và quá trình rút quân khỏi Nam Việt Nam.

        Tháng 12 năm 1966, theo lời mời của Tổng thống Philíppin Máccốt, tướng Oétmolen đã viếng thăm Manila. Tại đây, Oétmolen đã ca ngợi thành tích của lực lượng PHILCAG và đưa ra một số đề xuất có tính chất trao đổi về lợi ích giữa hai bên. Nếu Chính phủ Philíppin tăng thêm phần đóng góp viện trợ cho chính quyền Sài Gòn thì Mỹ sẽ cân nhắc việc cung cấp một phi đội trực thăng UH1D phục vụ cho công tác dân vận. Đồng thời, Oétmolen cũng đưa ra một khả năng khác, theo đó Chính phủ Philíppin có thể đưa cố vấn sang giúp chính quyền Sài Gòn huấn luyện cảnh sát, hoặc ngược lại, chính quyền Sài Gòn có thể đưa người sang tu nghiệp trong lực lượng cảnh sát Philíppin.

        Tổng thống Máccốt thực sự rất quan tâm đến gợi ý của Oétmolen về việc thành lập phi đội trực thăng, đặc biệt, nếu Philíppin được giữ lại những chiếc trực thăng đó sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Nam Việt Nam. Ông cũng ủng hộ đề xuất của Mỹ về việc huấn luyện thêm phi công lái trực thăng để có thể đưa sang làm nhiệm vụ ở Việt Nam và muốn có 10 chiếc trực thăng đưa sang Nam Việt Nam cùng 6 chiếc khác để lại ở Philíppin, phục vụ cho mục đích huấn luyện. Tuy nhiên, Tổng thống Máccốt chưa sẵn sàng phê chuẩn toàn bộ dự án, mặc dù Tòa đại sứ Mỹ tại Manila và tướng Gôm - Trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Liên quân Mỹ ở Philíppin, đã đồng ý và đề xuất thực hiện dự án. Về vấn đề này, bản thân phía Mỹ cũng hiểu rõ lý do khiến Tổng thống Philíppin do dự. Kế hoạch viện trợ quân sự của Philíppin cho chính quyền Sài Gòn không thể có được khoản ngân sách dành cho phi đội trực thăng nếu không đình chỉ chương trình đang thực hiện. Hơn nữa, toàn bộ công việc huấn luyện ban đầu sẽ phải được tiến hành ở Mỹ vì Philíppin chưa có cơ sở.

        Tướng Oétmolen tin rằng, nếu có thêm một phi đội trực thăng sẽ tăng cường khả năng yểm trợ cho quân đồng minh của Mỹ ở Nam Việt Nam, đặc biệt, nó có thể yểm trợ tốt cho các hoạt động của lực lượng PHILCAG. Oétmolen muốn có một phi đội 25 trực thăng với đầy đủ trang bị theo yêu cầu của Phái bộ dân sự vụ Philíppin. Phi đội sẽ phải được trang bị trực thăng UH1D vì Mỹ không sản xuất UH1B nữa, nhưng nếu chuyển trực thăng UH1D sẵn có ở Việt Nam sang làm nhiệm vụ với PHILCAG thì sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động khác.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:24:58 AM

        Đô đốc Sáp, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương cho rằng, ý định của MACV là tương đối phù hợp với tình hình thực tiễn, nhưng nhu cầu về trực thăng UH1 quá lớn nên không thể nhanh chóng cung cấp cho Chính phủ Philíppin. Do thiếu máy bay, khả năng hạn chế của các phi công Philíppin cũng như thái độ không sốt sắng của Chính phủ nước này nên Đô đốc Sáp cho rằng kế hoạch tăng cường một phi đội trực thăng cho PHILCAG không có tính khả thi. Đề xuất này tiếp tục được Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng quốc phòng Mỹ đưa ra xem xét và sau đó kết luận rằng, thiết lập một phi đội trực thăng để phục vụ cho lực lượng PHILCAG là không cần thiết và không kinh tế. Tuy nhiên, việc sử dụng phi công Philíppin ở Nam Việt Nam để yểm trợ cho các hoạt động của lực lượng Philíppin lại có lợi về mặt quân sự.

        Cuối cùng, Oasinhtơn quyết định, Chính phủ Mỹ không nêu vấn đề phi đội trực thăng Philíppin, cũng không lấy phi công Philíppin vào làm việc với các đơn vị Mỹ để yểm trợ cho lực lượng PHILCAG. Nhưng, nếu Chính phủ Philíppin lại nêu vấn đề trên thì phía Mỹ sẽ lấy lý do, số lượng trực thăng có hạn và nhiều nhu cầu quân sự khác cần được ưu tiên hơn, nên không cho phép thành lập một phi đội trực thăng riêng cho Philíppin.

        Trong khi các cuộc thảo luận cấp cao về việc tăng cường sự yểm trợ của Philíppin cho quân đội Sài Gòn đang diễn ra ở cấp cao Mỹ - Philíppin, thì "dự án phát quang rừng Thanh Điền" nằm trong chương trình "bình định" vẫn tiếp tục được thực hiện. ở Philíppin, cuộc bàn cãi về việc chuẩn chi ngân sách cho lực lượng PHILCAG trong năm tiếp theo vẫn chưa ngã ngũ. Tuy Dự luật đã được Hạ viện thông qua với đa số áp đảo (81/7) và ở Thượng viện tỷ lệ thấp hơn (15/8), nhưng khuynh hướng chống đối có chiều hướng gia tăng. Phái chống đối cho rằng, nên dành khoản dự chi 35 triệu pê xô cho việc làm đường và thủy lợi ở Philíppin thì tốt hơn là viện trợ cho Nam Việt Nam.

        Dự luật mới về việc chuẩn chi ngân sách cho Phái bộ dân sự vụ Philíppin tại Nam Việt Nam đã được trình lên Quốc hội trong tháng 3 năm 1967. Chủ tịch Hạ viện và một số nghị sĩ nêu ý kiến cần gắn Dự luật trên với việc xem xét lại toàn bộ mối quan hệ giữa Mỹ và Philíppin, đặc biệt là việc thực hiện đầy đủ những cam kết viện trợ quân sự của Mỹ. Để thuyết phục Quốc hội Philíppin, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ đã đề nghị Tổng thống Máccốt xem xét kéo dài thời hạn làm nhiệm vụ và mở rộng các hoạt động của Phái bộ Philíppin. Tổng thống Máccốt đã đáp lại lời đề nghị của Nguyễn Cao Kỳ bằng một chuyến viếng thăm bất ngờ Nam Việt Nam.

        Ngày 16 tháng 7 năm 1967, với sự hộ tống của tướng E. Mata, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Philíppin cùng một số sĩ quan và quan chức khác, Tổng tống Máccốt đã đến căn cứ của Phái bộ Philíppin tại Tây Ninh. Trong 9 tiếng đồng hồ thăm viếng, Tổng thống Máccốt đã nghe tướng Tôbiát báo cáo tình hình hoạt động của lực lượng Philíppin tại Nam Việt Nam và đi thăm khu "tái định cư" Thanh Điền. Trả lời các câu hỏi của báo chí về khả năng đóng góp nhiều hơn nữa của Philíppin cho Nam Việt Nam, Tổng thống Máccốt khẳng định là chưa có kế hoạch nhưng đang nghiên cứu.

        Trong khi đó, tướng Oétmolen cho biết, Chính phủ Philíppin đã có kế hoạch thay quân trong tháng 8 năm 1967 và quân đội đang tập hợp những người tình nguyện ở trại huấn luyện Macxayxay. Toán tiền trạm dự kiến lên đường sang Nam Việt Nam vào ngày 30 tháng 9 năm 1967. Lực lượng chính gồm khoảng 600 sĩ quan, binh sĩ sẽ đến Nam Việt Nam ngày 20 tháng 10 năm 1967, số còn lại sẽ đến trước ngày 16 tháng 12 năm 1967. Ngày triển khai sau cùng sẽ được quyết định trong tháng 12.

        Tại các cuộc thảo luận với đại diện chính quyền Philíppin, tướng Gôm luôn thúc ép nước này gấp rút cho tổ chức Phái bộ dân sự vụ thứ hai để huấn luyện các toán sử dụng viện trợ, trang bị; đồng thời đề nghị các toán huấn luyện cơ động của Philíppin nên triển khai hoạt động sớm hơn trong giai đoạn này. Nếu làm được như vậy, điều đó sẽ tạo điều kiện cho các lực lượng Philíppin làm quen với các trang bị, thủ tục và phương thức hoạt động tại Nam Việt Nam. Tuy nhiên, xét về một khía cạnh khác của việc huấn luyện, điều mà quân đội Philíppin cần, đó là yêu cầu Bộ tư lệnh viện trợ Mỹ tại Nam Việt Nam phải cung cấp những toán huấn luyện cơ động về các thủ tục tiếp vận và hệ thống hồ sơ lưu trữ trang bị của quân đội Hoa Kỳ.

        Tướng Oétmolen chấp nhận lời đề nghị về huấn luyện của tướng Gôm vì nhiệm vụ của Phái bộ Philíppin tại Nam Việt Nam không có gì thay đổi. Mặt khác, Oétmolen cũng đề nghị khi triển khai quân sang Việt Nam nên lợi dụng quân số dư thừa ở một số đơn vị nhỏ để huấn luyện tại chỗ cho Phái bộ dân sự vụ thứ 2 mà không gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của lực lượng này. Kế hoạch huấn luyện đó không những cho phép lực lượng thay thế làm quen với công việc tại Nam Việt Nam, mà còn bảo đảm tính liên tục trong mối quan hệ vốn đã được thiết lập với người Mỹ và người Việt Nam, hạn chế đến mức tối thiểu nhu cầu không vận; tạo điều kiện dễ dàng cho việc đưa các máy bay trở về, đồng thời giảm thiểu được nhiều vấn đề cho công tác an ninh liên quan đến việc tập trung và di chuyển những đơn vị lớn.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:25:19 AM

        Mặc dù việc vận chuyển quân và các đơn vị nhỏ là có lợi, nhưng chính quyền Philíppin vẫn không thể đáp ứng nổi về mặt tài chính đối với bất kỳ một sự gia tăng quân số kéo dài nào và họ chỉ có khả năng bảo đảm được trong vòng 2 ngày mà thôi. Khi ngày triển khai được ấn định, toàn bộ đơn vị sẽ được chuyển đi càng nhanh càng tốt, tùy số lượng sẵn có các máy bay vận chuyển quân.

        Việc chuẩn bị thay quân của Phái bộ dân sự vụ được bắt đầu vào ngày 27 tháng 9 năm 1967. Trong tháng 11, Tòa đại sứ Mỹ ở Manila xem xét những đề xuất của Philíppin liên quan đến việc tăng cường sự trợ giúp Nam Việt Nam, đặc biệt là tăng cường các đơn vị công binh. Các lực lượng vũ trang Philíppin muốn có một cơ cấu chỉ huy riêng cho các đơn vị của mình. Bộ phận hậu cần sẽ gồm từ 1 đến 3 tiểu đoàn công binh xây dựng và có thể bao gồm cả các đơn vị công binh hiện đang ở Nam Việt Nam.

        Tuy nhiên, lực lượng không quân và hải quân Philíppin lại đưa ra những đề nghị riêng. Hải quân Philíppin đề xuất một lực lượng khoảng 400 người cho các tàu đổ bộ LST; hoặc 224 sĩ quan và binh sĩ cho 16 tàu đổ bộ LCM; hoặc 100 sĩ quan và binh sĩ để điều hành một phân đội 12 tàu tuần tra ven biển cao tốc; hoặc 100 sĩ quan và binh sĩ cho một phân đội 4 xuồng máy.

        Về máy bay và lực lượng không quân đưa từ Mỹ, không quân Philíppin đề xuất đưa sang Nam Việt Nam một phi đội 12 máy bay, có thể là C7A hay C130. Nếu bay 60 giờ mỗi tháng cho mỗi máy bay và không cần các căn cứ bảo đảm thì mỗi phi đội cần được biên chế 50 sĩ quan và 203 binh sĩ.

        Sau khi xem xét các đề xuất nói trên, Bộ ngoại giao Mỹ cho rằng, lực lượng tăng cường tối ưu theo quan điểm của Nam Việt Nam và Philíppin, là 3 tiểu đoàn công binh của lục quân Philíppin, gồm khoảng 2.100 sĩ quan và binh sĩ. Phía Mỹ cũng đồng ý có thêm một lực lượng bảo đảm an ninh nếu Philíppin yêu cầu, nhưng không muốn lấy từ các tiểu đoàn công binh.

        Trong khi đó, cuộc bầu cử ở Thượng viện Philíppin ngày 14 tháng 11 năm 1967 rất có ảnh hưởng đến quy chế tương lai của PHILCAG tại Nam Việt Nam. Vấn đề duy trì hay không duy trì Phái bộ được đề cập trong chiến dịch vận động tranh cử của các ứng cử viên Đảng Tự do đối lập. Đảng này cho rằng, việc tăng cường lực lượng PHILCAG sang Nam Việt Nam sẽ làm phân tán ngân sách cần thiết cho các nhu cầu đối nội của Philíppin. Tổng thống Philíppin tìm cách né tránh vấn đề này bằng cách trì hoãn giải quyết yêu cầu chuẩn chi cho Phái bộ dân sự vụ với hy vọng Đảng Quốc dân của ông sẽ giành được quyền kiểm soát Thượng viện. Trong khi đó, các cuộc biểu tình, tuần hành của nhân dân Philíppin phản đối việc Chính phủ Philíppin tăng quân sang Nam Việt Nam cũng đang diễn ra liên tiếp tại thủ đô Manila và một số thành phố lớn.

        Kết quả của cuộc bầu cử là Đảng Quốc dân giành được 6 trong số 8 ghế tranh chấp ở Thượng viện. Tổng thống Máccốt nhanh chóng đưa ra dự luật chuẩn chi 9 triệu USD cho việc tiếp tục triển khai Phái bộ dân sự vụ ở Nam Việt Nam. Tuy nhiên, dù dự luật được thông qua dễ dàng, nhưng lại bị các thành viên của Đảng Tự do và cả một số người trong Đảng Quốc dân công kích. Sự phản đối của những người này một phần là do sự chỉ trích của một nhóm nhỏ đối với các chính sách của Mỹ ở Nam Việt Nam và sự hiện diện của các căn cứ quân sự Mỹ ở Philíppin. Để làm dịu sự chỉ trích đó, chính quyền Máccốt đã đưa ra dự luật sửa đổi, theo đó sẽ kéo dài thời hạn làm nhiệm vụ của Phái bộ dân sự vụ tại Nam Việt Nam. Dự luật cũng giảm thành phần công binh và tăng tương ứng số lượng nhân viên quân y.

        Do ngân sách đảm bảo cho Phái bộ này hầu như đã cạn, nên Chính phủ Philíppin dự định rút quân tượng trưng để tránh sự chỉ trích việc chi tiêu không được phê chuẩn và trình bày với Thượng viện rằng, lực lượng này đã đến bước đường cùng, trừ phi Quốc hội phải nhanh chóng có một giải pháp nào đó, nếu không Chính phủ Máccốt bắt buộc phải rút toàn bộ lực lượng về nước vì thiếu ngân sách. Mục tiêu của Chính phủ là khôi phục đầy đủ quân số cho lực lượng này khi dự luật chuẩn chi mới được phê duyệt, nhưng khi phiên họp thường kỳ của Quốc hội kết thúc, dự luật vẫn không được phê chuẩn. Một phiên họp đặc biệt khác của Quốc hội được triệu tập nhưng vẫn không thông qua được Dự luật. Quân số của lực lượng Philíppin đang làm nhiệm vụ ở Nam Việt Nam sau mấy tháng đã giảm xuống còn khoảng 1.800 vì không có binh sĩ sang thay thế cho số đã về nước.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:26:04 AM

        Ngày 31 tháng 7 năm 1968, Chính phủ Philíppin thông báo cho Tòa Đại sứ Mỹ ở Manila về việc quân đội Philíppin đã ra lệnh giảm quân số của lực lượng Philíppin ở Nam Việt Nam từ 1.735 xuống còn 1.500 người1.

        Việc cắt giảm nói trên sẽ được hoàn tất vào ngày 15 tháng 8. Quyết định của Tổng thống Máccốt đã gặp phản ứng mạnh mẽ từ phía Mỹ. Ngày 3 tháng 8 năm 1968, Tòa đại sứ Mỹ ở Philíppin đã yêu cầu tướng Gôm phải gặp ngay Bộ trưởng Quốc phòng Philíppin E. Mata để phản đối việc cắt giảm lực lượng Philíppin ở Nam Việt Nam. Tuy nhiên, dù đồng quan điểm với Gôm, nhưng Mata không thể thay đổi được quyết định của Tổng thống Máccốt. Ngày 9 tháng 8 năm 1968, Phái bộ dân sự vụ Philíppin tại Nam Việt Nam chính thức yêu cầu cơ quan vận tải Tây Thái Bình cung cấp phương tiện không vận đặc biệt vào các ngày 10, 11, 12 và 13 tháng 8 năm 1968 để đưa 235 thành viên của Phái bộ về nước.

        Theo Tư lệnh các lực lượng vũ trang Philíppin Manuen Ian cho biết, lực lượng dự định thay thế đang được huấn luyện và sẽ đưa sang Nam Việt Nam trong tháng 9 năm 1968; ngân sách bảo đảm cho lực lượng này sẽ được trích từ ngân sách thường niên của các lực lượng vũ trang Philíppin; nhiệm vụ của đơn vị thay thế này sẽ hoàn toàn giống như nhiệm vụ của Phái bộ dân sự vụ đang ở Nam Việt Nam, nhưng chú trọng hơn các hoạt động trong lĩnh vực y tế và nha khoa. Do vậy, để tăng thêm 5 đội giải phẫu và 5 đội y tế khác, cần phải giảm số binh sĩ của tiểu đoàn công binh. Mặt khác, để duy trì khả năng của tiểu đoàn công binh xây dựng, quân số cho tiểu đoàn an ninh phải được huấn luyện cả kỹ thuật công binh. Việc thay thế các thành viên của Phái bộ dân sự vụ hoàn thành thời hạn nhiệm vụ 2 năm ở Nam Việt Nam dự định tiến hành trong thời gian từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 10 năm 1968. Sự cắt giảm quân số và gia tăng tỷ lệ lực lượng quân y và nha khoa nhằm nhấn mạnh một lần nữa vai trò phi tác chiến của Phái bộ để xoa dịu sự chỉ trích từ Quốc hội và nhân dân Philíppin.

        Sau lần cắt giảm quân số Philíppin ở Nam Việt Nam năm 1968, dân chúng Philíppin tạm thời không còn đấu tranh gay gắt với Chính phủ về vấn đề Phái bộ dân sự vụ tại Nam Việt Nam. Tổng thống Philíppin tin rằng, việc duy trì một lực lượng Philíppin tại Nam Việt Nam là phù hợp với lợi ích quốc gia. Sự có mặt của lực lượng này sẽ bảo đảm cho Philíppin quyền được ngồi ở bàn đàm phán giải quyết vấn đề Nam Việt Nam và được hưởng phần quân cụ còn thừa sau chiến tranh. Tuy nhiên, chỉ được ít lâu, dư luận trong nước lại bắt đầu kêu gọi rút toàn bộ lực lượng Philíppin về nước. Một số nghị sĩ muốn "trừng phạt" Mỹ về việc nước này đã ủng hộ Malaixia trong thời kỳ xảy ra cuộc khủng hoảng ở Saba. Số khác cho rằng, lực lượng đó đang cần cho nỗ lực chống nổi dậy của lực lượng Hukbalaháp ở miền Trung Ludông. Số khác thì cho rằng, chi phí cho Phái bộ dân sự vụ ở Nam Việt Nam dù ở mức thấp nhất cũng là một gánh nặng tài chính. Vì ngân sách không được Quốc hội phê chuẩn nên chi phí cho lực lượng này phải lấy từ ngân sách chung của quân đội Philíppin cộng thêm 17 triệu đô la Mỹ thiết bị công binh và 1,5 triệu đô la Mỹ trợ giúp hằng năm của Mỹ.

        Tháng 3 năm 1969, tại cuộc họp kín. Hạ viện Philíppin đã bỏ phiếu quyết định rút lực lượng còn lại của Phái bộ dân sự vụ và thay thế bằng một toán quân y. Trong khi đó, việc gặp gỡ với các quan chức Mỹ để yêu cầu hoàn thành việc cấp ngân khoản cho Phái bộ vẫn được xúc tiến. Tình hình trên đặt ra vấn đề, liệu phía Mỹ có đảm bảo toàn bộ chi phí cho Phái bộ Philíppin hay để cho lực lượng này rút khỏi Nam Việt Nam?

        Mặc dù lực lượng Philíppin đã làm được một số công trình xây dựng, nhưng vẫn chưa thỏa mãn yêu cầu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Riêng tiểu đoàn an ninh và đại đội pháo của lực lượng PHILCAG không được giao nhiệm vụ tiến công nên được đánh giá là không có đóng góp đáng kể cho các hoạt động tác chiến của MACV. Lực lượng an ninh PHILCAG chỉ góp phần đảm bảo an ninh cho dân chúng ở khu vực Tây Ninh, nhưng vì các đơn vị này chiến đấu nhằm mục đích tự vệ nhiều hơn nên khu vực an toàn chỉ giới hạn ở vùng phụ cận căn cứ hoặc các công trình xây dựng họ đang thi công.

        Về tác động tâm lý thì người Nam Việt Nam hầu như không có cảm tình với lực lượng Philíppin. Hơn nữa, người Việt Nam vốn có truyền thống bài ngoại và miễn cưỡng chấp nhận sự giúp đỡ của một quốc gia kém phát triển, đang có vấn đề về tham nhũng và nổi dậy như Philíppin. Do vậy, tháng 4 năm 1969, Toà đại sứ Mỹ đã tỏ ý không muốn đáp ứng yêu cầu của Philíppin về việc duy trì Phái bộ dân sự vụ ở Nam Việt Nam nữa.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 70.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:26:46 AM

        Bộ ngoại giao Mỹ được thông báo lập trường của Tòa đại sứ, nhưng hy vọng sẽ "duy trì hiện trạng". Phía Mỹ tin rằng, với năm 1969 là năm bầu cử tại Philíppin thì vấn đề Phái bộ dân sự vụ ở Nam Việt Nam có thể được đưa ra tại các cuộc thảo luận giữa Mỹ và Philíppin, góp phần làm minh bạch những phương sách mà người Philíppin lựa chọn.

        Ngày 5 tháng 6 năm 1969, Thượng viện Philíppin thông qua ngân sách quốc gia, trong đó có ngân khoản dành cho Phái bộ dân sự vụ, nhưng chỉ để chi cho việc rút quân về nước. Trong quá trình diễn ra tranh cử tổng thống (đến đầu tháng 10 năm 1968), Phái bộ dân sự vụ đã trở thành vấn đề nghiêm trọng. Ngay sau ngày bầu cử, Tổng thống Máccốt đã công bố với báo chí, dự kiến triệu tập một cuộc họp bàn về kế hoạch duy trì một đội y tế nhỏ ở Nam Việt Nam và sẽ không đề nghị Quốc hội cấp thêm ngân sách. Ngày 11 tháng 11 năm 1969, Tòa đại sứ Mỹ tại Manila nhận được thông báo của Bộ ngoại giao Philíppin rằng, Chính phủ Philíppin đã quyết định rút PHILCAG về nước theo đề nghị của Hội đồng chính sách đối ngoại.

        Tuyên bố này lập tức tác động đến các nước đồng minh khác có lực lượng tham chiến ở Nam Việt Nam. Ngày 20 tháng 11 năm 1969, Bộ trưởng ngoại giao Thái Lan, tướng Thanat Khôman, trong khi đề cập việc rút quân với Đại sứ Mỹ Bâncơ đã tỏ ra hoang mang trước việc các nước "đồng minh trong thế giới tự do không được tham khảo ý kiến về quyết định rút quân của Philíppin và tuyên bố việc đóng góp trong tương lai của các đồng minh cho Nam Việt Nam sẽ sớm được đưa ra bàn bạc giữa họ. Một số lực lượng của thế giới tự do tỏ ý nghi ngờ Mỹ đã được Chính phủ Philíppin thông báo trước về quyết định này"1.

        Kế hoạch rút quân về nước của lực lượng Philíppin được bắt đầu từ ngày 25 tháng 11 năm 1969. Bộ phận đầu tiên được máy bay C130 của Mỹ chuyên chở thành hai đợt: đợt thứ nhất vào ngày 1 tháng 12 và đợt thứ hai sau đó một tuần. Bộ phận chính được chuyên chở bằng tàu LST của Philíppin trong thời gian từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 12. Khi lực lượng này lên đường, căn cứ của Philíppin được chuyển giao cho Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ. Sở chỉ huy của Phái bộ dân sự vụ Philíppin tại Nam Việt Nam lúc đó được mở lại ở trại Bonaphico, Philíppin.

        Khi bộ phận chính ra đi, một toán 44 binh sĩ ở lại sau để bàn giao trang thiết bị mà lực lượng Philíppin đã sử dụng cho quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn. Ngày 21 tháng 1 năm 1970, hầu hết toán này đã về nước, chỉ để lại 14 người để hoàn tất việc lập hồ sơ số trang bị bàn giao. Người cuối cùng trong số này rời khỏi Việt Nam vào ngày 15 tháng 2 năm 1970. Lực lượng ở lại được gọi là Đoàn Philíppin tại Nam Việt Nam (Philippine Contingent), gồm bộ phận sở chỉ huy, 4 tổ xử lý trang bị còn lại của chương trình viện trợ quân sự và 4 tổ y tế, nha khoa. Tổng quân số được phép của lực lượng này là 131 người, trong đó có 66 bác sĩ nội, ngoại khoa, nha khoa và kỹ thuật viên thuộc các đội y tế ở Tây Ninh, Định Tường (Mỹ Tho), Phú Cường (Bình Dương) và Ba Trại (Hậu Nghĩa). Bộ phận thuộc chương trình viện trợ quân sự gồm 36 chuyên viên, chia làm 4 tổ xử lý quân cụ còn lại. Các tổ này được bố trí ở Long Bình, Đà Nẵng, Quy Nhơn và vịnh Cam Ranh.

        Bộ tư lệnh MACV đã phối hợp với Bộ tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn để bảo đảm an ninh cho lực lượng Philíppin còn lại. Nhân viên thuộc sở chỉ huy Philíppin ở tại cư xá Mỹ ở Sài Gòn, các bộ phận hoạt động thì đóng trong các căn cứ của quân đội Sài Gòn. Theo chính sách trước đây, các thành viên của Đoàn Philíppin mang vũ khí chỉ nhằm mục đích tự vệ trong trường hợp bị tiến công, không tham gia các hoạt động tác chiến.

-----------------
        1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 73.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:27:25 AM

        Như thế, vai trò hoạt động của lực lượng Philíppin tại Nam Việt Nam đến đây đã gần như hoàn tất. Năm 1964, đơn vị đầu tiên của Đoàn Philíppin gồm các tổ nha khoa và phẫu thuật đã đến Nam Việt Nam. Khi Phái bộ dân sự vụ thứ nhất đến nơi vào năm 1966, Đoàn Philíppin ban đầu được sáp nhập với lực lượng này. Đầu năm 1970, Đoàn Philíppin tại Nam Việt Nam trở thành bộ phận cuối cùng của Phái bộ dân sự vụ rút về nước.

        Trong thời gian tham gia chiến tranh tại Nam Việt Nam, Phái bộ dân sự vụ Philíppin mặc dù không trực tiếp tham gia tác chiến, nhưng đã có những hoạt động tích cực, hỗ trợ cho các cuộc hành quân "tìm diệt" của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn ở khu vực Tây Ninh. Trong chương trình "bình định", lực lượng công binh Philíppin đã xây dựng 1.164km đường, 11 cây cầu, 169 căn nhà, 10 tháp, 194 cống ngầm, 54 trung tâm dồn, gom dân để đưa vào các "ấp chiến lược". Họ cũng đã phát quang được 778 ha dất rừng, chuyển 2.225 ha thành các công trình công cộng, xây dựng các trang trại "kiểu mẫu" (trên 10 ha). Trong chương trình cải thiện môi trường, họ đã khôi phục, sửa chữa 94 km đường, 47 tòa nhà, 12 tiền đồn, 245 giếng nước và tham gia công tác xây dựng nhỏ hai đường băng của sân bay Tây Ninh. Chương trình cũng đã huấn luyện cho 32 người biết cách sử dụng và bảo dưỡng các trang thiết bị; 139 người về giáo dục sức khỏe,... Trong chương trình "bình định" này, lực lượng Philíppin đã giúp chính quyền Sài Gòn gom, dồn được 1.065 gia đình vào trong 14 "ấp chiến lược" và được lực lượng này bảo trợ. Trong chương trình y tế dân sự vụ, Phái bộ đã điều trị cho 724.715 người bệnh; chữa răng cho 218.609 người và thực hiện được 35.844 ca tiểu phẫu thuật. Theo đánh giá của Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu, những hoạt động của Phái bộ dân sự vụ Philíppin đã "đóng góp" rất nhiều cho chương trình "bình định" nông thôn, hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động tác chiến của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn1.

        Thực tế cho thấy, các hoạt động "bình định" của lực lượng Philíppin tại Nam Việt Nam đã hỗ trợ đắc lực cho kế hoạch "tìm diệt" của Mỹ - quân đội Sài Gòn trong mùa khô 1966-1967 và đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của quân và dân tỉnh Tây Ninh, địa bàn đóng quân và tác nghiệp của lực lượng này. Các lực lượng vũ trang địa phương Tây Ninh đã mở nhiều cuộc tiến công quy mô nhỏ và vừa vào các căn cứ, các dự án "dồn dân lập ấp chiến lược" của lực lượng Philíppin. Quân và dân Tây Ninh còn mở các đợt tuyên truyền vận động đối với các binh sĩ Philíppin để họ thấy rõ sự thật về cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Nam Việt Nam, đó là cuộc chiến tranh phi nghĩa và nhân dân Việt Nam đứng lên tiến hành kháng chiến chống lại quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn là sự nghiệp chính nghĩa.

        Quá trình tham gia chiến tranh, lực lượng quân đội Philíppin cũng chịu một số tổn thất với 2 người chết, 17 người bị thương và một số máy móc, thiết bị, xe thiết giáp bị phá huỷ2. Đầu năm 1970, cùng với sự thất bại của Mỹ, quân đội Sài Gòn và quân đội các nước đồng minh khác trên khắp các chiến trường miền Nam Việt Nam, sự phản đối của các lực lượng tiến bộ trên thế giới và dư luận trong nước, Chính phủ Philíppin đã buộc phải tuyên bố rút quân về nước, chấm dứt sự dính líu của họ vào cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ tại Việt Nam.

-----------------
         1, 2. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 76.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:29:06 AM

        V. QUÂN ĐỘI NIU DILÂN

        1. Chính sách của Chính phủ Niu Dilân đối với cuộc chiến tranh Việt Nam và quá trình đàm phán Mỹ - Niu Dilân về việc đưa quân sang tham chiến tại miền Nam Việt Nam.


        Đối với Niu Dilân, việc tham gia chiến tranh Việt Nam là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất, đồng thời cũng để lại nhiều kinh nghiệm quân sự nhất cho quân đội nước này trong thế kỷ XX. Chiến tranh Việt Nam thực sự đã tác động đến mọi mặt đời sống xã hội, từ việc gây nên những cuộc tranh luận trong Quốc hội đến việc hoạch định đường lối, chính sách an ninh quốc gia của Niu Dilân.

        Trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1946-1954), Chính phủ Niu Dilân ngả theo quan điểm của Anh, Mỹ. Họ cho rằng, Việt Nam là một trọng điểm, một trận tuyến để chống lại "sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á". Chính vì nhận thức như vậy, Niu Dilân đã trở thành đồng minh của Anh, Mỹ, ủng hộ và thừa nhận Chính phủ Bảo Đại do Pháp dựng lên. Lúc đó, Chính phủ Niu Dilân còn tỏ ra quan ngại về sức mạnh và tính hợp hiến của những người cộng sản bản địa. Là đồng minh của Anh, nên Niu Dilân cũng đã tham gia đóng góp một phần về quân sự cho Pháp tại Việt Nam. Vào thời điểm đó, Niu Dilân gửi hai tàu chở vũ khí và đạn dược sang Việt Nam để giúp Chính phủ bù nhìn Bảo Đại.

        Tháng 5 năm 1954, quân Pháp bị đánh bại ở Điện Biên Phủ; tháng 7 năm 1954, Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương; tuyên bố công nhận các quyền dân tộc cơ bản và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia. Trong số chín đoàn đại biểu chính thức tham gia Hội nghị có tám đoàn tham gia ký kết các văn kiện của Hội nghị; riêng đoàn Mỹ không ký mà chỉ ra một tuyên bố. Từ chối ký vào Hiệp định, chính quyền Mỹ đồng thời ráo riết xúc tiến kế hoạch lập khối quân sự SEATO và đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam Việt Nam, dựng lên ở đây một chính quyền, một quân đội tay sai, hòng biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự để chống lại Liên Xô, Trung Quốc, chống nhân dân Việt Nam, mà Mỹ cho là để ngăn chặn "sự bành trướng" của chủ nghĩa cộng sản. Nằm trong vòng ảnh hưởng của Mỹ và Anh, Niu Dilân trở thành một trong những thành viên sáng lập của khối SEATO, một liên minh quân sự do Mỹ đứng đầu và được coi là một công cụ quan trọng để bảo vệ an ninh khu vực Đông Nam Á. Đồng thời, Niu Dilân còn tham gia vào khối ANZUS (Ôxtrâylia, Niu Dilân, Mỹ, thành lập năm 1951) và sau này là khối ANZUK (Anh, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Malaixia và Singapo, thành lập năm 1971) - những khối liên minh chính trị - quân sự của các nước đế quốc được lập ra nhằm ngăn chặn sự phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa, chống lại phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á và Nam Thái Thái Bình Dương. Dựa vào các hiệp ước trên, Niu Dilân đã tham gia tích cực trong các hoạt động "bảo vệ an ninh khu vực", thực hiện chiến lược phòng phủ phía trước của chủ nghĩa đế quốc ở Đông Nam Á. Tất cả các nhân tố trên chính là điều kiện để Niu Dilân ngày càng can thiệp sâu và trực tiếp vào cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam sau này.

        Khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam quyết tâm đứng lên kháng chiến chống Mỹ, lật đổ chính quyền Sài Gòn. Với cách nhận thức phiến diện, các quan chức Niu Dilân cho rằng, lực lượng Việt cộng đang đe dọa nghiêm trọng đến thể chế chính trị của Nam Việt Nam (chính quyền Sài Gòn), một thể chế mà Mỹ đang ra sức tăng cường viện trợ kinh tế, chính trị, quân sự để nuôi dưỡng nhằm phục vụ mục tiêu chính trị của Mỹ ở Đông Nam Á. Một bộ phận khác trong giới quan chức ở Oenlinhtơn lại cho rằng, đây chỉ là cuộc xung đột khu vực giữa một bên là Bắc Việt Nam được Trung Quốc, Liên Xô hậu thuẫn và một bên là Việt Nam Cộng hòa được Mỹ tài trợ cả về quân sự, chính trị, kinh tế. Việc quyết định tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây tranh cãi không ít trong chính giới Niu Dilân.

        Vào thời điểm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, Niu Dilân bắt đầu phải chịu những áp lực của Mỹ trong việc đóng góp vào quá trình "ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản" ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ở một chừng mực nhất định, Niu Dilân đã có những hành động chống lại áp lực của Mỹ. Một phần vì họ nghi ngờ tính hiệu quả của việc can thiệp từ bên ngoài vào cuộc chiến ở Việt Nam. Mặt khác, họ cũng lo sợ khi cuộc chiến tranh mở rộng, khả năng can thiệp của Trung Quốc là rất lớn và điều đó sẽ bất lợi đối với an ninh của Niu Dilân.

        Bước ngoặt trong vấn đề can thiệp vào cuộc chiến tranh Việt Nam chính là vào thời điểm Thủ tướng Holyoc lên cầm quyền ở Niu Dilân. Với tư cách là một đồng minh của Anh và Mỹ, Niu Dilân rất quan tâm đến vấn đề chiến tranh ở Việt Nam. Cũng như Ôxtrâylia, cả hai quốc gia Tây Thái Bình Dương này đều có chung một nhận thức rằng, những lợi ích sống còn của riêng họ đang bị đe dọa. Sự sa sút của cường quốc Anh làm cho nền an ninh của Niu Dilân ngày càng phải lệ thuộc và phải phụ thuộc nhiều hơn vào Mỹ để ngăn chặn cái gọi là "cơn lũ của sự khủng bố và xâm lăng" của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á, như lời Thủ tướng Niu Dilân tuyên bố. Theo ông ta, vấn đề cơ bản của cuộc chiến ở Nam Việt Nam thực chất chính là vấn đề ý thức hệ: "ý chí của ai sẽ thắng thế ở Nam Việt Nam? - Ý chí áp đặt của cộng sản Bắc Việt và Việt cộng hay là ý chí được phát biểu tự do của nhân dân Nam Việt Nam!"1.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L., Allied Participation in Vietnam, op.cit., p.104.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:29:46 AM

        Đối với Niu Dilân, cuộc chiến tranh Việt Nam không mang lại nhiều quyền lợi, nhưng với tư cách là một đồng minh của Mỹ, Niu Dilân không thể nằm ngoài hệ tư tưởng "chống cộng" và "bảo vệ nền an ninh khu vực Đông Nam Á" mà Mỹ đang áp đặt cho các nước đồng minh. Chính vì vậy, việc đưa quân sang Nam Việt Nam đặt ra hàng loạt vấn đề và làm xáo trộn toàn bộ hệ thống chính trị, xã hội Niu Dilân tại thời điểm đó.

        Tuy nhiên, không giống như Ôxtrâylia, một nước ngay từ năm 1962 đã đưa các đội cố vấn quân sự sang Việt Nam, Niu Dilân chỉ tham gia vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam với một mức độ tối thiểu: gửi đến một đội phẫu thuật dân sự. Trong suốt thời gian hoạt động ở Việt Nam, đội phẫu thuật Niu Dilân đã thực hiện có hiệu quả tại Quy Nhơn (Bình Định). Khi cuộc chiến ở Việt Nam ngày càng leo thang, dưới những áp lực liên tục của Mỹ, năm 1963, Chính phủ Niu Dilân đồng ý chấp thuận đưa một toán dân sự vụ sang Việt Nam. Nhưng vào thời điểm đó, tình hình chính trị ở Sài Gòn rất phức tạp, đặc biệt từ sau vụ đảo chính Ngô Đình Diệm. Vì vậy, Chính phủ Niu Dilân đã hoãn không đưa lực lượng này sang. Trong những năm tiếp theo, Chính phủ Holyoc đã tìm mọi cách giảm thiểu sự can thiệp của Niu Dilân vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Vào thời điểm này, người ta cho rằng, đó chỉ là một hành động để lấy lòng các nước đồng minh. So với cuộc chiến tranh ở Malaixia (cũng là một cuộc chiến tranh trong khu vực Đông Nam Á), đóng góp quân sự của Niu Dilân trong cuộc chiến tranh Việt Nam ít hơn, nhưng nó để lại những hệ lụy chính trị sâu, nặng hơn nhiều đối với Chính phủ nước này.

        Các cuộc thảo luận xoay quanh việc đưa quân Niu Dilân sang tham chiến tại Nam Việt Nam đã được tiến hành ở nhiều cấp khác nhau giữa Mỹ và Niu Dilân. Từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 6 năm 1963, đại diện Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Nam Việt Nam đã gặp gỡ với Trung tá Rôbớt M. Gơn, đại diện của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Niu Dilân để bàn về vấn đề triển khai quân sang Nam Việt Nam.

        Trong quá trình thảo luận, đại diện của quân đội Niu Dilân đã đưa ra quan điểm của Chính phủ Niu Dilân về việc triển khai quân sang tham chiến tại Nam Việt Nam, theo đó chủ yếu là các toán sửa chữa, bảo dưỡng vũ khí trang bị, công binh, các bộ phận quân y dã chiến, lực lượng hải quân và các thành phần tác chiến lục quân. Chi tiết về khả năng sử dụng quân Niu Dilân vào các hoạt động trên cũng như nhiều vấn đề khác đều được nêu ra trong cuộc bàn thảo này. Trung tá Gơn cũng cho biết, mặc dù Chính phủ Niu Dilân tỏ ra ngần ngại, không muốn dính líu sâu vào các cuộc hành quân tác chiến vì lý do chính trị, nhưng giới quân sự nước này lại muốn được chứng minh khả năng quân sự của mình, cũng như có thêm kinh nghiệm về hành quân tác chiến trong thực tiễn chiến tranh tại Nam Việt Nam.

        Ngày 20 tháng 7 năm 1964, một trung đội công binh và tổ phẫu thuật là những đơn vị đầu tiên của quân đội Niu Dilân đến Nam Việt Nam. Lực lượng này được trưng dụng vào việc thực hiện các dự án dân sự tại địa phương, trợ giúp cho chính quyền Sài Gòn. Khi tới Việt Nam, lực lượng trên đóng quân ở Thủ Dầu Một, thủ phủ của tỉnh Bình Dương. Trong quá trình tham gia chiến tranh Việt Nam, họ đã xây dựng nhiều công trình cầu, đường sá, nhà ở,...

        Năm 1965, khi Mỹ quyết định ồ ạt đưa quân chiến đấu vào Nam Việt Nam, áp lực của Mỹ đối với Niu Dilân càng lớn. Cũng như nhiều nước đồng minh khác của Mỹ, Niu Dilân nhiều lần bị Mỹ ép phải đưa lực lượng bộ binh sang Việt Nam. Tuyên bố với chính giới, Thủ tướng Niu Dilân đã chỉ ra rằng, Niu Dilân ủng hộ quan điểm của Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam nhưng ông ta cũng phải thú nhận, vào thời điểm này, một mặt, lực lượng của họ không đủ vì một bộ phận đang phải tham chiến ở Malaixia, nơi đang diễn ra cuộc đối đầu giữa những người cộng sản Malaixia và chính quyền sở tại. Mặt khác, họ nghi ngại thể chế chính trị Sài Gòn chưa đủ mạnh để có thể giữ vững, mặc dù được Mỹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, đến ngày 24 tháng 5 năm 1965, Niu Dilân cũng đồng ý đưa sang Nam Việt Nam một đơn vị pháo 105mm, gồm 4 khẩu với 120 quân nhân (Đại đội pháo 161) thuộc lực lượng pháo binh Hoàng gia Niu Dilân. Ngày 21 tháng 7 năm 1965, đơn vị này đến Nam Việt Nam và đặt dưới quyền kiểm soát hành quân của Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam và được tăng cường cho Lữ đoàn không vận 173 Mỹ. Nhiệm vụ của đơn vị này được xác định ngay từ ban đầu khi mới sang đến Nam Việt Nam là yểm trợ cho Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia trong địa bàn tỉnh Phước Tuy.

        Một tháng sau khi đến Nam Việt Nam, Mỹ và Niu Dilân mới đạt được thỏa thuận về các mặt đảm bảo và hoạt động quân sự của lực lượng này. Theo đó, Mỹ đồng ý cung cấp về mặt tài chính trong quá trình lực lượng này tham gia chiến đấu. Mặc dù cho đến cuối năm 1965, hai bên không ký kết thêm thỏa thuận bảo đảm tài chính như với các nước đồng minh khác, nhưng phía Niu Dilân đã bồi hoàn lại cho Mỹ phần chi phí bảo đảm. Quân số Niu Dilân ở miền Nam Việt Nam vào thời điểm này là 199 người1.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L., Allied Participation in Vietnam, op.cit., p.105.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:30:37 AM

        Đầu năm 1966, tướng Oétmolen và Đại sứ Niu Dilân đã tiến hành các cuộc thảo luận về khả năng gia tăng viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam. Đặc biệt, tướng Oétmolen cũng hy vọng rằng, Niu Dilân có thể cung cấp một tiểu đoàn bộ binh cho một lữ đoàn hỗn hợp gồm ba tiểu đoàn Ôxtrâylia - Niu Dilân (gọi tắt là ANZAG). Mặc dù quan điểm cá nhân của viên Đại sứ tỏ ra nhất trí với lời đề nghị trên, nhưng ông cũng cho biết phải có sự cân nhắc về yếu tố chính trị liên quan đến việc gia tăng lực lượng vốn nằm ngoài thẩm quyền của ông ta. Cuối tháng 2 năm 1966, một đại diện của Bộ Ngoại giao Niu Dilân đã gặp tướng Oétmolen và cho biết, họ muốn tăng cường thêm cho đại đội pháo 105mm từ 4 lên 6 khẩu. Bất chấp áp lực của năm bầu cử và những cân nhắc chính trị kèm theo khuynh hướng vốn có, là giới hạn gia tăng viện trợ quân sự mà chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực phi quân sự, ngày 26 tháng 3 năm 1966, Chính phủ Niu Dilân vẫn ra tuyên bố quyết định bổ sung thêm 2 khẩu pháo 105mm và 27 người vào lực lượng pháo binh Niu Dilân tại Nam Việt Nam. Ngoài ra, tổ phẫu thuật ở Quy Nhơn cũng tăng từ 7 lên 13 người1.

        Trong chuyến thăm Nam Việt Nam, Tổng tham mưu trưởng lục quân Niu Dilân đã nói với tướng Oétmolen rằng, Niu Dilân có thể đáp ứng được yêu cầu của Mỹ muốn Niu Dilân tăng thêm viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam, nhưng quyết định cuối cùng phụ thuộc vào kết quả sau cuộc bầu cử tháng 11 năm 1966 ở nước này. Một số khả năng khác cũng được đề cập trong cuộc hội đàm này, trong đó Niu Dilân cho biết, có thể sẽ đưa một tiểu đoàn bộ binh gồm 4 đại đội và 1 phi đội đặc vụ đường không. Cả hai đơn vị này hiện đang hoạt động tại Malaixia, nhưng nếu cần thiết sẽ được điều động sang Nam Việt Nam. Một khả năng khác cũng được cân nhắc là việc đưa thêm một trung đội thiết giáp và một đại đội hậu cần sang tham chiến tại Nam Việt Nam. Tuy vậy, bản thân Tổng tham mưu trưởng lục quân Niu Dilân cũng phải thừa nhận một sự thật rằng, giới dân sự và một số quân nhân trong Bộ Quốc phòng Niu Dilân phản ứng rất mạnh mẽ việc đưa quân sang tác chiến tại chiến trường Nam Việt Nam. Do đó, rất khó có thể thực thi ngay những khả năng đề cập trên đây.

        Cuộc bầu cử mùa thu năm 1966 đã xác định rõ chính sách của Niu Dilân đối với cuộc chiến tranh Việt Nam. Được sự ủng hộ của đa số cử tri, Thủ tướng Niu Dilân đã chỉ thị cho Bộ trưởng Quốc phòng xét duyệt lại toàn bộ tình hình rồi cân nhắc việc sử dụng toàn phần hoặc một phần Tiểu đoàn Niu Dilân thuộc Lữ đoàn 28 Liên hiệp Anh (Malaixia) vào nhiệm vụ tác chiến ở Nam Việt Nam.

        Tiếp đó, chính quyền Niu Dilân đã tổng hợp những khả năng viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam. Các khả năng triển khai quân được đưa ra bàn thảo như: lục quân sẽ triển khai một đại đội không vụ đặc biệt (đặc vụ hàng không) 40 người (phi đội) hoặc 5 toán (mỗi toán 20 người) để thay phiên làm nhiệm vụ mỗi lần 5 tháng cùng với một số đơn vị tương ứng của Ôxtrâylia. Một khả năng khác có thể triển khai nữa là một toán quân thiết giáp gồm 30 người và 12 xe thiết giáp. Tuy nhiên, các phương án này đều chưa thể thực thi trong thời gian trước mắt. Một khả năng khác cũng được cân nhắc là việc đưa sang một đại đội bộ binh hoặc toàn bộ tiểu đoàn Niu Dilân hiện đang đóng ở Malaixia. Cuối cùng là các đơn vị phục vụ hành chính và hậu cần nhỏ sẽ bổ sung theo đề nghị của phía Ôxtrâylia.

        Không quân Hoàng gia Niu Dilân đưa ra phương án gia tăng lực lượng sang Nam Việt Nam từ 4 lên 6 phi hành đoàn Canbêra (Canberra, máy bay B57) với sự yểm trợ của 40 đến 50 quân bảo đảm mặt đất. Lực lượng này sẽ được sáp nhập vào các phi đội Canbêra của Mỹ hoặc Ôxtrâylia. Tuy nhiên, việc sử dụng các loại máy bay B57 của không quân Niu Dilân bên cạnh các máy bay ném bom của Mỹ là điều không phù hợp với tình hình thực tiễn nên phía Niu Dilân quyết định sẽ không triển khai sang Nam Việt Nam mà để lại trong nước làm nhiệm vụ huấn luyện. Một phương án khác cũng được lực lượng không quân đưa ra là: họ sẽ đưa một số phi công Canbêra hoặc Vampai, có đủ điều kiện để tham dự vào chương trình huấn luyện loại máy bay F4 do Mỹ tài trợ, sau đó sẽ trực tiếp tham gia vào các hoạt động tác chiến; bổ sung một số nhân viên hành quân, tình báo và kiểm soát trên không; đưa một số máy bay vận tải loại Britơn cùng phi hành đoàn và lực lượng bảo đảm mặt đất cần thiết. Khả năng cuối cùng là đưa các phi hành đoàn và nhân viên bảo đảm mặt đất cho loại trực thăng Airơkê (Iroqueir).

        Phương án đóng góp của lực lượng hải quân chỉ giới hạn ở việc triển khai khu trục hạm Blaokpcol đang ở Singapo đến phối thuộc cho Hạm đội 7 Mỹ ở ngoài khơi bờ biển Nam Việt Nam và việc sáp nhập từ 20 đến 40 thủy thủ vào tàu tuần tra Mỹ trên nguyên tắc 1 thay thế 1.

        Ngoài các phương án đối với các lực lượng hải, lục, không quân, chính quyền Niu Dilân còn cân nhắc việc thay thế 3 tổ dân y đang phục vụ ở Bình Định bằng một tổ y tế của quân đội.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L., Allied Participation in Vietnam, op.cit., p.105.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:31:17 AM

        Quan điểm của các viên chức trong MACV và Văn phòng Tư lệnh Thái Bình Dương về những đề nghị của Mỹ được chuyển đến Niu Dilân theo thứ tự mà họ sắp đặt: Mỹ muốn Niu Dilân đưa sang Nam Việt Nam một tiểu đoàn bộ binh trọn vẹn, một đại đội bộ binh, một đại đội không quân đặc biệt (phi đội đặc vụ đường không) và một toán thiết giáp. Theo đó, tiểu đoàn bộ binh được đưa từ Malaixia sang có thể sử dụng hữu hiệu ở bất kỳ vùng chiến thuật nào, nhưng tốt nhất là được bổ sung cho Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia. Nếu thực hiện như vậy, sức mạnh của lực lượng này sẽ tăng gấp đôi trong các cuộc hành quân "tìm diệt" cùng với quân Mỹ và quân đội Sài Gòn. Hơn thế nữa, hành động này sẽ tăng cường an ninh cho khu vực Vũng Tàu và giúp sức cho chương trình "bình định" của chính quyền Sài Gòn. Tuy nhiên, lực lượng đặc nhiệm tham gia các cuộc hành quân chỉ cần một tiểu đoàn tăng cường, tiểu đoàn còn lại sẽ làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự tại căn cứ đóng quân; đại đội bộ binh Niu Dilân khi sang Nam Việt Nam sẽ được sử dụng như một bộ phận của lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia; đại đội không quân đặc biệt sẽ làm nhiệm vụ phối hợp tuần tra tầm xa và trinh sát khi các cuộc tiến công của quân đồng minh phát triển mạnh. Theo đánh giá của MACV, đại đội này có thể được sử dụng hữu hiệu ở bất cứ quân khu nào, nhưng tốt hơn nên để ở Vùng III chiến thuật, dưới quyền kiểm soát hành quân của Sở chỉ huy Lực lượng chiến trường II của Mỹ. Đơn vị này đóng quân độc lập, trong một vùng hẻo lánh để dễ quan sát, nắm tình hình về bố trí lực lượng, cơ sở mật và các hoạt động của lực lượng cách mạng; chi đoàn thiết giáp sẽ được phối thuộc cho Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia làm nhiệm vụ bảo vệ đường sá cũng như tiến hành các hoạt động càn quét để mở các tuyến giao thông liên lạc.

        Về phần gia tăng lực lượng không quân Niu Dilân, một phi đội Canbêra được xem là điều mong muốn nhất của Mỹ, sau đó là các máy bay vận tải loại Britơn, trực thăng vũ trang loại Airơkê, các phi công F6, chuyên viên tình báo và nhân viên kiểm soát trên không. Các máy bay ném bom sẽ hoạt động với phi đội Ôxtrâylia, trong khi máy bay vận tải Bristơn sẽ bảo đảm hậu cần ở Nam Việt Nam cũng như vận chuyển lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia. Với quân số 25 sĩ quan và 25 binh sĩ có thể được sử dụng chung với Đại đội trực thăng Airơkê và Mỹ hy vọng số quân nhân đó sẽ phục vụ trong thời gian tối thiểu là 6 tháng. Các chuyên viên tình báo và nhân viên kiểm soát trên không sẽ được sử dụng vào việc phối hợp và yểm trợ pháo binh cũng như yểm trợ chiến thuật trực tiếp cho lực lượng bộ binh. Lực lượng hải quân sẽ được tăng cường cho Hạm đội 7 bằng một khu trục hạm loại Blaokpcol là điều Mỹ đặc biệt mong muốn, cũng giống như việc sáp nhập một số quân Niu Dilân vào đoàn thủy thủ Mỹ trên tàu tuần tra Mackit Timo (Market Timo) hoặc Ghêm Oađen (Game Warden). Trong các lời đề nghị trên, cả Mỹ và Niu Dilân đều dự kiến Niu Dilân sẽ không nắm quyền chỉ huy và kiểm soát lực lượng này.

        Trong khi việc xét duyệt và thảo luận xoay quanh vấn đề gia tăng lực lượng Niu Dilân sang Nam Việt Nam vẫn đang tiếp diễn, thì ngày 8 tháng 5 năm 1967, Chính phủ Ôxtrâylia ra thông báo là họ có ý định gửi một tổ y tế 16 người thuộc ba quân chủng đến tỉnh Bình Định vào cuối tháng 5 hoặc đầu tháng 6 năm 1967 để thay thế cho Tổ y tế Mỹ tại Bồng Sơn. Trước những động thái mới của Ôxtrâylia, Chính phủ Niu Dilân đã quyết định gia tăng lực lượng quân sự tại Nam Việt Nam lên gấp đôi, thông qua việc triển khai một đại đội bộ binh cùng với các bộ phận yểm trợ lấy từ Tiểu đoàn đặc nhiệm ở Malaixia và thời gian luân chuyển là 6 tháng.

        Bộ phận thứ nhất là Đại đội V thuộc Trung đoàn bộ binh Hoàng gia Niu Dilân đến Nam Việt Nam vào ngày 11 tháng 5 năm 1967. Tháng 10 năm 1967, tướng Oétmolen nhận được thông báo, chính quyền Niu Dilân sẽ bổ sung một đại đội bộ binh nữa vào lực lượng quân đội Niu Dilân tại Nam Việt Nam trong tháng 12 năm 1967. Đơn vị này có phiên hiệu là Đại đội W thuộc Trung đoàn bộ binh Hoàng gia Niu Dilân cùng với bộ phận công binh và quân yểm trợ đã đến Nam Việt Nam trong thời gian từ ngày 16 đến ngày 17 tháng 12 năm 1967. Cả hai đại đội này đều được sáp nhập vào một đơn vị thuộc Lực lượng đặc nhiệm của Ôxtrâylia để thành lập Tiểu đoàn ANZAG (Ôxtrâylia - Niu Dilân). Cũng trong tháng 12, một trung đội không quân đặc biệt của Niu Dilân cũng đến Nam Việt Nam và được sáp nhập vào một đơn vị của Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia. Những cuộc triển khai trên đây đã nâng quân số của Niu Dilân tại Nam Việt Nam từ 155 lên hơn 500 người.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L., Allied Participation in Vietnam, op.cit., p. 23.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:32:02 AM

        Tuy lực lượng quân đội Niu Dilân ở miền Nam Việt Nam đã lên gần 200 người từ năm 1965, nhưng phải đến ngày 10 tháng 9 năm 1968, vấn đề bảo đảm hậu cần cho lực lượng này mới được thông qua trong một thỏa thuận về hoạt động quân sự giữa Mỹ và Niu Dilân. Theo các điều khoản của thỏa thuận này, chính quyền Niu Dilân sẽ bồi hoàn chi phí bảo đảm mà phía Mỹ cung cấp theo định mức đầu người. Sự bảo đảm của Mỹ bao gồm các mặt:

        - Việc xây dựng căn cứ và chi phí vận chuyển bên trong Nam Việt Nam đối với hàng tiếp liệu của lực lượng Niu Dilân đến bằng con đường thương mại;

        - Lương thực, thực phẩm và nhà ở (không bao gồm khu gia đình cho thân nhân);

        - Một số chế độ về chăm sóc y tế và nha khoa tại Nam Việt Nam (không bao gồm việc đưa đi chữa ở ngoài Nam Việt Nam, trừ trường hợp cấp cứu. Chế độ này cũng giống như đối với quân nhân Mỹ và các nước đồng minh khác);

        - Việc sử dụng xe buýt, xe du lịch, xe tắcxi và đường hàng không do Mỹ điều hành;

        - Việc chuyển các điện văn chính thức bằng điện đài hoặc các phương tiện thông tin liên lạc khác thông qua những đường dây có sẵn;

        - Việc sử dụng phương tiện quân bưu của Mỹ, kể cả chế độ đóng bao đối với mọi công văn và thư riêng;

        - Dịch vụ bách hóa và hàng miễn thuế tại Nam Việt Nam;

        - Những dịch vụ đặc biệt, kể cả các chuyến nghỉ ngơi và giải trí được tổ chức sẵn;

        - Khu vực văn phòng, trang bị và tiếp liệu khi cần thiết;

        - Phụ tùng thay thế, các sản phẩm dầu khí và phương tiện bảo dưỡng cho các loại xe cơ giới và máy bay trong khả năng của các phương tiện và đơn vị của Mỹ tại Nam Việt Nam.

        Đây là những thỏa thuận rất cụ thể và chi tiết về hành chính, tài chính giữa Mỹ và Niu Dilân cũng như với các nước đồng minh khác trong quá trình tham chiến tại Nam Việt Nam. Những năm tiếp theo, hầu như không có sự thay đổi đáng kể về quân số, nhiệm vụ của lực lượng Niu Dilân tại Nam Việt Nam cũng như các thỏa thuận về hoạt động quân sự, thỏa thuận hành chính, tài chính khác giữa Mỹ và chính quyền Niu Dilân.

        2. Hoạt động của các lực lượng Niu Dilân tại miền Nam Việt Nam (1965-1972).

        Hầu hết các đơn vị Niu Dilân khi đưa sang Nam Việt Nam đều hoạt động cùng với Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia. Nhiệm vụ của lực lượng này là tham gia các cuộc hành quân và yểm trợ cho lực lượng quân Mỹ, quân đội Sài Gòn trong chương trình "tìm diệt" và "bình định". Địa bàn hoạt động của quân Niu Dilân lúc đầu là ở tỉnh Biên Hoà, sau đó chủ yếu là ở Phước Tuy (đơn vị hành chính của chính quyền Sài Gòn).

        Lực lượng chiến đấu của quân đội Niu Dilân chính thức tham chiến ở Nam Việt Nam bằng việc Đại độipháo 161 đến Sài Gòn vào tháng 7 năm 1965 với trang bị ban đầu là 4 khẩu trọng pháo 105mm. Toàn bộ nhân viên và trang bị của Đại đội pháo 161 được đưa tới Việt Nam bằng một chiếc máy bay vận tải C130 của Anh. Đây cũng là lần đầu tiên lực lượng chiến đấu của Niu Dilân được triển khai vào khu vực có chiến tranh bằng không quân. Khi tới Việt Nam, Đại đội pháo 161 được triển khai ở căn cứ không quân Biên Hòa. Nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng này là yểm trợ cho Lữ đoàn không vận 173 của Mỹ và chịu sự điều hành của lữ đoàn này cho đến khi quân Niu Dilân rút khỏi Nam Việt Nam. Trong quá trình tham chiến tại Việt Nam, Đại đội pháo 161 đã tham gia tất cả 17 cuộc hành quân quan trọng, chủ yếu tập trung ở khu vực Biên Hòa và một số cuộc hành quân ở tỉnh Phước Tuy. Năm 1966, đại đội pháo này được bổ sung thêm hai khẩu và đến tháng 6 năm 1966, toàn bộ Đại đội pháo 161, do Thiếu tá Maotera chỉ huy, được sáp nhập vào Lực lượng đặc nhiệm số 1 Ôxtrâylia tại Việt Nam, đang hoạt động ở khu vực Núi Đất, tỉnh Phước Tuy. Với nhiệm vụ chủ yếu là chi viện cho quân Ôxtrâylia, tháng 8 năm 1966, Đại đội 161 đóng vai trò quan trọng trong việc yểm trợ cho Tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia khi tiểu đoàn này tiến hành cuộc hành quân ở xã Long Tân, huyện Long Đất. Bị Tiểu đoàn địa phương 445 của tỉnh Bà Rịa - Long Khánh phối hợp với một số đơn vị thuộc Sư đoàn 5 chủ lực Miền cùng quân và dân huyện Long Đất đánh dạt vào khu vực quyết chiến điểm, lực lượng Ôxtrâylia rối loạn đội hình. Chỉ sau khi một đơn vị thuộc Đại đội pháo 161, do Đại úy Morie Stanley chỉ huy, định vị được mục tiêu, bắn trả quyết liệt và liên tục trong 2 giờ 30 phút, mới giải vây cho quân Ôxtrâylia. Trong cuộc hành quân này có 18 lính Ôxtrâylia bị tiêu diệt. Đây là trận đọ sức đầu tiên và lớn nhất giữa quân Ôxtrâylia - Niu Dilân với lực lượng vũ trang ta tại tỉnh Bà Rịa - Long Khánh.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:32:30 AM

        Thất bại trong trận Long Tân, quân Ôxtrâylia và Niu Dilân tiếp tục mở nhiều trận càn quy mô lớn vào các vùng căn cứ cách mạng trên địa bàn ba huyện Châu Đức, Long Đất, Xuyên Mộc. Tại huyện Châu Đức, quân Ôxtrâylia, Niu Dilân kết hợp với quân đội Sài Gòn ồ ạt tiến công vào xã Long Phước. Trước lực lượng địch áp đảo, phong trào cách mạng Châu Đức gặp nhiều khó khăn. Du kích các xã phải rút ra ngoài củng cố ở các căn cứ "lõm". Tại huyện Xuyên Mộc, quân Ôxtrâylia được sự yểm trợ của pháo binh Niu Dilân mở tiếp trận càn vào căn cứ Bàu Lâm nhằm xoá địa bàn đứng chân của các cơ quan tỉnh, huyện ở đây. Được pháo 105mm của Niu Dilân ở căn cứ Núi Đất bắn yểm trợ, quân Ôxtrâylia chia làm hai cánh theo hai hướng tiến công vào Bàu Lâm, nhưng đã bị lực lượng vũ trang huyện Xuyên Mộc bẻ gãy; địa bàn đứng chân của các cơ quan đầu não cách mạng được bảo vệ an toàn.

        Tháng 12 năm 1966, khi cuộc chiến tranh chống du kích ở Mailaixia kết thúc, trước sức ép của Mỹ, cả Ôxtrâylia và Niu Dilân đều phải gia tăng lực lượng tham gia chiến tranh Việt Nam. Chính phủ Ôxtrâylia quyết định mở rộng lực lượng đặc nhiệm hoạt động ở Việt Nam lên cấp lữ đoàn. Tháng 4 năm 1967, cũng dưới áp lực đó, Chính phủ Niu Dilân phải quyết định triển khai Đại đội bộ binh 5 của Niu Dilân vừa tham gia tác chiến tại Malaixia sang Việt Nam. Tiếp đó là Đại đội bộ binh W được đưa sang vào tháng 12 năm 1967.

        Quá trình tham gia chiến đấu tại Nam Việt Nam, hai đại đội Niu Dilân chịu sự điều hành tác chiến của Tiểu đoàn 2 Ôxtrâylia. Sau đó, đến tháng 3 năm 1968, các đại đội Niu Dilân chính thức sáp nhập vào Tiểu đoàn 2 và lực lượng hỗn hợp này gọi là Tiểu đoàn ANZAG. Tiểu đoàn này chủ yếu làm nhiệm vụ tuần tra, tham gia các cuộc hành quân "tìm diệt" cùng với quân Mỹ, Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn. Mục tiêu chủ yếu là tìm và tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng, tham gia yểm trợ pháo binh cho quân đội Mỹ, quân đội Sài Gòn.

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, Tiểu đoàn ANZAG đã tham gia cuộc phản công cùng quân Mỹ và quân đội Sài Gòn ở hướng Long Điền, huyện Long Đất, tỉnh Phước Tuy. Lực lượng địch hơn hẳn cả về binh và hoả lực, nhưng các lực lượng vũ trang địa phương huyện Long Đất vẫn bám giữ trận địa, quyết tâm đánh địch. Pháo Niu Dilân liên tục dội vào Long Sơn, yểm trợ cho xe tăng và bộ binh Ôxtrâylia tiến công vào đội hình của lực lượng cách mạng. Sau 7 ngày đêm bám trụ đánh địch và làm chủ Long Điền, 20 giờ ngày 8 tháng 2 (mùng 9 Tết), huyện ủy Long Đất quyết định cho lực lượng rút ra ngoài và chuyển thương binh về căn cứ Minh Đạm (căn cứ của lực lượng cách mạng huyện Long Đất).

        Ngày 22 tháng 2 năm 1968, quân Ôxtrâylia, Niu Dilân và quân đội Sài Gòn tập trung lực lượng vây chặt khu vực Long Điền, dồn dân ra tập trung ở cánh đồng để cho tề, ngụy thanh lọc, giữ lại những gia đình có người tham gia cách mạng. Bên trong, lính Ôxtrâylia, Niu Dilân tìm cách lùng sục, truy tìm hầm bí mật, hy vọng bắt được cán bộ cách mạng, nhưng chúng đã không đạt kết quả như mong muốn. Khi đó, lực lượng cách mạng đã kịp thời rút ra ngoài. Địch tổ chức ngay đợt càn quét lớn, kết hợp cả xe tăng, máy bay và dàn pháo Niu Dilân đánh vào căn cứ Minh Đạm, nhưng cuối cùng vẫn không tiêu diệt được lực lượng kháng chiến. Trận càn quy mô lớn của quân Ôxtrâylia, Niu Dilân và quân đội Sài Gòn với sự yểm trợ của xe tăng, máy bay và các phương tiện hiện đại khác nhằm tiêu diệt cơ quan lãnh đạo huyện hoàn toàn bị thất bại. Gần 200 quân Ôxtrâylia và Niu Dilân đã bị lực lượng cách mạng tiêu diệt và làm bị thương; nhiều phương tiện quân sự bị phá hủy1.

        Thất bại trong các cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, từ đầu năm 1969, quân Niu Dilân tham gia cùng quân Ôxtrâylia triển khai chiến thuật "ụ ngầm", sau đó là chiến thuật "hàng rào - lá chắn". Đây là những thủ đoạn hết sức thâm hiểm và tinh vi nhằm phát hiện, tìm diệt cán bộ cách mạng bám trụ bên trong ấp. Tuy nhiên, các chiến thuật mới vẫn không chiến thắng được lòng dũng cảm và trí thông minh của lực lượng cách mạng. Chỉ trong một thời gian ngắn, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 445 bộ đội địa phương tỉnh Bà Rịa được sự giúp đỡ, phối hợp của nhân dân và lực lượng du kích đã đánh bại các thủ đoạn tác chiến mới của quân Ôxtrâylia và quân Niu Dilân.

-----------------
         1. Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Long Đất, Nxb Đồng Nai, 1986, tr. 173.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:33:24 AM

        Trong thời gian từ năm 1967 đến năm 1969, ngoài các lực lượng của hai tiểu đoàn ANZAG và ANZAF, Niu Dilân còn đưa sang Việt Nam một số đơn vị cấp trung đội, đại đội hoặc các nhóm, tổ:

        Đội phẫu thuật, được triển khai vào Việt Nam vào tháng 4 năm 1967. Nhiệm vụ chủ yếu là giúp quân đội và chính quyền Sài Gòn về mặt y tế, cứu thương, phòng bệnh. Đến tháng 6 năm 1967, lực lượng này có quân số là 27 người, lúc đầu hoạt động ở Quy Nhơn, sau đó rời về phía bắc Bồng Sơn (Bình Định).

        Lực lượng không quân, từ tháng 7 năm 1967, Niu Dilân đưa một số phi công thuộc Phi đội 9 lực lượng không quân Hoàng gia sang Nam Việt Nam. Số phi công này chủ yếu vận hành các máy bay trực thăng vũ trang trong các hoạt động tác chiến. Đến năm 1968, lực lượng này được bổ sung thêm 2 phi công. Từ tháng 12 năm 1968, Niu Dilân tiếp tục đưa một số máy bay vận tải Britơn và đội trinh sát đường không sang hoạt động cùng với Tập đoàn không quân số 7 Mỹ. Tháng 2 năm 1969, 26 phi công thuộc lực lượng không quân đặc biệt của Niu Dilân cũng được triển khai sang Việt Nam. Nhiệm vụ của lực lượng này là phối hợp với Phi đội đặc vụ đường không Ôxtrâylia thu thập các thông tin tình báo về lực lượng cách mạng ở tỉnh Phước Tuy.

        Đến tháng 9 năm 1969, tổng số quân Niu Dilân đưa sang Việt Nam lên tới 552 người, trong đó lực lượng không quân là 155 người1.

        Đội huấn luyện thứ nhất, gồm 25 quân nhân thuộc Đội huấn luyện quân sự Niu Dilân, được đưa sang Nam Việt Nam vào năm 1970 và triển khai ở Trung tâm huấn luyện quân sự quốc gia Chi Lăng để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Tháng 3 năm 1972, đội huấn luyện thứ hai tiếp tục được đưa sang gồm 18 người, căn cứ đóng ở Đông Ba Thìn (gần Cam Ranh). Nhiệm vụ của các đội huấn luyện này là hỗ trợ và huấn luyện cho các tiểu đoàn bộ binh quân ngụy Campuchia.

        Những hoạt động của lực lượng Niu Dilân tại Việt Nam đã phần nào hỗ trợ cho các kế hoạch tìm diệt và bình định của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn trong những năm 1966-1970. Tuy nhiên, họ cũng phải chịu số phận chung với quân đội Mỹ, quân đội các nước đồng minh khác là phải chấp nhận thất bại trước sự chống trả quyết liệt của quân và dân miền Nam Việt Nam trên các tỉnh thuộc địa bàn đóng quân.

-----------------
         1. http://www.digger history, info/inmages/nz/withhourboys.jpg, New Zeland roll honour for the Vietnam war.

        3. Phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam tại Niu Dilân và quá trình rút quân về nước.

        Khác với nhiều nước đồng minh của Mỹ tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam, Niu Dilân chỉ tham chiến ở mức độ có hạn. Tuy nhiên, sự can thiệp của quân Niu Dilân trong cuộc chiến tranh Việt Nam để lại rất nhiều hậu quả cả ở trong nước và trên trường quốc tế. Một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến quyết sách của Chính phủ Niu Dilân về việc đưa quân sang Việt Nam nói riêng và chính sách chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam nói chung là phong trào phản đối chiến tranh bùng nổ vào giữa những năm 60 của thế kỷ XX ở Niu Dilân. Không giống như ở Mỹ hoặc ở Ôxtrâylia, nơi phong trào phản đối chiến tranh chỉ bắt đầu khi các chính phủ này bắt đầu thực thi chương trình tuyển mộ binh lính đưa sang Việt Nam, còn ở Niu Dilân, quá trình đó diễn ra trước khi những người lính Niu Dilân được đưa sang Nam Việt Nam.

        Phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam ở Niu Dilân trong thời gian này chủ yếu là phê phán chủ trương của Chính phủ ngả theo quan điểm của Mỹ và chính sách bành trướng của Mỹ sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Phong trào còn yêu cầu chính phủ nên xem xét lại "Học thuyết Đôminô" của Mỹ - một học thuyết mà người Mỹ đã đánh giá quá mức về mối đe dọa của những người Cộng sản Bắc Việt Nam và những người Cộng sản Trung Quốc. ở mức độ nhỏ hơn, phong trào phản đối chiến tranh ở Niu Dilân còn lên án tính phi đạo đức, các loại vũ khí giết người của quân đội Mỹ đã đưa sang Việt Nam. Những người phản đối chiến tranh cho rằng, việc Mỹ và đồng minh đưa quân sang tham chiến tại Nam Việt Nam là can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

        Sự thay đổi tính chất và quy mô phong trào phản đối chiến tranh ở Niu Dilân hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ Mỹ và các nước đồng minh đưa quân tham chiến cũng như cường độ của cuộc chiến. Ban đầu, nhân dân và các lực lượng xã hội tiến bộ chỉ phản đối "Học thuyết Đôminô", sau đó chuyển sang phản đối Mỹ đã dựng lên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm tại Nam Việt Nam. Những người tham gia phong trào phản đối chiến tranh luôn khẳng định rằng, tất cả người dân Việt Nam rất mong muốn thống nhất đất nước theo tinh thần Hiệp định Giơnevơ đã ký kết năm 1954 và việc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa là cách lựa chọn của họ. Về sau, khi cuộc chiến tranh ở giai đoạn leo thang, nhân dân và các lực lượng tiến bộ ở Niu Dilân đã phản đối các chính sách của Mỹ ở Việt Nam, đồng thời ủng hộ chủ trương của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Họ cho rằng, chính sách của Mỹ ở Việt Nam sẽ không mang lại hòa bình, an ninh cho Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:33:56 AM

        Thời gian đầu, phong trào phản đối chiến tranh không làm cho Chính phủ Niu Dilân giảm bớt sự ủng hộ Mỹ - chính quyền Sài Gòn, cũng không thay đổi quan điểm về cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam. Trong gần một thập niên đưa quân sang tham chiến (từ năm 1963 đến năm 1972), bất chấp làn sóng phản đối chiến tranh ngày càng lan rộng trong các tầng lớp nhân dân, Chính phủ Niu Dilân vẫn khẳng định rằng, việc đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam là nằm trong khuôn khổ của Hiệp ước liên minh mà Chính phủ Niu Dilân đã ký với các nước trong khối SEATO, đó còn là nghĩa vụ của một đồng minh đối với một đồng minh để chống lại "sự xâm lăng của chủ nghĩa cộng sản".

        Rất khó có thể đánh giá hết mức độ tác động của phong trào phản đối chiến tranh ở Niu Dilân đối với việc hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại và những mặt khác trong đời sống xã hội Niu Dilân. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, những tác động đó ở một chừng mực nhất định cũng đã làm thay đổi đường lối, cương lĩnh của các đảng phái ở Niu Dilân. Nhìn bề ngoài, phong trào phản đối chiến tranh tưởng như không có tác động mạnh mẽ đến việc hoạch định chính sách của Chính phủ Niu Dilân đối với cuộc chiến tranh Việt Nam và cũng không tạo nên sự chia rẽ sâu sắc, thù địch giữa các đảng phái, các nhóm xã hội ở Niu Dilân. Song, trên thực tế, phong trào phản đối chiến tranh đã giành được sự ủng hộ của đông đảo người dân, đặc biệt là vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam. Sự ủng hộ được minh chứng qua hàng loạt sự kiện vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX, khi hàng nghìn công nhân, học sinh, sinh viên ở các thành phố lớn đồng loạt xuống đường biểu tình chống chiến tranh Việt Nam. Làn sóng phản đối chiến tranh này ít nhiều cũng làm phân hóa quan điểm của giới lãnh đạo Niu Dilân về chính sách đồng minh của Chính phủ.

        Phong trào phản đối chiến tranh ở Niu Dilân thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, đặc biệt là giới trẻ, những người có nhận thức đầy đủ, được giáo dục một cách sâu sắc về cuộc chiến tranh Việt Nam. Chính vì thế, qua phong trào phản đối chiến tranh cũng tạo nên một thế hệ mà người Niu Dilân gọi là "thế hệ Việt Nam". Rõ ràng, phong trào chống chiến tranh ở Niu Dilân đã góp phần làm cho Đảng Lao động và Đảng Quốc dân (là hai đảng thường xuyên thay nhau chiếm đa số trong Quốc hội) phải nhìn nhận lại quan điểm chính trị của mình. Phong trào đó cũng đã góp phần tạo nên chiến thắng hay thất bại trong các cuộc tranh cử thủ tướng thời kỳ này. Chẳng hạn, trước khi Niu Dilân quyết định đưa quân sang tham chiến tại Nam Việt Nam, Đảng Lao động đã cảnh báo, thậm chí phản đối chính sách của Niu Dilân trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Đảng này cho rằng, để thực hiện trách nhiệm của một đồng minh, Niu Dilân chỉ cần dừng lại ở mức độ viện trợ kinh tế hoặc viện trợ nhân đạo cho cuộc chiến tranh Việt Nam thay vì phải có những hoạt động quân sự để giúp những người Việt Nam giải quyết vấn đề của họ. Chính vì vậy, khi Niu Dilân quyết định đưa quân sang tham chiến tại Nam Việt Nam, những người lãnh đạo của Đảng Lao động đã đón nhận quyết định này một cách miễn cưỡng.

        Nhìn chung, quan điểm của hai đảng Lao động và Quốc dân xung quanh vấn đề tham gia chiến tranh Việt Nam vẫn thường xuyên thay đổi trước và trong các kỳ bầu cử. Các quan điểm này phụ thuộc không ít vào diễn tiến cuộc chiến tranh của Mỹ, trong đó có hoạt động của các đơn vị quân Niu Dilân đang trực tiếp tham chiến ở Nam Việt Nam. Sự thay đổi quan điểm của các đảng phái được lý giải là cho phù hợp với thời thế và mục đích cuối cùng là để các đảng giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử. Một trong những thay đổi lớn nhất trên chính trường Niu Dilân là sau năm 1973, khi toàn bộ quân Niu Dilân đã rút khỏi Việt Nam. Lúc đó, cả hai đảng Lao động và Quốc dân hầu như có chung một quan điểm về chính sách của Niu Dilân đối với chiến tranh Việt Nam. Những bất đồng giữa hai đảng bắt đầu thu hẹp. Cả hai đảng đều chấp nhận nghịch lý trong việc liên minh với Mỹ. Bên cạnh đó, họ cũng nhận ra rằng, Niu Dilân phải có cách nhìn mới về chính sách đối ngoại. Chính sách đó phải đảm bảo cho Niu Dilân ít bị chịu áp lực từ các nước đồng minh, đặc biệt là Mỹ, để họ có một đường lối độc lập hơn trong những vấn đề quốc tế, đồng thời cũng phải tính đến yếu tố đạo đức, văn hóa và đặc thù của người dân Niu Dilân, một đất nước đa sắc tộc và nhỏ ở Nam Thái Bình Dương.

        Trước phong trào phản đối chiến tranh ngày càng mạnh mẽ, sâu rộng trong cả nước cùng với những thất bại về chính trị, quân sự của quân đội Mỹ, quân đội Sài Gòn và quân đội các nước đồng minh trong chiến tranh Việt Nam, bước sang năm 1970, Chính phủ Niu Dilân bắt đầu chính thức triển khai kế hoạch rút quân về nước.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:34:23 AM

        Khi các đội huấn luyện quân sự của Niu Dilân được đưa sang Nam Việt Nam và chuẩn bị thực thi nhiệm vụ thì các đơn vị chiến đấu Ôxtrâylia và Niu Dilân cũng bắt đầu rút khỏi Việt Nam. Vào thời điểm này, bản thân quân đội Mỹ cũng bắt đầu rút dần lực lượng của họ về nước.

        Ngày 20 tháng 8 năm 1970, Thủ tướng Niu Dilân tuyên bố giảm bớt một đại đội bộ binh với quân số 144 người trong tổng số quân Niu Dilân tại Nam Việt Nam. Thực hiện tuyên bố của Thủ tướng Niu Dilân, tháng 11 năm 1970, quân đội Niu Dilân đã đưa ra kế hoạch rút quân cụ thể cùng với việc gửi đội huấn luyện sang Nam Việt Nam để thay thế các đại đội bộ binh.

        Đơn vị quân đội Niu Dilân đầu tiên rút khỏi Nam Việt Nam là Đại đội W vào tháng 12 năm 1970, tiếp đó là Đại đội pháo 161 vào hai tháng 2 và 3 năm 1971.

        Sau các đợt rút quân trên, ngày 18 tháng 8 năm 1971, chính quyền Niu Dilân tiếp tục ra thông báo sẽ rút hết lực lượng tác chiến của họ ra khỏi Nam Việt Nam. Tại thủ đô Oenlinhtơn, Thủ tướng Niu Dilân Holyoc đã chính thức tuyên bố rằng: lực lượng tác chiến của Niu Dilân sẽ được rút về nước vào khoảng cuối năm 1971. Theo thông báo trên, tháng 12 năm 1971, cùng với sự rút quân của Tiểu đoàn 1 Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia ra khỏi Nam Việt Nam, toàn bộ quân chiến đấu Niu Dilân tại Việt Nam cũng bắt đầu rút về nước. Đơn vị chiến đấu cuối cùng của quân đội Niu Dilân rút khỏi Việt Nam là Đại đội V và đội phẫu thuật quân y. Tuy nhiên, theo đề nghị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, các cố vấn quân sự gồm 43 người đã được đưa sang thay thế, làm nhiệm vụ hỗ trợ và huấn luyện cho các tiểu đoàn bộ binh1.

        Tháng 12 năm 1972, khi Chính phủ của Đảng Lao động lên cầm quyền, đứng đầu là Thủ tướng Noman Kict, với quan điểm nhanh chóng chấm dứt toàn bộ sự can thiệp vào cuộc chiến tranh Việt Nam, chính quyền Niu Dilân đã ra thông báo về việc rút toàn bộ lực lượng Niu Dilân còn lại về nước. Ngay sau lời tuyên bố trên, quân Niu Dilân bắt đầu rút các đội huấn luyện về nước. Như vậy, đến cuối năm 1972, toàn bộ quân số Niu Dilân còn lạitại Nam Việt Nam đã rút về nước.

        Trong thời gian tham gia chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, các lực lượng quân đội Niu Dilân đã tham gia trực tiếp và hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động tác chiến và "bình định" của quân đội Mỹ, Ôxtrâylia và quân đội Sài Gòn, đặc biệt phải kể đến là vai trò yểm trợ có hiệu quả cao của Đại đội pháo 161. Cũng như quân đội Mỹ và quân đội các nước đồng minh khác, lực lượng Niu Dilân đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của quân và dân miền Nam Việt Nam, đặc biệt là của lực lượng vũ trang địa phương tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong các trận chiến đấu với quân Niu Dilân, Tiểu đoàn địa phương 445 và quân dân trong tỉnh đã đánh thiệt hại 224 quân Niu Dilân (tương đương với hai đại đội), trong đó diệt 37 và làm bị thương 187 người2. Tất cả số quân này đều hoạt động trong lực lượng chính quy. Tuy là những người tình nguyện, nhưng trên thực tế, họ không muốn tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam.

        Với những thất bại về quân sự, chính trị và sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân, các lực lượng tiến bộ tại Niu Dilân, cùng với quân đội Mỹ và các nước đồng minh khác, toàn bộ lực lượng quân đội Niu Dilân đã rút khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt sự dính líu của họ trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Đông Dương.

-----------------
         1, 2. http://www.digger history, info/inmages/nz/withhourboys.jpg, New Zeland roll honour for the Vietnam war.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:36:07 AM

Chương ba

CÁC NƯỚC ĐỒNG MINH MỸ TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM
VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH

        1. TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN TRANH VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐỒNG MINH MỸ.

        Chiến tranh Việt Nam đã có những tác động mạnh mẽ đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của các nước đồng minh Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương nói chung, các nước trực tiếp tham gia chiến tranh nói riêng. Chính sách theo đuôi đế quốc Mỹ, quân sự hoá đất nước của giới cầm quyền các nước đồng minh Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương đã biến các nước này thành các căn cứ quân sự, thao trường, bãi thử, kho vũ khí... của Mỹ.

        Trong số các nước đồng minh Mỹ đưa lực lượng quân đội sang miền Nam Việt Nam, Thái Lan là nước có nhiều căn cứ và công trình quân sự của Mỹ được sử dụng làm bàn đạp tấn công hoặc phục vụ trực tiếp cho các hoạt động chiến tranh xâm lược Việt Nam của quân đội Mỹ.

        Từ năm 1965, Mỹ bắt đầu xây dựng các căn cứ không quân trên lãnh thổ Thái Lan làm căn cứ xuất phát cho máy bay đi ném bom, bắn phá Việt Nam và Lào; bao gồm 6 căn cứ lớn là Uđôn, Ubôn, Tắcli, Náchôngphanom, Còrạt và Utapao. ở Còrạt còn có một hệ thống kho vũ khí của Mỹ. Căn cứ hải quân lớn nhất của Mỹ ở Thái Lan là cảng nước sâu Sattahip. Ngoài ra, ở Thái Lan còn nhiều công trình quân sự khác của Mỹ như các trung tâm trinh sát vô tuyến điện, trung tâm huấn luyện... Trong thời gian từ năm 1965 đến năm 1969, Mỹ đã bỏ ra hơn 500 triệu đô la để xây dựng các căn cứ và công trình quân sự trên đất Thái Lan1. Trong quá trình leo thang chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ đưa ngày càng nhiều quân sang đóng tại các căn cứ ở Thái Lan, nhất là lực lượng không quân2:

        Tuy không có nhiều căn cứ xuất phát cho máy bay đi ném bom đánh phá Việt Nam như Thái Lan nhưng Philíppin lại có những căn cứ chiến lược vô cùng quan trọng. ở Philíppin, Mỹ có 16 căn cứ và công trình quân sự, trong đó có 2 căn cứ chiến lược quan trọng là căn cứ hải quân Xubích - Bây và căn cứ không quân Klác - Phít ở phía tây đảo Ludông. Các căn cứ này giữ vai trò quan trọng trong hệ thống căn cứ quân sự Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương; bao gồm Nhật Bản, Cộng hoà Triều Tiên và vành đai kéo dài từ bờ Biển Đông - bắc Ôxtrâylia sang phía tây đến ấn Độ Dương và vịnh Pêchxích. Tại khu vực này, Philíppin là nơi chứa nhiều vũ khí hủy diệt lớn của Mỹ. Ngoài số vũ khí hạt nhân bố trí trên các tàu chiến của Hạm đội 7 đóng ở Xubích - Bây, trên lãnh thổ Philíppin còn có các kho chuyên chứa vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học và các loại vũ khí khác của Mỹ. Theo các nguồn tin của Philíppin, ở nước này còn có một trụ sở bí mật của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Trong những năm 1964-1973, CIA đã sử dụng các căn cứ ở Philíppin để huấn luyện gián điệp, biệt kích tung vào các nước Đông Dương.

        Coi Cộng hoà Triều Tiên là bàn đạp thuận lợi để tấn công các nước xã hội chủ nghĩa, bất chấp các hiệp định quốc tế sau chiến tranh về vấn đề Triều Tiên, Mỹ đã xây dựng trên lãnh thổ nước này 40 căn cứ và công trình quân sự các loại, kể cả ở các thành phố lớn như Sơun, Pusan, Ôxan, Kunsan, Têgu... Gắn liền với các căn cứ, công trình quân sự đó là hàng vạn lính Mỹ đóng quân thường xuyên trên lãnh thổ Cộng hoà Triều Tiên.

        Việc lập các căn cứ quân sự cũng như sự hiện diện một số lượng lớn lính Mỹ trên lãnh thổ các nước đồng minh châu Á tham gia chiến tranh Việt Nam đã chiếm một phần đáng kể diện tích đất canh tác của các nước này. Các căn cứ và công trình quân sự Mỹ mọc lên ngày càng nhiều cũng có nghĩa là ruộng đất cho sản xuất nông nghiệp - ngành kinh tế chủ yếu của nhiều nước châu Á, ngày càng bị thu hẹp. Hậu quả tất yếu của quá trình này là thiếu hụt lương thực. Cộng hoà Triều Tiên, một nước có những đồng bằng phì nhiêu với điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp cũng phải nhập khẩu lương thực do mất đất canh tác. Đội quân thất nghiệp ở thành phố được bổ sung ngày càng đông đảo số người mất việc làm từ nông thôn.

-----------------
         1, 2. Political Situation in Thailand - Hearings before the Subcommittee on Asian and Pacific Affairs. House of Representatives. 93d Congress, October 24, 1973, Wash, 1974.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:36:57 AM

        Cùng với những hậu quả tiêu cực về kinh tế, sự phát triển các căn cứ quân sự và việc ngày càng có nhiều lính Mỹ đến đóng ở các căn cứ đó đã gieo mầm cho nhiều tệ nạn xã hội ở các nước. Chẳng hạn ở Philíppin, tại Ôlongapo, một địa phương ở gần căn cứ Xubích - Bây, tình trạng tội phạm đã tăng lên chóng mặt. Hơn 4.000 dân địa phương đã trở thành con nghiện trong khi trước đây họ không hề biết ma túy là gì. Các cơ sở vui chơi giải trí dành cho lính Mỹ và khách du lịch mọc lên như nấm ở các nước châu Á đồng minh Mỹ chính là những mảnh đất mầu mỡ cho bạo lực, cho những gì đặc trưng cho "lối sống Mỹ" sinh sôi và phát triển.

        Chiến tranh Việt Nam không chỉ tác động tiêu cực đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của các nước đồng minh châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ trong khối SEATO mà còn từng bước dẫn đến sự chia rẽ nội bộ khối. Việc thành lập khối SEATO đã kéo theo sự phát triển các xu hướng phản dân chủ trong đời sống chính trị, xã hội của các nước thành viên, đặc biệt là đã đưa các phe phái quân sự phản động lên cầm quyền. Các quốc gia độc lập ở châu Á coi SEATO là công cụ của chủ nghĩa thực dân mới, do vậy họ thường xuyên lên án chính sách quân sự hoá của các nước SEATO, nhất là chính sách ủng hộ cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam. Ngay trong các nước thành viên SEATO, chính sách và quan điểm đối với cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam cũng không được thống nhất, làm cho cuộc khủng hoảng của khối nảy sinh từ năm 1962 càng trở nên gay gắt. Đặc biệt, vấn đề đưa quân đội các nước vào miền Nam Việt Nam đã gây sự chia rẽ giữa các nước thành viên SEATO. Tại kỳ họp thứ 10 Hội đồng SEATO (tháng 5 năm 1965), Pháp và Pakistan từ chối ủng hộ chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ" của Mỹ và yêu cầu giải quyết hoà bình vấn đề Đông Dương trên cơ sở Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Chính phủ Anh mặc dù ủng hộ chính sách của Mỹ nhưng từ chối việc đưa quân sang Việt Nam. Cuối cùng, lực lượng quân đội các nước đồng minh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam chỉ bằng 15% so với quân viễn chinh Mỹ1; ý đồ sử dụng SEATO như hạt nhân tổ chức và chỉ huy lực lượng liên minh đế quốc tiến hành chiến tranh chống nhân dân Việt Nam đã phá sản hoàn toàn. Khối SEATO dần dần tan rã. Sau khi tuyên bố không tán thành chính sách xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, năm 1965, Pháp chỉ còn tham gia Hội đồng SEATO với tư cách là quan sát viên, cắt đứt quan hệ với các cơ quan quân sự của khối và triệu hồi các cố vấn quân sự của mình về nước. Tháng 4 năm 1967, Pháp từ chối hoàn toàn không tham gia trong Hội đồng SEATO. Năm 1971, Thái Lan và Philíppin gia nhập ASEAN và ký vào bản tuyên bố biến Đông Nam Á thành "khu vực hoà bình, tự do và trung lập". Cuối năm 1972, Pakistan tuyên bố rút khỏi SEATO do khối này không ủng hộ Pakistan trong cuộc xung đột với nước Cộng hoà nhân dân Bănglađét và Ấn Độ; đến tháng 11 năm 1973, Pakistan chính thức rút khỏi SEATO. Năm 1973, Pháp tuyên bố sẽ ngừng nghĩa vụ đóng góp tài chính cho ngân quỹ của khối từ tháng 6 năm 1974, điều đó trên thực tế có nghĩa là Chính phủ Pháp đã đoạn tuyệt với khối SEATO.

        Hòng cứu vãn sự tan rã hoàn toàn của khối, Mỹ đưa ra những sáng kiến làm giảm tính chất quân sự của khối, thay đổi một số nhiệm vụ của nó: "SEATO cần hết sức chú trọng việc ủng hộ các chương trình bảo đảm an ninh nội địa và sự phát triển của hai thành viên khu vực là Thái Lan và Philíppin và do đó hoạt động quân sự của SEATO cần được cắt giảm"2. Cuối năm 1973 đầu năm 1974, SEATO lại được cải tổ một lần nữa, lần này là xoá bỏ ủy ban cố vấn quân sự. Nhưng mọi cố gắng của Mỹ vẫn không cứu vãn được sự tan rã của khối. Sau khi đế quốc Mỹ thất bại ở Việt Nam, tháng 7 năm 1975, Thái Lan, Philíppin và Singapo, với tư cách là các thành viên của khối ASEAN đòi SEATO phải giải thể. Cuối tháng 9 năm 1975, Hội đồng SEATO quyết định trong vòng 2 năm sẽ giải thể khối quân sự này và từ ngày 1 tháng 7 năm 1977, SEATO chính thức chấm dứt tồn tại.

        Đối với các nước đưa quân chiến đấu sang miền Nam Việt Nam, mặc dù chính quyền và bộ máy tuyên truyền của Mỹ đã tìm đủ mọi cách để biện minh cho hành động xâm lược của mình; họ dựng lên những màn kịch hết sức tinh vi và xảo quyệt về việc "miền Bắc xâm lược miền Nam Việt Nam", "đe dọa hoà bình và an ninh khu vực". Song dù tinh vi và xảo quyệt đến đâu, họ vẫn không thể đánh lừa được dư luận trong nước và quốc tế về bản chất hiếu chiến, xâm lược của mình và tính chất chính nghĩa của cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Khi Mỹ công khai đưa những đơn vị chiến đấu đầu tiên sang Việt Nam, không chỉ các nước xã hội chủ nghĩa mà tuyệt đại đa số các nước không liên kết, giai cấp công nhân, nhân dân lao động và những người có thiện chí ở các nước tư bản, các tổ chức dân chủ và tiến bộ trên thế giới, đều đứng về phía nhân dân Việt Nam anh hùng chống cuộc "chiến tranh bẩn thỉu" của đế quốc Mỹ ở Việt Nam.

-----------------
         1, 2. Chủ nghĩa quân phiệt Mỹ: bộ máy quân sự, các khối liên minh, các căn cứ quân sự và hành động xâm lược, Mátxcơva, 1985, tr. 173, 174 (bản tiếng Nga).


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:38:36 AM

        Phong trào phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam dấy lên mạnh mẽ ngay từ trong lòng nước Mỹ. Các nhà phân tích chính trị cho rằng, trong vòng 20 năm kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chưa từng có một sự kiện nào ở ngoài nước Mỹ lại có tác động mạnh mẽ đến nhân dân Mỹ như cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Những cuộc biểu tình chống chiến tranh liên tiếp diễn ra trên khắp nước Mỹ với quy mô ngày càng lớn. Ngày 10 tháng 4 năm 1965, hơn 6.000 công dân Mỹ đã tham gia cuộc biểu tình tại Niu Yoóc. Một tuần sau, thủ đô Oasinhtơn được chứng kiến một cuộc biểu tình quy mô chưa từng thấy với gần 30.000 người tham gia "cuộc đi bộ hoà bình" ngay cạnh Toà Nhà Trắng chống chính sách chiến tranh của Chính phủ. Những người tham gia biểu tình đã phát hành một văn kiện tỏ rõ thái độ của mình đối với cuộc chiến tranh, họ cho rằng: "Chiến tranh ở Việt Nam là cuộc chiến tranh ghê tởm và hết sức vô nhân đạo... Đó là cuộc chiến tranh nguy hiểm đáng lo ngại"1. Phong trào ở Mỹ chống chiến tranh xâm lược Việt Nam thực sự là một phong trào có tính chất toàn dân, thu hút các tầng lớp nhân dân rộng rãi nhất ở trong nước và các tổ chức rất khác nhau như "Liên đoàn sinh viên thế giới", các câu lạc bộ thanh niên Đuyboa, "ủy ban chính sách hạt nhân hợp lý", nhiều tổ chức công đoàn, tổ chức "Phụ nữ đấu tranh cho hoà bình", phong trào "Những sinh viên đấu tranh cho một xã hội dân chủ", các tổ chức đấu tranh cho quyền công dân của nhân dân da đen và các nhóm tôn giáo,...

        Những nước tích cực nhất trong việc ủng hộ chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ" cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ như Thái Lan, Cộng hoà Triều Tiên, Philíppin, Ôxtrâylia, là những nước bị sự "ủng hộ" này tác động mạnh mẽ và để lại những hậu quả rõ rệt nhất.

        Trong khối SEATO, Thái Lan được coi là thành viên nòng cốt và thủ đô Băng Cốc được chọn làm nơi đặt trụ sở của khối. Thi hành chính sách phụ thuộc vào Mỹ, theo kế hoạch của Lầu Năm Góc, Chính phủ Thái Lan ngày càng tăng cường quy mô xây dựng lực lượng vũ trang để đàn áp phong trào cách mạng trong nước và xâm lược các nước Đông Dương. Nếu như năm 1950, quân đội Thái Lan chỉ có mấy vạn người thì đến năm 1967 được phát triển lên trên 13 vạn2. Chính sách phụ thuộc vào Mỹ của Thái Lan trong những năm cuối thập niên 50 - đầu 60 của thế kỷ XX đã đẩy Thái Lan vào tình trạng hỗn loạn chưa từng thấy trong lịch sử đất nước. Do phải chạy theo kế hoạch tăng cường vũ trang và can thiệp quân sự của đế quốc Mỹ, nạn thiếu hụt ngân sách của Chính phủ Thái Lan mỗi năm một tăng: nếu như năm 1960, ngân sách Thái Lan chỉ hụt 37 triệu đô la thì đến năm 1965, con số đó lên đến 255 triệu3. Để bù đắp sự thiếu hụt ngân sách, giới cầm quyền Thái Lan bắt nhân dân phải gánh chi phí quân sự ngày càng lớn bằng cách không ngừng tăng các thứ thuế, lạm phát tiền tệ... Những gánh nặng đó trước hết trút lên đầu nông dân là thành phần chiếm tuyệt đại đa số dân Thái Lan. Chính vì vậy, mặc dù liên tiếp được mùa thu hoạch lúa nhưng phần đông nông dân Thái Lan vẫn phải sống trong cảnh nghèo khổ, nợ nần vì hết bị nạn địa chủ, phú nông thu tô, tức nặng, cho vay nặng lãi lại bị Chính phủ bắt nộp sưu thuế cao. Địa tô chiếm tới 85% số thu hoạch; có nơi bọn cho vay nặng lãi trong một năm thu lãi tới 50%, nếu người vay không trả được thì bị tịch thu ruộng đất. Ngoài ra, người nông dân Thái Lan còn bị cường hào, cảnh sát áp bức, bòn rút không thương tiếc. Đời sống của người dân ở thành thị cũng không khá hơn bao nhiêu. Do bị bọn phong kiến, tư sản mại bản và tư sản nước ngoài áp bức bóc lột, giá cả sinh hoạt ngày càng tăng cao, việc làm không ổn định, lại thêm thuế cũng ngày một gia tăng nên có tới 80% dân sống ở thành phố có thu nhập không đủ chi dùng.

        Trong khi đại đa số người dân lao động Thái Lan sống trong cảnh nghèo khó thì các quan chức cao cấp trong bộ máy chính quyền và quân đội lại giàu lên nhanh chóng do tham nhũng, nhận hối lộ và những cách kiếm tiền bẩn thỉu khác. Chỉ sau 5 năm nắm giữ chính quyền quân sự quan liêu Thái Lan, từ năm 1958 đến năm 1963, Xarít Thanarát đã nâng giá trị tài sản của mình từ 500 nghìn lên 140 triệu đô la4. Tập đoàn gia đình trị Tanom Kittikachon cùng con trai Naron Kittikachon và thông gia Prapat Charukatien còn vơ vét tàn bạo hơn; đến năm 1973, tổng tài sản của nhóm người này lên tới gần 3 tỷ đô la, tức là gần gấp đôi tổng ngân sách quốc gia Thái Lan5. Nhiều bộ trưởng trong Chính phủ Thái Lan cũng tham nhũng không kém và tham nhũng đã trở thành việc thường ngày ở Thái Lan. Chẳng hạn, khi biết tin Chính phủ quyết định xây dựng sân bay mới ở Băng Cốc, 5 công ty nước ngoài đã bỏ ra 5 triệu đô la đút lót các nhà chức trách để được đặt hàng xây dựng6.

-----------------
         1. Đoàn kết với nhân dân Việt Nam, tạp chí "Những vấn đề hòa bình và chủ nghĩa xã hội", số 6-1965, tr. 15.

         2, 3. Xuân Hải, Bọn cầm quyền phản động Thái Lan nhất định sẽ không thoát khỏi số phận bị thất bại nhục nhã như bọn xâm lược Mỹ, tạp chí Học tập, số 3-1967, tr. 85.

         4. V.A. Pheđôrốp, Quân đội và thể chế chính trị ở Thái Lan (1945-1980), Sđd, tr. 65 (bản tiếng Nga).

         5. Báo Izvestia, ngày 9-11-1973 (bản tiếng Nga).

         6. Xuân Hải, Bọn cầm quyền phản động Thái Lan ...,Tlđd, tr. 86.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:40:14 AM

        Để phục vụ cho hơn 4 vạn quân chiếm đóng Mỹ và hơn 5.000 quân nhân Mỹ ở chiến trường miền Nam Việt Nam luân phiên nhau sang Thái Lan nghỉ ngơi, chơi bời, những người cầm quyền ở Thái Lan đã cho phép các sòng bạc, ổ mãi dâm, tiệm hút... hoạt động công khai ở khắp nơi trong nước; văn hoá, lối sống Mỹ ngày càng ăn sâu vào xã hội Thái Lan. Mặc dù đề cao các "giá trị" của "thế giới tự do", song ở Thái Lan không hề có tự do, dân chủ; các tổ chức tiến bộ đều bị giải tán, Đảng Cộng sản Thái Lan bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Tập đoàn cầm quyền tuỳ ý cai trị một đất nước không có Hiến pháp, không có bầu cử; chúng lại còn thường xuyên tổ chức các cuộc đàn áp đẫm máu các phong trào yêu nước, chống Mỹ của nhân dân Thái Lan.

        Đối với các nước láng giềng, tập đoàn Xarít - Thanỏm - Praphat trong những năm 1960 thi hành chính sách cực kỳ phản động, cho quân đội trực tiếp can thiệp vào công việc nội bộ của Lào và gây chiến tranh chống lại nhân dân Lào. Trong nhiều năm, chính quyền Thái Lan đã tiến hành những hành động xâm lược đối với Campuchia hòng buộc Campuchia phải từ bỏ con đường hoà bình, trung lập. Đối với Việt Nam, bọn cầm quyền Thái Lan đã để cho đế quốc Mỹ sử dụng các sân bay Còrạt, Tắcli, Uđôn, Ubôn làm những căn cứ xuất phát cho máy bay đi ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam; đưa hàng nghìn quân chiến đấu vào miền Nam Việt Nam nối giáo cho Mỹ - chính quyền Sài Gòn.

        Những hành động tiếp tay cho đế quốc Mỹ của chính quyền phản động Thái Lan đã gặp sự phản đối mãnh liệt của các tầng lớp nhân dân trong nước và trên thế giới. ở trong nước, nhiều khi phong trào phản đối quân đội Thái can thiệp vào Việt Nam được hoà nhập với phong trào yêu nước, chống Mỹ nói chung. Những cuộc bãi công diễn ra ngày càng tăng, số lượng công nhân tham gia bãi công ngày càng nhiều. Chỉ riêng trong 9 tháng đầu năm 1966, số công nhân tham gia bãi công đã bằng cả 2 năm trước đó cộng lại. Hoà cùng với phong trào đấu tranh của công nhân, phong trào nông dân đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng, chống đuổi nhà, cướp ruộng để xây dựng các căn cứ quân sự cũng ngày càng mạnh mẽ. Trong năm 1966, nông dân trong cả nước Thái Lan đã tiến hành hơn 1001 cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền phản động thân Mỹ. Những cuộc đấu tranh của trí thức, sinh viên, thanh niên và các tầng lớp nhân dân lao động khác chống đế quốc Mỹ và chính quyền phản động cũng diễn ra ngày càng mạnh mẽ; đặc biệt là phong trào đấu tranh vũ trang của các lực lượng yêu nước dưới sự lãnh đạo của Mặt trận yêu nước Thái Lan.

        Tuy không phải là đồng minh trong khối SEATO của đế quốc Mỹ, song Cộng hoà Triều Tiên cũng rất tích cực ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Để phục vụ kế hoạch chiến tranh của Mỹ, chính quyền Pắc Chung Hy đã dốc phần lớn ngân sách quốc gia vào các chi phí quân sự. Bên cạnh đội quân rất đông, bộ máy chính quyền Cộng hoà Triều Tiên còn có khoảng nửa triệu cảnh sát, mật thám và nhân viên chính quyền các cấp2. Cộng hoà Triều Tiên vốn được coi là một vựa lúa ở vùng Đông Bắc Á, nhưng do cắt đi 40 vạn hécta đất canh tác lương thực (1945-1967) để xây dựng các căn cứ, bãi tập quân sự nên sản lượng lương thực không đủ trang trải nhu cầu trong nước và mỗi năm phải nhập hàng triệu tấn ngũ cốc. Nền công nghiệp Cộng hoà Triều Tiên cũng phải chạy theo guồng máy quân sự của chủ nghĩa đế quốc nên phát triển không cân đối và lâm vào tình trạng đình đốn. Số công nhân và nông dân không có việc làm ngày càng nhiều, có tới gần 7 triệu người thất nghiệp và 2 triệu rưởi người nghèo đói phải "cứu trợ khẩn cấp"3. Đồng vôn của Cộng hoà Triều Tiên liên tục mất giá so với đồng đô la và tình trạng lạm phát ngày càng gia tăng.

        Nhìn chung, việc quân sự hoá đã thực sự là gánh nặng đè lên vai những người lao động Cộng hoà Triều Tiên. Cái gọi là "Kế hoạch 5 năm lần thứ hai xây dựng kinh tế (1967-1971)" được công bố cuối năm 1966 thực chất là một kế hoạch bóc lột nhân dân không thương tiếc với dự định tăng thuế lên gần gấp đôi, tăng giá cước xe lửa và tăng các khoản thu khác nhằm vào người dân. Đây cũng là một kế hoạch hoàn toàn lệ thuộc vào tư bản nước ngoài bởi gần 40% vốn đầu tư theo "kế hoạch" này được dự tính thu hút từ bên ngoài, chủ yếu là tư bản Mỹ. Điều đáng nói là giới tư bản Mỹ đặt ra những điều kiện nhằm bảo đảm chủ yếu đầu tư vào các ngành liên quan đến quân sự hoá, đến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở châu Á và bảo đảm sự thống trị của tư bản Mỹ đối với thị trường Cộng hoà Triều Tiên. Tạp chí Phố Uôn của Mỹ (The Well Street Journal) cho biết, tiền lương công nhân và viên chức ở Cộng hoà Triều Tiên là một trong những mức lương thấp nhất ở châu Á. Hàng triệu nông dân bị thiếu lương thực; mỗi năm có khoảng 25 vạn nông dân rời bỏ nông thôn để vào thành phố tìm việc làm, đó là chưa kể những người không có khả năng tự nuôi sống trên khoảnh ruộng ngày càng bị thu hẹp của họ. Số người thất nghiệp lên rất cao, trong số 28,4 triệu dân của cả nước đã có tới 7 triệu người thất nghiệp hoàn toàn và bán thất nghiệp4. Tất cả những điều đó đã làm cho đời sống của người dân lao động ngày càng khó khăn; nhiều người phải tìm đến con đường tự sát vì thiếu thốn, nợ nần. Mỗi năm, hàng vạn người dân Cộng hoà Triều Tiên phải rời bỏ quê hương đi phu cho các đồn điền của Mỹ ở châu Mỹ Latinh.

------------------
         1. Các số liệu trong đoạn này dẫn theo: Xuân Hải, Bọn cầm quyền phản động Thái Lan ...,Tlđd, tr. 87.

         2, 3. Quang Thái, Đưa lính đánh thuê sang Nam Việt Nam, bọn Pắc Chung Hy đang đi vào con đường chết cùng với chủ Mỹ, tạp chí Học tập, số 3-1967, tr. 83.

         4. Nam Triều Tiên - kẻ cung cấp bia thịt, tạp chí Học Tập, số 6-1967, tr. 67.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:41:59 AM

        Việc chính quyền Pắc Chung Hy cung cấp lính đánh thuê cho đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam và những hành động tội ác của các đơn vị quân đội Cộng hoà Triều Tiên mang tên thú vật như rồng, ngựa, hổ... đã làm dấy lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ ở cả hai miền Nam, Bắc Triều Tiên và trên thế giới. Người dân Cộng hoà Triều Tiên coi việc Chính phủ đưa quân chiến đấu sang chiến trường miền Nam Việt Nam đồng nghĩa với việc đưa con em họ đi làm "bia đỡ đạn", chết thay cho lính Mỹ ở Nam Việt Nam. Bất chấp sự khủng bố của đế quốc Mỹ và chính quyền độc tài Pắc Chung Hy, phong trào đấu tranh của nhân dân Cộng hoà Triều Tiên, nhất là của thanh niên, sinh viên, chống Chính phủ gửi quân đội sang miền Nam Việt Nam ngày càng dâng cao. Đặc biệt, khi tin tức về số thương vong của binh lính Cộng hoà Triều Tiên tăng lên từng ngày, phong trào này càng trở nên sôi sục. Ngay khi đơn vị chiến đấu đầu tiên của quân đội Cộng hoà Triều Tiên (Sư đoàn "Mãnh hổ") được đưa sang Việt Nam, tháng 8 năm 1965, hơn 60.000 thanh niên, sinh viên và nhân dân thủ đô Sơun đã biểu tình rầm rộ, hô vang khẩu hiệu "chúng tôi không muốn đi làm bia đỡ đạn cho Mỹ ở Việt Nam". Hàng vạn thanh niên Cộng hoà Triều Tiên ở các thành phố Pusan, Chungiu cũng biểu tình phản đối việc gửi lính đánh thuê sang Nam Việt Nam; số thanh niên trốn đi lính để khỏi phải sang Nam Việt Nam ngày càng tăng. Chính Bộ Quốc phòng Cộng hoà Triều Tiên phải thừa nhận, năm 1965 có 11.000 thanh niên trốn đi lính, nhưng năm 1966 đã lên tới gần 20 vạn người1. Nhiều binh sĩ tại ngũ khi biết tin họ sắp bị đưa sang Nam Việt Nam đã trốn sang Nhật Bản.

        Ngay cả "tầng lớp trên" ở Cộng hoà Triều Tiên cũng không đồng tình với việc tập đoàn Pắc Chung Hy đưa quân chiến đấu sang Nam Việt Nam. Một số người trong giới cầm quyền đã coi đây là hành động phản dân hại nước và họ kịch liệt phản đối. Tháng 3 năm 1966, một cuộc tranh cãi gay gắt đã nổ ra tại Quốc hội Cộng hoà Triều Tiên về dự luật gửi quân đội sang Nam Việt Nam. Ngày 18 tháng 2 năm 1967, Pôxun Yun - Thủ lĩnh Đảng Dân chủ đối lập, đã tuyên bố phản đối ý định của chính quyền Pắc Chung Hy đưa thêm quân sang miền Nam Việt Nam. Mặc dù bị dư luận trong nước và quốc tế kịch liệt phản đối, song Pắc Chung Hy và phe cánh vẫn tỏ ra hãnh diện trong việc tận tình ủng hộ đế quốc Mỹ. Tại Hội nghị SEATO họp tại Manila (tháng 10 năm 1966), đại diện Cộng hoà Triều Tiên rất tự hào vì tính theo tỷ lệ so với số dân, Cộng hoà Triều Tiên đã góp nhiều quân nhất, hơn cả Mỹ, vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đáp lại sự "nhiệt tình" của Chính phủ Cộng hoà Triều Tiên, giữa năm 1966, Mỹ hứa tăng "viện trợ" cho nước này mỗi năm 110 triệu đô la và cho ngay 15 triệu đô la. Nhưng tính ra, số tiền mà Mỹ bỏ ra để đổi lấy việc Chính phủ Cộng hoà Triều Tiên đưa 50.000 binh lính sang Nam Việt Nam chỉ bằng số tiền Mỹ chi phí ở Việt Nam trong vài ngày2.

        Trong các kế hoạch "quốc tế hoá" cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của đế quốc Mỹ, Philíppin được đặt vào vị trí rất quan trọng. Chính quyền Giônxơn muốn chứng minh rằng có một "quốc gia độc lập, dân chủ ở châu Á" chủ động liên kết với Mỹ trong cuộc chiến chống "Việt cộng". Chính phủ Philíppin, do Tổng thống Macapagan đứng đầu, tuyên bố sẵn sàng ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ. Tháng 6 năm 1965, Macapagan ký một bản "Dự luật về Việt Nam", theo đó Philíppin sẽ chi viện kỹ thuật, quân sự cho quân đội Sài Gòn và đưa quân đội sang Nam Việt Nam. Việc Tổng thống Philíppin ký dự luật này đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh của nhân dân Philíppin chống đế quốc Mỹ. Chính sự bất bình của đông đảo quần chúng nhân dân đối với việc Chính phủ ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, việc lôi kéo Philíppin vào cuộc chiến và sự nhượng bộ của Macapagan đối với đế quốc Mỹ là một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của Macapagan trong cuộc bầu cử tổng thống Philíppin tháng 11 năm 1965. Trong cuộc vận động bầu cử, đối thủ chủ yếu của Macapagan là Máccốt đã kịch liệt phê phán "Dự luật về Việt Nam", coi đó là "một ý đồ không hề giấu giếm nhằm đẩy nhân dân vào cuộc chiến tranh của người khác mà không mảy may tính đến những hậu quả của bước đi này đối với đất nước ta"3. Tuy nhiên, dưới sức ép của các thế lực đầy ảnh hưởng ở trong nước và nước ngoài, trong quá trình chiến dịch tranh cử, Máccốt đã phải thay đổi quan điểm của mình về vấn đề Việt Nam.

-----------------
         1, 2. Quang Thái, Đưa lính đánh thuê sang Nam Việt Nam..., Tlđd, tr. 84, 86.

         3. Quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á và Viễn Đông, Mátxcơva, 1978, tr. 177-178 (bản tiếng Nga).


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:42:37 AM

        Với việc Philíppin tham gia chiến tranh Việt Nam, Mỹ hứa cung cấp cho Philíppin một khoản tín dụng lớn và giúp đỡ về kỹ thuật trong cuộc chiến chống nạn cướp biển, một vấn đề đang được coi là quốc nạn của Philíppin. Phát biểu tại Manila nhân dịp tới dự lễ nhậm chức tổng thống của Máccốt, Phó tổng thống Mỹ Hămphri công khai nhấn mạnh rằng, mức độ viện trợ của Mỹ sẽ tuỳ thuộc vào sự tham gia của Philíppin trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Ông ta tuyên bố: "Nếu Chính phủ Philíppin cử quân đội sang Việt Nam, Mỹ sẽ đặc biệt quan tâm và thiên về đáp ứng các nhu cầu kinh tế và quân sự của Philíppin"1.

        Về phần mình, Chính phủ Philíppin cố gắng biện minh cho quan điểm của mình về vấn đề Việt Nam, rằng cuộc đấu tranh chống kẻ thù nguy hiểm nhất - chủ nghĩa cộng sản, là một việc làm cần thiết. Trước sự phản đối mạnh mẽ của dư luận Philíppin về việc nước này tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam, Chính phủ của Tổng thống Máccốt lại giải thích chính sách của Philíppin đối với vấn đề Việt Nam là muốn đưa ra một sáng kiến "giải quyết hoà bình" cuộc xung đột, trong đó Philíppin sẽ giữ vai trò trung gian hoà giải giữa Cộng hoà Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Song, những hành động thực tế của Chính phủ Philíppin trong giai đoạn này lại hoàn toàn đi ngược lại những lời giải thích của Máccốt. Chính sách của Chính phủ Máccốt đã bị đông đảo các tầng lớp xã hội Philíppin lên án gay gắt. Các cuộc biểu tình quy mô lớn chống chủ nghĩa đế quốc diễn ra không ngớt và một trong những cuộc biểu tình lớn nhất đã diễn ra đúng vào ngày Phó tổng thống Mỹ Hămphri đến thăm Manila (ngày 21 tháng 2 năm 1966). Diễn đàn Quốc hội Philíppin đã trở thành nơi diễn ra những cuộc tranh cãi kéo dài về vấn đề chiến tranh Việt Nam, một vấn đề trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Philíppin thời kỳ này. "Dự luật về Việt Nam" đã gặp sự phản đối mạnh mẽ ở cả hai viện của Quốc hội Philíppin. Phe đối lập khẳng định việc Philíppin tham gia chiến tranh chống Việt Nam là sự vi phạm thô bạo Hiệp định Giơnevơ năm 1954 và là sự can thiệp vào công việc nội bộ của nước này. Sự phản đối gay gắt của đông đảo dư luận xã hội và cả trong chính giới Philíppin khiến cho Tổng thống Máccốt phải bỏ ra không ít công sức mới thông qua được "Dự luật về Việt Nam" (ngày 9 tháng 6 năm 1966). Có thể nói, Chính phủ Philíppin thông qua quyết định tham gia chiến tranh Việt Nam là do chịu ảnh hưởng của hai nhân tố chủ yếu. Trước hết, đó là sức ép trực tiếp của Chính phủ Mỹ. Do nền kinh tế Philíppin nói chung, một số doanh nghiệp lớn của Philíppin nói riêng lệ thuộc quá nhiều vào thị trường Mỹ, vào nguồn tín dụng và viện trợ kỹ thuật của Mỹ; vì vậy, khi tình hình tài chính Philíppin có khó khăn và xuất phát từ lợi ích riêng của các doanh nghiệp có thế lực, hàng loạt nghị sĩ và thượng nghị sĩ đã bỏ phiếu thông qua dự luật. Nhân tố thứ hai ảnh hưởng đến quyết định của Chính phủ Philíppin là tâm lý lo sợ một khi Mỹ thất bại ở Việt Nam thì các lực lượng khởi nghĩa sẽ đẩy mạnh các hoạt động vũ trang chống Chính phủ.

        Chính sách phiêu lưu của Mỹ ở Đông Dương cũng được Chính phủ Ôxtrâylia ủng hộ tích cực. Chính sự "nhiệt tình" của Chính phủ Mengic đã làm dấy lên một làn sóng mạnh mẽ trong xã hội Ôxtrâylia chống chiến tranh xâm lược của Mỹ và những hoạt động công khai phản đối chính sách của Chính phủ diễn ra với quy mô ngày càng rộng rãi. Ngay từ năm 1965, khi Thủ tướng Ôxtrâylia Mengic tuyên bố sẵn sàng gửi một tiểu đoàn lính bộ binh sang miền Nam Việt Nam, giai cấp công nhân Ôxtrâylia đã tập hợp thành một lực lượng đông đảo trong phong trào đấu tranh chống lại chính sách ủng hộ Mỹ của Chính phủ. Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Ôxtrâylia kêu gọi tất cả những người yêu nước Ôxtrâylia hãy tích cực tham gia phong trào phản đối Chính phủ gửi quân đội sang Việt Nam "cho đến khi nào Chính phủ thay đổi quyết định của mình"1. Ban chấp hành Trung ương của Tổ chức công đoàn những người thợ mỏ Ôxtrâylia kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Công nhân Xítni tuyên bố họ sẽ không bốc dỡ hàng hoá cho các tàu của Mỹ neo đậu ở các cảng Ôxtrâylia nếu Mỹ không chấm dứt các hành động xâm lược chống nhân dân Việt Nam. Phong trào chống chiến tranh xâm lược của Mỹ và phản đối quyết định của Chính phủ đã làm đau đầu giới chức Ôxtrâylia. Quốc hội Ôxtrâylia phải tiến hành nhiều cuộc thảo luận với sự tranh cãi gay gắt về quyết định đưa quân sang Việt Nam. Làn sóng đấu tranh càng trở nên mạnh mẽ sau khi Ôxtrâylia đưa các đơn vị quân đội đầu tiên sang Việt Nam và có ý định tiếp tục tăng cường lực lượng này khiến suốt mùa thu 1966, các giới chức chính quyền phải liên tục tuyên bố rằng Chính phủ chưa đưa ra một quyết định nào về việc gia tăng lực lượng Ôxtrâylia tại miền Nam Việt Nam. Sau thắng lợi của quân và dân Việt Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, phong trào chống chiến tranh luôn gắn với các kiến nghị đòi Chính phủ rút quân đội về nước. Ngày 16 tháng 12 năm 1969, hơn 200 nhân viên bán hàng và 32 lãnh tụ nghiệp đoàn lao động thay mặt cho hơn 1,5 triệu cử tri Ôxtrâylia đã thông qua một nghị quyết phản đối sự tham gia chiến tranh Việt Nam của Ôxtrâylia; đồng thời họ cũng thông qua một nghị quyết kêu gọi các binh sĩ Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam hãy buông súng và khước từ chiến đấu.

-----------------
         1. Quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á và Viễn Đông, Mátxcơva, 1978, tr. 177-178 (bản tiếng Nga).


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:43:55 AM

        Trong các đồng minh SEATO của Mỹ, Niu Dilân tỏ ra kém "nhiệt tình" nhất trong việc "góp cờ" cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Theo Rôbớt M.Gơn - đại diện Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Niu Dilân, cho biết, chính quyền Niu Dilân "ngần ngại không muốn dính líu sâu đậm" vào các hoạt động tác chiến ở miền Nam Việt Nam "vì những lý do chính trị". Nhưng giới quân sự Niu Dilân thì trái lại, muốn tham gia vì muốn "tiếp thu kinh nghiệm về hành quân tác chiến"2. Mặc dù Niu Dilân là nước đồng minh gửi quân sang Việt Nam ít nhất, song làn sóng đấu tranh phản đối Chính phủ ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn lan rộng trong cả nước.

        Việc Chính phủ một số nước đồng minh Mỹ bất chấp dư luận quốc tế và sự phản đối của nhân dân trong nước, đưa quân đội của mình sang chiến trường miền Nam Việt Nam, không phải là một nghĩa hiệp nhằm cứu giúp một đồng minh trong lúc khó khăn, như Mỹ và các nước ra sức tuyên truyền. Ngoài nguyên nhân về ý thức hệ và do sức ép của đế quốc Mỹ còn có phần do tính toán vụ lợi của các tập đoàn tư bản cầm quyền. Như Cộng hoà Triều Tiên chẳng hạn, ngay trong chuyến thăm Mỹ tháng 5 năm 1965, Tổng thống Pắc Chung Hy đã cơ bản nhất trí sẽ đưa một sư đoàn quân đội Cộng hoà Triều Tiên vào Việt Nam, nhưng biết rõ Mỹ rất cần sự tham gia của quân đội các nước đồng minh, dù chỉ là tượng trưng, Pắc Chung Hy đã không ngần ngại đưa ra các điều kiện "mặc cả" với Mỹ, nhất là vấn đề "viện trợ". Kết quả là tháng 8 năm 1965, Mỹ phải mở hầu bao rót thêm cho Cộng hoà Triều Tiên 150 triệu đô la; giữa năm 1966 chấp nhận tăng mức "viện trợ" mỗi năm thêm 110 triệu đô la3. Sự "trả công" của Mỹ cho Thái Lan có vẻ hậu hĩnh hơn. Nếu như trong mười năm 1951-1961, tổng "viện trợ" quân sự Mỹ cho Thái Lan là 298,9 triệu và viện trợ kinh tế là 224 triệu đô la thì trong thập niên tiếp theo 1962-1972, do những đóng góp trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, các con số này được nâng lên tương ứng là 756,6 triệu và 340,4 triệu đô la4. "Viện trợ" của Mỹ cho các nước Philíppin, Ôxtrâylia và Niu Dilân có vẻ khiêm tốn hơn và chủ yếu là viện trợ quân sự.

        Sẽ không thật khách quan nếu không nhận thấy rằng, "viện trợ" của Mỹ đã có những tác động nhất định góp phần làm thay đổi diện mạo của các nước đồng minh. Đối với Cộng hoà Triều Tiên chẳng hạn, "viện trợ" Mỹ không chỉ giúp tạo được bộ mặt phồn vinh mà nhờ có các khoản đầu tư của Mỹ, nền kinh tế nước này đã có những bước phát triển nhất định. Nếu như vào thời kỳ trước chiến tranh (1950-1953), Cộng hoà Triều Tiên vẫn còn là một trong những nước nghèo nhất thế giới, thì đến thời kỳ sau chiến tranh, đặc biệt là vào đầu những năm 60 thế kỷ XX, thu nhập đầu người của nước này đã có những bước cải thiện đáng kể.

        Tuy nhiên, cái giá phải trả cho diện mạo "phồn vinh" đó là quá đắt so với tính mạng, xương máu của hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn con em nhân dân lao động. Đó là chưa kể sự phụ thuộc về chính trị, kinh tế của các nước vào cỗ máy chiến tranh xâm lược của Mỹ và những hậu quả làm mất đi thuần phong, mỹ tục của các nước Á Đông.

        Từ năm 1969, hầu hết các nước đồng minh bắt đầu muốn rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Tháng 10 năm 1969, Philíppin công bố kế hoạch rút một phần quân và 2 tháng sau đã rút hơn một nghìn công dân vụ khỏi Việt Nam. Việc rút quân của Philíppin đã ngay lập tức tác động đến Thái Lan. Tháng 12 năm 1969, gần 20 quan chức chính quyền cao cấp trong Quốc hội Thái Lan đã ký một bản kiến nghị gửi Thủ tướng, yêu cầu rút quân khỏi Việt Nam và tháng 9 năm 1970, Thái Lan bắt đầu rút 12 nghìn quân khỏi Việt Nam. Ngày 28 tháng 1 năm 1970, Ôxtrâylia tuyên bố sẽ rút quân đợt 1 vào tháng 4 hoặc tháng 5 năm 1970. Ngày 20 tháng 8 năm 1970, Niu Dilân cũng tuyên bố rút quân.

-----------------
         1. Đoàn kết với nhân dân Việt Nam, Tlđd, tr. 8.

         2. Larsen S.R. and Collins J.L., Allied Participation in Vietnam, op.cit., p.105.

         3. Quang Thái, Đưa lính đánh thuê sang Nam Việt Nam..., Tlđd, tr. 84.

         4. "Congressional Record", Vol. 119, N0120, July 27, 1973, p. E5146.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:44:32 AM

       2. Quan hệ của các nước đồng minh Mỹ với Việt Nam sau chiến tranh.

        Ngay từ khi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ còn chưa kết thúc, khối liên minh quân sự hiếu chiến SEATO đã đứng trước nguy cơ tan rã không gì cứu vãn nổi. Các nước đồng minh Mỹ bắt đầu xem xét lại chính sách của mình đối với cuộc chiến tranh Việt Nam nói riêng, đối với Mỹ và Việt Nam nói chung.

        Năm 1971, Thái Lan và Philíppin, hai trong năm nước sáng lập viên khối ASEAN, một tổ chức của các nước Đông Nam Á ra đời năm 1967 nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua các chương trình hợp tác, bảo vệ sự ổn định chính trị và kinh tế trong khu vực, tham gia ký vào bản Tuyên bố ASEAN về việc biến Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, tự do và trung lập (ZOPFAN). Tuyên bố này, về hình thức, tạo ra một sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của các nước ASEAN. Từ chỗ là đồng minh của Mỹ, phụ thuộc vào Mỹ, các nước ASEAN muốn tách ra, thực hiện chính sách không liên kết với các nước lớn. Đối với Việt Nam, bản Tuyên bố này phát đi một thông điệp về việc các nước ASEAN bắt đầu chấm dứt ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Theo tinh thần của bản Tuyên bố, tháng 3 năm 1975, Chính phủ Thái Lan đòi Mỹ rút quân khỏi nước mình và triệt thoái các căn cứ quân sự Mỹ. Bốn tháng sau đó, Thái Lan tuyên bố bãi bỏ tất cả các hiệp ước quân sự đã ký với Mỹ, ngoại trừ Hiệp ước tham gia khối SEATO. Đến tháng 3 năm 1976, quân đội Mỹ rút khỏi Thái Lan.

        Những dấu hiệu của việc Philíppin muốn giảm dần sự hiện diện quân sự của Mỹ ở nước này bắt đầu xuất hiện từ mùa xuân năm 1975, khi Philíppin đòi xem xét lại các hiệp ước quân sự giữa hai nước và đòi Mỹ trao quyền kiểm soát tất cả các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Philíppin cho nước này. Với tư cách là thành viên khối ASEAN, tháng 7 năm 1975, Thái Lan, Philíppin và Singgapo đòi giải thể khối SEATO. Trước tình hình đó, cuối tháng 9 năm 1975, Hội đồng SEATO ra quyết định sẽ giải thể khối quân sự này trong vòng 2 năm. Từ ngày 1 tháng 7 năm 1977, SEATO chính thức chấm dứt tồn tại. Tuy nhiên, "Hiến chương Thái Bình Dương" và "Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á", tức là các văn kiện có tính chất là nền tảng chính trị của khối SEATO, vẫn giữ nguyên hiệu lực; điều đó có nghĩa là trong trường hợp cần thiết, các nước đế quốc vẫn có khả năng tái lập khối quân sự hiếu chiến này.

        Về phía Việt Nam, từ sau khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết, Việt Nam bắt đầu tích cực triển khai chính sách khu vực, đẩy mạnh quan hệ song phương với các nước. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nam - Bắc được sum họp một nhà trong bầu không khí độc lập, tự do, nhân dân Việt Nam muốn giang rộng cánh tay đoàn kết, hữu nghị và hợp tác với tất cả các dân tộc trên thế giới, cùng nhau xây dựng một thế giới văn minh, tiến bộ. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng Lao động (Đảng Cộng sản) Việt Nam khẳng định: "Hoàn toàn ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước Đông Nam châu Á vì độc lập dân tộc, dân chủ, hoà bình và trung lập thật sự, không có căn cứ quân sự và quân đội của đế quốc trên đất nước mình; sẵn sàng thiết lập và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu vực này trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, cùng tồn tại trong hoà bình"1. Không chỉ mong muốn thiết lập và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trong khu vực, Việt Nam còn mong muốn "Thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường... với tất cả các nước khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi"2.

        Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của Đảng, Việt Nam đã làm hết sức mình để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau với các nước trong khu vực và trên thế giới. Ngay trong những năm đầu bắt tay vào công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước, vị thế quốc tế của Việt Nam đã từng bước được nâng cao. Tháng 9 năm 1977, Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc; nhiều nước trên thế giới lần lượt đặt quan hệ ngoại giao và ký các hiệp định trao đổi thương mại, văn hoá, giáo dục... với Việt Nam. Đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á, đến tháng 8 năm 1976, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với tất cả 5 nước thành viên khi đó của ASEAN là Inđônêxia, Malaixia, Philíppin, Singapo và Thái Lan. Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước ASEAN, những chuyến thăm của các quan chức cấp cao các nước cùng với các hiệp định hợp tác kinh tế giữa các nước được ký kết đã làm cho bầu không khí tin cậy, hiểu biết lẫn nhau ở khu vực Đông Nam Á được cải thiện đáng kể. Nhưng bầu không khí đó nhanh chóng bị vấy bẩn bởi những người lãnh đạo Khơme đỏ dựng lên cái gọi là "vấn đề Campuchia" và coi Việt Nam là kẻ thù, làm cho quan hệ láng giềng giữa Việt Nam và Campuchia trở nên căng thẳng chưa từng thấy; đồng thời gây sự hiểu lầm nhất định trong dư luận quốc tế. Sự hiểu lầm đó đã đẩy Việt Nam vào tình thế bị bao vây, cô lập trong suốt hơn một thập niên.

-----------------
         1, 2. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Văn kiện Đảng, Toàn tập, Tập 37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 618, 619.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:45:47 AM

        Sang đầu thập niên 90 thế kỷ XX, tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động và trong quan hệ quốc tế xuất hiện những xu thế mới. Các nước có những nhận thức thực tế hơn về mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, rằng bên cạnh lợi ích mang tính giai cấp, mang tính ý thức hệ còn có những lợi ích mang tính toàn cầu; trong một thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ, nhiều vấn đề cần sự phối hợp, hợp tác giữa các nước mới có thể được giải quyết. Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6 năm 1991) đã phát triển phương châm "thêm bạn, bớt thù" được đề ra tại Đại hội VI (tháng 12 năm 1986) thành phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển"1.

        Vận dụng phương châm đó, Việt Nam đã cải thiện được quan hệ với các nước và khu vực. Những đóng góp của Việt Nam vào quá trình hoà giải, hoà hợp dân tộc ở Campuchia và việc rút hoàn toàn quân đội về nước (tháng 9 năm 1989) không chỉ được các nhà lãnh đạo các nước trong khu vực Đông Nam Á ủng hộ tích cực mà các nước Tây Âu cũng rất đồng tình. Cộng đồng châu Âu (EC) đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ta, trong khi trước đây chỉ có từng nước châu Âu quan hệ ngoại giao song phương với Việt Nam. Ngay Hoa Kỳ cũng ra tuyên bố bình thường hoá quan hệ với Việt Nam (ngày 12 tháng 7 năm 1995); từng bước tháo dỡ và xoá bỏ hoàn toàn cấm vận đối với Việt Nam.

        Trong số các nước đồng minh Mỹ trực tiếp tham gia chiến tranh Việt Nam, Ôxtrâylia là nước thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam sớm nhất, gần đúng 1 tháng sau khi Hiệp định Pari được ký kết (ngày 26 tháng 2 năm 1973). Tuy nhiên, từ cuối thập niên 70 và trong suốt thập niên 80 thế kỷ XX, do tư duy chiến lược quân sự mới và đặc biệt là sự hiểu lầm trong vấn đề Campuchia nên quan hệ của Ôxtrâylia với Việt Nam diễn biến hết sức phức tạp.

        Năm 1976, sau khi lên cầm quyền thay Chính phủ Công Đảng Ôxtrâylia (Australian Labor Party), Chính phủ liên hiệp của các đảng Tự do - Quốc gia dân tộc (Liberal - National Country Party) do Mancôm Phrâydơ đứng đầu đã xem xét lại chính sách quốc phòng "để chuẩn bị đối phó với thế giới như hiện nay". Theo đánh giá của J. Killen - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ôxtrâylia dưới thời Phrâydơ, tình hình an ninh thế giới tuy có "một số biến chuyển không thuận lợi và tình trạng bất định của tương lai, nhưng tính chung triển vọng của chúng ta là thuận lợi"2. Ôxtrâylia thấy có ít nguyên nhân để lo lắng về tình hình an ninh vì trong các nước láng giềng "không thân thiện", không nước nào là nguồn đe dọa cả. Duy chỉ ở phía bắc là có tiềm năng xảy ra tình trạng đáng lo ngại bởi có Inđônêxia là nước "có một lịch sử chính trị không kiên định", lại nằm ở cửa ngõ Ôxtrâylia. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ôxtrâylia Anđrây Picốc cho rằng: nước này "đã qua khỏi kỷ nguyên do chiến tranh chế ngự và đương nhiên quan hệ của chúng ta lúc bấy giờ ở trong vùng đã được tập trung vào các đầu mối quốc phòng và an ninh. Ngày nay tôi tin rằng chúng ta đang bước vào một thời kỳ mà các vấn đề kinh tế sẽ trở nên ngày càng quan trọng đối với Đông Nam châu Á"3.

        Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Ôxtrâylia tích cực điều chỉnh chiến lược quân sự từ "phòng thủ trong nước" sang "phòng thủ khu vực", ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh, những nhân tố "phi nhà nước" nhằm vào Ôxtrâylia. Ôxtrâylia tăng cường phối hợp với Mỹ trong chiến lược bao vây, kiềm chế Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương, hỗ trợ và làm "phó" cho Mỹ trong các hoạt động quân sự ở Đông Nam Á; đồng thời củng cố quan hệ quân sự với các nước ASEAN và một số nước khác nhằm tăng cường vai trò, ảnh hưởng của Ôxtrâylia ở khu vực.

        Sự thay đổi chính sách quốc phòng và đối ngoại của Ôxtrâylia đã tác động trực tiếp đến quan hệ của nước này với Việt Nam; đặc biệt là sau khi Hiệp định Pari về vấn đề Campuchia được ký kết (ngày 23 tháng 10 năm 1991), quan hệ Việt Nam - Ôxtrâylia dần trở lại bình thường. Việt Nam và Ôxtrâylia đã ký kết nhiều hiệp định, thoả thuận và cam kết quan trọng về hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực. Chỉ trong một thời gian ngắn, từ năm 1990 đến năm 1997, Việt Nam và Ôxtrâylia đã ký kết hàng chục hiệp định về hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư phát triển.

-----------------
         1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 147.

         2, 3. Sự hình thành chính sách quốc phòng, Tài liệu do Học viện Quốc phòng dịch, lưu tại Thư viện Trung ương quân đội (số 9501), tr. 2.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:46:27 AM

        Cùng với việc ký kết các hiệp định, thoả thuận hợp tác, hằng năm, Chính phủ Ôxtrâylia dành cho Việt Nam một khoản viện trợ đáng kể. Ôxtrâylia là một trong những nhà tài trợ sớm khôi phục một chương trình viện trợ lớn cho Việt Nam sau khi Hiệp định Pari về Campuchia được ký kết. Chương trình viện trợ của Chính phủ Ôxtrâylia cho Việt Nam được thực hiện dựa trên quan hệ đối tác và hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ hai nước. Trong giai đoạn đầu khôi phục quan hệ với Việt Nam (1991-1995), Chính phủ Ôxtrâylia đã viện trợ cho Việt Nam 100 triệu đô la Ôxtrâylia1. Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam năm 1994 theo lời mời của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Ôxtrâylia Pôn Kitting đã đồng ý viện trợ cho Việt Nam 200 triệu đô la trong giai đoạn tiếp theo (1994-1998). Tiếp đó, trong dịp kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, Ôxtrâylia cam kết viện trợ cho Việt Nam 236 triệu đô la trong giai đoạn 1998-2002. Trong những năm gần đây, Ôxtrâylia vẫn tiếp tục tăng cường viện trợ cho Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành đối tác lớn thứ ba trong hợp tác phát triển của Ôxtrâylia.

        Các khoản viện trợ của Ôxtrâylia đã góp phần tích cực cho sự phát triển văn hoá, xã hội của Việt Nam; nhất là trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, phát triển nông thôn và cơ sở hạ tầng, chăm sóc sức khoẻ, quản lý hành chính và môi trường... Đặc biệt, công trình cầu Mỹ Thuận, một biểu tượng của tình hữu nghị Việt Nam - Ôxtrâylia, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế, văn hoá các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

        Cùng nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đầy tiềm năng, cả Việt Nam và Ôxtrâylia đều mong muốn tăng cường mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài trên nhiều lĩnh vực và trong những năm gần đây đã có bước phát triển mạnh mẽ. Biểu hiện sinh động của chiều hướng tốt đẹp, phù hợp với lợi ích của cả hai nước; đó là sự hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển văn hoá, giáo dục, đào tạo. Sự hợp tác giữa hai nước không chỉ trong khuôn khổ song phương mà còn phát triển mạnh mẽ trong khuôn khổ đa phương. Là nước điều phối quan hệ giữa ASEAN và Ôxtrâylia, Việt Nam luôn ủng hộ Ôxtrâylia, nước có vị trí địa lý gần gũi, quan hệ hợp tác phát triển lâu đời với ASEAN và là nước có vị trí quan trọng trong khu vực và thế giới, được tham gia sâu rộng hơn vào tiến trình hội nhập khu vực Đông Nam Á.

        Là nước láng giềng thân thiện và đồng minh với Ôxtrâylia trong các liên minh quân sự ANZUS, SEATO và ANZUK, trong nhóm chính trị - quân sự các nước thuộc Liên hiệp Anh ở Đông Nam Á (ANZAM), chính sách đối ngoại của Niu Dilân không có nhiều khác biệt so với chính sách của Ôxtrâylia.

        Trong số các nước đồng minh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam, Niu Dilân là nước thứ hai, sau Ôxtrâylia, thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam (ngày 19 tháng 6 năm 1975). Cũng như Ôxtrâylia, trong thời gian từ cuối thập niên 70 đến hết thập niên 80 thế kỷ XX, quan hệ Việt Nam - Niu Dilân bị gián đoạn bởi cái gọi là "vấn đề Campuchia". Sau khi Hiệp định Pari về Campuchia được ký kết, Niu Dilân nhanh chóng khôi phục quan hệ với Việt Nam, mở Đại sứ quán tại Hà Nội (năm 1995), thành lập Hội hữu nghị Niu Dilân - Việt Nam (ngày 20 tháng 12 năm 2004). Từ những năm đầu thập niên 90 thế kỷ XX đến nay đã có hàng chục chuyến thăm chính thức của các đoàn cấp cao Việt Nam đến Niu Dilân; trong đó có chuyến thăm của Tổng Bí thư Đỗ Mười (tháng 7 năm 1995), của Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tháng 5 năm 1993), của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (tháng 7 năm 2004), của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (tháng 9 năm 2007)... và nhiều đoàn cấp cao, đoàn của các bộ, các ngành. Đáp lại, Niu Dilân cũng có nhiều đoàn cấp cao sang thăm Việt Nam. Năm 1999, bà Hêlen Clâc lần đầu tiên sang thăm Việt Nam trên cương vị Thủ lĩnh phái Đối lập và tháng 10 năm 2003 thăm chính thức Việt Nam trên cương vị Thủ tướng. Tháng 11 năm 2005, Toàn quyền Niu Dilân Silvia Catuây cũng đã thăm chính thức Việt Nam. Các cuộc thăm viếng của lãnh đạo cấp cao hai nước đã góp phần từng bước tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, thắt chặt tình hữu nghị giữa hai dân tộc, tạo thuận lợi để thực hiện tốt các hiệp định đã ký về hợp tác kinh tế, thương mại, khuyến khích và bảo vệ đầu tư, hàng không và nhiều lĩnh vực khác hai bên cùng quan tâm.

-----------------
         1. Các số liệu về viện trợ của Ôxtrâylia cho Việt Nam ở đây dẫn theo: Khám phá Ôxtrâylia, con đường dẫn đến thành công, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:47:43 AM

        Cùng với các chuyến thăm cấp cao và trao đổi các đoàn của các bộ, các ngành, hàng loạt thoả thuận hợp tác giữa hai nước đã được ký kết, nhất là về thương mại, giáo dục và đào tạo. Ngày 18 tháng 7 năm 1994, Niu Dilân và Việt Nam ký Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại; từ đó, quan hệ thương mại giữa hai nước không ngừng phát triển. Nếu như năm 2002, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Niu Dilân đạt 94 triệu đô la Mỹ thì chỉ 4 năm sau, con số đó đã lên tới 198 triệu đô la. Hiện Việt Nam là đối tác thương mại đứng thứ 31 của Niu Dilân, xuất khẩu đứng thứ 26 và nhập khẩu đứng thứ 411.

        Về đầu tư, tính đến tháng 7 năm 2007, Niu Dilân đứng thứ 42 trong số 74 quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 13 dự án và tổng số vốn đầu tư khoảng 35 triệu đô la Mỹ. Viện trợ ODA của Niu Dilân dành cho Việt Nam được thực hiện cả qua cơ chế song phương và đa phương. Riêng viện trợ song phương, tính đến tháng 6 năm 2004 đạt khoảng 9,2 triệu đô la Mỹ, chủ yếu tập trung vào 4 lĩnh vực chính là giáo dục đào tạo, nông nghiệp, y tế và quản lý nhà nước.

        Bên cạnh nỗ lực xây dựng quan hệ kinh tế, thương mại ngày càng mạnh mẽ, Việt Nam và Niu Dilân cũng dành cho nhau sự ủng hộ nhiệt thành trong lĩnh vực chính trị. Niu Dilân coi Việt Nam là đối tác quan trọng; đồng thời coi trọng vai trò, ảnh hưởng và vị thế của Việt Nam trong ASEAN và khu vực. Hai nước cũng đã bước đầu có một số hoạt động trao đổi, hợp tác về an ninh, quốc phòng. Đặc biệt, Niu Dilân là nước tích cực ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh đòi công lý của các nạn nhân chất độc da cam - điôxin. Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 2 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Cựu chiến binh Niu Dilân Rich Bếchcơ khẳng định, ông đứng về phía các nạn nhân chất độc da cam - điôxin Việt Nam trong vụ kiện các công ty hoá chất Mỹ đã sản xuất chất độc này cho quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

        Quan hệ của Philíppin và Thái Lan với Việt Nam sau chiến tranh phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của ASEAN đối với Việt Nam và quan hệ Việt Nam - ASEAN. Chính sách ngoại giao của Việt Nam đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á lần đầu tiên được thể hiện rõ ràng trong chính sách 4 điểm công bố tháng 7 năm 1976. Chính sách 4 điểm của Việt Nam khẳng định những nguyên tắc cơ bản trong việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước Đông Nam Á; bao gồm tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cùng tồn tại trong hoà bình, không để lãnh thổ của mình cho nước ngoài sử dụng, giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, phát triển hợp tác khu vực2.

        Ngay sau khi Việt Nam công bố chính sách 4 điểm, ngày 12 tháng 7 năm 1976, Philíppin thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam; đến tháng 8, tất cả các nước thành viên ASEAN đều thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Với việc thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ song phương giữa Việt Nam với từng nước trong khu vực Đông Nam Á đã phát triển mạnh mẽ với các chuyến thăm hữu nghị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (tháng 9 và tháng 10 năm 1978) và của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh (tháng 12 năm 1977 và tháng 1 năm 1978) đến 5 nước ASEAN. Trong các chuyến thăm trên đây, các nước ASEAN đã ký với Việt Nam nhiều hiệp định về hợp tác kinh tế, thương mại; hợp tác khoa học kỹ thuật, hàng không, hàng hải. Đặc biệt, trong chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Việt Nam và các nước đều ra thông cáo chung với các nguyên tắc chỉ đạo quan hệ chung sống hoà bình. Tuy chưa có quan hệ hợp tác với ASEAN như với một tổ chức, song, trong giai đoạn đầu sau chiến tranh Việt Nam, quan hệ Việt Nam với từng nước ASEAN đã phát triển tốt đẹp.

        Từ năm 1979, sau khi xuất hiện cái gọi là "vấn đề Campuchia", quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN diễn biến theo chiều hướng xấu, chuyển sang đối đầu. Trong giai đoạn này, Việt Nam kiên trì đấu tranh ngoại giao về "vấn đề Campuchia" trên nguyên tắc gắn việc giải quyết "vấn đề Campuchia" với việc xây dựng khu vực hoà bình, ổn định ở Đông Nam Á, thúc đẩy đối thoại để đẩy lùi đối đầu.

        Trên tinh thần đó, tại 13 cuộc hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ba nước Đông Dương diễn ra trong giai đoạn 1980-1986, cùng với việc đưa ra các đề nghị giải quyết vấn đề Campuchia, Việt Nam đã đề xuất nhiều kiến nghị về hoà bình và hợp tác ở Đông Nam Á, như đề nghị ký hiệp định không xâm lược giữa các nước Đông Nam Á và sẵn sàng thảo luận việc lập một "khu vực Đông Nam Á hoà bình, độc lập, tự do, trung lập, ổn định và phồn vinh" (tháng 1 năm 1980). Cũng trong tháng 1 năm 1981, Việt Nam đề nghị họp Hội nghị khu vực giữa hai nhóm nước Đông Dương và ASEAN. Với thiện chí của mình trong việc giải quyết "vấn đề Campuchia", tháng 7 năm 1982, Việt Nam tuyên bố đơn phương rút một bộ phận quân tình nguyện khỏi Campuchia, đồng thời đề nghị họp Hội nghị quốc tế về Đông Nam Á với sự tham gia của hai nhóm nước Đông Dương và ASEAN.

-----------------
         1. Các số liệu về quan hệ Việt Nam - Niu Dilân ở đây dẫn theo: Bộ Ngoại giao Việt Nam, http://mofia.org.vn/Quan he Viet Nam - Niu Dilan.

         2. Báo Nhân Dân, ngày 6 tháng 7 năm 1976.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:48:28 AM

        Tại diễn đàn Liên Hợp quốc, Việt Nam cùng một số nước nhiều lần nêu vấn đề "hoà bình, ổn định và cùng hợp tác ở Đông Nam Á" nhằm thúc đẩy xu hướng đối thoại giữa hai nhóm nước trong khu vực. Tuy nhiên, mọi đề nghị về đối thoại và hợp tác khu vực do Việt Nam đưa ra đều không được ASEAN chấp nhận với lý do "vấn đề Campuchia" là nguyên nhân chủ yếu gây mất ổn định ở khu vực; vì vậy, việc giải quyết "vấn đề Campuchia" và vấn đề Việt Nam rút quân khỏi Campuchia là những điều kiện tiên quyết để đi đến thảo luận vấn đề hoà bình, hợp tác khu vực.

        Chính sách của ASEAN đối với Việt Nam bắt đầu có những chuyển biến tích cực từ tháng 2 năm 1985, khi Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN khẳng định xu thế đối thoại giữa hai nhóm nước Đông Nam Á1 và cử Inđônêxia làm đại diện đối thoại với các nước Đông Dương, đồng thời Việt Nam tiếp tục rút quân tình nguyện Việt Nam khỏi Campuchia. Các nước ASEAN bắt đầu khôi phục quan hệ song phương với Việt Nam và hoan nghênh việc Việt Nam tham gia hợp tác với tổ chức ASEAN. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ ba (họp ở Manila, tháng 12 năm 1987), Tổng thống nước chủ nhà Philíppin Aquinô tuyên bố không coi Việt Nam là mối đe dọa đối với Philíppin. Tiếp đó, tháng 2 năm 1988, Bộ trưởng ngoại giao Philíppin tuyên bố "không chống việc Việt Nam gia nhập ASEAN". Tháng 8 năm 1988, Thủ tướng mới của Thái Lan Xạtxai đưa ra chủ trương "biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường". Về phần mình, Việt Nam luôn bày tỏ mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước ASEAN.

        Quan hệ Việt Nam - ASEAN càng trở nên gần gũi khi Việt Nam giữ đúng cam kết rút hết quân tình nguyện khỏi Campuchia trước thời hạn trong khi chưa đạt được một giải pháp về "vấn đề Campuchia". Nhằm thúc đẩy quan hệ song phương với các nước trong khu vực, từ cuối năm 1991 đến giữa năm 1992, Thủ tướng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Kiệt đã lần lượt đi thăm tất cả các nước ASEAN và tiếp theo đó là hàng loạt các chuyến viếng thăm ở các cấp. Kết quả, chỉ trong 2 năm, Việt Nam đã ký với các nước này gần 40 hiệp định các loại, tạo cơ sở pháp lý cho các mối quan hệ hợp tác ngày càng mở rộng. Sự phát triển quan hệ Việt Nam - ASEAN trên nhiều lĩnh vực, ở các diễn đàn và các cấp khác nhau đã làm tăng sự hiểu biết lẫn nhau và ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN.

        Đối với Philíppin, ngoài sự tác động của chính sách của ASEAN đối với Việt Nam, cuộc chiến tranh Việt Nam cũng tác động mạnh mẽ đến chính sách đối ngoại của Chính phủ nước này. Nếu như trước chiến tranh, chính sách của Philíppin hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, thì khi diễn biến trên chiến trường miền Nam Việt Nam báo trước sự thất bại không thể tránh khỏi của Mỹ, Philíppin đã bắt đầu xem xét lại chính sách đối ngoại của mình, trong đó có chính sách đối với Việt Nam. Lúc này, tình hình thế giới và khu vực cũng có nhiều thay đổi hết sức cơ bản. Đặc biệt, sự ra đời của tổ chức ASEAN đã mở ra khả năng to lớn cho sự hợp tác cùng phát triển ở khu vực, làm cho Philíppin ý thức được sự cần thiết phải tăng cường quan hệ giữa các nước trong khu vực, không thể tiếp tục chính sách một chiều theo Mỹ mà phải chuyển hướng theo nhiều cực, vừa phù hợp với xu thế chung, vừa thể hiện phần nào tính độc lập, tự chủ. Sự chuyển hướng đó cũng phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân Philíppin. Chính phủ Philíppin lần lượt đòi xem xét lại các hiệp ước quân sự đã ký kết với Mỹ trước đây. Trong vòng 20 năm, từ năm 1969 đến năm 1989, Mỹ và Philíppin đã trên 40 lần phải ngồi lại với nhau để thương thuyết về các căn cứ quân sự Mỹ tại Philíppin. Hiến pháp năm 1986 của Philíppin khẳng định không được bố trí vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ Philíppin. Đáp lại sự nhượng bộ của Mỹ không bố trí vũ khí hạt nhân ở Philíppin, Tổng thống Akinô tuyên bố vấn đề thời hạn cho thuê các căn cứ quân sự vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ. Tuy nhiên, ngày 16 tháng 9 năm 1991, Thượng viện Philíppin đã bỏ phiếu hủy bỏ Hiệp định về căn cứ quân sự đã ký với Mỹ.

        Với sự chuyển hướng chính sách đối ngoại, Philíppin cũng lên tiếng phản đối bọn phân biệt chủng tộc Nam Phi, chế độ phát xít ở Chilê và Ixraen. Nếu như trong thời gian tham gia chiến tranh Việt Nam, Philíppin coi các nước xã hội chủ nghĩa là "kẻ thù nguy hiểm" thì từ năm 1972, Philíppin đã xoá bỏ các hạn chế thương mại với các nước xã hội chủ nghĩa và từng bước thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước này. Tháng 6 năm 1976, Philíppin thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, tạo cơ sở cho sự phát triển các mối quan hệ về kinh tế, văn hoá, hàng hải, hàng không, khoa học kỹ thuật và cả trong lĩnh vực an ninh lãnh hải. Từ năm 1992, Philíppin điều chỉnh chính sách đối ngoại với phương châm ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế; đẩy mạnh quan hệ với các nước láng giềng ở châu Á - Thái Bình Dương.

-----------------
         1. Tuyên bố của các Bộ trưởng ngoại giao ASEAN về vấn đề Campuchia, Văn kiện ASEAN (1967-1988), tr. 160.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:49:20 AM

        Trong thập niên qua, các chuyến thăm trao đổi thường xuyên của các nhà lãnh đạo, các quan chức cao cấp Việt Nam và Philíppin đã tái khẳng định mối quan hệ gần gũi giữa hai nước. Qua các chuyến thăm cấp cao, các cơ chế tham vấn đã được thúc đẩy, mở đường cho những cuộc thảo luận cởi mở và thẳng thắn về mở rộng phạm vi hợp tác giữa hai nước, trong đó bao gồm các lĩnh vực thương mại, đầu tư, các vấn đề lãnh hải, hợp tác chính trị, quốc phòng, an ninh, nông nghiệp, thủy sản, du lịch, khoa học công nghệ, văn hoá, năng lượng và y tế.

        Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 11 năm 2002 của Tổng thống Arrôyô, hai nước đã ký "Khuôn khổ hợp tác song phương trong 25 năm đầu thế kỷ XXI và thời kỳ tiếp theo"; đồng thời tuyên bố tiếp tục phối hợp triển khai "Tuyên bố ứng xử ở Biển Đông (DOC)" và thúc đẩy các bên liên quan thảo luận để sớm ký "Quy tắc ứng xử Biển Đông (COC)".

        Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Philíppin chính thức bắt đầu từ năm 1995, song đến năm 1996, Việt Nam mới chính thức xuất khẩu sang Philíppin với mức kim ngạch chỉ có 168 triệu đô la Mỹ, nhưng chỉ 10 năm sau, con số đó đã lên tới 778 triệu (năm 2005)1. Trong những năm gần đây, kim ngạch buôn bán hai chiều không ngừng gia tăng.

        Về đầu tư, tính đến hết năm 2006, Philíppin có 25 dự án đầu tư tại Việt Nam còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là 250 triệu đô la Mỹ, đứng thứ 4 trong các nước ASEAN (sau Singapo, Thái Lan và Malaixia). Thực hiện chương trình hợp tác khoa học công nghệ môi trường, hai nước đã tiến hành 4 chuyến khảo sát hỗn hợp trên biển theo hải trình Philíppin - Trường Sa - Vũng Tàu. Philíppin đang đào tạo giúp Việt Nam một số chuyên gia nông nghiệp.

        Nhằm thúc đẩy mở rộng quan hệ hợp tác, Việt Nam và Philíppin đã ký hàng chục hiệp định, thoả thuận, kế hoạch hợp tác như Hiệp định Hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật (tháng 1 năm 1978), Hiệp định Thương mại (tháng 1 năm 1978), Hiệp định Vận chuyển hàng không (tháng 11 năm 1988) , Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư (tháng 2 năm 1992), Hiệp định Hợp tác văn hoá, Hiệp định Hợp tác du lịch (tháng 3 năm 1994),...

        Với Thái Lan, trong thời gian chiến tranh Việt Nam, nhờ viện trợ Mỹ và do thu được nhiều lợi nhuận từ các dịch vụ phục vụ gần 4,5 vạn quân Mỹ đóng trên đất Thái Lan, hơn 5.000 quân nhân Mỹ ở chiến trường miền Nam Việt Nam luân phiên nhau sang Thái Lan nghỉ ngơi, giải trí, kinh tế Thái Lan đã có bước phát triển nhất định. Sự ổn định tạm thời của nền kinh tế đã giúp tập đoàn quân phiệt Thanỏm - Praphat ổn định được địa vị thống trị của mình. Nhưng nhân dân Thái Lan nhận thấy nền độc lập dân tộc bị vi phạm, nền văn hoá Thái Lan bị chà đạp và nhân phẩm một bộ phận người Thái bị coi rẻ. Dân tộc Thái Lan vốn hiền lành và ưa đối xử hoà hiếu đã trở thành dân tộc có tỷ lệ phạm tội ác cao nhất thế giới, 13.000 vụ giết người trong một năm2.

        Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, quan hệ của Thái Lan đối với Việt Nam vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Mặc dù quan hệ ngoại giao Việt Nam - Thái Lan được thiết lập từ ngày 6 tháng 8 năm 1976, nhưng chỉ phát triển tốt đẹp một thời gian ngắn (từ tháng 10 năm 1977 đến tháng 3 năm 1980, dưới thời cầm quyền của Thủ tướng Criăng Xắc Chômanan), sau đó là một giai đoạn lạnh nhạt và đôi khi căng thẳng. Dưới sức ép của các thế lực bên ngoài, Thái Lan cắt đứt quan hệ buôn bán với Việt Nam, bao vây kinh tế và tìm cách cô lập Việt Nam trên trường quốc tế. Từ khi Xạtxai Chunhavan lên cầm quyền, tháng 7 năm 1988, Thái Lan thay đổi chính sách đối với các nước Đông Dương. Thủ tướng Xạtxai đưa ra chủ trương "biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường" xuất khẩu hàng hoá của Thái Lan. Chính sách mới của Thái Lan nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của dư luận tiến bộ trên thế giới, trong khu vực và của đông đảo các tầng lớp nhân dân Thái Lan. Người Thái Lan xem việc buôn bán với các nước Đông Dương, trong đó có Việt Nam, là một cơ hội thuận lợi cho nền kinh tế Thái Lan.

        Về chính sách quốc phòng, Chính phủ Thái Lan chủ trương tăng cường quan hệ quân sự với Mỹ và các nước láng giềng, nhất là với các nước ASEAN; sẵn sàng tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình và hỗ trợ nhân đạo do Liên hợp quốc tổ chức nhằm nâng cao vị thế, bảo đảm lợi ích của Thái Lan ở khu vực và quốc tế. Chính phủ Thái Lan xác định quân đội Hoàng gia Thái Lan có các nhiệm vụ ngăn chặn xâm nhập từ bên ngoài, bảo vệ lợi ích, chủ quyền quốc gia, bảo vệ chế độ quân chủ do Nhà Vua đứng đầu; phối hợp với các cơ quan khác bảo đảm duy trì an ninh nội địa, phát triển đất nước; phối hợp với Mỹ và đồng minh trong các hoạt động quân sự bên ngoài Thái Lan.

-----------------
         1. Bộ Ngoại giao Việt Nam, http://mofia.org.vn/Quan he Viet Nam - Philippin.

         2. Báo Le Monde (Pháp), ngày 13 tháng 1 năm 1976.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:49:45 AM

        Quan hệ hoà bình, hữu nghị và hợp tác là nhân tố quan trọng đối với sự ổn định và phát triển ở Đông Nam Á, phù hợp với lợi ích chung của các nước trong khu vực. Xuất phát từ quan điểm đó, Chính phủ Việt Nam kiên trì tìm kiếm những giải pháp hoà bình nhằm khôi phục và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Đông Nam Á, trong đó có Thái Lan. Do thiện chí của Việt Nam và trong xu thế chung của quan hệ quốc tế, Chính phủ Thái Lan ngày càng có thái độ tích cực đối với Việt Nam, khuyến khích các nhà đầu tư, các doanh nhân làm ăn với Việt Nam. Từ năm 1991, quan hệ hai nước được cải thiện nhanh và phát triển mạnh. Ngoài việc trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao, tháng 12 năm 2004, hai nước đã tiến hành cuộc họp liên chính phủ. Chính phủ hai nước đã ký Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI. Đến nay, Việt Nam và Thái Lan đã ký gần 30 hiệp định hợp tác song phương trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, thương mại, đầu tư đến văn hoá, du lịch, môi trường. Kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và Thái Lan tăng trưởng nhanh qua các năm. Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan chủ yếu là máy vi tính và linh kiện, dầu thô, hải sản, than đá, hàng điện tử, lạc nhân, sản phẩm nhựa và nhập từ Thái Lan xăng dầu, chất dẻo nguyên liệu, linh kiện và phụ tùng xe gắn máy. Hai nước phấn đấu đưa kim ngạch hai chiều lên 3 tỷ đô la Mỹ vào năm 2010. Là hai nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, Việt Nam và Thái Lan đã nhất trí hợp tác củng cố hoạt động xuất khẩu và bình ổn giá gạo trên thị trường.

        Về hợp tác đầu tư, các dự án của Thái Lan tại Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực khai thác hải sản, khoáng sản, chế biến thực phẩm, ngân hàng. Theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, gần 67% các dự án của Thái Lan tại Việt Nam là 100% vốn nước ngoài, chiếm 56% số vốn đăng ký và 27,6% các dự án là của các công ty liên doanh, chiếm 43% vốn đăng ký1. Trong số các dự án thành công của Thái Lan tại Việt Nam phải kể đến Công ty sản xuất thức ăn gia súc CP Vietnam tại Đồng Nai với số vốn đầu tư 328 triệu đô la Mỹ, Công ty Siam Cement Group đầu tư vào 5 dự án về hoá chất và vật liệu xây dựng tại khu công nghiệp Bình Dương và Đồng Nai. Với 125 dự án, tổng vốn đăng ký 1,5 tỷ đô la Mỹ, Thái Lan hiện đứng thứ 9 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam và đứng thứ 3 trong khối ASEAN.

        Cùng là thành viên ASEAN, Việt Nam và Thái Lan đã phối hợp tốt trong việc triển khai các dự án và chương trình hợp tác trong khuôn khổ khu vực và quốc tế như dự án hành lang Đông - Tây, dự án Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS) và Chiến lược hợp tác kinh tế giữa ba dòng sông Aigiaoadi - Chaophaya - Mê Công (ACMECS). Bên cạnh đó, các hoạt động về hợp tác an ninh, quốc phòng, giáo dục, văn hoá, khoa học công nghệ, môi trường, du lịch cũng được đẩy mạnh.

        Hàn Quốc là nước đồng minh Mỹ có quân tham chiến ở miền Nam Việt Nam nhiều nhất và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam muộn nhất. Ngày 22 tháng 12 năm 1992, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã cùng Bộ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Lê Sang Ok ký Tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ. Tuy là nước đồng minh cuối cùng thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, song hai nước đã nhanh chóng thúc đẩy quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực.

        Về chính trị, trong các chuyến thăm trao đổi, lãnh đạo hai nước cho rằng Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều điểm tương đồng về văn hoá; có truyền thống về sự hợp tác. Bằng chứng là từ thế kỷ XIII, dòng họ nhà Lý của Việt Nam đã sang làm ăn tại miền Nam Triều Tiên và hiện nay hậu duệ đời thứ 32 của họ Lý vẫn đang đóng góp tích cực cho sự phát triển của Hàn Quốc cũng như quan hệ giữa hai nước. Vì vậy, hai nước cần đẩy mạnh quan hệ song phương, nhất là trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, lao động, văn hoá, khoa học công nghệ... Trên cơ sở mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước không ngừng phát triển từ năm 1992 và đứng trước những triển vọng mới, trong chuyến thăm Hàn Quốc vào thời điểm mở đầu Thiên niên kỷ mới (tháng 8 năm 2001), Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương và Tổng thống Hàn Quốc Kim Tê Chung đã khẳng định, hai nước cần tăng cường và xây dựng một khuôn khổ hợp tác mới cho mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc, đó là "Đối tác toàn diện trong thế kỷ XXI". Hai nhà lãnh đạo cho rằng, mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc phát triển tốt đẹp không chỉ có lợi cho Việt Nam và Hàn Quốc mà còn góp phần tích cực cho việc gìn giữ hoà bình, ổn định, hợp tác phát triển ở châu Á - Thái Bình Dương. Nhân chuyến thăm mới đây của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh tới Hàn Quốc (tháng 11 năm 2007), lãnh đạo Hàn Quốc đánh giá cao vai trò ngày càng tăng của Việt Nam trên trường quốc tế và sự đóng góp tích cực của Việt Nam vào việc thúc đẩy hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên bán đảo Triều Tiên. Lãnh đạo hai nước đã xác định các phương hướng, biện pháp lớn và khẳng định quyết tâm tăng cường hợp tác theo tinh thần "Đối tác toàn diện trong thế kỷ XXI". Đó là tăng cường các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc cấp cao với nhiều hình thức; mở rộng giao lưu, trao đổi đoàn giữa các ngành, các cấp, các địa phương; đẩy mạnh hợp tác kinh tế; tăng cường hợp tác tại các tổ chức và diễn đàn quốc tế mà hai nước đều là thành viên.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:50:24 AM

        Từ năm 1991 đến nay, Hàn Quốc đã trở thành một đối tác quan trọng của Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế. Hiện nay, Hàn Quốc là nước đứng đầu trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký là 11,5 tỷ đô la Mỹ và 1.655 dự án1. Trước đây, các dự án đầu tư trực tiếp (FDI) của Hàn Quốc vào Việt Nam chỉ là những dự án nhỏ và vừa, tập trung vào các ngành công nghiệp dệt may, giày dép; nay các dự án quy mô lớn đã gia tăng đáng kể, đầu tư vào các ngành công nghệ cao như điện tử, sản xuất thép, xây dựng đô thị mới... Điều đáng ghi nhận là các dự án FDI của Hàn Quốc đã tạo ra việc làm cho hơn 500.000 người Việt Nam. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp Hàn Quốc chiếm 4,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, đạt gần 2 tỷ đô la Mỹ1. Sự hình thành và phát triển khu vực kinh tế có vốn FDI của các doanh nghiệp Hàn Quốc đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

        Quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc cũng phát triển nhanh chóng. Sau 15 năm quan hệ, kim ngạch thương mại song phương giữa hai nước đã tăng gấp 10 lần, đạt gần 5 tỷ đô la Mỹ vào năm 2006. Hai nước quyết tâm phấn đấu nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên quy mô 10 tỷ đô la Mỹ trong vòng 5-7 năm tới2. Về hợp tác phát triển, Hàn Quốc đã cấp và cam kết cấp cho Việt Nam 188 triệu đô la Mỹ tín dụng ưu đãi và viện trợ không hoàn lại 80 triệu đô la Mỹ. Trong giai đoạn 2006-2009, Hàn Quốc tăng mức cung cấp tín dụng ưu đãi cho Việt Nam lên 100 triệu đô la Mỹ mỗi năm và mỗi năm viện trợ không hoàn lại 9,5 triệu đô la Mỹ. Ngoài ra, Hàn Quốc còn là trị trường khách du lịch trọng điểm và thị trường xuất khẩu lao động lớn nhất của Việt Nam. Lượng khách du lịch Hàn Quốc vào Việt Nam tăng trung bình 30%/năm. Việt Nam hiện có gần 40.000 lao động đang làm việc tại Hàn Quốc. Bên cạnh các lĩnh vực hợp tác trên đây, Việt Nam và Hàn Quốc cũng không ngừng phát triển quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế, môi trường,...

        Trong chuyến thăm chính thức Hàn Quốc vào tháng 3 năm 2008, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng bày tỏ tin tưởng những kết quả hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc trong thời gian qua là nền tảng để hai nước mở ra những cơ hội hợp tác mới trong thời gian tới vì lợi ích của nhân dân hai nước nói riêng; vì hoà bình, ổn định và sự phát triển của khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung.

*

*       *

        Trong những năm 1964-1973, khi Chính phủ một số nước đồng minh Mỹ đưa quân đội vào chiến trường miền Nam Việt Nam, các tầng lớp nhân dân ở các nước này đã dấy lên làn sóng đấu tranh mạnh mẽ, phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và những quyết định sai lầm của Chính phủ nước mình. Một mặt, họ không muốn chồng, con, người thân của mình phải đổ xương máu, hy sinh tính mạng cho cuộc "chiến tranh bẩn thỉu" của đế quốc Mỹ; mặt khác, họ chia sẻ nỗi đau khổ của người dân Việt Nam và không muốn những người dân nơi đây phải tiếp tục chịu đựng sự khốc liệt của chiến tranh. Dưới sức ép của dư luận trong nước và quốc tế, trước tình thế thất bại ngày càng hiện hữu của Mỹ - chính quyền và quân đội Sài Gòn, các nước đã sớm rút quân về nước, khi cuộc chiến tranh còn chưa kết thúc.

        Cùng với việc rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, một số nước, như Thái Lan và Philíppin, còn đòi Mỹ rút quân khỏi nước mình và xem xét lại chính sách liên minh với Mỹ. Sau khi chiến tranh kết thúc, các nước đồng minh Mỹ lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Song, do vẫn phụ thuộc nhiều vào Mỹ, nhất là về chiến lược an ninh - quốc phòng, nên các nước đã có sự hiểu lầm Việt Nam trong cái gọi là "vấn đề Campuchia". Sự hiểu lầm đó đã tạm thời làm gián đoạn quan hệ của các nước với Việt Nam; thậm chí còn tạo nên thế bao vây, cô lập Việt Nam trong một thời gian nhất định.

        Kiên trì đường lối đối ngoại đúng đắn do Đảng đề ra, Việt Nam không chỉ khiến các nước khôi phục quan hệ bình thường với Việt Nam mà còn nhận ra thực chất của "vấn đề Campuchia"; từ đó ngày càng tăng cường quan hệ với Việt Nam trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ, môi trường và cả trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng. Đó là tiền đề quan trọng để xây dựng khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung, khu vực Đông Nam Á nói riêng thành khu vực hoà bình, tự do và trung lập vì sự phát triển của mỗi nước và của cả khu vực.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:50:53 AM

KẾT LUẬN

        Liên minh quân sự là một hiện tượng phổ biến trong lịch sử chiến tranh thế giới, kể cả trong các cuộc chiến tranh xâm lược - chiến tranh phi nghĩa, cũng như chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc - chiến tranh chính nghĩa. Căn cứ vào tính chất của các cuộc chiến tranh, các liên minh quân sự có thể chia thành liên minh cách mạng và liên minh phản cách mạng.

        Trong thời hiện đại, các khối liên minh của chủ nghĩa đế quốc là những liên minh phản cách mạng nhất. Từ những năm đầu thế kỷ XX, các nước đế quốc đã lập ra những liên minh cực kỳ phản động, tiến hành hai cuộc đại chiến thế giới và hàng trăm cuộc chiến tranh cục bộ, gây nên biết bao thảm họa cho nhân loại. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, vươn lên vị trí đứng đầu thế giới tư bản, đế quốc Mỹ bắt đầu bộc lộ tham vọng bá chủ toàn cầu, lôi kéo các nước tư bản lập ra một hệ thống liên minh chính trị - quân sự, xây dựng các căn cứ và triển khai lực lượng trên khắp thế giới, tạo thành các vành đai chiến lược hòng bao vây, tiêu diệt Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc và dân chủ trên thế giới.

        Sau khi thành lập khối liên minh chính trị - quân sự lớn nhất từ trước tới nay của chủ nghĩa đế quốc - khối NATO, Mỹ và NATO lập tức lên kế hoạch phát động Chiến tranh thế giới thứ ba tấn công tiêu diệt Liên Xô - trở lực chính đối với đế quốc Mỹ trong việc thực hiện âm mưu bá chủ toàn cầu. Tiếp đó, Mỹ châm ngòi cho cuộc chiến tranh Triều Tiên nhằm "Ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản" ở châu Á. Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ đã huy động được 15 nước cùng tham gia với Mỹ đứng về phía Cộng hoà Triều Tiên. Lực lượng đồng minh đã góp phần quan trọng cùng quân đội Mỹ và Cộng hoà Triều Tiên đẩy lùi cuộc tiến công vũ bão của liên quân Trung -Triều. Đây cũng là một thực tiễn quan trọng làm cơ sở cho việc tiếp tục tăng cường mở rộng chính sách liên minh quân sự của đế quốc Mỹ.

        Chuẩn bị tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ không chỉ dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, cung cấp tiền của, vũ khí cho bè lũ tay sai xây dựng một quân đội vào loại hùng mạnh trong khu vực mà còn lôi kéo một số nước lập ra khối liên minh xâm lược SEATO (tháng 9 năm 1954). Mục đích mà Mỹ đặt ra khi thành lập SEATO là khi cần thiết có thể huy động quân đội của các nước trong khối cho cuộc chiến tranh Việt Nam, chứ không phải nhằm tăng cường "phòng thủ tập thể" châu Á như Mỹ tuyên truyền. Ngoài khối SEATO ở Đông Nam Á, mỹ còn lập ra khối ANZUS (tháng 9 năm 1951) ở Tây Thái Bình Dương để khép kín vòng vây đối với các nước xã hội chủ nghĩa khu vực châu Á từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á. Chính sách liên minh và hệ thống liên minh quân sự do Mỹ dựng lên từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai không phải xuất phát từ "ý muốn bảo vệ đất nước chống lại bất cứ mối đe dọa cụ thể nào mà vì Mỹ muốn tạo ra ở nơi khác một trật tự có thể kiểm soát được sẵn sàng đáp ứng một cách có lợi các mục tiêu và lợi ích của Mỹ", như nhà sử học người Mỹ Gabrien Côncô đã nhận xét rất xác đáng.

        Rõ ràng, Việt Nam không phải là một "mối đe dọa cụ thể nào" đối với Mỹ, nhưng dưới góc độ "các mục tiêu và lợi ích" khác của Mỹ thì đây lại là một quân bài đôminô hết sức nguy hiểm. Chính vì vậy, Mỹ muốn chiếm bằng được đất nước này. Khi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam bước vào hồi cuối của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" mà vẫn đứng trước nguy cơ thất bại, những người đứng đầu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc vẫn chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược Việt Nam và quyết định tăng cường quy mô và cường độ chiến tranh hòng đảo ngược tình thế. Vào thời điểm này, phong trào phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ đã trở thành một làn sóng đấu tranh mạnh mẽ trên toàn thế giới, nhất là ở ngay tại nước Mỹ. Người dân Mỹ không muốn con em, người thân của họ phải làm bia đỡ đạn trong một cuộc chiến tranh phi nghĩa; họ không muốn tiền đóng thuế của mình bị phung phí để Chính phủ vận hành bộ máy tàn sát những người dân vô tội ở Việt Nam. Để xoa dịu và đánh lừa dư luận, phe hiếu chiến trong giới cầm quyền Mỹ đã dựng lên cái gọi là "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" để ép Quốc hội thông qua "Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ" (tháng 8 năm 1964), mở đường cho chính quyền Giônxơn tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc và ồ ạt đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Ngoài ra, Mỹ còn kêu gọi các nước đồng minh góp "thêm nhiều ngọn cờ" cho bước phiêu lưu quân sự mới ở Việt Nam mà Mỹ gọi là "giúp cho một nước bạn trong lúc nguy khốn". Trong khi Chính phủ các nước đồng minh được Mỹ yêu cầu góp "thêm nhiều ngọn cờ" cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam còn đang cân nhắc, mặc cả với Mỹ về việc đưa quân sang Nam Việt Nam thì nhân dân các nước này kịch liệt phản đối. Họ chỉ đích danh việc đưa con em, người thân của họ sang miền Nam Việt Nam là đi "làm bia đỡ đạn" thay cho lính Mỹ, làm lính đánh thuê, bởi ngoài việc phải chịu toàn bộ chi phí cho sự tham gia của quân đội các nước ở Nam Việt Nam, Mỹ còn phải chi một khoản đáng kể để "viện trợ" cho các nước. Mặc dù trong quá trình mặc cả với Chính phủ các nước, Mỹ nói rằng chỉ cần các nước đồng minh tham gia có ý nghĩa tượng trưng; song ngoài mục đích đánh lừa dư luận bằng "tính chất quốc tế" của cuộc chiến, Mỹ còn hy vọng nhanh chóng giành thắng lợi, giảm tiêu hao tổn thất cho binh lính Mỹ và vực dậy tinh thần suy sụp nghiêm trọng của chính quyền và quân đội Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:51:14 AM

        Bằng nhiều biện pháp khác nhau, từ tuyên truyền, cung cấp viện trợ đến vận động, gây sức ép, tất cả 39 nước và vùng lãnh thổ được Mỹ kêu gọi "thêm nhiều ngọn cờ" đã ủng hộ Mỹ và chính quyền Sài Gòn với những hình thức và quy mô khác nhau; trong đó Hàn Quốc, Thái Lan, Ôxtrâylia, Philíppin và Niu Dilân đã trực tiếp đưa lực lượng quân đội sang miền Nam Việt Nam chiến đấu hoặc phục vụ, bảo đảm chiến đấu; các nước và vùng lãnh thổ còn lại chỉ tham gia dưới hình thức viện trợ phi quân sự và thực sự chỉ mang ý nghĩa tượng trưng là chủ yếu. Đối với các nước trực tiếp đưa lực lượng quân đội sang miền Nam Việt Nam thì số lượng, thành phần, thời gian... tham gia cũng khác nhau.

        Hàn Quốc là đồng minh đầu tiên của Mỹ đưa quân sang Nam Việt Nam. Điều này cũng dễ hiểu bởi chính quyền nước này lúc đó do Lý Thừa Vãn đứng đầu, người được Mỹ nuôi dưỡng từ lâu. Từ năm 1954, Lý Thừa Vãn đã chủ động đề xuất đưa quân sang Nam Việt Nam nhưng khi đó Mỹ đã đặt trọn hy vọng vào Ngô Đình Diệm nên không chấp nhận đề nghị của Lý Thừa Vãn. Năm 1961, Cộng hoà Triều Tiên đã đưa một đoàn huấn luyện Karate sang huấn luyện võ thuật cho quân đội Sài Gòn tại Trường Võ bị Đà Lạt. Vì vậy, khi Mỹ kêu gọi góp "thêm nhiều ngọn cờ" cho Nam Việt Nam, Cộng hoà Triều Tiên đã nhanh chóng hưởng ứng, đương nhiên với những điều kiện đi kèm và là nước đưa quân sang nhiều nhất: 50.003 tên, trong khi nước đứng thứ hai là Thái Lan cũng chỉ có 11.586 tên. Quy mô lực lượng quân đội Cộng hoà Triều Tiên cũng lớn nhất trong quân đội các nước đồng minh trên chiến trường Nam Việt Nam, tới 3 sư đoàn (Thái Lan đứng thứ hai với 2 sư đoàn). Ngoài ra, Cộng hoà Triều Tiên còn có tới 19 đơn vị khác hoạt động trên chiến trường miền Nam Việt Nam (Thái Lan tổng cộng 6 đầu đơn vị). "Tinh thần chiến đấu" của binh lính Cộng hòa Triều Tiên cũng được đánh giá cao nhất trong quân đội các nước đồng minh. Chính vì vậy, có nơi Mỹ "tin tưởng" trao cho quân Cộng hòa Triều Tiên đảm nhiệm tới hơn 40% nhiệm vụ tác chiến (như chiến trường Khu 5). Nếu như binh lính Cộng hòa Triều Tiên chỉ thể hiện "tinh thần chiến đấu cao" trên chiến trường thì binh lính Thái Lan còn thể hiện cả tinh thần "hăng hái xung phong" sang Nam Việt Nam. Nhân tố chính khơi dậy tinh thần "hăng hái" của binh lính Thái Lan và Cộng hòa Triều Tiên là sự kích thích vật chất. Mỹ bảo đảm miễn phí cho binh lính Thái Lan ăn, ở và phương tiện đi lại; ngoài ra còn nhiều phụ cấp khác như phụ cấp chiến đấu, phụ cấp ngày nghỉ, trợ cấp thương tật và khoản trợ cấp một lần tương đối lớn cho thân nhân những người tử trận. Sau một thời gian tham gia chiến tranh Việt Nam, nhiều sĩ quan tích luỹ được một khoản tiền tương đối, đủ để đầu tư vào kinh doanh hoặc sản xuất, thậm chí cả khi lập tức rời quân ngũ.

        Sau Cộng hoà Triều Tiên và Thái Lan, Ôxtrâylia và Philíppin cũng là những nước tích cực ủng hộ chiến dịch "thêm nhiều ngọn cờ" của Mỹ. Tuy nhiên, thành phần tham gia của các nước này chủ yếu là lực lượng bảo đảm và huấn luyện; quy mô lực lượng lớn nhất của Ôxtrâylia là trung đoàn và Philíppin là tiểu đoàn. Với 552 quân vào lúc cao nhất và 1 đầu đơn vị, Niu Dilân là nước ủng hộ chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ" kém hăng hái nhất; hầu như chỉ mang ý nghĩa tượng trưng là chính.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta trên toàn miền Nam đã giáng một đòn quyết liệt cả vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ cũng như "tinh thần chiến đấu" của quân đội các nước đồng minh. Nếu như đòn tấn công Mậu Thân của quân và dân ta đã làm suy sụp hẳn tinh thần chiến đấu của binh lính quân đội các nước đồng minh thì lời tuyên bố xuống thang của Tổng thống Mỹ Giônxơn ngay sau đó có thể coi như chiếc phao cứu sinh cho những ai còn sống sót trong thế sa lầy của cuộc chiến tranh. Từ cuối năm 1969, họ bắt đầu được rút về nước và đầu năm 1973, những người lính đánh thuê cuối cùng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam được đoàn tụ gia đình.

        Sau khi rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, các nước lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Những nước "hăng hái nhất" trong việc đưa quân sang Việt Nam là những nước thiết lập quan hệ ngoại giao muộn nhất. Trước tiên Ôxtrâylia thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam (tháng 2 năm 1973), sau đó đến Niu Dilân (tháng 6 năm 1975), Philíppin (tháng 7 năm 1976), Thái Lan (tháng 8 năm 1976) và cuối cùng là Hàn Quốc (tháng 12 năm 1992). Mặc dù sớm thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam sau chiến tranh, ngoại trừ Hàn Quốc, song quan hệ Việt Nam - các nước đã bị gián đoạn bởi cái gọi là "vấn đề Campuchia" do bè lũ diệt chủng Pôn Pốt - Iêngxari và các thế lực phản động dựng lên. Chỉ sau khi "vấn đề Campuchia" được giải quyết với nỗ lực to lớn và thiện chí "mong muốn làm bạn với tất cả các nước" của Việt Nam, quan hệ Việt Nam - các nước mới trở lại bình thường.

        Kể từ khi bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, quan hệ song phương giữa Việt Nam với tất cả các nước đồng minh châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ phát triển ngày càng sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, môi trường..., kể cả lĩnh vực an ninh quốc phòng. Mối quan hệ đó không chỉ phù hợp với lợi ích của mỗi nước mà còn góp phần quan trọng vào việc xây dựng khu vực châu Á - Thái Bình Dương thành khu vực hoà bình, tự do và trung lập cũng như hoà bình, ổn định trên toàn thế giới.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:54:22 AM
   
PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

CÁC NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ CHI VIỆN CHO MỸ - CHÍNH QUYỀN VÀ QUÂN ĐỘI SÀI GÒN TRONG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM1

        Sau khi Mỹ chính thức kêu gọi "thêm nhiều ngọn cờ" cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, ngày 24 tháng 4 năm 1964, tất cả 39 nước và vùng lãnh thổ được Mỹ kêu gọi đều hưởng ứng với những hình thức và mức độ khác nhau. Ngoài 5 nước trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam, còn lại 34 nước và vùng lãnh thổ hưởng ứng lời kêu gọi của Mỹ dưới dạng viện trợ phi quân sự cho chính quyền và quân đội Sài Gòn, đó là:

        1. Nhật Bản

        Ngoài viện trợ kinh tế trị giá hơn 55 triệu đô la, Nhật Bản còn gửi 2 tổ y tế cùng một số lượng đáng kể dụng cụ y tế, 20.000 đài thu thanh, 25 xe cứu thương; cử chuyên gia và chi viện tài chính để xây dựng đập thủy điện Đa Nhim, 1 bệnh viện thần kinh tại Sài Gòn.

       2. Đài Loan

        Đài Loan đã giúp Mỹ - chính quyền và quân đội Sài Gòn bằng việc đưa lực lượng chuyên gia, nhân viên y tế sang miền Nam Việt Nam; đào tạo nhân viên kỹ thuật và hàng viện trợ. Đã cử một nhóm chuyên gia nông nghiệp 80 người, một nhóm chuyên gia tâm lý chiến 18 người, một đoàn chuyên gia điện lực 34 người và một tổ phẫu thuật 16 người; đào tạo 40 kỹ sư và chuyên gia điện lực cùng 200 nhân viên kỹ thuật điện Nam Việt Nam tại Đài Loan. Cung cấp 26 bộ khung nhà kho, vật tư thiết bị cho 1 nhà máy điện loại nhỏ, nông cụ, hạt giống, phân bón và xi măng, 500.000 sách giáo khoa và 5.000 tấn gạo.

        3. Malaixia

        Bắt đầu từ năm 1964, Malaixia đã huấn luyện gần 2.900 sĩ quan quân đội và cảnh sát Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn còn thường xuyên gửi các nhóm từ 30 đến 60 người sang Malaixia để huấn luyện ngắn hạn về hành quân chống nổi dậy. Malaixia còn viện trợ một số vũ khí, trang bị chống nổi dậy, chủ yếu là xe chở quân, thuốc men và hàng cứu trợ. Đầu năm 1967, Malaixia cử 4 chuyên gia bình định sang Nam Việt Nam với nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất các biện pháp liên quan đến an ninh xã ấp và tâm lý chiến.

        4. Pakistan

        Pakistan viện trợ tài chính và quần áo, thuốc men cho các nạn nhân lũ lụt.

        5. Lào

        Chính quyền tay sai Mỹ ở Lào đã giúp chính quyền Sài Gòn 4.167 đô la cứu trợ lũ lụt trong năm 1965 và một số hàng cứu trợ trị giá 5.000 đô la trong năm 1968.

        6. Iran

        Iran đã dành cho chính quyền và quân đội Sài Gòn những khoản viện trợ đáng kể gồm chủ yếu là những sản phẩm dầu hoả. Từ ngày 12 tháng 1 năm 1966, Iran duy trì tại miền Nam Việt Nam một tổ y tế gồm 20 bác sĩ và nhân viên.

        7. Ixraen

        Ixraen chủ yếu giúp thuốc men cho các nạn nhân lũ lụt và đào tạo 3 chuyên gia về kỹ thuật thủy lợi.

        8. Thổ Nhĩ Kỳ

        Ngoài giúp thuốc men vào đầu năm 1968, Thổ Nhĩ Kỳ còn viện trợ một số lượng xi măng đáng kể.

        9. Libêria

        Viện trợ 50.000 đô la để mua sắm trang thiết bị y tế.

        10. Marốc

        Viện trợ cho Nam Việt Nam 10.000 hộp cá mòi, trị giá 2.000 đô la.

-----------------
        1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 161-169.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:57:08 AM

        11. Nam Phi

        Viện trợ cho Nam Việt Nam một số trang thiết bị y tế trị giá 14.000 đô la Mỹ.

        12. Tuynidi

        Mỗi năm dành 15-20 xuất học bổng cho học sinh Nam Việt Nam.

        13. Bỉ

        Viện trợ thuốc men và 1 xe cứu thương.

        14. Đan Mạch

        Cung cấp trang thiết bị y tế và đào tạo 12 nữ y tá tại Đan Mạch.

        15. Cộng hoà liên bang Đức

        Bắt đầu từ năm 1966, trung bình mỗi năm Cộng hoà liên bang Đức dành cho chính quyền Sài Gòn khoảng 7,5 triệu đô la viện trợ kinh tế và nhân đạo, đồng thời cử hơn 200 chuyên viên và nhân viên y tế đến phục vụ tại miền Nam Việt Nam. Năm 1966, Cộng hòa liên bang Đức còn viện trợ cho chính quyền Sài Gòn một chiếc tàu - bệnh viện S.S Helgoland trọng tải 3.000 tấn; tàu có 130 giường bệnh cùng 8 bác sĩ và 20 nhân viên y tế phục vụ để trợ giúp y tế cho dân thường. Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức còn cấp tín dụng trị giá 21,2 triệu đô la cho các dự án xây dựng cơ bản và nhập khẩu hàng tiêu dùng; ngoài ra còn cung cấp các khoản tín dụng: 3,75 triệu đô la để nhập khẩu hàng của Đức, 12,5 triệu đô la để phát triển tổ hợp công nghiệp tại An Hoà - Nông Sơn, 5 triệu đô la cho dự án xây dựng cơ bản và 3,5 triệu đô la để trang bị 1 lò giết mổ gia súc.

        16. Pháp

        Viện trợ của Pháp dành cho chính quyền Sài Gòn chủ yếu là viện trợ kinh tế và giáo dục. Từ năm 1956, Pháp bắt đầu viện trợ cho chính quyền Sài Gòn, trung bình mỗi năm khoảng 4 triệu đô la, chủ yếu dành cho lĩnh vực nông nghiệp. Pháp cử một số giáo viên sang dạy ở các trường trung học và một số ít ở các trường đại học. Năm 1965, Pháp cấp học bổng cho nhiều giáo sư sang học tại Pháp. Pháp cung cấp tín dụng lãi suất thấp để Nam Việt Nam nhập khẩu trang thiết bị công nghiệp. Các nhà máy xi măng Hà Tiên và Thủ Đức đều được xây dựng với sự trợ giúp của Pháp.

        17. Hy lạp

        Viện trợ cho Nam Việt Nam một số trang thiết bị y tế trị giá 15.000 đô la.

        18. Aixơlen

        Viện trợ thông qua Hội chữ thập đỏ cho Nam Việt Nam 2.800 đô la.

        19. Italia

        Cử một tổ phẫu thuật 10 người sang giúp Nam Việt Nam, tặng học bổng cho 10 người đi học ở Italia và viện trợ hàng tiêu dùng trị giá 25.000 đô la.

        20. Lúcxămbua

        Viện trợ huyết tương và trang thiết bị tiếp máu.

        21. Hà Lan

        Bắt đầu viện trợ cho Nam Việt Nam từ năm 1963, gồm cấp học bổng đào tạo bác sĩ, xây dựng và trang bị 3 trung tâm phòng chống bệnh lao, cải tạo và mở rộng các cơ sở bệnh viện tại Chợ Lớn. Hà Lan là nước đầu tiên viện trợ cho Nam Việt Nam theo phương thức ủy thác trong các dự án của Liên Hợp quốc.

        22. Nauy

        Thông qua Hội chữ thập đỏ quốc tế, tháng 2 năm 1965, Nauy gửi hàng trợ giúp những người bị lũ lụt và đầu năm 1968 giúp những người di tản không có chỗ ở.

        23. Tây Ban Nha

        Cử một đội y tế gồm 13 người sang làm việc tại tỉnh Gò Công cùng một số trang thiết bị y tế.

        24. Thụy Sĩ

        Cung cấp kính hiển vi cho Viện Đại học Sài Gòn; cử một đội y tế gồm 11 người sang làm việc tại một bệnh viện tỉnh ở Tây Nguyên và một tổ làm việc tại Đà Nẵng; ngoài ra còn viện trợ hàng cứu trợ khẩn cấp trị giá 200.000 đô la.

        25. Anh

        Hai năm 1963 và 1964, Vương quốc Anh đã viện trợ cho Nam Việt Nam một số trang thiết bị, gồm: trang bị phòng thí nghiệm cho Viện Đại học Sài Gòn, 1 máy sắp chữ cho Phòng ấn loát của Chính phủ, 1 phòng chụp X-quang cho Viện Ung thư quốc gia; trang bị cho các trường Y khoa, Khoa học và Dược khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn, Nha Khí tượng và Trường Nông nghiệp Sài Gòn, Viện Nghiên cứu nguyên tử Đà Lạt và Phân khoa Giáo dục tại Huế. Anh cũng cử 11 bác sĩ nhi khoa và y tá sang Sài Gòn. Anh còn viện trợ kinh tế trị giá 2,4 triệu đô la cho Nam Việt Nam.

        26. Canađa

        Từ năm 1958, Canađa bắt đầu viện trợ cho Nam Việt Nam một số thực phẩm trị giá 850.000 đô la và một số tiền cho các dự án xây dựng cơ bản; giúp xây dựng một toà nhà mới và một giảng đường cho Trường Y khoa thuộc Viện Đại học Huế với tổng số tiền 458.000 đô la.

        Năm 1964, Canađa cung cấp cho Nam Việt Nam 9,3 triệu đô la viện trợ phát triển; giúp tỉnh Quảng Ngãi xây dựng một viện lao loại nhỏ; cử một giáo sư sang làm việc tại Bệnh viện Chợ Rẫy; cấp học bổng cho 380 người sang học ở Canađa; viện trợ một số trang thiết bị y tế, 560.000 liều vắc xin phòng bại liệt, một số thuốc men.

        Năm 1968, Canađa viện trợ dụng cụ, thuốc men cấp cứu trị giá 200.000 đô la, cử 8 bác sĩ sang Nam Việt Nam nhiệm kỳ ngắn hạn, viện trợ 225.000 đô la để xây dựng nhà ở.

        27. Áchentina

        Viện trợ 5.000 tấn bột mỳ, 20.000 liều vắc xin phòng bệnh tả.

        28. Brazin

        Viện trợ 5.000 bao cà phê, một số trang thiết bị y tế.

        29. Côxtarica

        Viện trợ 1 xe cứu thương.

        30. Êcuađo

        Một số trang thiết bị y tế.

        31. Goatêmala

        Viện trợ 15.000 liều thuốc chữa bệnh thương hàn.

        32. Honđurát

        Viện trợ thuốc men và 1.500kg quần áo mới.

        33. Urugoay

        Viện trợ trang thiết bị y tế và thuốc men trị giá 21.000 đô la.

        34. Vênêduêla

        Viện trợ 500 tấn gạo; cung cấp 2 bác sĩ dân sự.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 05:58:56 AM

PHỤ LỤC 2

HIỆP ƯỚC PHÒNG THỦ TẬP THỂ ĐÔNG NAM Á1

        Các nước tham gia Hiệp ước này, thừa nhận chủ quyền bình đẳng của tất cả các nước tham gia Hiệp ước; một lần nữa tuyên bố sự tin tưởng của họ vào những mục đích và những nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp quốc và ý muốn sống hoà bình với tất cả các dân tộc và tất cả các chính phủ; khẳng định một lần nữa rằng, theo đúng Hiến chương Liên Hợp quốc, họ ủng hộ nguyên tắc về quyền bình đẳng cũng như quyền tự quyết của các dân tộc, và tuyên bố rằng họ sẽ thành thật cố gắng, bằng mọi phương pháp hoà bình, giúp đỡ tất cả các nước mà nhân dân muốn tự trị và bảo đảm nền độc lập của mình và có khả năng bảo đảm trách nhiệm đó; muốn tăng cường những cơ sở của hoà bình và tự do, bảo vệ những nguyên tắc dân chủ, tự do cá nhân và pháp quyền, và giúp cho phúc lợi và sự phát triển kinh tế của tất cả các nước trong khu vực Hiệp ước; quan tâm đến việc công khai và trịnh trọng tỏ rõ tình đoàn kết của họ, để cho mọi kẻ xâm lược thấy rằng các nước tham gia Hiệp ước họp thành một mặt trận thống nhất trong khu vực Hiệp ước và hơn nữa, mong muốn phối hợp những cố gắng phòng thủ tập thể bảo vệ hoà bình và an ninh, do đó thoả thuận như sau:

        Điều 1: Các nước tham gia Hiệp ước cam kết, như Hiến chương Liên Hợp quốc đã đề ra, giải quyết bằng phương pháp hoà bình mọi vấn đề tranh chấp quốc tế có liên quan đến họ, sao cho không hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lý, và trong các quan hệ quốc tế không dùng phương pháp đe dọa vũ lực hoặc vũ lực mà bất cứ như thế nào cũng không phù hợp với những mục đích của Liên Hợp quốc.

        Điều 2: Nhằm đạt tới một cách có hiệu quả hơn những mục tiêu của Hiệp ước này, các nước tham gia Hiệp ước hành động riêng lẻ và hành động chung bằng cách phát triển những tài nguyên của mình và giúp đỡ lẫn nhau một cách liên tục và có hiệu lực, sẽ duy trì và tăng cường khả năng của từng nước và khả năng tập thể chống lại một cuộc tiến công vũ trang; ngăn ngừa và chiến đấu chống lại mọi hoạt động lật đổ do bên ngoài điều khiển chống lại toàn vẹn lãnh thổ và sự ổn định về chính trị của họ.

        Điều 3: Các nước tham gia Hiệp ước cam kết tăng cường những quy chế tự do của họ và hợp tác với nhau để tiếp tục phát triển những biện pháp kinh tế, kể cả viện trợ kỹ thuật, nhằm giúp cho sự tiến bộ về kinh tế và phúc lợi xã hội cũng như khuyến khích những sự cố gắng của từng nước và những cố gắng tập thể của các chính phủ theo hướng đó.

        Điều 4:

        a) Mỗi nước tham gia Hiệp ước thừa nhận rằng một cuộc xâm lược vũ trang trong khu vực Hiệp ước nhằm chống lại bất cứ nước nào tham gia Hiệp ước hoặc chống lại bất cứ quốc gia nào hoặc lãnh thổ nào mà sau này các nước tham gia Hiệp ước nhất trí thoả thuận nêu ra, đều phạm đến hoà bình và an ninh của bản thân họ và cam kết hành động trong trường hợp đó, nhằm chống lại nguy cơ chung theo đúng những luật lệ quy định trong hiến pháp nước họ. Những biện pháp thi hành theo lời văn ghi trong phần này sẽ được báo ngay cho Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc biết.

        b) Nếu theo ý kiến của một nước tham gia Hiệp ước, tính chất bất khả xâm phạm hoặc sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền hoặc độc lập chính trị của một nước nào tham gia Hiệp ước trong khu vực Hiệp ước hoặc của bất cứ quốc gia hoặc lãnh thổ nào được quy định trong phần đầu của điều khoản này, trong một lúc nào đó, bị đe dọa bởi một sự kiện hoặc tình hình nào có thể làm nguy hại đến hoà bình trong vùng, các nước tham gia Hiệp ước sẽ lập tức hỏi ý kiến nhau nhằm thỏa thuận về những biện pháp cần thi hành đặng phục vụ cuộc phòng thủ chung.

        c) Các nước tham gia Hiệp ước thoả thuận rằng họ sẽ không có một hành động nào trên lãnh thổ một quốc gia được nhất trí đồng ý nêu ra như đã quy định trong phần đầu của điều khoản này hoặc trên một lãnh thổ nào được nêu ra theo những điều ghi như trên mà không có sự thoả thuận của chính phủ có liên quan.

-----------------
         1. Lê Sơn, Bộ mặt thật các khối quân sự của bọn đế quốc, Sđd, tr. 39.


Tiêu đề: Re: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 06:00:51 AM

        Điều 5: Các nước tham gia Hiệp ước lập ra theo Hiệp ước này một Hội đồng và mỗi nước sẽ cử đại diện vào Hội đồng này, nhằm xét những vấn đề liên quan đến việc thi hành Hiệp ước. Hội đồng sẽ trao đổi ý kiến về những biện pháp quân sự và về những biện pháp khác do yêu cầu trong một lúc nào đó của tình hình xảy ra ở khu vực của Hiệp ước. Hội đồng sẽ được tổ chức theo cách thức bảo đảm có thể họp được bất cứ lúc nào.

        Điều 6: Hiệp ước này không phạm đến và sẽ không bị coi như là phạm đến bất cứ bằng cách nào những quyền hạn và nghĩa vụ của bất cứ nước nào tham gia Hiệp ước theo Hiến chương Liên Hợp quốc, cũng không phạm đến trách nhiệm của Hội đồng Bảo an trong việc giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế. Mỗi nước tham gia Hiệp ước tuyên bố rằng không một sự cam kết quốc tế nào hiện đang có hiệu lực, giữa các nước đó với một nước tham gia Hiệp ước, hoặc bất cứ nước nào khác lại trái với những điều khoản của Hiệp ước này, và mỗi nước bảo đảm không có sự cam kết quốc tế nào không phù hợp với Hiệp ước này.

       Điều 7: Bất cứ nước nào khác có thể giúp vào việc đạt những mục tiêu của Hiệp ước này và góp phần giữ gìn an ninh của khu vực, sẽ được mời tham gia Hiệp ước này với sự nhất trí thoả thuận của các nước tham gia Hiệp ước.

        Nước nào được mời như thế sẽ có thể trở nên thành viên của Hiệp ước này bằng cách lưu chiểu văn bản xin gia nhập ở Chính phủ nước Cộng hoà Philíppin. Chính phủ này sẽ báo cho các nước tham gia Hiệp ước mỗi khi có việc lưu chiểu một văn bản xin gia nhập.

        Điều 8: Vì mục đích của Hiệp ước này "khu vực Hiệp ước" chỉ toàn bộ vùng Đông Nam Á, bao gồm tất cả những lãnh thổ các nước châu Á tham gia Hiệp ước cũng như toàn bộ vùng Thái Bình Dương ở phía Bắc vĩ tuyến Bắc 21030. Các nước tham gia Hiệp ước nhất trí thoả thuận có thể bổ sung điều khoản này nhằm đưa vào khu vực Hiệp ước lãnh thổ của nước nào sẽ tham gia Hiệp ước theo đúng những điều quy định trong Điều 7 hoặc sửa đổi theo một cách khác khu vực của Hiệp ước.

        Điều 9:

        a) Hiệp ước này sẽ lưu vào hồ sơ của Chính phủ nước Cộng hoà Philíppin. Những bản sao nguyên văn sẽ do Chính phủ này trao cho chính phủ các nước khác ký kết Hiệp ước.

        b) Hiệp ước này sẽ được thông qua và những điều khoản của Hiệp ước sẽ được các thành viên thi hành theo đúng những luật lệ quy định trong Hiến pháp của mỗi nước. Các văn bản thông qua Hiệp ước sẽ được lưu chiểu càng sớm càng hay ở Chính phủ nước Cộng hoà Philíppin, Chính phủ này sẽ báo cho các nước khác ký kết Hiệp ước việc này.

        c) Hiệp ước sẽ được thi hành giữa các nước đã thông qua Hiệp ước khi những văn bản thông qua của số đông các nước ký kết đã được lưu chiểu và sẽ có hiệu lực đối với mỗi nước khác kể từ khi họ lưu chiểu văn bản thông qua Hiệp ước.

       Điều 10: Hiệp ước sẽ được thi hành không hạn chế thời gian, nhưng mỗi nước tham gia Hiệp ước có thể thôi không tham gia nữa một năm sau khi họ đã gửi văn bản về quyết định không tham gia tới Chính phủ nước Cộng hoà Philíppin, Chính phủ này sẽ báo cho Chính phủ các nước khác tham gia Hiệp ước mỗi khi có việc lưu chiểu một văn bản quyết định không tham gia Hiệp ước nữa.

        Điều 11: Bản tiếng Anh của Hiệp ước này buộc các nước tham gia Hiệp ước tuân theo. Nhưng một khi các nước này công nhận bản tiếng Pháp và báo cho Chính phủ nước Cộng hoà Philíppin biết việc công nhận này thì bản tiếng Pháp cũng sẽ có giá trị và sẽ có tính chất bắt buộc tuân theo đối với tất cả các nước tham gia Hiệp ước.

-----------------
        1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 23, 151.

         The Power of the Pentagon, op.cit, p. 79.


HẾT